Lịch sử quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: vnmilitaryhistory trong 12 Tháng Mười, 2021, 08:34:34 pm



Tiêu đề: Bản hùng ca xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 12 Tháng Mười, 2021, 08:34:34 pm
- Tên sách: Bản hùng ca xuân 1975
- Tác giả:
- Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
- Năm xuất bản: 2015
- Người số hóa: giangtvx, vnmilitaryhistory
 

Tuyển chọn nội dung:
   - BAN TUYÊN GIÁO - TRUNG ƯƠNG HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM
   - HOÀNG LAN ANH


LỜI NÓI ĐẦU


Cuộc thi viết "Bản hùng ca Xuân 1975" do Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam và Đài Tiếng nói Việt Nam phối hợp tổ chức lần thứ nhất (năm 2004-2005) đã thu hút được đông đảo cựu chiến binh trong cả nước, những nhân chứng lịch sử của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mà đỉnh cao là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 lịch sử.


Hướng tới kỷ niệm 40 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1975-2015), Nhà xuất bản Quân đội nhân dân phối hợp với Ban Tuyên giáo - Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam giới thiệu những bài viết được chọn lọc trong cuộc thi thành tập sách "Bản hùng ca Xuân 1975" để thiết thực chào mừng 40 năm ngày toàn thắng. Đây là những kỷ niệm, hồi ức chân thật, sâu sắc và xuyên suốt rất đáng trân trọng của những người trong cuộc thể hiện sinh động trên nhiều lĩnh vực, nhiều khía cạnh khác nhau trong những năm tháng hào hùng của dân tộc.

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.


NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN


Tiêu đề: Bản hùng ca xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 12 Tháng Mười, 2021, 08:36:03 pm
VƯỜN XƯA BẾN CŨ

NGUYỄN MINH ĐỨC


Cứ men theo con đường nhỏ quạnh hiu, qua quãng đồi lúp xúp sim mua là đến vườn chè xanh tốt. Ở đó có túp lều tranh rách rưới, những cánh cửa làm bằng tôn lỗ chỗ vết đạn được buộc vụng về vào cột nhà bằng những sợi dây thép cong queo. Đồ đạc trong nhà sắp xếp gọn gàng sạch sẽ nhưng nhìn qua cũng có thể nhận biết nơi này đang thiếu bàn tay người đàn ông, ở đó chỉ có một phụ nữ đã ngoại tứ tuần gầy gò bệnh tật, ngày ngày vào ra đơn chiếc. Đó là Trang... Phải chi thuận theo lời thỉnh cầu của tôi thì em đã đỡ cô đơn mà tôi cũng khỏi một đời giày vò tâm can cái nỗi mắc nợ nghĩa tình. Dẫu trong cảnh thanh bình hôm nay, tôi đã có một gia đình hạnh phúc nhưng làm sao có thể quên đi chuỗi ngày nằm gai nếm mật, bao đồng đội ngã xuống, bao người dân không quản cực hình tra tấn của kẻ thù, hết lòng theo Đảng, theo cách mạng mà giờ đây vẫn còn chịu bao vất vả, thiệt thòi...


Để chuẩn bị cho chiến dịch Trị - Thiên năm 1972, tôi được cấp trên giao nhiệm vụ nắm chắc mọi diễn biến lực lượng của địch ở thị xã Quảng Trị. Tổ có ba người nhưng chỉ một mình tôi được bám trụ lại ở địa bàn vùng ven là xã Hải Sơn, ngày chui xuống hầm bí mật, đêm đội lên mò vào căn cứ địch để trinh sát, vào khu dân cư để nắm tình hình. Bác Diện là một cơ sở mà địa phương giới thiệu cho tôi móc nối. Lần đầu gặp gỡ, bác tỏ ra do dự, tôi hiểu ngay rằng, bác lo rủi thời sa vào tay giặc với cái dáng "con nít" của tôi liệu có thể chịu nổi những đòn tra tấn của kẻ thù mà cung khai ra bác hay không... Ngược lại, tôi đến với bác đầy lòng tin cậy, không chỉ nghe qua lời giới thiệu mà nhìn dáng người bác nhỏ nhắn nhưng nhanh nhẹn, từng trải, tôi đã thấy ấm lòng.


Chỉ có sau mấy ngày, bác đã giúp tôi đào chiếc hầm bí mật ngay trong vườn chè của bác. Căn hầm nằm dưới gốc bụi tre sát bờ sông bên cạnh những bậc tam cấp vào những khúc tre buộc ngang dọc làm nơi tắm rửa của bà con sau những buổi làm vườn. Phải nói bác có con mắt thật tinh đời. Hầm đặt gần bến tắm tạo yếu tố bất ngờ, vả lại ngồi trong hầm tôi cũng được nghe đủ mọi chuyện, qua đó sàng lọc, tổng hợp, cập nhật tình hình rất phong phú. Hàng ngày bác đi làm vườn mang theo cơm trưa và dĩ nhiên có cả tài liệu và phần cơm của tôi. Phải công nhận là khả năng điều tra nắm tình hình của bác thật tuyệt vời. Nào là địch chuẩn bị mở trận càn vùng giáp ranh; nào là liên đoàn biệt động quân số 15 chuẩn bị ra thay chân lữ 147 quân lục chiến ngụy ở căn cứ Mác-na-ma-ra... Bác mua cho tôi quần áo, giày mũ để cải trang thành lính ngụy. Với nước ra ngăm đen, tóc dài giống lính ngụy hơn là "Việt cộng nằm vùng", tôi đã nhiều lần trà trộn vào thị xã trực tiếp vẽ sơ đồ hệ thống đồn bốt của địch. Được sự cộng tác đắc lực của bác Diện, tôi đã đáp ứng đầy đủ mọi yêu cầu của trên, càng ngày tôi và bác càng gần gũi và hiểu nhau hơn. Bác đã coi tôi như con cái. Bác nói: "Hoà bình rồi bác gả cái Trang con gái bác cho mày... Bác thế này nhưng con gái út của bác ngó cũng được lắm... bọn trai làng thường gọi nó là "bông hoa vùng ven đấy" - "Bác đã hứa là phải chắc ăn đó nghe!... nếu mà Trang rơi vào tay sĩ quan ngụy là con bắt đền bác đó...". Bác trợn mắt nhìn tôi: "Con nghĩ về gia đình bác vậy đó hả? Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh chứ... Bác đang chuẩn bị cho nó lên rừng đó... con có nhận nó không?"... Và từ đó bác gọi tôi là "con" một cách ngọt ngào. Nói thì vậy nhưng đã mấy tháng trời ở đây tôi chưa bao giờ gặp Trang, tuy trong lòng cũng mơ hồ nỗi xốn xang mỗi khi nhắc tới tên em.


Công việc của chúng tôi đang trôi chảy thì đột nhiên bác không liên lạc với tôi 7 ngày liền và 7 ngày ấy tôi chỉ ăn độc mỗi lương khô. Không hiểu gia đình bác có chuyện gì chăng? Không chờ được nữa, đến ngày thứ 8 tôi hoá trang đội nắp hầm và một mình lần mò vào "khu tập trung".


Đêm vùng hậu địch vắng lặng một cách ghê người. Thỉnh thoảng từ phía đồn địch vụt lên những ngọn pháo sáng hốt hoảng và tiếng chó sủa mỗi khi bọn lính đi tuần. Phải trườn qua ba lớp hàng rào kẽm gai tôi mới vào được bên trong. Những dãy tôn nằm lặng lẽ xếp tựa lưng vào nhau trông như những sạp hàng tạp hoá trong khu chợ xép. "Đúng là một nhà tù cải tiến". Tôi tìm đến nhà bác Diện, cửa bỏ ngỏ, trên bàn thờ leo lét ngọn đèn dầu, ở giữa bình hương còn nghi ngút, đằng sau đặt một khung ảnh viền đen. Tôi bàng hoàng ngồi thụp xuống chân bàn chết lặng hồi lâu rồi sẽ sàng đứng dậy run rẩy thắp nén hương. Đôi mắt bác Diện nhìn tôi âu yếm khoan dung và như nuối tiếc những công việc còn đang dang dở. Tôi cứ dùng dằng bên bàn thờ bác không biết bao lâu cho đến lúc ra đi mà những người trong gia đình vẫn không hay biết gì.


Sáng hôm sau, ngồi trong hầm, tôi đang vắt óc suy nghĩ xử lý tình huống chưa hề dự kiến này thì nghe từ trên nóc hầm có tiếng gõ vào gốc tre cốc... cốc... Đúng là ám hiệu liên lạc. "Anh Minh ơi! Trang đây... Anh đợi nóng ruột lắm phải không? Ba em mất rồi! Ba đột nhiên bị bệnh nặng, vào Huế... Họ trả về... Biết mình không qua khỏi, ba bảo em mượn xe máy chở lên thăm vườn, ngầm ý của ba là được gặp cách mạng, gặp anh lần cuối trước lúc đi xa... Nhưng xe chạy được gần một cây số thì em phải chở ba trở về và tối hôm đó ba mất"... Giọng em thì thầm đứt quãng, có lúc tưởng như em đã chìm xuống dòng sông Mỹ Chánh sâu thăm thẳm. Đêm ở nhà bác Diện cố cắn răng chịu đựng thì giờ đây tôi cứ để cho nước mắt tuôn trào với nỗi đau mất mát, phần tiếc thương người cha, người đồng đội, người bạn chiến đấu, phần cảm phục một cuộc đời với một tấm lòng son sắt thuỷ chung với cách mạng...


Tôi lại tiếp tục lao vào công việc với một nghị lực mới bởi nhiệm vụ nặng nề, bởi nỗi tiếc thương và giờ đây bên tôi đã có Trang sát cánh. Từ khi có Trang cộng tác, công việc có chiều thuận lợi hơn. Được sự hướng dẫn của tôi em đã mở rộng các mối quan hệ, khéo léo khai thác tình hình và tôi đã nắm chắc được mọi diễn biến của lực lượng địch, kể cả một số kế hoạch càn quét vây ráp do Trang đã cảm hoá được một sĩ quan trẻ làm việc trong "Trung tâm hành quân" của ngụy. Ngày ngày lại gô cơm đi làm vườn và ngày ngày tôi gặp em để nhận báo cáo, để hướng dẫn bồi dưỡng nghiệp vụ... Em đã trở thành nỗi nhớ mong khắc khoải trong tôi tự bao giờ, dẫu rằng cho tới lúc đó tôi vẫn chưa được nhìn tận mắt "bông hoa vùng ven" của tôi rực rỡ tươi thắm đến nhường nào bởi chúng tôi chỉ trao đổi với nhau qua lỗ thông hơi căn hầm bí mật. Có lần Trang hỏi tôi:

- Hồi còn sống ba có nói với anh điều gì về em không?

- Bác có nói chuẩn bị cho em "Lên rừng".

- Để làm 50 ngày cho ba xong là em đi luôn nhé?

- Chưa được đâu! Sớm nhất cũng phải xong chiến dịch. Mà phải báo cáo với cấp trên đã chứ!

- Hay anh muốn để em làm vợ sĩ quan ngụy?

- Hả... em nói... cái gì...? - Tôi buột miệng lắp bắp và chắc hẳn ở bên ngoài hầm em đang mỉm cười tinh nghịch.

Những cuộc trò chuyện như thế chỉ diễn ra vài phút mà vẫn gom góp thành nỗi nhớ mong trong mỗi chúng tôi chứ đâu có thời gian mà tỏ tình hò hẹn.


Tiêu đề: Bản hùng ca xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 12 Tháng Mười, 2021, 08:40:54 pm
Lại 5 ngày liền tôi ngồi nhai lương khô vì em không đến. Tôi ngóng trông em đến cháy lòng nhưng không thể vi phạm quy định mà mò về "khu tập trung" để tìm gặp Trang, bởi vì tôi đã mường tượng chiến dịch sắp mở, mình không thể để một sơ suất nhỏ nào. Hôm sau, trời mưa tầm tã, nước sông dâng cao, tôi đang ngồi trong hầm lo lắng miên man thì có tiếng cốc, cốc, cốc... "Em đây... Trang đây!". Tôi luống cuống mở nắp hầm... "Xuống đây em! Đừng sợ! Trời mưa to quá"... Tôi buộc phải phá lệ chứ không có cách nào khác. Đậy nắp hầm xong tôi quay lại. "Chật chội thế này mà anh cũng ở được... giỏi thiệt...". Cũng phải hơn 10 phút sau tôi mới trấn tĩnh lại và nhận ra cái quyến rũ thật dịu êm mà khoảng cách thì quá mong manh. Ánh sáng từ lỗ thông hơi chiếu rọi vào làm rạng rỡ thêm nét đẹp ở em thật đằm thắm dịu dàng, khuôn mặt trái xoan hiền hậu kín đáo, đôi mắt đen láy sâu thẳm tự như trong đôi mắt ấy có cả một miền quê yên ả, một vùng trung du với những mùa bông trang đỏ rực, mùa sim chín mọng, những buổi hoàng hôn nhuộm tím cả vườn chè... và nhẹ mỉm cười. "Anh cười gì vậy?". "À... lâu gặp lại em, mừng quá... cứ sợ có chuyện gì"... "Có gì đâu, họ bắt chúng em vào lực lượng "nhân dân tự vệ", bắt huấn luyện quân sự và trang bị súng, bây giờ em đang cất ở nhà, đêm đêm đi tìm bắt Việt cộng"... "Anh có sợ không?". "Có... sợ lắm"...


Em gườm tôi... "dễ ghét"... Em kể cho tôi nghe tình hình trong thị xã và nhận định sắp tới địch sẽ dồn lực lượng tinh nhuệ vào Tây Nguyên chỉ để lại bọn địa phương quân, chúng tổ chức lực lượng "nhân dân tự vệ" ở khắp các làng xã... Tôi đã hướng dẫn em thay đổi phương thức hoạt động cho phù hợp và nếu có thời cơ thì hành động như thế nào... "Mấy ngày vừa rồi anh ăn uống thế nào? Có thèm cơm không? Ở nhà biết rứa thương quá trời!"... Không cầm được lòng, tôi đưa tay vuốt nhẹ mái tóc em và từ từ kéo em vào lòng... chúng tôi hẹn sẽ cưới nhau khi quê hương giải phóng...


Giá mà không có cái tình cờ trong buổi sáng hôm đó thì chắc bây giờ đã khác. Trên đường đi làm em gặp một toán lính, chúng nhìn theo và thách đố nhau tán tỉnh xin cho được gô cơm trên tay em để chúng tỏ là mình "chinh phục được người đẹp". "Gô cơm đây... trưa em nhịn đói cũng được"... Em cứ nghĩ là chúng đùa và sẽ trả lại, nào ngờ bọn lính chai mặt đã tranh giành nhau gô cơm và mang ăn thật... từ trong gô cơm bày ra một mảnh giấy... Mảnh sơ đồ vẽ toàn bộ hệ thống phòng thủ của địch ở trong thị xã. Em đã bị bắt... Chỉ một giờ sau địch kéo đến vườn chè để sục sạo xăm tìm. Ngồi dưới hầm tôi nghe rõ tiếng đấm đá huỳnh huỵch, tiếng gầm gừ lồng lộn điên cuồng của bầy lang sói. "Mày mang sơ đồ cho ai? Hầm bí mật ở đâu?"... Không một tiếng rên la, không một lời đáp lại, chúng lột hết quần áo của em... Tôi cắn chặt môi bật cả máu cố kìm nỗi căm hờn, có lẽ giờ đây em không còn có cảm giác đau đớn gì nữa mà đã chuyển nỗi giày vò quằn quại sang tôi. Ước gì tôi được phép đội nắp hầm lên tung lựu đạn và xả súng vào bầy thú hung ác thì hả lòng biết mây... Sau mấy giờ tra tấn xăm tìm không có kết quả gì, chúng rút đi và đưa em vào lao xá. Những ngày sau đó đên với em là những ngày cực hình tàn khốc, Mỹ - ngụy không chừa một thủ đoạn nào đối với một người con gái chân yếu tay mềm, em như cánh hoa bị vùi dập trong cơn giông bão, tàn tạ xác xơ, kẻ địch thấy ở em không còn sự sống nên gọi gia đình đến nhận và mang vào Huế để cứu chữa. Vững tin ở em tôi vẫn tiếp tục bám trụ an toàn cho tới ngày chiến dịch mở màn và kết thúc thắng lợi.


Khi quê hương được hoàn toàn giải phóng, tôi trở lại tìm em thì chỉ nhận được vẻn vẹn có mấy dòng. "Minh ơi! Tha lỗi cho Trang... Hãy quên Trang mà đi tìm người khác... Trang không thể mang lại hạnh phúc cho Minh được...". Ôi! Những nét chữ quen thuộc thân thương, những nét chữ mềm mại này đã từng đến với tôi trên những tò giấy cũ nhàu nát, mang đến cho tôi bao tin tức tình hình quý giá, bao nỗi vui sướng tự hào lẫn với những nhớ mong khắc khoải mà nay những nét chữ ngoằn ngoèo nhoè nước mắt kia đã làm cho tôi khổ đau đến tột cùng. Cái Nhung, em gái út của Trang kể với tôi trong nước mắt: "Chị Trang buồn khổ lắm anh ạ? Chị thường trở về vườn cũ ngồi khóc một mình bên cạnh căn hầm bí mật của anh ngày trước"... Trang ơi! Em đã từng dám hy sinh cả thân mình để bảo vệ cách mạng, bảo vệ tính mạng của anh bởi một niềm tin và tình yêu son sắt mà nay anh nỡ quay lưng đi tìm hạnh phúc mới được sao? Tôi quyết định tìm gặp em bằng được và thật không ngờ em đã trả lời như quát vào tôi: "Xin anh hãy quên em đi? Em không thể mang lại... hạnh phúc cho chúng ta được? Tại sao anh không chịu hiểu điều đó?". Rồi em gục đầu khóc nức nỏ. Bỗng em lau vội nước mắt, ngẩng mặt nhìn thẳng vào tôi: "Nếu anh còn đến đây tìm gặp Trang một lần nữa thì Trang sẽ bỏ quê hương vào Tây Nguyên sinh sống một mình... Anh có muốn không?". Lời cảnh cáo của em chắc chắn sẽ có hiệu lực nếu tôi còn liều lĩnh tìm đến, hơn ai hết tôi hiểu tính nết của Trang.


Tôi vẫn thường lặng lẽ lui tới mảnh vườn xưa, những hàng chè thẳng tắp xanh tốt nõn nà bởi bàn tay người chăm bón. Bến cũ đìu hiu có con đò nhỏ lẻ loi âm thầm nấp dưới rặng tre già, dòng sông xanh thẳm như ánh mắt buồn. Và dưới đáy sông kia mãi in bóng một miền quê yên ả, những mùa bông trang đỏ rực, những mùa sim chín mọng, những chiều trung du hoàng hôn nhuộm tím mênh mang như lòng người còn nặng ân tình.


N.M.Đ


Tiêu đề: Bản hùng ca xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 12 Tháng Mười, 2021, 08:41:55 pm
Ở HƯỚNG THỨ NĂM CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH


VĂN PHÁC


Bước vào đầu xuân 1975, chiến trường B2 (Nam Bộ) bỗng sôi động hẳn lên. Đây là lần đầu tiên quân và dân miền Nam giải phóng hoàn toàn một thị xã là thị xã Phước Long và giải phóng hoàn toàn một tỉnh cũng là tỉnh Phước Long, uy hiếp ngay phía bắc Sài Gòn.


Sau chiến thắng Phước Long, các đơn vị nô nức chuẩn bị cho những trận đánh lớn hơn và thắng lớn hơn. Giữa lúc đó Bộ Tư lệnh Miền nhận được điện mật của Bộ Tổng Tư lệnh chỉ thị cho B2 vừa mỏ các chiến dịch của chủ lực vừa đánh phá bình định, mở rộng vùng giải phóng, mở thông hành lang vận chuyển trên đất ta về hướng đồng bằng Sông Cửu Long. Bộ Tổng Tư lệnh còn giao một nhiệm vụ quan trọng khác là B2 vừa tác chiến, vừa khẩn trương xây dựng lực lượng ba thứ quân, sẵn sàng đón thời cơ chiến lược khi chiến trường Tây Nguyên thắng lớn.


Được lời như cởi tấm lòng, Bộ Tư lệnh Miền vội huy động các cơ quan và đơn vị triển khai công việc. Phải coi trọng xây dựng cả ba thứ quân, nhưng khối chủ lực được ưu tiên. Quân đoàn 4 được bổ sung đầy đủ quân số và trang bị. Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền cân nhắc hạ quyết tâm lập thêm một quân đoàn nữa ở Nam Bộ để đón thời cơ lớn. Quân đoàn 232 ra đời ngay sau đó và gọi tắt là Đoàn 232 để giữ bí mật. Với lực lượng hai quân đoàn hùng hậu trong tay, tháng 2 năm 1975, Bộ Tư lệnh Miền quyết định mở hai chiến dịch ở hai hướng quan trọng khác nhau. Quân đoàn 4 mở chiến dịch ở khu vực Dầu Tiếng. Dầu Tiếng là một thị trấn sầm uất nằm trên đường quốc lộ 1A, tạo thế uy hiếp Sài Gòn không cho địch rảnh rang dồn lực lượng ra chi viện cho Tây Nguyên. Còn Quân đoàn 232 mới được thành lập do đồng chí Năm Ngà (Nguyễn Minh Châu) Tham mưu trưởng của Miền làm Tư lệnh, đồng chí Tám Trần (Trần Văn Phác) Chủ nhiệm Cục Chính trị Miền làm Chính ủy, mở chiến dịch ở hướng tây tỉnh Tây Ninh theo dọc biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia, với nhiệm vụ tiêu diệt và đập tan tuyến phòng thủ biên giới của địch; mở thông đường hành lang chiến lược của ta từ Tây Ninh đến Đồng Tháp Mười, nối liền đường hành lang vận chuyển từ miền Đông Nam Bộ đến đồng bằng Sông Cửu Long.


Trong quá trình chuẩn bị, Quân đoàn 232 chúng tôi tìm mọi cách nghi binh, làm cho bộ tổng tham mưu ngụy bị lừa thật. Các tướng ngụy phán đoán là "Việt cộng" bầy trò đánh biên giới để kéo chủ lực ngụy ra đó rồi bất ngờ quay lại đánh chiếm thị xã Tây Ninh để làm trụ sở ra mắt Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam. Vì vậy họ vội vàng điều toàn bộ sư đoàn 25 ngụy cùng xe, pháo về cụm tại trảng lớn ở ngoại châu thành Tây Ninh, quyết không để mất thị xã Tây Ninh vào tay "Việt cộng"! Thế là rất có lợi cho Quân đoàn 232 bước vào chiến dịch. Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân đoàn hạ quyết tâm phải đánh thắng trận đầu trong chiến dịch lớn đầu tiên này để xây dựng truyền thông cho đơn vị.


Qua nghiên cứu và điều tra kỹ thực địa, chúng tôi chọn đồn "Bến Cầu", đồn rắn nhất trong hệ thống phòng thủ biên giới của địch. Nếu dứt điểm được Bến Cầu sẽ làm các đồn bốt khác hoảng hồn, càng tạo thuận lợi cho các trận sau. Quả nhiên đồn Bến Cầu không trụ nổi, tên chỉ huy bị chết khi quân ta xung phong vào đồn. Những trận tiếp theo là các đồn Mộc Bài, An Thành, Trà Cao, Quéo Ba, nằm dọc trên biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia đều lần lượt chịu chung số phận với đồn Bến Cầu. Vì vậy đến cuối tháng 3 năm 1975, Quân đoàn 232 đã tiến đến bên ngoài thị xã Mộc Hoá, tỉnh Kiến Tường (nay thuộc tỉnh Đồng Tháp). Bộ Tư lệnh Miền lệnh khẩn cấp cho quân đoàn chuẩn bị khẩn trương tranh thủ mở cuộc tấn công giải phóng thị xã Mộc Hoá càng sớm càng tốt. Chiếm được thị xã Mộc Hoá là cơ sở để giải phóng Đồng Tháp Mười và mở ra cục diện mới ở đồng bằng Sông Cửu Long trước thời cơ mới. Các đồng chí tỉnh ủy và Mặt trận tỉnh Kiến Tường ngày đêm lăn lộn với quân đoàn, chuẩn bị kết hợp chặt chẽ hai chân, ba mũi trong chiến dịch.


Tới ngày N (4-4-1975), sắp tới giờ hành quân vào chiếm lĩnh trận địa chúng tôi nhận được bức điện tối khẩn của Bộ Tư lệnh Miền gồm 2 điểm: 1/ Lệnh cho Đoàn 232 thôi không đánh Mộc Hoá, mà điều ngay một sư đoàn xuống cắt lộ 4 (con đường đi từ Sài Gòn xuống lục tỉnh) và chuẩn bị gấp đánh chiếm thị xã Tân An (thị xã Long An bây giờ). 2/ Chỉ đạo đặc công đánh sập cầu Bến Lức (nằm trên lộ 4, thuộc Long An) kiên quyết không cho địch từ đồng bằng kéo về ứng cứu Sài Gòn. Ngoài ra bức điện còn thêm: anh Sáu Nam (Lê Đức Anh, Phó Tư lệnh Miển) và anh Hai Lê (Lê Văn Tưởng, Phó Chính ủy Miền) đang trên đường đến chỗ các anh để truyền đạt nhiệm vụ mới. Cuối bức điện còn một câu: cử ngay đồng chí trong BCH 232 đến làm việc với Tỉnh ủy Long An và cán bộ phụ trách đặc công của Miền để phối hợp hành động.


Sự thay đổi nhiệm vụ quá đột ngột làm chúng tôi ngồi ngẩn ra nhìn nhau. Nhưng là lệnh rồi, phải bàn việc chấp hành ngay lập tức: Đảng ủy Quân đoàn họp trong đêm, phân công đồng chí Năm Ngà và đồng chí Phó Chính ủy Tư Râu báo tin này ớối đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Kiến Tường và chuẩn bị cho Sư đoàn 5 xuống cắt lộ 4, đồng chí Tám Trần và đồng chí Phó Tư lệnh Hai Nghiêm (Trần Văn Nghiêm) lên đường tới Tỉnh ủy Long An.


Tôi và anh Hai Nghiêm bàn nhau tổ chức đi gấp bằng xuồng, ở Đồng Tháp Mười "xuồng đuôi tôm" là phương tiện đi lại tiện nhất. Thế mà chúng tôi cũng mất cả ngày trời vì có những quãng bị cạn phải xắn quần lội bộ dọc theo bờ kênh. Đói bụng ăn mấy miếng lương khô qua bữa. Trời mùa khô nắng gắt nên càng mệt. Mãi sẩm tối mới tới chỗ cơ quan Tỉnh ủy Long An. Ăn qua quýt xong, chủ và khách cùng chui vào họp trong một chiếc màn rộng phủ kín cả gian nhà vì Đồng Tháp Mười vẫn nổi tiếng "muỗi vi vu như sáo thổi, đỉa lềnh bềnh như bánh canh"... Chúng tôi ngồi bàn mãi, tốn rất nhiều nước trà và thuốc lá mà chưa tìm ra cách phá cầu. Mãi khuya mới thống nhất một cách đánh đầy mạo hiểm là chọn vài, ba chiến sĩ đặc công dày dạn, đội đám bèo lục bình giấu thuốc nổ trong đó, trôi theo dòng nước, bám vào chân cầu mà đánh là ăn chắc.


Gần sáng mới họp xong. Các đồng chí đặc công xin về để kịp chuẩn bị. Tôi và anh Hai Nghiêm vừa đặt mình nằm xuống ngủ thiếp đi ngay. Bỗng lại được gọi dậy, có điện của... lệnh ngừng phá cầu Bến Lức và lệnh cho Sư đoàn 5 phối hợp với đặc công và bộ đội tỉnh đánh chiếm thị xã Tân An (Long An bây giờ) và giữ cầu Bến Lức để bộ đội ta sử dụng. Tin này làm chúng tôi tỉnh hẳn người, nhưng mọi việc đã bàn gần hết đêm phải quay ngoắt 360°. Tôi vội điện ngay cho đơn vị đặc công và nhờ Tỉnh ủy Long An cho giao liên chạy bộ, cố đuổi kịp mấy đồng chí đặc công đang trên đường về đơn vị. Sau đó lại ngồi uống trà, hút thuốc vặt và chuyện phiếm để đợi sáng. Tôi nói với anh Hai Nghiêm: "Chiến sự diễn biến quá nhanh, ta phải về gấp kẻo không kịp". Anh trêu tôi: "Ngộ nhỡ khi điện tới, đặc công đã cử người đi phá cầu Bến Lức rồi thì Chính ủy Tám Trần chịu trách nhiệm đấy nhé!". Tôi buột miệng: "Được rồi, đợi giải phóng xong Sài Gòn mời anh đến dạo mát với tôi trên cầu Bến Lức cho bõ những lúc như thế này".


Khi tôi và anh Hai Nghiêm trở về tới chỉ huy sở Quân đoàn 232 thì đồng chí Lê Đức Anh và Lê Văn Tưởng đã ở đó rồi. Các đồng chí phổ biến quyết tâm của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương mở Chiến dịch Hồ Chí Minh và Quân đoàn 232 được giao nhiệm vụ phụ trách hướng tây nam chiến dịch. Các đồng chí Lê Đức Anh và Lê Văn Tưởng ở lại để chỉ đạo chung các lực lượng của ta ở hướng tây nam (232) và hướng nam (Quân khu 8). Quân đoàn 232 được tăng thêm Sư đoàn 9 (Quân đoàn 4) là đủ 3 sư đoàn bộ binh, thêm 4 trung đoàn độc lập, 1 tiểu đoàn xe tăng và thiết giáp, 1 tiểu đoàn pháo hạng nặng 130 ly. Tin này làm cả Đảng ủy 232 vừa mừng, vừa lo. Sắp vào trận mà được thêm lực lượng thì còn gì vui bằng. Nhưng lo nhất là làm cách gì để đưa toàn bộ lực lượng của quân đoàn, nhất là cả một khối sắt thép khổng lồ xe, pháo vượt qua sông Vàm Cỏ và những vùng sình lầy của Đồng Tháp Mười. Nhưng với sức lực, trí tuệ và quyết tâm của bộ đội thì khó khăn nào cũng vượt qua. Sau đêm 27 tháng 4, toàn bộ đội hình Quân đoàn 232 đã vượt sông an toàn, vào vị trí tập kết yên ổn; để kịp ngày N nổ súng tiến công toàn chiến dịch vào dinh lũy cuối cùng của địch ở Sài Gòn.


Đúng 0 giờ 28 tháng 4, Quân đoàn 232 đánh chiếm thị xã Hậu Nghĩa, diệt chi khu Đức Hoà, mở đường cho đại quân tiến sát vào Sài Gòn. Đêm 29 tháng 4 Sư đoàn 9, Quân đoàn 232 kiểm soát được vành đai phòng ngự đê Đại Hàn. Chớp thời cơ ngay rạng sáng ngày 30 tháng 4, Sư đoàn 9 được lệnh vượt qua ngã tư Bảy Hiền đánh thẳng vào mục tiêu đã định, chia nửa với đơn vị đi đầu của Quân đoàn 3 tiến về hướng bộ tổng tham mưu ngụy. Lúc đó, trong nội đô quân ngụy vẫn còn những ổ ngoan cố chống cự, nhưng không còn lực lượng phản động nào cản nổi năm cánh quân dũng mãnh từ năm hướng của Chiến dịch Hồ Chí Minh tràn ngập vào hang ổ cuối cùng của địch.


Trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, Quân đoàn 232 chiếm lĩnh xong Biệt khu Thủ đô của quân ngụy, vội cho bộ phận sang bắt liên lạc với đơn vị bạn đã thấy lá cờ đỏ sao vàng cắm tít trên nóc cao "Dinh Độc Lập" của ngụy. Lá cờ tươi thắm của Tổ quốc tung bay phấp phới như vẫy chào đồng bào từ các ngả ùn ùn kéo đến đông nghẹt bên ngoài. Mừng đón quân ta đã về giữa Sài Gòn giải phóng.

V.P


Tiêu đề: Bản hùng ca xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 12 Tháng Mười, 2021, 08:42:59 pm
CHUYẾN MỞ ĐƯỜNG MÒN HỒ CHÍ MINH TRÊN BIỂN NĂM 1961


PHẠM BÁ NHIỄU*
Ban Tư tưởng - Văn hóa Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh,
127 - Trương Định, quận 3, điện thoại: 090.374,4747


Về vùng biển xa xã Hiệp Thạnh huyện Duyên Hải, Trà Vinh chúng tôi gặp Thiếu tá - Anh hùng lực lượng vũ trang Hồ Đức Thắng, quê tại huyện Vũng Liêm tỉnh Vĩnh Long, người hơn 40 năm trước, đã chỉ huy con tàu không số đầu tiên ở vùng biển miền Tây Nam Bộ vượt biển khơi ra miền Bắc nhận vũ khí vào chiến trường miền Nam. Những ngày đó, bác Hai Thắng nhớ rõ như in. Tháng 8, biển Trà Vinh trong xanh, gió nhẹ, sóng biển hiển dịu như người Trà Vinh. Con tàu không số nhổ neo ra khơi vào một ngày lịch sử và anh em đi biển biết có bao giờ quên được; đó là ngày 25 tháng 8 năm 1961.


Ngày đó trời Nam Bộ và Trà Vinh nắng nhẹ, bầu trời trong xanh lồng lộng như vùng biển quê hương yêu quý của ông đầy màu xanh cây trái. Bãi biển Duyên Hải - Trà Vinh sóng gợn nhẹ, gió tràn qua mé biển như lưu luyến tiễn đưa các anh vội ra đi một chuyến đi chưa từng có kể từ khi đế quốc Mỹ vào xâm lược miền Nam. Một chuyến đi mà các anh chưa biết chặng dừng chân cuối ở bãi nào, một chuyến đi đầy thử thách, gian nguy trên biển khi hạm đội 7 của hải quân Mỹ luôn tuần tra và phong tỏa mọi nẻo đường biển từ Nam chí Bắc. Mọi việc của chuyến đi các anh đều bí mật tuyệt đối, không được nói gì với gia đình, kể cả vợ con, người thân để bảo đảm an toàn cho chuyến đi đầu tiên trên tuyến đường mòn trên biển lịch sử này.


Vào những năm 1960-1961, phong trào Đồng Khởi từ Bến Tre nổ ra rầm rộ khắp các tỉnh Nam Bộ. Chiến trường Vinh - Trà nói riêng cũng như chiến trường Nam Bộ tình trạng thiếu vũ khí chiến đấu của bộ đội ta là mối bận tâm lớn cho cán bộ, chiến sĩ. Đầu năm 1961, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra chỉ thị cho các tỉnh ven biển Nam Bộ cử các đơn vị tàu thuyền ra miền Bắc lấy vũ khí phục vụ chiến trường và nhằm trao đổi kinh nghiệm về các tuyến đường vượt biển của bộ đội ta. Từ tình hình đó, tháng 5 năm 1961, Tỉnh ủy tỉnh Trà Vinh, sau khi biết được thông tin từ tỉnh Bến Tre đã cử những người vượt biển ra Bắc, họp bàn và quyết định thành lập đoàn vận tải bằng đường biển đi miền Bắc xin viện trợ của Trung ương về các loại vũ khí về phục vụ cho chiến trường miền Nam đang rất căng thẳng, nhưng ta rất thiếu vũ khí.


Đoàn đi mở đường trên biển đầu tiên ấy có ba chiến sĩ là đảng viên: Hai Pháp, Huyện ủy viên huyện Trà Cú; Tam Khương, đảng viên chi bộ xã Trường Long Hòa tỉnh Trà Vinh và Nguyễn Văn Inh (tức Hồ Đức Thắng) làm thuyền trưởng cùng ba anh đang là quần chúng tích cực: anh Tôi, Hai Lẹ, Ba Mao. Phương tiện vượt biển ra Bắc chỉ có 1 chiếc tàu gỗ trọng tải 15 tấn được mua với giá 84.000 đồng (tiền Sài Gòn lúc đó), 1 chiếc la bàn cũ kỹ còn hơn cả tuổi các anh, một số nước ngọt, lương thực cho sáu anh em đi đường.


Trên đường đi, ngoài ba chiến sĩ là đảng viên trên tàu đã được chi bộ cho biết trước nhiệm vụ nguy hiểm của chuyến tàu không số này, còn anh em thủy thủ quần chúng cũng đều tỏ ra rất quyết tâm, phấn đấu vượt qua mọi gian khó, hiểm nguy khi được biết chuyến đi rất quan trọng này chưa hề có, chưa ai đi, mà họ đang được phân công thực hiện. Để giữ bí mật an toàn cho chuyến đi, sáu người trên tàu đều được tổ chức đảng đơn vị cho thay đổi họ tên, gọi sang những tên mới theo ý chí mà Bác Hồ chỉ ra: Đoàn, Kết, Đấu, Tranh, Thắng, Lợi. Mỗi người tự bắt thăm để lấy tên của mình. Anh Nguyễn Văn Inh bắt thăm lấy được họ và tên bí mật của mình trên chuyến tàu không số đó và từ đó đến nay ông được mang tên anh Hai - Hồ Đức Thắng.


Sau 9 ngày cuối tháng 8 sang đầu tháng 9 năm 1961 lênh đênh trên Biển Đông, đến ngày thứ 10 tàu gặp một trận bão lớn. Buồm tàu bị sóng to gió lớn của Biển Đông đánh tả tơi, tàu bị hư hỏng nặng không còn định hướng đi được trên biển mênh mông. Ba ngày sau đó tàu tự trôi dạt trên biển và bị trôi vào một thành phố hoàn toàn xa lạ.


Anh em thủy thủ trên tàu cứ lầm tưởng là thành phố Hải Phòng của miền Bắc nước ta, nhưng khi bị kiểm tra của cảnh sát hải cảng mà tàu bị trôi dạt vào, họ mới biết đó là cảng Ma Cao, đất Tô Nhượng của nước Bồ Đào Nha tại bờ biển của nước bạn Trung Quốc.


Cả sáu anh em trên tàu do ngôn ngữ bất đồng còn chưa biết tiếng Hoa, Hồ Đức Thắng làm dấu hiệu cho cảnh sát của cảng Ma Cao biết là tàu từ Sài Gòn đi buôn bán gặp nạn. Được cảnh sát và nhà chức trách địa phương giúp đỡ, tiếp tế nước ngọt, lương thực; nhân dân nước bạn giúp vá lại buồm tàu... rồi Hồ Đức Thắng cùng anh em đoàn tàu không số lại tiếp tục cuộc hành trình trên vùng biển xa lạ, trong vai là người Sài Gòn đi buôn bán, làm ăn. Sau đó tàu cập vào một cửa sông thuộc địa phận Quảng Đông - Trung Quốc. Anh em thủy thủ lên bờ được công an nước bạn Trung Quốc giúp đỡ tận tình, đưa sáu anh em của con tàu không số trở về lãnh sự quán Việt Nam tại tỉnh Quảng Châu (Trung Quốc).


Từ thành phố Quảng Châu - Trung Quốc, lãnh sự quán ta nhiệt tình hết mức và bí mật để cùng đưa sáu chiến sĩ của Trà Vinh - Nam Bộ về Việt Nam, rồi đi thẳng về Thủ đô Hà Nội. Đến Hà Nội đoàn thủy thủ Trà Vinh - Nam Bộ cũng phải tuyệt đối giữ hoàn toàn bí mật. Vì trong tình hình Mỹ - ngụy đang phong tỏa hầu như toàn bộ vùng biển của ta từ Nam chí Bắc, hạm đội 7 của hải quân Mỹ luôn kiểm soát, rình rập sẵn sàng nhả súng, tên lửa trên các vùng biển Việt Nam. Việc chiếc tàu của các anh tránh được cả mạng lưới kiểm soát dày đặc của hải quân Mỹ, ra miền Bắc an toàn là thắng lợi lớn của bộ đội ta. Việc tổ chức chuyên chở vũ khí từ Bắc vào Nam bằng đường biển là một chủ trương rất táo bạo, sáng suốt song không tránh khỏi hiểm nguy đối với tính mạng cho cả người và hàng hóa trên từng chuyến đi đường biến, nếu kế hoạch bị lộ.


Tiêu đề: Bản hùng ca xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 12 Tháng Mười, 2021, 08:43:47 pm
Ba ngày sau khi tàu đến Hà Nội, các đồng chí lãnh đạo trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng như Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, các Phó Thủ tướng Phạm Hùng, Phan Trọng Tuệ đã đến thăm. Đặc biệt, vinh dự to lớn của chiếc tàu không số đầu tiên của bộ đội Trà Vinh là được Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đến thăm trực tiếp và rất ân cần, nghe đoàn báo cáo tình hình chiến trường miền Nam và Trà Vinh, Vĩnh Long... Bác căn dặn đoàn về những nhiệm vụ quan trọng sắp tới. Nhớ lại những phút giây lịch sử này, anh em trong tàu đều rất bồi hồi, xúc động khi Bác Hồ dù bận trăm công ngàn việc trọng đại của đất nước đang chiến tranh, song Người đã đến tận nơi thăm hỏi, chỉ bảo từng chiến sĩ miền Nam.


Ông Hồ Đức Thắng thay mặt sáu anh em trong đoàn báo cáo với Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo Trung ương về tình hình chuyên vượt biển từ miền Nam và sự quan tâm, nhiệt thành của những người bạn Trung Hoa, những khó khăn của đoàn trong chuyến đi đầu tiên ra miền Bắc để tiếp nhận vũ khí. Ông cũng báo cáo với Bác Hồ và các vị lãnh đạo Trung ương về tình hình chiến trường Vinh - Trà và quyết tâm của Đảng bộ, quân và dân Vĩnh - Trà nói riêng, miền Nam nói chung trong cuộc đấu tranh một mất một còn chống giặc xâm lược Mỹ. Nghe anh em trong đoàn nói lên những quyết tâm to lớn của nhân dân miền Nam, Bác Hồ chỉ thị cho anh em trong đoàn phải an tâm nghỉ dưỡng sức, tranh thủ học thêm về văn hóa trong những ngày còn ở lại trên miền Bắc để chuẩn bị nhận nhiệm vụ mới.


Đó là những lời căn dặn đầy tình thương yêu của Bác với đoàn thủy thủ Quân giải phóng miền Nam trong một nhiệm vụ đầy nguy hiểm, bí mật tuyệt đối, nhưng vô cùng vinh quang khi đưa được vũ khí từ miền Bắc xã hội chủ nghĩa về cho anh em cán bộ, chiến sĩ miền Nam đang chiến đấu quyết liệt từng giờ, phút, từng ngày sống chết với quân thù, bảo vệ quê hương, đất nước ở miền Nam. Đầu năm 1962, đoàn vinh dự được lãnh đạo Bộ Tư lệnh Hải quân cấp cho một chiếc tàu sắt trọng tải 55 tấn có trang bị đầy đủ các phương tiện đi biển xa và có vũ khí để chiến đấu bảo vệ nếu tàu gặp địch. Rời vùng biển miền Bắc, chiếc tàu chở chuyến vũ khí đầu tiên đã phải khôn khéo ngụy trang, lọt qua tầm kiểm soát dày đặc của hải quân Mỹ - ngụy cập bến an toàn tại căn cứ tỉnh Cà Mau, nơi cuối cùng của Tổ quốc. Từ chuyến đi thứ hai của năm 1962, đoàn được trang bị tàu có trọng tải 100 tấn để tăng khối lượng vận chuyển đưa vũ khí đang rất hiếm hoi vào chiến trường miền Nam.


Đến năm 1966, đoàn tàu vận tải biển do ông Hồ Đức Thắng làm Chính trị viên đã vận chuyển được 16 chuyến tàu trọng tải 100 tấn mỗi chuyến để chở vũ khí và hậu cần hiếm hoi cho bộ đội vào chiến trường miền Nam. Trong điều kiện địch hoàn toàn phong tỏa đường biển, thành tích của đơn vị tàu 55 (lấy số hiệu từ chiếc tàu 55 tấn được Bộ Tư lệnh Hải quân cấp đầu tiên). Đoàn 1251 (Đoàn 125 trước năm 1964 là Đoàn 759 được Bộ Quốc phòng thành lập tháng 7 năm 1959 để vận tải trên biển nhằm tiếp tế vũ khí cho chiến trường miền Nam) Bộ Tư lệnh Hải quân đã tổ chức 16 chuyến vận chuyển an toàn, bí mật vũ khí vào Nam. Đây là một chiến công lớn của bộ đội Hải quân ta: "Đường mòn Hồ Chí Minh trên biển" mà hải quân đế quốc Mỹ với đầy đủ phương thám trinh sát trên Biển Đông, vẫn mù tịt về những "con tàu không số". Với những thành tích quả cảm đó, tại Đại hội Anh hùng và chiến sĩ thi đua toàn quốc năm 1967, đơn vị tàu 55 và Đoàn 125 (Bộ Tư lệnh Hải quân) được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang. Hồ Đức Thắng, người gắn liền với sông nước và vùng Biển Đông ngay từ những ngày đầu thành lập đơn vị và là Chính trị viên của đơn vị, vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Quyết định số 125/SV ngày 1 tháng 7 năm 1967 tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Ngày đơn vị và Hồ Đức Thắng được tuyên dương Anh hùng, Bác Hồ đã ra tận nơi, xuống tàu thăm hỏi chúc mừng, những lời chúc mà đến bây giờ sau 35 năm vẫn còn trong tâm trí của những người lính vượt biển trùng khơi để đưa vũ khí miền Bắc về với chiến trường nóng bỏng miền Nam.


Năm 1975 giải phóng miền Nam, Thiếu tá Hồ Đức Thắng được điều động về làm Phó Chính ủy xưởng Hải quân Nhà Bè, thuộc Lữ đoàn 125 - Bộ Tư lệnh Hải quân. Năm 1980, ông được quân đội cho nghỉ hưu sau 40 năm tham gia chiến đấu, vận chuyển vũ khí, hậu cần cho tuyến đường mòn Hồ Chí Minh trên biển. Rời quân ngũ, Anh hùng Hồ Đức Thắng lại về với cuộc sống đời thường, xây dựng cuộc sống gia đình ổn định từ hai bàn tay không của người lính và những quyết tâm sau hàng chục năm lênh đênh trên biển khơi với những con tàu không số và vũ khí vượt biển về Nam. Bốn người con trai của ông cũng tiếp bước cha mình tham gia quân đội và là cán bộ chủ chốt ở ủy ban nhân dân xã đã trưởng thành, giữ gìn truyền thống "Bộ đội Cụ Hồ" của người cha mở đường con tàu không số trên biển.    Đã 43 năm rồi, khi Bác Hồ tận tình xuống tàu, bắt tay và thăm hỏi từng anh em của con tàu không số, những lời dặn dò chỉ bảo ân tình của Bác đến nay sáu anh em bộ đội Trà Vinh mở tuyến đường mòn trên biển mang tên Người, đưa tình đưa nghĩa của Đảng, của Bác đến với nhân dân miền Nam, nơi Bác hàng ngày trước mỗi bữa ăn cơm có bao giờ quên nhắc đến miền Nam trong trái tim Người.


Trà Vinh tháng 8 năm 2004
P.B.N


Tiêu đề: Bản hùng ca xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 12 Tháng Mười, 2021, 08:44:51 pm
MỘT NGƯỜI LÍNH ĐI LÀM CÔNG TÁC NGOẠI GIAO


NGUYỄN NGỌC TRAI


Mùa xuân đại thắng năm 1975 tôi là một người lính hiếm hoi có mặt tại thủ đô nước Pháp, với cương vị là một thành viên của đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, chuyên viên quân sự tại hội nghị hậu Hội nghị Pa-ri.


Đang tham gia chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị, tôi được lệnh về Hà Nội nhận nhiệm vụ mới. Trong thời gian này máy bay Mỹ vẫn còn ném bom bắn phá ác liệt vùng khu Bốn; nên việc trở về miền Bắc của tôi cũng rất vất vả và đầy nguy hiểm. Sau một thời gian nghỉ ngơi và được phép về thăm gia đình, đồng chí Hằng ở Cục Cán bộ gặp tôi và truyền đạt nhiệm vụ cấp trên giao là biệt phái tôi sang Bộ Ngoại giao để đi làm công tác đàm phán ở Pa-ri. Tôi thật bất ngờ không hiểu nhiệm vụ sắp đến của mình sẽ ra sao, công việc trên giao có hoàn thành được hay không? Tuy nhiên với bản chất anh "Bộ đội Cụ Hồ" "Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, kẻ thù nào cũng đánh thắng", tôi tự nhủ thầm mình sẽ cố gắng hết sức để xứng đáng với sự tin tưởng của cấp trên. Từ trạm khách 66 của Bộ Quốc phòng, đồng chí Hằng cho xe đưa tôi và đồng chí Phong Vân, trung tá Hải quân sang bàn giao cho CP72 tại Chùa Bộc quận Đống Đa. Từ đây chúng tôi không mặc quân phục nữa. CP72 cấp phát cho chúng tôi đầy đủ trang phục như một nhà ngoại giao đi công tác nước ngoài, hôm sau chúng tôi đi chụp ảnh để làm hộ chiếu xuất ngoại.


Ngày 16 tháng 3 năm 1973, chúng tôi đến Pa-ri. Ngày 19 tháng 3 năm 1973 Hội nghị Hiệp thương giữa hai bên miền Nam Việt Nam bắt đầu phiên họp thứ nhất tại lâu đài La Celle Saint Clond (ngoại ô Pa-ri) đoàn đại biểu Chính phủ ta do đồng chí Nguyễn Văn Hiếu dẫn đầu. Đoàn đại biểu chính quyền Sài Gòn do ông Nguyễn Lưu Viên làm trưởng đoàn.


Nhiệm vụ của tôi là đặc trách các nội dung quân sự của đoàn như: Ngừng bắn, lấn chiếm vùng giải phóng của đối phương, trao trả tù binh, sự tiếp tục dính líu quân sự của Mỹ vào miền Nam...

Hàng ngày tôi phải đọc nhiều tờ báo chủ yếu là các tờ Leraonde, L'Humanité Le Figaro, đọc các bản tin Telex từ trong nước gửi sang; nghe các đài phát thanh đặc biệt là Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam nắm được các sự kiện xảy ra hàng ngày trên chiến trường miền Nam Việt Nam để phục vụ cho các nội dung mình đảm nhiệm. Đến bây giờ tôi vẫn thầm cảm ơn đồng chí Đào Lộc Bình, người điểm tin chiến sự hàng ngày trên Đài Tiếng nói Việt Nam, qua đó tôi tóm những tư liệu kịp thời cho việc tố cáo sự vi phạm hiệp định của chính quyền Sài Gòn.


Mỗi tuần họp một lần vào thứ 6, khoảng 14 giờ thì xong. Sau đó tôi cùng đi với anh Lý Văn Sáu đến Trung tâm Hội nghị quốc tế để tiến hành họp báo. Trong cặp tôi luôn mang sẵn một bản đồ miền Nam đánh dấu những vùng quân đội Sài Gòn mới lấn chiếm sau hiệp định và treo lên tường trước buổi họp báo để khi cần thì giới thiệu cho các nhà báo biết.


Hội nghị Hiệp thương giữa hai bên miền Nam Việt Nam không có mấy tiến triển. Sau hơn 40 phiên họp thì Hội nghị hoàn toàn bế tắc vào mùa thu năm 1974.

Cuối năm đó tôi được phép về nước thăm gia đình, trước khi rời Pa-ri tôi gọi điện thoại cho một số bạn bè biết. Tôi gọi cho Anh Vidan - Phóng viên báo L'Humanité, để chào tạm biệt. Đầu dây bên kia tôi nghe anh Vidan nói: hội nghị thì bế tắc, nhà quân sự lại bỏ về nước như vậy chỉ còn đánh nhau thôi. Tôi hơi giật mình tại sao anh Vidan lại biết tôi là nhà quân sự, mặc dầu trong thời gian ở Pháp, tôi chưa hề để lộ thân phận của mình cho bất cứ một ai. Tôi liền nghĩ lại thấy có lẽ do tác phong của mình mỗi khi bắt tay chào hỏi ai, tôi thường rập gót giày theo kiểu nhà binh mà tôi đã nhiễm thành thói quen trong những năm tháng học tại Trường Sĩ quan Lục quân Trần Quốc Tuấn khoá 6. Thôi đành vậy, chẳng quan trọng gì thì mình sẽ rút kinh nghiệm.


Trong lúc tôi ở trong nước, thì ngày 10 tháng 3 năm 1975, trận đánh mở đầu của ta thắng lợi giờn giã ở Buôn Ma Thuột. Sau khi quân đội Sài Gòn liên tiếp thất bại rút chạy khỏi Tây Nguyên, tôi và một số anh em khác trong đó có đồng chí Hà Đăng được lệnh trở lại Pa-ri. Chuyến đi của chúng tôi không ồn ã nhưng cũng làm cho một số chính khách ở Hà Nội, Bắc Kinh, Mát-xcơ-va, Pa-ri đồn đoán nhiều vấn đề. Theo suy nghĩ của tôi phải chăng đây là một quả hoả mù, một đòn nghi binh ngoại giao làm cho đối phương không biết thực hư thế nào. Trong lúc này Pa-ri, Mỹ và phái đoàn Sài Gòn nhờ Pháp làm trung gian yêu cầu chúng ta trở lại bàn đàm phán. Thật là một sự việc nực cười, khi chúng ta trừng trị quân đội Sài Gòn ở căn cứ Tống Lê Chân, phái đoàn Sài Gòn viện lý do đó để cắt đứt hội nghị. Nay họ đang thua thiệt trên chiến trường lại yêu cầu ta trỏ lại bàn đàm phán hòng vớt vát sự thua thiệt của họ về mặt quân sự. Đối với chúng tôi không có một ai nghĩ đến việc trở lại bàn hội nghị. Tuy nhiên công việc của chúng tôi cũng khá bận rộn. Theo dõi tình hình chiến sự trong nước, tiếp trả lời các nhà báo, ra thông cáo báo chí những thời điểm cần thiết...


Theo gợi ý của anh Hà Đăng tôi treo một bản đồ miền Nam khá to ở phòng khách và đánh dấu bước tiến quân của bộ đội ta trên chiến trường bằng cách cắm lá cờ của Mặt trận Dân tộc vào những vị trí đó. Nhìn toàn cảnh chúng tôi thấy vô cùng phấn khởi vì trên bản đồ dày đặc những là cờ nhỏ của Mặt trận Giải phóng chỉ trừ khu vực Sài Gòn.


Riêng bản thân tôi có hai tâm trạng khác nhau vừa vui mừng phấn khởi trước những thắng lợi dồn dập của quân và dân ta vừa tiêng tiếc là mình không được ở trong nước với tư cách là một người lính để được cùng đồng chí đồng đội tham gia những trận đánh có ý nghĩa lịch sử quyết định vận mệnh của đất nước. Tuy vậy nhiệm vụ ở đây cũng rất quan trọng vì đây là mặt trận ngoại giao phối hợp (quân sự, chính trị, ngoại giao) để cùng chung làm nên chiến thắng của đất nước.


Đội ngũ phóng viên thông tấn, báo chí ở Pa-ri rất đông đảo và nhiều vô kể. Họ thuộc các khuynh hướng chính trị, xã hội khác nhau do đó những câu hỏi họ đặt ra cho chúng tôi có khi là thiện chí nhưng cũng có khi là ngược lại. Họ gọi điện liên tục, có người còn trực tiếp đến gặp chúng tôi để hỏi cho rõ hơn; những yêu cầu của họ rất đa dạng. Họ tìm cách thăm dò mục tiêu hoạt động quân sự của chúng ta đến mức độ nào; họ gợi ý xem khả năng Hội nghị Hiệp thương giữa hai bên miền Nam Việt Nam có tiếp tục hay không? Họ còn yêu cầu chúng tôi giới thiệu về địa lý dân số, tập quán, tài nguyên thiên nhiên... của những vùng mới được giải phóng, họ hăng hái săn lùng; khai thác mọi tin tức theo ý đồ riêng của họ. Chúng tôi nhớ một lần vào lúc nửa đêm một nhà báo gọi điện đến hỏi thành phố Sài Gòn được đổi tên Thành phố Hồ Chí Minh từ lúc nào và theo quyết định của ai? Vấn đề này chúng tôi đã chuẩn bị từ trước vì vậy không khó khăn gì trong việc đáp ứng yêu cầu của nhà báo nọ.


Tiêu đề: Bản hùng ca xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 12 Tháng Mười, 2021, 08:45:36 pm
Vào khoảng 6 giờ ngày 30 tháng 4 năm 1975 (Giờ Pa-ri chênh với Hà Nội 6 tiếng), anh Trung, một Việt kiều ở khu Massy bỏ cả lệ thường gõ cửa, chạy xộc vào phòng chúng tôi reo lên: "Các chị ơi! Dương Văn Minh đã đầu hàng, miền Nam đã hoàn toàn giải phóng rồi... " và cứ thế anh ôm hôn chúc mừng mọi người chúng tôi không trừ một ai. Việc này chúng tôi đã biết từ trước rồi nhưng khi nghe anh đến báo tin chúng tôi vẫn cứ rạo rực bàng hoàng như mới biết được vậy. Không khí trong đoàn đại biểu Cách mạng Chính phủ lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam hôm đó như một ngày hội. Máy điện thoại reo vang, chuông cửa đổ dồn, người ra vào tấp nập, hoa nhiều vô kể, không còn chỗ để nữa; bà con Việt kiều, các bạn Pháp, Ý, Phi, những người Mỹ trong phong trào chống chiến tranh... đang có mặt tại Pa-ri lần lượt đến chia vui với chúng tôi, có người ở lại chỉ vài phút, có người ở lại với chúng tôi hàng giờ. Người chia tay cuối cùng của ngày hôm đó vào khoảng 23 giờ là chị Ivon - một giáo sư sinh vật người Pháp đang công tác tại Trường Đại học Sorbon.


Sau ngày 1 tháng 5 năm 1975, theo luật pháp quốc tế các tài sản cố định nằm trên đất Pháp của chính quyền Sài Gòn cũ đều thuộc về Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Sứ quán Sài Gòn cũ ở Pa-ri cũng nằm trong diện đó chúng ta phải tiếp quản. Chúng tôi thông báo cho Chính phủ Pháp về điều này. Bộ phận tiếp quản sứ quán Sài Gòn gồm tám người trong đó có một số anh em Việt kiều mà tôi là người trung tâm của việc tiếp quản; bởi lẽ tôi là một người lính công binh vì trong lúc này dư luận cho rằng trước khi rút khỏi sứ quán đối phương có thể gài mìn hoặc đặt chất nổ để cản trở việc tiếp quản của chúng ta. Theo đúng hợp đồng, Bộ Ngoại giao Pháp cử một nữ nhân viên trạc tuổi trên dưới 30 đi cùng chúng tôi đến quận 17. Đó là ngôi nhà số 45 đường De Vilier.


Công việc của chúng tôi bắt đầu khi nhận chiếc chìa khoá từ tay cô nhân viên Bộ Ngoại giao, và vai trò của tôi - anh bộ đội công binh cũng bắt đầu từ đây.

Tháng 9 năm 1973, tôi được cử đi cùng với đồng chí Nguyễn Văn Hiếu là thành viên của đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam tại Đại hội Thanh niên thế giới lần thứ 10 ở Béc-lin. Trong buổi gặp gỡ các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước Cộng hoà dân chủ Đức, khi được biết tôi là một người lính đi thẳng từ chiến trường nóng bỏng khói lửa đến bàn đàm phán thì bỗng nhiên tôi trở thành nhân vật được mọi người hết sức chú ý. Một vài lần khác khi tiếp xúc với các đồng chí lãnh đạo các đảng cộng sản Tây Âu. Mối cảm tình dành cho tôi - Anh Bộ đội Cụ Hồ - Cũng tương tự như vậy. Ở nước ngoài người ta đánh giá rất cao chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Họ khâm phục quân đội chúng ta về các mặt: giác ngộ chính trị cao, tinh thần chiến đấu dũng cảm, giỏi khắc phục khó khăn chịu đựng gian khổ, ý thức tổ chức kỷ luật... Đối với Việt kiều sự đánh giá có khi còn cao hơn thế nữa. Vinh dự phải đi đôi với trách nhiệm, tôi thầm nghĩ như vậy và tự xác định cho mình là phải làm thật tốt công việc hiện nay. Mở khoá xong tôi từ từ đẩy nhẹ cửa, một cảnh tượng hết sức lộn xộn đập vào mắt chúng tôi, giấy tờ sách báo, đồ đạc... ngổn ngang trên bàn dưới đất. Tôi làm đúng các động tác cần thiết kiểm tra các nơi nghi ngờ, rút nhẹ các ngăn kéo, các tủ đựng hồ sơ, tài liệu... Tôi hướng dẫn cho anh em các kiến thức thông thường khi phát hiện bom mìn, chất nổ... và các biện pháp đề phòng khi có sự cố.


Mục tiêu hàng đầu của chúng tôi là nhanh chóng lên tầng hai, hạ lá cờ ngụy xuống, treo lá cờ cách mạng lên để chính thức xác định chủ quyền của chúng ta đối với toà nhà này. Chúng tôi thực hiện công việc đó chỉ vài phút. Trước đây ở Pa-ri đã có hai nơi treo cờ Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Đó là phòng thông tin và trụ sở của đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng đàm phán tại Hội nghị Pa-ri. Nhìn lá cờ sao vàng nửa đỏ nửa xanh tung bay trên đường phố đông đúc của thủ đô nước Pháp lòng chúng tôi biết bao bồi hồi xúc động.


Mỗi động tác của tôi trong quá trình tiếp quản đều được anh em hết sức chú ý theo dõi khi có hiện tượng nào đó nghi ngờ, tôi dừng lại xem xét thì mọi người cũng dừng tay chờ đợi. Riêng tôi thì lại nôn nóng muốn chuyển nhanh sang phòng Tùy viên quân sự sứ quán mà ở đó chắc có nhiều điều hấp dẫn đối với tôi. Những phòng có hồ sơ tài liệu quan trọng họ bố trí một máy hủy tài liệu rất tối tân. Trước khi rút chạy họ nhét tất cả tài liệu vơ vét được cho vào máy và ấn nút; máy nghiền nát giấy tờ ra thành những sợi chỉ rối tung; phòng Tùy viên quân sự cũng có một máy như vậy. Thế nhưng thần hồn nát thần tính, họ không thể làm triệt để được và chúng tôi cũng thu lượm được những hồ sơ tài liệu có ít nhiều giá trị cho công tác nghiên cứu của chúng ta.


Một tuần lao động khẩn trương và căng thẳng, công việc tiếp quản sứ quán cũ của Sài Gòn ở Pa-ri đã hoàn tất.

Kể từ khi diễn ra hội nghị bàn giải quyết vấn đề Việt Nam ở Pa-ri đến nay cũng đã trải qua nhiều năm tháng. Trong thời gian đó chúng tôi đã chứng kiến biết bao sự việc vui có, buồn có, đôi lúc cũng rất xúc động và căng thẳng. Tuy nhiên, những ấn tượng sâu đậm nhất không bao giờ quên vẫn là những gì chúng tôi được chứng kiến và tiến hành ở Pa-ri - Thủ đô nước Pháp, trong những ngày mùa Xuân đại thắng năm 1975, mùa Xuân đã mang lại sự toàn thắng trọn vẹn cho đất nước.


N.N.T


Tiêu đề: Bản hùng ca xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Mười, 2021, 07:55:55 pm
CÁCH ĐÁNH "NỞ HOA TRONG LÒNG ĐỊCH"


ĐÀM VĂN NGỤY


Đã 30 năm qua đi, đến nay tôi vẫn còn nhớ rõ, ngày 25 tháng 2 năm 1975, tại sở chỉ huy chiện dịch Tây Nguyên, mọi người đã có mặt đầy đủ. Vào họp, Đại tướng Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng nói: trận này, mở màn chiến dịch "không có lý gì mà Sư đoàn 316 đánh không thắng1 (Đại tướng Văn Tiến Dũng, Đại thắng mùa Xuân, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội 1980, tr.40). Vì vậy, phương án đánh Buôn Ma Thuột của đơn vị chủ công như thế nào, đồng chí Đàm Văn Ngụy, Sư đoàn trưởng 316 trình bày".


Tôi thay mặt Ban chỉ huy sư đoàn trình bày phương án đánh thọc sâu, đánh áp đảo, đập nát trung tâm đầu não của sư đoàn 23 ngụy và dinh tỉnh trưởng Đắc Lắc ngay từ những đòn tiến công đầu tiên. Phương án cụ thể như sau:

Mũi thứ nhất, chúng tôi đưa Trung đoàn 149, do Trung đoàn trưởng Nguyễn Trọng Đạo chỉ huy và Tiểu đoàn phòng không 12,7 vượt đường 14 giữa hai căn cứ Thọ Thành và Đức Lập, xuôi xuống 20km vượt sông Sê Rê Pốc, vòng lên phía nam thị xã. Từ đây, trung đoàn thiếu đánh vào dinh tỉnh trưởng Đắc Lắc và sở chỉ huy sư đoàn 23 ngụy; Tiểu đoàn 9 của Trung đoàn này và Tiểu đoàn phòng không 12,7 đánh chiếm sân bay Hòa Bình.

Mũi thứ hai, đánh từ hướng tây bắc vào là Trung đoàn 148, do Trung đoàn trưởng Đỗ Văn Trì chỉ huy. Trung đoàn này tiêu diệt xong trung đoàn thiết giáp ngụy, sẽ phát triển đội hình đánh tiếp vào trung đoàn pháo binh.

Mũi thứ ba, là Trung đoàn 95 (phối hợp) đánh từ hướng đông bắc xuống, chiếm ngã 6, chặn các mối đường giao thông vào thị xã. Sau đó cùng Trung đoàn 148 đánh thẳng vào trung tâm chỉ huy địch.

Mũi thứ tư, đánh từ phía tây và tây nam là Trung đoàn 174 do Trung đoàn trưởng Đào Trọng Lịch chỉ huy. Mũi này cũng vượt sông Sê Rê Pốc nhưng ở đoạn dưới đập thủy điện Hơ Rinh. Sau đó bí mật luồn qua khoảng giữa hai cứ điểm Chư Bua và Chư Dia đánh vào khu thông tin sư đoàn 23.

Tôi đề nghị, cho Trung đoàn đặc công 198 luồn sâu, lót sẵn vào thị xã, nổ súng trước để các mũi áp sát mục tiêu. Pháo binh của mặt trận tập trung bắn vào sở chỉ huy sư đoàn địch.


Về công tác chuẩn bị, công binh bắc cầu phà, cho xe tăng, pháo binh vượt sông Sê Rê Pốc. Cách cứ điểm địch 15km thì cắt cây mở đường cưa sát gốc một nửa hoặc hai phần ba để khi xe tăng, pháo binh hành quân có thể hạ cây dễ dàng mà vẫn giữ được bí mật.


Những đơn vị bộ binh phải vượt sông, mỗi người chuẩn bị một cây lồ ô dài 4m, có đường kính độ một gang tay và một cuộn dây rừng. Đến bờ sông Sê Rê Pốc sẽ ghép lại thành mảng đưa bộ đội qua sông.

Trong hội nghị, mọi người thảo luận sôi nổi, các tướng lĩnh tranh luận rất gay gắt, cuối cùng ai nấy đều nhất trí với phương án đó. Đại tướng Văn Tiến Dũng kết luận: cách đánh của Đàm Văn Ngụy vừa trình bày gọi là cách đánh "Nở hoa trong lòng địch". Hồi còn chỉ huy ở Quân khu 3, kiêm Đại đoàn trưởng 320 tôi cũng tổ chức một mũi thật mạnh, thật tinh nhuệ đánh vào trung tâm thị xã Thái Bình, khiến cho quân địch không kịp trở tay.


Thế là phương án tác chiến của Sư đoàn 316 chúng tôi đã được Đại tướng Văn Tiến Dũng, đại diện Bộ Tổng tư lệnh chính thức phê chuẩn, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo, Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên trực tiếp chỉ đạo.

Đêm đó, các anh Lê Ngọc Hiền, Phó Tổng tham mưu trưởng; Vũ Xuân Chiêm, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần; Phan Hàm, Cục trưởng Cục tác chiến; Doãn Tuế, Tư lệnh pháo binh; Trần Nhẫn, Tư lệnh phòng không; Hoàng Niệm, Tư lệnh thông tin; Lê Xuân Kiện, Tư lệnh tăng thiết giáp và nhiều cán bộ của Bộ Tổng Tham mưu đã về Đắc Đam tổ chức giúp đỡ cho Sư đoàn 316 chúng tôi làm công tác chuẩn bị chiến đấu.


Sau một thời gian triển khai lực lượng chiếm lĩnh trận địa, đúng 2 giờ 3 phút ngày 10 tháng 3, Trung đoàn đặc công 198 nổ súng tiến công sân bay thị xã, kho Mai Hắc Đế và hậu cứ trung đoàn 53. Địch phản ứng quyết liệt, pháo bắn cấp tập vào những nơi chúng nghi ta tập trung quân. Lợi dụng tiếng pháo nổ, xe tăng, xe thiết giáp tăng tốc độ hành quân.


Khi đó các mũi tiến công của sư đoàn chúng tôi vào cách thị xã Buôn Ma Thuột từ 5 đến 6km, địch bắn pháo sáng rực trời. Các đơn vị bám sát đội hình tăng tốc độ vận động.

2 giờ 10 phút, Bộ Tư lệnh chiến dịch cho các cỡ pháo mặt đất bắn cấp tập vào những mục tiêu đã định trong thị xã như sở chỉ huy sư đoàn 23, dinh tỉnh trưởng Đắc Lắc, trận địa pháo, trung tâm thông tin của địch. Mờ sáng, các mũi tiến công đã áp sát thị xã.    Cánh quân hướng nam đã chạm trán với tiểu đoàn 6 ngụy vừa trong thị xã ra. Bộ đội ta nhanh chóng bao vây, tiêu diệt, bắt sông tiểu đoàn trưởng. Thừa thắng, cánh quân này tiến thẳng vào thị xã, áp sát sở chỉ huy sư đoàn 23. Địch leo lên các khu nhà tầng chống trả quyết liệt.


Trong khi đó ở hướng tây và tây nam, Trung đoàn 174 đánh vào khu thông tin. Địch cũng leo lên các khu nhà cao tầng để chống trả. Các hướng khác quân ta cũng đồng loạt tiến vào khu trung tâm thị xã.

9 giờ ngày 10 tháng 3, đại tá Nguyễn Trọng Luật, tỉnh trưởng Đắc Lắc bỏ nhiệm sở chạy sang sở chỉ huy sư đoàn 23. Ta chiếm các vị trí có lợi để khống chế địch trong khu vực này.

Ở hướng tây, tây bắc, khi ta đánh vào trung đoàn thiết giáp, bị địch chống trả mạnh. Chúng cho xe tăng ra chặn đường, chặn cửa mở của các mũi tiến công. Hỏa lực địch rất mạnh, bộ đội không sao tiến lên được. Đến 10 giờ, xe tăng ta tiến vào, bộ binh hiệp đồng chặt chẽ với xe tăng đánh thẳng vào khu chỉ huy trung đoàn thiết giáp ngụy và làm chủ trận địa lúc 12 giờ. Bộ đội tiếp tục đánh sang khu pháo binh. Tới 13 giờ toàn bộ khu pháo binh địch cũng bị tiêu diệt.


Cùng lúc, Trung đoàn 95 cũng đã chiếm được ngã 6, địch phản kích quyết liệt. Chúng cho máy bay ném bom, bắn phá và pháo bầy từ nhiều điểm bắn cấp tập vào trận địa ta. Cả ngày 10 tháng 3, trận chiến đấu diễn ra vô cùng gay go quyết liệt. Ta liên tiếp mở các đợt tiến công, nhưng không chiếm được sở chỉ huy sư đoàn 23. Có những đơn vị đã vào sát cổng vẫn không tiến lên được, phải đào hầm nằm lại. Chúng tôi bổ sung thêm lực lượng, vũ khí cho hướng này để đêm 10 tháng 3 đánh tiếp.


Đêm đó, trời tối đen như mực. Đứng ở một mỏm đồi, tôi giơ bàn tay lên trước mặt mình cũng chỉ thấy mờ mờ. Buộc lòng, tôi phải cho bộ đội chốt tại chỗ, củng cố hầm hào, công sự và sẵn sàng chờ lệnh tiến công.


Tiêu đề: Bản hùng ca xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Mười, 2021, 07:56:55 pm
5 giờ sáng 11 tháng 3, từ căn cứ sư đoàn 23, địch cho một tiểu đoàn bộ binh, có xe tăng yểm trợ tiến ra phản kích ta. Chớp thời cơ, bộ đội nổ súng tiến công dồn dập tiêu diệt tiểu đoàn này và những xe tăng yểm trợ. Đến 6 giờ, chúng tôi triển khai đội hình thành nhiều mũi đánh thẳng vào sở chỉ huy sư đoàn 23.


Trung đoàn 174 tổ chức thành 3 mũi. Mũi 1 do Tiểu đoàn 3 được tăng cường 4 xe tăng, phối hợp với Tiểu đoàn 4 (Trung đoàn 24, Sư đoàn 10) cùng tiến công. Khi đến trước sở chỉ huy địch, ta bị một loạt hàng rào dây thép gai dày đặc ngăn lại. Các chiến sĩ phải dùng hết số bộc phá mang theo vẫn chỉ giải quyết được một số hàng rào phía ngoài. Hỏa lực địch trong trận địa phòng ngự tập trung đánh chặn tất cả các mũi đột phá của ta.


Chúng tôi nhanh chóng cho xe tăng lên mở đường, phá những hàng rào còn lại, bộ binh đột nhập căn cứ địch, chiến đấu giành giật từng lô cốt, từng căn hầm, có nơi phải giành đi giật lại tới 5 - 6 lần. Xe tăng và bộ binh ta luôn bám sát, chi viện nhau cùng xông vào sở chỉ huy địch.


Mũi 2 do Đại đội 11, Tiểu đoàn 3 được tách ra từ đầu, đánh chiếm ấp Ba Lê 2, rồi thọc sang khu tham mưu. Tại đây, ta đánh bật 3 đợt phản kích của địch, chiếm khu Hùng Vương, đột phá vào sở chỉ huy.

Mũi 3 do Tiểu đoàn 1, được tăng cường 3 xe tăng từ hướng tây nam đột phá khu đài phát thanh, tiến sang khu tham mưu, chọc vào sở chỉ huy.

Trung đoàn 149 tiến công bằng 2 mũi. Tiểu đoàn 7 đánh từ phía nam lên, chọc thẳng vào khu tham mưu địch, diệt 269 tên, bắt 19, rồi tiến vào trung tâm chỉ huy sư đoàn 23 lúc 10 giờ 50 phút.

Đồng chí Trần Công Kỳ, trung đội trưởng Trung đội 2, Đại đội 1, liền lấy một lá cờ của ta trong phòng truyền thống của địch, giao cho ba đồng chí là Nguyễn Đức Thịnh, Ngô Văn Quyền, Trần Văn Thanh cắm lên nóc sở chỉ huy địch.

Khi đó, Tiểu đoàn 8 từ tiểu khu chọc sang, phối hợp với các đơn vị trên các hướng, đánh chiếm sào huyệt cuối cùng trong trung tâm chỉ huy. Mặc dù quân địch mang hết tàn lực ra đối phó, chúng vẫn không sao tránh khỏi số phận bị tiêu diệt. Đến 11 giờ ngày 11 tháng 3, ta làm chủ trận địa. Đại tá Vũ Thế Quang, sư trưởng sư đoàn 23 cùng với số tàn quân bị các chiến sĩ Đại đội 11, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 174 bắt sống.


Mục tiêu chính trong cuộc tiến công thị xã Buôn Ma Thuột đã hoàn thành, sở chỉ huy sư đoàn 23 ngụy bị tiêu diệt. Sau 32 giờ tiến công mãnh liệt, Sư đoàn 316 chúng tôi, đã cùng các đơn vị bạn hoàn thành về cơ bản nhiệm vụ trận đánh then chốt của chiến dịch. Trận này, vượt thời gian dự kiến của mặt trận đề ra.


Trong 2 ngày đầu, ta đã bắt trên 7.000 tù binh (trước chiến dịch, ta dự kiến có khoảng 3.000) nay số địch bị bắt tăng vọt lên, với số gạo ít ỏi ta không thể đủ nuôi chúng. Tôi xin ý kiến Bộ chỉ huy chiến dịch, anh Thảo nhắc nhở tôi chỉ nên giữ lính kỹ thuật, lính lái xe, còn bao nhiêu tập hợp lại tuyên truyền rõ chính sách khoan dung của mặt trận rồi cho chúng về đoàn tụ với gia đình.


Chiếm Buôn Ma Thuật đã khó, nhưng giữ Buôn Ma Thuột cũng không kém phần ác liệt. Ngày 12 tháng 3, địch huy động tối đa lực lượng không quân của sư đoàn 6 và tất cả số máy bay ở sân bay Thành Sơn (Phan Rang) chi viện cho quân phản kích, hòng chiếm lại Buôn Ma Thuột.


Theo hồ sơ lưu trữ của bộ tổng tham mưu ngụy Sài Gòn mà ta thu được sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng thì Buôn Ma Thuột là một mối quan tâm của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Vì ngày 12 tháng 3 năm 1975, từ Sài Gòn, Thiệu trực tiếp hạ lệnh cho tướng Phạm Văn Phú, tư lệnh quân đoàn 2, phải cố thủ ở các cứ điểm còn lại như sân bay Hòa Bình, căn cứ trung đoàn 53, trung đoàn 45 cùng các khu huấn luyện Lê Lai, Đạt Lý, Châu Sơn, Chư Nga, Bản Đôn... Thiệu hy vọng tiếp tục sử dụng liên đoàn biệt động quân 21 cùng với số quân còn lại, hình thành các cánh quân phản kích tại chỗ. Đồng thời tập trung các đơn vị của sư đoàn 23 như trung đoàn 45, trung đoàn 44 cơ động xuống Buôn Ma Thuột đánh chiếm lại thị xã.


Nhưng từ ngày 12 đến 17 tháng 3, các đơn vị tiến công Buôn Ma Thuột đã giải quyết nhanh, gọn các mục tiêu còn lại để sớm ổn định tình hình thị xã, đồng thời tổ chức một lực lượng mạnh kịp thời đánh bại các đợt phản kích trên mặt đất và đường không của địch. Niềm hy vọng tái chiếm Buôn Ma Thuột của chúng bị dập tắt hoàn toàn.


Và khi tổng thống Thiệu biết được là Sư đoàn 316 đánh Buôn Ma Thuột, Thiệu tự hỏi: vậy ở Tây Nguyên còn 3 sư đoàn nữa là sư 10, sư 320, sư 968 và nhiều trung đoàn độc lập khác ở đâu? Thiệu sợ quân đoàn 2 và một số đơn vị khác ở Plây Cu, Kon Tum, sẽ bị các sư đoàn của ta tiêu diệt, nên đã vội vã bay ra Nha Trang thị sát và quyết định rút toàn bộ lực lượng ở Tây Nguyên theo đường 7 về giữ đồng bằng.


Thế là đến ngày 24 tháng 3 năm 1975, hầu như toàn bộ lực lượng của quân đoàn 2 ngụy trên đường rút chạy đều bị các đơn vị dự bị chiến dịch tiêu diệt hoặc đánh tan rã. Tây Nguyên hoàn toàn giải phóng.

Rõ ràng, đánh Buôn Ma Thuột ta đã điểm trúng huyệt hiểm yếu nhất của địch. Chiếm Buôn Ma Thuột ta có điều kiện mở ra các hướng phát triển chia cắt địch về chiến dịch cũng như về chiến lược.

Vì vậy ngày 25 tháng 3 năm 1975, Bộ Chính trị họp và nhận định: "Trên thực tế, với chiến dịch Tây Nguyên đại thắng, cuộc Tổng tiến công chiến lược của ta đã bắt đầu"1 (Bộ Quốc phòng - Những sự kiện quân sự, Hà Nội, 1988, tr.312). Sau chiến dịch Huế - Đà Nẵng, ngày 3 tháng 4 năm 1975, Sư đoàn 316 chúng tôi lại được lệnh cơ động vào Tây Ninh, đánh Trảng Bàng, Củ Chi, mở màn hướng tây bắc Sài Gòn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.


Về phần mình, với chiến thắng Buôn Ma Thuột, tôi rất mừng vì phương án đánh thọc sâu, đánh áp đảo, đập nát trung tâm đầu não của sư đoàn 23 ngụy và dinh tỉnh trưởng Đắc Lắc ngay từ những đòn tiến công đầu tiên đã thành công. Vậy là cách đánh "Nở hoa trong lòng địch", trận mở đầu then chốt của chiến dịch Tây Nguyên, đã góp phần làm nên "Bản hùng ca Xuân 1975 đại thắng".

Đ.V.N


Tiêu đề: Bản hùng ca xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Mười, 2021, 07:59:44 pm
HƯƠNG THƠM CỦA KHÓI


ĐỖ TIẾN


Có lẽ trong đời mỗi con người ai cũng có một làn khói để gửi vào nỗi nhớ. Tuổi thơ, tôi thường đi chăn trâu cùng lũ trẻ trong làng. Cánh đồng tháng Chạp sau vụ gặt lúp xúp gốc rạ. Gió mùa đông bắc thổi thông thốc trên những thửa ruộng trông. Đốt đống lửa, chúng tôi ngồi xúm xít hơ tay sưởi ấm. Làn khói tà tà trong chiều lạnh bay vào kỷ niệm tuổi thơ. Lớn lên vào bộ đội, mỗi lần hành quân gặp dòng khói lam chiều ấm cúng, lãng đãng vương trên xóm nhỏ lòng chúng tôi lại rưng rưng nhớ về quê nhà. Nhưng nhớ hơn với tôi vẫn là làn khói của mùa hè năm ấy. Khói lúa. Khói của mối tình quân dân cá nước. Cho đến tận hôm nay, dẫu sương trắng thời gian giăng bạc mái đầu, làn khói ấy vẫn thơm mãi trong tôi, thơm mãi không thể nào tan.


Đó là mùa hè năm 1968. Ở miền Nam quân ta đang đánh lớn. Chiến dịch Khe Sanh nổ ra từ tháng Giêng đã kéo dài hơn một trăm ngày. Sau khi chi khu quân sự Hương Hóa, cứ điểm Làng Vây bị ta tiêu diệt lính thủy đánh bộ Mỹ điên cuồng mở "Cuộc hành quân Ngựa bay" phản kích.


Ở miền Bắc, tuy Giôn-xơn tuyên bố xuống thang, ném bom hạn chế từ vĩ tuyến 20 trở vào nhưng chúng lại dồn bom vào Khu 4, vùng mà chúng gọi vùng cán xoong hòng ngăn chặn sự tiếp tế, chi viện của ta cho chiến trường. Chúng dùng bom từ trường, bom nổ chậm, bom phát quang, bom cháy... mìn lá, mìn tai hòng ném xuống các trọng điểm giao thông. Chúng giở thủ đoạn bắn tên lửa Bun-póp vào vách đá để làm đá đổ xuống mặt đường.


Khu 4 trở thành tuyến lửa, không ngày nào, đêm nào không nghe tiếng bom rền. Các nút giao thông như cầu Cấm, Truông Bồn, ngã ba Đồng Lộc, Phà Gianh, phà Xuân Sơn, phà Quán Hầu, phà Long Đại... là những tọa độ của máy bay giặc đánh phá bất kể đêm ngày. Giao thông tắc, tình hình vận chuyển khó khăn, nhiều chân hàng trống rỗng. Ở mặt trận Khe Sanh có đơn vị khẩu phần ăn của chiến sĩ từ 5 lạng rút xuống 3 rồi 2 lạng một ngày. Tiểu đoàn vận tải của chúng tôi lúc đó dừng chân ở Triệu Sơn (Thanh Hóa). Được phổ biến tình hình, lòng chúng tôi như có lửa đốt. Ai cũng muốn nhanh chóng được "tăng cung, vượt trạm" vận chuyển hàng ra chiến trường.


Rồi chúng tôi cũng được lệnh lên đường.

Đây là chuyến đi đầu tiên của tôi vào tuyến lửa. Mấy đợt vận chuyển hàng tôi chỉ đi ngắn, từ Khu 3 vào Thanh Hóa. Tôi đã "nếm" mùi bom đạn ở Hàm Rồng, Phà Ghép... song tói đây tôi mới thấm hết sự ác liệt của chiến trường. Khu 4, mùa hè năm 1968 đầy nắng nóng và bom đạn. Gió Lào hầm hập, xoắn xít như chiếc roi bện bằng nắng nóng quất rát mặt. Hơi bom khét lẹt xộc vào ca bin. Những đêm trắng chiến tranh, bầu trời trắng nhợt nhạt trước cửa kính ô tô, chốc chốc lại đỏ ối bởi ánh sáng ma quái của đèn pháo sáng địch. Những tiếng xoẹt xé toạc màn đêm của bầy quạ, Mỹ vút qua đầu để lại tiếng rít chói tai phía sau và tiếng bom nổ ì ầm dậy đất ở phía trước. Những cung đường bất chợt le lói ngọn đèn phòng không đứng gác và bóng nhỏ nhắn của các o thanh niên xung phong xuất hiện cùng lời dặn dò ngọt ngào ấm lòng:

- Các Eng ơi, chú ý bom từ trường...

Một đêm trắng chiến tranh như thế, đoàn xe chúng tôi vượt trọng điểm Ngã ba Đồng Lộc. Theo kế hoạch, lẽ ra chúng tôi phải vượt qua "túi bom" này lúc 1, 2 giờ sáng. Do chập tối địch đánh phá dữ dội nên đoàn xe chúng tôi phải nằm chết gí ở bãi giấu xe. Khi có báo hiệu thông đường, đồng hồ đã chỉ hơn 4 giờ sáng. Con đường 15 ngầu bụi đỏ, quầng đục dưới ánh đèn gầm. Đoàn xe "no" hàng lắc lư bò qua mép những hố bom sâu hoắm. Chúng tôi vượt qua trọng điểm thì trời đã tang tảng sáng. Bình minh mùa hè đến rất nhanh. Phía đông, những đám mây vừa mới rạng trắng đã bén nắng mai cháy đỏ. Được lệnh tăng tốc lao về phía điểm tập kết. Chúng tôi đã bớt lo lắng vì vượt qua được trọng điểm một quãng khá dài. Đoạn đường ở đây tưởng như khá bình yên với những ruộng lúa đang mùa gặt rưng rức chín vàng hai bên đường. Bỗng có tiếng xoẹt, tiếng rít trên đầu. Đầu tiên một tiếng nổ "bụp" nho nhỏ vang khẽ trong khoảnh khắc im ả của ban mai. Liền đó liên tiếp tiếng nổ lụp bụp phía trước, phía sau đoàn xe. Đồng chí chính trị viên xe trước ló đầu ra khỏi ca bin, vừa vẫy tay vừa ra hiệu vừa hét to:

- Đạn khói chỉ điểm. Nhanh lên, cố gắng đến đường rẽ vào dãy núi trước mặt...

Tôi nghiến răng, ghì vô lăng, dận ga cố gắng bám theo. Khi xe lọt được vào đường hẻm ở khe núi, tôi ngoảnh lại phía sau. Không kịp được rồi còn hơn hai mươi xe nữa vẫn đang phơi mình trên đoạn đường trống trải. Đồng thời những chấm đen xuất hiện từ phía đông lao đến. Cánh chéo hình tam giác, thân ngắn, máy bay F4 của bọn hải quân Mỹ. Đúng lúc đó, tôi phát hiện thấy trên cánh đồng không chỉ có dòng khói trắng chỉ điểm của địch. Một, hai, ba... liên tiếp những đám khói khác xuất hiện. Từ xóm làng bên đường thấp thoáng những bóng người xổ ra. Những người lom khom chạy đến đâu lửa cháy đến đấy. Cả cánh đồng đã gặt... Cả cánh đồng chưa gặt giây lát cuồn cuộn khói, xóa nhòa những luồng khói chỉ điểm đầy chết chóc. Đồng chí chính trị viên bên tôi đang lo lắng nhìn ra phía đường, rồi bỗng như gào lên:

- Bà con đốt đồng... bà con che chở cho chúng ta.

Những dòng khói trên cánh đồng lúa vàng phút chốc giao nhau thành một màn khói ngụy trang khổng lồ che kín đoàn xe. Trong tiếng rít của máy bay giặc, không hiểu sao tôi lại nghe rất rõ tiếng "thở" của những chiếc xe ô tô nhanh chóng tản vào đường hẻm núi, tiếng lúa nổ lép đép thành chuỗi từ những cánh đồng.


Rồi trong cái màn khói ấy tôi nhận ra cái hương thơm của lúa chín, của mùa màng, của tình quân dân cá nước cứ nao nao quấn quýt, quấn quýt bay đến bọc lấy chúng tôi như kén bọc tằm... Trên khuôn mặt sạm đen của người chính trị viên dòng nước mắt ứa ra thay vào tiếng nói...

Đ.T


Tiêu đề: Bản hùng ca xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 20 Tháng Mười, 2021, 08:00:43 pm
NHỮNG BỨC ĐIỆN ĐẶC BIỆT ĐÊM ẤY


XUÂN THU


Năm 1972 là một trong những năm ấy gian khổ đối với tổ thông tin của chúng tôi.

Những năm ấy, tình hình chiến sự rất khó khăn, địch mở nhiều đợt càn quét nhằm đẩy lùi Cộng sản ra xa thành phố Sài Gòn. Quân ta phải rút lên căn cứ để bảo toàn lực lượng. "Miền" ra lệnh cho quân khu Sài Gòn - Gia Định bằng mọi cách phải "bám trụ", nhất là Củ Chi. Bộ phận thông tin phải giữ liên lạc từ Củ Chi lên Bộ Tư lệnh Miền lúc đó gọi là R. Mỗi đêm cơ sở của ta phải tìm cách bắn vài quả B40 hoặc gây tiếng nổ nào đó để chứng tỏ quân ta vẫn còn bám trụ.


Tổ thông tin chúng tôi có năm người. Tôi là đài trưởng, đồng chí Xen người Thanh Hoá làm báo vụ, đồng chí Vọng người Hải Dương là cơ công, đồng chí Trị người Hưng Yên là y tá và một đồng chí nữa người của cơ sở Củ Chi. Nhiệm vụ của tổ là bảo đảm liên lạc thông suốt từ Củ Chi lên R. Nếu đài chúng tôi mà mất thì đường liên lạc sẽ bị cắt đứt. Do bị địch càn quét vây ép nên nguồn tiếp tế hậu cần cho chúng tôi đều không có. Tổ phải tìm cách cất giấu phương tiện trong các hầm. Hầm giấu máy, hầm giấu thức ăn, hầm để nghỉ riêng biệt nhau để nếu địch có phát hiện thì đỡ bị tổn thất. Lúc xuống hầm, phải mở nắp hầm bí mật lên sau đó cho chân, thả người xuống trước. Khi thấy chạm vào bịch cát là đã đến đáy hầm thì liệu tìm cách khom người mà đi sâu vào phía trong. Có hôm bọn chúng sục sạo ném lựu đạn xuống hầm inh tai nhức óc, nhưng do đường địa đạo sâu trong lòng đất nên chúng tôi rút an toàn. Cũng có nhiều đồng chí ở các đơn vị khác không may hy sinh. Ban ngày anh em nằm ở hầm trong lòng địa đạo Củ Chi, đêm đến thì mò lên cử nhau đi lùng sục đồ hộp lương khô của bọn Mỹ thả lạc xuống để lấy cái mà ăn. Phương châm là lấy thức ăn Mỹ, súng Mỹ để ăn và đánh Mỹ. Chúng tôi gài mìn để diệt thú rừng làm thức ăn cho tổ. Có hôm bẫy được cả năm con lợn rừng đem về thịt ướp muối ăn dần. Có hôm 1 chiếc xe tăng Mỹ M118 bị tan xác do trúng mìn của chúng tôi gài. Gian nan là vậy nhưng năm anh em chúng tôi của các đài 15 oát ngày ấy vẫn kiên cường bám trụ đảm bảo thông tin liên lạc từ địa đạo Củ Chi lên R.


Một đêm cuối tháng 8 năm 1972, tại khu vực Bến Đình (địa đạo Củ Chi) ở ven sông Sài Gòn trời tối đen như mực. Chỉ có phía thành đô ánh sáng điện hắt lên bầu trời một vùng nhò nhờ. Thỉnh thoảng bọn địch lại bắn những quả pháo sáng lên trời kèm theo những loạt pháo vu vơ nhức óc. Chúng tôi lại nhoi lên khỏi hầm bò đi sục sạo tìm thức ăn. Vừa bò vừa giữ phương hướng, vừa căng mắt tìm đồ hộp của bọn Mỹ thả lạc. Khoảng 11 giờ tất cả chúng tôi trở về hầm. Đêm ấy chúng tôi cũng kiếm được kha khá đồ hộp. Chúng tôi dành mấy hộp để ăn, còn lại cất vào "kho dự trữ" dùng dần. Sau đó bọn tôi lăn ra ngủ. Căn hầm có kích cỡ 2 x 2 x 1,5 mét vừa đủ cho chúng tôi căng 5 cái võng. Lần đầu ngủ võng, cũng khổ, nhưng sau đó trở thành quen. Vì thế sau này khi vào giải phóng Sài Gòn kỷ niệm đêm đầu tiên của tôi là được ngủ trên giường nhưng không sao nằm được vì cái lưng đã bị cong sau 10 năm liền nằm hầm ngủ võng.


Đang ngon giấc, đồng chí cơ yếu cùng đồng chí Tham mưu trưởng trung đoàn Sáu Thanh điện lên. Chúng tôi vục cả dậy ai vào việc đó. Mấy ngọn nến được thắp lên toả ánh sáng dưới hầm sâu lung linh huyền ảo. Đồng chí Sáu Thanh nói: "Các đồng chí phát ngay 32 bức điện ZN lên R". Tôi mở máy 15 oát, chụp ống nghe vào tai. Cậu Trị và cậu Xen mặc quần cởi trần quay "Ga-ru-nô". Không khí ở dưới hầm ngột ngạt nóng ghê người. Đêm ấy, sóng đài lại rất nhiễu, tôi phải dò khá lâu mới liên lạc được. Khi tôi bắt đầu phát tín hiệu thì đồng chí Sáu Thanh đứng ngay sau tôi. Hết bức điện nọ lại tiếp đến bức điện kia. Tai tôi dần dần ù lên. Chưa bao giờ tôi phải phát nhiều bức điện đến thế. Cậu Trị và cậu Xen quay "Ga-ru-nô" chắc cũng mỏi nhừ tay vì tôi thấy người hai cậu ướt đẫm. Cậu Vọng thỉnh thoảng phải vào quay thay bổ trợ. Căn hầm im ắng ong ong đến lạ thường. Mà sao đồng chí Sáu Thanh cứ đứng ngay đằng sau lưng tôi cơ chứ. Chắc là nội dung điện quan trọng lắm. Mọi lần chỉ có đồng chí cơ yếu mang điện đến cho chúng tôi phát là xong. Thế mà đêm nay đích thân Tham mưu trưởng trung đoàn mang điện đến lại còn trực tiếp theo dõi chúng tôi phát nữa. Đích thị là quan trọng rồi. Tôi chỉ đoán vậy vì nguyên tắc bí mật chúng tôi không được phép biết nội dung mật mã đã được mình truyền đi. Cả tổ chúng tôi không ai bảo ai cũng hiểu được tầm quan trọng của buổi phát tín hiệu đêm nay.


2 giờ sáng, 32 bức điện ZN (dịch ngay) đã được tôi phát xong. Tôi bỏ tổ hợp ở tai ra. Đầu óc tôi ong ong, tai tôi ù lên choáng váng. Hai tiếng đồng hồ liền căng thẳng làm cho cả tổ mệt nhoài. Khi tôi phát xong bức điện thì nghe thấy tiếng thở phào của đồng chí Tham mưu trưởng. Chắc đồng chí cũng căng thẳng không kém. Đồng chí Sáu Thanh tươi cười bắt tay tôi và anh em trong tổ. Sau đó đồng chí rút ngay 20 ngàn đồng tiền Sài Gòn thưởng luôn cho chúng tôi.


Khi đồng chí Sáu Thanh đi khỏi, chúng tôi lên võng rồi mà không sao chợp mắt được. Mệt mỏi căng thẳng vậy nhưng buổi phát tín hiệu liên lạc đêm nay đã để lại cho chúng tôi nhiều ấn tượng, phán đoán. Có lẽ sắp đánh nhau to rồi chăng? Bao giờ thì lại tổng phản công như cái đận Mậu Thân, Kỷ Dậu? Đánh thôi, chứ chui lủi mãi dưới địa đạo này cực lắm, ức lắm. Cái nghiệp thông tin này nhiều lúc cũng vui nhưng nhiều lúc cũng ức đáo để. Vui vì được ở bên thủ trưởng, được gọi là lính cậu, được bảo vệ chu đáo. Ức vì anh em người ta đuợc cầm súng xông pha ở chiến trường còn mình thì toàn ở hầm, bộ phận hữu tuyến thì "đi trước về sau", bộ phận vô tuyến thì "điếc tai, chai đít, công ít, phạt nhiều". Mấy năm đầu làm lính thông tin anh nào cũng có tâm trạng ấy. Cứ kiếm ngay khẩu súng lao ra mặt trận cho nó tung hoành chứ suốt ngày dây máy vướng víu khó chịu lắm. Về sau, quen dần, nhất là khi hiểu được vai trò quan trọng của thông tin là mạch máu của chiến trường giữa chỉ huy và chiến sĩ, giữa đơn vị nọ và đơn vị kia thì ai cũng yên tâm quyết hoàn thành nhiệm vụ. Như đêm nay đấy thôi, nếu không có chúng tôi chắc gì những mệnh lệnh của chỉ huy đến được các đơn vị, chỉ huy làm sao mà nắm nổi tình hình chiến sự trên các mặt trận để xử lý quyết đoán kịp thời. Mệt đấy mà vui lắm đấy.


Về sau này tôi biết được 32 bức điện chúng tôi phát đi đêm ấy chính là những báo cáo quan trọng, khẩn cấp, cơ mật về tình hình địch ta của mặt trận Sài Gòn - Gia Định lên Bộ Tư lệnh Miền chuẩn bị cho một chiến dịch đánh lớn. Cả đời quân ngũ của tôi gần 12 năm trời chuyên làm lính thông tin, 8 năm ở địa đạo Củ Chi có biết bao kỷ niệm nhưng có lẽ kỷ niệm về cái đêm phát đi 32 bức điện ZN tại một căn hầm khu Bến Đình ven sông Sài Gòn năm ấy là tôi nhớ nhất. Tôi tự hào về những tháng năm là lính thông tin của mình vì đã góp một phần nhỏ bé đảm bảo mạch máu thông tin của Đảng, của quân đội thông suốt, góp phần làm nên chiến thắng của dân tộc ta.


Tiêu đề: Bản hùng ca xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Giêng, 2022, 08:46:16 am
MÙA XUÂN RA TRẬN


PHẠM NGỌC SƠN


Mùa xuân năm ấy đến sớm và bất chợt quá, một ngày tươi đẹp bỗng xuất hiện giống như mối tình đầu chớm nở. Thế là xuân của đất trời, xuân của lòng người đã đến với đất nước ta, đến với chúng ta, những người lính đêm nay trên đường ra trận, đúng như lời một bài hát của nhạc sĩ nào đó: "Đường ra trận mùa này đẹp lắm". Không đẹp sao được khi mà những người lính chúng tôi mang trong tim bầu máu sục sôi lòng căm thù giặc, vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì giải phóng miền Nam, chúng tôi đến nơi đâu có giặc.


Đêm đã đi vào chiều sâu, bốn bề im lặng, ngay cả ngôi sao xa trên bầu trời cũng đứng im long lanh như giọt nước mắt, lặng lẽ của những người mẹ, mong chờ con bao nhiêu ngày cách biệt. Gió se lạnh thoang thoảng hương lúa mới, thơm như sữa của người mẹ trẻ. Điều gì đây như đang trào dậy trong lòng người lính trẻ đi trong đêm nay. Đêm giao thừa, mùa xuân ra trận.


Đoàn quân đi theo một hàng dọc, dẫu rằng phải tuyệt đối giữ bí mật, từ bước đi, cho đến mọi hành động phải hết sức nhẹ nhàng, giống như một con trăn trườn trong đêm tối. Vậy mà vẫn dấy lên trong chúng tôi một khí thế hừng hực, thế tiến công của đoàn quân ra trận. Không ai nói với ai, nhưng có lẽ họ đều chung một dòng suy nghĩ mà trong cuộc họp chi bộ trước giờ ra trận ở khu rừng già chân điểm cao 367 phía tây huyện Hải Lăng tỉnh Quảng Trị. Buổi lễ kết nạp đảng viên mới, người đảng viên Nguyễn Cảnh Nam thay mặt những đảng viên được kết nạp tuyên thệ lời thể bất tử: "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh". Lời thề đó là quyết tâm của cả Đại đội 15 chúng tôi đi và đến nơi đâu có giặc, quyết đánh và quyết thắng.


Người dẫn đường nai nịt gọn gàng, luôn nắm chắc trong tay khẩu AK báng gấp, tư thế sẵn sàng nổ súng, đó là bản lĩnh quen thuộc của người lính chiến, anh đi đầu đội hình, cứ trông tác phong của người dẫn đường, chúng tôi vững lòng tin, theo sát anh là tổ trinh sát của đại đội do tiểu đội trưởng Nguyễn Văn Tài và các trinh sát viên Nguyễn Văn Khâm, Âu Văn Mênh. Tôi đi sau tổ trinh sát dẫn đầu đội hình vượt ra khỏi khu rừng non, đến khu vực có địa danh Mộ Ông Chưởng, người đạo lộ dè dặt từng bước, anh dừng lại ra hiệu, tôi hiểu phía trước có gì nghi vấn.


Tôi phát ám hiệu cho đại đội dừng lại. Cả đội hình nhanh chóng tản ra, lợi dụng các bờ ruộng nép mình vào ẩn nấp. Tôi và tổ trinh sát đến bên người dẫn đường quan sát, người thì thầm nói vừa đủ mấy người nghe. Anh chỉ tay về phía trước: "Tôi nghi đoạn này thường ngày chúng hay phục.... phải cẩn thận anh ạ, lỡ ra thì...". Anh bỏ lửng câu nói. Tôi hiểu ý người dẫn đường, những con người dày dạn kinh nghiệm dẫn khách đi vào vùng địch chiếm đóng. Đêm nay anh dẫn đoàn quân vượt đường, vượt sông để ngày mai vào trận, anh phải có trách nhiệm bảo đảm tuyệt đối an toàn cho đoàn quân không được khinh suất. Đại đội có được tiểu đội trinh sát dày dạn trong nắm địch như Tài, Khâm, Mênh, Long... khiến tôi yên tâm mỗi khi vào trận. Chúng tôi tiếp tục cơ động qua cánh đồng, đến làng xóm, nơi đây chỉ còn kia thưa những bụi tre, cây chuối, những tường nhà bị đốt cháy chỉ còn trơ trụi mấy cột nhà cháy dở đen đúa, cây cối xác xơ bởi đạn pháo của địch vẫn còn hăng hắc mùi ngai ngái, cái mùi thường gây cho người lính những ám ảnh rờn rợn. Dân chúng vùng Thượng Lâm đã bị địch dồn cả về khu ấp chiến lược, xung quanh thị xã Quảng Trị, nơi đây chỉ còn vườn không nhà trông, có lẽ đêm nay bà con mới có dịp về lại làng quê nơi chôn rau cắt rốn để thắp cho tổ tiên nén nhang ngày tết. Đó đây những nền nhà hoang vắng hiện lên ánh lửa lập loè, với những bóng người lầm lũi khấn vái vội vàng, chỉ trong chốc lát rồi đám người lại biến nhanh như có ma đuổi, xóm thôn lại trở nên hoang vắng, lạnh lùng.


Đại đội 15 phải vượt đường số 1 và vượt sông Nhùng giữa hai đồn địch, một bên là đồn cầu Nhùng, một bên là đồn cầu Dài, cách nhau chừng vài kilômét, nằm vào địa phận xã Hải Thượng, huyện Hải Lăng.


Tôi ra lệnh đại đội dừng lại trong một làng phía tây quốc lộ 1, tiến hành làm công tác chuẩn bị và cũng là chờ đợi đúng giờ quy định mối được vượt đường, vượt sông. Tôi xem đồng hồ đã 23 giờ, như vậy chỉ còn một giờ nữa là đến giao thừa, cũng giờ đó chúng tôi mới được lệnh vượt đường và vượt sông, anh em sơ tán trong vườn nhà dân chờ đợi. Các gia đình đang sắp mâm ngũ quả, gà xôi, bánh trái ở giữa sân, mùi hương thơm ngào ngạt toả lan cả một vùng. Tiếng pháo dạo đầu mùa xuân đã đì đùng nổ râm ran, xen lẫn tiếng súng từ các đồn cầu Nhùng, cầu Dài của địch bắn vút lên trời, nối đuôi nhau tạo thành những tia đạn lửa đỏ lừ trong không trung, với những chùm pháo sáng vàng khè, đỏ quạch treo lơ lửng trên vòm trời đen sẫm toả xuống làng Thượng Xá, làm cho không khí đêm giao thừa xáo động đến bề bộn. Tôi chợt nhớ mấy câu thơ của một nhà cách mạng khi ông bị giặc bắt giam trong nhà tù, đêm giao thừa nghe tiếng pháo nổ ông tức cảnh câu thơ: "Lạch tạch, lạch tạch đùng. Than ôi! Xác pháo đã nổ tung. Hõi ơi! Xác pháo không còn nữa. Đã nổ tung ra vạn cánh hồng". Câu thơ thể hiện tinh thần lạc quan, chí khí của người cộng sản, tuy đang trong tù nhưng ông vẫn tin ở ngày mai "xác pháo không còn nữa, nhưng sẽ tung ra vạn cánh hồng" đó là niềm tin của những người cộng sản.


Những tốp lính đi chơi đêm, đang rảo bước về đồn, xem ra đi chơi xuân mà chúng cũng phải nai nịt súng đạn đầy đủ, điều đó chứng tỏ chúng luôn luôn lo sợ như cá nằm trên thớt. Bà con cô bác thôn Thượng Xá như đã được báo trước, các má, các chị em túa ra chỗ anh em chúng tôi, thăm hỏi động viên, cho quà tết, thôi thì đủ thứ bánh chưng, bánh cốm, bánh giầy, thuốc lá Ruby. Các má, các chị xà vào chúng tôi như gặp lại người thân, cầm tay từng người các má nói: "Má biết các con vô trong ni đánh giặc, xa gia đình, xa cha mẹ vào những ngày tết cổ truyền, chắc các con nhớ nhà...". Nói chưa hết câu, các má, các chị nức nở không thành lời. Chúng tôi cảm động trước tình cảm thân thương của bà con cô bác dành cho người lính sâu nặng nghĩa tình.


Pháo đã nổ râm ran, chuông chùa thỉnh liên hồi, cùng với tràng súng liên thanh từ các đồn cầu Nhùng, cầu Dài bắn lên đan chéo trong không gian chằng chịt cả bầu trời như những chùm pháo hoa lạnh lẽo.


Tiêu đề: Bản hùng ca xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Giêng, 2022, 08:47:11 am
Phút giao thừa đã đến, tôi mở nhỏ chiếc đài bán dẫn vừa đủ cho mấy chiến sĩ Vãng, Mênh, Tài, Khâm, Phúc, Toàn bò sát đến nghe, Đài tiếng nói Việt Nam đang truyền đi lời chúc Tết của Bác Hồ:

   "Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,
   Thắng trận tin vui khắp nước nhà,
   Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ
   Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta".


Nghe thơ chúc Tết của Bác mà lòng chúng tôi náo nức như được truyền tiếp thêm sức mạnh, tăng thêm nghị lực và ý chí quyết tâm đối với mỗi người lính đêm nay ra trận. Nghe xong thơ chúc Tết của Bác lòng chúng tôi ấm lại. Tài và Khâm có trình độ văn hoá lớp 10, thường mỗi khi nghe một bài thơ trên đài lại đến cùng tôi bình thơ, hôm nay chúng tôi không dám bình thơ Bác mà chỉ dám nêu ý nghĩ phỏng đoán bài thơ của Bác xem năm nay thế sự chiến trường ra sao? Những năm qua cứ tết đên, chúng tôi ai nấy đều khắc khoải ngóng trông thơ chúc Tết của Bác. Chúng tôi coi thơ chúc Tết của Bác là lời Hịch, điều tiên đoán, sự chỉ đạo chiến lược đối với cách mạng Việt Nam nói chung và với cách mạng miền Nam nói riêng, mà cuộc chiến đấu - chúng tôi những người lính đang đôi mặt với kẻ thù. Nghe thơ Bác, chúng tôi hiểu được phần nào vận mệnh của đất nước và thế trận trên chiến trường sẽ ra sao. Đó là niềm tin, là sức mạnh đối với mỗi con người Việt Nam, cũng như mỗi người lính chúng tôi càng lạc quan tin tưởng ở thắng lợi ngày mai. Lời chúc Tết của Bác vừa dứt, những tràng pháo nổ rộn ràng, tiếng chuông chùa rền vang báo hiệu mùa xuân chiến thắng.


Lệnh vượt đường và vượt sông vào đúng giờ phút thiêng liêng của đất nước sang xuân. Có lẽ cấp trên chọn thời điểm này là đảm bảo an toàn nhất, để bảo toàn lực lượng cho trận chiến đấu ngày mai, cuộc tiến công và nổi dậy toàn miền Nam. Trong hội nghị giao nhiệm vụ tại Bộ chỉ huy mặt trận 7, đồng chí Tư lệnh mặt trận cầm tay đồng chí Chính ủy và nâng cao, tỏ thái độ và ý chí quyết tâm, quyết chiến và quyết thắng. Súng của địch xen lẫn tiếng pháo giao thừa vẫn nổ, những chùm pháo sáng treo lơ lửng sáng rực cả một vùng. Đoàn quân chúng tôi vẫn cứ vượt sông. Những chiếc thuyền nan bé nhỏ tưởng đến mong manh, vậy mà những tay chèo lái điêu luyện của các nữ du kích Hải Lăng thoăn thoắt như những con thoi, chẳng mấy chốc cả đại đội chúng tôi đã sang sông an toàn. Thật đúng với nghĩa của bài hát: "Du kích Trị Thiên chúng mình giỏi... lập nhiều chiến công..." quả thật không sai.


Tôi cho đại đội dạt vào khu vườn làng Thượng Xá Đông, tiến hành kiểm tra lực lượng và trang bị. Vừa lúc đó đoàn cán bộ do Chủ tịch Ủy ban hành chính xã Hải Thượng dẫn đầu đến thăm và chúc Tết. Đứng trước hàng quân đồng chí Chủ tịch xúc động lặng đi hồi lâu mới nói: Thay mặt Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Hải Thượng, chúc anh em năm mới mạnh khoẻ, đánh giặc giỏi, lập nhiều chiến công. Chúng tôi cám ơn các bà mẹ đã sinh ra những người con vào đây cùng chúng tôi chiến đấu, vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Chúng tôi hiểu rằng giờ phút thiêng liêng đón giao thừa ở quê nhà, gia đình đón xuân mà lòng nhớ thương những người con xa quê hương, đang chiến đấu ở chiến trường miền Nam...". Đoàn cán bộ đưa quà đến tay từng chiến sĩ, các má, các chị cầm tay bịn rịn như muốn gửi những tình cảm thân thương của bà con cô bác như sợ mất con.


Rời Hải Thượng lúc gần 2 giờ sáng mồng Một Tết Mậu Thân. Dẫn đường cho đại đội tôi là nữ du kích Hồng Thái, người con gái xã Hải Chánh. Thái chừng mười tám đôi mươi, có dáng vóc thon thả, nhanh nhẹn. Với tác phong và sự hiểu biết của cô, tôi cứ tưởng cô phải ngoài hai mươi, cô nai nịt gọn gàng bằng cái thắt lưng da Mỹ, với hai trái lựu đạn mỏ vịt, một bi đông nước, một cái ni lông được gấp nếp rất cầu kỳ, từng ấy thứ bao quanh thân hình bé bỏng của cô đến ái ngại, với khẩu AK báng gấp càng nặng nề hơn. Đứng trước hàng quân bằng giọng nói miền Quảng Trị vừa đủ nghe:

"Xin thông báo với các đồng chí, đường đi không xa, nhưng toàn là đường đi trên cồn cát, không rõ đường rõ lối chi mô, đề nghị mọi người phải bám sát nhau, nếu không sẽ lạc đường là đi vô địch đó nghe? Các đồng chí quen đi đường rừng, nay đi đường cát e mỏi gôi, chồn chân đó, phải cố gắng thôi". Rồi cô quay ngoắt về phía tôi và nói: "Ta đi thôi hè". Những mẫu người con gái như Thái tôi gặp không phải là số ít, họ hành động là chính, nói ít mà sâu sắc, không văn hoa gì, mà đủ lý khiến mọi người cảm phục. Tôi chỉ còn biết ra lệnh đại đội đi theo, thoắt cái cô đã lẩn vào trong đêm tối, chỉ còn lờ mờ cái bóng di động phía trước.


Trời chuyển dần về sáng, không khí giao thừa đã thưa dần, chỉ còn vương lại tiếng pháo nổ thưa thốt... lạch tạch... lạch tạch... đùng... rót lại của buổi tàn canh. Mọi người nghe chừng đã thấm mệt, đoàn quân đi lặng lẽ, chỉ nghe tiếng xào xạc của lá ngụy trang, thi thoảng có tiếng lách cách va nhẹ phát ra từ sau chiếc ba lô của ai đó. Tiếng cô du kích dẫn đường vẫn lanh lợi: "Đi lẹ chút nữa, trời sắp sáng rồi, eng mô kiểm tra có tiếng kêu đó". Tôi lại đôn đốc anh em tăng tốc độ.


Đại đội đến xã Hải Vinh lúc 4 giờ sáng mồng Một Tết. Đây là một xã nằm gần bờ biển, xung quanh những cồn cát trắng xoá cả vùng, cách đường quốc lộ 1, chừng trên 10km và cũng cách xa các đồn địch. Có lẽ vì thế mà cấp trên đưa toàn bộ trung đoàn xuống ém quân ở vùng này. Tôi đưa cán bộ trung đội đi trinh sát thực địa quanh làng, đồng thời giao nhiệm vụ cho các trung đội bố trí theo phương án chiến đấu chống càn. Các trung đội triển khai xong nhiệm vụ cũng là lúc trời vừa sáng rõ.


Sáng mồng Một Tết, tiết trời êm dịu nhẹ nhàng đến dễ chịu, ánh nắng mùa đông vừa đủ xoá tan màn sương đêm của một làng quê nghèo phủ đầy cát trắng. Làng xóm như vẫn còn chìm trong giấc ngủ muộn mằn của một đêm là một năm mới có một lần. Sự yên lặng đến tĩnh mịch và u ám, chỉ lác đác đó đây lũ trẻ tranh nhau đì đùng tiếng pháo tép, mấy cụ bà xúng xính trong bộ áo tứ thân bao tượng xanh đỏ đi lễ chùa, vài cụ ông áo the khăn xếp đủng đỉnh ra đình làng tế lễ cầu may ước vận cho một năm yên ổn xóm làng. Tôi cùng chính trị viên đại đội đi kiểm tra trận địa, cũng là lúc anh em đã bố trí xong quả mìn định hướng cuối cùng, tiếp tục đào công sự và tiến hành ngụy trang. Dù rằng đêm qua gần như thức trọn một đêm, nhưng khí thế của người ra trận không biết mệt mỏi, chúng tôi đến tiểu đội nào cũng nhận được những lời chúc Tết tốt đẹp, một tình cảm chân tình cởi mở của một ngày mới.


Thế là ngày mồng Một Tết anh em phải nằm ngoài trận địa. Được cái trận địa chạy ven theo làng, núp dưới luỹ tre xanh tốt, kín đáo nên đỡ căng thẳng. Theo lệnh trung đoàn trưởng, đơn vị phải tổ chức trực 100% quân số tại trận địa sẵn sàng chiến đấu, không một ai được vào nhà dân, nêu một vài tên lính đi chơi tết mà vào trận địa, thì bằng mọi cách bắt sống, không được manh động nổ súng bừa bãi, phải tuyệt đối giữ bí mật lực lượng. Khả năng địch đi càn quét vào mấy ngày Tết chắc không xảy ra, trừ khi chúng đã phát hiện lực lượng của ta. Quả thật cấp trên nhận định không sai. Cả ngày mồng Một Tết không có một tên lính nào bén mảng vào làng Hải Vĩnh. Thế là anh em được các gia đình đưa cơm đến từng tiểu đội, bà con cô bác cho ăn Tết tại chiến hào khá đầy đủ, cũng thịt mỡ, dưa hành, bánh chưng, bánh cốm, bánh giầy. Như vậy là chúng tôi được ăn Tết những hai lần cơ đấy.


Tiêu đề: Bản hùng ca xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Giêng, 2022, 08:47:47 am
Theo lệnh của trung đoàn trưởng, đúng 13 giờ mồng Một tôi có mặt tại nhà trung đoàn trưởng để nhận lệnh, mọi cán bộ đến họp đều phải cải trang bảo đảm bí mật. Tôi cải trang bằng chiếc áo dài đen, cụ chủ nhà cho, mặc ngoài bộ quân phục, chiếc nón lá đội trùm chiếc mũ tai bèo. Trung đoàn trưởng Tống Sỹ Ngùy đứng trước cửa nhà thờ họ, nhà ông ở, ông mặc bộ bà ba đến, trên tay ông thường khi nào cũng cầm một điếu thuốc lá, ông rít một hơi thuốc khoan khoái. Ông cười, nụ cười độ lượng, với lời chào hỏi chúc Tết cán bộ đến họp bằng những câu nửa đùa nửa thật: "Chào các cụ lý, cụ trương". Chúng tôi đùa gọi ông là cụ chánh, vì mọi người đểu cải trang bằng những bộ áo dài, có người còn mượn cả quần trắng ống sớ, nón chóp dứa. Tôi quan sát một lượt, thôi thì đủ kiểu, đủ loại, ai kiếm được loại gì mặc loại đó, thật buồn cười.


Cuộc họp được bắt đầu bằng lời chúc Tết của trung đoàn trưởng. Sau ông nghe đơn vị báo cáo rất vắn tắt tình hình có gì đặc biệt. Ông tiến hành bổ sung nhiệm vụ và chỉ thị hiệp đồng, ông nhắc đi, nhắc lại giờ G + 3. Cuộc họp được kết thúc nhanh chóng. Mọi người ai nấy đều tất tưởi trở về đơn vị. Không nói ra nhưng trong mỗi con người đều hiểu rõ nhiệm vụ lịch sử cuộc Tổng tiến công nổi dậy toàn miền Nam, ai cũng mau nhanh chóng trở về đơn vị tổ chức thực hiện nhiệm vụ một cách nhanh nhất. Tôi cũng như mọi người hăm hở bước ra sân tíu tít bắt tay chúc tụng nhau chiến thắng... Đồng chí tác chiến trung đoàn đến bên tôi nói nhỏ: "Anh quay lại gặp trung đoàn trưởng". Tôi thầm nghĩ chắc lại điều gì nữa đây, tôi chưa kịp báo cáo ông đã cười, cái cười của ông bao giờ cũng làm cho cấp dưới dễ chịu hơn khi nhận một nhiệm vụ, ông ôn tồn nói: "Nhiệm vụ của Đại đội 15 như tôi đã giao, cần lưu ý vây chặt, tiêu hao, tiêu diệt từng bộ phận quân địch, không cho một tên địch nào chạy vào thị xã Quảng Trị là hoàn thành tốt nhiệm vụ. Về đơn vị giao việc chỉ huy đại đội lại cho đồng chí đại đội phó, đồng chí cải trang thường dân cho tốt, o du kích đây". Ông chỉ cô gái đứng gần đó: "Là người dẫn đường". Đồng chí nhanh chóng tiếp cận mục tiêu trước khi trời tối. Tôi nhanh chóng trở về đơn vị.


Sau khi trao đổi công việc với Chính trị viên Cương và Đại đội phó Trạm, tôi và Vinh - cô du kích dẫn đường xuất phát 15 giờ mồng Một Tết. Tôi vẫn mặc chiếc áo dài ngoài bộ quân phục, chiếc áo dài đen không che kín màu áo Tô Châu, đội chiếc nón lá trông thật buồn cười. Anh em cứ vây quanh tôi trêu đùa:"Trông thủ trưởng cứ như người làm xiếc". Vinh mặc bộ áo cánh rất mốt của cô gái Quảng Trị, khoác chiếc khăn rằn, đội nón bài thơ, càng tô vẻ đẹp dịu dàng của cô gái miền quê pha chút phong sương dày dạn. Khẩu súng tiểu liên nhỏ nhẹ được bọc kín trong tấm vải dù. Chúng tôi đi bên nhau trong vai vợ chồng đi chơi Tết. Đó là ý trung đoàn trưởng dặn tôi và Vinh, nếu trên đường đi mà gặp tình huống thì chỉ Vinh giao tiếp và phải nói là vợ chồng, còn tôi chỉ gật đầu và lắc không được nói, vì nếu nói thì lộ tiếng người miền Bắc. Như vậy có nghĩa là tôi phải giả câm.


Đi hết đường làng Hải Vinh ra đường cồn cát, trên đường chúng tôi gặp nhiều người ngược xuôi họ chuyện trò cười nói vui vẻ. Tôi và Vinh chỉ lẳng lặng đi bên nhau, hệt như đôi vợ chồng mới cưới thẹn thùng đi chơi xuân, thi thoảng gặp tốp người họ chào hỏi, chúc tụng, chỉ có Vinh trả lời, còn tôi cười ậm ự không thành tiếng, khi họ đi qua rồi tôi và Vinh lại bật cười đến là ngộ. Tuy thế nhưng cũng có những tốp người hình như họ nhận ra điều không bình thường của tôi, thường đi qua rồi họ quay lại nhìn theo rồi rì rầm nói cười. Lại có những tốp trẻ trâu chúng chạy theo nhòm ngó thì thầm một cách nghịch ngợm. Vinh quay lại nói: "Các cháu đi trâu răng chạy theo cô chú mần chi hề...", chúng mới chịu dừng lại đồng thanh đọc câu: "Chồng đi trước, vợ đi sau, quay lại hôn nhau tui cho đồng bạc...". Chúng cười ầm ĩ chạy xa. Mặc kệ chúng, tôi không để ý đến sự trêu chọc nhảm nhí của trẻ con, mà tập trung quan sát đường đi, địa hình, làng mạc, nhất là quan sát những dòng người đi lại xem có lính ngụy đi trong đó không? Phía thị xã Quảng Trị mấy chiếc trực thăng bay lượn qua lại, lên xuống, làm cho tình hình trở nên sống động hẳn lên. Chúng tôi đâm chột dạ, Vinh đi sát bên tôi thầm thì: "Eng ơi! Người qua lại nhiều quá, lại cả trực thăng nữa e đi không lợi mô, lỡ có chuyện chi, nguy hại cho nhiệm vụ, có lẽ anh em miềng tạm dừng chờ xế chiều, vãn rồi ta đi". Tôi suy nghĩ, đúng như Vinh nói, trên đường đi đã gặp một vài tình huống đáng ngại, ngay cả hướng quận lỵ Hải Lăng người xe đông thế kia cũng khó có thể an toàn được. Tôi đồng ý phương án của Vinh tạm dừng chờ thời điểm thích hợp đi tiếp.


Chúng tôi chui vào một bụi cây giữa cồn cát, gọi là bụi cây nhưng khá rộng và rậm rạp, tương đối kín đáo, xa cả hai vùng dân cư, người qua lại thưa thớt. Chúng tôi vạch ra một đám gọn gàng vừa đủ cho hai người, bẻ lá trải thành một chỗ ngồi. Hơn hai tiếng đồng hồ chờ đợi, chúng tôi hết ngồi lại nằm bên nhau, nói chuyện quê hương, gia đình, thế sự. Vinh hỏi tôi về chuyện vợ con, tôi cũng hỏi Vinh về đời tư, thế là chúng tôi đều đã hiểu nhau và cả hai chúng tôi đều chưa một lần. Tình huống đã tạo cho chúng tôi điều kiện khó lường. Trong lúc này, chỉ có chàng và nàng, có lúc trong chúng tôi đã dấy lên cái bản năng vốn có của người con trai và người con gái. Bỗng tôi nhớ lời bất hủ của nhà văn nước ngoài: "Sự sống nảy sinh từ trong cái chết, hạnh phúc hiện hình trong những lúc hy sinh gian khổ. Ở đời này không có con đường cùng, mà chỉ có những ngăn cách. Điều cốt yếu là phải có sức mạnh để vượt qua những ngăn cách đó...". Tôi nghĩ phải chăng đây là phút hy sinh gian khổ, hạnh phúc hay bản năng vốn có trong mỗi con người, mà lúc này đây nó đang quấy quả chúng tôi, nó đòi hỏi sự sống, sự nảy sinh trong tôi người con trai chưa một lần và cô gái kia còn bé bỏng hơn cả sự tưởng tượng của tôi. Thế rồi tôi ngồi bật dậy trong sự ngơ ngác của Vinh. Cô hiểu điều gì? Cô cũng ngồi dậy, thẹn thùng rút chiếc lược chải mái tóc xổ tung. Chúng tôi đã có sức mạnh vượt qua sự thèm khát, đó là sức mạnh trái tim người lính, sức mạnh của kỷ luật quân đội, vì nhiệm vụ để giành chiến thắng của trận chiến đấu ngày mai.


Chúng tôi đã đến mục tiêu quận lỵ Hải Lăng trước khi trời tối, đủ thời gian để tôi tiến hành quan sát đường, hướng tiến và khu vực chiếm lĩnh trận địa. Khoảng 21 giờ đơn vị có mặt tại thôn Hậu, cũng vừa lúc tôi và Vinh về đến đó. Sau khi trao đổi tình hình với Ban chỉ huy đại đội, tôi đưa cán bộ tiểu đội, trung đội đi trinh sát và giao nhiệm vụ cho từng trung đội trên từng khu vực, từng hướng. Cán bộ tiểu đội, trung đội đi trinh sát cụ thể theo nhiệm vụ đã giao, cũng phải đến 24 giờ cán bộ mới trinh sát xong.


Đúng 2 giờ ngày mồng Hai Tết tôi ra lệnh chiếm lĩnh trận địa. Chỉ trong phạm vi một giờ đồng hồ toàn đại đội đã chiếm lĩnh trận địa an toàn. Anh em tiến hành đào công sự, chủ yếu đào công sự lộ thiên tránh mảnh và tránh đạn bắn thẳng. Tôi đi kiểm tra từng tiểu đội, nhìn chung anh em chiếm lĩnh và bố trí binh hoả lực đúng ý định chiến thuật, trở về vị trí chỉ huy cũng là thời điểm toàn miền Nam nổ súng tiến công và nổi dậy.


Tiêu đề: Bản hùng ca xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Giêng, 2022, 08:48:18 am
Tôi nhìn về hướng thị xã Quảng Trị ánh lửa lập loè và tiếng nổ rền vang, hướng phía nam cũng rộ lên những ánh chớp của pháo binh, súng cối và những khối bộc phá nổ làm sáng rực cả vùng trời. Theo chỉ thị hiệp đồng của trung đoàn, hiệp đồng tiếng súng, căn cứ vào nhiệm vụ của đơn vị độc lập chiến đấu, chỉ huy quyết định giờ nổ súng cho phù hợp. Tôi xem đồng hồ đã 3 giờ 15 phút, đèn trong quận lỵ Hải Lăng vụt tắt chỉ còn mấy chiếc đèn pha quét loang loáng qua lại ra phía cách đồng, lính trong đồn chạy rầm rập ra các phía hàng rào. Chớp thời cơ, tôi ra lệnh nổ súng. Ngay loạt đạn đầu các loại súng B40, B41, cối 60 ly và các bệ phóng 320 đồng loạt bắn vào các mục tiêu đã chuẩn bị sẵn, đặc biệt một bệ phóng (2) quả bom 50kg trúng giữa quận lỵ, nổ rung chuyển cả một vùng, những chiếc đèn pha tắt ngấm ngay sau khi quả bom nổ. Cũng phải đến mươi mười lăm phút sau, địch trong quận mới phản ứng bằng những tràng đại liên, súng cối bắn tới tấp ra những gò cát, bụi cây, không có pháo lớn chi viện.


Vinh ghé vào tai tôi nói nhỏ vẻ đắc chí: "E quân địch bị đánh khắp nơi, không có khả năng chi viện pháo cho quân địa phương anh hỷ". Với nhiệm vụ bao vây, kiềm chế, tiêu diệt, tiêu hao từng bộ phận quân địch, không cho địch chi viện cho thị xã Quảng Trị. Tiếng súng đã đồng loạt tiến công vào sào huyệt của địch, phút chốc cả miền Nam đã nổi dậy giội bão lửa xuống đầu lũ bán nước và quân xâm lược. Chúng phải đền tội ác trước lòng căm thù uất hận của đồng bào chiến sĩ cả nước.


Khoảng 9 giờ, phía Thành cổ Quảng Trị xuất hiện máy bay trực thăng. Chúng nhào lượn lên xuổng, quần lộn xả đạn, phóng rốc két xuống. Lần đầu tiên xuất hiện loại máy bay rọ lợn, xương cá, bắn rất khó trúng mà nó bắn cũng rất dai dẳng. Loại utiti máy bay này cũng đáng ngại nó bay rất nhanh và bay theo kiểu nghiêng nghiêng trông đến ghét và cũng đáng sợ. Cứ mỗi khi chúng nhào tới hướng Hải Lăng cứ tưởng như nó đã nhìn thấy mình, ai yếu bóng vía mà vượt chạy là nó đuổi đến cùng nếu không tiêu diệt được chúng.


Đến 10 giờ, một lực lượng địch ngồi trên 5 xe quân sự, dưới sự yểm trợ của cối, chúng cơ động ra khỏi quận lỵ về hướng thị xã Quảng Trị. Tình huống địch cơ động chi viện cho Quảng Trị, đúng như phương án đã chuẩn bị. Tôi nhắc trung đội trưởng Trung đội 1: "Bình tĩnh để địch vào đúng phương án, chắc ăn mới nổ súng". Trung đội trưởng Trịnh Quốc Phong vốn là một cán bộ gan dạ, dũng cảm, giao nhiệm vụ cho anh là tôi yên tâm, với chất giọng Thanh Hoá anh trả lời: "Thủ trưởng yên tâm, tôi sẽ diệt gọn 5 xe địch, không còn lấy một thằng". Lời nói của Phong khiến tôi yên tâm. Đùng... đoàng... một loạt tiếng nổ ròn rã khói mù mịt cả một vùng. Những chiếc xe khựng lại, lính trên xe nhảy xuống chạy tháo thân, bị lực lượng ta chặn diệt. Cối ở trong quận bắn ra chi viện cho một lực lượng bộ binh cơ động ra, tôi lệnh cho Trung đội 2 chặn đánh, chúng điều tiếp bộ binh ra chia thành hai hướng đánh vào phía sau Trung đội 1, cuộc chiến trở nên quyết liệt. Tôi ra lệnh Trung đội 3 dùng cối bắn vào trung tâm quận lỵ, lệnh Trung đội 1 kiên quyết tiêu diệt quân địch. Trung đội phó Thái Hữu Song báo cáo, trung đội hy sinh năm đồng chí, trong đó có đồng chí Phong trung đội trưởng và tiểu đội trưởng Nguyễn Cảnh Nam. Tôi sững người xót xa, mới đó đã mất những người đồng đội thân yêu, Phong vừa nói với tôi như một lời thề quyết tử, Nam một cán bộ dũng cảm mới hôm này trước giờ ra trận anh đã đứng trong hàng ngũ của Đảng, lời thề của anh còn mãi trong trái tim những người cộng sản.


Trao đổi với chính trị viên Cương, tôi quyết định giao đồng chí Song thay thế trung đội trưởng, các trung đội bám sát quân địch tiêu diệt từng bộ phận, khống chế toàn bộ lực lượng địch trong quận lỵ Hải Lăng. Thế là cuộc chiến trong mấy ngày tết kết thúc. Chúng tôi đã bao vây, kiềm chế, tiêu diệt, tiêu hao quân địch, hoàn thành nhiệm vụ trung đoàn giao. Mấy hôm sau đại đội tôi được lệnh cơ động về xã Hải Thành, cùng trung đoàn tổ chức chống địch càn quét ở đồng bằng thuộc các xã Hải Quế, Hải Vĩnh, Hải Chánh, đến Phong Thu, Phong Bình. Hơn một tháng trời quần nhau với địch, đơn vị đã bị tiêu hao lực lượng và đạn dược. Chúng tôi được lệnh cơ động lên căn cứ, đầu nguồn sông Ô Lâu.


Thế đấy, giao thừa mùa xuân năm ấy đã qua đi một chặng đường dài lịch sử, những năm tháng thăng trầm của đất nước. Đến bây giờ, cứ mỗi độ xuân sang, những kỷ niệm một thời oanh liệt, thời xa xưa, cái đêm giao thừa năm ấy như vẫn còn chôn sâu trong ký ức người đại đội trưởng, một dấu ấn không phai. Đêm giao thừa lịch sử, trong chiến đấu giải phóng dân tộc, đêm giao thừa có một không hai trong cuộc đời chinh chiến của người chiến sĩ giải phóng quân. Thế là sau cái đêm giao thừa năm ấy, bao nhiêu người đồng đội đã ra đi mãi mãi không về, vĩnh biệt mùa xuân. Song tên tuổi các anh, những liệt sĩ ra đi trong mùa xuân Mậu Thân 1968 vẫn sống mãi trong trang sách các em thơ, trong ký ức người dân Thành Quảng Trị anh hùng.

P.N.S


Tiêu đề: Bản hùng ca xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Giêng, 2022, 08:49:22 am
Ở TRẠI ĐAVÍT


TẠ HƯNG


Davis camp - địa danh không thể nào quên

Chiến dịch lịch sử mang tên lãnh tụ vĩ đại Hồ Chí Minh kết thúc thắng lợi ngày 30 tháng 4 năm 1975. Ước mơ cháy bỏng của cả dân tộc là độc lập, thống nhất Tổ quốc đã trở thành sự thật. Bắc - Nam đã sum họp một nhà, cả nước đang chung lưng đấu cật xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thân yêu. 30 năm trôi qua, đất nước Việt Nam đã "đàng hoàng hơn, to đẹp hơn" - đúng như di huấn của Bác Hồ để lại cho thế hệ con cháu chúng ta.


Để có được chiến công vĩ đại ấy là cả một sự phấn đấu hy sinh phi thường của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta; là sự đồng tình; ủng hộ, giúp đõ của bạn bè khắp năm châu bốn biển. Nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa thắng lợi và tầm vóc thắng lợi của cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, thống nhất Tổ quốc đã được viết thành sách, làm thành phim và được thể hiện qua nhiều hình thức văn hóa nghệ thuật khác. Tuy nhiên, còn một cái tên - một địa danh - tuy nhỏ nhưng đã ghi lại chiến công của người lính trên mặt trận ngoại giao quân sự ngay trong lòng địch, thiết nghĩ cũng phải được nhắc đến để mọi người có dịp hiểu thêm về người lính trên mặt trận này. Cái địa danh đó là "Davis camp" (Trại Đavít) nằm trong khu sân bay Tân Sơn Nhất, là trụ sở của Ban Liên hợp quân sự "Bốn bên" rồi "Hai bên" sau Hiệp định Pa-ri về Việt Nam.


Là người vinh dự được tham gia từ đầu đến cuối đơn vị đặc biệt này và sau đó tham gia Ủy ban quân quản Sài Gòn - Gia Định, tôi muốn nhân dịp này - dịp kỷ niệm 30 năm giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà - kể lại với bạn đọc những kỷ niệm không thể nào quên trong thời kỳ ấy.


Cuộc hành quân vào Davis camp

Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam sắp được ký kết. Trong Hiệp định có đề cập đến vấn đề thành lập Ủy ban Liên hợp quân sự bốn bên và hai bên ở Trung ương (Sài Gòn) và các khu vực ở miền Nam Việt Nam, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam được giao trọng trách tổ chức triển khai nhiệm vụ quan trọng này. Dưới sự lãnh đạo và chỉ đạo của Bộ Chính trị, của Đảng ủy quân sự Trung ương, của Trung ương Cục và Đảng ủy quân sự Miền, Tổng cục Chính trị đã phối hợp với các cơ quan trong và ngoài quân đội, ở miền Bắc cũng như ở miền Nam để tuyển chọn cán bộ có đủ năng lực và phẩm chất cho cả Đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Lúc đó, tôi đang công tác tại Cục Nghiên cứu Tổng cục Chính trị được điều động đi làm nhiệm vụ mới và được phân công công tác trong Đoàn của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Anh em trong đoàn miền Nam chúng tôi từ Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao, Bộ Ngoại thương, Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội gộp lại. Sau khi được Thiếu tướng Nguyễn Đôn gặp gỡ động viên giao nhiệm vụ, chúng tôi về tập trung tại khu văn công Mai Dịch - Hà Nội. Tại đây không khí thật nhộn nhịp. Mỗi người vừa lĩnh tư trang cho mình, vừa lĩnh thêm suất tư trang cho một đồng chí ở "R" cũng vào Sài Gòn công tác. Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội cũng như gia đình, bạn bè đến lưu luyến chia tay. Niềm vui rạng rỡ trên nét mặt và nụ cười của mọi người.


Đêm 26 tháng 1 năm 1973, một đoàn xe U-oát xuất phát đưa chúng tôi đi vào Lộc Ninh để từ Lộc Ninh vào Sài Gòn. Sáng 27 tháng 1 năm 1973 chúng tôi dừng chân tại một khu rừng của Thanh Hóa, chuẩn bị đem lại đi tiêp. Trưa 27 tháng 1 năm 1973, đoàn nhận được điện khẩn của Tổng cục Chính trị là phải quay ra Hà Nội ngay vì Hiệp định Pa-ri sắp ký, đi dọc Trường Sơn vào sẽ không kịp. Đêm 27 tháng 1 năm 1973, thay vì đi vào Nam, chúng tôi lại trở ra Hà Nội. Ra đến Hà Nội, chúng tôi được biết, để kịp triển khai hoạt động, Mỹ đã đồng ý đưa hai đoàn của ta vào Sài Gòn bằng máy bay C130 của Mỹ. Chúng tôi lại tiếp tục chuẩn bị cho phương án di chuyển mới theo chỉ thị của trên. Đúng 8 giờ 15 phút, thứ hai, ngày 29 tháng 1 năm 1973 chúng tôi rời địa điểm đi sân bay Gia Lâm để vào Sài Gòn. Tại sân bay Gia Lâm, hai chiếc C130 - một chiếc cho đoàn miền Bắc, một chiếc cho đoàn miền Nam - đã chờ sẵn. Đoàn miền Bắc do Thiếu tướng Lê Quang Hòa dẫn đầu được tiễn đưa rất trọng thể. Quân phục mới, quân hàm, quân hiệu chỉnh tề, đoàn lên đường với khí thế chiến thắng. Đoàn miền Nam chúng tôi lúc đó với danh nghĩa đi công tác nước ngoài về ghé qua Hà Nội, nay được lệnh của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam vào Sài Gòn công tác. Chúng tôi với quân phục giải phóng mới, mũ tai bèo mới, va li ngoại giao mới tiến về chiếc C130 dành riêng cho đoàn. 11 giờ 25 phút ngày 29 tháng 1 năm 1973 máy bay cất cánh. Chúng tôi vui mừng khôn xiết. Đảng, Nhà nước, nhân dân, quân đội đã tạo điều kiện thuận lợi, tạo thế cho chúng tôi vào lòng địch để thực hiện một cuộc chiến đấu mới, một cuộc chiến đấu tuy không phải bằng súng đạn, song cũng không đơn giản và dễ dàng.


14 giờ 45 phút cùng ngày, máy bay hạ cánh an toàn xuống sân bay Tân Sơn Nhất. Qua cửa sổ máy bay, chúng tôi thấy xe quân cảnh của Mỹ - ngụy chạy tới tấp, rồi cả hai máy bay được bao vây bởi hàng rào lính dù trong tư thế sẵn sàng nổ súng. Trời nắng gắt, sân bay nóng ran. Một, hai, rồi ba giờ trôi qua, chúng tôi vẫn không được rời máy bay. Chúng tôi ăn lương khô, uống nước bi đông mang theo và chờ đợi. Đoàn miền Bắc cũng vậy. Hai máy bay đậu gần nhau, việc liên lạc, phối hợp đấu tranh không khó khăn gì. Nguyên nhân chính chúng tôi chưa được rời máy bay là vì chúng tôi kiên quyết không chấp nhận điều kiện vô lý của phía ngụy Sài Gòn lúc bấy giờ. Chúng bắt chúng tôi phải làm thị thực nhập cảnh - tức phải thừa nhận miền Nam Việt Nam là một nước riêng biệt. Chúng tôi kiên trì đấu tranh, tiếp tục ngồi trên máy bay, đại tiểu tiện xuống sân bay. Bọn Mỹ thấy vậy, đưa sĩ quan liên lạc đến cung cấp túi ni lông để chúng tôi đại tiểu tiện vào đấy; đem thức ăn, nước uống đến cho chúng tô. Lúc đầu chúng tôi ngại không dám ăn, uống. Sau nghĩ rằng chúng tôi đại diện cho một chính phủ, địch khó có thể đầu độc; vả lại thế của ta lúc đó là thế thắng, địch cũng đang cần ta vào đây nên chúng tôi đã dùng khẩu phần lương thực và nước uống của Mỹ đem đến. Nhiều đồng chí tức quá đã đưa các túi ni lông chất thải lên để ở buồng lái. Cuộc đấu tranh tiếp tục qua đêm đến ngày hôm sau. Chúng tôi yêu cầu Mỹ cho máy bay cất cánh đưa chúng tôi ra Hà Nội. Trước thái độ kiên quyết của ta, Mỹ - ngụy đã phải nhượng bộ. Đúng 11 giờ 30 phút, thứ 3 ngày 30 tháng 1 năm 1973 đoàn chúng tôi rời máy bay trở về địa điểm - đó là Davis camp ở ngay trong khu sân bay.


Tiêu đề: Bản hùng ca xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Giêng, 2022, 08:50:17 am
Davis camp

Theo lời những người lái xe cho phái đoàn (do phía ngụy cử đến) thì đây vốn là khu kho của sân bay, sau thành trung tâm huấn luyện biệt kích: bọn mũ nồi xanh do Mỹ huấn luyện chuyên làm nhiệm vụ phá hoại, do thám ở các vùng biên giới; sau đó chuyển thành khu vực của không quân Mỹ thuộc tập đoàn không quân số 7. Cái tên Davis camp có từ đó. Trại Đavít rộng chừng 200m, dài chừng 800m. Nhà bằng gỗ thông, cưa xẻ từ Mỹ theo quy cách thống nhất. Sàn gỗ cách mặt đất 50cm, xung quanh có quây lưới thép nhỏ, trần gỗ thông dán. Hơn 80 nhà lớn nhỏ đánh số từ T-501 (phòng hành chính văn thư) đến số T-582 (phòng giải trí).


Ba khu vực chính: Thẳng cổng vào, bên phải sân lớn là bãi đậu xe và khu A (khu sĩ quan) có 11 nhà, nhà ăn, nhà tắm riêng. Phía đông, trên một khu chữ nhật là khu B bố trí 32 nhà ở của binh sĩ theo hình chữ u, ở giữa là nhà ăn, nhà kho, nhà bếp và nhà vệ sinh. Phía nam, trên một tam giác sát đường Lê Văn Lộc là khu C gồm những nhà phục vụ chung như nhà xem chiếu bóng của sĩ quan, phòng họp lớn, kho tiếp liệu, kho nhiên liệu, bãi đậu máy bay lên thẳng, nhà căng tin, nhà giải trí cho lính, bệnh xá, nhà Bóc-đen (hộp đêm) cho sĩ quan, sân quần vợt, tháp nước.


Sân và đường lớn, nhỏ đều bằng xi măng. Đường chéo lớn ngăn cách khu B và C, Mỹ đặt tên là đường Michigan. Một sự bố trí hợp lý hóa cao độ kiểu Mỹ cho một trại lính Mỹ ở vùng nhiệt đới. Mọi khoảnh đất đều được tận dụng, có thuốc diệt chuột ở gầm nhà, có lưới thép phòng muỗi và rắn độc...
Một sự ngăn cách lớn giữa sĩ quan và binh lính của một quân đội đế quốc, cách bức nhau trong sinh hoạt và hưởng thụ. Màu sắc lính tây còn đây đó: những bức tranh phụ nữ khỏa thân dán trên tủ sắt; vài bức họa sơn dầu thô kệch sặc mùi thực dân; hàng lô tập Playboy tục tĩu, chuyện trinh thám giật gân, truyền đơn van xin lính Mỹ cai nghiện hê-rô-in bên những ống tiêm hê-rô-in bằng nhựa đã bóp hết thuốc vào mạch máu, và khủng khiếp hơn là những bông băng dính đầy máu và mủ ở các xó gầm tủ, thùng rác, hố rác... Một người lái xe nhắc chúng tôi: Các ông phải đốt cho kỹ, phải tẩy uế cho thật dữ các nơi rửa mặt, nhà tắm, nhà vệ sinh của bọn này kẻo lây bệnh đó. Anh em ta làm vệ sinh kịch liệt hơn một tuần lễ mới tạm sạch. Ở mỗi căn nhà đều có một biển gỗ lớn treo trên cửa ra vào, in những hàng chữ: khi bị tấn công không được đứng, ngồi, đi, hoảng hốt và phải: bò ngay ra hầm, đội nậm lên đầu, nghe theo lệnh của trung đội trưởng. Hầm bao quanh các dãy nhà. Hầm của quan sâu hơn của lính, có kèo gỗ và vỉ sắt ở trên, đắp thêm bao cát, đất, xi măng pha cát. Hầm lính ở gần sân bóng rổ có khắc một loạt dấu hiệu phản chiến hình tròn có ba mũi súng chụm nhau. Phía trong hầm, những hàng chữ nguệch ngoạc: đây là địa ngục, ngày thằng Đích chết ở đây: 16-5-1972 - Lạy chúa! Tôi sẽ lên thiên đàng vì tôi đã ở địa ngục này rồi!


Sau giải phóng, trước khi vào trung tâm Sài Gòn, các đồng chí trong Bộ Tư lệnh Miền, Bộ chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh như Phạm Hùng, Lê Đức Thọ, Văn Tiến Dũng... đều qua đây. Biết được nơi ăn, ở, sinh hoạt của phái đoàn ta, cách cư xử của phía Mỹ - ngụy đối với chúng tôi, đồng chí Lê Đức Thọ nói vui: "Tớ biết nó để các cậu ăn ở thế này thì tớ đã không ký".


Trưởng đoàn Trần Văn Trà vào Sài Gòn

Đoàn miền Nam bay từ Hà Nội vào là bộ phận của đoàn tiền trạm. Sáng 31 tháng 1 năm 1973, các phó đoàn của Ủy ban Liên hợp quân sự bốn bên họp bàn việc đón Trung tướng Trần Văn Trà, trưởng phái đoàn quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Với cương vị và uy tín của mình, việc đồng chí Tư Chi (Trần Văn Trà) vào Sài Gòn được dư luận đặc biệt quan tâm.


Sáng 1 tháng 2 năm 1973 (29 Tết Nguyên đán), tại sân bay Lộc Ninh, hàng ngàn nhân dân, cán bộ chiến sĩ ta với cờ hoa và biểu ngữ trong tay lưu luyến tiễn đồng chí Tư lệnh lực lượng vũ trang miền Nam vào làm việc tại Sài Gòn. Các sĩ quan và phi công Mỹ - ngụy làm nhiệm vụ đón đồng chí Tư Chi tỏ ra ngạc nhiên và bối rối trước sức mạnh và tình cảm của đồng bào, chiến sĩ miền Nam đối với Mặt trận Giải phóng, Chính phủ thân yêu của mình.


Sau gần 2 giờ bay, những chiếc trực thăng treo cờ bốn bên đã đáp xuống sân bay Tân Sơn Nhất. Đại diện Ủy ban Quốc tế giám sát và kiểm soát (ICCS), đại diện các đoàn trong Ủy ban quân sự bốn bên cùng nhiều cán bộ của hai đoàn miền Bắc, miền Nam có mặt tại Sài Gòn ra đón đồng chí Tư Chi và các cộng sự của ông. Trong bộ quân phục giải phóng màu xanh ô liu, với nụ cười tươi tắn và tư thế của người chiến thắng, đồng chí Tư Chi lần lượt chào các quan khách, đồng đội và không quên giơ tay vẫy chào lại những người của phía bên kia đứng rất xa đang hướng về buổi đón tiếp đồng chí. Các tin tức, báo chí đã đưa tin đậm nét và đăng các hình ảnh người Tư lệnh lực lượng vũ trang của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trở lại Sài Gòn với cương vị và trọng trách mới. Thế là hôm nay mồng 1 tháng 2 năm 1973, đoàn miền Nam đã tập hợp đầy đủ lực lượng từ các hướng về: Hà Nội vào, ở "R" ra, ở Pa-ri về và còn có cả các đồng chí hoạt động ở nội thành Sài Gòn nữa. Trưởng đoàn Trần Văn Trà, các phó đoàn Bùi Thanh Khiết, Võ Đông Giang, Ba Trần, Bảy Sỹ quây quần bên cán bộ, chiến sĩ của mình chuẩn bị vui đón xuân mới và bước vào cuộc chiến đấu mới không kém phần khó khăn và phức tạp.


Tiêu đề: Bản hùng ca xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Giêng, 2022, 08:51:17 am
Đón xuân mới với lương khô và nước lã

Theo Hiệp định Pa-ri về Việt Nam, phái đoàn của chúng tôi được hưởng quy chế ngoại giao, được tự do đi lại mua bán lương thực, thực phẩm và các nhu yếu phẩm khác phục vụ cho công tác, sinh hoạt và được giao tiếp với đồng bào Sài Gòn thân yêu của mình. Thế nhưng Mỹ - ngụy đã "nhốt" chúng tôi vào Trại Đavít với dây thép gai và lính bao bọc xung quanh. Mọi thứ thiết yếu phải mua qua nhà thầu (cơ quan mật vụ trá hình) của chúng. Cán bộ của đoàn đi lại làm việc thì "quân cảnh" và "tuần cảnh" chặn đầu, khóa đuôi; chúng tôi rơi vào tình trạng bị giam lỏng.


Biết được tình trạng đó, tại Hà Nội, Tổng cục Chính trị đã chuẩn bị cho cả hai đoàn đầy đủ bánh chưng, giờ chả, các loại lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm để hai đoàn ăn Tết cổ truyền đàng hoàng tại Sài Gòn. Số hàng này sẽ được chuyển vào Sài Gòn bằng chuyên bay liên lạc C130 thường lệ Sài Gòn - Hà Nội và ngược lại như Hiệp định Pa-ri đã quy định.


Đúng dịp này, tại Davis camp số lính Mỹ phục vụ bỏ về với lý do "đã giao trách nhiệm cho chính quyền ông Thiệu". Phía ngụy Sài Gòn thì không đến. Đoàn chúng ta rơi vào tình trạng thiếu điện, thiếu nước, không lương thực, thực phẩm. Chúng tôi đấu tranh thì Mỹ đổ cho ngụy, ngụy đổ cho Mỹ - một chiến thuật "lúc giao thời". Dã tâm này càng bộc lộ rõ khi chuyến bay liên lạc C130 đến bầu trời Hà Nội, bay lượn vài vòng trên sân bay Gia Lâm rồi bay trở lại Sài Gòn với lý do không thể hạ cánh vì "thời tiết xấu". Số hàng tết Tổng cục Chính trị chuẩn bị cho hai đoàn phải nằm lại ở Hà Nội. Chúng tôi đành lấy lương khô thay bánh chưng xanh, lấy nước lã thay rượu để đón xuân mới. Lo bị thiếu lương thực lâu ngày, lương khô cũng phải ăn hạn chế.


Chưa hết, đêm 30 rạng mồng Một Tết cũng đúng ngày kỷ niệm thành lập Đảng (3-2-1973), phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa treo cờ Tổ quốc lên tháp nước để mừng Xuân, mừng Đảng. Mỹ - ngụy đã cho 4 trực thăng vũ trang quần đảo, chiếu đèn pha trên bầu trời của Trại Đavít, 6 xe bọc thép đến án ngữ trước cổng; tiếp đó 4 xe chở đầy quân, trang bị vũ khí đến tận răng đến vây quanh trụ sở của đoàn ta.


Địch dùng vũ khí, vật chất và tâm lý để lung lạc chúng tôi. Nhưng chúng đã nhầm. Chúng tôi đã bão hòa với các thủ đoạn nham hiểm này của chúng từ lâu rồi. Hành động của chúng càng làm cho cán bộ, chiến sĩ trên mặt trận này thêm quyết tâm chiến đấu đến cùng cho độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc. Chủ nhật, mồng 4 tháng 2 năm 1973 - mồng Hai Tết, 4 trưởng đoàn của ủy ban Liên hợp quân sự bốn bên đến thăm 4 trưởng đoàn Ủy ban Quốc tế là Hung-ga-ri, Ba Lan, In-đô-nê-xi-a và Ca-na-đa (sau đó Ca-na-đa được thay bằng trận). Ngày 5 tháng 2 năm 1973 họp phiên đầu tiên của các trưởng phái đoàn quân sự bốn bên. Phía ta đã tố cáo mạnh mẽ thái độ và hành động của Mỹ - ngụy đối với hai đoàn ta trong mấy ngày qua. Địch chống chế và sau đó buộc phải từng bước đảm bảo cuộc sống và làm việc bình thường cho hai đoàn ta.


Chuẩn bị cho cuộc đấu tranh lâu dài

Ngay từ những ngày đầu, ta đã thấy được thái độ và hành động lật lọng của Mỹ - ngụy đối với Hiệp định Pa-ri về Việt Nam. Trong cuộc đấu tranh một mất một còn này, kẻ địch có thể còn có những âm mưu thủ đoạn mới đối với phái đoàn ta. Điện, nước, lương thực, thực phẩm có thể bị cắt; chuyến bay liên lạc thường lệ Sài Gòn - Hà Nội và Sài Gòn - Lộc Ninh có thể bị đình chỉ. Điều kiện sống và làm việc của ta có thể gặp không ít khó khăn. Chúng tôi bắt đầu tích trữ lương thực, thực phẩm và bắt đầu đào giếng nước, trồng rau và cây ăn trái. Các loại giống từ Hà Nội vào, từ Lộc Ninh ra được gieo trồng khắp trụ sở của phái đoàn được phủ lên một màu xanh mát dịu. Các loại bầu, bí, mướp, rau muống, su su, bắp cải, xu hào, các loại rau thơm... mọc lên như nấm. Đôi lúc anh em chúng tôi còn chuyển sang cho một số gia đình thuộc "khu gia binh" ngụy sống sát hàng rào của phái đoàn, họ đón nhận với lòng khâm phục. Chúng tôi còn trồng cả cây ăn quả như sầu riêng, roi, xoài... dọc theo lối đi trong cơ quan. Sau 2 năm, nhiều cây đã có trái. Lúc này, nếu ai mới vào đây, khó có thể cho rằng đó là một trại lính Mỹ vốn quen với lối sống Mỹ. Davis camp thực sự trở thành một doanh trại của quân đội ta, thể hiện rõ lối sống tự túc tự cường, tự cấp, tự túc.


Nực cười nhất là chuyện đào giếng nước. Chúng tôi tiến hành đào giếng ở giữa khu nhà ở. Địch phát hiện ra và tố cáo rùm beng là "Việt cộng" đang tiến hành đào "địa đạo" hướng về trung tâm Sài Gòn. Lập tức các máy đào, xúc được điều đến để đào giao thông hào quanh trụ sở phái đoàn nhằm ngăn "địa đạo" vượt ra khỏi khu Davis camp. Ta đã mời đại diện của phái đoàn ngụy đến thị sát và nói với họ rằng do bị giam lỏng, chúng tôi phải đào giếng nước để dùng vào việc tưới rau, tưới cây nhằm thư giãn sau ngày làm việc căng thẳng. Chiến dịch vu cáo ta dần dần lắng đi.


Đấu tranh đòi Mỹ - ngụy trao trả hết tù chính trị

Đi đôi với việc kiểm tra Mỹ rút quân, đấu tranh đòi phía ngụy chấm dứt chiến sự, chấm dứt lấn chiếm vùng giải phóng của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, các đoàn của ta ở Davis camp đã tập trung phần lớn thời gian và công sức vào việc nhanh chóng đón đồng chí, đón đội của chúng tôi trở về từ các nhà tù khủng khiếp của Mỹ - ngụy.


Tôi được cử tham gia nhóm bốn bên nghiên cứu xác định vị trí trao trả từ Lộc Ninh đến Quảng Trị và thăm nơi giam giữ cuối cùng ở một số nhà tù trong đó có nhà tù ở đảo Phú Quốc. Trái với Hiệp định Pa-ri, khi đến các nhà tù, hầu như Mỹ - ngụy không cho đại diện của đoàn ta thăm nơi giam giữ cũng như điều kiện sinh hoạt của tù nhân. Họ chỉ tập trung một số anh chị em vào một chỗ rồi để cho chúng tôi gặp. Ở Phú Quốc, chúng tập trung anh em tại sân bay rồi đưa chúng tôi đến. Chúng tôi đã kịch liệt phản đôi thái độ thiếu thiện chí của phía bên kia. Mỹ - ngụy rất sợ dư luận tố cáo tội ác của chúng đối với tù binh và tù chính trị của ta. Vào thời điểm này, chúng đã tiến hành thuyên chuyển tù nhân từ nơi này đến nơi khác. Chuyển tù chính trị thành tù thường phạm, không cung cấp đầy đủ danh sách để trao trả cho ta. Nhưng chúng đâu có biết ta đã có đầy đủ danh sách do chính chúng lập ra và được lưu trữ tại các nhà tù của chúng, kể cả ở Côn Đảo. Ta đã vạch mặt chúng tại Hội nghị bốn bên ở Sài Gòn và qua các phương tiện thông tin đại chúng, buộc chúng phải nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Pa-ri về Việt Nam trong vấn đề trao trả người bị bắt. Từ Davis camp, tờ mờ sáng chúng tôi ra đi, tối mịt hoặc nửa đêm chúng tôi mới lại trở về. Mỗi ngày được tin địch trao trả thêm được nhiều đồng chí, đồng đội là mỗi ngày chúng tôi vui mừng khôn xiết.


Chuẩn bị cho cuộc quyết chiến giải phóng Sài Gòn - Gia Định

Khi chiến dịch lịch sử mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu, vòng vây Sài Gòn ngày một khép lại, Đảng ủy và chỉ huy của đoàn đã có nghị quyết lãnh đạo và phương án tác chiến để phối hợp với các lực lượng từ ngoài đánh vào và từ nội thành đánh ra. Trưởng phái đoàn hai bên, Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn, đã đến từng chi bộ, từng tổ đảng động viên cán bộ, chiến sĩ hạ quyết tâm "sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp giải phóng Sài Gòn, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc". Chúng tôi biết chắc rằng, để giải phóng Sài Gòn phải khống chế được sân bay Tân Sơn Nhất. Điều đó có nghĩa là trụ sở của phái đoàn hoàn toàn nằm trong tầm pháo của ta. Địch để đoàn ta ở đây cũng chính là để bảo vệ sân bay khỏi bị ta pháo kích. Được biết, lãnh đạo của đoàn đã báo cáo với cấp trên các phương án bảo vệ và tác chiến của đoàn khi giờ phút lịch sử giải phóng Sài Gòn sẽ đến. Từ khi giải phóng Buôn Ma Thuột, hầu như cán bộ, chiến sĩ trong Đoàn tập trung toàn bộ thời gian và sức lực vào việc đào địa đạo. Bằng xoong nồi, cọc màn sắt và các dụng cụ tự tạo khác chúng tôi đã đưa được địa đạo Củ Chi vào Trại Đavít mà phía địch không hề biết gì. Hệ thống hầm ngầm này đã nối các nhà lại với nhau và nốỉ với hầm chỉ huy của các đồng chí Hoàng Anh Tuấn và Võ Đông Giang. Bằng số vũ khí được bí mật chuyển từ Lộc Ninh ra, lãnh đạo đã phổ biến phương án tác chiến cho cán bộ và chiến sĩ trong trường hợp Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh cho bộ binh và xe tăng tiến vào tiêu diệt phái đoàn. Phương án tiêu diệt phái đoàn đã có và chỉ có Thiệu mới có quyền ra lệnh. Tuy nhiên, trước sự tấn công như vũ bão của chủ lực lượng vũ trang ta, Thiệu đã nhanh chóng cao chạy xa bay, không còn kịp thực hiện dã tâm của hắn. Suốt ngày, đêm 29 và sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975 đạn pháo các loại của ta cấp tập gầm rú trên bầu trời và sân bay Tân Sơn Nhất. Sân bay đã bị vô hiệu hóa hoàn toàn, tạo điều kiện rất thuận lợi cho các cánh quân của ta tiến vào Sài Gòn, chọc thẳng vào Dinh Độc Lập trước sự reo hò của cả triệu đồng bào Sài Gòn - Gia Định.

T.H


Tiêu đề: Bản hùng ca xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Giêng, 2022, 08:54:00 am
CHUYỆN Ở R


CÔNG VIỄN


Là khu căn cứ của các cơ quan, đơn vị trực thuộc Trung ương Cục và Bộ chỉ huy Miền. Đó là khu rừng rộng mênh mông, chạy dọc dài biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia thuộc hai tỉnh Tây Ninh và Bình Phước bây giờ. Chuyện ở R có thể kể cả ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác cũng không hết. Chỉ riêng mẩu chuyện về sự ra đời của "Suối tiên cô" vào tháng năm nào, các "Nàng tiên" xuống tắm ra sao mà anh Tư Nhị - phó ban căn cứ tỉnh Phước Long rủ rỉ kể cũng phải một tháng tròn. Có thể nói không ngoa rằng, đây là những pho huyền thoại, ai có tài viết, nói sẽ trở thành những "Ngàn lẻ một đêm" của Việt Nam mình. Nhưng đấy là việc của các nhà văn. Còn ở đây, tôi chỉ xin kể hai chuyện ở Phòng Chính trị Cục Tham mưu Miền chúng tôi.


Chuyện thứ nhất: Anh Sáu Chí là Phó ban Tuyên huấn chúng tôi, dân tộc Khơ-me, người Trà Vinh. Đi tập kết, anh em dạy cho dăm chữ rồi trở về R từ năm sáu hai (1962). Trước đó hai năm - năm 1960, có một em bé gái, cũng người Khơ-me tên là Tư Vệ, chừng mười hai tuổi, mới được đưa từ Trà Vinh lên R. Mấy chú ở R hỏi:

 Ở dưới quê, cháu thương nhứt ai? Ghét nhứt ai?

Hỏi để biết cháu có ghét ba thằng lính Diệm hông. Chẳng dè, cháu biểu:

- Cháu thương nhứt mấy anh Giải phóng, ghét nhứt ba thằng Việt cộng!

Chui cha! Mấy chú ớ ra. Mãi sau, một chú mới hỏi tiếp:

- Tại sao cháu thương Giải phóng mà ghét Việt cộng?

- Vì Giải phóng dạy cháu múa, cháu ca. Còn Việt cộng dữ lắm, nó có lông, có đuôi, ăn thịt con nít, nhai xương ngâu ngấu.

- Vậy cháu đã coi được Việt cộng lần nào chưa?

- Rồi. Cháu được coi trong máy chớp hình.

Thế mới biết khoa tâm lý chiến của thằng ngụy "siêu sao" thật. Ấy vậy mà, sáu năm sau - năm 1966 - em lại thương, rồi thành vợ một Việt cộng chính tông là anh Sáu Chí ở ban tôi. Bốn năm sau, năm bảy mươi (1970), trên điều anh Tư Được từ Phòng Quân lực Miền về làm Trưởng phòng Chính trị chúng tôi. Anh Tư, người Bến Tre, thuộc lớp người học trường Tây Sài Gòn trước ngày Nam Bộ kháng chiến nên câu văn của anh rất khúc chiết. Anh có phong cách duyệt báo cáo rất là điệu nghệ. Báo cáo chẳng những phải cụ thể, hướng chỉ đạo phải mang tầm chiến lược, có sức thuyết phục cao mà câu cú phải gọn, chấm phẩy phải đúng chỗ. Ở Phòng Chính trị chúng tôi anh nào lên gặp thủ trưởng để duyệt cũng hãi. Hầu hết đều phải viết đi viết lại nhiều lần, như anh Thân Nam Chinh - Phó ban Tổ chức có lần phải viết lại năm lần. Ấy vậy mà anh Sáu tôi chẳng sợ chút nào. Thủ trưởng trả về bắt viết lại, anh lại viết y như cũ. Mọi người lên thủ trưởng duyệt báo cáo đều chăm chú nhìn vào mắt thủ trưởng. Qua đó mà đoán được ý thủ trưởng thế nào. Còn anh Sáu tôi lại không làm như vậy. Lần nào anh cũng quay sườn mình vào mắt thủ trưởng và bật bật thuốc rê liên hồi, phả khói trùm lên như làn sương sớm. Trước cảnh ấy và trước báo cáo viết y như cũ, anh Tư mủm mỉm cười rồi hỏi:

- Anh viết báo cáo như vầy, vậy khi nào anh phẩy, khi nào anh chấm?

Anh Sáu tôi chả có dạ vâng, thưa gửi chi cả, anh nói phứa:

- Thì cứ mỏi tay tôi phẩy, buồn ngủ tôi chấm!

Chà chà! Anh Tư cười khì khì rồi buông câu:

- Vậy tôi chịu anh rồi!

Không chịu cũng không được. Mà tội nghiệp cho anh Sáu tôi. Hồi nhỏ đi ở đợ cho ông Hội đồng, cực quá chịu không nổi mới trốn đi theo bộ đội Trà Vinh làm liên lạc từ lúc còn ở trần. Ngày tập kết ra Bắc, anh em dạy cho biết đọc biết viết là trở lại chiến trường, cùng đồng đội đánh đổ hết Diệm đến Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh, Phan Khắc Sửu và bây giờ là Nguyễn Văn Thiệu cùng chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Ních-Xơn chứ có được vào trường sở nào đâu mà biết thế nào là "phẩy", thế nào là "chấm".


Chuyện anh Sáu tôi cũng chưa tức cười bằng chuyện "Ba ông vua dóc", ở khu căn cứ hàng chục năm trời, một cánh thư cũng không hề có nên tự nhiên hình thành nhu cầu về cái gì đó để mong để đợi. Một trong những cái để mong đợi đó là kết quả của một "chuyện dóc". Người đầu têu ra những chuyện dóc ấy là anh Tám Triêm - Trợ lý ban Tổ chức rồi đến anh Năm Dinh - Trợ lý ban Cán bộ và anh Bảy Tích - Phó ban Bảo vệ. Anh Tám và anh Năm đang cư trú tại cư xá Bắc Hải, quận 10 thành phố mang tên Bác, anh Bảy ở Bà Rịa - Vũng Tàu. Ba anh quy ước với nhau và tụi lính trẻ chúng tôi rằng, cứ mỗi lần một anh nói dóc mà một anh tin thì các tin ấy phải cống cho hai anh kia và chúng tôi một lạng thuốc rê, một gói chè "con cọp". Thế là đêm đó vừa hút thuốc và uống trà vừa cười hơ hớ với nhau ở lán anh bị lừa hoặc dưới hầm tránh B52 của ban ấy để rồi lại mong kết quả của một "chuyện dóc" khác.


Trong ba anh, chỉ có anh Tám Triêm là tài dóc nhất nên được chúng tôi phong cho danh hiệu là "ông vua dóc". Cũng do vậy mà cả Phòng Chính trị đều kêu anh "Tám dóc". Tôi cũng xin lược qua vài chuyện của các anh.


Tháng tám năm bảy mươi (1970), sau trận càn Móc Câu - Mỏ Vịt, tụi địch bao vây khắp các ngả đường vào căn cứ. Anh em tiếp phẩm chúng tôi không sao xuống khẩu được nên ở căng tin của phòng do tay San phụ trách, một sợi thuốc rê cũng không còn. (Hiện nay San ở làng Đông Cao, xã Đông Xuyên, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương). Anh Tám, anh Bảy và anh Năm lại là những tay nghiền thuốc nặng. Không có thuốc, đến con ruồi đậu mép, các anh cũng không thèm đuổi. Đói thuốc, anh nào cũng bần thần, gặp nhau mặt cứ ỉu xìu. Cũng vào các chiều mưa dầm dề ấy, anh Tư Được kêu anh Tám Triêm lên duyệt báo cáo. Anh Tám chạy lắp xắp dưới mưa qua lán anh Bảy Tích, anh Bảy thương tình mới đánh câu:

- Ê! Tám dóc, đâu đó?

Thế là dịp may hiếm có, một ý "dóc" bật ra trong đầu anh Tám. Anh không chạy theo đường vào nhà thủ trưởng nữa mà rẽ sang lối vào căng tin. Anh chạy vội vàng hơn, lẹ hơn và ném lại câu:

- Dóc dách cái gì. Tiếp phẩm mới về, kiếm lạng rê!

Anh Bảy tưởng thật, quờ vội áo mưa rồi ba chân bốn cẳng chạy theo. Anh Tám nháy tay San rồi nấp vào một góc. Tay San nháy lại, ý chừng hiểu được "bẫy" của anh Tám nên cứ để mặc anh Bảy vào. Anh Bảy vừa giũ áo mưa vừa bảo tay San:

- Để tao lạng rê!

Thế là anh Tám nhảy ra, chỉ vào anh Bảy mà rằng:

- Một không rồi nhá?

Có tay San làm chứng, anh Bảy cứ đà ra, không ngờ bị "Tám dóc" chơi cho cú đau quá xá. Thế là ngay chiều hôm ấy, anh Bảy phải mò sang tỉnh đội Phước Long, vật đầu vật óc với anh Tự Nhị, anh Tư Nhị thương tình cho không một lạng rê và gói chè "con cọp" về nộp phạt. Đêm đó chúng tôi được bữa thuốc no nê.


Đã mấy năm anh Bảy "gài bẫy" mà anh Tám đều tránh được. Cho mãi đến bốn năm sau, năm 1974, vào dịp đêm 30 Tết, chúng tôi cùng anh Bảy đang ngồi đánh "tiến lên" thì anh Tám hổn hển chạy về, anh muốn thở đứt hơi, bảo:

- Tao mới hạ thủ được một con nai, chúng bay xếp bài lại, theo tao đi khênh về ăn Tết!

Chúng tôi quơ bài cho vào túi cóc rồi chặt đòn, rút dây võng theo anh. Vừa tắt qua lộ 17, con đường đi vào khu căn cứ Tà Thiếc bây giờ, suýt vấp phải một chú nai, dễ bằng một con trâu mộng nằm chềnh ềnh ra đó, cưỡi lên lưng nai, vỗ bồm bộp vào bụng nó. Tay San lại còn dùng hai tay nắm bờm, hai chân huých huých vào bụng nai, hô "Chạy! Chạy! Chạy". Chúng tôi cười chảy nước mắt mũi. Anh Tám khoái lắm, anh móc gói thuốc rê cho chúng tôi và anh Bảy, mỗi người cuộn một điếu. Chuyện hả hê, anh Bảy giơ tay xem đồng hồ, tủm tỉm cười rồi bảo:

- Chui cha! sắp giao thừa rồi. Anh Tám về tắm giặt cho kịp, để tụi tôi ở đây khênh nai về.

Anh Tám đi rồi, anh Bảy ném cho chúng tôi gói rô-bi và bảo vào quần Quân bưu thuốc nước cho no nê để khênh nai một mạch về cứ. Đi được nửa đường, tôi cứ thấy điều gì qua cái cười của anh Bảy nên lùi lại nấp vào một gốc cây. Anh Bảy rút con dao găm vẫn đeo ở cạnh sườn ra gại gại xuống một phiến đá rồi khoét một mắt nai. Cũng không rõ anh khoét để làm gì nên tôi cũng không nói cho ai hay.


Sáng hôm sau, mồng Một Tết năm Ất Mão (1975), cả Phòng Chính trị chúng tôi đều ùa ra bãi đặt nai. Ai cũng trầm trồ khen tài anh Tám. Chỉ có một viên AK trúng vào tim nai mà anh hạ thủ được nó. Con nai đực, nung núc những thịt là thịt. Xem chừng anh Tám khoái lắm, miệng anh cười, mắt sáng bừng lên đáp lại sự chia vui của mọi người. Thế là Tết At Mão - ăn thịt nai trên đường ra trận... Kỷ niệm nhớ đời của người lính chúng tôi.


Dăm ngày sau, phòng tôi được chia làm ba ngả. Một đi theo các binh đoàn từ đường 14 tiến ra Đồng Xoài xuống Lái Thiêu để hai cánh quân này hợp nhau tại ngã ba Bình Dương rồi tiến vào giải phóng Sài Gòn mà trước đó dăm năm, trong ca khúc "Lá đỏ" của Hoàng Hiệp và Nguyễn Đình Thi đã có câu: "Hẹn gặp nhé! Giữa Sài Gòn/ Hẹn gặp nhé! Giữa Sài Gòn". Quả thực, câu ấy cho đến bây giờ vẫn như trong mơ, nên nhạc sĩ Xuân Hồng mới chớp được khoảnh khắc thiêng liêng ấy để có câu: "Người đi... như trong đêm mơ! Tuổi lớn rồi mà như ngây thơ/Ôi ta đi, đi giữa rừng hoa/ Hay đi, đi giữa rừng cờ!)".


Vâng. Rừng hoa và rừng cờ ấy đã làm nên bản anh hùng ca - bản anh hùng ca của 29 năm có lẻ, bản anh hùng ca của trên vạn ngày nằm nơi rừng sâu núi thẳm của chúng tôi.

C.V


Tiêu đề: Bản hùng ca xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Giêng, 2022, 08:54:48 am
SƯ ĐOÀN 10 THAM GIA CHIẾN DỊCH GIẢI PHÓNG TÂY NGUYÊN


ĐỖ CÔNG MÙI


Ba mươi năm đã trôi qua nhưng chiến dịch Tây Nguyên vẫn được ghi đậm trong đời binh nghiệp của mình đã từng sống và chiến đấu ở một Sư đoàn hai lần anh hùng. Chiến dịch Tây Nguyên có nhiều đơn vị và lực lượng tham gia. Sư 10 bộ binh là Sư đoàn chủ lực cơ động mạnh của chiến dịch. Sư đoàn được cơ động từ tỉnh Kon Tum xuống đứng chân ở phía tây nam thị xã Buôn Ma Thuột làm nhiệm vụ chuẩn bị chiến đấu.


Sáng ngày 9 tháng 3 năm 1975, Sư 10 được tăng cường lực lượng và binh khí kỹ thuật. Được pháo binh của chiến dịch chi viện đã bất ngờ tiến công vào quận lỵ Đức Lập, căn cứ 28, các cứ điểm Núi Lửa, Đăk Sắc, Đăk Song và các chốt bên ngoài như Bác Ái, Tư Ninh, Ya Bét. Chỉ sau một vài giờ chiến đấu ta đã tiêu diệt và làm chủ căn cứ 23, cứ điểm Núi Lửa, Đăk Sắc và các chốt bên ngoài, còn quận lỵ Đức Lập ta đã mở thông hàng rào đánh chiếm được một số công sự, lô cốt nhưng địch dùng máy bay, pháo binh, xe tăng ngăn chặn và phản kích. Quân ta thương vong, không phát triên được phải rút quân về tuyến xuất phát xung phong bao vây, bắn tỉa. Đến sáng ngày 10 tháng 3 năm 1975, ta tăng cường hỏa lực và tổ chức lại lực lượng tiếp tục tiến công tiêu diệt và làm chủ. Riêng cứ điểm Đăk Song, theo kế hoạch thì tiến công vào sáng 10 tháng 3 năm 1975, nhưng chiều 9 tháng 3 năm 1975, thấy địch hoang mang và thời cơ thuận lợi, chỉ huy trận đánh đã quyết định dùng hỏa lực bắn phá hoại các lô cốt, công sự và lệnh cho Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 28 và Tiểu đoàn 3 đặc công dùng bộc phá mở hàng rào xung phong vào đánh chiếm. Chỉ sau một giờ chiến đấu, ta đã tiêu diệt và làm chủ hoàn toàn cứ điểm, bắt sống vợ chồng tên đại úy tiểu đoàn trưởng và toàn bộ cơ quan chỉ huy của tiểu đoàn này.


Đánh nhanh diệt gọn, chiến thắng giòn giã, Sư đoàn 10 đã tiêu diệt cơ bản lực lượng cơ động của địch ở vòng ngoài và giải phóng một vùng rộng lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho Trung đoàn 24 (thuộc Sư đoàn 10) và Sư đoàn 316 sáng ngày 10 tháng 3 năm 1975 tiến công vào thị xã Buôn Ma Thuột giành thắng lợi nhanh chóng.


Giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột đã làm cho thế và lực giữa ta với địch ở Tây Nguyên hoàn toàn thay đổi, làm cho Mỹ, Thiệu hoàn toàn bị bất ngờ choáng váng. Lực lượng địch ở Bắc Tây Nguyên bị cô lập, địch đã cùng không quân đánh bom rất ác liệt vào các vùng mục tiêu ta chiếm được và các khu vực nghi ngờ tập kết của các lực lượng ta; đồng thời tìm mọi cách để phản kích tái chiếm lại thị xã Buôn Ma Thuột. Nhưng đều có lực lượng của ta chốt chặn và chiếm giữ, địch chỉ còn một cách là đổ bộ đường không tái chiếm lại thị xã Buôn Ma Thuột. Bộ Tư lệnh chiến dịch đã phán đoán được ý đồ của địch, nhanh chóng điều động Sư đoàn 10 hành quân về bố trí ở đông bắc Buôn Ma Thuật để chuẩn bị đánh địch đổ bộ đường không. Mặc dù đường xa hàng trăm cây số, sau chiến đấu, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 10 đã chấp hành mệnh lệnh nghiêm túc và khẩn trương hành quân suốt ngày đêm đến vị trí quy định đúng thời gian, sẵn sàng chiến đấu.


Từ chiều ngày 12 và ngày 13 tháng 3 năm 1975, địch đã dùng hàng trăm lần máy bay đến ném bom bắn phá rất ác liệt vào những khu vực chúng nghi ngờ có lực lượng của ta và những khu vực chúng định đổ quân. Tiếp đó địch đã sử dụng 145 lần chiếc máy bay trực thăng đổ bộ trung đoàn 45 ngụy và pháo đội 232 xuống cao điểm 581 từ Nông Trại, Phước An đến Chư Cúc và sau đó địch đổ thêm trung đoàn 44 và sở chỉ huy sư đoàn 23 ngụy.


Trong khi địch chưa kịp củng cố công sự vững chắc và tinh thần đang hoang mang thì ngay đêm 13, sáng ngày 14 tháng 3 năm 1975, Sư đoàn 10 đã bao vây tiến công bọn địch vừa đổ xuống để phản kích ở khu vực Phước An. Sư đoàn đã chiến đấu dũng cảm đánh nhanh diệt gọn, giành thắng lợi giờn giã, Phước An được giải phóng. Thừa thắng, Trung đoàn 28 (Sư đoàn 10) phát triển tiến công đánh chiếm điểm cao Chư Cúc vào khoảng 18 giờ cùng ngày.


Sư đoàn 23 ngụy đến phản kích nhưng bị thất bại nặng nề làm cho chính quyền Sài Gòn không còn hy vọng tái chiếm lại thị xã Buôn Ma Thuột, buộc phải thay đổi chiến lược là rút quân chạy khỏi Tây Nguyên. Quá trình rút chạy quân địch đã bị Sư đoàn 320 đánh cho tơi tả ở Cheo Reo - Phú Bổn.


Sau khi tiêu diệt địch ở Phước An đên Chư Cúc, Sư đoàn 10 đã nhanh chóng phát triển xuống giải phóng quận lỵ Khánh Dương. Tây Nguyên được giải phóng. Nhằm ngăn chặn Quân giải phóng phát triển xuống các tỉnh đồng bằng ven biển miền Trung, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu vội vã điều lữ đoàn dù 173 là "lực lượng cơ động chiến lược mạnh" đổ xuống đèo Phượng Hoàng, lợi dụng núi cao, đường đèo nguy hiểm lập các cụm cứ điểm ngăn chặn quân ta phát triển xuống tỉnh Khánh Hòa.


Những thành tích, kết quả chiến đấu trong chiến dịch đã động viên khí thế chiến đấu của Sư đoàn càng cao hơn. Mặc dù núi cao dốc đứng, địa hình rất phức tạp, nhưng cán bộ, chiến sĩ toàn Sư đoàn đã trèo đèo lội suối, khắc phục mọi khó khăn vòng bên sườn phía sau đội hình của địch, chia cắt địch ra từng điểm cô lập để tiến công. Chỉ trong thời gian rất ngắn, lữ đoàn dù ngụy đã bị tiêu diệt. Cánh cửa cho quân ta phát triển xuống tỉnh Khánh Hòa được mở tung.


Trung đoàn 28, Trung đoàn 24 được tăng cường pháo binh, cao xạ, xe tăng đã nhanh chóng phát triển xuống đánh địch ở căn cứ Dục Mỹ, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng của Quân khu 5, tiếp tục phát triển xuống giải phóng thành phố Nha Trang và bán đảo Cam Ranh theo trục đường số 1. Đến Ba Ngòi thì địch đã đánh sập cầu và ngăn chặn lực lượng của ta không phát triển được nữa nên ta đã dừng lại để tổ chức lại lực lượng và bố trí đội hình bảo vệ vùng đã được giải phóng và sẵn sàng nhận lệnh tiếp.


Sư đoàn 10 bộ binh đã đóng góp một thành tích rất quan trọng trong chiến dịch giải phóng Tây Nguyên, nơi sư đoàn đã nhiều năm sống và chiến đấu cùng đồng bào các dân tộc Tây Nguyên anh hùng.

Đ.C.M


Tiêu đề: Bản hùng ca xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 04 Tháng Giêng, 2022, 08:56:04 am
MÙA XUÂN NĂM ẤY


PHAN THÀNH NGHỊ
Theo lời kể của Nguyễn Đình Tham


Kết thúc chiến dịch X2, tôi được cấp trên tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba và được tập thể đơn vị chọn đi báo cáo điển hình ở Đại hội chiến sĩ thi đua các lực lượng vũ trang tỉnh Quảng Đà.

Đại hội xong, tôi mới vừa về đến đơn vị đặc công Tiểu đoàn 489, thì được cấp trên điều sang nhận nhiệm vụ đặc biệt, với chức vụ đại đội trưởng, đại đội đặc công biệt động (Lê Độ) vào Đà Nẵng hoạt động đơn tuyến hợp pháp, điều tra một số cơ quan đầu não của Mỹ - ngụy. Hoạt động được một thời gian, thì tôi trở ra vùng giải phóng, gặp đồng chí Phạm Như Hiền (Kim) quận đội trưởng, quận 2 Đà Nẵng để báo cáo kết quả những việc đã làm và nhận lệnh khẩn trương chuẩn bị cho chiến dịch mùa xuân năm Kỷ Dậu.


Báo cáo và nhận lệnh xong, với giấy thông hành hợp pháp, tôi về lại Đà Nẵng vào những ngày xuân sắp gõ cửa thời gian. Hoa mai vàng cùng với các loài hoa khác nở rộ khoe sắc, đua màu như để đón chào mùa xuân mới, mùa xuân Kỷ Dậu. Là thế đó, lần đầu tiên trong quãng đời binh nghiệp, tôi phải ăn Tết xa đồng đội, ở nơi đô thành hoa lệ, nơi sào huyệt của quân thù vùng 1 chiến thuật, nơi mà bọn chúng thường rêu rao "bất khả kháng" đối với "Việt cộng". Nhưng chính nơi này, chúng đã kinh hồn, khiếp vía, phải chui rúc, náu mình vào các hầm ngầm cố thủ, vì những tiếng súng của quân và dân Đà Nẵng, cùng với tiếng súng của quân và dân toàn miền Nam trong đợt Tổng tiến công nổi dậy đêm giao thừa Tết Mậu Thân (1968) và các chiến dịch kế tiếp. Nên Tết này, chúng ra sức bố phòng rất nghiêm ngặt, sợ "Việt cộng" lặp lại mùa xuân năm trước.


Chiều 30 Tết, tôi xuất hiện trên đường phố Đà Nẵng, với bộ binh phục rằn ri của lính biệt động ngụy, mang lon thiếu úy (1 hoa mai), đi Hon-đa trong thành phố, qua các nơi: Khách sạn Đà Nẵng, nơi có nhiều lính Mỹ đồn trú, Nha cảnh sát trung phần, Ty cảnh sát Gia Long để quan sát, kiểm tra lần cuối về cách bố phòng của chúng trong dịp Tết. Chạy thẳng đến chợ Vườn Hoa, tôi chọn mua một cành hoa mai, chạy ra đường Thống Nhất (nay là Lê Duẩn) vào nhà ông Võ Xuân Định và bà Lê Thị Dưa (cháu của cố Tổng Bí thư Lê Duẩn), ở số 90B, là cơ sở cách mạng. Chủ nhà nhận cành mai đặt ở phòng khách ngày Tết, gài lên những thiếp CUNG CHÚC TÂN XUÂN. Bữa cơm chiều 30 đón ông bà xong, chủ nhà dẫn tôi lên tầng 2 đưa cho tôi một chiếc rađiô nhỏ. Tắt điện rồi bước nhanh xuống tầng dưới, tôi nằm áp sát máy vào tai, lắng nghe những bài hát ngợi ca Đảng, ngợi ca mùa xuân bất tận, mà lòng nao nao mong chóng đến giờ giao thừa, để nghe Bác Hồ chúc Tết. Bỗng tiếng chuông đồng hồ ở phòng dưới reo lên như "tiễn chân" năm cũ. Tiếng Bác Hồ ấm áp vang ra:


Năm qua thắng lợi vẻ vang
Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to
Vì độc lập, vì tự do
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào
Tiến lên! Chiến sĩ đồng bào
Bắc - Nam sum họp xuân nào vui hơn.



Tôi không cầm được nước mắt, vì quá xúc động với những lời thơ chúc Tết của Bác. Đó là mệnh lệnh, là tiếng kèn xông trận trên các chiến trường miền Nam, là niềm tin tất thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta. Tôi càng thấy trách nhiệm rất nặng nề của mình, phải cố gắng hoàn thành nhiệm vụ của trận tuyến ngầm mà cấp trên đã giao phó, góp phần nhỏ của mình vào cuộc kháng chiến vĩ đại của toàn dân, sớm đón Bác vào thăm miền Nam. Nhưng có ngờ đâu, lần chúc Tết năm đó, là lần cuối cùng của Bác trước lúc đi xa...


Sáng ngày mồng Một Tết, tôi mặc bộ vettông thẳng nếp, với giấy thông hành là thương gia, giả đi chúc Tết một số gia đình bà con tộc họ, nhưng thực ra là tôi đi kiểm tra cơ số vũ khí và quân đã chuyển vào đến đâu, để đảm bảo cho trận đánh thắng lợi, khi có lệnh.


Sau khi cưỡi Hon-đa chạy quanh thành phố một vòng, kiểm tra lại tình hình địch, tối mồng Một Tết, tôi nhận được mật lệnh ra vùng giải phóng nhận nhiệm vụ tiếp theo.

Sáng ngày mồng 5 Tết, tôi ra vùng giải phóng ở thôn 1, xã Điện Ngọc, gặp anh Phạm Như Hiền để báo cáo kế hoạch và kết quả công tác chuẩn bị.

Anh phê duyệt phương án tác chiến do tôi trình bày, rồi anh giao từng nhiệm vụ cụ thể, bổ sung thêm phương án tác chiến và quy định hợp đồng giờ nổ súng. Chia tay anh, tôi trở ra Đà Nẵng.

Sáng mồng 5 Tết, không khí vui Tết, đón xuân vẫn còn ấm cúng. Trong mỗi gia đình, trầm hương nghi ngút trên bàn thờ tổ tiên, nhưng ngoài đường thì vãng cảnh, du xuân rất ít. Vì khắp các nẻo đường, góc phố, ở đâu cũng có trạm kiểm soát giấy tờ và lục soát khi có nghi vấn của bọn cảnh sát dã chiến, làm cho không khí ngày xuân lắng xuống rất nhanh.


Trước giờ G (23 giờ) là giờ các chiến sĩ đặc công biệt động nổ súng, thì lúc 21 giờ, tôi chẳng may sa vào tay giặc, vì một tên phản bội điểm chỉ. Chúng đưa tôi vào giam ở Sở An ninh quân đội để khai thác suốt một tuần, rồi chuyển tôi về giam ở trung tâm thẩm vấn Thanh Bình. Tên Lê Văn Tiên, trưởng phòng thẩm vấn trực tiếp tra khảo, khai thác tôi, dùng đủ ngón nghề ác ôn hòng bắt tôi sẽ khai ra những cơ sở cách mạng trong thành phố và kế hoạch hoạt động của ta trong mùa xuân này, nhưng tôi cắn răng chịu đựng những cực hình đòn, roi thiếu sống, thừa chết. Chúng không moi được lời nào của tôi ngay từ khi mới bị bắt, nên giờ G, các điểm nằm trong kế hoạch tác chiến đồng loạt nổ súng, làm cho kẻ địch bất ngờ với lối đánh "xuất quỷ, nhập thần" của đặc công biệt động ta.


Sau mấy ngày giam cầm, tên Tiến lại tra hỏi tôi tiếp:

- Đêm giao thừa, mày có nghe thơ chúc Tết của Cụ Hồ không?

Tôi xẵng giọng trả lời:

- Sao lại không, đối với những người cách mạng thì đó là mệnh lệnh, là niềm tin tất thắng để chiến đấu quét sạch bọn Mỹ xâm lược ra khỏi miền Nam.

Nó lại hỏi tiếp:

- Mày tin à?

Tôi nghiêm mặt trả lời:

- Sẽ có mùa xuân Bắc - Nam sum họp. Đó là điều chắc chắn.

Nghe tôi trả lời vậy, tên Tiến nhột ý, vứt dùi cui xuống đất kêu bọn cấp dưới đưa tôi về xà lim. Chúng lần lượt đưa tôi đi khắp các nhà lao tù, rồi mở phiên tòa quân sự lưu động đặc biệt để kết án tử hình, nhưng tôi khéo léo đấu tranh với bọn chúng rằng: "Nếu các ông xử tử tôi, thì lập tức các đồng đội tôi sẽ bắt hai tù binh Mỹ thế mạng". Chắc chúng sợ quan thầy của chúng, nên hạ xuống còn chung thân, đày ra Côn Đảo. "Hưởng" trọn 5 mùa xuân ở biệt giam cầm cố của địa ngục trần gian, đến tháng 2 năm 1974, theo Hiệp định Pa-ri, tôi được chúng trả về với cách mạng, tham gia giải phóng thành phố Đà Nẵng trong mùa xuân đại thắng 1975.


Mùa xuân Ất Dậu (2005) này, là tròn 30 mùa xuân, chúng ta được hưởng những mùa xuân trong khung cảnh đất nước thanh bình, tự do, không còn những mùa xuân u ám, súng nổ, bom rền của thời Mỹ - ngụy, nhưng tôi không làm sao quên được những kỷ niệm đẹp đẽ của đời tôi trong mùa xuân năm ấy.

P.T.N


Tiêu đề: Bản hùng ca xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 05 Tháng Giêng, 2022, 08:29:12 am
ĐỐI MẶT


NGUYỄN VIẾT PHÚC
Theo lời kể của Phan Nhạn - Cựu chiến binh con tàu không số
Nha Trang - Khánh Hòa


Đêm 22 tháng 12 năm 1968. Giờ G. Một hồi chuông đổ dài vang lên: Lệnh xuất phát! Tôi mở máy. Con tàu rung nhẹ như hít một hơi thở sâu rồi lặng lẽ rời cảng.

Khi vừa ra khỏi khu vực neo đậu của tàu hàng, tôi cài máy, choàng thêm chiếc áo lạnh bước lên boong. Cảng H. chìm trong mưa lạnh. Gió mùa đông bắc thổi hù hù từng đợt lồng qua thân tàu, chốc chốc vặn mình rít lên trong bóng tối. Trên bờ, thành phố giống như một người tỉnh ngủ. Ánh đèn điện hắt lên những quầng ánh sáng hè đường như chỉ chờ phụt tắt khi có tiếng còi báo động hụ lên. Anh Bao Râu nắm chặt tay tôi. Cánh thủy thủ chúng tôi thường ngày vốn ăn sóng nói gió là vô cùng quyết liệt. Con đường Hồ Chí Minh trên biển - huyết mạch vận chuyển vũ khí cho cách mạng miền Nam - được giữ vững, nhưng đổi lại, sự hy sinh cũng hết sức lớn lao. Cái giá cho mỗi chuyến hàng vào Nam là vô giá. Bảy năm trên những con tàu không số, hàng chục chuyến đưa vũ khí vào chiến trường, mỗi lần hoàn thành nhiệm vụ trở về, tôi chạnh nghĩ mình may mắn hơn so với nhiều đồng đội khác.


Lần này, chỉ ít phút trước khi xuất hiện, tôi sung sướng đến trào nước mắt khi được biết tàu sẽ vào một bãi ngang ở Bình Định, quê tôi. Chiều nay, chính trị viên Sạn vỗ vào lưng tôi: "Sau chuyến này trở về tớ sẽ làm mối cho cậu một cô quê Thanh Hóa. Con gái sông Mã, quê tớ cô nào cũng xinh?". Anh Sạn xấp xỉ tuổi tôi và là người duy nhất đã lập gia đình. Còn lại tôi và 20 anh em khác đều đang "lính phòng không". Để giữ bí mật tuyệt đối cho chuyến đi, chỉ trừ 1,4 tấn thuốc nổ cực mạnh được cài sẵn dưới thân tàu, chúng tôi không ai được phép giữ cho riêng mình bất cứ thứ gì, dù là chiếc nhãn bao thuốc lá.


Tôi lặng lẽ đưa tay vẫy chào thành phố rồi quay xuống hầm máy.

Tiếng máy tàu đều đều, mùi dầu hăng hắc, nồng nồng. Đối với tôi, máy tàu là người bạn thân thiết trong cuộc chiến đấu một còn một mất với kẻ thù. Đêm nay, trái tim con tàu dồn lên những nhịp đập xốn xang, khỏe khoắn để đưa 65 tấn vũ khí, đạn dược lặng lẽ xuyên màn đêm theo một hành trình định sẵn ngược lại phía Bắc rồi tăng tốc trực chỉ hướng Đông Nam.


Biển Đông đang mùa gió đông bắc hoành hành. Đài báo gió cấp 6, cấp 7. Sóng mạnh. Với tốc độ 10 hải lý/giờ, con tàu cứ trồi lên, tụt xuống, buồng máy chao lắc như một chiếc xích đu.

Đồng hồ chỉ 3 giờ sáng. Giao máy cho Thịnh - máy phó, tôi lên boong cùng anh em làm công việc "đổi tàu" để trước khi trời sáng, ra khỏi phao số 1, ta cải trang thành tàu đánh cá của một quốc gia trong vùng. Đêm tối như bưng, mưa xiên từng chập, gió lồng lộn chém những nhát sắc lẻm vào da thịt, nước biển tung ràn rạt lên boong trong ca-bin, có lúc Kim đè cả người lên vô lăng để giữ hướng tàu. Anh như đánh đu trên vòng lái theo từng đợt sóng. Nhìn thấy tôi bước vào, Kim cười toét: "Chuyến này vào Bình Định anh Nhạn tha hồ ngắm quê hương! Anh nhớ múc theo ca nước biển Quy Nhơn đem ra Bắc làm quà tặng người yêu thì tuyệt!". Thoạt Kim soi chiếc đèn pin nhỏ xíu vào tấm bản đồ: Chỉ còn 10 phút nữa là ra tới phao số 1. Anh gật gật cái đầu bù xù vẻ hài hước đầy kiêu hãnh "khỏe rồi!" - Tôi thốt lên.


Kinh nghiệm rằng, hễ ra đến vùng biển quốc tế là coi như thắng lợi bước đầu. Tàu "đánh cá" của ta lẫn vào vô số tàu bè ngược xuôi đủ mọi quốc tịch, dễ dàng qua mắt những tuần dương, khu trục của hạm đội 7 Mỹ nhan nhản, nghênh ngang soi xét. Đây là quãng thời gian anh em tranh thủ nghỉ ngơi, ăn uống, chuẩn bị tinh thần chuyển hướng vào bờ tuy nhiên lần này, ngay trong ngày đầu tiên gặp biển động dữ, mỗi lúc thêm mạnh. Đến chiều, con tàu như chú ngựa bất kham hết chồng đứng lên rồi lại rớt tõm xuống, chúi mũi vào lòng đại dương, một lần như thế, đứng trong hầm máy người tôi gần như chơi trò trồng cây chuối, hai chân bị nhấc hẫng, bật ngửa ra, dốc ngược rồi chới với giữa khoảng không. Mọi thứ trong bụng như muốn tháo ra đằng mồm. Buồng máy giống như một chiếc hộp được bịt kín. Chiếc hộp chơi trò nhảy dây trên những con sóng hàng tiếng đồng hồ. Mỗi khi đuôi tàu bị sóng nhấc hẫng chân vịt, tiếng máy gầm lên giận dữ, khói xộc vào hầm ngột ngạt, sặc sụa. Lũ sóng thi nhau đập vào mạn tàu ầm ầm, nước biển từ trên boong hắt xuống ràn rạt, mặn chát, ướt sũng như tàu sắp vỡ. Tiếng chuông réo từng chập. Hết thuyền trưởng Ba đến chính trị viên Sạn liên tục nhắc tôi phải luôn thận trọng kèm giữ tốc độ tàu. Chỉ cần một sơ suất hoặc trục trặc nhỏ ở hầm máy lúc này, con tàu cầm chắc sẽ thành vật hiến tế cho hà bá. Tôi cài máy, hai tay bám chặt thành máy để người khỏi bị lôi tuột, ném lộn nhào từ góc này sang góc kia như cậu Thịnh. Hai anh em thay nhau trực giữ máy cả ngày lẫn đêm. Bỏ cả ăn uống. Không biết bao nhiêu lần hai đứa cùng ngã dúi dụi vào nhau, những lúc sóng gió tạm lắng, thay nhau tranh thủ lên boong cho dễ thở.


Trên tàu lúc này, nhiều thủy thủ say đứ đừ nôn cả mật tím. Chính trị viên Sạn lo lắng, chạy đi chạy lại động viên, chăm sóc từng người. Bản thân anh cũng bị "quật" đến mặt mày hốc hác.

Bước sang ngày thứ tư, biển vẫn động dữ dội. Sáng sớm, khi tàu mới bắt đầu chuyển hướng vào miền Trung bỗng nhiên chuông trong hầm máy vang lên ngắt nhịp: Có địch! Tôi cài máy, nhảy phóc lên. Từ trên cao, một máy bay trinh sát hải quân Mỹ bám theo tàu ta một lúc rồi biến mất dạng. Hơi lạ, những chuyến đi trước, chúng cứ lẵng nhẵng bám theo, có thằng quần đảo sát trên đầu. Tôi "chơi" độc quần đùi đứng trên boong vẫy tay "chào" nó.


Lệnh tăng tốc. Con tàu chồm lên, lao tới. Tiếng sóng đập vào mạn tàu càng dữ dằn, nước tung lên boong, lọt qua nắp cửa hắt xuống từng đợt rào rào như mưa, lạnh buốt, người tôi như nhừ, nhũn ra vì đói và mệt. Thêm một ngày đánh vật với tử thần. Khoảng 9 giờ đêm, 3 hồi chuông kéo ngắt nhịp gấp gáp tôi bật dậy. Gặp địch! Chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu! Ngay sau đó, tiếng thuyền trưởng Ba ồm ồm trong ống nghe: "Bọn hải quân Mỹ! Ta cách Bình Định 40 hải lý. Giữ nguyên tốc độ!". "Rõ". Tôi giục Thịnh dậy giữ máy rồi nhảy lên tầng thủy thủ. Giữa màn đêm đặc quánh mưa quất ràn rạt từng hồi, con tàu lao thẳng, xé nát từng con sóng để tiến lên. Bỗng những ánh đèn pha từ bốn phía như đội biển chui lên, bươn nhanh về phía ta. Ánh đèn mỗi lúc một rõ, giống một lũ sói biển lồng lên trong cơn say máu rượt mồi. Tôi trở xuống ngay vị trí. Kim đồng hồ tốc độ đang chỉ số 3. Đêm qua, chúng tôi đã "đổi tàu", một lần nữa để trở thành chiếc tàu câu của ngư dân Xinh-ga-po. Trên boong, các ụ súng được phủ kín bằng vải bạc và các đống lưới ni lông lùm lùm, những xâu cá treo toòng teng quanh tàu...


Tiêu đề: Bản hùng ca xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 05 Tháng Giêng, 2022, 08:30:04 am
Con tàu lao đi với vận tốc lớn nhất chốc chốc lại đảo nghiêng, vòng lướt, khi trồi lên lúc tụt xuống theo từng con sóng giống như chơi trò đuổi bắt đã mách tôi rằng: chưa bị lộ, ta né tránh địch để nhanh chóng tìm cách vào bờ. Tiếng máy tàu lại rú lên giận dữ, khói mù mịt trước những con sóng dữ đánh ngang mạn, nhấc bổng đuôi tàu làm hẫng chân vịt. Tôi và Thịnh lại ngã dúi vào nhau.


Đèn tín hiệu nhấp nháy. Tôi chồm tối ống nghe. Tiếng chính trị viên Sạn nói gấp trong tiếng gió rít hù hù: "Địch cách 500m. Máy 1 kiểm tra lại máy phụ, thuốc nổ!". "Rõ!". Thông báo nhanh tình hình cho Thịnh, để anh giữ máy, tôi bấm đèn pin lao tới các vị trí đặt thuốc nổ và hệ thống dây truyền nổ. Lách giữa những lối đi hẹp, ngoằn ngoèo, cứ mỗi con sóng dồn, người tôi lại bị hất đập vào hai bên nách ngã chúi chụi, tê điếng, choáng váng.


Tôi vừa quay lại hầm máy, Thịnh nói nhanh: "Anh Nhạn, trung tâm lệnh quay ra!". Tôi liếc đồng hồ: 1 giờ sáng!

Quay ra ư, thật sao? Mười sáu lần đưa vũ khí vào Nam, tận Trà Vinh, Cà Mau chưa bao giờ tôi phải quay về khi chưa trả được hàng, mặc dù có chuyến thả hàng xong buộc phải hủy tàu. Rõ ràng đây là tình huống đặc biệt. Hay đã lộ rồi? Nếu bị lộ, địch dễ gì để ta thoát? Nhưng lúc này những con sóng giội ngược dữ quá cho thấy tàu ta đang chạy ra hướng đông bắc! Tôi vọt lên. Bốn chiếc tàu địch giăng thành hàng, vòng chặn phía ngoài quét đèn pha trắng sóng. Chúng đánh tín hiệu bắt ta dừng lại. Hàng chục quả pháo sáng bất thần vụt lên trắng trời.


Vừa tót xuống hầm máy, tôi nghe vọng vào những tiếng nổ ùng oàng.

- "Địch bắn pháo!" - Tôi hét lớn.

- "Mẹ kiếp nó!" - Thịnh buột miệng.

Tiếng ùng ục mỗi lúc một dày như gõ trống trong thùng. Nhiều tiếng nổ nghe rất gần dội vào mạn tàu đang rầm rầm lướt tới.

Chạy ngược sóng, con tàu cứ dựng mũi rồi cắm sâu. Tiếng máy lúc hổn hển khi gầm rú từng hồi, có lúc chừng như tắt ngấm. Buồng máy chao lắc dữ dội, tiếng sắt lạo xạo như sắp vỡ nát, máy móc chực văng ra ngoài. Tôi và Thịnh buộc chặt người vào đai sắt kìm giữ máy.


Tiếng chuông réo một hồi dài rồi một tiếng. Lệnh khẩn!

Thuyền trưởng Ba, chính trị viên Sạn và tôi hội ý chớp nhoáng, thống nhất phương án: Ta vẫn chưa bị lộ, hết sức tránh xảy ra đụng độ và tìm cách thoát khỏi vòng vây. Nếu địch quyết bắt sống, ta quyết chiến đấu đến cùng và sẽ lao tàu vào tàu địch. Trong đêm tối giữa biển khơi ầm ầm tiếng sóng, cả ba người chụm lại, áo quần sũng nước. Ba nắm tay giơ cao thể hiện một lời thề quyết tử. Chính trị viên Sạn nhìn tôi, thân thương và tin cậy như thầm bảo: "Nhạn, chúc cậu hoàn thành tốt nhiệm vụ. Chào nhé!". Lúc này địch triển khai đội hình vây kẹp ta từ cả bốn bên. Chúng chỉ cách ta chừng vài trăm mét.


Lao vào tàu địch ư! Là máy trưởng kiêm tổ trưởng bộc phá, tôi biết mình phải làm gì lúc này. Vừa quay xuống hầm máy, một cú chao lắc hất tôi loạng choạng. Cùng lúc, liên hồi hai hồi chuông réo gắt. Lệnh mở kẹp chì máy! Như một cái máy, tôi nhảy tới dùng kìm cạy hộp tốc độ. Kẹp chì bị phá tung! Tôi có cảm giác như mình vừa phá bỏ cái giới hạn của tổc độ để đi tới ranh giới giữa sự sống và cái chết.


Reng..., reng..., reng! Tiếng chuông lại réo giật cục. Căng thẳng, dồn nén, không khí trong hầm máy muốn sôi lên. Mệnh lệnh chuẩn bị cho hành động quyết chiến cuối cùng với kẻ thù: chuẩn bị bộc phá sẵn sàng cho nổ tung con tàu! Vâng, tôi đã sẵn sàng! Hệ thống dây truyền nổ cực nhanh nối với bộ kíp nổ đôi thật hoàn hảo. 1,4 tấn thuốc nổ cộng với hàng chục tấn đạn trong khoang sẽ biến con tàu thành một thứ vũ khí kinh hoàng, có thể "chơi đẹp" với bất kỳ kẻ thù nào và xóa sạch mọi dấu vết. Rất có thể, chỉ lát nữa thôi, một hồi chuông cuối cùng, dứt khoát, khô khốc, quyết liệt sẽ vang lên. Con tàu như mũi tên lao thẳng về phía kẻ thù. Mặt biển dữ dằn sẽ khép lại trong lòng nó tất cả.


Nén đợi giây phút hiểm nghèo, tôi chợt thấy lòng mình se lại, tê buốt. Lúc này bỗng nhiên tôi muốn chạy nhảy, thèm được ở nhà với mẹ, thèm được lên boong gặp anh em, đồng đội một lần nữa để được nhìn họ, nói với họ lời chia tay... Và giá như lúc này mình được giáp mặt nhìn thẳng vào bộ mặt gớm ghiếc của kẻ thù xâm lược, chứng kiến nỗi kinh hoàng, khiếp đảm của chúng trước cái chết thì hay biết mấy!...


Con tàu chồm lên như ngựa chiến tung vó dũng mãnh, trung thành trong trận quyết chiến cuốỉ cùng. Tiếng sóng giội ầm ào như gãy khúc, vỡ tan. Không khí căng ra, trùng lắng. Thời gian dãn ra, chậm chạp. Bỗng trong ống nghe tiếng chính trị viên Sạn hét lạc cả giọng: "Địch chặn đầu ta! Cách 200m! Tất cả chờ lệnh nổ súng! Máy trưởng chuẩn bị tăng tốc, sẵn sàng bộc phá!". "Rõ!". Tôi nghe cổ họng đắng rát, máu trong huyết quản như khô cứng lại, đầu ong ong. Trong đầu tôi lướt nhanh: Cự ly lao tàu chắc ăn nhất phải dưới 100m. Chỉ ít phút nữa thôi. Một tay tôi đặt lên vòng tốc độ, tay kia giữ hộp công tắc kíp nổ. Thịnh đứng sau ghì chặt giữ người tôi để khỏi bị sóng hất tung. Tôi nhủ thầm "phải thật bình tĩnh, tập trung cao độ...". Người Thịnh nóng ran. Anh im lặng, nét mặt sắt lại nhìn tôi như muốn kìm nén một lời chào vĩnh biệt. Tôi đưa tay về phía sau ôm ngang lưng anh siết chặt vào người mình.


Giây phút căng thẳng tột cùng. Tiếng máy rú lên khô khốc khi đuôi tàu hẫng trên sóng. Thân thể tôi như đang lên cơn sốt, người cứ như bay lên, nhẹ bỗng. Một cảm giác hoàn toàn thoải mái, đầu óc thanh thản lạ thường. Mọi thứ như đang trôi trong ảo giác. Bỗng đèn hiệu nhấp nháy. Tôi nhào tới ống nghe. Tiếng chính trị viên Sạn gần như vỡ ra từ cảm giác căng thẳng vừa đứt tung: "Tàu địch lui rồi! Nó lùi rồi! Nó lùi rồi!...".


Một hồi chuông ngắn vang giờn báo giữ nguyên tốc độ. Tôi cài máy giao cho Thịnh phóng lên. Bên trái, ngang mũi tàu ta, cách vài chục thước là chiếc khu trục đồ sộ, xám xịt vội vàng thụt lại. Bọn lính hải quân Mỹ lố nhố hốt hoảng, tàu ta xé sóng lao lên.


Tôi nhảy xuống hầm máy ôm chầm lấy Thịnh. Hai anh em ngã dúi dụi theo một con sóng dềnh lên. Tôi ngồi bệt xuống Thở phào nhẹ nhõm như vừa trút bỏ một bàn tay vô hình đang bóp chặt trái tim mình, mồ hôi vã như tắm...


Tôi giữ máy để Thịnh tót lên. Từ tầng trên tiếng anh vẳng xuống: "Mẹ kiếp mày!"...

Đội hình tàu địch dãn dần ra rồi tụt lại phía sau như những tên cướp biển ê chề, thất thểu, lẩn lút vào mặt biển lúc này giống như một chiếc chăn cũ nhàu nát khổng lồ. Đồng hồ chỉ hơn 8 giờ.

Giữa đại dương, gió mùa đông bắc vẫn ào ạt đổ về, lớp lớp những con sóng bạc đầu cứ dềnh lên ngạo nghễ. Con tàu câu dũng mãnh cưỡi sóng đi lên hướng Bắc. Chốc chốc tiếng máy lại gầm lên mỗi khi sóng nhấc hẫng đuôi tàu...


N.V.P


Tiêu đề: Bản hùng ca xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 05 Tháng Giêng, 2022, 08:32:25 am
TRẬN NÉM BOM SÂN BAY TÂN SƠN NHẤT


XUÂN MAI


Đã 30 năm qua, năm nào cũng vậy, cứ đến dịp kỷ niệm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước là tôi lại đem cuốn băng ghi âm về trận ném bom sân bay Tân Sơn Nhất ra nghe. Đó là cuốn băng ghi được chiếc máy bay A-37 vừa thu được của địch, tổ chức cuộc tập kích bất ngờ chiều ngày 28 tháng 4 năm 1975, phối hợp với pháo binh ta làm tê liệt hoàn toàn khu quân sự phi trường Tân Sơn Nhất, chặt đứt chiếc cầu băng không rút chạy cuối cùng bằng máy bay của quân ngụy Sài Gòn.


Tôi có được cuốn băng ghi âm vì ngày ấy tôi là cán bộ phụ trách tòa soạn báo Phòng không - Không quân đã cùng đội ngũ phóng viên theo sát các đơn vị chiến đấu, có mặt trên nhiều sân bay vừa được giải phóng. Nhờ đó đã ghi lại được nhiều sự kiện cả bằng hình ảnh, cả bằng tiếng động qua máy thu thanh.


Nhớ lại những ngày đầu tháng 4 năm 1975, sau khi giải phóng Đà Nẵng và những sân bay tiếp theo, ta đã thu được nhiều máy bay, trong đó có loại máy bay A-37 vốn là loại máy bay huấn luyện của Mỹ, trên mỗi khoang lái có hai chỗ ngồi được Mỹ cải tiến thành máy bay phản lực ném bom tấn công cỡ nhỏ, trang bị cho không quân ngụy...


Từ số máy bay mới thu được ấy, Bộ Tổng Tư lệnh đã quyết định giao cho Quân chủng Phòng không - Không quân nghiên cứu nhanh chóng làm chủ được máy bay A-37 để tổ chức lực lượng chiến đấu, dùng máy bay địch đánh vào tận hang ổ cuối cùng của chúng. Các kỹ sư, thợ máy của Binh chủng Không quân nhân dân được điều cấp tốc vào nghiên cứu, kiểm tra do Phó Tiến sĩ Hồ Thanh Minh phụ trách. Một số nhân viên kỹ thuật và phi công ngụy vừa ra trình diện, được giác ngộ đã tình nguyện xin phục vụ cách mạng, tham gia khôi phục và sử dụng những chiếc máy bay A-37 nói trên.


Người lính thợ quân đội ngụy Sài Gòn có tên là Nguyên cho chúng tôi biết dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Phó Tiến sĩ Hồ Thanh Minh, đội ngũ cán bộ và nhân viên kỹ thuật đã nhanh chóng khôi phục thành công hai chiếc máy bay A-37 tại Đà Nẵng và 5 chiếc máy bay A-37 khác tại sân bay Phù Cát...


Cùng với công tác chuẩn bị kỹ thuật là việc tổ chức lực lượng chiến đấu và huấn luyện chuyển loại cho các phi công. Bộ chỉ huy chiến dịch đã nhất trí với đề nghị của Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân cho thành lập một phi đội bay, đặc biệt, được gọi là "Phi đội Quyết thắng" bao gồm: Dẫn đầu phi đội là Nguyễn Thành Trung, một chiến sĩ cách mạng được ta cài vào hàng ngũ không quân địch từ năm 1969, anh chính là người lái chiếc máy bay phản lực F-5E của không quân ngụy, lừa dịp cất cánh đã tách khỏi đội hình, quay lại ném bom xuống dinh tổng thống ngụy ngày 8 tháng 4 năm 1975, rồi trở về hạ cánh an toàn xuống vùng giải phóng Phước Long.


Bốn chiến sĩ lái máy bay MiG được điều từ miền Bắc vào gồm các đồng chí: Nguyễn Văn Lục, Từ Đễ, Mai Văn Vượng, Hán Văn Quảng. Trong hàng ngũ không quân ngụy ra trình diện có Trần Văn On và Trần Ngọc Sanh đều là hoa tiêu huấn luyện máy bay phản lực A-37, tình nguyện tham gia huấn luyện, bay chuyển loại cho Phi đội Quyết thắng. Riêng Trần Văn On được biên chế vào đội hình xuất kích của Phi đội, anh nhận xét về các chiến sĩ lái MiG của ta tiếp thu rất nhanh, chỉ sau mấy ngày huấn luyện đã có thể bay đơn, hoạt động chiến đấu thành thạo trên chiếc máy bay A-37.


Sáng 28 tháng 4 năm 1975, sau khi đã hoàn thành giai đoạn huấn luyện cấp tổc, Phi đội Quyết thắng và 5 chiếc máy bay A-37 được lệnh chuyển từ sân bay Phù Cát về sân bay Thành Sơn, còn được gọi là sân bay Phan Rang. Giờ đây nghe lại băng ghi âm, tôi như thấy lại hình ảnh sân bay Phan Rang chiều 28 tháng 4 năm 1975 tràn ngập nắng và gió nóng. Đồng chí Thiếu tướng Lê Văn Tri (sau đó là Trung tướng) Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân triệu tập cuộc họp trong căn nhà nhỏ trên một quả đồi thấp ngay bên sân bay. Tham gia cuộc họp có đồng chí Trần Mạnh Trung, Bộ chỉ huy tiền phương của Quân chủng; đồng chí Trần Hanh, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, chỉ huy bộ đội không quân; các cán bộ tham mưu, chính trị và các thành viên trong Phi đội Quyết thắng. Phương án lúc đầu có ba mục tiêu tập kích được đưa ra lựa chọn là Bộ Tổng Tham mưu quân đội ngụy, kho xăng Nhà Bè và sân bay Tân Sơn Nhất, nhưng Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định chọn mục tiêu tập trung đánh vào khu để máy bay quân sự của quân đội ngụy tại sân bay Tân Sơn Nhất. Đường bay xuất kích ban đầu chọn bay dọc theo đường quốc lộ số 1, nhưng ở đó lực lượng phòng không ta rất mạnh, dễ bị ta bắn nhầm và cũng dễ bị địch phát hiện sớm. Sau cùng quyết định chọn đường bay từ sân bay Phan Rang vòng ra biển, tới Vũng Tàu mới ngoặt về Sài Gòn, vừa đảm bảo an toàn, vừa tạo ra thế đánh bất ngờ.


Nguyễn Thành Trung có nước da trắng, giọng nói lưu loát, anh trình bày tình hình địa hình dọc đường bay và quyết tâm chiến đấu được xác định trên bản đồ. Là người được giao nhiệm vụ dẫn đầu Phi đội Quyết thắng, Nguyễn Thành Trung một lần nữa xác định rõ mục tiêu cho phi đội tiến vào tập kích. Phương án tác chiến được lập trên bản đồ bay, quyết tâm chiến đấu của Phi đội được thông qua, tiếp đó là giây phút thiêng liêng giao nhiệm vụ của đồng chí Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân.


Bằng giọng nói Nam Bộ trẻ trung và kiên quyết, phi công Nguyễn Thành Trung thay mặt Phi đội Quyết thắng hứa quyết tâm với Bộ Tư lệnh.

Đúng 16 giờ 30 phút ngày 28 tháng 4 năm 1975, Phi đội Quyết thắng được lệnh xuất kích.

Toàn Phi đội có 6 người, điều khiển 5 chiếc máy bay A-37, cất cánh theo thứ tự: Nguyễn Thành Trung dẫn đầu Phi đội, bay số 1; Từ Đễ bay số 2; Nguyễn Văn Lục bay số 3; Trần Văn On và Mai Văn Vượng bay số 4 và Hán Văn Quang bay số 5.


Để bảo đảm giữ bí mật tuyệt đối, Bộ chỉ huy quy định khi xuất kích, các máy bay A-37 không được liên lạc với nhau bằng máy vô tuyến điện. Do đó 1 giờ 30 phút chờ đợi trên sân bay đối với chúng tôi vô cùng hồi hộp. Mọi người có mặt trên sân bay đều im lặng, không khí trên sân bay như lắng xuống dưới cái nóng hầm hập của chiều hè ỏ Phan Rang.


Đúng 18 giờ, bầu trời Phan Rang bỗng xuất hiện hai chiếc máy bay A-37 đầu tiên.

Tiếng động cơ máy bay xen lẫn tiếng reo vui của các cán bộ chiến sĩ có mặt trên sân bay đều lao nhanh ra chào đón "Phi đội Quyết thắng" vừa lập công xuất sắc trở về. Nguyễn Thành Trung hạ cánh đầu tiên, đã thay mặt toàn Phi đội báo cáo kết quả trận tập kích với đồng chí Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân. Thiếu tướng Lê Văn Tri rưng rưng nước mắt vì xúc động và vui sướng ôm chặt lấy Nguyễn Thành Trung, tiếp đó lần lượt ôm hôn từng người trong Phi đội Quyết thắng vừa xuất kích thắng lợi trở về...


Băng ghi âm của chúng tôi không thể phân biệt những tiếng nói, cười, giọng Nam xen lẫn giọng Bắc là của ai mà chỉ có thể tóm lược những nét chính qua nghe các anh kể rằng: "Khi máy bay lên đến độ cao 2.000 mét, họ không còn nhìn rõ mặt đất vì thời tiết xấu. Có những lúc khoang lái tối sầm lại vì phải chui qua mây đen và trời đổ mưa, nhưng Nguyễn Thành Trung vẫn bình tĩnh dẫn đầu Phi đội bay về phía Bà Rịa rồi ngược lên Biên Hòa. Trời hửng dần, họ bắt đầu phải tránh lưới lửa phòng không của quân ta từ mặt đất bắn lên. Biên Hòa xuất hiện dưới cánh bay với những đám cháy lớn, ai nấy đều phấn khởi biết rằng quân ta đã tới sát cửa ngõ Sài Gòn. Trận tập kích của Phi đội sẽ là trận đánh hiệp đồng tuyệt đẹp với quân và dân ta ở mặt đất.


Đến Tân Sơn Nhất, trời bỗng hửng nắng. Họ đã nhìn rõ từng dãy dài xe ô tô và máy bay quân sự các loại. Nguyễn Thành Trung lắc cánh ra hiệu cho toàn Phi đội rồi nhằm đúng khu tập trung máy bay quân sự của địch, nhào xuống cắt bom, nhưng bom không rơi. Trong ống nghe của họ dội lên những tiếng nói của lính thông tin sân bay. Bỗng có tiếng quát của một viên sĩ quan ngụy:

- A-37 của phi đoàn nào? phi đoàn nào?...

Từ Đễ vẫn bám sát bay số 2, anh nhào xuống cắt bom và buột miệng trả lời:

- Của phi đoàn A-mê-ri-can chúng mày đấy!

Tiếp theo Đễ là Lục, rồi Quảng, Vượng và On lần lượt nhào xuống cắt bom. Nguyễn Thành Trung quay lại bổ nhào tới lần thứ ba, anh cắt 4 quả bom cùng rơi một lúc. Tân Sơn Nhất rừng rực lửa khói. Họ đã đánh rất trúng khu vực để máy bay quân sự của không quân ngụy Sài Gòn.


Kết quả trận đánh 24 máy bay quân sự của địch bị phá hủy, một kho nhiên liệu trong sân bay bị đốt cháy, hơn 100 lính ngụy bị tiêu diệt.

Năm 1977, phóng viên hãng tin Mỹ UPI Alan Dawson đã viết trong cuốn "55 ngày chế độ Sài Gòn sụp đổ": Ngay trong lần đầu tiên bay qua căn cứ, những phi công MiG lão luyện đã bấm nút thả một tá bom loại 500 bảng Anh rơi xuống khu quân sự... tại Tân Sơn Nhất, hàng nghìn người đều kinh hoàng... tại trung tâm Sài Gòn, dân chúng đều biết rằng cuộc tấn công sau cùng của hàng nghìn bộ đội Bắc Việt Nam đã bắt đầu...


Đã 30 năm trôi qua, con người đã có nhiều đổi thay, nhưng nội dung cuốn băng ghi âm vẫn giữ nguyên như cũ. Tôi đã viết trung thực những gì đã thấy từ 30 năm trước và trích nguyên bản những chỗ cần trích trong cuốn băng ghi âm lịch sử và có lẽ đây là lần đầu tiên được giới thiệu với quý vị thính giả nghe đài.

X.M


Tiêu đề: Bản hùng ca xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 05 Tháng Giêng, 2022, 08:34:01 am
NHỮNG NGƯỜI LÍNH THẦM LẶNG


ĐỖ SÂM


Qua đồn Bà Rén, chiếc xe đò dừng lại. Một tên cảnh binh và một lính ngụy nhảy lên xe kiểm tra hàng hóa, giấy tờ của mấy bà mấy cô buôn chuyến, rồi đến trước một thanh niên. Anh thanh niên lịch sự bóc một bao thuốc Salem mới đưa cả cho bọn chúng kèm theo chiếc căn cước. Tên cảnh binh liếc nhìn anh, cầm chiếc thẻ nhẩm đọc: Số 254429, cấp tại Sài Gòn ngày 17-10-1961, tên Lê Hiền, cư trú Chính Trạch, Đà Nẵng".


Chiếc xe chuyển bánh phóng nhanh tiếp qua Vĩnh Điện, Thanh Quýt, Miếu Bông về Đà Nẵng. Mặc cho mấy cô em đùa cợt, người thanh niên im lặng xếp lại đồ dùng trong chiếc cặp da, châm thuốc hút. Một luồng gió mát lạnh thổi vào xe. Anh khẽ rùng mình, nhắm mắt nhớ lại chặng hành quân dài vừa qua.


Cách đây mấy tháng ở Hà Nội, sau Tết Canh Tý (1960), Đại úy Lê Văn Trọng nộp lại đơn vị chiếc chứng minh thư sĩ quan quân đội, nhận tấm căn cước giả mang tên Lê Hiền mà tên cảnh sát vừa kiểm tra trên xe.


Lúc nhỏ là một học sinh biết tiếng Pháp, khi quê hương bị tạm chiếm anh đã hoạt động trong hậu địch, quen nhiều các tỉnh miền Trung Bộ nên sau khi về Cục Quân báo anh nhận nhiệm vụ vượt Trường Sơn vào Nam. Đêm cuối ở trạm Quế Sơn, chia tay với trạm trưởng và đồng đội, trao lại mấy bộ đồ giải phóng quân, chiếc mũ tai bèo tình nghĩa, nhận mấy bộ trang phục thành phố, chiếc máy Sô-ny đựng trong một chiếc cặp nhỏ. Anh xuống núi, sau khi bắt liên lạc được với các cơ sở ở Huế, Hội An, Tam Kỳ... hôm nay anh đến Đà Nẵng.


Đã chuẩn bị kỹ từ trước, Lê Hiền tìm ngay đến đồn cảnh sát Hoàng Hoa Thám ở ngã ba Cai Lan xin gặp viên thư ký Lê Tải, người anh họ cùng quê Điện Bàn. Và rồi mấy hôm sau, Lê Hiền đến ở cùng ông anh Lê Tải ngay trong khu cư xá cảnh sát Hoàng Hoa Thám.


Được Lê Tải giới thiệu, mấy tháng sau Trần Thanh Ứng, trưởng ban hoạt vụ cảnh sát Gia Long đã cùng hùn vốn với Mười Hiền mở một tiệm vàng ở 162 đường Khải Định mang tấm biển "Tiệm vàng Lộc Thành" đối diện Chợ Cồn, trung tâm buôn bán lớn của thành phố cảng.


Khống xa nhà Hiền, Tải có tiệm may Thanh Tâm, một tiệm may y phục nữ nổi tiếng trên đường Thống Nhất. Chủ tiệm may là một thiếu nữ vừa có tài vừa có sắc lại nết na dịu hiền.


Tình yêu đã đến với Lê Hiền và Thanh Tâm lúc nào không rõ. Tâm sự với nhau ngoài những lời hẹn ước là những chuyện tìm mối mua vàng bạc, mỹ phẩm, vải vóc, chuyện thiết kế các kiểu thời trang vừa đẹp vừa lịch sự ấn tượng và rồi cả đến nhiều chuyện tình của những cô tiếp viên "bar" với nhiều sĩ quan Mỹ - ngụy ở các lực lượng không quân, thám báo quanh Đà Nẫng... những mẩu chuyện tưởng như vặt vãnh của các sĩ quan này nhiều lúc đưa đến cho Lê Hiền những thông tin vô cùng đắt giá.


Trong phiên liên lạc kỹ thuật với cấp trên ngày 20 tháng 6 năm 1967, Lê Hiền báo cáo về những chuyện bất đồng giữa các sĩ quan cao cấp quân đoàn I với các cố vấn Mỹ về thiệt hại nặng của các trung đoàn 5 lính thủy đánh bộ Mỹ, lữ đoàn 3 kỵ binh không vận Mỹ, trung đoàn 6 và liên đoàn 12 biệt động ngụy trong các cuộc hành quân liên kết 112, 116 ở Thăng Bình, Hiệp Đức, Tiên Phước... từ 11 tháng 8 đến 13 tháng 9.


Anh kèm theo cả một đoạn báo cáo về Thanh Tâm và đề nghị cho Lê Hiền được kết hôn với Thanh Tâm.

Tối 30 tháng 9 năm 1967, trong phiên liên lạc với trên, tiếp theo đoạn chỉ thị công tác, Lê Hiền chăm chú theo dõi đoạn cuốỉ bức điện: "Đã theo dõi và nghiên cứu. Đồng ý để Lê Hiền cưới Thanh Tâm. Chúc hạnh phúc".


Đã từ lâu bà con Đà Nẵng mới thấy một đám cưới đông vui trang trọng như vậy. Khách dự cưới hầu hết thuộc loại quý phái trong cầc tầng lớp  thượng lưu. Anh em bà con hai bên dâu rể nhiều người vai vế trong hàng ngũ cảnh sát, sĩ quan nên đông quan chức, nhà buôn và những người giàu tiền lắm của tạo dịp gặp, quen nhau nhân ngày cưới Hiền - Tâm. Nhóm này bàn chuyện xong một "áp phe" kiếm vài chục cây vàng, nhóm kia chạy vạy với nhau chuyện mua quan bán chức, chuyện trốn quân dịch, mấy thanh niên tán với nhau em này xinh, em kia có bộ răng khểnh duyên dáng, mấy cố em khen bộ áo này "mốt", bộ váy kia gợi tình...


Đêm tân hôn, Tâm nắm tay Hiền tâm sự:

- Em biết trước sau rồi cũng sẽ nói thật hết với anh. Ba đứa em ruột của em Trà Thanh Tá vào quân giải phóng từ tháng 2 năm 1960 đã hy sinh ngoài mặt trận, em gái Trà Thanh Minh theo anh đi chiến đấu cũng bị giặc Mỹ bắn chết, rồi tiếp đến em Trà Thanh Long vừa bị bắt giam ở khám Tân Hiệp, Biên Hòa vì tham gia phong trào đấu tranh của sinh viên học sinh yêu nước...

Đặt nhẹ tay lên vai Tâm, Hiền lây khăn lau nước mắt cho vợ:

- Những chuyện em vừa nói anh đã biết từ trước khi cưới em. Đến nay anh đã có thể nói thật với em: cũng như các em Thanh Tá, Thanh Minh của chúng ta anh là một chiến sĩ giải phóng quân.

Ngả vào vai Hiền, Tâm nức nở khóc. Hiền không muốn ngăn những dòng nước mắt xúc động của vợ. Anh ôn lại với Tâm những chuyện giao việc thử thách Tâm, những chuyện mà vô tình Tâm đã là một cộng tác viên, một liên lạc viên có thành tích đáng kể cho mạng lưói tình báo của Hiền. Hiền vừa chuyện vừa theo dõi cặp mắt tươi sáng dần của Thanh Tâm, Tâm thủ thỉ hỏi chồng:

- Thế ra anh đã biết nhiều về gia đình em từ trước?

- Biết chứ em. Mọi quan hệ giữa anh và em, anh đều đã báo cáo lên trên, vừa qua cấp trên đã tín nhiệm dùng Thanh Tâm làm liên lạc viên cho Lê Hiền.

Thanh Tâm không nén nổi xúc động, gục đầu vào vai chồng.

Từ khi Tâm được chỉ định giúp việc cho Hiền, công việc của anh thuận lợi hẳn. Ngoài việc bảo vệ nơi làm việc của Hiền, cung cấp cho anh nhiều tin quan trọng, Tâm đã tạo điều kiện để Hiền quen biết với nhiều sĩ quan ở Bộ tư lệnh quân đoàn I, trong sân bay và một số cơ quan trọng yếu khác. Đó là những nhu cầu rất cần thiết cho công việc của anh.


Ai có thể ngờ cái tiệm may lịch sự Thanh Tâm ngoài cửa dán chiếc khẩu hiệu to: "Nhà tôi không chứa chấp cộng sản" lại là nơi hoạt động của hai chiến sĩ chiến đấu trên mặt trận thầm lặng giữa trung tâm thành phố cảng lớn nhất miền Trung, dày đặc lính Mỹ - ngụy và bọn mật vụ thiện nghệ của chính quyền Sài Gòn này. Tuy chưa thực thi được một số nhiệm vụ cao như mong muốn nhưng từ tiệm may này Hiền - Tâm đã chọn lọc báo cáo lên cấp trên nhiều nguồn tin quan trọng nói về những biến động và tình hình nhiều mặt trong bộ máy chính quyền và lực lượng quân sự địch tại đây. Đặc biệt vào thời điểm cuối năm 1967, đầu năm 1968 trước Tết Mậu Thân, cũng tại căn phòng nhỏ trên lầu tiệm may ấm cúng này, đón đêm giao thừa đầu tiên trong cuộc sống chung, Hiền đã cùng Tâm nghe qua chiếc máy Sô-ny lời chúc Tết của Bác Hồ kính yêu từ Hà Nội:

   "Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua
   Thắng trận tin vui khắp nước nhà
   Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ
   Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta".


... Sau đó nhiều tiếng súng, tiếng reo hò của bà con hòa cùng tiếng còi báo động, tiếng la hét của cảnh sát, tiếng xe gầm rú trên các đường Thống Nhất, Hoàng Hoa Thám, Lê Thái Tổ, Hùng Vương, phía ga, cảng, sân bay. Rồi những tiếng rít xé không khí của pháo binh tên lửa Quân giải phóng vào sân bay Đà Nẵng, kho xăng Liên Chiểu, tổng kho An Đồn... những đám cháy rực trời, những tiếng nổ vang khắp thành phố. Tràn ngập niềm vui, lúc này Hiền mới nói với Tâm cái thông báo của Trung ương vừa nhận được về "Cuộc đánh lớn dịp Tết Mậu Thân" này.


Ngay hôm sau Tết, bọn ngụy dùng trực thăng chở thi hài mấy người mà chúng loan báo là xác chiến sĩ Quân giải phóng, Việt cộng bị chúng sát hại ở vùng ven, về đặt bên cầu Trịnh Minh Thế để uy hiếp nạt nộ bà con nhưng không dẹp nổi sức đâu tranh của quần chúng nổi dậy, không ngăn nổi những nguồn tin dồn dập từ khắp nơi đưa về:

- Quân giải phóng đã chiếm đóng Nam Phưóc, đồn Kiểm Lâm đã mất.

- Lính quốc gia phải bỏ quận lỵ Duy Xuyên rút về Hòn Bằng.

- Mấy tên Mỹ ở lữ đoàn 196 khi đi càn đã bị Quân giải phóng bắt sống.

- Quân giải phóng đã chiếm thành Huế.

- Biệt động Việt cộng đã đánh thẳng cả vào Dinh Độc Lập, Tổng nha cảnh sát, Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn.

Vợ chồng cặp tình báo Lê Hiền - Thanh Tâm cùng bà con Đà Nẵng sống những ngày Tết Mậu Thân sung sướng, phấn khởi với những tin vui chiến thắng của Quân giải phóng đến từ khắp mọi nơi.

Đ.S


Tiêu đề: Bản hùng ca xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 05 Tháng Giêng, 2022, 08:35:31 am
CHIẾC VÒNG TAY


BÙI VĂN TRINH
   

Kể từ ngày ấy đến nay đã bư mươi năm đằng đẵng trôi qua, vậy mà hôm nay ngồi viết lại những dòng hồi ký này tôi vẫn thấy lòng mình trào dâng nỗi nhớ nhung bâng khuâng khó tả. Nào mời các bạn, hãy cùng tôi đi ngược dòng thời gian để trở về với câu chuyện "Chiếc vòng tay" của chúng tôi ba mươi năm về trước.


Những ngày cuối tháng 3 năm 1975, trên các mặt trận Trị Thiên - Huế, Đà Nẵng, quân ta ào ạt tiến công vào các tập đoàn phòng ngự mạnh của địch với tinh thần "một ngày bằng hai mươi năm", tranh thủ từng giờ từng phút chớp thời cơ thuận lợi để chiến thắng quân thù.


Đơn vị xe chúng tôi đang làm nhiệm vụ vận tải phục vụ chiến đấu thì nhận được lệnh của Sư đoàn cho chúng tôi trả hàng thu quân gấp để đi làm nhiệm vụ mới. Chứng tôi lập tức chấp hành mệnh lệnh.


Ngày 29 tháng 3 năm 1975, chín mươi xe của Trung đoàn 13 (Sư đoàn 571) chúng tôi nhận nhiệm vụ tức tốc lên đường vào Huế để chở Trung đoàn 27 (Sư đoàn 320) theo đường số 1 qua Đà Nẵng vào Quy Nhơn đến cầu Bà Di thì rẽ phải ngược đường 19 lên Buôn Ma Thuột nhập với cánh quân của quân đoàn tiến theo tuyến Đông Trường Sơn, đưa bộ đội đến vị trí tập kết ở Đồng Xoài. Vào đến Huế, sau khi sắp xếp đội hình, phân công nhiệm vụ cho từng xe, chúng tôi lên đường.


Chiếc Zin 157 của tôi chở trên lưng một khẩu 12 ly 7, hai khẩu RBĐ cùng 24 chiến sĩ do đồng chí Hùng đại đội phó và đồng chí Nam trung đội trưởng phụ trách đi ở cuối đội hình hành quân của trung đoàn. Lên tới đèo An Khê, không may xe tôi bị hỏng đột xuất, phải dừng lại sửa chữa mất gần một tiếng đồng hồ, do đó chúng tôi bị tụt lại phía sau đoàn một quãng khá xa. Trước ngày thứ tư chúng tôi vào tới Buôn Ma Thuột. Thị xã được giải phóng đã gần một tháng nhưng như vẫn còn giữ nguyên khí thế "nụ cười Buôn Ma Thuột" ngày chiến thắng. Các đơn vị thanh niên xung kích đang hăng hái khẩn trương thu dọn những ngổn ngang bộn bề sau cuộc chiến. Thấy xe chúng tôi đi qua, mọi người reo hò vẫy tay chào đón. Qua khỏi cầu Ea Tam khoảng hơn mười cây số, chúng tôi dừng lại ăn cơm trưa, nhân tiện tôi kiểm tra lại các bộ phận xe cho chắc chắn để có thể chạy suốt đến Đồng Xoài mà không xảy ra trục trặc kỹ thuật. Hơn nữa, từ đây vào Đồng Xoài máy bay địch thường xăm xoi đánh phá nhằm ngăn chặn các cuộc tiến quân của ta do đó xe cộ cần phải được siết lại các ốc vít cho thật chặt để đảm bảo độ linh hoạt khi xử lý các tình huống lúc vượt qua các điểm địch đánh phá.


Trong số các chiến sĩ đi trên xe tôi đợt ấy có một đồng chí tên là Vi Thanh Phan dân tộc Thái quê ở miền núi Thanh Hóa. Phấn bắn giỏi nên được chọn làm xạ thủ trung liên của đại đội. Trưa hôm đó xe vừa dừng bánh là anh ta đã nhảy xuống chạy ngay vào khu rừng cạnh đường nhặt củi khô về bắc bếp đun nước. Tình cờ trông thấy một con rắn hổ mang trườn qua đường, Phấn lao theo và chộp được con rắn, không may bị nó quay lại cắn vào cổ tay phải, vẫn không chịu thả con rắn anh ta túm chặt cổ nó rồi cứ thế chạy đến trước mặt đại đội phó và trung đội trưởng:

- Báo cáo các thủ trưởng, em bị rắn cắn.

Hùng và Nam nhìn con rắn đen trũi to bằng bắp tay đang cuộn quanh người Phấn, vết thương trên cổ tay anh ta đang rỉ máu. Cả hai tỏ ra lúng túng chưa biết nên xử trí ra sao. Thấy vậy tôi vội chạy đến bảo mấy chiến sĩ giúp Phấn đập chết con rắn rồi tôi lấy trong túi áo ra một con dao nhíp nhỏ sắc ngọt đưa cho đại đội phó Hùng và bảo Nam:

- Đồng chí giữ chặt tay Phấn cho đồng chí Hùng rạch rộng vết cắn rồi nặn cho ra bớt nọc độc, xong lấy băng buộc ga rô trên cánh tay anh ta cho chặt để tôi vào rừng hái thuốc chữa.

Nói xong tôi chạy vội vào khu rừng gần đấy hái được nắm lá thuốc đem về giã nát, cho vào nước sôi hãm đặc rồi chắt lấy nước cho Phấn uống còn bã đem đắp lên vết thương và lấy băng buộc chặt lại. Xong xuôi tôi bảo với Hùng và Nam:

- Các đồng chí yên tâm, đồng chí Phấn không bị nguy hiểm đến tính mạng nữa nhưng dẫu sao tay đồng chí ấy vẫn bị sưng và đau nhức đấy.

Nghe vậy Phấn hỏi tôi:

- Có nhanh khỏi không anh?

- Vì không có thuốc đặc trị nên ít nhất phải hơn nửa tháng sau vết thương trên tay đồng chí mới khỏi hẳn.

Lúc ấy mặt Phấn ỉu xìu như chiếc bánh đa nhúng nước, anh ta nói như muốn khóc:

- Vậy là em sẽ không được tham gia chiến dịch sắp tới rồi; các thủ trưởng ơi em bị xử lý kỷ luật có nặng không các thủ trưởng?

- Vấn đề không phải ở chỗ là cậu bị kỷ luật nặng hay nhẹ mà cái chính là trận đánh sắp tới đại đội ta sẽ bị thiếu đi một xạ thủ trung liên giỏi.

Phấn hỏi tôi:

- Có loại thuốc nào chữa khỏi nhanh hơn không anh?

Tôi đáp:

- Nếu có vật gì đó bằng bạc để dùng kết hợp với thuốc thì độc được hút ra nhanh hơn như vậy chỉ hai hoặc ba ngày là khỏi.

Nhưng lúc đó đang trên đường hành quân ra trận, vả lại cánh lính chúng tôi làm gì có đồ dùng nào bằng bạc nên đành chịu vậy. Đại đội phó Hùng giục anh em ăn cơm nhanh để còn hành quân gấp. Giữa lúc đó chúng tôi nhìn thấy trên đường có một bà cụ và cô gái người Êđê đang từ phía xa đi lại, trên lưng cô gái đeo chiếc gùi có vẻ hơi nặng. Nhìn dáng vẻ hai người tôi đoán có lẽ họ đi chợ về. Khi hai người tới gần, thấy trên cổ tay cô gái đeo một chiếc vòng bạc sáng lấp lánh, mừng quá tôi vội chạy đến bên họ nói:

- Chào mí và em, mí và em đi đâu về đây?

- Mình đi chợ về. - Bà cụ đáp và hỏi lại tôi:

- Bộ đội muốn hỏi gì mình đấy?

- Mí và em vui lòng cho bộ đội mượn chiếc vòng tay một lúc có được không ạ?

Cô gái nhìn tôi rồi đáp:

- Không được đâu, vòng này không cho mượn được.

Bà cụ cười nhưng nét mặt nghiêm nghị nói:

- Muốn mượn vòng tay à. Bộ đội có chịu cho con gái ta bắt làm chồng không?


Tiêu đề: Bản hùng ca xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 05 Tháng Giêng, 2022, 08:36:29 am
Nghe đến đó tôi giật mình chợt nhớ ra rằng theo phong tục của người Êđê chiếc vòng tay là vật quý giá và thiêng liêng nhất trong tình yêu nam nữ. Cô gái Êđê chỉ trao vòng tay cho người con trai mà cô yêu thương nhất và cũng chỉ trao khi người con trai sắp được cô "bắt" làm chồng mà thôi. Tôi không quen biết cô gái mà dám hỏi mượn vòng tay quả là một chuyện tày đình rồi, biết làm sao bây giờ. Để bà cụ và cô gái khỏi hiểu lầm tôi chỉ tay về phía các chiến sĩ và nói với bà cụ:

- Bên ấy có bộ đội không may bị rắn cắn, con hỏi mí và em cho mượn vòng bạc để làm thuốc chữa đấy.

Nghe tôi nói vậy, bà cụ và cô gái liền đi theo tôi tới chỗ các chiến sĩ. Thấy bà cụ và cô gái tới các chiến sĩ đang ăn cơm vội bỏ bát đũa xúm lại chào hỏi. Tôi cầm tay Phấn chìa ra cho bà cụ xem và nói:

- Bộ đội này bị rắn độc cắn đấy mí ạ.

Bà cụ nhìn vết thương rồi bảo cô gái:

- Hơ Bí con đưa vòng tay cho bộ đội làm thuốc chữa rắn cắn đi con để bộ đội mau khỏi còn đi đánh giặc.

Cô gái tên là H' Bih1 (Tiếng Êđê chữ Hơ Bí viết là - H' Bih) cởi chiếc vòng tay đưa cho tôi. Tôi cảm ơn cô và cầm chiếc vòng đem lại bếp lửa nung nóng lên, sau đó đem đặt áp lên chỗ đắp thuốc trên tay Phấn. Chiếc vòng bốc khói xèo xèo. Tôi làm đi làm lại bốn lần, độc được hút ra nhiều đến nỗi chiếc vòng bạc trắng ngả sang màu xanh lét. Phấn bảo đã thấy đỡ đau rất nhiều. Tôi rửa sạch hết màu xanh trên chiếc vòng, cầm đưa cho Hơ Bí và nói:

- Cảm ơn mí và em nhiều lắm, bộ đội Phấn khỏi đau là nhờ có mí và Hơ Bí đấy.

Bà cụ nhìn tôi nói:

- Vết thương của bộ đội Phấn đã khỏi hẳn đâu mà đã vội trả vòng cho Hơ Bí, bộ đội cầm lấy để chiều nay và sáng mai còn phải chữa hai lần nữa mới khỏi hẳn, mí cũng biết chữa thuốc theo kiểu này mà.

Thì ra bà cụ cũng biết chữa rắn cắn theo phương pháp của tôi. Trung đội trưởng Nam nói:

- Nhưng chúng con sắp phải đi đánh giặc ngay bây giờ mí ạ, chúng con xin trả lại chiếc vòng, thay mặt anh em con xin cảm ơn mí và Hơ Bí nhiều lắm.

Nghe vậy bà cụ nói:

- Vậy thì không phải trả đâu. - Nói rồi cụ cầm lấy chiếc vòng trên tay cô gái đưa cho tôi và bảo:

- Con cầm lấy mang theo mà chữa cho bộ đội Phấn, việc đánh giặc cần hơn việc trao vòng tay để bắt chồng. - Thấy tôi còn chần chừ bà nói với tôi như ra lệnh: "Cầm lấy".

Rồi bà cụ bỏ chiếc vòng tay vào túi áo trên ngực tôi, làm cho tôi đâm ra lúng túng vì không biết lấy gì để đáp lại lòng tốt của bà cụ và cô gái. Tiền thì chúng tôi không có, mà nếu có thì dễ gì bà cụ đã nhận tiền của chúng tôi. Thế rồi tôi chợt nhớ ra là ở trong chiếc xà cột của tôi cất trên xe, có chiếc đồng hồ Pôn Zốt tôi mới mua hôm ra công tác ở Vĩnh Chấp (Vĩnh Linh). Tôi vội lên xe mở xà cột lấy chiếc đồng hồ xuống đưa cho bà cụ và nói:

- Chúng con không biết lấy gì để đáp lại ơn mí và Hơ Bí, con có chiếc đồng hồ này mong mí nhận cho.

Bà cụ nói:

- Mí không lấy đồng hồ của bộ đội đâu, bộ đội cần có đồng hồ để đi đánh giặc cho trúng chứ.

Hơ Bí cũng cười nói chen vào:

- Hơ Bí không lấy đồng hồ của bộ đội đâu, khi nào đánh giặc xong các anh trở về Hơ Bí "bắt" người mượn vòng tay làm chồng thôi.

Các chiến sĩ rộ lên cười làm cho tôi thẹn đỏ bừng cả mặt. Bà cụ hỏi tên từng người chúng tôi rồi nói: "Các con đi mạnh giỏi, đánh cho trúng quân giặc nhé, mí và Hơ Bí về đây". Chúng tôi nói lời cảm ơn và chúc cụ cùng cô gái ra về mạnh khỏe. Đi được mấy bước cô gái bỗng quay lại nhìn tôi rồi nói:

- Bộ đội Trinh đừng quên Hơ Bí nhé. - Nói xong cô vội bước nhanh theo bà mẹ.

Hai người về rồi tôi lấy chiếc vòng trong túi áo ra đeo vào tay lòng bỗng trào lên nỗi bâng khuâng xao xuyến.

Ăn cơm xong, chúng tôi vội vã lên đường đuổi theo đơn vị. Tôi tranh thủ từng đoạn đường tốt cho xe chạy tăng tốc nhanh vùn vụt. Chập tối hôm đó chúng tôi đã đuổi kịp trung đoàn. Nhờ có chiếc vòng mà hôm sau tôi đã chữa cho Phấn khỏi hẳn. Anh ta vui mừng vô cùng vì được tham gia trận đánh sắp tới. Tuy cả trung đội không ai nói ra nhưng tất cả chúng tôi đều nghĩ rằng: Chiếc vòng đã nói lên tấm lòng của đồng bào Tây Nguyên nói chung, trong đó có đồng bào Êđê nói riêng luôn một lòng đi theo Đảng, theo Bác Hồ để cùng cả nước đấu tranh, giành lấy Độc lập - Tự do cho dân tộc. Trong cuộc đấu tranh ấy, dù có phải trải qua bao hy sinh gian khổ hoặc cống hiến cả những gì thiêng liêng nhất của bản thân mình cho Đảng, cho đất nước đồng bào cũng không bao giờ từ chối, chính vì thế mà chúng tôi những người lính Cụ Hồ luôn luôn được đồng bào yêu thương đùm bọc.


Hoàn thành xong nhiệm vụ chở bộ đội vào Đồng Xoài, đoàn xe chúng tôi lập tức quay ra Đông Hà chở đạn pháo vào phục vụ chiến dịch. Tất cả chúng tôi đều hăng hái lao vào trận đánh. Chiếc vòng như đã cho tôi thêm sức mạnh, thêm lòng dũng cảm để băng qua bom đạn địch trong những ngày đêm khẩn trương chở đạn vào mặt trận hoặc những ngày lái xe chở bộ đội tiến công vào các căn cứ của giặc ở Long Thành, Tuy Hạ, Cát Lái rồi tiến vào nội đô Sài Gòn, góp phần cùng cả nước làm nên Đại thắng mùa Xuân lịch sử.


Sau ngày giải phóng miền Nam, đất nước hòa bình thống nhất, có dịp trở lại Buôn Ma Thuột, tôi đã cố tìm bà cụ và Hơ Bí nhưng gia đình cụ đã chuyển về Gia Lai. Không gặp được bà cụ và Hơ Bí, tôi đã khắc lên chiếc vòng hai chữ "Ân tình" và nâng niu cất giữ chiếc vòng mãi mãi như một vật báu thiêng liêng quý giá.

Tháng 4 năm 2005
B.V.T


Tiêu đề: Bản hùng ca xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 05 Tháng Giêng, 2022, 08:38:13 am
NHỮNG NĂM THÁNG Ở TRỊ THIÊN THỜI ĐÁNH MỸ


LÊ DUY PHONG


Sau cuộc tiến công chiến lược "Tết Mậu Thân", lực lượng bộ đội ở Trị Thiên tăng lên gấp nhiều lần. Nhu cầu về bảo đảm vật chất cho cuộc sống và chiến đấu của bộ đội không như trước nữa.

Cùng với việc ra sức đánh phá quyết liệt các tỉnh phía nam Quân khu 4, nhất là Quảng Bình, Vĩnh Linh, đặc biệt là tuyến vận tải chiến lược 559 để ngăn chặn việc chi viện từ miền Bắc vào; đồng thời chúng tìm mọi cách bao vây kinh tế, không cho ta khai thác lương thực, thuốc men và các nhu yếu phẩm khác ở vùng chúng tạm kiểm soát.


Khu căn cứ cách mạng, nơi đứng chân của Bộ Tư lệnh mặt trận và tập kết bộ đội là rừng núi Trường Sơn. Nơi đây đồng bào các dân tộc ít người sống thưa thót, rải rác khắp nơi. Sản xuất có tính tự cung, tự cấp, lại bị bom đạn của giặc Mỹ tàn phá. Sản phẩm làm ra nuôi đồng bào còn chưa đưa đủ, lấy đâu cung cấp cho bộ đội. Sản xuất tự túc của bộ đội tuy có đặt ra nhưng mới là chủ trương của lãnh đạo chỉ huy chứ chưa thành hiện thực. Công tác bảo đảm hậu cần cho bộ đội ở chiến trường Trị Thiên lúc này đặc biệt gặp khó khăn khác nào như các tia dẫn đường sữa mẹ đều bị kẻ thù tìm mọi mưu kế hiểm độc làm tắc nghẽn gây lên cảnh thiếu đói khôn lường.


1. Gạo là tư lệnh

Tiếng đồng chí Tư lệnh binh đoàn vận tải chiến lược từ đầu bên kia đường dây vang tới tai nghe của đồng chí Tư lệnh mặt trận: "Gạo còn trong tay tôi hiện nay chỉ tính bằng tạ chứ không thể tính bằng tấn, thông báo để anh biết khả năng bảo đảm hậu cần của ta mà định liệu". Tiếng đáp lại tuy chậm mà dứt khoát: "Vâng! Tôi biết lúc này gạo là tư lệnh".


Ngay những ngày sau đó có sự điều động lực lượng của toàn mặt trận. Đơn vị tôi được lệnh để lại một phân đội làm nhiệm vụ bám đánh địch, bảo vệ khu căn cứ và chuẩn bị chiến trường; còn đại bộ phận cả đội sang đất bạn để khắc phục khó khăn về hậu cần, bồi dưỡng sức khỏe tranh thủ học tập củng cố lực lượng sẵn sàng chiến đấu.


Trạm dừng chân đầu tiên của đơn vị, việc trước hết là cử người vào các bản đồng bào nhờ giúp đỡ lương thực. Đến bản nào đồng bào cũng nói: "Mỹ - ngụy nó bắn phá không cho sản xuất, lúa ngô ngoài rẫy đã cạn, đồng bào cũng đói". Đặc điểm các dân tộc Vân Kiều, Pa Cô là không có thì thôi chứ có thì không tiếc, đã cho là cho hết không cần dự trữ, vì thế khi bộ đội đói thì đồng bào cũng đói.


Duy có một bản còn rẫy dưa đỏ, trưởng bản chỉ tay và nói: "Đó đồng bào không ăn cho bộ đội cả!". Chẳng kể sang hèn, thứ gì ăn được đồng bào cho lúc này cũng quý. Chủ nhiệm hậu cần thông báo: "Mỗi trung đội cử người mang gùi vào rẫy xin dưa!". Tối đó cả đơn vị được một bữa dưa lưng dạ, đang lúc bụng cao, dạ dốc nhiều đồng chí ăn không biết no.


Cái may chưa trọn thì điều rủi đã đến, những bộ máy tiêu hóa kém, sức yếu của nhiều đồng chí đêm trở chứng đau bụng đi ngoài, thiếu thuốc các quân y phải đi hái lộc sim về cho sao vàng sắc đặc uống.


Gần sáng ngày hôm sau trời đổ mưa rất to, nước lũ tràn về ngập các khe suối, các đơn vị đều "án binh bất động", ôm bụng ngồi nhịn đói nhìn nhau.

Trong không khí cả đơn vị đang im ắng nặng nề, thì từ phía đại đội có một tiếng gọi với sang cơ quan đoàn bộ: "Chúng tớ vừa vào bản xin được sắn, đoàn bộ có ăn cử người sang nhường cho một ít". Tin vui như bắt được của! Cả đoàn bộ náo nức phân công nhau, người đem dây võng căng qua suối để bảo hiểm, người đem gùi vượt suối sang xin sắn. Có đồng chí còn phát huy sáng kiến đặt nồi đun nước sẵn để khi xin sắn về luộc mau được ăn.


Trừ mấy người bận việc và đau yếu, còn tất cả ra bờ suối ngóng người đi xin sắn. Chỉ vài phút sau đã thấy mấy đồng chí lững thững từ Đại đội 1 trở về, gùi nhẹ tênh, mặt buồn thiu. Không chờ anh em tới gần, mấy chàng háu ăn vội hỏi: sắn đâu? Có tiếng đáp lại: "Cả đại đội cũng đang meo miệng chứ có khoai, sắn gì đâu". Nghe vậy mọi người đều thất vọng và tức, vừa tức mấy thằng tếu đùa dai, vừa tức cười và thương mấy đồng chí vượt suối đi xin sắn, sắn chẳng được, ướt như chuột lụt vừa đói lại vừa rét. Còn đồng chí đun nước sẵn thì bực mình bưng xoong nước đổ xuống suối và nói "Ôi nước lã thì cho mày ra sông!". Trở về lán mọi người xúm lại bàn nhau tìm nguồn lương thực. Một chiến sĩ thông tin phát hiện: Cách đây độ một kilômét có trạm đường dây thông tin, có dịp đến đây công tác tôi thấy họ dự trữ được khá nhiều lương thực. Đường đến đó tôi biết chỉ qua mấy quả đồi, không phải vượt suối, chúng tôi đề nghị thủ trưởng đến vay may ra được!


Tôi cùng ba chiến sĩ vội vã lên đường, tới nơi rất may đồng chí phụ trách trạm vốn là người tôi quen. Qua cái bắt tay và lời thăm hỏi nhau, tôi đi ngay vào câu chuyện vay gạo. Ngắt lời tôi đồng chí trạm trưởng nói: Ôi dào chuyện gạo nước ta bàn sau, anh hãy uống nước đi, đã cơm cháo gì chưa? Anh vừa dứt lời thì tôi bị ngất. Đồng chí trạm trưởng và mấy chiến sĩ vội bế tôi vào trong lán và gọi quân y cấp cứu.


Thuốc thang cho tôi tạm ổn, đồng chí trạm trưởng quay ra hỏi mấy chiến sĩ: "Có phải thủ trưởng của các cậu say sắn không?". Một chiến sĩ đưa tay gạt nước mắt lăn trên má rồi nói: "Thưa chú! Đơn vị cháu đã mấy ngày nay chỉ được đồng bào trong bản giúp mấy gùi dưa, thủ trưởng cháu sốt không ăn, đã được miếng gì vào bụng đâu mà say hả chú", "Ừ phải, nếu say sắn thì đã nôn" - Đồng chí trạm trưởng nói.


Nghe vậy, có lẽ đồng chí đó xúc động, vội bảo đồng chí quản lý cân cho đơn vị tôi vay 50kg gạo, giao cho các chiến sĩ gùi về và nhắc: "Các đồng chí nói đơn vị cứ yên tâm, khi nào thủ trưởng Phong tỉnh và đỡ, tôi cho người đưa về tận nơi". Rồi đồng chí đó sờ trán và ghé vào tai tôi nói: "Anh đã đỡ chưa? Tôi cho anh vay 50kg gạo và các đồng chí đem về rồi, anh yên tâm cô" dậy ăn cháo, khi nào đỡ tôi cho người đưa anh về đơn vị".


Giữa lúc tất cả các cán bộ, chiến sĩ nóng lòng về sức khỏe của tôi, đang chuẩn bị người đi đón thì tôi đã được các chiến sĩ của trạm thông tin đưa về tới đơn vị. Anh em mừng rỡ đón tôi trong vòng tay và đưa tôi vào trong nhà rồi nói: "Gạo thủ trưởng vay được, đơn vị đã chia nhau nấu cháo, cháo đã chín nhưng đang còn chờ thủ trưởng về!".


Tiêu đề: Bản hùng ca xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 05 Tháng Giêng, 2022, 08:39:13 am
2. Gạo là gia vị

Việc lo liệu bảo đảm hậu cần cho bộ đội ở chiến trường lúc này cũng khó khăn gian khổ và quyết liệt chẳng kém gì chiến đấu. Đêm đêm từng đoàn cán bộ theo nhiều hướng tỏa xuống đồng bằng Trị Thiên và Quảng Nam - Đà Nẵng để khai thác lương thực, thực phẩm. Nhớ hồi sang Quảng Nam - Đà Nẵng để vay gạo của Quân khu 5, đi tới điểm lấy gạo đâu có dễ, phải leo đèo Hải Vân, vượt sông Thủy Tú, khổ nhất là khi bơi qua sông. Chiến sĩ ta phải cởi quần áo, cuốn lại cùng với cái gùi lấy gạo, bọc vào tấm ni lông làm phao bơi để vượt sông. Tới điểm lấy gạo thì gạo không để ở kho mà là để ở hầm ngầm bí mật từ trước "Tết Mậu Thân", có hầm gạo địch đã xây cả đồn bốt lên trên. Muốn lấy được gạo thì bộ đội phải trải ni lông ra để đựng đất khi bới đất mở hầm, lấy gạo xong lại dùng đất đó lấp lại và ngụy trang, không được để có dấu vết gì mới lạ.


Có đêm bộ đội về lấy gạo, gặp địch phục kích, chờ mãi đến gần sáng không lấy được gạo đành trở về tay không trong lúc bụng đói, cật rét. Có hướng lấy được gạo trở về tới giáp ranh (nơi tiếp giáp giữa rừng núi với đồng bằng), gặp địch phục kích, cuộc chiến đấu tao ngộ xảy ra, lại cảnh kẻ mất, người còn. Người còn đi tìm người mất, rồi võng cáng thi thể đồng đội trở về trong tay không một hạt gạo. Bộ đội ta đã nhiều ngày rồi chưa một hạt cơm dính miệng, sống chủ yếu bằng nước suối rau rừng. Anh Chữ trung đoàn trưởng xót xa thốt lên: "Gian khổ đến thế là cùng, đổi bát máu lấy bát cơm không xong".


Lương thực cho bộ đội lúc này chủ yếu không phải là gạo, mà là các loại rau rừng, thậm chí cả thân cây, lá cây đều được bộ đội ta đem nghiên cứu, thử nghiệm nếu không làm chết người đều trở thành lương thực, thực phẩm nuôi sống bộ đội. Có những cây cỏ không ai ngờ ăn được mà lại trở thành thức ăn quý hiếm. Ví như: loại cây phát triển thành cụm, lá sống bám vào các cây to trong rừng, mà bộ đội thường lấy để ngụy trang xe. Vậy mà anh em lấy những lá non thái nhỏ luộc qua đi, rồi nấu canh hoặc xào mỡ tựa như ăn rau bắp cải. Hay có loại cây thân rất mềm, chặt xuống, gọt vỏ ngoài, ruột thái nhỏ luộc chín, đổ nước đi đem nấu với cá hay xào với mỡ ăn tựa như su hào, đồng bào ở đây vẫn gọi là cây "dương xỉ".


Gạo lúc này có được không phải là dùng để nấu cơm, mà chủ yếu là dùng để nấu cháo cho người ốm. Một vấn đề như đã thành mệnh lệnh từ trái tim thành ý thức tự giác của bộ đội là: Dù hoàn cảnh thiếu đói như thế nào đi nữa, thì trong ba lô mỗi tiểu đội phải luôn có một lon gạo (ống sữa bò) dự trữ để nấu cháo khi có người đau yếu:

Như đã nói lương thực nuôi sông bộ đội lúc này là rau và củ rừng. Muốn ăn được nhiều, được no, được lâu, không chán phải chế biến. Muốn chế biến cần có gia vị, gia vị để chế biến rau của bộ đội lúc này không phải là hạt tiêu, hành tỏi mà là gạo.

Rau tàu bay luộc chín tới hoặc làm dưa, thái nhỏ vắt kiệt nước, gạo rang tán thành thính, rắc vào thêm muối và bột ngọt trộn đều lên ăn thơm, ngon miệng. Củ môn thục cạo vỏ, rửa sạch, giã nhỏ trộn với bột gạo, viên thành viên đem trùng nước sôi hoặc có mỡ rán lên như rán chả cá, lạ miệng cũng giúp bộ đội ăn được nhiều, và còn biết bao sáng kiến chế biến thức ăn bằng rau rẫy, củ rừng của bộ đội ta, không thể nào kể hết.


3. Tại sao ông khóc

Hồi tưởng lại những kỷ niệm sâu sắc ở chiến trường thời đánh Mỹ, tôi lấy giấy bút ghi lại một đoạn hồi ký về cái đói ở chiến trường Trị Thiên những năm sau Tết Mậu Thân.

Viết đên một đoạn tôi xúc động quá, hai hàng lệ cứ trào ra. Bỗng bà lão từ nhà dưới đi lên, thấy tôi đang lau nước mắt, bà lão phát hoảng vội hỏi: "Tại sao ông khóc? Hay có điểu gì mẹ con tôi không phải với ông?". "Không! Không phải mẹ con bà có điều gì không phải với tôi đâu, mà nghĩ lại tình cảm đồng đội trước cảnh đói cơm nhạt muối ở chiến trường thời đánh Mỹ tôi xúc động mà khóc đó thôi" - Tôi đáp lại. "Sự thể thế nào mà ông phải khóc?" - Bà lão hỏi. "Đầu đuôi câu chuyện là thế này, bà ngồi xuống đây tôi kể bà nghe":


Châm ngôn có câu: "Trâu đói sinh ghẻ, trẻ đói sinh sài". Nạn đói hoành hành bộ đội ở chiến trường Trị Thiên, không phải một ngày, một tháng mà là hàng năm. Không chỉ đói gạo, đói muối mà cả thuốc phòng và chữa bệnh nên bệnh tật phát triển rất nhanh, lúc đầu chỉ dăm ba người, chẳng bao lâu đã lan ra nhiều người. Có đơn vị 100% quân số sốt rét, thậm chí sốt nặng đến mức bản thân đơn vị không còn người phục vụ nhau. Cấp trên phải điều người từ đơn vị khác đến để cơm nước, thuốc thang, chăm sóc anh em ốm.


Căn bệnh làm suy giảm sức khỏe bộ đội nhanh nhất là bệnh sốt rét, đặc biệt nguy hiểm là sốt rét ác tính. Với số chiến sĩ trẻ chưa qua thử thách, rèn luyện thường bị ác tính. Nếu không phát hiện và chữa kịp thời thì rất dễ tử vong. Có đồng chí vừa mới hành quân vào trạm khách (nơi đón quân bổ sung từ miền Bắc vào) buổi chiều - tối lên cơn sốt, không ngờ cơn sốt ác tính ập tới. Sáng báo thức không thấy đồng chí đó dậy, anh em lên gọi đã thấy lạnh cứng trên võng. Sốt rét ác tính thời kỳ này khác nào kẻ thù của bộ đội ta ở chiến trường. Nó đã cướp đi không ít sinh mạng cán bộ, chiến sĩ hồi đó.


Một hôm tôi đến thăm đài thông tin 15W, nhìn anh em đồng chí nào cũng gầy yếu, xanh xao. Có đồng chí vừa dứt cơn sốt đã phải ngồi quay máy phát điện cho đài làm việc. Thấy tôi đến thăm - người cũng gầy yếu chẳng kém gì anh em, đoán chắc tôi cũng chưa ăn uống gì, đồng chí trưởng đài bảo một chiến sĩ đi nấu cơm mời thủ trưởng cùng ăn. Thế là lon gạo dành cho người ốm đã được đem sử dụng.


Ngồi trò chuyện với anh em chưa bao lâu, đã thấy hai chiến sĩ đem một rổ rau tàu bay luộc và một ăng gô cháo ra. Đồng chí đài trưởng xách ăng gô cháo đặt trước mặt tôi, gọi anh em ra ngồi vây quanh rổ rau rồi cất tiếng: "Mời thủ trưởng và các đồng chí xơi "cơm"!". Mời cho sang vậy chứ cơm đâu mà ăn!.


Xúc cảm trước tình cảm đồng đội và thương anh em, tôi không thể nào cầm được lòng mình, hai hàng nước mắt cứ giàn giụa, phải một lúc sau mới trấn tĩnh được và nói với anh em: "Các đồng chí ngồi ăn rau, còn mời một mình tôi ăn cháo, tôi nuốt sao được". Dứt tiếng nói tôi xách ăng gô cháo đổ vào rổ rau trộn đều lên, rồi ngồi xuống mời anh em cùng ăn.


Bưng bát rau độn cháo đưa lên miệng, nhìn anh em, hai hàng nước mắt mà tôi vừa nén lại được thì bây giờ lại cứ trào ra, rơi lã chã xuống hòa vào bát rau độn cháo. Dù cho tôi không muốn để anh em nhìn thấy mà cũng không tài nào giấu được. Mắt tôi nhòa đi chẳng nhìn nổi anh em, nhưng hầu như tất cả anh em đều khóc. Tuy cháo rau thiếu muối mà tất cả anh em chúng tôi vẫn thấy như có vị mặn.


Rau tàu bay độn cháo, lại thiếu muối thì người khỏe cũng khó ăn, nói gì đến người ốm. Anh em động viên nhau ăn "câu dầm", khi nào không muốn ăn thì đi làm việc, làm việc lúc nào thấy đói thèm ăn lại đến ăn. Phải ăn để sống, để có sức mà tiếp tục cuộc chiến đấu.


Nghe đến đây bà lão cũng cầm vạt áo lau nước mắt và nói: "Những chuyện như thế nếu ông không kể ra thì tôi đâu được biết. Hẳn số anh em đó có người không về? May mà ông còn sống trở về với vợ con, được hưởng chút ít đãi ngộ, còn biết bao anh em nằm lại chiến trường thì ta biết lấy gì đền đáp!".


Tiêu đề: Bản hùng ca xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 05 Tháng Giêng, 2022, 08:40:03 am
4. Trằn trọc không ngủ

Cuối năm 1969 tôi được điều lên công tác ở Bộ Tư lệnh mặt trận, tình cảnh thiếu đói thế này ở cơ quan cũng chẳng khác mấy ở đơn vị. Người ở nhà thì được cấp một chút ít lương thực, còn người đi chỉ đạo chiến đấu và công tác thì dựa vào dân, vào đơn vị mà lo liệu cuộc sống.


Về mùa đông trên rừng núi Trị Thiên mưa phùn và rét chẳng kém gì ngoài Bắc. Rừng càng sâu, núi càng cao, rét càng đậm, mây mù bao phủ suốt ngày, từ nhà nọ trông sang nhà kia không rõ.

Độ này tôi và mấy anh em được phân công ở nhà trực cơ quan. Phấn đấu để hoàn thành nhiệm vụ không khó bằng đấu tranh để khắc phục cái đói và rét. Ngày bận với công việc còn đỡ, chứ đêm nằm trằn trọc không sao ngủ được.


Bộ đội ở chiến trường thường thay võng bạt bằng võng ni lông. Tuy nhẹ, nhưng nằm võng ni lông vừa lạnh, lại mỗi lần trở mình cọ mình vào võng phát ra tiếng sột soạt nhói tai. Thấy tôi cựa mình đồng chí Trung ngẩng đầu hỏi: "Chưa ngủ hả anh Phong?". "Ôi, đói và rét không ngủ được anh ạ", "Ừ mình cũng vậy" - Tôi đáp lại. Thấy hai chúng tôi vẫn thức đồng chí Dư cất tiếng: "Lòng vả chẳng khác nào lòng sung răng cũng rứa!". Thế là mấy anh em lại cùng dậy ngồi quanh đống lửa trò chuyện cho đến sáng.


Tờ mờ sáng, đồng chí Trung đã vào trong bản, một lúc sau trở về, mang theo một bọc không rõ bọc gì, mở ra mới biết mớ sắn đồng bào để gác bếp từ lâu không ăn lấy xuống cho. Thế là anh em tôi người đem sắn đi kỳ cọ cho hết màu đen và mùi khói bếp. Người đi chặt gỗ đẽo chày, người tìm mũ sắt làm cối để giã, giã nhỏ rồi trộn lẫn với muối, viên thành viên cho vào nồi, luộc chín, vớt ra chia đều cho mỗi anh em được năm viên. Khi ăn cho vào mồm vẫn thấy ngăm ngăm mùi bồ hóng. Song vì đói ăn vẫn cứ thấy ngon, chẳng ai bảo ai mà tất cả chúng tôi đều thấy phải ăn chầm chậm cho lâu hết, nhưng rồi vẫn cứ hết, hết rồi cứ tắc lẻm, thấy thèm, ước gì có mấy cái nữa.


Một hôm đang giờ làm việc, được tin trên thông báo: Vị trí đóng quân bị lộ, Tư lệnh mặt trận chỉ thị toàn cơ quan khẩn trương di chuyển đến vị trí dự bị. Chân ướt, chân ráo vừa tới nơi, đặt ba lô xuống đã kẻ cuốc, người xẻng đi đào công sự. Đào được một lúc mồ hôi vã ra, bụng đói chân tay rã rời, đang nghỉ giải lao đồng chí Dư nói: "Các cậu ơi! Mình đi công tác dưới đơn vị về qua trạm vận tải anh em cho mấy lon gạo, các cậu đào tiếp tớ đi nấu bát cơm ăn". Nghe nói có gạo nấu ăn, chúng tôi như khỏe người ra, ai nấy vừa đào, vừa dõi theo đồng chí Dư nấu cơm. Chẳng hiểu nấu nướng thế nào mà cứ thấy Dư chổng mông, chổng tỹ, phùng má, trợn mắt thổi phì phì, nước mắt, nước mũi chảy giàn giụa, khóc không ra khóc, cười chẳng ra cười, mồm lúng búng chửi: "Tổ cha nó, củi đuốc gì mà thổi hết cả hơi", ngẩng lên trông mặt mũi lọ lem như mặt hề, cả bọn tôi bấm bụng cười. Đồng chí Tùng vừa cười, vừa nói: "Thế kia mà có máy ảnh chụp một pô gửi về cho mẹ đĩ làm kỷ niệm thì hay biết mấy".


Thấy vậy tôi chạy lại xem sao. Cầm mấy thanh củi mà đồng chí Dư đang dóm bếp, tôi thốt lên: "Ôi bố ơi? Ai bảo ông đi kiếm toàn củi mục thế này không cháy là phải". Thấy tôi nói vậy, đồng chí Tiến thêm vào: "Quen ở nhà có vợ con hầu, sểnh nhà ra thất nghiệp, đã biết thân chưa! Nay mai thắng Mỹ còn sống trở về, nhớ đừng hoạnh hoẹ vợ con nữa nhé!".


Thế là tất cả chúng tôi xúm vào chữa chạy, mãi mà cơm vẫn không chín. Nóng ruột bắc ra ăn sơi vẻn vẹn mỗi người một bát, còn lại là cháy, cháy cũng không bỏ, lấy nước đổ vào bóc ra bằng hết, đem chia đều mỗi anh em một miếng. Tuy cơm sống cháy đen, nhưng ăn vẫn thèm ước gì còn cháy.


Tiêu đề: Bản hùng ca xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 05 Tháng Giêng, 2022, 08:40:57 am
5. Đón Giao thừa trên Điểm cao 303

Phối hợp với cuộc đấu tranh chính trị, ngoại giao ở Hội nghị Pa-ri, địch muốn tranh thủ lấn thêm đất, chiếm thêm dân; ngược lại ta phải đánh để thu hẹp vùng kiểm soát của địch, mở rộng vùng giải phóng của ta trước khi Hiệp định Pa-ri được ký kết. Cuộc chiến đấu giữa địch và ta giành giật ngày thêm quyết liệt.


Cuối năm 1972, địch liên tiếp đưa quân nhảy lên chiếm các cao điểm, vùng giáp ranh huyện Phù Lộc tỉnh Trị Thiên trong đó có Điểm cao 303, một điểm cao hết sức quan trọng, có khả năng ngăn chặn bộ đội ta xuống đồng bằng Trị Thiên tiến quân vào hướng Quảng Nam - Đà Nẵng, khống chế các hoạt động của ta ở khi giáp ranh, phòng ta cắt đèo Hải Vân cô lập Trị Thiên - Huế. Chúng đưa một đại đội bộ binh ngụy lên chiếm giữ. Được tin này, trên ra lệnh cho Trung đoàn Phú Xuân (Trung đoàn 6, Quân khu Trị Thiên) phải lập tức nhổ cái gai đó đi. Nhận lệnh lãnh đạo, chỉ huy trung đoàn hội ý chớp nhoáng, hạ quyết tâm tiêu diệt địch ngay đêm 30 Tết năm Nhâm Tý.


Trung đoàn trưởng Trần Chữ một mặt giao Tham mưu trưởng Trương Đình Thanh tổ chức ngay một bộ phận cán bộ tham mưu, cùng với chỉ huy Tiểu đoàn 1, đi nắm địch, mặt khác ra lệnh cho Tiểu đoàn 1, tiểu đoàn chủ công của trung đoàn có nhiệm vụ tiêu diệt địch trên điểm cao này, khẩn trương chờ lệnh xuất phát. Ra lệnh cho Tiểu đoàn 2 làm lực lượng dự bị, sẵn sàng chờ lệnh. Tiếp đó tổ chức lực lượng, đưa sở chỉ huy và các cánh quân bí mật hành quân áp sát Điểm cao 303.


Sau 5 tiếng đồng hồ nắm địch và phương án tác chiến, đồng chí Nguyễn Bình tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 báo cáo. Được trung đoàn trưởng duyệt, đơn vị bắt đầu triển khai chiến đấu.

Điểm cao 303 là một cánh rừng non, cây cối rậm rạp, xen vào rất nhiều cây gai xấu hổ. Do đó việc tiềm nhập của bộ đội ta có nhiều khó khăn. Tiếng pháo đón giao thừa dưới đồng bằng đã điểm, xem đồng hồ đã sắp tới giờ nổ súng, mà vẫn còn một mũi chưa vào tới vị trí xuất phát tiến công.


Trung đoàn trưởng tay cầm ống nghe, miệng quay sang hỏi tôi: "Có gì ăn không anh?". Tôi nói: "Anh để tôi bảo liên lạc đi hỏi anh em hậu cần". Một lát đồng chí đó trở về báo cáo: "Thưa thủ trưởng chỉ có gạo nấu cháo ăn với muối thôi ạ". Nghe vậy, anh nói: "Quá giờ rồi mà bộ đội vẫn chưa nổ súng, thức gần trắng đêm, miệng đắng ngắt mà cháo hoa với muối thì ăn sao nổi".


Vừa lúc đó chuông điện thoại réo lên, từ trận địa đồng chí tiểu đoàn trưởng báo cáo về: "bắt đầu nổ súng", liền theo mấy phát ĐKZ nổ chói tai cùng với tiếng các loại súng của bộ đội ta, xé tan bầu không khí im ắng nặng nề, chỉ sau 15 phút chính trị viên tiểu đoàn Lê Văn Hân báo cáo về: "Bộ đội ta hoàn toàn làm chủ trận địa!". Vừa dứt lời, trung đoàn trưởng nói với đồng chí Lê Văn Hân mà như với cả anh em ở sở chỉ huy: "Hoan hô Tiểu đoàn 1, các đồng chí ơi hết đói rồi!" và chỉ thị cho Tiểu đoàn 1 khẩn trương truy quét địch, thu dọn chiến trường báo cáo kết quả trận đánh.


Sau ít phút đồng chí Lê Văn Hân cất tiếng, vẻ nghẹn ngào và chậm rãi báo cáo: "Về phía địch đã đếm được 37 xác chết, số còn lại lợi dụng địa hình rừng núi, lại ở gần căn cứ C nên chúng tháo chạy cả về đồng bằng. Vũ khí, ta mới thu được 27 khẩu súng các loại, về phía ta duy nhất có đồng chí B tiểu đoàn trưởng, bị mảnh cối của địch sát hại, đã cho anh em đưa về phía sau, chi tiết mọi mặt sẽ kiểm tra báo cáo chính xác với trung đoàn sau".


Vì mất liên lạc với bọn địch bị đánh trên Điểm cao 303, bọn chỉ huy địch ở căn cứ lúc này không biết đâu là quân ta, đâu là quân chúng nên không dám gọi pháo ở hạm đội và căn cứ chi viện. Đây là thời cơ thuận lợi để Tiểu đoàn 1 và sở chỉ huy trung đoàn nhanh chóng thu dọn chiến trường, rút về hậu cứ an toàn.


Vào thời điểm này nhân dân ngoài hậu phương lớn miền Bắc, cũng như đồng bào dưới đồng bằng miền Nam đang rền vang tiếng pháo đón giao thừa với hương vị: giò mỡ bánh chưng xanh, dưa hành câu đối đỏ, phong tục cổ truyền của dân tộc Việt Nam, còn cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn Phú Xuân nổ pháo nã vào đầu giặc, đón giao thừa trên Điểm cao 303. Phấn khởi với chiến thắng giòn giã song ai nấy đều ngậm ngùi, tiếc thương vô hạn đồng chí tiểu đoàn trưởng, người chỉ huy dũng cảm, người đồng chí thân yêu!


Về tới hậu cứ trung đoàn, tôi nhận được thư của đồng chí Phạm Tiến Tăng kèm theo gói kẹo, gói chè, bao thuốc. Phân vân chưa hiểu quan hệ thế nào mà đồng chí Phạm Tiến Tăng lại gửi thư và quà cho tôi. Vội bóc thư ra xem, trong thư Phạm Tiến Tăng nói: "Nhận được thư cháu chắc chú ngạc nhiên. Chú ơi! Chú có nhớ đến hôm cháu hành quân vào chiến trường, ngồi nghỉ ở dốc Cao Bồi, chú đi công tác tới đó dừng chân xin thuốc lào. Qua câu chuyện quê hương mà chú cháu mình nhận ra nhau, người cùng quê mà chú còn là đồng chí thân yêu, người bạn chiến đấu của chú Phạm Niên cháu! Thế rồi chú cháu chia tay nhau mỗi người một ngả, hay đâu cả đơn vị cháu toàn con em Hà Bắc lại được bổ sung về đơn vị chú. Chắc chắn trận đánh Điểm cao 303 đêm qua không chỉ có chú mà còn nhiều con em Hà Bắc đã góp phần vào trận thắng giòn giã đó!".


Tôi vô cùng xúc động trước tình cảm đồng hương của Tăng, khác nào như được gặp người thân!. Vậy là chính Tăng đã giúp chúng tôi có quà để đón mừng cán bộ, chiến sĩ lên chúc tết trung đoàn. Cán bộ chiến sĩ thì đông mà thuốc kẹo thì có hạn, nên anh Trần Chữ, trung đoàn trường đặt vấn đề: "Ai hút thuốc thì thôi ăn kẹo, ai ăn kẹo thì thôi hút thuốc!". Tiếp lời trung đoàn trưởng tôi nêu ý kiến: "Nói thế cho vui chứ con nhà quân sự thì cứ phải cụ thể". Tôi bảo đồng chí Sửu liên lạc của trung đoàn đếm xem gói kẹo có bao nhiêu cái. Kết quả là thuốc có 20 điếu mà kẹo có 40 cái, vậy thì kẹo mỗi người một cái, thuốc mỗi người nửa điếu. Tôi vừa dứt lời tất cả vỗ tay trong không khí chan hòa tình cảm cán binh.


Nhớ cái tết năm xưa ở chiến trường, cách đây đã hơn hai chục năm, mà những dấu ấn tình thương đồng đội cùng chung một chiến hào sướng khổ vui buồn, sống chết có nhau. Tình cảm quê hương không bao giờ phai mờ trong tâm trí tôi.


Tiêu đề: Bản hùng ca xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 05 Tháng Giêng, 2022, 08:42:01 am
6. Mong ước được bữa cơm no

Rời tay súng, tay bút lại tay dao, tay cuốc. Đêm đánh giặc, ngày lại phát rẫy làm nương. Dần dần những bãi trống, đồi núi trọc đã phủ lên màu xanh của lúa ngô, khoai, sắn. Nhiều nơi không còn là rẫy, là nương lẻ tẻ, mà đã trở thành rừng sắn, rừng ngô trông vút tầm mắt. Đồng bào các dân tộc khen "Bộ đội Cụ Hồ" làm giỏi hung.


Lẽ thường thì chẳng ai thích lao động nặng nhọc, nhưng ở cơ quan tôi lúc này lại có chuyện: Được phân công đi chiến đấu hay sản xuất thì ai cũng phấn khởi, còn trực ở nhà thì chẳng ai muốn, nhiều khi rất khó phân xử phải quyết định theo cách: đồng lần "ai cũng được chiến đấu, ai cũng có nghĩa vụ sản xuất tăng gia và ai cũng phải ở nhà trực". Đi chiến đấu, lao động tuy gian khổ, vất vả nhưng chẳng cơm thì cháo còn được no bụng, ngoài ra còn kiếm được miếng rau quả rừng. Còn ở nhà tuy lao động ít nặng nhọc nhưng ăn thì cơm, cháo, sắn luộc, ngô bung chỉ có hạn, đói cũng đành chịu chứ chẳng kiếm thêm được miếng gì, mà lại phải tư duy căng thẳng đầu óc.


Đã vào chiến trường, việc chiến đấu hy sinh là lẽ thường. Bom đạn nó không chừa bất kỳ ai ở đâu. Có khi đơn vị chiến đấu ở phía trước chẳng hề chi, mà cơ quan, đơn vị ở phía sau lại bị pháo bầy, bom tọa độ B-52 rải thảm.


Tình thương yêu đồng đội, tinh thần đồng cam cộng khổ, chia ngọt, sẻ bùi giữa các bộ phận trong cơ quan đã thành ý thức tự nguyện của mọi người. Anh em chúng tôi quy ước với nhau: Các đồng chí đi chiến đấu công tác đói, no thế nào phải tùy cơ mà ứng phó dựa vào đơn vị và nhân dân mà sống, nhưng phải chắt chiu dành dụm để khi về có một lon gạo (Ống sữa bò) góp cho cơ quan. Các đồng chí đi sản xuất tăng gia phải dựa vào rừng, vào rẫy mà khai thác, dự trữ thực phẩm. Đợi cuối quý, cuối năm hay kết thúc chiến dịch, anh em về sơ, tổng kết, sum họp đông đủ, đem số gạo và thực phẩm đó ra tổ chức liên hoan một bữa. Bữa liên hoan này chẳng mong gì cao lương mỹ vị mà chỉ mong sao được bữa cơm no.


7. Nhớ một lần trở thành khách quý

Chuẩn bị cho đợt hoạt động mới của bộ đội ta. Tôi được phân công xuống tỉnh đội Thừa Thiên công tác. Đi cùng tôi có một đồng chí vệ binh. Gia tài của chúng tôi ngoài mấy thứ quân tư trang cần thiết và khẩu súng ra trong tay không có lấy một đồng tiền hạt gạo. Trên đường đi suy nghĩ về biện pháp khắc phục khó khăn hoàn thành nhiệm vụ, sự nguy hiểm đạn bom thì ít, mà suy nghĩ về tối nay ăn đâu, nghỉ đâu thì nhiều.


Leo đến lưng chừng dốc, mồ hôi ướt đẫm áo, người thấm mệt, chúng tôi ngồi nghỉ lại lấy sức. Mặt nhìn về phía bắc, bỗng tình cảm gia đình, quê hương thức dậy trong tôi. Lòng thương cha mẹ, nhớ vợ con sao mà da diết. Tôi lấy nhật ký ra ghi:

"Trời xanh xanh thẳm xa vời
Núi cao che khuất chân trời xa xăm
Mây bay về giúp ta chăng
Cho ta nhắn gửi tấm lòng cùng mây".


Thấy tôi ghi ghi chép chép, đồng chí vệ binh ghé mắt nhìn bỗng thốt lên: "Ôi, đói và mệt thế mà thủ trưởng còn làm được thơ à?". "Chính cái đói và mệt đã giúp cho mình cảm xúc thành thơ" - Tôi đáp lại. "Đúng vậy bố ạ! Nói thế cho vui chứ tâm trạng của con cũng khác gì bố đâu" - Đồng chí vệ binh còn ít tuổi hơn con trai lớn tôi nên đồng chí thường xưng hô với tôi là bố với con.


Đỡ mệt, bố con tôi lại tiếp tục đi, khoảng 14 giờ chiều đến một bản ở đỉnh dốc, thấy chúng tôi đồng bào chỉ vào chuối và đu đủ, hỏi bộ đội có đổi không. Ngoái nhìn đồng chí vệ binh, tôi hỏi: "Ta có gì đổi được nhỉ?". Đồng chí vệ binh bảo: "Con có chiếc khăn bông hoa đem từ Bắc vào, thử hỏi xem họ có đổi không?". Nhìn thấy chiếc khăn bông hoa họ đồng ý ngay và đưa cho cha con tôi một nải chuối và hai quả đu đủ chín mọng. Dừng chân ăn lót dạ xong, hai cha con tôi hành quân tiếp khoảng 17 giờ chiều, đến một trạm gác kho của đơn vị vận tải mặt trận, tôi rất mừng và bụng bảo dạ nghĩ nhờ đây và dựa vào đây để giải quyết cuộc sống cho cha con tôi tối nay.


Dừng chân nghỉ trên một cây gỗ đổ nằm trước trạm, người qua lại dừng chân vẫn thường ngồi làm cho thân cây gỗ nhẵn bóng chẳng khác nào quang dầu. Ráo mồ hôi, tôi xuống suối vốc mấy vốc nước táp lên mặt, uống mấy ngụm vừa đỡ khát, vừa mát ruột, rồi quay lên trở vào trạm. Tôi cất tiếng chào mấy đồng chí mà tôi đoán là cán bộ, chiến sĩ, phụ trách trạm, các đồng chí đáp lễ tôi và hỏi: "Thủ trưởng đi đâu?". Thấy tôi đứng tuổi lại đeo K59, có đài bán dẫn, đoán tôi là cán bộ nên gọi tôi là thủ trưởng.


Tôi đưa giấy giới thiệu và trả lời: "Tôi xuống tỉnh đội Thừa Thiên công tác". "Thế tối nay thủ trưởng ngủ ở đâu?". "Trời sắp tối, vả lại cha con tôi cũng đã mệt, định nhờ các đồng chí cho cha con tôi nghỉ lại đây tối nay". Một đồng chí trả lời: "Đây là kho, cấp trên quy định không ai vào, thủ trưởng thông cảm!". Biết tiếp tục câu chuyện chưa thuận tôi quay sang hỏi chuyện khác: "Các đồng chí quê ở đâu, có hay nhận được tin tức gì của gia đình không?". Một đồng chí nhanh nhảu đáp: "Anh em chúng tôi người tứ xứ Hà Nội, Hải Phòng, Thái Bình, Thanh Hóa, Hà Bắc... thôi thì đủ các tỉnh miền Bắc, nhưng biệt tăm từ ngày vào chiến trường tới nay, chẳng nhận được thư từ, tin tức gì! Thế thủ trưởng ở đâu, có nhận được tin gia đình và hay biết gì về tình hình ngoài Bắc không?". "Tôi quê Hà Bắc, tuy chưa nhận được thư gia đình nhưng thỉnh thoảng cũng được các đồng chí cán bộ ở Hà Nội vào nói chuyện nên cũng biết được nhiều tin tức ngoài Bắc và tình hình thế giới, trong nước. Thế các đồng chí có đài để theo dõi tin tức và có hay được nghe tình hình thời sự không?". "Làm gì được hưởng những của hiếm đó hả thủ trưởng, được phát cái đài oriông tôn, ông tiếc gì đó, ngốn pin như quỷ sứ, mấy tháng được phát một cặp pin, nghe vài bữa hết lại cất xó, còn các nhà tuyên huấn thì có mấy khi các ông ấy đến với anh em chúng tôi ở chốn rừng thẳm hoang sâu này?". "Thế các đồng chí có muốn nghe tình hình thời sự không?". "Ồ thế thì thích quá, thủ trưởng nói cho mấy anh em chúng tôi nghe nhé".


Biết tình thế chuyển biến thuận lợi, tôi tấn công ngay: "Tôi sẵn sàng, nhưng các đồng chí không cho tôi nghỉ lại đây thì nói sao được?". Một chiến sĩ đứng cạnh đó trông mặt mũi khôi ngô nhanh nhảu nói: "Thôi trạm trưởng linh động, coi như thủ trưởng trên mặt trận đến kho ta công tác". Trạm trưởng chưa kịp trả lời thì đồng chí đó đã chân bước, miệng nói: "Thủ trưởng và đồng chí đưa đồ đạc vào, tối nay nghỉ đây với anh em chúng tôi", và đưa tay xách ba lô, khăn gói giúp tôi vào trạm. Vừa đi tôi vừa nói: "Cậu cứ phong cấp cho tớ thế chứ tớ cũng lính tráng như các cậu, chứ thủ trưởng với thủ phó gì, có khác các cậu ở chỗ là lính cơ quan".


Đang đi bỗng chiến sĩ này cất tiếng gọi: "Biên ơi! Mày có đồng hương đây này"?. "Ôi dào! Hương với khói gì, có thật hay lại gợi ý chuyện đồng hương để vào xin gạo" - Đồng chí đó đáp lại một cách nghi ngờ. Mặc dầu vậy tôi vẫn gượng cười chào, bắt tay đồng chí ấy và nói: "Đồng chí ơi! Cha con tôi nếu có xin gạo thì cũng để sống mà đánh Mỹ, chứ có xin về cho vợ con đâu phải không đồng chí?". Chắc nhận ra lời nói không phải của mình, nên đồng chí đó cười xòa và nói: "Cháu đùa vậy chứ đâu dám nói sai về thủ trưởng, mong thủ trưởng thông cảm", rồi cùng đưa cha con tôi vào trạm.


Thế là cha con tôi từ kẻ ăn xin lại trở thành khách quý. Không chỉ được tiếp đãi ăn ở đường hoàng mà sáng mai cơm nước xong, khi lên đường còn được tiễn đưa với tình cảm quyến luyến, kèm theo mỗi cha con một nắm cơm, dăm lon gạo và mời khi về nhớ ghé lại trạm, nói chuyện đồng bằng cho anh em chúng tôi nghe.


Hồi tưởng lại cuộc sông, chiến đấu của người chiến sĩ ở chiến trường đánh Mỹ cách đây đã gần ba mươi năm mà tôi thấy nó như là xảy ra vừa mới đây và sẽ mãi mãi không bao giờ phai mờ trong tôi cái tình cảm chân chất, đầy vẻ lính ấy!


Tiêu đề: Bản hùng ca xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 05 Tháng Giêng, 2022, 08:43:17 am
8. Rừng che bộ đội

Trên bầu trời mặt trận Trị Thiên hồi này, chẳng mấy lúc ngớt tiếng máy bay. Đêm C130, ngày thì OV10 và các loại máy bay trinh sát khác cứ vè vè bay lượn dòm ngó từ sáng đến tối. Phát hiện được một điểm nào trên mặt đất có dấu vết khác thường là chúng bám riết theo dõi. Nếu chúng cho đó là nơi căn cứ chỉ huy thì lập tức chúng cho máy bay đem bom đạn đến đánh phá, thậm chí chúng đánh phá tới mức độ hủy diệt. Một hôm tôi trên đường đi công tác và cứ thấy hết tốp máy bay phản lực này đến tốp máy bay phản lực khác hối hả bay về phía căn cứ của Bộ Tư lệnh mặt trận. Trong tôi đã linh tính có điều gì không lành, nên càng rảo bước mau mau về tới cơ quan.


Về đến một bản đồng bào cách cơ quan mặt trận trên dưới một giờ đồng hồ, hôm đi vẫn thấy nguyên vẹn thì nay về đã thấy máy bay bắn cháy trơ trụi. Đi một đoạn nữa thấy có tiếng động dưới suối, tôi bảo đồng chí vệ binh phải cẩn thận đề phòng biệt kích. Bỗng thấy một đồng chí bộ đội mặt lọ lem từ suối đi lên vừa đi vừa nói: "Kiến đấy, kích với kiếc gì!". Và theo sau là mấy đồng chí bộ đội cả nam lẫn nữ gồng gánh đủ thứ xoong, nồi, thau, chậu, hóa ra là bộ phận hành chính hậu cần của cơ quan mặt trận. Tôi hỏi: "Các đồng chí đi đâu thế này?". Đồng chí Kiến trả lời: "Địa điểm dừng chân của cơ quan ta bị lộ nên đủ các loại máy bay phản lực B-52 thay nhau đem bom đạn đến đánh phá liên tục hai ngày nay mà đồng chí chưa biết sao? Nó đánh đến mức đồng chí công vụ của cơ quan xuống nhà bếp lấy cơm mà phải nằm gí ở đây rồi đi cùng với bọn tôi chứ không trở về cơ quan được. Nó đánh bạt cả ngọn đồi ở gần cơ quan, anh bảo có ghê không?! Ấy vậy mà tất cả vẫn an toàn. Nghe các đồng chí cán bộ địa phương phản ánh có thiệt hại một số gà lợn của đồng bào và mẹ con con hoẵng đang dắt nhau đi kiếm ăn, chứ có làm cóc gì được anh em ta đâu". Quả đúng câu của một nhà thơ năm đó "Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù". Gặp nhau nghỉ giải lao mười phút, nghe hết câu chuyện anh em tôi cùng nhau về vị trí dự bị của Bộ Tư lệnh mặt trận.


9. Của trời cho

Hưởng ứng chủ trương "sản xuất tự túc" một phần lương thực, thực phẩm của Bộ Tư lệnh mặt trận, từ cơ quan đến đơn vị đã dấy lên phong trào tranh thủ thời gian, xen kẽ giữa các đợt chiến đấu và công tác để phát rẫy tăng gia.


Nói đến phát rẫy làm nương số đông anh em chúng tôi đã biết làm thế nào đâu. Song "bụng đói đầu gối phải bò", phương châm sản xuất của Bộ Tư lệnh mặt trận lúc này là: "Không biết thì học, cứ làm rồi sẽ biết, cứ trồng không được củ, quả cũng được lá làm rau". Thế là anh em chúng tôi ra quân sản xuất, lân la vào các bản đồng bào để học cách phát rẫy làm nương. Nói thì dễ, làm thì khó. Cái khó của làm rẫy khác với cái khó của làm ruộng. Phát rẫy không những tốn mồ hôi công sức, mà còn bị gai cào rạch mặt, xước da thịt, muỗi vắt hút máu truyền bệnh, phồng tay. Ngày đi làm về, đêm nằm người đau ê ẩm.


Phát rẫy tốn nhiều ca lo, mau đói. Lương thực để chúng tôi ăn lúc này là nhờ vào sắn đồng bào cho. Các rẫy sắn đồng bào không ăn đã bỏ qua mấy mùa rẫy, cây cỏ mọc lên thành rừng. Phát cây đi cuốc đất lấy củ rất to nhưng luộc không chín, phải thái thành miếng mỏng cho vào ninh vẫn không nhừ, ăn cứ sậm sật nhưng đói vẫn phải ăn.


Quá trình phát rẫy cơ quan tôi gặp may, phát đến cuối rẫy thấy một cây vả rừng rất to. Quả bâu kín cả thân cây và trĩu cành. Vặt mấy quả chín to gần bằng cái bát, bổ ra trong ruột đầy mật ăn cứ ngọt lịm. Chúng tôi quyết định dừng lại không phát tiếp đám rẫy này nữa để giữ lại cây vả. Với lượng quả này, nếu ăn dè sẻn thì ít ra nó cũng góp phần chống đói cho anh em tôi gần mùa rẫy.


Đồng chí tổ trưởng tăng gia quản lý cây vả rất chặt, phân phối, sử dụng theo khẩu phần. Người khỏe ngày được hai quả, ốm yếu ngày được một. Người trực cơ quan ở nhà sẽ dành phần cho, anh em đi công tác và chiến đấu thì dựa vào đơn vị mà lo liệu.


Khẩu phần đã rõ nhưng ăn thế nào lại phải bàn. Mỗi người một ngày chỉ được có hai quả, nếu ăn mỗi bữa một quả thì chỉ được hai bữa sáng chiều. Phải bằng cách phối hợp với nhau mỗi bữa hai người ăn chung một quả thì mỗi người có hai quả mà ăn được bốn bữa. Phải ăn rải ra nhiều bữa như thế mới đỡ đói. Thật đúng câu "Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm".


Mải mê với công việc phát rẫy làm nương, thời gian trôi đi đã đến độ lúa ngô ra hoa, kết trái. Lao động sản xuất đã vất vả, gian khổ, nhưng bảo vệ thành quả sản xuất lại càng gian khổ, vất vả hơn. Ngày thì chồn, sóc. Đêm đến cứ từng đàn cầy, cáo, vượn khỉ, lợn rừng... kéo nhau ra quấy phá. Anh em tôi phải thay phiên nhau canh gác ngày đêm như canh giặc. Nếu sợ, ngại khó thì mất ăn với chúng như chơi.


Việc phá hoại thành quả sản xuất của chúng tôi đâu chỉ có thú rừng, hơn cả thú rừng là bom đạn của giặc Mỹ. Để tiện sản xuất, chúng tôi làm ở giữa rẫy một nhà thùng. Kề bên đào một hầm chữ A thông sang bên nhà thùng. Bình thường thì nằm ngoài nhà thùng, khi bị đánh phá thì từ nhà thùng sang hầm chữ A cho nhanh.


Một hôm, vào khoảng hai giờ sáng, sau ca đồng chí Sửu đi tuần trên rẫy về, chúng tôi đang ngủ say, bỗng máy bay B-52 đến thả bom. Nghe nhức óc, đinh tai, tất cả chúng tôi choàng dậy chạy vào hầm. Đang ngủ say, chưa kịp định thần, chẳng hiểu đã vào đến hầm chưa, nhưng thấy chạm vách đất là tất cả dừng lại. Hết loạt B-52 thứ ba, theo quy luật địch ngừng đánh, tất cả chúng tôi bật lửa lên thì thấy cả ba anh em mỗi người ngồi một góc nhà chứ chẳng ai vào được hầm. Chúng tôi nhìn nhau bấm bụng cười. Cây côi đổ ngổn ngang, đất đá bắn tung tóe khắp mái nhà, nhưng may mà bom không trúng nhà, nên anh em chúng tôi vẫn an toàn.


Không khí trở lại yên bình, chúng tôi chui ra khỏi nhà. Kéo hết cây đổ, giải phóng được nhà thì trời rạng sáng. Tôi và đồng chí Sửu tiếp tục quét dọn, còn đồng chí Chi chạy lên thăm rẫy. Sau mấy phút thấy đồng chí Chi chạy về, mặt nhăn nhó, dở khóc dở mếu, vừa đi, vừa nói: "Anh ơi! bom nó thả trúng rẫy, tan nát hết cả rồi". Đồng chí Sửu đưa tay gạt nước mắt và nói: "Thế thì anh em ta lấy gì mà sống hả anh?". Tôi ôn tồn động viên anh em và cũng chính là an ủi mình: "Chúng ta không chết là thắng rồi, còn người, còn của các đồng chí ạ" và không quên hỏi đồng chí Chi xem cây vả có còn không. "Vẫn còn anh ạ!" - Đồng chí Chi trả lời. "Có thế chứ, chẳng lẽ của trời cho mà lại mất được sao". Tôi xúc động ứng khẩu ngay mấy câu:

Vả ơi đã thấu lòng sung
Thương nhau nhả mật sẻ cùng đói no
Mai sau nhớ đến bây giờ
Vinh quang cập bến còn nhờ có cây.


Kết quả sản xuất của bộ đội ở chiến trường không chỉ tự túc một phần lương thực, mà còn tạo điều kiện cho chăn nuôi phát triển. Ở phía sau của cơ quan, đơn vị nào cũng có những đàn lợn, gà béo mập, tạo thêm phần thực phẩm, góp phần cải thiện bữa ăn của bộ đội.


Cùng với kết quả sản xuất, việc nhân dân ta đánh thắng chiến tranh phá hoại miền Bắc của đê quốc Mỹ đã tạo điều kiện thuận lợi cơ bản cho việc chi viện của Trung ương và nhân dân miền Bắc cho chiến trường miền Nam. cảnh đói cơm, nhạt muối đã lâu dần qua đi, ấm no khỏe mạnh đã trở lại với đời sống của bộ đội và đồng bào mỗi ngày một khác.


Cùng với các trận thắng của Mặt trận Trị Thiên - Huế, tin thắng trận trên khắp các chiến trường dội về báo hiệu một mùa đại thắng sắp đến. Thế rồi, ngày đó đã đến! Sau trận thắng mở màn Buôn Ma Thuột rồi đến Plây Ku, Kon Tum... lần lượt nổ ra.


Sau mấy ngày đồng chí trung đoàn trưởng đi họp về thông báo: Theo mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh mặt trận, trung đoàn ta khẩn trương chuẩn bị tiến quân về giải phóng thành phố và đồng bằng Trị Thiên - Huế, góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam.


Chúng tôi ai nấy phấn khởi nô nức chuẩn bị khăn gói lên đường, khí thế hừng hực. Vất vả nhất lúc này là làm sao để các đồng chí đau yếu yên tâm ở lại phía sau.

Được lệnh hành quân, chân bước đi mà lòng chúng tôi cứ bồi hồi xao xuyến, gửi lại tình thương và rẫy sắn, nương ngô cho đồng bào các dân tộc Pa Cô, Vân Kiều, cho rừng núi Trường Sơn.

L.D.P


Tiêu đề: Bản hùng ca xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Giêng, 2022, 07:22:33 am
DU KÍCH LÀNG CÁT BẮT SỐNG CHUẨN TƯỚNG TRẦN VẨN CẨM


TÔ PHƯƠNG


Giữa năm 1973, các đơn vị quân đội Mỹ và lính Nam Triều Tiên đã cuốn cờ rời khỏi căn cứ Làng Cát (xã Hòa Hiệp, huyện Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên). Nhưng trên vành đai Hòa Hiệp vẫn còn hàng trăm tên sĩ quan Mỹ trá hình mặc thường phục, đeo kính đen điều khiển quân đội ngụy tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược theo cái gậy chỉ huy của chúng. Tên trung tá Trần Bá Tòng dẫn quân đến tiếp nhận khu căn cứ Làng Cát thay chân bọn xâm lược Mỹ.


Để chứng minh quân đội Mỹ rút về, quân đội ngụy vẫn mạnh, chúng hành quân càn quét, lấn chiếm vây ráp, khủng bố, cào ủi, bắn phá, chém giết không kém quân đội Mỹ. Kế hoạch Mỹ vạch, bom đạn Mỹ đưa, quân do Mỹ nuôi, ngày ngày chúng chỉ làm một điều: giết sạch và đốt sạch. Trên dòng sông Bàn Thạch, xác bà con ta ngày đêm trôi, máu nhuộm đỏ cửa biển Đà Nông. Trên những cánh đồng trơ trọi, cháy đen, xác bà con bị chặt đầu, mổ bụng, moi gan và chôn sống. Làng Cát càng xơ xác, tiêu điều. Có Hiệp định Pa-ri mà người dân Làng Cát không hề có một ngày hòa bình. Cuộc chiến đấu trong lòng đất, trên vành đai Hòa Hiệp vẫn tiếp tục, sôi nổi và quyết liệt hơn.


Mùa xuân năm 1975.

Bốn mùa trên vành đai Hòa Hiệp là bốn mùa đánh giặc. Nhưng đánh giặc vào mùa xuân bao giờ cũng sôi nổi và thắng lợi giòn giã hơn cả.

Tại căn cứ rừng Xép, một cuộc hội nghị cán bộ chủ chốt có đông đủ các ngành, các giới được triệu tập để bàn kế hoạch củng cố các tổ chức chính quyền, tăng cường lực lượng dân quân du kích về quân số, vũ khí, chuẩn bị tổng tiến công và nổi dậy, giành thắng lợi quyết định.


Phong trào toàn dân đánh giặc của Làng Cát vốn đã mạnh, nay được cán bộ cơ sở về tận làng, tận xóm, đi đến từng nhà, gặp từng người tuyên truyền vận động, phổ biến tỉ mỉ đường lối, chủ trương chính sách của Mặt trận Dân tộc giải phóng, nhiệm vụ của cuộc tổng tiến công và nổi dậy vào mùa xuân này, càng làm cho quân và dân Làng Cát hừng hực khí thế tiến công. Thanh niên hăng hái vượt vòng vây của giặc ra khu căn cứ, gia nhập lực lượng. Các mẹ, các chị vừa tổ chức lực lượng đấu tranh chính trị, binh vận, vừa khẩn trương chuẩn bị lương thực, thực phẩm để nuôi quân. Các cụ, các bác nông dân lo đào hầm chông, rào làng chiến đấu. Các em thiếu nhi cũng là lực lượng trinh sát nắm tình hình địch.


Tin chiến thắng từ khắp các chiến trường Buôn Ma Thuột, Gia Lai - Kon Tum, Quảng Nam, Đà Nẵng... liên tiếp dội về càng làm nức lòng người. Và tin thắng trận từ Làng Cát cũng nhanh chóng truyền đi khắp nơi: Khu căn cứ hậu cần của địch lại bị tập kích đốt cháy hàng triệu lít xăng, trận địa pháo 155 ly của lính Nam Triều Tiên giao lại cho lính ngụy bị du kích phá hủy, một trung đội lính bảo an ở thôn Đa Ngư bị du kích tiêu diệt giữa ban ngày, du kích treo cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng trên nóc nhà tên Trần Bá Tòng và giữa sân bay Đông Tác, hàng trăm lính ngụy rã ngũ...


Các đơn vị của tỉnh và của quân khu ào ạt tiếp cận vùng ven thị xã Tuy Hòa và huyện Tuy Hòa. Một số trận chiến đấu quyết liệt xảy ra trên đường phố.

Sau khi thất thủ ở thị xã Buôn Ma Thuột, quân địch nháo nhác chạy về đồng bằng. Cuộc rút lui này đã kéo theo hơn hai vạn quân ngụy và hơn hai ngàn xe quân sự (cả xe tăng và xe bọc thép). Trước ngày 26 tháng 3, tàn quân địch từ Cheo Reo tràn xuống quận lỵ Củng Sơn (Phú Yên), bị quân và dân các dân tộc Củng Sơn chặn đánh quyết liệt. Số chết, số bị thương, số còn lại bỏ đường số 7, bắc cầu dã chiến vượt sông Ba, sang đường số 5 chạy thục mạng về Tuy Hòa, tràn xuống Phú Lâm hòng tiếp tục chạy bằng máy bay ở sân bay Đông Tác, hoặc bằng tàu thủy ở cửa biển Đà Nông.


Anh Chín Cao - Bí thư Tỉnh ủy nói với anh Ông Văn Bưu, tỉnh đội trưởng:

- Thực hiện chiến đấu theo phương án hai. Nhanh chóng bịt hết tất cả các đường tháo chạy của chúng!

- Rõ!

Sở chỉ huy tỉnh đội đã chuyển xuống đồng bằng theo sát các mũi xung kích. Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy có mặt thường xuyên ở sở chỉ huy và chỉ đạo tác chiến.

Chuông điện thoại réo liên hồi:

- Huyện đội Tuy Hòa báo cáo! Du kích Làng Cát đã làm chủ sân bay Đông Tác.

- Tiểu đoàn 7 bộ đội pháo binh tỉnh báo cáo! Tất cả các loại tàu lớn, nhỏ của địch ở cửa biển Đà Nông đều bị pháo binh của đơn vị kết hợp với đơn vị bộ đội đặc công nước đánh chìm, đánh hỏng!

Tình hình địch ở Tuy Hòa càng rối loạn. Vũ Quốc Gia, tên đại tá tỉnh trưởng khét tiếng gian ác đã từng chặt đầu, mổ bụng, moi gan cán bộ, đồng bào ta, từng ngồi máy bay lên thẳng chỉ huy các cuộc càn quét "đốt sạch, giết sạch, phá sạch", giờ phút này mặt mày tái mét. Hắn chạy ra chạy vào, chụp máy điện thoại này gọi, rồi lại chụp máy điện thoại kia quát tháo, hắn gào lên:

- Tất cả các đơn vị phải "tự thủ", đứa nào bỏ chạy sẽ bị bắn vỡ sọ.

Đạn đại bác Quân giải phóng rơi như mưa xung quanh khu vực tỉnh đường, bọn lính bảo vệ chạy nhớn nhác, Vũ Quốc Gia tưởng Quân giải phóng đã vào đến nơi, cuống quýt lột hết quân phục vứt vào xó, đốt tài liệu, rồi chạy rút vào gầm cầu thang.

Ngớt tiếng đạn pháo hắn lò dò bước ra sân hò hét có vẻ "bình tĩnh":

- Bọn lính bảo vệ chúng bay làm gì mà nháo nhào lên vậy. Ngày mai không lực Hoa Kỳ sẽ đến ném bom chặn đường quân cộng sản từ xa. Còn lâu chúng nó mới vào được đây. Bọn bay cố "tử thủ", tao sẽ ban thưởng thích đáng.


Bọn lính bảo vệ nhận ra giọng nói của Vũ Quốc Gia nhưng có đứa vẫn hoài nghi vì thấy hắn mặc quần xà lỏn, đứng nép bên chiếc thùng phuy đựng cát cứu hỏa.

Đêm 23 tháng 4, Vũ Quốc Gia tháo chạy bằng máy bay lên thẳng. Địch ở Tuy Hòa càng hoang mang và tan rã. Nhiều đơn vị bỏ ngũ trở thành những toán lính cướp trên đường phố. Lính địa phương và lính các đơn vị ở Cheo Reo chạy về bắt đầu đánh nhau. Đường sá, cánh đồng ngập ngụa quần áo, giày mũ, súng đạn đủ các sắc lính lột vứt, tháo chạy.


Rạng sáng ngày 1 tháng 4, cuộc chiến đấu ở thị xã Tuy Hòa diễn ra quyết liệt. Nhân dân các xã, phường phối hợp với du kích và bộ đội nổi dậy diệt ác ôn, phá thế kìm kẹp của địch, xông vào phá trại giam Ngọc Lãng giải phóng tù chính trị. Súng các cỡ nổ dồn dập. Các xã phía bắc tỉnh như: Xuân Phước, Xuân Quang, Xuân Long, Xuân Sơn (huyện Đồng Xuân) nhân dân xã đã đồng loạt nổi dậy, cùng với du kích và bộ đội nhanh chóng giải phóng xã nhà. Bọn địch ở La Hai, Sông Cầu, Chí Thạnh tháo chạy về Tuy Hòa càng làm cho Tuy Hòa náo loạn. Gia đình vợ con bọn lính ngụy, bọn ngụy quyền tràn ra bờ biển tranh nhau thuê, cướp ghe thuyền di tản. Bãi cát Tuy Hòa như ong vỡ tổ.


Từ Đồng Xuân đến Đèo Cả rợp cờ đỏ sao vàng và cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng. Cờ chiến thắng tung bay trên đỉnh núi Chớp Chài, trên Thập Nhạn và trên nóc nhà viên tỉnh trưởng.

Ở Làng Cát, các tiểu đoàn lính ngụy vẫn điên cuồng chống cự đến cùng nên cuộc chiến đấu càng về cuối càng quyết liệt. Bí thư chi bộ Nguyễn Văn Xuân và xã đội trưởng Trương Thành Phương dưới sự chỉ đạo trực tiếp của huyện đội trưởng Trần Kim Tuyến và huyện đội phó Nguyễn Văn Thái, chỉ huy lực lượng du kích xã phối hợp với các đơn vị quân đội lần lượt đánh chiếm tất cả các căn cứ của địch.


Đội quân tóc dài của các mẹ, các chị cũng tràn ra mặt trận bắt tù binh, thu vũ khí. Tiếng loa binh vận của các mẹ, các chị vang khắp Làng Cát.

Bí thư chi bộ Nguyễn Văn Xuân chỉ huy một mũi du kích đánh chiếm trận địa pháo và sở chỉ huy của tên Trần Bá Tòng. Bọn lính ở trận địa pháo đánh trả quyết liệt, nhưng trước sức mạnh tiến công áp đảo của du kích, chúng lớp tháo chạy, lớp đầu hàng, ta thu toàn bộ vũ khí, đạn dược. Các mũi khác do xã đội trưởng Trương Thành Phương chỉ huy đang chiến đấu tiêu diệt bọn ngoan cố chống cự. Các chiến sĩ du kích mặc quần áo bà ba đen, đầu đội mũ tai bèo, mang vòng lá ngụy trang xanh rờn, cùng với các chiến sĩ quân đội quân phục màu xanh lá mạ, thoáng ẩn, thoáng hiện đánh chiếm từng lô cốt, từng hầm ngầm. Lửa cháy, tiếng nổ rền vang. Cuộc chiến đấu của du kích Làng Cát trong khu căn cứ quân sự của địch kéo dài, căng thẳng.


Tiêu đề: Bản hùng ca xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Giêng, 2022, 07:23:21 am
Mặt trời đứng bóng, tiếng súng thưa dần, hàng loạt lá cờ trắng của địch xuất hiện. Quân ta đánh chiếm đến đâu, cờ đỏ sao vàng và cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng tung bay đến đó. Cả một trung đoàn lính ngụy đã một thời hoành hành trên đất Hòa Hiệp, giờ đây lớp bỏ chạy, lớp bị tiêu diệt, lớp bị bắt sống. Những tên lính ngụy cúi đầu với màu áo rằn ri đủ loại quân hàm trên ve áo, lếch thếch đi dưới tầm lê của các chiến sĩ du kích Làng Cát.


Thấy một tên to béo với dáng đi ì ạch, thiểu não, Nguyễn Văn Xuân hỏi:

- Tên là gì?

- Dạ thưa anh, tôi tên là Trần Văn Cẩm.

Trần Văn Cẩm - mắt Xuân nảy lửa căm giận - Trần Văn Cẩm, tên chuẩn tướng tư lệnh phó quân đoàn 2 được cử ra làm tư lệnh Phú Yên từ ngày 23 tháng 3 hòng cứu vãn tình thế ngụy quân, ngụy quyền đang suy sụp. Một tuần lễ vừa qua nó to mồm hô hét nào là "quyết tử thủ", nào là "quyết đánh dập đầu bọn cộng sản", lòng Xuân như sôi lên.


Nguyễn Văn Xuân ra lệnh cho hai chiến sĩ du kích giải Trần Văn Cẩm về sở chỉ huy. Tại đây có các đồng chí trong Ủy ban quân quản huyện Tuy Hòa. Đồng chí Nguyễn Thanh Quang trao cho Cẩm một tờ giấy trắng và chiếc bút bi nói:

- Tôi là cán bộ phụ trách Ủy ban quân quản của địa phương, tôi yêu cầu ông viết ngay lời thú nhận thất bại của quân đoàn 2 của ông nói riêng và của quân đội ngụy nói chung, ông hãy kêu gọi quân đội ngụy đầu hàng Quân giải phóng.


Trần Văn Cẩm tỏ vẻ lưỡng lự. Hắn suy nghĩ hồi lâu rồi nói:

- Tôi là sĩ quan cấp tướng tôi muốn gặp cán bộ cao cấp của các ông.

Nguyễn Thanh Quang không ngăn nổi lòng căm thù và tức giận, anh đập bàn nhìn thẳng vào mặt hắn nói:

- Ở đây là mặt trận, chúng tôi là những người chỉ huy du kích, ông là tù binh, ông phải chấp hành những điều quy định của mặt trận, của những người chỉ huy cao nhất ở đây. Ông không có quyền đòi hỏi.

- Dạ thưa các ông, tôi hiểu, tôi xin chấp hành.

Trần Văn Cẩm hí hoáy ngồi viết. Nguyễn Thành Quang trao đổi riêng với anh Lương Thúc Quý:

- Anh Quý này, anh chuẩn bị máy ghi âm để ghi lời thằng chuẩn tướng Trần Văn Cẩm. Ghi xong cho phát loa ngay. Cuộc chiến đấu còn tiếp tục, những lời thú nhận thất bại của tên chuẩn tướng cáo già này có tác dụng nhất định trong việc làm tan rã hàng ngũ địch.

Quý trả lời "rõ" một tiếng rắt gọn, rồi nhanh chóng làm công tác chuẩn bị. Sau khi thoát khỏi ngục Côn Đảo và nhà lao Ngọc Lãng, Lương Thúc Quý trở về huyện nhận công tác. Anh làm đủ việc, việc gì cũng hoàn thành tốt, hiện nay anh là Trưởng ban Tuyên giáo của huyện ủy.


Trần Văn Cẩm run cầm cập, đứng dậy trao tờ giấy hắn viết xong cho anh Quang. Anh Quang đọc xong trao lại cho anh Quý, nói:

- Anh duyệt lại lần cuốỉ rồi bảo nó đọc để ghi âm.

Anh Quý hướng dẫn tên Cẩm sửa lại một số từ ngữ cho thật chính xác rồi đặt chiếc máy ghi âm trước mặt để hắn bắt đầu đọc. "Tôi tên là Trần Văn Cẩm, chuẩn tướng phụ tá hành quân quân đoàn 2 (tương đương tư lệnh phó), sanh ngày 15 tháng 1 năm 1930 tại làng Quảng Lượng, quận Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, bị Quân giải phóng bắt sáng ngày 1 tháng 4 năm 1974 tại Làng Cát, xã Hòa Hiệp, huyện Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên. Tôi được đối xử tử tế và được đưa về tạm trú tại Bộ chỉ huy Quân đội giải phóng. Sau đây là quan điểm của tôi đối với Mặt trận Dân tộc giải phóng và quân đội cách mạng sau khi một số tỉnh ở cao nguyên và Bắc - Trung phần bị thất thủ nhanh chóng. Sau khỉ thành phố Buôn Ma Thuột bị thất thủ và sự rút lui của lực lượng quân đoàn 2 tại Kon Tum và Plây Cu về Nha Trang, tinh thần quân sĩ quân đoàn 2 sút kém nghiêm trọng. Điều này hình như cũng đã xảy ra ờ quân đoàn 1 đóng tại Đà Nẵng sau khi các tỉnh phía Bắc đã thất thủ nhanh chóng. Trong năm 1975 này, sau thời gian chưa đầy một tháng Mặt trận Dân tộc giải phóng và quân đội cách mạng đã thành công lớn lao trong việc tổ chức đánh chiếm một số các tỉnh thuộc quân đoàn 1, quân đoàn 2 và quân đoàn 3.


Khi lực lượng quân đoàn 2 từ Plây Ku và Kon Tum tháo chạy về Nha Trang theo liên tỉnh lộ số 7 xuyên qua gần 300 cây số mà một nửa là đường mới khai phá, một số lớn quân nhân quân đoàn 2 cùng gia đình và dân chúng bị thất tán. Ngoài ra một số đông quân lính quân đoàn 2 bị quân đội cách mạng chặn đánh, một số lớn bị tiêu diệt, một số bị quân đội cách mạng bắt giữ, một số chết dọc đường vì yếu kém sức khỏe và đói khát. Tôi nghĩ rằng số quân nhân quăn đoàn 2 và gia đình họ không còn lại bao nhiêu. Vì các lý do trên, tôi kêu gọi các anh em quân nhân hiện đang cầm súng chiến đấu chống lại quân đội cách mạng hoặc thất tán ở mọi nơi, hãy nhanh chóng ra trình diện với các đơn vị quân đội cách mạng. Quân đội ngụy đang tan rã nhanh chóng, chính quyền Sài Gòn chắc chắn sẽ sụp đổ trước sức mạnh không có gì ngăn cản nổi của quân đội cách mạng, các anh em hãy đầu hàng quân đội cách mạng, trở về với nhân dân, các anh em sẽ được đối xử tử tế và được hướng dẫn về quê nhà gặp lại vợ con và đoàn tụ gia đình...


Ngay chiều hôm đó, tiếng nói của Trần Văn Cẩm được truyền đi trong hệ thống phát thanh của Ủy ban quân quản huyện Tuy Hòa.

Sở chỉ huy du kích Làng Cát mỗi lúc một đông. Các chiến sĩ du kích lần lượt dẫn vào rất nhiều sĩ quan ngụy cấp tá, cấp úy vừa bị bắt. Đại tá Nguyễn Xuân Đống chỉ huy trưởng lữ đoàn thiết giáp số 2 từ Cheo Reo chạy xuống. Nó mặc chiếc quần đùi, đi chân đất, râu tóc phờ phạc. Bọn lính ngụy cho biết Đông là tên sĩ quan rất tàn ác. Lữ đoàn thiết giáp của nó bị bộ đội giải phóng đánh tan tác ở Tây Nguyên. Nó gọi máy bay lên thẳng đến để tháo chạy. Họ nói "Nếu bỏ chạy tao sẽ bắn rơi máy bay". Nó lên xe thiết giáp tự lái chạy về Tuy Hòa, định ra biển đón tàu thủy chuồn vào Sài Gòn thì bị du kích Làng Cát bắt sống.


Tên trung tá Trần Bá Tòng bỏ căn cứ quân sự Làng Cát chạy trốn từ ngày hôm qua, khi quân du kích đánh chiếm sở chỉ huy thấy chiếc cặp da và bộ quần áo quâni phục của hắn vứt bừa bãi trong phòng làm việc. Anh em du kích tiếc rẻ cho rằng họ đến chậm nên Trần Bá Tòng đã chạy thoát. Nhưng hắn có chạy bằng trời... Tòng và tên lính bảo vệ trốn ra khu Rừng Dương chờ bắt liên lạc với máy bay lên thẳng hoặc tàu thủy. Tớ thầy còn đang luẩn quẩn trong khu Rừng Dương thì gặp phải đơn vị nữ du kích do cô Bích Thủy chỉ huy, nổ súng truy kích mãnh liệt làm cho Trần Bá Tòng và tên lính bảo vệ vứt cả điện đài tháo chạy. Do mất điện đài nên Tòng không liên lạc được với máy bay và tàu thủy, đành phải nhập vào đám tàn quân hỗn loạn và bị bắt.


Giữa buổi chiều 1 tháng 4 năm 1975, xã Hòa Hiệp được hoàn toàn giải phóng...

Ánh nắng buổi chiều mùa xuân vàng dịu. Đó đây, tiếng súngg trừng trị những tên giặc ngoan cố còn nổ rải rác. Cả Làng Cát đỏ rực màu cờ cách mạng. Trong giờ phút thiêng liêng ấy, vợ gặp lại chồng, cha mẹ gặp lại con, quân và dân, đồng bào và đồng chí ôm chầm lấy nhau không cầm được nước mắt. Những giọt nước mắt của niềm vui chiến thắng trọn vẹn có phần nước mắt để tưởng nhớ, biết ơn những người đã khuất.

T.P


Tiêu đề: Bản hùng ca xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Giêng, 2022, 07:24:21 am
TẤM SƠ ĐỒ CỦA BÀ MÁ LÁI THIÊU


PHAN XUYẾN - THANH ĐỒNG


Ba bốn ngày rồi, trung đoàn 27 chỉ dùng lương khô, chưa có hạt cơm nào trong bụng. Cũng chưa có giấc ngủ nào trọn nổi một giờ. Dẫu vậy, khi Trung đoàn trưởng Nguyễn Huy Hiệu (sau này là Thượng tướng - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng) phổ biến bức điện của sư đoàn gửi trung đoàn: "Nhanh chóng đánh chiếm Lái Thiêu, bảo đảm đúng kế hoạch tiến quân của sư đoàn và chiến dịch thì tất cả cán bộ các tiểu đoàn có mặt trong chiếc lán căng tạm giữa bãi cao su ven lộ 13 sôi động hẳn lên. Có cán bộ chưa kịp ăn xong thanh lương khô trung đoàn trưởng dúi cho, đã giơ tay xin ý kiến". Ai cũng mong muốn đóng góp bổ sung cụ thể cho phương án đánh địch tiếp theo, bảo đảm chắc thắng.


Cái khó nhất là thời gian rất gấp mà tình hình địch trong quận lỵ Lái Thiêu chưa nắm được cụ thể. Tư lệnh sư đoàn Lưu Bá Xảo rất nóng lòng, vừa điện hỏi: "Trung đoàn trưởng 27 đấy à? Đã trinh sát được Lái Thiêu chưa?". "Báo cáo, chúng tôi đang triển khai. Xin bảo đảm nổ súng đúng giờ G".


Trung đoàn trưởng cùng chính ủy và tham mưu trưởng giao nhiệm vụ cụ thể cho các cán bộ xong, đã nhanh chóng chủ động dựa vào dân trực tiếp đi với trinh sát vào tận thực địa.

Trời bỗng đổ mưa. Mưa bất ngờ, đột ngột, rào rào như trút. Bóng đêm làm cho con đường mòn vào quận lỵ vốn đã khó nhận ra lại càng thêm chìm khuất. Mặc, mọi người cứ đội mưa lần bám theo hàng cây bên đường mà đi.


Đến một căn nhà nhỏ ven đường, tổ trinh sát dừng lại. "Cộc, cộc, cộc... cộc, cộc, cộc". Sáu tiếng gõ cửa của trinh sát, phía trong nhà có tiếng chân đi. Tiếp đó là tiếng một bà má vừa như thăm dò, vừa có vẻ thờ ơ.

- Ai gọi gì đó?

- Chúng tôi là Quân giải phóng, là... "Bộ đội Cụ Hồ".

Bà má giơ cao ngọn đèn, nhìn kỹ người đang đứng trước cửa. Quần áo màu xanh lá cây, mũ tai bèo, súng tiểu liên... đôi mắt bà má dừng lại ở mảnh vải đỏ trên ngực áo người lính, gần chỗ trái tim.

Đôi mắt bà má vụt sáng. Bà má nói vừa đủ nghe, nhưng chúng tôi có cảm giác bà má như muốn reo lên: "Hồ Chí Minh!".

Người chiến sĩ trinh sát cũng mừng vui không kém, nhưng cố nén lại, thốt lên:

- Muôn năm!

Thế là nhận ra mật khẩu rồi. Bà má cầm tay từng người giục:

- Các con vào đi! vào đi! Má không ngờ các con về sớm thế. Bây giờ các con cần má những việc gì?

Sau khi nói rất tóm tắt nhiệm vụ đơn vị, Trung đoàn trưởng Nguyễn Huy Hiệu đề nghị:

- Các con chưa nắm được địch và địa hình trong quận lỵ Lái Thiêu. Nhờ má bày cho!

- Đợi má chút xíu?

Lát sau, bà má trở ra, mở bọc giấy báo, cẩn thận trải trong giấy đã ố vàng lên mặt bàn. Mọi cặp mắt đổ dồn vào những nét vẽ chằng chịt, lòng hứng khởi tràn đầy. Nhưng khi nghe má nói, giọng hơi trầm xuống thì ai nấy đều ngẩng lên, nhìn vào những nếp nhăn đầy suy tư trên khuôn mặt phúc hậu của má, pha nỗi xót xa, pha điều lo lắng:

- Đây là sơ đồ quận lỵ Lái Thiêu. Anh Hai Nhương vẽ từ năm 1961.

- Thưa má, bây giờ ảnh ở đâu ạ?

- Ảnh là chồng má. Hồi nớ ảnh và anh em du kích đã định "nhổ" rồi. Không may, ảnh bị tụi nó bắt. Tụi nó đưa ảnh ra Côn Đảo. Má cất giữ từ bấy đến nay!

Đang phấn chấn như giữa cơn khát xé cổ gặp chanh, như đói gặp bữa, ấy vậy mà... Năm 1961, bây giờ đã là đêm 29 tháng 4 năm 1975. Mười lăm năm. Biết bao là "sao dời, vật đổi". Thằng Mỹ vào, công sự, trận địa, vũ khí khác xa thời ta mới "đồng khởi". Những ngày qua, quân tướng ngụy các nơi đang dồn về quanh Sài Gòn. Chúng đang ráo riết, điên cuồng chống đỡ. Trung đoàn đã hoàn thành các nhiệm vụ trong quá trình "thần tốc, táo bạo", cùng quân đoàn và sư đoàn vượt 2.000km trong vòng 12 ngày, với tinh thần tranh thủ từng giờ, từng phút, xốc tới mặt trận giải phóng hoàn toàn miền Nam, quyết chiến và toàn thắng".


Trung đoàn cũng cùng sư đoàn đã chọn và khắc phục lớp lớp khó khăn, luồn 100km đường rừng tắt qua Chiến khu Đ, lướt tránh qua được cả tuyến phòng thủ của sư đoàn 5 ngụy, có mặt ngay đúng vị trí quy định: sát Bến Bầu, trên bờ Bắc sông Bé đúng thời gian hiệp đồng tác chiến. Chiều 21 tháng 4 năm 1975.


Trung đoàn đã cùng sư đoàn "Qua mặt" bộ tư lệnh quân đoàn 3 ngụy cũng như bộ tổng tham mưu của cái gọi là "Quân đội Việt Nam cộng hòa" trong hàng loạt cuộc ném bom, bắn pháo, đánh phá "tối đa" vào tất cả các khu vực nghi có "Quân cộng sản", kể cả ráo riết tung biệt kích, thám báo vào khu vực hành quân, trú quân của quân ta, hòng phá sự chuẩn bị của ta.


Toàn sư đoàn đã thực thi xuất sắc quyết định hết sức táo bạo vượt sông thắng lợi vào đêm 26 tháng 4, có mặt trên vị trí xuất phát ở phía nam Sông Bé. Mặc cho pháo địch từ Lai Khê, Bến Cát bắn cấp tập, bắn cầm canh, mặc cho đói khát - có lúc, có nơi như Tiểu đoàn 5, cả tiểu đoàn không có một giọt nước, hơn nửa quân số "bỏ bữa" vì không tài nào nhai nổi, nuốt nổi mẩu lương khô - thì đến giờ phút này, toàn bộ đội hình trung đoàn đã quay quanh Lái Thiêu. Thời khắc "khai tử" "tuyến tử thủ", mở đường vào mục tiêu bộ tổng tham mưu, tiểu khu Gia Định, các khu vực bộ tư lệnh các binh chủng quân ngụy, đang thúc trước, đuổi sau. Ruột gan ai nấy như nung, như đốt. Chính ủy Thư, Trung đoàn trưởng Hiệu lại càng cảm thấy sự dồn nén, câu thúc của thời gian vào lúc này còn quá nghìn lần, vạn lần "vó câu qua cửa sổ".


Bỗng không gian như tóa ra, phá võ sự dồn nén:

- Đây, chỗ này là 1 tiểu đoàn bảo an tụi nó mới đưa từ Sài Gòn ra. Chỗ này là 2 khẩu 175, đưa từ Bình Dương về. Đây là trung tâm huấn luyện Huỳnh Văn Lương, có khoảng 2.000 lính. Ngoài ra còn những tụi bị đánh ở các nơi chạy về... thôi, để má dẫn các con đi...

Trời ơi! Thì ra đã mười lăm năm rồi, tấm sơ đồ vẫn theo từng bước chân, từng dòng tích lũy của má. Mọi sự bày binh bố trận, mọi đổi thay cấu trúc và âm mưu điều chuyển lực lượng của quân thù đều được má theo dõi sít sao và thể hiện lên sơ đồ.


Từ phút giây thiêng - khi má thốt lên ba tiếng Hồ Chí Minh, đến lúc bàn tay má lần theo từng mẩu ghi chép trên tấm sơ đồ, thời gian diễn ra chỉ trong vòng mấy phút. Mấy phút thôi, mà như cô lại cả chặng đường dài của má - Má Sáu Ngẫu Lái Thiêu của Ba Hai Nhương, của cả mảnh đất - tình người "miền Đông gian lao mà anh dũng".


Bởi vậy, khi thay mặt cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn Đỏ, trở về sở chỉ huy Đại Huệ báo cáo với Quân khu A; về Nghệ Tĩnh báo cáo với Đảng bộ, nhân dân và các lực lượng vũ trang nhân dân nơi Trung đoàn 27 đã ra quân từ Xuân 1968, Trung đoàn trưởng Nguyễn Huy Hiệu dành những nỗi niềm xúc động ôn lại phút giây thiêng liêng má Sáu Ngẫu gọi tên Bác và những bước chân em Hương, em Mỹ - con má cùng hòa trong nhịp súng tiến công và toàn thắng của trung đoàn, của toàn chiến dịch mang tên Hồ Chí Minh lịch sử.

PX - T.Đ


Tiêu đề: Bản hùng ca xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Giêng, 2022, 07:25:28 am
ĐÀI PHÁT THANH GIẢI PHÓNG TRÊN VAI CHIẾN SĨ


NGẠC THỤY - THANH HIỀN


Tôi dự định chờ đến năm 2006, đúng 45 năm mới khai bút, ghi lại những kỷ niệm vui buồn đáng nhớ trong những ngày tháng đầu đời tham gia kháng chiến. Nhưng ký ức dường như không chịu nằm yên; những sự kiện, những kỷ niệm của năm 1961 của tháng 12 năm ấy cứ thôi thúc mãi...


Tháng 3 năm 1961, sau đợt diệt ác phá kềm, Trảng Bàng như bừng dậy mãnh liệt hơn và chính thời gian này tôi thoát ly vào chiến khu Bời Lời. Ngày ra đi không một người thân nào tiễn đưa, chỉ với mớ hành trang mà mẹ tôi gói ghém để tôi ăn theo đường. Một nải chuối sứ, một túi gạo, bọc muối sả ớt, chiếc võng gai... tất cả được đựng trong chiếc gàu giai rách mà mẹ tôi tẩn mẩn lôi từ trên gác bếp xuống sắp soạn cho tôi. Cùng chiếc gàu đó là cây đờn kìm thân thương quàng lên vai để ngụy trang qua đôi mắt cú vọ của bọn dân vệ, lính kín Tư Trắng ngoài Trảng Bàng. Trên đường vào cứ, tôi gặp anh mười Tây, cả hai vượt lộ 6 ở Lộc Hưng, lên bàu Hai Năm, sở cao su Thầy Bảy, Trảng Sa băng qua Suối Lội, sa Ong Quyển, tua Cây Cám rồi mới tới Bời Lời. Đơn vị đầu tiên tiếp đón chúng tôi là Đoàn Văn công Giải phóng tỉnh và cũng là đơn vị mà suốt cuộc kháng chiến tôi gắn bó không rời. Sau 3 tháng loay hoay hết đào công sự, đến đào giao thông hào, chúng tôi mới chính thức là chiến sĩ văn hóa tháp tùng theo đoàn đi biểu diễn phục vụ đồng bào, chiến sĩ khắp miệt đồng bằng Tây Ninh, Bến Cát, Củ Chi... và được biên chế vào Đoàn Văn công Tây Ninh.


Trong khoảng thời gian ở Đoàn, tôi được anh hai Lý Văn Sâm chú ý, anh đề nghị chuyển tôi sang Đoàn Văn công Giải phóng trực thuộc Trung ương Cục và được đồng ý. Buổi chia tay thật xúc động và đầy ắp kỷ niệm mà tôi không thể nào quên. Đó là bữa tiệc bánh xèo tại nhà má Mười ở xóm Chòm Tre, mãi mãi hằn sâu vào ký ức của tôi, nhất là lời dặn dò tâm huyết với ước mong tôi nhanh chóng tiến bộ ở đơn vị mới của anh Tư Văn. Và tôi từ giã căn cứ Bời Lời từ đó để theo đoàn sang Bến Cát, vượt lộ 13 Phú Giáo về Rừng Le. C.300, bàu Cá Trê, Đồi 800 cuối cùng về C.101 đóng quân tại căn cứ R (nay thuộc tỉnh Đồng Nai, vừa mới tổ chức lễ khánh thành căn cứ, dù chỉ đóng quân tại đây vài tháng).


Tại căn cứ, tháng bảy, trời cứ mưa sùi sụt, rả rít suốt ngày đêm. Lạnh. Cái lạnh của mưa rừng không đến nỗi trùm chăn, nhưng nếu không hoạt động, cả người cứ run từng chập. Một công việc hệ trọng đến thật đúng lúc. Chỉ được phổ biến là việc hệ trọng nhưng cụ thể là gì thì không một ai được biết. Chúng tôi dựng cứ rồi lại đi tải gạo, tải máy móc kỹ thuật. Con đường đi tải không in dấu chân người. Đoàn quân cứ đi và bẻ "cò cây" khi đi qua để ghi nhớ đường về. Từ Trạm 1 đến cơ quan Ban Tuyên huấn R phải vượt qua mười quả đồi, bốn con suối dài.


Suốt từ tháng 7 đến tháng 10 năm 1961 chúng tôi cứ làm nhiệm vụ dựng cứ và đi tải, tải đủ thứ từ gạo, muối, đường, sữa... cho đến những thiết bị máy móc, xăng dầu. Trung đội trưởng căn cứ Năm Đen ra lệnh và chúng tôi cứ răm rắp làm theo không một lời thắc mắc, hỏi han vì đó là quân lệnh. Nhưng trong lòng ai cũng đoán già, đoán non rằng sắp có chiến dịch lớn. Đoán thì đoán vậy thôi, lệnh ban ra thì phải chấp hành triệt để.


Lần này, anh Năm Đen cho biết sẽ đi tải "một chiếc máy bự chảng" và phải qua chặng đường vô cùng nguy hiểm, điểm hẹn không phải ở Đất Cuốc, Sông Bé mà ra tận tỉnh lộ 4, vượt qua lộ Tân Tịch, Thường Lang... với khoảng thời gian đi là 5 ngày đêm, nhưng về thì không thể nói trước vì phải mang vác nặng. Cánh trẻ, khỏe mạnh thì đi tải, già yếu bệnh tật thì ở cứ san nền, đốn cây, bẻ lá trung quân, đào giao thông hào để xây dựng hội trường cho Ban Tuyên huấn R. Hội trường thật rộng lớn phải lợp đến hơn ba mươi ngàn nẹp lá trung quân nên ngày khánh thành Hội trường, chú năm Quang Trần Bạch Đằng đặt tên là Hội trường Trung quân. Và cũng chính trong ngày này chúng tôi mới biết những thiết bị máy móc mà chúng tôi tải về là để xây dựng Đài Phát thanh Giải phóng.


Một ngày chủ nhật thật đẹp trời. Dù khuất dưới những tán lá cây rừng dày đặc, cả căn cứ vẫn như dưới ánh nắng rực rỡ, nhất là đối với Ban Tuyên huấn Trung ương Cục, đặc biệt là chúng tôi, những người vận chuyển khi nghe chú năm Quang thông báo: "Ta sẽ phát sóng thử đài". Anh em nhảy cỡn lên mừng rỡ cùng với tiếng vỗ tay hoan hô kéo dài bất tận tưởng như không bao giờ dứt, cả lá cây rừng cũng hớn hở xôn xao. Nhưng có một điều đài đặt ở đâu, vẫn còn là điều bí mật.


Đài Phát thanh Giải phóng ra đời đánh dấu một bước ngoặt lịch sử trong quá trình kháng chiến chống Mỹ. Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam đã có tiếng nói chính thức với bạn bè thế giới. Và nhân sự Đài như đã cơ cấu tổ chức từ lâu. Phát thanh viên với giọng nữ ấm áp của chị Xuân Việt, phụ trách chương trình tiếng Pháp là chú bảy Kỉnh, chú năm Thưởng; tiếng Anh có chú Tư Điện; tiếng Hoa có anh Lý Thắng, Ngô Quân... Chúng tôi, Đoàn Văn công được làm nhiệm vụ chuyên môn của mình; phụ trách chương trình văn nghệ cho Đài. Dàn tân nhạc với anh Nguyễn Khanh đàn accordeon, anh Nguyễn Diệp thổi sáo, anh Phạm Minh Tuấn đàn ghi ta, chị Vân đàn violon. Dàn cổ nhạc do chú hai Khánh đàn tranh và đàn cò, anh Phong Quang đàn ghi ta phím lõm... và tôi đàn kìm. Sau thời gian tập dượt với tinh thần trách nhiệm cao, chúng tôi hoàn thành chương trình phát sóng thử. Thật hồi hộp trong ngày bấm máy thu với chiếc máy ghi âm hiệu Hốt-nơ, chú Nguyễn Văn Hiếu tự Tư Châu (sau giữ chức Bộ trưởng Bộ Văn hóa) trực tiếp ghi âm cùng thím tư Mã Thị Chu (trong phái đoàn ngoại giao của Chính phủ Cách mạng lâm thời sau này).


Những buổi tập dượt chương trình văn nghệ phục vụ cho Đài với những bài hát, điệu đàn còn ghi mãi trong ký ức tôi cho đến tật hôm nay. Tân nhạc với bản "Nhà Việt Nam sáng trưng Á - Đông", "Bốn ngàn năm đó", "Chàng đi theo nước"... Cổ nhạc với các bài "Mặt trận Dân tộc giải phóng ra đời", "Bá Nha ngộ Tử Kỳ"... Truyện đọc thì do chú năm Quang chọn đọc trích đoạn "Võ Tòng đả hổ trên đồi cảnh Dương"... Nội dung chương trình vốn nghệ thật "vô thưởng vô phạt" với mục đích đánh lừa địch không biết do Đài nào phát và ở đâu, của ai? Một kỷ niệm còn ghi mãi dấu ấn là khi anh Hoàng Phương ca bài "Mặt trận Dân tộc giải phóng ra đời" của nhạc sĩ Xuân Hồng được chú hai Lý chuyển sang cổ nhạc lúc dây cao, lúc dây thấp khiến người ca "trật tới trật lui" và người thu âm suốt ngày "xệ cả mắt kiếng". Đặc biệt là tên tác giả bản nhạc "Giải phóng miền Nam" của chú Lưu Hữu Phước, khi gởi về Đài ký tên là Huỳnh Minh Liêng. Thế nhưng không hiểu kỹ thuật in bột thời bấy giờ thế nào mà chữ L hoa trở thành chữ s hoa, nên tên Liêng biến thành tên Siêng và kể từ đó bản nhạc mang tên tác giả là Huỳnh Minh Siêng cho đến tận hôm nay.


Tiêu đề: Bản hùng ca xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Giêng, 2022, 07:26:22 am
Đài Phát thanh Giải phóng do kỹ sư Tám Thắng phụ trách sắp phát sóng. Trên dốc đồi thoai thoải là dãy nhà của cán bộ biên tập. Đài lợp lá trung quân nép bên hàng bằng lăng nở tím, mọi người đang "túm tụm" bên nhau, hồi hộp chờ nghe Đài phát sóng lần đầu tiên. Chú năm Quang, chú tư Châu, chú bảy Kỉnh, chú năm Thưởng, chú tư Điện, chú hai Lý Văn Sâm, anh bảy Nhỏ, anh năm Cảnh, anh Lang, Ngọc Anh, Phan Thế, Phạm Minh Tuấn... Ai cũng hồi hộp trong không khí chờ nghe thật tĩnh lặng, thời gian dưòng như chững lại, chìm đi, tất cả cùng yên lặng đến khó thở... và bầu không khí tĩnh lặng đó bỗng òa vỡ, nổ tung khi tiếng chị Xuân Việt vang lên câu đầu tiên phát ra từ Đài: "Đây là Đài Phát thanh Giải phóng - Tiếng nói của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam..." rồi chợt lặng đi, yên ắng. Tôi nhìn quanh, gương mặt người nào cũng thật rạng rỡ, nhưng đôi mắt thì ngân ngân lệ. Niềm hạnh phúc lan tỏa nhanh chóng, thấm sâu vào tận cùng ký ức những người có mặt và tôi chắc chắn không ai hạnh phúc hơn chúng tôi, những người suốt bao năm tháng qua, âm thầm, lặng lẽ chuyển tải thiết bị, máy móc, tập dượt, dựng chương trình với bao gian khổ để hôm nay chỉ cần nghe câu "Đây là đài Phát thanh Giải phóng... Tiếng nói...". Đúng là tiếng nói của cả một dân tộc đã vang lên, bay vào không gian đến tận mọi tầng lớp nhân dân. Trong không khí yên ắng đó, bỗng chú năm Quang, chú tư Châu, chú hai Lý cùng vỗ tay rồi ôm nhau vui mừng reo lên: "Cà Mau bắt được Đài rồi! Hoan hô, hoan hô"... Chú bảy Kỉnh từ bên ngoài cũng chạy vào báo tin: "Khu 6, Bác Ái, Bình Thuận bắt được sóng rồi! Rõ lắm, rõ lắm...". Anh em văn nghệ sĩ, cả cơ quan Ban Tuyên huấn R chúng tôi như chợt tỉnh. Mọi người cùng bá vai nhau, bắt tay gật gật cùng la ó: "Có Đài rồi"!. Đài Phát thanh Giải phóng đã chính thức ra đời.


Không nỗi mừng vui nào hơn khi Cách mạng miền Nam đã có tiếng nói chính thức trên diễn đàn. Có điều để tiếng nói đó mãi mãi vang vọng, động viên tinh thần chiến đấu của quân dân ta với những tin chiến thắng khắp miền Nam và những lời ca, tiếng hát thúc giục tòng quân... Đài phải di chuyển đến nơi an toàn hơn. Đầu tháng 12 năm 1961, cả Ban Tuyên huấn R nhận lệnh từ anh năm Cảnh - Văn phòng Ban: "Cả cơ quan sẽ hành quân xa trên đường vạn lý. Tất cả chuẩn bị sức khỏe, cá nhân gọn nhẹ. Các đồng chí già yếu, bệnh tật đi trước. Lần hành quân này rất gian khổ, nặng nhọc, các đồng chí phải chuẩn bị tinh thần với quyết tâm rất cao". Lệnh hành quân bắt đầu sau một đêm liên hoan ca hát. Máy móc, thiết bị đài được rải ra từng bộ phận... hoặc vác, hoặc khiêng. Tất cả đều trên đôi vai chiến sĩ, hành quân suốt ngày đêm.


"Khi xuống vực - hai khiêng hai đỡ. Lúc lên đèo hai đẩy, hai khiêng. Đói lòng ăn nửa vắt cơm. Uống ngụm nước suối... ngày đêm dặm dài". Đó là những nỗi gian nan, vất vả của chúng tôi được cô đọng lại thành bài hát, theo chúng tôi rong ruổi suốt đường dài. Sau hai ngày chúng tôi mới tới mép sông Mã Đà. Trong nhật ký Vạn Lý của tôi còn ghi: "Sông Mã Đà nước sông cuồn cuộn. Vực bờ sâu, lên xuống khổ thay! Cưa cây dầu bóng ngả dài. Bấm chân đòn nặng... lần hồi bước qua". Những địa danh trên đường vạn lý nào rừng vắt, lộ Mã Đà, đồi Thao Lao, sông Rạt, cầu Mây... lần lượt qua đôi chân suốt 12 ngày đêm mới đến địa phận Phú Giáo, chuẩn bị vượt lộ 13 Chơn Thành, Xa Cam, Xa Cát... Lại là những: "Đường ta qua không một dấu chơn người, chỉ có chim bù chao ca hát". Ca hát cái nỗi gì! Ở rừng, mỗi khi nghe tiếng chim bù chao ong óng là mình sợ "lũ biệt kích" đánh lén thấy mồ. Thời điểm này, bộ đội địa phương Chơn Thành đã đánh đồn Nguyễn Đình Quát, diệt ác, phá kềm, bao vây đồn bốt mở rộng vùng giải phóng. Công nhân cao su Xa Cam, Xa Cát, Hớn Quản, Lộc Ninh cũng dấy lên phong trào dân chủ, dân sinh... Bọn tề ngụy ở dọc lộ 13 lo sợ như gà mắc tóc. Lộ 13 không lúc nào vắng bóng lữ đoàn dù tuần tiễu trong tâm trạng lo sợ, dáo dác dòm ngó... Rồi thì đại bộ phận cánh quân cũng vượt qua lộ an toàn và dừng chân dưõng quân ba ngày tại bên kia Đồng Dầu, dọc Suối Le. Càng về gần Tây Ninh, lòng tôi càng nao nao đến lạ. Lại ngủ đêm Minh Thạnh, Cần Lê. Lại gió xuân đêm 23 Tết. Lại hành quân hăm hở đường về. Đất Tây Ninh kia rồi. Tôi nghe rõ tiếng anh năm cảnh, anh sáu Khuyên tươi cười với nhau: "Phải qua sông Sài Gòn đã chớ!". "Sông Sài Gòn... Phía thượng nguồn. Lòng sông hẹp, quanh co nước xiết".


Trời! Tây Ninh đây sao? Tây Ninh của tôi, con rạch Cả Cùng, đồng cỏ Lộc Ninh, Trảng Mai, rừng Nhàu, sa Ong Chắc... Đã 23 Tết, dù có phấn đấu thế nào cũng không về cứ được trước Tết. Con lộ đỏ Bàu Cỏ án ngữ trước mặt với mấy đồn dân vệ Khê-đon, Bàu Bắc kia rồi.


Tôi ngước nhìn bầu trời Tây Ninh đúng vào đêm 30 Tết đầy sao sáng. Nhìn dọc hướng về xóm nhà dân, đèn sáng đỏ từ lâu. Pháo Tết nổ đì đùng. Bọn dân vệ cũng bắn súng đì đùng, mừng xuân mới.

Qua lộ đã nửa đêm. Anh tư Minh cho dừng quân tạm nghỉ. Anh đến tổ khiêng máy số 9 của tôi:

- Đi bây, theo tao ba đứa.

- Đi đâu anh Tư? - Tôi hỏi.

- Quay lại ghé quán bên đường hồi nãy đó, mua ít bánh kẹo...

- Trời đất...

- Bao xa mà trời với đất! Đi!

Dọc đường, anh tư Minh nói: "Một lát hội quân ở Giếng Thí, gần lộ ủi Trần Lệ Xuân, cánh quân mình có bánh kẹo mà đón giao thừa chứ".

Quán tạp hóa bên đường cũng đang lăng xăng đón Tết. Thấy chúng tôi, bà chủ quán bật kêu lên:

- Trời đất, mấy ông Mặt trận hả?

Anh tư Minh điềm nhiên:

- Tụi cháu ghé quán mua ít bánh kẹo, lát dừng quân có mà đón giao thừa.

Bà chủ quán tốt bụng nhất định tặng cho chúng tôi mấy bịch bánh ngọt, kẹo đậu, kẹo lẻ... không lấy tiền.

Cô con gái bà chủ quán mặc áo tay phùng, lấp ló sau lưng e dè hỏi:

- Mấy ông Việt cộng hả má?

Bà chủ quán mắng yêu cô gái:

- Nhỏ khùng! Mấy anh Mặt trận chớ, Việt cộng nào?

Anh tư Minh không quan tâm lắm đến lời lẽ của mẹ con bà chủ quán. Anh lặng lẽ móc tiền ước lượng giá bánh kẹo rồi để dằn dưới bọc nhang thơm trên quầy, xong phất tay kéo đi. Không khí bên trong quán dường như im lặng hẳn.


Đồng Giếng Thí, rừng Trâm Sừng là vạt rừng thưa, trảng trống nhưng đầy sao sáng đón mừng buổi hội quân đón giao thừa. Bếp than đỏ lửa nấu nước pha trà, hâm nóng thức ăn trông thật vui mắt. Đúng là vui, về gần tới cứ rồi, không vui sao được. Cả đoàn quân vui Tết giữa đồng trảng Tây Ninh, chắc không ai chạnh lòng cùng tôi. "Xuân sáu mốt trốn chui, trốn nhủi. Tết sáu hai Giêng Thí, Trâm Sừng. Mới đó, từ Mã Đà, vạn lý. Nay thì đường Giếng Thí hành quân!".


Mừng xuân 2005 nhớ xuân 1961. Tôi ngẫm ngợi và ghi lại để có gì gọi là "công trình" chào mừng 30 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Từ lá cờ "xanh đỏ vàng sao" đến rợp trời "sao vàng cờ đỏ" đã có bao nhiêu đồng chí, đồng đội nằm xuống cho đất nước đứng lên và Đài Phát thanh Giải phóng trên vai chiến sĩ nay đã có cơ ngơi hiện đại, để rồi ai nhớ, ai quên?

Tháng 12 năm 2004
N.T - T.H


Tiêu đề: Bản hùng ca xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Giêng, 2022, 07:28:26 am
CHUYÊN "TÂM BÌNH PHƯƠNG"


TRẦN NHÂN TÂM


Kỷ niệm đã buộc vào cuộc đời, cứ mỗi ngày qua đi, lại dày thêm, nặng thêm. Người khác thì tôi không hiểu, nhưng chuyện riêng của tôi với em Tâm đã cất kỹ trong lòng mà chưa nói được ra, cứ cảm thấy nằng nặng, gờn gợn, nhiều khi nghĩ đến còn thấy ran ran ở lồng ngực.


Cứ cầm bút thả những suy tư, nỗi nhớ và thực ra là những kỷ niệm khó quên của cuộc đời anh lên từng trang giấy này, liệu có đỡ nặng hơn chăng?

Đất nước có chiến tranh, đời lính nay đây mai đó, hết Thanh Hóa vào Nghệ An. Ngày đến xã Hưng Đạo, huyện Hưng Nguyên là một ngày đáng nhớ, không quên, tình quân dân đằm thắm như nó vốn có tự bao giờ. Đại đội được làm công trình quốc phòng. Chi đoàn bộ đội kết nghĩa cùng chi đoàn địa phương. Ban chấp hành hai chi đoàn là những người thường xuyên giao lưu để triển khai nhiệm vụ của hai chi đoàn. Tôi và em Tâm biết nhau từ những ngày đầu thanh xuân như vậy.


Những buổi sinh hoạt liên chi đoàn, những buổi cùng tập quân sự, những giờ diễn thuyết và những buổi tập văn nghệ, biểu diễn văn nghệ, tình quân dân thân quen như tình làng nghĩa xóm.

Tôi cũng tên là Tâm. Hai bí thư của hai chi đoàn nhiều khi gọi người nọ thì người kia thưa, khi hội họp giới thiệu người phát biểu thì thường được hiểu lầm, nên cũng làm vui cho nhiều buổi sinh hoạt của liên chi đoàn. Cũng vì thế mà chúng tôi được đơn vị cùng chi đoàn địa phương đặt cho cái tên thường gọi là Tâm Bình Phương.


Tâm Bình Phương mới nghe lần đầu thì không sao, đến khi nghe mãi nó ngâm vào mình tự khi nào, muốn vô tư đi, nhưng khi đồng đội gọi chả lẽ mình lại không thưa, vì mọi người gọi mãi tên nghe đã quen rồi. Bà con dân xã, gia đình bà cụ chủ đi ra ngoài đường đến các cháu học trò cũng gọi chú Tâm Bình Phương, đến thủ trưởng cũng bảo: Tâm Bình Phương lên đại đội ta bàn nhiệm vụ mới.


Em Tâm bí thư chi đoàn địa phương cũng lâm vào tình cảnh như tôi vậy. Câu nói cửa miệng, chỉ là câu nói đùa, khi đã thành thói quen: nó lại là tấm lưới vô hình chụp lên mọi công việc và lời nói của chúng tôi. Hai chi đoàn luôn được cấp trên biểu dương một phần cũng là do Tâm Bình Phương hay gặp nhau để cùng bàn công việc, cùng triển khai, để có lý do gặp nhau... và cho đỡ nhớ.


Chuyện Tâm Bình Phương nếu chỉ có thế thôi thì trên đất nước chiến tranh kể cả hòa bình thiếu gì chuyện tương tự như vậy. Nhưng chuyện của chúng tôi còn rẽ sang hướng khác.

Ngày xong công trình, đơn vị tôi chuyển quân về huyện Yên Thanh huấn luyện để chuẩn bị đi B. Buổi chia tay, em nói với tôi sẽ tòng quân xin đi học lớp y tá hay hộ lý nhập vào đơn vị giao liên hay đơn vị chiến đấu nào đó trên đường Trường Sơn để được gần tôi.


Chúng tôi cầm tay nhau thật chặt hứa với nhau giữ gìn những kỷ niệm đẹp như những báu vật bất ly thân.

Để chuẩn bị cho cuộc hành quân đi chiến đấu, tôi tập trung tư tưởng vào việc học tập và huấn luyện tốt nhất.

Tháng 9 năm 1967, tôi cùng toàn thể đơn vị hành quân vào Nam. Cuộc hành quân mang vác vũ khí đạn dược cùng ba lô quân tư trang thật nặng nên gian khổ. Máy bay địch suốt ngày soi mói, bắn phá, phải đi đêm ngày nghỉ. Vì vậy, sự gian nan vất cả lại càng tăng lên. Đi suốt đêm, sáng ra sẽ đến một binh trạm trên rừng Trường Sơn. Đến nơi thì đã thấy đơn vị bạn đến trước đơn vị mình.


Bộ đội dừng nghỉ tập trung ở các bãi khách trong rừng thật đông vui như đi chợ tết. Chỉ khác là không có kẻ bán người mua mà toàn nam nữ thanh niên è lưng, còng vai mang vác vũ khí.

Các đồng chí bộ đội nam khi hành quân từ trạm nọ sang trạm kia, đều muốn các cô gái bộ đội giao liên xinh đẹp hoạt bát dẫn đường. Họ vừa đi vừa nói đủ các loại chuyện trên đời, nên các cung đường ra tiền tuyến có phần như ngắn lại. Hành trang ra trận có phần như nhẹ đi và các loại tin tức từ Bắc chí Nam, từ hậu phương ra tiền tuyến cứ như chuyện trong nhà.


Đơn vị chúng tôi ngày nghỉ, đêm đi vượt Trường Sơn vào Nam đánh Mỹ với lòng quyết tâm, với sự bển bỉ giản đơn như vậy.

Trong một đêm đang hành quân, vào khoảng 1 giờ sáng, có hai cô gái bộ đội giao liên vượt lên được hỏi chúng tôi: "Đây có phải Đại đội 10 Tiểu đoàn 5 không?". Chúng tôi cùng trả lời là đúng.

Đến giờ nghỉ giải lao, đồng chí đại đội trưởng phổ biến với chúng tôi: Có lệnh của cấp trên điều đơn vị hỏa lực của chúng tôi tăng cường cho trung đoàn bạn đã vào trước để bất ngờ đánh trận đầu vào căn cứ quan trọng.


Hai cô gái bộ đội giao liên dẫn đơn vị tôi vào mặt trận, vượt khỏi khu rừng rậm là gặp khu đồi toàn lau lách sim mua. Dưới ánh sao lạnh lẽo của đêm Trường Sơn, qua giọng nói và cách kể chuyện, Tâm Bình Phương chúng tôi đã nhận ra nhau. Chuyện gặp nhau của chúng tôi giữa cái thời khắc súng đạn này thì chỉ trong chiến tranh mới có.


Từ lúc Tâm Bình Phương chúng tôi nhận ra nhau, khắp đại đội chuyện cứ vui như đám cưới, dù mọi người ai cũng biết rằng phía trước mắt chúng tôi là mặt trận, ngày mai sẽ giáp mặt kẻ thù và chốc lát nữa thôi, em và chúng tôi sẽ phải chia tay.


Tôi cùng đơn vị mải miết với các trận chiến đấu. Và trận đánh cứ điểm Làng Vây, trận đánh được chuẩn bị rất kỹ, hai lần xuất quân, lần thứ hai mới nổ súng đồng loạt được. Bởi vì đây là trận hiệp đồng binh chủng đầu tiên của quân ta. Trận đánh kéo dài từ 10 giờ đêm tới 3 giờ sáng. Quân ta cũng như quân địch bị thương, hy sinh khá nhiều. Binh sĩ nằm rải rác khắp căn cứ Làng Vây. Mùi thuốc súng đậm đặc, mùi xe tăng cháy, kho đồ hộp và lán trại của địch cháy bập bùng, đám to đám nhỏ. Lửa cháy bén vào các kho vũ khí. Mìn đạn nổ bay ngược lên trời hơn cả pháo hoa. Rồi cả dàn pháo nòng dài từ Tà Cơn bắn đì đùng chặn giữa đường 9. Xen giữa tiếng nổ kinh hoàng cuốỉ trận đánh là tiếng rên la của các thương binh thiếu nước, là tiếng thở gấp gáp hấp hối của các tử binh. Trên trời pháo sáng chập chờn chơi vơi. Trường Sơn nửa đêm về sáng lạnh thấu xương. Mờ trong đêm đặc mùi chiến trận, một đoàn chiến sĩ cứu thương đang vội vã lặng lẽ tìm những thương binh, liệt sĩ có băng trắng buộc bắp tay, đặt vào cáng chạy nhanh về các trạm cứu thương và Binh trạm 16 Đoàn 559... Sự yên lặng sau trận đánh, mùi tử khí với màn đêm ma quái vẫn không ngăn nổi người chiến sĩ cứu thương đang tìm nhanh đồng đội của mình đưa về cấp cứu.


Tôi bị thương khắp người vì mảnh cối 60, vết thương không sâu nhưng mất máu nhiều. Tôi ngất đi khi còn kịp buộc lại chiếc khăn trắng vào bắp tay.


Tiêu đề: Bản hùng ca xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Giêng, 2022, 07:29:26 am
Binh trạm 16 Đoàn 559, nơi điều trị cho thương binh, bên bờ suối trên đồi là rừng rậm làm bãi khách cho bộ đội ra vào.

Sau những ngày hôn mê, tôi nhận ra em "Tâm Bình Phương", tay bắt mặt mừng. Giờ mới nhìn rõ lại nhau. Người thương tật, xanh xao và tóc em đang rụng, chỉ có ánh mắt còn giữ nguyên, vẫn long lanh như những ngày còn ở liên chi đoàn, Tâm Bình Phương hát chung bài "Trước ngày hội bắn".   Hoàn thành nhiệm vụ dẫn quân từ A sầu, A Lưới trở về, em cùng tôi chuyện trò bên suối. Buổi chiều Trường Sơn ánh nắng vàng vọt xuyên chéo qua từng vạt rừng tán lá. Da em xanh, môi em thâm vì sốt rét. Đầu không rời chiếc mũ tai bèo. Bộ quần áo lính bạc màu, đôi dép cao su sáu quai gót mòn lỏng lẻo.


Em kể, từ ngày anh đi huấn luyện để đi B, em nhập ngũ ngay, xin vào học lớp hộ lý giao liên rồi xin vào Binh trạm 16 Đoàn 559 là cửa ngõ chuyển quân của mọi mặt trận để chờ dịp gặp anh.


Em kể chuyện dẫn quân, các đoàn quân vào thì nhiều, trở ra thì ít, chỉ thấy thương binh ngày càng lũ lượt khiêng ra, các lán thương binh dồn ứ, cứ năm bảy ngày lại thêm một lán mới. Em ngẩng lên hỏi tôi sau tiếng thở dài:

- Anh ơi, bao giờ mới hết chiến tranh?

- Tóc em bao giờ mới mọc lại được?

- Da xanh thuốc nào chữa khỏi hả anh?

Em nấc lên rồi khóc, em khóc thương cho bao đồng đội đi không về, em khóc cho tuổi xuân của mình, của bạn bè cứ rụng dần theo mùa lá, em khóc cho mỗi ngày chứng kiến bao chiến sĩ trẻ hy sinh mà không có một nén nhang đón đưa.


Tôi ngồi im nghe, đón nhận tiếng khóc, tiếng nấc của em. Dòng suối vô tư thế mà cũng nấc lên theo từng tiếng róc rách rồi xoay tròn từng chiếc lá khô mới rụng, lững thững chảy xuôi.

- Anh à, cả nước có chiến tranh, hậu phương và tiền tuyến đều đang đánh giặc. Tất cả thanh niên nam nữ ra trận, họ hăng hái ra đi, ngày lại ngày em dẫn bộ đội đi, khi về em lại cáng thêm thương binh... Thương quá anh ơi!


Ngày tôi lành vết thương, binh trạm và em tiễn tôi trở lại chiến trường. Ra khỏi cánh rừng, em kéo tôi vào lòng, nước mắt em chảy tràn sang mắt tôi, và nói: "Em sẽ chờ anh đến ngày chiến thắng".

Cuộc chiến đấu cứ như một vòng đèn cù. Ta và giặc đuổi nhau, quần nhau. Đêm và ngày chỉ là đánh dấu thời điểm sáng tối, còn mặt trận là súng nổ, các trận địa gần mặt đường đêm ngày không ngớt tiếng súng nổ, đạn pháo...


Tuổi xuân, đời lính trong lòng chảo cuộc chiến từ Khe Sanh đến A sầu, A Lưới, Đông Hà, Cửa Việt, Ái Tử, sông Sê Pôn, suối La La... chỉ là những chỗ dừng chân ăn vội, ngủ tạm rồi lại truy kích giặc.

Suốt chiều dài cuộc chiến, nhớ sao hết bao lần đại đội phải bổ sung chiến sĩ mới, nhớ sao hết bao lần đào huyệt ngả mũ giã từ đồng đội, bạn bè. Nước mắt mồ hôi hòa vào nhau, trộn với bụi chiến trường khô tự bao giờ.

Rồi lại một trận đánh như bao trận đánh trước, chỉ có khác là đánh với đội quân đồng minh của địch là Mỹ - ngụy - Hàn - Thái ở cứ điểm Khe Sanh, Tà Cơn. Đơn vị tôi đảm nhận đánh lên giành giữ Cao điểm 400 - Nam Khe Sanh. Trận chiến quá ác liệt, ta và địch giành nhau từng thớ đất, khóm cây trong một đêm trời đen như mực, lạnh run người. Chúng tôi ngày càng tiến lên đỉnh cao điểm. Đã gần 3 giờ sáng, biết không giữ nổi cao điểm, địch nã pháo dàn từ Tà Cơn, Khe Sanh đến hủy diệt. Trên trời, các tốp máy bay thả pháo sáng, sáng như ban ngày và thay nhau giội bom, xả đạn và phóng tên lửa không đối đất. Mặt đất rung lên...


Rồi chân tôi không lết đi được nữa. Hai tay ôm chặt bắp đùi. Tôi nghiến răng, tai vẫn nghe tiếng pháo địch nổ ở đường số 9, tôi lịm dần...

Tỉnh dậy, khi mắt chưa mở, tôi cảm thấy mùi thuốc, mùi cồn, mùi bệnh xá mà cách đây mấy tháng mình đã từng tiếp xúc. Toàn thân nhẹ tênh, cảm thấy mười đầu ngón tay vẫn còn. Nháy ngón chân trái, vẫn còn. Nháy chân phải, thấy nhẹ tênh. Thử co chân lên, lấy tay sờ vào mới thấy mình đã mất một chân. Tôi định hét lên... Trong giây phút hoảng loạn ấy, tôi nhận thấy kể vai mình là một mái đầu dựa vào, đang ngủ. Tôi chợt hiểu rằng, em Tâm Bình Phương của tôi đang ngủ ngồi mỏi mệt chăm tôi, em gục ngủ thiếp không biết tự bao giờ.


Tôi lặng người, thương cho mình, thương cho em quá. Nước mắt trào ra... Tiếng gió đập vào cái liêp nứa trên sạp tre làm em choàng dậy. Em cũng vội hiểu ra, chụp mũ vào đầu. Em đứng lên nhìn tôi, tôi ngắm em. Bốn mắt nhòe ướt. Chợt em cúi xuống, ôm choàng lấy tôi rồi bật khóc.


Chao ôi, từ cái chết trở về, trong vòng tay của em, sao tôi thấy êm lạ lùng, mừng thẹn... Nhưng trong giây phút ấy, tôi cũng kịp nhận ra sự thật phũ phàng mà tôi được biết qua một người bạn giao liên: em đã mất một bên ngực, mất một phần vẻ đẹp của người con gái trong một lần bị dính bom B-52.


Nước mắt và hơi thở của em. Đúng rồi, nước mắt và hơi thở nồng nàn của em thật mãnh liệt, đầy thương yêu truyền vào lòng tôi. Em là người con gái đầy sức thanh xuân trong chiếc lán cấp cứu thương binh giữa chiến trường.


Có tiếng bước chân nhẹ nhàng trên lá khô:

- Tâm ơi, đồng chí thương binh tỉnh chưa?

Em đứng lên, gạt vội nước mắt, ra mở cửa. Một luồng ánh sáng đục mờ theo bước chân người thầy thuốc đi vào. Em trả lời, giọng còn nhiều nước mắt:

- Anh ấy vừa mới tỉnh, chị Thương ạ!

Tôi dụi mắt cho hết nhòe, rồi cất tiếng: Chào bác sĩ.

- Anh cứ nằm yên, đừng cựa nhiều. Bác sĩ nói. Anh cũng tên là Tâm, đẹp quá nhỉ! Anh phải cảm ơn nhiều cái Tâm của chúng tôi đấy. Tối hôm kia, đội cứu thương cùng Tâm tìm thấy anh ở Cao điểm 400, đưa về đây trong tình trạng hôn mê sâu, vì chân anh đã nhiễm trùng hoại thư. Đội phẫu thuật quyết định cắt cụt, bỏ phần hoại thư cứu anh. Nhưng máu truyền lại không có, trong khi sức anh đã suy kiệt. May Tâm của chúng tôi cùng nhóm máu đã tiếp cho anh, nên mới có buổi sáng nay chúng ta gặp nhau mà vui trong nước mắt...


Tiêu đề: Bản hùng ca xuân 1975
Gửi bởi: vnmilitaryhistory trong 10 Tháng Giêng, 2022, 07:30:16 am
Ngừng một lát, bác sĩ nói tiếp:

- Anh cứ yên tâm, trạm phẫu này được đào dựng kiểu âm dương, gần mặt trận mà máy bay địch khó phát hiện. Cách đây 3 tháng, máy bay Mỹ rải chất độc rụng lá, nên khu rừng này chỉ còn cây khô và lá khô nên càng dễ ngụy trang.

Chị quay sang nói với Tâm:

- Tâm à, tối qua bộ đội bổ sung cho các mặt trận rất nhiều. Trạm ta người đang sốt, người bị thương nên người thạo đường chẳng còn mấy. Em về bãi khách để thủ trưởng giao nhiệm vụ, mặt trận chờ em dẫn quân vào. Còn anh Tâm, chị và trạm sẽ chăm sóc tốt, em yên tâm.

- Vâng - em trả lời rất nhanh.

Rồi em cúi xuống gần mặt tôi, chậm rãi nói: "Anh nhớ nghe lời bác sĩ, thay băng, uống thuốc, ăn khỏe để vết thương chóng lành. Xong nhiệm vụ, em sẽ về với anh ngay".

Bên ngoài, chiếc OV10 lúc xa lúc gần, tiếng pháo hư hư thực thực...

Nhớ lời em dặn, tôi ngoan ngoãn thay băng, uống thuốc theo chỉ dẫn của bác sĩ, mắt đau đáu nhìn qua liếp cửa, tai dỏng lên nghe tiếng bước Ị chân em, quên cả tiếng máy bay, tiếng loa tâm lý của địch ầm ào lải nhải.


Mờ sáng, các anh chị dân công hỏa tuyến cùng bác sĩ Thương nói rằng: Chuyển tôi ra Bắc điều trị vết thương.

Tôi hỏi: "Sao Tâm chưa về?".

Chị Thương bảo: "Em Tâm là người hiểu biết, thạo việc, nên luôn nhận những nhiệm vụ đặc biệt. Anh nhắn nhủ lại điều gì, tôi sẽ chuyển tới em".

Tôi chỉ biết cảm ơn chị cùng binh trạm và em Tâm đã cho tôi sống lại. Tôi nhờ chị nhắn tới em Tâm Bình Phương sẽ là Tâm Bình Phương suốt đời.

Đoàn 558 Thanh Hóa đón thương binh từ mặt trận về với tất cả tình cảm của cha mẹ dành cho con cái đi xa trở về, thật nồng ấm, chan hòa, xúc động.

Vết thương đã lành, tôi về trại thương binh, tôi chăm nghe đài, sưu tầm các tin có liên quan đến Đoàn 559, đến bộ đội giao liên - y tá hoạt động trên đường Trường Sơn.

Thư hỏi thăm, tìm em đã qua nhiều địa chỉ mà tuyệt nhiên không có thư và tin tức hồi âm. Tôi chống gậy vào quê em mà lòng nặng trĩu... Chẳng thấy em rồi, tôi xin rời trại, về quê.

Tôi lấy vợ, sinh cháu đầu lòng. Được 3 tháng thì cháu ra đi. Đến cháu thứ hai dị dạng cả tứ chi. Nuôi con hàng ngày, nghe dư luận, về nhà nhìn con thương như đứt lòng. Ngày con phát bệnh đã sang tuổi 17, đưa con ra Bệnh viện Việt Đức, Hà Nội chữa bệnh thần kinh, con vào phẫu thuật, cha ngoài hành lang đứng, đi, nghỉ, ngồi đều không yên.


Chợt tôi nhận nhanh ra bóng một người phụ nữ tôi đã gặp ở đâu, đang cõng một người con cũng dị dạng chạy nhanh vào phòng cấp cứu.

Qua cửa kính phòng cấp cứu, tôi nhận ra người phụ nữ đó đúng là em Tâm Bình Phương của tôi rồi.

Chờ em ra khỏi phòng, tôi bước đến bên em, em cũng nhận ra tôi. Chúng tôi nhìn nhau chẳng nói nên lời, chỉ biết ấp bốn bàn tay vào nhau, mặc cho nước mắt ngày nào trào ứa.

Buổi hôm sau như trăm ngàn buổi chiều ở xứ sở này, chỉ khác buổi chiều Trường Sơn là buổi chiều bệnh viện. Trước mặt chúng tôi không phải là dòng suối tím, mà là phòng cấp cứu điều trị của bệnh viện Việt - Đức trong hòa bình.


Chúng tôi ngồi trên chiếc ghế xi măng bệnh viện. Em úp mặt vào hai bàn tay gục đầu xuống gối, toàn thân rung lên như lên cơn sốt rét. Tôi nhắm mắt, lòng dạ cồn cào. Cơn khóc đang đổ ập xuống... Cơn khóc như đang cắt, đang chia hai nỗi đau nỗi nhớ đã cuộn tròn, vo lại, nay mới nức nở tuôn trào.


Chợt từ lối ra ở cửa phòng cấp cứu, có tiếng nói cười líu ríu, tiếng guốc cao gót gõ gạch hoa. Một toán y sinh trai gái thực tập hết giờ đang vui vẻ ra về. Họ đã nhìn thấy chúng tôi. Họ đi chậm lại sát đường bên kia. Những ánh mắt họ dồn sang phía chúng tôi. Một người bỗng buông ra một câu "Ô, các anh chị tóc đã muối tiêu rồi mà còn mùi mẫn nhỉ...".


Em ngẩng lên, mắt nhìn theo tốp người, quay sang tôi, nói trong nước mắt:

- Em đã cố tình lảng tránh anh... Em nghe các bác sĩ nói với nhau là các con chúng ta đều bị nhiễm chất độc da cam do bố mẹ bị nhiễm trong chiến tranh chống Mỹ. Anh Tâm ơi, hơn hai chục năm từ hôm xa anh đến nay, em chưa được khóc. Em không lấy chồng, em trốn tránh chính mình, trốn tránh anh. Em nhiều lần đến trại thương binh, nhìn anh từ xa, rồi em lại về nông trường để quên đi chính mình, để quên đi những ngày tháng cùng anh, cùng đồng đội cống hiến tuổi xuân cho đất nước. Thương tật của em, em không dám nói, mà em biết nói cùng ai, khi nông trường của em toàn là phụ nữ, cảnh ngộ như nhau. Rồi một lần, không tự dối mình được nữa, em đã đánh liều xin một người đàn ông cho em một lần làm mẹ.

Có tiếng gọi từ cửa phòng cấp cứu: "Người nhà bệnh nhân di chứng bại não đâu?".

Tiếng gọi đưa chúng tôi về với những đứa con dị dạng của mình. Mắt chúng tôi lại nhòe suốt dọc hành lang đẩy xe đưa con về phòng hồi sức...

Thời gian lại qua đi, không lâu... Tới một ngày hôm ấy, tôi nghe tin em đã qua đời. Với tôi, "Tâm Bình Phương" - cái tên đã thành của báu...

T.N.T