Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Cha ông ta đánh giặc => Tác giả chủ đề:: macbupda trong 24 Tháng Mười, 2021, 07:33:02 am



Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười, 2021, 07:33:02 am
Tên sách: Kỷ yếu hội nghị khoa học lịch sử nhân kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Ban Tuyên huấn Tỉnh ủy tỉnh Tiền Giang xuất bản
12-1984
Số hóa: macbupda

KỶ YẾU HỘI NGHỊ KHOA HỌC LỊCH SỬ NHÂN KỶ NIỆM
LẦN THỨ 200 NGÀY CHIẾN THẮNG RẠCH GẦM — XOÀI MÚT


(Tổ chức tại thành phố Mỹ Tho — tỉnh Tiền Giang,
Ngày 28 và 29 tháng 12 năm 1984)

VỚI CÁC THAM LUẬN CỦA

HOÀI ANH — NGUYỄN THỨ CHI — PHAN ĐẠI DOÃN — NGUYỄN ANH DŨNG — TÔN THỊ ĐIỆP — TRÁC QUAN ĐỒ — DƯƠNG VĂN HUỀ - NGUYỄN QUỐC HÙNG — ĐINH VĂN KÍNH — PHAN HUY LÊ — MAI QUỐC LIÊN — NGUYỄN LỘC — HUỲNH LỨA — TRẦN THU LƯƠNG — ĐỖ HỮU NGHIÊM — PHẠM NGUYỄN — ĐỖ VĂN NHUNG — LÊ VĂN PHẨM — NGUYỄN DANH PHIỆT — HỒ LY PHƯƠNG — NGUYỄN PHAN QUANG — NGUYỄN VIẾT TÁ — VĂN TÂN — PHAN HUY THIỆP — NGUYỄN KHẮC THUẦN — NGUYỄN NGỌC THỤY — TRƯƠNG NGỌC TƯỜNG — TRẦN VĂN TRÀ.

LỜI NÓI ĐẦU

Đúng 200 năm trước, vào đêm 18 rạng 19 tháng 1 năm 1785 (tức đêm mùng 8 rạng mùng 9 tháng chạp năm Giáp Thìn) trên khúc sông Tiền từ Rạch Gầm đến Xoài Mút đã xảy ra trận quyết chiến chiến lược của quân đội Tây Sơn dưới sự lãnh đạo thiên tài của anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ, đập ta 5 vạn quân Xiêm và hàng ngàn quân bản bộ của Nguyễn Ánh, chôn vùi mộng bành trước đại Thái của vương quốc Xiêm La dưới thời Cha-Kri I cầm quyền xuống đáy sông sâu.

Năm nay, nhân dân Tiền Giang tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng nói trên nhằm ôn lại truyền thống lịch sử của dân tộc mà Tiền Giang đã vinh hạnh được Nguyễn Huệ chọn làm địa bàn để chiến đấu và chiến thắng.

Nhân dịp này, Tỉnh ủy, Ủy Ban nhân dân, Mặt Trận Tổ Quốc tỉnh Tiền Giang cùng với Trường Đại Học Tổng Hợp thành phố Hồ Chí Minh tổ chức hội nghị khoa học về CHIẾN THẮNG RẠCH GẦM — XOÀI MÚT, nhằm tìm hiểu, khảo cứu nhiều khía cạnh xung quanh chiến thắng này mà từ lâu nhiều ngành, nhiều giới trong tỉnh và cả nước đã quan tâm,

Hội nghị khai mạc và làm việc trong hai ngày: 28 và 29 tháng 12 năm 1984 với sự có mặt của đông đảo các giáo sư, cán bộ giảng dạy các trường đại học, các nhà nghiên cứu và nhiều cán bộ lão thành, cùng đại biểu của nhiều tỉnh bạn.

Đây là hội nghị khoa học lịch sử đầu tiên, có quy mô lớn về chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút. Nhân dịp này chúng tôi xin trân trọng cảm ơn tác giả các báo cáo khoa học cùng tất cả các cơ quan, đoàn thể và cá nhân — những người đã cộng tác đắc lực và có hiệu quả với chúng tôi trên nhiều phương diện và mức độ khác nhau, góp phần làm cho hội nghị thu được kết quả tốt đẹp.

Sau đây, chúng tôi xin vui mừng giới thiệu nguyên văn hoặc trích đoạn các báo cáo khoa học của hội nghị. Chúng tôi mong mỏi nhận được nhiều ý kiến đóng góp chân thành của các nhà nghiên cứu và của bạn đọc gần xa.


                                                                                                                                                                           
BAN TUYÊN HUẤN TỈNH ỦY
TỈNH TIỀN GIANG


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười, 2021, 07:35:49 am
LỜI CHÀO MỪNG CỦA ĐOÀN ĐẠI BIỂU TỈNH
NGHĨA BÌNH — QUÊ HƯƠNG CỦA PHONG TRÀO TÂY SƠN

                                                                                                                                                         
(do đồng chí NAM HÀ, Phó chủ tịch Ủy ban
nhân dân tỉnh Nghĩa Bình, trưởng đoàn đại
biểu tỉnh Nghĩa Bình trình bày)

Thưa các đồng chí,

… Chúng tôi rất cảm động và phấn khởi được Thường Vụ Tỉnh Ủy và UBND Tỉnh Tiền Giang mời tham dự lễ kỷ niệm lần thứ 200 và về dự hội nghị khoa học về chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút — một trong những trận chiến thắng oanh liệt nhất của phong trào cách mạng nông dân Tây Sơn dưới sự chỉ huy tài tình của người anh hùng kiệt xuất Nguyễn Huệ; và cũng là một trong những trận thủy chiến lớn nhất, lừng lẫy nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta.

Thay mặt Tỉnh ủy, UBND Tỉnh Nghĩa Bình chúng tôi chân thành cảm ơn và hết sức hoan nghênh chủ trương tổ chức lễ hội nầy, chúng tôi xin gởi đến Tỉnh Ủy, UBND, Mặt Trận Tỉnh Tiền Giang, gửi đến các vị đại biểu, các đồng chí và các bạn lời chúc sức khỏe và lời thăm hỏi nồng nhiệt nhất. Chúc Hội Nghị khoa học về chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút thành công tốt đẹp.

Kính thưa các đồng chí.

Nhân Hội nghị Khoa học về chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút, với tình cảm của Đảng bộ và nhân dân Nghĩa Bình, tôi xin phát biểu một vài ý kiến.

Rạch Gầm, Xoài Mút — nơi cách đây 200 năm đã chôn vùi gần 5 vạn quân Xiêm, nơi ghi nhận một chiến công hiển hách sau 13 năm từ khi có sự dấy nghĩa của phong trào nông dân Tây Sơn năm 1771, đã mãi mãi đi vào lịch sử đấu tranh anh dũng và chiến thắng vẻ vang của dân tộc ta như những Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa bất tử. Bằng chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút, quân đội Tây Sơn đã quét sạch quân xâm lược ra khỏi vùng đất Gia Định, thu hồi những phần đất bị chiếm đóng và làm tiêu tan tham vọng của vua Xiêm đối với phần lãnh thổ cực Nam đất nước ta mà sau nầy các sử thần nhà Nguyễn cho dầu cố tránh né sự thật cũng phải ghi nhận: «Người Xiêm từ sau cuộc bại trận năm Giáp Thìn miệng tuy nói khoác mà lòng thì sợ Tây Sơn như cọp».

Chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút kết thúc cuộc kháng chiến chống Xiêm thắng lợi, đã đưa phong trào Tây Sơn phát triển lên một trình độ mới, làm chủ toàn bộ đất Đàng Trong và có điều kiện mở rộng lực lượng tiến ra Đàng Ngoài lật đổ nền thống trị của tập đoàn phong kiến phản động vua Lê, chúa Trịnh, lập lại nền thống nhất đất nước, tiến tới đánh tan gần 30 vạn quân Thanh, bảo vệ độc lập dân tộc

Chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút còn giáng một đòn đích đáng, vạch trần chân tướng phản bội của Nguyễn Ánh, đập tan lực lượng quân sự và ảnh hưởng chính trị của bè lũ phản động nầy. Kết quả chiến thắng chẳng những nói lên sự chiến đấu ngoan cường, mưu trí của quân đội Tây Sơn mà còn nói lên nhận thức chính trị vững vàng, sự tham gia, cổ vũ mạnh mẽ của nhân dân vùng Gia Định lúc bấy giờ. Chúng tôi tin tưởng chắc chắn có những tướng lĩnh địa phương đã đóng góp vào chiến công chung.

Chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút đã mở ra trang sử oanh liệt đầu tiên về sự nghiệp chống xâm lăng của nhân dân miền Nam và đã nêu cao truyền thống thủy chiến lâu đời, ưu việt của quân dân ta, kế thừa và phát huy kinh nghiệm phong phú trong đại phá quân Nam Hán năm 938 và tiêu diệt quân Mông Nguyên năm 1288 ở Bạch Đằng Giang.

Và nói đến chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút là nói đến thiên tài quân sự tuyệt vời của Nguyễn Huệ, người anh hùng nông dân, vị tướng tài ba của quân đội Tây Sơn mới 32 tuổi. Với Rạch Gầm — Xoài Mút, Nguyễn Huệ đã làm phong phú thêm kho tàng khoa học quân sự của tổ tiên. Nguyễn Huệ chẳng những đã quyết tâm đánh nhanh, diệt gọn, triệt để mà còn biết huy động, sử dụng, kết hợp nhuần nhuyễn các thứ quân thủy, bộ, biết dùng cả lối đánh tấn công và mai phục, biết bố trí thế trận chặt chẽ, tạo ra cho địch sự chủ quan, dẫn đến những bất ngờ không đối phó kịp, và đặc biệt là Nguyễn Huệ đã lợi dụng thành công những yếu tố tự nhiên để xây dựng thế trận, hướng cho địch tiếp nhận trận đánh trong thế đã được chuẩn bị sẵn hoàn toàn có lợi cho ta. Ở đây tiêu biểu là lợi dụng địa hình sông nước, tình hình thủy triều và sức gió đúng vào thời điểm quân giặc đã hoàn toàn lọt vào trận địa phục kích mà phản công, tiêu diệt, đánh cho chúng không còn manh giáp.

Chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút, với sự chỉ huy thiên tài của Nguyễn Huệ quả là một chiến thắng đáng tự hào, đáng ghi nhớ, là lời cảnh cáo nghiêm khắc đối với bọn xâm lược trước đây và bọn bành trướng, phản động hiện nay. Đến Rạch Gầm — Xoài Mút hôm nay chúng ta vẫn còn nghe lời truyền tụng về sự tan tác, tháo chạy của quân giặc, làm nổi bật và sáng mãi muôn đời hùng khí của ông cha ta, của nhân dân vùng Gia Định thuở trước.

Kính thưa các đồng chí,

Đối với Nghĩa Bình, nơi xuất phát của phong trào nông dân Tây Sơn là quê hương của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ, trong những năm qua, nhất là từ sau ngày giải phóng đến nay, tuy vẫn còn gặp nhiều khó khăn nhưng với lòng tự hào và trách nhiệm phát huy truyền thống Tây Sơn — Nguyễn Huệ trong sự nghiệp xây dựng quê hương, cùng cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, năm 1976, Tỉnh Ủy và UBND tỉnh đã dựng tượng đài Quang Trung giữa công viên, điểm trung tâm của thị xã Qui Nhơn; năm 1977, Ban nghiên cứu lịch sử Tây Sơn được thành lập; năm 1978, một hội nghị Khoa học về phong trào Tây Sơn được tổ chức với sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu lịch sử, quân sự, văn hóa trong cả nước. Năm 1979, tại đất Tây Sơn — Nhà Bảo tàng Quang Trung đã được xây dựng với tầm cỡ quốc gia và hiện nay đã trở thành một trong những nơi tham quan, tìm hiểu lịch sử của cả nước. Về mặt tư liệu, ngoài những hiện vật ở nhà Bảo tàng hiện nay bước đầu chúng tôi đã xây dựng một thư mục chuyên đề về Quang Trung — Nguyễn Huệ, về phong trào Tây Sơn nhằm từng bước đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, học tập của cán bộ và nhân dân trong Tỉnh.

Tuy nhiên, sự nghiệp Quang Trung — Nguyễn Huệ, sự nghiệp của phong trào nông dân Tây Sơn quá rộng lớn, lại đã trải qua bao bước thăng trầm của dân tộc, nên việc nghiên cứu, sưu tầm đòi hỏi phải có thời gian và sức lực không ít mới thực hiện được. Nhân Hội nghị Khoa học lịch sử nầy, chúng tôi tin tưởng và mong muốn hai Tỉnh chúng ta: Tiền Giang và Nghĩa Bình và các nhà khoa học, các cơ quan nghiên cứu ở Trung ương và địa phương sẽ hợp tác chặt chẽ hơn nữa trong việc nghiên cứu sưu tầm, làm sáng tỏ thêm sự nghiệp của Tây Sơn — Nguyễn Huệ, nhằm góp phần phát huy đến đỉnh cao truyền thống của cha ông trong việc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa của chúng ta hôm nay.

Một lần nữa, xin cảm ơn và xin chúc sức khỏe các đồng chí đại biểu, các đồng chí và các bạn. Chúc Hội nghị Khoa học lịch sử về chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút thành công tốt đẹp. Kính chúc các đồng chí sang năm 1985 đạt nhiều thành tích mới.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười, 2021, 07:37:12 am
LỜI CHÀO MỪNG CỦA BAN TỔ CHỨC HỘI NGHỊ

Kính thưa quí vị đại biểu

Kính thưa quí vị khách quí

Thưa tất cả các đồng chí và các bạn.

Chúng tôi rất vui mừng, phấn khởi được đón tiếp các đồng chí từ mọi miền của đất nước về đây tham dự hội nghị khoa học lịch sử về chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút, nhân kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng này (19-1-1785 — 19-1-1985).

Sự có mặt của các đồng chí là nguồn động viên cổ vũ to lớn đối với chúng tôi; là dịp để gặp gỡ thân mật, trao đổi ý kiến giữa tất cả chúng ta; là điều kiện để tìm hiểu, nghiên cứu những vấn đề mà chúng ta hằng quan tâm xung quanh trận chiến đấu và chiến thắng nầy.

Chúng tôi nhiệt liệt chào mừng những đại biểu đại diện cho các bộ, các ban ngành của trung ương, các viện nghiên cứu khoa học xã hội, khoa học lịch sử, khoa học quân sự ở thủ đô, ở thành phố Hồ Chí Minh, ở quân khu 7 và 9; đã không quản ngại khó khăn vất vả về phương tiện đi lại, sự xa xôi cách trở về không gian, sự cập rập ngắn ngủi về thời gian và đặc biệt là khắc phục những công việc bề bộn trong những ngày cuối năm để về dự với chúng tôi, mang đến với chúng tôi những tình cảm đẹp đẽ và chân tình, thể hiện mối quan tâm sâu sắc giữa trung ương và địa phương.

Chúng tôi nhiệt liệt chào mừng những địa biểu đại diện cho Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành và Đặc khu anh em từ Nghĩa Bình trở vào tới Minh Hải. Sự có mặt của các đồng chí không chỉ nói lên tình nghĩa thân thiết giữa các địa phương với nhau, đã từng đồng cam cộng khổ trong thời kỳ đánh Mỹ cũng như trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay, mà còn là biểu hiện mối tương đồng, chất kết dính, gắn chúng ta lại với nhau trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội trong thời gian tới.

Chúng tôi nhiệt liệt chào mừng tập thể các tác giả tham gia báo cáo khoa học ở hội nghị nầy, gồm các nhà nghiên cứu ở các viện, các giáo sư và các cán bộ giảng dạy ở các trường đại học, các đồng chí lãnh đạo quân đội và làm sử quân sự của trung ương và các quân khu 7, 9… Chúng tôi tin tưởng rằng với những ý kiến phân tích, đánh giá, nhận định, một cách khoa học và khách quan, các đồng chí sẽ làm phong phú thêm cho hội nghị, góp phần làm cho hội nghị thành công tốt đẹp. Đặc biệt chúng tôi xin cảm ơn khoa sử trường đại học Tổng Hợp thành phố Hồ Chí Minh đã nhiệt tình giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình để đi đến hội nghị hôm nay.

Chúng tôi nhiệt liệt chào mừng các đồng chí cán bộ cao niên của tỉnh, đã không ngần ngại tuổi cao sức yếu, về dự với chúng tôi, mang đến cho chúng tôi tình cảm ưu ái của lớp người đi trước, thể hiện sự chăm sóc, vun bồi thế hệ đi sau và chắc chắn sẽ chỉ bảo chúng tôi những điều quí báu.

Chúng tôi nhiệt liệt chào mừng các đồng chí trong Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân tỉnh Tiền Giang; các đại diện của Huyện ủy, Thành ủy và Ủy ban Nhân dân các huyện, thành trong tỉnh, đã có mặt đông đủ để lãnh đạo và đóng góp cho hội nghị của chúng ta. Đặc biệt chúng tôi chào mừng đại biểu của Xã ủy và Ủy ban Nhân dân hai xã Kim Sơn và Bình Đức đại diện cho nhân dân Rạch Gầm và Xoài Mút, nơi mà Long Nhương Nguyễn Huệ chọn làm địa bàn quyết chiến chiến lược để chiến thắng bọn Xiêm — Nguyễn 200 năm xưa.

Chúng tôi nhiệt liệt chào mừng các bạn phóng viên báo chí, nhiếp ảnh, thông tấn xã Việt Nam, đài phát thanh, đài truyền hình của trung ương của thành phố Hồ Chí Minh và của tỉnh nhà, đã đến với chúng tôi, để ghi lại hình ảnh và sự kiện mà hội nghị của chúng ta sẽ tiến hành. Chúng tôi tin tưởng rằng với phương tiện hiện đại và phương pháp thể hiện Mác xít, các bạn sẽ giúp cho khán thính giả, độc giả nhiều thông tin chính xác và kịp thời.

Xin kính chúc các đồng chí sức khỏe và chúc hội nghị thành công tốt đẹp.

Xin quí vị đại biểu cho phép hội nghị được bắt đầu vào chương trình chính.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười, 2021, 07:39:03 am
DIỄN VĂN KHAI MẠC HỘI NGHỊ

                                                                                                                                                       
(của đồng chí LÊ VĂN PHẨM, Ủy viên Ban
Chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Việt
Nam, bí thư tỉnh ủy tỉnh Tiền Giang)

Kính thưa đoàn chủ tịch

Kính thưa quí vị đại biểu

Kính thưa các đồng chí và các bạn

Trong không khí phấn khởi của những ngày cuối năm, giữa lúc các ngành, các cấp, các đơn vị kinh tế, văn hóa trong tỉnh kết thúc hoàn thành kế hoạch nhà nước năm 1984, chuẩn bị bước vào một năm mới đầy lạc quan và tin tưởng; giữa lúc toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đang tưng bừng kỷ niệm lần thứ 40 ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam và chuẩn bị ngày hội mừng công, tổng kết công tác tổ chức lại sản xuất nông nghiệp, công bố tỉnh hoàn thành cơ bản hợp tác hóa chủ yếu với hình thức tập đoàn sản xuất, hôm nay, giữa lòng thành phố Mỹ Tho thân yêu, chúng ta phấn khởi tiến hành hội nghị khoa học lịch sử về chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút, nhân kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng này.

Thay mặt Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc tỉnh Tiền Giang, tôi nhiệt liệt chào mừng tất cả các đồng chí đại biểu, chào mừng các đồng chí giáo sư, các nhà sử học đã mang đến cho nhân dân Tiền Giang tình cảm nồng thắm, mang đến cho hội nghị khoa học những đóng góp về sưu tầm nghiên cứu khoa học, làm cho cuộc hội nghị của chúng ta đáp ứng được lòng mong muốn của đồng bào trong tỉnh và đồng bào cả nước.

Chúng tôi chân thành chúc sức khỏe các đồng chí và bày tỏ lòng tin tưởng rằng hội nghị khoa học sẽ thành công tốt đẹp.

Thưa các đồng chí và các bạn.

Chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút là một trận thủy chiến đầu tiên và lớn nhất ở vùng đất cực Nam của Tổ quốc; trận quyết chiến chiến lược giữa đội quân nông dân Tây Sơn do anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ chỉ huy với tập đoàn phong kiến Xiêm — Nguyễn, đã đánh tan 5 vạn quân Xiêm xâm lược và mấy ngàn quân bản bộ của Nguyễn Ánh, làm thất bại âm mưu bành trướng bá quyền đại Thái của vương quốc Xiêm La dưới thời Chất-tri I cầm quyền.

Võ công lừng lẫy của nghĩa quân Tây Sơn trong chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút, mãi mãi là niềm tự hào bất diệt của mỗi người Việt Nam chúng ta; một tấm gương sáng chói về lòng dũng cảm, chí hy sinh của nhân dân ta trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc; một kỳ công rực rỡ về tài thao lược của tổ tiên ta. Chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút đã đem vinh quang về cho dân tộc và đã làm cho kẻ thù xâm lược phải nhớ mãi về sau — như chúng tự thú: «sợ Tây Sơn như sợ cọp».

Từ ấy đến nay đã 200 năm. Dẫu bị chính quyền phong kiến thực dân, đế quốc cố tình bưng bít và xuyên tạc, dẫu bị các sử gia bồi bút của chúng bóp méo và bôi bác, sức sống mãnh liệt của trận Rạch Gầm — Xoài Mút vẫn tồn tại mãi mãi trong ký ức bất diệt của nhân dân ta, ghi vào lịch sử của dân tộc ta một trong những trang chói lọi nhất.

Năm nay, chúng ta tổ chức kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút và tổ chức hội nghị khoa học nầy không ngoài mục đích ôn lại truyền thống của cha ông, tìm hiểu giá trị và âm vang của trận đánh, nhận định đánh giá tài thao lược của tổ tiên, môi trường và hoàn cảnh xã hội của hai thế kỷ trước v.v… đồng thời để khẳng định một vấn đề có tính thời sự và thời đại, rằng: một dân tộc dù đất không rộng, người không đông, nếu biết đoàn kết đứng lên chống giặc giữ nước, có đường lối đúng đắn, thì dân tộc đó nhất định sẽ chiến thắng.

Thưa các đồng chí và các bạn

Trong hoàn cảnh có nhiều công việc bề bộn của những ngày năm hết tết đến này, chúng tôi tổ chức hội nghị như hôm nay, chắc chắn sẽ có nhiều thiếu sót, khuyết điểm, cả về nội dung và hình thức, ăn nghỉ và đi lại, tiếp xúc và thăm hỏi, giải trí và sức khỏe… chúng tôi mong rằng các đồng chí và các bạn thật sự thông cảm và mạnh dạn đóng góp cho chúng tôi. Về phần mình, chúng tôi hết sức cố gắng phục vụ các đồng chí, khắc phục những gì có thể khắc phục được để đáp ứng nhu cầu của đại biểu hội nghị, làm cho hội nghị đạt kết quả tốt đẹp và thành công rực rỡ.

Một lần nữa xin nhiệt liệt chào mừng tất cả các đồng chí.

Chúc những ngày các đồng chí lưu lại ở Tiền Giang vui tươi và sức khỏe.

Tôi xin tuyên bố khai mạc hội nghị của chúng ta.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười, 2021, 07:44:00 am
RẠCH GẦM — XOÀI MÚT, QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ NHIỆM VỤ TRƯỚC MẮT CỦA CHÚNG TA

Báo cáo của Ban Tổ chức Hội nghị do đồng
chí NGUYỄN KHẮC THUẦN, Phó chủ
nhiệm Bộ môn lịch sử dân tộc trường đại
học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Phó
ban tổ chức hội nghị, chấp bút soạn thảo và trình bày

Đúng hai trăm năm trước đây, vào đêm 18 rạng ngày 19 tháng 1 năm 1785 (tức đêm mùng 8 rạng ngày mùng 9 tháng chạp năm Giáp Thìn), trên khúc sông Tiền từ Rạch Gầm đến Xoài Mút, một trận ác chiến đã diễn ra giữa quân đội Tây Sơn với quân xâm lược Xiêm La do tên bán nước Nguyễn Ánh nhục nhã rước về. Và kỳ diệu thay, chỉ trong vòng chưa đầy một ngày, năm vạn quân Xiêm hung hãn cùng với hàng ngàn quân bản bộ của Nguyễn Ánh đã bị đánh tan tành!

Võ công lừng lẫy ấy chẳng những đã đè bẹp hoàn toàn ý chí xâm lăng của lũ cướp nước mà còn trừng trị đích đáng hành động bán nước đê hèn của tập đoàn Nguyễn Ánh; chẳng những đã tạo ra bước ngoặt trọng đại cho toàn bộ quá trình phát triển nhảy vọt sau đó của phong trào Tây Sơn, mà còn làm rạng rỡ với những trang sử oai hùng của dân tộc.

Rạch Gầm — Xoài Mút là một trong ba trận thủy chiến lớn nhất, và là một trong những trận quyết chiến chiến lược kiệt xuất nhất của lịch sử nước nhà.

Nhưng tiếc thay, cũng như tất cả những cống hiến vĩ đại khác của phong trào Tây Sơn, sự kiện có ý nghĩa và tầm vóc lịch sử lớn lao này, ngay từ khi vừa mới diễn ra, đã bị các thế lực phản động ở trong cũng như ngoài nước cố tình bóp méo và xuyên tác. Nghịch lý ấy đã tồn tại trong sách vở trên ngót 150 năm trời!

Phải đợi đến sau cách mạng tháng Tám, bất công này mới được xóa bỏ. Giới sử học Mác-xít nước ta đã trả lại vinh quang ngàn đời bất diệt cho phong trào Tây Sơn nói chung và cho trận Rạch Gầm — Xoài Mút nói riêng.

Đến nay, tuy công cuộc nghiên cứu đang tiếp tục, tuy nhiều vấn đề đặt ra vẫn chưa được giải quyết một cách thỏa đáng, nhưng rõ ràng, chúng ta đã đạt được những thành tựu rất đáng tự hào. Hàng loạt các giáo trình được dùng để giảng dạy chính thức trong các trường đại học, cao đẳng và trung học, hàng loạt các luận văn có giá trị được công bố trên nhiều tạp chí khoa học trong thời gian qua(1), tự nó đã nói lên điều đó.

Năm 1976, tác phẩm Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc ra đời(2) đã đánh dấu một bước phát triển quan trọng của quá trình nghiên cứu về trận Rạch Gầm — Xoài Mút. Các tác giả Phan Huy Lê, Bùi Đăng Dũng, Phan Đại Doãn, Phạm Thị Tâm và Trần Bá Chi đã giành hẳn một chương (chương V từ trang 311 đến trang 350) để trình bày về trận quyết chiến chiến lược này. Tác phẩm chẳng những đã tổng kết một cách sinh động toàn bộ thành tựu nghiên cứu trước đó của giới sử học Mác-xít nước ta về đề tài này, mà còn có công bổ sung và chỉnh lý rất nhiều tài liệu thư tịch có giá trị. Một công trình kết tinh sức lao động công phu và nghiêm túc của một tập thể tác giả như vậy, lại được ra mắt bạn đọc cả nước vào mùa Xuân đầu tiên sau trận đại thắng mùa Xuân năm 1975, thật có ý nghĩa biết dường nào.

Cuối năm 1976, lần đầu tiên trên mảnh đất vinh hạnh được Nguyễn Huệ chọn làm địa bàn tiêu diệt quân Xiêm — Nguyễn, Tỉnh Ủy và Ủy ban Nhân dân tỉnh Tiền Giang đã tổ chức trọng thể, lễ kỷ niệm lần thứ 192 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút. Sự kiện này không phải chỉ tỏ rõ một tấm lòng thành kính đối với các vị anh hùng tiền bối, mà quan trọng hơn, đã bộ lộ rất sớm, một nhận thức thật đầy đủ và sâu sắc của các đồng chí lãnh đạo tỉnh Tiền Giang về ý nghĩa và giá trị đặc biệt của tinh hoa truyền thống dân tộc trong giai đoạn cách mạng mới.

Nhân dịp này, giáo sư Nguyễn Công Bình, giáo sư Nguyễn Đổng Chi(3) cùng nhiều cán bộ nghiên cứu khác đã công bố một số kết quả khảo cứu mới của mình(1). Công cuộc nghiên cứu về trận quyết chiến chiến lược Rạch Gầm — Xoài Mút tiến thêm một bước rất đáng kể. Đây là lần đầu tiên, việc tổ chức khảo sát thực địa được tiến hành. Các công trình mới này, vì thế mà có sức hấp dẫn rất đặc biệt.

Từ đó, tám năm đã trôi qua...

Trong bề bộn của hàng loạt đề tài vừa có ý nghĩa khoa học lại có ý nghĩa chính trị và thời sự lớn lao, tám năm chưa phải là khoảng thời gian đủ để chúng ta hoàn thiện những khía cạnh mà các tác giả đi trước chưa kịp hoàn thiện, nhưng rõ ràng là, từ hôm nay và từ Tiền Giang, thực tiễn sôi động đang đòi hỏi chúng ta phải có những giải pháp mới. Trong bối cảnh đó, thật đáng khích lệ biết bao khi Tỉnh Ủy và Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Tiền Giang quyết định tổ chức Hội nghị Khoa học Lịch sử về chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút, nhân kỷ niệm trọng thể lần thứ 200 ngày nổ ra trận quyết chiến chiến lược kiệt xuất này.

Xin cho phép tôi được thay mặt Ban Tổ Chức Hội Nghị, kính gửi đến Tỉnh ủy và Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Tiền Giang lời cảm ơn chân thành nhất của chúng tôi. Cũng nhân dịp này, xin cho phép tôi được thay mặt Ban Tổ Chức Hội Nghị, nhiệt liệt hoan nghênh và chân thành cảm ơn các trung tâm nghiên cứu và đào tạo, các cơ quan hữu quan, các giáo sư, các nhà nghiên cứu cùng tất cả các tác giả khác đã vui lòng cộng tác chặt chẽ và có hiệu quả với chúng tôi, để hôm nay, chúng ta có thể tiến hành được cuộc Hội Nghị Khoa học này, đúng như kế hoạch đã định.

Như trên đã nói, các tác giả đi trước chẳng những đã để lại chúng ta những thành tựu, mà còn có công gợi cho chúng ta một số vấn đề cần tiếp tục thảo luận thêm. Trong công tác nghiên cứu, cả hai phần di sản mà chúng ta được vinh hạnh thừa hưởng này đều là rất đáng quý. Nhưng, đứng trước khá nhiều vấn đề đặt ra từ những công trình khảo cứu đã được công bố, việc chọn lựa những vấn đề nào nổi bật nhất để cùng nhau trao đổi, thảo luận trước là điều cần thiết và cũng thật tự nhiên. Xuất phát từ ý muốn khiêm nhượng và chân thành ấy, các đồng chí trong Ban Tổ chức Hội nghị có bàn bạc và nhất trí giao cho tôi soạn thảo bản báo cáo có tính chất đề dẫn này.

Sau đây, tôi xin lần lượt nêu lên những vấn đề mà Ban Tổ chức Hội nghị chúng tôi cho là nổi bật nhất.


(1) Xem Thư mục về phong trào Tây Sơn, Ban tuyên huấn tỉnh ủy tỉnh Tiền Giang xuất bản, 8-1984.
(2) Nhà Xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 1976.
(3) Giáo sư Nguyễn Đổng Chi vừa vĩnh biệt chúng ta vào 7-1984.
(4) Xem Chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút, Ban Tuyên Giáo và Ty Thông Tin Văn Hóa Tiền Giang xuất bản, 1-1977.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười, 2021, 07:49:01 am
I — MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG QUANH PHƯƠNG HƯỚNG NGHIÊN CỨU VỀ TRẬN RẠCH GẦM — XOÀI MÚT HIỆN NAY

Trước khi bước vào trình bày chương V (chương viết về trận Rạch Gầm — Xoài Mút), các tác giả Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc(1) có chân tình tâm sự: «Viết chương này (tức chương V — N.K.T.) trước khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, chúng tôi chưa có điều kiện tiến hành khảo sát và sưu tầm tài liệu có liên quan đến chiến thắng tại vùng Rạch Gầm — Xoài Mút. Do đó, so với những chương khác của tập sách, chương này có hạn chế lớn về nguồn tư liệu địa phương mà chúng tôi chưa nghiên cứu được»(2).

Trước hoàn cảnh đặc biệt khó khăn như vậy, các tác giả đành phải tạm thời giới hạn nguồn tài liệu của mình trong khuôn khổ di sản thư tịch. Đây cũng là đặc điểm chung, thể hiện những hạn chế tất yếu của các công trình khảo cứu về trận Rạch Gầm — Xoài Mút trước năm 1975.

Tuy thiếu hẳn nguồn tài liệu khảo sát thực địa, nhưng bù lại, các tác giả Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc đã có công thu tập và chỉnh lý một khối lượng thư tịch rất lớn lao. Những kết luận khoa học trên cơ sở thư tịch nêu lên ở đây đều giàu sức thuyết phục. Tuy nhiên thực tế cho thấy rằng quá trình khảo sát thực địa vẫn thường đồng thời là quá trình phát hiện thêm thư tịch mới. Đành rằng, những thư tịch quan trọng nhất đều đã được các tác giả thu tập và giới thiệu, song điều ấy không có nghĩa là khâu thư tịch đã hoàn thiện. Hiện tại, còn một số thư tịch có giá trị bổ sung, thậm chí là cả một số thư tịch có giá trị bổ sung, thậm chí là cả chỉnh lý một số chi tiết trong hiểu biết của chúng ta chung quanh đề tài này, nhưng vẫn chưa được khai thác. Chúng tôi muốn nói đến kho Văn Khố của Hội Truyền Giáo Ngoại quốc ở Paris (Archives des Missions Étrangères de Paris), đến những cuốn đặc khảo địa phương được biên soạn sớm nhất (như Monographie de la province de Mỹ Tho)(3), đến các thư tịch Hán Nôm thời Gia Long (như Nguyễn Triều long hưng sự tích)(4), và đến những ghi chép đầu tiên bằng chữ quốc ngữ (như Sử ký Đại Nam Việt)(5)... v.v...

Tóm lại, tiếp tục hoàn thiện khâu tài liệu thư tịch là một trong những khuynh hướng quan trọng của chúng ta.

Nhưng, yêu cầu bức thiết nhất, nổi bật nhất hiện nay vẫn là tổ chức khảo sát thực địa. Tây Sơn luôn luôn hành quân thần tốc. Rạch Gầm — Xoài Mút là trận thủy chiến. Một trận thủy chiến thần tốc diễn ra cách đây hai thế kỷ thì chắc chắn dấu tích để lại không nhiều. Đã thế, triều Nguyễn còn ra sức tìm đủ mọi cách để xóa sạch dấu vết của Tây Sơn. Những sự thực khách quan ấy tuy có hạn chế khả năng phát hiện tài liệu, nhất là tài liệu hiện vật, nhưng hoàn toàn không thể làm bế tắc công tác khảo sát thực địa, càng không thể làm cho công tác khảo sát thực địa của chúng ta trở nên vô nghĩa. Ngược lại, càng đi khảo sát, chúng ta càng thấy thêm nhiều vấn đề lý thú mới đặt ra. Những kết quả khảo sát mới về trận Rạch Gầm — Xoài Mút trong mấy năm qua tự nó đã nói lên điều đó.

Trong nhận thức về phương hướng nghiên cứu, chúng ta vẫn thường nói đến sự hợp tác chặt chẽ và có hiệu quả giữa các ngành khoa học có liên quan. Nhưng, nhìn lại quá trình nghiên cứu đề tài này, chúng ta có thể thấy ngay rằng sự tham gia của các ngành khoa khác chưa nhiều. Không ít vấn đề nằm ngoài phạm vi hiểu biết thông thường của các nhà nghiên cứu lịch sử, hiện tại vẫn còn gần như để trống. Chúng tôi muốn đặc biệt nhấn mạnh đến sự cần thiết phải có mặt của các chuyên gia về quân sự. Rạch Gầm — Xoài Mút là một sự kiện quân sự đặc sắc. Muốn nghiên cứu tốt sự kiện quân sự đặc sắc ấy, tất yếu phải có sự tham gia của các nhà quân sự.

Tóm lại là, tiếp tục hoàn thiện tài liệu thư tịch, đồng thời tổ chức tốt công tác khảo sát thực địa và phối hợp nhiều ngành khoa học có liên quan cùng tham gia nghiên cứu là ba vấn đề nổi bật nhất chung quanh phương hướng nghiên cứu trận Rạch Gầm — Xoài Mút hiện nay.


(1) Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 1976.
(2) Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc, Sách đã dẫn, trang 311.
(3) Publications de la Société des Études Indochinoises, Impr. Ménard, Saigon, 1902.
(4) Tác giả: Trần Văn Tuấn. Xem bản dịch của Trung Tâm Học liệu Sài Gòn, 1968.
(5) Khuyết danh. Đã được Bộ Quốc gia Giáo dục (chế độ cũ) xuất bản, Sài Gòn, 1960


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười, 2021, 07:54:08 am
II. — MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHUNG QUANH DIỄN TIẾN LỊCH SỬ CỦA TRẬN RẠCH GẦM — XOÀI MÚT

1) Về cuộc xâm lăng của quân Xiêm La

Trong lịch sử bang giao với nước ta, Xiêm La (tên cũ của Thái Lan ngày nay) đã từng rất nhiều lần trắng trợn can thiệp thô bạo hoặc trực tiếp đem quân sang cướp phá và xâm lược nước ta. Chúng tôi cho rằng, phải đặt cuộc xâm lăng của quân Xiêm năm 1784 trong toàn bộ tham vọng bành trướng xấu xa ấy của chúng mới có thể thấy hết ý nghĩa cũng như tầm vóc thắng lợi của Tây Sơn trong trận Rạch Gầm — Xoài Mút. Và bây giờ, cũng đã đến lúc phải có một biên niên những hành vi can thiệp và xâm lăng có hệ thống của quân Xiêm đối với nước ta trong nhận thức lịch sử của mỗi người. Sự kiện năm 1784 không phải là một sự kiện cá biệt. Sự kiện đó có gắn liền với tội bán nước nhục nhã của Nguyễn Ánh, nhưng cội nguồn sâu xa của nó lại là ở những mưu đồ chính trị xấu xa của bọn thống trị Xiêm La.

Năm 1784, cuộc xâm lăng của quân Xiêm đã diễn ra như thế nào? Trước năm 1965, do căn cứ vào ghi chép của chính sử nhà Nguyễn nên chúng ta tưởng rằng tổng số quân Xiêm do Nguyễn Ánh rước về là hai vạn. Hai vạn thủy binh. Từ năm 1965, khi phát hiện ra Mạc thị gia phả(1), chúng ta phủ định con số hai vạn nói trên và cho rằng tổng số quân Xiêm do hai cháu của vua Xiêm là Chiêu Tăng và Chiêu Sương chỉ huy, chia làm hai đạo cùng tiến sang nước ta. Đạo thủy binh gồm hai vạn do trực tiếp cầm đầu, còn đạo bộ binh gồm ba vạn thì giao cho các tướng Lục Côn, Sa Uyển và Chiêu Thùy Biện(2) quản lãnh. Ở đây, vấn đề hiện vẫn chưa được làm sáng tỏ là hai đạo quân thủy bộ này đã tham gia và phối hợp với nhau như thế nào trong quá trình xâm lăng nước ta cũng như trong trận Rạch Gầm — Xoài Mút? Và, nếu có bộ binh Xiêm La tham chiến đông đảo thì Tây Sơn đã đối phó ra sao? Trận Rạch Gầm — Xoài Mút, do vậy, ngoài đặc trưng nổi bật là thủy chiến như đã biết, liệu còn những vấn đề gì đặt ra nữa không?

2) Một số vấn đề chung quanh hoạt động của quân đội Tây Sơn ở Gia Định do phò mã Trương Văn Đa chỉ huy và về sự có mặt của Nguyễn Huệ cùng đại binh Tây Sơn ở Mỹ Tho vào đầu năm 1785.

Ngay khi quân Xiêm — Nguyễn tràn vào Gia Định, phò mã Trương Văn Đa đã chủ động tổ chức đánh trả rất quyết liệt, đồng thời cử đô úy Đặng Văn Trấn về cấp báo với bộ chỉ huy tối cao ở Quy Nhơn. Hoạt động của quân đội Tây Sơn ở Gia Định trước khi Nguyễn Huệ đem đại binh vào, chẳng những đã tỏ rõ một chuyển biến rất mới về chất trong nhận thức của đội quân nông dân trước sự cấu kết cực kỳ nguy hiểm giữa kẻ thù giai cấp và kẻ thù dân tộc, mà thực sự, cuộc chiến đấu không cân sức nhưng rất ngoan cường của họ còn góp phần to lớn vào việc tạo ra cục diện chiến trường đặc biệt ở Tiền Giang vào đầu năm 1785. Như vậy, tiền đề thắng lợi của trận Rạch Gầm — Xoài Mút đã xuất hiện ngay trong những hoạt động của quân đội Tây Sơn, nhưng, hiểu biết của chúng ta chung quanh nhân vật Trương Văn Đa và cuộc chiến đấu trước tháng 1 năm 1785 do ông lãnh đạo, quả là chưa nhiều.

Về sự có mặt của Nguyễn Huệ ở Tiền Giang vào đầu năm 1785, hiện có hai vấn đề cần tiếp tục làm sáng tỏ. Một là, Nguyễn Huệ từ Quy Nhơn đến Mỹ Tho vào thời điểm cụ thể nào? hai là, đại binh Tây Sơn cùng đi với Nguyễn Huệ có tổng số bao nhiêu?

Nhiều tác giả đã mạnh dạn nêu lên những đoán định của mình. Đành ý kiến doán định nào cũng có những cơ sở đáng tin cậy riêng, song, trước sau thì đó cũng chỉ mới là những ý kiến đoán định mà thôi. Sẽ thật là phi lý nếu chúng ta đòi hỏi phải có một con số chính xác, nhưng, chừng nào những ý kiến đoán định còn cách biệt nhau quá xa thì vấn đề này còn phải tiếp tục được thảo luận thêm(3).

Căn cứ vào nhiều thư tịch khác nhau, chúng ta có thể nói trận Rạch Gầm — Xoài Mút nổ ra vào tháng chạp năm Giáp Thìn (tức tháng 1 năm 1785). Nhưng, nếu hỏi thêm rằng, trận Rạch Gầm — Xoài Mút nổ ra ngày cụ thể nào của tháng chạp năm Giáp Thìn thì quả thật khó mà trả lời chính xác được. Hiện nay, dựa trên những kết quả chung về phân tích thư tịch, chúng ta tạm thời nói trận Rạch Gầm — Xoài Mút nổ rao và đêm mùng 8 rạng ngày mùng 9 tháng chạp năm Giáp Thìn (đêm 18 rạng 19 tháng 1 năm 1785), nhưng điều này không có nghĩa là vấn đề thời điểm của trận Rạch Gầm — Xoài Mút đã được giải quyết triệt để. Riêng khía cạnh này, ý kiến nêu ra tuy sai biệt nhau không quá xa, nhưng dẫu sao thì vẫn còn có sai biệt(4).


(1) Xem: Ca Văn Thỉnh «Mạc thị gia phả» và trận Rạch Gầm — Xoài Mút. Nghiên Cứu Lịch Sử số 79, Hà Nội, 1965.
(2) Còn phiên âm là Chiêu Thùy Bền, Chiều Thùy Bèn…
(3) Ví dụ: các tác giả Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc đoán định tổng số quân Tây Sơn tham trận có khoảng 2 vạn (kể cả quân của phò mã Trương Văn Đa). Nhưng Nguyễn Đổng Chi, trong báo cáo in ở Chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút (Tiền Giang, 1977), lại đoán định quân Tây Sơn có đến 5 vạn
(4) Đêm mùng 8 rạng ngày 9 tháng chap Giáp Thìn và đêm mùng 9 rạng mùng 10 tháng chạp Giáp Thìn.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười, 2021, 07:57:32 am
3) Về không gian của trận Rạch Gầm — Xoài Mút

Cách nhà nghiên cứu đều nói dại bản doanh của Tây Sơn đặt ở Mỹ Tho. Trên bản đồ hiện đại, Mỹ Tho là tên một thành phố có quy mô kiến thiết ngày càng rộng lớn. Khái niệm đồn Mỹ Tho xưa tất nhiên là không thể bao hoàn toàn bộ thành phố Mỹ Tho ngày nay rồi. Vậy thì, đồn Mỹ Tho xưa nằm ở đâu? Bản đồ của các tác giả Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc ghi rõ đại bản doanh Tây Sơn nằm bên hữu ngạn sông Bảo Định. Theo chúng tôi, sự đoán định nầy cần cân nhắc thêm. Cũng có tác giả cho rằng đồn Mỹ Tho phải nằm bên tả ngạn sông Bảo Định, nhưng, ý kiến này lại chưa được giải thích cặn kẽ. Gần đây, nhiều đoàn khảo sát thực địa cho rằng, đồn Mỹ Tho xưa có nhiều khả năng nằm bên tả ngạn sông Bảo Định hơn. Theo chúng tôi, đây là điều rất đáng suy nghĩ.

Đối đầu với đại bản doanh Tây Sơn ở Mỹ Tho là lực lượng Xiêm — Nguyễn ở Trà Tân. Nhưng, Trà Tân là tên của vùng đất cụ thể nào? Các địa danh Trà Tân, Trà Luật, Tà Luật, Trà Luộc, Trà Suốt, Trà Lọt… liên hệ với nhau như thế nào? Nhiều tác giả cho rằng Trà Tân xưa chính là khu vực vàm Trà Tân ngày nay(1). Nhiều đoàn khảo sát tại Tiền Giang từ sau năm 1975 đến nay cũng có nhận định như vậy. Nhưng, cũng có một số tác giả lại cho rằng Trà Tân xưa chính là khu vực Trà Lọt ngày nay(2). Sự chỉ định khác nhau này dẫn đến những cách hiểu cũng rất khác nhau về không gia trận Rạch Gầm — Xoài Mút.

Một khi đồn Mỹ Tho được coi là địa bản doanh, Rạch Gầm — Xoài Mút là những vị trí ém quân mai phục thì chốt tiền tiêu của quân đội Tây Sơn sẽ ở đâu? Hồ sơ khảo sát của Khoa Sử trường đại học Tổng Hợp thành phố Hồ Chí Minh (5-1984) có nói đến một con rạch ở phía trên rạch Gầm và thông lưu với Rạch Gầm, có tên là rạch Rau Răm. Phải chăng, đây là chốt tiền tiêu của Tây Sơn? Nếu quả đúng như vậy thì rõ ràng đây là một vị trí quan trọng mà các công trình nghiên cứu về trận Rạch Gầm — Xoài Mút từ trước tới nay chưa hề nhắc tới.

Rạch Gầm và Xoài Mút là những chi lưu của Tiền Giang. Ngay nay do những biến đổi tự nhiên của địa hình, rạch Xoài Mút chỉ còn là một con rạch rất nhỏ. Nhưng, theo thư tịch cũ, xưa kia cả Rạch Gầm lẫn Xoài Mút đều là những chi lưu đáng kể của Tiền Giang. Trên cả hai chi lưu đáng kể ấy, Nguyễn Huệ đã bố trí mai phục binh thuyền ở vị trí cụ thể nào? Vấn đề này, gần như chưa có ai bàn tới, và vì lẽ đó, chúng ta chỉ nói đến Rạch Gầm và Xoài Mút một cách chung chung.

Cũng chung quanh không gian cụ thể của trận Rạch Gầm — Xoài Mút, có một vấn đề thật đơn giản, nhưng tiếc thay, lại từng được trình bày một cách phức tạp, đó là mối tương quan địa lý giữa các vị trí Mỹ Tho, Xoài Mút, cù lao Thới Sơn, Rạch Gầm, Trà Tân… Các công trình chỉ dựa trên thư tịch thì rõ ràng là phải ước đoán khoảng cách giữa các vị trí trên. Nhưng, các công trình khảo sát thực địa mà vẫn phải ước đoán (và ước đoán sai biệt nhau quá xa) là điều cần sớm được giải quyết.

Vấn đề không gian và vấn đề thời gian của trận Rạch Gầm — Xoài Mút có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau. Không giải quyết triệt để vấn đề này thì vấn đề kia thực sự cũng chỉ có ý nghĩa tạm thời như là tương truyền mà thôi. Mặt khác, chừng nào chưa giải quyết triệt để đồng thời cả hai vấn đề này thì các vấn đề liên quan khác cũng chưa thể giải quyết trọn vẹn được.

4) Về những diễn biến của chiến trường Gia Định sau khi quân Xiêm — Nguyễn đại bại ở Rạch Gầm — Xoài Mút

Khúc sông Tiền từ Rạch Gầm đến Xoài Mút là nơi được Nguyễn Huệ chọn làm quyết chiến điểm, nhưng trận Rạch Gầm — Xoài Mút, hiểu theo ý nghĩa đầy đủ của nó, thì không phải chỉ diễn ra trong phạm vi khu vực quyết chiến điểm nói trên. Cuộc truy đuổi ráo riết quân đội Tây Sơn, khiến cho bè lũ Nguyễn Ánh phải chạy bán sống bán chết, để rồi rốt cuộc phải lưu vong nhục nhã, khiến cho «Người Xiêm từ sau cuộc bại trận năm Giáp Thìn, miệng tuy nói khoác mà lòng thì sợ Tây Sơn như cọp»(3), rõ ràng là những hoạt động không thể tách rời trận Rạch Gầm — Xoài Mút. Chúng ta có thể nói rằng, cùng với trận quyết chiến chiến lược Rạch Gầm — Xoài Mút, những cuộc truy đuổi ráo riết này của quân đội Tây Sơn đã thực sự góp phần rất quan trọng vào việc hoàn thành triệt để sứ mạng bảo vệ trọn vẹn biên cương phía Nam lúc bấy giờ. Thắng lợi của cuộc truy đuổi, chẳng những phản ánh ảnh hưởng mạnh mẽ mà còn nói lên tầm vóc lớn lao của trận Rạch Gầm — Xoài Mút. Từ nhận thức như vậy, chúng tôi cho rằng, cần tiếp tục nghiên cứu để từng bước dựng lại một cách có hệ thống những diễn biến lịch sử của chiến trường Gia Định sau trận giao tranh kịch liệt ở Tiền Giang.

5) Về sự đóng góp của nhân dân Tiền Giang trong trận Rạch Gầm — Xoài Mút

Cho đến nay mà nói, do thời gian có hạn, các đoàn khảo sát của chúng ta chưa thể giải quyết thỏa đáng vấn đề này. Và đây cũng là một khiếm khuyết cần sớm được khắc phục. Ở một vùng đất có quá nhiều biến cố lớn lao như miền Nam nói chung và Tiền Giang nói riêng, việc thu thập tài liệu dân gian về Tây Sơn không phải là dễ. Tuy nhiên, cả về lý luận lẫn thực tiễn, chúng tôi thấy khả năng thu tập được tài liệu này vẫn còn. Về lý luận, Rạch Gầm — Xoài Mút là trận mai phục kết hợp với bao vây tiêu diệt. Muốn mai phục được mở một vùng rất có dân như Rạch Gầm — Xoài Mút thì vấn đề cốt lõi đầu tiên là phải nắm được lòng dân. Nơi ẩn náu kín đáo nhất, lợi hại nhất của quân đội không phải là địa hình hiểm trở mà chính là lòng dân. Thắng lợi của trận Rạch Gầm — Xoài Mút, do vậy không phải chỉ là thắng lợi của quân đội Tây Sơn mà nhất định còn phải là thắng lợi của nhân dân Tiền Giang lúc bấy giờ. Về mặt thực tiễn, kết quả khảo sát của một số đoàn trong thời gian qua đã thực sự mở ra những triển vọng rất tốt đẹp. Tuy chưa nhiều nhưng bước đầu chúng ta cũng đã sơ bộ nắm được việc nhân dân Tiền Giang và các vùng lân cận đã cung cấp vỏ dừa khô cho Nguyễn Huệ để Nguyễn Huệ làm nghi binh như thế nào, việc nhân dân một số nơi đã ủng hộ Tây Sơn ra sao… v.v… Dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn nói trên, chúng tôi mong muốn tất cả các đoàn khảo sát sau này sẽ nhanh chóng làm nổi rõ những cống hiến của nhân dân Tiền Giang trong cuộc chiến đấu bảo vệ độc lập rất đặc biệt này.

*
*   *

Trên đây là một số vấn đề mà Ban Tổ Chức chúng tôi cho là nổi bật nhất, do đó, cần được tập trung thảo luận trước nhất để sớm được giải quyết thỏa đáng nhất. Từ diễn đàn của cuộc thảo luận quan trọng này, chúng tôi hy vọng rằng, trong một thời gian không xa nữa, chúng ta sẽ có những công trình nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc mọi khía cạnh của trận Rạch Gầm — Xoài Mút. Chúc Hội Nghị Khoa Học Lịch sử về chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút của chúng ta thành công tốt đẹp. Chúc tất cả quý vị có mặt hôm nay dồi dào sức khỏe để cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ nặng nề của chúng ta, nhiệm vụ tiếp tục hoàn thiện công trình nghiên cứu về trận Rạch Gầm — Xoài Mút.


(1) Xem bản đồ in trong Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc, Nhà xuất bản QĐND, Hà Nội, 1976
(2) Xem các báo cáo in trong Chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút, Tiền Giang, 1977.
(3) Vũ Thế Dinh: Mạc thị gia phả


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười, 2021, 08:00:16 am
QUAN HỆ GIỮA THÁI LAN VÀ CÁC NƯỚC TRÊN BÁN ĐẢO TRUNG ẤN
Ở NỬA CUỐI THẾ KỶ XVIII

ĐỖ VĂN NHUNG
(Phó chủ nhiệm bộ môn lịch sử Thế giới
                                                                                                                                             
Trường Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh)

Vào nửa cuối thế kỷ thứ XVIII, Thái Lan trở thành một vương quốc lớn mạnh trong số các nước ở vùng Đông Nam Á, trong khi đó thì các nước láng giềng của Thái Lan lại rơi vào một thời kỳ khủng hoảng kéo dài và bị suy yếu. Tình hình ấy đã kích thích tham vọng bành trướng của giai cấp phong kiến cầm quyền ở Thái Lan và tạo thời cơ thuận lợi cho nó thực hiện chính sách xâm lược đối với các nước này.

Về tình hình phát triển nội tại của Thái Lan thì cho tới thế kỷ thứ XVIII, giai cấp phong kiến Thái Lan đã tiến được những bước dài trên con đường xây dựng một nhà nước trung ương tập quyền, xóa bỏ tình trạng cát cứ phong kiến. Trải qua một quá trình đấu tranh lâu dài giữa các vua của A-yu-thay-a và các thủ lĩnh địa phương, cho tới lúc này hầu hết các vùng ở lưu vực sông Chao Phia (hoặc thường gọi là Mê-nam Chao Phơ-ray-a) đều bị đặt dưới quyền kiểm soát của người đứng đầu vương quốc A-yu-thay-a. Vương quốc này đã đóng vai trò là trung tâm qui tụ của quốc gia thống nhất trung ương tập quyền Thái Lan(1) với thủ đô là A-yu-thay-a.

Sự thống nhất quốc gia, dù chỉ là mới được xây dựng, đã đem lại cho Thái Lan nguồn sức mạnh mới. Không những nó tạo thuận lợi cho nền kinh tế trong nước phát triển mà còn giúp cho chính quyền trung ương có thể huy động được tới mức cần thiết nguồn nhân lực và vật lực của tất cả các miền trong nước để đương đầu với kẻ thù từ bên ngoài kéo đến xâm lược Thái Lan. Do đó, Thái Lan lúc này có đủ sức mạnh để đẩy lùi hoặc làm thất bại tất cả các cuộc xâm lăng từ ngoài tới, giữ vững và củng cố nền độc lập và thống nhất quốc gia. Giai cấp phong kiến cầm quyền ở Thái Lan đã khôn khéo lợi dụng những chiến thắng chống ngoại xâm đó để đề cao vai trò và củng cố địa vị thống trị của nói đối với nhân dân lao động ở trong nước và sử dụng sức mạnh đó để mở rộng phạm vi quyền lực của nó sang các nước láng giềng ở phía Đông.

Ở nửa cuối thế kỷ thứ XVIII, mối đe dọa lớn và thường xuyên đối với Thái Lan là những cuộc xâm lăng của Miến Điện ở phía Tây. Vào thời kỳ này nước Miến Điện, sau một thời gian loạn lạc và bị chia cắt về chính trị, đã được thống nhất dưới quyền lực của vua A-la-ung-pay-a (1753). Cũng giống như phần lớn các ông vua phong kiến khác trong lịch sử thế giới, A-la-ung-pay-a cũng theo đuổi một chính sách cổ truyền là một mặt tìm mọi cách để củng cố địa vị thống trị của mình ở trong nước, một mặt khác thì ra sức mở rộng phạm vi thống trị của mình ra các vùng chung quanh. Do đó, năm 1780, A-la-ung-pay-a đã đem quân sang xâm lược nước Thái Lan. Quân Miến Điện tiến vào lãnh thổ của Thái Lan từ phía Tây Nam, lần lượt đánh chiếm các tỉnh Phét-cha-bu-rai, Rat-cha-bu-ri, Xu-phan-bu-ri và bao vây kinh thành A-yu-thay-a. Trước quân thù xâm lược, nhân dân Thái Lan đã chiến đấu rất kiên cường khiến cho quân Miến Điện không chiếm nổi A-yu-thay-a. Trong một trận tấn công của quân Miến Điện với ý định đánh chiếm kinh thành này, A-la-ung-pay-a bị trọng thương. Quân Miến Điện bị mất chủ tướng và thấy rằng chúng không đủ sức để khuất phục Thái Lan đã phải rút về nước. Dọc đường, A-la-ung-pay-a đã chết vì vết thương quá nặng.

Con trai của A-la-ung-pya-ya là Mang-a (hoặc còn gọi là Hsin-hy-u-sin) lên nối ngôi vẫn tiếp tục theo đuổi chính sách xâm lược của cha trước kia. Năm 1765, Mang-ra điều quân tiến đánh Thái Lan từ hai hướng: một cánh quân tiến từ phía Bắc xuống, qua đường Chiềng-mai; cánh quân thứ hai đánh thốc từ phía Nam lên, qua đường Xu-phan-bu-ri là đường gần nhất để tới kinh đô A-yu-thay-a làm cho đối phương không kịp trở tay đối phó. Tháng 2 năm 1766, quân Miến Điện đã tiến tới A-yu-thay-a và bao vây kinh đô Thái Lan một lần nữa.

Trước sự đe dọa của kẻ thù, một bộ phận của giai cấp phong kiến Thái Lan mà đại biểu là vua Ê-ka-tai (1788 — 1767) đã tỏ ra khiếp nhược, muốn đầu hàng, không dám kiên quyết dựa vào nhân dân để kháng chiến. Do bộ phận lãnh đạo yếu hèn, mất tinh thần chiến đấu nên A-yu-thay-a đã bị thất thủ vào tháng 4 năm 1767. Quân Miến Điện cướp phá kinh đô Thái Lan rất nặng nề khiến cho thành phố này không thể phục hồi được nữa. Chúng còn bắt đem đi 30.000 người, trong số đó có nhiều quan chức cấp cao trong triều đình Thái Lan và cả những người thuộc hoàng tộc.


(1) Trong thời kỳ cổ đại, người Thái Lan gọi tên nước của họ là Mường Thái và tự nhận mình là người Thái. Danh từ Thái có nghĩa là Tự do. Danh xưng Xiêm xuất hiện lần đầu trong một minh văn bằng tiếng Chàm ở đầu thế kỷ XI. Sau đấy người nước ngoài đều theo nhau gọi nước này là Xiêm. Từ năm 1939 trở đi, danh xưng Thái Lan bắt đầu được chính phủ nước này sử dụng và tới năm 1949 thì tên gọi đã được coi là chính thức.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười, 2021, 08:02:23 am
Người có công lớn trong việc tổ chức cuộc kháng chiến của nhân dân Thái lan đánh đuổi quân xâm lược, giành lại chủ quyền đã mất là Phià Tak (hoặc còn gọi là Tak Sin: 1767 — 1782). Vào lúc kinh thành A-yu-thay-a sắp rơi vào tay quân địch, bộ phận lãnh đạo cuộc kháng chiến của nhân dân Thái Lan tỏ ra nao núng, hoang mang. Phià Tak đã thấy trước tình hình nên rút về Chon-bu-ri và Ray-ong để tập hợp lực lượng cứu nguy cho đất nước. Các tỉnh Chon-bu-ri, Ray-ong, Chan-ta-bu-ri đã trở thành căn cứ địa vững chắc cho cuộc đấu tranh giải phóng đất nước của nhân dân Thái Lan với sự lãnh đạo của Phià Tak. Tháng 10 năm 1767 quân Thái Lan mở cuộc đại tấn công vào đại bản doanh của quân Miến Điện ở Pò-xam-tông là một địa điểm gần A-yu-thay-a, đánh tan quân xâm lược, giải phóng hoàn toàn đất nước của họ.

Chiến thắng chống ngoại xâm đã nâng cao uy tín và quyền lực của Phià Tak trước nhân dân trong nước. Ông lên ngôi vua và chọn Thon Bu-ri làm thủ đô, vì nhận thấy kinh thành A-yu-thay-a rất dễ bị quân Miến Điện tấn công và khó giữ khi bị địch bao vây. Mối quan tâm chủ yếu của Phià Tak là ổn định lại trật tự trong nước sau một thời loạn lạc và tăng cường nhà nước trung ương tập quyền, củng cố nền thống nhất quốc gia, vì lúc này xu hướng cát cứ địa phương chưa phải đã mất hẳn.

Con trai của cựu vương Bô-rô-ma-kốt là Tép-pi-pít muốn tách các tỉnh ở phía Đông thành một vùng độc lập. Tổng đốc Phít-xa-nu-lốc tên là Buang cũng tuyên bố độc lập và còn mở rộng quyền kiểm soát của y tới tận Na-khôn Sa-van. Ở phía Bắc, một nhà sư là Buan tự lập làm người cai quản Sa-vang-bu-ri, thoát ly sự điều khiển của triều đình Thon Bu-ri. Các tỉnh phái cực Nam cũng bị tách thành một vùng độc lập dưới quyền cai quản của tổng đốc Na-khôn Si Tha-ma-rát là Pra Pa-lát.

Phià Tak đã kiên quyết đấu tranh chống lại những tên phong kiến lớn âm mưu cát cứ, đồng thời nhân đà thắng lợi, ông đã giải phóng Chiềng Mai khỏi ách chiếm đóng của quân Miến Điện vào năm 1775, đẩy biên giới của Thái Lan lùi xa hơn trước về phía Bắc.

Thắng lợi mà Phià Tak thu được trong cuộc đấu tranh chống lại bọn phong kiến lớn nói trên đã góp phần củng cố nền thống nhất quốc gia và chế độ trung ương tập quyền khiến cho Thái Lan có đủ sức mạnh làm thất bại cuộc xâm lăng lần thứ hai của Miến Điện trong nửa cuối thế kỷ thứ XVIII, tức cuộc xâm lăng vào năm 1775-1776.

Dưới sự thống trị của giai cấp phong kiến tham lam và ích kỷ, nước Thái Lan lớn mạnh đã trở thành một mối đe dọa thường trực đối với các nước trên bán đảo Đông Dương. Ở phần trên, chúng ta thấy Thái Lan là nạn nhân của chính sách xâm lược của bọn phong kiến Miến Điện. Trong phần này chúng ta sẽ thấy bọn phong kiến Thái Lan đã trở thành những kẻ gieo tai họa cho các dân tộc sống trên bán đảo Đông Dương.

Nước láng giềng gần gũi nhất với Thái Lan là Cam-pu-chia đã trở thành đối tượng xâm lược của bọn phong kiến cầm quyền ở Thái Lan. Thực ra không phải mãi tới lúc này giai cấp phong kiến Thái Lan mới đưa quân sang xâm lược Cam-pu-chia. Trong những thế kỷ trước, quân xâm lược Thái Lan đã nhiều lần giày xéo lãnh thổ Cam-pu-chia và lấn chiếm đất đai. Bước sang thế kỷ thứ XVIII, các phe phái phong kiến ở Cam-pu-chia tranh giành nhau quyền vị, gây ra những cuộc nội chiến tương tàn, xô đẩy đất nước vào tình trạng suy yếu, tạo cơ hội cho kẻ thù bên ngoài can thiệp vào công việc nội bộ của Cam-pu-chia để thực hiện những tham vọng của chúng.

Năm 1736, vua Cam-pu-chia là Pra Sa-tha II (1722 — 1736) bị bọn phong kiến trong triều lật đổ. Thô-mô-rê-a-chê-a là kẻ vốn từ lâu âm mưu tranh đoạt ngôi vua nhưng chưa thực hiện được, liền lợi dụng lúc triều đình lộn xộn, đến vùng Căm-pốt dấy binh và kêu gọi vua Thái Lan giúp sức. Nhân cơ hội đó, vua Thái Lan là Ê-ka-tát liền can thiệp vào công việc nội bộ của Cam-pu-chia bằng cách điều một đạo quân sang Cam-pu-chia giúp Thô-mô-rê-a-chê-a. Đạo quân này được giao cho một người anh em của Thô-mô-rê-a-chê-a là Ang Tông chỉ huy. Ang Tông được vua Ê-ka-tát nuôi dưỡng, giúp đỡ và sử dụng như một công cụ để thực hiện những tham vọng của giai cấp phong kiến Thái Lan tiến vào chiếm đóng các tỉnh ở phía Bắc Cam-pu-chia và làm áp lực hỗ rợ cho Thô-mô-rê-a-chê-a. Nhờ có sự giúp đỡ bằng quân sự của triều đình Thái Lan, Thô-mô-rê-a-chê-a đã đánh bại được các phe phong kiến đối lập và lên làm vua vào năm 1728.

Thô-mô-rê-a-chê-a mất vào năm 1747, Ang Tông dựa vào thế lực của bọn phong kiến Thái Lan nên đã buộc được các triều thần phế bỏ các con của Thô-mô-rê-a-chê-a để đưa ông lên làm vua. Tuy nhiên địa vị của ông không vững chắc. Ít lâu sau, một trong số những người con của Thô-mô-rê-a-chê-a là Pra Út-tây II (1758 — 1775) đã lật đổ Ang Tông để giành lại ngôi vua. Vì sợ Pra Út-tây II sẽ giết mình để trừ hậu họa nên con trai của An Tông là Ang Non đã chạy sang triều đình Thái Lan nương nhờ, với ý định dựa vào binh lực của Thái Lan để trả thù và giành lại ngôi vua.

Vua Thái Lan lúc bấy giờ là Phià Tak đã mượn cớ tôn phò An Non, đưa quân sang đánh Cam-pu-chia năm 1769. Lần thứ nhất, vua Thái Lan vì thiếu chuẩn bị chu đáo nên bị thất bại. Lần thứ hai vào năm sau (1770), Phià Tak chuẩn bị chu đáo hơn. Y chia quân làm hai đạo tiến đánh Cam-pu-chia từ hai hướng: một đạo binh từ phía Bắc xuống, tràn vào chiếm đóng các tỉnh Ăng-ko (tức Xiêm Riệp), Bát-tăm-băng và Puyếc-sát; đạo thứ hai do chính Phià Tak chỉ huy, có cả Ang Non đi theo, tiến đánh từ phía Nam lên, qua đường Phnông Pênh để kẹp kinh thành U-đông giữa hai gọng kìm. Vua Út-tây không đủ sức chống lại quân xâm lược Thái Lan, đã cùng với triều thần bỏ chạy sang Việt Nam nhờ chúa Nguyễn giúp đỡ. Liên quân Việt — Cam-pu-chia đã đánh bại quân Thái Lan, buộc chúng phải rút về nước.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười, 2021, 08:03:30 am
Tuy nhiên, hòa bình vẫn chưa trở lại trên đất nước Cam-pu-chia. Ang Non không rút theo quân Thái Lan mà ở lại Cam-pu-chia chiêu mộ lực lượng, tiếp tục chống Út-tây II. Tình hình khắp nơi rối loạn, ruộng đồng bị bỏ hoang, đời sống của nhân dân bị đe dọa. Trước cảnh đất nước bị tàn phá, phần vì giặc ngoại xâm, phần vì nội chiến, vua Út-tây II quyết định nhường ngôi cho đối thủ của mình để chấm dứt cái cảnh huynh đệ tương tàn.

Dưới thời Ang Non (1775-1779), Cam-pu-chia bị biến thành một nước lệ thuộc vào Thái Lan. Ngay trong đám triều thần cũng có nhiều người bất bình với nhà vua. Họ ngấm ngầm tìm cách lật đổ nhà vua. Người cầm đầu là thượng thư Xrây bị nhà vua xử tử. Các con trai của Xrây đã nổi dậy chống lại nhà vua. Họ bắt được nhà vua, đem giết đi và tôn phù con trai của Út-tây II là Ang Eng lên làm vua khi ông này mới lên 6 tuổi.

Phià Tak được tin Ang Non là tay chân của mình bị giết liền cử binh sang đánh Cam-pu-chia năm 1782. Tướng Sa-kri được vua Thái Lan giao nhiệm vụ chỉ huy chiến dịch xâm lăng Cam-pu-chia. Chiến dịch mới bắt đầu thì tướng Sa-kri được tin Phià Tak bị mắc bệnh điên, bọn phong kiến lớn trong triều nội dậy định cướp ngôi. Vì sợ ngôi vua Thái Lan rơi vào tay kẻ khác, Sa-kri liền vội vàng đem quân về triều để diệt trừ các đối thủ. Ông lên ngôi vua lấy danh hiệu là Ra-ma-ti-bô-đi (hoặc còn gọi là Ra-ma I: 1782-1809). Ra-ma-ti-bô-đi đóng đô ở Băng Cốc và trở thành người sáng lập ra vương triều Sa-kri ở Thái Lan.

Giai cấp phong kiến Thái Lan đâu có chịu từ bỏ âm mưu xâm lược Cam-pu-chia. Năm 1794 mượn cớ tôn phù Ang Eng, đánh dẹp các phe chống đối, Ra-ma-ti-bô-đi đã đem quân lấn chiếm của Cam-pu-chia các tỉnh Bát-tam-băng, Xiêm Riệp, Mông-côn-bô-rây, Xi-xô-phôn và Ko-rat. Chẳng những thế, Ra-ma-ti-bô-đi còn bắt đêm về Băng-cốc hơn 1 vạn người Khơ-me để cưỡng bức họ làm lao dịch. Những người dân Khơ-me bất hạnh này đã bị giữ lại ở Thái Lan. Họ lập nên giữa kinh đô Băng-cốc một khu vực cư trú riêng gọi là Khu Mười Ngàn. Sang thế kỷ thứ XIX, giai cấp phong kiến Thái Lan vẫn tiếp tục thi hành chính sách mở rộng thế lực về phía Đông khiến cho tình hình ở khu vực này luôn luôn căng thẳng.

Không phải chỉ có Cam-pu-chia là nạn nhân của chính sách xâm lược đó, Từ nửa cuối thế kỷ thứ XVIII trở đi, Lào cũng là một đối tượng xâm lược của giai cấp phong kiến Thái Lan đầy tham vọng.

Ở thế kỷ thứ XVII, đặc biệt là dưới triều vua Xu-li-nha-vong-xa, Lạng-xang là một vương quốc độc lập, thống nhất và phồn vinh, nhân dân sống trong cảnh thanh bình và ổn định. Nhưng sau khi nhà vua qua đời (1694), bọn phong kiến lớn tranh giành nhau quyền vị, gây ra nội chiến và dẫn đến tình trạng đất nước bị chia cắt thành nhiều vương quốc nhỏ độc lập và đối địch lẫn nhau. Giai cấp phong kiến cầm quyền ở Thái Lan đã nhân cơ hội nước Lạn-xang suy yếu, đem quân sang chiếm vùng Săm-pa-xắc vào năm 1777. Tiếp đấy, quân xâm lược Thái Lan dưới quyền chỉ huy của tướng Phià Sa-kri đã tiến lên phía Bắc, lần lượt đánh chiếm vương quốc Viên Chăn và vương quốc Luông Pra-bang vào năm 1778, biến Lạn-xang thành một vùng lệ thuộc vào Thái Lan. Chính trong cuộc xâm lăng này, quân Thái Lan đã cướp và mang đi của Lạn-xang pho tượng Phật bằng ngọc nổi tiếng được đặt tên là Pra-bang. Vì thành phố Luông Pra-bang trước đây được chọn làm nơi thờ pho tượng này nên mới có vinh dự được mang tên như vậy. Danh xưng ấy vẫn còn được giữ cho tới ngày nay, nhưng pho tượng thì hiện nay lại ở trên đất Thái Lan.

Cũng chính trong bối cảnh lịch sử đó, và theo một đường lối chính trị xâm lược nhất quán từ đầu đến cuối đời với các nước láng giềng ở phía Đông Thái Lan, triều đình Băng-cốc đã can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam năm 1784 — 1785 với cái cớ là trợ giúp Nguyễn Ánh để khôi phục lại địa vị của họ Nguyễn ở Đàng Trong. Mặc dầu Ra-ma-li-bô-đi không đánh giá thấp đối thủ của mình là quân Tây Sơn nên đã huy động một lực lượng quân sự khá lớn gồm tới 2 vạn thủy quân và 3 vạn bộ binh, nhưng không phải lúc nào và bất cứ ở đâu vị vua «bách chiến, bách thắng»(1) là Ra-ma-ti-bô-đi cũng thu được thắng lợi. Tuy ông không trực tiếp chỉ huy đạo quân xâm lược này, nhưng ông là người vạch kế hoạch và phát động cuộc chiến tranh xâm lược ấy.

Thất bại đau đớn của 5 vạn quân Thái Lan ở Việt Nam đã làm tan vỡ cái tham vọng to lớn của Ra-ma-ti-bô-đi là muốn mở rộng biên giới phía Đông của Thái Lan tới bờ Thái Bình Dương, đặt toàn bộ bán đảo Đông Dương dưới quyền lực của mình, làm bá chủ ở miền Đông của bán đảo Trung-Ấn. Chiến thắng của quân Tây Sơn chẳng những đã chôn vùi cái uy danh lẫy lừng của Phià Sa-kri, bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia Việt Nam mà còn cứu nguy cho đất nước ta khỏi bị rơi vào cái thế cực kỳ nguy hiểm sau này là cùng một lúc bị hai kẻ thù lớn mạnh tiến công ở cả hai phía Bắc và Nam.

Chiến thắng của nhân dân Việt Nam chống quân Xiêm xâm lược trong trận Rạch Gầm — Xoài Mút ở miền Nam và bốn năm sau đó, chiến thắng chống quân xâm lược Mãn Thanh trong trận Đống Đa ở miền Bắc đã chặn đứng mưu đồ bành trướng thế lực ở vùng Đông Nam Á của hai đế quốc lớn thời bấy giờ là đế quốc A-yu-thay-a và đế quốc Mãn Thanh. Hai chiến thắng vang đội ấy biểu thị ý chí sắt đá của nhân dân Việt Nam quyết giữ vững nền độc lập quốc gia của mình và khả năng có thể bảo vệ nền độc lập ấy dù phải đương đầu với những lực lượng xâm lược lớn mạnh đến chừng nào. Hai thế kỷ đã trôi qua, tình hình quốc tế đã có nhiều chuyển biến lớn, nhưng vẫn chưa hết những kẻ quá tin vào sức mạnh của mình muốn làm cái việc mà hai trăm năm trước đây những bậc tiền bối của chúng không làm được. Trong hoàn cảnh hiện nay, khi mà chính sách bành trướng thế lực vẫn còn được coi như một biện pháp hữu hiệu của những kẻ có nhiều tham vọng, chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút và chiến thắng Đống Đa có ý nghĩa như một lời cảnh cáo đối với bọn đang theo đuổi mưu đồ biến các nước Đông Dương thành một vùng lệ thuộc.


(1) Dưới thời trị vì của Phià Tak, Phià Sa-kri là một danh tướng, đánh đâu thắng đấy nên đã lập được nhiều chiến công, được Phià Tak tin dùng, phong chức và danh hiệu là: Chao Phià tối cao, đại danh tướng có sức mạnh lẫy lừng khiến khắp các nơi đều khiếp sợ (Samdeck Chao Phya Mahakasatsuek piluehmahima Tukmakara Ra-ađet).


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười, 2021, 08:05:27 am
NHÂN KỶ NIỆM 200 NĂM
CHIẾN THẮNG RẠCH GẦM — XOÀI MÚT (1785 — 1985),
THỬ NÓI QUA VỀ CHÍNH SÁCH XÂM LƯỢC CỦA THÁI LAN
ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Giáo sư VĂN TÂN

Ngày 20 tháng 1 năm nay (1985), nhân dân ta kỷ niệm 200 năm chiến thắng lịch sử Rạch Gầm — Xoài Mút, một chiến thắng diễn ra như chớp nhoáng, làm cho quân Xiêm xâm lược mất mật kinh hồn, chúng ta nhắc lại sơ qua vài nét về chính sách xâm lược của các nhà cầm quyền Xiêm (nay là Thái Lan), để xem xem chính sách đó mang lại những gì cho nhân dân và đất nước Xiêm La.

Trong lịch sử, Xiêm xâm lược Việt Nam rất nhiều lần. Chỉ tính từ năm 1771 đến năm 1845, trong vòng 75 năm, Xiêm đã xâm lược Việt Nam đến 4 lần. Tính đổ đồng, cứ 18 năm bọn thống trị Xiêm La lại cho quân đội xâm lược Việt Nam một lần.

Năm 1771 vua Xiêm cho hai vạn quân đánh vào Hà Tiên do Mạc Thiên Tứ, một viên tướng của chúa Nguyễn trấn giữ. Mạc Thiên Tứ cùng các con chống cự rất hăng nhưng cuối cùng quân Xiêm chiếm được Hà Tiên và chiếm được cả nước Chân Lạp (nay là Campuchia) nữa.

Tháng 6 năm Nhâm Thìn (1772), chúa Nguyễn sai Nguyễn Cửu Đàm tiến theo đường Tiền Giang, cai bạ dinh Long Hồ Nguyễn Khoa Thuyên theo đường Kiên Giang, đánh quân Xiêm. Với 3.000 quân và 50 chiến thuyền, Nguyễn Khoa Thuyên đánh bại quân Xiêm, tiến thẳng đến Nam Vang (nay là Nông Pênh), vua Xiêm phải chạy sang Hà Tiên.

Tháng 2 năm Quý Tị (1773), vua Xiêm phải giảng hòa với Mạc Thiên Tứ rồi rút quân về nước, đất Hà Tiên trở về với Việt Nam nhưng nhà cửa đều bị quân Xiêm đánh phá hầu như không còn gì.

Cuối năm 1781, vua Xiêm là Trịnh Quốc Anh sai tướng Chất Tri và em Chất Tri là Sô Si đem quân xâm lược Chân Lạp. Vua Chân Lạp là Nặc Ấn phi báo cho chúa Nguyễn ở Gia Định biết. Chúa Nguyễn sai Chưởng Cơ Nguyễn Hữu Thụy đem thuyền chiến sang Chân Lạp giúp Nặc Ấn, quân Nguyễn đến La Bích, thì một cuộc đảo chính nổ ra ở đất Xiêm.

Vua Xiêm là Trịnh Quốc Anh vốn là người Trung Quốc, quê ở Triều Châu, theo cha là Trịnh Yến sang buôn bán ở Xiêm. Thấy nước Xiêm luôn luôn có rối loạn, Trịnh Yến tập hợp những kẻ lưu vong mưu toan cướp ngôi vua. Việc chưa thành thì Yến chết. Trịnh Quốc Anh theo ý nguyện của cha, cuối cùng đã đoạt được ngôi vua ở nước Xiêm.

Sau khi lên ngôi vua, Trịnh Quốc Anh nhiều lần cho quân đội sang xâm lược Hà Tiên.

Cuối năm 1781 sau khi sai Chất Tri và Sô Si mang quân sang xâm lấn Chân Lạp, Trịnh Quốc Anh mắc bệnh thần kinh, vô cớ y sai bắt vợ con Chất Tri và Sô Si giam lại. Khi quân đội của Nguyễn Hữu Thụy đến La Bích, Sô Si nói với Chất Tri:

— Vua ta bắt vợ con chúng ta, chúng ta hết sức nhưng ai biết cho chúng ta. Chi bằng chúng ta giảng hòa với người Việt.

Thế rồi Chất Tri và Sô Si giảng hòa với Nguyễn Hữu Thụy.

Giữa lúc ấy, một cuộc nổi dậy đã nổ ra ở Cổ Lạc. Trịnh Quốc Anh sai Oan Sản mang quân đi đánh dẹp. Người cầm đầu cuộc nổi dậy lại là em Oan Sản. Oan Sản mang quân trở về Vọng Các (Băng-cốc) nhân dân mở cửa thành đón Oan Sản. Trịnh Quốc Anh hoảng sợ, bỏ hoàng cung chạy trốn vào một ngôi chùa. Oan Sản bắt Quốc Anh giam lại rồi báo cho Chất Tri biết. Chất Tri đem quân tiến vào Vọng Các, sai người giết chết Trịnh Quốc Anh rồi đổ cho Oan Sản đã giết vua để có cớ giết Oan Sản. Thanh toán xong các địch thủ, Chất Tri lên ngôi vua, phong cho Sô Si làm vua thứ hai và cháu làm vua thứ ba.

Thấy tình hình nước Xiêm biến đổi theo chiều hướng có lợi cho mình, Nguyễn Hữu Thụy báo cho cháu Nguyễn biết rồi từ Chân Lạp rút quân về nước.

Tháng 2 năm Giáp Thìn (1784) bị quân Tây Sơn đánh đuổi, Nguyễn Ánh chạy sang Xiêm cầu cứu. Vua Xiêm là Chất tri cho hai tướng là Chiêu tăng và Chiêu Sương đem 20.000 quân và 5600 thuyền chiến theo đường thủy đánh vào Gia Định, tướng Chiêu Thùy Biện đem 30.000 quân từ Chân Lạp đánh vào miền tây bắc Gia Định.

Tháng 7 năm Giáp Thìn, quân Xiêm do Nguyễn Ánh dẫn đường đánh chiếm Trấn Giang, Ba Xắc, Trà Ôn, Mân Thít, Sa Đéc…

Đi đến đâu quân Xiêm cướp bóc đến đấy, nhân dân Gia Định vô cùng căm giận.

Cuối tháng 11 năm Giáp Thìn, Nguyễn Huệ đem quân vào Sài Gòn. Sau khi nghiên cứu kỹ tình hình, ông quyết định tổ chức một trận phục kích lớn trên sông Mỹ Tho từ Rạch Gầm đến Xoài Mút để tiêu diệt quân Xiêm và quân bản bộ của Nguyễn Ánh.

Tờ mờ sáng ngày 20 tháng 1 năm 1785, Nguyễn Huệ cho một đoàn thuyền chiến nhẹ ngược dòng sông Mỹ Tho đến khiêu chiến quân Xiêm ở Trà Tân.

Quân Xiêm lúc ấy đang ở tư thế sắp xuất phát từ Trà Tân, xuôi dòng sông đến đánh quân Tây Sơn ở Mỹ Tho để rồi tiến thẳng đến Sài Gòn đuổi quân Tây Sơn ra biển. Thấy quân Tây Sơn đến, Chiêu Tăng cho rằng quân Tây Sơn tự đến để tìm cái chết, tức thì y ra lệnh cho quân đội của y mở một cuộc tấn công. Đoàn thuyền Tây Sơn quay mũi thuyền, xuôi dòng sông chạy trốn. Thuyền chiến Xiêm đuổi theo sau. Lúc này nước triều đang xuống mạnh. Thuyền chiến Tây Sơn và thuyền chiến địch xuôi dòng sông với tốc độ rất nhanh. Khi đoàn thuyền địch đã lọt vào trận địa phục kích, từ Rạch Gầm cũng như từ rạch Xoài Mút, thuyền chiến Tây Sơn đổ xô ra vây kín quân địch. Rồi quân Tây Sơn từ tất cả các phía xô ra đánh địch. Trời lúc nầy đã sáng rõ, thuyên chiến địch bị đại bác, hỏa hổ, tất cả mọi mặt chĩa vào. Đội hình của chúng bị rối loạn ngay từ phút đầu. Chỉ trong một buổi sáng ngày 20 tháng 1 năm 1785, hầu như toàn bộ 50.000 quân và hơn 300 thuyền chiến bị tiêu diệt hoặc bị bắt, những đơn vị quân địch ở xa trận địa, nghe tin quân chủ lực bị tiêu diệt, cũng tự tan rã.

Thế là quân Tây Sơn đã thanh toán quân Xiêm và quân bản bộ của Nguyễn Ánh rất nhanh và rất gọn, chỉ trong vòng vài tiếng đồng hồ.

Kể từ năm 1771, đây là lần thứ hai quân Xiêm bị thất bại ở Việt Nam.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười, 2021, 08:05:53 am
Năm 1833, nhân có cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi ở Nam Kỳ, vua Xiêm cho quân thủy và quân bộ chia làm năm đạo sang xâm lược Việt Nam.

Đạo thứ nhất là quân thủy gồm có hơn một trăm thuyền chiến vượt Vịnh Xiêm La (nay là Vịnh Thái Lan) đánh chiếm Hà Tiên. Đạo thứ hai là bộ binh tiến vào Chân Lạp đánh chiếm Nam Vang để từ đó đánh chiếm Châu Đốc và An Giang. Đạo thứ ba là bộ binh đánh vào Cam Lộ thuộc tỉnh Quảng Trị. Đạo thứ tư đánh vào Cam Cát, Cam Môn. Đạo thứ năm đánh vào Trấn Ninh.

Chỉ trong khoảng thời gian độ trên dưới một tháng, tất cả quân xâm lược ở năm mặt trận đều bị quân Việt Nam đánh bại. Ở Nam Kỳ, Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân đuổi quân Xiêm ra khỏi Hà Tiên, Châu Đốc, rồi thừa thắng đánh thẳng đến Nam Vang, giết và bắt sống nhiều quân địch, thu được vũ khí và các đồ quân dụng nhiều vô kể.

Tướng Xiêm là Chất Tri đem tàn quân tháo chạy về nước, quân Việt Nam đuổi đánh và chiếm được Puốc-sát (Pursat). Ở Cam Lộ, Cam Cát, Cam Môn, và Trấn Ninh, quân Xiêm đều thua bại.

Năm 1844 Nguyễn Tiến Lâm và Nguyễn Công Trứ vừa đánh bại cuộc nổi dậy của Lâm Sâm ở Nam Kỳ, thì vua Xiêm cho tuyền chiến sang đánh phá nhiều nơi ở Nam Kỳ.

Thiệu Trị sai Lê Văn Đức là tổng thống quân vụ đem quân đi chống giặc.

Tháng 9 năm Ất Tỵ (1845) bị thua ở tất cả các mặt trận, Chất Tri phải xin hòa.

Đây là lần thứ tư trong vòng 75 năm, quân Xiêm bị thất bại trong mưu đồ xâm lược Việt Nam.

Trong bốn lần bại trận ở Việt Nam thì lần bại trận đầu năm 1785 là lớn nhất và nhục nhã nhất cho bọn phong kiến Xiêm.

Năm vạn quân và hơn 300 thuyền chiến được Nguyễn Ánh đưa đường và làm nội ứng, chỉ trong vòng mấy giờ buổi sáng ngày 20 tháng 1 năm 1785 bị đánh phá tan tành. Trận đánh nhanh như chớp nhoáng, làm cho quân giặc choáng váng đến mức mất hết tinh thần, và sợ quân Tây Sơn như cọp.

Trước bài học lịch sử đau xót như vậy giới cầm quyền Thái Lan ngày nay vẫn chưa rút ra được bất cứ cái gì.

Sau lần đại bại năm 1785, chúng vẫn nhắm mắt lao đầu vào cuộc phiêu lưu quân sự, và đã chuốc lấy thất bại năm 1833 và 1845. Sau các lần thất bại nầy, chúng vẫn xâm lược Việt Nam và đều thất bại cả.

Hiện giờ, cấu kết với bọn bành trướng Bắc Kinh, giới cầm quyền phản động ở Thái Lan vẫn không ngớt vu cáo Việt Nam xâm lược Thái Lan, mặc dù trong lịch sử Thái Lan đã xâm lược Việt Nam bảy lần còn Việt Nam chưa bao giờ xâm lược Thái Lan.

Phải chăng bọn cầm quyền phản động Thái Lan cho rằng dựa vào một nước lớn như Trung Quốc, thì chúng có thể thắng được Việt Nam.

Chúng nên nhớ rằng: Nếu như trước kia Việt Nam chỉ dựa vào sức mình mà cũng đánh bại tất cả các cuộc xâm lược của Trung Quốc, thì ngày nay, với cái thế thuận lợi hơn trước và với cái lực mạnh hơn trước, Việt Nam càng không để cho bất cứ ai xâm lược được mình.

Năm 1789 sau trận Đống Đa lịch sử Chính Hòa Thân, đã nói với Vua Thanh «Từ trước đến giờ chưa bao giờ Trung Quốc đắc chí ở phương Nam. Tống, Nguyên, Minh rút cuộc đều thua bại cả. Việc cũ hãy còn sờ sờ ra đó».

Sau Hòa Thân, văn hòa Ai-len là Bơ-na Sao (Bernard Shaw) khuyên mọi người chớ quên bài học lịch sử. Rằng:

«Bài học lớn nhứt của lịch sử là người ta không rút ra được những bài học từ lịch sử».

Các nhà cầm quyền Thái Lan nên ổn lại việc cũ để tìm ra một lối đi trong tình thế hiện nay.

Việt Nam không muốn chiến tranh. Việt Nam chỉ muốn có hòa bình để xây dựng đất nước. Nhưng Việt Nam quyết không để cho kẻ khác xâm lấn đất đai của mình.

Alexandre Nevski, nhà quân sự Nga hồi thế kỷ XIII, có nói: «Kẻ nào đến nước chúng tôi với một thanh kiếm thì nó sẽ bị tiêu diệt vì thanh kiếm».

Trước Nevski hai thế kỷ, Lý Thường Kiệt cũng từng tuyên bố thẳng vào mặt quân Tống ở trên sông Như Nguyệt: «Quân giặc sao dám xâm phạm biên giới ta, chúng bay sẽ thất bại».

Nếu bọn cầm quyền Thái Lan nhìn ra sự thật, thì đó không chỉ là may cho các nước ở Đông Nam Châu Á, mà chính là phúc cho… nhân dân Thái Lan.

Ngược lại, nếu họ cố nhắm mắt theo voi Trung Quốc để hòng định ăn bã mía thì nhiều thất bại lớn đang chờ đợi chúng.

Lịch sử đã dạy chúng ta:

Những nguyên nhân giống nhau bao giờ cũng sinh ra những kết quả giống nhau.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười, 2021, 08:21:02 am
VÀI NÉT VỀ XÃ HỘI VÙNG TIỀN GIANG THẾ KỶ THỨ XVIII
(trích)

TRƯƠNG NGỌC TƯỜNG
                                                                                                                                               
(Ban nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh Tiền Giang)

Tổ tiên người Tiền Giang đa số ở vùng Trung và Nam Trung Bộ. Sách Lịch triều Hiến chương loại chí của Phan Huy Chú cho biết, đất Đồng Nai từ hai cửa Đại, Tiểu đến Soài Rạp, Cần Giờ trở vào toàn là rừng rậm đến mấy ngàn dặm. Đời Nguyễn Phúc Chu (1691 — 1725) Cháu ra lệnh mộ những người ở Điện Bàn, Quảng Ngãi, Qui Nhơn, Quảng Nam… di cư vào đây.

Từ miền Trung vào Nam tìm đất sống, nhưng sống được không phải dễ dàng. Thiên nhiên khắc nghiệt, đầy rẫy thú rừng, lại thêm trộm cướp khắp nơi, nên có người vào ba đời mà còn phải phiêu tán không định cư được. Khi quân Xiêm vào xâm lược thì tình trạng phiêu tán còn trầm trọng hơn. Hàng mấy chục làng dọc theo bờ Cửu Long từ Mỹ Tho đến Trà Lọt vì kẻ thù cướp bóc dã man đã bỏ làng đi hàng loạt. Việc phiêu tán gây ấn tượng rất sâu sắc trong lòng người dân địa phương nên mãi đến ngày nay ở Tiền Giang vẫn còn giữ tục cúng vong hồn những người phiêu bạt, mỗi khi có lễ tết trong gia đình, gọi là cúng «xiêu mồ lạc mả».

Phan Huy chú cho biết trong những người đi khai hoang có cả đồng bào «dân tộc ít người» trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. Họ tự do lấy nhau sinh con đẻ cái đông đúc . Trịnh Hoài Đức cũng có nói đến những làng xóm tụ họp người Kinh, người Thượng sống chung nhau. Hiện nay ở Tiền Giang có những người Việt mang những họ rất lạ như Lăng, Nông, Phòng, A. Ở xã Cẩm Sơn, huyện Cai Lậy có họ Ma và họ Chế rất to. Hai họ này sống ở đây đã nhiều đời. Đến giữa thế kỷ trước có người giỏi chữ Hán, có người giàu có, thậm chí có người làm đến Hương Cả hay Cai Tổng nữa.

Người Việt từ miền Trung dùng ghe bầu nan  men theo bờ biển về phía Nam, rồi vào cửa Tiểu, cửa Đại. Lúc đầu do ít nhân công lao động, do trình độ kỹ thuật còn yếu, nên người đi khai hoang phải lựa giồng đất cao ráo, như vùng Gò Công, Chợ Gạo, Ba Giồng... định cư. Dần dần, dân càng ngày càng đông, họ lại sáng tạo ra cách «đào mương lên líp» và tiến dần về phía Cai Lậy, Cái Bè để lập ra «miệt vườn».

*
*   *

Tổ tiên ta có mặt tại vùng Tiền Giang từ đầu thế kỷ XVIII. Nhưng vì sức người có hạn và thiên nhiên quá khắc nghiệt, suốt thế kỷ XVIII đến cuối thế kỷ XIX công việc khai hoang lập ấp mới cơ bản hoàn thành.

Đoàn người Việt đến khẩn đất khai hoang làm ruộng. Lúc đầu họ ở từng xóm, tự quản chứ chưa có chính quyền. Têm xóm dân cư thông thường được đặt theo ba nguyên tắc sau:

1) Dấu vết đặc biệt trong xóm thường là cây cối nên mượn tên cây để đặt, ví dụ như rạch Xoài Mút, rạch Rau Răm, Giồng Dừa... ở Châu Thành; rạch Mù U, rạch Cây Củi... ở Cai Lậy.

Một loại địa danh cũng rất phổ biến nữa là Rạch Cái. Rạch Cái là rạch chảy ra sông lớn mang nhiều rạch con, rạch Cái Lá, Cái Sơn, Cái Tràn, Cái Xậy, Cái Sậy...

Đặc biệt cũng có khi tên sông rạch được đặt theo hình dáng của nó: rạch Cổ Cò ở Cái Bè, là rạch cong như cổ con cò. Rạch Giao Miệng cũng ở Cái Bè, là rạch mang hai phụ lưu có vàm rạch giao nhau. Giồng Mồ Côi ở Cai Lậy là giồng cát nằm riêng rẽ một mình.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười, 2021, 08:23:20 am
2) Tên người đến ở đầu tiên hay người nổi tiếng ở gần đó như rạch Bà Điểu, rạch Bà Nhan ở Châu Thành, rạch Bà Kẻm, rạch Ông Mẫu, rạch Ông Tang, rạch Ông Cõi... ở Cai Lậy. Có nhiều nhân vật hiện nay còn con cháu và mồ mả.

Bên cạnh, có một số đồng bào Khmer sinh sống chung với cộng đồng người Việt, cũng được nhân dân ta lấy tên đặt cho sông rạch như rạch Nàng Chưng, rạch Nàng Cồng, rạch Nàng Om... ở Cai Lậy. Điều này một lần nữa chứng tỏ những ghi chép của Trịnh Hoài Đức «tụ tập Kinh Thượng kết thành chòm xóm» là đúng sự thật(1).

3) Một số ít được gọi theo phiên âm tiếng Khmer như Tha La có nghĩa là giảng đường của nhà chùa; Bù Lu có nghĩa là vườn trầu; Cà Mau có nghĩa là nước thối ứ đọng đen ngòm; Tham Rôm có nghĩa là cây Trôm.

Các địa danh đôi lúc di chuyển đi khá xa, cụ thể như rạch Ba Gòn, gốc ở xã Hiệp Đức, huyện Cai Lậy; sau này người ta đào một con kinh nối liền giữa vàm Bà Gòn, rạch Ba Rài gọi là kinh Bà Gòn. Chợ Xuân Sơn cất tại điểm tiếp giáp giữa vàm rạch Bà Gòn và rạch Bà Rài được gọi là chợ Bà Gòn. Địa danh chợ Bà Gòn đã di chuyển từ xã Hiệp Đức đến xã Xuân Sơn, cách xa trên 5km.

Năm Mậu Dần (1898), Nguyễn Phúc Chu sai Nguyễn Hữu Cảnh tổ chức lại vùng đất mới khai phá. Chính quyền đã thành hình nhưng hệ thống hành chánh còn có tính tự phát, không thống nhất. Có nơi xưng là ấp, có nơi xưng là trang, trại, nậu, man, phố, thuộc... Tên các đơn vị này cũng rất nôm na, chứng tỏ nó hoàn toàn do dân địa phương đặt chứ không do các quan lại ở trên. Ấp là nơi dân ở đông mà diện tích đất đai ít. Lúc bấy giờ từ ấp có nghĩa là «khai hoang lập ấp», chớ ấp không phải là đơn vị hành chánh nhỏ hơn làng như ngày nay. Ở chợ Gạo có ấp Thiên Thủy, ấp Thiên Thủy sau lập làng Bình Thủy(2).

Ở Cai Lậy có ấp Hữu Hòa; ấp Hữu Hòa sau lập làng Thanh Sơn(3).

Trang hay trại là vùng đất tốt, dân ở đông. Ở Gò Công còn sót địa danh Trại Cá. Ở Bến Tre còn sót địa danh Ba Tri Trại, Cái Da Trại. Nậu là đơn vị hành chính nơi dân ở đông và ruộng nhiều cỏ phải dùng bừa trong canh tác. Hiện nay ở Tiền Giang còn thói quen gọi những người có võ đàn anh là «đầu nậu». Man là nơi đất hoang, dân ở thưa. Phố là đơn vị hành chánh ở thành thị. Thuộc là vùng đất tốt. Vùng Tiền Giang còn địa danh Thuộc Nhiêu ở xã Dưỡng Điềm, huyện Châu Thành và địa danh Thuộc Đẹp ở xã Long Trung huyện Cai Lậy. Lê Quý Đôn cho biết thuộc ngang với tổng; đứng đầu có Cai tri và Đốc ấp. Trại hình như cũng ngang hàng với tổng, đứng đầu trại có cai trại và quản tri.

Ở phía Bắc chợ Mỹ Tho có đặt một cơ quan hành chánh quản lý và trực thuộc huyện Tân Bình, Phủ Gia Định, dinh Phiên Trấn. Đến năm Nhâm Tý (1732) một phần đất của dinh Phiên Trấn được cắt ra nhập với vùng đất mới khai phá để thành lập dinh Long Hồ. Dinh Long Hồ là vùng đất rộng từ Cai Lậy, Cái Bè đến Trà Vinh, Vĩnh Long, Cần Thơ, Sa Đéc... Dinh Long Hồ mới thành lập, hành chánh rất đơn giản nên không có phủ mà chỉ có duy nhất một châu là châu Định Viễn. Lỵ sở dinh Long Hồ và châu Định Viễn đóng tại Cái Bè. Đến năm Quí Dậu (1753) ký lục dinh Long Hồ là Nguyễn Cư Trinh thấy địa thế Cái Bè không thuận tiện, xin dời lỵ sở Long Hồ về Tầm Bào tức là địa điểm thành phố Vĩnh Long ngày nay. Bấy giờ vùng đất Tiền Giang trực thuộc hai nơi. Một phần trực thuộc huyện Tân Bình, phủ Gia Định, dinh Phiên Trấn, lỵ sở đóng tại Sài Gòn và một phần thuộc châu Định Viễn dinh Long Hồ, lỵ sở đóng tại Tầm Bào.

Giữa thế kỷ XVIII vùng Tiền Giang dân ở càng ngày càng đông, việc thống nhất hệ thống hành chánh cơ sở được đặt ra. Thông thường phải đủ số dân quy định để đóng đủ số thuế thì được phép lập làng. Số dân quy định thường không nhiều, như năm Canh Tuất (1790) Nguyễn Ánh quy định khoảng 40 dân định. Nhưng thực tế không hoàn toàn như thế, có khi 10 người, có khi 15 người cũng được. Khi muốn lập làng thì phải làm đơn, trong đơn ghi rõ tên những người dân, diện tích đất đai, ranh giới làng mới. Quan trên cho xác minh xem thực tế như thế nào, rồi phúc bẩm nhờ triều đình quyết định. Khi có quyết định thì làng mới hoàn toàn tách khỏi làng cũ. Người đứng ra lập làng được đền đáp công lao khổ cực xứng đáng. Ví dụ lúc còn sống được cử làm hương chức, khi chế được tôn vào bậc tiên hiền, được thờ cúng ở đình và mỗi khi có đình đám hội hè thì con cháu được biếu xén đời đời.


(1) Việc người quê ở Biên Hòa xuống Gò Công lập nghiệp đã được ghi nhiều trong lịch sử và văn chương. Võ Tánh quê ở Biên Hòa xuống lập nghiệp ở Gò Công trước khi theo Nguyễn Ánh. Ca dao có câu: Trai Biên Hòa lấy gái Gò Me (Gò Công), Không vì sắc đẹp mà mê giọng hò. Chứng tỏ rằng Biên Hòa và Gò Công có giao lưu khăng khít khá lâu dài.
(2) Monographie de la province de My Tho 1930 ấp Thiên Thủy sau lập làng Bình Thủy. Bình Thủy, Mỹ Thạnh và Hòa An sau nhập lại để trở thành xã An Thanh Thủy, huyện Chợ Gạo.
(3) Ấp Hữu Hòa sau lập làng Thanh Sơn. Đời Minh Mạng, Tự Đức làng Thanh Sơn đổi tên lại là Hòa Sơn. Lúc Pháp mới vào làng Hòa Sơn tách đôi thành làng Thanh Sơn và Hòa Sơn. Sau nhập lại thành một là Thanh Hòa (tức là xã Thanh Hòa và thị trấn Cai Lậy ngày nay).


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười, 2021, 08:26:01 am
Đứng đầu làng có trùm cả, kế đến có trùm chủ, trùm nghị, xã trưởng hay thôn trưởng, thủ khoán, câu đương, tri thâu...(1). Bộ máy chính quyền đầy đủ và thống nhất hơn trước, tuy thế tính chất tự trị của làng vẫn còn mạnh. Những hương chức có uy tín trong nhân dân như trường hợp ông trùm cả Lê Công Giám làng Kim Sơn khi mất được nhân dân tôn như một vị thành hoàng. Ông được nhân dân cất miếu thờ, đồng thời ở đó từ trẻ đến già đều cữ tên ông(2). Mộ vợ chồng ông được xây to có trang trí làn hầu, hơn cả mộ của các quan đại thần. Đặc biệt làng Kim Sơn từ khi ông mất có tục kiêng không cử chức trùm cả. Ngay trong thời Pháp thuộc làng này cũng chỉ cử chức đại hương chủ, chứ không cử chức trùm cả. Xem thế chúng ta thấy rằng mặc dù đã có chính quyền cơ sở nhưng thực tế chính quyền phong kiến ở trên đôi lúc cũng phải chịu phép nhường bước.

Vùng Gò Công, Chợ Gạo dân đến ở trước nên hệ thống làng xã được thành lập trước. Làng Bình Phục Nhứt do Trần Văn Giông lập năm 1743. Bên cạnh làng Bình Phục Nhứt là làng Bình Trị do Trần Văn Súng cũng lập trong năm ấy(3). Làng Tân Hương do Dương Tấn Tuyên lập, làng Điều Hòa do Nguyễn Văn trước lập(4), nhưng niên đại chưa biết chính xác. Cuối cùng là việc lập làng tiến dần về phía Cai Lậy, Cái Bè. Sáu làng: Hội Sơn, Xuân Sơn, Cẩm Sơn, Thanh Sơn, Phú Sơn, Tân Sơn lập năm 1785 tức là trong triều đại Tây Sơn. Riêng hai làng Hội Sơn và Xuân Sơn do Nguyễn Văn Cối đứng lập(5).

Tên đơn vị hành chánh cơ ở bắt đầu thống nhất gọi là làng (chứ viết là thôn). Tên làng thường do những người đứng xin lập làng đề nghị đặt dựa vào tên làng bên cạnh. Tên làng là một ước vọng của dân làng, nên thường có những từ tốt đẹp như Phú — Quí — Bình — An — Hòa — Thạnh — Tân... và thường có từng nhóm năm, mười làng gần nhau trùng chữ đầu tên hay cuối tên. Vùng Gò Công — Chợ Gạo các làng đều bắt đầu bằng chữ Mỹ. Vùng sông Ba Rài (Cai Lậy) các làng lại có cùng chữ Sơn ở cuối... Thông thường các làng có chung nhóm thì thành lập cùng một lúc. Cũng có trường hợp một làng đất đai rộng, dân cư đông khó quản lý nên được chia ra ba làng mới. Tên các làng mới thường lấy tên làng gốc thêm vào các chữ Đông, Tây, Nhứt, Nhì, Thượng, Trung... để phân biệt (phải nói là để phân biệt vì thực tế phương hướng có khi hoàn toàn không hợp với tên gọi. Cụ thể như xã Tam Bình, huyện Cai Lậy ngày nay, lúc mới lập có tên là làng Bình Chánh. Sau đó, tách ra lập một làng mới ở phía Đông gọi là làng Bình Chánh Đông. Rồi lại tách ra lập một làng nữa ở cực Đông, nhưng lại gọi là làng Bình Chánh Trung. Dân làng ngày càng đông, một số người bỏ vào rạch Bà Thửa, cách làng cũ khoảng 15km về hướng Bắc, lập một làng gọi là Bình Chánh Tây(6). Do khuynh hướng thích tách làng ra nên cuối thế kỷ XVIII thì diện tích mỗi làng còn rất nhỏ, nhất là vùng từ Mỹ Tho đến Gò Công. Cụ thể như thành phố Mỹ Tho ngày nay rất nhiều làng. Vùng phường 8 là làng Mỹ Chánh, vùng chùa Vĩnh Tráng là làng Mỹ Hòa, vùng Xóm Dầu là làng Phú Hội, vùng phường 4 hai bên bờ sông Bảo Định từ cuối đường Hùng Vương đến cổng thành phố là làng Thạnh Trị, vùng phường 5 từ cổng thành phố là làng Đạo Ngạn, vùng phường 6 là làng Bình Tạo. Các làng này rất nhỏ, nhỏ đến nỗi năm 1826 dời thành Định Tường từ chợ cũ qua chợ Mới (trung tâm thành trước Tỉnh đội và hào thành, khoảng giếng nước), mà thành này phải nằm trên hai làng. Cù lao Ngũ Hiệp ở Cai Lậy ngày nay chỉ có một xã, mà ngày xưa có đến năm làng là Hòa An, An Thủy Đông, An Thủy Tây, Tân Sơn và Long Phú. Trong khi đó vùng Cái Bè, nhât là vùng tiếp giáp với Đồng Tháp Mười như làng Mỹ Thiện thì diện tích rất to, từ khi thành lập đến năm 1975 gần như không thay đổi. Hiện nay ta phải tách đôi.


(1) Các chức vụ trong làng
Trùm cả: Người đứng đầu làng.
Trùm Chủ: Người đứng thứ nhì trong làng.
Trùm Nghị: Người tham gia đóng góp ý kiến trong làng.
Xã trưởng: Người giữ con dấu và thu thuế.
Thủ khoán: Người giữ tài sản của làng.
Câu Đương: Người biết luật lệ hòa giải các vụ kiện tụng nhỏ trong làng.
Tri Thâu: Người phụ giúp thu thế.

(2) Nhân dân xã Kim Sơn, huyện Châu Thành xưa có lệ cữ gọi dám hay giám, mà gọi là «dím». Mộ ông bà cả Giám xây khoảng cuối thế kỷ 18. Riêng mộ ông vào đầu thế kỷ 19 có trùng tu.
(3) Monographie de la province de My Tho 1930. Làng Bình Phục Nhứt lúc Pháp mới vào tách ra hai làng là Bình Long và làng Bình Phục Tây. Sau đó làng Bình Trị và Bình Phục Tây nhập lại thành làng Bình Phục Nhứt. Làng Bình Long nhập với làng Bình Quơn thành làng Quơn Long, Bình Phục Nhứt và Quơn Long ngày nay thuộc huyện Chợ Gạo.
(4) Theo bảng tiên hiền tờ tại đình Tân Hương, huyện Châu Thành.
(5) Monographie de la province de My Tho 1902 và lời các bô lão thuật lại. Sáu làng ngày nay đều thuộc huyện Cai Lậy. Riêng Hội Sơn và Xuân Sơn sau năm 1975 ta nhập lại lấy tên là Hội Xuân.
— Cẩm Sơn vẫn còn đến ngày nay, Thanh Sơn: xã Thanh Hòa và thị trấn Cai Lậy. Phú Sơn: một phần của xã Phú An. Tân Sơn: một phần của xã Ngũ Hiệp.

(6) Làng Bình Chánh Tây ngày nay chỉ là một phần của xã Tân Bình, huyện Cai Lậy


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười, 2021, 08:29:13 am
Năm Nhâm Thìn 1772, vùng Tiền Giang được tách rời ra khỏi các dinh lân cận. Một đơn vị hành chánh có một viên quan võ cấp bậc Cai cơ, có khi là Cai đội và một viên quan văn cấp bậc thư ký. Đạo Trường Đồn đóng tại giống Kiến Định tức là vùng Tân Hiệp, Tân Lý ngày nay.

Vào thế kỷ thứ 18, vùng Tiền Giang còn đầy rẫy thú dữ, vì thế người dân tích học võ hơn là văn. Theo báo cáo của Nguyễn Khoa Thuyên (cai bạ dinh Long Hồ), thì năm 1722 số quân của Chúa Nguyễn đóng ở Tiền Giang khá đông. Đạo Trường Đồn (vùng Tân Hiệp — Châu Thành) có 5 đội quân, mỗi 3 thuyền, mỗi thuyền 48 người, tổng số 720 người. Bốn cửa biển: Soài Rạp, cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Ba Lai mỗi nơi có 3 đội quân, mỗi đội 3 thuyền, mỗi thuyền có 40 người, tổng cộng 360 người. Các nơi hiểm yếu như Cái Thia, Bến Tranh mỗi nơi có 3 đội, mỗi đội có 3 thuyền, mỗi thuyền có 40 người, tổng cộng có 360 người(1). Như thế trong số non 3.000 quân này chắc chắn có một số người địa phương và số người này phải biết võ. So sánh 11 vị tiền hiền có công với làng Tân Hương khoảng cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, người ta thấy có 3 vị ở ngành võ (1 cai cơ, 1 hương binh, 1 lính). Trong khi đó chỉ có hai vị ở ngành văn (1 thầy đồ, 1 học trò). Xem thế chúng ta thấy rằng lúc bấy giờ số người ham thích võ nghệ rất đông, đúng với câu lưu truyền trong dân gian «võ Ba Giồng»!

Về văn học, người có thể gọi là đứng đầu khoa bảng ở Tiền Giang là Ngô Tùng Châu. Ông ngày người ở Ninh Hòa, tỉnh Bình Thuận; vào ngụ ở làng Yên Luông Đông (Gò Công) dạy học, thi đậu thủ khoa, rồi theo Nguyễn Ánh. Ông ngoại Tự Đức là Phạm Đăng Hưng, người làng Tân Kiến Đông (Gò Công) cũng chỉ đậu tam trường. Đúng ra ông này không đủ tiêu chuẩn để ra làm quan, nhưng vì lúc bấy giờ văn tài rất ít nên ông ta được Nguyễn Ánh đặc biệt cho làm chức lễ sanh rồi leo dần lên chức Thượng Thư. Quan lại lúc bấy giờ rất hiếm(2), nhưng thầy đồ lại không hiếm. Làng Tân Hương còn thờ thầy đồ Lê Văn Kỷ, người có công xây dựng làng trong giai đoạn đầu. Thầy đồ lúc bấy giờ chủ yếu là dạy học trò cho biết chữ chứ không phải truyền bá giáo lý đạo Nho phong kiến.

Cuộc sống người đi khai hoang thật là thiếu thốn, đàn ông thường mặc quần đùi, áo cánh, may bằng vải ta nhuộm màu nâu bằng vỏ cây già hay cây có. Đàn bà thì mặc quần và áo dài hơn, cũng nhuộm màu nâu, ngực mang yếm vải. Đàn bà và đàn ông đều ăn trầu. Đàn ông nơi lưng có mang túi «hỗ phệ» bằng vải xếp nhiều lớp có hai ngăn, ngoài có thêu bông và cây lá. Hai bên mép «hỗ phệ» chuyền vào một sợi dây thắt lưng để buộc vào lưng. Trong túi để trầu cau thuốc hút. Đàn bà buộc vào lưng một ruột ngựa may bằng vải dùng để đựng trầu cau, thuốc xỉa, hoặc có người dùng một cái túi nhỏ kết vào ruột ngựa và lận vào lưng quần. hễ là dân chúng thì đi chân không có giày dép. «Chơn hớn chơn hài» chỉ những bậc quan lại quyền quí mới có.

Về mặt tín ngưỡng: vùng Tiền Giang lúc bấy giờ đã có đạo Phật, nhưng không truyền bá mạnh. Đa số nhân dân theo tín ngưỡng dân gian. Ngôi chùa nổi tiếng nhất lúc bấy giờ là chùa Hội Tôn do hòa thượng Long Thiền, người huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi vào lập ở làng Quới Sơn (nay thuộc huyện Châu Thành — Bến Tre). Một ngôi chùa nữa là chùa Long Tuyền do hòa thượng Phước lập ở làng Thạnh Phú (huyện Châu Thành — Tiền Giang). Ở Cai Lậy có chùa Kim Tiên do hòa thượng Quảng Tế (em tướng Hồ Văn Lân, công thần Nguyễn Ánh) lập. Các chùa Phật lúc bấy giờ đều nhỏ, làm bằng tre lá. Tín đồ qui tụ cũng không đông. Các ngôi chùa lớn gọi là tổ đình đều thành lập sau này, nhưng do yêu cầu tín ngưỡng dân gian một số chùa đặc biệt được thành lập là chùa mục đồng và chùa làng. Chùa mục đồng là chùa do trẻ em chăn trâu đứng lập, rồi nhân dân hưởng ứng theo. Chùa làng là chùa do chánh quyền địa phương lập và quản lý. Ông Dương Tấn Tuyên khi lập làng Tân Hương thì lập luôn cả đình và chùa Trường Phước(3). Chùa mục đồng và chùa làng lập ra nhằm mục đích giải quyết vấn đề tín ngưỡng của nhân dân, chớ không phải nhằm mục đích truyền báo giáo lý đạo Phật.

Từ khi thành hình hệ thống làng xã, vùng Tiền Giang đã có đình thần để thờ thành hoàng. Đây là tín ngưỡng lâu đời của người Việt Nam mà tổ tiên người Tiền Giang đã đem từ quê hương cũ vào. Thành hoàng lúc bấy giờ cũng chưa phải là công cụ của chế độ phong kiến để đàn áp tinh thần người dân như nhà Nguyễn ở thế kỷ sau. Đặc biệt các vị thành hoàng cũng được người đi khai hoang thờ với lòng tưởng nhớ quê hương cũ chớ không có sắc lệnh của triều đình. Thông thường họ lấy danh hiệu đã được phong tặng ở quê cũ vào thờ và cũng có tục «hèm» như ở miền Trung, miền Bắc. Vì quan niệm đình là nơi thờ phượng nên người Tiền Giang có tục gọi đình là «miếu» (mặc dù đình nào cũng có biển hiệu với tên chính thức là «đình»).


(1) Lê Quí Đôn ghi lại ở Phủ biên tạp lục.
(2) Vùng cù lao An Hóa và Cao Lãnh vào giữa thế kỷ 18 chỉ là một huyện của Tiền Giang nên không mấy người biết mặt quan. Điều này ta thấy rõ trong quyển Truyện đời xưa của Trương Vĩnh Ký, sưu tầm vào cuối thế kỷ 19, quan lại to nhất được nói đến là tri huyện.
(3) Theo Gò Công cảnh cũ người xưa của Việt Cúc, quyển 1.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười, 2021, 07:20:47 am
HOẠT ĐỘNG CỦA QUÂN ĐỘI TÂY SƠN Ở GIA ĐỊNH
KHI NGUYỄN ÁNH RƯỚC QUÂN XÂM LƯỢC XIÊM LA VỀ
VÀ SỰ HÌNH THÀNH CỤC DIỆN CHIẾN TRƯỜNG MỚI
TẠI TIỀN GIANG ĐẦU THÁNG 1-1785

ĐỖ HỮU NGHIÊM
(Ban Sử — Viện KHXH
                                                                                                                                                                             
tại thành phố Hồ Chí Minh

Trong cuộc thư hùng quyết liệt với Nguyễn Ánh, nghĩa binh Tây Sơn đã giành được thắng lợi quan trọng tại chiến trường Rạch Gầm — Xoài Mút vào đầu năm 1785, đánh tan mọi tham vọng xâm lược của lực lượng phong kiến Xiêm La.

Cuộc nổi dậy của Tây Sơn làm lung lay chế độ của dòng họ Nguyễn, nhất là từ khi Nguyễn Huệ dẫn đại quân với mấy trăm chiến thuyền vào cửa Cần Giờ mùa Xuân năm 1782, tai họa đã dồn dập đổ lên đầu Ánh. Sau nhiều phen nghiêng ngửa với quân đội Tây Sơn, cuối cùng Ánh bị xô xuống biển để rồi trôi giạt trên các hải đảo ngoài khơi biển Hà Tiên. Ánh không khi nào được yên thân trước cuộc truy kích không biết mệt mỏi của Tây Sơn. Cùng quẫn, Ánh đang tâm lôi kéo bọn Xiêm về dày xéo đất nước.

Hoạt động của Tây Sơn đã đẩy Nguyễn Ánh đến những toan tính phiêu lưu, tạo nên cục diện chiến trường căng thẳng nhất ở Rạch Gầm — Xoài Mút vào tháng 1-1785.

Chi tiết các sự kiện đã diễn tiến ra sao?

I. — QUÂN ĐỘI TÂY SƠN TẠO SỨC ÉP LIÊN TỤC LÊN TÀN QUÂN CỦA ÁNH.

Mở đầu chiến dịch năm Nhâm Dần (1782), Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ điều động hàng vạn quân với mấy trăm chiến thuyền vào Gia Định theo cửa Cần Giờ. Ánh đem mấy trăm ghe thuyền cùng với một tàu chiến của Bồ nghênh chiến. Nhưng một bộ phận hải thuyền lớn lao của Ánh do Đỗ Nhàn Trập chỉ huy đã sớm bỏ sang hàng ngũ Tây Sơn, mang theo cả cánh quân Đông Sơn vốn có hận thù với Ánh vì vụ lãnh tụ Đỗ Thành Nhân của họ bị Ánh ám hại. Ánh phải lui binh về sông Ngã Bảy để lại bị tấn kích liên tiếp. Tên Manuel trên chiếc tàu Bồ đã bị thiêu sống. Quân của Ánh bị thua chạy về sông Ngã Ba, rồi Bến Nghé, Tam Phụ trước cuộc truy kích của Tây Sơn. Nhân trận đánh ở cầu Tham Lưng, quân Tây Sơn đã thẳng tay trừng trị những người Hoa làm thủ túc cho Ánh chống lại Tây Sơn. Đô đốc Tây Sơn là Nguyễn Học đã đánh mạnh vào tàn quân Ánh trú đóng ở Giồng Lữ nhưng nhờ sự chống cự của Nguyễn Kim Phẩm, Ánh thoát được xuống sông Ngã Tư. Rủi thay, quân Ánh lại lọt vào trận địa phục kích do Nguyễn Huệ bày sẵn từ hai bên bờ sông. Cuộc chạy trốn của Ánh vẫn nối tiếp từ Bến Lức, đến Hậu Giang, rồi Rạch Giá, Hà Tiên và Phú Quốc.

Cuộc hành quân lùng diệt chấm dứt, đại quân Tây Sơn lui về Qui Nhơn chỉ để lại Gia Định Đỗ Nhàn Trập, hộ bộ Bá với khoảng 3.000 quân. Tàn quân Ánh lại ngóc đầu dậy ở Long Hồ, Bến Lức. Bọn Châu Văn Tiếp đánh mạnh khiến Trập và Bá phải tạm thời lui về Qui Nhơn chờ viện binh.

Năm sau, theo gió mùa, ngày 19-3 đại binh Tây Sơn lại kéo vào Nam vẫn theo ngả Cần Giờ. Tây Sơn chia hai cánh quân: Tư khấu Nguyễn Văn Kim đánh bờ Bắc, còn đô đốc Lê Văn Kế công kích mặt Nam. Theo chiều gió Đông và nhờ nước triều dâng cao, Tây Sơn truy kích, đốt cháy nhiều chiến thuyền của Ánh, giết chết Tôn Thất mân, bắt sống Dương Công Trừng. Chỉ một mình Châu Văn Tiếp trốn được, lánh sang Xiêm. Ánh đã chạy trước về Ba Giồng với 56 tướng và còn một trăm quân, rồi trốn tiếp xuống Hà Tiên, Phú Quốc.

Vài tháng sau, Ánh lại về đất liền qui tụ bọn Phẩm, Đức,... lập căn cứ ở Đông Tuyên. Được tin, đích thân Nguyễn Huệ điều quân truy diệt và buộc Ánh phải lao vào cuộc chạy trốn bất định từ ngả Rạch Chanh, Hậu Giang rồi phải trở lại Mỹ Tho để từ đó trốn đi Phú Quốc. Bị săn đuổi, binh tướng của Ánh mất lòng tin: đám Hòa Nghĩa có người đập lại quân Ánh, chiếm đóng Hà Tiên. Thêm vào đó, lúc cùng cực quân ánh phải kết bè với bọn cướp Xiêm để đánh vào Hà Tiên cướp của.

Vào tháng 6 (ÂL), tổng suất Tây Sơn là Phan Tấn Thuận vây đánh quân Ánh ở núi Đá Chồng. Nhờ Lê Phước Điển giả dạng. Ánh thoát sang đảo Cổ Long. Nhưng bọn Điền, Cốc, Hoàng, đều sa vào tay Tây Sơn.

Sang tháng sau nữa, phò mã Tây Sơn Trương Văn Đa lại bủa vây Cổ Long quyết không cho Ánh thoát thân một lần nữa. Thế nhưng một trận bão oan nghiệt đã nhận chìm nhiều thuyền binh Tây Sơn giải vây cho Ánh chạy sang Cổ Cốt.

Tháng 12-1783, phòng ngừa Ánh có thể khởi binh từ Chân Lạp, Trương Văn Đa đã mau chóng tiến binh sang đây vào đúng lúc Nặc Ấn bị Chiêu Thùy Biện đoạt quyền và Biện lại được Xiêm nhận cho làm phụ chính Chân Lạp. Trương Văn Đa tới, Biện quay sang cầu viện Xiêm, Tây Sơn ở vào thế đối đầu với Xiêm. Có tin Xiêm định đánh ngang vào Qui Nhơn từ ngã Lào, Trương Văn Đa cho khai chiến ngay. Xiêm còn ngang ngược đòi Tây Sơn phải trả lại những kẻ thù của Xiêm mà Tây Sơn đang cầm giữ.

Cuối cùng Trương Văn Đa rút khỏi Nam Vang ngày 6-1-1784. Nhưng, «chiến tranh ngày càng nhen nhúm giữa người Xiêm và Tây Sơn».

Ở Gia Định, sau khi Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ về Qui Nhơn, dư đảng của Ánh cố ngóc đầu dậy. Nhưng sau trận đánh ở Giồng Sao, ở Tân Hòa vào đầu năm 1784, tàn quân Ánh không còn ai trên đất liền nữa.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười, 2021, 07:21:53 am
II. — NGUYỄN ÁNH VỚI TOÁN TÍNH DẪN QUÂN XIÊM VỀ DÀY XÉO GIA ĐỊNH.

Sau trận Cá Trê (1783), Tiếp trốn sang Xiêm tự ý cầu viện binh. Về điểm này, Ánh có phần dè dặt hơn Tiếp vì tình hình quan hệ Việt — Xiêm diễn biến phức tạp khi người Xiêm chưa sẵn sàng quên được mối thù xưa.

Thù hằn và tranh chấp phát sinh từ Nam Vang và Hà Tiên. Xiêm muốn nhòm ngó Hà Tiên nên vua Xiêm Trịnh Quốc Anh đã gây chiến với Hà Tiên. Rồi sau khi Duệ Tôn bị Tây Sơn bắt, Tứ và Xuân chạy trốn nhưng dọc đường bị thuyền Xiêm bắt được đưa về giữ tại Vọng Các, để rồi cuối cùng bị bạc đãi và ám hại, cho dù nhiều lần Ánh muốn giải thoát.

Quan hệ này lại căng thẳng hơn do việc tranh giành quyền bảo hộ Chân Lạp. Vua Xiêm hỏi tội Nặc Ấn tiếp tay cho Ánh. Nặc Ấn liền cầu cứu Ánh vào tháng 1-1782. Cuộc chiến trên đất Chân Lạp kéo dài cho đến khi Quốc Anh bị anh em Phi Nhã Oan Sản bắt và Chất Tri, Sô Si, Ma Lạc chia nhau cai trị Xiêm lập nên vương triều Rama. Từ đây quan hệ Xiêm — Ánh thay đổi.

Chất Tri cầu hòa với người của Ánh là Nguyễn Hữu Thụy và sau nữa, Rama I cho vời Mạc Tử Sanh về Vọng Các để nuôi dưỡng. Hai dấu hiệu thân thiện này mở cánh cửa cho Ánh tới gần Xiêm.

Từ sau khi bại trận ở sông Ngã Tư, Ánh đã cho sứ bộ theo đường Chân Lạp qua Xiêm cầu viện. Không may cả sứ bộ đều bị người Chân Lạp tàn hại chỉ trừ Nguyễn Văn Nhàn, Cao Phước Trí thoát nạn. Ánh vẫn cam chịu để chờ dịp. Mùa thu 1782, từ Gia Định Ánh lại cho sứ sang Xiêm.

Phải đợi đến khi Tiếp đến Xiêm, đề nghị cầu viện mới được tiếp nhận. Vua Xiêm cho Tiếp về tìm Ánh, đồng thời sai Thát Sĩ Đa đi Hà Tiên chờ đón Ánh tại Long Xuyên vào tháng 5-1784.

Việc Xiêm ưng thuận tiếp viện cho Ánh diễn ra theo một quá trình phức tạp không hẳn chỉ vì đề nghị của Tiếp và sự kết giao với Nguyễn Hữu Thụy. Vụ Trương Văn Đa sang Chân Lạp đụng đầu với quân Xiêm đã gây nhiều lo ngại cho phe Xiêm. Vì thế chắc hẳn vua Xiêm muốn lợi dụng Ánh để làm tan rã sức mạnh đang lên của Tây Sơn hòng thủ lợi. Và Ánh được đem vào Vọng Các. Vua Xiêm và Ánh, mỗi người mang một tâm tư thầm kín và theo đuổi một tham vọng riêng: Ánh muốn lợi dụng Xiêm để hòng đè bẹp Tây Sơn trong lúc Xiêm vừa muốn dẹp Tây Sơn vừa muốn khống chế Ánh nhằm mở rộng sang Chân Lạp và nếu được sang cả Gia Định.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười, 2021, 07:22:44 am
III. — CỤC DIỆN CHIẾN TRƯỜNG TIỀN GIANG HÌNH THÀNH, THÁNG 1-1785.

Đang làm chiến với Miến Điện, vừa Xiêm Chất Tri vẫn khẩn cấp chuẩn bị một cuộc viễn chinh sang Gia Định: Lục Côn, Sa Uyển và Chiều Thùy Biện được lệnh đem hai đạo quân bộ ở sẵn trên đất Chân Lạp theo đường bộ sang; mặt khác, Chiêu Tăng và Chiêu Sương hai tướng soái, cháu của Chất Tri, điều động hai vạn quân thủy với 300 chiến thuyền từ Vọng Các vượt biển ngày 25-7-1784 (9-6 Nhâm Thìn).

Trong khi đó, Ánh lo thu tập tàn binh, cũng ban phẩm tước cho các quan lại cũ mới, phong Châu Văn Tiếp làm Bình Tây Đại Đô đốc điều khiển các quân, cho Mạc Tử Sanh mới 16 tuổi làm Cai cơ, rồi tham tướng, tước Lý Chính Hầu. Số quân của Ánh chắc tăng dần khi về nước, kết hợp với bọn quân chiêu tập được ở Bát Chiên, Quang Hòa, Tây Ninh,...

Tổng số liên quân Xiêm-Nguyễn-Chân Lạp cả thủy lẫn bộ đã lên đến khoảng 5 vạn người.

Tháng 8-1784, quân Xiêm-Nguyễn nhanh chóng chiếm Kiên Giang (Rạch Giá), rồi sang Trấn Giang (Cần Thơ) khi đô đốc Tây Sơn Nguyễn Hóa lui quân để bảo toàn lực lượng. Lực lượng thủy bộ của đoàn quân xâm lược có lẽ đã hẹn gặp nhau tại đây và triển khai ngay những cuộc tấn công liên tiếp vào các cứ điểm Tây Sơn: Sa Uyển dẫn quân bộ tiến về phía Tiền Giang đánh chiếm đạo Đông Khẩu (Sa Đéc); Chiêu Tăng và Chiêu Sương xuôi dòng Hậu Giang chiếm đóng Ba Thắc (Sóc Trăng); Nguyễn Ánh, Mạc Tử Sanh dẫn Thát Sĩ Đa đánh chiếm Trà Ôn.

Tháng 11, quân Ánh kịch chiến với Tây Sơn, chiếm được Mân Thít, giết chết viên chưởng thủy Tây Sơn là Bảo, nhưng phải trả giá đắt bằng chính mạng của Châu Văn Tiếp; trong đêm tối 30-11-1784, quân của Ánh bị tấn kích bất ngờ, Tiếp hăng hái xông lên thuyền Tây Sơn nhưng bị đâm chết, trong lúc Thát Sĩ Đa trợ chiến cầm chừng. Trương Văn Đa cho lui quân về Long Hồ, sai người cấp báo tình hình cho Qui Nhơn. Quân Xiêm — Nguyễn đánh chiếm xứ Lạch (vùng Chợ Lách, Vĩnh Long). Bọn Xiêm thả sức hoành hành, cướp phá dân gian, gây căm phẫn cho nhân dân. Ánh than phiền với Liot: «Nhân ngày sau trực tấn xứ Lạch, nay thời Xiêm binh đại tứ lỗ lược, dâm nhân phụ nữ, lược nhân tài vật, túng sát bất dung lão thiếu».

Trong khi ấy bọn Ánh sai người xúi giục các phe cánh chống lại Tây Sơn. Trương Văn Đa, Đặng Văn Trấn mau chóng bỏ lại Long Hồ, Trà Lọt, Cái Bè trước sức tấn công của bọn Xiêm — Nguyễn.

Quân Chiêu Tăng, Chiêu Sương cướp phá Ba Thắc xong, để lại một lực lượng dự chiến, rồi kéo đại quân về Trà Ôn. Quân của Sa Uyển, Chiêu Thùy Biện chắc cũng chia quân cùng với Ánh đánh Long Hồ. Và cuối cùng toàn thể các cánh quân Xiêm — Nguyễn đều kéo về tập kết ở vùng Trà Lọt.

Tháng 12, bọn Lê Văn Quân (lên thay Tiếp) tiến đánh hai đồn Ba Lài và Trà Tân, Chưởng cơ Đặng Văn Lượng của phe Ánh bị giết chết. Ánh đang thắng thế nhưng hàng ngũ Ánh lại rơi vào tình thế bất lợi lớn lao, khi bọn Xiêm lộ nguyên hình là những tên ăn cướp, không dốc lòng chiến đấu.

Đang lúc đó, tháng Chạp năm Giáp Thìn, có lẽ sớm hơn nữa, đại binh Tây Sơn rầm rộ Nam tiến dưới quyền điều khiển của viên tướng trẻ tài ba Nguyễn Huệ. Các tài liệu không nhất trí về số quân Nam tiến, riêng Gia Phả ghi con số 5 vạn quân. Nếu đây chưa phải con số chính xác về số quân từ Bắc vào, thì vẫn có thể chấp nhận là đúng nếu tính đến toàn thể số quân được điều động tham gia chiến dịch chống lại quân Xiêm-Nguyễn.

Lực lượng Tây Sơn gồm có nhiều loại như bộ binh, thủy binh, pháo binh với các hàm thuyền có trang bị khá hùng mạnh. Nhiều chứng nhân phương Tây đến Qui Nhơn trước đó từng quan sát được những tàu chiến Tây Sơn mang 50 — 60 cỗ đại bác thứ lớn. Nói chung, trang bị của thủy binh Tây Sơn đã không thua kém gì quân Xiêm.

Nguyễn Huệ điều quân từ Sài Gòn trực chỉ khu vực tập kết của đối phương ở chung quanh Trà Lọt. Khi đó quân Ánh đang ở ven sông lớn, còn quân Xiêm có lẽ dàn trải từ Trà Lọt đến Ba Rài, Trà Tân. Trận địa này quả là hiểm trở, nếu có hàng vài vạn quân đóng chốt trên bộ dưới nước liên hoàn yểm trợ làm thành một thế ỷ giốc.

Từ phía Mỹ Tho, chiến thuyền Tây Sơn nương theo mức triều lên tiến gần đến vị trí của đối phương để khiêu chiến. Quân Xiêm — Nguyễn vẫn án binh bất động dường như để thăm dò xem đối phương có ý đồ gì, hoặc điều động toàn lực tổng công kích hoặc nhử địch về phía hạ lưu ra khỏi thế liên hoàn của chúng và dùng thủy binh tập kích; hoặc lừa địch ra khỏi căn cứ cho sa vào một trận đồ được bố trí sẵn như ở Rạch Gầm — Xoài Mút.

Theo Gia Phả, «Hơn mười ngày, giặc Tây Sơn đến không đánh được, họ bèn lui, dàn thuyền suốt trường giang xem tình thế». Nơi quân Tây Sơn dàn thuyền chắc phải là từ mỏm phía Đông cù lao Năm Thôn đến Rạch Rài theo bản đồ hiện nay. Trong thời gian thăm dò, Nguyễn Huệ chắc đã nắm được một số đặc điểm và tình hình nội bộ của đối phương: quân Xiêm —Nguyễn là bầy quân ô hợp; nếu quân Ánh biết khá rõ về địa hình nhân văn của chiến trường, thì đám quân Xiêm lại mù tịt; đoàn quân Xiêm — Nguyễn lại tỏ ra khinh địch, mất hết chính nghĩa qua những hành động cướp phá hiếp đáp vô độ của bọn Xiêm.

Qua Gia Phả, người ta biết được một tình thế như vậy, Nguyễn Huệ đã hành động thật tài tình trong mưu lược vừa đàm vừa đánh, kết hợp ngoại giao với quân sự.

Để đào sâu thêm mâu thuẫn trong hàng ngũ đối phương, đồng thời làm cho chúng trở nên kiêu căng khinh địch hơn nữa, Nguyễn Huệ dùng đến đòn ngoại giao là phái sứ giả đến Trà Lọt gặp riêng Chiêu Tăng mang theo lễ vật, đề nghị giảng hòa với quân Xiêm và xin nhận lệ cống nạp. Chiêu Tăng vờ ưng thuận đề nghị của Tây Sơn và yêu cầu giữ bí mật. Từ khi đó Tây Sơn thường vời quân Xiêm lên thuyền của mình trao tặng vật phẩm và phô trương các loại vũ khí.

Chiêu Tăng nghĩ là Nguyễn Huệ sẽ bị sa bẫy, nên bàn với Ánh nhân lúc Tây Sơn không đề phòng, quân Xiêm — Nguyễn sẽ đột kích chiến thuyền Tây Sơn vào đêm 9 rạng ngày 10 tháng đó. Quan Ánh đi tiên phong, còn các thuyền Xiêm đánh vào các lực lượng Tây Sơn chặn ngang.

Nguyễn Ánh ưng theo kế hoạch của Chiêu Tăng, nhưng vẫn dè dặt và đề phòng bất trắc từ phía chính quân Xiêm cũng như về phía Tây Sơn bằng cách cho Mạc Tử Sanh về Trấn Giang chờ lệnh.

Đang lúc thương đàm với quân Xiêm, Nguyễn Huệ đã chuẩn bị ráo riết một cuộc phục kích, với ý kiến đóng góp xuất sắc của Lê Xuân Giác, người đã sớm khước từ hàng ngũ Nguyễn Ánh.

Chiến trường được chọn lựa là khúc sông Tiền Giang ở giữa rạch Gầm — và rạch Xoài Mút, với rất nhiều thuận lợi cho một cuộc phục kích: lòng sông rộng lớn, hai bên bờ đều có những cây bần mọc kín um tùm.

Cuộc phục kích lại được che giấu kỹ lưỡng bằng một nghệ thuật nghi binh tinh xảo: Tây Sơn sinh hoạt bình thường như có phần nào chểnh mảng, không cần phải phòng bị gì cả một khi cuộc thương đàm có kết quả. Viên tướng Xiêm cả tin là mưu toan đánh úp Tây Sơn của mình sắp diễn ra, chôn vùi cả một đoàn quân đông đảo của Tây Sơn dưới lòng sông. Nhưng ít ai học được chữ ngờ, khi chính Tây Sơn đã giăng bẫy kéo đối phương ra khỏi những cứ điểm vững chắc của chúng, vô hiệu hóa các thế ỷ giốc liên hoàn của chúng để giáng cho chúng những đòn sấm sét chí tử.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười, 2021, 07:23:26 am
IV. — CHIẾN THẮNG TUYỆT VỜI NGAY TRONG ĐÊM 19 RẠNG 20-1-1785.

Đúng theo giờ định trước, khi luồng nước triều bắt đầu xuống, các chiến thuyền của Ánh lao mạnh vào tuyến trước, mở đường cho quân Xiêm ùa theo trên các chiến thuyền theo hai ngả sông Tiền Giang và sông Năm Thôn.

Bị đột kích, lúc đầu hàng ngũ Tây Sơn có phần choáng váng khi nhiều chiến sĩ bị chết cháy bỏ thây giờ dòng sông. Thế rồi đồng loạt cả đoàn chiến thuyền Tây Sơn hè nhau xuôi dòng rút chạy, trong lúc quân Xiêm — Nguyễn mải lo cướp bóc và chỉ cần đánh cầm chừng. Bỗng chốc, chiến đoàn Tây Sơn quay ngược mũi thuyền đánh thẳng vào đội hình của quân Xiêm — Nguyễn. Tất cả đều tốc chiến hợp lực với các đội thuyền nhẹ lao nhanh ra từ Rạch Gầm và Xoài Mút để săn đuổi, ngăn chặn quân địch. Các chiến thuyền Xiêm — Nguyễn mau chóng bị dồn ép vào các dòng sông trở thành những mục tiêu ngon lành cho các đại pháo đã bố trí sẵn từ hai bên bờ nã đạn xuống liên tiếp.

Đội hình chiến đấu của quân Xiêm — Nguyễn bị tan vỡ, chiến thuyền bị vùi xuống đáy sông mang theo nhiều tử thi quân xâm lược. Có những kẻ tháo thân chạy được trong cơn hoảng loạn, hầu hết về hướng Bắc, lại bị những đội quân phục kích của Tây Sơn chặn đánh. Nhiều tên xâm lược bị đền tội hay bị bắt do chính sự phát hiện của nhân dân khi chúng làm quá nhiều tội ác trước đó.

Cuộc chiến kết thúc: quân Xiêm — Nguyễn trước kia là 5 vạn nay chỉ còn lại hơn một vạn. Ánh bỏ chạy về Trà Lọt rồi tìm đường về Trấn Giang có Mạc Tử Sanh chờ sẵn. Chiêu Tăng, Chiêu Sương và có lẽ cả Sa Uyển và Chiêu Thùy Biện cùng trốn chạy theo đường bộ từ Quang Hóa về tới Nam Vang. Đám tàn binh Lê Văn Quân chắc cũng trốn theo đường này.

Thấm đòn, bọn Xiêm — Nguyễn đều «sợ Tây Sơn như sợ cọp». Mộng xâm lược của phong kiến Xiêm La phút chốc tan thành mây khói, trong lúc mưu toan phục quyền của phe Ánh trước mắt đi đến chỗ tuyệt vọng.

Chiến trận Rạch Gầm — Xoài Mút đã đi vào lịch sử Việt Nam như một trận thủy chiến lớn lao, triển khai nhanh gọn, tập trung, với một số quân đông đảo tham gia chiến dịch, trên một chiến trường được thu hẹp tương đối, chỉ trong thời gian chưa đầy một ngày, nhưng đã mang lại hiệu quả thật to lớn.

Trận Rạch Gầm — Xoài Mút là một điển hình về cách đánh chủ động, tốc chiến, lấy ưu thế của binh chủng hải quân bất ngờ tiêu diệt toàn bộ sinh lực của địch, làm tan rã hoàn toàn tinh thần chiến đấu của chúng.

Trận Rạch Gầm — Xoài Mút đã đưa nghệ thuật quân sự truyền thống của Việt Nam lên một bước tiến mới bằng kế hoạch vừa đàm vừa đánh khiến cho đối phương bị rơi vào một thế nghi binh không đoán được các phương án của chiến dịch.

Sau cùng, trận Rạch Gầm — Xoài Mút ở chiến trường phía Nam biểu thị ý chí chống quân xâm lược và tay sai của quân dân Gia Định. Với tinh thần của truyền thống Rạch Gầm — Xoài Mút, quân dân Gia Định sẵn sàng đập tan mọi mưu toan xâm lược và nổi loạn ở vùng đất phía Nam cũng như quân dân Bắc Hà đã từng chiến thắng lũ quân bành trướng từ phương Bắc xuống.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười, 2021, 07:28:34 am
NGUYỄN HUỆ VỚI CÔNG CUỘC CHUẨN BỊ TIÊU DIỆT QUÂN XIÊM

HUỲNH LỨA
                                                                                                                                                                   
(Trưởng ban Sử học — Viện KHXH
Tại thành phố Hồ Chí Minh)

Một số sử sách của sử thần nhà Nguyễn khi viết về trận Rạch Gầm — Xoài Mút đã ghi chép rất vắn tắt khiến người đọc có cảm giác là chiến thắng đó của quân đội Tây Sơn mang tính chất ngẫu nhiên đơn thuần. Thí dụ sách Đại Nam chính biên liệt truyện của Quốc sử quán triều Nguyễn chép.

«... Có tên phản thần Lê Xuân Giác dạy cho Nguyễn Huệ đem hết tinh binh phục ở Rạch Gầm đi Xoài Mút (thuộc Định Tường) lập kế dụ địch. Quân Xiêm thừa thắng thẳng xuống Mỹ Tho. Quân thủy và quân bộ của Huệ đánh úp. Quân Xiêm thua to, chỉ còn vài nghìn quân do thượng đạo trở về»(1).

Như vậy theo sử thần nhà Nguyễn, nếu không có «phản thần» Lê Xuân Giác giúp mưu hiến kế thì Nguyễn Huệ cầm như thất bại, bỏ mặc miền cực nam đất nước cho quân xâm lược Xiêm dày xéo.

Sự thật có phải như vậy chăng?

Nhiều tài liệu lịch sử khác ngoài các bộ sử chính thống của nhà Nguyễn đều cho thấy rằng luận điệu trên là một sự xuyên tạc cố ý nhằm hạ thấp ý nghĩa của chiến thắng cũng như vai trò của vị chỉ huy tối cao. Thực ra chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút là kết quả của một quá trình chuẩn bị lực lượng, tìm hiểu địch tình, tính toán mưu lược, bày binh bố trận hết sức tinh vi chu đáo của Nguyễn Huệ, một thiên tài quân sự kiệt xuất của nước ta vào cuối thế kỷ XVIII.

Tại Qui Nhơn, khi nghe báo cáo về cuộc chiến tranh xâm lược của Xiêm do bè lũ bán nước Nguyễn Ánh dẫn đường, các lãnh tụ nghĩa quân Tây Sơn quyết định cử Nguyễn Huệ đưa quân và Gia Định tổ chức phản công với nhiệm vụ nhanh chóng tiêu diệt quân Xiêm — Nguyễn.

Nhưng để thực hiện quyết tâm chiến lược đó, vấn đề quan trọng trước tiên là vấn đề chuẩn bị lực lượng.

Đội quân xâm lược Xiêm lần này sang Việt Nam bao gồm cả quân thủy lẫn quân bộ, tổng số quân lên tới 5 vạn (thủy quân 2 vạn, bộ binh 3 vạn) với 300 chiến thuyền.

Đây là một đội quân xâm lược vào loại khá lớn trong tình hình lúc bấy giờ, lại bao gồm nhiều loại binh chủng. Đây là chưa kể số quân bản bộ của Nguyễn Ánh vừa làm nhiệm vụ dẫn đường vừa làm nhiệm vụ phối hợp tác chiến với quân xâm lược Xiêm. Số quân nầy lúc lưu vong ở Xiêm không có bao nhiêu, nhưng sau khi về nước có được tăng cường thêm về số lượng do sự nổi dậy hưởng ứng của bọn địa chủ ở Gia Định.

Đứng trước một lực lượng xâm lược đông đảo như vậy, Nguyễn Huệ đã chuẩn bị lực lượng đối phó như thế nào?

Chúng ta biết rằng Nguyễn Huệ là một vị tướng lĩnh mà trong việc dùng binh, ông thường coi trọng chất lượng hơn số lượng, thường vận dụng cách đánh lấy ít thắng nhiều. Nhưng lần này là lần đầu tiên ông phải chống chọi với đội quân xâm lược nước ngoài cộng với quân của bè lũ Nguyễn Ánh với số lượng cao, lại diễn ra trên một chiến trường ở khá xa căn cứ địa, đòi hỏi nghĩa quân phải có một lực lượng đối trọng tương đối nào đó mới có thể tổ chức phản công được. Hơn nữa bản thân Nguyễn Huệ cũng nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của số lượng quân đội trong chiến tranh và sự cần thiết phải khắc phục tình trạng so sánh quá chênh lệch về số quân giữa ta và địch.

Chúng ta cũng biết rằng khi quân xâm lược Xiêm có sự dẫn đường và phối hợp của quân bản bộ Nguyễn Ánh mở cuộc tiến công vào Gia Định, số quân Tây Sơn đóng giữ đất Gia Định do phò mã Trương Văn Đa chỉ huy chỉ độ mấy nghìn người. Trong tình hình ấy, đội quân tăng viện phải rất lớn mới đủ sức đối chọi với đối phương.

Để giải quyết yêu cầu cấp bác và khó khăn này, Nguyễn Huệ đã thực thi hai biện pháp. Một mặt ông «đem hết binh mạnh đi thuyền vào»(1), mặt khác trên đường hành quân, đi đến đâu bổ sung quân thêm vào đó(3). Chính nhờ vào biện pháp sáng tạo này(4) mà khi tập kết ở Mỹ Tho, tổng số quân mà Nguyễn Huệ nắm trong tay đạt tới mức xấp xỉ quân số của địch(5). Đây là một yếu tố hết sức quan trọng trong chiến tranh mặc dù chất lượng quân đội luôn luôn đóng vai trò quyết định.


(1) Đại Nam chính biên liệt truyện.
(2) Gia Định thành thông chí.
(3) Sử ký Đại Nam Việt.
(4) Về sau khi ra Bắc đánh quân Thanh vào năm 1788, Nguyễn Huệ cũng tuyển quân dọc đường như vậy.
(5) Có nhà nghiên cứu cho rằng số lượng quân Tây Sơn chỉ khoảng 2 vạn. Xem Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười, 2021, 07:32:25 am
Để chuẩn bị cho cuộc phản công chiến lược đập tan cuộc chiến tranh xâm lược của quân Xiêm — Nguyễn, ngoài việc xây dựng và tổ chức lực lượng, Nguyễn Huệ còn tập trung giải quyết vấn đề phương hướng chiến lược, vấn đề cách đánh.

Như mọi người đều biết, đối tượng tác chiến của Nguyễn Huệ lúc này là liên quân Xiêm — Nguyễn đang trên đà tiến công chiến lược. Sau 5 tháng tiến hành chiến tranh xâm lược, lực lượng mạnh của chúng hầu như còn toàn vẹn. Riêng quân đội Nguyễn Ánh thì bắt đầu khôi phục và tăng cường. Chính trong tình hình quân sự đó, Nguyễn Huệ nhận nhiệm vụ phản công chiến lược tiêu diệt liên quân Xiêm — Nguyễn, thu hồi phần đất đai đã mất. Để làm tròn nhiệm vụ ấy, Nguyễn Huệ có thể chọn một trong hai cách đánh như sau: một là đưa hạm đội vào Gia định, tổ chức phòng ngự kiên cố vùng đất còn lại (3 tỉnh phía Đông), đánh tiêu hao địch sau đó phản công giành lại phần đất đai đã bị mất (3 tỉnh phía Tây); hai là lập tức tiến công đánh đuổi địch ra khỏi bờ cõi đất nước. Trong tình hình cả nước lúc đó, tiền đồ phát triển của phong trào Tây Sơn đòi hỏi Nguyễn Huệ phải chọn cách đánh thứ hai: đánh nhanh giải quyết nhanh. Bởi vì kẻ thù nguy hiểm của Tây Sơn lúc này không phải chỉ có quân xâm lược Xiêm và bọn phong kiến phản động Nguyễn Ánh ở Gia Định mà còn có quân Trịnh ở Thuận Húa. Chọn cách đánh thứ nhất: tổ chức phòng ngự kiên cố, chờ thời cơ phản công, cuộc chiến đấu chắc chắn sẽ kéo dài, quân chủ lực tinh nhuệ của Tây Sơn sẽ bị giam chân ở mặt Nam, do đó ở mặt Bắc, quân Trịnh có thể lợi dụng thời cơ đánh vào Qui Nhơn. Quân Tây Sơn sẽ bị phân tán lực lượng, phải đồng thời đối phó với hai kẻ thù ở hai phía. Chính vì những lý do chính trị và quân sự đó mà Nguyễn Huệ sau khi cân nhắc tính toán đã quyết định chọn phương án tác chiến thứ hai.

Với ý đồ chiến lược, với phương án tác chiến đã được xác định như vậy, Nguyễn Huệ không đem quân vào thành Gia Định chờ địch, mà tiến thẳng xuống gần địa điểm tập kết của chúng, đóng đại bản doanh tại Mỹ Tho (Tiền Giang).

Chọn phương hướng chiến lược tiến công đánh nhanh giải quyết nhanh, Nguyễn Huệ còn phải suy tính tiến công vào chỗ nào và đánh bằng cách nào thì chắc thắng và thắng lớn, đạt được mục tiêu đề ra là đập tan quân xâm lược Xiêm — Nguyễn.

Sau khi đóng quân tại Mỹ Thọ và điều tra nắm chắc tình hình bố trí lực lượng của địch, Nguyễn Huệ quyết định không tiến công thẳng vào đại bản doanh của địch ở Trà Tân. Bởi vì tiến công thẳng vào căn cứ Trà Tân, một căn cứ tập trung đông quân địch và được bố phòng hết sức chặt chẽ, cuộc chiến đấu chắc chắn sẽ ác liệt và kéo dài, nghĩa quân Tây Sơn sẽ rơi vào tình thế khó khăn giống như trường hợp áp dụng chiến lược phòng ngự.

Xuất phát từ những suy tính đó, Nguyễn Huệ chủ trương nhử địch ra khỏi căn cứ, kéo chúng đến một địa hình có lợi cho ta và tiêu diệt gọn bằng một trận quyết chiến theo lối đánh vận động trên sông.

Để thực hiện ý đồ chiến dịch này, ngay sau khi đem quân tới Mỹ Tho, Nguyễn Huệ liền ra công nghiên cứu địa hình từ Trà Tân đến Mỹ Tho và quyết định chọn khúc sông Mỹ Tho từ Rạch Gầm đến Xoài Mút làm trận địa quyết chiến với quân thù.

Đoạn sông Mỹ Tho từ Rạch Gầm đến Xoài Mút nằm cách Mỹ Tho khoảng 6 cây số (tính từ cửa sông Xoài Mút) và cách Trà Tân khoảng 15 cây số (tính từ cửa Rạch Gầm). Với các cự ly này, quân Tây Sơn từ Mỹ Tho có thể nhanh chóng chiếm lĩnh trận địa và giữ bí mật không cho quân địch ở Trà Tân dò biết. Đoạn sông này lại có lòng sông mở rộng hơn 1 cây số, có chỗ đến trên dưới hai cây số. Với đoạn sông dài và rộng như vậy, quân Tây Sơn có thể dồn hàng trăm thuyền chiến của địch lại mà tiêu diệt.

Trong đoạn sông này, Rạch Gầm và Xoài Mút là hai con sông nhỏ được Nguyễn Huệ dùng làm nơi mai phục của thủy binh Tây Sơn tạo thành hai mũi tiến công lợi hại chặn đầu và khóa đuôi toàn bộ đội hình quân địch một khi chúng đã lọt vào trận địa mai phục.

Khoảng giữa Rạch Gầm và Xoài Mút, dòng sông Mỹ Tho có các cù lao như cù lao Thới Sơn, cù lao Hộ. Đây là những nơi được Nguyễn Huệ dùng làm chỗ bố trí của bộ binh Tây Sơn với nhiệm vụ bắn vào sườn đội hình quân địch và tiêu diệt những tên liều chết trèo lên bờ để tháo chạy.

Kế đó những nhánh sông nằm giữa các cù lao và bờ Nam được Nguyễn Huệ dùng làm nơi mai phục của đội thuyền chiến có nhiệm vụ tiến công chia cắt và tiêu diệt đoàn thuyền địch.

Chọn đoạn sông Mỹ Tho từ Rạch Gầm đến Xoài Mút làm trận địa quyết chiến rõ ràng là kết quả của một sự điều tra nghiên cứu tỉ mỉ chính xác địa hình và chứng tỏ nghệ thuật lợi dụng địa hình hết sức tinh tường của Nguyễn Huệ. Dòng sông rộng cùng với các nhánh sông, cù lao, bờ sông ở đây đáp ứng đầy đủ yêu cầu bố trí một thế trận tiến công vận động lớn cho phép quân Tây Sơn bao vây chặt rồi chia cắt, tiêu diệt toàn bộ quân địch.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười, 2021, 07:34:42 am
Xác định đúng đắn ý đồ chiến dịch, lựa chọn chính xác trận đị quyết chiến là những nhân tố quan trọng hàng đầu bảo đảm thắng lợi cho quân ta. Nhưng như thế vẫn chưa đủ. Điều không thể thiếu được là phải biết cách nhử địch, đánh lừa địch, đưa địch vào cạm bẫy giương sẵn của quân ta. Nguyễn Huệ, nhà thiên tài quân sự lại đã dày công suy nghĩ giải quyết xuất sắc yêu cầu đó.

Khi Nguyễn Huệ đem quân tới Mỹ Tho, bọn xâm lược Xiêm và bọn bán nước Nguyễn Ánh do gờm uy danh quân đội Nguyễn Huệ đã quyết định tạm thời hoãn cuộc tiến công xuống Mỹ Tho mà chúng đã dự tính từ trước, tổ chức phòng thủ trong căn cứ, chuẩn bị chống lại một cuộc phản công lớn của quân Tây Sơn.

Trước tình hình đó, song song với việc điều tra nghiên cứu địa hình, lựa chọn và bố trí trận địa mai phục, Nguyễn Huệ còn phải tìm cách kích thích tinh thần chủ quan khinh địch của giặc, nhử chúng rời khỏi căn cứ phòng thủ, chấp nhận chiến đấu với quân ta.

Để thực hiện điều này, một mặt Nguyễn Huệ sử dụng một binh lực nhỏ mở những trận tập kích vào một số vị trí đóng quân của địch rồi giả thua rút chạy. Đó chính là những trận đánh mà sử quán triều Nguyễn hiểu sai tính chất và mục đích, cho rằng «Huệ đến đánh vài trận không được, muốn đem quân về»(1).

Mặt khác, Nguyễn Huệ cho người mang nhiều vàng bạc, gấm vóc đến gặp chủ tướng của quân Xiêm xin giảng hỏa, rồi hàng ngày mời quân Xiêm sang chơi thuyền và tặng quả cáp, đồng thời cho quân lui lại, đem thuyền ra dàn ở sông lớn(2): ra vẻ như là muốn phòng thủ lâu dài, không dám tiến công và đang chờ đợi kết quả giảng hòa.

Những cuộc tập kích nhỏ, việc giả vờ điều đình giảng hòa, những hành động tỏ ra lơ là phòng bị đều nhằm mục đích thúc đẩy quân địch sớm rời khỏi căn cứ, mở cuộc tiến công mà Nguyễn Huệ mong đợi, đồng thời làm cho quân địch thêm chủ quan tự mãn, tạo ra nhân tố bất ngờ cho trận quyết chiến. Rốt cục kế hoạch nhử địch ra khỏi căn cứ để tiêu diệt bằng một trận đánh vận động trên sông của Nguyễn Huệ đã thành công. Bọn tướng lĩnh Xiêm đã mắc phải mưu sâu của Nguyễn Huệ. Chiêu Tăng tin rằng Nguyễn Huệ không dám tiến công và đang chờ đợi kết quả giảng hòa. Hắn hí hửng bàn với Nguyễn Ánh mở cuộc tiến công vào quân Tây Sơn: «giặc rất tin tôi, tất không phòng bị, ta nên thừa thế mà đánh phá giặc ngay. Xin hẹn đến đêm mồng 9 tháng này (tháng Chạp năm Giáp Thìn), quốc vương đem ngự binh đi trước xông vào thuyền giặc. Tôi cùng các tướng bản bộ đem tất cả chiến thuyền lớn nhỏ tiến lên phá các thuyên chắn ngang sông của giặc thì thế nào cũng toàn thắng»(3).

Và kết quả trận tiến công của quân Xiêm — Nguyễn như thế nào thì mọi người chúng ta đã rõ. Toàn bộ thuyên chiến của quân Xiêm — Nguyễn trên 300 chiếc đều chui tọt vào trận địa mai phục của nghĩa quân Tây Sơn, tất cả đều bị đánh đắm và phá hủy. Quân Xiêm bị thua to, bỏ chạy, bị «chết gần hết» như lời ghi nhận của các sử sách chính thống của triều Nguyễn. Chỉ trong khoảng một ngày, nghĩa quân Tây Sơn đã giao chiến và đánh tan tành hơn 5 vạn quân Xiêm — Nguyên, tiêu diệt gần 4 vạn quân Xiêm và hàng nghìn quân Nguyễn.

Chiến thắng giòn giã này là kết quả của tinh thần chiến đấu ngoan cường và sự dũng cảm của quân đội Tây Sơn được sự tham gia và cổ vũ của nhân dân Gia Định, nhưng như trên đã trình bày, trước hết đó là kết quả của sự tổ chức, lãnh đạo tài tình của sự chuẩn bị hết sức công phu, tỉ mỉ, của sự bố trí mưu lược xuất quỷ nhập thần của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ.

Đưa quân vào Gia Định với nhiệm vụ nhanh chóng tiêu diệt quân Xiêm — Nguyễn, Nguyễn Huệ không tổ chức đánh tiêu hao từng bước rồi tiến lên phản công lớn, cũng không tiến công vào căn cứ có phòng thủ và tập trung nhiều binh lực địch. Nguyễn Huệ chủ trương dùng mưu nhử địch ra khỏi căn cứ, kéo chúng đến một địa hình có lợi nhất để tiêu diệt bằng lối đánh vận động, mai phục. Tầm nhìn chiến lược, tài năng quân sự lỗi lạc, mưu lược khôn ngoan sắc sảo của vị tướng chỉ huy Tây Sơn thể hiện ở nghệ thuật nhử địch, lợi dụng địa hình, xác định trận địa quyết chiến, sử dụng binh lực và bố trí trận đánh.

Bằng chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút, quân Tây Sơn đã giành được thắng lợi quyết định, quét sạch quân xâm lược ra khỏi đất Gia Định, thu hồi những vùng đất bị chiếm đóng và làm tiêu tan tham vọng của bọn phong kiến bành trướng Xiêm đối với phần lãnh thổ cực Nam của nước ta. Chính các sử thần triều Nguyễn cung nhận thấy: «Người Xiêm từ sau cuộc bại trận năm Giáp Thìn, miệng tuy nói khoác mà lòng thì sợ Tây Sơn như cọp»(4).

Đây là bài học lịch sử mà giới cầm quyền Thái Lan hiện nay cần phải ghi nhớ, nếu như họ vẫn tiếp tục câu kết với đế quốc Mỹ và bè lũ phản động Bắc Kinh chống phá cách mạng ba nước Đông Dương.

Tháng Năm — 1984


(1) Đại Nam thực lục chính biên.
(2) Vũ Thế Dinh, Mạc thị gia phả.
(3) Mạc thị gia phả.
(4) Đại Nam thực lục chính biên.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười, 2021, 07:36:44 am
MỰC NƯỚC TRIỀU VÀ DÒNG TRIỀU
TRONG CHIẾN THẮNG RẠCH GẦM — XOÀI MÚT (1785)

                                                                                                                                                                     
Phó tiến sĩ NGUYỄN NGỌC THỤY
(Tổng cục khí tượng thủy văn)

Cách đây đúng 200 năm, trận thủy chiến nổi tiếng Rạch Gầm — Xoài Mút đã diễn ra từ đêm mùng 9 cho tới ngày 10 tháng Chạp năm Giáp Thìn tức từ đêm 19 cho đến ngày 20 tháng 1 năm 1785.

Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của nhà quân sự thiên tài, anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ, quân và dân ta đã tiêu diệt gọn 5 vạn quân xâm lược và tay sai trong trận đánh lớn này.

Lợi dụng thủy triều vào công cuộc phòng thủ đất nước và đánh địch đã từng được nhiều nước trên thế giới tiến hành có kết quả. Tuy nhiên, theo các tài liệu được biết, chính ở Việt Nam, thủy triều đã được lợi dụng để đánh địch rất sớm và có hiệu quả cao.

Tiếp theo các trận thủy chiến nổi tiếng có lợi dụng thủy triều đánh thắng giặc tại cửa sông Bạch Đằng năm 938 dưới sự lãnh đạo của Ngô Quyền và năm 1288 dưới sự lãnh đạo của Trần Quốc Tuấn, trận Rạch Gầm — Xoài Mút đã được thực hiện vào năm 1785 tại một khúc sông lớn ở phía nam, ở khá sâu trong đồng bằng.

Chúng ta ít nhiều biết đến vai trò của thủy triều trong hai trận Bạch Đằng mà việc khôn khéo lợi dụng quy luật thiên nhiên này đã góp phần dẫn đến chiến thắng vĩ đại, tạo nên những bước ngoặt lịch sử. Chúng tôi đã có dịp dẫn ra kết quả tính toán gần đúng về mực nước triều trong hai trận trên tại cửa sông Bạch Đằng, vốn chịu sự chi phối đáng kể của thủy triều ở vịnh Bắc Bộ. Riêng đối với trận Rạch Gầm — Xoài Mút, xẩy ra ở khá sâu trong sông, cách cửa Tiểu của sông Tiền khoảng 60 — 70km, vấn đề đặt ra là ảnh hưởng của thủy triều (mực nước triều và dòng triều) nhiều hay ít và cụ thể như thế nào.

Chúng tôi có thể khẳng định ngay là ảnh hưởng của thủy triều tại đây còn rất lớn, vì ở vùng đồng bằng sông Cửu Long thủy triều từ biển truyền vào rất sâu trên vùng đất thấp này. Những tư liệu đo đạc và tính toán ngày nay có thể giúp chúng ta hiểu biết cụ thể về quy luật thủy triều khu vực Rạch Gầm — Xoài Mút.

Tuy nhiên, nếu đòi hỏi những diễn biến cụ thể về mực nước triều và dòng triều trong các ngày xảy ra trận đánh là 19 và 20-1-1785, vấn đề lại trở nên khó khăn. Đó là bài toán dự tính thủy triều hoặc dự tính dòng triều cho thời gian cách đây 200 năm!

Phải giải quyết bài toán này mới có được những căn cứ khoa học để hình dung xác đáng và chi tiết hơn về diễn biến của trận đánh, trong khi các tư liệu lịch sử chỉ nêu được rất ít.

Để góp phần dựng lại diễn biến cụ thể của trận thủy chiến độc đáo này, thấy rõ mưu lược tài giỏi của Nguyễn Huệ, cũng như hiểu biết về quy luật cơ bản của mực nước triều và dòng triều tại Rạch Gầm — Xoài Mút, chúng tôi sẽ trình bày một số kết quả phân tích và tính toán khoa học có liên quan.

Báo cáo khoa học này được bổ sung thêm kết quả tính toán về dòng triều và phân tích sâu hơn về quy luật thủy triều tại đây. Các số liệu thực đo về mực nước tại Vũng Tàu, Mỹ Thuận, về dòng triều tại Rạch Gầm đã được tham khảo và sử dụng.

Về quy luật thủy triều tại khu vực Rạch Gầm — Xoài Mút

Khu vực Rạch Gầm — Xoài Mút ở trên sông Tiền, phía Bắc Mỹ Tho, phía nam bến phà Mỹ Thuận, các cửa Tiểu, thông ra biển khoảng 60 — 70 km.

Sóng triều từ biển Đông truyền vào hệ sông Cửu Long qua Cửa Tiểu và Cửa Đại và các cửa khác mà biên độ tiết giảm dần so với khi ở biển.

Nếu lấy trạm biển Vũng Tàu làm chuẩn, thủy triều tại khu vực Rạch Gầm — Xoài Mút không khác bao nhiêu. Thủy triều trong vùng mang tính chất bán nhật triều không đến hàng ngày, có hai lần triều lên và hai lần triều xuống. Tính chất không đều thể hiện ở sự không đều giữa hai lần dao động triều lớn và triều nhỏ trong già một ngày đêm và sự chênh lệch khá lớn giữa hai độ cao chân triều, có thể tới 1 — 2 m trong kỳ triều cường. Giữa hai độ cao đỉnh triều cũng có chênh lệch, nhưng ít hơn (khoảng vài chục cm). Độ lớn triều biến thiên đáng kể trong mỗi chu kỳ khoảng nửa tháng, phân biệt rõ kỳ triều cường với kỳ triều kém.

So với Vũng Tàu, độ lớn triều tại Rạch Gầm — Xoài Mút bằng khoảng 80 — 85% và độ lớn triều cực đại trong mỗi chu kỳ 19 năm tại đây theo tính toán, có thể đạt khoảng trên dưới 3,0m. Độ lớn triều cực đại theo thực đo tháng 4-1979 tại Rạch Gầm là 2,5m. Thời gian truyền triều từ Vũng Tàu cho tới khu vực Rạch Gầm — Xoài Mút, theo tính toán gần đúng trung bình vào khoảng 2 giờ 30 phút.

Ảnh hưởng của thủy triều đóng vai trò chủ yếu trong mùa khô, bao gồm cả tháng 1 hàng năm.

Dòng triều tại Rạch Gầm mang tính chất bán nhật không đều với hai lần dòng triều lên (chảy ngược) và hai lần dòng triều xuống (chảy xuôi), hơi không đều trong mùa khô. Tốc độ dòng triều trên mặt lớn nhất đo được trong tháng 4-1979 tại Rạch Gầm là 127 cm/s (khoảng 4,6 km/giờ). Theo tính toán, tốc độ dòng triều trên mặt đạt giá trị cực đại của chu kỳ 19 năm là 140 — 150 cm/s (khoảng 5 — 5,3 km/giờ).

Tóm lại tại khu vực Rạch Gầm — Xoài Mút, thủy triều có độ lớn đáng kể và dòng triều cũng chảy khá mạnh, diễn ra hàng ngày với hai cao độ không đều. Ảnh hưởng thủy triều thấy rõ nhất trong tháng 4 hàng năm nhưng vào tháng 1, thuộc mùa khô, ảnh hưởng của thủy triều vẫn đóng vai trò chủ yếu trong khúc sông này.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười, 2021, 07:38:29 am
Diễn biến mực nước triều và dòng triều trong hai ngày 19 và 20-1-1785

Về nguyên tắc, khoa học ngày nay cho phép tính được mực nước triều hoặc dòng triều ứng với bất kỳ thời gian nào trong tương lai hay quá khứ với hai điều kiện:

1) Có số liệu thước đo, về mực nước triều hoặc dòng triều tại đại phương (tốt nhất là số liệu từng giờ từ một tháng trở lên). Nếu có số liệu ngắn hơn hoặc tại điểm khác ở gần, độ chính xác sẽ kém hơn.

2) Biết được các điều kiện thiên văn (tức vị trí của mặt trăng và mặt trời so với trái đất) của ngày, tháng, năm cần tính.

Ở khu vực Rạch Gầm — Xoài Mút ta có số liệu thực đo về mực nước triều trên 1 tháng tại Vũng Tàu, Mỹ Tho và Mỹ Thuận, và số liệu về dòng triều ngay tại Rạch Gầm, đo liên tục từng giờ trong một số đợt kéo dài từng 30 ngày.

Đáng tiếc là các tư liệu thiên văn của năm 1785 thuộc thế kỷ 18 lại không được công bố trong các năm lịch thiên văn và bảng tính thủy triều hiện lưu hành trên thế giới. Tại các sách này chỉ có các tư liệu thiên văn từ 1-1-1800 trở đi mà thôi.

Vì lẽ đó, chúng tôi phải tìm cách xác định đặc biệt các tư liệu thiên văn của năm 1785 với mục đích chuyên dùng cho việc tính thủy triều của trận Rạch Gầm — Xoài Mút của Việt Nam.

Được sự giúp đỡ rất nhiệt tình của các tiến sĩ khoa học Liên Xô V.L. Xuricốp (Hội đồng Hải dương huộc viện HLKHLX) và N. A. Kabaêva (Viện Thiên văn Xtenbéc, Matxcơva), chúng tôi đã có được những số liệu thiên văn tối thiểu ứng với 0 giờ quốc tế (GMT) ngày 1 tháng 1 năm 1785 như sau:

— Kinh độ trung bình của mặt trời h = 281o03

— Kinh độ trung bình của mặt trăng S = 162o01

— Kinh độ trung bình điểm cận nguyệt của quỹ đạo mặt trăng. P = 335o18

— Kinh độ trung bình điểm cận nhiệt của quỹ đạo mặt trời. P1 = 279o21

— Kinh độ trung bình của tiết điểm lên của quỹ đạo mặt trăng... N = 323o33

Với các dữ kiện trên, chúng tôi đã tiến hành chỉnh lý số liệu thực đo, phân tích thành các hằng số điều hòa của mực nước triều và của dòng triều rồi tiến hành dự tính mực nước triều và dòng triều trên máy tính điện tử.

Riêng đối với mực nước triều, do số liệu thực đo tại Rạch Gầm không tốt nên đã lấy hằng số điều hòa tại Vũng Tàu (26 sóng thành phần) và tại Mỹ Thuận (11 sóng thành phần) và dựa vào quan hệ phụ thuộc giữa mực nước triều tại Vũng Tàu, Mỹ Thuận và Rạch Gầm để suy ra mực dự tính cho Rạch Gầm. Tại đây, chúng tôi đã áp dụng 2 phương pháp dự tính thủy triều khác nhau là phương pháp dùng các hằng số điều hòa thủy triều và phương pháp dùng các đặc trưng thiên văn tổng hợp, không qua phân tích điều hòa thủy triều.

Đối với dòng triều, chúng tôi đã tiến hành phân tích, tìm ra hằng số điều hòa của 11 sóng thành phần của dòng triều tại Rạch Gầm và sử dụng luôn vào việc dự tính dòng triều cho tháng 1/1785.

Kết quả tính toán tại Rạch Gầm như sau:

1/. Chênh lệch triều lớn nhất trong đêm 19 và ngày 20/1/1785 là khoảng 1,8 —2,0m ± 0,2m. Đây là trường hợp triều kém nên chênh lệch triều này không lớn.

Triều xuống từ khoảng 9 — 10 giờ đêm 19 và tới khoảng 5 — 7 giờ triều bắt đầu lên, đạt đỉnh cao nhất vào khoảng trưa ngày 20.

2/. Dòng triều chảy xuôi từ khoảng 8 —10 giờ đêm ngày 19 cho tới khoảng nửa đêm và 1 giờ sáng ngày 20/1/1785. Tiếp đó dòng triều chảy ngược cho tới khoảng 6 — 8 giờ sáng rồi chuyển sang chảy xuôi cho tới trưa ngày 20.

Tốc độ lớn nhất khi chảy xuôi là 69 cm/s (đêm ngày 19), khi chảy ngược là 68 cm/s (sáng sớm ngày 20). Dòng chảy ngược vào chiều ngày 19 và dòng chảy xuôi từ trưa ngày 20 mạnh gấp khoảng hai lần. Sai số dự tính dòng triều ước khoảng 0,20 cm/s.

Các kết quả tính toán trên đây được giả định với hai điều kiện:

a) Điều kiện thiên nhiên đoạn sông từ Cửa Tiểu đến Rạch Gầm — Xoài Mút cách đây hai thế kỷ không khác nhiều lắm so với ngày nay để có thể làm thay đổi đáng kể sự truyền sóng triều từ biển vào. Tất nhiên lòng sông do bị bồi tích hoặc sói lở có thể có sự biến dạng nhất định (ngày trước có thể sâu hơn, rộng hơn) song chỉ gây ảnh hưởng không lớn tới quá trình truyền sóng triều.

b) Điều kiện thời tiết bình thường.

Như vậy, các tư liệu tính toán trên là có căn cứ khoa học về cơ bản có thể tham khảo để rút ra các nhận định chính về diễn biến của trận đánh (với sai số khoảng một, hai giờ).


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười, 2021, 07:39:09 am
Về quan hệ giữa con nước triều và diễn biến
trận đánh Rạch Gầm — Xoài Mút

Với kết quả phân tích và tính toán về mực nước triều và dòng triều tại khu vực Rạch Gầm — Xoài Mút tháng 1-1785, kết hợp với tư liệu lịch sử, có thể rút ra vài nhận xét về diễn biến của trận đánh nổi tiếng này như sau:

1) Trong giai đoạn đầu của trận đánh, khi thuyền quân địch đang xuôi dòng về khu vực trận địa mà quân ta đã bố trí sẵn, quân Tây Sơn giả vờ thua, rút dần về phía Rạch Gầm. Việc này xảy ra vào đêm 19 rạng ngày 20 tháng 1 ứng với thời đoạn triều rút, địch lợi thế, tiến quân xuôi dòng sông và xuôi nước.

2) Vào giai đoạn thứ hai của trận đánh mà Vũ Thế Dinh đã ghi lại trong Mạc thị gia phả: «đầu canh năm nghe tiếng đại bác nổ liên tục» quân ta bất ngờ công kích trở lại, có sự phối hợp giữa thủy quân với pháo binh và quân mai phục trên bờ sông và các cù lao. Giai đoạn này trùng với thời đoạn dòng triều lên, tạo lợi thế cho thủy quân ta từ phía hạ lưu tiến lên ngược sông nhưng lại xuôi nước (do dòng triều chuyển sang chảy ngược) từ khoảng sau canh một cho tới 6 — 8 giờ sáng ngày 20-1-1785. Theo sử liệu, quân ta đánh địch trong điều kiện «nhờ xuôi nước và thuận gió». Với các chiến thuyền chèo tay cách đây hai trăm năm, thiết tưởng những yếu tố thiên nhiên này rõ ràng rất có ý nghĩa trong chiến thuật dùng binh. Có thể là quân ta đã có kinh nghiệm quan sát thủy triều trong vùng, tính trước các thời điểm, thời đoạn giả vờ thua hoặc nổi lệnh tiến quân, phù hợp với các thế hiểm yếu của địa hình đoạn sông có nhiều rạch và cù lao, phù hợp với quy luật nước triều lên, xuống, dòng chảy trên sông xuôi hay ngược mà chủ động đánh địch theo ý đồ của ta. Khi đánh áp trở lại, thủy quân ta vừa có khí thế chủ động tiến công mãnh liệt, lại được tăng thêm tốc độ khoảng trên dưới 1 hải lý/giờ do xuôi nước (còn quân địch thì ngược lại). Thêm vào đó, còn có ảnh hưởng thuận lợi của gió biển thổi vào. Vào mùa này thường có gió thổi khá mạnh từ biển vào đồng bằng sông Cửu Long.

*
*   *

Chúng tôi hy vọng rằng những phân tích và tính toán có căn cứ khoa học trên đây về mực nước triều và dòng triều mặc dù chưa đạt độ chính xác cao, cũng có thể giúp ích cho việc nghiên cứu sâu hơn và chi tiết hơn về diễn biến của trận đánh nổi tiếng Rạch Gầm — Xoài Mút năm 1785 nói riêng và về nghệ thuật dùng binh có lợi dụng thủy triều của Việt Nam, nói chung.

Tài liệu này được hoàn thành với sự tham gia tính toán của Trần Bình Trọng, Nguyễn Mạnh, Vi Văn Định và Trần Ngọc Hiền.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Mười Một, 2021, 03:55:05 pm
ĐẬP TAN MỘT CUỘC CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC
CHỈ BẰNG MỘT TRẬN ĐÁNH: TRẬN SÔNG TIỀN GIANG
(ĐOẠN RẠCH GẦM — XOÀI MÚT)
VỊ TRÍ VÀ ÂM VANG

Thượng tướng TRẦN VĂN TRÀ

Trải qua 4000 năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam ta đã biết bao lần buộc phải tiến hành chiến tranh chống xâm lược từ nhiều hướng, đặc biệt là từ hướng Bắc chống quân Trung Quốc bành trướng, để giữ yên bờ cõi, vẹn toàn Đất nước. Trong lịch sử chống ngoại xâm lâu dài đó, có nhiều thời kỳ, nhiều trận đánh hết sức oai hùng và thắng lợi vô cùng vẻ vang làm rạng rỡ cho non sông, cho dân tộc.

Đó là thời nhà Lý, diệt 30 vạn quân Tống (các năm 1075—106—1077) và đuổi bọn còn sống sót về nước chúng. Hoàn toàn chủ động tấn công về chiến lược, chiến đấu, Lý Thường Kiệt đã đem quân đánh chiếm các Châu Ung, Châu Khâm, Châu Liêm, với chủ trương «ngồi im đợi giặc không bằng đem quân ra trước để chặn thế mạnh của giặc». Sau đó ung dung lui quân về chiến tuyến sông Cầu được chuẩn bị sẵn, đợi giặc đến đánh tiêu diệt trong một trận và đặt điều kiện cho chúng rút lui kết thúc thắng lợi chiến tranh.

Đó là thời nhà Trần, ba lần chống lại sự xâm lược đồ sộ của quân Nguyên — Mông, ba lần thắng rất lớn, rất anh hùng, diệt hơn 1 triệu quân địch, một quân địch có đội kỵ binh hùng mạnh nhất thế giới, đã chiếm gần hết Châu Âu và một nửa Châu Á, lập nên đế quốc Nguyên mênh mông. Một quân địch tàn bạo, kiêu căng, từng thắng tất cả mọi quân đội thiện chiến cùng thời chỉ bị bại nhục nhã trước quân và dân nước Việt. Có được thành tích vĩ đại như vậy là vì nhà Trần được lòng dân, trọng nhân tài, tuân theo hội nghị Diên Hồng, toàn dân đoàn kết một lòng đánh giặc. Quân thì như Trần Quốc Tuấn nói «quí về tinh, không quí về nhiều», nhưng tổ chức thành quân chủ lực gọi là «du quân», quân địa phương gọi là «phong đội» và «hương binh» ở các thôn xã. Tổng kết thắng lợi vẻ vang đó, Trần Quốc Tuấn đã nói với vua Trần: «... mới rồi Toa Đô và Ô Mã Nhi bốn mặt bao vây đánh phá, lúc ấy vua tôi cùng lòng, anh em hòa thuận, cả nước góp sức chiến đấu nên giặc phải bó tay, đấy là lòng người xui khiến. Đại khái quân giặc dựa vào trường trận, quan ta dựa vào đoản binh: đem đoàn binh thắng trường trận là việc thường trong binh pháp».

Đó là thời Lê Lợi — Nguyễn Trãi đã:

«Nêu gậy hiệu làm cờ, tập hợp 4 phương manh lệ; khao quân rượu hòa nước, gắn bó cha con một nhà» mà quét sạch quân đô hộ nhà Minh trong 10 năm, giành độc lập hoàn toàn cho xứ sở. Lê Lợi đã ra sức thu nạp nhân tài, chọn người «hiền lương, phương chính, trí dũng, hào kiệt». Nguyễn Trãi nêu phương châm: «Lấy đại nghĩa thắng hung tàn, đem chí nhân thay cường bạo» và khi có chánh quyền thì «Quyền mưu bản thị dụng trừ gian, nhân nghĩa duy trì quốc tề an» (có nghĩa là dùng quyền mưu để trị bọn gian, kẻ thù, còn dùng nhân nghĩa đối với nhân dân để giữ yên đất nước).

Nhưng tài giỏi trong chỉ đạo chiến tranh, kiệt xuất về nghệ thuật quân sự, phải nói là người anh hùng áo vải Tây Sơn Nguyễn Huệ, người đã có công thống nhất giang sơn một giải từ Cao Lạng đến Cà Mau, Hà Tiên. Chỉ trong một chiến dịch ngắn gồm ba trận then chốt, Tây Sơn đã tiêu diệt gọn 29 vạn quân Thanh, giải quyết xong cuộc chiến tranh xâm lược của kẻ thù phương Bắc. Trước đó, chỉ trong một trận đánh quyết định đã diệt gần toàn bộ năm vạn quân Xiêm (Thái Lan ngày nay) và mấy ngàn quân ngụy Nguyễn Ánh, giải quyết xong cuộc chiến tranh xâm lược của kẻ thù phương Nam. Đối phó với cả thù trong giặc ngoài, chỉ có thắng không có bại, anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ cùng quân dân ta ở thế kỷ 18 đã làm nên những kỳ tích chống ngoại xâm có một không hai trong lịch sử nước nhà và cả trong lịch sử đông tây kim cổ.

Cũng cần nói thêm ở đây là, trong mấy nghìn năm đấu tranh lâu dài của dân tộc ta, không phải không có những thua, bại. Như thời Thục An Dương Vương nước Âu Lạc, thời kỳ đầu tiên cho nhà nước tập quyền. Để giữ nước, ông đã xây thành Cổ Loa và dùng kỹ thuật cung nỏ, tên đồng lợi hại. Tập I «Lịch sử Việt Nam» (nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội 1971) đã ghi: «An Dương Vương đã mắc mưu kẻ địch. Ông không dựa vào dân mà chỉ cậy vào thành cao, nỏ quí, vào đội quân thường trực». Ông đã lấy thiên hạ làm của riêng, tưởng gả con gái cho giặc mà giữ được ngôi báu — đã đặt tình gia đình và lợi ích của dòng phái lên trên nghĩa quốc gia, lên trên lợi ích của dân tộc, vì vậy mà thua giặc, mất nước. Hoặc như thời nhà Hồ chống quân Minh xâm lược, Hồ Quí Ly, một người có tài nhưng thiếu đức, đã cai trị hà khắc, làm mất lòng dân. Để giữ nước ông luôn suy tính: «làm thế nào có được trăm vạn quân để đối địch với giặc phương Bắc». Ông xây thành Đa Bang kiên cố ở Sơn Tây, lập tuyến sông Hồng dài đến 900 dặm, dùng cọc bịt sắt đóng cửa biển, dùng dây sắt ngầm khóa sông; Dựa vào súng «thần cơ» và «cổ lâu thuyền» dựa vào nơi hiểm địa và đội quân thường trực đông đảo để chống giặc mà không phải dựa vào dân; Đã để cho giặc Minh xảo quyệt dùng danh nghĩa «phù Trần diệt Hồ» lung lạc lòng dân, chia rẽ sĩ phu để cướp nước ta. Lại chủ trương phòng ngự mà không phải tấn công: «Cầm cự với quân Minh, cố thủ nơi hiểm trở, không ra đánh để cho quân Minh mòn mỏi»... Rốt cục cha con nhà Hồ bị bắt, nước bị chiếm, nhân dân lầm than.

Thành, bại trong lịch sử, nguyên do cũng đã rõ ràng. Ở đây chỉ nghiên cứu riêng về trận đánh trên sông Tiền Giang (đoạn Rạch Gầm — Xoài Mút) năm 1785 của Nguyễn Huệ Tây Sơn, một trận đánh lịch sử đã đè bẹp cuộc chiến tranh xâm lược của quân Xiêm vào phía Nam đất nước ta và sau trận đó sách Đại Nam thực lục chép «Người Xiêm sợ quân Tây Sơn như cọp», tiêu tan ý chí đi cướp nước người.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Mười Một, 2021, 03:57:18 pm
1. — CUỘC CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC CỦA QUÂN XIÊM Ở THẾ KỶ 18.

Tháng 7-1784, nhân khi Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn đánh đại bại, chạy sang cầu cứu, quân Xiêm mừng rỡ vì thấy được cơ hội để bành trướng đất đai, xâm chiếm nước ta. Vua Xiêm lúc ấy là Chakkri I liền phái hai cháu là Chiêu Tăng và Chiêu Sương làm tổng chỉ huy, thống lĩnh một đội quân gồm 5 vạn tên, chia làm hai đạo bộ binh và thủy binh cùng tiến.

Đạo bộ binh gồm ba vạn quân, có cả lính Xiêm và lính Chân Lạp. Chân Lạp lúc ấy đã bị Xiêm thần phục từ năm 1782 khi mà Chakkri còn làm tướng cầm quân qua thôn tính. Ngoài các tướng Xiêm chỉ huy đạo bộ binh nầy là Lục Côn và Sa Uyển còn có một đại thần Chân Lạp thân Xiêm là Chiêu Thùy Biện. Có sự thuận lợi đó, đạo bộ binh đã băng qua Chân Lạp, lấy thêm quân và dùng Chân Lạp làm bàn đạp tiến sát biên giới nước ta ở Châu Đốc, hữu ngạn sông Hậu.

Đạo thủy binh có 2 vạn tên và 300 chiến thuyền là đạo quân thiện chiến, là chủ lực, nòng cốt của quân xâm lược, từ Xiêm La vượt biển đổ bộ vào Rạch Giá. Chiêu Tăng và Chiêu Sương trực tiếp nắm đạo quân nầy.

Ngoài ra còn tàn quân Nguyễn Ánh thu thập lại và có thể mộ thêm trong quá trình tiến quân, độ ba bốn nghìn người, cùng đi với đạo thủy binh để dẫn đường và đặt dưới sự sai khiến của người Xiêm. Tất nhiên Nguyễn Ánh phải luôn túc trực dưới trướng của các tướng tổng chỉ huy Chiêu Tăng và Chiêu Sương.

Quân cướp nước và bán nước hùng hổ tiến vào nước ta từ hai hướng và cố che giấu mục đích xấu xa của chúng bằng luận điệu tuyên truyền giả dối. Nguyễn Ánh thì rêu rao là được quân Xiêm hùng mạnh giúp đỡ trở về diệt quân nổi loạn Tây Sơn, khôi phục giang sơn. Sự thật thì tham vọng của phong kiến Xiêm là nhân nước Việt loạn lạc, chia năm xẻ bảy, muốn xây mộng thành đế quốc lớn phương Nam nầy.

Không phải đến lúc ấy đế quốc Xiêm La mới bộc lộ dã tâm xâm lăng, cướp bóc đất đai tài sản người khác. Từ năm 1745, quân Xiêm đã cướp phá Hà Tiên hết sức nặng nề. Năm 1766 phong kiến Xiêm lại chuẩn bị tiến công sang Hà Tiên lần thứ 2 nhưng không thành vì phải tiến hành chiến tranh với Miến Điện. Đến năm 1771, vua Xiêm là Trịnh Quốc Anh lại trực tiếp chỉ huy 2 vạn quân đánh cướp Hà Tiên và giao cho người tin cẩn là Trần Liên trấn giữ để mình đem đại quân đánh chiếm Chân Lạp, đóng giữ cả Phnôm Pênh (Trịnh Quốc Anh là một Hoa thương người Triều Châu, Trung Quốc đã cướp ngôi vua Xiêm lên trị vì và liên kết với nhà Thanh. Trần Liên cũng là người Triều Châu).

Trần Liên đã chiếm giữ Hà Tiên mãi cho đến năm 1773. Không kể những lần quân Xiêm trực tiếp cướp phá nước ta, vua Xiêm luôn luôn nuôi hy vọng thôn tính cả đất Gia Định (Nam bộ ngày nay) bằng cách dung nạp các tên phản bội để chờ thời cơ dùng làm tay sai dẫn đường như các tên Trần Thái, Mạc Thiên Tứ, Nguyễn Phúc Xuân rồi đến Châu Văn Tiếp, Nguyễn Ánh. Chính sách của người Xiêm dung nạp bọn phản quốc của các dân tộc để âm mưu lấn chiếm tồn tại cho đến ngày nay. Phong kiến Xiêm cũng đã nhiều lần xâm lược nước Lào và Chân Lạp, cướp bóc dã man, tàn phá Angkor, buộc vua Chân Lạp dời đô về Phnom Pênh mà vẫn không thoát khỏi sự chiếm đóng của quân Xiêm.

Như vậy là âm mưu và hành động xâm lược các nước phía đông của đế quốc Xiêm La đã có từ lâu đời. Năm 1781 vua Xiêm cho là thời cơ thuận lợi nhất để thực hiện mộng bành trướng và lần nầy hí hửng chắc thành công do nước Việt đang yếu, có danh nghĩa thuận, có sự giúp sức tay trong của một vương triều mà cơ sở xã hội là bọn địa chủ phong kiến, quan lại cũ, cùng bọn cơ hội, cướp bóc như bọn Đông Sơn, vẫn còn không ít.

Tháng 8-1784, thủy binh Xiêm đổ bộ đánh chiếm Kiên Giang (Rạch Giá). Từ đấy cánh nầy đánh thẳng về hướng đông, phối hợp với cánh bộ binh từ biên giới Chân Lạp — Châu Đốc đánh xuống theo hữu ngạn sông Hậu, thành 2 gọng kềm, chiếm Trấn Giang (Cần Thơ). Tại đây, thủy bộ quân Xiêm chia thành 3 đạo đánh 3 hướng: hướng thứ nhất do Chiêu Tăng và Chiêu Sương cầm đầu, kiểm soát toàn bộ sông Hậu ra biển và chiếm vùng rộng lớn Ba Thắc (Sóc Trăng); hướng thứ hai do liên quân Xiêm — Nguyễn dưới quyền chỉ huy của Thát Xỉ Đa và Nguyễn Ánh đánh về Trà Ôn (Vĩnh Long); còn hướng thứ ba do bộ binh của Sa Uyển — Chiêu Thùy Biện đánh sang Đông Khẩu (Sa Đéc).

Năm vạn quân Xiêm cùng mấy nghìn quân Nguyễn Ánh ì ạch tiến quân, vừa phải chống trả lại sự kháng cự của lực lượng Tây Sơn do Trương Văn Đa chỉ huy, vừa giở mọi thủ đoạn cướp bóc, vơ vét của cải, hãm hiếp, giết chóc nhân dân ta, trải qua 6 tháng trường mới chiếm được nửa phần đất phía tây Gia Định (tương ứng với 3 tỉnh miền Tây trong Nam Kỳ Lục Tỉnh cũ). Càng tiến về phía Đông chúng càng bị chặn đánh kịch liệt, điển hình là các trận Mân Thít, Ba Lai, quân Xiêm — Nguyễn bị hao binh tổn tướng khá nặng. Tháng 12-1784, quân các hướng mới tập trung được về khu vực Trà Tân (theo Đại Nam thực lục) trên bờ sông Tiền Giang, chấn chỉnh đội ngũ, chuẩn bị mọi mặt để tiếp tục đánh chiếm nửa phần phía đông của Gia Định (tương ứng với 3 tỉnh miền Đông thuộc Nam Kỳ Lục Tỉnh cũ). Sách Sử ký Đại Nam Việt chép: «khi ấy bộ binh và thủy binh Xiêm đã hiệp lại cùng nhau vào đóng trong Trà Suốt, lại lập nhiều lũy, nơi nọ, nơi kia» (Trà Suốt nói ở đây cùng với Trà Tân, Trà Luật, Tà Luật trong các sách khác đều là một như một số nhà sử học xác định). Về mặt quân sự mà nói thì ta có thể phán đoán rằng đây là một đợt tạm ngừng sau khi đã chiến thắng, không phải dễ dàng gì, chiếm được nửa đất Gia Định và trước khi tiếp tục tấn công chiếm nốt nửa kia, có lẽ còn khó khăn hơn nhiều. Chủ lực nòng cốt của đội quân xâm lược là 2 vạn thủy binh có 300 chiến thuyền, nên phải chọn nơi đóng quân dựa vào sông lớn (Tiền Giang) và thuận lợi cho đường tiến quân tấn công tiếp (về Mỹ Tho). Vùng đó có nhiều cù lao mà chủ yếu là cù lao Năm Thôn để bộ binh đóng có «nhiều lũy nơi nọ nơi kia» để thủy bộ cùng dựa thế vào nhau một cách vững chắc đề phòng phản công bất ngờ của đối phương. (Đó là thuộc địa phận 2 tỉnh Vĩnh Long và Định Tường, cách Mỹ Tho khoảng 30 cây số mà Vĩnh Long giặc xem như hậu phương và đã chiếm xong, còn Định Tường là vùng còn thuộc đối phương, là tiền duyên tạm thời phòng ngự và hướng tấn công tiếp). Chọn khu vực hiểm địa giữa sông nước và cù lao như vậy để đóng 5 vạn quân thủy bộ và đặt Tổng hành dinh của một đội quân đang trong thế tấn công tạm dừng lại, chuẩn bị cho đợt tấn công tiếp sâu hơn là hợp lý; vừa có thể phòng giữ vừa tiện đường tiến lên đánh địch.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Mười Một, 2021, 03:57:54 pm
2 — TÌNH THẾ CỦA NHÀ TÂY SƠN VÀ PHƯƠNG HƯỚNG CHIẾN LƯỢC CHỐNG QUÂN XÂM LƯỢC XIÊM CỦA NGUYỄN HUỆ

Sau lần thứ 4 (năm 1783) tiến đánh vào Gia Định, quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ chì huy đã giành thắng lợi triệt để, quét sạch bè lũ Nguyễn Ánh ra khỏi toàn bộ vùng đất phía Nam của đất nước. Quân Tây Sơn còn truy kích đến tận các hải đảo trong vịnh Thái Lan. Nguyễn Ánh chỉ còn vài trăm bộ hạ sống lén lút ở đảo Phú Quốc rồi được Vua Xiêm cho đòi về Bangkok để làm con bài cho mưu đồ xâm lược.

Sau khi hoàn thành sứ mạng, Nguyễn Huệ rút quân về, giao đất Gia Định lại cho tướng Trương Văn Đa trấn giữ.

Như vậy là Tây Sơn đã làm chủ từ Quảng Nam — Quảng Ngãi trở vào bao gồm toàn bộ địa phận Đàng trong của chúa Nguyễn trước đây trừ Phú Xuân ở phía Bắc, do chúa Trịnh đánh chiếm nhân lúc chúa Nguyễn bị suy yếu.

Lúc quân Xiêm dẫn Nguyễn Ánh đổ bộ vào Rạch Giá là lúc mà bộ chỉ huy tối cao của Tây Sơn và đại quân đang đóng ở Qui Nhơn. Tướng Trương Văn Đa một mặt tổ chức kháng cự, với quân số ít ỏi của mình, một mặt tất yếu phải cấp báo ngay cho bộ chỉ huy tối cao. chậm nhất cũng từ khi giặc chiếm Kiên Giang. Đó là nhiệm vụ của một người tướng trấn giữ biên cương (không phải đợi đến cuối năm 1784; sau 6 tháng quân giặc tung hoành, đô úy Tây Sơn là Đặng Văn Trấn mới về đến Qui Nhơn báo cáo và các nhà lãnh đạo Tây Sơn mới biết và phái Nguyễn Huệ đem quân vào phản công như một số tài liệu nêu. Lần này có thể là lần báo cáo cuối cùng toàn bộ tình hình diễn biến trên chiến trường để có quyết định xuất quân và duyệt cả phương án tác chiến).

Phải khẳng định rằng bộ chỉ huy tối cao Tây Sơn ở Qui Nhơn đã biết được cuộc xâm lược của quân Xiêm từ sớm, khi chúng mới chiếm Rạch Giá và từ đó phải có sự theo dõi chặt chẽ từng bước tiến của giặc, thẩm định tình hình của chúng và chỉ đạo đối phó cho Trương Văn Đa ở Gia Định theo một kế hoạch chiến lược được dự kiến.

Vấn đề đặt ra cho Tây Sơn lúc đó là phương hướng bảo vệ đất nước chống quân xâm lược như thế nào để đảm bảo thắng lợi. Có nên lập tức đem đại quân vào chận, phòng ngự hay tấn công, phản công? Thế còn quân Trịnh ở phía Bắc thì sao? Mặc dù các nhà lãnh đạo Tây Sơn đã khôn khéo hòa hoãn với Đàng ngoài để dẹp Đàng trong nhưng có bao giờ tin giặc được. Nếu lúc đại quân đưa vào Nam thì quân Trịnh có tiến đánh Qui Nhơn không? Nhất là nếu đại quân Tây Sơn bị kẹt lâu ngày với quân Xiêm — Nguyễn, bị tiêu hao và mệt mỏi thì quân Trịnh chắc chắn sẽ nắm lấy thời cơ «lưỡng hổ tranh hùng» phia Nam để tiến quân vào chiếm Qui Nhơn, thậm chí đến Sài Gòn. Lúc đó còn sức đâu mà đối phó với cả hai đầu một cách bị động mà kết quả bi thảm có thể trông thấy. Còn nếu ngại quân Trịnh mà đối phó chậm hoặc nửa vời với giặc Xiêm để cho quân cướp nước thắng thế, chiếm được nhiều đất đai, Nguyễn Ánh qui tụ được bè lũ còn lại trong nước ngóc đầu dậy, thanh thế chúng lừng lên thì liệu Tây Sơn còn giữ được thành quả từ trước đã thu được hay bị kẹt vào giữa 2 thế lực đều mạnh?

Chắc chắn các lãnh tụ Tây Sơn đã suy nghĩ tính toán rất chu đáo, đã lượng sức mình, hiểu rõ kẻ địch mà định ra phương án chiến lược phù hợp nhất để giành thắng lợi chắc chắn, như ta đã biết:

— Dùng lực lượng của Trương Văn Đa đánh liên tục quân giặc, đánh nhỏ, đánh vừa theo lối kỳ binh, mai phục, đánh úp, chắc thắng, với mục đích ngăn chặn, làm chậm bước tiến của quân xâm lược càng lâu càng tốt. và khéo léo bảo tồn thực lực, tiêu hao và làm mệt mỏi quân địch, hiểu rõ thêm sức chiến đấu của từng đội quân địch, nắm vững ý định và cách đánh của chúng.

— Trong lúc đỏ các lãnh tụ Tây Sơn chuẩn bị đại quân tinh nhuệ, sung sức, xác định ý định tác chiến, chuẩn bị kế hoạch và chuẩn bị chiến trường thật chu đáo. Tất cả những vấn đề này không phải đợi đến lúc Nguyễn Huệ vào đến Mỹ Tho mới chọn chiến trường và kế hoạch hoạch tác chiến vì một là sẽ trễ, không đủ thời gian cân nhắc mọi lẽ và dễ vỡ kế hoạch vì những bất ngờ khó lường trước vào giờ chót, hai là khi Nguyễn Huệ xuất đầu lộ diện ở Mỹ Tho thì địch biết ngay thì mọi hành động lức đó dễ bị lộ, khó giữ chủ động được. Phải hiểu rằng khi Nguyễn Huệ đến Mỹ Tho đã mang theo cả kế hoạch tác chiến rồi, và chỉ còn xác định cuối cùng tại chỗ mà thôi, cần có kế hoạch trước mới dẫn dắt quân địch từng bước theo ý đồ của mình. Xem như Trương Văn Đa đánh mạnh vào đội quân Xiêm - Nguyễn tiến theo đường Mân Thít, Ba Lai, giết được các tướng Nguyễn như Châu Văn Tiếp và Đặng Văn Lượng, làm bị thương nặng tướng Xiêm là Chất Xỉ Đa, buộc quân Xiêm dồn hết về phía Tây, vùng Vĩnh Long, Sa Đéc thì đủ rõ. Khi quân địch tiến tới bờ sông Tiền thì bị chận đứng lại. đó phải chăng là lằn ranh không cho phép dịch vượt, khiến địch phải tạm dừng lại đóng quân chấn chỉnh và chuẩn bị. Ngay về sau này, đánh giặc xâm lược Thanh cũng như vậy. Khi ra đến Thanh Hóa gặp Ngô Thời Nhiệm và các tướng lá của mình, Nguyễn Huệ đã nói:

«Lần nầy ta ra thân chinh cầm quân, phương lược tiến đánh đã có tính toán sẵn. Chẳng quá 10 ngày có thể đuổi được người Thanh. Nhưng nghĩ chúng là nước lớn gấp 10 nước mình, sau khi bị thua một trận ắt lấy làm thẹn, lo mưu báo thù. Như thế thì việc binh đao không bao giờ dứt, không phải là phúc cho dân, nỡ nào mà làm như vậy. Đến lúc ấy, phải có người khéo lời lẽ mới dẹp nổi việc binh đao, không phải Ngô Thời Nhiệm thì không ai làm được. Chờ 10 năm nữa, cho ta được yên ổn mà nuôi dưỡng lực lượng, bấy giờ nước giàu, quân mạnh thì ta có sợ gì chúng».


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Mười Một, 2021, 03:58:11 pm
Rõ ràng nhà chiến lược đại tài Nguyễn Huệ khi ra quân là đã có kế hoạch tác chiến, định sẵn từ trước. Không những vậy còn có sẵn ý định làm gì khi đã toàn thắng, vì biết rõ sức ta, biết rõ địch là nước lớn. không hề huênh hoang kiêu kỳ. Đã có ý định sẵn, còn biết chọn nhân tài có khả năng thực hiện được ý định của mình, và cũng có sẵn suy nghĩ cho hàng chục năm sau, cho nước giàu, quân mạnh, hạnh phúc cho dân.

— Các lãnh tụ Tây Sơn còn phải có những biện pháp để ngăn quân Trịnh khi đại quân mình kéo vào Nam. Có thể có ngoại giao, hòa hoãn, có nghi binh, có kế hoạch giữ bí mật tuyệt đối, cả bố trí lực lượng đề phòng bất trắc.

— Tất cả tính toán đều liên quan đến vấn đề bảo đảm thắng chắc, giòn giã. Phải thắng triệt để, đập tan cuộc chiến tranh xâm lược của quân Xiêm, nhưng phải rất nhanh, rất gọn, để đại quân không bị kẹt lâu ngày ở phía Nam, không vắng lâu tại Qui Nhơn là chiến trường tập trung, căn cứ xuất phát có thể cơ động, đánh Bắc dẹp Nam, trong lúc quân không nhiều và cần nắm chắc quả đấm chủ lực trong tay.

— Để chắc chắn giành thắng lợi trong chiến tranh, Nguyễn Huệ còn tính toán đến một vấn đề quan trọng hàng đầu là lòng dân, là chính nghĩa về mình.

Từ một phong trào nông dân khởi nghĩa chống bọn thống trị phong kiến, từ không đến có, từ nhỏ mà lên, từ một vùng mà lan ra toàn quốc, các lãnh tụ Tây Sơn hoàn toàn đánh giá đúng được vai trò của nhân dân là quyết định.

Tây Sơn đã bốn lần kéo đại quân vào Gia Định đánh dẹp quân Nguyễn Ánh một cách thắng lợi. Ba lần trước khi đưa quân kéo về thì bè đảng của Nguyễn Ánh lại nổi lên chiếm lại Gia Định. Đó là vì Nguyễn Ánh còn có cơ sở xã hội là bọn địa chủ phong kiến, bọn tôi quan còn núp lại, bọn cướp Đông Sơn giúp sức. Lần này Nguyễn Ánh trở về cỏ 5 vạn quân Xiêm rầm rộ tiến quân với danh nghĩa khôi phục vương triều chính thống, không thể coi thường việc ngóc đầu dậy của bè đảng cũ của Nguyễn Ánh, của bọn cướp, bọn cơ hội có dịp xun xoe ngoi lên. Nhưng vấn đề quan trọng hơn là thái độ của nhân dân đông đảo đứng về bên nào. Cần phải đánh đổ luận điệu lừa bịp của quân Xiêm — Nguyễn rêu rao Tây Sơn là «giặc nổi loạn» mà chúng tới để đánh diệt, khôi phục vương triều chính thống. Muốn vậy, phải có thời gian nhất định để cho quân Xiêm bộc lộ rõ dã tâm cướp nước và quân Nguyễn lộ nguyên hình lã bọn «cõng rắn cắn gà nhà». Phải để cho nhân dân đông đảo nhận rõ chính nghĩa diệt giặc giữ nước về phía Tây Sơn để có sự tham gia giúp đỡ nhiều mặt của nhân dân thì đại quân tinh nhuệ Tây Sơn, ít hơn địch, mới phát huy hết sức mạnh và giành thắng lợi.

Quả nhiên, qua một chặng đường tiến quân không dài lắm, nhưng xuyên một vùng dân cư không ít và suốt 6 tháng trời, quân Xiêm hà hiếp cướp bóc nhân dân tàn nhẫn đủ để thức tỉnh lòng dân, hiểu rõ đâu là chính, đâu là tà mà đứng hẳn về phía quân Tây Sơn để một lòng cứu nước cứu nhà, đảm bảo thắng lợi. Sách Đại Nam thực lục đã chép: «Quân Xiêm tàn bạo, đến đâu là cướp bóc đấy, nhân dân ta oán rất nhiều». Mạc thị gia phả ghi «Chúng giết hại nhân dân và cướp bóc vàng bạc của cải không biết bao nhiêu mà kể», và khi đóng quân ở Trà Luật, bọn tướng Xiêm «dung túng cho quân Xiêm cướp bóc và giết hại dân chúng». Trong thơ gởi cho giáo sĩ J. Liot tháng 1-1785, Nguyễn Ánh cũng phải viết: «Bọn lính Xiêm chạy theo cuồng vọng của chúng, cướp bóc, hãm hiếp đàn bà con gái, vơ vét của cải. giết hại bất kỳ già trẻ»... Và theo Mạc thị gia phả thỉ vua Xiêm cũng phải thừa nhận «Hai tên súc sinh Chiêu Sương và Chiêu Tăng làm việc kiêu căng, hung hãn, vào sâu đất giặc... tàn hại nhân dân nước ấy để đến nỗi đại bại».

Như vậy là rõ ràng tội ác tày trời của quân Xiêm đối với nhân dân Gia Định đã làm nhân dân vô cùng căm phẫn. Qua thực tế đó, bộ mặt thật của quân cướp nước và kẻ bán nước đã trưng bày ra rành rành. Nhân dân chỉ mong có kẻ yêu nước và cứu dân khỏi vòng tai họa và vì vậy đứng hẳn về phía quân Tây Sơn làm cho quân Tây Sơn giương cao ngọn cờ chính nghĩa vì đất nước, vì dân tộc mà tập hợp nhân dân chống giặc.

Các lãnh tụ Tây Sơn đã tỏ ra rất tự tin, hiểu mình, hiểu giặc, từ Qui Nhơn vạch phương lược đối phó một cách ung dung vững vàng: cho quân địa phương (Trương Văn Đa) bám đánh tiêu hao địch, ngăn chặn cầm chân địch, trong lúc đó bộ phận chuẩn bị chiến trường sẵn cho một trận phục binh lớn ở sông Tiền Giang theo ý định chiến lược; sắp xếp lực lượng đại quân tinh nhuệ với các binh chủng cần thiết sẵn sàng, tạo thế lực chính trị và thế trận quân sự, sáng tạo thời cơ, thần tốc hành động khi thời cơ đến, hành quân, bố trí quân và tiến hành công tác bổ sung làm yếu địch, dẫn dắt địch, đánh một đòn sấm sét nhằm tiêu diệt đội quân chủ lực, chủ chốt của quân xâm lược (thủy binh Xiêm) đi đến giành toàn thắng.

Thật là mưu lược trong chỉ đạo, chính xác trong mọi tính toán, thần tốc và kiên quyết trong hành động, dũng cảm và mãnh liệt trong chiến đấu đến nỗi 5 vạn quân Xiêm Nguyễn bị diệt gần hết một cách hết sức bất ngờ trong thời gian rất ngắn và có lẽ khi đại quân Tây Sơn trở về khải hoàn đến Qui Nhơn, quân Trịnh cũng chưa hay biết gì và đến khi biết đến võ công oanh liệt có một không hai ấy thì cũng hồn xiêu phách lạc.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Mười Một, 2021, 03:59:00 pm
3. — TRẬN ĐÁNH QUYẾT ĐỊNH TRÊN SÔNG TIỀN GIANG (ĐOẠN RẠCH GẦM — XOÀI MÚT)

Trận đánh xảy ra vào rạng sáng ngày 19-1-1785, chủ yếu trên khúc sông Tiền Giang, đoạn từ Rạch Gầm đến Xoài Mút. Đây là một trận phục binh lớn, dụ địch lọt gọn vào trận địa đã bố trí sẵn chờ địch, của lực lượng thủy binh là chủ yếu, kết hợp với bộ binh và pháo binh, hình thành thế bao vây bốn mặt hết sức chặt chẽ. Khi có hiệu lịnh, tất cả các thứ quân đều nhất tề tấn công đồng loạt, sấm sét, làm cho địch không kịp trở tay, không chống cự gì được, thuyền chìm, người chết, rối loạn toàn bộ, kẻ nào sống sót chỉ tự mình tìm đường chạy chết kể cả tướng lĩnh và tổng chỉ huy.

a) Địa hình khu vực trận địa:

Đây là địa hình sông nước rất phức tạp. Khúc sông Tiền xảy ra trận đánh từ Rạch Gầm đến Xoài Mút dài khoảng 7km, rộng từ 1km đến 2km đủ sức chứa 300 chiến thuyền và hai vạn thủy binh là lực lượng chủ chốt của giặc và còn có thể thêm nhiều thuyền dân, chúng chiếm đoạt để chở lương thực hay bộ binh phục vụ theo. Giữa sông có cù lao Thới Sơn và cù lao Hộ dài 7-8km, và rộng vài km là những bãi đất bồi có nhiều cây cối mọc rậm rạp để giấu phục binh. Những cù lao nầy nằm dọc gần suốt trận địa mai phục rất tiện lợi. Phía bờ bắc sông Tiền, có Rạch Gầm uốn khúc ngoằn ngoèo rộng cỡ 50m, ở đầu vàm có đến 80m, sâu 7-8m, cách Trà Tân nơi đóng quân của giặc Xiêm khoảng 15km. Con rạch dài cỡ 11km, ăn thông về phía Bắc với những con rạch khác và với khu vực láng biển Tháp Mười mà thời kỳ ấy chắc chắn là nước ngập mênh mông và cỏ cây rậm rạp. Cách Rạch Gầm 7km về hạ lưu là rạch Xoài Mút mà vàm lúc ấy rộng cỡ 100m và nguồn cũng ăn thông vào láng biển Tháp Mười. Cả 2 rạch đều có lau sậy và cây cối rất dễ che giấu cho thuyền bè và binh phục Cách Rạch Gầm về thượng lưu khoảng 4km lại còn có rạch Rau Răm tuy nhỏ hẹp hơn nhưng thuận lợi cho việc đặt điểm tiền tiêu, quan sát hành động quân địch dưới sông và trên bộ, trước khi địch đến trận địa mai phục chính. Hai bờ sông Tiền lúc ấy cũng còn hoang vắng, cây cối mọc nhiều rậm rạp, có cả đại thụ, rất tiện cho việc phục binh và các chốt quan sát nhìn xa. Ngoài các rạch chính như đã nói, chắc chắn thời kỳ ấy còn nhiều rạch nhỏ khác cả 2 bờ sông Tiền, và ngay ở cù lao Thới Sơn.

Tất cả khu vực với địa hình như vật thật là một trận địa phục binh lý tưởng, đặc biệt binh chủng chủ chốt lại là thủy binh có đủ loại thuyền lớn nhỏ.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Mười Một, 2021, 03:59:21 pm
b) Quân chủ lực và cách hành quân bố trí:

Quân Tây Sơn chủ yếu là thủy binh hành quân từ Qui Nhơn vào bằng đường biển cộng với khoảng vài ba nghìn quân tại địa phương của Trương Văn Đa, tất cả khoảng trên hai vạn. Không thể nhiều hơn được vì Tây Sơn lúc ấy kiểm soát phạm vi không rộng gồm Quảng Ngãi, Qui Nhơn, Phú Yên. Bộ phận đất đai Gia Định mới vừa giành từ tay Nguyễn Ánh, chưa thể mộ được nhiều quân. Ngay sau này, khi đã dẹp xong quân Xiêm — Nguyễn, số quân tiến ra Bắc để đánh trên 20 vạn quân Thanh cũng chỉ có 5 vạn, rồi ra Nghệ An mới tuyển thêm 5 vạn nữa. Mặc dù ít nhưng là quân thiện chiến đã được rèn luyện trong kinh nghiệm chiến đấu thực tế hàng chục năm và luôn được giáo dục tập luyện nghiêm khắc theo chủ trương của Nguyễn Huệ: «Quân lính cốt hòa thuận, không cốt đông, cốt tinh nhuệ, không cốt nhiều». vũ khí trang bị của quân Tây Sơn cũng mạnh tương đương quân Xiêm vì đã tịch thu được khá nhiều của Nguyễn Ánh khi đánh ra Quảng Nam và 4 lần tiến vào Gia Định. Với tài tổ chức của Nguyễn Huệ, hiệu quả sử dụng vũ khí lại được tăng lên gấp bội như đã dùng voi mang đại bác, bố trí đại bác trên thuyền chiến, sử dụng tập trung... Nhiều chứng nhân Phương Tây đã từng đến Qui Nhơn cho biết là đã thấy những chiến thuyền lớn của quân Tây mang tới 50 — 60 cỗ đại bác.

Khi quân Xiêm — Nguyễn đã bị chặn lại ở bờ sông Tiền buộc phải tạm dừng, phòng ngự trước trận địa mà các tướng Tây Sơn đã chọn sẵn theo chỉ đạo của vị thống soái tài ba Nguyễn Huệ, khi đã nghe báo cáo cuối cùng của đô úy Đặng Văn Trấn từ mặt trận về, các lãnh tụ Tây Sơn quyết định bí mật xuất quân. Đoàn thuyền chiến hỏa tốc vượt biển vào Gia Định. Nhưng bí mật hơn và nhanh hơn, Nguyễn Huệ chắc hẳn với đoàn thuyền nhẹ phải cùng một số tướng lĩnh chủ chốt vào trước im lìm đi thị sát thực địa, bổ sung kế hoạch, điều chỉnh cách bố trí và hạ quyết tâm cuối cùng, phân bố lực lượng mai phục, chỉ định vai trò từng cánh quân và giao nhiệm vụ cho các tướng lĩnh. Căn cứ vào quyết tâm ấy, bộ tham mưu của Nguyễn Huệ phải điều khiển cuộc hành quân vào luôn vị trí phục binh, triển khai luôn lực lượng vào trận địa đã định. Bằng cách ấy quân Tây Sơn không dồn hết vào một cửa biển, một dòng sông mà phân tán ngay từ sớm, đội hình khỏi ùn, hành quân được nhanh gọn, phân bố kịp thời, giữ được bí mật, bất ngờ.

Có thể là đoàn thuyền lớn, pháo binh nặng, theo cửa Tiểu và cửa Đại sông Tiền, tiến lên Mỹ Tho, một số án ngữ ngay trên sông trước Mỹ Tho và núp vào cù lao Rồng. Đây là đội quân mạnh, thuyền to, có pháo lớn, nhằm chặn đầu đánh mãnh liệt, chặn đứng quân xâm lược lại cho đội hình chúng ùn vào nhau khi có lịnh. Một số bố trí vào cù lao Thới Sơn có pháo binh và bộ binh, cả ở hai bờ sông Tiền. Đoàn thuyền vừa và nhỏ có thể vào cửa Soài Rạp tiến theo sông Vàm Cỏ Tây vào láng biển Đồng Tháp Mười rồi tỏa về sông Rạch Gầm và Xoài Mút, mai phục kín trong các rạch nầy cách vàm một cự ly vừa đủ để giữ bí mật và kịp xông ra Tiền Giang khi có lệnh. Cánh quân Rạch Gầm có nhiệm vụ khóa chặt đuôi quân xâm lược, từ phía sau giặc đánh xuống phía hạ lưu không để một thuyền địch nào chạy tháo lui được, còn cánh quân Xoài Mút chọc vào hông chia cắt quân Xiêm — Nguyễn ra mà diệt. Một cánh khác tiến vào rạch Rau Răm thiết lập ở đây một điểm tiền tiêu, quan sát địch từ xa, và bố trí chặn bộ binh của Xiêm nếu chúng có tiến theo bờ để yểm hộ cho thủy binh của chúng, bảo vệ cho đội hình mai phục của ta, đảm bảo an toàn cho cánh quân Rạch Gầm làm tròn nhiệm vụ. hành quân theo hướng nầy lợi dụng nước triều lên, từ cửa Soài Rạp đến Đồng Tháp Mười rồi lợi dụng nước triều xuống tiến ra các rạch, vừa mau, vừa che mắt được địch. Thế là đội quân nào được giao trách nhiệm ở đâu thì được điều khiển hành quân đến ngay trận địa của mình để kịp thời chuẩn bị mọi phương tiện cần thiết cho chiến đấu. Từ ngoài cửa biển thênh thang đã phân tán ra các hướng, từng đội quân có chỉ huy của mình với trách nhiệm rõ và đường hành quân riêng, đến thẳng địa điểm bố trí đã xếp đặt. Quân địch ví có trinh thám giỏi cũng khó lòng hiểu nổi ý đồ của đối phương.

Cần có một nhận xét ở đây là việc tìm ra trận địa mai phục lý tưởng nầy, việc hiểu biết địa hình một cách chính xác, việc nắm được thời tiết, thủy triều và các phương tiện sẵn có ở địa phương để thiết lập trận địa, việc dẫn đường cho các cánh trên sông nước chằng chịt (có thể đi ban đêm nữa) v.v... và nhất là việc giữ được tuyệt đối bí mật cho tới phút chót, một trận phục binh lớn lao và nhiều hướng như vậy lại không xa địch bao nhiêu mà chúng không đánh hơi một mảy may nào, thì thật là một kỳ công, một nghệ thuật cao cường vậy. Kỳ công đó, nghệ thuật cao cường đó không phải do một siêu nhân, một thần thánh nào mà làm được. Đó chắc chắn phải do một tập thể anh hùng, trí dũng, cả quân và cả nhân dân địa phương, những người nặng lòng yêu nước và chí căm thù giặc sáng tạo ra.

Đó phải do sự kết hợp giữa trí tuệ của vị thống lĩnh tài ba Nguyễn Huệ với bộ tham mưu của mình cùng tướng lĩnh ở địa phương của Trương Văn Đa, cũng những người dân Tiền Giang rành từng gốc cây, con rạch, biết rõ từng chỗ sâu, chỗ cạn trong những vùng nước ngập mênh mông như Đồng Tháp Mười thuở ấy. Đúng là một kỳ công của quân đội Tây Sơn và của nhân dân địa phương dưới sự chỉ huy của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ vậy.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Mười Một, 2021, 04:01:05 pm
c) Các yếu tố khác cần thiết cho thắng lợi:

Sau khi xác định trên thực địa và hạ quyết tâm cuối cùng, sau khi giao nhiệm vụ cho các tướng lĩnh và các cánh quân tiến hành bố trí trận địa mai phục, Nguyễn Huệ thiết lập đại bản doanh công khai của mình tại Mỹ Tho, trên tả ngạn sông Bảo Định. Nói đại bản doanh công khai, vì ở đây giữa thị tứ, quân địch dễ phát hiện và chắc chắn sẽ theo dõi từng hành động của Nguyễn Huệ cũng như đại quân từ Qui Nhơn vào (bộ phận thuyền chiến trên sông Tiền trước Mỹ Tho). Trong lúc đó, hẳn là có một chỉ huy sở bí mật ở một nơi nào đó, kín đáo, tiện lợi cho các tướng lĩnh về báo cáo và xin ý kiến, bàn bạc, việc quân cơ mật mà tai mắt địch không ngờ tới. Hợp lý thì vị trí đó phải ở đoạn giữa Mỹ Tho và vàm Xoài Mút và lui về phía Bắc. Việc này không có sách nào ghi lại nhưng về quân sự lẽ ra phải như vậy. Ngay như đại bản doanh ở Mỹ Tho phải ở tả ngạn sông Bảo Định vì mặc dù công khai cũng đề phòng địch đánh úp làm hoang mang tinh thần dân chúng và tướng sĩ.

Khi xuất hiện ở Mỹ Tho, Nguyễn Huệ liền tổ chức một số trận đánh nhỏ vào quân Xiêm ở Trà Tân, nhỏ nhưng quyết liệt nhằm các mục đích: thông báo cho giặc Xiêm và Ánh biết, nếu chúng chưa biết rõ lắm, rằng Nguyễn Huệ và đại quân đã đến và đến là tấn công. Làm như vậy giặc sẽ e dè không dám hành động ngay để cho quân của mình có đủ thì giờ chuẩn bị trận phục kích chu đáo, không bị phá rầy nửa chừng và thăm dò cách bố phòng và tinh thần chiến đấu của quân giặc. Đánh quyết liệt nhưng giả đánh không nổi phải lui về để giặc nghĩ rằng, thì ra Huệ và quân Tây Sơn cũng không mạnh gì ghê gớm lắm, sinh ra chủ quan khinh địch, tự kiêu tự đại, nghĩ có thể thắng Tây Sơn không khó. Đánh quyết liệt một số trận nhưng giả đánh không nổi phải lui về thế phòng thủ mới có lý, do thực tế để xin giảng hòa trong thế yếu; đòn chính trị sâu sắc đảm bảo cho thắng lợi quân sự. Sau một số trận đánh như vậy đã không kết quả mà còn bị thiệt hại nhiều (nghi binh như bị thiệt hại nặng) Nguyễn Huệ liền gởi cho tướng Xiêm một thơ xin giảng hòa, nêu lý lẽ phải chăng và nhún nhường, hía xin triều cống. Thơ có đoạn:

«Tân triều và cựu triều nước tôi (tức Tây Sơn và chúa Nguyễn) tranh nhau lãnh thổ và nhân dân không thể cùng đứng với nhau được. Nước tôi cùng nước Xiêm cách trở xa xôi, trâu và ngựa không đánh hơi nhau, chẳng hay Vương tử (tức Chiêu Tăng) đến chốn nầy làm gì? Chi bằng 2 nước chúng ta hòa hiếu với nhau. Sau khi xong việc, nước tôi sẽ y lệ tiến cống. Như thế có phải là được lợi lâu dài không? Vậy việc cựu chúa nước tôi để mặc chúng tôi lo liệu, xin Vương tử đừng giúp đỡ». (trích sách Mạc thị gia phả).

Nguyễn Huệ đã dùng một tù binh người Chân Lạp làm sứ giả đưa thư hào, kèm theo lễ vật rất hậu. Không những thế, Nguyễn Huệ còn cho mời quân tướng Xiêm sang chơi ở Mỹ Tho, trên các chiến thuyền và khi về còn tặng nhiều vóc lụa của cải. Những cử chỉ như vậy để Xiêm thấy Nguyễn Huệ sợ Xiêm, thật lòng muốn hòa và để thám tử Xiêm được thấy rõ sự phòng bị của quân Tây Sơn «chểnh mảng», «sơ hở» và quân lực Tây Sơn không nhiều.

Đòn chính trị nầy có 2 tác dụng:

— Một là để cho bộ chỉ huy quân Xiêm tưởng rằng quân Tây Sơn yếu kém đánh bị thua, chỉ mong giảng hòa như Đại nam thực lục ghi: «Huệ đến đánh vài trận không được, muốn đem quân về». Vì vậy quân tướng Xiêm đâm ra chủ quan, khinh địch, nghĩ thắng dễ, sốc nổi.

— Hai là khoét sâu mâu thuẫn nội bộ địch, làm cho Nguyễn Ánh nghi kị Chiêu Tăng, Chiêu Sương sinh ra bất hòa nhau, làm suy yếu quân địch. Rõ ràng Nguyễn Ánh đã tin như Mạc thị gia phả chép «tình trạng hai lòng của người Xiêm». Vì vậy Chiêu Tăng phải phân trần thề thốt với Nguyễn Ánh. Cũng Mạc thị gia phả chép: «Tôi phụng mệnh vua nước tôi, đem quân vượt biển sang giúp quốc vương nay chưa phân thắng bại mà tôi tham của cải thì có khác chi loài thú cắn hại chủ nhà. Nếu vì lợi mà phải thất trận, làm nhục quốc thể thì tôi trốn sao khỏi tội trời diệt. Xin quốc vương chớ nghi ngờ». Nhưng Nguyễn Ánh vẫn nghi ngờ, nên đốc Bá Đa Lộc đi cầu cứu nước Pháp và bí mật cho Mạc Tử Sinh trở về Trấn Giang (Cần Thơ) chuẩn bị sẵn phương tiện đề phòng «khi xảy ra việc bất trắc thì đã có sẵn đường chạy trốn» như Mạc thị gia phả chép. Không những vậy, nội bộ bản thân bè lũ Nguyễn Ánh cũng nản chí không còn tin quân Xiêm, một đạo quân hàng ngày sa đà vào việc nhét đầy túi tham bằng cướp bóc, hại dân, không có kỷ luật, không còn tinh thần chiến đấu, thì thắng sao được quân Tây Sơn nổi tiếng lâu nay đánh đâu thắng đó. Vì vậy một số tướng sĩ của Nguyễn Ánh đã tự bỏ hàng ngũ ra hàng Nguyễn Huệ mà ta biết như tướng Lê Xuân Giác.

Như vậy là chỉ trong khoảng 10 ngày đưa đại quân vào Mỹ Tho, Nguyễn Huệ đã hội đủ điều kiện cho một chiến thắng vĩ đại; quân giặc Xiêm — Nguyễn là một đội quân cướp nước và bán nước, phi nghĩa bị nhân dân oán ghét, nội bộ mâu thuẫn, nghi kị nhau, là một đội quân ô hợp, chỉ lo cướp bóc của cải, hãm hiếp phụ nữ, không có tinh thần chiến đấu. Thế mà lại tự đắc, chủ quan, coi thường quân đối phương, tưởng như thắng dễ dàng, sẵn sàng đánh một trận để chiếm thêm đất đai thành quách. Còn quân Tây Sơn vì đại nghĩa cứu nước, cứu dân, được nhân dân hết lòng giúp đỡ mọi mặt, đã hoàn chỉnh trận phục kích lớn lao, giữ vững được bí mật bất ngờ, lòng tướng sĩ nô nức chờ giặc đến sẵn sàng xông lên nhận chìm giặc xuống lòng sông.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Mười Một, 2021, 04:01:38 pm
d) Diễn tiến trận quyết chiến chiến lược.

Sau khi hí hửng tin rằng Nguyễn Huệ, quân không nhiều, không mạnh, đánh không nổi, đang chờ được giảng hòa, bị mắc lừa quân Xiêm, chểnh mảng phòng giữ như Mạc thị gia phả ghi rằng Chiêu Tăng đã khoe với Nguyễn Ánh: «giặc rất tin tôi, tất không phòng bị, ta nên thừa thế mà đánh phá giặc ngay», Chiêu Tăng đã quyết định tấn công nên bàn với Nguyễn Ánh: «Xin hẹn đến đêm mồng 9 tháng nầy (nhằm đêm 18 rạng ngày 19 tháng 1 năm 1785 quốc vương đem ngự binh đi trước, xông vào thuyền giặc. Tôi cùng các tướng bản bộ đem tất cả chiến thuyền lớn nhỏ tiến lên phá các thuyền chắn ngang sông của giặc, thì thế nào cũng toàn thắng». (Mạc thị gia phả).

Tin rằng Nguyễn Huệ bị bất ngờ, quân lại yếu, phen này nắm chắc phần thắng và tiếp tục chiếm nốt toàn bộ đất Gia Định đến tận Sài Gòn tha hồ mà cướp bóc hãm hiếp, Chiêu Tăng, Chiêu Sương đã xua cả 300 chiến thuyền và toàn bộ lực lượng thủy binh tự mình chỉ huy tiến thẳng về Mỹ Tho, đại bản doanh của Nguyễn Huệ và đánh thẳng vào lực lượng thuyền chiến lớn của Tây Sơn trên sông nhưng không quên cho quân Nguyễn Ánh đi trước vừa dẫn đường, vừa là bia đỡ đòn phản ứng của đối phương. Không còn sách nào ghi chép về sự tiến quân của đội quân bộ của giặc nhưng dự đoán trong trận dốc toàn lực đánh chiếm phần đất còn lại, lại đánh thẳng vào chủ lực quân Tây Sơn và tiến lên tiếp thì thế nào Chiêu Tăng cũng mở một mũi tiến quân bộ phối hợp đánh về Mỹ Tho. Mũi quân đó phải bao gồm hầu hết quân bộ (ước lượng khoảng trên 2 vạn) trừ một số đóng giữ đồn lũy trên các đất đã chiếm. Đội quân bộ này vốn ô hợp lại qua một thời gian vơ vét đầy túi, đầy bị, hành quân chật vật qua vùng đồng lầy sông rạch, cỏ cây rậm rạp nên chắc chắn là thụt lùi phía sau không thể song song được với đội quân thủy trong lúc đội quân thủy hành quân trong đêm, lúc nước thủy triều xuống, nên đi nhanh hơn nhiều.

Trong lúc đó, Nguyễn Huệ và quân Tây Sơn đã sẵn sàng cao độ tại trận địa mai phục, đợi địch vào rọ, từng giờ theo dõi từng hành động của giặc, từ điểm tiền tiêu đến các vọng gác, đến địa bản doanh không hề bỏ sót một cử chỉ nào của chúng. Để bảo đảm tiêu diệt trọn vẹn đội thủy binh chủ lực của quân Xiêm, một cánh quân Tây Sơn phải bố trí trong đồng, chặn cánh quân bộ, cầm chân chúng và một đội thuyền nhẹ nhưng thiện chiến và dũng cảm luôn luôn bố trí gần sát địch trên sông Tiền Giang. Đội chiến thuyền nhẹ nầy sẽ trực tiếp đánh địch đầu tiên khi địch tiến quân và báo về phía sau. Nếu địch tiến sớm thì đánh quyết liệt làm chậm lại, khi đúng giờ quy định theo tính toán trước thì giả thua, rút chạy nhằm thu hút đich đuổi theo, lọt vào trận địa. Khi binh thuyền giặc qua khỏi Rạch Gầm đến ngang rạch Xoài Mút vào tảng sáng ngày 19-1-1785 thì lập tức đội chiến thuyền lớn của Tây Sơn trước Mỹ Tho lợi dụng lúc đó nước triều bắt đầu lên và gió xuôi chiều, tiến nhanh, đánh mãnh liệt vào địch làm chúng chựng lại, thiệt hại, chìm thuyền, dồn cục nhau, không tiến được mà phía sau lại dồn lên thêm dày đặc trên mặt sông. Lúc ấy theo hiệu lịnh hiệp đồng, pháo binh trên cù lao Thới Sơn và trên hai bờ sông Tiền nã đạn tới tấp vào địch. Đội quân trong Rạch Gầm tiến ra khóa đuôi đánh thốc từ sau lại và đội quân trong Xoài Mút xông ra chia cắt và chém giết quân Xiêm — Nguyễn đang hỗn loạn kinh hoàng. Ngay từ phút đầu bị đánh từ mọi phía như sấm sét, quân Xiêm — Nguyễn hoàn toàn bị bất ngờ và hoảng loạn thuyền chìm, người chết, bọn nào sống sót bơi vào bờ cũng bị chết hay bị bắt, có thoát chỉ một bộ phận nhỏ. Đánh theo kiểu cách nầy, chỉ trong mấy giờ thôi, 2 vạn thủy binh Xiêm cùng 300 chiến thuyền bị tiêu diệt gọn và đội thủy binh chủ lực đã bị diệt thì đội bộ binh ô hợp sẽ hồn phiêu phách tán, còn tinh thần đâu mà đánh, còn quân Tây Sơn được thắng lợi cổ võ, như mãnh hổ xông vào đàn cừu, truy đuổi, bao vây, giết và bắt, giặc khó mà chạy thoát trên cánh đồng sông nước mông mênh. Chỉ trong vòng không đầy 1 ngày, 5 vạn quân Xiêm — Nguyễn bị diệt gần hết. Đại Nam thực lục chép: «Chiêu Tăng và Chiêu Sương thua to bỏ chạy chỉ thu được vài nghìn tàn tốt, do đường núi Chân Lạp chạy về». Còn Nguyễn Ánh thì đã đề phòng chạy từ trước nên cùng vài trăm tên sống sót, nhanh chân thoát chết về được Cần Thơ, rồi được Mạc Tử Sinh đưa qua tá túc bên Xiêm. Sau đó y đã viết thơ báo với giáo sĩ J. Liot rằng: «Chúng tôi vừa bị thua trận, tấn cả quân lính đều tan vỡ».

Thế là chỉ một trận quyết chiến, quân Tây Sơn đã tiêu diệt rất gọn đội quân xâm lược Xiêm — Nguyễn tỏng một thời gian kỷ lục. Nhân được tin khủng khiếp, vua Xiêm căm giận, nhục nhã, nhưng kinh hoàng, tiêu tan ý chí bành trướng và im lìm chấm dứt chiến tranh xâm lược.

*
*   *

Hai trăm năm đã trôi qua nhưng sông nước Tiền Giang, Rạch Gầm, Xoài Mút vẫn âm vang chiến công hiển hách của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ, của đoàn quân Tây Sơn dũng mãnh yêu nước. Nhân dân Tiền Giang mãi mãi tự hào với kỳ tích của ông cha đã đóng góp lớn lao vào chiến thắng lịch sử chống ngoại xâm lần đầu tiên trên mảnh đất quê hương miền Nam yêu dấu. Tổ tiên ta từ xưa đã nhận thức rõ Nước và Dân, Thành Lũy và Lòng Người. Như thời Trần khi vua Nguyên (Trung Quốc) hăm dọa phá tan thành Thăng Long thì sứ giả của ta là Đào Tử Kỳ đã trả lời: «Thành Thăng Long kia chỉ là thành nhỏ đề phòng trộm cướp, phá tan nó có khó gì. Còn như để chống kẻ địch bên ngoài đến chực ăn cướp nước chúng tôi thì chúng tôi đã có một tòa thành vững vàng như núi, không kẻ nào phá được, đó là sức mạnh của toàn thể quân dân chúng tôi». Thành đồng Tổ quốc mà Bác Hồ tặng miền Nam trong kháng chiến chống Pháp và Mỹ là nghĩa như vậy đó.

Trước thế đông và mạnh của giặc, Nguyễn Huệ, nhà lãnh đạo lỗi lạc, nhà quân sự tài ba, đã luôn giữ vững chủ động về chiến lược, chiến thuật giống như Nguyễn Trãi nói: «Chế ngự người không để người chế ngự mình» mà trăm trận đánh trăm trận thắng, dẹp thù trong, đuổi giặc ngoài, thống nhất giang sơn về một mối.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Mười Một, 2021, 04:03:56 pm
NGHỆ THUẬT LẬP THẾ VÀ ĐÁNH ĐỊCH TRÊN THẾ MẠNH
TRONG TRẬN THẮNG RẠCH GẦM — XOÀI MÚT,

Thiếu tá, phó tiến sĩ sử học
NGUYỄN ANH DŨNG
                                                                                                                                                         
(Viện lịch sử quân sự — Bộ Quốc phòng)

Trong giai đoạn lịch sử chống ngoại xâm oanh liệt từ thế kỷ X đến thế kỷ XVIII, tổ tiên ta không chỉ đương đầu và đánh thắng lần lượt các thế lực bành trướng Đại Hán Trung Quốc ở sát liền biên giới phía bắc Tổ quốc, mà còn đánh trả và chiến thắng các thế lực phong kiến ngoại bang khác từ phía tây và phía nam nhiều lần tràn sang quấy phá vùng biên giới hoặc xâm lược vào sâu nội địa. Cuộc kháng chiến chống Xiêm những năm 1784 — 1785 là một cuộc chiến tranh tự vệ tiêu biểu trong số những cuộc chiến tranh đánh trả thắng lợi các thế lực phong kiến xâm lược từ phía tây nam tràn tới.

Cùng với những chiến công hiển hách trong các cuộc kháng chiến chống giặc Nam Hán, giặc Tống, giặc Nguyên, giặc Minh và giặc Thanh, trận thắng Rạch Gầm — Xoài Mút trong cuộc kháng chiến chống Xiêm đã cho thấy tài thao lược kiệt xuất của tổ tiên ta. Tài thao lược kiệt xuất của tổ tiên ta trong trận thắng Rạch Gầm — Xoài Mút được thể hiện trên nhiều phương diện của nghệ thuật quân sự. Ở đây, chúng tôi chỉ đề cập đến một vấn đề nổi bật xuyên suốt cả việc chỉ đạo chiến lược và chỉ huy chiến đấu, đó là vấn đề nghệ thuật lập thế và đánh địch trên thế mạnh trong trận thắng lịch sử này.

*
*   *

Cho tới giữa năm 1784, tức là trước khi giặc Xiêm xâm lược nước ta, tình thế chiến lược trên đất Đàng Trong là như sau:

+ Xét về phía nghĩa quân Tây Sơn:

Chỉ trong bốn năm đầu nổi dậy, liên tục tiến công tiêu diệt địch, phá bỏ chính quyền các địa phương của thế lực phong kiến phản động dưới vương triều họ Nguyễn, lực lượng nông dân khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ đã từ ấp Tây Sơn nhỏ bé đánh tràn ra các huyện, phủ, đã từ đất căn cứ Quy Nhơn nhanh chóng mở rộng vùng giải phóng ra tới Quảng Ngãi và vào tận Phú Yên. Tiếp đến tám năm sau, trong khi khôn khéo dùng giải pháp chính trị thực hiện hòa hoãn với quân Trịnh từ Đàng Ngoài mới vượt sông Gianh đánh vào, kìm chân chúng tại vùng Thuận Hóa đặng có thể tập trung lực lượng đối phó với thế lực phong kiến Nguyễn ở phía Nam, bộ chỉ huy nghĩa quân Tây Sơn đã mở năm đợt tiến công chiến lược vào đất Gia Định (trong những năm 1776, 1777, 1778, 1782 và 1783), tiêu diệt về cơ bản lực lượng quân sự triều Nguyễn, giành quyền làm chủ hầu khắp Đàng Trong, suốt từ Quảng Nam cho đến Kiến Giang.

+ Xét về phía thế lực phong kiến Nguyễn:

Tuy là một vương triều cát cứ có cơ đồ thống trị đã được gây dựng trong hai thế kỷ và có được một cơ sở xã hội là giai cấp đại địa chủ với tiềm lực kinh tế và uy thế chính trị khá mạnh, nhưng trong cuộc khủng hoảng trầm trọng của chế độ chính trị thối nát mà nó là kẻ đại diện và trước sự công phá mãnh liệt của phong trào nông dân khởi nghĩa Tây Sơn, bọn phong kiến Nguyễn ngày càng lâm vào tình thế nguy khốn. Sau các đòn tiến công chiến lược lần thứ nhất và lần thứ hai của đại quân Tây Sơn, triều Nguyễn nhờ sự giúp sức của phản động Đông Sơn đã có thể nhanh chóng đánh chiếm lại miền Gia Định. Sau đòn tiến công chiến lược lần thứ ba, bọn Nguyễn Ánh tuy phải trốn chạy sang Chân Lạp, song với sự giúp sức của quân Đông Sơn vẫn trở về và chiếm lại được Gia Định. Sau đòn tiến công chiến lược lần thứ tư, do có sự phản bội của một tướng Tây Sơn là Chu Văn Tiếp — kẻ đã đem lực lượng dưới quyền chỉ huy của mình từ Phú Yên đánh vào Gia Định rồi theo hàng phong kiến Nguyễn — nên Nguyễn Ánh mới có thể một lần nữa chiếm lại miền đất này. Nhưng rồi sau đòn tiến công chiến lược lần thứ năm của đại quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ và Trương Văn Đa chỉ huy, bè lũ Nguyễn Ánh, Châu Văn Tiếp chỉ còn một đám tàn quân kéo nhau trốn chạy ra đảo Phú Quốc. Trong hoàn cảnh lịch sử đó, bọn bán nước Nguyễn Ánh đã sang cầu viện quân Xiêm, hòng dựa vào chúng chống quân Tây Sơn, khôi phục cơ đồ thống trị của mình; còn bọn phong kiến Xiêm cũng đã nhân cơ hội này phát binh xâm lược nước ta, trước mắt là đánh chiếm miền Gia Định rộng lớn và giàu có, hòng thực hiện tham vọng bành trướng sang phía đông của chúng.

Như vậy là cho tới giữa năm 1784, nghĩa quân Tây Sơn đã tiêu diệt về cơ bản lực lượng quân Nguyễn, quét sạch bọn vua quan triều Nguyễn khỏi miền Gia Định, đã làm chủ và đứng chân vững chắc trên hầu khắp Đàng Trong. Đó chính là tình thế chiến lược rất có lợi cho nghĩa quân Tây Sơn khi bước vào cuộc chiến tranh cứu nước mới, là tình thế chiến lược rất bất lợi cho giặc Xiêm khi chúng tràn sang xâm lược nước ta.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Mười Một, 2021, 04:05:36 pm
*
*   *

Tuy là một vương triều phong kiến thống trị ở một nước không lớn, có lực lượng quân sự không mạnh nhưng với tham vọng bành trướng sang nước ta, bọn vua quan Xiêm đã ném vào cuộc chiến tranh thôn tính này khoảng 5 vạn quân, gồm 2 vạn thủy binh với 300 binh thuyền và khoảng 3 vạn bộ binh. Tháng 7-1784 hai đạo quân thủy, bộ đó lần lượt xuất phát: đạo bộ binh do Sa Uyển và Chiều Thùy Bèn chỉ huy vượt qua đất Chân Lạp đến đóng sát biên giới phía tây — nam nước ta; đạo thủy binh do Chiêu Tăng và Chiêu Sương chỉ huy từ Vọng Các (Băng Cốc) theo đường biển thẳng tới bờ biển phía nam nước ta. Bọn Nguyễn Ánh một mặt làm nhiệm vụ dẫn đường cho quân Xiêm, một mặt ra sức chiêu binh mãi mã gây lại thế lực, trước mắt nhằm phối hợp cùng quân Xiêm chống Tây Sơn.

Đầu tháng 8 thủy binh Xiêm đổ bộ lên đánh chiếm Kiên Giang (Rạch Giá ngày nay). Tiếp đó, bộ binh giặc từ biên giới phía tây nam và thủy binh giặc từ Kiên Giang cùng tiến sâu vào nội địa, đánh chiếm Trấn Giang (Cần Thơ). Từ Trấn Giang, các quân thủy, bộ của giặc chia làm ba cánh đánh tỏa ra ba hướng. Cánh thủy binh Xiêm dưới quyền chỉ huy của Chiêu Tăng, Chiêu Sương dọc theo sông Hậu đánh ra Ba Thắc (Sóc Trăng). Cánh bộ binh Xiêm dưới quyền chỉ huy của Sa Uyển, Chiều Thùy Bèn vượt sông Hâu đánh sang Đông Khẩu (Sa Đéc). Cánh liên quân Xiêm — Nguyễn dưới quyền của Thát Xỉ Đa và Nguyễn Ánh vượt sông Hậu đánh sang Trà Ôn (Vĩnh Long). Giặc tỏa ra định nhanh chóng chiếm đóng toàn bộ miền Tây Gia Định để rồi từ đó tiến lên đánh chiếm nốt miền Đông mà hướng chiến lược chủ yếu sẽ là hướng Mỹ Tho — Gia Định.

Trong điều kiện tuy đã dùng biện pháp ngoại giao kìm chân quân Trịnh ở Thuận Hóa, nhưng vẫn phải thường xuyên sẵn sàng lực lượng mạnh đánh trả nếu chúng bội ước, nên những đòn tiến công chiến lược của quân Tây Sơn vào giải phóng miền Gia Định thường được tiến hành rất nhanh gọn và ngay sau một lần đánh bại được quân Nguyễn, bộ chỉ huy Tây Sơn đều khẩn trương rút đại quân về Quy Nhơn, chỉ lưu lại một lực lượng nhỏ canh giữ năm trấn. Bởi vậy, sau những đòn tiến công chiến lược lần thứ nhất, lần thứ hai và lần thứ ba, bọn vua quan triều Nguyễn, được quân Đông Sơn giúp sức, đều đã mau chóng đánh bại được lực lượng đồn trú của Tây Sơn và chiếm lại được miền này. Sau thắng lợi tương đối triệt để của đòn tiến công chiến lược lần thứ năm, lực lượng trấn giữ Gia Định của Tây Sơn tuy không nhiều nhưng hoàn toàn đủ sức đè bẹp mọi mưu toan và hành động ngóc dậy của thế lực địa chủ phong kiến bản xứ và tiêu diệt bọn tàn quân Nguyễn Ánh nếu chúng quay trở lại đất liền.

Song việc 5 vạn quân Xiêm được bọn Nguyễn Ánh cầu viện tiến công xâm lược miền Gia Định đã là thay đổi đột ngột tương quan lực lượng địch, ta theo chiều hướng có lợi cho chúng. Quân Tây Sơn trấn giữ ở đây không thể đủ sức đánh bại cuộc tấn công xâm lược đó của địch. Trong tình thế ấy, bộ chỉ huy quân ngũ dinh Tây Sơn đã không tập trung toàn lực quyết chiến với quân Xiêm ngay tại miền Tây Gia Định, cũng không bỏ đất Gia Định rút chạy về Phú Yên, Bình Thuận, mà thực hiện một phương án tác chiến tích cực và khôn khéo là: sử dụng một phần lực lượng chặn đánh địch trên một số địa bàn tác chiến thuận lợi để tiêu hao và kìm bước tiến của chúng, còn phần lớn lực lượng nhanh chóng lui về miền Đông để chờ đại quân từ Quy Nhơn vào mà cùng phối hợp phản công tiêu diệt quân xâm lược.

Theo phương án tác chiến ấy, lực lượng quân Tây Sơn có nhiệm vụ kìm bước tiến của giặc đã chặn đánh chúng quyết liệt ở Trấn Giang, rồi tiếp đến là trên các trục đường tiến của cả ba cánh quân, trong đó tập trung lực lượng đánh cánh quân đang tiến gấp trên hướng Kiên Giang — Trà Ôn nhằm tiến đế khúc sông Tiền ngay sát phía tây tây nam Mỹ Tho, tức là hướng uy hiếp nghiêm trọng nhất lúc này. Kể từ khi tiến vào Trấn Giang cho đến khi chiếm được Mân Thít (trên rạch Mang Thít — Vĩnh Long), quân Xiêm — Nguyễn đã bị đánh kìm chân tới 3 tháng. Riêng trong trận đánh chặn ở Mân Thít, quân Tây Sơn không những tiêu diệt nhiều binh thuyền giặc mà còn làm tử thương tên tướng phản quốc Chu Văn Tiếp và làm bị thương nặng tên tướng Thát Xỉ Đa. Đến tháng 12 cánh liên quân Xiêm — Nguyễn mới lần lượt đánh chiếm được Xứ Lạch (Chợ Lách — Bến Tre), Long Hồ (Vĩnh Long) và Trà Lọt (trên bờ bắc sông Tiền), Trà Tân (cù lao Năm Thôn, trên sông Tiền). Trong tháng này, các cánh quân thủy, bộ của Chiêu Tăng, Sa Uyển từ các xứ Ba Thắc, Đông Khẩu cũng kéo tới Trà Lọt, rồi cùng quân Thát Xỉ Đa, Nguyễn Ánh phói hợp đóng suốt từ Trà Lọt tới Trà Tân. Sách Sử Ký Đại Nam Việt chép: «Khi ấy bộ binh và thủy binh Xiêm đã hiệp lại cùng nhau và đóng trong Trà Suốt, lại lập nhiều lũy nơi nọ nơi kia».

Khi phái binh sang xâm lược nước ta, bọn vua quan Xiêm nêu chiêu bài cứu viện triều Nguyễn chống Tây Sơn. Nhưng ngay từ những ngày đầu, tháng đầu đặt chân tới Gia Định, giặc Xiêm đã tự lột trần bộ mặt xâm lược tàn bạo của mình bởi những hành động cướp bóc, nhũng nhiễu, giết chóc nhân dân ở mọi nơi chúng tràn tới. Sách Gia Định thành thông chí viết: «Quân Xiêm đến đâu cũng cướp bóc, khó bề ngăn trở». Sách Đại Nam thực lục cũng ghi: «quân Xiêm tàn bạo, đến đâu là cướp bóc đấy, nhân dân ta oán rất nhiều». Đã từng căm ghét bọn vua quan triều Nguyễn tham tàn, lại thêm căm ghét quân giặc Xiêm bạo ngược, người dân Gia Định tất yếu hướng về Tây Sơn, ủng hộ quân Tây Sơn đánh giặc cứu nước, cứu nhà. Sự căm ghét, chống lại của nhân dân đối với quân cướp nước và lũ bán nước, sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân đối với đội quân cứu nước, cứu dân đó là cơ sở chính trị làm cho quân địch hoàn toàn bị cô lập, quân Tây Sơn có lực lượng phối hợp ở mọi nơi.

Chính giữa lúc quân ngũ dinh Tây Sơn, sau khi đã đánh chặn để kìm chân địch và bảo toàn được lực lượng lui về Mỹ Tho, đang gấp rút chuẩn bị sẵn sàng phối hợp với đại quân từ Quy Nhơn vào chuyển lên phản công tiêu diệt quân xâm lược, giữa lúc giặc Xiêm, sau gần 5 tháng tiến quân ì ạch nhưng lại ra sức cướp bóc dân chúng các nơi, đang từ tiến công đồng thời trên nhiều hướng chuyển sang đóng rải thành tuyến dọc khúc sông Tiền để chuẩn bị cho đợt tiến công quy mô sắp tới trên hướng Mỹ Tho — Gia Định, thì đại đội binh thuyền Tây Sơn, với lực lượng vài vạn quân, do Nguyễn Huệ chỉ huy, đã từ Quy Nhơn vượt biển vào Gia Định, rồi nhanh chóng thẳng tới Mỹ Tho để chuẩn bị cho trận quyết chiến ngay trên địa bàn sông nước này.

Như vậy là trong khoảng 5 tháng, kể từ khi giặc Xiêm bắt đầu tràn sang xâm lược nước ta cho tới khi đội quân của Nguyễn Huệ tiến vào tới Mỹ Tho, đã diễn ra sự chuyển biến căn bản của thế chiến lược theo chiều hướng bất lợi cho địch, có lợi cho ta. Địch từ tiến công ồ ạt trên nhiều hướng chuyển sang tạm thời phòng ngự thành một tuyến dài, ta từ rút lui để bảo toàn lực lượng chuyển sang gấp rút chuẩn bị phản công. Địch tuy đông quân nhưng ngày càng bị tiêu hao lực lượng, bị mệt mỏi và bị cô lập trước sự căm ghét, chống đối của nhân dân các nơi; ta không những bảo toàn được lực lượng ban đầu ở Gia Định, được tăng cường đạo quân chủ lực từ Quy Nhơn vào, mà còn có sự phối hợp của nhân dân các nơi. Sự chuyển hóa thế đánh chiến lược và thế trận chiến lược đã dẫn tới sự xuất hiện thời cơ chiến lược để quân Tây Sơn tiến lên mở trận quyết chiến đánh bại hoàn toàn quân xâm lược.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Mười Một, 2021, 04:06:28 pm
*
*   *

Đầu tháng 1 năm 1785, đội quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy vào tới Mỹ Tho. Chỉ hơn chục ngày sau, bằng một trận hội chiến lớn trên sông Tiền phía tây tây nam Mỹ Tho, mà trọng điểm là đoạn sông từ Rạch Gầm đến Xoài Mút, quân Tây Sơn đã tiêu diệt hầu hết quân Xiêm xâm lược, giành toàn thắng cho cuộc kháng chiến cứu nước. Vậy trận hội chiến đó đã được tổ chức và thực hành như thế nào khiến quân Tây Sơn tuy số lượng kém hơn hẳn quân địch nhưng đã có được thế mạnh áp đảo để tạo nên sức mạnh chiến thắng quân địch một cách nhanh, gọn như vậy?

Qua một số ít ỏi sử liệu nói về trận hội chiến đại phá giặc Xiêm chúng ta thấy nổi bật mấy điểm đặc sắc trong việc tạo thế mạnh áp đảo đánh thắng địch như sau:

+ Xét về phương thức tác chiến:

Vào cuối tháng 12 năm 1784 đầu tháng 1 năm 1785, quân Xiêm tuy vẫn đang ở thế tiến công chiến lược nhưng lại chuyển sang lâm thời phòng ngự về chiến thuật để chuẩn bị cho đợt tấn công lớn sắp tới mà hướng chiến lược chủ yếu là hướng Mỹ Tho — Gia Định.

Các quân thủy, bộ của chúng phối hợp với nhau đóng thành tuyến dài khoảng mười mấy kilômét trên đoạn sông Tiền từ Trà Lọt đến Trà Tân, trọng điểm là khu vực Trà Tân, cách Mỹ Tho ngót ba chục kilômét.

Trước hình thái bố trí binh lực của địch như vậy và trong điều kiện quân Tây Sơn không những không đông gấp bội mà còn ít hơn hẳn quân địch, nếu chỉ ngồi cố thủ ở Mỹ Tho chờ chúng tiến đến mới đánh trả, hoặc nếu tung lực lượng của mình đánh vào toàn tuyến phòng ngự của chúng, thì trong cả hai trường hợp ấy quân Tây Sơn đều không đủ sức bao vây tiêu diệt gọn hoặc đánh tan toàn bộ quân địch. Với tinh thần tích cực tiến công tiêu diệt địch và chủ động chia cắt lực lượng địch mà tiêu diệt chúng từng bộ phận, bộ chỉ huy Tây Sơn đã xác định phương thức tác chiến cho trận hội chiến là: vận động tiến công tiêu diệt thủy binh địch đánh tới rồi tiếp tục phát triển tiến công tiêu diệt bộ binh địch trong đồn lũy.

Theo phương thức tác chiến ấy, trận hội chiến diễn ra thành hai đợt với hai hình thức chiến thuật thích hợp: Đợt I là đợt vận động tiến công tiêu diệt thủy binh địch đánh tới, với hình thức chiến thuật phục kích vận động. Đợt II là đợt tiếp tục phát triển tiến công tiêu diệt bộ binh địch trong đồn lũy, với hình thức chiến thuật tập kích vận động. Trong hai đợt đó, đợt I là đợt đánh tiêu diệt đạo quân chủ lực của địch, giành thắng lợi có tính chất quyết định cho toàn bộ hội chiến, hoặc nói cách khác, là đợt đánh then chốt quyết định của trận hội chiến.

Với phương thức tác chiến trên đây, bộ chỉ huy Tây Sơn đã làm cho địch từ thế trận quân thủy, quân bộ phối hợp chiến đấu, ỉ giốc lẫn nhau, chuyển thành thế quân thủy bị tách rời, chia cắt khỏi quân bộ, để rồi cả hai đều lần lượt bị tiến công tiêu diệt; đã làm cho thủy binh địch ở thế tiến công bị đại bại, lại làm cho bộ binh địch đang ở thế phòng cũng bị tan vỡ nốt. Nói một cách khác, đó tức là nghệ thuật làm cho địch từ thế mạnh chuyển thành thế yếu, nghệ thuật phá thế địch để diệt địch.

+ Xét về địa bàn tác chiến:

Trên dải đất dài hơn bốn chục ki-lô-mét từ Mỹ Tho đến Trà Lọt không chỉ có sông Tiền rộng lớn chảy ngang suốt phía nam mà còn có rất nhiều mương rạch chằng chịt, nhất là ở phía bắc ngạn. Trong số những rạch lớn đổ ra bờ bắc sông Tiền có: Rạch Xoài Mút (cách Mỹ Tho 7 — 8 ki-lô-mét), Rạch Gầm (cách Xoài Mút 6 — 7 ki-lô-mét), rạch Trà Tân (cách rạch Rau Răm khoảng một chục ki-lô-mét), v.v… Ở giữa khúc sông Tiền từ Trà Lọt đến Mỹ Tho nổi lên nhiều cù lao lớn, nhỏ, trong đó có cù lao Trà Tân (cù lao Năm Thôn) chạy từ phía trên cửa rạch Trà Tân xuống tới gần cửa rạch Rau Răm và cù lao Thới Sơn chạy từ phía trước của rạch Xoài Mút) tới phía trước Mỹ Tho. Tại vùng sông nước này bấy giờ tuy đã có dân cư sinh sống và tổ chức thành từng thôn xóm bên sông, rạch hoặc tren cả các cù lao lớn, nhưng đất hoang còn nhiều, cây cối mọc hoang rất um tùm, nhất là hai bên bờ sông, rạch và trên các cù lao.

Lợi dụng địa thế sông nước hiểm trở này và theo phương thức tác chiến trên, bộ chỉ huy Tây Sơn định kế tiêu diệt toàn bộ đạo thủy binh địch bằng một trận phục kích lớn. Địa bàn được lựa chọn để tổ chức trận phục kích là đoạn sông Tiền từ Rạch Gầm đến Xoài Mút, dài 6 — 7 ki-lô-mét, cách Mỹ Tho không xa. Nơi đây không những rất thuận lợi cho việc ém quân, giấu pháo ở hai phía bờ bắc, bờ nam sông và trên cù lao Thới Sơn, mà còn rất tiện lợi cho việc cơ động các lực lượng lớn từ sâu phía trong rạch Gầm, rạch Xoài Mút và nhất là từ phía Mỹ Tho tới tiến công tiêu diệt địch khi chúng tiến vào.

+ Xét về thời điểm tác chiến:

Vấn đề thời điểm tác chiến ở đây bao gồm hai phương diện: một là thời điểm hoàn thành việc chuẩn bị cho trận đánh, hai là thời điểm mở màn và kết thúc trận đánh.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Mười Một, 2021, 04:06:55 pm
Nguyễn Huệ thống lĩnh một lực lượng mạnh từ Quy Nhơn vào Gia Định trong khi ở phía bắc, tại Thuận Hóa, quân Trịnh còn đang đóng giữ và là mối uy hiếp thường xuyên đối với Tây Sơn. Điều đó đòi hỏi chủ lực Tây Sơn tiến vào đây phải nhanh chóng đánh bại giặc Xiêm để rồi rút ra Quy Nhơn, chứ không thể đứng chân lâu tại Mỹ Tho được. Một trong những đặc điểm của phép dụng binh của Nguyễn Huệ, mà mấy lần đánh vào Gia định trước đây từng thể hiện rõ, là lối hành binh tốc quyết tốc thắng. Mặc khác, bọn tướng lĩnh Xiêm sau khi đã hội quân ở Trà Lọt, Trà Tân, do những thắng lợi tương đối dễ dàng vừa qua trên mặt trận miền Tây càng làm cho chúng thêm chủ quan, tất sẽ nhanh chóng tung lực lượng đánh thẳng vào đại quân Tây Sơn ở Mỹ Tho hòng giành lấy thắng lợi quyết định cho cuộc xâm lược này. Tuy nhiên, việc chuẩn bị cho trận hội chiến lớn nhằm tiêu diệt hàng vạn quân giặc cần phải có được khoảng thời gian một vài tuần, không thể một sớm một chiều xong nổi. Việc Nguyễn Huệ cử sứ giả sang điều đình ngừng chiến riêng với Chiêu Tăng, Chiêu Sương và giả vờ xin thần phục chúng, vừa nhằm kích động thêm sự chủ quan của chúng, gây mối hoài nghi, mâu thuẫn giữa bọn tướng Xiêm với bọn Nguyễn Ánh, vừa nhằm tranh thủ thời gian hòa hoãn để chuẩn bị cho trận hội chiến.

Cuối trung tuần tháng 1, công việc chuẩn bị đã được hoàn thành. Vậy thì trận hội chiến sẽ mở màn vào lúc nào và được kết thúc vào lúc nào?

Đợt I của trận hội chiến là đợt phục kích đoàn binh thuyền địch từ phía Trà Tân sẽ tiến công tới. Địch xuất quân vào ngày nào, giờ nào là do chúng quyết định. Nhưng dụ địch lọt vào trận địa phục kích ở khu vực Rạch Gầm — Xoài Mút để rồi xông ra tiêu diệt chúng vào thời điểm nào là tùy thuộc ở quân Tây Sơn. Điều thông thường trong phép dùng thủy binh tiến công ở nơi hàng ngày nước triều lên, xuống là phải lợi dụng con nước tạo thế đánh mạnh. Nếu từ thượng lưu đánh xuống thì lợi thế nhất là lúc nước xuống. Còn nếu từ hạ lưu đánh lên thì lợi thế nhất là lúc nước lên. Khúc sông Tiền này là nơi có chế độ bán nhật triều (một ngày có 2 lần nước triều lên và xuống). Đồng thời với con nước lên, xuống là sự đổi chiều gió: nước lên thì gió thổi từ hạ lưu lên phía thượng lưu, nước xuống thì gió thổi từ thượng lưu xuống hạ lưu, sức nước đẩy kết hợp với sức gió thổi càng làm cho binh thuyền tiếp theo chiều nước lên (hoặc xuống) có được thế mạnh.

Chắc mẩm rằng quân Tây Sơn chỉ mong cầu hòa, không phòng bị gì, và căn cứ vào ngày giờ lên, xuống của nước triều những ngày sắp tới, bọn tướng Xiêm quyết định đêm mồng 9 tháng chạp — tức đêm 19-1-1785 — sẽ bắt đầu tung toàn bộ thủy binh tiến công về phía Mỹ Tho, vì đó là lúc nước triều bắt đầu rút và ngày hôm sau sẽ là ngày nước kém nhất (con nước lên ở mức thấp nhất) trong tháng. Thế nhưng bộ chỉ huy quân Tây Sơn đã tương kế tựu kế để thực hành một trận phục kích tài tình.

Trên cơ sở bày binh bố trận đã xong và sẵn sàng chờ địch tới là đánh, khi binh thuyền giặc tràn xuống phía trước Rạch Gầm, một số thuyền quân Tây Sơn đánh chặn ở đây giả thua và rút lui dần về phía rạch Xoài Mút để dụ địch. Khoảng canh năm (rạng sáng hôm sau), toàn bộ đoàn binh thuyền giặc lọt vào trong đoạn sông từ cửa Rạch Gầm đến cửa rạch Xoài Mút, và đó cũng là lúc nước triều bắt đầu lên, thì lập tức pháo binh Tây Sơn ở hai bên bờ và trên cù lao Thới Sơn tới tấp bắn xuống thuyền giặc. Tiếp đó, các binh thuyền nhẹ Tây Sơn theo các cửa rạch bên sông đổ ra, các binh thuyền mạnh Tây Sơn từ phía Mỹ Tho chia thành hai mũi theo cả hai bên cù lao Thới Sơn ập tới, tạo thành thế chẹn đầu, khóa đuôi, thực hiện bao vây, chia cắt đoàn binh thuyền địch mà tiến công tiêu diệt hết tốp này đến tốp khác, chẳng mấy chốc tiêu diệt gọn cả hàng trăm binh thuyền với hàng vạn quân của chúng. Ngay sau khi diệt xong đạo binh thuyền địch, thủy binh và bộ binh Tây Sơn trên đà thắng lợi đã tiếp tục phát triển tiến công, mở đợt vận động tập kích vào tất cả các đồn lũy địch từ Trà Tân đến Trà Lọt giữa lúc bọn địch ở đây vừa nghe tin thủy binh đại bại đang trở nên kinh hãi, mất hết ý chí chiến đấu, nhanh chóng diệt và bắt gần hết đạo bộ binh địch mấy vạn tên.

Số tàn binh địch tháo chạy được về nước không đầy một vạn tên. Hơn 4 vạn quân Xiêm xâm lược đã bị tiêu diệt trong trận hội chiến này. Sách Gia Định thành thông chí viết «Chiêu Tăng, Chiêu Sương đem vài ngàn tàn binh do đường Cao Miên chạy về nước». Còn sách Đại Nam thực lục thì viết: «Chiêu Tăng và Chiêu Sương thua to bỏ chạy chỉ thu được vài nghìn tàn tốt, do đường núi Chân Lạp mà chạy về» và «Người Xiêm từ sau cuộc bại trận năm Giáp Thìn, miệng tuy nói khoác mà lòng thì sợ Tây Sơn như cọp».

Như vậy là bằng một trận hội chiến diễn ra chỉ trong một ngày đêm, quân Tây Sơn tuy số lượng ít hơn hẳn địch, nhưng với thế mạnh áp đảo, đã tiêu diệt hơn 4 vạn quân Xiêm xâm lược, giành toàn thắng cho cuộc kháng chiến cứu nước. Đó là thế mạnh được tạo nên bởi việc áp dụng phương thức tác chiến vận động tiến công tiêu diệt thủy binh địch đánh tới rồi tiếp tục phát tiến tiến công tiêu diệt bộ binh địch trong đồn lũy, bởi việc khéo chọn địa bàn tác chiến tại nơi sông nước hiểm trở, biến nó thành tử địa đối với quân xâm lược; bởi việc khéo chọn thời điểm tác chiến cho việc đánh đòn quyết định tiêu diệt đạo binh thuyền địch ngay lúc chúng đã lọt vào tử địa và nước triều bắt đầu đổi dòng theo hướng có lợi cho ta, bất lợi cho chúng. Đó là thế mạnh được tạo nên trong trận quyết chiến chiến lược vĩ đại trên dải đất miền Nam Tổ quốc trong sự nghiệp chống ngoại xâm oanh liệt của dân tộc ta thế kỷ XVIII, mà chiến công bất diệt đó gắn liền với tên tuổi nhà quân sự thiên tài, người tướng bách chiến bách thắng là Nguyễn Huệ với địa danh anh hùng đã làm khiếp đảm quân xâm lược là Rạch Gầm — Xoài Mút.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Hai, 2022, 08:48:13 am
VÀI SUY NGHĨ NHỎ CHUNG QUANH DIỄN TIẾN LỊCH SỬ
CỦA TRẬN RẠCH GẦM — XOÀI MÚT

(Lược trích những luận điểm chính)

                                                                                                                                                 
TRÁC QUAN ĐỒ
(Tiền Giang)

LỜI BAN TỔ CHỨC

Trong hơn hai chục báo cáo khoa học gửi về Ban tổ chức hội nghị khoa học lịch sử về chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút, có một bản báo cáo rất đặc biệt: báo cáo của cụ Trác Quan Đồ. Là người địa phương, lại là người rất say mê sử học, cụ Trác Quan Đồ đã từng giúp đỡ nhiều đoàn tham quan và khảo sát thực địa tại khu vực Rạch Gầm — Xoài Mút. Sau nhiều năm làm việc và tiếp xúc như vậy, cụ Trác Quan Đồ đã tích lũy được một lượng tư liệu khá phong phú, và trên cơ sở số lượng tư liệu đó, cụ cũng đã không quản ngại vất vả, viết thành một bản báo cáo khá dài, với tự đề là Chiến thắng Rạch Gầm —Xoài Mút: hỏa hổ diệt xâm lăng.

Vì lý do thời gian hội nghị có hạn và khả năng in kỷ yếu cũng rất có hạn, Ban Tổ chức chúng tôi xin được trích những luận điểm chính trong bản báo cáo dài hơn bốn chục trang đánh máy khổ lớn của cụ Trách Quan Đồ. Đầu đề bản báo cáo này là của Ban Tổ chức.

1. — Đánh trận Rạch Gầm — Xoài Mút, lực lượng chủ công của Nguyễn Huệ là thủy binh. Tập kết tại thành Gia Định, thủy binh của Nguyễn Huệ đã chọn lộ trình nào để đến Mỹ Tho tiêu diệt quân Xiêm? Theo chúng tôi, Nguyễn Huệ đã cho binh thuyền băng qua bể nước Tháp Mười với nhiều thông lưu với Tiền Giang, hoàn toàn có khả năng thực hiện tốt vai trò này. Đến nay mà nói (hình như?) chưa có ý kiến nào tương tự giả thuyết của chúng tôi, song, nghiên cứu kết cấu địa lý giữa Tiền Giang, Tháp Mười và thành Gia Định, chúng tôi mạnh dạn phát biểu như vậy.

2. — Đã không ít người hiểu rằng, sở dĩ gọi là chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút vì Rạch Gầm là nơi khởi đầu, thậm chí là nơi có vai trò lớn hơn Xoài Mút. Đọc kỹ sử cũ, chúng tôi thấy rằng hiểu như thế là không khách quan và chưa thỏa đáng.

Rạch Gầm chỉ là nơi dụ địch, chiến trường chính của trận quyết chiến chiến lược này phải là khu vực Xoài Mút. Kết luận này của chúng tôi được xây dựng trên cơ sở mấy lời ghi chép ngắn ngủi sau đây của sách Đại Nam chính biên liệt truyện «Nguyễn Huệ đem hết tinh binh phục ở Rạch Gầm đi Xoài Mút lập làm kế dụ địch» (chúng tôi nhấn mạnh — T.Q.Đ).

3. — Nhiều nhà nghiên cứu đã trình bày nghệ thuật phối hợp các binh chủng của Nguyễn Huệ trong trận Rạch Gầm — Xoài Mút, trong đó nghệ thuật phối hợp pháo binh với các binh chủng khác đã đạt tới trình độ rất cao. Bấy giờ, do mua được của phương Tây, đặc biệt là do cướp được của quân đội chúa Nguyễn, pháo binh Tây Sơn có lẽ cũng không thua kém gì pháo binh của giặc. Trong Documents relatifs à Pépoque de Gia Long. J.B. Chaigneau cho biết: Tây Sơn… «có nhiều tàu chiến mang từ 50 đến 60 cỗ đại bác cỡ lớn». Sách Relation des missions des évêques cũng có những nhận xét tương tự. Xem thế cũng đủ biết pháo binh Tây Sơn hùng mạnh và đã phối hợp chặt chẽ với thủy binh như thế nào. Song, có một loại vũ khí rất đặc biệt, đã làm cho quân Xiêm La khiếp đảm (rồi cả sau này, làm cho cả quân Mãn Thanh cũng phải kinh hồn), lại ít được các nhà nghiên cứu chú ý. Vũ khí ấy là hỏa hổ. Ông L. Perex trong bài La révolte et la guerre des Tây Sơn đã mô tả khá kỹ hỏa hổ Tây Sơn và vai trò của nó trong thắng lợi của trận Rạch Gầm — Xoài Mút.

Hỏa hổ được quân đội Tây Sơn bố trí trên những thuyền nhỏ, có sức cơ động nhanh. Hỏa hổ là vũ khí cực kỳ lợi hại khi đánh hỏa công. Trong trận Rạch Gầm — Xoài Mút, có lẽ pháo binh là lực lượng đánh phủ đầu; sau đó, những chiến thuyền mang hỏa hổ có trách nhiệm khóa chặt quân Xiêm — Nguyễn trong vòng vây lửa, để rồi cuối cùng thủy binh Tây Sơn sẽ là lực lượng băm nát đội hình giặc, dồn chúng vào thế bị bao vây tiêu diệt không cách gì cứu vãn nổi.

4. — Trong bối cảnh phức tạp của xã hội nước ta cuối thế kỷ XVIII, nhất là ở Gia Định, Nguyễn Huệ không thể có được một quân số đủ để áp đảo kẻ thù. Nguyễn Huệ đã áp dụng chiến lược truyền thống của dân tộc, đó là: lấy ít địch nhiều. Nhiều người tỏ ra băn khoăn về quân số ít ỏi của Nguyễn Huệ. Theo chúng tôi, đó là trận phục binh (sử chép rõ như thế) thì quân số có ít cũng là chuyện thường. Vấn đề căn bản là ở nghệ thuật tạo ra thế chủ động và bất ngờ.

5. — Nguyễn Huệ có cho quân đi khiêu chiến để dụ địch hay không? Một nhà quân sự thiên tài như Nguyễn Huệ có lẽ không sử dụng biện pháp không có gì độc đáo này. Chúng tôi nghĩ, có thể Nguyễn Huệ dụ địch bằng biện pháp khác, tài trí hơn, bất ngờ cho kẻ địch hơn. Nhưng biện pháp đó là gì? Điều này cần được tiếp tục nghiên cứu thêm nữa.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Hai, 2022, 08:50:07 am
VẤN ĐỀ THỜI CƠ TRONG TRẬN QUYẾT CHIẾN CHIẾN LƯỢC
RẠCH GẦM — XOÀI MÚT

Đại tá NGUYỄN VIẾT TÁ
                                                                                                                             
Phòng Lịch sử Quân sự Quân khu 7

Rạch Gầm — Xoài Mút là một trận quyết chiến chiến lược của nghĩa quân Tây Sơn: chỉ trong một ngày, và có thể chưa đến một ngày, đã tiêu diệt gọn năm vạn quân Xiêm, đánh bại ý đồ của Nguyễn Ánh định mượn quân xâm lược, khôi phục lại sự thống trị toàn bộ lãnh thổ Đàng Trong.

Chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút không những là niềm tự hào to lớn cho dân tộc Việt Nam ta mà còn để lại cho thế hệ mai sau những bài học quý giá về nghệ thuật quân sự, một trong những biểu hiện rực rỡ nhất thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ, người anh hùng áo vải của dân tộc ta.

Trong Hội nghị Khoa học này, nhiều đồng chí đã trình bày nhiều vấn đề lớn về nghệ thuật quân sự của Nguyễn Huệ và nghĩa quân Tây Sơn.

Với trình độ nghiên cứu còn hạn chế và thời gian cũng có hạn, chúng tôi xin phép đi vào một khía cạnh của tư tưởng quân sự lỗi lạc của Nguyễn Huệ biểu hiện trong trận Rạch Gầm — Xoài Mút. Đó là vấn đề sáng tạo thời cơ và chọn đúng thời cơ cho trận quyết chiến chiến lược.

Có thể nói trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam ta từ thời Lý cho đến cuộc tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, vấn đề sáng tạo thời cơ, chọn đúng thời cơ là một trong những yếu tố hết sức quan trọng đưa cuộc chiến đấu của quân và dân ta đi đến thắng lợi rực rỡ.

Vì sao các lãnh thụ Tây Sơn, nhất là Nguyễn Huệ, đã quyết định tiến hành trận quyết chiến chiến lược sau gần 5 tháng quân Xiêm — Nguyễn đổ bộ lên Rạch Giá?

Ngày 25 tháng 8 năm 1784, liên quân Xiêm — Nguyễn xuất phát từ Băng-cốc tiến về miền Nam Việt Nam. Khoảng tháng 8 năm 1784, hai vạn thủy quân Xiêm cùng 300 chiến thuyền và vài nghìn quân Nguyễn mở cuộc phản công. Lúc đó, chủ lực Tây Sơn còn ở Quy Nhơn và chưa được điều động, vì không những Tây Sơn phải đối phó với giặc Xiêm — Nguyễn Đàng Trong mà còn lo đối phó quân Trịnh Đàng Ngoài, thời cơ đưa chủ lực vào Nam phải được quyết định thật chính xác. Phải chăng các lãnh tụ Tây Sơn cũng chủ trương để một thời gian tìm hiểu đội quân này và cũng để lực lượng tại chỗ chiến đấu giằng co làm cho quân Xiêm — Nguyễn mệt mỏi tạo thời cơ cho đòn chiến lược quyết liệt của chủ lực.

Nhìn lại bối cảnh lịch sử lúc đó, nước Xiêm vốn là một nước có nhiều sông ngòi, có biển, thủy quân Xiêm có nhiều điều kiện phát triển mạnh. Thuyền chiến của thủy quân Xiêm gồm đủ loại, lại mua được vũ khí của tư bản phương Tây nên trang bị khá mạnh. Tuy thủy quân Tây Sơn đã nhiều lần tác chiến với quân Nguyễn ở miền Nam Việt Nam và Chân Lạp, nhưng quân Tây Sơn chưa hề đụng độ. Chính vì vậy Nguyễn Huệ đã để thời gian nghiên cứu khả năng chiến đấu của thủy quân Xiêm. Thực tế ngày càng làm cho Nguyễn Huệ hiểu rõ thực chất thủy quân Xiêm. Quân Xiêm — Nguyễn có đến hơn năm vạn, quân Tây Sơn lúc đó gồm quân đồn trú chỉ có vài nghìn, nhưng trong vòng 3 tháng từ khi đổ bộ lên Rạch Giá, quân Xiêm — Nguyễn mới tiến đến Cần Thơ, chiếm giữ mấy đồn Ba Xắc, Trà Ôn, rồi lên Sa Đéc. Với quân đông nhưng tại Long Hồ, tướng Chu Văn Tiếp của Nguyễn Ánh đã bị quân Tây Sơn giết chết. Trận Ba Lai, Trà Tân ven sông Mỹ Tho thêm chưởng cơ Đặng Văn Lượng tử trận.

Liên quân Xiêm — Nguyễn hầu như bị dậm chân tại chỗ, phải trì hoãn tiến quân vì mâu thuẫn giữa quân Xiêm — Nguyễn, giữa chúng với nhân dân ngày càng trở nên sâu sắc. Quân Xiêm ngày càng lộ rõ bản chất xâm lược, đàn áp cướp bóc nhân dân, khinh mạn Nguyễn Ánh. Ở các lần phản công trước, Nguyễn Ánh chưa lộ rõ bộ mặt phản dân, nên còn có thể nhanh chóng khôi phục lại quân đội. Nhưng lần này, hành động «cõng rắn cắn gà nhà» quá rõ ràng nên không còn lừa bịp được nhân dân. Cho đến hết năm 1784, tuy đã chiếm được một số vùng, nhưng quân đội Nguyễn không phát triển được, vẫn chỉ vài nghìn tên, chủ lực vẫn dựa vào quân Xiêm. Quân xâm lược ngày càng trở nên kiêu căng. Qua mấy tháng chiến đấu, quân Xiêm — Nguyễn đã bộc lộ đầy đủ chỗ yếu cơ bản của chúng.

Trước tình hình đó, ở Quy Nhơn, các lãnh tụ Tây Sơn nhận định thời cơ chiến lược đã chín mùi, quyết định tổ chức phản công chiến lược, đập tan kế hoạch chiến lược của quân Xiêm và phá tan mưu đồ chiếm lại Gia Định của Nguyễn Ánh. Vị tướng trẻ đầy mưu lược là Nguyễn Huệ đứng ra nhận lãnh nhiệm vụ chỉ huy quân Tây Sơn vào Nam chiến đấu. Và lần này không những đánh bọn bán nước hại dân mà đánh cả bọn xâm lược.

Từ trước đến nay các nhà quân sự thế giới và của nước ta đã đề cập đến những yếu tố giành thắng lợi trong chiến tranh, trong từng chiến dịch và từng trận chiến đấu. Đó là thiên thời, địa lợi và nhân hòa. Các nhà lãnh tụ Tây Sơn quyết định phản công chiến lược, chính là do đã phân tích một cách đúng đắn và tài giỏi cả ba yếu tố đó. Nhưng đó là thời cơ về mặt chiến lược chung. Để thực hiện phản công chiến lược thắng lợi còn phải có nhiều yếu tố: lực lượng, tài tổ chức, chỉ huy, trình độ tác chiến, tinh thần chiến đấu của chỉ huy và binh lính, và đặc biệt là chọn thời cơ cụ thể để tiến hành trận quyết chiến chiến lược.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Hai, 2022, 08:50:54 am
Chỉ riêng về việc chọn thời cơ cụ thể trong trận quyết chiến chiến lược Rạch Gầm — Xoài Mút, đi sâu phân tích cũng làm nổi bật thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ.

Nguyễn Huệ không đem quân vào thành Gia Định để ngồi chờ địch đến mà tiến thẳng xuống gần điểm tập kết của liên quân Xiêm — Nguyễn. Nhưng Nguyễn Huệ cũng không đem quân chủ lực của Tây Sơn đánh thẳng vào đại bản doanh của địch ở Trà Tân. Vậy thời cơ nào Nguyễn Huệ chọn để tiến hành trận quyết chiến chiến lược. Trong chiến tranh, giữ được yếu tố bất ngờ là rất thuận lợi. Nhưng lúc đó thời gian không còn bất ngờ vì chủ lực hai bên đã trực tiếp đương đầu với nhau và chắc chắn những trận đánh lớn sẽ xảy ra sớm hay muộn. Về lực lượng, Nguyễn Huệ cũng biết rõ rằng kẻ địch đã nắm được khả năng tác chiến của quân đội Tây Sơn. Thời cơ diệt địch lúc này chắc chắn không phải là đánh thẳng vào đại bản doanh của chúng. Vì ở Trà Tân, toàn bộ quân Xiêm cùng mấy nghìn quân Nguyễn đã bố trí phòng thủ, cả dưới sông và trên bộ, dựa vào gần 300 chiến thuyền có thể nhanh chóng triển khai đội hình ở đoạn sông rộng, dựa vào công sự và quân trên bộ, thủy bộ có thể ứng cứu cho nhau. Nguyễn Huệ đã nhận định thời cơ tốt nhứt để tiêu diệt toàn bộ quân địch là kéo chúng ra khỏi hang ổ của chúng, điều chúng đến nơi địa hình có lợi nhứt cho mình và bất ngờ đối với địch. Chọn đúng thời cơ để tiến hành trận quyết chiến là tạo cho mình thế tiến công thuận lợi vì ta có thể phát huy mọi khả năng tác chiến, ngược lại địch bị hạn chế mọi mặt. Nếu Nguyễn Huệ chọn phương án đánh thẳng vào đại bản doanh địch thì địch yếu cũng trở nên mạnh, địch đã mạnh càng mạnh thêm vì chúng dựa vào công sự, vào thế bố trí sẵn, quân Tây Sơn sẽ vấp phải nhiều khó khăn. Kéo địch ra ngoài là tạo cho mình thời cơ tiêu diệt địch tốt nhất, lại kéo địch vào cãi bẫy ta đã giăng sẵn lại càng phát huy được sức mạnh của ta. Nguyễn Huệ đã từng nói «Người khéo thắng là thắng ở chỗ rất mềm dẻo, chứ không phải lấy mạnh đè yếu, lấy nhiều hiếp ít». Có thể lúc đo tương quan lực lượng so sánh giữa hai bên cả số lượng và chất lượng, quân Tây Sơn hơn quân Xiêm — Nguyễn. Nhưng không vì mạnh hơn kẻ địch mà Nguyễn Huệ phải dùng sức tiến công thẳng vào doanh trại của địch.

Thời cơ thuận lợi nhứt là kéo địch ra ngoài công sự đến nơi ta bố trí sẵn, điều đó là tất yếu. Nhưng làm sao để điều địch như ý muốn lại là một nghệ thuật. Nguyễn Huệ đã đánh giá đúng tâm trạng của tướng lĩnh Xiêm và Nguyễn Ánh đang hết sức nôn nóng thực hiện ý đồ chiếm toàn bộ Đàng Trong, mục tiêu trước mắt của quân Xiêm — Nguyễn là phải tiến chiếm cho bằng được Mỹ Tho. Chính vì vậy, Nguyễn Huệ đã nhiều lần cho những đạo quân nhỏ của mình đến khiêu chiến. Các tướng Xiêm chủ quan, cậy có ưu thế về thủy quân, mù quáng không lường được sức mình, muốn nhân việc truy kích quân Tây Sơn mà tiến lên chiếm đóng Mỹ Tho, để hướng về thành Gia Định. Ngày 18 tháng 1 năm 1785, các tướng Xiêm và Nguyễn Ánh đã đem toàn bộ quân Xiêm — Nguyễn tiến theo sông Mỹ Tho đánh đuổi quân Tây Sơn khiêu chiến và toàn bộ chiến thuyền Xiêm — Nguyễn đã lọt vào trận địa quân Tây Sơn đoạn sông Rạch Gầm — Xoài Mút. Thời cơ cho trận quyết chiến chiến lược đã đến. Nguyễn Huệ đã chỉ huy toàn bộ lực lượng thủy quân của mình đánh ngang vào hông thủ quân Xiêm, chia cắt đội thuyền chiến Xiêm — Nguyễn ra làm nhiều mảnh. Pháo binh Tây Sơn được bố trí trên hai bờ sông và trên cù lao Thới Sơn nhả đạn chính xác và chiến thuyền của địch, chi viện đắc lực cho thủy quân tiêu diệt gọn toàn bộ quân địch.

Chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút do nhiều nguyên nhân, không đơn thuần vấn đề sáng tạo thời cơ và chọn thời cơ cho trận quyết chiến chiến lược. Nhưng ở đây chúng tôi xin góp một khía cạnh của những nguyên nhân thắng lợi đó.

Thời cơ không phải ngẫu nhiên xuất hiện mà là cả một quá trình phấn đấu tạo ra, phải nhận định sáng suốt chọn đúng thời cơ để giành thắng lợi.

Các lãnh tụ Tây Sơn chủ trương khoét sâu mâu thuẫn giữa Nguyễn Ánh và tướng lĩnh Xiêm, giữa quân Xiêm với quân Nguyễn, quân Xiêm — Nguyễn ngày càng lộ rõ bộ mặt xâm lược và bán nước, càng bị cô lập về chính trị. Quân Tây Sơn đồn trú tại chỗ liên tục chặn đánh địch làm cho tướng lĩnh Xiêm càng nóng ruột, kiêu căng, quân lính Xiêm — Nguyễn càng bị tiêu hao và mệt mỏi. Tình hình đó đã tạo ra thời cơ cho trận quyết chiến chiến lược Rạch Gầm — Xoài Mút.

Tranh thủ thời cơ, thần tốc tiến quân vào Nam, chỉ trong một trận tiêu diệt sạch năm vạn quân Xiêm — Nguyễn, Nguyễn Huệ vừa dẹp được giặc Đàng Trong vừa làm bạt vía kinh hồn quân Trịnh phương Bắc tạo ra thời cơ mới, đánh chiếm thành Phú Xuân, tiêu diệt ba vạn quân Trịnh, tiến ra Bắc đánh bại quân Trịnh, dẹp yên Đàng Ngoài.

Phải chăng vấn đề sáng tạo thời cơ, chọn đúng thời cơ để tiến hành trận quyết chiến chiến lược và giành thắng lợi quyết định là một bài học kinh nghiệm quý báu đã được các bậc tiền bối ngày xưa và Đảng ta ngày nay phát triển ngày càng phong phú?

Nhân dân ta sắp kỷ niệm 10 năm giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Thắng lợi rực rỡ và trọn vẹn của cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 có nhiều nguyên nhân, trong đó một vấn đề nổi lên là Đảng ta và quân dân ta đã sáng tạo ra thời cơ chiến lược, chọn đúng thời cơ để tiến hành đòn quyết chiến chiến lược cuối cùng là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Sáng tạo thời cơ, chọn đúng thời cơ cho đòn quyết chiến chiến lược cuối cùng giành toàn thắng phải chăng là một bài học quý báu của nghệ thuật quân sự Việt Nam mà chúng ta cần đi sâu nghiên cứu.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Hai, 2022, 08:54:55 am
VỀ ĐỊA DANH “TRÀ LUẬT”
CHIẾN THẮNG RẠCH GẦM — XOÀI MÚT

                                                                                                    
Giáo sư NGUYỄN PHAN QUANG và DƯƠNG VĂN HUỀ
(Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh)

Cho đến nay, khi tìm hiểu chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút, một trong những chi tiết còn làm chúng ta băn khoăn là việc xác định địa danh «Trà Luật».

Các bộ sử của triều Nguyễn như Đại Nam thực lục, Đại Nam chính biên liệt truyện ghi chép vừa sơ lược vừa xuyên tạc về trận Rạch Gầm — Xoài Mút (điều này cũng dễ hiểu), và trong những đoạn ngắn ngủi đó không thấy có địa danh «Trà Luật».

Riêng Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức có nhắc đến «Trà Luật» như sau: «Tháng 11 (Nhâm Thìn), quân ta (tức quân Xiêm — Nguyễn Ánh) đánh phá đồn Trà Luật, Ba Lai, đến đâu quân địch đều tan rã»(1).

Cuốn Sử ký Đại Nam Việt (không có tên tác giả) viết bằng quốc ngữ chép: «Khi ấy binh bộ và binh thủy quân Xiêm đã hiệp lại cùng nhau và đóng trong Trà Suốt, lại lập nhiều chiến lũy nơi nọ nơi kia»(2).

Mạc thị gia phả của Vũ Thế Dinh có đoạn như sau:

«Vua ngự ở đồn Tà Luật, chia các đạo quân để giữ những chỗ địa diện khẩu yếu…». Và ở một đoạn khác: «Vua thấy thế địch mạnh quá khó chống lại được, phải vào trong sông Tả Luật, rồi ra Cường Thành để lánh»(3).

Một số người nghiên cứu cho rằng địa danh «Trà Luật» trong thư tịch cũ và địa danh «Trà Tân» hiện nay chỉ là một. Một số người khác lại khẳng định «Trà Luật» hay «Tà Luật» hay «Trà Suốt» không phải là «Trà Tân» mà phải là «Trà Lọt» hiện nay.

Ví dụ trong cuốn Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc, các tác giả Phan Huy Lê, Bùi Đăng Dũng, Phan Đại Doãn... viết: «Mạc thị gia phả chép rõ: Chiêu Tăng, Chiêu Sương và Nguyễn Ánh đóng đại quân ở Tà Luật (tức Trà Luật trong Gia Định thành thông chí, hay Trà Tân trong Đại Nam thực lục chính biên(4).

Trái lại, như bài viết «Lịch sử trận chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút», tác giả Nguyễn Đổng Chi cho rằng: «Xét sử sách không có địa danh Trà Suốt, mà chỉ có Trà (Hay Tà) Luật, tức Trà Lọt hiện nay. Trà Suốt phải chăng là Trà Lược, tên một con rạch nhỏ ở phía bắc Trà Tân ngày nay và nối liền với rạch Trà Tân. Chúng tôi nghĩ Trà Suốt ở đây phải là Trà Lọt (đối chiếu với tài liệu xưa, «lọt» (nôm), «suốt» (nôm) hay «luật» hán có khi viết giống nhau mới phù hợp với Gia phả (tức Mạc thị gia phả) và đúng với con đường hành quân»(5).

Tác giả Đỗ Hữu Nghiêm trong bài «Ghi chép về một số địa danh liên quan đến chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút» cũng cho rằng: «Chúng tôi nghĩ từ «Trà Luật» hay Tà Luật hay Tả Luật là những cách viết hán-nôm của từ dân gian Trà Lọt, hay Trà Lọc, hay Trà Suốt (SKĐNV). Trong vùng này có nhiều rạch mang tên Trà hay Tà: Trà Lục, Tà Lược, Trà Liễu, Trà Tân tương tự phần nào(6).

Tác giả Quỳnh Trân trong bài «Thử bàn về vấn đề thủy triều trong trận Rạch Gầm — Xoài Mút» cũng ghi: «Trà Suốt tức Trà Luật (Trà Lọt)»(7).

Nhân dịp Tỉnh nhà kỷ niệm trọng thể 200 năm chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút (1785 — 1985), được Ban Tổ chức cho tham dự và đọc báo cáo, chúng tôi muốn được trở lại với những địa danh trên, cụ thể là lần lượt tìm hiểu «Trà Lọt», «Trà Tân» và mối liên quan đến địa danh «Trà Luật», hy vọng kế tiếp công việc của những người đi trước, góp phần làm sáng tỏ thêm vài chi tiết về chiến thắng lịch sử này.


(1) Trịnh Hoài Đức — Gia Định thành thông chí — Bản dịch của Nguyễn Tạo, Tập Trung, Sài Gòn 1972, tr. 100.
(2) Sử ký Đại Nam Việt (không rõ tên tác giả), Imprimerie de la Misson, Tân Định, Sài Gòn, 1909.
(3) Mạc thị gia phả — Bản dịch của Tân Việt Điều — Văn hóa nguyệt san, số 62, tháng 7-1961.
(4) Phan Huy Lê — Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc — Nhà Xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1976 (Chú thích 1 ở tr.326).
(5) Chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút — Ty Thông tin Văn hóa Tiền Giang xuất bản, 1977, tr. 42.
(6) Chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút — Ty Thông tin Văn hóa Tiền Giang xuất bản, 1977, tr. 158.
(7) Chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút — Sách đã dẫn, tr. 122.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Hai, 2022, 08:57:28 am
I. TRÀ LỌT

Trên bản đồ cũng như trên thực địa hiện nay có một con rạch mang tên rạch Trà Lọt, cách thị xã Mỹ Tho 40 km về phía tây. Trong bài viết đã dẫn, tác giả Đỗ Hữu Nghiêm miêu tả tương đối chính xác về con rạch này: «rạch Trà Lọt hiện nay cũng gọi là rạch Ông Thanh(1) ở phía tây Mỹ Tho, bên bờ trái sông Tiền, thuộc huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. Chỗ giao lưu rạch Trà Lọt với sông Tiền ở ngay đầu phía tây cù lao Tân Phong, cách thị trấn Mỹ Tho chừng 40km về phía tây» (tr. 157, 158).

Trong cuốn Đặc khảo về tỉnh Mỹ Tho(2) xuất bản năm 1902, một tác giả người Pháp đã mô tả khá chi tiết về rạch Trà Lọt hồi cuối thế kỷ XIX. Tác giả chia hệ thống sông rạch của tỉnh Mỹ Tho làm 9 lưu vực, trong đó có lưu vực rạch Trà Lọt, nằm giữa lưu vực rạch Cái Thia ở phía tây và lưu vực rạch Cái Bè ở phía đông:

«Rạch Trà Lọt (dài 18km, rộng 40km, sâu 8m), bắt nguồn từ làng Mỹ Hội trong Đồng Tháp Mười, chảy qua chợ Cái Nứa rồi chảy ra sông [Tiền] theo hai cửa... Các chi lưu ở phía hữu ngạn có rạch Xép Ông Tinh (nhận nước của các rạch Cá Giắm, Ông Càn và Đất Sét), rạch Thủ Ngự (nối liền rạch Trà Lọt với rạch Xép Ông Tinh), cùng các rạch nhỏ Ông Khá, Cây Sung, Bà Được, Bà Xoay, Bà Huê, Nước Trong, Ông Tam; ở phía tả ngạn có rạch Bà Răn..., rạch Bà Tre, rạch Thông Lưu (nối liền hai rạch Trà Lọt và Cái Bè) cùng các rạch nhỏ Bà Phú, Phó Thục và Ông Khanh» (tr. 13).

Qua đoạn mô tả trên, có một điểm đáng lưu ý là: rạch Trà Lọt có một chi lưu ở tả ngạn chảy thông với rạch Cái Bè, gọi là rạch Thông Lưu, ngoài ra không có chi lưu nào ăn thông với rạch Ba Rài còn ở rất xa về hướng đông như có lúc tác giả đã nhầm lẫn.

Vẫn theo cuốn Đặc khảo... «rạch Trà Lọt cùng với rạch Cái Bè và rạch Cái Thia chảy qua vùng đất phía nam của tổng Phong Hòa», hoặc ở một đoạn khác: «Rạch Cái Bè (rộng 80m, sâu 8m), rạch Trà Lọt (rộng 40m, sâu 5m), rạch Cái Thia (rộng 120m, sâu 6 m) đều chảy qua tổng Phong Hòa» (tr. 41).

Tổng Phong Hòa ở cuối thế kỷ XIX tương ứng với tổng Kiến Hòa ở huyện Kiến Đăng ở cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX. Theo Gia Định thành thông chí, «tổng Kiến Hòa có 44 thôn, phía đông giáp sông Tranh Giang, Ba Lai (tức Ba Rài), Tân Kính của tổng Kiến Xương, huyện Kiến Hưng, phái tây giáp tổng Kiến Phong, lấy từ ngòi nhỏ sông Bát Chiên thẳng đến cửa sông Mỹ Lương (tục gọi Cái Thia), phía nam giáp sông Tiền Giang dọc theo sông lớn Mỹ Lương và Ba Lai, phía bắc giáp sông Bát Chiên và Bát Đông»(3).

Về các khu vực hành chính hồi đầu thế kỷ XIX, cần phân biệt tổng Kiến Hòa có rạch Trà Lọt chạy qua thuộc huyện Kiến Đăng, ở phía tây huyện Kiến Hưng, với huyện Kiến Hòa ở phía đông huyện Kiến Hưng, kéo dài đến tận cửa biển Xoài Rạp và Ba Lai.


(1) Có lẽ rạch Ông Thanh mà tác giả nói ở đây là Xép Ông Tinh (?), một nhánh của rạch Trà Lọt ở phía hữu ngạn.
(2) Monographie de la porvince de Mỹ Tho — Publications de la Société des Éudes Indochinoises, Impr. Ménard, Saigon, 1902.
(3) Sách đã dẫn, Tập trung, Sài Gòn, 1972.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Hai, 2022, 09:02:33 am
II. TRÀ TÂN

Hiện nay trên bản đồ cũng như trên thực địa có địa danh «Trà Tân», đúng như mô tả của các tác giả Nguyễn Đổng Chi và Đỗ Hữu Nghiêm trong các bài viết đã dẫn:

«Hiện nay Trà Tân là địa danh chỉ một con rạch phụ lưu của Tiền Giang, cách rạch Ba Rài ở phía đông 3 cây số» (Nguyễn Đổng Chi, tr. 42).

«[Trà Tân] là một rạch hợp lưu với sông Mỹ Tho ở ngay chỗ đầu phía tây của cù lao Năm Thôn, thuộc huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, cách Mỹ Tho chừng 20km về phía tây...» (Đỗ Hữu Nghiêm, tr. 159).

Trong Đại Nam nhất thống chíGia Định thành thông chí không thấy chép địa danh Trà Tân, nhưng Đại Nam chính biên liệt truyện có nhắc đến Trà Tân: «[Năm 1777] Nhạc sai Lữ và Huệ chia hai đường thủy bộ vào cướp Gia Định. Lý Tài chống cự với Tây Sơn, binh vỡ, Tân Chính Vương lui giữ Trà Tân (thuộc Định Tường)»(1).

Cuốn Đặc khảo về tỉnh Mỹ Tho (đã dẫn) mô tả lưu vực sông Trà Tân như sau:

«Rạch Trà Tân (dài khoảng 18km, rộng 40m, sâu 8m khi thủ triều xuống), bắt nguồn từ làng Phú Lương, chảy qua tổng Lợi Mỹ, uốn thành hai vòng rộng theo hình chữ S trước khi đổ ra sông [Tiền]. Chợ Trà Tân nằm trên cửa rạch».

«Ở hữu ngạn [rạch Trà Tân] có các chi lưu: rạch Vân, rạch Bà Kén, rạch Cái Cau, rạch Cái Tắc, rạch Trà Tân (nối liền hai lưu vực rạch Trà Tân và rạch Ba Rài), rạch Ông Vị và rạch Ông Gòn.

«Ở tả ngạn, rạch Trà Tân nhận nước của rạch Bà Rằng, rạch Trà Luộc (rạch này lại có chi lưu Bà Mương ở hữu ngạn và Bàu Dầu hay Kinh Thu ở tả ngạn). Rạch Bà Dầu nối liền rạch Trà Luộc với lưu vực Rạch Gầm qua con sông Bàng Long...

«Dọc theo sông [Tiền] còn có rạch Ông Bung, và trên địa phận tổng Lợi Trường còn có hai rạch Cái Sơn và Mù U. Các rạch này không lớn, chảy thẳng ra sông [Tiền].

«Tiếp đến rạch Rau Răm, dài 5km, rộng 20m, sâu 4m50), bắt nguồn từ Bình Chánh Trung. Các chi lưu phía tả ngạn có rạch Thông Lưu (nối rạch Rau Răm với rạch Bàng Long, thông qua lưu vực Rạch Gầm)(2), rạch Tram bắt nguồn từ Kiêm Sơn, phía hữu ngạn có rạch Ông Văn» (tr. 15, 16).

Đoạn mô tả trên đây có mấy chi tiết đáng chú ý:

1. Rạch Trà Tân có một đoạn tương đối lớn, có nhiều chi lưu, trong đó có một chi lưu ở tả ngạn mang tên Trà Luộc (hay Trà Luột) và một chi lưu ở hữu ngạn mang tên Trà Tân (nghĩa là cùng tên với rạch chính). Chi lưu này (Trà Tân) nối liền rạch Trà Tân với lưu vực rạch Ba Rài ở phía tây, cũng phù hợp với Đại Nam nhất thống chí chép rằng sông Trà Luật có một nhánh thông với sông Ba Lai (tức Ba Rài) và một nhánh thông vào Đồng Tháp Mười (xin xem trích dẫn cụ thể ở một đoạn sau).

2. Rạch Bà Dầu (một nhánh của chi lưu Trà Luộc) nối liền Trà Luộc với lưu vực Rạch Gầm qua con sông Bàng Long. Như vậy, lưu vực rạch Trà Tân cũng ăn thông với lưu vực Rạch Gầm bằng các con rạch Trà Luộc, Bà Dầu và Bàng Long (Bàng Long là chi lưu của Rạch Gầm ở phía tả ngạn).

Liên quan đến địa danh «Trà Tân», «Trà Luộc», tác giả cuốn Đặc khảo... còn cho biết thêm:

— Làng Trà Tân: là một trong 8 làng của tổng Lợi Mỹ (Lợi Mỹ vốn xưa là một phần của tổng Lợi Trường). Trước đó, làng Trà Tân bao gồm cả làng Tân Thới, về sau mới tách làm hai làng Tân Thới và Trà Tân. Chợ Trà Tân (do làng Trà Tân lập ra), cách Mỹ Tho 44km, đã bãi bỏ từ lâu.

— Chợ Trà Luật (hay Trà Luộc): thuộc làng Mỹ Quý Tây, tổng Lợi Trường, cách Mỹ Tho 33km, cũng gọi là chợ Mỹ Quý Tây.

Như vậy, chợ Trà Tân và chợ Trà Luộc là hai chợ khác nhau, đều thuộc tổng Lợi Trường. Đến năm Minh Mạng thứ 17, tổng Lợi Trường mới tách làm hai tổng Lợi Trường và Lợi Mỹ.

— Cù lao Trà Luộc: thuộc địa phận tổng Lợi Mỹ: «Hồi mới thành lập, tổng Lợi Mỹ gồm 11 làng trong đó có 5 làng Hòa Yên, Long Phú, An Thủy, An Thủy Đông và Tân Sơn nằm trong cù lao Trà Luộc, con có biệt danh là cù lao Năm Thôn» (Sách đã dẫn, tr. 11).

Khi dịch Mạc thị gia phả, cụ Ca Văn Thỉnh cũng đã phiên âm «Trà Luộc» trong câu «Vua [Nguyễn Ánh] thấy thế giặc rất mạnh không thể chống lại nổi, phải lui về sông Trà Luộc rồi đến Cường Thành để lánh nạn...»(3). Vẫn đoạn văn trên, Tân Việt Điểu lại phiên âm là «Tà Luật»(4). có lẽ hai người dịch đã sử dụng hai nguyên bản khác nhau.


(1) Sử quán triều Nguyễn — Đại Nam chính biên liệt truyện — Nhà Tây Sơn — Biên dịch của Tạ Quang Phát, Sài Gòn, 1970, tr.41.
(2) Xin phân biệt rạch Thông Lưu, một chi lưu của rạch Rau Răm, với rạch Thông Lưu, một chi lưu của rạch Trà Lọt.
(3) Ca Văn Thỉnh — «Mạc thị gia phả và trận Rạch Gầm — Xoài Mút» — Nghiên cứu lịch sử, số 79, tháng 10-1965.
(4) Tân Việt Điểu — Tạp chí đã dẫn, tr.713, 715.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Hai, 2022, 09:09:27 am
III. TRÀ LUẬT LÀ TRÀ TÂN, KHÔNG PHẢI LÀ TRÀ LỌT

Những cứ liệu trong cuốn Đặc khảo...đã dẫn ở phần trên cho thấy các địa danh «Trà Tân», «Trà Luộc» có nhiều chỗ trung hợp với địa danh «Trà Luật» được chép rải rác trong các cuốn sử của triều Nguyễn. Sau đây là vài ví dụ:

— Sông Trà Luật: «sông Trà Luật ở phía nam huyện Kiến Hưng 22 dặm, phía bắc hạ lưu sông Tiền, rộng 24 trượng 5 thước, nước lên sâu 20 thước, nước ròng sâu 16 thước, bờ phía tây có chợ Trà Luật; chảy về phía bắc 8 dặm rưỡi đến chỗ ngã ba, chi phái đông-bắc 4 dặm thông với sông Ba Lai, chi phía bắc 24 dặm thông với hồ Vu Trạch» (Đại Nam nhất thống chí)(1).

— Chợ Trà Luật: «Chợ Trà Luật ở huyện Kiến Hưng, tục danh là chợ Hàng Xoi (?)» (Đại Nam nhất thống chí)(2).

— Đồn Trà Luật: «Tháng 11 [Nhâm Thìn] quân ta [Xiêm — Nguyễn Ánh] công phá đồn Trà Luật...» (Gia Định thành thông chí).

— Cù lao Trà Luật: Trong Gia Định thành thông chí, có một câu nhắc đến cù lao Trà Luật: «Tổng Hưng Xương (mới đặt) [thuộc huyện Kiến Hưng] có 37 thôn... phía nam giáp sông Tiền Giang, Ba Lai rồi quanh theo cù lao Trà Luật xuống sông lớn An Đức»(3).

— Giồng Trà Luật:

Vẫn Gia Định thành thông chí, khi chép về giồng Kiến Định, đã giới thiệu vị trí giồng Trà Luật: «Giồng Kiến Định, ngày xưa đặt làm lỵ sở ở đây... Xuống phía đông 18 dặm đến Giồng An, phía tây có Giồng Kỳ Lân, Giồng Tảo và Giồng Dự, ba giồng cao thấp tiếp tục nhau. Cách tây-nam 25 dặm đến Giồng Lữ, lại cách tây 4 dặm đến Giồng Trà Luật...»(4).

Đại nam nhất thống chí khi chép về bãi Kiến Lợi (tức cù lao Năm Thôn) lại giúp ta xác định thêm vị trí sông Trà Luật: «Bãi Kiến Lợi ở huyện Kiến Hòa, hạ lưu sông Tiền Giang, phía bắc là sông Trà Luật»(5). Gia Định thành thông chí ghi cụ thể hơn; «Cù lao Kiến Lợi ở phía bắc hạ lưu Tiền Giang, làm trụ biểu cho sông Trà Luật»(6).

Từ những dẫn chứng trên đây, chúng tôi muốn đi đến mấy nhận xét sau đây:

1. Tất cả các địa danh gắn với Trà Luật, hoặc có mối quan hệ gần gũi với Trà Luật (như Trà Luộc, Trà Luột, Trà Tân...) đều thuộc huyện Kiến Hưng ở đầu thế kỷ XIX, hoặc giáp ranh với Kiến Hưng (như cù lao Năm Thôn); trong lúc đó Trà Lọt lại thuộc huyện Kiến Đăng (ở phía tây huyện Kiến Hưng. Nói cụ thể hơn, các địa danh gắn bó chặt chẽ với từ «Trà Luật» đều nằm gọn trong khu vực ở giữa lưu vực rạch Ba Rài (phía tây) và lưu vực rạch Gầm (phía đông). Trong khu vực này, từ «Trà Luật» được dùng khá phổ biến để đặt tên chợ, tên giồng, tên đồn, tên sông, tên rạch và cả tên cù lao (Năm Thôn) đối diện với lưu vực rạch Trà Tân ở bắc sông Tiền.

2. Chúng tôi suy đoán rằng từ «Trà Luật» (hay «Tà Luật» chắc hẳn bắt nguồn từ một địa danh Khmer và được phiên âm là «Trà Luật» (âm Hán — Việt) trong các thư tịch xưa; và cho đến trước chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút thì «Trà Luật» đã trở thành một địa danh thông dụng ở địa phương.

Trong dân gian, từ «Trà Luật» được phát âm theo giọng địa phương Nam Bộ là «Trà Luột». Đến cuối thế kỷ XIX, các tác giả người Pháp (và có khi cả người Việt) lại căn cứ vào cách phát âm theo giọng địa phương, chép là «Trà Luộc» hay «Trà Luột» (Cuốn Đặc khảo về tỉnh Mỹ Tho là một ví dụ). Chúng tôi còn nghĩ rằng: ngay cả từ «Trà Suốt» trong Sử ký Đại Nam Việt cũng có thể do từ «Trà Luật» nhưng phiên âm thiếu chính xác(7).

Dần dần về sau, trải qua nhiều thay đổi về đơn vị hành chánh cùng với hàng loạt địa danh được thay đổi (nhất là trong thế kỷ XIX), tên «Trà Tân» xuất hiện và ngày một phổ biến hơn, thay thế dần cho tên «Trà Luật», rõ nhất là đối với con rạch (Trà Tân) và cù lao (Trà Tân).


(1) Sử quán triều Nguyễn — Đại Nam nhất thống chí — Lục tỉnh Nam Việt, Tập trung — Văn Hóa tùng thư, số 53, Sài Gòn, 1973, tr.13 (Bản dịch của Nguyễn Tạo).
(2) Đại Nam nhất thống chí — Sách đã dẫn, tr. 13, 18.
(3) Gia Định thành thông chí — Sách đã dẫn, Tập trung, tr. 51.
(4) Gia Định thành thông chí — Sách đã dẫn, Tập trung, tr. 61.
(5) Đại Nam nhất thống chí — Sách đã dẫn, Tập trung, tr. 13, 18.
(6) — như trên —Tập thượng, tr. 67.
(7) Trong bài «Sông núi miền Nam», tác giả Tân Việt Điểu cũng nhắc đến địa danh «Trà Luật» ở đoạn sau: «Trong vùng này [Bến Tre, Mỹ Tho] cũng có rất nhiều địa danh mang tên Trà, như Trà Bang, Trà Co, Trà Cú, Trà Cuông, Trà Kha, Trà Khứa, Trà Lồng, Trà Luật, Trà Lẹt, Trà Lịch, Trà Kiết, Trà Một, Trà Mòi, Trà Mơn, Trà Men, Trà Mẹt, Trà Nha, Trà Niên, Trà Quýt, Trà Quới v.v…» (Văn hóa nguyệt san, số 82, tháng 8, 1958, tr.798).


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Hai, 2022, 09:15:58 am
Địa danh «Trà Luật» (hay «Trà Luộc») chỉ còn lại dấu vết mờ nhạt ở một chi lưu phía tả ngạn của rạch Trà Tân, ở tên «chợ Trà Luộc» mà từ cuối thế kỷ XIX người ta đã quen gọi là «chợ Mỹ Quới Tây», càng mờ nhạt hơn ở cù lao Năm Thôn vốn được mang nhiều tên khác nhau (Trà Tân, Kiến Lợi, Ngũ Hiệp); và cho đến ngày nay, ngay cả nhân dân địa phương cũng không mấy người còn nhớ rằng cù lao Trà Tân đã từng có một thời mang tên «cù lao Trà Luật» (hay Trà Luộc), nếu không có đoạn ghi chép rất đáng quý của tác giả cuốn Đặc khảo… công bố năm 1902 mà chúng tôi đã trích dẫn nhiều đoạn ở các phần trên.

Vậy thì không còn nghi ngờ gì nữa, địa danh «Trà Luật» (hay Tà Luật) liên quan đến chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút được ghi chép trong các bộ sử của triều Nguyễn cũng như trong một vài tài liệu khác (Mạc thị gia phả, Bức thư nôm của Nguyễn Ánh gửi giáo sĩ Liot) chính là Trà Tân ngày nay. Trong lúc đó, địa danh «Trà Lọt» chỉ gắn với tên một con rạch (rạch Trà Lọt), lại ở cách khu vực Trà Tân khá xa(1).

3. Xác định rằng «Trà Luật» là Trà Tân (mà không phải Trà Lọt), chúng ta thấy có những chỗ phù hợp với địa lý — lịch sử, cũng phù hợp với diễn biến của chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút:

Thứ nhất, Trà Tân (tức Trà Luật) là một trong những khu vực mà các chúa Nguyễn đã sớm xây dựng làm nơi đứng chân trên đồng bằng sông Cửu Long, cũng là nơi Tân Chính Vương lui quân về đóng giữ khi Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ kéo vào đánh tan đạo quân của Lý Tài năm 1777 (tức 8 năm trước khi diễn ra chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút). Sang thế kỷ XIX (nhất là vào nửa sau thế kỷ này), hai lưu vực rạch Trà Tân và rạch Ba Rài(2) đã trở thành «những vùng đất rất phì nhiêu, những trung tâm dân cư đông đúc, nhà cửa san sát dọc theo các bờ rạch…»(3).

Thứ hai, vùng Trà Tân có nhiều sông rạch ở bờ bắc sông Tiền, có một hệ thống cù lao lớn nhỏ nối tiếp từ cuối cù lao Tân Phong đến cuối cù lao Năm Thôn, thuận tiện cho việc tập trung hàng vạn quân lính — kể cả trên hai bờ sông Tiền, cả trên các cù lao giữa dòng sông — cũng tiện cho việc bố trí, di động của hàng mấy trăm chiến thuyền(4). Tác giả Mạc thị gia phả đã phản ánh thực tế này: «Quân của vua [Nguyễn Ánh] thì cứ theo bãi sông đón đồn, còn quân Xiêm đến đổ bộ lên bờ cố thủ, chiến thuyền dàn theo bờ sông làm thế ỷ giốc»(5). Bãi sông ở đây là chỉ các cù lao trên sông. Ví như Đại Nam nhất thống chí khi chép «bãi Kiến Lợi» (Kiến Lợi Châu) tức là nói về cù lao Kiến Lợi.

Những thuận lợi ở vùng Trà Tân như trình bày ở trên lại thiếu hoặc không có ở Trà Lọt. Đành rằng quân Xiêm — Nguyễn Ánh rất có thể đóng quân rải rác đến tận Trà Lọt, nghĩa là trên chiều dài 20 — 30km từ Trà Lọt đến Trà Tân, nhưng điểm tập kết chủ yếu của chúng, kể cả đại bản doanh, có lẽ phải nằm trong khu vực Trà Tân thì mới hợp lý hơn.

Cũng có thể có người nghĩ rằng: vậy thì trận địa mai phục mà Nguyễn Huệ đã chọn ở khúc sông Tiền giữa Rạch Gầm và Xoài Mút liệu có quá gần với địa điểm tập trung của mấy vạn quân Xiêm — Nguyễn Ánh không? Nhất là những đội thuyền của Tây Sơn làm nhiệm vụ khiên chiến, nghi binh hoặc ngăn chặn ở phía tây rạch Rau Răm lại càng gần những điểm đóng quân địch ở Trà Tân thì làm sao có thể giữ được bí mật, nếu không muốn nói là mạo hiểm!

Để giải đáp băn khoăn này, phải có những tri thức về quân sự, nhất là những kết quả nghiên cứu sâu sắc về kinh nghiệm, mưu mẹo đánh giặc hết sức thông minh, linh hoạt, phong phú, táo bạo, bất ngờ của cha ông ta(6). Trong khi chờ đợi ý kiến của những bậc am hiểu hơn, chúng tôi xin phép được giới hạn báo cáo trong việc xác định lại các địa danh «Trà Lọt», «Trà Tân», «Trà Luật»… để khẳng định rằng: «Trà Luật» được nói đến trong chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút không phải là Trà Lọt mà phải ở khu vực Trà Tân ngày nay.


(1) Nếu chúng tôi không lầm thì tên «Trà Lọt» (liên quan đến trận Rạch Gầm — Xoài Mút) xuất hiện lần đầu trong cuốn Lịch sử nội chiến ở Việt Nam từ 1771 đến 1802 của Tạ Đại Chí Trường (Sài Gòn, 1973).
(2) Chúng tôi cũng nhất trí với nhiều tác giả rằng sông Ba Lai được nói tới ở đây chính là rạch Ba Rài.
(3) Đặc khảo về tỉnh Mỹ Tho — Sách đã dẫn, tr. 15.
(4) Theo Trần Văn Tuân, tác giả cuốn Nguyễn triều long hưng sự tích, viết năm Gia Long thứ 18 (1819) thì số quân Xiêm sang xâm lược nước ta năm 1785 là bốn vạn, cũng gần với các thư tịch khác: «Đại tướng Tiếp cùng với thế tử Triệu Tăng và một số lớn võ quan Tiêm được lệnh quản lãnh 4 vạn Tiêm binh sang chỗ hành dinh của Thế tổ…» (Bản dịch của Bùi Đàn, Trung tâm Học liệu xuất bản, Sàigòn, 1968, tr. 9).
(5) Ca Văn Thỉnh — Tạp chí đã dẫn.
(6) Trong bài viết của mình, tác giả Nguyễn Đổng Chi tuy cho rằng «Trà Luật phải là Trà Lọt» nhưng cũng công nhận rằng «quân Xiêm — Nguyễn Ánh lúc ấy đã chiếm đóng đến cù lao Năm Thôn» (Sách đã dẫn, trang 42).


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Hai, 2022, 09:18:24 am
*
*   *

Vừa viết xong báo cáo này thì chúng tôi được ban tổ chức cho tham khảo bài viết của đồng chí Văn Tân, nhan đề «Vấn đề thời điểm và địa điểm của chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút». Về vấn đề «thời điểm» chúng tôi chưa có ý kiến gì khác, nhưng về vấn đề «địa điểm» thì chúng tôi thực sự phấn khởi, vì «địa điểm» mà đồng chí Văn Tân đề cập và muốn xác định là «Trà Tân», cũng là địa điểm mà chúng tôi băn khoăn nhiều nhất khi tìm hiểu chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút.

Hơn thế, đồng chí Văn Tân đã xác định «Trà Tân» và «Trà Luật» chỉ là một, cũng thống nhất với suy nghĩ của chúng tôi, như đã trình bày trong báo cáo này. Chúng tôi chỉ xin phép trao đổi thêm với đồng chí Văn Tân khi đồng chí giải thích tại sao «Trà Tân» lại là «Trà Luật».

Theo đồng chí Văn Tân, Mạc thị gia phả không hề nói đến «Trà Tân» mà chỉ nói đến «Trà Luật» còn Gia Định thành thông chí thì không nói đến «Tà Luật» mà nói «Trà Tân».

Và đồng chí Văn Tân giải thích rằng: «Mạc thị gia phả là sách chép tay được bắt đầu viết ra từ sau trận Rạch Gầm — Xoài Mút. Mạc thị gia phả có trước Gia Định thành thông chíĐại Nam thực lục chính biên, đệ nhất kỷ. Mạc thị gia phả là sách chép tay, khi làm xong, nó được nhiều người sao chép lại, nhất là ở miền Nam. Người chép sách do vô ý hoặc cẩu thả viết lầm chữ 津 tân ra chữ 律 luật. Hai chữ này về bên phải đều có chữ 聿 (duật) cho nên dễ lầm chữ nọ ra chữ kia. Chữ 斜 tà bộ phận bên trái 余 rất giống chữ 茶 trà, cho nên Trà Tân 茶津 mới viết lầm ra Tà Luật 斜律 hoặc Trà Luật 茶律.

Cuối cùng, đồng chí Văn Tân kết luận: «Hồi cuối thế kỷ XVIII và những thập kỷ đùa thế kỷ XIX tại miền đất bây giờ ở tỉnh Tiền Giang không làm gì có địa điểm nào gọi là Tà Luật hay Trà Luật, mà chỉ có Trà Tân chỉ tên đất, Trà Tân chỉ tên cù lao, Trà Tân chỉ tên rạch».

Riêng chúng tôi thì nghĩ khác. Chúng tôi nghĩ rằng trên đất Nam Bộ, nhất là vùng đồng bằng sông Cửu Long, ta gặp rất nhiều địa danh có từ «Trà» mà nguồn gốc của nó thường do từ «Tà» (tiếng khmer có nghĩa là «Ông già» theo cách gọi tôn kính). Vậy thì chữ «Tà» (trong «Tà Luật») không phải do sao chép lầm chữ «Trà» (trong «Trà Tân») mà phải nói ngược lại rằng: chữ «Trà» là phiên âm (theo Hán — Việt), chữ «Tà» (gốc khmer) và cũng có khi vẫn được ghi là «Tà» (nghĩa là vẫn giữ âm gốc khmer). Vì vậy mà có chỗ chép là «Trà Luật», có chỗ chép là «Tà Luật».

Đối với chữ «Luật» cũng vậy. Chúng tôi không nghĩ rằng những người sao chép Mạc thị gia phả đã «viết lầm chữ Tân ra chữ Luật» như ý kiến đồng chí Văn Tân. Theo chúng tôi, chữ «Luật» có lẽ được phiên âm từ một chữ khmer nào đó mà chúng ta chưa xác định được(1).

Cứ giả thiết như đồng chí Văn Tân rằng người xưa sao chép Gia phả họ Mạc có sự lầm lẫn chữ «Tân» ra «Luật», rồi người đọc Gia phả cũng cứ thế mà đọc lầm. Nhưng còn dân gian thì sao? Thời ấy chắc hẳn những người biết chữ để tiếp cận với sách vở, với gia phả không có nhiều, nhưng nhiều thế hệ sinh ra và lớn lên trên quê hương Trà Tân đều biết có một con rạch tên là «rạch Trà Luộc», lại có tên một cù lao là «cù lao Trà Luộc», có cả một tên «chợ Trà Luộc» (tuy đã có tên mới là «chợ Mỹ Quới Tây»).

Và cho đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, dân địa phương vẫn còn quen dùng cả hai địa danh «Trà Luật» và «Trà Tân» với sự phân biệt rõ rệt, như khi nói về «chợ Trà Tân» đã bỏ không họp nữa, và «chợ Trà Luộc» (hay chợ Mỹ Quới Tây) vẫn được tiếp tục nhóm họp, cách chợ Trà Tân mấy cây số. Thực tế rất sinh động này cho đến năm 1902 vẫn còn được tác giả cuốn Đặc khảo… mô tả khá chi tiết.

Trở lại với thư tịch xưa. Theo như đồng chí Văn Tân thì địa danh Trà Tân xuất hiện đầu tiên trong Mạc thị gia phả và về sau người ta đã sao chép lầm thành Tà Luật hay Trà Luật, hay như đồng chí nói quả quyết hơn: «không làm gì có địa điểm nào gọi là Tà Luật hay Trà Luật, mà chỉ có Trà Tân…».

Nhưng chúng tôi lại thấy có từ «Trà Luật» 茶律 được viết rõ nét trong bức thư của Nguyễn Ánh gửi Liot đề ngày 15 tháng Giêng năm Cảnh Hưng thứ 49 (tức ngày 21-2-1978), nghĩa là chỉ 3 năm sau trận Rạch Gầm — Xoài Mút(2).

Vậy thì địa danh «Trà Luật» trong bức thư của Nguyễn Ánh chắc hẳn không phải do sao chép vô ý, cẩu thả địa danh «Trà Tân» trong Mạc thị gia phả, vì một lẽ đơn giản là bức thư của Nguyễn Ánh gửi Liot viết năm 1788, còn Mạc thị gia phả thì ngót 30 năm sau mới được viết xong (tức năm Gia Long thứ 18).

Hướng về ngày kỷ niệm 200 năm chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút với tất cả nhiệt tình, chúng tôi xin mạnh dạn trao đổi như trên, chắc là khó tránh được sai sót, kính mong hội nghị chỉ bảo thêm; vì đúng như đồng chí Văn Tân đã viết trong bài của đồng chí: «Xác định được vị trí của các địa điểm lịch sử liên quan đến chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút không phải là một việc đơn giản».

T.P. Hồ Chí Minh, tháng 6-1984.


(1) Trong bài «Danh từ Miên được người Việt dùng», tác giả Lê Hương dựa theo tài liệu của Trương Vĩnh Ký, đã ghi rõ «Cù lao Trà Luộc» là phiên âm từ tiếng Khmer «Koh Tà Lok» (Koh: cù lao; Ta Lok: ông Lok) (Văn hóa nguyệt san, số 1, 1973, tr.88).
(2) Ảnh chụp nguyên văn bức thư nằm trong bài «Les Francais au service de Gia Long» của L. Cadière, đăng trong Bulletin des Amis du Vieux Huê, No 1, Janv — Fesvr, 1926, p. 42.
Khi dịch bức thư ra tiếng Pháp, L. Cadière ghi đúng âm Hán — Việt là «Trà Luật» mà không ghi là «Trà Lọt» như trong cuốn sách đã dẫn của Tạ Đại Chí Trường.
Còn Tạ Đại Chí Trường đã táo bạo chuyển «Trà Luật» trong nguyên văn bức thư thành «Trà Lọt» và giải thích một cách mơ hồ như sau: «Cùng trong tỉnh Định Tường có hai con rạch Trà Tân và Trà Lọt mà các sử quan hình như cũng không phân biệt rõ ràng. Họ nói nhiều đến Trà Tân và chỉ một lần Trà Lọt nhưng lại đúng vào một sự kiện xảy ra. Biết rằng chữ «tân» có thể lẫn với chữ «luật», ta dựa vào chữ «Trà Luật» nơi bức thư nôm của Nguyễn Ánh mà xác định một chuyện ở một con rạch chảy từ Mỹ Lợi (Đồng Tháp) ra Tiền Giang qua chợ Cái Nưa (ý nói rạch Trà Lọt), tuy không biết rõ là sự việc xảy ra ở vào khúc nào» (!) (Sách đã dẫn, tr.31 và 378).
Tạ Đại Chí Trường có thể «dựa vào chữ Trà Luật nơi bức thư nôm của Nguyễn Ánh» khi muốn xác định một địa điểm nào đó trên thực địa theo cách hiểu của tác giả, và đó là quyền của người nghiên cứu.
Nhưng muốn cho phù hợp với giả thiết của mình, Tạ Đại Chí Trường tùy tiện phiên âm «Trà Luật» trong bản nôm thành «Trà Lọt» (!) thì tác giả đã vượt qua nhiệm vụ của người nghiên cứu, không trung thành với bản gốc, nếu không muốn nói là vô tình hay hữu ý xuyên tạc bản gốc.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Hai, 2022, 09:29:35 am
MỘT BỨC THƯ NÔM CỦA NGUYỄN ÁNH
TRONG ĐÓ CÓ NÓI ĐẾN ĐỊA DANH TRÀ LUẬT

                                                                                                                           
Chụp lại trong B.A.V.H. 1926
Bài của L. Cadière)

(https://i.imgur.com/XSGoxDt.jpg)

(https://i.imgur.com/a13UTXU.jpg)

LỜI DỊCH BỨC THƯ NÔM CỦA NGUYỄN ÁNH

An Nam Quốc Vương

Tờ vu

Cai trương thượng sư Nha-cô-bê ngọc hiên nhiệm chiếu: Từ ta đề binh phá Tây đồ thì bộ binh đã thâu phục Gia Định phủ các xứ, còn thủy binh nó thì trụ Mỹ Tho cùng Bến Nghé thắng phụ vị phân. Như thủy binh ta thì ắt còn trụ Trà Luật hàng ngày trông tin đức Bá Đa Lộc thượng sư cùng con ta tiêu tức dường nào. Qua tháng mười một thấy Đội Dung tựu bẩm rằng thượng sư có tờ quốc sự sai Đội Dung đệ thử tờ ký bẩm, chẳng ngờ Đội Dung tới vàm Rạch Giá xảy gặp Tây Sơn là Thượng Lý sai nghe thiện hành xứ ấy nên Đội Dung vội bỏ tờ ấy xuống nước mà Đội Dung ngoại bẩm các lý, hư thiệt vị tường. Vả ta hằng lo binh gia không hở, lại chưa đặng người quán tín thượng sư nên chưa sai đệ tín thư, lòng hằng thổn thức. Nay có nội viện thuyền chủ Huấn Đức hầu là tôi tâm trường vả lại gia tư xứ ấy lai khứ tiện thông mới sai đệ tờ trình chiếu. Như đức Bá Đa Lộc cùng con ta viện binh quý quốc đã tru xứ nào, khá tờ cho ta tường hiểu. Lại như tờ ấy thì sai cai đội Thọ đệ tựu bẩm văn cho tường để sự, vật sai tha nhân liệu sự bất thành. Tri ý. Nay tờ.

Cảnh Hưng năm thứ bốn chín, tháng giêng, ngày 15 (21-02-1788).

Minh Mạng năm thứ tám, tháng năm, ngày 25, sao theo bản cũ (dấu Tả quân).


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Hai, 2022, 08:15:34 am
VẤN ĐỀ THỜI ĐIỂM VÀ ĐỊA ĐIỂM
CỦA CHIẾN THẮNG RẠCH GẦM — XOÀI MÚT

Giáo sư VĂN TÂN

Năm Giáp Thìn, Nguyễn Huệ đã cả phá trong một trận đánh năm mươi ngàn quân Xiêm và ba trăm chiến thuyền, cùng quân bản bộ của Nguyễn Ánh ở Rạch Gầm — Xoài Mút.

Thời điểm và địa điểm của trận chiến thắng lịch sử vĩ đại này là một vấn đề mà giới sử học Việt Nam chưa có tài liệu để giải quyết dứt khoát.

Năm Giáp Thìn, Nguyễn Huệ đưa quân Thủy đến Sài Gòn vào ngày nào để đánh quân Xiêm xâm lược và quân bản bộ của Nguyễn Ánh trên sông Mỹ Tho? Trận cả phá quân Xiêm và quân Nguyễn Ánh xảy ra vào ngày nào tháng 12 năm Giáp Thìn? Quân bản bộ của Nguyễn Ánh tham chiến với quân Xiêm chống quân Tây Sơn như một kẻ dẫn đường hay là một lực lượng tiền phương xung kích? Trước ngày quân Xiêm và quân bản bộ của Nguyễn Ánh bị đánh bại Trà Tân là căn cứ thủy bộ quan trọng nhất của chúng, vậy trên bản đồ hiện đại, Trà Tân cụ thể là địa điểm nào?

Muốn giải đáp những câu hỏi nói trên, trước hết, chúng ta phải có trong tay những tài liệu cần thiết.

Về chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút, hiện nay chúng ta có bốn nguồn tài liệu có thể sử dụng được ở những mức độ khác nhau:

Nguồn tài liệu thứ nhất là Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ của quốc sử quán nhà Nguyễn do Trương Đăng Quế, Vũ Xuân Cẩn, Hà Duy Phiên, Đỗ Quang, Phạm Hữu Nghị, Tô Trân, Trần Trứ biên soạn xong tháng 12 năm Mậu Thân, tức năm Tự Đức thứ nhất (1848).

Đại Nam thực lục là bộ quốc sử chính thức của triều Nguyễn. Quan điểm của bộ sử này là quan điểm của nhà Nguyễn: quan điểm phản động, cổ hủ, chỉ ca công tụng đức của nhà Nguyễn, cố ý bóp méo sự thật lịch sử, bôi nhọ những người không chịu cúi đầu để theo nhà Nguyễn. Những nhân vật lãnh đạo phong trào Tây Sơn, đứng đầu là Nguyễn Huệ đã làm được những việc có ích cho nước, có lợi cho dân. Trong vòng có bốn năm trời, Nguyễn Huệ đã hai lần chiến thắng ngoại xâm, bảo vệ được độc lập dân tộc. Nhưng đối với vua nhà Nguyễn như Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức thì đó chỉ là những kẻ hèn mạt, đáng nguyền rủa và cần phải giết cho kỳ không còn một người nào. Chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút oanh liệt là thế, vậy mà Đại Nam thực lục, chỉ nói rất lờ mờ khiến cho người đọc không thể nào hình dung nổi Nguyễn Huệ làm thế nào trong một trận đại phá năm vạn quân giặc và ba trăm chiến thuyền của chúng. Đọc Đại Nam thực lục, chúng ta chỉ được mấy giòng mơ hồ vắn tắt như sau: «Tháng 12, giặc Tây Sơn Nguyễn Văn Nhạc nghe tin quân giặc cáo cấp, thì sai Nguyễn Văn Huệ đem binh thuyền vào cứu Sài Gòn. Huệ đến đánh mấy trận không được, muốn đem quân về. Có tên phản thần là Lê Xuân Giác bày kế cho Huệ đem hết quân mạnh mai phục ở Rạch Gầm và ở sông Xoài Mút (thuộc tỉnh Định Tường) rồi dụ quân Xiêm lại đánh. Tướng Xiêm là Chiêu Tăng và Chiêu Sương không hiểu địa thế khó dễ ra sao, cậy mình thắng luôn bèn dẫn quân đến thẳng Mỹ Tho, cuối cùng bị phục binh của giặc thủy bộ hai mặt áp đánh, Chiêu Tăng và Chiêu Sương thua to bỏ chạy, chỉ thu được vài ngàn tàn tốt do đường núi Chân Lạp mà chạy về». (Sách đã dẫn, tập II, trang 57).

Trận Rạch Gầm — Xoài Mút đã được bàn bạc trước giữa Chiêu Tăng và Nguyễn Ánh, chính Chiêu Tăng đã sai Nguyễn Ánh mang quân bản bộ đi tiên phong, còn đại đội thuyền chiến Xiêm do Chiêu Tăng chỉ huy tiến theo sau.

Sự thật lịch sử này, trong Mạc thị gia phả, Võ Thế Dinh có nói đến, nhưng các nhà biên soạn Đại Nam thực lục đã cố ý bỏ qua, không nói đến.

Do chỉ biết ca tụng công đức nhà Nguyễn nên Đại Nam thực lục cũng không nói đến thái độ bi quan, thất bại của Nguyễn Ánh ngay cả khi y mới dẫn quân Xiêm vào Gia Định và chưa giao chiến với quân Tây Sơn một trận nào. Trong Mạc thị gia phả, Võ Thế Dinh cho biết khi sắp xảy ra trận Rạch Gầm — Xoài Mút, Nguyễn Ánh đã sai «tham tướng (chỉ Mạc Tử Sinh) sớm trở về giữ Trấn Giang để nếu có sự bất trắc xảy ra thì còn con đường sống».

Nhưng, đối với những vấn đề không có liên quan trực tiếp với uy tín của Nhà Nguyễn thì Đại Nam thực lục phản ánh được một phần sự thật của lịch sử, như ở trang 56, các nhà làm sử đã viết như sau: «Tháng 11 (năm Giáp Thìn) lấy Lê Văn Quân làm khâm sai tổng nhung chưởng cơ, Quân đổng lãnh đại quân đi đánh giặc tiến đánh thắng được hai đồn Ba Lai và Trà Tân».


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Hai, 2022, 08:17:41 am
Chính nhờ có mấy dòng này mà chúng tôi biết rằng Trà Tân là một địa điểm có thật trên bản đồ xứ Gia Định hồi cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX.

Như thế có nghĩa là trong Đại Nam thực lục là một bộ sách sử dày đến mấy ngàn trang, khi sử dụng, chúng ta phải thận trọng phải cân nhắc, phải chọn lọc.

Nguồn tài liệu thứ hai giúp chúng ta nghiên cứu chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút là cuốn Mạc thị gia phả của Võ Thế Dinh (tức Võ Thận Vi). Tác giả Mạc thị gia phả là cai đội một chức võ quan của chúa Nguyễn) đã theo Nguyễn Ánh lâu năm, đã tham dự nhiều trận đánh chống Tây Sơn và được Nguyễn Ánh phong cho tước Doanh Đức Hầu, cho nên khi xưng hô, người ta tôn xưng là Doanh hoặc Dinh.

Trong Mạc thị gia phả Võ Thế Doanh cho biết, sau trận đại bại ở Rạch Gầm — Xoài Mút, chúa Nguyễn Ánh đã sai Võ Thế Dinh nghiên cứu các sổ nhật ký của tham tướng Mạc Tử Sinh, trấn thủ trấn Hà Tiên của Nguyễn Ánh để ghi chép các sự kiện xảy ra như việc Chiêu Tăng tàn bạo để mất lòng người, cho nên mới bị quân Tây Sơn đánh cho đại bại.

Võ Thế Dinh đã ghi chép các sự kiện và viết thành cuốn Mạc thị gia phả. Võ Thế Dinh bắt đầu biên soạn Mạc thị gia phả từ năm 1785, tức sau khi quân Xiêm đại bại ở Rạch Gầm — Xoài Mút, đến ngày 19 tháng 6 năm Nhâm Dần, tức năm Gia Long thứ 17(1818) thì việc biên soạn hoàn thành. Mạc thị gia phả có 47 tờ tức 94 trang.

Quan điểm và lập trường của Vũ Thế Dinh là quan điểm và lập trường của một phần tử tận trung với Gia Long và được Gia Long tin cẩn. Nhưng Võ Thế Dinh là một cai đội hầu như luôn luôn ở bên cạnh Gia Long, đã dự nhiều trận đánh chống Tây Sơn. Cho nên qua Mạc thị gia phả chúng ta biết được nhiều sự kiện rất cụ thể không hề nói đến trong Đại Nam thực lục của Quốc sử quán hay ở trong Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức hoặc trong các thư từ của các giáo sỹ phương Tây.

Đặc biệt là thời điểm chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút. Mạc thị gia phả cho chúng ta những chi tiết rất quý.

Sau khi quân Xiêm vào Gia Định, chúng ra sức cướp bóc và giết hại nhân dân Việt Nam. Chính vua Xiêm cũng nhận rằng quân Xiêm cướp nhiều của cải và bắt nhiều con gái đem về nước. Nguyễn Ánh cũng chán ngán quân Xiêm và tỏ ra không còn tin tưởng gì vào quân Xiêm nữa. Qua Mạc thị gia phả, chúng ta thấy tâm trạng buồn nản của Nguyễn Ánh, Chiêu Tăng cũng biết thế cho nên y đã nói với Nguyễn Ánh:

— «Quốc vương đừng nghi ngờ. Giặc (Tây Sơn) đang tin tôi, chúng không phòng bị phải thừa thế mà phá chúng».

Rồi Chiêu Tăng hẹn với Nguyễn Ánh là đêm hôm 9 tháng 1 (năm Giáp Thìn) sẽ mở đầu cuộc đại tấn công vào quân Tây Sơn.

Như thế là kẻ chủ động mở cuộc tấn công vào đêm hôm 9 tháng 12 chính là Chiêu Tăng. Chính Chiêu Tăng đã bàn với Nguyễn Ánh như thế.

Chiêu Tăng cho rằng đó là một đòn bất ngờ và chí tử đối với quân Tây Sơn vì «Nguyễn Huệ tin y». Nhưng điều Chiêu Tăng không lường được là Nguyễn Huệ đã biết hết ý đồ của y. Vì hàng ngày trước đêm hôm 9 tháng 12 quân Xiêm và quân Tây Sơn vẫn đi lại chơi bời với nhau và mỗi khi ra về quân Xiêm đều được quân Tây Sơn tặng quà rất hậu. Nhờ vậy Nguyễn Huệ biết Chiêu Tăng làm gì và bao giờ thì làm.

Sau khi hẹn với Nguyễn Ánh ngày giờ mở cuộc tấn công, Chiêu Tăng ra lệnh cho Nguyễn Ánh:

— «Quốc vương dẫn ngự binh xông vào phá các thuyền của giặc còn tôi sẽ cùng các tướng bản bộ mang các thuyền lớn nhỏ xông vào phá thuyền giặc ở ngang sông thì sẽ giành được toàn thắng».

Qua cách trình bày của Võ Thế Dinh trong Mạc thị gia phả, ta thấy Nguyễn Ánh đã tuân lệnh Chiêu Tăng: y tự nguyện làm tiên phong đi trước, mở đường cho quân Xiêm tiến theo sau.

Nguyễn Huệ biết rằng quân Xiêm sẽ xuôi dòng sông đến Mỹ Tho đánh quân Tây Sơn và đoàn thuyền chiến đang dàn ngang sông Mỹ Tho. Cho nên, ông bố trí trận phục kích ở Rạch Gầm — Xoài Mút rồi đêm hôm 9 tháng 12 ông cho một đoàn thuyền chiến nhẹ đến khiêu chiến quân Xiêm và quân của Nguyễn Ánh ở căn cứ của chúng tại Trà Tân, để nhử chúng vào trận địa phục kích của mình, rồi tung quân thủy, quân bộ từ tất cả các phía xông vào đánh phá và tiêu diệt chúng.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Hai, 2022, 08:18:35 am
Vào khoảng canh năm đêm hôm 9 tháng 12, quân Xiêm và quân của Nguyễn Ánh đã chuẩn bị xong xuôi và chỉ còn chờ lệnh là xuất phát thì chúng thấy quân Tây Sơn ngược dòng sông Mỹ Tho đến thách thức, chửi bới chúng. Tức thì Chiêu Tăng ra lệnh cho quân đội của y và quân của Nguyễn Ánh mở cuộc tấn công.

Từ sau ngày vào Kiên Giang, quân Xiêm và quân của Nguyễn Ánh chiếm Trấn Giang, Sa Đéc, Long Hồ, Mân Thít, Ba Lai, Trà Tân, liên tiếp đi từ thắng lợi nọ đến thắng lợi kia. Canh năm hôm 9 tháng 12, chúng cho rằng chúng sẽ thắng lợi như chúng đã thắng lợi trong vài tháng trước.

Lúc quân Xiêm mở cuộc tấn công thì thuyền chiến Tây Sơn quay mũi chạy về phía Mỹ Tho. Nước triều ở Cửa Đại, Cửa Tiểu đang xuống mạnh. Thuyền chiến của Tây Sơn cũng như thuyền chiến của giặc xuôi dòng sông với một tốc độ rất nhanh. Chỉ khoảng độ hơn nửa giờ, đoàn thuyền giặc đã lọt vào trận địa phục kích. Mấy ngàn quân bản bộ của Nguyễn Ánh bị bắn chết hoặc bị đốt chết, bị bắt sống hầu như không còn một mống. Đại Nam thực lục cho biết khi Nguyễn Ánh bại trận phải chạy về Trấn Giang «bầy tôi theo hầu chỉ có hộ bộ Trần Phúc Giai, Cai cơ Nguyễn Văn Bình, thái giám Lê Văn Duyệt hơn mười người mà thôi».

Rõ ràng là trong trận Rạch Gầm — Xoài Mút, mấy ngàn quân bản bộ của Nguyễn Ánh đã bị tiêu diệt hoàn toàn, khi chúng về Trấn Giang Nguyễn Ánh chỉ còn lại ở sau lưng mấy người hầu cận!

Ở Rạch Gầm — Xoài Mút, quân Xiêm bị tiêu diệt bao nhiêu?

Khi tiến vào Gia Định, quân Xiêm chia làm hai đạo; đạo bộ binh có 3 vạn do Chiêu Thùy Biện chỉ huy từ Chân Lạp tiến vào, còn bọn thủy binh do Chiêu Tăng và Chiêu Sương điều khiển có chừng 2 vạn đã qua Kiên Giang vào cướp Gia Định. Theo Võ Thế Dinh trong Mạc thị gia phả, tổng số quân Xiêm xâm lược Gia Định năm 1784 có đến 5 vạn. Trong khi trận đánh đang diễn ra, Chiêu Tăng và Chiêu Sương cùng 2 ngàn tàn quân liều chết đổ bộ lên bờ Bắc sông Mỹ Tho rồi mở một đường máu chạy trốn về Châu Lạp để về nước. Ngoài ra còn một số binh sĩ Xiêm bị đánh bật ra khỏi hàng ngũ, bọn này tốp năm, tốp ba chạy tỏa ra các ngã, cuối cùng, chúng cướp được thuyền của dân rồi theo đường thủy trở về nước.

Như thế là trong trận Rạch Gầm — Xoài Mút Nguyễn Huệ đã tiêu diệt đến năm vạn hoặc gần năm vạn quân địch.

Chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút quả là một trận tiêu diệt chiến kinh khủng làm khiếp đảm quân địch đến nỗi quân Xiêm sợ quân Tây Sơn như cọp, như Đại Nam thực lục đã viết.

Đó là trận tiêu diệt chiến đầu tiên của Nguyễn Huệ. Trận tiêu diệt chiến lớn thứ hai là trận đánh quân Thanh ở đồn Ngọc Hồi vào sáng sớm ngày 5 tháng giêng năm Kỷ Dậu (1789). Cuối năm Mậu Thân, khi làm lễ thệ sư ở Thọ Hạc (thị xã Thanh Hóa bây giờ), Nguyễn Huệ đã biết trước sẽ có trận tiêu diệt chiến lớn thứ hai trong lời tuyên bố trước ba quân: «Phàm chư quân, ai muốn đánh giặc hãy vì ta mà giết cho hết quân giặc, ai không muốn đánh giặc hãy xem ta đánh một trận giết dăm vạn quân giặc, đó không phải là chuyện hiếm lạ lắm đâu».

Sáng ngày 5 tháng giêng năm Kỷ Dậu, quả nhiên quân Tây Sơn do đích thân vua Quang Trung chỉ huy đã tiêu diệt trong một trận năm vạn quân Thanh ở Ngọc Hồi.

Trận Rạch Gầm — Xoài Mút, nếu như nó mở đầu hồi canh năm ngày 9 tháng 12 thì khi diễn biến và kết thúc, nó lại diễn biến và kết thúc vào ngày 10 tháng 12.

Theo cách tính giờ khắc của ta thời trước, một ngày gồm có 6 khắc của ngày và 5 canh của đêm. Cho nên ta vẫn nói đêm năm canh ngày sáu khắc. Thời trước, ngày của ta bắt đầu từ lúc hết canh năm đến lúc cuối cùng của canh năm sau, tức bắt đầu từ tờ mờ sáng trước đến tờ mờ sáng sau. Ngày nay, cách tính giờ khắc không như trước nữa, ngày bắt đầu từ lúc không giờ đến giây phút cuối cùng của giờ thứ 24.

Nếu tính như thế, chúng ta thấy ngày 10 tháng 12 năm Giáp Thìn cũng tức ngày 20 tháng 1 năm 1785, là ngày chiến thắng lịch sử Rạch Gầm — Xoài Mút đã chôn vùi năm vạn quân Xiêm và quân của Nguyễn Ánh.

Trong «Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc» mà tác giả là các đồng chí Phan Huy Lê, Bùi Đăng Dũng, Phan Đại Doãn, Phạm Thị Tâm, Trần Bá Chi, có nói đến bức thư của Nguyễn Ánh gửi giáo sỹ J.Liot đề ngày 15 tháng chạp năm Cảnh Hưng thứ 45 (25-1-1785) «lại nói: ngày mùng 8 tháng chạp (18-1-17850 chúng tôi vừa bị thua trận» (L. Cadière — Les Francais aux services de Gia Long(1) — Bulletin des amis du vieux Huế).


(1) Những người Pháp phục vụ Gia Long.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Hai, 2022, 08:19:25 am
Nguyễn Ánh đã dự trận Rạch Gầm — Xoài Mút cùng với quân Xiêm, nếu quả y nói rằng trận đánh xảy ra vào ngày 8 tháng 12 năm Giáp Thìn thì trận Rạch Gầm — Xoài Mút đã xảy ra vào ngày 18 tháng 1 năm 1785 còn gì nữa!

Chúng ta cần nhớ rằng, chúng ta chỉ biết có bức thư của Nguyễn Ánh gửi J. Liot do Tập san những người bạn của thành cổ Huế cho biết.

Mạc thị gia phả do Nguyễn Ánh sai Vũ Thế Dinh viết. Trong Mạc thị gia phả, Võ Thế Dinh tỏ ra rất thận trọng về vấn đề thời điểm. Về Chu Văn Tiếp, Vũ Thế Dinh viết rõ rằng Văn Tiếp bị thương nặng trong một trận thủy chiến với quân Tây Sơn và đã chết vào ngày 10 tháng 10 năm Giáp Thìn, sau khi được đem về doanh trại.

Trong Mạc thị gia phả, hai lần trong một trang sách, lần thứ hai cách lần thứ nhất 83 chữ, Võ Thế Dinh nói đến thời điểm trận Rạch Gầm — Xoài Mút: ngày 9 tháng 12 năm Giáp Thìn.

Sự sai lầm về thời điểm nếu có, không thể do từ phía Võ Thế Dinh, một người cẩn thận đến mức để ra một thời gian dài đến 34 năm để viết Mạc thị gia phả, một cuốn sách chỉ có tất cả 47 tờ tức 94 trang.

Năm Giáp Thìn, Nguyễn Huệ đến Mỹ Tho hoặc Rạch Gầm — Xoài Mút vào ngày nào tháng 12 năm Giáp Thìn?

Về vấn đề này, Đại Nam thực lục viết như sau: «Tháng 12, giặc Tây Sơn Nguyễn Văn Nhạc nghe tin quân giặc cứu cấp, tức thì sai Nguyễn Văn Huệ đem binh thuyền vào cứu Sài Gòn. Huệ đến đánh vài trận không được, muốn đem quân về. Có tên phản thần là Lê Xuân Giác bày kế cho Huệ đem hết quân mạnh mai phục ở Rạch Gầm — Xoài Mút rồi dụ quân Xiêm lại đánh».

Nếu như trận Rạch Gầm — Xoài Mút xảy ra vào đêm hôm 9 rạng ngày 10 tháng 12 năm Giáp Thìn như đã trình bày ở trên, thì cái ngày mà Nguyễn Huệ vào Sài Gòn dứt khoát không thể là một ngày nào đó của tháng 12 được.

Năm Giáp Thìn, khi Nguyễn Huệ vào Sài Gòn, rất nhiều việc quan trọng đang chờ ông, và đòi ông phải làm việc ngay để khỏi bỏ lỡ mất thời cơ. Đó là những việc như sau:

1 — Nghe báo cáo đầy đủ về tình hình quân giặc cùng các ý đồ của chúng.

2 — Nghe báo cáo đầy đủ về tình hình quân Tây Sơn đang đóng ở những đất chưa bị chiếm cứ ở Gia Định, nhất là ở ba tỉnh miền Đông.

3 — Nghe báo cáo về thái độ của nhân dân Gia Định đối với quân Xiêm và quân của Nguyễn Ánh có mâu thuẫn gì có thể khai thác được.

4 — Đánh mấy trận để thăm dò lực lượng địch, xem ý chí chiến đấu của địch cụ thể ra sao.

5 — Tổ chức người sang doanh trại quân Xiêm đề nghị giảng hòa với Chiêu Tăng, nhằm gieo nghi ngờ với bọn Nguyễn Ánh và nhằm làm cho quân Xiêm vốn đang chủ quan khinh địch lại càng thêm chủ quan khinh địch.

6 — Vạch chiến lược và chiến thuật tiêu diệt quân địch.

7 — Bố trí lực lượng để thực hiện chiến lược và chiến thuật vạch ra.

Muốn làm tốt các việc trên, Nguyễn Huệ phải có ít nhất 10 ngày. Như thế, Nguyễn Huệ phải đến Sài Gòn muộn nhất là vào khoảng những ngày cuối cùng của tháng 11 năm Giáp Thìn, tức đầu tháng 1 năm 1785.

Sau khi vào Sài Gòn, Nguyễn Huệ đến tháng Mỹ Tho. Ông đóng ở Mỹ Tho để chuẩn bị và chỉ huy trận phục kích lớn. Không có sách nào nói ông đến Rạch Gầm — Xoài Mút.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Hai, 2022, 08:20:19 am
Bây giờ chúng ta chuyển sang vấn đề địa điểm. Trước hết cần phải nói rằng, đến thập kỷ 50 của thế kỷ 18, miền đất ngày nay là tỉnh Tiền Giang mới sát nhập vào bản đồ của xứ Đàng Trong. Vua Chân Lạp là Nặc Ông Nguyên đã tự ý dâng đất cho Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát. Từ đấy cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (1975) miền Tiền Giang đã thay đổi tên đất (tên làng, tên xã, tên tổng, tên huyện, tên tỉnh) rất nhiều lần.

Khi về tay Nguyễn Phúc Khoát, đất Tiền Giang mang tên là đạo Trường Đồn. Năm 1779, Nguyễn Ánh đang lúc chống đỡ các đòn đánh của phong trào Tây Sơn đã đổi đạo Trường Đồn ra dinh Trường Đồn, trước ngày quân Xiêm vào xâm lược Gia Định, dinh Trường Đồn lại đổi ra dinh Trấn Định. Năm 1808, dinh Trấn Định lại đổi làm trấn Định Tường. Năm 1832, Minh Mạng đổi trấn Định Tường ra tỉnh Định Tường. Năm 1861, Tự Đức ký hàng ước sỉ nhục, nhường ba tỉnh miền Đông là Biên Hòa, Gia Định, Định Tường cho Páp. Dưới chế độ thuộc địa của Pháp mới xuất hiện tỉnh Mỹ Tho, rồi sau đó nhiều sự thay đổi về làng, xã, tổng đã diễn ra ở Mỹ Tho cũng như ở các tỉnh khác.

Xác định được vị trí các địa điểm lịch sử liên quan đến chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút không phải là một việc giản đơn.

Như trên đã nói: Đại Nam thực lục cho biết tháng 11 năm Giáp Thìn, Lê Văn Quân đã đánh chiếm được Ba Lai và Trà Tân.

Chiêu Tăng, Chiêu Sương và Nguyễn Ánh đóng ở Trà Tân để chỉ huy các trận đánh và chỉ huy các hoạt động chống Tây Sơn ở miền đất sau này là ba tỉnh miền Đông.

Mạc thị gia phả của Võ Thế Dinh không hề nói đến Trà Tân mà chỉ nói đến Tà Luật: «Thượng (chỉ Nguyễn Ánh) đóng ở Tà Luật chia các đạo giữ các nơi quan trọng».

Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức không nói đến Tà Luật mà nói Trà Luật.

Thế thì các đồn của Lê Văn Quân đánh chiếm được của quân Tây Sơn tháng 11 năm Giáp Thìn là Trà Tân hay Tà Luật hay Trà Luật?

Mạc thị gia phả là sách chép tay được bắt đầu viết ra từ sau trận Rạch Gầm — Xoài Mút. Mạc thị gia phả có trước Gia Định thành thông chíĐại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ. Mạc thị gia phả là sách chép tay, khi làm xong, nó được nhiều người sao chép lại, nhất là ở miền Nam. Người chép sách do vô ý hoặc cẩu thả đã viết lầm chữ Tân (津) ra chữ Luật (律). Hai chữ này về bên phải đều có chữ duật (聿) cho nên dễ lầm chữ nọ ra chữ kia. Chữ (斜) bộ phận bên trái (余) rất giống chữ Trà (茶), cho nên Trà Tân (茶津) mới viết lầm ra Tà Luật (斜律).

Trà Tân là một tên đất có thật như Đại Nam thực lục chính biên đệ thất kỷ đã chép. Trà Tân nằm ở bờ Bắc sông Mỹ Tho, bên cạnh một con rạch mang tên rạch Trà Tân. Địa điểm Trà Tân nằm ở bờ phải rạch Trà Tân, bê cạnh cửa rạch đổ vào sông Mỹ Tho. Trước cửa rạch Trà Tân có một cù lao lớn, dài đến 7 — 8 km, nằm án ngữ ở cả rạch, trông như một con cá lớn đang bơi lượn. Cù lao này gọi là cù lao Năm Thôn cũng tức là cù lao Tà Luật theo Mạc thị gia phả hay là cù lao Trà Luật theo Gia Định thành thông chí.

Hồi cuối thế kỷ 18, và những thập kỷ đầu thế kỷ 19, tại miền đất bây giờ là tỉnh Tiền Giang, không làm gì có địa điểm nào gọi là Tà Luật hay Trà Luật, mà chỉ có Trà Tân chỉ tên đất, Trà Tân chỉ tên cù lao, Trà Tân chỉ tên Rạch.

Trong bản đồ của cán bộ ta vẽ và in năm 1957, chỉ có rạch Trà Tân nhưng không có địa điểm Trà Tân.

Xét địa thế sông Mỹ Tho và địa thế rạch Trà Tân thì căn cứ Trà Tân mà Chiêu Tăng và Nguyễn Ánh đóng đại bản doanh khi chuẩn bị đánh Nguyễn Huệ ở Mỹ Tho, phải ở vào một địa điểm ngày nay có tên là Hưng Nhơn hoặc một địa điểm nào gần đó. Hưng Nhơn cách Rạch Gầm khoảng 15 km. Hưng Nhơn hay một địa điểm nào gần ngay đó, nằm ở giữa các địa điểm có tên là Hội Trì, Hội Lễ ở Tây Bắc Hưng Lễ ở Đông Bắc và Hòa An ở phía Nam.

Từ năm 1957 (năm in bản đồ đã nói) đến nay không rõ các tên đất ở tỉnh Tiền Giang còn có sự thay đổi nào nữa hay không. Nhưng, xác định vị trí địa điểm Trà Tân thật không phải việc dễ dàng. Đồng chí Phan Huy Lê và tôi đã mất nhiều thời giờ, nhiều công sức để nghiên cứu các vấn đề do trận Rạch Gầm — Xoài Mút đặt ra, trong đó có vấn đề thời điểm của trận Rạch Gầm — Xoài Mút.

Chúng tôi tự biết các công trình nghiên cứu của chúng tôi chưa giải quyết thỏa đáng tất cả các vấn đề. Nhưng từ Trần Trọng Kim đến nay, công tác nghiên cứu trận Rạch Gầm — Xoài Mút đã tiến những bước rất dài.

Nửa thế kỷ trước đây, khi viết Việt Nam sử lược, Trần Trọng Kim chỉ giành cho sách của ông có 44 chữ để nói về trận Rạch Gầm — Xoài Mút. Đọc ông, người ta không thấy nói đến địa điểm Trà Tân, người ta cũng không biết Rạch Gầm và Xoài Mút nằm ở nơi nào trong tỉnh Mỹ Tho, người ta cũng không biết trận Rạch Gầm — Xoài Mút xảy ra vào ngày nào, tháng nào nữa.

Trong Lịch sử Việt Nam xuất bản năm 1955, nhà sử học Đào Duy Anh cũng chỉ nói sơ qua về trận Rạch Gầm — Xoài Mút bằng mấy giòng vắn tắt như sau: «Nghe tin quân Xiêm hoành hành, Nguyễn Huệ đã trở về Quy Nhơn lại tiến binh vào Gia Định để đánh. Nguyễn Huệ đuổi quân Xiêm đến gần Rạch Gầm và Xoài Mút ở phía Tây Mỹ Tho, rồi đánh một trận giết quân Xiêm chỉ còn vài ngàn người, phải chạy theo đường rừng mà trốn về nước».

Ở những giòng trên, chúng ta cũng không hiểu được trận Rạch Gầm — Xoài Mút xảy ra vào ngày nào, tháng nào và cụ thể ở nơi nào.

Nhưng ngày nay, sau nhiều năm nghiên cứu, chúng ta đã có cơ sở để biết rằng trận Rạch Gầm — Xoài Mút diễn ra và kết thúc vào ngày 10 tháng 12 năm Giáp Thìn, tức ngày 20 tháng 1 năm 1785. Chúng ta lại biết rằng Trà Tân là một vị trí chiến lược nằm ở bờ Bắc sông Mỹ Tho, bên bờ phải một con rạch mang tên Rạch Trà Tân, cách Rạch Gầm chừng 15km về phía Tây. Chúng tôi tin chắc rằng trong một tương lai không xa, chúng ta có thể biết đích xác đến 100% Trà Tân là địa điểm nào nằm ở bờ bắc sông Mỹ Tho, bên cạnh rạch Trà Tân.

Viết xong ngày 1-5-1984


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Hai, 2022, 08:22:21 am
MỘT SỐ KẾT QUẢ KHẢO SÁT MỚI TẠI TIỀN GIANG
VỀ TRẬN RẠCH GẦM — XOÀI MÚT (1785)

TÔN THỊ ĐIỆP
                                                                                                                                   
(Khoa sử — Đại học Tổng Hợp
thành phố Hồ Chí Minh)

Tháng 1 năm 1785, chi trong vòng chưa đầy một ngày, Nguyễn Huệ đã đánh tan gần 5 vạn quân Xiêm và mấy nghìn quân bản bộ của Nguyễn Ánh trên chiến trường sông Mỹ Tho dài khoảng 6 — 7 km. Cuộc chiến thắng dũng cảm và đầy mưu trí này đã là đề tài nghiên cứu có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với nhiều sử gia từ trước đến nay. Tuy nhiên, đứng trên góc độ này hay góc độ nọ, vấn đề được trình bày có khác nhau.

Thí dụ như, xuất phát từ quan điểm đối nghịch với quân Tây Sơn, các sử gia phong kiến nhà Nguyễn đã trình bày sử kiện một cách hời hợt, thiếu khách quan, do đó việc sử dụng các tư liệu này có rất nhiều hạn chế, ngoại trừ tập Mạc thị gia phả của Vũ Thế Dinh có nhiều tư liệu đáng chú ý hơn vì nó căn cứ theo nhật ký của Mạc Tử Sinh, một tham tướng đắc lực của Nguyễn Ánh.

Gần đây, các nhà sử học Mác xít như Ca Văn Thỉnh, Văn Tân, Phan Huy Lê, v.v… cũng đã nghiên cứu rất nhiều xung quanh chiến trận Rạch Gầm — Xoài Mút, và nhìn chung đó là những công trình có giá trị lớn đặt cơ sở cho việc tìm tòi nghiên cứu về sau. Thế nhưng, do tình hình đất nước lúc bấy giờ còn chia cắt, nên các tác giả chỉ dựa trên các nguồn tài liệu thư tịch là chủ yếu, như lời chú thích đầu tiên của chương V: «Chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút» (trích trong «Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc» của Phan Huy Lê, Bùi Đăng Dũng… Nxb. QĐND, HN, 1976) có nêu: «So với những chương khác của tập sách, chương này có một hạn chế lớn về nguồn tư liệu địa phương vì chúng tôi chưa nghiên cứu được…». Dù vậy, cho đến nay chúng tôi vẫn mong đợi các công trình mới của những tác giả này khi có điều kiện khảo sát thực địa để chúng tôi được học tập và tìm hiểu thêm nữa.

Đến năm 1977, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy và Ty Thông tin văn hóa tỉnh Tiền Giang xuất bản quyển «Chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút» trong đó có nhiều luận văn giới thiệu sử liệt thực tế rất phong phú và sinh động.

Năm nay, trong khí thế sôi nổi kỷ niệm 200 năm chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút, với nhiệt tình của người mới làm công tác nghiên cứu, chúng tôi mong mỏi được đóng góp một phần rất nhỏ của mình vào hội nghị, cho dù đó chỉ là những kết quả khảo sát bước đầu nhân chuyến về địa phương ngắn ngày. Số tư liệu thực địa mà chúng tôi sưu tầm được không ngoài hy vọng làm sáng tỏ thêm một vài vấn đề mà các công trình trước chưa có điều kiện kết hợp thực tế để lý giải thỏa đáng. Nhằm giải quyết mục đích yêu cầu đó, chúng tôi mạnh dạn nêu lên những suy nghĩ của mình trong quá trình làm việc. Thực hiện đề tài này, ngoài yêu cầu chuyên môn của nhà sử học, cần thiết phải có trình độ hiểu biết của nhà quân sự học mà khả năng của chúng tôi về cả hai lĩnh vực đều rất hạn chế, do đó chắc chắn bản báo cáo này sẽ còn nhiều thiếu sót. Chúng tôi mong mỏi được sự đóng góp chân tình của hội nghị cho bản báo cáo của chúng tôi càng thêm hoàn chỉnh.

Nhân đây, tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của các đồng chí Nguyễn Khắc Thuần (Khoa Sử — Đại học Tổng Hợp Thành phố Hồ Chí Minh), Nguyễn Phan Quang (Khoa sử — Đại học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh), trong quá trình chúng tôi thực hiện đề tài này.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Hai, 2022, 08:26:41 am
Vấn đề thứ nhất: Về địa điểm đóng đại bản doanh của Nguyễn Huệ.

Một số tác giả hỉ nói đến tên thành Mỹ Tho một cách chung chung mà chưa chỉ định cụ thể vị trí của nó trên bản đồ hiện đại(1). Một số khác cho rằng đồn Mỹ Tho xưa ở hữu ngạn Bảo Định Hà(2). Nhìn chung, cả hai ý kiến trước và sau không mâu thuẫn nhau, mà ý kiến sau chỉ làm rõ ý kiến trước. Theo chúng tôi, đây là vấn đề cần điều tra xác minh thêm.

Về mặt lý luận, thông thường các công trình quân sự đều được hình thành trên cơ sở của cái có trước. Do đó, có khả năng Tây Sơn lợi dụng lị sở cũ của trấn Định Tường để xây dựng đồn Mỹ Tho, nơi đóng đại bản doanh của bộ chỉ huy Tây Sơn. Đồn Mỹ Tho của Tây Sơn chắc chắn phải có vị trí cụ thể vì có liên quan đến lị sở trấn Định Tường, do đó các ý kiến thức nhất theo chúng tôi vẫn chưa thỏa đáng.

Về thực tiễn, chúng tôi thấy khó chấp nhận các ý kiến thứ hai cho rằng vị trí thành Mỹ Tho của Tây Sơn ở hữu ngạn sông Bảo Định. Bởi vì tỉnh lỵ Mỹ Tho hiện nay được xây dựng từ khi Pháp chiếm đóng bên hữu ngạn sông Bảo Định, còn tả ngạn là nơi tập trung đông dân cư và có chợ phố lớn. Lỵ sở trấn Định Tường và thành Mỹ Tho ngày trước không thể đóng ở nơi hẻo lánh, xa rời quần chúng.

Về thư tịch, Trịnh Hoài Đức đã viết: «Năm 1679... tướng Long môn là bọn họ Dương đem binh lính, ghe thuyền chạy vào cửa Xoi Rạp và Đại Tiểu hải khẩu (thuộc trấn Định Tường) rồi lên đồn trú ở tỉnh Mỹ Tho...»(3). Như vậy, từ 1679 Mỹ Tho đã có vị trí như một đồn lũy chứa cả ngàn quân cư ngụ để sản xuất hơn là phòng ngự chiến đấu (tại đây cũng có hình thành Mỹ Tho Đại phố, cùng với Nông Nại Đại phố ở Đồng Nai). Đến năm 1688, trước sự phản bội của phó tướng Hoàng Tiến, Dương Ngạn Địch bị giết chết. Sau đó Hoàng Tiến đưa quân về đóng ở Rạch Nan và cuối cùng bị quân triều đình dụ phục binh ở giữa sông, giết gần hết và phá lũy đồn trại.

Tác giả quyển Gia Định thành thông chí còn cho biết, đời vua Hiển Tôn (1691 —1725), ở phía Bắc chợ có phủ trị lệ thuộc dinh Phiên trấn; đời vua Huệ Tôn (1765 — 1775) đổi làm trường đồn đạo và về sau mới lập dinh trấn... «tùy thời dời đổi hoặc hướng nam hoặc hướng bắc, hoặc đem tới hoặc rút lui, cũng chẳng ngoài địa cuộc ấy, nhưng thành bảo thì chưa đắp»(4). Ở một chỗ khác, ta biết rõ hơn «lỵ sở trấn Định Tường thuộc địa phận thôn Mỹ Chánh, tổng Kiến Thạnh, huyện Kiến Hòa»(5), và lúc bấy giờ «phía nam trị sở là chợ phố lớn Mỹ Tho, nhà ngói cột chạm, đình cao chùa rộng, ghe thuyền ở các ngã sông biển đến đậu đông đúc, làm một đại đô hội rất phồn hoa huyên náo. Từ khi Tây Sơn chiếm cứ, đổi làm chiến trường...»(6). Điều đó cho thấy có sự kế thừa trước và sau giữa đồn của binh sĩ Dương Ngạn Địch với lỵ sở trấn Định Tường và cả đại bản doanh của quân Tây Sơn cũng có quan hệ.

Từ các chi tiết đó, chúng tôi cho rằng theo lẽ thường đại bản doanh của Nguyễn Huệ phải đóng nơi đông dân cư, trù phú và gần nguồn nước. Chỉ huy một đoàn quân khá đông đảo từ xa đến, với trí thông minh tuyệt vời và kinh nghiệm quân sự tích lũy qua nhiều chiến trận lớn lao, nhà quân sự thiên tài Nguyễn Huệ chắc chắn đã tận dụng những ưu thế có sẵn của đồn Mỹ Tho cũ thời Dương Ngạn Địch và là lị sở trấn Định Tường sau này. Đồng thời, quân Tây Sơn cũng cần thiết phải dựa vào dân để tranh thủ sự giúp đỡ về các mặt như tiếp tế lương thực, chỉ dẫn địa hình khu vực, v.v... Chợ phố lớn Mỹ Tho lại ở gần nguồn nước rất thuận tiện cho sinh hoạt của quân Tây Sơn, cũng như dễ cơ động về giao thông và bố trí trận địch mai phục.

Khi về địa phương, chúng tôi được biết, theo sự phân chia hành chánh ngày nay Chợ Phố Lớn có tên Khu Chợ Cũ (để phân biệt với Chợ Mới, tức chợ Mỹ Tho hiện tại), thuộc phường 8 thành phố Mỹ Tho. Thế nhưng ở phường 2 thành phố Mỹ Tho cũng có khóm Mỹ Chánh là bộ phận cấu thành của thôn Mỹ Chánh ở thế kỷ XVIII. Và chúng tôi tạm thời cho rằng nơi đóng đại bản doanh của Nguyễn Huệ nằm trong khu vực Chợ Cũ, tức phường 8 và phường 2 thành phố Mỹ Tho.

Tuy nhiên, để xác định cụ thể hơn, chúng tôi liên hệ thêm trong thư tịch cũ. Theo Trịnh Hoài Đức, trước khi Tây Sơn đến ở đây (Mỹ Tho) chưa có thành bảo. Về vấn đề này, Trịnh Hoài Đức có nhầm lẫn. Chỗ thì nói có đồn lũy, chỗ thì chưa. Như phần trên có nêu, binh sĩ của Dương Ngạn Địch đã từng đồn trú tại đây, tất nhiên phải có đồn lũy dù là không lớn.

Tuy nhiên, cũng một tài liệu (Gai Định thành thông chí), tác giả viết: «Năm 1792, mới đắp đồn vuông ở phía nam trấn độ 1 dặm, chu vi 998 tầm, hào rộng 8 tầm, sâu 1 tầm... chân lũy đặt tiền 30 tầm đến sông lớn. Trong đồn có những kho gạo, kho thuốc đạn, trại quân và súng lớn, tích trữ đầy đủ nghiêm chỉnh»(7). Qua tính toán kích thước đồn này, có một sự trùng hợp đáng chú ý về khu vực, đó là cùng ở phường 8 và phường 2 thành phố Mỹ Tho ngày nay, tức bao gồm cả khu Chợ Cũ. Điều đó chứng minh rằng, cho dù đại bản doanh của Nguyễn Huệ có dời đổi chút ít, cũng không xê dịch bao nhiêu so với vị trí đồn Mỹ Tho năm 1792.

Từ việc xác định vị trí đó, chúng tôi đoán định cách đóng quân của Nguyễn Huệ như sau: xung quanh nơi đóng đồn, ngoài các lực lượng được phơi bày còn có rất nhiều bộ phận bảo vệ, nghi binh. Đây là một vị trí rất lợi hại về quân sự, vì vậy với tài thao lược của mình, Nguyễn Huệ có thể cho các thuyền chiến lớn đóng ở đoạn sông Mỹ Tho để thu hút địch, số còn lại nằm trong rạch Bảo Định(8). Ngoài ra, còn có các đồn bót bản bộ làm nhiệm vụ lôi cuốn quân Xiêm về hướng này. Quân Tây Sơn còn có một ưu thế nữa là từ địa điểm này có thể quan sát toàn cảnh khu vực Xoài Mút, Rạch Gầm và rạch Rau Răm. Trên cơ sở đó, bộ chỉ huy có thể liên lạc và chỉ đạo trận đánh, đồng thời sử dụng bộ phận thủy bộ binh nơi đây phối hợp tác chiến đúng lúc với các cánh quân ở cù lao Thới Sơn, Xoài Mút và Rạch Gầm. Khi cần thiết cánh quân nghi binh này sẽ trở thành chủ lực quân giáng cho Xiêm — Nguyễn những đòn vũ bão và quyết định.


(1) Trước khi có quyền «Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc», các tác giả của «Tìm hiểu thiên tài quân sự Nguyễn Huệ», «Tổ tiên ta đánh giặc»,... chỉ nêu tên thành Mỹ Tho chung chung chưa cụ thể.
(2) Các đồng chí Phan Huy Lê và Nguyễn Đổng Chi tuy chưa xác định cụ thể vị trí thành Mỹ Tho, nhưng nhìn trên bản đồ ta có thể thấy hình cờ và hình vuông ở hữu ngạn sông Bảo Định.
(3) Trịnh Hoài Đức — Gia Định thành thông chí — tập trung, tr. 90, Tu Trai Nguyễn Tạo dịch, Saigon, 1972.
(4), (5), (6) — Cùng tài liệu trên. Tập hạ, tr. 119.
(7) Trịnh Hoài Đức — Gia Định thành thông chí. Đã dẫn, tập hạ, tr. 120.
(8) Lưu vực rạch Bảo Định (hay Arroyo de la Poste) thông nước sông Vàm Cỏ và sông Mê Kông, nối liền hai lỵ sở Tân An và Mỹ Tho. Ở phía tây có các chi lưu: rạch Ông Đau, Bà Kẹt, Chùa, Ông Ba, Miếu, Bo Ma, rạch Trấn Dinh, rạch Cu, Pho Sung (An Lạc), Bến Chùa, Trung Lương, Cái Ngan, rạch Nha. Ở phía đông, rạch Bảo Định nhận được của rạch Hà Ky (rạch này nhận nước của các rạch Cây Thim, rạch Cây Loa, An Đông, Gò Cát, chảy qua chợ Gò Cát và Mỹ Hòa và nhận nước của rạch Bà Ngọt ở hữu ngạn). Monographie de la province de My Tho — Publications de la société des Etudes Indochinoises — Impr — Menard, Saigon, 1902. Tư liệu do đồng chí Nguyễn Phan Quang và đồng chí Dương Văn Huề cung cấp.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Hai, 2022, 08:29:38 am
Vấn đề thứ hai: Vai trò của vị trí địa điểm rạch Rau Răm(1) trong trận đánh

Đây là vấn đề hầu như chưa ai nói tới. Trước đây, theo Mạc thị gia phả của Vũ Thế Dinh(2), hơn mười ngày không được đánh vì quân Xiêm — Nguyễn án binh bất động, quân Tây Sơn đã dàn thuyền suốt trường giang để xem tình thế. Rõ hơn một chút, các tác giả quyển «Tìm hiểu thiên tài quân sự Nguyễn Huệ»(3) có thể hiện rất mờ nhạt vị trí của rạch Rau Răm trên bản đồ. Cho đến nay, theo Nguyễn Đổng Chi đó là một vị trí «không quá gần đồn lũy của đối phương và cũng không quá gần Rạch Gầm»(4).

Qua đợt khảo sát của chúng tôi, kết quả cho thấy giữa thư tịch cũ và tài liệu thực địa có những mối liên hệ rất thú vị.
   
Để lôi cổ giặc ra khỏi «thế ỷ giốc» đầy thuận lợi cho chúng mà tham gia chiến trận theo tính toán của ta, rạch Rau Răm có vai trò vị trí rất lợi hại. thông thường, các lực lượng quân sự có phương án phòng thủ như sau: Để bảo vệ đại bản doanh xung quanh thường có các lực lượng mai phục, và xa hơn nữa là các đồn tiền tiêu. Trong trận chiến này, vị trí tiền tiêu của quân Tây Sơn phải ở thượng lưu (từ Trà Tân đến cù lao Năm Thôn). Ta cũng lưu ý thêm, nếu như Rạch Gầm — Xoài Mút là một trận phục binh, bao vây và tiêu diệt thì chốt tiền tiêu không thể nằm cùng một vị trí của Rạch Gầm hoặc Xoài Mút mà phải là một vị trí khác. Đồn tiền tiêu này không thể nằm dưới Rạch Gầm, mà ngược lại phải nằm trên nó để bảo vệ bí mật trận địa Rạch Gầm. Đồng thời chiến trận xảy ra ở chốt tiền tiêu có vai trò nghi binh, thu hút địch hơn là nơi quyết chiến quyết thắng.

Đầu tiên, qua thư tịch ta thấy phần nào có mối liên hệ mật thiết giữa Trà Tân — Rạch Rau Răm và Rạch Gầm.

Qua miêu tả Rạch Gầm, Trịnh Hoài Đức viết một cách sơ lược về quan hệ giữa Rạch Gầm và Rạch Rau Răm như sau: «Sông Sầm (Rạch Gầm) ở phía Bắc hạ lưu Tiền Giang cách phía tây trấn 28 dặm rưỡi... ngả phía tây chảy 17 dặm rưỡi hiệp với sông Rau Răm rồi chảy vào hạ lưu sông Tiền Giang»(5).

Riêng quyển Địa phương chí tỉnh Mỹ Tho (Monographie de la province de Mỹ Tho) nói rõ hơn: «Rạch Rau Răm dài 5km, rộng 20m, sâu 4m50, bắt nguồn từ Bình Chánh Trung, có rạch thông lưu (tức chi lưu) nối rạch Rau Răm với rạch Bàng Long, thông với lưu vực Rạch Gầm»(6). Ở chỗ khác, khi miêu tả về lưu vực Trà Tân, quyển này cũng viết: «Ở tả ngạn, rạch Trà Tân nhận nước của rạch Bà Rằng, rạch Trà Luộc (rạch này lại có chi lưu Bà Mương ở hữu ngạn và Bà Dầu hay Kinh Thu ở tả ngạn). Và rạch Bà Dầu nối liền rạch Trà Luộc với lưu vực Rau Răm qua con sông Bàng Long»(7).

Như vậy, ở hai đoạn văn khác nhau, ta được biết có mối liên hệ giữa Rạch Rau Răm và Rạch Gầm thông qua rạch Bàng Long, và đồng thời rạch Bàng Long cũng thông qua rạch Bà Dầu và Trà Luộc mà nối Trà Tân với Rạch Gầm. Từ đó suy ra, 3 lưu vực Trà Tân, Rau Răm và Rạch Gầm đều có liên quan chặt chẽ với nhau.

Khi quan sát thực địa, ta thấy dòng nước đổ từ trên xuống uốn khúc chủ yếu phía hữu ngạn. Sông Rạch Gầm chảy từ làng Hữu Đạo, qua các tổng Thuận Bình và Lợi Trường. Phía tả ngạn Rạch Gầm nhận nước của rạch Bàng Long, tiếp đó lần lượt có hai ngã ba mà nhân dân địa phương gọi là Ngã Ba Nhỏ và Ngã Ba Lớn. Cả hai ngã ba này đều có lối thông sang Rau Răm. Điều này giúp chúng tôi suy nghĩ, rạch Rau Răm có khả năng là chốt tiền tiêu quan trọng của quân Tây Sơn. Bộ chỉ huy Tây Sơn có thể đóng ở hai ngã ba này để điều hành cả hai phía Rau Răm và Rạch Gầm và khống chế sự qua lại của địch để bảo đảm bí mật trận địa. Ở đây, việc bố trí phục binh và vận chuyển tiếp tế hậu cần sẽ được thực hiện mau chóng và thuận lợi rất nhiều. Thêm vào đó, quân Tây Sơn nắm được tình hình Xiêm — Nguyễn qua con đường đi lại bằng ghe nhỏ ven các chi lưu nối liền Trà Tân và Rạch Rau Răm.

Một điểm đáng chú ý nữa là, suốt từ Vàm Trà Tân đến Rạch Rau Răm dài khoảng 11km, mặt sông hẹp, nhất là đoạn sông trước Rau Răm và cù lao Năm Thôn bề rộng chỉ được khoảng 1km. Rạch Rau Răm lại nhỏ, cây cối um tùm nên tầm nhìn bị giới hạn trong vòng 100m. Do đó, đặt phục binh ở đây không yêu cầu số lượng quá cao. Dù vậy, quân Tây Sơn cũng đã nghi binh khéo léo để đánh lừa quân Xiêm Nguyễn.

Vừa qua, chúng tôi được nhân dân địa phương cung cấp một số chi tiết khá mới mẻ về cách nghi binh của quân Tây Sơn. Quân Tây Sơn đã triệt để sử dụng đặc sản của địa phương bằng cách lấy vỏ dừa khô vẽ hình mặt người, kết lại thành bè và thả xuống sông ban đêm làm cho kẻ địch đánh giá sai lầm về quân số Tây Sơn, từ đó nảy sinh tư tưởng e dè kiêng sợ không dám tấn công trước. Trong khi đó quân Tây Sơn tranh thủ thời cơ bố trí trận địa.

Trước khi trận đánh thực sự bắt đầu ở Rạch Gầm (tức trước canh năm ngày 20-1-1785), bộ phận nhử địch vào trận địa mai phuc. Ban đầu, bộ phận này dùng thuyền nhỏ khiêu chiến quân Xiêm — Nguyễn và giả thua quay mũi thuyền chạy về Mỹ Tho. Tổn thất của quân Tây Sơn mà Gia phả ghi là: «kinh hãi rơi xuống nước chết rất nhiều» theo chúng tôi đó cũng có thể là kết quả của cách nghi binh trên, nhằm đánh lừa gây cho địch tư tưởng chủ quan khinh thường đối phương và hăm hở tiến vào khoảng sông rộng phía trước (ta lưu ý thêm rằng lúc bấy giờ nước triều rút rất nhanh, do đó tốc độ xuôi dòng của quân Xiêm — Nguyễn rất lớn).

Trong lúc đó, một bộ phận khác của quân Tây Sơn từ Ngã Ba Nhỏ và Ngã Ba Lớn, sử dụng chủ yếu ghe nhỏ theo các sông ngòi đổ về tiếp ứng cho binh lực ở Rạch Gầm.

Tóm lại, từ sự liên hệ mật thiết giữa rạch Rau Răm với Trà Tân, với Rạch Gầm, chúng tôi cho rằng đây là chốt tiền tiêu quan trọng nhất của quân Tây Sơn, vì từ đây quân Tây Sơn chiếm được ưu thế trên nhiều mặt bảo đảm những điều kiện thuận lợi cho cuộc chiến đấu thắng lợi.


(1) Rạch Rau Răm là một con sông cách lưu vực Trà Tân, nơi đóng quân của Xiêm — Nguyễn koang 11 km đường sông, cách Rạch Gầm khoảng 4km.
(2) Vũ Thế Dinh — Mạc thị gia phả — Tài liệu đánh máy của Nguyễn Khắc Thuần.
(3) Nguyễn Lương Bích — Phạm Ngọc Phụng — Tìm hiểu thiên tài quân sự Nguyễn Huệ, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1968.
(4) Nguyễn Đổng Chi — Lịch sử trận chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút. Đọc «Chiến thắng Rạch Gầm —Xoài Mút», Ban tuyên giáo và Thông tin văn hóa tỉnh Tiền Giang, xb. 1977.
(5) Trịnh Hoài Đức — Gia Định thành thông chí, Sđd.
(6) Monographie de la province de My Tho, Saigon, 1902, Sđd.
(7) Monographie de la province de My Tho, Saigon, 1902, Sđd.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Hai, 2022, 08:35:54 am
Vấn đề thứ ba: Về sự phối hợp nhịp nhàng trong bố trí binh lực ở Rạch Gầm — Xoài Mút và cù lao Thới Sơn

1) Ở Rạch Gầm:

Theo nhân dân địa phương, Rạch Gầm là tên chỉ cả một vùng hoang dã có dấu vết cọp, từ nơi xuất phát đến cửa Vàm. Trước kia rừng ở đây chưa khai phá, có nhiều cây đại thụ. Nhất là ở đầu Vàm, trước kia có cây da lớn có khả năng là nơi phát tín hiệu cho các bộ phận binh lực ở rạch Bà Hét(1) và Xoài Mút để phối hợp tác chiến (từ đầu Vàm đi xuống, qua Rạch Gầm khoảng 1km, có thể thấy Xoài Mút, cù lao Thới Sơn và Mỹ Tho).

Về địa hình, sông Rạch Gầm dài 11km, uốn khúc ngoằn ngoèo, chỗ rộng trung bình là 50m, chỗ rộng nhất là đầu Vàm gần 80m. Từ cửa Vàm vào sâu đến chợ Vĩnh Kim (hay chợ Giữa), đường thủy dài gần 4 km, nhưng có lối đi tắt chỉ 2,5 km. Ở đầu Vàm, lòng rạch sâu từ 7 — 8 m. Trong rạch chỗ sâu nhất từ 13,5m đến 15m(2). «Phía hữu ngạn, Rạch Gầm nhận nước của rạch Tha La (rạch này rẽ làm hai nhánh, tạo thành một cù lao ở giữa, nhánh bên phải chảy qua chợ Tha La), rạch Ông Hổ (từ rạch Xã Tho phình rộng ra), rạch Ngã Tư bắt nguồn từ làng Mỹ Thuận Đông. Phía tả ngạn, Rạch Gầm nhận nước của rạch Bàng Long (rạch này nối liền lưu vực Rạch Gầm qua rạch Bà Dầu), rạch Nga Tai»(3). Mặt khác, Rạch Gầm còn có đường giao lưu với Xoài Mút qua láng biển Tháp Mười (có ý kiến cho rằng quân Tây Sơn có thể sử dụng con đường này để vận chuyển binh lương từ Mỹ Tho về)(4).

Khu vực Rạch Gầm khá hẻo lánh, nhà ở lưa thưa. Cho đến năm 1945 dân cư cả xã Kim Sơn chỉ có hơn 2.000 người. Trong đó, nhân dân ở trong sâu, ven hai bờ và sống chủ yếu bằng nghề trồng dâu nuôi tằm, làm ruộng vườn và đóng đáy (có cả một xóm chuyên nghề đóng đáy). Nhân dân lao động ở đây, xuất phát từ lòng căm thù trước những hành động tàn bạo của quân Xiêm — Nguyễn đã có những đóng góp tích cực cho quân Tây Sơn như cung cấp thuyền bè hoặc làm kế vườn không nhà trống để giữ bí mật trận địa, hướng dẫn địa hình, v.v…

Thiên nhiên ở đây lại còn ưu đãi cho Tây Sơn các vật liệu làm bè và dẫn lửa rất lý tưởng phục vụ chiến thuật đánh hỏa công (như cây dầu rái, cây dương, cây bàng, cây soạp, trái mù u…).

Với những điều kiện tự nhiên và xã hội đó, tài tổ chức quân sự thông minh và linh hoạt của Nguyễn Huệ được phát huy cao độ. Đồng thời điểm qui định, các chiến thuyền lớn nhỏ mai phục trong các giao lưu giữa rạch Rau Răm và Rạch Gầm, giữa Rạch Gầm và Xoài Mút có tác dụng làm tăng thêm sức mạnh chiến đấu cho binh lực ở chiến trường chính. Theo chúng tôi, các giao lưu này là vị trí ém quân rất lý tưởng như đặc điểm cơ động của nó.

Nhìn lại con đường tiến quân của Xiêm — Nguyễn, sau khi vượt qua khoảng hẹp giữa rạch Rau Răm và cù lao Năm Thôn có thể nói đối với chúng, Rạch Gầm là nơi bị tấn công bất ngờ nhất. Đây là khoảng sông rộng mênh mông rất thuận lợi cho chúng gia tăng tốc độ để rượt đuổi thuyền bè Tây Sơn. Nắm chắc tâm lý đó của địch, Tây Sơn lợi dụng địa hình khúc khuỷu của sông Rạch Gầm để bố trí thuyền bè dẫn lửa mai phục.

Lúc này, địch hạ quyết tâm chiếm đại bản doanh của quân Tây Sơn ở Mỹ Tho để chuyển sang tấn công Gia Định. Nhận định đúng đắn tình hình đó, Nguyễn Huệ đã chọn chiến trường Rạch Gầm — Xoài Mút làm nơi quyết chiến chiến lược (từ Rạch Gầm đến Xoài Mút dài khoảng 7km, từ Xoài Mút đến Mỹ Tho dài khoảng 6km). Sự lựa chọn đó là một quyết định rất sáng suốt, vì đã biết tận dụng hết ưu thế về thiên nhiên và xã hội, biết tiến công đúng vào sơ hở lớn nhất của địch, đó là không phòng bị chu đáo ở khoảng sông rộng và chủ quan khinh thường đối phương vì còn cách Mỹ Tho khá xa.

Kết quả đã diễn ra đúng với tính toán của quân Tây Sơn. Chiến thuật hảo công với tài thao lược của Nguyễn Huệ đã được phát huy cao nhất tác dụng của nó, đó là chia cắt đội hình địch khi chúng đang tiến quân và chặn đường rút lui của chúng khi chúng bị vây hãm từ các phía.

2) Ở Xoài Mút (hay Xoài Hột):

Rạch Xoài Mút dài 8km, «bắt nguồn từ Long Hưng và đổ ra sông Tiền trên địa phận của tổng Thuận Trị. Phía tả ngạn, rạch Xoài Mút nhận nước của rạch Cái Ngan (hay rạch Trung Lương) bắt nguồn từ Thuận Trị»(5). Trước kia, bên cạnh rạch Xoài Mút có chợ Xoài Mút thuộc làng Thạnh Phú, tổng Thuận Bình.

Theo nhân dân địa phương, rạch Xoài Mút có 2 vàm đổ ra sông Tiền là vàm Bà Điểu (bị lấp từ khi Pháp xâm lược, nay là cổng số 1 của căn cứ Đồng Tâm, thuộc xã Bình Đức) và vàm Xoài Mút (cũng đang cạn dần, bề ngang phái trong rạch hiện nay chỉ còn khoảng 2m). Khoảng cách 2 vàm khoảng 1km Trước kia, mỗi vàm rộng từ 100 đến 200m. Đường sông quanh co, hai bên bờ lau sậy mọc rậm rạp, tầm mắt bị giới hạn từ 20 đến 30m. Đây cũng là những điều kiện rất thuận lợi cho mai phục.

Vào mùa mưa, từ tháng 7 đến tháng 11 âm lịch, nước sông Tiền dâng cao hình thành nhiều khe lạch, chằng chịt dẫn nước thoát ra biển. Rạch Xoài Mút và Rạch Gầm cũng đều có thông lưu đổ ra Tháp Mười. Lúc nước rút, láng biển Tháp Mười lại dồn nước về sông Tiền rất mạnh.

Đối chiếu với thời gian xảy ra chiến trận là tháng chạp âm lịch, ta thấy lúc bấy giờ hết mùa nước lũ và bắt đầu mùa nước rút, do đó thuyền chiến của Tây Sơn cơ động ra sông lớn rất nhanh nên chiếm ưu thế về thời gian và tốc độ.

Đồng thời con đường từ Tháp Mười đến Xoài Mút hoặc đến Rạch Gầm cũng có thể là đường chuyển quân của Tây Sơn từ Gia Định và để tăng cường thêm lực lượng tại đây vốn xuất phát từ Qui Nhơn.

Các bô lão ở đây cho biết, giữa hai vàm ngày trước quân Tây Sơn có đặt «Chòi Mong» để quan sát chiến trường Rạch Gầm ở hướng Tây, Rau Răm ở xa hơn (khoảng 11km), và Mỹ Tho ở hướng Đông (khoảng 6km). Rất có khả năng đây là trung tâm liên lạc giữa các khu vực Rau Răm, Rạch Gầm với bộ chỉ huy Tây Sơn ở Mỹ Tho. Hiện nay vẫn còn địa danh «Xóm Chòi Gác» ở ấp Lê Quang, xã Bình Đức(6).

Trận địa chánh bắt đầu xảy ra từ Rạch Gầm đến Thới Sơn và Xoài Mút và đã chôn vùi mấy vạn quân Xiêm xâm lược. Chiến thắng đó còn được ghi đậm trong ký ức của nhân dân địa phương, thể hiện ở tên gọi khu vực «nghĩa địa Xiêm» (gần Vàm Bà Điểu, thuộc xã Bình Đức), ở những chuyện kể gia cố thêm về sự thất bại nhục nhã của quân Xiêm (như chuyện quân Xiêm bị thua trận, bò lên cù lao Thới Sơn để trốn và đánh rơi vàng bạc của cải đã cướp bóc…), ở sự thêu dệt xung quanh các bóng ma quân Xiêm, v.v…


(1) Rạch Bà Hét thuộc làng Phú Đức, trong cù lao Phú Túc (ở triền phía bắc của cù lao). Theo «Monographie de...» Sđd.
(2) Trước khi đổ ra sông lớn, sông Rạch Gầm chảy qua chợ Rạch Gầm (ở làng Kim Sơn, tổng Lợi Trường). Cũng theo «Monographie de...» Sđd.
(3) Monographie de la province de My Tho, Sđd.
(4) Ý kiến của ông Trác Quan Đồ ngụ tại Cù lao Thới Sơn.
(5) Monographie de la province de My Tho, Sđd.
(6) Theo tài liệu của ông Trác Quan Đồ ngụ tại Cù lao Thới Sơn.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Hai, 2022, 08:36:44 am
3) Ở cù lao Thới Sơn:

Cù lao Thới Sơn nằm giữa sông Tiền, cách bờ mỗi bên khoảng 1000m, đối diện 3 rạch: Rạch Gầm, Xoài Mút và Mỹ Tho. Bờ bắc là thôn An Đức và Bình Tạo (tức xã Bình Đức hiện nay, thuộc tỉnh Tiền Giang). Bờ nam là thôn An Hồ, Anh Khánh (thuộc tỉnh Bến Tre), phía đông, mũi cù lao gặp Cồn Rồng. Phía tây là cù lao Phú Túc, Phú Đức (trước chưa dính vào bờ Bến Tre, bờ ngang rạch rất nhỏ và cạn).

Chiều dài cù lao Thới Sơn ngày nay khoảng 9 km, đầu trên cách Rạch Gầm khoảng 4km (trước kia cách khoảng 2,5km, đầu dưới cách Mỹ Tho khoảng 1,5km, và cách đồn Mỹ Tho gần 11km, khoảng giữa cù lao đối diện rạch Xoài Mút (cách Xoài Mút gần 600m, cách Bến Tre gần 400m).

Tên cù lao Thới Sơn thật sự xuất hiện từ năm 1808 (Gia Long thứ 7). Trước đó, cù lao Thới Sơn là 3 cồn Cả Sứt, Vàm Hồ, Vàm Xoàng và có tên 3 cù lao tách rời nhau: Thới Bình (phía đầu), Thới Hòa (giữa) và Thới Trạch (cuối). Phần dầu cù lao tức Thới Bình là nơi nổi lên đầu tiên. Trước kia, phía mũi nằm đối diện Kinh Xáng, về sau do sức nước quá mạnh, phần này bị lở rất nhiều. Đây là nơi qui tụ cư dân đầu tiên, trong đó kiền họ Phan đã sinh sống tại đây ít nhất 5 đời. Theo sự cung cấp của người trong họ, số đất gần 300 mẫu của dòng họ đã bị mất gần 30 mẫu tính từ đầu thế kỷ XX đến nay. Hình thành cùng thời còn có Miếu Xóm, sau đổi thành chùa Linh Quang. Ở Thới Hòa (đoạn giữa) và Thới Thạch (đoạn cuối), dân cư thưa thớt hơn, có 2 kiền họ Đoàn và họ Lương sống ở đây tương đối khá lâu.

Đây là một trong những cù lao mới bồi của khu vực này, do đó đất thấp và nhiều sình lầy. Nhân dân phản ánh điều đó qua câu ca dao: «Cù lao ăn ở dị kỳ, mỗi lần đi ỉa phải quì bốn chân».

Do sự hình thành khá đặc biệt (như trên đã phân tích), cù lao Thới Sơn có nhiều rạch; rạch Hương Chủ, rạch Đình (đổ ra bờ phía bắc), rạch Mời, rạch Rề, rạch Thầy Chánh, rạch Còn (đổ ra bờ phía nam) . Ngày nay, còn dấu vết 2 rạch nhỏ là rạch Đinh và rạch Cả Sứt  (trước rất sâu, có cả cá sấu).

So với trước kia, cù lao Thới Sơn ngày nay khác hơn nhiều vì bị lở ở đầu và hai bên bờ. Như vậy, đầu cù lao ở thế kỷ XVIII gần với Rạch Gầm hơn ngày nay, tức là ở ngay phía đầu Kinh Xáng (ta có thể lấy khoảng cách giữa Rạch Gầm và Kinh Xáng để xác định khoảng cách giữa đầu cù lao với Rạch Gầm). Hai bờ bắc và nam của cù lao cũng gần với Xoài Mút và Bến Tre hơn.

Từ địa hình đó, ta có thể hình dung cách bố trí binh lực của Tây Sơn như sau: pháo thuyền được đặt trong các khu rừng rậm ở phần lở của Thới Bình (có một rừng bần rất lớn sau Miếu Xóm), là vị trí gần với Rạch Gầm nhất so với cù lao; có thể có một bộ phận ở đoạn cuối của Thới Bình (ngang với Xoài Mút), cả ở Bổn Thôn, An Khánh (Bến Tre), đề phòng địch chia thành hai cánh cặp hông Thới Sơn xuống Mỹ Tho. Và để hỗ trợ cho lực lượng bên Thới Bình, chiến trường chính được qui định từ đầu cù lao Thới Sơn (tức Kinh Xáng) lên An Đức Bình Tạo (tức Bình Đức của Xoài Mút), với sự phối hợp chặt chẽ giữa Rạch Gầm — Xoài Mút, cù lao Thới Sơn và Mỹ Tho, chưa kể sự hỗ trợ của các điểm lân cận (Bổn Thôn, An Khánh).

Lúc bấy giờ, vừa qua khỏi Rạch Gầm thì trời dần sáng, thủy triều lên, gió thổi mạnh, binh thuyền Xiêm — Nguyễn bị rơi vào thế «tiến thoái lưỡng nan». Phía sau có thuyền của Tây Sơn phục ở Rạch Gầm và Bà Hét cùng với hỏa lực đại bác và của các phương tiện hỏa công truy đánh. Phía trước, các thuyền chiến lớn của Tây Sơn từ Mỹ Tho tấn công ngược lại. Ở ngay đoạn sông hẹp nhất, chúng bị pháo thuyền của Nguyễn Huệ từ Xoài Mút xông ra đánh ngang hông để rồi phải co cụm lại trước những khẩu đại bác từ cù lao Thới Sơn đang thi nhau nhả đạn. Lửa được gió giúp sức nên lan rộng nhanh chóng và đốt tiêu tan 300 chiến thuyền của giặc trong thời gian ngắn. Cùng lúc đó, bộ binh Tây Sơn ở Bổn Thôn, An Khánh, An Hổ tiếp tục quét sạch bộ phận còn lại đang hoảng hốt tột độ tìm đường thoát thân.

Trên tổng số 5 vạn, quân Xiêm cuối cùng chỉ còn hơn một vạn thoát chạy về nước, và từ đó «sợ Tây Sơn như sợ cọp». Về phía Nguyễn Ánh, ngay trước khi ra quân, hắn đã chuẩn bị con đường chạy trốn nên cũng được sống sót và cùng tàn quân sang Xiêm ẩn náu.

*
*   *

Năm nay, kỷ niệm 200 năm ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút, ôn lại những trang lịch sử vẻ vang của dân tộc, chúng ta không khỏi tự hào về chiến công oanh liệt của cha ông ta ngày xưa để bảo vệ miền đất cực nam của Tổ quốc.

Kế thừa truyền thống anh dũng bất khuất đó, chúng ta quyết tâm đập tan bất kỳ mọi mưu đồ xâm lược nào của bọn bành trướng phản động, nhằm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Tp. Hồ Chí Minh, tháng 8-1964


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Hai, 2022, 08:39:24 am
Ý NGHĨA THẾ GIỚI QUAN CỦA NHỮNG KẾT LUẬN KHOA HỌC
VỀ PHONG TRÀO TÂY SƠN VÀ VAI TRÒ CỦA GIAI CẤP NÔNG DÂN
TRONG LỊCH SỬ

ĐINH VĂN KÍNH
                                                                                                                               
(Chủ nhiệm bộ môn lịch sử Đảng
Trường đại học tổng hợp
Thành phố Hồ Chí Minh)

Tổ chức kỷ niệm lần thứ 200 sự kiện lịch sử chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút trên quê hương mà nó đã diễn ra, là một việc làm vừa có ý nghĩa lịch sử vừa có tính thời sự.

Chúng tôi coi đây là một dịp tốt để tổ chức sinh hoạt nâng cao nhận thức lịch sử chính trị — xã hội sâu rộng trong nhân dân.

Với tư cách là một cán bộ giảng dạy bộ môn lịch sử Đảng, được hân hạnh góp phần nhỏ vào sự thành công của hội nghị khoa học nói riêng, của lễ kỷ niệm nói chung; tôi xin được tham gia thảo luận chủ đề: «Ý nghĩa thế giới quan của những kết luận khoa học về phong trào Tây Sơn và vai trò của giai cấp nông dân trong lịch sử».

Đã từ lâu các nhà sư phạm của nước ta đặt vấn đề giảng dạy và học tập lịch sử trên cơ sở chủ nghĩa Mác — Lênin. Bởi vì kiến thức lịch sử là một bộ phận cấu thành thế giới quan khoa học, là một phần quan trọng để hình thành đạo đức cộng sản chủ nghĩa, là dấu hiệu của trình độ văn hóa của con người mới.

Kiến thức lịch sử có thể bị hao mòn theo thời gian. Nhưng nó không hao mòn đến mức sạch trơn mà nhất định còn có cái gì lắng đọng, qui tụ lại trong tư tưởng con người. cái gì đó, phải chăng là những kết luận khái quát, hệ thống hóa kiến thức, hàm súc ý nghĩa thế giới quan. Hay nói cách khác là những kết luận thế giới gian rút ra từ khoa học lịch sử.

Như vậy khoa học lịch sử cũng như nhiều khoa học khác góp phần hình thành, phát triển, củng cố thế giới quan khoa học của con người bởi những kết luận thế giới quan rút ra từ bản thân khoa học.

Đương nhiên, cái thế giới quan mà tất cả những người cộng sản, tất cả những con người mới xã hội chủ nghĩa cần phải có duy nhất đúng, hoàn thiện và thật sự khoa học là thế giới quan cộng sản chủ nghĩa. Một thế giới quan như vậy chỉ có thể hình thành trên cơ sở nắm vững kiến thức có hệ thống về chủ nghĩa Mác — Lê-nin, và trên cơ sở những kết luận rút ra từ các khoa học khác, trong đó có khoa học lịch sử. Kiến thức lịch sử — kết luận rút ra từ khoa học lịch sử — chỉ là một bộ phận cấu thành thế giới quan, chứ không phải là toàn bộ thế giới quan cộng sản chủ nghĩa.

Cũng đương nhiên không thể đòi hỏi điều không thể có được là mỗi một người phải đạt tới trình độ uyên bác, hiểu biết hết tất cả các khoa học của thế giới thì mới thật sự có thế giới quan cộng sản chủ nghĩa. Bởi lẽ ngày nay bức tranh khoa học của thế giới đã rất rộng lớn và rất phong phú, đã có trên 3000 môn khoa học khác nhau, nếu chia nhỏ ra thì có khoảng trên 7000.

Thời đại Tây Sơn — Nguyễn Huệ chỉ cách ta 200 năm về mặt thời gian. Những kết luận khoa học về thời đại đó đã được nhiều nhà sử học nghiên cứu rút ra và công bố. Thế nhưng không phải tất cả mọi người Việt Nam chúng ta đã tìm hiểu và hiểu đúng. Không phải không còn một số người nào đó còn hiểu về Tây Sơn — Nguyễn Huệ theo quan điểm sai lầm. Họ hiểu theo quan điểm của một số nhà sử học tư sản phương Tây, của một số sử gian phản động ở miền Nam trước đây... Vì lẽ đó, việc nghiên cứu những kết luận khoa học về phong trào nông dân Tây Sơn, về vai trò của giai cấp nông dân trong lịch sử vào dịp kỷ niệm lần thứ 200 chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút là một việc làm hết sức cần thiết.

Phong trào Tây Sơn xuất phát từ một cuộc khởi nghĩa nông dân, một cuộc đấu tranh giai cấp của quần chúng bị áp bức chống lại chế độ bóc lột nặng nề của giai cấp phong kiến và các chính quyền phong kiến phản động. Nhưng rồi trước họa đất nước bị chia cắt và nạn ngoại xâm, phong trào Tây Sơn đã nhanh chóng phát triển thành phong trào dân tộc, giải quyết hai vấn đề cơ bản: thống nhất Tổ quốc và bảo vệ độc lập dân tộc.

Nói phong trào dân tộc ở đây chủ yếu là một phong trào nông dân nếu không muốn nói thực chất là phong trào nông dân. Đương nhiên không thể đồng nhất hai khái niệm nông dân và dân tộc, càng không thể quy toàn bộ vấn đề dân tộc vào vấn đề nông dân, cho dù nông dân chiếm đại bộ phận trong dân cư, hoặc đã vươn lên đảm nhiệm sứ mệnh bảo vệ độc lập dân tộc.

Thế nhưng đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc trong thời đại Tây Sơn đã thúc đẩy nhanh chóng tiến bộ xã hội. Giai cấp nông dân, thời đại Tây Sơn đã biểu hiện năng lực làm chủ và tính tích cực khá cao của mình. Những đặc điểm này khiến cho phong trào nông dân Tây Sơn vượt ra ngoài khuôn khổ đấu tranh giai cấp của giai cấp nông dân trong xã hội phong kiến nói chung.

Đã có người so sánh phong trào Tây Sơn với phong trào nông dân ở Đức, với cuộc khởi nghĩa nông dân Thái Bình Thiên Quốc ở Trung Hoa. Nhưng, phong trào nông dân ở Đức mang nặng tính bảo thủ. Cuộc khởi nghĩa nông dân Thái Bình Thiên Quốc mang nặng màu sắc tôn giáo.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Hai, 2022, 08:39:48 am
Trong khi đó, phong trào nông dân Tây Sơn chẳng những không mang màu sắc tôn giáo mà còn rất sớm thoát khỏi tính địa phương cục bộ, nhanh chóng đạt tới tính toàn quốc, trở thành phong trào dân tộc, đem lại thắng lợi vừa có ý nghĩa lịch sử vừa có tính thời đại là kết hợp hài hòa cả hai vấn đề độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, đẩy lịch sử nước ta tiến lên.

Giai cấp nông dân thời đại Tây Sơn đã biểu hiện năng lực làm chủ và quyền làm chủ của mình. Năng lực này, quyền làm chủ này lại không phải do giai cấp phong kiến phát huy mà do Nguyễn Huệ xuất thân từ giai cấp nông dân, đứng về phía giai cấp nông dân và dân tộc cổ vũ, phát huy. Đây là một nghịch lý của lịch sử nhưng đồng thời lại là logic của thời đại Tây Sơn.

Thực tiễn sinh động này giúp chúng ta hiểu rõ thêm vì sao dưới chế độ thuộc địa nửa phong kiến cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 khi giai cấp nông dân chưa nhận được sự lãnh đạo của giai cấp công nhân mà đã vừa chống đế quốc vừa chống triều đình phong kiến nhà Nguyễn.

Năng lực làm chủ và tính tích cực của giai cấp nông dân thời đại Tây Sơn phải được coi là một đặc điểm sáng tạo. Nhiều nhà sử học đã kết luận như thế.

Vậy thì có nên cho đây là một sự sáng tạo ngoại lê hay không? Bởi vì phong trào nông dân Tây Sơn chưa đạt tới tiêu chuẩn của một phong trào cách mạng mà vẫn có thể rút ra kết luận là một sự sáng tạo.

Làm chủ ở đây chính là, và chủ yếu là làm chủ vận mệnh dân tộc khi có giặc ngoại xâm. Một nội dung rất cơ bản của làm chủ về chính trị theo nhận thức của chúng ta ngày nay. Năng lực và quyền làm chủ này bắt nguồn từ đâu? Không thể tìm nguồn gốc của nó trong kinh tế, trong chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất. Trong chế độ phong kiến và các chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất làm gì có quyền làm chủ của các giai cấp lao động bị bóc lột.

Vậy, chỉ có thể tìm nguồn gốc của nó trong truyền thống, trong văn hóa — tinh thần đã biến thành sức mạnh vật chất — tác động tích cực và rõ rệt đến hành vi và hoạt động của con người trước một đối tượng cụ thể: giặc ngoại xâm dã man tàn bạo!

Nguồn gốc đó chỉ có thể là lòng yêu nước và ý thức dân tộc. Giai cấp nông dân không thể phó mặc cho giai cấp phong kiến phản động muốn làm gì thì làm, không thể thờ ơ trước nguy cơ nước mất nhà tan.

Những kết luận như đã trình bày trên đây hàm súc ý nghĩa thế giới quan. Nó giúp chúng ta xây dựng và củng cố niềm tin năng lực làm chủ và năng lực cach mạng của giai cấp nông dân.

Năng lực làm chủ của giai cấp nông dân đã có, đã xuất hiện trong quá khứ lịch sử. Còn năng lực cách mạng của giai cấp nông dân chỉ có khi nào giai cấp nông dân được sự giáo dục kiên trì và phát huy vai trò của giai cấp công nhân và liên minh tự nhiên của giai cấp công nhân.

Chúng ta tin tưởng năng lực làm chủ của giai cấp nông dân nhưng không mơ hồ về lập trường làm chủ của giai cấp công nhân. Chúng ta đánh giá đúng vị trí và vai trò của giai cấp nông dân trong cách mạng nhưng không mơn trớn và đề cao nông dân quá đáng, quá mức như kiểu cách của Mao Trạch Đông và những người phụ họa theo chủ nghĩa của ông ta, một thứ chủ nghĩa cơ hội phiêu lưu, cực đoan, vô chính phủ đi tới chỗ phản bội chủ nghĩa Lênin mà đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã phê phán trong bản tham luận đọc ở Đại hội nông dân quốc tế tháng 10-1923.

Trong cách mạng Việt Nam, Đảng ta đánh giá đúng vị trí vai trò của giai cấp nông dân theo quan điểm của chủ nghĩa Mác — Lênin và xuất phát từ sự phân tích đúng đắn đặc điểm giai cấp và truyền thống tốt đẹp của giai cấp nông dân. Ngay từ năm 1930, Đảng ta đã chỉ ra rằng giai cấp nông dân là lực lượng hùng hậu của cách mạng, là bạn đồng minh tin cậy nhất của giai cấp công nhân. Song giai cấp nông dân không có khả năng và dứt khoát không phải là giai cấp lãnh đạo cách mạng. Suy cho cùng là vì giai cấp nông dân không có hệ tư tưởng độc lập, không đại diện cho một phương thức sản xuất nhất định nào cả.

Đảng ta đã giải quyết đúng đắn vấn đề nông dân và liên minh công nông đưa đến thắng lợi triệt để và huy hoàng cho cuộc cách mạng dân tộc dân chủ — một cuộc cách mạng phải thực hiện bằng bạo lực chống ba tên đế quốc ở ba Châu Á, Âu, Mỹ và kéo dài suốt 45 năm ròng rã. Nhờ giải quyết đúng đắn vấn đề nông dân và liên minh công nông, cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và trong cả nước ngày nay đã đạt được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Hai, 2022, 08:41:08 am
THƠ VÀ QUANG TRUNG
THƠ VÀ CHIẾN THẮNG

MAI QUỐC LIÊN
(Phó tiến sĩ văn học
                                                                                                                    
Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh)

Chiến thắng Đống Đa, chiến thắng Rạch Gầm… là những chiến thắng có tính chất thần thoại. Cuộc hành quân thần tốc, chiến thắng có tính chất áp đảo và diễn ra trong chớp mắt, rồi những truyền thuyết đẹp về các trận đánh, tự nó là một bài thơ hùng tráng và tuyệt đẹp.

Chiến thắng đó đã gây chấn động đối với thời bấy giờ, và thơ ca như là phong vũ biểu của thời đại, đã phản ánh sự chấn động sâu xa của lịch sử. Ánh chớp huy hoàng của chiến thắng đã rọi chiếu vào thơ luồng sáng lớn và điều này thật có ý nghĩa. Chiến thắng và thơ như hai chị em, đều là con đẻ, là máu xương tâm huyết của dân tộc và với một dân tộc có truyền thống thơ đuổi giặc («thoái lỗ thi»), thơ sẽ không cam chịu im tiếng trước cuộc chiến đấu và chiến thắng.

Công tâm mà xét, những bài thơ trực tiếp mang âm hưởng của chiến thắng, về số lượng đã không nhiều. Thế mà trong những bài thơ ấy, do nhiều lý do, số bài viết về chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút mà chúng ta đang kỷ niệm lại càng hiếm. Dù sao chiến thắng này tạo điều kiện và báo hiệu cho chiến thắng kia, hai chiến công đều cũng một anh hùng dân tộc, cùng một phong trào nông dân, đại diện cho trào lưu của lịch sử, nên nói cái này cũng là nói cái kia và mượn ý của câu thơ Thôi Hạo đời Đường, ở đây là quy luật «tương ánh hồng». Nên vào dịp kỷ niệm 200 năm trận rạch Gầm — Xoài Mút, chúng ta lại nói về những bài thơ chiến thắng giặc phương Bắc — ngày nay, chúng cùng quân Thái Lan đều đang gây hấn ở biên thùy, chúng là một cốt một đồng, còn ta thì Bắc Nam một nhà; tất cả đều hướng về Quang Trung, về khởi nghĩa Tây Sơn, về truyền thống quý báu của dân tộc; truyền thống ấy vang vọng mãi trong thơ ca cũng tức là trong tâm trí của nhân dân.

Ngày nay, những người viết lịch sử văn học nói đến một thời đại Tây Sơn trong văn học (Và có chăng một thời đại Tây Sơn trong mỹ thuật — như ý họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung — trong sân khấu, trong âm nhạc?).

Ngô Ngọc Du, một nhà thơ có cái may sống trong dân, tận mắt chứng kiến sự nổi dậy tại chỗ của nhân dân kinh thành Thăng Long phối hợp với cuộc tấn công thần tốc của quân chính qui Tây Sơn, đã để lại một kiệt tác nhỏ không những cho thơ mà cho cả sử học:

   Giặc kia tàn bạo sang ngông cuồng
   Quân vua một giận oai bốn phương
   Thần tốc ruổi dài xông thẳng tới
   Như trên trời xuống ai dám đương
   Một trận rồng lửa giặc tan tành
   Bỏ thành cướp đó trốn cho nhanh
   Ba quân đội ngũ chỉnh tề tiến
   Trăm họ chật đường vui tiếp nghênh
   Mây tạnh mù tan trời lại sáng
   Đầy thành già trẻ mặt như hoa
   Chen vai thích cánh cùng nhau nói
   Cố đô vẫn thuộc núi sông ta

               (Bùi Hạnh Cẩn dịch)


Trận «rồng lửa» là do nhân dân Thăng Long dùng rơm đánh thành con cúi đốt «hỏa long trận» để uy hiếp quân giặc! Khí phách, tấm lòng của nhân dân là như nhau ở mọi lúc mọi nơi, ở Đống Đa cũng như ở Rạch Gầm. Và một ông thầy thuốc bình dân, một ông đồ như Ngô Ngọc Du, nhờ biểu đạt tinh thần ấy của nhân dân, đã cùng với thời đại mình bất tử.

Ngô Thì Nhậm, nhà thơ có lẽ là lớn nhất của thời đại Tây Sơn, đánh giá chiến công của Quang Trung:

      Dẹp loạn cao hơn trong dựng Hạ,
      Trừ hung đuổi kịp dấu cầm Hồ.


Cầm Hồ — bắt giặc Nguyên Mông ở thế kỷ 13, hai chiến công xứng đáng đứng song đôi trong lịch sử.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Hai, 2022, 08:42:40 am
Vào một ngày mùa thu, nước thu rất trong vì sự phản chiếu bầu trời thu không một gợn mấy, sứ thần Ngô Thì Nhận đi thuyền trên sông, mở cửa thuyền nhìn núi xanh, suy nghĩ về đạo lý của trời đất. trên con đường sứ nghìn dặm đi về trên đất Trung Hoa; những điều mắt thấy tai nghe ở đó, so với những điều đã nhìn đã nghe trên đất nước ông không có gì khác nhau. Thế thì tại sao người ta lại nói nhảm rằng ở phương Nam «lòng đỏ và lòng trắng trứng gà bằng nhau», ở đó «ba phần trai mới có một phần gái», thậm chí ngày và đêm Di Hạ cũng khác nhau…? Lấy gậy ông đập lưng ông, ông dẫn lời của chính thầy Chu (Chu Hy đời Tống): Chu Hy nói rằng ở các nước phía Tây Nam có nhiều người mở mang trước, không riêng gì Trung Quốc mới là hơn! Ông hồ hởi nêu lên lời thơ tự đáy lòng:

… Ta đi đường nghìn dặm,
Đi về đã ba mùa.
Những điều mắt thấy và tai nghe,
Phương Nam phương Bắc, thú vị không khác gì nhau.

… Lớn lao thay, thầy Chu,
Lời nói của bậc đại hiền thật thấu suốt.
(Thầy Chu) hết lời ngợi khen các phiên bang phía Tây Nam,
Có nhiều người giỏi văn chương, chữ nghĩa.
Không riêng gì Trung Quốc mới là hơn.
Lời bạn rộng lớn ấy thật hợp lòng ta.
Ta về nói cùng các bạn:
May mắn thay! Chúng ta sinh ra ở nước Nam.
Đường hoàng đai lưng dây ấn,
Chớ bảo rằng ta kém văn minh.
Năm kia đất Việt thường có bậc kỳ lão,
Nay hãy xem dòng sông Ninh — Minh,
Cuồn cuộn chảy về Đông.
Nguồn sông phát từ đâu?
Phát từ phương Nam chuyển sang phương Tây Bắc.


Phải có đỉnh cao của chiến thắng Đống Đa, chiến thắng Rạch Gầm nâng cao uy tín dân tộc lên tầm cao chói lợi khiến cho cả triều đình Mãn Thanh lẫn Càn Long đều nể vì, ngại ngùng và cuối cùng phải xếp lại cái dã tâm «động binh chín tỉnh để trả thù» thì thơ ca mới có được câu: «May mắn thay chúng ta được sinh ra ở nước Nam!».

Một nghìn năm phong kiến Trung Quốc xâm lược và đô hộ, chúng xem dân tộc Việt Nam là Di, nghĩa là mọi rợ.

Tất cả những cái gì thuộc về Di đều thua kém và đê tiện, thậm chí ở «Di địch mà có Vua cũng không bằng ở Hoa Hạ không vua» (Di Địch hữu quân, bất như Hoa Hạ chi vô quân dã — Khổng Tử: Luận ngữ). Không Tử đã viết, thì đó hiển nhiên là chân lý! Vậy mà nay bọn người Di ấy, bọn người «áo vải» từ trong «hang núi» chưa hề «thấm nhuần giáo hóa thượng quốc ấy», chỉ «đem theo dăm ba tên trai tráng trong làng trẩy ra» đã làm quân thiên triều dẫm lên nhau mà chạy cơ hồ vỡ mật. Và chỉ đến lúc ấy, ngay cả một nhà nho bị kẹt cứng ngắt giữa các tín điều có tính chất điển qui của Khổng Tử, như Ngô Thì Nhậm cũng thật sự thấy vinh dự được làm người ở Nam bang, ở cái phần đất Di, Địch ấy!

Niềm tự hào, phấn khởi ấy tràn đầy trong lòng Ngô Thì Nhậm đến nỗi từ trên đất Trung Quốc, ông tưởng tượng đến ngày về nước, và những lời nói với bạn bè sẽ là những lời xiết bao tâm huyết, vui sướng tự hào! Bạn của ông, những nhà khoa bảng cửu triều, hẳn còn có người vẫn còn có nhiều mặc cảm tự ty dân tộc! Ông sẽ nói điều ngược lại.

Một vấn đề cốt tử nữa, là ông và họ đều tiếp nhận ảnh hưởng của Nho giáo, của Hán học, rất dễ có tinh thần sùng bái văn hóa Trung Hoa. Ông sẽ nói cái điều tương tự, điều mà trước đó Nguyễn Trãi đã nhờ chiến thắng giặc Minh mà nói được:

Vật vi ngã bất hoa
(Chớ bảo rằng ta kém văn minh)

Nói, và đồng thời chứng minh, dù chứng minh chưa vững vàng, chặt chẽ lắm! nhưng quý biết bao cái khí phách văn hóa ấy, cái khí phách dám tin ở tinh hoa tinh thần của dân tộc, cái khí phách mà ngày nay ta rất đỗi trân trọng và nguyện học tập, kế thừa!

Chiến thắng Rạch Gầm, chiến thắng Đống Đa của dân tộc đã làm nên một chiến thắng văn hóa. Xét cho cùng, mọi chiến thắng đều phản ánh văn hóa và thúc đẩy văn hóa tiến tới.

Trong những mục tiêu chiến đấu chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta thời Quang Trung có mục tiêu bảo vệ văn hóa dân tộc: Quang Trung đã kêu gọi:

Đánh cho để dài tóc, đánh cho để răng đen
Đánh cho nó chích luân bất phản
Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn
Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Hai, 2022, 08:44:04 am
Người ta có thể nói đến thơ, nói về chiến công, về lòng tự hào dân tộc được khởi lên mãnh liệt ở thời kỳ này qua thơ của các danh gia như Phan Huy Ích, Đoàn Nguyễn Tuấn, Vũ Huy Tấn, Ninh Tốn, Ngọc Hân... Bài thơ của Phan Huy Ích làm khi nghe tin đại quân Tôn Sĩ Nghị rút chạy, đã mỉa mai «biết thế là đưa thư mừng Tây Sơn từ trước có hơn không». Đoàn Nguyễn Tuấn đi sức Bắc Kinh làm thơ tự hào về đất nước: «... Phong cảnh nước Nam... không tia bụi vẩn, núi sông trong sáng. Suốt bốn mùa xuân cây cỏ nở hoa...». Vũ Huy Tấn làm bài thơ văn tế quân Thanh chết trận, bút lực hùng đại, nghiêm cẩn, tung hoành:

«Than ôi!

Bậc vương giả bốn phương trừ nghịch, lân quốc kia sang tránh lấn há dung? Đấng thánh nhân khắp chốn đều nhân, cô hồn nọ để bơ vơ sao nỡ.

Chẳng đành nhìn biển máu, núi xương. Chạnh thương xót sông gào lệ đỏ.

Bọn phương Bắc các ngươi:

Móng vuốt đại bang, anh tài trung thổ.

Mấy thuở hưởng phúc trời yên ổn, ngót trăm năm chiến trận nào hay. Phút giây vì Sỹ Nghị tham công, ngoài nghìn dặm mang dân thí bỏ.

Bắt bay phải lam chướng xông pha. Buộc bay chịu biên cương cực khổ.

Lìa quê nhà, bỏ đồng ruộng, thây Chương Dương, Hàm Tử không ghê. Cắm cờ triệu, dừng cờ mao, trải Mã Lĩnh, Quỷ Môn chẳng sợ.

Phép ra quân điềm gỡ cố ngơ; Điều cấm kỵ nhà binh chẳng nhớ.

Quân ta đã ngọn cờ thẳng trỏ, đàn kiến kia quét tận hang cùng. Lòng ta chẳng thể đức hiếu sinh, mả kình(1) ấy đẹp gì mắt ngó.

Ngặt trong vòng gươm chĩa lưới giăng, khôn thoát cảnh quân tan trận vỡ.

Hoặc những kẻ gặp voi lồng bở vía, thây ven thành góc bãi ngổn ngang. Hoặc những tên vì cầu đứt sẩy chân, xác vùi nước sông Hồng nghẹn ứ!

Dầu kẻ ngu còn ngang ngạnh chưa hàng, song vận bĩ đã kinh hồn nhận rõ.

Buồn trông cảnh Tần thành trăng úa, khổ viễn chinh còn tẩy niềm đau; Thảm nhớ phen Lô thủy mây sầu, xe bại trận không ngăn lệ rỏ.

Nay ta cho: nhặt xương khô mà vun đống mồ kia, lập đàn tế hướng bên dòng sông đó.

Lòng ta rộng thương người cõi Bắc, xuất của kho mà đắp mảnh xương tàn; Hồn bay dừng vơ vẩn trời Nam, rời đất khách mau về nơi quê cũ!

Khả kính lòng ta chú ý chân thành; hầu khiến chí ta đạo trời rộng ngỏ».


(Ngô Linh Ngọc dịch)

Văn tế hay xưa nay hiếm. Với bút lực hùng đại, nghiêm cẩn, tung hoành, với chỗ đứng của Quang Trung cũng là của toàn dân tộc vừa chiến thắng, bài văn tế mới sưu tầm được này càng xác định vị trí đáng ghi nhớ của nhà thơ Võ Huy Tấn trong văn học thời Tây Sơn ngắn ngủi nhưng đặc sắc.

Có đọc những bài thơ chống Tây Sơn, chống lại cả một trào lưu chính nghĩa, tiến bộ... của không ít «gương mặt thế kỷ» như Trần Danh Án, Nguyễn Hành..., chúng ta mới thấm thía hết những lời thơ là chứng nhân trung thực và đầy cảm xúc của lịch sử.

Gần đây, trong khi nghiên cứu văn của các tác giả Ngô Thì, chúng ta chú ý đến bài «Hoài cụu» (nhớ chuyện cũ), một hồi ức rạng rỡ và bi thương về sự nghiệp Tây Sơn:

      Bách vạn tì hưu nhất hà san
      Kiền khôn nang quát chuyển tình gian
      Phá điền thiên tử uy phương xướng
      Lạc mộc quân vương đảm diệc tàn
      Mạc vi thịnh cường thu thập dị
      Na tri trá lực bả trì nan
      Hưng vong đáo để quan nhân sự
      Thân tích không kinh huyết lệ sàn


Tạm dịch:

      Trăm vạn hùng binh ruổi xuống ngàn
      Chỉ trong chớp mắt chuyển càn khôn
      Ông vua phá ruộng oai vừa đấy
      Cây đổ quân vương sợ hết hồn
      Chớ bảo mạnh giàu xâm lấn dễ
      Nào hay gian trá giữ sao đang
      Việc đời suy thịnh do người cả
      Thương tiếc lòng đau máu lệ dàn


Bài thơ cảm xúc sâu lắng, nhiều ý tứ câu chữ cần hiểu cho chính xác, tránh hiểu theo lối «tài tử». Hai câu đầu: Khí thế Tây Sơn. Hai câu tiếp: «phá điền thiên tử» chỉ Quang Trung «lạc mộc quân vương» chỉ vua Lê, vì đời Đinh có câu sấm: «Hòa đao mộc lạc, thập bát tử hành» (ghép thành chữ Lê). Câu 5, 6: «Thịnh cường» và «trá lực» chỉ Mãn Thanh? Dầu sao câu cuối đã rõ ra lời tiếc thương đau đớn cho một sự nghiệp lớn đã tiêu vong.

Những hồi ức thương đau nhưng rạng rỡ! «Bách vạn tì hưu nhất há san. Càn khôn nang quát chuyển tình gian», hai câu thơ đẹp để nói về chiến thắng của Quang Trung, hai câu thơ khinh khoái mà gợi cảnh lớn lao, sánh với hai câu thơ của Ngô Ngọc Du: «Trường khu trực đáo chân thần tốc, Như tòng thiên giáng nên để đương».

... Các thế kỷ đã trôi qua, các chân trời lịch sử đã lùi xa vào dĩ vãng, nhưng những chiến công oai hùng và rạng rỡ đã cùng với sử sách và thơ văn để lại cho những thế hệ hôm nay và mai sau một truyền thống quí báu, một sức mạnh tinh thần vô giá trong cuộc chiến đấu ngày nay. Chúng ta soi mình vào trong ánh lửa chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút, chiến thắng Đống Đa xưa, tự hào về ngày xưa càng tự hào vì hôm nay:

Thành Nam thập nhị kình nghê quán
Chiến diệu anh hùng đại võ công


(Ngô Ngọc Du)

(Nam thành xác giặc mười hai đống.
Rạng rỡ anh hùng đại võ công)


M.Q.L


(1) Mả kinh; Xác giặc chất đống hình con cá kình (cá dữ).


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Hai, 2022, 08:07:09 am
CHIẾN THẮNG RẠCH GẦM — XOÀI MÚT
TRÊN SÂN KHẤU CÁCH MẠNG

Nhà thơ HOÀI ANH
                                                                                                                             
(Tuần báo Văn nghệ — thành phố
Hồ Chí Minh)

Trên sân khấu cách mạng, nhiều giai đoạn hào hùng của lịch sử dân tộc đã và đang được tái hiện một cách sinh động. Trong đó, giai đoạn được các nhà viết kịch bản sân khấu quan tâm nhất là giai đoạn vùng dậy kỳ diệu của phong trào Tây Sơn. Chỉ tính riêng trận Rạch Gầm — Xoài Mút, cũng đã có đến hai kịch bản được dàn dựng và công diễn khắp nơi. Nhân kỷ niệm 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút, chúng tôi xin trình bày vài suy nghĩ của mình sau khi xem Tiếng sóng Rạch Gầm của Ngọc Linh.

Tóm tắt chuyện kịch như sau: Trong doanh trại quân Xiêm ở Trà Tân, trên cù lao Năm Thôn, giữa lòng sông Tiền Giang, hai tướng Xiêm là Chiêu Tăng và Chiêu Sương trao đổi với nhau về cách đối phó với quân Tây Sơn. Chiêu Sương nói Nguyễn Huệ có ý muốn cầu hòa, sáng nay đã mang lễ vật gồm năm hòm vàng, năm rương bạc cùng lụa là gấm vóc tới dâng và mình đã trao lời cam kết hẹn ngày rút quân. Chiêu Tăng chê lễ vật như vậy quá ít nhưng Chiêu Sương nói là mình còn có ý đồ khác. Giữa lúc đó Nguyễn Ánh vào, cùng đi có tướng Mạc Tử Sinh và tham mưu Lê Xuân Giác. Nguyễn Ánh trách tướng Xiêm sao lại án binh bất động, hai tướng chống chế là đang thăm dò binh lực của Nguyễn Huệ. Lê Xuân Giác bèn trình bày số binh thuyền và thực lực của Nguyễn Huệ cho hai tướng Xiêm nghe, đồng thời nêu kế hoạch công phá thủy sư Nguyễn Huệ. Có tin sứ giả Tây Sơn xin vào gặp hai tướng Xiêm. Nguyễn Ánh xin với hai tướng Xiêm cho Lê Xuân Giác ở lại dự cuộc tiếp kiến sứ giả. Chiêu Sương miễn cưỡng nhận lời nhưng lấy áo của tướng Xiêm choàng lên vai Xuân Giác để sứ giả Tây Sơn khỏi biết đó là người của Nguyễn Ánh. Sứ giả Tây Sơn là đốc chiến Trương Long Hầu và đoàn tùy tùng mang lễ vật vào dâng tướng Xiêm. Chiêu Sương đem phong thư cam kết cho Trương Long Hầu nhờ trao cho Nguyễn Huệ. Lê Xuân Giác bực bội bỏ áo choàng đứng dậy. Ngay lúc đó quân Xiêm đi cướp bóc gái đẹp trở về, trong số người bị bắt có Xuân Hồng là con gái Lê Xuân Giác. Lê Xuân Giác trách tướng Xiêm sao lại dung túng cho quân cướp bóc dân lành lại bắt cả con mình. Chiêu Tăng nổi dậy. Khi thấy quân Xiêm ùa vào níu lấy Xuân Giác thì Trương Long Hầu bèn mở túi gấm lấy hai hạt minh châu trước đây thu được từ tay Quốc phó của chúa Nguyễn là Trương Phúc Loan, đem nộp cho Chiêu Tăng để chuộc mạng cho Xuân Hồng. Chiêu Tăng nhận minh châu, giao Xuân Hồng cho Xuân Giác. Xuân Hồng cảm ơn Trương Long Hầu và từ biệt chàng theo cha trở về nhà.

Khi trở về gặp Nguyễn Huệ, Trương Long Hầu kể cho Nguyễn Huệ nghe chuyện Lê Xuân Giác bị làm nhục giữa doanh trại quân Xiêm. Nguyễn Huệ biết Lê Xuân Giác vốn là một trung thần của chúa Nguyễn, lại là người nhiều mưu lược, chỉ tiếc vì đi lầm đường, hiện «đang cùng đường bế tắc vì mang mãi trong lòng cái nghĩa ngu trung». Nguyễn Huệ viết một phong thư sai Trương Long Hầu mang đến xứ Lạch trao cho Lê Xuân Giác và dặn: «Ta tin tưởng những lời tâm huyết của ta có thể giúp Lê Xuân Giác thấy được con đường sáng nên theo, để giúp dân giúp nước».

Khi đó tại khu nhà của Lê Xuân Giác ở xứ Lạch, hai chị em Xuân Hồng đang tâm sự với nhau. Em gái Xuân Hồng là Xuân Lan, một cánh tay bị bại liệt vì đã sa vào tay quân Xiêm nhưng may trốn thoát được. Xuân Lan rất thù hận quân Xiêm và trách cha vì hai tiếng «trung quân» mù quáng mà đẩy hai chị em vào con đường phản dân hại nước, sau đó quyết vào gặp cha để thuyết phục cha. Trương Long Hầu tới nơi, gặp Xuân Hồng và nhờ Xuân Hồng đưa vào gặp Lê Xuân Giác trao thư của Nguyễn Huệ. Lê Xuân Giác đọc xong còn băn khoăn nghĩ ngợi, nhờ Trương Long Hầu về thưa với Nguyễn Huệ; «Ta là bậc trung thần nhà Nguyễn, thọ hưởng ngọn rau tấc đất của nhà Nguyễn cũng đã nhiều. Không thể một ngày một buổi phủi sạch được ân tình. Ta là bậc thức giả, có hiểu biết chút ít lẽ trời và lòng người, nhưng ở đời có phải lúc nào cũng cãi được mệnh trời đâu».

Giữa lúc đó tướng của Nguyễn Ánh là Mạc Tử Sinh kéo quân rầm rộ tới nơi. Xuân Lan phải đưa Trương Long Hầu ra vườn sau tạm lánh. Mạc Tử Sinh vào mang lệnh của Nguyễn Ánh mời Lê Xuân Giác đến Trà Tân phục mệnh, và dọa nếu không về sẽ trừng trị một cách nghiêm khắc. Mạc Tử Sinh cùng binh sĩ rút lui. Lê Xuân Giác gặp Trương Long Hầu, viết mấy chữ vào tờ giấy hồng điều nhờ Trương Long Hầu trao lại cho Nguyễn Huệ rồi lên đường về ra mắt Nguyễn Ánh. Xuân Lan lấy thanh kiếm đi bảo vệ cha. Xuân Hồng bảo Trương Long Hầu đưa cho mình phong thư để mình mang đến dinh Trấn Định dâng cho Nguyễn Huệ vì mình là con Lê Xuân Giác, quân Nguyễn sẽ không nghi ngờ.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Hai, 2022, 08:07:45 am
Khi Nguyễn Ánh, Mạc Tử Sinh, Lê Xuân Giác và Xuân Lan vào doanh trại của hai tướng Xiêm thì quân Xiêm bắt được Trương Long Hầu mang vào nộp Chiêu Tăng và Chiêu Sương. Chiêu Sương mở trói cho Trương Long Hầu và tha cho chàng về để giữ trọn lời cam kết! Chiêu Sương lại đưa ra phong thư bằng giấy hồng điều có bút tích của Lê Xuân Giác cho ông xem, sau đó lại giao phong thư cho Trương Long Hầu nhờ đem về dâng Nguyễn Huệ. Trương Long Hầu và Lê Xuân Giác đều kinh hãi, đúng là mật thư mà Xuân Hồng mang đi. Xuân Hồng đã ra sao rồi? Chiêu Sương cho Nguyễn Ánh biết: Lê Xuân Giác đã viết trong mật thư gửi cho Nguyễn Huệ tám chữ thôi nhưng đầy đủ ý nghĩa để Nguyễn Huệ phán đoán tình hình: Ba mươi nước ròng, mùng mười nước kém. Nguyễn Huệ dư biết là quân Xiêm sẽ tấn công vào ngày nước lớn nhất trong tháng, thủy triều sẽ không lên cao và cũng không có gió hỗ trợ cho Nguyễn Huệ. Đó tức là ngày mùng mười, tức rạng sáng ngày mai. Nguyễn Ánh chỉ mặt Lê Xuân Giác mắng là kẻ phản bội đã mật báo toàn bộ kế hoạch tấn công cho Nguyễn Huệ biết. Lê Xuân Giác than thân mình đã thức tỉnh muộn màng, nên không biết hành động cách nào, trách Nguyễn Ánh chỉ vì chiếc ngai vàng mà rước quân giặc về tàn hại dân lành. Nguyễn Ánh sai quân sĩ lôi Lê Xuân Giác ra chém. Xuân Lan vọt mình đến rút kiếm uy hiếp Chiêu Sương. Nguyễn Ánh kêu lên: «Xuân Lan tiểu thư, Lê Tham mưu nguy rồi...» — Xuân Lan sửng sốt quay lại. Nguyễn Ánh thúc Mạc Tử Sinh phóng kiếm đâm lén nàng từ sau lưng ra phía trước. Lê Xuân Giác nhào tới đỡ con lên và than thở: «Xuân Lan... con chết rồi sao? Con chết vì cái nghĩa trung quân mù quáng của cha già. Trời ơi! (khóc) Nhưng con ơi... không phải chờ tới lúc máu con thắm đượm mấy lần y giáp, cha mới rõ diện mạo của kẻ thù, gây nên cảnh quốc phá gia vong... Nguyễn Ánh... Đến phút cuối cùng cuộc đời ta mới biết đâu là chánh nghĩa. Người cầu viện quân Xiêm để bảo vệ chiếc ngai vàng mục nát, mặc tình chúng dân bị tàn sát thê lương... Rồi ngươi lại làm ra vẻ xót xa phẫn hận, nhưng vẫn thiết tha cầm chân quân giặc cướp! Đã mấy lần ta khuyên dứt, ngươi cười ta một lão đồ gàn, chỉ thấy cái nhục trước mắt mà không thấy cái vinh hiển về sau... Ha, ha... Vinh hiển à? Nguyễn Ánh ơi! cái nhục bán nước này đến muôn năm sau, dòng họ ngươi cũng không rửa sạch».

Nguyễn Ánh điên cuồng hô Mạc Tử Sinh chém Lê Xuân Giác: Ông thét lên: «Giết ta à? Đao kiếm của bây sẽ trở thành vô dụng. Không bao giờ giết nổi ta...» Ông trừng mắt nhìn Nguyễn Ánh. Nguyễn Ánh run sợ lùi lại. Máu miệng Lê Xuân Giác trào ra nhưng đôi mắt vẫn mở ra trừng trừng. Ông cắn lưỡi tự sát. Vua tôi Nguyễn Ánh và lũ giặc Xiêm đều hãi hùng.

Nguyễn Ánh thắc mắc sao Chiêu Sương lại trao mật thư Lê Xuân Giác cho Nguyễn Huệ. Chiêu Sương nói là mình đã có chủ ý trong việc này và cứ hạ lệnh ngày mai tấn công.

Trương Long Hầu trình mật thư của Lê Xuân Giác cho Nguyễn Huệ. Nguyễn Huệ phán đoán: «Quân Xiêm sai đưa mật thư cho ta, để ta nghĩ rằng nếu kế hoạch đã bại lộ rồi, chúng sẽ không điên dại gì mà tấn công ta đâu. Nhưng ngược lại chúng vẫn cứ sẽ tấn công ta rạng sáng ngày mai đúng theo kế hoạch. Chúng có ngờ đâu ta đã có phục binh để chờ đợi chúng, các vị bô lão ở Rạch Gầm đã tính ngày giờ thủy triều lên giùm ta rồi».

Giữa lúc đó, Trương Long Hầu được tin báo có người bị thương trầm trọng nằm hấp hối bên kia vàm sông được dân chúng đưa về. Thì ra đó chính là Xuân Hồng, sau khi bị giặc bắt cướp mất lá mật thư, đã cố tìm cách thoát thân về báo cho Nguyễn Huệ biết rõ tình hình để liệu cách đối phó với giặc. Nguyễn Huệ cảm ơn Xuân Hồng và Lê Xuân Giác, rồi đưa nàng vào trong doanh trại tỉnh dưỡng.

Tiếp đó Nguyễn Huệ ra lệnh cho quân sĩ: «Đúng giờ Hợi, khi đại quân Xiêm — Nguyễn lọt vào chỗ phục binh thì nước lớn, thủy triều không mạnh nhưng đủ tạo thế đứng cho quân ta. Tất cả thuyền chiến phải quay đầu trở lại quyết chiến với giặc».

Trận đánh diễn ra: Quân Xiêm đang thả bè hỏa công ào ạt như thác lửa tuôn vào đoàn chiến thuyền chắn ngang sông. Nhiều chiến thuyền ta bị đốt cháy, quân sĩ tử trận và bị thương rất nhiều, nhưng vẫn cố gắng cầm cự trên sông. Khi ba trăm chiến thuyền giặc đã lọt vào trận địa thì thủy triều lên. Tiếng pháo lệnh nổ, chiến thuyền ta quay đầu trở lại, khóa chặt thuyền giặc giữa lòng sông. Lại tiếng pháo lệnh nổ. Tất cả các khẩu thần công dập ngay lên đầu quân giặc. Quân Xiêm — Nguyễn tan vỡ tơi bời. Chiêu Tăng, Chiêu Sương xơ xác và Nguyễn Ánh thẫn thờ do Mạc Tử Sinh dìu đi. Đèn sáng trở lại cảnh múa hát tưng bừng. Nguyễn Huệ và các tướng tiến lên đài cao, đội hình như bức tranh điêu khắc, ca ngợi chiến công hiển hách ở phương Nam của viên tướng nông dân bách chiến bách thắng.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Hai, 2022, 08:08:07 am
*
*   *

Vở Tiếng sóng Rạch Gầm do đoàn Cải lương Văn công thành phố Hồ Chí Minh biểu diễn tại Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc khu vực các tỉnh phía Nam, tổ chức tại Hậu Giang, đã được đánh giá khá tốt.

Nhìn chung vở cải lương đã nêu bật được tài năng, mưu lược của vị anh hùng Nguyễn Huệ, chính nghĩa cũng như khí thế của đoàn quân khởi nghĩa nông dân, tinh thần lạc quan chiến thắng của tướng sĩ nghĩa quân cũng như quần chúng nhân dân ủng hộ Tây Sơn. Bên cạnh những tướng sĩ nghĩa quân như Trương Long Hầu, cai đội Tốn, cai đội Trần Văn Sang... vở kịch cũng đã xây dựng được một số hình tượng quần chúng nhân dân, như lão Ba Tam đã hy sinh khi lặn xuống đáy sông dò xét lòng sông và mực nước để liệu cách tấn công địch, như Lê Thị Hường con gái lão Tam đã liều chết bảo vệ cha khi cha sa vào tay giặc, như bà mẹ cô Quyên đã cho con gái tòng quân, còn chính mình cũng xung phong đưa tin tức cho nghĩa quân không quản gì tuổi già sức yếu.

Bên cạnh tinh thần hy sinh vì nghĩa cả của Xuân Hồng, Xuân Lan, người xem cũng chứng kiến quá trình đấu tranh nội tâm của Lê Xuân Giác, một người vì ngu trung nên đã đi lầm đường, cuối cùng mới thức tỉnh quay về với chính nghĩa và góp phần vào kế hoạch tấn công tiêu diệt giặc để chuộc lại lỗi lầm của mình.

Đồng thời bộ mặt hèn hạ «cõng rắn cắn gà nhà» của Nguyễn Án, cũng như sự tàn bạo nham hiểm của bọn tướng Xiêm xâm lược như Chiêu Tăng, Chiêu Sương cũng được khắc họa rõ rệt.

Tuy có một số ưu điểm đã nêu lên, vở cải lương cũng bộc lộ những nhược điểm và thiếu sót nhất định. Do nặng về khai thác những tình tiết éo le, ly kỳ cốt gây hồi hộp, hấp dẫn nên bố cục rối rắm, hành động nhiều khi thiếu lô-gích, gây cảm giác thiếu chân thực, không thuyết phục được người xem. Chuyện thuật người được Nguyễn Huệ sai mang thư cầu hòa là một tù binh Chân Lạp, tác giả thay bằng một nhân vật hư cấu là Trương Long Hầu cũng không sao, nhưng để cho kế hoạch tấn công đã bại lộ rồi, mà cả hai bên đều cùng «tương kế tựu kế» thì lại có cái gì chưa ổn. Đáng băn khoăn nhất vẫn là tác giả đánh giá quá cao vai trò của một bề tôi Nguyễn Ánh như Lê Xuân Giác để cho nó mang tác dụng quyết định đến diễn biến của trận đánh, liệu có hợp lý không?

Đành rằng một vở cải lương đòi hỏi phải gây được tình huống bi kịch, phải có nhân vật chính trải qua đấu tranh nội tâm gay go quyết liệt mới đi đến quyết định và quyết định ấy đã tạo nên cao trào tiến tới giải quyết mâu thuẫn đặt ra cho tấn kịch, nhưng một chiến thắng lớn lao như Rạch Gầm — Xoài Mút, có thể nào thành bại lại chỉ dựa trên sự giác ngộ của một bề tôi Nguyễn Ánh như Lê Xuân Giác, mà còn đòi hỏi phải có nhiều yếu tố quyết định quan trọng hơn. Chúng ta thấy vở cải lương Quang Trung của Trúc Đường cũng mắc phải nhược điểm này khi đặt vấn đề quyết định sự thành bại của trận Đống Đa tiêu diệt hai mươi chín vạn quân xâm lược Mãn Thanh, dựa trên sự giác ngộ của Đinh Đề Lĩnh, một bề tôi Lê Chiêu Thống. Do đó dẫu sao vở «Tiếng sóng Rạch Gầm» cũng vẫn bị sa vào đường mòn của những vở kịch trước đây chứ chưa có những sáng tạo mới. Không những thế việc sử dụng nhiều tình tiết éo le phức tạp, có làm hại cho việc thể hiện quá trình chuyển biến tâm lý nhân vật và tư tưởng chủ đề của vở kịch.

Đề tài trận Rạch Gầm — Xoài Mút là một đề tài lớn cần được tiếp tục khai thác trong văn học nghệ thuật. Những cố gắng bước đầu trong lĩnh vực này dầu sao cũng rất đáng hoan nghênh. Chúng ta chờ đợi những tác phẩm mới quy mô lớn hơn, với chiều sâu về tư tưởng và tình cảm, xứng đáng với tầm vóc của vị anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ, của phong trào khởi nghĩa Tây Sơn đã tạo nên những chiến công vang dội trong lịch sử còn lưu lại đến muôn ngàn đời sau. Đài tưởng niệm chiến công phải là những tác phẩm mang tính chất sử thi, hoành tráng, mà vật liệu xây dựng không có gì khác ngoài tài năng, tâm hồn và công phu lao động của người nghệ sĩ.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Hai, 2022, 08:11:15 am
NHÂN KỶ NIỆM TRẬN RẠCH GẦM — XOÀI MÚT,
NÓI VỀ TÍNH CHẤT LẠC QUAN YÊU ĐỜI TRONG
VĂN HỌC THỜI TÂY SƠN

Giáo sư NGUYỄN LỘC
                                                                                                               
(Khoa Ngữ văn — Đại học Tổng Hợp Hà Nội)

Một đặc điểm nổi bật của văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX là tinh thần tố cáo hiện thực. Đây là giai đoạn nhà nước phong kiến khủng hoảng toàn diện và thối nát đến cùng cực. Giai cấp thống trị trong giai đoạn này sống xa hoa và tranh giành quyền lợi sinh ra chém giết lẫn nhau; trong khi đó đời sống của nhân dân lại vô cùng khốn khổ. Những nhà văn, nhà thơ sống trong giai đoạn này không dửng dưng trước thời cuộc, không quay lưng lại cuộc sống mà nhìn thẳng vào nó, nên tác phẩm của họ có được một nội dung tố cáo mạnh mẽ. Tuy nhiên, cái nhược điểm lớn, hay nói đúng hơn cái hạn chế lớn của văn học giai đoạn này là sự tố cáo ấy lại mang một màu sắc bi quan đậm nét. Các nhà văn, nhà thơ nhìn thấy khá rõ cái xấu, nhưng làm gì để tiêu diệt những cái xấu ấy thì họ bất lực. Nhan nhãn trên những trang văn học của giai đoạn này là những giọt nước mắt của tác giả khóc cho những cảnh đời, những con người bị đày đọa, dầy vò, đắm chìm trong nỗi đau khổ, không phương cứu chữa. Một Đặng Trần Côn, một Nguyễn Gia Thiều hay một Nguyễn Du… đều như thế cả. Nước mắt và sự cô đơn gần như bao trùm lên cả một giai đoạn văn học, và cuối cùng họ rất giống nhau là đều cầu cứu đến Đạo như một cách để giải thoát.

Tuy nhiên, trong văn học giai đoạn này, có một nơi mà nỗi buồn không len vào được và sự cô đơn cũng vắng bóng. Ở đây thay thế cho nước mắt là một niềm vui đôn hậu, thay thế cho nỗi cô đơn là lòng tin vào một cuộc sống sẽ được đổi mới, với một tương lai đầy những viễn ảnh tươi sáng. Đó là mảng văn học thời Tây Sơn.

Chúng ta đều biết thời Tây Sơn tồn tại trong một thời gian không dài, những nhà văn, nhà thơ thực sự sáng tác dưới thời Tây Sơn không nhiều, nhưng đọc kỹ lại tác phẩm của họ mới thấy quí giá biết bao những gì họ đã đóng góp cho văn học dân tộc, mà trong đó chắc chắn phải nói đến tinh thần lạc quan thắm đượm trong nhiều tác phẩm của họ.

Tinh thần lạc quan trong văn học thời Tây Sơn không phải xuất phát từ một ảo tưởng viển vông, thoát ly thực tế, mà nó bắt nguồn sâu xa từ một ý thức sâu sắc về sức mạnh của một phong trào quần chúng và sứ mệnh lịch sử lớn lao mà nói phải đảm nhiệm trước thời cuộc lúc bấy giờ. Trong Hịch Tây Sơn, một tác phẩm tương truyền do Nguyễn Hữu Chương viết thay cho Nguyễn Huệ, khi kéo quân ra Bắc diệt Trịnh năm 1786, một trong những tuyên ngôn đầu tiên của phong trào này, đã thể hiện rất rõ lý tưởng xã hội của nó, một lòng tin chắc chắn rằng nó sẽ được thực hiện. Tác giả nói Tây Sơn xướng nghĩa cần vương là để diệt từ bè lũ Trương Phúc Loan phản bội:

«Trước là ngăn cột đá giữa dòng, kẻo đảng nghịch đặt mưu ngấp nghé. Sau là tưới mưa dầm khi hạn, kéo cùng dân sa chốt lầm than», và việc Nguyễn Huệ kéo quân ra bắc diệt Trịnh cũng không ngoài mục đích ấy.

«Sang sông Mạnh phất cờ Chu Vũ(1), ra tay sửa chính dẹp tà. Vào đất Quan thét ngựa Hán hoàng(2) quyết chí lấy nhân đổi bại».

Năm 1789, lúc được tin Tôn Sĩ Nghị nhân việc Lê Chiêu thống cầu cứu để đem 29 vạn quân sang xâm chiếm nước ta, đang đóng ở Thăng Long. Nguyễn Huệ đã làm lễ lên ngôi hoàng đế cho chính dân phận rồi tức tốc kéo quân đi diệt địch. Trong bài Chiếu lên ngôi của nhà vua, một lần nữa tinh thần lo cho dân, vì dân của phong trào Tây Sơn được phát biểu một cách đầy cảm động. Nhưng điều lý thú là trong tác phẩm này người anh hùng Nguyễn Huệ đã hình dung trước cuộc sống tươi đẹp dưới chính thể mới: Chiến tranh sẽ không còn nữa, xã hội sẽ yên bình, bất công sẽ xóa sạch: «Trẫm nay có cả thiên hạ sẽ dìu dắt dân vào đạo lớn, đem dân lên cõi đài xuân. Vậy thần dân các ngươi hãy yên chức nghiệp, chớ có theo đòi những việc sai trái, người làm quan giữ đạo công liêm, người làm dân vui theo tục tốt, giáo hóa thấm nhuần, đi đến con đường chí thuận để vãn hồi thời thịnh trị…». Ở đây vua Quang Trung mới vạch ra cho mọi người thấy cuộc sống mới sẽ đến với họ, nhưng chưa đến. Nhà vua nói: «Trẫm nay cùng dân đổi mới» để có cuộc sống ấy và nhà vua đã chiến thắng quân xâm lược để giữ yên bờ cõi, đã tiến hành những cải cách lớn để xây dựng lại đất nước. Năm 1789, ghi lại chiến công hiển hách của vua Quang Trung, và sau đó nhà vua đã ban bố một loạt chính sách về phát triển nông nghiệp, mở rộng thương nghiệp, mở trường học, lập chợ búa, mời Nguyễn Thiếp ra xây dựng viện Sùng Chính để dịch sách Trung Quốc, sai người làm luật mới, v.v… Chính trong một thời gian ngắn đất nước ta đã có những chuyển biến đáng kể. Cuộc sống trước đó nhà vua mơ ước sẽ đến thì nó đang đến dần từng bước trong thực tế. Trong bài Tụng Tây hồ phú của Nguyễn Huy Lượng, mặc dù được viết dưới thời Nguyễn Quang Toản, lúc nhà Tây Sơn đã nghiêng ngửa, bỏ Phú Xuân chạy ra Thăng Long, nhưng khi nhắc lại những ngày tháng huy hoàng dưới thời vua Quang Trung Nguyễn Huệ, ngòi viết của nhà thơ vẫn xiết bao hào hứng. Bài phú điểm qua lịch sử quá khứ của dân tộc: Đã có một thời kỳ đất nước này sống trong thịnh vượng, nhưng dần dà về sau vua chúa và giai cấp thống trị lao vào con đường ăn chơi, hưởng lạc, tranh giành quyền lợi, gây ra biết bao tai hại:

Kêu trị loạn, đau lòng con đỏ Vũ
Gọi công tư, mỏi miệng cái hà mô.



(1) Sông Mạnh: sông Mạnh Tân, nơi hội quân của Chu Vũ Vương để từ đó kéo đi đánh vua Trụ tàn bạo.
(2) Đất Quan: tức đất Quan Trung. Hán hoàng tức Hán Cao Tổ. Hán Cao Tổ kéo quân vào đất Quan Trung để đánh Tần.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Hai, 2022, 08:14:43 am
May thay, biện chứng của lịch sử đã đảo ngược chiều hướng sự phát triển ấy. Phong trào Tây Sơn đã bùng nổ và người anh hùng Nguyễn Huệ đã xuất hiện. Nguyễn Hữu Cầu một thời mơ ước: «Bay thẳng cánh muôn trùng tiêu hán. Phá vòng vây bạn với kim ô» nhưng con đại bàng ấy nửa chừng gãy cánh ước mơ không thực hiện được. Lần này tình hình đã đổi khác, kẻ thù đã kiệt quệ, phong trào nông dân đã có một lãnh tụ xuất chúng, và mảnh đất phương Nam mầu mỡ, chừng mực nào đó còn nằm ngoài vòng cương tỏa của ý thức hệ Nho Giáo chính thống nên năng nổ và phóng khoáng, tất cả những yếu tố ấy đã hợp lại thành sức mạnh của phong trào để chiến thắng kẻ thù trong nước và đập tan hai đội quân xâm lược hùng hậu của nước ngoài. Nguyễn Huy Lượng ghi lại những năm tháng ngắn ngủi nhưng không thể nào quên được dưới thời Tây Sơn:

Tới Mậu Thân(1) từ rỡ vẻ tường vân, khắp sông núi nhờ công đãng địch.
Qua Canh Tuất
(2) lại tới con thời vũ, cỏ cây đều gọi đức triêm nhu.
Vùng trì chiểu nước dần dần lặn
Nơi đền đài hoa phơi phới đua.

… Bãi cỏ non trâu thả ngựa buông, nội Chu đã lắm người ca ngợi.

Làn nước phẳng trầm kình ngạc lặn, ao Hoàng nào mấy trẻ reo hò.
Mặt đất đùn này thóc này rau, rầu lòng cô trúc.
Mặt nước chảy nọ dòng nọ bến mặc chí Sào Do.
Cây quàn kia còn đứng dạy thần uy, đoàn Mân tới dám khoa lời Tây hữu.
Sen chùa nọ lại bay về phật cảnh, lũ Ngô về từng niệm chữ Nam vô…


Cố nhiên ở đây có sự phóng đại khoa trương của thể phú, nhưng vượt lên hình thức ước lệ của văn chương, bài phú đã đem đến cho người đọc một sự hào hứng thật sự, một sự rung động sâu xa, mà chắc chắn nếu chỉ có khoa trương về ngôn từ, hay tỏ vẻ về hình thức, nó sẽ không thể nào chịu đựng nổi sự thử thách của thời gian. Ngày nay đọc lại bài phú chúng ta vẫn còn cảm thấy bừng bừng cái không khí sôi động của đất nước sau ngày chiến thắng ngoại xâm đang đi vào xây dựng dưới thời Quang Trung.

Trong văn học thời Tây Sơn, những tác phẩm có tầm bao quát kiểu Tụng Tây hồ phú nói chung không nhiều. Nhưng với một qui mô nhỏ hơn, nhiều nhà thơ khác cũng đã ghi lại được nhiều nhà thơ khác cũng đã ghi lại được nhiều quang cảnh sinh hoạt vui tươi của giai đoạn này. Chẳng hạn Cao Huy Diên trong bài Bát Tràng ngọ bạc, viết năm Giáp Dần (1794) tả lại làng Bát Tràng bên bờ sông Nhị, một làng nổi tiếng về nghề làm gốm. Ở đây cuộc sống nhộn nhịp, công việc làm ăn phát đạt, mọi người đều no đủ:

      Thuyền nhẹ trưa về neo bến Nhị,
      Cạnh phường đất trắng gốm quê hương
      Đất vừa bồi tới, nông choèn bãi
      Dâu mới trồng thêm xanh ngát nương
      Mấy ngã vãng lai đường tiện lợi
      Một vùng giàu có nghiệp công thương
      Đầy thuyền ngâm ngợi rằng ai đó
      Chẳng phải quan mà chẳng khách buôn.


(Bản dịch của Ngô Linh Ngọc)

Đoàn Nguyễn Tuấn trong bài Kinh quá Nghệ An cũng ghi lại những đổi thay của vùng Hoan Châu cũ. Trước kia trong chiến tranh vùng này xơ xác, tiêu điều, người thưa thớt, ruộng đồng bỏ hoang. Những năm dưới thời Tây Sơn cuộc sống ổn định nên con người sống đoàn tụ, trong làng cây xanh rợp bóng, ngoài ruộng mạ non đầy đồng:

      Bao năm xa nước với xa làng,
      Hai bận Hoan Châu ghé vội vàng
      Người thấy mười năm sinh tụ trước,
      Ngựa quen nghìn dặm bước đường trường
      Mây xanh rợp bóng cây đông kín
      Mạ biếc đầy đồng đất chẳng hoang
      Bô lão gặp nhau thường hỏi chuyện
      Tiêu điều mừng lại được khang trang


(Khương Hữu Dụng dịch)

Đặc biệt Ngô Ngọc Du trong bài Đàm ni thân thế khẩu thuật, nhà thơ không nói về sự thay đổi của quang cảnh sinh hoạt, mà nói về sự «đổi đời» của một cô gái có tài sắc dưới thời vua Quang Trung Nguyễn Huệ. Nàng vốn là một cung nữ hầu hạ trong phủ chúa Trịnh. Cuộc sống của nàng trôi qua tẻ nhạt trong cung cấm. Bỗng dưng một hôm chúa Trịnh để ý đến nàng, có vẻ quyến luyến yêu vì nàng thì chẳng may Đặng Thị Huệ biết được đánh ghen, thế là nàng bị hành hạ hết sức tàn nhẫn:

      Trói gô trước điện mỏi quỳ,
      Đao vô tình mớ tóc thề gột phăng.
      Giam cầm phòng kín tối tăm,
      Biết gì bao độ tháng năm xoay vần.


Nhưng rồi cuộc khởi nghĩa Tây Sơn bùng nổ, triều đình Lê Trịnh bị tiêu diệt, người con gái tưởng mình sẽ chết trong nhà giam kín đã được trở lại cuộc đời với biết bao mừng tủi:

      Bảo rằng đời đã đổi thay,
      Trịnh tàn, Lê cũng từ nay chẳng còn
      Từ nay xóa sổ đoạn trường,
      Xa quê lâu, liệu tính đường về thôi
      Tái sinh, mừng sợ bồi hồi,
      Giải lòng một lạy trước nơi Phật đàn.


(Ngô Linh Ngọc dịch)


(1) Mậu Thân: Năm Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế.
(2) Canh Tuất: Năm Nguyễn Huệ dẹp yên hết giặc giã trong nước.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Hai, 2022, 08:15:52 am
Nói chung, những tác phẩm viết về cuộc sống dưới thời Tây Sơn toát lên một không khí thanh bình, ổn định, không còn cái thấp thỏm lo âu như trong thơ văn những năm tháng khốc liệt vào khoảng giữa thế kỷ XVIII. Niềm lạc quan trong văn học thời Tây Sơn như trên đã nói, bắt nguồn từ những đổi thay trong cuộc sống thực tế. Nhưng có lẽ chưa phải chủ yếu, mà trước hết nó bắt nguồn từ sự thay đổi trong tâm hồn con người. Trước kia người buồn, nên nhìn cảnh nào cũng buồn, còn bây giờ con người cảm thấy vui, nên nhìn vào đâu cũng thấy tươi mới. Các nhà thơ Tây Sơn cũng là các nhà nho, và sáng tác của họ cũng mang những nhược điểm lớn như sáng tác của các nhà nho khác. Đó là thái độ coi thường việc phản ánh những chi tiết chân thực, sinh động của cuộc sống vào tác phẩm văn học, và hướng văn học đến những cái gì gọi là «thanh cao», «cao quí». Cho nên mặc dù có thái độ nhập thế sâu sắc, các nhà thơ thời Tây Sơn khi sáng tác vẫn thích nói đến cỏ cây mây nước, thích ngâm vịnh xướng họa, hơn là viết những điều thiết yếu, thiết thực. Tuy nhiên, dù họ có viết về đề tài nào đi nữa, người đọc vẫn có thể dễ dàng nhận thấy niềm vui nhen lên trong lòng họ âm ỉ mà sâu sắc. Thơ viết về thiên nhiên trong văn học Tây Sơn chiếm một khối lượng đáng kể. Điều đáng chú ý ở đây là những bức tranh họ dựng lên, tuy mỗi người một sắc thái, một bút pháp, nhưng đều có chung đặc điểm là cảnh nào cũng đẹp, cũng gợi dậy lòng yêu đời, yêu cuộc sống. Mùa xuân trong văn học xưa nay vốn đẹp, nhưng tâm hồn nhà thơ cũng phải đằm thắm như thế nào mới có thể viết được như Nguyễn Đề trong một bài thơ tả cảnh một buổi chiều xuân trên con đường vào Nam:

      Non xanh nước vốn giải la
      Gió lay gợn sóng gấm hoa chen màu
      Bướm vờn mái điểm trắng phau
      Thoi oanh dệt, liễu rũ màu xanh lơ
      Trâu về sáo thổi chiều tà
      Thấp cao bến vắng, gõ ca tiếng chài
      Người trên bộ, khách trên đài
      Chẳng hay xuân từ đâu nơi đượm nồng.


Trong thơ cổ, những buổi chiều tà và những đêm tối thường gợi lên ấn tượng buồn, và nhà thơ thường có tâm sự buồn mới hay viết về những cảnh ấy. Bài thơ tên viết về một buổi chiều mùa xuân êm đềm và không gợi một tý buồn nào cả. Nhiều bài thơ của những nhà thơ khác trong văn học thời Tây Sơn cũng viết về những buổi chiều và những đêm tối mà cũng chẳng có một tý buồn nào cả. Như Ngô Thì Nhậm trong bài Giang thiên văn diễu, cảnh của nhà thơ là lúc chiều hôm, trời sắp tối. Bài thơ vẫn còn những chi tiết chung chung như: «bến chài», «xóm cát», «tiêu réo rắc», «khói chơi vơi», nhưng không khí của nó thì thật trong sáng

      Mênh mông mắt ngắm non cùng núi,
      Trong vắt bầu gom nước lẫn trời.
      Gió thoảng bến chài tiêu réo rắc,
      Chiều buông xóm cát khói chơi vơi.
      Rộng thênh tầm mắt thơ nồng hứng,
      Vút nẻo tà huy nửa bức soi…


Hay như bài Mộc mục độ kiều của Cao Huy Diệu tả cảnh một buổi chiều ở miền núi. Trẻ dong trâu bò về chuồng, chúng vừa đi vừa đùa nghịch, có đứa thổi sáo véo von làm cho cảnh chiều ở đây không còn vẻ âm u, bằng lặng, mà sôi động như sóng dậy. Bài thơ Cao Huy Diệu có cái độc đáo là sử dụng được khá nhiều chi tiết thực, tránh được lối tả thiên nhiên một cách công thức như thường thấy trong văn học phong kiến:

      Trẻ xóm qua cầu leo dốc núi
      Đường về chầm chậm bóng chiều rơi
      Roi tre in ngược lòng mây thẳm
      Trâu bước nhờn nghe tiếng mõ lười

      Thỏa ý cỏ hoa đùa ngắt loạn
      Thuận mồm sáo trúc thổi bừa chơi
      Đất rừng hỏi có điều chi lạ
      Công múa, gà gù, hươu gọi nai.


(Khương Hữu Dụng dịch)

Tính chất lạc quan trong văn học thời Tây Sơn là nét độc đáo khác biệt, dễ nhận thấy của nó so với văn học giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII. Nhưng cũng cần nói thêm rằng mặc dù nó được thể hiện trong nhiều tác phẩm của các tác giả tiêu biểu nó vẫn không đồng đều ở từng người và ở các giai đoạn sáng tác khác nhau giữa hai thời Quang Trung và Quang Toản, mặc dù hai thời này rất ngắn. Có thể nêu một nét chung là đối với những tác giả nào tự nguyện đến với Tây Sơn từ đầu thì yếu tố lạc quan trong tác phẩm của họ đậm đà và rõ nét hơn, còn những người nào đến muộn, hoặc vì hoàn cảnh bắt buộc phải ra cộng tác với Tây Sơn thì yếu tố lạc quan trong tác phẩm của họ mờ nhạt, thậm chí có lúc còn thấp thoáng những ngậm ngùi luyến tiếc về triều đại vừa sụp đổ. Tiêu biểu cho trường hợp sau có thể kể Đoàn Nguyễn Thự. Ông đỗ cử nhân dưới thời Lê Trịnh, đã ra làm quan. Dưới thời Quang Trung, ông ở ẩn, không chịu cộng tác, mãi đến đầu thời Nguyễn Quang Toản ông mới chịu ra làm việc. Ông có phần nào giống Trần Danh Án là không phải không thấy được chút ít cái lớn lao của nhà Tây Sơn, nhưng Trần Danh Án từ dầu đến cuối cự tuyệt việc cộng tác với nhà Tây Sơn, còn ông thì cuối cùng đã ra làm việc cho triều đại này, mặc dù ông vẫn nghĩ việc làm của ông chẳng có gì tốt đẹp.

Dưới thời Nguyễn Quang Toản, tình hình xã hội không còn như dưới thời Quang Trung. Hơn bất cứ ai khác, chính những người cộng tác chặt chẽ với thời đại Quang Trung nay dần dần thấy rõ nguy cơ sụp đổ của nó. Ngô Thì Nhậm, người đã từng cộng tác đắc lực với vua Quang Trung cuối cùng đã thất vọng trước sự thoái hóa của nó. Sau khi vua Quang Trung mất, Ngô Thì Nhậm tiếp tục làm việc một thời gian ngắn dưới thời Nguyễn Quang Toản, rồi ông từ quan về mở thiền viện ở phường Bích Câu để nghiên cứu Đạo Phật và những sáng tác của ông ra đời cùng thời gian với Trúc lâm tông chỉ nguyên thanh không còn cái hào hứng như sáng tác của ông trong giai đoạn trước.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Hai, 2022, 08:18:42 am
VỊ TRÍ CHIẾN THẮNG RẠCH GẦM — XOÀI MÚT
TRONG SỰ NGHIỆP GIỮ NƯỚC CỦA PHONG TRÀO TÂY SƠN
VÀ TRONG LỊCH SỬ CHỐNG XÂM LĂNG CỦA DÂN TỘC

NGUYỄN DANH PHIỆT
                                                                                                                       
(Trưởng ban lịch sử trung đại Việt Nam
— Viện sử học)

Trong quá trình xây dựng đất nước, nhân dân ta đã thường xuyên tiến hành đấu tranh chống xâm lược để bảo vệ độc lập cho Tổ quốc và trường tồn của giống nòi. Đấu tranh võ trang tiêu diệt kẻ thù xâm lược ngay từ khi chúng vừa đặt chân lên đất nước, đấu tranh giải phóng đất nước khỏi ách thống trị ngoại bang đã trở thành truyền thống vẻ vang của nhân dân ta.

Cho đến thế kỷ XV, nhân dân ta phải đương đầu chủ yếu với kẻ thù bành trướng xâm lược Trung Quốc từ phía Bắc, và chống những hành động quấy phá, cướp bóc của Champa từ phía Nam. Từ sau chống giặc Minh thắng lợi vào đầu thế kỷ XV đến những năm giữa thế kỷ XVIII, kẻ thù xâm lược phương Bắc không dám đem đại quân sang. Tuy nhiên, âm mưu và hành động bành trướng, gặm nhấm bờ cõi của chúng vẫn còn xảy ra. Sự kiện Mạc Đăng Dung đầu hàng nhà Minh, dâng đất 6 động vùng Yên Quảng và thái độ của nhà Minh vào những năm 37 — 42 thế kỷ XVI là một trong nhiều bằng chứng.

Cũng trong thời gian gần ba thế kỷ rưỡi đó (1427 — 1785), tình hình bên trong quốc gia Đại Việt không hoàn toàn ổn định. Từ đầu thế kỷ XVI, trật tự kỷ cương xã hội cùng với đời sống nhân dân vừa mới khôi phục và hưng thịnh dưới triều Lê sơ đã bắt đầu chao đảo. Sự xuất hiện của nhà Mạc, chiến tranh Trịnh — Mạc, Trịnh — Nguyễn đã đưa đất nước vào tình trạng cực kỳ rối ren. Nội chiến liên miên, quí tộc quan liêu và địa chủ cường hào ra sức vơ vét, bòn rút. Mọi cơ cực đổ lên đầu nhân dân, chủ yếu là nông dân — bộ phận đông đảo trong cư dân làng xã.

Cùng cực đến mức không chịu đựng được, người nông dân đã phải vùng dậy khắp nơi. Thế kỷ XVIII được mệnh danh là thế kỷ của nông dân khởi nghĩa.

Mặt khác, trên bình diện thế giới, nhiều sự kiện quan trọng đã xảy ra và tác động đến đất nước Đại Việt. Sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự ra đời của giai cấp tư bản thương nghiệp và công nghiệp cùng với sự xuất hiện của những quốc gia tư bản Tây Âu: Anh, Pháp, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, cách mạng tư sản Anh (1648), cách mạng tư sản Pháp (1789) đã gây nhiều xáo động. Các công ty tổ chức tư bản Tây Âu bắt đầu từng bước xâm nhập vào khu vực Đông Nam Á, trong đó có quốc gia Đại Việt. Ngay từ đầu thế kỷ XVI, năm 1523 vua Bồ Đào Nha đã sai người sang nước ta buôn bán. Năm 1525, sử cho biết có 21 nhà truyền giáo dòng tên (Jésuite) đã vào hoạt động ở Đàng Trong… Sau lá cờ truyền giáo là thuyền buôn, tiếp theo là súng đạn. Mối quan hệ với các nước phương Tây dưới những hoạt động thương mại, truyền bá Thiên Chúa giáo thông qua các tập đoàn thống trị Đàng Trong, Đàng Ngoài, dầu có lúc thuận lợi, có lúc bị gián đoạn nhưng không phải không tác động đến kinh tế — xã hội của quốc gia Đại Việt.

Trong khu vực Đông Nam Á, riêng Đông Nam Á lục địa, cũng trải qua những biến động lớn: Sự suy tàn của quốc gia Ăngco bắt đầu từ 1434 và trở thành đối tượng xâm lược và thôn tính của quốc gia Xukhôthai (Xiêm) thành lập từ giữa thế kỷ XIII (1238); Vùng đất phía nam của quốc gia Đại Việt đã được khai phá đến vùng biên giới Việt Nam — Cămpuchia ngày nay; Những cuộc di cư của người vùng Đông nam Trung Quốc do các cựu thần nhà Minh cùng với thủ túc chạy lánh nạn tìm đến lập nghiệp ở vùng đất phía Nam Đại Việt…

Dẫn ra những nét lớn về tình hình nước ta trong bối cảnh chung như trên, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến hoàn cảnh và điều kiện lịch sử của chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút.

Nói một cách khác, chúng tôi muốn lưu ý vào thế kỷ XVIII đất nước ta không chỉ dừng lại ở đối tượng dòm ngó, xâm lược của đế chế Trung Hoa như trước. Lúc này Tổ quốc ta còn đang đứng trước âm mưu thăm dò, can thiệp của tư bản phương Tây, của vương quốc Xiêm, tức Thái Lan sau này. Trong khi đó, chính quyền Lê — Trịnh ở phía Bắc, Nguyễn ở phía Nam chỉ tập trung mọi hoạt động chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao nhằm thôn tính lẫn nhau. Khó tìm thấy một chủ trương chính sách nhằm phát triển xã hội hoặc cải thiện đời sống của nhân dân. Ngay cả mục đích khai phá phía Nam của chúa Nguyễn cũng còn phải phân tích thảo luận.

Phong trào nông dân thế kỷ XVIII, với đỉnh cao là phong trào Tây Sơn nổ ra vào năm 1771 là sản phẩm tất yếu của lịch sử nhằm cứu nguy cho đất nước khỏi tan nát, cho nhân dân khỏi lầm than. Mặt khác, tình trạng nội bộ chia xẻ, sản xuất đình đốn, nhân dân cơ cực phiêu tán sẽ dẫn đến một hậu quả cực kỳ nghiêm trọng đối với nền độc lập dân tộc trước những đe dọa mới trong tình hình mới. Và do đó, rất rõ ràng, phong trào nông dân Tây Sơn ngay từ đầu nhằm mục tiêu thanh toán các tập đoàn phong kiến thống trị Trịnh — Nguyễn. Bọn chúng từ lâu đã trở thành tai họa cho đời sống nhân dân, thành trở lực cho sự phát triển của lịch sử. nhưng bối cảnh mới, tình hình mới đã đặt ra nhiệm vụ mới cho cả dân tộc. Đó là nhiệm vụ chống xâm lược, bảo vệ độc lập cho Tổ quốc. Lịch sử đã đặt ra nhiệm vụ mới và lịch sử cũng đã tạo điều kiện cho dân tộc ta hoàn thành nhiệm vụ đó một cách tốt đẹp.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Hai, 2022, 08:19:26 am
II

Cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt giữa một bên là một tập đoàn phong kiến Lê — Trịnh — Nguyễn, một bên là nông dân tập hợp dưới cờ của anh em Tây Sơn nổi lên từ năm 1771 đã dẫn đến những thắng lợi liên tiếp về phía phong trào nông dân.

Riêng trên vùng đất Gia Định, cho đến trước chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút, đã 5 lần nghĩa quân Tây Sơn tiến vào giải phóng và đã 4 lần thu được thắng lợi lớn. Lần thứ năm vào năm 1883, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ đem thủy quân tiến vào Gia Định đánh bật Nguyễn Ánh ra khỏi đất liền. Nguyễn Ánh phải chạy trốn ra đảo Phú Quốc, lênh đênh trốn tránh ròng rã trên mặt biển trước sự truy lùng ráo riết của nghĩa quân Tây Sơn. Sau thất bại năm 1883, Nguyễn Ánh đích thân sang cầu cứu vua Xiêm. Ngày 21 tháng 7 năm 1784 quân Xiêm tiến vào giày xéo lên lãnh thổ phía Nam quốc gia Đại Việt.

Cần phải nói rõ rằng hành động xâm lược của giặc Xiêm đã nằm trong ý đồ bành trướng về phía Đông, thôn tính Chân Lạp, lấn chiếm miền đất nước mới khai phá của Đại Việt. Riêng với nước ta, ngay từ đầu thế kỷ XVIII đã nhiều lần vua Xiêm xúi giục, giúp đỡ Chân Lạp xâm phạm vùng đất Hà Tiên. Đó là vào các năm 1715, quân Xiêm do Nặc Thâm dẫn đường thình lình tới Hà Tiên cướp bóc hết của cải đem đi; năm 1766 vua Xiêm sửa soạn chiến thuyền định ngày sang đánh Hà Tiên, chúa Nguyễn sai đem 3 chiếc thuyền đi biển, 20 chiếc thuyền sai và 1000 tinh binh đóng giữ Hà Tiên; năm 1771 vua Xiêm đem 2 vạn quân thủy bộ đánh cướp Hà Tiên, Mạc Thiên Tứ chống không nổi. Lưu thủy dinh Long Hồ Tống Phước Hiệp đem binh thuyền đến cứu. Vua Xiêm phải để Trần Liên ở lại Hà Tiên, tự mình đem quân về chiếm Chân Lạp, đóng giữ Nam Vang, có ý dòm ngó vùng phiên trấn Đại Việt. Đến năm 1773, tháng 2 âm lịch vua Xiêm mới triệu Trần Liên về.

Như vậy là âm mưu và hành động xâm lược của giặc Xiêm đối với miền đất phía Nam đất nước ta đã rõ. Nói cho công bằng, điều này các chúa Nguyễn có biết và đã có ý đề phòng. Thế nhưng trong cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt, trước thắng lợi của phong trào nông dân Tây Sơn, chúa Nguyễn đã không ngần ngại bắt tay với giặc Xiêm dẫn chúng về. Mở đầu là Nguyễn Ánh.

Tài liệu lịch sử cho hay, sau lần hành quân thứ hai của nghĩa quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ trực tiếp chỉ huy vào giải phóng Gia Định nào năm 1777, Duệ Tông Nguyễn Phúc Thuần và Nguyễn Phúc Dương bị giết. Năm 1778 Nguyễn Ánh lên nắm quyền. Tháng 6 âm lịch Nguyễn Ánh đã sai cai cơ Lưu Phước Trung sang Xiêm thăm dò, móc nối với Mạc Thiên Tứ và Tôn Thất Xuân đã sang Xiêm cầu viện sau khi Long Xuyên bị nghĩa quân Tây Sơn chiếm giữ trong lần tiến quân năm trước (1776). Đến năm 1782, sau đợt tiến công của nghĩa quân Tây Sơn do Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ chỉ huy, Nguyễn Ánh lại sai Nguyễn Hữu Thụy, Trần Xuân Trạch cùng cai cơ Cao Phúc Trì mượn đường Chân Lạp sang cầu viện quân Xiêm. Nhưng bọn này đã bị người Chân Lạp giết chết. Và lần thứ ba, trước sức tấn công như vũ bão của quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy vào năm 1783, Nguyễn Ánh phải tháo chạy ra biển. Tháng 7 âm lịch năm đó, Nguyễn Ánh trao con cho Bá Đa Lộc sang Pháp cầu viện. Cũng liền sau thất bại ở Bến Nghé (1783), Chu Văn Tiếp đã chạy sang Xiêm cầu viện, chuẩn bị đưa quân Xiêm về đón Nguyễn Ánh. Năm sau 1784, tháng 2 âm lịch Nguyễn Ánh theo quân Xiêm sang cầu viện cùng với bầu đoàn gồm hơn 30 người. Tháng 6 âm lịch, Nguyễn Ánh bám gót giặc Xiêm về nước.

Lần này đại quân của giặc Xiêm gồm 5 vạn do Nguyễn Ánh rước về không chỉ dừng lại ở can thiệp vào công việc nội bộ của Đại Việt mà nhân cơ hội thực hiện ý đồ xâm lược, chiếm giữ vùng đất cực nam mới khai phá của nhân dân ta. Nói rõ hơn, cho đến năm 1784 họa xâm lăng từ phía Tây Nam của đất nước đã trở thành hiện thực. Quân Xiêm dựa vào thế lực phong kiến phản động bên trong đã tiến vào giày xéo lên đất nước, gây bao đau thương tang tóc, mất mát cho giống nòi. Mạc thị gia phả cho biết chúng giết hại nhân dân và cướp bóc vàng bạc của cải không biết bao nhiêu mà kể. Chính vua Xiêm về sau cũng phải thú nhận «Hai tên súc sinh Chiêu Tăng và Chiêu Sương làm việc kiêu căng, hung hãn, vào sâu đất giặc… tàn hại nhân dân nước ấy». Trong thư gửi giáo sĩ J. Liot tháng 1/1785, Nguyễn Ánh cũng phải bộc lộ «Bọn lính Xiêm chạy theo cuồng vọng của chúng cướp bóc, hãm hiếp đàn bà con gái, vơ vét của cải, giết hại bất kỳ già trẻ».

Hành động «cõng rắn cắn gà nhà» của tập đoàn phong kiến thống trị đã rõ. Nguyễn Ánh rước giặc Xiêm về năm 1784, 5 năm sau, vào năm 1789, đến lượt Lê Chiêu Thống rước giặc Thanh. Hai sự kiện tuy khác nhau về không gian và thời gian nhưng cùng một bản chất, đã tố cáo đầy đủ bộ mặt phản động, bán nước của các tập đoàn phong kiến thống trị trong lịch sử vào nửa cuối thế kỷ XVIII.

Trước tình thế đó, một dân tộc có truyền thống đấu tranh giữ nước anh dũng, từng thử thách, tôi luyện hàng ngàn năm không thể khoanh tay. Lịch sử lên tiếng gọi. Đoàn quân áo vải do anh em Tây Sơn cầm dầu hôm qua còn giương cao ngọn cờ cứu dân nhằm mũi nhọn đấu tranh vào kẻ thù giai cấp, thì hôm nay, cũng chính đoàn quân đó lại giương cao ngọn cờ dân tộc nhằm tiêu diệt kẻ thù xâm lược và tay sai bán nước. Hận thù giai cấp cộng thêm hận thù dân tộc đã làm tăng ý chí quyết tâm chiến đấu của lực lượng nghĩa quân, tăng cường đội ngũ và sức mạnh tập hợp dưới ngọn cờ vì độc lập của Tổ quốc, vì tự do của mọi nhà. Ngược lại, đối với tập đoàn Nguyễn Ánh, tội phá nước cộng thêm tội bán nước.

Đáp ứng yêu cầu của lịch sử, phong trào nông dân Tây Sơn đã đảm đương nhiệm vụ giữ nước và đã hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc trong trận thủy chiến vĩ đại Rạch Gầm — Xoài Mút. Năm vạn quân Xiêm — Nguyễn cùng 300 chiến thuyền giặc bị tiêu diệt. Vài ngàn quân giặc sống sót theo chân bại tướng chạy về nước. Nguyễn Ánh với một đám tàn binh chạy về Hà Tiên, tạm trú ở đảo Cồn Khơi, rồi tháo chạy ra đảo Thổ Châu, đảo Cổ Cốt để sau đó dạt vào trú ngụ ngay trên đất giặc, bên ngoài thành Vọng Các.

Từ đây, với chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút, ngọn cờ dân tộc đã chính thức được giương cao trong tay phong trào nông dân Tây Sơn với lãnh tụ Nguyễn Huệ — người anh hùng dân tộc.

Cũng tại đây, phong trào tập hợp mở rộng thêm đội ngũ, tạo điều kiện thuận lợi, làm đà cho việc tiến quân ra Bắc hoàn thành nhiệm vụ giữ nước một cách cực kỳ oanh liệt trong trận Đống Đa lịch sử vào năm 1789.

Từ chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút, phong trào nông dân Tây Sơn không còn mang tính chất địa phương, mà đã tập trung và phát triển thành phong trào dân tộc lớn mạnh. Trong khi đó, các tập đoàn phong kiến thống trị ngày càng phân hóa và lộ rõ chân tướng phản động, phản dân tộc của chúng.

Chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút mở đầu cho sự nghiệp giữ nước, đồng thời là bước ngoặt ghi dấu sự phát triển quan trọng về mọi mặt của phong trào nông dân Tây Sơn.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Hai, 2022, 08:20:46 am
III

Nhìn lại quá trình đấu tranh giữ nước của nhân dân ta cho đến dầu thế kỷ XX, chúng ta có thể chia làm ba thời kỳ rõ rệt. Thời kỳ thứ nhất, từ thuở dựng nước cho đến Ngô Quyền với chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938. Thời kỳ thứ hai từ chiến thắng giặc Tống lần thứ nhất (981—82) cho đến cuộc kháng chiến chống giặc Minh do Hồ Quý Ly tổ chức (1406—1407) và thời kỳ thứ ba từ khởi nghĩa Lam Sơn (1418—1427) trở đi, trong đó có chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút.

Sự phân chia thời kỳ như trên hoàn toàn không dựa vào tính chất, đặc trưng, diễn biến cụ thể của từng cuộc kháng chiến. Chúng tôi nhìn nhận vấn đề ở một góc độ bao quát hơn — góc độ xã hội — chính trị. Đây là một vấn đề phức tạp. Trong giới hạn của một tham luận hội nghị khoa học, chúng tôi xin phép dừng lại chủ yếu ở trình bày luận điểm.

Cho đến nay chúng ta chưa hoàn toàn thỏa mãn với một nhận thức chung chung rằng lịch sử dân tộc ta, cho đến trước Cách mạng tháng Tám đã trải qua các thời kỳ cổ đại, phong kiến đô hộ, phong kiến độc lập tự chủ, thực dân nửa phong kiến, tương ứng với các chặng đường lịch sử lớn thời kỳ Văn Lang — Âu Lạc, thời kỳ Bắc thuộc và đấu tranh chống Bắc thuộc, thời kỳ độc lập tự chủ lâu dài, thời kỳ đấu tranh chống Pháp thuộc. Những kết quả nghiên cứu trong nhiều năm gần đây đã đem lại một nhận thức mới đáng lưu ý. Đó là xu hướng đi tới nhận thức cho rằng ở nước ta, chế độ phong kiến thực sự xác lập vào giữa thế kỷ XIII, hoặc vào thế kỷ XV. Chế độ sớm đi vào con đường suy thoái mặc dù chưa phát triển hết đà của nó. Từ nhiều thế kỷ trước, mặc dù chế độ sở hữu địa chủ và quan hệ địa chủ — nông dân với hình thức bóc lột địa tô đã xuất hiện, nhưng chưa phải là quan hệ sản xuất chủ đạo, giữ vị trí chi phối trong kết cấu kinh tế — xã hội. Xã hội đó có đặc trưng cơ bản là sự thống trị của chế độ sở hữu công cộng, về ruộng đất công xã, mối quan hệ giữa nhà nước và công xã với hình thức bóc lột cống nạp là chủ yếu. Đó chưa phải là xã hội phong kiến, mà là xã hội thuộc phạm trù «phương thức sản xuất châu Á», mặc dù thuật ngữ này chưa bao quát được đầy đủ tính đa dạng, phức tạp của xã hội cụ thể và cũng còn phải thảo luận. Từ giữa thế kỷ XIX, sự xâm lược của tư bản thực dân Pháp và ách đô hộ của chúng còn gây nên những biến động quan trọng trong kết cấu kinh tế — xã hội của nước ta. Nhưng về cơ bản, mọi thiết chế xã hội và kinh tế cũ vẫn được duy trì, có cải tổ ít nhiều nhằm phục vụ cho lợi ích của thực dân Pháp thống trị. Trong quá trình hình thành quốc gia dân tộc, một nhà nước quân chủ tập quyền xuất hiện sớm. Bộ máy quản lý quốc gia độc lập tự chủ đứng đầu là các vương các đế từ thế kỷ X đã từng bước hoàn thiện, củng cố theo xu hướng phong kiến hóa từ cuối thế kỷ X, tiến tới xác lập một nhà nước phong kiến (phương Đông) vào giữa thế kỷ XIII (nhà Trần) hoặc vào thế kỷ XV (Lê Sơ).

Từ chiến thắng Bạch Đằng năm 938 trở về trước, sự nghiệp đấu tranh giữ nước do các thủ lĩnh bộ tộc, liên minh quân sự, các thổ hào, hào trưởng tổ chức, tập hợp và lãnh đạo. Từ cuộc kháng chiến chống giặc Tống lần thứ nhất (981-82) trở đi, trách nhiệm tổ chức, lãnh đạo nhân dân đấu tranh giữ nước thuộc về nhà nước quân chủ tập quyền, đứng đầu là nhà vua và triều đình. Đây cũng là lúc xã hội Đại Việt trên đường phong kiến hóa, tiến tới xác lập chế độ phong kiến trong lịch sử. Quá trình xây dựng, củng cố nhà nước phong kiến quân chủ tập quyền của quốc gia Đại Việt gắn liền với quá trình quan liêu hóa của nó. Quá trình đó đã đưa nhà nước vào con đường xa dân, đối lập với dân và do đó, tước bỏ mất nguồn sức mạnh vật chất và tinh thần mà các nhà nước đó trong buổi đầu tìm được ở lòng dân quây quần trong làng xã theo truyền thống. Mặt khác tính chất quan liêu gắn liền với bảo thủ, bạn đồng hành với chuyên chế, đã đưa nhà nước phong kiến mới xác lập sớm trở thành xơ cứng, trì trệ trước thực tiễn vận động phát triển sinh động của xã hội. Đồng thời nó tước bỏ mất khả năng sáng tạo, thậm chí thủ tiêu ý chí đấu tranh giữ nước của nhà nước đó trước nạn ngoại xâm, vốn là nguy cơ thường trực đối với toàn thể dân tộc.

Thực tế lịch sử cho ta thấy rõ, sau ba lần kháng chiến chống Mông — Nguyên thắng lợi vào thế kỷ XIII, các nhà nước phong kiến đã sớm tỏ ra bất lực, thậm chí còn đầu hàng trước các đội quân xâm lược. Các nhà nước phong kiến với các tập đoàn Hồ, Lê, Mạc, Trịnh, Nguyễn đã quản lý đất nước, cai trị dân lúc thời bình bằng những chính sách tiến bộ hoặc phản động, khoan dung hoặc khắc nghiệt, tạo nên bộ mặt phồn vinh hoặc trì trệ sa sút của xã hội. Nhưng trước nạn ngoại xâm, các nhà nước đó tỏ ra hoàn toàn bất lực, thậm chí còn phản động đầu hàng. Từ cuối thế kỷ XV trở đi, sự nghiệp đấu tranh giữ nước của nhân dân ta không thể trông chờ vào nhà nước của giai cấp phong kiến thống trị. Nhiệm vụ đánh giặc giữ nước do nhân dân tự tổ chức và đảm đương lấy. Các cuộc đấu tranh giải phóng và kháng chiến chống giặc Minh vào các năm 1417—1427 được nhóm lên từ núi rừng Lam Sơn, dưới ngọn cờ của người anh hùng dân tộc Lê Lợi xuất thân từ một hào trưởng địa chủ bình dân, không quan tước; sự nghiệp đấu tranh gìn giữ từng tấc đất ở biên giới phía Bắc vào các thế kỷ XVI — XVII do nhân dân biên giới đảm đương dưới sự điều khiển của thổ tù địa phương. Tuy nhiên sau khi giành giữ được nước, xây dựng chế độ xã hội nào lại là vấn đề của thời đại. Kháng chiến thành công, Lê Lợi lên làm vua, xây dựng nhà nước và tổ chức quốc gia phong kiến không phải là điều lạ. Đây cũng là trường hợp của Quang Trung Nguyễn Huệ ở thế kỷ XVIII. Điều cần lưu ý là sau Lê Lợi, các tập đoàn phong kiến cầm quyền đã tỏ ra hoàn toàn bất lực, đi đến phản bội dân tộc, từng đầu hàng nhục nhã hoặc rước giặc về chỉ vì quyền lợi ích kỷ của tập đoàn mình. Mạc Đăng Dung, Nguyễn Ánh, Lê Chiêu Thống, Tự Đức là những biểu hiện tồi tệ nhất.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Hai, 2022, 08:21:39 am
Sang thế kỷ XVIII, một lần nữa sự nghiệp giữ nước phải do nhân dân tự đảm nhiệm lấy. Phong trào nông dân Tây Sơn với người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử trọng đại đó. Các tập đoàn phong kiến thống trị đầu hàng, rước giặc về giày xéo lên đất nước. Nhưng nhân dân Đại Việt với truyền thống yêu nước nồng nàn không chịu khoanh tay trước nạn nước.

Chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút là sự thể hiện sáng ngời truyền thống vẻ vang của dân tộc. Những con người thuộc các thành phần dân tộc khác nhau Việt, Chàm, Khơme, Hoa, trước đó từng đấu tranh với sình lầy, hoang vu, nước mặn và thú dữ để khai phá bờ cõi, giờ đây, trước hành động rước giặc về của Nguyễn Ánh, đã tập hợp lại trong phong trào nông dân Tây Sơn, góp tài sài, sức lực và xương máu vào sự nghiệp giữ nước. Sự đoàn kết, đồng tình và ủng hộ của nhân dân miền Gia Định nói chung lúc bấy giờ đã giữ phần quan trọng, nếu không muốn nói là quyết định, trong thắng lợi của Rạch Gầm — Xoài Mút.

Chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút hiện ra như một ngôi sao sáng trong sự nghiệp chống giặc giữ nước của nhân dân ta trong thời kỳ mới. Thời kỳ các nhà nước phong kiến chuyên chế quan liêu đã tỏ ra bất lực đi đến phản động, thời kỳ nhân dân ta, đa số là nông dân, phải tự đảm đương lấy sứ mệnh lịch sử đấu tranh cho độc lập của Tổ quốc.

Cuối cùng, chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút là bông hoa chiến thắng đầu tiên trong sự nghiệp giữ nước của nhân dân ta trên địa bàn miền Nam của đất nước. Các cuộc chiến đấu chống giặc Pháp ngay từ những năm đầu xâm lược của chúng, tiếng súng Nam Kỳ khởi nghĩa, Nam bộ thành đồng vách sắt trong 9 năm kháng chiến chống giặc Pháp, hơn hai mươi năm chống tay sai và đội quân viễn chinh Mỹ với quê hương Đồng Khởi oai hùng, chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử là sự tiếp nối tinh thần đấu tranh giữ nước của nhân dân ta nói chung, là sự kế tục và phát huy tinh thần Rạch Gầm — Xoài Mút nói riêng đối với các tầng lớp nhân dân Nam bộ thành đồng của Tổ quốc.

*
*   *

Vào thế kỷ XVIII, tình hình xã hội bên trong cũng như tác động bên ngoài đã đặt Tổ quốc ta trước nguy cơ xâm lược khá trầm trọng. Trong thời kỳ suy tàn, phản động của chế độ phong kiến, phong trào Tây Sơn đã vươn lên làm nhiệm vụ dân tộc, mở đầu bằng trận thủy chiến Rạch Gầm — Xoài Mút đánh tan đội quân Xiêm xâm lược và bè lũ tay sai.

Phong trào nông dân Tây Sơn, bằng chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút đã ghi thêm trang mới vào lịch sử đấu tranh giữ nước oai hùng của dân tộc. Riêng trên địa bàn miền Nam đất nước, Rạch Gầm — Xoài Mút là bông hoa chiến thắng đầu mùa, mở màn cho chiến công nối tiếp chiến công trong đấu tranh giữ nước thời cận hiện đại.

Hai trăm năm trước, giặc Xiêm do Nguyễn Ánh rước về bị nhân dân ta đánh bại ngay trên vùng đất chúng vừa đặt chân đến. Lịch sử đã có dịp lặp lại nhiều lần ở những hoàn cảnh và điều kiện lịch sử khác nhau. Nhưng bất luận trong điều kiện nào, kẻ xâm lược và bè lũ bán nước dù là thực dân Pháp và tay sai nhà Nguyễn, dù là đế quốc Mỹ và Ngô Đình Diệm cùng những tay sai kế tiếp, dù là bè lũ Pôn Pốt — Iêng Xary cùng quan thày của chúng, cũng đều lần lượt bị đánh bại. Nhân dân ta, trong đó có mọi tầng lớp thuộc các thành phần dân tộc khác nhau trên dải đất miền Nam thân yêu đã thắng. Chân lý lịch sử đó đối với dân tộc Việt nam đã được khẳng định từ lâu đời. Ấy thế mà ngày nay còn có những kẻ mưu toan ngoặc tay nhau xâm lược bờ cõi đất nước Việt Nam. Chúng đã và đang bị đánh bại trên vùng biên cương phía Bắc. Chúng sẽ bị nhân dân ta đánh bại cả tớ lẫn thày, nếu chúng quên bài học cũ, dám liều lĩnh.

Chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút mãi mãi là niềm tự hào của toàn thể dân tộc ta, đặc biệt là của nhân dân Nam bộ có truyền thống yêu nước, đấu tranh anh dũng và kiên cường.

Hà Nội, tháng 9 năm 1984

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Đại Nam thực lục tập I (tiền biên), tập II (chính biên) q. 1, q. 2 đệ nhất kỷ, Bản dịch của Viện Sử học, Nhà xuất bản Sử học — Hà Nội, 1962-1963.

Việt Sử thông giám cương mục, chính biên, q.34 đến q.47. Bản dịch của Ban Nghiên cứu Văn Sử Đại, Nxb. Văn Sử Địa — Hà Nội, 1959.

— Ngô Cao Lãng — Lịch triều tạp kỷ, tập II. Bản dịch của Hoa Bằng. Nxb. Khoa học xã hội. Hà Nội, 1975.

— Nguyễn Lương Bích — Phạm Ngọc Phụng — Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ, Nxb. Quân đội nhân dân — Hà Nội, 1971.

— Phan Huy Lê... Trần Bá Chi — Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc. Nxb. Quân đội nhân dân. Hà Nội, 1976.

— Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số đặc biệt về phong trào nông dân Tây Sơn. Tháng 11-12-1978.

Thế kỷ X, những vấn đề lịch sử, nhiều tác giả. Nxb. Khoa học xã hội — Hà Nội, 1985.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Hai, 2022, 08:09:57 am
TỪ RẠCH GẦM — XOÀI MÚT ĐẾN NGỌC HỒI — ĐỐNG ĐA

Đại tá NGUYỄN HUY THIỆP
                                                                                                                       
(Viện Nghiên cứu lịch sử quân sự —
Bộ Quốc phòng)

Trong khoảng thời gian ngắn ngủi, từ năm 1785 đến năm 1989 dân tộc ta đã làm nên 2 chiến thắng lẫy lừng, đánh bại 2 cuộc chiến tranh xâm lược của phong kiến Xiêm và phong kiến Trung Quốc. Rạch Gầm — Xoài Mút, Ngọc Hồi — Đống Đa, cũng như Bạch Đằng — Chi Lăng v.v. đã đi vào lịch sử như một biểu tượng của ý chí quật cường và tài thao lược của dân tộc ta.

Tôi muốn dùng phương pháp so sánh trên một số mặt về kẻ thù, thời điểm xảy ra chiến tranh, chiến lược quân sự của 2 cuộc kháng chiến để hy vọng tìm ra mối liên hệ nào đó của chúng. Nói cách khác, tìm xem chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút đã để lại kinh nghiệm gì cho chiến thắng Ngọc Hồi — Đống Đa.

Quân địch và thời điểm xảy ra 2 cuộc chiến tranh chống xâm lược năm 1785 và năm 1789 là khác nhau, nhưng lại có những điểm rất giống nhau. Đối tượng tác chiến của quân Tây Sơn trong cuộc kháng chiến năm 1785 là quân đội của Nguyễn Ánh và quân đội của tập đoàn phong kiến đã bị quân Tây Sơn đánh nhiều phen tan tác, muốn dựa vào quân đội Xiêm nhằm khôi phục ách thống trị của chúng. Quân đội Xiêm là công cụ của giai cấp quý tộc phong kiến Xiêm — kẻ đang theo đuổi chính sách bành trướng. Đối tượng tác chiến của quân Tây Sơn trong cuộc kháng chiến năm 1789 là quân đội của Lê Chiêu Thống và quân đội của phong kiến Mãn Thanh. Quân đội Lê Chiêu Thống cũng là quân đội của tập đoàn phong kiến đã bị quân Tây Sơn đánh bại, mưu đồ dựa vào quân đội ngoại bang để khôi phục ách thống trị đã bị lật đổ. Quân đội Mãn Thanh là công cụ của phong kiến Mãn Thanh — kẻ mang trong mình đầy màu bành trướng Đại Hán. Đối tượng tác chiến của quân Tây Sơn trong 2 cuộc kháng chiến năm 1785 và năm 1789 đều là tàn quân của phong kiến phản động Việt Nam và quân đội xâm lược của phong kiến nước ngoài.

Không phải năm 1785 quân Xiêm kéo vào nước ta là lần xâm lược đầu tiên. Ngay sau khi hình thành nhà nước phong kiến Xiêm, giai cấp phong kiến Xiêm quý tộc đã tích cực thực hành chính sách bành trướng lãnh thổ đối với Cămpuchia, Lào, Việt Nam. Năm 1772, 6 vạn quân Xiêm đã đánh chiếm đất Hà Tiên của ta, sau đó tiến đến vùng Rạch Giá. Nhưng chúng đã phải rút lui. Năm 1778, tên Tôn Thất Xuân sang xin cứu viện, vua Xiêm hứa sẽ giúp với điều kiện; Từ nay về sau, An Nam phải tiến cống nước Xiêm. Rõ ràng, tập đoàn phong kiến Xiêm luôn luôn ấp ủ âm mưu xâm lược và bắt nước ta phải phụ thuộc vào chúng.

Cũng không phải đến năm 1784, Nguyễn Ánh mới cầu viện quân Xiêm. Năm 1776, sau khi bị đánh đuổi khỏi đất Gia Định, Tôn Thất Xuân đã chạy sang Xiêm xin giúp quân. Và từ đó, Nguyễn Ánh đã nhiều lần cho người đem vàng bạc sang cống vua Xiêm, xin vua Xiêm giúp đỡ. Cuối năm 1783, Nguyễn Ánh đang sống vất vưởng ở Thổ châu, được tin bọn Chu Văn Tiếp, Lê Văn Quân, Tôn Thất Hội đã chạy sang Xiêm, y quyết định chạy theo chúng để tự mình cầu cứu vua Xiêm.

Việc Nguyễn Ánh dẫn đường 5 vạn quân Xiêm vào xâm lược nước ta là kết quả tất yếu của sự cầu kết giữa tập đoàn phong kiến họ Nguyễn với tập đoàn phong kiến Xiêm. Tháng 7-1884, thủy quân Xiêm đổ bộ lên Rạch Giá, mở đầu cuộc xâm lược. Đầu năm 1785 quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy vượt biển tiến vào Mỹ Tho. Ngày 19-1-1785, quân Tây Sơn tiêu diệt toàn bộ quân Xiêm ở Rạch Gầm — Xoài Mút. Tính ra, kể từ khi quân Xiêm bắt đầu cuộc tiến công xâm lược, đến lúc quân Tây Sơn phản công, thời gian khoảng 6 tháng.

Tình hình diễn ra cuộc phản công của quân Tây Sơn đánh bại quân Thanh năm 1785 có khác. Thời gian không dài như vậy. Tháng 11-1789 quân Thanh vượt biên giới tiến công. Ngày 17-12-1788 chúng chiếm Thăng Long. Ngày 21-12-1788, tại Phú Xuân, sau khi nghe đô đốc Nguyễn Văn Tuyết báo cáo tình hình quân Thanh xâm lược, Nguyễn Huệ quyết định ngay ngày hôm sau xuất quân ra Bắc phản công quân địch. Một vấn đề được đặt ra: Tại sao Nguyễn Huệ có thể quyết định nhanh đến như vậy, trước một việc vô cùng lớn lao, quan hệ đến vận mệnh của phong trào Tây Sơn và vận mệnh của Tổ quốc. Chúng tôi nghĩ rằng, sự cấu kết của Nguyễn Ánh với phong kiến Xiêm, và chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút là một trong những nhân tố quan trọng góp phần giúp Nguyễn Huệ dự đoán tình huống tương tự như thế sẽ xảy ra ở Bắc Hà. Nghĩa là Lê Chiêu Thống sớm muộn cũng sẽ dẫn quân Thanh xâm lược nước ta, như Nguyễn Ánh đã dẫn quân Xiêm năm 1784. Không có sử liệu nào ghi chép về dự đoán tình huống chiến lược của Nguyễn Huệ sau khi từ Bắc Hà đem quân về Phú Xuân vào khoảng tháng 6-1788, nhưng thực tế lịch sử cho phép chung ta suy đoán như vậy.

Sau khi trị tội Vũ Văn Nhậm, và làm một số việc cần thiết nhằm ổn định tình hình, Nguyễn Huệ giao binh quyền ở Bắc Hà cho Ngô Văn Sở rồi đem quân về Phú Xuân. Đóng tại Phú Xuân, Nguyễn Huệ có điều kiện thuận lợi đối phó với những biến cố ở cả phía Bắc lẫn phía Nam. Trở về Phú Xuân, Nguyễn Huệ gấp rút tăng cường lực lượng quân đội. chỉ trong mấy tháng quân đội Tây Sơn được tăng cường cả về số lượng và chất lượng, gồm thủy binh, bộ binh, tượng binh, sẵn sàng lên đường chiến đấu. Có một quân đội mạnh được chuẩn bị đầy đủ về mọi mặt, dựa trên sự dự đoán tình huống chiến lược và kế hoạch tác chiến đã dự liệu, là cơ sở để Nguyễn Huệ quyết định thần tốc phản công đánh bại quân địch. Phải chăng từ chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút, Nguyễn Huệ đã có dự đoán tình huống chiến lược và kế hoạch tác chiến đúng đắn để đi đến chiến thắng Ngọc Hồi — Đống Đa.

Dưới đây sẽ so sánh một cách khái quát về chiến lược của quân Tây Sơn trong 2 cuộc kháng chiến đó đều là chiến lược phản công và đòn phản công đều được thực hiện sau thời kỳ rút lui bảo toàn lực lượng. Cuộc kháng chiến chống quân Xiêm diễn ra trong khoảng 6 tháng, trải qua 2 thời kỳ. Thời kỳ đầu, quân Tây Sơn ở Gia Định do tướng Trương Văn Đa chỉ huy chỉ có khoảng chưa đầy một vạn người, đã vừa đánh chặn địch vừa rút lui, nhằm tiêu hao sinh lực địch, bảo toàn lực lượng mình, tạo ra một thời gian cần thiết để đại quân chuẩn bị thực hành phản công. Đến cuối năm 1781, sau 5 tháng tiến công, quân Xiêm chỉ chiếm được hơn một nửa phần đất Gia Định ở phía Tây. Thành Mỹ Tho, Gia Định và nửa phần đất phía đông vẫn thuộc quyền kiểm soát của quân Tây Sơn. Sau khi chuẩn bị chu đáo, đầu năm 1785, Nguyễn Huệ chỉ huy đại quân từ Quy Nhơn vượt biển tiến vào Mỹ Tho, mở đầu thời kỳ phản công của quân Tây Sơn, và đã tiêu diệt đạo quân Xiêm xâm lược bằng trận phục kích thủy bộ ở Rạch Gầm — Xoài Mút vào ngày 19-1-1785.

Cuộc kháng chiến chống Thanh năm 1789 cũng diễn ra 2 thời kỳ giống như cuộc kháng chiến chống Xiêm năm 1785. Thời kỳ đầu quân Tây Sơn ở Bắc Hà, sau một số trận đánh chặn địch, đã chủ động rút về Tam Điệp. Sau 4 ngày tức ngày 21-12-1788 Nguyễn Văn Tuyết đến Phú Xuân cấp báo tình hình với Nguyễn Huệ. Ngày 22-12-1788 đại quân của Nguyễn Huệ từ Phú Xuân xuất phát tiến ra Bắc. ngày 15-1-1789, đến Tam Điệp, Nguyễn Huệ nhận xét chủ trương rút lui của các tướng Tây Sơn ở Bắc Hà là đúng đắn. Ông nói: «chịu nhịn để tránh sức mạnh ban đầu của chúng, đành hãy chỉnh đốn đội ngũ, rút về giữ chỗ hiểm yếu, trong thì khiến cho lòng giặc kiêu căng, đó là một kế rất hay...»(1). Ngày 15-1-1789 đến Tam Điệp, Nguyễn Huệ để 10 ngày làm mọi công tác chuẩn bị. ngày 25-1-1789 ông cho quân tiến công, và chỉ trong thời gian 5 ngày đêm đã tiêu diệt 20 vạn quân Thanh. Sự kiện này gợi cho chúng ta suy nghĩ là, từ kinh nghiệm đánh quân Xiêm và tình hình so sánh thế và lực giữa địch và ta trên chiến trường, Nguyễn Huệ đã phán đoán tình huống quân Tây Sơn ở Bắc Hà cũng phải rút lui trước sức tiến của quân Thanh và trên cơ sở phán đoán tình huống chiến lược, ông đã dự liệu kế hoạch tác chiến phản công tiêu diệt quân địch.

Tóm lại, từ lịch sử của 2 cuộc kháng chiến năm 1785 và năm 1789 chúng tôi nghĩ rằng: chiến thắng quân xâm lược Xiêm năm 1785 đã có đóng góp quan trọng trong việc hình thành dự đoán tình huống chiến lược của Nguyễn Huệ về việc Lê Chiêu Thống sẽ dẫn quân Thanh xâm lược nước ta. Trên cơ sở phán đoán tình huống chiến lược đó, Nguyễn Huệ đã chuẩn bị kế hoạch thần tốc phản công tiêu diệt quân địch. Có thể nói, kinh nghiệm Rạch Gầm — Xoài Mút, một trong những nhân tố quan trọng để Nguyễn Huệ đi đến thắng lợi Ngọc Hồi — Đống Đa.


(1) Ngô Gia văn phái, «Hoàng Lê nhất thống chí» bản dịch, NXB Văn hóa, H.N 1964, trang 530.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Hai, 2022, 08:12:16 am
CHIẾN THẮNG RẠCH GẦM — XOÀI MÚT,
VỊ TRÍ VÀ ÂM VANG

Giáo sư PHAN HUY LÊ
                                                                                                                         
(Khoa sử — Đại học Tổng Hợp Hà Nội)

Trong lịch sử Việt Nam, mỗi cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, đặt trong bối cảnh cụ thể của nỏ, đều có vị trí và ý nghĩa lịch sử riêng, và tất cả kết thành bản trường ca anh hùng của dân tộc.

So với nhiều cuộc chiến tranh yêu nước trước và sau nó, cuộc kháng chiến chống xâm lược Xiêm mà đỉnh cao và trận quyết chiến chiến lược có ý nghĩa định đoạt là Chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút, chưa phải là cuộc kháng chiến giữ nước vào loại có qui mô lớn và mức độ ác liệt nhất. Nhưng đứng về nhiều phương diện khác của lịch sử, kháng chiến chống Xiêm và chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút lại giữ một vị trí đặc biệt và để lại những âm vang mà những cuộc kháng chiến trước đó chưa có. Với những kết quả nghiên cứu cho đến nay, theo tôi, có thể nêu lên những nét đặc sắc sau đây phản ánh vị trí và âm vang của vũ công Tiền Giang 200 năm về trước.

1. — Cuộc kháng chiến diễn ra trong một hoàn cảnh phức tạp của lịch sử khi nền độc lập dân tộc bị đe dọa từ nhiều phía.

Vào thập kỷ 80 và nói rộng ra, vào nửa sau thế kỷ 18, đất nước ta đứng trước nhiều thử thách nguy hiểm từ bên trong và bên ngoài.

Chế độ phong kiến Việt Nam sau một quá trình hình thành, đã xác lập vững vàng vào thế kỷ 15. Đó là một loại hình của chế độ phong kiến phương Đông, xây dựng trên cơ sở bảo tồn và phong kiến hóa kết cấu công xã nông thôn kết hợp với sự phát triển của chế độ tư hữu ruộng đát và kinh tế địa chủ—nông dân. Chính thể quân chủ, từ nửa sau thế kỷ 15, cũng chuyển sang mô hình Nho giáo mang nặng tính chất chuyên chế và quan liêu. Với kết cấu kinh tế—xã hội và thiết chế chính trị đó, chế độ phong kiến đã chứa đựng những mâu thuẫn phức tạp giữa các phe phái thống trị và nhất là giữa đông đảo nhân dân, chủ yếu là nông dân, với giai cấp thống trị và vương triều phong kiến.

Từ đầu thế kỷ 16, sự bùng nổ của các mâu thuẫn trên đã dẫn chế độ phong kiến Việt Nam vào một cuộc khủng hoảng triền miên, kéo dài, mang tính chất trì trệ, có nhiều đặc điểm khác với quá trình suy thoái và giải thể của chế độ phong kiến phương Tây.

Trước hết, những cuộc tranh chấp, xung đột quyết liệt giữa các phe phái phong kiến đưa đến một hậu quả tai hại cho đất nước: nền thống nhất quốc gia bị phá vỡ, hết Nam — Bắc triều đến Trịnh — Nguyễn phân tranh, tình trạng chia cắt kéo dài trên hai thế kỷ rưỡi (1533 — 1786). Trong hoàn cảnh dựng nước của dân tộc ta, độc lập dân tộc, luôn luôn gắn liền với thống nhất quốc gia, cảnh đất nước phân ly không những gây nhiều đau khổ cho nhân dân, cản trở sự phát triển kinh tế chung của cả nước, mà còn làm yếu thế nước, làm suy giảm sức mạnh của dân tộc. Độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia đã bước đầu bị đe dọa từ trong hành động cát cứ, chia cắt đất nước của các phe phái phong kiến.

Chế độ phong kiến lại cảng ngày càng khơi sâu mâu thuẫn giữa tầng lớp nhân dân với giai cấp thống trị và vương triều phong kiến; Chiến tranh nông dân bùng nổ từng đợt vào thế kỷ 16, thế kỷ 17, rồi dâng lên như bão táp trong thế kỷ 18 dẫn đến đỉnh cao của phong trào Tây Sơn. Các thế lực phong kiến càng ngày càng đối lập với nhân dân và đi ngược lại lợi ích tối cao của dân tộc là độc lập và thống nhất.

Triều Mạc thỏa thuận với nhà Minh và cắt đất cho giặc.

Chúa Trịnh bất lực để cho nhà Minh rồi nhà Thanh lấn cướp nhiều dải đất biên cương.

Nguyễn Ánh cầu cứu vua Xiêm và câu kết với chủ nghĩa tư bản phương Tây.

Lê Chiêu Thống rước quân Thanh vào giày xéo. đất nước.

Đây không còn là hành vi bán nước của từng phần tử phong kiến, mà là sự phản bội dân tộc của các thế lực phong kiến nắm quyền thống trị. Giai cấp phong kiến đang trải qua một quá trình phân hóa sâu sắc, trong đó từng bộ phận phong kiến cầm quyền, có tính chất đại diện, đã phản bội lợi ích dân tộc và sẵn sàng câu kết với giặc ngoại xâm. Kẻ thù của độc lập dân tộc tìm thấy một chỗ dựa, một lực lượng nội ứng ngay bên trong cơ cấu xã hội.

Lợi dụng hoàn cảnh và thời cơ đó, vào nửa sau thế kỷ 18, nhiều thế lực bành trướng, xâm lược đã mưu đồ can thiệp và thôn tính nước ta.

Phía nam là phong kiến Xiêm, Phía bắc là đế chế Đại Thanh. Đây là nạn xâm lược đến từ những quốc gia và đế chế phong kiến phương Đông. Thêm vào đó, chủ nghĩa tư bản phương Tây lúc bấy giờ đang bành trướng mạnh mẽ sang phương Đông, cũng mưu tính nhiều kế hoạch thâm nhập, can thiệp và xâm lược. Tư bản Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp đều có những tham vọng và mưu mô đối với nước ta; nhưng cuối cùng Bá Đa Lộc đã nắm được Nguyễn Ánh để mở đường cho những hoạt động can thiệp của tư bản Pháp.

 Như vậy là từ bên trong và bên ngoài, cả phía nam và phía bắc, cả chủ nghĩa bành trướng phong kiến phương Đông và chủ nghĩa tư bản phương Tây, thù trong giặc ngoài từ nhiều phía đe dọa nền độc lập dân tộc của ta. Có thể nói, lần đầu tiên trong lịch sử, kể từ khi dựng nước cho đến lúc đó, dân tộc ta phải đồng thời đối phó với nhiều kẻ thù trong một tình thế phức tạp như vậy. Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Xiêm được bọn phong kiến, phản bội Nguyễn Ánh tiếp tay, là cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc diễn ra trong một bối cảnh thử thách sóng gió của đất nước.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Hai, 2022, 08:13:53 am
2. — Cuộc kháng chiến chống ngoại xâm đầu tiên do một phong trào nông dân vươn lên đảm nhiệm.

Trước đây, giai cấp phong kiến Việt Nam đã có một thời đại diện cho dân tộc, giữ vai trò tổ chức và lãnh đạo công cuộc bảo vệ đất nước. Kháng chiến chống Tống thế kỷ 10—11, chống Mông Nguyên thế kỷ 13 và chống Minh đầu thế kỷ 15 thuộc trường hợp này. Những cuộc chiến tranh yêu nước thành công thời bấy giờ đã phát huy được sức mạnh đoàn kết của cả dân tộc thể hiện vai trò to lớn của nhân dân, chứng tỏ sự phát triển sớm và cao của chiến tranh nhân dân chống ngoại xâm trong lịch sử nước ta, nhưng người tổ chức và lãnh đạo thuộc về giai cấp phong kiến vá vương triều phong kiến tiến bộ. Kháng chiến chống Tống, chống Mông Nguyên do các vương triều Tiền Lê, Lý, Trần đảm nhiệm. Sau kháng chiến chống Minh do triều Hồ lãnh đạo thất bại, khởi nghĩa Lam Sơn dấy lên từ sức mạnh yêu nước và quật khởi của nhân dân, biểu thị một bước phát triển mới, cao hơn của chiến tranh nhân dân. Đó là một cuộc khởi nghĩa dân tộc phát triển thành chiến tranh giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của những nhà yêu nước thuộc giai cấp phong kiến và hệ tư tưởng phong kiến.

Nhưng đến thế kỷ 18, chế độ phong kiến Việt Nam đã suy thoái và giai cấp phong kiến không còn khả năng đại diện cho dân tộc lãnh đạo các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Trong lúc đó, một giai cấp mới tiêu biểu cho một phương thức sản xuất mới, một hệ tư tưởng mới lại chưa xuất hiện. Từ thế kỷ 17 và rõ nét là từ thế kỷ 18, mầm mống tư bản chủ nghĩa đã nảy sinh trong vài ngành kinh tế, nhưng còn quá non yếu.

Vào cuối thời kỳ trung đại, Việt Nam cũng như cả phương Đông trừ Nhật Bản, quá trình suy thoái của chế độ phong kiến không kèm theo một cách thích ứng quá trình hình thành và phát triển của sức sản xuất và quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa như phương Tây. Tinh hình đó có nguyên nhân sâu xa trong kết cấu kinh tế — xã hội và sự phát triển của các hình thái kinh tế — xã hội tiền tư bản chủ nghĩa của phương Đông, làm cho phương Đông lâm vào trạng thái trì trệ kéo dài. Trong hoàn cành như vậy, nhiều nước phương Đông trở nên suy yếu, rã rời và trở thành đối tượng thôn tính dễ dàng của các thế lực bành trướng, nhất là chủ nghĩa tư bản phương Tây.

Việt Nam vào thế kỷ 18 cùng chung vận mạng và đặc điểm với phương Đông, nhưng tử trong lòng xã hội và đất nước vẫn bừng lên một sức mạnh trỗi dậy của nhân dân và của dân tộc. Với lòng yêu nước tha thiết, tinh thần dân tộc sâu sắc, nhân dân ta không những vùng lên trong đấu tranh giai cấp, chống lại các thế lực phong kiến thoái hỏa, mà còn có ý thức bảo vệ lợi ích dân tộc. Trước khởi nghĩa Tây Sơn, xu hướng dân tộc đã chớm nở trong một số cuộc khởi nghĩa nông dân ở Đàng Ngoài.

Nghĩa quân Quận He (Nguyễn Hữu Cầu) chiến đấu dưới lá cờ «Đông đạo tổng quốc bảo dân đại tướng quân», gắn liền nhiệm vụ «bảo dân» với nhiệm vụ «tổng quốc».

Hoàng Công Chất trong thời gian hoạt động ở Tây Bắc, đã đoàn kết các dân tộc thiểu số ở vùng này, vừa chống Trịnh vừa chống các thế lực xâm lấn của nước ngoài, bảo vệ vùng biên cương của Tổ quốc.

Xu hướng dân tộc đó thể hiện tập trung và phát triển đến đỉnh cao với phong trào Tây Sơn.

Phong trào Tây Sơn bắt đầu từ một cuộc khởi nghĩa nông dân, một cuộc đấu tranh giai cấp của quần chúng bị áp bức nhằm mục tiêu «lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo», «tưới mưa dầm khi hạn, kẻo cùng dân sa chốn lầm than» (Hịch Tây Sơn). Nhưng rồi trước nạn xâm lược của nước ngoài và họa đất nước bị chia cắt, phong trào Tây Sơn đã phát triển thành một phong trào dân tộc, làm nhiệm vụ bảo vệ độc lập dân tộc và thống nhất đất nước. Đây là một đặc điểm hết sức quan trọng làm cho phong trào Tây Sơn có thể khắc phục được một số nhược điểm của khởi nghĩa nông dân đơn thuần, lập nên sự nghiệp «giúp dân dựng nước xiết bao công trình» (Ngọc Hân, Ai tư vãn). Phong trào càng phát triển các thế lực phong kiến phản động càng chống đối điên cuồng và đi sâu vào con đường phản bội dân tộc thì tính nhân dân và tính dân tộc của phong trào càng kết hợp chặt chẽ và càng phát triển mạnh mẽ.

Với kháng chiến chống Xiêm, phong trào Tây Sơn bắt đầu tiến lên làm nhiệm vụ dân tộc, đoàn kết các lực lượng yêu nước, kiên quyết chống quân xâm lược Xiêm và bọn phong kiến phản bội Nguyễn Ánh. Đây cũng là cuộc kháng chiến chống ngoại xâm đầu tiên trong lịch sử không phải do giai cấp thống trị lãnh đạo, mà do một phong trào nông dân đảm nhiệm


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Hai, 2022, 08:18:11 am
3. — Cuộc kháng chiến nhằm vào một kẻ thù mới: chủ nghĩa bành trướng Đại Thái của phong kiến Xiêm.

Dựng nước đi đôi với giữ nước là một đặc điểm lớn chi phối toàn bộ tiến trình lịch sử Việt Nam kể từ khi mở nước cho đến nay. Trước kháng chiến chống Xiêm, nạn xâm lược chủ yếu xuất phát từ chủ nghĩa bành trướng Đại Hán của các đế chế Trung Hoa. Từ khi đế chế Tần được thành lập, không một đế chế Trung Hoa nào, không một triều đình Đại Hán nào không tiến hành xâm lược nước ta, thậm chí có triều đại xâm lược đến hai, ba lần. Dân tộc ta gần như thường xuyên phải sẵn sàng ứng phó với hiểm họa xâm lăng đến từ phương Bắc.

Vào thế kỷ 18, dân tộc ta phải đương đầu thêm với một kẻ thù mới đến từ phương Nam: chủ nghĩa bành trướng Đại Thái của phong kiến Xiêm.

Xiêm là một vương quốc của tộc người Thái, thành lập từ thế kỷ 13 trên cơ sở di cư của người Thái xuống lưu vực sông Menam Chau Phaya. Từ thời Lý, Trần, hai nước Đại Việt và Xiêm đã có quan hệ ngoại giao và buôn bán. Sứ thần Xiêm đã đến kinh thành Thăng Long và thuyền buôn Xiêm thường cập bến Vân Đồn. Quan hệ giao lưu đó tiếp tục phát triển trong thời Lê và thời các chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Theo lệ thuế ngoại thương của chính quyền Nguyễn, thuyền buôn Xiêm nộp thuế đến 2.000 quan và thuế đi 200 quan, tương đương với thuyền buôn Phúc Kiến và thấp hơn thuyền buôn Thượng Hải, Quảng Đông, Nhật Bản và phương Tây. Chính quyền Nguyễn còn có lúc cấp «long bài» miễn thuế thuyền công cho nước Xiêm. Nhưng bên cạnh những quan hệ giao lưu kinh tế, văn hóa lâu đời đó, phong kiến Xiêm cũng sớm có những tham vọng đất đai đối với nước ta.

Sau vương triều đầu tiên ở Sukhothai (1257-1419), đến vương triều thứ hai ở Ayuthya (1350-1707), nước Xiêm đã lớn mạnh và có xu hướng bành trướng ra ngoài, mà đối tượng chủ yếu là các nước láng giềng phía đông, nhất là Chân Lạp. Trong thế kỷ 14—15, vua Xiêm đã ba lần chinh phục vương quốc Angkor (1302, 1394, 1431), tàn phá một kinh thành cổ kính, cướp đi nhiều của cải và bắt hàng loạt dân làm nô lệ. Từ năm 1434, Chân Lạp phải dời đô về Pnong Penh và từ đó, bắt đầu quá trình suy yếu của vương quốc Khonne. Lợi dụng những mâu thuẫn và xung đột triền miên giữa các phe phái quí tộc Khơme, phong kiến Xiêm cùng tăng cường can thiệp, nhiều lần đưa quân xâm lược nhằm thống trị và thiết lập những vương triều Chân Lạp chịu thần phục Xiêm. Giữa phong kiến Xiêm và phong kiến Nguyễn ở Đàng Trong đã xảy ra nhiều cuộc đụng độ quân sự trong mưu đồ tranh giành ảnh hưởng và khống chế Chân Lạp. Tham vọng bành trướng của phong kiến Xiêm không chỉ dừng lại trên lãnh thổ Chân Lạp, mà còn dòm ngó cả đồng bằng sông Cửu Long lúc bấy giờ đã thuộc chủ quyền Đàng Trong.

Năm 1715, quân Xiêm tấn công trấn Hà Tiên, cướp bóc nhiều của cải. Đó là hành động xâm phạm đầu tiên của phong kiến Xiêm đối với lãnh thổ nước ta.

Năm 1706, phong kiến Xiêm chuẩn bị mở cuộc tiến công thứ hai sang Hà Tiên, nhưng chưa kịp thực hiện vì phải đối phó với cuộc chiến tranh lớn của Miến Điện.

Năm 1767, nhân lúc nước Xiêm bị quân Miến Điện tấn còng, vương triều Ayuthya sụp đổ, một người Hoa là Trịnh Quốc Anh (có tài liệu chép là Trịnh Sinh hay Trịnh Chiêu) đứng ra tổ chức cuộc kháng chiến chống Miến Điện, rồi đoạt quyền, lập ra một vương triều mới: vương triều Phya Tak hay Taksin đóng đô ở Thonburi (1767 — 1782). Trịnh Quốc Anh vốn là người Triều Châu (Trung Quốc), từ đời cha đã lưu vong sang đất Xiêm buôn bán và làm trưởng Mường Tát. Với vương triều Thonburi do một người Hoa đứng đầu, chủ nghĩa bành trướng Đại Thái được bổ sung thêm những yếu tố chủ nghĩa bành trướng Đại Hán và do đó, càng trở nên nguy hiểm hơn đối với các dân tộc láng giềng. Phya Tak đã xin thần phục nhà Thanh và có những quan hệ mật thiết với Bắc Kinh.

Vừa mới lên ngôi, năm 1769 Phya Tak đã bắt Chân Lạp triều cống, rồi đưa quân sang can thiệp, mưu lập một vương triều thân Xiêm.

Hai năm sau. 1771 Phya Tak tiến công đánh chiếm Hà Tiên rồi mở rộng chiến tranh ra toàn cõi Chân Lạp. Số quân xâm lược Xiêm do Phya Tak chỉ huy lên đến 6 van. Một năm sau, năm 1772 quân Nguyễn mới đuổi được quân Xiêm ra khỏi Chân Lạp và năm 1773 mới thu hồi được trấn Hà Tiên.

Năm 1777, Phya Tak lại phái tướng Chakri (Chao Phya Chakri, sử ta chép là Chất Tri) và Surasih (Chao Phya Surasih, sử ta chép là Sô Si) mở cuộc chiến tranh xâm lược Lạn Xang, chiếm một phần đất rộng lớn của Champassak và hữu ngạn sông Mê Công.

Năm 1781, vua Xiêm lại phái Chakri và Surasih đem 2 vạn quân sang xâm lược Chân Lạp, chiếm kinh thành Pnong Penh.

Như vậy là chỉ trong 15 năm cầm quyền, vương triều Thonburi đã 3 lần xâm lược Chân Lạp, 1 lần xâm lược Lạn Xang và 1 lần xâm lược Hà Tiên của Việt Nam.

Năm 1782, tướng Chakri và Surasih kéo quân từ Chân Lạp về nước, lật đổ vương triều Phya Tak, thành lập vương triều Chakri đóng đô ở Bangkok (từ năm 1782 đến nay). Vương triều Chakri vẫn tiếp tục các hoạt động bành trướng đối với các nước láng giềng. Vua đầu tiên của vương triều này là Rama 1 (1782 — 1809), năm 1783 đã đưa quân sang chiếm đất Hà Tiên và năm 1784, nhân sự cầu cứu của Nguyễn Ánh, huy động 5 vạn quân mở cuộc chiến tranh xâm lược lên miền đất cực nam của nước ta.

Nước Xiêm không phải là một đế chế rộng lớn như Trung Quốc, nhưng chủ nghĩa hành trường Đại Thái của các vương triều Xiêm cũng có một lịch sử khá lâu đời. Các nước Chân Lạp, Lạn Xang là đối tượng bành trướng nhiều lần của các vương triều Ayuthya, Thon bu ri, Bangkok và từ đầu thế kỷ 18, dân tộc ta cũng bắt đầu phải đối phó với những cuộc tiến công lấn cướp của họ trên miền đất mới khai phá của đồng bằng sông Cửu Long. Chính quyền Nguyễn ở Đàng Trong tuy có những mâu thuẫn, xung đột với phong kiến Xiêm, nhưng rồi trước những làn sóng tiến công dồn dập của phong trào Tây Sơn, Nguyễn Ánh lại tìm cách giảng hòa và cầu cứu vương triều Chakri để chống lại nhân dân, chống lại dân tộc.

Cuộc chiến tranh xâm lược năm 1784 — 1785 của phong kiến Xiêm qui mô không lớn lắm, nhưng là cuộc đụng đầu trực tiếp, quyết liệt giữa chủ quyền bành trướng Đại Thái với dân tộc ta. Trong bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ, cuộc kháng chiến chống Xiêm có những khó khăn, phức tạp của nó. Phong trào Tây Sơn chỉ mới làm chủ được phần đất từ Hải Vân trở vào. Quân xâm lược lại được Nguyễn Ánh dẫn đường và được các thế lực phong kiến phản động bên trong, nhất là tầng lớp đại địa chủ ở Gia Định ủng hộ, thế mà, với chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút, quân Tây Sơn đã nghiền nát quân cướp nước và bán nước bằng một trận tiêu diệt sấm sét. Nạn xâm lược của phong kiến Xiêm bị đập tan và chủ nghĩa bành trướng Đại Thái bị một đòn trừng phạt đích đáng làm cho chúng từ đó «sợ Tây Sơn như cọp»(1).


(1) Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Nxb. Sử học, Hà Nội, 1963, T.11, tr.65.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Hai, 2022, 08:26:23 am
4. — Cuộc kháng chiến qui mô lớn đầu tiên trên miền đất cực nam của Tổ quốc

Miền đồng bằng sông Cửu Long đã được những lớp di dân người Việt vào khai phá từ thế kỷ 17 và khoảng cuối thế kỷ 17, đầu thế kỷ 18 đã trở thành một bộ phận đất đai của Đàng Trong. Trong công cuộc khai phá vùng đất này, có công lao của người Khơme, của một số người Hoa lưu vong, nhưng lực lượng ngày càng đông đảo và giữ vai trò quyết định là nông dân người Việt. Họ là những người nông dân lao động từ Thuận Hóa, Quảng Nam đến Diên Khánh, Bình Khang, bị chế độ phong kiến xô đẩy vào cảnh bần cùng phá sản, phải bỏ quê hương, phiêu bạt vào những vùng đất xa lạ này để sinh sống. Bằng sức lao động kiên nhẫn, họ đã dần dần biến đất hoang, cỏ rậm, sình lầy thành đồng ruộng và thôn ấp. Từ đầu thế kỷ 18, một số địa chủ giàu có cũng được chính quyền Nguyễn khuyến khích vào khai khẩn. Số người này, vừa tồ chức khẩn hoang, vừa lấn chiếm ruộng đất của những người nông dân di cư, trở thành một tầng lớp đại địa chủ bao chiếm những diện tích ruộng đất rộng lớn. Đó là một chỗ dựa trung thành của các chúa Nguyễn.

Tuy lớn lên trên miền đất cực nam xa xôi, mới khai phá, giữa môi trường chính trị mang nặng mưu đồ cát cứ lâu dài của các chúa Nguyễn, nhân dân Gia Định (theo nghĩa rộng, chỉ cả Nam bộ sau này, tương ứng với Gia Định thành đời Nguyễn) mà tuyệt đại đa số là nông dân người Việt vẫn nuôi dưỡng tinh thần yêu nước và ý thức dân tộc. Trong cuộc sống cởi mở, phóng khoáng họ vẫn gìn giữ bản sắc thống nhất của nền văn hóa dân tộc, vẫn tự coi là một bộ phận của cộng đồng dân tộc đượm tình nghĩa đồng bào ruột thịt và có ý thức sâu sắc về độc lập chủ quyền thiêng liêng của đất nước. Pierre Poivre là một thương nhân Pháp đến nước ta năm 1745, nhận xét: «Tuy có sự thù hằn, dân cả hai miền đều nói chung một thứ tiếng, cùng chung một phong tục và đều quí mến nhau»(1).

Cuộc chiến tranh xâm lược của quân Xiêm được Nguyễn Ánh tiếp tay, đặt nhân dân Gia Định trước một thách thức và lựa chọn. Sư phân hóa về xã hội đã dẫn đến một sự phân hóa rõ ràng về chính trị. Trong lúc bọn phong kiến đại địa chủ ủng hộ Nguyễn Ánh và khi quân Xiêm tiến sang lại «nô nức dấy quân cần vương»(2), thì đại bộ phận nhân dân vùng nầy, qua thực tế. càng nhận rõ bộ mặt thật của quân cướp nước và bán nước, và càng đứng về phía Tây Sơn, tham gia vào cuộc chiến đấu bảo vệ xóm làng quê hương, bảo vệ độc lập dân tộc.

Cho đến nay, những kết quả nghiên cứu khoa học đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề cơ bản về diễn biến(3) và thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Xiêm, Dĩ nhiên trong cuộc kháng chiến này, quân đội Tây Sơn giữ vai trò nòng cốt và quyết định. Nhưng quân số và đội ngũ tướng soái Tây Sơn tham dự cuộc kháng chiến còn những vấn đề chưa được xác định. Ngoài chủ soái là Nguyễn Huệ, các tướng Tây Sơn khác như phò mã Trương Văn Đa, đô đốc Hóa, chưởng tiền Bảo, đô úy Đặng Văn Trấn đến nay vẫn chưa biết rõ tiểu sử. Điều chắc chắn là qua 13 năm chiến đấu và trưởng thành (1771 — 1731), quân đội Tây Sơn là lực lượng vũ trang của quần chúng khởi nghĩa đã phát triển thành một quân đội có tổ chức và dày đạn chiến trận. Trong quân đội Tây Sơn đã lập nên chiến công Rạch Gầm — Xoài Mút hẳn có mặt những người dân Gia Định đã gia nhập hàng ngũ nghĩa quân qua 5 lần quân Tây Sơn tiến vào diệt Nguyễn và truy quét bọn phong kiến phản động.

Sự tham gia của nhân dân cũng được phản ánh gián tiếp qua những ghi chép bị cắt xén và bóp méo của một số thư tịch đời Nguyễn.

Trước hết, các thư tịch đời Nguyền đều phải thừa nhận những tội ác tàn bạo của quân Xiêm đối với nhân dân Gia Định. Mạc thị gia phả cho biết, khi chiếm được Ba Xắc, quân Xiêm «giết hại nhân dân Hà Tiên, và cướp bóc vàng bạc, của cải không biết bao nhiêu mà kể». Khi đóng quân ở Trà Luật, bọn tướng Xiêm «dung túng cho quân Xiêm cướp bóc và giết hại dân chúng»(4). Nguyễn Ánh là kẻ đã rước quân Xiêm về nước nhưng trước tội ác của chúng và lòng căm phẫn của dân chúng, sử triều Nguyễn cũng phải ghi những lời mị dân của hắn: «Vua thấy quân Xiêm tàn bạo, đến đâu là cướp bóc đấy, dân ta oán rất nhiều, bảo các tướng rằng: muốn được nước phải được lòng dân, nếu được Gia Định mà mất lòng dân thì ta không nỡ làm»(5). Trong thư gửi linh mục I. Liot, ngày 25-1-1785, Nguyễn Ánh một lần nữa thú nhận: «Nay thì Xiêm binh đại tứ lỗ lược, dâm nhân phụ nữ, lược nhân tài vật, túng sát bất dung lão thiểu, vậy nên. Tây tặc binh thế nhật thịnh, Xiêm binh thế nhật suy».

Nguyễn Ánh và vua Xiêm đều muốn qui nguyên nhân thất bại vào hành động cướp bóc của quân Xiêm và trút hết trách nhiệm lên đầu bọn tướng Xiêm. Trong «quốc thư» gửi vua Xiêm. Nguyễn Ánh yêu cầu người viết là Vũ Thế Doanh: «Kể rõ những sự tàn bạo của Chiêu Tăng làm mất lòng dân cho nên Tây Sơn mới đánh bại được»(6). Vua Xiêm cũng thừa nhận, bọn tướng Xiêm «tàn hại nhân dân nước ấy để đến nỗi đại bại»(7). Tội ác của quân giặc dĩ nhiên, tự nó không thể quyết định thất bại của chúng. Nhưng sự tàn bạo của quân Xiêm càng khơi dậy lòng căm ghét, khinh bỉ của nhân dân ta và thúc đẩy mọi người chống lại chúng. Nhân dân Gia Định chắc chắn đã có nhiều hành động yêu nước, góp phần quan trọng cùng với quân đội Tây Sơn lập nên chiến công oai hùng của cuộc kháng chiến chống Xiêm.

Quân Xiêm — Nguyễn Ánh đổ bộ lên Kiên Giang tháng 7 Giáp Thìn (16-8 — 13-9-1784) mà đến tháng 12 năm đó (11-1 — 8-2-1785), nghĩa là sau khoảng 5 tháng, chỉ chiếm được nửa phần đất phía tây Gia Định. Ở đây, có vai trò chiến đấu chặn địch của quân Tây Sơn do Trương Văn Đa chỉ huy, nhưng một phần cũng do sự cô lập của quân giặc và sự ủng hộ của nhân dân hướng về lá cờ cứu nước của Tây Sơn.

Đại Nam thực lục có chép trường hợp «phản thần Lê Xuân Giác» bày cho Nguyễn Huệ kế mai phục ở Rạch Gầm — Xoài Mút. Coi đó là nguyên nhân thắng lợi chủ yếu của Tây Sơn dĩ nhiên là sự xuyên tạc của Quốc sử quán triều Nguyễn. Nhưng sự việc trên cho thấy, ngay trong hàng ngũ địch đã có sự phân hóa, có một bộ phận tỉnh ngộ quay giáo chống lại giặc, chuyển sang hàng ngũ dân tộc.

Chúng ta còn phải dày công tìm thấy để phát hiện thêm những tư liệu phản ánh cụ thể sự tham gia, ủng hộ của nhân dân Gỉa Bịnh đối vởỉ quân đội Tây Sơn trong kháng chiến chống Xiêm. Nhưng với những tư liệu gián tiếp hiện có, chúng ta đã có thể kết luận rằng, thắng lợi của kháng chiến chống Xiêm, của Rạch Gầm — Xoài Mút là thắng lợi của quân đội Tây Sơn được nhân dân Gia Định hết lòng giúp đỡ, ủng hộ. Với chiến công Tiền Giang năm 1785, nhân dân miền Nam đã chứng tỏ là một bộ phận hữu cơ của cộng đồng dân tộc Việt Nam và đã xứng đáng là bức thánh đồng kiên cường, tin cậy của Tổ quốc Việt Nam.


(1) Pierre Poivre, Description de la Cochinchine, Revue d’Extrême-Orient, T.III, 1984.
(2) Vũ Thế Doanh, Mạc thị gia phả, chữ Hán, chép tay.
(3) Nhân đây, tôi xin phát biểu thêm ý kiến của tôi về hai vấn đề liên quan đến diễn biến của cuộc kháng chiến:
— Vị trí Trà Tân. Dựa vào các tài liệu địa lý học lịch sử và kết quả khảo sát điền dã năm 1977, theo tôi, Trà Tân trong Đại Nam thực lục, Trà Luật trong Gia Định thành thông chí, Tà Luật trong Mạc thị gia phả, Trà Suốt trong Sử Ký Đại Nam Việt là một và là nơi đóng quân của đại quân Xiêm — Nguyễn trước khi xảy ra trận Rạch Gầm — Xoài Mút. Đó là tên một con rạch đổ ra sông Tiền ở phái tây cù Lao Năm Thôn hay còn gọi là cù lao Kiến Lợi, cù lao Trà Luật, nay thuộc huyện Cai Lậy tỉnh Tiền Giang, chứ không phải là Trà Lọt thuộc huyện Cái Bè như có người đã chỉ định trong tập sách Chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút, Tiền Giang, 1977.
— Thời điểm xảy ra trận Rạch Gầm — Xoài Mút. Về vấn đề này, chúng ta đứng trước hai tư liệu gốc có giá trị đương đại, nhưng lại không thống nhất:
1) Mạc thị gia phả do Vũ Thế Doanh soạn xong ngày 19-6 Mậu Dần năm Gia Long thứ 17, tức là ngày 21-7-1818, nghĩa là sau cuộc kháng chiến 33 năm. Vũ Thế Doanh là gia thần của họ Mạc ở Hà Tiên, đi theo tham tướng Mạc Tử Sanh trong quân đội Xiêm — Nguyễn Ánh và đã trực tiếp tham gia chiến trận. Hơn nữa, sau thất bại, Vũ Thế Doanh còn được Nguyễn Ánh giao nhiệm vụ, dựa theo nhật ký của Mạc Tử Sinh, viết bức «quốc thư» gửi vua Xiêm. Theo Mạc thị gia phả, trận Rạch Gầm — Xoài Mút bắt đầu từ lúc trống canh năm ngày 9-12 Giáp Thìn.
2) Thư Nguyễn Ánh gửi linh mục J. Liot ngày 15-12 năm Cảnh Hưng thứ 45, tức ngày 25-1-1785, nghĩa là sau trận Rạch Gầm — Xoài Mút 5-6 ngày. Bức thư do L. Cadière công bố trong Les Français aux serices de Gia Long, B.A.V.H. 1926, lại cho biết trận Rạch Gầm — Xoài Mút xảy ra vào ngày 8-12 Giáp Thìn.
Đứng về mặt sử liệu học, giữa hai tài liệu trên, thật khó xác định tài liệu nào có giá trị hơn tài liệu nào. Do đó, người ta có quyền chọn một trong hai tài liệu và đưa đến những ý kiến khác nhau về thời điểm của trận Rạch Gầm — Xoài Mút: ngày 8-12 tức ngày 18-1-1785, ngày 9-12 tức ngày 19-1-1785, đêm 9 rạng 10-12 tức đêm 19 rạng 20-1-1785.
Nhưng theo tôi, có thể giữa hai tài liệu trên không có mâu thuẫn mà chỉ do quan niệm khác nhau về cách tính thời gian. Trận Rạch Gầm — Xoài Mút có lẽ xảy ra vào đêm 8 rạng 9-12, nếu tính một cách chính xác, lấy giờ tý (23 — 1 giờ) làm ranh giới thì canh năm là thuộc ngày 9. Nhưng trong cách nói thông thường người ta vẫn coi toàn bộ thời gian ban đêm thuộc ngày hôm trước, nghĩa là cả đêm mồng 8 thuộc ngày 8. Mạc thị gia phả chép theo quan niệm thứ nhất Nguyễn Ánh Viết thư theo quan niệm thứ hai. Nếu cách giải thích này được chấp thuận thì trận thì trận Rạch Gầm — Xoài Mút bắt đầu lúc rạng sáng ngày 9 và thuộc phạm vi ngày 9-12 Giáp Thìn, tức ngày 19-1-1785.

(4) Vũ Thế Doanh, Mạc thị gia phả, Sđd.
(5) Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Sđd.
(6), (7) Vũ Thế Doanh, Mạc thị gia phả, Sđd.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Hai, 2022, 08:28:44 am
5. — Cuộc kháng chiến mở đầu một chuyển biến lớn lao của phong trào Tây Sơn, đưa phong trào lên qui mô toàn quốc và dẫn đến sự liên kết đầu tiên giữa nhân dân ba nước Đông Dương trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung.

Với kháng chiến chống Xiêm thắng lợi, phong trào Tây Sơn đã hoàn thành một nhiệm vụ dân tộc và thực sự trở thành một phong trào dân tộc. Sức mạnh trỗi dậy của quần chúng bị áp bức được nâng cao thêm bằng sự kết hợp với sức mạnh yêu nước và đoàn kết dân tộc. Nguyễn Huệ từ một anh hùng nông dân trở thành một anh hùng dân tộc uy danh lừng lẫy. Trên cơ sở đó, năm I786 quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy, bất chấp sự hạn chế của Nguyễn Nhạc, đã tiến ra Đàng Ngoài, lật đổ chế độ chúa Trịnh, xóa bỏ tình trạng chia cắt, lập lại quốc gia thống nhất. Phong trào Tay Sơn là phong trào nông dân duy nhất trong lịch sử, khi chưa có một giai cấp mới lãnh đạo, đã lan rộng trên qui mô toàn quốc và làm nhiệm vụ khôi phục quốc gia thống nhất, dù sự nghiệp thống nhất đó chỉ mới bước đầu và cỏn những hạn chế khách quan, chủ quan.

Cũng trên cơ sở phát huy sức mạnh dân tộc, đầu năm 1789, quân Tây Sơn dưới sự lãnh đạo tuyệt vời của Quang Trung Nguyễn Huệ, đã đại phá 29 vạn quân xâm lược Thanh, lập nên vũ công mùa xuân Kỷ Dậu, giải phóng kinh thành Thăng Long, quét sạch quân giặc ra khỏi Bắc Hà. Đây là chiến công chói lọi nhất tiêu biểu cho đỉnh phát triển cao nhất của phong trào Tây Sơn.

Trong cuộc chiến tranh chống thù trong giặc ngoài, mang tính giai cấp và tính dân tộc sâu sắc, phong trào Tây Sơn đã phát huy ảnh hưởng ra ngoài biên giới quốc gia và đã có lúc liên minh với nhân dân Chân Lạp, Lạn Xang trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung.

Vào cuối thế kỷ 18, ba nước trên bán đảo Đông Dương đứng trước hai lực lượng bành trướng nguy hiểm là chủ nghĩa bành trướng Đại Hán của Trung Quốc và chủ nghĩa bành trướng Đại Thái của Xiêm. Việt Nam phải đương đầu trực tiếp với cả hai mối đe dọa đó và đã đánh thắng quân Xiêm ở phía Nam, đánh thắng quân Thanh ở phía Bắc. Chân Lạp và Lạn Xang là nạn nhân trực tiếp và lâu năm của chủ nghĩa bành trướng Đại Thái của các vương triều Xiêm. Chính hoàn cảnh lịch sử đỏ đã dẫn đến những hành động liên kết và ủng hộ lẫn nhau giữa những lực lượng yêu nước của các dân tộc trên bán đảo Đông Dương và cho phép phong trào Tây Sơn mở rộng hoạt động sang Chân Lạp, Lạn Xang nhằm chủ động chống kẻ thù chung.

Trong cuộc đấu tranh chống phong kiến Nguyễn và xâm lược Xiêm, phong trào Tây Sơn đã nhận được sự đồng tình, ủng hộ của những người yêu nước Chân Lạp.

Năm 1752, bị quân Tây Sơn đánh đuổi, Nguyễn Ánh phái Nguyễn Hữu Thụy, Trần Xuân Trạch sang cầu cứu vua Xiêm. Nhưng khi đi qua đất Chân Lạp, bọn sứ giả của Nguyễn Ánh đã bị người Chân Lạp giết chết, mà theo sử triều Nguyễn là do «Chân Lạp ngầm giúp Tây Sơn»(1).

Đầu năm 1785, trong khi chuẩn bị cho trận Rạch Gầm — Xoài Mút, Nguyễn Huệ đã dùng một người Chân Lạp làm sứ giả đến «giảng hòa» với quân Xiêm để thăm dò lực lượng và dụ địch vào cạm bẫy. Có thể coi đó là một đóng góp của người Chân Lạp vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Xiêm.

Ngược lại, quân Tây Sơn cũng đã có lần tiến sang Chân Lạp để truy quét kẻ thù chung rồi rút về nước. Cuối năm 1783, nước Chân Lạp đang bị phong kiến Xiêm thống trị, lại bị quân Chà Và (tài liệu của giáo sĩ phương Tây chép là người Mã Lai) cướp phá. Quân Tây Sơn đóng ở Gia Định do Tương Văn Đa chỉ huy, đã tiến sang Chân Lạp đánh đuổi quân Chà Và và quân Xiêm. Sau đó, quân Tây Sơn rút về nước chuẩn bị cuộc kháng chiến chống Xiêm(2).

Sau khi nạn xâm lược của Xiêm và Thanh đã bị đánh bại, ý đồ thôn lính của kẻ thù bị bẻ gãy nhưng chúng vẫn chưa hoàn toàn chịu từ bỏ tham vọng can thiệp vào nội tình nước ta.

Vua Xiêm cho bọn lưu vong Nguyễn Ánh trú ngụ ở ngoại thành Bangkok để chuẩn bị lực lượng và chờ thời cơ. Năm 1787-1788, nhân sự bất hòa giữa cúc thủ lĩnh Tây Sơn và sự bất lực của Nguyễn Lữ, Nguyên Ánh trở về chiếm lại Gia Định. Lúc này, Nguyễn Ánh dựa vào tư bản Pháp, nhưng vẫn nhận được sự hỗ trợ của phong kiến Xiêm.

Triều Thanh đã phải công nhận chính quyền Tây Sơn, thiết lập quan hệ bang giao với Quang Trung, nhưng vẫn ngoan cố chiếm giữ 6 châu của phủ Âu Tây trấn Hưng Hóa mà chúng đã lấn cướp trước đây và vẫn gián tiếp giúp đỡ Lê Duy Chỉ (em ruột Lê Chiêu Thống) hoạt động chống đối ở vùng biên giới mà trung tâm là Bảo Lac (Cao Bằng).


(1) Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Sđd, T.II, tr.41.
(2) Thư của Ginestar trong La rèvolte et la guerre dé Tây Sơn, B.S.E.I. 1940, Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lực, Sđd, T.II, tr.52.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Hai, 2022, 08:30:40 am
Năm 1790 hình thành một âm mưu liên kết trên qui mô lớn giữa bọn phong kiến phản động trong nước và bọn can thiệp nước ngoài:

Lê Duy Chỉ từ Bảo Lạc, đảnh chiếm Cao Bằng, Tuyên Quang rồi đánh xuống Thăng Long.

Phong kiến Xiêm đang thống trị Lạn Xang sẽ xúi giục và giúp đỡ một số tù trưởng ở Trấn Ninh, Trịnh Cao, Qui Hợp từ phía Tây tiến công vào Nghệ An, Thanh Hóa.

Nguyễn Ánh từ Gia Định sẽ đánh ra vùng Bình Thuận...

Trong kế hoạch này, vương triều Bangkok đóng vai trò liên kết và thúc đẩy bọn phong kiến phản động trong nước ta thông qua số quân Xiêm và lực lượng thân Xiêm ở Vạn Tượng. Lúc bấy giờ, nước Lạn Xang phân chia làm ba tiểu quốc: Vạn Tượng (Viên Chăn), Nam Chướng (Luông Phabang) và Champassak (Hạ Lào). Quang Trung đã cử sử giả sang thông hiếu với Vạn Tượng. Nhưng vua Vạn Tượng do Xiêm lập, đã bắt sứ giả của Tây Sơn giải sang Xiêm. Tháng 6-1791, vua Xiêm phái sứ giả sang Gia Định báo tin cho Nguyễn Ánh biết để khuyến khích hành động phối hợp của Nguyễn Ánh.

Trước âm mưu nguy hiểm và thái độ ngoan cố của kẻ thù, Quang Trung chủ trương phải kiên quyết và chủ động phá tan kế hoạch phối hợp của chúng.

Giữa năm 1791, đốc trấn Nghệ An là Trần Quang Diệu được lệnh đem 5.000 quân tinh nhuệ tiến sang Vạn Tượng(1). Sau 4 tháng chiến đấu, quân Tây Sơn đã đánh đuổi quân Xiêm ra khỏi Vạn Tượng và truy kích đến tận biên giới Xiêm, rồi rút về nước.

Cùng lúc đó, một đạo quân Tây Sơn khác xuất phát từ Thăng Long, tiến lên san bằng căn cứ Bảo Lạc, bắt sống Lê Duy Chỉ và đồng bọn đem về Phú Xuân trị tội.

Bằng hành động tiến công kiên quyết và chủ động của quân Tây Sơn, một mưu đồ phối hợp của bọn phong kiến phản động trong nước với phong kiến Xiêm đã bị trừ khử từ trong trứng nước. Trong cuộc tiến công sang Vạn Tượng, điều đặc biệt đáng được lưu ý là quân Tây Sơn đã được nhân dân Lào đồng tình, hưởng ứng. Nhân dân vùng Viên Chăn đến nay còn lưu truyền một bài vè dân gian ngợi ca triều đình «Phù Xun» (Phú Xuân) cử binh tướng sang giúp Lào đánh đuổi giặc Xiêm tàn ác, giải phóng thủ đô Viên Chăn(2). Biên niên sử Lào cũng ghi nhận sự kiện trên và cho biết thêm, chậu Mường Xiêng Khoảng đem 5.000 quân phối hợp với quân Tây Sơn. Những văn bản đời Tây Sơn mới phát hiện ở Nghệ Tĩnh gần đây càng khẳng định sự liên minh, hợp tác giữa quân Tây Sơn với những lực lượng yêu nước Lào trong cuộc đấu tranh chống quân xâm lược Xiêm. Theo những tư liệu này, nhiều người dân Quy Hợp đã tự nguyện gia nhập «nghĩa binh» Tây Sơn. Cũng theo những tư liệu nảy, năm 1792 quân Xiêm trở lại chiếm Viên Chăn, nhưng nhiều chúa Lào yêu nước vẫn giữ liên lạc mật thiết với chính quyền Tây Sơn qua đốc trấn Nghệ An là Bình Nhật Hầu và yêu cầu quân Tây Sơn sang dẹp giặc Xiêm để người Lào được «yên mường yên nước»(3).

Như vậy là trong yêu cầu khách quan của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa bành trướng Đại Hán và chủ nghĩa bành trướng Đại Thái từ cuối thế kỷ 18, nhân dân ba nước Đông Dương đã có những mối quan hệ gắn bó với nhau. Phong trào Tây Sơn trong khi tiến hành cuộc đấu tranh chống Xiêm, chống Thanh, bảo vệ độc lập dân tộc, đã có những hành động liên minh, phối hợp nhất định với nhân dân Chân Lạp, Lạn Xang, nhằm chống lại họa xâm lược bành trướng của phong kiến Xiêm. Đó là một trong những trang sử đẹp có ý nghĩa vun trồng truyền thống đoàn kết chiến đấu của nhân dân ba nước Đông Dương trong lịch sử.

*
*   *

200 năm đã trôi qua, nhưng chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút với những nét đặc sắc của nó, vẫn để lại những dấu ấn và âm vang mãi mãi trong lịch sử và trong lòng dân.

Đó là một chiến công lớn, oanh liệt đầu tiên của nhân dân miền Nam, bất chấp những khó khăn, phức tạp của hoàn cảnh lịch sử và sự phản bội của bè lũ phong kiến trong nước, vẫn quyết vươn lên bảo vệ quê hương và cuộc sống, bảo vệ lợi ích dân tộc, làm tròn sứ mạng thành đồng phía nam của Tổ quốc.

Đó cũng là đòn giáng trả đích đáng của dân tộc ta vào tham vọng bành trướng của phong kiến Xiêm, để lại cho vương triều Bangkok một bài học có ý nghĩa lâu đài.

Đó cũng là bước chuyển biến lớn lao, đưa phong trào Tây Sơn tiến lên những đỉnh cao mới của phong trào dân tộc, bên trong thì đánh bại thù trong giặc ngoài, bảo vệ độc lập dân tộc, khôi phục quốc gia thống nhất, bên ngoài thì mở rộng sự liên kết với Chân Lạp, Lạn Xang nhằm chống lại những thế lực bành trướng đang đe dọa vận mạng của ba nước Đông Dương.


(1) Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam chính biên liệt truyện, phần Ngụy Tây liệt truyện Q.30 chép cuộc hành quân này vào năm Canh Tý 1790 với số quân 5.000 nhưng phần Ngoại quốc liệt truyện, Q.33 lại chép vào năm Tân Hợi 1791 với số quân 1 vạn. Theo những bản văn thời Tây Sơn mới phát hiện ở Nghệ Tĩnh thì năm 1791 mới chính xác. Xem Trần Văn Quí Tư liệu về thời Tây Sơn mới phát hiện, NCLS, số 2-1981.
(2) Tư liệu do đồng chí Đào Văn Tiến đã công tác ở Lào cung cấp. Xem thêm Văn Linh, Đất nước hoa Chămpa anh hùng, Hà Nội 1972.
(3) Tư liệu Cục lưu trữ trung ương.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Hai, 2022, 08:37:16 am
NHẬN ĐỊNH LẠI MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH VỀ GIA LONG
CỦA TẠ CHÍ ĐẠI TRƯỜNG

Giáo sư PHAN ĐẠI DOÃN
                                                                                                                       
(Khoa sử — Đại học Tổng Hợp Hà Nội)

I

Lịch sử Việt Nam bước vào nửa sau thế kỷ XVIII như có điều «nghịch lý». Trên đất nước ta đã xẩy ra bao nhiêu biến cố quan trọng. Ở các trung tâm đất nước: Thăng Long, Phú Xuân, Gia Định cũng trải qua những thời điểm sôi động, có lúc huy hoàng tráng lệ, có lúc nặng nề tối tăm.

Mỗi biến cố như một định hướng lịch sử. Những tập đoàn xã hội khác nhau, mâu thuẫn và chống đối, loại trừ nhau triệt để, một mất một còn của thế lưỡng phân.

Giữa những biến cố sâu sắc, đổ xương máu đó nổi bật lên cuộc chiến tranh giữa hai thế lực Tây Sơn — Nguyễn Huệ và tập đoàn Nguyễn Gia Long. Trong trường hợp này, lịch sử diễn ra dưới hình thức như cách nói của F. Ăng-ghen «là kết quả cuối cùng luôn phát sinh từ những xung đột giữa nhiều ý chí cá nhân, mỗi ý chí cá nhân này lại do nhiều điều kiện sinh sống đặc biệt tạo ra. Do đó có rất nhiều lực chống đối lẫn nhau, một loạt vô tận những bình hành lực»(1). Hai thế lực lịch sử không thể điều hòa đó đã tạo ra một hợp lực bình hành không cân sức và cuối cùng tập đoàn Nguyễn Gia Long đã thắng thế. Như một «phi lô-gích» là xu hướng chống đối, phản động lại thắng thế, mà xu hướng có nhiều tích cực, tiến bộ lại bị thất bại, bị tiêu diệt.

Sử học, dù bất kỳ thời nào cũng vậy, không thể bỏ qua sự kiện lịch sử này. Giới sử học Miền Nam cũ cũng đã để nhiều bút mực nghiên cứu nó. Có bài viết đã cung cấp một số tư liệu mới, đề ra ít nhiều nhận định đúng đắn, khách quan. Nhưng cạnh đó cũng không ít tác giả tìm cách bóp méo lịch sử bằng những lập luận khác nhau, thậm chí còn nhằm phục vụ cho ý đồ chính trị đen tối. Tiêu biểu cho những người này có Nguyễn Phương và đặc biệt là Tạ Chí Đại Trường.

Báo cáo này chỉ đề cập một vấn đề là nhận định lại những nhận định về Gia Long của một số tác phẩm sử học Miền Nam trước đây, trước hết và chủ yếu là tập sách Lịch sử nội chiến ở Việt Nam từ 1771 đến 1802(1) của Tại Chí Đại Trường, tiêu biểu nhất cho ngôn luận chính thống của chính quyền Sài Gòn.

Cuốn Lịch sử nội chiến dày 413 trang, khổ 15×21cm. Nhà xuất bản Văn Sử học, Sài Gòn, năm 1973. Ngoài bìa sách có băng quảng cáo ghi rõ «Giải nhất biên khảo Việt sử văn học nghệ thuật 1970» và kèm theo một đoạn trích diễn văn của Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa trong buổi lễ trao giải thưởng ngày 19-1-1971: «môn biên khảo về Việt sử mới thiết lập đã phát hiện một tác phẩm nghiên cứu khá công phu và có tính cách khoa học của ông Tạ Chí Đại Trường».

Trước hết, tác giả cho rằng cuộc giao tranh giữa Tây Sơn và tập đoàn Nguyễn Ánh không phải là chiến tranh có ý nghĩa cách mạng chống lại chiến tranh phản cách mạng, không phải là chiến tranh có ý nghĩa dân tộc dân chủ chống lại chiến tranh phản dân tộc dân chủ. Theo tác giả, chiến tranh từ 1771 đến 1803 «chỉ là sự nối tiếp lịch sử phân tranh của Đại Việt» trước đó, chỉ là «nội chiến» của một bên là Tây Sơn man rợ «có tính chất rừng rú thật đặc biệt» (tr.39) với một bên là Nguyễn Ánh văn minh «đã làm dồi dào sinh lực quốc gia» (tr.39).

Tạ Chí Đại Trường đã viết về Tây Sơn với những lời thóa mạ: «Họ đi từ rừng núi phía Tây, lấy sức mạnh cường bạo của đám người Thượng, Trung Hoa khách thương liều lĩnh, nông dân Việt đi khai đất hoang làm tâm tính trở thành hung dữ rồi truyền tấm lòng hăng hái nhiệt thành, tính chất vong mạng đó cho dân đồng bằng hiền lành chân chất gây nên cuộc đảo lộn dữ dội trong nước» (tr.212). Quân đội của Nguyễn Huệ, theo ông ta, chẳng qua là «một hệ thống quân chính tàn nhẫn trên đám dân Bắc Hà, Phú Xuân» (tr. 55) mà sức lực thì là «Qui Nhơn mới Việt hóa chỉ mang lại cường bạo, Phú Xuân, Thăng Long thì đầy dấu vết các cựu triều, lại tàn tạ với đám nông dân mệt mỏi» (tr. 213).

Tại Chí Đại Trường còn mạt sát Tây Sơn là những con người «hiếu sát» (tr.135). «Tây Sơn phải đánh ồ ạt để lấp liếm cái yếu kém kỹ thuật của họ, cho nên họ phải tàn sát» (tr.136). «chiến tranh tàn sát vẫn là vết nhơ cho Tây Sơn» (tr.135).


(1) C. Mác và F. Ăng-ghen tuyển tập, tập II. Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1964, tr. 797.
(2) Dưới đây xin gọi tắt là Lịch sử nội chiến.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Hai, 2022, 08:42:09 am
II

Trong khi không tiếc lời mạt sát Tây Sơn, xuyên tạc ý nghĩa lịch sử của phong trào Tây Sơn thì Tại Chí Đại Trường lại tô vẽ cho Nguyễn Ánh — Gia Long nhưng hào quang sáng chói, đẹp nhất thế kỷ. Ông ta viết «vượt lên trên hết những kẻ là những khuôn mặt làm nên lịch sử: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Huệ và chót hết, vinh dự thay trong lịch sử tàn nhẫn, Nguyễn Phúc Ánh. Nhưng ta cũng thấy biến chuyển từ từ trong con người tạo thành Gia Long» (tr.346).

Trong tiến trình lịch sử cụ thể, theo tác giả Lịch sử nội chiến thì Nguyễn Ánh là người nhiều công lao nhất: chấm dứt nội chiến, thống nhất quốc gia, tìm được lối thoát cho đất nước và mở ra một thời kỳ cận đại ở Việt Nam (tr.345). Về sự kiện thống nhất đất nước, xóa bỏ sự phân chia Đàng Trong, Đàng Ngoài, Tạ Chí Đại Trường không thể phủ nhận được công lao Nguyễn Huệ, nhưng rồi qui công cho Nguyễn Ánh. Ông ta viết «Tất nhiên đã có những điều kiện chủ quan và khách quan đem đến sự thành công của họ (chỉ Tây Sơn) giúp họ từ một tiền đồn di dân hẻo lánh ào xuống xô đổ ngôi vị Nguyễn, trườn ra đất Bắc chấm dứt Lê Trịnh, cũng như sau này có những điều kiện mới nảy sinh đưa đẩy họ thất bại, trao công trình thống nhất bước đầu mà họ mở lối kiến tạo vào tay một ông hoàng còn sót lại (chỉ Nguyễn Ánh) của Nam Hà» (tr. 44).

Đặc biệt là hoạt động của Nguyễn Ánh rước quân Xiêm về giày xéo đất nước, gây bao nhiêu tội ác đến nỗi y cũng phải than vãn về tội cướp bóc dân chúng, phá hoại làng xóm thì tác giả tập sách lại không một lời phân tích, phê phán. Thậm chí qui công lao tạo nên chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút vào một hàng tướng (tr.125).

Lập luận đề cao Nguyễn Ánh, tìm nguyên nhân thắng lợi của Nguyễn Ánh được xoay xung quanh hai điểm cơ bản có liên quan chặt chẽ, hữu cơ với nhau. Đó là «sức mạnh Nam Hà và sức mạnh Tây phương»(1), và xét cho cùng là văn hóa này chiến thắng văn hóa kia. Thực ra, đây không phải là vấn đề mới, không phải là «phát hiện» của ông Trường, mà trước đó nhiều người đã viết như Phạm Văn Tuyền (Văn học Miền Nam), Nguyễn Phương (Việt Nam thời bành trướng: Tây Sơn), ông Trường chỉ là người tái hiện cụ thể hơn, hệ thống hơn.

Theo Đại Trường thì chính do sức mạnh Nam Hà mà cuộc loạn Tây Sơn bùng lên, nhưng Tây Sơn yếu kém không phát huy được, lại hủy hoại sức mạnh đó, chỉ có Nguyễn Ánh mới là trung tâm tiêu biểu thu hút, kết hợp. Tác giả Lịch sử nội chiến viết: «Chúng ta đã thấy sức mạnh của Nam Hà. Tuy nhiên các phần tử không phải đã được nhất hóa — cũng như ở Bắc Hà — các nhóm sẽ hướng về trung ương (chỉ tập đoàn Nguyễn Ánh) mà dần dần biến đổi» (tr. 239).

Ông Trường lại hết sức đề cao nhân tố phương Tây, coi như một sức mạnh quyết định thắng lợi của Nguyễn Ánh, văn minh phương Tây đi vào đất Việt: «Họ tạo ra một lực lượng lớn dần với thời gian… và xô đổ mọi trật tự cũ, gây ra ảnh hưởng vô cùng to tát» (tr. 359).

Sức mạnh của Nam Hà mà Nguyễn Ánh là tiêu biểu đã khiến cho Ánh vượt lên trên tất cả nhân vật lịch sử khác lại được nhân lên bằng sức mạnh của phương Tây thành vô địch. Tác giả tập sách mô tả khá kỹ việc làm của Nguyễn Ánh liên kết với Bút-tu-kê (Bồ Đào Nha) và với giám mục Bá-đa-lộc. Tác giả nói nhiều về thỏa ước Véc-xay ngày 18-11-1787 giữa hầu tướng Mông-mô-ranh và Phi-nhô Đờ Bê-hen thay mặt Nguyễn ánh. Tác giả viết «Bá-đa-lộc đã hành động cương quyết trợ giúp Nguyễn Phúc Ánh, cho nên, chính trong khung cảnh đó, có những tham vọng để phục vụ cá nhân, quốc gia hay tôn giáo từ bên ngoài sẵn sàng nhảy vào can thiệp mà chiến tranh chấm dứt phân chia ở Đại Việt thấy thêm một yếu tố quyết định vậy» (tr.82). Hoặc là «May mắn hơn Tây Sơn, Nguyễn Ánh ở Gia Định có những điều kiện lôi kéo đám thương nhân Trung Hoa lại thêm đám giáo sĩ phương Tây» (tr.106).

Rõ ràng việc đón dẫn 5 vạn quân Xiêm, cầu cứu quân Pháp để có thêm một số vũ khí và binh lính đánh Tây Sơn là vết nhơ nhục của tập đoàn Nguyễn Ánh. Nhưng ý kiến ông Trường thì ngược lại, ông ta viết «Quan trọng hơn nữa là việc quân nhân, giáo sĩ Tây phương có mặt ở Gia Định cũng tức là đã mở cửa cho văn minh Tây phương tràn vào» (tr.207). Trong khi «Tây Sơn bị ném bên lề một phần nào thì Gia Định (chỉ Nguyễn Ánh) thay mặt Đại Việt nhận lãnh tất cả những ưu thế được đưa đến» (tr.354). Một giáo sĩ Cơ đốc, mấy lính Pháp, một ít vũ khí và tàu thuyền của phương Tây mà «lớn» đến thế kia ư! Cả Đại Việt nhận lãnh! (ông Đại Trường quả thật hồ đồ).


(1) Xin xem thêm: Nguyễn Phan Quang — «Một số quan điểm xuyên tạc phong trào Tây Sơn trên sách báo Miền Nam thời Mỹ ngụy», trong sách Góp phần tìm hiểu phong trào nông dân Tây Sơn — Nguyễn Huệ, Sở Văn hóa Thông tin Nghĩa Bình xuất bản, 1988, tr. 88 — 101.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Hai, 2022, 08:44:25 am
III

Việc đề cao Nguyễn Ánh — tiêu biểu cho sức mạnh Nam Hà và phương Tây của Tại Chí Đại Trường có phải là kết quả của nghiên cứu khoa học nghiêm túc hay mang một ý đồ phục vụ cho yêu cầu chính trị của Mỹ ngụy trước đây? Đây là vấn đề được đặt ra ngay sau khi đọc xong tập Lịch sử nội chiến.

Đề cao Gia Long đâu phải chỉ có một mình Tạ Chí Đại Trường mà trước tiên là các sử thần nhà Nguyễn. Vào nửa đầu thế kỷ này có Trần Trọng Kim: Kim đề cao Nguyễn Ánh nhưng cũng không mạt sát Nguyễn Huệ như ông Trường. Phần «công phu có tính cách khoa học» (như lời của quốc vụ khanh văn hóa chính quyền Sài Gòn) đề cao Nguyễn Ánh là nhằm thể hiện ý đồ chính trị của Mỹ ngụy mà thôi.

Lịch sử Việt Nam nửa sau thế kỷ XVIII, có nhiều sự kiện chồng chất, nhiều biến động đau thương và chiến thắng huy hoàng, đối với nhà sử học còn nhiều vấn đề cần tìm hiểu. Tất nhiên, có một số vấn đề đã và đang tiếp tục nghiên cứu, đầu tư thêm suy nghĩ mới có thể giải quyết được; nhưng rõ ràng có những vấn đề thuộc phạm trù dân tộc như công lao của Tây Sơn trong việc lật đổ các thế lực phong kiến Đàng Trong — Đàng Ngoài, xóa bỏ ranh giới sông Gianh đặt cơ sở thống nhất đất nước và đặc biệt là hai lần đánh tan quân xâm lược Xiêm Thanh thì đã được khẳng định và đang được tiếp tục làm sáng tỏ thêm. Đồng thời, cũng trên phạm trù dân tộc, giới sử học Mác xít cũng đã vạch trần, một cách chính xác, đầy thuyết phục, bộ mặt phản động tiêu cực của Nguyễn Ánh như rước quân Xiêm vào giày xéo đất nước, cầu cứu một số quân Pháp và sẵn sàng nhường mấy vùng đất cho chúng(1).

Bất cứ một người Việt Nam nào có lương tri cũng đều thấy công lao của Tây Sơn và tội lỗi của Nguyễn Ánh. Một nhà nho đầu thế kỷ này là Lê Dư khi đề lời bạ cho tập Tây Sơn thủy mạt khảo cũng viết: «ông Vũ hoàng đế (chỉ Nguyễn Huệ) là một người dân chay thế mà công nghiệp chói lọi, thật là các vị đế vương khác không thể bì kịp. Những người đọc sách chỉ đọc qua bộ Đông Hoa toàn lục (của nhà Thanh) một lần thì sẽ biết đương thời ấy vua nhà Thanh dụng tâm rất là nguy hiểm, nếu không có vua Quang Trung là một người tài trí anh hùng mà chống chọi lại thì vận mệnh nước ta lúc ấy thật không thể tưởng tượng được».

Việc ca ngợi Nguyễn Ánh — Gia Long đã khiến cho ông Tại Chí Đại Trường không thấy được ý nghĩa các sự kiện Nguyễn Huệ đánh tan quân Xiêm, quân Thanh, bảo vệ Tổ quốc là vinh quang. Ngược lại, như ông ta nói Nguyễn Ánh có «con đường thật dài, thật đầy gian nan mà cũng đầy vinh quang» đã tìm cho đất nước «con đường thoát trong thống nhất và yên nghỉ, mở ra một giai đoạn Nguyễn Ánh — Gia Long» (tr. 343).

Là sai lầm trong phương pháp suy nghĩ hay chính là do «ý tưởng hướng dẫn» mà Tạ Chí Đại Trường có những lập luận như trên? Khi dựng lên cái gọi là sức mạnh Nam Hà, đất Bắc kiệt cằn và sức mạnh của Tây phương là có mục đích chính trị. Mặc dầu tác giả chỉ viết chuyện lịch sử, chuyện quá khứ, nhưng người đọc liên tưởng ngay và hiểu rõ ý đồ của tác giả là mượn chuyện để nói những vấn đề hiện đại. Có thể cho rằng, tác giả qua tập sách Lịch sử nội chiến chứng minh cho sức mạnh của chính quyền Sài Gòn, của văn hóa phương Tây — Mỹ là lực lượng sẽ chiến thắng tất cả(2). Chính tác giả tập sách nói «Cho nên, lịch sử, nhìn qua là lịch sử chiến tranh mà thực mang đầy ý nghĩa văn hóa», «là biến động kết hợp sự thu nhận văn hóa phương Nam và văn hóa kỹ thuật Tây phương do thương thuyền đưa đến» (tr. 38, 39). Phải chăng đây mới là ý đồ thực sự của ông Tạ Chí Đại Trường trong việc gọi là đề cao Nguyễn Ánh — Gia Long rồi đưa đến hạ thấp mạt sát phong trào Tây Sơn Nguyễn Huệ một cách không căn cứ, không còn tinh thần dân tộc?

Năm 1792, Quang Trung Nguyễn Huệ mất; năm 1802 triều Tây Sơn bị đổ. Triều Nguyễn đã dùng hết các biện pháp xóa bỏ triệt để ảnh hưởng và di tích của vương triều này, nhưng lịch sử khách quan đã ghi nhận những cống hiến vĩ đại chống ngoại xâm và bước đầu thống nhất đất nước. Phong trào Tây Sơn và cả vương triều Quang Trung còn có nhiều hạn chế lịch sử và thời đại, giai cấp và con người, nhưng công lao và tên tuổi của Nguyễn Huệ — Quang Trung vô cùng to lớn mới thực là vượt lên trên các nhân vật lịch sử ở thế kỷ XVIII. Các sử thần triều Nguyễn cố ý xuyên tạc phong trào Tây Sơn, bôi nhọ Nguyễn Huệ, đề cao Gia Long; các nhà sử học thực dân Pháp tiêu biểu như G. Ta-bu-lê(3) đề cao nhân tố phương Tây, còn Tạ Chí Đại Trường thì tổng hợp cả hai luận điểm trên. Thực chất tập sách Lịch sử nội chiến ở Việt nam từ 1771 đến 1802, nhằm phục vụ cho ngụy quyền Sài Gòn trước đây là như vậy.

Hà Nội — Tháng 5-1984.


(1) Nhưng thỏa ước Véc-xay không thực hiện được.
(2) Chúng tôi hoàn toàn không có ý nghĩ coi thường văn hóa phương Tây. Đóng góp của văn hóa phương Tây cho kho tàng văn hóa nhân loại là to lớn. Song đây không phải là nội dung của bài viết này.
(3) G. Taboulet, La geste Française en Indochine, Paris, 1956, tom I, page 210.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Hai, 2022, 10:29:47 am
CHIẾN THẮNG RẠCH GẦM — XOÀI MÚT DƯỚI CON MẮT
CỦA CÁC SỬ GIA MIỀN NAM TRƯỚC GIẢI PHÓNG

TRẦN THU LƯƠNG
                                                                                                                           
(Khoa sử — Đại học Tổng hợp
Thành phố Hồ Chí Minh)

Trong lịch sử Việt Nam có hàng trăm cuộc khởi nghĩa nông dân nhưng không có cuộc khởi nghĩa nào có tính dân tộc, tính giai cấp và có tầm vóc rộng lớn như cuộc khởi nghĩa Tây Sơn. Vì vậy, các công trình nghiên cứu về đối tượng này khá phong phú, không phải chỉ giới sử học Mác xít quan tâm mà giới sử học miền Nam trước giải phóng cũng rất chú trọng(1).

Phong trào Tây Sơn đã ghi vào lịch sử dân tộc thắng lợi của sự nghiệp lập lại nền thống nhất đất nước và chiến công hiển hách của hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm: chống Xiêm ở phương Nam và chống Thanh ở phía Bắc. Tuy nhiên việc đánh giá những đặc điểm, tính chất của phong trào Tây Sơn cũng như những đóng góp của họ đối với việc bảo vệ độc lập ở cuối thế kỷ XVIII không phải hoàn toàn thống nhất giữa các nhà sử học ở hai miền.

Năm nay nhân kỷ niệm 200 năm chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút, một trong những chiến công chống ngoại xâm oanh liệt nhất của phong trào Tây Sơn, chúng ta thử nhìn lại tầm vóc của chiến thắng này, dưới con mắt của các sử gia miền Nam trước giải phóng.

Vào năm 1784, khi mà phong trào nông dân Tây Sơn vừa phải chống đỡ với sức ép mạnh mẽ từ phía Bắc của tập đoàn phong kiến Trịnh thì bọn phong kiến phản động Nguyễn Ánh đã rước 5 vạn quân xâm lược Xiêm gồm cả thủy bộ với 300 chiến thuyền kéo vào xâm lược Nam bộ. Sau gần 4 tháng, đến cuối mùa đông năm 1784 quân xâm lược Xiêm và bọn phong kiến phản động đã chiếm trọn một miền đất phía Nam của đất nước từ Hậu Giang trở vào, bành trướng lên miền Tiền Giang và một rẻo biên giới miền đông, lăm le chiếm đóng cả miền đồng bằng Nam bộ. Nguy cơ ngoại xâm đã che tối bầu trời phương Nam, quân xâm lược Xiêm tàn bạo đã thẳng tay cướp bóc và giết hại nhân dân ta. Chính vua Xiêm đã thú nhận điều đó trong khi đổ lỗi cho hai tên cầm đầu đạo quân xâm lược «hai tên súc sinh Chiêu Tăng và Chiêu Sương làm việc kiêu căng hung hãn... tàn hại nhân dân nước ấy...»(2). Chính Nguyễn Ánh cũng không thể chối cãi: «Nay thì quân Xiêm kiêu rông ngỗ ngược hãm hiếp đàn bà, cướp của người ta, giết chóc chẳng tha già trẻ...»(3). Chính vào lúc đó, Nguyễn Huệ đã kéo quân vào phương Nam tiêu diệt bọn chúng bằng chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút vào đầu năm 1785.

Đó là một trận đánh tiêu diệt rất độc đáo và xuất sắc xảy ra ở địa bàn phương Nam của Tổ quốc, nhưng không phải ngay từ đầu, Rạch Gầm — Xoài Mút đã được chú trọng nghiên cứu.

Đối với nhà Nguyễn, vì coi Tây Sơn là kẻ tử thù nên sử Nguyễn đã ghi chép về phong trào đó với sự bóp méo xuyên tạc. Riêng về chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút thì tài liệu rất ít ỏi, quyển «Đại Nam chính biên liệt truyện, sợ tập» quyển 30 nói về Rạch Gầm — Xoài Mút có mấy câu. Nói nhiều hơn cả có lẽ là «Đại Nam thực lục chính biên» (đệ nhất kỷ): «Tháng 12 giặc Tây Sơn Nguyễn Văn Nhạc nghe tin quân giặc cáo cấp tức thì sai Nguyễn Văn Huệ đem binh thuyền vào cứu Sài Gòn. Huệ đến đánh vài trận không được muốn đem quân về. Có tên phản thần là Lê Xuân Giác bày kế cho Huệ đem hết quân mạnh mai phục ở Rạch Gầm và sông Xoài Mút, thình lình xông ra đánh giết. Quân Xiêm đang khốn vì gặp phục binh Tây Sơn thì lại bị hai mặt quân thủy lục do Nguyễn Huệ thúc đến công kích rất dữ dội cho nên chết và bị thương không biết bao nhiêu mà kể, quân Xiêm đại bại chỉ còn vài ngàn tàn binh nheo nhóc chạy về»(4).

Như vậy, tuy không phủ nhận được kết quả rực rỡ của trận đánh, song rõ ràng sử nhà Nguyễn đã hạ thấp tầm vóc và xuyên tạc thực chất trận Rạch Gầm — Xoài Mút, coi đó chỉ là kết quả mưu kế của tên phản thần Lê Xuân Giác, đồng thời sử nhà Nguyễn đã che giấu tội rước quân Xiêm về giày xéo đất nước của Nguyễn Ánh.


(1) Xem Tập san Sử Địa, số Đặc khảo về Quang Trung, 9-10 năm 1968, Tập san Sử Địa, số đặc khảo về Chiến thắng Đống Đa, số 13 năm 1968.
(2) Mạc thị gia phả.
(3) Những bức thư chữ Nôm của Nguyễn Ánh do giáo sỹ Cadière sưu tập, Tập san Sử Địa, số 11, Sài Gòn, 1968.
(4) «Đại Nam thực lục chính biên» (Đệ nhất kỷ), tr.54.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Hai, 2022, 10:34:49 am
Các sử gia miền Nam trước giải phóng không tiến xa hơn sử học nhà Nguyễn trong lĩnh vực này bao nhiêu mặc dù họ không phải hoàn toàn nhìn phong trào Tây Sơn dưới góc độ là «giặc» như sử Nguyễn.

Rạch Gầm — Xoài Mút là một trận quyết chiến chiến lược độc đáo xảy ra ở địa bàn phương Nam, nhưng nhìn chung giới sử học miền Nam trước giải phóng ít chú trọng nghiên cứu về nó trừ một hai bài(1) đề cập trực tiếp tới trận đánh này (mà cũng rất sơ lược), còn lại Rạch Gầm — Xoài Mút chỉ được kể đến theo thứ tự thời gian diễn biến của phong trào Tây Sơn, như một sự kiện bình thường chứ không riêng thành một đối tượng đi sâu nghiên cứu. Nhìn tổng quát, ta có thể đánh giá chung: Ở miền Nam trước giải phóng chưa chú trọng nghiên cứu chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút đúng mức với tầm vóc và ý nghĩa lịch sử của nó, mặc dù ít nhiều rải rác trong các công trình nghiên cứu về Tây Sơn Nguyễn Huệ, các sử gia miền Nam đã có đề cập đến.

Cụ thể, khi nghiên cứu về Rạch Gầm — Xoài Mút các tác giả không đánh giá đúng và đầy đủ dã tâm xâm lược của quân Xiêm đối với nước ta, chỉ nhắc tới sự kiện Nguyễn Ánh sang Xiêm và sau đó vua Xiêm cử binh sang xâm lược như một diễn biến bình thường. Cũng có tác giả lý giải lý do xâm lược của quân Xiêm là vì «lòng tốt», vì «tự nguyện».

«Năm Giáp Thìn 1781 Nguyễn Ánh sang Xiêm tại Vọng Các, vua Xiêm khoản đãi rất hậu, nguyện ra sức định ngày cử binh»(2). Tạ Chí Đại Trường thì cho rằng vì quân Tây Sơn mâu thuẫn với Xiêm nên vua Xiêm giúp Nguyễn Ánh, nhưng vì sao lại có mâu thuẫn giữa Tây Sơn và Xiêm và mâu thuẫn đó như thế nào thì tác giả không phân tích và chứng minh xác đáng được:

«Trương Văn Đa nghe tin điệp viên báo rằng quân Xiêm sẽ tiến theo đường Lào đánh Quy Nhơn nên quyết định khai chiến. Xiêm cũng đòi hỏi Tây Sơn trả lại những kẻ thù của Xiêm mà Tây Sơn bắt giữ (?) không thì chiến tranh. Và chiến tranh đã xảy ra. Tây Sơn bị Xiêm vây, hai bên đánh nhau vài lần... Để phân tán lực lượng Tây Sơn, Xiêm vương nghĩ tới Nguyễn Ánh và đó là cớ quan trọng nhất (tôi nhấn mạnh) để giải thích việc Nguyễn Ánh được rước mời vào Vọng Các»(3). Nguyễn Phương khi phân tích về nguyên nhân xâm lược của Xiêm vẫn không đi được vào thực chất của vấn đề:

«Khi Nguyễn Ánh sang Xiêm vào mùa Xuân Giáp Thìn 1784 chúa đã được Xiêm vương tiếp đãi tử tế. P’hut Yod Fa tên của vua Xiêm là người mà năm 1782 Nguyễn Ánh đã có ý sai phái đoàn Nguyễn Hữu Thụy sang cầu cứu nhưng không may Nguyễn Hữu Thụy bị nạn dọc đường, nay vua rất sẵn sàng giúp đỡ. Chẳng những vua cho Nguyễn Ánh hai vạn quân và 300 chiến thuyền mà còn cho hai em là Chiêu Tăng và Chiêu Sương cầm quân đi đánh giúp nữa. Hỏi lòng tốt đó của vua Xiêm có kèm theo điều kiện gì không? Lịch sử không cho biết là Nguyễn Ánh đã hứa hẹn với vua Xiêm những gì, nhưng có một điều chắc chắn vua Xiêm không quên khi cho binh sĩ của ông khi sang Gia Định đánh giặc là để họ có một dịp ăn cướp làm giàu như sau này chúng ta sẽ thấy»(4).

Tóm lại, các sử gia miền Nam trước giải phóng đã không nhìn thấy dã tâm xâm lược của quân Xiêm, không thấy nguy cơ ngoại xâm đe dọa từ phương Nam đối với dân tộc ta.

Lịch sử dân tộc ta sáng chói những trang sử vẻ vang chống ngoại xâm. Có thể nói hầu như suốt trong chiều dài của lịch sử, dân tộc ta luôn luôn phải cầm vũ khí chiến đấu chống xâm lược. Trước thời kỳ cận đại thì tai họa xâm lăng mà chúng ta luôn luôn phải đối phó là họa xâm lăng từ phương Bắc và họa xâm lăng từ phương Nam. Nạn xâm lăng từ phương Bắc vì to lớn hơn phương Nam nên đã được chú trọng xem xét phân tích, song không phải vì thế mà có thể bỏ qua không phân tích về họa xâm lăng phương Nam được. Đối tượng đe dọa phương Nam là quân Xiêm, bởi vì trong những nước phương Nam gần nước ta thời đó chỉ có Xiêm là tương đối mạnh và có dã tâm xâm lược nước ta hơn cả. Trong lịch sử trung đại Xiêm đã nhiều lần lộ rõ dã tâm đó.

Thời kỳ Mạc Cửu phát triển ở Hà Tiên, quyền lợi của Xiêm ở vịnh Thái Lan bị đụng chạm, Xiêm đã mang quân tấn công đất Mang Khâm và Chân Lạp. Mạc Cửu thua và bị bắt về Xiêm, sau này nhân Xiêm có nội loạn Mạc Cửu mới trở về Hà Tiên được. Sau đó Mạc Cửu quy thuận nhà Nguyễn. Con Mạc Cửu là Mạc Thiên Tứ đã kế nghiệp cha khai phá đất phía Nam. Xiêm càng tức giận và mang quân xâm lược nhưng Mạc Thiên Tứ đã đẩy lui được các cuộc tấn công này.


(1) Khuông Việt «Trận Rạch Gầm» Đại Việt tạp chí số 25, năm 1943. Tại Chí Đại Trường, «Chiến thắng Nguyễn Huệ trước viện binh Xiêm La», Sử Địa, số 9 — 10, năm 1968.
(2) Bao la cư sĩ «Lịch sử bang giao giữa Việt Nam và Thái Lan», Văn hóa nguyệt san số 41, năm 1959, tr. 620.
(3) Tạ Chí Đại Trường «Chiến thắng Nguyễn Huệ trước viện binh Xiêm La», Sử Địa số 9-10, 1968, tr.55.
(4) Nguyễn Phương «Tây Sơn lấy Nam Hà» Tạp chí Đại Học, năm 1962, tr. 781.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Hai, 2022, 10:37:29 am
Để chống giặc Xiêm, Mạc Thiên Tứ cho xây cất tại trấn lỵ một thành vuông, gọi là Phương thành, chung quanh bao bọc chiến lũy trồng tre gai vì thế còn có tên là Trúc bằng thành (nay còn di tích là «bờ đồn nhỏ» và «bờ đồn lớn» của Hà Tiên).

Vào cuối thế kỷ XVIII nước Xiêm dưới vương triều Chakkri I cũng khá thịnh đạt. Sau khi thoát khỏi họa xâm lăng của Miến Điện và chấm dứt những xung đột bên trong, các vương triều Xiêm ra sức củng cố đất nước về mọi mặt. Lúc đó Xiêm đã lấn chiếm đất phía Nam của Miến Điện khống chế các vương triều Chân Lạp, Vạn Tượng. Đối với nước ta, Xiêm muốn lấn chiếm vùng đất Nam bộ. Vì vậy, năm 1771 Xiêm đã xâm lược nước ta. Vua Xiêm đã đích thân chỉ huy 20.000 quân tràn xuống bao vây Hà Tiên. Với cuộc xâm lược này Hà Tiên đã bị quân Xiêm chiếm đóng 3 năm và trở nên điêu tàn, do đó sau này Mạc Thiên Tứ phải cho con là Mạc Tử Hoàng về chỉnh đốn lại. Đúng thời gian đó chúa Trịnh đang đe dọa vượt sông Gianh và bão táp khởi nghĩa Tây Sơn bắt đầu bùng nổ.

Như vậy, Xiêm đã nuôi một dã tâm xâm lược nước ta lâu dài và thực tế đã mấy lần đem quân xâm lược không thắng lợi. Những thất bại ban đầu đó chưa làm chúng nản chí, trái lại khi thấy nội tình nước ta biến động, chế độ Trịnh — Nguyễn đang bị chao đảo trước bão táp khởi nghĩa nông dân thì tham vọng đó càng được thôi thúc. Cho nên có thể nói, nếu họa xâm lăng thường xuyên đe dọa ở phương Bắc đối với nước ta là Trung Quốc thì họa xâm lăng không kém phần nguy hiểm ở phương Nam chính là Xiêm.

Trong thực tế, khi Tây Sơn khởi nghĩa thì Xiêm đã phối hợp với nhà Thanh để tạo thế gọng kìm xâm lược từ cả hai phía đất nước ta. Sử quán triều Thanh còn ghi rõ:

«Xuống dụ bảo Xiêm La nhân lúc thiên binh tiến đánh An Nam đem quân sang chiếm lấy đất Quảng Nam»(1). Rõ ràng độc lập của dân tộc ta lúc đó đang đứng trước những đe dọa nguy hiểm.

Phía Bắc hàng chục vạn quân Thanh

Phía Nam hàng vạn quân Xiêm.

Kẻ thù nào cũng hung hãn thâm độc và nuôi một dã tâm xâm lược nước ta. Đó là ta chưa kể đến mối đe dọa của làn sóng xâm lược các nước phương Tây đang tràn vào các nước Đông Nam Á mà nước ta với vị trí chiến lược lợi hại, lại giàu tài nguyên và nhân lực, không thể không trở thành miếng mồi ngon đầy quyến rũ.

Như vậy, tiêu diệt quân xâm lược Xiêm là ngăn chặn nguy cơ xâm lược từ phương Nam, tức là tạo điều kiện để chống nguy cơ xâm lược phương Bắc và nguy cơ xâm lược của các nước phương Tây.

Các sử gia miền Nam trước giải phóng khi nghiên cứu về phong trào Tây Sơn nói chung và chiến thắng Rạch Gầm — Xoài mút nói riêng đã hoàn toàn không đánh giá đúng mức mối nguy hiểm của sự liên kết trên một quy mô khá lớn giữa bọn phản động trong nước và thế lực xâm lược từ bên ngoài, đe dọa nghiêm trọng độc lập của dân tộc ta lúc đó. Phạm Viết Tuyền còn khẳng định: «Sự cầu cứu Xiêm La dù sao cũng không có hậu quả gì lớn và lâu dài»(2).

Chính vì không thấy được dã tâm xâm lược đó của Xiêm La và nguy cơ ngoại xâm đối với độc lập dân tộc nên các sử gia miền Nam trước giải phóng đã không đánh giá đúng tầm vóc của trận quyết chiến chiến lược Rạch Gầm — Xoài Mút.

Trận Rạch Gầm — Xoài Mút không phải chỉ độc đáo và chói lọi ở hiệu quả của trận đánh (tiêu diệt 4/5 đội quân xâm lược) mà chính nó là đòn quyết định đánh tan dã tâm xâm lược của Xiêm khiến cho chúng rã rời ý chí. «Người Xiêm từ sau cuộc bại trận năm Giáp Thìn (tháng 1-1785) miệng tuy nói khoác mà lòng sợ Tây Sơn như cọp»(3).


(1) Sử quán triều Thanh (Trung Quốc): Đại Thanh thực lục. Sách in đời Thanh. Quyển 1514, tờ 56.
(2) Phạm Viết Tuyền — «Một vài ý kiến về sự nghiệp Gia Long» Đại Học số 8, 1959, tr.67.
(3) Đại Nam thực lục. Bản dịch Nxb Sử học Hà Nội, 1962, tr.65.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Hai, 2022, 10:40:54 am
Sau khi bị đại bại ở Rạch Gầm — Xoài Mút, bọn xâm lược Xiêm vẫn còn cay cú. Vương triều Chakkri vẫn nuôi dưỡng thế lực phong kiến Việt Nam phản động, chúng cho Nguyễn Ánh và đồng bọn lưu vong trú ngụ ở thành Vọng Các; giúp chúng khai khẩn đồn điền, đóng thuyền chuẩn bị lực lượng. Đến 1790 bọn phong kiến Xiêm thúc ép vương triều Chậu Nạn của Vạn Tượng, cùng một số tù trưởng vùng Trấn Ninh, Trình Cao, Quy Hợp đánh phá Nghệ An để phối hợp với Lê Duy Chỉ từ Cao Bằng, Tuyên Quang đánh xuống Thăng Long. Chỉ sau khi quân Tây Sơn do Trần Quang Diệu và Nguyễn Văn Uyển chỉ huy chủ động tấn công sang Vạn Tượng truy kích quân Xiêm tới tận biên giới thì tham vọng bành trướng của Xiêm mới hoàn toàn bị bóp nát. Như vậy, chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút 1785 cùng với cuộc chiến đấu đập tan lực lượng quân sự của phong kiến Xiêm trên đất Vạn Tượng của phong trào Tây Sơn đã xóa bỏ được mối đe dọa ngoại xâm từ phương Nam trong thời kỳ đó, đập tan âm mưu liên kết giữa bọn phong kiến phản động trong nước và bọn xâm lược bên ngoài bảo vệ độc lập và toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc.

Vì không phân tích được dã tâm xâm lược của Xiêm và sự đe dọa của nó đối với độc lập dân tộc, nên các sử gia miền Nam trước giải phóng không vạch rõ được bản chất cực kỳ phản động của Nguyễn Ánh khi y «cõng rắn cắn gà nhà».

Chúng ta đã biết, Nguyễn Ánh sau mấy phen bị quân Tây Sơn tấn công truy kích cho tơi tả suýt chết mấy lần, y đã nuôi mối hờn căm không đội trời chung với quân khởi nghĩa, tìm mọi cách để khôi phục vương quyền, không từ một thủ đoạn hèn hạ nào, kể cả việc rước quân ngoại xâm về giày xéo đất nước.

Trong tình thế lúc đó Nguyễn Ánh khó có thể cầu cứu Trung Quốc bởi vì Trung Quốc ở phía Bắc xa xôi mà Tây Sơn đã án ngữ ở giữa lại còn Lê Trịnh nữa, do đó hắn đã cầu cứu kẻ thù xâm lược từ phương Nam. Ở phương Nam lúc này chỉ có Xiêm là tương đối mạnh, còn Chân Lạp thì nội tình phức tạp rối ren, các hoàng tử tranh ngôi hỗn độn nên suy yếu.

Bị quân Tây Sơn truy kích gắt gao, Nguyễn Ánh chỉ còn lẩn lút ở vùng Rạch Giá, Hà Tiên và các đảo Côn Lôn, Phú Quốc. Tất cả những vùng đó đều giáp vịnh Xiêm La hoặc nằm trong vịnh Xiêm La, do đó chỉ có đường sang Xiêm là thuận lợi hơn cả. Vì vậy Nguyễn Ánh đã quyết định cầu cứu Xiêm. Bản chất cực kỳ phản động của Nguyễn Ánh chính là ở chỗ đó, mặc dù biết quyền lợi độc lập dân tộc có thể vì thế mà bị xâm phạm, y vẫn cam tâm rước chúng về giày xéo đất nước.

Còn bọn phong kiến Xiêm, như đã phân tích trên, lúc này là lúc chúng đang lăm le muốn thực hiện tham vọng chiếm Nam Bộ, vì thế khi thấy Nguyễn Ánh cầu cứu vua Xiêm rất mừng rỡ. Đọc lại sử cũ, các sử gia miền Nam cũng thừa nhận rằng:

«Năm Giáp Thìn 1784 Nguyễn Ánh sang Xiêm trú ngụ tại Vọng Các, vua Xiêm khoản đãi rất hậu nguyện ra sức định ngày cử binh»(1).

Nhưng, tội rước quân xâm lược Xiêm của Nguyễn Ánh không những không bị lên án mà còn được che giấu. Phạm Viết Tuyền trong bài «Một vài ý kiến về sự nghiệp của Gia Long» đã viết:

«Trong cơn nguy biến người anh hùng phải nhờ cậy đến nước ngoài cũng là chuyện thường… Nguyễn Ánh trong lúc bị Trịnh và nhất là nhà Tây Sơn chủ trương tận diệt đã phải cầu cứu Tiêm La và Pháp đó cũng là lẽ tự nhiên»(2).

Đúng, đó chỉ là «lẽ tự nhiên» của những kẻ bán nước, bán rẻ quyền lợi của Tổ quốc dân tộc để mưu cầu lợi ích cá nhân chứ không thể là «lẽ tự nhiên» đối với những người dân yêu nước được. Nguyễn Phương đã biến tội rước quân xâm lược của Nguyễn Ánh thành nhu cầu chính đáng cho «sự nghiệp» thống nhất đất nước:

«Còn tội mời quân ngoại quốc vào ư? thì Nguyễn Ánh có lẽ không nghĩ đến việc tránh trút vì ngay sau khi quân xâm lược Xiêm bị bại Nguyễn Ánh đã quyết định đi cầu viện nước Pháp và sự cầu viện sau này đã mở đường cho Nguyễn Ánh có lực lượng để toàn thắng cùng thống nhất đất nước»(3).

Vì bào chữa cho Nguyễn Ánh, cho cuộc chiến tranh xâm lược của quân Xiêm, nên các sử gia nói trên không thấy được ý nghĩa to lớn của chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút trong lịch sử dân tộc. Họ không thể thấy chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút không những chỉ tiêu diệt quân xâm lược Xiêm mà còn tiêu diệt cả đám quân phản động của Nguyễn Ánh.


(1) Bao La cư sĩ — «Lịch sử bang giao giữa Việt Nam và Thái Lan». Tập san Văn hóa Nguyệt san, số 44, năm 1959, tr.620.
(2) Phạm Viết Tuyền — «Một vài ý kiến về sự nghiệp Gia Long» Đại Học số 8, 1959, tr.67.
(3) Nguyễn Phương — «Chung quanh vấn đề ai đã thống nhất Việt Nam — Nguyễn Huệ hay Nguyễn Ánh». Tạp chí Đại Học, số 35—36, tháng 10 - 12 năm 1963, tr.683.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Hai, 2022, 10:44:17 am
Nguyễn Phương còn than thở: «Quân Xiêm thất bại là tất cả hy vọng của Nguyễn Ánh cũng biến thành mây khói. Thật là một kinh nghiệm tủi nhục vì kết quả quân sự chỉ là con số không mà dân gian bị thiệt thòi đau đớn»(1).

Với cách nhìn nhận và phân tích như vậy nên họ càng không thể nhận rõ những ý nghĩa lịch sử sâu xa hơn của Rạch Gầm — Xoài Mút: Chiến thắng đó cùng với chiến thắng Đống Đa chống quân xâm lược Thanh đã đưa phong trào Tây Sơn lên một tầm vóc cao cả, từ một cuộc khởi nghĩa nông dân đã vươn lên làm nhiệm vụ đấu tranh giữ gìn độc lập của Tổ quốc, thể hiện tính quật khởi và năng động cách mạng của nông dân Việt Nam nói riêng và nhân dân ta nói chung.

Lúc bấy giờ trong nước chế độ phong kiến đã suy tàn, nhưng một giai cấp mới tiêu biểu cho một phương thức sản xuất mới có thể đảm đương sức mệnh dân tộc lại chưa xuất hiện. Mầm mống tư bản chủ nghĩa đã nảy sinh trong một số ngành kinh tế nhưng còn quá non kém. Trong khi đó cuộc đấu tranh giai cấp đang phát triển tới mức quyết liệt. Bão táp bắt đầu phát ra từ cung đình với hành động thoán đoạt của Mạc Đăng Dung 1527 rồi đến chiến tranh Nam — Bắc triều 1529 — 1592 và hành động ly khai của Nguyễn Hoàng. Rồi bão táp của bảy lần nội chiến Trịnh — Nguyễn đã làm cho đất nước chia cắt điêu linh kiệt quệ. Mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp đã dồn nén và làm bùng lên phong trào khởi nghĩa nông dân rầm rộ mà đỉnh cao là khởi nghĩa Tây Sơn.

Khởi nghĩa Tây Sơn đã lật nhào chế độ phản động Trịnh — Nguyễn. Những thế lực phản động cả phương Đông lẫn phương Tây âm mưu lợi dụng «đục nước béo cò» để lăm le xâm lược. Một hoàn cảnh lịch sử như vậy rất dễ làm cho phong trào đấu tranh của quần chúng mất phương hướng, đất nước rã rời trở thành miếng mồi ngon cho bọn xâm lược.

Nhưng với lòng yêu nước thiết tha, tính năng động cách mạng được phát huy cao độ, nhân dân ta đã cố gắng vươn lên làm chủ vận mạng đất nước và đã bảo vệ được một cách xuất sắc độc lập của dân tộc.

Những cố gắng đó của khởi nghĩa Tây Sơn, kết tinh ở những trận quyết chiến chiến lược như Rạch Gầm — Xoài Mút, Ngọc Hồi — Đống Đa, đánh đuổi 5 vạn quân xâm lược Xiêm và tiêu diệt 29 vạn quân xâm lược Thanh.

Đó là điều mà không một sử gia nào của miền Nam trước giải phóng đánh giá đúng tầm vóc của nó.

Về diễn biến của trận đánh, các sử gia miền Nam trước giải phóng nghiên cứu rất sơ lược, tất cả chỉ nhắc lại hệt như việc mô tả cắt xén bóp méo của sử Nguyễn mặc dù họ có thừa nhận kết quả chiến thắng của quân Tây Sơn, sự đại bại của quân Xiêm — Nguyễn.

Ta đã biết sau khi nhận được tin tức của Trương Văn Đa cấp báo về tình hình của quân xâm lược Xiêm, Nguyễn Huệ đã kéo quân vào thẳng Mỹ Tho và chỉ hơn 10 ngày thăm dò, chuẩn bị, trận quyết chiến chiến lược đã xảy ra với kết quả quân xâm lược Xiêm và bọn phong kiến phản động hoàn toàn đại bại. Thời gian thần tốc và kết quả đặc sắc của trận tiêu diệt (tiêu diệt 4/5 số lượng quân giặc) đã khiến cho những người không nghiên cứu kỹ trận đánh tưởng như quá dễ dàng thuận lợi cho quân Tây Sơn và Nguyễn Huệ.

Phạm Văn Sơn tự cho là «Nghiên cứu rộng rãi về Quang Trung Nguyễn Huệ» đã khẳng định:

«Vua Quang Trung là một nhân vật lịch sử mà những điểm khiến ta phải chú ý nếu ta nghiên cứu rộng rãi sự nghiệp của ngài:

1 — Diệt xâm lăng, ngài đánh bại hai quân Tầu Xiêm dễ như xua gà…»(2)

Nếu coi những chiến thắng đó là «dễ như xua gà» thì có gì đáng ca ngợi. Lịch sử của những âm mưu đen tối và nguy cơ ngoại xâm từ hai mặt của đất nước, với tình thế rối ren của nội chiến đã đặt phong trào Tây Sơn Nguyễn Huệ trước những nhiệm vụ cực kỳ khó khăn, thì những chiến thắng mà phong trào Tây Sơn lập được để bảo vệ độc lập dân tộc không «dễ như xua gà» như Phạm Văn Sơn nói, mà đó là những kỳ tích kết tinh tài năng, tài thao lược, tinh thần dũng cảm xả thân vì Tổ quốc của đội quân khởi nghĩa nông dân, đứng đầu là Nguyễn Huệ. Vả lại, mặc dù Xiêm lúc đó không phải là một nước lớn, đội quân xâm lược Xiêm chưa phải là đội quân xâm lược thiện chiến nhất, song cuộc kháng chiến chống Xiêm vẫn có những khó khăn phức tạp riêng của nó, vì chúng được bọn phong kiến phản động trong nước tiếp sức và chúng đã chiếm được nửa đất Gia Định trong khi phong trào Tây Sơn mới chỉ giải phóng phần lớn đất Đàng Trong và đang phải đối phó với thù trong giặc ngoài.


(1) Nguyễn Phương — «Tây Sơn lấy Nam Hà». Tạp chí Đại Học, số 5, năm 1962, tr.783.
(2) Phạm Văn Sơn — «Để so sánh các anh hùng trước Nguyễn Huệ với Nguyễn Huệ», Tập san Sử Địa số 9 — 10, 1968, tr.150.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Hai, 2022, 10:47:17 am
Sử nhà Nguyễn đã cố tình xuyên tạc cho rằng Nguyễn Huệ kéo quân vào giao chiến với quân Xiêm Nguyễn đang thua, may nhờ có mưu kế của «tên phản thần Lê Xuân Giác» bày kế phục binh ở Rạch Gầm — Xoài Mút mà chiến thắng được quân Xiêm(1).

Các sử gia miền Nam trước giải phóng đã hoàn toàn lặp lại và nhấn mạnh vào điều đó nghĩa là họ cũng cho rằng chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút chỉ nhờ «may mắn» do mưu kế của tên hàng thần mà có được.

«Nói cho đúng hơn sự thắng trận này là một sự may mắn cho vị tướng Tây Sơn hơn là kết quả của tài thao lược. Vì đang thua mãi Nguyễn Huệ đã tính nước rút lui thì một tên phản thần của Nguyễn Ánh đến bày mưu cho Nguyễn Huệ»(2).

Hoặc là chỉ vì «Quân Xiêm không hiểu địa thế bị quân Tây Sơn vây đánh thua chạy»(3).

«Các tướng Xiêm một đằng vì thắng luôn nên ít đề phòng, đằng khác không quen địa thế nên lỡ ra hữu sự không biết đàng xoay xở»(4).

Tóm lại, chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút dưới con mắt họ chỉ là sự «ngẫu nhiên may mắn» và công lao chủ yếu thuộc về tên hàng thần, vì vậy Nguyễn Phương mới khẳng định: «Ai cũng thấy được Lê Xuân Giác có công không kém gì Nguyễn Huệ»(5).

Tạ Chí Đại Trường còn đi xa hơn nữa. Tác giả đã mô tả xuyên tạc bản chất của nghĩa quân Tây Sơn, mô tả họ như những người hung bạo man rợ.

«Họ đi từ vùng rừng núi phía Tây, lấy sức mạnh cường bạo của đám người thượng, Trung Hoa khách thương liều lĩnh, nông dân Việt Nam đi khai thác đất hoang tâm tính trở nên hung dữ, rồi truyền tấm lòng hăng hái thành tính chất vong mạng đó cho dân đồng bằng hiền lành chân chất, gây nên một cuộc đảo lộn dữ dội nhất trong nước»(6). Sức mạnh quật khởi vĩ đại của cuộc khởi nghĩa dưới con mắt của Tạ Chí Đại Trường biến thành sức mạnh của toán quân dốt nát ô hợp.

«Tây Sơn phải đánh ồ ạt để lấp liếm cái yếu kỹ thuật của họ, cho nên phải tàn sát»(7).

Từ sự xuyên tạc đó tác giả cho rằng chiến thắng 5 vạn quân xâm lược Xiêm ở Rạch Gầm — Xoài Mút chỉ là thành tích của đội quân dốt nát hung bạo và may mắn nhờ vào mưu kế của tên hàng thần Lê Xuân Giác.

Các công trình nghiên cứu của sử học Mác xít về trận Rạch Gầm — Xoài Mút đã cho chúng ta thấy rõ đó chính là kết quả thiên tài quân sự của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ và tinh thần chiến đấu dũng cảm hy sinh của nghĩa quân, đồng thời là kết quả của sự ủng hộ hết lòng của nhân dân đối với nghĩa quân Tây Sơn. Cả quá trình chuẩn bị công phu cho trận đánh, từ việc đánh thăm dò, trá hàng để khích lòng kiêu ngạo của giặc, việc chọn trận địa mai phục, cách nhử quân giặc, chiến thuật chặn đầu khóa đuôi, kết hợp thủy quân với pháo binh, lợi dụng thủy triều, v.v…. đã bác bỏ hoàn toàn sự xuyên tạc của các sử gia miền Nam về thực chất của chiến thắng này.

Cũng rải rác đây đó trong một vài nghiên cứu của các tác giả ở miền Nam trước 1975 có ít dòng ca ngợi chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút. Song cách ca ngợi đó cũng chỉ là cách nhìn phiến diện. Chỉ thấy vai trò cá nhân Nguyễn Huệ mà hoàn toàn bỏ qua sự tham gia ủng hộ tích cực của quần chúng nhân dân.


(1) Đại Nam thực lục chính biên. Sách đã dẫn, tr.54.
(2) Nguyễn Phương — «Chung quanh vấn đề ai đã thống nhất Việt Nam — Nguyễn Huệ hay Nguyễn Ánh». Tạp chí Đại Học, số 35—36, tháng 10 - 12 năm 1963, tr.683.
(3) Bao La cư sĩ — «Lịch sử bang giao giữa Việt Nam và Thái Lan». Tập san Văn hóa Nguyệt san, số 41, 1959.
(4) Nguyễn Phương — «Tây Sơn lấy Nam Hà». Tạp chí Đại Học, số 5 1962, tr.783.
(5) Nguyễn Phương — «Chung quanh vấn đề ai đã thống nhất Việt Nam — Nguyễn Huệ hay Nguyễn Ánh». Tạp chí Đại Học, số 35 — 36, tháng 10 — 12, 1963, tr.683.
(6), (7) Tạ Chí Đại Trường — «Lịch sử nội chiến ở Việt Nam từ 1771 đến 1802», Nxb Văn Sử học, Sàigòn 1973, tr. 212 và 136.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Hai, 2022, 10:49:56 am
«Tây Sơn chỉ có được một mình Nguyễn Huệ bốn lần vào Gia Định đều thắng, phá hai vạn quân hùm beo của Tiêm La, hai phen tiến ra Bắc Hà đều tiêu diệt đội quân xâm lược của quân Thanh»(1).

«Chỉ trong một trận Rạch Gầm, Nguyễn Huệ đã phá binh Xiêm đem sự an ninh về cho dân chúng… Trận Rạch Gầm một chiến công oanh liệt, trận Rạch Gầm một ân huệ lớn với dân»(2).

Vấn đề vai trò cá nhân và quần chúng trong lịch sử đã được lý luận chủ nghĩa Mác — Lê làm sáng tỏ. Trong góc độ tìm hiểu trận Rạch Gầm — Xoài Mút chúng tôi chỉ muốn nhấn mạnh rằng: Chiến thắng này trước hết là sự vươn lên làm chủ vận mệnh dân tộc của cả một cuộc khởi nghĩa nông dân lớn ở thế kỷ XVIII, khởi nghĩa Tây Sơn, dưới sự lãnh đạo của người anh hùng thiên tài Nguyễn Huệ. Tài năng quân sự của Nguyễn Huệ được phát huy trong sức quật khởi của quần chúng nhân dân. Đem đại quân từ xa đến một vùng chưa quen phong thổ, nếu không có sự ủng hộ hết lòng của quần chúng nhân dân (đang vô cùng căm phẫn trước sự bạo ngược cướp bóc của quân Xiêm) thì Nguyễn Huệ và nghĩa quân Tây Sơn làm sao có thể nhanh chóng chọn được một địa điểm phục kích lợi hại như Rạch Gầm — Xoài Mút? Làm sao họ có thể giữ được bí mật đến cùng để trận đánh có một hiệu quả cao như vậy? làm sao hiểu rành rẽ được con nước lên xuống để đấu trí với bọn giặc nham hiểm Xiêm — Nguyễn đạt được kết quả? «Nguyễn Ánh chỉ là người biết và muốn lợi dụng thủy triều, còn Nguyễn Huệ mới là người thực sự lợi dụng được thủy triều»(3).

Chính bản thân Nguyễn Huệ khi nói tới các chiến thắng chống ngoại xâm oanh liệt của nghĩa quân Tây Sơn đã khẳng định sự đóng góp và ủng hộ to lớn của nhân dân, coi đó là nguồn gốc của các thắng lợi.

«Các ngươi dù lớn hay bé kể từ 20 năm nay không ngừng sống nhờ ân huệ của anh em ta. Suốt trong thời gian đó, quả thật nếu ta đã gặt hái được những chiến công tại Bắc cũng như Nam, ta cũng công nhận đó là nhờ lòng trung thành của dân hai xứ này. Chính tại nơi đây, ta đã tuyển mộ được binh sĩ quả cảm và quan lại tài giỏi cho triều đình. Nơi nào có ta mang quân đến chinh phạt nơi đó quân Xiêm La và quân Trung Hoa dã man bị ta khắc phục»(4).

Không tìm hiểu đúng vai trò, sự ủng hộ của quần chúng nhân dân trong chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút, các sử gia miền Nam không đánh giá đúng tính nhân dân của cuộc kháng chiến chống Xiêm và do đó không thể hiểu một cách đúng đắn về tính chất của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn nói chung.

Chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút là chiến công vang dội của nghĩa quân Tây Sơn Nguyễn Huệ, chiến thắng này không tách rời sự nghiệp vĩ đại của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn nói chung. Rạch Gầm — Xoài Mút dưới con mắt của các sử gia miền Nam trước giải phóng chỉ là một phần trong toàn bộ cách nhìn nhận đánh giá của họ về phong trào Tây Sơn.

Cố nhiên, chúng tôi hoàn toàn không phủ nhận công phu của một số nhà nghiên cứu đã làm việc thận trọng để sưu tập, chọn lựa tư liệu và cố gắng làm phong phú nhiều khía cạnh của khởi nghĩa Tây Sơn nói chung cũng như chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút nói riêng. Nhưng do hạn chế về phương pháp luận mà những công trình nghiên cứu đó vẫn còn nhiều khiếm khuyết.

Chúng ta có thể thấy trước hết, lập trường quan điểm là cái đã ngăn cản các sử gia này trong việc tái lập sự thực của lịch sử.

Ngoài vấn đề lập trường quan điểm thì vấn đề phương pháp cũng ảnh hưởng tới kết quả nghiên cứu, khiến cho giữa mục đích và kết quả nghiên cứu của họ có sự mâu thuẫn. Do đó, như Lênin đã chỉ rõ: «… nhiều lắm cũng chỉ tích lũy được những sự kiện sống sượng, góp nhặt được một cách tình cờ và chỉ trình bày một số phương diện nào đó của quá trình lịch sử»(5).

Cuối cùng chúng tôi muốn nói rằng, việc đánh giá lại cách nhìn nhận của các sử gia đó về Rạch Gầm — Xoài Mút, một bộ phận trong toàn thể cách nhìn nhận của họ về phong trào Tây Sơn, chính là để góp phần khẳng định thêm vị trí và ý nghĩa lịch sử của chiến thắng trong dịp lễ kỷ niệm này, đồng thời cũng là để thực hiện một trong những nhiệm vụ của công tác sử học Mác xít mà đồng chí Trường Chinh đã chỉ rõ: «Tác chiến chống lại những quan điểm sai lầm về sử học, xuyên tạc lịch sử Việt Nam của đế quốc, phong kiến tư sản của những «sử gia» phản động ở miền Nam»(6) trước giải phóng.


(1) Phạm Văn Tuyền — «Một vài ý kiến về sự nghiệp của Gia Long». Tạp chí Đại Học, số 8, 1959, tr.66.
(2) Khuông Việt — «Trận Rạch Gầm». Đại Việt tạp chí số 25, 1943, tr.11.
(3) Quỳnh Trân — «Thử bàn về vấn đề thủy triều trong trận Rạch Gầm — Xoài Mút» in trong Chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút, Ban tuyên giáo Ty văn hóa thông tin Tiền Giang, xuất bản 1977, tr. 126.
(4) Hịch của Quang Trung gửi cho các quan và dân trấn Quảng Ngãi, Quy Nhơn. Trích lại của Đặng Phương Nghi: «Triều đại Quang Trung dưới con mắt các nhà truyền giáo phương Tây» Sử Địa số 13, 1968, tr.175.
(5) Xem: Mác — Ăngghen — Chủ nghĩa Mác. Nxb. Sự thật, Hà Nội — 1959 — trang 19.
(6) Trường Chinh — Lời phát biểu tại hội nghị tổng kết 10 năm công tác của Viện Sử học. Báo Nhân Dân, số ra ngày 21-12-1963.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Hai, 2022, 08:28:10 am
HAI THẾ KỶ PHÁT HUY CHIẾN THẮNG RẠCH GẦM — XOÀI MÚT
CỦA NHÂN DÂN TIỀN GIANG

NGUYỄN QUỐC HÙNG
                                                                                                                   
(Tỉnh ủy viên, Phó ban tuyên huấn
Tỉnh ủy Tiền Giang)

Năm nay, nhân dân Tiền Giang long trọng kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút (1785 — 1985).

Hai trăm năm! Một chặng đường ngắn so với lịch sử 4.000 năm của dân tộc, nhưng lại là một quãng thời gian dài so với một đời người, phải trải qua nhiều thế hệ nối tiếp nhau. Mỗi thế hệ đi qua để lại trên quê hương Tiền Giang bao nhiêu là sự tích, tô vẽ cho bức tranh tỉnh nhà ngày thêm rực rỡ, dù là đấu tranh chống thiên nhiên đầy ma thiêng nước độc, muỗi mòng, thú dữ của buổi bình minh, để khai sinh vùng đất mới, hay chiến đấu chống thù trong giặc ngoài để bảo vệ thành quả lao động, đem lại sự bình yên cho xứ sở. Sự cần cù nhẫn nại, lòng dũng cảm hy sinh của tổ tiên ta vẫn luôn luôn sáng chói như những trang sử vàng viết bằng mồ hôi và xương máu, đúng như mấy câu thơ:

«...
Con đứng lên viết tiếp thay cha
Người đứng dậy viết tiếp thay người ngã xuống
Người hôm nay viết tiếp người hôm qua»
(1)

Lần dở những trang sử đầu tiên «Từ thuở mang gươm đi mở cõi»(2), không ai có thể quên được những mảnh đất cực Nam của hơn 200 năm trước: dân cư thưa thớt, đất đai chưa được khai phá bao nhiêu: «từ hai cửa biển Đại, Tiểu ở Cần Giờ và Sài Gòn trở vào toàn là rừng rậm đến mấy ngàn dặm»(3); «có nhiều khe lạch, đường nước, chằng chịt như mắc cửi, không cho phép người ta đi bộ từ vùng nọ đến vùng kia»(4)...

Thế mà tổ tiên người Tiền Giang vốn là những nông dân nghèo từ phía Bắc di cư vào đây — mong tránh sự áp bức bóc lột của phong kiến Đàng Ngoài — đã định cư lập nghiệp!

Họ khẩn đất, khai hoang, đắp bờ ngăn mặn, giữ nước ngọt để làm ruộng, khai thêm kinh rạch, lập trại, lập làng, đùm bọc nhau để đấu tranh với thiên nhiên đầy khó khăn thử thách. Với mồ hôi nước mắt và sức lao động cần cù của mình, những đoàn người định cư đầu tiên ấy đã biến đồng bằng vùng Tiền Giang thành một vùng phì nhiêu, một vùng kinh tế nông nghiệp trù phú với dân cư ngày một tập trung đông đúc như ngày nay.

Đến nửa sau thế kỷ 18, tức khoảng năm 1776 thì riêng ở Tam Lạch (vùng Ba Giồng Mỹ Tho cũng chỉ mới «có 100 thôn với 4.000 suất đinh, 5 ngàn thửa ruộng»(5), vậy mà non 10 năm sau đó, họ đã cùng với đội quân nông dân Tây Sơn làm nên chiến thắng lẫy lừng: đánh tan năm vạn quân Xiêm xâm lược và tàn quân Nguyễn Ánh tại Rạch Gầm — Xoài Mút trong một ngày cuối năm Giáp Thìn.

Từ ấy đến nay, dẫu trải qua bao biến cố lớn lao của lịch sử, dẫu bị sử gia triều Nguyễn cùng một số sử gia phản động khác cố tình bóp méo và xuyên tạc, sức sống mãnh liệt của trận Rạch Gầm — Xoài Mút vẫn tồn tại mãi mãi với thời gian, trong ký ức bất diệt của nhân dân ta. Rạch Gầm — Xoài Mút đã đi vào tâm khảm của nhân dân ta như những tên gọi hào hùng nhất.

Hai thế kỷ qua, nơi vinh hạnh được Nguyễn Huệ chọn làm địa bàn để mở trận quyết chiến chiến lược ấy cũng là nơi luôn luôn bừng bừng sức mạnh của truyền thống quật khởi. Từ những phong trào của các sĩ phu yêu nước trước khi có Đảng, đến hai cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, sức mạnh truyền thống của Rạch Gầm — Xoài Mút được nhân lên không ngừng, để rồi chắp cánh cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ngày nay thêm bay cao, bay xa.

Mảnh đất Tiền Giang không phải chỉ từng là nơi qui tụ nhân hào nghĩa sĩ, những chiến sĩ chống Tây đuổi Mỹ, mà còn là nơi góp phần làm nên cho lịch sử những chiến công ngời sáng và sản sinh cho đất nước những chiến sĩ anh hùng.

Hiện thực phong phú và sinh động ấy đã và đang cổ vũ nhân dân Tiền Giang vững bước đi lên trong giai đoạn cách mạng mới.

Nhân kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút, chúng ta thử nhìn lại «hai thế kỷ phát huy chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút của nhân dân Tiền Giang» như thế nào, để tiếp tục nhân lên trong thời gian tới.


(1) Hoàng Trung Thông.
(2) Huỳnh Văn Nghệ.
(3) Theo Lịch Triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú.
(4) Theo Lịch Triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú.
(5) Theo Gia Định Thành thông chí của Trịnh Hoài Đức.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Hai, 2022, 08:29:42 am
*
*   *

Báo cáo gồm hai phần sau:

— Phong trào yêu nước của các sĩ phu trước khi có Đảng (1785—1930).

— Dưới ngọn cờ của Đảng nhân dân ta vững bước đi lên (1930—1975)

— Công cuộc cải tạo và xây dựng lại Tiền Giang 10 năm qua (1975—1985)

I

PHONG TRÀO YÊU NƯỚC CỦA CÁC SĨ PHU TRƯỚC KHI CÓ ĐẢNG
(1785—1930)

Không phải đợi đến gần một thế kỷ sau trận Rạch Gầm — Xoài Mút, khi mà thực dân Pháp lộ rõ dã tâm xâm lược nước ta, nhân dân Tiền Giang mới vùng lên cùng lãnh binh Trương Định phất cờ khởi nghĩa chống lại bọn chúng, mà là ngay sau trận chiến thắng này nhân dân ta đã phát huy chiến quả của mình, đã nhất tề đứng lên đánh dẹp bọn cướp Đông Sơn do Đỗ Thành Nhân cầm đầu. Tuy mệnh danh là đảng cướp và chuyên sống bằng mồ hôi nước mắt của nhân dân, nhưng thật ra chúng có một ý đồ cát cứ và có một lực lượng vật chất thực thụ, tự mình đối lập với Tây Sơn nên tự xưng là Đông Sơn.

Tuy quân Đông Sơn không đông như quân bản bộ của Nguyễn Ánh, thế mà đã lắm phen làm cho tên chúa lưu vong nầy phải thất điên bát đảo.

Nhờ mua được một số vũ khí của thương thuyền Hà Lan và Bồ Đào Nha trang bị cho mình, dư đảng Đông Sơn nghiễm nhiên trở thành loạn quân chống đối cả Nguyễn Ánh lẫn Tây Sơn, đặc biệt là trở thành kẻ thù nguy hiểm của nhân dân cả vùng Tam Lạch lúc bấy giờ. Rõ ràng là, một lực lượng vật chất như vậy phải được đánh bại bởi một lực lượng vật chất — mà trong đó ngoài mưu trí tài giỏi của nghĩa quân Tây Sơn do phò mã Trương Văn Đa chỉ huy, còn có cả một phong trào quần chúng Tiền Giang lúc bấy giờ hỗ trợ hoặc trực tiếp tham gia.

Dẹp xong dư đảng Đông Sơn, nhân dân ta lại quay sang tiễu trừ bọn cướp ở Gò Công, Chợ Gạo do Võ Tánh cầm đầu. Và số phận của bọn Võ Tánh cũng được định đoạt như bọn Đông Sơn: lớp qui phục Tây Sơn, lớp giải nghệ về với nhân dân, lớp cùng đường chạy theo ôm gối Nguyễn Ánh.

Giữa thế kỷ trước, khi vua quan triều Nguyễn hèn nhát ký hàng ước Nhâm Tuất (ngày 5 tháng 6 năm 1962) dâng ba tỉnh miền Đông cho Pháp, nhân dân Tiền Giang đã nhanh chóng nhận rõ sai lầm của triều đình, mà Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp làm đại diện ký kết, nên đã kịp thời vùng lên đấu tranh chống lại. Phong trào này đã có ảnh hưởng rất lớn, tiếng vang rất rộng khắp 6 tỉnh Nam Kỳ và trong cả nước với khí thế:

«Dập dìu trống đánh cờ xiêu
Phen này quyết chống cả triều lẫn Tây» do Trương Định — người anh hùng dẫn đầu đoàn anh hùng ở Nam bộ lúc bấy giờ cầm đầu.

Khẩu hiệu «Phan Lâm mãi quốc, triều đình khí dân» đã vạch trần sự hèn nhát và tính toán sai lầm của nhà Nguyễn, vừa nói lên sự phẫn nộ và ý chí chiến đấu của nhân dân ta, vừa cổ vũ, lôi kéo được đại bộ phận quần chúng tham gia.

Mặc dù chiến đấu với một thế và lực không ngang sức, giữa một bên là nghĩa quân yêu nước áo vải, chân đất, đầu trần, trang bị vũ khí thô sơ tự tạo, với một bên là quân xâm lược Pháp và binh triều hùng mạnh, trang bị hiện đại, phương tiện cơ động gấp trăm lần, cha ông ta vẫn quả cảm hy sinh. Tinh thần của chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút được phát huy đúng mức và nhân lên rất cao.

Có thể nói sự nghiệp và võ công của Trương Định bắt đầu từ năm 1859 khi mà giặc Pháp đánh chiếm thành Gia Định, ông theo Nguyễn Tri Phương đem quân đóng ở Thuận Kiều (Chợ Lớn bây giờ). Nhưng đối với nhân dân Tiền Giang thì phải tính ngay từ ngày ông ở Tân An sang Tăng Hòa (Gò Công) để khai hoang lập ấp, tức là ba năm trước đó. Những ngày đồng cam cộng khổ với «dân lân dân ấp» Trương Định đã hiểu thế nào là sự cùng cực, nỗi nhọc nhằn của đám «dân đen». Và, những năm tháng làm phó lãnh binh tỉnh Gia Định ông lại càng hiểu rõ hơn cảnh «lửa đỏ» mà đồng bào ta phải gánh chịu.

Trong những trận chiến đấu của ông có tiếng vang nhất phải kể đến là trận Đồng Sơn hồi đầu năm 1861, đánh địch cả trong đồn lẫn dưới sông, cả bọn cướp nước và bọn bán nước, bắt sống tên bá hộ Huy; trận sông Tra hồi tháng 6 năm 1862 đánh chìm 1 chiến hạm của Pháp, diệt hàng chục tên lính lê dương, trong đó có tên tướng Tây Ban Nha Palanca; trận Sơn Qui hồi cuối năm 1962 bẻ gãy cuộc hành quân qui mô lớn của Pháp; và trận Sơn Qui lần thứ hai hồi tháng hai năm 1863, với lực lượng 1 chọi với 100 vẫn đánh ròng rã trong 3 ngày đêm liền. Mặc dù bị thất bại phải rút về «đám lá tối trời» ở làng Gia Thuận, nhưng chính ở đây ông đã viết tiếp thêm những trang sử sáng chói của mình cho đến phút cuối cùng, đó là ngày 20-8-1864, tức nhằm 18 tháng 7 năm Giáp Tý, năm ông được 44 tuổi.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Hai, 2022, 09:25:05 am
Đánh giá trận Sơn Qui thứ hai nầy, tên thiếu tá Pháp Vian (P. Vial) nói: «hình như Trương Định nhận được một ảnh hưởng lớn lao thêm sau khi Gò Công thất thủ».

Quả thật là như vậy, chớ không phải «hình như» như Vian đã đoán: ngay từ sau hòa ước tháng 6-1862 được ký kết, Trương Định trở thành linh hồn của nhân dân Tiền Giang và nhân dân Tiền Giang trở thành máu thịt của Trương Định. Hơn thế nữa khi mà triều đình hèn nhát không dám chiến đấu, ra lịnh cho ông rút quân về trấn nhậm An Giang, thì lòng dân đã phẫn nộ. Đứng giữa lịnh vua và ý dân, ông đã ngả về phía nhân dân và tuyên bố: «Lòng dân đã muốn ta lên làm nguyên nhung ba tỉnh, trông vào lòng yêu thương không phai nhạt của mọi người, ta sẽ lấy vi lô làm cờ, tầm vông làm võ khí, quyết không dung tha bọn cướp». Ông nhận chức Bình Tây Đại Nguyên Soái do dân phong và tiếp tục kháng chiến đến hơi thở cuối cùng.

Cảm kích thái độ dứt khoát đó, trong bài văn tế Trương Định, nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã viết:

Bởi lòng chúng chẳng nghe thiên tử chiếu, đón ngăn mấy dặm mã tiền
Thương bụng dân phải nhận tướng quân phù, gánh vác một vai khổn ngoại.


Trong lúc Trương Định đang hoạt động ở Gò Công, thì một nhà trí thức yêu nước làng Tịnh Hà (nay là Mỹ Thạnh An, huyện Chợ Gạo) cũng đã nổi lên chiêu tập thân hào nghĩa sĩ, chống giặc giữ nước, đó là thủ khoa Nguyễn Hữu Huân.

Trong suốt 15 năm hoạt động, ba lần khởi nghĩa ba lần bị bắt, trên chiến trường cũng như trong ngục tù của giặc, lúc nào ông cũng nêu tấm gương «tận trung báo quốc» và đạo «cương thường» vi nước vì dân:

«... Cang thường bởi biết mang nên nặng
Hễ đứng làm trai chác nợ đời»
(1)

Hoặc

«... Tiết khí dưới trần coi ít mặt
Cang thường càng trọng gánh giang sơn»
(2)

Cuộc đời hoạt động chống Pháp suốt 15 năm của ông có thể chia thành ba giai đoạn:

Thứ nhất: Tháng 4 năm 1861 khi giặc Pháp tiến chiếm Mỹ Tho, ông cùng người bạn chiến đấu thân thiết Võ Duy Dương phát động khởi nghĩa, trực diện đương đầu với Pháp, thu hút được nhiều người tham gia. Trận chiến đấu quyết liệt của ông và nghĩa quân thuộc quyền, dưới sự đùm bọc của nhân dân trong các năm 1861 — 1862 không thể không kể đến trận Mỹ Quý: trận Mỹ Quý kéo dài 57 ngày đêm liền, nghĩa quân diệt khá nhiều địch. Cuối cùng tuy phải rút đi, giặc tạm thời thắng thế, nhưng uy danh của ông được nhân lên gấp bội và ý chí của nhân dân được nung nấu đến cao độ.

«... Miễn được an nhà cùng lợi nước
Chi nài dãi gió lại dầm sương»
(3)

Cuối năm 1861, sau khi Trần Xuân Hòa — tức «Phủ cậu» — khởi nghĩa ở Thuộc Nhiêu bị thất bại ông tiếp tục chiêu mộ nghĩa binh, giữ vững ngọn cờ kháng chiến. Sau đó bị đánh úp và bị giặc bắt giải về Sài Gòn. Mặc dù tên Đỗ Hữu Phương ra sức dụ dỗ, mua chuộc, ông kiên quyết từ chối tất cả, dùng lời lẽ khôn khéo giáo dục lại Phương và tìm cách trở về hoạt động.

Thứ hai: đầu năm 1863, trong phong trào nhân dân chống Pháp và chống «hàng ước» đang sôi sục ở Gò Công, do Trương Định cầm đầu và ra hịch kêu gọi nhân dân ba tỉnh nổi lên chống Pháp, thì thủ khoa Nguyễn Hữu Huân cùng với Võ Duy Dương lại chiêu mộ nghĩa binh phất cờ khởi nghĩa lần thứ hai, liên kết với Trương Định thành một mặt trận chống Pháp, từ Gò Công, Bình Cách, Thuộc Nhiêu đến Đồng Tháp Mười, đánh nhiều trận làm cho giặc Pháp phải nể sợ. Sau đó do thế lực ngày càng giảm sút, địch thừa cơ tấn công mạnh, phong trào rất khó duy trì, ông phải chuyển vùng hoạt động sang An Giang và ở đây ông đã liên kết được với Thạch Bướm (người Khơ-me), tiếp tục mưu đồ cử sự, được ba tỉnh miền Tây hưởng ứng rất đông.

Giặc Pháp rất lo sợ, ra lệnh cho tên quan chủ tỉnh An Giang phải bắt ông nộp cho chúng và tên nầy đã hèn nhát thực hiện mệnh lệnh của quan thầy. Bọn Pháp đưa ông về giam tại khám Sài Gòn, kết án 10 năm khổ sai, đày ra đảo Rê-u-ni-ông trên bờ tây Ấn Độ Dương.

Năm 1870 tức là sau 7 năm tù, ông được về Tổ quốc, nhưng còn bị quản chế tại Sài Gòn. Để có điều kiện đi lại dễ dàng, nhằm liên lạc với các sĩ phu yêu nước, với nhóm Trường Phát, ông nhận làm giáo thọ dạy bảo môn đồ ở Chợ Lớn. Chính ở đây ông đã vạch kế hoạch khởi nghĩa mới.

Thứ ba: cuối năm 1873, sau khi để lại cho tổng đốc Phương bài thơ tỏ rõ chí khí, ông bí mật tiến về An Giang thực hiện kế hoạch đã định. Bởi vì đứng trước cảnh:

«...Mây trắng đã giăng trời Bến Nghé
Nắng chiều dường cháy đất Gò Công...»
(4)

Ông không thể kéo dài việc làm bất đắc dĩ của mình.


(1) trong bài «Trong lúc bị đày» của Thủ khoa Huân
(2) trong bài «Trách vợ» của Thủ khoa Huân
(3) trong bài «Cây bắp» của Thủ khoa Huân
(4) trong bài «Lại mưu đồ khởi nghĩa» của Thủ khoa Huân


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Hai, 2022, 09:26:39 am
Nhưng kế hoạch bị phát hiện, giặc phong tỏa gắt gao và tịch thu hết số vũ khí ông đặt mua của nhóm Trường Phát, ông ra lệnh cho các cánh quân hoãn khởi nghĩa, đích thân về Mỹ Tho họp cùng Âu Dương Lân khởi nghĩa lần thứ ba, gây được ảnh hưởng khá lớn.

Đầu năm 1875 giao chiến với địch tại Bình Cách, lại thất bại, phải chuyển về Chợ Gạo, ở đây ông bị sa vào tay giặc.

Sau bốn ngày giam giữ tại khám Mỹ Tho, địch kết án tử hình và đem chém ông tại quê nhà ở Mỹ Tịnh An. Hôm ấy là ngày 19-5-1875, năm ông vừa tròn 45 tuổi.

Cuộc đời tài hoa nhưng lận đận, sự nghiệp ngắn ngủi nhưng hào hùng của Nguyễn Hữu Huân để lại cho nhân dân Tiền Giang một tấm gương sáng chói về lòng yêu nước, chí hy sinh, suốt đời vì nước vì dân, tiền tài danh vọng không ham, khó khăn, uy vũ không khuất phục.

Cảm kích sự nghiệp hào hùng, phẩm chất cao quý, nhất là sự hy sinh oanh liệt của ông, tháng 8 năm 1945 nhân dân Tiền Giang đặt tên cho tỉnh mình là tỉnh Thủ Khoa Huân và đơn vị quân đội cách mạng đầu tiên của tỉnh là đơn vị Thủ Khoa Huân.

Đồng thời với những năm tháng hoạt động chống giặc giữ nước của Thủ Khoa Huân, còn có Phủ cậu Trần Xuân Hòa.

Trần Xuân Hòa người tỉnh Quảng Trị, thi đậu cử nhân năm 1849, ra làm tri phủ dưới thời Tự Đức. Khi giặc Pháp chiếm thành Gia Định, Nguyễn Tri Phương ngoài việc cho đắp thành Kỳ Hòa để chống giữ còn cho đắp thêm thành Mỹ Quí (nay là xã Nhị Quý — Cai Lậy) và bố trí Trần Xuân Hòa chống giữ. Anh hùng hào kiệt và nhân dân yêu nước lần lượt về đây tụ nghĩa, mưu đồ kháng chiến đến cùng. Nói đúng hơn ông không phải là người chỉ giữ thành mà ông là người tiến công địch trên khắp địa bàn từ Trung Lương, Thuộc Nhiêu đến Cai Lậy và đã đánh thì thắng, chỉ có 1 lần thua và cũng chính lần ấy đã kết thúc cuộc đời và sự nghiệp kháng chiến của ông, ngày ấy là ngày 7-1-1862.

Chiến thắng của nghĩa quân do ông lãnh đạo theo thứ tự thời gian như sau:

25-8-1861, tấn công căn cứ Cai Lậy do tên đại úy Chasséreuse chỉ huy

29-8-1861, tiếp tục tấn công Cay Lậy lần thứ hai

4-9-19861, tấn công đồn Trung Lương.

14-9-1861, chống trả quyết liệt một cuộc càn lớn từ hai phía do tên Pháp Desvause và Trần Bá Lộc chỉ huy. Ông và nghĩa quân chống trả quyết liệt đến 11 ngày đêm liền. Địch phải trả một giá rất đắt về binh lực và đạn dược mới chiếm được thành, chờ trời tối ông chuyển quân đi một cách an toàn.

15-10-1861, lại tấn công Cai Lậy lần thứ ba, đốt cháy một số doanh trại của Pháp.

3-11-1861, tấn công đồn Rạch Gầm thắng lợi.

17-11-1861 theo lịnh ông, nghĩa quân khắp nơi nổi dậy đồng loạt tấn công địch. Giặc Pháp lồng lộn trước khí thế của nghĩa quân dưới sự chỉ huy của Phủ cậu Trần Xuân Hòa, nên huy động lực lượng từ nhiều phía tấn công. Trên đường rút đi về hướng Cái Bè, ông đã sa vào tay giặc. Địch giải về Mỹ Tho, khi ngang qua thành Mỹ Quí, ông đã cắn lưỡi tự sát, quyết không để địch dẫn đi làm ảnh hưởng phong trào (chớ không phải xử bắn ở Mỹ Tho như có người đã viết). Bọn Pháp tức giận và không moi ở ông tài liệu gì nên đã chém đầu ông cùng 6 nghĩa sĩ khác. Mộ ông và 6 nghĩa sĩ hiện nay vẫn còn ở cầu Chú Dền gần chợ Thuộc Nhiêu. Có rất nhiều thi sĩ đã làm thơ vịnh, đề tặng ông cùng các nghĩa sĩ:

«... Hoàng thổ một ghè nên thạch trụ
Bạch vân mấy thức lộng hà kiều…»
(1)



«... Bia danh ai quốc bia còn đó
Dấu ngựa Cần vương dấu chẳng màu»
(2)

Ngoài ba tấm gương tiêu biểu vừa kể, ở Tiền Giang lúc bấy giờ còn có nhiều nhà yêu nước vùng lên đấu tranh chống Pháp mà tên tuổi còn lưu mãi đến bây giờ. Đó là Thiên Hộ Dương, Đốc Binh Kiều, Âu Dương Lân, Lê Quang Cu và Tứ Kiệt (Long, Thận, Rộng, Đước).

Theo nhận xét của nhiều nhà nghiên cứu sử về sự nghiệp kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta thì Tiền Giang được mệnh danh là «vùng tập trung khởi nghĩa».

Cho đến đầu thế kỷ nầy, khi mà Pháp đã đặt nền cai trị khá vững chắc trên nền đất phía Nam của Tổ quốc, ở Tiền Giang vẫn âm ỉ các hoạt động yêu nước của nhân dân. Phong trào «Đông du» của Phan Bội Châu, phong trào «Duy Tân» của Phan Chu Trinh; phong trào «Thiên địa hội» của Phan Xích Long… đều được nhân dân Tiền Giang hưởng ứng khá mạnh, mặc dù phải trả giá bằng sự chết chóc và tù đày.


(1), (2) trong bài 1 và bài 2 của bài thơ liên hoàn «Mộ nghĩa sĩ Thuộc Nhiêu»


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Hai, 2022, 09:28:31 am
II

DƯỚI NGỌN CỜ CỦA ĐẢNG, TIỀN GIANG VỮNG BƯỚC ĐI LÊN
(1930—1975)

Cách mạng tháng 10 ở Liên Xô thành công, giai cấp vô sản lần đầu tiên lên nắm chánh quyền, chủ nghĩa Cộng sản đã trở thành hiện thực chớ không còn là «bóng ma» như giai cấp tư sản và bọn triết gia phản động đã dè bỉu.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Hồ Chủ tịch, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đảm nhận sứ mệnh lịch sử trước dân tộc và giai cấp. Phong trào cách mạng ở Tiền Giang dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng đã bừng lên rực rỡ và mãnh liệt, trải 45 năm, vượt qua bão táp để đến ngày toàn thắng 30-4-1975. Tiền Giang luôn luôn là một trong những nơi có phong trào tiêu biểu ở Nam Bộ và trong cả nước.

Cao trào 30—31 xây dựng liên minh công nông, tập dượt giành và nắm chính quyền, cao trào 36—39 mở rộng mặt trận dân chủ, tập hợp lực lượng đông đảo đấu tranh cho dân sinh dân chủ… Tiền Giang liên tục sôi nổi, mạnh về khí thế, rộng về qui mô, tác động sâu sắc đến đời sống chính tị của các tầng lớp quần chúng.

Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940 là một dấu ấn đậm nét nói lên truyền thống Rạch Gầm — Xoài Mút và là dấu son rực rỡ của Tiền Giang, viết thêm cho quyển sử Việt Nam những trang chói lọi. Hơn phân nửa số xã trong tỉnh được giải phóng, chính quyền cách mạng dân chủ nhân dân được thành lập, cờ đỏ sao vàng đầu tiên của cả nước xuất hiện phất phới tung bay, vẫy gọi mọi người xông lên làm chủ vận mệnh của mình. Tuy rằng chính quyền tồn tại chẳng bao lâu, phong trào có gặp khó khăn vì địch tập trung đàn áp và các chiến sĩ Nam kỳ bị dìm trong bể máu, nhưng âm vang của nó vẫn ngân dài ngân mãi đến ngày nay. Vinh dự nhất, hào hùng nhất là Tiền Giang được mệnh danh: «Quê hương khởi nghĩa Nam kỳ»! Đáng chú ý là trong các cao trào cách mạng vang dội đó của tỉnh, nơi tập trung rầm rộ và sâu sắc nhất là các xã quanh vùng trước kia đã xảy ra chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút.

Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945 ở Tiền Giang đã diễn ra rầm rộn, đều khắp chưa từng có. Một rừng người từ nông thôn đến thành thị đã nhất tề đứng lên, lòng dân hợp cùng ý Đảng đã nhanh chóng nắm lấy chánh quyền, bất chấp lực lượng địch đủ loại và bộ máy cai trị của chúng vẫn còn gần như nguyên vẹn. Khí thế của Cách mạng tháng 8 ở Tiền Giang cho đến nay vẫn còn hằn sâu trong ký ức của các đồng chí cộng sản lão thành, thuộc thế hệ thứ nhất — thế hệ của thời kỳ «nóp với giáo mang ngang vai nhưng thân trai nào kém oai hùng» — và trở thành niềm tự hào cho các thế hệ tiếp sau.

Nếu như trên phạm vi cả nước, chính quyền cách mạng được thiết lập trong tổng khởi nghĩa tháng 8 chỉ tồn tại được 29 ngày ngắn ngủi, thì ở Tiền Giang chỉ mấy tuần sau đó đã phải bước vào cuộc trường chinh 9 năm đầy gian khổ và thử thách, để rồi góp phần làm nên một Điện Biên Phủ chấn động địa cầu.

Cũng như nhiều tỉnh khác ở Nam bộ, ở cuộc kháng chiến chống Pháp lần thứ hai nầy, Đảng bộ và nhân dân Tiền Giang có những lúng túng bước đầu, nhưng sau đó đã nhanh chóng khắc phục, xây dựng căn cứ địa, xây dựng chính quyền các mặt, vừa chiến đấu vừa xây dựng lực lượng vũ trang gồm đủ ba thứ quân, xây dựng và phát triển kinh tế thời chiến, tích cực chống càn quét chiếm đóng của địch, tiến lên tổ chức nhiều trận đánh lớn, có trận tự lực của chính mình, có trận phối hợp với lực lượng trên, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, đồng thời ra sức bảo toàn và phát triển lực lượng, càng đánh càng mạnh, góp phần xứng đáng làm cho Tiền Giang là một bộ phận vững chắc của «Thành đồng Tổ quốc» (danh hiệu cao quý do Quốc hội tặng đồng bào Nam bộ theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh).

Trận Giồng Dứa, Cổ Cò năm 1947, ta tiêu diệt hàng chục xe vận tải và thiết giáp địch. Có thể nói, nếu như trận Giồng Dứa là trận giao thông chiến lớn đầu tiên của cả nước, phục kích trên một đoạn lộ dài hàng chục cây số, diệt gần 20 xe, bắt sống nhiều tù binh, thu nhiều vũ khí và quân trang quân dụng của địch, thì trận Cổ Cò là trận giao thông chiến hưởng ứng nhịp nhàng với chiến dịch Thu Đông của cả nước, mở đường tiến lên Tây Bắc để rồi làm nên Điện Biên Phủ sau nầy.

Các trận Phú Phong, Kim Sơn, Rạch Gầm, v.v… năm 1948 ta san bằng một hệ thống đồn bót trên trục lộ 25, nằm dọc sông Tiền, trên đoạn xảy ra chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút trước kia diệt hàng chục đồn, thu hàng trăm súng.

Trận Chà Là năm 1949 bẻ gãy cuộc hành quân của lính Âu Phi có qui mô nhất vào Đồng Tháp Mười, diệt trên 700 tên địch.

Trận Bình Đức 1952, phối hợp với binh vận, ta bất ngờ tập kích trường huấn luyện hạ sĩ quan địch, thu trên 100 súng. Đây là trận đầu tiên phối hợp giữa tiến công vũ trang bên ngoài và nổi dậy của quần chúng binh sĩ được móc nối xây dựng bên trong lòng địch.

Trận Hiệp Thạnh năm 1954 phối hợp với chiến dịch Điện Biên Phủ, luồn sâu vùng địch hậu, tập kích các đồn quan trọng, phá rã hệ thống kềm kẹp dày đặc của địch, tạo điều kiện cho quân dân các xã yếu nổi dậy, góp phần buộc Pháp chịu ký kết hiệp định Giơ-ne-vơ... v.v...


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Hai, 2022, 09:29:25 am
Chiến đấu vũ trang đã vậy, hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa cũng không kém phần quyết liệt và hào hùng. Trình độ giác ngộ chính trị của nhân dân cứ theo thời gian và tốc độ phát triển của cuộc kháng chiến mà trưởng thành, ngày càng già dặn hơn lên. Khẩu hiệu «một tấc không đi, một ly không rời» nói lên tinh thần bám tụ làng quê, vừa đấu tranh ngăn chặn giặc, vừa sản xuất làm nhiệm vụ hậu cần tại chỗ. Các chiến dịch của chúng bủa ra để cướp sạch, đốt sạch, giết sạch đồng bào và của cải của nhân dân, chẳng những không làm nao núng trái tim và khối óc của đại bộ phận quần chúng cách mạng, mà còn nung nấu thêm lòng căm thù, «thà hy sinh tất cả chớ không chịu để mất nước, không chịu làm nô lệ».

Về kinh tế, thời kỳ nầy là thời kỳ phát triển khá tốt, đào kinh, đắp cản, không chỉ để ngăn chặn giặc mà còn phục vụ đắc lực nông nghiệp, giao thông, hậu cần. Hầu hết những con kinh có mặt trên Đồng Tháp Mười, ven Đồng Tháp Mười qua các huyện Châu Thành, Cai Lậy, Cái Bè ngày nay là được đào đắp thời kỳ ấy.

Chiến công nầy, thành quả ấy, trước hết từ sự lãnh đạo của Đảng, từ tinh thần quyết chiến quyết thắng, tự lực tự cường của nhân dân, được bắt nguồn từ truyền thống của trận Rạch Gầm — Xoài Mút 200 năm xưa, trở thành niềm tự hào chính đáng của quân dân Tiền Giang, nhưng đối với kẻ thù thì Tiền Giang luôn luôn là cái gai trong mắt chúng. Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của Mỹ hất cẳng Pháp, chiếm quyền thống trị miền Nam, trong suốt thời gian qua không lúc nào chúng quên đặt Tiền Giang trong vùng trọng điểm đánh phá, trọng điểm bình định của chúng.

Từ năm 1954 đến 1960, trên thực tế ở Tiền Giang là thời kỳ «chiến tranh một phía» của Mỹ ngụy, để hòng nhổ đi cái gai nhọn trong mắt chúng. Tiền Giang phải đương đầu với bao nhiêu là tai họa: tai họa của các chiến dịch «tố cộng», «diệt cộng»; tai họa của luật 10/59, địch lê máy chém đi khắp nơi giết hại những người kháng chiến cũ; tai họa về sự kiện Cao Đài Trịnh Minh Thế bị Ngô Đình Diệm đánh, tràn vào phía bắc tỉnh, cướp bóc, bức hại nhân dân, chống cách mạng; tai họa của chiến dịch Trương Tấn Bửu, Thoại Ngọc Hầu, Diệm mượn cớ đánh đối lập, để đánh phá cơ sở cách mạng, khủng bố những người kháng chiến cũ v.v... Hy sinh, chết chóc, tù đầy, đen tối bao trùm cả tỉnh. Số đảng viên ở lại từ 1200 đồng chí, có lúc chỉ còn 170 đồng chí.

Có áp bức, có đấu tranh. Áp bức càng mạnh thì đấu tranh càng to, đó là quy luật của cuộc sống. Nhân dân Tiền Giang hấp thụ tinh thần Rạch Gầm — Xoài Mút hàng trăm năm, đã từng là người chiến thắng, không thể chịu để bị dồn ép trong không khí nghẹt thở ấy đã lập tức nổi dậy từ thấp đến cao. Một trong những tên quận trưởng ác ôn khét tiếng, có thành tích tố cộng phải đền nợ máu tại Vĩnh Kim (Châu Thành) năm 1957. Những tên địa chủ ác bá dựa vào thế lực của tề ngụy tăng tô giựt ruộng nông dân bị trừng trị như ở Thanh Bình, Ngươn Long, Tân Thuận Bình (Chợ Gạo) năm 1958 v.v... là những biểu hiện của qui luật ấy.

Đó là những cơn lốc phẫn nộ của nhân dân cho đến khi được sinh khí của NQ 15 TW Đảng thổi tới, cả Tiền Giang ùn ùn nổi lên những cơn bão «Đồng Khởi», mở đầu bằng cuộc mít tinh và biểu tình thị uy 7.000 người tại xã Mỹ Trung (Cái Bè), phá vỡ một hệ thống kềm kẹp chăng dây trên trục kênh chính, ven Đồng Tháp Mười, kéo theo hàng chục cuộc biểu tình khác ở khắp các huyện trong tỉnh, trong đó có cuộc biểu tình hàng ngàn người kéo dài trên lộ 4 (nay là quốc lộ 1) đến ngã ba Chim Chim, mặc dù bị đàn áp khốc liệt một số người chết và bị thương, đoàn người vẫn không lùi bước.

Cũng ngay trong những ngày Đồng khởi rực lửa các mạng ấy, lực lượng vũ trang của tỉnh chỉ vỏn vẹn 35 người, trang bị súng kíp, ngựa trời, mã tấu và vài khẩu súng trường Pháp cũ kỹ, đã tập kích diệt gọn đồn Thanh Bình (Chợ Gạo) thu 20 súng, rồi tiến lên đánh trận PC 12 (Cai Lậy) điệt gần 300 tên địch, phong trào diệt ác trừ gian nổi lên trên toàn tỉnh.

Điều đáng phấn khởi nhất là sau một thời gian dài đen tối nghẹt thở, Tiền Giang đã bừng lên ánh sáng chan hòa, giải phóng một vùng rộng lớn, liên hoàn giữa các huyện. Chấm dứt cái gọi là «chiến tranh một phía» của địch.

Bộ máy cai trị mà địch đã dày công gầy dựng 6 — 7 năm trời bỗng chốc lung lay tận gốc, nhiều tề xã phải bỏ trốn hoặc đêm đêm vào đồn lớn, về quận ngủ. Trước tình hình ấy, một mặt địch tăng cường hà hơi tiếp sức, lên giây cót tinh thần bọn tề ngụy ở cơ sở, mặt khác huy động lực lượng phản kích phong trào đồng khởi, tiến hành «chiến tranh đặc biệt», nhiều cuộc hành quân «tìm diệt» «bủa lưới phóng lao» kết hợp với «quốc sách ấp chiến lược».

Với truyền thống có giặc là đánh, phát huy khí thế Đồng khởi, quân dân Tiền Giang đã quyết liệt đánh trả địch bằng 3 mũi giáp công, vừa phá ấp chiến lược địch, vừa xây dựng xã ấp chiến đấu của mình.

Chính nhờ vận dụng phương châm 3 mũi giáp công và xã ấp chiến đấu đều khắp với chông, lôi, bẫy, nà, ong vò vẽ và trăm ngàn hình thức khác, ta đã hạn chế được càn quét của giặc, tạo điều kiện bao vây đồn bốt, mở rộng xây dựng thế làm chủ xóm ấp. Tiêu biểu cho thời kỳ nầy là một đại đội 514 của Mỹ Tho trong 9 ngày đã thắng liên tiếp 3 trận lớn ở Mỹ Long, Phú Long, Bàng Long đập tan chiến thuật «bủa lưới» của địch, sau đó kéo về Mỹ Hạnh Đông bắn hạ 3 trực thăng, phá luôn chiến thuật «phóng lao» của chúng, tạo tiền đề cho chiến thắng Ấp Bắc ngày 2-1-1963, mở đầu giai đoạn phá sản chiến lược «chiến tranh đặc biệt» của Mỹ ngụy.

Chiến thắng Ấp Bắc của Tiền Giang vang dội cả nước, làm rung chuyển tòa nhà trắng và lầu năm góc của Mỹ. Với lực lượng không đầy 200 (gồm một đại đội của tiểu đoàn 514 và một đại đội của tiểu đoàn 261) trang bị toàn vũ khí bộ binh do đánh lấy được của địch và vũ khí thô sơ tự tạo của những ngày đầu đồng khởi, nhưng quân ta vẫn anh dũng chiến đấu suốt một ngày, đẩy lùi nhiều đợt xung phong của địch có phi cơ và pháo binh yểm trợ, xe bọc thép mở đường. Nhờ công sự vững chắc và tinh thần gan góc dũng cảm của quân và dân được trui dèn trong lò lửa cách mạng (biểu hiện tập trung là tiểu đội gang thép do anh hùng Nguyễn Văn Đừng chỉ huy) ta đã chiến thắng oanh liệt, diệt hơn 500 tên địch, phá hủy 4 xe M.113, bắn cháy 3 tàu chiến, bắn rơi 19 máy bay lên thẳng. Thế là chiến thuật «trực thăng vận» và «thiết xa vận» cốt lõi của chiến tranh đặc biệt của Mỹ ngụy bị phá sản.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Hai, 2022, 09:30:00 am
Chiến thắng Ấp Bắc là phát pháo báo hiệu sự sụp đổ không tránh khỏi của chế độ Diệm, là tiếng kèn xung trận cổ vũ phong trào «Thi đua Ấp Bắc giết giặc lập công» của toàn quân khu do bộ tư lịnh Miền phát động. Như được truyền thêm sức mạnh, khắp nơi trong tỉnh vùng lên phá rã, phá banh, phá dứt điểm ấp chiến lược của địch, tiêu biểu là các nơi như Long Trung, Long Khánh (Cai Lậy), Điềm Hy, Nhị Bình, Vĩnh Kim, Phú Mỹ (Châu Thành), dọc Kinh Chợ Gạo, Ngươn Long, Bình Ninh, An Thanh Thủy (Chợ Gạo), Vĩnh Viễn, Bình Long, Bình Tân (Hòa Đồng), An Hóa, Tân Đông, Kiểng Phước (Gò Công), thị trấn Ba Dừa (Cai Lậy), quận lỵ Vĩnh Kim (Châu Thành), thị trấn Tân Niên Tây, yếu khu Cầu Nổi, Vàm Láng (Gò Công) hoàn toàn giải phóng.

Thành tích và kinh nghiệm về phá ấp chiến lược của tỉnh được hội nghị toàn Miền đánh giá cao, được chọn là điển hình toàn Nam bộ và cùng với chiến thắng Ấp Bắc được tặng danh hiệu «Mỹ Tho Ấp Bắc anh hùng».

Từ giữa năm 1966, giặc Mỹ đến xây dựng căn cứ lớn ở Bình Đức làm sào huyệt cho bọn tư lịnh sư đoàn 9 Mỹ và lữ đoàn 3 của sư nầy trú ẩn, bung ra hoạt động.

Trên 10 ngàn quân Mỹ hợp cùng hàng ngàn tên ngụy, hằng ngày bung ra càn quét, bắn giết, cướp bóc, hãm hiếp nhân dân các xã xung quanh căn cứ. Lập tức vành đai diệt Mỹ được xác lập và phong trào đánh Mỹ được phát động. Vành đai bằng mìn và lựu đạn, bằng bắn tỉa và cối, pháo... đều phát huy tác dụng, nhưng hiệu quả nhất là vành đai bằng người. Những du kích mật phần đông là phụ nữ và trẻ em, tận dụng thế hợp pháp của mình để diệt địch hoặc đoạt súng đạn đem giao du kích.

Những em bé chăn trâu, đánh giày, bán cà rem cũng cướp được súng Mỹ, những chị cắt cỏ, bán hàng rong và thậm chí bán ba, cũng diệt và bắt sống được Mỹ. Những ông cụ, bà cụ cũng đặt mìn diệt Mỹ.

Nếu Đại hội dũng sĩ diệt Mỹ lần thứ nhất (tháng 10-1966) chỉ có 50 dũng sĩ, thì chỉ mấy tháng sau Đại hội dũng sĩ diệt Mỹ lần thứ 2 (tháng 7-1967) số dũng sĩ lên đến 350 người. trong lúc phong trào diệt Mỹ trong nhân dân lên cao như vậy thì về phía lực lượng vũ trang cũng có sự nhảy vọt. Một đội du kích xã cũng đánh lui hai trung đội Mỹ (Kim Sơn — Châu Thành). Sau đó cũng đội du kích này cùng với trung đội địa phương tỉnh diệt gọn một trung đội Mỹ. Một đại đội địa phương tỉnh cũng diệt 1 đại đội Mỹ (Hậu Mỹ, Cái Bè). Và trong cuộc càn lớn lấy tên «Sóng thần Cửu Long» với trên 27 tiểu đoàn Mỹ — ngụy vào vùng Ba Rài (Cai Lậy) phối hợp du kích, lực lượng địa phương huyện, và tỉnh đã diệt khoảng 1.000 tên địch.

Trên lộ 4 (quốc lộ 1 ngày nay) phong trào «săn cua sắt» Mỹ cũng khá sôi nổi, ban đêm chúng phải cho xe nồi đồng, thiết giáp trốn, ngụy trang cẩn thận, có lần bị diệt một lúc 8 xe như trận Giồng Dứa, một lần khác 72 xe như trận Nhị Bình v.v...

Trên bộ, trên lộ, trên không đã vậy, nhưng dưới sông ta cũng giành quyền chủ động. Để bảo vệ căn cứ Đồng Tâm, địch bố trí tuần phòng trên khúc sông từ Mỹ Tho đến Rạch Gầm khá dày đặc, trung bình cứ 5 phút có 1 tàu chiến Mỹ qua lại. Phát huy chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút, nhận chìm 300 chiến thuyền quân Xiêm xâm lược, ta đã làm hư, bắn chìm nhiều tàu địch trong đó có chiếc tàu cuốc cỡ lớn của Mỹ (chiếc Gia-mai-ca B ngay trước căn cứ Đồng Tâm).

Lợi dụng lúc địch bị tổn thất nặng nề, nhất là trong cuộc tấn công Mậu Thân, quân dân Tiền Giang đột nhập vào tận sào huyệt địch ở thành phố Mỹ Tho, thị xã Gò Công, các thị trấn và lộ 4, diệt và làm bị thương trên 10.000 tên, vùng giải phóng mở ra trên phân nửa số xã và 2/3 diện tích của tỉnh. Mỹ bắt buộc phải xuống thang chiến tranh, sư đoàn 9 Mỹ đến miền Nam sau cùng đã phải rút về nước sớm nhất. Riêng Tiền Giang, Mỹ đến tháng 6-66 thì tháng 9-69 đã phải rút chạy, tính ra trong vòng ba năm ba tháng nhân dân Tiền Giang đã loại ra ngoài vòng chiến đấu 25.000 tên Mỹ.

Với một địa bàn chiến lược quan trọng như Tiền Giang, địch dồn sức tập trung binh lực, vũ khí, phương tiện chiến tranh để hòng cứu vãn tình thế. Một mặt chúng ra sức lừa mị mua chuộc, che giấu thất bại, lấp liếm tội ác, mặt khác thẳng tay càn quét hủy diệt địa hình làng mạc. Thời kỳ 70-71, tính trung bình mỗi ngày chúng dội xuống Tiền Giang 500 tấn bom đạn, tổ chức 50 cuộc càn quét cấp tiểu đoàn, hàng trăm lượt phi vụ bắn phá.

Trước tình hình đó, chấp hành sự chỉ đạo của trung ương cục, Tiền Giang làm cuộc tổng tấn công và nổi dậy năm 1972, thực chất là cuộc đồng khởi mới, san bằng 220 đồn bốt, giải phóng thêm hàng chục xã và trên 100 ấp, chủ yếu là các vùng ven thị trấn, các trục lộ giao thông. Ta tổ chức và triển khai chính quyền cách mạng, các đoàn thể quần chúng, xây dựng lực lượng vũ trang, vận động binh sĩ địch rã ngũ, góp phần buộc Mỹ ký kết hiệp định Pari, có lợi cho cách mạng.

Từ giữa năm 1793 đến chiến dịch Đông Xuân 1974 — 1975 nổi bật ở Tiền Giang là mở mảng chuyển vùng, ấp giải phóng ấp, xã giải phóng xã, huyện giải phóng huyện. Đây là khẩu hiệu hành động và là thực tiễn diễn ra khắp nơi, dồn ép địch vào thị xã, thị trấn, các trục giao thông chủ yếu. Ta làm chủ hoàn toàn nông thôn, vùng giải phóng nối tiếp liên hoàn từ Cái Bè đến Gò Công.

Trong chiến dịch Đông Xuân 1974 — 1975 cho đến chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, ta luôn luôn ở thế chủ động tiến công. Mặc dù địch vẫn luôn luôn có mặt 2 sư đoàn bộ binh và toàn bộ lực lượng trợ chiến, hàng chục tiểu đoàn bảo an (chưa tính hàng chục ngàn phòng vệ dân sự), chúng có thể huy động ngay một lúc 2 sư đoàn, 3 tiểu đoàn, 1 đến 2 tiểu đoàn xe M.113 đối phó trong một khu vực vài ba xã, ta vẫn đẩy mạnh tiến công, đánh càn diệt viện, gỡ đồn bót, kêu gọi binh sĩ rã ngũ. Trên đà đó ngày 30-4-1975 lực lượng địch có đến 75.000 tên vẫn phải buông súng đầu hàng. Đến 12 giờ trưa ngày 1 tháng 5 năm 1975, toàn tỉnh Tiền Giang hoàn toàn giải phóng. Riêng ở Gò Công bao gồm huyện Gò Công và huyện Hòa Đồng cũ, đến 15 giờ chiều 30-4 ta đã làm chủ hoàn toàn.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, quân dân Tiền Giang đã loại ra khỏi vòng chiến đấu hơn 300 ngàn tên địch có 25 ngàn quân Mỹ, bắt sống gần 100 ngàn tên, thu 52 ngàn súng các loại. Lực lượng vũ trang tỉnh được thưởng hai huân chương chiến công hạng nhất, 40 huân chương giải phóng, được tuyên dương 2 tiểu đoàn anh hùng, 1 đại đội anh hùng, 2 đội du kích anh hùng, 1 tổ du kích anh hùng, 1 xã anh hùng và gần 30 cá nhân anh hùng.

Về các phong trào khác, chỉ tính từ năm 65 đến năm 75 Tiền Giang được 17 huân chương thành đồng (có 5 huân chương thành động hạng nhất), 26 huân chương giải phóng, riêng trong chiến dịch Hồ Chí Minh được thưởng huân chương Tổ quốc. Trong suốt chặng đường đánh Mỹ đến ngày toàn thắng được tặng 2 danh hiệu: «Mỹ Tho anh hùng» và «Ấp Bắc anh hùng».


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Hai, 2022, 09:32:06 am
III

CÔNG CUỘC CẢI TẠO VÀ XÂY DỰNG LẠI TIỀN GIANG
10 NĂM QUA (1975 — 1985)

Cũng như các tỉnh ở Nam Bộ khác, từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tiền Giang đã nhanh chóng bắt tay ngay vào công cuộc ổn định tình hình trật tự trị an, hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đẩy mạnh an ninh và quốc phòng, nên phong trào phát triển khá thuận lợi và vững chắc.

Mười năm đi vào cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội là mười năm đầy thử thách ác liệt và trưởng thành vượt bậc, mười năm phấn đấu gian khổ và thắng lợi vẻ vang. Nhân dân Tiền Giang đã tạo nên những phong trào cách mạng to lớn, nổi bật là phong trào sản xuất lương thực, xây dựng vùng lúa mới, làm phân xanh phân chuồng, phong trào lao động xã hội chủ nghĩa làm thủy lợi, khai hoang trồng cây công nghiệp, phong trào giao nộp nghĩa vụ lương thực, cải tiến phân phối lưu thông, đánh bắt thủy hải sản, phong trào sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, sản xuất hàng xuất khẩu, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp và công thương nghiệp, phong trào Nhà nước và nhân dân cùng xây dựng nông thôn mới, phong trào xóa nạn mù chữ, thực hiện y tế vệ sinh, sinh đẻ có kế hoạch, phong trào vì an ninh Tổ quốc và thực hiện luật nghĩa vụ quân sự v.v... Các phong trào ấy trở thành ngày hội sôi nổi của toàn dân, trong đó nổi nhất và có ý nghĩa to lớn cần phải kể đến là:

— Sản xuất nông nghiệp là phong trào sôi nổi nhất. Tiền Giang là tỉnh đất hẹp người đông, phần lớn ruộng vườn bị hoang hóa, bom mìn chông bẫy còn chằng chịt, có nơi nông dân đi vào sản xuất cũng phải hy sinh, bị thương tật như khi đánh giặc, nhiều vùng bị ảnh hưởng phèn mặn, cơ sở vật chất kỹ thuật thiếu thốn, cơ sở thủy lợi không có gì, thiên tai đe dọa liên tiếp, tàn phá nặng nề (3 vụ liền bị sâu rầy phá hoại, hè thu 78 bị mất trắng vì lụt).

Vượt qua tất cả mọi khó khăn thử thách ấy, nền nông nghiệp Tiền Giang không ngừng phát triển, diện tích, năng suất, sản lượng không ngừng tăng lên, năm 1975 toàn tỉnh có 40 ngàn héc-ta 2 vụ bấp bênh, đến nay lên 85 ngàn héc-ta 2 vụ ổn định. Huyện Gò Công và một phần huyện Chợ Gạo vốn có tập quán làm một vụ lâu đời, nay đã có hàng chục ngàn héc-ta 2 vụ với kỹ thuật xạ khô đã thành công. Cái Bè, Cai Lậy có trên 10.000 héc-ta lúa nổi, thói quen làm một vụ cũng có lâu đời, nay cũng lên 2 vụ ổn định, đưa hệ số vòng quay của đất từ 1,2 lên 1,8 lần.

Việc xây dựng vùng lúa năng suất cao, tạo nên mô hình thâm canh tăng năng suất, là một suy nghĩ có tính toán khoa học của Đảng bộ và nhân dân, từ 10 ngàn héc-ta của buổi đầu nay tỉnh đã có trên 40.000 héc-ta, đồng thời mở ra năng suất cao cho từng vùng, từng lõm trên diện chung của toàn tỉnh.

Năng suất từ 4 — 5 tấn, bình quân trên 1 héc-ta/năm của Cái Bè, Cai Lậy nay tăng lên 10 — 11 tấn/năm; hoặc 2—3 tấn bình quân của Gò Công, Chợ Gạo lên 6 — 8 tấn/năm. Đến nay đã có 1/2 số xã trong toàn tỉnh đạt 10 tấn/năm, 2/3 xã còn lại đạt 6 — 7 tấn/năm, 1/3 còn lại bình quân khoảng dưới 4 tấn. Trên từng cánh đồng canh tác có hàng chục hộ nông dân đạt năng suất 12 — 14 tấn.

Sản lượng lúa năm 1975 chỉ mới 370.000 tấn, đến năm 80 lên 600.000 tấn và cuối năm 84 lên 800.000 tấn. Trên đà đó, mức huy động lương thực cũng tăng lên, năm sau cao hơn năm trước. Năm 75 phải cứu đói 35.000 tấn (hậu quả sau chiến tranh), nhưng năm 1976 đã huy động 60.000 tấn, năm 82 lên 140.000 tấn và năm 84 lên 220.000 tấn.

— Phong trào sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp 10 năm qua có bước phát triển mới. Tổng giá trị sản lượng toàn ngành đạt trên 1 tỷ đồng (chưa tính thủy sản) trong đó hệ thống quốc doanh chiếm 20% giá trị chung.

Có gần 60 công ty xí nghiệp có qui mô vừa và lớn, hàng chục xí nghiệp liên hợp và liên hiệp xí nghiệp hoạt động tốt, kinh doanh có lãi. Phong trào thực hiện trả lương khoán, lương sản phẩm và thưởng, giải quyết hài hòa ba lợi ích, khuyến khích mọi người hăng hái sản xuất, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động đã thúc đẩy sản xuất phát triển. Trong 10 năm qua đã có trên 1.000 sáng kiến, sáng chế, hợp lý hóa sản xuất đạt hiệu quả và hiệu năng cao, làm lợi cho nhà nước hàng trăm triệu đồng.

— Trên lĩnh vực phân phối lưu thông, thành tích nổi bật là đã xóa bỏ tư sản kinh doanh thương nghiệp, cải tạo và sắp xếp lại tư thương, đồng thời nhanh chóng xây dựng và phát triển lực lượng thương nghiệp xã hội chủ nghĩa, bao gồm quốc doanh và tập thể, đã và đang vươn lên phục vụ tốt yêu cầu sản xuất, đời sống của nhân dân, hiện có trên 10 công ty, gần 300 cửa hàng và gần 150 hợp tác xã ở xã, phường.

Về sản xuất hàng xuất khẩu cũng có bước phát triển nhảy vọt, chủ yếu của các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, buông, bàng, lát chiếu, mành trúc, xơ dừa, rau quả, tôm cá. Mười năm qua ngành hàng nầy đã xuất gần 500 triệu đồng qua đó nhập về những tư liệu và nguyên liệu sản xuất đáng kể phục vụ sản xuất và đời sống.

Phong trào tổ chức lại sản xuất nông nghiệp cũng là một trong những mặt tiêu biểu, có chất lượng, nông dân tin tưởng phấn khởi, hăng hái áp dụng tiến bộ kỹ thuật thâm canh tăng năng suất. Đến nay đã cơ bản hoàn thành hợp tác hóa trong toàn tỉnh với hai hình thức hợp tác xã và tổ, đội sản xuất, là một trong những tỉnh dẫn đầu của đồng bằng sông Cửu Long.

Phong trào lao động xã hội chủ nghĩa mấy năm qua phát triển sôi nổi và đều khắp, quần chúng tự giác tham gia với khí thế như khi ra quân đánh giặc, xây dựng lại quê hương làng xóm. Phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm đã mở ra khả năng mới, to lớn. Mười năm qua tỉnh đã huy động gần 30 triệu ngày công lao động, với số lượng vật tư, lương thực trị giá hàng trăm triệu đồng để xây dựng 3 công trình phúc lợi công cộng phục vụ nhân dân. Huyện nào cũng có trường học, trạm y tế, nhà bảo sanh, lớp mẫu giáo, nhà trẻ, nhà truyền thống, phòng đọc sách, rạp hát, bãi chiếu phim, cầu, đường giao thông v.v… đáp ứng một phần đáng kể nhu cầu học hành, giải trí, trị bịnh, đi lại của nhân dân, góp phần làm bộ mặt nông thôn luôn đổi mới.

— Phong trào an ninh quốc phòng luôn là phong trào xuất sắc. Hằng năm thanh niên đến tuổi đều tự giác đăng ký, đi khám sức khỏe và trúng tuyển là lên đường nhập ngũ. Mười năm qua có hơn 50.000 thanh niên lên đường xây dựng lực lượng vũ trang bảo vệ tổ quốc, nhiều năm liền luôn đạt và vượt chỉ tiêu từ 10 đến 20%. Mấy năm qua lực lượng vũ trang tỉnh ngoài việc tham gia bảo vệ và xây dựng phát triển kinh tế ở địa phương còn làm tốt nhiệm vụ quốc tế cao cả của mình. Đặc biệt là một bộ phận đông đảo trong đội ngũ nầy đã tình nguyện ra tận biên giới phía Bắc Tổ quốc ta để chiến đấu chống quân Trung Quốc xâm lược khi hay tin chúng đánh phá sang Việt Nam hồi tháng 2 năm 1979.

Tinh thần đề cao cảnh giác chống âm mưu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự xã hội luôn giữ vững. Chính từ phong trào vì an ninh Tổ quốc nầy mà quần chúng và chính quyền hợp thành một khối thống nhất, tạo sức mạnh mới của chuyên chính vô sản, ngăn chặn nhiều hành vi tội phạm và tiêu cực khác.

Với thành tích đã đạt được 10 năm qua, nhân dân trong tỉnh đã được trung ương tặng thưởng 30 huân chương các loại, 7 lẵng hoa của Chủ tịch nước, 3 cờ thi đua khá nhất, 72 bằng khen của Hội đồng Bộ trưởng, 268 cờ và bằng khen của cán bộ, Tổng cục.

*
*   *

Chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút mãi mãi là niềm tự hào, vinh dự của nhân dân Tiền Giang, mãi mãi là nguồn động viên cổ vũ các thế hệ nhân dân Tiền Giang vững bước đi lên, vượt qua mọi khó khăn thử thách.

Nhân kỷ niệm 200 năm ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút, chúng tôi điểm qua một cách sơ lược những thành tích mà các thế hệ nhân dân Tiền Giang đã làm được qua các thời kỳ và coi đó là cống hiến của mình để xứng đáng với người xưa, xứng đáng với ý nghĩa và tầm vóc của trận quyết chiến chiến lược Rạch Gầm — Xoài Mút.

Phát huy chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút, nhân dân Tiền Giang quyết tâm làm hết sức mình để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc xã hội chủ nghĩa.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Hai, 2022, 08:35:43 am
BIÊN NIÊN NHỮNG HÀNH ĐỘNG BÁN NƯỚC CÓ HỆ THỐNG
CỦA NGUYỄN ÁNH

PHẠM NGUYỄN

1) Năm Nhâm Dần (1782):

Tháng 3: Đại binh Tây Sơn do Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ chỉ huy, men theo cửa Cần Giờ, ồ ạt tấn công vào Gia Định. Quân Nguyễn bị đại bại trong trận Ngã Bảy (Cần Giờ), mặc dù đã được người Bồ Đào Nha (Portugal) hỗ trợ đắc lực.

Tháng 5: Tàn quân Nguyễn phải sống lẩn quất ở các hải đảo dọc ven biển phía Nam. Trong bước đường cùng. Nguyễn Ánh liền sai bọn tay chân do Nguyễn Hữu Thụy cầm đầu sang Xiêm La cầu cứu. Nhưng, những tên bán nước này vừa đi đến đất Chân Lạp thì hị những người Chân Lạp ủng hộ Tây Sơn đón đánh tan tành. Nguyễn Hữu Thụy bị giết tại chỗ. Nhân đà thắng lợi, lực lượng này còn mạnh dạn đánh cả vào Nguyễn Ánh. Vất vả lắm, Nguyễn Ánh mới thoát nạn được.

— Mặc đù Nguyễn Hữu Thụy đã bị giết, Nguyễn Ánh vẫn chưa chịu từ bỏ ý đồ cầu cứu Xiêm La. Y sai bọn cai cơ Lê Phước Diễn, tham mưu Lê Phước Bình đem lễ vật hậu sang Xiêm La để giao hảo và nhờ vua Xiêm giúp đỡ cho khi cần.

— Cũng trong năm này, Nguyễn Ánh còn có ý định cầu cứu cả Bồ Đào Nha, nhưng rồi việc không thành, vì vua Xiêm cản trở.

2) Năm Quý Mão (1783):

Được tin Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine) lúc đó đang ở Chân-bôn (Chantaboun — thuộc Xiêm La) Nguyễn Ánh liền bí mật cho mời Bá Đa Lộc đến gặp y tại Phú Quốc để hội kiến. Trong cuộc hội kiến nầy, Nguyễn Ánh chính thức nhờ Bá Đa Lộc thay mình đi cầu cứu nước Pháp. Để khẳng định hành động bán nước này, Nguyễn Ánh tự nguyện giao con trai trưởng tên là Cảnh mới bốn tuổi cho Bá Đa Lộc làm con tin. Ngoài ra, Nguyễn Ánh còn cừ một số bộ hạ tùy tùng Bá Đa Lộc như: phó vệ úy Phạm Văn Nhơn, cai cơ Nguyễn Văn Liêm (có sách chép là Khiêm), Hồ Văn Nghị (tức Paul Nghị)... Bọn tùy tùng này theo Bá Đa Lộc đến Pondỉchéry (thuộc Ấn Độ) rồi trở về Vọng Các (Bangkok) vào tháng 7-1786.

Bá Đa Lộc chẳng những nhận lời mà còn rất sốt sắng lo giúp Nguyễn Ánh. Nhưng lúc ấy, do thời tiết còn khó khăn; (mùa trái gió), Bá Đa Lộc chưa thể cùng đám tòng vong lên đường ngay được. Phải đợi đến cuối năm 1784 Bá Đa Lộc mới xuất phát.

3) Năm Giáp Thìn (1784):

Tháng 2 (âm lịch): bị quân Tây Sơn do phò mã Trương Văn Đa chi huy vây đánh kịch liệt, bọn tay chàn Nguyễn Ánh chạy sang cầu cứu vua Xiêm (lúc này là Chakkri I — sử ta quen gọi là Chất Tri) Cũng cần nói thêm rằng, trước đó (tháng 2-1783) tướng Nguyễn Ánh là Châu Văn Tiếp đã đi cầu viện Xiêm La nhưng vua Xiêm chưa đưa lực lượng sang «giúp» Nguyễn Ánh. Đây là cái cớ để các sử gia phản động đổ lỗi bán nước cho Châu Văn Tiếp, hòng bào chữa cho Nguyễn Ánh.

— Ngay trong tháng 2, vua Xiêm lập tức sai tướng là Chất-xỉ-đa đem binh thuyền sang đón Nguyễn Ánh. Cuộc lưu vong lần thứ nhất của Nguyễn Ánh ở Xiêm La bắt đầu từ đó.

Tháng 6 (âm lịch): Nguyễn Ánh nhục nhã rước 5 vạn quân xâm lược Xiêm La về nước. Quân Xiêm La chia làm hai đạo cùng phối hợp với quân bản bộ của Nguyễn Ánh (khoảng 3 đến 4 ngàn tên) tấn công vào lãnh thổ phía Nam nước ta. Đạo bộ binh gồm 3 vạn do các tướng Xiêm La là Lục Côn và Sa Uyên chỉ huy. Tham gia chỉ huy đạo bộ binh này còn có một đại thần Chân Lạp thân Xiêm La là Chiêu Thùy Biện (có sách gọi là Bền hay Bèn). Đạo thủy binh gồm 2 vạn, do tổng chỉ huy quân xâm lược Xiêm La là Chiêu Tăng và Chiêu Sương (cả hai đều là cháu của vua Xiêm) trực tiếp chỉ huy. Nguyễn Ánh đi theo đạo thủy binh này.

Tháng 12 (âm lịch): Sau sáu tháng tấn công, quân Xiêm La và quân bản bộ của Nguyễn Ánh chiếm được vùng đất tương ứng với ha tỉnh miền Tây trong Nam Kỳ lục tỉnh cũ.

Nguyễn Ánh chẳng những dung túng cho quân Xiêm La mặc sức cướp phá. hoành hành mà còn mượn tay kẻ thù để trả ân oán. Bộ mặt phản dân bán nước của y ngày càng bị phơi bày trước mắt nhân dân.

Tháng 12 (âm lịch): sau thất bại thảm hại ở Rạch Gầm — Xoài Mút (Tiền Giang), Nguyễn Ánh ra sức đốc thúc Bá Đa Lộc mau chóng lên đường thay y cầu cứu nước Pháp như đã thỏa thuận từ trước.

Tháng 12 (âm lịch): Phái bộ Bá Đa Lộc lên đường. Sau 20 tháng lênh đênh, đến mùa Xuân năm Đinh Mùi (1787) chúng mời đến được đất Lorient của Pháp. Tại đây, được Hội Truyền Giáo nước ngoài hỗ trợ đắc lực. Bá Đa Lộc đã tiến hành một cuộc tuyên truyền rất rùm beng. Y công khai nói lên những «điều lợi cho nước Pháp» nếu nước Pháp giúp Nguyễn Ánh. Chính vì vậy, tháng 5-1787, y được Pháp hoàng (lúc ấy là Louis XVI) cho tiếp kiến. Pháp hoàng giao cho quan thượng thư bộ ngoại giao Pháp là bá tước de Montmorin chịu trách nhiệm cùng với Bá Đa Lộc thảo hiệp ước giúp Nguyễn Ánh. Đó là hiệp ước Versailles mà thực chất là một văn kiện bán nước vô cùng nhục nhã.

4) Năm Ất Tỵ (1785):

Tháng 3 (âm lịch): sau hơn 3 tháng chạy trốn lẩn quất ở các đảo ven biển, Nguyễn Ánh được cai cơ Trung (không rõ họ) đưa sang Xiêm La, tiếp tục cuộc lưu vong, nhưng đây là cuộc lưu vong nhục nhã và cay đắng nhất của đời y. Lực lượng Nguyễn Ánh lúc này chỉ còn 200 người với 5 chiếc thuyền nhỏ. Sang Xiêm La lần này, Nguyễn Ánh và bọn tòng vong được vua Xiêm La cho ở một làng nhỏ thuộc ngoại ô Bangkok (làng này, về sau có khi còn được gọi là làng Gia Long). Tại đây, chủng phải khẩn hoang mà ăn, phải làm đủ mọi nghề thấp hèn nhất (kể cả ăn cướp) và phải đánh thuê cho Xiêm La.

5) Năm Đinh Mùi (1787):

Tháng 11 (âm lịch): Hiệp ước Versailles được ký kết giữa một bên là bá tước Comte de Montmorin đại diện cho vua Pháp (Louis XVI) và một bên là Bá Đa Lộc (có hoàng tử Cảnh làm con tin) đại diện cho Nguyễn Ánh. Hiệp ước được vua Pháp duyệt y, gồm có mấy nội dung căn bản sau dây:

Một là vua Pháp nhận giúp Nguyễn Ánh bốn chiếc tàu chiến, một đạo binh gồm 1200 lục quân, 200 pháo binh cùng 250 linh mộ Bắc Phi, với ít nhiều súng ống đạn dược để Nguyễn Ánh khôi phục lại đất Gia Định!

Hai là Nguyễn Ánh phải nhượng đứt cho nước Pháp cửa biển Hội An (Faifo) và quần đảo Côn Lôn (Poulo — Condore), đồng thời thương nhân Pháp được độc quyền buôn bán trên khắp lãnh thổ nước ta mà Nguyễn Ánh không được cho bất cứ nước nào tới buôn bán nữa.

Ba là khi nước Pháp cần đến binh lính và các phương tiện chiến tranh khác thì Nguyễn Ánh phải lo biện nạp đầy đủ.

Bốn là sau khi khôi phục được quyền thống trị, mỗi năm Nguyễn Ánh phải làm một chiếc thuyền y như loại nước Pháp đã giúp để trả dần cho Pháp... V...v...

Hiệp ước Versailles được Pháp hoàng giao cho đại diện Pháp ở Pondichéry là bá tước de Conway tìm cách giúp Bá Đa Lộc thực hiện.

Tháng 12 (âm lịch): Bá Đa Lộc rời nước Pháp và về đến Pondichéry (thuộc Ấn Độ). Nhưng, do hiềm khích cá nhân, bá tước De Conway không chịu giúp Bá Đa Lộc. De Conway còn xin vua Pháp bãi bỏ hiệp ước Versailles. Bấy giờ, cách mạng tư sản Pháp bùng nổ, vua Pháp nói riêng và triều đình Pháp nói chung không còn đủ sức để quan tâm đến những vấn đề ở ngoài lãnh thổ nữa.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Hai, 2022, 08:41:07 am
6) Năm Kỷ Dậu (1789):

Tháng 6 (ám tịch): Bá Đa Lộc đem con trai trưởng của Nguyễn Ánh về đến Gia Định. Hiệp ước Versailles không thực hiện được nhưng Bá Đa Lộc cũng ra sức vận động và mộ giúp cho Nguyễn Ánh được 20 người Âu Châu thuộc nhiều quốc tịch khác nhau trong đó chủ yếu là người Pháp và một số vũ khí. Những người này đều được Nguyễn Ánh trọng dụng, phong cho chức tước từ cai đội đến chưởng cơ (chức võ quan cao cấp) và đặt tên tiếng Việt cho họ, nhưng rất ít kẻ phục vụ Nguyễn Ánh được lâu dài. Danh sách những người do Bá Đa Lộc mộ, theo Charles Maybon trong tác phẩm Histoire moderne du pays d’Annam (trang 275 đến 277) là:

— Victor Olivier, đến giúp Nguyễn Ánh từ tháng 9-1788 sau đó chết ở Malaca năm 1789.

— Jean Baptiste Guilou, đến giúp Nguyễn Ánh từ năm 1790.

— Emmanuel Tardivet đến giúp Nguyễn Ánh từ năm 1788.

— Etienne Malespine đến giúp Nguyễn Ánh tử năm 1789.

— Guillaume Guillaux không rõ đến giúp Nguyễn Ánh từ lúc nào chỉ biết y bỏ đi từ năm 1792

— Théodore Le Brun đến giúp Nguyễn Ánh từ năm 1789.

— Jean Marie Dayot không biết đến giúp Nguyễn Ánh lúc nào, chỉ biết y bỏ đi năm 1795.

— Magnon de Médine.

— Julien Girard.

— Philippe Vannier (tức Nguyễn Văn Chấn) đến giúp Nguyễn Ánh từ năm 1789.

— Félix (em của Dayot) cùng bỏ đi với Dayot năm 1795, nhưng sau đỏ còn buôn bán với Nguyễn Ánh.

— De Porcant (tức Lê Văn Lăng) giúp Nguyễn Ánh đến tận 1811.

— Renon.

— Laurent Barisy.

— Launay, không rõ giúp Nguyễn Ánh từ năm nào, chì biết y bỏ đi Pondichéry từ năm 1791.

— Jean Baptiste Chaigneau (tức Nguyễn Văn Thắng) đến giúp Nguyễn Ánh từ năm 1794 và ở cho đến tận 1825.

— Desperles.

— Despiau.

— Januario đến giúp Nguyễn Ánh từ năm 1793.

— Gibsons đến giúp Nguyễn Ánh từ năm 1798.

Tất cả tổng cộng 20 người, đến sớm nhất là từ năm 1788 và muộn nhất là từ 1798. Sau khi Bá Đa Lộc chết (ngày 9-10-1799) chì còn 5 người ở lại giúp Nguyễn Ánh nữa mà thôi (đó là: Philippe Vannier, J.B. Chaigneau, de Porcant, L. Barisy và Despiau).

Mùa thu: Nghe tin quân Thanh do Tôn Sỹ Nghị làm tổng chỉ huy sang xâm lược nước ta, Nguyễn Ánh rất đỗi vui mừng. Ngay lập tức, y cử bọn sứ thần do Phạm Văn Trọng và Lâm Đề cầm đầu, đem thư và 50 vạn câu gạo vượt biển ra Bắc ủng hộ quân Thanh. Đáng đời thay, bọn sứ thần và 50 vạn cân gạo bị bão biển chôn vùi.

7) Năm Mậu Ngọ (1798):

Biết rõ quân Thanh đã bị đại bại nhưng Nguyễn Ánh vẫn cho Ngô Nhân Tĩnh làm chánh sứ sang Trung Quốc với hai mục đích. Một là tìm kiếm để liên kết với bọn Lê Chiêu Thống lưu vong, họp sức kêu nài Mãn Thanh giúp đỡ một lần nữa. Hai là cầu xin vua Thanh (lúc này là Gia Khánh) nhận y làm phiên thần và che chở cho y.

Ngô Nhân Tĩnh đến nơi thì Lê Chiêu Thống đã chết. Mục đích của đoàn sứ bộ cũng không đạt được.

8) Năm Kỷ Mùi (1799):

Tháng 2 (âm lịch): Nguyễn Ánh sai Nguyễn Văn Thụy và Lưu Phước Tường sang Xiêm kể rõ tình bình trong nước, đồng thời xin vua Xiêm, cho một đại tướng cầm quân đến án giữ ở lãnh thổ Vạn Tượng, gây thanh thế và khi cần thì tràn vào Nghệ An giúp Nguyễn Ánh đánh Tây Sơn.

— Cũng trong năm này, Bá Đa Lộc chết, Nguyễn Ánh vô cùng thương tiếc, xót xa (!) nên đã truy tặng hàm thái tử thái phó Bi-nhu quận công cho tên gián điệp đội lốt thầy tu rất nguy hiểm này.

9) Năm Nhâm Tuất (1802):

Nguyễn Ánh lên ngôi ở Phủ Xuân và sau đó là trả thù vô cùng hèn hạ đối với các lãnh tụ của phong trào Tây Sơn cũng như tất cả những ai đã đi theo Tây Sơn. Chế độ phong kiến phản động, chuyên chế cực đoan nhất được thiết lập. Hàng loạt chính sách đối nội và đối ngoại phản động được đem ra thi hành.

Điểm nổi bật nhất trong chính sách đối ngoại của Nguyễn Ánh (lúc này là vua Gia Long) là thần phục đến mức mù quáng đối với Mãn Thanh. Tinh thần và truyền thống tự tôn dân tộc bị xúc phạm nghiêm trọng.

— Nguyễn Ánh phải thân hành ra đến tận Thăng Long để đón và nhận sắc phong của sứ thần Mãn Thanh.

— Nguyễn Ánh xin đặt quốc hiệu là Nam Việt, nhưng vua Thanh bắt đổi thành Việt Nam (vì sợ trùng tên với quốc hiệu của Triệu Đà xưa kia!) mà Nguyễn Ánh vẫn không dám nói gì.

— Giao cho Nguyễn Văn Thành soạn luật. Nguyễn Văn Thành đã sao chép gần như nguyên vẹn bộ luật của Mãn Thanh để đem áp dụng vào nước ta.

— Cho bọn tòng vong Lê Chiêu Thống là Lê Quýnh cùng đồng đảng đem hài cốt Lê Chiêu Thống về cải táng ở què nhà và tổ chức đón rước linh đình tên phản dân bán nước này.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Hai, 2022, 08:44:53 am
BIÊN NIÊN NHỮNG SỰ KIỆN VỀ THÀNH VI CAN THIỆP VÀ XÂM LƯỢC
NƯỚC TA CỦA BỌN PHONG KIẾN XIÊM LA TRONG THẾ KỶ XVIII

HỒ LY PHƯƠNG

Trước thế kỷ 18, bọn phong kiến Xiêm La cũng từng dòm ngó và cho quân sang cướp phá vùng Hà Tiên (nơi lúc ấy do Mạc Cửu đứng đầu). Nghiêm trọng nhất là trận cướp phá năm Đinh Mão (1687) và năm Mậu Thìn (1688). Sau khi cướp phá, quân Xiêm còn bắt sống Mạc Cửu đem về giam lỏng ở hải cảng Muang Galapuri (tức Vạn-tuế-sơn, thuộc Xiêm La). Mãi đến năm 1700 Mạc Cửu mới trốn về được Hà Tiên.

Sau đây là biên niên những sự kiện chính về hành vi can thiệp và xâm lược nước ta của bọn phong kiến Xiêm La trong thế kỷ 18.

1) Năm Ất Mùi (1715):

Lúc này, Hà Tiên là một bộ phận lãnh thổ của xứ Đàng Trong. Chúa Nguyễn tiếp tục phong cho Mạc Cửu chức tước và cho trấn trị vùng này. Quân Xiêm La được vua Chân Lạp (lúc này là Nặc Thâm) giúp sức đã ồ ạt tấn công vào Hà Tiên. Mạc Cửu phải bỏ Hà Tiên chạy trốn đến năm 1718 mới trở về. Hà Tiên bị tàn phát hết sức nặng nề.

2) Năm Kỷ Sửu (1769):

Một Hoa kiều người gốc Triều Châu tên là Trần Thái liên kết với Mạc Sùng, Mạc Khoan, tập hợp lực lượng ở núi Bạch Mã, mưu đánh úp Hà Tiên. Việc bại lộ, Mạc Thiên Tứ (con Mạc Cửu) bắt giết được Mạc Sùng và Mạc Khoan. Trần Thái chạy sang Xiêm La và lập tức được vua Xiêm La dung nạp. Trần Thái và đồ đảng được vua Xiêm cho trú tại Chân-bôn (Chantaboun). Vua Xiêm hết sức vỗ về Trần Thái để khi có cơ hội thì sử dụng y là kẻ hướng đạo và là lính tiên phong sang cướp phá Hà Tiên.

3) Năm Tân Mão (1771):

Được Trần Thái dẫn đường, lại có thêm vua Chân Lạp là Nặc Tôn giúp sức, vua Xiêm La là Trịnh Quốc Anh trực tiếp chỉ huy 2 vạn quân chia làm hai đạo sang cướp phá Hà Tiên. Mạc Thiên Tứ buộc phải rút khỏi nơi này.

Thắng trận, vua Xiêm La cho Trần Liên (cũng là Hoa Kiều, gốc Triều Châu) ở lại coi giữ đất Hà Tiên, còn y thì cầm đại quân tiến lên đánh phá cả Chân Lạp (!). Nặc Tôn hoảng sợ bỏ trốn. Trịnh Quốc Anh lập Nặc Nộn lên làm vua xứ này. Quân Xiêm La đóng giữ luôn tại Nam Vang.

Sang năm Nhâm Thìn (1772), nhờ quân của chúa Nguyễn giúp sức, Nặc Tôn mới trở lại ngôi vua. Riêng Hà Tiên, quân Xiêm La còn đóng giữ một thời gian nữa.

Cuối năm Nhâm Thìn, thấy khó lòng chiếm đất, vua Xiêm La cho bắt cóc một số con trai, con gái của Mạc Thiên Tứ đem về Xiêm La.

Năm Quý Tỵ (1773), quân Xiêm La ở Hà Tiên do Trần Liên cầm đầu buộc phải rút khỏi Hà Tiên. Một lần nữa, Hà Tiên bị cướp phá tan hoang.


4) Năm Ất Mùi (1775):

Lúc này ở Chân Lạp, vua Chân Lạp 1à Nặc Tôn bất lực trước tình hình khó khăn của đất nước (mà nguyên nhân quan trọng là bởi sự cướp phá của Xiêm La) nên nhường ngôi cho Nặc Vinh (1775 — 1779). Nặc Vinh là kẻ thân Xiêm La và Xiêm La đã lợi dụng ngay Nặc Vinh để can thiệp vào đất Gia Định. Nhưng lúc này ở Gia Định cuộc chiến giữa Tây Sơn và quân chúa Nguyễn đang rất quyết liệt. Đối sách của Xiêm La và Nặc Vinh là án binh chờ thời không vội giúp chúa Nguyễn dù chính chúa Nguyễn là Duệ Tôn đã cho tay chân đi cầu cứu.

Để dò la tình hình, lấy cớ thuyền buôn của Xiêm La đi Trung Quốc thường bị gió bão trôi đạt vào Hà Tiên, vua Xiêm gây áp lực bắt chúa Duệ Tôn cấp cho bọn «thương nhân Xiêm La» đầy đủ long bài để chúng được tự do đi lại duyên hải Đàng Trong.

5) Năm Đinh Dậu (1777):

Lúc này ở Bàng Trong, Thái Thượng vương (tức Nguyễn Phước Thuần) và Tân Chính Vương (tức Nguyễn Phước Dương) — những tên bạo chúa cuối cùng của họ Nguyễn bị giết chết. Cùng đường. Mạc Thiên Tứ đem gia quyến, cùng với Nguyễn Phước Xuân (tức hoàng đệ Xuân) chạy sang Xiêm La. Tất cả được vua Xiêm dung nạp để chờ thời lợi dụng.

— Năm sau (Mậu Tuất — 1778) sau khi chiếm lại được Gia Định. Nguyễn Ánh cho cai cơ Lưu Phước Trừng sang Xiêm La để «bàn việc giao hảo» và hỏi thăm tin tức Mạc Thiên Tứ, Nguyễn Phước Xuân... nhưng việc không thành.

— Hai năm sau nữa (Canh Tý — 1780), Nguyễn Ánh lên ngôi vương, cho cai cơ Sâm và cai cơ Tịnh (cả hai đều chưa rõ họ) sang Xiêm La tiếp tục «bàn việc giao hảo» và hỏi thăm tin tức Mạc Thiên Tứ, Nguyễn Phước Xuân... (!)

Ý đồ lợi dung Mạc Thiên Tứ và Nguyễn Phước Xuân theo mục đích riêng của mình không thành, vua Xiêm La mượn cớ có tin cho rằng Mạc Thiên Tứ và Nguyễn Phước Xuân sang Xiêm La chỉ cốt làm nội ứng cho Nguyên Ánh, nên xử tử cùng với trên 50 người khác. (Trong số những người bị xử tử có Mạc Tử Hoàng, Mạc Tử Thượng và Mạc Tử Duyên, cả ba đều là con trai của Mạc Thiên Tứ). Những kẻ lưu vong còn lại, vua Xiêm La đày ra vùng biên giới xa xôi(1).

6) Năm Nhâm Dần (1782):

Đại tướng của vua Xiêm là Chakkri cằm quân can thiệp vào nội bộ Chân Lạp, trước khi đem quân về nước để lật đổ Trịnh Quốc Anh (vua Xiêm La, người Hoa Kiều lai) đã mật thề «sống chết có nhau» với đại diện của Nguyễn Ánh là Nguyễn Hữu Thụy. Xiêm—Nguyễn bắt đầu cấu kết chặt chẽ kể từ đây.

Về nước, Chakkri lên ngôi vua, lập ra vương triều Rama. Dòng họ Chakkri (sử ta phiên âm là Chất Tri) còn giữ ngôi vua Xiêm La (bây giờ là Thái Lan) cho đến tận ngày nay.


(1) Năm 1780, thuyền Xiêm La từ Trung Quốc về qua Hà Tiên bị cướp. Nhân thấy vua Xiêm đang giận về việc này, bọn nịnh thần liền phao tin rằng Mạc Thiên Tứ và Nguyễn Phước Xuân sang Xiêm chỉ cốt làm nội ứng cho Nguyễn Ánh mà thôi.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Hai, 2022, 08:45:22 am
7) Năm Quý Mão (1783):

Tháng 2 (âm lịch):

Bị thất bại thảm hại, tướng Nguyễn Ánh là Châu Văn Tiếp chạy sang cầu cửu Xiêm La. Lần này, vua Xiêm La tiếp đãi rất ân cần. Chakkri I ra lệnh gấp rút chuẩn bị lực lượng để khi thuận tiện là kéo sang nước ta.

8) Năm Giáp Thìn (1784):

Tháng 2 (âm lịch): Vua Xiêm La sai tướng là Chất-xỉ-đa đem binh thuyền sang tận Hà Tiên để rước Nguyễn Ánh. Bọn phong kiến Xiêm đã tìm thấy cơ hội bành trướng và xâm lăng nước ta ngay trong cuộc chiến tranh phản cách mạng của Nguyễn Ánh.

Tháng 3 (âm lịch): Binh thuyền Chất-xỉ-đa hộ tống Nguyễn Ánh về đến Xiêm La. Vua Xiêm La là Chakkri I ráo riết đốc thúc chuẩn bị lực lượng quân sự để nhân danh việc giúp đỡ bọn bán nước Nguyễn Ánh mà xâm lược nước ta.

Tháng 6 (âm lịch): Vua Xiêm La cử hai cháu là Chiêu Tăng và Chiêu Sương làm tổng chỉ huy quân đội Xiêm La sang cướp nước ta. Lực lượng Xiêm La có tất cả 5 vạn tên, chia làm hai đạo bộ binh và thủy binh cùng tiến.

Đạo bộ binh gồm 3 vạn tên, ngoài lính Xiêm La còn có lính mộ ở Chân Lạp. Chỉ huy bộ binh là các tướng Lục Côn, Sa Uyển, cùng một đại thần Chân Lạp thân Xiêm La là Chiêu Thùy Biện (tửc Chiêu Thùy Bèn hay Chiêu Thùy Bền).

Đạo thủy binh gồm 2 vạn, do Chiêu Tăng và Chiêu Sương trực tiếp chỉ huy.

Quân Xiêm đi đến đâu là giết chóc, cướp phá dã man đến đó. Hành động tàn bạo của chúng khiến cho nhân dân ta vô cùng căm phẫn và sẵn sàng đứng về phía Tây Sơn để tiêu diệt chúng. Ngay cả Nguyễn Ánh là kẻ đã cam tâm rước chúng về cũng đã có lúc phải bày tỏ sự chán chường và thất vọng của y. Mạc thị gia phả viết: «Hai tên súc sinh Chiêu Tăng và Chiêu Sương làm việc kiêu căng, hung hãn».

Từ tháng 6 đến tháng 12 (âm lịch): Quân Xiêm — Nguyễn bị quân Tây Sơn ở Gia Định do phò mã Trương Văn Đa đánh trả quyết liệt, nên dù có số lượng áp đảo, suốt 6 tháng trường, chúng cũng chỉ chiếm được vùng đất từ sông Tiền trở về Nam mà thôi. Bấy là thời gian quân Xiêm La bộc lộ rõ nhất lòng tham vô đáy và ý đồ xâm lược nước ta.

Đêm ngày 8 rạng ngày 9 tháng 12 âm lịch): Toàn bộ quân xâm lược Xiêm La và quân bản bộ của Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy đánh tan tành trong trận quyết chiến chiến lược tuyệt vời ở Rạch Gầm — Xoài Mút (Tiền Giang). Ý đồ xâm lăng đen tối của Xiêm La bị đè bẹp. Mạc thị gia phả chép rằng: «Người Xiêm từ sau cuộc bại trận năm Giúp Thin, miệng tuy nói khoác mà lòng thì sợ Tây Sơn như cọp».

9) Năm Ất Tỵ (1785):

Tháng 3 (âm lịch): Một lần nữa, Xiêm La dung nạp Nguyễn Ánh và bọn tàn binh lưu vong. Vua Xiêm cho chúng ở một làng thuộc ngoại ô Bangkok

10) Năm Đinh Mùi (1787):

Lợi dụng lúc Tây Sơn đang bận đối phó ở Đàng Ngoài, Nguyễn Ánh từ Xiêm trốn về Gia Định và chiếm lại được đất này. Con của Mạc Thiên Tứ là Mạc Tử Sanh được Nguyễn Ánh cho giữ chức lưu thủ Hà Tiên. Nhưng rồi chẳng bao lâu thì Mạc Tử Sanh chết. Vua Xiêm cho đưa ngay Mạc Công Bính về «trấn giữ Hà Tiên». Mạc Công Bính là con trai Mạc Tử Hoàng. Nếu không may thì năm 1780, Mạc Công Bính cũng đã bị vua Xiêm La giết cùng với cha, ông và nhiều người khác rồi (!). Với việc cho Mạc Công Bính — người sống từ nhỏ ở Xiêm La — về, vua Xiêm La hy vọng sẽ tạo được chỗ dựa cần thiết cho mình khi cần đến. Nhưng việc này không thành vì Mạc Công Bính còn quá nhỏ, và quan trọng hơn, là chưa được Nguyễn Ánh tin dùng.

11) Năm Nhâm Tý (1792):

Sau khi Quang Trung mất, bọn cựu thần phản động nhà Lê ở Bắc Hà mưu toan liên kết với Nguyễn Ánh để đánh Tây Sơn. Lê Duy Vạn (con trai vua Lê Hiển Tông) cử một đoàn gồm bảy tên băng qua đất Ai Lao, Vạn Tượng, Chân Lạp để đến Xiêm La rồi từ Xiêm La liên lạc với Nguyễn Ánh ở Gia Định. Phái bộ bảy tên này của Lê Duy Vạn được vua Xiêm La đón tiếp nồng hậu, và ngay sau đó liền cho đủ thuyền bè cũng như lính hộ tống để đưa về Gia Định gặp Nguyễn Ánh. Mưu đồ xấu xa của bọn phản động trong và ngoài nước chưa thực hiện được thì đáng đời thay, phái bộ bày tên này bị cướp biển Chà Và bắt ngay trên đường đến Gia Định và đem bán sang tận Hạ Châu! Mãi đến năm 1793 bọn này mới được chuộc về. Chính sách đung nạp bọn phản quốc của vua Xiêm La một lần nữa bị thất bại.

12) Năm Quý Sửu (1793):

Vua Xiêm La đem 5 vạn quân sang đóng ở Nam Vang sau đó cho 500 chiến thuyền tiến thẳng đến Hà Tiên «tự nguyện» ủng hộ và làm thanh thế cho Nguyễn Ánh! Lúc nay Nguyễn Huệ vừa mất, thế lực Nguyễn Ánh đã phát triển hơn trước, khả năng lợi dụng bọn bán nước Nguyễn Ánh không còn dễ như trước, vua Xiêm La bèn ra lệnh rút lui.

13) Năm Kỷ Mùi (1799):

Tháng 12(âm lịch): Vua Xiêm La hẹn với sứ giả của Nguyễn Ánh là bọn Nguyễn Văn Thụy và Lưu Phước Tường rằng Xiêm La sẽ cho quân theo đường núi băng qua lãnh thổ Vạn Tượng để phối hợp với quân Nguyễn Ánh đánh Tây Sơn từ phía Tây Nghệ An đánh sang. Bọn Nguyễn Văn Thụy và Lưu Phước Tường được lệnh đem theo 150 lính hộ tống, tiến sang Vạn Tượng để dọn đường cho quân Xiêm. Và giấy thông hành của tất cả bọn này đều do vua Xiêm La cấp! Một lần nữa, vua Xiêm La tìm cơ hội để can thiệp vào nội bộ nước ta nhưng rồi chiến tranh giữa Xiêm La với Miến Điện xảy ra quyết liệt, kế hoạch này không thực hiện được.

Từ sau năm 1784, mọi hành vi của Xiêm La, nhìn bề ngoài ngỡ như đều không thu được kết quả gì, nhưng thực chất, Xiêm La đã thu được những nguồn lợi không nhỏ. Nhân danh việc ủng hộ cho Nguyễn Ánh, Xiêm La nhiều lần đem quân tràn sang Chân Lạp, Ai Lao và Vạn Tượng. Cái gọi là «quyền bảo hộ» của Xiêm La từng bước được khẳng định trên lãnh thổ các nước này, nhất là với Chân Lạp. Sang đầu thế kỷ 19, ảnh hưởng của Xiêm La đối với các vương quốc này mới phai lạt dần. Lúc này, các vương quốc nói trên hầu như cũng chẳng còn gì cho quân Xiêm La cướp phá nữa.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Hai, 2022, 08:48:26 am
BIÊN NIÊN NHỮNG HOẠT ĐỘNG QUÂN SỰ CHỦ YẾU
CỦA QUÂN TÂY SƠN Ở GIA ĐỊNH TỪ NĂM 1776 ĐẾN NĂM 1785

NGUYỄN THỨ CHI

Tiểu dẫn: Mùa xuân năm 1771, cuộc khởi nghĩa lớn nhất trong lịch sử chiến tranh nông dân nước ta — khởi nghĩa Tây Sơn — đã bùng nổ. Lãnh tụ tối cao và kiệt xuất nhất của cuộc khởi nghĩa này là ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ. Chỉ trong vòng hơn một năm, toàn bộ khu vực cao nguyên An Khê (huyện An Khê — Gia Lai Kon Tum) và Tây Sơn (huyện Tây Sơn — Nghĩa Bình) đã nhanh chóng được xây dựng thành khu căn cứ vững chắc của cuộc khởi nghĩa. Hai năm sau, hầu hết phủ Quy Nhơn được giải phóng. Phạm vi thống trị của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong bị chia cắt thành hai vùng mà ở giữa là khu vực cai quản của Tây Sơn. Nhân đà thắng lợi, Tây Sơn tấn công không khoan nhượng vào cơ đồ thống trị của các chúa Nguyễn. Đến cuối năm 1773, vùng kiểm soát của Tây Sơn đã kéo dài từ phía Nam Quảng Ngãi đến tận Khánh Hòa.

Tháng 11 năm 1774, lợi dụng lúc quân Nguyễn bị Tây Sơn tấn công dữ dội, chúa Trịnh là Trịnh Sâm cho Hoàng Ngũ Phúc dem ba vạn quân vượt biên giới sông Gianh, đánh thẳng vào Phú Xuân. Chúa Nguyễn buộc phải bỏ Phú Xuân, đem toàn hộ gia tộc và cung quyến vượt biển vào Gia Định.

Quân Trịnh ở mặt Bắc, quân Nguyễn ở một Nam, khi Tây Sơn bị tấn công từ hai phía bởi bai lực lượng khác nhau và cả hai đều rất nguy hiểm. Trước tình hình đó, bộ chỉ huy tối cao của Tây Sơn đã có một quyết định vô cùng sáng suốt, đó là tạm thời hòa hoãn với quân Trịnh để tập trung lực lượng tiêu diệt quân Nguyễn. Từ năm 1776 đến năm 1785, quân Tây Sơn đã nhiều lần tấn công vào Gia Định, và lần nào cũng thu được những thắng lợi vang dội. Cuộc tấn công vào Gia Định cuối năm 1784, đầu năm 1785 của quân Tây Sơn có ý nghĩa và giá trị lịch sử vô cùng đặc sắc. Với võ công oanh liệt trong trận quyết chiến chiến lược Rạch Gầm — Xoài Mút, phong trào Tây Sơn chẳng những đã khẳng định bước tiến nhảy vọt của minh, mà còn mang thêm một sự chuyển biến kỳ diệu về chất: từ một phong trào đấu tranh giai cấp, Tây Sơn đã chuyển hóa một cách tự nhiên thành một phong trào dân tộc, kết hợp chặt chẽ giữa việc tiêu diệt thù trong với việc quét sạch giặc ngoài, làm rạng rỡ truyền thống ngoan cường của cả dân tộc.

Sau đây là phần biên niên những hoạt động quân sự chủ yếu của Tây Sơn tử năm 1776 đến năm 1785 ở Gia Định. Khái niệm Gia Định mà chúng tôi nói đến ở đây là khái niệm Gia Định mà hầu hết các tác gia đương thời vẫn dùng để chỉ toàn bộ vùng đất tương ứng với Nam Bộ ngày nay.

1) Năm Bính Thân (1776):

Quân Tây Sơn do Nguyễn Lữ chỉ huy đánh thẳng vào Gia Đinh. Quân Nguyễn do chúa Duệ Tông Nguyễn Phước Thuần cầm đầu, thấy không thể chống cự nổi liền bỏ thành Sài Gòn chạy lên Trấn Biên (Biên Hòa). Nguyễn Lữ đem quân truy đuổi ráo riết. Duệ Tôn phải chạy về Phiên Trấn (Gia Định) rồi về Long Hồ (miền Trung Nam Bộ) để rồi cuối cùng sống lén lút ở Bà Rịa.

Thắng trận. Nguyên Lữ rút quân Về Quy Nhơn. Nhân cơ hội đó, Đỗ Thành Nhơn nổi lên, lập đội quân Đông Sơn (đối nghịch với Tây Sơn) về chiếm giữ Sài Gòn. Thế lực của chúa Nguyễn lại lần lần được phục hồi ở Gia Định.

Trên cơ sở của thắng lợi mới này, tại thành Đồ Bàn (An nhơn. Nghĩa Bình) Nguyễn Nhạc lên ngôi Tây Sơn vương. Nguyễn Huệ được phong làm phụ chính, Nguyễn Lữ được phong làm thiếu phó và thành Đồ Bàn được đổi tên là thành Hoàng Đế. Đây là đại bản doanh của bộ chỉ huy Tây Sơn. Năm 1786, thành này mới được xây lại kiên cố.

2) Năm Bính Dần (1777):

Quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ chỉ huy tấn công vào Gia Định lần thứ hai. Với cuộc tấn công lần thứ hai này. Tây Sơn đã thu đại thắng lợi: Thải Thượng Vương (tức Nguyễn Phước Thuần) và Tân Chính Vương (tức Nguyễn Phước Dương) — những tên bạo chúa cuối cùng của họ Nguyễn bị bắt và bị giết. Chỉ có cháu của Thái Thượng vương là Nguyễn Phước Ánh (tức Nguyễn Ánh) chạy thoát, nhưng đến đây, kể như cơ đồ thống trị của họ Nguyễn xây dựng trên hai trăm năm ở Đàng Trong đã bị lật nhào.

Sau đại thắng lợi này, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ rút quân về Quy Nhơn, giao đất Gia Định lại cho tổng đốc Chu, hổ tướng Hãn, tư khấu Oai, điều khiển Hòa, cai cơ Chấn... cai quản. (Tất cả các vị tướng lĩnh Tây Sơn này hiện chưa rõ họ).

Đại binh Tây Sơn rút rồi, Nguyễn Ánh được quân Đông Sơn giúp sức đã chiếm lại Gia Định.

3) Năm Mậu Tuất (1778):

Lúc này ở thành Hoàng Đế, Nguyễn Nhạc đã lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Thái Đức, Nguyễn Huệ được phong chức Long Nhương tướng quân, Nguyễn Lữ được phong chức tiết chế. Bộ máy chính quyền non trẻ của Tây Sơn được củng cố thêm một bước.

Sau khi lên ngôi, Nguyễn Nhạc cử tổng đốc Chu và hộ giá Phạm Ngạn làm tổng chỉ huy thủy quân Tây Sơn đỉ đánh Nguyễn Ánh ở Gia Định. Lúc đầu vì bị phục binh Đông Sơn vây đánh quyết liệt, thủy quân Tây Sơn phải thua ở Bến Nghé rồi phải rút ra đến tận Bình Thuận (Thuận Hải ngày nay) nhưng sau đó, quân Tây Sơn phản kích mạnh mẽ, Nguyễn Ánh phải chạy trốn lên đến tận Chân Lạp.

Nhận thấy Tây Sơn có những sơ hở trong việc đánh giá vị trí chiến lược của đất Gia Định, nên năm sau (Kỷ Hợi — 1779) Nguyễn Ánh lại trở về đánh chiếm Gia Định. Chiếm được Gia Định xong, Nguyễn Ánh xưng vương, lấy Đỗ Thành Nhơn (kẻ thành lập ra quân Đông Sơn) là phụ chính thượng tướng quân.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Hai, 2022, 08:49:14 am
4) Năm Nhâm Dần (1782):

Tháng 3 (âm lịch): Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ mang đại quân tấn công vào Gia Định lần thứ ba. Quân Tây Sơn tiến vào theo cửa Cần Giờ. Một trận ác chiến đã xảy ra tại Ngã Bảy (Cần Giờ). Quân Nguyễn Ánh bị đại bại. Trong trận này, một tướng chỉ huy thủy quân của Nguyễn Ánh do Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine) tuyển mộ cho, tên là Manuel (quốc tịch Pháp, sử ta gọi là Mạn Hoè hay Mạn Hòa) bị Tây Sơn giết chết. Nguyễn Ánh và đồng bọn chạy về Ba Giồng (Tam Phụ), xuống Hậu Giang, rồi sau đó sống lẩn quất ở các hải đảo ven biển Tây Nam.

Tháng 5 (âm lịch): Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ rút đại quân về, giao đất Gia Định cho Đỗ Nhàn Trập và một 30 tướng tá khác coi giữ.

Mùa thu: Một tướng cũ của Tây Sơn là Chu Văn Tiếp, phản bội Tây Sơn từ năm 1775, đem lực lượng từ Phú Yên đánh thẳng vào Gia Định. Nhân cơ hội đó, Nguyễn Ánh lại trở về đánh chiếm Gia Định.

5) Năm Quý Mão (1783):

Tháng 2 (âm lịch): Quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ chỉ huy vào đành Gia Định lần thứ tư. Ngay trong trận đầu tiên, quân Chu Văn Tiếp đã tan vỡ. Tây Sơn giết được Nguyễn Phước Mân (em Nguyễn Ánh), bắt sống Dương Công Trừng, Nguyễn Huỳnh Đức và nhiều võ quan khác của chúa Nguyễn Ánh. Nguyễn Ánh lại chạy về Ba Giồng rồi ra hòn Đá Chồng (tức Điệp Thạch—Phú Quốc). Tại đây, một trận ác chiến nữa lại xảy ra. Quân Tây Sơn khép chặt vòng vây bốn phía. Lê Phước Điển (tướng của Nguyễn Ánh) phải đóng giả Nguyễn Ánh để thu hút lực lượng Tây Sơn. Nguyễn Ánh mới tẩu thoát được. Nhưng, nhiều tướng tá khác của Nguyên Ánh, cùng với Nguyễn Phước Điển, em Nguyễn Ánh, con trai thứ sáu của Nguyễn Phước Luân) bị bắt và bị giết.

Nguyễn Ánh chạy đến đảo Cổ Long (Kok-rong) thì bị một cánh thủy quân Tây Sơn do Trương Văn Đa chỉ huy bao vây dày đặc ba vòng. Số phận Nguyễn Ánh sắp bị kết liễu thì chẳng may trời đổ mưa, mây mù ùn ùn kéo đốn trong gang tấc nhìn chẳng thấy nhau, sóng lớn lại cuồn cuộn nổi lên, khiến quân Tây Sơn bị bất lợi, nhân đó Nguyễn Ánh mở đường máu chạy thoát. Y sống lén lút ở Phú Quốc.

Tháng 8 (âm lịch): Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ rút đại binh về, giao đất Gia Định lại cho phò mã Trương Văn Đa cùng một số võ quan khác coi giữ, Trong bước đường cùng, Nguyễn Ánh và tay chân của y tìm cách cầu cứu ngoại bang, bán rẻ Tổ quốc cho bọn xâm lược.

6) Năm Giáp Thìn (1784):

a) Nguyễn Ánh nhục nhã rước quân xâm lược Xiêm La về. Hoạt động của quân Tây Sơn ở Gia Định tử tháng 6 đến tháng 12 (âm lịch) dưới quyền điều khiển của Trương Văn Đa.

Tháng 3 (âm lịch): Được binh thuyền Xiêm La đến tận Phú Quốc đón rước, Nguyễn Ánh cùng đồ đảng sang sống lưu vong tại Xiêm La. Y đã dấn sâu hơn một bước nữa vào con đường phản dân bán nước đầy tội lỗi của mình: Nguyễn Ánh đã ngỏ lời cầu cứu Xiêm La. Vua Xiêm La là Chakkri I (sử ta gọi là Chất Tri) lập tức lợi dụng cơ hội này để xâm lược nước ta.

Cuối tháng 6 (âm lịch): Vua Xiêm La ra lệnh huy động năm vạn quân thủy bộ sang «cứu giúp Nguyễn Ánh». Quân Xiêm La chia làm hai đạo. Đạo lục quân gồm ba vạn do Lục Côn và Sa Uyển chỉ huy. Đạo thủy quân do hai cháu vua Xiêm La là Chiêu Tăng và Chiêu Sương chỉ huy. Chiêu Tăng và Chiêu Sương còn là tổng chỉ huy quân đội Xiêm La sang xâm lược nước ta lần này.

Đầu tháng 7 (âm lịch): Năm vạn quân Xiêm La và khoảng từ ba đến bốn ngàn quân bản bộ của Nguyễn Ánh tiến vào Gia Định. Cuộc đọ sức không cân xứng giữa một bộ phận quân Tây Sơn ở Gia Định do phò mã Trương Văn Đa chỉ huy với quân Xiêm — Nguyễn bắt đầu.

Quân Tây Sơn đã anh dũng đánh trả quyết liệt quân Xiêm — Nguyễn, và gây cho chúng nhiều tổn thất nặng nề. Cuộc chiến đấu của quân đội Tây Sơn ở Gia Định từ tháng 7 đến dầu tháng 12 (âm lịch) đã thu được những thắng lợi hết sức có ý nghĩa.

Trước hết là về phương diện quân sự. Quân Tây Sơn đã ngăn cản được cuộc tấn công ồ ạt của quân Xiêm — Nguyễn. Mãi đến 6 tháng sau, chúng cũng chỉ mới chiếm được vùng đất từ sông Tiền trở về Nam mà thôi. Giặc chẳng những bị buộc phải tiến rất chậm mà còn phải trả một giá rất đắt cho mỗi bước tiến chậm chạp đó của chúng. Ví dụ: trong trận Mân Thít (11-84), viên tướng cầm đầu quân bản bộ của Nguyễn Ánh là Bình Tây đại đô đốc Châu Văn Tiếp bị giết chết. Cái chết của tên phản bội này đã gây cho giặc nhiều hoang mang, lo sợ. Cũng trong trận Mân Thít, một tên tướng Xiêm là Chất-xỉ-đa bị trọng thương. Đến trận Ba Lai và trận Trà Tân (12-84), một tướng khác của Nguyễn Ánh là chương cơ Đặng Văn Lượng bị giết chết…

Cùng về mặt quân sự, sau sáu tháng chiến đấu ngoan cường, quân Tây Sơn đã thu được những bài học kinh nghiệm vô giá trong việc tổ chức đánh trả quân Xiêm — Nguyễn. Chính những bài học kinh nghiệm này sẽ góp phần tạo tiền đề vật chất cho thắng lợi của Tây Sơn trong trận đánh quyết định số phận quân Xiêm—Nguyễn vào đầu tháng 12-1784.

Mặt khác, việc Tây Sơn giữ vững vùng đất từ bờ Bắc sông Tiền trở ra, tiếp nối liên hoàn với lãnh thổ rộng lớn của Tây Sơn, đã khiến cho thế và lực của Tây Sơn không hề bị suy giảm.

Về phương diện chính trị: Quân Xiêm La đi đến đâu là cướp hóc và tàn phá dã man đến đó, khiến cho nhân dân vô cùng căm phẫn. Bản chất cướp nước xấu xa của chúng bị phơi bày hoàn toàn.

Nguyễn Ánh chỉ mượn tay giặc để trả ân trả oán. Bộ mặt thật phân dân bán nước của y cũng bị bóc trần trước mắt nhân dân. Nhân dân coi lũ cướp nước và bọn bán nước là kẻ thù chung, nên họ sẵn sàng đứng về phía Tây Sơn để tiêu diệt kẻ thù. Nhận thức chính trị đúng đắn này trở thành sức mạnh vật chất ngày càng lớn, hỗ trợ đắc lực cho quân đội Tây Sơn.

Sáu tháng bị cầm chân cũng là sáu tháng nội bộ kẻ thù bộc lộ những mâu thuẫn ngày càng gay gắt. Giặc nghi ngờ nhau nhưng vẫn cứ phải dựa dẫm vào nhau. Đó là một sự liên minh giả dối. Chỗ yếu chí mạng này của giặc được Tây Sơn triệt để khai thác.

Vừa tích cực và chủ động tìm biện pháp đánh trả, phò mã Trương Văn Đa vừa cho đô đốc Đặng Văn Trấn về Qui Nhơn để cấp báo cho hộ chỉ huy Tây Sơn.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Hai, 2022, 08:49:39 am
b) Nguyễn Huệ đem đại binh vào Gia Định đề chuẩn bị tiêu diệt quân Xiêm—Nguyễn, tháng 11 (âm lịch)

Được tin cấp báo của quân Tây Sơn ở Gia Định, Nguyễn Huệ (lúc này mới 32 tuổi) bèn đem đại binh vào tiêu diệt quân Xiêm — Nguyễn. Đại bản doanh của Nguyễn Huệ đóng tại Mỹ Tho (tả ngạn sông Bảo Định). Nguyễn Huệ đến đây vào khoảng cuối tháng 11 âm lịch (tức vào khoảng đầu tháng 1-1785).

Lực lượng Tây Sơn (kể cả quân của Trương Văn Đa) ước chừng hai vạn người.

Kế hoạch tổng quát của Nguyễn Huệ là: bổ trí một trận đồ mai phục kết hợp với bao vây tiêu diệt, chủ yếu bằng thủy binh, lại khúc sông Tiền từ Rạch Gầm đến Xoài Mút.

Thời gian chuẩn bị chiến trường cũng là thời gian Nguyễn Huệ triệt để khai thác những chỗ yếu chí mạng của quân Xiêm—Nguyễn:

● Đánh vài trận thăm dò, vờ thua rồi đột ngột viết thư xin giảng hòa! Thư giảng hòa ấy gởi kèm với lễ vật rất hậu cho chủ tướng giặc là Chiêu Tăng và Chiêu Sương. Một tù binh người Chân Lạp được chọn làm sứ giả cho Nguyễn Huệ. Thư ấy có đoạn: «Tân triều và cựu triều nước tôi tranh nhau lãnh thổ và nhân dân, không thể cùng đứng với nhau được, Nước tôi cùng nước Xiêm cách trở xa xôi, trâu và ngựa không đánh hơi nhau được, chẳng hay vương tử đến chốn này làm gì? Chi bằng hai nước ta hòa hiếu với nhau. Sau khi xong việc, nước tôi sẽ y lệ tiến cống. Như thế có phải là được lợi lâu dài không? Vậy, việc cựu chúa nước tôi để mặc chúng tôi lo liệu, xin vương tử đừng giúp đỡ» (nguyên văn xem trong Mạc thị gia phả). Những lời lẽ khôn khéo như trên đã thực sự góp phần phân hóa nội bộ kẻ thù. Mâu thuẫn giữa tướng Xiêm I.a và Nguyễn Ánh bộc lộ ngày càng sâu sắc. Chúng liên minh tạm bợ, giả dối và đầy nghi kỵ lẫn nhau. Chiêu Tăng rốt cuộc phải thanh minh với Nguyễn Ánh rằng: «Tôi phụng mệnh vua nước tôi đem quân vượt biển sang giúp quốc vương, nay chưa phân thắng bại mà tôi tham của cải thì có khác chi là loài thú cắn lại chủ nhà. Nếu vì lợi mà phải thất trận, làm nhục quốc thể thì tôi trốn sao khỏi tội trời diệt, xin quốc vương chớ nghi ngờ» (Nguyên văn xin xem trong Mạc thị gia phả).

● Ngày ngày Tây Sơn mời quân Xiêm sang thăm căn cứ Mỹ Tho (!), giả cho giặc hay như mình không hề phòng bị gì, mà chỉ chờ mong việc giảng hòa. Đã thế, Nguyễn Huệ còn tặng quà cho bọn sang thăm này. Quân Xiêm La hý hửng tưởng sẽ tương kế tựu kế: sang Mỹ Tho để vừa vơ vét của cải vừa do thám tình hình.

c) Trận Rạch Gầm — Xoài Mút, mồng 9 tháng 12 năm Giáp Thìn (tức 19-1-1785).

— Khi công việc chuẩn hị đã hoàn tất, nghĩa là khi mà những chỗ yếu căn bản nhất, những chỗ yếu không cách gì khắc phục nổi của kẻ thù đã bộc lộ đến tột đỉnh, Nguyễn Huệ cho quân mai phục ở Rạch Gầm, Xoài Mút (hai chi lưu của Tiền Giang), ở hai bên bờ sông Tiền (từ Rạch Gầm đến Xoài Mút, dài chừng 6 — 7 km) và ở đầu cù lao Thời Sơn (án ngữ sòng Tiền ở gần cửa Xoài Mút). Ngoài ra, ở chốt tiền tiêu là rạch Rau Răm (phía trên Rạch Gầm) và ở khu đại bản doanh Mỹ Tho vẫn có một lực lượng làm nhiệm vụ nghi binh để thu hút quân giặc.

— Nhìn tổng quát cách bố trí trận địa, thì đây là trận phục binh kết hợp với bao vây tiêu diệt mà lực lượng chủ yếu là thủy binh, phối hợp chặt chẽ với bộ binh và pháo bính.

— Canh năm đêm mồng 8 rạng ngày mồng 9 tháng chạp năm Giáp Thìn (đêm 18 rạng 19 tháng 1 năm 1785), quân Xiêm — Nguyễn chủ động mở cuộc tấn công vào đại bản doanh Tây Sơn ở Mỹ Tho, nhưng chưa kịp đến được ở Mỹ Tho thì đã rơi vào ổ mai phục. Ngay từ phút đầu, hỏa lực Tây Sơn đã áp đảo kẻ thù, dồn chúng vào thế bị động để rồi thất bại thảm hại.

— Quân giặc thất bại nhanh chóng:

● Chiêu Tăng buộc phải bỏ thuyền chạy bộ mới thoát thân.

● Nguyễn Ánh nhờ chuẩn bị chu đáo đường chạy trốn trước nên cũng tẩu thoát.

● Về nước, 5 vạn quân xâm lược Xiêm La chỉ còn lại hơn một vạn. Nhưng tác động lâu dài và nguy hiểm hơn là «Người Xiêm từ sau cuộc bại trận năm Giáp Thìn, miệng tuy nói khoác mà lòng thì sợ Tây Sơn như cọp» (lời của Mạc thị gia phả).

● Quân bản bộ của Nguyễn Ánh tham chiến có khoảng từ 3 đến bốn ngàn. Sau thất bại Rạch Gầm — Xoài Mút, chúng chỉ còn lại 800 tên, sang sống lưu vong nhục nhã ở Xiêm La. Chúng phải làm đủ mọi nghề để kiếm sống như đi khẩn hoang, cày ruộng, đi đánh thuê cho Xiêm La (trong chiến tranh Xiêm — Miến)… Thậm chí, có lúc chúng đã phải đi ăn cướp! (Có lần, Nguyễn Văn Thành đi cướp bị đánh trọng thương!).

7) Năm Ất Tỵ (1785):

Sau chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút, Nguyễn Huệ rút đại binh về Quy Nhơn để rồi sau đó ồ ạt tấn công ra Bắc, xóa bỏ tập đoàn phong kiến cát cứ phản động Lê — Trịnh thống trị ở Đàng Ngoài.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Hai, 2022, 08:51:38 am
CUỘC GẶP GỠ CỦA CHÚNG TA — THÀNH CÔNG MỚI, SUY NGHĨ MỚI

Báo cáo tổng luận của Ban Tổ chức Hội nghị
do hai đồng chí
                                                                                              
NGUYỄN PHAN QUANG và NGUYỄN KHẮC THUẦN
chấp bút soạn thảo và trình bày

Hưởng ứng hội nghị khoa học kỷ niệm 200 năm chiến thắng lịch sử Rạch Gầm — Xoài Mút do tỉnh ủy Tiền Giang chủ trì, phối hợp với khoa Lịch sử, trường Đại học Tổng hợp T.P Hồ Chí Minh, nhiều giáo sư, cán bộ giảng dạy, cán bộ nghiên cứu trong cả nước đã gửi báo cáo khoa học về cho Ban Tổ chức rất sớm. Chúng ta đã lần lượt được nghe tất cả các báo cáo đó. Xin cho phép chúng tôi được kính gửi đến các đồng chí giáo sư, cán bộ ở Viện Sử học Việt Nam, các Trường Đại học Tổng hợp và Sư phạm Hà Nội, Viện khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh, các trường Đại học Tổng hợp và Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Viện Nghiên cứu lịch sử quân sự, Nha khí tượng thủy văn, các nhà nghiên cứu lịch sử của Tiền Giang cùng tất cả các tác giả có báo cáo đóng góp cho hội nghị, lời cám ơn chân thành nhất.

Hơn 20 báo cáo không phải là nhiều đối với một hội nghị khoa học. Nhưng điều đáng quý là nội dung các báo cáo thật phong phú và đa dạng, thể hiện nhiệt tình của giới nghiên cứu hướng về ngày kỷ niệm 200 năm chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút, một trong những chiến thắng chống ngoại xâm vẻ vang của dân tộc ta, diễn ra trên quê hương Tiền Giang.

Điều càng đáng quý hơn là những tìm tòi, suy nghĩ của các nhà nghiên cứu trong cả nước đều quy tụ về những nội dung rất cơ bản, về những vấn đề cần được làm sáng tỏ thêm của chiến thắng lịch sử này, cũng phù hợp với mong muốn của các đồng chí lãnh đạo tỉnh ủy Tiền Giang khi chỉ đạo việc chuẩn bị cho hội nghị.

Theo mong muốn của tỉnh ủy thì một hội nghị khoa học chỉ có kết quả thực sự khi các báo cáo đem đến cho mỗi chúng ta những cái mới, bao gồm những phát hiện mới về tư liệu, những lập luận mới có sức thuyết phục, những nhận thức sâu sắc hơn về chiến thắng lịch sử Rạch Gầm — Xoài Mút. Mặt khác, trong một hội nghị khoa học bao giờ cũng có hàng loạt vấn đề được đặt ra. Tại Hội nghị này, có những vấn đề đã được chúng ta giải quyết thỏa đáng hơn, có những vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu thêm, đồng thời lại nảy sinh ngay tại Hội nghị những vấn đề mới đòi hỏi chúng ta phải có thêm thời gian và công sức để tiếp cận hơn nữa với chân lý lịch sử.

*
*   *

Điều chúng ta quan tâm trước hết là vấn đề xác định phương hướng nghiên cứu hiện nay về trận Rạch Gầm — Xoài Mút.

Một trong những phương hướng quan trọng là việc tiếp tục hoàn thiện khâu tài liệu thư tịch. Về mặt này, hội nghị chúng ta đã có những cố gắng mới, một số báo cáo đã vận dụng thêm những tư liệu thư tịch trước đây chưa được chú ý. Ba bản «biên niên» của các đồng chí Nguyễn Thứ Chi, Hồ Ly Phương và Phạm Nguyễn về những hoạt động của quân Tây Sơn ở Gia Định, về hành động bán nước có hệ thống của Nguyễn Ánh và về hành vi can thiệp, xâm lược nước ta của phong kiến Xiêm ở thế kỷ XVIII cho thấy còn có rất nhiều vấn đề. Rất nhiều sự kiện cụ thể cần được đi sâu khai thác. Báo cáo của đồng chí Trương Ngọc Tường cho thấy khả năng và triển vọng khai thác nguồn tài liệu thư tịch, nhất là thư tịch địa phương. Hướng khai thác trước hết vẫn là nguồn tài liệu thư tịch trong nước, nhưng rõ ràng không thể chỉ dừng lại ở nguồn thư tịch này.

Một nguồn tài liệu không thể thiếu được đối với một trận đánh như trận Rạch Gầm — Xoài Mút là tài liệu khảo sát tại thực địa. Có thể nói không sợ quá đáng rằng cho đến trước hội nghị nảy, tư liệu thực địa tuy đã có nhưng còn nghèo nàn. Kinh nghiệm cho thấy nguồn tư liệu thực địa bao giờ cũng rất phong phú, nhưng việc khai thác thì không đơn giản, càng không thể tiến hành nhanh gọn trong một thời gian định trước. Có những sự kiện lịch sử quan trọng đã được nhiều thế hệ khảo sát trên thực địa, tưởng chừng không còn gì để khai thác nữa, nhưng rồi cứ mỗi lần trở về với thực địa lại vẫn phát hiện được những tư liệu thật lý thú, có khi thật bất ngờ. Kết quả khảo sát thực địa về trận Ngọc Hồi — Đống Đa trong khoảng 20 năm trở lại đây hoặc về tư liệu Tây Sơn tại quê hương Nghĩa Bình trong 10 năm qua là những dẫn chứng về kinh nghiệm này.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Hai, 2022, 08:55:49 am
Trong Hội nghị lần này, tư liệu thực địa về trận Rạch Gầm — Xoài Mút coi như đang ở giai đoạn đầu. Bản báo cáo dài của cụ Trác Quan Đồ là một cố gắng thật đáng khích lệ. Báo cáo «Một số kết quả khảo sát mới tại Tiền Giang về trận Rạch Gầm — Xoài Mút» của đồng chí Tôn Thị Điệp, phản ánh những cố gắng bước đầu của cán bộ và sinh viên khoa Sử, trường Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, khẳng định một phương hướng nghiên cứu đúng đắn cần được đẩy mạnh hơn trong thời gian tới. Việc các đồng chí khảo sát sự biến đổi địa hình của cù lao Thới Sơn trong khoảng 200 năm nay là cần thiết để hình dung chính xác hơn chiến trường Rạch Gầm — Xoài Mút. Hàng loạt câu chuyện lưu truyền trong dân gian được các đồng chí sơ bộ thu thập cho thấy trận Rạch Gầm — Xoài Mút theo hiểu biết của nhân dân phong phú hơn nhiều so với tài liệu thư tịch. Chắc chắn còn rất nhiều truyền thuyết, nhiều chi tiết lịch sử còn nằm sâu trong ký ức nhân dân, chờ đợi sự khai thác của chúng ta. Truyền thuyết đương nhiên có hư cấu, nhưng trách nhiệm của chúng ta là phải phát hiện cho được cái lõi hiện thực chứa đựng trong mỗi truyền thuyết.

Việc tiếp tục hoàn thiện các nguồn tư liệu thư tịch và thực địa cần được tiến hành song song với việc phê phán những luận điểm phản động, xuyên tạc về trận Rạch Gầm — Xoài Mút. Các báo cáo của giáo sư Phan Đại Doãn, của đồng chí Trần Thu Lương tỏ ra nhạy bén về mặt này Các tác giả một mặt phê phán lối đề cao một cách xuyên tạc chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút, coi chiến thắng 5 vạn quân Xiêm «dễ như xua gà», mặt khác vạch trần ý đồ hạ thấp tầm vóc của chiến thắng, coi đó chẳng qua chỉ là nhờ mưu kế của một viên hàng tướng, hòng xí xóa tội bán nước của Nguyễn Ánh, coi việc Nguyễn Ánh cõng rắn cắn gà nhà «cũng là theo lẽ tự nhiên» (!).

Chúng tôi nghĩ rằng đây là một phương hướng ta không nên coi nhẹ, vì trong 20 năm tạm chiếm, lũ bồi bút của đế quốc Mỹ và tay sai không thiếu thời gian để làm công việc xuyên tạc lịch sử dân tộc có hệ thống, xuyên tạc lịch sử từng địa phương theo kiểu tâm lý chiến, tiêm vào tâm hồn thanh thiếu niên những nọc độc của chủ nghĩa thực dân mới thông qua từng bài học lịch sử, địa lý, văn học... với nội dung đã bị bóp méo theo quan điểm của chúng. Hãy trả lại cho lịch sử những nội dung chân xác, trả lại cho thế hệ trẻ những hiểu biết đúng đắn về phong, trào Tây Sơn, về trận Rạch Gầm — Xoài Mút nói riêng.

Một điều đáng phấn khởi trong hội nghị lần này là không riêng giới sử học quan tâm đến chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút mà đã bắt đầu có sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu thuộc các ngành khoa học khác. Báo cáo của các đồng chí Phan Huy Thiệp, Nguyễn Viết Tá, Nguyễn Anh Dũng đã vận dụng tri thức quân sự làm sáng tỏ vấn đề thời cơ và những nguyên nhân cơ bản tạo nên chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút; và cũng từ chiến thắng này mà Nguyễn Huệ đã rút được những kinh nghiệm cho thắng lợi của trận Ngọc Hồi — Đống Đa mấy năm sau đó.

Trận Rạch Gầm — Xoài Mút là một trận đánh mà cả hai phía ta và địch đều lợi dụng yếu tố thủy triều. Trước đây rải rác đã có một số bài viết về vấn đề thủy triều trong trận Rạch Gầm — Xoài Mút. Lần này đồng chí Nguyễn Ngọc Thụy lại đem đến với hội nghị những hiểu biết mới và có cơ sở khoa học hơn, dựa trên những kết quả nghiên cứu quy luật thủy triều tại khu vực Rạch Gầm — Xoài Mút bằng máy tính điện tử, đối chiếu với những số liệu thiên văn ứng với giờ quốc tế, với sự giúp đỡ của hai nhà khoa học Liên Xô.

Hai báo cáo về văn học thời Tây Sơn của giáo sư Nguyễn Lộc và phó tiến sĩ Mai Quốc Liên một lần nữa khẳng định tỉnh thần lạc quan và khí thế xây dựng đất nước của nhân dân ta ở thời Tây Sơn. Có được tinh thần đó, khí thế đó là nhờ có những chiến thắng ngoại xâm oanh liệt Ngọc Hồi — Đống Đa, Rạch Gầm — Xoài Mút. Và những xúc cảm trong thơ viết về Đống Đa — Ngọc Hồi, như cách hiểu của các tác giả, đã được bắt nguồn từ chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút, «chiến thắng này báo hiệu chiến thắng kia, nói cái này cũng là nói cái kia». Qua báo cáo, các tác giả đã gián tiếp gợi ý cho chúng ta nhiệm vụ khai thác thơ văn về trận Rạch Gầm — Xoài Mút, nhất là mảng văn học dân gian, chắc chắn còn tiềm tàng trên miền đất Nam bộ này. Ngay như về trận Đống Đa — Ngọc Hồi, giới văn học đã nghiên cứu hàng thế kỷ nay, mà mãi gần đây vẫn phát hiện thêm bài «Văn tế» lính nhà Thanh chết trận của Võ Huy Tấn, một tư liệu có giá trị cả về văn học và lịch sử.

Nhân hội nghị này, đồng chí Hoài Anh đã góp tiếng nói của ngành nghệ, thuật qua báo cáo «Chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút trên sân khấu cách mạng», phân tích ưu, khuyết điểm của vở cải lương «Tiếng sóng Rạch Gầm», của tác giả Ngọc Linh với mong muốn giới nghệ thuật tiếp tục khai thác đề tài Rạch Gầm — Xoài Mút bằng những sáng tạo mới có quy mô lớn hơn, có chiều sâu về tư tưởng và tình cảm xứng đáng với tầm vóc của chiến thắng.

Trận Rạch Gầm — Xoài Mút là một trong những cống hiến nổi bật trong toàn bộ sự nghiệp của phong trào Tây Sơn. Báo cáo của đồng chí Đinh Văn Kính lưu ý chúng ta về vai trò của giai cấp nông dân Việt Nam ở thế kỷ XVIII, vai trò vươn lên làm chủ vận mệnh dân tộc khi có ngoại xâm. Nhìn ở góc độ triết học, hiện tượng này có vẻ như là một nghịch lý của lịch sử nhưng lại là một lô-gíc của thời đại Tây Sơn, mà chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút là một dẫn chứng hùng hồn.

Hội nghị chúng ta lần này còn vắng mặt ngành khảo cổ học và ngành dân tộc học. Chúng ta hy vọng trong thời gian tới, những hiện vật lịch sử liên quan đến trận Rạch Gầm — Xoài Mút, những kết quả nghiên cứu về sự tham gia, đóng góp của nhân dân các dân tộc trên địa bàn Nam Bộ đối với chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút và với phong trào Tây Sơn nói chung sẽ được các nhà khảo cổ học và dân tộc học quan tâm hơn.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Hai, 2022, 08:56:33 am
*
*   *

Xung quanh diễn tiến lịch sử của trận Rạch Gầm — Xoài Mút, các báo cáo đã tập trung vào những điểm chính sau đây:

1) Về tham vọng bành trướng, xâm lược của phong kiến Xiêm ở thế kỷ XVIII đối với nước ta, các báo cáo của các đồng chí Phan Huy Lê, Nguyễn Danh Phiệt, Đỗ Văn Nhung, đã đề cập có hệ thống với những tư liệu cụ thể. Theo các tác giả, cần đặt chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút trong bối cảnh vùng Đông Nam Á ở thế kỷ XVIII thì mới thấy hết tính chất phức tạp của tình hình, trong đó nổi rõ chủ nghĩa bành trưởng «Đại Thái», và cũng từ đó mới thấy hết ý nghĩa to lớn của chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút.

Về cuộc xâm lược của phong kiến Xiêm năm 1784, các đồng chí Đỗ Hữu Nghiêm, Nguyễn Anh Dũng đã cố gắng tìm hiểu con đường tiến quân, các trận đánh, các vị trí chiếm đóng của bộ binh giặc khi kéo vào nước ta cũng như sự phối hợp của hai đạo quân thủy, bộ của giặc, giúp chúng ta hình dung cụ thể hơn những diễn biến tử khi giặc vừa kéo vào nước ta cho đến khi chúng tập trung lại ở bờ sông Tiền. Và cả hai tác giả đều xác nhận rằng quân giặc (Xiêm — Nguyễn Ánh) cuối cùng đã bố trí lực lượng suốt từ Trà Lọt đến Trà Tân để chuẩn bị cho việc đánh chiếm Mỹ Tho, tiến về Gia Định.

Về số lượng quản Xiêm kéo sang xâm lược, các báo cáo đều căn cứ theo con số ghi trong Mạc thị gia phả là 5 vạn quân (chưa kể quân bản bộ của Nguyễn Ánh), trong đó có 3 vạn quân bộ và 2 vạn quân thủy cùng 300 chiến thuyền. Cũng có tác giả dẫn thêm một tài liệu khác chép là 4 vạn, càng khẳng định thêm con số 5 vạn ghi trong Mạc thị gia phả là hoàn toàn có cơ sở, không phải như chính sử triều Nguyễn chỉ ghi có 2 vạn quân thủy và không hề nhắc đến mấy vạn quân bộ của giặc.

Về số quân Xiêm thực sự bỏ mạng trên đất nước ta trong trận Rạch Gầm — Xoài Mút cũng đã được tìm hiểu thêm. Theo sử cũ, có tài liệu chép giặc, chỉ còn vài ngàn chạy thoát về nước, có tài liệu lại chép chúng còn những 1 vạn. Nhân đây, chúng tôi xin phép được cung cấp thêm một chi tiết trong cuốn Nguyễn triều long hưng sự tích của Trần Văn Tuân viết năm Gia Long thứ 18: «Quân Xiêm tràn đi khắp ngả cướp bóc và ngược hiếp đàn bà con gái. Thấy vậy, Huệ buộc phải tiến đánh Tiêm quân, đuổi đến tận Trấn Định và giết gần hết». Vậy thì giáo sư Văn Tân hoàn toàn có cơ sở khi cho rằng: «Trong trận Rạch Gầm — Xoài Mút, Nguyễn Huệ đã tiêu diệt đến 5 vạn hoặc gần 5 vạn quân địch», nghĩa là số quân giặc thoát được về nước khó có thể là một vạn tên.

2) Về hoạt động cửa Tây Sơn trước và sau khi Nguyễn Huệ có mặt ở Mỹ Tho:

— Một vấn đề khá quan trọng được hội nghị quan tâm là vai trò và tác dụng của lực lượng Tây Sơn ở Gia Định do phò mã Trương Văn Đa chỉ huy, trước khi Nguyễn Huệ mang đại quân vào. Có đồng chí cho rằng sau bốn tháng kéo vào nước ta, lực lượng quân xâm lược Xiêm «hầu như còn toàn vẹn» và lực lượng của Nguyễn Ánh thì «được hồi phục và tăng cường thêm». Lại có ý kiến khác cho rằng trước khi Nguyễn Huệ vào, lực lượng của tướng Trương Văn Đa tuy không nhiều nhưng đã dựa được vào lòng dân căm thù giặc cướp nước và bán nước, nên đã thực hiện được nhiệm vụ kìm chân giặc trong ba tháng ở phía tây Nam Bộ, đổi phó có hiệu quả với ý đồ đánh nhanh thắng nhanh của giặc, từ đó tạo ra được sự chuyển biến căn bản của thế chiến lược theo chiều hướng bất lợi cho giặc, có lợi cho ta, dẫn đến sự xuất hiện thời cơ chiến lược. Để củng cố thêm luận điểm này, chúng ta cần tìm hiểu sâu thêm về những hoạt động của Tây Sơn ở Gia Định trong những tháng cuối năm 1784. Hướng khảo sát thực địa về vấn đề này tại các tỉnh tây Nam Bộ có khả năng cung cấp những thông tin chúng ta còn thiếu.

— Về thời điểm Nguyên Huệ từ Quy Nhơn đến Mỹ Tho đồng chí Đỗ Hữu Nghiêm dựa theo sử cũ chép Nguyễn Huệ đến Mỹ Tho khoảng tháng Chạp năm Giáp Thìn, nhưng đồng chí cũng băn khoăn là «có lẽ sớm hơn nữa». Giáo sư Văn Tân thì khẳng định hơn cho rằng Nguyễn Huệ phải đến Sài Gòn muộn nhất là những ngày cuối tháng 11 âm lịch, vì theo giáo sư, Nguyễn Huệ phải có mặt trước trận đánh trên 10 ngày để giải quyết ít nhất là 7 loại công việc trước khi vào trận. Đó là những suy đoán rất có cơ sở cần được tiếp tục tìm hiểu thêm.

— Một vấn đề cho đến nay vẫn chưa đủ căn cứ để giải đáp Ịà số quân Tây Sơn đi theo Nguyễn Huệ vào Gia Định là bao nhiêu? Và số quân thực sự tham gia trận Rạch Gầm — Xoài Mít là bao nhiêu? Các đồng chí Huỳnh Lứa và Đỗ Hữu Nghiêm đều cho rằng có thể số quân Nguyễn Huệ đem theo vào Gia Định không quá vài vạn, nhưng khi mở đầu trận Rạch Gầm — Xoài Mút thì con số đó «phải xấp xỉ quân địch», nghĩa là không thể ít hơn 5 vạn, như con số ghi trong Mạc thị gia phả. Số quân tăng thêm này, theo các tác giả, đã được bổ sung ngay trên đất Gia Định, hoặc trên đường hành quân vào Gia Định. Trái lại, theo quan điểm của cụ Trác Quan Đồ, số quân Tây Sơn trong trận Rạch Gầm — Xoài Mút không nhất thiết phải tương đương quân giặc thì mới thắng được giặc, vì trận Rạch Gầm — Xoài Mút là một trận phục binh, mà bí quyết của phục binh là phải tạo được thế chủ động, bất ngờ với một lực lượng ít hơn địch, thậm chí có thể ít hơn rất nhiều.

— Một vấn đề cũng đã từng được nhiều người quan tâm là thời điểm cụ thể của trận Rạch Gầm — Xoài Mút. Ý kiến của giáo sư Văn Tân cũng như các đồng chí phó tiến sĩ Nguyễn Ngọc Thụy, Đỗ Hữu Nghiêm cho rằng trận đánh đã diễn ra trong đêm 9 rạng ngày 10 tháng Chạp năm Giáp Thìn (tức đêm 19 rạng ngày 20-1-1785). Nhưng vì trận đánh bắt đầu từ canh 5 của đêm mồng 9, cho nên theo giáo sư Văn Tân, ta lấy ngày 10 tháng 12 âm lịch hoặc ngày 20-1 dương lịch làm ngày kỷ niệm là phù hợp với thực tế lịch sử. Đề cập vấn đề này, giáo sư Phan Huy Lê, trong một chú thích của háo cáo, cho rằng: thời điểm chép trong Mạc thị gia phả và trong Bức thư Nguyễn Ánh gửi Liot không có mâu thuẫn mà chì do quan niệm khác nhau, về cách tính thời gian. Và theo giáo sư, có thể xác định trận Rạch Gầm — Xoài Mút bắt đầu lúc rạng sáng ngày 9 và thuộc phạm vi ngày 9 tháng 12 năm Giáp Thìn, tức ngày 19-1-1785.

Chúng tôi nghĩ rằng với hội nghị lần này, vấn đề thời điểm diễn ra trận Rạch Gầm — Xoài Mút có thể coi như nhất trí, ít nhất là về cách hiểu những thông tin trong thư lịch cũ, trên cơ sở đó, chúng ta sẽ chọn ngày kỷ niệm chiến thắng lịch sử Rạch Gầm — Xoài Mút một cách thỏa đáng.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Hai, 2022, 08:56:56 am
3) Về không gian của trận Rạch Gầm — Xoài Mút, hội nghị lần này của chúng ta đã có thêm nhiều thông tin mới.

a) Về vị trí đại bản doanh của Tây Sơn ở Mỹ Tho, những kết quả khảo sát thực địa của khoa Sử, Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng vị trí của bản doanh Tây Sơn nằm phía tả ngạn sông Bảo Định, cụ thể là ở khu vực đồn Mỹ Tho năm 1792, chứ không phải ở phía hữu ngạn, là một ý kiến rất đáng được tham khảo.

b) Quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ trực tiếp chỉ huy từ Gia Định đến Mỹ Tho bằng con đường nào? Vấn đề này trước đây chưa được ai đề cập, vì gần như nhiều người đều nghĩ rằng đạo thủy quân của Nguyễn Huệ phải tiến vào Mỹ Tho bằng cửa sông Tiền. Nhưng cụ Trác Quan Đồ có ý kiến khác. Theo cụ, đạo thủy quân của Nguyễn Huệ đã «băng qua bể Tháp Mười» rồi lần theo các kênh rạch chằng chịt mà tiến về Mỹ Tho. Theo chúng tôi, ý kiến này rất đáng lưu ý. Nếu không phải toàn bộ đại quân, thì rất có thể một bộ phận quan trọng của thủy quân Nguyễn Huệ đã biết tận dụng con đường bể Tháp Mười để tiến về Mỹ Tho. Đương nhiên giả thiết này cần có thêm tư liệu chứng minh. Nếu có đủ cơ sở để khẳng định ý kiến của cụ Trác Quan Đồ thì sẽ gợi mở thêm cho chúng ta trong việc tìm hiểu một số vấn đề khác, như về số quân Nguyễn Huệ đưa vào trận Rạch Gầm — Xoài Mút, về sự tham gia của nhân dân, nhất là trên địa bàn Tiền Giang, về kế hoạch bố trí trận mai phục của Tây Sơn trong khu vực giữa sông Tiền và Đồng Tháp Mười v.v...

c) Quân Xiêm — Nguyễn Ánh đóng chủ yếu ở vị trí nào trên bờ sông Tiền? Vấn đề này liên quan đến việc xác định một loạt địa danh, trước hết là các địa danh Trà Tân, Trà Lọt, Trà Luật. Các báo cáo của giáo sư Văn Tân, giáo sư Phan Huy Lê tuy đều nhất trí rằng quân Xiêm — Nguyễn Ánh có thể đã đóng quân bộ và quân thủy từ Trà Lọt đến Trà Tân (cả trên bộ, cả ven bờ sông, cả trên các cù lao), nhưng địa điểm chủ yếu của chúng, theo các tác giả, không phải ở Trà Lọt mà là ở Trà Tân. Bản báo cáo của giáo sư Nguyễn Phan Quang và đồng chí Dương Văn Huề khẳng định thêm rằng địa danh Trà Luật được chép rải rác trong sử cũ chính là Trà Tân chứ không phải Trà Lọt.

d) Đoàn khảo sát của khoa sử, Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh đối chiếu với tài liệu thư tịch cho biết: rạch Rau Răm vừa thông lưu với rạch Trà Tân ở phía trên, vừa thông lưu với Rạch Gầm ở mạn dưới. Kết hợp với một số căn cứ khác, đoàn đã kết luận rằng rạch Rau Răm có thể đã được quân Tây Sơn chọn làm chốt tiền tiêu quan trọng nhất. Cũng qua tư liệu thực địa, đoàn đoán định rằng thủy quân Tây Sơn đã mai phục, ém quân trong các nhánh rạch giao lưu giữa Rạch Gầm và rạch Rau Răm cũng như giữa Rạch Gầm và Xoài Mút. Ký ức của nhân dân về cây da cổ thụ ở đầu vàm Rạch Gầm (nơi phát tín hiệu tác chiến ?), về «Chòi Mong» ở xã Bình Đức (nút liên lạc giữa rạch Rau Răm, Rạch Gầm với đại bản doanh ở Mỹ Tho ?), về cách nghi binh của Tây Sơn bằng vỏ dừa khô vẽ hình mặt người thả trên sông v.v... là những cơ sở đầu tiên của các giả thiết trên.

Theo cụ Trảc Quan Đồ thì Rạch Gầm chỉ 1à nơi dụ địch, còn chiến trường chính phải là ở Xoài Mút. Đây là một đoán định mới của tác giả, và về thực chất cũng không tương phản với ý kiến chung hiện nay cho rằng địa bàn được lựa chọn để tổ chức trận phục kích là đoạn sông Tiền từ Rạch Gầm đến Xoài Mút. Có lẽ cụ Trác Quan Đồ chỉ muốn lưu ý rằng trận chiến đấu chắc hẳn đã diễn ra ác liệt nhất ở khu vực gần Xoài Mút hơn là gần Rạch Gầm.

4) Nguồn tư liệu về sự tham gia đóng góp của nhân dân Nam Bộ và Tiền Giang nói riêng vào trận Rạch Gầm — Xoài Mút cho đến nay vẫn còn rất hạn chế. Một số báo cáo đã cung cấp những kết quả bước đầu về mặt này. Chúng ta cần có thêm thời gian và công sức để khai thác mảng tư liệu này, và chắc chắn là có nhiều triển vọng, vì theo giáo sư Phan Huy Lê, qua 5 lần vào đánh Gia Định, hẳn rằng nhân dân ở đây đã tham gia ủng hộ nghĩa quân, nhất là khí Nguyễn Ánh đem quân Xiêm về giày xéo đất nước thì tội ác của chúng càng làm cho nhân dân Gia Định căm phẫn, thúc đẩy họ phải chống lại giặc. Thậm chí chân tướng bán nước của Nguyễn Ánh một khi đã phơi trần thì ngay trong hàng ngũ quan tướng của Nguyễn Ánh cũng có những phản ứng mạnh, mà trường hợp Lê Xuân Giác là một dẫn chứng. Hẳn rằng phải có sự ủng hộ của nhân dân Nam Bộ hướng về Tây Sơn thì một lực lượng mấy ngàn quân Tây Sơn mới có thể chặn đứng được mấy vạn quân giặc trong nửa phần đất phía tây Gia Định trong khi chờ đợi dại quân Nguyễn Huệ kéo vào.

Từ sau hội nghị này, chúng ta sẽ từng bước làm sáng tỏ thêm vai trò nhân dân Tiền Giang và Nam Bộ nói chung trong chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút qua những đợt khảo sát thực địa được tổ chức chu đáo, phối hợp nhiều ngành, hoặc qua việc phát động trong quần chúng rộng rãi những đợt sưu tầm tư liệu về trận Rạch Gầm — Xoài Mút, trước hết là ở những địa phương có liên quan trực tiếp, mật thiết với trận đánh.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Hai, 2022, 08:57:57 am
*
*   *

Thiết thực kỷ niệm 200 năm chiến thắng lịch sử Rạch Gầm — Xoài Mút, chúng ta đã tiến hành được một hội nghị khoa học có chất lượng. Mỗi kết quả khoa học chúng ta đem đến cho hội nghị lần này đánh dấu một bước tiến mới trong việc nghiên cứu cuộc kháng chiến chống phong kiến xâm lược Xiêm của dân tộc ta ở cuối thế kỷ XVIII mà đỉnh cao là chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút. Hàng loạt vấn đề đã được sáng tỏ hơn, đồng thời nhiều nhiệm vụ mới lại đặt ra trước mắt chúng ta — và cho cả những thế hệ tiếp nối chúng ta — phải từng bước thực hiện và hoàn thành.

Có thể khẳng định rằng: tinh thần nghiêm túc, thận trọng trong nghiên cứu khoa học là một nét nổi bật của hội nghị này. Chúng ta đắn đo, cân nhắc khi kết luận về một số liệu, khi xác minh một địa danh, khảo sát một địa điểm hoặc vận dụng một truyền thuyết... Nhưng điều cơ bản hơn, cũng là thước đo kết quả của hội nghị, toát ra từ tất cả các báo cáo vẫn là sự cố gắng vươn lên của mỗi một chúng ta để nhận thức sâu sắc hơn, đầy đủ hơn về tầm vóc, về giá trị và ý nghĩa lịch sử của chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút trong toàn bộ sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.

Khác với tất cả các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm trước đó, cuộc kháng chiến của dân tộc ta trên địa bàn Nam Bộ ở cuối thế kỷ XVIII đã diễn ra trong hoàn cảnh nền độc lập dân tộc bị đe dọa từ nhiều phía. Đúng như nhận định của giáo sư Phan Huy Lê, lần đầu tiên trong lịch sử kể từ ngày dựng nước, dân tộc ta phải đối phó với nhiều kẻ thù trong một tình thế phức tạp, đầy thử thách sóng gió như vậy. Nhưng với trận Rạch Gầm — Xoài Mút, dân tộc ta đã chiến thắng. Chủ nghĩa bành trước «Đại Thái» của phong kiến Xiêm lần đầu tiên đụng vào dân tộc ta đã bị một đòn trời giáng, chắc chắn còn nhớ lâu, nhớ mãi.

Lịch sử 4.000 năm của dân tộc chứng kiến hàng chục cuộc khủng chiến chống ngoại xâm, nhưng riêng đối với miền đất cực nam của Tổ quốc thì cuộc kháng chiến chống phong kiến xâm lược Xiêm lại là cuộc kháng chiến quy mô lớn đầu tiên. Nhân dân Nam Bộ đã phá vỡ kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của giặc, kìm chúng lại ở nửa phần đất Gia Định. Và tình thế đã dẫn quân địch — cả thầy lẫn tớ — kéo về tập trung bên bờ sông Tiền, toan tính nuốt tươi nửa phần đất Nam Bộ còn lại. Đại quân của Nguyên Huệ vừa vào đến Mỹ Tho chưa bao lâu, vậy mà một khi thế trận được dàn bày thì lập tức tất cả rừng cây, kênh rạch, triều của Tiền Giang đều được huy động vào trận đánh. Nhân dân Tiền Giang đã dũng cảm nhận sứ mạng nặng nề trước dân tộc, cùng với nghĩa quân Tây Sơn hoàn thành xuất sắc sứ mạng đó. Và hẳn rằng Nguyễn Huệ đã biết đánh giá đúng, đánh giá rất cao tấm lòng người dân Tiền Giang trước vận mệnh Tổ quốc, nên ông mới dám tổ chức một trận phục kích táo bạo ngay trên một trong những trung tâm dân cư bấy giờ của tỉnh Tiền Giang.

Chiến thắng thột lo lớn, thật triệt để. Nhưng đối với toàn bộ diễn biến của phong trào Tây Sơn, thì ý nghĩa của chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút không chỉ dừng lại ở đó. Nhiều bản báo cáo khẳng định rằng với cuộc kháng chiến chống phong kiến Xiêm, lần đầu tiên trong lịch sử xuất hiện một cuộc kháng chiến chống ngoại xâm do phong trào nông dân đảm nhiệm, chứ không phải do giai cấp thống trị lãnh đạo...

Thực tế lịch sử Việt Nam ở cuối thế kỷ XVIII vừa đặc thù vừa khắc nghiệt buộc người nông dân, mà đại biểu là thủ lĩnh Nguyễn Huệ, phải vươn lên giương cao ngọn cờ chống ngoại xâm, và nghĩa quân nông dân Tây Sơn đã vượt qua được thử thách đó bằng chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút vang dội núi sông, đánh dấu một bước ngoặt cơ bản, một sự chuyển biến về chất của phong trào từ cuộc đấu tranh giai cấp trở thành cuộc đấu tranh dân tộc. Từ đấy, uy tín của phong trào Tây Sơn càng được phát huy, vai trò người đại diện chân chính của dân tộc càng được khẳng định, tạo điều kiện cho một chiến thắng lớn hơn của phong trào tiêu diệt ngót 30 vạn quân xâm lược nhà Thanh, chỉ 4 năm sau đó.

*
*   *

Có thể nói hội nghị khoa học của chúng ta kỷ niệm 200 năm chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút đã đạt những kết quá tốt đẹp. Thực ra cũng phải đến hội nghị lần này chúng ta mới có đủ thời gian và điều kiện để suy nghiệm và kế thừa công trình nghiên cứu của những người đi trước, mặt khác cũng mới có thêm thực tế rất sinh động và rất thời sự, để nhìn nhận sâu sắc hơn vị trí và ý nghĩa của chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút 200 năm trước đây, để ý thức đầy đủ hơn những cố gắng lớn lao của ông cha ta trên miền đất Nam Bộ hồi cuối thế kỷ XVIII, để cảm nhận thấm thía hơn những truyền thống tốt đẹp của con người Tiền Giang trong quá trình xây dựng và gìn giữ phần đất phía Nam thân yêu của Tổ quốc.

Có được những kết quả, những thu hoạch mới trên đây là nhờ sự đóng góp của mỗi chúng ta bằng lao động khoa học kiên trì và sự nhạy bén của các đồng chí lãnh đạo tỉnh Tiền Giang, thể hiện trong việc quan tâm theo dõi, chỉ đạo hội nghị. Một lần nữa, chúng tôi xin được phép thay mặt Ban tổ chức chân thành cám ơn các đồng chí lãnh đạo tỉnh ủy và ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang, cám ơn nhiệt tình hưởng ứng của các nhà nghiên cứu trong cả nước, cám ơn sự có mặt của các vị đại biểu cùng tất cả các đồng chí và các bạn đã góp phần vào thành công của hội nghị khoa học trọng thể này.


Tiêu đề: Kỷ yếu... kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Hai, 2022, 09:00:03 am
DIỄN VĂN BẾ MẠC HỘI NGHỊ

(của đồng chí LÊ VĂN PHẨM
                                                                                                                 
Ủy viên Ban chấp hành Trung ương
Đảng cộng sản Việt Nam,
Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Tiền Giang)

Kính thưa đoàn chủ tịch,

Kính thưa quí vị đại biểu,

Kính thưa tất cả các đồng chí và các bạn

Qua hai ngày làm việc, với tinh thần rất khẩn trương và tích cực, trong không khí tràn đầy phấn khởi và thân thiết, hội nghị khoa học lịch sử về chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút kết thúc và thành công tốt đẹp.

Chúng tôi rất vui mừng trước những kết quả tốt đẹp đó. Hội nghị đã đánh dấu một bước phát triển mới, rất quan trọng trong công tác nghiên cứu về nhiều vấn đề xung quanh trận quyết chiến chiến lược này — vì như chúng ta đã biết, có rất ít sách báo, tài liệu, thư tịch nói đến nó, giúp chúng ta có những tia sáng, những cơ sở, những cứ liệu bổ ích để tiếp tục nghiên cứu sâu hơn, hoàn chỉnh hơn.

Có thể nói hội nghị này đã giúp chúng ta hiểu sâu hơn bối cảnh lịch sử, thái độ kẻ thù, vai trò quần chúng, diễn biến trận đánh, chiến thuật, kỹ thuật, vị trí và tầm vóc v.v... của trận chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút ở thời điểm cách đây 200 năm, cũng như ý nghĩa có tính thời sự và thời đại hiện nay, từ đó nâng cao lòng tự hào dân tộc, thấy rõ trách nhiệm của mình đối với tổ tiên và muôn đời con cháu mai sau.

Kính thưa các đồng chí và các bạn.

Có được kết quả tốt đẹp trên đây là nhờ sự dày công nghiên cứu, lao động khoa học quên mệt mỏi, sự tập trung cao của hàng chục cơ quan có cùng chức năng ở Trung ương ở thành phố Hồ chí Minh; của hàng trăm cán bộ nghiên cứu và giảng dạy trên khắp mọi miền của đất nước; sự giúp đỡ đầy nhiệt tình của trường Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh; sự nỗ lực phấn đấu của các ngành các cấp trong tỉnh; của lực lượng phục vụ và bảo vệ bên trong và ngoài hội nghị. Chúng ta xin chân thành cảm ơn tất cả các đồng chí và các bạn.

Chúng ta cũng tự thấy rằng trong những ngày qua, các đồng chí đại biểu, quí vị khách quí đã tự mình khắc phục các khó khăn mà chúng tôi chưa đáp ứng tốt, nhưng nơi ăn chỗ nghỉ, phương tiện đi lại, tiếp xúc và làm việc v.v... và v.v... Vì vậy nhân buổi kết thúc hội nghị nầy, tôi xin thay mặt Ban tổ chức hội nghị nhận những thiếu sót và mong các đồng chí, quí vị đại biểu thông cảm cho.

Kính thưa các đồng chí và các bạn.

Sau hội nghị nầy, ngày mai 30-12-1984, chúng tôi sẽ tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm lần thứ 200 ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút, tại xã Kim Sơn, huyện Châu Thành, xin trân trọng kính mời tất cả các đồng chí đại biểu hội nghị tranh thủ đến dự với chúng tôi. Quí vị đại biểu sẽ đi bằng đường sông từ Mỹ Tho, ngang cù lao Thới Sơn, qua Xoài Mút, qua Rạch Gầm để đến sân lễ. Chúng ta sẽ có dịp nhìn tận mắt một đoạn sông đã làm nên chiến thắng ở hai thế kỷ trước, cho dù diện mạo của nó đã thay đổi khác trước rất nhiều, song có thể qua đó chúng ta hình dung lại chiến trường xưa và suy nghĩ tiếp trong thời gian tới.

Về phần mình, sau hội nghị nầy, chúng tôi sẽ phấn đấu làm mấy việc sau đây:

1) Từ nay về sau, hằng năm tỉnh chúng tôi sẽ tổ chức kỷ niệm ngày chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút và cứ mỗi 10 năm chúng tôi sẽ tiến hành tổ chức trọng thể một lần, thông qua đó để giáo dục truyền thống cho nhân dân trong tỉnh, nhất là thế hệ trẻ ở Tiền Giang.

2) Bằng mọi hình thức theo khả năng có được của mình, chúng tôi sẽ xây dựng và tôn tạo các di tích lịch sử, tìm kiếm và bảo vệ những hiện vật quí xung quanh trận chiến thắng nầy, tiến đến xây dựng nhà bảo tàng chuyên về Rạch Gầm — Xoài Mút, dựng một số bia, đài, tượng... kỷ niệm.

3) Đối với các anh chị em làm văn hóa, văn học nghệ thuật, giáo dục, lịch sử địa phương v.v... chúng tôi sẽ phát động phong trào sưu tầm hiện vật và mẩu chuyện kể trong nhân dân, sáng tạo văn nghệ, biên soạn lịch sử, giáo dục truyền thống, phổ cập rộng rãi trong học sinh và nhân dân. Góp phần xây dựng nền văn hóa mới con người mới.

Nhân dịp này chúng tôi cũng xin kiến nghị với các Bộ, Vụ, Viện và các trường tích cực giúp đỡ chúng tôi trong quá trình nghiên cứu, tìm kiếm, tôn tạo và xây dựng một số điểm di tích của trận chiến thắng nầy, ví dụ như: Bộ văn hóa, Bộ quốc phòng, Vụ bảo tồn bảo tàng, vụ khảo cổ, Viện sử học, Viện văn học, Viện khoa học xã hội, Viện lịch sử quân sự v.v... để chúng tôi sớm có một bộ sử Tiền Giang nói chung và sử Rạch Gầm — Xoài Mút nói riêng.

Kính thưa quí vị đại biểu, các đồng chí và các bạn.

Hội nghị khoa học về chiến thắng Rạch Gầm — Xoài Mút của chúng tôi đến đây là kết thúc, nhưng công việc tìm tòi nghiên cứu vẫn phải tiếp tục, lâu dài trên nhiều lĩnh vực.

Xin kính chúc các đồng chí, quí vị đại biểu dồi dào sức khỏe, lập nhiều thành tích mới trong năm mới. Chúc toàn thể chúng ta hưởng một mùa xuân Ất Sửu vui tươi và hạnh phúc.