Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: chuongxedap trong 19 Tháng Mười, 2021, 03:46:32 pm



Tiêu đề: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười, 2021, 03:46:32 pm

BỘ QUỐC PHÒNG - TỈNH ỦY NGHỆ AN





PHÙNG CHÍ KIÊN

NGƯỜI CỘNG SẢN MẪU MỰC, KIÊN TRUNG
NHÀ CHÍNH TRỊ, QUÂN SỰ SONG TOÀN








NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN
Hà Nội - 2009


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười, 2021, 03:52:07 pm
BAN CHỈ ĐẠO HỘI THẢO:

* Trưởng ban:
- Thượng tướng PHAN TRUNG KIÊN - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

- Đồng chí NGUYỄN THẾ TRUNG, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An.


* Phó trưởng ban:
- Trung tướng, PGS, TS NGUYỄN TUẤN DŨNG, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.
- TS HOÀNG XUÂN LƯƠNG, Phó Bí thư Thường trục Tỉnh ủy Nghệ An.
- Thiếu tướng, TS PHẠM VĂN THẠCH, Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.



* Các ủy viên:
- Thiếu tướng MAI QUANG PHẤN, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chính ủy Quân khu 4.
- Trung tướng MAI HỒNG BỈNH, Cục trưởng Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị.
- Thiếu tướng PHẠM QUANG PHIẾU, Cục trưởng Cục Tài chính, Bộ Quốc phòng.
- Thiếu tướng PGS, TS NGUYỄN THẾ LỰC, Chánh Văn phòng ĐUQSTƯ, Chánh Văn phòng Bộ Quốc phòng.
- Thiếu tướng NGUYỄN XUÂN LONG, Chánh Văn phòng Tổng cục Chính trị.





BAN NỘI DUNG HỘI THẢO:


* Trưởng ban:
- Thiếu tướng, TS PHẠM VĂN THẠCH, Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.


* Phó ban:
- Đồng chí TÔ HỒNG HẢI, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Nghệ An.
- Đại tá, PGS, TS NGUYỄN MẠNH HÀ, Phó Viện truởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.


* Các ủy viên:
- Đại tá, TS TRẦN VĂN THỨC, Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử kháng chiến chống Pháp, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
- Đại tá, TS NGUYỄN XUÂN NĂNG, Trưởng phòng Quản lý khoa học, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.





TỔ CHỨC THỰC HIỆN:

BỘ MÔN LỊCH SỰ KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP,
PHÒNG QUẢN LÝ KHOA HỌC, VIỆN LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM



Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười, 2021, 03:57:00 pm
LỜI NÓI ĐẦU

Đồng chí Phùng Chí Kiên (1901-1941), là chiến sĩ cách mạng tiền bối của Đảng, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà chính trị, quân sự song toàn, người chiến sĩ kiên cường của phong trào cộng sản quốc tế.

Sinh ra và lớn lên tại Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, vùng đất "địa linh nhân kiệt", giàu truyền thống yêu nước và cách mạng, người thanh niên Phùng Chí Kiên đã sớm giác ngộ và nguyện đi theo con đường cách mạng để cứu nước, cứu dân. Năm 1926, đồng chí Phùng Chí Kiên bí mật cùng một số thanh niên yêu nước Việt Nam sang Quảng Châu (Trung Quốc) hoạt động, tham gia Hội Việt Nam cách mạng thanh niên do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thành lập. Sau đó đồng chí được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giới thiệu vào học tại Trường Quân sự Hoàng Phố. Khi Trường Quân sự Hoàng Phố bị đóng cửa bởi sự phản bội của Tưởng Giới Thạch, đồng chí Phùng Chí Kiên đã gia nhập Hồng quân công nông do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo, tham gia khởi nghĩa Quảng Châu (12.12.1927) và hoạt động tại khu Xôviết Hải - Lục Phong.

Năm 1930, đồng chí Phùng Chí Kiên gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Đầu năm 1931, trên đường sang Liên Xô học tập, đồng chí Phùng Chí Kiên bị bắt và bị giam cầm gần một năm ở Mãn Châu (Trung Quốc). Ra tù, đồng chí tiếp tục hành trình sang Liên Xô, học tại Trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản ở Mátxcơva. Sau khi tốt nghiệp Trường Đại học Phương Đông, năm 1934, theo sự phân công của Quốc tế Cộng sản, đồng chí Phùng Chí Kiên trở về Hương Cảng (Hồng Kông, Trung Quốc) tham gia Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương. Trên cương vị đó, đồng chí Phùng Chí Kiên, đã cùng Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng xúc tiến công tác chuẩn bị văn kiện, triệu tập Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng, khôi phục hoạt động của Đảng và phong trào cách mạng Việt Nam. Tại Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng (3.1935), đồng chí Phùng Chí Kiên được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được cử vào Ban Thường vụ. Với tư cách là Ủy viên Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương Đảng, tham gia Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng, đồng chí Phùng Chí Kiên đã có những đóng góp quan trọng cho quá trình khôi phục tổ chức Đảng và phong trào cách mạng Việt Nam trong những năm khó khăn nhất. Tháng 8 năm 1936, đồng chí Phùng Chí Kiên được phân công về Sài Gòn cùng đồng chí Hà Huy Tập trực tiếp phụ trách phong trào cách mạng trong nước. Sau đó, đồng chí Phùng Chí Kiên được Trung ương Đảng phân công trở lại Hương Cảng lãnh đạo Ban Chỉ huy ở ngoài. Tháng 10 năm 1938, thực dân Anh ra lệnh bắt giữ và trục xuất đồng chí Phùng Chí Kiên khỏi Hương Cảng. Phùng Chí Kiên đến Côn Minh, thủ phủ tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), tiếp tục hoạt động, dưới sự chỉ đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Trước những diễn biến mới của tình hình quốc tế và trong nước, đầu năm 1941, Nguyễn Ái Quốc quyết định cùng một số cán bộ, trong đó có Phùng Chí Kiên, trở về nước, trực tiếp lãnh đạo cách mạng.

Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5.1941), đồng chí Phùng Chí Kiên được giao nhiệm vụ phụ trách quân sự của Đảng. Tổng Chỉ huy khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai, Chỉ huy trưởng Đội Cứu quốc quân 1. Dưới sự chỉ huy trực tiếp của đồng chí Phùng Chí Kiên, Cứu quốc quân đã cùng nhân dân địa phương cản phá nhiều cuộc càn quét của địch, bảo vệ cho các đồng chí trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng rút khỏi vòng vây của kẻ thù. Trên đường rút quân để bảo toàn lực lượng chiến đấu lâu dài, đồng chí Phùng Chí Kiên đã chiến đấu kiên cường và hy sinh anh dũng ngày 21 tháng 8 năm 1941.

Bốn mươi tuổi đời, nhiều năm hoạt động cách mạng liên tục, đồng chí Phùng Chí Kiên đã hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và của nhân dân ta. Đồng chí Phùng Chí Kiên là tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng, suối đời phấn đấu hy sinh cho cách mạng, cho độc lập, tự do của Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân. Tên tuổi và sự nghiệp của đồng chí Phùng Chí Kiên luôn sống mãi trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân ta.

Nhân dịp kỷ niệm 67 năm ngày đồng chí Phùng Chí Kiên hy sinh (21.8.1941 - 21.8.2008), thực hiện Chỉ thị của Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng, Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Tỉnh ủy Nghệ An tổ chức Hội thảo khoa học: "Phùng Chí Kiên - người cộng sản mẫu mực, kiên trung, nhà chính trị, quân sự song toàn" tại thành phố Vinh ngày 18 tháng 8 năm 2008.

Tập sách này gồm các bài tham luận trong cuộc hội thảo nói trên cùng một số bài và ảnh tư liệu. Nội dung cuốn sách đã phân tích, chứng minh, khẳng định công lao to lớn, tấm gương sáng ngời của đồng chí Phùng Chí Kiên để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta học tập và noi theo.

Mặc dầu đã kết sức cố gắng, song tập sách khó có thể tránh được những thiếu sót. Rất mong sự cảm thông và đóng góp ý kiến của các tác giả và bạn đọc.

Nhân cuốn sách được xuất bản, xin chân thành cảm ơn Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, các cơ quan, các nhà khoa học và các đồng chí đã cộng tác, đóng góp cho tập sách này.


BAN TỔ CHỨC HỘI THẢO


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Hai, 2021, 04:55:22 pm

THƯ CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP


Gửi Hội thảo khoa học về đồng chí Phùng Chí Kiên - một người cộng sản kiên cường, một nhà lãnh đạo cách mạng tiền bối xuất sắc, chính trị, quân sự song toàn

Các đồng chí thân mến!

Đồng chí Phùng Chí Kiên tham gia Thanh niên cách mạng đồng chí hội rất sớm, sang Trung Quốc hoạt động từ năm 1925, được dự lớp bồi dưỡng cán bộ cách mạng của Bác Hồ ở Quảng Châu, được Bác Hồ cử đi học Trường Quân sự Hoàng Phố, về sau đồng chí sang Liên Xô học ở Trường Đại học Phương Đông. Trở lại hoạt động ở Trung Quốc, đồng chí tham gia chuẩn bị và dự Đại hội lần thứ nhất của Đảng tại Ma Cao, được bầu vào Trung ương, sau đó được bầu vào Ban Thường vụ Trung ương Đảng, phụ trách Ban Hải ngoại. Đầu năm 1940, tôi và anh Phạm Văn Đồng được Đảng cử sang Trung Quốc để gặp Bác Hồ. Chúng tôi có gặp anh Phùng Chí Kiên và một số đồng chí ở Côn Minh. Tôi may mắn được cùng ở chung nhà với anh Phùng Chí Kiên một thời gian. Chúng tôi sống với nhau rất thân thiết. Lúc đó anh phụ trách chúng tôi và tổ chức cho chúng tôi đi gặp đồng chí Vương (tức Bác Hồ) ở Thuý Hồ.

Đến tháng 6 năm 1940, chúng tôi về Quế Lâm. Một thời gian sau, anh Phùng Chí Kiên, anh Vũ Anh và một số đồng chí khác tập họp ở Quế Lâm, do anh Phùng Chí Kiên phụ trách. Sau đó, chúng tôi chuyển về Tĩnh Tây. Tại đây, chúng tôi mở lớp học cho số anh em thanh niên từ Cao Bằng sang. Bác Hồ phân công chúng tôi viết các chuyên đề về điều tra, tuyên truyền, tổ chức. Viết xong, anh Kiên được phân công ngồi trên nhà sàn đọc lại, sau đó biên soạn thành cuốn "Con đường giải phóng". Bác Hồ, anh Kiên, tôi, các anh Phạm Văn Đồng, Cao Hồng Lĩnh, Vũ Anh, Đặng Văn Cáp... cùng nhau ăn Tết Tân Tỵ (1941) ở Nậm Quang. Đến ngày mồng 2 Tết, Bác Hồ, anh Kiên và một số đồng chí khác về Pắc Bó.

Về nước, Anh tham gia Hội nghị Trung ương 8, tháng 5 năm 1941. Hội nghị đã đề ra nghị quyết về cách mạng giải phóng dân tộc - một nghị quyết rất quan trọng và cực kỳ cơ bản cho cách mạng nước ta tiến lên mạnh mẽ, có thể tập hợp mọi người yêu nước vào Mặt trận Việt Minh. Anh Kiên được phân công phụ trách Cứu quốc quân, chiến khu Bắc Sơn. Khi địch khủng bố trắng, Anh dẫn một lực lượng vũ trang rút về hướng Cao Bằng. Trên đường rút lui bị địch phục kích, anh đã bị thương, bị địch bắt, hành hạ rất dã man, Anh vẫn kiên cường giữ vững khí tiết cách mạng; chúng đã chặt đầu Anh để khủng bố tinh thần quần chúng.

Đồng chí Phùng Chí Kiên đã anh dũng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng để lại tấm gương anh hùng, bất khuất của người chiến sĩ cách mạng tiêu biểu cho Đảng ta, quân đội ta.

Đồng chí Phùng Chí Kiên là vị tiền bối cách mạng, một cán bộ cấp cao của Đảng được Bác Hồ và Trung ương phân công phụ trách quân sự đầu tiên. Đồng chí là một cán bộ có đức độ và tài năng cả chính trị và quân sự, được đào tạo cơ bản, nhạy bén phát hiện tình hình, sống gần gũi, hoà mình với đồng chí, đồng bào, nghiêm chỉnh chấp hành chỉ thị của Bác và Trung ương. Đồng chí Phùng Chí Kiên là một trong những cán bộ lãnh đạo tiền bối đã có công lao to lớn đối với Đảng ta, quân đội ta, không chỉ về mặt tổ chức mà cả về đường lối cách mạng. Năm 1947, Bác Hồ đã ký quyết định truy phong hàm cấp tướng đầu tiên cho đồng chí Phùng Chí Kiên. Đây là lần phong hàm cấp tướng đầu tiên của quân đội ta.

Tôi hoan nghênh Bộ Quốc phòng phối hợp với Tỉnh ủy Nghệ An tổ chức Hội thảo khoa học về đồng chí Phùng Chí Kiên. Đây là một hoạt động rất có ý nghĩa, vừa để nghiên cứu lịch sử, hiểu biết rõ hơn, đầy đủ hơn về quá trình hoạt động cách mạng và tôn vinh công lao của đồng chí Phùng Chí Kiên đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của quân đội và nhân dân ta; vừa nhằm giáo dục truyền thống cách mạng cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

Qua kết quả cuộc hội thảo này, tôi đề nghị Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Viện Lịch sử Đảng cần nghiên cứu bổ sung vào lịch sử Đảng, lịch sử quân đội đầy đủ hơn về hoạt động và vai trò đồng chí Phùng Chí Kiên trong thời kỳ đầu cách mạng nước ta.

Chúc các đồng chí mạnh khoẻ, hạnh phúc.

Chúc hội thảo thành công tốt đẹp.

Chào thân ái.
Hà Nội, ngày 1 tháng 8 năm 2008

Đại tướng Võ Nguyên Giáp


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Hai, 2021, 05:07:26 pm

PHÁT BIỂU KHAI MẠC HỘI THẢO KHOA HỌC "PHÙNG CHÍ KIÊN - NGƯỜI CỘNG SẢN MẪU MỰC, KIÊN TRUNG,
NHÀ CHÍNH TRỊ, QUÂN SỰ SONG TOÀN"


Thượng tướng PHAN TRUNG KIÊN

Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng,
Ủy viên Quân ủy Trung ương,
Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Trưởng ban Chỉ đạo Hội thảo

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc tổ chức kỷ niệm 67 năm ngày hy sinh của đồng chí Phùng Chí Kiên (21.8.1941 - 21.8.2008); hôm nay, Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Tỉnh ủy Nghệ An tổ chức cuộc Hội thảo khoa học với chủ đề: "Phùng Chí Kiên - người cộng sản mẫu mực, kiên trung, nhà chính trị, quân sự song toàn".

Thay mặt Ban Chỉ đạo Hội thảo, tôi nhiệt liệt chào mừng các đồng chí lãnh đạo cấp Trung ương, Bộ Quốc phòng; các đồng chí lão thành cách mạng, các tướng lĩnh, sĩ quan, các nhà khoa học cùng quý vị đại biểu đã về dự hội thảo quan trọng này. Chúc các đồng chí dồi dào sức khoẻ và hạnh phúc. Chúc hội thảo thành công tốt đẹp!

Cách đây 67 năm, ngày 21 tháng 8 năm 1941, trong một cuộc càn quét của địch lên Khu căn cứ địa cách mạng Ngân Sơn (tỉnh Bắc Kạn), đồng chí Phùng Chí Kiên - người chiến sĩ cộng sản mẫu mực, kiên trung, nhà chính trị, quân sự song toàn của Đảng đã cùng đồng đội chiến đấu đến hơi thở cuối cùng và hy sinh anh dũng. Đồng chí mất đi là một tổn thất to lớn cho phong trào cách mạng của cả nước lúc bấy giờ, đặc biệt là đối với lực lượng võ trang cách mạng đang còn trong thời kỳ trứng nước.

Để tỏ lòng tôn kính, tưởng nhớ tới công lao to lớn tới đồng chí, tôi đề nghị toàn thể các đồng chí đứng dậy, dành một phút mặc niệm.

Đồng chí Phùng Chí Kiên tên thật là Nguyễn Vĩ, sinh năm 1901 tại xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1925. Đồng chí sớm được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc dìu dắt, rèn luyện, cử đi đào tạo quân sự tại Trường Quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc) và Trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản. Tại Đại hội lần thứ nhất của Đảng tổ chức vào tháng 3 năm 1935 tại Ma Cao, Trung Quốc, đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được cử làm Ủy viên Thường vụ, phụ trách Ban Hải ngoại của Đảng ở nước ngoài và công tác huấn luyện cán bộ của Đảng. Đầu năm 1941, đồng chí về Pắc Bó, Cao Bằng, tham gia huấn luyện, đào tạo cán bộ Việt Minh, tổ chức Hội nghị Trung ương lần thứ 8. Tại hội nghị này, đồng chí được lãnh tụ Hồ Chí Minh trực tiếp giao làm Tổng chỉ huy Khu căn cứ Bắc Sơn và Chỉ huy trưởng Đội Cứu quốc quân 1. Trên cương vị Tổng chỉ huy Khu căn cứ Bắc Sơn, đồng chí đã tích cực hoạt động và có nhiều đóng góp to lớn đối với phong trào cách mạng, đặc biệt là nhiệm vụ chỉ đạo xây dựng và phát triển lực lượng võ trang. Trong lúc phong trào cách mạng đang lên, đồng chí bị địch bắt trong một trận phục kích, bị tra tấn rất dã man và hy sinh anh dũng khi tài năng đang độ chín muồi.

Là học trò xuất sắc của lãnh tụ Hồ Chí Minh, đồng chí Phùng Chí Kiên là một cán bộ quân sự - chính trị mẫu mực, song toàn đầu tiên của Đảng, có nhiều cống hiến to lớn cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam nói chung, cho lực lượng võ trang cách mạng nói riêng. Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của đồng chí là một tấm gương sáng cho các thế hệ người Việt Nam, cho cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam học tập, noi theo.

Cuộc Hội thảo khoa học hôm nay được tổ chức trên chính mảnh đất giàu truyền thống đấu tranh cách mạng Nghệ An Xô-viết, quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, nơi sinh ra và lớn lên của đồng chí Phùng Chí Kiên cùng nhiều nhà cách mạng tiền bối khác là việc làm có ý nghĩa khoa học và thực tiễn to lớn, sâu sắc, thiết thực; nhằm khẳng định và làm sáng tỏ một số vấn đề sau:

Một là: Vùng đất, con người, truyền thống đấu tranh cách mạng vẻ vang của quê hương Xô-viết Nghệ Tĩnh - nơi sinh ra và lớn lên của nhiều lãnh tụ cách mạng, trong đó có đồng chí Phùng Chí Kiên.

Hai là: Quá trình giác ngộ, học tập, tham gia hoạt động cách mạng của đồng chí Phùng Chí Kiên - người được lãnh tụ Hồ Chí Minh giáo dục, rèn luyện và giao trọng trách lãnh đạo công tác quân sự của Đảng; vai trò và những cống hiến to lớn của đồng chí trong quá trình xây dựng, phát triển lực lượng võ trang, xây dựng và bảo vệ căn cứ địa cách mạng trong những ngày chuẩn bị tiến tới Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, cũng như đối với phong trào cách mạng cả nước lúc bấy giờ.

Ba là: Những bài học kinh nghiệm quý báu rút ra từ hoạt động cách mạng của đồng chí Phùng Chí Kiên, vận dụng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Thông qua cuộc hội thảo này, trên cơ sở những thắng lợi của cách mạng và thành tựu quá trình xây dựng đất nước trong thời gian vừa qua, với tầm nhìn và tư liệu mới, chúng ta cùng đánh giá, lý giải sâu sắc hơn về vai trò, công lao to lớn của đồng chí Phùng Chí Kiên đối với cách mạng Việt Nam, nhất là đối với sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam.

Hội thảo lần này cũng là một hoạt động thiết thực chào mừng kỷ niệm 63 năm ngày Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh 2 tháng 9; góp phần giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng võ trang và nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ học tập và phát huy tấm gương yêu nước, tinh thần cách mạng kiên cường của các lớp cha anh, hun đúc lòng tự hào dân tộc, xây dựng lý tưởng cách mạng cao đẹp, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Với tinh thần đó, thay mặt Ban Chỉ đạo Hội thảo, tôi xin tuyên bố khai mạc Hội thảo khoa học: "Phùng Chí Kiên - người cộng sản mẫu mực, kiên trung, nhà chính trị, quân sự song toàn".


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười Hai, 2021, 12:40:07 pm
HỘI THẢO KHOA HỌC "PHÙNG CHÍ KIÊN –
NGƯỜI CỘNG SẢN MẪU MỰC, KIÊN TRUNG,
NHÀ CHÍNH TRỊ, QUÂN SỰ SONG TOÀN"

TS. HOÀNG XUÂN LƯƠNG
Phó Bí thư thường trực Tỉnh ủy Nghệ An

Trong lịch sử đấu tranh cách mạng lâu dài và gian khổ của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, để có được non sông, đất Việt thống nhất và phát triển như ngày hôm nay, đã có biết bao anh hùng, liệt sĩ cống hiến trọn đời mình cho Tổ quốc và nhân dân, mà đồng chí Phùng Chí Kiên là một người con tiêu biểu.

Đồng chí Phùng Chí Kiên có tên khai sinh là Nguyễn Vĩ, trong quá trình hoạt động cách mạng còn mang các tên khác, như Mạnh Văn Liễu, Nguyễn Hào, Như Bách, Can (hoặc Kan), Phùng Nguôn Bình, Mã Hữu Giác, Lý, Phùng, v.v... Đồng chí sinh năm 1901, trong một gia đình nông dân tại làng Mỹ Quan Thượng, Tổng Vạn Phần (nay là xã Diễn Yên), huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An - vùng đất địa linh nhân kiệt, giàu truyền thống đấu tranh cách mạng; lớn lên trong cảnh đất nước bị thực dân Pháp đô hộ, triều đình phong kiến nhà Nguyễn ở vào thời đoạn suy vong, tận mắt chứng kiến bao nỗi đau thương của quê hương đất nước, anh thanh niên Nguyễn Vĩ mang trong mình bao nỗi khát khao, mà lớn nhất là hoài bão cứu nước, cứu nhà.

Học hết sơ học, anh phải thôi học để làm việc giúp gia đình. Năm 1925, anh đi làm thuê cho một gia đình thương nhân Hoa kiều ở ga Yên Lý, một nhà ga nhỏ trên tuyến đường sắt xuyên Việt. Tháng 10 năm 1926, Phùng Chí Kiên được tổ chức Hội Việt Nam Thanh niên cách mạng giác ngộ và được cử sang Quảng Châu (Trung Quốc), dự lớp huấn luyện do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tổ chức, sau đó được giới thiệu vào học tại Trường Quân sự Hoàng Phố. Nhưng do sự bội ước của Tưởng Giới Thạch, trường này bị đóng cửa, Phùng Chí Kiên cùng một số cán bộ Việt Nam gia nhập quân đội cách mạng và tham gia Khởi nghĩa Quảng Châu (12.12.1927) do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo.

Năm 1930, Phùng Chí Kiên gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Năm 1931, cùng với một số thanh niên khác, Phùng Chí Kiên được cử sang Liên Xô học tập, nhưng khi đến Mãn Châu, đồng chí bị bắt giam gần một năm. Ra tù, đồng chí tiếp tục lên đường sang Liên Xô học tại Trường Đại học của người lao động Phương Đông (gọi tắt là Trường Đại học Phương Đông) từ tháng 6 năm 1932 đến tháng 3 năm 1934.

Năm 1934, đồng chí trở về Hương Cảng (Trung Quốc) tham gia Ban chỉ huy ở ngoài của Đảng, cùng với một số đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng chuẩn bị triệu tập Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ nhất tổ chức tại Áo Môn (Ma Cao, Trung Quốc), tháng 3 năm 1935. Tại Đại hội này, đồng chí Phùng Chí Kiên được bầu vào Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Năm 1936, đồng chí về Sài Gòn hoạt động. Từ năm 1937 đến ngày về nước cùng lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc (28.1.1941), đồng chí hoạt động ở Trung Quốc.

Trở về nước, đồng chí Phùng Chí Kiên tham gia tổ chức các lớp đào tạo, huấn luyện cán bộ của Đảng; tham dự Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5.1941) và được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng; được cử trực tiếp chỉ huy Khu căn cứ Bắc Sơn, Chỉ huy trưởng Đội Cứu quốc quân 1.

Cuối tháng 6 năm 1941, thực dân Pháp huy động lực lượng lớn càn vào Khu căn cứ Bắc Sơn nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não và lực lượng vũ trang của ta. Trước tình hình đó, đồng chí Phùng Chí Kiên cùng Ban chỉ huy Cứu quốc quân vừa tổ chức lực lượng bảo vệ và đưa các đồng chí lãnh đạo Trung ương Đảng qua Tràng Xá về xuôi an toàn, vừa chỉ huy Đội Cứu quốc quân chiến đấu anh dũng, phá các cuộc càn quét của địch, sau đó chia lực lượng phá vòng vây của địch, rút ra khỏi Bắc Sơn.

Cánh quân của đồng chí Phùng Chí Kiên và Lương Văn Tri khi đến xã Văn Đức, châu Na Rì, Bắc Kạn, bị địch phục kícn, bao vây. Đồng chí Phùng Chí Kiên bị địch bắn bị thương nặng và rơi vào tay giặc. Kẻ thù đã chặt đầu đồng chí rồi đem cắm ở cầu Ngân Sơn để uy hiếp tinh thần cán bộ và nhân dân địa phương.

Đồng chí Phùng Chí Kiên hy sinh khi cách mạng Việt Nam đang ở thời kỳ đầy khó khăn, thử thách khắc nghiệt, khi đồng chí mới tròn bốn mươi tuổi xuân, đang độ trưởng thành và độ chín của một tài năng lớn cả về quân sự và chính trị, khi đang giữ trọng trách lớn của Đảng - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và là người chỉ huy quân sự cao nhất. Đây thực sự là một mất mát, tổn thất vô cùng to lớn của toàn Đảng, toàn dân ta.

Sau ngày đồng chí hy sinh, Đảng và Nhà nước ta đã truy phong quân hàm cấp tướng (năm 1947), liệt sĩ hy sinh trong chiến đấu (2003) và một số phần thưởng khác. Hài cốt của đồng chí Phùng Chí Kiên đã được đưa về nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội (1990).

Cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Phùng Chí Kiên là một di sản quý báu trong lịch sử đấu tranh cách mạng Việt Nam thời hiện đại. Nghiên cứu và lưu lại di sản quý báu đó cho hậu thế là một việc làm cần thiết mang nhiều ý nghĩa. Từ trước tới nay, trong một số công trình nghiên cứu, bài viết trên các tạp chí, sách báo, đã đề cập đến thân thế và sự nghiệp cách mạng của đồng chí Phùng Chí Kiên theo từng góc độ, từng phần, từng nội dung cụ thể, nhưng chưa có được một công trình nghiên cứu chuyên sâu, đầy đủ và toàn diện về ông.

Nhân dịp kỷ niệm 67 năm ngày hy sinh của đồng chí Phùng Chí Kiên, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Bộ Quốc phòng chủ trì phối hợp với Tỉnh ủy Nghệ An tổ chức Hội thảo khoa học "Phùng Chí Kiên -người cộng sản mẫu mực kiên trung, nhà chính trị, quân sự song toàn" nhằm tôn vinh và ghi nhận một cách đầy đủ hơn những đóng góp của đồng chí Phùng Chí Kiên cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam, khẳng định và làm sáng tỏ thêm:

- Thân thế của đồng chí Phùng Chí Kiên.

- Quá trình hoạt động cách mạng của đồng chí Phùng Chí Kiên - người cộng sản kiên cường, nhà quân sự tài ba, học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

- Sự hy sinh anh dũng của đồng chí Phùng Chí Kiên cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

- Tấm gương mẫu mực về lòng yêu nước, tinh thần cách mạng kiên cường và phẩm chất cao quý của đồng chí Phùng Chí Kiên.

Trong khuôn khổ của một cuộc hội thảo khoa học với độ lùi thời gian và nguồn tư liệu ít ỏi, khó có thể đi sâu vào nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện sự nghiệp cách mạng vẻ vang và lớn lao của đồng chí Phùng Chí Kiên, nên Ban tổ chức đã hướng hội thảo theo chủ đề "Phùng Chí Kiên - người cộng sản mẫu mực, kiên trung, nhà chính trị, quân sự song toàn". Theo đó, nội dung chính của cuộc hội thảo gồm những vấn đề cụ thể sau đây:

- Vùng đất, con người, truyền thống cách mạng của quê hương Nghệ An Xô-viết; những tác động của điều kiện lịch sử đối với Phùng Chí Kiên.

- Quá trình giác ngộ, tham gia hoạt động cách mạng của đồng chí Phùng Chí Kiên; những năm tháng hoạt động trong nước, ở Trung Quốc và Liên Xô.

- Những đóng góp, cống hiến của đồng chí Phùng Chí Kiên cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

- Tấm gương đạo đức cách mạng kiên trung, bất khuất của đồng chí Phùng Chí Kiên - di sản quý báu của dân tộc Việt Nam.

Thông qua đó, nhằm giáo dục truyền thống cách mạng, lòng tự hào dân tộc cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.

Ban Tổ chức Hội thảo đã gửi giấy mời viết bài đến hơn 60 nhân chứng lịch sử, các vị tướng lĩnh, các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền địa phương, các nhà khoa học trong và ngoài quân đội.

Thông qua các báo cáo khoa học, tập trung vào các chủ đề chính đã nêu trên, Ban Tổ chức hội thảo hy vọng và tin tưởng rằng các tham luận sẽ góp phần làm sáng tỏ, đầy đủ thêm về thân thế, sự nghiệp cách mạng vẻ vang, những cống hiến lớn lao của đồng chí Phùng Chí Kiên cho Tổ quốc Việt Nam thân yêu.

Tỉnh Nghệ An có vinh dự lớn là mảnh đất đã sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh và những người con ưu tú của dân tộc như Phan Bội Châu, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Phùng Chí Kiên, Phạm Hồng Thái, v.v… Hôm nay, được Ban Bí thư Trung ương Đảng giao nhiệm vụ phối hợp với Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ Quốc phòng tổ chức Hội thảo khoa học về đồng chí Phùng Chí Kiên, chúng tôi hết sức cảm kích về sự quan tâm của Đảng ủy Quân sự Trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Bộ tư lệnh Quân khu 4, các vị tướng lĩnh, các nhân chứng lịch sử, các nhà khoa học trong và ngoài quân đội, đã dành nhiều thời gian, công sức chỉ đạo, trực tiếp nghiên cứu để có được nhiều tham luận có giá trị khoa học và sâu nặng nghĩa tình với mảnh đất và con người xứ Nghệ.

Chúng tôi xin nhiệt liệt chào mừng, bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính chúc lãnh đạo Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ Quốc phòng, các vị khách quý sức khỏe, hạnh phúc, thành đạt trong cuộc sống. Kính chúc Hội thảo khoa học "Phùng Chí Kiên - người chiến sĩ cộng sản mẫu mực, kiên trung, nhà chính trị, quân sự song toàn" thành công tốt đẹp.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười Hai, 2021, 12:45:27 pm

ĐỒNG CHÍ PHÙNG CHÍ KIÊN –
NGƯỜI CỘNG SẢN MẪU MỰC, KIÊN TRUNG,
NHÀ CHÍNH TRỊ, QUÂN SỰ SONG TOÀN


Thượng tướng PHAN TRUNG KIÊN
Ủy viên Trung ương Đảng,
Ủy viên Quân ủy Trung ương,
Thứ trưởng Bộ Quốc phòng

Trong tâm khảm của nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ và nhân dân cả nước, nhất là các đồng chí lão thành cách mạng, tướng lĩnh cao cấp đều luôn nhớ tới tên tuổi và hình ảnh đồng chí Phùng Chí Kiên - người cộng sản kiên trung, mẫu mực, nhà chính trị, quân sự song toàn của Đảng, quân đội và dân tộc ta. Đồng chí Phùng Chí Kiên được Đảng Cộng sản Việt Nam, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tin cậy, cử giữ những trọng trách lãnh đạo quan trọng: Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá 1), Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng, đặc biệt là lãnh đạo công tác quân sự, trực tiếp chỉ huy Đội Cứu quốc quân 1 - một trong những đội quân tiền thân và là cái "vốn quân sự ban đầu" vô cùng quan trọng của Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng, của sự nghiệp giải phóng đất nước và bảo vệ Tổ quốc nói chung.

Đồng chí Phùng Chí Kiên tên khai sinh là Nguyễn Vĩ, sinh năm 1901, trong một gia đình nông dân ở làng Mỹ Quan Thượng, tổng Vạn Phần (nay là xã Diễn Yên), huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Đồng chí cùng thế hệ với các nhà cách mạng tiền bối, như Lê Hồng Sơn, Lê Hồng Phong, Hồ Tùng Mậu, Trương Văn Vĩnh, Trương Quốc Long..., những người con xứ Nghệ giàu lòng yêu nước, đầy nhiệt huyết, quyết chí tìm đường đấu tranh chống ách thống trị, áp bức của thực dân Pháp và chế độ phong kiến lỗi thời, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân.

Năm 1925, đồng chí được tiếp xúc với những quan điểm, tư tưởng cách mạng từ Hội Việt Nam Thanh niên cách mạng do đồng chí Nguyễn Ái Quốc sáng lập. Năm 1926, qua giới thiệu của một số thành viên Hội Việt Nam thanh niên cách mạng, đồng chí bí mật sang Quảng Châu (Trung Quốc) dự lớp huấn luyện chính trị do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc mở. Nhận thấy đồng chí Phùng Chí Kiên có nhiệt huyết cách mạng, tư chất thông minh, có tư duy quân sự, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và nhóm cố vấn quân sự Nga đã quyết định chọn đồng chí cùng một số thanh niên Việt Nam khác đưa vào đào tạo tại Trường Quân sự Hoàng Phố của Chính phủ Tôn Trung Sơn. Năm 1927, Tưởng Giới Thạch phản bội, Trường Hoàng Phố phải đóng cửa, đồng chí Phùng Chí Kiên cùng nhiều cán bộ cách mạng Việt Nam đứng về phía Đảng Cộng sản Trung Quốc chống lại lực lượng phản cách mạng. Đồng chí gia nhập Hồng quân công nông do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo và trực tiếp tham gia cuộc khởi nghĩa Quảng Châu (12.12.1927). Cuộc khởi nghĩa thất bại, quân cách mạng rút về lập khu Xô-viết Hải - Lục Phong (thuộc tỉnh Quảng Đông). Với cương vị được giao là Liên trưởng (tương đương Đại đội truởng) và chiến đấu ở miền đất ấy, đồng chí đã khẳng định tư chất của một cán bộ chỉ huy quân sự, luôn nêu cao tinh thần khắc phục khó khăn, gian khổ, quyết tâm bảo vệ chân lý và thành quả cách mạng. Đồng chí trở thành tấm gương sáng ngời trong tâm trí Hồng quân công nông và nhân dân khu Xô-viết Hải - Lục Phong.

Đầu năm 1931, được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giới thiệu, đồng chí Phùng Chí Kiên cùng hai người nữa sang học tập ở Liên Xô, nhưng khi đi đến vùng biên giới Trung Quốc - Liên Xô thì bị bắt giam gần một năm. Sau khi ra khỏi nhà tù, đồng chí tiếp tục sang Liên Xô, học tại Trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản, khoá 1932-1934, với bí danh là Kan (tức Hừng Đông). Trong “Bản nhận xét về tư cách đạo đức" đề ngày 22 tháng 11 năm 1933 phần về Kan, đồng chí Riblina, cán bộ Bộ Phương Đông, ghi rõ: "... Có khả năng lớn về công tác, năng động, trình độ chính trị cao, trình độ học tập nói chung tốt...”.

Như vậy, đồng chí Phùng Chí Kiên chính là người được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc lựa chọn để đào tạo thành hạt nhân lãnh đạo cách mạng vô sản ở Việt Nam; đồng thời, tạo nguồn cán bộ lãnh đạo sự nghiệp xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng của Đảng, đặt tiền đề cho việc ra đời và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam sau này.

Sau khi tốt nghiệp Trường Đại học Phương Đông, năm 1934, theo phân công của Quốc tế Cộng sản, đồng chí trở về Hương Cảng (Hồng Kông) tham gia Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương do đồng chí Lê Hồng Phong phụ trách. Với kiến thức, trình độ về quân sự và kỹ thuật vô tuyến điện giỏi, đồng chí được phân công phụ trách Tiểu ban quân sự và kỹ thuật thuộc Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương.

Tại Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ nhất (3.1935) họp ở Ma Cao (Trung Quốc), đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được cử vào Ban Thường vụ Trung ương, trực tiếp phụ trách Ban Hải ngoại của Đảng ở nước ngoài.

Tháng 8 năm 1936, đồng chí được Trung ương Đảng cử về Sài Gòn cùng đồng chí Hà Huy Tập trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước (theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 của Quốc tế Cộng sản và Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp ngày 16 tháng 7 năm 1936) đấu tranh đòi quyền tự do, dân chủ, cơm áo, hoà bình. Một năm sau, theo phân công của Trung ương Đảng, đồng chí quay lại Hương Cảng chỉ đạo Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng thay cho đồng chí Lê Hồng Phong về nước hoạt động. Phát hiện thấy những hoạt động bí mật của đồng chí, cuối năm 1936, thực dân Anh đã ra lệnh bắt giữ và trục xuất đồng chí khỏi Hương Cảng.

Rời đất Hương Cảng, đồng chí đến Côn Minh (thủ phủ tỉnh Vân Nam), nơi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động. Dưới sự chỉ đạo của Người, đồng chí Phùng Chí Kiên và một số đồng chí khác nhanh chóng củng cố lại Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng và xuất bản tờ báo Đồng Thanh để phục vụ công tác tuyên truyền, vận động và định hướng đấu tranh cho quần cnúng cách mạng.

Tháng 6 năm 1940, Chính phủ Pháp đầu hàng phát xít Đức. Nhân cơ hội này, phát xít Nhật nhảy vào chiếm Đông Dương. Nhận thấy thời cơ bắt đầu có lợi cho cách mạng Việt Nam, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc quyết định đưa số cán bộ đang hoạt động ở Trung Quốc khẩn trương chuẩn bị về nước nắm bắt tình hình và chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước. Lúc này, một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là chuẩn bị tổ chức huấn luyện cán bộ để đưa về Cao Bằng xây dựng khu căn cứ cách mạng. Quá trình thực hiện "công việc cần kíp" này, đồng chí được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ tham gia biên soạn một số bài giảng và cùng một số đồng chí khác được phân công trực tiếp giảng dạy cho 40 cán bộ ở Cao Bằng sang Quảng Tây. Những bài giảng này sau đó được tập hợp lại thành tài liệu mang tên "Con đường giải phóng" - một tài liệu quan trọng phục vụ chương trình đào tạo, huấn luyện cán bộ của Đảng ta nói chung, của quân đội ta nói riêng. Với kinh nghiệm dày dặn trong những năm tháng hoạt động tại Trung Quốc và tham gia Hồng quân công nông của Đảng Cộng sản Trung Quốc, đồng chí đã dày công nghiên cứu, phác thảo bản tài liệu "Về chiến tranh chống Nhật của nhân dân Trung Quốc".

Cùng thời gian này, tình hình trong nước có những biến đổi. Đêm 22 tháng 9 năm 1940, phát xít Nhật đánh vào Lạng Sơn, quân Pháp hèn nhát bỏ chạy. Tại Bắc Sơn - địa hạt của tỉnh Lạng Sơn, một cơ sở cách mạng bí mật do đồng chí Hoàng Văn Thụ xây dựng từ năm 1933 đã phát động cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, mở màn cho phong trào đấu tranh vũ trang chống xâm lược trên cả nước. Căn cứ địa cách mạng Bắc Sơn trở thành tâm điểm chú ý và chỉ đạo của Trung ương Đảng.

Tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 7 (11.1940), vấn đề tăng cường cán bộ cho Bắc Sơn để duy trì những cơ sở cách mạng mà nó tạo ra và phát triển lực lượng du kích Bắc Sơn làm cái vốn quân sự đầu tiên cho khởi nghĩa sau này đã trở thành một nội dung quan trọng của Nghị quyết Hội nghị. Theo đó, ngày 14 tháng 2 năm 1941, Đội du kích Bắc Sơn chính thức được thành lập tại khu rừng Khuổi Nọi, xã Vũ Lễ, châu Bắc Sơn gồm 32 cán bộ, chiến sĩ, do đồng chí Lương Văn Tri và đồng chí Chu Văn Tấn chỉ huy. Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5.1941) do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp chủ trì, đồng chí Phùng Chí Kiên tham dự đã ra Nghị quyết chỉ rõ việc chuẩn bị khởi nghĩa từng phần và tổ chức lực lượng vũ trang, bán vũ trang là nhiệm vụ trung tâm, cần kíp hàng đầu. Ngay sau đó, công cuộc xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng ở các địa phương, trọng tâm là Bắc Sơn - Võ Nhai và Cao Bằng được khẩn trương đẩy mạnh.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười Hai, 2021, 12:46:20 pm

Tháng 7 năm 1941, đồng chí Phùng Chí Kiên và nhiều đồng chí cán bộ cấp cao của Đảng từ Pắc Bó được cử về tăng cường cho Bắc Sơn. Tại đây, thay mặt Trung ương Đảng, đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 8 cho toàn thể cán bộ, chiến sĩ Đội du kích Bắc Sơn. Trung đội Cứu quốc quân 1 được thành lập trên cơ sở Đội du kích Bắc Sơn, đồng chí Phùng Chí Kiên được Trung ương Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giao trọng trách làm Tổng chỉ huy khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai và Chỉ huy trưởng Đội Cứu quốc quân 1. Trong quá trình lãnh đạo, chỉ huy Đội Cứu quốc quân 1, đồng chí Phùng Chí Kiên đã có nhiều đóng góp quan trọng trong xây dựng, củng cố tổ chức đơn vị, đặc biệt là về giáo dục chính trị, tư tưởng, trình độ kỹ thuật, chiến thuật cho cán bộ, chiến sĩ. Với tư cách là Tổng chỉ huy khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai, đồng chí đã trực tiếp truyền đạt những kiến thức cơ bản về quân sự, nhất là về chiến thuật du kích cho toàn thể cán bộ dự Hội nghị cán bộ phụ trách các khu vực và địa phương trong khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai tổ chức tại Khuổi Cườm, xã Tân Lập, Bắc Sơn.

Phát hiện thấy phong trào cách mạng ở Bắc Sơn phát triển mạnh, trung tuần tháng 7 năm 1941, Pháp tập trung hơn 4.000 quân, mở cuộc càn quét vào khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai nhằm tiêu diệt bằng được cơ quan đầu não kháng chiến, lực lượng Cứu quốc quân, trấn áp phong trào cách mạng ở Bắc Sơn. Đồng chí Phùng Chí Kiên đã chỉ huy cán bộ, chiến sĩ Đội Cứu quốc quân đánh tan một số trận càn quét của địch, điển hình nhất là trận Giá Huấn, thuộc xã Vũ Lễ, đưa các đồng chí ủy viên Trung ương Đảng thoát khỏi vòng vây của địch an toàn. Nhưng, do so sánh lực lượng quá chênh lệch và trước sự lùng sục ráo riết của kẻ thù, để bảo toàn lực lượng, Ban chỉ huy Cứu quốc quân quyết định chia lực lượng thành hai cánh, rút khỏi Bắc Sơn. Cánh thứ nhất do đồng chí Hoàng Văn Thái và đồng chí Đặng Văn Cáp chỉ huy, đến giữa tháng 8 năm 1941 đã tới biên giới Việt - Trung an toàn. Cánh thứ hai do đồng chí Phùng Chí Kiên và đồng chí Lương Văn Tri chỉ huy bị địch phục kích ngày 21 tháng 8 năm 1941 khi vừa đến làng Khau Pàn, xã Bằng Đức, châu Ngân Sơn, Bắc Cạn. Đồng chí Phùng Chí Kiên đã chỉ huy kiên quyết, chiến đấu dũng cảm, tạo thuận lợi cho đồng đội rút ra và bị thương nặng, bị địch bắt, tra tấn dã man và hy sinh anh dũng.

Bốn mươi tuổi đời, trong đó hơn một nửa thời gian chiến đấu, hy sinh cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí Phùng Chí Kiên là tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước, giác ngộ lý tưởng xã hội chủ nghĩa, sự mẫu mực, kiên trung của một chiến sĩ cách mạng, nhà chính trị, quân sự song toàn của Đảng ta, nhân dân ta, quân đội ta.

Sinh ra từ miền quê giàu truyền thống yêu nước và cách mạng, có tư chất thông minh và hoài bão lớn, noi theo gương các bậc tiền bối cách mạng, đồng chí Phùng Chí Kiên sớm thoát ly quê hương, gia đình, quyết ra đi tìm đường cứu nước. Nhưng điểm khác biệt ở đồng chí chính là sự nhạy bén, thức thời về quan điểm và chí hướng cách mạng, đó là chọn con đường cách mạng vô sản. Đây là vấn đề có tính quyết định đưa đồng chí từ một người yêu nước chân chính trở thành một chiến sĩ cộng sản kiên cường, một đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương.

Được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giáo dục, huấn luyện, đào tạo và dìu dắt, được học tập, rèn luyện tại Trường quân sự, chính trị nổi tiếng Hoàng Phố và Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản, với sự phấn đấu liên tục, không mệt mỏi của bản thân, đồng chí đã trưởng thành về bản lĩnh lãnh đạo, năng lực tổ chức thực tiễn, phẩm chất đạo đức cách mạng...; được giao trọng trách lãnh đạo và tổ chức việc xây dựng căn cứ địa cách mạng ở Cao Bằng, Bắc Sơn - Võ Nhai, tham gia trực tiếp vào việc đào tạo, huấn luyện nhiều lớp cán bộ đầu tiên của cách mạng vô sản Việt Nam. Tất cả những điều đó đã đưa đồng chí trở thành chiến sĩ cộng sản quốc tế, một trong những nhà cách mạng đầu tiên và xuất sắc của cách mạng vô sản Việt Nam.

Ghi nhận công lao đóng góp to lớn của đồng chí Phùng Chí Kiên cho sự nghiệp xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, sau ngày Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã ký quyết định truy phong cho đồng chí quân hàm cấp tướng (23.9.1947). Việc được Đảng và Nhà nước tôn vinh và sớm ghi nhận công lao là cơ sở để khẳng định: Đồng chí thực sự là một trong những vị tướng đầu tiên, nhà chính trị, quân sự song toàn của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Kỷ niệm 67 năm ngày mất của đồng chí Phùng Chí Kiên (21.8.1941 - 21.8.2008), chúng ta tưởng nhớ tới công lao to lớn của một nhà cách mạng đã trọn đời chiến đấu, hy sinh vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

Chúng ta thật tự hào có một người lãnh đạo và chỉ huy mẫu mực về nhân cách đạo đức và đầy tài năng như đồng chí Phùng Chí Kiên. Là một học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí đã nêu một tấm gương sáng ngời về lòng trung thành vô hạn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, về lòng yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, về đường lối cách mạng kiên định, tinh thần cách mạng triệt để, tiến công kiên quyết và liên tục, không lùi bước trước bất kỳ khó khăn, nguy hiểm và luôn nêu cao khí phách kiên cường của người cộng sản.

Hiện nay, đất nước đang hoà bình, song nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đang đặt ra cho quân đội ta những yêu cầu và nhiệm vụ mới. Chất lượng tổng hợp, hiệu lực thực hiện nhiệm vụ của quân đội có tác động rất lớn, trực tiếp đến khả năng và sức mạnh bảo vệ Tổ quốc. Sự nghiệp xây dựng quân đội đang đặt ra những yêu cầu ngày càng cao trên tất cả các mặt, nhất là chất lượng bộ đội, mà nòng cốt là đội ngũ sĩ quan. Do vậy, trong quá trình đào tạo, huấn luyện đội ngũ cán bộ các cấp của quân đội cần tiếp tục quán triệt sâu sắc các nghị quyết của Đảng; nghiên cứu, phát triển những luận điểm về khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng, về nghệ thuật quân sự Việt Nam được thể hiện trong các tác phẩm quân sự của các lãnh tụ, các nhà quân sự tiền bối mà đồng chí Phùng Chí Kiên là một đại diện tiêu biểu để vận dụng vào xây dựng chương trình đào tạo, huấn luyện và trong chỉ đạo tác chiến, nhằm không ngừng bổ sung và làm phong phú thêm kho tàng lý luận về chiến tranh cách mạng Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Cần tuyên truyền, giáo dục sâu rộng cho cán bộ, chiến sĩ học tập tấm gương tiêu biểu của người cộng sản, nhà cách mạng - Phùng Chí Kiên về tinh thần khắc phục khó khăn, gian khổ, phẩm chất kiên trung, mẫu mực với Đảng, với nhân dân; gắn bó và sáng tạo trong tổ chức hoạt động thực tiễn; không ngừng học tập, phấn đấu vươn lên để thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Đạo đức cách mạng sáng ngời cùng với những cống hiến to lớn của đồng chí Phùng Chí Kiên cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, mà nòng cốt là Quân đội nhân dân Việt Nam mãi mãi giữ nguyên giá trị, góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười Hai, 2021, 12:49:12 pm

PHÙNG CHÍ KIÊN
NGƯỜI CHIẾN SĨ CỘNG SẢN KIÊN CƯỜNG,
NGƯỜI CON ƯU TÚ CỦA QUÊ HƯƠNG NGHỆ AN


NGUYỄN THẾ TRUNG
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng,
Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An

Nghệ An là vùng đất "địa linh nhân kiệt", quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ muôn vàn kính yêu và nhiều người con ưu tú của dân tộc, trong đó có đồng chí Phùng Chí Kiên - "Người cộng sản mẫu mực, kiên trung, nhà chính trị, quân sự song toàn".

1- Sinh ra và lớn lên trên một vùng đất giàu truyền thống yêu nước và cách mạng, trong bối cảnh đất nước bị thực dân Pháp đô hộ, lúc triều đại phong kiến nhà Nguyễn đã quá lỗi thời, lạc hậu và đang trong giai đoạn suy vong, anh thanh niên Nguyễn Vĩ đã tận mắt chứng kiến bao nỗi đau thương thống khổ, cơ hàn của người dân một nước bị chủ nghĩa thực dân Pháp nô dịch; chứng kiến nỗi đau tột cùng của một dân tộc bị chà đạp lên quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc, quyền mưu cầu độc lập, tự do. Được sự nuôi dưỡng và giáo dục của gia đình, mà trước hết là ông bà Nguyễn Khoản, cùng dòng họ Nguyễn ở Diễn Yên, Nguyễn Vĩ đã sớm ý thức được trách nhiệm của mình, sớm nung nấu ý chí và tinh thần đấu tranh chống chế độ thực dân phong kiến, tiếp thu tư tưởng tiến bộ cách mạng, nguyện tiếp bước các thế hệ cách mạng đi trước, làm cách mạng để cứu nước, cứu dân, đưa lại độc lập, tự do thật sự cho dân tộc, hạnh phúc cơm áo cho toàn dân.

Từ năm 1925, Nguyễn Vĩ đã bí mật rời quê hương, đất nước sang Trung Quốc tham gia hoạt động trong tổ chức Hội Việt Nam thanh niên cách mạng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập. Đây là mốc thời gian quan trọng đánh dấu bước chuyển từ một thanh niên yêu nước chân chính sang một chiến sĩ cộng sản. Hơn 15 năm hoạt động cách mạng, trong đó chủ yếu ở Trung Quốc và Liên Xô. Được giáo dục, đào tạo tại Trường Quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc, năm 1927). Trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản tại Mátxcơva - Liên Xô (6.1932 - 4.1934); được tôi luyện trong thực tiễn đấu tranh cách mạng (tham gia khởi nghĩa Quảng Châu, Trung Quốc, tháng 12 năm 1927, và hoạt động trong đội ngũ Hồng quân công nông của Đảng Cộng sản Trung Quốc); được tiếp xúc, nghiên cứu, tìm hiểu lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, về cách mạng vô sản, cách mạng giải phóng dân tộc, v.v...; được sự giúp đỡ, dìu dắt của các nhà hoạt động cách mạng Việt Nam, mà quan trọng nhất là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã đưa Nguyễn Vĩ - Phùng Chí Kiên trở thành một chiến sĩ cộng sản quốc tế, một đảng viên của Đảng Cộng sản, một trong những cán bộ lãnh đạo cao cấp tiền bối của Đảng, vị tướng đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, chiến đấu hy sinh trọn đời mình cho lý tưởng cách mạng của Đảng.

Từ người học trò nghèo đến người thanh niên yêu nước và người chiến sĩ cộng sản quốc tế, Phùng Chí Kiên - "sự tương phùng, hội ngộ, sự gặp gỡ giữa chí khí và lòng kiên trung", là sự thể hiện rõ rệt nhất truyền thống yêu nước và cách mạng của quê hương xứ Nghệ. Quê hương đã sinh thành và nuôi dưỡng tâm hồn chí khí những người con xuất sắc, trong đó Phùng Chí Kiên là một trong những tấm gương tiêu biểu, góp phần vun đắp thêm truyền thống rất đáng tự hào của quê hương, đất nước.

2- Trong cuộc đời hoạt động cách mạng hơn 15 năm, thời gian tuy không dài nhưng vô cùng vẻ vang của mình, đồng chí Phùng Chí Kiên có những năm tháng hoạt động bên cạnh lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, được giáo dục, học tập, tiếp thu những tư tưởng của Người, được lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin soi sáng dẫn đường, Phùng Chí Kiên đã trở thành một trong những học trò xuất sắc của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.

Tại Đại hội lần thứ nhất của Đảng (Ma Cao, 3.1935), đồng chí Phùng Chí Kiên được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và được cử làm ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng, được Đảng phân công phụ trách Ban chỉ huy ở ngoài của Đảng và công tác huấn luyện cán bộ của Đảng ở nước ngoài.

Trên cương vị được giao, Phùng Chí Kiên cùng với các đồng chí lãnh đạo khác, mà đặc biệt là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đã có nhiều đóng góp quan trọng cho quá trình khôi phục, củng cố, phát triển tổ chức Đảng, góp phần to lớn vào việc chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua những chặng đường khó khăn, gian khổ, ác liệt nhất trong những năm 30-40 của thế kỷ XX.

Trở về nước cùng với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và một số đồng chí khác (28.1.1941), trong tình hình cách mạng Việt Nam đang bị khủng bố trắng, sau thất bại của Nam Kỳ khởi nghĩa, binh biến Đô Lương, khởi nghĩa Bắc Sơn, đồng chí Phùng Chí Kiên lại tiếp tục dấn thân vào những hoạt động mới nhằm khôi phục, củng cố phong trào cách mạng. Tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (5.1941) đồng chí đã đóng góp nhiều ý kiến quan trọng vào dự thảo Nghị quyết, nhất là về chủ trương xúc tiến chuẩn bị điều kiện cho đấu tranh vũ trang giành chính quyền, góp phần vào sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng trong giai đoạn cách mạng mới. Trên cương vị Tổng chỉ huy khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai, Chỉ huy trưởng Đội Cứu quốc quân 1 - một trong những đội quân tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay, đồng chí đã vận dụng lý luận, kinh nghiệm và thực tế tình hình lúc bấy giờ, sắp xếp bố trí lại lực lượng, xây dựng kế hoạch, chương trình, tổ chức cho các đồng chí cán bộ đi dự Hội nghị Trung ương, vượt qua sự truy quét của kẻ thù. Sau khi hoàn thành các nhiệm vụ nói trên, đồng chí tổ chức cho Đội Cứu Quốc quân rút ra khỏi Bắc Sơn để bảo toàn lực lượng. Trên đường hành quân đồng chí đã chiến đấu dũng cảm với kẻ thù và anh dũng hy sinh.

Cuộc đời hoạt động của đồng chí Phùng Chí Kiên thực sự là một tấm gương cao đẹp, sáng ngời phẩm chất, đạo đức, về sự phấn đấu, cống hiến, hy sinh cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, vì độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân. Đồng chí Phùng Chí Kiên thực sự xứng đáng là một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, người con ưu tú của quê hương Nghệ An.

3- Đồng chí Phùng Chí Kiên là niềm tự hào của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta nói chung, của quê hương Nghệ An Xô-viết anh hùng, của gia đình và dòng họ nói riêng. Tấm gương đạo đức cách mạng mẫu mực, kiên trung, bất khuất của đồng chí Phùng Chí Kiên trở thành một tấm gương sáng ngời của dân tộc Việt Nam của quê hương Nghệ An. Tên tuổi, sự nghiệp cách mạng của đồng chí Phùng Chí Kiên sẽ mãi được lưu danh cùng muôn đời hậu thế, với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng ta, nhân dân ta.

Phát huy truyền thống yêu nước và cách mạng, kế thừa những di sản quý báu của dân tộc, của quê hương xứ Nghệ anh hùng, noi gương các vị anh hùng liệt sĩ, các nhà hoạt động, lãnh đạo cách mạng, trong đó có đồng chí Phùng Chí Kiên, Đảng bộ và nhân dân Nghệ An luôn kiên trì phấn đấu, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, để cùng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta giành thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng cuộc sống mới, chế độ mới. Trong công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng tổ chức và lãnh đạo, Đảng bộ và nhân dân Nghệ An luôn nỗ lực phấn đấu và đã thu được nhiều thành tựu rất cơ bản về mọi mặt. Đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước được xây dựng và phát triển. Công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp có bước phát triển mới. Sự nghiệp giáo dục, văn hoá, thể thao, công tác chăm sóc bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân có nhiều tiến bộ. Quốc phòng - an ninh không ngừng được củng cố và tăng cường.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XVI. Đảng bộ và nhân dân Nghệ An đang triển khai nhiều chủ trương và biện pháp lớn nhằm từng bước xây dựng Nghệ An trở thành một trong những tỉnh khá, xứng đáng với truyền thống quê hương Xô-viết anh hùng.

Hiện nay toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang ra sức thực hiện cuộc vận động lớn "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", việc tổ chức cuộc Hội thảo khoa học "Phùng Chí Kiên - người chiến sĩ cộng sản mẫu mực, kiên trung, nhà chính trị, quân sự song toàn", người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người con ưu tú của quê hương Xô-viết, tại thành phố Vinh càng có ý nghĩa phong phú và sâu sắc.

67 năm đã trôi qua, kể từ ngày đồng chí Phùng Chí Kiên hy sinh, sự nghiệp cách mạng mà đồng chí suốt đời phấn đấu hy sinh, do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu lãnh đạo, đã đơm hoa kết trái trên đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta. Nghệ An, quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của đồng chí Phùng Chí Kiên và nhiều nhà cách mạng khác, nguyện phấn đấu hơn nữa để xây dựng quê hương ngày thêm giàu đẹp, để xứng đáng với sự hy sinh, cống hiến của bao thế hệ, cha anh, của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười Hai, 2021, 01:18:05 pm

PHÙNG CHÍ KIÊN - NGƯỜI CHIẾN SĨ CỘNG SẢN
MẪU MỰC, KIÊN TRUNG

Trung tướng, PGS, TS NGUYỄN TUẤN DŨNG*

Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, đồng chí Phùng Chí Kiên là một trong số những vị tiền bối cách mạng. Cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí là tấm gương sáng của một người cộng sản tận trung với Đảng, với nước, tận hiếu với dân, chiến đấu kiên cường và hy sinh anh dũng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Nhớ tới đồng chí, chúng ta nhớ tới phẩm chất cao đẹp mà đồng chí đã thể hiện nhất quán trong suốt quãng đời hoạt động cách mạng của mình, từ buổi đầu giác ngộ lý tưởng cho đến lúc anh dũng hy sinh.

1. Một tấm gương mẫu mực của người cộng sản.

Đồng chí Phùng Chí Kiên sinh năm 1901 và mất năm 1941, tham gia cách mạng từ năm 1926. Trong bối cảnh rất phức tạp, rất gian khổ, khó khăn của đất nước, của phong trào cách mạng lúc bấy giờ, trên những cương vị được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Đảng giao, đồng chí cũng đều chứng tỏ sự mẫu mực, kiên trung, bất khuất của một người cộng sản. Tư liệu lịch sử về những tháng năm hoạt động cách mạng của đồng chí Phùng Chí Kiên còn lại đến nay không nhiều. Nhưng qua những tư liệu quý hiếm ấy, chúng ta nhận thấy, trong bất kỳ hoàn cảnh và điều kiện nào, đồng chí cũng nỗ lực học tập, rèn luyện, phấn đấu, một lòng tin yêu đồng chí, đồng đội, tận tâm với các trọng trách được phân công và xứng đáng với niềm tin tưởng của Bác Hồ, của Đảng.

Khi được Bác và các cố vấn quân sự Liên Xô chọn vào học tại Trường Quân sự Hoàng Phố, Phùng Chí Kiên là một trong số những học viên được đánh giá: "Rất nghiêm chỉnh, cần cù lao động, dốc hết sức để học tập"1, "qua học tập, rèn luyện, đồng chí Phùng Chí Kiên tỏ rõ là người có năng lực về chỉ huy quân sự, được Ban lãnh đạo Nhà trường đặc biệt chú ý”2. Tiếp đó, trong những tháng ngày tham gia cuộc khởi nghĩa Quảng Châu do Đảng Cộng sản Trung Quốc phát động (12.1927), phụ trách một đơn vị quân cách mạng Trung Quốc tại Khu Xô-viết hai huyện Hải Phong và Lục Phong, tham gia nhiều trận chiến đấu, đồng chí "... đã nêu một tấm gương sáng về chịu đựng gian khổ, kiên trì bảo vệ chân lý và thành quả cách mạng, nhiều lần được Ban lãnh đạo Khu Xô-viết biểu dương trong toàn quân và trong mấy chục triệu nhân dân Khu Xô-viết Hải - Lục Phong"3. Tại Trường Đại học Phương Đông của Quốc tế cộng sản trên quê hương Cách mạng tháng Mười, Phùng Chí Kiên là một học viên được đánh giá là có khả năng lớn về công tác, năng động, trình độ chính trị cao, kết quả học tập tốt. Những năm sau đó, trên những cương vị mới được Đảng và Bác Hồ giao phó: Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng (khoá I), phụ trách Ban chỉ huy ở ngoài của Đảng, trực tiếp chỉ đạo Khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai, chỉ huy Đội Việt Nam Cứu quốc quân (thứ nhất); trong hoàn cảnh khó khăn, phức tạp của tình hình, lúc bí mật, lúc ở nước ngoài, lúc hoạt động độc lập, xa sự chỉ đạo của Trung ương hay lúc bên cạnh Bác Hồ, đồng chí Phùng Chí Kiên luôn tận tâm với công việc, tận tình với đồng chí, chân thành, đoàn kết, gắn bó để cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ. Phẩm chất đó ở con người cộng sản Phùng Chí Kiên thể hiện rất rõ trong thời gian công tác tại Ban chỉ huy ở ngoài của Đảng cùng với các đồng chí Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập...; trong quá trình chuẩn bị và tổ chức Đại hội Đảng lần thứ nhất (1935) ở Ma Cao (Trung Quốc); trong những ngày cùng đồng chí Hà Huy Tập về Sài Gòn chỉ đạo phong trào đấu tranh cách mạng đòi các quyền tự do, dân chủ, cơm áo, hoà bình theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ 7 Quốc tế cộng sản và Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng (7.1936) hay trong thời gian hoạt động ở Côn Minh, gây dựng phong trào và cơ sở cách mạng ở vùng ven biên giới Trung - Việt, chuẩn bị điều kiện cho việc trở về nước hoạt động của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh... Nhớ lại những ngày ở Côn Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho biết: "Lần đầu, tôi gặp anh Phùng Chí Kiên vào tháng 5 năm 1940, lúc đó, tôi được Đảng cử đi Côn Minh cùng anh Phạm Văn Đồng. Anh Phùng Chí Kiên lúc đó phụ trách phong trào Việt kiều ở Côn Minh. Và chính anh Phùng Chí Kiên tổ chức cho tôi và anh Đồng gặp đồng chí Vương, tức đồng chí Nguyễn Ái Quốc, tại Thúy Hồ. Sau đó, tôi may mắn ở chung với anh Phùng Chí Kiên tại Côn Minh một thời gian, nên rất thương yêu nhau, rất hiểu nhau, mà ở cùng một nhà". Hồi ức đó của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho chúng ta hôm nay hiểu thêm về con người cộng sản Phùng Chí Kiên đối với đồng chí, đồng đội của mình.

2. Một chiến sĩ cộng sản kiên trung, bất khuất.

Sinh ra trên miền đất giàu truyền thống đấu tranh kiên cường, lớn lên khi đất nước đã bị biến thành thuộc địa của thực dân Pháp xâm lược; nhân dân phải chịu kiếp nô lệ lầm than, Phùng Chí Kiên trực tiếp chứng kiến và thấm thía sâu sắc nỗi tủi cực, bần hàn của người dân mất nước. Được tiếp xúc với các trào lưu tư tưởng yêu nước, tiến bộ lúc bấy giờ, Phùng Chí Kiên sớm giác ngộ và hướng theo con đường cách mạng. Tháng 10 năm 1925, trên thuyền gỗ của người buôn bán, Phùng Chí Kiên rời Bến Thủy, vượt biển sang Quảng Châu, Trung Quốc, dự lớp huấn luyện do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tổ chức. Từ đó, bắt đầu chặng đường dài hoạt động cách mạng hơn 15 năm liên tục của Phùng Chí Kiên. Những tháng năm ấy, thực dân Pháp tăng cường đàn áp, bắt bớ, khủng bố, tàn sát dã man phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân ta. Đó cũng là những năm tháng phong trào cách mạng nước ta diễn ra trong điều kiện hết sức khó khăn, phức tạp, đầy thử thách, hy sinh. Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Với Cương lĩnh chính trị đúng đắn, với hệ thống tổ chức chặt chẽ, ngọn cờ của Đảng nhanh chóng quy tụ lực lượng toàn dân tộc. Phong trào Xô-viết Nghệ Tĩnh bùng lên mạnh mẽ nhưng ngay sau đó, đã bị thực dân Pháp dìm trong biển máu. Cách mạng bị tổn thất rất nặng nề. Tháng 4 năm 1931, Tổng Bí thư Trần Phú sa vào tay giặc, toàn bộ Ban Chấp hành Trung ương Đảng bị bắt. Các xứ ủy, tỉnh ủy và nhiều cơ sở Đảng bị vỡ. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc bị bắt ở Hồng Kông. Trước tình hình đó, Ban chỉ huy ở ngoài của Đảng được thành lập để giữ mối liên lạc với Quốc tế cộng sản và sẵn sàng đảm nhận vai trò lãnh đạo các tổ chức Đảng trong nước trong trường hợp Ban Chấp hành Trung ương bị đánh phá. Đồng chí Phùng Chí Kiên là một trong những người lãnh đạo Ban chỉ huy ở ngoài của Đảng.

Hoạt động trong bối cảnh trên đây là thử thách rất khắc nghiệt, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên không ngừng tôi rèn bản lĩnh chính trị, giữ vững chí khí chiến đấu. Phùng Chí Kiên là một người như thế. Được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Đảng tin cậy, Phùng Chí Kiên lần lượt đảm nhận các trọng trách trong những điều kiện khó khăn, phức tạp của tình hình cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ và hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao.

Nhận thấy vai trò quan trọng của Phùng Chí Kiên, mật thám Pháp theo dõi, truy lùng gắt gao; chính quyền tay sai ở địa phương được lệnh dò xét, truy bức người thân của đồng chí ở quê nhà. Những hồ sơ, công điện mật của Bộ thuộc địa - Chính trị vụ Pháp về Phùng Chí Kiên hiện lưu giữ ở các trung tâm lưu trữ Pháp mà hôm nay chúng ta được tiếp xúc phần nào, cũng đã nói lên điều đó. Về phần mình, trên những chặng đường hoạt động cách mạng, Phùng Chí Kiên đã hai lần bị kẻ thù bắt giam, tra tấn. Trong lao tù đế quốc, đồng chí luôn giữ vững chí khí kiên cường, bất khuất của người cộng sản vững tin vào Đảng, vào sức mạnh của nhân dân, vào thắng lợi cuối cùng của sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Năm 1941, sau Hội nghị Trung ương lần thứ 8 - một hội nghị rất quan trọng đưa đến thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945, Phùng Chí Kiên nhận sự phân công phụ trách quân sự và chỉ huy Khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai. Tại đây, đồng chí đã chỉ huy Đội Cứu quốc quân Bắc Sơn chiến đấu anh dũng, phá một số cuộc càn quét của Pháp. Do tương quan lực lượng quá chênh lệch, Ban lãnh đạo căn cứ quyết định để lại một bộ phận tiếp tục hoạt động; còn lại, theo hai đường Thất Khê và Na Rì, rút lên Cao Bằng. Trên đường rút bị địch phục kích, Phùng Chí Kiên mặc dù bị thương vẫn chiến đấu quyết liệt, chặn địch để đồng đội thoát khỏi vòng vây. Sa vào tay giặc, đồng chí bị tra tấn tàn khốc và anh dũng hy sinh khi tuổi đời tròn 40.

Bốn mươi tuổi đời, hơn 15 năm hoạt động cách mạng liên tục, trong điều kiện khó khăn, gian khổ, bị tù đày, bị truy lùng gắt gao của kẻ thù, đồng chí Phùng Chí Kiên luôn nêu cao phẩm chất và ý chí mẫu mực, kiên trung của một người Cộng sản trọn đời cống hiến và hy sinh anh dũng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong lần phát biểu với Đoàn làm phim tài liệu của Đài truyền hình Việt Nam, đã nhận định về Đồng chí Phùng Chí Kiên như sau: "Đồng chí Phùng Chí Kiên là một đồng chí tiền bối cách mạng, có đức độ và có tài năng về chính trị và cả quân sự, một con người rất hoà hợp với đồng chí, đồng bào, rất dễ gần; một con người luôn hoạt bát, phát hiện vấn đề, giải quyết vấn đề, đoàn kết đồng chí, thực hiện nghiêm chỉnh chỉ thị của Bác và của Trung ương. Tôi thấy đây là một trong những cán bộ lãnh đạo tiền bối, có công với Đảng ta, không những về tổ chức mà cả với đường lối cách mạng. Bản thân tôi, cứ nhớ mãi đồng chí Phùng Chí Kiên; đặc biệt những ngày sống, làm việc chung với đồng chí...”.

Nhận định trên đây của Đại tướng đã khái quát đầy đủ và sâu sắc cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của đồng chí Phùng Chí Kiên - một nhân cách, một tấm gương sáng về phẩm chất và ý chí cách mạng kiên cường của người cộng sản. Nhân cách ấy, tấm gương ấy còn mãi trong tâm khảm của các thế hệ người Việt Nam yêu nước.
______________________________
* Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Quân đội nhân dân Việt Nam.
1. A. I Trêrêpanốp, Hồi ký, Phụ nữ Liên Xô (bản tiếng Nga), số 2, 1980, tr 7.
2. Đức Vượng - Nguyễn Đình Nhơn, Những người cộng sản trẻ tuổi, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 1987, tr. 150.
3. M. T. H, Phùng Chí Kiên - một đảng viên trọn vẹn trung dũng, Tạp chí Xưa và Nay, số 83, tháng 1 năm 2001.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười Hai, 2021, 01:30:38 pm

PHÙNG CHÍ KIÊN –
SỰ HỘI TỤ NHIỀU GIÁ TRỊ CAO ĐẸP
CỦA NGƯỜI YÊU NƯỚC, CHIẾN SĨ CỘNG SẢN
VÀ NHÀ QUÂN SỰ

Đại tá, GS, TS, NGND LÊ VĂN QUANG*

Đồng chí Phùng Chí Kiên sinh ra, lớn lên trên quê hương giàu truyền thống văn hiến, yêu nước và cách mạng; được rèn luyện, thử thách trong phong trào đấu tranh kiên cường, dũng cảm của Đảng, của dân tộc. Ông đã được đào tạo ở các trường quốc tế danh tiếng; được Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp lãnh đạo, giáo dục về nhiều mặt. Các nhân tố đó cùng với sự nỗ lực tự tu dưỡng, rèn luyện về phẩm chất cách mạng và năng lực sáng tạo, đã giúp ông hình thành, phát triển các giá trị cao đẹp của cán bộ lãnh đạo của Đảng, một nhà quân sự xuất sắc và một con người Việt Nam tiêu biểu.

Trong bài tham luận ngắn, để bám sát chủ đề của Hội thảo, tôi xin trình bày một số khía cạnh sau:

1. Đồng chí Phùng Chí Kiên đã sớm hình thành, phát triển tinh thần yêu nước nồng nàn và ý chí cách mạng nhằm phát huy truyền thống cách mạng của quê hương và dân tộc.

Thủa thiếu thời, ông đã trực tiếp nhận thức bản chất xấu xa của chế độ thực dân Pháp và sự mục nát của giai cấp phong kiến Việt Nam. Quê hương Nghệ An là một địa phương đã tập trung biểu hiện sự đối kháng gay gắt giữa giai cấp công nhân, nhân dân lao động và bọn thực dân Pháp, lực lượng địa chủ, cường hào, tay sai đế quốc. Cuộc đấu tranh chống lại bọn áp bức, bóc lột và xâm lược đã diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau. Hoàn cảnh lịch sử đó đã tác động mạnh mẽ vào quần chúng nhân dân, đặc biệt là thanh niên, có tác dụng kích thích mỗi người phát huy truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm của dân tộc và từng bước nâng cao giác ngộ của từng thanh niên trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân Pháp xâm lược và bọn tay sai bán nước đàn áp, bóc lột nhân dân. Đồng chí Phùng Chí Kiên là một trong những thanh niên tiêu biểu của Nghệ An và đất nước sớm hình thành một tình cảm yêu nước mới mẻ; nuôi dưỡng ý chí quyết tâm cao để tiến hành một cuộc đấu tranh giai cấp, dân tộc trong điều kiện mới. Đó là thời kỳ chủ nghĩa tư bản đã phát triển đến tư bản độc quyền lũng đoạn, phản động toàn diện; khi mà chủ nghĩa tư bản đã trở thành "con đỉa hai vòi", đối với các nước thuộc địa, giai cấp phong kiến đã trở thành tay sai đắc lực của chủ nghĩa đế quốc. Về phía cách mạng, đã có những chuyển biến mạnh mẽ: sự ra đời và vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin, thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga đã làm cho những người Việt Nam có nhận thức mới về tinh thần yêu nước và khuynh hướng của cuộc đấu tranh cách mạng.

Trong hoàn cảnh khách quan đó, đồng chí Phùng Chí Kiên đã tiếp thu tính chất mới của cuộc đấu tranh dân tộc, tình cảm yêu nước chống ngoại xâm đã gắn kết với lòng căm thù giai cấp thống trị bóc lột, tự chuẩn bị cho mình ý chí quyết tâm vào cuộc chiến đấu gay go, quyết liệt. Phẩm chất đó được thể hiện: năm 1926 ông đã sang Quảng Châu (Trung Quốc) tham gia Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội, năm 1930, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Đó là bước chuyển biến từ lập trường của người yêu nước truyền thống sang lập trường yêu nước của người cộng sản và là sự hội tụ của ý thức yêu nước và ý thức cộng sản.

2. Không ngừng vươn lên các tầm cao của lý tưởng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa trong cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc vô cùng khó khăn, gian khổ, quyết liệt, một mất, một còn.

Đồng chí Phùng Chí Kiên đã tích cực tham gia vào tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, tháng 12 năm 1927, tham gia khởi nghĩa Quảng Châu; cùng với đồng chí Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập... chuẩn bị Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ nhất tại Ma Cao (Trung Quốc). Đồng chí đã được học tập tại Trường Quân sự Hoàng Phố để chuẩn bị lực lượng cho quân đội cách mạng. Quá trình học tập và hoạt động cách mạng, các phẩm chất tốt đẹp của người cộng sản đã ngày càng hình thành và phát triển.

Có thể nói, sau phong trào Xô-viết, nhờ kết quả học tập và hoạt động trên đất nước anh em, đã tạo ra bước nhảy vọt về chất trong tinh thần yêu nước, đồng chí Phùng Chí Kiên đã yêu nước trên lập trường của người cộng sản và nhận thức rõ tính tất yếu phải dùng bạo lực cách mạng để thực hiện mục tiêu đó. Chính tri thức khoa học, trình độ lý luận chính trị, kinh nghiệm thực tiễn, phương pháp vận động, giáo dục quần chúng đã giúp đồng chí Phùng Chí Kiên nhanh chóng tích luỹ được phẩm chất tốt đẹp của người yêu nước, của chiến sĩ cộng sản ở tầm cao của một người lãnh đạo.

Trong quá trình tham gia cách mạng và đặc biệt là sau khi học xong Trường Đại học Phương Đông ở Liên Xô, đồng chí Phùng Chí Kiên đã phấn đấu tự nuôi dưỡng song hành hai giá trị rất cơ bản: Tình cảm yêu nước và ý thức giác ngộ cộng sản. Trên thực tế, hai giá trị đó đã được đồng chí Phùng Chí Kiên thường xuyên tu dưỡng, phấn đấu, tạo ra cho nó một sự thống nhất không tách rời. Sự thống nhất đó sẽ giúp cho người yêu nước không rơi vào chủ nghĩa dân tộc, phát triển dân tộc theo con đường tư bản chủ nghĩa và làm cho người chiến sĩ cộng sản chống được mọi sự nôn nóng chủ quan, giáo điều, rập khuôn, máy móc.

Sự thống nhất biện chứng giữa tinh thần yêu nước nồng nàn với tình yêu đối với chủ nghĩa cộng sản là một giá trị đặc biệt của người cách mạng Phùng Chí Kiên. Giá trị cao đẹp đó của thế hệ thứ nhất những người cách mạng Việt Nam là một hình mẫu để cho các thế hệ sau, trong đó có thế hệ trẻ hiện nay học tập và noi theo. Đặc biệt, khi Việt Nam đang phát triển kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Điều kiện lịch sử mới đó đang thử thách thái độ chính trị của con người Việt Nam, trước hết là thanh niên, về sự lựa chọn con đường phát triển của đất nước. Trong tình hình đó, tấm gương của những người cộng sản thế hệ thứ nhất nói chung, đồng chí Phùng Chí Kiên nói riêng, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong giáo dục, tiếp sức cho bước đi đúng đắn hôm nay.

3. Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Phùng Chí Kiên đã rất coi trọng các quan hệ quốc tế và đã hình thành phát triển các phẩm chất của một chiến sĩ quốc tế.

Thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mở đầu bằng Cách mạng tháng Mười Nga, đã mở ra các mối quan hệ mới giữa các lực lượng cách mạng của từng quốc gia, dân tộc. Chủ nghĩa Mác - Lênin, thắng lợi của Cách mạng tháng Mười, giúp cho những người cộng sản Việt Nam nhận thức sâu sắc hơn vai trò quốc tế trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Bối cảnh lịch sử đó, cùng với tư cách là một thành viên của Ban Hải ngoại của Đảng, đã hình thành ở đồng chí Phùng Chí Kiên các giá trị tốt đẹp của một chiến sĩ quốc tế.

Trước hết, đồng chí Phùng Chí Kiên đã quán triệt sâu sắc rằng: cách mạng Việt Nam là một bộ phận không thể chia cắt của cách mạng quốc tế; cần sử dụng sức mạnh của cách mạng quốc tế vào sự nghiệp giải phóng dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội, và những người cách mạng Việt Nam phải có trách nhiệm với cách mạng của đồng chí, của anh em.

Thứ hai, đồng chí Phùng Chí Kiên đã đánh giá đúng vai trò của Liên Xô, Trung Quốc đối với cách mạng Việt Nam và là một trong những người đầu tiên đã đặt nền móng cho tình đoàn kết quốc tế.

Thứ ba, đồng chí Phùng Chí Kiên đã có những đóng góp đáng ghi nhận trong thực hiện nhiệm vụ quốc tế và tích luỹ kinh nghiệm đấu tranh cách mạng của các nước anh em.

Thứ tư, đồng chí Phùng Chí Kiên là chiến sĩ tiên phong trong cuộc đấu tranh chống lại các trào lưu của chủ nghĩa xét lại, dân tộc chủ nghĩa, chủ nghĩa giáo điều, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa cộng sản.

4. Quá trình hoạt động cách mạng, các phẩm chất cao quý của nhà quân sự cách mạng đã được hình thành phát triển và đạt được ở trình độ xuất sắc.

Đáng tiếc, khi nhận thức các phẩm chất quân sự của đồng chí Phùng Chí Kiên đã không có thật nhiều tư liệu để nghiên cứu, tìm hiểu một cách thấu đáo, mà chủ yếu phải dựa vào các văn kiện của Đảng về quân sự để luận bàn các giá trị mà đồng chí Phùng Chí Kiên đã đóng góp.

Bước vào hoạt động trong lĩnh vực quân sự là do sự phân công của tổ chức, của cách mạng, khi các đồng chí cùng thời và Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thấy khả năng quân sự của đồng chí Phùng Chí Kiên. Điều đó được chứng minh qua việc đồng chí được cử đi học Trường Quân sự Hoàng Phố, Trường Đại học Phương Đông để chủ động chuẩn bị cán bộ nòng cốt và sau này đồng chí đã được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ định làm chỉ huy Đội Cứu quốc 1, một trong những đội quân đầu tiên của cách mạng Việt Nam.

Trong đấu tranh cách mạng nói chung, hoạt động quân sự nói riêng, hàng loạt các phẩm chất tốt đẹp của người cán bộ quân sự cách mạng đã được hình thành, phát triển ở đồng chí Phùng Chí Kiên. Đó là hệ thống các phẩm chất tiêu biểu như:

Có khả năng tư duy phương pháp luận rộng lớn trên cơ sở lý luận Mác - Lênin, quan điểm, đường lối của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về các vấn đề chính trị quân sự, của cách mạng Việt Nam, đặc biệt là nhiệm vụ quân sự.

Có tinh thần, ý chí quyết tâm cao trong thực hiện nhiệm vụ, dũng cảm, ngoan cường trong mọi hoạt động quân sự, đặc biệt là trong chiến đấu đối mặt với kẻ thù xâm lược và bọn tay sai bán nước.

Thông minh, sáng tạo, không ngừng nâng cao kiến thức khoa học quân sự, nghệ thuật tổ chức lực lượng vũ trang, trình độ chiến thuật trong chỉ huy đội quân Cứu quốc đầu tiên.

Đặt những cơ sở lý luận cho việc giải quyết mối quan hệ: quân sự - chính trị; nhiệm vụ chiến đấu - các nhiệm vụ chính trị khác; quan hệ giữa con người - vũ khí; quan hệ quân - dân; quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc...

Đỉnh cao nhất về phẩm chất tốt đẹp của nhà quân sự cách mạng là ngoan cường, dám hy sinh thân mình vì mục tiêu cao đẹp trong cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Có thể nói rằng, các giá trị nói trên tuy chưa phải là tất cả những gì đã có của nhà quân sự thế hệ tiền bối, nhưng chừng ấy cũng đủ cơ sở để tôn vinh đồng chí Phùng Chí Kiên là nhà quân sự tiền bối xuất sắc. Ông đã cống hiến trọn đời cho cuộc đấu tranh vì tự do, độc lập, vì lý tưởng cộng sản, tất cả các công lao đóng góp về mọi mặt của đồng chí Phùng Chí Kiên là những giá trị cao đẹp, có ý nghĩa vun đắp, nuôi dưỡng các giá trị văn hoá dân tộc, các phẩm chất cách mạng và khoa học của người cộng sản.

Đồng chí Phùng Chí Kiên mãi mãi là một tấm gương sáng về đạo đức và tài năng để các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam học tập và làm theo. Để tỏ lòng biết ơn đồng chí Phùng Chí Kiên, cán bộ, chiến sĩ quân đội hiện nay phải không ngừng tu dưỡng đạo đức, phát triển tài năng để xứng đáng là lực lượng tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
_______________________________
* Tổng biên tập Tạpchí Giáo dục lý luận chính trị quân sự.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười Hai, 2021, 02:53:26 pm

PHÙNG CHÍ KIÊN - MỘT CÁN BỘ QUÂN SỰ, CHÍNH TRỊ TÀI BA

GS, TS ĐỖ QUANG HƯNG*


Cho đến nay, tên tuổi Phùng Chí Kiên được người đời biết đến chủ yếu vì những hoạt động, những đóng góp dù ngắn ngủi của ông và đặc biệt sự hy sinh anh dũng, sự cống hiến trọn vẹn của ông cho Khu căn cứ Bắc Sơn, cho sự ra đời và lớn mạnh của Đội Cứu quốc quân, cái "vốn quân sự ban đầu", vô cùng quan trọng của Quân đội nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) anh hùng, của dân tộc ta hôm nay.

Đêm 22 tháng 9 năm 1940, quân Nhật đánh vào khu vực Lạng Sơn, quân Pháp hèn nhát bỏ chạy. Bắc Sơn, một địa hạt thuộc tỉnh Lạng Sơn, trở nên nổi tiếng vì nơi đây, một địa phương vốn có cơ sở cách mạng từ 1933 của Hoàng Văn Thụ (xã Vũ Lăng), ngay ngày 23 tháng 9 đã phát động khởi nghĩa, mở màn hoạt động vũ trang cho cả nước. Và lập tức Bắc Sơn đã thu hút sự chú ý của Trung ương Đảng. Hội nghị Trung ương tháng 11 năm 1940 ở Đình Bảng (Bắc Ninh) đã có quyết định riêng cho vấn đề Bắc Sơn: Quyết tâm tăng cường cán bộ cho Bắc Sơn để duy trì những cơ sở cách mạng mà nó tạo ra và phát triển lực lượng đội du kích Bắc Sơn làm vốn quân sự đầu tiên cho khởi nghĩa sau này. Trung ương đã tăng cường thêm đồng chí Lương Văn Tri (tức Huy), Ủy viên Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ, đang phụ trách lớp quân chính đầu tiên của Đảng ở Đức Thắng (Bắc Giang), cùng phối hợp hoạt động với đồng chí Trần Đăng Ninh đã lên Bắc Sơn từ trước.

Cùng thời gian này, ngày 14 tháng 2 năm 1941, Đội du kích Bắc Sơn chính thức được thành lập ở khu rừng Khuổi Nọi, xã Vũ Lễ, châu Bắc Sơn, gồm 32 chiến sĩ, do Lương Văn Tri và Chu Văn Tấn chỉ huy, đồng chí Hoàng Văn Thụ, thay mặt Trung ương Đảng trao nhiệm vụ cứu nước và lá cờ đỏ sao vàng cho đội.

Đội du kích Bắc Sơn không chỉ có nhiệm vụ chiến đấu, chống địch khủng bố, bảo vệ khu căn cứ cách mạng mà còn phát triển lực lượng vũ trang tới tận Đình cả, Tràng Xá (Võ Nhai), bảo vệ hành lang cách mạng đang hình thành, nối với Cao Bằng.

Tuy thế, cũng phải đợi đến Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5.1941), họp ở Pắc Bó, do chính lãnh tụ Hồ Chí Minh chủ trì, thì Bắc Sơn và LLVT non trẻ ở đây mới thực sự phát triển. Nghị quyết Trung ương lần thứ 8 đã coi việc chuẩn bị khởi nghĩa từng phần và tổ chức LLVT và bán vũ trang là nhiệm vụ trung tâm hàng đầu lúc đó.

Đây chính là thời điểm đồng chí Phùng Chí Kiên, Ủy viên Trung ương Đảng, được cử về trực tiếp chỉ đạo khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai cùng một số đồng chí khác. Cũng lúc này, Đội du kích Bắc Sơn được chính thức mang tên Cứu quốc quân...

Nhưng đây cũng là lúc Cứu quốc quân chịu biết bao thử thách để tồn tại. Tuy chưa có tư liệu nói rõ những đóng góp về mặt quân sự của Phùng Chí Kiên với Bắc Sơn, nhưng cuốn Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam (Nxb QĐND, in lần 2, 1977) cũng đã nêu ra chi tiết quan trọng: Tháng 7 năm 1941, thực hiện chiến thuật mới, Cứu quốc quân tổ chức rút lui về phía Cao Bằng và Lạng Sơn...

"Ngày 27 tháng 7 năm 1941, cánh quân rút về phía Lạng Sơn, khi đi qua Ngân Sơn (Bắc Kạn) bị địch phục kích, hai đồng chí Phùng Chí Kiên và Lương Văn Tri đều bị thương và bị địch bắt sau đó sát hại..." (tr. 80).

Cuộc đời chiến đấu của Phùng Chí Kiên với sự nghiệp khởi phát của LLVT cách mạng tuy ngắn ngủi, nhưng ông hoàn toàn xứng đáng là một trong những vị "khai quốc công thần" của Quân đội nhân dân ta. Những tư liệu mới mà chúng tôi xin công bố dưới đây, vừa được sưu tầm, khai thác tại kho Lưu trữ Quốc tế Cộng sản (Lưu trữ của Đảng Cộng sản Liên Xô trước đây), nay là Lưu trữ Lịch sử hiện đại Liên bang Nga, hy vọng sẽ giúp bạn đọc hiểu biết đầy đủ hơn về nhân vật quan trọng này trong lịch sử quân đội và chiến tranh cách mạng Việt Nam.

Phùng Chí Kiên là người Diễn Châu, Nghệ An, cùng thế hệ với Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Phong, Trương Vân Lĩnh, Lưu Quốc Long... những người con của xứ Nghệ sớm tìm đường xuất dương, phần lớn qua Đông - Bắc Thái Lan sang Quảng Châu (Trung Quốc) theo tiếng gọi của Sào Nam - Phan Bội Châu.

Khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về Trung Quốc, tháng 11 năm 1924, Phùng Chí Kiên thuộc số những người đầu tiên tìm đến các lớp huấn luyện của Người, từ Tâm tâm xã tham gia Việt Nam cách mạng đồng chí hội. Là một thanh niên hiếu động hoạt bát, có đầu óc quân sự và kỹ thuật, Phùng Chí Kiên cùng với hơn 10 đồng chí khác, trong đó có Lê Hồng Phong, Lê Thiết Hùng, Trương Vân Lĩnh... được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và các cố vấn Nga chọn vào học Trường Quân sự Hoàng Phố nổi tiếng, ông cũng đã từng tham gia quân đội cách mạng Trung Hoa, sát cánh cùng công nhân, quân cách mạng trong Quảng Châu công xã...

Tài liệu của sở mật thám Pháp ở Đông Dương, của các nhà sử học trong và ngoài nước cũng cho chúng ta biết đôi điều về hoạt động sau đó của Phùng Chí Kiên.

Đại thể, người ta được biết, từ năm 1934, ông là một trong những yếu nhân của Ban lãnh đạo Hải ngoại của Đảng Cộng sản Đông Dương (ĐCSĐD), bên cạnh Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Hoàng Đình Giong, Đình Thanh, Võ Nguyên Hiến, Võ Văn Ngân, Phạm Văn Xô..., người đang hoạt động ở Trung Quốc, kẻ ở Nam Kỳ, Xiêm...

Trong lưu trữ Quốc tế Cộng sản (QTCS) cũng có không ít những tư liệu thú vị về Phùng Chí Kiên.

Ông có may mắn được chọn sang Liên Xô, học ở Trường Đại học Phương Đông của QTCS ở Mátxcơva, khoá (1930-1933), với bí danh là Can hoặc Hừng Đông.

Trong một tư liệu mang tên "Bản nhận xét về tư cách đạo đức", ngày 22 tháng 11 năm 1933, do đồng chí Riblina, cán bộ Bộ Phương Đông ký (ký hiệu phông 532-1-384), Phùng Chí Kiên với bí danh là Can, thuộc nhóm 1 với Trần Văn Minh (Nam), Trần Văn Bùi (tức Baro), Nguyễn Văn Kính (Stôn), Lê Văn Kiệt (Rêmy),... Bản nhận xét về Can có ghi: "Có khả năng lớn về công tác, năng động, trình độ chính trị cao, kết quả học tập nói chung tốt...".

Trong một tư liệu khác về những hoạt động ngoại khoá của nhóm sinh viên ấy, bao gồm những công tác theo dõi đọc báo chí ở Việt Nam có liên quan: tờ Dư luận (Opinion), Tin Hải Phòng (Courier d’HaiPhong) Tin điện thuộc địa (Dépêche colonial), Nhân đạo (L’Humanité), Kỷ yếu kinh tế (Bullentin économique), [i/ưTiếng dân[/i], Thanh Nghệ Tĩnh tân văn... đến các truyền đơn kêu gọi (bằng tiếng Việt và Pháp) gửi về trong nước, bên cạnh những tiểu ban như: Tiểu ban dịch thuật, Tiểu ban văn hoá, Phùng Chí Kiên cùng với Nguyễn Thế Thạch và Daty ở Tiểu ban kỹ thuật... là người có trình độ quân sự và kỹ thuật vô tuyến điện giỏi, từ 1933, sau khi tốt nghiệp Trường Phương Đông, về Thượng Hải hoạt động trong Ban lãnh đạo Hải ngoại, Phùng Chí Kiên luôn được bố trí công tác này.

Trong tập tư liệu báo cáo của ĐCSĐD gửi QTCS từ Sài Gòn ngày 5 tháng 4 năm 1938 (bằng tiếng Việt, một báo cáo rất phong phú, có giá trị sử liệu quan trọng, ký hiệu 495-10. a-140), có đoạn liên quan đến Phùng Chí Kiên: "Kan hiện ở Tàu, cốt để duy trì đường giao thông ở ngoại quốc (nguyên bản ĐHQ). Vì Rêmy đã về đây rồi, cơ quan chuyên môn ngoài ấy phải bỏ, vả lại từ đầu Fevreri1 đến nay, đ.c Kan không có tiền, mà chúng tôi thì không có tiền gửi ra giúp, nên phải bơ vơ ở ngoài. Nếu các đồng chí không gửi tiền cho chúng tôi để đưa học sanh sang châu Âu hoặc qua Tàu thì cơ quan ở Tàu thủ tiêu hẳn đi, để cho Kan về trong xứ làm việc...".

"Các đồng chí!

1. Đảng chúng tôi còn trong hoàn cảnh hoàn toàn bí mật, một mặt ban chỉ huy ở ngoài đã thủ tiêu. Hiện nay chỉ để tôi (Kan) ở ngoài phụ trách liên lạc với đảng Xiêm rất khó khăn trở ngại, còn đảng Tàu hiện nay đã được gần công khai, nên các đồng chí giao cho họ liên lạc với đảng Xiêm thì tiện cho cả chúng tôi. Ý kiến các đồng chí thế nào xin chỉ thị cho.
2. Chúng tôi mong rằng các đồng chí cho chúng tôi chính thức liên lạc với đảng Tàu. Chúng tôi ở đây có liên lạc trực tiếp với Nam Ủy của đảng Tàu.
3. Từ nay những tài liệu, chỉ thị tin cho Đảng chúng tôi có thể gửi qua TƯ đảng Tàu đưa về, Nam Ủy chuyển liên lạc với Nam Ủy của đảng Tàu.
4. Tôi xin đ/c trực tiếp giúp kinh tế cho vì có nhiều cơ quan quần chúng chưa tìm được việc làm.
5...
6. Bản chữ Tàu thư ngày 10-7 là báo cáo của đảng Xiêm và kết luận của chúng tôi trong cuộc nói chuyện với Nam Ủy của đảng Tàu và đại diện của Xiêm...
7.   Các đồng chí có ý định cho đồng chí Rêmy về đây hay không? Xin cho biết để còn thu xếp bộ phận ngoài này, và trong Xứ, cho tiện công việc và đỡ kinh tế.
8. Lời chào c.m
9. Thay mặt TƯ của Đảng, CS Đông Dương tại Tàu.

Kan
Dịt2 Hừng Đông
15-11-1937".

Những tư liệu gốc như thế không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ thêm về cuộc đời hoạt động cách mạng của Phùng Chí Kiên mà còn thấy rõ tầm vóc của ông không chỉ là một trong những cán bộ quân sự của Đảng ta mà còn có tầm cỡ thực sự của một nhà hoạt động chính trị và tổ chức của Đảng và cách mạng.

Còn từ năm 1940, khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã có quyết định về nước, khi Người chuyển dần địa bàn xuống phía Nam Trung Quốc, dọc tuyến đường sắt Điền Việt, từ Côn Minh tới Liễu Châu, sát biên giới Tổ quốc, thì Người bắt gặp lực lượng cách mạng mà Phùng Chí Kiên, Vũ Anh, Hoàng Văn Hoan, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp... chuẩn bị từ bấy lâu nay. Phùng Chí Kiên đã cùng họ bay theo cánh chim đầu đàn, người đàn anh, người thầy quý mến là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, chuẩn bị vượt biên giới về Pắc Bó, Cao Bằng mùa Xuân 1941, mở ra một bước ngoặt của cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam.
________________________________
* Nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu Tôn giáo - Viện Khoa học xã hội Việt Nam.
1.  Tháng hai.
2.  Tức.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười Hai, 2021, 10:58:27 pm

ĐỒNG CHÍ PHÙNG CHÍ KIÊN SỐNG MÃI VỚI NON SÔNG ĐẤT NƯỚC

Trung tướng MAI HỒNG BỈNH*

Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 67 năm ngày mất của đồng chí Phùng Chí Kiên, người chiến sĩ cách mạng kiên cường đã có công lao to lớn trong những ngày cách mạng Việt Nam còn trong trứng nước. Là học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Phùng Chí Kiên đã để lại cho chúng ta một tấm gương kiên trung, bất khuất, sáng ngời ý chí và phẩm chất cách mạng của một trong những nhà chính trị, nhà quân sự đầu tiên của Đảng.

Bốn mươi tuổi đời, hơn 15 năm liên tục hoạt động cách mạng, hiến dâng trọn cuộc đời cho sự nghiệp hoà bình và giải phóng dân tộc, tên tuổi sự nghiệp của đồng chí Phùng Chí Kiên gắn liền với những kỳ tích của cách mạng Việt Nam trong những ngày đầu Đảng ta được thành lập.

Đồng chí Phùng Chí Kiên tên khai sinh là Nguyễn Vĩ, sinh năm 1901 trong một gia đình nông dân ở làng Mỹ Quan, tổng Vạn Phần (nay là xã Diễn Yên), huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An. Tuy nhà nghèo nhưng đồng chí được bố mẹ cho đi học từ rất sớm. Sinh ra từ mảnh đất địa linh nhân kiệt, lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan, nhìn dòng sông Lam, núi Hồng, nghe tiếng còi tầm Nhà máy xe lửa Trường Thi, Bến Thủy, tâm trạng người thanh niên Xứ Nghệ mừng lo lẫn lộn, khao khát sự đổi đời đến với mọi người.

Cuối những năm 20 của thế kỷ XX, trên quê hương Xô-viết Nghệ An đã xảy ra nhiều cuộc biểu tình chống lại sự đàn áp hà khắc của thực dân Pháp. Các khẩu hiệu "Đánh đổ thực dân Pháp", "Thực hiện dân tộc độc lập", "Người cày có ruộng", "Nhà máy cho thợ thuyền", "quyền công nông", "Chủ nghĩa cộng sản" đã gieo vào lòng Phùng Chí Kiên chí căm thù giặc và lòng nhiệt tình cách mạng.

Là một thanh niên có học, nhạy bén với thời cuộc, sớm giác ngộ cách mạng, đồng chí tham gia phong trào yêu nước từ năm 1925 và gia nhập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên năm 1926.

Năm 1927, đồng chí Phùng Chí Kiên cùng một số cán bộ được giới thiệu vào học tại Trường Quân sự Hoàng Phố của Chính phủ Tôn Trung Sơn. Do sự phản bội của Tưởng Giới Thạch, nhà trường bị đóng cửa, đồng chí Phùng Chí Kiên đứng về phía Đảng Cộng sản Trung Quốc chống lại hành động phản cách mạng của bọn quân phiệt Tưởng Giới Thạch.

Ngày 12 tháng 12 năm 1927, đồng chí Phùng Chí Kiên tham gia cuộc khởi nghĩa ở Quảng Châu, do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo. Cuộc khởi nghĩa thất bại, quân cách mạng phải rút về xây dựng khu Xô-viết ở hai huyện Hải Phong và Lục Phong. Với cương vị là Đại đội trưởng quân cách mạng Trung Quốc, đồng chí Phùng Chí Kiên đã cùng cán bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc chịu đựng gian khổ, kiên trì bảo vệ cách mạng.

Đồng chí Phùng Chí Kiên là một trong những đảng viên lớp đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam, do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giác ngộ.

Tháng 2 năm 1931, được sự giới thiệu của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đồng chí Phùng Chí Kiên sang học ở Trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản. Khi đến Mãn Châu, đồng chí bị bắt. Một năm sống trong ngục tù, vượt qua sự đầy ải khốc liệt của những trận đòn tra tấn dã man, đồng chí Phùng Chí Kiên vẫn kiên cường chịu đựng, lạc quan tin tưởng vào ngày mai tươi sáng của cách mạng.

Ra tù, đồng chí Phùng Chí Kiên đổi tên thành Can, rồi tiếp tục lên đường sang Liên Xô học. Với lòng nhiệt huyết cách mạng, đồng chí đã ra sức học tập lý luận Chủ nghĩa Mác - Lênin và kinh nghiệm đấu tranh, bảo vệ và xây dựng đất nước của nhân dân Liên Xô.
Đầu năm 1934, đồng chí về Hương cảng, Trung Quốc tham gia Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương, do đồng chí Lê Hồng Phong đứng đầu. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Đảng họp ở Ma Cao, tháng 3 năm 1935, đồng chí Phùng Chí Kiên được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được cử làm Ủy viên Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương.

Tháng 8 năm 1936, đồng chí Phùng Chí Kiên được cử về Sài Gòn cùng đồng chí Hà Huy Tập trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 của Quốc tế Cộng sản và Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ngày 16 tháng 7 năm 1936, nhằm đòi tự do, dân chủ, cơm áo, hoà bình. Nhưng một năm sau, do yêu cầu mới của cách mạng, đồng chí Lê Hồng Phong về Sài Gòn hoạt động, đồng chí Phùng Chí Kiên được Đảng ta và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cử sang Trung Quốc tiếp tục tham gia Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng. Với tấm thẻ căn cước mang tên Phùng Nguôn Vĩnh, đồng chí rời Sài Gòn đi Hương Cảng.

Đầu năm 1940, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về Côn Minh - Trung Quốc. Đồng chí Phùng Chí Kiên đã đến báo cáo với Người về tình hình hoạt động của Đảng ta ở ngoài nước. Thời gian này, Phùng Chí Kiên được làm việc gần Người và thường xuyên xin chỉ thị của Người về nội dung hoạt động của Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng. Nhiều lần, đồng chí Phùng Chí Kiên đã đưa lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đến những nơi như Mông Tự, Nghi Lương, Khai Viễn Chi Thôn... thuộc tỉnh Vân Nam, Trung Quốc.

Tháng 6 năm 1940, Pháp đầu hàng Đức, Nhật nhảy vào Đông Dương. Thực hiện chỉ thị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đồng chí Phùng Chí Kiên triệu tập hội nghị Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng bàn việc vận động thành lập Hội Việt Nam độc lập đồng minh, đồng thời khẩn trương chuẩn bị cho lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước. Đồng chí cùng với Người chuyển tới Tĩnh Tây, một thị trấn thuộc tỉnh Quảng Tây giáp biên giới Trung Quốc - Việt Nam.

Nhận được tin Nguyễn Ái Quốc về Tĩnh Tây, Trung ương Đảng ở trong nước cử đồng chí Hoàng Văn Thụ sang đón. Sau khi thống nhất kế hoạch với đồng chí Hoàng Văn Thụ, đồng chí Phùng Chí Kiên đã tập hợp hơn bốn mươi thanh niên để lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc huấn luyện thành những cán bộ cốt cán, đưa về Cao Bằng xây dựng thí điểm các đoàn thể Việt Minh, lập khu căn cứ cách mạng. Dựa theo tài liệu huấn luyện của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đồng chí Phùng Chí Kiên đã cùng với các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp biên soạn thành bài giảng, làm tài liệu huấn luyện cho cán bộ khi về nước. Những tài liệu này về sau được in thành sách với tên gọi "Con đường giải phóng”.

Ngày 28 tháng 1 năm 1941, đồng chí Phùng Chí Kiên theo lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc vế Pắc Bó, tỉnh Cao Bằng. Ở đây, đồng chí được sống và làm việc bên cạnh Người. Đồng chí đã tích cực tham gia vào việc tổ chức các lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ Việt Minh cho các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn và các tỉnh miền xuôi, góp phần quan trọng vào việc xây dựng lực lượng bảo vệ khu căn cứ cách mạng.

Tháng 5 năm 1941, dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương họp ở Pắc Bó, Cao Bằng, đã ra nghị quyết đánh dấu bước ngoặt lịch sử trong quá trình phát triển của cách mạng nước ta, đồng thời đã giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp phù hợp với thực tế Việt Nam, tạo cơ sở chính trị cho sự ra đời, phát triển của Mặt trận Việt Minh. Tại hội nghị này, đồng chí Phùng Chí Kiên tiếp tục được cử làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được phân công phụ trách quân sự, trực tiếp chỉ đạo khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai và Đội Cứu quốc quân 1.
_______________________________
* Cục trưởng Cục Tuyên huấn.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười Hai, 2021, 10:59:38 pm

Cuối tháng 6 năm 1941, thực dân Pháp mở cuộc càn quét lớn vào khu căn cứ cách mạng, nhằm bắt các đồng chí lãnh đạo Đảng, tiêu diệt cơ quan đầu não của Việt Minh và lực lượng vũ trang cách mạng mới hình thành. Chúng huy động tới 4.000 quân, đủ các sắc lính cùng bọn cường hào phản động địa phương, tổ chức thành ba mũi tiến công khu căn cứ. Cánh quân từ Lạng Sơn kéo xuống càn quét các xã Hưng Vũ, Lân Áng, Tân Lập, Vũ Lăng thuộc Bắc Sơn. Cánh quân thứ hai từ Thái Nguyên qua Đình Cả càn vào xã Tràng Xá, Phú Thượng, La Hiên, Lũng Mười, thuộc Võ Nhai. Cánh quân thứ ba từ Bắc Giang lên khép vòng vây ở huyện Hữu Lũng và Yên Thế. Chúng bịt chặt đường ra lối vào. Đi tới đâu, chúng đốt làng bản, giết gia súc, phá vườn cây ăn quả. Chúng thi hành chính sách thâm độc, "tát nước bắt cá", dồn dân tập trung vào các trại Đình Cả, Nà Pheo, Làng Giữa, Đồng Án, v.v. Không khí khủng bố căng thẳng đến nghẹt thở. Hàng trăm gia đình chạy vào rừng sâu, sống trong hang đá vô cùng thiếu thốn. Các cơ sở bí mật của Trung ương và Cứu quốc quân bị uy hiếp nghiêm trọng. Trong cuộc họp khẩn cấp tại Khuổi Nọi (xã Vũ Lễ), Ban chỉ huy Cứu quốc quân quyết định cử một tổ bảo vệ và dẫn các đồng chí Trung ương qua Tràng Xá về xuôi an toàn. Còn toàn đội phối hợp với tự vệ chiến đấu hoạt động phân tán bám dân, duy trì, bảo vệ cơ sở cách mạng. Đồng chí Hoàng Quốc Việt, Ủy viên Thường vụ Trung ương, ở lại căn cứ cùng Đảng bộ Võ Nhai tổ chức lực lượng đối phó với địch. Đồng chí Phùng Chí Kiên chỉ huy Đội Cứu quốc quân chiến đấu anh dũng, phá một số trận càn lớn của địch, góp phần giữ vững tinh thần cách mạng của nhân dân trong vùng, điển hình là trận chống càn ở Giá Huần (Vũ Lễ).

Ngày 19 tháng 8 năm 1941, cánh quân của đồng chí Phùng Chí Kiên và Lương Văn Tri qua Pò Kép (châu Na Rỳ, Bắc Kạn) thì bị địch phục kích, nhưng với tài chỉ huy của đồng chí Phùng Chí Kiên, đơn vị đã thoát khỏi trận địa phục kích của địch. Ngày 21 tháng 8 năm 1941, đơn vị lại bị địch phục kích tại xã Bằng Đức. Bọn châu đoàn phản động ở đây huy động lính dõng khép kín vòng vây. Đồng chí Lương Văn Tri bị thương rồi bị địch bắt. Mặc dù bị thương nặng, đồng chí Phùng Chí Kiên vẫn giữ chặt khẩu súng, bắn chặn quân địch để đồng đội thoát khỏi vòng vây. Khi bắn hết viên đạn cuối cùng, đồng chí sa vào tay giặc. Bọn châu đoàn gán cho đồng chí Phùng Chí Kiên là "tướng cướp" và để cho lũ tay sai mặc sức hành hung. Tuy bị đánh đập dã man nhưng đồng chí vẫn bình tĩnh giải thích: "Chúng tôi là người yêu nước đi đánh Pháp, đuổi Nhật để giải phóng đồng bào. Chúng ta là người Việt Nam, cần phải đoàn kết chống kẻ thù chung".

Lời giải thích của đồng chí làm xiêu lòng một số tên lính dõng. Nhưng bọn giặc gian ác đã chặt đầu đồng chí rồi đem cắm ở đầu cầu Ngân Sơn để hòng uy hiếp tinh thần cán bộ, nhân dân địa phương. Hôm đó là ngày 22 tháng 8 năm 1941.

Đồng chí Phùng Chí Kiên là một nhà chính trị kiên định vững vàng, một học trò lỗi lạc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ quân sự xuất sắc của Đảng. Đồng chí đã cống hiến cả tuổi thanh xuân cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, đã góp phần quan trọng vào việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng thời kỳ đầu cách mạng. Là người tham gia Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương năm 1941, đồng chí Phùng Chí Kiên đã góp phần khẳng định và phát triển tư tưởng cách mạng giải phóng dân tộc ở nước ta, đã được đề ra trong Chính cương, Sách lược vắn tắt của Đảng đầu năm 1930, trong việc giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc với vấn đề ruộng đất, mối quan hệ giữa quyền lợi của dân tộc với lợi ích của bộ phận và giai cấp trong cách mạng giải phóng dân tộc ở nước ta.

Được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng giao phụ trách quân sự, chỉ huy Đội Cứu quốc quân 1, đồng chí Phùng Chí Kiên đã toàn tâm, toàn ý, dốc sức vào việc tổ chức các lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ Việt Minh, góp phần quan trọng xây dựng lực lượng quân sự đầu tiên của Đảng.

Từ một người yêu nước chân chính, đến khi trở thành một nhà lãnh đạo tiêu biểu, uyên thâm về quân sự trong thập kỷ 30 của thế kỷ XX, suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, đồng chí Phùng Chí Kiên luôn kề vai sát cánh với đồng chí, hoà vào nhân dân, quý trọng đồng bào, khiêm tốn, giản dị, thận trọng, cụ thể và thiết thực, không ngừng nghỉ đấu tranh, thắng không kiêu, bại không nản, dù gian lao khổ hạnh cũng không sờn lòng, một lòng, một dạ phục vụ sự nghiệp độc lập của dân tộc, tự do và hạnh phúc của nhân dân. Hơn 15 năm cống hiến cho sự nghiệp cách mạng, trải qua nhiều cương vị công tác khác nhau, đồng chí Phùng Chí Kiên luôn trung thành với lý tưởng cách mạng, kiên định vững vàng trước phong ba, bão táp, giữ vững nguyên tắc và ý thức kỷ luật của người cộng sản. Kể cả khi bị sa vào tay kẻ thù, đồng chí Phùng Chí Kiên bất chấp mọi cực hình tra tấn, tỏ rõ tinh thần bất khuất và ý chí cách mạng tiến công trước họng súng quân thù. Câu nói bất hủ trước khi hy sinh của đồng chí Phùng Chí Kiên: "Chúng tôi là người yêu nước đi đánh Pháp, đuổi Nhật để giải phóng đồng bào. Chúng ta là người Việt Nam, cần phải đoàn kết chống kẻ thù chung" không những thể hiện ý chí, quyết tâm đánh đuổi đế quốc, giải phóng dân tộc, kêu gọi toàn dân đoàn kết chống kẻ thù chung, mà còn biểu hiện về tầm cao văn hoá, về chính sách binh vận của người cán bộ trong thời kỳ đầu của cách mạng, là sự động viên, khích lệ nhân dân ta đoàn kết đấu tranh giải phóng quê hương, đất nước.

Bên cạnh những đóng góp to lớn vào việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng thời kỳ đầu cách mạng, về tổ chức xây dựng lực lượng quân sự đầu tiên, đồng chí Phùng Chí Kiên còn có những đóng góp xuất sắc về phương pháp, nghệ thuật quân sự, về khởi nghĩa giành chính quyền, về chiến tranh nhân dân, về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, làm cơ sở để sau này thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, một trong những tổ chức tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay.

Đồng chí Phùng Chí Kiên thuộc thế hệ lãnh đạo đầu tiên, đi tiên phong trên con đường giải phóng dân tộc theo tiếng gọi của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Là Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng khoá 1, đồng chí đã có những đóng góp xuất sắc vào việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng thời kỳ đầu cách mạng. Những phẩm chất tiêu biểu đó, do tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn ở những nơi đầu sóng ngọn gió của cách mạng, và đặc biệt do phong cách gần gũi, bình dị, khả năng tập hợp và khai thác có hiệu quả những tri thức tiên tiến của một thế hệ lãnh đạo tiền bối giỏi về chính trị, quân sự, dưới sự lãnh đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.

Vừa là người chỉ huy sâu sát, cụ thể, vừa là người trực tiếp cầm súng chiến đấu, đặc biệt là lòng dũng cảm, bầu nhiệt huyết, tinh thần trách nhiệm trước vận mệnh của đất nước và số phận của nhân dân trước cảnh áp bức, lầm than, đồng chí Phùng Chí Kiên đã cùng tập thể Trung ương Đảng đưa ra được những quyết sách đúng đắn, những giải pháp hiệu quả cho sự phát triển của cách mạng đầu những năm 40 của thế kỷ XX, biến đường lối, chủ trương thành hiện thực.

Cuộc đời hoạt động cách mạng, sống và làm việc của đồng chí Phùng Chí Kiên là hình ảnh tiêu biểu với đầy đủ hình tượng cao đẹp, tầm vóc và ý nghĩa sâu xa của người cộng sản kiên trung, bất khuất, ông là một trong những cán bộ lãnh đạo lỗi lạc của Cách mạng Việt Nam, của Đảng ta, của Quân đội ta, là người con ưu tú của dân tộc Việt Nam.

Tên tuổi của ông gắn liền với một giai đoạn lịch sử oai hùng và đầy thử thách của dân tộc qua những hoạt động phong phú và nổi bật mang dấu ấn đặc sắc, dấu ấn Phùng Chí Kiên. Dấu ấn về tư tưởng và quyết tâm đánh đuổi đế quốc, đem lại tự do, cơm no áo ấm cho mọi người. Dấu ấn về bầu nhiệt huyết vì cách mạng, vì nhân dân của ông sống mãi và chẳng hề vơi cạn theo thời gian. Nhờ đó đã đưa ông trở thành một trong những nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng, một hình ảnh tiêu biểu của Việt Nam trong thời kỳ cách mạng nước ta còn trong trứng nước.

Ôn lại cuộc đời và sự hy sinh anh dũng của đồng chí Phùng Chí Kiên ta càng thấm thía sâu sắc hơn đạo đức cách mạng mà đồng chí Phùng Chí Kiên đã suốt đời rèn luyện theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã từng nhận xét về đồng chí Phùng Chí Kiên: "Một cán bộ lãnh đạo có đức độ và tài năng của Đảng ta và Quân đội ta, biết đoàn kết trên dưới, thu phục nhân tâm bằng sự thông tuệ, đúng mực, lịch lãm, cởi mở, dân chủ". Còn nhân dân gọi ông là "Nhà lãnh đạo quân sự đầu tiên của Đảng".

Ghi nhận và tôn vinh công lao to lớn của đồng chí, tháng 11 năm 2003, Đảng, Chính phủ ra quyết định công nhận đồng chí Phùng Chí Kiên nguyên Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng (khóa 1), cán bộ lãnh đạo quân đội mang quân hàm cấp tướng, liệt sĩ hy sinh anh dũng trong chiến đấu. Tên tuổi và sự nghiệp của đồng chí Phùng Chí Kiên sống mãi với non sông đất nước. Để ghi nhớ công lao của đồng chí Phùng Chi Kiên, Đảng ta và Nhà nước ta đã đặt con đường ở phường Nghĩa Đô, quận cầu Giấy, Thủ đô Hà Nội, mang tên Phùng Chí Kiên.

Đồng chí Phùng chí Kiên đã để lại cho chúng ta bài học về lòng dũng cảm của người cộng sản: Ở thời điểm khó khăn nhất, trước những bước ngoặt của lịch sử thử thách vai trò của Đảng lãnh đạo, đưa đất nước tiến lên.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười Hai, 2021, 11:06:17 pm

PHÙNG CHÍ KIÊN TRONG LÒNG QUÂN VÀ DÂN QUÂN KHU 4

Trung tướng, TS ĐOÀN SINH HƯỞNG*

Đồng chí Phùng Chí Kiên tên thật là Nguyễn Vĩ, ông tham gia cách mạng từ lúc còn rất trẻ và sớm trở thành một cán bộ lãnh đạo ở cơ quan cao nhất của Đảng; một trong những cán bộ lãnh đạo quân sự đầu tiên của Đảng ta. Năm 1941, ông là Tổng chỉ huy khu căn cứ Bắc Sơn, Chỉ huy trưởng Đội Cứu quốc quân 1.

Xã Diễn Yên quê hương ông cũng như nhiều địa phương khác ở Nghệ An trước cách mạng tháng Tám năm 1945, phần lớn ruộng đất đều nằm trong tay một số ít địa chủ, phú nông, phú hào và trung nông lớp trên. Phần lớn bà con nông dân đều là tá điền, cày thuê, cày rẽ phải nộp tô, nộp tức và phải đi lễ tết hàng năm cho chủ đất, nên đời sống vô cùng khó khăn chật vật. Tầng lớp địa chủ, phú nông giàu lại càng giàu thêm, bà con bần cố nông, trung nông lớp dưới đã đói nghèo lại còn bị tô tức, phu đài tạp dịch và thuế má đè nặng. Một số không chịu nổi đã phải bỏ làng, bỏ xóm đi làm thuê ở miền Nam và đồn điền ở Nghĩa Đàn. Tuyệt đại bộ phận nhân dân về kinh tế thì đói nghèo, về tinh thần chính trị lại bị các hội đồng hương lý, hào mục trong làng áp chế, đè nén.

Trước cuộc sống khốn khổ người dân Diễn Châu nói chung, Diễn Yên nói riêng không còn con đường nào khác ngoài con đường nổi dậy chống lại ách thống trị của thực dân phong kiến. Vào năm 1926, các tổ chức cách mạng đầu tiên như Thanh niên cách mạng đồng chí hội, Tân Việt cách mạng đảng ra đời và hoạt động mạnh ở các huyện Diễn Châu, Yên Thành, Đô Lương (Nghệ An). Do ảnh hưởng của trào lưu cách mạng mới, thanh niên Diễn Yên bất chấp mọi khó khăn, gian khổ, hăng hái tìm đường xuất dương cứu nước. Phùng Chí Kiên đã cùng các ông Lê Đệ, Lê Hòe, Lê Mận, Lê Nhu, Nguyễn Phong Hanh (Nguyễn Quế)... đã lên đường sang Xiêm, mở đầu cho cuộc đời hoạt động cách mạng của mình. Sau khi đến Quảng Châu, Trung Quốc, Phùng Chí Kiên được Nguyễn Ái Quốc gửi đi học ở Trường Quân sự Hoàng Phố nhằm chuẩn bị cán bộ quân sự sau này cho cách mạng.

Tháng 4 năm 1927, Tưởng Giới Thạch làm binh biến phản cách mạng, nhà trường đóng cửa. Phùng Chí Kiên gia nhập cách mạng và tham gia cuộc khởi nghĩa Quảng Châu với cương vị là đại đội trưởng. Tháng 2 năm 1931, theo chỉ thị của Nguyễn Ái Quốc, Phùng Chí Kiên rời khu Xô-viết sang học Trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản, trên đường đi ông bị bắt giam gần một năm, ra tù ông đã tìm đường sang Liên Xô. Trong thời gian gần 4 năm ở lại Liên Xô, Phùng Chí Kiên đã ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lênin nghiên cứu kinh nghiệm đấu tranh cách mạng và bảo vệ Xô-viết của nhân dân Liên Xô. Đầu năm 1934, Phùng Chí Kiên tham gia Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 3 năm 1935, ông tham gia soạn thảo đề cương Đại hội lần thứ nhất tại Ma Cao, được đại hội bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng phụ trách Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng. Ngày 28 tháng 1 năm 1941, ông cùng với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng. Tháng 5 năm 1941, ông tham dự Hội nghị Trung ương lần thứ 8 do Nguyễn Ái Quốc chủ trì và được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, được cử trực tiếp làm Tổng chỉ huy khu căn cứ Bắc Sơn và Chỉ huy trưởng Đội Cứu quốc quân 1.

Cuối tháng 6 năm 1941, thực dân Pháp mở cuộc càn lớn vào khu căn cứ cách mạng của ta nhằm bắt sống các đồng chí lãnh đạo của Đảng, tiêu diệt cơ quan đầu não của Việt Minh và lực lượng vũ trang cách mạng mới hình thành. Địch huy động tới 4.000 quân cùng bọn cường hào phản động địa phương tổ chức thành ba mũi tấn công khu căn cứ. Cánh quân từ Lạng Sơn kéo xuống càn quét các xã Hưng Vũ, Lân Áng, Tân Lập, Vũ Lăng thuộc Bắc Sơn. Cánh quân thứ hai từ Thái Nguyên qua Đình Cả càn vào xã Tràng Xá, Phú Thượng, La Hiên, Lũng Mười thuộc Võ Nhai. Cánh quân thứ ba từ Bắc Giang lên khép vòng vây ở huyện Hữu Lũng và Yên Thế. Chúng bịt chặt đường ra lối vào, đi tới đâu chúng đốt sạch làng bản, giết sạch gia súc, phá vườn cây ăn quả. Chúng triệt hạ các bản lẻ như: Khuôn Khét gồm 16 gia đình người Dao. Chúng thi hành chính sách "tát nước, bắt cá" thâm độc, dồn dân tập trung vào các trại Đình Cả, Nà Pheo, Làng Giữa, Đồng Án, không khí khủng bố căng thẳng đến nghẹt thở. Hàng trăm gia đình phải chạy vào rừng sâu, sống trong hang đá vô cùng thiếu thốn. Các cơ sở bí mật của Trung ương và Cứu quốc quân bị uy hiếp nghiêm trọng. Trong cuộc họp khẩn cấp tại Khuổi Nọi xã Vũ Lễ, Ban chỉ huy Cứu quốc quân quyết định cử một tổ bảo vệ và dẫn đường cho các đồng chí Trung ương qua Tràng Xá về xuôi an toàn. Lực lượng còn lại của toàn đội phối hợp với tự vệ chiến đấu hoạt động phân tán, bám dân, duy trì bảo vệ cơ sở cách mạng. Đồng chí Hoàng Quốc Việt, Ủy viên Thường vụ Trung ương ở lại căn cứ cùng Đảng bộ Võ Nhai tổ chức lực lượng đối phó với địch, đồng chí Phùng Chí Kiên chỉ huy Đội Cứu quốc quân chiến đấu anh dũng, phá một số trận càn lớn của địch, góp phần giữ vững tinh thần cách mạng của nhân dân trong vùng, điển hình là trận chống càn ở Giá Huần (Vũ Lễ). Lực lượng Cứu quốc quân tuy cố gắng rất nhiều nhưng phải di chuyển luôn, điều kiện tiếp tế vô cùng khó khăn, sức lực giảm dần. Ban lãnh đạo căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai quyết định để lại một tiểu đội chặn địch, còn hai tiểu đội phá vòng vây của địch rút lên Cao Bằng để bảo toàn lực lượng.

Ngày 19 tháng 8 năm 1941, cánh quân của đồng chí Phùng Chí Kiên và Lương Văn Tri qua Pò Kép (châu Na Rỳ, Bắc Kạn) thì bị địch phục kích song đơn vị vẫn đảm bảo an toàn. Đến ngày 21 tháng 8, đơn vị lại bị địch phục kích tại xã Bằng Đức, Ngân Sơn, Bắc Kạn. Bọn châu đoàn phản động ở đây huy động lính dõng khép kín vòng vây. Đồng chí Lương Văn Tri bị thương rồi bị địch bắt. Đồng chí Phùng Chí Kiên mặc dù bị thương rất nặng nhưng vẫn bắn chặn quân địch để đồng đội thoát khỏi vòng vây và đồng chí đã anh dũng hy sinh. Bọn châu đoàn gian ác đã chặt đầu đồng chí rồi đem cắm ở đầu cầu Ngân Sơn để uy hiếp tinh thần cán bộ, nhân dân địa phương.

Đồng chí Phùng Chí Kiên hy sinh là một tổn thất rãt to lớn của Đảng trong những năm đầu chuẩn bị tiến tới Tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân trong cả nước. Đồng chí Phùng Chí Kiên là một trong những người cộng sản đầu tiên của huyện Diễn Châu, là người con của quê hương suốt một đời hy sinh cho cách mạng. Tưởng niệm 67 năm ngày mất của đồng chí Phùng Chí Kiên, quân và dân Quân khu 4 dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam trực tiếp là Đảng ủy quân sự Trung ương và Bộ Quốc Phòng đã có nhiều hoạt động nhằm học tập và phát huy tấm gương Phùng Chí Kiên, một người cộng sản kiên cường luôn trung với Đảng, trung với nước, hiếu với dân. Trước hết Bộ Tư lệnh Quân khu chỉ đạo các cơ quan ban ngành có liên quan làm tốt mọi công tác chuẩn bị để tổ chức Hội thảo khoa học nhằm tôn vinh sự nghiệp hoạt động cách mạng của đồng chí Phùng Chí Kiên. Trong các ngày 20 tháng 3 năm 2008 và ngày 7 tháng 5 năm 2008, Bộ Tư lệnh Quân khu 4 đã có các buổi làm việc với đoàn cán bộ Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. Quân khu và Viện Lịch sử quân sự đã thống nhất cao về lý do, mục đích, thời gian, nội dung và công tác bảo đảm cho cuộc hội thảo này. Thường vụ Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu xác định đây là một nhiệm vụ quan trọng mà Bộ giao cho Quân khu. Hội thảo khoa học sẽ là dịp rất tốt để tất cả quân và dân Quân khu 4 hiểu rõ hơn về cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng của đồng chí Phùng Chí Kiên, người học trò lỗi lạc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một cán bộ quân sự xuất sắc được đào tạo và trưởng thành tại Liên Xô và Trung Quốc.

Tưởng niệm 67 năm ngày hy sinh của đồng chí Phùng Chí Kiên, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ hôm nay của lực lượng vũ trang Quân khu 4 hết sức trân trọng và tự hào, gìn giữ và phát huy những phẩm chất tốt đẹp của đồng chí Phùng Chí Kiên. Trong 63 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, trực tiếp là Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng; lại được Đảng bộ, chính quyền và nhân dân sáu tỉnh tin yêu, đùm bọc, nuôi dưỡng sát cánh cùng chiến đấu, Đảng bộ và lưc lượng vũ trang Quân khu 4 đã không ngừng trưởng thành lớn mạnh, cùng toàn Đảng, toàn dân đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược. Mỗi bước đi lên của lực lượng vũ trang quân khu đều gắn liền với phong trào cách mạng của nhân dân, gắn liền với từng mốc son lịch sử của dân tộc và từng địa chỉ đỏ của quê hương Thanh - Nghệ - Tĩnh, Bình - Trị - Thiên anh hùng bất khuất, gắn liền với những công lao đóng góp và sự hy sinh cao cả của nhiều tập thể và cá nhân anh hùng trong đó có đồng chí Phùng Chí Kiên. Bất luận trong hoàn cảnh nào, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang quân khu đều nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, truyền thống vẻ vang và phẩm chất cao đẹp của "Bộ đội cụ Hồ" trên quê hương Bác, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, quyết chiến, quyết thắng mọi kẻ thù, gắn bó máu thịt với nhân dân, luôn luôn vì cả nước, với cả nước, đoàn kết thủy chung với bạn Lào, hạt gạo cắn đôi, cọng rau bẻ nửa, tất cả vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

Trước tình hình và nhiệm vụ mới, cấp ủy, chỉ huy các cấp đã lãnh đạo, chỉ đạo lực lượng vũ trang Quân khu nhận thức đúng âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, luôn đề cao cảnh giác, nỗ lực phấn đấu, bám sát nhiệm vụ trọng tâm, triển khai toàn diện các mặt công tác quân sự, quốc phòng và hoàn thành tốt các mặt công tác đó, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ củng cố quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trên địa bàn được phân công. Nhìn chung chất lượng tổng hợp, nền nếp chính quy, sức mạnh chiến đấu, trình độ sẵn sàng chiến đấu, trước hết là chất lượng chính trị của lực lượng vũ trang Quân khu được nâng lên một bước. Cán bộ, chiến sĩ yên tâm phấn khởi, xác định tốt nhiệm vụ; đời sống vật chất tinh thần của bộ đội được đảm bảo, có phần được cải thiện; trang bị ngày càng đồng bộ, có bước phát triển mới phù hợp với nhiệm vụ của từng đơn vị; chấp hành kỷ luật quân đội, pháp luật của Nhà nước có chuyển biến tiến bộ. Cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Quân khu luôn luôn đoàn kết nhất trí tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Công tác giáo dục quốc phòng toàn dân được đẩy mạnh. Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu luôn xác định giáo dục quốc phòng là một trong những nội dung quan trọng nhằm củng cố thế trận lòng dân, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, tăng cường củng cố tiềm lực quốc phòng của từng địa phương, cơ sở trên địa bàn Quân khu. Trong 5 năm thực hiện Chỉ thị 62-CT/TƯ của Bộ Chính trị về "Tăng cường công tác giáo dục quốc phòng toàn dân trước tình hình mới", Quân khu và các địa phương đã triển khai bồi dưỡng cho hơn 30.000 cán bộ chủ chốt các cấp theo phân cấp; giáo dục quốc phòng cho trên 2.000.000 lượt học sinh, sinh viên theo chương trình, nội dung quy định.

Để củng cố và tăng cường sự lãnh đạo cho địa phương, cơ sở, trong những năm qua Đảng ủy Quân khu và lãnh đạo chính quyền 6 tỉnh thường xuyên coi trọng tập trung xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh, trước hết là công tác xây dựng Đảng, đổi mới nội dung, phong cách lãnh đạo của các tổ chức cơ sở Đảng, trọng tâm là năng lực lãnh đạo của các cấp ủy, chăm lo bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, lối sống cho đội ngũ đảng viên. Từ đó nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng cơ sở. Góp phần cùng các địa phương xóa đói giảm nghèo, phòng chống và khắc phục hậu quả bão lụt, chống cháy rừng, cứu hộ, cứu nạn đưa lại hiệu quả thiết thực. Đối với các địa bàn trọng điểm vùng sâu, vùng xa, biên giới, Quân khu đã tổ chức 30 đội công tác với hàng trăm cán bộ, chiến sĩ đến từng làng, bản, thực hiện bốn cùng "cùng ăn, cùng ở, cùng lao động với nhân dân, cùng học tiếng dân tộc và phong tục, tập quán" để tuyên truyền, vận động nhân dân và chủ động tham mưu giúp cấp ủy, chính quyền địa phương xây dựng cơ sở vững mạnh. Đi đôi với xây dựng cơ sở trên địa bàn, Quân khu tăng cường mối quan hệ đoàn kết đặc biệt với các địa phương nước bạn Lào có chung đường biên giới, trên nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau, cùng hợp tác và phát triển.

Những kết quả trên đây là sự kết tinh của quá trình đổi mới tư duy về quân sự, quốc phòng, đã khẳng định đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng ta; sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, hiệu quả của Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ Quốc phòng và sự năng động, sáng tạo trong tổ chức thực hiện của Quân khu; phản ánh sự nỗ lực cao của lực lượng vũ trang Quân khu trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, góp phần quan trọng vào công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang của mình, thế hệ cán bộ, chiến sĩ hôm nay của lực lượng vũ trang Quân khu sẽ đoàn kết nhất trí, khắc phục khó khăn, nỗ lực phấn đấu xây dựng lực lượng vũ trang Quân khu cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại làm nòng cốt xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh toàn diện. Phấn đấu xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Lực lượng vũ trang Quân khu 4 hết sức tự hào vì trong trong đội ngũ cận bộ quân sự đầu tiên của Đảng có một người cán bộ lãnh đạo và chỉ huy mẫu mực về đạo đức và tài năng như đồng chí Phùng Chí Kiên. Là một học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí đã nêu một tấm gương sáng về lòng trung thành vô hạn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, về lòng yêu Tổ quốc, yêu quê hương, về lập trường giai cấp kiên định, tinh thần cách mạng triệt để. Cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Quân khu 4 nguyện ra sức học tập và tiếp tục sự nghiệp cách mạng của Đảng để luôn xứng đáng với tấm gương hy sinh cao cả của đồng chí Phùng Chí Kiên.
_____________________________
* Tư lệnh Quân khu 4.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười Hai, 2021, 11:14:09 pm

LỰC LƯỢNG VŨ TRANG QUÂN KHU 4
HỌC TẬP VÀ PHÁT HUY NHỮNG PHẨM CHẤT CÁCH MẠNG TIÊU BIỂU CỦA ĐỒNG CHÍ PHÙNG CHÍ KIÊN

Thiếu tướng MAI QUANG PHẤN*

Đồng chí Phùng Chí Kiên là người cộng sản kiên cường, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Sống, chiến đấu anh dũng, hy sinh vẻ vang, đồng chí đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng, để lại tấm gương anh hùng, bất khuất, tiêu biểu cho Đảng và Quân đội ta. Nghiên cứu, học tập về cuộc đời và những phẩm chất cách mạng tiêu biểu của đồng chí Phùng Chí Kiên trong giai đoạn hiện nay càng có giá trị ý nghĩa về giáo dục và thực tiễn sâu sắc, nhất là trong khi toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đang thực hiện cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh".

1. Những tác động xã hội để Nguyễn Vĩ nuôi chí lớn, sớm đi theo cách mạng.

Phùng Chí Kiên (tức Nguyễn Vĩ) sinh ngày 18 tháng 5 năm 1901 trong một gia đình nghèo, hiếu học ở làng Mỹ Quan Thượng, tổng Vạn Phần (nay là xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An). Gia đình Nguyễn Vĩ lúc bấy giờ là một cơ sở cách mạng. Tuy nhà nghèo nhưng có tố chất thông minh, ham đọc sách báo tiến bộ, được cha mẹ cho đi học, tốt nghiệp bằng Sơ học yếu lược và được các cán bộ cách mạng dìu dắt, đến năm 1925, Nguyễn Vĩ đi làm thuê cho thương nhân người Hoa ở ga Yên Lý để tìm đường móc nối với cơ sở cách mạng.

Tuổi ấu thơ của Nguyễn Vĩ phải chứng kiến nhiều cảnh đời oan trái, bất công của xã hội phong kiến thực dân. Phần lớn ruộng đất của địa phương nằm trong tay một số ít địa chủ cường hào, trong khi phần lớn nông dân phải cày thuê, cuốc mướn, nộp tô, nộp tức, sưu cao, thuế nặng cho bọn chủ đất. Bọn thực dân đế quốc cùng với cường hào địa phương thi nhau đàn áp, ức hiếp, nhân dân phải chịu cảnh "một cổ hai tròng", nên đời sống vô cùng khó khăn.

Trong bối cảnh đó, nhiều phong trào yêu nước của nhân dân ta nổ ra chống thực dân phong kiến. Nhiều người con ưu tú của đất nước đã ra đi tìm đường giải phóng dân tộc, như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành, v.v. Đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa Mác - Lênin được đồng chí Nguyễn Ái Quốc truyền bá về Việt Nam. Các tổ chức cách mạng đầu tiên ra đời như Tân Việt Cách mạng Đảng, Hội Việt Nam cách mạng thanh niên... Phong trào cách mạng từ đó tiếp tục phát triển mạnh chuẩn bị mọi điều kiện cho Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời.

Hoàn cảnh gia đình và xã hội ấy cùng với lòng yêu nước, hiếu, nghĩa đã thôi thúc Nguyễn Vĩ sớm đi theo cách mạng để giải phóng dân tộc, giải phóng quê hương.

2. Quá trình hoạt động cách mạng gắn với sự hình thành phẩm chất, nhân cách của ngưài cộng sản kiên trung Phùng Chí Kiên.

Bốn mươi năm tuổi đời, hơn 15 năm hoạt động cách mạng, là học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, được tham gia hoạt động với các vị tiền bối cách mạng như đồng chí Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong... Phùng Chí Kiên đã vượt mọi gian khó hiểm nguy, hy sinh quên mình vì nghĩa nước. Quá trình hoạt động của Phùng Chí Kiên là quá trình hoàn thiện nhân cách của người chiến sĩ cộng sản kiên trung.

Lúc làm thuê ở ga Yên Lý, vốn là người thông minh sắc sảo, nhạy cảm với chính trị, Nguyễn Vĩ đã được ông Nguyễn Tăng Tựu (Nghi Lộc, Nghệ An) và Lê Hữu Lập (Thanh Hoá) trong tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên phát hiện và kết nạp vào tổ chức, được giới thiệu sang Quảng Châu học Trường Quân sự Hoàng Phố của Chính phủ Tôn Trung Sơn, gia nhập vào quân cách mạng và tham gia cuộc khởi nghĩa ở Quảng Châu do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo. Cuộc khởi nghĩa thất bại, lực lượng cách mạng phải rút về huyện Hải Phong và Lục Phong (Trung Quốc). Với cương vị là Đại đội trưởng quân cách mạng, đồng chí Phùng Chí Kiên đã cùng các đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc chịu đựng gian khổ, kiên trì bảo vệ lực lượng cách mạng.

Tháng 2 năm 1931, Phùng Chí Kiên gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và được Người tin tưởng giới thiệu sang học ở Trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản, nhưng trên đường đi, đồng chí bị bắt giam một năm. Ra tù, đồng chí tiếp tục sang Liên Xô học tập.

Đầu năm 1934, đồng chí trở về Hương cảng (Trung Quốc) tham gia Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương do Lê Hồng Phong đứng đầu. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ nhất họp ở Ma Cao, đồng chí Phùng Chí Kiên được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được cử làm Ủy viên Thường vụ, lúc bấy giờ đồng chí tròn 33 tuổi.

Tháng 8 năm 1936, Phùng Chí Kiên được cử về Sài Gòn cùng đồng chí Hà Huy Tập trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 của Quốc tế Cộng sản nhằm đòi tự do, dân chủ, cơm áo, hoà bình cho nhân dân Việt Nam. Một năm sau theo yêu cầu của cách mạng, đồng chí lại được cử sang Trung Quốc thay đồng chí Lê Hồng Phong phụ trách Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng.

Đầu năm 1940, khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đến Côn Minh (Trung Quốc) đồng chí Phùng Chí Kiên đã đến báo cáo với Người về tình hình hoạt động của Đảng ta ở nước ngoài. Quãng thời gian này, đồng chí được làm việc thường xuyên với Người và nhiều lần cùng Người đến chỉ đạo các cơ sở cách mạng ở các địa phương như Mông Trị, Nghi Lương, Khai Viễn, Chỉ Thôn thuộc tỉnh Vân Nam (Trung Quốc).

Ngày 28 tháng 1 năm 1941, đồng chí Phùng Chí Kiên cùng lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và một số đồng chí khác về hoạt động ở Pắc Bó (thuộc tỉnh Cao Bằng). Ngay từ những ngày đầu về nước, Phùng Chí Kiên đã tích cực hoạt động và góp phần quan trọng cùng với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc xây dựng và bảo vệ khu căn cứ cách mạng, tổ chức huấn luyện đào tạo cán bộ Việt Minh. Tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (5.1941), đồng chí Phùng Chí Kiên được cử phụ trách công tác quân sự, Tổng chỉ huy khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai và Chỉ huy trưởng Đội Cứu quốc quân 1. Phong trào phát triển rộng khắp làm cho thực dân Pháp lo sợ, chúng đã tổ chức nhiều cuộc càn quét lớn, có lúc huy động tới hơn 4.000 binh lính hòng "tát nước bắt cá", tiêu diệt cơ quan đầu não của Việt Minh. Các cơ sở bí mật của Trung ương và Cứu quốc quân bị uy hiếp nghiêm trọng. Đồng chí Phùng Chí Kiên đã chỉ huy Đội Cứu quốc quân bám dân, bám đất chiến đấu, anh dũng đánh diệt nhiều trận càn lớn của địch, góp phần giữ vững và củng cố tinh thần cách mạng nhân dân, điển hình là trận chống càn ở Giá Huấn (Vũ Lễ).

Ngày 21 tháng 8 năm 1941, Phùng Chí Kiên cùng một bộ phận Đội Cứu quốc quân bị địch phục kích. Địch huy động quân bao vây, cuộc chiến đấu không cân sức diễn ra, đồng chí bị thương nặng nhưng vẫn chiến đấu dũng cảm đến viên đạn cuối cùng ngăn chặn địch để đồng đội thoát khỏi vòng vây quân thù. Kẻ thù đã dã man chặt đầu đồng chí cắm ở đầu cầu Ngân Sơn (Bắc Kạn) nhằm uy hiếp tinh thần cách mạng của nhân dân địa phương. Đồng chí anh dũng hy sinh lúc 40 tuổi. Sự hy sinh anh dũng của người cộng sản càng cổ vũ tinh thần của nhân dân địa phương và cán bộ, chiến sĩ Đội Cứu quốc quân.

Ghi nhận công lao to lớn của người chiến sĩ cộng sản kiên cường, ngày 23 tháng 9 năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 89/SL, truy phong quân hàm cấp tướng cho liệt sĩ Phùng Chí Kiên - người đầu tiên được phong quân hàm cấp tướng trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
____________________________________
* Ủy viên Trung ương Đảng, Chính ủy Quân khu 4.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Mười Hai, 2021, 11:15:16 pm

3. Những phẩm chất cách mạng tiêu biểu của người cộng sản Phùng Chí Kiên.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người đã từng tham gia hoạt động với đồng chí Phùng Chí Kiên vào những năm 1940, 1941 ở Côn Minh (Trung Quốc), ở Cao Bằng - Bắc Kạn trong giai đoạn gay go, ác liệt của cách mạng. Giữa hai nhà cách mạng trẻ tuổi đã có mối quan hệ hoạt động gắn bó chặt chẽ với nhau, và chính Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người đề nghị với Chính phủ ghi nhận công lao to lớn của Phùng Chí Kiên. Nói về phẩm chất cách mạng của Phùng Chí Kiên, Đại tướng viết: "Đồng chí Phùng Chí Kiên là một tiền bối cách mạng có đức độ, có tài năng về chính trị, về quân sự, một con người rất hoà hợp với đồng chí, đồng bào, luôn gương mẫu về mọi mặt, đoàn kết, nghiêm chỉnh, là đồng chí lãnh đạo có công với Đảng ta, không những về tổ chức, về cả đường lối cách mạng. Mỗi lần nghĩ về anh bản thân tôi lại muốn khóc...".

Đồng chí Phùng Chí Kiên đã có nhiều năm được sống và hoạt động bên lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, được Người tin tưởng, dìu dắt nên đồng chí chịu ảnh hưởng rất lớn về tư tưởng, phẩm chất cách mạng của Người. Những phẩm chất cách mạng tiêu biểu được thể hiện trong quá trình hoạt động của đồng chí Phùng Chí Kiên, đó là:

Thứ nhất, ở bất cứ cương vị, hoàn cảnh nào củng tìm mọi cách hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của người chiến sĩ cộng sản. Từ một công nhân làm thuê ở ga tàu Yên Lý cho đến các nhiệm vụ chủ chốt của Đảng như: Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng (khoá I), phụ trách Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng; phụ trách công tác quân sự của Đảng; Tổng chỉ huy khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai; Chỉ huy trưởng Đội Cứu quốc quân 1, là học viên xuất sắc Trường Quân sự Hoàng Phố, Trường Đại học Phương Đông... Trong hoàn cảnh khó khăn của cách mạng, lúc hoạt động bí mật, lúc công khai, hoạt động độc lập, nhưng với ý thức của người cộng sản, đồng chí luôn trăn trở việc gì có lợi cho cách mạng thì làm, tìm mọi cách để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đặc biệt, sau giai đoạn 1930-1931, phong trào cách mạng Việt Nam bị địch đàn áp, khủng bố rất dã man, nhiều đảng viên chủ chốt bị giặc Pháp bắt tử hình hoặc bị cầm tù, một số cơ sở, tổ chức Đảng trong nước bị phá vỡ. Nhiệm vụ của Ban Chỉ huy ở ngoài do đồng chí Phùng Chí Kiên phụ trách lúc này là củng cố uy tín của cách mạng Việt Nam tại phong trào cộng sản quốc tế, đồng thời bắt mối liên lạc với những người cộng sản trong nước, khôi phục, củng cố và xây dựng Đảng Cộng sản Đông Dương. Đồng chí Kiên vừa học tiếng nước ngoài (Trung Quốc, Liên Xô) vừa tích cực hoạt động với những người cộng sản quốc tế, tham gia khởi nghĩa ở Quảng Châu do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo. Đồng chí đã cùng với Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập trực tiếp nghiên cứu, biên soạn dự thảo các văn kiện Đại hội Đảng lần thứ nhất tổ chức ở Ma Cao (Trung Quốc). Đồng chí đã có vai trò to lớn, cùng với Trung ương Đảng củng cố tổ chức, đưa phong trào cách mạng phát triển rộng khắp, chuẩn bị lực lượng cho Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám 1945 giành thắng lợi.

Thứ hai, nhạy cảm, sắc sảo về chính trị, quân sự, ngoại giao.

Vốn thông minh, có chí khí cách mạng, sống trong môi trường gia đình, quê hương giàu truyền thống cách mạng, đồng chí Phùng Chí Kiên sớm đi hoạt động cách mạng, có khả năng nắm bắt và nhận định thời cuộc. Với lối tư duy sắc sảo lại được Nguyễn Ái Quốc và các đồng chí Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập giúp đỡ, dìu dắt, Nguyễn Vĩ sớm trở thành nhà hoạt động cách mạng tài năng. Ngay khi còn là một học viên Trường Đại học Phương Đông trên đất nước Xô-viết, với nhiệt tình cách mạng và khát khao được sớm về giải phóng đất nước, đồng chí Phùng Chí Kiên rất say sưa miệt mài học tập. Tại trường, đồng chí tận dụng thời gian nghiên cứu những tác phẩm về nguyên lý chủ nghĩa Mác - Lênin, về phương pháp tổ chức quần chúng, tổ chức khởi nghĩa vũ trang; tích cực tham gia các hoạt động xã hội và phong trào cộng sản quốc tế, tiếp xúc với những người cộng sản Liên Xô, tìm hiểu thực tiễn, tổ chức của chính quyền Xô-viết để sau này vận dụng vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Khi về nước, được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc phân công phụ trách huấn luyện chính trị cho lớp đào tạo cán bộ chủ chốt địa phương, đồng chí cùng với Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng vừa giảng dạy, vừa biên soạn tài liệu. Những bài giảng đó đã được tập hợp thành tác phẩm Con đường giải phóng, một tài liệu có giá trị cả về phương pháp luận và thực tiễn đấu tranh cách mạng Việt Nam.

Cuối năm 1941, nhằm bao vây và tiêu diệt căn cứ địa cách mạng, thực dân Pháp huy động hàng nghìn quân, liên tục mở các trận càn lớn ở Bắc Kạn, Võ Nhai, cơ sở bí mật của ta bị uy hiếp nghiêm trọng. Trước tình thế hiểm nghèo, đồng chí Phùng Chí Kiên đã đề xuất với Trung ương tổ chức một bộ phận trung đội Cứu quốc quân vừa đánh địch, vừa bảo vệ các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng về xuôi an toàn, bộ phận còn lại do đồng chí chỉ huy ở lại tổ chức lực lượng chống càn, tiêu diệt địch, bảo vệ nhân dân và khu căn cứ cách mạng, góp phần làm thất bại thủ đoạn "tát nước bắt cá" của thực dân Pháp.

Thứ ba, hy sinh quên mình vì dân, vì nước, vẫn biết "làm cách mạng như kẻ vượt đường trường trong mưa bão" và "dấn thân vô là phải chịu tù đày", song, Phùng Chí Kiên vẫn không sợ hiểm nguy, quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân, bởi tuổi ấu thơ của Nguyễn Vĩ đã chứng kiến bao cảnh bất công của bọn thực dân và cường hào ức hiếp dân lành, nhất là giai đoạn cao trào Xô-viết Nghệ Tĩnh đang sôi sục khí thế cách mạng. Lo sợ trước làn sóng cách mạng, chúng đàn áp khốc liệt các cuộc biểu tình, dìm phong trào cách mạng trong biển máu. Chính tại làng Mỹ Quan, nơi Nguyễn Vĩ được sinh ra, trong một đêm chúng đã thiêu hủy 41 nóc nhà, giết hại nhiều người dân nơi đây, trong đó có cả người thân trong gia đình, càng thôi thúc Nguyễn Vĩ quyết tâm ra đi, không sợ gian khổ, hy sinh để cứu dân, cứu nước, trả mối thù nhà. Suốt 16 năm dấn thân vì sự nghiệp cách mạng, luôn đặt lợi ích dân tộc lên hàng đầu, đồng chí đã hoàn thành các trọng trách của Đảng giao, quá trình hoạt động cách mạng luôn bị quân thù truy nã, hai lần bị kẻ thù bắt giam, tra tấn và giết hại, Phùng Chí Kiên chưa một lần được về thăm nhà. Từ cuối năm 1926, trước lúc rời quê hương tham gia hoạt động cách mạng, Nguyễn Vĩ đến chào bố mẹ và được người anh cả (Nguyễn Dốc) thiết đãi một bữa cơm có cà dầm tương của quê nhà và không ai ngờ rằng đó là bữa cơm cuối cùng với gia đình của người cộng sản kiên trung Phùng Chí Kiên.

Thứ tư, đoàn kết, kỷ luật, chân thành, giản dị, được mọi người yêu quý. Trong quá trình hoạt động, đồng chí Phùng Chí Kiên thường được Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giao các trọng trách: phụ trách Ban Chỉ huy ở ngoài, hoạt động ở Trung Quốc, Liên Xô, hoạt động có tính độc lập cao ở các tổ chức bí mật, tổ chức huấn luyện, xây dựng lực lượng, căn cứ cách mạng. Đồng chí luôn đề cao tình đoàn kết, kỷ luật, nhanh chóng tiếp cận, bắt mối liên lạc giữa những người cộng sản trong nước với những người cộng sản quốc tế. Ở đâu đồng chí cũng được nhân dân đùm bọc che chở, đồng chí, đồng đội tin yêu, quý mến, giúp đỡ. Khi về Pắc Bó xây dựng căn cứ cách mạng (1941), Phùng Chí Kiên cùng các đồng chí trong Trung ương Đảng được sống và làm việc với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cùng đồng cam, cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi với mọi người vì việc nước, sống chân thành và giản dị. Khi nói về phong cách Phùng Chí Kiên, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: "Lần tôi gặp anh Phùng Chí Kiên vào tháng 5 năm 1940 lúc đó tôi được cử đi Côn Minh cùng với anh Phạm Văn Đồng, tôi may mắn được ở chung với anh Phùng Chí Kiên một thời gian, chúng tôi rất thương nhau và rất hiểu nhau, anh ấy là một người chân thành và giản dị".

Thứ năm, có tinh thần lạc quan cách mạng, không khuất phục trước kẻ thù, sống anh dũng, chết vẻ vang. Từ trong đêm trường cách mạng, Phùng Chí Kiên vẫn thấy thắng lợi ở ngày mai "có áp bức, tức có đấu tranh", phong trào cách mạng nhất định giành thắng lợi, nếu biết tổ chức quần chúng đấu tranh theo phương pháp cách mạng, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Tư duy ấy đã được đồng chí gửi gắm, thể hiện trong tác phẩm Con đường giải phóng. Niềm tin ấy đã thôi thúc đồng chí vượt qua mọi gian khổ, không sợ hiểm nguy, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của người chiến sĩ cộng sản. Khi bị địch bắt, tra tấn dã man, vẫn giữ vững khí tiết, lạc quan cách mạng: “chúng tôi là người yêu nước, đi đánh Pháp, đuổi Nhật giải phóng đồng bào, chúng ta là người Việt Nam cần phải đoàn kết chống kẻ thù chung”. Niềm kiêu hãnh ấy đã làm lung lạc kẻ thù.

Đất và người Ngân Sơn đã chứng kiến cái chết oanh liệt của đồng chí Phùng Chí Kiên, dòng sông Ngân Sơn nhuộm thắm máu đào của người chiến sĩ cộng sản. Noi gương đồng chí Phùng Chí Kiên, phong trào cách mạng nơi đây bắt đầu phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng trở thành căn cứ địa cách mạng vững chắc. Chi bộ Đảng đầu tiên của Ngân Sơn – Bắc Kạn đã mang tên Phùng Chí Kiên.

*
*   *

Khu 4 là vùng đất địa linh nhân kiệt, quê hương giàu truyền thống cách mạng, nơi sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhiều bậc tiền bối cách mạng, trong đó có người cộng sản kiên trung Phùng Chí Kiên. Niềm tự hào ấy là nguồn động lực tinh thần, là sức mạnh nội sinh để góp phần bảo đảm cho quân và dân Quân khu 4 vượt qua mọi biến cố của lịch sử, chiến thắng mọi kẻ thù, cả giặc ngoại xâm và nội xâm ở mọi thời kỳ cách mạng.

Hơn 60 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, cho dù bất cứ hoàn cảnh nào, gian khổ ác liệt đến đâu, lực lượng vũ trang Quân khu vẫn kiên cường chiến đấu vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, dân tộc, luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Tinh thần sẵn sàng xả thân hy sinh tính mạng vì nước, vì dân đã trở thành trách nhiệm, bản lĩnh chính trị của mỗi cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Quân khu. Qua các cuộc kháng chiến, lòng trung thành của cán bộ, chiến sĩ càng được tôi luyện vững vàng, cùng với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân 6 tỉnh trong Quân khu luôn thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ được giao. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, lực lượng vũ trang Quân khu luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chính quyền nhân dân. Đó chính là thành quả của sự kế thừa và phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc, truyền thống đặc trưng của vùng đất và con người Khu 4, đồng thời là tình cảm, là sự đền đáp cho những hy sinh to lớn của các anh hùng liệt sĩ, các bậc tiền bối cách mạng, trong đó có tấm gương tiêu biểu của đồng chí Phùng Chí Kiên. Năm nay là năm thứ hai lực lượng vũ trang Quân khu 4 đã và đang cùng quân và dân cả nước thực hiện cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh". Nghiên cứu và học tập những phẩm chất cách mạng tiêu biểu của người cộng sản Phùng Chí Kiên, càng củng cố niềm tin cho cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Quân khu vượt qua mọi khó khăn, thách thức, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ trong giai đoạn mới mà Đảng Nhà nước và Quân đội giao phó.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Mười Hai, 2021, 08:52:42 am

PHÙNG CHÍ KIÊN VỚI LỰC LƯỢNG VŨ TRANG QUÂN KHU 4

Thiếu tướng HOÀNG TRỌNG TÌNH*

Các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế thuộc Quân khu 4, vùng đất miền Trung giàu truyền thống yêu nước và đấu tranh cách mạng, nơi đã sản sinh ra nhiều vị anh hùng dân tộc, nhiều chiến sĩ cách mạng kiên cường, trong số đó có đồng chí Phùng Chí Kiên.

Phùng Chí Kiên, tên khai sinh là Nguyễn Vĩ (với nhiều bí danh khác), sinh năm 1901, tại làng Mỹ Quan Thượng, nay là xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Năm 1915, lúc tròn 14 tuổi học xong trình độ sơ học Pháp - Việt, Nguyễn Vĩ rời nhà vào Vinh làm "cu ly" trong nhà máy xe lửa Trường Thi, ý ngầm mục đích kết bạn tâm giao để tìm đường giúp dân cứu nước. Năm 1925, được tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng giác ngộ, Nguyễn Vĩ tự nguyện tham gia tổ chức này. Từ cảng Bẽn Thủy, chàng trai làng Mỹ Quan Thượng xuống chiếc thuyền gỗ của mấy người "Khách trú" buôn bát đĩa ngoài Móng Cái vào, vờ làm chân sào vượt biển ra tạm lánh ở mấy hòn đảo nhỏ phía ngoài vịnh Bái Tử Long, từ đó tiếp sang thuyền chài của ngư dân Lôi Châu rồi tìm đường đến Quảng Châu. Năm 1926, với bí danh Mạnh Văn Liễu bắt liên lạc với các bạn đồng hương ở Hương Cảng và Quảng Châu, trong đó có Lê Huy Doãn (tức Lê Hồng Phong) quê làng Thông Lạng, huyện Hưng Nguyên và Phạm Thành Tích (tức Phạm Hồng Thái) con trai cụ Huấn đạo Phạm Thành Mỹ, tất cả những chàng trai nặng bầu nhiệt huyết đều là những thành viên đầu tiên của tổ chức Tâm Tâm Xã do cụ Hồ Tùng Mậu đứng đầu. Được tổ chức Thanh niên cách mạng đồng chí hội giới thiệu, tháng 10 năm 1926, Mạnh Văn Liễu vào dự lớp huấn luyện chính trị đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc mở tại thành phố Quảng Châu cho các thành viên ưu tú của Việt Nam thanh niên cách mạng. Các lớp học này được chính phủ Trung Hoa, đứng đầu là Tôn Trung Sơn, coi như một phân hiệu của Trường Quân sự Hoàng Phố. Mãn khoá lớp chính trị, Nguyễn Vĩ, mang tên mới - Phùng Chí Kiên, được giới thiệu vào học ở Trường Quân sự Hoàng Phố, do Liên Xô giúp đỡ cho lực lượng cách mạng của Tôn Trung Sơn, với sự tham gia giảng dạy của nhiều chuyên gia Xô-viết. Được tiếp cận với khoa học quân sự mới, Phùng Chí Kiên tỏ rõ năng lực về chỉ huy quân sự cùng sự nhạy bén tinh tế, ứng phó linh hoạt trong xử trí các tình huống học tập.

Tháng 5 năm 1927, Tưởng Giới Thạch làm đảo chính quân sự lật đổ Tôn Trung Sơn, Phùng Chí Kiên ở Quảng Châu sát cánh cùng công nhân, nông dân, binh sĩ cách mạng đấu tranh chống lại những hành động phản cách mạng. Công xã Quảng Châu nổ ra vào ngày 12 tháng 12 năm 1927, thực sự là trường học đấu tranh thực tiễn lớn cho các chiến sĩ cách mạng Việt Nam. Sau khi Khởi nghĩa Quảng Châu bị thất bại, Phùng Chí Kiên cùng lực lượng cách mạng rút về lập chiến khu Hải Phong, Lục Phong và tham gia thành lập khu Xô-viết Hải - Lục Phong (tỉnh Quang Đông), dưới sự lãnh đạo trực tiếp của đồng chí Bành Bái, một trong vị lãnh đạo xuất sắc của Đảng cộng sản Trung Quốc.

Trên cương vị liên trưởng1 Hồng quân công nông Trung Hoa, Phùng Chí Kiên đã nổi lên trên vị trí của người chỉ huy quân sự tài ba thường xuyên nêu gương về sự chịu đựng gian khổ, kiên trì bảo vệ chân lý và thành quả cách mạng, nhiều lần được ban lãnh đạo khu Xô-viết tuyên dương công trạng.

Được Nguyễn Ái Quốc chọn và giới thiệu, tháng 2 năm 1931 đồng chí Phùng Chí Kiên lên đường sang Mátxcơva vào Trường Đại học Phương Đông. Chuyến đi của đồng chí Kiên thật gian lao vất vả, đặc biệt khi qua Mãn Châu Lý bị kẻ thù bắt, giam gần một năm. Ra tù đổi tên là Kan rồi tiếp tục lên đường qua Liên Xô học Trường Đại học Phương Đông. Khoảng đầu năm 1935 Phùng Chí Kiên quay về Hương Cảng (Hồng Kông) cùng với các đồng chí Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, v.v. tham gia việc triệu tập Đại hội lần thứ nhất của Đảng cộng sản Đông Dương. Tại đại hội này (3.1935) đồng chí Phùng Chí Kiên được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, và Ban Thường vụ, được Đảng phân công phụ trách Ban Chỉ huy ở ngoài. Tháng 10 năm 1936, Phùng Chí Kiên bị cảnh sát thực dân Anh bắt giam gần 2 tháng, rồi trục xuất khỏi Hồng Kông. Sau đó Phùng Chí Kiên chuyển hoạt động về địa bàn tỉnh Vân Nam. Cuối tháng 2 năm 1940, đồng chí Phùng Chí Kiên gặp được "ông Trần" bí danh của đồng chí Nguyễn Ái quốc, tại Côn Minh. Tới tháng 4 năm đó, đồng chí Phùng Chí Kiên cùng với đồng chí Nguyễn Ái Quốc đi thăm và kiểm tra các cơ sở cách mạng dọc đường xe lửa Vân Nam - Hồ Kiền. Đến tháng 12 năm 1940 Phùng Chí Kiên cùng các đồng chí Phạm Văn Đồng, Đặng Văn Cáp, Võ Nguyên Giáp đón đồng chí Nguyễn Ái Quốc về Điền Đông tiếp tục đi về Tĩnh Tây, để tìm đường trở lại Việt Nam.

Ngày 28 tháng 1 năm 1941 (mùng 2 tết Tân Tỵ), đồng chí Phùng Chí Kiên cùng với Già Thu (bí danh đồng chí Nguyễn Ái Quốc) và các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Vũ Anh, Cao Hồng Lĩnh vượt biên giới qua cột mốc 108 (theo thứ tự nay là mốc 675) về bản Pắc Bó, xã Trường Hoà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Đầu tháng 5 năm 1941 đồng chí Kiên tham gia Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương, một cuộc họp có ý nghĩa lịch sử lớn lao đối với cao trào Cách mạng tháng Tám năm 1945. Hội nghị họp dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc và nhất trí thành lập Mặt trận Việt Minh, thông qua chủ trương chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa, hội nghị tiến cử lại Ban Chấp hành Trung ương gồm 9 đồng chí, trong đó đồng chí Phùng Chí Kiên là một trong các Ủy viên Ban thường vụ Trung ương Đảng. Sau Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5.1941), đồng chí Phùng Chí Kiên được cử về củng cố và mở rộng khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai, kiêm Chỉ huy trưởng Đội Cứu quốc quân 1.
__________________________________
* Phó chính ủy Quân khu 4.
1. Tương đương Tiểu đoàn trưởng.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Mười Hai, 2021, 08:53:46 am

Khoảng cuối tháng 6 đầu tháng 7 năm 1941, thực dân Pháp tập trung mọi lực lượng tiến công vào khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai, uy hiếp nhiều trong các cơ sở cách mạng và cứu quốc quân, hòng xoá sổ lực lượng vũ trang cách mạng non trẻ và truy sát ban lãnh đạo của Đảng ta. Trước tình hình ngày càng khó khăn, nguy hiểm, để bảo toàn lực lượng, sau khi tham khảo ý kiến đồng chí Lương Văn Tri (Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ) đồng chí Phùng Chí Kiên quyết định tổ chức Cứu quốc quân ở lại cùng nhân dân chống càn bảo vệ cơ sở cách mạng, tìm cách đưa đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt cùng cán bộ lãnh đạo Đảng về xuôi Hà Nội, sau đó rút ra khỏi Bắc Sơn - Võ Nhai. Bộ phận rút về hướng Cao Bằng do đồng chí Phùng Chí Kiên và Lương Văn Tri phụ trách.

Sau mấy ngày len lỏi trong rừng, tránh các đường cái lớn, lội dọc theo nhiều con suối, đến ngày 14 tháng 8 năm 1941, các đồng chí Phùng Chí Kiên, Lương Văn Tri, Mã Thành Kính, Bế Sơn Cương, Bế Thành Lâm, Nguyễn Văn Thành và Hà Khai Lạc đến đất Yên Hùng thuộc Châu Bình Gia (tỉnh Lạng Sơn), rồi đi qua Nà Ban, Sắc Sái, châu Na Rì (tỉnh Bắc Kạn). Bấy giờ tất cả các ngả đường rừng đều bị quân địch canh gác nghiêm ngặt. Ngày 16 và 17 tháng 8 năm 1941, bộ phận của đồng chí Phùng Chí Kiên tới Pò Kép thuộc xã Văn Học (Châu Na Rì) thì gặp bọn tuần đinh bị tên Chánh Thượng ngăn chặn, dò xét. Và "trận giáp chiến" đã nổ ra ngoài dự kiến. Sau đó, cánh quân của đồng chí Phùng Chí Kiên phải đi ngoằn nghèo vào rừng rậm, leo qua những đoạn đường ngặt nghèo hiểm trở, để tránh lạc hướng của bọn tay sai giặc Pháp. Chiều ngày 20 tháng 8 năm 1941, vừa tới bản Khâu Loong, vào nhà một người Dao hỏi mua gạo nấu cơm ăn. Chủ nhà nói rằng gạo không còn, nếu muốn ăn thì lấy thóc mà giã. Sau đó chủ nhà ra đi. Khi cơm vừa mới chín, anh em chưa kịp ăn thì bọn lính ập đến vây chặt vòng trong vòng ngoài. Cuộc chiến giáp diễn ra quyết liệt. Mặc dầu bị thương nặng, nhưng đồng chí Phùng Chí Kiên, vẫn tiếp tục chiến đấu và hạ lệnh cho anh em "Tập trung súng bắn một loạt rồi mở đường máu chạy đi". Đồng chí Hà Khai Lạc ôm vai đồng chí Kiên dìu đi, nhưng đồng chí nói: "Phải chạy ngay, thoát một người là có lợi cho cách mạng, dùng dằng ở đây thì chết hết. Về Cao Bằng nhớ báo cáo cấp trên, tôi ở lại bắn bọn chúng để các đồng chí đồng đội thoát...". Chấp hành lệnh của chỉ huy, lực lượng tìm đường thoát vòng vây địch. Đồng chí Phùng Chí Kiên sa vào tay giặc, bị tra tấn dã man, rồi để nằm qua đêm giữa sân đồn Bằng Đức cho đến khi đồng chí trút hơi thở cuối cùng vào sáng ngày 21 tháng 8 năm 1941. Kẻ thù hèn hạ chặt đầu đồng chí Kiên bêu trên cầu Ngân Sơn, huyện lỵ Ngân Sơn (tỉnh Bắc Kạn) để khủng bố tinh thần quần chúng.

Cũng như các bậc tiên liệt cách mạng, sự hy sinh của đồng chí Phùng Chí Kiên là một tổn thất lớn cho Đảng ta, dân tộc ta. Ngợi ca đồng chí Phùng Chí Kiên khó có lời nào cao hơn, nồng nhiệt hơn Đại tướng Võ Nguyên Giáp: "Đồng chí Phùng Chí Kiên, là một trong bậc tiền bối cách mạng, có đức độ và có tài năng lớn về chính trị và cả về quân sự, một con người rất hoà hợp với đồng chí, đồng bào, rất dễ gần, một con người luôn hoạt bát, phát hiện vấn đề, giải quyết vấn đề, đoàn kết đồng chí, thực hiện nghiêm chỉnh chỉ thị của Bác và của Trung ương. Đồng chí Phùng Chí Kiên, là một trong những cán bộ lãnh đạo tiền bối, có công với Đảng ta, không những về tổ chức, mà ở cả đường lối cách mạng... Bản thân tôi cứ nhớ mãi đồng chí Phùng Chí Kiên, đặc biệt những ngày sống, làm việc chung với đồng chí Phùng Chí Kiên...". "Với tôi, mỗi khi nghĩ anh Phùng Chí Kiên là tôi cứ muốn khóc...".

Hai năm sau ngày đồng chí Phùng Chí Kiên hy sinh, Sóng Biển (đồng chí Trường Chinh) trong bài điếu "Gương hy sinh, nhớ tiếc anh Phùng", đăng trên báo Cờ giải phóng, cơ quan tuyên truyền cổ động của Đảng Cộng sản Đông Dương (số 2, ra ngày 26.8.1943) viết: "... Thôi! Thế là một đời chiến sĩ tài ba, lỗi lạc đã bỏ mình nơi ngàn cùng dặm cỏ... Cái chết của anh thật là một sự thiệt thòi cho Đảng. Nó còn gieo bao nỗi thương tiếc cho đồng chí.

Anh Phùng đã khuất! Nhưng tinh thần anh vẫn sống mãi với non sông, cây cỏ. Chúng ta càng nhớ anh, càng phải chiến đấu, để chóng hoàn thành sự nghiệp vĩ đại của Đảng ta, mà anh hoàn toàn ký thác nơi chúng ta...".

*

*        *

Khu 4 là miền đất thiên hiểm của Tổ quốc "địa linh nhân kiệt" luôn sản sinh những anh hùng hào kiệt, đem hết nghị lực và tài năng giúp dân cứu nước.

Những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, được sự quan tâm đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng, noi gương các vị anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh cống hiến cho sự nghiệp đấu tranh cách mạng của Đảng, quân và dân Quân khu 4 đã xây dựng, bảo vệ vùng tự do Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, biến nơi đây thành "căn cứ địa thứ 2" của cả nước, sau Việt Bắc. Nhân dân và lực lượng vũ trang Quân khu 4 đã đem hết tinh thần cùng cả nước một lòng toàn dân đánh giặc, động viên sức người, sức của chi viện sát cánh cùng quân dân Bình Trị Thiên khói lửa và đồng bào Bắc Bộ chiến đấu chiến thắng. Đặc biệt đồng bào và lực lượng vũ trang Khu 4, đã có những cống hiến lớn trên nhiều lĩnh vực và huy động sức người, sức của cho chiến cuộc Đông - Xuân 1953-1954, mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ đại thắng.

Đồng thời với công cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, thống nhất đất nước, quân và dân Khu 4 cũng nêu cao tinh thần quốc tế cao cả chi viện và sát cánh với quân dân các bộ tộc Lào anh em, chiến đấu xây đắp cho mối tình hữu nghị Việt - Lào ngày thêm tươi thắm.

Những năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ, địa bàn Quân khu 4 gồm cả tỉnh Quảng Bình và đặc khu Vĩnh Linh, trong khi miền Bắc xã hội chủ nghĩa trở thành căn cứ địa của cả nước, hậu phương lớn của tiền tuyến lớn, thì từ vị trí cực kỳ hiểm yếu của mình, Quân khu 4 đã trở thành hậu phương trực tiếp của chiến trường miền Nam. Biết bao nhân tài, vật lực chi viện cho tiền tuyến lớn, kể cả hai nước bạn Lào, Campuchia đều phải vận chuyển qua địa bàn Quân khu 4. Tuyến đường Hồ Chí Minh lịch sử cũng bắt nguồn từ đây.

Quân khu 4 đã trở thành trọng điểm quan trọng bậc nhất của chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân địch cùng các loại vũ khí hiện đại của đế quốc Mỹ, tập trung trút xuống vùng yết hầu, cán xoong dài và hẹp này. Với tinh thần dũng cảm vô song, cùng khả năng sáng tạo tuyệt vời, quân và dân quân Quân khu 4, đã chiến đấu kiên cường lập lên nhiều chiến công xuất sắc. Nhân dân và lực lượng vũ trang Quân khu 4 đã làm tròn xuất sắc nhiệm vụ hậu phương trực tiếp của miền Nam ruột thịt.

Nói sao cho hết tấm gương cao cả chủ nghĩa anh hùng cách mạng của quân và dân ta trong 30 năm kháng chiến lâu dài, anh dũng trên địa bàn khói lửa khốc liệt này. Dân tộc ta, Tổ quốc Việt Nam mãi ghi công, biết ơn bao anh hùng liệt sĩ cùng hàng triệu đồng bào cả nước, trong đó có đồng chí Phùng Chí Kiên, đã dũng cảm chiến đấu hy sinh quên mình, để cho chúng ta ngày nay có cuộc sống mới hoà bình hạnh phúc ấm no này.

Học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và các vị anh hùng, liệt sĩ, trong đó có Tướng quân Phùng Chí Kiên, lực lượng vũ trang nhân dân Quân khu 4 luôn phát huy truyền thống anh hùng sáng tạo trong các cuộc kháng chiến trước đây, cũng như trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Mười Hai, 2021, 09:01:42 am

PHÙNG CHÍ KIÊN - MỘT TÀI NĂNG QUÂN SỰ KIỆT XUẤT

Thiếu tướng LÊ MÃ LƯƠNG*

Tháng 6 năm 1940, phát xít Đức tấn công nước Pháp buộc Chính phủ Pêtanh ở Pháp đầu hàng phát xít Đức. Lợi dụng tình hình đó, phát xít Nhật tiến hành xâm chiếm Việt Nam, Lào, Campuchia. Đêm 22 rạng ngày 23 tháng 9 năm 1940, quân Nhật đánh vào Lạng Sơn. Quân Pháp tuy có chống đỡ nhưng bị tổn thất nặng buộc phải bỏ chạy khỏi Lạng Sơn về Thái Nguyên qua Bắc Sơn. Nắm bắt thời cơ, đêm 27 tháng 9 năm 1940, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương, gần 600 tự vệ và quần chúng cách mạng Bắc Sơn tiến hành khởi nghĩa, đánh chiếm Mỏ Nhài, chiếm châu lỵ Bắc Sơn, thành lập chính quyền cách mạng. Trước tình hình đó, Trung ương Đảng quyết định cử đồng chí Trần Đăng Ninh, Xứ ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ lên tăng cường cho Đảng bộ Bắc Sơn. Phong trào cách mạng ở Bắc Sơn phát triển mạnh mẽ, Đội du kích Bắc Sơn ra đời, chiến khu cách mạng được thành lập. Sau khi Chính phủ Pháp đầu hàng phát xít Đức thì ở Đông Dương toàn quyền Đờ-cu cũng đầu hàng phát xít Nhật và câu kết với chúng bóc lột nhân dân và đàn áp phong trào cách mạng của nước ta. Trước tình hình đó, nhiệm vụ đánh Pháp đuổi Nhật cứu nước, giành độc lập dân tộc đối với Việt Nam trở nên cấp thiết.

Năm 1938, từ Liên Xô, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Trung Quốc hoạt động cách mạng. Tại Côn Minh, Vân Nam - Trung Quốc, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tổ chức cuộc họp gồm các đồng chí lãnh đạo cách mạng Việt Nam tại hải ngoại và nhận định: "Thời cơ cho cách mạng Việt Nam đã đến. Mọi người không nên ở lại Quế Lâm nữa, phải tìm cách về nước ngay để hoạt động. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng...". Một trong số Ủy viên Trung ương Đảng ở hải ngoại, thường xuyên trao đổi và xin chỉ thị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc là đồng chí Phùng Chí Kiên, Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng. Những năm từ 1939-1941, đồng chí thường xuyên đưa đón Người đến các nơi như Mông Tự, Nghi Lương, Khai Viễn, Chí Thôn của tỉnh Vân Nam để nắm tình hình. Năm 1941, đồng chí cùng với Người trở về nước hoạt động. Sự kiện này mở ra bước ngoặt đối với cách mạng Việt Nam.

Phùng Chí Kiên tên thật là Nguyễn Vĩ. Trong quá trình hoạt động, đồng chí có những tên khác là Nguyễn Vợi, Nguyễn Hào, Mạnh Văn Liễu, Phùng, Lý Đông, Phùng Nguôn Bình, Đông Hải, Kan, Hừng Đông, Như Bạch, Phùng Quốc Nghiên... Đồng chí sinh năm 1901, quê ở làng Mỹ Quan Thượng, tổng Vạn Phần, phủ Diễn Châu, Nghệ An (nay là làng Mỹ Quan, xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An). Đồng chí sớm giác ngộ cách mạng, được Tổng bộ Thanh niên cách mạng đồng chí hội chọn lựa đưa sang Quảng Châu dự lớp huấn luyện cách mạng đầu tiên do Nguyễn Ái Quốc tổ chức năm 1926 cùng với các đồng chí Lê Hồng Phong, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, Lê Thiết Hùng, Trương Văn Lĩnh... Sau lớp học này, đồng chí Phùng Chí Kiên vào học tại Trường Quân sự Hoàng Phố (Quảng Đông) của Chính phủ Tôn Trung Sơn và gia nhập Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội. Tại đây, đồng chí Phùng Chí Kiên có dịp bộc lộ năng khiếu quân sự bẩm sinh. Tốt nghiệp khóa học với điểm ưu, đồng chí tham gia giảng dạy tại một trường quân sự chính trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc rồi cùng với một số cán bộ của Việt Nam tham gia khởi nghĩa Quảng Châu (12.12.1927) do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo, được cử làm Liên trưởng Hồng quân công nông Trung Quốc. Năm 1930, đồng chí gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 2 năm 1931, được sự giới thiệu của Nguyễn Ái Quốc, đồng chí được sang học trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản tại Mát-xcơ-va. Trên đường đi, đến Mãn Châu, đồng chí bị bắt giam gần một năm. Ra tù, Phùng Chí Kiên đổi tên là Kan (Hừng Đông) rồi tiếp tục sang Liên Xô học tập lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và kinh nghiệm đấu tranh bảo vệ xây dựng đất nước của nhân dân Liên Xô (từ năm 1933-1934).

Cuối năm 1934, Phùng Chí Kiên trở về Hương Cảng, hoạt động trong Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương. Đồng chí cùng các đồng chí Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập chuẩn bị triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng cộng sản Đông Dương lần thứ nhất tại Ma Cao, Trung Quốc, tháng 3 năm 1935. Trong số 13 Ủy viên Trung ương do đại hội bầu ra, đồng chí có tên cùng với các đồng chí Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Hoàng Đình Giong, Đình Thanh, Võ Nguyên Hiến, Võ Văn Ngân, Phạm Văn Xô... Tại đại hội, đồng chí được bầu vào Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương Đảng, phụ trách Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng.

Năm 1936, đồng chí trở về Sài Gòn cùng đồng chí Hà Huy Tập chỉ đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Năm 1937, đồng chí trở lại Hương Cảng với tấm thẻ căn cước mang tên Phùng Nguôn Vĩnh, sau bị cảnh sát Anh bắt và trục xuất. Năm 1938, đồng chí trở về Côn Minh - Trung Quốc, tham gia củng cố ban lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương và xuất bản tờ báo "Đấu tranh".

Cuối năm 1937, đồng chí Phùng Chí Kiên đến Hồng Công, phụ trách liên lạc giữa Đảng và quốc tế. Cuộc chiến tranh Trung - Nhật đã làm cho đường giao thông Hoa Nam bị gián đoạn do vậy đồng chí phải rời Hồng Kông về Quảng Đông cùng với Đảng Cộng sản Trung Quốc tổ chức đội du kích chống Nhật ở đó.

Năm 1938, Nguyễn Ái Quốc từ Mátxcơva về Trung Quốc. Tháng 2 năm 1939, Người tham gia lớp huấn luyện du kích tại Nam Nhạc, Hồ Nam. Cuối năm 1939, Người mới bắt liên lạc với Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng tại Côn Minh - Vân Nam. Cùng thời gian này đồng chí Phùng Chí Kiên trở về Vân Nam hoạt động. Tại đây, đồng chí Phùng Chí Kiên thường xuyên gặp gỡ, trao đổi, báo cáo với lãnh tụ Hồ Chí Minh về tình hình của Đảng và xin chỉ thị của Người về hoạt động của Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng. Đồng chí còn thường xuyên đưa đón Người đến các nơi như Mông Tự, Nghi Lương, Khai Viễn, Chí Thôn của tỉnh Vân Nam nắm tình hình. Năm 1941, đồng chí cùng Người và một số cán bộ của Đảng từ Trung Quốc về nước. Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam hiện còn lưu giữ khẩu súng ngắn Mauser, lãnh tụ Hồ Chí Minh trao cho đồng chí Đào Mạnh Vi (tức Thế An) dùng tổ chức con đường giao thông, bảo vệ đoàn cán bộ này từ Trung Quốc về nước, năm 1941.

Khi lãnh tụ Hồ Chí Minh và các đồng chí Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng, Hoàng Văn Thụ, Đào Mạnh Vi... về đến Nậm Quang, một vùng nằm sát biên giới Việt - Trung, tại đây, đồng chí Phùng Chí Kiên đã tập hợp 40 đồng chí thanh niên yêu nước để lãnh tụ Hồ Chí Minh huấn luyện, đào tạo về cách tổ chức đoàn thể quần chúng, cách tuyên truyền và huấn luyện, phương pháp đấu tranh cách mạng. Số cán bộ này sau trở thành những cán bộ cốt cán đưa về Cao Bằng xây dựng thí điểm ở các đoàn thể Việt Minh, lập khu căn cứ cách mạng. Dựa theo tài liệu huấn luyện của lãnh tụ Hồ Chí Minh, đồng chí Phùng Chí Kiên đã cùng với đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp biên soạn thành bài giảng huấn luyện cho cán bộ trong nước. Những tài liệu này sau được in thành sách: "Con đường giải phóng".

Ngày 28 tháng 1 năm 1941, tức ngày 2 Tết Tân Tỵ, Đoàn cán bộ của Đảng từ Nậm Quang vượt qua cột mốc biên giới 108 về Cốc Pó, Hà Quảng, Cao Bằng. Tại đây, đồng chí Phùng Chí Kiên đã tham gia tổ chức các lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ Việt Minh cho các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn và một số tỉnh miền xuôi chuẩn bị lực lượng cho các tổ chức cách mạng1.

Tại Pắc Bó, Hà Quảng, Cao Bằng từ ngày 10 đến ngày 19 tháng 5 năm 1941, lãnh tụ Hồ Chí Minh với tư cách là đại biểu của Quốc tế Cộng sản, đã triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8. Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh gọi tắt là Việt Minh, đổi tên các tổ chức trong mặt trận thành hội cứu quốc. Về xây dựng lực lượng vũ trang, Hội nghị quyết định xây dựng Đội tự vệ cứu quốc Việt Nam. Hội nghị quyết định giao cho ban Thường vụ Trung ương Đảng gồm các đồng chí Trường Chinh - Tổng Bí thư, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt trực tiếp chỉ đạo duy trì và phát triển lực lượng du kích Bắc Sơn, đồng thời cử đồng chí Phùng Chí Kiên, Bế Sơn Cương, Mã Thành Kính, Đặng Văn Cáp, Trần Văn Phấn về giúp Ban chỉ đạo Đội du kích Bắc Sơn và bổ sung lực lượng cho Đội du kích Bắc Sơn.
__________________________________
* Giám đốc Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam.
1.  Năm 1959 ông Thi Văn Lùng ở Nà Sác, Hà Quảng, Cao Bằng, trao cho Bảo tàng Quân đội (nay là Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam) khấu súng pháo hiệu, số nòng 26.7. Trong hồ sơ hiện vật của Bảo tàng có ghi: Được đồng chí Đào Mạnh Vi (Thế An) vận động, ông Thi Văn Lùng đã mua khẩu súng pháo hiệu này ủng hộ cách mạng. Súng được sử dụng báo hiệu khi có địch để bảo vệ lãnh tụ Hồ Chí Minh và các đồng chí Phạm Văn Đồng, Phùng Chí Kiên, Hoàng Văn Thụ... tại Cao Bằng, năm 1941.

Chiếc đánh lửa bằng sừng trâu của gia đình ông Mạn ở thôn Nà Mạ, xã Xuân Hòa, huyện Hà Quảng tỉnh Cao Bằng đã dùng đánh lấy lửa, dẫn đường, phục vụ Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí Trường Chinh, Phùng Chí Kiên, Hoàng Văn Thụ, Lê Quảng Ba... trong thời gian các vị hoạt động tại Cao Bằng, năm 1941. Hiện vật này được ông Mạn trao cho Bảo tàng, năm 1959.



Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Mười Hai, 2021, 09:03:11 am

Tháng 6 năm 1941, Phùng Chí Kiên cùng các đồng chí được giao nhiệm vụ chỉ đạo và tăng cương cho Đội du kích Bắc Sơn. Đồng chí cùng một số đồng chí cán bộ của Đảng từ Cao Bằng trở về Lũng Páy, Lân Táy, Bắc Sơn, khu vực đóng quân của Đội du kích Bắc Sơn.

Tại đây, cán bộ, chiến sĩ Đội du kích Bắc Sơn được nghe đồng chí Trường Chinh phổ biến Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 8. Để đáp ứng với nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, Đội du kích Bắc Sơn đổi tên là Đội cứu quốc quân 1. Đồng chí Phùng Chí Kiên, Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng phụ trách quân sự được lãnh tụ Hồ Chí Minh giao làm Chỉ huy trưởng, đồng chí Lương Văn Tri, Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ làm chỉ huy phó. Toàn đội có 37 người, được biên chế thành 3 tiểu đội, vũ khí có 15 súng trường, súng kíp còn lại là dao găm, mã tấu1.

Với cương vị Chỉ huy trưởng Đội cứu quốc quân 1, đồng chí Phùng Chí Kiên đã đem những kiến thức quân sự được học tập tại Trung Quốc và Liên Xô truyền đạt cho toàn đội và tự vệ, hội viên cứu quốc các tổ chức quần chúng ở châu Bắc Sơn. Những kiến thức đó được các bộ, chiến sĩ tham dự truyền đạt, phổ biến rộng rãi cho tự vệ và quần chúng cách mạng châu Bắc Sơn, góp phần làm cho phong trào cách mạng ngày càng phát triển rộng thêm.

Trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng Bắc Sơn, thực dân Pháp tăng cường lực lượng mật thám và bọn tay sai phản động theo dõi hòng đàn áp khủng bố phong trào cách mạng. Bọn địch dùng mọi thủ đoạn đối với nhân dân, chúng hết đe dọa, bắt đóng sưu cao thuế nặng, quay sang dụ dỗ, mua chuộc, lập đồn bốt dày đặc, thực hiện chính sách đốt sạch, phá sạch. Chúng còn mở những cuộc tiến công càn quét lớn, có cuộc lên tới 4.000 quân gồm cả lính Pháp, lê dương, lính khố đỏ, lính khố xanh, mật thám vào khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai. Bọn địch triệt hạ một số làng bản, khủng bố, bắn giết các gia đình cơ sở cách mạng và nhân dân, cướp bóc gia súc, phá hoại ruộng nương, dựng trại tập trung nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não của ta hòng "tát nước bắt cá". Nhưng nhân dân Bắc Sơn đã không nao núng trước kẻ thù, vẫn bí mật nhường cơm sẻ áo, tiếp tế lương thực, thực phẩm nuôi giấu bảo vệ cán bộ của Đảng, ủng hộ Cứu quốc quân chống địch khủng bố, duy trì lực lượng và giữ vững phong trào cách mạng.

Trước tình hình địch truy lùng ráo riết, Trung ương Đảng quyết định phân công đồng chí Phùng Chí Kiên và Lương Văn Tri ở lại đấu tranh chống địch càn quét, khủng bố, giữ vững phong trào, các đồng chí Trung ương khác rút khỏi vòng vây của địch từ Bắc Sơn xuống Võ Nhai để đến vùng an toàn. Đồng chí Phùng Chí Kiên đã họp ban chỉ huy, cử một tổ cứu quốc quân đi bảo vệ các đồng chí Trung ương, chuẩn bị lực lượng sẵn sàng chống địch khủng bố, càn quét và bảo vệ căn cứ.

Ngày 25 tháng 7 năm 1941, địch huy động lực lượng lớn, có sĩ quan Pháp chỉ huy, chia thành 4 hướng tiến công vào Mỏ Pia để lùng bắt các đồng chí Trung ương và Ban chỉ huy Đội cứu quốc quân trước đó đóng tại đây. Khi địch tiến công vào thì các đồng chí Trung ương đã sớm rút khỏi Lán Táy đến Khuổi Nọi. Bọn địch điên cuồng đàn áp nhân dân trong vùng, nhiều nhà cửa của đồng bào bị đốt phá, nhiều cơ sở cách mạng bị vỡ.

Trước những cuộc tiến công dồn dập của quân địch, dưới sự chỉ huy của đồng chí Phùng Chí Kiên và Lương Văn Tri, Đội Cứu quốc quân đã chiến đấu anh dũng, gây cho địch nhiều thiệt hai như trận Giá Huần xã Vũ Lễ. Thế nhưng kẻ thù liên tục càn quét, khủng bố, lực lượng so sánh giữa ta và địch chênh lệch, một số cơ sở của ta bị vỡ, Ban chỉ huy Cứu quốc quân chủ trương rút hai tiểu đội ra khỏi Bắc Sơn tiến lên vùng biên giới phía Bắc, duy trì lực lượng, xây dựng căn cứ. Còn một tiểu đội bí mật ở lại Bắc Sơn hoạt động chống địch khủng bố, giữ vững cơ sở cách mạng. Thực hiện chủ trương đó, tháng 8 năm 1941, lực lượng Cứu quốc quân chia làm hai cánh rút khỏi Bắc Sơn. Cánh thứ nhất gồm các đồng Hoàng Văn Thái, Đặng Văn Cáp, Dương Công Bình, Hoàng Văn Hán, Hoàng Như Ý... do đồng chí Hoàng Văn Thái và Đặng Văn Cáp chỉ huy. Cánh thứ hai gồm đồng chí Phùng Chí Kiên, Lương Văn Tri, Hà Khai Lạc, Bế Sơn Cương do đồng chí Phùng Chí Kiên và Lương Văn Tri chỉ huy.

Ngày 10 tháng 8 năm 1941, cánh quân của đồng chí Phùng Chí Kiên rút khỏi Khuổi Nọi qua các xã Bắc Sơn, Hữu Vĩnh, Vĩnh Đống, châu Bắc Sơn rồi đến châu Na Rì, Ngân Sơn - Bắc Kạn để lên Cao Bằng. Ngày 19 tháng 8 năm 1941, cánh quân đến Pò Kép xã Văn Học, châu Na Rì thì bị phục kích. Dưới sự chỉ huy của đồng chí Phùng Chí Kiên các chiến sĩ cứu quốc quân đã chiến đấu đánh trả quyết liệt mở đường tiến. Nhưng con đường lên Cao Bằng đã bị bọn địch vây chặt, ngày 22 tháng 8 năm 1941, khi cánh quân của đồng chí Phùng Chí Kiên đến làng Khau Pàn, xã Bằng Đức, châu Ngân Sơn Bắc Kạn bị địch phục kích. Đồng chí Phùng Chí Kiên chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, bắn chặn địch để đồng đội thoát khỏi vòng vây. Đồng chí bị thương và bị địch bắt. Không thể lay chuyển được người cộng sản, người chỉ huy kiên cường của Đội cứu quốc quân, bọn địch tra tấn, hành hạ và chặt đầu đồng chí bêu ở cầu Ngân Sơn, ngày 22 tháng 8 năm 1941.

Năm tháng qua đi nhưng Đội Cứu quốc quân và tên tuổi của đồng chí Phùng Chí Kiên vẫn được đồng đội và nhân dân ghi nhớ bởi đó là một trong những đội quân tiền thân của Đảng, là những cống hiến to lớn của đồng chí đối với Đảng ta, quân đội ta trong những năm tháng chông gai nhất của cách mạng Việt Nam. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, đồng chí Phùng Chí Kiên đã được tiếp cận với lãnh tụ Hồ Chí Minh, được Người huấn luyện, đào tạo trở thành cán bộ cách mạng, một chỉ huy quân sự kiệt xuất đầu tiên của Đảng. Đồng chí đã được Nhà nước tuyên dương công trạng, được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 89/SL truy phong hàm tướng đầu tiên, ngày 23 tháng 9 năm 1947. Năm 1994, đồng chí được Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng Huân chương và bằng Huân chương Chiến công hạng ba.

Hiện nay tại Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam lưu giữ trưng bày một số hiện vật về Đội du kích Bắc Sơn, Đội Cứu quốc quân 1 thể hiện phần nào cuộc sống, chiến đấu và tinh thần quả cảm của cán bộ, chiến sĩ của đội trong đó có đồng chí Phùng Chí Kiên. Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam cũng đang lưu gữi mâm gỗ, đĩa, nậm rượu, lọ sành là những đồ dùng sinh hoạt của gia đình cụ Nguyễn Khoản và Trần Thị Cúc (cha mẹ của đồng chí Phùng Chí Kiên) cùng một số hiện vật liên quan đến đồng chí Phùng Chí Kiên (do thân nhân đồng chí Phùng Chí Kiên gửi tặng).
________________________________
1.  Một số hiện vật gắn với Đội Cứu quốc quân hiện đang được Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam lưu giữ:
- Lưỡi mác: Đội cứu quốc quân đã sử dụng chiến đấu tại Đình Cả, Võ Nhai, năm 1941.
- Bát ăn cơm, liễn, ấm đun nước của nhân dân Bắc Sơn sử dụng phục vụ cơm nước cho Đội Cứu quốc quân, năm 1940-1941.
- Chiếc ấm sành của gia đình ông Dương Công Cao ở xã Hương Vũ, Bắc Sơn, Lạng Sơn dùng đun nước phục vụ Đội Du kích Bắc Sơn, Đội Cứu quốc quân.
- Chiếc nồi của đồng chí Mã Viết Minh, Mã Viết Phấn dùng nấu cơm phục vụ các đồng chí Trung ương ở Khuổi Nọi, Vũ Lễ, Bắc Sơn, năm 1941.
- Súng kíp của ông Hón xã Tân Hưng dùng chiến đấu khi tham gia Đội cứu quốc quân, năm 1941, chiến đấu giết một tên xếp đội đồn Canh Tiến.



Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Mười Hai, 2021, 09:23:35 am

BỐI CẢNH LỊCH SỬ VIỆT NAM 40 NĂM ĐẦU THẾ KỶ XX
VÀ CUỘC ĐỜI HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG CỦA PHÙNG CHÍ KIÊN

PGS, TS VŨ QUANG HlỂN*

Cuộc đời hoạt động cách mạng của Phùng Chí Kiên đã được đề cập qua một số tài liệu khác nhau như: Lịch sử các đội quân tiền thân Quân đội nhân dân Việt Nam của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (Nxb QĐND, HN, 2004), Những người cộng sản của Đức Vượng - Nguyễn Đình Nhơn (Nxb Thanh niên, HN, 2000), Website DienChau, Bách khoa toàn thư mở Wikipedia... Bên cạnh những điểm tương đồng, vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Đặt trong bối cảnh lịch sử của cách mạng Việt Nam 40 năm đầu thế kỷ XX, có thể xác định một số hoạt động quan trọng của Phùng Chí Kiên, nhưng cũng đặt ra những vấn đề cần có thời gian nghiên cứu, xác minh thêm.

1. Hai khuynh hướng chính trị trong phong trào dân tộc Việt Nam sau Chiến tranh thế giới thứ nhất và sự lựa chọn của Phùng Chí Kiên.

Năm 1901, Phùng Chí Kiên chào đời với tên khai sinh là Nguyễn Vĩ1, trong một gia đình nông dân ở làng Mỹ Quan Thượng, tổng Vạn Phần (nay là xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, Nghệ An), khi đất nước đã bị biến thành thuộc địa của đế quốc Pháp, nhân dân phải chịu cảnh lầm than. Tuy nhà nghèo, nhưng Phùng Chí Kiên vẫn được cha mẹ cho đi học sớm, lớn lên khi tiếng súng của Phong trào Cần Vương đã lịm tắt, hệ tư tưởng phong kiến hoàn toàn bất lực trước yêu cầu giải phóng dân tộc. Những người yêu nước Việt Nam cần một ánh sáng tư tưởng mới soi đường cho cuộc đấu tranh giành độc lập tự do.

Đầu thế kỷ XX, hệ tư tưởng tư sản đã ảnh hưởng tới Việt Nam. Đó là những tư tướng dân chủ tư sản phương Tây qua tân thư, tân báo, nhất là các tác phẩm của Voltaire, Russeau và Montesquieu; cuộc cải cách Minh Trị ở Nhật Bản (1868); những tư tưởng cải cách chính trị và văn hóa của Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu hồi cuối thế kỷ XIX và Cách mạng Tân Hợi (1911) của Đồng minh hội ở Trung Quốc. Trong lúc giai cấp tư sản Việt Nam chưa ra đời, các văn thân, sĩ phu đã tiếp thu hệ tư tưởng tư sản làm vũ khí chống Pháp, dấy lên một phong trào yêu nước sôi nổi, rộng lớn với hai xu hướng chủ yếu: bạo động của Phan Bội Châu và cải cách của Phan Châu Trinh, song rốt cuộc đều thất bại. Trước khi giai cãp tư sản Việt Nam ra đời, vũ khí tư tưởng của nó đã bị đế quốc Pháp giáng cho một đòn thất bại nặng nề.

Sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, xã hội Việt Nam có đầy đủ những giai cấp của một xã hội hiện đại: giai cấp công nhân tăng lên về số lượng, các giai cấp tư sản và tiểu tư sản thành hình. Đó là cơ sở vật chất cho sự du nhập những tư tưởng chính trị mới.

Trong khi hệ tư tưởng tư sản tiếp tục ảnh hưởng vào Việt Nam, sự biến chuyển của thời đại đang diễn ra nhanh chóng dưới ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga. Đối với nước Nga, đó là một cuộc cách mạng vô sản, nhưng đối với các dân tộc thuộc địa trong đế quốc Nga, thì đó còn là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Cuộc cách mạng này đã mở ra trước mắt các dân tộc bị áp bức "thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc"2. Chủ nghĩa Mác - Lênin trở thành hiện thực và được truyền bá rộng rãi khắp nơi, dẫn đến sự ra đời của nhiều Đảng Cộng sản ở các nước tư bản và thuộc địa. Hướng theo tiếng súng của Cách mạng tháng Mười, Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Lênin, xác định con đường giải phóng dân tộc theo khuynh hướng chính trị vô sản. Bám sát thực tiễn Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, xây dựng lý luận cách mạng giải phóng dân tộc và từng bước truyền bá vào Việt Nam.

Những giai cấp mới cùng những hệ tư tưởng mới dẫn đến sự hình thành hai khuynh hướng chính trị khác nhau trong phong trào dân tộc Việt Nam: vô sản và tư sản. Cả hai khuynh hướng đó đều cố gắng vươn lên giải quyết nhiệm vụ do lịch sử đặt ra: chống chủ nghĩa thực dân, giành độc lập dân tộc. Lê Duẩn từng phân tích: "Đặc điểm của phong trào cách mạng Việt Nam là không phát triển tuần tự từ tư sản qua vô sản, hết tư sản rồi mới đến vô sản, mà bản chất của nó là nhảy vọt. Trong một thời gian dài cả hai khuynh hướng vô sản và tư sản đều chen vai nhau mà tiến lên"3.

Mặc dù còn ít về số lượng, nhỏ bé về kinh tế, yếu đuối về chính trị, nhưng với tinh thần dân tộc, dân chủ, giai cấp tư sản Việt Nam đã hăng hái bước lên vũ đài chính trị với một phong trào yêu nước sôi nổi, rộng lớn, lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia, với những loại hình khác nhau: quốc gia cải lương (1919-1923), dân chủ công khai (1925-1926) và cách mạng (1927-1930).

Tại Quảng Châu (Trung Quốc), một nhóm thanh niên yêu nước tập hợp trong tổ chức Tâm tâm xã (1923) với hoạt động tiêu biểu là vụ mưu sát viên Toàn quyền Đông Dương Merlin của Phạm Hồng Thái (1924), nhưng không thành công. Tiếng bom Sa Diện vọng về trong nước, "như chim én nhỏ báo hiệu mùa Xuân".

Đồng thời với phong trào dân tộc tư sản, phong trào dân tộc vô sản từng bước hình thành và phát triển, gắn liền với những hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc ở hải ngoại, nhất là từ cuối năm 1924, khi Người về Quảng Châu (Trung Quốc) và sáng lập Hội Việt Nam cách mạnh thanh niên (6.1925). Đây là một tổ chức yêu nước có khuynh hướng cộng sản, một tổ chức quá độ để tiến lên thành lập đảng cộng sản, phù hợp với trình độ giác ngộ của thanh niên Việt Nam lúc đó. Hội mau chóng phát triển cơ sở ở khắp nơi; tổ chức huấn luyện cán bộ và đẩy mạnh truyền bá lý luận cách mạng giải phóng dân tộc về trong nước. Đồng thời với việc trực tiếp chuẩn bị điều kiện về tư tưởng chính trị và tổ chức cho sự ra đời một chính đảng cách mạng, Nguyễn Ái Quốc cũng quan tâm đặt nền móng để xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, nhất là việc đào tạo cán bộ quân sự.

Sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, đặc biệt từ giữa thập niên 20 của thế kỷ XX, trước mắt những thanh niên đầy nhiệt huyết cứu nước có hai sự lựa chọn: hoặc là đi theo con đường chính trị tư sản; hoặc là đi theo con đường chính trị vô sản. Trong phong trào yêu nước của tiểu tư sản trí thức Việt Nam những năm 1925-1926 có sự phân hóa ngày càng mạnh: một bộ phận đi sâu hơn nữa theo khuynh hướng tư sản, mà điển hình là Nam Đồng thư xã, dẫn tới sự ra đời của Việt Nam Quốc dân đảng; một bộ phận khác chuyển dần sang khuynh hướng vô sản, tiêu biểu là Phục Việt (1924), Hưng Nam (1925). Tổ chức này có quan hệ mật thiết với Hội Việt Nam cách mạng thanh niên ở Quảng Châu, cử nhiều người sang dự những lớp huấn luyện của Nguyễn Ái Quốc; sau một số lần đổi tên và đề nghị hợp nhất với tổ chức Thanh niên, nhưng không thành, đã lấy tên chính thức là Tân Việt cách mạng đảng (1928).

Những năm 1925-1926. khi Phùng Chí Kiên đang làm thuê cho một thương nhân người Hoa ở ga Yên Lý (thuộc huyện Diễn Châu, nằm trên tuyến đường sắt Hà Nội - Sài Gòn), cũng là lúc Tổng bộ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên cử cán bộ về Nghệ - Tĩnh hoạt động. Nhiều thanh niên, học sinh ở đây được giác ngộ và đưa sang Quảng Châu học tập.

Chịu ảnh hưởng của bối cảnh lịch sử trên đây, là một thanh niên có học, nhạy bén với thời cuộc, tháng 10 năm 1926, Phùng Chí Kiên cùng một số thanh niên quê Nghệ An sang Quảng Châu (Trung Quốc)4, dự lớp huấn luyện đầu tiên do Nguyễn Ái Quốc tổ chức, rồi được Nguyễn Ái Quốc giới thiệu vào học Trường Quân sự Hoàng Phố, trở thành một trong những cán bộ quân sự đầu tiên của cách mạng Việt Nam.

Tháng 4 năm 1927, Tưởng Giới Thạch gây chính biến phản cách mạng ở Thượng Hải, tàn sát, khủng bố những người cộng sản, mở đầu cho cho các hoạt động công khai chống cách mạng ở nhiều địa phương khác. Hợp tác Quốc - Cộng đế tiến hành cuộc chiến tranh Bắc phạt trong những năm 1926-1927 kết thúc5. Phùng Chí Kiên rút vào hoạt động bí mật ở vùng nông thôn tỉnh Quảng Đông, đứng về phía Đảng Cộng sản Trung Quốc, chống lại bọn quân phiệt; gia nhập quân cách mạng và tham gia bạo động Quảng Châu (12.12.1927) do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo. Cuộc bạo động thất bại, quân cách mạng rút về khu Xô-viết ở hai huyện Hải Phong và Lục Phong. Với cương vị là Đại đội trưởng Hồng quân công nông Trung Quốc, Phùng Chí Kiên đã cùng cán bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc chịu đựng gian khổ, phải ẩn náu hết nơi này đến nơi khác để tránh sự lùng sục của kẻ thù, kiên trì vận động quần chúng, giữ vững phong trào cách mạng.
__________________________________
* Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội.
1.  Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, Phùng Chí Kiên có tên khai sinh là Nguyễn Vĩ, còn có tên khác là Mạnh Văn Liễu. Theo Đức Vượng - Nguyễn Đình Nhơn, Phùng Chí Kiên còn có tên là Nguyễn Hào (Những người cộng sản, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2000, tr. 172).
2.  Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 8, Nxb Chính trị quổc gia, Hà Nội, 2000, tr. 563.
3.  Lê Duẩn, Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1970.
4.  Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia. Nhưng theo Lịch sử các đội quân tiền thân Quân đội nhân dân Việt Nam của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (Nxb QĐND. Hà Nội, 2004, tr.149), thì Phùng Chí Kiên là một trong những thanh niên yêu nước được cử sang Thái Lan học tập. Sau đó, được đồng chí Nguyễn Ái Quốc chọn đưa sang Trung Quốc đào tạo thành cán bộ". Website DienChau thì viết rằng: "Tháng 10 năm 1926, Phùng Chí Kiên cùng một số hội viên được giới thiệu sang Quảng Châu". Theo sách Những người cộng sản của Đức Vượng - Nguyễn Văn Nhơn (Nxb Thanh niên, Hà Nội. 2000, tr. 173): "Tháng 10 năm 1926, lúc ấy Phùng Chí Kiên 25 tuổi, được chi bộ Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội ở Nghệ Tĩnh giới thiệu sang Quảng Châu dự lớp huấn luyện".
5.  Trong những năm 1926-1927, Trung Hoa Quốc dân đảng và Đảng Cộng sản Trung Quốc hợp tác tiến hành cuộc Chiến tranh Bắc phạt, nhằm lật đổ các tập đoàn quân phiệt Bắc Dương đang chia nhau thống trị các vùng khác nhau. Trong khi chiến tranh cách mạng đang phát triển thắng lợi, các phần tử cánh hữu do Tưởng Giới Thạch cầm đầu câu kết với thế lực đế quốc, phong kiến chống lại phong trào cách mạng. Ngày 18 tháng 4 năm 1927, Tưởng Giới Thạch thành lập chính phủ tại Nam Kinh. Đến tháng 7 năm 1927, chính quyền hoàn toàn rơi vào tay tưởng Giới Thạch.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Mười Hai, 2021, 12:28:46 pm

2. Việt Nam trong những năm 30 của thế kỷ XX và hoạt động của Phùng Chí Kiên ở nước ngoài.

Đầu năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, với Cương lĩnh chính trị đúng đắn và hệ thống tổ chức chặt chẽ, quy tụ lực lượng toàn dân tộc, nắm quyền lãnh đạo duy nhất đối với cách mạng Việt Nam và làm dấy lên một phong trào cách mạng rộng lớn, trong đó, quần chúng công nông đã tỏ rõ khả năng cách mạng phi thường, làm rung chuyển trận địa của chủ nghĩa đế quốc ở nông thôn. Ban Chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng vừa mới thành lập đã lao ngay vào một cuộc chiến đấu toàn diện với kẻ thù. Đế quốc Pháp tập trung lực lượng đàn áp bằng sự kết hợp những thủ đoạn bạo lực với những thủ đoạn lừa bịp về chính trị. Cách mạng bị tổn thất hết sức nặng nề. Đến tháng 4 năm 1931, Tổng Bí thư Trần Phú (được bầu tại Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 10 năm 1930) sa vào tay giặc, toàn bộ Ban Chấp hành Trung ương Đảng bị bắt, không còn lại một Ủy viên Trung ương nào1. Các xứ ủy, tỉnh ủy đều bị phá vỡ. Tổ chức cơ sở của Đảng bị tan rã ở nhiều nơi. Tháng 6 năm 1931, nhà cầm quyền Anh bắt giam trái phép Nguyễn Ái Quốc tại Hương Cảng. Trong khi đó, cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933 vẫn hoành hành, thiên tai xảy ra liên tiếp. Tình hình chính trị và kinh tế hết sức căng thẳng.

Phải hoạt động trong bối cảnh trên là một thử thách khắc nghiệt đối với Đảng Cộng sản, đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải có bản lĩnh chính trị vững vàng và ý chí chiến đấu kiên cường để tiếp tục giữ vững ngọn cờ lãnh đạo cách mạng. Những năm 1931-1935 là thời gian diễn ra cuộc đấu tranh cực kỳ gian khổ nhằm chống khủng bố trắng, khôi phục hệ thống tổ chức của Đảng và cơ sở chính trị quần chúng.

Tại Quảng Đông, cuộc nội chiến Quốc - Cộng diễn ra quyết liệt, thực hiện chủ trương chuyển hướng lấy nông thôn làm trung tâm cách mạng của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Phùng Chí Kiên tham gia phát động nông dân nổi dậy, thành lập chính quyền Xô-viết ở khu vực Hải Phong, Lục Phong, tiến hành cuộc cách mạng ruộng đất. Quân đội Trung Hoa Quốc dân đảng tiến hành những cuộc vây quét lớn nhằm xóa bỏ các khu Xô-viết. Trong cuộc vây quét lần thứ 5 (1933-1934), lực lượng cách mạng bị tổn thất nặng nề, phải tiến hành cuộc Vạn lý trường chinh, rút lên phía Bắc2.

Trong hoàn cảnh hết sức khó khăn của cách mạng trong nước, Quốc tế Cộng sản và các Đảng Cộng sản anh em ra sức ủng hộ, giúp đỡ phong trào cách mạng Việt Nam, đạo tạo cán bộ, tạo điều kiện cho những người cộng sản Việt Nam về nước hoạt động; viết thư cổ vũ tinh thần chiến đấu.

Tháng 2 năm 1931, được sự giới thiệu của Nguyễn Ái Quốc, Phùng Chí Kiên sang học Trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản, nhưng khi đến Mãn Châu, thì bị phát xít Nhật bắt giam gần một năm. Ra tù, Phùng Chí Kiên đổi tên là Can rồi tiếp tục lên đường sang học ở Liên Xô (1933-1934).

Đầu năm 1934, sau khi kết thúc việc học tập, Phùng Chí Kiên rời Mátxcơva về Hương Cảng tham gia Ban chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương, tham gia chuẩn bị cho Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng.

Nhờ những nỗ lực ở cả trong và ngoài nước, phong trào cách mạng Việt Nam từng bước phục hồi. Các xứ ủy và tỉnh ủy được xây dựng lại. Tổ chức cơ sở đang phát triển ở nhiều nơi, nhất là vùng rừng núi và trung du Bắc Kỳ.

Tháng 3 năm 1935, Đại hội lần thứ nhất của Đảng họp tại Ma Cao (Trung Quốc). Đó là mốc đánh dấu sự phục hồi hệ thống tổ chức của Đảng, là điều kiện để đưa cách mạng Việt Nam tiếp tục tiến lên. Phùng Chí Kiên được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương khóa I, phụ trách công tác Đảng ở nước ngoài.

Để chống chủ nghĩa phát xít và nguy cơ chiến tranh thế giới, Đại hội VII của Quốc tế Cộng sản (7.1935) chủ trương điều chỉnh chiến lược cách mạng thế giới, thành lập Mặt trận nhân dân thế giới. Năm 1936, Mặt trận nhân dân Pháp lên cầm quyền, ban hành nhiều chính sách tự do dân chủ, trong đó có những chính sách được áp dụng ở thuộc địa, tạo khả năng đấu tranh công khai hợp pháp cho nhân dân Việt Nam. Ở trong nước, mọi tầng lớp xã hội đều mong muốn có những cải cách dân chủ đề thoát khỏi tình trạng ngột ngạt của khủng hoảng kinh tế và chính sách khủng bố trắng do đế quốc Pháp gây ra. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (7.1936) chủ trương điều chỉnh chiến lược cách mạng, đưa nhân dân bước vào cuộc vận động dân chủ 1936-1939.

Tháng 8 năm 1936, Phùng Chí Kiên bàn giao công tác Đảng ở ngoài nước cho Lê Hồng Phong, về Sài Gòn3 tham gia chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước.

Năm 1937, quân phiệt Nhật Bản tiến hành xâm lược Trung Quốc. Đảng Cộng sản Trung Quốc lại đề nghị hợp tác với Quốc dân đảng chống Nhật4. Quốc - Cộng hợp tác lần thứ hai bắt đầu. Cùng năm đó, theo yêu cầu của cách mạng, Phùng Chí Kiên được Trung ương Đảng điều sang Hương Cảng chỉ đạo công tác Đảng ở ngoài nước, thay cho Lê Hồng Phong về nước hoạt động. Rời Sài Gòn đi Hương Cảng, Phùng Chí Kiên mang tấm thẻ căn cước với tên một người Hoa: Phùng Nguôn Vĩnh. Ngoài nhiệm vụ được phân công, Phùng Chí Kiên coi đất nước Trung Quốc như đất nước Việt Nam, coi phong trào đấu tranh chống Nhật của nhân dân Trung Quốc như phong trào đấu tranh chống Pháp của nhân dân Việt Nam; sát cánh cùng những người cộng sản Trung Quốc, tích cực vận động Việt kiều ủng hộ nhân dân Trung Hoa chống Nhật.

Biết được vai trò của Phùng Chí Kiên, bọn tay sai Nhật tìm cách ngăn cản. Ngày 23 tháng 10 năm 1938, cảnh sát Anh ập đến số nhà 71, phố Đại Nam, Hương Cảng, Trung Quốc khám xét và bắt gian Phùng Chí Kiên. Hai tháng sau, do không có bằng chứng để kết án, chúng phải thả ra, nhưng trục xuất Phùng Chí Kiên khỏi Hương Cảng. Phùng Chí Kiên tới Quảng Đông, rồi sang Côn Minh (Quảng Tây), thành lập Hội Việt Nam ủng hộ nhân dân Trung Quốc đánh Nhật và xuất bản báo Đồng Thanh, sau đổi tên thành báo "ĐT" theo gợi ý của Nguyễn Ái Quốc, để mang ý nghĩa rộng hơn (có thể hiểu là Đồng Tâm, Đánh Tây hoặc Đấu Tranh). Đầu năm 1940, Phùng Chí Kiên hoạt động với Nguyễn Ái Quốc ở Côn Minh; nhiều lần đưa Nguyễn Ái Quốc đến một số nơi thuộc tỉnh Vân Nam như Mông Tự, Nghi Lương, Khai Viễn, Chi Thôn...
__________________________________
1.  Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, tr. 332.
2.  Cuộc nội chiến Quốc - Cộng (1927-1937): quần chúng cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc tiến hành cuộc chiến đấu chống Chính phủ Quốc dân Đảng. Sau thất bại của cuộc khởi nghĩa Vũ Xương (8.1927), Đảng Cộng sản Trung Quốc chuyển hướng về nông thôn, lãnh đạo nông dân giành chính quyền, thành lập các khu Xô-viết và Hồng quân công nông, tiến hành cách mạng ruộng đất, đập tan bốn cuộc vây quét lớn của quân đội Quốc dân đảng. Nhưng trong cuộc vây quét thứ năm (1933-1934), các khu Xô-viết bị tấn công, lực lượng cách mạng bị tổn thất nghiêm trọng. Hồng quân công nông phải phá vây, rút khỏi các căn cứ cách mạng, tiến hành cuộc Vạn lý trường chinh, đi lên phía Bắc, kết thúc thắng lợi năm 1936.
3.  Xem Đức Vượng - Nguyễn Đình Nhơn, Những người cộng sản, Sđd, tr. 177.
4.  Tháng 7 năm 1937, Nhật phát động cuộc chiến tranh xâm lược nhằm thôn tính toàn Trung Quốc. Trước nguy cơ dân tộc, Đảng Cộng sản Trung Quốc chủ động đề nghị Quốc dân đảng đình chỉ nội chiến, hợp tác chống ngoại xâm. Mặt trận dân tộc thống nhất chống Nhật được thành lập. Cách mạng Trung Quốc chuyển sang thời kỳ kháng chiến chống Nhật.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Mười Hai, 2021, 01:03:53 pm

3. Việt Nam trong giai đoạn đầu của Chiến tranh thế giới thứ hai và một số hoạt động của Phùng Chí Kiên trong phong trào giải phóng dân tộc.

Tháng 9 năm 1939, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ. Phát xít Nhật mở rộng xâm lược Trung Quốc, tiến sát biên giới Việt - Trung, uy hiếp Đông Dương. Bọn phản động thuộc địa Pháp ở Đông Dương ngóc đầu dậy đàn áp cách mạng, xóa bỏ những quyền tự do dân chủ mà nhân dân Việt Nam giành được trong những năm 1936-1939, đồng thời thi hành chính sách "kinh tế chỉ huy", nhằm vơ vét tiền của, phục vụ cuộc chiến tranh đế quốc mà Pháp cũng tham gia. Sau khi nước Pháp lọt vào tay phát xít Đức (6.1940), Nhật ngày càng gia tăng sức ép buộc Pháp ở Đông Dương phải nhượng bộ. Đứng trước họa xâm lược của phát xít Nhật và phong trào đấu tranh của quần chúng, thực dân Pháp lựa chọn con đường đầu hàng Nhật để đàn áp cách mạng. Tháng 9 năm 1940, Nhật vào Đông Dương. Pháp và Nhật câu kết với nhau để thống trị và bóc lột nhân dân ta.

Tình hình trên làm cho quyền lợi của mọi bộ phận, mọi giai cấp đều bị cướp giật. Vận mệnh dân tộc nguy vong không lúc nào bằng. "Bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không còn có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm vô luận da trắng hay da vàng để giành lấy giải phóng độc lập"1. Mâu thuẫn giữa các tầng lớp nhân dân Đông Dương với bọn đế quốc - phát xít Pháp - Nhật và tay sai phát triển gay gắt, nhiệm vụ giải phóng dân tộc được đặt ra vô cùng cấp thiết.

Trong sự biến chuyển của tình hình thế giới và trong nước, Phùng Chí Kiên chuẩn bị về nước hoạt động.

Tháng 6 năm 1940, Phùng Chí Kiên cùng Nguyễn Ái Quốc về Tĩnh Tây, một thị trấn thuộc tỉnh giáp biên giới Trung - Việt, để chuẩn bị về nước. Cuối năm 1940, Nhận được tin Nguyễn Ái Quốc đã về Tĩnh Tây, Trung ương Đảng cử Hoàng Văn Thụ sang đón. Sau khi thống nhất kế hoạch với Hoàng Văn Thụ, Phùng Chí Kiên đã tập hợp hơn bốn mươi thanh niên để lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc huấn luyện thành những cán bộ cốt cán, đưa về Cao Bằng xây dựng thí điểm các đoàn thể Việt Minh, lập khu căn cứ cách mạng. Theo chỉ đạo của Hồ Chí Minh, Phùng Chí Kiên cùng với Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp biên soạn bài giảng làm tài liệu huấn luyện cho cán bộ khi về nước. Những tài liệu này về sau được in thành sách với tiêu đề Con đường giải phóng2.

Khới nghĩa Bắc Sơn (9.1940)3, cùng các cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ (11.1940) và Binh biến Đô Lương (1.1941) là những đòn tiến công trực diện vào nền thống trị của đế quốc Pháp ở Đông Dương, đồng thời là những đòn cảnh cáo đanh thép đối với phát xít Nhật ngay khi chúng vừa đặt chân lên đất Việt Nam. Đó là "những tiếng súng báo hiệu cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc, là bước đầu đấu tranh bằng vũ lực của các dân tộc ở một nước Đông Dương"4. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (11.1940) quyết định duy trì lực lượng vũ trang Bắc Sơn để làm vốn quân sự cho cách mạng.

Ngày 28 tháng 1 năm 1941, Phùng Chí Kiên theo Hồ Chí Minh về Pắc Bó, Cao Bằng, trực tiếp tham gia lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc; tổ chức các lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ Việt Minh cho các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn và các tỉnh miền xuôi.

Tháng 5 năm 1941, Phùng Chí Kiên tham dự Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Pắc Bó, Cao Bằng. Hội nghị quyết định "thay đổi chiến lược"5, chủ trương không làm cuộc cách mạng tư sản dân quyền với hai nhiệm vụ phản đế và điền địa, mà chỉ làm một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc mà thôi. Cùng với việc xây dựng lực lượng chính trị, công tác xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng được Đảng đặc biệt coi trọng. Hội nghị đề ra chủ trương khởi nghĩa vũ trang, nhấn mạnh việc chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng, toàn dân. Tại Hội nghị này, Phùng Chí Kiên được phân công phụ trách quân sự và chỉ huy khu căn cứ Bắc Sơn.

Về Bắc Sơn - Võ Nhai, Phùng Chí Kiên cùng Chu Văn Tấn và Lương Văn Tri (tức Huy Còm) chỉ huy lực lượng vũ trang Bắc Sơn. Sang năm 1941, đội du kích Bắc Sơn lớn mạnh lên và thống nhất thành Trung đội Cứu quốc quân 1 (1.5.1941) do Phùng Chí Kiên làm Chỉ huy trưởng.

Trước thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nhật hòa với Pháp để Pháp rảnh tay đàn áp cách mạng. Cuối tháng 6 năm 1941, thực dân Pháp huy động hàng nghìn quân, tổ chức thành nhiều mũi, mở cuộc càn quét lớn vào khu căn cứ nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não và lực lượng vũ trang Việt Minh. Các cơ sở bí mật của Trung ương và Cứu quốc quân bị uy hiếp nghiêm trọng. Trong cuộc họp khẩn cấp tại Khuổi Nọi (xã Vũ Lễ), Ban chỉ huy Cứu quốc quân quyết định cử một tổ bảo vệ và dẫn các cán bộ lãnh đạo Trung ương Đảng qua Tràng Xá về xuôi an toàn.

Phùng Chí Kiên chỉ huy Đội Cứu quốc quân 1 chiến đấu anh dũng, phá một số trận càn lớn của Pháp. Do chênh lệch về so sánh lực lượng, Ban lãnh đạo căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai quyết định để lại một tiểu đội, do Chu Văn Tấn chỉ huy, tiếp tục hoạt động, còn hai tiểu đội, theo hai đường Thất Khê và Na Rì, rút lên Cao Bằng.

Ngày 19 tháng 8 năm 1941, bộ phận của Phùng Chí Kiên và Lương Văn Tri qua Pò Kép (xã Văn Học, châu Na Rì, Bắc Kạn) thì bị lộ, nhưng thoát được. Ngày 21 tháng 8 năm 1941, đơn vị lại bị phục kích và bị bao vây tại xã Bằng Đức (Ngân Sơn). Mặc dù bị thương nặng, Phùng Chí Kiên vẫn bắn chặn quân đối phương để đồng đội thoát khỏi vòng vây. Bắn hết viên đạn cuối cùng, Phùng Chí Kiên bị đối phương bắt và đưa về bốt Khau Pàn, tra tấn đến chết, rồi cắt đầu đem bêu ở đầu cầu Ngân Sơn nhằm uy hiếp tinh thần cán bộ, nhân dân địa phương. Hôm đó là ngày 22 tháng 8 năm 1941.

Phùng Chí Kiên đã ngã xuống vào lúc tròn tuổi 40, sự kiện đó như tiếng chuông thức tỉnh nhân dân, làm cho ngọn lửa cách mạng ở Ngân Sơn bùng cháy và ngày càng bốc cao trong phong trào đánh Pháp, đuổi Nhật, giành độc lập tự do.
________________________________
1.  Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 536.
2.  Theo Website DienChau (ngày 13.7.2005), cuối năm 1940, Phùng Chí Kiên huấn luyện 40 cán bộ cốt cán của Việt Nam tại Trung Quốc, cần xác minh thêm.
3.  Có ý kiến cho rằng Phùng Chí Kiên tham gia cuộc Khởi nghĩa Bắc Sơn (9.1940), cần xác minh thêm.
4.  Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 7, Sđd, tr. 58.
5.  Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng nêu rõ: "Cần phải thay đổi chiến lược. Sự thay đổi về kinh tế, chính trị Đông Dương, lực lượng giai cấp Đông Dương buộc Đảng ta phải thay đổi chính sách cách mạng ở Đông Dương cho hợp với nguyện vọng chung của toàn thể nhân dân Đông Dương". Nhiệm vụ đánh Pháp đuổi Nhật "không phải riêng của giai cấp vô sản và dân cày, mà là nhiệm vụ chung của nhân dân Đông Dương", "cuộc cách mạng ở Đông Dương hiện tại không phải là một cuộc cách mạng thuộc địa dân quyền, cuộc cách mạng phải giải quyết hai vấn đề: phản đế và điền địa nữa, mà một cuộc cách mạng chỉ phải giải quyết một vấn đề cần kíp "dân tộc giải phóng" (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 7, Sđd, tr. 118).


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Mười Hai, 2021, 01:12:58 pm

TÌM HIỂU NHỮNG NHÂN TỐ
TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG CỦA PHÙNG CHÍ KIÊN

TS TRẦN VĂN THỨC*
ĐẬU ĐỨC ANH

Nhân cách của mỗi con người luôn được hình thành và phát triển trong một môi trường văn hoá nhất định và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố tác động xung quanh. Đương nhiên, quá trình hình thành và phát triển của sự nghiệp yêu nước, sự nghiệp cách mạng của mỗi cá nhân là sản phẩm của nhiều yếu tố. Nguyễn Vĩ (tức Phùng Chí Kiên) là một trong những trường hợp như vậy.

Trong bài viết này, chúng tôi tập trung nghiên cứu những yếu tố tác động đến sự nghiệp yêu nước, sự nghiệp cách mạng của Phùng Chí Kiên trên nhiều phương diện: truyền thống của gia đình và quê hương; ảnh hưởng của những hoạt động tích cực của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đối với Phùng Chí Kiên.

Phùng Chí Kiên tên thật là Nguyễn Vĩ (và nhiều bí danh khác). Ông sinh năm 1901 và hy sinh năm 1941. Phùng Chí Kiên sinh ra và lớn lên tại làng Mỹ Quan Thượng, tổng Vạn Phần (nay thuộc xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu). Năm 1925, ông bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng, năm 1930, ông gia nhập vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Cuộc đời hoạt động cách mạng của Phùng Chí Kiên tuy ngắn ngủi nhưng lại có nhiều đóng góp cho cách mạng Việt Nam. Vậy, những nhân tố nào đã có tác động tích cực đến sự nghiệp yêu nước và cách mạng của Phùng Chí Kiên?

1. Nguyễn Vĩ - Phùng Chí Kiên là hậu duệ đời thứ 6 của dòng họ Nguyễn tại Diễn Yên, Diễn Châu1. Có thể nói, dòng họ Nguyễn ở Diễn Yên, Diễn Châu từ đời cụ Nguyễn Đình Liêu cho đến đời của Nguyễn Vĩ là một dòng họ có truyền thống hiếu học, đỗ đạt và thân dân. Trong dòng họ, có những thời, có những người tuy giữ cương vị là chức sắc của làng nhưng luôn luôn có tư tưởng thương dân, đấu tranh bênh vực cho quyền lợi của nhân dân.

Truyền thống hiếu học và khoa bảng cũng như tư tưởng thương dân của dòng họ là những giá trị tinh thần đã ảnh hưởng, tác động rất lớn đối với việc hình thành nên tư tưởng yêu nước của Nguyễn Vĩ. Hay nói cách khác, truyền thống dòng họ là mạch nguồn tạo nên tư tưởng yêu nước, thương dân của Nguyễn Vĩ khi ông sinh ra và lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan. Cũng chính vì vậy, nên khi Nguyễn Vĩ bắt đầu bước vào con đường hoạt động cách mạng, ông đã được gia đình tạo điều kiện hết sức thuận lợi không chỉ cho riêng ông mà còn của các đồng chí của ông. Theo lời kể của bà Trương Thị Đông (vợ của ông Nguyễn Văn Việt - cháu gọi Nguyễn Vĩ bằng chú), khi Nguyễn Vĩ tham gia hoạt động cách mạng, ông đã được gia đình chăm lo và hết sức giữ bí mật. Những ngày trước khi ông sang Trung Quốc hoạt động, ông thường đi đêm về hôm, đi không ai biết, về không ai hay, nhưng gia đình ông đã lo cho ông từng bữa ăn một cách bí mật và chu đáo2.

Như vậy, chúng ta có thể khẳng định, truyền thống của gia đình và dòng họ là mảnh đất màu mỡ đầu tiên hun đúc nên tinh thần yêu nước và cách mạng của Phùng Chí Kiên. Tuy nhiên, ngoài yếu tố gia đình và dòng họ, tinh thần yêu nước của Nguyễn Vĩ còn được hình thành và phát triển trên một miền quê giàu truyền thống chống xâm lăng.

2. Nguyễn Vĩ sinh ra và lớn lên tại làng Mỹ Quan nay thuộc xã Diễn Yên. Các xã Mỹ Quan, Yên Lý trước đây là những xã ở phía Bắc Đông Luỹ, đã từng được chứng kiến bao phen đất nước thăng trầm: Quân Minh đánh thành Đông Luỹ của nhà Hồ, nhà Lê đánh quân Minh ở Đông Luỹ, Tây Sơn đánh quân Trịnh lấy Đông Luỹ. Từ năm 1466, Đông Luỹ trở thành phủ lỵ của phủ Diễn Châu thì xã Yên Lý và Mỹ Quan nghiễm nhiên nằm vào trung tâm văn hoá, chính trị, kinh tế và quân sự của phủ. Trước khi chưa có đường quốc lộ 1A, cung Lứ đặt ngay tại Yên Lý (nơi các quan chức nhà vua đi công cán cũng như lính tráng đi làm nhiệm vụ đến dừng chân, thay phu cáng và đổi ngựa). Khách lữ hành dọc đường thiên lý cũng chọn nơi này làm chỗ dừng chân khi gặp lúc tối trời. Vì vậy, từ xưa nhân dân xã Diễn Yên đã được tiếp xúc với nhiều hạng    người trong xã hội. Điều này tạo cho tính cách của người nông dân nơi đây vừa lặng lẽ với cái vỏ bọc làng quê lại vừa nhanh nhạy với thời cuộc.

Cũng chính vì vị trí địa lý thuận lợi như vậy nên khi lời hiệu triệu của thủ lĩnh Cần vương Bắc Nghệ Tĩnh Nguyễn Xuân Ôn đã lan vào tận các thôn xóm Diễn Yên. Trai tráng thì tham gia nghĩa quân, nhà giàu thì cúng tiền của, thóc gạo... Đốc Hạnh (Trương Hạnh) là người đứng lên tổ chức nghĩa quân ở nơi đây, nghĩa quân của Đốc Hạnh đã cùng với nghĩa quân nhiều nơi khác yểm hộ một đoạn đường thiên lý dài, đánh phục kích trận Cầu Lồi làm cho quân Pháp từ Thanh Hoá vào phải bỏ chạy tan tác. Nghĩa quân của Đốc Hạnh còn tham gia vào trận công thành Phủ Diễn, v.v...

Chính truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm của cha ông đã hun đúc cho con người nơi đây tinh thần bất khuất, ý chí giải phóng quê hương đất nước. Cũng như bao người con cùng thế hệ, Phùng Chí Kiên đã sớm bước vào con đường hoạt động yêu nước chống Pháp. Tuy nhiên, tinh thần đó lại sớm được bồi đắp bởi ánh sáng của cách mạng. Và, yếu tố có vai trò to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của Phùng Chí Kiên, đó là ông đã sớm được giác ngộ lý tưởng cách mạng theo con đường Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã lựa chọn.

3. Sau khi thực dân Pháp bình định xong nước ta, chúng bắt tay vào công cuộc khai thác thuộc địa. Để phục vụ cho công cuộc đó, thực dân Pháp đã xây dựng tuyến đường sắt xuyên Việt và ga Yên Lý ra đời từ đấy. Đầu thế kỷ XX, nông thôn Diễn Yên không còn lặng lẽ như bao đời, nơi đây đã trở thành một trong những đầu mối giao thông của Diễn Châu. Vì lẽ đó, nên từ rất sớm, Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đã sớm bắt được liên lạc và gây dựng cơ sở tại đây.

Thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga và chính những hoạt động không mệt mỏi của Nguyễn Ái Quốc đã làm cho lớp thanh niên trí thức, học sinh ở Diễn Châu nói chung và Diễn Yên nói riêng, sớm giác ngộ được trách nhiệm của mình đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc. Ở Diễn Yên có ông Lê Chương, Trương Đức Thạp, Lê Nhu đều là con nhà giàu, có học thức, thông thạo chữ Hán, chữ Pháp, chữ Quốc ngữ... đã thành lập chi hội của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, gây cơ sở cách mạng đầu tiên cho vùng Yên Lý, Mỹ Quan3.

Mặc dù Nguyễn Vĩ sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nhưng anh vẫn được cha mẹ cho đi học. Sau khi thi đỗ sơ học yếu lược gia đình gặp khó khăn, Nguyễn Vĩ phải nghỉ học giúp cha mẹ làm ruộng. Đến năm 1925, anh lên ga Yên Lý làm thuê cho một thương nhân người Hoa. Chính thực tế cuộc sống và công việc ở nơi đây, Nguyễn Vĩ đã thấy được nhiều cảnh bất công ngang trái và cũng là nơi ông bắt đầu gặp gỡ, giao lưu với những người yêu nước, có chí hướng tiến bộ. Trong thời gian làm việc tại ga Yên Lý, ông gặp đồng chí Lê Hữu Lập (tức Hoàng Lùn) - một cán bộ của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên. Vốn là người có học, nhạy bén với thời cuộc, lại được sự dìu dắt, giúp đỡ của đồng chí Lê Hữu Lập, nên Phùng Chí Kiên đã tham gia tích cực trong nhóm đọc sách, báo tiến bộ và quyên góp tiền ủng hộ những người xuất dương tìm đường cứu nước.

Như vậy, chính những hoạt động tích cực của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đã có vai trò quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng của Phùng Chí Kiên. Bằng những nỗ lực cố gắng và nhiệt huyết cách mạng của mình, nên tháng 10 năm 1926, Phùng Chí Kiên được giới thiệu sang Quảng Châu dự lớp huấn luyện do Tổng bộ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên tổ chức. Từ đây, Phùng Chí Kiên bước vào một thời kỳ mới - thời kỳ tham gia học tập, nghiên cứu lý luận cách mạng. Và, sau khi tốt nghiệp Trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản, Phùng Chí Kiên bước vào thời kỳ hoạt động sôi nổi, có nhiều đóng góp cho cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, ông đã anh dũng hy sinh khi cuộc đời còn rất trẻ, sự nghiệp cách mạng của ông đang ở vào độ chín.

Chúng ta có thể khẳng định, sự nghiệp cách mạng của mỗi cá nhân nói chung, Phùng Chí Kiên nói riêng, là kết quả của sự tương tác bởi nhiều nhân tố, trước hết là gia đình, dòng họ, quê hương. Đối với Phùng Chí Kiên, ông lại có may mắn sớm được tiếp xúc với lý tưởng cộng sản và dấn thân vào sự nghiệp cách mạng. Đây chính là kết quả của những hoạt động của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên và đây cũng là nhân tố góp phần quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng của ông. Nhưng theo chúng tôi, yếu tố có vai trò quyết định nhất cho sự chuyển biến về mặt tư tưởng và nhận thức cách mạng của Phùng Chí Kiên đó là những phẩm chất cá nhân của ông.

Qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu về Phùng Chí Kiên, chúng tôi mạnh dạn đưa ra một số đề xuất như sau:

- Phùng Chí Kiên là một trong những người có rất nhiều đóng góp đối với cách mạng Việt Nam, nhưng có nhiều sự kiện, nhiều giai đoạn liên quan đến nhân vật lịch sử này chưa được làm sáng tỏ một cách thoả đáng so với tầm vóc và vị trí của ông. Do đó, cần phải tập trung nghiên cứu để làm nổi bật công lao, vai trò và vị trí của ông đối với cách mạng Việt Nam, nhất là giai đoạn ông trực tiếp chỉ huy Khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai, Chỉ huy trưởng Đội Cứu quốc quân 1. Thiết nghĩ, những kết quả nghiên cứu đó sẽ có vai trò quan trọng nhằm bổ sung, hoàn thiện những thông tin ít ỏi về nhân vật lịch sử Phùng Chí Kiên trong các giáo trình đại học, từ đó góp phần lấp đi một "khoảng trống lịch sử".

- Cần phải tiến hành xây dựng khu lưu niệm Phùng Chí Kiên tại quê nhà để lưu giữ, tái tạo và tôn vinh những đóng góp của ông đối với cách mạng Việt Nam. Và, đây sẽ là một trong những địa chỉ quan trọng góp phần giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ và giảng dạy lịch sử địa phương.
_______________________________
*  Khoa Lịch sử, Trường Đại học Vinh.
1.  Theo gia phả dòng họ Nguyễn tại Diễn Yên, Diễn Châu.
2.  Theo lời kể của bà Trương Thị Đông (vợ ông Nguyễn Văn Việt - cháu gọi Phùng Chí Kiên bằng chú ruột).
3.  Đảng ủy - Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân - Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã Diễn Yên, Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Diễn Yên, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2007, tr. 51.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Mười Hai, 2021, 01:53:49 pm

PHÙNG CHÍ KIÊN - CỘI NGUỒN VÀ SỨC SỐNG

LÊ HỒNG CHINH*

Ngược dòng thời gian tìm về quá khứ, mỗi chúng ta đều thấy lòng mình mang niềm thương, nỗi nhớ về mảnh đất chôn rau cắt rốn, đều thấy xao xuyến, bồi hồi và xen lẫn niềm tự hào về truyền thống khi quê hương mình có những người con làm nên lịch sử. Đó là tâm trạng của những người trên quê hương Diễn Yên anh hùng - nơi sinh thành nuôi dưỡng người chiến sĩ cách mạng, người học trò xuất sắc của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Đó là Phùng Chí Kiên. Để hiểu hơn về tâm hồn, khí phách của Phùng Chí Kiên, xin được trở lại với vùng đất Diễn Yên, huyện Diễn Châu, một vùng quê có bề dày truyền thống cách mạng.

*

*        *

Địa danh Diễn Châu xuất hiện khoảng đầu thế kỷ thứ VII với tên gọi là huyện Hàm Hoan nằm trong Hoan Châu và là 1 trong 12 châu của An Nam đô hộ phủ. Thời bấy giờ, người dân các vùng phía bắc Hoan Châu đã đến đây khai phá đất hoang, sinh cơ lập nghiệp. Các làng xưa của vùng này được đặt tên rất đẹp như: Yên Lý, Mỹ Quan, Mỹ Lộc, Thịnh Mỹ, Tiên Yên... Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, các làng cũ được chia thành hai xã Yên Lý và Mỹ Quan. Từ năm 1947, Yên Lý và Mỹ Quan hợp nhất thành xã Yên Mỹ. Cuối năm 1950, theo chủ trương của huyện Diễn Châu, xã Yên Mỹ hợp với một số xã khác trong vùng thành xã Diễn Đức. Năm 1959, xã Diễn Đức giải thể và chia thành 5 xã mới là Diễn Hồng, Diễn Phong, Diễn Mỹ, Diễn Hải và Diễn Yên. Tên Diễn Yên chính thức có từ ngày đó. Đây là đơn vị hành chính nằm phía bắc huyện Diễn Châu, có dân số và diện tích tự nhiên lớn nhất, nhì trong huyện (Diễn Yên có gần 1.522 hécta đất tự nhiên với dân số 15.500 người, gồm 17 xóm). Diễn Yên nằm ở vị trí khá thuận lợi về giao thông. Xã có đường Quốc lộ 1, mạch giao thông chính của quốc gia chạy ngang. Diễn Yên cũng là điểm xuất phát của quốc lộ 48 đi các huyện miền Tây Nghệ An như Nghĩa Đàn, Quỳ Châu, Quế Phong. Diễn Yên còn có ga tàu, có đường sắt Bắc - Nam đi qua. Điều kiện giao thông thuận lợi ấy đã tạo cho con người nơi đây sớm tiếp cận với xã hội và thông tin khắp mọi miền trong cả nước, tạo sự năng động, sáng tạo cho người dân Diễn Yên ngay từ buổi ban đầu. Nghề chính của người dân Diễn Yên là sản xuất nông nghiệp, ngoài ra còn nghề phụ như đan lát, nghề rèn, nghề mộc và làm bánh hay nghề làm sơn tràng đốt củi, đốt than. Người dân nơi đây cần cù, chịu thương chịu khó, sống thẳng thắn, trọng tình nghĩa.

Diễn Yên là một vùng quê có truyền thống cách mạng. Khi phong trào Văn Thân Cần Vương chống Pháp nổ ra, Diễn Yên có người tham gia. Từ năm 1925 đến 1929, Diễn Yên có 19 thanh niên tham gia tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, có 10 người xuất dương tìm đường cứu nước. Trong phong trào Xôviết - Nghệ Tĩnh 1930-1931, nơi đây đã diễn ra nhiều cuộc đấu tranh biểu tình, điển hình là cuộc biểu tình của Tổng Vạn Phần vào ngày 27 tháng 5 năm 1931, tại cánh đồng Nu, cây Đa Cống ở làng Mỹ Quan. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, hàng nghìn dân Diễn Yên đã dùng gậy gộc tiến vào thành Phủ Diễn biểu tình. Địch đàn áp đẫm máu, 24 người đã hy sinh. Tính đến ngày Cách mạng tháng Tám thành công, Diễn Yên có 68 người bị địch chém giết, tù đày. Vài nét phác thảo về miền quê này để ta hiểu sâu hơn nét đẹp đáng quý trong lối sống và nhân cách những người con nơi đây, đó chính là cội nguồn của những tấm gương kiên trung, bất khuất, mà Phùng Chí Kiên là một điển hình.

Phùng Chí Kiên có tên khai sinh là Nguyễn Vĩ, sinh ngày 18 tháng 5 năm 1901 tại làng Mỹ Quan Thượng, xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, là con một gia đình nông dân. Cha là Nguyễn Khoản, mẹ là Trần Thị Cúc. Gia đình ông bà Khoản có 4 người con là Nguyễn Dốc, Nguyễn Nhị, Nguyễn Thị Loan và Nguyễn Vĩ (Phùng Chí Kiên). Đồng chí Phùng Chí Kiên đã lập gia đình với chị Hoàng Thị Luận, quê xã Diễn Mỹ. Trong thời gian Phùng Chí Kiên hoạt động cách mạng, chị Luận chờ đợi 8 năm không có tin tức nên đành phải đi xây dựng gia đình với người khác.

Làng Mỹ Quan Thượng là vùng đất phía đông bắc của xã Diễn Yên. Cũng như các làng quê khác của Diễn Yên và huyện Diễn Châu, làng Mỹ Quan quê ông hồi ấy còn nghèo lắm, dân trong làng phải chạy ăn từng bữa. Vùng Mỹ Quan ruộng đất chủ yếu chỉ trồng màu như khoai, ngô, lạc, đỗ. Khoai là lương thực chính của người dân Mỹ Quan thời bấy giờ. Nghề phụ đan lát là nét đặc trưng của người dân nơi đây. Ngay tên làng đã gợi nét đẹp thuần phong mỹ tục vùng quê này. Diễn Yên có 25 dòng họ sinh sống. Họ Nguyễn là một trong những dòng họ lớn. Theo gia phả để lại thì cụ Nguyễn Đình Liêu (gốc Hà Tĩnh) là người có học, thông minh. Cụ đi làm ăn và lấy vợ là người Mỹ Quan rồi sinh cơ lập nghiệp ở đây. Từ cụ Nguyễn Đình Liêu đến nay có 10 thế hệ. Nguyễn Vĩ là hậu duệ đời thứ 6. Đây là dòng họ có truyền thống cách mạng và hiếu học. Trước kia họ Nguyễn có 9 người thi trúng nhất, nhị và tam trường, có 5 người thi đậu bằng PRIME, có 17 người tham gia cách mạng trước tháng Tám năm 1945, có 25 người tham gia quân đội với quân hàm thiếu tá trở lên. Họ Nguyễn có 80 người có trình độ đại học và trên đại học.

Cây có cội, sông có nguồn, chim có tổ, người có tông. Cội nguồn của Phùng Chí Kiên là cội nguồn của một vùng quê giàu truyền thống cách mạng. Dòng dõi của Phùng Chí Kiên là dòng dõi lương thiện, thông minh. Tất cả những nét đẹp cao quý đó đã góp phần hình thành nhân cách, ý chí, tình cảm trong sáng của người chiến sĩ cách mạng. Thuở nhỏ, Phùng Chí Kiên cũng như bao cậu bé nghèo khổ ở làng Mỹ Quan. Anh lớn lên với những ngày tháng đói cơm, rách áo nhưng cha mẹ vẫn cố gắng cho anh học thi đỗ sơ học Yếu lược. Sau đó, anh phải nghỉ học, ở nhà làm ruộng giúp gia đình. Năm 1925, anh nhận làm thuê cho một thương nhân buôn gạo người Hoa kiều tại ga Yên Lý. Tại đây, anh được tiếp xúc với nhiều lớp người, thấy nhiều bất công ngang trái và nỗi khổ của người dân mất nước. Thời gian này, Tổng bộ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên ở Quảng Châu (Trung Quốc) cử cán bộ về gây cơ sở ở Nghệ - Tĩnh. Là người có học, nhạy bén với thời cuộc, Phùng Chí Kiên được các ông Nguyễn Tăng Tựu (Nghi Lộc), Lê Hữu Lập (Hậu Lộc, Thanh Hoá) bắt liên lạc kết nạp vào Hội. Nhà anh trở thành nơi gặp gỡ của những người cùng chí hướng. Tháng 10 năm 1926, Phùng Chí Kiên với tấm thẻ căn cước của người chú ruột là Nguyễn Hào, được giới thiệu sang Quảng Châu dự lớp huấn luyện. Để chuẩn bị nguồn cán bộ sau này cho cách mạng, Phùng Chí Kiên được Nguyễn Ái Quốc gửi đi học Trường Quân sự Hoàng Phố. Lúc này, Phùng Chí Kiên đổi tên là Mạnh Văn Liễu. Tháng 4 năm 1927, Tưởng Giới Thạch làm binh biến phản cách mạng, nhà trường đóng cửa. Phùng Chí Kiên tham gia cách mạng Trung Quốc và Khởi nghĩa Quảng Châu với cương vị là Đại đội trưởng. Tháng 2 năm 1931, theo chỉ thị của Nguyễn Ái Quốc, Phùng Chí Kiên rời Quảng Châu sang Liên Xô học ở Trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản, nhưng trên đường đi, đồng chí bị bắt giam gần 1 năm ở Mãn Châu. Ra tù anh đổi tên là Can rồi tìm đường sang Liên Xô để tiếp tục sự nghiệp. Gần 2 năm, Phùng Chí Kiên ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, nghiên cứu kinh nghiệm đấu tranh cách mạng và bảo vệ chế độ Xô-viết của nhân dân Liên Xô với hy vọng trở về áp dụng tại đất nước Việt Nam. Đầu năm 1934, Phùng Chí Kiên tham gia Ban chỉ huy ở ngoài (Ban lãnh đạo hải ngoại) của Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 3 năm 1935, anh tham gia soạn thảo đề cương Đại hội lần thứ nhất của Đảng tại Ma Cao. Tại đại hội này, Phùng Chí Kiên được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, phụ trách Ban Hải ngoại. Tháng 1 năm 1941 Phùng Chí Kiên cùng Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào. Tháng 5 năm 1941, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8, Phùng Chí Kiên được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, được phân công phụ trách quân sự. Ngày 22 tháng 8 năm 1941, trong lúc cùng đồng đội đánh trả kẻ địch, Phùng Chí Kiên đã anh dũng hy sinh, để lại lòng tiếc thương vô bờ bến cho gia đình, bạn bè. Cả quê hương, đất nước khắc sâu hình ảnh người chiến sĩ cách mạng Phùng Chí Kiên. Hài cốt Phùng Chí Kiên được cán bộ và nhân dân Ngân Sơn (Cao Bằng) mai táng. Sau này, Đảng, Nhà nước đã đưa về an táng tại nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội. Đảng bộ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã Diễn Yên được phép rước vong linh Phùng Chí Kiên về nghĩa trang liệt sĩ của xã để tỏ lòng thương tiếc người con quê hương đã một đời hy sinh cho cách mạng. Phùng Chí Kiên hy sinh nhưng tấm gương của người chiến sĩ cộng sản kiên trung luôn toả sáng trong lòng nhân dân cả nước nói chung và nhân dân Diễn Yên nói riêng. Đó là tấm gương của một người đã hiến trọn đời mình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Quê hương, gia đình, dòng họ là mạch nguồn tạo cốt cách tinh thần của Phùng Chí Kiên. Bởi vậy, đến muôn đời, cốt cách, tinh thần trung dũng ấy vẫn có sức sống mãnh liệt, luôn toả sáng, mở đường chỉ lối cho hậu thế. Phát huy truyền thống của người chiến sĩ cộng sản Phùng Chí Kiên, trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Diễn Yên đã có sự đóng góp đáng kể về sức người, sức của. Diễn Yên là trọng điểm đánh phá ác liệt trong chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ, bởi nơi đây có những mục tiêu quan trọng như kho lương thực Yên Lý, nhà ga, đường sắt, đường quốc lộ, có cống ba ra... Hầu như không ngày nào không có đạn bom rơi xuống mảnh đất này, thậm chí có ngày chúng đánh liên tục 5 đến 6 trận. Đã có 30 nghìn tấn bom đạn trút xuống nơi đây trong thời kỳ từ 1964 đến 1968.
___________________________________
* Bí thư Đảng ủy xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Mười Hai, 2021, 01:54:30 pm

Vượt lên sự đánh phá ác liệt của giặc Mỹ, người dân trên quê hương Phùng Chí Kiên đã huy động 22.600 lượt người đào đắp gần 100.000m3 đất đá san lấp đường khi bị bom Mỹ tàn phá. Với tinh thần "xe chưa qua, nhà không tiếc", người dân Diễn Yên đã đóng góp sức người, sức của để chiến đấu và phục vụ chiến đấu, góp phần cùng cả nước đánh bại hoàn toàn đế quốc Mỹ xâm lược. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Diễn Yên có gần 2.000 thanh niên tham gia nhập ngũ, có 202 liệt sĩ. Xã có 8 bà mẹ được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Diễn Yên được Nhà nước tặng thưởng nhiều huân chương các loại, nhiều bằng khen của Thủ tướng Chính phủ. Đặc biệt, năm 1998, Đảng bộ và nhân dân Diễn Yên vinh dự được Chủ tịch nước tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Cùng với tập thể, những người con trên quê hương Diễn Yên cũng ý thức cao trong việc giữ gìn truyền thống, nêu gương người đi trước để làm rạng danh mảnh đất quê mình. Đó là anh hùng lực lượng công an nhân dân Nguyễn Văn Tạo, anh hùng lao động Hoàng Tân. Nhiều người con của Diễn Yên là nhà khoa học, hoạt động trên nhiều lĩnh vực. Đó là những tài năng được hình thành từ sức sống cội nguồn của gương sáng những người đi trước, trong đó có người chiến sĩ cách mạng Phùng Chí Kiên.

Hiện nay, trên quê hương Phùng Chí Kiên có một ngôi trường được vinh dự mang tên Phùng Chí Kiên. Tiền thân là Trường cấp 2 Diễn Châu 2, được thành lập năm 1958. Qua nhiều lần thay đổi, cùng với tiến trình đi lên của đất nước và để hợp với đạo nghĩa, hợp với truyền thống quê nhà, năm học 1991-1992, trường được chính thức mang tên Trường trung học cơ sở Phùng Chí Kiên. Với niềm tự hào vinh dự được mang tên người chiến sĩ Cách mạng, Trường trung học cơ sở Phùng Chí Kiên luôn luôn đạt danh hiệu tiên tiến và tiên tiến xuất sắc. Trường luôn có học sinh và giáo viên giỏi cấp tỉnh. Năm học 2001-2002, trường vinh dự được Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An cấp bằng công nhận đơn vị văn hoá cấp tỉnh. Từ năm 2000 đến nay, Trường có 30 lượt học sinh giỏi cấp tỉnh. Những người nổi danh như tiến sĩ toán học Nguyễn Tố Như; tiến sĩ Nguyễn Văn Nhụy hay Phạm Thị Chung, người đạt 30 điểm trong kỳ thi tuyển vào đại học năm 2004, đều là người làng Mỹ Quan và đều là học sinh được rèn luyện từ mái trường này. Điều đó khẳng định rõ sức sống từ cội nguồn truyền thống của quê hương đang có sự lan toả mạnh mẽ tới nhiều thế hệ.

Noi gương sáng Phùng Chí Kiên và ý thức rõ trách nhiệm của thế hệ cháu con, cán bộ, nhân dân Diễn Yên đang chung sức đồng lòng vượt qua khó khăn, trở ngại để xây dựng Diễn Yên thành đơn vị khá toàn diện của Diễn Châu. Nhằm thực hiện mục tiêu xoá đói, giảm nghèo, Diễn Yên đã có nghị quyết đúng trong việc thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế, chuyển đổi cách nghĩ, cách làm, vươn lên nắm vững khoa học kỹ thuật để phát triển sản xuất, xây dựng văn hoá, giữ vững quốc phòng - an ninh. Với quan điểm phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt, Đảng bộ Diễn Yên luôn chú trọng đến nâng chất lượng đội ngũ cán bộ đảng viên, đồng thời chăm lo phát triển cả về số lượng. Từ một chi bộ ban đầu, đến nay Đảng bộ Diễn Yên đã có 22 chi bộ với gần 500 đảng viên. Đây chính là những hạt nhân làm nòng cốt trong mọi phong trào. Đảng bộ Diễn Yên đã sớm nắm bắt chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước, quán triệt tới đảng viên và quần chúng, tạo điều kiện cho người dân phát huy khả năng vốn có, góp phần xây dựng quê hương. Trong chuyển đổi ruộng đất, Diễn Yên đã thực hiện "dồn điền đổi thửa" một cách hợp lý, tạo thuận lợi để xây dựng các mô hình trang trại, kết hợp chăn nuôi, trồng trọt, đem lại mức thu nhập từ 100 - 150 triệu đồng/hécta/năm. Toàn xã Diễn Yên có 215 hécta cá nước ngọt, là đơn vị dẫn đầu tỉnh Nghệ An về phong trào này. Việc nuôi cá nước ngọt giúp nhiều hộ dân Diễn Yên không chỉ thoát nghèo mà còn vươn lên làm giàu. Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm từ 15-16%. Diễn Yên đã xoá xong hộ đói, tỷ lệ hộ nghèo chỉ còn 11,4%. Kinh tế phát triển, người dân nơi đây có điều kiện xây dựng cơ sở hạ tầng. Các trường học, trạm xá đã được kiên cố hoá. Đường làng, ngõ xóm hầu hết đã rải nhựa, đổ bê tông. Chỉ tính trong 5 năm (2000-2005), Diễn Yên đã huy động 5.564,5 triệu đồng, trong đó nguồn lực từ nhân dân tới 80%.

Về Diễn Yên hôm nay mọi người đều cảm nhận rõ sự đổi thay từng ngày trên mảnh đất này. 100% hộ dân đã có nhà ngói, nhà cao tầng tiếp tục mọc lên. Điện, đường, trường, trạm đều được xây dựng theo hướng kiên cố bền vững. Chính trị ổn định, quốc phòng đảm bảo, tình làng nghĩa xóm đầm ấm, tươi vui. Một diện mạo nông thôn theo hướng đô thị hoá đang được hình thành trên mảnh đất này, mà ở đó luôn có sự toả sáng, có sự tiếp sức thần kỳ từ cội nguồn, từ truyền thống vùng đất thiêng với những tấm gương giàu nhiệt huyết cách mạng. Tư cách, phẩm chất, tinh thần, ý chí của Phùng Chí Kiên như một nguồn sinh lực vô biên luôn tiếp sức cho những người con quê hương Diễn Yên vững bước trên chặng đường dài trong sự nghiệp đổi mới quê hương, đất nước thời hội nhập. Phùng Chí Kiên đã hy sinh nhưng tấm gương của ông cứ mãi lung linh, ngời sáng trong lòng dân cả nước nói chung, Diễn Yên nói riêng. Diễn Yên xem đó là niềm tự hào, đồng thời là trách nhiệm lớn lao của mình đối với vị cách mạng tiền bối, người con yêu quý của quê hương. Khí phách, tâm hồn người chiến sĩ cộng sản ấy mãi mãi thanh cao với một sức sống mãnh liệt truyền lại cho muôn đời sau. Đó là một vầng trăng sáng có sức lan toả mạnh mẽ tới nhiều thế hệ. Gần đây, vào ngày 14 tháng 4 năm 2008, đồng chí Hồ Đức Việt, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương, đại biểu quốc hội, đã về tiếp xúc cử tri Diễn Châu tại xã Diễn Yên và đến thăm nơi thờ cúng Phùng Chí Kiên. Đồng chí đã khẳng định và nhắc nhở cán bộ, nhân dân Diễn Yên phải phát huy truyền thống và học tập gương sáng Phùng Chí Kiên.

Giờ đây, sức sống từ gương sáng Phùng Chí Kiên như mạch nước ngầm vô tận tưới mát hồn quê yên bình trên mảnh đất này, đem niềm vui cho mọi nhà, mọi người. Đó là sức sống thanh cao, mãnh liệt, vĩnh hằng trong tâm thức người dân quê nhà để hướng tới một tương lai bền vững, tươi sáng. Một bước đi đầy triển vọng của vùng quê Diễn Yên - mảnh đất anh hùng nơi sinh thành, nuôi dưỡng Phùng Chí Kiên - ngôi sao sáng trên bầu trời cách mạng Việt Nam.



Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Mười Hai, 2021, 01:59:05 pm

DÒNG HỌ NGUYỄN Ở XÃ DIỄN YÊN,
HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN

NGUYỄN VĂN NAM*

1. Nguyễn Vĩ, khi lên đường tham gia cách mạng đã lấy tên Phùng Chí Kiên, xuất thân trong một gia đình nông dân. Bố là Nguyễn Văn Khoản, mẹ là Trần Thị Cúc, ông bà sinh được bốn người con, ba trai, một gái gồm: Nguyễn Dốc, Nguyễn Nhị, Nguyễn Thị Loan và Nguyễn Vĩ".

Ông Nguyễn Dốc sinh được 7 người con gồm: Nguyễn Thị Hoạt, Nguyễn Văn Biền (đã hy sinh năm 1931), Nguyễn Văn Khôi (đã mất), Nguyễn Thị Toát, Nguyễn Thị Khoát, Nguyễn Thị Xuân, Nguyễn Văn Việt (Thượng tá, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự Quân khu 4, đã mất năm 2006).

Ông Nguyễn Nhị sinh được 3 người con gồm Nguyễn Thị Thừa (đã mất), Nguyễn Đức Dinh (đã mất), Nguyễn Thị Lam.

Nguyễn Thị Loan sinh được 1 con là Nguyễn Thị Lương (đã mất).

Nguyễn Vĩ (Phùng Chí Kiên) sinh ngày 18 tháng 5 năm 1901, có vợ là Hoàng Thị Luận, đã sống trong gia đình được 7 năm, sau một thời gian chờ đợi không có tin tức của ông Kiên, gia đình đã cho bà đi lập gia đình, hàng năm bà vẫn đi lại với gia đình ông Kiên như con trong nhà và đã mất năm 1954, chưa có con. Nguyễn Vĩ được cha mẹ cho đi học sớm. Sau khi thi đỗ sơ học Yếu lược, gia đình gặp khó khăn. Nguyễn Vĩ đã phải nghỉ học để giúp cha mẹ làm ruộng. Đến năm 1925, ông lên ga Yên Lý để làm thuê cho một thương nhân Hoa kiều. Hàng tháng, Quan huyện và mật thám lại về gia đình tra hỏi. Bố mất, chỉ còn hai anh Nguyễn Dốc và Nguyễn Nhị. Chúng đã bắt Nguyễn Dốc đánh đập đủ mọi hình thức, sự việc cứ diễn ra hàng tháng như vậy. Chính vì thế, Nguyễn Vĩ thấy được sự bất công, ngang trái. Trong số những người quen biết, Nguyễn Vĩ đã gặp được đồng chí Lê Hữu Lập (người Thanh Hoá), dìu dắt, hướng dẫn. Năm 1926, Nguyễn Vĩ sang Quảng Châu (Trung Quốc), sau đó vào học Trường Quân sự Hoàng Phố (Quảng Đông). Đến năm 1931, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giới thiệu ông sang Liên Xô học. Năm 1934, ông trở về Trung Quốc. Sau Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương họp ở Ma Cao năm 1935, ông được cử vào Thường vụ Trung ương. Mùa Hạ năm 1937, ông về nước, đến cuối năm ấy ông lại sang Hồng Kông phụ trách liên lạc giữa Đảng và Quốc tế cộng sản. Cuộc Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, tháng 5 năm 1941, cử ông về phụ trách chỉ huy khu căn cứ Bắc Sơn. Ông hy sinh ngày 22 tháng 8 năm 1941 lúc tuổi đời vừa mới 40.

2. Theo gia phả cũ bằng chữ Hán, cách đây hơn 400 trăm năm, cụ tổ Nguyễn Đình Sách cùng chú ruột là Nguyễn Đình Văn về định cư ở làng Đăng Xá, xã Tam Đăng, phủ Đức Thọ, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh ngày nay, để tránh cảnh chiến tranh loạn lạc. Từ đó, dòng họ Nguyễn Đình lần lượt các đời phát triển và tồn tại đến ngày nay. Gồm các thế hệ:

1-   Nguyễn Đình Khoá.
2-   Nguyễn Đình Tuế.
3-   Nguyễn Đình Thục (Tri huyện).
4-   Nguyễn Đình Quán.
5-   Nguyễn Đình Du.
6-   Nguyễn Đình Tôn.
7-   Nguyễn Phúc Tường.
8-   Nguyễn Tôn Toàn (giữ chức chánh tổng).

Theo gia phả xưa để lại, cách đây 218 năm, anh thanh niên Nguyễn Đình Liêu theo đường thiên lý xưa qua Đồng Nu, cuốc bộ ra Thăng Long thăm cha. Trên đường về quê, vừa mệt, vừa đói, phải nghỉ lại ăn cơm ở quán hàng nhà bà họ Trần (gần cầu Sơn Tịnh ngày nay). Tiền trong túi chỉ còn 4 đồng, không đủ trả tiền cơm. Anh đành phải ở lại làm công phụ giúp gia đình bà chủ quán, chờ góp đủ tiền thanh toán và có tiền lộ phí tiếp tục về quê. Một hôm, đang ngồi nghỉ trong quán, các học trò thầy đồ Đinh Trọng Cảnh trên đường đi học về bàn tán bài thầy ra khó quá, người khách trọ đã làm thay. Thầy đồ Cảnh phát hiện bài làm không phải của học trò mình. Qua lời thú thật của chúng, thầy đồ khâm phục tài năng của người khách lạ. Ông thân hành đến gặp và bàn với bà chủ quán nuôi người khách đó và dạy cho con mình ăn học. Từ đó, vị thế khách trong nhà bà họ Trần như người thân. Sau một thời gian, bà hết lòng thương yêu mến phục, gả con gái thứ sáu của mình là Trần Thị Tương cho ông giáo trẻ Nguyễn Đình Liêu.

Thời đó, vào khoảng năm 1789, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ trên đường kéo quân ra Bắc đánh giặc Thanh đang dừng lại nghỉ chân tại Phượng Hoàng Trung Đô, đồng thời lấy thêm quân. Trong lúc em thứ ba còn nhỏ, em thứ hai đi vắng, anh trưởng là Nguyễn Tôn Giai phải sung quân thay. Trong khói lửa chiến tranh một mất một còn, ông đã bỏ mình nơi chiến trận và đã góp phần nên chiến thắng Đống Đa lịch sử năm đó. Tình nghĩa năm ấy, ân huệ ấy cả họ ghi lòng tạc dạ. Hàng năm, cứ vào ngày 25 tháng 8 họ đều tổ chức cúng giỗ cụ. Cũng thời gian đó, cụ Nguyễn Đình Liêu được thầy đồ Cử Cảnh dìu dắt đã đỗ khóa thi Hương. Sau đó, cụ về dạy học cho con cháu. Cụ đã sinh hạ được 4 người con.

Từ quê hương xa, bà thân mẫu Trịnh Thị Thiện ra thăm con cháu và mất tại làng Mỹ Quan. Cụ Nguyễn Đình Liêu ở lại chịu tang và chăm sóc phần mộ. Từ đó, ý định trở về quê không thực hiện được. Lại thêm vợ mất sớm, con còn nhỏ, cụ phải lấy vợ kế là Phạm Thị Điểm và sinh hạ được 3 người con. Về sau, cụ lấy thêm vợ lẽ là bà Lành, đã sinh được một người con trai nhưng không ở lại quê hương.

Cụ Nguyễn Đình Liêu chịu bao cảnh thiệt thòi, tiếng là dân ngụ cư, phải chịu sưu cao thuế nặng, mãi đến nửa đời người mới được nhập làng. Cụ sống có uy tín, là một vị thủ chỉ làng, mãi đến năm 86 tuổi mới về cõi Phật.

Để nhớ ơn cụ, năm 1908, các thế hệ thứ 3, thứ 4 và thứ 5 đã xây dựng nhà thờ, mãi đến năm 1928 mới hoàn chỉnh. Trong thời kỳ 1930-1931, nhà thờ họ đã có nhiều cuộc họp Đảng và đoàn thể. Hiện nay còn lại lớp hậu duệ của Nguyễn Trọng Dỡn và Nguyễn Trọng Diệm, phát triển truyền đời, cho đến nay bao gồm 8 ngành, 10 thế hệ. Phát huy truyền thống của tổ tiên, chúng ta có quyền tự hào về những đóng góp lớn lao của dòng họ Nguyễn.

Tám người cháu quây quần ở trong một vùng đất, tự hào trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm và xây dựng đất nước trong những thời đại khác nhau. Trong thời kỳ Pháp thuộc, cụ Nguyễn Doãn Thấu đậu vị Hàn Lâm Hán Việt, đã từng đệ đơn lên triều Nguyễn xin miễn thuế cho dân gặp mất mùa. Cụ Nguyễn Khải, lúc làm lý trưởng, được phong "Cửu phẩm văn giai", cụ còn nạp thay sưu thuế cho con cháu đi làm ăn xa. Đặc biệt, ngày 5 tháng 9 năm 1930, có cuộc biểu tình lớn của 3 huyện: Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Yên Thành tập trung tại đình làng Long An (xã Diễn Trường). Xuất phát từ nhà qua đường cái Đồng Nu, cả đoàn người vừa đi đến cây gia cống thì bị bọn lính dõng đàn áp, những người cầm cờ đi trước đều bị hy sinh. Ông Luyện Nhẫn là trưởng đoàn bị thương nặng, được Nguyễn Khải đưa về nhà mình chăm sóc và dưỡng thương một thời gian. Sau đó, Đảng bộ Yên Thành đón ông Nhẫn về cứu chữa. Đồng thời, ông Khải cũng đã nuôi, giúp đỡ bà Bùi Thị Hoan, là cháu ngoại của ông Nhẫn tiếp tục hoạt động ở địa phương. Trong thời gian từ 1920 đến 1926, những người Việt Nam yêu nước hoạt động ở hải ngoại chủ trương vận động thanh niên theo "Đường kách mệnh” của Nguyễn Ái Quốc. Năm 1926, đồng chí Nguyễn Phong Hanh và Nguyễn Vĩ đã xuất dương theo tiếng gọi của cách mạng. Nguyễn Phong Hanh do không đủ sức khoẻ nên phải trở về. Trên đường trở về, ông bị giặc Pháp bắt giam tại nhà tù Côn Đảo và chết tại đó.

3. Trong cao trào Xôviết Nghệ Tĩnh, dòng họ Nguyễn đã có hàng trăm người tham gia đi biểu tình, mít tinh như Nguyễn Trúc Ấn, Nguyễn Đức Năng, Vũ Thị Mận, có người bị giặc Pháp bắn chết như Nguyễn Biền, Nguyễn Chỉ, Nguyễn Trọng Dũng... Trong các cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, con cháu dòng họ Nguyễn đã đóng góp xứng đáng, đã có tới 21 liệt sĩ, hàng chục thương binh, bệnh binh, hàng chục cán bộ sĩ quan cấp úy, cấp tá, như: Đại tá Nguyễn Đức Năng, Hiệu trưởng Trường Đại học Công an; Thượng tá Nguyễn Việt, cháu gọi Nguyễn Vĩ là chú ruột; Trung tá Nguyễn Nhạ, Trung tá Nguyễn Bình...

Trong kháng chiến cũng như trong xây dựng hoà bình, dòng họ Nguyễn đã vinh dự có 185 người con đứng trong hàng ngũ Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhiều người đã trở thành cán bộ trung cấp, cao cấp như: Nguyễn Bích - Phó Ban kinh tế Trung ương Đảng, Nguyễn Hồng - Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy... Con cháu dòng họ Nguyễn từ thế hệ thứ 5 đến thế hệ thứ 8 làm nghề dạy học gồm 129 người, tiêu biểu như ông Nguyễn Trứ - thầy dạy tiếng Pháp và tiếng Việt, được phong chức Hàn lâm đại chiếu, Nguyễn Tố Như - giáo sư, tiến sĩ dạy toán quốc tế, Nguyễn Nhụy - phó giáo sư, tiến sĩ dạy Đại học Bách khoa Hà Nội... Gần đây, lớp trẻ con cháu dòng họ Nguyễn đã có nhiều học sinh giỏi gồm có 100 người đạt bằng cử nhân trở lên và năm 2005 được huyện công nhận dòng họ học giỏi. Các thế hệ con cháu ngày nay và mãi mãi về sau cần giữ gìn, bảo vệ, phát huy truyền thống các vị tiền bối nhằm góp phần xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu.
__________________________________
* Trường Trung học cơ sở Phùng Chí Kiên, xã Diễn Yên, Diễn Châu, Nghệ An.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười Hai, 2021, 12:08:22 pm

TỪ NGUYỄN VĨ ĐẾN PHÙNG CHÍ KIÊN

PGS NINH VIẾT GIAO*

Là con út của một gia đình có 4 con, Phùng Chí Kiên sinh ngày 18 tháng 5 năm 1901 tại làng Mỹ Quan Thượng, tổng Vạn Phần, nay thuộc xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, tên khai sinh là Nguyễn Vĩ.

Cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, Mỹ Quan gọi là xã Mỹ Nao, cuối thế kỷ XIX mới gọi là xã Mỹ Quan. Nhưng rồi xã chỉ là trên danh nghĩa, bởi trước đó nhà Nguyễn đã lập cấp tổng, bỏ cấp xã, ba thôn: Thượng Thôn, Trung Thôn và Mỹ Lộc thôn trong xã Mỹ Quan trở thành đơn vị hành chính cơ sở. Theo bản điều tra của Công sứ An Tĩnh vào năm 1892, thì Thượng Thôn tức Mỹ Quan Thượng có 38 cử tri, Trung Thôn có 22 cử tri, còn Mỹ Lộc thôn có những 253 cử tri. Sau Cách mạng tháng Tám, Mỹ Lộc cắt về xã Diễn Mỹ, 2 làng Thượng Thôn và Trung Thôn nhập với xã Yên Lý thành xã Diễn Yên (xã Yên Lý cũ cũng có 3 thôn là Yên Lý Thượng, Yên Lý Đông và Yên Lý Ngoại).

Năm nào chưa rõ, Yên Lý Thượng có 5 xóm mang tên chữ là Mỹ Trung, Mỹ Hoà, Mỹ Nam, Mỹ Đông và Mỹ Bắc. Gia đình Nguyễn Vĩ ở Mỹ Nam. Sau đó, Yên Lý Thượng có 3 xóm: 1, 2, 3. Gia đình Nguyễn Vĩ ở xóm 3. Hiện nay Diễn Yên có diện tích 1521,37 hécta với dân số 14.614 người (tính đến hết ngày 31.12.2006), là một xã lớn, kinh tế khá phát triển, nhiều người học hành đỗ đạt, nhiều cán bộ, công chức nhà nước.

Mỹ Quan Thượng đầu thế kỷ XX, những ngày Nguyễn Vĩ sinh ra và lớn lên, tại quê hương có khoảng 80 hộ với số dân khoảng 500 người và ruộng đất khoảng gần 120 mẫu, song tập trung vào một số nhà khá giả. Tuy người các địa phương khác nói: "Đông Thành là mẹ là cha; đói cơm rách áo thì ra Đông Thành", song đa số nhân dân Đông Thành (Diễn Châu và Yên Thành) vẫn đói khổ. Dân làng Mỹ Quan Thượng cũng vậy, mặc dù bình quân mỗi người dân có khoảng 3 sào ruộng. Đa số nhân dân không có ruộng hoặc có vài sào, họ phải làm nghề phụ, cày rẽ ruộng, làm thuê và chạy vạy đây đó làm đủ nghề vặt để sống qua ngày.

Là con út trong một gia đình có 4 con, cha là Nguyễn Văn Khoản, mẹ là Trần Thị Cúc (ở làng Mỹ Lộc), anh cả là Nguyễn Dốc, sinh năm nào chưa rõ, chết năm 1947. Ông Nguyễn Dốc có 2 bà vợ. Bà cả là Hồ Thị Đai ở xã Hoàng Trường cũ, nay là Diễn Trường. Bà Đai sinh được 2 con là Nguyễn Thị Hoạt và Nguyễn Biểu. Nguyễn Biểu tham gia phong trào Xô-viết - Nghệ Tĩnh, bị Pháp giết ngay đầu năm 1931 tại quê nhà trong một trận càn, hiện có bằng Tổ quốc ghi công. Bà kế thất tên là Trần Thị Quyên, sinh được 2 trai 3 gái. Trai có Nguyễn Văn Việt đi bộ đội chống Pháp, sau về công tác ở Viện kiểm sát Quân khu 4.

Anh thứ hai là Nguyễn Nhị. Ông Nhị cũng có 2 bà. Bà cả là Nguyễn Thị Liên, người trong xã, sinh được 2 con: 1 gái, 1 trai. Trai là Nguyễn Đức Dinh, cũng đi bộ đội, có thời gian đã đến nghĩa trang Ngân Sơn tìm mộ đồng chí Phùng Chí Kiên. Bà cả qua đời, ông Nhị lấy bà kế thất tên là Chu Thị Nghĩa ở Hoàng Trường, sinh được 1 con gái là Nguyễn Thị Lam, làm ruộng.

Thứ ba là chị gái, tên Nguyễn Thị Loan, sinh năm 1897, chồng người cùng làng, làm ruộng, sinh được 1 con.

Nguyễn Vĩ là con thứ 4, như trên đã nói sinh ngày 18 tháng 5 năm 1901.

Thuộc loại trung nông kém, gia đình có hơn 1 mẫu ruộng với 1 căn nhà gỗ 4 gian và nuôi 1 con bò làm sức kéo. Ông Khoản có học ít nhiều chữ nho, có lều chõng vào Vinh dự khoa thi Hương năm nào thì chưa rõ, nhưng ông Khoản và bà Cúc vẫn cố gắng chắt chiu nuôi các con ăn học. Có thời gian, ông Khoản đón thầy về nuôi để dạy thêm chữ cho các con và các sĩ tử trong vùng. Vào đến kỳ Nhị thì trượt, ông về nhà làm ruộng, làm nghề dạy học và thầy thuốc. Làm thầy không đủ ăn, ông đi buôn sợi, buôn tơ về bán cho những dệt vải, dệt tơ lụa. Sau ông chuyển sang buôn bè, thường xuyên qua lại các sông Lam, sông Giăng. Thấy cá sông Giăng rất ngon, nhiều lần ông đã mua cá mát, cá rầm về kho tương cho các con và các em ăn. Ông Nguyễn Nhị cũng có học chữ Nho ít nhiều, nhưng chữ Nho vào buổi mạt thời, không còn thi cử gì nữa, ông học để biết đạo lý làm người, làm văn khế, cúng giỗ. Ông sống bằng nghề làm ruộng.

Nguyễn Vĩ (tức Phùng Chí Kiên), lúc nhỏ cũng có học chữ Nho, ít nhất ông đã học 7, 8 năm chữ Nho và như vậy đã học hết sơ học vấn tâm, ấu học ngũ ngôn thi, Minh tâm bảo giám, Minh đạo gia huấn, Hiếu kinh, Nhất thiên tự (hoặc Tam thiên tự, Ngũ thiên tự) và đã qua Tứ thư, Ngũ kinh, Nam sử, Bắc sử,... Sống trong những năm phong trào Duy Tân đang sôi nổi, chắc ông cũng đã được học hoặc đọc "Hán tự tân thư" với những câu:

Ái quốc mạc vong tổ,
Ẩm hà đương tư nguyên.
Thực quả dương tư thụ,
Cựu sỉ dĩ nan vong...


Hoặc những câu:

Thiên địa anh khí,
Chung chi vi nhân.
Nhĩ mục thông minh,
Vi nan tử thân.
Tận ngã nghĩa vụ,
Vị chi quốc dân...


Chắc ông cũng đã nghe bài "Chiêu hồn nước" với những câu:

Chữ quốc ngữ là hồn trong nước,
Phải đem ra tính trước dân ta.
Sách Âu Mỹ, sách Chi Na,
Chữ kia chữ nọ dịch ra tỏ tường...


Nên ông đã học thêm chữ quốc ngữ. Và khi trường Sơ học tiểu học Pháp Việt (école élémentaire) mở ở tổng Hoàng Trường (phải sau 1917) ông được vào học và sau ít năm ông đậu bằng Sơ học yêu lược1.

Được đi học, nhưng vẫn là con nhà Nho bình dân, cuộc sống không dư giả, vất vả là khác, nên tuổi nhỏ ông vẫn phải làm việc vặt trong gia đình, đi chăn bò, cắt cỏ, và lớn lên vẫn phải làm nghề nông như làm cỏ, bón phân cho đồng ruộng, v.v...

Vốn là người thông minh, có chí, ham học hỏi, nên ngoài thời gian học chữ Nho, học chữ Quốc ngữ, đi chăn bò, cắt cỏ và làm các công việc khác của gia đình,... Nguyễn Vĩ thường lân la đánh bạn với một số người trong vùng có chí hướng để đến các sĩ phu yêu nước đầu thế kỷ XX nghe lỏm chuyện thời thế, chuyện về cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh; về ông Cường Để,... Thấy con hay vắng nhà, năm Nguyễn Vĩ 16 tuổi, gia đình cưới cho một cô vợ với ý định sẽ ràng chân Nguyễn Vĩ, không cho ông "lêu lổng" đó đây, ở nhà chăm việc học hành và đồng áng. Cô vợ tên là Nguyễn Thị Luận ở làng Mỹ Lộc (thuộc xã Mỹ Quan cũ, nay thuộc xã Diễn Mỹ) là người nết na, có duyên, cần cù,... Nhưng "thê nhi" đâu có buộc được "cánh chim bằng", có vợ rồi, Nguyễn ‘Vĩ vẫn đi học, vẫn lao động với gia đình và vẫn giao du với bạn bè. Thương con gái nhà người ta, cưới về làm dâu nhà mình, thấy con trai không đằm thắm, lơ là việc chăn gối (lơ là việc chăn gối vì Nguyễn Vĩ đang đeo đuổi chí nam nhi), ông bà Nguyễn Văn Khoản cho cô Nguyễn Thị Luận về ở với cha mẹ đẻ. Bảy năm sau, cô Luận mới rời nhà ông Khoản. Kết duyên với một người đàn ông khác, có con rồi, song thỉnh thoảng, cô vẫn qua lại thăm gia đình ông Khoản.

Ngoài 20 tuổi, năm 1922, 1923, Nguyễn Vĩ vào cầu Bùng làm thuê mà chủ yếu là ghi chép sổ sách cho một thương nhân buôn gạo ở phố cầu Bùng. Sau đó anh ra ga Yên Lý làm thuê cho một thương nhân Hoa kiều khác (làm nghề kinh doanh thuốc Bắc?).

Đã thấy bao cảnh ngang trái bất công ở làng xã, ở phố Cầu Bùng, rồi ở ga Yên Lý. Tại ga Yên Lý, anh gặp một trí thức tiến bộ là Nguyễn Năng Tựu ở Nghi Lộc và Lê Hữu Lập (tức Hoàng Lùn) quê Thanh Hoá. Các trí thức này đã giác ngộ, dìu dắt, giúp đỡ ông, đưa ông vào con đường cứu nước và năm 1926 thì xuất dương sang Quảng Châu, Trung Quốc, dự lớp huấn luyện do Tổng bộ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên tổ chức. Có người nói, cái tên Phùng Chí Kiên do Bác Hồ đặt cho, có người nói do Lê Hữu Lập đặt cho. Phùng là gặp, Phùng là Phùng Giang tức sông Bùng ở Diễn Châu, Chí là chí khí, Kiên là kiên định, vững vàng. Cái tên này nói Nguyễn Vĩ người sông Bùng đã gặp cách mạng phải giữ ý chí của mình cho kiên định, cho vững vàng.
___________________________________
* Chủ tịch Hội văn nghệ dân gian Nghệ An.
1.  Về việc đi học chữ Quốc ngữ và đậu bằng Sơ học yếu lược của Nguyễn Vĩ, chúng tôi cho là phải sau 1917. Vì ngày 21 tháng 12 năm 1917, Albert Sarraut, Toàn quyền Đông Dương mới ký ban hành bộ "Học chính tổng quy" quy định công cuộc giáo dục ở Việt Nam. Năm sau thi hành thì mới có các hệ tiểu học, trung học... Hệ tiểu học có trường Tiểu học bị thể (école primaire de plein exercices) gồm 5 lớp mở các huyện tỉnh và Trường Sơ đẳng tiểu học (école élémentraire) mở ở các làng xã, thường gồm 3 lớp. Tốt nghiệp trường này thường được nhận bằng Sơ học yếu lược. Phải năm 1918, Nguyễn Vĩ mới vào học trường tổng và năm 1921 mới tốt nghiệp Sơ học yếu lược. Lúc đó, ông đã 20 tuổi, có học đến đó và có thi hay không còn cần phải nghiên cứu cụ thể thêm. Nhưng gia đình nói ông đậu Sơ học yếu lược, xin hãy ghi như vậy.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười Hai, 2021, 12:09:22 pm

*

*          *

Như vậy, tuổi nhi đồng, thiếu niên và thanh niên, Nguyễn Vĩ sống trọn vẹn trong 25 năm đầu thế kỷ XX ở quê nhà. Trong phần tư thế kỷ ấy, xã hội ta, nhân dân ta, nhất là những con người xứ Nghệ đã chứng kiến:

1. Sau thất bại của phong trào Cần Vương, những cuộc khởi nghĩa theo lý tưởng tôn quân gần như vắng bóng. Các sĩ phu yêu nước nhiều người bỏ quan lui về vui thú điền viên, để giữ gìn tiết tháo của mình, nhiều người làm thầy đồ, thầy thuốc bắc, thầy địa lý,... để kiếm sống qua ngày. Nông dân trở lại với gồng gánh trên vai,... Trống mõ Cần Vương thôi rộn rã, song trong tâm can những sĩ phu và những người dân chân chính, lòng yêu nước, chí phục quốc vẫn sôi sục. Xóm thôn im lìm, nhiều người lặng lẽ, uất ức và đau buồn khôn nguôi vì thời thế, vì nhân tình trước cảnh giang sơn thay thầy đổi chủ.

2. Sự khai thác của thực dân Pháp: Có hàng trăm thứ thuế và luôn tăng cao; ruộng đất bị cướp đoạt để làm đồn điền, tài nguyên tự nhiên bị vơ vét,... Người dân luôn phải đi phu đắp đường, nạo vét các dòng sông. Đô thị và các nhà máy được lập nên. Giai cấp công nhân, giai cấp tư sản và tiểu tư sản ra đời. Chính quyền của Nam triều phong kiến và hệ thống quan lại trở thành bù nhìn, tay sai. Một lớp quan chức mới ra đời. Bọn chúng múa may quay cuồng, nhiều kẻ tâng bốc, xu nịnh, tỏ lòng trung thành với chủ mới để bóc lột người dân. Người dân nhục nhã dưới ách nô lệ của thực dân Pháp, nặng nề bởi luôn phải đi phu, đi lính và còm cõi bị bóc lột, bị chửi rủa, bị bần cùng, bị đánh đập bởi bọn cường hào, bọn địa chủ. Một không khí ngột ngạt bao trùm khắp làng xã Việt Nam, làng xã xứ Nghệ, làng xã Diễn Châu.

3. Giữa lúc sĩ phu đang bế tắc về đường lối cứu nước thì đầu thế kỷ XX, những năm Nguyễn Vĩ ra đời và bước đầu lớn khôn, thì ánh sáng của Tân thư lan tới; các sách của Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi, Đàm Tử Đồng,... mảng tư tưởng của Rousseau, Montesquieu, Diderot,... tư tưởng dân chủ tư sản được truyền vào Việt Nam. Rồi khí thế cả nước Trung Hoa đang sục sôi trong cuộc vận động cải cách cũng vọng sang. Trí thức Việt Nam, trí thức Nghệ An nhìn thấy xa xa, tại hòn đảo Phù Tang (Nhật Bản) một hình ảnh tươi đẹp cho đất nước mình. Họ dò hỏi mong ngóng, rồi lân la tìm hiểu. Và khi đã hiểu, họ âm thầm bắt liên lạc với nhau, trao đổi với nhau. Người tiên tiến, xuất sắc, nhạy bén trong tiếp cận cái mới, tiếp cận văn hoá của phương Tây và nhiệt huyết tìm con đường cứu nước như Tân thư, như Nhật Bản là Phan Bội Châu.

4. Quán triệt Tân thư, Phan Bội Châu ra Bắc vào Nam gặp gỡ các bạn tâm giao; đến tháng 4 năm 1904 thì cùng với các đồng chí lập ra Hội Duy Tân tại Quảng Nam. Hội Duy Tân ra đời, trí thức Nghệ An nhiều người tham gia. Đầu 1905, Phan Bội Châu cùng Đặng Tử Kính nhận trọng trách của Hội sang Nhật cầu viện, cầu viện không được thì cầu học. Thế là phong trào Đông Du nổi lên. Bao thanh niên đã bỏ nghề cử tử, rời quê hương, qua nước ngoài du học để nâng cao dân trí, dân khí, nhất là học thông các nghề kỹ xảo để trù liệu việc đánh Tây. Gần 200 học sinh Việt Nam, trong đó Nghệ An có 32 người, đã Đông Du theo tiếng gọi của Phan Bội Châu. Ngoài Phan Bội Châu, chắc những người như Nguyễn Đức Công (Hoàng Trọng Mậu), Nguyễn Thức Đường (Trần Hữu Lực), Đặng Thúc Hứa, Trần Đông Phong, Hồ Học Lãm, Hồ Bá Kiện, Bùi Chính Lộ, Lưu Yến Đan,... Nguyễn Vĩ có nghe và chắc cũng thôi thúc trong lòng ông tinh thần tìm đường cứu nước.

Ấy là mới kể những người Đông Du, những người khác như Đặng Nguyên Cẩn đã cùng với Ngô Đức Kế, Lê Văn Huân, Đặng Văn Bá,... thành lập "Triêu Dương thương quán" ở Vinh để tập trung những phần tử ôn hoà. Họ tuyên truyền tư tưởng ái quốc bằng lời nói, bằng thơ văn; đồng thời xây dựng cơ sở tài chính cho cách mạng, trước mắt là "làm tiền" để giúp đỡ thanh niên xuất dương ăn học. Một số khác, những phần tử kịch liệt như Đặng Thái Thân, Ngô Quảng, Đội Quyên, Đội Phấn, Long Sơn,... đã dựng một cái đồn tại Bố Lư trong một khu rừng rậm rạp, hẻo lánh ở miền Tây huyện Thanh Chương để làm sào huyệt, làm căn cứ, đặng tập hợp vây cánh để mưu đồ việc võ trang.

Ngoài ra, hội viên của Hội Duy Tân còn "nã súng tấn công" vào chế độ khoa cử. Họ đả kích lối học "chi, hồ, giả, dã,..." và những kiến thức từ chương quá lạc hậu. Họ tuyên truyền thực học như học toán, học lý, học đóng tàu thủy, hoả xa, chế súng đạn, v.v..., để dân được cậy, nước được nhờ. Họ "đánh" vào hủ tục, kêu gọi bỏ thói xôi thịt, kêu gọi dùng hàng nội hoá, giương cao ngọn cờ chống sưu thuế nặng nề, v.v...

Tất cả những hoạt động đó của Hội Duy Tân tại Nghệ An, tại Diễn Châu có lẽ Nguyễn Vĩ đều biết, đều nghe và ít nhiều ảnh hưởng đến tinh thần muốn làm một cái gì đó để cứu nước, cứu dân đã âm ỉ trong ông ở thuở thiếu thời.

Ấy là chưa kể, Diễn Châu là một trong những địa bàn hoạt động của Hội Duy Tân. Một số làng xã ở Diễn Châu đã có đội nghĩa binh của Hội Duy Tân, Phong trào Duy Tân đã kích thích người dân lập phe hộ chống phe hào để chống bọn hào lý, địa chủ cường hào trong thôn xã mà bấy lâu chúng đã phù thu lạm bổ, vơ vét công quỹ và bao chiếm công điền, v.v... Phe hộ chống phe hào bằng nhiều hình thức, song chủ yếu dựa vào pháp lý công khai, tức đi kiện. Từ 1905 đến 1929, tại Diễn Châu, qua sơ bộ tìm hiểu có 19 vụ nhân dân lập phe hộ chống phe hào. Nổi bật nhất là vào năm 1917, dân hộ làng Đông Tháp (Diễn Hồng) kiện hào lý chiếm 92 mẫu công điền toàn loại thượng đẳng điền. Năm 1920, dân hộ làng Yên Lý đã kiện bọn hào lý về tội tham nhũng. Ngay tại xã Mỹ Quan, năm 1922, dân hộ làng Mỹ Lộc đã kiện bọn hào lý đòi chia lại 70 mẫu ruộng đất công, v.v... Hình thức đấu tranh tự phát nhất thời mang tinh thần dân chủ và tính giai cấp ấy, chắc ít nhiều đã cho Nguyễn Vĩ thấy được mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ và sức mạnh của nông dân khi đoàn kết.

Ở Diễn Châu, vào những năm 1921, 1922, một nhóm thanh niên có học vấn và thức thời ở vùng cầu Bùng, Yên Lý, Hoàng Trường đã lập nhóm đọc sách báo để hiểu thời thế và tuyên truyền, cổ động tinh thần yêu nước trong nhân dân. Chắc Nguyễn Vĩ cũng trong nhóm đó, nên tối nào cũng đi, không nghĩ đến cô vợ đang còn son trẻ nằm một mình ở nhà.

Như vậy, tuổi trẻ của Nguyễn Vĩ đã chứng kiến, đã tiếp nhận bao sự kiện lịch sử - xã hội diễn ra trên đất nước và tại quê hương. Những sự kiện lịch sử - xã hội ấy đã hun đúc trong tâm hồn, tư tưởng Nguyễn Vĩ bao suy tư về thế cuộc, về nhân tình. Là một thanh niên yêu nước, lại thông thái về chữ Hán và chữ Quốc ngữ (so với người lúc bấy giờ), Nguyễn Vĩ đặt bao dấu hỏi về bản thân đối với đất nước, với tương lai trước thời sự nóng hổi như vậy.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười Hai, 2021, 12:10:24 pm

*

*         *

Huống chi, Nguyễn Vĩ còn được tắm gội trong truyền thống đấu tranh quật cường của xứ ở Hồng Lam, xứ sở lèn hai vai sông Bùng. Người xứ Nghệ luôn đứng đầu sóng ngọn gió trong những cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, giữ yên bờ cõi. Cắp giáo non sông, họ hiên ngang khảng khái khi vung gươm chính nghĩa diệt quân cướp nước. Không nói xa và cũng không nói rộng, chỉ từ đầu thế kỷ XV lại đây tại Diễn Châu thôi: Năm 1418, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa chống quân Minh ở Lam Sơn, Thanh Hoá. Mùa thu năm 1424, nghĩa quân Lam Sơn kéo vào Nghệ An. Sau "Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật" ở Châu Nga, Quỳ Châu là "Thành Trà Long trúc chẻ tro bay'' ở Con Cuông, rồi 2 trận lừng lẫy nữa ở Anh Sơn là Khả Lưu và Bồ Ải. Đại thắng, Lê Lợi kéo nghĩa quân về đóng đại bản doanh ở núi Thiên Nhẫn, phái Đinh Lễ đem 1.000 nghĩa quân về đóng ở Đông Đình (Yên Thành) để khống chế vùng bắc Nghệ An và tiến vây thành Đông Luỹ, hay còn gọi thành Diễn Châu, thành Trài (nay ở xã Diễn Phong và Diễn Hồng) sát xã Diễn Yên. Khi Đinh Lễ cho nghĩa quân vây thành Diễn Châu, dân làng Cẩm Bào và nhiều làng khác ở Diễn Châu đã có nhiều công trong việc bảo vệ, nuôi dưỡng nghĩa quân và cho con em tham gia nghĩa quân để không chỉ bao vây thành dã mà còn đánh tan đoàn quân tiếp việc của Trương Hùng từ Tây Đô vào, cứu nguy cho quân Minh trong thành Diễn Châu. Đại thắng, Lê Lợi tặng cho làng cái áo Cẩm Bào để làm kỷ niệm. Dân làng rất tự hào về kỳ tích của mình và biết ơn ân sủng của nhà vua, nên đã đặt tên làng là Cẩm Bào. Tinh thần làng Cẩm Bào tham gia với nghĩa quân Lam Sơn đánh giặc Minh còn âm hưởng về sau qua bài ca dao:

Quê tôi ở đất Cẩm Bào,
Ai muốn đánh giặc thì vào quê tôi.
Ăn trầu thì nhớ lấy vôi,
Ai muốn đánh giặc nhớ thời vua Lê.


Sự kiện lịch sử ấy ở ngay quê hương chắc thời thơ ấu, Nguyễn Vĩ đã nghe ông bà hoặc người già trong làng, trong vùng kể lại.

Rồi chắc Nguyễn Vĩ cũng biết, cũng được nghe kể lại, năm 1789, theo lời cầu viện của Lê Chiêu Thống, vua Càn Long nhà Thanh sai Tôn Sĩ Nghị đem quân tiến vào Thăng Long để giúp Lê Chiêu Thống giữ vững cơ đồ, nhưng thực sự là muốn nhân cơ hội ấy chiếm nước ta. Được tin, Nguyễn Huệ đang ở Huế lên ngôi Hoàng đế, đặt niên hiệu là Quang Trung rồi thống lĩnh đại quân 5 vạn người ra Bắc. Vua dừng lại ở Lam Thành Sơn 10 ngày để tuyển thêm 5 vạn quân. 10 ngày tuyển được 5 vạn quân tinh nhuệ để đưa vào đạo trung quân cũng là một kỳ tích. Trước hết là do lòng yêu nước của nhân dân nhưng do vua Quang Trung biết cách tuyển quân từ các lò võ, lò vật,... Mà lò võ, lò vật ở đâu nhiều bằng ở Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu. Dân gian còn truyền tụng các lò vật, lò võ ở Diễn Châu như: Vạn Phần, Đông Xương, Hướng Dương, Hậu Luật, Nho Lâm, Thư Phủ, Bút Trận, Trung Phường, Thanh Bích, Thừa Sủng,... tất cả võ sinh đều tham gia đoàn quân Bắc tiến dưới sự chỉ huy của vua Quang Trung để tiêu diệt 29 vạn quân Thanh. Nghe sự kiện lịch sử ấy, tâm can Nguyễn Vĩ chắc cũng nao nức tinh thần chống Pháp.

Gần hơn có lẽ là từ ngày Tây sang, chúng chiếm Nam Bộ, Bắc Bộ rồi kinh thành Huế cũng thất thủ. Vua Hàm Nghi xuất bôn, hạ Chiếu Cần Vương. Dải đất xứ Nghệ từ Đèo Ngang cho đến Khe Nước Lạnh, cả miền xuôi lẫn miền ngược, chỗ nào cũng hừng hực, cũng rầm rậy khí thế "Bình Tây phục quốc" của những người có chí mạnh tâm hùng. Hà Tĩnh có Đình nguyên Phan Đình Phùng, Nghệ An có tiến sĩ Nguyễn Xuân Ôn. Nguyễn Xuân Ôn, người làng Quần Phương, nay thuộc xã Diễn Thái, huyện Diễn Châu. Phụng chỉ Cần Vương, tề cờ ra quân, dưới trướng của vị Nho tướng này, nghĩa sĩ có vài nghìn, tuỳ tướng có các ông đề, ông tán, có dốc binh, đốc chiến, lãnh binh, tác vi, suất đội, v.v... Nghĩa quân cần Vương đã chiến đấu nhiều trận ở Tây Khê, ở Đồn Si, Thừa Sủng, Đồng Mờm, Yên Lý, v.v..., gần làng Nguyễn Vĩ và nhiều nơi khác ở phía bắc Nghệ An. Tuy bị thất bại, trống mõ Cần Vương không còn rỗ rã trong các đình làng, các điếm canh hay trên các đường quan ải,... song hình ảnh các sĩ phu yêu nước như Nguyễn Xuân Ôn, Trần Quang Diệm, Đinh Nhật Tân, v.v..., của các ông đề, ông lãnh, ông tác, ông đốc như: Đoàn Giáp, Đốc Thân, Đốc Nhoạn, Đề Niên, Lãnh Ngợi, Đề Vinh, Lãnh Từ, Tác Xe, Đốc Thọ, Đốc Đạo, v.v..., vẫn tươi rói, vẫn đẹp đẽ trong con mắt người dân Diễn Châu. Gia tộc Nguyễn Vĩ thế nào cũng có người nghĩa sĩ của Nguyễn Xuân Ôn.

Như vậy, xuất thân trong một gia đình nông dân có học ít nhiều chữ Nho, chữ Quốc ngữ, tuổi trẻ Nguyễn Vĩ sống cũng như một số thanh thiếu niên khác, vừa được đi học vừa lao động giúp đỡ gia đình. Song với trí thông minh hơn người, nghị lực lớn lao và lòng yêu nước nảy nở rất sớm, lớn lên được tắm gội trong truyền thống đấu tranh quật cường của xứ sở và các hoạt động yêu nước của các sĩ phu trong Hội Duy Tân tại xứ sở, rồi được sự dìu dắt, giúp đỡ của đồng chí Lê Hữu Lập và Nguyễn Năng Tựu, Nguyễn Vĩ đã vượt lên tư tưởng của các sĩ phu Đông Du, Duy Tân; xuất dương sang Quảng Châu dự lớp huấn luyện do Tổng bộ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên tổ chức để đến với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh và qua quá trình hoạt động, năm 1936 trở thành Ủy viên Thường vụ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương.

Sự hình thành một lãnh tụ cách mạng như Nguyễn Vĩ - Phùng Chí Kiên bao giờ cũng là sự kết tinh từ một nguồn gốc văn hoá. Văn hoá vùng núi Hồng, sông Lam nói chung, vùng núi Hai Vai sông Bùng nói riêng với các nhóm người đến cư trú, với các lớp sóng phế hưng của nó ở cái đất xưa kia là trấn địa, là trang trại này. Từ nền văn hoá bản địa ấy, người xứ Nghệ còn được tiếp cận hai luồng văn hoá vĩ đại, của Trung Quốc từ phía Bắc tràn xuống và của Ấn Độ tràn lên mà không mất bản sắc, sắc thái văn hoá, mất bản lĩnh của mình. Rồi khi tiếp cận với văn hoá phương Tây cũng vậy. Những điều chúng tôi trình bày ở những trang trên đều là văn hoá. Rồi văn hoá hữu thể, văn hoá vô thể, văn hoá tâm linh mà chủ yếu là văn học cả bác học và dân gian của quê hương, của phủ Diễn, của xứ Nghệ, của Việt Nam, Nguyễn Vĩ đều mang trong máu, trong hơi thở. Nhưng như Phan Bội Châu ở đầu thế kỷ XX, như Nguyễn Ái Quốc, Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hồ Tùng Mậu, Lê Tản Anh,... từ những năm 20 trở về sau, Nguyễn Vĩ còn được tiếp cận văn hoá quốc tế mà chủ yếu là văn hoá của Trung Quốc, văn hoá của Liên Xô cũ tức châu Âu.

Tóm lại, tinh hoa văn hoá của gia đình, quê hương, của lèn Hai Vai sông Bùng, của núi Hồng, sông Lam, của Việt Nam, của bốn bể năm châu đã hồi quy, tích tụ trong con người giàu lòng yêu nước, thức thời, nhạy bén Nguyễn Vĩ để Nguyễn Vĩ trở thành Phùng Chí Kiên như chúng tôi đã trình bày. Nguyễn Vĩ - Phùng Chí Kiên là niềm tự hào của Việt Nam, của xứ Nghệ, của Diễn Châu.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười Hai, 2021, 12:23:11 pm

PHÙNG CHÍ KIÊN VÀ BAN CHỈ HUY Ở NGOÀI
ĐẢNG CỘNG SẢN ĐÔNG DƯƠNG

PGS, TS NGUYỄN VĂN NHẬT*

Phùng Chí Kiên, Ủy viên Ban chấp hành, Ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, có phần lớn thời gian hoạt động ở nước ngoài trong Ban Chỉ huy ở ngoài, một tổ chức có vai trò như Ban Chấp hành Trung ương Đảng ở trong nước. Cùng với Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Phùng Chí Kiên có vai trò rất lớn đối với tổ chức này nói riêng, đối với Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương nói chung.

1. Như chúng ta đã biết, ngay sau khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam (sau đó là Đảng Cộng sản Đông Dương) đã trực tiếp lãnh đạo sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp ở Việt Nam, mà cụ thể và nổi bật là phong trào Xô-viết - Nghệ Tĩnh năm 1930-1931. Hoảng sợ trước sự lớn mạnh của tổ chức cộng sản, của phong trào đấu tranh của nhân dân ta, thực dân Pháp đã thẳng tay đàn áp, gây tổn thất lớn cho Đảng và quần chúng cách mạng. Trong hai tháng 4 và 5 năm 1931, các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng lần lượt bị thực dân Pháp bắt. Ngay cả Nguyễn Ái Quốc cũng bị cảnh sát Anh bắt giữ tại Hồng Kông tháng 6 năm 1931. Ban Chấp hành Trung ương Đảng do Hội nghị lần thứ nhất (10.1930) bầu ra, không còn tồn tại nữa. Đây là một tổn thất lớn cho Đảng Cộng sản Đông Dương. Cách mạng Việt Nam sau khủng bố trắng của thực dân Pháp năm 1930-1931 rơi vào giai đoạn thoái trào.

Quan tâm đến việc khôi phục Đảng Cộng sản và phong trào cách mạng ở Đông Dương, Quốc tế Cộng sản cử Lê Hồng Phong và Trần Đình Long về Đông Dương tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đảng1. Về đến Trung Quốc, Lê Hồng Phong chắp nối liên lạc với các nơi trong nước, chuẩn bị điều kiện để tái lập Ban Chấp hành ương Đảng. Tháng 12 năm 1932, Lê Hồng Phong chắp nối với Hoàng Đình Giong, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Văn Nọn thành lập một tổ công tác ở Long Châu để gây dựng tổ chức Đảng ở Cao Bằng, Lạng Sơn.

Đầu năm 1932, khi biết ở Đông Dương không còn Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quốc tế Cộng sản quyết định thành lập Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương để lãnh đạo công tác của Đảng. Hà Huy Tập được Quốc tế Cộng sản cử mang Nghị quyết của Đông phương bộ Quốc tế Cộng sản về việc thành lập Ban Chỉ huy ở ngoài Đảng Cộng sản Đông Dương đến Trung Quốc truyền đạt và cùng Lê Hồng Phong xúc tiến thành lập cơ quan này.

Tháng 3 năm 1934, tại Ma Cao, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Dựt họp thành lập Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương gồm 3 người do Lê Hồng Phong làm Thư ký, Hà Huy Tập phụ trách công tác tuyên truyền cổ động, Nguyễn Văn Dựt phụ trách thanh tra2.

Tháng 6 năm 1934, Ban chỉ huy ở ngoài họp, có thêm đại biểu từ Đảng Cộng sản Xiêm (tổ chức Đảng Cộng sản Đông Dương tại Thái Lan), ra nghị quyết về vấn đề tổ chức, quyền hạn của Ban Chỉ huy ở ngoài. Về quyền hạn, Ban Chỉ huy ở ngoài là đại diện cho Đảng trong quan hệ và liên lạc với Quốc tế Cộng sản, chỉ đạo đường lối chung của Trung ương Đảng, cử đại diện tham gia công tác và kiểm tra toàn bộ công tác của các cấp ủy trong Xứ. Trong trường hợp Ban Chấp hành Trung ương bị vỡ, Ban Chỉ huy ở ngoài có thể thay thế Trung ương lãnh đạo các tổ chức Đảng trong nước. Nhiệm vụ của Ban Chỉ huy ở ngoài lúc này là xuất bản Tạp chí Bônsêvíc, cơ quan lý luận của Đảng, tổ chức các khóa học cho đảng viên3. Do Ban Chấp hành Trung ương ở trong nước tan vỡ, hội nghị chủ trương "Ban Chỉ huy ở ngoài giữ vai trò là người lãnh đạo tổ chức, sẽ tổ chức lại cơ quan lãnh đạo Trung ương của Đảng Cộng sản Đông Dương"4.

Sau hội nghị, Ban Chỉ huy ở ngoài bắt liên lạc với các cơ sở trong nước và cử các thành viên về nước để xây dựng, thành lập các xứ ủy và chuẩn bị cho Đại hội Đảng.

Ngày 20 tháng 12 năm 1934, Quốc tế Cộng sản chỉ thị cho Ban chỉ huy ở ngoài, quy định Ban Chỉ huy ở ngoài là "một cơ quan lâm thời, tồn tại song song với Trung ương, nhưng có nhiệm vụ đặc biệt", liên lạc giữa Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương với Quốc tế Cộng sản và các đảng anh em khác; đào tạo cán bộ Đảng cho xứ Đông Dương, xuất bản Tạp chí Bônsêvíc...5

Tháng 3 năm 1935, Đại hội đại biểu lần thứ nhất Đảng Cộng sản Đông Dương được tiến hành tại Ma Cao (Trung Quốc). Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương mới của Đảng Cộng sản Đông Dương. Đại hội còn đồng tình với Nghị quyết của Quốc tế Cộng sản thành lập Ban Chỉ huy ở ngoài và coi Ban Chỉ huy ở ngoài "là cơ quan cao hơn Ban Trung ương, chỉ chịu quyền chỉ đạo của đại biểu Đảng Đại hội và Quốc tế Cộng sản"6. Tuy nhiên, trong Điều lệ Đảng (điều 36) quy định: "Trong khoảng hai lần đại hội, Trung ương là cơ quan cao nhất của Đảng, lãnh đạo công tác toàn Đảng"7.

Như vậy, Ban Chỉ huy ở ngoài, từ khi thành lập (1934) đến khi giải thể (1941), có vai trò rất quan trọng đối với việc xây dựng Đảng, với sự nghiệp cách mạng Việt Nam, mặc dù tổ chức này có những lúc mâu thuẫn với Ban Chấp hành Trung ương Đảng ở trong nước.
___________________________________________
* Viện trưởng Viện sử học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam.
1.  Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 391.
2.  Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 402.
3, 4.  Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 176, 110.
5, 6, 7.  Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 518, 110, 126.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười Hai, 2021, 12:26:21 pm

2. Cuối 1934, sau khi tốt nghiệp trường Đại học Phương Đông, Phùng Chí Kiên trở về Hồng Kông tham gia vào Ban Chỉ huy ở ngoài.

Cũng trong thời gian này, Ban Chỉ huy ở ngoài tiến hành triệu tập đại biểu các xứ để tham dự Đại hội lần thứ nhất của Đảng. Nguyễn Văn Dựt trở về Nam Kỳ hoạt động. Đầu tháng 2 năm 1935, Lê Hồng Phong dẫn đầu Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương sang Mátxcơva dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản. Phùng Chí Kiên cùng Hà Huy Tập đảm nhận công việc của Ban Chỉ huy ở ngoài, cùng một số đồng chí khác chuẩn bị cho Đại hội Đảng.

Tại Đại hội đại biểu Đảng lần thứ nhất, Phùng Chí Kiên và Hà Huy Tập là đại biểu chính thức, do Hà Huy Tập chủ trì. Nguyễn Ái Quốc và Lê Hồng Phong, đại biểu cho Quốc tế Cộng sản và Ban Chỉ huy ở ngoài được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương1.

Do sự đàn áp khốc liệt của thực dân Pháp, đến tháng 9 năm 1935, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương bị tan vỡ. Ban Chỉ huy ở ngoài lúc này gồm Hà Huy Tập và Phùng Chí Kiên đã "thực hiện chức năng của Ban Trung ương và lãnh đạo toàn Đảng"2. Tuy vậy, Ban Chỉ huy ở ngoài chỉ có ba người, các mối liên lạc bị cắt đứt, tài chính thiếu thốn, địch khủng bố ác liệt..., do vậy gặp rất nhiều khó khăn trong công tác. Ban Chỉ huy ở ngoài phải chuyển trụ sở từ Ma Cao đến Quảng Đông rồi Quảng Tây, tạm đình xuất bản Tạp chí Bônsêvíc và tờ báo L'Unite. Phạm vi hoạt động của Ban Chỉ huy ở ngoài kiêm Ban Chấp hành Trung ương chỉ bó hẹp trong khu vực miền núi phía bắc Bắc Kỳ, chủ yếu là Cao Bằng, Lạng Sơn. Hoạt động của Ban Chỉ huy ở ngoài đối với các tổ chức Đảng trong nước chỉ đơn giản là nhận các báo cáo và ra các chỉ thị đã được mã hóa.

Nhận thức được hạn chế của mình, đầu năm 1936, Ban Chỉ huy ở ngoài đã báo cáo Quốc tế Cộng sản chủ trương triệu tập Hội nghị Đảng để tái lập Ban Chấp hành Trung ương nhằm "tự đảm nhận việc lãnh đạo hoạt động trong xứ".

Đầu năm 1936, đồng chí Lê Hồng Phong, Ủy viên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, về Trung Quốc bắt liên lạc với Ban Chỉ huy ở ngoài. Ngày 26 tháng 7 năm 1936, tại Thượng Hải (Trung Quốc), Lê Hồng Phong cùng Hà Huy Tập và Phùng Chí Kiên tổ chức cuộc họp quán triệt và vận dụng chủ trương của Đại hội VII Quốc tế Cộng sản vào tình hình cách mạng Đông Dương. Hội nghị quyết định lập lại Ban Chấp hành Trung ương, phân công đồng chí Hà Huy Tập về Sài Gòn khôi phục liên lạc, tổ chức Ban Chấp hành Trung ương của Đảng. Ngày 12 tháng 10 năm 1936, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương được tổ chức tại Nam Kỳ. Ngày 30 tháng 10 năm 1936, Ban Chỉ huy ở ngoài ban hành tài liệu "Chung quanh vấn đề chính sách mới", chỉ ra phương thức hoạt động của Đảng là theo cách "liên lạc bí mật với công khai", "hết sức thu nạp đảng viên và củng cố hàng ngũ".

Ngày 13 và ngày 14 tháng 3 năm 1937, Ban Chấp hành Trung ương họp Hội nghị mở rộng tại Nam Kỳ. Đồng chí Hà Huy Tập được bầu làm Tổng Bí thư.

Sau khi Hà Huy Tập về nước lãnh đạo Ban Chấp hành Trung ương, mâu thuẫn giữa Ban Chỉ huy ở ngoài và Ban Chấp hành Trung ương trong nước bắt đầu nảy sinh, chủ yếu là quan điểm và phương pháp tổ chức. Từ chỗ bất đồng quan điểm, hai cơ quan đã viết sách báo công kích lẫn nhau, phủ nhận vai trò của nhau, gây tác hại đến việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và ảnh hưởng đến công tác tổ chức của Đảng.

Giữa năm 1937, Ban Chỉ huy ở ngoài cử 3 cán bộ, trong đó có Phùng Chí Kiên, Nguyễn Thị Minh Khai về nước hoạt động.

Trong các ngày từ ngày 25 tháng 8 đến ngày 4 tháng 9 năm 1937, Ban Chấp hành Trung ương họp Hội nghị mở rộng tại Bà Điểm, Hóc Môn - Gia Định. Phùng Chí Kiên tham dự Hội nghị và được bầu là Ủy viên Ủy ban Trung ương Đảng. Ngày 4 tháng 9 năm 1937, Ban Chấp hành Trung ương họp cử ra Ban Thường vụ. Phùng Chí Kiên cùng bốn đồng chí khác là Hà Huy Tập, Nguyễn Chí Diểu, Võ Văn Tần, Nguyễn Văn Cừ được cử vào Ban Thường vụ, do Hà Huy Tập làm Tổng Bí thư.

Ngày 10 tháng 10 năm 1937, Lê Hồng Phong về Sài Gòn hoạt động. Phùng Chí Kiên được cử quay lại Trung Quốc phụ trách Ban Chỉ huy ở ngoài. Thời gian này, do gặp khó khăn về tài chính và nhân sự, việc đưa đón cán bộ sang Liên Xô học tập cũng không còn vì các trường đào tạo của Quốc tế Cộng sản giải thể, cho nên Ban Chỉ huy ở ngoài tồn tại là để duy trì mối liên lạc giữa Đảng ta với quốc tế.

Ban Chỉ huy ở ngoài đóng trụ sở tại số nhà 71 phố Đại Nam (Hồng Kông), giữ mối liên lạc thường xuyên với Chi bộ Vân Quý ở Côn Minh. Ban Chỉ huy ở ngoài vẫn giữ mối quan hệ với các Đảng Cộng sản vùng Viễn Đông, nhất là Ban Phương Nam thuộc Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Đầu năm 1939, sau khi cơ quan Ban Chỉ huy ở ngoài bị cảnh sát Hồng Kông lục soát, Phùng Chí Kiên đến Côn Minh, bắt liên lạc với Chi bộ Vân Quý, lập ra "Hải ngoại chỉ huy ban" để tiếp tục nhiệm vụ của Ban Chỉ huy ở ngoài.

Hải ngoại chỉ huy ban và Chi bộ Vân Quý trở thành cơ sở để Nguyễn Ái Quốc bắt liên lạc và chuẩn bị các điều kiện trở về nước hoạt động.

Giữa năm 1940, thông qua hai tổ chức này, Nguyễn Ái Quốc đã gặp được đại diện Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương và chỉ thị chuẩn bị cho Hội nghị toàn quốc của Đảng. Và từ ngày 10 đến ngày 19 tháng 5 năm 1941, Hội nghị Trung ương lần thứ 8 đã được tổ chức tại Pắc Bó, Cao Bằng dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc. Phùng Chí Kiên tham dự hội nghị với tư cách là đại biểu của Hải ngoại chỉ huy ban. Hội nghị đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương, trong đó Phùng Chí Kiên được bầu là Ủy viên chính thức.
Sau Hội nghị Trung ương lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương chính thức được thành lập. Từ đây "Hải ngoại chỉ huy ban" không còn tồn tại nữa. Phùng Chí Kiên được Trung ương phân công lãnh đạo lực lượng du kích Bắc Sơn - Võ Nhai cho đến khi hy sinh tại Khau Pàn (Ngân Sơn, Bắc Kạn), ngày 22 tháng 8 năm 1941.

Như vậy, sau khi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, do Hội nghị lần thứ nhất (10.1930) bầu ra, không còn tồn tại do bị thực dân Pháp đàn áp, Quốc tế Cộng sản chủ trương thành lập ở ngoài nước một tổ chức để lãnh đạo cách mạng Việt Nam, tổ chức mang tên Ban Chỉ huy ở ngoài.

Sau một thời gian chuẩn bị, tháng 3 năm 1934, Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương được thành lập có nhiệm vụ như Ban Chấp hành Trung ương. Từ Đại hội lần thứ nhất (3.1935), Đảng Cộng sản Đông Dương có hai cơ quan lãnh đạo là Ban Chỉ huy ở ngoài và Ban Chấp hành Trung ương ở trong nước. Sự tồn tại hai cơ quan này với những cơ chế hoạt động không chặt chẽ và rõ ràng đã làm nảy sinh bất đồng trong giới lãnh đạo của Đảng, nhất là từ tháng 10 năm 1936 đến tháng 3 năm 1938.

Tuy vậy, trong điều kiện Ban Chấp hành Trung ương ở trong nước luôn bị thực dân Pháp đánh phá, tan rã rồi tái lập, rồi bị đàn áp, Ban Chỉ huy ở ngoài có vai trò rất quan trọng, là đầu mối liên lạc giữa phong trào cách mạng trong nước với Quốc tế Cộng sản, xuất bản các báo chí hướng dẫn đường lối cách mạng và sau này là cơ sở liên lạc giữa lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc với phong trào cách mạng trong nước.

Trong Ban Chỉ huy ở ngoài, Phùng Chí Kiên là một trong ba cán bộ lãnh đạo của ban. Khi Lê Hồng Phong và Hà Huy Tập về nước, Phùng Chí Kiên là người chỉ huy cao nhất của ban. Với tư cách là Ủy viên Trung ương, Ủy viên Ban Thường vụ Trung ương trực tiếp phụ trách công tác của Ban Chỉ huy ở ngoài, Phùng Chí Kiên đã có những đóng góp quan trọng cho quá trình xây dựng tổ chức Đảng, xây dựng cơ sở trong những năm cách mạng Việt Nam gặp khó khăn nhất.
_____________________________________
1.  Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 6, Sđd, tr. 302.
2.  Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 5, 2000, Sđd, tr. 364.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười Hai, 2021, 02:38:57 pm

PHÙNG CHÍ KIÊN - MỘT CHIẾN SĨ CỘNG SẢN QUỐC TẾ KIÊN CƯỜNG CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Đại tá, PGS, TS NGUYỄN MẠNH HÀ*


Khi tìm hiểu về con người đặc biệt Phùng Chí Kiên, một trong số ít những lãnh tụ của Đảng như Hồ Chí Minh, Trần Phú, Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong... có cuộc đời hoạt động bôn ba khắp đó đây, trong nước cũng như ngoài nước, tôi thấy ông có điểm nổi bật rất thú vị, rất đáng được nghiên cứu kỹ lưỡng và tôn vinh. Đó là vai trò của một chiến sĩ cộng sản quốc tế hoạt động không biết mệt mỏi.

Các tham luận tại cuộc hội thảo này đều đã đề cập khá kỹ thân thế, sự nghiệp cách mạng vẻ vang của đồng chí Phùng Chí Kiên. Trong bài này, tôi đi sâu phân tích vai trò và sứ mệnh của một chiến sĩ cộng sản quốc tế trong con người ông.

Là một thanh niên hoạt bát, thông tuệ, được gia đình cho học hết tiểu học, lớn lên trên quê hương có truyền thống yêu nước, cách mạng, Phùng Chí Kiên luôn đau đáu ý tưởng phải làm một cái gì đó cho nước, cho dân, trong cảnh đất nước đang lầm than dưới sự thống trị của thực dân Pháp. Chính vì thế mà khi có người của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên ở Quảng Châu (Trung Quốc) về địa phương đưa người sang học, ông đã hăng hái lên đường, mặc dù đã có gia đình riêng.

Tháng 10 năm 1926, ông tham dự lớp huấn luyện chính trị do Nguyễn Ái Quốc tổ chức tại Quảng Châu. Lớp huấn luyện nhận được sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản Trung Quốc và một số chuyên gia quân sự Liên Xô công tác tại Trường quân sự Hoàng Phố. Một số cán bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc tham gia giảng bài, cho lớp huấn luyện có Chu Ân Lai, Lý Phú Xuân, Trần Diên Niên, Trương Thái Lôi, Bành Bái... Chuyên gia Liên Xô có Bliukhe (tức Galen), Páplốp, Primacôp... Những bài học vỡ lòng về chủ nghĩa Mác - Lênin, về Quốc tế Cộng sản, về phong trào công nhân quốc tế, về con đường cách mạng vô sản, về con đường cách mạng Việt Nam... đã giúp ông định hình hướng đi của cuộc đời, từ một người thanh niên yêu nước đến với cách mạng vô sản, đến với chủ nghĩa quốc tế của Lênin.

Tiếp sau lớp huấn luyện chính trị, ông được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc với sự giúp đỡ của Chu Ân Lai, lúc này là Ủy viên Thường vụ Khu ủy Lưỡng Quảng, phụ trách công tác quân sự, đang giữ chức Chủ nhiệm Ban Chính trị Trường quân sự Hoàng Phố, vốn là người quen biết cũ khi còn hoạt động ở Pari lựa chọn cùng một số đồng chí khác như Lê Hồng Phong, Lê Thiết Hùng, Trương Vân Lĩnh, Nguyễn Sơn, Lê Quốc Vọng, Võ Hồng Anh, Lê Quảng Đạt, Đào Chính Nam... gửi vào học Trường Quân sự Hoàng Phố của Chính phủ Tôn Trung Sơn. Ông được nhà trường và cố vấn quân sự Liên Xô nhận xét: "Qua học tập và rèn luyện, đồng chí Phùng Chí Kiên tỏ rõ là người có năng lực chỉ huy về quân sự". Bạn cùng học với ông là Đào Chính Nam (tức Đào Ngọc Tuấn), nêu cảm tưởng: "Trong thời gian học tôi được đồng chí Nguyễn Sơn và đồng chí Phùng Chí Kiên giúp đỡ rất nhiều nên phần nhận thức cách mạng có tiến bộ".

Tuy nhiên, quá trình học tập của ông và các đồng chí bị dang dở do lực lượng phái hữu trong Quốc dân đảng Trung Quốc, đứng đầu là Tưởng Giới Thạch, đã trở mặt, chống lại các chính sách của Tôn Trung Sơn, thực hiện các cuộc đàn áp đẫm máu những người cộng sản và trí thức yêu nước Trung Quốc. Trường Quân sự Hoàng Phố cũng bị đóng cửa (8.1927). Như vậy, trong 3 năm tồn tại, Trường Quân sự Hoàng Phố đào tạo được 5 khoá. "Trong suốt thời gian đó đã có những đồng chí Việt Nam vượt qua muôn trùng nguy hiểm tới trường tham gia vào sinh hoạt của trường, làm tăng lực lượng quân sự và uy tín của trường. Đánh giá về các học viên Việt Nam học tại đây, đồng chí Trêrêpanốp, một chuyên gia Liên Xô giảng dạy tại trường, cho biết: "Trong số các học viên của chúng tôi có khoảng 30 người Việt Nam. Họ rất nghiêm chỉnh, cần cù lao động, dốc hết sức để học tập bởi vì họ biết rằng, để giành chính quyền về tay công nông phải cầm lấy vũ khí chiến đấu và chỉ có tri thức quân sự mới giúp họ bảo vệ cách mạng khỏi thù trong giặc ngoài".

Như vậy, với việc học tại Trường Quân sự Hoàng Phố, Phùng Chí Kiên đã bước đầu được trang bị những kiến thức, kinh nghiệm và điều kiện để trở thành một nhà quân sự cách mạng, một chiến sĩ quốc tế. Đúng như vậy, sau khi thôi học tại Hoàng Phố, Phùng Chí Kiên và các đồng chí của ông, được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chỉ đạo, đã tích cực hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng Cộng sản Trung Quốc: "Ai nấy tùy theo điều kiện và khả năng của mình hăng hái tham gia guồng máy khởi nghĩa để chiến đấu chống thù chung, nêu cao tinh thần quốc tế vô sản".

Ngày 11 tháng 12 năm 1927, Phùng Chí Kiên và các đồng chí Hồ Tùng Mậu, Lê Quốc Vọng, Nguyễn Sơn, Lý Tự Trọng, Lý Phương Đức... tham gia cuộc, khởi nghĩa Quảng Châu do Ban Chấp hành tỉnh ủy Quảng Đông Đảng Cộng sản Trung Quốc khởi xướng và lãnh đạo. Tuy nhiên, do so sánh lực lượng bất lợi cho những người khởi nghĩa nên cuộc khởi nghĩa bị lực lượng của Tưởng Giỏi Thạch đàn áp. Cuộc khởi nghĩa thất bại. Quân cách mạng rút về xây dựng khu Xôviết ở hai huyện Hải Phong, Lục Phong. Tại đây, do có khả năng chỉ huy quân sự, Phùng Chí Kiên được các đồng chí Trung Quốc tín nhiệm bổ nhiệm làm Liên trưởng (tức Đại đội trưởng). Sau đó, theo một số tài liệu, đồng chí còn đảm nhiệm các chức vụ trong quân đội cách mạng Trung Quốc như Trung đoàn trưởng Trung đoàn 4 Hồng quân Đông Giang (thời kỳ Lý Lập Tam), Chính trị viên Tiểu đoàn độc lập. Sau khi được kết nạp vào Đảng Cộng sản Trung Quốc (12.1929), đồng chí từng giữ cương vị Bí thư chi bộ Đảng, Đảng ủy viên Trung đoàn. Theo hồ sơ của mật thám Pháp: năm 1930, Phùng Chí Kiên được chỉ định dạy lý luận chính trị cho tân binh (của Hồng quân), nhưng chỉ trong 3 tháng rồi lại xin trở lại quân đội. Đồng chí đã tham dự hàng chục trận chiến đấu với quân Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch, đã bị thương 2 lần... Đồng chí đã nêu một tấm gương sáng về chịu đựng gian khổ, kiên trì bảo vệ chân lý và thành quả cách mạng, nhiều lần được phía bạn biếu dương, từng được Đại hội đại biểu Xô-viết toàn quốc lần thứ ba nước Cộng hoà Xô-viết Trung Hoa bầu là Ủy viên chấp hành Xô-viết Trung ương. Có thể nói, bên cạnh lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, người từng giữ cấp bậc Thiẽu tá trong Bát lộ quân với bí danh là Hồ Quang, bên cạnh Nguyễn Sơn, người được mệnh danh là "Lưỡng quốc tướng quân", tham gia cuộc Vạn lý trường chinh dài hai vạn năm nghìn dặm (12.000km) của Hồng quân công nông Trung Quốc từ căn cứ ở vùng đông nam lên khu vực Thiểm Tây, Cam Túc, Ninh Hạ ở phía tây bắc Trung Quốc. Nguyễn Văn Luận (quê huyện miền núi Tuyên Hoá, Quảng Bình, người cũng từng tham gia cuộc Vạn lý trường chinh, sau này là một trong số 34 chiến sĩ Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân), thì Phùng Chí Kiên là một người Việt Nam đã có những tham gia, đóng góp đáng kể cho sự trưởng thành, lớn mạnh của Hồng quân công nông, của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc sau này. Tư cách, tầm vóc của một chiến sĩ quốc tế vô sản đã thể hiện rõ ở đồng chí Phùng Chí Kiên.

Có tài liệu nói đồng chí Phùng Chí Kiên cũng tham gia cuộc Vạn lý trường chinh của Hồng quân công nông Trung Quốc, điều này cần tìm hiểu thêm. Nhưng theo tôi, việc này khó xảy ra vì trong thời gian diễn ra cuộc Vạn lý trường chinh (từ 10.1934 đến 10.1936), đồng chí Kiên được Quốc tế Cộng sản cử về công tác tại Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương tại Hồng Kông và cùng với đồng chí Hà Huy Tập chuẩn bị văn kiện cho Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương họp tại Ma Cao, tháng 3 năm 1935. Đến ngày 26 tháng 7 năm 1936, đồng chí Phùng Chí Kiên còn có cuộc họp với các đồng chí Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập tại Thượng Hải (Trung Quốc) để quán triệt và vận dụng chủ trương của Đại hội lần thứ 7 Quốc tế Cộng sản vào tình hình cách mạng Đông Dương.
______________________________________
* Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười Hai, 2021, 02:39:47 pm

Cuối năm 1930, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Đầu năm 1931, đồng chí được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giới thiệu sang học tại Trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản tại Mátxcơva. Đây là trường đào tạo những cán bộ cho các dân tộc bị đế quốc, thực dân áp bức. Trên đường sang Liên Xô, tới Mãn Châu, đồng chí Phùng Chí Kiên và người cùng đi là Trần Ngọc Diệm bị cảnh sát Trung Quốc bắt. Sau khi bị giam giữ gần 1 năm (từ 3.1931 đến 1.1932), được thả ra, đồng chí cùng với Trần Ngọc Diệm tiếp tục tìm đường sang Mátxcơva vào học tại Trường Đại học Phương Đông.

Một lần nữa, cơ hội tiếp thu tri thức về cách mạng vô sản, về phong trào công nhân và phong trào giải phóng dân tộc... rộng mở trước Phùng Chí Kiên. Tranh thủ thời gian, đồng chí ngày đêm học tập lý luận, trau dồi kiến thức, trở thành học viên xuất sắc của nhà trường. Nữ đồng chí Riblina, cán bộ Bộ Phương Đông của Quốc tế Cộng sản, trong "Bản nhận xét về tư cách đạo đức" ngày 22 tháng 11 năm 1933 về Phùng Chí Kiên (tức Kan) có ghi: "Có khả năng lớn về công tác, năng động, trình độ chính trị cao, kết quả học tập nói chung tốt...".

Tốt nghiệp Trường Đại học Phương Đông, cuối năm 1934, Phùng Chí Kiên được Quốc tế Cộng sản giới thiệu về Hồng Kông tham gia Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương. Tại Đại hội đại biểu lần thứ nhất Đảng Cộng sản Đông Dương, Phùng Chí Kiên được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, tham gia Ban Thường vụ Trung ương Đảng. Sau Đại hội I, đồng chí vẫn công tác tại Ban Chỉ huy ở ngoài (còn gọi là Ban lãnh đạo Hải ngoại). Thời kỳ này, thực dân Pháp ở Đông Dương thẳng tay đàn áp những người cộng sản, những người yêu nước, hầu hết các đồng chí trong Ban Chấp hành Trung ương ở trong nước bị địch bắt, giam cầm, thủ tiêu. Hoạt động của Ban chỉ huy ở ngoài cũng gặp vô vàn khó khăn vì liên lạc với trong nước bị đứt đoạn, không có tài chính để hoạt động. Ban Chỉ huy ở ngoài, để tránh bị khủng bố, phải liên tục chuyển trụ sở từ Ma Cao đến Quảng Đông, Quảng Tây. Cơ quan ngôn luận của Ban là Tạp chí Bônsêvích và tờ báo L’Unite phải tạm thời đình bản.

Tuy vậy, Phùng Chí Kiên và các đồng chí vẫn kiên trì hoạt động. Trong báo cáo của Đảng Cộng sản Đông Dương gửi Quốc tế Cộng sản ngày 5 tháng 4 năm 1938 có đoạn: "Kan (Phùng Chí Kiên) ở Tàu, cốt để duy trì đường giao thông ở Ngoại quốc... đồng chí Kan không có tiền, mà chúng tôi thì không có tiền gửi ra giúp, nên phải bơ vơ ở ngoài. Nếu các đồng chí không gửi tiền cho chúng tôi để chúng tôi đưa học sinh sang châu Âu hoặc qua Tàu thì cơ quan ở Tàu thủ tiêu hẳn đi, để cho Kan về trong xứ làm việc...

Các đồng chí.

1. Đảng của chúng tôi còn trong hoàn cảnh hoàn toàn bí mật, một mặt Ban Chỉ huy ở ngoài đã thủ tiêu. Hiện nay chỉ để Kan ở ngoài phụ trách liên lạc với đảng Xiêm rất khó khăn, trở ngại, còn đảng Tàu hiện nay đã gần được công khai, nên các đồng chí giao cho họ liên lạc với đảng Xiêm thì tiện cho cả chúng tôi...

2. Chúng tôi mong rằng các đồng chí cho chúng tôi chính thức liên lạc với đảng Tàu. Chúng tôi ở đây có liên lạc trực tiếp với Nam ủy của đảng Tàu.

3. Từ nay, những tài liệu, chỉ thị tin cho Đảng chúng tôi có thể gửi qua Trung ương Đảng Tàu đưa về, Nam ủy chuyển liên lạc với Nam ủy của đảng Tàu...".

Từ báo cáo trên có thể thấy, Ban Chỉ huy ở ngoài còn có một chức năng quan trọng là duy trì mối liên lạc giữa Đảng ta với các đảng bạn và với Quốc tế Cộng sản, mà Phùng Chí Kiên là một trong những người chịu trách nhiệm chính. Đồng chí là người thông thạo ba ngoại ngữ tiếng Trung, tiếng Nga và cả tiếng Pháp, nên tiến hành công việc của một cán bộ phụ trách công tác đối ngoại của Đảng ta rất hiệu quả. Chính vì thế, trong những hoàn cảnh hết sức khó khăn, cách mạng nước ta vẫn nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ của các đảng cộng sản và Quốc tế Cộng sản. Có được điều đó là vì đồng chí luôn nhận thức một cách sâu sắc rằng cách mạng Việt Nam là một bộ phận khăng khít, không thể tách rời của cách mạng thế giới.

Ý thức của một chiến sĩ cộng sản quốc tế còn được thể hiện rất rõ qua việc sau khi từ Sài Gòn trở lại Trung Quốc tham gia Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng, đồng chí Phùng Chí Kiên đã tích cực vận động và lãnh đạo Việt kiều tham gia cuộc vận động ủng hộ nhân dân Trung Quốc chống Nhật. Do hoạt động này mà đồng chí bị cảnh sát Hồng Kông theo dõi, khám xét, bắt giam ngày 23 tháng 10 năm 1936. Tuy nhiên, do không đưa ra được chứng cứ buộc tội cụ thể, nên sau 2 tháng bị giam giữ, cảnh sát Hồng Kông phải trả tự do cho đồng chí nhưng trục xuất đồng chí ra khỏi Hồng Kông.

Rời Hồng Kông, đồng chí Phùng Chí Kiên đến thị trấn Sán Đầu của tỉnh Quảng Đông, rồi chuyển tới Côn Minh, thủ phủ của tỉnh Vân Nam. Tại đây, đồng chí đã cùng các bạn chiến đấu vừa củng cố hoạt động của Ban Chỉ huy ở ngoài, xuất bản tờ báo Đồng Thanh, vừa tổ chức lập Hội Việt Nam ủng hộ nhân dân Trung Hoa đánh Nhật.

Là người tích cực, năng nổ trong công việc và có thời gian dài sống trên đất nước Trung Quốc, nên sau khi được gặp lại lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tại Côn Minh, đồng chí Phùng Chí Kiên đã báo cáo với Người về hoạt động của Ban Chỉ huy ở ngoài và thực hiện gợi ý của Người về việc đổi tên tờ báo, tiếp tục mở rộng và nâng cao tính đấu tranh hợp pháp của Hội Việt Nam ủng hộ nhân dân Trung Hoa đánh Nhật. Đồng chí còn tổ chức đưa lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đến công tác ở nhiều địa phương thuộc tỉnh Vân Nam, nơi có cơ sở của Đảng ta. Đồng thời, đồng chí còn cùng với các đồng chí trong Ban Chỉ huy ở ngoài tổ chức đấu tranh phá kế hoạch của Việt gian thân Quốc dân đảng Trung Hoa định đưa quân đội của Tưởng Giới Thạch nhảy vào Việt Nam khi tình hình trong nước Việt Nam đang có sự chuyển biến, thực dân Pháp đang hoang mang vì nước Pháp bị phát xít Đức chiếm đóng và phát xít Nhật cũng đang có kế hoạch "nhập Việt".

Có thể nói, cho đến khi cùng lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và các đồng chí khác về Cao Bằng vào ngày 28 tháng 1 năm 1941 để lãnh đạo phong trào cách mạng trong nước, đồng chí Phùng Chí Kiên đã chứng tỏ là một chiến sĩ cộng sản quốc tế kiên cường, hoạt động không mệt mỏi, với tinh thần quốc tế, tinh thần cách mạng vô sản, để thúc đẩy phong trào cách mạng của Việt Nam và các nước trong khu vực phát triển. Có được vai trò quan trọng và được thừa nhận là một người chiến sĩ cộng sản quốc tế kiên cường như thế, ngoài tố chất thông minh, can đảm, khả năng tổ chức... theo chúng tôi là do đồng chí Kiên có được và được thừa hưởng những yếu tố dưới đây:

- Đồng chí được sinh ra ở một vùng đất có truyền thống cách mạng, được gia đình tạo điều kiện cho ăn học nên đã sớm nhận thức và tiếp thu được tri thức, tư tưởng yêu nước và đã được tổ chức tạo điều kiện để phát huy những lợi thế ưu việt đó.

- Đồng chí đã sớm được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, cùng quê hương Nghệ An, chú ý bồi dưỡng, giáo dục, được bố trí học ở những trường đào tạo chính quy về quân sự, chính trị. Có thể nói, đồng chí Phùng Chí Kiên là một trong những cán bộ được đào tạo cơ bản nhất, từ rất sớm, của cách mạng Việt Nam về cả quân sự và chính trị. Chính "vốn liếng đó", cộng với việc thông thạo tới 3 ngoại ngữ, đã giúp cho đồng chí Phùng Chí Kiên thực hiện và phát huy được tài năng, sở trường của mình trong hoạt động cách mạng, làm tốt mọi nhiệm vụ được giao.

- Bên cạnh việc được đào tạo cơ bản, điều có ý nghĩa quyết định chính là môi trường và thực tế trải qua nhiều vị trí công tác, hoạt động trên nhiều địa bàn ở Trung Quốc, Liên Xô, lại luôn được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc dìu dắt, chỉ bảo trực tiếp, đã giúp cho đồng chí ngày càng hoàn thiện vai trò, nhiệm vụ của một chiến sĩ quốc tế cộng sản của cách mạng Việt Nam.

Đồng chí Phùng Chí Kiên từ một con người yêu nước đã đến với cách mạng, đến với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Lòng yêu nước đã trở thành nguồn năng lượng chính hun đúc nên tinh thần quốc tế vô sản. Được đào tạo qua trường lớp, đồng chí càng nhận thức rõ cách mạng Việt Nam là một bộ phận khăng khít, không thể tách rời của cách mạng vô sản toàn thế giới. Được tiếp xúc với các đồng chí cách mạng Trung Quốc, Liên Xô, đồng chí Phùng Chí Kiên học hỏi thêm được nhiều điều bổ ích và nhận thấy vai trò cách mạng to lớn, quan trọng của hai nước này không chỉ đối với cách mạng Việt Nam, mà đối với cả phong trào cách mạng thế giới. Đây cũng là cơ sở của tình đoàn kết quốc tế mà lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cũng đã sớm nhận thãy trong những năm tháng hoạt động ở nước ngoài và truyền đạt thêm cho đồng chí Phùng Chí Kiên.

Với cương vị là một học viên, rồi quân nhân, cán bộ chỉ huy, thành viên Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng nhiều năm, đồng chí Phùng Chí Kiên đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm trong chiến đấu, trong hoạt động tuyên truyền, tổ chức vận động quần chúng, gây cơ sở cách mạng trong khi thực hiện những nhiệm vụ quốc tế của Đảng. Những kinh nghiệm hoạt động, chiến đấu đó đã làm nên một nhà cách mạng tiền bối, một chiến sĩ cộng sản quốc tế kiên cường của Đảng ta mang tên Phùng Chí Kiên.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười Hai, 2021, 03:30:51 pm

PHÙNG CHÍ KIÊN
VỚI NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ LẦN THỨ 8 (5.1941)
CỦA TRUNG ƯƠNG ĐẢNG

Đại tá, PGS, TS HỒ KHANG*


Mảnh đất thân yêu thuộc địa phận xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, cách đây 107 năm đã sinh ra Phùng Chí Kiên (1901), nhà cách mạng tiền bối, người chiến sĩ cộng sản kiên trung của phong trào giải phóng dân tộc và là người tiêu biểu cho tinh thần bất khuất Việt Nam.

Sinh ra dưới thời kỳ Pháp thuộc, ở vùng quê kiên cường giàu truyền thống yêu nước Nghệ An, trước cảnh nước mất, nhà tan với nhiệt tâm yêu nước nồng nàn, cũng như bao người dân đất Việt, Phùng Chí Kiên đã tìm đến với cách mạng. Là con một nông dân nghèo, thấm đậm nỗi niềm của người dân mất nước Phùng Chí Kiên thời niên thiếu đã sớm phải từ bỏ niềm đam mê học tập của mình (mới học xong sơ học yếu lược), để tham gia cách mạng, cứu dân cứu nước. Cuộc đời đồng chí Phùng Chí Kiên tuy ngắn ngủi nhưng đối với nhân dân, đối với cách mạng, với nước là tấm gương tiêu biểu cho tinh thần cách mạng tiến công, ý chí kiên cường quyết tâm chiến đấu vì độc lập tự do cho Tổ quốc.

Năm 1925, hoà chung các phong trào đấu tranh yêu nước nổ ra rầm rộ của công nhân, học sinh, sinh viên, đồng chí đã tham gia phong trào vận động, ủng hộ quyên góp kinh phí đưa thanh niên ưu tú sang Quảng Châu huấn luyện chính trị của Tổng hội Việt Nam cách mạng thanh niên do Nguyễn Ái Quốc sáng lập.

Năm 1926, đồng chí Phùng Chí Kiên được Chi hội Việt Nam cách mạng thanh niên ở Nghệ Tĩnh giới thiệu sang Quảng Châu tham gia lớp huấn luyện chính trị của Nguyễn Ái Quốc. Qua huấn luyện chính trị, Nguyễn Ái Quốc cũng như các cố vấn quân sự của Liên Xô và Trung Quốc đều nhận thấy ở Phùng Chí Kiên có đầu óc biệt tài về quân sự và kỹ thuật nên đã quyết định chọn ông cùng các đồng chí khác như Lê Thiết Hùng, Trương Vân Lĩnh, Lê Hồng Phong vào đào tạo tại Trường Quân sự Hoàng Phố. Năm 1927, Trường Quân sự Hoàng Phố phải đóng cửa do Tưởng Giới Thạch bội ước chống lại cuộc cách mạng do Tôn Trung Sơn lãnh đạo. Phùng Chí Kiên cùng nhiều cán bộ cách mạng Việt Nam gia nhập Hồng quân công nông Trung Hoa tham gia cuộc khởi nghĩa Quảng Châu. Với cương vị là Đại đội trưởng, Phùng Chí Kiên đã khẳng định được là một cán bộ chỉ huy quân sự xuất sắc và trở thành tấm gương sáng trong Hồng quân công nông ở vùng Hải Phong, Lục Phong. Tháng 2 năm 1931, một lần nữa Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định tinh thần và khả năng hoạt động quân sự của Phùng Chí Kiên nên đã giới thiệu cho Bộ Phương Đông của Quốc tế Cộng sản sang học Trường Đại học Phương Đông ở Mátxcơva. Dưới bí danh là Kan, Phùng Chí Kiên được Quốc tế Cộng sản chấp thuận học khoá 1932-1934, tại Đại học Phương Đông.

Sau khi mãn khoá học, trong bản nhận xét ghi ngày 22 tháng 11 năm 1933 của Trường Đại học Phương Đông về đồng chí Phùng Chí Kiên có ghi: "có khả năng lớn về công tác, năng động, trình độ chính trị cao, trình độ học tập nói chung tốt..."1. Năm 1934, sau khi tốt nghiệp Trường Đại học Phương Đông, Quốc tế Cộng sản phái đồng chí Phùng Chí Kiên về hoạt động trong Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương. Là cán bộ vừa được đào tạo một cách chính quy về quân sự và kỹ thuật điện nên đồng chí được phân công phụ trách ban này. Tháng 6 năm 1934, Phùng Chí Kiên tham gia Hội nghị của Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng. Hội nghị nhấn mạnh, nhiệm vụ cấp bách lúc đó của cách mạng Việt Nam là nhanh chóng khôi phục sức chiến đấu của Đảng. Sau đó, đồng chí Phùng Chí Kiên cùng Hà Huy Tập và các đồng chí khác đã tiến hành dự thảo các văn kiện chuẩn bị cho Đại hội Đảng. Tháng 3 năm 1935, tại Đại hội Đảng lần thứ nhất (họp ở Ma Cao Trung Quốc). Đại hội thông qua các nghị quyết về đường lối cách mạng, các mặt công tác chuẩn bị bước sang thời kỳ đấu tranh mới, trong đó có Nghị quyết về Đội tự vệ. Nghị quyết còn xác định: "Bản chất chính trị của Đội tự vệ, nguyên tắc xây dựng, tổ chức biên chế trang bị, cách huấn luyện...2. Đây là những quan điểm đầu tiên nhưng rất cơ bản của Đảng ta về xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, có ý nghĩa quan trọng đối với việc hình thành tư tưởng quân sự của Đảng, tạo điều kiện để hoàn chỉnh và phát triển tiếp những năm sau này. Tại đại hội, đồng chí Phùng Chí Kiên được tín cử vào Ban Chấp hành Trung ương.

Đầu năm 1940, Nguyễn Ái Quốc về đến Côn Minh (Trung Quốc) bắt liên lạc với Ban hải ngoại của Đảng. Tháng 6 năm 1940, ở chính quốc Pháp thua Đức, Nguyễn Ái Quốc nhận định đây là cơ hội thuận lợi cho cách mạng nước ta và Người quyết định chuẩn bị về nước. Người phân tích: "Việc Pháp mất nước là một cơ hội rất thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước ngay để tranh thủ thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng"3. Tháng 12 năm 1940, sau khi nghe đồng chí Hoàng Văn Thụ báo cáo kết quả Hội nghị lần thứ 7 của Trung ương và tình hình cách mạng trong nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chỉ thị cho đồng chí Hoàng Văn Thụ về nước cùng Ban Chấp hành Trung ương lâm thời chuẩn bị Hội nghị Trung ương lần thứ 8.

Ở trong nước các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đô Lương lúc bấy giờ tuy thất bại nhưng đã gây tiếng vang lớn báo hiệu một khí thế mới cho phong trào cách mạng Việt Nam. Tại Quảng Tây, đồng chí Phùng Chí Kiên dưới sự chỉ đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã tập hợp được hơn 40 Việt kiều yêu nước đào tạo họ thành những cán bộ cốt cán đưa về Cao Bằng xây dựng căn cứ và phong trào cách mạng. Qua tìm hiểu, Người đánh giá cao vị trí Cao Bằng. Người nói: "Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra nhiều triển vọng lớn lao cho cách mạng ta. Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại kề sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi. Nhưng từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được. Có nối phong trào được với Thái Nguyên và toàn quốc thì khi phát động đấu tranh vũ trang, lúc thuận lợi có thể tiến công, lúc khó khăn có thể giữ"4. Nguyễn Ái Quốc đã đặt vấn đề phải xây dựng căn cứ địa cách mạng làm điểm tựa ban đầu để xây dựng lực lượng và làm bàn đạp cho khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. Trong khi đó, Trung ương Đảng cũng chủ trương xây dựng căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai. Do yêu cầu tất yếu của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở nước ta sẽ được kết liễu bằng cuộc khởi nghĩa vũ trang, nên hai khu căn cứ địa ra đời là một đòi hỏi tất yếu.
________________________________________
* Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
1.  Đỗ Quang Hưng, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 6, 2001, tr. 19.
2.  Việt Nam thế kỷ XX - những sự kiện quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2001, tr. 65-66.
3.  Hồi ký của Vũ Anh, Đầu nguồn - hồi ký về Bác Hồ, Nxb Văn học, Hà Nội, 1975, tr. 234. 
4.  Hồ Chí Minh - biên niên tiểu sử, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 112.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười Hai, 2021, 03:35:35 pm

Ngày 28 tháng 2 năm 1941, đồng chí Phùng Chí Kiên cùng lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc vượt biên giới về Cao Bằng - hang Pắc Bó hoạt động, về Cao Bằng đồng chí Phùng Chí Kiên được phân công phụ trách huấn luyện chính trị cho các cán bộ địa phương. Đây là lớp huấn luyện cán bộ Việt Minh đầu tiên của nước ta. Đồng chí đã nghiên cứu và biên soạn cuốn Con đường cách mạng dân tộc giải phóng làm giáo trình giảng dạy. Sau khóa huấn luyện, các cán bộ tỏa đi khắp các huyện Hà Quảng, Hoà An, Nguyên Bình, tiến hành xây dựng Mặt trận Việt Minh. Đó là những cơ sở đầu tiên của căn cứ địa Cao Bằng để sau này mở rộng khắp địa bàn trong và ngoài tỉnh.

Trước bối cảnh của tình hình thế giới và trong nước có lợi cho cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5.1941) tại Cao Bằng. Dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị Trung ương lần thứ 8 đã hoàn chỉnh sự chuyển hướng vạch ra từ hai hội nghị Trung ương trước đó. Nhờ có uy tín, tài tổ chức và sự lãnh đạo sáng suốt của Nguyễn Ái Quốc, một phong trào cứu nước được dấy lên thu hút các tầng lớp nhân dân rộng khắp toàn quốc. Nghị quyết của Đảng đã biến thành sức mạnh của quần chúng, tạo ra bước ngoặt có ý nghĩa lịch sử cho cách mạng Việt Nam.

Hội nghị Trung ương lần thứ 8 đã giải quyết sáng tỏ về mặt lý luận mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp; đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ dân tộc và dân chủ, chống đế quốc và chống phong kiến để phù hợp với đặc điểm cách mạng giải phóng dân tộc ở một nước thuộc địa. Nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng nước ta lúc này là đánh đuổi đế quốc, giành độc lập dân tộc, còn nhiệm vụ chống phong kiến, ruộng đất cho dân cày sẽ thực hiện từng bước và phải phục vụ cho nhiệm vụ chính là chống đế quốc. Nghị quyết còn nêu rõ, lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử tồn vong của quốc gia dân tộc. Trên tinh thần đó, theo đề nghị của Nguyễn Ái Quốc Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh đoàn kết tất cả giai cấp, tầng lớp dân tộc thành một lực lượng chính trị to lớn.

Có thể nói, tư tưởng đại đoàn dân tộc của Hồ Chí Minh, lần đầu tiên được nêu trong Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, đến lúc này đã trở thành hiện thực, tạo thành sức mạnh vô địch, nhân tố làm nên thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Hội nghị nhấn mạnh phải dùng khởi nghĩa vũ trang, muốn vậy phải coi việc chuẩn bị khởi nghĩa là nhiệm vụ trọng tâm của Đảng ta lúc bấy giờ. Hội nghị còn lường định trước khi nổ ra khởi nghĩa đồng loạt nếu có điều kiện có thể lãnh đạo khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương giành thắng lợi để mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn hơn để giành thắng lợi hoàn toàn.

Để chuẩn bị lực lượng, bên cạnh việc xây dựng Mặt trận Việt Minh là lực lượng chính trị to lớn, cơ bản, Hội nghị còn quyết định xây dựng lực lượng vũ trang, căn cứ địa cách mạng Cao Bằng và Bắc Sơn - Võ Nhai do Trung ương trực tiếp chỉ đạo. Sau hội nghị, Trung ương bổ sung cho căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai nhiều cán bộ chính trị, quân sự trong đó có ủy viên Trung ương Đảng Phùng Chí Kiên. Hội nghị Trung ương lần thứ 8 "đã hoàn chỉnh sự chuyển hướng chiến lược cách mạng của Đảng, từ đấu tranh chính trị tiến lên đấu tranh vũ trang"1 và chuyển hình thức tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng làm nòng cốt cho khởi nghĩa vũ trang trong cả nước giành chính quyền về tay nhân dân. Như vậy, với tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo Hội nghị Trung ương lần thứ 8 dưới sự chỉ đạo của tư tưởng Hồ Chí Minh đã giải quyết đúng đắn, sáng tạo cả về chủ trương đường lối, phương pháp và tổ chức lực lượng.

Thực hiện nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 8, công cuộc xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng ở các địa phương, trọng tâm là Bắc Sơn - Võ Nhai và Cao Bằng, được đẩy mạnh. Tại căn cứ Bắc Sơn, mặc dù bị địch khủng bố, đàn áp gắt gao. Đội du kích Bắc Sơn dựa vào dân được nhân dân ủng hộ giúp đỡ vẫn tích cực luyện tập quân sự, chính trị, củng cố khu căn cứ về mọi mặt. Tháng 6 năm 1941, đoàn cán bộ cao cấp của Đảng gồm các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt và một số cán bộ tăng cường cho Bắc Sơn - Võ Nhai. Từ Pắc Bó trở về Bắc Sơn. Ở Lân Táy, đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh đã gặp gỡ Ban chỉ huy đội du kích Bắc Sơn nắm tình hình và truyền đạt chủ trương của Đảng theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 8 về việc củng cố, chấn chỉnh đội du kích và xây dựng khu căn cứ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới. Đây là lần học tập đầu tiên về đường lối, chủ trương chính sách của Đảng trong lực lượng vũ trang cách mạng của ta.

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các lực lượng vũ trang đồng thời phù hợp với nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn cách mạng mới, đội du kích Bắc Sơn đã được đổi tên thành Đội cứu quốc quân Bắc Sơn. Đây là Trung đội Cứu quốc quân 1 do đồng chí Phùng Chí Kiên, Ủy viên Trung ương Đảng làm Chỉ huy trưởng, Lương Văn Tri - Chỉ huy phó2, Chu Văn Tấn - Chính trị viên. Ban chỉ huy Cứu quốc quân 1 đặt dưới sự lãnh đạo của Ban Thường vụ Trung ương Đảng. Đồng chí Hoàng Quốc Việt, Ủy viên thường vụ Trung ương Đảng phổ biến những quyết nghị, chủ trương chính sách của Đảng và chương trình hành động của Việt Minh. Đồng chí Phùng Chí Kiên truyền đạt những kiến thức cơ bản về quân sự, nhất là về chiến thuật du kích cho toàn thể cán bộ tham dự để khi trở về địa phương họ tiếp tục phổ biến cho tự vệ và quần chúng cách mạng. Trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng Bắc Sơn, thực dân Pháp tăng cường lực lượng tay sai phản động người địa phương theo dõi, nắm tình hình phong trào cách mạng, cũng như các hoạt động của Cứu quốc quân, hòng đàn áp, khủng bố phong trào cách mạng của nhân dân ta.

Tháng 7 năm 1941, sau một thời gian chuẩn bị lực lượng, thực dân Pháp huy động 4.0003 quân mở cuộc tiến công càn quét vào khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai, nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não phong trào kháng chiến của nhân dân ta. Địch tập trung lực lượng tiến từ Lạng Sơn xuống, từ Thái Nguyên lên và từ Bắc Giang sang khép chặt vòng vây ở hai huyện Hữu Lũng và Yên Thế. Từ phía Lạng Sơn, lực lượng lính khố xanh mở các cuộc càn quét, triệt hạ một số làng bản ở các xã Vũ Lăng, Tân Lập. Từ phía Thái Nguyên, một trung đội lính khố xanh do Boóc-đi-ê đồn trưởng đồn Đình Cả chỉ huy mở cuộc càn quét vào các làng Khuôn Khát, Bản Ít cửa ngõ của Ban chỉ huy Cứu quốc quân 1 ở Khuổi Nọi. Trước tình hình địch truy lùng ráo riết, các đồng chí Trung ương quyết định phân công đồng chí Phùng Chí Kiên cùng đồng chí Lương Văn Tri ở lại chỉ huy Trung đội Cứu quốc quân 1 làm nòng cốt cùng đồng bào Bắc Sơn chống địch càn quét khủng bố. Còn các đồng chí Trung ương rút khỏi vòng vây của địch về khu an toàn miền xuôi.

Trước cuộc tiến công mãnh liệt của địch vào khu căn cứ, các chiến sĩ Cứu quốc quân đã chiến đấu anh dũng, gây cho địch một số thiệt hại. Đứng trước tình thế nghiêm trọng đó, Ban chỉ huy Cứu quốc quân chủ trương rút hai tiểu đội ra khỏi Bắc Sơn lên vùng biên giới phía Bắc duy trì lực lượng, xây dựng căn cứ. Còn một tiểu đội quốc quân bí mật ở lại Bắc Sơn hoạt động chống địch khủng bố, duy trì căn cứ cách mạng.

Tháng 8 năm 1941, lực lượng Cứu quốc quân rút khỏi căn cứ Bắc Sơn chia làm hai cánh phá vòng vây của địch, rút lên Cao Bằng để bảo toàn lực lượng. Cánh thứ nhất gồm các đồng chí Hoàng Văn Thái, Đặng Văn Cáp, Dương Công Bình, Hoàng Văn Hán, Hoàng Như Ý do đồng chí Hoàng Văn Thái và Đặng Văn Cáp chỉ huy. Cánh thứ hai gồm các đồng chí Phùng Chí Kiên, Lương Văn Tri, Hà Khai Lạc, Bế Sơn Cương... do đồng chí Phùng Chí Kiên, Lương Văn Tri chỉ huy rút khỏi Khuổi Nọi lên Na Rì, Ngân Sơn (Bắc Kạn) để lên căn cứ địa cách mạng Cao Bằng. Ngày 19 tháng 8, khi cánh quân đến Pò Kép thuộc châu Na Rì thì bị địch phục kích. Các chiến sĩ Cứu quốc quân đã nhanh chóng đánh trả địch, diệt một tên, bắn bị thương một số tên rồi tiếp tục hành quân. Nhưng quân địch ở đồn Ngân Sơn đã huy động lực lượng truy kích chặn các ngả đường lên Cao Bằng. Ngày 22 tháng 8 năm 1941, khi đến làng Khau Pàn, châu Ngân Sơn, Cứu quốc quân bị địch phục kích và tổn thất nặng. Đồng chí Phùng Chí Kiên hy sinh. Đồng chí Lương Văn Tri bị thương nặng, bị địch bắt và mất trong nhà tù sau gần một tháng giam cầm. Đây là một tổn thất lớn đối với Trung đội Cứu quốc quân 1. Tuy nhiên quân thù không thể tiêu diệt được tinh thần chiến đấu của Cứu quốc quân, không thể dập tắt được phong trào cách mạng của nhân dân ta. Nhận được tin này, đồng chí Nguyễn Ái Quốc và Ban Chấp hành Trung ương Đảng vô cùng thương tiếc và đau xót. Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công Nhà nước ta đã truy phong quân hàm cấp tướng cho đồng chí Phùng Chí Kiên, người phụ trách quân sự đầu tiên, vị chỉ huy Cứu quốc quân 1.

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, cách mạng Việt Nam đã vượt qua những chặng đường đầy gian khổ thử thách và đã giành được những thắng lợi vẻ vang. Bốn mươi tuổi đời, độ tuổi đầy nhiệt huyết đấu tranh của đời người, Phùng Chí Kiên đã cống hiến cho cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn và sự ra đời của Đội Cứu quốc quân - cái vốn quân sự ban đầu của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đồng chí xứng đáng là một trong những vị "khai quốc công thần" của quân đội ta, đã góp phần viết nên những trang sử chói ngời trong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc trong những tháng năm đó.
______________________________________________
1.  Việt Nam thế kỷ XX - những sự kiện quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2001, tr. 93.
2, 3.  Việt Nam thế kỷ XX - những sự kiện quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2001, tr. 94.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười Hai, 2021, 03:44:38 pm

PHÙNG CHÍ KIÊN NHỮNG THÁNG NGÀY Ở PẮC BÓ

Đại tá, TS TRẦN NGỌC LONG*


Cuộc đời hoạt động cách mạng của Phùng Chí Kiên tuy ngắn ngủi và còn ngắn ngủi hơn so với sự khởi phát của lực lượng vũ trang cách mạng, nhưng trước, sau, người đời vẫn luôn coi ông là một nhà hoạt động chính trị lỗi lạc, một nhà quân sự tài ba.

Lâu nay, trong sự hiểu biết của nhiều người, tên tuổi Phùng Chí Kiên gắn liền với Đội Cứu quốc quân 1, với Đại hội lần thứ nhất Đảng Cộng sản Đông Dương ở Ma Cao; với vai trò một trong những yếu nhân của Ban Chỉ huy ở ngoài Đảng Cộng sản Đông Dương, bên cạnh những tên tuổi lớn như Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập... Những năm gần đây, qua nguồn tư liệu của kho lưu trữ Quốc tế Cộng sản (Lưu trữ Lịch sử hiện đại Liên bang Nga), người ta hiểu thêm về quãng đời sôi động của ông ở Trường Quân chính Hoàng Phố và Trường Đại học Phương Đông. Quá trình học tập, Phùng Chí Kiên được đánh giá là một "thanh niên có đầu óc quân sự và kỹ thuật", "có khả năng lớn về công tác, năng động..."1, một con người "dốc hết sức để học tập bởi biết rằng để giành chính quyền về tay công nông, phải cầm lấy vũ khí chiến đấu và chỉ có tri thức quân sự mới có thể làm được điều đó"2. Các tài liệu của Sở mật thám Đông Dương cũng phần nào cho thấy vai trò cũng như hoạt động có tầm ảnh hưởng to lớn của Phùng Chí Kiên ở hải ngoại, cũng như ở trong nước.

Nhãn quan và tư duy quân sự của Phùng Chí Kiên bộc lộ từ rất sớm, đặc biệt là từ khi ông còn ngồi trên ghế Trường Quân sự Hoàng Phố, sau đó là gia nhập quân cách mạng và tham gia khởi nghĩa Quảng Châu; rồi dưới mái Trường Đại học Phương Đông. Ảnh hưởng và uy tín của Phùng Chí Kiên không chỉ bộc lộ ở hải ngoại mà còn cả ở trong nước. Tại một lớp đào tạo cán bộ ngắn ngày ở Soi Mít (nơi mà Trung ương vừa di chuyển từ Đình Bảng lên), khi bàn luận vấn đề "phải Việt Nam hoá chương trình huấn luyện", "phải cách mạng hoá nội dung huấn luyện", đồng chí Hoàng Văn Thụ (lúc bấy giờ là Ủy viên Trung ương Đảng - phụ trách quân sự) đã không ít lần đăm chiêu và bộc bạch với các cộng sự: "Tiếc rằng kinh nghiệm chiến đấu và chiến thắng của cha ông ta bị mai một! Còn Diên An thì lại ở quá xa... giá mà lúc này đây (cuối 1940, T.G) có anh Phùng Chí Kiên ở nhà...".

Tuy bộc lộ từ rất sớm như vậy, nhưng phải đến khi cùng với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng, thì tài năng quân sự của Phùng Chí Kiên mới có dịp toả sáng và đem lại hiệu quả thiết thực. Trong một khoảng thời gian ngắn ngủi (từ ngày trở về nước 28.1 đến lúc hy sinh 22.8.1941), Phùng Chí Kiên đã dốc bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ, đem hết tài năng, kinh nghiệm và tri thức, đặc biệt là tri thức quân sự đã tích luỹ được, cống hiến cho việc xây dựng các tổ chức vũ trang. Có thể về mặt lý luận ông chưa kịp để lại (hoặc cũng có thể người đời chưa có dịp tiếp cận) một trước tác hay luận điểm về quân sự đáng kể, song vai trò của Phùng Chí Kiên đối với thành công của Hội nghị Trung ương 8 (19.5.1941); với Đội du kích Bắc Sơn - Trung đội Cứu quốc quân 1 - "cái vốn quân sự ban đầu" của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng sau này, là vô cùng to lớn và đã được lịch sử ghi nhận.

Như nhiều người đã biết, tháng 11 năm 1940, Hội nghị Trung ương họp tại làng Đình Bảng (Bắc Ninh) đã nhận định một trong những nguyên nhân thất bại của khởi nghĩa Bắc Sơn là do "tổ chức vũ trang không chặt chẽ, thiếu cán bộ quân sự". Điều này đã làm cho Phùng Chí Kiên (lúc này đang ở bên kia biên giới) trăn trở rất nhiều. Chưa hết, chỉ trong một khoảng thời gian ngắn (27.9.1940 đến 13.1.1941), ở trong nước đã liên tiếp diễn ra 3 sự kiện lớn: khởi nghĩa Bắc Sơn, khởi nghĩa Nam Kỳ và binh biến Đô Lương. Những sự kiện đó cho thấy thời kỳ mới của cách mạng Việt Nam đã bắt đầu - thời kỳ khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân.

Trong bối cảnh đó, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc quyết định gấp rút về nước cùng với một số cộng sự, trong đó có Phùng Chí Kiên. Để chuẩn bị cho chuyến trở về quan trọng này, Phùng Chí Kiên đã tháp tùng Nguyễn Ái Quốc khảo sát tình hình, tìm hiểu phong trào quần chúng trên tuyến xe lửa Nghi Lương - Khai Viễn - Hồ Kiều. Bằng nhãn quan của một nhà quân sự, cùng với Trịnh Đông Hải (Vũ Anh), Phùng Chí Kiên đã có những ý kiến phân tích sắc sảo, giúp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc có những quyết định sáng suốt trong việc lựa chọn tuyến đường trở về và chọn đất đứng chân sau khi trở về đất Mẹ. Không phải ngẫu nhiên mà khi trở về nước, Nguyễn Ái Quốc, Phùng Chí Kiên và một số cán bộ khác đã không đi theo tuyến đường Vân Nam - Hồ Kiều như nhiều người vẫn tưởng, mà đi qua ngả Tĩnh Tây để về Cao Bằng; chọn Tĩnh Tây làm bàn đạp để vào Hà Quảng (Cao Bằng) - nơi trình độ giác ngộ của nhân dân tương đối cao, phong trào cách mạng phát triển mạnh. Chúng ta đều biết rằng, trước ngày Nguyễn Ái Quốc và Phùng Chí Kiên trở về Tổ quốc không lâu, các đồng chí Trịnh Đông Hải, Hoàng Sâm, Lê Quảng Ba đã được phái về Cao Bằng trước để "tìm một địa điểm vừa bảo đảm được yêu cầu thật bí mật, vừa có hàng rào quần chúng bảo vệ, lại có đường rút lui". Địa điểm đó chính là hang Cốc Bó, bản Pắc Bó, châu Hà Quảng. Trong thời gian còn lưu lại Tĩnh Tây chờ ngày về nước, Phùng Chí Kiên được Nguyễn Ái Quốc phân công cùng với Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp bồi dưỡng, huấn luyện cho 40 cán bộ con em các dân tộc Cao Bằng vừa từ trong nước vượt biên giới sang.
________________________________________
* Tổng Biên tập Tạp chí Lịch sử quân sự, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
1.  Bản nhận xét về Kan (tức Phùng Chí Kiên) của Bộ Phương Đông ngày 12 tháng 11 năm 1933, phông 532-1384.
2.  Trêrêpanốp, Hồi ký, Tạp chí Phụ nữ Liên Xô, số 2, 1980.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười Hai, 2021, 03:45:23 pm

Ngày 28 tháng 1 năm 1941, Phùng Chí Kiên tháp tùng lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, cùng với số cán bộ cách mạng được huấn luyện tại Trung Quốc vượt cột mốc biên giới 108 trở về đất Mẹ. Sau này, các ông Lê Quảng Ba, Dương Đại Lâm kể rằng, những ngày lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc còn ăn nghỉ ở nhà ông Lý Quốc Súng (còn gọi là Máy Lỳ) là những ngày vô cùng căng thẳng và trăn trở đối với Phùng Chí Kiên. Là trợ thủ số một về quân sự, hơn ai hết, Phùng Chí Kiên đau đáu với các phương án bảo vệ an toàn cho Người, cho cơ quan đầu não của cách mạng, bởi ông biết rằng vùng Lục khu này tuy có hàng rào quần chúng tốt nhưng vẫn còn một số toán thổ phỉ hoạt động và nhan nhản bọn mật thám Nhật - Pháp.

Ngày 8 tháng 2 năm 1941, Phùng Chí Kiên cùng các đồng chí đưa "già Thu" (Bác Hồ) chuyển lên sống và làm việc tại hang Cốc Bó. Để chuẩn bị chỗ ở mới cho Bác, sáng nào Phùng Chí Kiên cũng lên núi sục sạo nghiên cứu địa thế và đường đi lối lại quanh hang Cốc Bó nhằm chủ động đối phó phòng khi có tình huống bất trắc xảy ra. Với con người Phùng Chí Kiên là vậy, đến đâu, dù chỉ là ở tạm đôi ba ngày, ông cũng đặc biệt chú trọng tìm hiểu các yếu tố "địa lợi, nhân hoà" và đặt yêu cầu bí mật, an toàn lên trên hết. Trong thời gian ở Pắc Bó, không ít lần do có động, Phùng Chí Kiên đã đề nghị Bác tạm rời hang Cốc Bó. Có lần thầy, trò phải di chuyển lên Lủng Lạn (cách hang Cốc Bó độ vài trăm mét); rồi sau đó lại chuyển xuống khe Khuổi Nậm...

Hang Cốc Bó tuy an toàn và kiên cố nhưng âm u và ẩm thấp, không thuận lợi cho làm việc. Vì vậy, theo yêu cầu của Bác và qua sự chỉ dẫn của Lê Quảng Ba, Phùng Chí Kiên cùng với Thế An đã tìm được một địa điểm bằng phẳng, khá thuận lợi cho Bác làm việc dưới chân núi. Lúc bấy giờ có ý kiến đề xuất nên xuống bản gần đó mượn một chiếc bàn kê để Bác làm việc; song Bác và Phùng Chí Kiên không nhất trí, vì cho rằng làm như vậy sẽ dễ lộ bí mật; bà con mình cực tốt nhưng "tai mắt" mật thám còn quanh đây; chỉ một sơ suất nhỏ có thể làm hỏng cả sự nghiệp lớn. Cũng có ý kiến đề xuất chặt cây đóng xuống làm chân, dùng cành cây dàn đều ra làm mặt bàn cốt để sao cho Bác có thể đặt được một chiếc máy chữ con. Tuy nhiên, sáng kiến này cũng không thành do phía dưới toàn đá cục, cây đóng không xuống. Cuối cùng, Phùng Chí Kiên cùng Lê Quảng Ba, Thế An quyết định kê một chiếc bàn bằng đá để Bác làm việc cho chắc chắn. Phải sục sạo cả buổi sáng họ mới tìm được một phiến đá có mặt tương đối phẳng rồi vần đến cạnh một mỏm đá dùng làm ghế. Một bộ bàn ghế đá trông có vẻ "chông chênh" nhưng chắc chắn và đơn sơ, đã thực sự vừa lòng Bác. Nhìn chiếc bàn đá được kê bên gốc si già, cạnh dòng suối trong xanh, Bác nói với Phùng Chí Kiên và những người cùng đi: "Cái bàn nhìn chông chênh thế mà đúng là bàn thạch đấy!".

Chính chiếc bàn đá đơn sơ ấy cùng với cảnh trí của suối nguồn Pắc Bó đã trở thành nguồn cảm hứng để Bác sáng tác những vần thơ bất hủ:

Sáng ra bờ suối, tối vào hang
Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng.
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng
Cuộc đời cách mạng thật là sang
.

Những ngày đầu về lại Pắc Bó, bên cạnh việc lo bảo đảm bí mật an toàn cho Bác, Phùng Chí Kiên còn đặc biệt quan tâm đến vấn đề vũ trang cho du kích để tự vệ. Được sự đồng ý và khích lệ của Bác, Phùng Chí Kiên đã tích cực vận động nhân dân trong vùng, mà trước hết là cán bộ nòng cốt ở địa phương, tham gia phong trào bán trâu, bán ruộng lấy tiền mua vũ khí. Nhờ vậy mà các đội tự vệ chiến đấu xã trong Tổng Lục Khu, bên cạnh những khẩu súng kíp, hoả mai cũ kỹ và lạc hậu, đã được trang bị thêm một số súng của Pháp, Nhật hiện đại hơn. Theo Phùng Chí Kiên, cần phải nhanh chóng xây dựng lực lượng vũ trang; ở đâu có Việt Minh, ở đó phải có tự vệ và các đội tự vệ chiến đấu (lúc bấy giờ ở Tổng Lục Khu đã có các tổ chức tự vệ nhưng chưa có đội tự vệ chiến đấu).

Sau 3 tháng tổ chức thí điểm Việt Minh tại ba châu Hà Quảng, Hoà An, Nguyên Bình (tháng 2 đến 4.1941), phong trào đã nhanh chóng phát triển rộng khắp với hơn 2.000 hội viên. Các đội tự vệ và tự vệ chiến đấu, các tổ chức xung phong vũ trang... lần lượt ra đời và phát triển. Đặc biệt là Đội tự vệ Cứu quốc - một trong những tổ chức đoàn thể cứu quốc được thai nghén từ khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Phùng Chí Kiên còn ở Tĩnh Tây, đã có thời cơ và có đất phát triển.

Kinh nghiệm và kết quả thí điểm Việt Minh ở Cao Bằng ba tháng đầu năm 1941 là cơ sở thực tiễn quan trọng, góp phần chuẩn bị tích cực cho Hội nghị Trung ương 8 của Đảng.

Và như mọi người đều biết, từ ngày 10 đến ngày 19 tháng 5 năm 1941, tại lán Khuổi Nậm (Pắc Bó - Hà Quảng), đã diễn ra Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8. Hội nghị này đã hoàn chỉnh sự chuyển hướng chiến lược và sách lược cách mạng; vạch ra đường lối và phương pháp giành chính quyền; đề ra nhiều chủ trương và chính sách cụ thể nhằm giương cao hơn nữa ngọn cờ giải phóng dân tộc, động viên mọi tầng lớp nhân dân tích cực tham gia phong trào cách mạng để giành độc lập, tự do.

Với việc đề ra phương hướng tổ chức lực lượng vũ trang cứu quốc, Hội nghị Trung ương 8 cho thấy rõ quan điểm của Đảng về vũ trang quần chúng cách mạng đi đôi với xây dựng đội quân chủ lực. Góp phần hoàn thiện quan điểm đó có dấu ấn của Phùng Chí Kiên.

Không phải ngẫu nhiên mà tại Hội nghị này, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã giao cho Phùng Chí Kiên trọng trách lớn: trực tiếp chỉ đạo khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai và chỉ huy Trung đội Cứu quốc quân 1. Cương vị đầy trọng trách mà Đảng và Bác đã tin tưởng trao cho Phùng Chí Kiên chính là sự ghi nhận uy tín cá nhân, tư duy quân sự sắc sảo, bản lĩnh và khả năng chỉ huy tài tình của ông.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười Hai, 2021, 04:07:35 pm

ĐỒNG CHÍ PHÙNG CHÍ KIÊN,
NGƯỜI HỌC TRÒ XUẤT SĂC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

TS CHU ĐỨC TÍNH*
PHẠM THỊ LAI**


Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, đã có biết bao nhiêu tấm gương anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh thân mình cho độc lập, tự do của Tổ quốc, cho lý tưởng vẻ vang của Đảng. Trong số những người con trung hiếu ấy, người có nhiều năm tháng được hoạt động gần gũi bên cạnh lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, hy sinh khi tuổi còn rất trẻ, để lại trong lòng Người niềm tiếc thương vô hạn, nỗi đau xót khôn nguôi, đó là đồng chí Phùng Chí Kiên.

Qua một số tài liệu, sách báo lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, chúng tôi xin được phác họa lại đôi nét về cuộc đời hoạt động của đồng chí Phùng Chí Kiên, mà mỗi bước trưởng thành của đồng chí đều gắn liền với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh.

Đồng chí Phùng Chí Kiên1 sinh ra và lớn lên ở Diễn Châu, Nghệ An, vùng quê giàu truyền thống cách mạng. Năm 1925, khi Hội Việt Nam cách mạng thanh niên ở Quảng Châu cử cán bộ về Nghệ An, Hà Tĩnh hoạt động, tuyên truyền, vận động thanh niên tham gia cách mạng, đồng chí cũng như nhiều thanh niên, học sinh ở đây được giác ngộ và đưa sang Quảng Châu học tập. Tháng 10 năm 1926, Phùng Chí Kiên đến Quảng Châu, được dự lớp huấn luyện chính trị khóa 3, từ cuối năm 1926 đến đầu năm 1927, do Nguyễn Ái Quốc trực tiếp phụ trách2. Sau đó, được Người giới thiệu, đồng chí gia nhập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, rồi được gửi vào học ở Trường Quân sự Hoàng Phố. Những bài giảng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tại lớp huấn luyện ở Quảng Châu đã giúp đồng chí cũng như bao thanh niên Việt Nam có hướng đi đúng, vững bước trên con đường cách mạng đầy chông gai, mà không hề nao núng.

Tháng 12 năm 1930, Phùng Chí Kiên đến Hồng Kông gặp Nguyễn Ái Quốc và gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 1 năm 1931, theo giới thiệu của Nguyễn Ái Quốc, đồng chí Phùng Chí Kiên cùng hai người nữa được đưa sang Mátxcơva học Trường Đại học Phương Đông, nhưng trên đường đi sang Liên Xô đồng chí đã bị bắt giam gần một năm. Tháng 4 năm 1932, Phùng Chí Kiên lại một lần nữa sang Liên Xô qua ngả phía Bắc Trung Quốc. Đồng chí được vào học tại Trường Đại học Phương Đông, khóa học từ 15 tháng 6 năm 1932 đến 28 tháng 3 năm 1934, thẻ sinh viên số 56903. Trong hai năm học tại Trường Đại học Phương Đông, được tiếp xúc với sinh viên các nước, tham quan thực tế đất nước Liên Xô, được trang bị kiến thức về nguyên lý đấu tranh giai cấp, về việc đoàn kết các dân tộc bị áp bức, đồng chí đã sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu mới - cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc.

Sau cao trào cách mạng 1930-1931, Đảng Cộng sản Đông Dương bị khủng bố dữ dội. Hàng chục vạn chiến sĩ cộng sản và quần chúng yêu nước bị bắt và giết hại. Cơ quan lãnh đạo của Đảng ở Trung ương và hầu hết các cơ quan Đảng ở địa phương lần lượt bị phá vỡ. Năm 1932, theo chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, đồng chí Lê Hồng Phong cùng một số cán bộ chủ chốt đã bắt tay gây dựng lại tổ chức Đảng. Dưới sự chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản, tháng 3 năm 1934, tại Ma Cao, Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương được thành lập, đồng chí Lê Hồng Phong làm Thư ký (Bí thư). Đây là bước phát triển quan trọng trên con đường khôi phục lại tổ chức Đảng, chính vì vậy, Ban Chỉ huy ở ngoài có một vị trí, vai trò rất quan trọng:

"Ban Chỉ huy ở ngoài là đại diện của Đảng trong quan hệ và liên lạc với Quốc tế Cộng sản và các đảng Cộng sản anh em.

Ban Chỉ huy ở ngoài chỉ đạo đường lối chính trị chung của Trung ương Đảng. Ban có quyền cử đại biểu để tham gia công tác và kiểm tra toàn bộ công tác của cấp ủy Đảng trong nước.

Những nghị quyết quan trọng nhất của Trung ương phải được bàn bạc nhất trí với Ban Chỉ huy ở ngoài. Trong trường hợp Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương không đồng ý với Ban Chỉ huy ở ngoài, Trung ương có quyền khiếu nại nghị quyết lên Quốc tế Cộng sản. Trước khi Quốc tế Cộng sản quyết định vấn đề tranh cãi thì Trung ương có nhiệm vụ phải thực hiện các chỉ thị của Ban Chỉ huy ở ngoài.

Trong trường hợp Trung ương Đảng bị vỡ và mất liên lạc và để tránh mất sự lãnh đạo thường xuyên, các Xứ ủy Đảng (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Lào, Cao Miên) phải liên lạc với Ban Chỉ huy ở ngoài. Trong trường hợp Trung ương bị vỡ, Ban Chỉ huy ở ngoài có thể thay thế Trung ương lãnh đạo trực tiếp tất cả các tổ chức đảng ở trong nước"4. Ban Chỉ huy ở ngoài còn có nhiệm vụ chuẩn bị triệu tập Đại hội Đảng lần thứ nhất.

Về Trung Quốc tham gia công việc của Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương, đồng chí đến Thượng Hải tháng 5 năm 1934. Không bắt được liên lạc, đồng chí về Long Châu, Quảng Tây. Ở Long Châu hơn một tháng, đồng chí mới bắt liên lạc được với Lê Hồng Phong. Còn 370 đôla mang theo, đồng chí Phùng Chí Kiên chuyển cho Ban Chỉ huy ở ngoài để gửi sinh viên tới Trường Đại học Phương Đông5. Sau đó đồng chí được đưa về Ma Cao để chuẩn bị cho Đại hội đại biểu lần thứ nhất Đảng Cộng sản Đông Dương.

Chỉ thị của Đông phương Bộ Quốc tế Cộng sản, do Miphơ ký, ngày 20 tháng 12 tháng 1934, ghi: "Kan (tức Phùng Chí Kiên) phải ở lại Trung tâm ở ngoài, để làm việc với Min6 cho đến khi Đông phương Bộ7 tìm được người thay thế đặc biệt"8. Do đặc điểm, tình hình cách mạng Việt Nam lúc đó, Ban Chỉ huy ở ngoài có 5 người (3 người do Quốc tế Cộng sản chỉ định, 2 người do Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương chỉ định), trong đó có đồng chí Phùng Chí Kiên.
_________________________________________
* Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh.
** Bảo tàng Hồ Chí Minh.
1.  A.A. Xôcôlốp, Quốc tế Cộng sản và Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, đồng chí Phùng Chí Kiên còn có các tên sau: Kan (tên ở trường Đại học Phương Đông), Nguyễn Vĩ, Nguyễn Ngọc Vĩ (tên khi ở trong nước), Mạnh Văn Liễu (tên khi học Trường Quân sự Hoàng Phố, Trung Quốc), Cam Mi Liệt (tên trong quân đội Trung Quốc), Phùng Chí Kiên, Nguyễn Hào.

Trong bài Đảng ta của Chủ tịch Hồ Chí Minh, in trong Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 549, đồng chí Phùng Chí Kiên còn có tên là Phùng Tự Do.

2.  Nguyễn Ái Quốc ở Quảng Châu, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr. 205.
3.  A.A. Xôcôlốp, Quốc tế Cộng sản và Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, tr. 246.
4.  Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, tr. 176.
5.  Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 5, Nxb Chính trị quôiíc gia, Hà Nội, 1999, tr. 404.
6.  Min: Nguyễn Vĩnh Xuyên, học Trường Đại học Phương Đông năm 1930.
7.  Đông Phương bộ Quốc tế Cộng sản thành lập theo quyết định của Chủ tịch đoàn Ban Chấp ủy Quốc tế Cộng sản ngày 24 tháng 3 năm 1926 trên cơ sở Ban Phương Đông của Ban Chấp ủy Quốc tế Cộng sản (Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 4, Sđd, tr. 523).
8.  Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, tr. 520.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười Hai, 2021, 04:09:37 pm

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Đảng họp ở Ma Cao (3.1935), đồng chí Phùng Chí Kiên được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được cử làm Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng. Ở vị trí quan trọng này, đồng chí có điều kiện đem hết trí tuệ, khả năng và sức lực phục vụ các nhiệm vụ của Đảng Cộng sản Đông Dương.

Tháng 8 năm 1936, đồng chí Phùng Chí Kiên được cử về Sài Gòn cùng đồng chí Hà Huy Tập trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước, theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 của Quốc tế Cộng sản và Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ngày 16 tháng 7 năm 1936, nhằm đòi tự do dân chủ, cơm áo và hoà bình. Nhưng một năm sau, do yêu cầu mới của cách mạng, đồng chí Lê Hồng Phong về Sài Gòn hoạt động, đồng chí Phùng Chí Kiên lại sang Trung Quốc chỉ đạo công tác Đảng ở nước ngoài.

Đầu năm 1940, ở Vân Nam, Trung Quốc, một chi bộ Ban Chỉ huy ở ngoài (BCHON), gồm ba người: Phùng Chí Kiên, Vũ Anh, Hoàng Văn Hoan được thành lập. Đồng chí Phùng Chí Kiên, lúc đó lấy tên là Liệu, là Bí thư chi bộ, trực tiếp phụ trách tờ báo Truyền tin. Khi Nguyễn Ái Quốc đến Côn Minh, đồng chí Phùng Chí Kiên đã thay mặt Chi bộ báo cáo với Người về tình hình hoạt động của BCHON, các tổ chức quần chúng Việt kiều ở Côn Minh, về tờ báo Truyền tin, sau đổi tên thành tờ Đồng Thanh. Sau đó, theo gợi ý của Nguyễn Ái Quốc, tờ Đồng Thanh được đổi thành Đ.T (có thể hiểu là Đảng ta, Đấu tranh, Đánh Tây,...). Bắt đầu từ thời gian này, Nguyễn Ái Quốc trực tiếp chỉ đạo mọi hoạt động của BCHON, Người tham gia viết bài cho báo Đ.T. Cũng từ đó, Phùng Chí Kiên được làm việc gần Nguyễn Ái Quốc và thường xuyên xin chỉ thị của Người về nội dung hoạt động của BCHON. Đồng chí đã nhiều lần đưa Nguyễn Ái Quốc đến các nơi như Mông Tự, Nghi Lương, Khai Viễn, Chi Thôn... thuộc tỉnh Vân Nam, thăm các cơ sở quần chúng cách mạng và khảo sát đường về Tổ quốc khi có đủ điều kiện.

Đầu tháng 6 năm 1940, chính đồng chí Phùng Chí Kiên đã bố trí cuộc gặp của Nguyễn Ái Quốc với các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp vừa ở trong nước sang tại công viên Thúy Hồ, ở Côn Minh, Trung Quốc.

Tháng 6 năm 1940, Pháp đầu hàng Đức, Nhật nhảy vào Đông Dương. Tại một ngôi nhà nhỏ, nơi BCHON thường họp và là tòa soạn báo Đ.T, Nguyễn Ái Quốc đã họp với đồng chí Phùng Chí Kiên và BCHON bàn việc vận động thành lập Hội Việt Nam độc lập đồng minh, đồng thời khẩn trương chuẩn bị về nước. Người nói: "Việc Pháp mất nước là một cơ hội rất thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước ngay để tranh thủ thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng".

Sau đó, Phùng Chí Kiên theo Nguyễn Ái Quốc chuyển tới Tĩnh Tây, tỉnh Quảng Tây. Nhận được tin Nguyễn Ái Quốc đã về Tĩnh Tây, Trung ương Đảng ở trong nước cử đồng chí Hoàng Văn Thụ sang đón. Sau khi thống nhất kế hoạch với đồng chí Hoàng Văn Thụ, đồng chí Phùng Chí Kiên đã tập hợp hơn bốn mươi thanh niên Cao Bằng mới chạy sang Tĩnh Tây để lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc huấn luyện thành những cán bộ cốt cán, đưa về Cao Bằng xây dựng thí điểm các đoàn thể Việt Minh, lập khu căn cứ cách mạng. Lớp huấn luyện được tổ chức ở bản Nậm Quang và Ngàn Tấy, thôn Linh Quang, xã Thiện Bàn, huyện Tĩnh Tây, thuộc tỉnh Quảng Tây, giáp biên giới Trung Quốc - Việt Nam. Dựa theo tài liệu huấn luyện của Nguyễn Ái Quốc về cách tuyên truyền, tổ chức, vận động quần chúng, đồng chí Phùng Chí Kiên đã cùng với các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp biên soạn thành bài giảng, sau đó đưa Người duyệt lại. Đồng chí Phùng Chí Kiên cùng các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp trực tiếp giảng dạy. Các bài giảng sau đó được tập hợp thành tập bài giảng nhan đề: "Con đường giải phóng1 gồm 6 bài như sau:

Bài 1: Tình hình thế giới: Trong đó đề cập đến các vấn đề thế giới chiến tranh, phong trào cách mạng thế giới, về Liên bang Xô-viết, về Tàu (Trung Quốc).

Bài 2: Tình hình Đông Dương: Giới thiệu về đặc điểm địa lý; kinh tế; chính trị; về các giai cấp trong nước; các dân tộc Đông Dương; thái độ người Pháp ở Đông Dương; thái độ Hoa kiều.

Bài 3: Vấn đề cách mạng Việt Nam: Giới thiệu lịch sử dân tộc giải phóng Việt Nam, về cách mạng giải phóng dân tộc hiện nay và những điều kiện thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Chỉ ra những sai lầm, ý kiến có hại cần chống; giới thiệu những đoàn thể chính trị ở Đông Dương; các chủ trương cứu nước của Việt Nam Độc lập Đồng minh, chủ nghĩa tân dân chủ của Việt Nam.

Bài 4: Công tác: Hướng dẫn cách điều tra, tuyên truyền, tổ chức, huấn luyện và đấu tranh cách mạng.

Bài 5: Vấn đề khởi nghĩa: Trong đó có nội dung: Khởi nghĩa; Du kích.

Bài 6: Một người cách mạng phải như thế nào: Nói về tư cách một người cách mạng.

Nội dung chương trình huấn luyện trên đây tuy ngắn gọn, nhưng đã trang bị những kiến thức cơ bản cho cán bộ, rất thiết thực và bổ ích, là cẩm nang hướng dẫn cho cán bộ trong quá trình hoạt động, tổ chức, giáo dục, động viên quần chúng nhân dân tham gia các tổ chức cách mạng, chuẩn bị tiến tới tổng khởi nghĩa, giành chính quyền về tay nhân dân lao động. Con đường giải phóng là một tư liệu lịch sử gắn với cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí Phùng Chí Kiên, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng. Tài liệu này chưa được phổ biến rộng. Giới thiệu tài liệu này, chúng tôi mong muốn góp thêm một tư liệu về sự cống hiến của đồng chí Phùng Chí Kiên với cách mạng Việt Nam.

Ngày 28 tháng 1 năm 1941, đồng chí Phùng Chí Kiên theo lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về Pắc Bó, tỉnh Cao Bằng. Ở đây, đồng chí hoạt động bên cạnh Người và đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng, bảo vệ khu căn cứ. Đồng chí đã tích cực tham gia vào việc tổ chức các lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ Việt Minh cho các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn và các tỉnh miền xuôi. Tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (5.1941), họp tại lán Khuổi Nậm, Pắc Bó, Cao Bằng, đồng chí Phùng Chí Kiên tiếp tục được bầu là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, phụ trách quân sự, trực tiếp chỉ đạo khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai và Trung đội Cứu quốc quân 1.

Tài liệu của lớp huấn luyện tại bản Nậm Quang, cùng với những bài văn vần do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, đã được đồng chí Phùng Chí Kiên sử dụng để tiếp tục mở các lớp huấn luyện ở Bắc Sơn. Ngày 22 tháng 8 năm 1941, đồng chí đã hy sinh trên đường phá vòng vây của kẻ thù, tại Ngân Sơn. Được tin dữ này, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã lặng đi, rất đau xót. Cách mạng Việt Nam mất đi một cán bộ trung kiên, được đào tạo rất cơ bản, cả về chính trị lẫn quân sự. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc mất đi một người cộng sự gần gũi, tin cậy đã theo Người suốt những năm tháng đi gây dựng cơ sở, tổ chức quần chúng, mở lớp huấn luyện cán bộ.

Nghiên cứu về cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những năm tháng ở nước ngoài, những ngày về nước gây dựng phong trào đều thấy sự hiện diện của Phùng Chí Kiên bên cạnh Người. Đồng chí hy sinh giữa lúc tuổi trẻ, khi mà tài năng, trí tuệ, lòng quả cảm của đồng chí đang độ chín và có điều kiện đóng góp nhiều cho cách mạng Việt Nam. Lịch sử cách mạng Việt Nam mãi mãi ghi nhận những cống hiến của đồng chí, lớp cán bộ cốt cán đầu tiên của Đảng, một học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
______________________________________
1.  Tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, ký hiệu H2C7/3.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười Hai, 2021, 08:39:29 pm

NHỮNG NĂM THÁNG HOẠT ĐỘNG
BÊN CẠNH LÃNH TỤ NGUYỄN ÁI QUỐC
CỦA ĐỒNG CHÍ PHÙNG CHÍ KIÊN

Trung úy LÊ VĂN PHONG*


Đầu thế kỷ XX, trên bầu trời cách mạng Việt Nam xuất hiện một vì tinh tú, một chiến sĩ cách mạng kiên cường mang tên Phùng Chí Kiên.

Đến nay, đã có khá nhiều bài viết về thân thế, sự nghiệp của đồng chí Phùng Chí Kiên, nhưng có lẽ, một trong những yếu tố quan trọng, tác động trực tiếp đến cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí là những năm tháng được sống và làm việc bên cạnh lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Chính nhân cách, đạo đức, trí tuệ và tác phong làm việc của Người là tấm gương mẫu mực sáng ngời để đồng chí học tập và rèn luyện.

Sinh năm 1901, tại mảnh đất Nghệ An giàu truyền thống cách mạng, ngay từ nhỏ, Phùng Chí Kiên đã tỏ rõ tố chất thống minh, hoạt bát hơn người. Sau khi thi đỗ Sơ học yếu lược, do đời sống gia đình khó khăn, đồng chí phải nghỉ học ở nhà làm ruộng. Đến năm 1925, đồng chí ra ga Yên Lý làm thuê cho một thương nhân Hoa kiều.

Thời kỳ này, tình hình cách mạng trong nước và quốc tế có nhiều chuyển biến tích cực. Tháng 11 năm 1924, Nguyễn Ái Quốc, sau bao năm bôn ba tìm con đường cứu nước, đã về Quảng Châu (Trung Quốc) - nơi đang có rất đông người Việt Nam yêu nước hoạt động - để xúc tiến các công việc chuẩn bị cho sự ra đời của chính đảng mác-xít ở Việt Nam. Tháng 6 năm 1925, Người thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên với mục đích: "Hy sinh tính mệnh, quyền lợi, tư tưởng để làm cuộc cách mệnh dân tộc (đập tan bọn Pháp và giành độc lập cho xứ sở) rồi sau đó làm cách mạng thế giới (lật đổ chủ nghĩa đế quốc và thực hiện chủ nghĩa cộng sản"1.

Chính chủ trương, mục đích của Hội đã lôi cuốn đông đảo những người Việt Nam yêu nước tham gia, trong đó có Phùng Chí Kiên. Tháng 10 năm 1926, đồng chí dự lớp huấn luyện chính trị do Nguyễn Ái Quốc tổ chức. Nội dung các bài giảng của Người là những vấn đề cơ bản về chủ nghĩa Mác - Lênin, về phong trào công nhân quốc tế, về con đường cách mạng vô sản và con đường cách mạng Việt Nam... Có thể nói, đây là bước ngoặt lớn trong cuộc đời hoạt động cách mạng, đánh dấu sự trưởng thành từ một thanh niên yêu nước, từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác - Lênin của đồng chí. Và, cũng từ đây, đồng chí thường xuyên được sống, học tập và làm việc bên cạnh Nguyễn Ái Quốc.

Sau đó, Phùng Chí Kiên cùng với các đồng chí Lê Hồng Phong, Lê Thiết Hùng, Trương Vân Lĩnh... được Nguyễn Ái Quốc và các cố vấn quân sự Liên Xô chọn vào học Trường Quân sự Hoàng Phố. "Qua học tập và rèn luyện, đồng chí Phùng Chí Kiên tỏ rõ là người có năng lực về chỉ huy quân sự, được Ban lãnh đạo nhà trường đặc biệt chú ý"2. Tuy nhiên, khi công việc học hành đang diễn ra thuận lợi thì cũng là lúc phái hữu Quốc dân đảng tiến hành phá hoại ba chính sách lớn của Tôn Trung Sơn. Chúng tuyên bố "thanh Đảng", thẳng tay đàn áp, bắn giết hàng nghìn, hàng vạn người cộng sản và công nông, trí thức. Riêng Trường Quân sự Hoàng Phố, tháng 4 năm 1927, chúng bắt hơn 400 giảng viên và học sinh là đảng viên cộng sản, trong đó có cả đảng viên người Việt Nam.

Dưới sự chỉ đạo của Nguyễn Ái Quốc, Phùng Chí Kiên và những người cách mạng Việt Nam đã hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng Cộng sản Trung Quốc: "Ai nấy tuỳ theo điều kiện và khả năng của mình hăng hái tham gia guồng máy khởi nghĩa để chiến đấu chống thù chung, nêu cao tinh thần quốc tế vô sản"3. Ngày 12 tháng 12 năm 1927, đồng chí tham gia Khởi nghĩa Quảng Châu do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo. Nhưng do lực lượng chênh lệch nên khởi nghĩa đã thất bại. Dù vậy, hành động cách mạng của những người Việt Nam, trong đó có Phùng Chí Kiên là "dấu son lịch sử mà Bác Hồ và các bậc tiền bối đã vun đắp lên bằng xương máu"4, đồng thời khẳng định tinh thần quốc tế vô sản của những người Việt Nam.

Khởi nghĩa bị thất bại, quân cách mạng rút về xây dựng Khu Xô-viết ở hai huyện Hải Phong và Lục Phong. Trên cương vị là Đại đội trưởng quân cách mạng, Phùng Chí Kiên cùng với cán bộ, đảng viên và nhân dân Trung Quốc kiên trì bảo vệ cách mạng và "... đã nêu một tấm gương sáng về chịu đựng gian khổ, kiên trì bảo vệ chân lý và thành quả cách mạng, nhiều lần được Ban lãnh đạo Khu Xô-viết biểu dương trong toàn quân và trong mấy chục triệu nhân dân Khu Xô-viết Hải - Lục Phong...”5.

Qua thử thách chiến đấu ác liệt, những phẩm chất cách mạng của Phùng Chí Kiên ngày càng được khẳng định vững chắc. Tháng 2 năm 1931, đồng chí tiếp tục được Nguyễn Ái Quốc giới thiệu sang Mátxcơva học tại Trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản.

Đến đất nước của Lênin vĩ đại, quê hương của Cách mạng Tháng Mười, nơi Nguyễn Ái Quốc tìm ra con đường giải phóng cho dân tộc Việt Nam, Phùng Chí Kiên đã bước ra một chân trời mới với trách nhiệm nặng nề nhưng cũng rất vẻ vang. Tại đây, đồng chí ngày đêm chuyên cần học tập, được đánh giá là: "... Có khả năng lớn về công tác, năng động, trình độ chính trị cao, kết quả học tập nói chung là tốt..."6.

Năm 1934, sau khi tốt nghiệp Trường Đại học Phương Đông, đồng chí được Quốc tế Cộng sản phái về hoạt động cách mạng ở Hương cảng (Trung Quốc). Năm 1935, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất Đảng Cộng sản Đông Dương, đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, phụ trách bộ phận công tác Đảng ở ngoài nước.

Trở lại đất nước Trung Quốc, ngoài nhiệm vụ được phân công, Phùng Chí Kiên còn tích cực lãnh đạo Việt kiều tham gia cuộc vận động ủng hộ nhân dân Trung Hoa chống phát xít Nhật. Ngày 23 tháng 10 năm 1936, đồng chí bị cảnh sát Anh bắt tại nhà số 71, phố Đại Nam, thành phố Hương Cảng. Nhưng do không tìm được chứng cớ buộc tội, nên sau hai tháng giam giữ chúng buộc phải thả tự do và trục xuất đồng chí ra khỏi Hương cảng.

Rời Hương Cảng, đồng chí đến thị trấn Sán Dầu, tỉnh Quảng Đông rồi qua Côn Minh, thủ phủ của tỉnh Vân Nam. Tại đây, đồng chí cùng với một số đồng sự Việt Nam tiến hành củng cố lại Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng, lập ra Hội Việt Nam ủng hộ nhân dân Trung Quốc đánh Nhật và cho xuất bản tờ báo Đồng Thanh.

Nhận thấy tình hình hoạt động cách mạng của những người Việt Nam ở Côn Minh đang phát triển mạnh, đầu năm 1940, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đến Côn Minh. Trong những ngày ở Côn Minh, đồng chí Phùng Chí Kiên luôn tìm đến gặp Người, báo cáo với Người về tình hình hoạt động của Đảng ở ngoài nước, về tờ báo Đồng Thanh. Người đã góp ý nhiều vấn đề về tổ chức và hoạt động của Đảng ở ngoài nước. Riêng với báo Đồng Thanh, Người chỉ rõ: "Về việc tuyên truyền, Bác đề nghị đổi tên tờ Đồng Thanh ra thành tờ Đ.T. Theo Bác giải thích, thì Đ.T có thể hiểu là Đồng Thanh, cũng có thể hiểu là Đồng Tâm, củng có thể hiểu là Đấu Tranh, và cũng có thể hiểu là Đánh Tây"7. Đây là những ý kiến quan trọng giúp cho tổ chức Đảng ở ngoài nước và báo Đồng Thanh hoạt động ngày càng có hiệu quả, tránh được sự truy xét của kẻ thù.
_________________________________________
* Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
1.  Đinh Xuân Lâm (chủ biên), Đại cương Lịch sử Việt Nam, Tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2001, tr. 266.
2.  Đức Vượng, Nguyễn Đình Nhơn, Những người cộng sản trẻ tuổi, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 1987, tr. 150.
3, 4.  Tô Kiên, Những người cách mạng Việt Nam tham gia khởi nghĩa ở Quảng Châu, Tạp chí Xưa và Nay, tháng 3 năm 2002, tr. 7.
5.  M.T.H, Phùng Chí Kiên - một đảng viên trọn vẹn trung dũng, Tạp chí Xưa và Nay, số 83, tháng 1.2001, tr. 27.
6.  Đỗ Quang Hưng, Phùng Chí Kiên (1901-1941) - một cán bộ quân sự - chính trị tài ba, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 6, 2001, tr. 19.
7.  Vũ Anh, Những ngày gần Bác, in trong Đầu nguồn - Hồi ký về Bác Hồ, Nxb Văn học, Hà Nội, 1975, tr. 225.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười Hai, 2021, 09:00:09 pm

Để hiểu đời sống của Việt kiều ở Vân Nam và tìm cách gây dựng cơ sở cách mạng, đồng chí Phùng Chí Kiên đã cùng lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đi đến nhiều nơi có đồng bào ta đang sinh sống như Mông Tự, Nghi Lương, Khai Viễn, Chi Thôn... Những ngày đi cùng Người, Phùng Chí Kiên hiểu sâu sắc hơn về tâm tư, nguyện vọng và chủ trương của Người đối với những người con sống xa đất nước. "Theo anh Phùng Chí Kiên kể lại, thì lúc ở Chỉ Thôn, quần chúng đang làm chay cho những người bị bom Nhật giết chết ở Bua Chai, Bác và anh Phùng đã tham gia lễ làm chay, theo đề nghị của Bác, anh Phùng đã lấy bài Khóc đồng bào bị nạn ở Bua Chai trong Báo Đ.T ra đọc, quần chúng rất xúc động"1.

Giữa lúc Nguyễn Ái Quốc và những người cách mạng Việt Nam đang tích cực chuẩn bị những điều kiện cần thiết để trở về nước lãnh đạo cách mạng, thì tình hình thế giới có sự chuyển biến lớn. Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ 2 nổ ra. Tháng 6 năm 1940, phát xít Đức tiến công nước Pháp, Chính phủ Pháp đã nhanh chóng đầu hàng. Nhân cơ hội này, phát xít Nhật nhảy vào xâm lược Đông Dương.

Trước tình thế thuận lợi này, Nguyễn Ái Quốc chỉ thị cho đồng chí Phùng Chí Kiên triệu tập cuộc họp toàn thể của Ban lãnh đạo Đảng ở ngoài nước tại toà soạn báo Đ.T. Rất nhiều vấn đề về cách mạng Việt Nam đã được Nguyễn Ái Quốc trao đổi với đồng chí Phùng Chí Kiên và đồng chí Vũ Anh. Cuối cùng, Người quyết định: phải nhanh chóng trở về nước hoạt động, chuẩn bị mọi mặt, chờ thời cơ khởi nghĩa giành chính quyền. Để cho việc về nước thuận lợi, Nguyễn Ái Quốc và đồng chí Phùng Chí Kiên chuyển tới Tĩnh Tây - một thị trấn thuộc tỉnh Quảng Tây, giáp biên giới Trung - Việt.

Nhận được tin Nguyễn Ái Quốc về Tĩnh Tây, Trung ương Đảng trong nước cử đồng chí Hoàng Văn Thụ sang đón. Trước khi về nước, với nhãn quan sâu rộng của mình, sau khi thống nhất với đồng chí Hoàng Văn Thụ, đồng chí Phùng Chí Kiên đã tập hợp 43 thanh niên Việt Nam để Người huấn luyện2. Trong Hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: "Đầu tháng 12, Bác và anh Phùng Chí Kiên về một làng cách Tĩnh Tây năm chục cây số. Bác cho người đến gọi anh Đồng và tôi về để mở lớp huấn luyện... Các anh Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng và tôi được Bác hướng dẫn làm chương trình huấn luyện. Bác phân công mỗi người làm từng mục: tuyên truyền, tổ chức, huấn luyện, đấu tranh..."3. Ngày 26 tháng 1 năm 1941, lớp học bế mạc. Và, lực lượng cách mạng mà Phùng Chí Kiên, Vũ Anh, Hoàng Văn Hoan, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp... tập hợp đã "bay theo cánh chim đầu đàn, người đàn anh, người thầy quý mến là Bác Hồ, chuẩn bị vượt biên giới về Pắc Bó, Cao Bằng"4. Đây là những hạt giống đỏ của cách mạng được Bác Hồ gieo trồng, sau này trở thành những cán bộ cốt cán, những tướng lĩnh cao cấp của quân đội và có nhiều đóng góp cho cách mạng Việt Nam5.

Ngày 28 tháng 1 năm 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cùng với các đồng chí: Lê Quảng Ba, Phùng Chí Kiên, Đặng Văn Cáp, Thế An, Hoàng Văn Lộc đã vượt mốc 108 biên giới Việt - Trung, đặt những bước chân đầu tiên lên mảnh đất Việt Nam. "Xa rời Tổ quốc đã hơn 30 năm. Đã mất bao nhiêu thời giờ và sức lực tìm liên lạc không được. Bao nhiêu năm thương nhớ đợi chờ. Hôm nay mới bước chân về nơi non sông gấm vóc của mình. Khi bước qua cái bia giới tuyến, lòng Bác vô cùng cảm động..."6.

Về Pắc Bó, Bác và mọi người đến nghỉ ở nhà ông Máy Lỳ, người dân tộc Nùng. Những ngày đầu, ở tạm trong căn nhà nhỏ của ông, nhưng để tiện cho sinh sống và hoạt động lâu dài, Người đã đề nghị với mọi người ra rừng để ở. Đồng chí Lê Quảng Ba kể lại: "Ông Máy Lỳ dẫn Bác và chúng tôi ra phía sau nhà đi đến một dãy núi gần nhà. Mọi người theo ông leo lên một quả núi, đến lưng chừng núi thì đến một cái hang. Tin cậy người cách mạng, ông mới đưa đến cái hang bí mật của gia đình ông, đó là hang Cốc Bó... Sáng sớm hôm sau, Bác gọi tôi và bảo dẫn Bác và anh Phùng Chí Kiên đi xem địa thế quanh hang Cốc Bó...7.

Thời gian sống và làm việc ở Pắc Bó, đồng chí Phùng Chí Kiên và nhiều đồng chí khác được sống trong hang đá cùng với Người. Ban ngày, các đồng chí kê một tấm ván gỗ lên một tảng đá để làm việc. Đêm về, bàn làm việc lại biến thành giường nằm. Tuy công việc vẫn rất bộn bề, nhưng ở từng góc độ, từng cách khác nhau, Người đều tìm cách chỉ bảo mọi người. Thượng tướng Chu Văn Tấn kể lại: "Hàng ngày, được sống gần Bác; tôi được nghe Bác kể nhiều chuyện hay như chuyện đội không quân thám hiểm bay qua chóp địa cầu... Đồng chí Phùng Chí Kiên cũng được Bác phân công nói cho tôi nghe về việc vào Bát lộ quân, và các trận đánh Nhật thắng lợi ở Trung Quốc... Mọi nơi, mọi lúc, Bác đều quan tâm giáo dục tôi"8. Cũng tại đây, Bác đã dịch cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản (b) Nga ra tiếng Việt để làm tài liệu huấn luyện cho cán bộ ta. Ngoài thời gian làm việc, Người thường đến ngồi bên bờ suối lấy cơm thả xuống cho cá ăn. Vừa xem phong cảnh, vừa tức cảnh làm thơ. Xuân 1941, trong bài "Tức cảnh Pắc Bó", Người viết:

"Sáng ra bờ suối tối vào hang
Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng
Cuộc đời cách mạng thật là sang".

Do sớm chiều được cùng Người sống một cuộc sống giản dị, khoa học, đồng chí Phùng Chí Kiên đã học tập ở Người rất nhiều điều. "Sáng sớm, đồng chí dậy tập thể dục đều đặn, sau đó vác bương xuống suối Lênin múc nước đưa về hang để dùng trong ngày. Chiều về, đồng chí lại đi tăng gia, cuốc đất trồng rau"9. Sự cần mẫn, chăm chỉ, cộng với tố chất thông minh của mình, đồng chí đã được Người tin tưởng, phân công phụ trách lớp huấn luyện chính trị cho các đảng viên các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn và Lạng Sơn. Sau đó đồng chí tiếp tục được Người giao nhiệm vụ cùng với một số đồng chí khác trực tiếp chuẩn bị cho Hội nghị Trung ương 8 của Đảng.

Ngày 10 tháng 5 năm 1941, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ 8 đã họp tại khu rừng Khuổi Nậm, Pắc Bó, Hà Quảng, Cao Bằng. Dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương Đảng gồm 9 đồng chí, trong đó có đồng chí Phùng Chí Kiên.

Theo đề nghị của Người, Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh, gọi tắt là Mặt trận Việt Minh. Hội nghị quyết định lấy khu vực Bắc Sơn - Võ Nhai làm căn cứ cách mạng, tổ chức đấu tranh vũ trang chính trị. Đồng chí Phùng Chí Kiên được Người và Trung ương Đảng giao nhiệm vụ trực tiếp chỉ đạo khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai và Trung đội Cứu quốc quân 1.

Cuối tháng 6 năm 1941, Pháp huy động hàng nghìn quân cùng với lực lượng phản động địa phương mở cuộc càn quét lớn vào Bắc Sơn - Võ Nhai. Do lực lượng của ta còn nhỏ, không đủ sức chống cự, đồng chí đã quyết định chia nhỏ lực lượng, vừa đối phó với địch, vừa tìm cách rút dần về phía Cao Bằng - biên giới Việt - Trung để bảo tồn lực lượng. Sau gần một tháng băng rừng, lội suối, ngày 20 tháng 8 năm 1941, khi đội của đồng chí Phùng Chí Kiên đến xóm Khâu Long, huyện Ngân Sơn thì bị quân địch bao vây bốn phía. Dưới sự chỉ huy của đồng chí, các đội viên đã chiến đấu rất dũng cảm. Nhưng đến ngày 22 tháng 8 năm 1941, đồng chí đã anh dũng hy sinh khi vừa tròn 40 tuổi. Đau xót trước sự hy sinh của người học trò xuất sắc, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã khóc rất nhiều. Trong bài viết "Phùng Chí Kiên - một đảng viên trọn vẹn trung dũng", tác giả M.T.H có ghi: "bốn năm trước Cách mạng tháng Tám, Già Thu (tức Bác Hồ) đã nức nở khóc, khóc rất lâu, rất đau đớn như rứt ruột ra, khi Phùng Chí Kiên đã chết, mà lại là chết thảm, chết chặt đầu, đầu còn bị treo ở đầu cầu cho người địa phương khiếp đảm không dám qua cầu. Trước đó lâu rồi, và về sau này, không lần nào người ta thấy Già Thu khóc thảm thiết như vậy"10.

Từ mảnh đất Nghệ An giàu truyền thống cách mạng, Phùng Chí Kiên đã đi theo con đường cách mạng mà lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chọn. Với tố chất thông minh và tinh thần nhiệt huyết cách mạng, lại được sống và hoạt động cách mạng bên cạnh Người, được Người dìu dắt, hướng dẫn, nên cùng với thời gian, Phùng Chí Kiên đã dần trở thành một nhà chính trị, quân sự, một vị tướng của Quân đội nhân dân Việt Nam và là một trong những lãnh tụ đầu tiên của Đảng. Ghi nhận công lao to lớn của đồng chí đối với cách mạng Việt Nam nói chung, đối với Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng, 62 năm sau kể từ ngày đồng chí hy sinh, tháng 11 năm 2003, Đảng, Chính phủ ra quyết định công nhận đồng chí Phùng Chí Kiên: nguyên Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng (khoá I), cán bộ lãnh đạo quân đội cấp tướng, là liệt sĩ đã anh dũng hy sinh trong chiến đấu.
________________________________________
1.  Hồi ký của Hoàng Văn Hoan, in trong Đầu nguồn - Hồi ký về Bác Hồ, Nxb Văn học, Hà Nội, 1975, tr. 98.
2.  Dựa theo những tài liệu huấn luyện của Người, Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp đã biên soạn thành bài giảng làm tài liệu huấn luyện cho cán bộ sau khi về nước. Những tài liệu này về sau được xuất bản thành sách với tên gọi "Con đường giải phóng".
3.  Võ Nguyên Giáp, Từ Cao Bằng đến Pắc Bó, in trong Đầu nguồn - Hồi ký về Bác Hồ, Nxb Văn Học, Hà Nội, 1975, tr. 50.
4.  Đỗ Quang Hưng, Phùng Chí Kiên (1901-1941) - một cán bộ quân sự - chính trị tài ba. Tạp chí Lịch sử quân sự, số 6, 2001, tr. 20.
5.  Tiêu biểu như các đồng chí: Lê Quảng Ba, Đàm Quang Trung, Bằng Giang, Hoàng Tô...
6.  Trần Dân Tiên, Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1976, tr. 73.
7.  Lê Quảng Ba, "Bác Hồ về nước" in trong Đầu nguồn - Hồi ký về Bác Hồ, Nxb Văn học, Hà Nội, 1975, tr. 197.
8.  Chu Văn Tấn, "Một lòng theo Bác", in trong Đầu nguồn - Hồi ký về Bác Hồ, Nxb Văn học, Hà Nội, 1975, tr. 140, 142.
9.  Đức Vượng - Nguyễn Đình Nhơn, Những người cộng sản trẻ tuổi, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 1987, tr. 155.
10.  M.T.H, Phùng Chí Kiên - một đảng viên trọn vẹn trung dũng, Tạp chí Xưa và Nay, số 83, tháng 1 năm 2001, tr. 27.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười Hai, 2021, 09:16:38 pm

MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÙNG CHÍ KIÊN VÀ LÊ HỒNG PHONG
TRONG NHỮNG NĂM HOẠT ĐỘNG Ở NƯỚC NGOÀI

Đại tá, TS LÊ VĂN THÁI*


Trong lịch sử cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc ta, Phùng Chí Kiên và Lê Hồng Phong thuộc lớp đảng viên đầu tiên của Đảng. Hai người quê ở Nghệ An, đều học Trường Quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc) và Trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản ở Mátxcơva (Liên Xô)1. Mối quan hệ giữa hai nhà cách mạng càng thân thiết hơn khi Quốc tế Cộng sản cử Phùng Chí Kiên vừa tốt nghiệp Trường Đại học Phương Đông, về tăng cường cho Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng do Lê Hồng Phong đứng đầu. Từ đây, qua hoạt động lý luận và thực tiễn, Phùng Chí Kiên đã có cống hiến quan trọng vào sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Ngay sau khi thành lập, Đảng đã lãnh đạo nhân dân cả nước vùng lên đấu tranh cách mạng sôi nổi. Cao trào cách mạng 1930-1931, mà đỉnh cao là Xô-viết Nghệ Tĩnh, đã làm cho đế quốc Pháp và phong kiến tay sai hoảng sợ. Chúng đã dùng mọi thủ đoạn đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân và hòng tiêu diệt Đảng ta. Trong năm 1930 và năm 1931, hàng chục nghìn cán bộ, đảng viên, chiến sĩ yêu nước Việt Nam bị địch bắt. Nhiều tổ chức Đảng bị đàn áp. Đây là thời kỳ Đảng ta bị thiệt hại nặng nề. Nhiệm vụ cấp bách lúc này là phải tăng cường cán bộ lãnh đạo, củng cố Đảng và khôi phục lại phong trào. Trước tình hình đó, Quốc tế Cộng sản đã cử đồng chí Lê Hồng Phong về lãnh đạo việc khôi phục, phát triển các tổ chức của Đảng để đưa phong trào cách mạng tiến lên.

Thực hiện nhiệm vụ Quốc tế Cộng sản giao, giữa năm 1932, Lê Hồng Phong đến Long Châu (Trung Quốc). Tại đây, Lê Hồng Phong cùng các đồng chí ở ngoài nước đã mở nhiều lớp huấn luyện cán bộ rồi cử về nước hoạt động, cùng với các đảng viên thoát khỏi nhà tù của địch khôi phục tổ chức Đảng và lãnh đạo quần chúng đấu tranh. Với sự nỗ lực hoạt động của nhiều đảng viên trung kiên, Xứ ủy Bắc Kỳ và Xứ ủy Nam Kỳ được tổ chức lại trong năm 1933 và Xứ ủy Trung Kỳ được bầu ra trong năm 1934. Nhiều tỉnh ủy, thành ủy, các tổ chức cơ sở của Đảng Cộng sản Đông Dương ở Lào và Campuchia cũng được xây dựng. Để thống nhất lãnh đạo trong toàn Đảng, tháng 3 năm 1934, Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng được thành lập. Ban gồm ba đồng chí: Lê Hồng Phong (Lítvinốp) là Thư ký, Hà Huy Tập (Xinhítxkin) làm tuyên truyền cổ động (Tổng biên tập Tạp chí Bônsêvích), Nguyễn Văn Dựt (Savan) phụ trách kiểm tra. Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng "giữ vai trò là người lãnh đạo, người tổ chức, sẽ tổ chức lại cơ quan lãnh đạo Trung ương của Đảng Cộng sản Đông Dương"2. Ngoài nhiệm vụ đặc biệt đó, Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng "còn chú ý tới việc thành lập một vài cơ quan liên lạc ở biên giới Tàu và Xiêm để giữ mối liên hệ chặt chẽ với Ban Chấp ủy Trung ương và các xứ ủy"3.

Nhằm tăng cường cho Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng vừa mới thành lập, Quốc tế Cộng sản cử đồng chí Kan (Phùng Chí Kiên) và đồng chí Min (Nguyễn Vĩnh Xuyên)4 về Trung Quốc hoạt động. Tháng 5 năm 1934, Phùng Chí Kiên và Nguyễn Vĩnh Xuyên đến Thượng Hải. Nguyễn Vĩnh Xuyên ở lại đây, còn Phùng Chí Kiên tới Long Châu (Quảng Tây) tìm gặp Lê Hồng Phong. Sau hơn một tháng ở Long Châu chắp nối liên lạc, Phùng Chí Kiên đã gặp Lê Hồng Phong, mở đầu mối quan hệ công tác trong thời kỳ cách mạng còn muôn vàn khó khăn. Về sự kiện này, trong báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản nhan đề "Về công tác trong ba năm qua và tình hình Đảng Cộng sản Đông Dương", Lê Hồng Phong đã viết: "Min và Kan đã đến Thượng Hải vào tháng 5 năm 1934. Min ở lại, còn Kan thì tới Long Châu vì nghĩ rằng tôi đang ở đó; vì vậy khi đến Long Châu, đồng chí tìm địa chỉ của tôi. Lúc này cơ quan tạp chí đã đóng cửa (vì địa chỉ này tôi đã báo từ tháng 9 năm 1933 không sử dụng được nữa), do một đồng chí của tôi (một người cộng sản Tàu làm phóng viên cho tờ báo này) đã báo với tôi rằng, người biên tập báo biết có một bức thư được gửi từ Pháp đến và bức thư ấy đã được người biên tập chuyển tới Tổng lãnh sự Pháp ở Long Châu, sau đó bức thư bị chuyển ngược về Pháp...). Đồng chí Kan ở lại Long Châu hơn một tháng. Đồng chí ấy làm quen với những kiều dân An Nam ở Long Châu và tình cờ gặp một đồng chí của chúng tôi. Đồng chí này đã chuyển cho tôi thư của Kan. Sau khi nhận được thư của Kan, tôi đã cho người đi Long Châu để đưa Kan về Ma Cao... Lúc đó, Min còn 330 đôla, chúng tôi dành tiền này cho việc chuẩn bị điện đài. Kan còn 370 đôla chuyển cho Ban Chỉ huy ở ngoài. Ngoài số tiền này chúng tôi còn gần 1.000 đôla Thượng Hải dành cho việc gửi đại biểu và sinh viên tới Trường Đại học Phương Đông"5.
_______________________________________
* Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử Tư tưởng quân sự, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
1.  Lê Hồng Phong (1902-1942) quê ở huyện Hưng Nguyên, Nghệ An. Tốt nghiệp Trường Quân sự Hoàng Phố khoá III (8.1924-12.1925) và Trường Đại học Phương Đông (12.1928-12.1931), sau đó học nghiên cứu sinh (1932). Còn Phùng Chí Kiên (1901-1941), quê ở huyện Diễn Châu, Nghệ An. Tốt nghiệp Trường Quân sự Hoàng Phố khoá V (1927) và Trường Đại học Phương Đông (1931-1933).
2, 3.  Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 5 (1935), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 402.
4.  Trong "Thư gửi các đồng chí Đông Dương" đề ngày 17 tháng 3 năm 1935, Quốc tế Cộng sản đề nghị "bố trí đồng chí Min làm công việc gì đó ở Lào hoặc Cao Miên".
5.  Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 5 (1935), Sđd, tr. 405-404.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười Hai, 2021, 09:26:37 pm

Thời gian này, tại Ma Cao (Trung Quốc), Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng tổ chức Hội nghị với đại diện các tổ chức Đảng ở trong nước. Hội nghị họp từ ngày 16 đến ngày 21 tháng 6 năm 1934, thảo luận và thông qua các bản Điều lệ của Đảng, Công đoàn, Đoàn thanh niên cộng sản, Nông hội đỏ; ra Nghị quyết chính trịNghị quyết về các vấn đề tổ chức, quyết định lấy các nghị quyết mà Hội nghị vừa thông qua và Chương trình hành động của Đảng (năm 1932) làm tài liệu chính để thảo luận trong các chi bộ nhằm chuẩn bị cho Đại hội lần thứ nhất của Đảng dự kiến họp vào mùa Xuân 1935. Hai ngày sau Hội nghị, Lê Hồng Phong cử Nguyễn Văn Dựt (Savan) về Nam Kỳ với tư cách là đại diện Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng bên cạnh Xứ ủy Nam Kỳ. Để tiến tới Đại hội lần thứ nhất của Đảng công việc chuẩn bị các văn kiện Đại hội được Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng đặc biệt quan tâm. Với tư cách là Thư ký (Bí thư) Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng, Lê Hồng Phong phân công Phùng Chí Kiên tham gia soạn thảo các văn kiện đại hội.

Trong lúc công tác chuẩn bị cho Đại hội Đảng đang được khẩn trương thực hiện, thì tháng 9 năm 1934 Đảng Cộng sản Đông Dương nhận được thông báo của Quốc tế Cộng sản về việc cử đại biểu đi dự Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản1. Nhận được thông báo đó, Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng quyết định cử đoàn đại biểu của Đảng Cộng sản Đông Dương gồm Lê Hồng Phong (Lítvinôp), Nguyễn Thị Minh Khai (Bà Vai) và Hoàng Văn Nọn (Cao Bằng) đi Mátxcơva dự Đại hội Quốc tế Cộng sản. Trong thời gian đồng chí Lê Hồng Phong đi dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ VII, mọi công việc của Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng và công việc chuẩn bị Đại hội Đảng lần thứ nhất do đồng chí Hà Huy Tập, Phùng Chí Kiên và một số đồng chí khác đảm nhiệm. Đáp lại sự tin cậy của đồng chí Thư ký (Bí thư) Lê Hồng Phong, Phùng Chí Kiên cùng Hà Huy Tập và các đồng chí khác đã nỗ lực hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ.

Mùa Xuân 1935, sau khi hệ thống Đảng được khôi phục và công việc dự thảo các báo cáo trình Đại hội Đảng đã hoàn thành; theo kế hoạch từ trước của Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng, đồng chí Hà Huy Tập và Phùng Chí Kiên... quyết định triệu tập Đại hội Đảng lần thứ nhất.

Đại hội Đảng lần thứ nhất họp từ ngày 27 đến ngày 31 tháng 3 năm 1935 tại Ma Cao (Trung Quốc). Tham dự Đại hội có 13 đại biểu (nhiều đại biểu trước đó được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp đào tạo hoặc gửi vào học các trường quân sự, trong đó có Phùng Chí Kiên), thay mặt cho hơn 600 đảng viên thuộc các Đảng bộ ở trong nước và các tổ chức Đảng đang hoạt động ở nước ngoài. Đại hội đã thảo luận và thông qua nhiều văn kiện (13 nghị quyết và chương trình hành động, 6 bản điều lệ, 1 bản tuyên ngôn, 5 thư gửi Quốc tế Cộng sản và các Đảng anh em)2. Đại hội xác định rõ ba nhiệm vụ chính trước mắt là: củng cố và phát triển Đảng; thâu phục quảng đại quần chúng lao động; chống đế quốc chiến tranh3. Điểm lưu ý là tại Đại hội Đảng, lần đầu tiên, Đảng ta đã thảo luận và thông qua Nghị quyết về Đội tự vệ, xác định những nguyên tắc cơ bản xây dựng lực lượng vũ trang cơ sở. Nghị quyết về Đội tự vệ xác định bản chất cách mạng của Đội tự vệ, nhấn mạnh phải giữ quyền chỉ huy nghiêm ngặt của Đảng trong Tự vệ thường trực, các đảng bộ phải đem đảng viên và đoàn viên cương quyết nhất vào tự vệ và các cấp chỉ huy tự vệ, nhưng cũng lưu ý "như thế không phải là không cho những hội viên thường hăng hái dự cuộc chỉ huy tự vệ". Nghị quyết cũng xác định những vấn đề cơ bản về tổ chức, biên chế, trang bị, huấn luyện cho Đội tự vệ và nhấn mạnh rằng, nhiệm vụ huấn luyện quân sự là rất quan trọng, "nhưng phải chú trọng hơn hết là thâu phục quần chúng theo ảnh hưởng cộng sản"4. Những nguyên tắc cơ bản và hệ thống trong Nghị quyết Đội tự vệ thể hiện rõ quan điểm giai cấp, quan điểm quần chúng và quan điểm thực tiễn của Đảng trong việc xây dựng lực lượng tự vệ; có ý nghĩa quan trọng đối với việc hình thành đường lối quân sự trong thời kỳ Đảng mới thành lập5. Sau những ngày làm việc khẩn trương, thảo luận và thông qua nhiều văn kiện, Đại hội lần thứ nhất bầu ra Ban Chấp hành Trung ương Đảng gồm 13 người, trong đó có Nguyễn Ái Quốc, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Phùng Chí Kiên. Ban Chấp hành Trung ương cử ra Ban Thường vụ Trung ương 5 người6, do đồng chí Lê Hồng Phong làm Tổng Thư ký (Tổng Bí thư).

Đại hội Đảng lần thứ nhất đánh dấu sự khôi phục về tổ chức từ Trung ương đến cấp cơ sở của Đảng và ghi nhận công lao to lớn của Hà Huy Tập, Phùng Chí Kiên... trong việc chuẩn bị về mọi mặt để Đại hội thành công tốt đẹp.

Trong thời gian Đại hội Đảng lần thứ nhất, đồng chí Lê Hồng Phong tham dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ VII tại Mátxcơva (Liên Xô). Sau Đại hội Quốc tế Cộng sản, Lê Hồng Phong về Trung Quốc cùng với Hà Huy Tập, Phùng Chí Kiên chỉ đạo các cấp ủy Đảng tiếp tục củng cố, phát triển Đảng. Thời gian này, qua Nguyễn Thị Minh Khai và Hoàng Văn Nọn, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc nêu mấy ý kiến chuyển đến đồng chí Duy (Lê Hồng Phong): Trung ương Đảng phải chuyển về trong nước để trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng; lập mặt trận dân chủ rộng rãi chống phát xít, chống chiến tranh đế quốc7.
___________________________________________
1.  Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 5 (1935), Sđd, tr. 480.
2.  Số liệu theo Thư của Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương gửi Quốc tế Cộng sản ngày 31 tháng 3 năm 1935 in trong Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 5, Sđd, tr. 193.
3.  Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 5, Sđd, tr. 23.
4.  Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 5, Sđd, tr. 23, 194.
5.  Hiện nay chưa có đủ tư liệu để biết rõ đồng chí nào được phân công viết dự thảo lần đầu Nghị quyết về Đội tự vệ, nhưng đều được khẳng định là lúc đó, Lê Hồng Phong và Phùng Chí Kiên là hai người được đào tạo cơ bản trong các trường quân sự. Đồng chí Phùng Chí Kiên tốt nghiệp Trường Quân sự Hoàng Phố, đã từng làm Đại đội trưởng trong quân đội cách mạng Trung Quốc (1927), có lý luận và thực tiễn quân sự.
6.  Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 5, Sđd, tr. 23, 194.
7.  Tú Hưu (Hoàng Văn Nọn), Đi họp Quốc tế Cộng sản, Nxb Dân tộc, Việt Bắc, 1964, tr. 9.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Mười Hai, 2021, 09:29:08 pm

Tháng 7 năm 1936, với tư cách là ủy viên Quốc tế Cộng sản và Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí Lê Hồng Phong triệu tập và chủ trì Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Hội nghị bổ sung Nghị quyết Đại hội lần thứ nhất, chỉ đạo chuyển hướng tổ chức và sách lược của Đảng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản. Hội nghị xác định nhiệm vụ trước mắt là chống phát xít, chống chiến tranh đế quốc, chống phản động thuộc địa và tay sai, đòi tự do dân chủ và cơm áo hoà bình. Hội nghị chủ trương thành lập Mặt trận nhân dân phản đế Đông Dương. Nghị quyết Hội nghị khẳng định: Mặt trận nhân dân phản đế "là cuộc liên hợp hết các giai cấp trong toàn dân tộc bị áp bức đặng đấu tranh đòi những quyền lợi hàng ngày cho toàn dân, chống chế độ thuộc địa vô nhân đạo, dự bị điều kiện cho cuộc vận động dân tộc giải phóng được phát triển"1. Để trực tiếp lãnh đạo cách mạng trong nước, Hội nghị quyết định chuyển trụ sở của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về Sài Gòn. Đồng chí Lê Hồng Phong được Trung ương Đảng phân công ở lại Thượng Hải để chỉ đạo công tác của Đảng ở ngoài nước; liên lạc và báo cáo tình hình kịp thời với Quốc tế Cộng sản. Sau Hội nghị Trung ương Đảng, tháng 8 năm 1936, Hà Huy Tập, Phùng Chí Kiên và một số đồng chí trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng về nước hoạt động. Hơn một năm sau, do yêu cầu mới của cách mạng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng cử đồng chí Phùng Chí Kiên làm nhiệm vụ chỉ đạo công tác của Đảng ở ngoài nước và liên lạc với Quốc tế Cộng sản để đồng chí Lê Hồng Phong về nước hoạt động. Đây là sự tin cậy và đánh giá cao của Trung ương Đảng đối với Phùng Chí Kiên về năng lực tổ chức và hoạt động đối ngoại; bởi công tác của Đảng ở ngoài nước lúc đó rất khó khăn, không chỉ đòi hỏi phải có tài năng, sự linh hoạt nhạy bén mà còn phải có uy tín, tạo thuận lợi trong quan hệ với các Đảng Cộng sản anh em cũng như trong liên lạc với Quốc tế Cộng sản.

Thực hiện sự phân công của Trung ương Đảng, cuối tháng 10 năm 1937, Phùng Chí Kiên rời Sài Gòn đến Hồng Kông (Trung Quốc). Sau khi gặp và trao đổi kinh nghiệm công tác với người đồng chí thân thiết Phùng Chí Kiên, tháng 11 năm 1937, với thẻ căn cước lấy tên là La Anh trong vai một thương gia Trung Quốc giàu có, Lê Hồng Phong về Sài Gòn cùng Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo cách mạng, tiếp tục có nhiều cống hiến to lớn cho Đảng và nhân dân cho đến khi bị địch bắt và anh dũng hy sinh tại nhà tù Côn Đảo (6.9.1942). Còn Phùng Chí Kiên ở Trung Quốc tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ mà trước đó Lê Hồng Phong đảm nhiệm. Ngày 15 tháng 11 năm 1937, thay mặt Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tại Trung Quốc, Phùng Chí Kiên đã viết thư gửi Quốc tế Cộng sản đề xuất ý kiến giao cho đảng Tàu liên lạc trực tiếp với đảng Xiêm, "cho chúng tôi chính thức liên lạc với đảng Tàu", những chỉ thị, tài liệu cho "Đảng chúng tôi cũng có thể gửi qua Trung ương đảng Tàu đưa về Nam ủy chuyển". Trong thư, Phùng Chí Kiên còn giải thích thêm là "Bản chữ Tàu" (thư ngày 10.7) là báo cáo của đảng Xiêm và kết luận của chúng tôi trong cuộc nói chuyện với Nam ủy của đảng Tàu và đại diện đảng Xiêm2. Bằng nỗ lực hoạt động của mình, Phùng Chí Kiên đã có những đóng góp xuất sắc trong việc duy trì mối quan hệ với các đảng anh em và Quốc tế Cộng sản. Thời gian này, tình hình thế giới có nhiều biến đổi sâu sắc; loài người đứng trước ngưỡng cửa cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Cuối năm 1938, Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô tới Diên An3 rồi từ đó đi cùng một đơn vị Hồng quân công nông Trung Quốc xuống phía Nam công tác. Vừa hoạt động trong Tập đoàn 18 Bát Lộ quân, Nguyễn Ái Quốc vừa tìm cách bắt liên lạc với Trung ương Đảng ta. Khoảng giữa năm 1940, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã liên lạc được với Phùng Chí Kiên, Vũ Anh, Cao Hồng Lĩnh, Đặng Văn Cáp... và Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp vừa được Trung ương ở trong nước cử ra nước ngoài đang hoạt động ở Côn Minh4. Đầu tháng 1 năm 1941, Nguyễn Ái Quốc cùng Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Đặng Văn Cáp đi theo con đường Long Lâm qua Nậm Bo xuống Nậm Quang, do Hoàng Sâm dẫn đường. Tại Nậm Quang, Nguyễn Ái Quốc mở một lớp huấn luyện ngắn ngày cho hơn 40 thanh niên thành cán bộ để trở về Cao Bằng hoạt động. Kết thúc khoá huấn luyện, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cùng Phùng Chí Kiên, Trưởng ban cán sự của Đảng ở nước ngoài5 và Lê Quảng Ba, Đặng Văn Cáp, Hoàng Văn Lộc lên đường trở về Tổ quốc. Về nước hoạt động, Phùng Chí Kiên được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Trung ương Đảng giao nhiệm vụ công tác quân sự. Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5.1941), Phùng Chí Kiên được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Trung ương Đảng giao trực tiếp chỉ đạo khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai và Trung đội Cứu quốc quân 1. Thực hiện nhiệm vụ Đảng phân công, Phùng Chí Kiên đã nỗ lực hoạt động cống hiến cho cách mạng trong thời kỳ mới. Đồng chí đã hy sinh ở Khau Pàn, xã Bằng Đức, châu Ngân Sơn (Bắc Kạn) ngày 22 tháng 8 năm 19416, khi đang làm nhiệm vụ.

Như vậy, trong quá trình hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Phùng Chí Kiên đã có một thời gian công tác cùng Lê Hồng Phong. Từ mối quan hệ đồng chí tốt đẹp giữa hai người, Phùng Chí Kiên nỗ lực hoạt động, có nhiều cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Tên tuổi và sự nghiệp của Phùng Chí Kiên, tấm gương về ý chí cách mạng, xả thân chiến đấu hy sinh của đồng chí và của các bậc cách mạng tiền bối được Đảng và nhân dân ghi nhận và tôn vinh.
____________________________________________
1.  Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 5 (1935), Sđd, tr. 151.
2.  Dẫn theo Tạp chí Lịch sử quân sự, số 6, 2001, tr. 20.
3.  T. Lan, Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1976, tr. 62.
4.  Lê Thiết Hùng, Tôi được làm người học trò nhỏ của Bác, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 11, 1986, tr. 74.
5.  Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Sự nghiệp, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2002, tr. 42.
6.  Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử các đội quân tiền thân Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr 156.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười Hai, 2021, 10:55:09 pm

VAI TRÒ, CỐNG HIẾN CỦA ĐỒNG CHÍ PHÙNG CHÍ KIÊN
TRONG HOẠT ĐỘNG QUÂN SỰ, CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG CĂN CỨ ĐỊA CÁCH MẠNG
VÀ ĐỘI CỨU QUỐC QUÂN 1

Đại tá, ThS NGUYỄN VĂN QUANG*

Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước oanh liệt của dân tộc ta đã xuất hiện nhiều nhà quân sự, tướng lĩnh tài ba xuất chúng. Đặc biệt, từ khi có Đảng ra đời và lãnh đạo cuộc chiến tranh cách mạng giải phóng dân tộc, nhiều nhà quân sự tài thao lược đã xuất hiện và khẳng định tài năng. Một trong những vị tiền bối cách mạng và sớm trở thành nhà lãnh đạo quân sự tài năng của Đảng - đó là đồng chí Phùng Chí Kiên. Cuộc đời hoạt động cách mạng và tham gia lãnh đạo quân sự của đồng chí tuy ngắn ngủi nhưng hết sức sinh động, oanh liệt và để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý giá.

1. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc phát hiện, bồi dưỡng và đào tạo nhà chính trị - quân sự Phùng Chí Kiên.

Nguyễn Vĩ, tên khai sinh của Phùng Chí Kiên, sinh ngày 18 tháng 5 năm 19011 tại làng Mỹ Quan Thượng, tổng Vạn Phần, nay là xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An trong một gia đình nông dân. Kinh tế của gia đình tuy khó khăn nhưng cha mẹ vẫn cố dành dụm để Vĩ được đến trường và học xong trình độ sơ học. Vốn tính thông minh, lại được thầy giáo làng có lòng yêu nước dạy dỗ, Vĩ đã sớm nhận thức được những bất công trong xã hội và quyết nung nấu tìm chí hướng cứu dân, cứu nước. Mới 15 tuổi (1916) anh đã bỏ bút nghiên để dấn thân vào đời, theo bạn bầu vào làm thuê ở nhà máy xe lửa Tràng Thi, sau đó về làm thư ký cho một thương nhân ở ga Yên Lý. Đây là bước khởi đầu quan trọng để Nguyễn Vĩ được tiếp xúc với đời sống và phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân Việt Nam non trẻ. Thời gian này Tổng bộ Việt Nam thanh niên đồng chí hội - một tổ chức cách mạng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập ở Quảng Châu (Trung Quốc) cử người về gây cơ sở ở Nghệ Tĩnh nhằm tìm kiếm và vận động những thanh niên ưu tú đưa ra nước ngoài hoạt động và học tập. Đầu năm 1926, Nguyễn Vĩ cùng với nhiều thanh niên ưu tú khác như Lê Mậu, Lê Nhu, Nguyễn Phong Hanh, được bí mật đưa sang Xiêm (Thái Lan) và sau đó đến Quảng Châu (Trung Quốc) - một trong những trung tâm cách mạng của châu Á lúc bấy giờ2.

Vào những năm 1924-1925, khi về hoạt động ở Quảng Châu, cùng với việc thành lập tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội, với tầm nhìn chiến lược, Nguyễn Ái Quốc đã mở nhiều lớp huấn luyện chính trị đào tạo cán bộ cách mạng để tiến tới thành lập một chính đảng của giai cấp công nhân Việt Nam. Qua tổ chức giới thiệu, Phùng Chí Kiên được gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - một người mà ngay từ trong nước anh đã hằng ngưỡng mộ và kính trọng. Qua các bài giảng lớp huấn luyện chính trị do Nguyễn Ái Quốc trực tiếp biên soạn và lên lớp, Phùng Chí Kiên đã hiểu ra được nhiều khái niệm mới mẻ như cách mạng vô sản, Đảng mác-xít, vai trò và địa vị của giai cấp công nhân, vấn đề bạo lực cách mạng, con đường giải phóng dân tộc, vấn đề xây dựng lực lượng vũ trang và chuẩn bị đội ngũ cán bộ quân sự của Đảng cách mạng v.v... Với tố chất thông minh, nhạy cảm trong tiếp thu bài giảng và thảo luận các vấn đề đặt ra, Phùng Chí Kiên đã gây được những ấn tượng mạnh mẽ đối với Nguyễn Ái Quốc. Chính vì vậy, sau khi học xong lớp huấn luyện chính trị, Phùng Chí Kiên đã được Nguyễn Ái Quốc giới thiệu sang học ở Trường Quân sự Hoàng Phố (khoá V) - một trường quân sự nổi tiếng do Liên Xô giúp đỡ tổ chức cho lực lượng của Tôn Trung Sơn3. Trong thời gian học ở Trường Quân sự Hoàng Phố với bí danh Mạnh Văn Liễu, anh đã tích cực học giỏi tiếng Trung Quốc để có thể nắm bắt được các kiến thức bài giảng về quân sự của nhà trường, đồng thời tự nghiên cứu được các tác phẩm kinh điển về quân sự như "Binh pháp Tôn Tử"... Do sự phản bội của Tưởng Giới Thạch, Trường Quân sự Hoàng Phố đóng cửa, năm 1929 nhận chỉ thị của An Nam Cộng sản Đảng, Mạnh Văn Liễu bí mật rời khỏi trường Hoàng Phố4 và gia nhập Hồng quân Trung Quốc, cùng quân cách mạng rút về xây dựng khu Xô-viết ở hai huyện Hải Phong và Lục Phong thuộc tỉnh Quảng Châu.

Theo bản lý lịch tự khai (trong hồ sơ của Quốc tế Cộng sản) với tài năng chỉ huy quân sự của mình, Mạnh Văn Liễu được kết nạp vào Đảng Cộng sản Trung Quốc (12.1929), tiếp đó được bổ nhiệm các chức vụ Đại đội trưởng trong Trường Quân chính Hồng quân Trung Quốc, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 4 Hồng quân Đông Giang (thời kỳ Lý Lập Tam). Trong thời gian công tác và chiến đấu trong Hồng quân Trung Quốc, Phùng Chí Kiên đã chỉ huy Trung đoàn 4 tham gia hàng chục trận đánh chống lại quân đội Tưởng Giới Thạch và bọn quân phiệt Nhật, nhiều lần đồng chí bị thương. Đây chính là thời kỳ Phùng Chí Kiên tích luỹ được nhiều kinh nghiệm trong tổ chức xây dựng đơn vị quân đội, chỉ huy trận mạc và các chiến thuật tác chiến của quân đội cách mạng Trung Quốc5.

Trong bước đường hoạt động cách mạng, chiến đấu và trưởng thành của nhà quân sự Phùng Chí Kiên, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc luôn dõi theo chặt chẽ và thông qua các tổ chức của Quốc tế Cộng sản, Người yêu cầu giúp đỡ các nhà cách mạng trẻ tuổi Việt Nam. Tháng 12 năm 1930, theo chỉ thị của Đảng Cộng sản Đông Dương, Phùng Chí Kiên rời quân đội Trung Quốc, trở về Hồng Kông gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc để nhận nhiệm vụ mới. Tại đây Phùng Chí Kiên đã được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, đồng thời theo giới thiệu của Nguyễn Ái Quốc với Quốc tế Cộng sản, Phùng Chí Kiên cùng Trần Văn Điềm và Trương Phước Đạt được cử sang đào tạo tại Trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản. Nhưng không may, trên đường đi cả ba người đều bị bắt giam gần 10 tháng. Sau khi được trả tự do Phùng Chí Kiên cùng các đồng chí của mình sang học tại Trường Đại học Phương Đông (khoá 1932-1934) với bí danh Kan.

Trong thời gian học tại Đại học Phương Đông, ngoài các kiến thức chung về lý luận cách mạng, phương pháp hoạt động, đấu tranh, Phùng Chí Kiên còn được đào tạo một khoá đặc biệt về mật mã quân sự và sử dụng vô tuyến điện. Đây là một môn học rất khó đòi hỏi người học phải có một kiến thức cao về toán - vật lý mới tiếp thu được. Với trí thông minh và quyết tâm cao độ, Phùng Chí Kiên đã tự học thêm môn toán, vật lý để có thể nhanh chóng nắm bắt được kỹ thuật mật mã và sử dụng thành thạo vô tuyến điện. Anh còn tích cực học giỏi tiếng Nga để tự đọc và nghiên cứu các tác phẩm kinh điển (bằng tiếng Nga) bàn về chiến tranh và quân đội của Claudơvít, Mác - Ăngghen, Lênin, Xtalin, về nghệ thuật quân sự Xô-viết v.v...

Với sự phát hiện, bồi dưỡng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, giới thiệu nhà cách mạng trẻ tuổi Phùng Chí Kiên đi đào tạo tại các trường quân sự và trường đại học cách mạng nổi tiếng, đồng thời thông qua thực tiễn hoạt động cách mạng, tham gia chỉ huy chiến đấu trong quân đội Trung Quốc, Phùng Chí Kiên đã thực sự trở thành một cán bộ lãnh đạo chính trị - quân sự vững vàng và đầy triển vọng của cách mạng Việt Nam. Chính vì vậy, đầu năm 1941, khi trở về nước để trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam chuẩn bị giành độc lập dân tộc, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã tin tưởng và giao Phùng Chí Kiên nhiều trọng trách lớn như phụ trách công tác quân sự của Đảng, chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang và chiến khu cách mạng.
_____________________________________
* Phó trưởng phòng Quản lý Khoa học, Viện lịch sử quân sự Việt Nam.
1.  Có tài liệu ghi sinh năm 1904 hoặc 1905.
2.  Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Diễn Yên 1930-2007, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội, 2007, tr. 45.
3.  Nguyễn Ái Quốc đã cử hàng chục cán bộ Việt Nam vào học Trường Quân sự Hoàng Phố lớp đầu tiên như Lê Hồng Phong, Trịnh Đình Cửu, Lê Hồng Sơn, Trương Văn Lĩnh, Lê Thiết Hùng. Các lớp tiếp theo như: Lâm Bá Kiệt (Phạm Văn Đồng), Dương Hoài Nam (Võ Nguyên Giáp), Lê Quảng Ba v.v...
4, 5.  A. Xôcôlốp, Quốc tế Cộng sản và Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, tr. 246, 247.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười Hai, 2021, 10:57:04 pm

2. Người Tổng chỉ huy khu căn cứ Bắc Sơn và Chỉ huy trưởng Đội Cứu quốc quân 1.

Vào đầu năm 1940, tình hình thế giới và trong nước có nhiều chuyển biến lớn có lợi cho cách mạng Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc quyết định chuẩn bị trở về nước để trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Để chuẩn bị và tăng cường cho việc xây dựng cơ sở cách mạng ở trong nước, Nguyễn Ái Quốc gấp rút tổ chức huấn luyện đội ngũ cán bộ cốt cán đang hoạt động ở Quảng Tây để đưa về Cao Bằng và các vùng chiến khu cách mạng khác. Theo hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhiệm vụ tổ chức huấn luyện cán bộ chính trị, quân sự của Đảng lúc này được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giao cho đồng chí Phùng Chí Kiên trực tiếp phụ trách, cùng với các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Vũ Anh1... chịu trách nhiệm nghiên cứu biên soạn các bài giảng về đường lối chính trị, quân sự, xây dựng lực lượng vũ trang và chiến khu cách mạng, đồng thời trực tiếp lên lớp cho cán bộ. Các bài giảng về chính trị, quân sự do Phùng Chí Kiên phụ trách biên soạn và giảng dạy đã góp phần trang bị, bồi dưỡng những kiến thức cơ bản cho trên 40 cán bộ cốt cán về nước hoạt động và phát huy hiệu quả. Các bài giảng này sau đó được tập hợp xuất bản thành cuốn sách "Con đường giải phóng" đã trở thành cẩm nang quý báu cho nhiều thế hệ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy học tập, vận dụng. Với kinh nghiệm dày dặn những năm học tập, hoạt động tại Trung Quốc và tham gia chiến đấu trong đội ngũ quân giải phóng Trung Quốc chống phát xít Nhật và quân đội Tưởng Giới Thạch, Phùng Chí Kiên đã biên soạn thành tài liệu "Về chiến tranh chống Nhật của nhân dân Trung Quốc" để huấn luyện cán bộ lãnh đạo chỉ huy quân sự của Đảng. Rất tiếc các trước tác quý giá này của đồng chí Phùng Chí Kiên do điều kiện lịch sử đã bị thất lạc đến nay chưa tìm lại được song vẫn còn in đậm trong tâm khảm và trí nhớ của nhiều lớp cán bộ lãnh đạo, chỉ huy quân sự tiền bối của Đảng ta.

Sau gần 30 năm hoạt động ở nước ngoài, ngày 28 tháng 1 năm 1941 lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về nước trực tiếp chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang, tổ chức đoàn thể cứu quốc, xây dựng căn cứ địa cách mạng, chuẩn bị mọi mặt cho Hội nghị Trung ương lần thứ 8 ở Cao Bằng nhằm chuyển hướng chiến lược của Đảng, tiến tới khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền.

Qua một thời gian chuẩn bị, từ ngày 10 đến ngày 19 tháng 5 năm 1941 tại Pắc Bó (Cao Bằng), Hội nghị Trung ương lần thứ 8 do Nguyễn Ái Quốc chủ trì đã ra Nghị quyết thành lập Mặt trận Việt Nam Đồng minh hội (gọi tắt là Việt Minh), về nhiệm vụ quân sự, Hội nghị quyết định xây dựng những tổ chức tiểu tổ du kích, du kích chính thức và ra nghị định: "Điều lệ của Việt Nam tiểu tổ du kích cứu quốc"2 - một tổ chức rộng rãi của quần chúng nhân dân có khả năng tiến hành chiến tranh du kích và bảo vệ cơ quan Trung ương Đảng.

Căn cứ vào tình hình ở vùng Bắc Sơn - Võ Nhai và Cao Bằng là những chiến khu cách mạng được xây dựng từ nhiều năm nay, lại đang có đội du kích tập trung của Đảng hoạt động, được Nguyễn Ái Quốc chọn làm nơi thí điểm xây dựng những cơ sở Việt Minh đầu tiên của Đảng. Đối với khu căn cứ Bắc Sơn, Hội nghị quyết định giao cho Ban Thường vụ Trung ương Đảng trực tiếp chỉ đạo xây dựng căn cứ và phát triển lực lượng du kích, đồng thời cử đồng chí Phùng Chí Kiên - Ủy viên Trung ương Đảng làm Tổng chỉ huy khu căn cứ Bắc Sơn và Chỉ huy trưởng Đội du kích Bắc Sơn3.

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 8, tháng 7 năm 1941, đồng chí Phùng Chí Kiên cùng nhiều cán bộ cao cấp của Đảng từ Cao Bằng được tăng cường về cho Bắc Sơn đã về tới Lân Táy (xã Hữu Vinh) an toàn. Trong hơn nửa tháng ở Lân Táy, các đồng chí Thường vụ Trung ương cùng đồng chí Phùng Chí Kiên đã có nhiều buổi làm việc với Ban chỉ huy Đội du kích Bắc Sơn để nắm tình hình mọi mặt và truyền đạt Nghị quyết của Đảng về việc xây dựng khu căn cứ Bắc Sơn, đồng thời nêu chủ trương tiếp tục củng cố, phát triển đội du kích lên một trình độ mới nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới. Tại đây, đồng chí Trường Chinh - Tổng Bí thư thay mặt Trung ương Đảng đã quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 cho toàn thể cán bộ, chiến sĩ Đội du kích, đồng thời tuyên bố đổi tên Đội du kích Bắc Sơn thành Đội Cứu quốc quân Bắc Sơn do đồng chí Phùng Chí Kiên làm Chỉ huy trưởng, đồng chí Lương Văn Tri, Ủy viên Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ, làm Chính trị viên4. Đây chính là Trung đội Cứu quốc quân 1 - một trong những đơn vị tiền thân đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Ngay sau khi nhận nhiệm vụ mới, đồng chí Phùng Chí Kiên đã tích cực bắt tay vào xây dựng, củng cố lại các cơ sở cách mạng ở căn cứ Bắc Sơn, phát triển các tổ chức Đảng và đoàn thể cách mạng như công nhân cứu quốc, nông dân cứu quốc, thanh niên cứu quốc, phụ nữ cứu quốc, thành lập các tổ đội tuyên truyền đi vận động và giác ngộ quần chúng, đồng thời tổ chức được một số lớp huấn luyện chính trị, quân sự ngắn ngày về Chương trình Việt Minh cho các tổ chức cách mạng ở châu Bắc Sơn. Tại căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai, mặc dù địch đàn áp, khủng bố gắt gao, nhưng Đội Cứu quốc quân 1 dưới sự lãnh đạo chỉ huy của đồng chí Phùng Chí Kiên vẫn kiên cường bám trụ vào dân, được nhân dân các dân tộc nuôi dưỡng, che giấu đã không ngừng phát triển về mọi mặt, cả về tổ chức, trang bị và trình độ chiến thuật. Một số cán bộ chính trị, quân sự do Đảng đào tạo cùng một số vũ khí thu được của địch đã được tăng cường bổ sung cho Đội Cứu quốc quân 1.

Toàn Trung đội Cứu quốc quân 1 (từ 32 người khi mới thành lập) tăng lên 37 người, được biên chế thành 3 tiểu đội do các đồng chí Dương Thuần Tần, Hoàng Đình Ruệ, Hà Khai Lạc làm tiểu đội trưởng. Vũ khí của Trung đội Cứu quốc quân trước đây chỉ có 5 súng trường, đã tăng lên 15 súng trường, súng kíp cùng một số lựu đạn, dao găm, giáo mác, gậy gộc. Mặc dù trang bị còn hết sức thô sơ thiếu thốn, lương thực tự túc và chủ yếu dựa vào dân, nhưng tinh thần của các đội viên đều hết sức phấn khởi, hăng hái, một lòng quyết tâm đi theo cách mạng, tuyệt đối trung thành với Trung ương Đảng. Dưới sự lãnh đạo chỉ huy của đồng chí Phùng Chí Kiên và các cán bộ cốt cán của Đảng, Đội Cứu quốc quân 1 đã không ngừng lớn mạnh về nhiều mặt, trở thành nòng cốt quan trọng để xây dựng và bảo vệ khu căn cứ Bắc Sơn, đồng thời làm cơ sở tiếp tục xây dựng và phát triển các tổ đội tự vệ, du kích tại các địa phương khác trong vùng. Đội Cứu quốc quân 1 đã tổ chức đánh một số đồn nhỏ lẻ, tiêu diệt địch, thu vũ khí, đồng thời tổ chức tiễu trừ một số tên tay sai việt gian phản động trong bộ máy cai trị của địch làm cho nhân dân hết sức phấn khởi, tin tưởng ở cách mạng. Đặc biệt, Đội Cứu quốc quân 1 đã bảo vệ an toàn các đồng chí Trung ương và cán bộ phụ trách các khu vực và địa phương về dự cuộc họp quán triệt Hội nghị Trung ương 8 do Ban Thường vụ Trung ương Đảng triệu tập tại Khuổi Cườm (xã Tân Lập) và sau đó trở về địa phương an toàn.

Giữa lúc phong trào cách mạng ở Bắc Sơn đang phát triển mạnh làm cho thực dân Pháp hết sức lo sợ, vào trung tuần tháng 7 năm 1941, chúng đã tập trung một lực lượng hơn 4.000 quân mở cuộc càn quét lớn vào khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não Trung ương Đảng và các lực lượng vũ trang cách mạng non trẻ. Trước sức mạnh gấp nhiều lần của kẻ thù, đồng chí Phùng Chí Kiên vẫn bình tĩnh, mưu trí chỉ huy Đội Cứu quốc quân 1 và các tổ du kích, tự vệ trong chiến khu chiến đấu ngoan cường, tiêu diệt địch, đẩy lùi một số cuộc càn quét của địch, bảo vệ an toàn cho các đồng chí Ủy viên Trung ương và cán bộ cốt cán thoát khỏi vòng vây của địch. Nhưng do lực lượng quá chênh lệnh, để bảo toàn đội vũ trang non trẻ, Ban chỉ huy Cứu quốc quân 1 đã quyết định rút các tiểu đội Cứu quốc quân về căn cứ mới. Một cánh quân do đồng chí Hoàng Văn Thái chỉ huy đã rút sang biên giới Việt - Trung an toàn. Cánh thứ hai do đồng chí Phùng Chí Kiên và Lương Văn Tri chỉ huy, ngày 21 tháng 8 năm 1941, khi về đến Khau Pàn (Ngân Sơn - Bắc Kạn) thì bị địch phục kích, chặn đánh quyết liệt. Do bị trọng thương, đồng chí Phùng Chí Kiên đã tình nguyện trụ lại bắn chặn địch, tạo điều kiện cho các đội viên Cứu quốc quân chạy thoát và đồng chí đã hy sinh anh dũng.

Đồng chí ngã xuống khi tuổi đời còn rất trẻ, một trí tuệ lãnh đạo của Đảng đang độ sung sức chín muồi và hứa hẹn một tài năng chính trị - quân sự đầy triển vọng. Đây là một tổn thất lớn của cách mạng nói chung, của lực lượng vũ trang nói riêng.
______________________________________
1.  Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr. 25, 26.
2.  Văn kiện Đảng 1930-1945, Tập 3, Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương xuất bản, Hà Nội, 1978, tr. 224.
3, 4.  Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử các đội quân tiền thân Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 146, 149.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười Hai, 2021, 10:59:11 pm

3. Một số kinh nghiệm chỉ đạo công tác quân sự và xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng của Phùng Chí Kiên.

Do hoàn cảnh lịch sử, cách mạng đang ở thời kỳ trứng nước, phần nhiều là phải hoạt động trong điều kiện bí mật, công tác lưu giữ gặp nhiều khó khăn, vì vậy nhiều bài viết, tài liệu huấn luyện, giảng dạy, trước tác chỉ đạo của đồng chí Phùng Chí Kiên hầu hết đều bị thất lạc, mất mát chưa tìm lại được. Những gì lưu lại hiện nay là rất ít ỏi. Tuy nhiên, qua trí nhớ, hồi ký của các nhà tiền bối cách mạng hoạt động cùng thời với Phùng Chí Kiên, qua các văn kiện, nghị quyết và tài liệu chỉ đạo khác của Đảng mà đồng chí tham gia soạn thảo, đặc biệt qua thực tiễn hoạt động cách mạng, chỉ đạo công tác quân sự của đồng chí có thể rút ra một số kinh nghiệm chỉ đạo xây dựng Chiến khu cách mạng và lực lượng vũ trang của Phùng Chí Kiên gồm các vấn đề sau đây:

Thứ nhất: Xây dựng lực lượng vũ trang trước hết phải xây dựng về tổ chức, công tác đào tạo huấn luyện con người, cán bộ phụ trách phải đi trước một bước.

Là một người học trò xuất sắc của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, được Người dìu dắt và có nhiều thời gian gần gũi bên Người, Phùng Chí Kiên đã thấm nhuần và vận dụng nhuần nhuyễn các nguyên tắc, quan điểm chỉ đạo của Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng vào điều kiện thực tiễn. Phùng Chí Kiên hiểu rõ rằng muốn cứu nước, giải phóng dân tộc, phải dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng - tức phải xây dựng được lực lượng vũ trang cách mạng đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Để xây dựng được lực lượng vũ trang, trước hết phải chăm lo xây dựng về tổ chức: đó là phải xây dựng được những tổ chức mạnh, hoạt động có nguyên tắc, có kỷ luật chặt chẽ với những con người chỉ huy, phụ trách có trình độ cách mạng vững vàng, có kinh nghiệm và tri thức quân sự. Từ quan điểm chỉ đạo này, trước khi về nước Hồ Chí Minh đã giao nhiệm vụ cho Phùng Chí Kiên nghiên cứu và soạn thảo các nguyên tắc về xây dựng tổ chức vũ trang, đồng thời tổ chức đào tạo, huấn luyện gấp đội ngũ cán bộ quân sự - đặt cơ sở cho việc xây dựng các lực lượng vũ trang cách mạng trong thời kỳ chuẩn bị Tổng khởi nghĩa. Những ý tưởng phác thảo về nguyên tắc tổ chức lực lượng vũ trang của Phùng Chí Kiên sau đó đã trở thành những cơ sở quan trọng để Hội nghị Trung ương 8 (5.1941) ra Nghị định: "Điều lệ của Việt Nam tiểu tổ du kích cứu quốc”. Bản điều lệ quy định về mục đích, phương pháp tổ chức, điều lệ kết nạp đội viên, trách nhiệm, tập luyện, vũ khí, kỹ thuật của tiểu tổ du kích cứu quốc1.

Cùng với việc xây dựng các tổ chức vũ trang, Phùng Chí Kiên đặc biệt coi trọng việc huấn luyện đào tạo cán bộ phụ trách quân sự. Trong đào tạo huấn luyện cán bộ quân sự đặc biệt chú trọng giáo dục về chính trị tư tưởng, làm cho cán bộ thấm nhuần được mục tiêu, lý tưởng cách mạng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân, chiến đấu vì lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

Về việc lựa chọn cán bộ quân sự, bổ sung kết nạp đội viên mới, Phùng Chí Kiên đã chỉ đạo các cơ sở phải lựa chọn những người ưu tú trong các đội tự vệ, du kích, những quần chúng tích cực, nhất là con em của người lao động, nông dân, trí thức cách mạng, đồng bào các dân tộc để đào tạo, huấn luyện đưa vào đội vũ trang.

Thứ hai: Trong quá trình xây dựng, chiến đấu và phát triển, lực lượng vũ trang cách mạng phải dựa chắc vào nhân dân, vì nhân dân mà chiến đấu, bảo vệ.

Dựa vào nhân dân để xây dựng, chiến đấu, tồn tại và phát triển là nguyên tắc mang tính sống còn của lực lượng vũ trang cách mạng. Ngay từ khi nhận nhiệm vụ chỉ huy Đội Cứu quốc quân 1, Phùng Chí Kiên đã luôn nhắc nhở và quán triệt cán bộ, chiến sĩ trong toàn đội phải tuyệt đối chấp hành nghiêm kỷ luật quân dân, tuyệt đối tôn trọng và bảo vệ nhân dân, làm tốt công tác dân vận, ra sức giúp đỡ nhân dân, đồng cam cộng khổ với đồng bào các dân tộc. Ở Bắc Sơn, trong điều kiện bị địch luôn truy lùng, khủng bố, đàn áp gắt gao nhưng nhờ thấu suốt quan điểm dựa vào nhân dân để chiến đấu và xây dựng, Đội Cứu quốc quân đã được nhân dân hết lòng yêu thương đùm bọc, giúp đỡ và che chở. Đội đã tích cực luyện tập, tổ chức các trận đánh, bảo vệ khu căn cứ cách mạng, bảo vệ Trung ương Đảng và cuộc sống của nhân dân, trừng trị bọn việt gian phản động và quan lại cường hào gian ác đè nén, ức hiếp nhân dân. Vì vậy, dù trong điều kiện khó khăn nào, Đội Cứu quốc quân vẫn luôn được nhân dân tin cậy và cưu mang.

Ba là: Ra sức huấn luyện phát triển về trình độ kỹ chiến thuật và tăng cường bảo đảm trang thiết bị vũ khí.

Đi đôi với việc giáo dục, đào tạo đội ngũ cán bộ quân sự, Phùng Chí Kiên đã chỉ đạo cán bộ, chiến sĩ Đội Cứu quốc quân không ngừng học tập, rèn luyện về trình độ kỹ thuật, chiến thuật, tăng cường bổ sung về vũ khí trang bị, làm cho đơn vị không ngừng phát triển về mọi mặt, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng. Với những kiến thức tích luỹ được qua nghiên cứu các tác phẩm quân sự của Liên Xô và Trung Quốc, kinh nghiệm chỉ huy, chiến đấu trong quân đội cách mạng Trung Quốc, Phùng Chí Kiên đã chắt lọc và vận dụng sáng tạo vào việc huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật cho Đội Cứu quốc quân phù hợp với hoàn cảnh, yêu cầu của cách mạng và đối tượng tác chiến. Nhờ đó, trình độ tác chiến của Đội không ngừng được nâng lên, đủ sức đương đầu với mọi kẻ thù, bảo vệ an toàn Trung ương Đảng và chiến khu cách mạng.

Bốn là: Xây dựng, bảo vệ chiến khu cách mạng phải đi đôi với nhiệm vụ kiện toàn, phát triển lực lượng vũ trang.

Giữa vấn đề xây dựng, bảo vệ chiến khu cách mạng với vấn đề kiện toàn, phát triển lực lượng vũ trang luôn có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau. Xây dựng, bảo vệ vững chắc chiến khu cách mạng là cơ sở để kiện toàn, phát triển lực lượng vũ trang và ngược lại, lực lượng vũ trang phát triển vững mạnh là yếu tố cơ bản để xây dựng, bảo vệ vững chắc chiến khu. Nhận thức rõ vấn đề này, trong quá trình chỉ đạo xây dựng Chiến khu Bắc Sơn và Đội Cứu quốc quân, trên cương vị là Tổng chỉ huy chiến khu Bắc Sơn và Chỉ huy trưởng Đội Cứu quốc quân, Phùng Chí Kiên đã hết sức coi trọng vấn đề xây dựng, bảo vệ chiến khu cách mạng với vấn đề củng cố, phát triển lực lượng vũ trang, coi đây là một trong những nhiệm vụ cấp bách hàng đầu mang tính sống còn đối với phong trào cách mạng. Thực tế đã chứng minh rằng, khi chiến khu cách mạng Bắc Sơn được xây dựng, bảo vệ vững chắc thì lực lượng vũ trang hoạt động thuận lợi, có điều kiện để củng cố và phát triển rộng khắp, nâng cao cả số lượng và chất lượng. Khi Đội Cứu quốc quân cùng các tổ đội du kích tự vệ trong chiến khu phát triển vững mạnh thì phong trào cách mạng ở chiến khu đi lên, lòng dân được củng cố và khí thế cách mạng ngày càng sôi sục. Đây chính là những kinh nghiệm được đúc kết từ chính thực tiễn chỉ đạo cách mạng của Đảng ta mà đồng chí Phùng Chí Kiên là một trong những bậc lãnh đạo tiền bối đã góp phần tổng kết và làm phong phú thêm các kinh nghiệm quý báu đó.

*


*          *

Trên đây là những cống hiến xuất sắc của đồng chí Phùng Chí Kiên trong hoạt động quân sự và chỉ đạo xây dựng Đội Cứu quốc quân 1 cùng những kinh nghiệm về xây dựng chiến khu cách mạng và lực lượng vũ trang thời kỳ non trẻ. Tên tuổi và sự nghiệp của đồng chí Phùng Chí Kiên, tấm gương về ý chí cách mạng, sẵn sàng xả thân chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc nhân dân của đồng chí sáng mãi cùng non sông, đất nước.
____________________________________
1.  Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử các đội quân tiền thân..., Sđd, tr. 146.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười Hai, 2021, 11:05:47 pm

PHÙNG CHÍ KIÊN - NHỮNG THÁNG NĂM HOẠT ĐỘNG
TRÊN ĐỊA BÀN VIỆT BẮC

Đại tá NGUYỄN ĐÌNH KHIÊM*


Đã 67 năm đi qua, việc nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống về đồng chí Phùng Chí Kiên - một người cán bộ quân sự tiền bối của Đảng đã đi vào lịch sử, là công việc có ý nghĩa và trách nhiệm lớn lao của thế hệ con cháu đối với các bậc lão thành cách mạng Việt Nam. Đây cũng là một công việc vô cùng khó khăn, vì nguồn tư liệu hiếm hoi và ít ỏi viết về Phùng Chí Kiên quả là thách thức quá lớn đối với việc làm rõ những ngày tháng hoạt động và chiến đấu của đồng chí trên địa bàn Việt Bắc sau khi trở về Tổ quốc.

Như chúng ta đã biết, sau 30 năm bôn ba đi tìm đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã quyết định trở về nước để trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Để chuẩn bị lực lượng cán bộ cơ sở ở trong nước, tháng 12 năm 1940, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập và mở lớp đào tạo huấn luyện chính trị, quân sự đầu tiên cho 43 thanh niên người dân tộc thiểu số ở Cao Bằng tại Ngàm Táy, Nậm Quang, Tĩnh Tây, Quảng Tây, Trung Quốc. Đây là một địa điểm gần biên giới huyện Hà Quảng, Cao Bằng, nhân dân hầu hết là dân tộc Nùng. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp chỉ đạo và cùng các đồng chí Phạm Văn Đồng, Vũ Anh, Phùng Chí Kiên, Võ Nguyên Giáp tham gia biên soạn tài liệu và giảng dạy. Đồng chí Phùng Chí Kiên được phân công phụ trách lớp học, cứ mỗi buổi sáng đồng chí lại cùng học viên đi hái củi để làm công tác chính trị với dân làng. Sau 10 ngày huấn luyện, lớp học kết thúc, lại đúng vào dịp Tết Nguyên đán Tân Tỵ (1941). Sáng mùng 1 Tết, được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc phân công, đồng chí Phùng Chí Kiên cùng anh em học viên đi cảm ơn nhân dân trong bản đã giúp đỡ ăn, ở trong thời gian lưu lại học tập. Ngay tối hôm đó, các học viên trở về nước, theo đường mòn qua mốc biên giới 108 xã Trường Hà, Hà Quảng, Cao Bằng. Đồng chí Phùng Chí Kiên ở lại cùng với đoàn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc vào ngày 28 tháng 1 năm 1941. Bác Phạm Duy Tiến, cán bộ lão thành cách mạng, một trong hơn 40 thanh niên được dự lớp học ở Ngàm Táy cho biết: Đồng chí Phùng Chí Kiên có thân hình dong dỏng, cao khoảng một mét bảy, tính tình cởi mở, luôn gần gũi với anh em học viên.

Đầu tháng 5 năm 1941, tại Pắc Bó, Trường Hà, Hà Quảng, Cao Bằng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, với tư cách là đại biểu của Quốc tế cộng sản, đã triệu tập Hội nghị Trung ương lần thứ 8 của Đảng Cộng sản Đông Dương. Dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị đã hoàn chỉnh sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng Việt Nam. Chủ trương và chính sách mới của Đảng được phát triển về mọi mặt.

Để thiết thực chuẩn bị khởi nghĩa, Hội nghị đã quyết định "Lấy miền rừng núi Việt Bắc để xây dựng căn cứ vũ trang", trước hết là căn cứ Cao Bằng và căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai. Căn cứ địa Cao Bằng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và các đồng chí Vũ Anh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp... phụ trách. Căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai do Ban Thường vụ Trung ương Đảng trực tiếp chỉ đạo. Hội nghị còn quyết định tăng cường cho căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai một số cán bộ, do đồng chí Phùng Chí Kiên, Ủy viên Trung ương Đảng, phụ trách.

Bắc Sơn - Võ Nhai là hai châu miền núi. Nơi đây rừng già, núi đá vôi xen núi đất hiểm trở, đi lại khó khăn, đã từng là một trong những địa bàn hoạt động chống Pháp nổi tiẽng của nghĩa quân Hoàng Đình Kinh, nghĩa quân Hoàng Hoa Thám. Bắc Sơn - Võ Nhai có địa hình thiên hiểm, thành phòng tuyến thiên nhiên ngăn chặn kẻ thù, có truyền thống đoàn kết yêu nước của nhân dân các dân tộc. Chính vậy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, ngày 27 tháng 9 năm 1940, tiếng súng vang dội của cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn đã báo hiệu một thời kỳ mới của cách mạng Việt Nam. Hội nghị Trung ương Đảng tháng 11 năm 1940 đã đánh giá "Đó là những tiếng súng báo hiệu cho cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc, là bước đầu đấu tranh bằng võ lực của các dân tộc Đông Dương".

Sau Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8, các đồng chí Thường vụ Trung ương và các đại biểu đi dự Hội nghị cùng các cán bộ được tăng cường cho căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai đã nhanh chóng trở về Căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai.

Trước đó, Cứu quốc quân Bắc Sơn - Võ Nhai đã cử một tổ do đồng chí Chu Văn Tấn chỉ huy, đồng chí Hoàng Tài làm liên lạc, có nhiệm vụ đưa đường và bảo vệ đoàn đại biểu đi dự Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương. Tổ Cứu quốc quân đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, cùng đoàn đại biểu vượt qua mọi khó khăn đến địa điểm quy định an toàn, đúng thời gian. Từ Khuổi Nọi, Vũ Lễ - Bắc Sơn, đoàn đi qua Bình Gia, Văn Mịch, Tràng Định - Lạng Sơn rồi vượt sang Bó Cục, Tả Tấn, Long Châu, Quảng Tây - Trung Quốc. Từ Long Châu, đoàn đi dọc biên giới Việt - Trung về phía Tây Bắc, đến mốc 108 thì vào Pắc Bó. Sau Hội nghị, tổ Cứu quốc quân lại tiếp tục làm nhiệm vụ đưa đường và bảo vệ các đồng chí đại biểu trở về căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai.

Khi trở về căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai, đoàn chia thành hai bộ phận đi theo 2 đường. Một bộ phận đi dọc biên giới Việt - Trung theo đường lúc đi lên Pắc Bó. Bộ phận thứ hai đi từ Pắc Bó - Hà Quảng xuống Hoà An, Thạch An về Tràng Định rồi sang qua biên giới đến Bó Cục, Tả Tấn, Long Châu, Quảng Tây, Trung Quốc. Hai bộ phận cùng gặp nhau tại Bó Cục, rồi từ đó trở qua biên giới vào Tràng Định, qua Bình Gia.

Khi đến Bình Gia, đoàn đã thấy dấu hiệu của một cuộc khủng bố lớn. Khắp các ngả đường từ Bình Gia vào Bắc Sơn đều thấy có lính dõng và bọn mật thám đi tuần và canh gác1. Ngày 30 tháng 6 năm 1941, Sở Mật thám Bắc Kỳ đã đưa một chi nhánh lên Đình Cả thuộc châu Võ Nhai - Thái Nguyên để đón lõng đường các đồng chí Thường vụ Trung ương về xuôi. Tại Đình Cả, chúng lập phòng tra tấn tại chỗ để đàn áp, khủng bố nhân dân địa phương. Đồng thời, Sở Mật thám Bắc Kỳ còn chỉ thị cho các chi nhánh mật thám Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Giang tăng cường mạng lưới mật thám, thường xuyên liên hệ với nhau để chặn đường hòng chụp bắt gọn các đồng chí Thường vụ Trung ương của ta. Chánh mật thám tỉnh Lạng Sơn Đăng-vít (Denkwick) đã tức tốc điều quân về Bắc Sơn, đóng chốt tại xã Vũ Lễ. Cùng lúc đó, thực dân Pháp tập trung binh lính, dưới sự chỉ huy của những tên thực dân khét tiếng gian ác như tên Barôn, Bútkê, Bêrada... từ ba hướng tiến công vào căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai. Một hướng từ Bắc Giang lên, một hướng từ Thái Nguyên sang, một hướng từ Lạng Sơn về. Ngoài ra, thực dân Pháp còn tăng cường lực lượng tại chỗ để đàn áp, khủng bố nhân dân các dân tộc. Với lực lượng như vậy, chúng hy vọng trong một thời gian ngắn sẽ bắt gọn các đồng chí Thường vụ Trung ương Đảng, tiêu diệt hoàn toàn lực lượng Cứu quốc quân của ta và dập tắt phong trào cách mạng ở Bắc Sơn - Võ Nhai. Trọng tâm cuộc khủng bố của địch là Bắc Sơn, sau đó dịch chuyển xuống Võ Nhai.
_______________________________________
* Trưởng phòng Khoa học Công nghệ và Môi trường Quân khu 1.
1.  Sau này, ta được tin, địch biết được cuộc hành trình của đoàn cán bộ Trung ương ta là do tên Công (một phần tử phản bội) đi dự Hội nghị Trung ương lần thứ 8 bằng đường công khai (hợp pháp) về Hà Nội, đã cung cấp tin tức cho thực dân Pháp.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười Hai, 2021, 11:06:56 pm

Ngày 6 tháng 7 năm 1941, các đồng chí Thường vụ Trung ương về đến xã Quỳnh Sơn, châu Bắc Sơn thì gặp bọn mật thám chặn đường. Với tinh thần cảnh giác, được tổ Cứu quốc quân thông thạo địa hình và nhân dân giúp đỡ, các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Phùng Chí Kiên và toàn đoàn đã rút vào cơ quan bí mật ở bản Lân Táy, xã Tân Lập, Bắc Sơn một cách an toàn. Trong thời gian này, thực dân Pháp liên tục mở các cuộc càn quét, khủng bố, đàn áp nhân dân rất dã man, hòng tách nhân dân với cơ sở cách mạng.

Đến cơ quan bí mật ở Lân Táy, các đồng chí Thường vụ Trung ương đã gặp đồng chí Lương Văn Tri, là Ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ được Trung ương phái lên chỉ đạo phong trào cách mạng ở Bắc Sơn - Võ Nhai. Đồng chí Lương Văn Tri là người tổ chức Hội võ trang đầu tiên của Đảng ở miền núi - Đội du kích Bắc Sơn, con đẻ của phong trào cách mạng Bắc Sơn và cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn lịch sử. Đồng chí Lương Văn Tri, là người dân tộc Tày, quê ở Điềm He, Văn Quan, Lạng Sơn, còn có bí danh là Huy, anh em gọi thân mật là Huy Còm. Tại đây, các đồng chí Trung ương đã nghe đồng chí Lương Văn Tri báo cáo tình hình phong trào cách mạng ở Bắc Sơn - Võ Nhai. Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã chỉ định Ban lãnh đạo mới của căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai đồng thời là Ban chỉ huy Đội Cứu quốc quân, gồm có đồng chí Phùng Chí Kiên, Ủy viên Trung ương Đảng làm Chỉ huy trưởng; đồng chí Lương Văn Tri, Ủy viên quân sự Xứ ủy Bắc Kỳ, làm Chính trị viên; đồng chí Chu Văn Tấn làm Chỉ huy phó. Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã chỉ rõ nhiệm vụ của Cứu quốc quân là tích cực đấu tranh chống địch khủng bố, bảo vệ Trung ương, bảo vệ cơ sở cách mạng và bảo vệ nhân dân.

Mặc dù địch đang mở cuộc khủng bố lớn, trong thời gian dừng chân ở Lân Táy, Tân Lập, Bắc Sơn, các đồng chí Trung ương Đảng, trực tiếp là đồng chí Hoàng Quốc Việt và đồng chí Phùng Chí Kiên đã tổ chức phổ biến, quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Đảng cho cán bộ địa phương, đồng thời làm công tác huấn luyện, bồi dưỡng đường lối của Đảng, chính sách của Mặt trận Việt Minh và bổ túc kiến thức quân sự, đặc biệt là chiến thuật du kích cho cán bộ.

Trước tình hình càn quét, khủng bố của địch, Ban chỉ huy Cứu quốc quân đã di chuyển đến Khuổi Nọi - Vũ Lễ họp bàn và phân công thực hiện chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ương Đảng. Đồng chí Phùng Chí Kiên và đồng chí Lương Văn Tri ở Bắc Sơn lãnh đạo nhân dân và chỉ huy Cứu quốc quân đấu tranh chống địch khủng bố, bảo vệ các đồng chí Trung ương Đảng. Đồng chí Chu Văn Tấn về Võ Nhai, cùng các đồng chí cán bộ nòng cốt ở địa phương lãnh đạo nhân dân và Cứu quốc quân đấu tranh chống địch khủng bố, càn quét và chuẩn bị cơ quan bí mật để các đồng chí Trung ương Đảng rút về Võ Nhai, đồng thời tổ chức chuẩn bị bảo đảm đường dây liên lạc để đưa các đồng chí cán bộ Trung ương về xuôi.

Được sự bảo vệ của Cứu quốc quân và giúp đỡ của nhân dân các dân tộc, ngày 21 tháng 7 năm 1941, các đồng chí Trung ương đã rời khỏi cơ quan bí mật ở Lân Táy - Tân Lập rút về căn cứ ở Võ Nhai. Đến đầu tháng 8 năm 1941, các đồng chí đó đã về đến cơ quan bí mật do Cứu quốc quân xây dựng ở Núi Lều, xã Tràng Xá, châu Võ Nhai. Và cũng từ đây, Cứu quốc quân căn cứ Võ Nhai đã tổ chức bảo vệ, đưa đường các đồng chí Trung ương về xuôi an toàn.

Trong gần một tháng càn quét, giặc Pháp không bắt được các đồng chí cán bộ Trung ương và cũng không tiêu diệt được Cứu quốc quân, chúng càng điên cuồng đàn áp nhân dân các dân tộc Bắc Sơn. Địch liên tục mở các cuộc hành quân càn quét, đánh phá khốc liệt vào vùng Khuổi Nọi - xã Vũ Lễ là trung tâm căn cứ của Cứu quốc quân. Trong các cuộc càn quét đó, địch đã triệt hạ hoàn toàn bản Khuôn Khát, một bản gồm 16 hộ người dân tộc Dao, duy nhất chỉ còn một người trốn thoát. Địch còn lùa bắt hầu hết nhân dân bản Nà Cái, bản Ít về giam ở trại giam Đàng Lang ở xã Quỳnh Sơn - Bắc Sơn.

Liên tục trong gần một tháng đấu tranh, chiến đấu chống địch càn quét, bảo vệ các đồng chí Trung ương và bảo vệ nhân dân, Cứu quốc quân đã dũng cảm chiến đấu, ngăn chặn từng bước các cuộc tiến quân, truy lùng, càn quét, khủng bố của địch. Tình hình ngày càng khó khăn, vùng trung tâm căn cứ liên tục bị tiến công, cơ sở quần chúng cách mạng ở một số nơi bị phá vỡ. Hoạt động và sinh hoạt của Cứu quốc quân ở trong rừng ngày một gặp khó khăn. Phạm vi hoạt động của Cứu quốc quân ở Bắc Sơn dần dần bị thu hẹp. So sánh tương quan lực lượng giữa ta và địch có sự chênh lệch quá lớn, không có lợi cho ta. Đứng trước tình hình đó, Ban chỉ huy Cứu quốc quân chủ trương bảo toàn lực lượng Cứu quốc quân, lực lượng du kích và cơ sở quần chúng cách mạng trong khu căn cứ, tránh bớt các cuộc khủng bố tàn khốc của địch và thực hiện kế hoạch gạt mục tiêu ra ngoài, làm cho địch mất phương hướng đánh phá, càn quét, khủng bố nhân dân. Thực hiện chiến thuật "Hoá chỉnh vi linh", đồng chí Phùng Chí Kiên và đồng chí Lương Văn Tri quyết định phân tán Cứu quốc quân thành các bộ phận nhỏ, vượt vòng vây ra ngoài khu căn cứ Bắc Sơn để xây dựng cơ sở và phát triển phong trào cách mạng, để lại một bộ phận nhỏ tiếp tục chiến đấu, kìm giữ chân địch và bảo vệ khu căn cứ Bắc Sơn.

Thực hiện kế hoạch phân tán lực lượng, Cứu quốc quân chia thành 3 bộ phận: Bộ phận thứ nhất rút lên hướng biên giới Việt - Trung. Bộ phận này gồm các đồng chí: Đặng Văn Cáp, Hoàng Văn Thái, Dương Công Bình, Hoàng Văn Hán, đồng chí Ý, đồng chí Sơn... Ngày 8 tháng 8 năm 1941, bộ phận này rút khỏi căn cứ Khuổi Nọi - Vũ Lễ - Bắc Sơn, qua Bình Gia, Văn Mịch, sang Tràng Định - Lạng Sơn... tới ngày 15 tháng 8 năm 1941 thì đến biên giới Việt - Trung an toàn.

Bộ phận thứ ba, trụ bám ở căn cứ Bắc Sơn, gồm các đồng chí Nguyễn Cao Đàm, Dương Quốc Vinh, Dương Thần Tần, Hoàng Đình Ruệ, Hoàng Doãn Hoàng, Hoàng Văn Thằng, Đường Quảng Long, Đường Văn Thức, Mã Viết Thốn, Mã Viết Vinh. Bộ phận này chia thành từng tổ công tác ở các xã Vũ Lễ, Vũ Lăng, Hưng Vũ, Chiêu Vũ, Hữu Vĩnh, Bắc Sơn... để giữ vững cơ sở quần chúng cách mạng. Địch tiến hành truy lùng ráo riết, đến cuối tháng 8 năm 1941, chúng bắt được sáu chiến sĩ Cứu quốc quân. Ngày 20 tháng 9 năm 1941, thực dân Pháp đưa các đồng chí đi xử bắn, dã man hơn địch còn chặt đầu các đồng chí cắm ở châu lỵ để uy hiếp tinh thần nhân dân các dân tộc Bắc Sơn. Hành động anh hùng, hiên ngang, không sợ hy sinh của các đồng chí chiến sĩ Cứu quốc quân đã nêu cao tấm gương trung thành với Đảng, với nhân dân, với Tổ quốc, kiên quyết không đầu hàng, và anh dũng hy sinh. Đó là các đồng chí Hoàng Đình Ruệ, Dương Thần Tần, Hoàng Doãn Hoàng, Hoàng Văn Thằng, Mã Viết Thốn và đồng chí Mã Viết Vinh; còn lại bốn đồng chí là Nguyễn Cao Đàm, Dương Quốc Vinh, Đường Văn Thức và Đường Quảng Long đã vượt qua vòng vây dày đặc của địch, rút xuống căn cứ Võ Nhai an toàn, cùng Cứu quốc quân đấu tranh chống địch càn quét, khủng bố.

Bộ phận thứ hai, gồm các đồng chí Phùng Chí Kiên, Lương Văn Tri, Bế Sơn Cương, Mã Thành Kính, Hà Khai Lạc, đồng chí Thành, đồng chí Lâm, tổ chức thành một đội, do đồng chí Phùng Chí Kiên và đồng chí Lương Văn Tri trực tiếp chỉ huy, rút theo hướng về căn cứ địa Cao Bằng. Ngày 10 tháng 8 năm 1941, Đội rời khỏi căn cứ Khuổi Nọi - Bắc Sơn. Sau nhiều ngày luồn lách vòng vây của địch, vượt qua nhiều khó khăn, thiếu thốn, vừa đi vừa phải tìm củ rừng để ăn, đến ngày 16 tháng 8 năm 1941, các đồng chí qua Bình Gia, sang Na Rì - Bắc Kạn. Ngày 18 tháng 8, Đội đến địa phận xã Văn Học, Na Rì, thấy địa thế rừng núi ở đây tiện cho tạm dừng trú quân, nên các đồng chí có ý định nghỉ lại vài ngày để dưỡng sức và nghe ngóng tình hình địch. Thời gian này, đồng chí Phùng Chí Kiên bị bệnh kiết lỵ và đồng chí Lương Văn Tri sức khoẻ cũng rất yếu. Sau khi quyết định tạm nghỉ vài ngày, đồng chí Hà Khai Lạc đưa toàn bộ anh em vào nhà người quen từ những năm trước, lúc đồng chí đó còn làm dân buôn trâu, để nghỉ nhờ và xin gạo vì quá đói. Do đã lâu, không nắm được thông tin, tên người quen cũ, có nhiều tiền đã được Pháp cho làm chánh tổng Văn Học thuộc châu Na Rì, khi đoàn cán bộ đến, gia đình tên này nghi các đồng chí ta là cộng sản, để giữ chân, chúng đã nấu cơm cho ăn, và bí mật cho người đi báo cho tên chánh tổng Nông Văn Thượng đưa lính dõng và tuần đinh về vây bắt. Trong khi đang ăn cơm, bất ngờ bị lính vây, đòi kiểm tra thẻ đinh, trong khi đó toàn đội của ta chỉ có một người có thẻ, biết là đã bị lộ, đồng chí Phùng Chí Kiên đã rất chủ động, kiên quyết đánh địch, phá vòng vây để bảo toàn lực lượng, đồng chí nói với đồng chí Bế Sơn Cương là sử dụng ngay khẩu súng Pạchoọc (súng ngắn của Đức), bắn thằng chánh tổng rồi rút lui vào rừng. Đồng chí Bế Sơn Cương nổ súng, bắn tên chánh tổng bị thương vào đùi và bắn chết một tên tuần đinh. Sau đó, toàn bộ anh em rút chạy vào rừng theo hướng xã Vũ Loan - Na Rì.

Sau khi tên chánh tổng bị thương và tên tuần đinh bị chết, địch ở tổng Văn Học hoảng sợ, nhanh chóng cấp báo cho đồn Yên Lạc ở châu lỵ Na Rì là có cộng sản đi qua Na Rì. Đồn Yên Lạc tiếp tục báo cáo tin này về tỉnh Bắc Kạn. Được tin báo, quân Pháp ở Bắc Kạn đã điều 2 tiểu đội cơ động, do tên quản Cơ chỉ huy, tức tốc hành quân bằng ô tô lên Nha châu úy Bàng Khẩu, phối hợp với lực lượng của châu Ngân Sơn, tập trung lính dõng của 7 xã thuộc 2 tổng Thượng Quan và Bàng Đức (mỗi xã có 5 đến 7 tên lính dõng) để lập vòng vây, phục kích đón lõng hòng chụp bắt lực lượng ta trên đường rút về Cao Bằng.

Từ xã Văn Học, Đội Cứu quốc quân tiếp tục đi lên xã Vũ Loan - Na Rì, Thượng Quan - Ngân Sơn (Bắc Kạn). Trong quá trình hành quân, đội luôn bị các lực lượng lính dõng của các xã, tổng và bọn phản động địa phương ở Na Rì, Ngân Sơn - Bắc Kạn bám đuổi. Đội chuyển hướng hành quân từ Thượng Quan, Ngân Sơn - Bắc Kạn sang xã Cao Minh, Tràng Định - Lạng Sơn, rồi từ đấy đi lên xã Quang Trọng, Thạch An - Cao Bằng. Đến sáng ngày 22 tháng 8 năm 1941, Đội trở sang xã Bàng Đức, châu Ngân Sơn - Bắc Kạn và vào một nhà người dân tộc Dao ở núi Khau Slao, cách bản Phiêng Nhượng, Bàng Đức khoảng 4km, hỏi mua gạo để nấu cơm. Gia đình người Dao này chỉ có một phụ nữ ở nhà, chị ta nói không còn gạo và đưa lúa cho để giã gạo nấu cơm. Cũng do không nắm được tình hình ở địa phương, Ngân Sơn - Bắc Kạn vốn là vùng trắng, nên chịu nhiều ảnh hưởng của người Pháp cai trị và chủ mỏ vàng Manu chưa có cơ sở cách mạng, anh em trong đội mất cảnh giác, không biết chị người Dao này đã bí mật lấy ngựa đi báo tin cho tên chánh Mục ở bản Phiêng Nhượng - xã Bàng Đức. Trước đó, tên quản cơ từ Bắc Kạn đã đưa quân cơ động lên Bàng Khẩu - châu Ngân Sơn, phối hợp với bọn địch ở đây giăng lưới, đón lõng, phục kích ta. Được tin của tên chánh Mục, địch đã nhanh chóng cơ động, chủ yếu bằng ngựa đến khu vực núi Khau Slao. Tại đây, địch tổ chức thành hai vòng vây. Khi anh em trong đội đang chờ cơm chín, thì phát hiện thấy rất nhiều lính địch, các đồng chí Phùng Chí Kiên và Lương Văn Tri chỉ huy anh em rút vào rừng để tránh địch. Đến khoảng 13 giờ chiều ngày 22 tháng 8 năm 1941, thấy tình hình yên tĩnh, toàn đội đi ra khỏi cửa rừng thì bất ngờ gặp địch phục kích. Đồng chí Phùng Chí Kiên đã dùng súng Pạchoọc, cùng anh em trong đội anh dũng chiến đấu vừa bắn trả địch, vừa đánh, chỉ huy anh em rút lui vào rừng. Đồng chí Phùng Chí Kiên trúng đạn, bị thương và bị địch bắt, chúng tra tấn đồng chí cực kỳ dã man đến chết, quân địch tàn ác đã cắt đầu bêu ở cầu châu lỵ Ngân Sơn hòng uy hiếp quần chúng nhân dân. Đồng chí Lương Văn Tri cũng bị trúng đạn địch, bị thương nhưng vẫn cố gắng cùng anh em chạy rút vào rừng. Trong khi đang chạy, đồng chí Lương Văn Tri bị tụt ngã xuống một hố đào vàng rất sâu, anh em trong đội tìm mọi cách để cứu đồng chí nhưng không được. Thấy địch đuổi đến rất gần, đồng chí Tri động viên anh em để đồng chí ở lại một mình, cố gắng vượt vòng vây địch về đèo Cao Bắc. Đồng chí Lương Văn Tri, sau đó cũng bị địch bắt, ngày 28 tháng 8 năm 1941, chúng đưa đồng chí về giam tại nhà tù Cao Bằng và đến ngày 29 tháng 9 năm 1941, đồng chí đã anh dũng hy sinh. Số anh em còn lại trong đội được sự giúp đỡ của các cơ sở quần chúng cách mạng ở Hoà An, Cao Bằng, vượt được vòng vây và sự truy đuổi của địch, về tới căn cứ địa Cao Bằng an toàn.

Năm 1943, đúng hai năm sau ngày đồng chí Phùng Chí Kiên hy sinh, chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh Bắc Kạn ra đời tại Thượng Ân, Ngân Sơn, được mang tên Phùng Chí Kiên. Chi bộ này trở thành cầu nối con đường cách mạng, con đường giải phóng, nối liền hai khu căn cứ địa Cao Bằng với căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai thành khu căn cứ địa rộng lớn - căn cứ địa Việt Bắc - cái nôi của cách mạng Việt Nam.

Gần bảy mươi năm đã đi qua, những tấm gương hy sinh anh dũng vì sự nghiệp độc lập, tự do của Tổ quốc và của dân tộc Việt Nam vẫn luôn được các thế hệ kế tiếp, hôm nay và mai sau noi theo.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười Hai, 2021, 11:26:19 pm

ĐÓNG GÓP CỦA PHÙNG CHÍ KIÊN
TRONG VIỆC KHÔI PHỤC TỔ CHỨC ĐẢNG (1932-1935)

TS NGUYỄN THỊ KIM DUNG*


Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã sản sinh ra bao lớp anh hùng hào kiệt làm rạng danh đất nước. Bước sang thế kỷ XX, khi cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ngả dần theo ngọn cờ chủ nghĩa Mác - Lênin, đã thúc đẩy sự ra đời của nhiều thế hệ chiến sĩ cách mạng kiểu mới, lớp này ngã, lớp sau tiến, trong đó Nghệ An - mảnh đất "địa linh nhân kiệt" đã sản sinh cho đất nước nhiều người con ưu tú mà tên tuổi mãi mãi được lưu danh trên bảng vàng dân tộc như Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Hồ Tùng Mậu, Phùng Chí Kiên, Phan Đăng Lưu, Lê Hồng Sơn, v.v.. Một trong những tên tuổi bất diệt đó là đồng chí Phùng Chí Kiên - người chiến sĩ cộng sản kiên trung của cách mạng Việt Nam.

1. Một thanh niên đầy nhiệt huyết cách mạng.

Phùng Chí Kiên tên thật là Nguyễn Vĩ, sinh ngày 18 tháng 5 năm 1901, trong một gia đình nông dân ở xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, Nghệ An - một vùng quê giàu truyền thống cách mạng.

Sau khi tốt nghiệp tiểu học, vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, Phùng Chí Kiên phải nghỉ học, xin vào làm công cho một hiệu buôn người Hoa ở ga Yên Lý1. Anh được chứng kiến nhiều cảnh đối xử bất công đối với người lao động, nhất là nông dân. Mối đồng cảm với thân phận cơ cực của những người nông dân là chất men nuôi dưỡng trong anh lòng căm giận và ý thức phản kháng đối với chế độ phong kiến chuyên chế và bọn thực dân cướp nước. Anh đã gặp gỡ, tiếp xúc với bạn bè cùng chí hướng, tìm đọc các sách báo tiến bộ, như Một bầu tâm sự của Trần Huy Liệu, Chiêu hồn nước của Phạm Tất Đắc, v.v.

Năm 1925, tại Quảng Châu (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc sáng lập ra Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, một tổ chức yêu nước, cách mạng. Hội đã ra Báo Thanh niên để tuyên truyền cách mạng, mở các lớp huấn luyện chính trị để đào tạo cán bộ và cử người về nước tuyên truyền, vận động thanh niên, học sinh sang Quảng Châu dự lớp huấn luyện chính trị, từng bước chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam.

Thông qua Lê Hữu Lập, một hội viên của Việt Nam cách mạng thanh niên, tháng 10 năm 1926, Phùng Chí Kiên được giới thiệu sang Quảng Châu (Trung Quốc) tham dự lớp huấn luyện chính trị do Hội Việt Nam cách mạng thanh niên tổ chức. Sau khi học xong, Phùng Chí Kiên được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giới thiệu vào học ở Trường Quân sự Hoàng Phố (khóa 5) với tên Mạnh Văn Liễu2. Với bầu máu nóng của tuổi trẻ, anh say sưa học tập và tham gia nhiều hoạt động yêu nước, cách mạng của nhà trường.

Tháng 4 năm 1927, Tưởng Giới Thạch làm cuộc chính biến phản cách mạng. Phùng Chí Kiên đã đứng về phía Đảng Cộng sản Trung Quốc, tham gia chiến đấu trong hàng ngũ của Hồng quân công nông chống lại quân phản cách mạng. Tháng 12 năm 1927, nổ ra khởi nghĩa Quảng Châu, Phùng Chí Kiên tham gia khởi nghĩa Quảng Châu3. Khởi nghĩa Quảng Châu thất bại, quân cách mạng rút về hai huyện Hải Phong và Lục Phong, thành lập khu Xô-viết. Phùng Chí Kiên đến Hải Phong và Lục Phong tham gia bảo vệ khu Xô-viết, giữ chức đại đội trưởng Hồng quân công nông.

Với thành tích học tập và chiến đấu của mình, Phùng Chí Kiên đã vinh dự được đứng trong hàng ngũ Đảng Cộng sản Trung Quốc (12.1929). Thời gian đầu đồng chí làm việc tại Trường Quân chính của Hồng quân Trung Quốc, sau đó được cử làm Chỉ huy trưởng Trung đoàn số 4 của Quân đoàn Hồng quân II của Tông Can ở căn cứ Hải - Lục Phong (thời kỳ Lý Lập Tam). Đồng chí là một trong những người khởi xướng cuộc đấu tranh chống đường lối phản động của Lý Lập Tam trong trung đoàn của mình. Trong thời gian phục vụ Hồng quân Trung Quốc, Phùng Chí Kiên lấy tên là Cam My Liệt, đồng chí đã tham gia 50 trận đánh chống lại quân đội Quốc dân đảng Trung Hoa4.
_________________________________________
* Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.
1.  Một nhà ga thuộc địa phận huyện Diễn Châu, nằm trên tuyến đường sắt Hà Nội - Sài Gòn.
2.  Theo tác giả Lê Hiển Hằng trong bài Những người cách mạng Việt Nam tham gia khởi nghĩa Quảng Châu thì Nguyễn Ái Quốc đã cử hàng chục cán bộ vào học Trường Quân sự Hoàng Phố như: Lê Hồng Phong, Trương Vân Lĩnh, Lê Thiết Hùng, Lê Hồng Sơn, Phùng Chí Kiên, Trịnh Đình Cửu...
3.  Theo tác giả Lê Hiển Hằng: Tham gia khởi nghĩa Quảng Châu có Hồ Tùng Mậu, Phùng Chí Kiên, Lê Duy Điếm...
4.  Xôcôlốp, Quốc tế cộng sản và Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, tr. 247.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười Hai, 2021, 11:28:20 pm

2. Một nhà hoạt động cách mạng chuyên nghiệp.

Tháng 12 năm 1930, Phùng Chí Kiên trở lại Hồng Kông, đồng chí đã gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Từ đây Phùng Chí Kiên trở thành một nhà hoạt động cách mạng chuyên nghiệp, chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giới thiệu, tháng 1 năm 1931, Phùng Chí Kiên sang Liên Xô học tập tại Trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản. Trên đường đi, đồng chí bị bắt ở Kharbin, ngồi tù gần 1 năm. Tháng 4 năm 1932, Phùng Chí Kiên lại bí mật sang Liên Xô, vào học Trường Đại học Phương Đông, khóa học (6.1932 - 3.1934), mang thẻ sinh viên số 5690, với tên Nga là Can (Kan)1.

Ở Việt Nam có nhiều người sang học tại Trường Đại học Phương Đông, trước Phùng Chí Kiên có Nguyễn Thế Rục, Nguyễn Thế Vinh, Bùi Lâm, Trần Phú, Bùi Công Trừng, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, v.v. Phần lớn những sinh viên này đã học xong và lần lượt trở về nước đẽ hoạt động.

Phùng Chí Kiên học trong nhóm sinh viên Đông Dương. Về nội dung học tập, Phùng Chí Kiên phải học các môn ngoại ngữ (chủ yếu là tiếng Nga), lịch sử cách mạng Nga, lịch sử các phong trào cách mạng ở phương Đông, lịch sử các hình thái xã hội, triết học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa Lênin, xây dựng Đảng, lịch sử Đảng Cộng sản Nga, lịch sử Quốc tế cộng sản, v.v. Về chương trình học tập, hàng tuần Phùng Chí Kiên được nghe 4 bài giảng ở trên lớp, thời gian còn lại dành cho các giờ tự học, tham gia sinh hoạt tổ Đảng và hoạt động công tác Đảng.

Mặc dù mới sang Liên Xô, trình độ tiếng Nga còn rất hạn chế nhưng Phùng Chí Kiên luôn xác định cho mình một quyết tâm cao trong học tập. Những giờ giảng trên lớp, anh chăm chú lắng nghe. Trong giờ tự học, anh tranh thủ học thêm tiếng Nga, tìm đọc các tác phẩm của Mác, Ăngghen, Lênin; tích cực tham gia các buổi đi thực tế tham quan do nhà trường tổ chức: như tham quan các di tích lịch sử, các viện bảo tàng ở Mátxcơva, ở Lêningrát; đi thực tế ở các nhà máy, các cơ sở sản xuất ở Mátxcơva. Những chuyến đi tham quan, thực tế này đã giúp Phùng Chí Kiên có một cái nhìn rõ nét về vai trò của Đảng Cộng sản và Nhà nước Xô-viết, về nhân dân Liên Xô và anh mong muốn một ngày nào đó đất nước Việt Nam sẽ được như Liên Xô. Điều đó càng thôi thúc anh phải cố gắng học tập hơn nữa, để trở về giúp đồng bào, giúp Tổ quốc mình. Thời gian học tại trường, anh có dịp tiếp xúc, trao đổi với sinh viên ở các nước khác nhau cùng đến đây học tập, như Ấn Độ, Triều Tiên, Mông cổ, Inđônêxia, Trung Quốc, v.v. họ đều có chung một khát vọng là học tập tốt để phục vụ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc mình.

Trong bản nhận xét về tư cách đạo đức của đồng chí Phùng Chí Kiên do bà Vaxiliêva, phụ trách nhóm sinh viên Đông Dương đã viết: "Phùng Chí Kiên có khả năng lớn về công tác, có trình độ chính trị cao, năng động. Kết quả học tập rất tốt"2.

Sau khi học xong Trường Đại học Phương Đông (1934), Phùng Chí Kiên cùng với một số đồng chí khác được Quốc tế cộng sản cử về nước hoạt động, nhằm khôi phục cơ sở cách mạng bị địch phá sau cao trào cách mạng 1930-1931.
__________________________________________
1.  Danh sách học sinh của Trường Đại học Phương Đông (1921-1937), tiếng Nga. Lưu trữ tại Nga, ký hiệu ϕ 532, on 1, g 245, δ.41. Lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.
2.  Tài liệu lưu trữ tại Nga, ký hiệu ϕ 532, on 1, g.1384.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười Hai, 2021, 11:33:29 pm

3. Một chiến sĩ cộng sản kiên trung có công khôi phục tổ chức của Đảng trong hoàn cảnh khó khăn.

Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, phong trào cách mạng bước vào thời kỳ phát triển mới rất sôi động. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân cả nước đã vùng lên đấu tranh chống lại các thế lực đế quốc thực dân xâm lược và bọn phong kiến tay sai. Phong trào cách mạng những năm 1930-1931 đã tiến tới cao trào với đỉnh cao là Xô-viết Nghệ Tĩnh, làm cho bọn thực dân xâm lược và phong kiến tay sai vô cùng hoảng sợ. Chúng đã tiến hành một chiến dịch khủng bố quy mô lớn trên toàn quốc, với những thủ đoạn độc ác, tàn bạo, hòng dập tắt phong trào yêu nước và cách mạng, tiêu diệt Đảng Cộng sản non trẻ vừa thành lập. Theo thống kê chưa đầy đủ, những năm 1930-1933, có tới 246.532 đảng viên và quần chúng yêu nước bị địch bắt giam. Kẻ thù đã điên cuồng tiến hành khủng bố, bắt bớ và giết hại rất dã man hàng nghìn người cộng sản ưu tú. Các nhà tù lớn như Côn Đảo, Sơn La, Lao Bảo, Hỏa Lò (Hà Nội), Khám Lớn Sài Gòn, v.v. đều chật ních tù chính trị.

Sau Hội nghị Trung ương lần thứ hai (3.1931) trước sự khủng bố của kẻ thù, cơ quan trung ương và các xứ ủy gần như bị xóa trắng. Ngày 18 tháng 4 năm 1931, Tổng Bí thư Trần Phú bị bắt, Xứ ủy Nam Kỳ, Bắc Kỳ và Trung Kỳ tình hình cũng rất nghiêm trọng, nhiều đồng chí lãnh đạo Xứ ủy bị sa lưới mật thám1. Đến khoảng giữa năm 1931, hầu hết Ban lãnh đạo Trung ương, lãnh đạo các xứ ủy và cơ quan của Đảng bị tan vỡ.

Không chỉ tiến hành khủng bố trắng ở trong nước, thực dân Pháp còn câu kết với các lực lượng phản động quốc tế tiến hành truy nã và bắt bớ các cán bộ của Đảng ta đang hoạt động ở nước ngoài. Ngày 6 tháng 6 năm 1931 lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc bị cảnh sát Anh bắt ở Hồng Kông; các đồng chí Hồ Tùng Mậu, Nguyễn Thị Minh Khai, Trương Vân Lĩnh, v.v. cũng bị bắt ở Hồng Kông. Có thể nói, đây là thời kỳ Đảng Cộng sản và cách mạng Việt Nam bị tổn thất nặng nề, các đường dây liên lạc trong nước với quốc tế và các đảng bạn bị tắc nghẽn. Báo cáo tại Đại hội 7 Quốc tế cộng sản (1935) đồng chí Lê Hồng Phong đã nhận xét: "Vì còn thiếu kinh nghiệm thật sự bônsêvích trong lĩnh vực tổ chức, vì chưa quen công tác bất hợp pháp và bí mật, Đảng chúng tôi đã bị tổn thất nặng nề. Bộ máy của Đảng bị phá hủy, liên lạc bị đứt mối, các tổ chức tan tành, những chiến sĩ cộng sản ưu tú bị cầm tù. Chỉ còn lại từng người cộng sản hoặc nhóm cộng sản riêng lẻ"2.

Điều đáng chú ý là ngay trong giai đoạn đầy khó khăn thử thách, cách mạng bị khủng bố, song những cán bộ đảng viên còn lại của Đảng vẫn rất trung kiên. Họ hòa vào nhân dân, được nhân dân nuôi dưỡng, che chở và bảo vệ. Nhiều đồng chí vẫn bám sát phong trào và lãnh đạo quần chúng đấu tranh; nhiều quần chúng ưu tú vẫn hăng hái xin gia nhập Đảng, số lượng đảng viên của Đảng vẫn tăng. Ngày 11 tháng 4 năm 1931, tại phiên họp thứ 25 Hội nghị toàn thể lần thứ 11 Ban Chấp hành Quốc tế cộng sản đã quyết định: "Đảng Cộng sản Đông Dương trước đây là một chi bộ của Đảng Cộng sản Pháp, từ nay được công nhận là chi bộ độc lập thuộc Quốc tế cộng sản"3. Và ngày 27 tháng 2 năm 1932, Quốc tế cộng sản đã gửi thư cho các đảng cộng sản Pháp, Trung Quốc, Ấn Độ, yêu cầu các đảng này "phải triệt để tìm mọi phương kế thực hiện việc giúp đỡ những người cộng sản Đông Dường, nhất là lúc thực dân Pháp và bọn phản cách mạng bản xứ đang ra sức đàn áp, giết chóc những người cộng sản và quần chúng cách mạng, hòng phá hoại các cơ sở và bộ máy lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương. Vì vậy, Ban Chấp ủy các đảng này cần "chăm lo việc gây dựng lại cơ sở cho Đảng Cộng sản Đông Dương"4. Đối với Đảng ta, Quốc tế cộng sản yêu cầu: "Những người cộng sản Đông Dương phải đem ý chí bônsêvích phấn đấu tiến lên, chống ấu trĩ "tả" khuynh, chống cơ hội hữu khuynh, bè phái phân tán lực lượng và các xu hướng hoạt đầu, bi quan, phải đứng mũi vượt cơn phong ba bão táp do đế quốc và bọn phản động gây ra, kiên trì xây dựng và củng cố phong trào cộng sản ở xứ Đông Dương"5.

Cùng với việc yêu cầu các đảng anh em hết sức giúp đỡ phong trào cách mạng và Đảng Cộng sản Đông Dương, từ giữa năm 1931 trở đi, Quốc tế cộng sản đã cử hơn ba chục cán bộ, sinh viên Việt Nam sau khi hoàn thành chương trình đào tạo ở Liên Xô, gấp rút trở về nước hoạt động, nhằm nhanh chóng lập lại Ban lãnh đạo Đảng các cấp, nhưng trên hai chục cán bộ đã bị mật thám Pháp và các thế lực đế quốc bắt hoặc không trở về tới nơi do nhiều nguyên nhân khác nhau. Trong số những người lần lượt trở về an toàn có đồng chí Lê Hồng Phong (bí danh Litvinốp), đồng chí Phùng Chí Kiên. Đầu năm 1932, Lê Hồng Phong tới Nam Ninh, liên lạc được với một cơ sở cũ còn lại của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên ở xưởng cơ khí Nam Hưng. Tại đây, Lê Hồng Phong bắt tay vào việc khôi phục lại tổ chức Đảng ở Bắc Kỳ và tìm cách chắp mối liên lạc với các tổ chức Đảng ở Trung Kỳ, Nam Kỳ, Lào và Xiêm.

Tháng 3 năm 1934, Phùng Chí Kiên về tới Hương cảng (Trung Quốc) tham gia ngay vào Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng (BCHON) do đồng chí Lê Hồng Phong làm Thư ký. Tháng 6 năm 1934, Phùng Chí Kiên tham dự Hội nghị mở rộng giữa Ban Chỉ huy ở ngoài với đại biểu đại diện các đảng bộ ở trong nước, tổ chức ở Ma Cao (Trung Quốc). Hội nghị quyết định 7 vấn đề quan trọng, trong đó có việc sẽ tổ chức Đại hội toàn quốc lần thứ nhất của Đảng, dự định tiến hành vào đầu năm 1935.
_________________________________________
1.  Nguyễn Phong Sắc, Nguyễn Đức Cảnh, Trần Văn Lan, Ngô Gia Tự, Hoàng Quốc Việt.
2.  Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 322.
3.  Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, tr. 309.
4.  Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, tr. 252.
5.  Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, tr. 252-253.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười Hai, 2021, 11:42:55 pm

Sau Hội nghị 6 năm 1934, các đồng chí trong Ban Chỉ huy ở ngoài bắt tay vào chuẩn bị nội dung cho đại hội, như Dự thảo các văn kiện trình đại hội, dự kiến chương trình họp, nhân sự trung ương, chuẩn bị địa điểm, kinh phí để tiến hành Đại hội, v.v. Giữa lúc công việc đang được tiến hành khẩn trương thì Ban Chỉ huy ở ngoài nhận được giấy triệu tập của Quốc tế Cộng sản về việc cử đoàn đại biểu của Đảng Cộng sản Đông Dương đi dự Đại hội 7 Quốc tế Cộng sản họp ở Mátxcơva. Các đồng chí Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Hoàng Văn Nọn... được cử đi dự Đại hội 7 Quốc tế Cộng sản (cuối năm 1934). Mọi công việc chuẩn bị cho Đại hội Đảng do các đồng chí Hà Huy Tập, Phùng Chí Kiên tiếp tục thực hiện. Với vốn kiến thức lý luận đã học được ở Trường Đại học Phương Đông, Phùng Chí Kiên đã có những đóng góp quan trọng vào việc dự thảo các văn kiện đại hội.

Trong điều kiện hoạt động bí mật, việc chuẩn bị cho đại hội càng khó khăn và khẩn trương, không ít cán bộ lãnh đạo cốt cán ở trong nước trong quá trình hoạt động chuẩn bị cho đại hội đã không may rơi vào tay kẻ thù (hơn 100 cán bộ, trong đó có 49 người của Xứ ủy Nam Kỳ bị bắt), cũng có những kẻ hèn nhát đầu hàng phản bội làm lộ những bí mật trong công tác chuẩn bị (Nguyễn Văn Trâm (tức Trọng) lấy cắp 1.500 đôla Hồng Kông rồi bỏ trốn), v.v. Điều đó đã gây thêm những khó khăn, trở ngại cho việc chuẩn bị tổ chức đại hội, buộc phải thay đổi kế hoạch, thời gian và địa điểm.

Để đối phó với những thủ đoạn của địch, các đồng chí Hà Huy Tập, Phùng Chí Kiên đã bàn bạc thống nhất bố trí các địa điểm đón cán bộ, phát tài liệu đọc trước, đến sát ngày Đại hội mới báo địa điểm họp. Trước đó, các đồng chí dự kiến Đại hội sẽ tiến hành trong 10 ngày bắt đầu từ ngày 18 tháng 3, nhưng do phải chuyển địa điểm và chờ các đại biểu đến dự Đại hội, nên Đại hội phải lùi lại đến cuối tháng 3 năm 1935 và rút ngắn thời gian họp xuống còn 4 ngày rưỡi.

Ngày 27 tháng 3 năm 1935, Đại hội lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương chính thức khai mạc tại Ma Cao (Trung Quốc). Các đồng chí Hà Huy Tập, Phùng Chí Kiên và một số đồng chí trong Ban Chỉ huy ở ngoài chủ trì và lãnh đạo toàn bộ quá trình Đại hội. Tham dự Đại hội có 13 đại biểu đại diện cho các Đảng bộ Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Cao Miên, Lào và Xiêm...

Đại hội đã thông qua Nghị quyết chính trị và nhiều nghị quyết quan trọng khác như công nhân vận động, nông dân vận động, thanh niên vận động, phụ nữ vận động, v.v. Đặc biệt, Đại hội đã ra Nghị quyết về chương trình hành động của Đảng Cộng sản Đông Dương, thông qua Điều lệ mới của Đảng và Điều lệ của các tổ chức đoàn thể1, về bộ máy lãnh đạo, Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 13 đồng chí2, và Ban Thường vụ 5 đồng chí3 do đồng chí Lê Hồng Phong làm Tổng Bí thư. Đồng chí Phùng Chí Kiên được bầu là Ủy viên Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương Đảng, phụ trách công tác đảng ở nước ngoài4.

Thành công của Đại hội lần thứ nhất của Đảng đánh dấu việc Đảng ta đã được khôi phục về tổ chức, các cơ quan lãnh đạo từ Trung ương đến cơ sở được lập lại. Đây là một sự kiện có ý nghĩa lịch sử hết sức to lớn. Trong lúc kẻ thù cách mạng dùng mọi thủ đoạn khủng bố hòng tiêu diệt Đảng Cộng sản Đông Dương và phong trào cách mạng Đông Dương, nhưng các đồng chí Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Phùng Chí Kiên, Nguyễn Văn Dựt... vẫn kiên trì phấn đấu, giữ vững tinh thần để nhen nhóm lại ngọn lửa cách mạng. Thời gian lịch sử không dài, nhưng các đồng chí đã vượt qua gian khó hy sinh và đã giải quyết một khối lượng công việc rất to lớn, hoàn thành trọng trách mà cách mạng Việt Nam và Quốc tế Cộng sản giao phó. Lịch sử cách mạng Việt Nam ghi nhận công lao và cống hiến to lớn của các đồng chí Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Phùng Chí Kiên và nhiều chiến sĩ cộng sản trung kiên khác.

Tuy nhiên, Đại hội lần thứ nhất của Đảng tiến hành khi Đảng mới phục hồi và diễn ra trước Đại hội 7 Quốc tế cộng sản, vì vậy một số hạn chế trong quan điểm, đường lối của Đại hội là khó tránh khỏi. Nhận định về những hạn chế này, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng (2.1951), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Năm 1935, Đảng họp Đại hội lần thứ nhất ở Ma Cao, Đại hội đã nhận định tình hình trong nước và tình hình thế giới, kiểm thảo lại công tác đã qua và ấn định chương trình cho công tác sắp tới. Nhưng chính sách Đại hội Ma Cao vạch ra không sát với phong trào cách mạng thế giới và trong nước lúc bấy giờ (như định chia ruộng đất cho công nhân nông nghiệp, chưa rõ nhiệm vụ chống phát xít và nguy cơ chiến tranh phát xít"5.
___________________________________________
1.  Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 5, Sđd, tr. 1-170.
2.  Ban Chấp hành Trung ương gồm 13 người, trong đó một người chưa được bầu.
3.  Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 6, Sđd, tr. 48.
4.  Báo Cờ giải phóng, số 2, ngày 26.8.1943.
5.  Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 6, Sđd, tr. 155.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Hai, 2021, 07:44:04 pm

PHÙNG CHÍ KIÊN THAM GIA KHỞI NGHĨA
QUẢNG CHÂU, TRUNG QUỐC (12.1927)

TS ĐINH QUANG HẢI*

Cuộc khởi nghĩa Quảng Châu (hay còn gọi là Công xã Quảng Châu) ở Trung Quốc tháng 12 năm 1927 là một trong những mốc son trong lịch sử hiện đại Trung Quốc. Đây là một trong những thử nghiệm khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền về tay giai cấp công nông cho Đảng Cộng sản lãnh đạo với sự tham gia của khoảng 30 nghìn người, trong đó có 10 chiến sĩ cách mạng Việt Nam, tiêu biểu như Lê Hồng Sơn, Phùng Chí Kiên, Lê Thiết Hùng, Nguyễn Sơn... Sự đóng góp đó của những nhà cách mạng Việt Nam đã góp phần xây đắp nên tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Trung Quốc.

Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi muốn đề cập một cách khái quát quá trình dẫn đến Khởi nghĩa Quảng Châu và sự tham gia của những nhà cách mạng Việt Nam, trong đó có đồng chí Phùng Chí Kiên, vào cuộc khởi nghĩa.

1. Cuộc khởi nghĩa Quảng Châu, Trung Quốc (12.1927).

Đầu những năm 20 của thế kỷ XX, sức sản xuất xã hội ở Trung Quốc đã bị bọn đế quốc xâm lược và quân phiệt gây cản trở và phá hoại nghiêm trọng. Nền sản xuất công thương nghiệp bị phá sản, nhân dân bị bần cùng hoá, đời sống hết sức khó khăn. Những mâu thuẫn kinh tế - xã hội đó đã làm dấy lên một phong trào đấu tranh cách mạng sôi nổi trong toàn quốc của nhân dân chống đế quốc và tay sai.

Trước tình hình đó, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã rút ra nhận định cần thiết phải thành lập Mặt trận thống nhất cách mạng, dựa trên những nguyên tắc cơ bản là đoàn kết và đấu tranh. Đảng Cộng sản đã quyết định hợp tác với Quốc dân đảng, cho đảng viên tham gia Quốc dân đảng trên cở sở tạm thời thừa nhận chủ nghĩa Tam dân mới của Tôn Trung Sơn.

Về phía Quốc dân đảng, tại Đại hội Quốc dân đảng lần thứ I họp ở Quảng Châu (20.1.1924), Tôn Trung Sơn cũng đã giải thích chủ nghĩa Tam dân mới với sự đổi mới về một số nội dung đã trở thành chủ nghĩa Tam dân cách mạng với ba chính sách lớn là "Liên Nga, dung Cộng, ủng hộ công nông". Đại hội này đã coi việc hợp tác Quốc dân đảng với Cộng sản là mục tiêu chính và tuyên bố thành lập Mặt trận thống nhất cách mạng. Đại hội bầu Ban Chấp hành mới của Quốc dân đảng, có sự tham gia của 10 đảng viên cộng sản, trong đó có Mao Trạch Đông. Trong Mặt trận thống nhất cách mạng, Đảng Cộng sản chủ trương hợp tác, đoàn kết chặt chẽ với "cánh tả" trong Quốc dân đảng, đoàn kết với quần chúng trong mặt trận, ngăn chặn và đập tan âm mưu của "cánh hữu" trong Quốc dân đảng. Sau khi Mặt trận ra đời, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã giúp Tôn Trung Sơn thành lập chính quyền và quân đội cách mạng, đặt trụ sở Chính phủ ở Quảng Châu và mở Trường Quân sự cách mạng ở Hoàng Phố1.

Cùng lúc đó, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã khôi phục phong trào công nhân, khôi phục Công đoàn đường sắt, thành lập Hội công nhân Quảng Đông, xây dựng lực lượng vũ trang công nhân, phát động phong trào bãi công trong toàn quốc. Đảng cũng mở trường huấn luyện công tác nông vận ở Quảng Đông để đào tạo đội ngũ cán bộ cho phong trào nông dân. Từ đó bước đầu hình thành liên minh công nông, làm cơ sở cho Mặt trận thống nhất cách mạng.

Đi đôi công tác củng cố chính quyền, xây dựng lực lượng vũ trang, vận động phong trào công nông, Đảng Cộng sản còn lợi dụng sự chia rẽ trong nội bộ bọn quân phiệt miền Bắc để phát động phong trào đòi triệu tập Hội nghị quốc dân nhằm lật đổ chính phủ quân phiệt, thành lập chính quyền cách mạng quốc dân trong toàn quốc.

Trước tình hình lực lượng công nông lớn mạnh và vai trò của Đảng Cộng sản ngày càng phát huy tác dụng, có uy tín sâu rộng trong nhân dân, những người "cánh hữu" trong Quốc dân đảng hoảng sợ. Giữa năm 1925, đại biểu "cánh hữu" Quốc dân đảng là Tưởng Giới Thạch đã tập hợp các phần tử địa chủ, mại bản mở cuộc tranh giành quyền lãnh đạo cách mạng. Chúng chống lại công nông, chống Đảng Cộng sản, chống ba chính sách lớn của Tôn Trung Sơn.

Trước hết, Tưởng Giới Thạch tìm cách gạt những đảng viên cộng sản ra ngoài quân đội, cho quân bắt giữ tất cả đảng viên cộng sản ở Trường Quân sự Hoàng Phố và Quân đoàn 1. Tiếp đến, Tưởng Giới Thạch đưa ra đề án "Chỉnh lý đảng vụ" quy định số đảng viên cộng sản trong các cấp ủy Quốc dân đảng không được quá một phần ba, đảng viên cộng sản không được giữ các chức bộ trưởng trong chính phủ, không được tham gia cơ quan trung ương Quốc dân đảng. Dần dần, Tưởng Giới Thạch nắm giữ các chức Hiệu trưởng Trường Quân sự Hoàng Phố, Ủy viên Trung ương Quốc dân đảng, Chủ tịch Ủy ban thường vụ Quốc dân đảng, Chủ tịch Ủy ban quân sự, Bộ trưởng Bộ Tổ chức, Bộ trưởng Bộ Quân nhân. Như vậy phái hữu, mà đại biểu là Tưởng Giới Thạch đã cướp được quyền lực trên cả ba mặt quân, chính, đảng. Cách mạng Trung Quốc đứng trước thử thách hết sức nghiêm trọng.

Tuy nhiên, lúc đó thế lực cách mạng Trung Quốc đã lớn mạnh, "phái hữu" Quốc dân đảng chưa dám công khai chống cộng, nhân dân lại đang mong muốn quân cách mạng tiến hành Bắc phạt để tiêu diệt 3 tập đoàn quân phiệt lớn và đánh đuổi đế quốc ra khỏi Trung Quốc. Đáp ứng yêu cầu đó, Đảng cộng sản đã lãnh đạo Chính phủ quốc dân quyết định Bắc phạt vào tháng 7 năm 1926 với 8 vạn quân xuất quân từ Quảng Châu. Mùa Xuân năm 1927, quân cách mạng tiến đến lưu vực sông Trường Giang và Hoàng Hà, các tập đoàn quân phiệt lớn ở phía Bắc đã căn bản bị tan rã.
__________________________________________
* Trưởng phòng Lịch sử hiện đại, Viện Sử học - Viện Khoa học xã hội Việt Nam.
1.  Trường Quân sự Hoàng Phố chính thức được xây dựng từ ngày 1 tháng 5 năm 1924 trên đảo Hoàng Phố nằm trên sông Tây Giang, cách Quảng Châu 25km. Ngày 15 tháng 6 năm 1924 chính thức cắt băng khánh thành. Đội ngũ giáo viên huấn luyện của trường ngoài 58 cố vân quân sự và chính trị Liên Xô là những sĩ quan được đào tạo ở nước ngoài, hoặc sĩ quan tốt nghiệp tại các trường võ bị ở Trung Quốc.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Hai, 2021, 07:45:09 pm

Cùng phối hợp với cuộc Bắc phạt, phong trào công nhân và nông dân nổ ra và phát triển mạnh mẽ khắp mọi nơi, đặc biệt là ở Thượng Hải và Hồ Nam. Đến tháng 3 năm 1927 quân cách mạng đã tiến đến Nam Kinh, đánh mạnh vào thế lực đế quốc ở Hoa Trung, lưu vực sông Dương Tử. Trước tình hình đó, bọn đế quốc bên ngoài quyết định dùng vũ lực chống lại cách mạng. Chúng cho quân từ Thượng Hải đánh vào Nam Kinh giết và làm bị thương 2.500 người, đồng thời tìm cách phá hoại Mặt trận thống nhất cách mạng.

Lúc này "phái hữu" Quốc dân đảng đã phản bội cách mạng dần chuyển sang làm tay sai cho đế quốc, phá cách mạng từ trong ra. Ở nhiều nơi, chúng khủng bố và giết hại các đảng viên cộng sản, ra lệnh giải tán các Đảng bộ Quốc dân đảng Nam Xương, Cửu Giang là những đảng bộ ủng hộ ba chính sách lớn của Tôn Trung Sơn. Bọn cường hào địa chủ cũng chống phá phong trào nông dân, dùng lực lượng vũ trang ám hại các cán bộ nông hội....

Tháng 4 năm 1927, Tưởng Giới Thạch lập mưu và cho quân xả súng bắn vào đoàn người biểu tình ở Thượng Hải làm cho 13.000 người bị chết và bị thương. Đồng thời, bọn phản động Quốc dân đảng mở những cuộc tàn sát ở khắp nơi như Nam Kinh, Hàng Châu, Phúc Châu, Quảng Châu, v.v. Tưởng Giới Thạch thành lập Chính phủ Nam Kinh đối lập với Chính phủ quốc dân ở Vũ Hán.

Trước tình hình đó, Đảng Cộng sản thấy cần thiết phải chuẩn bị phát động mạnh mẽ hơn, dựa vào lực lượng công nông nhằm đánh bại cuộc tiến công liên minh của bọn phản cách mạng và ổn định tính dao động bên trong của Chính phủ Vũ Hán. Nhưng "phái tả" Quốc dân đảng, đứng đầu là Uông Tinh Vệ đã dao động, chúng ban hành các chỉ thị để áp chế phong trào công nông, hạn chế hoạt động công đoàn, ra lệnh giải tán nông hội. Mặt khác tổ chức những cuộc binh biến, dần dần Uông Tinh Vệ đã vào hùa với Tưởng Giới Thạch để chống phá cách mạng, quyết định hợp tác Nam Ninh - Vũ Hán để chống cộng sản, chống Liên Xô, phân liệt với Đảng Cộng sản. Sau đó, Quốc dân đảng phản động ở Nam Kinh nắm quyền thống trị Trung Quốc.

Dưới sự thống trị của Quốc dân đảng, nhân dân lao động Trung Quốc bị tước đoạt những quyền lợi chính trị và kinh tế mà họ đã giành được trong thời kỳ cách mạng (1924-1927). Các tổ chức công đoàn, nông hội cách mạng bị đàn áp. Các lãnh tụ của phong trào công - nông bị sát hại tàn khốc. Công nhân phải làm việc trong những điều kiện tồi tệ với đồng lương chết đói. Người nông dân phải chịu tô cao thuế nặng, lại bị thiên tai, hạn hán, lụt lội, làm cho đời sống vô cùng khó khăn.

Nhân dân Trung Quốc không chịu khuất phục đã tiến hành Khởi nghĩa vũ trang ở Nam Xương ngày 1 tháng 8 năm 1927 và giành thắng lợi. Sau đó tiến xuống phía Nam với mục tiêu đánh chiếm Quảng Châu. Trên đường tiến, quân khởi nghĩa đã đẩy lùi nhiều đợt chặn đánh của quân đội Quốc dân đảng, rồi từ Quảng Tây tiến vào Phúc Kiến rồi tiến vào Quảng Đông. Do không có sự kết hợp với phong trào nông dân, so sánh lực lượng quá chênh lệch, nên đầu tháng 10 năm 1927, quân khởi nghĩa đã thất bại ở miền Đông Quảng Đông.

Sau khi đàn áp quân khởi nghĩa ở Quảng Đông, tháng 11 năm 1927, bọn quân phiệt ở Quảng Đông rất hỗn loạn mà nguyên nhân đầu tiên là sự cạnh tranh quyền lực giữa Trương Phát Khuê và Lý Tế Thâm. Trong khi đó quần chúng đang nổi dậy mạnh mẽ chống lại sự khủng bố của bọn phản cách mạng.

Ngày 26 tháng 11 năm 1927, Đảng bộ Quảng Đông kêu gọi quần chúng đứng dậy khởi nghĩa dưới các khẩu hiệu: "Cơm cho công nhân ăn!", "Ruộng đất cho nông dân cày!", "Chính quyền phải về tay Xô-viết công nông!".

Ngay từ sáng sớm ngày 11 tháng 12 năm 1927, cuộc khởi nghĩa vũ trang ở Quảng Châu bắt đầu. Binh lính và công nhân cùng học viên Trường Quân sự Hoàng Phố tập trung trong một đội ngũ gần 30 nghìn người. Quân khởi nghĩa đã kiên quyết và dũng cảm tham gia chiến đấu chống bọn phản động. Hàng vạn quần chúng yêu cầu được nhận súng chiến đấu.

Ngay từ khi bắt đầu nổ ra khởi nghĩa, Công xã Quảng Châu - một hình thức chính quyền công nông đã được tổ chức ở Quảng Châu. Quân khởi nghĩa chiến đấu rất dũng cảm, tuy nhiên Công xã Quảng Châu chỉ tồn tại 3 ngày. Quân đội Quốc dân đảng, được đế quốc Anh đưa tàu chiến đấu yểm hộ, đã phản công quyết liệt. Chúng đàn áp hết sức dã man, "giết hại gần 10.000 người, trong đó có hàng nghìn đảng viên và 100 cộng tác viên của Lãnh sự quán Liên Xô..."1.

Cuộc khởi nghĩa Quảng Châu tuy bị thất bại nhưng có ý nghĩa hết sức vẻ vang đối với lịch sử dân tộc Trung Hoa; đồng thời đã có tác dụng cổ vũ mạnh mẽ phong trào cách mạng đang dâng cao ở khu vực châu Á. Điều đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam không chỉ chịu tác động ảnh hưởng của cuộc khởi nghĩa, mà còn trong cuộc Khởi nghĩa Quảng Châu có sự tham gia đóng góp của những người cách mạng Việt Nam, trong đó có Phùng Chí Kiên và những người đồng chí của ông.
_______________________________________
1.  Viện Sử học, Thế giới những sự kiện lịch sử thế kỷ XX (1901-1945), Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2001, tr. 203.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Hai, 2021, 07:49:23 pm

2. Sự tham gia của đồng chí Phùng Chí Kiên và những người cách mạng Việt Nam trong cuộc khởi nghĩa Quảng Châu.

Sau Đại hội V1, Quốc tế Cộng sản cử đồng chí Nguyễn Ái Quốc tới Quảng Châu để chuẩn bị về chính trị tư tưởng và tổ chức, tiến tới xây dựng Đảng cộng sản ở Đông Dương và giúp đỡ các đại biểu cách mạng của các nước khác ở Đông Nam Á.

Tháng 11 năm 1924, đồng chí Nguyễn Ái Quốc tới Quảng Châu là trung tâm cách mạng của Trung Quốc lúc đó đang sục sôi khí thế cách mạng, như đại diện của Quốc tế cộng sản là Đalin trong cuốn "Hồi ức Trung Quốc 1921-1927" đã viết: "Ở đây có cái gì đó tựa như năm 1917 không bao giờ quên ở nước Nga vậy. Tôi luôn luôn có cảm giác rằng ngôn ngữ loài người còn quá nghèo nàn để có thể diễn đạt hết sức mạnh của tình cảm: phẫn nộ và sung sướng, yêu thương và căm giận của quần chúng nhân dân tràn ra trên các đường phố và quảng trường"2.

Quảng Châu lúc đó còn là nơi hội tụ của nhiều thế hệ những người Việt Nam yêu nước. Kể từ phong trào Đông Du, Quang phục hội, và lớp thanh niên trí thức yêu nước mới xuất dương đến Quảng Châu đầu những năm 20 tập hợp trong tổ chức Tâm tâm xã với tấm lòng yêu nước và nhiệt huyết của tuổi trẻ sẵn sàng phụng sự cho Tổ quốc. Đúng lúc đó, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu, Người gặp gỡ với cụ Phan Bội Châu bàn cách cải tổ Quang phục hội theo đường lối chính trị mới.

Từ đầu năm 1925, trên cơ sở những hội viên trung kiên của Tâm tâm xã, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã thành lập "Nhóm bí mật" gồm 5 đảng viên cộng sản dự bị và 2 đoàn viên thanh niên cộng sản dự bị3. Lấy "Nhóm bí mật" này làm nòng cốt, tháng 6 năm 1925 Hội Thanh niên cách mạng Việt Nam được thành lập. Đánh giá về tổ chức cách mạng này, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc viết: "... Năm 1925, thanh niên cách mạng hội được thành lập ở Quảng Châu... làm cho đế quốc Pháp Đông Dương khiếp sợ”. Nhiệm vụ hàng đầu, bức thiết nhất của Hội Thanh niên cách mạng Việt Nam lúc đó là đào tạo những thanh niên yêu nước xuất dương sang Quảng Châu. Trong một báo cáo gửi cho Quốc tế cộng sản tháng 6 năm 1926, Nguyễn Ái Quốc báo cáo là đã thực hiện được những việc cho phong trào cách mạng Đông Dương gồm:

1. Thành lập một hội bí mật.

2. Thành lập một tổ chức nông hội của những người Việt sống tại Xiêm.

3. Lựa chọn một nhóm "tiên phong" từ con em của nông dân và công nhân (một số trong họ đến từ Xiêm) để đào tạo tại Quảng Châu.

4. Tổ chức một nhóm phụ nữ cách mạng gồm 12 người.

5. Thành lập một lớp tuyên truyền ở Quảng Châu cho những học viên bí mật đưa sang từ Việt Nam và Xiêm4.

Để đào tạo ra một đội ngũ cán bộ cách mạng cho một Đảng Mácxít tương lai ở Việt Nam, thời gian này Tổng bộ Hội Thanh niên cách mạng Việt Nam ở Quảng Châu đã cử cán bộ về Nghệ Tĩnh hoạt động. Nhiều thanh niên học sinh ở Nghệ Tĩnh được giác ngộ và đưa sang Quảng Châu học tập.

Vào thời điểm này, khoảng đầu năm 1925, đồng chí Phùng Chí Kiên từ quê nhà ở làng Mỹ Quan, tổng Vạn Phần (nay là xã Diễn Yên), huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, ra làm thuê cho một thương nhân người Hoa ở ga Yên Lý, huyện Diễn Châu, Nghệ An. Là một thanh niên thông minh, nhanh nhẹn, hoạt bát, nhạy bén với thời cuộc, tháng 10 năm 1926, đồng chí Phùng Chí Kiên được giác ngộ và đã cùng một số người được giới thiệu sang Quảng Châu tham dự khoá huấn luyện do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tổ chức, rồi sau đó vào học Trường Quân sự Hoàng Phố.

Đồng chí Phùng Chí Kiên vào học khoá thứ V, đó cũng là khoá cuối cùng của Trường Quân sự Hoàng Phố, vì sau đó trường phải đóng cửa do cuộc đảo chính phản cách mạng của Tưởng Giới Thạch. Trước khoá thứ V, những người Việt Nam đầu tiên vào học trường này bắt đầu từ khoá III (năm 1925) có khoảng từ 10-15 người, trong số đó có Lê Hồng Sơn, Trương Vân Lĩnh... Từ khoá III đến khoá V đều có người Việt Nam theo học. Tác giả Wou Hai Tsieo trong bài "Học viên quân sự Hoàng Phố và cách mạng Việt Nam" đăng trên tờ Tuần báo của Học viện Hoàng Phố đã viết "Trường Hoàng Phố đã tồn tại 3 năm và đã đào tạo được 5 khoá trong suốt thời gian đó đã có những đồng chí Việt Nam vượt qua muôn trùng nguy hiểm tới trường tham gia vào sinh hoạt của trường làm tăng lực lượng quân sự của trường và tăng uy tín cho trường. Số đồng chí này tốt nghiệp rời trường thì số đồng chí khác vào học... Hết khoá này đến khoá khác, số lượng các đồng chí Việt Nam ngày càng đông hơn"5.
_____________________________________
1.  Ngày 17 tháng 6 năm 1924, Đại hội V Quốc tế Cộng sản khai mạc tại Mátxcơva với sự tham dự của 46 đảng cộng sản, 4 đảng cánh tả và 10 tổ chức quần chúng.
2.  Phạm Xanh, Trường Quân sự Hoàng Phố và việc đào tạo những cán bộ quân sự cách mạng đầu tiên của Việt Nam. Trong "Sửa lại cho đúng bàn thêm cho rõ", Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr. 130.
3.  Viện sử học, Việt Nam những sự kiện lịch sử (1919-1945), Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2000, tr. 91.
4.  Hồ Chi Minh những năm tháng chưa được biết đến. Http//www.x.cafe vn.org.
5.  Phạm Xanh, Trường Quân sự Hoàng Phố... Sđd, tr. 140.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Hai, 2021, 07:51:14 pm

Tính đến tháng 2 năm 1927 đã có 53 người Việt Nam theo học tại Trường Quân sự Hoàng Phố1.

Khi cuộc khởi nghĩa Quảng Châu nổ ra, hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng Cộng sản Trung Quốc và chủ trương của Tổng bộ Hội Thanh niên Cách mạng Việt Nam, những người cách mạng Việt Nam ở Quảng Châu trong đó có đồng chí Phùng Chí Kiên và hầu hết học viên Việt Nam ở Trường Quân sự Hoàng Phố đã tham gia vào các đơn vị quân chủ lực và đoàn thể khởi nghĩa. Họ đã trực tiếp cầm súng chiến đấu, đào hầm hào, phát truyền đơn, ủng hộ chính quyền Xô-viết, tham gia cứu thương, vận chuyển lương thực, nước uống để cung cấp cho mặt trận. Tham gia vào đơn vị chủ lực ở Giáo đạo đoàn có các đồng chí Trương Văn Lĩnh, Quý Mộng Sơn, Lê Thiết Hùng... ở mặt trận Hoàng Phố có hơn 20 người tham gia, trong đó có đồng chí Lê Hồng Phong, Lê Quảng Đạt... Ở Xích vệ đội có các đồng chí Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn... Một số phụ nữ tham gia làm nhiệm vụ liên lạc, cứu thương và hậu cần2.

Qua ba ngày tiến hành khởi nghĩa rất anh dũng, song do tương quan lực lượng quá chênh lệch, quân đội Quốc dân đảng được quân Anh giúp sức đã phản công quyết liệt, cuộc khởi nghĩa Quảng Châu bị thất bại. Quân khởi nghĩa và các đoàn thể quần chúng phải rút khỏi Quảng Châu chuyển về vùng nông thôn.

Rất nhiều chiến sĩ cách mạng Trung Quốc và Việt Nam đã bị bắt giam, tra tấn. Trụ sở của Hội Thanh niên cách mạng Việt Nam cũng bị khám xét, 24 hội viên Hội thanh niên cách mạng Việt Nam bị bắt, trong đó có các đồng chí Hồ Tùng Mậu, Trần Văn Cung, Lê Hồng Sơn, Lý Tự Trọng... Chúng giam giữ, thẩm vấn các đồng chí, nhưng không có đủ chứng cớ; mặt khác các đồng chí Trung Quốc đã nhờ luật sư bào chữa và đồng bào Hoa kiều ở các nơi cũng viết đơn thư yêu cầu Tưởng Giới Thạch trả tự do cho những nhà cách mạng Việt Nam bị bắt. Cuối cùng, ngày 13 tháng 5 năm 1928 những đồng chí của ta đã được thả tự do. Trong tài liệu lịch sử Công xã Quảng Châu viết: có một học viên sĩ quan người Việt tên là Đỗ Huy Liên đã hy sinh trong cuộc khởi nghĩa, nhưng trong thực tế, đồng chí đã lưu lại ở Hoàng Phố đến cuối năm 1928, rồi tiếp tục làm việc cho Hội Thanh niên Cách mạng Việt Nam, sau đó trở về hoạt động trong Đông Dương Cộng sản Đảng tại Bắc Kỳ cho đến khi đồng chí bị bắt vào năm 1930.

Trong những người thoát khỏi sự truy lùng của Quốc dân đảng có các đồng chí Phùng Chí Kiên, Nguyễn Sơn, Lê Thiết Hùng, Trương Văn Lĩnh, Phương Sĩ Hùng... Nhiều tài liệu viết rằng: các đồng chí đã cùng với quân cách mạng Trung Quốc rút khỏi Quảng Châu về Đông Giang. Một thời gian sau đồng chí Phùng Chí Kiên rút về Hải Phong và Lục Phong xây dựng khu Xô-viết, làm Đại đội trưởng Hồng quân Trung Quốc. Nhưng theo tôi, căn cứ vào những tài liệu mới được công bố thì ý kiến sau đây có lẽ có sức thuyết phục hơn. Đó là sau khi cuộc Khởi nghĩa Quảng Châu bị thất bại, đồng chí Phùng Chí Kiên đã mưu trí nhanh nhẹn thoát khỏi sự truy lùng của bọn Quốc dân đảng phản động, đồng chí Phùng Chí Kiên rút về căn cứ địa ở hai huyện Hải Phong và Lục Phong, nơi Xô-viết nông dân Hải - Lục Phong đã được xây dựng vững chắc từ trước đó. Sau đó, đồng chí Phùng Chí Kiên đã trở lại Hoàng Phố cho đến khi bị bắt vào đầu năm 1929. Đến mùa Thu năm 1929, Phùng Chí Kiên được ra tù, tham gia Đảng Cộng sản và gia nhập Hồng quân công nông Trung Quốc tại Đông Giang, Quảng Đông với chức Đại đội trưởng.

Cuộc Khởi nghĩa Quảng Châu là một sự kiện trọng đại trong tiến trình lịch sử cách mạng Trung Quốc. Hơn 80 năm đã trôi qua kể từ khi cuộc khởi nghĩa nổ ra, nhưng ý nghĩa và tầm vóc ảnh hưởng của nó vẫn rất to lớn đến hôm nay. Sự tham ra vào cuộc khởi nghĩa của những người cách mạng Việt Nam, trong đó có đồng chí Phùng Chí Kiên, đã khẳng định những giá trị vĩ đại của tinh thần quốc tế vô sản cao cả của những người cách mạng Việt Nam. Với tất cả tinh thần và sức lực, có cả sự hy sinh xương máu, với ý chí quyết tâm và lòng quả cảm cao độ, họ đã sẵn sàng hiến dâng tất cả cho cuộc đấu tranh của nhân dân Trung Quốc vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng; đồng thời qua đó cũng giúp rèn luyện cho các nhà cách mạng Việt Nam những bài học kinh nghiệm vô cùng quý giá và sự trưởng thành về mọi mặt, cả về lý luận và thực tiễn đấu tranh, để phục vụ cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam sau này.
________________________________________
1.  Hồ Chí Minh những năm tháng chưa được biết đến. Http// . diễn đàn.
2.  Tô Kiên, Những người cách mạng Việt Nam tham gia khởi nghĩa Quảng Châu. Tạp chí Xưa và Nay, số 111, tháng 3 năm 2002, tr. 7.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Hai, 2021, 08:10:59 pm

PHÙNG CHÍ KIÊN - NHỮNG NĂM THÁNG HOẠT ĐỘNG
CÁCH MẠNG Ở NƯỚC NGOÀI

Thượng úy NGUYỄN HỒNG DUNG*
Trung úy NGUYỄN HÀ HẢI

Cuộc đời của đồng chí Phùng Chí Kiên tuy ngắn ngủi chỉ vẻn vẹn 40 tuổi xuân, nhưng sự nghiệp cách mạng của ông lại rất lớn lao. Trong bài này, chúng tôi viết về những năm tháng hoạt động cách mạng đầy khó khăn gian khổ nhưng rất vẻ vang của Phùng Chí Kiên ở nước ngoài, mà chủ yếu là ở Trung Quốc và Liên Xô.

Theo sách Danh nhân lịch sử Việt Nam, Tập 2, Giáo sư, Nhà giáo nhân dân Đinh Xuân Lâm (chủ biên), Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1988, thì năm 1926 Nguyễn Vĩ đã sang Quảng Châu dự lớp huấn luyện đầu tiên do Nguyễn Ái Quốc tổ chức. Kết thúc lớp học, Nguyễn Vĩ được Nguyễn Ái Quốc gửi vào học Trường Quân sự Hoàng Phố của Chính phủ Tôn Trung Sơn với tên là Mạnh Văn Liễu1. Năm sau, chính quyền Tưởng Giới Thạch quay ra khủng bố cộng sản, nhà trường bị đóng cửa. Mạnh Văn Liễu cùng với một số cán bộ Việt Nam tham gia cuộc Khởi nghĩa Quảng Châu (12.12.1927) do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo. Cuộc khởi nghĩa thất bại, quân cách mạng rút về xây dựng khu Xô-viết ở hai huyện Hải Phong và Lục Phong. Năm 1930, Mạnh Văn Liễu gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tháng 2 năm 1931, sau một thời gian hoạt động ở Xiêm, Nguyễn Ái Quốc trở lại Trung Quốc. Sau khi biết được tình hình của các học viên lớp huấn luyện chính trị, quân sự những năm 1926-1927, Người đã cử Mạnh Văn Liễu cùng với hai người khác sang Liên Xô để vào học tại Trường Đại học của những người lao động Phương Đông. Nhưng khi Mạnh Văn Liễu vừa đến Mãn Châu thì bị bắt giam, gần một năm sau mới được thả. Ra tù, Mạnh Văn Liễu quyết chí tiếp tục qua Liên Xô học tập. Tháng 4 năm 1932, Mạnh Văn Liễu đến Mátxcơva2. Từ ngày 15 tháng 6 năm 1932 cho đến ngày 28 tháng 3 năm 1934, Mạnh Văn Liễu mang tên là Kan, học tại Trường Đại học Phương Đông.

Trong những năm Kan học tại Liên Xô, phong trào cách mạng ở trong nước gặp rất nhiều khó khăn. Sau Xô-viết Nghệ Tĩnh, hầu hết các ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương người bị bắt hoặc bị xử tử. Quốc tế Cộng sản mất liên lạc với Việt Nam nên đã đề cử Lê Hồng Phong, rồi Hà Huy Tập từ Liên Xô về nước để thành lập lại Ban Chấp hành Trung ương.

"Ngày 1 tháng 8 năm 1933, tại Quảng Châu đã diễn ra cuộc họp quan trọng của các đồng chí Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập và Nguyễn Văn Dựt, thông báo cho nhau tình hình phong trào cách mạng ở Đông Dương, tình hình quốc tế và quyết định của Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản về việc thành lập Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng"3. Đầu năm 1934, Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng được chính thức thành lập (gồm có: Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Dựt4), do Lê Hồng Phong đứng đầu.

Năm 1934, sau khi tốt nghiệp Trường Đại học Phương Đông, dưới sự phân công của Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, Kan trở về Hương Cảng (Trung Quốc) tham gia Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương. Ngày 14 tháng 6 năm ấy, với tư cách là Ủy viên Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương, ông đã tham dự hội nghị của ban cùng với các đại biểu từ trong nước ra. Hội nghị đã ra quyết nghị quan trọng là thành lập Ban trù bị cho Đại hội Đảng lần thứ nhất. Mạnh Văn Liễu được tín nhiệm bầu vào ban này. Nhận trách nhiệm, ông đã cùng với Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập tích cực chuẩn bị cho việc triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Đảng, như đề ra các chủ trương, chính sách và soạn thảo các văn kiện của Đảng5.
___________________________________________
* Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
1.  Theo PGS Phạm Xanh, Mạnh Văn Liễu học khóa V Trường Hoàng Phố cùng với Lý Đức Lan, Nguyễn Sơn, Đỗ Huy Kiên, Nguyễn Tường Loan, Võ Tùng, Hoàng Khắc Trung... (16 người Việt).
2.  A. A. Xôcôlốp, Quốc tế cộng sản và Việt Nam, Bản tiếng Việt, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.
3.  Hà Huy Tập - Người cộng sản kiên trung, nhà lý luận xuất sắc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 565.
4.  Theo A. A. Xôcôlôp, Sđd, Nguyễn Văn Dựt, còn có tên là Trần Huy Rôn (?) tên Nga là Svan, được Đảng Cộng sản Pháp cử đi học Trường Phương Đông, ra trường tháng 4 năm 1933. Năm 1938, về Cần Thơ dạy học. Sau năm 1945, tham gia Mặt trận Liên Việt ở địa phương.
5.  Đinh Xuân Lâm, Chương Thâu, Danh nhân Lịch sử Việt Nam, Tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr. 192.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Hai, 2021, 08:18:44 pm

Tháng 3 năm 1935, Đại hội đại biểu lần thứ nhất Đảng Cộng sản Đông Dương đã họp tại một địa điểm ở phố Quan Công, Ma Cao, Trung Quốc1. Tham dự có các đại biểu thuộc đảng bộ trong nước và tổ chức của Đảng hoạt động ở ngoài nước. Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương gồm 13 ủy viên trong đó có Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong, Hoàng Đình Giong, Đinh Thanh, Võ Nguyễn Hiến, Nguyễn Ái Quốc, Phùng Chí Kiên2. Ban Thường vụ gồm Lê Hồng Phong, Phùng Chí Kiên, Đinh Thanh3. Phùng Chí Kiên được giao "phụ trách công tác Đảng ở nước ngoài"4.

Kể từ tháng 3 năm 1935, gần đúng 2 năm sau khi học ở Trường Phương Đông, Nguyễn Vĩ chính thức dùng tên và họ hoạt động cách mạng là Phùng Chí Kiên.

Tháng 7 năm 1936, Hà Huy Tập, Ủy viên Thường vụ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng bàn giao công việc cho Lê Hồng Phong. Tháng 8 năm 1936, ông đã cùng Phùng Chí Kiên về Sài Gòn trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng. Một năm sau, Lê Hồng Phong trở về Sài Gòn hoạt động thì Phùng Chí Kiên trở lại Trung Quốc chỉ đạo công tác đảng ở nước ngoài. Tháng 10 năm 1936, Phùng Chí Kiên, mang thẻ căn cước là Phùng Nguôn Bình5, bị cảnh sát Anh bắt ở Hồng Kông. Hai tháng sau ông được trả lại tự do vì không có bằng chứng luận tội nhưng bị trục xuất khỏi đây. Rời Hồng Kông, Phùng Chí Kiên sang Sán Dần (một thị trấn của Quảng Đông), rồi theo đường bộ qua Côn Minh (thủ phủ tỉnh Vân Nam) liên hệ với các cán bộ Đảng ta ở đây củng cố lại Ban lãnh đạo của Đảng ở nước ngoài6.

Giũa lúc Phùng Chí Kiên chưa liên lạc được với Đảng, thì từ ngày 3 đến ngày 4 tháng 9 năm 1937, Hội nghị mở rộng Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp tại Nam Kỳ, dưới sự chủ trì của Hà Huy Tập, quyết định tổ chức Mặt trận thống nhất, khôi phục hệ thống Đảng Trung - Nam - Bắc. Hai ngày 29 và ngày 30 tháng 3 năm 1938, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp bầu Nguyễn Văn Cừ làm Tổng Bí thư thay Hà Huy Tập (Lê Hồng Phong đã bị bắt từ giữa năm 1938. Hà Huy Tập là Ủy viên Thường vụ, cho đến ngày 14 tháng 7 năm 1938 bị bắt, rồi bị xử bắn vào năm 1941, sau khởi nghĩa Nam Kỳ). Theo thông báo của Ban Chấp hành Trung ương mới "Ban Trung ương gồm có 11 ủy viên, trong đó 9 ủy viên hoạt động trong nước, 2 ủy viên hoạt động ở nước ngoài"7. Có thể Phùng Chí Kiên là một trong hai ủy viên này.

Cuối năm 1939, Đảng ta chủ trương tăng cường hoạt động ở vùng Hoa Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, ở Vân Nam đã thành lập "Hải ngoại Bộ" gồm có Lý Quang Hoa, Vũ Anh, Phùng Chí Kiên. Hải ngoại Bộ được phép của chính quyền Trung Quốc8 thành lập Hội Việt Nam dân chúng ủng hộ Trung Quốc kháng Nhật. Hải ngoại Bộ còn cho xuất bản tờ báo Đồng Thanh làm cơ quan tuyên truyền cho Hội này. Hải ngoại Bộ còn được chỉ thị vận động thành lập Hội Việt Nam độc lập đồng minh phá âm mưu thực hiện "Hoa quân nhập Việt" của Quốc dân đảng Trung Hoa. Tháng 1 năm 1940, có chỉ thị từ trong nước gửi ra cho Hải ngoại Bộ, yêu cầu đi tìm ông Trần (bí danh cùa Nguyễn Ái Quốc). Cuối tháng 2 năm 1940, Trịnh Đông Hải (Vũ Anh) đã bắt liên lạc được với ông Trần tại hiệu dầu cù là Vĩnh An đường, Côn Minh9. Sau đó, Trịnh Đông Hải đã đưa Nguyễn Ái Quốc đến gặp Ban Chỉ huy ở ngoài10. Phùng Chí Kiên và các đồng chí trong Ban Chỉ huy ở ngoài bố trí Nguyễn Ái Quốc đến ở trên một căn gác nhỏ nhà số 77 của ông bà Tông Minh Phương (bấy giờ làm nghề thợ may, sau chuyển thành hiệu cà phê Tân Nam) nằm trên đường Kim Bích (Côn Minh).
___________________________________________
1, 2.  Lê Mậu Hãn, Đảng Cộng sản Việt Nam các đại hội và hội nghị Trung ương, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 26, 27-28.
3.  Hà Huy Tập - Người Cộng sản kiên trung..., Sđd, tr. 573. Cũng trong sách này, tr. 536 có viết "Ban thường vụ gồm 5 đồng chí, Lítvinốp luôn vắng mặt, 1 người bị bắt, Hùng (?) về Bắc Kỳ, Lang (Kan ?) về Nam Kỳ nên Ban Thường vụ đã không còn và Ban Trung ương cũng kết thúc".
4.  Đinh Xuân Lâm, Chương Thâu, Sđd, tr. 192.
5.  Có tài liệu ghi là Phùng Nguôn Vĩnh.
6.  Đinh Xuân Lâm, Sđd, tr. 193.
7.  Lê Mậu Hãn, Sđd, tr. 34.
8.  Theo Hồi ký của Vũ Anh.
9.  Trịnh Đông Hải (Vũ Anh), Vân Nam - Tĩnh Tây trong sách Bác Hồ ở Hoa Nam, Nxb Công an nhân dân, 2004, tr. 53.
10.  Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 98.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười Hai, 2021, 08:21:24 pm

Khoảng giữa tháng 3 năm 1940, sau lần quân Quốc dân đảng đến khám nhà số 77, Phùng Chí Kiên đưa Nguyễn Ái Quốc về nhà số 67, Hoa Sơn Nam, cũng ở trong thành phố Côn Minh. Đây là trụ sở của Nhà xuất bản "Sinh hoạt đọc sách" (Sinh hoạt độc thư). Khi có việc gì thì Nguyễn Ái Quốc đến gặp Phùng Chí Kiên, ở cơ quan bí mật1 .

Tháng 4 năm 1940, sau khi được Vũ Anh, Hoàng Văn Hoan, Phùng Chí Kiên báo cáo tình hình kiều bào, tổ chức Đảng ở Vân Nam "Bác đề ra ý kiến muốn đi thăm cơ sở, anh Phùng Chí Kiên đi theo Bác. Đến Xì Xuyên hai bác cháu ở nhà đồng chí Hoàng Quang Bình"2 .

Tháng 6 năm 1940, "Nguyễn Ái Quốc mang bí danh đồng chí Vương gặp các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp (vừa từ trong nước sang) tại công viên Thuý Hồ"3 . Đến cuối tháng, Phùng Chí Kiên được chỉ thị của đồng chí Vương cùng Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp tìm cách về nước. Cuối tháng 11, đầu tháng 12, Phùng Chí Kiên cùng Đặng Văn Cáp, Phạm Văn Đồng, đồng chí Vương từ Nam Ninh, qua Điền Đông rồi về Tĩnh Tây.

Đầu tháng 12 năm 1940, Phùng Chí Kiên được triệu tập đến gặp đồng chí Vương cùng Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Đặng Văn Cáp để bàn về việc mở lớp huấn luyện cán bộ cách mạng. Đến tháng 1 năm 1941, Phùng Chí Kiên cùng đồng chí Vương, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Đặng Văn Cáp đến Nậm Quang, một làng ở sát biên giới Việt - Trung. Tại đây, đồng chí Vương đã mở lớp huấn luyện cho 43 cán bộ Việt Nam4 .

Đồng chí Vương giao Phùng Chí Kiên soạn tài liệu "Con đường giải phóng" cùng với Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp. Phần quân sự, đánh du kích... do Phùng Chí Kiên soạn thảo. Sau khi "nộp bài" thấy bút mực đỏ của đồng chí Vương xoá, bỏ, viết thêm nhiều quá, Phùng Chí Kiên nói:

“- Thế này, thà anh viết còn hơn.

Đồng chí Vương thân ái trả lời:

- Viết để cho quần chúng cán bộ dễ hiểu, dễ làm, không phải sửa nội dung mà chỉ sửa cách viết thôi"5 .

Ngày 28 tháng 1 năm 1941, Phùng Chí Kiên cùng đi với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và một số đồng chí khác vượt biên giới về Pắc Bó, Cao Bằng. Tháng 5 năm 1941, Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương diễn ra tại Pắc Bó (Hà Quảng, Cao Bằng). Sau hội nghị này, "Phùng Chí Kiên, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, một cán bộ quân sự có tài của Đảng được cử về làm Chỉ huy trưởng căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai và Cứu quốc quân... Trung ương chỉ định đồng chí Phùng Chí Kiên phụ trách Tổng chỉ huy Ban chỉ huy mới Chiến khu Bắc Sơn"6 . Phùng Chí Kiên cũng đã trở thành chỉ huy đơn vị vũ trang đầu tiên của Chiến khu Việt Bắc là đội Cứu quốc quân.

Nhận nhiệm vụ ở Ban Chấp hành Trung ương mới, Phùng Chí Kiên đã kết thúc giai đoạn công tác ở nước ngoài - giai đoạn tích luỹ kiến thức cách mạng, quân sự, chính trị - để vận dụng vào thực tiễn đấu tranh cách mạng Việt Nam trong những tháng ngày vô cùng khó khăn, gian khổ của năm 1941. Đồng chí đã anh dũng hy sinh trong khi làm nhiệm vụ vào ngày 22 tháng 8 năm 1941.
____________________________________
1.  Trịnh Đông Hải (Vũ Anh), Vân Nam - Tĩnh Tây trong sách Bác Hồ ở Hoa Nam, Sđd, tr. 57.
2.  Trịnh Đông Hải (Vũ Anh), Vân Nam - Tĩnh Tây trong sách Bác Hồ ở Hoa Nam, Sđd, tr. 57.
3.  Vũ Anh, Từ Côn Minh về Pắc Bó, Bác Hồ, Nxb Văn học, 1975, tr. 143.
4.  Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, Tập 2, Sđd, tr. 130.
5.  Theo lời kể của Vũ Anh.
6.  Chu Văn Tấn, Kỷ niệm cứu quốc quân, Nxb Quân đội nhân dân, 1976, tr. 37.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười Hai, 2021, 09:52:02 pm

PHÙNG CHÍ KIÊN, MỘT TÀI NĂNG QUÂN SỰ CỦA ĐẢNG

Đại tá, TS DƯƠNG ĐÌNH LẬP*


Cách đây 67 năm, Đội du kích Bắc Sơn vừa vinh dự được mang tên Đội cứu quốc quân Bắc Sơn (tức Trung đội Cứu quốc quân 1) đã phải đương đầu quyết liệt với quân thù. Trong cuộc chiến đấu không cân sức, Ban chỉ huy và lực lượng Cứu quân quân bị tổn thất, trong đó đồng chí Phùng Chí Kiên, Chỉ huy trưởng Trung đội Cứu quốc quân 1 đã anh dũng hy sinh. Đây là tổn thất lớn đối với Đảng, lực lượng vũ trang và nhân dân ta.

Đồng chí Phùng Chí Kiên là một chiến sĩ cộng sản kiên cường, nhà hoạt động chính trị, quân sự xuất sắc, người chỉ huy dũng cảm, kiên quyết của lực lượng vũ trang cách mạng. Đồng chí đã đem hết tài năng, sức lực của mình cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Bài viết này, đề cập một số cống hiến về mặt quân sự của đồng chí Phùng Chí Kiên.

1. Đồng chí Phùng Chí Kiên được đào tạo về quân sự ở nước ngoài và trải nghiệm trong đấu tranh cách mạng.

Là một thanh niên yêu nước, sớm có chí hướng cách mạng, năm 1927, đồng chí Phùng Chí Kiên được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chọn vào học Trường Quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc), cùng với hơn 10 đồng chí khác, trong đó có các đồng chí Lê Hồng Phong, Lê Thiết Hùng, Trương Văn Lĩnh, v.v... Trong thời gian học tập tại đây, đồng chí Phùng Chí Kiên và các thanh niên Việt Nam khác được đánh giá "rất nghiêm chỉnh, cần cù lao động, dốc hết sức để học tập, bởi vì họ biết rằng để giành chính quyền về tay công nông, phải cầm lấy vũ khí chiến đấu và chỉ có tri thức quân sự mới giúp họ bảo vệ cách mạng khỏi thù trong giặc ngoài"1.

Là người được học tập, rèn luyện, hiểu biết về cách mạng và nhạy cảm chính trị, đồng chí Phùng Chí Kiên đã cùng một số học viên Việt Nam tham gia khởi nghĩa ở Quảng Châu (12.1927), xây dựng khu Xô-viết Hải Phong - Lục Phong (Quảng Châu). Với cương vị là đại đội trưởng, đồng chí Phùng Chí Kiên chỉ huy đơn vị phối hợp với quân đội cách mạng chiến đấu anh dũng, bẻ gãy nhiều cuộc tiến công của quân Tưởng, bảo vệ khu Xô-viết.

Những năm tháng học tập chính trị, nhất là về quân sự và tham gia chiến đấu trên đất bạn, Phùng Chí Kiên đã nỗ lực phấn đấu, kiên trì rèn luyện về mọi mặt. Chiến đấu dũng cảm trước quân thù và nhiều lần bị thương là minh chứng về lòng quả cảm của người chỉ huy kiên cường, vì nhiệm vụ quốc tế cao cả đối với cách mạng và nhân dân Trung Quốc. Những lần tham gia chiến đấu trong các trận đánh ở chiến trường nước bạn đã giúp Phùng Chí Kiên tích luỹ được những kinh nghiệm quý báu cho mình để sau này trở về nước hoạt động, góp phần xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chiến đấu vì sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân.

Từ năm 1932 đến năm 1934, đồng chí Phùng Chí Kiên được chọn vào học ở Trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản ở Mátxcơva (Liên Xô). Phùng Chí Kiên say mê nghiên cứu, học tập về lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, về kinh nghiệm tiến hành và bảo vệ chính quyền Xôviết trong Cách mạng tháng Mười Nga; đồng thời miệt mài đọc sách, báo và tìm hiểu về xây dựng quân đội cách mạng theo mẫu hình Hồng quân Liên Xô. Đồng chí được cán bộ Trường Đại học Phương Đông nhận xét: "Có khả năng lớn về công tác, năng động, trình độ chính trị cao, kết quả học tập nói chung tốt"2. Năm tháng học tập ở Trường Đại học Phương Đông rất bổ ích, giúp cho Phùng Chí Kiên nâng cao sự hiểu biết, dần định hình cho mình về lý luận cách mạng, về khởi nghĩa vũ trang và xây dựng quân đội cách mạng.

Có thể khẳng định rằng, đồng chí Phùng Chí Kiên là một trong những cán bộ được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Đảng ta chọn đào tạo khá cơ bản cả về lý luận và thực tiễn quân sự ở nước ngoài. Đây chính là "vốn quân sự" quý báu để đồng chí Phùng Chí Kiên cống hiến cho Đảng và cách mạng Việt Nam.
__________________________________________
* Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử tổ chức quân sự, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
1.  A. I. Trêrêpanốp, Hồi ký Phụ nữ Liên Xô, Bản tiếng Nga, số 2, 1980, tr. 7.
2.  Tạp chí Lịch sử quân sự, số 6, 2001, tr. 19.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười Hai, 2021, 09:53:05 pm

2. Cống hiến về quân sự của đồng chí Phùng Chí Kiên cho cách mạng Việt Nam.

Cuối năm 1940, trước tình hình thế giới và trong nước có những biến động lớn, nhiệm vụ đánh đuổi Pháp - Nhật, cứu nước nhà, giành độc lập cho dân tộc trở nên cấp thiết. Nắm bắt tình hình cách mạng trong nước, tháng 12 năm 1940, đồng chí Phùng Chí Kiên và một số cán bộ của Đảng gấp rút theo lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ Quế Lâm về làng Nậm Quang, huyện Tĩnh Tây, tỉnh Quảng Tây. Tại đây, dưới sự chỉ đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đồng chí cùng với các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp huấn luyện 40 cán bộ từ trong nước sang để đưa về Cao Bằng xây dựng phong trào cách mạng.

Sau một thời gian chuẩn bị chu đáo, ngày 28 tháng 1 năm 1941, đồng chí Phùng Chí Kiên và một số cán bộ đưa lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về Pắc Bó (Hà Quảng, Cao Bằng), trực tiếp chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang ở Cao Bằng và lãnh đạo phong trào cách mạng cả nước. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đồng chí Phùng Chí Kiên và một số cán bộ của Đảng tổ chức huấn luyện, xây dựng phong trào cách mạng Cao Bằng làm thí điểm để chỉ đạo phong trào cách mạng toàn quốc. Tháng 5 năm 1941, tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8, đồng chí Phùng Chí Kiên được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, phụ trách công tác quân sự của Đảng và cử trực tiếp làm Tổng chỉ huy khu căn cứ Bắc Sơn và Chỉ huy trưởng Đội du kích Bắc Sơn.

Trên cương vị mới, đồng chí Phùng Chí Kiên đã cùng các đồng chí lãnh đạo của Đảng đề ra chủ trương xây dựng khu căn cứ, củng cố và phát triển đội du kích Bắc Sơn để làm vốn quân sự cho Đảng.

Thực hiện nghị quyết Hội nghị Trung ương 8, giữa tháng 7 năm 1941, đồng chí Phùng Chí Kiên và Ban chỉ huy Trung đội Cứu quốc quân 1, đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ xây dựng lực lượng, củng cố khu căn cứ và đề ra phương hướng nhiệm vụ hoạt động thời gian tới. Dưới sự chỉ huy trực tiếp của đồng chí Phùng Chí Kiên, Cứu quốc quân chuẩn bị tổ chức huấn luyện quân sự, chính trị, củng cố cơ sở, mở rộng con đường liên lạc quần chúng từ Bắc Sơn qua Võ Nhai về miền xuôi. Thế nhưng, chủ trương chưa kịp triển khai thực hiện, thì thực dân Pháp huy động 4.000 quân, gồm cả lính Pháp, lính lê dương, lính khố đỏ, lính khố xanh cùng mật thám, cường hào, lính dõng mở cuộc tiến công từ Lạng Sơn xuống, từ Thái Nguyên lên và từ Bắc Giang sang, khép chặt vòng vây xung quanh khu căn cứ Bắc Sơn, hòng chặn đường đón bắt cán bộ lãnh đạo của Đảng, tiêu diệt Cứu quốc quân, dập tắt phong trào cách mạng ở Bắc Sơn.

Trước tình hình đó, các đồng chí Trung ương Đảng quyết định phân công đồng chí Phùng Chí Kiên ở lại cùng với đồng chí Lương Văn Tri chỉ huy Trung đội Cứu quốc quân 1 làm nòng cốt cùng đồng bào các dân tộc Bắc Sơn chống địch càn quét, khủng bố. Còn các đồng chí Trung ương bí mật rút khỏi vòng vây của địch từ Bắc Sơn xuống Võ Nhai rồi về miền xuôi, tiếp tục lãnh đạo phong trào cách mạng của nhân dân ta.

Thực hiện chỉ thị đó, đồng chí Phùng Chí Kiên triệu tập Ban chỉ huy Trung đội Cứu quốc quân 1 quyết định cử một tổ Cứu quốc quân bảo vệ các đồng chí Thường vụ Trung ương Đảng rút khỏi căn cứ Bắc Sơn về miền xuôi. Còn đại bộ phận lực lượng Cứu quốc quân sẵn sàng chiến đấu, giữ vững phong trào cách mạng.

Trước cuộc tiến công dồn dập của quân địch vào khu căn cứ, đồng chí Phùng Chí Kiên đã chỉ huy Cứu quốc quân chiến đấu rất anh dũng, gây cho địch một số thiệt hại, tiểu biểu là trận đánh tan một cuộc càn lớn của chúng vào Giá Huần (xã Vũ Lăng). Thế nhưng, kẻ địch liên tục càn quét, cơ quan bí mật của Cứu quốc quân luôn bị uy hiếp, có tuần phải chuyển địa điểm tới năm, sáu lần. Đứng trước tình thế nghiêm trọng, đồng chí Phùng Chí Kiên cùng Ban chỉ huy quyết định để một tiểu đội Cứu quốc quân ở lại Bắc Sơn hoạt động chống địch khủng bố, giữ vững cơ sở cách mạng. Còn hai tiểu đội Cứu quốc quân rút khỏi khu căn cứ Bắc Sơn, tiến lên vùng biên giới phía Bắc, duy trì lực lượng. Theo đó, tháng 8 năm 1941, lực lượng Cứu quốc quân rút khỏi căn cứ Bắc Sơn chia làm hai bộ phận: Bộ phận thứ nhất do hai đồng chí Hoàng Văn Thái và Đặng Văn Cáp chỉ huy rút lên vùng biên giới Việt - Trung an toàn. Bộ phận thứ hai do đồng chí Phùng Chí Kiên và đồng chí Lương Văn Tri chỉ huy rút từ Khuổi Nọi (Bắc Sơn, Lạng Sơn) lên các châu Na Rì, Ngân Sơn (Bắc Kạn) để lên căn cứ cách mạng Cao Bằng. Ngày 19 tháng 8 năm 1941, đồng chí Phùng Chí Kiên cùng cứu quốc quân đến Pò Kép, xã Văn Học (Na Rì, Bắc Kạn) bị địch phục kích. Cứu quốc quân nhanh chóng đánh trả địch, gây cho chúng một số thiệt hại, rồi tiếp tục hành quân. Song tên đồn trưởng đồn Ngân Sơn huy động lực lượng chặn các ngả đường lên Cao Bằng. Cứu quốc quân đến làng Khau Pàn, xã Bằng Đức, châu Ngân Sơn (Bắc Kạn), bị địch phục kích. Đồng chí Phùng Chí Kiên bị thương nặng vẫn kiên cường chiến đấu đến cùng để đồng đội thoát khỏi vòng vây của địch. Bị bắt, đồng chí giữ vững bản lĩnh người cộng sản trước đòn tra tấn dã man của địch. Cuối cùng, đồng chí bị địch sát hại.

*


*          *

Từ một thanh niên yêu nước sớm tham gia cách mạng, đồng chí Phùng Chí Kiên đã được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chọn ra nước ngoài đào tạo thành cán bộ quân sự và chính trị của Đảng. Cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Phùng Chí Kiên tuy không dài, nhưng lại có nhiều đóng góp to lớn cho cách mạng. Cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí Phùng Chí Kiên là tấm gương lớn về một học trò xuất sắc của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Những đóng góp to lớn của đồng chí Phùng Chí Kiên đối với cách mạng Việt Nam, trong đó cống hiến về quân sự đã để lại dấu ấn quan trọng.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười Hai, 2021, 09:59:00 pm

 
ĐỒNG CHÍ PHÙNG CHÍ KIÊN, BẬC TIỀN BỐI CÁCH MẠNG, NHÀ LÃNH ĐẠO QUÂN SỰ ĐẦU TIÊN CỦA ĐẢNG

Đại tá LÊ LIÊN*


Đồng chí Phùng Chí Kiên, bậc tiền bối cách mạng, nhà lãnh đạo quân sự đầu tiên của Đảng, đã anh dũng hy sinh khi mới tròn 40 xuân. Tuổi đời tuy ngắn ngủi, nhưng sự nghiệp cách mạng của đồng chí lại rất lớn lao.

Hơn 15 năm liên tục hoạt động cách mạng, kể từ khi rời quê hương vào cuối năm 1925 cho đến lúc hy sinh (8.1941), đồng chí Phùng Chí Kiên thường xuyên bị mật thám Pháp theo dõi và luôn luôn ở trong tình thế nguy hiểm đến tính mạng. Theo tài liệu của Sở Cảnh sát và sở Liêm phóng Trung Kỳ mà ta thu được, ngay từ khi rời ga Yên Lý (Nghệ An) sang Quảng Châu, mật thám Pháp đã ra sức truy tìm tung tích của đồng chí Phùng Chí Kiên qua tấm thẻ căn cước mang tên của người chú là Nguyễn Hào. Chúng bắt Tri phủ Diễn Châu phải tường trình rõ việc đó. Khi đồng chí bị bắt ở Mãn Châu, Chánh mật thám Trung Kỳ Sônhi lập tức thông báo cho hai viên chánh cẩm ở Vinh và Hà Tĩnh biết. Chúng theo dõi đồng chí cả khi đang học ở Trường Đại học Phương Đông, khi trở lại làm việc ở Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng ở Trung Quốc, về Bà Điểm (Gia Định) dự họp Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (tháng 8, tháng 9 năm 1937, tháng 3 năm 1938), được Đảng cử đi Băng Cốc (Thái Lan), cảnh sát Hương Cảng (Hồng Kông) lục soát nhà của đồng chí ở 71 phố Đại Nam, trục xuất về Sán Đầu... Bị truy lùng gắt gao, nhưng với tinh thần mưu trí, dũng cảm, kinh nghiệm phong phú của người hoạt động bí mật, đồng chí Phùng Chí Kiên đã nhiều lần thoát khỏi bàn tay của kẻ địch cho đến khi hy sinh như một người anh hùng ngay trên trận tuyến đối đầu trực tiếp với quân thù.

Tháng 9 năm 1940, khởi nghĩa Bắc Sơn nổ ra, gây tiếng vang lớn trong cả nước, làm thực dân Pháp phải ra sức tìm cách đối phó. Cuối tháng 6 năm 1941, chúng mở cuộc càn quét lớn vào khu căn cứ cách mạng của ta nhằm bắt các đồng chí lãnh đạo Đảng, tiêu diệt cơ quan đầu não của Việt Minh và lực lượng vũ trang cách mạng mới hình thành. Chúng huy động 4.000 quân với đủ các sắc lính cùng bọn cường hào phản động địa phương, tổ chức thành ba mũi tiến công khu căn cứ. Cánh quân từ Lạng Sơn kéo xuống càn quét các xã Hưng Vũ, Lân Áng, Tân Lập, Vũ Lăng thuộc Bắc Sơn. Cánh quân thứ hai từ Thái Nguyên qua Đình Cả càn vào xã Tràng Xá, Phú Thượng, La Hiên, Lũng Mười thuộc Võ Nhai. Cánh quân thứ ba từ Bắc Giang lên khép vòng vây ở huyện Hữu Lũng và Yên Thế. Chúng bịt chặt đường ra lối vào. Đi tới đâu, chúng đốt làng bản, giết gia súc, phá vườn cây ăn quả. Chúng triệt hạ các bản lẻ như Khuôn Khét gồm 16 gia đình người Dao. Chúng thi hành chính sách "tát nước bắt cá" thâm độc, dồn dân tập trung vào các trại Đình Cả, Nà Pheo, Làng Giữa, Đồng Án.

Không khí khủng bố căng thẳng đến nghẹt thở. Hàng trăm gia đình chạy vào rừng sâu, sống trong hang đá vô cùng thiếu thốn. Các cơ sở bí mật của Trung ương và Cứu quốc quân bị uy hiếp nghiêm trọng. Trong cuộc họp khẩn cấp tại Khuổi Nọi (xã Vũ Lễ), Ban chỉ huy Cứu quốc quân quyết định cử một tổ bảo vệ và dẫn các đồng chí Trung ương qua Tràng Xá về xuôi. Còn toàn đội phối hợp với tự vệ chiến đấu hoạt động phân tán, bám dân, duy trì, bảo vệ cơ sở cách mạng. Đồng chí Hoàng Quốc Việt, Ủy viên Thường vụ Trung ương, ở lại căn cứ cùng Đảng bộ Võ Nhai tổ chức lực lượng đối phó với địch. Đồng chí Phùng Chí Kiên chỉ huy Đội Cứu quốc quân Bắc Sơn chiến đấu anh dũng, phá một số trận càn lớn của địch, góp phần giữ vững tinh thần cách mạng của nhân dân trong vùng, điển hình là trận chống càn ở Giá Huần (Vũ Lễ).

Cứu quốc quân tuy cố gắng nhiều nhưng do lực lượng quá mỏng, trang bị vũ khí thô sơ và thiếu thốn, lại phải di chuyển luôn, tiếp tế khó khăn, nên sức chiến đấu giảm dần. Ban lãnh đạo căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai quyết định để lại một tiểu đội chặn địch, còn hai tiểu đội phá vòng vây của địch, rút lên Cao Bằng để bảo toàn lực lượng.

Ngày 19 tháng 8 năm 1941, cánh quân của đồng chí Phùng Chí Kiên và Lương Văn Tri qua Pò Kép (châu Na Rì, Bắc Kạn) thì bị địch phục kích, nhưng đơn vị phá vòng vây thoát được. Ngày 22 tháng 8, đơn vị lại bị phục kích tại xã Bằng Đức. Bọn châu đoàn phản động ở đây huy động lính dõng khép kín vòng vây. Đồng chí Lương Văn Tri bị thương rồi hy sinh. Mặc dù bị thương nặng, đồng chí Phùng Chí Kiên vẫn giữ chặt khẩu súng, bắn chặn quân địch để đồng đội thoát khỏi vòng vây. Bắn hết viên đạn cuối cùng, đồng chí sa vào tay giặc. Bọn châu đoàn gian ác đã chặt đầu đồng chí rồi đem cắm ở đầu cầu Ngân Sơn để hòng uy hiếp tinh thần cán bộ, nhân dân địa phương và để lấy thưởng. Thực dân Pháp đã từng đặt giải cho ai lấy được đầu đồng chí Phùng Chí Kiên thì được thưởng 3 tạ muối. Hôm đó là ngày 22 tháng 8 năm 1941, năm đồng chí Phùng Chí Kiên tròn 40 tuổi. (Có tài liệu ghi ngày hy sinh của đồng chí Phùng Chí Kiên là 21 tháng 8 năm 1941, chúng tôi chưa có điều kiện để xác minh).

Đồng chí Phùng Chí Kiên hy sinh, Đảng ta mất một bậc tiền bối cách mạng, một người học trò lỗi lạc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một cán bộ quân sự xuất sắc được đào tạo tại Liên Xô, Trung Quốc, mất người trực tiếp chỉ đạo khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai những ngày đầu chuẩn bị tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân.

Sau này có ý kiến nêu ra: việc Cứu quốc quân rút khỏi căn cứ Bắc Sơn là đúng hay sai? Đảng ta đã khẳng định: trong tình thế lúc đó, việc rút khỏi Bắc Sơn là đúng. Tuy có tổn thất lớn nhưng xét toàn cục, ta đã bảo toàn được một bộ phận lực lượng, giữ vững tinh thần cách mạng cho nhân dân, rút ra được nhiều bài học bổ ích trong xây dựng lưc lượng vũ trang cách mạng và trong tác chiến.

Hai năm sau ngày đồng chí Phùng Chí Kiên hy sinh, báo Cờ giải phóng do đồng chí Trường Chinh, lúc đó là Tổng Bí thư của Đảng, phụ trách, trong số 2, ra ngày 26 tháng 8 năm 1943, đã đăng bài "Gương hy sinh, nhớ tiếc anh Phùng" của Sóng Biển. Bài viết có đoạn: "Anh Phùng hay anh Lý đã vĩnh biệt chúng ta đã hai năm rồi!... Sau cuộc Đại biểu đại hội lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương họp ở Ma Cao (Quảng Đông) năm 1935, anh được cử vào Thường vụ Trung ương. Cuộc Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, tháng 5 năm 1941, cử anh về phụ trách chỉ huy vùng đặc biệt khu Bắc Sơn... Anh đi tiên phong, bị chết tại trận... Thế là một chiến sĩ tài ba, lỗi lạc đã bỏ mình nơi ngàn cây dặm cỏ... Cái chết của anh thật là một sự thiệt thòi cho Đảng. Nó còn gieo biết bao nỗi thương tiếc cho các đồng chí. Anh Phùng đã khuất. Nhưng tinh thần anh vẫn sống mãi với non sông, cây cỏ. Chúng ta càng nhớ đến anh càng phải nỗ lực chiến đấu để chóng hoàn thành sự nghiệp vĩ đại của Đảng mà anh đã hoàn toàn ký thác nơi chúng ta".

Ngày 23 tháng 9 năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 89/SL truy phong hàm cấp tướng cho đồng chí Phùng Chí Kiên. Đây là sắc lệnh có sớm nhất về việc phong hàm tướng cho người chỉ huy đầu tiên của các lực lượng vũ trang nhân dân của Đảng.

Với ý thức tôn trọng, ghi danh bậc tiền bối cách mạng, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người cộng sản kiên trung, người chỉ huy quân sự của Đảng - Phùng Chí Kiên - đã trở thành tên gọi của đơn vị, đường phố, trường học... ở nhiều địa phương.


*


*             *

Tháng 11 năm 2002, khi đi làm nhiệm vụ, qua huyện Diễn Châu, chúng tôi được các đồng chí trong Huyện ủy cho biết: "10 năm qua, gia đình và địa phương đã tích cực làm các thủ tục gửi lên cấp trên để đề nghị Nhà nước công nhận đồng chí Phùng Chí Kiên là liệt sĩ mà vẫn chưa được. Vừa qua, được biết các đồng chí, qua Báo Quân đội nhân dân và Đài Truyền hình Việt Nam, đã can thiệp tích cực, giúp 32 chiến sĩ thanh niên xung phong hy sinh ở mỏm đá Hoàng Mai từ năm 1966 đã được công nhận là liệt sĩ. Chúng tôi nhờ các đồng chí giúp đỡ để đồng chí Phùng Chí Kiên cũng được công nhận là liệt sĩ".

Các đồng chí trong Huyện ủy huyện Diễn Châu dẫn chúng tôi về xã Diễn Yên, vào nhà một người cháu của đồng chí Phùng Chí Kiên, nơi có đặt một chỗ thờ đồng chí. Nhìn lên bàn thờ đặt trên cao, nho nhỏ, sơ sài, chỉ có tấm ảnh đồng chí Phùng Chí Kiên khi là học sinh Trường Quân sự Hoàng Phố được truyền thần lại cỡ 13x19cm, một tấm Huân chương Chiến công hạng ba, một bát nhang, chúng tôi không khỏi chạnh lòng.

Khi trở về Hà Nội, chúng tôi đã đến báo cáo với Đại tướng Võ Nguyên Giáp về tình hình trên. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã kể cho chúng tôi biết mối quan hệ thân thiết giữa đồng chí Phùng Chí Kiên và Đại tướng khi ở Trung Quốc và khi về nước. Đánh giá công lao của đồng chí Phùng Chí Kiên, Đại tướng nói: "Đồng chí Phùng Chí Kiên là một nhà cách mạng có đức độ, một tài năng lớn về quân sự, một con người rất dũng cảm, mưu trí, luôn luôn hoạt bát, đánh giặc có nghề, đoàn kết với đồng chí. Đồng chí là một trong những cán bộ lãnh đạo cách mạng tiền bối, có công với Đảng ta không chỉ ở tổ chức mà ở cả đường lối cách mạng".

Sau đó, bằng uy tín của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi thư cho các cơ quan chức năng đề nghị sớm công nhận liệt sĩ cho đồng chí Phùng Chí Kiên. Đại tướng Phạm Văn Trà cũng đã có chỉ thị tới các cơ quan giải quyết chính sách của quân đội. Đến tháng 11 năm 2003, đồng chí Phùng Chí Kiên được Nhà nước công nhận là liệt sĩ.

Sau khi đồng chí Phùng Chí Kiên được công nhận là liệt sĩ, với tấm lòng kính trọng nhà cách mạng tiền bối, nhà lãnh đạo quân sự đầu tiên của Đảng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp tục đề nghị Đảng, Nhà nước có hình thức khen thưởng xứng đáng, tổ chức hội thảo khoa học về thân thế, sự nghiệp của đồng chí Phùng Chí Kiên cùng một số kiến nghị khác nhằm tôn vinh xứng đáng công lao, thành tích của đồng chí Phùng Chí Kiên.

Với sự quan tâm sâu sắc và những việc làm thiết thực của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, của những người quan tâm, quý trọng sự nghiệp cách mạng của đồng chí Phùng Chí Kiên và các cơ quan có thẩm quyền, những năm tháng hoạt động cách mạng và công lao của đồng chí Phùng Chí Kiên với Đảng, nhân dân và quân đội ta ngày càng được làm rõ thêm, đầy đủ hơn.

Chúng ta tin tưởng rằng với những sự thật lịch sử đã được xác nhận, Đảng và Nhà nước sẽ đánh giá đúng đắn công lao của đồng chí Phùng Chí Kiên với sự nghiệp cách mạng của Đảng, với Quân đội nhân dân Việt Nam để có sự ghi công xứng đáng. Công và danh của đồng chí Phùng Chí Kiên cần được ghi tạc đầy đủ vào lịch sử nước ta.
________________________________________________
* Trưởng phòng biên tập Nguyệt san Sự kiện và Nhân chứng, báo Quân đội nhân dân.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười Hai, 2021, 10:33:57 pm

PHÙNG CHÍ KIÊN - CUỘC ĐỜI NGẮN, SỰ NGHIỆP LỚN

PGS.TS PHẠM XANH*

Phùng Chí Kiên tên thật là Nguyễn Vĩ, sinh năm 19011 trong một gia đình nông dân làng Mỹ Quan Thượng, tổng Vạn Phần, nay là xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Học hết sơ học, gặp lúc gia đình khó khăn, anh phải thôi học. Năm 1925, anh đi làm thuê cho một gia đình thương nhân Hoa kiều giàu có ở ga Yên Lý, một ga xép trên tuyến đường sắt xuyên Việt. Tại đây, anh được Lê Hữu Lập, quê Thanh Hoá, sau khi học xong lớp huấn luyện chính trị Quảng Châu về nước hoạt động, giác ngộ. Anh tham gia tích cực vào tổ đọc sách báo tiến bộ và quyên góp tiền bạc cho nhóm xuất dương sang Quảng Châu. Nhà anh trở thành địa điểm lui tới của các bạn tâm giao, những người đồng chí. Tháng 10 năm 19262, anh cùng với một số người khác rời quê hương sang Quảng Châu học lớp huấn luyện chính trị của Nguyễn Ái Quốc. Mãn khóa huấn luyện, anh được kết nạp vào Hội Việt Nam cách mạng thanh niên trước mộ liệt sĩ Phạm Hồng Thái trong nghĩa trang Hoàng Hoa Cương ở Quảng Châu, và tiếp đó, anh được lựa chọn gửi sang học tại Trường Quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc). Lúc nhập học, anh mang tên Mạnh Văn Liễu. Anh là học sinh khóa V cũng là khoá học cuối cùng của Trường. Trong hai năm học tập tại đây, anh được các giáo viên - cố vấn quân sự Liên Xô truyền thụ những bài học quân sự đầu tiên theo quan điểm mácxit. Ý thức được tầm quan trọng của môn học và sự cần thiết của những kiến thức quân sự nên anh đã cố gắng giành nhiều thời gian để nghiền ngẫm sách vở và trau dồi những kỹ năng thực hành trên thao trường. Một trong những giáo viên quân sự Liên Xô giảng dạy tại Trường lúc đó là A.I. Trêrêpanốp, đã nhận xét về học viên Việt Nam, trong đó có anh, như sau:

"Trong số những học viên của chúng tôi có khoảng 30 người Việt Nam. Họ rất nghiêm chỉnh, cần cù lao động, dốc hết sức để học tập bởi vì họ biết rằng để giành chính quyền về tay công nông, phải cầm lấy vũ khí chiến đấu và chỉ có tri thức quân sự mới giúp họ bảo vệ cách mạng khỏi thù trong giặc ngoài"3.

Sau chính biến của Tưởng Giới Thạch, cánh hữu chiếm ưu thế trong Chính phủ Quảng Châu quay lại đàn áp Đảng Cộng sản Trung Quốc, phong trào cách mạng Trung Hoa, vì thế những nhà cách mạng Việt Nam cũng chịu nhiều hệ lụy. Ngày 30 tháng 12 năm 1928, ông bị bắt cùng với 12 người Việt Nam khác. Sau hơn 9 tháng ngồi tù ở Quảng Đông, họ đượr giải thoát và quay về Trường Quân sự Hoàng Phố. Sau đó ông buộc phải gia nhập Trung Hoa Quốc dân Đảng. Năm 1929, theo chỉ thị của An Nam Cộng sản Đảng, ông bí mật rời Trường Quân sự Hoàng Phố. Tiếp đó, ông đi Hồng Kông để từ đây tìm đường trở lại Việt Nam hoặc tới các vùng Xô-viết Trung Hoa. Họ lại bị mật thám bắt giữ, nhưng lần này được giải thoát nhanh chóng. Không bao lâu những người cộng sản Trung Quốc và Việt Nam đã bắt được liên lạc với họ. Cuối năm 1929, ông gia nhập Hồng quân Trung Quốc. Tháng 12 năm 1929, theo lời khuyên của những người cộng sản Trung Hoa, ông gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Thời kỳ đầu ông công tác trong Hồng quân Trung Quốc với tư cách là cố vấn của chỉ huy đại đội, ba tháng sau trở thành Đại đội trưởng và sáu tháng sau là Bí thư chi bộ, rồi là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 4 của Quân đoàn 2 Tôncan (thời kỳ Lý Lập Tam), ông là một trong những người đi đầu trong cuộc đấu tranh chống lại đường lối của Lý Lập Tam trong trung đoàn. Sau đó ông trở thành Chính ủy tiểu đoàn và ủy viên Ban chấp hành Đảng bộ Trung đoàn. Trong những năm tháng phục vụ trong Hồng quân Trung Quốc, ông đã chiến đấu 50 trận đánh lại quân đội Quốc dân Đảng Trung Hoa và đã hai lần bị thương nặng. Tháng 12 năm 1930, Đảng Cộng sản Đông Dương gọi ông về Hồng Kông và tại đây ông được gặp Nguyễn Ái Quốc và gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 1 năm 1931, theo sự chỉ đạo của Nguyễn Ái Quốc, ông và hai người nữa là Đình Tân (Trần Văn Điềm) và An được gửi đi Mátxcơva học tập, nhưng trên đường tới Liên Xô cả ba người bị bắt tại Kharbin và ngồi tù gần một năm. Nhờ sự giúp đỡ của MOPR họ được tha và được đưa về Thượng Hải tháng 12 năm 1931. Họ làm việc ở đây một vài tháng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc, trong binh lính và thủy thủ Đông Dương của Pháp. Tháng 4 năm 1932, ông và Đình Tân lần thứ hai băng qua miền Bắc Trung Quốc tới Liên Xô. Với bí danh là Kan, ông học tập tại Trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản trong những năm 1933-1934. Được sự giúp đỡ tận tình của các giáo viên Liên Xô, đặc biệt là nữ đồng chí Vaxilieva, ủy viên Bộ phương Đông của Quốc tế Cộng sản, đặc trách về Đông Dương, ông tranh thủ ngày đêm học tập lý luận Mác - Lênin, nghiên cứu kinh nghiệm tiến hành và bảo vệ chính quyền Xô-viết. Ngoài những vấn đề quan trọng trên, ông còn tiếp tục tìm hiểu vấn đề xây dựng quân đội theo hình mẫu Hồng quân Liên Xô mà ông đã từng được nghe giảng từ các chuyên gia cố vấn quân sự Xô-viết tại Trường Quân sự Hoàng Phố năm xưa. Những năm tháng sống và học tập tại Liên Xô là quãng thời gian quý báu giúp Phùng Chí Kiên hoàn thiện và nâng cao hiểu biết của mình về lý luận cách mạng, về khởi nghĩa vũ trang và xây dựng quân đội. Tất cả những điều đó rất cần cho Phùng Chí Kiên trong tương lai khi có điều kiện về nước hoạt động.
_______________________________________________
* Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội.
1.  A.A Xôcôlốp, Quốc tế Cộng Sản và Việt Nam (tiếng Nga). Mátxcơva, 1998, tr. 133, thì Nguyễn Vĩ sinh năm 1904.
2.  Về ngày xuất dương của đồng chí Phùng Chí Kiên có ý kiến cho rằng năm 1924 anh xuất dương sang Xiêm. Hồi ký của Lê Thiết Hùng trong Tạp chí Lịch sử quân sự, số 6 (6.1986), tr. 67.
3.  A.I. Trêrêpanổp, Hồi ký, Phụ nữ Liên Xô (bản tiếng Nga), số 2, 1980, tr. 7.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười Hai, 2021, 10:36:53 pm

Phùng Chí Kiên tốt nghiệp Trường Đại học Phương Đông vào một thời kỳ đặc biệt. Ấy là lúc cách mạng Đông Dương đang trải qua những cơn sóng gió bởi sự đàn áp đẫm máu cao trào cách mạng 1930-1931 và Xô-viết Nghệ Tĩnh của thực dân Pháp và tay sai. Toàn bộ Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa đầu bị bắt, Tổng Bí thư Trần Phú hy sinh, nhiều đảng viên bị bắn giết, nhiều tổ chức Đảng bị xoá sổ. Phong trào cách mạng và Đảng Cộng sản Đông Dương đang gặp muôn vàn khó khăn, tưởng chừng không vượt qua nổi. Trước tình hình đó, Quốc tế Cộng sản đã đề ra những chủ trương, đường lối với những bước đi thích hợp nhằm nhanh chóng tổ chức lại Đảng Cộng sản Đông Dương và khôi phục phong trào cách mạng ở khu vực này. Cùng với việc phát động trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế chiến dịch chống khủng bố trắng và đòi ân xá chính trị phạm ỏ Đông Dương, Quốc tế Cộng sản đã gấp rút cử những học viên vừa tốt nghiệp Trường Đại học Phương Đông về nước hoạt động và đặc biệt lập Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương tại Thượng Hải thay cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng trong nước đã bị thực dân Pháp đàn áp, trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước. Trong bối cảnh đó, năm 1934, sau khi kết thúc khóa học ở Mátxcơva, ông được Quốc tế Cộng sản điều về Thượng Hải bổ sung cho Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương đã được Lê Hồng Phong thành lập trước đó ít lâu. Ngày 14 tháng 6 năm 1934, Phùng Chí Kiên, với bí danh là Lý, tham gia Hội nghị của Ban lãnh đạo hải ngoại và các đại biểu từ trong nước ra để kiểm điểm việc thực hiện Chương trình hành động của Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1932. Sau đó, đồng chí cùng với Ban Chỉ huy ở ngoài xúc tiến công tác chuẩn bị cho việc triệu tập Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng. Ban Chỉ huy ở ngoài báo cáo với Quốc tế Cộng sản về chủ trương triệu tập Đại hội Đảng Cộng sản Đông Dương vào tháng 3 năm 1935 và xin ý kiến chỉ đạo xây dựng các văn kiện trình Đại hội. Do không nhận được sự trả lời của Quốc tế Cộng sản, Ban Chỉ huy ở ngoài tiến hành xây dựng các văn kiện Đại hội I dựa trên tư tưởng chỉ đạo của các nghị quyết của Đại hội VI Quốc tế Cộng sản và các chỉ thị của các Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Quốc tế Cộng sản sau đó. Đại hội lần thứ nhất Đảng Cộng sản Đông Dương họp từ ngày 27 đến 31 tháng 3 năm 1935 tại một địa điểm trên phố Quan Công (Ma Cao, Trung Quốc), với sự hiện diện của 10 đại biểu1, trong đó có Hà Huy Tập và Phùng Chí Kiên, đại biểu của Ban Chỉ huy ở ngoài. Đại hội đã thảo luận và thông qua hai nghị quyết quan trọng: Về công tác đã qua của Ban Chỉ huy ở ngoài kiêm Ban Chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng Cộng sản Đông Dương và Về hệ thống tổ chức, quyền hạn và nhiệm vụ của Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương chính thức gồm 13 người (9 chính thức và 4 dự bị), trong đó có đồng chí Phùng Chí Kiên, đặc trách bộ phận công tác đảng ở nước ngoài. Đại hội 1 của Đảng Cộng sản Đông Dương thành công đánh dấu sự khôi phục hoạt động của Đảng và phong trào cách mạng Việt Nam, chuẩn bị điều kiện cho bước phát triển mới ở thời kỳ tiếp theo.

Sau Đại hội VII Quốc tế Cộng sản, đồng chí Lê Hồng Phong về Thượng Hải, Trung Quốc. Tại đây, ngày 26 tháng 7 năm 1936, đồng chí cùng với Hà Huy Tập và Phùng Chí Kiên tổ chức hội nghị quán triệt và vận dụng chủ trương của Đại hội VII Quốc tế Cộng sản vào tình hình thực tế Đông Dương. Sau khi thảo luận, quyết định phương hướng và biện pháp lãnh đạo phong trào cách mạng theo tinh thần chỉ đạo của Đại hội VII Quốc tế Cộng sản, hội nghị đã bàn về công tác xây dựng tổ chức Đảng trong tình hình mới. Hội nghị chủ trương không thay đổi thường xuyên các đồng chí có trách nhiệm trong các cơ quan cao cấp để giữ bí mật và tránh gây hậu quả không tốt cho công tác, bổ sung những điểm mới vào Điều lệ hiện hành.

Sau thắng lợi của cuộc tổng tuyển cử năm 1936, Chính phủ Mặt trận bình dân Pháp được thành lập và đã ban bố một số chính sách có lợi cho các nước thuộc địa, trong đó có Đông Dương. Tình hình thế giới và trong nước thay đổi có lợi cho cách mạng. Trước tình hình đó, tháng 8 năm 1936, đồng chí Phùng Chí Kiên về nước hoạt động cùng với đồng chí Hà Huy Tập, chỉ đạo phong trào cách mạng theo tinh thần nghị quyết Đại hội VII Quốc tế Cộng sản và của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ngày 26 tháng 7 năm 1936 nhằm đấu tranh đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hoà bình. Từ ngày 25 tháng 8 đến ngày 4 tháng 9 năm 1937, đồng chí Phùng Chí Kiên tham dự Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng mở rộng tại Bà Điểm, Hóc Môn, Gia Định. Hội nghị đã đặt công tác xây dựng Đảng là công tác quan trọng hàng đầu trong các công tác cần kíp của Đảng. Hội nghị yêu cầu Đảng bộ các cấp đấu tranh chống lại các xu hướng sai lầm "biệt phái cô độc, hữu khuynh thoả hiệp" trong hàng ngũ Đảng2. Hội nghị củng cố Ban Chấp hành Trung ương gồm 11 đồng chí, trong đó có Phùng Chí Kiên. Cuối năm 1937, với thẻ căn cước mang tên Phùng Nguôn Bình, đồng chí rời Sài Gòn trở lại Hương Cảng hoạt động theo sự phân công của Tổng Bí thư Lê Hồng Phong đã về nước ngày 10 tháng 11 năm 1937. Tại hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương, tháng 3 năm 1938 họp ở Tân Thới Nhất, Hóc Môn, Gia Định, đồng chí Phùng Chí Kiên được bầu lại là Ủy viên Trung ương Đảng.

Sau khi đồng chí Lê Hồng Phong về nước hoạt động, Ban Chỉ huy ở ngoài do Phùng Chí Kiên phụ trách. Gặp khó khăn về nhân sự và tài chính, hơn nữa việc đưa đón cán bộ sang Liên Xô học tập không còn vì các trường Đại học của Quốc tế Cộng sản đã đóng cửa, nên Ban Chỉ huy ở ngoài tồn tại "cốt để duy trì đường giao thông ở ngoại quốc"3. Ban Chỉ huy ở ngoài vẫn đóng trụ sở tại ngôi nhà số 71 phố Đại Nam, Hồng Kông, giữ liên lạc thường xuyên với chi bộ Vân Quý do đồng chí Vũ Anh làm Bí thư. Ngày 25 tháng 10 năm 1937, cảnh sát Anh bắt đồng chí tại trụ sở của Ban Chỉ huy ở ngoài4. Không có bằng cớ xác đáng để buộc tội, hai tháng sau, cảnh sát Anh trả lại tự do cho đồng chí cùng với lệnh trục xuất khỏi thành phố.
____________________________________________
1.  Theo Báo cáo của Ban Chỉ huy ở ngoài gửi Quốc tế Cộng sản, tham dự Đại hội có 13 đại biểu, song trên thực tế vì 2 đại biểu Bắc Kỳ đến muộn và 1 đại biểu của Liên địa phương Chấp ủy miền Nam Đông Dương không được tham dự nên chỉ có 10 đại biểu là Hà Huy Tập, Phùng Chí Kiên (đại biểu của Ban Chỉ huy ở ngoài), Võ Văn Ngân, Nguyễn Chánh Nhì (đại biểu của Liên địa phương Chấp ủy miền Nam Đông Dương), Phạm Văn Xô (đại biểu của Đảng bộ Ai Lao), Ngô Tuân, Võ Nguyên Hiến (đại biểu của Bắc Trung Kỳ), Trần Văn Chấn, 1 người Xiêm, 1 người Hoa kiều (đại diện của Đảng Cộng sản Xiêm).
2.  Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 293.
3.  Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 384.
4.  Le Contrôleur Général de la Sureté Debord (le 26 Novembre 1938), Note confidentielle N- 5701 /SG, Hanoi. Lưu tại Viện Lịch sử Đảng.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười Hai, 2021, 10:38:00 pm

Năm 1939 Phùng Chí Kiên tới Côn Minh, thủ phủ của tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, bắt liên lạc với chi bộ Vân Quý. Phùng Chí Kiên lập ra Hải ngoại chỉ huy ban gồm 3 đồng chí do đích thân đồng chí làm Thư ký (Bí thư). Tại đây, đồng chí cùng với Trịnh Đông Hải, tức Vũ Anh xuất bản tờ báo Truyền tin, sau đổi thành Đồng Thanh làm cơ quan tuyên truyền của Việt Nam dân chúng hưởng ứng Trung Hoa kháng địch hậu viện Hội. Hải ngoại chỉ huy ban và chi bộ Vân Quý là cơ sở để đồng chí Nguyễn Ái Quốc bắt liên lạc và xúc tiến chuẩn bị điều kiện về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng.

Đầu năm 1940, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tới Côn Minh. Đồng chí Phùng Chí Kiên đã báo cáo với Người tình hình và hoạt động cách mạng của người Việt tại Hoa Nam. Được sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, tờ báo Đồng Thanh được đổi thành tờ Đ.T nhằm hàm chứa một ý nghĩa rộng hơn như Đồng Tâm, Đấu Tranh, Đánh Tây... tuỳ theo cách hiểu của từng người và từng thời điểm cụ thể. Đồng chí đã trực tiếp đưa lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đến công tác nhiều nơi thuộc tỉnh Vân Nam. Chuyến đi này là sự chuẩn bị cơ sở vững chắc cho chuyến công tác lần thứ hai tới Côn Minh đầu năm 1942 của Hồ Chí Minh trong sự nỗ lực tiếp xúc với phái bộ Đồng Minh, đặc biệt là với các phái bộ Hoa Kỳ.

Tháng 6 năm 1940, Chính phủ Pêtanh (Pháp) đầu hàng phát xít Đức. Tháng 9 năm 1940, phát xít Nhật nhảy vào Việt Nam. Khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ, binh biến Đô Lương lần lượt bùng nổ. Tình hình thế giới và trong nước biến chuyển có lợi cho phong trào cách mạng. Cơ hội về nước hoạt động bấy lâu nay chờ đợi đã xuất hiện. Nguyễn Ái Quốc cùng với các môn đệ của mình tích cực xúc tiến cho kế hoạch "đột nội". Trong những ngày đó, đồng chí Phùng Chí Kiên theo sát lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, xích dần tới Tĩnh Tây, một thị trấn nhỏ vùng biên, nơi có nhiều Việt kiều sinh sống. Tại đây, đồng chí đã lựa chọn và tập hợp hơn 40 thanh niên yêu nước từ trong nước mới sang để lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc huấn luyện thành những cán bộ cốt cán đưa về Cao Bằng hoạt động, chuẩn bị tốt cơ sở cho sự đột nội của Người sau đó không lâu.

Ngày 28 tháng 1 năm 1941, đồng chí đã đưa lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc vượt cột mốc số 108 trên biên giới Việt - Trung về Pắc Bó thuộc huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Tháng 5 năm 1941, dưới sự chủ toạ của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc Hội nghị Trung ương lần thứ 8 của Đảng Cộng sản Đông Dương nhóm họp tại lán Khuổi Nậm, Pắc Bó. Hội nghị đánh dấu sự hoàn thiện về chuyển hướng chiến lược cách mạng của Đảng. Tại hội nghị này, đồng chí Trường Chinh được bầu làm Tổng Bí thư và đồng chí Phùng Chí Kiên được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trực tiếp chỉ đạo khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai và Trung đội Cứu quốc quân 1. Cương vị quan trọng mà Trung ương Đảng trao cho đồng chí đã xác nhận năng lực của đồng chí trong công tác mũi nhọn của toàn Đảng, toàn dân lúc đó, đồng thời cũng xác nhận niềm tin và hy vọng đặt vào đồng chí trong lĩnh vực hoạt động này.

Với lực lượng sẵn có cùng với lực lượng Trung ương Đảng vừa tăng cường, Đội du kích Bắc Sơn được vinh dự đổi tên thành Đội Cứu quốc quân Bắc Sơn. Lúc đổi tên, Cứu quốc quân Bắc Sơn có 37 người, 15 súng trường và súng kíp, được biên chế thành 3 tiểu đội do đồng chí Phùng Chí Kiên làm chỉ huy trưởng và đồng chí Lương Văn Tri, tức Huy còm, làm chỉ huy phó. Toàn đơn vị đã được đồng chí Tổng bí thư Trường Chinh, sau Hội nghị Trung ương 8 về qua đây, phổ biến và quán triệt đường lối và chính sách mới của Đảng trong Nghị quyết 8. Đây là đợt sinh hoạt chính trị đầu tiên của đội quân cách mạng trước khi bước vào những trận chiến đấu mới.

Cuối tháng 6 năm 1941, được bọn phản bội cách mạng báo tin, thực dân Pháp đã huy động 4.000 quân gồm lính Pháp, lính Lê dương, lính khố đỏ, lính khố xanh và lính dõng địa phương từ Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Kạn ồ ạt tiến công khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai với dã tâm thâm độc là truy bắt các đồng chí cán bộ cao cấp của Đảng dự Hội nghị Trung ương 8 về qua đây, tiêu diệt Đội Cứu quốc quân và dập tắt phong trào cách mạng ở vùng này. Trước tình hình đó, trong cuộc họp khẩn cấp tại Khuổi Nọi thuộc xã Vũ Lễ, Ban chỉ huy Cứu quốc quân Bắc Sơn đã quyết định cử một tổ Cứu quốc quân bảo vệ và đưa đường cho các đồng chí Trung ương về xuôi1, đại bộ phận còn lại do hai đồng chí Phùng Chí Kiên và Lương Văn Tri chỉ huy, tích cực chiến đấu giữ vững phong trào cách mạng.

Dưới sự chỉ huy của đồng chí Phùng Chí Kiên, Đội Cứu quốc quân Bắc Sơn đã chiến đấu anh dũng, đánh tan một số trận càn quét lớn của địch, giữ vững tinh thần cách mạng của nhân dân Bắc Sơn, điển hình là trận chống càn Giá Huần (Vũ Lễ). Vì lực lượng đôi bên quá chênh lệch nên đội Cứu quốc quân phải thường xuyên di chuyển lực lượng, do vậy sức lực cũng giảm dần. Trong khi đó, địch tăng cường sức ép, một số cơ sở quần chúng bị lộ vỡ, khu căn cứ bị thu hẹp dần. Trước tình hình mất còn đó, Ban chỉ huy Cứu quốc quân Bắc Sơn buộc phải chọn một giải pháp thích hợp nhất - cho một tiểu đội ở lại chặn địch, còn hai tiểu đội rút khỏi Bắc Sơn tiến lên căn cứ địa Cao Bằng để bảo toàn lực lượng. Tháng 8 năm 1941, cuộc rút lui chiến lược khỏi Bắc Sơn bắt đầu. Lực lượng được chia thành hai cánh, rút theo hai hướng khác nhau tiến về Cao Bằng. Cánh quân thứ nhất do Hoàng Văn Thái và Đặng Văn Cáp chỉ huy, rút theo hướng Bắc Sơn - Bình Gia - Thất Khê vòng sang đất Trung Quốc rồi quay trở lại Cao Bằng. Cánh quân thứ hai do Phùng Chí Kiên trực tiếp chỉ huy rút theo hướng Bắc Sơn - Ngân Sơn - Cao Bằng. Ngày 19 tháng 8 năm 1941, cánh quân Phùng Chí Kiên đến Pò Kép, châu Na Rì thì bị địch phục kích. Các chiến sĩ Cứu quốc quân nhanh chóng triển khai đội hình chiến đấu, vừa ngoan cường đánh trả, vừa tiếp tục tiến quân theo hướng đã định. Được cấp báo, đồn trưởng đồn Ngân Sơn liền huy động lực lượng truy kích và khoá chặn tất cả các ngã đường lên Cao Bằng. Ngày 22 tháng 8 năm 1941, đơn vị đến Khau Pàn, xã Bằng Đức, châu Ngân Sơn thì rơi vào ổ phục kịch của địch. Bị đánh bất ngờ nên đơn vị bị tổn thất nặng nề. Chỉ huy trưởng Phùng Chí Kiên đã anh dũng hy sinh. Năm đó, đồng chí mới 40 tuổi, độ tuổi còn sung sức, còn cống hiến nhiều cho cách mạng, cho dân tộc. Các đồng chí của ông đã tiếp tục sự nghiệp của ông còn dang dở. Tháng 9 năm 1941, Trung đội Cứu quốc quân 2 ra đời. Tháng 2 năm 1944, Trung đội Cứu quốc quân 3 thành lập. Ngày 22 tháng 12 năm 1944, Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân ra đời. Sau đó, chấp hành Nghị quyết của Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ tháng 4 năm 1945, các lực lượng vũ trang của Đảng được thống nhất thành Việt Nam Giải phóng quân. Đội quân ấy đã đóng vai trò quan trọng trong thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Đồng chí Phùng Chí Kiên, cuộc đời ngắn, nhưng thực sự đã có một sự nghiệp rất lớn lao. Với những công lao to lớn đó, năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh phong quân hàm cấp tướng cho đồng chí Phùng Chí Kiên.
_______________________________________________
1.  Đến đầu tháng 8 năm 1941, tổ công tác này đã hoàn thành nhiệm vụ được giao: Các đồng chí trung ương được các chiến sĩ bảo vệ và đưa đường về Tràng Xá, Võ Nhai, Thái Nguyên rồi từ đây đi tiếp về xuôi.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2021, 01:16:04 pm

PHÙNG CHÍ KIÊN - VỊ "KHAI QUỐC CÔNG THẦN”
CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

Trung tá, ThS HOÀNG THỊ THẢO
Đại úy, ThS LÊ QUÝ THI*

Trong lịch sử cách mạng oanh liệt và vẻ vang của Đảng và dân tộc ta, đồng chí Phùng Chí Kiên thuộc lớp chiến sĩ cách mạng tiền bối, lớp đảng viên đầu tiên, người học trò tiêu biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một trong những vị "khai quốc công thần" của Quân đội nhân dân Việt Nam, chiến sĩ kiên cường của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

Sinh ra và lớn lên tại Diễn Châu, Nghệ An - mảnh đất giàu truyền thống yêu nước, người thanh niên giàu nhiệt huyết Phùng Chí Kiên sớm giác ngộ lý tưởng cách mạng, đã đấu tranh trên con đường cứu nước, cứu dân. Phùng Chí Kiên, như bao chiến sĩ cách mạng khác, đã ngã xuống, hy sinh vì cách mạng, vì sự nghiệp giải phóng dân tộc ở độ tuổi 40 còn tràn đầy nhiệt huyết tranh đấu. Lịch sử cách mạng ghi nhận những cống hiến của Phùng Chí Kiên như một tấm gương xả thân vì cách mạng và khí phách hiên ngang, anh dũng trước quân thù.

Khi còn ngồi trên ghế nhà trường, Phùng Chí Kiên là một trò say mê đọc sách báo, nhất là loại sách tố cáo bộ mặt thật của xã hội thực dân đương thời. Năm 1925, Phùng Chí Kiên học xong Sơ học yếu lược. Vì gia cảnh khó khăn, ông phải thôi học và đi làm thuê cho một thương gia Hoa kiều ở ga Yên Lý. Với tất cả lòng hăng say của tuổi trẻ, tại đây, Phùng Chí Kiên được Lê Hữu Lập giác ngộ cách mạng, ông tham gia phong trào quyên góp tiền bạc cho nhóm xuất dương đầu tiên sang Quảng Châu. Từ đó, nhà ông thường là nơi hội họp bí mật của một số thanh niên yêu nước. Tháng 10 năm 1926, Phùng Chí Kiên cùng một số đồng chí khác sang Quảng Châu dự lớp huấn luyện chính trị do Nguyễn Ái Quốc tổ chức.

Là một thanh niên nhanh nhạy, có năng khiếu quân sự và kỹ thuật, Phùng Chí Kiên cùng với các đồng chí khác như Lê Hồng Phong, Lê Thiết Hùng, Trương Vân Lĩnh... được Nguyễn Ái Quốc chọn gửi vào học tại Trường Quân sụ Hoàng Phố. Tại đây, đồng chí mang bí danh là Mạnh Văn Liễu. Tháng 8 năm 1927, Trường bị đóng cửa do Tưởng Giới Thạch làm đảo chính, những học viên Việt Nam theo học tại trường đứng về phía Đảng Cộng sản Trung Quốc chống lại những hành động quân phiệt phản cách mạng đó. Tháng 12 năm 1927, Phùng Chí Kiên gia nhập quân cách mạng và tham gia cuộc Khởi nghĩa Quảng Châu. Cuộc khởi nghĩa thất bại, Phùng Chí Kiên cùng với quân cách mạng Trung Quốc về xây dựng khu Xô-viết ở Hải Phong và Lục Phong. Trên đất bạn, với cương vị là Đại đội trưởng, ông đã rèn luyện và chiến đấu đánh chặn nhiều cuộc tiến công của lực lượng phản cách mạng bảo vệ khu Hải - Lục Phong.

Tháng 2 năm 1931, Nguyễn Ái Quốc cử Phùng Chí Kiên sang học Trường Đại học Phương Đông, nhưng trên đường đi, ông bị bắt và giam cầm gần một năm. Sau khi ra tù, đồng chí tiếp tục cuộc hành trình sang Liên Xô học tập. Năm 1934, sau khi tốt nghiệp Trường Đại học Phương Đông, Phùng Chí Kiên được Quốc tế Cộng sản phái về hoạt động tại Trung Quốc để tăng cường cho Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 6 năm 1934, Phùng Chí Kiên tham gia Hội nghị của Ban Chỉ huy ở ngoài. Hội nghị nhấn mạnh, nhiệm vụ cấp bách lúc đó của cách mạng Việt Nam là nhanh chóng khôi phục sức chiến đấu của Đảng. Sau đó, đồng chí Phùng Chí Kiên cùng Hà Huy Tập và các đồng chí khác đã tiến hành dự thảo các văn kiện chuẩn bị cho Đại hội lần thứ nhất của Đảng. Tháng 3 năm 1935, Đại hội họp ở Ma Cao (Trung Quốc), đồng chí Phùng Chí Kiên được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, phụ trách công tác Đảng ở hải ngoại.

Đầu năm 1940, Nguyễn Ái Quốc về đến Côn Minh (Trung Quốc) bắt liên lạc với Ban Hải ngoại của Đảng. Tháng 6 năm 1940, ở chính quốc, Pháp thua Đức, Nguyễn Ái Quốc nhận định đây là cơ hội thuận lợi cho cách mạng nước ta và Người quyết định chuẩn bị về nước. Tháng 12 năm 1940, sau khi nghe đồng chí Hoàng Văn Thụ báo cáo kết quả các Hội nghị tháng 11 năm 1939 và tháng 11 năm 1940 của Trung ương và tình hình cách mạng trong nước, Người chỉ thị cho đồng chí Hoàng Văn Thụ về nước cùng Ban Chấp hành Trung ương lâm thời chuẩn bị Hội nghị Trung ương lần thứ 8.

Ở trong nước lúc này, các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ và binh biến Đô Lương tuy thất bại nhưng đã gây tiếng vang lớn, báo hiệu một khí thế mới cho phong trào cách mạng Việt Nam. Tại Quảng Tây, đồng chí Phùng Chí Kiên dưới sự chỉ đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã tập hợp được hơn 40 thanh niên yêu nước, đào tạo họ thành những cán bộ cốt cán đưa về Cao Bằng xây dựng căn cứ và phong trào cách mạng. Qua tìm hiểu, Người đánh giá cao vị trí Cao Bằng. Người nói: "Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra nhiều triển vọng lớn lao cho cách mạng nước ta. Cao Bằng có phong trào cách mạng tốt từ trước, lại kề sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi. Nhưng từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được. Có nối phong trào được với Thái Nguyên và toàn quốc thì khi phát động đấu tranh vũ trang, lúc thuận lợi có thể tiến công, lúc khó khăn có thể giữ"1. Nguyễn Ái Quốc đã đặt vấn đề phải xây dựng căn cứ địa cách mạng làm điểm tựa ban đầu để xây dựng lực lượng và làm bàn đạp cho khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. Trung ương Đảng cũng chủ trương xây dựng căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai. Do yêu cầu của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở nước ta sẽ được kết thúc bằng cuộc khởi nghĩa vũ trang, nên hai khu căn cứ địa ra đời là một đòi hỏi tất yếu.

Ngày 28 tháng 1 năm 1941, đồng chí Phùng Chí Kiên cùng lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc vượt biên giới về Cao Bằng hoạt động. Tại đây, đồng chí Phùng Chí Kiên được phân công phụ trách huấn luyện chính trị cho cán bộ địa phương. Đây là lớp huấn luyện cán bộ Việt Minh đầu tiên của nước ta. Sau khoá huấn luyện, các cán bộ toả đi khắp các huyện Hà Quảng, Hoà An, Nguyên Bình, tiến hành xây dựng cơ sở cách mạng. Đó là những cơ sở đầu tiên của căn cứ địa Cao Bằng để sau này mở rộng khắp địa bàn trong và ngoài tỉnh.
________________________________________________
* Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
1.  Võ Nguyên Giáp, Từ nhân dân mà ra, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1964, tr.34.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2021, 01:16:41 pm

Trước bối cảnh của tình hình thễ giới và trong nước có lợi cho cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5.1941) tại Cao Bằng. Hội nghị đã hoàn chỉnh sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng của Đảng, nêu cao nhiệm vụ chống đế quốc, giành độc lập dân tộc, đồng thời, quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh, nhằm đoàn kết tất cả giai cấp, tầng lớp dân tộc thành một lực lượng chính trị to lớn. Mục tiêu cơ bản nhất lúc này là giành độc lập dân tộc. Hội nghị nhấn mạnh phải dùng khởi nghĩa vũ trang, muốn vậy phải coi việc chuẩn bị khởi nghĩa là nhiệm vụ trọng tâm của Đảng ta lúc bấy giờ. Hội nghị còn lường định, trước khi nổ ra khởi nghĩa đồng loạt, nếu có điều kiện, có thể lãnh đạo khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương giành thắng lợi để mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn hơn để giành thắng lợi hoàn toàn.

Để chuẩn bị lực lượng, bên cạnh việc xây dựng Mặt trận Việt Minh là lực lượng chính trị to lớn, cơ bản, Hội nghị còn quyết định xây dựng lực lượng vũ trang, căn cứ địa cách mạng Cao Bằng và Bắc Sơn - Võ Nhai, do Trung ương trực tiếp chỉ đạo. Sau Hội nghị, Trung ương bổ sung cho căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai nhiều cán bộ chính trị, quân sự, trong đó có đồng chí Phùng Chí Kiên, Ủy viên Trung ương Đảng.

Thực hiện nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 8, việc xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng ở các địa phương, trọng tâm là Bắc Sơn - Võ Nhai và Cao Bằng, được đẩy mạnh. Tại căn cứ Bắc Sơn, mặc dù bị địch khủng bố, đàn áp gắt gao, Đội Cứu quốc quân dựa vào dân, được nhân dân ủng hộ giúp đỡ, vẫn tích cực luyện tập quân sự, chính trị, củng cố khu căn cứ về mọi mặt. Đội đã làm nhiệm vụ đưa, đón và bảo vệ an toàn cho đoàn cán bộ trung ương trên đường trở về xuôi sau khi tham dự Hội nghị Trung ương lần thứ 8 qua khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai.

Tháng 6 năm 1941, đoàn cán bộ Trung ương Đảng gồm các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt và một số cán bộ tăng cường cho Bắc Sơn - Võ Nhai, từ Pắc Bó trở về Bắc Sơn. Ngày 6 tháng 7 năm 1941, đoàn về đến xã Quỳnh Sơn (Bắc Sơn, Lạng Sơn) thì gặp địch chặn đường. Với tinh thần cảnh giác, được tổ du kích Bắc Sơn bảo vệ và nhân dân giúp đỡ, các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Phùng Chí Kiên và số cán bộ tăng cường cho Bắc Sơn đã bí mật chuyển vào Lũng Pán an toàn. Sau vài ngày, các đồng chí chuyển vào Lân Táy, thuộc xã Hữu Vĩnh, nơi cơ quan bí mật đã được Ban chỉ huy Đội Cứu quốc quân xây dựng từ trước. Ở Lân Táy, đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư của Đảng đã gặp gỡ Ban chỉ huy đội Cứu quốc quân, nắm tình hình và truyền đạt chủ trương của Đảng theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 8 về việc củng cố, chấn chỉnh đội du kích và xây dựng khu căn cứ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới. Đây là lần học tập đầu tiên về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trong lực lượng vũ trang cách mạng của ta.

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các lực lượng vũ trang, đồng thời phù hợp với nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn cách mạng mới, Đội du kích Bắc Sơn đã được đổi tên thành Đội Cứu quốc quân Bắc Sơn. Đây là Trung đội cứu quốc quân 1 do đồng chí Phùng Chí Kiên làm Chỉ huy trưởng, Lương Văn Tri - Chính trị viên, Chu Văn Tấn - Chỉ huy phó. Ban Chỉ huy Trung đội Cứu quốc quân 1 đặt dưới sự lãnh đạo của Ban Thường vụ Trung ương Đảng. Một số cán bộ quân sự, chính trị do Đảng đào tạo, cùng vũ khí, đã được bổ sung cho đơn vị. Toàn Trung đội có 37 người, được biên chế thành 3 tiểu đội do các đồng chí Dương Thần Tân, Hoàng Đình Ruệ, Hà Khai Lạc làm Tiểu đội trưởng, vũ khí có 15 súng trường và súng kíp, còn lại là dao găm, giáo mác... Đồng chí Hoàng Quốc Việt, Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng, phổ biến những quyết nghị, chủ trương chính sách của Đảng và chương trình hành động của Việt Minh. Đồng chí Phùng Chí Kiên, truyền đạt những kiến thức cơ bản về quân sự, nhất là về chiến thuật du kích cho toàn thể cán bộ tham dự, để khi trở về địa phương họ tiếp tục phổ biến cho tự vệ và quần chúng cách mạng. Trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng Bắc Sơn, thực dân Pháp tăng cường lực lượng tay sai phản động người địa phương theo dõi, nắm tình hình phong trào cách mạng, cũng như các hoạt động của Cứu quốc quân, hòng đàn áp, khủng bố.

Dự kiến sau khi Hội nghị Trung ương lần thứ 8, các đồng chí Trung ương và đại biểu địa phương dự hội nghị về xuôi, nên ngay từ tháng 6 năm 1941, sở mật thám Bắc Kỳ đã lập một chi nhánh mật thám ở Đình Cả (Thái Nguyên) nhằm chặn đường đón bắt các đồng chí Thường vụ Trung ương Đảng, đồng thời chỉ thị cho công sứ Pháp ở các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên và Bắc Giang tăng cường lực lượng mật thám, cùng phối hợp, hòng dập tắt phong trào cách mạng của ta, nhưng âm mưu đó không thành.

Tháng 7 năm 1941, sau một thời gian chuẩn bị lực lượng, thực dân Pháp huy động 4.000 quân mở cuộc tiến công càn quét vào khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai, nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến của ta. Địch tập trung lực lượng tiến từ Lạng Sơn xuống, từ Thái Nguyên lên và từ Bắc Giang sang khép chặt vòng vây ở hai huyện Hữu Lũng và Yên Thế. Từ phía Lạng Sơn, lực lượng lính khố xanh mở các cuộc càn quét, triệt hạ một số làng bản ở các xã Vũ Lăng, Tân Lập. Từ phía Thái Nguyên, một trung đội lính khố xanh do Boócđiê, Đồn trưởng đồn Đình Cả chỉ huy, mở cuộc càn quét vào các làng Khuôn Khát, Bản Ít, cửa ngõ của Ban chỉ huy Trung đội Cứu quốc quân 1 ở Khuổi Nọi. Sáng ngày 21 tháng 7, các đồng chí Trung ương và lực lượng Cứu quốc quân 1, được đồng chí Hoàng Doãn Tàng, quần chúng cách mạng dẫn đường rút khỏi Lân Táy đến Sa Khao (xã Vũ Lăng) rồi đến Khuổi Nọi, nơi đồng chí Lương Văn Tri chỉ huy một tổ Cứu quốc quân đang hoạt động bảo vệ căn cứ.

Trước tình hình địch truy lùng ráo riết, các đồng chí Trung ương quyết định phân công đồng chí Phùng Chí Kiên cùng đồng chí Lương Văn Tri chỉ huy Trung đội Cứu quốc quân 1 làm nòng cốt cùng đồng bào Bắc Sơn chống địch càn quét khủng bố, còn các đồng chí Trung ương rút khỏi vòng vây của địch về khu an toàn.

Trước cuộc tiến công mãnh liệt của địch vào khu căn cứ, các chiến sĩ Cứu quốc quân đã chiến đấu anh dũng, gây cho địch một số thiệt hại. Ở trận Giá Huấn (Vũ Lễ), Cứu quốc quân đã đẩy lui cuộc càn lớn của địch vào vùng này. Nhưng kẻ địch liên tục càn quét. Đứng trước tình thế nghiêm trọng đó, Ban chỉ huy Cứu quốc quân 1 chủ trương rút hai tiểu đội ra khỏi Bắc Sơn lên vùng biên giới phía Bắc duy trì lực lượng, xây dựng căn cứ, còn một tiểu đội bí mật ở lại Bắc Sơn hoạt động chống địch khủng bố, duy trì căn cứ cách mạng.

Thực hiện chủ trương đó, tháng 8 năm 1941, lực lượng Cứu quốc quân rút khỏi căn cứ Bắc Sơn chia làm hai cánh phá vòng vây của địch, rút lên Cao Bằng để bảo toàn lực lượng. Cánh thứ nhất gồm các đồng chí Hoàng Văn Thái, Đặng Văn Cáp, Dương Công Bình, Hoàng Văn Hán, Hoàng Như Ý do đồng chí Hoàng Văn Thái và Đặng Văn Cáp chỉ huy. Ngày 10 tháng 8 năm 1941, cánh thứ hai gồm các đồng chí Phùng Chí Kiên, Lương Văn Tri, Hà Khai Lạc, Bế Sơn Cương... do đồng chí Phùng Chí Kiên, Lương Văn Tri chỉ huy, rút khỏi Khuổi Nọi lên Na Rì, Ngân Sơn (Bắc Kạn) để lên căn cứ địa cách mạng Cao Bằng.

Ngày 19 tháng 8, khi cánh quân đến Pò Kép thuộc châu Na Rì thì bị địch phục kích. Các chiến sĩ Cứu quốc quân đã nhanh chóng đánh trả địch, diệt một tên, bắn bị thương tên chánh thượng rồi tiếp tục hành quân. Nhưng quân địch ở đồn Ngân Sơn đã huy động lực lượng truy kích chặn các ngả đường lên Cao Bằng. Ngày 22 tháng 8 năm 1941, khi đến làng Khau Pàn, châu Ngân Sơn, Cứu quốc quân bị địch phục kích và tổn thất nặng. Đồng chí Phùng Chí Kiên hy sinh; đồng chí Lương Văn Tri bị thương nặng, bị bắt và mất trong nhà tù ngày 20 tháng 9 năm 1941 ở Cao Bằng. Đây là một tổn thất lớn đối với ta. Song, quân thù không thể dập tắt được ý chí chiến đấu của Cứu quốc quân và phong trào cách mạng của nhân dân ta. Cán bộ, chiến sĩ Trung đội Cứu quốc quân 1 đã nêu tấm gương vượt mọi khó khăn, gian khổ, chiến đấu dũng cảm, không khuất phục trước kẻ thù. Nhận được tin này, đồng chí Nguyễn Ái Quốc và Ban Chấp hành Trung ương Đảng vô cùng thương tiếc và đau xót. Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước ta đã truy phong quân hàm cấp tướng cho đồng chí Phùng Chí Kiên.

Bốn mươi tuổi đời, độ tuổi giàu sức sống, đầy nhiệt huyết đấu tranh của đời người, Phùng Chí Kiên là một trong những đồng chí lớp đầu gia nhập Đảng Cộng sản; một trong những vị "khai quốc công thần" của quân đội ta, đã góp phần viết nên những trang sử chói ngời trong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc. Cuộc đời hoạt động cách mạng đầy gian khổ, hy sinh nhưng vô cùng sôi động, giàu óc sáng tạo, đầy tinh thần tiến công, đầy tinh thần nhân ái cách mạng với đồng chí, đồng bào của đồng chí Phùng Chí Kiên đã, đang sẽ mãi mãi là tấm gương sáng ngời cho tất cả chúng ta.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2021, 02:08:55 pm

 
PHÙNG CHÍ KIÊN QUA MỘT SỐ TÀI LIỆU
LƯU TẠI VIỆN LỊCH SỬ ĐẢNG

TS HỒ TỐ LƯƠNG*

Trong kho lưu trữ tư liệu của Viện Lịch sử Đảng có phông tài liệu Hồi ký. Đây là những hồi ký được các đồng chí cán bộ lão thành cách mạng viết về quá trình hoạt động cách mạng của mình theo yêu cầu của Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương trước đây. Trong phông tài liệu Hồi ký đó, có một số tài liệu viết về quá trình hoạt động cách mạng của đồng chí Phùng Chí Kiên trong Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng và vai trò của đồng chí trong việc chỉ huy lực lượng Cứu quốc quân I1.

1. Hoạt động của Phùng Chí Kiên trong Ban Chỉ huy ở ngoài.

Phùng Chí Kiên là một trong những số ít cán bộ tiền bối của Đảng được đào tạo ở cả trường quân sự và trường chính trị. Cuối năm 1926, đồng chí được Nguyễn Ái Quốc giới thiệu vào học ở Trường Quân sự Hoàng Phố, nơi có các tướng lĩnh, các anh hùng thời kỳ nội chiến của Liên Xô được Quốc tế Cộng sản phái sang giảng dạy. Tại đây, đồng chí đã được học những kiến thức cơ bản về quân sự, về đấu tranh vũ trang... Tháng 4 năm 1927, Tưởng Giới Thạch phản bội lại đường lối hợp tác Quốc - Cộng của Chính phủ Tôn Trung Sơn, Trường Quân sự Hoàng Phố bị đóng cửa. Sau đó, Phùng Chí Kiên được Nguyễn Ái Quốc giới thiệu sang Liên Xô học ở Trường Đại học Cộng sản của nhân dân lao động phương Đông (Trường Đại học Phương Đông). Trên đường từ Quảng Châu sang Mátxcơva, đến Mãn Châu, Phùng Chí Kiên và các đồng chí khác bị bắt giam gần một năm. Nhờ sự giúp đỡ của MOΠP (Tổ chức quốc tế giúp đỡ các chiến sĩ cách mạng), Phùng Chí Kiên và các đồng chí khác được trả tự do và chuyển đến Thượng Hải vào tháng 12 năm 1931. Sau đó, Phùng Chí Kiên sang Liên Xô học ở Trường Đại học Phương Đông từ ngày 15 tháng 6 năm 1932 đến ngày 28 tháng 3 năm 1934 với thẻ sinh viên số 5690. Tại Trường Đại học Phương Đông, đồng chí đã được học những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, phương pháp tổ chức và lãnh đạo quần chúng đấu tranh cách mạng, công tác xây dựng Đảng, quân sự...

Năm 1934, sau khi kết thúc chương trình học tập ở Trường Đại học Phương Đông, Quốc tế Cộng sản phái Phùng Chí Kiên về Hương Cảng tham gia vào công việc của Ban chỉ huy ở ngoài. Theo chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng cộng sản Đông Dương có nhiệm vụ liên lạc giữa Trung ương Đảng cộng sản Đông Dương với Quốc tế Cộng sản và các đảng anh em, tập hợp và đào tạo cán bộ, xuất bản tạp chí Bônsơvích, cơ quan lý luận của Trung ương Đảng và chuẩn bị Đại hội I của Đảng. Trong thực tế, Ban Chỉ huy ở ngoài đóng vai trò Ban Trung ương Chấp ủy lâm thời.

Trong thời gian 1930-1934, ở nam Ninh có một Chi bộ liên tỉnh Cao Lạng gồm có các đồng chí: Hoàng Đình Giong là Bí thư, Hoàng Văn Thụ và Hoàng Vĩnh Tuy. Chi bộ này thường xuyên liên lạc với Ban Chỉ huy ở ngoài đóng ở Thượng Hải. Cùng với các đồng chí Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Phùng Chí Kiên (lấy tên là Lý Như Đông) đã chỉ đạo trực tiếp Chi bộ để gây dựng phong trào cách mạng ngày càng lớn mạnh.

Sau một thời gian hoạt động năng động của Ban Chỉ huy ở ngoài, các đảng bộ địa phương đã được tổ chức lại. Ban đã tập hợp dưới sự lãnh đạo của mình tất cả các tổ chức Đảng ở Trung Kỳ, Bắc Kỳ, Nam Kỳ, Cao Miên và Lào.

Sau khi Lê Hồng Phong đi dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản, Phùng Chí Kiên cùng với Hà Huy Tập soạn thảo các văn kiện của Đại hội I. Vận dụng lý luận đã học được, các đồng chí đã đề ra đường lối chiến lược, sách lược để củng cố phong trào cách mạng sau cao trào 1930-1931và tiến lên một giai đoạn mới. Phùng Chí Kiên còn phụ trách công tác tổ chức của Đại hội. Trước khi diễn ra Đại hội, hàng loạt biến cố xảy ra: người giữ số tiền quỹ để chuẩn bị cho đại hội tự nhiên biến mất, địa điểm họp bị lộ, nhà cầm quyền Pháp huy động hàng trăm mật thám lùng bắt các đại biểu... Đê đối phó lại âm mưu của địch, Hà Huy Tập và Phùng Chí Kiên bàn bạc và bố trí cho các đại biểu ở phân tán nhiều nơi. Đại biểu nào đến trước thì đọc tài liệu trước. Sát ngày đại hội, mới báo các đại biểu đến họp tập trung. Bằng biện pháp này, Hà Huy Tập và Phùng Chí Kiên đã tổ chức thành công Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng vào tháng 3 năm 1935. Tại Đại hội I, Phùng Chí Kiên được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, phụ trách công tác Đảng ở nước ngoài.

Ngày 26 tháng 7 năm 1936, Lê Hồng Phong với tư cách là Ủy viên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản và là người lãnh đạo chủ chốt của Ban Chỉ huy ở ngoài, đã triệu tập Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương để nghiên cứu, quán triệt Nghị quyết Đại hội VII Quốc tế Cộng sản. Cùng với Hà Huy Tập, Phùng Chí Kiên tham dự hội nghị này. Vận dụng tinh thần Nghị quyết Đại hội VII Quốc tế Cộng sản, căn cứ vào tình hình cụ thể của cách mạng và tình hình trên thế giới, hội nghị đã đề ra sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, thay đổi sách lược trong thời kỳ mới. Hội nghị tháng 7 năm 1936 có ý nghĩa vô cùng quan trọng, đã mở đầu cho thời kỳ cao trào Mặt trận dân chủ 1936-1939.

Tháng 8 năm 1936, Phùng Chí Kiên về Sài Gòn cùng các đồng chí Trung ương trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội VII Quốc tế Cộng sản, Nghị quyết Hội nghị Trung ương tháng 7 năm 1936. Một thời gian sau, do yêu cầu công tác, Phùng Chí Kiên lại được Trung ương Đảng điều sang Trung Quốc thay đồng chí Lê Hồng Phong về nước hoạt động.

Côn Minh (thủ phủ của tỉnh Vân Nam) là địa điểm rất thuận lợi để in và chuyển các tài liệu macxit về Việt Nam. Theo Điều ước ký giữa Triều đình Mãn Thanh và Pháp năm 1885, công ty xe lửa Pháp đã xây dựng con đường xe lửa chạy suốt từ Hà Nội, qua Lào Cai, Hà Khẩu đến Côn Minh. Tất cả những người Việt Nam làm việc trên xe lửa cũng như ở các nhà ga đều là công nhân viên chức do công ty trả lương và điều khiển, nhà đương cục Trung Quốc không được đụng chạm đến họ. Số người Việt Nam qua Vân Nam sống ở các thị trấn dọc đường xe lửa khá nhiều. Họ là bà con của các công nhân viên chức của công ty xe lửa, đều thuộc quyền trị ngoại của lãnh sự Pháp.

Năm 1938, Phùng Chí Kiên bị bắt ở Hương Cảng và bị trục xuất qua Sơn Dầu (Quảng Đông), ở đây đồng chí đã huấn luyện dân quân du kích một thời gian. Cuối năm 1939, Phùng Chí Kiên từ Sơn Dầu đến Côn Minh hoạt động để củng cố Ban Chỉ huy ở ngoài. Hoạt động với Phùng Chí Kiên ở Côn Minh có Vũ Anh và Lý Quang Hoa (Hoàng Văn Hoan). Ở đây, Ban ra một tờ báo nhỏ lấy tên là Truyền tin, sau đổi tên là Đồng Thanh, tuyên truyền trong Việt kiều chủ trương đoàn kết, chống Pháp, ủng hộ nhân dân Trung Quốc chống Nhật, đồng thời vạch mặt những luận điệu tuyên truyền lừa bịp của bọn Vũ Hồng Khanh, Nghiêm Kế Tổ (Việt Nam Quốc dân Đảng) và bọn tơrốtkit.

Đầu năm 1940, Bác về Côn Minh lấy tên là Hồ Quang, đóng vai một giáo quan cấp thiếu tá của Bát lộ quân, ở chỗ Tân Hoa thư điếm, nhưng thường lui tới chỗ Phùng Chí Kiên để chỉ đạo công tác của Ban Chỉ huy ở ngoài.

Bác đề nghị đổi tên tờ Đồng Thanh thành tờ Đ.T. Theo Bác, thì Đ.T có thể hiểu theo nhiều nghĩa "Đồng Thanh", "Đồng Tâm", "Đấu tranh" và cũng có thể hiểu là “Đánh Tây". Các bài viết trong báo này thường được Bác sửa chữa và duyệt, nên chất lượng được nâng cao, cách viết đơn giản, dễ hiểu, quần chúng rất thích đọc.

Để hiểu biết tình hình và vận động Việt kiều ở Vân Nam, Bác đã cùng Phùng Chí Kiên đến các điểm dọc đường xe lửa có đông Việt kiều sinh sống như Mông Tư, Nghi Lương, Khai Viễn và Chỉ Thôn để liên hệ, vận động quần chúng.

Giữa năm 1940, đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp sang Côn Minh. Trong lúc chờ đi học, các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Phùng Chí Kiên đã dự lớp học lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô.

Tháng 5 năm 1940, phát xít Đức tấn công nước Pháp. Tháng 6 năm 1940, Pháp thất thủ. Trong tình hình quốc tế như vậy, Bác gọi các đồng chí trong Ban Chỉ huy ở ngoài đến, bàn bạc công việc và quyết định chuyển hướng hoạt động công tác về biên giới, rồi từ đó về trong nước. Quyết định xong, Bác đi Trùng Khánh gặp Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc để trao đổi ý kiến về thời cuộc.

Vấn đề đặt ra cần phải suy nghĩ là về biên giới thì về vùng nào để hoạt động có lợi. Tình hình chính trị ở Vân Nam lúc bấy giờ không tốt, hơn nữa các tỉnh giáp Vân Nam như Hà Giang, Lào Cai thì cơ sở quần chúng của ta chưa có. Vì vậy, hướng cần phải tới là phía biên giới Quảng Đông hoặc Quảng Tây. Sau đó, Phùng Chí Kiên cùng Bác và một số đồng chí khác về Tĩnh Tây hoạt động (một huyện của Trung Quốc gần biên giới Cao Bằng). Vùng Tĩnh Tây, Bình Mãnh trong những năm Trung Quốc chống Nhật là một vùng quan trọng của khu du kích Quảng Tây. Ít lâu sau đó, cơ sở ở biên giới được chuẩn bị xong, Bác, Phùng Chí Kiên, Đặng Văn Cáp, Hoàng Sâm chuẩn bị về nước.

Là một thành viên của Ban chỉ huy ở ngoài - một tổ chức đặc biệt của Đảng ta trong thời kỳ thoái trào, Phùng Chí Kiên đã thực hiện các nhiệm vụ của Ban do Quốc tế Cộng sản chỉ thị, góp phần quan trọng vào việc khôi phục cơ sở Đảng và phong trào cách mạng sau cao trào 1930-1031.
_____________________________________________
* Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.
1.  Hồ Đức Thành, Một số sự kiện xảy ra từ năm 1930-1940, Chu Văn Tấn, Khởi nghĩa Bắc Sơn và Cứu quốc quân, Một năm trên biên giới Việt – Trung; Hoàng Vĩnh Tuy, Tự Thuật; Phạm Văn Xô, Về Đại hội ở Macao; Nguyễn Thiết Hùng, Tự thuật về thời kỳ hoạt động cách mạng ở Trung Quốc 1925-1944; Hoàng Văn Hoan, Giọt nước trong biển cả (riêng Hoàng Văn Hoan không phải viết theo yêu cầu của Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương, Hoàng Văn Hoan viết hồi ký này vào tháng 2 năm 1986 tại Bắc Kinh)... Như chúng ta đã biết, Hoàng Văn Hoan và Chu Văn Tấn bị kỷ luật Đảng. Tác giả bài viết này chỉ sử dụng phần nội dung trong các hồi ký của Chu Văn Tấn và Hoàng Văn Hoan về quá trình hoạt động cách mạng của đồng chí Phùng Chí Kiên.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2021, 02:09:31 pm

2. Chỉ huy trưởng Đội cứu quốc quân 1.

Lợi dụng cơ hội Pháp thua Đức, phát xít Nhật bắt đầu thực hiện kế hoạch xâm lấn Đông Dương. Đêm 22 tháng 9 năm 1940, quân Nhật đánh vào khu vực Lạng Sơn. Quân Pháp hèn nhát không chống cự, rút chạy. Thực dân Pháp ở Đông Dương đầu hàng phát xít Nhật một cách nhục nhã. Nhân dân Việt Nam với truyền thống đấu tranh bất khuất lại được Đảng lãnh đạo đã nổi dậy chống phát xít Pháp, Nhật.

Bắc Sơn thuộc tỉnh Lạng Sơn là nơi có truyền thống đấu tranh cách mạng. Trước sự tan rã của thực dân Pháp, và sự xâm lược của phát xít Nhật, Đảng bộ Bắc Sơn quyết định khởi nghĩa và thành lập Ủy ban khởi nghĩa. Ngày 27 tháng 9 năm 1940, khởi nghĩa Bắc Sơn bùng nổ. Xứ ủy Bắc Kỳ phái Trần Đăng Ninh lên Bắc Sơn cùng với Đảng bộ địa phương lãnh đạo quần chúng đấu tranh giữ vững phong trào.

Cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn nổ ra khi cả nước chưa được chuẩn bị khởi nghĩa đã phải chiến đấu một cách lẻ loi. Nhưng khởi nghĩa Bắc Sơn là tiếng súng đầu tiên báo hiệu một thời kỳ đấu tranh mới của dân tộc Việt Nam. Từ cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn đã ra đời đứa con đầu lòng của lực lượng vũ trang cách mạng: Đội du kích Bắc Sơn.

Đến tháng 1 năm 1941, Nguyễn Ái Quốc cùng một số đồng chí cán bộ Trung ương và 40 cán bộ người Cao Bằng hoạt động ở bên kia biên giới Việt - Trung, bắt đầu rời Tĩnh Tây về nước. Trước lúc vượt biên giới, Người đã dừng chân một thời gian ngắn để huấn luyện cán bộ tại hai địa điểm Nặm Quang và Ngàm Tảy. Chương trình huấn luyện gồm các vấn đề tình hình thế giới và trong nước, nhiệm vụ cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện tại, các bước công tác cụ thể điều tra, tuyên truyền, tổ chức, huấn luyện, đấu tranh. Giúp đồng chí Nguyễn Ái Quốc trong các lớp huấn luyện này có Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp. Đây là lớp huấn luyện đầu tiên do Nguyễn Ái Quốc chủ trương và trực tiếp tổ chức nhằm đào tạo cán bộ cho công tác thí điểm phong trào Việt Minh ở Cao Bằng. Thời gian học tập tuy ngắn nhưng khẩn trương, kỹ lưỡng, nên học viên đều nắm chủ trương đường lối cách mạng trong điều kiện lịch sử mới về cách thức gây dựng, phát triển phong trào Việt Minh. Sau đó, ngày 28 tháng 1 năm 1941, Phùng Chí Kiên cùng Bác và các đồng chí khác về nước, trực tiếp lãnh đạo cách mạng.

Sau khi về nước, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ tám Trung ương Đảng vào tháng 5 năm 1941. Hội nghị chọn vùng rừng núi Việt Bắc để xây dựng căn cứ cách mạng, lấy Bắc Sơn - Võ Nhai và Cao Bằng làm hai địa điểm trung tâm và làm bàn đạp phát động đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị để thúc đẩy phong trào cách mạng trong cả nước. Cũng trong Hội nghị lần thứ tám, đồng chí Phùng Chí Kiên, Ủy viên Trung ương Đảng được phân công phụ trách công tác quân sự của Đảng và về trực tiếp chỉ đạo khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai, làm Chỉ huy trưởng Đội du kích Bắc Sơn.

Nhận nhiệm vụ mới, Phùng Chí Kiên phấn khởi lên đường. Cùng đi với Phùng Chí Kiên về Bắc Sơn có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt... đi dự Hội nghị lần thứ tám của Trung ương về. Đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư của Đảng, thay mặt Trung ương Đảng phổ biến tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám của Trung ương Đảng cho toàn thể cán bộ và chiến sĩ đội du kích Bắc Sơn làm cho lực lượng vũ trang của Đảng thông suốt đường lối, chính sách mới của Đảng. Đây là cuộc học tập đầu tiên về đường lối, chính sách của Đảng trong lực lượng vũ trang cách mạng. Ngay sau đó, đội du kích Bắc Sơn được mang tên mới: Cứu quốc quân (Cứu quốc quân 1), cho phù hợp với nhiệm vụ cứu nước. Tiếp đó, các đồng chí Trung ương họp với các đồng chí chỉ huy quân sự Bắc Sơn, nhận định tình hình, đề ra phương hướng hoạt động mới và thành lập Ban chỉ huy Cứu quốc quân gồm ba đồng chí: đồng chí Phùng Chí Kiên làm Chỉ huy trưởng, hai đồng chí Lương Văn Tri và Chu Văn Tấn làm Chỉ huy phó.

Những kiến thức quân sự học được ở Trường Quân sự Hoàng Phố, Trường Đại học Phương Đông và thực tiễn đấu tranh cách mạng trong Hồng quân Trung Quốc làm những kiến thức, kinh nghiệm quý báu để Phùng Chí Kiên trực tiếp chỉ huy lực lượng vũ trang.

Sau khi Ban chỉ huy thành lập, đồng chí Phùng Chí Kiên tổ chức ngay một lớp huấn luyện cấp tốc cho các chiến sĩ cứu quốc quân. Lớp huấn luyện hoàn thành thì cũng là lúc thực dân Pháp mở một cuộc khủng bố mới vào chiến khu.

Ở Bắc Sơn, Phùng Chí Kiên thấy rằng ở đây đất hẹp, điều kiện liên lạc với bên ngoài không thuận lợi, khó phát triển và chiến đấu lâu dài, nên chủ trương vượt vòng vây của địch lên vùng biên giới xây dựng chiến khu mới. Ở đó có điều kiện sẽ chuyển một số cán bộ ra nước ngoài học quân sự để chuẩn bị cán bộ cho tương lai. Còn số ít ở lại Bắc Sơn hoạt động.

Cuối tháng 6 năm 1941, lúc các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt... đang ở Bắc Sơn - Võ Nhai, thực dân Pháp mở một cuộc càn quét lớn vào khu căn cứ nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não của Đảng cộng sản Đông Dương, Cứu quốc quân và trấn áp phong trào cách mạng ở Bắc Sơn - Võ Nhai, chấm dứt mối lo lắng thường xuyên của chúng. Chúng huy động một lực lượng lớn hàng ngàn quân gồm lính Pháp, lính lê dương, lính khố đỏ, lính khố xanh cùng mật thám, cường hào, phản động, kéo từ Thái Nguyên lên, từ Lạng Sơn và từ Bắc Giang sang. Thực hiện chính sách vô cùng tàn bạo, đi đến đâu chúng đốt sạch mọi làng bản, giết sạch mọi gia súc, các cơ sở bí mật của Trung ương Đảng và Cứu quốc quân bị uy hiếp. Tình thế rất nghiêm trọng. Ban Chỉ huy Cứu quốc quân phái ngay một bộ phận về Võ Nhai tìm đường đưa các đồng chí Ủy viên Trung ương về xuôi an toàn; còn toàn đội chuẩn bị chống khủng bố. Lực lượng Cứu quốc quân bị dồn từ khu rừng này sang khu rừng khác. Đứng trước tình thế khẩn trương, tháng 7 năm 1941, Cứu quốc quân chia làm hai cánh rút về phía Cao Bằng và Lạng Sơn. Ngày 27 tháng 7 năm 1941, cánh quân rút về phía Cao Bằng, khi đi qua vùng Ngân Sơn (Bắc Kạn), bị địch phục kích. Đồng chí Phùng Chí Kiên sa vào tay giặc. Ngày 22 tháng 8 năm 1941, kẻ thù đã chặt đầu đồng chí Phùng Chí Kiên rồi đem cắm ở đầu cầu Ngân Sơn để hòng uy hiếp tinh thần cách mạng của nhân dân. Các đồng chí còn lại phải chạy ra lánh ở một số cơ sở miền biên giới. Tiểu đội ở lại Bắc Sơn cũng bị địch truy lùng ráo riết.

Hy sinh anh dũng ở tuổi 40, đồng chí Phùng Chí Kiên, một cán bộ trung kiên của Đảng đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2021, 02:16:49 pm

PHÙNG CHÍ KIÊN QUA MỘT SỐ TƯ LIỆU LƯU GIỮ
TẠI CỘNG HOÀ PHÁP

TS PHAN XUÂN THÀNH*


Nhân dịp kỷ niệm 67 năm ngày mất của Phùng Chí Kiên, Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Tỉnh ủy Nghệ An tổ chức Hội thảo khoa học "Phùng Chí Kiên - người cộng sản mẫu mực, kiên trung; nhà chính trị, quân sự song toàn". Tôi xin phát biểu tham luận với nội dung "Phùng Chí Kiên qua một số tài liệu lưu giữ tại Pháp".

Phùng Chí Kiên sinh năm 1901 trong một gia đình nông dân ỏ làng Mỹ Quan Thượng, tổng Vạn Phần, nay là xã Diễn Yên - huyện Diễn Châu - tỉnh Nghệ An. Từ một thanh niên nông thôn, ông được giác ngộ cách mạng, trở thành chiến sĩ cộng sản ưu tú, là Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng (khoá I), một trong những nhà lãnh đạo quân sự đầu tiên của Đảng ta.

Trong cuộc đời của mình, Phùng Chí Kiên đã đi hoạt động ở nhiều nơi: Sài Gòn, Bắc Kạn, Cao Bằng, đến Quảng Châu, Hương Cảng, Ma Cao, Vân Nam (Trung Quốc), sang học Trường Đại học Phương Đông (Liên Xô) của Quốc tế Cộng sản.

Mỗi bước đi, mỗi nẻo đường hoạt động của ông, mật thám Pháp đều theo dõi, kiểm soát chặt chẽ và báo cáo đầy đủ. Trong hồ sơ số 4480/CN-MT-C lưu giữ ở Pháp, tài liệu của Phòng nhì (mật) ghi rõ: "Mạnh Văn Liễu tức Nguyễn Hào, tức Như Bách. Độ 26 tuổi, quê quán: Bắc Kỳ, nói giọng Ninh Bình, cựu học sinh sĩ quan Trường Hoàng Phố, gia nhập Đảng Thanh niên. Chắc đã từ Quảng Châu ra đi Nam Kinh tháng 10 năm 1929. Chỗ ở hiện nay: Không biết. Có thể là Đông Dương. Nhận dạng: Người tầm thước, khá vạm vỡ, nước da nâu, mắt đen, miệng rộng, môi mỏng, tai to"1. Kèm theo ảnh để truy tìm.

Tháng 2.1931, Phùng Chí Kiên được đồng chí Nguyễn Ái Quốc giới thiệu sang học Trường Đại học Phương Đông. Khi đến Mãn Châu, bị phát xít Nhật bắt giam 1 năm. Ra tù ông sang Liên Xô học tập. Trường Đại học Phương Đông là trường đào tạo những chiến sĩ cộng sản cho nhân dân các dân tộc bị áp bức. Trường được thành lập năm 1921, đến năm 1922 trường nhận nhiều người nước ngoài vào phân ban đặc biệt. Nhà trường dạy theo nguyên tắc bảo mật. Từ năm 1925 đến năm 1930, có 60 sinh viên Đông Dương theo học. (Đảng Cộng sản Pháp báo cáo có 75 sinh viên Việt Nam theo học tại đây). Trong đó có Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn Khánh Toàn, Lê Hồng Phong, Trần Phú, Nguyễn Thị Minh Khai, Hà Huy Tập, v.v...

Được đặt chân đến đất nước Xô-viết, quê hương của Lênin vĩ đại, lại thấy cuộc sống vui tươi, phấn khởi của người dân dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, ông liên tưởng đến Việt Nam, xứ Nghệ quê ông, suy nghĩ về tương lai của đất nước và dân tộc Việt Nam, từ đó ra sức học tập, trau dồi đạo đức tri thức mới để sau này góp phần đưa đất nước khỏi cảnh lầm than nô lệ.

Trong báo cáo của Bộ thuộc địa Pháp, ngày 7 tháng 3 năm 1934, Thượng thư Bộ thuộc địa gửi quan Toàn quyền Đông Dương, Tổng nha mật thám Hà Nội, có ghi:

- Đại biểu của Đảng Cộng sản Đông Dương đã dự cuộc họp toàn thể vừa qua của Ban Chấp hành Đệ tam quốc tế tại Mạc Tư Khoa vào tháng Chạp năm 1933.

- Mặc dù bị đàn áp, việc tuyên truyền và tổ chức cộng sản vẫn phát triển tốt ở Đông Dương dưới hình thức bất hợp pháp.

Không thấy có người cộng sản Đông Dương nào cư trú tại Pháp đã sang Nga.

Từ nhận định trên, Bộ thuộc địa Pháp đề nghị Tổng nha mật thám Hà Nội: "Có thể giả định rằng các đại biểu đến dự hội nghị toàn thể vừa qua chắc đã rời Đông Dương mà đi thẳng sang Nga. Xin ông vui lòng báo cho tôi điều đã điều tra được, mà Tổng nha mật thám có thể có hoặc cho thu thập về vấn đề này. (KT Thượng thư - Ủy viên Hội đồng Nhà nước - Chánh chính trị vụ: Joseph)"2.

Tài liệu lưu giư tại Pháp cho biết:

- Nguyễn Ái Quốc đưa Mạnh Văn Liễu (Phùng Chí Kiên ) và Trần Văn Diệm đi Thượng Hải (Trung Quốc) để sang Nga. "Ngày 28 Nguyễn Ái Quốc đến gặp chúng tôi và ra lệnh cho chúng tôi đi Thượng Hải. Tại đó sẽ gặp đồng chí khác. Rồi đến lượt Lương đến cùng một người tên Can ở phòng bên cạnh chúng tôi, mà chúng tôi chưa gặp trước đó, Trương Phước Đạt nhận ra các bức ảnh của Mạnh Văn Liễu. Khó khăn nhận ra bức ảnh của anh ta mặc trong trang phục học viên Trường Hoàng Phố. Có thể giả định rằng Lương (tức Hồ Tùng Mậu) trao cho chúng tôi 3 vé đi Thượng Hải và 20 đôla cho tất cả mấy người.

Can tức Phùng Chí Kiên nói và viết thạo tiếng Tàu, nên được nhận các chỉ thị và địa chỉ ở Thượng Hải. Ngày hôm sau Can tức Mạnh Văn Liễu dẫn chúng tôi lên một chiếc tàu đi Thượng Hải 5 ngày. Trong chuyến đi đó chúng tôi lấy các tên do Nguyễn Ái Quốc đặt cho:

- An: Trương Phước Đạt.
- Ban: Trần Ngọc Diệm.
- Can: Mạnh Văn Liễu (Phùng Chí Kiên).

Tôi có cơ sở để nghĩ rằng 3 tên ấy bắt đầu bằng 3 chữ cái đầu tiên đã được chọn có suy nghĩ để chỉ chúng tôi thuận tiện hơn trong những thư tín bí mật"3.
________________________________________________
* Bảo tàng Xô-viết Nghệ Tĩnh.
1.  Hồ sơ số 4480/CN-MT-C (hồ sơ mật thám Pháp) bằng Tiếng Pháp, lưu tại Bảo tàng Xô-viết Nghệ Tĩnh.
2.  Công văn mật số 235/CA1 (hiện diện của những người An Nam tại Phiên họp toàn thể BCH Đệ Tam Quốc tế tại Mạc Tư Khoa) (gửi bằng máy bay), khai thác tại Trung tâm lưu trữ Hải Ngoại Pháp Aix-en Provence-1998.
3.  Nguyễn Ái Quốc A chemine Trương Phước Đạt, Mạnh Văn Liễu et Trần Văn Diệm sur changhai à destination de la Russie: Tài liệu Tiếng Pháp - khai thác ở Trung tâm lưu trữ Hải ngoại Pháp Aix - en provence - 1998, tr.35.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2021, 02:19:32 pm

Đến Thượng Hải, Can (Phùng Chí Kiên) tìm nghỉ khách sạn Trung Quốc Phạm Điếm. Anh viết thư về một địa chỉ, và Hoàng (Lê Quảng Đạt) đến gặp anh em trong đoàn. Lưu Quốc Long dẫn đến khách sạn Nguyễn Nguyên Thuận, tọa lạc trong tô giới quốc tế. Hoàng trao cho 3 mảnh giấy trắng độ 25mm X 5mm, trên đó in những chữ số và dặn phải cất cẩn thận. Đó là dấu hiệu để nhận nhau và xuất trình khi cần thiết.

- Hồ sơ lưu trữ này cũng cho biết: Đoàn lên đường đi Hải Sâm Uy (Vlađivostock) do Lưu Quốc Long dẫn đầu.

Người Tàu đã trao cho Lưu Quốc Long 200 đôla để mua 4 vé đi Đại Liên hết 84 đôla, còn lại đổi sang tiền Nhật. Để tránh nghi ngờ, anh em chia thành 2 nhóm. Một nhóm gồm Can (Phùng Chí Kiên) và Trương Phước Đạt, còn nhóm kia gồm có Lưu Quốc Long và Ban (Trần Văn Diệm). Anh em giả vờ nhóm này không biết nhóm kia.

Ngày 10 tháng 3, đoàn lên tàu đến Đại Liên vào 13 tháng 3. Sau đó đi Tchang Tchouen và đến nơi tối hôm sau. Tôi nhận thấy Lưu Quốc Long và Ban (Trần Văn Diệm) đi cùng chuyến tàu hỏa với tôi. Đến nơi người bạn đường của tôi lấy xe khác đi Kharbine và ngày hôm sau thì đến nơi vào 9 giờ. Chúng tôi ở trọ riêng biệt.

Lưu Quốc Long dẫn một người Tàu, anh này thu các mảnh giấy nhận thực của chúng tôi và nói rằng, chúng tôi còn phải đi một ngày tàu hoả nữa. Cho đến lúc ấy tôi cứ tưởng Kharbine là điểm đến của mình. Mạnh Văn Liễu làm thông ngôn cho những người Tàu mới, còn chưa cho tôi biết rằng chúng tôi đang đi sang Nga.

Thực ra Đoàn phải đi đến Ngũ Trạm, ga Biên giới Nga để đi về phía Vladivostock. Tại đó Đoàn sẽ gặp một người liên lạc trong một cửa hiệu, trả 20 xu cho một món hàng. Tờ 20 xu này mang một dấu hiệu riêng do một người Tàu ở Kharbine trao cho. Sau đó mất 3 giờ đi bộ mới vượt được biên giới.

Sau 3 ngày ở lại Kharbine, ngày nào đoàn cũng phải đổi khách sạn. Đoàn phải từ biệt Lưu Quốc Long và sẽ không còn bao giờ gặp lại anh nữa (khi đoàn trở lại Thượng Hải thì nghe nói anh Long đã bị bắt).

- Bị bắt tại Biên giới Nga - Mãn Châu, bị cầm tù (3.1931 - 1.1932):

Tàu hoả đến Ngũ Trạm vào sáng 20, cảnh sát Trung Quốc lên tàu để xét hành khách. Đoàn xuống tàu vô sự. Can (Phùng Chí Kiên) đi tìm liên lạc khoảng 45 phút trở về vì không gặp được ai. Do chưa ăn gì từ hôm trước nên đoàn vào một khách sạn, vào lúc chuẩn bị đi ra để tiếp tục cuộc tìm kiếm thì bị cảnh sát bắt.

Những người bạn tù Trung Hoa cho biết, cơ quan liên lạc ở Ngũ Trạm đã bị bắt trước đó. Chính vì thế mà anh em trong đoàn bị tình nghi.

Bị buộc tội Cộng sản, anh em bị giam 7 ngày, rồi 3 tháng ở Ngũ Trạm, ở Kharbine. Mặc dù bị đối xử tàn tệ ở 2 nơi ấy, nhưng anh em chẳng khai nhận gì. Khoảng tháng 6 năm 1931, anh em bị đưa đến Moukden giam ở đó cho đến khi quân Nhật đến chiếm đóng, giải phóng tù nhân, trong đó có anh em ta vào tháng 1 năm 1932.

Trong thời gian bị cầm tù, Phùng Chí Kiên đã làm quen với 20 người Tàu đến từ Nga. Nhờ họ làm trung gian, Phùng Chí Kiên đã liên lạc được với một Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc tên là Ou Leang Fou (Ngô Lương Phủ) bị bắt trước đoàn Việt Nam, khi chuẩn bị vượt biên giới để sang Mạc Tư Khoa với tư cách là Đại biểu của Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Đệ Tam Quốc tế. Trong số tù nhân bị giam cầm, Phùng Chí Kiên làm quen được với Ou Siang Sin (Ngô Tương Tín) chính là người liên lạc mà chúng tôi lẽ ra phải tìm được ở Ngũ Trạm.

- Mạnh Văn Liễu, tức Phùng Chí Kiên và Trần Văn Diệm đi sang Nga tháng 4 năm 1932:

"Vào tháng 4 năm 1932 Can (Mạnh Văn Liễu) lại đi sang Nga theo con đường mà chúng tôi đã đi lần trước. Cơ quan liên lạc tại Ngũ Trạm đã được lập lại vào ngày 14 hoặc 15 tháng 4; Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã phái họ đi cùng với một người Tàu mà tôi không biết tên. Từ Kharbine, Can tức Mạnh Văn Liễu, đã viết thư cho tôi bằng chữ Hán, cho biết chuyến đi suôn sẻ cho đến lúc đó. Về sau người liên lạc của Đảng Cộng sản Trung Quốc, cho biết họ đã đến Mạc Tư Khoa an toàn"1.

Cũng trong tài liệu mà chúng tôi sưu tầm được tại Trung tâm lưu trữ Hải ngoại Pháp Aix-en provence năm 1998, có ghi tiểu sử Mạnh Văn Liễu (Phùng Chí Kiên) như sau:

Can (Mạnh Văn Liễu) đã có tư tưởng giác ngộ cách mạng năm 1925 hồi ở Nghệ An. Đây là thời kỳ tuyển người đi Quảng Châu; Anh sang Tàu. Năm 1926, anh vào Trường Hoàng Phố, năm 1927 tham gia với cộng sản chiếm Quảng Châu. Tháng Giêng năm 1928, bị bắt ở Quảng Châu và cầm tù 10 tháng. Năm 1929, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Quảng Châu và được phái vào vùng cộng sản ở Tong Kiang, với quân hàm Liên trưởng. Đồng thời, Anh là đại biểu Đảng Cộng sản trong Hồng quân, tức là làm các chức vụ chính trị.

Năm 1930, trong một cuộc hành quân, Anh bị thương nơi tay trái, không dưỡng bệnh, Anh được chỉ định dạy lý luận chính trị cho đám "tân binh", nhưng chỉ trong 3 tháng, rồi anh xin trở lại quân đội. Lúc đó anh mang chức Phó Dinh trưởng, chỉ huy một đội từ 300 đến 500 quân. Thời đó anh tìm cách gia nhập hoặc với Hồng quân Kiangsi (Giang Tây) hoặc Hồng quân Foukien, nhằm liên lạc trực tiếp với Tổng Tư lệnh Hồng quân. Tuy có những thắng lợi nhưng cuối cùng hầu như hoàn toàn thất bại vì bị quân Chính phủ bao vây.

Năm 1930, Anh nghe nói có khoảng 20 người Trung Kỳ được lệnh Đảng Cộng sản Đông Dương đi từ Đông Dương và Xiêm đến Hồng quân Tong Kiang để học tập võ bị, Anh không biết họ được phiên chế vào những đơn vị nào và không hề thuộc quyền chỉ huy của Anh.

Tháng Chạp năm 1930, Tỉnh ủy Quảng Đông vẫn liên lạc với Hồng quân Tong Kiang gọi Can (Mạnh Văn Liễu) về Hồng Kông và cho bắt liên lạc với Lương (Hồ Tùng Mậu). Lúc đó Can (Mạnh Văn Liễu), được chỉ định đi sang Nga với Ban (Trần Văn Diệm).

Có thể rằng đó là do Tỉnh ủy Quảng Đông đã làm theo ý của Nguyễn Ái Quốc.

Những hồ sơ, công văn mật, công điện của Bộ Thuộc địa - Chánh Chính trị vụ Pháp theo dõi hoạt động của Phùng Chí Kiên. Đặc biệt thời kỳ Anh hoạt động ở Nga và Trung Quốc, có thể chưa lột tả hết đóng góp của Anh, hoặc chưa đúng. Nhưng với những tư liệu đó, đã vạch rõ âm mưu của địch. Nghiên cứu những nguồn tư liệu, lưu giữ tại Pháp giúp chúng ta hiểu đầy đủ hơn về quá trình hoạt động của Phùng Chí Kiên, chiến sĩ cộng sản kiên cường, người con ưu tú quê hương, học trò xuất sắc của đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Sự nghiệp cách mạng của anh sáng mãi trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
______________________________________________
1.  Départ de Mạnh Văn Liễu (Can) et de Trần Văn Diệm (Ban) pour la Russie avril 1932 - khai thác tại Trung tâm lưu trữ Hải ngoại Pháp Aix-en provence-1998, tr.39.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2021, 02:36:36 pm

NGHIÊN CỨU VỀ PHÙNG CHÍ KIÊN QUA TƯ LIỆU LƯU GIỮ TẠI BẢO TÀNG XÔ-VlẾT NGHỆ TĨNH

LÊ THỊ HẠNH PHÚC*


Đồng chí Phùng Chí Kiên tham gia hoạt động cách mạng trong điều kiện bí mật ở nước ngoài, những tư liệu liên quan đến đồng chí nằm rải rác nhiều nơi. Cuộc đời hoạt động cách mạng của Phùng Chí Kiên đã được giới thiệu qua một số hồi ký của các đồng chí cùng thời. Song, việc nghiên cứu sưu tầm thật đầy đủ về quá trình hoạt động của đồng chí Phùng Chí Kiên chưa thật sự được quan tâm chu đáo.

Nhằm làm sáng tỏ thêm quá trình hoạt động cách mạng đầy gian khổ, hy sinh của đồng chí Phùng Chí Kiên trong những năm tháng hoạt động ở nước ngoài, qua tư liệu lưu giữ tại Bảo tàng Xô-viết Nghệ Tĩnh, chúng tôi xin được góp phần làm sáng tỏ thêm, đầy đủ thêm công lao của một trong những nhà cách mạng, nhà quân sự tiền bối của Đảng.

Những năm gần đây, Bảo tàng Xô-viết Nghệ Tĩnh được sự quan tâm của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, ngành Văn hoá Thông tin, sự giúp đỡ nhiệt tình của Cục Hồ sơ Nghiệp vụ An ninh (Bộ Công An), đã sưu tầm được một khối lượng lớn tư liệu của mật thám Pháp (1925-1945) về quá trình phát triển của Đảng Cộng sản Đông Dương và hoạt động cách mạng của người Việt Nam nói chung, Nghệ Tĩnh nói riêng, trong đó có nhiều tư liệu liên quan đến đồng chí Phùng Chí Kiên, như hồ sơ cá nhân, báo cáo của mật thám hoặc các thông tri bưu điện, công điện mật của Pháp. Bên cạnh đó, hồi ký của những nhà cách mạng hoạt động cùng thời đã được xuất bản mà bảo tàng đang lưu giữ cũng là nguồn tư liệu giúp chúng ta hiểu sâu hơn qúa trình hoạt động của đồng chí Phùng Chí Kiên trong thời gian ở gần Bác Hồ.

1. Hồ sơ, báo cáo của mật thám Pháp về Phùng Chí Kiên.

Tuy sưu tầm chưa đầy đủ nhưng Bảo tàng Xô-viết Nghệ Tĩnh hiện đang lưu giữ nhiều hồ sơ cá nhân của mật thám Pháp lập về những người Việt Nam học tại Trường Quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc), có mối liên hệ chặt chẽ với đồng chí Phùng Chí Kiên như Nguyễn Ái Quốc, Lê Hồng Phong, Lê Văn Nghiệm (tức Lê Thiết Hùng), Trương Phước Đạt, Trần Tố Chấn, Trần Ngọc Diệm.

Báo cáo của mật thám Pháp về Phùng Chí Kiên trong các hồ sơ cá nhân trên đều chỉ rõ Nguyễn Hào tức Nguyễn Vợi tức Mạnh Văn Liễu, Phùng, Lý Đông, Như Bách, sinh năm 1900 tại làng Mỹ Quan Thượng, tổng Vạn Phần, phủ Diễn Châu, Nghệ An, xuất dương năm 1926, học sinh Trường Staline (Liên Xô). Thông báo, kèm theo ảnh nhận dạng anh ở khắp nơi: Mạnh Văn Liễu tức Nguyễn Hào, Như Bách, độ 26 tuổi, quê quán Bắc Kỳ, giọng nói Ninh Bình, cựu học sinh sĩ quan Trường Hoàng Phố, gia nhập Đảng Thanh niên; chắc đã từ Quảng Châu ra đi Nam Kinh tháng 10 năm 1929, chỗ ở hiện nay... có thể là Đông Dương.

Nhận dạng: người tầm thước, khá vạm vỡ, nước da nâu, mắt đen, miệng rộng, môi mỏng, tai to1.

Cuối năm 1926, với thẻ căn cước của người chú là Nguyễn Hào, Phùng Chí Kiên sang Quảng Châu (Trung Quốc) dự lớp huấn luyện chính trị do Nguyễn Ái Quốc giảng dạy. Tại đây, ông gia nhập tổ chức Hội Việt Nam thanh niên cách mạng. Sau khoá huấn luyện ba tháng, ông được đồng chí Nguyễn Ái Quốc giới thiệu sang học Trường Quân sự Hoàng Phố của Chính phủ Tôn Trung Sơn. Ngày 12 tháng 4 năm 1927, Tưởng Giới Thạch bắt đầu phản bội lại đường lối "Thân Nga, dung cộng, phù trợ công nông" của Tôn Trung Sơn. Thực hiện mưu đồ tiếm quyền lãnh đạo Quốc dân đảng, làm đảo chính cách mạng ở Thượng Hải và tiến hành hàng loạt cuộc đàn áp khủng bố các lực lượng cách mạng, chủ yếu đánh vào cơ sở Đảng Cộng sản Trung Quốc và công nhân khắp các thành phố. Ngày 13 tháng 4 năm 1927, Lý Tế Thâm (tay sai của Tưởng) làm đảo chính ở Quảng Châu, quân đội cánh hữu phá hủy trường Hoàng Phố. Mạnh Văn Liễu cùng với đồng chí Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, Trương Văn Lĩnh, Lê Thiết Hùng... tham gia với các đảng viên cộng sản Trung Quốc đánh chiếm Quảng Châu. Tháng 1 năm 1928, Phùng Chí Kiên bị quân Tưởng bắt giam 10 tháng ở Quảng Châu. Ra tù năm 1929, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Trung Quốc và tham gia vào Hồng quân hoạt động ở vùng Đông Giang.

Tháng 2 năm 1931, anh cùng Trần Ngọc Diệm (quê ở làng Láng Thông, tổng Thông Lãng, Hưng Nguyên) và Trương Phước Đạt, được Nguyễn Ái Quốc cử sang Liên Xô học Trường Đại học Phương Đông, nhưng đi đến biên giới Liên Xô - Mãn Châu thì bị cảnh sát Trung Quốc bắt2.

Tháng Giêng năm 1932, anh cùng hai đồng chí của mình được trả tự do. Tháng 4 năm 1932, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc phái Mạnh Văn Liễu cùng Trần Văn Diệm sang Liên Xô và chuyến đi của các anh thành công. Chính phủ Pháp theo dõi chặt chẽ hoạt động của các anh: Điện mật của Bộ Thuộc địa Pháp gửi Toàn quyền Đông Dương và Tổng nha mật thám Hà Nội; thông tri của Mácty, Tổng nha mật thám số 1226/SG ngày 20 tháng 4 năm 1934 gửi chánh Liêm phóng và mật thám Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Cao Miên và Lào: "Về sự có mặt của mấy người An Nam tại hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Đệ Tam Quốc tế họp tại Mạc Tư Khoa vào tháng Chạp năm 1933. Bộ cho rằng các đại biểu Đông Dương dự phiên họp ấy đã đi (hoặc đã từ Trung Quốc hoặc từ Xiêm) thẳng từ Đông Dương sang Nga mà không qua Pháp. Theo chỗ Tổng nha mật thám được biết thì các người An Nam vừa qua sang Nga là Mạnh Văn Liễu và Trần Văn Diệm chắc đã vượt biên giới Nga - Mãn Châu vào tháng 4 năm 1932"3.

Sau đó Mạnh Văn Liễu trở về Thượng Hải liên lạc với Trương Phước Đạt (quê làng Minh Chu, xã Kim Đình, tỉnh Phan Rang), thành viên Đảng Cộng sản Trung Quốc và là cơ sở liên lạc của Đảng Cộng sản Đông Dương. Anh muốn qua đó liên lạc được với Đảng Cộng sản Trung Quốc và tìm cách trở về Việt Nam. Tuy chưa về nước, nhưng anh đã bị mật thám Trung Kỳ ra thông tri mật ngày 11 tháng 10 năm 1933 gửi Chánh mật thám Vinh, Hà Tĩnh, Thanh Hoá về những người xuất ngoại sang Trung Quốc, thì "Nguyễn Vĩ tức Mạnh Văn Liễu phiếu truy nã số 12".

Theo hồ sơ Trương Phước Đạt4 thì Can (tức Mạnh Văn Liễu) vào tháng 4 năm 1933 đã liên lạc với Trương Phước Đạt và hai người cùng nhau nối liên lạc với chi bộ cộng sản của hải quân trên tàu Oalếch Rútxô vừa cập bến Thượng Hải. Thông qua đại diện của Đảng Cộng sản Trung Quốc cho biết tháng 4 năm 1930, những tổ chức cộng sản trong 3 tiểu đoàn quân đội đóng ở tô giới Pháp, trong 5 chiến hạm, có tàu Rútxô, đều có đảng viên cộng sản. Tàu này chạy tuyến Sài Gòn - Thượng Hải - Nhật Bản - Pháp. Các tài liệu như báo "Giác ngộ" in tại Thượng Hải cùng các bài hát cách mạng và các tập sách được chuyển cho thủy thủ trên tàu chuyền tay nhau đọc. Hai mươi thủy thủ người Việt Nam tại tàu Rútxô được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương trong đó có Nguyễn Xuân Cần (thợ máy). Và cũng theo yêu cầu của đại diện Đảng Cộng sản Trung Quốc, Trương Phước Đạt đã nhờ Mạnh Văn Liễu thảo hai truyền đơn bằng chữ Quốc ngữ: một tờ về kỷ niệm Công xã Pa-ri, một tờ về cuộc chiến đấu của "Quân đoàn 19 cách mạng Trung Quốc chống đế quốc Nhật Bản". Các tờ truyền đơn đó được ký "An Nam cách mệnh sĩ binh ủy viên hội". Cùng thời gian này Mạnh Văn Liễu đã dịch cuốn "Quốc tế lộ duyến" từ chữ Trung Quốc ra chữ quốc ngữ.

Thời gian này, ở trong nước, sau khi Phong trào Xô-viết Nghệ Tĩnh nổ ra, thực dân Pháp đã thẳng tay đàn áp và dìm phong trào trong biển máu. Các cơ sở Đảng bị phá vỡ, hàng ngàn người bị bắt giam trong các nhà tù như Lao Bảo, Buôn Ma Thuột, Kon Tum, Côn Đảo... Nhiều đảng viên cộng sản Nghệ An và Hà Tĩnh phải lánh sang Xiêm chờ thời cơ trở về nước hoạt động. Một số đảng viên Việt Nam ở Trung Quốc cũng không bắt liên lạc được với Đảng Cộng sản Đông Dương, đồng thời còn bị nghi ngờ là mật thám như đồng chí Lê Quốc Vọng (Lê Thiết Hùng) đã bị Đảng Cộng sản Trung Quốc giao cho Trương Phước Đạt kiểm tra sau khi ông từ Hồng Kông trở về Thượng Hải (5.1932) để tìm cách liên lạc với Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Ngày 22 tháng 5 năm 1933, Trương Phước Đạt bị bắt tại Thượng Hải, bản khai tại Tổng nha Liêm phóng Đông Dương ở Hà Nội đã cho chúng ta thấy rõ mối quan hệ trên.
______________________________________________
* Giám đốc Bảo tàng Xô-viết Nghệ Tĩnh.
1.  Hồ sơ Mạnh Văn Liễu, tiếng Pháp, ký hiệu 363/HS.46, lưu Bảo tàng Xô-viết Nghệ Tĩnh.
2.  Hồ sơ Trần Ngọc Diệm, số 803/CN-MT-C; Hồ sơ Lê Hồng Sơn, tiếng Pháp, ký hiệu 141/HS.5, Bảo tàng Xô-viết Nghệ Tĩnh.
3.  Hồ sơ Mạnh Văn Liễu.
4.  Hồ sơ Trương Phước Đạt, tiếng Pháp, ký hiệu 374/HS.55, Bảo tàng Xô-viết Nghệ Tĩnh.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2021, 02:40:36 pm

* Phùng Chí Kiên với Ban Chấp hành Đảng Cộng sản Xiêm.

Mỗi bước đi của Phùng Chí Kiên đều bị mật thám Pháp theo dõi chặt chẽ, nhằm không cho ông trở về nước qua các vùng biên giới ở Trung Quốc, Lào, Cao Miên.

Các Mật điện1 số 514 Sg ngày 17 tháng 1 năm 1940 của Thanh tra Sở cảnh sát (Phủ Toàn quyền Đông Dương) gửi Chánh cảnh sát Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Cambodge, Lào, Chánh cảnh sát đặc biệt Móng Cái, Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai; số 142 ngày 20 tháng 1 năm 1940 của L.Sogny - Chánh cảnh sát miền, Tổng thanh tra hạng nhất gửi Chánh sở Liêm phóng Vinh - Hà Tĩnh, Phó Công sứ Pháp ở Vinh - Hà Tĩnh như sau "Nguyễn Hào tức Mạnh Văn Liễu ngày 2 tháng 10 năm 1939 từ Triều Châu (Quảng Đông) gửi cho Trần Văn Chấn ở Hồng Kông một lá thư anh ta thông báo vài lý do trở về Đông Dương vì là hoàn cảnh không được an toàn ở Trung Quốc. Nguyễn Hào đi cùng đoàn Nguyễn Cầu tức Thước tức thầy Linh".

Mật điện chú dẫn cụ thể về Phùng Chí Kiên và những người liên quan "Nguyễn Hào tức Mạnh Văn Liễu, tức Phùng, tức Lý Đông sinh năm 1901 ở Mỹ Quan Thượng phủ Diễn Châu (Nghệ An) di cư như đã biết, bị trục xuất từ Hồng Kông tới Sơn Đầu ngày 6 tháng 12 năm 1938 để lãnh đạo cộng sản, lưu vong tới Triều Châu (Quảng Đông) sau khi những người Nhật chiếm Sơn Đầu.

Trần Văn Chấn, tức Chu, tức Nam tức Lý Ming, tức Tích Nguyên sinh năm 1902 ở Phú Nhuận (Nghệ An), thành viên của Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Xiêm, bị trục xuất khỏi Xiêm tới Sơn Đầu tháng 12 năm 1938, từ vài tháng nay đã giao thiệp với những người theo Cường Để ở Hồng Kông.

Nguyễn Cầu tức Thược, thầy Linh, tức Tăng Ngọc Dân, tức Đặng Châu sinh năm 1894 ở Sơn Đình (Hà Tĩnh) bị trục xuất từ Xiêm tới Sơn Đầu (Trung Quốc) ngày 12 tháng 7 năm 1935, đã tham gia trong quân đội Trung Quốc".

Như chúng ta đã biết, vào những năm đầu thế kỷ XX, các sĩ phu yêu nước tham gia Phong trào Văn thân Cần vương chống Pháp bị đàn áp đã tìm đường sang Xiêm ẩn tránh chờ thời cơ. Mang nặng mối thù nước mất nhà tan, các kiều bào luôn hướng về Tổ quốc. Họ đã tìm cách xây dựng cơ sở kinh tế để đón thanh niên trong nước sang và gửi đi Quảng Châu (Trung Quốc) hoạt động cách mạng.

Sau khi về Quảng Châu (Trung Quốc), vào cuối năm 1924 và thành lập tổ chức Hội Việt Nam thanh niên cách mạng, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã chú ý ngay đến phát huy lực lượng cách mạng của Việt kiều ở Xiêm. Người đã phái đồng chí Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn sang Xiêm liên lạc với những người yêu nước như Đặng Thúc Hứa, Đặng Thái Thuyên, Võ Tùng... lập Chi hội Thanh niên. Hội Việt Nam thanh niên cách mạng ở Xiêm trực thuộc sự chỉ đạo của Tổng bộ ở Quảng Châu. Từ đó trở đi, các cơ sở của Việt Nam thanh niên cách mạng ở Xiêm phát triển mạnh. Tỉnh bộ Hội Việt Nam thanh niên cách mạng tỉnh U-don được thành lập (vùng Đông Bắc Xiêm). Đây là vùng có người Việt Nam sinh sống đông nhất. Trên cơ sở đó, ngày 20 tháng 4 năm 1930 tại Hủa Lăm Phông (giữa thủ đô Băng Cốc), Nguyễn Ái Quốc với danh nghĩa là đại diện của Quốc tế cộng sản, đã thành lập Ban Chấp ủy lâm thời Đảng Cộng sản Xiêm (gọi tắt là Xiêm ủy). Trong Xiêm ủy có 3 đồng chí Trần Tố Chấn (quê phủ Anh Sơn, tỉnh Nghệ An), Ngô Chính Quốc (quê Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh) và đồng chí Ngô Trị Chi (đảng viên cộng sản, người gốc Hoa). Đảng bộ tỉnh U-don được thành lập. Năm 1934, khi Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập thì Đảng Cộng sản Xiêm thành lập Đông Dương viện trợ bộ. Các đồng chí trong tỉnh ủy vùng đông bắc Xiêm hết sức giúp đỡ những đảng viên tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh sang lánh nạn lúc phong trào trong nước bị đàn áp dữ dội. Các kiều bào đã được chuẩn bị tư tưởng tốt nên nói đến ủng hộ cách mạng Việt Nam thì họ rất phấn khởi; nhiều gia đình yêu cầu được đón cán bộ về nhà chăm sóc và họ quyên góp tiền bạc gửi về quê hương, trong một thời gian ngắn đã quyên góp được 5.000 đồng bạc Xiêm (lúc đó đồng bạc Xiêm ngang giá với đồng bạc Đông Dương).

Tháng 4 năm 1934, đồng chí Lê Hồng Phong sang Xiêm bắt liên lạc với Đảng Cộng sản Xiêm, về vùng Đông Bắc, đồng chí làm việc với Trần Tố Chấn (Ủy viên Chấp hành Đảng Cộng sản Xiêm, phụ trách tỉnh bộ U-don). Lê Hồng Phong giao nhiệm vụ cho đồng chí Trần Tố Chấn xây dựng cơ sở đảng ở nước ngoài. Theo báo cáo của Sogny, Chánh cảnh sát Trung Kỳ, trong thông điện mật số 1109 ngày 9 tháng 4 năm 19362: "Từ tháng 4 năm 1932 thời kỳ trở về Viễn Đông của Lê Hồng Phong, anh ta (tức Trần Tố Chấn) có tinh thần hăng hái và trí thông minh hoàn thành dễ dàng nhiệm vụ mà Lê Hồng Phong giao phó".

Đồng chí Trần Tố Chấn trở thành thành viên của Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương, qua đó ta thấy được sự kết hợp chặt chẽ của Đảng cộng sản Xiêm với Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương.

Tháng 5 năm 1934, đồng chí Trần Tố Chấn (tức Tăng) với danh nghĩa là đại biểu Xiêm ủy, qua Trung Quốc tham gia cuộc "Hội nghị nhân viên của Ban lãnh đạo cách mạng ở Hải ngoại và các đảng bộ trong nước" do Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương triệu tập. Sau hội nghị, đồng chí Trần Tố Chấn mang tài liệu về Xiêm tuyên truyền kỷ niệm ngày Xô-viết Nghệ Tĩnh, giúp đỡ các tổ chức Đảng ở vùng Bắc Trung Kỳ, góp phần thành lập Xứ ủy Lào và chuẩn bị phục vụ Đại hội Đảng sẽ họp ở Ma Cao.

Ngày 20 tháng 3 năm 1936, đồng chí Trần Tố Chấn bị bắt ở Kon Kèn và bị trục xuất khỏi Xiêm sang Trung Quốc. Sau đó đồng chí sang Hồng Kông và có sự liên lạc với đồng chí Phùng Chí Kiên như phần trên đã viết.

* Phùng Chí Kiên với đồng chí Lê Hồng Phong.

Tháng 6 năm 1936, đồng chí Lê Hồng Phong bắt liên lạc với đồng chí Phùng Chí Kiên (Lý). Đồng chí Phùng Chí Kiên bàn với Lê Hồng Phong muốn trở về nước phải sắm vai người Hoa và đi bằng con đường Sài Gòn mới được. Với tên là La Anh, đồng chí Lê Hồng Phong về Sài Gòn ngày 10 tháng 10 năm 1937, căn cước số 274495 quê Hồ Nam (Trung Quốc), chỉ đạo phong trào cách mạng để thay đồng chí Phùng Chí Kiên trở lại Hồng Kông hoạt động. Đồng chí Phùng Chí Kiên bố trí lịch làm việc của đồng chí Lê Hồng Phong là: cứ đến 16 giờ của ngày 5, 10, 15, 20, 25, 30 hàng tháng, đồng chí Lê Hồng Phong đến trước nhà hát thành phố cạnh nhà ga ở Chợ Lớn làm vệc với cán bộ Xứ ủy Nam Kỳ3.

Năm 1938, Phùng Chí Kiên bị bắt ở Hồng Kông và bị trục xuất qua Sơn Đầu (Trung Quốc).
_____________________________________________
1.  Hồ sơ Trần Văn Chấn, số 3412/CN-MT-C, tiếng Pháp, ký hiệu 144/HS.8, lưu Bảo tàng Xô-viết Nghệ Tĩnh.
2.  Hồ sơ Trần Tố Chấn.
3.  Hồ sơ Lê Hồng Phong, tiếng Pháp, ký hiệu 342/HS.28, Bảo tàng Xô-viết Nghệ Tĩnh.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2021, 02:43:30 pm

2. Hồi ký cách mạng về Phùng Chí Kiên.

Những ký ức của các đồng chí hoạt động cùng đồng chí Phùng Chí Kiên như Võ Nguyên Giáp, Vũ Anh, Đặng Văn Cáp, Chu Văn Tấn, Hoàng Văn Hoan1... thời gian ở Trung Quốc và Cao Bằng năm 1940-1941 đã cho chúng ta hiểu sâu hơn mối quan hệ của đồng chí với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Đây là những tư liệu giúp Bảo tàng Xô-viết Nghệ Tĩnh nghiên cứu và phục vụ khách tham quan hiểu hơn về một chiến sĩ cách mạng trung kiên.

Sau khi bị trục xuất rời Hồng Kông về Trung Quốc, Phùng Chí Kiên tổ chức lớp huấn luyện cho dân quân du kích cách mạng Trung quốc một thời gian ở Sơn Đầu (Sơn Đầu thuộc tỉnh Quảng Đông, là vùng đất gần với Triều Châu, sát biển và gần Hồng Kông).

Giữa năm 1939, Phùng Chí Kiên trở về Côn Minh. Lúc này Côn Minh (thủ phủ tỉnh Vân Nam, thuộc khu Tây Nam Trung Quốc), theo Điều ước bất bình đẳng nhà Mãn Thanh ký với đế quốc Pháp năm 1885: Công ty xe lửa Pháp xây dựng con đường xe lửa chạy suốt Hà Nội - Lào Cai - Hà Khẩu - Côn Minh; tất cả người Việt Nam làm việc trên xe lửa và các ga đều do công ty Pháp trả lương và điều khiển, chính quyền sở tại không có quyền can thiệp. Ở đây có lãnh sự quán Pháp, đài vô tuyến điện, xưởng sửa chữa xe ô tô STAL, nghề cắt tóc và các nghề phục vụ khác. Người Việt Nam trên tuyến này có khoảng vài ngàn. Vì vậy, đây cũng là nơi để các đồng chí xây dựng cơ sở cách mạng. Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng ở vùng này có đồng chí Phùng Chí Kiên, Hoàng Văn Hoan, Vũ Anh, do Phùng Chí Kiên làm Thư ký (Bí thư). Ban Chỉ huy ngoài ra báo "Truyền tin" sau đổi là "Đồng Thanh" nhằm tuyên truyền chủ trương đoàn kết, chống Pháp, ủng hộ nhân dân Trung Hoa chống Nhật; đồng thời vạch trần những luận điệu tuyên truyền của bọn phản động Vũ Hồng Khanh, Nghiêm Kế Tổ và bọn Tờrốtkít.

Tháng 9 năm 1939, đồng chí Phùng Chí Kiên được tin báo đón đồng chí Vương (tức Nguyễn Ái Quốc) đang trên đường trở về nước, ông cùng đồng chí Đặng Văn Cáp đi đón Người nhưng không được, do đường đi lại trắc trở. Lúc này đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã từ Nga về đến Diên An (thuộc tỉnh Thiểm Tây, Trung quốc). Diên An là "thủ đô cách mạng" của những người cộng sản và là nơi phát ra mọi chủ trương đường lối của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Là đại diện của Bộ Phương Đông và là khách quý, đồng chí Nguyễn Ái Quốc được Đảng Cộng sản Trung Quốc tạo mọi điều kiện để sớm trở về Việt Nam. Với tên là Hồ Quang, Người làm việc tại Biện sự Bát lộ quân với cấp hàm thiếu tá Hồng quân Trung Quốc.

Trải qua chặng đường dài từ Quế Lâm về đến Côn Minh, đồng chí Vương đã gặp Phùng Chí Kiên. Phùng Chí Kiên đã báo cáo với đồng chí Vương về tình hình ở Vân Nam và phong trào cách mạng của kiều bào ở đây. Các đồng chí đã tổ chức được nhiều hội ở Côn Minh và dọc đường xe lửa từ Hà Khẩu - Côn Minh. Đồng chí Vương chỉ đạo Ban Chỉ huy ở ngoài hoạt động, Người đề nghị đổi tên báo "Đồng Thanh" thành tờ "ĐT" (có thể hiểu là Đồng Tâm, Đấu Tranh, Đánh Tây). Người thường xuyên viết bài cho báo. Tháng 4 năm 1940, đồng chí Phùng Chí Kiên cùng đồng chí Vương xuống cơ sở cách mạng của kiều bào dọc tuyến đường xe lửa Nghi Lương - Khai Viễn - Pxtai - Xì Xuyên - Hà Khẩu. Tháng 6 năm 1940, đồng chí Phùng Chí Kiên tạo điều kiện cho đồng chí Võ Nguyên Giáp gặp đồng chí Vương lần đầu tiên tại Thúy Hồ (một công viên đẹp nổi tiếng ở Côn Minh).

Để về chỉ đạo phong trào cách mạng Việt Nam được sớm hơn, đồng chí Vương bàn với Phùng Chí Kiên liên lạc với các đồng chí ở trong nước và chọn Cao Bằng làm địa điểm tập kết. Cuối tháng 10 năm 1940, đồng chí Vương cùng Phùng Chí Kiên và Ban Hải ngoại về sát biên giới Việt Trung. Đây là một chặng đường vất vả gian nan của đoàn. Trong vai một ký giả báo "Dân Thanh" của Hồng Kông và không biết tiếng Việt, đồng chí Vương dùng tiếng Trung Quốc thì có đồng chí Phùng Chí Kiên phiên dịch, nhà báo dùng tiếng Pháp thì đồng chí Phạm Văn Đồng làm thông ngôn. Nhờ vậy mà đoàn đã vượt qua các trạm gác của Quốc dân đảng được an toàn.

Từ Quế Lâm, đoàn đi ô tô đến Nam Ninh mất hai ngày. Đến Nam Ninh, đi Điền Đông bằng thuyền hết 8 ngày. Tới Điền Đông, đồng chí Vương, Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp đi bộ đến Tĩnh Tây (thuộc tỉnh Quảng Tây). Tháng 12 năm 1940, tại bản Nậm Quang, tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), đồng chí Vương phân công Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp mở lớp huấn luyện cho hơn 40 thanh niên yêu nước từ Cao Bằng sang lánh nạn (khi thực dân Pháp khủng bố) để về xây dựng cơ sở trong vùng Cao Bằng. Đồng chí Vương thấy đây là cơ hội tốt để tổ chức đường dây liên lạc về nước. Theo đồng chí Vương, Cao Bằng sẽ là căn cứ địa có triển vọng cho cách mạng Việt Nam. Cao Bằng đã có phong trào cách mạng từ trước, lại kề sát biên giới, dễ liên lạc được với quốc tế; từ đây có thể phát triển phong trào cách mạng về Thái Nguyên và toàn quốc. Mỗi đồng chí được phân công nhiệm vụ cụ thể, các bài giảng được đồng chí Vương duyệt kỹ trước khi lên lớp. Đồng chí Vương phụ trách chung, Phùng Chí Kiên, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng là giảng viên.

Sau khoá huấn luyện, 40 thanh niên Cao Bằng quay về nước tìm về cơ sở cũ xây dựng phong trào cách mạng.

Ngày 28 tháng 1 năm 1941, các đồng chí Phùng Chí Kiên, Vũ Anh, có đồng chí Lê Quảng Ba dẫn đường cùng đồng chí Vương về đến Pắc Bó (Cao Bằng).

Việc đồng chí Phùng Chí Kiên trở về nước đã được Sogny, Chánh liêm phóng Trung Kỳ, thông báo trong Thông tri mật số 1530C ngày 19 tháng 3 năm 1941 gửi mật thám Trung Kỳ và công sứ Pháp tại Vinh: "Mạnh Văn Liễu và Lê Quốc Vọng chắc mới về Đông Dương gần đây. Tôi yêu cầu các ông vui lòng cho người truy tìm tích cực các đương sự. Ảnh của Mạnh Văn Liễu đã được đính theo thông tri qua bưu điện của tôi số 256 ngày 20 tháng 1 năm 1939 gửi cho tất cả các chánh mật thám Trung Kỳ. Đính theo đây là ảnh Lê Quốc Vọng".

Sau Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (5.1941), Đội du kích Bắc Sơn được thành lập, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ cho đồng chí Phùng Chí Kiên cùng đồng chí Chu Văn Tấn mở rộng căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai - Cao Bằng và chỉ huy Đội du kích Bắc Sơn. Cuối tháng 5 năm 1941, Bác Hồ giao trách nhiệm cho đồng chí Phùng Chí Kiên và Đặng Văn Cáp đi Bắc Sơn mở lớp huấn luyện cho du kích. Lớp huấn luyện tổ chức được 20 ngày thì quân Pháp lùng sục. Các đồng chí phải phân tán chia làm hai ngả để bảo toàn lực lượng. Đồng chí Phùng Chí Kiên rút theo đường Cao Bằng, nhưng đến Ngân Sơn thì đoàn bị phục kích và đồng chí đã hy sinh anh dũng ngày 22 tháng 8 năm 1941.

*

*        *


Đồng chí Phùng Chí Kiên là học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hy sinh cả cuộc đời vì sự nghiệp cách mạng. Để ghi nhớ công lao to lớn của đồng chí, đề nghị Đảng và Nhà nước có hình thức khen thưởng xứng đáng; địa phương nên xây dựng nhà lưu niệm về đồng chí Phùng Chí Kiên; Bộ Quốc phòng và các cơ quan chức năng quan tâm hỗ trợ kinh phí để Bảo tàng Xô-viết Nghệ Tĩnh sưu tầm đầy đủ tư liệu về hoạt động của đồng chí Phùng Chí Kiên ở nước ngoài như Trung Quốc, Thái Lan, Cộng hoà Liên bang Nga, Pháp...
________________________________________
1.  Đầu nguồn, Hồi ký về Bác Hồ, Nxb Văn học, Hà Nội, 1975.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2021, 09:10:23 pm

MỘT SỐ THÔNG TIN VỀ PHÙNG CHÍ KIÊN QUA TƯ LIỆU NGA, PHÁP

TS NGUYỄN VĂN KHOAN*

I. Tư liệu của Nga

1. Sách "Quốc tế Cộng sản và Việt Nam" bản tiếng Nga của A.A.Xôcôlốp, Nxb Mátxcơva in năm 1998 đã giới thiệu sinh viên Kan (Tiếng Nga KAH) như sau: (theo hồ sơ của Quốc tế cộng sản (QTCS)1:

"Tên thật: Nguyễn Vĩ, Nguyễn Ngọc Vĩ.

Các tên khác: - Mạnh Văn Liễu (Trường Hoàng Phố - Trung Quốc).

- Cam Mu Liệt (trong Quân đội nhân dân Trung Quốc).

- Phùng Chí Kiên, Nguyễn Hào, học viên Trường Đại học Phương Đông từ 15 tháng 6 năm 1932 đến ngày 28 tháng 3 năm 1934. Số hiệu sinh viên 5690.

Sinh năm 19042 trong một gia đình nông dân, học tiểu học. Làm nông cho một nhà buôn giàu có người Tàu. Tháng 10 năm 1926 đến Quảng Châu theo học 3 tuần lễ tại lớp học chính trị phổ thông do Nguyễn Ái Quốc lãnh đạo. Được Nguyễn Ái Quốc giới thiệu gia nhập Việt Nam thanh niên cách mạng hội. Sau đó, được cử đi học Trường quân chính Hoàng Phố trong 2 năm. Ngày 30 tháng 12 năm 1928, Kan cùng với 12 người Đông Dương bị bắt vì bị tố giác3. Sau 3 tháng nằm trong tù Quảng Châu, họ được tự do và trở về Hoàng Phố. Hai tháng sau, vì bị bắt buộc, phải gia nhập Quốc dân Đảng. Năm 1929, nhận chỉ thị của An Nam Cộng sản Đảng, bí mật rời khỏi Hoàng Phố.

Sau đó, Kan đến Hồng Kông để tìm về Việt Nam hoặc đi đến biên giới Liên Xô - Trung Quốc. Bị cảnh sát bắt giữ nhưng nhanh chóng được thả rồi liên lạc được với những người Cộng sản Trung Quốc và Đông Dương4. Cuối năm 1929, Kan gia nhập Hồng quân Trung Quốc. Tháng 12 năm 1929 theo sự giới thiệu của những người cộng sản Trung Quốc, Kan gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Đầu tiên làm Đại đội phó trong Trường Quân chính của Hồng quân Trung Quốc, 3 tháng sau làm Đại đội trưởng và sau 6 tháng là Bí thư chi bộ Đảng, rồi được bổ nhiệm làm Trung đoàn Trưởng Trung đoàn 4 Hồng quân Đông Giang (trong thời kỳ Lý Lập Tam).

Là một trong những người đấu tranh chống lại đường lối của Lý Lập Tam trong trung đoàn mình chỉ huy, về sau, là chính trị viên tiểu đoàn độc lập, đảng ủy viên trung đoàn. Trong thời gian công tác trong Hồng quân Trung Hoa đã tham dự 50 trận đánh chống lại quân Quốc dân Đảng và đã bị thương hai lần5. Tháng 12 năm 1930, theo chỉ thị của Đảng Cộng sản Đông Dương, Kan trở về Hồng Kông, gặp Nguyễn Ái Quốc rồi gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 1 năm 1931, theo giới thiệu của Nguyễn Ái Quốc, Kan cùng với hai người Đông Dương nữa (Đinh Tan và Ái)6 được cử sang học ở Mátxcơva, nhưng trên đường đi đến Liên Xô, cả ba người đều bị bắt tại Khácbin7 và bị giam giữ gần một năm trong tù. Nhờ sự giúp đỡ của Tổ chức quốc tế giúp đỡ các chiến sĩ cách mạng (MOΠPΠ)8, họ được tự do và trở về Thượng Hải vào tháng 12 năm 1931. Tại đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc, họ hoạt động trong thủy thủ và binh lính Đông Dương thuộc Pháp. Tháng 4 năm 1932, một lần nữa, Kan và Đinh Tan vượt biên giới phía bắc Trung Quốc sang Liên Xô, theo học Trường Đại học Phương Đông".

Năm 1934, sau khi kết thúc khóa học, được Quốc tế cộng sản cử đến Hồng Kông, tham gia công tác của văn phòng hải ngoại Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1935, tham dự Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ nhất tại Macao, được bầu là Ủy viên Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Năm 1936, trở về Đông Dương lãnh đạo phong trào cách mạng ở Sài Gòn một thời gian. Sau đó, lại sang Trung Quốc, thay cho Lê Hồng Phong (đã trở về Việt Nam) lãnh đạo hoạt động của Đảng ở ngoài nước. Tại Trung Quốc, gặp lại Nguyễn Ái Quốc và đến đầu năm 1941, cùng Nguyễn Ái Quốc trở về Việt Nam. Tháng 5 năm 1941 tham dự Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương. Sau đó, được giao chỉ huy Cứu quốc quân.

Ngày 7 tháng 8 năm 1941 bị Pháp bắt. Hy sinh ngày 21 tháng 8 năm 1941 tại huyện Ngân Sơn. Năm 1947 được phong cấp tướng9.

2. Trong báo cáo của Ban Chỉ huy ở ngoài, ngày 20 tháng 12 năm 1934, hồ sơ Quốc tế cộng sản 445/154/676/6 nêu rất nhiều danh tính học viên Trường Phương Đông như Phi Vân, Trần Văn Minh, Trần Đình Long, Nguyễn Văn Trấn, Bùi Công Trừng, Bùi Lâm, Nguyễn Văn Tâm, Dương Bạch Mai, Nguyễn Thế Thạch, Trần Ngọc Danh, Nguyễn Huy Bốn, Ngô Đức Trì, Trần Văn Đức, Nguyễn Văn Phái... nhưng không có dòng nào viết về hoạt động của Kan - điều này chứng tỏ cho đến tháng 12 năm 1934, Kan (Phùng Chí Kiên) chưa gặp được Hà Huy Tập. Trong báo cáo này Hà Huy Tập đề nghị: "cho trở về nước tất cả (gạch dưới trong nguyên văn tiếng Pháp) những đồng chí đã học xong".

3. Hồ sơ Quốc tế cộng sản số 495/154/688/13 về báo cáo của Ban Chỉ huy ở ngoài thuộc Đảng Cộng sản Đông Dương ghi ngày 31 tháng 7 năm 1935 bằng tiếng Pháp, có đoạn: "cho về ngay Lumière, Monguy, Vergné và Pala10. Đảng đang cần cán bộ. Đinh Thanh may mắn đã gặp chúng tôi trên đường phố, nếu không đồng chí ấy cũng chẳng tìm ra chúng tôi".

Trong báo cáo này không thấy viết gì đến Phùng Chí Kiên, mặc dù Phùng Chí Kiên có tham dự và được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, hoặc có thể còn có báo cáo nào sau ngày 31 tháng 3 năm 1935 đề cập tới nhân sự Trung ương?

4. Theo một hồ sơ khác, số hồ sơ mờ không đọc được, ghi Mật, "Danh sách những đồng chí là Ủy viên Trung ương Đảng, Ban Chỉ huy ở ngoài, hoạt động tích cực" có:

1.   Din Tan - (Trần Văn Điềm) Ủy viên Trung ương.
2.   Snichiskin - (Hà Huy Tập) Ban Chỉ huy ở ngoài.
3.   Lítvinốp - (Lê Hồng Phong) Tổng Bí thư Đảng, Ủy viên Quốc tế Cộng sản.
4.   Kan - (Mạnh Văn Liễu) Ban Chỉ huy ở ngoài.
5.   Remi - (Trần Văn Kiệt)11 Ban Chỉ huy ở ngoài.

5. Sách "Kỷ yếu hội thảo" của Viện Viễn Đông trực thuộc Viện Hàn Lâm khoa học Nga, 1992, tr.128 có đăng báo cáo tham luận của nghiên cứu sinh Lý Văn Mi nhan đề: "Ảnh hưởng của Cách mạng Trung Quốc với phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX" trong khuôn khổ luận án phó tiến sĩ sử học cho biết: "Kan là một trong số học viên Việt Nam theo học khoá 5 trường Hoàng Phố với danh tính là Mạnh Văn Liễu".
_________________________________________
* Hội Khoa học lịch sử Việt Nam.
1.  Theo quy định của Quốc tế cộng sản, học viên Trường Phương Đông phải khai một lý lịch. Có thể những thông tin này là dựa theo bản khai đó. Mật danh "Phùng Chí Kiên" và những thông tin khác sau khi Nguyễn Vĩ rời Mátxcơva được Quốc tế cộng sản bổ sung thêm. Những thông tin này chắc là do Kan cung cấp vào bản lý lịch của mình và A.A. Xôcôlốp viết thêm.
2.  Có tài liệu ghi sinh năm 1901 và 1905.
3.  Theo ý kiến của Lý Phương Đức, Phùng Chí Kiên bị bắt vào tháng 12 năm 1927 trong khởi nghĩa Quảng Châu, vì đã đánh lại quân Tưởng dưới danh nghĩa học sinh quân Hoàng Phố.
4.  Những năm đầu thế kỷ XX, ở Nga chưa có từ Việt Nam mà chỉ có "An Nam" hoặc "Đông Dương".
5.  Có thể trong thời gian này, Phùng Chí Kiên có tên là Cam Mu Liệt mà ĐCS Trung Quốc không biết đến?
6.  Đinh Tan, theo tài liệu của Quốc tế cộng sản là "Đình Thanh" tên thật là Trần Văn Điềm. Quốc tế cộng sản có thêm thông tin về Đinh Tan như sau: sinh 1902, làm lái xe 8 năm, 1930 vào Đảng cộng sản Trung Quốc. Văn hóa cao học. 1926-1927 hoạt động trong đảng An Nam trẻ. Học viên Trường Phương Đông, ủy viên Trung ương Đảng. Ái không phải Bùi Ái.
7.  Khácbin, một thành phố Đông Bắc Trung Quốc sát biên giới Trung - Xô.
8.  Viết tắt chữ cái đầu của các từ Nga "Tổ chức quốc tế giúp đỡ các chiến sĩ cách mạng".
9.  Nguyễn Văn Khoan lược dịch từ tiếng Nga.
10.  Lumière: Nguyễn Hữu Dương (ở lại Pháp); Vergné: Trần Huy Minh; Pala: Nguyễn Văn Minh, sau là Xứ ủy Bắc Kỳ; Monguy - chưa rõ là ai?
11. Theo tài liệu của Quốc tế Cộng sản - "Rêmi là Lê Văn Kiệt, Trần Văn Kiệt, Lê Minh sinh ngày 26 tháng 11 năm 1912, tại Vĩnh Long, từ năm 1930 sống tại Pháp, 1931 vào Đảng cộng sản Pháp, học Đại học Phương Đông năm 1931(?). 1933 về Việt Nam làm Báo "L’avant garde".


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2021, 09:13:12 pm

II. Tư liệu của Mật thám Pháp.

1. Theo hồ sơ của Tổng Nha Mật thám Đông Dương số 5595 ngày 3 tháng 10 năm 1930, cho biết số thẻ căn cước của 47 người An Nam bị tình nghi, trong đó có số 1 là Nguyễn Ái Quốc, số thẻ căn cước 1116... số 8 là Mạnh Văn Liễu, thẻ căn cước số 1880... và một số người khác, trong đó "đã bắt được Ngô Đức Trì, Vũ Nguyên Trinh, Bùi Ái, Bùi Công Trừng, Trần Văn Lắm, Trần Phú, Lý Tự Trọng, Hoàng Tuyền, Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Xuân Luyện...

2. Theo danh sách những người hoạt động chống chính quyền Pháp ở Đông Dương, qua lời khai của một số nhân chứng mà mật thám Pháp lập ra vào ngày 24 tháng 10 năm 1932, vần "L" có Liễu (Mạnh Văn), 24 tuổi, quê Mỹ Quang Thượng, tổng Văn Phân, phủ Diễn Châu, Nghệ An, xuất dương từ 1926, cựu sinh viên Trường Hoàng Phố. Tháng 2 năm 1931, được chỉ định cùng với Trương Phước Đạt và Trần Văn Kiên1 sang Nga học nhưng cả ba đều bị các nhà đương cục Tàu bắt giữ tại biên giới Xô - Mãn Châu.

Mật thám trung ương không có tin tức gì về Mạnh Văn Liễu từ sau thời gian này (Trương Phước Đạt, theo Mật thám Pháp, tức Khá, sinh ngày 15 tháng 10 năm 1909, quê làng Minh Chu, tổng Kim Đính, tỉnh Phan Rang, Trung Kỳ, cựu thủy thủ đào ngũ, đảng viên Đảng cộng sản Trung Quốc, hiện ở Thượng Hải, giữ liên lạc với Đảng cộng sản Đông Dương).

Về nhân vật Trương Phước Đạt, có nhiều nguồn tin cho rằng: "Khi Trương Phước Đạt bị bắt ở Mãn Châu bấy giờ Nhật đã chiếm Mãn Châu, Đạt được Nhật "ân xá". Trong thời gian ngồi tù ở Mãn Châu, Đạt làm quen với một đảng viên cộng sản Tàu cũng bị giam. Qua người này, Đạt vào Đảng cộng sản Trung Quốc sau khi được tự do. Sau này Đạt có tên là Khá, tự nhận là "đầu mối giao thông" giữa Đảng cộng sản Đông Dương với Đảng cộng sản Trung Quốc, nên một số đảng viên Đảng cộng sản Đông Dương ở Nga về, hoặc không rõ lý lịch của Khá đã "bắt liên lạc" với Khá. Nhiều khả năng Trần Ngọc Danh, Lê Hồng Sơn bị bắt ở Thượng Hải năm 1932 là do Khá chỉ điểm.

3. Mật thám Huế ngày 8 tháng 9 năm 1937 có công văn báo cho Mật thám Sài Gòn biết rằng:

"Mạnh Văn Liễu tức Can, bí danh là Nguyễn Hạo, quê Mỹ Quan Thượng, phủ Diễn Châu (Nghệ An) từ Tàu về đã tham gia hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương của Đảng cộng sản Đông Dương ở Bà Điểm (Gia Định). Liễu là một nhân vật kích động giữ vai trò ủy viên Ban Chỉ huy ở ngoài, phù hợp với những ý kiến của Tổng nha Mật thám thu thập được trong các ngày 27-28 tháng 5 năm 1935 liên quan đến Ban Chỉ huy ở ngoài tại Macao năm 1935".

4. Một tài liệu của Mật thám Cao Bằng ngày 20 tháng 5 năm 1941, qua một điệp viên cho biết: "Có một người Tàu tên là Phùng được một phụ nữ Tày dẫn đường đến Ngân Sơn. Đã báo cho tri châu Vi Văn Bảo"2.
____________________________________________
1.  Có tài liệu cho biết không phải là Trần Văn Kiên mà là Trần Văn Điềm, tức Đình Thanh, học cùng với Mạnh Văn Liễu ở Trường Phương Đông.
2.  Trong thời gian chỉ huy Đội Cứu quốc quân, Phùng Chí Kiên có bí danh Phùng. Không rõ có phải "Phùng" được báo có phải là Phùng Chí Kiên?


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2021, 09:23:15 pm

ĐỒNG CHÍ PHÙNG CHÍ KIÊN QUA HỒI ỨC
CỦA CÁC NHÀ HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG

Thiếu tá, ThS LÊ THANH BÀI*
Thượng úy, ThS LÊ VĂN CỬ**

Đồng chí Phùng Chí Kiên hy sinh khi tuổi đời còn trẻ (40 tuổi), nhưng cuộc đời hoạt động cách mạng phong phú và những đóng góp to lớn của đồng chí đã để lại trong ký ức của đồng chí, đồng đội sự khâm phục và lòng tiếc thương vô hạn đối với một cán bộ ưu tú của Đảng. Trong hồi ký của các nhà cách mạng lão thành như Lê Quảng Ba, Đặng Văn Cáp, Võ Nguyên Giáp, Vũ Anh, Dương Đại Lâm, Lô Quang Thành... đã kể lại những năm tháng cùng ông lăn lộn với phong trào. Những dòng hồi ức đó cho chúng ta càng thấy rõ thêm những hoạt động phong phú, cống hiến quan trọng của đồng chí Phùng Chí Kiên đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

Trong tác phẩm "Con đường dẫn tôi đến với Bác", đồng chí Đặng Văn Cáp kể lại: "Một hôm, tôi nhớ rõ là ngày 28 tháng 9 năm 1940, đồng chí Phùng Chí Kiên đến tìm tôi ở huyện Phong Thuận. Sau khi trao đổi với nhau về tin "Hoa quân nhập Việt", chúng tôi không khỏi lo ngại, cuối cùng bàn với nhau xem thực hư ra sao. Chia tay được ít ngày, tôi nhận được điện báo của đồng chí Phùng Chí Kiên bảo tôi cố gắng xin nghỉ ít ngày, lý do sẽ cho biết sau.

- Hiện nay ông đã về tới Long Châu (Quảng Tây) chúng ta phải đi đón ngay.

Đó là lời đồng chí Phùng Chí Kiên cho tôi biết khi tôi đã được nghỉ việc.

Chúng tôi mua vé xe lên đường vào một ngày cuối tháng chín. Qua Hưng Ninh đến Thiền Quan, chúng tôi tìm gặp đồng chí Chủ nhiệm Cô Đại Tôn, đồng chí nói:

- Ba lần ông Cụ tìm người để đón về nước mà không gặp..."1.

Sau đó, đồng chí Đặng Văn Cáp đã cùng Phùng Chí Kiên lên đường đi tìm gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Qua nhiều nơi như Trùng Khánh, Quế Lâm, Quý Châu không gặp, cuối cùng "đồng chí Kiên báo cho tôi biết đồng chí Hồ Quang đã về Côn Minh. Tôi cố xoay xoả mua vé xe mà không sao mua nổi. Mãi tháng 5 năm 1940, đồng chí Trịnh Đông Hải (tức đồng chí Vũ Anh) lúc này đang làm cho hiệu Vĩnh An Đường, lợi dụng xe của chủ, tự tay lái lên đón tôi và đồng chí Lộc và đưa chúng tôi về Côn Minh. Được ít ngày đồng chí Kiên dẫn tôi vào gặp đồng chí Hồ Quang. Tôi đang bỡ ngỡ, thì đồng chí đã reo lên:

- A, anh Linh (bí danh của tôi ở Thái Lan).
- Anh Thầu Chín: Tôi cũng reo lên - nhưng chợt nghĩ lại tôi vội chữa:
- Ông..., à đồng chí.

Thì ra rõ ràng đồng chí Hồ Quang là "anh Thầu Chín" mà tôi đã từng gặp ở Thái Lan, là Bác"2.

Trong Hồi ký "Những chặng đường lịch sử", Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng nhắc đến vai trò của Phùng Chí Kiên trong việc tổ chức cho ông gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Đó là vào quãng thời gian 1940, khi ông mới sang Trung Quốc hoạt động, "Sang đầu tháng 6, một hôm anh Phùng Chí Kiên rủ chúng tôi đi Thúy Hồ. Dọc đường anh Kiên nói: Đồng chí Vương đã đến và hẹn chúng mình tới gặp ở Thúy Hồ. Đến Thúy Hồ, tôi thấy anh Vũ Anh ngồi trong một chiếc thuyền với một người đứng tuổi, gầy gò, có đôi mắt rất sáng, mặc bộ quần áo Tôn Trung Sơn màu xám, đội mũ phớt. Tôi nhận ra ngay đấy là đồng chí Nguyễn Ái Quốc"3. Đây là cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa Nguyễn Ái Quốc và Võ Nguyên Giáp mà Phùng Chí Kiên là người tổ chức, móc nối.

Cùng với việc giới thiệu các nhà hoạt động cách mạng gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Phùng Chí Kiên giữ vai trò trong việc tổ chức huấn luyện cán bộ cách mạng. Cũng trong hồi ký "Từ Pác Bó đến Tân Trào" Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể lại: "Đầu tháng 12, Bác và anh Phùng Chí Kiên về một làng cách Tĩnh Tây năm chục cây số. Bác cho người đến gọi anh Đồng và tôi về để mở lớp huấn luyện... Các anh Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng và tôi được Bác hướng dẫn làm chương trình huấn luyện"4. Ở đây, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói đến lớp huấn luyện ở Nậm Quang (Tĩnh Tây, Trung Quốc).

Trong tác phẩm "Bác Hồ và đội du kích Pác Bó", đồng chí Lê Quảng Ba, người từng hoạt động ở Trung Quốc, có vai trò lớn trong việc tổ chức đưa Bác về nước và bảo vệ khu căn cứ Pác Bó, đã cho chúng ta thấy vai trò của Phùng Chí Kiên đối với lớp học trên. "Khi anh em chúng tôi tập trung đông đủ ở Nậm Quang, ông Cụ và các đồng chí Phùng Chí Kiên, Lâm Bá Kiệt, Dương Hoài Nam, Trịnh Đông Hải, Đặng Văn Cáp và đồng chí Lộc đã có mặt. Lớp học được đặt ở đây. Phần lớn học viên, do không đủ nhà ở, phải đến ở thôn Ngàm Tẩy, cách thôn Nậm Quang 1km... ông Cụ đặt chương trình cho lớp huấn luyện chính trị và trực tiếp chỉ đạo. Các đồng chí Phùng Chí Kiên, Lâm Bá Kiệt, Dương Hoài Nam biên soạn các bài cụ thể và trực tiếp giảng dạy..."5.
___________________________________________________
*, ** Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
1.  Đặng Văn Cáp, Con đường dẫn tôi đến với Bác, in trong tập Đầu nguồn (Hồi ký về Bác Hồ), Nxb Văn học, Hà Nội, 1975, tr.322.
2.  Đặng Văn Cáp, Con đường dẫn tôi đến với Bác,... tr .324.
3.  Võ Nguyên Giáp, Những chặng đường lịch sử, Nxb Văn học, Hà Nội, 1977, tr. 28.
4.  Võ Nguyên Giáp, Những chặng đường lịch sử, Nxb Văn học, Hà Nội, 1977, tr.39.
5.  Lê Quảng Ba, Bác Hồ và đội du kích Pắc Bó, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 1994. tr. 70-71.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2021, 09:27:24 pm

Cũng qua các dòng hồi ức của các nhà hoạt động cách mạng, chúng ta được biết vai trò của Phùng Chí Kiên bên cạnh Nguyễn Ái Quốc trong những năm 1940, 1941.

Hồi ký "Những ngày gần Bác", đồng chí Vũ Anh, người từng hoạt động với Phùng Chí Kiên tại Chi bộ hải ngoại ở Vân Nam, Trung Quốc, kể lại: "Chúng tôi ngồi trên chiếc giường con, Bác ngồi ngoài chân bỏ thõng xuống đất... Anh Kiên bắt đầu báo cáo cho Bác nghe về tình hình Vân Nam, về Bộ Hải ngoại do anh làm bí thư, về tờ báo Đ.T. Anh nói rõ mạch lạc... Bác vừa hút thuốc, vừa nghe anh Kiên nói với vẻ chăm chú đặc biệt"1. Cũng trong hồi ký này, đồng chí Vũ Anh kể lại câu chuyện khá thú vị: "Tháng 4 năm 1940, Bác đề nghị cho Bác đi thăm một số cơ sở dọc đường xe lửa Côn Minh - Hồ Khẩu. Anh Phùng Chí Kiên cùng đi với Bác... Trong thời kỳ ấy, bọn Nhật ném bom xuống đường xe lửa Côn Minh - Hồ Khẩu. Người ở ga Xì Xuyên chết rất nhiều. Nhân dân tổ chức làm chay. Họ mời Bác và anh Kiên đến cúng giúp. Anh Kiên hồi hộp nhìn Bác. Làm thế nào bây giờ? Không biết đọc kinh cầu nguyện thì mất hết uy tín. Nhưng Bác rất bình tĩnh. Bác bảo anh Kiên: Ta cứ đi rồi sẽ tìm cách, không cách này thì cách khác, lo gì?

Hai người đến gần, các sư sãi ra đón tiếp rất niềm nở. Giữa lúc họ đang bận rộn, được hai ông thầy cúng nhân dân tin yêu và giới thiệu đến cúng giúp thì còn gì bằng.

Bác nháy anh Kiên đến trước bàn thờ, quỳ xuống, lật sách cúng ra. Bác làm mọi việc một cách tự nhiên, thành thạo. Lúc anh Kiên lật sách cúng định đọc thì đã nghe Bác đọc những bài ca cách mạng. Đó là những bài tố cáo tội ác của bọn phát xít Nhật, bọn thực dân gây cướp bóc giết hại nòi giống Việt Nam. Anh Kiên nghe thế cũng đọc theo. Các bà, các ông lạy sì sụp, không ai nghi ngờ gì cả. Ngược lại họ rất tin tưởng và thán phục. Tối đến chạy đàn, Bác và anh Kiên cũng chạy. Một số đảng viên đến dự, không nhịn được cười. Cúng xong Bác và anh Kiên về, không ăn uống gì. Nhân dân càng phục, họ mang phẩm chuối đến tận nhà biếu hai ông thầy cúng "tốt bụng"..."2.

Bên cạnh những chi tiết thú vị như trên, hồi ký của đồng chí Vũ Anh nhắc đến những quyết định quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc, có sự tham dự của Phùng Chí Kiên, đó là khi Pa-ri thất thủ (6.1940), tình hình thế giới và trong nước có nhiều chuyển biến, Bác triệu tập ngay cuộc họp vào "một đêm tháng 6, trời Côn Minh oi bức và nồng nực không khác gì mùa hè ở ta. Bác, anh Kiên, anh Hoan và tôi ngồi trong ngôi nhà nhỏ (anh Kiên vẫn hay dùng làm cơ quan họp và toà soạn của báo Đ.T.) trao đổi, thảo luận rất nhiều về tình hình hiện tại. Cuộc họp cũng đề ra những yêu cầu mới cho những hoạt động sắp tới. Bác phân tích cho chúng tôi thấy rõ hơn mối quan hệ chặt chẽ giữa bọn thực dân ở chính quốc và bọn thực dân ở Đông Dương. Cuối cùng Bác nhận định: Việc Pháp mất nước là một cơ hội rất thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước ngay để tranh thủ thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng. Hội nghị tán thành và thông qua đề nghị của Bác. Chúng tôi sẽ chuyển về nước hoạt động...

Đây là một cuộc họp rất quan trọng, mở đầu cho một thời kỳ của cách mạng Việt Nam - Bác và bộ Hải ngoại chuẩn bị về nước"3.

Về vấn đề chuẩn bị về nước, ông Đặng Văn Cáp kể lại: "Ở Côn Minh một thời gian, Bác và các đồng chí chuyển về Quảng Tây để chuẩn bị về nước. Tại Liễu Châu, Bác triệu tập các đồng chí Lý Quang Hoa (Hoàng Văn Hoan), Phùng Chí Kiên và tôi đến để bàn một số việc. Tại một phòng trong một khách sạn, Bác giao trách nhiệm cho chúng tôi chuẩn bị về biên giới. Chúng tôi bố trí xong các công tác chuẩn bị thì vừa vặn các đồng chí Trịnh Đông Hải (Vũ Anh), Dương Hoài Nam đưa Nguyễn Hải Thần về Liễu Châu và đồng chí Lâm Bá Kiệt từ Quế Lâm cũng vừa về tới.

Việc chuẩn bị về nước rất khẩn trương.

Chúng tôi giao dịch với chính quyền địa phương lấy giấy thông hành. Tôi nhớ trong chuyến đi ấy có Bác, các đồng chí Lâm Bá Kiệt, Lý Quang Hoa, Phùng Chí Kiên, Đỗ Đăng Trình, Lộc, Hiền, Dương và tôi. Ngoài ra còn có tên Căn không phải người của chúng tôi cùng đi theo danh sách ghi trong giấy cấp. Có người lạ Bác bảo chúng tôi cảnh giác. Bác đóng vai kí giả một tờ báo nước ngoài (Báo Dân Thanh, Hương Cảng), chỉ biết tiếng mẹ đẻ và nhiều thứ tiếng khác nhưng không biết tiếng Việt Nam. Cần gì Bác đều nói qua các "phiên dịch" là các đồng chí Lâm Bá Kiệt, Lý Quang Hoa, Phùng Chí Kiên. Cử chỉ của Bác lúc này rõ ra là một nhà báo đi tìm hiểu tình hình..."4.

Sau một thời gian xây dựng cơ sở, đầu năm 1941, Phùng Chí Kiên đã cùng một số đồng chí khác tổ chức đưa Nguyễn Ái Quốc về nước. Ông Đặng Văn Cáp kể lại: "Sau Tết, Bác cử các đồng chí Dương Hoài Nam và Lâm Bá Kiệt đi Tĩnh Tây. Anh em chúng tôi gồm các đồng chí Phùng Chí Kiên, Lê Quảng Ba, Hoàng Văn Lộc, Thế An và tôi theo Bác từ Nậm Quang về nước".
___________________________________________________
1.  Vũ Anh, Những ngày gần Bác, in trong tập Đầu nguồn (Hồi ký về Bác Hồ), Nxb Văn học, Hà Nội, 1975, tr. 255.
2, 3.  Vũ Anh, Những ngày gần Bác... Sđd, tr. 230.
4.  Đặng Văn Cáp, Con đường dẫn tôi đến với Bác,... Sđd, tr. 327.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2021, 09:31:42 pm

Trong hồi ký của mình, đồng chí Vũ Anh kể lại thời điểm Bác Hồ về nước: "Buổi trưa ngày 8 tháng 2 năm 19411 tôi ra đón Bác ở chân một ngọn núi đá cạnh mấy đám ruộng vừa gặt. Mặt trời ngả sang chiều thì Bác và đoàn về đến bên này cột mốc. Anh Lê Quảng Ba dẫn đường đi trước, Bác đi sau rồi đến anh Phùng Chí Kiên"2.

Như vậy, ngày 28 tháng 1 năm 1941, Bác và các đồng chí Lê Quảng Ba, Phùng Chí Kiên, Thế An, Đặng Văn Cáp và Hoàng Văn Lộc vượt qua biên giới Việt - Trung tại khu vực cột mốc 108, về Pắc Bó (Trường Hà, Hà Quảng, Cao Bằng). Bao năm xa cách, giờ đây khi đã tìm thấy con đường cứu nước giải phóng dân tộc, Người trở về để chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam.

Sau khi về nước, đồng chí Phùng Chí Kiên còn có những tháng ngày hoạt động bên cạnh lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tại khu vực Pắc Bó (Cao Bằng). Đồng chí Lê Quảng Ba kể lại: "Bác gọi tôi bảo dẫn Bác và anh Phùng Chí Kiên đi xem xét địa thế quanh hang. Bác lanh lẹ tươi tỉnh như không phải vừa đi bộ từ sáng tới đây. Chúng tôi đứng lại bên bờ suối, rửa tay rửa mặt... Sau khi đã tổng kết kinh nghiệm tổ chức thí điểm Việt Minh ở Cao Bằng, tháng 5 năm 1941 Trung ương Đảng ta đã họp Hội nghị lần thứ Tám ở Khuổi Nậm (Pác Bó). Bác chuẩn bị Hội nghị này từ khi Người còn ở Tĩnh Tây. Ở đây đồng chí Hoàng Văn Thụ đã đến nhận chỉ thị của Bác. Các đồng chí Vũ Anh, Hoàng Sâm, Hoàng Văn Hoan được phái đi rất sớm, tổ chức đường qua Lạng Sơn đón các đại biểu... Lần này, ngoài Bác, đồng chí Phùng Chí Kiên, đồng chí Vũ Anh, lần đầu tiên chúng tôi được gặp các đồng chí Hoàng Văn Thụ, Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt...”3.

Nhắc đến quãng thời gian sau khi về nước, Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể lại "Anh Phùng Chí Kiên ở lại với Bác tại Pác Bó một thời gian thì lên đường về Bắc Sơn. Cuối tháng 9 năm 1940, khi chúng tôi còn ở Trung Quốc, nhân lúc quân đội Nhật tràn vào Lạng Sơn, bọn Pháp rút chạy, nhân dân Bắc Sơn dưới sự lãnh đạo của một số đồng chí đảng viên tại địa phương đã đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền. Sau khi cuộc khởi nghĩa bị địch tập trung đàn áp, Trung ương đã quyết định tăng cường cán bộ, duy trì phong trào tại đây. Vào đầu năm 1941, đội du kích Bắc Sơn đã thành lập. Theo quyết định của Hội nghị Trung ương lần thứ 8 tại Pắc Bó, xây dựng Bắc Sơn, Vũ Nhai và Cao Bằng thành hai trung tâm khởi nghĩa tại Việt Bắc, anh Phùng Chí Kiên được cử về cùng các anh Huy4, Chu Văn Tấn mở rộng khu căn cứ và chỉ huy đội du kích Bắc Sơn".

Đồng chí Dương Đại Lâm vẫn không quên những giây phút thiêng liêng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình khi nhắc đến đồng chí Phùng Chí Kiên trong những tháng ngày ở Pắc Bó. Trong hồi ký "Bác Hồ đến bản tôi": "Đêm 11 tháng 5 năm 1941 (tức là ba tháng sau khi Người về Pác Bó quê tôi), dưới vầng sáng của mảnh trăng non chiếu mờ tỏ vào trong túp nhà sàn chỉ đủ để mọi người trông thấy mặt nhau, hai đồng chí Lê Quảng Ba và Hoàng Sâm đã nghiêm trang giới thiệu tôi gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Thay mặt cấp trên, đồng chí Phùng Chí Kiên công nhận tôi là một đảng viên và nhắc nhở tôi những nhiệm vụ nặng nề mà từ nay phải cùng các đồng chí gánh vác"5.

Hồi ký của đồng chí Đặng Văn Cáp cho biết thêm về đồng chí Phùng Chí Kiên trong và sau Hội nghị Trung ương lần thứ 8. Trong hội nghị, "ngoài Bác ra, còn có các đồng chí Phùng Chí Kiên, Hoàng Văn Thụ, Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Vũ Anh. Sau Hội nghị Trung ương lần thứ Tám, từ tháng 5 năm 1941 đến tháng 10 năm 1941 tôi được cử đi huấn luyện các lớp quân sự. Phong trào quần chúng đang dâng lên cuồn cuộn, các hội cứu quốc đều tổ chức ra những đội tự vệ võ trang trong nam nữ thanh niên. Đồng chí nào có một chút hiểu biết về quân sự đều được Bác giao cho đi huấn luyện. Cuối tháng 5 năm 1941, Bác giao trách nhiệm cho đồng chí Phùng Chí Kiên và tôi đi Bắc Sơn mở lớp. Mở được 20 ngày thì bị Tây ập vào lùng sục. Chúng tôi phải phân tán vì lạc nhau. Đồng chí Phùng Chí Kiên đi đường Cao Bằng đến Ngân Sơn bị phục kích và bị Tây bắn chết. Nghe tin đồng chí Phùng Chí Kiên hy sinh, Bác lặng đi, rất đau xót".

Cụ Lô Quang Thành, lão thành cách mạng, chứng nhân đội công tác Bắc Sơn kể lại những giây phút cuối cùng của đồng chí Phùng Chí Kiên. Đó là khi rút đến Ngân Sơn, đội ở trọ trong nhà dân và bị lộ. "Sáng hôm sau có bọn tuần đinh mang súng kíp đến gác nhà cấm người ra vào, một lúc sau có tên chánh tổng to béo để ria mép đến kiểm tra căn cước, chúng nghi chúng tôi buôn lậu, Sơn Cương định đút tiền cho chánh tổng để nó bỏ qua nhưng nó không nhận. Thấy anh Phùng nháy mắt ra hiệu, Sơn Cương bất ngờ rút khẩu pạchoọc giấu trong áo bắn vào bụng tên chánh tổng, hắn rống lên và ngã xuống, chúng tôi thoát khỏi vòng vây bọn tuần đinh ra khỏi làng nhảy xuống mấy thửa ruộng bậc thang vừa đi vừa bắn trả địch, anh Kính bắn chết tên tuần đinh cản đường. Thực ra bọn địch bị bất ngờ vì chúng tôi ra tay trước, chúng tôi tản đội hình men theo khe và rút lên các sườn đồi có địch án ngữ, đi một lúc gặp một toán địch phục kích, một phát súng kíp nổ, anh Phùng bị thương vào đầu, chúng tôi tính cấp cứu anh Phùng nên ném quả lựu đạn mỏ vịt vào tốp địch nhưng quả lựu đạn thối không nổ, vũ khí ít, địch đuổi gấp, chúng tôi đành đau xót tiếp tục rút, chỗ anh Phùng bị nạn sau này chúng tôi biết đó là Khau Gạu (đồi con Cú)"6.

Trên đây là những dòng hồi ức của các nhà hoạt động cách mạng lão thành đã có thời gian cùng hoạt động cách mạng bên cạnh đồng chí Phùng Chí Kiên. Qua đó, chúng ta thấy rõ hơn cuộc đời hoạt động cách mạng phong phú và sôi nổi cùng những đóng góp quan trọng của đồng chí Phùng Chí Kiên đối với Đảng, với cách mạng trong những tháng ngày gian khó. Cùng với thời gian, những trang hồi ký, những dòng hồi ức cách mạng đó sẽ là những nguồn sử liệu quý báu cho các thế hệ tiếp sau, cho các nhà sử học tìm hiểu, nghiên cứu về một giai đoạn cách mạng đầy chông gai, thử thách của Đảng và dân tộc ta nói chung, cũng như về cuộc đời cách mạng của đồng chí Phùng Chí Kiên.

Xin được lấy lời cụ Lô Quang Thành trong hồi ức của cụ thay cho lời kết: "Vô cùng thương nhớ vì phải vĩnh biệt anh Phùng và anh Huy, những cán bộ cốt cán của Đảng ta khi còn gian khó đã chiến đấu và hy sinh anh dũng cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, trân trọng những đức tính cao đẹp và công lao to lớn của các đồng chí đối với Tổ quốc".
_____________________________________________
1.  Thực ra là ngày 28 tháng 1 năm 1941.
2.  Vũ Anh, Những ngày gần Bác... Sđd, tr. 250
3.  Lê Quảng Ba, Bác Hồ và đội du kích Pắc Bó, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội 1994, tr. 85, 102.
4.  Tên gọi của đồng chí Lương Văn Tri, cán bộ lãnh đạo cứu quốc quân cùng đồng chí Phùng Chí Kiên, bị bắt và hy sinh trong nhà tù ở Cao Bằng khi đang cùng cứu quốc quân rút về Cao Bằng.
5.  Đặng Văn Cáp, Con đường dẫn tôi đến với Bác... Sđd, tr.336.
6.  Hồi ức về đội công tác Phùng Chí Kiên, Nông Danh ghi theo lời kể của cụ Lô Quang Thành, Tạp chí Xưa và Nay, số 249, tháng 12 năm 2005, tr. 7-8.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2021, 09:38:48 pm

VỀ SỰ HY SINH CỦA ĐỒNG CHÍ PHÙNG CHÍ KIÊN

ThS TRẦN TRỌNG THƠ*

Đồng chí Phùng Chí Kiên có tên khai sinh là Nguyễn Vĩ, trong quá trình hoạt động cách mạng còn mang các tên: Mạnh Văn Liễu, Nguyễn Hào, Như Bách, Can (hoặc Kan), Phùng Nguôn Bình, Mã Hữu Giác, Lý, Phùng... Đồng chí đã đảm trách những cương vị lãnh đạo cao cấp của Đảng, là Ủy viên Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương, Thường vụ Trung ương Đảng khoá I (1935), Ủy viên Trung ương Đảng do Hội nghị lần thứ Tám (5.1941) bầu. Đồng chí Phùng Chí Kiên có nhiều đóng góp to lớn cho Đảng, cho cách mạng Việt Nam và Đông Dương trong khôi phục và phát triển phong trào cách mạng, nhất là trong việc góp phần tổ chức thành công Đại hội Đảng lần thứ nhất (3.1935), trong chắp mối liên lạc để đồng chí Nguyễn Ái Quốc trở về nước vào đầu năm 1941 trực tiếp lãnh đạo công cuộc chuẩn bị khởi nghiã vũ trang giành chính quyền, trong xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang cách mạng lúc còn trứng nước.

Những đóng góp to lớn của đồng chí Phùng Chí Kiên đối với cách mạng nước ta hy vọng sẽ được các cấp lãnh đạo, các cơ quan nghiên cứu, các nhà khoa học nghiên cứu thấu đáo, đánh giá xác đáng, tương xứng với công lao to lớn của đồng chí. Góp phần nhỏ vào nhiệm vụ trên đây, trong tham luận này, chúng tôi xin cung cấp một số tài liệu liên quan đến sự hy sinh dũng cảm của đồng chí Phùng Chí Kiên, đồng thời bổ sung một số tư liệu về cuộc đời hoạt động cách mạng của nhân vật lịch sử rất nổi tiếng này.

Sau Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (5.1941), với cương vị Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, một cán bộ quân sự xuất sắc, đã từng học tại trường quân sự Hoàng Phố và tham gia chiến đấu trong lực lượng quân đội của Đảng Cộng sản Trung Quốc, đồng chí được Trung ương Đảng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ chỉ huy khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai và lực lượng Cứu quốc quân ở đây.

Từ giữa năm 1941, địch ráo riết bao vây, truy lùng lực lượng Cứu quốc quân, khủng bố ác liệt phong trào cách mạng vùng Bắc Sơn - Võ Nhai. Để bảo toàn lực lượng, Ban chỉ huy lực lượng Cứu quốc quân do đồng chí đứng đầu quyết định chia thành hai bộ phận rút lên biên giới Việt - Trung1. Trong quá trình di chuyển, đồng chí Phùng Chí Kiên đã hy sinh anh dũng tại Ngân Sơn tỉnh Bắc Kạn vào tháng 8 năm 1941.

Cho đến nay, sự kiện đồng chí Phùng Chí Kiên hy sinh đã được phản ánh trong nhiều công trình nghiên cứu lịch sử, song, nhìn chung còn rất vắn tắt và có nhiều điểm chưa thống nhất.

Về thời gian đồng chí Phùng Chí Kiên hy sinh, có sách viết là ngày 20 tháng 8 năm 19412; có sách viết là ngày 21 tháng 8 năm 19413; có sách viết là ngày 22 tháng 8 năm 19414.

Về sự hy sinh của đồng chí: nhiều công trình viết đồng chí "hy sinh tại trận" hoặc "hy sinh" khi bị phục kích ở Khau Pan, nhưng cũng có công trình viết đồng chí bị chặt đầu sau khi bị bắt hoặc dùng báng súng sát hại.

Trong bài "Phùng Chí Kiên - Một đảng viên trọn vẹn trung dũng" (đăng trên Tạp chí Xưa và Nay, số 83 tháng 1 năm 2001, tr.44), tác giả M.T.H. viết: “Biết không thể khai thác mua chuộc gì, ngày 21 tháng 8 năm 1941, giặc Pháp đưa ông ra chặt đầu và bêu đầu ở đầu cầu Ngân Sơn hòng khủng bố tinh thần cách mạng của nhân dân ta ở vùng này".

Sách "Nghệ An - Những tấm gương cộng sản" (do Tiểu ban nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh ủy Nghệ An, xuất bản năm 1998, Tập 1, tr. 77-78), có đoạn: "Mặc dù bị thương nặng, Phùng Chí Kiên vẫn giữ chặt khẩu súng, bắn chặn quân địch để đồng đội thoát khỏi vòng vây. Bắn hết viên đạn cuối cùng thì đồng chí bị sa vào tay giặc. Bọn châu đoàn gán cho Phùng Chí Kiên là "tướng cướp" để cho lũ tay sai mặc sức hành hung. Đồng chí đã bình tĩnh giải thích: Chúng tôi là người yêu nước đi đánh Pháp, đuổi Nhật để giải phóng cho đồng bào. Chúng ta là người Việt Nam, cần phải đoàn kết chống kẻ thù chung. Lời giải thích của đồng chí đã làm xiêu lòng một số lính dõng. Nhưng bọn châu đoàn gian ác đã chặt đầu đồng chí rồi đem cắm ở cầu Ngân Sơn (21.8.1941) để hòng uy hiếp tinh thần cán bộ và nhân dân địa phương".
_______________________________________________
* Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.
1.  Theo đồng chí Trường Chinh thì Cứu quốc quân không báo cáo Trung ương về chủ trương này.
2.  Nguyễn Đình Nhơn - Đức Vượng, Những người cộng sản, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 1987, tr. 38.
3.  Tiểu Ban nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh ủy Nghệ An, Nghệ An - Những tấm gương cộng sản, Nxb Nghệ An, 1998, Tập 1, tr.78; M.T.H: Phùng Chí Kiên - Một đảng viên trọn vẹn trung dũng, Tạp chí Xưa và Nay, số 83, tháng 1 năm 2001, tr .4.
4.  Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng khu tự trị Việt Bắc, Lịch sử Cứu quốc quân, Nxb Việt Bắc, 1975, tr. 42-43; Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn, Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 61-62.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2021, 10:01:02 pm

Tác giả Nông Danh, trong bài "Hồi ức về đội công tác Phùng Chí Kiên" (đăng trên Tạp chí Xưa và Nay, số 249, tháng 12 năm 2005, tr. 7-8)1, viết: “về sau có điều kiện xác minh các đồng đội biết anh bị thương địch khiêng về huyện lỵ Ngân Sơn, đến chỗ nghỉ anh vẫy bọn lính dõng vào để nói chuyện tuyên tuyền cách mạng và bị tên xã đoàn dùng báng súng sát hại".

Vậy đồng chí Phùng Chí Kiên hy sinh chính xác là vào ngày nào? Đồng chí có bị địch bắt, bị hành hung rồi mới đem chặt đầu hay không? Trước khi chết đồng chí có "bình tĩnh giải thích", "tuyên truyền cách mạng" hay không? nhóm của đồng chí bị địch phục kích hay truy kích?

Để góp phần làm sáng rõ những câu hỏi trên, xin giới thiệu một số thông tin có liên quan đến sự hy sinh của đồng chí Phùng Chí Kiên qua một số tài liệu của chính quyền thuộc địa đương thời, giúp thế hệ hôm nay có thêm tư liệu, thêm những hiểu biết đúng và đầy đủ về gương hy sinh anh dũng của một Ủy viên Trung ương Đảng, một cán bộ chỉ huy quân sự tài ba của nhân dân ta thời kỳ chuẩn bị khởi nghĩa giành tự do, độc lập cho dân tộc.

Trong báo cáo gửi Thống sứ Bắc Kỳ ở Hà Nội (29.8.1941)2, Quyền công sứ Bắc Kạn là Garíc đã trình bày khá chi tiết về việc truy bắt Cứu quốc quân ở châu Na Rì và Ngân Sơn thuộc tỉnh Bắc Kạn từ ngày 19 đến ngày 25 tháng 8 năm 1941, trong đó chúng đã bắn chết đồng chí Phùng Chí Kiên.

Theo báo cáo này thì vào hồi 13 giờ 30 phút ngày 19 tháng 8 năm 1941, bảy chiến sĩ Cứu quốc quân (chính quyền thuộc địa gọi là "những kẻ phiến loạn") mang súng lục tự động Môde (Mauser) từ châu Bình Gia (Lạng Sơn) đi vào địa phận tổng Lương Thượng (châu Na Rì, Bắc Kạn) thì bị 5 tuần đinh làng Văn Học chặn lại. Bọn tuần đinh kiểm soát thẻ thì chỉ có 4 người có thẻ được cấp trong năm 1940-1941, ba người còn lại không có thẻ. Khi tên chánh tổng Nông Văn Thượng tới, để đánh lừa y và bọn tuần đinh, Hoàng Doãn Tô (tức Tạo) - một trong bảy chiến sĩ Cứu quốc quân và đã từng có thời gian làm gạch ở làng Văn Học tự nhận là những người buôn lậu đến từ Cao Bằng và đang trên đường đi Ngân Sơn. Tuy nhiên lời nói của đồng chí không qua mặt được tên Chánh Thượng. Trước tình hình đó, các chiến sĩ Cứu quốc quân liền chủ động đánh địch, bắn bị thương tên Chánh Thượng và 1 tên tuần đinh, bắn chết 1 tên tuần đinh khác rồi di chuyển về hướng Vũ Loan (châu Na Rì, Bắc Kạn). Trong chiến đấu, 1 chiến sĩ Cứu quốc quân bị thương, phải bỏ lại hành lý, địch thu được gồm: 1 bao súng tự động Môde, cỡ 7,63; 2 kẹp đạn với 20 viên đạn cỡ 7,63; 1 ống nhòm Huét kiểu quân đội; 2 viên đạn Smith và Wesson cỡ 32; 1 tờ báo "Quân du kích", số 1 ra ngày 1 tháng 6 năm 1941.

Những tin tức trên nhanh chóng được báo đến Quyền công sứ Bắc Kạn là Garíc. Nhận định đây là lực lượng Cứu quốc quân ở vùng Bắc Sơn, Bình Gia đang tìm cách thoát khỏi vòng vây để lên biên giới, Garíc lập tức điều động các lực lượng đàn áp ở Bắc Kạn tiến hành bao vây, truy kích. Đơn vị lính bản xứ đóng ở Yên Lạc (Na Rì, Bắc Kạn) và đơn vị Gađông (Gadon) đóng ở Na Rì được huy động đến lùng sục ở vùng Vũ Loan; viên đồn trưởng Ngân Sơn chỉ huy 10 lính bản xứ và 15 lính dõng tiến về phía Lương Thượng; tri châu Ngân Sơn được lệnh bố trí 20 dân binh chốt giữ ở đường Đèo Giàng để kiểm soát các đường phụ, đồng thời bố trí lực lượng kiểm soát chặt chẽ tất cả các đường từ Thượng Quan đến Bằng Khẩu. Quyền công sứ Bắc Kạn Garíc cũng điện yêu cầu viên chỉ huy Đạo quan binh II đóng ở Cao Bằng thiết lập các trạm gác ở vùng địa giới Bắc Kạn - Cao Bằng, trên các con đường từ Ngân Sơn đi Nguyên Bình và Thạch An để đề phòng các chiến sĩ Cứu quốc quân thoát khỏi sự truy lùng của chúng ở Bắc Kạn. Đích thân Garíc cùng tên Bố chánh Bắc Kạn đến Ngân Sơn để chỉ huy việc truy lùng.

Đến Ngân Sơn lúc 9 giờ ngày 22 tháng 8 năm 1941, Garíc nhận được tin báo: chập tối ngày 21 tháng 8, các chiến sĩ Cứu quốc quân xuất hiện ở xóm Khau Long (xã Đức Vân, Ngân Sơn, Bắc Kạn). Qua phân tích, địch suy đoán vị trí của lực lượng Cứu quốc quân do đồng chí Phùng Chí Kiên chỉ huy có thể đang ở tại Khau Pan (xã Đức Vân, Ngân Sơn, Bắc Kạn), cách Khau Long khoảng 10km. Garíc lập tức điều động lực lượng triển khai bao vây và lùng sục vùng Khau Pan. Hai đội lính dõng do chánh tổng và phó đoàn Ngân Sơn chỉ huy được điều ngay đến xóm Lũng Vài. Garíc cùng tên bố chánh Bắc Kạn đến Bằng Khẩu (Ngân Sơn) tổ chức tất cả lính cơ và lính dõng đang đóng ở đây thành 3 đội, do các tên châu ủy Bằng Khẩu, phó quản cơ Bắc Kạn, một tổng đoàn ở Ngân Sơn chỉ huy. Chúng nhanh chóng tiến về Khuổi Mang. Từ vị trí này, 3 đội lính dõng và lính cơ nói trên dàn hàng ngang càn quyét vùng Khau Pan theo hướng từ tây bắc đến đông nam. Đồng thời, địch cũng điều một lực lượng khác từ Ngân Sơn càn quét vùng Khau Pan theo chiều ngược lại. Địch hy vọng hai cánh quân nói trên sẽ dồn lực lượng Cứu quốc quân vào dãy núi mà các đồng chí đã ở chập tối hôm trước để tiêu diệt. Các lực lượng địch ở Lương Thượng gồm: dân binh của châu Ngân Sơn và đơn vị lính chính quy Xêléttin (Célestine) cũng được điều động tới để bao vây vùng Khau Pan.

Đến Khuổi Mang vào giữa trưa ngày 22 tháng 8 năm 1941, cánh quân địch càn từ hướng tây bắc xuống phái hai tên, một là người Mán (Dao) và một là người Thổ đi do thám, tìm kiếm lực lượng Cứu quốc quân trên khắp các đường mòn gần Khau Pan và Lũng Vài. Vào lúc 17 hoặc 18 giờ cùng ngày, hai tên do thám phát hiện ra bảy chiến sĩ Cứu quốc quân đang di chuyển trên một con đường mòn trong rừng cách Khau Pan 3km, tất cả đều mang bị trên lưng và đều có súng. Nhận được tin báo, quân địch liền tổ chức bao vây lực lượng Cứu quốc quân trên cả ba mặt. Mũi thứ nhất do tên châu ủy Bằng Khẩu chỉ huy đi phía dưới khe; mũi thứ hai do tên phó quản cơ tiến theo sườn đồi; mũi thứ ba do tên tổng đoàn chỉ huy tiến trên đỉnh đồi rậm. Khi đã áp sát đến cự ly ngắn, chúng nổ súng vào lực lượng Cứu quốc quân. Tuy bị địch tấn công bất ngờ từ ba hướng, song, lực lượng Cứu quốc quân đã nhanh chóng tìm các vị trí ẩn nấp và bắn trả mãnh liệt vào bộ phận địch trên đỉnh đồi. Đồng chí Phùng Chí Kiên đã bắn hết cả băng đạn về phía địch, bị trúng đạn và ngã xuống. Vì quân địch đông nên lực lượng ta vừa chiến đấu vừa rút vào rừng rậm. Do trời tối và cơn mưa rào ập xuống nên địch chỉ truy đuổi khoảng nửa giờ rồi rút lui, mang theo xác đồng chí Phùng Chí Kiên về điếm canh.

Theo mô tả của địch thì lúc đó đồng chí Phùng Chí Kiên lúc đó ăn mặc kiểu Tàu, "trước khi chết đã nói mấy câu không đầu đuôi và không rõ ràng mà giọng nói hình như chứng tỏ (...) không phải là người Bắc Kỳ mà là người Trung Kỳ". Trong hành lý mang theo của đồng chí, địch thu được nhiều tài liệu: bản đồ Lạng Sơn, Cao Bằng tỷ lệ 1/400.000, bản đồ châu Âu in ở Thượng Hải, thẻ cộng sản3, truyền đơn ký tên Nguyễn Ái Quốc, sơ đồ cắt dọc quả lựu đạn, sổ tay chép bài hát cộng sản, các bài học đánh du kích, một nhật ký đi đường và một cuổn sổ tay bắt đầu ghi chép từ ngày 20 tháng 4 năm 1941. Garíc viết trong báo cáo: "Tên phiến loạn (tức đồng chí Phùng Chí Kiên - TG) bị bắn chết ở Khau Pan mang 1 súng lục Môde 10 phát cỡ 7.63 và 60 viên đạn để trọn trong 6 băng đựng trong 3 túi đạn, trước khi chết, hắn đã bắn hết cả băng đạn vào dân binh chúng ta (tức bọn lính cơ và lính dõng - TG ). Vì phải cấp tốc đuổi theo bọn còn lại nên không chụp ảnh hắn được (...) hình như hắn không phải là một tên tầm thường"4. Nhận dạng sơ bộ và các tài liệu tìm thấy trên người đồng chí Phùng Chí Kiên được gửi cho mật thám Pháp ở Bắc Sơn theo yêu cầu của công sứ Lạng Sơn rồi được chuyển về Sở mật thám trung ương.
_________________________________________
1.  Tác giả viết theo hồi ức của cụ Lô Quang Thành, một nhân chứng lịch sử trong đội công tác của đồng chí Phùng Chí Kiên.
2, 4.  Tài liệu lưu tại Viện Lịch sử Đảng.
3.  Theo hiểu biết của chúng tôi, thời kỳ này chưa có thẻ đảng viên. Không rõ "thẻ cộng sản'' mà mật thám Pháp tìm thấy trong hành lý mang theo của đồng chí Phùng Chí Kiên là loại thẻ gì. Cần nghiên cứu thêm.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2021, 10:08:24 pm

Ngoài báo cáo của Garíc, trong các báo cáo hàng tháng "Về hoạt động chính trị của người bản xứ ở Bắc Kỳ” trong năm 1941, Sở mật thám Bắc Kỳ cũng nhiều lần đề cập đến sự kiện hy sinh của đồng chí Phùng Chí Kiên. Trong báo cáo tháng 8 năm 1941, chúng viết: "Ngày 19 tháng 8, 30 tên phiến loạn mang vũ khí tự động đã chạm trán với tuần đinh làng Văn Học, châu Na Rì (Bắc Kạn), 1 lính dõng bị giết, 1 hào lý bị thương, bọn phiến loạn bị thương 1. Trong cuộc đuổi bắt sau đấy, lính dõng ở Ngân Sơn đã bắn chết 1 tên mang súng lục 10 phát và nhiều đạn, 1 bản đồ và ít truyền đơn1. Báo cáo tháng 9 năm 1941 của chúng có đoạn: "Trong số giấy tờ lấy được trong người tên phiến loạn bị bắn chết ở Khau Pan, châu Ngân Sơn (Bắc Kạn)... có 1 bản thống kê, theo đó thì số lượng đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương ở châu Bắc Sơn có 37 người, 23 chính thức, 14 dự bị và 202 cảm tình. Con số đó ăn khớp với những tin tức thu được của mật thám"2.

Đến cuối tháng 10 năm 1941, mật thám Pháp mới bước đầu đoán định nhân thân của người bị chúng bắn chết ở Khau Pan. Trong Báo cáo "Về hoạt động chính trị của người bản xứ ở Bắc Kỳ từ 1 đến 25 tháng 10 năm 1941", sở mật thám Bắc Kỳ khi đề cập về việc đàn áp ở Bắc Sơn đã liệt kê danh sách gần 30 chiến sĩ Cứu quốc quân và viết: “Một tên chưa xác định được, có thể là "Phùng" đại biểu của Đảng cộng sản Đông Dương bị bắn chết ở Khau Phan (Bắc Kạn)". Tiếp đó, trong báo cáo "Về hoạt động chính trị của người bản xứ ở Bắc Kỳ từ 25-10 đến 25-11-1941” sở mật thám Bắc Kỳ ghi: "Một nhóm gồm có Huy Còm, 3 người Tàu3, 7 người Thổ Cao Bằng và Hoàng Doãn Tạo rời Bắc Sơn ngày 8 tháng 8, qua Bắc Kạn đi về phía biên giới Trung Quốc. Ngày 19 tháng 8, trong 1 cuộc chạm trán của chúng với tuần đinh Pó Kim, châu Na Rì (Bắc Kạn), tuần đinh Bế Văn Lễ bị giết, chánh tổng Nông Văn Thượng bị thương, một tên phiến loạn bị thương được đồng bọn đưa đi. Bị lực lượng cảnh sát Bắc Kạn truy đuổi, bọn phiến loạn chạy đến Khau Pan, châu Ngân Sơn. 1 tên bị thương, 1 tên bị giết không rõ được lý lịch, có lẽ là 1 đại biểu hội nghị hải ngoại (tức Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương 5.1941-TG) tên là Phùng"4.

Thực ra, đồng chí Phùng Chí Kiên không phải là nhân vật xa lạ gì với mật thám Pháp. Ngay từ năm 1930, trong Thông tư số 5595-SG của Sở Mật thám Đông Dương gửi các phái viên chính phủ bảo hộ tại Xiêng Khoảng, Thà Khẹt, Savanakhẹt, các công sứ Pháp ở Vinh, Thanh Hoá, các chánh các sở cảnh sát và mật thám Trung Kỳ, Ai Lao, Bắc Kỳ về việc theo dõi và truy bắt 47 người tham gia Hội Việt Nam cách mệnh thanh niên và Đảng Cộng sản theo chỉ thị của Toàn quyền Đông Dương, thì đồng chí Phùng Chí Kiên (tên trong tài liệu địch là Mạnh Văn Liễu) đứng thứ 8. Trong hồ sơ này, ngoài bức ảnh bán thân chụp thẳng từ phía trước, chúng ghi trích yếu lý lịch và các đặc điểm nhận dạng của đồng chí như sau: "Mạnh Văn Liễu tức Nguyễn Hào, tức Như Bách, 26 tuổi, nguyên quán ở Bắc Kỳ, nói giọng Ninh Bình, cựu học sinh trường quân sự Hoàng Phố, tham gia Đảng Thanh niên, rời Quảng Tây đến Nam Kinh vào tháng 10 năm 1929, hiện không rỗ cư trú ở đâu, cũng có thể đang ở Đông Dương. Đặc điểm nhận dạng: chiều cao trung bình, khá vạm vỡ, da mặt nâu, mắt đen, miệng rộng, môi mỏng, tai to5.

Trong các thông tri mật số 5046-SG ngày 4 tháng 12 năm 1935 và số 5441-SG ngày 28 tháng 12 năm 1935 gửi các Chánh mật thám Bắc Kỳ (ở Hà Nội), Trung Kỳ (ở Huế), Nam Kỳ (ở Sài Gòn), Cao Miên (ở Phnôm Pênh), Ai Lao (ở Viêng Chăn), thông báo về những tài liệu thu được tại bản Noọng Bua (Thái Lan) trong cuộc khám xét ngày 6 tháng 6 năm 1935, Sở Mật thám Đông Dương nhận định rằng: Lý tức Nguyễn Hào, tức Mạnh Văn Liễu, tức Can là "Ủy viên của Ban Chỉ huy ở ngoài" của Đảng Cộng sản Đông Dương. Trong công văn số 5701-SG (26.11.1938) gửi các chánh sở cảnh sát địa phương Hà Nội, Huế, Sài Gòn, Chánh thanh tra mật thám Debord thông báo rằng ngày 25 tháng 10 năm 1938, cảnh sát Hồng Kông đã lục soát nơi ở và bắt giữ Mạnh Văn Liễu tức Phùng, tức Kan, tức Nguyễn Hào, sinh 1901 tại Mỹ Quan Thượng, phủ Diễn Châu, Nghệ An. Y viết: "Có lẽ Mạnh Văn Liễu đã lãnh đạo Ban Chỉ huy ở ngoài từ khi quay trở lại Hồng Kông sau khi Hội nghị toàn thể lần thứ hai của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương diễn ra hồi tháng 8, 9 năm 1938"6 .

Trong các báo cáo mật, thông tư mật về hoạt động của "Hội nghị hải ngoại của Đảng cộng sản Đông Dương" (tức Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương tháng 5.1941-TG), sở mật thám Bắc Kỳ nhiều lần nhắc đến tên một đại biểu tham dự tên là "Phùng" hoặc "". Chúng viết: "Lý tức Mã Hữu Giác, người Trung Kỳ, lưu vong sang Trung Quốc từ lâu và theo học trường quân sự Hoàng Phố, có thể là tên lưu vong đã quen thuộc tức Mạnh Văn Liễu"7.

Đồng chí Phùng Chí Kiên hy sinh là một tổn thất lớn cho Đảng và cho phong trào cách mạng của nhân dân ta. Hai năm sau, trong bài "Nhớ tiếc anh Phùng", báo "Cờ giải phóng" - cơ quan ngôn luận của Đảng cộng sản Đông Dương, số 2 (26.8.1943), viết đồng chí Phùng Chí Kiên "bị chết tại trận" và "Cái chết của anh thật... thiệt thòi cho Đảng. Nó còn gieo... nỗi thương tiếc cho các đồng chí! Anh Phùng đã khuất. Nhưng tinh thần anh vẫn sống mãi với non sông cây cỏ. Chúng ta càng nhớ đến anh càng phải nỗ lực chiến đấu để chóng hoàn thành sự nghiệp vĩ đại của Đảng mà anh đã hoàn toàn ký thác nơi chúng ta".

Qua các tài liệu trên, có thể thấy rằng đồng chí Phùng Chí Kiên bị bắn trọng thương vào lúc 18 giờ ngày 22 tháng 8 năm 1941 và hy sinh ngay sau đó, chứ không phải địch bắt được đồng chí, biết không khai thác được gì mới đem chặt đầu; trước khi tắt thở, đồng chí có nói mấy câu nhưng địch nghe không rõ; đích thân tên công sứ Bắc Kạn điều động và chỉ huy các lực lượng trấn áp ở địa phương gồm: quân đội, mật thám, lính cơ, lính dõng, tuần đinh... bao vây, truy kích và bắn chết đồng chí Phùng Chí Kiên chứ không phải chỉ bọn châu đoàn phục kích và bắn đồng chí như nhiều sách đã viết.
________________________________________________
1, 2, 4 - 7.  Tài liệu lưu tại Viện Lịch sử Đảng.
3.  Có lẽ mật thám Pháp nhầm lẫn vì trong bộ phận Cứu quốc quân do đồng chí Phùng Chí Kiên chỉ huy rút lên biên giới không có người Trung Quốc.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2021, 08:44:12 pm

MỘT CÁCH TIẾP CẬN VỀ ĐỒNG CHÍ PHÙNG CHÍ KIÊN

Đại tá, TS TRẦN VĂN THỨC*

Đồng chí Phùng Chí Kiên một cán bộ lãnh đạo tiền bối, cao cấp của Đảng, hy sinh anh dũng trong chiến đấu khi tuổi đời mới 40, tuổi đang độ trưởng thành và độ chín của một tài năng lớn cả về quân sự và chính trị. Sự nghiệp cách mạng của đồng chí Phùng Chí Kiên thật vẻ vang và lớn lao, gắn liền với những kỳ tích lịch sử Việt Nam trong những thập niên trước Cách mạng tháng Tám 1945. Ghi nhận một cách đầy đủ và chính xác, toàn diện những đóng góp của đồng chí Phùng Chí Kiên là điều cần thiết. Bài viết này của chúng tôi nhằm góp một phần làm sáng tỏ thêm một số chi tiết về đồng chí Phùng Chí Kiên.

1. Các cương vị về Đảng của đồng chí Phùng Chí Kiên.

- Đồng chí Phùng Chí Kiên là thành viên của Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương.

Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương viết tắt là BCHON (có tài liệu viết là Ban Hải ngoại của Đảng) mà Phùng Chí Kiên là một thành viên, có vai trò và vị trí rất quan trọng. Tuy vậy, trong nhiều tài liệu viết về BCHON còn nhiều chỗ sai lệch, thiếu chính xác. Chúng tôi thông tin thêm về BCHON, để bạn đọc hiểu về BCHON, cũng là để hiểu thêm về Phùng Chí Kiên.

"Ngày 20 tháng 12 năm 1934, Đông phương Bộ Quốc tế Cộng sản chỉ thị cho Xinhitrơkin và Ban chỉ huy ở ngoài (điện qua Đinh Trân, do Miphơ ký) nêu rõ "nay lập Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương như một cơ quan lâm thời, tồn tại song song với Trung ương, có những nhiệm vụ đặc biệt"1.

"BCHON của Đảng Cộng sản Đông Dương, được "Thành lập tháng 3 năm 1934, theo quyết định của Đông phương bộ Quốc tế Cộng sản. Thành phần BCHON gồm 3 đồng chí: Lê Hồng Phong - Thư ký, Hà Huy Tập làm tuyên truyền cổ động và tham gia biên tập Tạp chí Bônsơvích và Nguyễn Văn Dựt. Từ sau Đại hội I của Đảng Cộng sản Đông Dương (27 - 31.3.1935), BCHON gồm các đồng chí Hà Huy Tập làm Thư ký và Phùng Chí Kiên; đến tháng 3 năm 1936, tăng cường thêm Rêmi (Trần Văn Khiết). Sau tháng 7 năm 1936, Hà Huy Tập về nước công tác, BCHON còn lại Lê Hồng Phong và Phùng Chí Kiên. Đến khi Lê Hồng Phong về nước, chỉ còn Phùng Chí Kiên. BCHON là cơ quan của Đảng Cộng sản Đông Dương, tồn tại song song với Ban Chấp ủy Trung ương của Đảng, nhưng có nhiệm vụ đặc biệt"2.

"Can3 (tức Phùng Chí Kiên - TVT) phải ở lại Trung tâm ở ngoài4, để làm việc với Min5 cho đến khi chúng tôi (Đông phương Bộ - TVT) tìm được người thay thế đặc biệt".

Hội nghị BCHON của Đảng cộng sản Đông Dương và đại diện các tổ chức Đảng ở trong nước, họp từ ngày 16 đến ngày 21 tháng 6 năm 1934, ra quyết nghị xác định nhiệm vụ của BCHON là:

"Đại diện của Đảng trong quan hệ và liên lạc với Quốc tế Cộng sản và các Đảng Cộng sản anh em.

5. Ban Chỉ huy ở ngoài chỉ đạo đường lối chính trị chung của Trung ương Đảng. Ban có quyền cử đại biểu để tham gia công tác và kiểm tra toàn bộ công tác của cấp ủy đảng trong nước.

6. Những nghị quyết quan trọng nhất của Trung ương phải được bàn bạc nhất trí với Ban Chỉ huy ở ngoài. Trong trường hợp Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương không đồng ý với Ban Chỉ huy ở ngoài, Trung ương có quyền khiếu nại nghị quyết lên Quốc tế Cộng sản. Trước khi Quốc tế Cộng sản quyết định vấn đề tranh cãi thì Trung ương có nhiệm vụ phải thực hiện các chỉ thị của Ban Chỉ huy ở ngoài.

7. Trong trường hợp Trung ương Đảng bị vỡ và mất liên lạc và để tránh mất sự lãnh đạo thường xuyên, các Xứ ủy Đảng (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Lào, Cao Miên) phải liên lạc với Ban Chỉ huy ở ngoài. Trong trường hợp Trung ương bị vỡ, Ban Chỉ huy ở ngoài có thể thay thế Trung ương lãnh đạo trực tiếp tất cả các tổ chức đảng ở trong nước"6.

Thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình, Ban Chỉ huy ở ngoài xúc tiến công tác chuẩn bị cho việc triệu tập Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng; xây dựng các văn kiện Đại hội I dựa trên tư tưởng chỉ đạo của các nghị quyết của Đại hội VII Quốc tế Cộng sản và các chỉ thị của các Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Quốc tế Cộng sản; góp phần quan trọng tổ chức Đại hội. Đại hội I của Đảng Cộng sản Đông Dương (3.1935) thành công đánh dấu sự khôi phục hoạt động của Đảng và phong trào cách mạng Việt Nam, chuẩn bị điều kiện cho bước phát triển mới ở thời kỳ tiếp theo. Sau đó, Ban Chỉ huy ở ngoài tiếp tục thực hiện sứ mệnh của mình cho đến tháng 5 năm 1941, khi Ban Chấp hành Trung ương chính thức được thành lập.
_________________________________________
* Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử kháng chiến chống Pháp, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
1.  Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 4 (1932-1934), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, tr. 519.
2.  Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 4 (1932-1934), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, tr. 523-524.
3.  Phùng Chí Kiên.
4.  Ban Chỉ huy ở ngoài.
5.  Min: Nguyễn Vĩnh Xuyên, học Trường Đại học Phương Đông năm 1930.
6.  Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 4 (1932-1934), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, tr. 523-524.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2021, 08:46:13 pm

- Đồng chí Phùng Chí Kiên là Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng khoá 1 (1935).

Đồng chí Phùng Chí Kiên là Ủy viên Thường vụ hay chỉ là Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương khoá 1 (1935). Đây là một vấn đề mà các tài liệu đã công bố thường có thông tin không nhất quán.

Một số tài liệu, sách báo viết đồng chí là Ủy viên Trung ương Đảng khoá 1. Ví như cuốn Nghệ An - những tấm gương cộng sản, Tập 1, của Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Tỉnh ủy Nghệ An, Nxb Nghệ An ấn hành năm 1998, viết: "Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Đảng họp ở Ma Cao (Trung Quốc) tháng Ba năm 1935, đồng chí Phùng Chí Kiên được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng" (tr.72). Sách Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Diễn Yên (1930-2007), Nxb Văn hoá thông tin, 2007, viết: "Tháng 3 năm 1935, ông (Phùng Chí Kiên - TVT) tham gia soạn thảo đề cương Đại hội lần thứ nhất tại Ma Cao, được đại hội bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng phụ trách Ban Hải ngoại" (tr. 46). Trên Bia mộ của Phùng Chí Kiên tại nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội cũng ghi Phùng Chí Kiên là Ủy viên Trung ương Đảng.

Ở một số sách, bài viết khác lại viết Phùng Chí Kiên là Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng khoá 1 (1935). Cụ thể là: sách Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 5 (1947-1949), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.780 - 790, phần Bản chỉ dẫn tên người, viết "Phùng Chí Kiên... được bầu vào Ban Thường vụ Trung ương (1935). Báo Cờ giải phóng, cơ quan tuyên truyền cổ động Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, do đồng chí Trường Chinh là chủ bút (số 2 ra ngày 26 tháng 8 năm 1943), đăng bài Gương hy sinh nhớ tiếc anh Phùng của tác giả Sóng Biển, viết: "Sau cuộc Đại biểu đại hội lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương họp ở Ma Cao (Quảng Đông), năm 1935 anh được cử vào Thường vụ Trung ương". Sách Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, của Trung tâm từ điển Bách khoa quân sự, Bộ Quốc phòng, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, cũng viết là năm 1935, Phùng Chí Kiên được "Đại hội bầu vào Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương" (tr. 810). Thư gửi các đồng chí Nông Đức Mạnh, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng và đồng chí Phùng Quang Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, ngày 18 tháng 12 năm 2007, của Đại tướng Võ Nguyên Giáp có đoạn: "Trở lại hoạt động ở Trung Quốc, đồng chí (Phùng Chí Kiên - TVT) tham gia chuẩn bị và dự Đại hội lần thứ nhất của Đảng tại Ma Cao, được bầu vào Trung ương, sau đó được bầu vào Ban Thường vự Trung ương Đảng". Trong Bài Công hiến của Hà Huy Tập trong việc khôi phục Ban lãnh đạo Đảng và phong trào cách mạng Việt Nam những năm 1932-1936 của Trần Hải, in trong cuốn Hà Huy Tập - người cộng sản kiên trung, nhà lý luận xuất sắc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 573 viết: "Ngày 31 tháng 5 (đúng ra là tháng 3 - TVT) năm 1935, Đại hội họp phiên cuối cùng để bầu Ban Chấp hành Trung ương chính thức của Đảng. Ban chấp hành Trung ương mới gồm 13 đồng chí do đồng chí Lítvinốp (Lê Hồng Phong), làm Tổng Thư ký và Ban Thường vụ gồm các đồng chí Lê Hồng Phong, Phùng Chí Kiên và Đinh Thanh"1.

Bằng Tổ quốc ghi công liệt sĩ Phùng Chí Kiên, do Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Phan Văn Khải ký (Quyết định số 1228/QĐ-TT) ngày 10 tháng 11 năm 2003, ghi rõ Phùng Chí Kiên là Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng.

Căn cứ vào những tài lệu trên (và một số tài liệu khác nữa) chúng tôi khẳng định rằng, đồng chí Phùng Chí Kiên là Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng khoá 1 (1935).
______________________________________________
1.  Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 5, (1935), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.194, thì Ban thường vụ có 5 người.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2021, 08:47:11 pm

2. Đồng chí Phùng Chí Kiên được truy phong cấp tướng từ năm 1947.

Khi viết về Phùng Chí Kiên, một số sách, bài viết không nhắc tới Phùng Chí Kiên là một vị tướng, nhưng ở một số sách, bài viết khác thì lại viết đồng chí Phùng Chí Kiên được truy phong quân hàm tướng theo sắc lệnh số 89/SL, ngày 23 tháng 9 năm 1947. Sách Những người cộng sản của Đức Vượng và Nguyễn Đình Nhơn, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 1987, tr. 183, viết: "Ngày 23 tháng 9 năm 1947, sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Hội đồng Chính phủ và Bộ quốc phòng đã truy phong cấp tướng cho đồng chí Phùng Chí Kiên". Sách Danh nhân lịch sử Việt Nam, Tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1988 của Đinh Xuân Lâm và Chương Thâu, tr. 194, viết: "Sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, Hội đồng Chính phủ và Bộ Quốc phòng đã truy tặng quân hàm cấp tướng cho đồng chí Phùng Chí Kiên".

Thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi đồng chí Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phùng Quang Thanh, ngày 18 tháng 12 năm 2007, có viết "năm 1947 Bác Hồ đã ký quyết định truy phong hàm tướng đầu tiên" cho đồng chí Phùng Chí Kiên.

Một số bài viết gần đây viết rằng năm 2003, đồng chí Phùng Chí Kiên được Đảng, Chính phủ ra quyết định công nhận là nguyên Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng (khoá I), cán bộ lãnh đạo quân đội cấp tướng, liệt sĩ hy sinh anh dũng trong chiến đấu.

Như vậy, đồng chí Phùng Chí Kiên là người đầu tiên được Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chính thức phong quân hàm cấp tướng.

3. Về sự hy sinh của đồng chí Phùng Chí Kiên.

Sự kiện đồng chí Phùng Chí Kiên hy sinh đã được phản ánh, ghi lại trong nhiều công trình nghiên cứu lịch sử, trong nhiều văn bản, tuy nhiên còn có một số điểm khác nhau.

Về thời gian đồng chí Phùng Chí Kiên hy sinh, có tài liệu viết là ngày 21 tháng 8 năm 1941, có tài liệu viết là ngày 22 tháng 8 năm 1941.

Các tài liệu viết đồng chí Phùng Chí Kiên hy sinh ngày 21 tháng 8 năm 1941 gồm có: Nghệ An - những tấm gương cộng sản, Tập 1, của Tiểu ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh ủy Nghệ An, Nxb Nghệ An, 1999, tr. 78; Phùng Chí Kiên - một đảng viên trọn vẹn trung dũng của M.T.H, đăng trên Tạp chí Xưa và Nay, số 83, tháng 1 năm 200, tr. 4; Phùng Chí Kiên - nhà lãnh đạo quân sự đầu tiên của Đảng, của Phan Xuân Tần, đăng trên Sự kiện và Nhân chứng (Nguyệt san báo Quân đội nhân dân), tr. 16-17.

Các tài liệu viết đồng chí Phùng Chí Kiên hy sinh ngày 22 tháng 8 năm 1941 gồm có: Lịch sử Cứu quốc quân của Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Khu tự trị Việt Bắc, Nxb Việt Bắc, 1975, tr. 42-43; Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn, Tập 1, của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 61-62. Sách Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, của Trung tâm Từ điển Bách khoa quân sự, Bộ Quốc phòng, Nxb QĐND, Hà Nội, 2005, viết Phùng Chí Kiên hy sinh ngày 22 tháng 8 năm 1941 (tr. 811).

Thông báo số 8801C của Cảnh sát trưởng khu vực, Rôbe Pêrôsê (Robert Perroche), gửi Cảnh sát trưởng các tỉnh Trung Kỳ, ngày 2 tháng 12 năm 1941 về việc nhận dạng nguòi bị giết tại ở Khau Pàn, tỉnh Bắc Kạn ngày 22 tháng 8 năm 1941, là Phùng Chí Kiên.

Báo cáo của thanh tra an ninh Vâyren (R.Veyren), ngày 8 tháng 12 năm 1941, gửi Chánh mật thám Trung Kỳ, về việc nhận dạng người bị giết tại Khau Pàn, Bắc Kạn ngày 22 tháng 8 năm 1941 là Phùng, tức Phùng Quốc Nghiêu, tức Phùng Chí Kiên.

Vậy, ngày hy sinh của đồng chí Phùng Chí Kiên chính xác là ngày nào? Căn cứ theo tài liệu của mật thám, cảnh sát và giới chức trách Pháp thì ngày hy sinh của đồng chí Phùng Chí Kiên là ngày 22 tháng 8 năm 1941.

Về sự hy sinh của đồng chí Phùng Chí Kiên, cũng là một vấn đề mà các tài liệu viết có nhiều chi tiết khác nhau: Sách Nghệ An - những tấm gương cộng sản, tập 1, của Tiểu Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh ủy Nghệ An, xuất bản năm 1998, tr. 77-78 viết: "Mặc dù bị thương nặng, Phùng Chí Kiên vẫn giữ chặt khẩu súng, bắn chặn quân địch để đồng đội thoát khỏi vòng vây. Bắn hết viên đạn cuối cùng thì đồng chí bị sa vào tay giặc. Bọn châu đoàn gán cho Phùng Chí Kiên là "tướng cướp" để cho lũ tay sai mặc sức hành hung. Đồng chí đã bình tĩnh giải thích: Chúng tôi là người yêu nước đi đánh Pháp, đuổi Nhật để giải phóng cho đồng bào. Chúng ta là người Việt Nam, cần phải đoàn kết chống kẻ thù chung. Lời giải thích của đồng chí đã làm xiêu lòng một số lính dõng. Nhưng bọn châu đoàn gian ác đã chặt đầu đồng chí rồi đem cắm ở cầu Ngân Sơn (21.8.1941) để hòng uy hiếp tinh thần cán bộ và nhân dân địa phương". Phan Xuân Tần trong bài Phùng Chí Kiên - nhà lãnh đạo quân sự đầu tiên của Đảng, đăng trên Sự kiên & Nhân chứng, tr.17, cũng viết về sự hy sinh của Phùng Chí Kiên tương tự như vậy.

Sự hy sinh của Phùng Chí Kiên như thế nào còn là vấn đề cần được nghiên cứu và xác định thêm cho thật chính xác. Về vấn đề này, tác giả Trần Trọng Thơ, đã có sự xác định trong bài Phùng Chí Kiên đã hy sinh như thế nào? đăng trên Tạp chí Xưa và Nay, số 244, tháng 9 năm 2005, tr. 16-17. Trong bài này, Trần Trọng Thơ, dựa theo các tài liệu, báo cáo của Quyền Công sứ Bắc Kạn gửi Thông sứ Bắc Kỳ (29.8.1941), báo cáo "Về hoạt động chính trị của người bản xứ ở Bắc Kỳ", tháng 8 năm 1941, của Sở Mật thám Bắc Kỳ, v.v, xác định: "Qua các tài liệu trên, có thể thấy rằng đồng chí Phùng Chí Kiên bị bắn trọng thương vào lúc 18 giờ ngày 22 tháng 8 năm 1941 và hy sinh ngay sau đó, chứ không phải địch bắt đồng chí, biết không khai thác được gì mới đem chặt đầu, trước khi đồng chí tắt thở, đồng chí có nói mấy câu nhưng địch nghe không rõ, không có chuyện đồng chí bình tĩnh giải thích làm xiêu lòng một số lĩnh dõng; đích thân tên công sứ Bắc Kạn điều động và chỉ huy các lực lượng trấn áp ở địa phương: quân đội, mật thám, lính cơ, lính dõng, tuần đinh, chỉ điểm... bao vây, truy kích và bắn chết đồng chí Phùng Chí Kiên chứ không phải bọn châu đoàn phục kích và bắn đồng chí như nhiều sách đã viết".

Theo chúng tôi đây là một căn cứ để xác định, nhưng cần được kiểm định thêm.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Giêng, 2022, 11:51:49 am
 
PHÙNG CHÍ KIÊN - NHỮNG THÔNG TIN TÔI ĐƯỢC BIẾT

NGUYỄN DOANH HẰNG*

Đồng chí Phùng Chí Kiên hy sinh năm 1941. Vào năm đó, tôi mới 16 tuổi, nên những thông tin mà tôi được biết về Phùng Chí Kiên đều là nghe kể lại và được biết qua sách báo. Những hồi tưởng của tôi về Phùng Chí Kiên có phần tản mát nhưng hy vọng sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm những công lao, đóng góp của Phùng Chí Kiên.

1. Thời điểm trước ngày 1 tháng 1 năm 1942 tại châu Ngân Sơn và cả tỉnh Bắc Kạn chưa có tổ chức cách mạng, chưa có người tham gia các hội cứu quốc.

Vào năm 1941, tôi là một thanh niên 16 tuổi. Tháng 5 năm 1941, khi cùng mấy thanh niên đi đãi vàng tại Lũng Đẩy, xã Kim Hỉ, châu Na Rì, tôi bị ngã nước sốt rét phải về nhà chữa bệnh bằng thuốc nam. Một buổi tối, được người trong bản cho biết: "quân lính bao vây rừng Khau Pàn (vùng rừng mỏ vàng Pác Làng) đã nổ súng bắn trúng một người cộng sản, lấy được khẩu súng pạchoọc (súng thập), trong túi ba lô có cả tài liệu, bản đồ... Hai ngày sau lại được tin quân lính đã đánh chết nguời cộng sản, họ cắt lấy đầu mang về châu lỵ Ngân Sơn bêu tại đầu cầu cách Ngân Sơn chừng 150m để khủng bố quần chúng. Từ rừng Khau Pàn ra đến quốc lộ 3 khoảng 6km, từ quốc lộ 3 đến cầu Ngân Sơn khoảng 6km. Nơi chôn thi thể đồng chí Phùng Chí Kiên lúc đó là rừng Khau Pàn, chứ không phải là Lũng Sao, như đồng chí Văn (Võ Nguyên Giáp) đã viết tại trang 47 trong tác phẩm "Những chặng đường lịch sử". Tôi cũng được tin số người trong đội quân cộng sản đã thoát khỏi vòng vây tại rừng Khau Pàn, vượt qua đèo Tổng Lằn (đèo Cao Bắc), theo đường mòn lên xã Bạch Đằng thuộc phủ Hoà An (tỉnh Cao Bằng).

2. Đến đầu năm 1942, mới có mấy thanh niên từ các xã Kim Mã, Tam Lạng (Nam Châu, Nguyên Bình) sang các xã Cốc Đán, Thượng Ân (bắc Ngân Sơn) tuyên truyền tổ chức các hội cứu quốc, mỗi xã đã có từ 10 đến 15 người tham gia Thanh niên cứu quốc và Nông dân cứu quốc... Ngày 25 tháng 6 năm Tân Tỵ (6.8.1941), quan Tri châu cùng quân lính đã đến xã Tam Lạng tìm bắt hai cán bộ người Kinh là đồng chí Văn (Võ Nguyên Giáp) và đồng chí Đinh (Lê Thiết Hùng) cùng những cán bộ xã. Ba hội viên trung kiên là Phùng (Lạc), Đội (Trọng Khánh), Pàng (Quang Toản) được chuyển vào bí mật, cùng cán bộ người Kinh vào rừng tìm nơi tạm trú. Sau đó được giới thiệu gia nhập Đảng Cộng sản, thành lập chi bộ Đảng, củng cố lại cơ sở, và có định hướng công tác theo đường Nam tiến, phát triển Hội cứu quốc vào vùng dân tộc Dao hai bên sườn núi Khau Giáng.

3. Đến tháng 2 năm 1943, các đồng chí mới bắt được liên lạc với cơ sở xã Thượng Ngân. Tháng 5 năm 1943 (tháng 4 năm Quý Mùi) chúng tôi mới đón được hai cán bộ là đồng chí Trọng Khánh và đồng chí Văn từ gia đình ông Lý Tuân Ban (Khưa Tòng Chu) ở xóm Khoản Nam xuống mở lớp huấn luyện cho mười hội viên cứu quốc làm công tác phát triển hội. Trong vòng 5 tháng (từ tháng 5 đến tháng 10.1943), 8/10 xã châu Ngân Sơn đã cơ bản tổ chức được Hội Cứu quốc. Riêng xã Thượng Ân (quê hương tôi) đã tổ chức được hai đêm mít tinh toàn xã vào đêm Rằm tháng bảy và đêm hạ tuần tháng 8 (9.1943). Đêm hôm đó có đoàn cán bộ bí mật Nam tiến, chúng tôi giới thiệu đồng chí Văn (Võ Nguyên Giáp) ra mắt trước quần chúng và nói chuyện về chiến dịch Stalingrat, Hồng quân Liên Xô đã đại thắng, tiêu diệt trên ba mươi vạn quân phát xít Hítle... Trên cơ sở đó, chúng tôi vận động "Hội ta cần ra sức củng cố, tập luyện tự vệ cho tốt để đón thời cơ". Các đồng chí thấy việc chúng tôi làm đạt nhiều kết quả nên ngày hôm sau triệu tập hai cán bộ địa phương là Đồng Văn Hàm (Bằng), Doanh Thắng Hỷ (Hằng) đến giới thiệu gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Chính hai đồng chí Văn và Nghĩa đã giới thiệu chúng tôi vào Đảng. Sau lễ kết nạp, đồng chí Văn thay mặt Đảng cấp trên tuyên bố thành lập chi bộ mang tên Chi bộ Chí Kiên, gồm ba đảng viên do đồng chí Nghĩa là Bí thư. Đó là chi bộ đầu tiên tại châu Ngân Sơn và tỉnh Bắc Kạn. Từ giờ phút đó, chúng tôi biết người cán bộ cộng sản bị quân địch sát hại tháng 8 năm 1941 tại rừng Khau Pàn (Ngân Sơn) là đồng chí Phùng Chí Kiên, và những năm sau đọc tác phẩm "Từ nhân dân mà ra" của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, mới biết đồng chí Phùng Chí Kiên là một cán bộ cộng sản cộng tác với Bác Hồ từ Trung Quốc trước năm 1940, và đến ngày mồng 2 tết Tân Tỵ (28.1.1941), về nước chúc tết quần chúng làng Pắc Bó, xã Trường Hà; cùng Bác Hồ chuẩn bị Hội nghị Trung ương lần thứ 8 họp từ 10 đến ngày 19 tháng 5 năm 1941 tại Pắc Bó.

4. Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, ngày 4 tháng 4 năm 1946, cán bộ xã Bằng Đức (Ngân Sơn) đã lập mộ đồng chí Phùng Chí Kiên tại Khau Giàng cạnh đường cái vào mỏ vàng Pác Làng. Đến năm 1964, mộ đồng chí Kiên cùng mộ cán bộ bị địch sát hại từ 1941 đến 1945 và cán bộ chiến sĩ trong ba năm đánh quân Pháp xâm lược chiếm đóng Ngân Sơn, Bắc Kạn từ tháng 10 năm 1947 đến 17 tháng 8 năm 1949 được quy tập về nghĩa trang liệt sĩ huyện Ngân Sơn. Đồng chí Quốc Toản, Phó Chủ tịch Ủy ban hành chính huyện được giao làm nhiệm vụ quy tập mộ cho biết, khi tiến hành có ông Phó Vẹo (phó cạo, cắt tóc) ở phố Ngân Sơn tiết lộ đầu người cộng sản bị địch giết hại tại rừng Khau Phàn tháng 8 năm 1941 được chôn bên cạnh Trường học cấp I xã Vân Trung. Đồng chí Toản đã cho bới xung quanh trường nhưng không thấy gì.
_____________________________________________
* Cán bộ lão thành cách mạng, nguyên Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Thái.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Giêng, 2022, 11:52:28 am

5. Năm 1950, khi tôi được Thường vụ Tỉnh ủy Bắc Kạn cử đi học khoá III Trường Nguyễn Ái Quốc tại xã Bình Thành, huyện Định Hoá (từ 20.2 đến 5.6.1950). Học cùng khoá với tôi có đồng chí đồng chí Hà Khai Lạc - Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Lạng Sơn, vốn là cán bộ du kích Bắc Sơn, người đã dẫn đường cho Đội du kích Bắc Sơn hành quân tránh cuộc càn của địch vào tháng 8 năm 1941. Trong thời gian hơn 3 tháng cùng sinh hoạt trong đảng bộ, tôi được đồng chí Lạc cho biết về cuộc hành trình đó như sau:

Đồng chí Lạc là người dân tộc Tày ở châu Bắc Sơn. Thời thanh niên, đồng chí đã đến xã Văn Học, Bắc Châu, Na Rì đóng ngói, lợp nhà cho các gia đình Tổng đoàn họ Vi và Chánh tổng Nông Văn Thượng. Những năm sau làm nghề buôn bán thuốc phiện, nên đồng chí thông thuộc con đường mòn từ châu Bắc Sơn qua Bình Gia (Lạng Sơn), lên các châu Na Rì, Ngân Sơn (Bắc Kạn) đến các châu Nguyên Bình, Bảo Lạc (Cao Bằng). Dọc đường mòn này nhiều tổng đoàn, châu đoàn là trùm buôn bán thuổc phiện lậu...

- Ngày 27 tháng 9 năm 1940, cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn bùng nổ. Đội du kích Bắc Sơn được thành lập do đồng chí Huy còm (Lương Văn Tri) chỉ huy. Đến tháng 6 năm 1941, có thêm các đồng chí Chí Kiên, Sơn Cương, Thành Kính... đến tăng cường, do đồng chí Kiên chỉ huy. Tháng 7, tháng 8 năm 1941, quân địch tập trung lực lượng lớn từ Lạng Sơn tiến xuổng; từ Bắc Giang và Thái Nguyên tiến sang, bao vây Bắc Sơn, nhằm tiêu diệt Đội du kích Bắc Sơn. Các đồng chí chỉ huy thấy lực lượng Đội quá nhỏ bé với vài khẩu súng trường không đủ sức đương đầu với lực lượng địch, nên đã chủ trương rút quân lên biên giới để bảo toàn lực lượng. Đội chia làm hai tổ, rút theo hai hướng: Hướng thứ nhất, theo đường Bắc Sơn, Bình Gia đến Điềm He, Thoát Lãng có các đồng chí Hoàng Văn Thái, Đặng Văn Cáp... Hướng thứ hai gồm các đồng chí Chí Kiên, Huy, Khai Lạc, Sơn Cương, Thành Kính... do đồng chí Khai Lạc dẫn đường từ Bắc Sơn, Bình Gia đến Na Rì, Ngân Sơn theo tuyến đường mòn thời buôn thuốc phiện lậu đồng chí Khai Lạc đã đi. Đêm 16 tháng 8 năm 1941, đi từ Bắc Sơn. Đêm 18 tháng 8 năm 1941, đến bản Pò Kép, xã Văn Học, bắc Na Rì và nghỉ tại đó. Đồng chí Khai Lạc đã thông tin cho chánh tổng Nông Văn Thượng là chúng tôi đã đến đây. Không ngờ hắn lại cùng tốp lính dõng đến kiểm tra. Chúng buộc tất cả mọi người trên nhà sàn xuống. Ta buộc phải nổ súng, tên chánh tổng bị trúng đạn vào đùi. Sau đó, ta rút ra vòng ngoài lại bị địch vây chặn. Ta lại nổ súng giết chết một tuần đinh. Các đồng chí của ta nhanh chóng rút vào rừng.

Trong các ngày 20 và 21 tháng 8, đoàn theo đường mòn xuống núi về các xã Vũ Loan (cực bắc Na Rì), Cao Môn (cực tây Tràng Định), Quang Trung (tây Thạch An), Mường Quan, Bằng Đức (bắc Ngân Sơn).

Sáng sớm ngày 22 tháng 8 năm 1941, đội của anh Kiên đến một gia đình người Dao ven đường, vào hỏi mua gạo. Chủ nhà cho biết không sẵn gạo, rồi lên gác lấy xuống hai cụm lúa nếp bảo các đồng chí tự xay giã rồi lén tìm cách đi báo cho địch. Cơm vừa chín, chưa kịp ăn thì phát hiện thấy có lính đến gần nhà, thế là các đồng chí tức tốc rút vào rừng ẩn náu. Từ trưa đến chiều không thấy động tĩnh gì. Đến 17 giờ, khi cả đội hành quân tìm đường lên Cao Bằng thì địch phục kích, bất ngờ nổ súng. Đồng chí Phùng Chí Kiên trúng đạn. Đi một quãng nữa thì đồng chí Huy lại sa xuống hố sâu (hố đào vàng). Anh em định kéo lên, đồng chí bảo phải đi nhanh không bị địch bắt hết. Anh Sơn Cương đi lối nào cũng không thấy. Trong đội chỉ còn có Khai Lạc, Thành Kính, Trang... Hôm sau Đội mới vượt được vòng vây lên đèo Tổng Lằn (đèo Cao Bắc) lên Hoà An. Sau đó mới biết anh Huy (Lương Văn Tri) bị lính dõng gác cầu Tài Hồ Xìn (dưới thị xã Cao Bằng 22km) bắt ngày 26 tháng 8 năm 1941, giải lên trại giam ở Cao Bằng.

6. Những thông tin được biết thêm như sau:

Sáng 18 tháng 8 năm 1941, sau khi rút chạy sang xã Văn Học, phía bắc châu Na Rì, cả đội rút vào rừng. Tổng lý xã Văn Học đã báo cáo lên đồn Pháp ở Yên Lạc. Đồn tức tốc báo cáo lên tỉnh Bắc Kạn. Quan tỉnh liền lệnh cho hai tiểu đội lính cơ động do quân cơ Nông Ích Lợi chỉ huy, chiều ngày 20 tháng 8 năm 1941 đi xe lên nhà Bang tá Tần ở Bằng Đức, đồng thời lệnh cho châu đoàn Ngân Sơn tập trung sẵn lính dõng 7 xã phía bắc Ngân Sơn. Sáng ngày 22 tháng 8 năm 1941, khi nhận được mật báo từ gia đình tên chánh Mán Chu Ứng Ban, làng Phiêng Nhượng, quân lính từ nhà Bang tá đến ngay rừng Khau Phàn, đến nhà mụ chủ thì được biết đội đã vào rừng ẩn náu. Địch đã tiến hành bao vây hai vòng: vòng trong là lính cơ động, vòng ngoài là lính dõng, mai phục suốt từ trưa đến chiều. Khoảng 17 giờ, khi phát hiện quân ta hành quân, chúng mới nổ súng và bắn trúng một cán bộ của ta. Chúng bắt rồi tra khảo đến đêm. Biết không khai thác được gì, chúng mới đánh chết người cộng sản.

Đến hạ tuần tháng 9 năm 1943, khi thành lập chi bộ Đảng, tại đám ruộng đối diện thác nước Coỏng Tát, đồng chí Văn (Võ Nguyên Giáp) cho chi bộ mang tên Chí Kiên, chúng tôi mới biết người cộng sản bị địch bắt rồi giết ở Khau Phàn là đồng chí Phùng Chí Kiên.

7. Tại nghĩa trang Ngân Sơn - Phủ Thông có mộ những cán bộ bị địch sát hại và bị cắt đầu đem bêu tại các nơi để khủng bố tinh thần quần chúng làm cách mạng. Đó là các đồng chí:

- Đồng chí Phùng Chí Kiên, bị quân địch sát hại ngày 22 tháng 8 năm 1941 (30 tháng 6 năm Tân Tỵ), bị cắt đầu đem đến Ngân Sơn bêu một số ngày.

- Đồng chí Mỹ Thanh (Năm), cán bộ con đường quần chúng Nam tiến bị bắn chết tại hang đá bản Loãng (xã Nà Phạc) ngày 24 tháng 12 năm 1944, chúng cắt đầu đem bêu tại cầu Ngân Sơn một số ngày, rồi đưa đi đâu không ai biết.

- Đồng chí  Đồng Văn Hàm (Bằng), Bí thư Ban cán sự tỉnh Bắc Kạn, đảng viên chi bộ Chí Kiên, bị địch bắn vỡ đầu ngày 18 tháng 3 năm Giáp Thân (10.4.1944)

- Đồng chí Đức Xuân (tức Bế Văn Đàn), cán bộ bí mật Nam tiến bị địch bắn chết đêm 8 tháng 1 năm 1944 (13 tháng Chạp năm Quý Mùi), địch cắt đầu đem bêu tại chợ thị xã Bắc Kạn rồi chúng chôn đâu không ai biết. Mộ đồng chí Đức Xuân hiện được quy tập tại nghĩa trang Phủ Thông, huyện Bạch Thông.

- Đồng chí Hồng Giang, cán bộ bí mật bị địch sát hại tại Ba Bể, rồi ném xuống hang sâu không tìm được thi thể.

Đó là tất cả những gì tôi biết được về đồng chí Phùng Chí Kiên, người cộng sản kiên cường, một cán bộ quân sự xuất sắc.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Giêng, 2022, 11:57:26 am

ĐỒNG CHÍ PHÙNG CHÍ KIÊN
LUÔN SỐNG MÃI TRONG TÂM TRÍ CHÚNG TÔI

ĐÀO VĂN TRƯỜNG*

Đồng chí Phùng Chí Kiên không chỉ là Thường vụ Trung ương khóa 1 của Đảng ta và là một trong những cán bộ quân sự đầu tiên được đào tạo ở Trường Quân sự Hoàng Phố, mà còn là cánh tay đắc lực của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc khi Người hoạt động ở hải ngoại (Trung Quốc). Không những thế, đồng chí Phùng Chí Kiên còn là đầu mối liên lạc sống còn của Đảng ta trong nhiều năm gian khó nhất, trước Cách mạng Tháng Tám 1945, ở hải ngoại với tổ chức Đảng trong nước. Sau Hội nghị Trung ương 8, tháng 5 năm 1941, ở Pắc Bó, đồng chí Phùng Chí Kiên được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Trung ương Đảng cử về trực tiếp lãnh đạo khu du kích Bắc Sơn – Võ Nhai, nhằm duy trì tiếng súng của Khởi nghĩa Bắc Sơn, cổ vũ phong trào đấu tranh cách mạng toàn quốc đang bị giặc Pháp, kẻ đã hèn nhát đầu hàng phát xít Nhật, tàn sát khủng bố sau các cuộc Khởi nghĩa Bắc Sơn (27.9 – 28.10.1940), Khởi nghĩa Nam Kỳ và binh biến Đô Lương, nổ ra nhưng đều bị thất bại. Đồng chí Phùng Chí Kiên đã anh dũng hy sinh trong chiến đấu khi làm nhiệm vụ mà Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc kính yêu giao cho.

Kỷ niệm 67 năm ngày đồng chí Phùng Chí Kiên hy sinh trong chiến đấu ở Ngân Sơn, Bắc Kạn (22.8.1941 - 22.8.2008) và đồng chí Lương Văn Tri (Huy Còm), Ủy viên Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ, cán bộ quân sự của Đảng đã tốt nghiệp trường quân sự của Tàu Tưởng, hy sinh vào tháng 9 năm 1941. Đồng chí Huy Còm đã được đồng chí Lương Khánh Thiện, Nguyễn Kế Hai, Xứ ủy Bắc Kỳ (1936-1939), cử lên chuẩn bị An toàn khu (ATK) dự phòng của Trung ương (trong trường hợp phải chuyển sang hoạt động bí mật và đề phòng Chiến tranh thế giới nổ ra khi quân phát-xít Nhật đánh chiếm Mãn Châu, đang uy hiếp Trung nguyên Trung Quốc), ở đồn điền của Ký Thọ, bố vợ đồng chí Hồng Quang. Nơi đây nguyên là khu vực nhân dân các dân tộc đã từng nổi dậy chống Pháp trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX dưới sự lãnh đạo của Đồ Kiều, là địa bàn ở sâu trong vùng Tây Bắc, có thể làm bàn đạp tìm kiếm, bắt liên lạc với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Cũng chính vì vậy mà khi khởi nghĩa Bắc Sơn nổ ra, Đảng ta phải trực tiếp lãnh đạo.

Tôi nhớ khi Đảng quyết định cử đồng chí Trần Đăng Ninh, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng lên trực tiếp lãnh đạo, chúng ta có phần lúng túng vì không có cán bộ quân sự cùng đồng chí Trần Đăng Ninh chia sẻ gánh nặng này. Đồng chí Phùng Chí Kiên có được nhắc tới, nhưng đồng chí lại đang ở quá xa, mà quân phát xít Nhật thì đã tràn vào Lạng Sơn. Còn đồng chí Huy Còm, anh Hoàng Văn Thụ cũng có được nhắc tới nhưng cũng đang ở tận Cát Trù vùng tây bắc tỉnh Yên Bái. Các đồng chí nói trên không dễ gì về được để cùng gánh vác nhiệm vụ với đồng chí Trần Đăng Ninh, khi quân Pháp đang khủng bố lan tràn ở khắp nơi. Cuối cùng, người được chọn đi cùng đồng chí Trần Đăng Ninh lên thay mặt Trung ương Đảng lãnh đạo khởi nghĩa Bắc Sơn, phụ trách về quân sự là đồng chí Nguyễn Thành Diên, Ủy viên Thường vụ của Xứ ủy Bắc Kỳ, một cán bộ không có nhiều hiểu biết về quân sự.

Khoảng đầu năm 1940, tôi và một số đồng chí khác được Trung ương điều về học quân sự ở khu vực Làng Vân (Vân Xuyên, Hoàng Vân) trong An toàn khu của Trung ương ở Hiệp Hoà, Bắc Giang. Thầy dạy của chúng tôi là đồng chí Huy Còm. Trước những ấu trĩ của cả thầy giáo và học viên trong lớp học này, đồng chí Hoàng Văn Thụ buột miệng nói: "Giá mà lúc này đồng chí Phùng Chí Kiên nóng ruột "máy mắt", mà về được!". Tôi nghĩ, điều này thể hiện chân thật tâm tư và sự mong đợi của đồng chí Hoàng Văn Thụ đối với đồng chí Phùng Chí Kiên, một cán bộ quân sự lỗi lạc của Đảng, từng được học ở Trường Quân sự Hoàng Phố, từng được tham gia thành lập Xô-viết Bát Sát ở sát biên giới Trung Quốc - Việt Nam.

Tháng 5 năm 1941, tại Pắc Bó, Cao Bằng, Hội nghị Trung ương lần thứ 8 của Đảng Cộng sản Đông Dương đã họp dưới sự chỉ đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Hội nghị lịch sử này đã ra Nghị quyết về thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập đồng minh gọi tắt là Việt Minh. Trên cơ sở Đội du kích Bắc Sơn, Hội nghị quyết định xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang, thành lập các căn cứ địa cách mạng, chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang và tiến tới Tổng khởi nghĩa. Hội nghị cũng quyết định cử đồng chí Phùng Chí Kiên, trực tiếp phụ trách phong trào Bắc Sơn - Võ Nhai.

Khoảng tháng 8 năm 1941, khi được tin trên đường rút lên Cao Bằng, đồng chí Phùng Chí Kiên, Chỉ huy trưởng, hy sinh; đồng chí Huy Còm bị thương, bị bắt và sau đó hy sinh ở nhà tù Cao Bằng, tôi (Đào Xuân Trường), thế hệ đàn em đồng thời là học trò của các đồng chí, được Trung ương cử lên thay thế các đồng chí phụ trách căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai, làm Chủ nhiệm Ủy ban quân sự chính trị kiêm Chỉ huy trưởng Cứu quốc quân (tôi lên Bắc Sơn - Võ Nhai từ tháng 10 năm 1941 đến tháng 2 năm 1942 thì bị địch bắt).

Trước khi lên đường đi Bắc Sơn - Võ Nhai, đồng chí Trường Chinh cởi chiếc áo budông mà đồng chí đang mặc, khoác vào vai tôi và nói: "Từ nay đồng chí lấy bí danh là Trung Kiên, cố gắng hoàn thành nhiệm vụ đồng chí Phùng Chí Kiên để lại". Đồng chí Hoàng Văn Thụ cũng choàng vào cổ tôi chiếc khăn len đã cũ, khẽ nói: "Nhưng về gặp Trung ương, dùng bí danh Xuân Trường". Đồng chí Hoàng Quốc Việt xúc động, đặt vào tay tôi "khẩu súng ngũ" (bắn 5 viên, nhỏ gọn của Tàu Tưởng) còn mới tinh. Tôi lên đường, nhớ mãi hơi ấm và lời dặn dò của các đồng chí lãnh tụ.

Trong những tháng đánh du kích trong vòng vây của địch ở Bắc Sơn - Võ Nhai, tôi bao giờ cũng nhớ và nguyện noi gương các anh Phùng Chí Kiên và Huy Còm, những người tiền bối, người thầy của tôi về mặt quân sự, trong đấu tranh vũ trang và đấu tranh giải phóng dân tộc.

Bài thơ "Tình đồng chí", tôi viết tại Bắc Sơn - Võ Nhai vào tháng 12 năm 1941 chính là để khóc thương đồng chí Hà Văn Loi (còn có tên là Mạnh) đã hy sinh trong chiến đấu (khi đồng đội tìm được thi thể đồng chí Loi, thì chỉ còn lại một ít xương bởi thú rừng đã ăn hết phần thịt, nhưng súng vẫn còn đó, đạn đã lên nòng). Bài thơ được viết từ niềm xúc động của bản thân trước sự hy sinh của người đồng chí Hà Văn Loi, nhưng chứa đựng trong đó còn bao gồm cả nỗi niềm thương tiếc, tưởng nhớ khôn nguôi, tình cảm và tấm lòng của tôi đối với các đồng chí khác đã hy sinh cống hiến trọn cả đời mình cho Tổ quốc, mà trước tiên và nhiều hơn cả là đồng chí Phùng Chí Kiên và đồng chí Huy Còm. Bài thơ như sau:

Hoa "liềm búa" trên mộ người đồng chí
Cao cao dần trong nghĩa địa lòng tôi!
Hồn thiêng Anh, sáng rực bóng cờ,
Anh đâu chết! - Chúng tôi còn chiến đấu!

Hoa "liềm búa" trên mộ người chiến sĩ,
Cao cao dần trong nghĩa địa lòng tôi!
Tinh thần Anh! - Cao ngất lưng trời,
Anh đâu chết! - Chúng tôi còn chiến đấu!

Hoa "liềm búa" khóc thương người dũng sĩ,
Cao cao dần trong nghĩa địa lòng tôi!
Bên nắm xương, thú rừng còn để lại,
Đạn lên nòng, súng vẫn cắm lê!

Hoa "liềm búa" tiễn đưa người tráng sĩ.
"Một ra đi, thề, không trở lại!"
Với núi sông, tên Anh còn sống mãi,
Là Việt Nam, là Độc lập, là Tự do!

Hoa "liềm búa" trên mộ Hà yên nghỉ,
Cao cao dần trong nghĩa địa lòng tôi!
Màn sương đêm, thơm ngát "hương đời"
Nhẹ toả khắp, quanh "Đài hoa liệt sĩ".


Những năm đầu thập niên 40 của thế kỷ XX chưa có Quốc ca, nên mỗi khi có hội họp, lễ lạt, ngoài bài Quốc tế ca, chúng tôi luôn hát bài "Hoàng Phố” - bài ca chính thức của Trường Quân sự Hoàng Phố - để tưởng nhớ và cũng để nguyện noi gương, học tập tinh thần kiên trung, bất khuất của đồng chí Phùng Chí Kiên cùng đồng chí Huy Còm. Trường Quân sự Hoàng Phố là nơi đào tạo cán bộ quân sự cho cách mạng Trung Quốc thời kỳ Quốc - Cộng liên minh, nơi mà những cán bộ lỗi lạc về mặt quân sự của Đảng ta, lứa đầu tiên như Lê Hồng Phong, Lê Thiết Hùng, Phùng Chí Kiên, Nguyễn Sơn, v.v. đã từng học.

Một số ký ức trên đây, là một phần trong tâm tư tình cảm của tôi đối với đồng chí Phùng Chí Kiên - người thầy và là người đồng chí luôn mãi trong tôi suốt cả cuộc đời - một "người lính già đầu bạc", 92 tuổi đời, hơn 70 năm tuổi Đảng.
__________________________________________________
* Nguyên Chủ nhiệm Ủy ban quân sự chính trị kiêm Chỉ huy trưởng Cứu quốc quân, thay đồng chí Phùng Chí Kiên, nguyên Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Giêng, 2022, 02:33:53 pm

HỌC TẬP TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG
CỦA ĐỒNG CHÍ PHÙNG CHÍ KIÊN

Đại tá, PGS, TS NGUYỄN MINH ĐỨC*

Trong lịch sử đấu tranh cách mạng oanh liệt và vẻ vang của Đảng và dân tộc ta, đồng chí Phùng Chí Kiên thuộc thế hệ chiến sĩ cách mạng tiền bối, lớp đảng viên đầu tiên, người học trò ưu tú của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Điểm nổi bật trong toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Phùng Chí Kiên là sự thống nhất giữa nhà chính trị và nhà quân sự, nhà quân sự và nhà chính trị. Đồng chí không chỉ là cán bộ quân sự xuất sắc mà còn là nhà hoạt động chính trị và tổ chức thực tiễn tài giỏi của Đảng và của cách mạng Việt Nam. 40 tuổi đời, hơn 15 năm hoạt động cách mạng liên tục và sôi nổi, đồng chí đã hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và nhân dân ta. Cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí tuy ngắn ngủi, nhưng đã để lại cho Đảng ta, nhân dân ta và các thế hệ trẻ một tấm gương sáng về nhiều mặt.

Trước hết, đó là tấm gương suốt đời hy sinh phấn đấu vì lợi ích của Đảng và của nhân dân.

Giác ngộ cách mạng từ năm 1926, đồng chí Phùng Chí Kiên đã dành trọn cả đời mình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Những năm học tập, hoạt động ở nước ngoài (từ tháng 10.1926 đến 7.1936 và từ 12.1937 đến 12.1940), hoặc lúc sa vào ngục tù đế quốc (1931 và từ tháng 10-12.1937), cũng như khi trở về Tổ quốc chỉ đạo và trực tiếp tham gia cuộc chiến đấu chống thực dân phong kiến (8.1936 - 9.1937 và 1941), dù ở đâu, lúc nào, đồng chí cũng luôn nêu cao ý chí cách mạng kiên cường, bản lĩnh chính trị vững vàng, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó.

Trên mặt trận chính trị - tư tưởng, đồng chí là một người cộng sản kiên cường, hai lần được tín nhiệm bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (1935, 1941) ở vào những thời điểm quan trọng của cách mạng Việt Nam. Trên cương vị là thành viên trong Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng, đồng chí đã tích cực tham gia chuẩn bị dự thảo các văn kiện của Đại hội Đảng lần thứ nhất (3.1935), góp phần khôi phục hệ thống tổ chức của Đảng và thúc đẩy phong trào cách mạng nước ta chuyển lên một giai đoạn mới. Được cử về Sài Gòn (8.1936) trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản (7.1935) và Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (26.7.1936), đồng chí đã đề xuất nhiều chủ trương, biện pháp tích cực, góp phần đưa đến sự hình thành hơn 600 ủy ban hành động ở Nam Kỳ (9.1936) trong phong trào đòi các quyền dân sinh, dân chủ. Tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (5.1941), đồng chí đóng góp nhiều ý kiến quan trọng vào các nội dung của dự thảo Nghị quyết, nhất là về chủ trương xúc tiến chuẩn bị điều kiện cho cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền, góp phần vào sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng trong giai đoạn cách mạng mới.

Trên bình diện quân sự, đồng chí là vị chỉ huy gan dạ và tài ba, một nhà quân sự xuất sắc, giỏi cả về lý luận và thực tiễn. Do kết quả học tập tốt, năng động, sớm bộc lộ tài năng quân sự, đồng chí là một trong số ít người sau khi mãn khóa lớp huấn luyện chính trị ở Quảng Châu, được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và các cố vấn quân sự Liên Xô lựa chọn vào học tại Trường Quân sự Hoàng Phố để đào tạo thành cán bộ quân sự, chuẩn bị cho việc xây dựng quân đội làm nòng cốt cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam. Khi Tưởng Giới Thạch phản bội, nhà trường bị đóng cửa (4.1927), đồng chí gia nhập Hồng quân công nông, tham gia cuộc khởi nghĩa Quảng Châu (12.12.1927) do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo. Được giao làm Đại đội trưởng một đơn vị quân cách mạng, đồng chí đã vận dụng những kiến thức quân sự được nhà trường trang bị vào tổ chức, chỉ huy chiến đấu, bẻ gãy nhiều cuộc tiến công của bọn quân phiệt, góp phần bảo vệ khu Xô-viết Hải - Lục Phong. Qua các trận chiến đấu trên nhiều chiến trường, nhất là thực tiễn kháng Nhật của nhân dân Trung Quốc, đồng chí không ngừng tích lũy, ghi chép thành tài liệu quân sự để phục vụ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Chính trên cơ sở bản thảo đó, Nguyễn Ái Quốc đã viết lại thành cuốn sách ngắn nhan đề "Kinh nghiệm du kích Tàu"1 giới thiệu một số trận đánh Nhật tiêu biểu của nhân dân Trung Quốc, góp phần bồi dưỡng kiến thức quân sự cho đồng bào và chiến sĩ ta chuẩn bị tiến tới khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền.

Sau Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (5.1941), đồng chí được Đảng tin cậy giao nhiệm vụ chỉ đạo khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai và chỉ huy Trung đội Cứu quốc quân 1 - một trong những tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay. Trước tình hình địch khủng bố quyết liệt, đồng chí đã bố trí lại lực lượng, thực hiện chiến thuật mới, tổ chức bảo vệ đoàn cán bộ đi dự Hội nghị Trung ương 8 về xuôi an toàn và cuối cùng đã anh dũng hy sinh trong cuộc chiến đấu không cân sức để phá vòng vây của địch, bảo toàn lực lượng - "cái vốn quý" đầu tiên của quân đội ta.

Tinh thần chiến đấu của đồng chí mãi mãi là tấm gương sáng về sự hy sinh phấn đấu suốt đời cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và của nhân dân ta.

Thứ hai, tấm gương nêu cao ý thức tổ chức kỷ luật và tình thần trách nhiệm.

Bước vào đời hoạt động cách mạng ở tuổi 25, đồng chí Phùng Chí Kiên luôn thể hiện sự chín chắn trong công việc cũng như nếp sống và có ý thức tổ chức kỷ luật rất cao. Theo cụ Phan Trọng Quảng, vị lão thành cách mạng được tham dự lớp huấn luyện chính trị thứ hai do Nguyễn Ái Quốc mở ở Quảng Châu (Trung Quốc) cho biết: "Thời ấy ở Nghệ Tĩnh có nhiều thanh niên yêu nước rất thiết tha muốn tìm đường xuất dương. Họ thường nhờ mấy anh là con trai và con rể của cụ Phan Bội Châu đưa đường, nhưng không may họ lại bị bọn trung gian đánh lừa. Có anh mất hàng trăm đồng Đông Dương mà vẫn không đi đươc..."2. Trái lại, đồng chí Phùng Chí Kiên rất cẩn trọng, không ngừng tự rèn luyện mình trong việc tham gia nhóm đọc sách báo tiến bộ ở quê hương, quyên góp tiền bạc ủng hộ những người xuất dương. Và chính trên cơ sở đó, tháng 10 năm 1926, đồng chí được Chi bộ của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên tỉnh Nghệ An lựa chọn và giới thiệu sang Quảng Châu dự lớp huấn luyện.

Trong thời gian hoạt động ở nước ngoài, dù được giao bất cứ nhiệm vụ gì hoặc ở cương vị công tác nào, đồng chí đều có ý thức chấp hành tốt sự phân công của tổ chức. Đặc biệt, khi được giao phụ trách bộ phận công tác Đảng ở ngoài nước, đồng chí luôn giữ vững nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là thực hiện nghiêm chỉnh các chế độ báo cáo, xin ý kiến chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản. Ví như, trong Thư gửi ngày 15 tháng 11 năm 1937, đồng chí viết:

"...1. Đảng chúng tôi còn trong hoàn cảnh hoàn toàn bí mật, một mặt Ban Chỉ huy ở ngoài đã thủ tiêu. Hiện nay chỉ để tôi (Kan) ở ngoài phụ trách liên lạc với đảng Xiêm rất khó khăn trở ngại. Còn đảng Tàu hiện nay đã được gần công khai, nên các đồng chí giao cho họ liên lạc với đảng Xiêm thì tiện cho cả chúng tôi. Ý kiến các đồng chí thế nào xin chỉ thị cho.

2. Chúng tôi mong rằng xin các đồng chí cho chúng tôi chính thức liên lạc với đảng Tàu. Chúng tôi ở đây có liên lạc trực tiếp với Nam ủy của đảng Tàu.

3. Từ nay những tài liệu, chỉ thị tin cho Đảng chúng tôi cũng có thể gửi qua Trung ương Đảng Tàu đưa về Nam ủy chuyển, liên lạc tới Nam ủy của đảng Tàu.

4. Tôi cũng xin đồng chí trực tiếp giúp kinh tế cho vì có nhiều cơ quan quần chúng chưa tìm được việc làm.

5...

6. Bản chữ Tàu thư ngày 10 tháng 7 là báo cáo của đảng Xiêm và kết luận của chúng tôi trong cuộc nói chuyện với Nam ủy của đảng Tàu và đại diện của Xiêm...

Các đồng chí có định cho đồng chí Rêmy về đây hay không? Xin cho biết để còn thu xếp bộ phận ngoài này và trong Xứ và cho tiện công việc và đỡ kinh tế..."3.

Nội dung bức thư không chỉ thể hiện quan điểm của Đảng về quan hệ với Quốc tế Cộng sản, mà còn toát lên ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần trách nhiệm rất cao của đồng chí Phùng Chí Kiên - người được Đảng ta tin cậy giao nhiệm vụ phụ trách công tác Đảng ở ngoài nước, để giữ vững mối liên lạc và tranh thủ sự giúp đỡ của Quốc tế Cộng sản và các đảng bạn đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.

Về nước hoạt động, đồng chí tham gia viết tài liệu, mở lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ quân sự, cán bộ chính trị... theo sự phân công, chỉ đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Việc gì được giao, đồng chí cũng làm cẩn thận, chu đáo và với tinh thần trách nhiệm cao nhất.
________________________________________________
* Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử quân sự dân tộc, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
1.  Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1990, tr.69.
2.  Dẫn theo bài "Lớp huấn luyện chính trị thứ hai ở Quảng Châu (Trung Quốc)", Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 6.1992.
3.  Đỗ Quang Hưng, Phùng Chí Kiên (1901-1941) - một cán bộ quân sự - chính trị tài ba, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 6, 2001.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Giêng, 2022, 02:40:13 pm

Thứ ba, tấm gương say mê học tập, không ngừng rèn luyện về mọi mặt.

Bẩm sinh vốn thông minh, ham hiểu biết, nhưng do hoàn cảnh gia đình, đồng chí chỉ được học hết bậc sơ học. Bước vào đời, đồng chí thấu hiểu không có tri thức cách mạng thì không thể hoạt động cách mạng có hiệu quả. Cho nên, đồng chí tranh thủ mọi điều kiện, mọi lúc mọi nơi để học, như tích cực tham gia nhóm đọc sách báo tiến bộ ở quê hương, học thêm chữ Hán, chữ Pháp.

Từ năm 1926-1927, đồng chí được vào học lớp huấn luyện chính trị - lớp thứ 3 do Nguyễn Ái Quốc mở ở Quảng Châu, rồi được chọn vào học Trường Quân sự Hoàng Phố. Đồng chí đã tận dụng tất cả thời gian để học tập, học lý thuyết và thực hành, học trên lớp và rèn luyện ở thao trường... với niềm khao khát, đầy hứng thú. Chính giáo viên Liên Xô tại Trường Quân sự Hoàng Phố đã có những nhận xét tốt về tinh thần học tập của các học viên Việt Nam, trong đó có Phùng Chí Kiên: "Trong số những học viên của chúng tôi có khoảng 30 người Việt Nam. Họ rất nghiêm chỉnh, cần cù lao động, dốc hết sức để học tập bởi vì họ biết rằng để giành chính quyền về tay công nông, phải cầm lấy vũ khí chiến đấu và chỉ có tri thức quân sự mới giúp họ bảo vệ cách mạng khỏi thù trong giặc ngoài"1.

Tháng 2 năm 1931, được cử sang Liên Xô học Trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản, niên khóa 1931-1933, đồng chí không quản ngại đường sá khó khăn, cách trở, thậm chí bị bọn quân phiệt Nhật ở Mãn Châu bắt giam gần một năm, vẫn quyết đến được Mátxcơva học tập. Với tinh thần học để phục vụ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, đồng chí tranh thủ ngày đêm học tập lý luận cách mạng, học về nghệ thuật khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền, xây dựng quân đội... và hoàn thành nhiệm vụ học tập với những lời khen ngợi, biểu dương của Bộ Phương Đông, Quốc tế Cộng sản:" Có khả năng lớn về công tác, năng động, trình độ chính trị cao, kết quả học tập nói chung tốt"2.

Kết hợp học tập lý luận với rèn luyện trong thực tiễn, đồng chí đã trang bị cho mình một hệ thống tri thức cơ bản, toàn diện cả về chính trị và quân sự, giỏi tiếng Trung Quốc, tiếng Nga, tiếng Pháp và biết cả tiếng Quảng Đông... Nhờ đó, đồng chí đã trở thành nhà cách mạng ưu tú, có học vấn cao của Đảng ta ở thời điểm lịch sử lúc bấy giờ, có đủ năng lực và trí tuệ đóng góp với Đảng về những vấn đề chiến lược, sách lược và cùng với Đảng giải quyết thành công nhiều vấn đề cấp bách của thực tiễn cách mạng.

Ý chí phấn đấu của đồng chí là một tấm gương sáng về tinh thần say mê, khổ công học tập, không ngừng vươn lên chiếm lĩnh những tầm cao của tri thức.

Thứ tư, tác phong gương mẫu trong công tác và lối sống.

Sớm được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giáo dục và được học qua nhiều trường lớp ở nước ngoài, đồng chí có tác phong làm việc khoa học, sâu sát, luôn bám sát thực tiễn, bám sát phong trào cách mạng. Trong công tác, đồng chí rất nhiệt tình, năng nổ, hết lòng vì nhiệm vụ. Trong cuộc sống, đồng chí rất giản dị, tôn trọng và gần gũi mọi người.

Bởi vậy, suốt những năm tháng hoạt động cách mạng, dù ở đâu, đến đâu, hay trên cương vị công tác nào, đồng chí cũng nhận được tình cảm trân trọng, quý mến, sự giúp đỡ vô tư của đồng chí, đồng bào và đồng chí cũng để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp trong lòng mọi người. Cụ Hoàng Quang Bình, cơ sở cách mạng của ta, hoạt động ở Vân Nam (Trung Quốc) từ những năm 1937-1938 kể rằng: "Anh Kiên đối với tôi thân hơn ruột thịt. Anh dạy dỗ tôi nhiều, chỉ bảo cặn kẽ, từng ly, từng tý, gợi cho tôi chí khí cách mạng, bày cho tôi cách hoạt động"3.

Đồng chí, đồng bào ta ở Cao Bằng - nơi được vinh dự đón lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và đoàn cán bộ cách mạng về nước hoạt động hồi đầu năm 1941, vẫn mãi ghi nhớ hình ảnh: "Đồng chí Phùng Chí Kiên, người Nghệ An ra nước ngoài đã mười mấy năm, có đôi gò má cao, mặt vuông, cằm tròn, là một cán bộ quân sự đã tham gia Hồng quân chống Nhật, nay là Ủy viên Trung ương, được cử về phụ trách chiến khu Bắc Sơn - Võ Nhai..."4.

Đặc biệt, đồng chí còn là một tấm gương sáng về lối sống cần kiệm. Hoạt động trong Ban lãnh đạo của Đảng ở nước ngoài, nhưng đồng chí sống rất giản dị. Do điều kiện khó khăn, đồng chí đã sử dụng nhà ở của mình làm trụ sở cơ quan và cũng là chỗ làm việc của Tòa soạn báo Đồng Thanh - tờ báo do đồng chí phụ trách. Đầu năm 1940, đồng chí Võ Nguyền Giáp trong lần được Đảng giao nhiệm vụ cùng đồng chí Phạm Văn Đồng bí mật sang Côn Minh (Trung Quốc) bắt liên lạc với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đã gặp Phùng Chí Kiên và kể rằng: "Gọi là cơ quan, nhưng đều phải ở bí mật, vì cần đề phòng bọn Quốc dân đảng Trung Quốc, nếu lộ, chúng có thể ám hại. Trong cơ quan, sinh sống rất khắc khổ. Mọi việc đi chợ, nấu ăn đều phải tự lo liệu"5. Thế nhưng, vượt lên mọi khó khăn thử thách, đồng chí đã hoàn thành nhiệm vụ được giao và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc.

Cuộc đời hoạt động của đồng chí Phùng Chí Kiên thực sự là một tấm gương sáng về nhiều mặt cho chúng ta, nhất là đối với các thế hệ trẻ hôm nay và mai sau noi theo. Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, khi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, quyết thực hiện bằng được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, thì việc nêu cao và phấn đấu học tập tấm gương đạo đức cách mạng của đồng chí Phùng Chí Kiên càng có ý nghĩa sâu sắc.
________________________________________________
1.  Phạm Xanh, Đồng chí Phùng Chí Kiên, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 3,1987.
2.  Đỗ Quang Hưng, Phùng Chí Kiên (1901-1941) - một cán bộ quân sự - chính trị tài ba, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 6,2001.
3, 4.  Bác Hồ sống mãi với chúng ta, Tập 1, Hồi ký, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 289, 581.
5.  Bác Hồ sống mãi với chúng ta, Tập 1, Hồi ký, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 581, 152.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Giêng, 2022, 02:24:34 pm

PHÙNG CHÍ KIÊN NIỀM TỰ HÀO CỦA QUÊ HƯƠNG DIỄN CHÂU

NGUYỄN TRUNG TIẾP*

Từ thuở cắp sách đến trường, chúng tôi đã nghe cái tên Phùng Chí Kiên. Lớn lên, chúng tôi biết nhiều thêm, hiểu sâu sắc hơn về thân thế, sự nghiệp của đồng chí Phùng Chí Kiên và càng tự hào hơn về người con ưu tú của quê hương Diễn Châu.

Sinh ra và lớn lên vào đầu thế kỷ XX (18.5.1901) ở một làng quê nghèo khó như bao làng quê khác của đất nước Việt Nam lúc bấy giờ; làng Mỹ Quan, xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, cậu bé Nguyễn Vĩ, như bao đứa trẻ Việt Nam khác có tuổi thơ nhọc nhằn, nhưng rất ham học. Tình thương con và khát khao mong con được học hành, có chút chữ nghĩa, vợ chồng người nông dân nghèo Nguyễn Văn Khoản - Trần Thị Cúc đã quyết tâm cho con đến trường. Với niềm khao khát tri thức, sự hăm hở của tuổi trẻ, với truyền thống hiếu học của quê hương, Nguyễn Vĩ đã có bằng Sơ học yếu lược - một trình độ học vấn khá cao vào thời bấy giờ, đáp lại lòng mong mỏi của bố mẹ. Hoàn cảnh khó khăn của gia đình không cho phép Vĩ bước tiếp trên con đường học vấn nhưng vẫn không dập tắt được ngọn lửa khát vọng học tập để mở mang hiểu biết. Thế rồi chàng thanh niên Nguyễn Vĩ vào đời, vừa làm thuê kiếm sổng đỡ đần bố mẹ, vừa không quên tự học, qua sách báo, qua cuộc đời, qua các hoạt động yêu nước ngay trên quê hương, bằng tất cả nhiệt huyết của tuổi trẻ. Chính trong quãng thời gian này, lòng yêu nước được nhen nhóm và mãi mãi trở thành ngọn lửa hồng cháy trong anh - người thanh niên mang những nỗi niềm thiết tha về quê hương, đất nước. Vừa làm, vừa học, vừa tham gia những hoạt động yêu nước, tâm hồn Nguyễn Vĩ đã được rọi sáng bởi những tư tưởng cách mạng tiến bộ đầu tiên. Ngả đường anh chọn đã hiện ra và anh đã dấn thân vào con đường ấy không một chút đắn đo, ngần ngại, đã thủy chung theo đuổi cho đến phút cuối cùng của cuộc đời. Đó là con đường hoạt động cách mạng cứu nước, cứu dân khỏi ách thống trị, đô hộ của bọn thực dân xâm lược.

Tháng 12 năm 1926, anh được tổ chức giới thiệu sang Quảng Châu (Trung Quốc) tập huấn cách mạng với tấm thẻ căn cước mới mang tên Nguyễn Hào (tên người chú ruột). Cũng cuối năm 1926 này, anh vào học Trường võ bị Hoàng Phố, với cái tên Mạnh Văn Liễu. Tháng 2 năm 1931, được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giới thiệu, anh rời Quảng Châu (Trung Quốc) sang học ở Trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản ở Liên Xô. Về Hương Cảng, Trung Quốc, với cái tên mới Phùng Chí Kiên, anh tham gia Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương do đồng chí Lê Hồng Phong đứng đầu. Tháng 3 năm 1935, tại Đại hội lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương, đồng chí Phùng Chí Kiên được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương. Năm 1936, đồng chí lại được cử về Sài Gòn chỉ đạo phong trào cách mạng đòi tự do, đòi dân chủ, hoà bình. Sau đó, đồng chí trở lại Trung Quốc tiếp tục hoạt động trong Ban Hải ngoại với cái tên khác là Phùng Nguôn Bình. Một bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Phùng Chí Kiên đó là từ khi anh gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Bên cạnh Nguyễn Ái Quốc, đồng chí đã trưởng thành rất nhiều về nhận thức lý luận cách mạng. Tháng 1 năm 1941, cùng lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đồng chí Phùng Chí Kiên và một số đồng chí khác đã về Pắc Bó, Cao Bằng. Tháng 5 năm 1941, tại Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và được phân công trực tiếp làm chỉ huy căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai, xây dựng lực lượng Cứu quốc quân - một trong những đơn vị tiền thân của quân đội ta. Là một cán bộ quân sự đầu tiên của Đảng, đồng chí Phùng Chí Kiên đã chỉ huy Cứu quốc quân chống lại đợt càn quét, khủng bố với quy mô lớn của thực dân Pháp, đưa các đồng chí lãnh đạo của Trung ương Đảng đến nơi an toàn. Trong trận chiến đấu không cân sức, vô cùng ác liệt với kẻ thù, đồng chí đã sa vào tay giặc khi đã bắn hết viên đạn cuối cùng và đã bị thương. Không lay chuyển được ý chí khảng khái, dũng liệt của Phùng Chí Kiên, ngày 22 tháng 8 năm 1941, kẻ thù đã giết hại đồng chí. Tiếc thay, người cộng sản trung kiên, người cán bộ quân sự tài năng của Đảng đã hy sinh lúc tuổi đời mới tròn 40. Ông không được sống tiếp những tháng ngày hào hùng nhất của dân tộc, những ngày Mặt trận Việt Minh lãnh đạo toàn dân tổng khởi nghĩa, lật đổ ách thống trị của thực dân, phong kiến, giành chính quyền. Ông có biết chăng, đúng 4 năm tròn sau ngày ông hy sinh (21.8.1945), quê hương Diễn Châu yêu dấu của ông cũng đã khởi nghĩa giành chính quyền. Và cũng một người con xuất sắc khác của Diễn Yên đã làm Chủ tịch đầu tiên của chính quyền cách mạng huyện nhà - đồng chí Lê Nhu.

Đồng chí Phùng Chí Kiên đã ra đi hơn nửa thế kỷ, nhưng hình ảnh người chiến sĩ cách mạng trung kiên vẫn sống mãi trong lòng dân tộc Việt Nam, trong lòng nhân dân Trung Quốc, nhân dân Bắc Sơn, Võ Nhai, Cao Bằng, Lạng Sơn... Từ cậu bé Nguyễn Vĩ nơi làng quê Mỹ Quan, Diễn Yên đến nhà cách mạng Phùng Chí Kiên là hơn 20 năm học tập, rèn luyện, chiến đấu với nghị lực phi thường, với bản lĩnh kiên cường, với nhiệt tình cách mạng, với đức hy sinh tận tụy và với tấm lòng trung hậu của con người Diễn Châu. Cuộc đời hoạt động chiến đấu đầy gian nguy nhưng vô cùng oanh liệt của ông, những phẩm chất sáng ngời của ông mãi mãi là niềm tự hào, là tấm gương sáng cho bao thế hệ người Diễn Châu. Và cái tên Phùng Chí Kiên đã lưu danh vẻ vang trong lịch sử dân tộc.

67 năm trôi qua, quê hương Diễn Châu cùng với đất nước, dân tộc đã trải qua bao biến cố: Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, chín năm kháng chiến chống Pháp (1946-1954), xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tiếp tục xây dựng quê hương đất nước và thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo cho đến ngày nay. Nơi chín suối, hẳn linh hồn ông rất mãn nguyện khi Tổ quốc đã độc lập, tự do như lý tưởng ông theo đuổi, và quê hương Diễn Châu đang ngày một thay da đổi thịt cùng đất nước. Diễn Châu đang ngày một xứng đáng với truyền thống lịch sử văn hoá 1.381 năm. Vùng quê đã tách vỏ cho một cuộc nảy mầm vì tương lai trên bước đường đổi mới và hội nhập. Diễn Yên, nơi chôn nhau cắt rốn của ông đang khởi sắc, đổi thay từng ngày: Cái làng quê bé nhỏ nghèo đói, xác xơ, tiêu điều xưa, nay cùng với nhiều làng quê khác ở Diễn Châu ngập tràn ánh điện, những con đường mới rộng thênh thang, được rải nhựa, bê tông, những cánh đồng mới có doanh thu cao, những ngôi nhà mới khang trang và sừng sững một ngôi trường to đẹp, đàng hoàng mang tên Phùng Chí Kiên. Một Diễn Yên anh hùng trong Diễn Châu anh hùng.

Đồng chí Phùng Chí Kiên đã hiến trọn tuổi xuân cho độc lập, tự do của dân tộc. Đồng chí đã hy sinh anh dũng ở tuổi đời 40. Ghi nhận công lao của Phùng Chí Kiên, 6 năm sau, ngày 23 tháng 9 năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 89/SL-CTN truy phong quân hàm cấp tướng cho Phùng Chí Kiên. Ngày 3 tháng 3 năm 1990, Bộ Chính trị đã làm lễ đưa một phần thi thể đồng chí Phùng Chí Kiên về Nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội, nằm yên nghỉ bên cạnh các nhà lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước. Người Diễn Châu hôm nay tự hào với lịch sử tên gọi 1.381 năm, tự hào với truyền thống anh dũng, kiên cường của cha ông trong xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước, tự hào với truyền thống văn hoá, khoa bảng, với các tên tuổi lớn của đất nước trên mọi lĩnh vực như: Hoàng Tá Thốn, Cao Quýnh, Ngô Trí Hoà, Ngô Trí Tri, Nguyễn Xuân Ôn, Đặng Văn Thụy, Cao Xuân Dục, Cao Xuân Huy, v.v... và nhà cách mạng Phùng Chí Kiên, lớp hậu sinh của họ cũng xứng đáng với các bậc tiền bối, đó là các Giáo sư Cao Xuân Hạo, Cao Huy Đỉnh, Lê Duy Phước, Phạm Sĩ Tân, Đặng Hồng Vân, nhà thơ Trần Hữu Thung v.v, và 108 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 11 anh hùng lực lượng vũ trang, 12 đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, 4.327 liệt sĩ đã chiến đấu hy sinh anh dũng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Người Diễn Châu hôm nay đang đóng góp vào sự nghiệp đổi mới của quê hương đất nước, với những kết quả về chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội, văn học nghệ thuật.

Chúng tôi, những lớp hậu sinh đang sống và làm việc tại quê hương Diễn Châu, đang tiếp tục thực hiện những hoài bão một thời của đồng chí. Trước vong linh đồng chí, chúng tôi xin thắp nén tâm hương tưởng niệm, tự hào vì đã có Ông - người con ưu tú của quê hương và cùng bao anh hùng liệt sĩ khác của Diễn Châu anh hùng, đã làm rạng danh, tô đẹp cho quê hương.

Ý nguyện về một khu tưởng niệm anh hùng liệt sĩ Phùng Chí Kiên tại quê nhà là một ước vọng chính đáng của Đảng bộ và nhân dân Diễn Châu, thể hiện đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" của dân tộc. Cùng với sự hỗ trợ của Nhà nước và bạn bè gần xa, với sự quyết tâm của Đảng bộ, chính quyền, nhân dân huyện nhà, chắc chắn điều đó sẽ được thực hiện trong một ngày không xa. Chúng tôi - những người đang sống và làm việc trên quê hương mong sớm được thực hiện điều nguyện ước đó như một nghĩa cử trước vong linh người anh hùng - liệt sĩ.
_______________________________________________
* Bí thư huyện ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Giêng, 2022, 02:28:35 pm

HỌC TẬP TẤM GƯƠNG CÁCH MẠNG CỦA ĐỒNG CHÍ PHÙNG CHÍ KIÊN, LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NGHỆ AN QUYẾT TÂM XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ QUÊ HƯƠNG NGÀY CÀNG VỮNG CHẮC, GIÀU ĐẸP

Đại tá BÙI HOÀI THANH*

Đồng chí Phùng Chí Kiên (tức Nguyễn Vĩ, Mạnh Văn Liễu, Nguyễn Hào, Như Bách, Nguyễn Vợi, tức Phùng...) - người con ưu tú của quê hương Nghệ An Xô-viết anh hùng, người chiến sĩ cộng sản kiên cường, người học trò xuất sắc của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, nhà chính trị, quân sự song toàn - là một trong những tấm gương mẫu mực về lòng kiên trung bất khuất, về tinh thân phấn đấu hy sinh cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc cuả nhân dân. Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, nói chung và lực lượng vũ trang Nghệ An nói riêng.

Trải qua hơn 63 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, được sống, chiến đấu dưới lá cờ vinh quang của Đảng cộng sản Việt Nam, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Nghệ An đã không ngừng phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện, kế thừa, phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc, lập nên nhiều chiến công xuất sắc, xứng đáng với truyền thống Quân đội nhân dân Việt Nam và quê hương Xô-viết anh hùng, với các bậc tiền bối cách mạng, với các Anh hùng liệt sĩ, trong đó có đồng chí Phùng Chí Kiên.

Ngay từ những ngày đầu mới thành lập, trong muôn vàn khó khăn chồng chất, lực lượng vũ trang tỉnh Nghệ An đã luôn có mặt ở vị trí xung kích hàng đầu, lập công xuất sắc, góp phần cùng quân và dân cả nước giành chính quyền về tay nhân dân trong mùa Thu Cách mạng tháng Tám năm 1945, lập nên nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á.

Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, Nghệ An nằm trong vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh, nhưng từ mảnh đất giàu truyền thống yêu nước, đấu tranh cách mạng kiên cường, bất khuất này đã có hàng chục vạn cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang tỉnh Nghệ An vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, xây dựng và bảo vệ vững chắc một vùng căn cứ địa quan trọng, đồng thời sẵn sàng bổ sung lực lượng xây dựng nên những binh đoàn chủ lực của quân đội nhân dân Việt Nam ta, góp phần cùng quân dân cả nước đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp, giải phóng miền Bắc, tạo bước ngoặt thuận lợi đưa sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc vững bước tiến lên.

Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước (1954-1975), Nghệ An là địa bàn chiến lược trọng yếu của Quân khu 4 và cả nước; vừa là tiền tuyến của hậu phương miền Bắc, vừa là hậu phương trực tiếp của tiền tuyến lớn miền Nam và cách mạng Lào anh em. Đế quốc Mỹ xem Nghệ An là một trọng điểm trong cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân đối với Miền Bắc xã hội chủ nghĩa và thực tế Nghệ An đã trở thành mục tiêu đánh phá đầu tiên, liên tục, dài ngày, ác liệt nhất của địch, cũng là nơi địch đánh phá cuối cùng khi buộc phải chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc. Máy bay và vũ khí hiện đại của đế quốc Mỹ đã không thể khuất phục được khí phách, lòng dũng cảm của quân và dân Nghệ An. Từ năm 1958 đến năm 1975 đã có 160.313 cán bộ, chiến sĩ là con, em các dân tộc Nghệ An gia nhập quân đội tham gia chiến đấu trên các chiến trường, 11.585 thanh niên xung phong, 24.480 dân công hoả tuyến phục vụ chiến đấu.

Ở hậu phương, lực lượng dân quân tự vệ đã kề vai, sát cánh cùng toàn dân chiến đấu, ngọn lửa Xô-viết một lần nữa lại toả sáng, đã tiếp thêm sức mạnh cho quân và dân Nghệ An chiến thắng kẻ thù. Bằng sức mạnh đoàn kết, chiến đấu dũng cảm, sáng tạo, quân và dân Nghệ An đã phối hợp cùng các đơn vị của Bộ và Quân khu, bắn rơi 553 máy bay các loại (đứng thứ hai trên miền Bắc); bắn chìm, bắn cháy 36 tàu chiến và tàu biệt kích của Mỹ - ngụy; bắt sống 28 toán biệt kích, thám báo. Riêng bộ đội địa phương và dân quân tự vệ đã độc lập bắn rơi 112 máy bay, bắn chìm, bắn cháy 26 tàu chiến và tàu biệt kích của địch. Đặc biệt, bằng súng bộ binh, dân quân Nghệ An lần đầu tiên đã bắn rơi máy bay hiện đại của đế quốc Mỹ, mở đầu cho phong trào bắn máy bay Mỹ bằng súng bộ binh trên miền Bắc. Đây cũng là chiến công đầu tiên, điển hình cho sức mạnh của lực lượng dân quân tự vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Những chiến công của quân và dân Nghệ An đã góp phần đánh bại hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc, góp phần buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Mùa Xuân năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc được thống nhất, non sông thu về một mối. Cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Nghệ An, một mặt: tập trung chăm lo xây dựng ổn định tổ chức biên chế, củng cố lực lượng và tổ chức huấn luyện để đáp ứng yêu cầu sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc giai đoạn mới; mặt khác, tiếp tục lại kề vai sát cánh cùng toàn đảng, toàn quân, toàn dân hăng hái bắt tay vào khắc phục hậu quả chiến tranh, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội.

Khi chiến tranh ở hai đầu biên giới nổ ra, gần 200.000 cán bộ, chiến sĩ là con em của quê hương Nghệ An lại lên đường chiến đấu để chi viện cho các chiến trường trong nước và nước bạn Lào, Campuchia. Vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, thiếu thốn, hy sinh những cán bộ, chiến sĩ tình nguyện Việt Nam đã đi vào nơi khó khăn, nguy hiểm nhất để cùng lực lượng cách mạng của Bạn tiến hành xây dựng cơ sở, vận động quần chúng, tổ chức lực lượng tiêu diệt thổ phỉ, mở rộng vùng giải phóng. Ngoài ra, lực lượng vũ trang Nghệ An còn phối hợp với các lực lượng Công an, Bộ đội Biên phòng tấn công, truy quét, trấn áp bọn lưu manh, côn đồ gây rối trị an, ngăn chặn, phá tan các tổ chức âm mưu vượt biên, vượt biển trái phép. Đóng góp hàng triệu ngày công xây dựng các công trình thủy lợi của tỉnh như: Vách Bắc, Vực Mấu, cống Hiệp Hoà, đê 42 và nhiều công trình quan trọng khác.

Trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực và trong nước có nhiều diễn biến phức tạp. Chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là đế quốc Mỹ và các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược "diễn biến hoà bình", "bạo loạn lập đổ" tăng cường các hoạt động chống phá cách mạng nước ta bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, quyết liệt, nhằm xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, "phi chính trị hoá" lực lượng vũ trang. Kích động, tuyên truyền, xuyên tạc đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
__________________________________________________
* Chính ủy Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Nghệ An.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Giêng, 2022, 02:30:02 pm

Nghệ An là một tỉnh có vị trí chiến lược về chính trị, kinh tế - xã hội và quốc phòng - an ninh, là vùng đất giàu truyền thống yêu nước và cách mạng, là quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của nhiều chí sĩ cách mạng tiền bối, trong đó có Phùng Chí Kiên. Do vậy, Nghệ An trở thành địa bàn được các thế lực thù địch tập trung chống phá quyết liệt, nhằm hạ bệ tư tưởng Hồ Chí Minh chính ngay trên quê hương của Người, bằng nhiều âm mưu thủ đoạn tinh vi, trắng trợn và nguy hiểm. Mặt khác, Nghệ An là một tỉnh có diện tích rộng, dân số đông. Mấy năm gần đây tình hình an ninh trên tuyến biên giới, an ninh vùng giáo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, còn tiềm ẩn nhiều vấn đề phức tạp. Trước tình hình đó, lực lượng vũ trang Nghệ An luôn nêu cao tinh thần cách mạng tiến công, bản lĩnh chính trị vững vàng, một lòng với Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu xứng đáng là lực lượng nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của cấp ủy, chính quyền địa phương cùng với sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu 4, lực lượng vũ trang Nghệ An đã không ngừng trưởng thành lớn mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, chất lượng tổng hợp và trình độ sức mạnh chiến đấu ngày càng được nâng lên. Vừa huấn luyện, xây dựng chính quy và rèn luyện kỷ luật để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu. Chủ động phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể địa phương tập trung tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghiêm túc các cuộc diễn tập khu vực phòng thủ, diễn tập chỉ huy cơ quan, diễn tập làng xã chiến đấu. Góp phần xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, huyện, thành, thị vững chắc; đồng thời, luôn tích cực chủ động tham mưu có hiệu quả các hoạt động xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh; làm tốt công tác chính sách xã hội và chính sách hậu phương quân đội. Tham mưu chỉ đạo thực hiện có hiệu quả cuộc vận động xây dựng cơ sở xã, phường, cụm ATLC-SSCĐ. Đổi mới nội dung, hình thức vận động quần chúng. Đặc biệt, mấy năm gần đây, thực hiện chủ trương của Đảng ủy Quân sự Trung ương - Bộ Quốc phòng, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh đã chỉ đạo Ban chỉ huy quân sự các huyện biên giới xây dựng các đội công tác tăng cường về các cơ sở vùng sâu, vùng xa, các địa bàn khó khăn phức tạp, giúp đỡ địa phương xây dựng củng cố các tổ chức trong hệ thống chính trị, hướng dẫn, giúp đỡ nhân dân tổ chức sản xuất, phát triển kinh tế, nâng cao đời sống. Chỉ đạo các đơn vị bộ đội tập trung tổ chức bộ đội hành quân dã ngoại về các địa bàn khó khăn, giúp địa phương xây dựng cơ sở chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai bão lụt, tìm kiếm cứu nạn, phòng chống cháy rừng.

Quán triệt quan điểm "giúp bạn là tự giúp mình" lực lượng vũ trang tỉnh Nghệ An bằng nhiều việc làm thiết thực giúp đỡ lực lượng vũ trang, nhân dân các tỉnh bạn Lào có chung đường biên giới với Nghệ An góp phần giữ gìn, phát huy tình hữu nghị Việt - Lào "mãi mãi xanh tươi", đời đời bền vững.

*

*        *

63 năm xây dựng, chiến đầu, trưởng thành, trải qua 2 cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược và các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế, vừa chiến đấu vừa xây dựng, lực lượng vũ trang tỉnh Nghệ An đã vinh dự được Đảng và Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, 128 đơn vị bộ đội địa phương, lực lượng dân quân tự vệ, 48 cán bộ, chiến sĩ được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Tháng 11 năm 2001, Đoàn Quy tập được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ đổi mới, 336.407 huân, huy chương các loại, 821 bà mẹ được phong tặng và truy tặng danh hiệu "Mẹ Việt Nam anh hùng"...

Qua bài viết này, chúng tôi muốn khẳng định rằng: Quá trình xây dựng trưởng thành của lực lượng vũ trang tỉnh Nghệ An hơn nửa thế kỷ qua có được là nhờ sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng, sự thương yêu đùm bọc của nhân dân các dân tộc, sự tận tình giúp đỡ, phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ của các địa phương, đơn vị bạn cùng với sức mạnh của tình đoàn kết, hữu nghị mà bạn bè quốc tế đã dành cho lực lượng vũ trang tỉnh Nghệ An. Song chúng tôi cũng ý thức sâu sắc rằng: Có được những thành tích đó, có được sự trưởng thành đó là xuất phát từ cội nguồn truyền thống yêu nước và cách mạng của quê hương - Một vùng "địa linh nhân kiệt" - Đây chính là mảnh đất màu mỡ đầu tiên hun đúc nên tinh thần yêu nước và cách mạng của người cộng sản kiên cường, nhà quân sự xuất sắc - tướng quân Phùng Chí Kiên.

Ngày nay, trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Nghệ An đã và đang noi gương truyền thống anh hùng của các thế hệ cha anh; mỗi cán bộ, chiến sĩ đã và đang không ngừng học tập, phấn đấu, tu dưỡng và rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng, giữ vững và phát huy truyền thống anh hùng của quê hương Xô-viết; nâng cao năng lực làm tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương, lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ quân sự quốc phòng, xây dựng khu vực phòng thủ ngày càng vững chắc, bảo đảm giữ vững an ninh biên giới, biến đảo và chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và thủ đoạn chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, nêu cao cảnh giác cách mạng sẵn sàng đối phó thắng lợi với các tình huống, không để bất ngờ xẩy ra. Đồng thời, sẵn sàng làm tròn nhiệm vụ quốc tế đối với nước bạn Lào anh em. Để mãi mãi xứng đáng là con cháu của các chiến sĩ "Tự vệ Đỏ", xứng đáng là những chiến sĩ lực lượng vũ trang trên quê hương của Tướng quân Phùng Chí Kiên.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Giêng, 2022, 02:32:51 pm

ĐỒNG CHÍ PHÙNG CHÍ KIÊN TRONG LÒNG ĐẢNG BỘ VÀ NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN

HÀ ĐỨC TOẠI*

Bắc Kạn được các sử gia triều Nguyễn đánh giá là "miền quan yếu" ở phía Bắc có vị trí trọng yếu về chính trị - quân sự. Thực dân Pháp, sau khi bình định xong phần đất phía Nam của tỉnh Thái Nguyên (dưới thời nhà Nguyễn, tỉnh Thái Nguyên bao gồm cả phần đất tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Bắc Kạn ngày nay), phải mất hơn 10 năm mới cơ bản hoàn tất việc chiếm đóng phần đất phía bắc của tỉnh. Để chiếm giữ được vùng đất Bắc Kạn, thực dân Pháp thi hành nhiều chính sách thâm độc và tuyển lựa những phần tử tay sai phản động để đào tạo lực lượng thân Pháp. Từ năm 1888 đến năm 1938, chúng đã đào tạo gần 60 quan lại từ bang tá đến tuần phủ, phục vụ bộ máy ngụy quyền. Về chính trị, chúng triệt để dùng chính sách "chia để trị", đồng thời thiết lập 2 hệ thống hành chính là hệ thống hành chính chung của toàn tỉnh và hệ thống cai trị riêng của từng dân tộc. Địa giới hành chính tỉnh Thái Nguyên cũng nhiều lần được thay đổi, đến ngày 11 tháng 4 năm 1900, tỉnh Bắc Kạn chính thức được thành lập từ việc tách phần đất phía Bắc của tỉnh Thái Nguyên ra thành lập riêng một tỉnh mới là tỉnh Bắc Kạn. Về kinh tế, thực dân Pháp tăng cường vơ vét của cải bằng các loại thuế, kiểm soát, quản lý chặt chẽ việc khai thác lâm thổ sản và tiến hành thăm dò, khai thác tài nguyên khoáng sản trên khắp phần đất thuộc tỉnh Bắc Kạn. Về văn hóa - xã hội, chúng dùng chính sách ngu dân hòng làm cho đồng bào Bắc Kạn chìm đắm trong vòng ngu tối. Dưới thời Pháp thuộc, cả tỉnh Bắc Kạn chỉ có một trường học và một nhà thương. Tệ nạn xã hội và các hủ tục lạc hậu được duy trì, khuyến khích phát triển.

Tuy nhiên, với truyền thống quật khởi của đồng bào thiểu số các châu ky my, nhân dân Bắc Kạn không chịu khuất phục trước sự cai trị hà khắc của kẻ thù, đã vùng lên phản kháng quyết liệt. Từ năm 1888 đến năm 1943 (năm 1943 chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương đầu tiên của tỉnh Bắc Kạn được thành lập), đồng bào các dân tộc tỉnh Bắc Kạn đã giáng cho kẻ thù nhiều đòn đích đáng như: trận Chợ Mới, ngày 17 tháng 1 năm 1889, nghĩa quân tiêu diệt gần 100 tên địch; trận phá nhà lao, cướp vũ khí của địch, làm chủ thị xã Bắc Kạn trong một tuần của các tù nhân yêu nước và lính khố xanh có tinh thần dân tộc, năm 1914; vụ đồng bào khu vực quanh thị xã Bắc Kạn làm đơn tập thể kiện lên Toàn quyền Đông Dương việc bọn thực dân và quan lại địa phương ức hiếp dân chúng, năm 1934, v.v. Các cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp của nhân dân Bắc Kạn trong giai đoạn này đều mang tính tự phát, trong khi đó phong trào cách mạng do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo, từ năm 1930 đã phát triển mạnh mẽ khắp trong cả nước. Trên địa bàn Việt Bắc, các tỉnh quanh Bắc Kạn như Cao Bằng, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Tuyên Quang... đã có Tỉnh ủy và Tỉnh bộ Việt Minh, nhưng ở Bắc Kạn, phong trào cách mạng tác động đến chưa nhiều. Thời điểm năm 1941, có sự kiện đồng chí Phùng Chí Kiên bị địch phục kích và bắt được tại rừng Khau Pàn, xã Đức Vân, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn, rồi chặt đầu đem bêu ở phố huyện Ngân Sơn nhằm khủng bố tinh thần đấu tranh của đồng bào tỉnh Bắc Kạn. Với sự kiện đau lòng này, nhân dân tỉnh Bắc Kạn biết rằng trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, nhân dân Bắc Kạn không đơn độc.

Phong trào cách mạng của tỉnh Bắc Kạn chỉ thực sự phát triển mạnh mẽ từ khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc quyết định chọn Việt Bắc làm căn cứ địa cách mạng xây dựng lực lượng vũ trang, chuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền và đặc biệt là từ sau Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (tháng 5 năm 1941). Để xây dựng căn cứ địa rộng khắp cả vùng Việt Bắc, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chỉ đạo "xây dựng những con đường quần chúng", nối liền các khu căn cứ cách mạng, nối liền Việt Bắc với các tỉnh miền xuôi, do tỉnh Bắc Kạn nằm ở trung tâm căn cứ địa Việt Bắc, nên việc xây dựng các cơ sở cách mạng trở nên cấp thiết. Nhiều đồng chí lãnh đạo của Đảng và của tỉnh Cao Bằng được phân công về Bắc Kạn xây dựng phong trào thông qua các đoàn công tác Nam tiến. Đến ngày 22 tháng 9 năm 1943, chi bộ đầu tiên của tỉnh Bắc Kạn được thành lập tại tổng Chí Kiên, huyện Ngân Sơn. Phong trào cách mạng của tỉnh Bắc Kạn, giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 gắn liền với sự phát triển của phong trào Nam tiến và Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân do đồng chí Võ Nguyên Giáp trực tiếp tổ chức thực hiện. Điều đó góp phần lý giải vì sao đồng chí Phùng Chí Kiên bị địch phục kích và hy sinh tại Bắc Kạn trên đường rút quân từ căn cứ Bắc Sơn (tỉnh Lạng Sơn) - Võ Nhai (tỉnh Thái Nguyên) lên biên giới Việt - Trung, được Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Kạn tôn vinh như một vị anh hùng. Hồi ký của đồng chí Doanh Hằng, cán bộ lão thành cách mạng, người trực tiếp tham gia thành lập chi bộ Chí Kiên tháng 9 năm 1943, có đoạn: "Đồng chí Văn và đồng chí Nghĩa... triệu tôi (Doanh Hằng) và đồng chí Thành Tâm đến giới thiệu vào Đảng Cộng sản Đông Dương... Sau đó đồng chí Văn nhân danh cán bộ Đảng cấp trên tuyên bố thành lập chi bộ Chí Kiên... từ giờ phút này chúng tôi mới biết người cộng sản bị địch sát hại tại rừng Khau Pàn (xã Đức Vân) ngày 22 tháng 8 năm 1941 là đồng chí Phùng Chí Kiên, Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương".

Trong thời kỳ kháng chiến và những năm trước đổi mới, Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn chưa có điều kiện để xác minh rõ thân nhân của liệt sĩ Phùng Chí Kiên, nhưng với tình cảm trân trọng những người đã hy sinh xương máu vì độc lập tự do của Tổ quốc, Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn bằng nhiều hình thức đã xây dựng và tôn vinh hình tượng đồng chí Phùng Chí Kiên, người cán bộ lãnh đạo kiệt xuất của Đảng hy sinh tại tỉnh Bắc Kạn ngày 22 tháng 8 năm 1941, thành một phần không thể thiếu trong đời sống xã hội của đồng bào các dân tộc tỉnh nhà. Ngay từ năm 1943, tên của đồng chí Phùng Chí Kiên đã được chọn làm mật danh để đặt cho tổng Việt Minh Bằng Đức và chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương đầu tiên của tỉnh Bắc Kạn. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, vào tháng 3 năm Bính Tuất (tháng 3 năm 1946), cán bộ và nhân dân xã Chí Kiên (nay là xã Đức Vân) đã lập mộ liệt sĩ cho đồng chí Phùng Chí Kiên ở bìa rừng Khau Pàn, cạnh đường ô tô vào mỏ vàng Pác Lạng (xã Đức Vân, huyện Ngân Sơn). Năm 1964, huyện Ngân Sơn xây dựng nghĩa trang liệt sĩ, Ủy ban nhân dân huyện Ngân Sơn đã quy tập mộ đồng chí Phùng Chí Kiên về nghĩa trang liệt sĩ huyện để thờ cúng. Từ năm 1990, mộ đồng chí Phùng Chí Kiên đã được chuyển về nghĩa trang Mai Dịch, thành phố Hà Nội, nhưng ở nghĩa trang liệt sĩ huyện Ngân Sơn vẫn có phần mộ để nhân dân thăm viếng trong các ngày lễ trọng đại của đất nước. Ở thị xã Bắc Kạn, tên của đồng chí Phùng Chí Kiên và đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai cùng một số chiến sĩ Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã chiến đấu hy sinh tại tỉnh Bắc Kạn được đặt cho các phố của thị xã Bắc Kạn. Tháng 5 năm 1957, Tỉnh ủy Bắc Kạn ra Quyết nghị số 40-QN/BK thành lập Trường Đảng tỉnh Bắc Kạn và đặt tên là Trường Phùng Chí Kiên. Năm 1964, chi bộ phố Chí Kiên có 4 đồng chí. Năm 1967, thị xã Bắc Kạn thành lập Trường cấp I Phùng Chí Kiên. Ngày 11 tháng 8 năm 1990, Ban Tổ chức - Cán bộ của Chính phủ ra Quyết định số 346/TCCP quyết định thành lập phường Phùng Chí Kiên thuộc thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. Hiện nay, phường Phùng Chí Kiên là một trong những đơn vị được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, và trên địa bàn phường có hai trường học mang tên đồng chí Phùng Chí Kiên là Trường mầm non Phùng Chí Kiên và Trường tiểu học Phùng Chí Kiên - một trong những trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia của tỉnh Bắc Kạn. Riêng trường Tiểu học Phùng Chí Kiên đang có kế hoạch dựng tượng đài liệt sĩ Phùng Chí Kiên trong khuôn viên nhà trường để góp phần giáo dục truyền thống cho các thế hệ học sinh của nhà trường. Từ năm 2003 đến nay, Tỉnh ủy Bắc Kạn đã đầu tư xây dựng khu di tích lịch sử cách mạng và nhà truyền thống tại nơi thành lập Chi bộ Chí Kiên là bản Duồm, xã Thượng Ân, huyện Ngân Sơn và thường xuyên tổ chức nhiều hoạt động kỷ niệm tại khu di tích lịch sử cách mạng này.

Hiện tại, trên bia mộ của liệt sĩ Phùng Chí Kiên trong Nghĩa trang liệt sĩ huyện Ngân Sơn ghi tên của liệt sĩ Phùng Chí Kiên là Nguyễn Mạnh Liệu. Đảng bộ và đồng bào các dân tộc tỉnh Bắc Kạn đề nghị Trung ương Đảng, Bộ Quốc phòng, Tỉnh ủy Nghệ An phối hợp với tỉnh Bắc Kạn đính chính những thông tin chưa chính xác về liệt sĩ Phùng Chí Kiên ở địa phương và cung cấp tài liệu tuyên truyền về đồng chí Phùng Chí Kiên để đồng bào các dân tộc tỉnh Bắc Kạn biết đồng chí Phùng Chí Kiên tên khai sinh là Nguyễn Vĩ, sinh ngày 18 tháng 5 năm 1889 tại xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, nguyên Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng khóa I và sớm có hình thức tôn vinh, truy tặng liệt sĩ Phùng Chí Kiên những danh hiệu cao quý của Đảng và Nhà nước dành cho những người có công lao to lớn trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xứng đáng với sự đóng góp và hy sinh của đồng chí Phùng Chí Kiên.
____________________________________________________
* Phó Bí thư Tỉnh ủy Bắc Kạn.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Giêng, 2022, 08:14:17 pm

CHI BỘ ĐẢNG MANG TÊN PHÙNG CHÍ KIÊN Ở TỈNH BẮC KẠN

VŨ XUÂN KHÁNH*

Bắc Kạn nằm ở trung tâm căn cứ địa Việt Bắc, phía bắc giáp tỉnh Cao Bằng, phía nam giáp tỉnh Thái Nguyên, phía đông giáp tỉnh Lạng Sơn, phía tây giáp tỉnh Tuyên Quang, một góc tây bắc gần kề với tỉnh Hà Giang, có diện tích tự nhiên 4.985,21km2, dân số hơn 30 vạn người, gồm 7 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó đông nhất là người Tày chiếm gần 60% dân số. Địa hình tỉnh Bắc Kạn hiểm trở, nhiều núi cao vực sâu. Đặc điểm nổi bật cấu tạo địa hình là dạng cánh cung gồm các cánh cung Sông Gâm và Ngân Sơn có nhiều khối núi đá vôi đồ sộ cao trên 1.000m, xen giữa các khối núi đó là những dòng sông, dòng suối hai bên bờ đất đai màu mỡ, dân cư sinh sống trù phú. Đường quốc lộ số 3, tuyến đường huyết mạch nối liền Thủ đô Hà Nội với vùng núi phía đông Bắc Bộ chạy dọc tỉnh Bắc Kạn dài hơn một trăm kilômét. Vị trí địa lý và địa hình như vậy đã làm cho Bắc Kạn trở thành điểm trọng yếu về chính trị - quân sự ở vùng phía đông Bắc Bộ. Vì vậy trong quá trình cai trị nước ta thực dân Pháp luôn tìm cách chiếm giữ tỉnh Bắc Kạn. Để thực hiện mưu đồ chiếm giữ bằng được tỉnh Bắc Kạn, thực dân Pháp đã dùng chiêu bài "chia để trị" một cách triệt để. Dưới ách thống trị của thực dân Pháp, các dân tộc thiểu số ở Bắc Kạn đều có hệ thống cai trị riêng như người dân tộc Dao có chức Động trưởng ở cơ sở, chức Chánh mán ở cấp tổng, chức Quản chiểu ở cấp châu; người dân tộc Mông có chế độ Thống tra; người dân tộc Hoa có chế độ Bang trưởng; người dân tộc Tày theo chế độ cai trị giống người dân tộc Kinh, còn người dân tộc Kinh trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Bắc Kạn chưa đủ điều kiện để thành một tộc người. Bằng chính sách cai trị như vậy, nên đến năm 1941, ở Bắc Kạn vẫn chưa có cơ sở cách mạng nào, trong khi đó ở Việt Bắc có hai trung tâm cách mạng lớn nằm ở phía bắc tỉnh Bắc Kạn là Cao Bằng và nằm ở phía đông nam tỉnh Bắc Kạn là Bắc Sơn (tỉnh Lạng Sơn) - Võ Nhai (tỉnh Thái Nguyên).

Xét trên bình diện chung, từ năm 1939, phong trào cách mạng của nước ta do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo đã bước sang cao trào đấu tranh giải phóng dân tộc (giai đoạn 1939-1945). Trên thế giới, chiến tranh ngày càng ác liệt với ưu thế nghiêng về trục phát xít Đức - Ý - Nhật. Ngày 22 tháng 6 năm 1940, đế quốc Pháp thất bại trên chiến trường châu Âu, nhân cơ hội ấy, phát xít Nhật nhảy vào chiếm Đông Dương. Ngày 22 tháng 9 năm 1940, quân Nhật từ Trung Quốc tràn qua biên giới đánh chiếm Lạng Sơn. Quân Pháp bạc nhược, nhanh chóng tan rã. Tàn quân Pháp vứt bỏ súng đạn chạy về xuôi. Đảng bộ Bắc Sơn (Lạng Sơn) coi đây là thời cơ thuận lợi đã phát động quần chúng nổi dậy. Ngày 27 tháng 9 năm 1940, khởi nghĩa Bắc Sơn bùng nổ. Tiếng súng Bắc Sơn đã có sức cổ vũ mạnh mẽ phong trào cách mạng của cả nước. Nhiều cán bộ có trình độ chính trị và năng lực vận động quần chúng ở các địa phương khác được Đảng điều động tăng cường cho căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai. Đặc biệt, đầu năm 1941, trên đường đi dự Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 tại Pắc Bó (Hà Quảng, Cao Bằng), các đồng chí lãnh đạo của Đảng đã ở lại căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai để trực tiếp chỉ đạo phong trào. Thực hiện chỉ thị của Đảng, duy trì tiếng súng khởi nghĩa Bắc Sơn, đội du kích ra đời trong cuộc khởi nghĩa được xây dựng thành lực lượng vũ trang đầu tiên của Đảng. Ngày 1 tháng 5 năm 1941, tại Khuổi Nọi, xã Vũ Lễ, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn, Trung đội Cứu quốc quân 1 được thành lập do đồng chí Lương Văn Chi làm Chỉ huy trưởng. Sau Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 (5.1941), đồng chí Phùng Chí Kiên, Ủy viên Trung ương Đảng được cử phụ trách quân sự kiêm Tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang của Đảng, được cử về làm Chỉ huy trưởng Trung đội Cứu quốc quân 1 và căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai.

Hoảng sợ trước sự phát triển nhanh chóng của phong trào cách mạng, thực dân Pháp sau khi quỳ gối dâng Đông Dương cho phát xít Nhật, đã quay lại âm mưu dập tắt phong trào cách mạng của nhân dân ta, đặc biệt là phong trào cách mạng ở khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai. Liên tiếp trong các tháng 6, 7, 8 năm 1941, chúng mở rất nhiều cuộc càn quét, khủng bố khốc liệt nhằm vào căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai. Trước tình hình diễn biến phức tạp, nhằm tránh mũi nhọn khủng bố của kẻ thù, bảo vệ cách mạng và bảo vệ một đơn vị vũ trang đã được thử thách, các đồng chí lãnh đạo căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai quyết định rút Trung đội Cứu quốc quân 1 lên biên giới Việt - Trung. Ngày 16 tháng 8 năm 1941, trung đội chia làm hai bộ phận, theo hai ngả hành quân lên biên giới. Bộ phận qua Bình Gia - Thoát Lãng (Lạng Sơn) tuy chạm trán với giặc nhưng vượt qua được biên giới. Riêng bộ phận do đồng chí Phùng Chí Kiên chỉ huy, dự định theo đường Na Rì - Ngân Sơn (Bắc Kạn) lên Cao Bằng nhưng chưa đến địa giới Lạng Sơn - Bắc Kạn đã bị lộ, sang đến địa phận xã Văn Học, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn, đơn vị gặp bọn phản động địa phương và bị lính dõng truy đuổi. Ngay sau đó, tên Garic, quyền Công sứ Pháp ở Bắc Kạn trực tiếp chỉ huy quân Pháp và tay sai thông thạo đường rừng mở cuộc càn quét, phục kích các ngả. Ngày 22 tháng 8 năm 1941, khi hành quân đến Khau Pàn, xã Đức Vân, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn, đơn vị rơi vào ổ phục kích của địch, đồng chí Phùng Chí Kiên đã anh dũng hy sinh. Sự kiện này là một tổn thất lớn cho Đảng Cộng sản Đông Dương và cho phong trào cách mạng của cả nước, nhưng nó cũng có tác dụng thức tỉnh đồng bào Bắc Kạn, làm cho đồng bào Bắc Kạn biết được rằng trên đất nước ta có một chính Đảng đang tập hợp quần chúng đấu tranh đánh đuổi giặc ngoại xâm, giành độc lập tự do cho Tổ quốc, cho dân tộc. Mọi sự bưng bít của kẻ thù đối với đồng bào các dân tộc tỉnh Bắc Kạn về phong trào cách mạng do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo đang dâng cao khắp cả nước đã bị phá vỡ. Đó là tiền đề quan trọng để sau này, khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chỉ thị "xây dựng những con đường quần chúng", nổi liền hai trung tâm cách mạng Cao Bằng và Bắc Sơn - Võ Nhai, chỉ trong một thời gian ngắn từ tháng 9 năm 1942 đến tháng 9 năm 1943, phong trào cách mạng tỉnh Bắc Kạn đã phát triển rộng khắp dẫn đến việc thành lập chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương đầu tiên của tỉnh.
___________________________________________________
* Phó trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bắc Kạn.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Giêng, 2022, 08:16:30 pm

Khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng, lịch sử đấu tranh của Đảng ta, của nhân dân ta chuyển sang giai đoạn mới. Với nhãn quan sáng suốt của vị lãnh tụ cách mạng thiên tài, Người đã quyết định chọn Việt Bắc làm căn cứ địa cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang chuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Trong chiến lược mới của Đảng, tỉnh Bắc Kạn trở thành cầu nối giữa hai trung tâm cách mạng là Cao Bằng và Bắc Sơn - Võ Nhai. Vấn đề xây dựng và phát triển phong trào cách mạng ở tỉnh Bắc Kạn trở nên cấp thiết, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chỉ thị phải "xây dựng những con đường quần chúng", nối liền hai trung tâm cách mạng Cao Bằng và Bắc Sơn - Võ Nhai. Thực hiện chỉ thị của Người, công tác "Nam tiến" được Trung ương Đảng, Tỉnh ủy Cao Bằng, Ban Việt Minh tỉnh Cao Bằng chuẩn bị khẩn trương. Tháng 9 năm 1942, tại xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, Ban xung phong Nam tiến, mà hạt nhân là chi bộ Đảng Ban xung phong Nam tiến, được thành lập gồm các đồng chí: Võ Nguyên Giáp, Lê Thiết Hùng, Nông Văn Quang, Nông Văn Lạc, Dương Văn Long, do đồng chí Võ Nguyên Giáp phụ trách; đồng chí Nông Văn Quang làm Thư ký chi bộ (tức Bí thư chi bộ).

Dưới sự lãnh đạo của Ban xung phong Nam tiến, với phương châm linh hoạt, theo phương pháp "cóc nhảy" và "vết dầu loang", chỉ trong một thời gian ngắn, phong trào Việt Minh của tỉnh Bắc Kạn đã phát triển rộng khắp, quần chúng nhân dân ở nhiều xã vùng cao của huyện Ngân Sơn được tổ chức vào Hội Việt Minh. Ban Việt Minh cấp xã và cấp tổng được thành lập, trong đó có Ban Việt Minh tổng Chí Kiên (để tưởng nhớ đồng chí Phùng Chí Kiên đã anh dũng hy sinh tại Khau Pàn, xã Đức Vân ngày 22 tháng 8 năm 1941, các đồng chí cán bộ Nam tiến đặt tên bí mật cho tổng Bằng Đức là Chí Kiên; tổng Chí Kiên bao gồm các xã Thượng Ân, Cốc Đán, Đức Vân, Vân Tùng, Thuần Mang), các điều kiện để hình thành chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương đã hội đủ. Tròn một năm sau, vào tháng 9 năm 1943, dưới chân một thác nước nhỏ tại khu ruộng Coỏng Tát thuộc xã Thượng Ân, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn, đồng chí Văn (tức đồng chí Võ Nguyên Giáp) và đồng chí Nghĩa (tức đồng chí Dương Mạc Hiếu) kết nạp hai hội viên Việt Minh trung kiên của tỉnh Bắc Kạn vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Đó là các đồng chí Thành Tâm1 và Đông Sơn2. Thay mặt Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, thay mặt Ban xung phong Nam tiến đồng chí Văn tuyên bố thành lập Chi bộ Đảng của tổng Chí Kiên, huyện Ngân Sơn gồm 3 đồng chí là đồng chí Nghĩa, đồng chí Đông Sơn và đồng chí Thành Tâm, đồng thời chỉ định đồng chí Nghĩa làm bí thư chi bộ. Chi bộ Chí Kiên được thành lập là sự kiện lịch sử quan trọng, đánh dấu bước ngoặt trong phong trào cách mạng của tỉnh Bắc Kạn. Điều đó chứng tỏ cuộc đấu tranh của đồng bào các dân tộc tỉnh Bắc Kạn đã hoà cùng và bắt kịp với phong trào cách mạng của cả nước, góp phần quan trọng cùng cả dân tộc Việt Nam làm nên Cách mạng tháng Tám năm 1945, đưa đất nước ta, dân tộc ta lên một tầm cao mới, tầm cao của kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Chi bộ Chí Kiên, ngay từ khi mới ra đời, đã vinh dự là tổ chức cơ sở Đảng được đón nhận nhiều đồng chí lãnh đạo của tỉnh Bắc Kạn, cũng như lãnh đạo Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tham gia sinh hoạt và lãnh đạo phong trào cách mạng của tỉnh như đồng chí Đồng Văn Bằng, đồng chí Doanh Hằng, đồng chí Dương Mạc Thạch3.

Trải qua 65 năm phát triển, từ buổi sơ khai ban đầu Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn chỉ có 1 chi bộ với 3 đồng chí đảng viên, đến nay Đảng bộ đã có 21.401 đồng chí đảng viên, chiếm 7,1% dân số của tỉnh, sinh hoạt tại 11 đảng bộ trực thuộc với 413 tổ chức cơ sở Đảng; năm 2007 trên 70% tổ chức cơ sở Đảng được công nhận đạt tiêu chuẩn trong sạch vững mạnh.

Có được những thành tích như trên là kết quả của sự cố gắng nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn. Tự hào với truyền thống cách mạng của quê hương, Đảng bộ Bắc Kạn luôn coi trọng công tác giáo dục truyền thống cách mạng bằng nhiều hình thức, trong đó có hình thức dùng tên các bậc tiền bối có nhiều công lao với sự nghiệp cách mạng của Đảng để đặt tên cho địa danh, tổ chức và đơn vị hành chính trên địa bàn tỉnh. Riêng đối với đồng chí Phùng Chí Kiên, người cán bộ lãnh đạo kiệt xuất của Đảng, hy sinh tại tỉnh Bắc Kạn tháng 8 năm 1941, đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống xã hội của đồng bào các dân tộc tỉnh Bắc Kạn. Ngay từ năm 1943, tên của đồng chí Phùng Chí Kiên đã được chọn làm mật danh để đặt cho tổng Việt Minh Bằng Đức và chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương đầu tiên của tỉnh Bắc Kạn. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, vào tháng 3 năm Bính Tuất (3.1946), cán bộ và nhân dân xã Chí Kiên (nay là xã Đức Vân) đã lập mộ liệt sĩ cho đồng chí Phùng Chí Kiên tại bìa rừng Khau Pàn, cạnh đường ô tô vào mỏ vàng Pác Lạng. Năm 1964, huyện Ngân Sơn xây dựng nghĩa trang liệt sĩ, Ủy ban nhân dân huyện Ngân Sơn đã quy tập mộ đồng chí Phùng Chí Kiên về nghĩa trang liệt sĩ huyện để thờ cúng. Năm 1990, mộ đồng chí Phùng Chí Kiên được chuyển về nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội. Nhưng hiện nay, nghĩa trang liệt sĩ huyện Ngân Sơn vẫn có phần mộ của đồng chí Phùng Chí Kiên để đồng bào tỉnh Bắc Kạn đến thắp hương tưởng niệm nhân các ngày lễ trọng đại của đất nước. Ở thị xã Bắc Kạn, tên của đồng chí Phùng Chí Kiên và đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai cùng một số chiến sĩ Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã chiến đấu và hy sinh tại Bắc Kạn được đặt cho các phố của thị xã. Tháng 5 năm 1957, Tỉnh ủy Bắc Kạn ra Quyết nghị số 40-QN/BK thành lập Trường Đảng tỉnh Bắc Kạn và đặt tên là Trường Phùng Chí Kiên. Năm 1964, chi bộ phố Chí Kiên có 4 đồng chí. Ngày 11 tháng 8 năm 1990, Ban Tổ chức - Cán bộ của Chính phủ ra Quyết định số 346/TCCP quyết định thành lập phường Phùng Chí Kiên thuộc thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. Hiện nay, phường Phùng Chí Kiên là một trong những đơn vị được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và trên địa bàn phường có hai trường học mang tên đồng chí Phùng Chí Kiên là trường Mầm non Chí Kiên và trường tiểu học Chí Kiên - một trong những trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia của tỉnh Bắc Kạn.

Với truyền thống "uống nước nhớ nguồn", Đảng bộ và đồng bào các dân tộc tĩnh Bắc Kạn đề nghị Đảng và Nhà nước sớm có hình thức tôn vinh, truy tặng đồng chí Phùng Chí Kiên những danh hiệu cao quý của Đảng và Nhà nước dành cho những người có công lao to lớn trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xứng đáng với sự đóng góp và hy sinh của đồng chí Phùng Chí Kiên.
________________________________________________
1.  Đồng chí Thành Tâm tức Đồng Văn Bằng - nguyên Chủ nhiệm Ban Việt Minh tỉnh đầu tiên, đã hy sinh trong cuộc khủng bố cách mạng khốc liệt của kẻ thù đầu năm 1944.
2.  Đồng chí Đông Sơn tức Doanh Hằng, nguyên Bí thư tỉnh ủy Bắc Kạn; nguyên Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Thái.
3.  Bí danh Xích Thắng nguyên chính trị viên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Giêng, 2022, 08:22:23 pm

NGHIÊN CỨU VÀ GIẢNG DẠY VỀ ĐỒNG CHÍ PHÙNG CHÍ KIÊN
Ở KHOA LỊCH SỬ - TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

GS, TS NGUYỄN NGỌC CƠ*

1. Trong lịch sử đấu tranh cách mạng Việt Nam đã có biết bao anh hùng liệt sĩ, hữu danh và vô danh ngã xuống vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc. Rất nhiều thanh thiếu niên nước ta thuộc lứa tuổi học đường ngày nay đã không khỏi bàng hoàng xúc động, khi được biết, đã có rất nhiều nhà cách mạng Việt Nam hiến dâng cả tuổi thanh xuân và tấm thân vàng ngọc của mình, ngay từ khi còn rất trẻ cho tương lai của dân tộc mà không hề do dự và suy tính thiệt hơn. Một trong những nhà yêu nước như vậy là Phùng Chí Kiên.

Mặc dù tên tuổi của Phùng Chí Kiên trong các cuốn giáo trình và tài liệu thông sử được nhắc tới không nhiều, số người hiểu tường tận về cuộc đời, sự nghiệp của đồng chí cũng còn có phần hạn chế, nhưng trong tâm trí của nhiều học sinh, sinh viên, chuyên ngành Lịch sử (Lịch sử Đảng và Lịch sử dân tộc) của các trường Đại học, Cao đẳng đều biết Phùng Chí Kiên là một nhà cách mạng xuất sắc, một nhà quân sự - chính trị tài ba, đã từng có những hoạt động và cống hiến to lớn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Được Hội đồng Chính phủ truy phong quân hàm cấp Tướng. Nhiều đường phố, trường học, đơn vị, v.v, ở một số địa phương được mang tên Phùng Chí Kiên.

Gần đây, những nhóm sinh viên thuộc các khối lớp năm thứ 3, năm thứ 4 (nghiên cứu lịch sử cận hiện đại Việt Nam) và một số học viên cao học thuộc Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Đại học Thái Nguyên, triển khai các đề tài về căn cứ địa, về hoạt động đấu tranh cách mạng, tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền của Đảng bộ và nhân dân các tỉnh biên giới phía Bắc (như Thái Nguyên, Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Kạn...) cũng như nghiên cứu các đề tài thuộc về mảng Phương pháp giảng dạy lịch sử đã quan tâm đến vấn đề này và có dịp đi sâu hơn, cụ thể hơn về nhân vật Phùng Chí Kiên.

Các kết quả nghiên cứu dựa trên cơ sở của những nguồn tư liệu mới được phát lộ và kiểm chứng đã tạo điều kiện cho chúng ta hiểu rõ về cuộc đời hoạt động của Phùng Chí Kiên nói riêng, của các nhân vật lịch sử cách mạng nói chung được khắc họa trong các cuốn giáo trình, tài liệu lịch sử, viết về lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930-1945 dùng để giảng dạy trong các trường phổ thông, cao đẳng và đại học. Các tri thức và sự kiện dưới đây cần được tiếp tục nghiên cứu và đưa vào chương trình giảng dạy lịch sử cho học sinh, sinh viên cả nước, nhất là trong các tiết học về lịch sử địa phương.

2. Về những cống hiến to lớn của anh cho cách mạng Việt Nam, chúng ta có thể tóm lược như sau:

- Phùng Chí Kiên là một trí thức sớm có lòng yêu nước và chí khí cứu nước; một trong những người sớm tham dự lớp huấn luyện ở Quảng Châu do Nguyễn Ái Quốc tổ chức, được Người trực tiếp bồi dưỡng, giúp đỡ, dìu dắt, được đào tạo có hệ thống, toàn diện để trở thành một cán bộ chính trị, quân sự cách mạng xuất sắc của Đảng (học qua Trường Quân sự Hoàng Phố ở Trung Quốc và Trường Đại học Phương Đông ở Mátxcơva, 2 lần được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, năm 1935 và 1941).

- Là một chiến sĩ cộng sản quốc tế xuất sắc, từng tham gia Khởi nghĩa Quảng Châu năm 1927, sau đó lại tích cực tham gia xây dựng các khu căn cứ cách mạng do Đảng Cộng sản Trung Quốc tổ chức, thành lập tổ chức người Việt Nam ủng hộ cách mạng Trung Quốc. Khi tốt nghiệp Đại học Phương Đông, năm 1934 được Quốc tế cộng sản đánh giá là người "có khả năng lớn về công tác, năng động, trình độ chính trị cao, kết quả học tập nói chung là tốt".

- Là một trong những người tham gia Ban lãnh đạo hải ngoại của Đảng ở nước ngoài, sau khi cao trào công nông 1930-1931 bị đàn áp, đã tích cực chắp nối đường dây liên lạc với các cơ sở cách mạng trong nước, phục hồi phong trào cách mạng và trực tiếp chuẩn bị cho Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng cộng sản Đông Dương (3.1935).

- Là người trực tiếp truyền đạt chủ trương của Đại hội lần thứ 7 của Quốc tế Cộng sản (7.1935) và tinh thần nghị quyết Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương (7.1936) về Sài Gòn, nhằm chuyển hướng đấu tranh của Đảng trong thời kỳ Cao trào dân chủ 1936-1939.

- Với cương vị phụ trách Ban lãnh đạo hải ngoại của Đảng, Phùng Chí Kiên đã sớm liên lạc và làm việc thường xuyên với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc khi Người về Côn Minh (đầu năm 1940) và cùng Ban lãnh đạo của Đảng tích cực chuẩn bị đưa Bác Hồ về nước.

- Ngoài quân sự, Phùng Chí Kiên còn tỏ ra là một cán bộ có tài về chính trị và tổ chức. Trước khi đón Bác Hồ về nước, tháng 11 năm 1940, tại Ngàm Táy, Nậm Quang, Tĩnh Tây tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc, Phùng Chí Kiên, Hoàng Văn Thụ... đã tập hợp trên 40 thanh niên người dân tộc, tổ chức lớp huấn luyện do Nguyễn Ái Quốc giảng dạy, nhằm đào tạo họ thành những cán bộ cốt cán xây dựng căn cứ địa Cao Bằng. Cũng trong năm 1940, anh còn lập Hội Việt Nam ủng hộ nhân dân Trung Quốc đánh Nhật, làm báo Đồng Thanh (sau đổi thành báo Đ.T theo sự gợi ý của Nguyễn Ái Quốc) để tuyên truyền yêu nước.

- Sau khi theo Bác Hồ về Hà Quảng, anh lại phụ trách lớp huấn luyện chính trị cho các đảng viên tại địa phương, trực tiếp biên soạn các tài liệu học tập, hoàn thành cuốn sách "Con đường cách mạng dân tộc giải phóng" và cùng một số cán bộ khác, dưới sự chỉ đạo của Nguyễn Ái Quốc, chuẩn bị cho Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5.1941) hoàn chỉnh việc chuyển hướng chiến lược của Đảng, chuẩn bị tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám năm 1945.

- Với tư cách là Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, trực tiếp phụ trách căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai và là Chỉ huy trưởng Đội du kích Bắc Sơn1, Phùng Chí Kiên đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ lãnh đạo quân dân ta đấu tranh chống khủng bố của địch, bảo vệ các đồng chí lãnh đạo Đảng, bảo vệ khu căn cứ và hi sinh anh dũng vào chiều ngày 20 tháng 8 năm 1941.
___________________________________________
* Phó Chủ nhiệm Khoa Lịch sử - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
1.  Lịch sử các đội quân tiền thân... Sđd, tr. 149.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Giêng, 2022, 08:23:14 pm

3. Đã 67 năm trôi qua, kể từ ngày đồng chí Phùng Chí Kiên ngã xuống trong cuộc chiến đấu không cân sức với kẻ thù, lớp bụi thời gian đã làm mờ đi những ký ức về nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của dân tộc, trong đó có những tấm gương sáng chói về lòng yêu nước, một lòng, một dạ chiến đấu vì Đảng, vì Dân.

Sự cố gắng của Đảng và Nhà nước ta, cũng như của nhiều thế hệ cán bộ nghiên cứu thời gian qua mới chỉ làm vơi đi phần nào sự bức xúc, niềm khát khao của thế hệ trẻ hôm nay về yêu cầu phục dựng lại bức tranh lịch sử chân thực, hào hùng về các thế hệ cha anh mình trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đành rằng vẫn biết, các anh hùng, liệt sĩ khi ngã xuống không bao giờ nghĩ đến việc bảng đồng, bia đá mai sau sẽ khắc họa tên mình.

Yêu cầu đó của thế hệ trẻ, nhất là thế hệ trẻ học đường là chính đáng. Chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, truyền thụ, giáo dục, bồi dưõng cho họ ý thức trân trọng quá khứ bằng nhiều hình thức: nói chuyện chuyên đề, tổ chức hành quân dã ngoại "Theo dấu chân những người anh hùng". Trong trường hợp cụ thể này, ngoài việc tuyên truyền, tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm ngày hy sinh của đồng chí Phùng Chí Kiên, chúng ta cần hướng dẫn thế hệ trẻ tổ chức các hoạt động học tập, nghiên cứu, đi thực tế, tham quan các khu di tích cách mạng, những địa điểm quan trọng gắn với cuộc đời hoạt động của anh ở Cao Bằng, Thái Nguyên, Lạng Sơn... đồng thời cũng cần thiết phải định hướng cho thế hệ trẻ noi gương anh về nhiều mặt: tư tưởng đạo đức, tác phong, ý chí cách mạng. Cụ thể như sau:

Thứ nhất: Noi gương Phùng Chí Kiên về lòng yêu nước, suốt đời phấn đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc: 40 tuổi đời, hơn 15 năm hoạt động cách mạng liên tục, nhiều lần bị địch bắt giam vẫn không ngừng ý chí phấn đấu; vượt qua mọi khó khăn, thử thách (nhất là trong những năm 1937, 1938) sống ở Trung Quốc, vẫn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ "duy trì đường giao thông ở Ngoại quốc" của Đảng và nhiệm vụ của một chiến sĩ Quốc tế chân chính.

Thứ hai: Noi gương Phùng Chí Kiên về ý chí quyết tâm, không ngừng học tập để năng cao trình độ: Học tập về lý luận chính trị (ở Quảng Châu), học tập về quân sự (ở Trường Hoàng Phố), học tập về kĩ thuật (ở Mátxcơva)... được Nhà trường và các tổ chức đánh giá cao. Những kiến thức về chính trị, quân sự của Phùng Chí Kiên đã góp phần quan trọng trong việc đào tạo cán bộ cách mạng Việt Nam, nhất là từ sau năm 1940.

Thứ ba: Học tập Phùng Chí Kiên về tinh thần tận tụy, ý thức kỉ luật, mẫu mực trong cách sống, lối sống.

Các tài liệu nghiên cứu cho thấy những đức tính của Phùng Chí Kiên rất gần với phong cách Hồ Chí Minh, có thể là chịu ảnh hưởng bởi phong cách Hồ Chí Minh nhờ vào những năm tháng Phùng Chí Kiên được sống, học tập, rèn luyện gần Bác.

Đó còn là ý thức chấp hành sự phân công công tác của Đảng, hoàn thành bất cứ nhiệm vụ gì khi được tổ chức phân công, nghiêm chỉnh thực hiện nguyên tắc tổ chức, thực hiện chế độ báo cáo, xin ý kiến chỉ đạo của cấp trên (của quốc tế cộng sản và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc).

Đó là lối sống cần kiệm, giản dị, khiêm tốn, gần gũi với đồng bào, đồng chí được phản ánh qua tư liệu truyền miệng và thành văn.

Nhân cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, chúng ta nên có những liên hệ, dẫn chứng cụ thể về những tấm gương ngời sáng, phản chiếu qua cuộc đời hoạt động của những người thực, việc thực, nhất là qua những học trò xuất sắc của Người mà một trong những số đó là Phùng Chí Kiên - Người cộng sản mẫu mực, trung kiên, nhà chính trị - quân sự song toàn.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Giêng, 2022, 08:27:29 pm

VẤN ĐỀ BẢO TỒN, TÔN TẠO VÀ XÂY DỰNG NHÀ TƯỞNG NIỆM
ĐỒNG CHÍ PHÙNG CHÍ KIÊN Ở DIỄN CHÂU, NGHỆ AN

ĐOÀN VĂN NAM*

1. Vài nét về ngôi nhà của gia đình đồng chí Phùng Chí Kiên.

Theo các tài liệu lịch sử đã công bố, kết quả nghiên cứu, khảo sát của Ban quản lý Di tích - Danh thắng Nghệ An, ở xã Diễn Yên vẫn còn lưu giữ được một phần ngôi nhà, mảnh vườn ở làng Mỹ Quan, nơi sinh ra và ghi dấu các hoạt động của đồng chí Phùng Chí Kiên, trước khi xuất dương hoạt động cách mạng.

Khu vườn: Vùng đất có vườn và nhà của gia đình đồng chí Phùng Chí Kiên nằm trên một cồn đất cao có diện tích rộng hơn 1.000m2 ở làng Mỹ Quan Thượng, phía trước là cánh đồng, ao nước và một con lạch nhỏ nên gọi là Rộc ao. Sau lưng và hai bên sườn là những khu vực sinh sống của các gia đình nông dân. Trong đó, số đông là anh, em con cháu trong dòng họ Nguyễn Vĩ.

Nhà ở của bố mẹ đồng chí Phùng Chí Kiên (trước kia) có hai công trình kiến trúc chính là nhà lớn và nhà ngang.

Nhà lớn: Nhà được xây dựng ở vị trí gần cuối vườn. Công trình ngoảnh về hướng Đông, nhìn ra vườn, Rộc ao. Nhà này có ba gian, hai hồi, kiến trúc theo kiểu nhà tiền trụ. Mái nhà lợp bằng tranh, khung nhà làm bằng gỗ. Ba phía bắc, tây, nam được thưng khít bằng ván. Nền nhà bằng đất nện. Vì kèo kết cấu theo kiểu kẻ chuyền giá chiêng. Ở các gian đều trổ các cửa sổ nhỏ để lấy ánh sáng và tạo sự thông thoát. Phía trước nhà được đóng, mở bằng hệ thống cửa pa-nô, đặt trong hệ thống bạo, ngượng, địa thu. Ở vì thứ ba (nhìn từ phía bên phải) được thưng ngăn bằng ván, bên phải trổ cửa để thông từ hai gian ngoài vào buồng.

Sinh sống ở một vùng quê nghèo bằng nông nghiệp nên cách bài trí các đồ dùng, vật dụng trong nhà của gia đình ông Khoản cũng đơn giản như các gia đình nông dân khác trong vùng. Gian bên trái (gian ngoài), ở phía sau là nơi để một bộ dong bằng gỗ, kích thước trước có yên thư, giá sách, móc treo quần áo, mũ nón. Gian giữa kế tiếp là gian chính, là nơi thờ cúng tổ tiên. Ở đây có bàn thờ làm bằng gỗ, bày lư hương, cọc nến, ấm, chén uống rượu, đĩa để trầu cau, mâm chè soạn phục vụ cho nhu cầu tiến cúng lễ vật khi có cúng lễ. Phía trước bàn thờ đặt đôi trường kỷ và một cái bàn nhỏ để tiếp khách. Gian trong (gian cuối) sử dụng làm buồng, ở đây kê một chiếc giường tre làm chỗ ngủ. Không gian còn lại ở phía trên và hai bên là nơi cất giữ lương thực, quần áo, một số mâm gỗ, nồi đồng phục vụ cho các sinh hoạt hàng ngày và lễ tết.

Cũng giống như kiến trúc nhà của các gia đình nông thôn khác ở Diễn Yên, Diễn Châu, để tăng diện tích và công năng sử dụng của ngôi nhà, hai đầu hồi được chái và nới rộng làm chỗ đặt cối xay, cối giã, treo mắc các công cụ sản xuất như quang gánh, liềm hái... (phía nam). Phía bắc dùng làm nơi đặt các đồ dùng, vật dụng khác như rổ rá, dao thớt...

Nhà ngang (nhà bếp): Nhà này có vị trí xây dựng ở liền kề, sát hồi phía Bắc của nhà lớn, kiến trúc có năm gian, khung nhà làm bằng gỗ, vì kèo kết cấu theo kiểu tiền trụ giá chiêng, mái nhà lợp tranh, nền nhà đầm nén kỹ bằng đất. Để cho ngôi nhà được kín đáo, vững vàng trước nắng mưa gió bão, xung quanh nhà ngang được thưng bao các mảng tường trát bằng đất, rơm (tốc xi), loại vật liệu sẵn có, thông dụng ở địa phương. Ở một số gian của nhà ngang có trổ cửa sổ. Thềm ở phía trước được mở rộng hơn thềm nhà lớn. Ngoài ra, ở hai hồi cũng được chái rộng để tránh nắng chiếu, mưa tạt, hoặc sử dụng làm nơi để vại cà, hũ mắm, các nông cụ. Khác với nhà lớn là nơi thờ cúng, tiếp khách, nhà ngang của gia đình đồng chí Phùng Chí Kiên được sử dụng làm bếp, chỗ nghỉ của phụ nữ, nơi cất giữ lương thực, thực phẩm, các đồ dùng sinh hoạt, công cụ sản xuất.

Đi sâu tìm hiểu về công năng của các gian được sắp xếp, bố trí như sau: Gian thứ nhất (nhìn từ trái sang) sử dụng làm gian bếp. Ở đây có cửa chính thông ra nhà lớn và thông ra vườn. Trong một không gian hẹp, nửa gian phía sau có đặt kiềng sắt, đầu rau, chạn bát, mươn tre, bát đũa, nồi niêu, rổ rá phục vụ cho việc nấu nướng, nơi cất chứa thực phẩm. Gian kế là buồng của phụ nữ, ở phía trong kê giường tre, nơi cất giữ chăn màn, quần áo và kê đặt một số đồ dùng khác. Phía trước có cửa thông ra thềm. Gian thứ 3 là nơi gia đình ngồi ăn cơm. Ở đây đặt chõng tre, ghế ngồi, ấm chén đựng nước, cơi trầu, điếu hút thuốc lào. Khi cần, gian này sử dụng làm nơi tiếp khách. Gian thứ 4 được sử dụng làm buồng, kho chứa lúa gạo, ngô khoai, những loại lương thực, thực phẩm gia đình tích trữ, thu hoạch sau ngày mùa. Có khi dùng làm chỗ để bảo quản tơ, đay do gia đình thu mua chuẩn bị mang ra chợ để trao đổi, buôn bán. Gian cuối cùng của nhà ngang sử dụng làm chỗ để cày, cuốc, liềm, hái, dao, thúng, quang gánh... phục vụ cho nhu cầu sản xuất. Gian này có cửa mở thông ra thềm phía trước và cửa sổ nhìn ra chuồng nuôi trâu bò, sân, vườn.

Chuồng trâu bò: Gia đình ông Khoản làm nghề nông nên có một chuồng nuôi trâu bò. Vị trí ở phía sau nhà ngang. Công trình tuy nhỏ, đơn giản, nhưng khung nhà được làm bằng gỗ, kết cấu 2 gian. Mái nhà lợp tranh, xung quanh thưng ghép tạm bằng vách nứa. Phía trên có chạn cất rơm, phía dưới trâu bò nằm.

Ngoài nhà lớn, nhà ngang, khoảng sân phía trước nhỏ bằng đất nện làm chỗ phơi rơm rạ, lương thực ngày mùa. Diện tích còn lại là vườn, phía trước rộng, phía sau hẹp, trồng dừa tre, chanh, mít, chuối và một số loại rau (cải, khoai) theo mùa.

Chính trong ngôi nhà, khu vườn này ở làng Mỹ Quan, đồng chí Phùng Chí Kiên sinh ra, lớn lên. Được sự nuôi nấng của bố mẹ, sự quan tâm giúp đỡ của người thân, làng xóm, chí hướng cứu nước của đồng chí được hình thành, bồi dưỡng, hun đúc. Khi học xong trường tiểu học, Phùng Chí Kiên đi làm thuê, được đồng chí Lê Hữu Lập giác ngộ. Ngôi nhà của gia đình là nơi gặp gỡ, liên lạc bí mật của các chiến sĩ yêu nước để cất giấu, tìm hiểu, truyền bá sách báo tiến bộ, tư tưởng yêu nước, thông qua ngày giỗ, ngày tết, thăm viếng bạn bè bàn chuyện sản xuất, buôn tơ, bán gỗ... những người yêu nước đã bàn bạc, thảo luận về việc vận động kinh phí, chọn lọc, tổ chức đón, đưa những người tâm huyết xuất dương ra nước ngoài hoạt động cách mạng.

Hiện trạng di tích: Khi đồng chí Phùng Chí Kiên xuất dương đi hoạt động cách mạng, ngôi nhà và gia đình của đồng chí vẫn tiếp tục là nơi lui tới của những người yêu nước. Đặc biệt vào thời kỳ 1930-1945, ở xã Diễn Yên nói riêng và huyện Diễn Châu nói chung có rất nhiều cơ sở cách mạng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Diễn Châu đã tổ chức các cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và bọn phong kiến tay sai. Để dập tắt phong trào và tiêu diệt các cơ sở cách mạng của Đảng, địch đã nhiều lần mang quân đến khủng bố, đàn áp. Trong phong trào Xô-viết Nghệ Tĩnh 1930-1931, thực dân Pháp đốt 41 nóc nhà, bắt giam hàng chục chiến sĩ yêu nước. Riêng ở xã Diễn Yên đã có 13 người hy sinh. Trong một lần bị bố ráp, ngôi nhà của gia đình đồng chí Phùng Chí Kiên cũng bị địch đốt và làm hư hỏng nặng. Sau khi địch rút đi, dân làng đã giúp đỡ ông Khoản, bà Cúc phục hồi lại công trình và tiếp tục sinh sống ở đây.

Về sau, khi ông bà thân sinh đồng chí Phùng Chí Kiên mất, các anh chị em trong gia đình có người đi làm cách mạng, có người lập gia đình và ra ở riêng, nhà đồng chí Phùng Chí Kiên được giao cho ông Nguyễn Văn Đốc, anh trai, Nguyễn Văn Khôi, cháu ruột đồng chí Kiên ở. Khi ông Đốc, ông Khôi mất, con trai ông Khôi là Nguyễn Văn Quang tiếp tục sinh sống ở đây. Năm 1980, vì đời sống khó khăn nên mẹ con anh Quang đã bán nhà đi nơi khác. Sau đó vợ chồng anh Nguyễn Văn Việt, cháu gọi đồng chí Kiên bằng chú, đã chuộc lại và cho anh Nguyễn Văn Đượu đến sinh sống cho đến nay.

Trải qua hơn 100 năm xây dựng, tồn tại, liên tục bị mưa nắng, thời gian và các biến động khác của xã hội tác động, cảnh quan của làng Mỹ Quan Thượng, khu vườn và ngôi nhà không còn giữ được nguyên vẹn các yếu tố xưa. Con đường từ quốc lộ 1A chạy về làng Mỹ Quan Thượng trước đây nhỏ bé, lầy lội, nay được xây dựng thành đường nhựa, bê tông. Những ngôi nhà ngói, vườn cây sum xuê đã thay thế cho những ngôi nhà tranh nghèo lụp xụp. Cánh đồng Rộc Ao trước đây ngập nước, nhiều chỗ bỏ hoang, ngày nay được cải tạo thành cánh đồng xanh tốt. Ao nước trước nhà tuy bị sạt lở, bồi lấp nhưng vẫn lưu lại dấu vết của ao làng xưa, nơi đồng chí Phùng Chí Kiên, dân làng, bạn bè thường đến lấy nước, hóng mát vui chơi, bàn chuyện làm ăn, học hành và cứu nước. Khu vườn của gia đình đồng chí Phùng Chí Kiên diện tích có bị thu hẹp, nhưng nhiều cây xanh trong vườn giữ được vị trí cảnh quan giống với trước đây. Con đường từ cổng vào sân đã được cải tạo, chỉnh sửa, để có lối đi rộng rãi hơn. Khoảng sân nhỏ trước nhà bằng đất nay được lát gạch khang trang. Ngôi nhà lớn trải qua nhiều năm tồn tại đã bị hư hỏng nên được sửa sang lại. Mái nhà trước đây lợp tranh nay thay bằng ngói Tây. Vách thưng xung quanh nhà bị mục ải, được thay bằng gỗ mới. Các đồ dùng, vật dụng trong nhà đã bị hư hỏng, thất tán đi nơi khác. Nhà ngang có năm gian, kiến trúc bằng gỗ, mái lợp tranh, các đồ dùng vật dụng gia đình bài trí sử dụng không còn. Trên nền đất cũ, anh Nguyễn Văn Đượu đã xây dựng lại một ngôi nhà khác hai gian. Mái nhà làm bằng rui bản, mái lợp ngói âm dương, ba phía xây tường gạch. Nền nhà lát gạch hoa. Gian giữa có cửa bằng gỗ, mỏ lối thông ra sân và bếp. Ngoài nhà lớn, nhà ngang, chuồng nuôi trâu bò trước đây có hai gian đã bị hư hỏng, nay mới được phục hồi.

Ngoài khu vườn và ngôi nhà mà đồng chí Kiên đã sinh ra, lớn lên và hoạt động cách mạng đã nói ở trên, cách di tích khoảng 300m về phía tây bắc, thuộc xóm 1 làng Mỹ Quan, còn có vườn rộng hơn 600m2. Có 2 ngôi nhà bằng gỗ. Nhà lớn 4 gian, nhà ngang ba gian. Khung nhà làm bằng gỗ, mái lợp ngói âm dương, ba phía xây tường, nền nhà lát gạch hoa Trung Quốc... Trước đây, việc thờ phụng tổ tiên ông bà được tiến hành ở nhà ông Nguyễn Văn Đốc, anh trai đồng chí Phùng Chí Kiên. Khi ông Đốc mất, việc thờ phụng đồng chí Phùng Chí Kiên được thực hiện ở đây. Hiện nay, ở gian bên trái của ngôi nhà lớn, gia đình ông Việt đặt một hương án bằng gỗ, phía trên bày lư hương, cọc nến, mâm chè, chén sứ, nậm rượu... và di ảnh đồng chí Phùng Chí Kiên. Hàng năm, vào ngày giỗ của đồng chí (21.8 ), ngày Tết, cán bộ địa phương, những người thân trong gia đình dòng họ thường tụ họp về đây để tiến cỗ, dâng hương, tưởng niệm một người cộng sản đã sống và hy sinh trọn vẹn cho Tổ quốc.
_______________________________________________
* Sở Văn hoá - Thể thao - Du lịch Nghệ An.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Giêng, 2022, 08:28:15 pm

2. Phương án bảo vệ di tích và xây dựng nhà tưởng niệm đồng chí Phùng Chí Kiên.

Đồng chí Phùng Chí Kiên là chiến sĩ cách mạng tiền bối ưu tú của Đảng, người đã hoạt động, chiến đấu, hy sinh vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Việc nghiên cứu, sưu tầm, lưu giữ và phát huy các di sản về đồng chí, Thường trực Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An đã có chủ trương "xây dựng nhà thờ và khu tưởng niệm nhà cách mạng, liệt sĩ Phùng Chí Kiên tại nơi đồng chí sinh ra nhằm tri ân những cống hiến to lớn của đồng chí đối với cách mạng, góp phần giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ". Tuy nhiên, thời gian xây dựng, hình thành khu vườn và các công trình kiến trúc diễn ra đã lâu. Thiên nhiên, con người, các biến động xã hội đã làm cho di tích có sự thay đổi, việc khảo sát, đề xuất các phương án để bảo vệ di tích, xây dựng nhà tưởng niệm về đồng chí Phùng Chí Kiên cần được nghiên cứu, định hướng kỹ để tìm được phương án tối ưu để vừa bảo vệ được di sản, xây dựng công trình vừa phục vụ tốt nhu cầu tưởng niệm, tham quan du lịch. Theo chúng tôi, có thể chọn một trong phương án sau:

Thứ nhất, phải nghiên cứu, khảo sát, đề xuất được quy hoạch đất để bảo vệ di tích và xây dựng nhà tưởng niệm. Quy hoạch này phải có đủ diện tích, quy mô, để vừa bảo vệ, phục hồi được kiến trúc (nội thất và ngoại thất) cảnh quan vốn có của khu tưởng niệm mới. Có thể quy hoạch lấy toàn bộ diện tích vườn, nhà đồng chí Phùng Chí Kiên ở xóm 1 làng Mỹ Quan làm nơi bảo tồn, phục hồi, tôn tạo di tích. Khu vực xây dựng Nhà tưởng niệm sẽ được lấy thêm phần đất ở cánh đồng Rộc Ao trước nhà. Gia đình ông Nguyễn Văn Đượu sẵn sàng di chuyển đi nơi khác nếu được cấp đất hỗ trợ kinh phí để xây dựng lại nhà. Quy hoạch này có ưu điểm là tạo được sự liên kết giữa khu vực di tích và khu tưởng niệm. Vùng đất dự kiến được quy hoạch xây dựng nhà tưởng niệm là đất công thổ, nên sẽ giảm được kinh phí đền bù, giải phóng mặt bằng; khi dự án quy hoạch được duyệt có thể triển khai phục hồi, xây dựng nhanh công trình.

Thứ hai, trên vùng đất đã được quy hoạch phải tiến hành tháo dỡ ngôi nhà ba gian mới được xây dựng của ông Nguyễn Văn Đượu. Ủy ban nhân dân địa phương phối hợp với ngành văn hóa thể thao du lịch tiến hành nghiên cứu, xác minh làm rõ về nguồn gốc, tổng thể, chi tiết kiến trúc, cảnh quan và các đồ dùng, vật dụng, công cụ sản xuất, phương tiện thờ cúng... ở nhà và khu vườn, để từ đó có kế hoạch sưu tầm, bổ sung hiện vật cho công trình nhà lớn. Vấn đề phục dựng nhà ngang của gia đình đồng chí Phùng Chí Kiên sẽ khó khăn hơn. Có thể tổ chức tọa đàm, hội thảo làm rõ nguồn gốc, loại hình kiến trúc của ngôi nhà, các đồ dùng, vật dụng bên trong..., để từ đó có cơ sở tìm mua, phục dựng lại nhà ngang theo tính chất của một công trình "đồng thời đồng loại". Ngoài ra, có thể nghiên cứu phục hồi lại đường đi, hệ thống cây xanh hàng rào, cửa cổng để tạo được sự hấp dẫn, tôn nghiêm cho di tích.

Thứ ba, khu vực tưởng niệm sẽ tách riêng, quy hoạch xây dựng các công trình mới như Nhà tưởng niệm, nhà khách, hàng rào, sân vườn, nhà vệ sinh, hệ thống điện nước phục vụ tham quan, sinh hoạt, phòng chống cháy nổ. Do các công trình mới nằm gần với khu vực di tích được bảo vệ phục hồi, tôn tạo, nên vị trí, quy mô phải hài hoà với cảnh quan chung. Hàng rào xây thấp được trồng thêm cây xanh, cửa cổng mô phỏng nhà cổ, Nhà tưởng niệm có ba gian, hai hồi kiến trúc giống đền thờ, chất liệu làm bằng gỗ bền vững. Ở đây có bài trí tượng đồng chí Phùng Chí Kiên, bàn, các loại đồ thờ như câu đối, đại tự, lư hương, cọc nến, mâm chè, đài trản, nậm, chén đựng rượu phục vụ cho nhu cầu tưởng niệm, tham quan, du lịch. Nhà khách có quy mô vừa phải, hài hoà với kiến trúc nhà tưởng niệm, có thể xây dựng một ngôi nhà năm gian lợp ngói giống kiểu đình làng, vật liệu xây dựng và kết cấu bền vững, công trình này có công năng như một nhà đón hướng dẫn khách tham quan, kết hợp với việc trưng bày giáo dục truyền thống, ở đây có thể bố trí một gian làm phòng khách. Các gian còn lại cần tận dụng các mảng tường trưng bày, giới thiệu khái quát về cuộc đời sự nghiệp của đồng chí Phùng Chí Kiên và một số hình ảnh về truyền thống lao động, chiến đấu, đổi mới của xã Diễn Yên. Đồng thời cần trang bị một số bàn ghế, loa máy... phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt văn hoá, hướng dẫn các đoàn khách tham quan có số lượng người đông.

Khi hoàn thành và đưa vào phục vụ, có thể sử dụng nhà làm nơi hội họp, sinh hoạt văn hoá của làng Mỹ Quan để tăng giá trị sử dụng của công trình và giúp địa phương có thêm điều kiện tổ chức các sinh hoạt cộng đồng ở làng xã.

Khu vực tưởng niệm được xây dựng gần với di tích và làng Mỹ Quan nên cần quan tâm đến việc phòng chống hoả hoạn. Định vị thiết kế, thi công hệ thống điện, nước, vệ sinh là những hạng mục không thể thiếu để đảm bảo an toàn phục vụ nhu cầu chung. Hệ thống điện từ nguồn, dẫn nối đến các công trình tưởng niệm, di tích, phải đủ ánh sáng, tuyệt đối an toàn khi sử dụng. Bể nước chống cháy có đủ khối lượng phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, phòng cháy chữa cháy. Nhà vệ sinh có quy mô nhỏ, bố trí ở nơi kín đáo để tạo điều kiện thuận lợi cho khách tham quan, không làm ảnh hưởng đến mỹ quan của khu vực tưởng niệm.

Cùng với các công trình chính đã nêu trên, trong khu vực nhà tưởng niệm, hệ thống đường đi phải đảm bảo sạch sẽ, thoát nước, hệ thống cây xanh, cây cảnh, thảm cỏ, bồn hoa sẽ được định vị, bố trí một cách hài hoà để tạo cho công trình có vẻ đẹp tự nhiên. Dọc lối đi từ cổng vào sân cần có các thảm cỏ, bồn, các loại hoa nhỏ, thấp như ngâu, hồng, thủy tiên... hoặc các loại cây tứ quý như tùng, cúc, trúc, mai... để tạo cho du khách có không gian để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của các công trình. Phía trong hàng rào cần chọn lọc để trồng các loại cây xanh bóng mát như sung, đa, si, sanh, ngọc lan, hoa đại... hoặc các loại cây ăn quả, cây đặc sản phù hợp với quy hoạch của khu tưởng niệm và điều kiện thổ nhưỡng của địa phương.

Đồng chí Phùng Chí Kiên là chiến sĩ cộng sản ưu tú đã sống, chiến đấu và hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Nghiên cứu, sưu tầm, lưu giữ, phát huy những di sản của đồng chí để lại là phù hợp với truyền thống "uống nước nhớ nguồn" của dân tộc và chủ trương đổi mới của Đảng, Nhà nước. Chúng ta tin tưởng rằng dưới sự lãnh đạo của Đảng, được sự quan tâm của các ngành, các cấp ở Trung ương và địa phương, của Bộ Quốc phòng, việc phục hồi, tôn tạo di tích, xây dựng nhà tưởng niệm của đồng chí Phùng Chí Kiên sớm được hoàn thành để tưởng nhớ, tôn vinh những cống hiến của đồng chí, đồng thời góp phần vào việc bảo tồn, phát huy di sản văn hoá dân tộc và phục vụ sự nghiệp đổi mới.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Giêng, 2022, 08:33:58 pm

TỔNG HỢP THAM LUẬN HỘI THẢO KHOA HỌC
"PHÙNG CHÍ KIÊN - NGƯỜI CỘNG SẢN MẪU MỰC, KIÊN TRUNG,
NHÀ CHÍNH TRỊ, QUÂN SỰ SONG TOÀN"

Thiếu tướng, TS PHẠM VĂN THẠCH*

Đồng chí Phùng Chí Kiên (1901-1941) - Người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một trong những vị tiền bối cách mạng được Trung ương Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cử giữ những trọng trách lớn, có nhiều công lao đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc: Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, Ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (khoá 1), nhà lãnh đạo quân sự đầu tiên của Đảng, trực tiếp chỉ huy khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai và Đội Cứu quốc quân 1 những ngày đầu chuẩn bị tiến tới Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, đã anh dũng hy sinh trong chiến đấu. Đồng chí Phùng Chí Kiên mất đi là một tổn thất to lớn đối với phong trào cách mạng nước ta, để lại bao nỗi niềm thương tiếc khôn nguôi trong tâm khảm đồng chí, đồng đội và nhân dân. Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của đồng chí Phùng Chí Kiên là di sản quý báu trong lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng ta, quân đội và nhân dân ta. Nghiên cứu, phát huy những giá trị quý báu đó là việc làm cần thiết, có ý nghĩa rất quan trọng và thiết thực trong sự nghiệp đổi mới đất nước, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ngày nay.

Trong các công trình nghiên cứu và ở một số bài báo đăng trên các Tạp chí Khoa học (kể từ ngày đồng chí Phùng Chí Kiên anh dũng hy sinh), thân thế và sự nghiệp cách mạng của đồng chí Phùng Chí Kiên đã được đề cập với những khía cạnh cụ thể. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân: thời gian hoạt động cách mạng của đồng chí không dài, lại chủ yếu ở nước ngoài, hơn nữa trong điều kiện bí mật, thường xuyên bị sự truy lùng gắt gao của mật thám và chính quyền thực dân nên tư liệu lịch sử về quá trình hoạt động cách mạng của đồng chí Phùng Chí Kiên còn lại đến nay không nhiều. Đó là một khó khăn lớn cho việc đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu về thân thế và sự nghiệp cách mạng của đồng chí Phùng Chí Kiên.

Vượt qua những thách thức, khó khăn nêu trên, với tấm lòng trân trọng, biết ơn bậc tiền bối cách mạng, nhân 67 năm ngày đồng chí Phùng Chí Kiên hy sinh, ngày 12 tháng 6 năm 2008, Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng đã quyết định giao Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Tỉnh ủy Nghệ An tổ chức Hội thảo khoa học: "Phùng Chí Kiên - người cộng sản mẫu mực, kiên trung, nhà chính trị - quân sự song toàn" nhằm "khẳng định những đóng góp to lớn của đồng chí đối với cách mạng Việt Nam, góp phần giáo dục truyền thống, lí tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ"1.

Và đến hôm nay, Ban tổ chức Hội thảo đã nhận được gần 60 bài tham luận của các đồng chí lãnh đạo ở trung ương và địa phương, các đồng chí lão thành cách mạng, các vị tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp thuộc Bộ Quốc phòng, các nhà khoa học và các đồng chí trong và ngoài quân đội: Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Viện Sử học thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Lịch sử Đảng, Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng thuộc Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam, Khoa Lịch sử Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Tỉnh ủy Bắc Kạn, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân và Bộ chỉ huy quân sự, các ban ngành thuộc tỉnh Nghệ An, Huyện ủy và Hội đồng nhân dân huyện Diễn Châu, Đảng ủy, Hội đồng nhân dân xã Diễn Yên...

Đặc biệt, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi thư tới Hội thảo, các đồng chí Thượng tướng Phan Trung Kiên - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; đồng chí Nguyễn Thế Trung - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An, các đồng chí lão thành cách mạng: Doanh Hằng, Đào Văn Trường, Kim Sơn (Nguyễn Huy Văn)... và một số tướng lĩnh, nhà khoa học lớn đã có bài gửi tới Hội thảo. Hôm nay, chúng ta đã được nghe 10 đồng chí trình bày báo cáo tóm tắt tham luận của mình tại hội thảo. Sự có mặt và tham gia tích cực của các đồng chí là bảo đảm rất quan trọng để cuộc hội thảo thành công tốt đẹp. Đề nghị cho phép tôi, thay mặt Ban chỉ đạo và Đoàn Chủ tịch hội thảo, xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các đồng chí!

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người từng gặp và hoạt động cùng đồng chí Phùng Chí Kiên những năm 1940-1941, trong thư gửi tới Hội thảo đã khẳng định những công lao, đóng góp cũng như đức độ, tài năng to lớn của đồng chí Phùng Chí Kiên: "Đồng chí Phùng Chí Kiên là vị tiền bối cách mạng, một cán bộ cấp cao của Đảng, được Bác Hồ và Trung ương phân công phụ trách quân sự đầu tiên. Đồng chí là một cán bộ có đức độ và tài năng, cả chính trị và quân sự, được đào tạo cơ bản, nhạy bén phát hiện tình hình, sống gần gũi, hoà mình với đồng chí, đồng bào, nghiêm chỉnh chấp hành chỉ thị của Bác và Trung ương. Đồng chí Phùng Chí Kiên là một trong những cán bộ lãnh đạo tiền bối đã có công lao to lớn đối với Đảng ta, quân đội ta, không chỉ về mặt tổ chức mà cả về đường lối cách mạng...

Tôi hoan nghênh Bộ Quốc phòng phối hợp với Tỉnh ủy Nghệ An tổ chức cuộc Hội thảo khoa học về đồng chí Phùng Chí Kiên. Đây là một hoạt động rất có ý nghĩa, vừa để nghiên cứu lịch sử, hiểu biết rõ hơn, đầy đủ hơn về quá trình hoạt động cách mạng và tôn vinh công lao của đồng chí Phùng Chí Kiên đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của quân đội và nhân dân ta; vừa nhằm giáo dục truyền thống cách mạng cho các thế hệ hôm nay và mai sau
2.
_______________________________________________
* Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
1.  Văn phòng Trung ương Đảng, Công văn số 5150-CV/VPTƯ ngày 12 tháng 6 năm 2008.
2.  Thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi Hội thảo khoa học về đồng chí Phùng Chí Kiên - một người cộng sản kiên cường, một nhà lãnh đạo tiền bối xuất sắc, chính trị, quân sự song toàn, ngày 1 tháng 8 năm 2008.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Giêng, 2022, 08:36:36 pm

Cùng với thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, các tham luận gửi tới Hội thảo là những bài viết công phu, nghiêm túc, khoa học về thân thế, sự nghiệp cách mạng và cống hiến của đồng chí Phùng Chí Kiên, rút ra các bài học quý báu. Ở các bài viết này, dựa trên các nguồn tư liệu quý được sưu tầm, khai thác và đưa vào sử dụng, trong đó có một số tư liệu của chính quyền thực dân Pháp hiện lưu ở các trung tâm lưu trữ Cộng hoà Pháp, một số tư liệu ở trung tâm lưu trữ Liên Xô (nay là Liên bang Nga) lần đầu tiên được công bố, các tác giả đã phản ánh khá toàn diện thân thế và sự nghiệp cách mạng của đồng chí Phùng Chí Kiên, đặc biệt tập trung làm rõ các nội dung chủ yếu sau đây:

1. Quê hương Nghệ An và bối cảnh chính trị - xã hội tác động tới sự hình thành nhân cách, sự giác ngộ và quá trình hoạt động cách mạng của đồng chí Phùng Chí Kiên.

Đồng chí Phùng Chí Kiên, tên khai sinh là Nguyễn Vĩ, sinh năm 1901, tại làng Mỹ Quan Thượng, tổng Vạn Phần, phủ Diễn Châu, nay là xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Sinh ra trên vùng đất "địa linh nhân kiệt", giàu truyền thống yêu nước và đấu tranh kiên cường, bất khuất chống kẻ thù, lớn lên trong bối cảnh đất nước bị thực dân Pháp đô hộ, Triều đình Huế và chế độ phong kiến nhà Nguyễn đã lỗi thời, đang trong giai đoạn suy vong, đồng chí Phùng Chí Kiên đã tận mắt chứng kiến bao nỗi bất công của xã hội, sự tủi nhục và bị đọa đày của người dân mất nước. Được sự nuôi dưỡng, giáo dục của gia đình, dòng họ, được tiếp xúc với các trào lưu tư tưởng yêu nước, tiến bộ, đồng chí sớm giác ngộ cách mạng, quyết tâm đi theo con đường cách mạng vô sản để cứu nước, cứu dân.

Trong bối cảnh diễn ra nhiều phong trào yêu nước, đấu tranh chống thực dân Pháp, chế độ phong kiến của nhân dân ta, ngay sau khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam (sau là Đảng Cộng sản Đông Dương) đã trực tiếp lãnh đạo sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp công nhân Việt Nam, nổi bật là phong trào Xô-viết Nghệ Tĩnh năm 1930-1931. Hoảng sợ trước sự lớn mạnh của phong trào cách mạng của nhân dân ta, thực dân Pháp đã thẳng tay đàn áp, gây tổn thất lớn cho Đảng và phong trào cách mạng. Trong tháng 4 và 5 năm 1931, các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng lần lượt bị thực dân Pháp bắt. Và tháng 6 năm 1931, Nguyễn Ái Quốc cũng bị cảnh sát Anh bắt tại Hồng Kông... Chính những điều kiện đó tác động sâu sắc, có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành nhân cách và toàn bộ sự nghiệp cách mạng của đồng chí Phùng Chí Kiên.

Sinh ra trên mảnh đất giàu truyền thống yêu nước và đấu tranh cách mạng, có tư chất thông minh và hoài bão lớn, noi theo gương các bậc tiền bối cách mạng, đồng chí Phùng Chí Kiên đã nhạy bén lựa chọn đúng con đường cách mạng vô sản - trở thành một trong những nhà cách mạng đầu tiên và xuất sắc của cách mạng vô sản Việt Nam. Điều đó đã đưa đồng chí từ một người yêu nước chân chính trở thành một chiến sĩ cộng sản kiên cường, một đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam (1930). Đây là bước ngoặt lớn trong cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Phùng Chí Kiên, đánh dấu bước chuyển từ chủ nghĩa yêu nước chân chính đến cách mạng vô sản do Đảng Cộng sản lãnh đạo.

2. Phùng Chí Kiên - học trò xuất sắc của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, người cộng sản mẫu mực, kiên trung, toàn tâm phấn đấu cho sự nghiệp cách mạng vô sản ở Việt Nam.

Những năm hoạt động cách mạng của đồng chí Phùng Chí Kiên là chặng đường đầy khó khăn, gian khổ, kẻ thù luôn rình rập và cái chết có thể đến bất cứ lúc nào. Mật thám Pháp và chính quyền tay sai ở địa phương thường xuyên truy bức, làm cho gia đình đồng chí luôn phải đối phó, rất căng thẳng về tinh thần. Bản thân đồng chí đã từng hai lần bị sa vào tay địch (1931, 1937). Trong lao tù đế quốc hay trên mọi nẻo đường hoạt động, dù gian khổ, thử thách, nguy nan, đồng chí không một chút sờn lòng, luôn kiên trung, bất khuất, giữ vững tinh thần, ý chí, không run sợ trước mọi ngón đòn tra tấn và truy bức của kẻ thù, giữ vững niềm tin vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng.

Năm 1926, đồng chí Phùng Chí Kiên bí mật cùng một số thanh niên yêu nước Việt Nam sang Quảng Châu (Trung Quốc) hoạt động, tham gia Hội Việt Nam cách mạng thanh niên do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thành lập và tham gia lớp huấn luyện chính trị do Người tổ chức. Sau đó, với lòng yêu nước, tư chất thông minh và tư duy quân sự, đồng chí Phùng Chí Kiên được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và cố vấn quân sự Nga giới thiệu vào học Trường Quân sự Hoàng Phố của chính phủ Tôn Trung Sơn. Năm 1927, Tưởng Giới Thạch phản bội, Trường Hoàng Phố phải đóng cửa, Phùng Chí Kiên gia nhập Hồng quân công nông do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo, trực tiếp tham gia cuộc Khởi nghĩa Quảng Châu (12.12.1927). Cuộc khởi nghĩa thất bại, quân cách mạng rút về lập khu Xô-viết Hải - Lục Phong (Quảng Đông).

Năm 1931, đồng chí Phùng Chí Kiên được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cử sang Liên Xô học tập, nhưng khi đến Mãn Châu bị bắt giam gần một năm. Ra tù, đồng chí tiếp tục sang Liên Xô học tại Trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản (6.1932 - 3.1934), với bí danh là Kan (tức Hừng Đông). Trong "Bản nhận xét về tư cách đạo đức" đề ngày 22 tháng 11 năm 1933, phần về Kan, đồng chí Riblina, cán bộ Bộ Phương Đông, ghi rõ: "... Có khả năng lớn về công tác, năng động, trình độ chính trị cao, trình độ học tập nói chung tốt...".

Trong hoàn cảnh hoạt động ở nước ngoài, có sự theo dõi, truy lùng thường xuyên của thực dân Pháp, Anh và rất dễ bị ảnh hưởng của nhiều khuynh hướng tư tưởng khác, nhưng đồng chí Phùng Chí Kiên luôn kiên định vững vàng, kiên trung, vững bước trên con đường cách mạng, không hề chệch hướng. Như vậy, đồng chí Phùng Chí Kiên là một cán bộ rất gần gũi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tin cậy, lựa chọn gửi đi đào tạo rất cơ bản ở các trường chính trị, quân sự nổi tiếng, đồng thời được tôi luyện và trưởng thành trong thực tiễn đấu tranh cách mạng vô sản để trở thành hạt nhân lãnh đạo cách mạng vô sản ở Việt Nam.


Tiêu đề: Re: PHÙNG CHÍ KIÊN ... Nhà chính trị, quân sự song toàn
Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Giêng, 2022, 08:39:11 pm

Sau khi tốt nghiệp Trường Đại học Phương Đông, năm 1934, theo phân công của Quốc tế Cộng sản, Phùng Chí Kiên trở về Hương Cảng (Hồng Kông) tham gia Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương do Lê Hồng Phong đứng đầu, được phân công phụ trách Tiểu ban quân sự và kỹ thuật.

Trong điều kiện bị địch đàn áp khốc liệt, có lúc Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương không còn, Ban Chỉ huy ở ngoài xúc tiến công tác chuẩn bị triệu tập Đại hội đại biểu lần thứ nhất; xây dựng các văn kiện, góp phần quan trọng tiến hành Đại hội lần thứ nhất của Đảng (3.1935), khôi phục tổ chức, hoạt động của Đảng và phong trào cách mạng Việt Nam. Tại Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ nhất (3.1935) họp ở Ma Cao (Trung Quốc), Phùng Chí Kiên được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được cử vào Ban Thường vụ Trung ương, trực tiếp phụ trách công tác đảng ở nước ngoài. Đại hội coi Ban Chỉ huy ở ngoài "là cơ quan cao hơn Ban Trung ương, chỉ trực tiếp chịu quyền chỉ đạo của đại biểu Đảng đại hội và của Quốc tế Cộng sản"1.

Từ đây, Đảng Cộng sản Đông Dương có Ban Chỉ huy ở ngoài và Ban Chấp hành Trung ương ở trong nước. Sự tồn tại song song hai cơ quan này với những cơ chế hoạt động thiếu chặt chẽ và rõ ràng, đã làm nảy sinh một số bất đồng trong các đồng chí lãnh đạo của Đảng, nhất là từ tháng 10 năm 1936 đến tháng 3 năm 1938. Tuy vậy, Ban Chỉ huy ở ngoài có vai trò rất quan trọng (tức có nhiệm vụ đặc biệt), là đầu mối liên lạc giữa phong trào cách mạng trong nước với Quốc tế Cộng sản, xuất bản Tạp chí Bônsêvíc hướng dẫn đường lối cách mạng và sau là cơ sở liên lạc giữa lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc với phong trào cách mạng trong nước. Trong thành phần Ban Chỉ huy ở ngoài, Phùng Chí Kiên là một trong những cán bộ lãnh đạo chủ chốt. Khi Lê Hồng Phong và Hà Huy Tập về nước, Phùng Chí Kiên là người trực tiếp phụ trách Ban Chỉ huy ở ngoài.

Với tư cách là Ủy viên Trung ương, Ủy viên Ban Thường vụ, trực tiếp phụ trách Ban Chỉ huy ở ngoài, Phùng Chí Kiên đã có những đóng góp quan trọng cho quá trình xây dựng tổ chức Đảng, xây dựng cơ sở trong những năm cách mạng Việt Nam gặp khó khăn, thử thách nặng nề nhất.

Tháng 8 năm 1936, Phùng Chí Kiên được Trung ương Đảng cử về Sài Gòn cùng Hà Huy Tập trực tiếp phụ trách phong trào cách mạng trong nước đòi quyền tự do, cơm áo, hoà bình. Sau đó, theo phân công của Trung ương Đảng, đồng chí Phùng Chí Kiên quay lại Hương Cảng chỉ đạo Ban chỉ huy ở ngoài của Đảng thay cho Lê Hồng Phong về nước hoạt động.

Tháng 10 năm 1938, thực dân Anh đã ra lệnh bắt giữ và trục xuất đồng chí Phùng Chí Kiên khỏi Hương Cảng. Phùng Chí Kiên đến Côn Minh (thủ phủ tỉnh Vân Nam), nơi Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động. Dưới sự chỉ đạo của Người, Phùng Chí Kiên và một số đồng chí khác nhanh chóng củng cố lại Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng và xuất bản tờ báo Đồng Thanh đ