Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu nước ngoài => Tác giả chủ đề:: nhinrathegioi trong 11 Tháng Chín, 2021, 07:59:20 am



Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 11 Tháng Chín, 2021, 07:59:20 am
Tên sách: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Tác giả: Jean Sainteny
Người dịch: Lê Kim
Nhà xuất bản: Công an Nhân dân
Năm xuất bản:
Số hoá: giangtvx, nhinrathegioi


LỜI GIỚI THIỆU


Jean Roger Sainteny là một thiếu tá tình báo Pháp, sau khi Nhật Bản tiến hành đảo chính lật đổ chính quyền thực dân Pháp tại Đông Dương ngày 9 tháng 3 năm 1945 được cử đứng đầu mạng lưới tình báo, gián điệp biệt kích, hoạt động tại khu vực biên giới Hoa - Việt và Vịnh Bắc Bộ, đặt trụ sở tại Côn Minh, Trung Quốc.


Sau khi Nhật Bản đầu hàng, Sainteny được Sở Tình báo chiến lược Mỹ ở Côn Minh giúp đỡ, đã tới Hà Nội; đầu năm 1946 được cử làm đại diện chính phủ Pháp trong cuộc đàm phán Pháp - Việt và ngày 6 tháng 3 năm 1946 đã cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh ký tên vào bản Hiệp định Sơ bộ, mở đầu quan hệ giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Pháp.


Do thái độ thiếu thiện chí của các thế lực hiếu chiến Pháp, cuộc chiến tranh Việt - Pháp đã bùng nổ ngày 19 tháng 12 năm 1946, dẫn đến thảm bại của Pháp tại Điện Biên Phủ tháng 7 năm 1954.

Với một sự tiếc nuối rõ rệt, năm 1954 Sainteny đã cho xuất bản cuốn hồi ký nhan đề Câu chuyện về một nên hòa bình bị bỏ lỡ, ghi lại những cảm nghĩ tại Việt Nam giai đoạn 1945 - 1947. Tiếp đó, sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, Sainteny lại cho xuất bản cuốn thứ hai vào năm 1970, nhan đề "Đối diện với Hồ Chí Minh".


Do hai cuốn sách cùng nói về một dòng thời cuộc nên Nhà xuất bản gộp cả hai cuốn trong một tập sách. Cũng xin lưu ý với bạn đọc, tác giả đã từng giữ vị trí quan trọng ở phía bên kia chiến tuyến trong cuộc chiến tranh Pháp - Việt nên không tránh khỏi cách nhìn, phân tích và đánh giá chủ quan, phiến diện. Những đoạn viết có tính chất hằn học, cay cú, xuyên tạc, đượm màu sắc thực dân và phân biệt chủng tộc, Nhà xuất bản đã lược bỏ bớt song vẫn giữ lại một phần để bạn đọc hiểu rõ tâm trạng của thực dân thua trận.

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.


NHÀ XUẤT BẢN CÔNG AN NHÂN DÂN


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 11 Tháng Chín, 2021, 08:03:41 am
QUYỂN MỘT
CÂU CHUYỆN VỀ MỘT NỀN HOÀ BÌNH BỊ BỎ LỠ


I
PHÁI ĐOÀN QUÂN SỰ PHÁP TẠI CÔN MINH


- Báo cáo thiếu tá, "Picardie" đòi một máy phát. "Normandie" vẫn duy trì tốt các bước liên lạc với các đội "Auge", "Bessin", "Boccage" của mình. "Béarn" vẫn chưa "nói" được, nhưng tôi hi vọng sẽ tiếp xúc được vào tối nay. Nếu không, chúng ta chỉ còn một cách là nhờ trạm thu phát của Trung Quốc. Trong trường hợp đó, phải chờ khoảng mười lăm ngày. Còn "Saintonge", "Gascogne", "Poitou", "Berry", "Martinique" và "Maroc" vẫn liên lạc rất đúng hẹn. Tiếp xúc bình thường. Những bức điện họ gửi về đang được giải mã. Lát nữa thiếu tá có thể đọc.

Viên trung úy chào rồi bước ra khỏi phòng làm việc của tôi. Đó là một sĩ quan rất trẻ, bị thương tật rất nặng, được khen thưởng vẻ vang. Ngôn ngữ anh vừa sử dụng để báo cáo có vẻ kỳ cục1 ("Normandie": Mật danh của căn cứ tình báo Pháp đặt ở bờ biển nam tỉnh Quảng Đông Trung Quốc, gần Móng Cái, Việt Nam. Những địa danh tiếp theo: "Picardie", "Auge"... là tên mật các đội tình báo cơ động của Pháp hoạt động tại Quảng Đông, Quảng Tây, Văn Nam, tiếp giáp Việt Nam). Mọi người dễ cảm nhận ngay điều đó khi thấy cuộc nói chuyện này được tiến hành trong khung cảnh một địa điểm ở độ cao cách mặt biển 200 mét, tại miền Nam Trung Quốc. Vân Nam... cách Paris 12.000 kilômét... Côn Minh, trước kia gọi là Vân Nam phủ. Lúc này đang là tháng 4 năm 1945.


Viên sĩ quan này là trưởng ban thông tin liên lạc của Phái đoàn 51 (Mission 5: Tên mật của cơ quan tình báo quân sự Pháp đặt ở Côn Minh). Đó là một trong số những người giúp việc xuất sắc và được yêu quý nhất của tôi. Có thể ví anh ta như một Gavroche2 (Gavroche: Tên một thiếu niên dũng cảm trong tiểu thuyết "Những người khốn khổ" của Victor Hugo) cục cằn, có trái tim vàng, hay phê phán, rất sẵn sàng phục vụ, luôn xung phong tình nguyện. Đó là kiểu mẫu của những thanh niên Pháp trong những năm đen tối. Anh là một anh hùng trong kháng chiến, đã nhảy dù xuống Bretagne3 (Bretagne: Tên một vùng miền Bắc nước Pháp, nơi các điệp viên Pháp từ Luân Đôn thường bí mật nhảy dù xuống nhăm hoạt động chống phát-xít Đức chiếm đóng thời kỳ 1941 - 1944) và được tặng thưởng Huân chương vinh dự4 (Légion d'honneur: Tên một loại huân chương cao quý của Pháp, thời Pháp thuộc thường gọi là "Bắc đẩu bội tinh") từ lúc mới 20 tuổi. Trung úy sống ngay tại nơi làm việc, gọi là "Trung tâm". Không có cái trung tâm thông tin này cùng với trung úy và đồng đội của anh, Phái đoàn 5 coi như thiếu sự sống. Trên đôi vai trẻ của anh còn đặt cả sự tồn tại của tất cả các "phái đoàn" khác hoặc công khai, hoặc bí mật bố trí suốt dọc biên giới Trung Quốc, tiếp giáp Bắc Kỳ, nhằm thu lượm mọi biểu hiện nhỏ nhất về những công việc chuẩn bị, vận chuyển, hoặc tinh thần mệt mỏi của kẻ địch. (Chúng tôi dùng danh từ "phái đoàn" để gọi chung các nhóm tình báo đặt chủ yếu trên lãnh thổ Trung Quốc, dọc theo biên giới tiếp giáp Đông Dương, có nhiệm vụ báo tin về cho Trung tâm, đặt ở Côn Minh. Những nhóm này lấy tên các tỉnh, các vùng hoặc các thuộc địa Pháp làm mật danh).


Mỗi nhóm tình báo này gồm từ hai đến ba sĩ quan Pháp (một trưởng, một phó và một điện báo viên). Họ thường bị các nhà chức trách địa phương của Trung Quốc lúc thì ủng hộ, lúc thì xua đuổi, bị các nhân viên phản gián của Nhật Bản theo dõi, bị các phần tử dân tộc chủ nghĩa người An-nam bám sát. Trong những điều kiện khó khăn nhất, họ vẫn bám trụ tại những địa điểm trong khu vực biên giới là nơi có thể tìm hiểu tình hình trong nội địa Bắc Kỳ hoặc Lào.


Thi thoảng, cũng có một người trong nhóm thâm nhập vào bên trong lãnh thổ địch, nhưng thông thường thì chỉ sử dụng điệp viên người bản xứ hoặc hỏi dò các tay buôn lậu, các nông dân, các nhà buôn qua lại biên giới.

Có thể nói, đây là công việc của những con kiến và những con nhện kết hợp với nhau. Không phải chỉ có việc thu lượm tin tức tình báo là đủ, mà còn phải làm thất bại những mưu mô đánh lừa, những tin tức giả tạo, phải sàng lọc một cách nhanh chóng các tin tức, đó là điều cần thiết nếu ta biết rằng người châu Á rất hay tưởng tượng thường tạo ra những nguồn tin không chính xác, phải đánh hơi và lượm lấy nguồn tin có giá trị, đánh truyền đi để cung cấp cho ban tham mưu Đồng minh đang nóng lòng chờ đợi. Những nhóm này phải chống chọi với mọi kẻ thù: khí hậu, dân chúng, sự cô đơn, những cám dỗ đủ loại. Những nhà chức trách địa phương của Trung Quốc, trước hết đều rất ngập ngừng do dự trong việc dung nạp những sĩ quan tình báo Pháp là những người nhìn thấy quá nhiều, hiểu biết quá nhiều...


Tất cả những mạng lưới này đều nối với Phái đoàn 5 là cơ quan chỉ huy đặt tại Côn Minh. Cơ quan này trực thuộc cơ quan cao hơn đặt tại Calcutta, có mạng lưới phủ khắp Viễn Đông.

Phải giàu trí tưởng tượng lắm mới hình dung được khung cảnh làm việc của Phái đoàn 5. Trụ sở của Phái đoàn được đặt tại một tòa biệt thự sang trọng, mà nếu xây dựng tại mũi Antibes hoặc bờ biển xứ Basque có lẽ sẽ ít ngạc nhiên hơn là nhìn thấy tại đây. Đó là tòa nhà cũ của các giám đốc sở tín dụng giàu có của Pháp, nay biến thành một cái tổ ong tấp nập hoạt động. Tòa biệt thự - tổng hành dinh này ở ngay giữa lòng thành phố, nằm sâu trong một phố nhỏ, lối đi khúc khuỷu và đầy bùn lầy. Chính tại Côn Minh, thủ phủ tỉnh Vân Nam, một tỉnh tự trị giàu có ở miền Nam Trung Quốc, là nơi đặt sở chỉ huy này.


Mỗi ban được tạm thời đặt trong các phòng ngủ hoặc phòng tiếp khách của tòa biệt thự. Nhiều phòng khác đến đêm cũng biến thành phòng ngủ công cộng. Trong khu vườn bên ngoài dần dần được xây thêm những công trình đơn giản theo kiểu Trung Quốc để dùng cho các ban đang ngày càng bành trướng. Những chiếc xe Jeep dùng để liên lạc với các sở chỉ huy Đồng minh ở Côn Minh liên tục ra vào khu vườn có những bông hoa rực rỡ, trong đó có hoa mimosa.


Phòng làm việc và phòng ngủ của tôi cũng đặt chung trong một gian nhà mà tôi chỉ rời khỏi đó mỗi lúc đi ăn. Hai sĩ quan luân phiên thường trực, chuyên trách giải mã các bức điện mật, tuân thủ kỷ luật rất nghiêm là chỉ "đi ra ngoài" để mang tới cho tôi một bức điện khẩn nào đó. Nhiều lần, vào lúc giữa đêm, một trong hai người này đã luồn qua tấm vải màn chống muỗi, đưa cho tôi tờ giấy màu vàng, và tôi đã đọc, ngay khi vừa mới được đánh thức. Đó là các báo cáo về những kết quả nỗ lực của các nhân viên đang tỏa đi tại khu vực biên giới, trong khung cảnh đơn độc, tại vị trí quan sát của mình, điện về cho chúng tôi những tin tình báo.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 11 Tháng Chín, 2021, 08:04:29 am
Nằm trên bờ một hồ nước rộng vùng núi cao, Côn Minh vẫn giữ được dáng vẻ thời Trung đại. Cách đường biên giới Bắc Kỳ 270 kilômét theo đường chim bay, Côn Minh là đầu nút tuyến đường sắt Vân Nam, một công trình do Pháp xây dựng, nối liền tỉnh này với cảng Hải Phòng trên bờ Vịnh Bắc Bộ.


Cuộc chiến tranh Trung - Nhật vừa mới đặt Côn Minh lên vị trí hàng đầu của hoạt động chính trị ở châu Á. Tại đây tập trung các ban tham mưu Trung Quốc, Mỹ, Anh, Pháp.

Số dân ở đây vừa mới vượt quá 300.000 người. Những người Trung Hoa ở các tỉnh kéo về, những người Mỹ, người Anh, người Pháp, người An-nam dồn tóới, chen vai thích cánh bên nhau, cùng lợi dụng lẫn nhau, do thám lẫn nhau không chút nể nang.


Trong thời gian gần đây, sân bay Côn Minh đã trở thành một sân bay hoạt động tấp nập nhất thế giới. Suốt ngày đêm liên tục không ngừng, cứ khoảng năm mươi giây lại có một máy bay hạ cánh hoặc cất cánh. Chiếc Skymaster từ New York đang hạ cánh xuống đường băng kép, thì ngay trong lúc đó, chiếc máy bay đi Cairo cũng lăn bánh trên đường băng bên cạnh trước khi cất cánh, như để chứng minh cho những cuộc bay tiếp sức.


Trên những con đường rộng lát đá nằm dọc theo những khu phố hẹp lúc nhúc người là những cỗ xe có lẽ cũng già nua cổ lỗ như thành phố này, do những con ngựa bé nhỏ kéo đi bằng những cặp chân cứng rắn và vững vàng, lăn bánh gập ghềnh giữa những chiếc xe Jeep, xe Com-măng-ca và những chiếc xe ô tô thuộc loại tối tân nhất của nền công nghiệp chiến tranh Mỹ, được nhập vào Vân Nam bằng đường hàng không cũng như mọi vật dụng khác của Đồng minh.


Đường xe lửa Vân Nam là sợi dây liên lạc đường bộ duy nhất từ Côn Minh với thế giới bên ngoài. Đường đất đi qua Miến Điện (Myanmar) cũng không dùng được vì bị ném bom, bị sạt lở, bị cướp phá, cho nên chỉ còn lại một đường hàng không thuộc loại nguy hiểm nhất vì phải bay qua sườn phía Nam rặng núi Himalaya mà các phi công Đồng minh đã gọi đùa là "Hump" (Đó là tên gọi mà những phi công này đã thân mật đặt cho kiểu bay qua dãy núi cao nhất ngăn cách miền Bắc Myanmar với miền Tây Trung Quốc. Để nối liền Trung Quốc với Ấn Độ bằng đường không, các phi công đã phải bay rất cao, trên tuyến đường bay khó khăn, vất vả, lại còn bị máy bay khu trực của Nhật Bản chặn đánh càng thêm nguy hiểm).


Trên sân bay được coi là tâm điểm sống còn của sự tập trung rộng lớn này, thường xuyên có hàng trăm phụ nữ Trung Hoa đi lại nhanh nhẹn giữa những chiếc máy bay đang đỗ dùng nón rơm đội đầu làm rổ rá đựng đất lấp nền cho những đường băng được bằng phẳng.


Là một thành phố có nhiều nét tương phản, Côn Minh còn là trung tâm thần kinh của cuộc đấu tranh đang tới đỉnh cao vào mùa Xuân 1945 tại Đông Nam Á. Tại đây có tổng hành dinh của tướng Hà Ứng Khâm, tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc và các trụ sở của Mỹ có liên quan như CCC (Bộ tư lệnh chiến đấu tại Trung Quốc), AGAS (Cơ quan mặt đất hỗ trợ phi công bị bắn rơi), OSS (Sở phục vụ công tác chiến lược, trung tâm điều khiển các hoạt động tình báo, gián điệp, biệt kích), và Bộ tư lệnh lực lượng không quân 14 của Mỹ...


Bên cạnh lãnh sự quán, người Anh cũng có một phái đoàn quân sự, người An-nam có những tổ chức vận động cách mạng, người Nhật Bản có những gián điệp.

Về phía Pháp, bên cạnh lãnh sự quán luôn giữ vị trí quan trọng hàng đầu, từ hai năm nay còn có Phái đoàn quân sự Pháp gọi tắt là Phái đoàn 5 mà tôi được vinh dự đứng đầu từ giữa tháng 4 năm 1945. Trước đó, đại tá Emblanc là người đầu tiên của Phái đoàn quân sự Pháp đặt tại Côn Minh.


Được đặt ở vị trí sát gần Đông Dương đang bị Nhật chiếm đóng, nhiệm vụ hàng đầu của Phái đoàn là duy trì liên hệ bí mật với đồng đội của chúng tôi ở Đông Dương và nước Pháp tự do. Dần dà, Phái đoàn có thểm thiếu tá hải quân Meynier, đại úy Revol, linh mục Bec, đại úy Rousset, thiếu úy hải quân COSSé, chuẩn úy Đoàn Vinh... Phái đoàn có gặp trở ngại ít nhiều trong việc thực hiện nhiệm vụ, do vị trí không rõ ràng đối với các Đồng minh Mỹ và Trung Quốc, vì vậy họ có phần dè dặt đối với chúng tôi. Hơn nữa, trong nội bộ Phái đoàn cũng có những khuynh hướng khác nhau, phản ánh đúng tình trạng tương tự hồi đó cũng đang chia rẽ như Chính phủ lâm thời của Pháp đặt tại Angiê.


Từ đầu năm 1945, Phái đoàn được bổ sung thêm nhiều thành phần mới. Đó là, các đại úy Borg, Martin, Meistermann, De Nardin, thiếu tá De Montpezat, đại úy hải quân Flichy, các trung úy Emmanuelli, Stephan, Perdriel, Lesseps, Blanchouin, Casnat, Tersầc v.v... đặt dưới sự chỉ huy của trung đoàn trưởng kỵ binh Millon vừa mới chạy thoát khỏi Đông Dương cùng với phó của mình là tiểu đoàn trưởng De Barmon. Những thành phần mới đến này đã tạo cho Phái đoàn 5 một sức bật mới có trọng lượng đối với các ban tham mưu Đồng minh và trở thành một trong những yếu tố hữu hiệu trong cuộc đấu tranh chống Nhật Bản ở khu vực Đông Nam Á.


Những sĩ quan bổ sung này đã được cử đến từ Đông Dương, Bắc Phi và một vài người từ Pháp. Rất nhanh chóng, một tinh thần đoàn kết gắn bó đã làm tiêu tan mọi sự chắp vá, liên kết chặt chẽ mọi người với nhau, động viên các hoạt động của họ.


Nhiệm vụ của họ rất quan trọng vì phải duy trì liên lạc với những người Pháp ở Đông Dương, thu lượm những tin tức tình báo bổ ích cung cấp cho Đồng minh, đảm bảo việc đưa sang Trung Quốc, không phải chỉ có những người Pháp ở Đông Dương đang bị Nhật Bản truy nã mà cả những phi công Mỹ bị bắn rơi trên vùng trời Đông Dương. Những căn cứ đặt suốt dọc đường biên giới giữa Trung Quốc và Bắc Kỳ phải bám trụ tới cùng dù bị hi sinh tổn thất lớn.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 11 Tháng Chín, 2021, 08:05:16 am
Kể lại mọi sự kiện thì quá dài, tôi chỉ nêu lên vài trường hợp thuộc loại nhớ đâu kể đấy. Đó là việc đại úy Meistermann đã vượt qua vùng Thượng du Bắc Kỳ đang bị quân Nhật chiếm đóng để tới Hoa Nam, thành lập tại tỉnh Quảng Đông Trung Quốc một chiến khu bất khả xâm phạm tại vùng núi Thập Vạn Đại Sơn1 (Thập Vạn Đại Sơn nằm trong địa phận Quảng Tây chứ không phải Quảng Đông. Sainteny đã nhầm lẫn. - ND) cầm cự suốt nhiều tháng, trở thành một nỗi lo lắng cho quân Nhật và chúng không bao giờ đánh bật được căn cứ này. Nhất là, câu chuyện về sự hy sinh của một phi công Pháp trẻ tuổi là trung úy Coquet đã mạo hiểm lái chiếc máy bay Potez 25 từ Hà Nội bay tới Côn Minh, mang theo phi công Mỹ W. bị Nhật Bản bắn rơi và được quân đội Pháp ở Đông Dương cứu thoát. Đây là loại máy bay đã quá niên hạn sử dụng và riêng việc vượt qua được những ngọn núi cao ở vùng Thượng du Bắc Kỳ đã là một chiến công phi thường. Coquet đã mang tới cho tướng Chennault tư lệnh lực lượng không quân Mỹ số 14 tại Hoa Nam nhiều tin tình báo quý giá. Tướng Chennault là người luôn luôn giúp đỡ chúng tôi trên tinh thần bạn chiến đấu tốt đẹp. Sau đó, Coquet lại chấp nhận quay trở về Đông Dương mang theo các thiết bị vô tuyến cần thiết để duy trì liên lạc thường xuyên giữa lực lượng kháng chiến Pháp ở Bắc Kỳ với lực lượng không quân số 14 của Mỹ, Coquet hiểu rõ hơn ai hết những khó khăn và rủi ro đang chờ đợi. Thời tiết tháng Tư ở Bắc Kỳ là địa ngục đối với các phi công với một chiếc máy bay đã tàn tạ và một thiết bị đo thời tiết đã hỏng, anh bay trở lại vùng châu thổ sông Hồng, chỉ nghĩ đến nhiệm vụ quan trọng mà anh đã nhận. Coquet đã không bay được tới đích. Những cuộc tìm kiếm suốt mấy tháng liền đều không kết quả. Anh đã mất tích.


Cho tới khi Đức và Italia là hai nước trong phe Trục đã bị đánh bại ở châu Âu, Nhật Bản cảm thấy bị quân Đồng minh uy hiếp, lúc đó mới bắt đầu lo ngại về lực lượng kháng chiến Pháp ngay trên lãnh thổ Đông Dương.

Những bí mật của người da trắng ở châu Á thật khó giữ kín. Những vụ nhảy dù xuống Bắc Kỳ, những nhóm kháng chiến được thành lập, nhưng bên cạnh biết bao hành động dũng cảm và tận tụy được thực hiện một cách lặng lẽ, thì những lời ba hoa cũng lan tràn. Những điện báo viên đã bí mật nhảy dù xuống Đông Dương để bắt liên lạc với lực lượng kháng chiến nhằm giúp họ liên lạc với Côn Minh, Calcutta và từ đó liên lạc với nước Pháp tự do đang chiến đấu. Thế nhưng, cuộc đảo chính ngày 9 tháng 3 năm 1945 đã ập đến trước khi những sĩ quan phụ trách điện đài này thiết lập được mạng lưới thông tin. Nhiều người trong số họ đành phải theo đội quân Pháp rút sang Trung Quốc.


Giữa lúc đó, tôi bất ngờ được cử vào ban chỉ huy Phái đoàn 5. Từ hồi đầu năm 1944 tôi đã xung phong tình nguyện sang Đông Dương chiến đấu trong hàng ngũ lực lượng vừa mới được tổ chức. Sau khi Paris được giải phóng, tôi được đặt dưới sự điều khiển của cơ quan tình báo hoạt động bí mật gọi tắt là DGER và lực lượng can thiệp trang bị nhẹ gọi tắt là CLI do tướng Blaizot chỉ huy. Trước kia tôi đã sống nhiều năm ở Đông Dương và có quen biết nhiều, sau khi trở về nước, trong thời gian Pháp bị Đức chiếm đóng, tôi lại tích lũy được kinh nghiệm khá đầy đủ về công tác bí mật. Tôi nghĩ, đây là lúc có thể đóng góp vào việc tổ chức cuộc đấu tranh bí mật đang được tiến hành tổ chức để chống lại Nhật Bản chiếm đóng Đông Dương.


Nhưng, mãi đến tháng 3 năm 1945, tức ngay sau khi xảy ra cuộc đảo chính do Nhật Bản tiến hành vào tối ngày 9, cơ quan tình báo và hành động bí mật (DGER) mới chỉ thị cho tôi đi ngay Calcutta, lúc đó đang là căn cứ trung tâm của DGER trên chiến trường Viễn Đông. Từ Calcutta tôi đã nhận đứợc chỉ thị rõ ràng về nhiệm vụ ở Đông Dương. Có nghĩa là, tôi phải nhảy dù hoặc "thâm nhập" vào Đông Dương, bắt liên lạc với những gì còn tồn tại của lực lượng kháng chiến sau khi bị Nhật Bản đàn áp dữ dội. Chính vì lẽ đó tôi đã rời Paris ra đi dưới một hộ tịch dân sự vừa mới chuyển đổi.


Sự khôn ngoan sơ đẳng buộc tôi phải giấu kín lý lịch thật sự của mình bằng cách ngụy trang hoàn toàn. Tôi đã chính thức được mang tên Sainteny và những sự kiện tiếp theo trong vòng hai năm tới đã biến tôi thành một người khác hẳn hộ tịch cũ.


Trong khi chờ đợi vài giờ ở Cairo để chuyển máy bay, tôi được làm quen với đại tá Passy vừa hoàn thành một chuyến đi thanh tra đến tận Lào, tại đó ông đã tiếp xúc với tướng Sabattier, chỉ huy các đội quân Pháp ở Bắc Đông Dương. Đại tá Passy lúc đó là trưởng DGER cho tôi biết, sau chuyến đi thị sát này ông đang có ý định tiến hành nhiều thay đổi trên các lĩnh vực khác nhau trong Bộ chỉ huy tối cao của DGER tại Viễn Đông và ông đã quyết định giao cho tôi chỉ huy Phái đoàn 5 đặt căn cứ tại Côn Minh. Thế là, đáng lẽ nhảy dù xuống Đông Dương, tôi lại tới Vân Nam cầm đầu Phái đoàn quân sự Pháp, sau khi rời Paris ra đi được mười lăm ngày.


Trong mấy ngày dừng chân tại Calcutta, tôi được thiếu tá Léonard lúc đó là trưởng cơ quan SLFEO1 (SLFEO: Cơ quan liên lạc ở Viễn Đông của Pháp đặt tại Calcutta) phổ biến những chỉ thị và huấn thị cần thiết. Sau đó tôi tới nhiệm sở của mình đặt tại Côn Minh. Phái đoàn 5 lúc này đang do đại tá Flichy tạm quyền chỉ huy thay thiếu tá Milon chuyển đi nơi khác. Flichy đã điều hành công việc nặng nề của Phái đoàn 5 một cách vững chắc, thông minh và có lương tri. Ông nhanh chóng trở thành một người bạn, một người đồng nghiệp hơn là một người phó trực tiếp, một nhân vật số hai không thể thay thế được, của tôi. Sự hợp tác toàn diện là cơ sở để Phái đoàn 5 đạt được một số kết quả đáng tự hào. Mặc dù tác phong cứng rắn, nhưng có lẽ cũng nhờ đó Flichy đã duy trì được những quan hệ tốt đẹp mà những người tiền nhiệm đã thiết lập được với các cơ quan Đồng minh. Khi tới đây, tôi chỉ có việc tiếp tục sự hợp tác với các ban tham mưu Mỹ, Trung Quốc và Anh.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 11 Tháng Chín, 2021, 08:06:52 am
Cũng không phải vô ích nếu chứng minh thêm, cơ quan liên lạc của Pháp tại Viễn Đông đã bị phân cách bởi chiến trường của các nước Đồng minh đang hợp tác với nhau trong cuộc chiến tranh chung chống Nhật Bản. Một trong những chiến trường này do đô đốc Anh, huân tước Louis Mountbatten chỉ huy, gồm Ấn Độ, Inđônêxia và Miến Điện. Chiến trường thứ hai dưới quyền chỉ huy của thống chế Tưởng Giới Thạch có tướng Mỹ Wedemeyer trợ lực, bao gồm Trung Quốc và Đông Dương. Lực lượng không quân của tướng Wedemeyer, do các căn cứ đặt quá xa các khu vực chiến trường ở miền nam bán đảo Đông Dương, nên không thể chi viện cho đô đốc Mountbatten ở ngoài tầm hoạt động của máy bay Mỹ. Trên thực tế Đông Dương bị chia thành hai khu vực chiến trường. Chính vì lẽ đó mà chỉ vài tháng sau người ta đã nảy sinh ý định tai hại là chia Đông Dương thành hai miền Nam Bắc vĩ tuyến 16 và giao cho quân đội Trung Quốc tiếp quản miền Bắc sau khi Nhật Bản đầu hàng. Cơ quan liên lạc của Pháp ở Viễn Đông phải phân bố các bộ phận làm việc với các cơ quan tham mưu Đồng minh phụ trách hai khu vực chiến trường này. Giữa các đồng minh trong hai khu vực trên cũng nhanh chóng xuất hiện các quan điểm khác nhau rất nghiêm trọng. Quan điểm đế quốc cổ truyền của Anh vấp phải chủ nghĩa tự do của Mỹ đối với dân chúng trong khu vực trước kia là chiến trường. Những cơ quan liên lạc của Pháp, với những quan điểm thuần nhất, đã nhận được sự tiếp nhận và ủng hộ khác nhau khi tiếp xúc với ban tham mưu của đô đốc Anh Mountbatten hoặc ban tham mưu của tướng Wedemeyer.


Tình hình đó làm cho sở chỉ huy ở Calcutta phải quyết định một cách thụ động nhưng rất có lý là để cho Phái đoàn 5 ở Côn Minh hoạt động một cách độc lập và tự do với quyền hạn ngày càng rộng rãi. Chỉ một mình đại tá Roos trưởng cơ quan liên lạc ở Calcutta là giữ quyền lực tối cao, trên tổng thể nhưng cũng vẫn phải áp dụng một sự mềm dẻo đủ để dự kiến và giải quyết các vấn đề với hai lăng kính rõ rệt, thích ứng với việc hợp tác với Anh hoặc với Mỹ. Cơ quan này đã biết xử sự với một sự may mắn hiếm có.


Phái đoàn 5 gồm khoảng ba chục sĩ quan với nguồn gốc và nguồn đào tạo rất khác nhau. Những thành phần đầu tiên là những sĩ quan đến từ Đông - Dương và Trung Quốc. Số này đông nhất. Sau đó là vài sĩ quan đến từ Pháp hoặc Bắc Phi, tất cả đều tình nguyện đi Viễn Đông và đều sẵn sàng chiến đấu giữa ban ngay hoặc trong bóng tối vì xứ Đông Dương mà nhiều người trong họ mới chỉ nghe nói.


Ngay khi tới Côn Minh vào đầu tháng tư năm 1945, tôi không nghỉ, lập tức tiếp tục những công việc mà những người trước tôi đã phụ trách. Tôi nhớ lại, nhiệm vụ đó là:

1- Phát triển các mạng lưới thông tin và các phương tiện điều tra tin tức tình báo trong lãnh thổ địch.

2- Nối lại và phát triển những cuộc tiếp xúc với những người dân Pháp ở Bắc Kỳ đang bị cô lập từ sau cuộc đảo chính ngày 9 tháng 3 năm 1945 của Nhật Bản.

3- Giúp đỡ những đồng bào người Pháp và những người thuộc các nước Đồng minh chạy sang Trung Quốc trong trường hợp họ gặp nguy hiểm ở Đông Dương.

4- Tham gia vào nỗ lực chiến tranh bằng cách cung cấp tin tức tình báo cho các nước Đồng minh, và thành lập các đội biệt kích nhằm phục vụ Đồng minh bằng các hoạt động tập kích hoặc phá hoại trên lãnh thổ do địch chiếm đóng.

5- Theo dõi các phong trào dân tộc chủ nghĩa Đông Dương và chuẩn bị cho sự quay trở lại Đông Dương của nước Pháp vào một ngày sắp tới.

6- Nhằm phục vụ ý định đó cần phát hiện kịp thời những ý đồ của các nước Đồng minh, nhất là của Trung Quốc có liên quan tới những quyền lợi sở hữu của Pháp trong khu vực Đông Nam Á.

Cuối cùng, Phái đoàn 5 triển khai những nỗ lực không ngừng để nhận được sự chấp nhận của Đồng minh thả dù tiếp tê cho những đơn vị quân đội Pháp đang còn chiến đấu trong vùng Thượng du Bắc Kỳ trên đường rút lui sang Trung Quốc. Phái đoàn cũng hỗ trợ hết sức cho những cố gắng của đại tá Huard, là phó của Blaizot, được giao nhiệm vụ tổ chức ở Côn Minh và các địa điểm khác trong tỉnh Vân Nam. Những trung tâm tiếp nhận các đơn vị quân đội Pháp ở Bắc Đông Dương đã bắt đầu vượt biên giới sang Trung Quốc.


Phạm vi chức trách của Phái đoàn 5 trải rộng từ lãnh thổ Bắc Đông Dương tới cả ba tỉnh rộng lớn của Trung Quốc tiếp giáp với Bắc Kỳ là: Vân Nam, Quảng Đông, Quảng Tây.

Để hoàn thành nhiệm vụ nặng nề đó Phái đoàn quân sự Pháp ở Vân Nam có:

1- Một trung tâm chỉ huy thường xuyên tiếp xúc với các cơ quan tham mưu và cơ quan Đồng minh, và liên lạc thường xuyên với cơ quan liên lạc ở Viễn Đông của Pháp đặt tại Calcutta, với sứ quán Pháp và phái đoàn quân sự Pháp đặt tại Trùng Khánh.

2- Các phái đoàn ở khu vực biên giới như: "Picardie" chủ yếu hướng về vùng Cao Bằng và quân khu 2 (gồm có thiếu tá Revol, các trung tá Tersac và Bougier); "Anjou" do đại tá Meistersmann chỉ huy, đặt căn cứ tại Thập Vạn Đại Sơn, một rặng núi ở Quảng Đông cách biên giới Bắc Kỳ và Quân khu 1 vài giờ đi bộ; "Berry" do trung uý Jacqmin chỉ huy đặt tại Hồ Kiều trong vùng Lào Cai; "Poitou" do thiếu tá De Montpezat chỉ huy; "Saintonge" gồm hai điệp báo viên Singenes và Vaziaga; "Languedoc" do đại uý Borg chỉ huy; "Gascogne" do thiếu tá Foropon đứng đầu...


Ngoài ra có những nhóm hoạt động của hải quân Pháp cũng có liên hệ với Phái đoàn 5 nhưng hồi đó chưa phụ thuộc toàn bộ vào phái đoàn. Những nhóm này đặt dưới sự chỉ huy của trung tá hải quân Commentry, gồm các tàu tuần tiễu Frézouls và Crayssac của hải quân cũ và chiếc thuyền buồm Audacieuse, về sau, có thểm nhiều nhóm vệ tinh, trực thuộc thường xuyên và tạm thời với "Martinique". Những nhóm vệ tinh này mang mật danh "Tchad", "Maroc", "Calvados", "Bocage", "Auge", "Bessin", "Dahomey", "Maine", "Mayenne", vv...


Cuối cùng, những đơn vị bị Nhật Bản đánh đuổi, buộc phải rời khỏi Quân khu 1 và vùng Lạng Sơn cùng tập trung lại được ở Phòng Thành, trên bờ biển Quảng Đông, dưới sự chỉ huy của tiểu đoàn trưởng Grinda.

Những binh sĩ cuối cùng được phân bố về các nhóm khác nhau đặt dưới sự chỉ huy của tiểu đoàn trưởng Carbonnel, đại tá Flichy, đại tá Vicaire, đã xây dựng được các khu đồn trú trên đảo Cái Bàn, đảo Vạn Hoa và các đảo nhỏ mang tên Cô Tô, đối diện với bờ biển Bắc Kỳ, kiểm soát được quần đảo Bái Tử Long và vịnh Hạ Long cho tới mùa xuân năm 1946.


Tất cả những nhóm này, cùng được gọi tên chung là phái đoàn, đềụ liên lạc bằng điện đài với sở chỉ huy ở Côn Minh. Từ Côn Minh lại liên lạc nhiều đợt trong ngày với Calcutta và Trùng Khánh. Dĩ nhiên, tất cả những liên lạc vô tuyến với từng phái đoàn hoặc từng căn cứ đều thực hiện bằng mật mã, điều đó làm cho Trùng Khánh lo ngại. Họ không bao giờ cho phép Phái đoàn 5 được chính thức sử dụng "quyền thông tin liên lạc vô tuyến" bằng mạng lưới truyền thống riêng của mình.


Tuy nhiên, do Phái đoàn 5 cũng phục vụ cả ban tham mưu các nước Đồng minh, vì vậy, mặc dù liên tục phải báo động và gặp nhiều rắc rối vô kể, việc thông tin liên lạc của chúng tôi mặc nhiên vẫn cứ được dung túng cho tới tận khi Nhật Bản đầu hàng.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 12 Tháng Chín, 2021, 09:14:24 am
II
CUỘC RÚT LUI CỦA ĐỘI QUÂN BẮC KỲ


Những đơn vị thuộc đội quân Pháp ở Bắc Kỳ thực hiện cuộc rút lui từ ngày 9 tháng 3 năm 1945 và những đơn vị tiền tiêu đã tới được biên giới Trung Quốc bằng nhiều đường bắt đầu đi sâu vào lãnh thổ Trung Hoa.

Hàng ngày đều có những máy bay Mỹ từ Szé-Mao bay tới Côn Minh, mang theo những người Pháp bị thương hoặc bị ốm nặng, tiếp nhận được từ biên giới. Một vài đơn vị đã tới thủ phủ tỉnh Vân Nam, và các thị trấn khác bằng đường bộ hoặc đường sắt. Tại đây những doanh trại, những "trung tâm" tiếp nhận đã dành sẵn cho họ, như ở Khai Viễn, Mông Tự,...


Tình trạng những binh sĩ này thật không thể nào tả hết. Những gì họ kể về nỗi thống khổ thật khó tưởng tượng nổi. Cảnh tượng họ vừa trải qua hiện dần trước mắt chúng tôi từ những mẩu chuyện đứt đoạn nghe được hết người này đến người khác. Chuyện kể của họ phù hợp với những bức điện mà chúng tôi đã nhận được từ ngày Nhật Bản tiến hành đảo chính. Quả là một thảm kịch! "Chúng tôi bị tiến đánh từ 10 giờ 30 ngày 9 tháng 3. Tình hình khó khăn. Đề nghị không quân chi viện gấp". Đó là nội dung bức điện từ Lạng Sơn gửi tới Phái đoàn 5 hồi 11 giò 45 ngày 10 tháng 3.


Những bức điện tiếp theo phản ánh sự phát triển của cuộc tiến công của Nhật Bản: Cuộc rút quân của những đơn vị có thể thoát hiểm, những cuộc chiến đấu, những cuộc đụng độ, sự mệt mỏi, những vụ đảo ngũ đầu tiên của đám lính người bản xứ, và đoạn cuối cùng, không tránh khỏi, đó là phải rời bỏ đất Đông Dương, đi sang Trung Quốc.


Với những đơn vị khác, bị chặn đánh trên đường rút thì bức điện đầu tiên cũng là bức điện cuối cùng: "Chúng tôi bị tiến công", là nạn nhân rơi vào những cạm bẫy của Nhật Bản, bị phản bội, bị dồn ép từ mọi phía, bị bao vây, trận chiến đấu cuối cùng này là trận vinh dự, mỗi người là một anh hùng1 (Trái với Sainteny, một số hồi ký khác lại ghi nhận nhiều binh sĩ Pháp khi bị Nhật Bản bao vây đã nhanh chóng đầu hàng, bị đưa về giam giữ trong các trại tập trung sau tháng 8 năm 1945 mới được giải thoát -ND). Tất cả nội dung đã được giải mã ở Côn Minh, được suy đoán thêm giữa những dòng điện mật ngày càng gửi tới Phái đoàn 5 một cách thưa hiếm. Sự kiện này càng khiến chúng tôi phải tăng thêm những cuộc vận động các ban tham mưu Đồng minh, liên tục đề nghị không quân chi viện bằng thả dù, ném bom, trinh sát, cầu xin hàng trăm chuyến mới được ban cho một.


Những nhân viên phi hành đoàn của tướng Mỹ Chennault được cổ vũ bởi tính năng động của cựu tư lệnh đội "Cọp bay" nhưng cũng gặp rất nhiều trở ngại trong các hoạt động do mưa phùn ở Bắc Kỳ đã làm cho chín phần mười các phi vụ không tài nào thực hiện được. Tướng Chennault là người duy nhất có thực tế hiểu biết về lợi ích của Đồng minh trong việc ủng hộ quân đội Pháp đang cố bám vào lãnh thổ Đông Dương và cố chống lại cuộc tiến công của Nhật Bản. Nhưng không may ông đã gặp phải sự chống đối của các ban tham mưu Trung Quốc và Mỹ. Lý do họ không muốn ủng hộ Pháp là một điều khó hiểu tồn tại lâu dài. Vì nhiều lý do khác nhau, những người này còn nhẹ dạ muốn bỏ rơi cả những người lính Pháp dưới sự chỉ huy của các tướng Sabattier, Allessandri đã từng đương đầu với quân đội Nhật Bản trong những điều kiện rất khó khăn về địa hình và thời tiết.


Cuối cùng, những mệnh lệnh từ Washington cũng đã đưa tới... Mặc dù có thiện chí và có lòng mong muốn, tướng Chennault và các trợ tá của ông vẫn phải cúi đầu tuân theo và từ chối yểm hộ đường không cho đội quân Pháp đang rút lui. Sau này, tướng Chennault đã viết trong hồi ký là: "Chính phủ Mỹ lúc đó muốn người Pháp bị xua đuổi khỏi Đông Dương để tạo điều kiện dễ dàng cho việc tách rời Pháp khỏi các thuộc địa của mình... (Tướng Chennault là một trong số rất ít người Mỹ hiểu rõ những nguy hiểm của thái độ chống Pháp do Trùng Khánh thực hiện, liền sau đó đã bị thất sủng. Ngày 7 tháng 8 năm 1945 ông đã phải rời khỏi chức vụ chỉ huy).


Phải tự lực giáp mặt với kẻ địch đông hơn hàng chục lần, đội quân xứ Bắc Kỳ vẫn chiến đấu đến cùng. Ai có thể nói hết được nghị lực phi thường của những con người đã vượt qua mọi thử thách trong cuộc rút quân kéo dài hơn 1600 kilômét trong một vùng có nhiều thù địch, từ dân chúng đến khí hậu, địa hình, thời tiết đặc biệt khó chịu.


Bị kiệt sức, kiết lỵ, sốt rét, rách rưới, đi chân đất, bị tiến công quấy rốỉ bởi các toán quân Nhật Bản, du kích, các băng cướp ở vùng Thượng du, đến khi tới một nước Đồng minh là nơi họ có quyền hi vọng được đối xử tốt thì họ lại bị các nhà chức trách Trung Quốc gây nhiều phiền nhiễu. Sau những thử thách đã phải chịu đựng trên đường rút chạy, những quân nhân này, những chiến sĩ này, lại buộc phải giao nộp vũ khí cho những bạn Đồng minh của họ.


Tuy nhiên, sau khi đạt được thỏa thuận với các ban tham mưu Mỹ và Trung Quốc, Phái đoàn 5 đã kịp cử những sĩ quan tới các địa điểm khác nhau trên đường biên giới Trung Quốc để "dàn xếp sự việc". Hỡi ôi! Nếu các phái viên liên lạc này đã nhận được những lời hứa hẹn rất chính thức từ phía ban tham mưu quân đội Trung Quốc tại Côn Minh, thì họ lại vấp phải sự hoàn toàn khác biệt khi tới gặp các quan chức cấp phủ, huyện hoặc các chỉ huy quân sự địa phương. Những người này luôn luôn tìm ra được một lý lẽ để không hiểu mệnh lệnh công vụ mà các phái viên của chúng tôi cầm trong tay, hoặc họ nói rằng chưa nhận được chỉ thị xác minh của cấp trên. Nhìn chung, họ chỉ làm theo cái đầu của họ, những ý đồ của họ, không cần biết đến phép lịch sự xã giao sơ đẳng mà quân đội của chúng tôi có quyền chờ đợi.


Ví dụ như ở Yên Vũ, các đơn vị của thiếu tá Euziere và của đại úy Damez - Fontaine đều bị các nhà chức trách Trung Hoa tước vũ khí. (Ngàv 28 tháng 5 năm 1945, danh sách thống kê số vũ khí bị tước này được trình bày dưới mắt tôi, gồm 22 tiểu liên Sten, 1 khẩu cối Anh, 3 trung liên Bren, 9 trung liên Hotchkiss, 60 súng trường Mousquetons, 70 súng trường chế tạo tại Đông Dương, 5 súng trường Nga, 1 súng trường Gras, 21 lựu đạn VB, 9 lựu đạn F1, 8 lựu đạn OF, 10.236 viên đạn 8mm, 292 đạn tiểu liên).


Nhiều khi, cả ngựa cũng bị tịch thu cùng với súng đạn. Những khu nhà dành cho những đơn vị này trú quân đều bẩn thỉu và khó mà ở được. Phái đoàn 5 đã phải tới tấp gửi công văn, kháng nghị. Bản thân tôi nhiều lần tới Tổng hành dinh Trung Quốc thương lượng với tướng Hà Ứng Khâm, lúc nào cũng nhận được câu trả lời lịch sự và thông cảm "sẽ gửi ngay những mệnh lệnh chính thức tới biên giới để làm tất cả mọi việc tốt nhất có thể được nhằm tiếp nhận quân đội Pháp".


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 12 Tháng Chín, 2021, 09:15:59 am
Nhưng tại thực địa, Bộ chỉ huy địa phương lại phàn nàn về những vụ "mất trật tự" do quân đội Pháp rút lui gây ra trên lãnh thổ Vân Nam. Những lời phàn nàn này không thiếu vẻ khôi hài.

Đã có lần, tôi nhận được công hàm phản kháng từ ban tham mưu quân đội Trung Quốc chuyển đến một cách rất nghiêm chỉnh phàn nàn về chuyện những con ngựa thồ của những đơn vị Pháp trú quân tại thành phố T đã phóng uế làm bẩn đường phố của thành phố này. Những ai đã biết đến sự "sạch sẽ" của các thành phố Trung Quốc hồi đó, hẳn phải cho rằng những con ngựa khốn khổ này đang gây ra những điều bất lịch sự rất đáng làm rùm beng.


Tuy nhiên, kết cục rồi tất cả cũng đi vào ổn định. Đội quân từ Bắc Kỳ rút sang đã được ấn định những khu vực tập trung quân gặp thế nào hay thế đó. Lâu dài về sau, các vũ khí đã được trả lại. Còn những con ngựa thì... lại thuộc về chuyện khác.


Tướng Sabattier qua Côn Minh rất nhanh. Ông còn phải đi Trùng Khánh trình bày tình hình các đơn vị nghĩ rằng có thể nhận được từ tướng Wedemeyer và Bộ tư lệnh Mỹ tác chiến ở Trung Quốc sự giúp đỡ đủ để chấn chỉnh lại quân đội.


Vài hôm sau, tức ngày 7 tháng 6, đại tá Vicaire là một trong những chỉ huy lực lượng kháng chiến của Pháp ở Đông Dương tới Côn Minh cùng với vài người bạn đồng đội. Ông rất gầy, y hệt một bộ xương người. Khi đại tá Vicaire bước vào phòng làm việc, tôi khó khăn lắm mới nhận ra ông, một sĩ quan khỏe mạnh lực lưỡng trước kia, mà nhiều người chúng tôi đã quen biết hồi còn ở Bắc Kỳ. Ông là một trong số rất ít người còn sống sót trong ba cánh quân do Vicaire, Dampierre và Beau-delaire chỉ huy. Những cánh quân này đã tập hợp lại được ở vùng dân tộc Thái rồi được tăng cường thêm một số người từ Calcutta nhảy dù xuống (như Dampierre và đồng đội), định đi xuôi lưu vực sông Đà về Hà Nội và châu thổ sông Hồng để hoạt động phá hoại sau khi những đơn vị cuối cùng ở Bắc Kỳ đã rút hết. Những đội biệt kích này cũng có ý định bám trụ trên lãnh thổ xứ Bắc Kỳ và xây dựng tại đây một chiến khu đánh lại quân đội Nhật Bản. Dự định dũng cảm đó đã bị thất bại, những người tham gia bị tổn thất rất nặng. Đội biệt kích của Dampierre hoàn toàn bị tiêu diệt. Bản thân Dampierre, một anh hùng trong lực lượng kháng chiến Pháp, đã gục ngã trong trận đụng độ cuối cùng, kiệt sức bởi một nỗ lực vượt bậc.


Một số người trong các đội biệt kích nói trên đã chiến đấu trên đất Pháp trong hàng ngũ các lực lượng kháng chiến nội địa. Họ đã nhận ra sai lầm khi nghĩ rằng có thể tổ chức được cuộc kháng chiến ở Đông Dương theo nguyên cách thức như ở Pháp. Trên nguyên tắc, số đông dân chúng Pháp đồng tình với cuộc kháng chiến, các thành phần trong lực lượng kháng chiến trên đất Pháp thường hoạt động tại những vùng thân thuộc quen biết, khí hậu thích hợp, thì đồng đội của họ tại Đông Dương lại thấy chung quanh mình toàn là sự thù địch tổng thể.


Nhưng cũng có điều kỳ lạ, một số nhóm biệt kích, ngoài ba nhóm mà tôi đã nêu ở trên vẫn có thể giữ vững trên lãnh thổ Đông Dương cho tới khi Nhật Bản đầu hàng. Ví dụ như các đội của Legrand, Imfeld, Serres, v.v... đã giữ vững đến cùng ở Lào. Những cố gắng và nghị lực của những chiến sĩ này quả là vượt quá khả năng chiến đấu của con người. Tỷ số thương vong của họ đủ dẫn chứng hùng hồn điều đó.


Tổng số đội quân Pháp - Đông Dương đóng tại Bắc Kỳ vào khoảng 38.000 người, kể cả các cơ sở phục vụ, trong đó có 7.500 binh sĩ người Âu. Số quân Nhật Bản, được tăng cường rất nhiều từ tháng 12 năm 1944 có tới 60.000 người bố trí bao phủ các đồn bốt, đường xá, trung tâm giao thông của chúng tôi.


Sự phát triển không gì cản trở nổi của cuộc chiến tranh Thái Bình Dương, sự căng thẳng không ngừng trong quan hệ Pháp - Nhật ở Đông Dương, sự điên khùng ngày càng lớn của đội quân chiếm đóng đã thúc đẩy phía Nhật Bản thực hiện một mưu đồ tột đỉnh là buộc đô đốc Decoux, toàn quyền Đông Dương phải chấp nhận "phòng thủ chung Đông Dương" và "phối hợp chung trong công tác đối ngoại". Đô đốc từ chối, và cuộc đảo chính bất ngờ đã bùng nổ vào buổi tối ngày 9 tháng 3 năm 1945.


Tướng Sabattier, chỉ huy sư đoàn Bắc Kỳ, đã có được những thông tin có giá trị về cuộc tiến công này. Trong đêm mồng 8 rạng ngày 9, ông đã ra lệnh báo động cho trại lính "Tông"1 (Tên người Pháp gọi một trại lính đóng ở Đồi Thông (Sơn Tây) - ND) (Sơn Tây), điểm tập trung quan trọng của các lực lượng vũ trang Bắc Kỳ. Tuy nhiên, Tư lệnh tối cao các lực lượng toàn Đông Dương lại không kịp thời tiến hành các biện pháp đề phòng, vì vậy hầu như gần hết mọi nơi đã bị bất ngờ.


Các chiến sĩ của quân đội Pháp đã chiến đấu dũng cảm. Thành Hà Nội quân Pháp chỉ chịu thua sau một cuộc kháng cự mà con số bị thương đã lên tới 300, và sau khi kẻ địch đồng ý chấp nhận cho những người phòng thủ được hưởng các điều khoản danh dự của tù binh chiến tranh khi đầu hàng.

Thành Huế cầm cự được hai ngày. Thành Vinh mãi tới 24 tháng 3 mới thất thủ và tại vùng Bassac, ở Nam Kỳ những cuộc chiến đấu kéo dài đến tận ngày 1 tháng 4.

Năm nghìn binh sĩ thuộc đội quân Bắc Kỳ dưới sự chỉ huy của các tướng Sabattier và Allessandri rời khỏi lãnh thổ Đông Dương sau nhiều tuần chiến đấu. Cánh quân sông Hồng đi theo tướng Allessandri (gồm lính lê dương và lính bản xứ) đến Szé-mao Trung Quốc ngày 5 tháng 5, lính lê dương và pháo binh trong binh đoàn Prugnat đến Trung Quốc ngày 31 tháng 3, trung đoàn bộ binh thuộc địa số 9 đi theo đại tá Seguin (binh đoàn sông Lô) vượt biên giới ngày 6 tháng 4 tại vùng Bảo Lạc. Các đơn vị khác ít gặp may mắn hơn. Cánh quân của Capponi bị bao vây ngay sát biên giới Trung Quốc và phải đầu hàng ngày 27 tháng 3. Thành Lạng Sơn là điểm diễn ra những cuộc thảm sát.


Những đơn vị thuộc Quân khu 1 cũng đã vượt qua được biên giới dưới sự chỉ huy của trung tá Lecocq và ông đã tử trận khi chiến đấu chống quân Nhật ở thành Hà Cối.

Phần lớn những đơn vị này tập trung ở Vân Nam hoặc trong vùng Thập Vạn Đại Sơn, chung quanh phái đoàn "Anjou". Ban tham mưu được thành lập lại ở Côn Minh dưới sự chỉ huy của tướng Allessandri. Một số lớn binh sĩ đã bị bắt làm tù binh trước khi có thể chiến đấu. Trong số các sĩ quan tập hợp chung quanh tướng Allessandri có nhiều người biết rất rõ xứ Đông Dương, đặc biệt là những vùng miền Bắc. Nhiều người muốn tiếp tục cuộc chiến đấu và đã ngỏ ý hợp tác chặt chẽ với tôi, tôi đã sốt sắng hoan nghênh.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 12 Tháng Chín, 2021, 09:18:09 am
Tướng Allessandri cũng nhanh chóng hiểu rõ nhiệm vụ của Phái đoàn quân sự Pháp và đã tạo mọi cách để Phái đoàn dễ dàng thực hiện nhiệm vụ. Được sự hoàn toàn đồng ý của tướng Allessandri, tất cả các sĩ quan và nhân viên chuyên môn thuộc ngành quân báo đã tới tăng cường cho các ban và các nhóm tình báo của chúng tôi và chúng tôi đã có thể tổ chức được hàng chục đội biệt kích, mỗi đội khoảng một trăm người. Một sự hợp tác hoàn hảo nhanh chóng thiết lập giữa ban tham mưu của tướng Allessandri với Phái đoàn quân sự Pháp. Không còn nghi ngờ gì, nếu những biến cố chiến tranh không ập tới nhanh thì sự hợp tác này còn có thể mang lại nhiều kết quả rất khả quan, chính nhờ vậy mà quân số của Phái đoàn 5 tăng đáng kể. Từng người một, không hề quan tâm thắc mắc đến quân hàm, cấp bậc, ai cũng lao vào công việc, tham gia vào các công tác ngày càng đông, đáp ứng được sự đòi hỏi của ban tham mưu Đồng minh.


Nhiều người xung phong tình nguyện tham gia các đội biệt kích nhảy dù. Một trung tâm huấn luyện đã được Mỹ thành lập tại Côn Minh. Tôi đã đưa được nhiều sĩ quan trẻ vào theo học một khóa và đã được cấp bằng tốt nghiệp môn nhảy dù.


Nhiều lúc phải từ chối và thuyết phục các sĩ quan quá tuổi không quan tâm đến sức khỏe hoặc vết thương, cứ đòi theo học. Trên cơ sở này đã tổ chức được những đơn vị biệt kích đầu tiên dự định phối hợp tác chiến với các lực lượng Đồng minh, đánh phá các trục lộ giao thông và những vùng hậu cứ của Nhật Bản một khi cuộc tiến công lớn được tổ chức trên lãnh thổ Đông Dương, về phần tôi, tôi đã nghĩ ngay đến cách nhanh chóng tiếp xúc với những đồng bào Pháp ở Đông Dương để kịp thời giúp đỡ họ không chậm trễ. Những đơn vị biệt kích nhảy dù này, một khi phát triển khá đông về quân số, thì đến một ngày nào đó có thể giữ một vai trò chủ chốt trong việc nhảy dù xuống các trung tâm dân cư nhằm bảo vệ tính mạng và tài sản của những người Pháp. Tôi tích cực thúc đẩy việc tổ chức những đơn vị biệt kích này.


Sự thiếu thốn các phương tiện vận tải đường không, và nhất là sự ngăn cản của Trung Quốc có thể cản trở chúng tôi vào thời điểm có khả năng đưa các đơn vị biệt kích dù này quay trở lại Bắc Kỳ ngay trong những đợt đầu tiên. Những con người rất quyết tâm, rất có khả năng này, chỉ có thể sử dụng về lâu dài, sau khi tôi đã có ý định ném họ xuống miền bắc Đông Dương. Sau đó nhiều tuần, họ sẽ được chứng minh khả năng bằng cách chủ yếu nhảy dù xuống Lào. Trong thời gian chờ đợi tôi đã phải cho họ chuyển sang Ấn Độ vì ở Trung Quốc chúng tôi gặp phải sự thiếu thiện chí từ Trùng Khánh. Sang tới Ấn Độ, họ đã nhận được sự cộng tác hoàn toàn từ Anh quốc.


Bây giờ, người ta có quyền đặt câu hỏi, và chắc mọi người sẽ tự đặt câu hỏi, nếu hồi giữa tháng 8 năm 1945, có những đội biệt kích như đội Beaudenon ập đến từ giữa vùng trời Hà Nội, thì có thể thay đổi diễn biến của các sự kiện như thế nào1 (Đây là một ý nghĩ rất chủ quan và không thực tế của Sainteny. Bởi vì, theo nhận xét của thiếu tá tình báo Mỹ Patti thì mãi tối ngày 20 tháng 8 năm 1945, máy bay Mỹ bay trên vùng trời Hà Nội vẫn bị Nhật Bản bắn lên dữ dội - ND).


Tôi chưa muốn kết thúc chương này mà chưa kể nốt một cuộc phiêu lưu kỳ lạ nổi bật trong những khung cảnh thảm khốc của hành động xâm chiếm của Nhật Bản tại Bắc Kỳ. Đó là trường hợp của anh lính lê dương Cron, một người "bị chặt đầu vẫn còn sống".


Một hôm, tôi được báo cáo, có một người thoát được khỏi vụ thảm sát ở Lạng Sơn vừa mới tới Côn Minh. Tôi liền cho gọi tới và anh ta đã kể lại cho tôi nghe một cuộc phiêu lưu gian truân của anh: Sau cuộc kháng cự bị thất bại trong thành Lạng Sơn ngày 9 tháng 3 năm 1945, Cron và các bạn chiến đấu bị Nhật bắt làm tù binh và bị lôi đi chém đầu, mọi người phải quỳ gối thẳng hàng theo kiểu Nhật ở trên miệng hào dùng để vùi xác chết. Những con người khốn khổ này, lần lượt từng người một bị một sĩ quan Nhật Bản được vinh dự chỉ định làm đao phủ. Do một phản xạ, nhờ trời, hoặc do tên đao phủ lúc đó đã mệt mỏi, lúc lưỡi gươm vừa giáng xuống gáy thì Cron vụt cúi đầu khiên cho chỉ có phía sau hộp sọ bị chém còn hộp sọ vẫn không bị thương tổn. Dù sao sức mạnh của cú chém cũng làm cho nạn nhân bất tỉnh, toé máu, ngã lăn xuống hố bên cạnh xác của những đồng đội đã chết. Cron không biết rõ anh đã nằm như thế được bao lâu.


Có điều chắc chắn là, cũng như mọi người khác, anh bị lính Nhật đâm liên tiếp bằng lưỡi lê nhằm làm cho những nạn nhân này chết hẳn. Cố nín hơi giả chết, Cron chờ đợi nhiều giờ để thoát ra khỏi đống xác chết của các bạn. Anh đã cố sức bò lên được bò hào và ngay trong đêm hôm đó, mặc dù bị rất nhiều vết thương, đã lết ra khỏi Lạng Sơn để rồi sau đó tìm đường sang Trung Quốc.


Vài tuần sau, Cron có mặt ở Côn Minh, kể lại cuộc phiêu lưu mạo hiểm, vui vẻ để tất cả các phóng viên Đồng minh chụp ảnh. Cron đã gặp tai nạn máy bay khi anh đang bay trở về Pháp, là nơi mọi người cũng đã biết được cuộc phiêu lưu không thể tưởng tượng nổi của anh.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 17 Tháng Chín, 2021, 05:55:02 pm
III
KHU DU KÍCH TRONG VỊNH HẠ LONG


Rất nhanh chóng, tôi hướng sự chú ý vào nhóm "Martinique" gồm các thuỷ binh trên ba chiếc tàu nhỏ rất quen thuộc vùng duyên hải Bắc Kỳ và các quần đảo trên vịnh Hạ Long, có khả năng sẵn sàng đáp ứng mọi công tác lớn do chúng tôi giao cho. "Martinique" vừa mới đưa sang Phòng Thành ba chục phụ nữ, trẻ em, vài viên chức, vài người bị thương, trốn thoát khỏi Bắc Kỳ. Phải gấp rút đưa những người này tới Vân Nam để họ thật sự được an toàn và cũng là để giải phóng cho những tàu bè của "Martinique" hoạt động trở lại.


Tôi đề nghị với các cơ quan AGAS của Mỹ giúp đỡ đưa những đồng bào của tôi, trước hết tới Côn Minh. Sau đó, có thể để "Martinique" phục vụ Mỹ tìm những phi công Đồng minh bị máy bay hoặc cao xạ của Nhật Bản bắn rơi xuống vịnh Hạ Long hoặc vùng biển Quảng Đông. Bù lại, tôi đề nghị Đồng minh cung cấp lương thực, vũ khí, phát triển các thành phần trong nhóm mà tôi nghĩ sẽ kết nạp họ vào mạng lưới tình báo, hoạt động chủ yếu hướng vào vùng bờ biển Bắc Kỳ.


Đại tá Mỹ Wichtricht phụ trách AGAS ở Côn Minh là một người thực dụng. Cuộc mặc cả nhanh chóng được ngã giá. Một chiếc thuỷ phi cơ kiểu Catalina từ Ấn Độ bay theo "Hump" (vượt qua dãy núi Himalaya) tới, giao cho chúng tôi sử dụng. Để bay nhanh và bay cao tới mức vượt qua được những núi cao, chiếc Catalina đã phải bỏ lại tất cả vũ khí. Ngày chủ nhật 27 tháng 5, cùng đi với một sĩ quan AGAS, đại tá Wood, trung uý Ettinger thuộc OSS và tiểu đoàn trưởng Gourvest là người được trao nhiệm vụ chỉ huy đám quân Pháp rút lui tập trung tại Phòng Thành, tôi ngồi vào chiếc Catalina và chúng tôi cất cánh từ lúc mới rạng đông.


Chiếc thuỷ phi cơ mang theo đầy xăng để tiếp tế cho hai tàu tuần tiễu của hải quân Pháp là Crayssac và Frezouls đang thiếu chất đốt, phải cắm neo nằm im, có thể rơi vào tay Nhật Bản. Đây là loại máy bay chuyên dùng để phát hiện tàu ngầm, vì vậy những chiếc máy bay vừa có thể hạ cánh trên mặt đất cũng như trên mặt nước này có tầm nhìn sâu đặc biệt. Quang cảnh dưới mặt nước biển lướt đi dưới mắt chúng tôi thật ngoạn mục. Chúng tôi bay qua biên giới Trung Hoa - Đông Dương, cắt ngang vùng trời quân khu 2 của Pháp ở điểm Cao Bằng rồi đến một vùng địa hình nhấp nhô phức tạp giữa Lạng Sơn và Nam Ninh mà chúng tôi nhanh chóng vượt qua theo hướng đông.


Khu vực này thường xuyên có máy bay Nhật tuần tra. Chúng tôi quan sát phía chân trời một cách cảnh giác. Đã tới vùng cửa biển Phòng Thành có nhiều nhánh sông, liền sau đó là vùng duyên hải thấp, phủ đầy phù sa trên bờ vịnh Bắc Bộ. Nước biển dâng cao, sóng đưa dồn dập khiến chúng tôi không quan sát được thật rõ mép bờ biển.


Máy bay bay sà xuống thấp: đây là những bãi đước và những nét vẽ hình học của những lưới vây cá có nhiều tác dụng và cũng đầy tài nghệ khéo léo. Cuối cùng, từ phía bên kia bờ vịnh Bắc Kỳ, phía tây bán đảo Liêu Châu là Bách Hội, một vùng đầy thuyền tam bản và thuyền buồm, những cánh buồm nhiều mầu, mỗi khi mở rộng nom giống như những chiếc quạt giấy. Xa hơn nữa, ở phía nam, giáp bờ biển có hai cột khói bốc lên, đó là hai chiếc tàu bạn đang cắm neo.


Chiếc thuỷ phi cơ lượn vòng khá lâu để tìm một chỗ đáp thích hợp, cách xa đám tàu thuyền này. Việc hạ cánh trên mặt biển tiến hành thuận lợi, máy bay lướt trên mặt nước, giữa đám đông thuyền bè có rất nhiều trẻ con, vạch một đường tiến xuyên qua đám người vừa sống trên biển vừa sống trên đất đang đổ xô về phía chúng tôi, nhanh chóng vây chặt chúng tôi. Máy bay tiếp tục tiến về phía hạm đội nhỏ của Pháp, mọi người đang náo động đến tột cùng. Chúng tôi phải khó nhọc lắm mới lách qua được đám đông quá huyên náo, cố tránh va trạm giữa thuyền với thuỷ phi cơ, và sau đó đã dừng cánh cách những tàu tuần tiếu của Pháp khoảng vài trăm mét. Nhưng vẫn phải giữ gìn không để lộ sự có mặt của chiếc thuỷ phi cơ có trong vùng biển đang bị Nhật Bản kiểm soát. Tôi chỉ thị nghiêm mật: Chiếc Catalina chỉ đậu trên mặt nước một thời gian vừa đủ để chuyển chất đốt sang hai chiếc tàu và nhận những người trên tàu cần đưa về Côn Minh.


Tất cả qua nhanh không trở ngại. Mọi người ngồi chen chúc, tuỳ tiện trong khoang máy bay. Có 27 thường dân chủ yếu là phụ nữ và trẻ em, vài quân nhân bị thương hoặc ốm nặng cần đưa gấp về Côn Minh ngay trong buổi tối. Còn tôi, tôi ở lại vài ngày với các thuỷ binh. Các sĩ quan Mỹ cũng ở lại Bách Hội và tại địa điểm này chúng tôi đã soạn thảo kế hoạch hoạt động (đã được ghi lại trong cuốn "Hải quân Đông Dương" của Jacques Mordal, nhà xuất bản Amiot-Dumont, từ trang 65 đến trang 80).


Trên tàu, hạm trưởng Commentry đã tiếp đón chúng tôi với thái độ lịch sự và một vẻ hiền từ làm cho ông rất có thiện cảm. Ông là người chỉ huy một đội ngũ không chỉ gồm các sĩ quan bộ binh và hải quân mà còn có cả những người tình nguyện, vốn là thường dân, và những quân nhân thuộc đủ loại binh chủng, mọi nguồn gốc. Ông được mọi người kính nể. Chung quanh ông có các trung tá hải quân Blanchard và Vilar, thiếu tá hải quân Mas, thanh tra hải quân Grasset, cơ trưởng trù bị Lavallée, hoa tiêu cảng Hải Phòng, thanh tra hải quân Haag, tiểu đoàn trưởng Balland, đại uý Fourcade v.v...


Câu chuyện của họ là cả một cuốn tiểu thuyết, có thể tóm tắt như sau:

Ngày 9 tháng 3 năm 1945 họ đang đóng quân tại khu vực giữa Hồng Gai và Móng Cái thì cuộc đảo chính bất ngờ ập đến. Họ lập tức tập chung quanh đại tá hải quân Commentry, tư lệnh lực lượng hải quân Bắc Kỳ, kịp thời cho hai tàu Crayssac và Frézouls nổ máy ra khơi.

Trong khi đó Lavallée cũng tập hợp được trên chiếc thuyền buồm chạy máy Audacieuse của Nha Thương chính Bắc Kỳ một đội ngũ chắp vá nhưng toàn là những người quyết tâm chiến đấu và rất quen thuộc vùng duyên hải Bắc Kỳ. Chiếc thuyền Audacieuse cũng nổ máy ra khơi theo Commentry. Hạm đội bé nhỏ này kiểm tra rất kỹ các đảo trong vịnh Hạ Long để tìm kiếm những người Pháp đang ẩn náu, trốn tránh sự đàn áp của Nhật. Sau đó, hạm đội này tiến hành một cuộc chiến tranh thật sự bằng cách săn lùng những chiếc thuyền buồm buôn lậu đang tiếp tục nghề cổ truyền và lần này tiếp tế cho cả Nhật Bản. Nhiều thuyền buồm khác như Vieux Charler, Belle Poule, L’Etoile và sau đó là Blue Bird, Corsaire, Marguerite II lúc đó đã tiếp xúc được với tư lệnh vùng bờ biển Quảng Đông Trung Quốc và ông tư lệnh này chấp nhận tiếp tế lúc có lúc không cho hạm đội Pháp.


Hạm đội này cũng thiết lập được đường dây liên lạc với các đơn vị bộ binh Pháp, vào khoảng một nghìn người, sau khi chiến đấu tới khả năng cuối cùng tại Móng Cái và Quân khu 1 đã phải rút sang Quảng Đông, tập trung tại vùng Thập Vạn Đại Sơn hoặc tại Phòng Thành và bắt liên lạc với Côn Minh.


Những người trong nhóm "Martinique" luôn luôn cảnh giác, luôn luôn sẵn sàng nổ máy di chuyển - vì Nhật đã biết sự tồn tại của họ - và đã phải buộc phải sống một cuộc sống lang thang trên mặt biển. Những tên cướp biển hiện đại này trong hơn một năm đã viết nên một bản anh hùng ca thật sự.


Tại Bách Hội, các thường dân Pháp đưa đến đây đã được các nhà truyền giáo và các bà sơ trong bệnh viện Pháp tiếp nhận hoặc đưa về lãnh sự quán Pháp. Linh mục Desmazières ngay từ những ngày đầu tiên đã chịu sự điều khiển của đại tá hải quân Commentry và làm hết sức mình để cải thiện số phận của đồng bào chúng tôi.


Sau khi đã giải quyết được các vấn đề công tác và tiếp tục nhận những tin tức tình báo khẩn cấp, chiếc Catalina lại lướt trên mặt biển, tăng thêm tốc độ, cất cánh rồi mất hút về phía bắc vòm trời. Đấy là lúc máy bay nhanh chóng lấy độ cao để vượt những đỉnh núi phía nam Trung Quốc, chở theo ba chục người Pháp suốt hơn hai tháng sống trong hoang mang lo ngại, nay được về với tự do.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 17 Tháng Chín, 2021, 05:56:01 pm
Ngay khi vừa đặt chân lên một trong những chiếc tàu tuần tiễu, tôi đã bị Commentry và ban tham mưu của ông đặt ngay lên ghế bị cáo để chất vấn. Đối với họ tôi là người Pháp đầu tiên từ Pháp tới sau nhiều năm gián đoạn, một "người Pháp mới" như ở Đông Dương người ta thường gọi những người tới đây hoặc trở lại sau ngày nước Pháp được giải phóng.


Hàng nghìn vấn đề đang ám ảnh những người này từ nhiều năm nay, hàng nghìn câu hỏi không được trả lời đang mấp máy trên đôi môi họ. Cuối cùng một người đã nêu lên câu hỏi đó với tôi.

Tôi vừa cảm động, vừa rất bối rối nhưng cố không để lộ. Trong vài phút hoặc trong vài giờ nữa, phải lấp cái hố sâu giữa tôi với họ đang tồn tại từ nhiều năm cách biệt.

Có thể nào, chỉ bằng vài từ ngắn gọn thôi để làm cho họ hiểu sự tiến triển chậm chạp giữa chúng tôi và họ trong những năm kinh khủng đã qua. Liệu tôi có thể giải thích cho họ hiểu chúng tôi đã sống ra sao.

Ở Côn Minh, tôi vẫn thường chứng kiến những vấp váp không thể tránh được giữa những người từ Pháp mới tới và những người trong quân đội từ Bắc Kỳ đã rút sang Trung Quốc.

Tôi vẫn thường dự kiến những vấp váp đau đớn phát sinh trong cuộc gặp giữa những người Pháp bấy lâu bị ngăn cách bởi những sự kiện hơn là những định kiến chính trị.

Suốt đêm hôm đó, trên boong tàu nhỏ đã diễn ra một cuộc đàm thoại kéo dài, hoặc chính xác hơn, đó là một cuộc chất vấn trong đó tôi đã cố hết sức giải đáp một cách tốt nhất.

Những con người đang nhiệt tình yêu nước này chỉ muốn được thông cảm và chỉ có một mục đích là: Phục vụ. Cũng như hầu hết người Pháp ở Đông Dương hồi đó, họ đã bị nhiều thông tin xuyên tạc hoặc đúng hơn không được thông tin. Họ chẳng hiểu gì cả, hoặc chỉ có một ý niệm không hoàn chỉnh về những cuộc đấu tranh của chúng tôi, những đau khổ của chúng tôi, và họ phải khó khăn lắm mới hiểu được sự không khoan nhượng mà chúng tôi đã thường bộc lộ quá rõ còn họ thì tổn thương sâu sắc.


Suốt đêm, trên boong chiếc tàu tuần tiễu, dưới ánh trăng vằng vặc, trong khi những chiếc thuyền đánh cá của người Trung Quốc lướt ra khơi sát gần hạm đội nhỏ bé này của Pháp giống như những con bướm đêm khổng lồ, tôi đã giải thích với họ cuộc chiến đấu mà chúng tôi còn tiếp tục trên đất Trung Hoa, tiếp nối với cuộc chiến tranh ở châu Âu dẫn đến sự sụp đổ của Đức và Italia. Tôi chỉ rõ mục đích đưa tôi đến với họ: Đó là tiếp tục cuộc đấu tranh, cùng với các Đồng minh, đóng góp phần khiêm tốn của mình bằng cách tham gia với tất cả những gì còn lại. Nói tóm lại là để khẳng định sự có mặt của Pháp tại khu vực Viễn Đông này, là nơi các Đồng minh đã chiến đấu hầu như hoàn toàn không có chúng ta.


Liệu chúng ta có chấp nhận để các nước Đồng minh ban cho một sự chiếu cố duy nhất là quyền nói chuyện trên tư thế là người chiến thắng đối với những kẻ chiếm đóng xứ sở Đông Dương của chúng ta hay không? Chúng ta phải có mặt ở khắp mọi nơi, ở bất cứ chỗ nào mà nhóm nhỏ nhất trong chúng ta có may mắn được chiến đấu. Sẽ là những tài khoản ghi trong ngân hàng tín dụng của Pháp khi xảy đến thời điểm bắt bọn xâm lược phải trả nợ.


Nhiệm vụ của tôi thật dễ dàng: Tôi đã không phải thuyêt phục đám người này, bởi vì họ đã không ngừng chiến đấu. Tôi chỉ mang đến cho họ một điều, và đó là điều thiết yếu, tức là những phương thức tham gia chiến đấu trong khuôn khổ một kế hoạch chung, bởi vì chúng ta hành động theo những nhu cầu và những chỉ thị của ban tham mưu Đồng minh.


Tôi giải thích với Commentry những gì tôi chờ đợi ở ông, các sĩ quan binh lính của ông. Sự hiểu biết của họ vê các bờ biển Bắc Kỳ rất cần đối với tôi để bồi bổ thêm một đường dây trong mạng lưới mà Phái đoàn 5 đang muốn phải trở lại khắp miền Bắc Đông Dương sau khi tất cả tổ chức tình báo trước đó đã bị Nhật Bản triệt phá từ ngày 9 tháng 3 năm 1945.


Tôi cũng cần đến họ để đáp ứng yêu cầu của AGAS mà nhiệm vụ chủ yếu là cứu vớt những phi công Đồng minh bị bắn rơi trong vịnh Bắc Bộ. Người Mỹ rất chú trọng đến nhiệm vụ này, còn tôi thì lại đang được họ cung cấp lương thực, vũ khí, chất đốt cho các nhóm của mình. Đó là sự chuyển động và liền theo đó là hành động, là cuộc sống mà tôi trình bày với họ, nhưng cũng là một nhiệm vụ phức tạp và nguy hiểm.


Tôi giải thích cho Commentry rõ về tính bấp bênh trong vị trí ở Côn Minh là nơi Phái đoàn 5 đặt trụ sở, nơi tôi là người chỉ huy mà mới chỉ ở cấp thiếu tá và cũng mới chỉ được Trùng Khánh tạm chấp nhận. Ta cần bám chân, phải "cột chặt" mình vào đó và ngày nào cũng phải vượt qua một vật cản mới, bí mật đặt trên đường đi. Tóm lại, muốn "ở đấy" để được người ta dung nạp, thì nhất thiết phải làm việc, phải làm cho các bạn Đồng minh cần đến mình.


Suốt đêm hôm đó, chúng tôi cùng nhau nói chuyện, thảo luận, dự kiến những may mắn, cân nhắc những rủi ro. Rạng đông ập tới trong khi chúng tôi vẫn còn đang hội họp, những chiếc thuyền buồm đánh cá chậm chạp, chỉ còn một số ít đang căng buồm hốiì hả ra khơi. Chưa ai nghĩ đến chuyện đi ngủ.


Và, tôi rất vui khi được nhìn thấy đại tá hải quân Commentry đứng dậy, bình thản nói với tôi:

- Thưa thiếu tá, chúng tôi xin ở dưới quyền ông.

Tôi chưa bao giờ giao nhiệm vụ cho Commentry, nhưng ông hiểu rất rõ, đây là giờ phút không thể nào quên được đối với tôi.

Từ cuộc họp này đã nảy sinh thêm các phái đoàn mang tên "Normandie", "Calvados", "Auge", "Bessin", "Bocage" và nhiều nhóm nữa tạo thành mạng lưới trên biển của Phái đoàn 5. Đó thật sự là những nhóm du kích lấy vịnh Hạ Long kỳ diệu làm sào huyệt ẩn náu, làm chiến trường hoạt động. Tôi chỉ xin nhắc lại vắn tắt để tránh cho họ một sự lãng quên đang bắt đầu bao phủ.


Tôi ở lại Bách Hội bốn ngày để hoàn thành tổ chức các phái đoàn tương lai và để chuẩn bị một bãi đáp máy bay tạm bợ cách thị trấn vài kilômét.

Vài hôm sau, chiếc Catalina bay đến đón tôi.

Commentry cùng đi với tôi đến tận Côn Minh là nơi chúng tôi cần cùng với các Đồng minh ấn định rõ nhiệm vụ cho các nhóm mới được thành lập.

Chuyến bay trở về Côn Minh như một cuộc biểu diễn nhào lộn vì hôm đầu tiên không vượt qua được những dãy núi cao ở biên giới Trung Quốc - Bắc Kỳ, máy bay lại phải quay trở về Bách Hội. Ngày hôm sau chúng tôi mới tới được sân bay Côn Minh. Tất cả những chuyến bay cất cánh, hạ cánh như đàn ong trên sân bay náo nhiệt nay tạm đình chỉ, dành ưu tiên cho chúng tôi, vì tất cả bình chứa trong máy bay Catalina đều không còn một giọt xăng nào.


Từ đó bắt đầu thành lập những đơn vị lưỡng năng hoạt động cả trên bộ lẫn trên biển, lúc đầu tập trung tại Bách Hội sau đó toả rộng tới mớ bòng bong trong vịnh Hạ Long, tại đảo Cái Bàn, đảo Khỉ, đảo Cô Tô... Cần phải có một cây bút viết văn mới kể được hết những bước đường gian truân của họ.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 18 Tháng Chín, 2021, 07:50:15 am
IV
LIÊN LẠC VỚI PARIS


Đầu tháng 7 năm 1945, nhiều vấn đề nảy sinh trong công tác, nhất là sự phát triển khổng lồ của Phái đoàn 5 khiến tôi phải nhanh chóng thiết lập một mạng lưới liên lạc chính thức với Paris. Mùa đông sắp kết thúc có thể tạo cơ hội cho các lực lượng Đồng minh mở cuộc tấn công cuối cùng vào Đế quốc Mặt trời mọc. Tôi thấy cần phải báo trước và xin ý kiến của các cơ quan có trách nhiệm ở Paris, ngoài những báo cáo và ghi chép soạn thảo vội vàng gửi về và được rất ít người đọc. Tôi hi vọng, qua những thông tin, tôi có thể thuyết phục các giới trong chính phủ về tính cấp bách của sự kiện sắp xảy ra đến nơi.


Đại tá Roos, trưởng cơ quan liên lạc Viễn Đông là cấp trên trực tiếp của tôi, tỏ ý tán thành một chuyến đi của tôi trở về Pháp. Những người Mỹ đẩy cao sự giúp đỡ ân cần tới mức cho tôi được hưởng ưu tiên số một trong chuyến bay của Bộ tư lệnh không quân vận tải Mỹ, điều đặc biệt hiếm có. Một điều có thể khẳng định là, vào thời điểm đó bạn Đồng minh Mỹ của chúng ta rất muốn nhìn thấy một hành động chung giữa các nước lớn ở vùng Viễn Đông theo một kế hoạch đưa trên cơ sở thoả thuận chung. Lúc đó, tôi không hề nhận được chỉ thị phải đề xuất vấn đề này, nhưng rõ ràng các cơ quan Mỹ ở Côn Minh, mang theo những công hiến cụ thể liên quan đến một hành động chung trong khu vực Đông Nam Á và trong xứ Đông Dương nói riêng.


Trước khi đi, tôi đã dự lễ quốc khánh của chế độ Quốc dân đảng Trung Quốc, gọi là lễ Song Thất, tức là mùng 7 tháng 7. Trong buổi lễ, các đơn vị đã tập trung trên sân vận động rồi diễu hành qua các phố. Một số đơn vị được chỉ huy bởi các giáo viên quân sự người Mỹ, chịu trách nhiệm về việc hiện đại hoá quân đội Trung Quốc.


Sau đó tôi rời Côn Minh, dừng lại vài giờ ở Calcutta rồi đến Paris ngày 13 tháng 7. Nhân dịp chuyến về nước công tác này tôi đã được dự lễ duyệt binh kỷ niệm ngày Quốc khánh (14-7) Pháp. Cuộc diễu hành hoàn hảo của quân đội chúng ta mang đến cho tôi một ấn tượng phấn khởi nhưng cũng gây cho tôi một tiẽc nuối: Thật đáng tiếc là vì không có một đơn vị nào trong đội ngũ diễu binh tuyệt vời này có mặt tại Côn Minh ngày 7 tháng 7 để cùng với các đơn vị Đồng minh diễu hành trên đường phố. Hỡi ôi! Chúng tôi đã không được mời!


Sự thiếu vắng quân đội Pháp mà tôi rất lấy làm tiếc khi dự lễ diễu binh của quân đội Trung Quốc tại Vân Nam mấy ngày trước, càng thảm hại hơn khi tôi nhận ra rằng, sự có mặt của quân đội Pháp có lẽ sẽ đóng góp vào sự nghiệp của nước Pháp ở Viễn Đông.


Trong ngày 14 tháng 7 năm 1945, tâm trí tôi hết hướng về Paris lại hướng về Côn Minh, ở bên kia, đó là cơn sốt, là sự căng thẳng khác thường kèm theo sự chuẩn bị của cuộc tổng tiến công trong không khí của ngày "N" nào đó, có thể chỉ chưa đầy vài tuần, có thể là chỉ vài ngày nữa sẽ tới. Ở bên này, tại Paris, lại là sự thư giãn trong niềm hi vọng tiếp theo những ngày sống trong hoả ngục. Thông điệp tràn đầy lạc quan. Thử thách ghê gớm đã kết thúc. Nước Pháp đang chuẩn bị tái sinh.


Vậy thì, trong những điều kiện hoàn cảnh như thế này, tôi biết làm thế nào để được nghe, và hơn thế nữa để được biết. Vừa mới ngồi chưa yên chỗ, tôi đã nhận thấy tính mong manh dễ tan vỡ của những tham vọng của mình.


Làm thế nào để khiến cho đất nước ứa máu của tôi đã hết hơi, đang hướng về cuộc sống mối mà mỗi người xây dựng theo một cách, hiểu rằng chưa phải mọi chuyện đã hết, còn phải một nỗ lực mới, một cố gắng rất to lớn để tránh bị què cụt vì mất một trong những thành viên thiết yếu nhất cho sự tồn tại của khối liên hiệp Pháp mà nhiều người đã nghĩ đến chuyện xây dựng bằng đủ mọi lời hứa hẹn.


Quan điểm của tôi là rất rõ ràng, khi tôi được dịp trình bày để mọi người nghe. Đó là những sự kiện đang dồn dập kéo tới Viễn Đông. Đế quốc Mặt trời mọc bị biệt lập do những cuộc chinh chiến xâm lăng quá mức, chỉ có một mình đối mặt với các Đồng minh. Khát vọng hoà bình đang biểu lộ rõ nét trong từng ngày, đế quốc Nhật Bản không còn tồn tại lâu nữa trước những đợt tiến công sẽ giáng xuống vào đầu mùa khô.


Liệu nước Pháp, sau khi Nhật Bản sụp đổ, có sẵn sàng giành lại được vị trí của mình tại Đông Dương, cứ cho rằng vị trí này còn bỏ trống.

Tôi cũng cảnh báo về sự chống đối của những người An-nam theo chủ nghĩa dân tộc đang chờ chúng ta. Nhưng thật là vô ích. Tất cả những lời cảnh báo của tôi, mà tôi nhấn mạnh nhiều lần, đều vấp phải sự hoài nghi. Quá nhiều người Pháp cứ ngỡ rằng những người Đông Dương đang nóng lòng chờ đợi chúng ta quay trở lại và đang chuẩn bị dang rộng cánh tay đón chào chúng ta!


Do không có lực lượng viễn chinh Pháp mạnh mẽ, sẵn sàng can thiệp ngay và tái chiếm những vị trí trọng yếu, tôi nghĩ cần phải tìm kiếm sự ủng hộ hoặc ít nhất cũng là sự trung lập quý báu của một trong những Đồng minh của chúng ta. Vì nhiều lý do nhất là về mặt kinh tế, nên người Mỹ đã không sẵn sàng, để lắng nghe những đề nghị cụ thể và thực tế của chúng ta trong vấn đề này. Không có đầy đủ các phương tiện để giành lại ngay vị trí của mình (và cũng có thể việc tổ chức một lực lượng viễn chinh rất mạnh có lẽ sẽ không được dư luận đồng tình lắm) và cũng không được sự ủng hộ hoàn toàn của một cường quốc Đồng minh, nước Pháp chỉ còn lại một giải pháp duy nhất để giữ được Đông Dương.


Tôi đã cố hết sức giải thích như vậy với những nhân vật mà tôi có thể gặp gỡ. Lý lẽ của tôi đưa ra được tiếp nhận với rất nhiều dè dặt, và mỗi một cuộc gặp gỡ tiếp theo lại khẳng định trong tôi, nếu vấn đề Đông Dương được một số người quan tâm thì, nhìn chung, vẫn cứ bị xếp vào thứ tự giải quyết rất thấp, sau rất nhiều những quan tâm khác của Mẫu quốc. Trên thực tế nếu người ta không hoàn toàn làm ngơ thì ít nhất cũng không coi trọng vấn đề một cách nguy hiểm.


Tháng 7 năm 1945 lúc tôi đang cố kéo còi báo động thì Toàn quyền tương lai, sau nay đổi là Cao uỷ Đông Dương vẫn chưa được chỉ định. Vấn đề này không cần bình luận. Vài ngày sau khi Nhật Bản sụp đổ, người ta vẫn không hề biết ai là người gánh chịu trách nhiệm nặng nề là nắm lại xứ Đông Dương trong tay để giữ sự có mặt của Pháp ở châu Á (mãi đến ngày 17 tháng 8 năm 1945, đô đốc Thierry d’ Argenlieu mới được bổ nhiệm làm Cao uỷ Cộng hoà Pháp tại Đông Dương).


Người ta cho rằng vẫn có nhiều người đã đứng đầu xứ Đông Dương thuộc Pháp cho đến ngày 9 tháng 3 năm 1945. Đúng vậy, nhưng từ ngày đó trở đi họ bị Nhật Bản bắt tù và trở nên bất lực. Việc quân đội Pháp bị quân đội Nhật đánh bại cũng làm giảm sút uy tín của họ. Cuối cùng, tôi không trở lại vấn đề này nữa, vì vào thời kỳ đó, đứng trước một dư luận vẫn còn xao động là nên giữ lại người cũ, cho họ cầm quyền ở Đông Dương, dù đã có một số người công khai tỏ ra trung thành với chính phủ Vichy. Trong những hoàn cảnh đó, chỉ có vài người có thể cột vào được nhiệm vụ dù khả năng rất yếu.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 18 Tháng Chín, 2021, 07:51:18 am
Ba cơ quan chủ chốt được giao trách nhiệm phân bổ. Đó là: Uỷ ban liên bộ Đông Dương do thống đốc Langlade đứng đầu. Ông đã từng nhảy dù xuống Đông Dương để hoạt động bí mật, nay được cử đi nghiên cứu tình hình tại chỗ. Lực lượng can thiệp trang bị nhẹ do tướng Blaizot tổ chức. Cơ quan liên lạc Pháp tại Viễn Đông do DGER thành lập tại châu Á phục vụ cho lực lượng kháng chiến ở Đông Dương, cũng như BCRA đã phục vụ cho phong trào kháng chiến ở Mẫu quốc trong thời kỳ Đức chiếm đóng. (DGER là tên gọi tắt Tổng nha nghiên cứu và thu thập thông tin tình báo; BCRA là tên gọi tắt Trung tâm tình báo và hành động do đại tá Passy thành lập ở Luân Đôn).


Tại Bộ Thuộc địa đặt tại phố Vudinot, ngoài thống đốc Laurencie ra, tôi không thấy ai chăm chú lắng nghe. Tất cả những ai nghĩ tới Đông Dương và sẵn sàng hi sinh vì sự nghiệp của Pháp quốc ở Đông Dương đã ra đi và đang ở Calcutta (phái đoàn thuộc địa Pháp đặt trụ sở tại Calcutta do Jean de Raymond chỉ huy) trong đó có Raymond, Pignon, Cédile, Mesmer... chờ đợi thời cơ có thể chen vai cùng các bậc đàn anh, những quan chức dân sự, khi những người này được thoát khỏi các nhà tù hoặc các trại tập trung của Nhật Bản.


Trên thực tế, khi quân đội Anh chiến đấu ở Miến Điện là nơi chủ nghĩa bành trướng Nhật Bản vươn xa nhất ở phía tây thì quân đội Pháp vắng mặt. Pháp đã vắng mặt về vật chất vì thiếu các phương tiện vận chuyển hơn là thiếu thiện chí hoặc không thông cảm mà Đồng minh đã từ chối không cho chúng tôi được sử dụng lượng cần thiết trang bị nhẹ hồi tháng 9 năm 1945. Chỉ có chiếc tàu chiến Richelieu và vài đơn vị nhẹ hơn được tham gia vào nỗ lực chiến tranh của quân đội Đồng minh trong vùng Viễn Đông.


Tôi cũng nhanh chóng thừa nhận và ghi nhận rằng bên cạnh sự vắng mặt về vật chất tại các thuộc địa sở hữu ở Viễn Đông, nước Pháp cũng vắng mặt cả về tư tưởng. Dư luận ở Mẫu quốc bị lôi cuốn bởi nhiều nỗi lo khác đã không chú ý đầy đủ đến số phận của lãnh thổ thuộc địa vĩ đại này mà nếu giành lại được ngay trong lúc đó thì có thể sẽ đóng góp đáng kể vào việc chấn hưng kinh tế của nước Pháp. Nhưng dù sao lúc đó vẫn còn phải quan tâm cấp bách đến vô số nhiệm vụ mà chính phủ lâm thời phải đương đầu.


Tất cả mối thảm kịch Đông Dương là như vậy. Dù bất cứ trường hợp nào trong sự mất niềm tin thoáng qua này cũng đã thấy xuất hiện trận địa thích ứng cho sự phát triển.

Ngoài những nhân vật kể trên, thuộc uỷ ban Đông Dương và thuộc giám đốc các vấn đề chính trị của nước Pháp hải ngoại, tôi hầu như không còn khả năng lôi cuốn sự chú ý của những người tại chỗ. Dĩ nhiên, tôi biết đến đại tá Passy hồi đó là người đứng đầu cao nhất của những cơ quan tình báo mà tôi trực thuộc. Ông là người hiểu rõ ngay tầm quan trọng của vấn đề và đã bảo tôi hãy ở Paris, chờ tướng De Gaulle thăm Anh trở về. Ông muốn tự tôi trực tiếp trình bày quan điểm của mình về vấn đề mà ông vẫn theo dõi diễn biến. Vài ngày trôi qua... Và đại tá Passy bảo tôi, chủ tịch chính phủ lâm thời của Pháp rất bận, không thể tiếp tôi ngay được. Đánh giá sự cần thiết của sự có mặt của tôi ở Trung Quốc, Passy yêu cầu tôi quay trở lại nhiệm sở không chậm trễ.


Ngày 26 tháng 7, trước khi tôi rời Paris vài giờ, trong lúc tôi đang tới khách sạn Continental là nơi thiết lập trụ sở Tổng tham mưu trưởng Bộ Quốc phòng để chào từ biệt tướng Juin, thiếu tá hải quân Barjot đã đưa cho tôi bức điện vừa nhận được. Bức điện báo tin tại hội nghị Potsdam, vắng mặt Pháp và cũng không tham khảo ý kiến Pháp, các nước Đồng minh đã quyết định chia Đông Dương làm hai phần tương đối đều nhau, lấy vĩ tuyến 16 làm đường phân cách. Rõ ràng đây chỉ là một sự phân phối lại về chiến lược trong khu vực thuộc Bộ tư lệnh tác chiến Đông Nam Á của đô đốc Anh Mountbatten với chiến trường Trung Quốc và Bộ tư lệnh của tướng Mỹ Mac Arthur. Điều không may là sự phân chia này là bước khởi đầu cho quân đội Trung Quốc chiếm đóng Bắc Đông Dương. Trong tất cả sự xếp đặt này đều tuyệt đối không đếm xỉa đến Pháp. Quyết định này nặng trĩu những tai hại, nhưng vào thời kỳ đó đã có bao nhiêu người trong chúng ta nhìn thấy trước và quan tâm những sự đe doạ chứa đựng trong quyết định này?


Tôi không giấu giếm thiếu tá Barjot về sự xúc động của mình trong khi nhấn mạnh đến tính chất nghiêm trọng của biện pháp nói trên đang hình như bị coi nhẹ.

Rõ ràng miền Bắc Đông Dương đã bị ném làm mồi cho Trung Quốc để đền bù lại những nhượng bộ mà Tưởng Giới Thạch đã phải hiến cho Liên Xô theo chủ trương của Tổng thống Mỹ Roosevelt tại hội nghị Yalta.

Mãi rất lâu về sau, quyết định này mới được "chính thức" thông báo cho chúng ta biết. Quả là đến ngày 10 tháng 8 mới chính thức công bố sự chia cắt bỉ ổi và nguy hiểm lãnh thổ thuộc địa đẹp nhất của Pháp. Trùng Khánh còn âm mưu chiếm toàn bộ Đông Dương bằng cách tung tin là chỉ có Tưởng Giới Thạch là người duy nhất có thể chỉ định các nhà chức trách tiếp nhận sự đầu hàng của quân đội Nhật Bản tại Đông Dương.


Ngay khi trở về Côn Minh là nơi mưu đồ trên rất dễ phán đoán, tôi đã liên tiếp phát đi những lời cảnh báo. Trong bức công điện tôi gửi đi ngày 12 tháng 8 nám 1945 có đoạn ghi rõ: "Trên thực tế Trung Quốc chuẩn bị rõ rệt việc đón miếng mồi Bắc Kỳ, và tăng cường gây trở ngại cho việc can thiệp của đội quân Allessandri và các đội biệt kích của chúng ta..."


"... Tôi lo ngại khi thấy Calcutta cũng như Paris không hiểu tình hình nghiêm trọng. Tôi nhắc lại, Trung Quốc được một số chỉ huy cấp cao của Mỹ ủng hộ đang đẩy xa chúng ta khỏi Đông Dương".

"Hiện nay ta chỉ có khoảng hơn 2.500 người không vũ trang đối mặt với 3 sư đoàn Nhật Bản và 20 sư đoàn Trung Quốc cộng thêm sự phá rối kéo dài của một số nhân vật có vai vế của Mỹ và Trung Quốc. Trong nội địa, ta đứng trước sự chống đối của Mặt Nạ1 (Mật danh Sainteny dùng để chỉ Mặt Trận Việt Minh - ND), trước những đòi hỏi mà chúng ta không bao giờ có khả năng đáp ứng, trong khi đây là vấn đề cấp bách nhất, có thể tính từng giờ".


Ngày 13 tháng 8 tôi lại gửi đi bức điện số 352: "Rồng gửi Vẹt1 (Tên Sainteny và Roos trong điện mật mã - ND): Việc Trung Quốc chiếm đóng Bắc Đông Dương có thể coi như giải pháp tồi tệ nhất trong mọi giải pháp. Tôi cho rằng ta không thể chấp nhận mà có những phản ứng. Điều đáng lo ngại này động chạm sâu sắc đến uy thế của giống người da trắng ở vùng Viễn Đông".


Trở lại việc tôi rời Paris đêm 28 rạng 29 tháng 7 trên chiếc máy bay của Bộ tư lệnh không quân vận tải Mỹ. Ngày 29 khi tới Aten, thủ đô Hi Lạp, chiếc Dakoto này bị hỏng máy. Một lát sau, máy bay chở tướng Mỹ Donovan, ông trùm của cơ quan tình báo chiến lược Mỹ, cũng dừng cánh tại đây. Tôi đến chào, ông đã biết đến tên tôi nhưng chưa biết mặt. Thấy tôi bị chậm trễ do máy bay hỏng, ông liền cho tôi đi cùng chuyến bay của ông tới Karachi, vì ông cũng đang trên đường đi Viễn Đông. Tới Karachi, tướng Donovan rẽ sang đường bay đi Ceylan (Srilanka), tôi tiếp tục hành trình đi Calcutta trên chuyến bay thường kỳ của Bộ tư lệnh không quân vận tải Mỹ. Tới Calcutta tôi đến gặp tướng Roos và dự một cuộc họp ngay đêm hôm đó. Sáng hôm sau lại tiếp tục cuộc hành trình: Một lần nữa máy bay lại biểu diễn "Hump" sau khi tạm dừng cánh để lấy đà ở Dindjan, một bãi đỗ ở sát chân núi Miến Điện.


Tôi tới Côn Minh vào lúc bắt đầu buổi chiều. Tôi đã phải mất tới bốn ngày để đáp máy bay từ Pháp về Trung Quốc và Côn Minh, thật là một kỷ lục.

Trong buổi gặp đại tá Roos tại Calcutta, tôi đã báo cáo lại chuyến về Pháp ngắn ngủi vừa qua. Kết quả thật nghèo nàn. Nếu tôi đã nhận được của các cơ quan nghiên cứu tin tức tình báo, của uỷ ban Đông Dương, của Thống đốc Laurencie và của cơ quan tham mưu Bộ Quốc phòng sự tiếp đón thông cảm, nếu tất cả các cơ quan này đều đã hứa sẽ ủng hộ tôi đầy đủ nhất, thì về phía chính trị chuyến đi công cán của tôi đã hoàn toàn thất bại.


Cần phải ghi nhận, một lần nữa trong lịch sử nước Pháp người ta đã từ chối xem xét hiểm hoạ hoặc đã coi nhẹ hiểm hoạ này một cách nguy hiểm. Nước Pháp đã không chuẩn bị và cũng không có chương trình hành động để giải quyết vấn đề Đông Dương.


Các sự kiện sau đó ập đến với một nhịp độ tới mức tôi không còn có thời gian để nghỉ, trong những tiếc nuối vô ích.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 19 Tháng Chín, 2021, 07:49:45 am
V
CUỘC TIẾP XÚC ĐẦU TIÊN
VỚI NHỮNG NGƯỜI THEO CHỦ NGHĨA DÂN TỘC


Trong thời gian vài tuần trước khi tôi đi Paris, tôi đã nhiều lần tiếp một trung uý người An-nam do một sĩ quan cấp cao là thiếu tá Carbonnel giới thiệu đến gặp tôi1 (Trong hệ thống cấp bậc của quân đội Pháp, từ thiếu tá trở lên được xếp vào hàng sĩ quan cấp cao - ND). Viên trung uý này đặc biệt hiểu rõ những vấn đề chính trị của Đông Dương và có những nhận xét mà tôi rất tin cậy. Đó là trung uý Phác trong đội quân Bắc Kỳ rút sang Trung Quốc cùng những đơn vị tập hợp chung quanh ban tham mưu của tướng Allessandri.


Từ khi tới thủ phủ tỉnh Vân Nam, Phác đã có quan hệ với vài người Đông Dương theo chủ nghĩa dân tộc. Anh cho tôi biết tâm trạng đồng bào anh và những sự phát triển trong tư tưởng độc lập của họ. Trên cơ sở đó, một hôm anh đã đề nghị tôi gặp một trong những nhà lãnh đạo chủ yếu của phong trào cách mạng đang có mặt tại Côn Minh, và có vẻ như người này cũng đang muốn có một cuộc nói chuyện với tôi. Trước khi tiến hành chuyến đi ngắn ngày tại Pháp, tôi đã thoả thuận với đề nghị trên và để cho Phác toàn quyền tổ chức cuộc gặp, mà tôi cũng không cần quan tâm nhiều lắm, vì tôi dự kiến rằng cuộc hẹn này sẽ khơi mào cho những cuộc thương thuyết kéo dài vô tận. Tôi cũng cho rằng rất ít khả năng dự án này sẽ đạt được kết quả.


Tuy nhiên, sau khi tôi từ Paris về Côn Minh được nhiều ngày, một buổi tối khuya sau khi mới ăn tối tại ban tham mưu Mỹ trở về, tôi được báo Phác đã đợi tôi được ít lâu. Viên sĩ quan An-nam này cho biết, nếu tôi muốn, cuộc gặp đã dự kiến có thể tiến hành ngay trong đêm nay. Tôi nhận lời ngay và vội choàng chiếc áo khoác bên ngoài để che giấu bộ quân phục bên trong rồi cùng đi với Phác tới nơi hẹn vừa bí mật vừa bất ngờ. Một sĩ quan làm nhiệm vụ bảo vệ năn nỉ xin đi cùng. Ba chúng tôi cùng nhảy vào trong chiếc xe Jeep đi qua những đường phố từ thời Trung cổ ở Côn Minh, tôi lợi dụng đêm khuya đem lại sự vắng vẻ cho khu phố này để phóng xe trên những con đường lát đá càng nhanh chừng nào càng tốt chừng ấy.


Cuối cùng, chúng tôi tới một phố nhỏ và hẹp, dừng xe trước một quán ăn kín đáo đã vắng khách. Ở tầng một chỉ có một người đang ngồi ở bàn đợi tôi. Đây là một mẫu người thật sự tiêu biểu cho giới trí thức An-nam, một vẻ rắn rỏi hiếm có trong tầng lớp trí thức Đông Dương. Chỉ có tôi với người đối thoại, bởi vì chúng tôi đã có giao ước với nhau là không bên nào được mang thêm người. Ngay đến Phác, sau khi giới thiệu đôi bên, cũng rút lui luôn. Còn viên sĩ quan Pháp cùng đi thì lặng lẽ chờ tôi ở ngoài xe Jeep.


Như vậy tôi đã gặp Nguyễn Tường Tam, một trong những người lãnh đạo Việt Nam Quốc dân đảng, một đảng chính trị dân tộc cực đoan. Trong chính phủ liên hợp ngày 2 tháng 3 năm 1946, Tam được giữ chức bộ trưởng ngoại giao và sau đó vài ngày đã chống lại những thoả thuận Pháp - Việt. Tam cũng là người mà ngày 24 tháng 3 năm 1946 tôi đã giới thiệu với đô đốc d’ Argenlieu tại cuộc gặp trên vịnh Hạ Long là một thành viên của chính phủ Cộng hoà Việt Nam.


Sau mấy câu vòng vèo cổ điển và mấy lời ca ngợi xã giao, Nguyễn Tường Tam nói với tôi, ông ta rất vui lòng được gặp một người của "Nước Pháp Mới". Đây là câu nói với tính chất công thức mà lần đầu tôi được nghe thấy và sau đó sẽ nhiều lần được nghe thấy nữa.


Tiếp đó, người đối thoại hỏi tôi, liệu tôi có biết đến sự phát triển đáng kể của tư tưởng độc lập trong tâm trí nhân dân An-nam từ ngày 9 tháng 3 năm 1945 hay không. Tam sợ rằng ở Pháp người ta không đánh giá đủ quyết tâm sắt đá của đồng bào Tam muốn giải phóng khỏi sự đỡ đầu của Pháp. Ông giải thích thẳng thừng bằng lời nói rõ ràng đáng ngạc nhiên đối với một người xứ Viễn Đông, rằng "thời cơ đang rất tốt đẹp" và những người bạn theo chủ nghĩa dân tộc của ông, kể cả ông nữa, quyết tâm không bỏ mất cơ hội. Họ đòi người Pháp phải xem lại tận gốc địa vị của mình tại Đông Dương, tuy nhiên cũng chấp nhận để Pháp giữ lại một vị trí nào đó. Tam nhấn mạnh, trong bất kỳ trường hợp nào, họ cũng đã quyết tâm tận dụng tình thế tuyệt đối bất ngờ quá sức mong đợi này. Tôi trả lời, tôi vừa móới từ Paris trở lại đây. Về phần tôi, tôi có thể khẳng định rằng, trước hết chính phủ Pháp không hề mảy may có ý rời bỏ các quyền chính đáng của Pháp tại Đông Dương. Tuy nhiên nước Pháp vẫn trung thành với lập trường trong bản tuyên bố Brazzaville1 (Tức là bản tuyên bố ngày 24.3.1945 của De Gaulle cho Đông Dương được tự trị trong một liên bang gồm 5 xứ Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Lào, Campuchia, đứng đầu là một Thượng sứ Pháp) và Pháp cũng hiểu rằng cần áp dụng một vài sự thay đổi trong qui chế của những thuộc địa phát triển nhất, nhưng không chờ đợi những cải cách này bị buộc phải tiến hành bằng bạo lực. Ngược lại chính phủ Pháp sẵn sàng đối thoại một cách hợp lý với những người Đông Dương được cử làm đại diện cho đất nước mình.


Đối với tôi, mối quan tâm duy nhất là tránh điều gì không thể cứu vãn được. Có nghĩa là trong khi thực hiện qui chế mới này, người Pháp và người An-nam cần phải thoả thuận không đổ máu. Nhất định phải có cơ sở thoả hiệp, phải tìm thấy cơ sở đó.


Nguyễn Tường Tam trình bày với tôi nhận xét của mình là mọi người đang nóng lòng muốn độc lập, nhất là ở Bắc Kỳ. Tam nói thẳng với tôi mà cũng không cần che đậy là ông cũng sợ sẽ xảy ra điều tệ hại nhất. Một vài người trong đó có Tam, rất muốn đất nước độc lập, nhưng không muốn nền độc lập này xày dựng trên cơ sở những đống tàn phá đổ nát từ cuộc nổi dậy đẫm máu. Chính vì những lẽ đó mà ông muốn gặp một đại diện của Pháp ở Trung Quốc. Em trai ông, ở Hà Nội, là một trong những lãnh tụ của đảng mà ông tham gia. Tam đề nghị chuyển cho tôi một bức thư mật mã làm dấu hiệu thiết lập những cuộc tiếp xúc giữa em ông với một người đại diện của nước Pháp ngay khi vị đại diện này vừa đặt chân tới Hà Nội, tương tự như những cuộc tiếp xúc giữa tôi với Tam ở đây. Tôi chấp nhận. Vài hôm sau, tôi đã có trong tay lá thư mà tôi hứa sẽ chuyển đến người Pháp đầu tiên đặt chân tới Hà Nội. Lúc đó, tôi chưa nghĩ rằng người Pháp đó lại chính là tôi.


Mãi tới đêm khuya chúng tôi mới chia tay nhau. Buổi nói chuyện kéo dài vì toàn đề cập đến những đại cương. Lúc chia tay, chúng tôi cũng tỏ ý mong sẽ gặp lại lần nữa nếu có điều kiện. Trên thực tế, tôi chỉ gặp lại Tam vào tháng 3 năm 1946, khi chính phủ liên hiệp thành lập và tôi là người ký Hiệp định Sơ bộ.


Đến cuối tháng 10 năm 1945 tôi mới gặp Hồ Chí Minh lần đầu tiên. Tướng Allessandri và ông Pignon đã có những cuộc tiếp xúc đầu tiên với ông Hồ vào ngày 28 tháng 9 năm 1945.


Không phải là thiếu chính xác khi nói rằng có nhiều ngươi vận động chủ nghĩa dân tộc An-nam hoạt động tại Côn Minh và trong tỉnh Vân Nam. Một số người trong bọn họ tiến hành các hoạt động lật đổ trong hàng ngũ các binh sĩ ngươi bản xứ thuộc đội quân Pháp từ Đông Dương rút sang Trung Quốc. Họ cũng đã đi tới chỗ phát động vài vụ bạo loạn. Còn số khác thì đang náu mình ở Côn Minh nhằm thiết lập những quan hệ với các nước Đồng minh, theo dõi thái độ hành động của Pháp, cố gắng trong bóng tối làm tất cả những gì có thể để chống lại việc Pháp quay trở lại Đông Dương.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 19 Tháng Chín, 2021, 07:51:34 am
Do việc chiếu tại các rạp chiếu bóng ở Côn Minh những cuốn phim về cuộc diễu binh ngày 14 tháng 7 ở Paris đã gây ấn tượng sâu sắc đến những người Trung Hoa và người An-nam, cho nên những phần tử vận động chủ nghĩa dân tộc đã quyết định chiếm đoạt những cuốn phim này. Dĩ nhiên tôi được báo trước và tôi đã giữ được những cuổn phim đó bằng cách giao cho Phái đoàn 5 phải bảo vệ chu đáo. Liền sau đó, tôi yêu cầu có thểm nhiều cuốn phim mới cùng loại.


Cũng trong thời kỳ này, cơ quan tình báo OSS của Mỹ ở Côn Minh chuyển đến chúng tôi một thông điệp nhờ đưa tới Phái đoàn 5. Thông điệp này được gửi đi từ đại bản doanh Việt Nam đặt tại một nơi nào đó trong vùng thượng du Tuyên Quang, thông báo cho Chính phủ lâm thời cộng hoà Pháp của những điểm chủ chốt mà "Mặt trận Việt Minh" hi vọng sẽ được ghi thêm vào qui chế tương lai của Đông Dương thuộc Pháp.


Dưới đây là nội dung bản thông điệp:

"... Mặt trận Việt Minh chúng tôi yêu cầu chính phủ Pháp cho công bố và xem xét trong chính sách tương lai của Pháp ở Đông Dương như sau:

1- Tiến hành tổng tuyển cử để bầu ra một nghị viện nắm quyền ở xứ này. Cho tới khi nền độc lập được ban bố, chính quyền Đông Dương có một thống đốc Pháp đứng đầu với danh nghĩa là chủ tịch. Chủ tịch này chọn ra một nội các hoặc một nhóm tư vấn được nghị viện chấp nhận. Những quyền lực cụ thể của tất cả những chức trách này có thể ấn định sau.

2- Nền độc lập cần được ban hành trong thời điểm sớm nhất là năm năm, muộn nhất là mười năm.

3- Các tài nguyên thiên nhiên phải được trả lại cho người dân ở đây sau khi đã đền bù thoả đáng cho người chiếm hữu trước. Nước Pháp sẽ có phần trong các nhượng bộ về kinh tế.

4- Tất cả những quyền tự do mà Liên Hợp Quốc đã công bố phải được trao cho ngườiỉ Đông Dương.

5- Việc buôn bán thuốc phiện phải cấm triệt để.

Chúng tôi hi vọng những điểu khoản này sẽ được chính phủ Pháp chấp nhận".


Văn bản này được viết bằng tiếng Anh, và đã được các nhà chức trách Pháp tại Côn Minh (thanh tra thuộc địa Raymond, trưởng phái đoàn nước Pháp hải ngoại đặt trụ sở tại Calcutta, phó là Léon Pignon, tướng Allessandri và tôi) nghiên cứu.


Bản trả lời của Pháp, cũng viết bằng tiếng Anh được chuyển cho các cơ quan của Mỹ. Những người Mỹ có trách nhiệm chuyển theo con đường vẫn thường sử dụng để được đến tay Việt Minh. Bản trả lời không "đóng", nhưng tất nhiên vẫn phải theo những quyết định của Mẫu quốc.


Trong thời gian này cũng có thêm nhiều dự định nữa để tiếp xúc với các nhà lãnh đạo Việt Minh. Ngày 2 tháng 7 năm 1945, tiểu đoàn trưởng Revol, trưởng nhóm "Picardie" đặt trụ sở tại Trịnh Tây nhân dịp tới Hà Lĩnh tiếp xúc với các nhân viên trong nhóm công tác, đã gặp người đứng đầu Việt Minh phụ trách vùng Cao Bằng - Sóc Giang.


Sau đó, Revol đã tới Côn Minh báo cáo với tôi về cuộc gặp này. Theo Revol, cuộc tiếp xúc đã gây ấn tượng rất tốt, ông nhận xét có thể bàn với Việt Minh phối hợp hoạt động chống quân đội Nhật Bản chiếm đóng Đông Dương, ông đã đề nghị Việt Minh giúp đỡ để đưa quân đội Pháp xâm nhập về phía châu thổ. Hơn nữa, ông còn đề cập với những người đối thoại ý tưởng về một cuộc gặp tại Côn Minh giữa người đứng đầu Việt Minh và trưởng phái đoàn quân sự Pháp. Các đại biểu Việt Minh, viện lý do cần phải chuyển yêu cầu tới cấp trên tại Hà Nội, đề nghị hai tháng nữa sẽ trả lời. Bù lại, Việt Minh đòi chúng tôi cung cấp vũ khí và các huấn luyện viên nước Pháp tới giúp đỡ họ cùng tiếp tục các hoạt động chống sự chiếm đóng của Nhật Bản (ngày 16 tháng 7, một phái đoàn cán bộ Pháp - Mỹ gồm có trung tá Montfort, các trung sĩ Logos và Phác cùng ba người Mỹ trong đó có thiếu tá Thomas, đã nhảy dù xuống gần nơi làm việc của ban lãnh đạo Việt Minh)1 (Theo lời kể của thiếu tá tình báo Mỹ trong cuốn hồi ký nhan đề "Tại sao, Việt Nam?", ngay khi vừa nhảy dù xuống xã Kim Lũng, trung uý Pháp Montfort đóng giả làm một sĩ quan Mỹ đã bị Việt Minh phát hiện và sau đó đã buộc phải quay trở lại Côn Minh. Người phát hiện ra Montfort là một du kích Việt Minh đã nhận ra viên sĩ quan giả danh Mỹ này chính là một đồn trưởng biên phòng Pháp đã từng làm quan cai trị ở Cao Bằng. Cụ Hồ Chí Minh cũng nhận thấy viên sĩ quan tự xưng là người Mỹ này lại nói tiếng Anh rất kém và nói theo âm Pháp - ND).


Một dự định nữa bắt đầu vào hồi tháng 7, do sáng kiến của một người Mỹ tên là Gordon, từng làm việc trong một hãng kinh doanh dầu mỏ quan trọng của Mỹ tại Đông Dương hồi trước. Với sự khôn khéo, nhờ những mối quan hệ của nhiều người bạn, Gordon đã thiết lập được một mạng lưới thu thập tin tức tình báo, cắm chân vững chắc và từ ngày 9 tháng 3 năm 1945 đã chống lại được những sự truy lùng của Nhật Bản tốt hơn tất cả các nhóm khác. Nhờ vậy Gordon đã duy trì được một số cơ sở trong nội địa Đông Dương và bắt liên lạc được với Việt Minh. Tuy nhiên, những liên lạc của mạng lưới Gordon với các mạng lưới của Pháp đã bị vẩn đục do việc Gordon từ chối cúi mình phục tùng cơ quan tập hợp các cơ sở tình báo bí mật và muốn duy trì tính hoạt động độc lập của mình. Do vậy, những quan hệ của Gordon với những người tiền nhiệm của tôi đã bị thương tổn.


Đứng trước sự phát triển của tình hình thời cuộc tôi quyết định nối lại mối quan hệ với Gordon, và Gordon đã thoả thuận thông báo cho tôi biết những tin tức tình báo cùng một lúc với việc báo cáo những thông tin này với các cơ quan tình báo của Mỹ mà anh đang làm việc. Tôi chỉ còn biết lấy tư cách cá nhân nhiệt liệt khen ngợi sự trung thực của anh.


Chính trong những điều kiện đó, Gordon nhận đứng ra làm trung gian tổ chức cuộc gặp giữa tôi và lãnh tụ Việt Minh Hồ Chí Minh, cũng là người tôi cần gặp. Hình như lúc đó Hồ Chí Minh cũng đã nhận lời tới Côn Minh để gặp tôi với điều kiện có một nhân vật trung lập cùng tham dự những cuộc nói chuyện.


Tôi cũng đã dự tính, trong trường hợp người đứng đầu Việt Minh không thể tới Vân Nam được thì tôi sẽ tự mình đi vào lãnh thổ Bắc Kỳ gặp ông.

Những sự kiện tiếp theo, nhất là những trận mưa lũ ngăn mọi hoạt động của máy bay trong vùng đã cản trở việc thực hiện kế hoạch này.

Sau đó, tôi được các sĩ quan Đồng minh hồi đó làm việc bên cạnh lãnh đạo Việt Minh cho biết "Mặt trận Việt Minh" cũng đã rất muốn gặp một đại diện chính phủ Pháp và đã cho chuẩn bị lá cờ ba mầu và những biểu ngữ chào mừng đại diện của nước Pháp1 (Sainteny hoàn toàn suy diễn. Các tài liệu của Mỹ và văn kiện của Việt Nam đều không nói đến những trường hợp này - ND).


Hình như hồi đó có lẽ những nhà lãnh đạo Việt Minh cũng muốn tiến vào Hà Nội cùng với đại diện Pháp, là người được chính phủ lâm thời cộng hoà Pháp giao trách nhiệm giành lại quyền sở hữu thủ đô xứ Bắc Kỳ sau khi quân đội Nhật Bản đầu hàng2 (Sainteny hoàn toàn suy diễn. Các tài liệu của Mỹ và văn kiện của Việt Nam đều không nói đến những trường hợp này - ND).


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 25 Tháng Chín, 2021, 07:15:57 am
VI
TRỞ VỀ HÀ NỘI


Từ ngày tôi từ Paris trở về Côn Minh, những tín hiệu báo trước sự kết thúc chiến tranh ngày càng nhiều: Có vẻ như cuộc tiến công cuối cùng đã được quyết định vào cuối mùa mưa và các ban tham mưu Đồng minh đang liên tiếp đòi các tin tức tình báo.


Ngày 4 tháng 8, đại tá Wichtricht, trưởng cơ quan cứu trợ phi công Mỹ (AGAS) đến gặp tôi, có vẻ tin vào một sự kết thúc nhanh chóng. Theo ông, Đồng minh đã quyết định đánh mạnh, không thể không xảy ra, một cuộc tiến công quân sự vào Bắc Kỳ xuất phát từ biên giới Trung Quốc theo hai trục Bắc - Nam và Đông - Tây, trục thứ nhất đánh dọc theo lưu vực sông Hồng, trục thứ hai về phía Lạng Sơn.


Ngày 7, có tin thành phố Hiroshima của Nhật Bản bị một quả bom bí mật biến thành tro bụi... Đó là quả bom nguyên tử đầu tiên. Cơn sốt nóng lên tới đỉnh điểm ở Côn Minh, là nơi lan truyền những tin đồn khó tin nhất. Nhiệm vụ của Phái đoàn 5 nặng nề hơn bao giờ hết. Chúng tôi phải hối hả làm việc suốt đêm ngày.


Ngày 10, được tin Nhật Bản có lẽ đang đề nghị ngừng bắn có điều kiện và đề nghị này đã đệ trình Hạ viện Mỹ xem xét.

Ngày 15, chúng tôi ngồi ăn vội vã với vài cộng tác viên trong phòng ăn rộng lớn chiếm gần hết tầng trệt. Chợt có hai đồng đội đột ngột tiến vào cùng hai hoặc ba sĩ quan Mỹ, hét lớn: "War is over"1 (Tiếng Anh: "Chiến tranh kết thúc rồi"). Một sự vui mừng lan khắp mọi nơi. Rượu Gin, rượu nho Trung Quốc, rượu Wishky, tất cả thứ gì uống được đều được đưa hết ra khỏi hầm để đón mừng cái tin bấy lâu mong đợi.


Tất cả những người Pháp đang ở Côn Minh đổ xô đến trụ sở Phái đoàn 5. Suốt đêm, mọi người cùng nhau trao đổi bình luận, dự đoán, tuỳ theo tâm trạng từng người, về phần tôi, tôi im lặng suy nghĩ, và hẳn đã bộc lộ thái độ riêng biệt, cho nên một phóng viên chiến tranh của hãng tin Pháp AFP vừa mới tới Côn Minh, đã nhận xét với tôi như vậy. Đúng là tôi đã không chia sẻ với mọi người niềm vui chung này, vì vậy tôi đã trả lời:

- Đối với chúng tôi, nhiệm vụ của phái đoàn là phải đưa nước Pháp trở lại Đông Dương, đó vẫn còn là một nhiệm vụ gay go nhất đang cần thực hiện.

Đây là một câu ngược đời hay là một sự linh cảm? Hỡi ôi! Tôi không biết nói thế nào cho đúng.

Nước Nhật Bản đã hết hơi nhưng quân đội Nhật Bản chưa bị đánh bại. Đội quân này vẫn giữ được uy thế bên cạnh nhân dân da vàng, bọn cổ động viên thân Nhật đã gieo rắc hận thù đối với người da trắng. Tôi cảm thấy quả bom ném xuống Hiroshima đã kéo luôn tấm màn kết thúc một màn kịch thảm hoạ ở Viễn Đông, nhưng đó chưa phải là màn cuối cùng.


Dù sao, trong bất cứ trường hợp nào, tôi cũng đã quyết định rồi: Người Pháp phải là những người đầu tiên quay trở về Hà Nội, nhanh hơn bất cứ ai. Phải để cho những đồng bào của tôi, đã bị cô lập chín tháng trời, nhanh chóng được chứng minh rằng nước Pháp vẫn nghĩ tới họ và không hề từ bỏ những quyền lực của mình.


Thế nhưng, tất cả mọi liên lạc đã bị cắt, các trạm vô tuyến viễn thông chính thức đều câm bặt. Ví dụ như đài phát thanh Bạch Mai là nơi vẫn đang có những người Pháp làm việc, ngày 20 tháng 8 sẽ bị Nhật Bản trao lại cho Việt Minh và các đồng bào của tôi đều bị thải loại1 (Không đúng. Đài này do nhân dân ta chiếm được trong cuộc tổng khởi nghĩa vũ trang 19.8.1945 chứ không phải do Nhật Bản trao lại - ND). Các điện đài bí mật của lực lượng quân đội Pháp đều đã lần lượt bị chôn vùi trong những trường hợp như tôi đã viết ở trên.


Không được chậm trễ, phải báo tin ngay cho chính phủ Pháp biết về một cố gắng trên quy mô lớn cần đạt được để giành lại vị trí ở Đông Dương. Phải xác định rõ tình hình và tìm hiểu chế độ mà đồng bào của chúng tôi đang phải sống trên đất Đông Dương. Chúng tôi được biết, một số trong bọn họ đã bị bắt, bị tra tấn hành hạ bởi đội hiến binh Nhật Bản, gọi là Kampetai, giống như đội hiến binh Gestapo hoặc Abwehr của quân đội phát xít Đức Wehrmacht. Chúng tôi được biết các quan chức cai trị cùng quân nhân và một số dân thường đã nổi dậy chống lại mưu đồ của Nhật Bản đã bị giam trong trại tập trung khủng khiếp ở Hoà Bình1 (Không đúng. Trong và sau ngày 9 tháng 3 năm 1945 không hề có một cuộc nổi dậy của người Pháp chống lại Nhật Bản - ND).

Nhưng tất cả những tin tức đó đều mơ hồ, không chính xác. Cần phải "tìm hiểu" và chính là Phái đoàn 5 phải "xác minh" để báo cáo về Chính phủ lâm thời Cộng hoà Pháp ở Paris.

Cuối cùng, phải đặt những người Nhật Bản và người An-nam trước những trách nhiệm của họ, không chậm trễ.

Vài giờ sau, tôi nhận được điện gửi tới từ Calcutta, nội dung cho đến nay không nhớ kỹ, có thể như sau: "GPRF2 (GPRF: tên gọi tắt Chính phủ lâm thời Cộng hòa Pháp) bị bất ngờ trong việc Nhật Bản đầu hàng đang trông cậy ở chúng ta một cách, đối phó nhanh nhất". Bức điện này, không chỉ khẳng định thêm những lo ngại của tôi mà còn thúc đẩy tôi thực hiện quyết tâm: Phải trở về Hà Nội.


Tôi dự định tổ chức một nhóm đầu tiên các sĩ quan, chọn lọc trong số những người đã phục vụ tại Đông Dương trong đội quân rút sang Trung Hoa, hiểu biết rất rõ về xứ Bắc Kỳ, cho nhảy dù xuống đó. Họ đã biết những bãi nhảy dù và đã từng sử dụng trong những vụ nhảy dù bí mật phục vụ cho lực lượng kháng chiến Pháp ở Đông Dương.


Tất cả đều là những người xung phong tình nguyện. Mặc dù cần phải giữ bí mật, họ vẫn lần lượt từng người đến gặp tôi với bộ tịch của những kẻ âm mưu, cố làm cho tôi hiểu rõ giá trị của họ trước khi lao vào cuộc phiêu lưu mạo hiểm.


Nhưng tôi đã nhanh chóng từ bỏ ý định này, vì lẽ: Nếu những sĩ quan nói trên hiểu rõ xứ Bắc Kỳ, thì cũng có nghĩa họ đã quen thuộc với những người ở đây. Tôi cũng được biết, đạo quân Nhật Bản ở Đông Dương chưa chịu hạ vũ khí. Nhất định, bọn Nhật Bản sẽ bắt giữ những người nhảy dù, và sẽ phát hiện ra trong số này có những người đã chiến đấu chống lại chúng. Và những người nhảy dù này cũng không thể tìm được sự ủng hộ từ phía những người An-nam theo chủ nghĩa dân tộc.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 25 Tháng Chín, 2021, 07:17:30 am
Chiều 16 tháng 8, tôi quyết định huỷ bỏ dứt khoát kế hoạch trên. Tôi sẽ đi cùng với những cộng sự viên trẻ chưa từng biết mặt ở Bắc Kỳ. Đó là các trung uý Louis Fauchier - Magnan và François Missoffe. Hai người này trong thời gian gần đây đã có quan hệ mật thiết với ban tham mưu Mỹ và là những người gần gũi nhất với tôi, cũng như thiếu uý Casnat là người dự kiến sẽ thiết lập ngay khi có khả năng những mạng liên lạc vô tuyến với các căn cứ của chúng tôi ở Trung Quốc, ở Ấn Độ và với Mẫu quốc. Casnat sẽ mang theo những đài thu phát gọn nhẹ như kiểu điện đài đã phục vụ lực lượng kháng chiến Pháp. Có lẽ, chúng tôi sẽ có thể thu phát tin tức một cách bí mật. Thú thật, trong tâm trí tôi lúc đó, không chỉ là một biện pháp đề phòng. Hồi đó, chúng tôi không hề mảy may nghi ngờ là chỉ với những điện đài này chúng tôi có thể gửi được liên lạc hàng tháng với thế giới bên ngoài.


Tôi bổ sung thêm một người cùng đi với tôi là Roland Pétris. Được nuôi dạy ở Hà Nội từ nhỏ nên Pétris hiểu biết rất rõ xứ Bắc Kỳ. Khi cuộc đảo chính ngày 9 tháng 3 năm 1945 bùng nổ, ông đang là một viên chức tại Sở Kho bạc tỉnh Cao Bằng, không có điều kiện để chiến đấu chống Nhật Bản. Ông là một quan chức dân sự và tôi nghĩ ông ít bị lộ hơn các bạn là quân nhân bị Nhật lùng sục. Ông sẽ có nhiệm vụ nối lại những mối quan hệ và "tiến hành việc thụ hồi những bất động sản" cần thiết cho việc thiết lập trụ sở làm việc tạm thời của đại diện Chính phủ Pháp tại Hà Nội.


Ngày hôm nay, tôi muốn được xin lỗi những người khác, xin lỗi tất cả những người mà tôi không thể mang theo trong chuyến đi, dù tất cả đều xung phong tình nguyện. Tôi cam đoan không cường điệu khi khẳng định rằng khoảng tám trăm nhân viên Phái đoàn 5 lúc đó chỉ có một nguyện vọng là được tham gia trong cái mà chúng tôi gọi là phái đoàn cuối cùng, trở về Hà Nội.


Chỉ ân hận là hồi đó tôi không có chiếc đũa thần để hóa phép ra một hạm đội hàng không cần dùng cho việc vận chuyển. Nếu đội máy bay này được thành lập vào dịp đó thì có lẽ những diễn biến thời cuộc có thể thay đổi sâu sắc. Tôi muốn không ai là người không hiểu rằng việc tôi giữ bí mật cho chuyến đi là điều cần thiết để đảm bảo kết quả cho dự định này. Sau này, tôi được biết, mọi người đều hiểu rõ điều đó.


Tôi đã quyết định, nếu cần thì nhảy ngay xuống Hà Nội. Khu vườn trong dinh Toàn quyền1 (Nay là Phủ Chủ tịch - ND) và bãi đất không rõ lắm ở giữa câu lạc bộ thể thao và sở Tài chính2 (Nay là trụ sở Bộ Ngoại giao Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - ND) có thể dùng làm bãi nhảy dù. (Quyết định này cũng sẽ tránh cho nhóm chúng tôi số phận của tất cả những người đã thả xuống ngoại thành với các khoảng cách khác nhau). Mặc dù có nhiều điểm không thuận tiện và nhiều nguy hiểm, nhưng lại có thuận lợi là nhảy xuống ngay tại trung tâm thành phố, có thể tới ngay Phủ Toàn quyền và thành Hà Nội là nơi có bốn hoặc năm ngàn quân nhân Pháp đang bị giam giữ trong đó.


Để cuộc hành quân này có thể thực hiện được, chỉ có cơ quan tình báo chiến lược Mỹ ở Côn Minh, gọi tắt là OSS là có phương tiện cần thiết, cụ thể là máy bay và dù nhảy, cần phải thông báo cho cơ quan mật vụ Mỹ biết dự định của tôi. Ngay trong ngày hôm đó, tôi đã làm việc này một cách tuyệt đối bí mật. Và tôi đã được hứa hẹn có một chiếc máy bay.


Có một thỏa thuận là vài sĩ quan Mỹ sẽ cùng đi với chúng tôi. Thiếu tá Patti, phụ trách phân ban Bắc Đông Dương của cơ quan tình báo chiến lược Mỹ OSS sẽ là Trưởng phái đoàn quân sự Mỹ. Một máy bay Liberator đã được báo trước và sẽ đến sân bay hồi 4 giò sáng 16 đón chúng tôi.


Chuyến đi của đội ngũ bé nhỏ chúng tôi được giữ bí mật ngay cả đối với những người trong ban tham mưu của tôi. Vì vậy, giữa đêm chúng tôi mới đi đến sân bay Côn Minh, nhưng dù đã tìm kiếm rất kỹ vẫn không thấy chiếc máy bay Liberator đã hứa hẹn. Người ta nói với chúng tôi, có lẽ chiếc máy bay này bị giữ lại ở một căn cứ khác. Đến mười giờ sáng, chúng tôi quay lại sân bay vẫn không thấy gì. Trưa hôm đó, có một chiếc máy bay Dakota của Pháp từ Calcutta bay tới. Kể từ ngày có chiến tranh đây là chiếc máy bay đầu tiên nối liền nước Pháp với Trung Quốc.


Sự tình cờ này đối với tôi thật như Trời phù hộ, nhất là sau khi tôi được biết tên viên phi công là Fulachier. Tôi mới chỉ được biết tiếng anh, nay mới biết mặt, nhưng đã rõ tinh thần dũng cảm mà anh chứng minh trong suốt thời gian hành nghề. Anh đã phục vụ ở Đông Dương, anh yêu đất nước này: đây chính là người thích ứng với tình hình. Ngay khi anh vừa bước vào phòng làm việc, tôi đã hỏi ngay:

- Ông có muốn thử vận may với chúng tôi không?

Cũng như tôi, anh hiểu ngay là, đối với những đồng bào chúng tôi, sự xuất hiện chiếc máy bay Pháp đầu tiên trên vùng trời Hà Nội, bốn mươi giờ sau khi Nhật Bản đầu hàng, sẽ chứng minh nước Pháp nghĩ tới họ và đang chuẩn bị quay trở lại. Không cần chờ đợi, anh trả lời sẵn sàng đặt dưới sự sắp xếp của tôi.


Tôi không giấu Fulachier những rủi ro: sáng hôm nay chúng tôi được tin cao xạ Nhật Bản vẫn bắn lên tất cả những máy bay Đồng minh bay trên vùng trời Đông Dương. Tất nhiên chúng tôi sẽ gặp nguy hiểm, buộc phải "rơi xuống" ngay cả trước khi tới được một trong hai sân bay tại Hà Nội.


Fulachier lại bận tâm về một nỗi lo khác: đó là "cái xe" của anh. Anh được lệnh lái chiếc máy bay này tới Trung Quốc, không phải để đi Hà Nội mà là để mở lại con đường hàng không đã hủy bỏ từ khi có chiến tranh. Tất nhiên, anh sẵn sàng đợi lệnh của các nhà chức trách Pháp.


Tôi liền đi gặp Allessandri, đề nghị ông cùng chịu trách nhiệm với tôi về việc chuyển hướng chiếc Dakota khỏi nhiệm vụ ban đầu, lệnh cho phi công bay đi Hà Nội. Tướng Allessandri đồng ý. Chúng tôi cùng ký tên vào bản mệnh lệnh công tác để Fulachier khỏi phải chịu mọi trách nhiệm. Tuy nhiên, tướng Allessandri cũng cho rằng, cần phải thông báo cho tướng Hà Ứng Khâm, tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc, biết trước việc này.


Chuyến bay được ấn định vào ngày 17, trước lúc rạng đông một chút. Chúng tôi lại đến gặp OSS và trong cuộc họp này câu trả lời của người Mỹ vẫn chần chừ trì hoãn. Tôi liền tiết lộ kế hoạch mới của chúng tôi và cho họ biết, nếu vì những lý do gì đó mà tôi chưa hiểu được, tôi không thể sử dụng một máy bay Mỹ trong chuyến đi, thì tôi sẽ dùng chiếc máy bay Pháp mà Thượng đế vừa gửi đến cho chúng tôi.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 25 Tháng Chín, 2021, 07:18:56 am
4 giờ sáng ngày 17, thiếu tá Mỹ Patti bước vào phòng làm việc của tôi, mang theo một bức điện của tướng Mỹ Wedemeyer: "Cấm mọi máy bay thuộc bất cứ quốc tịch nào rời khỏi Côn Minh đi Hà Nội".

Tôi lại bị một cú đánh. Nhưng sau khi Patti ra về, tôi quyết định một trò "chơi chữ". Chiếc máy bay Pháp sẽ bay từ Côn Minh đi Ấn Độ, nhưng không ai có thể ngăn cản Fulachier phạm một sai lầm trong hành trình, tức là bay lạc qua vùng trời Hà Nội rồi thả chúng tôi xuống bằng dù nhảy mà không cần hạ cánh xuống đó.


Khoảng 9 giờ sáng, Fulachier mặt tái đi vì cố nén phẫn nộ, lại bước vào phòng làm việc của tôi. Anh vừa tới sân cùng với tổ lái để chuẩn bị cho máy bay cất cánh thì gặp một toán lính Trung Quốc, lưỡi lê cắm trên nòng súng, vây chặt chiếc Dakota. Người thợ máy vừa mới định tiến đến chiếc máy bay đã bị lính Trung Quốc nhằm bắn, nhất định là do những chỉ thị của các nhà chức trách Trung Hoa đã căn dặn đội cảnh vệ Trung Quốc. Những người Pháp không được bay đi Hà Nội một mình, và không được đi quá sớm. Bây giờ, điều đó đã hiển nhiên.


Sự kiện gì đang chờ đợi Trùng Khánh hoặc ban tham mưu của tướng Wedemeyer trong việc không cho phép chúng tôi gặp lại những đồng bào của mình.

Buổi chiều hôm đó, tôi kịch liệt tranh cãi với thiếu tá Patti trong khi ông giải thích, bởi vì tôi không thể nào tin được, khi ông quả quyết rằng lính cảnh vệ của quân đội Vân Nam đã tự động giữ máy bay Pháp ở lại sân bay. Sự nóng ruột của tôi lên tới cực điềm. Sao không nóng lòng sốt ruột được khi tôi được biết tin trong buổi chiều ngày 17 tháng 8 đó đã trở thành một ngày quyết định nhất vì đó là ngày Việt Minh chiếm được chính quyền.


Các trung úy Sauvagnac, Missoffe và Fauchier - Magnan là những sĩ quan liên lạc với Mỹ, tăng cường vận động OSS tổ chức chuyến đi cho chúng tôi. Chỉ còn một chi tiết nhỏ cần giải quyết thì một khó khăn mới lại xảy đến trong khi khó khăn trước chưa vượt qua.


Những trận mưa to như trút nước. Giao thông trong nội thành Côn Minh cũng như với các vùng lân cận thật sự ngập nước. Suốt mấy ngày liền việc liên lạc với trung tâm thông tin vô tuyến của Phái đoàn 5 toàn phải dùng thuyền. Thêm một lý do tuyệt vời để những người Mỹ trì hoãn chuyến khởi hành.


Ngày 18, OSS cho tôi biết chuyến bay lại được ấn định. Có hai chiếc máy bay Mỹ cùng bay và tôi "có thể" được một hoặc hai chỗ trong chiếc thứ hai. Lại tiếp tục nghe những lời giải thích của phía Mỹ. Tôi cố đòi được 5 chỗ trong chiếc bay đầu.


Ngày 19, lại có lệnh ngược lại. Một máy bay Mỹ bay trên vùng trời Đông Dương đã bị pháo cao xạ Nhật bắn lên. Đúng là có sự cố này, nhưng người Mỹ cố cường điệu để khai thác làm lý do trì hoãn.

Trong thời gian này, chúng tôi tiếp tục nhận được những tin tốt lành của trung tá hải quân Blanchard cho biết, ngày 16 tháng 8 ông đã cùng với các tàu tuần tra thực hiện được mệnh lệnh của tôi, là đưa ngay lập tức về Hải Phòng những lá cờ ba màu của Pháp. Từ ngày 16 tàu Crayssac và tàu Frézouls có cắm cờ Pháp ở phía đuôi tàu, đã cập bến cảng Hải Phòng. Tôi điện cho Blanchard; chỉ thị cho ông báo tin cho Bộ tư lệnh Nhật Bản biết chúng tôi sẽ hạ cánh xuống Hà Nội bằng một máy bay Mỹ. Những tín hiệu liên lạc đã được quy định để pháo cao xạ Nhật Bản không bắn lên khi chúng tôi tới vùng trời thành phố Hà Nội.


Tin chắc vào sự đảm bảo đó, tôi quả quyết với người Mỹ là chúng tôi sẽ không gặp một rủi ro nào cả. Ngày 21 tôi lại đến cơ quan OSS nhưng thật tình tôi đã quên không nói với Mỹ rằng đó chỉ là một hi vọng, bởi vì phía Nhật Bản không đưa ra một cam kết nào với Blanchard cả. Mặc dù vậy, tôi đã nhận được lời hứa chính thức từ phía OSS là ngày mai sẽ có một chuyến bay đi Hà Nội lúc bình minh.


Ngày 22, chúng tôi lại ra đi từ lúc ba giờ sáng để rồi khi tới sân bay lại được nghe trả lời, kèm theo những lời xin lỗi mới mẻ, là máy bay không còn đậu ở sân bay Côn Minh nữa, mà là ở Cheng-tu, cách Côn Minh 25 kilômét về phía Đông.


Những ai đã biết đường xá Trung Quốc nói chung và đoạn đường từ Côn Minh đi Cheng-tu trong thời kỳ chiến tranh sẽ không lấy gì làm lạ khi thấy cuộc di chuyển khoảng hai mươi nhăm kilômét này quả là một cuộc hành trình thám hiểm.


Do ảnh hưởng của những trận mưa lũ kéo dài suốt mấy tuần ở Vân Nam, nước suối, nước sông đã dâng cao tràn bờ, cát phù sa là đặc điểm của vùng này cuốn theo lớp sóng phủ lên mặt đất. Những đường bộ hoàn toàn bị sụt lở, nhiều chiếc trong đoàn xe chở chúng tôi như chìm nghỉm trong nước tới mức chúng tôi đôi khi có cảm giác như không bao giờ có thể trục vớt lên được.


Những chiếc xe Jeep một lần nữa lại trổ tài nhào lộn quen thuộc, và Cuối cùng, đến lúc rạng đông thì chúng tôi cũng đã đến được bãi đỗ máy bay mò ảo này. Còn kỳ lạ hơn cả sân bay Côn Minh, sân bay này nằm không xa hồ Cheng-tu giữa lòng đất nước Trung Hoa thời Trung cổ. Dĩ nhiên, không có máy bay! Chúng tôi chờ đợi suốt nhiều giờ. Cuối cùng chúng tôi đã nhìn thấy chiếc Dakota 908 của chúng tôi hình như đậu ở tận trong cùng sân bay rộng lớn mênh mông này.


Tôi và những người cùng đi bồn chồn sốt ruột. Chúng tôi rất lo sợ, một lần nữa lại có một mệnh lệnh đưa tới, hủy bỏ chuyến bay này. Đúng là có lệnh đó thật, nhưng sau khi máy bay đã cất cánh được một lúc thì lệnh này mới tới sân bay.


Và thế là, vào hồi 11 giò 30 phút điều kỳ diệu đã được thực hiện. Chúng tôi rời khỏi đất Trung Hoa, lòng tự hỏi không biết đây có phải là giấc mơ ấp ủ từ một tuần nay hay không.

Đến 13 giờ máy bay mới thoát khỏi đám mây dày đặc mùa này thường bao phủ bầu trời miền núi vùng biên giới Trung Quốc - Bắc Kỳ. Chúng tôi bắt đầu bay trên vùng trời châu thổ Bắc Kỳ lúc này đang biến thành một vùng nước mênh mông, chỉ còn lại vài xóm làng trên mỏm đất cao là thoát khỏi cảnh lụt.


13 giờ 30 phút, chúng tôi bay trên vùng trời Hà Nội. Nỗi xúc động của chúng tôi rất sâu sắc.

Trong khi máy bay lướt thấp trên vùng trời chúng tôi nhìn thấy những chùm hoa lạ màu đỏ nở rộ rất nhanh trong thành phố như để đón chào chúng tôi. Máy bay hạ xuống thấp hơn nữa, lúc đó chúng tôi mới phân biệt được đó là những lá cờ đỏ sao vàng. Chúng tôi nhìn nhau, kinh ngạc, hiểu rằng đây không phải là sự đón tiếp mà chúng tôi hi vọng từ đáy lòng. Chúng tôi đã nhìn rõ: đây là khu học xá, bệnh viện René-Robin1 (Nay là bệnh viện Bạch Mai) và sân bay Bạch Mai. Không may, đường băng đã bị bọn Nhật vô hiệu hóa bằng cách vứt ra đó những khung xe ô tô và các vật dụng khác nhằm ngăn máy bay hạ cánh.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 25 Tháng Chín, 2021, 07:20:06 am
Đành phải thử đỗ xuống sân bay Gia Lâm ở phía Đông thành phố, nhưng mà là ở bên kia sông Hồng. Dòng nước sông màu đỏ cuồn cuộn chảy chia cắt sân bay với thủ phủ xứ Bắc Kỳ. Làm thế nào vào được thành phố vì từ Côn Minh chúng tôi đã nghe tin đồn chiếc cầu Doumer nổi tiếng đã bị người Nhật Bản hoặc người An-nam phá hủy, hoặc đơn giản hơn, đã bị nước lụt cuốn trôi.


Chúng tôi đã tới vùng trời Gia Lâm. Máy bay lượn nhiều vòng ở độ thấp. Patti có vẻ không hài lòng, bàn với tôi nên quay trở về. Tôi trả lời:

- Ông muốn làm gì thì làm, tôi không biết. Tôi chỉ đề nghị ông một cách đơn giản là để cho chúng tôi nhảy dù xuống trước khi máy bay quay về Côn Minh.


Phải chăng Patti sợ để chúng tôi tới Hà Nội một mình? Hay là ông ta cũng bị ảnh hưởng vì ý chí quyết liệt của chúng tôi muốn tới thủ phủ Bắc Kỳ bằng mọi giá? Chúng tôi thỏa thuận với nhau, một bộ phận sẽ nhảy dù xuống trước để nghiên cứu thuộc địa. Nếu có thể hạ cánh được, máy bay sẽ đáp xuống. Nếu không, tất cả những ai quyết tâm ở lại Hà Nội - và tất cả những người Pháp đều đồng ý - sẽ lần lượt nhảy dù xuống.


Bốn người nhảy xuống1 (Sainteny đã viết sai. Không phải bốn người nhảy xuống mà chỉ có một mình trung úy Mỹ Grelecki, mang theo bản tuyên bố chấm dứt chiến tranh ngày 15-5-1945 của Nhật Hoàng, viết bằng tiếng Nhật và bản quân lệnh số một của tướng Mỹ Mac Arthur, cũng đã dịch sang tiếng Nhật. Tháng 10 năm 1995, Grelecki cùng một số sĩ quan Mỹ, cựu nhân viên OSS sang thăm Việt Nam cũng cho biết, không có người Pháp nào nhảy dù xuống Gia Lâm cùng với Grelecki. Những người gọi là "lính dù" sau Grelecki đều "bước từ máy bay đã đỗ xuống sân bay", chứ không phải nhảy dù từ trên cao - ND). Những chiếc dù nở bung nhẹ nhàng đung đưa theo chiều gió... Chúng tôi chăm chú nhìn theo trong khi máy bay tiếp tục lượn vòng từ từ, chờ đợi tín hiệu phát đi từ mặt đất. Tín hiệu đã phát không chậm trễ. Bãi đáp rất tốt. Chúng tôi có thể hạ cánh. Chiếc Dakota nhanh chóng lăn bánh trên đường băng rồi đứng im, mũi máy bay hướng theo chiều gió, sẵn sàng lại cất cánh.


Thế là một đám rất đông người hua tay vẫy những lá cờ may vội vã vụng về ùa đến chỗ chúng tôi. Phút ngạc nhiên ban đầu đã qua. Chúng tôi nhìn rõ, đây là hàng trăm tù binh chiến tranh người Ấn Độ bị nhốt trong một trại tập trung sát sân bay, đã phá tung lớp rào cản khi nhìn thấy chiếc máy bay đầu tiên của Đồng minh hạ cánh xuống sân bay, chỉ cách trại giam họ vài mét. Họ chạy ùa tới chúng tôi, reo hò sung sướng. Dưới sự chỉ huy tuyệt vời của một đại úy người Ấn, đám tù binh này đứng xếp hàng nghiêm chỉnh cất tiếng hoan hô náo nhiệt rồi lại... quay về lớp rào kẽm gai của trại giam một cách rất có trật tự.


Thế nhưng, tiếp theo những người bạn Ấn Độ lại có những đám người khác cũng tới vây quanh máy bay của chúng tôi một cách kém nồng nhiệt hơn rất nhiều. Một chiếc xe tải vừa tới, chở theo các sĩ quan Nhật Bản, đi theo xe tải là hai xe bánh xích bọc thép có những khẩu súng trọng liên chĩa thẳng về phía chúng tôi.


Chung quanh đường băng hạ cánh, trong những bụi cây, sau những chiến hào là những binh lính Nhật Bản đầy lo ngại, sẵn sàng trong tư thế chiến đấu. Tất cả có vẻ như không muốn lập hàng rào danh dự đón chào chúng tôi. Những giây phút trôi đi nặng nề. Tôi chưa bao giờ hiểu rõ ý nghĩa câu ngạn ngữ dân gian: "Nhìn nhau như chó sành!".


Các bạn đồng hành đều trang bị vũ khí. Riêng Patti và tôi tự nguyện không mang súng. Chúng tôi tiến những bước đầu tiên về phía các sĩ quan Nhật Bản: chào, cúi gập người... Thế là, không phải nổ súng.


Chúng tôi đã thỏa thuận trước với nhau, Patti sẽ tự giới thiệu là trưởng đoàn tiền trạm, phụ trách việc chuẩn bị cho Ủy ban Đồng minh tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật Bản. Về phần tôi, tôi sẽ nói với tư cách cá nhân là đến tìm hiểu tình trạng các tù binh Pháp đang bị Nhật Bản giam giữ, sức khỏe của họ, nhu cầu về thuốc men, lương thực... của họ. Thật tình, như người Mỹ đã hiểu rất rõ, tôi chẳng được giao một nhiệm vụ chính thức nào cả.


Chúng tôi thảo luận rất lâu với phía Nhật Bản trong một túp lều ở đầu đường băng sân bay. Rượu bia được mang tới. Những người Pháp và Nhật nhấm nháp với dáng vẻ rất lễ phép, còn người Mỹ thì nhìn họ uống với một vẻ nghi ngờ cứ như là trong rượu có thuốc độc cực mạnh.


Hai lính dù Mỹ và hai lính dù Pháp, tiểu liên trong tay, bố trí ở chung quanh lều, sẵn sàng can thiệp nếu tình hình xấu. Nhưng nói chung, như mọi người đều nhìn rõ, cuộc hội đàm đầu tiên này đã diễn ra trong hoàn cảnh rất hòa dịu.

Sau nhiều câu phát biểu lúc bằng tiếng Anh, lúc bằng tiếng Pháp, có thêm những sĩ quan Nhật Bản mới đến từ Hà Nội, cuối cùng mọi người quyết định cùng vào thành phố. Thái độ của phía Nhật Bản đã lộ rõ: chúng tôi sẽ vào Hà Nội, đúng rồi, nhưng tôi cũng đã nhận thấy là những người Pháp chúng tôi cũng sẽ là tù binh.


Chúng tôi cùng ngồi trên những chiếc xe được đưa đến từ thủ phủ xứ Bắc Kỳ và việc chúng tôi lên được xe phía Nhật Bản là được họ sắp xếp một cách có mức độ khác nhau.

Pétris là người đã được quyết định phải tẩu thoát để tìm cách tiếp xúc ngay với đồng bào của chúng tôi ở Hà Nội, cố tìm cách không bị đưa lên xe nhưng không được.


Đoàn xe chở chúng tôi có một chiếc xe bọc thép vũ trang trọng liên dẫn đầu, tiếp đó là những xe tải chở đầy lính Nhật có vũ trang. Chiếc xe bánh xích thứ hai đi cuối cùng khóa chặt đoàn xe.

Chúng tôi ra khỏi sân bay Gia Lâm giữa lớp hàng rào các lính chiến Nhật Bản rất đáng sợ.

Đoàn xe đi qua phố Gia Lâm đã bị máy bay Đồng minh ném bom tan nát, nhất là nhà ga xe lửa. Cuối cùng chúng tôi leo qua mặt đê để vào cầu Doumer1 (Nay được gọi là cầu Long Biên) một tác phẩm của người Pháp bắc qua sông Hồng, mở đầu cho xa lộ nối liền Hà Nội với Hải Phòng, thành phố mạch máu của vùng châu thổ Bắc Kỳ.


Đã trải qua đúng mười bốn năm tôi đi xa Hà Nội nay mới trở về, song tất cả cảnh vật ở đây đối với tôi đều rất thân thuộc như mới ra đi từ hôm qua. Những nông dân người An-nam, gồng gánh trên vai, đang hối hả bước nhanh bằng những bàn chân nhỏ nhắn trên ván gỗ dọc theo thành cầu, nơi dành cho những người đi bộ. Nước sông Hồng đang lên cao tới đỉnh điểm (12 mét 40), làng xóm ở bãi nổi giữa sông đã bị ngập. Những nếp nhà tranh lợp rơm rạ trong trung tâm dân cư nhỏ bé này, một lần nữa đã lại bị nước cuốn đi.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 25 Tháng Chín, 2021, 07:21:22 am
Trong nội thành Hà Nội, các vỉa hè đều đen kín người. Đám đông tụ tập trên đường phố và những binh lính Nhật Bản "trang bị vũ khí đến tận răng" đang "bắt mọi người phải tôn trọng trật tự". Ít nhất, đó cũng là lời giải thích mà viên sĩ quan Nhật Bản ngồi cùng xe đã nói với tôi. Đây là một sự dàn cảnh hay đúng là sự thật? Tôi đang suy nghĩ, cố tìm hiểu thì chợt câu nói của Patti đã gây ấn tượng mạnh đối với tôi.

- Người Pháp sẽ gặp khó khăn đấy!

Tôi không trả lời. Nhưng, phải thú thật rằng, trong thâm tâm suy nghĩ của ông bạn đồng hành người Mỹ cũng phản ánh đúng những luồng tư tưởng của tôi trước đám đông này mà tôi hi vọng là họ tò mò nhiều hơn là ác cảm. Tuy vậy, tất cả những gì nhìn thấy cũng đã làm tôi bối rối, và tôi sẽ còn hoang mang hơn nếu trong lúc đó tôi lường trước được số phận sẽ dành cho tôi trong cuộc chơi này. Làm sao tôi có thể đoán trước được là chuyến đi mà tôi coi là kết thúc nhiệm vụ của tôi ở Viễn Đông thì nay đối với tôi chỉ là khúc dạo đầu của một cuộc đấu tranh lâu dài và lo lắng, thăng trầm liên tục, đột biến không ngừng với nhiều hậu quả không tài nào tính trước được.


Khi đi ngang qua khu phố của người bản xứ, sự vắng bóng những người da trắng trong đám đông không làm cho tôi ngạc nhiên. Nhưng, đến khi đoàn xe đi vào những đại lộ trong khu phố hành chính cai trị bắt đầu từ đại lộ Carnot1 (Nay là đường Phan Đình Phùng) vẫn không thấy người da trắng, nỗi lo lắng của chúng tôi càng tăng thêm. Chỗ nào cũng chỉ thấy có cờ đỏ sao vàng. Tuyệt đối không thấy một lá cờ duy nhất nào tiêu biểu cho đế quốc Pháp.


Viên sĩ quan Nhật Bản với tư cách "chủ nhà" đưa chúng tôi đến dinh Toàn quyền2 (Theo phía Mỹ, việc Sainteny và bốn sĩ quan Pháp cùng đi được đưa đến dinh Toàn quyền cũ là do vị trí này cách biệt với các khu đông dân và sau đó đã "giam lỏng" Sainteny trong "chiếc lồng vàng" - ND), trong khi những sĩ quan Mỹ được đưa đến khách sạn Métropole. Một đại tá Nhật Bản được sự ủy nhiệm của Bộ tổng tư lệnh quân đội Nhật Bản, đến trình diện và nói là được cấp trên giao cho trách nhiệm liên lạc với "Phái đoàn Pháp".


Đây là lần đầu tiên chúng tôi được gọi với chức danh này trên lãnh thổ Đông Dương. Chức danh này đã tồn tại lâu với chúng tôi. Chỉ riêng một chức danh đó cũng nói lên nhiều điều: những đại diện của nước Pháp tại Hà Nội, trước mắt các nước Đồng minh không phải chỉ là một phái đoàn tầm thường bị công khai phủ nhận, đã tuần tự chiến đấu bằng tất cả sự chủ động của mình giữa khung cảnh bị bao vây bởi sự thù địch thường xuyên và xảo trá.


Theo yêu cầu của viên đại tá Nhật Bản, tôi đưa ra những đòi hỏi của tôi.

Trước hết là đích thân được tiếp xúc và ngay lập tức với những người Pháp ở Hà Nội để xem họ đang được đối xử như thế nào, có nghĩa là được đưa đến ngay khách sạn Métropole là nơi số đông những ngươi đồng bào của tôi không bị giam giữ đang tập trung tại đó. Sau đó, dẫn tôi vào trong thành là nơi các quân nhân Pháp đang bị giam giữ, những người tôi cũng cần phải được liên hệ ngay lập tức. Cuối cùng, để cho chúng tôi được tự do sử dụng đài phát thanh đang đặt ở Bạch Mai, bởi vì nhiệm vụ của tôi lúc này là phải kịp thời thông tin liên lạc với các cơ quan cấp trên của tôi đê nhận chỉ thị.


Viên đại tá Nhật Bản, cực kỳ tỏ ra lễ độ, hứa sẽ làm mọi điều tôi muốn và chúng tôi cùng đi ngay tới khách sạn Metropole.

Suốt dọc đường đi, đám đông quần chúng tụ tập mỗi lúc một nhiều và trở nên dày đặc sát khách sạn. Một vài cử chỉ thù địch bắt đầu bộc lộ.

Sự tiếp đón của đồng bào tôi trong khách sạn Metropole là điều dễ hiểu. Ngay ở tiền sảnh chúng tôi đã gần như nghẹt thở khi những con người khốn khổ sống trong lo lắng từ nhiều tháng nay và trong sự sợ hãi từ vài ngày nay vừa nhìn thấy những bộ quân phục sĩ quan Pháp tiếp theo những bộ quân phục Mỹ vừa tới trước ít lâu, đổ xô tới vây bọc. Họ có lẽ sẽ thất vọng nếu trong lúc đang tưởng tượng rằng bốn sĩ quan của đất nước họ sẽ mang đến cho họ tự do và cuộc sống mà họ tưởng rằng sẽ mất đi vĩnh viễn, thì trên thực tế chúng tôi mới chỉ đến với họ bằng sáng kiến của riêng mình, để chia sẻ với họ sự giam cầm, sự lo lắng, sự đau khổ và chỉ có một mục đích day nhất là làm cho những nỗi niềm này bớt nặng nề... Từng người một kể chuyện, giải thích và đưa ra cả lời khuyên đối với chúng tôi...


Chúng tôi được biết, từ nhiều ngày nay họ đang bị đe dọa, hành hạ, tiến công, đôi khi bị ám sát. Hơn hai mười ngàn người Pháp sống trong những căn hộ có bố trí phòng vệ vì bị tiến công liên tiếp, đang hoang mang lo lắng kinh khủng.


Ngay tại khách sạn Métropole, nơi họ tưởng rằng đó là chỗ trú ẩn tương đối an toàn, những nhân viên phục vụ cũng gieo rắc sự khủng bố bằng một cách tinh vi rất châu Á.

Chính phủ Việt Minh vừa giành được quyền lực từ Trần Trọng Kim, đặt trụ sở ngay tại dinh Thống sứ cũ, trước mặt khách sạn Métropole.

Ngay khi mới bước vào gian phòng dành riêng cho tôi, tôi đã gặp trung úy Nhật Bản Ogoshi. Viên trung úy này nói tiếng Pháp rất thạo. Anh ta chào mừng tôi đến Hà Nội và cho tôi biết anh được Bộ tư lệnh Nhật Bản cử tới làm sĩ quan liên lạc cho tôi. Nhiệm vụ đầu tiền mà Bộ tư lệnh Nhật Bản giao cho anh là cho tôi biết việc chúng tôi tới Hà Nội và ở tại khách sạn Métropole đã gây ra một sự phẫn nộ lớn trong quần chúng. Họ đang tụ tập rất đông trước khách sạn và những hàng rào lính canh của Nhật Bản không tài nào ngăn được.


Từ cửa số tôi đã nhìn thấy, đúng là đám đông nhân dân đang đổ xô đến trước khách sạn mỗi lúc một nhiều. Họ có vẻ như không đếm xỉa gì đến hàng rào quân sự Nhật Bản đang bố trí ở bên ngoài. Đây là một sự dàn cảnh chăng? Một lần nữa, tôi lại tự hỏi như vậy. Đã biết bao lần, tôi đặt ra câu hỏi này trong khu vực châu Á là nơi nghệ thuật huy động quần chúng đạt tới đỉnh cao của sự hoàn hảo.


Ogoshi nói thêm, Bộ tư lệnh Nhật Bản lo ngại cho sự an toàn của tôi và những người cùng đi và lảng tránh mọi trách nhiệm trong trường hợp xảy ra tình hình nghiêm trọng. Tôi trả lời, tôi chỉ yêu cầu Nhật Bản bảo vệ cho dân chúng Pháp, đó là sự bảo vệ mà Nhật Bản có trách nhiệm thực hiện đã ghi trong những điều khoản của hiệp định ngừng bắn.


Về phần tôi và những người cùng đi, chúng tôi sẽ tự bảo vệ mình. Ogoshi liền nhận xét, sự có mặt của chúng tôi tại khách sạn Métropole là nguy hại cho sự an toàn của những người Pháp đang sống ở đây và nếu tôi cứ đòi ở lại với những người này thì sẽ càng tăng thêm những nguy hiểm mà họ đang bị đe dọa. Ogoshi lại nhấn mạnh một lần nữa, trong trường hợp như vậy, Bộ tư lệnh Nhật Bản hoàn toàn không chịu trách nhiệm về những gì sẽ xảy ra.


Sự răn đe thật quá rõ: người ta muốn giữ càng lâu càng tốt những người Pháp ở Đông Dương trong hũ nút, không cho họ một cuộc tiếp xúc nào với chúng tôi nhằm hoàn toàn cách biệt họ với Mẫu quốc. Đó là một sự cách ly hoàn toàn, nếu không muốn nói là một sự giam giữ, mà chúng tôi buộc phải chấp nhận một cách lịch sự. Sự đe dọa đang lên cao tới mức, dù có cứng đầu cứng cổ tôi cũng sẽ làm tăng thêm sự bất an cho các đồng bào chúng tôi.


Tôi đành chấp nhận rời khỏi khách sạn Métropole với một điều kiện mà tôi tỏ ra không lay chuyển, tức là phải được "dọn tới ở" tại dinh Toàn quyền cũ.

Sau một hồi lâu chần chừ, Ogoshi đồng ý.

Tôi không gặp lại viên đại tá Nhật Bản là người đầu tiên đã để cho tôi ở tại dinh thự này. Sau này tôi được biết, thái độ lịch sự và thiện chí của ông đối với chúng tôi ngày 22 tháng 8 đã đem lại nhiều bất lợi cho ông.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 13 Tháng Mười, 2021, 05:20:14 pm
VII
TRONG LỒNG VÀNG


Đoàn xe một lần nữa lại diễu qua thành phố, đủ cả: xe bánh xích, xe trọng liên, xe tải chở đầy lính Nhật Bản.

Rất nhiều những băng vải dày căng ngang qua đại lộ và đường phố, từ hàng cây bên này đường vắt sang hàng cây bên kia. Những biểu ngữ này tuyên bố và nhắc lại những gì chúng tôi đã nhìn thấy trên tường, sơn những hàng chữ đậm nét: "Độc lập hay là chết - Nước Việt Nam của người Việt Nam - Tiêu diệt chủ nghĩa đế quốc Pháp - Đả đảo chủ nghĩa thực dân Pháp" v.v... bằng các thứ tiếng Anh, Hoa và đôi khi cả tiếng Pháp.


Những lời chào đón này vượt quá mức bình luận! Tôi nghĩ các bạn Mỹ của tôi đã có lý: ván cờ này không dễ dàng.

Tuy nhiên, đến giờ ăn trưa tại dinh Toàn quyền cũ, có tôi và bốn người bạn Pháp, đã được phục vụ rất chu đáo. Người đứng đầu tốp hầu bàn nụ cười rộng mở, bày tỏ niềm vui với tôi là "người Pháp lại trở thành ông chủ!". Vậy là, chưa phải đã mất hết!


Chúng tôi được ở trong một nhánh của tòa lâu đài. Trung úy Casnat, ngay khi vừa mới tới, đã lắp ngay bộ máy điện đài xách tay mà anh luôn mang theo bên người từ lúc rời khỏi Côn Minh. Anh liên tục "thổi phù phù" gọi các đài liên lạc ở Côn Minh và Calcutta.


Chúng tôi hiểu rằng các bạn tôi ở đó đang hết sức nóng ruột và lo lắng. Những người bạn chiến đâu này dĩ nhiên phải nóng vội muốn biết ngay kết quả chuyến đi mạo hiểm của chúng tôi mà ngay khi mới xuất phát đã đón trước là phải tiến hành thuận lợi. Bởi vì, số đông các bạn đều cho rằng việc chúng tôi tới được Hà Nội có nghĩa là kết thúc sự hoang mang kinh khủng mà họ trải qua từ sáu tháng nay. Gia đình họ đang ở lại Hà Nội, phó mặc cho những người da vàng trong xứ Bắc Kỳ mà số phận dành cho người da trắng chưa được biết chính xác sẽ ra sao. Sợi dây liên lạc mà chúng tôi nối lại được sẽ chấm dứt sự hoài nghi đó.


Chúng tôi biết rằng, ngày 22 tháng 8 tại Phái đoàn 5 và tất cả các cơ sở Pháp ở Côn Minh mọi người đều nóng lòng mong đợi những tin tức của chúng tôi và chúng tôi cũng sốt ruột bắt liên lạc với họ.

Vào khoảng 21 giờ gương mặt đẫm mồ hôi, căng thẳng vì chờ đợi của Casnat chợt bừng sáng:

- Họ đây rồi! Thưa thiếu tá!

Đã có tiếp xúc rồi! Đường liên lạc bị gián đoạn sáu tháng nay đã được nối lại. Hai mươi ngàn người Pháp cuối cùng đã được gắn chặt với nước Pháp.

Bức điện đầu tiên của tôi được soạn thảo và gửi đi bằng mật mã! Đây là những dòng mở đầu: "Tình hình chính trị Hà Nội xấu hơn dự kiến. Đã nhìn thấy Hà Nội chỉ treo một lá cờ duy nhất của Mặt Nạ..."1 (Tên mà Sainteny dùng để chỉ Mặt trận Việt Minh - ND).


Bức điện đã tóm tắt tình hình đúng như những gì chúng tôi đã nhìn thấy khi đi nhanh qua nội thành Hà Nội dưới sự canh gác của lính Nhật.

Tôi đã cân nhắc các từ ngữ, vì đã hiểu những ảo tưởng của tất cả những người Pháp là những người bạn trung thành của xứ sở và người dân Đông Dương. Tôi nghĩ, họ cũng đau khổ như tôi, khi biết rằng chỉ vài tuần cũng đủ để bọn chiếm đóng gieo rắc hận thù một cách khéo léo, làm ngọn lửa hận thù lan rộng và bốc cao.

Chúng tôi mệt nhoài vì chuyến đi, vì những sự kiện xảy ra trong ngày, vì cái nóng oi ả của xứ Bắc Kỳ những ngày tháng Tám.

Tuy nhiên, chúng tôi vẫn thức suốt đêm, nghĩ đến tình thế của bản thân, ước lượng xem còn có gì được may mắn nữa không đối với cái nhóm của chúng tôi, hay là chỉ tạo được một kết quả duy nhất là đóng góp thêm năm tù binh cho xứ Bắc Kỳ là nơi mà mọi người đều tỏ ra ác cảm. Quả là vị thế của chúng tôi chẳng có gì loé sáng: có những hai vòng canh gác, bên trong là Nhật Bản, bên ngoài là người An-nam, ngăn cấm chúng tôi không được có bất kể một tiếp xúc nào với đám dân chúng người Pháp mà chúng tôi mới chỉ gặp thoáng qua vài phút khi tới khách sạn Métropole.


Dù sao cũng đã thực hiện được điều chủ yếu: chúng tôi đã yên vị ở ngay giữa lòng Hà Nội. Về điểm này, nhiệm vụ mà tôi được giao đã đạt kết quả vượt xa mọi hi vọng, bởi vì sự có mặt của những sĩ quan Pháp trong dinh Toàn quyền, đối với người bản xứ, sẽ là một biểu tượng, một sự khẳng định thật sự những quyền của Pháp trên đất Đông Dương.


Trên thực tế, cú "sốc" tâm lý đã tác động đến dân chúng bản xứ. Những vụ tấn công người Pháp đã ngừng hoặc giảm đáng kể một thời gian. Những người Pháp đã lấy lại được niềm hi vọng, nhưng vẫn không biết rằng chúng tôi hãy còn ít được tự do đi lại không kém gì họ.


Về phần chúng tôi, có lẽ chúng tôi sẽ đánh giá cao hơn số phận mình nếu chúng tôi được biết số phận của những đội khác được cử đi từ Calcutta đã nhảy dù xuống nhiều địa điểm khác nhau trên lãnh thổ Đông Dương. Hầu hết những nhóm này đều bị lùng bắt. Một số thoát khỏi cuộc truy lùng đã lên được vùng rừng núi chống cự được nhiều tuần.


Ngày 23, chúng tôi vui mừng khi nhìn thấy ngồi trong một chiếc xe Nhật Bản và có lính Nhật canh gác chặt chẽ, trung tá hải quân Blanchard, đại úy Fourcade, thanh tra thương chính Haag, thiếu úy Stengala và hai đốc công hải quân Zimmer và Coz, cả hai người này đều tốt nghiệp khoa điện báo viên. Họ đi từ Hải Phòng lên và kể cho chúng tôi nghe những diễn biến của cuộc hành trình dài khoảng một trăm kilômét. Ngày xưa, đây chỉ là một cuộc dạo chơi thoải mái thường tiến hành vào ban đêm dịu mát của vùng nhiệt đới, sau khi đã dự tiệc buổi tối tại nhà một người bạn ở Hải Phòng hoặc ở Hà Nội. Những người bạn của chúng tôi từ Hải Phòng mới tới, trước kia đã từng được hưởng những thời điểm sung sướng như vậy, nay càng có dịp được so sánh với những thay đổi sâu sắc đã xảy ra từ năm tháng nay.


Chúng tôi chăm chú nghe câu chuyện phiêu lưu của họ. Ngày 16 tháng 8, trong lúc các tàu tuần tiễu Crayssac và Frezouls đang cắm neo trú ẩn tại đảo Cái Bàn thuộc vùng biển thường hoạt động, thì họ nhận được tin về sự đầu hàng của Nhật Bản. Lập tức, trung tá Blanchard xin huấn thị của tôi và tôi đã điện trả lời: "Xốc tới Hải Phòng - Tùy nghi tìm mọi cách". Một nhân chứng kể lại, bức điện này đã được tiếp nhận "trong niềm vui tràn trề, mà các thành viên đội tàu tuần tra ghi nhớ mãi".


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 13 Tháng Mười, 2021, 05:21:14 pm
Tàu Crayssac và Frezouls lập tức nổ máy xuất phát. Nhưng đường vào cảng Hải Phòng đã bị thả mìn, họ buộc phải đi vào Cửa Cấm bằng con đường thủy từ Quảng Yên đi xuống. Khoảng 14 giờ, hai chiếc tàu tiến vào giữa bến cảng Hải Phòng trước sự ngạc nhiên sửng sốt của Nhật và niềm vui lớn của những người dân Pháp. Tin này lan đi rất nhanh như thuốc súng. Những người An-nam ở đây không đến nỗi ác cảm lắm và đã nói chuyện thân mật với những đồng bào của họ chiêm số đông trong các nhân viên hai chiếc tàu. Blanchard, Fourcade, Stengala lên bờ tiếp xúc với các nhà chức trách Nhật Bản. Bị thúc ép bởi "Ủy ban Cách mạng Việt Minh", người Nhật cho biết sự có mặt của hai chiếc tàu tuần tra của Pháp ở giữa thành phố là không thể chấp nhận được và nài ép họ cắm neo ỏ nơi khác.


Không tìm được xe ô tô để đi lên Hà Nội bằng đường bộ, Blanchard quyết định dùng đường sông mặc dù những trận lũ lụt đang làm cho giao thông đường thủy phức tạp. Sau khi thỏa thuận, chiếc Frezouls ở lại Hải Phòng, còn chiếc Crayssac nổ máy lên đường đi Hà Nội vào hồi 10 giờ sáng ngày 19 tháng 8 theo kênh đào nhà máy Xi-măng và kênh Hàng Tre.


Đến Ninh Giang, họ nhìn thấy một chiếc sà-lúp chắn ngang kênh, rồi một loạt đạn trút xuống tàu Crayssac từ chiếc sà-lúp và hai bên bờ kênh. Một người An-nam trong số những người tiến công tàu hét to: "Hàng đi! Chúng tao là chủ nhân ông!".


Blanchard đã khôn ngoan không cho bắn trả lại vì sợ dân chúng Pháp ở Hải Phòng bị đàn áp. Dưới làn đạn ngày càng dữ dội, chiếc tàu tuần tra đi ngoằn nghèo trên kênh để tránh đạn rồi quay trở lại.

Tuy nhiên những người theo chủ nghĩa dân tộc tập trung trên các con đê hai bờ kênh vẫn tiếp tục bắn. Tàu Crayssac có một hỏa lực khá mạnh có thể mở đường tiến. Nhưng Blanchard vẫn cố kiềm chế, không chống trả, và đã quay về được chỗ tàu Frezouls đang chuẩn bị đi ứng cứu. Những nhà chức trách Nhật Bản không tỏ vẻ không hài lòng trước thất bại này. Một lần nữa, Blanchard lại nài nỉ để có được những phương tiện đưa ông cùng với năm đồng đội đi lên Hà Nội là địa điểm tôi đã hẹn gặp.


Ngày 22 tháng 8, đội ngũ nhỏ bé này rời Hải Phòng bằng chiếc xe ô tô của một nhà buôn Nhật Bản, có hai xe tải chở đầy lính Nhật đi hộ tống. Trận lụt đã phá vỡ đường giao thông ở đoạn cách Hải Phòng 10 kilômét. Các đồng đội của chúng ta phải đi bộ, leo lên đường sắt chỉ mang theo được một điện đài để tiếp tục cuộc hành trình tới thủ phủ xứ Bắc Kỳ.


Được vài kilômét nữa, đường sắt cũng bị nước cuốn, họ phải dùng thuyền nan băng qua cánh đồng ngập nước. Ngày hôm sau, họ được đi trên toa xe lửa chỏ hàng do một đầu máy kéo về Hải Dương. Từ đó họ về tới Hà Nội bằng một chiếc xe ô tô của Nhật Bản có một xe tải nhỏ chở lính Nhật đi kèm.


Và, ngày 23 tháng 8 chúng tôi gặp nhau trong dinh Toàn quyền. Tất cả gồm 11 người, quyết tâm thành lập một đoàn đại diện hứa hẹn có nhiều hiệu quả lớn hơn là số lượng. Bốn người trong số chúng tôi đã trải qua những ngày rất dài trong thời gian gần đây. Ba người, trong đó có tôi đã sống từ trước tại Hà Nội. Bốn người thuộc số "những người Pháp mới", không giấu nổi vẻ ngạc nhiên ca ngợi những gì còn tồn tại được ở thành phố quyến rũ này: có những cụm mầu xanh như ốc đảo, những mảnh đất trồng hoa, màu sắc rực rỡ, những đại lộ rộng rãi, mát mẻ, đẹp đẽ, hai bên là những biệt thự xinh tươi mà ngay cả mùa mưa cũng không thể vẩn đục vẻ ngoài sạch sẽ, tươi tắn. Thời xưa, được sống tại Hà Nội thật hạnh phúc xiết bao!


Tối hôm đó, các sĩ quan Mỹ đến thăm chúng tôi. Họ đã đi khắp thành phố và tiến hành nhiều cuộc nói chuyện với những đồng bào của chúng tôi, với những người Nhật và những người An-nam. Họ được thoải mái, cởi mở. Mặc dù có định kiến sẵn, nhưng chính họ cũng có ấn tượng về những hình ảnh vui tươi của "chủ nghĩa thực dân Pháp".


Những bức điện trao đổi với Côn Minh mỗi lúc một nhiều. Công việc tăng thêm vì bắt đầu từ ngày 26 chúng tôi đã tiếp xúc được với Calcutta. Tôi phải tổ chức những nhóm giải mã, không trừ một ai. Tâm trạng hồ hởi sẵn có của Haag càng bộc lộ trong công tác chán ngấy hơn là tinh tế này. Rất nhanh chóng, anh trở thành người phụ trách công tác thiết yếu. Anh không phải là bậc đàn anh trong nhóm chúng tôi, nhưng luôn là người nêu gương về sự bình tĩnh hoàn toàn và tin tưởng tuyệt đối.


Casnat lập được nhiều kỳ công cùng với sự trợ giúp của hai thợ máy vô tuyến điện. Những dàn ăng-ten được căng ra từ cột thu lôi này đến cột thu lôi khác. Trưởng ban thông tin của chúng tôi vò đầu bứt tai mỗi khi có dông bão mà tháng 8 này ở Bắc Kỳ lại hay có dông, sét thường hút vào những cột thu lôi trên nóc dinh làm cháy đen những chiếc dây ăng-ten chẳng may gặp nạn.


Đại úy Fourcade, trước kia đã từng làm sĩ quan tùy tùng cho Toàn quyền Catroux là người hiểu rõ thung thổ Đông Dương hơn bất cứ ai. Anh coi tòa lâu đài này thật sự như nhà mình và xoay chuyển cái "thiết bị phục vụ" một cách thông thạo, và cỗ máy này cũng có vẻ như vui mừng được gặp lại anh.


Việc tình cờ có thêm Blanchard cũng là điều cực kỳ quý báu đối với tôi trong giao thiệp với Nhật, vì ông đã từng làm công việc này nhiều tháng, với tư cách là sĩ quan liên lạc phủ Toàn quyền của đô đốc Decoux, suốt từ Nam Kỳ đến Bắc Kỳ.


Tất cả những người cộng sự với tôi đều đáng ca ngợi về tinh thần gan góc, công tác hăng say, tính tình vui vẻ.

Từ ngày 24 họ đã có ý định muốn đi dạo trong vườn cây tại dinh thự này, nhưng họ đã rất ngạc nhiên và ngán ngẩm khi thấy luôn luôn có hai hoặc ba tên lính Nhật Bản súng trường lăm lăm trong tay hoặc thanh kiếm tuốt trần theo sát họ từng bước một. Những vạch sơn trắng in đậm trên lối đi ấn định giới hạn cho cuộc dạo chơi của họ. Nếu họ định chơi ngông tới mức thử vượt qua vạch sơn giới hạn - tôi phải nói rằng họ rất muốn - thì lập tức những lưỡi kiếm của những người "bảo vệ" nổi tiếng về tính hiệu quả thần thoại này đã khua trên đầu họ, chỉ cách vài centimét đủ để làm họ nản lòng.


Tuy nhiên trong những giới hạn của khuôn viên qui ước này cũng có một lỗ hổng giữa khu vườn cây của dinh Toàn quyền với vườn Bách Thảo bên cạnh. Vài đồng bào chúng tôi đã bạo dạn tiến sát lớp rào lưới thép mắt cáo, trao đổi thật nhanh vài câu với những người đi dạo bên trong. Những cuộc hội ý chớp nhoáng này thật quý hơn vàng.


Chính nhờ đó mà chúng tôi có được những tin tức tình báo đầu tiên về tình hình ở Hà Nội.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 13 Tháng Mười, 2021, 05:22:10 pm
Ngày 25 tháng 8 có một chuyến máy bay Mỹ từ Côn Minh tới Hà Nội rồi lại quay về ngay. Các bạn Mỹ nói với tôi nên tận dụng cơ hội này để về Côn Minh trực tiếp gặp Phái đoàn 5. Đã bắt đầu trở nên rõ ràng là những người Mỹ rất thích tôi xa Hà Nội. (Sau này, tôi đã lượm được bằng chứng không thể chối cãi về việc những người Mỹ đề nghị giữ tôi lại Côn Minh, cách xa Hà Nội).


Tôi từ chối lời mời thân tình đó vì tôi không muốn rời bỏ vị trí này bằng bất cứ giá nào. Tôi quyết định cử Blanchard về Côn Minh liên lạc với Phái đoàn 5. Từ khi đổ bộ lên Hải Phòng, Blanchard đã quan sát được nhiều. Khi tới Côn Minh ông có thể báo cáo tường tận những điều tai nghe mắt thấy với Calcutta và Paris.


Trong ngày hôm đó, tôi có niềm vui được tiếp vị khách buổi đầu tiên. Đó là tướng Chamagne, Cục trưởng Cục Hậu cần Pháp. Ông đã được người Nhật thừa nhận là Chủ tịch Ủy ban tương trợ của Pháp, cho phép tới thăm tôi với lý do - mà đó cũng là sự thật - chuyển cho tôi bản thống kê danh mục các thuốc men cần đòi hỏi gấp.


Dĩ nhiên tướng Chamagne có trung úy Ogoshi là một sĩ quan Nhật Bản thành thạo tiếng Pháp đi kèm. Với thái độ lễ phép và nín lặng, tư thế rất đúng đắn, Ogoshi lặng yên tham dự phần lớn những cuộc nói chuyện hôm đó và cả sau này giữa tôi với tướng Chamagne.


Quan tâm đầu tiên của chúng tôi là lên danh mục những nhu cầu hàng đầu của người Pháp ở Đông Dương về thuốc men và lương thực để được đề nghị chuyển tới từ Trung Quốc và Ấn Độ.

Tướng Chamagne đều đặn đến gặp tôi. Trong nhiều ngày, ông là dấu gạch nối giữa những người Pháp ở Đông Dương với tôi, cũng như giữa Hà Nội với Paris. Ông đã lén lút giấu những bọn canh tù và Ogoshi, đưa cho tôi những ghi chép và báo cáo tình hình, những bản báo cáo này càng làm tăng thêm những lo sợ của chúng tôi.


Chính nhờ có ông mà chúng tôi được thông tin chính xác hơn về số phận dành cho đồng bào chúng tôi, về sự phát triển của phong trào nổi dậy của ngươi An-nam với qui mô ngày càng đáng lo ngại. Cũng nhờ ông mà chúng tôi ước lượng được phần trách nhiệm của Nhật Bản. (Những thí dụ này có nhiều, tôi chỉ ghi lại đây một trong những bức điện của tôi gửi đi ngày 24 tháng 8: "Nhật Bản vi phạm Hiệp định Potsdam đã chuyển giao phương tiện chiến tranh cho người An-nam. Ví dụ: tàu tuần tra Bourdais của Pháp ở cảng Hải Phòng ngày 21-8 đã treo cờ Việt Minh"1 (Sự thật không phải do Nhật Bản chuyển giao mà chính là các lực lượng vũ trang cách mạng của ta đã đánh chiếm được - ND).


Thiếu tá Mỹ Patti báo cho tôi biết, một số nhà lãnh đạo của Chính phủ Việt Minh sẽ tới gặp tôi. Đúng vậy. Sáng 27 tháng 8, ông Võ Nguyên Giáp là Bộ trưởng Bộ Nội vụ và ông Dương Đức Hiền là Bộ trưởng Bộ Quốc gia giáo dục1 (Sainteny đã nhầm. Ông Hiền lúc đó là Bộ trưởng Thanh niên - ND) đã tới chỗ tôi ở tại dinh Toàn quyền cũ.


Tôi biết, Võ Nguyên Giáp đã từng tiếp thu nền văn hóa Pháp, ông là một sinh viên đại học xuất sắc, rồi là tiến sĩ Luật, đã gây cho tôi ấn tượng về một người kiên quyết, cực kỳ cứng rắn, khôn khéo và thông minh. Cuộc tiếp xúc đầu tiên giữa tôi với nhân vật sau đó giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam đã diễn ra thân mật, như vẫn thường thấy ở châu Á.


Ông Giáp tuyên bố được sự ủy quyền của chính phủ mới, tới gặp đại diện đầu tiên của Chính phủ lâm thời Cộng hòa Pháp và mong có được một sự tiếp xúc chặt chẽ. Những khát vọng của chính phủ mà ông là thành viên không phải quá đáng. Vì vậy, chắc chắn nước Pháp không chỉ sẽ hiểu mà còn làm theo. Tôi trả lời về phần tôi, tôi đang chờ đợi nhìn thấy các thành viên trong chính phủ mới này hoạt động ra sao để có thể xem họ có xứng đáng trên vị trí chỉ huy xứ Đông Dương tương lai hay không. Trước hết, chính phủ này cần chứng minh bằng việc chấm dứt sự mất ổn định.


Cuộc nói chuyện tiếp tục trong việc trao đổi nhận xét về tình hình trật tự ở đây như thế nào, cho tới khi tôi nhắc những người đối thoại với tôi là Hội nghị Potsdam đã giao cho quân đội Trung Quốc giải giáp vũ khí quân đội Nhật từ vĩ tuyến 16 trở ra. Do đó, cần chuẩn bị cho việc Trung Quốc tới đóng quân Bắc Kỳ, Bắc Trung Kỳ và Bắc Lào.


Người đối thoại với tôi có vẻ rất xúc động1 (Sainteny đã suy diễn rất chủ quan. Theo các tài liệu đã công bố ngay sau khi loan tin Nhật Bản chính thức tuyên bố chấp nhận các điều khoản của bản Tuyên cáo Potsdam từ ngày 17 tháng 8 năm 1945, các đài phát thanh Mỹ, Anh... đã thông báo sơ bộ về bản Tuyên cáo Potsdam, và việc quân đội Trung Quốc và quân đội Anh được giao nhiệm vụ phải giúp quân đội Nhật Bản ở Đông Dương. Hồi ký của Patti cũng tiết lộ, ngay trong cuộc tiếp xúc đầu tiên với đại diện Việt Minh tại Hà Nội, Patti đã bị chất vấn "Tại sao đại diện Pháp là Sainteny lại có thể vào Hà Nội trước quân đội Trung Quốc?". Những tư liệu này chứng minh rõ, Sainteny không phải là người đầu tiên báo tin cho ta biết quân đội Tưởng Giới Thạch sẽ vào Hà Nội. - ND) khi nghe tin này vì hôm nay mới được biết. Tôi đảm bảo đây là tin chính xác và nói, các thành viên trong Chính phủ Việt Minh là người làm chủ chính quyền mới, sợ rằng trong hành lý của quân đội Trung Quốc có những địch thủ dân tộc chủ nghĩa. Những phần tử này dựa vào sự ủng hộ đầy đủ nhất của những kẻ đỡ đầu đang tuyên bố giải phóng cho dân tộc An-nam, nhưng với điều kiện là được hưởng những quyền lợi gián tiếp. Có thể tính trước đến chuyện các nhà chức trách Trung Quốc sẽ giúp đỡ những đảng phái thân Trung Quốc trở thành những chủ nhân của xứ Bắc Kỳ, nơi mà Trung Quốc và nhất là các lãnh chúa phong kiến tại những tỉnh giáp biên giới không bao giờ từ bỏ.


Cuộc nói chuyện kết thúc một cách lịch sự như khi mới bắt đầu. Ông Giáp tuyên bố hài lòng và mong những cuộc nói chuyện như thế này sẽ tiếp tục thường xuyên nếu có thể. Lúc này, tôi hãy còn xa mới ngờ được rằng, Giáp là người hôm nay tôi gặp lần đầu tiên, chỉ vài tháng sau sẽ trở thành một trong những địch thủ ghê gớm nhất.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 13 Tháng Mười, 2021, 05:23:34 pm
Sau cuộc gặp gỡ này, tôi giữ Patti ở lại ăn cơm. Trước khi ăn, chúng tôi đi dạo vài bước trong vườn dưới vòm lá cây rậm rạp vùng nhiệt đới. Trưởng Phái đoàn quân sự Mỹ có vẻ rất vui mừng, nói với tôi:

- Thưa thiếu tá, tôi vừa mới được một bài học về ngoại giao, cho phép tôi khen ngợi ngài. Ngài đã giành được phần thắng.

Tôi không bị mắc lừa vì những lời chúc mừng đó và nhất là không cảm thấy có gì thích thú về cái mà ông bạn của tôi gọi là "thắng lợi". Buổi chiều, tôi nhận được những tin tức đầu tiên về Mesmer. Những tin này đều mơ hồ và trái ngược nhau.


Lúc này, tôi đã được biết rằng, nhờ sự giúp đỡ của Sở Hậu cần Cơ quan tình báo Anh, vài nhóm tình báo viên của Pháp ở Calcutta đã được máy bay Anh thả dù xuống Đông Dương, trong đó có Mesmer nhảy dù xuống một vùng phía bắc Hà Nội, thuộc tỉnh Phúc Yên. Cùng nhảy xuống với Mesmer có đại úy Brancourt, anh hiểu rất rõ về người An-nam vì đã sống nhiều năm tại Nam Định, và trung sĩ Marmont phụ trách điện đài. Anh là người đã nhảy dù xuống Đông Dương lần đầu tiên từ trước ngày 9 tháng 3 cùng với thống đốc Langlade, sau ngày đảo chính cùng đi theo đoàn quân rút lui sang Trung Quốc, sau khi vừa mới hồi phục sức khỏe lại xung phong tình nguyện nhảy dù trong nhóm của phái đoàn Mesmer.


Cả nhóm đã bị bắt ngay khi vừa chạm chân xuổng đất, bị giam giữ tại một khu vực nào đó ở phía bắc Hà Nội. Sau này, khi gặp lại Mesmer, tôi được biết rõ thêm, Brancourt đã bị chết trong lúc bị giam, còn Mesmer và Marmont đã được sống sót nhờ nghị lực đã giúp họ đi bộ được suốt bốn giờ trong vùng đồng bằng ngập lụt, đôi khi nước ngập tới bụng. Họ đã gặp được những binh lính Trung Quốc đang tiến xuống Hà Nội và đã được cứu thoát giữa lúc kiệt sức.


Tôi nói với những người Mỹ là tôi đang rất cần biết những tin tức chính xác về những đồng đội khác của tôi đã nhảy dù xuống Bắc Kỳ và đề nghị họ bắt tay vào việc tìm kiếm những người này. Tôi đã nhận được những lời hứa hẹn chính thức nhưng không bao giờ được biết liệu Patti và các nhân viên của ông có làm được chút gì theo hướng đó không, có bị vấp phải những trở ngại trong việc tìm ra lối thoát từ phía những người An-nam không, hoặc là việc đặt ra ngoài quan chức đã được chỉ định làm ủy viên Cộng hòa Pháp tại Bắc Kỳ có thu xếp được chút nào những công việc của họ không.


Ngày 28, Patti và phó của ông là trung úy Bernique lại đến thăm tôi, mở đầu cho một chiến dịch gièm pha chống lại những người Pháp và sự nghiệp của Pháp ở Đông Dương. Các bạn Đồng minh của chúng tôi bắt đầu bị chọc thủng lỗ tai vì những luận điệu cho rằng những người An-nam có lý; những người Pháp mà Patti và những trợ tá của ông thường đến tiếp xúc tại khách sạn Métropole chỉ góp phần làm tăng thêm hận thù của những người dân bản xứ chống lại nước Pháp và chủ nghĩa thực dân Pháp...


Rất rõ ràng, Chính phủ Cách mạng Việt Minh đã tiến hành một cuộc phát động tuyên truyền chống Pháp trên qui mô lớn bên cạnh các bạn Đồng minh của chúng tôi và đã làm cho họ dễ dàng nghe theo.

Sau bữa cơm cùng ăn với Patti và phó của ông là Bernique, chúng tôi nhìn thấy trẽn đại lộ Cộng hòa, thẳng góc với dinh Toàn quyền có ba cô gái đi dàn hàng ngang sát cạnh nhau, cô thứ nhất mặc áo váy màu xanh lam, cô giữa mặc màu trắng, cô thứ ba mặc bộ đồ màu đỏ (sau này tôi được biết đó là Pat Patterson, Colette Lapierre và Mady Moreau). Ba cô gái này tiến thẳng về phía dinh, dừng lại trước cánh cổng sắt một lúc rồi mới từ từ quay gót. Những người Pháp chúng tôi nhìn ba màu xanh, trắng, đỏ tượng trưng cho quốc kỳ Pháp, mà cổ họng nghẹn ngào, tràn dâng nước mắt. Từ hành động nhỏ của chủ nghĩa yêu nước này, biết bao kỷ niệm thức tỉnh trái tim những người của chúng tôi đã từng biết rõ nước Pháp hồi còn dưới sự chiếm đóng của Đức. Patti cũng đã nhìn thấy rõ cảnh tượng này và hiểu rõ niềm xúc động của tôi, đã quay lại phía tôi và nói.

- Đây là lá cờ Pháp đầu tiên mà tôi nhìn thấy ở Hà Nội từ ngày chúng ta đến đây. Đúng không?

Tôi trả lời:

- Đúng! Nhưng tôi cam đoan với ông đây không phải là lá cờ cuối cùng.

Patti là người luôn biết "khơi mào" câu chuyện một cách tuyệt vời. Sự "mềm dẻo" của ông thật là lúng túng. Có lẽ, tình hình sẽ khác, nếu ông và các bạn ông có lực lượng và uy thế tại Hà Nội?

Buổi tối, tôi cùng ngồi ăn với các bạn đồng nghiệp trong phòng ăn. Như thường lệ, chúng tôi vẫn được phục vụ chu đáo. Bộ đồ ăn bằng bạc của quan Toàn quyền vẫn nguyên vẹn và đầy đủ. Các đĩa ăn được đặt đúng vị trí trên bàn. Đại úy Fourcade đi vào, vẻ mặt trầm ngâm, suy nghĩ, nói:

- Không có một thằng bồi1 (Tên gọi miệt thị thường dùng để chỉ những người phục vụ như hầu bàn, rửa xe, lau nhà... xuất phát từ tiếng Anh "boy" nghĩa gốc là "chú nhỏ" - ND) nào ở khắp trong dinh. Tôi đã sục vào cả các chuồng ngựa, các dãy nhà ngang, tất cả đều vắng ngắt.


Bị đe dọa khủng bố, những con người khốn khổ này đã phải cùng với gia đình rời bỏ công việc và chỗ ở trong dinh là nơi họ vẫn sinh sống từ sau ngày 9 tháng 32 (Một lần nữa, Sainteny lại suy diễn. Sau ngày độc lập nhân dân Việt Nam đều tự hào được làm "chủ nhân", vì vậy hầu hết đã lự động rời bỏ các công việc hầu hạ người khác, chứ không phải vì bị "đe dọa khủng bố" nên mới không phục vụ thực dân Pháp nữa - ND). Chúng tôi im lặng nhìn nhau, không cần trao đổi cảm tưởng. Đây là cuộc tiến công đầu tiên và cần phải chờ đón nhiều vụ khác.


Có thể nuốt trôi miếng ăn mà không nghĩ rằng chiếc "lồng vàng" nhốt chúng tôi đang bị đe dọa biến thành nấm mồ không? Mặc kệ! Nếu chúng tôi bắt đầu nghĩ như thế thì thà chết đói ngay từ bây giờ. Mọi người lại lập tức trở nên vui vẻ. Chúng tôi ngồi vào bàn, ăn uống như thường lệ, có nghĩa là ăn uống ngon lành vì tuổi trung bình trong nhóm chúng tôi hồi đó chỉ vào khoảng 28 hoặc 29.


Ngày hôm sau, tức 29 tháng 8, trong dinh vẫn không có người phục vụ. Chúng tôi đành phải sử dụng những khẩu phần ăn Pacific đóng hộp đã cẩn thận mang theo trong chiếc Dakota khi bay tới Hà Nội.

Buổi chiều, tướng Chamagne, vẫn luôn luôn có Ogoshi đi kèm, lại đến thăm chúng tôi như thường lệ. Tôi kịch liệt phản đối với Ogoshi về việc những tên "bồi" đã bỏ đi, buộc Ogoshi phải chịu trách nhiệm và đe dọa nếu không đáp ứng thì phải đưa những người lính đang bị giam trong thành tới đây nấu ăn và phục vụ chúng tôi. Tôi cho đó là một cách để kéo được vài quân nhân đồng bào của tôi khỏi cảnh bị giam giữ mà mặc dù tôi đã nhiều lần phản kháng và đe dọa, họ vẫn tiếp tục bị nhốt trong thành, cũng như số quân "chiếm đóng" của chúng tôi đang phình to trong dinh Toàn quyền cũ.


Dĩ nhiên là trước khi yêu sách này được thỏa mãn, chúng tôi vẫn phải tiếp tục trải qua những ngày không có người phục vụ. Tướng Chamagne đề nghị, từ nay về sau, cơm nước cho chúng tôi sẽ được mang đến từ khách sạn Métropole. Vài hôm nữa, khi nào được phép, sẽ có một tên "bồi" đang làm công tại khách sạn đảm đương nhiệm vụ này.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 13 Tháng Mười, 2021, 05:24:50 pm
Để đơn giản công việc phục vụ mà chúng tôi buộc phải tự mình làm lấy, chúng tôi đành bỏ trống phòng ăn, để ăn uống ngay trong phòng làm việc. Mọi người đã vui vẻ trở lại. Sự vui vẻ này còn được chia sẻ, dĩ nhiên dưới một nhãn quan khác với đám lính Nhật Bản đang cạnh gác chúng tôi. Bọn họ rủ nhau lần lượt đến xem những ông chủ người da trắng ăn uống ngay trong phòng làm việc, cùng tham dự một cảnh tượng vừa buồn cười vừa khác thường.


Patti và phó của ông cũng thường đến thăm chúng tôi giữa giờ ăn. Chúng tôi nài ép họ cùng ngồi ăn. Họ đã ăn một cách vui vẻ và cùng giúp đỡ chúng tôi rửa những đĩa ăn một cách miễn cưỡng.

Trong những bức điện gửi về Calcutta, tôi không che giấu sự lo ngại khi thấy Mẫu quốc vẫn chưa có hành động phản ứng gì.

Trong bức điện ngày 28 tháng 8 gửi đi Calcuta có ghi: "Chúng ta đang đứng trước một âm mưu của Đồng minh muốn hích Pháp khỏi Đông Dương. Chỉ riêng Chính phủ là có thể, trên trường quốc tế, tiến hành một cuộc phản kháng. Tôi không thể làm gì để cảnh cáo người Nhật được nữa, bởi vì đã bảy ngày nay tôi đe dọa họ nhưng không đạt kết quả. Cuối cùng, phải làm cho mọi người hiểu rằng, Bắc Đông Dương trong giờ phút này không còn là của Pháp nữa".


Điện số 38 gửi Calcutta ngày 29 ghi: Thái độ của Đồng minh đối với Pháp đang dẫn đến chỗ ta mất mặt hoàn toàn. Làm việc gì tôi cũng phải thông qua Patti. Tôi nhấn mạnh, trên thực tế hiện nay, thái độ Đồng minh tệ hại chăng kém gì Việt Minh. Nước Pháp cũng là một bên ký hiệp ước chấp nhận việc Nhật đầu hàng, đúng hay không? Chỉ có Leclerc hoặc De Gaulle mới có thể, và cần phải hành động". (Lúc này Leclerc đang nhận lệnh đi Tokyo đại diện cho nước Pháp dự lễ đầu hàng của đế quốc Nhật Bản, trong khi tướng De Gaulle đang ở Mỹ).


Ngày 30, Pétris "đi ra phố", có trung úy Mỹ Bernique cùng đi để tìm một số nhà cần trưng dụng. Tất nhiên, những ngôi nhà này đều dành cho các bạn Mỹ của chúng ta!

Buổi chiều, những đồng đội trẻ tuổi của chúng tôi lại đi dạo trong vườn, theo thường lệ ngày hai buổi, nhưng lần này với vẻ khá bực bội. Những nhân viên người An-nam túc trực suốt dọc lớp rào mắt cáo ngăn dinh Toàn quyền với Bách Thảo, không cho những sĩ quan Pháp trong dinh tiếp xúc với dân chúng Pháp dạo chơi trong vườn Bách Thảo. Rất rõ ràng là những cuộc tiếp xúc của chúng tôi với dân chúng Pháp ở Hà Nội không làm hài lòng Chính phủ Việt Minh. Chúng tôi lại trở về tình trạng cô lập gần như hoàn toàn.


Sau bữa ăn tối, như thường lệ, chúng tôi cố tìm luồng sóng để nghe tin từ chiếc đài thu thanh duy nhất và rất xấu mà bọn Nhật đã bỏ lại trong dinh Toàn quyền cho chúng tôi sử dụng. Tôi không tài nào hiểu được vì sao người Nhật lại có thái độ như thế này, bởi vì họ biết rất rõ chiếc đài thu phát xách tay mà chúng tôi mang theo từ Côn Minh vẫn cho chúng tôi liên lạc thường xuyên với Phái đoàn 5, Calcutta và từ đó với cả Paris.


Từ chiếc đài của người Nhật bỏ lại, chúng tôi đã nhẹ nhõm nghe bài nói của tướng Leclerc trong chặng dừng chân từ Ceylan đi Nhật Bản, khẳng định ý chí của nước Pháp gìn giữ các quyền lợi của mình ở Đông Dương. Như mọi người quen biết Leclerc đã rõ, ông là người trực tính, hay nói thẳng. Leclerc đã tuyên bố: "Nếu cần thiết, súng đạn sẽ lên tiếng". Thật là những lời nói làm nức lòng người Pháp. Nhưng cũng phải thú thật, ai là người thúc giục chúng tôi, ngay trong buổi tối hôm đó, không phải chỉ có việc khóa chặt cánh trái của dinh là nơi chúng tôi đặt trụ sở làm việc, mà còn phải nạp đạn sẵn vào những khẩu súng các-bin mà chúng tôi vẫn giữ gìn cẩn thận, đêm nào cũng đật ngay đầu giường ngủ.


Ngày 1 tháng 9, đội lính Nhật Bản canh gác dinh Toàn quyền cũ được thay thế bằng một đội Cảnh vệ Việt Nam. Ngày 2 tháng 9 là một trong những sự kiện quan trọng nhất trong quá trình nắm chính quyền của Chính phủ Cách mạng Việt Minh. Một cuộc mít-tinh khổng lồ trong "Ngày lễ độc lập" được loan báo từ trước, coi như điểm chủ chốt trong hàng loạt sự kiện tiếp theo.


Trên bục gỗ cao dựng lên trong công viên Puginier1 (Sau Cách mạng tháng Tám 1945 đổi tên là Vườn hoa Ba Đình - ND), trước hàng vạn người, một loạt diễn giả đã phát biểu bằng những lời lẽ mạnh mẽ theo các mức độ khác nhau.


Lần lượt, Võ Nguyên Giáp, Trần Huy Liệu rồi Hồ Chí Minh mà ngay hôm đó quần chúng nhân dân được biết đây chính là nhà cách mạng lão thành Nguyễn Ái Quốc, long trọng tuyên bố nền Độc lập của Việt Nam. Hồ Chí Minh có vẻ như mềm dẻo hơn những đồng chí trẻ tuổi của mình, ông đã dùng những từ ngữ có cân nhắc trong bài nói.


Trong bức điện gửi đi Côn Minh, tôi ước tính có vài trăm ngàn người tham dự cuộc mít tinh ngày lễ 2 tháng 9. Thật ra, khó ước lượng được con số chính xác. Nhiều tỉnh đã cử đại diện về dự trong những bộ quần áo màu sắc các địa phương. Nhiều linh mục đạo Gia-tô cũng tới dự, đứng ở vị trí cao. Trật tự trong buổi diễu hành, và nhất là không thấy có những tiếng hò hét phản loạn, thù địch là một trong những biểu hiện rất đáng ghi nhận. Những người diễu hành đi theo đại lộ Brière de l’Isle2 (Nay là đường Hùng Vương) ngay trước cổng dinh Toàn quyền, và chúng tôi không thấy có một cử chỉ thù địch nào hướng về chúng tôi, cũng như về phía dinh là tòa nhà tượng trưng cho chủ quyền của Pháp ở Đông Dương. Phái đoàn đại diện Mỹ cũng có mặt. Hai chiếc máy bay tiêm kích Mỹ Lightning bay lượn rất lâu trên đoàn người dự mít tinh ở độ thấp. Sự kiện này được cơ quan tuyên truyền của chính phủ mới cho rằng đây là biếu hiện sự ủng hộ của Mỹ đối với Việt Minh.


Chúng tôi tiếp tục đánh điện, từng đợt liên lạc với Côn Minh và Calcutta thông báo về những diễn biến và sự phát triển của tình hình. Tuy nhiên, chúng tôi cũng hiểu, do ở xa nên các bạn tôi không thể nào hình dung được như chúng tôi nhìn thấy tận mắt, hoặc chính xác hơn là cảm thấy, để phác họa rõ nét hơn từng ngày.


Đây là một tờ rơi được rải đi rất nhiều trong thành phố, một vài tờ đã vứt qua lớp hàng rào sắt, vào trong sân dinh.

Cảnh báo những người Pháp

Những người An-nam1 (Như mọi người đều biết, ngay sau khi Cách mạng tháng Tám 1945 hoàn toàn thắng lợi, danh từ An-nam, Annamite mà trước kia người Pháp thương dùng để chỉ nước Việt, người Việt đều đã được sửa lại là Vietnamien. Biểu ngữ "Le Vietnam aux Vietnamiens" mà chính Sainteny nhìn thấy từ ngày 22-8-1945 khi đặt chân tới Hà Nội đã chứng minh rõ. Trong tờ rơi mà Sainteny ghi lại trong hồi ký viết là "Annamites", rõ ràng không phải văn bản chính thức. Đây chỉ có thể, hoặc là sáng tác của những phần tử cực đoan quá khích, mạo danh "Ủy ban cứu quốc", hoặc của... chính tác giả Sainteny! - ND) biết tôn trọng tự do và cũng có nền Độc lập của mình.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 13 Tháng Mười, 2021, 05:26:14 pm
Chúng tôi không thù oán các người về những tội ác mà các người đã phạm phải cho đến tận hôm nay trên đất nước chúng tôi. Chúng tôi để cho các người được yên lành cho tới khi xuống tàu về Pháp. Với một điều kiện duy nhất là các người phải biết từ bỏ hết mọi tham vọng, dập tắt hết mưu đồ thống trị như trước. Đã là những kẻ bị thua trong mọi trận chiến đấu thì đừng có làm ra vẻ người chiến thắng. Nếu các người còn được phép ở lại đây, thì hãy xử sự và hành động như những kẻ bại trận.


Những người An-nam không phải là những người nặng oán thù, cũng không muốn rửa thù. Nhưng họ có trí nhớ khá tốt. Họ sẽ không bao giờ tha thứ cho những kẻ mà họ đã làm ngơ nay lại muốn tiếp tục hàng loạt tội ác ở Đông Dương.


Hãy tỏ ra biết điều thì các người sẽ được hưởng sự yên lành và các người cũng phải có bổn phận để chúng tôi yên ổn. Bất cứ một chút hành động nào, một lời nói có dụng ý xấu nào của các người đối với nhân dân Đông Dương sẽ đem lại hậu quả cho các người mà không một ai có thể lường trước được sự trầm trọng.

Ủy ban Cứu quốc.

Những quan hệ giữa chúng tôi với trung úy Nhật Ogoshi cũng ngày càng lạnh nhạt và thưa thớt. Rất hiển nhiên là do tôi chưa có giấy ủy nhiệm để đưa trình Bộ tư lệnh Nhật Bản, và Tokyo cũng chưa bao giờ chỉ thị coi tôi như người cầm đầu một phái đoàn chính thức, càng không coi trọng tôi. Cơ hội vô hi vọng uy hiếp người Nhật Bản bằng cách lợi dụng hiệu quả của việc nước Pháp bất ngờ quay trở lại đây, đã bị tổn hại.


Tôi thảo liên tiếp hết công văn này đến công văn khác, đòi phải bảo vệ các thường dân Pháp và trả lại tự do cho các quân nhân Pháp. Tôi cũng đòi quyền tự do hoạt động cho phái đoàn Pháp tại Hà Nội, do tôi đứng đầu. Chờ vài ngày sau, cũng không nhận được những thư trả lời, dù trì hoãn, mà đáng lẽ phép lịch sự Nhật Bản buộc họ phải gửi tới cho tôi. Ở Côn Minh, Calcutta hoặc Paris, cũng chẳng một ai có vẻ hiểu rằng đây là cơ hội duy nhất để Pháp giành lại ở Đông Dương và cơ hội này chắc chắn không lặp lại nữa. Tôi đề nghị Chính phủ lâm thời Cộng hòa Pháp lợi dụng thời cơ tôi đang giữ một chỗ tại Hà Nội để cử ngay tới đây một đại diện của chính phủ.


Trong điện số 49 Calcutta ngày 31 tháng 8, tôi viết: "Tôi đang trong tình trạng mất khả năng giữ được vị trí hiện tại nếu nhân cơ hội Leclerc đi Tokyo, các ông không có được sự công nhận chính thức và cần kíp rằng tôi là thành viên tiền trạm của Phái đoàn Pháp. Sự thừa nhận này phải được Chính phủ Nhật Bản ở Tokyo gửi cho Bộ tư lệnh quân đội Nhật Bản ở Bắc Kỳ. Nếu không, tôi buộc phải rời khỏi dinh Toàn quyền, là nơi mà, mặc dù bị giam lỏng, vẫn gây ấn tượng mạnh đối với những người An-nam, cản trở Việt Minh, và đem niềm hi vọng và tinh thần can đảm đến cho người Pháp. Tất cả đều thể hiện ở đây, sự có mặt của chủ quyền Pháp.


Tôi xin các ông hiểu cho dịp may đặc biệt mà chúng tôi đang có tại trung tâm cai trị của Pháp ở Đông Dương. Chúng tôi không thể lại để vị trí này bị truất phế. Phái đoàn của tôi phải được chính thức hóa, chứ không được để bất lợi như hiện nay, khiến cho Việt Minh, Nhật Bản và Đồng minh đang vội vã thu lợi về phía họ nhờ có sự thất thế của Pháp.


Vấn đề chức vụ đối với tôi không quan trọng lắm. Nếu các ông thấy tôi không xứng với chức danh đại diện, xin cho biết tôi phải chuyển lại nhiệm vụ này cho ai. Cần phải làm tất cả mọi việc để cho vị trí vừa giành được và đang giữ rất khó khăn không được bỏ rơi".


Ngày 3 tháng 9, những người Mỹ đề nghị tôi đưa cho họ gói thư gửi Côn Minh và Calcutta bởi vì có một chiếc máy bay của họ vừa tới Gia Lâm và sẽ quay trở lại Vân Nam. Bây giờ bạn đọc sẽ bắt đầu được hiểu chúng tôi phải cư xử như thế nào, có nên cho rằng gói thư nói trên, nếu bị thất lạc một cách bí mật, sẽ không thể nào đến được tận tay người nhận. Patti và những người bạn Mỹ cố tạo ra những lời từ chối khéo léo và cũng chẳng cần thật sự làm ra vẻ không dám đảm bảo gói thư này được đưa tới nơi tới chốn.


Vả lại, từ vài ngày nay, Phái đoàn Mỹ tại Hà Nội chẳng cần che giấu sự ác cảm của họ. Lập trường của họ đã bộc lộ rất rõ: bị huyễn hoặc bởi những thành viên khôn khéo trong chính phủ mới của người An-nam, quá tin vào sự cần thiết phải giải phóng những người An-nam khốn khổ khỏi ách thực dân Pháp, hoàn toàn không hiểu về tất cả những vấn đề có liên quan, không chỉ riêng với Đông Dương mà còn cả khu vực Viễn Đông, những người đại diện cho Hoa Kỳ ở Hà Nội đã không cần dè dặt - có lẽ không tự nguyện - chơi cái trò phục vụ cho chủ nghĩa dân tộc của An-nam.


Sau khi Nhật Bản đầu hàng, một số cơ quan của Mỹ đã vụt chuyển sang thái độ thù địch công khai đối với Pháp. Chính vì vậy cho nên, ít lâu sau khi một số sĩ quan Mỹ rời khỏi Phái đoàn Mỹ mang tên Comores, họ cũng chẳng buồn mang đi theo bức điện mà sở Tình báo chiến lược Mỹ (OSS) gửi cho họ, ghi rõ: "Trong bất cứ trường hợp nào cũng không để cho người Pháp thâm nhập Đông Dương"1 (Trong toàn bộ cuốn sách của Sainteny, bức điện nào cũng ghi rõ số và ngày gửi. Riêng bức điện này chỉ nhắc đến rất mơ hồ - ND).


Từ lâu tôi đã tự hỏi, không hiểu sao Sở Tình báo chiến lược Mỹ là cơ quan có rất nhiều người, tại sao lại cử đến Đông Dương toàn nhân viên sơ cấp1 (Sainteny lại nhận định sai. Dù Trưởng phái đoàn quân sự Mỹ tại Đông Dương hồi đó chỉ ở cấp đại úy (sau đó thăng thiếu tá) nhưng đang giữ chức Trưởng ban Đông Dương trong Sở Tình báo chiến lược Mỹ, không thể coi là "nhân viên sơ cấp" được. Hơn nữa, như giấy ủy nhiệm ghi rõ, Patti chỉ đi làm nhiệm vụ "tiền trạm". Người chính thức giữ chức Trưởng phái đoàn là tướng Mỹ Gallager. - ND), không có khả năng nắm vững mặt lợi, mặt hại và những hậu quả không thể lường trước được trong tấn thảm kịch từ tháng 8 đến tháng 9 năm 1945. Ngươi ta nói với tôi rằng, sau đó người Mỹ cũng đã nhận rõ sai lầm của họ. Trong mọi trường hợp, nếu Pháp là nước duy nhất gánh chịu nặng nề những hậu quả đầu tiên, thì chẳng bao lâu nữa, Hoa Kỳ cũng sẽ gánh chịu về phía họ những phản hồi của tấn thảm kịch này, mới đầu đóng khung trên lãnh thổ Đông Dương rồi sau đó là trên lục địa châu Á, chủ yếu trên đất nước Trung Hoa rộng lớn đã bị chia rẽ giữa hai khối lớn trên thế giới đối đầu với nhau.


Năm 1945, người Mỹ chưa hiểu được rằng, với lập trường "chống chủ nghĩa thực dân" họ đã bị rơi vào thế "chống da trắng" và phải chuẩn bị đương đầu với một đối thủ ghê gớm hơn: đó là chủ nghĩa cộng sản châu Á.

Chờ đến khi người Mỹ nhận ra điều này sẽ là quá chậm.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 13 Tháng Mười, 2021, 05:33:53 pm
Không nản lòng, tôi tiếp tục tiếng kêu báo động. Ngày 3 tháng 9 tôi lại điện đi Côn Minh và Calcutta: "Những giờ phút đang trôi đi không thể nào quay lại được. Chúng ta đang bỏ lỡ cơ hội đặc biệt để có mặt tại đây. Tôi nhấn mạnh, chính sách thoái thác này, dù tạm thời, cũng là một sự điên rồ làm lợi cho những kẻ thù của chúng ta. Nhất định, tôi cố bám giữ. Tinh thần của mọi người trong nhóm thật tuyệt vời, đang trợ giúp tôi rất lớn. Nhưng công việc hàng ngày rất khó nhọc, khó kéo dài được". (Allessandri và Pignon ở Côn Minh, Roos ở Calcutta đều hiểu rõ tình thế, khuyên tôi bám giữ chớ nản lòng. Nhưng họ chỉ có thể gửi đến cho tôi những lời động viên).


Ngày 4 tháng 9 đại tá Mỹ Nordlinger thuộc Cơ quan mặt đất cứu trợ các phi công lâm nạn, gọi tắt là AGAS, đến thăm tôi. Ông có nhiệm vụ đáp ứng những nhu cầu của thương binh và tù binh. Nhân vật này, trái ngược hẳn với những người Mỹ đến trước, tỏ ra tận tụy trong nhiệm vụ. Với thái độ và bộ quân phục trên người, ông thu hút nhiều cảm tình và lòng biết ơn của tất cả những ai đã gần gũi ông.


Từ ngày 3 tháng 9, một người trong nhóm chúng tôi là trung úy Missoffe đã có thể ra khỏi dinh. Anh đã đi đến tận khách sạn Métropole rồi từ đó lại đi tới trụ sở chính phủ mới của Việt Nam. Hoàng Minh Giám là một trong những thành viên tích cực nhất của chính phủ mới, đã tiếp Missoffe và khẳng định đã bắt giữ Mesmer và những người cùng đi. Tất cả những gì chúng tôi được thông báo là lời cam đoan họ vẫn còn sống.


Dĩ nhiên sau đó, mối quan hệ liên lạc sẽ được thiết lập giữa Phái đoàn chúng tôi với Chính phủ Cách mạng Việt Minh.

Ngày 5 tháng 9 những bữa ăn cho chúng tôi lại bị cắt. Khẩu phần ăn dã chiến đóng hộp đã hết, chúng tôi đành nhịn đói suốt một ngày. Trong ngày hôm đó, chúng tôi còn bị những người Nhật, người Mỹ và người An-nam phối hợp tiến công liên tiếp. Hết lớp người này đến lớp người khác, tùy theo cách thức riêng xuất phát từ tính cách khác nhau, họ cố buộc chúng tôi phải hiểu rằng chúng tôi đã chiếm dinh Toàn quyền lâu quá. Những người Mỹ và người Nhật Bản hành động như vậy là nhằm lấy lòng người Trung Quốc sắp tới và đã chính thức báo tin trước. Còn những người An-nam cũng muốn đặt trụ sở của chính phủ mới tại tòa lâu đài này, hoặc nếu không được thì cũng trung lập hóa nơi này, không để cho những đại diện của Pháp chiếm lĩnh nữa.


Tiếp theo những cuộc đến thăm trùng hợp kỳ lạ với vụ bỏ đói, thật khó mà nuôi hi vọng sẽ giữ được tòa lâu đài này làm nơi ở lâu hơn nữa.

Trong một loạt bức điện gửi đi Calcutta, tôi đề nghị gửi cho tôi công lệnh chỉ thị cho tôi phải giữ dinh Toàn quyền làm trụ sở cho Phái đoàn Pháp trong khi chờ đợi các đại diện chính thức của nước Pháp sẽ được cử tới. Ngày nào tôi cũng nóng lòng sốt ruột đợi điện trả lời nhưng không bao giờ thấy.


Trong khi đó, tướng Leclerc đang ở Tokyo. Tôi hi vọng ông sẽ có thể can thiệp tại chỗ. Nhưng sau này, khi được gặp Leclerc, ông cho tôi biết hồi đó ông không được biết gì về tình thế của chúng tôi tại Hà Nội.

Ngày 6 tháng 9, Ogoshi lại chính thức đến đòi chúng tôi phải đi ngay. Tôi tiếp tục trì hoãn, viện cớ tôi chỉ rời bỏ "Toà nhà của nước Pháp" nếu có lệnh của chính phủ tôi.

Ngày 7, Ogoshi lại đến, nói với tôi bằng một giọng khiến tôi phải lạnh lùng trả lời: "Bom nguyên tử đã làm cho Pháp hay là Nhật Bản phải xin ngừng bắn?".

Sau đó, tôi từ chối gặp Ogoshi, ngại rằng tình hình và nhiệm vụ có thể đảo ngược tới mức mơ hồ sẽ gây ra một sự cố dẫn đến những hậu quả tai hại.

Để tranh thủ thời gian tôi nói với những người Nhật là tôi sẽ chỉ rời khỏi dinh nếu họ chọn được cho tôi một tòa nhà tiện nghi có thể dùng làm trụ sở cho phái đoàn của tôi.

Cũng mãi đến lúc này, những người Nhật Bản có thẩm quyền mới chịu cấp cho chúng tôi tờ giấy thông hành để cho chúng tôi được tự do đi lại trong nội thành Hà Nội. Như vậy là, một tháng sau sự kiện Hiroshima và Nhật Bản đầu hàng, mười tám ngày sau khi đặt chân tới Hà Nội, những người được nước Pháp cử tới Bắc Kỳ đã buộc phải mang theo giấy thông hành có chữ ký của Nhật Bản bại trận để được tự do đi lại!


Dĩ nhiên, những nhà cửa mà Nhật Bản chọn cho chúng tôi đều không thể tiếp nhận được vì đã bị cướp phá, hư hỏng một phần, trên thực tế không thể nào ở được.

Ngày hôm đó, chúng tôi nghe đài thu thanh được biết sư đoàn thiết giáp số 2 đã được lệnh cử sang Bắc Kỳ. Tiếp đó, chúng tôi nhận được điện của đô đốc d’Argenlieu. Đây là cuộc tiếp xúc đầu tiên giữa trụ sở làm việc của phủ Cao ủy Pháp tại Ghandernagor với chúng tôi. Nước Pháp đã không hoàn toàn quên chúng tôi. Chúng tôi khẳng định như vậy, bởi vì ngày 8 tháng 9 đã có chuyến thư từ nước Pháp gửi qua Côn Minh tới chúng tôi. Thư đã được phân phát cho những người nhận.


Ngày 9 tháng 8 có vài sĩ quan Trung Quốc tới dinh, không một chút do dự, họ chiếm lĩnh ngay các phòng ở. Sự có mặt của chúng tôi có vẻ làm họ bất ngờ và trái ý muốn của họ rất nhiều.

Những viên sĩ quan này muốn gặp tôi. Các sĩ quan của tôi trả lời, tôi đang bận, không tiẽp khách được. Họ từ chối đi xem tòa lâu đài. Như vậy là chúng tôi có thể tranh thủ thời gian được vài giờ, cũng có thể vài ngày, và trong khoảng thời gian đó công lệnh giữ chúng tôi ở lại "Ngôi nhà của nước Pháp" bấy lâu chờ đợi có thể từ Pháp gửi tới chúng tôi.


Tuy nhiên, tối hôm đó tôi nói với những người cùng đi, chắc chắn là phải rời khỏi dinh. Chúng tôi đã tiếp nhận dinh này nguyên vẹn từ tay Nhật Bản, vậy thì nay cũng phải trao lại ý nguyện cho những người mà Hội nghị Potsdam chỉ định đến ở tại đây (bởi vì, ngày càng rõ là không phải người Pháp).


Chính vì lẽ đó, nếu có một người nào tình cờ đến ngôi nhà của Toàn quyền Pháp tại Hà Nội ngày 9 tháng 9 có lẽ sẽ thấy một tá người Pháp do Trưởng phái đoàn đứng đầu, tay cầm chổi và vải lau nhà đang lao động quét dọn. Từ ngày đám bồi bếp rời bỏ chúng tôi, việc lao động này thường diễn ra hàng ngày trong bầu không khí vui vẻ, nhưng ngày hôm nay, một chút tự ái đã biến thành buổi quét dọn nhà cửa "cật lực".

Tôi chán nản điện đi Calcutta:

"Công điện ngày 9 tháng 9: Tôi không thể bám lâu tại dinh Toàn quyền nữa và bắt đầu dọn đi trong ngày hôm nay".


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 13 Tháng Mười, 2021, 05:35:04 pm
Ngày 10, những sĩ quan Trung Quốc lại đến đông hơn và có thái độ hung hăng hơn. Họ đã vấp phải thái độ tương tự của những người cùng đi với tôi. Hai trong số các sĩ quan của tôi còn đi tới chỗ phản kích và đã tới trụ sở của tướng Hinh, chỉ huy đội tiền trạm Trung Quốc này, để giải thích là không có lệnh của cấp trên trực tiếp, tôi không thể rời bỏ "Ngôi nhà của nước Pháp", dù là để nhường lại cho những đại diện của nước Đồng minh vĩ đại của chúng tôi ở châu Á. Vị tướng "con trời" này đã tiếp đón những sĩ quan của chúng tôi theo cách tồi tệ nhất và đã tống cổ họ ra khỏi cửa.


Tình thế của chúng tôi trở thành không đứng vững được nữa. Uất hận tràn ngập trong lòng, chúng tôi đành phải rời bỏ vị trí.

Tôi đã phải chờ mười lăm tháng sau mới được quay trở lại. Đó là ngày 23 tháng 12 năm 1946, tôi bị thương nằm trên cáng, được khiêng trở lại dinh Toàn quyền Pháp ở Hà Nội1 (Lúc này chiến tranh Pháp - Việt đã bùng nổ từ đêm 19 tháng 12 năm 1946).

Ngày 10 tháng 9 năm 1945, tôi điện cho Côn Minh:

"Trung Quốc đã trục xuất tôi khỏi dinh Toàn quyền. Họ có vẻ đã quyết định tự cho mình là chủ, không đếm xỉa gì đến chúng ta. Không còn vấn đề Allessandri hoặc Đoàn đại diện của Pháp quay trở lại nữa, dù đã chính thức loan báo".

Phần sau tôi sẽ viết rõ hơn Allessandri và Pignon đã bị đối xử như thế nào khi tới Ban tham mưu quân đội Trung Quốc để xin vào Hà Nội.

Ngày hôm sau, chúng tôi dọn nhà bằng cách phân chia nhau đến ở tại bất cứ căn hộ nào mà chúng tôi thấy còn vắng chủ trong nội thành Hà Nội. Một biệt thự nhỏ ở đầu phố Bélier1 (Nay là phố Lò Đúc) thuộc phần tôi. Tôi cũng ở đó với Casnat, người lái xe và một lính lê dương tên là Klanek vừa từ trong thành tới được giao nhiệm vụ bảo vệ nhà.


Trong thời gian này, những đội quân Lư Hán tiếp tục chiếm lĩnh Hà Nội một cách chậm chạp. Quần áo rách rưới, thân hình mệt mỏi sau khi trải qua những chặng đường dài để tới vùng châu thổ sông Hồng lụt lội, chỉ bốn hoặc năm người lính mới có được một khẩu súng, đạo quân "nhà trời" trong đội hình vô trật tự không thể tưởng tượng được, đã ập vào Hà Nội còn nguyên lành như một bầy châu chấu ào xuống ruộng lúa.


Sau này chúng tôi được biết, quan tâm đầu tiên của đoàn quân Trung Qưốc khi vào Bắc Kỳ là phá hủy tan tành các công trình phòng ngự của Pháp suốt dọc biên giới tiếp giáp với Trung Quốc.

Quân lính Trung Quốc không chỉ chiếm các trụ sở hành chính hoặc các căn hộ tư nhân của Nhật mà Chính phủ Cách mạng Việt Minh chưa giành được, họ còn xông vào các nhà tư nhân người Pháp với vẻ thô bạo nhà binh, đuổi chủ nhà ra khỏi những căn hộ mà từ sau ngày 9 tháng 3, phải chống chọi khó khăn lắm những người Pháp này mới giữ được. Họ chỉ có đủ vài phút để khóa va-li đi ra khỏi nhà. Những con người khốn khổ này, mỗi ngày một đông thêm, lần lượt kéo tới "Phái đoàn Pháp" để yêu cầu được giúp đỡ và bảo vệ. Đó là thời kỳ khởi đầu một loạt kháng nghị bằng miệng hoặc bằng văn bản mà tôi liên tiếp gửi tới các nhà chức trách Trung Quốc suốt tám tháng.


Tôi cũng không mệt mỏi trong việc cảnh báo Chính phủ Pháp về mối nguy hiểm đang xảy ra ở đây đối với đồng bào chúng tôi trong tay những bạn "Đồng minh" như thế này.

Trong bức điện ngày 13 tháng 9 gửi Calcutta, tôi viết: "Nếu Allessandri chưa đến ngay được thì cần phải chỉ định một người Pháp có thẩm quyền, giới thiệu với các Đồng minh, để khẩn cấp bảo vệ cho đồng bào chúng ta đang bị hết người Nhật, người An-nam rồi bây giờ lại đến người Trung Quốc sỉ nhục, cướp bóc, trục xuất khỏi nhà cửa dưới cặp mắt trung lập và bất động của người Mỹ. Tất cả mọi người đều đang bấu víu vào tôi và đề nghị tôi can thiệp. Tôi đã làm hết sức mình, nhưng đều vô hiệu. Tất cả những kháng nghị gửi tới Chính phủ Cách mạng Việt Minh đều chỉ có một mình tôi phát biểu. Nhưng tôi cũng không biết phải lấy chức vị gì để ghi vào những kháng nghị đó.


Nếu chúng ta đã quyết định tạm thời bỏ rơi xứ Bắc Kỳ, thì cũng không có nghĩa là bỏ rơi những con người của chúng ta và những tài sản của họ. Đồng bào của chúng ta đang có cảm tưởng như vậy.

Không thể nào tin được rằng Paris không hiểu những tiếng kêu báo động mà tôi đã gửi tới các ông từ ba tuần nay vì Chính phủ lâm thời Cộng hòa Pháp lại từ chối trao nhiệm vụ đầy đủ cho một người Pháp nào đó đang có mặt tại Hà Nội, hoặc mạo hiêrn cho một máy bay đưa một nhân vật được tin cậy và được giới thiệu với các Đồng minh để cho người có thẩm quyền này được chống lại một cách chính thức mưu đồ cướp bóc đang diễn ra toàn diện.


Cuối cùng, tôi nhấn mạnh một lần nữa là phải tổ chức ngay, không chậm trễ, việc sơ tán phụ nữ và trẻ em".

Có cần phải thêm vài lời bình luận vào bức điện này hay không? Bức điện đã ghi quá rõ tình hình trong ngày tôi thảo nội dung trên, và những mối đe dọa với những hậu quả trầm trọng vẫn đang kéo theo.

Về phần chúng tôi, chúng tôi đang có những chỗ ở gặp sao dùng vậy trong khu phố Jauréguiberry1 (Còn gọi là phố Hàng Kèn, nay là phố Quang Trung), trong biệt thự dùng làm trụ sở làm việc của viên giám đốc giáo dục cũ, chung quanh có vườn cây lớn. Đây là một trụ sở rất đẹp, nhưng hơi khiêm tốn khi sử dụng để sắp xếp các cơ quan trong phái đoàn do tôi đứng đầu và sau này biến thành trụ sở của ủy viên Cộng hòa Pháp. Chúng tôi chen chúc nhau trong các phòng làm việc. Khách tới thăm và làm việc đôi khi phải đứng chờ ngoài vườn cây.


Chúng tôi bắt tay ngay vào công việc, chẳng chờ đợi và cũng không để ý đến tốp lính canh mà Chính phủ Việt Minh đã bố trí ở ngay lớp rào sắt. Trụ sở mới của chúng tôi còn cắm chốt trong khu Trường kỹ nghệ thực hành lúc đó đang trở thành trung tâm huấn luyện của "lính xung kích" Chính phủ Cách mạng Việt Minh.


Từ những cửa sổ phòng làm việc của tôi, hàng ngày tôi đều nhìn thấy những buổi tập luyện của đám lính học theo chiến thuật tác chiến kiểu Nhật Bản, tức là uy hiếp địch thủ bằng những tiếng thét. Đám thanh niên tập luyện rất chăm chỉ ở khu nhà vây quanh trụ sở làm việc của chúng tôi, mỗi ngày tập luyện nhiều giờ trong khoảng thời gian hơn 6 tháng.


Mười lăm tháng sau, tức ngày 19 tháng 12 năm 1946, cùng với những tiếng hét này, họ đã tiến công người Pháp.

Nếu khung cảnh khá khác thường này làm ngạc nhiên khách đến thăm thì đối với chúng tôi lại rất bình thường. Ngày chủ nhật, khi họ nghỉ tập thì sự im ắng hiếm có này lại gây cho chúng tôi một ấn tượng thiếu vắng một cái gì đó đã quen thuộc.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 17 Tháng Mười, 2021, 08:02:50 am
VIII
VIỆT MINH NẮM CHÍNH QUYỀN


Tôi đặt trong căn hộ khiêm tốn này không chỉ có phòng làm việc của riêng tôi và các cộng sự trực tiếp cùng với ban thư ký, mà cả bộ phận điện đài, giải mã, rất cần trong tình huống này, chúng tôi không thể nào để tách xa được.

Từ ngày 12 tháng 9 năm 1945 chúng tôi đã thử tổ chức tại đây một trụ sở ủy viên Cộng hòa Pháp sẵn sàng đảm nhận mọi nhiệm vụ, mọi trách nhiệm, trước kia do những đại diện của nước Pháp thực hiện từ Bắc vĩ tuyến 16 trở lên.

Nhưng ngày nay, tình hình đã đảo lộn. Chúng tôi đang chìm sâu trong một sự hỗn độn không thể tưởng tượng được, tới mức ngày nào chúng tôi cũng tự hỏi đây là thật hay mơ. Chúng ta hãy thử điểm lại tóm tắt những diễn biến ở xứ Bắc Kỳ và Bắc Đông Dương dẫn đến sự mất trật tự rối rắm khó gỡ này.


Cho tới ngày 9 tháng 3 năm 1945, đô đốc Decoux là Toàn quyền Đông Dương vẫn giữ được trò biểu diễn thăng bằng trong tình thế nguy hiểm ngược đời. Cũng phải nói thêm, đó cũng là nhờ vào ý muốn của Nhật cho tới lúc này vẫn muốn đạt được lợi ích trong việc duy trì trật tự của Pháp ở Đông Dương, vì vậy những người Pháp vẫn giữ được trong tay hệ thống cảnh sát của mình và những lực lượng vũ trang đủ để trung lập hóa hoặc cản phá những phần tử ngỗ nghịch thuộc các đảng phái theo chủ nghĩa dân tộc mà ngay từ khi Pháp mới đặt chân tới đây đã không ngừng chiến đấu chống lại chính quyền Pháp. Những thủ lĩnh các đảng phái này, bị trấn áp dữ dội, đã tìm nơi ẩn náu tại các tỉnh Trung Quốc tiếp giáp với Bắc Kỳ. Từ đó họ tiến hành cẩn thận việc tuyên truyền cách mạng trên lãnh thổ Đông Dương. Trước kia những đảng phái này thường chống đối lẫn nhau, nhưng cuối cùng, những nhà cách mạng lão thành đã thành lập, dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh một mặt trận gọi là Việt Nam Độc lập Đồng minh, sau một hội nghị hiệp thương kéo dài tại Liễu Châu, thuộc tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Sự hợp nhất các chính đảng cách mạng này chỉ thực hiện được với những khó khăn cực kỳ to lớn. Trên thực tế, mỗi nhà dân tộc chủ nghĩa đều giữ đặc tính riêng.


Bỏ mặc các thành viên những đảng phái thân và phục tùng chính quyền Quốc dân đảng Trung Quốc ở lại đất Trung Hoa của các quan thầy, những phần tử tích cực nhất trong hàng ngũ Việt Minh phần lớn là đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương cũ, đã nhanh chóng thâm nhập vào Bắc Kỳ. Trước hết, họ kiểm soát được nhiều vùng ở Cao Bằng rồi chẳng bao lâu đã yên vị tại khu vực Thái Nguyên, xây dựng được những lãnh địa độc lập trong đó nổi bật lên nhanh chóng những cán bộ tương lai của Chính phủ Cách mạng Việt Minh.


Đến ngày 9 tháng 3 năm 1945 khi Nhật Bản bất ngờ lật đổ toàn bộ cơ đồ của Pháp ở Đông Dương, Việt Minh đã cắm chân vững chắc trong những vùng Cao Bằng và Thái Nguyên. Các lãnh tụ Việt Minh khôn khéo tuyên bố chống lại mọi kẻ thù chiếm đóng Việt Nam, đã dễ dàng trở thành những người "kháng chiến". Trên thực tế, các đội vũ trang Việt Minh đã mở những cuộc tiến công nhằm chiếm vũ khí, đạn dược, lương thực và qua những đợt vũ trang tuyên truyền đã gây được ấn tượng dễ dàng lan rộng đến tận vùng đồng bằng góp phần tuyên truyền cho huyền thoại Việt Minh.


Thái độ của các "chiến sĩ du kích" chẳng bao lâu đã thu hút sự chú ý của các cơ quan tình báo Đồng minh và nhất là các cơ quan tình báo Mỹ đang muốn thành lập các đội vũ trang người bản xứ chống lại quân đội chiếm đóng. Không cần quan tâm đẽn mục đích thật sự của Việt Minh, những người Mỹ vẫn chú ý tới họ và bắt đầu giúp đỡ họ. Cùng trong lúc đó, người Mỹ đã bỏ rơi các đơn vị chính quy của Pháp đang bị quân đội Nhật Bản đánh đuổi sau ngày đảo chính.


Lực lượng kháng chiến của Việt Minh bao gồm rất đông người. Mục đích mà họ tuyên bố là tiêu diệt lực lượng chiếm đóng, tức là Nhật Bản. Nhưng, cùng trong lúc đó, việc loại bỏ người Pháp và thủ tiêu những quyền lợi mà Pháp còn duy trì được vẫn là mối quan tâm nổi trội của các chiến sĩ du kích. Tinh thần của họ đã được tóm tắt rõ ràng trong tờ rơi mà Việt Minh rải rất nhiều ở Móng Cái, hồi tháng 3 năm 1945. Những tờ truyền đơn này có ghi: "Nhật và Pháp đều phải bị tiêu diệt. Nhưng Nhật Bản rồi sẽ bị Đồng minh đánh bại. Vi vậy, hiện nay phải đánh Pháp đang trong tình thế khó khăn"1 (Một lần nữa Sainteny lại tiếp tục xuyên tạc. Bởi vì, sau khi Nhật Bản đảo chính, ngày 12-3-1945 Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản ta đã ban hành chỉ thị "Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta", rút khẩu hiệu "đánh đuổi Nhật, Pháp", thay bằng khẩu hiệu tập trung đánh đuổi Nhật Bản là kẻ thù duy nhất đang chiếm đóng Việt Nam. Hơn nữa, từ cuối năm 1944, Đảng đã bắt liên lạc với lực lượng bí mật của De Gaulle ở Đông Dương, đề nghị cùng phối hợp chống Nhật nhưng chính cái gọi là "lực lượng kháng chiến" này của Pháp đã không dám thực hiện, để cuối cùng bị Nhật hoàn toán tiêu diệt - ND).


Những đội du kích này, khi được Mỹ "tiếp xúc" đã tuyên bố sẵn sàng góp phần vào cuộc đấu tranh chống Nhật Bản, vì vậy đã nhận được cảm tình và sự ủng hộ của OSS, tức Sở Tình báo chiến lược Mỹ. Sở này đã cho nhảy dù xuống chiến khu những sĩ quan liên lạc, huấn luyện viên quân sự Mỹ và thả dù vũ khí, thiết bị tiếp tế cho Việt Minh.


Một chiến công trong hành động chống Pháp của Việt Minh là tiêu diệt một đồn binh nhỏ yếu của Nhật ở Tam Đảo, sau khi đã bị Việt Minh vây hãm dài ngày.


Những sĩ quan Pháp sau đó nhảy dù xuống vùng Thượng du, như trung úy Montfort, chuẩn úy Duléry, ngày 16 tháng 7 năm 1945, xác nhận ấn tượng của người Mỹ đối với tinh thần "kháng chiến" của Việt Minh cùng với cảm tình của các chiến sĩ du kích người bản xứ. Những tình cảm này phải chăng nhằm để phục vụ cho những nhu cầu hoặc cho sự nghiệp của họ. Có lẽ cả hai. Chúng tôi cũng có những cuộc tiếp xúc với các thành phần Việt Minh đóng quân tại vùng Cao Bằng, nhờ phái đoàn "Picardie" do tiểu đoàn trưởng Revol đứng đầu. Phó của Revol là trung úy Tersac (đã bị mất tích hồi tháng 8 năm 1945) và trung úy Bougier đã đẩy sâu những cuộc hành trình do thám vào Quân khu 2 cũ của Pháp và đã được Việt Minh là người chủ tuyệt đối trong khu vực này, tiếp đón rất nhiệt tình và sẵn sàng giúp đỡ.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 17 Tháng Mười, 2021, 08:05:26 am
Phải công nhận rằng, hoặc do chiến thuật chính trị hoặc do đánh giá đúng đắn về các thứ tự ưu tiên, những người lãnh đạo Việt Minh đã biết đưa những mục đích chính trị xuống hàng thứ hai, để lấy lòng Đồng minh và nhận được của Mỹ sự tin cậy và sự giúp đỡ vật chất.


Cũng ít cần phải tranh cãi về việc, lúc đầu Việt Minh tỏ ra dè dặt trong những khát vọng của họ rồi sau đó trước tình hình dồn dập diễn biến tạo nhiều thời cơ thuận lợi, họ mới thể hiện dần mục đích.

Thật vậy, tại xứ Bắc Kỳ chỉ bốn mươi tám giờ sau khi Nhật Bản tiến hành đảo chính, các lực lượng vũ trang của Pháp đã bị tiêu diệt, bị vô hiệu hóa hoặc bị đẩy ra khỏi vùng đồng bằng.

Chúng ta biết, các lực lượng này đã phải thực hiện rút quân trong những điều kiện như thế nào. Quân đội Pháp hoàn toàn trở thành bất lực, trên thực tế khi rút sang Trung Quốc đã bị nhốt trong doanh trại. Cho mãi tới ngày 25 tháng 2 năm 1946 khi ký Hiệp định Hoa - Pháp tại Trùng Khánh và ngày 6 tháng 3 năm 1946 khi ký Hiệp định Sơ bộ Việt - Pháp tại Hà Nội mới được phép trở về, gia nhập các đội quân của tướng Leclerc làm nhiệm vụ thay thế quân đội Trung Quốc chiếm đóng. Những đơn vị này đã tới Đông Dương quá muộn để có thể tạo ra một sức nặng nào đó trong những diễn biến thiết yếu tiếp theo.


Từ sau ngày 9 tháng 3 năm 1945, quân đội Nhật Bản trong tư thế làm chủ đã mưu toan triệt phá toàn bộ cấu trúc cai trị mà Pháp đã xây dựng từ năm 1862 trên lãnh thổ Đông Dương. Chỉ trong vài ngày, các quan chức dân sự người Pháp đểu bị bắt giam hoặc loại khỏi các chức vụ mà họ cố giữ, mong mỏi kéo dài cho tới khi Đông Dương được hoàn toàn giải phóng.


Ngày 11 tháng 3 năm 1945, Hoàng đế An-nam tuyên bố độc lập cho đất nước mình và bằng một sự tuyên truyền khôn khéo đã gây cảm tưởng là cả xứ Bắc Kỳ lẫn Nam Kỳ đều đặt dưới sự cai quản trực tiếp của Nhà vua.

Cũng trong ngày hôm đó, Bảo Đại ban hành đạo dụ số một, mở đầu cho một loạt văn kiện tiẽp theo, tuyên bố bãi bỏ mọi hiệp ước đã ký với Pháp. Chính phủ Phạm Quỳnh được thay bằng Chính phủ Trần Trọng Kim gồm những thành viên là những người của cả ba "Kỳ". Những người này đều được đào tạo bởi nền văn hóa Pháp, hai trong số họ là công dân mang Quốc tịch Pháp. Họ được đảm nhiệm công việc hành chính cai trị hoặc các chức vụ tự do. Phan Kế Toại được cử làm khâm sai đại diện cho Nhà vua tại Bắc Kỳ và lập tức thể hiện thái độ chống Pháp. Nhà nước An-nam đổi tên là Việt Nam, có Quốc kỳ, Quốc ca riêng. Tất cả những gì còn lại của chính quyền Pháp đều bị loại bỏ bằng hàng trăm đạo dụ. Tất cả những gì gợi đến sự có mặt của Pháp đều bị loại trừ. Các đường phố và đại lộ ở Hà Nội đều được đặt tên mới bằng tiếng Việt. Những đài tưởng niệm, trong đó có Đài tử sĩ tưởng nhớ sự hi sinh chung của các chiến sĩ người Pháp và người An-nam tử trận vì nước Pháp trong cuộc chiến tranh 1914 - 1918, tất cả những pho tượng ghi nhớ công lao của những nhà truyền giáo, bình định và thực dân Pháp đều bị lật đổ.


Từ trong bóng tối, Bộ tư lệnh quân đội Nhật Bản quan sát, theo dõi tình hình đang phát triển theo kế hoạch của Nhật Bản. Những người An-nam được Nhật Bản cổ vũ, đã nắm lấy cơ hội đặc biệt này để được độc lập. Đối với số đông các thành viên chính phủ nếu không nói là tất cả, họ không cần biết Việt Nam được độc lập là nhờ có Nhật Bản, vì Nhật Bản đang bị Đồng minh đánh bại đến nơi rồi. Họ đang dựa vào Mỹ để loại Nhật khỏi Đông Dương, như Nhật Bản đã vừa mới loại bở Pháp.


Sự thiếu vắng một phản ứng cùa Pháp đã dẫn những người An-nam đến việc có thái độ dứt khoát thù địch đối với Pháp. Báo chí, nhất định là được Nhật Bản dung túng và cổ vũ, tràn đầy những bài căm ghét, chống Pháp. Nhiều người Pháp bị ám sát, nhà cửa của họ bị tuần tự phá bởi những thanh niên theo chủ nghĩa dân tộc. Những việc khám xét bắt giữ không đếm xuể nữa, và những cuộc biểu tình chống những đồng bào của chúng tôi nối tiếp không ngừng.


Tuy nhiên, chẳng bao lâu nữa Chính phủ Trần Trọng Kim cũng bị gạt bỏ. Điểm duy nhất trong cương lĩnh của chính phủ này được hoàn thành có kết quả là sự truy lùng, hãm hại, và loại bỏ những người Pháp.

Trong các giới An-nam, những tình cảm bất bình bắt đầu xuất hiện trong số những công chức người Việt, là những người đầu tiên chịu ảnh hưởng bởi sự tuyên truyền của Việt Minh. Những nhóm của chính đảng bí mật đã tạo được vầng hào quang là những người kháng chiến chống lại mọi kẻ thù chiếm đóng, tiến hành mưu đồ quét sạch những lực lượng chống đối lại các cơ sở thiết yếu, như cơ quan cảnh sát. Tiếp theo đó, vài bộ trưởng trong Chính phủ Trần Trọng Kim cũng theo Việt Minh. Ngày 7 tháng 8, Chính phủ Trần Trọng Kim, bị đẩy vào bước đường cùng tới mức phá sản, tuyên bố từ chức.


Ngày 15 tháng 8, đến lượt Nhật Bản đầu hàng. Bắc Kỳ và miền Bắc Trung Kỳ rơi vào tình trạng vô chính phủ hoàn toàn. Những cố gắng "hàn gắn lại" đều bị thất bại. Những cuộc biểu tình gây ấn tượng lớn, như những cuộc biểu tình đòi bãi bỏ chính thức và vĩnh viễn chủ quyền Pháp ở Đông Dương, những bức thư Bảo Đại gửi nhân dân Pháp và tướng De Gaulle thật sự là những tôi hậu thư, được gửi đi tới tấp.


Ngày 20 tháng 8 năm 1945 Bảo Đại lại ra một tuyên bố mới, khẳng định nền độc lập của Việt Nam, lần này gửi tới Tổng thống Mỹ Truman, Quốc vương Anh, Thống chế Tưởng Giới Thạch và tướng De Gaulle. Thư gửi Pháp của Bảo Đại viết:

"Tôi gửi tới nhân dân nước Pháp, là đất nước thời niên thiếu của tôi. Tôi cũng gửi lời tới người đứng đầu và cũng là người giải phóng nước Pháp, mà tôi muốn nói chuyện với tư cách một người bạn, chứ không phải là một Nguyên thủ Quốc gia".

Các bạn đã quá đau khổ trong suốt bốn năm tang tóc để không hiểu rằng nhân dân An-nam đã có 20 thế kỷ lịch sử và một quá khứ vinh quang, không muốn, không thể chịu đựng bất cứ một sự đô hộ nào, bất cứ một sự cai trị ngoại bang nào nữa.

Các bạn có thể sẽ hiểu rõ hơn, nếu các bạn được nhìn thấy những gì đang diễn ra ở đây, nếu các bạn có thể cảm nhận thấy ý chí giành độc lập đang tràn ngập tất cả mọi con tim và không thể một sức mạnh nào của loài người có thể đè nén được. Dù cho các bạn có thể khôi phục lại nền cai trị của Pháp ở đây thì cũng không được tuân theo: mỗi làng xóm sẽ trở thành một ổ kháng chiến, mỗi người trước kia cộng tác với Pháp nay sẽ trở thành địch thủ của Pháp và các công chức của Pháp, các thực dân của Pháp sẽ phải xin ra khỏi bầu không khí không thể thở được này.

Tôi xin các bạn hiểu rằng, cách duy nhất để cứu vãn các lợi ích của Pháp và ảnh hưởng trí tuệ của nước Pháp ở Đông Dương là thẳng thắn công nhận nền độc lập của Việt Nam và từ bỏ mọi ý định khôi phục lại chủ quyền hoặc một nền cai trị của Pháp dưới bất cứ một hình thức nào.

Chúng ta có thể hiểu nhau dễ dàng và trở thành những người bạn của nhau, nếu các bạn ngừng ý định trở lại như những người chủ của chúng tôi.

Trong khi kêu gọi lý tưởng nổi tiếng của nhân dân Pháp và sự khôn ngoan cao cả của người đứng đầu nước Pháp, chúng tôi hi vọng nền hòa bình và niềm vui đang đến với tất cả nhân dân thế giới cũng sẽ được đảm bảo đối với tất cả mọi người dân, mọi sắc tộc và mọi người nước ngoài đang sinh sống tại Đông Dương.

Bảo Đại"


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 17 Tháng Mười, 2021, 08:07:27 am
Chính giữa lúc đó, lợi dụng tình hình hỗn loạn đang tràn khắp, Việt Minh đã từ trong bóng tối nhảy ra đột ngột mở cuộc tiến công1 (Sainteny đã tỏ ra hoàn toàn không hiểu biết gì về lịch sử phong trào Việt Minh, từ khi thành lập năm 1941 đã tiến hành nhiều hình thức đấu tranh, cuối 1944 đã thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân... - ND).


Ngày 17 tháng 8 trong cuộc biểu tình do "ủy viên các viên chức" tổ chức tại Nhà hát lớn, một diễn giả đã bị gạt khỏi chỗ đứng, thay bằng một người của Việt Minh, đây cũng là lần đầu tiên xuất hiện chính thức lá cờ đỏ có ngôi sao vàng (mà một số nhân chứng quả quyết nhìn thấy được mang tới từ Sở Cảnh sát Nhật Bản)2 (Bịa chuyện lá cờ đỏ sao vàng là sản phẩm của Nhật Bản, quả là Sainteny đã liều lĩnh một cách quá ngớ ngẩn - ND). Lá cờ này thay thế vĩnh viễn biểu tượng màu vàng của nhà vua một cách cực kỳ nhanh chóng.


Ngày 18 quan khâm sai đại thần ở Bắc Kỳ tự nguyện từ chức, nhường quyền cho Ủy ban điều hành chính trị.

Ngày 19, các "tổ xung kích" của Việt Minh chiếm lĩnh tất cả các công sở mà không cần phải tiến đánh khó khăn. Được sự thỏa thuận của Nhật Bản, các tiểu tổ này đã chiếm trại lính cảnh vệ Đông Dương. Các vũ khí trong kho trung ương được Nhật Bản phân phối thoải mái cho các đội xung kích Việt Minh. (Đây là những vũ khí mà Nhật Bản tịch thu của Pháp ngày 9 tháng 3 và những ngày tiếp theo)1 (Trên đây đều là những lời cố tinh bịa đặt và xuyên tạc như Saintenỵ vẫn thường viết trong sách - ND).


Từ trưa ngày 20 tháng 8, tất cả Bắc Kỳ đã nằm trong tay các "Ủy ban nhân dân cách mạng". Trong đêm 19 rạng ngày 20 tháng 8, đám đông bắt đầu một loạt cuộc biểu tình chống Pháp. Những tiếng hò hét, trút xuống những người Pháp ở Bắc Kỳ. Họ đã bị đánh đập, sỉ nhục ngay giữa đường phố, những người ở trong nhà cũng bị tiến công, những vụ lục soát không đếm xuể đã dẫn đến việc bắt giam hàng trăm người Pháp. Những âm mưu đầu độc bằng thảo dược cũng được tiến hành liên tiếp. Khoảng mười lăm người chết, nhiều người bị thương; đó là con số thống kê sau mấy ngày kinh hoàng đó. Lần này một cuộc tổng thảm sát đe dọa đồng bào chúng tôi và không hiểu nhờ một sự thần kỳ nào đó, họ đã thoát được2 (Trên đây đều là những lời cố tinh bịa đặt và xuyên tạc như Saintenỵ vẫn thường viết trong sách - ND).


Hoàng đế Bảo Đại khi biết tin này đã quyết định chơi "trò chơi dân chủ" nhường chính quyền cho Việt Minh. Nhưng Việt Minh không cần nghe theo. Họ đã làm chủ, đã nắm được chính quyền tuyệt đối nhờ sự khôn khéo và năng động của các lãnh tụ.


Ngày 21 tháng 8, Việt Minh buộc Bảo Đại phải thoái vị. Chiếu thoái vị ký ngày 25. Đức vua Bảo Đại, Hoàng đế An-nam trở thành Hoàng thân công dân Vĩnh Thụy, cố vấn tối cao của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ngày 29 tháng 8, trong một tuyên bố gửi đi "toàn thế giới", Bảo Đại viết: "Từ nay, trẫm rất sung sướng được là công dân tự do của một nước độc lập".

Nhiều người An-nam mãi đến ngày 2 tháng 9, nhân lễ Độc lập mới được biết, ông chủ mới của nước Việt Nam không phải ai khác mà chính là nhân vật đấu tranh lão thành Nguyễn Ái Quốc, nay xuất hiện dưới cái tên Hồ Chí Minh, vừa mới tới Hà Nội...


Cuối tháng 9, những diễn biến tình hình đã đi tới bước ngoặt ngày càng đáng lo ngại. Tướng Allessandri là đại biểu quân sự ở Bắc Đông Dương, cố vấn chính trị Léon Pignon và cả tôi nữa đều cho rằng đô đốc d’Argenlieu vừa tới Chandernagor vài ngày trước, cần phải được một người nào đó am hiểu vấn đề dưới mọi khía cạnh tình hình thực tế mới nhất, thông báo cho biết về tình hình Bắc Kỳ.


Để Cao ủy nắm được tình hình bi kịch này, tôi quyết định ngày 25 tháng 9 lên đường, trước hết đến Côn Minh, là nơi tôi cần giải quyết nhiều vấn đề có liên quan đến việc giải tán Phái đoàn 5 hiện nay đã trở thành vô dụng. Ở đó tôi gặp đại tá Roos, trao đổi nhiều câu chuyện và ông cũng tán thành việc tôi đi Chandernagor gặp Cao ủy là cần thiết.


Ngày 1 tháng 10 tôi tới trình diện, đô đốc Thierry d'Argenlieu đang ở trong dinh Toàn quyền Pháp tại Chandernagor cùng với các cơ quan dự định sẽ cấu thành Phủ Cao ủy Pháp.

Đô đốc là một người tầm vóc trung bình, mảnh dẻ, đang hướng tất cả con người ông, tâm trí ông vào nhiệm vụ được trao mà nhất định ông thấy rõ tầm quan trọng, nhưng không thể và cũng chưa lường được hết qui mô và những khó khăn.

Đô đốc có một giọng nói rất trau chuốt, ông chú ý theo dõi những lời giải thích của tôi về tình hình xứ Bắc Kỳ trong giờ phút chúng tôi cùng nói chuyện với nhau. Lời nói của ông thể hiện ý muốn tìm hiểu và cả ý chí không gì lay chuyển nổi và không bao giờ rời bỏ ông, tức là duy trì sự có mặt và tầm vĩ đại của Pháp trong những lãnh thổ mà chính phủ vừa mới trao cho ông chịu trách nhiệm.


Đô đốc giữ tôi ở lại ăn cơm trưa cùng với ông. Sau đó, trong buổi nói chuyện kéo dài tới buổi chiều, ông ngỏ ý muốn biết những ý định cá nhân của riêng tôi. Tôi thưa với ông, tôi coi phái đoàn của tôi đã kết thúc nhiệm vụ. Là người đi tiền trạm chuẩn bị cho các đại diện của Pháp tới Bắc Đông Dương, tôi chỉ còn một việc trước khi các đại diện này đến, đó là giải tán Phái đoàn 5 rồi trở về Pháp, nơi tôi đã vắng mặt từ lâu. Tôi là một sĩ quan hậu bị, chiến tranh đã kết thúc, tôi muốn quay trở về tiếp tục giải quyết những công việc cá nhân bỏ dở dang từ năm 1939, càng nhanh càng tốt.


Nhưng Cao ủy không giải quyết vấn đề theo cách đó. Ông đề nghị tôi quay trở lại với công tác cũ. Tức là đi Hà Nội, đón đầu đoàn đại diện của ông, với tư cách là Ủy viên Cộng hòa Pháp tại Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ thay nhà cai trị Mesmer đã bị Việt Minh bắt giữ. Tôi cám ơn đô đốc d’Argenlieu về sự tín nhiệm cao đối với tôi, nhưng nhắc lại ý kiến xin được trở về Pháp, vả lại, tôi tự xét thấy không đủ khả năng đảm đương những chức vụ nặng nề như đô đốc vừa dự định trao cho tôi. Đô đốc vẫn nài ép. Tôi xin ông hai mươi bốn giờ suy nghĩ.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 17 Tháng Mười, 2021, 08:08:45 am
Từ biệt Cao ủy, tôi bước vào phòng làm việc của Chánh văn phòng của ông. Có một người đang ngồi quay lưng ra cửa. Vừa thoáng thấy tôi, người này vụt đứng phắt dậy, nhìn thẳng vào mặt tôi bằng cặp mắt sắc. Đó là tướng Leclerc. Đây là lần đầu tiên, tôi đứng trước mặt người chỉ huy sư đoàn thiết giáp số 2 nổi tiếng.

- Ồ! Sainteny đây rồi! Tôi rất vui được biết anh. Nhưng hình như anh đang có ý định bỏ cuộc, bỏ rơi chúng tôi giữa chiến trận? Điều đó thật chẳng giống chút nào những gì người ta nói với tôi về anh.

Rất thân tình, với vẻ thẳng thắn pha đôi chút thô bạo vốn là bản tính của ông, Leclerc nài tôi quay trở lại Hà Nội với chức vụ Ủy viên Cộng hòa. Ông quả là một chỉ huy biết lôi kéo quân lính, có năng khiếu biết phát biểu những lời cần phải nói đúng lúc.


Chúng tôi nói chuyện với nhau ít lâu về tình hình Đông Dương, rồi ngay tối hôm đó tôi về Calcutta, hoang mang dao động cao độ.

Trong buổi tối hôm đó, tôi nói chuyện, rất lâu với một người bạn là Jean Laurent, tổng giám đốc Ngân hàng Đông Dương, được coi là "người Đông Dương kỳ cựu". Ông vừa từ Pháp đến cho nên biết rõ tình hình nước Pháp. Ông cũng biết tin về cuộc cách mạng đang đảo lộn tình hình Đông Dương, ông là người bạn rất tin cậy của tôi, cho nên tôi đánh giá cao quan điểm của ông về thời cuộc. Tôi cho ông biết, tôi đang hoang mang bối rối. ông tỏ ra tán thành yêu cầu của đô đốc d’Argenlieu và nói, bổn phận, của tôi là không được lẩn trốn trách nhiệm. Tình hình kinh tế Pháp không được sáng sủa. Tôi đã không làm việc tại ngân hàng từ 5 năm nay rồi, nghỉ thêm vài tháng nữa cũng chẳng sao. Vả lại, nêu tình cờ guồng lái đã đặt vào tay tôi từ ba tháng trước ở Hà Nội, ông cho rằng tôi phải giữ lấy tay lai đó một thời gian nữa.


Nhưng lời biện luận của ông đã dẫn tôi đến quyết định.

Ngày hôm sau tôi đi Chandernagor. Tại đây đô đốc đã chính thức bổ nhiệm tôi làm Ủy viên Cộng hòa Pháp tại Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ và nói sẽ cử một đoàn đại diện theo tôi công tác tại Hà Nội.

Ngày 5 thậng 10, tôi rời Calcutta trên một máy bay Dakota của Pháp, dừng cánh tại Côn Minh để giải quyết xong việc giải thể Phái đoàn 5, rồi lại bay đi Hà Nội. Cùng bay theo tôi có vài công sự viên, nhiều quan chức cai trị các xứ thuộc địa do Léon Pignon tuyển chọn và vài sĩ quan. Như vậy là, ngồi trên chuyến bay này có các ông Pinier và Deville, các trung tá hải quân Blanchard và Sanguinetti, đại úy Borel, các trung úy Sauvagnac, Blanchouin, Arnoule, bà Pétris là thư ký của tôi, Bobby là người gốc Ai-len, một nhân viên Phái đoàn 5 đã giúp việc tôi như một đồng đội trung thành cho tới khi tôi trở về Pháp. Trên máy bay còn chở theo vật dụng và các thuốc men khẩn cấp cho người Pháp tại Hà Nội.


Đến 10 giờ, máy bay hạ cánh xuống Gia Lâm, có các bạn tôi và... cả bạn Đồng minh Trung Hoa chờ đón. Trong ngày hôm đó, chúng tôi đã phải chịu tuân theo những thủ tục khai báo đối với tất cả các chuyến bay của Pháp đến Hà Nội. Những thủ tục này rất nhiều. Đây mới chỉ là bước mở đầu cho một loạt đòi hỏi không thể tưởng tượng nổi tiếp theo mà nếu kể lại thì phải nhiều tập sách mới hết. Chiếc máy bay của chúng tôi bị hai chục tên Lính Trung Quốc cầm tiểu liên trong tay, vây chặt. Chúng tôi bị canh chừng suốt bẩy giờ trên sân bay. Mọi người phải tập trung ngay trên đường băng xi măng và bị cấm ngặt không được đến gần máy bay dù để núp dưới đôi cánh để có chút bóng mát. Tôi đã được các bạn Đồng minh ở Bắc Kỳ đón tiếp như vậy trong khi theo các giấy ủy nhiệm trong túi thì tôi nhân danh nước Pháp.


Các hành lý của chúng tôi bị lục soát rất kỹ, tất cả vũ khí đều bị tịch thu, kể cả vũ khí trang bị đúng qui ước cho chiếc máy bay Dakota. Chúng tôi được thông báo, từ nay về sau, bất kể người Pháp nào, dù là dân sự hay quân nhân, dù cấp bậc như thế nào cũng bị tước hết vũ khí khi đặt chân tới Bắc Kỳ hoặc từ Bắc vĩ tuyến 16 trở lên.


Tôi không bao giờ được biết biện pháp thủ tục đó mà tôi đã nhiều lần kháng nghị ở Hà Nội, ờ Sài Gòn, ở Trùng Khánh, ỏ Paris là sản phẩm của sáng kiến cá nhân những nhà chức trách Trung Quốc ở Bắc Kỳ, hay là đã được quyết định với sự đồng ý hoàn toàn của Chính phủ Trung ương Trùng Khánh và các nhà chức trách Đồng minh. Hôm đó, cũng phải trải qua những cuộc tranh luận rất lâu giữa viên tướng Trung Hoa và đại tá Mỹ Nordlinger, chúng tôi mới được đi vào Hà Nội.


Những trò bắt nạt này chỉ chấm dứt sau khi ký Hiệp định Sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 23 Tháng Mười, 2021, 08:05:40 am
IX
NÚI LỬA BẮC KỲ


Tôi bắt tay ngay vào công việc, với ý định dứt khoát không từ bỏ một cơ hội nào để giành lại giá trị những quyền chính đáng của nước Pháp trên lãnh thổ rộng lớn được đặt dưới quyền lực của mình.

Cơ quan Ủy viên Cộng hòa tại Bắc Đông Dương không chỉ gồm có xứ Bắc Kỳ và các vùng dân tộc thiểu số mà cả Trung Kỳ tính đến vĩ tuyến 16 chia thành hai phần đều nhau, cách Đà Nẳng 16 kilômét về phía Nam. Toàn khu vực rộng hơn 200.000 kilômét vuông, có mười lăm triệu người bản xứ, hơn hai mươi nghìn người Hoa và gần ba mươi nghìn người Pháp, trong đó có hai mươi nghìn người đã bị Nhật bắt tập trung tại Hà Nội từ ngày 9 tháng 3 năm 1945. Số người Pháp còn lại sống tại các trung tâm dân cư chính như Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Vinh, Hồng Gai, Nam Định, Thanh Hóa. Vài người, chiếm số rất ít, sống biệt lập tại những khu vực nhỏ bé hơn hoặc ở trong các xí nghiệp mỏ, đồn điền.


Mặc dù trên lý thuyết Lào không đặt dưới chức trách của tôi, nhưng tôi cũng vẫn phải "trả lời" trước Bộ tư lệnh quân đội Trung Quốc tại Hà Nội là cơ quan chỉ huy toàn bộ miền Bắc Đông Dương và từ đó "trùm lên" Bắc Lào là khu vực có một triệu người bản xứ.


Bên cạnh số dân trên lãnh thố này, còn phải tính thêm một trăm tám mươi ngàn quân Trung Quốc trong đội quân chiếm đóng và khoảng ba mươi ngàn lính Nhật Bản tập trung tại Hồng Gai đang được giải giáp chờ hồi hương. Sẽ sung sướng nếu hồi đó tôi không có thời giờ để kiểm kê các phương tiện giúp tôi tiến hành nhiệm vụ được giao. Có lẽ nếu được biết thì tôi sẽ nản lòng, mà một số người đã nghĩ rằng tôi sẽ thua trước trong ván bài này.


Như tôi vừa mới trình bày, quyền lực của cơ quan Ủy viên Cộng hòa Pháp trải rộng trên lãnh thổ lớn bằng một nửa diện tích nước Pháp, những phương tiện làm việc của tôi chỉ có... những trang giấy, mà chính xác hơn nữa, toàn là giấy của Pháp. Trong những thời gian đầu, liên hệ giữa chúng tôi với các cơ sở tại những thành phố lớn, ví dụ như Hải Phòng, Vinh, Huế đều phải tiến hành bí mật. Chúng tôi phải vận chuyển các điện đài thông tin vô tuyến thận trọng như xưa kia đã tiến hành ở Pháp dưới sự chiếm đóng của phát xít. Thời kỳ đầu, liên lạc bằng đường bộ hầu như không có. Các tuyến đường giao thông đều bị cắt hoặc bị các ủy ban cách mạng kiểm soát. Những người Pháp muốn mạo hiểm phải lá những người dũng cảm, nhiều người đã may mắn thoát khỏi bị tù hoặc bị chết.


Ngay trong nội thành Hà Nội, tình thế cũng chẳng có gì phấn khởi hơn. Các quân nhân Pháp vẫn luôn luôn bị giam giữ trong thành, điều trị rất chậm các vết thương và bệnh tật, bị ốm yếu đến kiệt sức và bị tước hết vũ khí, họ không thể liều đi ra phố trong bộ quân phục mà không bị đánh đập, chửi mắng. Dù là quan chức dân sự hay quân sự, tất cả những người Pháp từ Trung Quốc, Pháp, Sài Gòn đến Hà Nội đều bị quân đội Trung Quốc tịch thu vũ khí, không có gì để tự bảo vệ trước những kẻ quá khích.


Hiển nhiên, những vũ khí độc nhất còn lại trong tay tôi chỉ là những cuộc vận động hoặc những lời phản kháng chính thức hoặc với tư cách cá nhân, để tôi thực hiện được quyết tâm "giữ vững" với niềm tin chắc chắn là nước Pháp sẽ không bỏ cuộc.


Trong những ngày đầu, chúng tôi biểu lộ sự đảm bảo đáng tin cậy nhất vào các quyền hợp pháp của Pháp. Tôi có thể khẳng định rằng, chúng tôi đã nhận được niềm tin từ đại đa số người Pháp ở đây và toàn bộ các nhân viên cộng sự của tôi, đã vượt qua được trong vài tháng, thời điểm có tầm quan trọng đặc biệt trong lịch sử Pháp ở khu vực Viễn Đông. Tòa biệt thự trên đường phố Jauréguiberry chẳng bao lâu đã trở thành trung tâm quần tụ của mọi người.


Các ban, ngành trong cơ quan làm việc cũng dần dần được thành lập, đặt tại những biệt thự lân cận mà chúng tôi đã dùng mưu mẹo hoặc bất ngờ giành giật được. Tất cả mọi người, dù là quan chức cai trị, quân nhân hay dân thường người Pháp đều tự nguyện trợ giúp chúng tôi. Để thực hiện được nhiệm vụ vượt quá sức người này, chúng tôi không còn cách nào khác là phải phục hồi lại các phòng, ban mà Nhật Bản đã phá hủy hoàn toàn trong vòng vài tuần.


Tôi cần xác minh rằng, rất nhiều viên chức cai trị trong các ngành dân sự cũ ở Đông Dương đã mang đến cho chúng tôi sự hợp tác đầy đủ. Những người này làm việc cho chúng tôi đông hơn là những nhân viên từ Pháp tới. Tin đồn thất thiệt, nói rằng những quan chức cũ ở Đông Dương bị chúng tôi gạt bỏ là một lời bịa đặt thô bạo được tung ra bởi những người - may mắn là rất ít - đã từng làm hại thanh danh nước Pháp thời kỳ bị Nhật Bản chiếm đóng, đang muốn sống biệt lập trong thụ động.


Cũng không nên quên rằng, vào thời điểm Việt Minh nắm chính quyền thì tất cả những quan chức và nhân vật tiếng tăm người Pháp đều đã bị Nhật Bản bắt giữ, quyền lực của họ đối với người dân bản xứ đã bị thương tổn rất nhiều sau khi quân đội Pháp ở Đông Dương bị Nhật Bản đánh bại.


Cuối cùng, phải thừa nhận rằng nước Pháp hồi đó đã sai lầm, không sử dụng lại những quan chức cũ đã từng tỏ ra trung thành với Chính phủ Vichy thân Đức.

Có thể làm một sự so sánh giữa tình hình Đông Dương với tình hình Inđônêxia sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Hà Lan đã giữ lại những đại diện cũ của mình tại Inđônêxia. Điều đó đã làm cho Hà Lan không để mất vị trí đã thiết lập được từ hơn ba thế kỷ ở Viễn Đông.


Tóm lại, tôi thành thật nghĩ rằng, phong trào lúc đó đang sâu sắc, các tình huống đều dễ dẫn đến một sự đảo lộn, cho nên việc định hướng cho các sự kiện chỉ có thể phụ thuộc vào một vấn đề là: nhân sự. Chúng tôi đã tận dụng tất cả các khả năng, tất cả các thiện chí muốn đóng góp. Tôi chỉ xin nêu một ví dụ là thành phần của cơ quan Ủy viên Cộng hòa Pháp ở Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 23 Tháng Mười, 2021, 08:09:17 am
Nếu tôi đã giữ ở bên cạnh mình hai hoặc ba cộng sự viên đã từ Pháp đến làm việc với tôi tại Côn Minh, thì lúc này tôi lập tức sử dụng những quan chức cũ đang có mặt tại Hà Nội, thường là những người đã thoát khỏi các trại giam của Hiến binh Nhật Bản, hoặc không bị thương tổn trong những ngày lao động ở Hà Nội để tổ chức những cơ quan giúp việc. Tôi để ông Léon Pignon, một quan chức cai trị các thuộc địa, chuyên gia về các vấn đề Đông Dương, từng công tác lâu năm tại Bắc Kỳ đứng ra thành lập các bộ phận chuyên trách về cai trị và chính trị. Chung quanh Léon Pignon là Bonfils, Varet, Vinay, Monthéard, Cousseau, Faugère, Valéani, v.v... Tất cả những viên quan cai trị này đều tích lũy được nhiều kinh nghiệm về đất nước và người dân xứ này.


Tôi chọn Jacques Compain, cựu công sứ tỉnh Hòa Bình làm Chánh văn phòng. Các cơ quan tình báo của tôi được giao cho đại úy Levain, sĩ quan Phòng Nhì quân đội Pháp tại Đông Đương, đã từng thực hiện chuyến liên lạc quan trọng năm 1945 tại Kandy tiếp xúc với đô đốc Anh Mountbatten.


Tại các cơ sở có những người Pháp ở Huế, Vinh, Thanh Hóa, v.v... các vị trí chỉ huy được tôi giao cho những quan cai trị cũ hiện đang có mặt tại chỗ là những nơi họ hiểu biết tình hình và có kinh nghiệm.

Ở Hải Phòng, tôi chọn trung tá hải quân Legendre, đặc biệt tinh thông những vấn đề Viễn Đông, đã nhiều năm phụ trách công tác tình báo dưới thời Toàn quyền Decoux.

Có thể dễ dàng nhận thãy tỉ lệ thành phần trong tất cả các ban ngành hồi đó. Ở cơ sở nào, tỷ lệ người "Pháp mới" hoặc "người Pháp năm 1945" cũng chỉ chiếm từ 15 đến 20%.

Đội ngũ chúng tôi hồi đó vừa mới được tổ chức thành lập một cách vội vàng, đã phải đối phó với một sự thù địch hoàn toàn. Chính phủ Cách mạng Việt Minh đã không làm gì để chấm dứt các vụ tiến công người Pháp.

Mọi hành động của chúng tôi đều bị theo dõi. Những người hầu hạ chúng tôi như "bồi, bếp" đều là chỉ điểm của Việt Minh1 (Những người Việt Nam mới thực sự là chủ nhân trên đất nước mình. Ở đây Sainteny vẫn làm như mình là "ông chủ" trong khi Pháp thực tế đã bại trận - ND).


Người Trung Quốc, vin vào lý do các giấy tờ ủy nhiệm của tôi chưa được Trùng Khánh xác nhận, đã không chịu thừa nhận quyền lực của tôi và làm ra vẻ không biết gì về mọi vấn đề liên quan đến Pháp.

Sự thù địch của Trung Quốc biểu lộ ngay từ cuối tháng 8 năm 1945. Ngày 6 tháng 3, trong một thông tư gửi tối tòa soạn các báo người Hoa tại Hà Nội, tướng Lư Hán là thống đốc Vân Nam vừa được chỉ định đứng đầu các đội quân chiếm đóng, tuyên bố: "Nước Trung Hoa mang độc lập đến cho Đông Dương".


Ngày 8 tháng 9, tướng Allessandri, ông Léon Pignon, đại tá Le Pozs, sau khi được các nhà chức trách Trung Quốc đồng ý, đã từ Côn Minh tới Khai Viễn gặp tướng Lư Hán trước khi viên tướng này khởi hành đi Hà Nội bằng máy bay. Đoàn đại biểu Pháp dự định sau khi hội kiến tướng Lư Hán sẽ xin đi nhờ máy bay về Hà Nội vì không có một phương tiện nào khác để đi từ Côn Minh tới Bắc Kỳ.


Nhưng ngày 11 tháng 9 tướng Lư Hán đã khởi hành một mình, không cho các đại diện Pháp đi theo cùng chuyến máy bay, viện cớ chưa nhận được lệnh cấp trên và không thể bảo đảm an toàn cho họ tại Bắc Kỳ. Tướng Lư Hán cũng không muốn tiếp tướng Allessandri là người trước khi tới Côn Minh đã có buổi nói chuyện với tướng Uông của Trung Quốc và tướng Mỹ Gallagher. Những viên tướng này cho biết, việc nước Pháp quay trở lại Đông Dương đang được bàn cãi tại Hội đồng 5 nước ở Luân Đôn và Paris giữa Ngoại trưởng Pháp Bidault và Ngoại trưởng Trung Hoa Tống Tử Văn. Vì vậy từ Côn Minh họ chưa thể chở theo những đại diện này của Pháp về Hà Nội. Tướng Gallagher còn nói thêm, dù thế nào đi nữa thì cũng không có chuyện đặt lại nền bảo hộ của Pháp ở Đông Dương. Ý kiến của tướng Gallagher có vẻ phản ánh rất đúng công luận Mỹ.


Khi được biết những tin này, tôi rất lo lắng. Đó cũng là điều rất dễ hình dung. Những nguồn tin này xác nhận sự thù địch của các bạn Đồng minh đối với sự có mặt của một đại diện chính thức của Pháp tại Bắc Kỳ.

Cũng không thể quên được ngày 27 tháng 9 năm 1945 khi tôi đang ở Chandernagor thì tại Hà Nội tổ chức lễ chính thức tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật Bản. Tất cả các quan chức đều được mời tới dự lễ tại dinh Toàn quyền. Tùóng Allessandri đã chuẩn bị đại diện cho Pháp tới dự lễ, đến phút cuối cùng nhận được tin những lá cờờ Pháp treo trong phòng họp đã bị tháo bỏ. Allessandri là người thứ 115 được mời theo số thứ tự ghi trong giấy, trong hoàn cảnh đó đã không tới dự. Như vậy là, lễ đầu hàng của Nhật Bản tổ chức tại Hà Nội là lãnh thổ thuộc Pháp, đã không có mặt một đại diện nào của Pháp. Ngược lại, các đại diện của Việt Nam đã được mời tới dự lễ, và được ngồi ở vị trí cao1 (Sainteny lại suy diễn một cách ngược đời và vô lý - ND).


Phái đoàn Mỹ do tướng Gallagher chỉ huy khi tới Hà Nội tuy không tỏ vẻ công khai thù địch với Pháp như Lư Hán nhưng cũng coi những nỗ lực của chúng tôi là nguồn xung đột làm chậm trễ nền hòa bình nói chung và sự trở lại vùng này của người Mỹ. Dưới mắt người Mỹ, chúng tôi là những kẻ gây rối, rất cứng dầu, muốn làm sống lại quá khứ thuộc địa mà Mỹ đang chống lại bằng một thứ chủ nghĩa ấu trĩ chống thực dân đang làm cho hầu hết bọn họ mù quáng.


Chỉ duy nhất có những đại diện của Anh, trong đó có trung tá Trevor Wilson được cử làm Tổng lãnh sự tại Hà Nội và trung tá hải quân Simpson Jones là có thái độ thân thiện với Pháp, giống như thái độ của quân Anh đổ bộ vào Nam Kỳ làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật. Ngay khi mới đến, người Anh đã ủng hộ chúng tôi trên mọi lĩnh vực không cần mặc cả thiệt hơn. Nhưng họ có thể làm gì được.


Từ phía Chính phủ Pháp ở Paris, chúng tôi hầu như không ghi nhận được sự nâng đỡ nào. Chính phủ lâm thời Cộng hòa Pháp đặt trụ sở tại phố Oudinot có vẻ như dành ưu tiên cho Sài Gòn và Nam Kỳ là nơi mà Pháp dự định quay trở lại đầu tiên và cũng là nơi có thể trông cậy vào sự giúp đỡ của người Anh. Từ nơi này, ảnh hưởng của Pháp sẽ dần dà lan rộng từng bước tới toàn thể Liên bang Đông Dương. Đây là một chiến thuật có thể đưa ra tranh cãi phải chăng sẽ thích đáng hơn nếu trước tiên, tiến đánh ngay cái ổ gây ra nhiễm trùng? Tôi không phải là người phán xét, nhưng nhìn vấn đề Đông Dương từ góc độ Bắc Kỳ tôi đứng về phía chủ trương này.


Tuy nhiên, tại Hà Nội chúng tôi có cảm tưởng như đã bị bỏ rơi, hoặc ít nhất cũng tạm thời không được để mắt đến, và toàn bộ những người dân Pháp ở đây đều bị ảnh hưởng tai hại.

Sẽ là thừa khi chứng minh rằng giữa những người Pháp và người dân Bắc Kỳ thường "đụng độ" với nhau trong mọi trường hợp và đểu nằm giữa một sự hỗn loạn trong đó chúng tôi ở trong mảnh đất thuận lợi cho sự phát triển của hỗn loạn.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 23 Tháng Mười, 2021, 08:10:50 am
Ngay khi mới tới Hà Nội tôi đã bị ám ảnh một chuyện mà mỗi người Pháp đều quan tâm: đó là sự thiếu vắng màu cờ Pháp trong thành phố.

Câu hỏi này ngày nào cũng được đặt ra: Ngày hôm nay, tôi có nên ra lệnh treo cờ trên "Ngôi nhà của nước Pháp" không? Hành động này có thể sẽ kéo theo một loạt lá cờ ba màu được treo trong khắp thành phố? Liệu tôi có quyền, dù để thỏa mãn ý muốn chính đáng, ra lệnh treo cờ Pháp để cung cấp cho đối phương lý do họ đang tìm kiếm, nhằm phản kháng với các nhà chức trách Đồng minh, tố cáo chúng tôi có tinh thần phục thù để từ đó gây ra một sự cố?


Vào khoảng giữa tháng 10, với ý định thăm dò phản ứng của đám quần chúng người An-nam, tôi bảo anh chàng Incaugarat là người lái xe trung thành và vui vẻ của tôi, cắm thử một lá cờ ba màu lên mũi xe. Ngày đầu tiên, chiếc xe cắm cờ Pháp bình yên vô sự đi qua các phố Hà Nội, dưới cặp mắt ngạc nhiên của người Pháp và những cái nhìn hằn học, thù ghét của ngươi bản xứ. Đến ngày thứ hai khi tôi từ nhà riêng bước lên xe tới trụ sở làm việc sau bữa ăn trưa, chiếc xe chở tôi đã bị một người lính Việt Minh đứng gác trước cổng, súng cắm lưỡi lê, chặn lại ngay trước tòa nhà Ngân hàng Đông Dương. Người lính gác lên quy-lát súng, ra lệnh cho lái xe của tôi dừng lại. Chú lái xe làm ra vẻ phớt lò, lập tức bị đám đông đang đứng chờ từ sáng, xúm lại vây chặt.


Một thanh niên rẽ đám đông bước tới, đòi tôi phải bỏ lá cờ cắm trên xe. Câu trả lời của tôi như thế nào, có thể ai cũng đoán được. Thế là, nhiều người An-nam đổ xô tới giằng lá cờ nhỏ ba màu trên xe xuống.

Như một con quỷ dữ, người lái xe của tôi chồm dậy khỏi chỗ ngồi, vật lộn với những người An-nam, giằng lại lá cờ nhỏ rồi đưa cho tôi rất nhanh. Anh ta lập tức bị vây chặt, kéo ra xa. Tôi cũng bị kéo ra khỏi chỗ ngồi trong xe và bị đám đông khua chân múa tay vây bọc. Tôi bị giải đi trên đường phố có đông người tụ tập đưa đến trụ sở cảnh sát đầu tiên trong khu phố, là nơi tập trung các cơ quan an ninh của Chính phủ Cách mạng Việt Minh.


Tôi bị dẫn vào phòng làm việc của Trưỏng Công an Quận, trong lòng khá hoang mang bối rối. Một người lính thọc mạnh nòng súng ngắn vào mạng sườn tôi, buộc tôi ngồi xuống ghế. Tôi không chịu trả lời các câu hỏi, đòi phải gọi điện ngay cho Hồ Chí Minh và chỉ trả lời trước mặt ông Hồ. Những nhân viên trong phòng nói đã thông báo với Chủ tịch Chính phủ Cách mạng Việt Minh. Một đám đông thanh niên tri thức vẻ mặt bực tức hoặc hằn học, xông vào trụ sở, tìm cách nhím tôi thật gần và cùng tham gia vào cuộc hỏi cung diễn ra trong khung cảnh lộn xộn đầy phẫn khích.


Trong lúc đó, tin về việc tôi bị bắt giữ nhanh chóng lan truyền khắp thành phố như một vệt thuốc súng. Tôi rất lo đội ngũ trẻ tuổi và dễ kích động của tôi rất dễ có một phản ứng khá dữ dội. (Sau này, khi trở về trụ sở làm việc, tôi được biết rõ thêm, các cộng sự viên của tôi đã chuẩn bị một đội biệt kích định giải thoát cho tôi).

Đại tá Mỹ Nordlinger cũng được loan báo để cứu vãn tình hình.

Nhân danh Hoa kỳ, Nordlinger đòi trả lại tự do cho tôi ngay lập tức, nhưng tôi cũng phải cam kết trước mặt Nordlinger là nhằm tạo dễ dàng cho sự trung gian hòa giải của Mỹ, từ nay không được cắm trên xe một biểu tượng nào có tính chất phản loạn như cái đã phấp phới bay trong suốt bốn mươi tám giờ qua, mà người đại diện cho Sở Công an Việt Minh cho rằng đó là sự xúc phạm không thể tha thứ được đối với chủ quyền và độc lập của dân tộc Việt Nam.


Đối với sự kiện này, các báo chí ở Mẫu quốc chí đăng một tin ngắn với dòng tít đơn giản: "Một sự cố tại Hà Nội - Ủy viên Cộng hòa Pháp bị Việt Minh bắt giữ".

Một sự cố nhỏ, đúng vậy, nhưng lại có ý nghĩa lớn đối với chúng tôi - những ngươi Pháp ở Bắc Kỳ. Than ôi!

Tôi đã viết, nhà tôi ở có một người lính Việt Minh đứng gác. Đây không phải là trường hợp đặc biệt. Từ ngày ở Chandernagor về Hà Nội, tôi bị theo dõi rất chặt, những buổi đi, về, đều bị kiểm soát kỹ. Phải vất vả lắm tôi mới tìm được một chỗ ở trong một gian nhà trong khuôn viên trụ sở Ngân hàng Đông Dương. Chiếc xe của tôi luôn bị chặn lại và bị lục soát mỗi lần qua cổng rào sắt. Có khi, người lính gác còn buộc lái xe của tôi phải xuống xe để lục soát. Những khách mời của tôi, dù bất cứ ai, cũng phải chịu chung sự đối xử như vậy.


Những phản kháng mà tôi gửi đến Bộ tư lệnh quân đội Trung Hoa chỉ đem lại hiệu quả là, vài tuần sau cùng với người lính gác Việt Minh có thêm một lính gác Trung Quốc tạo thành một vòng gác đôi, và thỉnh thoảng lớp gác đôi này lại có nhã ý kiểm tra thật tỉ mỉ chiếc xe của vị đại diện nước Pháp, mỗi lần làm như vậy lại giải thích là, đơn giản chỉ vì muốn quan tâm đến an ninh của tôi mà thôi!


Tất nhiên, những cộng sự viên của tôi, nhất là những người giữ các chức vụ quan trọng đều phải chịu những sự phiền nhiễu như vậy. Toàn thể cư dân nước Pháp cũng đều phải sống dưới chế độ kiểm tra và ngờ vực.

Những sự phiền nhiễu này, dù vụng về hay cố ý, dù nhằm ý định thật sự là bảo vệ cho chúng tôi hay chỉ cốt để bẽ mặt, đều tạo ra bầu không khí khó chịu, nhưng dù sao cũng chỉ là thứ yếu so với những vấn đề mà chúng tôi cần phải có một giải pháp.


Ngay từ ngày đầu, số phận của phụ nữ và trẻ con đã khiến tôi phải quan tâm nhất. Nhiều người tập trung tại Hà Nội từ nhiều tháng nay hoặc bị lính Trung Quốc tràn ngập thành phố đuổi ra khỏi nhà, đã phải tìm đến ở tạm tại các trung tâm tiếp nhận, như câu lạc bộ thể thao, nhà thờ, nhà chung... An ninh của những con người vô tội này là một cơn ác mộng đối với tôi. Mỗi khi có chuyến máy bay tới Hà Nội rồi tiếp tục đến Sài Gòn, phụ nữ trẻ em được chất lên đó tới mức tối đa, mới làm tôi nhẹ bớt nỗi lo đôi chút.


Tôi đã phải thành lập một ban đặc biệt về hồi hương, kèm theo những cuộc vận động và thúc giục...

Tôi cũng đòi phải có một tàu biển trọng tải lớn để phục vụ việc hồi hương. Cuối cùng tàu Pasteur đã tới, nhưng quá chậm. Chỉ riêng một chuyến tàu này đã chở 1.200 người Pháp ở Hà Nội và Hải Phòng, tập trung tại vịnh Hạ Long để về nước.


Những nhóm cư dân nhỏ người Pháp, sống biệt lập ở Huế, Vinh, Đà Nẳng, Thanh Hóa cùng chịu chung những nỗi lo sợ và những hành hạ như vậy. Sự biệt lập càng làm cho tình trạng của họ thêm bi thảm, bởi vì ngoài việc liên lạc vô tuyến vụng trộm, bấp bênh, và một vài lá thư nhiều ngày mời tới, có khi nhiều tuần mới đến tay người nhận, họ không còn một phương tiện nào khác để liên hệ với Hà Nội.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 23 Tháng Mười, 2021, 08:13:28 am
Việc tiếp tế lương thực cho cả người Pháp lẫn người bản xứ là một trong những vấn đề đáng lo ngại mà cơ quan Uỷ viên Cộng hoà Pháp cũng phải đối mặt trong thời kỳ đó.

Những người Pháp tại Hà Nội mà số dân da trắng tăng gấp đôi vì bị Nhật Bản dồn đến, phần lớn đã mất hết cách kiếm ăn. Còn người dân bản xứ thì đang phải chịu một nạn đói thảm hoạ nhất trong lịch sử Bắc Kỳ. Nhằm tăng thêm sự hỗn loạn, Nhật Bản đã phá huỷ nhiều kho thóc.


Bắc Kỳ là xứ thiếu gạo, vẫn thường phải nhập gạo của Nam Kỳ, mỗi năm hàng chục vạn tấn để thoả mãn nhu cầu của nhân dân. Thế nhưng, các tàu thuỷ và thuyền buôn lớn đã bị đánh đắm, đường xe lửa xuyên Đông Dương đã bị máy bay Đồng minh ném bom cắt đứt nhiều quãng. Vụ gặt tháng Mười ở Bắc Kỳ hầu như hoàn toàn mất trắng vì những trận lụt khủng khiếp hồi tháng Tám. Nhiều dân nông thôn vùng đồng bằng bị đói đã tự động kéo tới những đường phố Hà Nội rồi lịm dần vì chết đói.


Giá gạo tăng kinh khủng. Chỉ trong một thời gian ngắn đã tăng từ năm đồng lên bẩy đồng rồi thậm chí lên tới chín đồng Đông Dương một kilô.

Chỉ còn một chiếc tàu thuỷ, chiếc Kontum, do thuyền trưởng Mouly điều khiển là đang có thể hoạt động trên bến cảng Sài Gòn. Vài trăm tấn gạo do tàu thuỷ này chở ra Bắc Kỳ đã lập tức biến thành vật mua bán, mặc cả giữa các nhà đương chức Trung Hoa, Chính phủ Cách mạng Việt Minh và cơ quan Ủy viên Cộng hoà Pháp.


Những người Trung Hoa đòi phải đưa từ Nam Kỳ bằng tàu Kontum một số lượng gạo đủ cung cấp cho 180.000 binh lính trong đạo quân chiếm đóng. Họ đòi phải có hai kilô gạo một ngày cho một người trong khi nhu cầu bình thường chỉ là 600 gam.


Chính phủ Việt Minh muốn có số gạo này nhằm mục đích tuyên truyền có lợi cho họ. Cơ quan Ủy viên Cộng hoà Pháp không chịu nghe theo.

Thật là quá dài nếu thuật lại toàn bộ câu chuyện về những cuộc hội đàm, những cuộc mặc cả chung quanh số gạo để trong những chiếc khoang tàu Kontum. Chiếc tàu vận tải bị Trung Hoa bắt giữ, sau đó nhò sự can thiệp của Mỹ và Anh đã được giải vây, tiếp tục trải qua nhiều nỗi thăng trầm cho tới ngày, sau khi trên lý thuyết đã giải quyết được nạn đói vùng đồng bằng Bắc Kỳ, đã đụng phải một quả thuỷ lôi của Nhật Bản trôi dạt không xa cửa sông Sài Gòn, chấm dứt sự nghiệp vinh quang và tối tăm của con tàu khi đang quay về bến cũ.


Cuộc mặc cả thứ hai ở Bắc Kỳ là vấn đề than. Những mỏ than ở Bắc Kỳ hồi đó thuộc về các công ty người Pháp. Nhờ tài ngoại giao và sự kiên nhẫn của giám đốc công ty than là ông Huas, than Hồng Gai đã vượt qua được hết cả sự biến động và dù có bị thiệt hại nặng nề về vật chất, vẫn duy trì được nhịp độ sản xuất đủ để dự trữ trong kho một số lượng hàng tấn.


Và, nếu Bắc Kỳ thiếu gạo thì Sài Gòn lại thiếu than và đã phải dùng dầu Mazut để chạy điện cho sáu trung tâm phát điện. Sài Gòn không ngừng gửi điện, đòi cung cấp than. Trung Quốc cũng yêu sách, đòi được cung cấp than, viện cớ là nước được hội nghị Potsdam giao cho làm nhiệm vụ ở Bắc Đông Dương và trên nguyên tắc mỏ than Bắc Kỳ thuộc quyền kiểm soát của Nhật Bản được tiếp quản. Chính phủ Cách mạng Việt Minh cũng đòi quyền kiểm soát.


Và rồi chẳng bao lâu, bọn buôn lậu trên tuyến đường biển từ Hồng Gai đến Hồng Công cũng bắt đầu chú ý đến sản phẩm quý đó. Than anthracite rất hiếm ở khu vực Đông Nam Á, trở thành mặt hàng của bọn đầu cơ Trung Quốc. Bộ tư lệnh quân đội Trung Quốc ở Bắc Kỳ đã nhượng lại vài chuyến tàu chở than cho bọn con buôn. Và đây là một trong muôn vàn chuyện đã xảy ra. Sau khi đã chất đầy than trong tàu, thuyền trưởng người Trung Quốc chợt nhìn thấy chiếc xe ô tô của giám đốc công ty than người Pháp đậu trên bến cảng, thế là cẩu luôn cả chiếc xe này lên tàu. Tất nhiên không thể nào lấy lại được chiếc xe, và cũng không đòi được khoản tiền bồi thường nào.


Tôi đã viết, cần phải nhiều tập sách dày mới đủ kể hết mọi truyện. Ở đây tôi chỉ nhận xét, chúng ta chưa bao giờ hiểu rõ tâm hồn người châu Á (Với nhận xệt hồ đồ này, Sainteny thể hiện hàn chất phân biệt chủng tộc lỗi thời và mù quáng rất rõ rệt - NĐ).


Tôi cũng muốn so sánh sự khác nhau giữa tình hình miền Nam và miền Bắc Đông Dương hồi đó:

Ở Nam Kỳ, thống đốc Cédile, Uỷ viên Cộng hoà Pháp những ngày đầu tiên cũng trải qua những giờ phút đáng lo ngại như tôi ở miền Bắc. Nhưng ông nhanh chóng nhận được sự ủng hộ của sư đoàn lính Ấn Độ sắc tộc Gourkha do tướng Anh Gracey chỉ huy. Những người Pháp ở Sài Gòn nhanh chóng được vũ trang và từ đầu tháng 10 những người của tướng Leclerc đã tới tăng cường cho lực lượng can thiệp vũ trang nhẹ và phân ban liên lạc Pháp khu vực Viễn Đông đặt tại Sài Gòn để duy trì trật tự. Đô đốc D’Argenlieu, thống đốc Cédile và các nhà chức trách Pháp được đảm đương nhiệm vụ tại các công sở chính thức, được hưởng mọi đặc quyền trong việc thực hiện nhiệm vụ to lớn của mình. Họ có thể dựa vào vũ lực để tỏ rõ uy quyền. Sau đó, khi quân đội Pháp tới thay quân Anh, tất cả những kho tàng, vũ khí và vật dụng tịch thu của Nhật Bản ở Nam Kỳ đều trao lại cho Pháp.


Ở miền Bắc, ngược lại, quân đội Trung Hoa lại cướp hết những gì có thể mang theo.

Ở Hà Nội và toàn bộ miền Bắc Đông Dương, những người Pháp phải sống trong tình trạng không có tổ quốc, không có vũ khí, bị xua đuổi, trong khi uỷ viên cộng hoà không có một quyền hành nào, một phương tiện nào, một "bộ mặt" nào để che chở, nâng đỡ, bảo vệ những quyền lợi của họ.


Các nước Đồng minh coi Pháp như kẻ đã vi phạm công khai những quyết định về chế độ của một nước mà Pháp chẳng còn gì liên quan tới nữa. Liệu người ta có bao giờ được biết đến những lời giải thích đi kèm theo những quyết nghị ở Potsdam, và liệu có những mệnh lệnh chính xác nào được trao cho quân đội Trung Quốc làm nhiệm vụ ở vĩ tuyến 16 Bắc Đông Dương không? Thí nghiệm về số phận của Phái đoàn 5 ở Trung Quốc đã cho phép giải đáp một phần vấn đề này.


Trong kế hoạch tổng tiến công dự định tiến hành vào sau mùa mưa, các nước Đồng minh đã dự tính khi đổ bộ lên Bắc Kỳ sẽ có sự tham gia của các đội biệt kích người Pháp. Một đội thuộc Phái đoàn 5 được phân công hoạt động theo hướng châu thổ sông Hồng bên cạnh quân đoàn 60 của Trung Quốc. Đội biệt kích Comores của Pháp hoạt động phá hoại trong khu vực Quân khu 1 cũ của Pháp và Lạng Sơn. Ngoài ra còn có những đớn vị trang bị nhẹ của Phái đoàn 5 mà tôi đang huấn luyện cấp tốc sẽ nhảy dù xuống lãnh thổ Bắc Kỳ trong thời gian tiến hành tổng tiến công, làm nhiệm vụ phá hoại, ngăn chặn, tiêu hao đối phương dọc các tuyến đường bộ và đường sắt.


Cuối cùng nhằm phát huy cao độ các vị trí đặc biệt của các nhóm thuộc Phái đoàn 5 đã cắm chân suốt dọc khu vực biên giới Trung Quốc tiếp giáp với Bắc Kỳ, tôi đã đạt được thoả thuận với các Đồng minh và đặc biệt với Trung- Quốc là đến ngày "N" các đồng đội chúng ta sẽ hoà nhập với quân đội Đồng minh tiến sâu vào lãnh thổ xứ Bắc Kỳ. Những sĩ quan tình báo của chúng tôi là những người thông thạo không những tiếng Việt mà cả những thổ ngữ địa phương của các dân tộc miền núi trong khu vực biên giới giáp Trung Quốc, sẽ là các sĩ quan liên lạc, hiểu rõ các mục tiêu của Đồng minh, có thể đóng góp nhiều công việc lớn cho sự nghiệp chung. Nhiệm vụ của họ cũng dựa theo mô hình đã phân công cho các sĩ quan trong phái đoàn quân sự liên lạc bên cạnh các Bộ tư lệnh quân đội Đồng minh trong trận đổ bộ vào Pháp năm 1944.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 23 Tháng Mười, 2021, 08:15:16 am
Trước khi rời Côn Minh đi Hà Nội ngày 22 tháng 8 năm 1945, tôi đã lệnh cho các nhóm thuộc Phái đoàn 5 bố trí dọc biên giới là phải phối hợp với các đơn vị quân đội Trung Quốc mà họ đã tiếp xúc từ lâu, đi theo quân Lư Hán về tận Hà Nội và dọc đường hành quân cung cấp cho họ các tin tức tình báo cần thiết. Hơn nữa, các sĩ quan của chúng tôi cũng được lệnh đặt dưới sự chỉ huy của người Trung Quốc, tạo điều kiện dễ dàng cho quân đội Trung Quốc tiến vào vùng châu thổ sông Hồng, đóng quân tại các vị trí ở Bắc Kỳ và bắt liên lạc với các cư dân Pháp và người bản xứ.


Chúng tôi đã chờ mong sự hợp tác đó với các nước Đồng minh sẽ mang lại những kết quả mĩ mãn nhất. Nhưng hỡi ôi! Lư Hán đã tỏ rõ rất nhanh là khống muốn có chúng tôi đi kèm. Những câu trả lời mơ hồ và trì hoãn của họ không làm nản lòng các sĩ quan của chúng tôi. Họ vẫn cố thực hiện và hoàn thành sứ mệnh đã được giao và họ đã vấp phải sự chống đối, đôi khi bi thảm, ở khắp mọi nơi.


Chính vì vậy cho nên, ngày 24 tháng 8 năm 1945, nhóm Pcitou do tiểu đoàn trưởng Montpezat chỉ huy, khi tới địa phận Nà Lạng ở khu vực Đông Nam đã vấp phải một đơn vị không chính quy khoảng 400 người, không rõ quốc tịch, chặn lại không cho đi. Cả nhóm bị đè bẹp bởi số lượng đối địch quá đông và bị kẹt dưới làn đạn bắn đi từ các mỏm núi. Phó của Montpezat là thiếu uý Levin Monsigny bị thương nặng và sau đó ít bận đã tắt thở sau khi nhóm Poitou buộc phải rút về Trung Quốc, mang theo số người chết và bị thương, trong đó có cả một sĩ quan liên lạc người Mỹ là trung uý Spaulding.


Trong khi tiến về phía Cao Bằng trong đêm 17 rạng 18, nhóm "Picardie" cũng lọt vào một ổ phục kích. Trung uý Tersac, một sĩ quan trẻ, đầy tài năng, bị mất tích. Chúng tôi không bao giờ được biết rõ tung tích của toán phục kích cạm bẫy này vì phía Trung Quốc phản đối mở cuộc điều tra.


Ở Hồ Kiều, gần thị xã Lào Cai, nhóm ''Berry" trong đêm 17 rạng 18 cũng bị một đơn vị chính quy quân đội Trung Quốc thuộc quân đoàn 60 của vũ khí. Đây là quân đoàn mà chúng tôi đã đặt liên lạc theo thoả thuận giữa các bên tham mưu. Một người bạn của chúng tôi là Singenes, thành viên trong nhóm, đã mất tích một cách bí mật.


Cuối cùng, tại một địa điểm gần Lạng Sơn, trưởng phái đoàn "Anjou" là Meistermann, một người từng tiến hành, xuất sắc mọi hoạt động được giao, đã mất tích cùng với sĩ quan điện đài Magne trong lúc đang tìm cách liên lạc với Hà Nội. Meistermann là một huấn luyện viên đặc biệt, một người Pháp vĩ đại đã mất đi trong niềm thương tiếc của những người từng biết rõ về ông, đã chỉ huy ông hoặc được ông chỉ huy.


Phái đoàn 5 đã không may mắn, tiếp tục cố thêm nhiều nạn nhân bị hy sinh trong đội ngũ của mình. Từ việc trung tá hải quân Vilar sau đó bị nhử vào trận địa phục kích của Việt Minh ở gần Hồng Gai rồi bị giết hại, đến những binh lính người An nam bị chết không rõ tên tuổi chỉ để lại số hiệu, Phái đoàn 5 có nhiều người trong khi làm nhiệm vụ đã bị chết.


Cuối cùng, những ảo tưởng của chúng tôi, nếu còn sót lại cũng sẽ tan biến hết khi chúng tôi được tin, ngay sau khi tiến vào Bắc Kỳ, các đơn vị quân đội Trung Quốc đã tuần tự phá huỷ tất cả pháo đài và công trình phòng ngự do Pháp xây dựng từ trước suốt dọc biên giới từ Lào Cai đến Móng Cái. Các pháo đài ở Lạng Sơn bị phá muộn hơn; cho tới khi quân đội Trung Quốc phải rút về nước để nhường chỗ cho quân Pháp vào năm 1946, mới bắt đầu bị phá huỷ, đó là cú đầu tiên và tàn bạo của Trung Quốc nhằm xoá bỏ giới hạn bành trướng của Trung Quốc xuống Đông Nam Á mà các hiệp định Hoa - Pháp năm 1884 đã ký kết.


Sự thù địch đối với Pháp và chống lại việc Pháp quay trở lại Đông Dương ngày càng trở thành có hệ thống từ khi Nhật đầu hàng. Thái độ này là phản ứng của cá nhân và của địa phương, hay là theo chỉ thị của cấp cao hơn?

Thái độ chống lại việc Pháp quay trở lại Đông Dương chỉ ít lâu sau đồng bào chúng tôi ở Bắc Kỳ mới xác định được. Với tư cách cá nhân, một số người đã có quan hệ bè bạn với các nhân viên Phái đoàn 5 hoặc với một số sĩ quan Trung Quốc, trong đó có vài người đã quen biết ở xứ Bắc Kỳ và đã có những người bạn trong số cư dân người Pháp. Từng người Pháp lúc đó đã có thể nghĩ rằng, căn cứ vào tình bạn này thì nước Pháp có thể dựa vào hai nước Đồng minh lớn là Mỹ và Trung Quốc. Chính điều đó đã góp phần tạo ra những ảo tưởng kéo dài vượt thời gian ru ngủ các đồng bào chúng tôi, họ nghĩ rằng có thể chờ đợi vào sự ủng hộ của các Đồng minh.


Sự căng thẳng thần kinh cao độ mà những người Pháp ở Bắc Kỳ phải chịu đựng sau khi đã tích tụ nhiều đau khổ, làm cho họ lo ngại, hận thù và đôi khi phán xét không đúng. Họ kết tội Phái đoàn 5 là bất lực. Họ lên án chúng tôi là chỉ biết "phát biểu", "thương lượng" mà không biết hành động. Nhưng họ đâu có biết rằng có thể những cuộc thương lượng đó đã ngăn cho họ khỏi bị tàn sát. Chủ bài duy nhất của chúng tôi chính là những cuộc tiếp xúc với những ông chủ mới của xứ Bắc Kỳ. Chính do những cuộc đàm phán này đã tránh dẫn đến thảm họa. Trong việc tranh thủ thời gian, trong việc làm cho những người Việt Nam hiểu rằng họ có thể đạt được một số mục tiêu chính đáng mà không cần phải đổ máu, chúng tôi đã trì hoãn được cuộc đấu sức, hoặc ít nhất cũng đẩy lùi được thời gian, chờ một thời điểm mà chúng ta sẽ có những phương tiện để lấy bạo lực chống lại bạo lực.


Tôi còn bị phản bác rằng, quân đội Trung Quốc làm như vậy là vì có nhiệm vụ duy trì trật tự. Những người Pháp ở Hà Nội biết rõ phải nghĩ gì về cái nhiệm vụ này của Trung Quốc và quân đội "con trời" đã thực hiện nhiệm vụ đó như thế nào.


Về phần tôi, tôi biết rằng, dù nếu quân đội của Lư Hán có sẵn sàng can thiệp thì cũng quá muộn. Chỉ trong một đêm rất nhiều người Pháp có thể bị giết hại. Những người Pháp bị Việt Minh loại trừ. Đến lượt Việt Minh bị quân đội Trung Quốc thanh toán. Cuối cùng, vẫn Trung Quốc là làm chủ tình thế và làm chủ... xứ Bắc Kỳ. Nỗi lo sợ này tôi đã mang theo trong người nhiều tháng, không rời bỏ tôi một lúc nào, và tội cũng không dám bộc lộ với các cộng sự viên, ngay cả với những người thân mật, gần gũi nhất.


Vậy thì chúng tôi phải làm gì trong hoàn cảnh này? Chỉ có một cách: Đợi nước Pháp đến giải thoát cho chúng tôi khỏi tình huống bi thảm này và tránh mọi sự cố có thể phá hoại thế cân bằng rất bấp bênh trong vị trí của chúng tôi. Hồi đó, tôi đã gửi thư về Paris, nói rằng chúng tôi "đang sống trong một hỗn hợp chất nổ mà chỉ một tia lửa cũng có thể nổ tung." Đó đúng là tình thế chính xác của chúng tôi. Chúng tôi đã buộc phải giữ vững các trò biểu diễn thăng bằng đó cho mãi đến ngày 6 tháng 3 năm 1946.


Tôi đã gửi đi những lời kêu gọi nhằm thu hút sự chú ý của Paris đến tình trạng mà chúng tôi đang trải qua tại Hà Nội. Than ôi! Paris đã không thể hiểu nổi cái điều không thể nào hiểu nổi ấy. Ví dụ như, có ai là người đã lưu ý đèn lời cảnh báo đăng trên tờ báo tuần xuất bản ở Paris với dòng tít như sau: "Ở Hà Nội, 20.000 con tin người Pháp nằm trong tay Việt Minh đang chờ được giải phóng hoặc bị chết".


Cuối cùng, những tiếng kêu cầu cứu của tôi để cho đàn bà, trẻ con Pháp được hồi hương đã được nghe thấy. Ngoài những máy bay bắt đầu đều đặn tới Hà Nội mỗi tuần một hoặc hai chuyến, khi quay về chở theo chật ních người tới mức cao nhất, còn có cả tàu biển được đưa tới cửa biển Bắc Kỳ hồi hương những con người khốn khổ này1 (Sainteny cố ý xuyên tạc, viết dài dòng về nỗi lo sợ người Pháp "Bị Việt minh bắt làm con tin", có nguy cơ bị tàn sát, nhưng tướng Salan lại tiết lộ, việc đưa gấp thường dân Pháp về nước là để chuẩn bị chiến trường cho đạo quân của Leclere đang từ miền Nam chuẩn bị tiến ra Bắc, đề phòng một cuộc chiến tranh xảy ra giữa quân Pháp, quân đội Tưởng Giới Thạch và quân đội Việt Nam - ND). Tàu Kontum khi đi đã chở theo những thuỷ binh mà các lực lượng hải quân Pháp ở Viễn Đông đang đòi hỏi nhằm tổ chức lại hạm đội ở Sài Gòn. Rồi đến tàu Espérance, tàu Matelot Becuve và cả tàu. Pasteur cũng thực hiện một chuyến đi nữa để chở về nước những người đau ốm, phụ nữ, trẻ con. Với những cư dân Pháp ở Hải Phòng, việc hồi hương rất thuận tiện. Còn những người ở Hà Nội thì phải đi ra vịnh Hạ Long mới có tàu chờ đón. Hiển nhiên là các phương tiện vận chuyển đang thiếu vì đường bộ và đường sắt đang bị cắt đứt nhiều đoạn. Phải dùng những sà lan đường thuỷ đã bị Nhật Bản rồi Việt Minh trưng dụng rồi đến lượt chúng tôi sử dụng trong tình trạng hư hỏng khó tả.


Mỗi chuyến máy bay, mỗi chuyến tàu biển chở đi xa Bắc Kỳ vài trăm đồng bào, cũng đồng thời làm nhẹ bớt gánh nặng trên vai tôi2 (Sainteny cố ý xuyên tạc, viết dài dòng về nỗi lo sợ người Pháp "Bị Việt minh bắt làm con tin", có nguy cơ bị tàn sát, nhưng tướng Salan lại tiết lộ, việc đưa gấp thường dân Pháp về nước là để chuẩn bị chiến trường cho đạo quân của Leclere đang từ miền Nam chuẩn bị tiến ra Bắc, đề phòng một cuộc chiến tranh xảy ra giữa quân Pháp, quân đội Tưởng Giới Thạch và quân đội Việt Nam - ND).


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 24 Tháng Mười, 2021, 05:04:44 pm
X
NHỮNG TRÒ TÀU
1
(Nguyên văn Chinoiseries, bắt nguồn từ Chine có nghĩa là Trung Quốc. Thực dân Pháp dùng từ này để chỉ những chuyện "phiền toái, rắc rối khó hiểu" và cho rằng xuất phát từ Trung Quốc thời xưa - ND)


Từ buổi các nhà chức trách Trung Quốc đón tiếp tôi tại sân bay Gia Lâm một cách bất lịch sự, những sự cố liên tiếp xảy ra không ngừng giữa các cơ quan của Pháp ở Bắc Kỳ với các nhà chức trách Trung Quốc chiếm đóng.

Sự chung đụng về mặt hành chính, kinh tế, chính trị và đơn giản nhất là giữa con người với nhau, một bên là Pháp, một bên là Trung Quốc, buộc phải đối chọi nhau về những quan điểm trái ngược, đã tất nhiên làm nảy sinh một loạt sự cố rất ảnh hưởng đến thế cân bằng mà chúng tôi đã phải nhanh chóng thiết lập trước tình cảnh bị uy hiếp, bắt nạt một cách có hệ thống.


Ngày hôm nay, sự việc đã lùi xa và tôi đã đôi chút bình tĩnh, tôi phải thừa nhận rằng đôi khi các bạn Đồng minh của chúng tôi cũng có thiện ý. Tinh thần bộc trực của những người phương Tây chúng ta không thể nắm hết tất cả những sắc thái của một triết lý già như nhân loại của phương Đông mà chúng ta hẳn không bao giờ hiểu hết tất cả sự tinh tẽ của triết lý đó.


Tuy nhiên, sự có mặt của đội quân Lư Hán ở Bắc Kỳ đè nặng trĩu lên toàn thể tình hình, tới mức cần phải nghiên cứu cung cách của nó trong thời kỳ đó để hiểu những diễn biến tiếp theo trên toàn cõi Đông Dương.

Lý do chính thức về sự có mặt của quân đội Trung Quốc như mọi người đều biết, là để giải giáp vũ khí các đơn vị quân đội Nhật Bản đóng ở Bắc vĩ tuyến 16 với số quân vào khoảng 35.000 người. Vậy mà, người ta có thể ước lượng tới 130.000 quân Trung Quốc kéo vào Bắc Đông Dương, và nếu thêm cả những "bậu xậu" đi theo phục vụ thì có tới gần 200.000 người Trung Quốc đã "đổ xô" vào xứ Bắc Kỳ.


Rất dễ dàng hình dung được tâm trạng những người lính Trung Quốc này, vốn là dân các tỉnh rộng lớn tiếp giáp với Đông Dương như Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông, vào lúc họ có dịp thực hiện những ước mơ bấy lâu ve vuốt họ. Và thế là, không cần phải chiến đấu, Hoa Nam đã có thể chiếm lĩnh các cửa biển thiên nhiên của xứ Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ, giơ bàn tay nắm lấy Hoa kiều ở Đông Dương ngồi lên một vùng mà nhiều người trong bọn họ cứ ngoan cố cho rằng đây là một tỉnh chư hầu của Trung Quốc, và mọi người đều coi là miền đất hứa, đến đây với tư cách là ông chủ.


Đúng lúc đó, đất nước này lại nằm trong tay những người cách mạng Việt Minh, những người mà Trung Quốc đã từng cho nương náu và vẫn coi như một cửa hiệu cầm đồ, có vay có trả. Nghĩa là, tất cả những niềm hy vọng của Trung Quốc ở dải đất này đều có thể đạt được. Vì thế, trong những điều kiện như vậy, trong chuỗi dài các lo toan bận rộn của người Trung Quốc tại xứ sở này, còn rất ít chỗ cho họ nghĩ đến nhiệm vụ thiết yếu mà hội nghị Potsdam đã giao cho họ là giải giáp vũ khí quân đội Nhật Bản. Họ đã tỏ ra khoan dung một cách khó hiểu.


Thay cho việc kể lể dài dòng, tôi xin nẽu lên tóm tắt một số sự cố điển hình để có thể hiểu rõ hơn tình hình về sự chung đụng quyền hành, một trong những thí dụ này là chuyện chiếc máy bay Dakota xuất phát từ Vinh.


Tôi đã dự định đưa từ Vinh vào Nam Kỳ một vài người Pháp đau bệnh cần chữa trị gấp. Số chỗ đã được dành sẵn cho họ trong chiếc máy bay quay trở lại Sài Gòn. Tất cả những giấy phép hạ cánh đã nhận được đủ. Phải có những giấy phép của những nhà chức trách Trung Quốc và Viêt Nam thì một chiếc máy bay Pháp mới được hạ cánh xuống sân bay Vinh. Những tiếp xúc với người Trung Quốc được thực hiện với một ban liên lạc, gọi là "ban liên lạc Pháp - Hoa" thiết lập từ khi Bộ tư lệnh Trung Quốc có mặt tại Hà Nội. Về phía Pháp có các đại uý Lonbaton, Gribelin Bérard và trung uý Augier. Sự kiên nhẫn mà những sĩ quan này phải chịu đựng trong những quan hệ tế nhị với quân đội chiếm đóng Trung Quốc cũng dễ hiểu. Chỉ do sự thông minh, tài ngoại giao, tính kiên trì và tinh thần hồ hởi của họ mà nhiều lần đã dàn xếp được những sự cố xảy ra theo đúng mức độ của sự việc; những người bệnh cũng đã được đưa tới sân bay đúng giờ. Loa phóng thanh trên sân bay báo tin máy bay đã tới. Phải đưa nhanh những người bệnh lên máy bay để máy bay tiếp tục bay vào Sài Gòn, đưa người bệnh tới bệnh viện ngay trong tối hôm đó.


Thế nhưng, ngày hôm sau Sài Gòn báo tin máy bay vẫn chưa tới. Đã chuẩn bị tổ chức tìm kiếm, thì đội phi hành đoàn trong chiếc Dakota báo tin máy bay vẫn hãy còn ở Vinh vì các nhà chức trách Trung Quốc chưa cho bay. Và người Trung Quốc cũng không cần giải thích, vẫn cứ không cho máy bay cất cánh, thậm trí còn cấm không cho những hành khách trên máy bay trở lại thị xã Vinh. Máy bay bị canh giữ chặt chẽ. Cả hành khách lẫn nhân viên phi hành đoàn đều phải ngồi lại, gặp đâu hay đó, trong khoang hoặc dưới cánh máy bay, chờ đợi thiện chí của lính gác Trung Quốc.


Chúng tôi lập tức kêu cứu tới Bộ tư lệnh Trung Quốc tại Hà Nội. Họ xác nhận các giấy phép đều hợp lệ và đã gọi điện cho ban chỉ huy quân đội Trung Quốc tại Vinh là chiếc Dakota vẫn đang bị bao vây. Bốn mươi tám giờ đã trôi qua. Mặc dù đã có lệnh từ Hà Nội, nhà chức trách Trung Quốc ở Vinh vẫn không cho chiếc máy bay của chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình.


Tôi tới gặp tướng Lư Hán, yêu cầu ông đích thân gọi điện cho Vinh để khẳng định mệnh lệnh giải phóng cho chiếc máy bay. Tướng Lư Hán đã làm theo, nhưng mấy giờ sau chúng tôi được biết, những mệnh lệnh của ông vẫn không được thực hiện.


Tướng Lư Hán lại bị thúc ép can thiệp ngay. Lúc đó ông mới giải thích với tôi, ông rất lấy làm tiếc về sự việc này, nhưng cần phải hiểu, trong sự cố vừa xảy ra có sự tranh chấp giữa lực lượng lục quân và các đơn vị thuộc lực lượng không quân đóng tại sân bay Vinh. Được sự đồng tình của Lư Hán là người đã trực tiếp chỉ thị cho các đơn vị lục quân Trung Quốc tại Vinh, tổ lái trên chiếc máy bay đã phải chờ đến khi viên thiếu uý không quân Trung Quốc phụ trách sân bay đi ăn cơm ở ngoài phố, lúc đó mới nổ máy bay để máy bay cất cánh. Lính gác thuộc đơn vị lục quân đã thực hiện chỉ thị của tướng Lư Hán cho chiếc Dakota bay thoát. Chính vì vậy mà chiếc máy bay này mới đánh lừa được viên thiếu uý không quân Trung Quốc chịu "trách nhiệm" về sân bay Vinh.


Mấy ngày sau, chất vấn về ác ý đã gây ra sự cố ở sân bay Vinh, ban tham mưu Trung Quốc mới giãi bày một cách thành thật rằng, đúng là giấy phép có ghi rõ chiếc Dakota của Pháp có thể hạ cánh xuống Vinh để mang đi vài người Pháp sống tại thị xã này, nhưng lại không ghi là chiếc máy bay này được tiếp tục cất cánh. Vì vậy, khi máy bay hạ cánh đã được tiếp nhận rất lịch sự, nhưng không được phép rời khỏi Vinh.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 24 Tháng Mười, 2021, 05:06:31 pm
Những sự cố tương tự như vậy kéo dài suốt hơn một năm. Nếu có những sự cố nhẹ nhàng, nếu có những việc lạm dụng quyền hành rất nhiều như tất cả mọi quân đội chiếm đóng đều gây ra, thì hỡi ôi! Cũng có cả những sự cố rất nghiêm trọng, không phải xảy ra vô tình.


Vụ giấy bạc mệnh giá 500 đồng Đông Dương xảy ra hồi cuối tháng 11 năm 1945 đe doạ dẫn đến thảm hoạ. Đầu đuôi câu chuyện như sau:

Tháng 8 năm 1945, vài tuần trước khi sụp đổ Nhật Bản đã cho in từ nhà máy in của Ngân hàng Đông Dương mà họ chiếm được hàng trăm triệu giấy bạc mệnh giá 500 đồng. Trong mối quan tâm đáng lo ngại, xuất phát từ quan điểm chính thống về tiền tệ, một buổi sáng các nhà chức trách ở Sài Gòn1 (Hồi ký của Salan viết cụ thể: "Đô đốc D'Argenlieu ở Sài Gòn đã quyết định cấm lưu hành trên toàn lãnh thổ Đông Dương loại tiền giấy mệnh giá 500 đồng, in từ 9 - 3 đến 25-9-1945, trong số đó đã phát hiện có nhiều tiền giả." (Sách đã dẫn, trang 231) - ND) đã tuyên bố, dĩ nhiên không báo trước, huỷ bỏ toàn bộ những loại tiền mệnh giá 500 đồng đã in trong khoảng thời gian từ 9 tháng 3 đến 25 tháng 9 năm 1945. Còn những số tiền cùng loại đã in từ trước thì tạm cất giữ trong các ngân hàng. Hành động này là hoàn toàn chính đáng. Nhưng Sài Gòn đã không lường hết những hậu quả xảy ra ngay tức khắc.


Thật vậy. Bởi vì số lớn tiền giấy mệnh giá 500 đồng in trong mùa thu 1945 là nằm trong tay Bộ tư lệnh quân đội Trung Quốc ở Hà Nội và những doanh nghiệp lớn của người Hoa ở Bắc Đông Dương. Tôi được mời đến một cách lịch sự, để giải thích về chủ trương này và sau đó là để hoãn thực hiện không thời hạn. Trong trường hợp ngược lại, tôi được cảnh báo là sẽ rất khó trấn an được dân chúng Việt Nam đang rất "xúc động'" trước việc ăn hiếp một cách không thể chấp nhận được.


Tôi thành thật tự xét không có khả năng để trả lời chất vấn này. Bởi vì, Sài Gòn tuyệt đối giữ bí mật và bản thân tôi cũng chỉ được biết quyết định trên qua đài phát thanh vào đúng ngày quyết định đó có hiệu lực. Nhưng tôi không thể tiết lộ điều đó với những người lục vấn tôi. Tôi chỉ hứa sẽ đi Sài Gòn để được thông tin cụ thể.


Về phía dân chúng Việt Nam, họ vẫn bình thản khi nghe thông báo về biện pháp "tiền tệ" dù có chấn động đôi chút. Bởi vì số đông họ đều là dân nghèo, đến mặt mũi tờ 500 đồng đó như thế nào họ cũng không biết. Nhưng, vào khoảng 48 giờ sau thì sự bất công trong chủ trương tiền tệ đã gây chấn động. Nhiều cuộc biểu tình và tụ họp bắt đầu làm rối loạn trật tự thủ đô Bắc Kỳ. Các chi nhánh ngân hàng không chịu đổi tiền giấy 500 và những diễn biến càng trở nên đáng lo ngại từng giờ một.


Lúc này tôi đã tới Sài Gòn để tìm hiểu rõ những nguyên nhân của quyết định cấm lưu hành loại tiền giấy mệnh giá 500 nói trên. Một số người khởi xướng được cử cùng đi với tôi ra Bắc Kỳ để trực tiếp giải thích cho các bạn Đồng minh lý do tại sao không thể để loại tiền giả này tự do lưu hành.


Trong khi đó tình hình căng thẳng đã càng cao tại Hà Nội. Ngay khi vừa tới, tôi đã được báo tin một cuộc biểu tình đã được dự kiến tổ chức ngay trước trụ sở Ngân hàng Đông Dương sau khi tôi tới. Đúng như vậy, khoảng 14 giờ 30 có những tốp ngươi bắt đầu tụ tập trước cửa ngân hàng; tại vườn hoa Pasteur. Đến 15 giờ số người càng đông thêm. 15 giờ 30 những phát súng đầu tiên bắt đầu nổ.


Ai là kẻ đáng ngờ đã gây ra vụ này? Các cơ quan mật vụ Trung Quốc hay là dân chúng Việt Nam đã mạo hiểm trước lửa đạn chỉ vì một tờ tiền giấy mà có lẽ họ chưa bao giờ có.

Vài người bị thương được mang vào trụ sở ngân hàng để cứu chữa, về phía những "kẻ hành hung" cũng có những tên bị thương trong đó vài tên đến hôm sau đã chết.

Chúng tôi phải thoả thuận với các nhà chức trách Trung Quốc tổ chức một cuộc họp dưới sự chủ toạ của tướng Gallagher, chỉ huy phái đoàn Mỹ tại Hà Nội để dàn xếp vấn đề gai góc này.

Trong cuộc họp được tổ chức tại trụ sở phái đoàn Mỹ có các tướng lĩnh chủ chốt của tướng Lư Hán, ông Lăng Kỳ Hàn đại diện Bộ Ngoại giao Trung Quốc và một đại diện nữa của Bộ Tài chính Trung Quốc, về phía Pháp, ngoài ông Clarac là cố vấn liên bang ngoại giao và ông François Bloch Laine là cố vấn liên bang về tài chính cùng đi với tôi từ Sài Gòn ra Hà Nội, còn có các cộng sự viên của tôi; trong đó có ông Ledoux cố vấn tài chính của tôi, ông Jean Laurent tổng giám đốc Ngân hàng Đông Dương đang ở Hà Nội vài ngày, ông Baylin, giám đốc chi nhánh Ngân hàng Đông Dương tại Bắc Kỳ, một người Pháp rất đáng ca ngợi, thông thạo tiếng Trung Quốc, chủ một gia đình vĩ đại nước Pháp. Baylin là một con người vừa thẳng thắn vừa nhân hậu, chỉ biết có bạn, nhưng lại là nạn nhân chịu tội của vụ việc này. Vài ngày sau cuộc họp, trong khi ông đang chậm rãi trở về nhà bằng bước chân tập tễnh của một thương binh loại nặng hồi chiến tranh, ông đã bị một số kẻ lạ mặt bắn chết mà không bao giờ điều tra được tung tích.


Buổi họp hôm đó kéo dài gần một giờ và kết thúc bằng lời cam kết sẽ đổi những tiền giấy mệnh giá 500 đồng mà quân đội Trung Quốc đang giữ theo giá trị bồi hoàn. Tức là, một tờ 500 đổi được một tờ 150 đồng ở Nam Kỳ hoặc 250 đồng ở Bắc Kỳ. Và đã phải tiến hành nhiều cuộc đổi tiền loại này.


Vấn đề tiền tệ thường là nguyên nhân những khó khăn của chúng tôi với các nhà chức trách Trung Quốc, cần thừa nhận rằng, nước Pháp đã phải gánh chịu những phí tổn về việc Trung Quốc chiếm đóng miền Bắc Đông Dương. Trị giá của những phí tổn này được quyết định từ Trùng Khánh, và việc thanh toán phải thực hiện dưới bàn tay của chính quyền trung ương.


Ngày 25 tháng 3, Lư Hán đòi 300 triệu đồng Đông Dương. Chúng tôi từ chối. Bộ tư lệnh độc quyền Vân Nam liền đòi Ngân hàng Đông Dương phải nộp ngay cho họ bốn mươi triệu. Bất chấp những phản kháng của Pháp, nhiều khoản nộp khác vẫn cứ đặt ra và tổng số đã lên tới 400 triệu vào cuối giai đoạn chiếm đóng. Cũng phải thêm vào đó con số 14.000 tấn gạo nộp cho cơ quan hậu cần Trung Quốc, tương đương với 27 triệu đồng theo thời giá.


Trước khi rời khỏi Bắc Kỳ, ban tham mưu của tướng Lư Hán còn đòi thêm 250 triệu đồng. Rất dễ dàng hình dung được là số tiền này không phải dùng để trả lương cho binh lính bởi vì binh lính và hạ sĩ quan Trung Quốc đều được trả lương bằng đồng tiền Trung Hoa. Còn những số tiền Đông Dương này thì được dùng để "mua sắm" hoặc hùn vốn với các doanh nghiệp địa phương, biểu hiện đầu tiên của việc Trung Quốc lũng đoạn nền kinh tế Bắc Đông Dương.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 24 Tháng Mười, 2021, 05:07:25 pm
Một trong những biện pháp đầu tiên của Bộ tư lệnh quân đội Trung Quốc ngay khi mới tới là buộc dân chúng miền Bắc Đông Dương phải chấp nhận đồng tiền Trung Quốc coi đó như loại tiền tệ chính thức, ngang giá với đồng Đông Dương. Hơn nữa, đồng quan kim Trung Quốc còn được áp đặt trị giá tương đương với 1 đồng 50 tiền Đông Dương và ngang với 20 đô la Trung Quốc, một loại tiền mà hình dáng khuôn khố giống như đồng đô la Mỹ, gây cảm tưởng đó cũng là đô la của Mỹ. Một bản cáo thị được dán trên tường các phố phường Hà Nội đã làm cho đồng tiền Trung Quốc trở thành loại tiền tệ chính thức và dân chúng phải thấp nhận tỉ giá:

"Quân đội Trung Hoa được lệnh tiến vào Đông Dương để giải giáp quân đội Nhật Bản đầu hàng. Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ mà quân đội Trung Quốc phân tán binh lực. Không thể có được một hệ thống tiền tệ chung cho các cuộc giao lưu buôn bán. Vì vậy, nay ấn định tỉ giá các loại tiền Trung Hoa Dân quốc như sau:

1 quan kim = 1,5 đồng Đông Dương

20 đô la Trung Quốc = 1,5 đồng Đông Dương

Tỷ giá này là mệnh lệnh phải thực hiện, không được tự ý thay đổi với bất cứ hoàn cành nào. Kẻ nào không tuân lệnh sẽ bị Bộ chỉ huy quân đội Trung Quốc trừng trị nghiêm trọng.

Hành động độc đoán kiểu "ông hoàng" này đã dẫn đến những vụ đầu cơ tai tiếng kéo dài suốt vài tuần. Đồng quan kim được mua tận gốc tại Trung Quốc với giá rẻ gấp 5 lần sau đó đã được chuyển hàng đống vào Bắc Kỳ làm lợi cho người Hoa. Chỉ trong vài tuần, tất cả những thứ gì có thể bán được đều rơi vào tay người Hoa với giá rẻ như biếu không. Nguy cơ này khiến tôi phải cho tiến hành một thông tri cấm bán các tài sản của ngành thương mại Pháp nếu không được phép của cơ quan tôi.


Nếu không may có vài ngươi Pháp lẻ loi rơi vào những vụ đầu cơ trục lợi này thì ngược lại phải ca ngợi số đông cư dân Pháp ở Hà Nội và Bắc Kỳ đã chấp hành kỉ luật tốt. Tôi còn nhớ rất lâu, một hôm có một đoàn đại diện các chủ khách sạn tới gặp tôi, cho biết một vài người trong bọn họ muốn nhượng lại tài sản cho người Trung Quốc với giá rất hời đối với một số người, đây là khoản lợi nhuận có thể tích luỹ cả một cuộc sống lao động dài ngày ở Viễn Đông mới kiếm được. Họ đã nhìn thấy, nếu đem bán tài sản kinh doanh thì có thể được số tiền gấp 10 lần con số trong những giấc mơ lạc quan nhất của họ.


Tôi đã giải thích cho họ những lý do tôi phải ban hành thông tri nói trên mà không thể nào vi phạm được những điều đã quy định. Bởi vì, nếu tôi cho phép họ, thì tất cả những gì của Pháp ở Bắc vĩ tuyến 16 này chỉ vài tuần là biến thành sở hữu của Trung Quốc hết.


Những người đến gặp tôi không ai phản đõi, cũng không có một ai tiếc rẻ. Họ hiểu ngay quan điểm của tôi và từ đó tôi không bao giờ gặp họ yêu cầu vi phạm biện pháp này nữa.

Trong khi chiếm đóng chính thức Đông Dương từ Bắc vĩ tuyến 16, quân đội Trung Quốc đã tiến hành sự kiểm soát của họ tới tất cả các cơ quan và tất cả các hoạt động ở Đông Dương, cảnh sát Trung Quốc kiểm soát tất cả các sân bay, lục soát hành lý của các đồng bào chúng tôi, tịch thu tất cả các vũ khí mà họ có thể mang theo.


Cũng như mọi người Pháp, tôi đã có một va vấp cá nhân với hải quan Trung Quốc ở sân bay, gợi lên một ý niệm về uy thế của người đại diện nước Pháp trước sự đối xử của các bạn Đồng minh "con trời" như thế nào.

Từ Côn Minh trở về sau bốn mươi tám giờ đến đó nhằm giải quyết một số công việc, máy bay chở tôi và một vài quan chức Trung Quốc mà tôi cho đi nhờ, hạ cánh xuống Gia Lâm. Hành lý của tôi chỉ có một va ly nhỏ trong đựng một vài bộ đồ lót. Một viên cảnh sát hải quan Trung Quốc, chắc hôm đó hăng hái quá mức, đòi khám tất cả các hành lý. Một trong những nhân viên ra đón tôi, chàng may đã thông qua phiên dịch, báo cho viên cảnh sát hải quan biết tôi là ai, và tôi được hưởng quyền ngoại giao miễn khám xét. Thay vì trả lời, tên nhân viên sở thuế này đã nắm lấy quai chiếc va li, mở tung va li ra rồi trút các thứ bên trong xuống đường băng. Tôi phải thú thật rằng sự hổ thẹn đã làm tôi vung tay đấm một quả trước khi sự đĩnh đạc về chức vụ nhắc tôi tự kiềm chế đầy đủ hơn nữa những phản ứng của mình. Tên cảnh sát Trung Quốc vừa mới ngã sóng xoài trên đường băng trong tư thế chẳng vẻ vang gì thì ba tên đồng đội của hắn đã xông tới, tiểu liên cầm trong tay, vây chặt lấy tôi rồi dồn tôi đứng biệt lập dưới cánh máy bay, hò hét đe doạ.


May mắn làm sao đại diện Bộ Ngoại giao Trung Quốc là ông Lăng Kỳ Hàn cùng đi với tôi trong chuyến máy bay đã mất vài tiếng đồng hồ để hạn chế sự cố vừa xảy ra, tránh dẫn đến những mức độ quá đáng.

Tiếp theo vụ tiền giấy mệnh giá 500 đồng vừa được may mắn hạn chế những hậu quả xấu thì những khó khăn nghiêm trọng hơn lại xảy ra, khi các nhà chức trách Trung Quốc muốn đi tới cùng, đã tiến hành những hoạt động thật sự đe doạ đến an ninh của những kiều dân Pháp.


Thật vậy, một đợt tăng cường các hành động thô bạo đối với người Pháp đã được tiến hành trùng hợp đối với những đòi hỏi tài chính ít nhiều không tài nào chấp nhận được của phía Trung Quốc.

Vào khoảng nửa đầu tháng giêng năm 1946, người Trung Quốc còn đi xa hơn nữa. Tờ báo Thanh niên là cơ quan của đoàn thanh niên người Hoa mở một chiến dịch chống Pháp dữ dội. Vin vào cớ đã xảy ra những cuộc tiến công hoang tưởng của người Pháp chống lại người Hoa ở Sài Gòn - Chợ Lớn, tờ báo đã đăng nhiều bài đòi phải trừng trị người Pháp bằng luận điệu đặc biệt quyết liệt. Chẳng bao lâu, những bức tường trên các đường phố đều dán đầy áp phích với giọng điệu còn mạnh hơn nữa, đòi "mắt trả mắt, răng trả răng, đấm chọi đấm, phải làm cho người Pháp đổ máu".


Lính gác Trung Quốc để mặc cho những thanh niên người Hoa dán các áp phích này, thậm chí còn không cho bóc dỡ những lời kêu gọi bạo động. Trong những ngày 9, 10, 11 tháng Giêng năm 1946 nhiều người Pháp bị các nhóm người Hoa, cả dân thường lẫn binh lính, đuổi ra khòi nhà. Những phản kháng cua cơ quan Cao uỷ Pháp cũng vô hiệu: Lư Hán và toàn ban chỉ huy đều đi vắng!


Ngày 12, trật tự được lập lại, cần xác định một cách có ý nghĩa, vào thời điểm đó những cuộc đàm phán Pháp - Hoa đang diễn ra tại Trùng Khánh, và người ta có thể xét đoán rằng âm mưu của Trung Quốc nhằm mục đích làm cho Pháp cảm nhận thấy tình thế bấp bênh của Pháp ở Hà Nội, và giá trị của sự bảo vệ Trung Quốc.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 24 Tháng Mười, 2021, 05:08:23 pm
Việc đội quân Vân Nam đang đóng tại Bắc Kỳ bị gọi về nước để đưa lên miền Bắc đánh cộng sản, thay thế bằng đội quân của chính quyền trung ương Trùng Khánh, cũng làm tăng thêm sự mất an ninh cho người Pháp. Không cần quan tâm đến việc quân đội của mình bị đẩy đi xa, các lãnh chúa miền Tây Nam Trung Quốc vẫn cứ muốn tỏ ra rằng sự có mặt của họ là cần thiết cho việc giữ gìn trật tự. Các nhà chức trách Trung Quốc vẫn là những ông chủ của các đảng phái người bản xứ thân Trung Quốc, vẫn nhắm mắt làm ngơ trước những tội ác do bọn này gây ra.


Từ khoảng 20 tháng 12 năm 1945 đến ngày 5 tháng 1 năm 1946, cuộc xung đột giữa cáo đảng phái ở Việt Nam đã lên tới cực điểm. Đảng nào cũng muốn tỏ ra mình chống Pháp hăng nhất và những vụ hành hung nhằm vào người Pháp lại càng tăng.


Chỉ trong vòng mười lăm ngày, đã có 15 người Pháp hầu hết là quân nhân bị mất tích rất bí mật ở khu vực chung quanh thành Hà Nội, trong phố Carnot do đảng Việt Nam cách mệnh Đồng minh hội thân Trung Quốc đặt trụ sở ở đó. Những cuộc kêu cầu các nhà chức trách Trung Quốc được tiến hành ngay lập tức nhưng không có kết quả, nhà đương cục Trung Quốc vẫn cứ chứng tỏ rằng, đối với một đảng phái được họ che chở thì những lỗi phản kháng không đi đến đâu cả.


Những tin tức thu lượm được cho biết, những người mất tích đã bị hành hình và chốn ở khu vườn của đảng ở ngay gần thành Hà Nội. Sau khi Pháp giành lại được khu thành này vào hồi tháng 4 năm 1946 những cuộc khai quật đã phát hiện được mười hai xác chết vẫn còn dây thừng thít chặt cổ họng. Một số đã được nhận dạng. Đó chính là số ngươi trong danh sách mất tích hồi tháng Mười Hai.


Tôi cũng đã từng nêu rõ thái độ của Bộ chỉ huy quân đội Trung Quốc đối với các sĩ quan do Phái đoàn 5 uỷ nhiệm làm sĩ quan liên lạc với họ. Những biểu hiện thù địch thường diễn ra thường xuyên. Tháng 1 năm 1946 những đơn vị do đại tá Quilichini chỉ huy từ Vân Nam kéo về Bắc Kỳ muộn do nhiều lý do, khi hành quân tới Điện Biên Phủ đã bị quân đội Trung Quốc đóng tại đây chặn lại mãi cho tới tháng 5.


Trong suốt khoảng thời gian đó, những phân đội nhỏ của Pháp nhảy dù hoặc rút bằng đường bộ về Lào cũng bị quân đội Trung Quốc xua đuổi và tước vũ khí. Đại diện Pháp tại Viêng Chăn bị người Trung Hoa bắt giữ, và đại diện Pháp ở Thượng Lào buộc phải chạy sang Thái Lan.


Thái độ thù địch thẳng thừng đó đã được phía Trung Quốc "chứng minh" là do những vụ hành hung của người Pháp đánh vào người Hoa, Bộ chỉ huy tối cao của Trung Quốc thậm chí còn đưa ra một bản liệt kê những vụ hành hung giả tưởng đó, để đổ trách nhiệm cho các nhà chức trách Pháp tại Hà Nội.


Ngay từ lúc mới đặt chân tới Hà Xội, các nhà chức trách Trung Quốc đã thể hiện rõ một sự nghi ngờ thù địch đối với những người Pháp nói chung và các quân nhân Pháp nói riêng. Ví dụ như ngày 5 tháng 10 năm 1945, khoảng từ 200 đến 300 lính Trung Quốc đã xông vào thành, là nơi sau khi bị Nhật Bản giam giữ, vẫn còn khoảng từ 4 đến 5.000 quân nhân Pháp phải tập trung trong đó. Lính Trung Quốc đã đặt súng máy ở các vị trí rồi lục soát các gian phòng của các quân nhân Pháp. Cuộc khám xét này đã do một thiếu tá Nhật Bản tên là Hiraga làm cố vấn, nếu không phải là chỉ huy. Phải nhờ Mỹ can thiệp mới chấm dứt được hành động ngược đời và bỉ ổi này.


Thái độ tương tự không phải chỉ diễn ra duy nhất về mặt quân sự.

Việc bãi bỏ chế độ bang trưởng người Hoa của các đại biểu Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã tỏ rõ ý định của nhà đương cục Trung Quốc không đếm xỉa gì đến quyền lực của nước Pháp. Trước kia tất cả những người Hoa ở Đông Dương thuộc Pháp đều được Pháp tập hợp thành phường hội theo từng tỉnh ở Trung Quốc mà họ đã sinh trưởng. Những phường hội này, gọi là bang, có tính cách độc lập với nhau, và chỉ quan hệ trực tiếp với hệ thống cai trị của Pháp. Bây giờ các phường hội riêng rẽ này nằm trong một tổ chức chung gọi là tổng hội người Hoa gồm toàn bộ những người Hoa ở phía Bắc vĩ tuyến 16, và tổng hội này đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của tổng lãnh sự Trung Quốc, mà không thèm hỏi ý kiến của các nhà đương cục Pháp.


Các nhà chức trách trong đội quân chiếm đóng của Trung Quốc tại Hà Nội còn truất phê ông Deroche, một công chứng viên, của Pháp tại Hà Nội. Mặc dù phía Pháp đã phản kháng, việc nghiên cứu tập hồ sơ gồm tới 40.000, có bản lưu trữ từ năm 1880 của viên công chứng vẫn cứ được trao cho một luật sư tập sự người Việt. Ác ý của Trung Quốc đối với các cơ quan của tôi là nổi bật nhất.


Phải mất bốn tháng thương lượng không ngừng mới giành lại được toà nhà trước kia dùng làm trụ sở viện Radium đang biến thành trại lính của quân đội Trung Quốc. Ngày 28 tháng 1 năm 1946 tôi đã cho đặt trụ sở của Ủy viên Cộng hoà Pháp tại toà nhà này, tức là sau 5 tháng sau khi chúng tôi tới Hà Nội mới có được một nơi làm việc đàng hoàng.


Để có được vài chiếc xe ô tô dùng cho công tác, những khó khăn càng lớn hơn gấp bội. Bộ chỉ huy quân đội Trung Quốc thường viện lý do, những chiếc xe này đều thuộc các chiến lợi phẩm, họ không thể tự ý giải quyết. Nhưng rồi sau, họ lại đem bán những xe cộ này với giá đắt như vàng cho các thương nhân người Hoa hoặc người Việt.


Dù sao, chúng tôi cũng đã kiếm được bốn hoặc năm chiếc xe, và đến lượt bây giờ phải kiếm chất đốt. Trung Quốc đã chiếm được các kho xăng của Nhật Bản, phần lớn là các kho cũ của Pháp. Chúng tôi phải mua qua trung gian với giá 600 Franc một lít. Việc mua bán này, quả là một chuyện "tống tiền" thật sự, đã dẫn đến nhiều hậu quả tai hại, trong đó có nhiều người Pháp bị mất tích.


Trên thực tế, đây là cuộc săn lùng các "chiến lợi phẩm" với sự chuyển nhượng trục lợi, nói gọn lại là một "áp - phe" làm nảy sinh những vụ đụng độ nhiều nhất, đáng tiếc nhất, với các binh lính đạo quân chiếm đóng.


Quan điểm của phía Trung Quốc đối lập rõ với chúng tôi trong lĩnh vực này. Cái gì hiện ra dưới mắt người Trung Hoa như một lợi nhuận bình thường và đều đặn thì đối với những người Pháp lại là điều ghê tởm.


Nếu như những đồng bào của chúng tôi bị tổn hại bởi vụ cướp đoạt do quân đội chiếm đóng gây ra, thì dân chúng Việt Nam và cả người Hoa cũng là nạn nhân. Ý thức về vai trò của người bảo hộ mà Pháp liên tục đòi giành lại, chúng tôi đã tìm mọi cách để chặn đứng bằng những phương tiện yếu kém của mình.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 24 Tháng Mười, 2021, 05:09:15 pm
Sĩ quan Trung Quốc ở tất cả mọi cấp đều là các "nhà buôn" đúng nghĩa và công khai. Đó là điều quan tâm chủ yếu của họ. Nhiều người trong bọn họ chỉ khoác bộ quân phục để đi buôn.

Cần nhấn mạnh thêm, những chuyện buôn bán này vẫn được họ coi là hoàn toàn bình thường. Một sĩ quan Trung Quốc, được hỏi về số tiền lương của mình, đã trả lời: "Tuỳ theo từng tháng, bởi vì chúng tôi còn có một khoản phụ thu, một tỷ lệ hoa hồng phần trăm trên các phi vụ buôn bán của ban tham mưu".


Trong vòng vài tháng, các quân nhân Trung Quốc đã dính líu đến nhiều vụ áp - phe đủ loại. Nếu các sĩ quan hải quân "tịch thu" động cơ các tàu hoa tiêu bến cảng Hải Phòng, đưa về Trung Quốc ba chiếc tàu nạo vét của sở Công chính và các sà-lúp rồi bán lại cho các nhà buôn, thì các tướng lục quân lại thích săn lùng ô tô, các cấp úy lại chộp lấy những con ngựa đua, còn lính thường thì đem bán đồ đạc, khung cửa, ống nước, gạch ngói nơi đóng quân.


Việc vận chuyển về Trung Quốc tất cả các chiến lợi phẩm tạp nham này thật không thể nào định giá được, nhưng sơ bộ cũng ước lượng lên tới 250 triệu đồng Đông Dương, tiến hành bằng các đường thuỷ, đường bộ và cả đường hàng không. Không hiếm thấy tại Gia Lâm một vị tướng Trung Quốc khi lên máy bay trở về Côn Minh đã mang theo thảm len, tác phẩm nghệ thuật,... chưa tính đến các ngoại tệ và kim loại quý cất trong hành lý của mọi quân nhân khi quay về nước. Cả một chiếc đàn dương cầm cũng được nhìn thấy đưa lên khoang máy bay của công ty hàng không Trung Quốc.


Rất dễ hiểu, nếu các sĩ quan hoặc viên chức cai trị người Pháp cố gắng lập lại đôi chút trật tự trong các vụ lộn xộn hái ra tiền này thì họ sẽ bị coi như những kẻ quấy rầy. Người Trung Quốc buộc phải chấp nhận sự có mặt của các nhà chức trách người Pháp này, nhưng không có gì ngăn cản được họ làm thất bại nhiệm vụ của người Pháp.


Những câu trả lời dây dưa hoặc thủ đoạn không tiếp nhận là sự chờ đón không thay đổi trước những phản kháng chính đáng nhất của chúng tôi. Ngày 10 tháng 10 rồi tiếp đó là ngày 29 tháng 1 năm 1946 tôi đòi phía Trung Quốc trao trả lại những máy ảnh và máy thu thanh bị Nhật Bản tịch thu không có biên lai chứng nhận. Nhà đương cục Trung Quốc trả lời: "Các máy thu thanh và chụp hình đã được quân đội Nhật Bản giao nộp cho Trung Quốc, không phải là những thứ có thể trả lại cho Pháp". Đúng là Bộ tư lệnh Trung Quốc khó mà trả lại được những vật dụng này vì nó đã được đem bán hết rồi.


Các kho tàng chứa đựng tất cả vật liệu của tư nhân hoặc các công ty kinh doanh trước kia bị Nhật Bản tịch thu cũng chịu chung số phận. Các vật liệu đường sắt, dù nằm trong khu vực công hay tư (như các vật liệu của công ty mỏ Decauville và các công ty nạo vét v.v...) đều bị tháo gỡ, đưa về Trung Quốc.


Các nhà đương cục Trung Quốc giải thích quan điểm của họ như sau: "Quân đội Trung Quốc được lệnh vào Đông Dương tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật Bản, có quyền sở hữu tất cả các tài sản Nhật Bản, Chính phủ Trung Quốc tuyệt đối có quyền phân phối các tài sản đó".


Chính phủ Trung Quốc gánh chịu tất cả! Vậy mà họ đã hoàn toàn xa lạ trước việc buôn bán đang trở thành đặc quyền của các nhà chức trách quân sự địa phương.

Vì vậy, tất cả những thứ gì mà Nhật Ban đã "mó tay" đều là chiến lợi phẩm của Trung Quốc, và tất cả mọi kẻ chiếm được, từ binh nhì đến tổng tư lệnh đều thu gom chiến lợi phẩm này để rồi lại tuồn ra thị trường tại chỗ, hoặc đưa về Trung Quốc.


Các hiệp định ký kết tại Trùng Khánh về việc quân đội Pháp thay thế quân đội Trung Quốc chỉ càng làm tăng thêm nhịp độ những "vật phẩm" thu gom này và tất cả mọi lý do đều được tận dụng để làm chậm việc hồi hương của quân chiếm đóng.


Việc thay quân vẫn được tiến hành, nhưng rất chậm, do những tiếc nuối của các vị tướng Tàu trước sự kết thúc một quá trình chiếm đóng nhiều bổng lộc.

Ở Hà Nội 15 nghìn quân vẫn cố bám giữ dưới nhiều lý do luôn luôn mới mẻ. Ở Hải Phòng: 14.000. Ở Lào, tướng Lữ chỉ huy sư đoàn 93 Độc lập vẫn ở lại mãi đến tháng 6 năm 1946 với lý do đây là sư đoàn độc lập, không phải tuân theo mệnh lệnh của Lư Hán và ông ta tự mình đặt ra thời gian biểu cho việc rút quân.


Trên thực tế, viên tướng này đã chờ vụ thu hoạch thuốc phiện, và chỉ rời khời Lào sau khi đã tịch thu lúa gạo, trâu bò, cướp bóc dân chúng, chiếm đoạt vụ thu hoạch quý báu.

Trong khi chờ ngày lui quân, quân lính của ông ta đã thường xuyên tiến công làm thiệt hại nặng các đơn vị quân Pháp ở Lào.

Trong vùng đồng bằng Bắc Kỳ, lính Trung Quốc bực tức vì sắp phải ra đi, càng đẩy mạnh những việc gây rối. Đêm 14 rạng 15 tháng 5 năm 1946, một máy bay Pháp bị rơi cách Hà Nội vài kilômét. Lính Trung Quốc đóng tại Hà Đông đã ngăn đoàn xe cứu thương của Pháp được các nhà chức trách Pháp tại Hà Nội đưa tới chỗ máy bay gặp nạn. Những chiếc xe chữ thập đỏ này phải chờ suốt nửa ngày mới được đi tiếp sau khi đã nhiều lần khẩn cầu Bộ tư lệnh quân đội Trung Quốc can thiệp. Một phi công bị thương đã chết do cứu chậm quá.


Ngày 21 tháng 4, nhân dịp lễ Phục sinh, một vụ va chạm nhỏ đã xảy ra giữa một xe tải Pháp với một xe tải Trung Quốc ở ngã tư đường phố Hà Nội. Vụ va chạm bình thường này đã bùng nổ thành một sự cố cực kỳ nghiêm trọng. Trong khi các sĩ quan liên lạc đang có mặt tại chỗ để dàn xếp thì ba chiếc xe tải chở đầy lính Trung Quốc do một sĩ quan cấp cao chỉ huy chạy tới. Lính trên xe nhảy xuống đất, nổ súng vào những người đi dạo trong buổi đẹp trời của mùa xuân Bắc Kỳ. Nửa giờ sau, lính tuần tra của Pháp đi trên xe bọc thép mới tới. Lính Trung Quốc liền núp trong những căn hộ gần đó, từ trên mái nhà và sau khung cửa sổ tiếp tục bắn ra, trong khi binh lính Trung Quốc đóng trong thành Hà Nội cũng toả ra ngoài phố bắn loạn xạ không cần phân biệt vào những đội lính tuần tra, những quân nhân đi lẻ và cả dân thường người Pháp.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 24 Tháng Mười, 2021, 05:09:53 pm
Chỉ riêng một sự việc này cũng đủ nói nhiều về thái độ điên khùng của binh lính Trung Quốc. Đây là một bằng chứng trích trong báo cáo của một sĩ quan Pháp:

"Khoảng 16 giờ tôi rời khỏi nhà, đi xe tới địa điểm cấp trên triệu tập. Cách nhà 100 mét, tôi nhìn thấy khoảng 30 lính Trung Quốc đứng chắn đường. Tôi giơ tay phải lên cao rồi bất đầu hãm phanh, dừng xe cách chỗ họ đứng khoảng 10 mét. Chợt tôi vấp phải những làn đạn bắn đi từ ba khẩu tiểu liên Thompson. Tôi vội bỏ chiếc xe Jeep nhày ra ngoài, nằm úp bụng xuống đất, núp sau một gốc cây to. Súng tiểu liên vẫn tiếp tục bắn khoảng hai phút nữa rồi binh lính Trung Quốc xông đến chỗ tôi, lấy chân đá, lấy báng súng nện vào bụng, lẩy tay tát. Bọn họ có hai sĩ quan (một đại uý và một trung uý). Tôi bị lôi đi đứng sát vào tường, hai tay giơ cao, trong khi bốn tên lính Trung Quốc chĩa tiểu liên vào người. Do một phản xạ mà lúc đó chính tôi cũnq không rõ tại sao lại làm được như thế, tôi nằm lăn ra đất trong khi các làn đạn bay qua trên đầu. Tôi nhảy tiếp vào một hành lang cách đó khoảng một mét về phía tay phải. Tôi nhảy tiếp qua một bức tường thấp trong khi làn đạn thứ hai đuổi theo. Tôi lao vào một phố khác. Nhìn thấy một căn hộ cửa mở toang trước mặt, tôi liền chạy luôn vào đó. Tôi đã ở trong nhà của người Pháp, ở bên ngoài, tiếng súng vẫn nổ kéo dài suốt 5 giờ. Từ cửa sổ ngôi nhà tôi đang trú ẩn, tôi nhìn thấy một chiếc xe Jeep chạy qua đang bị lính Trung Quốc đứng sau gốc cây nhằm bắn như một mục tiêu di động. Người lái xe gục xuống trong khi tiếng còi điện trong xe vẫn kêu. Bất chấp đạn bắn, một số người Pháp trong nhà đã lao ra lôi người bị nạn vào cấp cứu.
Khoảng 17 giờ 30, một chiếc xe cứu thương đi tới. Tôi lợi dụng chiếc xe để thoát khỏi nơi trú ẩn.

Tôi xin thề đã kể lại đúng y nguyên sự việc quái gở đã xảy ra".

Trong cơn điên khùng tập thể, lính Trung Quốc còn bắn vào xe chở lãnh sự Anh và tiến công lãnh sự quán Mỹ mà chính quân Pháp đã tới giải vây.


Người ta có thể hình dung được những phản kháng của Pháp là rất mạnh mẽ. Mỹ và Anh cũng cùng phản kháng. Nhưng, mười hai người Pháp đã bị chết, ba mươi người Pháp nữa đang bị thương, bẩy người Việt bị chết, mười bốn người Việt khác bị thương, đó là tổn thất do cơn điên dại bột phát của Trung Quốc.


Những lệnh báo động liên tiếp được phát đi trong khoảng thời gian ấn định để đạo quân chiếm đóng của Trung Quốc tập trung, tập hợp, chuẩn bị lên đường về nước. Có một số đơn vị đã lên đường trở về, lại đột nhiên quay lại như tiếc rẻ, dự định chiếm lại những nơi đóng quân cũ. Một số đơn vị khác lại quyết định đi xuống Hải Phòng để về nước bằng tàu biển, trong khi lộ trình của họ phải dùng đường bộ.


Tóm lại, tất cả bọn họ đều tìm cách tranh thủ thời gian, tìm cách gây ra sự cố vì nghĩ rằng do những sự cố này sẽ được giữ lại trên lãnh thổ Bắc Kỳ. Cuối cùng, mãi tới ngày 18 tháng 9 năm 1946 trung đoàn cuối cùng của sư đoàn danh dự của Tưởng Giới Thạch mới rời Hải Phòng sau khi đã được dùng làm đơn vị bảo vệ cho việc xuống tàu rời khỏi thành phố chiến lợi phẩm này.


Cùng với sự ra đi của 3.200 lính thuộc đơn vị này, cũng chấm dứt sự chiếm đóng miền Bắc Đông Dương của các đội quân do Lư Hán chỉ huy. Nếu tôi đã nhấn mạnh đến thái độ của Trung Quốc trong thời gian này, nếu tôi đã nêu lên hết cả các chi tiết, thì đó không phải là tôi muốn soạn thảo một bản cáo trạng, mà chỉ muốn để mọi người biết rằng, nếu trên trái đất này có một khu vực thể hiện "luật pháp thuộc về kẻ mạnh nhất" thì đó là châu Á. Dựa vào sức mạnh của họ, những người Trung Hoa có trong tay luật pháp của họ. Các đội quân của Trung Quốc đều sống trên người dân, vì vậy không còn nghi ngờ gì nữa, dù là quân của Vân Nam hay quân của Chính phủ Trùng Khánh, những đơn vị này đều có thái độ xử sự như nhau.


Tôi nghĩ, việc tóm tắt tình hình đã xảy ra của các đội quân Tưởng Giới Thạch sẽ giúp bạn đọc hiểu rõ hơn những khó khăn mà chúng tôi phải vật lộn.

Nước Pháp, hỡi ôi, sẽ còn phải vượt qua rất nhiều trở ngại khác để lấy lại vị trí của mình.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 29 Tháng Mười, 2021, 02:51:27 pm
XI
SỢI DÂY CĂNG


Ngay từ khi tới Hà Nội ngày 22 tháng 8 năm 1945, chúng tôi đã phải lao vào một cuộc đấu tranh trên tất cả mọi lĩnh vực, mọi vấn đề, nhỏ nhặt nhất cũng như thiết yếu nhất, không thể nào kế lại hết ở đây những chi tiết. Đó là thời kỳ căng thẳng thần kinh đối với những người Pháp trong những ngày quá dài sống dưới khí hậu Bắc Kỳ. Tuy nhiên, với sự kiên nhẫn của đàn nhện, chúng tôi đã thiết lập lại, đã "giành lại" tất cả những gì trước kia là của Pháp, tấn cả những gì tiêu biểu cho công trình xây dựng của Pháp. Các sở bưu điện, tài chính, bệnh viện đều thu lại được trong tay, sắp xếp lại trật tự để vận hành1 (Sainteny lại bịa đặt. Cho đến khi ký Hiệp định Sơ bộ 6-3-1945 với Pháp, chính Pháp vẫn phải long trọng thừa nhận không có "nền tài chính riêng". Các sở bưu điện truyền thống, giao thông công chính... và mọi cơ quan khác lẫn do chính phủ ta quản lý - ND).


Mặc dù có sự căng thẳng bao trùm lên những ý định của chúng tôi, muốn tiếp cận với chính phủ cách mạng, tuy nhiên những cuộc tiếp xúc giữa chúng tôi với những người chủ mới của Việt Nam đang để ngỏ hy vọng có thể đạt được một thoả thuận. Chúng tôi vẫn kiên trì để ngỏ cửa cho những cuộc thương lượng.


Ngày 28 tháng 9 năm 1945, khi tôi đang ở Chandernagor, Allessandri và Pignon đã gặp Hồ Chí Minh. Sau cuộc gặp đầu tiên này, họ đã gửi tới Chandernagor một bức điện đánh giá nhà cách mạng lão thành này là một "nhân vật hùng mạnh và được kính nể".


Ngày 6 tháng 10, họ lại có cuộc nói chuyện nữa với Hồ Chí Minh, người càng ngày càng tỏ rõ là người đứng đầu mới của đất nước Việt Nam.

Khi quay trở lại Hà Nội, tôi cũng đã tiến hành và tiếp tục những cuộc tiếp xúc cá nhân với Hồ Chí Minh. Cùng trong lúc đó, tôi cũng đã thử phát huy các mối quan hệ bằng cách tìm gặp những thủ lĩnh khác của những người Việt Nam theo chủ nghĩa dân tộc là những người cống khai hoặc bí mật thù địch chống đối chính phủ cách mạng. Ngày 12 và 15 tháng 10 tôi đã cùng với Léon Pignon tiếp xúc với Nguyền Hải Thần, thủ lĩnh Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội thân Quốc dân đảng Trung Quốc, có đảng kỳ rập khuôn theo lá cờ của Trung Hoa Dân quốc. Những lá cờ này được mang theo hành lý của đạo quân Lư Hán đã tung bay ở một số vùng khu vực biên giới. Nhưng tại Hà Nội những lá cờ của Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội hãy còn rất thưa thớt.


Những cuộc nói chuyện bí mật của chúng tôi với Nguyễn Hải Thần chẳng đem lại một kết quà nào. Nguyễn Hải Thần nhanh chóng lộ rõ mặt là một nhân vật lu mờ, không có một uy thế nào mà cũng chẳng có một lực lượng nào.

Với Bảo Đại, nay trở thành ông Vĩnh Thuỵ, cố vấn tối cao của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, tôi kém phấn khởi hơn nữa! Ý đồ của tôi đối với Bảo Đại lớn hơn là chuyện muốn gặp lại một cựu hoàng mà cá nhân tôi đã quen biết từ nhiều năm nay. Nhưng Bảo Đại đã lẩn tránh hai cuộc gặp đã hẹn trước. Tõi đành phải chờ đến tận ngày 7 tháng 3 năm 1946 mới được gặp ông vua cũ này khi ông cùng dự với Hồ Chí Minh buổi lễ đón tiếp các nhà ngoại giao nhân dịp Hiệp định Sơ bộ Pháp-Việt vừa được ký kết ngày 6 tháng 3 năm 1946.


Ngoài những câu nói xã giao tẻ nhạt, Bảo Đại từ chối mọi cuộc tiếp xúc.

Còn Việt Nam Quốc dân đảng là đảng phái hồi đó đã đồng ý hoặc buộc phải đứng về phía Việt Minh, cũng tỏ vẻ không muõn tự do tiếp xúc trực tiếp với Pháp.

Vì vậy, chúng tôi chỉ tiếp tục nói chuyện với một mình Hồ Chí Minh. Những cuộc nói chuyện này đã ít nhiều bị đứt nhịp với diễn biến căng thẳng hoặc dồn dập của tình hình.

Cũng như Allessandri và Pignon, ngay từ những cuộc tiếp xúc đầu tiên với Hồ Chí Minh, tôi đã có ấn tượng đây là một nhân vật khắc khổ, có gương mặt thể hiện rõ tất cả sự thông minh, nghị lực, tinh khôn và tế nhị. Đó là nhân vật hàng đầu nhanh chóng nổi bật rõ nét trên sân khấu chính trị châu Á, không ai sánh kịp. Tôi xin tóm tắt rất sơ lược những gì hồi đó tôi được biết về nhân vật này:


Nguyễn Văn Thành, tức Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Sinh Cung, Lý Thuỵ rồi từ 1944 là Hồ Chí Minh, sinh năm 1892 tại tỉnh Nghệ An. Ông là con trai một vị quan lại bị cách chức vì những lý do mà hiện nay vẫn đang còn tranh luận.


Năm mười chín tuổi, Hồ Chí Minh từ biệt gia đình xuống tàu Latouche Tréville làm bồi bếp, khởi đầu một cuộc hành trình dài đưa ông đến Mỹ, Anh, Đức, rồi Paris là nơi ông định cư ở đó. Ông làm rất nhiều nghề, đặt biệt là nghề thợ ảnh. Đó là những cách để ông kiếm sống và để có điều kiện say sưa tham gia các vấn đề chính trị. Ông nghiền ngẫm các tác phẩm Karl Marx và tiếp tục nghiên cứu nhiều ngoại ngữ. Chính vì vậy cho nên ngoài tiếng Việt và nhiều thổ ngữ ở Đông Dương, ông còn nói thạo tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nga. Ông cũng nghiên cứu những ngôn ngữ cơ bản của tiếng Đức.


Năm 1918, ông mở đầu sự nghiệp chính trị của mình bằng cách gửi "Bản yêu sách của nhân dân An-nam" tới Tổng thống Pháp Clemenceau, Thủ tướng Anh Lloyd George và Tổng thống Mỹ Wilson. Từ đó trở đi, con đường dài của người chiến sĩ đấu tranh đã dẫn Hồ Chí Minh tới trung tâm của tổ chức Mác-xít và cách mạng, ở đâu, ông cũng được mọi người chú ý vì tính thông minh, niềm tin tưởng, sự chân thành và cuộc sống khổ hạnh của mình.


Năm 1920 ông dự hội nghị Tours bên cạnh Marcel Cachin. Tại hội nghị này, một bộ phận của Đảng Xã hội Pháp đã chuyển thành Đảng Cộng sản, tách rời khỏi Đệ nhị quốc tế xã hội để gia nhập Đệ tam quốc tế, còn gọi là Quốc tế cộng sản.

Năm 1921 ông thành lập Hội liên hiệp quốc tế các thuộc địa, năm 1922 xuất bản tờ báo Le Paria (Người cùng khổ).

Năm 1923 Hồ Chí Minh đi Matxcơva và đến năm 1925 lại từ Matxcơva Liên Xô đi Quảng Châu Trung Quốc làm việc bên cạnh Borodine. Tại đây ông đã cùng với nhà cách mạng Ấn Độ Koy thành lập Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức. Ông đã liên hợp chung quanh mình tất cả những đồng bào của ông có khát vọng đấu tranh chống chính quyền thực dân của Pháp. Ông đã huấn luyện họ, chỉ thị cho họ về nước hoạt động bí mật với nhiệm vụ tạo thành những mầm mống đầu tiên của các phong trào chống Pháp. Sau đó, ông còn tiến hành hoạt động trong các tầng lớp nhân dân Đông Dương tại Thái Lan.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 29 Tháng Mười, 2021, 02:52:34 pm
Năm 1927, cánh hữu của Quốc dân đảng Trung Quốc phát động cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cộng sản. Hồ Chí Minh tạm lui dần về Quảng Tây rồi lại trở về Matxcơva.

Cuối năm 1927, sau một thời gian ngắn ở Berlin, ông được giao nhiệm vụ tổ chức Đảng Cộng sản Đông Dương, ồng về Thái Lan hoạt động rất bí mật cho tới năm 1930 mới sang Hồng Công là nơi các đảng phái ở Đông Dương tới họp nhằm đạt được một sự thoả thuận chỉ trong vài giờ và chỉ với uy tín của mình, Hồ Chí Minh đã thực hiện được sự thống nhất, ông trở thành người đứng đầu Đảng Cộng sản Đông Dương và phụ trách tất cả những đảng cộng sản ở Inđônêxia, Thái Lan, Malaixia. Hoạt động của ông thật lớn rộng và do đó, hồi tháng 6 năm 1932 ông đã bị các nhà chức trách người Anh ở Hồng Công bắt giữ lúc ông đang ở Cửu Long. Năm 1933 ông được trả lại tự do nhưng chưa trở về nước vội. Từ bên ngoài, ông chỉ đạo toàn bộ hoạt động cách mạng ở Đông Dương, có liên hệ chặt chẽ với Quốc tế cộng sản và uốn nắn các phong trào cho phù hợp với những diễn biến chính trị ở Pháp. Chính vì vậy, trong khoảng thời gian từ 1936 đến 1938 là lúc Mặt trận bình dân lên cầm quyền ở Pháp, ông đã chỉ thị hợp tác với Pháp.


Tháng 6 năm 1940, khi Chính phủ Pháp ký Hiệp định ngừng bắn với Đức rồi đến tháng 9 năm đó khi quân đội Nhật Bản tiến vào Bắc Kỳ, Hồ Chí Minh lúc đó đang ở Vân Nam đã phát động cuộc đấu tranh chống Nhật Bản chiếm đóng. Ông cũng lợi dụng đồng thời việc Pháp suy yếu để chuẩn bị phong trào khởi nghĩa.


Tháng 5 năm 1941, Hồ Chí Minh vượt qua tất cả mọi khó khăn trở ngại đã thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh, gọi tắt là Việt Minh.

Việt Minh là tác phẩm của Hồ Chí Minh. Vượt qua nhiều gió to sóng lớn Việt Nam Độc lập Đồng minh đã khiến cho giới cầm quyền của Quốc dân đảng Trung Quốc nể sợ. Chính quyền Quốc dân đảng Trung Quốc đã thành lập Hội Việt Nam cách mệnh Đồng minh hoàn toàn thân Trung Quốc, thậm chí còn bắt giữ Hồ Chí Minh hơn một năm.


Năm 1944, Hồ Chí Minh về nước qua địa phận Quân khu 2 của Pháp đã dấy lên cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên và sau khi Nhật Bản đảo chính Pháp ngày 9 tháng 3 năm 1945 đã đẩy mạnh hoạt động cách mạng phát triển kỳ diệu.

Ngày 16 tháng 8 năm 1945, ông lãnh đạo nhân dân giành được chính quyền và tuyên bố nến độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Đó là con người mà nước Pháp phải đối mặt và tôi phải thương lượng đàm phán hơn mười sáu tháng.

Do thông minh, học rộng, hoạt động phi thường, cuộc sống khổ hạnh, tuyệt đối vô tư không chút vụ lợi cá nhân, ông đã đạt được uy tín và sự gần gũi nhân dân không ai sánh kịp. Rất đáng tiếc là nước Pháp đã coi nhẹ, không hiểu hết giá trị và sức mạnh của nhân vật này.


Những lời nói của ông, những cử chỉ của ông, thái độ của ông, con người thật của ông, tất cả đều khẳng định ông không muốn giải quyết vấn đề bằng biện pháp bạo lực.

Có thể khẳng định suốt thời kỳ đó Hồ Chí Minh có khát vọng trở thành một Gandhi của Đông Dương. Chính tư tưởng này đã khiến ông trở thành một nhân vật hiền từ, nhân hậu, được gọi là Bác Hồ, một người yêu thích trẻ em, sẵn sàng chụp ảnh cùng bầy trẻ thơ, nói chuyện thân mật với nông dân trong suốt chặng đường dài đi thăm nước Pháp, thăm hỏi những người Pháp bị thương và ốm đau tại bệnh viện Lanessan v.v...


Thế nhưng, cũng phải khẳng định không chút hoài nghi là Hồ Chí Minh chỉ có một mục đích thật sự, một mục đích cuối cùng, đó là: Độc lập của Việt Nam.

Hồ Chí Minh không che giấu những tình cảm đó. Ngày 6 tháng 3 năm 1946, sau khi ký những thoả thuận Việt-Pháp tại Hà Nội, khi tôi bày tỏ niềm vui mừng vì đã tách xa được bóng ma xung đột vũ trang, ông trả lời:

- Về phần tôi, tôi chưa hài lòng. Bởi vì, xét cho cùng, chính các ông là người hiện nay đang được lợi. Ông đã biết đấy, tôi còn muốn được hơn thế này. Nhưng, cuối cùng, tôi cũng nghĩ rằng không thể đạt được tất cả mọi thứ chỉ trong một ngày.

Để đạt được những mục đích cuối cùng, Hồ Chí Minh khôn khéo tỏ ra ít đòi hỏi hơn các đối thủ của ông. Trong khi những người này đòi bằng được nền độc lập hoàn toàn và ngay lập tức, coi đó như điều kiện sơ bộ cho mọi cuộc đàm phán, mọi sự thoả thuận thì Hồ Chí Minh lại tuyên bố rằng, ông nhận thức rất rõ không thể đạt được tất cả ngay tức khắc, ông biết tạm thừa nhận một nền độc lập tương đối, tin vào lời tuyên bố của nước Pháp là một thời gian ngắn sắp tới sẽ trao trả độc lập hoàn toàn cho đất nước của ông. Về điểm này, ông rất thành thật. Ông đã đấu tranh cho mục đích này trong ba mươi nhăm năm, ông biết chờ thêm một thời gian nữa.


Đó chính là chính sách giành thắng lợi từng bước đã từng được Mặt trận Việt Minh bày tỏ trong thư gửi cảc nhà chức trách Pháp tại Côn Minh hồi tháng 7 năm 1945.

Để khuyến khích Chính phủ Pháp đàm phán với mình, ông đã gạt bỏ những người đối thoại khác và tỏ ra ít đòi hỏi hơn họ. Độc lập hoàn toàn hay độc lập được hứa hẹn có thời hạn, ông sẵn sàng đi tới một thoả thuận đặc biệt có lợi cho Pháp là nước được ông dành cho một quy chế đặc biệt và rộng rãi ở Việt Nam.


Ông sẵn sàng nhượng bộ Pháp, để Pháp tiếp tục giữ lại những quyền lợi thiết yếu về kinh tế và tài chính, ông dự tính và hoàn toàn cảm thấy Việt Nam rồi sẽ đạt được tất cả từ sự thoả thuận này. Ông nói:

- Chúng tôi muốn tự mình cai quản đất nước mình và nếu tôi đề nghị các ông rút hết các quan cai trị người Pháp về nước thì ngược lại chúng tôi lại cần đến các ông để xây dựng một nước Việt Nam độc lập và hùng mạnh.

Cuối cùng và đây chính là sự tinh tế trong tâm hồn châu Á của Hồ Chí Minh, nhân vật đã từng suốt đời chiến đấu chống đế quốc Pháp, nay lại vui vẻ đề xuất ý tưởng Việt Nam sẽ là nước đầu tiên tham gia xây dựng khối Liên hiệp Pháp mà các kế hoạch thành lập mới vừa soạn thảo xong. Ông muốn giành độc lập cho đất nước của mình và cũng muốn chính nước Pháp tự trao nền độc lập cho Việt Nam.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 29 Tháng Mười, 2021, 02:53:53 pm
Ông cũng hiểu rất rõ, để xây dựng một nước Việt Nam theo mô hình những khát vọng của mình, Việt Nam cần phải dựa vào một nước lớn. Ông không muốn dựa vào nước Trung Hoa của Tưởng Giới Thạch (cũng không nên quên là vào thời điểm đó Mao Trạch Đông hãy còn xa mới làm chủ nhân của Trung Quốc. Nếu Trung Quốc hồi đó đang trôi theo chủ nghĩa cộng sản thì Tưởng Giới Thạch cũng hãy còn rất mạnh và Mao Trạch Đông cũng mới chỉ thiết lập được chính quyền không quá "vài vết đỏ" trong lãnh thổ rộng lớn mênh mông, uy quyền không thấm vào đâu so với Hồ Chí Minh). Trái với một bộ phận quan trọng trong Đảng của ông, hồi đó, ông cũng không nghiêng về phía đi tìm chỗ dựa ở Matxcơva, dù ông quen biết rất rõ. Về phía Hoa Kỳ, ông cũng đã ngỏ lời nhưng không được đáp ứng. Chỉ còn lại có nước Pháp là nơi tất cả giới trí thức Việt Nam đều hiểu biết ngôn ngữ và văn hoá Pháp, bởi vì tất cả những người lãnh đạo thế hệ mới này của Việt Nam đều trưởng thành từ những trường đại học của Pháp.


Sự gần gũi, sự thoả thuận mà ông hy vọng đạt được với Pháp, không phải xuất phát từ tình cảm mà ông tìm đến, mà là từ sự bắt buộc và lợi ích dân tộc.

Cuối cùng, cũng không nên quên rằng các nhà lãnh đạo của Việt Nam trong khoảng 1945 và đầu 1946 đã "chơi" canh bạc giữ gìn được chính quyền cách mạng dựa vào những thắng lợi của các đảng viên cộng sản Pháp trong cuộc bầu cử vào nước Pháp vừa được giải phóng. Chính từ những nghị sĩ cộng sản này, Hồ Chí Minh tin rằng những khát vọng của Việt Nam sẽ được Chính phủ Pháp ủng hộ và sẽ được thoả mãn không khó khăn gì.


Việc những người cộng sản Pháp bị sút giảm thế lực rồi bị loại khỏi quốc hội hồi mùa xuân 1947 đã buộc những nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam phải thay đổi chiến thuật.

Còn trước đó, Hồ Chí Minh vẫn cần đến sự ủng hộ của Pháp để giữ vững chính quyền và khoá miệng những phần tử chống đối. Những kẻ chống đối này là một lực lượng đáng gờm vì họ cùng chung một mục đích như Hồ Chí Minh. Nhưng trên thực tế, có thể ngay từ đầu họ đã bất đồng với Hồ Chí Minh về các phương pháp để đạt mục đích.


Hồ Chí Minh cho rằng cần phải tiến hành theo cách lấn dần từng bước liên tiếp. Ông ghê tởm bạo lực và nghĩ có thể chắc chắn đạt được mục đích bằng thương lượng, ông không ngần ngại cho Pháp những nhượng bộ vì thành thật nghĩ rằng, thương lượng vẫn ít thiệt hại hơn xung đột đẫm máu.


Quan điểm của Hồ Chí Minh đã vấp phải sự chống đối của các phần tử cực đoan. Các đảng phái dân tộc chủ nghĩa Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội và Việt Nam Quốc dân đảng được đội quân chiếm đóng của Lư Hán nâng đỡ một cách khôn khéo đã chống lại Hồ Chí Minh tại nhiều tỉnh, thành nhất là ở khu vực biên giới, đi tới xung đột vũ trang. Tình hình này có thể dẫn đến lật đổ chính quyền cách mạng để thay bằng một chính quyền tay sai của Quốc dân đảng Trung Hoa.


Trung thành với những ý tưởng dân chủ, Chính phủ Việt Nam cho rằng cần phải tiến hành tổng tuyển cử để bầu ra đại biểu quốc hội, thành lập một đại hội tư vấn toàn quốc.

Cuộc tổng tuyển cử dự định tiến hành vào ngày 23 tháng 12, đã được Hồ Chí Minh tổ chức nhằm được nhân dân tán thành việc nắm chính quyền. Nhưng sau đó đã phải hoãn lại đến ngày 6 tháng 1 năm 1946.

Sự chống đối của các đảng phái thân Quốc dân đảng Trung Quốc như Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội và Việt Nam Quốc dân đảng được dàn dựng một cách khéo léo bởi viên tướng mật vụ nổi tiếng Tiêu Văn khiến Hồ Chí Minh lo lắng.

Tiêu Văn chính là tay sai đáng gờm của các đại lãnh chúa miền Tây Nam Trung Quốc, hiện đang cầm đầu hoạt động phá hoại trên lãnh thổ Đông Dương, nhằm mục đích phục vụ cho lợi ích của Trung Quốc. Tiêu Văn lo ngại Việt Minh củng cố được chính quyền và từ đó người Việt Nam sẽ gần gũi người Pháp, quay lưng lại chế độ Quốc dân đảng Trung Quốc.


Do sức ép của Tiêu Văn, Hồ Chí Minh lần đầu tiên đã phải tổ chức lại chính quyền, nhận thành lập một chính phủ liên hiệp đoàn kết dân tộc trong đó Nguyễn Hải Thần cầm đầu đảng Việt Cách, được giữ chức Phó chủ tịch.

Hồ Chí Minh khôn khéo thoả hiệp với các địch thủ của mình, chấp nhận cho họ được 70 ghế đại biển (mà 50 đại biểu là của Việt Nam Quốc dân đảng) trong Quốc hội sắp tới của Việt Nam. Với chiến thuật này các đại biểu Việt Minh là những người duy nhất được nhân dân tín nhiệm bầu vào Quốc hội. Quốc hội đầu tiên của Việt Nam gồm 329 đại biểu trong đó hơn 250 là Việt Minh hoặc cảm tình với Việt Minh. Những đại biểu độc lập hoặc không đảng phái sẽ là tấm màn che phủ cho các đại biểu cộng sản với số lượng hạn chế.


Khi lực lượng đối lập nhận ra đã bị nhà cách mạng cao tuổi này xỏ mũi thì đã quá muộn. Ngay cả Tiêu Văn cũng được báo động quá nhiều về ưu thế chính trị và khả năng của các đại biểu Việt Minh trong Quốc hội. Vì vậy, Tiêu Văn đã chạy đua với Pháp, tìm cách sát gần Việt Minh, lôi kéo Việt Minh vào dòng xoáy Trung Quốc và tăng cường các trở ngại ngăn chặn một sự thoả thuận Pháp-Việt.


Cuộc tổng tuyển cử, như đã chờ đợi, đã cho Việt Minh một đa số tuyệt đối với 97% phiếu bầu.

Bây giờ, tôi xin trở lại những cuộc nói chuyện giữa tôi với người đứng đầu chính phủ mới của Việt Nam.

Chúng tôi đã thoả thuận với nhau, tạm giữ kín những cuộc nói chuyện này. Trụ sở Chính phủ Việt Nam và nơi làm việc của tôi đều gần nhau. Thường thường, vào ban đêm tôi mới tới chỗ ở của Hồ Chí Minh, một biệt thự trong công viên nhỏ phố Paul Bert1 (Nay là phố Tràng Tiền - ND).


Léon Pignon cùng đi với tôi rất thường xuyên mang đến những cuộc họp này một trí nhớ rất tốt và một sự hiểu biết rộng lớn về các vấn đề Đông Dương. Hồ Chí Minh cũng thường cho Hoàng Minh Giám, một nhân vật có uy tín của Đảng xã hội Đông Dương, một trong những nhaan vật có quan hệ tích cực nhất giữa Chính phủ Cách mạng Việt Nam và cơ quan Ủy viên Cộng hoà Pháp cùng dự họp. Sau khi hội nghị Fontainebleau thất bại, Giám quay về Việt Nam và trở thành Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. Trong suốt thời kỳ đó, ông đã hoạt động rất tích cực và khó biết được khuynh hướng chính xác.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 29 Tháng Mười, 2021, 02:55:06 pm
Những cuộc nói chuyện giữa tôi với Hồ Chí Minh và những cộng sự của ông kéo dài gần bảy tháng, xen kẽ bởi những nhịp độ hy vọng và thất vọng. Phủ cao uỷ ở Sài Gòn luôn hỏi và lo ngại và những cuộc nói chuyện tiến triển chậm. Tướng Leclerc muốn hoàn thành sự nghiệp giải phóng đất đai của mình, đã ấn định Hà Nội là điểm cuối cùng, đang mong chờ quân Pháp được thay thế quân đội Trung Quốc hình như muốn ở lại Bắc Kỳ vĩnh viễn.


Leclerc biết và hiểu rõ nhiệm vụ của ông chỉ có thể kết thúc sau khi quân đội viễn chinh do ông chỉ huy đã chiếm lại toàn bộ phần lãnh thổ Đông Dương ở phía Bắc vĩ tuyến 16 và chủ yếu là chiếm lại Hà Nội, thủ đô trí tuệ và hành chính, trung tâm thần kinh của bán đảo sôi động này.


Người đứng đầu đội quân viễn chinh hiểu rõ mối nguy nếu khi ông đưa quân ra Bắc, Chính phủ Việt Nam rời bỏ Hà Nội rút lên chiến khu đặt tại một khu vực nào đó trong vùng Thượng du, dựa vào biên giới Hoa Việt và dựa vào Trung Quốc để tiến hành kháng chiến chống lại sự quay trở lại của nước Pháp.


Ông cũng hiểu rằng việc đổ bộ lên miền Bắc có nguy cơ vấp phải sự ác cảm, nếu không nói là thù địch của 180.000 quân Trung Quốc được trang bị tốt, đã quyết định bám giữ xứ Bắc Kỳ lâu nhất nếu có thể.

Cũng đáng sợ, nếu thêm vào đạo quân đó của Trung Quốc còn có 30.000 quân Nhật Bản đang là tù binh trên lý thuyết, nhưng việc giải giáp tiến hành rất chậm. Dù đó là tác phong làm việc kiểu châu Á, nhưng không kém phần đáng lo ngại. Leclerc cũng không muốn mạo hiểm đối đầu với một cuộc tổng nổi dậy ở đồng bằng Bắc Kỳ và các tỉnh miền Bắc Trung Kỳ, tự động hoặc bị Chính phủ Cách mạng Việt Nam lôi kéo vào cuộc chiến đấu.


Sự sáng suốt của Leclerc về điểm này đã thể hiện rõ trong từng lá thư cá nhân hoặc từng công văn ông viết gửi cho tôi trong thời kỳ đó. Nhất là, trong báo cáo sáng suốt ngày 27 tháng 3 năm 1946 gửi Chủ tịch Chính phủ lâm thời Cộng hoà Pháp, Leclerc đã trình bày rõ.


Để chuấn bị cho quân đội viễn chinh tiến ra Bắc, nhất thiết phải đạt được hai kết quả ngoại giao.

Một là, một thoả thuận Pháp-Hoa xác nhận việc các đội quân Trung Quốc chiếm đóng Bắc Kỳ rút về nước, thay bằng quân đội viễn chinh Pháp (Hiệp định này sau đó đã được ký tại Trùng Khánh. Đại diện Pháp là đại tá Crépin, được Leclerc uỷ nhiệm đã thoả thuận với Chính phu Trung Quốc về việc thay quân và vấn đề như là Pháp chịu nhượng bộ Trung Quốc trong các lĩnh vực lãnh thổ và kinh tế).


Hai là, một thoả thuận Pháp-Việt trong đó có điều khoản chấp nhận các đội quân Pháp trở lại Bắc Kỳ, nhằm tránh một cuộc nổi dậy khi đội quân này kéo tới.

Hiệp định Pháp-Việt này sẽ giữ lại Hà Nội một chính phủ đáng ngại, đúng vậy, nhưng không đáng sợ bằng để cho chính phủ này rút lên vùng rừng núi Thượng du tiến hành chiến tranh du kích.

Leclerc đã hiểu rõ rất nhanh và biết nhìn xa. Tình hình sau ngày 19 tháng 12 năm 1946, sau ngày chiến tranh Pháp-Việt bùng nổ, sẽ góp phần chứng minh cho những nhận định đó.

Để theo dõi và thúc đẩy những cuộc nói chuyện với Hồ Chí Minh, Leclerc đã cử một sĩ quan quân báo, trưởng phòng nhì là đại tá Repiton Préneuf thường xuyên liên lạc với tôi tại Hà Nội.

Sau một thời gian dài công tác tại Đông Dương, đạt được một sự tinh tế hiếm có, Repiton cũng là ngươi được tham dự cùng với Leclerc buổi nói chuyện giữa thủ trưởng của mình với các nhà chức trách Đồng minh ở khu vực Viễn Đông. Repiton đã đi theo Leclerc, được mệnh danh là người giải phóng Strasbourg và được cử làm đại diện nước Pháp dự lễ ký chấp nhận sự đầu hàng của Nhật Bản ở Tokyo. Repiton là người đặc biệt có khả năng biết đặt vấn đề Đông Dương trong bối cảnh chung của châu Á.


Về phần tôi, ngay từ những ngày đầu tôi không ngừng lo ngại về những hậu quả không lường trước được, nếu xảy ra cuộc chiến tranh toàn diện ở Việt Nam.

Trong một báo cáo gửi về nước hồi cuối tháng 12 năm 1945, tôi đã tóm tắt những nhân định của minh như sau:

Cuối cùng, cũng cần phải nói rõ không cần giấu giếm, cứ cho rằng Trung Quốc có thể lùi bước không dám đương đầu với một cuộc, xung đột vũ trang với Pháp thì những đơn vị không chính quy của họ vẫn có thể dốc hết sức trợ giúp các lực lượng vũ trang cách mạng người Việt Nam tại các khu vực biên giới mà mọi người đều rõ sự thâm nhập.


Vì vậy, có thể nhận định rằng, nếu muốn dùng sức mạnh vũ khí để khôi phục lại chủ quyền Pháp thì phải sẵn sàng đương đầu với một cuộc xung đột vũ trang quy mô lớn".

Nước Pháp hồi đó liệu đã có ý muốn và nhất là có những phương tiện để lao vào một cuộc phiêu lưu có nguy cơ dẫn nước Pháp "định cư’? trong một cuộc chiến tranh kéo dài vô tận?

Tất cả những gì tôi đã thãy được, nghe được trong chuyến về Pháp ngắn ngày hồi tháng 3 mà Leclerc và nhiều tướng lĩnh, đô đốc đã bộc lộ cảm tưởng trong khi nói chuyện với tôi là phải cố tìm mọi cách tránh giải pháp vũ lực.

Mười ba tháng sau, tức ngày 13 tháng 2 năm 1947 khi chiến tranh đã bùng nổ, trong bản báo cáo về tình hình quân sự tại Bắc Kỳ, tôi đã viết:

"Chúng ta không có phương tiện, cũng không có ý định dấn thân vào một cuộc chiến tranh kéo dài. Vậy mà, tôi thấy rằng hiện nay hình như lại có chủ trương tiến hành những hoạt động quân sự làm phân tán lực lượng của chúng ta và đấy lùi những kết quả đã đạt được ra xa...".

Lúc đó, tôi đã chuẩn bị tiếp nhận quan điểm của tướng Leclerc, trùng hợp hoàn toàn với quan điểm của tôi.

Vì vậy, tôi đã làm việc không ngừng để đạt được hai Hiệp định Pháp-Việt và Pháp - Hoa ký kết tại Hà Nội và tại Trùng Khánh.

Sẽ dài dòng nếu nhắc lại ở đây chi tiết những buổi nói chuyện rất nhiều và rất dài, trong đó Hồ Chí Minh và các cố vấn của ông tranh luận với tôi từng câu, từng chữ để đi tới bản Hiệp định Pháp-Việt. Đã biết bao lần chúng tôi có cảm tưởng không thể nào đạt được thỏa thuận, trước cảm giác thất vọng vì chúng tôi không bao giờ có được tiếng nói chung. Hồ Chí Minh đòi phải được suy nghĩ cẩn thận, phải tham khảo ý kiến các cộng sự, các cố vấn, đôi khi cả cố vấn của ông, tức Bảo Đại.


Về phía tôi, tôi cũng phải thường xuyên hỏi ý kiến Phủ Cao uỷ đặt tại Sài Gòn, trước khi chấp nhận một câu, một chữ trong đàm phán.

Chỉ riêng việc định nghĩa nội dung từ "Độc lập" đã làm những cuộc đối thoại giữa chúng tôi vấp váp nhiều nhất và cũng nhiều lần đứt đoạn.

Nhiều lần, những cuộc đối thoại đứt đoạn này kéo dài nhiều ngày, thậm chí nhiều tuần, cho tới khi một người trung gian có thiện chí đã tìm cách để những người đối thoại Pháp và Việt Nam lại giáp mặt nhau. Đó là Louis Caput được các giới Việt Nam, phe xã hội hoặc Mác-xít tín nhiệm, coi như một người chân thành, trung thực. Tình hữu nghị của Caput đối với Việt Nam được thể hiện trong việc ông đã ủng hộ nhiều khát vọng của nhân dân Việt Nam, nhưng ông cũng thuộc phái không kém phần hăng hái trong việc bảo vệ sự có mặt và những quyền lợi của Pháp ở Đông Dương.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 29 Tháng Mười, 2021, 02:56:08 pm
Mãi tới ngày 16 tháng 2, sau một cuộc họp kéo dài vừa mới được nối lại, lần đầu tiên chúng tôi mới có cảm giác là có khả nàng đạt được thoả thuận. Hồ Chí Minh đã định rõ các khát vọng của ông và những điều kiện do ông đề xuất. Tôi quyết định đi Sài Gòn thỉnh thị ý kiến tướng Leclerc lúc này đang tạm quyền chức vụ Cao uỷ thay đô đốc D’Argenlieu về Pháp công tác, trước khi đệ trình Chính phủ Pháp.


Ngày 18 tháng 2, tôi đi Sài Gòn. Tướng Leclerc là người hiểu rõ sự cần thiết phải đạt được hiệp định, ngày 14 đã điện về Pháp nói rõ, để đạt được hiệp định này thì không ngần ngại tuyên bố danh từ "Độc lập" cho Việt Nam. Trong cuộc gặp tướng Leclerc, chúng tôi đều hiểu ngay là có thể đi tới đích.

Những nét đại cương của đề án này lập tức được điện cho đô đốc d’Argenlieu để ông có thể trình bày với Chính phủ Pháp - Leclerc kết thúc bức điện bằng một câu như sau:

"Tôi nhắc lại, các đề nghị cụ thể của Chính phủ Pháp cần phải được gửi tới ngay, nếu không có thể bỏ lỡ mất cơ hội".

Cũng xin nhấn mạnh, trong bức điện này không có vấn đề phải tuyên bố ngay danh tù "Độc lập".

Phản ứng đầu tiên cùa Paris là thuận lợi. Tôi quay trở lại Hà Nội ngay. Hôm sau, tôi nhận được bản dự thảo Hiệp định về nguyên tắc mà đô đõc D’Argenlieu uỷ nhiệm cho tôi nhân danh Chính phủ Pháp chuyển tới Hồ Chí Minh.

Điện trả lời của Chính phủ Pháp phê chuẩn những điểm đề nghị mà chúng tôi đã gửi đi trong bức điện ngày 18. Có một vài điểm cần xác định thêm, nhưng nội dung cơ bản đã được duyệt.

Đó là công nhận Việt Nam "là một quốc gia tự do trong Liên bang Đông Dương và trong khối Liên hiệp Pháp" mà Chính phủ Hồ Chí Minh đã chọn, trước khi ký Hiệp định Sơ bộ ngày 6 tháng 3.

Hồi đó, có lời đồn đại nói rằng Chính phủ Pháp đã bị đặt trước "một việc đã rồi". Lời đồn đại này do một số nghị sĩ Pháp đưa ra trong cuộc họp Quốc hội Pháp, nói rằng Chính phủ Pháp chẳng được biết tin gì về những cuộc đàm phán diễn ra tại Hà Nội và mãi tới ngày 7 tháng 3, sau khi hiệp định đã ký kết, mới được báo cáo. Việc chính phủ duyệt y những đề nghị của chúng tôi trước khi ký hiệp định một lần nũa đã chứng minh những lời đồn đại này là không chính xác.


Ngay trước khi ký kết hiệp định, tôi đã gặp Hồ Chí Minh nhiều lần sau khi Chính phủ Pháp từ Paris đã điện trả lời những đề nghị của chúng tôi trình lên chính phủ ngày 18 tháng 2. Đến khi bản hiệp định có thể được ký, tôi cũng đòi nhấn mạnh với vị Chủ tịch Chính phủ Việt Nam là, bên cạnh chữ ký của người đứng đầu chính phủ hiện hành, nên có thêm chữ ký của các đảng phái để phản ánh đầy đủ chính kiến của công luận Việt Nam hồi đó.


Thật vậy, ngày 31 tháng 10 năm 1945, chính phủ cũ của Việt Nam đã từ chức. Số đại biểu Quốc hội cũng đã giảm từ 444 xuống 291. Chính phủ mới thành lập ngày 3 tháng 11 gồm đại đa số là thành phần thân Việt Minh. Ngày 2 tháng 3 năm 1946, Quốc hội Việt Nam họp tại Nhà hát lớn Hà Nội đã biểu quyết bằng hình thức giơ tay, công nhận chính phủ mới, gồm có:

Chủ tịch: Hồ Chí Minh (Việt Minh)

Phó chủ tịch: Nguyễn Hải Thần (Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội)

Ngoại giao: Nguyễn Tường Tam (Việt Nam Quốc dân đảng)

Nội vụ: Huỳnh Thúc Kháng, nhà cách mạng lão thành ở Huế, thuộc chủ nghĩa dân tộc đi theo chủ nghĩa cộng sản, cựu Tổng biên tập tờ Tiếng Dân.

Cứu tế: Chu Bá Phượng (không đảng phái)

Tài chính: Lê Văn Hiến (Việt Minh)

Quốc phòng: Phan Anh, nguyên Bộ trường Thanh niên trong Chính phủ Trần Trọng Kim

Y tế: Trương Đình Tri, cựu đại úy bác sĩ (Đồng minh hội)

Giáo dục: Đặng Thai Mai (Việt Minh)

Tư pháp: Vũ Đình Hoè (Việt Minh)

Công chính: Trần Đăng Khoa (Nam Kỳ)

Nông nghiệp: Bồ Xuân Luật vốn là trung sĩ lính cảnh vệ Đông Dương, chạy sang Trung Quốc năm 1940 (Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội).

Bảo Đại vẫn là cố vấn tối cao của chinh phù này, một chính phủ được thành lập dưới sức ép của tình hình thời cuộc và của những đòi hỏi cấp bách.

Cùng trong lúc tiếp tục đàm phán nhằm cho phép quân đội Pháp trở lại Bắc Kỳ, chúng tôi cững phải tính trước đến khả năng thất bại và chuẩn bị các biện pháp ứng phó.

Đạo quân viễn chinh Pháp đã xuống tàu, nhưng vì những lý do về thuỷ triều, chỉ có thể đổ bộ lên Hải Phòng trong khoảng thời gian từ ngày 5 đến ngày 7 tháng 3. Nếu đến thời hạn cuối cùng Hiệp định vẫn chưa được ký kết thì vẫn cứ phải đổ bộ bằng vũ lực và sẽ gặp nhiều rủi ro cho dân chúng Pháp.


Chúng tôi đã thoả thuận với tướng Leclerc, dù thế nào cũng phải đổ bộ đúng hạn định và phải chuẩn bị sẵn những hoạt động quân sự để bảo vệ dân chúng Pháp đang sống tại Hà Nội chống lại những phản ứng của Trung Quốc và Việt Nam như: nhảy dù biệt kích xuống các điểm nhạy cảm, thả dù vũ khí xuống các binh sĩ Pháp đang bị nhốt tập trung trong thành Hà Nội v.v...


Leclerc đã cử ra Hà Nội trung uý hải quân Philippe Quennouelle, là một trong những trợ lý của thiếu tá Pouchardier, chỉ huy đội biệt kích đã được chỉ định sẽ nhảy dù xuống Hà Nội. Bước ngoặt trong cuộc đàm phán đã cho phép chúng tôi tiết kiệm được các hoạt động quân sự. Sau khi tới Hà Nội, Quennouelle đáng lẽ tham gia đội biệt kích dù thì lại ở bên cạnh tôi để cùng tham gia đàm phán... Hồ Chí Minh rất vui khi gặp Quennouelle và đã có nhã ý gọi viên sĩ quan này một cách rất hóm hỉnh là "Ông nhảy dù".


Đối với tôi "ông nhảy dù" quả là một cộng sự quý, một đồng đội khó ai sánh kịp. Sau này, trong đêm 19 rạng ngày 20 tháng 12 năm 1946, khi bùng nổ chiến tranh, Quennouelle cùng với vài binh sĩ nữa đã bảo vệ trụ sở làm việc của tôi trước sự tiến công của Việt Minh.


Theo dự kiến, Hiệp định sẽ được ký kết chậm nhất là vào đêm ngày 5 rạng ngày 6 tháng 3 năm 1946. Nhưng, mãi tới quá nửa đêm, các nhà thương lượng đôi bên vẫn còn sa lầy trong bế tắc. Pignon và tôi rút về nhà riêng, sau khi đề nghị Hồ Chí Minh suy nghĩ thêm. Tôi cũng nói rất rõ với Hồ Chí Minh, để lại đến hôm sau thì chắc chắn là quá chậm. Hồ Chí Minh cũng biết, các tàu chiến của Pháp chở Leclerc và đội quân viễn chinh đã tới sát bờ biển Bắc Kỳ.


Trong khi đó, từ tối ngày 5 tháng 3, Leclerc đã cho người mang đến cho tôi một thư riêng, trong đó ông đề nghị tôi bằng bất cứ giá nào cũng phải đi đến ký kết. Leclerc đã được báo tin về những ý đồ của các chỉ huy đội quân Lư Hán chiếm đóng Bắc Kỳ đang muốn chống lại quân Pháp đổ bộ, vi phạm hoặc cố làm ra vẻ không biết gì về những thoả thuận đã đạt được giữa Pháp và Trung Quốc tại Trùng Khánh. Vì vậy, ông ngại sẽ xảy ra điều tệ hại nếu đổ bộ mà không có sự thoả thuận.


(Trong lá thư viết tay của đại tá Lecomte là người tham dự cuộc hội đàm giữa đại diện hai ban tham mưu Pháp - Hoa cũng cho biết, trong cuộc họp này phía Pháp đã vấp phải mọi lý do trì hoãn cuộc đổ bộ. Các tướng lĩnh Trung Quốc được biết về giải pháp bó buộc của Leclerc phải đổ bộ đúng hạn định, đã lường được sự thoả thuận của Trung Quốc. Nhưng họ cũng không thể chấp nhận sự nguy hiểm đó. Vì vậy, một người trong hàng ngũ của họ là tướng Tchao có ý thức hơn về thảm kịch đang có nguy cơ xảy ra đã tự chân chinh đi gặp Hồ Chí Minh, đề nghị Hồ Chí Minh thoả thuận với tôi và không ra lệnh chống lại cuộc đồ bộ để tránh một sự bùng nổ chiến tranh toàn diện).


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 20 Tháng Mười Hai, 2021, 08:09:52 am
XII
HIỆP ĐỊNH 6-3


Cuối cùng, vào lúc rạng đông ngày 6 tháng 3, Hoàng Minh Giám đến chỗ tôi và nói: "Chủ tịch chấp nhận các điều kiện".

Chúng tôi thoả thuận, đến buổi trưa sẽ họp một lần nữa để hoàn chỉnh các Hiệp định Sơ bộ và đến buổi chiều sẽ chính thức ký vào 16 giờ.

Khoảng 9 giờ, tôi được tin binh lính của Lư Hán bắn vào các đơn vị quân Pháp đang ngược dòng sông.

Những tin tức đầu tiên không được rõ lắm, nhưng vẫn có thể hình dung được hiểm hoạ. Sư đoàn quân Trung Quốc viện cớ không nhận được "một cách đầy đủ chính thức'' về thoả thuận giữa Chính phủ Trùng Khánh và Pháp về việc quân Pháp đổ bộ nên đã nổ súng. (Cần nhớ rằng, hôm đó là ngày 6 tháng 3 và thoả thuận Pháp - Hoa đã được ký kết tại Trùng Khánh từ ngày 28 tháng 2!). Một lần nữa, lại có một đơn vị lính Trung Quốc không chịu phụ thuộc vào ban tham mưu của Lư Hán với lý do chỉ tiếp nhận huấn thị của Chính phủ Trung ương ở Trùng Khánh.


Điều đó, ít nhiều cũng là lời giải thích có tính chất tương đối chính thức mà Ban chỉ huy quân đội Tưởng Giới Thạch tại Hà Nội thường sử dụng thay cho lời xin lỗi. Có thể đặt ra câu hỏi một cách đơn giản là, nếu không có sự tiếp tay của ban tham mưu Lư Hán tại Hà Nội và sự xúi giục của các cơ quan mật vụ của tướng Tiêu Văn thì làm sao tướng Uông chỉ huy sư đoàn 130 lại có thể tự ý gây ra sự cố có thể huỷ hoại những cuộc đàm phán Pháp - Việt đang diễn ra tại Hà Nội, kéo dài thèm tình hình căng thẳng và nhân đó cũng kéo dài thêm thời gian đóng quân của Trung Quốc tại Bắc Kỳ.


Những tin tức về cuộc đánh úp này sau đó dần dần được biết rõ hơn. Ở đây tôi chỉ tóm tắt là, giữa lúc các tàu chiến Pháp đang từ từ ngược sông Sài Gòn để cập bến cảng thì bị quân đội Trung Quốc ở hai bên bờ sông bắn thẳng vào họ.


Điều được biết ít hơn, đó là thái độ đáng ca ngợi của các lính thuỷ và lính bộ trên tàu chiến. Họ không hề một chút dao động, binh lính chờ lệnh chống trả. Họ đã chờ lệnh này tới hai mươi phứt, dưới làn đạn súng máy như hoả ngục, giữ nghiêm kỷ luật trong sự bình tĩnh tuyệt vời, chỉ tiến hành thu lượm xác chết và băng bó cho những người bị thương.


Mấy hôm sau, tôi được gặp tại Hà Nội những quan sát viên nước ngoài đã có mặt tại Hải Phòng lúc súng nổ. Họ rất ca ngợi thái độ của đội quân dự bị. Tuỳ viên hải quân Anh nói với tôi, theo ý kiến của riêng ông, thì duy nhất chỉ có quân đội Pháp mới giữ được kỷ luật tới mức dũng cảm như vậy. Nhận xét này là lời cải chính đối với những người sau đó đã vu cáo đạo quân viễn chinh Pháp và đặc biệt là các đơn vị thuộc sư đoàn thiết giáp số 2.


Đến 12 giờ 30 ngày 6 tháng 3, khi Hồ Chí Minh, Hoàng Minh Giám, Pignon và tôi tiếp tục cuộc họp tranh luận cuối cùng thì những cuộc xung đột dữ dội ở Hải Phòng, cách Hà Nội hơn một trăm kilômét đã hoàn toàn chấm dứt.


Các thành viên trong Chính phủ Việt Nam có được biết tin về cuộc xung đột ở Hải Phòng không? Có thể có. Nhưng vẫn có thể nghĩ rằng vì không được biết gì về cuộc đụng độ này, các nhà lãnh đạo Việt Nam cũng không biết tình hình nghiêm trọng do sự việc này gây ra. Hồi đó, họ chưa có mạng lưới thông tin vố tuyến, còn hệ thống thông tin liên lạc của Trung Quốc thì rất tồi.


Về phần tôi, sở dĩ tôi được biết tin này, đó là nhờ các điện đài xách tay mà tôi đã bí mật mang từ Côn Minh về Hà Nội hồi tháng 8 năm 1945. Một số máy đã được đặt tại Hải Phòng. Từ những thiết bị này, trung tá hải quân Legendre, người có hiểu biết sâu sắc về tính cách đội quân của Tường Giới Thạch, ngày hôm đó đã thông báo rất kịp thời cho tôi về bước ngoặt bi thảm của những sự cố ngay khi mới xảy ra.


Tại Hà Nội, đến 13 giờ ngày 6 tháng 3 đã đạt được thoả thuận các điều khoản trong Hiệp định Sơ bộ. Chúng tôi hẹn gặp lại nhau vào hồi 16 giờ 30 để ký chính thức.

Trong khi chờ đợi giờ phút lịch sử này, chúng tôi sống trong lo sợ, hồi hộp theo dõi sự phát triển của các hoạt động quân sự tại Hải Phòng và những cuộc đàm phán tiếp theo, chỉ lo các nhà lãnh đạo Việt Nam khống ký nếu họ được biết tin quân đội Trung Quốc chống lại cuộc đổ bộ của Pháp1 (Sainteny lại suy diễn. Ngay sau khi giành được chính quyền, các đường dây điện thoại trong hệ thống bưu điện của ta vẫn hoạt động đều đặn. Tin về cuộc xung đột ở Hải Phòng đã được báo cáo về Hà Nội từ buổi sáng - ND).


Phía Trung Quốc cũng xúc động vì sự chống trả của Pháp đã phá huỷ hàng mấy trăm tấn vũ khí và đạn dược chiến lợi phẩm của Trung Quốc chất đống ở Hải Phòng chờ đưa về Mãn Châu2 (Sainteny tự mâu thuẫn. Phần trước viết: quân Pháp không chống trả. Đến phần này lại khoe đã phá huỷ hàng mấy trăm tấn súng đạn của đội quân Mãn Châu - ND). "Sự cố" Hải Phòng có thể lan rộng thành một đám cháy lớn. Có thể tính đến một cuộc nổi dậy ở vùng đồng bằng do dân chúng phấn khích vì bị lối cuốn vào cuộc tuyên truyền chống Pháp, hoặc sự can thiệp của toàn bộ số quân Trung Quốc đến "ứng cứu" cho sư đoàn 130 của họ đang bị Leclerc "đánh".


Cuối cùng, còn phải tính đến số tù binh Nhật đang tập trung tại Hồng Gai. Trừ số đã chạy theo Việt Minh, số còn lại đang đặt dưới sự quản lý của Trung Quốc và được Trung Quốc đối xử một cách khoan dung rất đáng lo ngại. (Những tin tức tình báo cho biết, phần lớn số tù binh Nhật Bản tại Hồng Gai mà Trung Quốc có nhiệm vụ giải giáp, vẫn được giữ lại vũ khí).


Tất cả những lực lượng chống đối vô kỷ luật, bố trí phân tán và trang bị kém này, Leclerc dứt khoát không thể nào chõng lại được khi chỉ có trong tay khoảng 2000 quân đổ bộ, rút từ các đơn vị đang làm nhiệm vụ bình định tại Nam Kỳ. May mắn làm sao, đội quân viễn chinh còn có những vũ khí hiện đại và một lực lượng pháo binh rất mạnh của hạm đội.


Ở Bắc Kỳ, 30.000 người Pháp có thể bất ngờ trở thành nạn nhân trong cuộc tổng nổi dậy giữa lúc họ tưởng rằng đã đến đoạn chốt của những đau khổ dai dẳng. Thảm hoạ lo lắng từ tám tháng nay và thường đã may mắn tránh khỏi, thì nay viên tướng Mãn Châu Uông Huân chỉ huy sư đoàn 130 thuộc quân đoàn 53 đóng tại vùng Hải Phòng, có thể lại gây ra bằng cách đột ngột phá hoại toàn bộ sự kiên trì được tiến hành với biết bao nỗ lực và hy sinh.


Đó là sự lo sợ rất dễ hình dung khi chúng tôi chờ đợi giờ phút ký bản Hiệp định Sơ bộ ghi nhận thoả thuận để quân đội Pháp trở lại Bắc Kỳ một cách hoà bình.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 20 Tháng Mười Hai, 2021, 08:12:02 am
Tuy nhiên, đến 16 giờ các đại biểu Việt Nam đã tới chỗ hẹn. Đó là một biệt thự mà Hồ Chi Minh đã chọn làm nhà ở. Đây cũng là nơi tiến hành lễ ký Hiệp định.

Vũ Hồng Khanh, Phó chủ tịch Quân uỷ hội, Nguyễn Tường Tam, Bộ trưởng Ngoại giao và thủ lĩnh Việt Nam Quốc dân đảng, Hoàng Minh Giám, Tống thư ký và là cộng sự viên đắc lực của Hồ Chí Minh, các quan sát viên các nước Đồng minh: Anh, Mỹ, Hoa và cả Pháp nữa vì Hồ Chí Minh muốn Louis Caput (thư ký nhóm Mác-xit Pháp - An-nam) cũng được mời tới dự. Tôi được cử thay mặt Cao uỷ Pháp ở Đông Dương là người đã trao cho tôi các quyền hẹn được Chính phủ lâm thời Cộng hoà Pháp uỷ nhiệm. Cùng đi với tôi có tướng Salan, ông Léon Pignon và vài cộng sự viên cơ quan ủy viên Cộng hoà Pháp tại Hà Nội.


Bản Hiệp định được đọc to trước mặt cử toạ đứng trong phòng. Hồ Chí Minh ký đầu tiên. Liền sau đó, Vũ Hồng Khanh cũng đặt bút ký. Hồ Chí Minh đã buộc được một con người khét tiếng chống Pháp, cầm đầu một lực lượng đối lập hiếu chiến phải ký tên phía dưới chữ ký của ông coi đó như một đảm bảo chống lại luận điệu tuyên truyền xuyên tạc là ông phản bội sự nghiệp giành độc lập của Việt Nam.


Đến lượt tôi ký thay mặt cho nước Pháp.

Như vậy là đã kết thúc một trong những thời kỳ bi thảm nhất mà người Pháp phải trải qua ở Viễn Đông.

Ngày 2 tháng 4, bản Hiệp định Sơ bộ này được bổ sung thêm bằng những điều khoản phụ, do tướng Salan và các uỷ viên hội đồng quốc phòng Việt Nam là Võ Nguyên Giáp và Vũ Hồng Khanh soạn thảo và ký tên, chi tiết hoá những điều kiện về việc quân đội Pháp trở lại khu vực Bắc vĩ tuyến 16, việc thay thế quân đội chiếm đóng của Tướng Giới Thạch, việc bố trí nơi đóng quân và thành lập ban chỉ huy hỗn hợp các đơn vị tiếp phòng quân Pháp - Việt.


Hiệp định 6 tháng 3 năm 1946, sau vài lần được phân tích, phê phán, dù sao cũng mang lại quyền được sống cho gần ba mươi nghìn người Pháp, thay đội quân chiếm đóng của Lư Hán bằng đội quân của Leclerc, giữ Việt Nam trong Liên bang Đông Dương.


Hiệp định ngày 6 tháng 3 mới chỉ phác hoạ sơ bộ những nét đại cương và ghi nhận trong tương lai cần đàm phán tiếp những điều khoản đầy đủ hơn để củng cố sự thoả thuận Pháp - Việt. Đây mới chỉ là một cái khung. Sau này cần phải ghi thêm những điều khoản chính xác để đảm bảo một sự hoà đồng tin cậy và một sự hợp tác có kết quả.


8 giờ sáng ngày 7 tháng 3, tôi cho kéo quốc kỳ Pháp tại mặt tiền trụ sở cơ quan Ủy viên Cộng hoà Pháp vừa mới dọn tới ít lâu tại Viện Radium phố Richaud.

Việc cần làm bây giờ là phài tuyên bố, giải thích, để dân chúng Pháp, Việt Nam và người Hoa chấp nhận ý nghĩa, tinh thần, tầm vóc bản Hiệp định vừa ký kết. Tôi nói "chấp nhận" là vì trước khi những từ ngữ chính xác của bản Hiệp định được công bố thì từ hai phía Pháp và Việt Nam đã có những lời phê phán theo từng mức độ từ nhẹ nhàng dè dặt đến dữ dội nhất.


Về phía Pháp, một số kẻ khó bảo bị kích động bởi tư tưởng phục thù rửa hận rất dễ hiểu, không thể chấp nhận bỏ qua cơ hội: "trừng trị" những người An-nam. Người ta sẽ bỏ qua sự trả thù hởi lòng hởi dạ bấy lâu nóng ruột chờ đợi hay sao?


Tuy nhiên, đây chỉ là ý nghĩ của thiểu số. Còn đại đa số người Pháp thì, với tinh thần nhạy cảm trước những thực tế và những quyền lợi của Pháp, họ hiểu ngay thời điểm trả đũa đã qua, bây giờ phải nghĩ đến công việc tái thiết, không nên mất thời giờ nhiều lại quá khứ. Sự nghiệp, công trình của Pháp đã bị lung lay, cần phải củng cố bằng cách cứu vãn những gì có thể cứu được.


Cuối cùng, đồng bào của chúng tôi đã từng quá đau khổ, quá mệt mỏi, cho nên đều đồng ý tiếp thu sự hoà dịu được ghi trong bản Hiệp định, để tận hưởng quyền được sống trên dải đất này. Mãi về sau, chỉ sau khi được núp dưới sự che chở của những cỗ xe bọc thép do tướng Leclerc mang tới, an ninh đã được đảm bảo, đến lúc đó mới lại nảy sinh những lời chỉ trích, phản kháng. Đó là phản ứng tất nhiên, nhưng thật nguy hiểm!


Về phía Việt Nam, tình hình trái ngược hẳn. Hiệp định ngày 6 tháng 3 vừa mới ký đã bị lực lượng đối lập gồm những phần tử cực đoan dân tộc chủ nghĩa, thân Quốc dân đảng Trung Quốc tạo thành phe quá khích, khai thác để chống lại Hồ Chí Minh.


Hồ Chí Minh không lạ gì tâm trạng này. Ông đề nghị với tôi, cùng ra một bản thông các chung, dán trên các đường phố Hà Nội, nội dung như sau: ''Chính phủ Pháp thừa nhận Việt Nam tự thành lập một chính phủ riêng của minh và để cho Việt Nam hoàn toàn tự do trong việc thiết lập chính quyền. Chính phủ Việt Nam không phản đối việc quân đội Pháp trở lại một cách hòa bình để thay thế quân đội Trung Quốc làm nhiệm vụ ở khu vực Đồng Dương từ Bắc vĩ tuyến 16 trở lên.


Việc đầu tiên thực hiện Hiệp định Sơ bộ là đình chỉ mọi cuộc xung đột trên toàn lãnh thổ Đông Dương, 24 giờ sau khi bản thông cáo này được truyền đi trên các làn sóng đài phát thanh Hà Nội và đài phát thanh Sài Gòn.

J.R. Sainteny
Ủy viên Cộng hoà Pháp
tại Bắc Đông Dương
Đại diện Chính phủ Lâm thời Cộng hoà Pháp
                                                                     
Hồ Chí Minh
Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
      


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 20 Tháng Mười Hai, 2021, 08:12:58 am
Một thông cáo ban hành lệnh đình chỉ các xung đột vũ trang liền sau đó cũng được công bố.

Ngược lại, về phía các Đồng minh của chúng tôi, bản Hiệp định 6 tháng 3 đã được tiếp nhận thoả đáng. Nếu những người Mỹ ở Hà Nội đánh giá bản Hiệp định được ký kết này là "French Victory" (thắng lợi của Pháp) thì họ cũng rất hài lòng được thấy vấn đề Pháp - Việt được giải quyết không đổ máu.


Ở Trùng Khánh, Tưởng Giối Thạch tuyên bố: "Nước Pháp độ lượng một lần nữa đã biết nêu gương".

Tôi không được biết rõ những tình cảm cá nhân của Mahatma Gandhi, nhưng Pandit Nehru tại New Delhi đã công khai bộc lộ sự tán thành nhiệt liệt.

Về phía Hà Lan, họ tìm cách lợi dụng những ảnh hưởng của Hiệp định Pháp - Việt để thử giải quyết vấn đề Inđônêxia đáng lo ngại. Vì vậy, Toàn quyền Hà Lan là Van Mook đã cử hai cộng sự viên chủ chốt là ông Jonkheer Baud và thiếu tá Kooy tỏới Hà Nội một thời gian để nghiên cứu.


Từ Paris, nhiều quan chức gửi đến tôi những công điện, công văn, thư riêng tỏ vẻ nhẹ nhõm trước việc Hiệp định Sơ bộ được công bố.

Cuối buổi sáng ngày 7 tháng 3 năm 1946 tôi tới dinh Thống sứ cũ là nơi hiện đang đặt trụ sở làm việc của chính phủ mới của Việt Nam, gọi là Bắc Bộ phủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tôi. Chung quanh ông có Huỳnh Thúc Kháng là Bộ trưởng Bộ Nội vụ và cố vấn tối cao Vĩnh Thuỵ, tức Cựu hoàng Bảo Đại. Theo thông lệ, tiếp theo chuyến thăm xã giao này của tôi là chuyến thăm đáp lễ của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay trong buổi chiều hôm đó, tới gặp đại diện Pháp tại trụ sở cơ quan Ủy viên Cộng hoà Pháp, ông đến vào lúc 15 giờ, có Bảo Đại đi cùng. Dân chúng Hà Nội đã có thể nhìn thấy ông vua cũ và ông Chủ tịch mới cùng ngồi bên cạnh nhau trong xe, đi qua những đường phố dẫn đến trụ sở của cơ quan tôi.


Sự kiện này được bình luận sôi nổi. Theo tôi, đây là dịp duy nhất để Bảo Đại và Hồ Chí Minh cùng nói chuyện trực diện với đại diện Pháp. Đó cũng là dịp cuối cùng hai nhân vật này cùng công khai xuất hiện. Bởi vì, ngày 9 có tin Bảo Đại đã đột ngột rời Hà Nội, đi Côn Minh bằng một chiếc máy bay Mỹ.


Ngày 8 tháng 3 tôi đi Hải Phòng. Leclerc đã bắt đầu sốt ruột. Ông đang ở trên chiến hạm Sénégalais hoặc Emile Bertin, chưa vào thành phố Hải Phòng và chỉ rời khỏi đội tàu để đi thẳng tới Hà Nội khi có thời cơ thuận tiện, ông luôn đi đi lại lại trèn boong-tàu, chống chiếc gậy chỉ huy đã trở thành. huyền thoại. Trong chuyến đi này chúng tôi không chỉ muốn thu xếp nhanh chóng các thể thức chi tiết về việc đóng quân của đội quân viễn chinh Pháp trong thành phố Hải Phòng mà còn chuẩn bị điều kiện cho đội quân Pháp tiến về thủ đô xứ Bắc Kỳ.


Bộ tư lệnh Lư Hán tại Hà Nội tỏ vẻ dè dặt rất nhiều trước việc để cho quân Pháp tiến vào Hà Nội, lo ngại những hậu quả có thể xảy ra. Những phản ứng của dân chúng Việt Nam sẽ như thẽ nào? Dù cho hết sức nóng ruột xuất phát từ lẽ thường tình của Pháp, chúng tôi cũng không được quên là Trung Quốc đang chịu trách nhiệm trước các nước Đồng minh về việc giữ gìn trật tự tại khu vực Bắc Đông Dương. Nếu Pháp muốn hành động quá nhanh thì phía Trung Quốc là người bảo vệ trật tự phải tìm cách tránh né trách nhiệm này. Vì vậy, phải chờ sự chấp thuận của Trùng Khánh.


Từ đó đã mở ra một loạt những cuộc hội đàm mới giữa Pháp và Trung Quốc, đôi khi cả Pháp - Việt, trong đó mỗi khi vượt qua được một chống đối, một khó khăn, thì lại lập tức nảy sinh một trở ngại khác.


Ngày 9 tháng 3, tôi gặp Leclerc tại Hải Phòng. Cùng đi với tôi có Võ Nguyên Giáp và Vũ Hồng Khanh cùng là thành viên cấp Bộ trưởng trong Hội đồng quốc phòng, gọi là Quân sự uỷ viên hội, được Chính phủ Việt Nam cử tới, bày tỏ sự "hoan nghênh quân đội Pháp và người chỉ huy nổi tiếng của đạo quân này".


Hôm trước, trên chiến hạm Emile Bertin, tướng Leclerc đã tiếp Repiton và Phan Mỹ là hai thành viên của tổ chức liên lạc Pháp - Việt vừa mới phôi thai được thành lập.

Buổi tiếp ngày 9 tháng 3 tiến hành trên chiến hạm Sénégalais. Tại đây, người giải phóng Paris và Strasbourg đang cố kìm hãm sự sốt ruột. Võ Nguyên Giáp với tư cách là một người kháng chiến Việt Nam, chào mừng Leclerc là người giải phóng vĩ đại của nước Pháp. Leclerc nói vài câu đáp lại có vẻ không thoải mái lắm. Giáp xác nhận Chính phủ Việt Nam đã quyết định đón nhận các đội quân Pháp tiến vào Bắc Kỳ một cách hữu nghị, như đã ghi nhận trong Hiệp định ký ngày 6 tháng 3, nhưng muốn rằng tất cả chi tiết cụ thể của việc trở lại này phải được dàn xếp tỉ mỉ dựa trên một sự thoả thuận chung. Buổi nói chuyện kết thúc, tôi đề nghị trở về Hà Nội bằng đường bộ, trên chiếc xe ô tô của phái đoàn Anh quốc do tuỳ viên hải quân Anh tự cầm lái.


Khi đi qua nhà máy xi-măng, chúng tôi nhìn thấy việc đổ bộ đang được tiến hành khẩn trương. Những chiếc xe tăng của Pháp đang được cẩu từ tàu chiến lên bờ, dưới ánh sáng của những chiếc đèn pha cực mạnh chiếu đi từ một chiếc tàu đổ bộ.


Trong khi đó, tại Hà Nội, những người Pháp nóng lòng chờ đợi những người tới giải phóng cho họ. Thế nhưng, cuộc tiến quân về Hà Nội vẫn còn gặp hàng ngàn trở ngại, lúc thì từ phía các nhà chức trách Việt Nam, lúc thì từ Ban tham mưu quân đội Lư Hán. Những cuộc họp lại nối tiếp nhau mà chưa có một giải pháp nào xuất hiện. Ban chỉ huy của Lư Hán vẫn bám giữ lập trường không thay đổi là còn phải chờ lệnh từ Trùng Khánh đang bị chậm trễ do trục trặc về phương tiện thông tin vô tuyến hoặc hệ thống bưu điện. (Đây là cách viện lý do hay là sự thật? Thật khó mà nói được). Nhưng, điều chắc chắn là đội quân chiếm đóng của Tưởng Giới Thạch chẳng vui vẻ gì mà kết thúc cuộc sống của họ trên mảnh đất hứa này.


Ngày 16 tháng 3, giữa lúc đang tiếp tục một trong nhiều cuộc họp không đếm xuể, tôi đích thân tới tổng hành dinh của tướng Lư Hán, mời Lư Hán gặp riêng trong phòng khách bên cạnh phòng họp. Sau vài đợt nói chuyện, Tư lệnh tối cao của đạo quân chiếm đóng đồng ý để quân Pháp tiến ngay vào Hà Nội. Thời gian được ấn định vào ngày 18 tháng 3.


Như vậy là, mười hai ngày sau khi đổ bộ lên Hải Phòng, những đơn vị đầu tiên của quân đội Pháp đã tới cầu Doumer hồi 13 giờ ngày 18 tháng 3 năm 1946. Các sĩ quan liên lạc người Việt Nam cùng ngồi trên những chiếc xe bọc thép của quân đội viễn chinh và một trăm kilômét từ Hải Phòng về Hà Nội đã không gặp sự cố gì đáng kể giữa Pháp với Việt Nam.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 20 Tháng Mười Hai, 2021, 08:13:49 am
Nhưng tình hình đã không được như vậy đối với các tốp lính Trung Quốc bố trí dọc theo tuyến đường. Đã có những tên lính gác bình thường của đội quân Lư Hán, thản nhiên dùng lưỡi lê thọc ngang trước mũi những chiếc xe tăng của sư đoàn xe bọc thép của Pháp, ngăn không cho tiến. Phải đi gọi một sĩ quan phiên dịch tới, tranh cãi rất, lâu đoàn xe mới tiếp tục được lên đường.


Khoảng 14 giờ, chiếc xe chở tướng Leclerc đi qua phố tiến vào cơ quan uỷ viên Cộng hoà Pháp tại Hà Nội. Tôi cùng với tướng Salan, ông Léon Pignon, đại tá d'Argencé, Tổng Chưởng lý Valran và nhiều cộng sự viên chủ chốt của tôi làm lễ nghênh đón.


Sự phấn khởi của dân chúng người Pháp lên tới cực điểm. Leclerc, người giải phóng Paris, được nhiệt liệt hoan hô từ đầu phố Richaud1 (Nay là phố Hàng Vôi).

Cũng trong ngày hôm đó, vào cuối buổi chiều, sau khi tới gặp tướng Lư Hán, chúng tôi tới nơi ở của Hồ Chí Minh. Tôi giới thiệu hai người với nhau. Leclerc, thái độ tươi vui, chỉ vài câu đơn giản, khúc chiết, đã thu hút được cảm tình của nhà cách mạng lão thành rất tinh tế này. Leclerc, dưới bộ mặt khắc khổ, cương quyết của một viên tướng chỉ huy, đã thể hiện được tâm hồn thẳng thắn, trung thực của một con người, trong suốt diễn biến tình hình đã tỏ ra một sự sáng suốt đáng ngạc nhiên về chính trị. Tất nhiên, chúng tôi đã cùng nhau nâng cốc, chúc mừng tình hữu nghị giữa nước Pháp và Việt Nam.


Ba ngày sau, một cuộc diễu binh được tiến hành trên các đại lộ gần dinh Toàn quyền cũ và thành Hà Nội.

Trong cuộc duyệt binh này, không những chỉ có tất cả những đơn vị trong đạo quân Viễn chinh có mặt tại Hà Nội từ ngày 19 tháng 3, mà có cả những đơn vị thuộc đội quân cũ ở Bắc Đông Dương vừa được tổ chức và trang bị lại sau khi ký Hiệp định ngày 6 tháng 3.


Gần 5000 binh sĩ bị tước vũ khí từ ngày 9 tháng 3 năm 1945 mà từ ngày đến Hà Nội tôi đã có dự định tái vũ trang cho họ, hoặc bằng cách bí mật đưa vũ khí vào trong thành là nơi họ bị giam giữ, hoặc thả dù vũ khí xuống đó nhưng không thực hiện được, nay đang được dự lễ duyệt binh. Tướng Leclerc đã trao cho họ lá quân kỳ mới, thay cho lá cờ đã đốt trong ngày 9 tháng 3 năm 1945. (Đến tháng 10 năm 1945, những đơn vị này đã được tổ chức lại, đặt dưới sự chỉ huy của tướng Froissart Broissia, trung tá Le Porz, đại tá d'Argence v.v... Cuối cùng, tướng Salan được cử làm đại diện quân sự Pháp ở Bắc Đông Dương, cuối tháng 12 đã tới Hà Nội1 (Sainteny lại viết sai. Trong hồi ký nhan đề "Sự kết thúc của một đế quốc", tướng Salan đã cải chính như sau: "Ông Sainteny viết trong hồi ký rằng mãi tới cuối tháng 12 tôi mới tới Hà Nội. Thật ra, tôi tới đây từ tháng 10" - ND) và được giao quyền chỉ huy tất cả những đơn vị cũ ở Bắc Kỳ hiện đang phân tán. Bốn tháng sau, khi Leclerc đến Hà Nội, ông thấy những đơn vị này đã được tổ chức lại, sẵn sàng chiến đấu).


Một sự xúc động phi thường làm nghẹn ngào tất cả những người Pháp dự buổi lễ duyệt binh. Tất cả những binh sĩ sống sót dưới sự chiếm đóng của Nhật Bản từ những "trại tập trung của cái chết dần mòn", nay trở thành những cựu chiến binh đứng dàn hàng thẳng tấp trước mặt vị chỉ huy mới, với trang phục và vũ khí vừa được cấp phát, trong một trật tự không ai chê trách được.


Trong lễ duyệt binh này, có cả một tiểu đoàn bộ binh quân đội Việt Nam tư thế rất chững chạc cùng tham dự. Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Võ Nguyên Giáp đứng duyệt đội ngũ bên cạnh tướng Leclerc. Các tướng lĩnh Trung - Hoa, các tuỳ viên quân sự Mỹ, Anh và các quan chức Pháp đều có mặt. Mọi người đứng nghiêm trước đài tử sĩ, chào Quốc thiều Pháp và Việt Nam. Võ Nguyên Giáp điềm tĩnh, tươi cười, đội mũ phớt, giơ nắm tay chào. Những đài tưởng niệm chiến sĩ trận vong đều được đặt hoa. Tôi chợt nhớ đến, mới chỉ cách đây khoảng bốn tháng rưỡi, nhân ngày 11 tháng 11 năm 1945 kỷ niệm chấm dứt Chiến tranh thế giới thứ nhất tôi đã cùng với năm hoặc sáu cộng sự viên tới đây đặt hoa tưởng niệm và đã bị coi như một sự thách thức. Chúng tôi biết rất rõ là, hồi đó tại đài tưởng niệm thường hoang vắng này có những cặp mắt thù ghét đang dò xét chúng tôi.


Ngày 22 tháng 3 năm 1946 có một quang cảnh hoàn toàn khác trước. Tất cả đám dân cư Pháp đều vui mừng đổ ra đường phố, trừ một "sự cố không tài nào tránh khỏi". Đó là một lính gác trong đội quân chiếm đóng của Lư Hán, viện cớ không nhận được chỉ thị của cấp trên, đã cắm lưỡi lê trên nòng súng, cản đường những chiếc xe tăng hạng nặng của Pháp đi trên đường phố để trở về nơi đóng quân. Còn thì tất cả đều diễn ra trong yên tĩnh. Dân chúng Việt Nam được lệnh không chính thức là ở nguyên trong nhà. Nhưng sự tò mò vẫn kéo một số người ra ngoài và những đội viên đội Tự vệ đã phải lùa những kẻ hiếu kỳ vào trong nhà, thúc ép những kẻ tò mò đang leo lên cây nhìn xe thiết giáp của Pháp diễu qua các đường phố, phải tụt xuống đất.


Ngay khi tới Hà Nội, tướng Leclerc, vốn tính giản dị, đề nghị tôi cho ông đến ở chung. Chúng tôi cùng chia nhau toà biệt thự tôi đang ở được ít lâu, ở ngay trước mặt dinh Toàn quyền cũ, nay là trụ sở của Chính phủ Việt Nam.


Do được ở chung nhiều tuần cùng với tướng Leclerc, tôi càng có cơ hội hiểu biết thêm người chỉ huy sư đoàn thiết giáp số 2. Cho tới nay, tôi chỉ mới được gặp ông chớp nhoáng vài lần ở Chandernagor hoặc ở Sài Gòn, ngoài ra toàn trao đổi thư từ. Tôi mới chỉ được biết, ông là một người cầm quân vĩ đại, người anh hùng huyền thoại. Sau khi những nhân viên tuỳ tùng đã rút lui, chỉ còn lại một mình tôi với ông, chúng tôi đã nói chuyện dông dài với nhau rất lâu. Qua nhung câu chuyện phiếm này tôi đã khám phá được dưới lớp áo giáp, một con người bình dị, một người cha, một người Pháp sống gương mẫu, tiêu biểu cho chủng tộc vừa muốn bám đất, vừa thích phiêu lưu của dòng giống chúng tôi.


Đối với tôi, niềm vui vô giá là được kéo dài mãi tới đêm khuya những câu chuyện phiếm làm cho chúng tôi được thư giãn sau những vấn đề đang ám ảnh, chúng tôi còn lan man say sưa nói đến những thích thú như cuộc sống ở vùng nông thôn, chăn nuôi, săn bắn... để cùng phát hiện ra là "hợp gu" với nhau. Thật là như được tăng thêm sức sau mỗi tôi được gặp người chỉ huy mà chỉ cau mày một cái cũng khiến cho toàn sư đoàn phải đứng nghiêm, nhưng lại là một con người bình dị, nhã nhặn, nhân hậu, say sưa muốn bám chặt ruộng đất.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 20 Tháng Mười Hai, 2021, 08:14:30 am
Nhân dịp viết lại những dòng hồi tưởng này, tôi xin được kể thêm một câu chuyện. Người con trai út tướng Leclerc, là thiếu uý Henri Leclerc de Hautecloque, phục vụ trong một đơn vị quân đổ bộ, đã bị thương ở vùng Hồng Gai. Trong khi tướng Leclerc đang ở chung nhà với tôi, tôi được tin con trai ông cũng có mặt tại Hà Nội. Tôi đề nghị với ông, người cha của thiếu uý Henri, là tôi rất sung sướng được làm quen với thiếu uý, muốn mời thiếu uý tới ăn một bữa cơm trưa hoặc tôi. Lời đề nghị của tôi đã được ông đáp lại bằng mấy câu lầu bầu trong miệng, đủ để tôi hiểu rằng, một sĩ quan, bất kể là ai, đều phải sống cùng với binh lính và đồng cấp, con trai ông không có lý do gì để được tới đây ngồi ăn cùng với chúng tôi.


Tuy nhiên, một ánh mắt chợt loé lên trong cái nhìn của Leclerc đã khiến tôi thêm mạnh dạn. Ngày hôm sau, tôi nói với tướng Leclerc, tôi đã mời thiếu uý Henri Leclere de Hautecloque đến ăn cơm trưa, ông lại lầu bầu nhưng sau đó là một nụ cười. Có nghĩa rằng tôi là chủ nhà, tôi được quyền tự do mời bất cứ ai tôi thích. Lúc thiếu uý Henri tới tướng Leclerc đã tỏ ra rất thích thú. Ông nói đùa với con và với tất cả những người cùng ăn, bông phèng đủ mọi thứ chuyện.


Vì vậy hai năm sau, khi chúng tôi đi theo linh cữu tướng Leclerc từ Nhà thờ Đức Bà đến nghĩa trang Liệt sĩ, dưới tiết trơi mưa lạnh giá của tháng Chạp, tôi đã cùng với tất cả nước Pháp khóc thương người anh hùng huyền thoại, và tôi cũng khóc thương cả một con người mà tôi đã có dịp quen biết và yêu quý. (Còn thiếu uý Henri Leclerc de Hautecloque đã mất tích ngày 4 tháng 1 năm 1952 trong một trận chiến đâu ở gần Phát Diệm).


Đô đốc d'Argenlieu muốn làm quen và gặp chính thức Hồ Chí Minh, đã quyết định mời Chủ tịch Chính phủ Việt Nam tới tàu chỉ huy Emile Bertin và tiện dịp dự lễ duyệt hạm đội Pháp đang tập trung trong vùng biển Đông Dương. Khung cảnh vịnh Hạ Long đã được chọn làm nơi đón tiếp. Thời gian được ấn định vào ngày 24 tháng 3.


Chiếc thuỷ phi cơ Catalina được lệnh tới đón chúng tôi tại sân bay Gia Lâm. Hồ Chí Minh và tôi cùng đi trong chiếc máy bay này tới gặp đô đốc d'Argenlieu trên chiếc tuần dương hạm. Sau nghi lễ đón chào là buổi tiếp về phía Pháp có tướng Leclerc và những trợ tá chủ chốt của Cao ủy. Phía Việt Nam có Nguyễn Tường Tam và Hoàng Minh Giám, thái độ hoà dịu, thân mật. Đáp lại lời hoan nghênh của đô đốc nâng cốc chúc mừng, Hồ Chí Minh trả lời rất đơn giản.


Buổi chiều dành cho việc duyệt hạm đội Pháp ở Viễn Đông, sau đó là cuộc hội đàm kéo dài trong khoang chỉ huy của đô đốc. Trong cuộc hội đàm, chúng tôi thảo luận vấn đề gai góc nhất là những hiệp định tiếp theo Hiệp định Sơ bộ. Phải thừa nhận rằng cuộc nói chuyện này đòi hỏi rất nhiều kiên nhẫn, nhiều thông cảm lẫn nhau, nhiều nhượng bộ ở cả hai phía, nếu muốn hoàn chỉnh đầy đủ các điều khoản đã ghi trong Hiệp định Sơ bộ ngày 6 tháng 3.


Địa điểm hội nghị tiếp theo là một vấn đề tranh cãi trong buổi hội đàm hôm đó.

Mọi người đều biết, Hiệp định Sơ bộ dự kiến chọn Hà Nội, Sài Gòn hoặc Paris làm địa điểm cho hội nghị tiếp theo để đi tới Hiệp định chính thức. Hồ Chí Minh giữ vững quan điểm Paris cần thiết phải được chọn làm địa điểm họp hội nghị sắp tới. Nhân dân Việt Nam đã được hỏi kỹ về vấn đề này và đã không bỏ lỡ cơ hội để biểu lộ "lòng mong muốn" thấy thủ đô Pháp được chọn làm địa điểm họp tiếp theo. Chính vì vậy cho nên hồi đó nhiều biểu ngữ, áp phích đã được dán trên đường phố đòi "thảo luận tại Paris".


Đô đốc d'Argenlieu lại muốn chọn Đà Lạt vì cho rằng thành phố này có thể được coi như một trận địa trung lập. Về mặt thực tiễn, cũng phải tính đến chuyện tất cả các chuyên viên đều đang tập trung hoặc ở Hà Nội, hoặc ở Sài Gòn, vì vậy có điều kiện thuận lợi để đưa họ lên Đà Lạt khi cần thiết.


Về phần tôi, tôi nghiêng về phía chọn Paris, chủ yếu để Hồ Chí Minh và các đại biểu Việt Nam tách khỏi ảnh hưởng và sức ép của những phần tử dân tộc chủ nghĩa ngoan cố, cũng như những mưu đồ của những kẻ không thích Pháp và Việt Nam thoả hiệp với nhau. Chúng tôi biết, một số cơ quan mật vụ các nước Đồng minh vẫn chuẩn bị tước vũ khí và đang muốn âm mưu làm rối vấn đề. Tướng Leclerc từ khi tới Bắc Kỳ cũng đã có dịp nhận thấy những hành động phá hoại này, nên cũng cùng chung quan điểm với tôi là chọn Paris và ông đã sử dụng tất cả uy quyền của mình để ủng hộ tôi. Nhưng cũng phải mất nhiều ngày sau Paris mới được chọn, sau nhiều cuộc trao đổi quan điểm giữa Hà Nội và Sài Gòn.


Ngày hôm sau, 25 tháng 3 được dành để tiếp tướng Lư Hán. Đô đốc d'Argenlieu đã có ý định gặp Tư lệnh trưởng các đội quân chiếm đóng Bắc Kỳ và muốn nhân dịp đang ở vịnh Hạ Long để tiếp tướng Lư Hán trên chiếc tuần dương hạm mang cờ hiệu đô đốc chỉ huy.


Tướng Lư Hán tỏ ra thích thú được trải qua một ngày trên chiến hạm Emile Bertin và chú ý rất nhiều đến buổi diễn tập bắn đạn thật để chào mừng. Nhằm mục đích củng cố thêm những liên hệ vừa thiết lập với lãnh chúa Trung Quốc tỉnh Vân Nam, Cao uỷ d'Argenlieu mời tướng Lư Hán chính thức đi thăm Sài Gòn. Ông ngỏ ý sẽ dành một trong những tuần dương hạm dưới quyền, đưa tướng Lư Hán tới Nam Kỳ. Lư Hán sốt sắng nhận lời ngay. Nhưng chỉ vài ngày sau, chắc là Chính phủ Trùng Khánh không đồng ý cho nên Lư Hán lại thành thật ngỏ lời xin lỗi, lấy làm tiếc đã phải từ chối lời mời của đô đốc d'Argenlieu, không thực hiện được chuyến đi Nam Kỳ bằng đường biển.


Tối 24, tôi để Hồ Chí Minh trở về Hà Nội bằng đường bộ một mình, còn tôi ở lại nghỉ đêm trên tàu Gloire. Vài giờ trên mặt biển, trong không khí tĩnh lặng trên chiếc tàu chiến lớn cắm neo đứng im trong vịnh Hạ Long hùng vĩ là nơi mười sáu năm trước tôi đã trải qua những giờ phút đẹp nhất trong chuyến công tác trước đây tại xứ Bắc Kỳ, đối với tôi đêm hôm đó quả là được hưởng sự thư giãn thật sự đầu tiên khi trở lại Viễn Đông. Phải chăng do tình bạn mến khách của hạm đội Pháp ở đây, là nơi tôi có nhiều người bạn, hoặc do thanh thản vì đã vược qua một giai đoạn công tác, đã gây cho tôi một cảm giác yên tĩnh trong lòng mà tôi đã quên lãng không còn nhớ, hay chỉ đơn giản là do sự sảng khoái kỳ diệu đang thâm nhập tất cả cơ thể tôi, mỗi khi tôi tới vùng biển? Tôi đã mở to mắt nhiều giờ không ngủ, để tận hưởng say sưa khoái cảm từ con tàu tuần dương đang đung đưa nhẹ nhàng như thiu thiu ngủ.


Tuy nhiên, ý nghĩ của tôi vẫn không ngừng quay trở lại với vấn đề lo ngại từ nhiều tháng nay vẫn ám ảnh tôi.

Nếu đã tránh được cuộc xung đột đẫm máu, nếu cả hai bên đều đã thừa nhận nguyên tắc đàm phán tiếp theo, vậy thì từ những lời hứa hẹn này, từ tất cả những dự định này sẽ còn phải làm gì nữa, những thiện chí và tất cả ước muốn thoả hiệp sẽ phải được thể hiện như thế nào nữa?


Đoạn đường đã đi qua thật là nguy hiểm. Kỳ lạ thay, đoạn đường đó đã đi vòng qua, thảm hoạ đáng sợ. Thế nhưng tôi vẫn cảm thấy dường như còn phải làm nhiều việc tinh tế hơn nữa, hăng hái hơn nữa, trên đoạn đường tiếp theo.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 25 Tháng Mười Hai, 2021, 02:41:25 pm
XIII
HỒ CHÍ MINH ĐI PHÁP HỘI NGHỊ FONTAINEBLEAU


Sau cuộc gặp giữa Hồ Chí Minh với đô đốc d'Argenlieu trên vịnh Hạ Long, hai bên thoả thuận thông báo cho công chúng biết những điểm đã ấn định trong cuộc hội đàm này bằng một bản thông báo chung. Văn bản này được soạn thảo rất công phu. Hồ Chí Minh đòi phải ghi rõ Paris đã được chọn làm địa điểm họp hội nghị. Sau nhiều lần ngần ngại và nhiều cuộc trao đổi giữa Hà Nội với Sài Gòn, cuối cùng văn bản này được hai bên đồng ý và được truyền đi qua báo chí và hệ thống truyền thanh.
Thông cáo


Sau cuộc họp ngày 24 tháng 3 năm 1946 giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và đô đốc d'Argenlieu, Cao uỷ Pháp ở Đông Dương, những điều dưới đây đã được hai bên thoả thuận:

Một - Trong thời hạn nhanh nhất, tức ngay sau khi hoàn thành các thủ tục quá cảnh, tức vào khoảng nửa đầu tháng 4, một phái đoàn hữu nghị gồm mười đại biểu Quốc hội Việt Nam sẽ đi Paris, chuyển tới Quốc hội Pháp lời chào anh em của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Hai - Cũng trong thời hạn đó, một hội nghị trù bị sẽ mở tại Đà Lạt, giữa một bên là đoàn đại biểu Pháp gồm 12 thành viên, đặt dưới sự chủ toạ của Cao uỷ Pháp tại Đông Dương, một bên là đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà gồm 12 thành viên, đặt dưới sự chủ toạ của Chủ tịch Chính phủ hoặc đại diện Chủ tịch.

Ba - Hội nghị trù bị này sẽ hoàn thành mọi việc chuẩn bị để một đoàn đại biểu nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có thể lên đường trong thời hạn ngắn nhất, tức vào khoảng nửa cuối tháng 5 để khai mạc hội nghị chính thức tại Paris.


Nếu những ý đồ của Sài Gòn đã được bảo vệ, tức là phải có một hội nghị trù bị tại Đà Lạt trước khi mở hội nghị chính thức tại Paris, thì phía Việt Nam cũng hài lòng do việc hội nghị sẽ được tiếp tục tại Paris như đã ghi rõ trong điểm 3. Trên thực tế, chúng tôi cho rằng Hội nghị Đà Lạt không chỉ chuẩn bị cho Hội nghị Paris mà còn giải quyết đầy đủ các vấn đề, để cho những cuộc hội đàm tại Paris chỉ giới hạn trong việc long trọng ký kết những thoả thuận đã được ghi rõ tại Đà Lạt và được đề cập trong buổi lễ ký chính thúc.


Về đoàn đại biểu gọi là "phái đoàn hữu nghị", sự thoả thuận cũng đạt được rất nhanh, chóng.

Những người đề nghị được cử đi rất đông. Việc thành lập danh sách xuất phát từ nhiều đòi hỏi của phía Việt Nam - Người nào cũng muốn đi. (Các thành phần trong đoàn đại biểu hữu nghị của Việt Nam gồm có: Phạm Văn Đồng, trưởng phái đoàn, Trần Ngọc Danh, Đỗ Đức Dục, Nguyễn Mạnh Hà, Nguyễn Văn Luân, Trịnh Quốc Quang, Tôn Đức Thắng, Huỳnh Văn Tiểng, Hoàng Tích Trí, Nguyễn Tấn Gia Trọng).


Tôi cũng đã được quyết định trở về Pháp để chuẩn bị chuyến đi cho phái đoàn hữu nghị này và cũng để gặp lại Hồ Chí Minh khi ông đến Mẫu quốc. Tôi còn được cử vào một phái đoàn thông tin bên cạnh Chính phủ Pháp, có nhiều thông báo kịp thời những diễn biến ở Bắc Đông Dương cho chính phủ biết.


Tôi rời Hà Nội đi Sài Gòn sau khi đã trao nhiệm vụ cho tướng Valluy, chỉ huy sư đoàn bộ binh thuộc địa số 9, được cử làm Quyền uỷ viên Cộng hoà Pháp tại Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ.

Cuối tháng 4, đoàn đại biểu hữu nghị Việt Nam rời Hà Nội, bay qua Calcutta tới Paris.

Sau khi dừng lại Sài Gòn vài ngày nhằm giải quyết rất nhiều công việc sự vụ, tôi rời Nam Kỳ trên một chiếc máy bay Dakota mà lực lượng không quân Pháp ở Viễn Đông đã nhường cho tôi sử dụng. Tôi có hẹn gặp tướng Leclerc ở Bangkok. Ông vừa mới từ Ấn Độ tới đây. Tại Ấn Độ, tướng Leclerc đã gặp tướng Juin trên đường đi Trùng Khánh. Chúng tôi gặp nhau tại một quán ăn ngay trong sân bay.


Tối hôm đó tôi tới Calcutta là nơi chiếc Dakota già nua buộc chúng tôi phải nghỉ gần bốn mươi tám giờ để cho máy bay sửa chữa, bảo dưỡng. Tại Calcutta, tôi gặp đô đốc Auboyneau, tư lệnh các lực lượng hải quân Viễn Đông đang chờ máy bay về Pháp. Chiếc Dakota chở tôi không phải loại tiện nghi vì khoang máy bay hãy còn thiết bị như "thời chiến" nhưng chỗ ngồi thì không thiếu. Đô đốc Auboyneau, ông bạn lâu năm, đã đi cùng chuyến máy bay với tôi. Sau ba chặng dừng cánh ngắn hạn ở Delhi, Cairo, Tunis, ngày 22 tháng 4 chúng tôi đã tới sân bay Bourget của Pháp. Nhiều nhân vật quan tâm đến vấn đề Đông Dương đã chờ sẵn ở sân bay, dồn dập hỏi tôi nhiều chuyện. Sau đó là một loạt cuộc gặp các thành viên chính phủ, các chủ tịch Thượng viện, Hạ viện, và nhiều nhà hoạt động chính trị, hỏi tôi nhiều vấn đề về Đông Dương. Những cuộc thăm hỏi này kéo dài mất vài ngày. Tiếp đó lại họp báo, thuyết trình trước Ủy ban về Đông Dương, Uỷ ban liên bộ, Hội đồng chính phủ v.v...


Ngày 30 tháng 4, tôi phát biéu trên đài phát thanh, cố giải thích, để mọi người nghe hiểu rằng chúng tôi vừa mới thoát khỏi vực thẳm khủng khiếp ở Bắc Đông Dương, và nếu quyết tâm thực hiện một cách rõ ràng, thẳng thắn, ta sẽ đạt được một thoả hiệp thật sự trong tương lai.


Tôi quan niệm như đã từng dự kiến từ mười tháng trước, biết bao khó khăn phải trải qua, để có thể đạt được Hội nghị Paris tầm vóc rộng lớn của vấn đề.

Những giới doanh nghiệp Pháp-Việt chăm chú theo dõi diễn biến. Ngoài một vài kẻ ngoan cố, cố tình quay lại quá khứ mà chỉ riêng họ tiếc nuối, những người khác đều hiểu rằng với đầu óc thực tế của những nhà kinh doanh, có thể đạt được hi vọng trên con đường mới cam kết tham gia. Những quyền lợi của họ chẳng phải đã được bảo vệ đó hay sao?


Đoàn đại biểu hữu nghị của Việt Nam do Phạm Văn Đồng dẫn đầu tới Paris ngày 26 tháng 4 đã được các đại biểu quốc hội và nhiều nhân vật cấp cao của Pháp tiếp đón, và đã trở về ngày 16 tháng 5. Thời gian đoàn ở Pháp không nhằm mục đích nào khác là tiếp xúc với nhiều giới, do đó đã thực hiện một loạt dài các cuộc gặp gỡ, chiêu đãi thân mật.

Riêng Phạm Văn Đồng vẫn ở lại Paris để tham gia Hội nghị Fontainebleau.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 25 Tháng Mười Hai, 2021, 02:44:08 pm
Giữa khoảng thời gian này, ngày 31 tháng 5 Hồ Chí Minh có tướng Salan cùng đi, đã cùng với các nhà thương lượng Việt Nam rời Hà Nội lên đường đi Paris. Nhưng nội các Gouin vừa bị đổ và Georges Bidault được giao nhiệm vụ thành lập chính phủ mới. Việc chưa có chính phủ giữa lúc Hồ Chí Minh đến Mẫu quốc khiến cho chúng tôi phải buộc hai máy bay chở ông và các cộng sự viên của ông chuyển hướng tới Biarritz, là nơi các vị khách của chúng ta chờ đợi sau khi thành lập xong chính phủ mới sẽ chính thức được đón tiếp tại Paris.


Trong một buổi được mời tới tham dự một cuộc họp của Hội đồng Chính phủ, tôi được Chủ tịch Bidault giao nhiệm vụ tổ chức lịch trình cho những ngày Hồ Chí Minh ở Pháp. Cũng đã có quyết định, Chủ tịch Việt Nam và tôi không tham dự đàm phán ở Fontainebleau. Hai bên thoả thuận, mọi cuộc tiếp xúc giũa Chủ tịch Chính phủ Việt Nam với Chính phủ Pháp đều qua tôi liên lạc. Điều lệ này giai đoạn đầu được tôn trọng nhưng sau đó đã bị phá vỡ một cách nguy hiểm. Hồ Chí Minh đã vượt lên trên đầu tôi, để làm mọi việc mà đáng lẽ tôi thấy cần phải từ chối, bởi vì tôi có những lý do đúng để làm như vậy.


Ngày 12 tháng 6, Hồ Chí Minh và những người cùng đi tới Biarritz. Ngay buổi tiếp xúc đầu tiên, tôi cảm thấy ông có vẻ bực mình. Ông nói thẳng với tôi, ông có thể quay lại Bắc Kỳ. Đối với ông, cuộc hội nghị đã dự kiến đến nay có vẻ như vô ích, bởi vì nước Pháp đã đơn phương đi ngược lại những thoả thuận trong Hiệp định ngày 6 tháng 3, tự ý định đoạt số phận của Nam Kỳ. Ông liên tưởng tới việc ngày 1 tháng 6, giữa lúc ông đang bay trên vùng trời Trung Đông thì được tin nước Cộng hoà tự trị Nam Kỳ tuyên bố thành lập. Quyết định này là nhằm đáp ứng với một bộ phận đòi ly khai của dân chúng Sài Gòn, đồng thời chỉ là một giải pháp quá độ, đã bị Hồ Chí Minh và đoàn đại biểu Việt Nam rất nhạy cảm với bất cứ điều gì động chạm đến sự thống nhất của ba kỳ, coi như "một chuyện đã rồi" không thể nào chấp nhận được. Sự kiện này được lực lượng chống đối ở Việt Nam khai thác, nói rằng nước Pháp "một lần nữa đã không tôn trọng những điều họ cam kết", Hồ Chí Minh và những nhà lãnh đạo chủ chốt của Việt Nam vừa mới đi xa, vậy mà Pháp đã lợi dụng sự vắng mặt của họ, lợi dụng việc quân Pháp trở lại Bắc vĩ tuyến 16, để núp dưới bóng quân đội Pháp thiết lập lại những quyền lợi của Pháp ở Đông Dương, Hiệp định ngày 6 tháng 3 chỉ là một trò bịp v.v...


Tôi đã phải giải thích rất lâu với Hồ Chí Minh và những người cùng đi rằng quyết định này chỉ là tạm thời và không cản trở gì hết đến tương lai của Nam Bộ. Văn bản tuyên bố thành lập Chính phủ Nam Kỳ tự trị đã ghi rõ, việc thành lập chính phủ này là: "Sự chờ đợi kết quả của việc trưng cầu ý dân trong tương lai, như Hiệp định Sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946 đã ấn định". Cuộc trưng cầu ý dân dự kiến trong Hiệp định Sơ bộ sẽ được tiến hành đúng lúc. Đến lúc đó sẽ duy trì hay huỷ bỏ quyết định thành lập Chính phủ Nam Kỳ tự trị, tuỳ theo ý nguyện của dân chúng. Những lời trình bày này có vẻ đã tạm yên lòng Chủ tịch và những người cùng đi.


Tôi vừa mới viết ở phần trên là các nhà lãnh đạo chủ chốt của Việt Nam đều cùng đi Pháp với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Điều đó không hoàn toàn chính xác. Không phải tất cả những nhân vật này đều đã đi xa. Ở Hà Nội vẫn còn có Võ Nguyên Giáp được coi như một nhân vật đáng gờm nhất. Nhân vật hùng mạnh này đã chế ngự hội nghị trù bị tại Đà Lạt khai mạc ngày 18 tháng 4 dưới sự chủ toạ của đô đốc d'Argenlieu. Nguyễn Tường Tam dẫn đầu đoàn đại biểu Việt Nam với tư cách là Bộ trưởng Ngoại giao.


Tại Đà Lạt, mọi người đã thừa nhận rằng việc "trang bị" cho cái khung của Hiệp định ngày 6 tháng 3 thật là rất khó khăn. Mặc dù bầu không khí thân ái bao trùm hội nghị nhưng đến ngày 11 tháng 5 đã phải kết thúc bằng một thải bại gần như hoàn toàn. Đoàn đại biểu Pháp có cảm tưởng là phía Việt Nam coi Hiệp định Sơ bộ ký tại Hà Nội như một bàn đạp xuất phát, đó chỉ là một bản sơ khai để đạt thêm những nhượng bộ mới. Đoàn đại biểu Việt Nam có cảm tưởng đơn giản, nhưng biết bao nguy hiểm, là phía Pháp đang tìm cách đi ngược lại những điều cam kết.


Võ Nguyên Giáp quay trở về Hà Nội với niềm hoài nghi và bực bội hơn bao giờ hết1 (Đây vẫn là nhận định rất chủ quan và suy diễn quen thuộc của Sainteny - ND).

Trong khi đó, tại Biarritz, Hồ Chí Minh cùng với sĩ quan tuỳ tùng là đại uý Huỳnh và Hoàng Minh Giám là một cộng sự viên trung thành, cùng đến ở tại khách sạn Carlton. Đó cũng là nơi tôi đến ở cùng với hai trong số cộng sự viên của tôi là Louis Fauchier Magnan và Philippe Quennouelle.


Những người còn lại trong đoàn đại biểu Việt Nam đáng lẽ phải đến ở tại nhà khách. Nhưng trên thực tế hầu hết các đại biểu đã về Paris.

Những ngày Chủ tịch của Việt Nam đến Pháp chỉ là chuyến đi chưa chính thức, cho tới khi có lễ đón tiếp chính thức tại Paris. Chúng tôi đang mong đợi chính phủ mới được thành lập để chính thức đón Hồ Chí Minh.


Trong thời gian chờ đợi, Chủ tịch của Việt Nam nghỉ mát trên bờ biển xứ Basque, ông đi tìm hiểu xứ sở này, chơi bài, dự chiêu đãi, câu cá, thăm viện bảo tàng Lourdes v.v... Hồ Chí Minh đã trở lại vui vẻ, tươi cười. Ông vẫn nhã nhặn, giản dị như xưa nay vốn thế. Ông quan tâm đến tất cả mọi thứ, nói chuyện thân mật với dân cày, dân chài, làm họ ngạc nhiên vì ông tuyệt đối không say sóng biển. Nhiều người Việt Nam sinh sống tại Pháp đến thăm ông. Không khí trở lại bớt căng thang. Nhưng điều đó vẫn không ngăn được ông Bộ trưởng Không quân đi cùng với hai hoặc ba nghị sĩ cộng sản trách chúng tôi về những điều kiện không thoải mái của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đang bị "giữ chân" tại Biarritz. Nhưng Hồ Chí Minh tỏ ra có nhã ý không phàn nàn về sự đón tiếp chậm trễ tại Paris, ông tuyên bố là ông rất vui khi được nghỉ tại bờ biển xứ Basque.


Cuối cùng, chính phủ đã ấn định chương trình đón tiếp chính thức Chủ tịch Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian từ 22 tháng 6 đến 4 tháng 7. Sáng 22, chúng tôi rời Parme - Biarritz bay đến sân bay Bourget ở Paris. Hôm đó thời tiết đẹp. Cảm thấy thời gian còn sớm, tôi cho máy bay lượn nhẹ một vòng để các vị khách ngắm những lâu đài Loire từ trên cao. Chuyến bay du lịch này làm tôi nhớ lại hàng loạt chuyến bay nhiều vô kể để chụp ảnh trên không mà tôi đã tiến hành ỏ chính nơi đây trong thời kỳ tôi theo học khoá sĩ quan thám không ở Tours, trước khi chiến tranh bùng nổ ít ngày. Về phần Hồ Chí Minh trong khi bay trên thành phố này, không biết ông có nhớ rằng năm 1920 ông đã dự hội nghị thành Tours cùng với Marcel Cachin và hội nghị này đã khai sinh ra Đảng Cộng sản Pháp không.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 25 Tháng Mười Hai, 2021, 02:47:57 pm
Đến 16 giờ, chúng tôi tới vùng trời Paris. Sân bay Bourget đen nghịt người. Bộ trưởng Bộ Pháp quốc hải ngoại1 (Trước kia gọi là Bộ Thuộc địa. Sau khi nước Pháp được giải phóng, Chính phủ Pháp đổi tên Bộ thuộc địa thành Bộ phụ trách những đất đai thuộc Pháp ở ngoài Chính quốc", sau đó lại chuyển thành Bộ Các nước liên kết - ND) Marius Moutet và nhiều quan chức dân sự, quân sự thay mặt Chính phủ Pháp ra đón. Trên sân ga hàng không, phấp phới tung bay những lá cờ Pháp và Việt Nam. Tôi liếc nhìn vị khách của chúng tôi. Nét mặt ông lộ rõ vẻ xúc động. Cặp mắt ông sáng ngời, cổ họng ông như nghẹn ngào muốn nói câu gì đó.


Máy bay hạ cánh rồi đứng im trên đường băng. Quốc thiều Pháp và Quốc thiều Việt Nam lần lượt vang lên. Hồ Chí Minh đứng nghiêm, chiếc mũ cát cầm trong tay. Liệu ông có nghĩ rằng, hai mươi ba năm trước đây, ông đã rời mảnh đất này của Pháp ra đi để rồi hôm nay nước Pháp lại nghênh đón ông như một Nguyên thủ Quốc gia?


Chuyến đi thăm chính thức của Hồ Chí Minh được ghi trong chương trình nghi lễ bằng một loạt hoạt động chính thức vẫn thường dành cho thượng khách. Mọi người nhìn thấy Chủ tịch của Việt Nam tới thăm Khải Hoàn môn, Cung điện Versailles, Toà Thị chính, lăng tẩm Mont-Valérien, xem biểu diễn tại Nhà hát lớn, đặt vòng hoa tại Đài tưởng niệm các binh sĩ Đông Dương tử trận trên đất Pháp, được chôn cất tại nghĩa trang Nogent... Chiếc xe chở Chủ tịch có môtô hộ tống xuất hiện liên tục trên các đường phố thủ đô Pháp.


Hồ Chí Minh cũng tổ chức nhiều buổi tiếp khách, chiêu đãi, và họp báo tại khách sạn Royal Monceau, là nơi ông nghỉ cùng với những người cùng đi. Các nhà báo và các nhà hoạt động chính trị, đại biểu quốc hội, doanh nghiệp thường tới gặp Hồ Chí Minh. Bầu không khí bao trùm những cuộc gặp đó rất thân mật. Hình như đã tìm lại được khí hậu thuận lợi cho cuộc đàm phán.


Ngày 6 tháng 7, hội nghị Fontainebleau bắt đầu làm việc, các đoàn đại biểu có mặt tại Fontainebleau bao gồm:

Đoàn đại biểu Pháp: - Chủ tịch: Max André. Các thành viên: Juglas, Lozeray, Baudet, tướng Salan, đô đốc Barjot, Pignon, Torel, Bayen, Messmer, Gonon, Bourgoin, d'Arcy, Gayet, Bousoquet.

Đoàn đại biểu Việt Nam: Chủ tịch: Phạm Văn Đồng. Các thành viên: Trịnh Văn Bính, Tạ Quang Bửu, Dương Bạch Mai, Chu Bá Phượng, Đăng Phúc Thông, Nguyễn Mạnh Hà, Nguyễn Văn Huyên, Huỳnh Thiên Lộc, Phạm Khắc Hoè, Hoàng Minh Giám. Các chuyên viên: Nguyễn Độ, Hoàng Văn Đức, Vũ Trọng Khánh, Hồ Đắc Liên, Nguyễn Văn Luyện, Nguyễn Văn Tịnh, Nguyễn Đắc Khê.


Cả hai đoàn đều ăn ở tại những khách sạn ở Fontainebleau. Các phòng làm việc được bố trí tại một cánh của toà lâu đài. Người ta có thể nhận thấy ngay trong "tuần trăng mật" mới mẻ này xuất hiện nhiều bất đồng hơn hoà đồng. Phạm Văn Đồng là Chủ tịch đoàn đại biểu Việt Nam đã thay đổi thái độ khác với hai tháng trước, khi dẫn đầu phái đoàn hữu nghị.


Với những lời lẽ cứng rắn đôi khi gay gắt, Phạm Văn Đồng phản ánh tâm trạng của các đại biểu Việt Nam. Những đại biểu này không che giấu sự lo ngại bị lừa bịp bởi một chính sách nhiều mưu mô của phía Pháp.


Tôi đã viết rằng, bản Hiệp định Sơ bộ ngày 6 tháng 3 nếu đã dẫn đến việc kết thúc sự chiếm đóng của đội quân Lư Hán, việc quân đội Pháp trở lại Đông Dương và việc đặt một nước Việt Nam tự do vào khối Liên hiệp Pháp thì cũng mới chỉ vạch ra những nét đại cương cho một sự thoả hiệp, cần phải có thêm những hiệp nghị riêng cho từng lĩnh vực, với những chi tiết cụ thể hơn.


Hội nghị trù bị Đà Lạt, như đã thấy đã không đạt được một tiến bộ nào, không ký kết được điều gì sau khi đã ký Hiệp định Sơ bộ tại Hà Nội. Cũng dễ hiểu khi cho rằng tại Hội nghị Fontainebleau vẫn còn tồn đọng những trở ngại chính cần vượt qua, đặc biệt là:

- Sự hợp nhất ba "kỳ", tức là sáp nhập Nam Kỳ vào Việt Nam.

- Vấn đề thuế quan (chính từ vấn đề này mà bốn tháng sau đã xảy ra cuộc xung đột đẫm máu của sự cố không thế nào dàn xếp được tại Hải Phòng).

- Vấn đề đại diện ngoại giao. Nước Pháp muốn đặt Liên bang Đông Dương trong khối Liên hiệp Pháp, chủ trương không để cho Việt Nam được quyền tự chủ trong quan hệ quốc tế, trong khi đó Việt Nam lại muốn được toàn quyền độc lập trong việc đàm phán và ký hiệp ước với nước ngoài.

- Vấn đề tiếng Pháp: nước Pháp muốn ngôn ngữ Pháp phải là ngôn thữ thứ hai bắt buộc phải giảng dạy ở Việt Nam. Phía Việt Nam lại đơn giản cho rằng tiếng Pháp chỉ là sinh ngữ được ưu tiên trong các sinh ngữ khác.


Về vấn đề chuyên gia kỹ thuật và tài sản của Pháp ở Việt Nam, hai bên cũng có những quan điểm khác biệt và bám giữ đến cùng lập trường không thay đổi của mình. Nếu Việt Nam hoàn toàn chấp nhận việc nhờ cậy các chuyên gia Pháp thì họ lại muốn tự họ được lựa chọn chuyên gia và không đồng ý sự ưu tiên mang tính chất bắt buộc.


Vấn đề bồi thường liên quan đến các tài sản của Pháp gặp tai hoạ hoặc bị cướp đoạt cũng dẫn đến hai bên từ chối mọi trách nhiệm nếu xảy ra xung đột. Hơn nữa, phía Pháp cũng từ chối bồi thường theo chỉ định tương tự.


Chỉ nêu lên vài thí dụ trên đây, cũng đủ thấy, mặc dù đại đa số các thành viên đều có thiện chí và ước muốn thoả hiệp nhưng bên nào cũng giữ vững lập trường khó xoay chuyển.

Thất bại của Hội nghị Fontainebleau, ít nhất là một phần, đã bắt đầu thấy rõ khi Pháp được tin ngày 1 tháng 8 năm 1946 tại Đà Lạt tiến hành một hội nghị "Liên bang" nhằm xác định vị trí của Liên bang Đông Dương, không chỉ với Campuchia và Lào, mà cả Nam Kỳ. Nguồn tin này đã lập tức cắt đứt ngay Hội nghị Fontainebleau. Sau đó, nhờ có Hồ Chí Minh, vài ngày sau mới lại tiếp tục họp trở lại. Nhưng đến lúc này thì cả hai bên đều mất lòng tin đối với nhau.


Trong khi đó, tình hình chính trị nội bộ của nước Pháp tác động đến cuộc hoà đàm đang có vấn đề nghiêm trọng, đã đẩy Pháp và Việt Nam tới chỗ không thể nào hoà giải được. Các đảng cánh hữu của Pháp, ít nhiều đều ác cảm với Việt Nam và những yêu sách của họ đã khuyến khích đoàn đại biểu Pháp không khoan nhượng và kêu gọi huỷ bỏ những cam kết. Những thiện chí thành tâm nhất cũng bắt đầu chán ngán, sự bi quan chán nản xuất hiện ở cả hai phía.


Sự căng thẳng và sự lo ngại không ngừng tăng thêm. Sau này, tôi được biết từ giờ phút này những đại biểu Việt Nam đều có thể nghĩ rằng họ có thể bị bắt giữ. Bầu không khí tin cậy lẫn nhau, rất cần cho chính sách hoà giải phải khó nhọc lắm mới xây dựng được, nay hoàn toàn tan biến.


Những tin tức đến từ Bắc Kỳ cũng xấu. Việc tuyên bố thành lập chính phủ Nam Kỳ tự trị là nguyên cớ đầu tiên kích động dân chúng Bắc Kỳ. Ngày 9 tháng 6 Hà Nội tổ chức một "ngày Nam Bộ". Trước đó, ngày 3 tháng 6 trong một cuộc mít tinh phản đối âm mưu tách rời Nam Bộ khỏi Việt Nam, Trần Huy Liệu đã đọc một bài diễn văn mạnh mẽ trong đó coi sự kiện Nam Bộ tương tự như việc tách rời Alsace - Lorraine khỏi nước Pháp.


Trong những ngày 15, 16, 17 tháng 6 nhiều người Pháp ở Hà Nội, Hải Phòng đều là nạn nhân của những vụ hành hung, cả dân sự lẫn quân sự. Trong đêm 18 rạng ngày 19 tháng 6 trường phái đoàn. Anh tại Bắc Kỳ là Simpson Jones may mắn thoát khỏi một vụ mưu hại. Danh từ "người da trắng tốt" đã tan biến, ít nhất cũng chỉ còn để kể chuyện làm ví dụ.


Cuối năm 1946 do các vụ lộn xộn xảy ra quá nhiều, tổ chức Tự vệ của Việt Nam Quốc dân đảng đã bị giải tán. Một số lớn đội viên của tổ chức này đều là con chủ bài của Việt Nam Quốc dân đảng. Sau đó, tổ chức Tự vệ do Việt Minh nắm, cung cấp cán bộ và cải tổ lại hoàn toàn đội ngũ cảnh vệ không chính quy này. Từ tháng 7 Việt Nam Quốc dân đảng cũng bị thanh toán trên thực tế. Những tổ chức quân sự của đảng này vẫn còn bám giữ một thời gian ở khu vực biên giới Trung-Việt, nhưng sau đó đã bị quân đội của Võ Nguyên Giáp đuổi khỏi Đông Dương. (Việt Nam Quốc dân đảng bám giữ vùng Thượng du đến tận tháng 11. Cho đến ngày 12 tháng 11 năm 1946 sau khi Vũ Hồng Khanh bị Việt Minh đánh bật khỏi Lào Cai phải đem quân chạy sang Trung Quốc, lúc đó mới hoàn toàn tan rã).


Ngày 4 tháng 8 một đoàn 35 chiếc xe ôtô quân sự của Pháp bị tiến công ở Bắc Ninh, cách Hà Nội 30 kilômét. Ban Liên kiểm Pháp - Việt có mặt rất nhanh tại nơi xảy ra xung đột để ra lệnh ngừng bắn nhưng đã có 12 lính Pháp bị chết, nhiều binh sĩ khác bị thương. Nguyên nhân không ai được biết rõ.


Về phía Trung Quốc, các toán quân của Lư Hán mặc dù việc rút lui đã được ghi nhận trong Hiệp định Pháp - Hoa ngày 28 tháng 2 ở Trùng Khánh và Hiệp định Pháp - Việt ngày 6 tháng 3 tại Hà Nội cũng như trong các thoả thuận tiếp theo, vẫn không chịu xuống tàu biển để hồi hương, họ tiến hành việc đó một cách rất chậm không sao tưởng tượng nổi.


Theo ghi nhận trong Hiệp định Pháp - Hoa, chậm lắm là đến ngày 31 tháng 3 năm 1946 quân Lư Hán phải rút hết. Trên thực tế, mãi đến ngày 18 tháng 9 năm 1946 toán cuối cùng gồm 2.800 binh sĩ thuộc sư đoàn bộ binh số 2 mới xuống tàu biển đã cắm neo chờ đợi từ ngày 4, mặc dù từ ngày 30 tháng 5 chính Lư Hán đã tuyên bố cuộc rút quân sẽ hoàn tất vào ngày 10 tháng 6.


Số "chiến lợi phẩm" mà đội quân này mang theo trong hành lý đã nói nhiều về quan điểm của họ trong nhiệm vụ do Hội nghị Potsdam giao phó.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 25 Tháng Mười Hai, 2021, 02:48:36 pm
Trong toàn lãnh thổ Bắc Kỳ, nhưng chủ yếu là tại Hà Nội, nhiều cuộc mít-tinh được tổ chức với nhịp độ ngày càng nhiều. Ngày 18 tháng 8, tiếp đó là ngày 19 tháng 8 kỷ niệm Việt Minh giành được chính quyền, rồi các ngày 20, 23, 24, 25, 29, 31 đều có mít-tinh với nhiều lý do khác nhau.


Trong một buổi tranh cãi gay gắt với Hồ Chí Minh xoay quanh chủ đề này, lần đầu tiên Chủ tịch đồng ý với tôi là ông không nên vắng mặt quá lâu hơn nữa. Nhưng ông nói với tôi:

- Tôi biết, ông đang liên tưởng tới vấn đề gì, nhưng tôi làm sao trở về nước với "hai bàn tay không"?

"Bàn tay không" đó là một công thức mà tôi thường được nghe và từ hôm đó trở thành nỗi ám ảnh thường xuyên của ông.

Còn đoàn đại biểu đàm phán của Việt Nam thì đã trở về tay không. Phạm Văn Đồng đã đóng cửa Hội nghị Fontainebleau đi xuống Marseille đáp tàu biển về nước và sẽ tới Hải Phòng ngày 3 tháng 10.

Hồ Chí Minh không về cùng với đoàn Việt Nam. Chuyến thăm chính thức nước Pháp đã kết thúc. Ông không còn là khách mời của Chính phủ Pháp nữa. Ông rời khách sạn Royal Monceau, đến ở trong một biệt thự của ông Aubrac tại Soisy-sous-Montmorency. Ông tỏ rõ thái độ muốn đi tới cùng. Cũng như Marius Moutet, ông muốn tránh sự đổ vỡ và ngày 14 tháng 9 đã cùng ký với Marius Moutet bản Tạm ước nhằm cứu vãn tình hình.


Tuy vậy, ông vẫn lo ngại điều tồi tệ nhất sẽ xảy ra. Ông thấy trước khả năng có thể bùng nổ xung đột vũ trang và đã nói với tôi bằng thái độ kiên quyết:

- Nếu cần phải chiến đấu, chúng tôi sẽ chiến đấu. Một người các ông có thể giết chết mười người chúng tôi. Mười người chúng tôi sẽ giết một người của ông. Nhưng cuối cùng, chính các ông sẽ là người nản lòng bỏ cuộc.


Từ lâu, tôi đã tăng cường thúc đẩy Chính phủ Pháp thu xếp để tổ chức việc về nước của Hồ Chí Minh được nhanh nhất. Ngày về đã được ấn định là 14 tháng 8, nhưng Hồ Chí Minh muốn tranh thủ thời gian còn lại. Ông từ chối đi máy bay, viện lý do sức khoẻ. Có lẽ ông nghĩ tới một âm mưu ám hại ông, dễ thực hiện trong chuyến bay. Ông đòi trở về trên một tàu chiến Pháp và Bộ Hải quân đã dành cho ông chiếc thông báo hạm Dumont d'Urville dự kiến sẽ đi Đông Dương để ông sử dụng. Những cố gắng của tôi nhằm thu xếp cho ông trở về Hà Nội bằng các phương tiện nhanh nhất đã thất bại.


Thế là, bốn mươi tám giờ sau khi ký bản Tạm ước, Hồ Chí Minh rời Paris ngày 16 tháng 9 trên một toa xe lửa đặc biệt đi xuống Marseille và quân cảng Toulon.

Tại Montélimar là nơi đoàn tàu dừng lại vài phút, toa xe chở chúng tôi lập tức bị những người Việt Nam đứng đợi trên sân ga ùa tới. Hầu hết những người này đều là công nhân làm việc tại một doanh trại gần đó. Cuộc đón tiếp Chủ tịch nước Việt Nam rắt nồng nhiệt. Chúng tôi được biết cách đây mấy ngày đoàn đại biểu Việt Nam rời Hội nghị Fontainebleau ra về cũng được những người công nhân này hoan hô nhiệt liệt, ca ngợi thái độ không khoan nhượng của những đại biểu dự đàm phán.


Hồ Chí Minh đứng trên bậc lên xuống toa xe đặc biệt, nói vài lời với đám đông. Ông giải thích tại sao ông lại ký bản Tạm ước. Ông cũng yêu cầu mọi người tiếp tục làm việc bên cạnh "những anh em người Pháp" vì nước nhà đang cần nhiều công nhân lành nghề và chuyên viên kỹ thuật.


Đến Marseille, tại doanh trại Mazargues là nơi tập trung hàng ngàn người Việt Nam đứng đón, những tiếng hoan hô chen lẫn tiếng hô vang: "Độc lập!". Tại đây, Hồ Chí Minh vẫn nói chuyện một cách từ tốn, ca ngợi tình hữu nghị Pháp - Việt. Ngược lại, chính hai đồng bào tôi là nghị sĩ tỉnh Marseille, đại biểu cộng sản trong Hội đồng thành phố, lại phát biểu chống Pháp. Với thái độ hung hăng khác hẳn giọng điệu mềm mỏng của Hồ Chí Minh, hai vị đại biểu người Pháp này đã cổ vũ các công nhân Việt Nam đấu tranh tới cùng chống lại "sự áp bức thực dân của Pháp".


Từ Marseille, chúng tôi đi ôtô tới quân cảng Toulon là nơi Hồ Chí Minh đáp tàu Dumont d'Urville về nước. Hạm trường mời chúng tôi dự bữa cơm chào đón, và đây là lần cuổi tôi cùng ăn với Hồ Chí Minh. Cùng dự tiệc còn có đô đốc Lambert, phụ trách hành chính quân cảng Toulon, tướng Froissart Broissia mười hai tháng trước đã chỉ huy thành Hà Nội, người tôi vừa mới quen biết khi tới Bắc Kỳ, ông Pérony là huyện trưởng hạt Var, ông Eudier là phó quận trưởng Toulon.


Ngày hôm sau, 19 tháng 9 tôi chia tay Hồ Chí Minh. Tàu Dumont d'Urville nhổ neo lúc rạng sáng, lên đường đi Việt Nam.

Hồ Chí Minh ở thăm Pháp ba tháng. Thời gian ông xa đất nước Việt Nam kéo dài bốn tháng.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 26 Tháng Mười Hai, 2021, 08:27:40 am
XIV
CHẤM DỨT MỘT HY VỌNG LỚN


Đây là lúc tôi nghĩ rằng nhiệm vụ của tôi ở Viễn Đông đánh dấu chấm hết. Tôi vốn là một sĩ quan dự bị, được cử làm Ủy viên Cộng hoà Pháp ở Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ là do một chuỗi sự kiện mà tôi viết ở phần trên. Bây giờ tôi chỉ muốn, được nghỉ để quay sang thu xếp những việc kinh doanh cá nhân đang đứng trước chủ trương quốc hữu hoá mà tôi từng vắng mặt nhiều năm.


Tôi đã quyết định sau thời kỳ tướng Valluy tạm quyền chức Ủy viên cộng hoà, tôi sẽ đề nghị chuyển giao cho tướng Morlière.

Đô đốc d'Argenlieu trong thời gian ở Pháp, cũng thăm dò nhiều nhân vật khả dĩ có thể thay tôi ở Hà Nội, nhưng tất cả đều từ chối. Tình hình Bắc Kỳ quả đang xấu đi từng ngày, chức vụ Ủy viên Cộng hoà không còn cám dỗ nữa.


Hồ Chí Minh về tới Hải Phòng ngày 21 tháng 10. Ông càng giữ vững thêm guồng lái. Trong những chặng dừng chân tại Hải Phòng, Hải Dương, ông đều nói chuyện với đám đông quần chúng ra đón, tìm cách trấn an mọi người. Tới Hà Nội ông còn đi xa hơn nữa. Trước đám đông đón đợi tại sân ga, ông biểu lộ tình cảm với nước Pháp bằng cách cho cử cả Quốc thiều Việt Nam và Quốc thiều Pháp. Trong những ngày này, nhà cách mạng lão thành vẫn giữ vững và duy trì đường lối chiến lược chính trị và chiến thuật của mình.


Nhưng đến ngày 11 tháng 11, vụt xuất hiện biểu hiện đầu tiên của sự tan vỡ trong tương lai. Ngày hôm đó, nhân dịp kỷ niệm đình chiến trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, tướng Morlière đã đạt được sự thoả thuận là quân đội Việt Nam cùng dự lễ kỷ niệm với quân đội Pháp. Nhưng, đến phút cuối cùng, phía Việt Nam đã từ chối và chỉ có quân đội Pháp một mình diễu hành trên các đường phố Hà Nội.


Hiển nhiên là tình hình đang trượt dài đến chỗ không thể nào cứu vãn được. Các sự cố liên tiếp xảy ra với những lý do khác nhau. Những vụ hành hung và mưu hại những người thân Pháp tăng lên rõ rệt. Các phần tử Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội và Việt Nam Quốc dân đảng quá khích bị loại trừ, nhiều đảng viên của hai tổ chức này gia nhập hàng ngũ Việt Minh. Thanh niên và đội viên Tự Vệ đẩy mạnh việc tập luyện chiến đấu. Hàng ngày, cứ đến 5 giờ sáng khi hiệu còi nổi lên, các thanh niên nam nữ đều tập luyện trước khi tiến hành công việc thường ngày. Trong khuôn khổ Tạm ước 14 tháng 9 các uỷ ban hỗn hợp đã được thành lập nhằm giải thích cho mọi người rõ những điểm nhạy cảm đang còn bỏ lửng. Nhưng công việc có tính chất xây dựng của những thành viên các uỷ ban này đã đi vào ngõ cụt, do sự hoài nghi từ Hội nghị Đà Lạt và Fontainebleau hãy còn tồn đọng. Người Việt Nam cũng như người châu Á đều nghiêng về phía hội đàm, nhưng hình như chỉ tham gia hội đàm để nhằm mục đích tranh thủ thời gian.


Mỗi một dự định do các nhà chức trách Pháp tiến hành nhằm lập lại trật tự các lĩnh vực trong nước, "vì lợi ích của nền kinh tẽ Đông Dương" và cả "vì lợi ích lớn của chính những người Việt Nam" đều bị coi như xâm phạm vào chủ quyền dân tộc của Việt Nam, không thế nào chấp nhận được.


Cái gọi là "vụ thuế quan" đã gây ra sự đổ vỡ không tài nào hàn gắn được. Nguyên nhân xảy ra vụ việc này xuất phát từ chỗ phía Pháp muốn chấm dứt cảnh tự do buôn bán kéo dài vài tháng nay trong các hoạt động thương mại ở miền Bắc và đặc biệt là ở cảng Hải Phòng, đồng thời cũng để nhằm chấm dứt việc kho bạc liên bang bị thất thu những khoản tiền thuế cổ truyền. Vì vậy, ngày 10 tháng 9, Cao uỷ Pháp đã giao cho cơ quan uỷ viên Cộng hoà tại Bắc Kỳ khôi phục lại chế độ cấp giấy phép môn bài kể từ ngày 15 tháng 9. Tất cả ngoại tệ thu được từ nguồn xuất cảng đều phải đưa về Sở giao dịch chuyển đổi sang tiền Đông Dương. Cả thuế quan cũng vậy. Trong khi chờ đợi uỷ ban hỗn hợp Pháp - Việt hoàn tất việc đàm phán hiệp thương, các nguồn thu này sẽ cất giữ trong kho bạc rồi sẽ phân phối sau, theo tỉ lệ phần trăm giữa kho bạc liên bang Đông Dương và kho bạc Việt Nam sau khi đạt được thoả thuận.


Mặt trận Việt Minh kịch liệt chống lại biện pháp này, đã gây sức ép với Quốc hội Việt Nam để đến ngày 14 tháng 9, Quốc hội yêu cầu Chính phủ Việt Nam đòi Pháp phải "tôn trọng chủ quyền thuế quan" của Việt Nam.


Ngày 21 tháng 10, Hồ Chí Minh về tới Hà Nội. Từ ngày 18, ông đã gặp đô đốc d'Argenlieu tại vịnh Cam Ranh, khi chiếc thông báo hạm Dumont d'Urville đang trên đường đưa ông từ Pháp về nước. Trong chuyến trở về này còn có bác sĩ Trần Hữu Tước đã sống và làm việc nhiều năm tại Pháp, nay được chọn làm bác sĩ riêng của Chủ tịch nước Việt Nam. Trong cuộc gặp Cao uỷ Pháp, hai bên đều nghiên cứu các biện pháp nhằm làm dịu tình hình, Hồ Chí Minh tỏ ra lo ngại trước sự việc đang diễn ra. Ngay khi vừa về đến Hà Nội ông đã cố gắng giải quyết.


Trong những ngày đầu tháng 11 ông đã cho cải tổ hoàn toàn Chính phủ Việt Nam, thay các bộ trưởng thuộc Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội và Việt Nam Quốc dân đảng bằng Việt Minh hoặc các nhân sĩ không đảng phái.


Ngày 12 tháng 11, Quốc hội sau khi loại trừ được những phần tử quá "nóng đầu" đã thông qua bản Hiến chương đầu tiên của Việt Nam, nhưng đã không xác nhận là Việt Nam sẽ tham gia, dưới một hình thức nào đó, vào khối Liên hiệp Pháp.


Ngày 20 tháng 11, bi kịch bắt đầu xảy ra. Một thuyền buồm buôn lậu của người Hoa bị hải quân Pháp bắt giữ ngay trước cửa ngõ Hải Phòng. Khi móc chiếc thuyền này đưa về cảng, tàu Pháp đã bị Tự vệ Việt Nam bắn. Phía Pháp bắn trả lại ác liệt. Trật tự được khôi phục. Mọi người hi vọng rằng đây chỉ là một sự cố mới, và sẽ được nhanh chóng dàn xếp giữa Pháp và Việt Nam. Tuy nhiên, Phủ Cao uỷ ở Sài Gòn lại coi đây là vụ việc nổi cộm và ngày 22 tháng 11 lệnh cho Ban chỉ huy quân sự Pháp ở Hải Phòng phải làm chủ thành phố để thiết lập trật tự. Cuộc tiến công được đẩy mạnh dưới sự yểm trợ của pháo binh. Thành phố Hải Phòng nhanh chóng nằm trong tay quân Pháp nhưng nhân dân nội thành đã sơ tán triệt để, chạy hết về nông thôn. Số người bị nạn rất nhiều, khó đếm được chính xác, chỉ có thể ước lượng tới gần 6.000.


Đó là sự việc đã dẫn đến sự đổ vỡ Pháp - Việt.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 26 Tháng Mười Hai, 2021, 08:28:58 am
Dân chúng được tuyên truyền là Pháp sẽ mở cuộc tiến công tổng lực, mọi người nên rời bỏ thành phố. Hà Nội cũng tiến hành công trình phòng ngự một cách đáng lo ngại. Những lỗ hổng xuyên vách tường được đào thông từ nhà nọ sang nhà kia, để có thể đi xuyên qua các khối nhàc các khu phố từ bên trong. Khu phố của người dân bản xứ từ từ, kiên nhẫn, chuẩn bị cho các cuộc chiến đấu đường phố, biến thành một hang chuột chũi rộng lớn. Những người Hoa và người Việt để mặc cho Tự vệ đục tường nhà, không hề nói một lời. Người ta giải thích với họ đây không phải là những công trình chuẩn bị tiến công, mà ngược lại, chỉ nhằm tổ chức phòng ngự trong trường hợp Pháp tiến công để thống trị, huỷ bỏ các hiệp định, trở lại nguyên trạng như cũ.


Trên thực tế đây quả là một lời kêu gọi cầm vũ khí chiến đấu: đào chiến hào, đắp chiến luỹ, bố trí đủ mọi loại chướng ngại vật ở khắp mọi nơi. Con đường từ Hải Phòng đi Hà Nội, một trục giao thông có tính chất sống còn và là mục tiêu số một, bị cắt đứt làm nhiều đoạn.


Giữa khoảng thời gian này, tôi đang ở Pháp, được chính phủ hối thúc khẩn cấp quay trở lại Bắc Kỳ. Tôi được chính phủ cử làm Thống đốc, tập trung trong tay mọi quyền dân sự và quân sự. Tôi rời sân bay Orly ngày 23 tháng 11, đến Sài Gòn ngày 26.


Tại sân bay Tân Sơn Nhất tôi được các tướng Nyo và Andrieux, đô đốc Graziani, các ông Pignon, Torel và nhiều người khác ra đón. Giới báo chí đề nghị tôi tuyên bố và phát biểu trên đài phát thanh. Tôi biết nói gì, nếu không phải là những lời cầu mong sâu sắc được có thời gian để làm một việc gì đó? Tôi hi vọng chắc chắn như vậy. Tôi nói thêm, tôi tin sẽ làm được điều đó, dựa trên cơ sở những quan hệ thân thiết, đã được thiết lập giũa Hồ Chí Minh với chính bản thân tôi.


Theo yêu cầu của tướng Valluy giữ chức quyền Cao uỷ thay đô đốc d'Argenlieu đang ở Pháp, tôi nán lại Sài Gòn chờ kết thúc những diễn biến quân sự tại Hải Phòng rồi mới ra Hà Nội.

Vì vậy, đến ngày 2 tháng 12 tôi mới tới Gia Lâm. Ra đón tôi tại sân bay, không chỉ có những nhân vật người Pháp và các nước Đồng minh, mà cả những nhà chức trách chủ chốt của Việt Nam. Võ Nguyên Giáp ngỏ lời xin lỗi vì Chủ tịch Hồ Chí Minh đang mệt, phải nằm trong phòng, không thể ra sân bay được. Sự vắng mặt vị Chủ tịch của Việt Nam mấy tháng trước đây còn là người đầu tiên tiếp tôi, báo hiệu không có gì tốt lành cả.


Các nhà chức trách Pháp cũng như đại diện các lãnh sự quán Mỹ và Anh đều thừa nhận tình hình đáng thất vọng và chỉ còn một cách là sự tin. cậy lẫn nhau hình như còn tồn tại giữa Hồ Chí Minh và tôi mới có thể vãn hồi sự bình ổn và tránh tai hoạ.


Trong những bữa tiệc chiêu đãi chính thức được tổ chức sau khi tôi trở về, trong đó có cả những ông chủ mới của Việt Nam đến dự, những lời phát biểu đều tràn đầy một tinh thần lạc quan.

Tất nhiên, ngay khi tới Hà Nội, tôi đã đề nghị tới thăm Hồ Chí Minh. Giữa ông và tôi, Hoàng Minh Giám vẫn là nhân vật trung gian trung thành. Đáp lại lời yêu cầu của tôi, Hoàng Minh Giám giải thích là Chủ tịch vẫn đang mệt yếu và sẽ tiếp tôi khi nào sức khoẻ cho phép.


Ngày 3 tháng 12 tôi nhận được thư Hồ Chí Minh, viết:

"Tôi rất vui mừng được tiếp ông chiều nay vào khoảng giữa 17 và 18 giờ. Vì tình trạng sức khoẻ hiện nay của tôi, dĩ nhiên đây sẽ là chuyện thăm hỏi giữa những người bạn già...''.

Khi bước vào phòng, tôi nhìn thấy Hồ Chí Minh đang nằm trên giường, cặp mắt vẫn sáng ngời nhưng đôi tay ông nắm chặt tay tôi rất lâu lại chứng tỏ ông đang sốt. Hoàng Minh Giám và Hoàng Hữu Nam vẫn ngồi trong phòng. Hồ Chí Minh đã không bảo họ để cho chúng tôi nói chuyện riêng với nhau, như vẫn thường làm. Chúng tôi chỉ nói chuyện về sức khoẻ, về chuyến đi của tôi... Cuối cùng ông mới liên hệ đến tình hình Hải Phòng và tỏ ra đặc biệt quan tâm, cho biết những vụ việc nghiêm trọng xảy ra ở đó có liên quan đến cơn đau đã buộc ông phải nằm trên giường bệnh. Tôi nói:

- Ông thấy đấy! Tôi đã có lý khi lo ngại ông kéo dài quá lâu chuyến ở thăm Paris và chậm về nước.

Hồ Chí Minh trả lời:

- Đúng vậy. Nhưng ông cũng trở về đây quá chậm.

Chúng tôi ngừng nói chuyện và từ đó tôi không bao giờ gặp lại Chủ tịch của Việt Nam nữa.

Những ngày tiếp theo, tôi chỉ gặp Hoàng Minh Giám trong nhiều cuộc nói chuyện, liên quan tới vô số vấn đề công tác ít hoặc nhiều quan trọng, nhưng nhất là những cuộc nói chuyện nhằm mục đích tìm cách làm dịu tình hình, trở lại niẽm tin cậy lẫn nhau. Phía Việt Nam đòi hỏi quân đội Pháp phải trở lại vị trí trước ngày 20 tháng 11, coi đó là điều kiện tiên quyết trước khi thảo luận. Tôi trả lời, đó là điều không thể thực hiện được trong khi việc tuyên truyền chống Pháp chưa bị huỷ bỏ và dân chúng chưa được khuyên khích trở về nhà.


Cuối cùng, tôi cho biết sự ngạc nhiên của tôi khi trở lại Hà Nội, thấy tất cả các thành viên ôn hoà trong Chính phủ Việt Nam đều bị thay thế bằng những người mà ai cũng biết là chống Pháp. Vài hôm sau, Hoàng Minh Giám chuyển lời Hồ Chí Minh đề nghị tôi chỉ đích danh những người mà tôi cho là không được ưa chuộng. Những diễn biến của tình hình đã không cho tôi thời gian đáp ứng yêu cầu đó.


Trong những ngày cuối cùng này, liệu Hoàng Minh Giám có còn là người trung gian hoà giải đúng nghĩa như hồi cuối 1945 và đầu 1946 không? Liệu ông ta có được chỉ định đảm nhiệm vai trò này không? Ông có thật sự thành thật không? Hoàng Minh Giám là một người được đào tạo từ nền văn hoá Pháp, như tất cả các đồng chí của mình. Ông không phải là đảng viên cộng sản nhưng vì là một nhà hoạt động mác-xít tích cực, ông đã bị Pháp bắt tù và đưa đi đầy tại Côn đảo hồi trước Chiến tranh thế giới thứ hai. Tôi nghĩ, ông là người đấu tranh quyết liệt để giành độc lập cho đất nước, nhưng cũng như ông thầy của mình là Hồ Chí Minh, ông thành thật chống lại giải pháp bạo lực.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 26 Tháng Mười Hai, 2021, 08:30:02 am
Về phía tôi, được tướng Morlière đảm nhiệm chức vụ Quyền uỷ viên Cộng hoà trong thời gian tôi vắng mặt, tôi đã nhanh chóng điểm lại tình hình vừa qua.

Tướng Morlière cũng thuộc phái thành thật muốn theo đuổi chính sách hoà giải. Trước sự cứng rắn của phía Việt Nam ông đã làm hết sức mình chống lại dòng chảy đang đưa Việt Nam và Pháp tới chỗ đổ vỡ. Cho tới khi tôi trở lại Hà Nội, ông đã biết hoà giải và tránh đưa tình hình đến chỗ tồi tệ đến mức phải chuyển từ bàn tay ngoại giao sang bước chân của người lính.


Trong khi trao lại cho tôi chức vụ nặng nể Ủy viên Cộng hoà, tướng Morlière tỏ ra bi quan. Ngay khi tôi trở lại Bắc Kỳ ông lại tiếp tục chú trọng vào nhiệm vụ quân sự của mình, chuẩn bị thực hiện cái không thể tránh được, đó là vũ lực.


Do đó, thật là bất công khi buộc tội tướng Morlière và quân đội Pháp là đã bị bất ngờ trong vụ tiến công của Việt Minh tối 19 tháng 12 năm 1946. Ngay lúc đó tôi đã nói như vậy và đến bây giờ tôi vẫn nhắc lại như vậy.


Tuy nhiên, lối thoát nhất định xảy ra mà chúng tôi đang lướt dần tới không thể được coi là không tài nào tránh khỏi. Vì vậy, ngay khi vừa mới quay trở lại Hà Nội tôi đã làm hết sức để trân an mọi người.


Báo chí Việt Nam đón tôi quay trở lại với những ý kiến khác nhau.

Các tờ báo của chính phù nhận xét, phải coi việc tôi quay trở lại là điều khẳng định rằng nước Pháp muốn theo đuổi chính sách hoà giải, bởi vì đã cử đến Hà Nội nhân vật đề xuất và ký kết Hiệp định Sơ bộ.


Những tờ báo của phe đối lập lại cho rằng đâv là một thủ đoạn và kêu gọi dân chúng cảnh giác chống lại biểu hiện mới của "chủ nghĩa xảo quyệt Pháp". Các nhà quan sát nước ngoài hi vọng việc tôi quay trở lại sẽ dẫn đến một sự hoà giải. Bộ Ngoại giao Mỹ đã cử phó thư ký Phân ban châu Á Moffat tới Hà Nội với nhiệm vụ thông tin. Quan chức cấp cao này đã có những cuộc nói chuyện với Hồ Chí Minh và Chính phủ Việt Nam. Sau những cuộc tiếp xúc này, ông không che giấu tôi sự bi quan của ông.


Về phần tôi, sau khi điểm lại tình hình, tôi cũng không còn lạc quan nữa. Tôi đã bộc lộ rõ trong công văn gửi kèm bản báo cáo của tướng Morlière viết ngày 12 tháng 12. Trong bức thư ngày 8 tháng 12 gửi Chủ tịch Albert Sarraut, tôi cũng đã không giấu giếm ý nghĩ của mình. Tôi viết:

"Mặc dù đã có những dự kiến bi quan nhất, tôi vẫn còn nhận thấy một tình huống rối rắm hơn nữa, phức tạp hơn nữa, trầm trọng hơn nữa, hơn cả những gì tôi đang chờ đợi. Không còn tranh cãi gì nữa, tất cả trận địa phải khó nhọc lắm mới giành được trước và sau ngày 6 tháng 3 đều đã bị mất. Có vẻ như, tất cả đều phải làm lại".


Tôi cũng nhấn mạnh, việc thiếu quyết tâm theo đuổi chính sách đã đề ra cũng phải chịu một phần lớn trách nhiệm của tình hình này. Cũng không nên quên một tình huống nữa là cuối tháng 11 một lần nữa ở Pháp lại thay đổi chính phủ như vẫn thường xảy ra. Trong thư ngày 8 tháng 12, tôi còn viết thêm:

"Hơn bao giờ hết, phải chiến đấu trong hoàn cảnh không có gì hậu thuẫn cả, không được ủng hộ, không có chỉ đạo, không mục đích rõ rệt v.v. Một lần nữa, tôi mong Phủ Cao uỷ ở Sài Gòn sẽ chiếu cho tôi ánh sáng, đáng lẽ ra phải chiếu tới từ chính phủ ở Paris. Bất kể tình huống nào, chúng tôi ở đây vẫn sẵn sàng thực hiện các mệnh lệnh, nhưng mà, phải nhận được mệnh lệnh thì mới thực hiện được. Nước Pháp cần phải hiểu, nếu muốn giữ được Đế quốc của mình thì phải làm như thế nào để đạt tới. Xin nước Pháp hãy từ bỏ những chuyện cãi vã vặt vãnh vì phe phái trong quốc hội một vài lúc để rung chuông ban hành những mệnh lệnh cho những người đang ngóng đợi. Không được chậm trễ một phút nào nữa".


Nếu tôi chép lại những dòng này đó là vì lá thư nói trên đã phản ánh đúng tình hình mà tôi đã nhận thấy, mười một ngày trước khi xảy ra cuộc đổ vỡ đẫm máu.

Ngày 8 tháng 12, đô đốc Battet, tư lệnh hạm đội Pháp ở Viễn Đông, tới thăm tôi. Ông là người bạn trung thành, tin cẩn. Tôi không giấu ông những điều tôi đang lo ngại.

Battet cũng nói với tôi, trong vài giờ ở Hà Nội ông cũng có một cảm giác lo ngại sâu sắc.

Trong nội thành Hà Nội, dân cư đã triệt để sơ tán. Những chiến luỹ được cấp tốc xây dựng ngay trong đêm, chắn ngang các trục lộ giao thông chính. Chúng tôi phải cho binh lính ra phá bỏ. Binh lính chúng tôi bị hành hung.


Vùng châu thổ cũng hoàn toàn đảo lộn. Ngày 4 tháng 12 chính tôi là người tự mình đã nhận biết rõ điều này. Chiếc máy bay của tôi bay thấp, đã bị súng máy bắn lên nhiều lần. Tôi đã nhìn thấy những làng xóm bị bốc cháy, những đoàn người chạy trốn1 (Sainteny đã cố tình không viết rõ lý do tại sao lại có cảnh xóm làng bốc cháy. Chính là do quân Pháp ở Hải Phòng càn quét để "mở rộng vành đai an toàn". Chính vì thế máy bay Pháp mới bị bắn trả - ND). Thật là trái ngược hẳn cảnh thanh bình, biệt lập của dân chúng nông thôn cách đây vài tháng mà tôi đã nhận thấy khi bay qua vùng này.


Ngày 17 tháng 12, một xe quân sự trên có chở một trung tá Pháp bị súng bắn ra từ trụ sở Bộ Tài chính của Việt Nam. Tôi đã lập tức cho quân đội đánh chiếm toà nhà này.

Sáng hôm đó, một xe tải nhỏ chở rau và thực phẩm cho binh lính đóng trong thành khi đi ngang qua phố Jambert2 (Nay là phố Nguyễn Trường Tộ) đã bị trúng đạn. Lái xe và người bên cạnh bị bắn chết. Lập tức, những ngôi nhà tình nghi có những kẻ ẩn nấp để tiến công đã bị lục soát3 (Sainteny không nói kết quả lục soát. Có nghĩa là đã lục soát một cách bạo ngược, trấn áp - ND).


Những sự cố tương tự tiếp tục tăng thêm và những phản kháng chúng tôi gửi đến Chính phủ Việt Nam cũng mạnh mẽ hơn. Các nhà chức trách Việt Nam, đổ lỗi cho phía Pháp và cũng phản kháng những vụ khiêu khích và mưu hại nói là do đồng bào của chúng tôi gây ra. (Ngày 20 tháng 11, Hồ Chí Minh gửi tới Chính phủ Cộng hoà Pháp một giác thư thống kê những vụ hành động khiêu khích và phá hoại của nước Pháp từ sau khi ký Tạm ước 14 tháng 9. Ngày 11 tháng 12, ông cũng nhờ tôi chuyển tới Quốc hội và Chính phủ Pháp lời kêu gọi chấm dứt các hành động bạo lực. Văn bản này không có chữ ký. Tôi đã gửi trả lại và nhiều ngày sau mới nhận được đầy đủ văn bản có chữ ký của Chủ tịch Việt Nam).


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 26 Tháng Mười Hai, 2021, 08:30:47 am
Trong thời gian này, tôi đã nhiều lần tiếp xúc với Hoàng Minh Giám, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Hữu Nam, song những cuộc nói chuyện này không mang lại một sự hoà dịu nào.

Với Hồ Chí Minh, tôi không được gặp, tôi đành trao đổi bằng thư từ, công văn và giọng điệu cũng tăng thêm cứng rắn nhịp với những quan hệ ngày càng căng thẳng. Ngày 19 tháng 12 tôi vẫn còn gửi tới Hồ Chí Minh một bức thư mà chắc chắn là ông sẽ không nhận được vì tình hình lúc đó rất căng thẳng1 (Sainteny đã cố ý không nhấc tới ba công vàăn có tính chất tối hậu thư của tướng Morlière đòi Việt Nam phải giải giáp lực lượng Tự vệ, giao cho Pháp nắm quyền cảnh sái giữ trật tự, mà nhiều nhà sử học Pháp nhận xét là nguyên nhân trực tiếp làm bùng nổ xung đột - ND).


Chúng tôi tính đến việc đưa những gia đình người Pháp đang sống tại các khu phố quá xa trung tâm dồn về ở tại trung tâm thành phố, nhưng đã vấp phải sự phản đối của những người không muốn rời bỏ tổ ấm để về những khu tập trung tạm bợ.


Sáng 19 tháng 12 chúng tôi dự định phải cưỡng ép những gia đình này. Giữa lúc mọi người đang họp bàn trong phòng làm việc của tôi như sáng nào cũng làm như vậy, trong đó có tướng Morlière và các quan chức chủ chốt người Pháp thì có người đưa cho tôi một bức thư của Hồ Chí Minh, đề nghị tôi gặp Hoàng Minh Giám. Tôi trả lời, sáng mai, 20 tháng 12 tôi sẽ gặp.


Khoảng gần trưa tôi nhận được tin chính phủ mới của Pháp do Léon Blum làm chủ tịch, quyết định cử Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại Marius Moutet đi Đông Dương nắm tình hình. Chuyến đi này của ông Moutet để ngỏ khả năng có thể có những cuộc đàm phán mới nhằm đi tới một cam kết mới.


Việt Minh một lần nữa để lộ ý định đòi độc lập cho Việt Nam, dù phải trả giá.

Tôi và tướng Morlière thoả thuận với nhau cùng thực hiện một chủ trương nhằm hai mục đích, một là để giảm căng thẳng, hai là, trong trường hợp ngược lại, buộc Việt Minh phải lật ngửa lá bài của họ. Binh lính được lệnh tự do ra ngoài doanh trại sau nhiều ngày phải tập trung trong thành.


Vào buổi chiều, tất cả những tin tức tình báo chúng tôi thu lượm được đều trùng hợp ở điểm cuộc tổng tiến công đã được ấn định sẽ phát động vào tối 19 tháng 12. Đây không phải lần đầu tiên chúng tôi nhận được những tin tức có vẻ đáng tin cậy khẳng định cuộc tổng tiến công sẽ xảy ra vào buổi tối. Tôi nhớ lại, trong khoảng thời gian từ tháng 8 năm 1945 đến tháng 3 năm 1946 chúng tôi đã rất nhiều lần nhận được những lời cảnh báo nhiều vô kể thuộc loại này, tất cả đều có vẻ chính xác tới mức cần phải báo động. Cuộc báo động mới mẻ lần này có thể vẫn là một tấm màn nguỵ trang che phủ cuộc chiến tranh cân não mà dân chúng Pháp phải chịu đựng suốt mười bảy tháng nay. Thời gian vẫn như cũ: 20 giờ. Dân chúng Pháp, thường nhiều lần phải nín thở chờ đợi, với nhịp đập khắc khoải trong tim. Thế rồi, mọi người lại kiên cường tiếp tục cuộc sống.


Về phần tôi, tôi lo ngại thật sự. Thời khắc này được ấn định một cách "chính thức" để phải coi trọng.

Đến 17 giờ, căn cứ vào những tin túc thu lượm được tiếp theo, binh lính lại được lệnh tập trung, cấm ra khỏi doanh trại. Tôi đã thoả thuận với tướng Morlière, trong trường hợp xảy ra tiến công, tôi sẽ chạy vào thành Hà Nội để cùng với tướng Morlière điều khiển các hoạt động chiến đấu.


Đến 20 giờ, thành phố vẫn chìm đắm trong yên lặng đầy ấn tượng. Chuông đồng hồ trong bệnh viện Yersin1 (Nay thuộc phố Phủ Doãn) ở gần trụ sở Ủy viên Cộng hoà Pháp thong thả điểm tám tiếng.

Tôi nói với các nhân viên cộng sự:

- Có vẻ không phải tôi nay. Tôi đi về nhà đây!

Vừa ngồi vào trong xe ôtô tôi đã nghe thấy một tiếng nổ lớn. Toàn thành phố đột ngột chìm trong bóng tối. Trung tâm điện lực vừa bị nổ. Lúc này là 20 giờ 4 phút, rất chính xác.

Những tiếng súng đầu tiên bắt đầu nổ, xé rách bóng tối bao phủ thành phố, trong đó cũng đang chìm ngập những cố gắng và những hi vọng của chúng tôi.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 01 Tháng Giêng, 2022, 02:44:16 pm
LỜI NHÀ XUẤT BẢN AMIOT - DUMOXT


Phần tiếp theo, mọi người đều đã biết. Đó là cuộc chiến tranh Đông Dương vừa bắt đầu.

Chiếc xe ôtô bọc thép trang bị đại liên chở Thống đốc Sainteny đi gặp tướng Morlière ở trong thành đã vấp phải mìn khi đang trên đường phố Paul Bert. Một trận mưa lựu đạn lập tức rơi vào chiếc xe bốc cháy. Sức phá hoại của trái mìn cỡ lớn làm bật tung những gốc cây bên đường và làm hư hại mặt tiền của một cửa hiệu bán hàng trên lề phố.


Sainteny đã kịp chạy ra khỏi chiếc xe đang bắt đầu biến thành lò lửa. Những người bên trong như trưởng xe Garland, pháo thủ Dicquemare, phụ trách điện đài Cousincu và lái xe Le Roullier đều lần lượt chui ra khỏi chảo lửa hoặc bị thương nhẹ, hoặc bị thương nặng, mọi người lê lết trên hè, tìm cách tránh những mảnh lựu đạn và nhất là những viên đạn từ chiếc xe ôtô bốc cháy văng ra. Nhưng chính do đạn văng ra ngoài đã tạo thành một vùng bảo vệ tương đối an toàn, ngăn không cho những người tiến công tiến sát gần.


Sainteny và những người cùng đi chờ đợi suốt gần hai giờ, trong tay không có vũ khí gì ngoài khẩu súng ngắn ông mang trong người. Khắp người Sainteny lỗ chỗ mảnh đạn. Mảnh đạn lớn nhất ngập sâu trong lưng. Đùi bên phải cũng bị thương vì sức nổ. Garland nằm hấp hối, đầu tựa vào đầu gối Sainteny. Bản thân Sainteny cũng bị mất nhiều máu, chỉ có thể cử động bằng một cánh tay trái. Cuối cùng một đoàn xe ôtô bọc thép của Pháp đã tới giải thoát cho họ. Sainteny được cấp tốc đưa vào trạm xá trong thành rồi chuyển tới bệnh viện Lanessan và được mổ ngay trong đêm. Bác sĩ phát hiện, ông bị hơn hai mươi mảnh đạn.


Ngày 23 tháng 12, Sainteny được xe cứu thương đưa trở lại dinh Toàn quyền cũ là nơi ông đã bị toán lính của Lư Hán buộc phải chuyển đi nơi khác từ hồi tháng 9 năm 1945.

Vài hôm sau ông đã bình phục, tiếp tục trở lại công việc và đã có thể ngồi tiếp Bộ trưởng Bộ Pháp quốc hải ngoại Marius Moutet, tướng Leclerc và đô đốc d'Argenlieu tới Hà Nội nắm tình hình.

Những cuộc chiến đấu vẫn tiếp diễn trong thành phố, tới sát dinh Toàn quyền là điểm nằm trong tầm pháo của Việt Minh đặt tại ven Hồ Tây.

Đến tháng 1 năm 1947, Sainteny đã có thể đi kiểm tra tình hình Lạng Sơn trong Quân khu 1, rồi đến xứ Thái, lần đầu tiên được nối với Hà Nội bằng một cầu hàng không, sau đó đi Hồng Gai, Hải Phòng v.v...


Tháng 3 năm 1947, Sainteny được gọi về Pháp tham dự cuộc tranh cãi trong Quốc hội về vấn đề Đông Dương, với tư cách là Ủy viên Cộng hoà, trợ tá Bộ trưởng Bộ Pháp quốc hải ngoại.

Sau đó ông được nghỉ dài hạn, một sự nghỉ ngơi rất cần thiết vì những vết thương đã làm sức khoẻ của ông bị suy giảm nghiêm trọng.

Theo đề nghị của Thống đốc Sainteny, bắt đầu từ thời kỳ này ông được lánh xa sân khấu chính trị ở Đông Dương.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 01 Tháng Giêng, 2022, 02:45:54 pm
QUYỂN HAI
ĐỐI DIỆN VỚI HỒ CHÍ MINH


I
VĨNH BIỆT


Hà Nội, ngày 9 tháng 9 năm 1969, tám giờ sáng. Lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh kết thúc. Đám đông lặng lẽ và trang nghiêm chảy theo các đường phố, tỏa về các xóm làng, giống như dòng nước lũ lúc đó cũng đang rút, giải phóng vùng đồng bằng khỏi nước sông Hồng.


Ngay từ lúc mới rạng đông, đám đông đã đứng thẳng hàng trên quảng trường Ba Đình hoặc tụ tập tại các ngã ba, ngã tư đường phố, dưới loa phóng thanh, im lặng lắng nghe bài diễn văn tưởng niệm nhân vật được coi là bất tử. Ông Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Đảng Lao động Việt Nam nghẹn ngào xúc động đọc bài điếu đã được tập thể soạn thảo kỹ lưỡng.


Liền sau đó, đội quân nhạc lễ phục màu trắng cử những bài cách mạng, trong đó có Quốc tế ca. Đến bài Lãnh tụ ca niềm xúc động của quần chúng nhân dân càng biểu lộ rõ. Đám đông, trước đó đã phá vỡ sự im lặng để cùng hưởng ứng những lời thề do Lê Duẩn nhân danh Ban chấp hành Trung ương Đảng hứa hẹn với người quá cố, nay òa lên khóc nức nở khi nghe bài ca ngợi lãnh tụ kính yêu kết thúc buổi lễ truy điệu.


Đây là buổi lễ có ấn tượng lớn, giống như các lễ tang tại các nước dân chủ nhân dân, những ngắn hơn rất nhiều vì trong bản di chúc để lại, Hồ Chí Minh đã đề nghị không nên lãng phí thời gian và tiền của của nhân dân.


Khi bản Lãnh tụ ca vừa mới cất lên, mọi người đã nhìn thấy ông Phạm Văn Đồng đứng trên lễ đài òa khóc. Tiếng khóc nức nở của mọi người hòa theo vị Thủ tướng đứng đầu cơ quan hành pháp. Ông Đồng vừa mất đi không chỉ một đồng chí đấu tranh, mà còn là một người thầy tư tưởng, một lãnh tụ, một người cha mà từ lâu nay ông vẫn coi là người dẫn đường và là chỗ dựa để thực thi gánh nặng của nhiều công tác.


Bên cạnh những đại diện các đảng cộng sàn các nước trên thế giới, còn có tới ba mươi đoàn đại biểu quốc tế tới dự lễ truy điệu dưới ánh nắng gay gắt buổi cuối hè. Tôi dẫn đầu đoàn đại biểu nước Pháp1 (Hồi đó, Sainteny là Tổng đại diện Cộng hòa Pháp tại nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - ND).


Từ hôm trước, khi đến lượt chúng tôi xếp hàng đi qua linh cữu bằng thủy tinh trong đó có đặt thi hài nhà cách mạng lão thành, chúng tôi đã gửi thêm một vòng hoa rất lớn, trong biển hoa xếp kín Hội trường Ba Đình, để bày tỏ lòng kính trọng của nước Pháp đối với đối thủ ngày xưa của mình, đồng thời cũng để thể hiện quyết tâm lãng quên quá khứ, hướng tới tương lai. Lễ nghi đơn giản nhưng cao cả của buổi tang được tất cả mọi người tôn trọng, tiếng nhạc trầm hùng nhịp bước chân của những đoàn đại biểu tới viếng làm mọi người xúc động. Đến lượt tôi, sau khi đã cúi đầu trước linh cữu, tôi vẫn hãy còn xúc động mãi cho tới khi bước lên chiếc xe ô tô của ông Bộ trưởng Tài chính nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa tôi về cơ quan Tổng đại diện của nước Pháp tại Hà Nội.


Chỉ đến khi xe đi qua phố Tràng Thi nhìn thấy một cây non, mảnh khảnh hơn những cây lâu năm khác trên đường phố, tôi mới bừng tỉnh, khi chợt nhớ lại quá khứ đẫm máu vụt xuất hiện. Tôi như được nhìn lại đường phố này vào lúc đèn điện vừa tắt, bóng tối trùm lên toàn thành phố năm trước. Tôi như được nhìn lại chiếc xe ô tô bọc thép có vũ trang đưa tôi vào trong thành phố Hà Nội là nơi tướng Morlière đang đợi. Tôi như cảm thấy, dưới chân mình, tiếng nổ mìn làm rung chuyển chiếc xe tôi vừa nhảy vọt ra. Chiếc xe bốc cháy, lỗ chỗ mảnh lựu đạn, rồi vỡ tan ở phía cuối đường phố. Quả mìn còn làm đổ cây, phá sập mặt tiền những cửa hàng cửa hiệu trong phố, hất tung tôi và những người cùng đi trên hè phố Tràng Thi, người đẫm máu và lửa.


Đó là cảnh tượng đã xảy ra từ hai mươi ba năm trước, tức là tối 19 tháng 12 năm 1946. Phố Tràng Thi lúc đó mang tên Borgnis Desbordes, và tiếng mìn nổ này không gì khác hơn là hiệu lệnh của một cuộc chiến tranh chống lại chúng tôi kéo dài suốt tám năm trời. Cho đến tận hôm nay chiến tranh vẫn chưa kết thúc ở miền Nam Việt Nam và cũng chưa đoán biết được kết cục sẽ ra sao.


Tôi lại nhớ đến nhân vật đang nằm xuống trong sự tôn kính của nhân dân mình và trong sự tín nhiệm, kính nể của nhiều người khác. Câu hỏi này hãy còn để ngỏ. Có thể, câu hỏi bỏ ngỏ này còn kéo dài như tất cả mọi vấn đề không thể nào trả lời được.


Vì vậy, đối với tất cả những câu trả lời, tôi không hề có ý định giải thích trong cuốn sách này. Họa lại chân dung một nhân vật lịch sử vẫn luôn, luôn là một vấn đề không khiêm tốn, thường hay suy diễn. Có thể, ý tưởng này được coi như một chuyện đánh cuộc khi viết về một con người, hoặc tự nguyện, hoặc bị lôi cuốn thời cuộc vẫn luôn sống trong bí ẩn; một người rất ghét bộc lộ những chuyện riêng tư, bởi vì toàn bộ cuộc sống của mình đều cống hiến cho sự nghiêp đấu tranh.


Nếu những sự kiện năm 1945 ở Đông Dương đã lôi cuốn tôi trở thành người đối thoại với Hồ Chí Minh cho tới khi kết thúc, nếu tôi được là một trong những nhân vật phương Tây được hiểu biết Hồ Chí Minh nhiều hơn cả, nếu ông cũng đã nhiều lần tỏ ra tin cậy đặc biệt đối với tôi, thì tất cả những điều đó vẫn chưa đủ để làm sáng tỏ tính cách của một con người, cho tới khi đạt tới đỉnh vinh quang vẫn tỏ ra đặc biệt bởi tính giản dị thường thấy trong cuộc sống và trong thái độ cư xử.


Sau khi Hồ Chí Minh từ trong bóng tối bước ra, xuất hiện trên vị trí mà chúng ta đã nhìn thấy suốt hai mươi bốn năm, tức là trên cương vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đã có một số đồng chí kỳ cựu của ông viết một số tác phẩm về ông, nhưng đó cũng mới chỉ là những mẩu chuyện hướng về việc xây dựng đất nước, rất ít tính chất tiểu sử hoặc "truyện anh hùng", và ngay cả những mẩu chuyện này cũng đã làm rối mù việc tìm hiểu những đường mòn ông đã trải qua, làm mờ nhạt hình dáng và cũng đã phác họa thành huyền thoại.


Chỉ riêng Hồ Chí Minh là người duy nhất có thể kể lại cuộc đời hoạt động của mình. Hình như ông đã không làm việc này. Ông muốn để cho mình mãi mãi tỏa ánh hào quang của sự bí ẩn. Không phải bởi vì trong ông tuyệt đối không có chút nào tính khoe khoang của ngôi sao điện ảnh, không phải bởi vì ông không được cổ vũ về sùng bái cá nhân như các nhà lãnh đạo khác ở châu Á, mà chỉ vì ông là một người khiêm tốn giản dị. Nếu ông đã để cho những tiểu sử của ông được kể lại trên trang sách với những lời ca ngợi thì đó cũng chẳng phải ông thích đưa vào Lịch sử chân dung một con người ưa phỉnh nịnh, mà đó chỉ do ông muốn để lại cho nhân dân một tấm gương, như ông vẫn thường luôn luôn quan tàm đến việc nêu gương.


Tham vọng duy nhất của tôi là cố giới thiệu với bạn đọc những hình ảnh và những ấn tượng mà tôi còn giữ được trong lòng sau những lần được gặp và nói chuyện với Hồ Chí Minh.

Trong những trường hợp đó, lúc nào là lúc tôi đối mặt với một Hồ Chí Minh thật sự? Lúc nào là lúc nhân vật được tạo ra từ những nhu cầu thời cuộc này chen vào giữa hai bên đối thoại? Cho đến tận hôm nay, sau hai mươi bốn năm kể từ buổi đầu tiên gặp Hồ Chí Minh tôi vẫn không rõ, khó nói lên được.


Để được trung thực, tôi sẽ chỉ viết về một người tôi thật sự hiểu biết qua những cuộc đối thoại triền miên và có hiệu quả. Tôi chỉ muốn là một nhân chứng trong cuốn sách này.

Tôi để cho các nhà sử học công trình tái tạo cụ thể cuộc đời của Hồ Chí Minh, nghiên cứu hoạt động của ông, đánh giá ảnh hưởng của ông đối với châu Á và có lẽ cả ở vùng ngoài châu Á nữa. Một số nhà sử học đã có hạnh phúc ràng buộc mình vào nhiệm vụ này. Nhiều người nữa mai đây sẽ còn tiếp tục. Nếu những trang viết này có thể giúp được họ, thì đó là tôi đã đạt được mục đích của mình.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 01 Tháng Giêng, 2022, 02:46:38 pm
II
RA ĐI


Đó là năm 1911. Tàu Latouche Tréville thuộc công ty Các hãng vận tải hợp nhât nhổ neo, từ từ rời xa bến sông Sài Gòn.

Trước lúc đó, cha mẹ, họ hàng, bầu bạn, các nhà bảo trợ cho những người "đi Pháp" đã bước xuống cầu tàu đưa tiễn. Lúc này họ vẫn còn nán lại trên bến, trong đêm ấm và ẩm của xứ Nam Kỳ, cố gắng càng lâu càng tốt lưu giữ hình bóng những người, hoặc là nam, hoặc là nữ mà họ đã đi tiễn, đang phải trải qua bốn tuần dài vượt biển mới tới được Mẫu quốc.


Những nhân viên trên tàu được rảnh việc, phần lốn là những người An-nam, lúc này cũng đứng lẫn lộn với đám hành khách giơ tay vẫy chào những người đưa tiễn chúc mừng thượng lộ bình an.

Trong đám nhân viên này, có một thanh niên trẻ tuổi, người mảnh dẻ, cô đơn, đứng náu mình nhìn ngắm lại những bến cảng, những nhà kho của thành phố, rồi sau đó, trong đêm trời phủ đầy sao, tưởng nhớ tới đất nước hậu phương của mình.


Người thanh niên đó, cho tới năm 1911 vẫn có tên là Nguyễn Tất Thành, nhưng sau này còn có tên là Lý Thụy, Linov, Tống Văn Sơ, Nguyễn Ái Quốc... Lịch sử biết đến ông bằng tên Hồ Chí Minh.

Sau khi sớm hiểu rằng sẽ vô ích nếu tiến hành công cuộc giải phóng dân tộc ở ngay tại chỗ, ngay bên cạnh những viên quan cai trị và những nhà thực dân là những kẻ nhất định, hoặc vì nhiệm vụ, hoặc vì lợi ích phải chống lại, Nguyễn Tất Thành quyết định đi sang Pháp và châu Âu, trước tiên là để học tập, sau nữa là để tìm hiểu kẻ địch phải đương đầu, cuối cùng là để tạo được sự ủng hộ từ một số người Pháp, hoặc nếu có thể, ở cả một số cường quốc Đồng minh hoặc không phải Đồng minh của Pháp đang lo ngại hoặc ghen tị với đế quốc Pháp.


Cậu thanh niên con quan đó, ba mươi nhăm năm sau nói với tôi: "Ông đừng phí thời giờ giải thích với tôi là thời kỳ đó chúng tôi sống sung sướng về vật chất hơn bây giờ. Bởi vì chúng tôi còn muốn, như ở Pháp thường nói: "Thắt lưng buộc bụng để giành tự do". Là những người đã tham gia chiến đấu chống sự áp bức của phát xít Đức, ông phải hiểu rõ điều đó".


Người tri thức con trai nhà Nho đó ngay lập tức đã chọn cuộc sống khổ hạnh và ngay từ chuyến đi đầu tiên đã quyết tâm chấp nhận làm đủ mọi nghề, mọi công việc, vất vả đến mấy cũng được.

Vài tháng trước khi đi Pháp hoạt động vì độc lập của đất nước, một người bạn đã hỏi Hồ Chí Minh: "Lấy đâu ra tiền để hoạt động?". Ông đã xoè bàn tay mảnh dẻ của người trí thức ra và nói: "Tiền ở đây!".


Từ Sài Gòn đến Havre, người "sinh viên" này đã làm phụ bếp trên tàu Latouche Tréville mở đầu cho một loạt ngành nghề hoặc ít hoặc nhiều hèn mọn và thường thường là nghề ngán ngẩm, để kiếm sống và để hoạt động khi thời cơ đến.

Hoạt động của ông kéo dài suốt năm mươi năm xuyên qua châu Âu và châu Á, ở bất cứ đâu cũng chỉ nhằm một mục đích, đó là: Độc lập của Việt Nam.

Thế nhưng, Việt Nam là gì?


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 01 Tháng Giêng, 2022, 02:47:57 pm
III
TỔ QUỐC


Phải trải qua hai cuộc chiến tranh kéo dài chống lại hai cường quốc phương Tây, thế giới mới khám phá hết giá trị của dân tộc Việt Nam có lịch sử hơn hai mươi thế kỷ; một dân tộc tự hào về quá "khứ của mình, tự hào về những truyền thống và đặc điểm của mình; một dân tộc có tất cả khả năng để bảo vệ những truyền thống và đặc điểm đó. (Trong điếu văn đọc tại buổi lễ truy điệu Hồ Chí Minh, ông Lê Duẩn là Bí thư thứ nhất của Đảng, đã tuyên bố, không phải hai nghìn năm mà là "bốn nghìn năm lịch sử". Lời tuyên bố này phù hợp với lập luận của nhiều nhà nghiên cứu, căn cứ vào những di tích mới khai quật, đồng ý cho rằng Việt Nam có một cội nguồn lịch sử rất xa xưa như vậy).


Những người ngạc nhiên về cuộc kháng chiến phi thường từ đất nước nhỏ bé này, trước hết là Pháp, rồi nay là Mỹ, hẳn không hiểu rằng, vẫn chính nước Việt Nam này từ thế kỷ 13, đã kháng chiến thắng lợi chống lại đế quốc vô địch Nguyên Mông giữa lúc Mông Cổ đang bành trướng ở châu Á.


Cũng cần phải nêu lên vài nét về địa lý, bởi vì hiếm có dân tộc nào như Việt Nam lại bị nhiều ảnh hưởng cũng như nhiều hậu quả, xuất phát từ vị trí địa thế của mình trên trái đất.

Trải dài và nằm trên bờ Thái Bình Dương, nơi hai con sông lớn của châu Á đổ ra biển, nơi hội tụ và phân chia hai luồng khí hậu cũng như hai luồng văn hóa Hoa, Ấn, Việt Nam đã định hình sâu sắc về dân tộc, lịch sử, văn hóa và chính trị.


Từ thời kỳ tiền sử, chủng tộc Việt Nam đã sinh ra từ những sự hòa hợp các dòng Mông Cổ, Melanexia, Inđonexia1 (Nguyên văn: Mongolique mélanésien, indonésien - ND), và từ thế kỷ 3 trước Công nguyên đã có thực thể sắc tộc của mình.


Mới đầu định cư ở miền Bắc bán đảo, trong vùng châu thổ sông Hồng mà chúng ta gọi là Bắc Kỳ, dân tộc Việt Nam nhanh chóng mở rộng lãnh thổ xuống phía Nam, dọc theo cùng bờ biển hẹp chạy dài giữa Biển Đông và dãy Trường Sơn. Đến lúc này thì Việt Nam đã từng đương đầu với những đặc tính và những sự lệ thuộc vào vị trí địa lý.


Nằm ở Biển Đông được coi như một "Địa trung hải" châu Á bao bọc ở phía Nam là Inđônêxia, phía Tây là Malaixia, phía Đông là Philippin còn phía Bắc lại bị chế ngự bởi một đường biên giới chung với Trung Quốc, cảnh láng giềng này ảnh hưởng nhiều nhất tới vận mệnh của Việt Nam.


Nếu Việt Nam, nhờ mở rộng lãnh thổ, sớm trở thành một cường quốc rạng rỡ thì ngược lại cũng đã bị tổn thương, bị tiến công chính vì lãnh thổ mở rộng, vì chiều dài ven biển, và vì các đường biên giới dễ thâm nhập. Như nhà sử học Philippe Devillers đã viết, Việt Nam buộc phải "tồn tại một cách nguy hiểm".


Những đặc tính dân tộc là yếu tố giúp Việt Nam đấu tranh gần như thường trực bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ. Đấu tranh trên hai mặt trận, bởi vì cùng một lúc phải đấu tranh chống lại sự tiến công và xâm lược của các nước láng giềng, Việt Nam cũng phải tiến hành, ở bên trong các đường biên giới của mình những hoạt động quân sự chống lại các thế lực chống đối ở trong nước.


Chính vì vậy cho nên, đến thế kỷ 15 sau khi Việt Nam mở rộng lãnh thổ tới vương quõc Champa thì do suy yếu sau khi đạt được thắng lợi này lại rơi vào sự đô hộ của Trung Quốc đã từng kéo dài suốt chín trăm năm, mãi tới thế kỷ 10 mới giải phóng được. Đến lúc này, Việt Nam cũng, đã cố vứt bỏ ách đô hộ đó, nhưng chỉ được vài giai đoạn ngắn và không bao giờ được hoàn toàn (các nhà sử học nhận xét, Việt Nam đã bốn thời kỳ bị đặt dưới sự đô hộ của Trung Quốc từ 1110 trước Công nguyên đến năm 43 sau Công nguyên; từ năm 44 đến năm 543; từ năm 603 đến năm 938; từ năm 1407 đến năm 1427).


Cũng cần nhắc lại một sự kiện quan trọng là từ năm 1884 đến 1885 nước Pháp đã buộc được Trung Quốc phải công nhận sự bảo hộ của Pháp đối với Trung Kỳ và Bắc Kỳ.

Khác với trường hợp Pháp chinh phục Nam Kỳ ở tận cực nam bán đảo Đông Dương và cả trường hợp Pháp đặt sự giám hộ lên Trung Kỳ, đến khi Pháp tiến về hướng Bắc Kỳ thì lập tức vấp phải phản ứng cực kỳ quyết liệt của vương triều Thiên tử. Một văn bản của triều đại Trung Hoa năm 1882 viết về Bắc Kỳ như sau: "Đây là lớp hàng rào che chắn cho Vương quốc Trung Hoa, bảo vệ cho các tỉnh Vân Nam và Quảng Tây, miền Nam Trung Quốc... Dù xứ này nằm ngoài đường biên cương, chúng ta vẫn không thể bỏ rơi".


Lịch sử ở đâu cũng luôn luôn lặp lại, nhưng đặc biệt ở Việt Nam mỗi sự kiện hiện đại đều trùng hợp với một hoặc nhiều sự kiện đã xảy ra trong quá khứ.

Nếu, năm 949 Việt Nam tự giải phóng được sau mười thế kỷ bị Trung Quốc đô hộ, đó là vì hồi đó triều đình Trung Quốc đã suy yếu; bị chia rẽ, làm mồi cho tình trạng vô chính phủ sau khi nhà Đường sụp đổ. Nếu năm 1944, những người Việt Nam mưu toan tự giải phóng khỏi sự bảo hộ của Pháp, là bởi vì họ biết nước Pháp đã suy yếu, tổn thương, và bị mất một số vùng lãnh thổ hải ngoại do những sự tàn phá về vật chất và tinh thần sau Chiến tranh thế giới thứ hai1 (Sainteny cố tình quên, ngay sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) nước Pháp trở nên hùng mạnh vì thắng Đức, nhân dân Việt Nam đã nổi lên chống ách thuộc địa thực dân của Pháp. Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập từ năm 1930 đã ra đời từ những cuộc đấu tranh này, chứ không phải đến năm 1944 mới nổi dậy - ND).


Nếu, năm 1884 nước Pháp của Jules Ferry bị chấn động bởi sự kiện Lạng Sơn đó là vì hồi đó quân đội triều đình Mãn Thanh viện cớ không được biết gì về bản thỏa hiệp Pháp - Hoa vừa ký kết tại Thiên Tân đã từ đồn Bắc Lai nổ súng bắn vào đoàn quân Pháp tiến vào Lạng Sớn. Suy cho cùng, nếu ngày 6 tháng 3 năm 1946 hạm đội Pháp chở tướng Leclerc và sư đoàn xe bọc thép của ông dự định đổ bộ lên Bắc Kỳ, đã bị quân Lư Hán đóng tại Hải Phòng nổ súng bắn, cũng là do đám quân này viện cớ không được thông báo gì về Hiệp định Pháp - Hoa đã ký kết tại Trùng Khánh ngày 28 tháng 2 trước đó.


Sự thật đã chứng minh, cũng như trước kia, chính quyền Quốc dân đảng Trung Quốc đều muốn bằng mọi cách chống lại sự chinh phục hoặc tái chinh phục của Pháp đối với xứ Bắc Kỳ được coi là hàng rào bảo vệ cho các tỉnh Hoa Nam (cũng không nên quên hồi đó Tưởng Giới Thạch còn được người Mỹ hứa hẹn là sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, miền Bắc Việt Nam sẽ trở lại vị trí là "khu vực ảnh hưởng" của Trung Quốc).


Cũng phải kể đến sự thù địch giữa chúa Trịnh ở miền Bắc và chúa Nguyễn ở miền Nam Việt Nam đã tiến hành một cuộc chiến huynh đệ tương tàn, một cuộc chiến tranh anh em nhưng bên này lại gọi bên kia là "ngoại bang". Đây là một cuộc chiến tranh rất ác liệt. Để có thể chiến thắng được năm nghìn quân và năm trăm con voi của chúa Trịnh, chúa Nguyễn đã phải kêu gọi các cường quốc phương Tây giúp đỡ, mới đầu là Bồ Đào Nha, sau đó là Pháp.


Nhờ có toàn bộ uy quyền và tất cả sự khôn khéo Nguyễn Ánh mới trở thành hoàng đế Gia Long (đã được một nhà truyền đạo người Pháp là Pigneau de Béhaine, tức linh mục d'Adran hết sức giúp đỡ) chấm dứt những cuộc xung đột giữa những người dân tộc chủ nghĩa đột phát.


Những người Việt Nam có quyền tự hào về lịch sử chinh chiến vẻ vang của mình, nhưng họ cũng có thể bốc hơi men thành một niềm kiêu hãnh nguy hiểm nếu không được sự tinh khôn của các nhà lãnh đạo làm cho trở nên ôn hòa.


May mắn thay, sự tinh khôn sáng suốt này là kết quả gặt hái được từ ruộng đất và không thiếu trong những người đã được hưởng lợi từ nông nghiệp. Lúc cần thiết thì tiến hành chinh chiến, nhưng trong lịch sử người Việt Nam cũng đã từng biết bỏ lưỡi kiếm để nắm lưỡi cày, cho binh lính về quê làm ruộng, cai trị đất nước sau những chiẽn thắng bằng tài tổ chức từng được những nhà lữ hành phương Tây lần đầu tiên tới đây ca ngợi. Những gì đã xảy ra trong quá khứ là những hi vọng cho tương lai.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 02 Tháng Giêng, 2022, 08:59:59 am
IV
NHỮNG TRẬN CHIẾN ĐẤU ĐẦU TIÊN


Nếu việc hiểu biết lịch sử và địa lý Việt Nam là cần thiết đê tìm hiểu đặc tính con người Việt Nam nói chung, thì cũng có thể nói mà không sợ rơi vào chủ nghĩa áp đặt có hệ thống, là nhân cách Hồ Chí Minh không thể nào rọi sáng được nếu trước hết không tìm hiểu mảnh đất và gia đình đã sinh ra ông.


Nguồn gốc của ông được hình thành từ Nghệ An là nơi những phẩm chất của chủng tộc Việt Nam được thể hiện rõ nét nhất.

Đây là mảnh đất bị thiên nhiên bạc đãi, đất đai nghèo nàn, khí hậu khắc nghiệt như tất cả miền Bắc Trung Kỳ, đòi hỏi những con người ở đây phải có một sức dẻo dai đặc biệt. "Sông xanh núi biẽc", đó là lời của những bài ca. Đúng vậy, Nghệ An có nhiều rừng lại ít ruộng đất canh tác. Mùa hè, gió nóng làm khô đất, cháy cây. Mùa thu mưa lũ và bão táp thường rất mạnh, làm sông đổi dòng. Chính vì vậy, ở Nghệ An đã hình thành nên những con người cần lao, hiếu học, sống thanh đạm, có đầu óc lãng mạn, nên thơ, có vẻ ít cởi mở, ít lôi cuốn hơn những cư dân Trung Kỳ và Nam Kỳ, nhưng lại được ca ngợi vì tính bướng bỉnh, khéo léo, dễ thích nghi và trung thành với các truyền, thống dân tộc. Đây là lớp người được tôi luyện từ hai nghìn năm qua những cuộc chiến đấu giành đất, giữ đất bảo vệ mảnh đất cằn cỗi này.


Tất cả những phẩm chất của dân tộc Việt Nam, và cũng là phẩm chất của Hồ Chí Minh, đã được chứng minh suốt cuộc đời cho tới khi kết thúc, bằng một nghị lực và một sự năng nổ rất đặc biệt, không thể tưởng tượng nổi, tập trung trong con người hình dáng mảnh dẻ, đã từng làm nảy sinn nhiều tin đồn là đã qua đời vì kiệt sức hoặc vì bệnh tật, toàn là những tin đồn bịa đặt nhưng cũng dễ tin.


Vị Chủ tịch tương lai của nước Việt Nam Dãn chủ Cộng hòa ra đời năm 1890 tại làng Chùa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An với tên khai sinh là Cung. Ông là người con thứ hai trong gia đình có ba người con (hai trai, một gái) mồ côi mẹ năm mười tuổi. Cha ông là Nguyễn Sinh sắc, một nhân vật đặc biệt từ một trẻ chăn trâu tự học để trở thành quan huyện sau khi đậu kỳ thi Tiến sĩ nho học, xếp hạng nhì, danh hiệu Phó bảng. Sau khi dạy học ít lâu, cụ đảm nhiệm, nhiều chức vụ cai trị tại Huế, hồi đó là kinh đô vương quốc An-nam rồi làm quan huyện tại Bình Định. Bị cách chức vào khoảng năm 1915, cụ dậy học chữ Hán và xem mạch bốc thuốc tìm kế sinh nhai. Cụ cư trú lâu năm tại Sài Gòn, mở hiệu thuốc Bắc tại phố Lagrandière, cụ còn đi bộ vượt bốn trăm kilômét thăm khu đền Angkor. Hồi đó, cụ đã được mọi người gọi là "Bác" như sau này con trai cụ cũng được gọi như vậy.


Lý do cụ Nguyễn Sinh sắc bị cách chức, người thì nói là do phạm lỗi trong công tác, người lại nói do thái độ chống Pháp. Có điều thực tế là cụ không chịu nói tiếng Pháp (mãi tới năm mươi tuổi cụ mới bắt đầu học tiếng này) và có những cuộc giao du làm cảnh sát để ý. Cụ có quan hệ với nhà cách mạng Phan Chu Trinh đã từng bị kết án tử hình và chỉ nhờ có sự can thiệp của Tổ chức nhân quyền mới thoát tội chết. Cụ cũng có quan hệ với Phan Bội Châu, là một người chống lại sự "đỡ đầu" của Pháp và là nhân vật có uy tín lớn trong các lực lượng chống đối.


Nhất định những mối quan hệ của cụ và việc cụ bị cách chức đã có ảnh hưởng quyết định đến vận mệnh chú bé Nguyễn Sinh Cung. Cũng như ông anh và bà chị, chú bé Cung còn chịu ảnh hưởng của một nhân vật dân tộc chủ nghĩa nữa, đó là ông trẻ của Cung, từng là bạn chiến đấu của Hoàng Hoa Thám, tức Đề Thám, nổi tiếng là một đối thủ ghê gớm của chính quyền Pháp đã từng chỉ huy chiến đấu du kích chống lại quân đội Pháp nhiều năm, cho tới khi bị ám sát vào năm 1913.


Cũng không nên quên những năm tháng ở Huế của cậu bé Cung. Gian phòng tối tăm nhỏ bé mà cậu sống chung cùng với gia đình ở ngay trước mặt tòa Cơ mật, sự tương phản giữa cảnh nghèo của gia đình, của đất nước với sự xa hoa lãng phí của triều đình đã gây ấn tượng sâu sắc trong đầu óc cậu. Cậu Cung hồi đó mặc áo nông dân, đầu cạo tóc để hai trái đào theo kiểu trẻ em ở Nghệ An thường vẫn bị các bạn là con các quan lại triều đình, được ăn mặc sang trọng, chế giễu.


"Lập thân bằng cách đi học làm quan, quả không gì đáng khinh hơn"1 (Chữ Hán: "Lập thân tối hạ thị văn chương" - ND). Cậu Cung coi câu thơ cổ này như một châm ngôn xử thế và có lần đã đọc cho Phan Bội Châu nghe. Cậu càng không là một trong bọn quan lại thân Pháp mà ông thân sinh ra cậu đã nhấn mạnh, đó là hạng "nô lệ nhất trong đám nô lệ". Như truyền thống của quê hương, cậu sẽ là một trí thức theo chủ nghĩa dân tộc. Bởi vì, tỉnh Nghệ An mà hồi đó gọi là "đất phiến loạn" đã sản sinh ra những nhà văn, nhà thơ, nhà yêu nước hoạt động cải cách và lật đổ, không ngừng cung cấp cho dân tộc Việt Nam những người con ưu tú.


Đối đầu với Pháp, chính tại miền Bắc Trung Kỳ này năm 1885, tức năm đầu tiên thiết lập chế độ bảo hộ, đã bùng nổ cuộc biểu tình đầu tiên chống thực dân trên quy mô đáng kể, một cuộc nổi dậy của các quan lại, được gọi là "cuộc nổi dậy của những văn thân".


Cần phải có một bản danh sách rất dài mới kể hết những người quê ở tỉnh Nghệ An đã nổi lên chống Pháp, hẳn là cũng dài bằng những ngươi đã nổi lên chống ách đô hộ của Trung Quốc trong vòng hai mươi thẽ kỷ trước.


Trong tất cả chuỗi họ tên ghi trong bản danh sách này, nếu lịch sử muốn giữ lại một danh tính, thì có thể nói ngay đó là Hồ Chí Minh, tức là chú bé Cung ra đời trong một ngày tháng 5 năm 1890 tại làng Chùa.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 02 Tháng Giêng, 2022, 09:01:18 am
Có một nhà viết sử Việt Nam đã hình dung, nếu muốn viết tiểu sử Hồ Chí Minh thì cần phải kêu gọi những nhân chứng đã từng gặp ông ở nhiều nước. Những mẩu chuyện kể này đã giới thiệu với chúng ta vị Chủ tịch tương lai của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khi đang còn bôn ba ngoài nước, vẫn đã từng luôn luôn muốn nói về đạo đức, muốn nêu gương cho người đối thoại bằng những ngụ ngôn hoặc những châm ngôn, ông đã từng nói: "Hãy dùng tiền để đi du lịch và học hỏi, hơn là để đi nghỉ mát trên bãi biển với các cô gái". Đó là lời tâm huyết của ông.


Trần Ngọc Danh trong suốt cuốn sách nhan đề: "Câu chuyện về Hồ Chí Minh'' xuất bản năm 1949 đã khẳng định phẩm chất đạo đức, khổ hạnh nhưng cũng rất nhân hậu của nhân vật sau đó được gọi là "Bác Hồ kính yêu".


Tác giả cũng nhấn mạnh đến tác phong gương mẫu trong lối sống của Hồ Chí Minh. Ví dụ như, thời kỳ còn hoạt động ở Xiêm (Thái Lan) là nơi có khoảng hai mươi ngàn đồng bào ông đang sống ở đó, ông đã có lần đóng vai nhà tu hành, duy trì một cuộc sống khổ hạnh như sư sãi. Cũng có thể, đây không phải ông dùng hình thức này chỉ nhằm tránh bị mật thám theo dõi nên ông đã thích khoác bộ áo cà sa màu vàng của các sư tăng. Với chiếc áo này ông đã đi từ cụm dân cư này đến cụm dân cư khác, cổ vũ những người anh em của ông học tập, trồng trọt, nói gọn lại là trang bị tri thức cho họ. Ông đã nêu gương bằng cách đặt ra một thời gian biểu mà chính ông đã theo một cách rất kỷ luật, rất chính xác, không chút vi phạm (tạo thành những thói quen mà ông giữ mãi). Ông đã kết hợp nhịp nhàng những công việc lao động chân tay vất vả nhất với lao động trí óc: học tiếng địa phương, kết hợp những giờ nói chuyện với những buổi lên lớp chính trị. Hồ Chí Minh còn tổ chức cả những buổi biểu diễn sân khấu trong đó ông cũng giữ một vai diễn viên. Ông còn soạn cả những bài ca. Nhiều lần, cùng đi với một vài người phục vụ trong những cuộc hành trình rong ruổi trên đất nước ông đã đọc những lời thơ trong "Truyện Kiều" do một nhà thơ cổ, cũng là dân Nghệ An sáng tác từ trước, rồi bảo mọi người đọc theo, hoặc đọc những câu hò vè dân gian để mọi người quên mệt trong những chuyến đi bộ chỉ ăn theo kiểu các nhà sư, nghĩa là rất đạm bạc.


Hồi mở đầu chuyến đi xa trên tàu Latouche Tréville, Hồ Chí Minh lấy tên là Ba. Hồi đó, anh Ba đã lần lượt trải qua nhiều tâm trạng: bực mình trước tư cách của nhiều hành khách nữ trên tàu; xúc động trước thái độ nhã nhặn của hai thanh niên Pháp đối với anh; ngạc nhiên khi tàu cập bến cảng Marseille, anh thấy có những phụ nữ Pháp nghèo đói phải vét những hạt gạo hoặc hạt ngô từ trong những chiếc bao thủng rơi xuống đất; sửng sốt một cách thích thú khi nghe thấy người chủ tiệm cà phê trên bến cảng gọi là: "Thưa ông!", nhưng lại rất phiền lòng khi thấy các bạn anh "tán tỉnh" các cô phục vụ hoặc ham mê đánh bạc.


Tại Havre, và nhất là tại Sainte Adresse, Ba được làm việc với những ông chủ tốt, anh có thời giờ rảnh rang để đọc bất cứ quyển sách gì có trong tay, đồng thời để hoàn chỉnh môn tiếng Pháp, hoặc trồng cây hoa trong vườn. Theo lời kể lại, hồi đó anh là một người trẻ tuổi, rất gầy, ăn mặc xoàng xĩnh, rất nhã nhặn, lễ phép.


Trong chuyến đi sau, từ phụ bếp Ba đã trở thành đầu bếp trên con tàu vận tải đi dọc theo những vùng biển châu Phi. Mỗi dịp con tàu cập bến cảng các nước thuộc địa, Ba lại nhìn thấy "những người Pháp tồi tệ" bóc lột trắng trợn những người dân bản xứ nghèo đói. Anh nói với phụ bếp, cùng là người An-nam: "Trên đất Pháp, có những người Pháp rất tốt, nhưng tại thuộc địa, người Pháp lại rất độc ác, vô nhân đạo. Những bọn thực dân này không đếm xỉa gì đến tính mạng người da vàng hoặc da đen".


Khi lên bờ, Ba bất bình trước việc có những nhân viên trong đám người phục vụ trên tàu, uống rượu lấy cắp từ trong kho chứa của tàu tới mức say mèm. Anh luôn luôn "khác đời", không giống như nhiều người khác, anh từ chối tham gia những cuộc nhậu nhẹt do ăn cắp mà anh rất kinh tởm. Ngược lại, anh thường thức dậy trước lúc rạng đông để tận hưởng ánh bình minh và cho tới khi trăng đã soi sáng đại dương vẫn chưa đi ngủ.


Tóm lại, đó là cuộc sống gương mẫu mà tất cả mọi người Việt Nam đều biết, ca ngợi và nên noi theo.

Có rất ít chi tiết về những ngày con tàu cập bến Mỹ và những ngày Ba tới các thành phố Boston, New York. Nhưng mọi người được biết khi tới thủ đô Anh Luân Đôn, anh Ba đã làm nghề xúc tuyết, đốt lò, và còn làm việc ở khách sạn Carlton trong đội ngũ của Escoffier, người được coi là một đầu bếp lớn, nổi tiếng nhất hồi đó. Trong khi học tiếng Anh, Ba còn được bếp trưởng tín nhiệm truyền cho nghề làm bánh ngọt. Có lẽ lúc đó, ông Escoffier sẽ lấy làm phiền lòng nếu khám phố ra là người học trò này của ông đang mưu toan dành cả tương lai tốt đẹp của mình vào những ước mơ hoạt động chính trị!


Năm 1917, Ba quay trở lại nước Pháp.

Về thời gian Ba sống ở Paris và lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, tức "Người yêu nước" chúng ta có nhiều tư liệu hơn. Nguyễn vẫn sống nghèo nàn như cũ, vẫn làm đủ mọi nghề kể cả vẽ hoa văn trang trí cho "những đồ cổ châu Á", cuối cùng là nghề sửa ảnh.


Nhưng căn hộ mà ông đến ở từ ngõ Compaint đến Batignolles và nhiều xóm nghèo khác trong thủ đô, đều là những gian phòng tồi tàn. Nhưng ông không quan tâm đến chuyện đó! Điều ông muốn, đó là học tập. Ông tham gia các câu lạc bộ bình dân, xin gia nhập các tổ chức nghệ thuật, khoa học, du lịch để được đi tham quan các viện bảo tàng, xí nghiệp, nhà hát và được đi du lịch tới tận nước Italy dưới thời phát xít Mussolini, hoặc tới tận Thụy Sĩ là nơi ông có ấn tượng về chế độ dân chủ, sự khoan dung độ lượng và vẻ sạch sẽ đối lập với Italy. Nhưng đến đâu ông cũng đọc sách: đọc chăm chỉ, đọc say sưa, đọc bền bỉ bằng cách năng đi vào thư viện và để dành tiền mua sách, nhất là những sách chính trị.


Sau này, chính Hồ Chí Minh đã kể lại trên báo Echo du Vietnam xuất bản năm 1960, nhân dịp ông bẩy mươi tuổi:

"Một người bạn đưa cho tôi đọc bản Luận cương về những vấn đề dân tộc và thuộc địa đăng trên tờ Nhân đạo của Đảng Cộng sản Pháp.

Trong bản Luận cương này có những từ ngữ chính trị khó hiểu đối với tôi. Tuy nhiên, sau khi đọc đi đọc lại nhiều lần, tôi đã nắm được vấn đề chủ yếu. Những luận cương của Lênin đem đến cho tôi một niềm phấn khởi lớn, một niềm tin lớn, giúp tôi sáng tỏ vấn đề. Niềm xúc động của tôi lớn đến mức tôi ứa nước mắt. Ngồi trong phòng kín mà tôi tưởng như đang đứng trước đám đông. Tôi nói to: "Hỡi đồng bào đang bị đọa đầy, đau khổ. Đây là con đường giải phóng cho chúng ta!"


Đó là "Sự phát hiện" đối với Nguyễn Ái Quốc.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 02 Tháng Giêng, 2022, 09:03:00 am
Cũng trong thời kỳ đó, có một nhân viên thư viện trường Đại học Bắc Kinh cũng tìm thấy "con đường" của mình. Đó là Mao Trạch Đông, hồi đó mới hai mươi bốn tuổi.

Là một người thực tiễn, cải cách, Mao Trạch Đông lúc đó cũng đang đau khổ vì chủ nghĩa yêu nước như chàng trai Nguyễn Ái Quốc sau này là Hồ Chí Minh, cả hai người cùng đau khổ trước việc đất nước mình bị các cường quốc phương Tây áp bức. Người phụ trách thư viện trường Đại học Bắc Kinh hồi đó là Lý Đại Chiêu đã đưa Mao Trạch Đông đọc các tác phẩm của Marx, Lênin và Cách mạng Nga giúp Mao khám phá những điều mới lạ. Mao nhận thức rằng chủ nghĩa tư bản Trung Quốc phục vụ các lợi ích của các nước ngoài là kẻ phải chịu trách nhiệm to lớn về sự suy tàn và nô lệ hóa của đất nước mình. Chính từ niềm, tin đó Mao đã có lý do thiết yếu cho chủ nghĩa bài ngoại của mình.


Mãi sau này Hồ Chí Minh mới quen biết Mao Trạch Đông, nhưng đã từng có một sự chuyển hướng khác với Mao Trạch Đông.

Sau năm 1917, Hồ Chí Minh trở thành một người cộng sản như Mao và cùng xuất phát từ những lý do như Mao. Nhưng, như mọi người đều rõ, và thái độ của Hồ Chí Minh cũng đã chứng minh: chủ nghĩa cộng sản đối với ông, trước hết là giành độc lập cho đất nước mình.


Trong suốt cuộc đời tôi, đã nhiều lần tôi được nhiều người hỏi: "Ông là người quen biết rõ Hồ Chí Minh. Vậy thì Hồ Chí Minh là người dân tộc chủ nghĩa hay cộng sản chủ nghĩa". Tôi đã trả lời rất đơn giản: "Hồ Chí Minh là cả hai. Đối với ông, chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa cộng sản, mục đích và cứu cánh, đều bổ sung cho nhau, hoặc hòa nhập vào nhau".


Năm 1918, vào dịp họp Hội nghị Hòa bình ỏ Paris, cũng là lúc Nguyễn Ái Quốc bắt đầu đi vào con đường chính trị. Cùng với hai đồng bào của mình, Nguyễn Ái Quốc gửi tới Tổng thống Pháp Clemenceau, Thủ tướng Anh Lloyd George và Tổng thống Mỹ Wilson một "Tập yêu sách của nhân dân An-nam", gồm tám điều, vạch trần sự bóc lột thuộc địa và đòi một nền độc lập dưới hình thức nào đó cho Việt Nam. Tác giả cũng muốn gặp Tổng thống Mỹ Wilson nhưng không được. Hồi đó chưa phải là thời điểm để Mỹ phi thực dân hóa... những thuộc địa của các nước Đồng minh của inình, và hội nghị Versailles lúc đó chưa phải là những hội nghị sau này ở Yalta và Potsđam.


Chưa đạt mục đích, Nguyễn Ái Quốc liến hướng về nghề viết báo. Chính Charles Longuet chủ bút báo Người binh dân đã khuyến khích Nguyễn Ái Quốc viết những bài thức tỉnh người Pháp về những bất công mà những đại diện của nước Pháp đang thực hiện ở Đông Dương. Đã từng đọc nhiều tác phẩm của các nhà văn Hugo, Zola, Michelet nhưng Nguyễn Ái Quốc chỉ chịu ảnh hưởng về mặt giản dị trong cách hành văn: "Nhìn thấy cái gì, cảm nhận được điều gì thì cứ viết nguyên như thế. Cố nghiền ngẫm suy xét thực tế của sự vật và lột tả. Tất cả chỉ có thế. Có gì khó đâu".


Đối với ông, chỉ còn lại những khó khăn về tiếng Pháp. Mới đầu, Nguyễn Ái Quốc đành phải đọc, không phải là không sốt ruột, để các đồng bào của ông đã tinh thông hơn về những nét quanh co rắc rối của văn phạm và những tinh tế của từ vựng Pháp, viết giùm ông.


Là người Việt Nam đầu tiên gia nhập Đảng Xã hội Pháp, Nguyễn Ái Quốc sớm được Marcei Cachin chú ý tới. Năm 1920 ông được mời dự hội nghị thành Tours, được thấy cánh tả của Đảng Xã hội rời bỏ Đệ nhị quốc tế, gia nhập Đệ tam quốc tế.


Từ đó, suốt nhiều năm sau, tất cả hoạt động tích cực của Nguyễn Ái Quốc đều theo hướng của tổ chức này. Theo ông, Đảng Xã hội Pháp đã mất nhiều thời giờ vào việc tranh cãi về những lý thuyết suông, vô bổ, trong khi đáng lẽ phải hoạt động nhằm vào một sự nghiệp duy nhất mà ông quan tâm, đó là nền độc lập của các thuộc địa Pháp, nhất là thuộc địa Đông Dương.


Cùng trong lúc này, Nguyễn Ái Quốc đã bắt đầu "ngán ngẩm" về chính sách đợi thời của vài nhà cách mạng già của Việt Nam như Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường... mà ông gặp gỡ ở Paris và bị các vị này nhận xét thái độ của ông và các đồng chí của ông là "trẻ con".


Vào thời kỳ này, Matxcơva có vẻ như sẵn sàng hành động ủng hộ cuộc đấu tranh của các thuộc địa. Đệ tam quốc tế ngay từ khi mới thành lập đã tuyên bố cần phải phối hợp hành động tại chính quốc với các xứ "phụ thuộc". Từ tháng 7 năm 1920, đã có cuộc họp của các dân tộc phương Đông ở Bacu, Yalta. Tại Matxcơva, Viện Lênin đào tạo các cán bộ cách mạng. Bộ Phương Đông được thành lập tại Thượng Hải v.v.


Nguyễn Ái Quốc giữ vai trò gì trong Quốc tế cộng sản? Jean Lacouture là người đã viết một tiểu sử rất đáng ca ngợi về Hồ Chí Minh, đã tận dụng tất cả những nguồn tư liệu có thể kiếm được để tái tạo Nguyễn Ái Quốc trong khi những nguồn này hầu như đã vét cạn.


Nhờ Jean Lacouture, mọi người được biết, từ năm 1920 đến 1923, khi đang còn ở Paris, Nguyễn Ái Quốc đã thành lập "Hội liên hiệp quốc tế thuộc địa", một phong trào tập hợp tất cả những tổ chức chống thực dân trong đế quốc Pháp. Ông thành lập và quản lý một tờ báo có cái tên rất có ý nghĩa: Le Paria, tức là người khổ sở đến cùng cực. Ông cũng viết nhiều bài đăng trên tờ Nhân đạo của Đảng Cộng sản Pháp, cách thể hiện vừa thông minh, vừa hóm hỉnh, tỏ ra đã hoàn toàn hiểu biết Pháp ngữ.


Năm 1923 Nguyễn Ái Quõc rời Paris đi Matxcơva dưới cái tên Lý Thụy, rồi Linov, với tư cách là người đại diện Nhân dân các dân tộc thuộc địa, làm việc trong Ban thường vụ Liên minh nông dân quốc tế. Ông học tiếng Nga và nghiên cứu chiến lược cách mạng tại Viện Nhân dân phương Đông. Ông cũng có quan hệ với một số nhà lãnh đạo Xô Viết, sau này rất bổ ích đối với ông.


Năm 1925, ông được cử đi Quảng Châu bên cạnh Borodine là một cán bộ Xô Viết nôi tiếng, lúc đó đang là "cố vấn" của phong trào cộng sản Trung Quốc và là đại diện Quốc tế cộng sản bên cạnh chính phủ cách mạng Trung Quốc hồi đó do Tưởng Giới Thạch, người kế nghiệp Tôn Dật Tiên, đứng đầu. Nguyễn Ái Quốc làm việc trên danh nghĩa là tùy viên báo chí Lãnh sự quán Xô Viêt ở Quảng Châu. Nhưng nhiệm vụ thật sự của ông chính là chuẩn bị cho các công tác tuyên truyền và vận động chủ nghĩa cộng sản ở Đông Dương.


Chiến thuật cách mạng của Quốc tế cộng sản do Borodine áp dụng ở Trung Quốc hồi đó là: giành độc lập trước tiên, từ cuộc cách mạng dân tộc, thiết lập một chế độ dân chủ, rồi sau đó mới tiến hành cuộc cách mạng thứ hai, tức cách mạng cộng sản, đưa đất nước gia nhập Quốc tế cộng sản.


Có thể Nguyễn Ái Quốc cũng chịu ảnh hưởng của những khái niệm này đối với vận mệnh nước mình. Thế nhưng, những diễn biến tiẽp theo trên đất Trung Quốc đã chứng minh sự liên minh giữa những người cộng sản với những người dân tộc chủ nghĩa tư sản là rất khó khăn, có nhiều rủi ro, như đã liên minh với Quốc dân đảng Trung Quốc. Quả nhiên, ngày 6 tháng 4 năm 1927 Tưởng Giới Thạch đã trở mặt, mở cuộc tiến công vào những người cộng sản Trung Quốc.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 02 Tháng Giêng, 2022, 09:04:02 am
Nguyễn Ái Quốc phải tạm thời rời khỏi Quảng Châu cùng với Borodine. Ông lui về Quảng Tây rồi đi Matxcơva. Nhưng trong thời gian ở Quảng Tây ông đã cùng với một nhà hoạt động cách mạng người Ấn Độ và vài người Triều Tiên thành lập "Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức". Ông cũng đã cùng với những người An-nam sinh sống tại Trung Quốc thành lập một tổ chức thật sự của những người cộng sản trẻ tuổi, mang tên Thanh niên1 (Tức Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội - ND).


Nhờ kết quả của công tác này, từ năm 1926 Nguyễn Ái Quốc đã đưa về nước một số hội viên do ông đào tạo để bám chân trong nước, tạo ra một hệ thống các tiểu tổ bí mật tỏa khắp đất nước, nhằm tạo điều kiện dễ dàng cho việc liên lạc và thực hiện các nguyên tắc cách mạng: tạo hạ tầng cơ sở cần thiết. Tất cả đều tập trung vào việc giác ngộ quần chúng ở Đông Dương.


Đến năm sau, tức sau khi đã trở về Matxcơva, Nguyễn Ái Quốc bắt đầu quan tâm đến việc tổ chức một Đảng Cộng sản Đông Dương. Sau một thời gian ngắn ở Berlin, đầu năm 1928 Nguyễn Ái Quốc rời châu Âu đi Viễn Đông nhưng không về Đông Dương ngay vì cần phải giữ bí mật, những hoạt động của ông đã đến tai Sở mật thám và đã có lệnh cấm ông không được về nước.


Vì vậy, Nguyễn Ái Quốc đã đến Thái Lan. Tại đây ông đã hoạt động như mọi nơi khác nhưng hết sức giữ bí mật. Ông nhanh chóng trở thành cán bộ chủ yếu phụ trách tuyên truyền và hoạt động cách mạng tại khu vực phương Nam như Thái Lan, Miến Điện, Malaixia thuộc Anh, Inđônêxia thuộc Hà Lan và dĩ nhiên cả Đông Dương thuộc Pháp.


Tháng 7 năm 1930 ông tới Hồng Công. Chính tại nơi này ông đã bộc lộ sự khôn khéo chính trị của mình.

Ngày 1 tháng 5 năm 1929 tại Hồng Công tiến, hành đại hội đầu tiên của những người cách mạng Dông Dương. Ba nhóm cách mạng không đạt được thỏa thuận chung, đã yêu cầu Nguyễn Ái Quốc lúc đó đang ở Thái Lan giúp đỡ. Tháng 1 năm 1930, Nguyễn Ái Quốc triệu tập đại biểu ba nhóm này, mỗi nhóm hai người, tới Hồng Công, nghiên cứu tình hình, soạn thảo cương lĩnh, điều lệ và ngày 3 tháng 2 năm 1930 chỉ trong một buổi họp vài giờ, đã tạo được sự thống nhất.


Đảng Cộng sản Việt Nam, còn gọi là Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời hoàn toàn do sự chỉ đạo của Nguyễn Ái Quốc.

Nhưng chưa phải đã hết. Suốt mười tám tháng sau, từ năm 1930 đến năm 1931, Nguyễn Ái Quốc không hề mệt mỏi, rong ruổi từ Hồng Công đến Thượng Hải, Băng-cốc, Hán Khẩu, được coi như lãnh tụ tinh thần của tất cả các tổ chức cộng sản ở bán đảo châu Á. Chính ông là người đảm bảo liên hệ giữa các tổ chức này với Quốc tế cộng sản ở Matxcơva và Đảng Cộng sản Pháp, qua sự trung gian của Ban thư ký Tổng công hội Pháp ở Paris (hiện còn lưu trữ nhiều tài liệu rất đáng chú ý chung quanh sự kiện này).


Cũng như Mao Trạch Đông, Nguyễn Ái Quốc hiểu rằng ở châu Á công nhân chiếm số lượng rất ít, vì vậy cần phải dựa vào nông dân. Từ năm 1924, tại Đại hội lần thứ 5 Liên minh các dân tộc thuộc địa tại Matxcơva, Nguyễn Ái Quốc đã đọc bản tham luận nêu rõ: "Tại tất cả các thuộc địa của Pháp... những điều kiện đã hội tụ để nông dân những nước này vùng lên. Ở nơi này nơi khác họ đã từng nổi dậy nhưng đều bị dìm trong biển máu. Nếu hiện nay nông dân đang im lìm, đó là do họ thiếu một tổ chức và một sự chỉ đạo..." Mùa hè năm 1930 việc xuất hiện các Xô Viết ở tỉnh Nghệ An, quê hương của Nguyễn Ái Quốc đã giải thích rõ. Một trong những cuộc biểu tình lớn nhất ở đây là cuộc tuần hành ngày 12 tháng 9 năm 1930 từ các vùng nông thôn tiến về thị xã Vinh, tập hợp tới khoảng sáu nghìn nông dân.


Đó là một thắng lợi nhưng sau đó những người tổ chức đã gặp tổn thất lớn. Một cuộc đàn áp dữ dội đã diễn ra. Hàng trăm cán bộ vận động cách mạng đã bị bắt, nhiều người bị tử hình, bị tù đày, bị giam giữ. Phạm Văn Đồng, sau này là Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một trong số những người bị đày ra Côn Đảo.


Về phần Nguyễn Ái Quốc, ông bị kết án tử hình vắng mặt năm 1931.

Đến đây, xảy ra một câu chuyện mà, một lần nữa, chúng tôi thiếu điều kiện xác minh. Ngày 6 tháng 6 năm 1931 Nguyễn Ái Quốc bị cảnh sát Anh bắt tại Hồng Công (lúc này cảnh sát Anh cũng đang cần phải hỏi Nguyễn Ái Quốc về những biến động tại các thuộc địa của Anh). Các nhà chức trách Pháp vận động các đồng nghiệp người Anh trục xuất Nguyễn Ái Quốc khỏi Hồng Công. Nhưng đến năm 1933 Pháp được trả lời là Nguvễn Ái Quốc đã bị chết trong nhà giam vì bệnh lao. Tin này được sở mật thám ghi nhận, được đăng trên tờ Nhân đạo của Đảng Cộng sản Pháp và trên báo chí Xô Viết. Tại Matxcơva, các sinh viên Việt Nam đã tổ chức lễ truy điệu nhà cách mạng lão thành vừa qua đời.


Thế nhưng, nếu đúng là Nguyễn Ái Quốc đã bị lao thì lúc đó ông vẫn không bị chết, ông đã dựa được vào những thế lực giúp ông thoát khỏi bọn cai ngục người Anh và tránh được cả sự theo dõi của mật thám Pháp chỉ chờ ông ra khỏi nhà giam là bắt giữ luôn.


Bằng cách nào? Có một luật sư người Anh chống thực dân là Frank Loseby đã vận động những đồng bào của ông thuộc Công đảng Anh và cả Tổng chưởng lý Vương quốc Anh là Stafford Cripps cứu giúp người tù và đã được Hội đồng tư vấn của Nhà vua ở Luân Đôn ân xá cho Nguyễn Ái Quốc. Cũng vẫn Frank Loseby sau đó đã giúp Nguyễn Ái Quốc bí mật rời Hồng Công.


Thái độ lạ lùng của các nhà cầm quyền Anh hồi đó thật khó hiểu.

Đã là năm 1933. Nhưng đối với Nguyễn Ái Quốc vẫn chưa phải lúc trở về Đông Dương, ông ở ngoài nước và vẫn hoạt động không mệt mỏi nhằm khôi phục lại Đảng Cộng sản của ông đang bị đàn áp tan rã. Ông đã ở Thượng Hải một thời gian, nhưng Tưởng Giới Thạch lại tiến hành lùng bắt những người cộng sản, ông buộc phải náu mình. Chính một "đồng chí" Pháp là Paul Vaillant Couturier, ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Pháp đã giúp ông trốn chạy khỏi Trung Quốc trên một chiếc tàu Liên Xô từ Thượng Hải trở về Vladivostok.


Hình như sau đó Nguyễn Ái Quốc ở tại Nga từ 1934 đến 1938, theo một khóa học tại Viện Lênin, đồng thời tham gia giảng dạy về lịch sử Việt Nam. Ông soạn các bài học dưới hình thức thơ ca để tăng thêm phần hấp dẫn, như trước kia Phan Bội Châu cũng đã làm thơ ca cách mạng để nhân dân dễ học, dễ nhớ.


Vì vậy, Đại hội Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ nhất họp tại Macao năm 1935 đã vắng mặt Nguyễn Ái Quốc. Đây là một đại hội rất có ý nghĩa, đã kiểm điểm những kết quả đạt được năm 1930 và chuẩn bị đấu tranh vũ trang.


Trong thời kỳ 1936 - 1938 khi Mặt trận nhân dân nắm quyền ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ thị hợp tác với người Pháp, ở đây, thể hiện rõ những phương pháp ưa dùng của Hồ Chí Minh: nắm bắt thời cơ, tận dụng cơ hội để hoạt động thích hợp với hoàn cảnh.


Năm 1938 Nguyễn Ái Quốc trở lại Trung Quốc. Lúc này, do bị Nhật Bản tiến đánh. Tưởng Giới Thạch đã buộc phải liên minh trở lại với Đảng Cộng sản Trung Quốc để cùng chống quân xâm lược.


Một trong những chủ trương khôn khéo của Hồ Chí Minh trong thời kỳ Mặt trận nhân dân trước khi bùng nổ Chiến tranh thế giối thứ hai là, vừa tổ chức một chính đảng hợp pháp tập hợp hơn năm trăm tổ chức công đoàn, phường hội v.v... vừa bảo vệ chính đảng do ông sáng Lập, hoạt động trong vòng bí mật. Điều đó khiến cho các nhà cách mạng Việt Nam tồn tại và giữ được ảnh hưởng của mình. Đến năm 1939, khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, nhà cầm quyền Pháp ở Đông Dương mở cuộc đàn áp dữ dội tiêu diệt bộ phận hoạt động công khai của Đảng Cộng sản Đông Dương. Nhưng bộ phận hoạt động bí mật vẫn tiếp tục hoạt động chống lại Nhật Bản khi quân đội Nhật tiến vào chiếm đóng Đông Dương năm 1940.


Tháng 2 năm 1940, Nguyễn Ái Quốc gặp một bộ phận trong Ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Đông Dương tại miền Nam Trung Quốc. Trong số này, có hai người từ đó trở thành những cộng sự thân tín của ông. Đó là Phạm Văn Đồng, sau này là Thủ tướng, và Võ Nguyên Giáp, sau này là Bộ trưởng Quốc phòng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đồng thời là Tổng tư lệnh, là người chiến thắng ở Điện Biên Phủ, hai người hùng.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 07 Tháng Giêng, 2022, 08:09:36 am
V
NHỮNG NĂM CHIẾN TRANH


Tháng 6 năm 1940. Nước Pháp bại trận ở châu Âu đã tạo ra một tình thế mới. Nhật Bản là Đồng minh của Đức xuất hiện trên sân khấu chính trị Đông Dương. Nhật Bản đòi kiểm soát quân sự dọc tuyến biên giới giữa Trung Quốc và Bắc Kỳ để ngăn việc vận chuyển vũ khí xuyên qua lãnh thổ của Pháp tiếp tế cho kẻ thù của họ là Trung Quốc. Đồng thời họ cũng muốn dùng Đông Dương làm bàn đạp tiến công căn cứ hùng mạnh của Anh ở Xingapo và phát triển xuống các vùng biển phía Nam.


Đứng trước sự bất lực của chính phủ Pháp lúc đó đã chuyển về Vichy, Anh và Mỹ (lúc đó chưa tham chiến) cũng từ chối giúp vũ khí để chống lại những yêu sách của Nhật Bản, cho nên Toàn quyền Đông Dương Catroux đã đi theo nước Pháp tự do của De Gaulle. Đô đốc Decoux được cử lên thay buộc phải để cho Nhật Bàn tiến quân vào Đông Dương.


Mới đầu, Nhật Bản còn chút ít dè dặt khi chiếm đóng Đông Dương. Nhưng vẫn có thể lo ngại về sự bành trướng của Nhật Bản và nghĩ rằng Nhật Bản sẽ không trao lại Đông Dương cho Pháp, một nước đã bại trận. Hơn nữa, mặc dù đã cam kết tôn trọng chủ quyền của Pháp ở Đông Dương, Nhật Bản vẫn sớm tỏ ra chống Pháp. Trung thành với chính sách giải phóng các thuộc địa ở châu Á, Nhật Bản đã dung túng cho các đảng phong trào dân tộc chủ nghĩa của người Việt Nam chống lại Pháp.


Thời điểm chưa phải là bi thảm, nhưng cũng đã trầm trọng đối với Pháp. Nguyễn Ái Quốc, với sự sáng suốt thường thấy, hiểu ngay đây là thời cơ bấy lâu mong đợi đang đến. Bởi vì hiểm họa Nhật Bản đang tạo ra khả năng huy động các lực lượng yêu nước phục vụ cho sự nghiệp thiêng liêng.


Vì vậy, cuối tháng 1 năm 1941, sau ba mươi năm sống xa Tổ quốc, cuối cùng Nguyễn Ái Quốc đã về nước, mặc dù vẫn còn nhiều nguy hiểm. Ông đã cẩn thận náu mình trong những núi đá vôi ở xứ Nùng, gần biên giới Trung Quốc, giữa Cao Bằng và Quảng Tây. Chính tại khu vực này từ ngày 10 đến 19 tháng 5 năm 1941 ông đã triệu tập cuộc họp có các đại biểu cộng sản và các tổ chức yêu nước tham dự.


Đại hội này, có thể gọi là một cuộc họp thôn dã, bởi vì các đại biểu đều ngồi trên những thân cây thay cho ghế, đã thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh, gọi tắt là Việt Minh, thông qua cương lĩnh và các mục tiêu đấu tranh.


Việt Minh đặt lên hàng đầu nhiệm vụ đấu tranh cho độc lập, chống lại các thế lực phát xít, chính phủ Pháp ở Vichy bị coi là "hợp tác" với Nhật Bản trong vấn đề Đông Dương. Phong trào đấu tranh của Việt Minh được gọi là Cứu Quốc.


Theo nhận xét của Jean Lacouture, ngay từ khi còn ở Matxcơva, Nguyễn Ái Quốc đã sớm dự kiến điều này. Trong thư ngày 6 tháng 6 năm 1941 gửi tất cả những người Việt Nam, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, khuynh hướng chính trị, gọi là "Lá thư viết từ nước ngoài", Nguyễn Ái Quốc đă viết: "Trong những thế kỷ trước, khi đất nước ta đứng trước hiểm họa xâm lược của Nguyên Mông, các cụ phụ lão cũng đứng lên đánh giặc. Ngày nay, các cụ phụ lão và các nhân sĩ yêu nước cũng cần phải theo gương các bậc tiền bối".


(Hồi đó, phải chăng Nguyễn Ái Quốc đã đề nghị với những nhà cầm quyền Pháp ở Đông Đương cùng hợp tác với Việt Minh chống lại sự chiếm đóng của Nhật Bản? Đây là điều đáng ngờ. Vì Đảng Cộng sản Đông Dương không thể nào liên minh với các thế lực "phát xít" và về phía Toàn quyền Đông Dương cũng dè dặt với những đề nghị của các nhà cách mạng Việt Nam mà Pháp đang truy lùng?)1 (Sainteny nhầm. Hồi đó Đảng ta chủ trương liên minh với "lực lượng thuộc phái De Gaulle ở Đông Dương" chứ không phải với chính quyền thực dân Pháp - ND).


"Từ nay, kẻ thù số một của chúng ta là quân đội phát xít Nhật Bản"1 (Đó là sau ngày 9-3-1945, khi Nhật đã đảo chính Pháp - ND). Đó là khẩu lệnh Nguyễn Ái Quốc gửi tới dân chúng Việt Nam. Những người tham gia đấu tranh chính trị chuyển thành du kích kháng chiến. Đảng Cộng sản phải đi đầu trong phong trào giải phóng dân tộc. Đây là thực tế? Lạc quan? Chủ nghĩa yêu nước? Vẫn như thường lệ, những động cơ của Nguyễn Ái Quốc đều đan xen phức tạp, nhưng có thể chắc chắn rằng chủ nghĩa yêu nước là động cơ dẫn đầu. Hãy nhớ lại lời Ducroux, một "đồng chí" năm 1931 đã gặp Nguyễn Ái Quốc tại Hồng Công viết về ông như sau: "Trong ông chỉ có một ý nghĩ duy nhất, và tôi cho rằng ý nghĩ này đã bám chặt ông suốt đời: đó là Việt Nam, Tổ quốc của ông. Tôi không nói ông không phải là một người theo chủ nghĩa quốc tế trung thực, một nhà cách mạng chân chính, nhưng Việt Nam đối với ông bao giờ cũng chiếm vị trí hàng đầu".


Nhiều tháng tiếp theo đại hội thành lập Mặt trận Việt Minh, Hồ Chí Minh bắt tay vào việc dịch thuật các tác phẩm chính trị, truyền bá các sách tuyên truyền, sách huấn luyện chiến tranh du kích nhằm giáo dục hội viên. Lúc này đã xuất hiện hai chỉ huy quân sự Việt Minh là Võ Nguyên Giáp rất nổi tiếng và Chu Văn Tấn người dân tộc, chỉ huy những hoạt động vũ trang tuyên truyền, tiến về phía Trung du và Đồng bằng.


Tháng 7 năm 1942, Hồ Chí Minh lại đi Trung Quốc. Đây là một quyết định mạo hiểm, nhưng Hồ Chí Minh trong khi tăng cường các hoạt động trong nước, cũng cần phải có sự ủng hộ từ bên ngoài, và nhất là cần gặp Đảng Cộng sản Trung Quốc mà các mối liên hệ đang trở nên khó khăn. Liệu ông có hy vọng gì về Tưởng Giới Thạch và Quốc dân đảng Trung Quốc, lúc đó đang công khai tiến hành chiến tranh chống Nhật Bản, sẽ cùng thành lập một mặt trận chung với ông để cùng chống lại kẻ xâm lược và cung cấp cho ông vũ khí và các khoản viện trợ khác? Với một số nhà viết sử thì đây chính là một trong các mục đích của ông trong chuyến đi này. Với một số người khác thì đây chỉ là một lý do nhằm tạo cớ cho chuyến đi. Trong mọi trường hợp, Hồ Chí Minh đều biết trước những rủi ro sẽ gặp. Ông đã cải trang và một lần nữa lại đổi tên. Bắt đầu từ tháng 7 này, ông trở thành Hồ Chí Minh, tức "Người soi sáng" và cái tên đó theo ông mãi mãi.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 07 Tháng Giêng, 2022, 08:11:01 am
Những biện pháp đề phòng đó vẫn chưa đủ. Vừa mới đi sâu vào lãnh thổ Trung Quốc, Hồ Chí Minh đã bị bắt, hình như do lỗi cùa người Trung Quốc dẫn đường đã không trình bày đủ các giấy tờ cần thiết khi bị kiểm tra. Dù sao thì lãnh tụ Việt Minh cũng đã bị bắt giam. Ông trải qua cảnh tù đày suốt mười bốn tháng, trước khi được hưởng quy chế tù nhân chính trị, đã nhiều tuần bị giải đi hết nhà giam này đến nhà giam khác, cổ đeo gông, chân bị xích nối với một người tù khác (hẳn đây là người đã cùng đi dẫn đường cho Hồ Chí Minh và sau đó đã bị chết trong tù). Gầy yếu, ghẻ lở, hai mắt bị mờ, Hồ Chí Minh đã trải qua những thử thách gay go nhất trong suốt cuộc đời của ông. Đúng là sự dẻo dai bền bỉ, niềm tin và nền văn hóa mà Hồ Chí Minh được trau dồi đã giúp ông vượt qua tất cả (chính trong tù Hồ Chí Minh đã sáng tác những bài thơ đặc sắc nhất của mình). Chúng ta qua đó được biết sự rèn luyện của một con người. Nhưng, điều kinh ngạc hơn nữa là, ngay trong thử thách này Hồ Chí Minh đã rất có lợi về chính trị, đã đảo ngược được tình thế tuyệt vọng thành thuận lợi của mình.


Lúc này, vận mệnh Hồ Chí Minh tùy thuộc vào hai nhân vật ghê gớm là Thống chế1 (Sainteny nhầm. Suốt thời gian Quốc dân đảng Trung Quốc cầm quyền chỉ có một Thống chẽ duy nhất là Tưởng Giới Thạch. Còn lúc này, Trương Phát Khuê, Tư lệnh đệ tứ chiến khu, là Trung tướng - ND) Trương Phát Khuê thống đốc tỉnh Quảng Tây và người nắm quyền thực tế là tướng Tiêu Văn, chuyên gia về hoạt động lật đổ ở Bắc Kỳ.


Trương Phát Khuê là một kiểu mẫu của lãnh chúa chiến tranh đang chờ cơ hội lôi kéo xứ Bắc Kỳ trở lại sự bảo trợ của Trung Quốc sau khi chiến tranh kết thúc. Để đạt mục đích này, Trương đã nghĩ đến việc tập hợp dưới ô dù của mình những phong trào dân tộc chủ nghĩa khác nhau của những người Việt Nam chạy trốn sang Trung Quốc; đặc biệt là ở trong tỉnh biên giới Quảng Tây, bằng cách hứa hẹn cung cấp cho họ vũ khí và tiến bạc để chống Nhật Bản. Chẳng may, một vài thủ lĩnh Việt Nam mà Trương Phát Khuê nắm được trong tay định để tập hợp lực lượng, đặc biệt là một Nguyễn Hải Thần nào đó (mà mãi sau này tôi mới được gặp) do sống lưu vong quá lâu ở Trung Quốc nên trên thực tế đã biến thành người Trung Quốc. Không một kẻ nào có đủ uy tín và uy lực cần thiết để tự coi là người có thể hợp nhất lực lượng. Đứng trước sự bất lực của bọn này, Trương Phát Khuê đành phải tìm kiếm người khác.


Khi nào và làm thế nào mà Hồ Chí Minh biết cách cho viên chúa ngục của mình hiểu rằng mình có thể là người có thể tập hợp lực lượng? Chúng tôi không được biết rõ. Chúng tôi chỉ biết rằng, Trương Phát Khuê chấp nhận Hồ Chí Minh. Tại sao? Phải chăng, như nhiều nhà sử học đã viết, Trương Phát Khuê không biết rằng dưới cái tên Hồ Chí Minh chính là người cộng sản Nguyễn Ái Quốc? Có lẽ thế, bởi vì lúc đó ít người biết đến cái tên mới mẻ này của Nguyễn Ái Quõc. Nhưng điều đó cũng khó tin. Trương Phát Khuê có nhiều phương tiện để điều tra và riêng việc Trương Phát Khuê để cho Hồ Chí Minh được hưởng quy chế tù chính trị cũng chứng tỏ, ít nhất viên tướng này cũng đã hiểu mình dựa vào nhân vật như thế nào. Điều đáng tin hơn là Hồ Chí Minh đã tự mình chứng tỏ cho Trương Phát Khuê biết rằng hồi đó không có ai ở Trung Quốc hoặc ở Đông Dương được biết Hồ Chí Minh là ai, và quá khứ đấu tranh cho chủ nghĩa cộng sản của ông không làm cho những người theo chủ nghĩa dân tộc trong số người Việt Nam ở Trung Quốc đang cần tập hợp lại sợ hãi.


Những điều kiện đích thực của cuộc mặc cả này đã diễn ra như thẽ nào? Điều này chỉ có riêng Hồ Chí Minh mới có thể tiết lộ. Những người khác cũng có thể tiết lộ ít hơn, đó là Trương Phát Khuê và viên thiếu tướng phó điều hành của ông ta là Tiêu Văn thì đã "cuốn gói" cả rồi.


Được trả lại tự do, nhưng vẫn còn phải giữ lại trên đất Trung Quốc, bị tước hết mọi quyền hành và cắt đứt mọi nguồn tài chính, Hồ Chí Minh chỉ còn một cách là dựa vào những đồng chí của mình và hợp nhất các phong trào dân tộc chủ nghĩa không chỉ phục vụ cho lợi ích của Quốc dân đảng Trung Quốc mà là nhằm phục vụ cho những mục tiêu của chính ông.


Đã phải trải qua một thời kỳ dài xung đột chính trị, bởi vì những người liên minh với Hồ Chí Minh không ngây thơ đến nỗi không hiểu biết trò chơi của người cộng sự với họ. Để trấn an những phong trào này đồng thời cũng nhằm định ra những mục tiêu chung, tháng 3 năm 1944 Trương Phát Khuê đã triệu tập một đại hội các phong trào dân tộc chủ nghĩa Việt Nam thuộc các khuynh hướng khác nhau tại Liễu Châu. Một chính phủ lâm thời được thành lập (Không phải "chính phủ lâm thời" mà là mặt trận liên hiệp các đảng phái - ND) trong đó Hồ Chí Minh chỉ được một ghế, nhưng ông vẫn chấp nhận, bởi vì ông nghĩ phải nén lòng theo thời thế, nhằm tránh cho các đối thủ viện cớ loại trừ ông.


Như thói quen thường có, Hồ Chí Minh tránh những cuộc tranh cãi về lý thuyết làm mất thời giờ, tránh những cuộc cãi vã làm chia rẽ đội ngũ, ông tiếp tục không ngừng hành dộng. Các đồng chí và học trò của ông tích cực làm việc bên cạnh ông, tăng cường mở rộng uy tín trong dân chúng trên lãnh thổ Việt Nam.


Từ thời điểm đó trở đi, tình thế cách mạng ngày càng phát triển. Hồ Chí Minh từng ngày nhìn thấy rõ mục tiêu mà ông theo đuổi suốt cả cuộc đời. Ông tìm cách tiếp xúc với Mỹ là nước đã bắt đầu bước vào chiến tranh chống Nhật từ năm 1942. Sau khi trở về nước, ông lại đi Côn Minh và đã nhận được từ Ban tham mưu Quân đội Mỹ sự giúp đỡ về vũ khí và các huấn luyện viên quân sự để cùng chiến đấu chõng Nhật Bản, đã trở thành kẻ thù chung.


Sau khi trở về nước lần này, Hồ Chí Minh theo sát phong trào, đặt sở chỉ huy ở tỉnh Thái Nguyên1 (Không phải Thái Nguyên mà là Tuyên Quang - ND). Tất cả hoạt động này không hoàn toàn che giấu được Pháp và họ đã đưa quân đội tới càn quét vùng Thượng du, nơi nghi ngờ có lực lượng kháng chiến.


Ba ngày trước khi tiến hành càn quét, tức ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật Bản dùng vũ lực lật đổ chính quyền của đô đốc Decoux. Cuộc đàn áp phong trào cách mạng sụp đổ cùng với toàn bộ nền cai trị của Pháp. Công cuộc khai hóa thuộc địa mà nước Pháp tiến hành từ tám mươi năm trước, chìm nghỉm như con tàu bị đắm.


Ở Việt Nam lúc này chỉ còn có chính quyền Bảo Đại. Lợi dụng tình thế vừa xảy ra, ngày 11 tháng 3 (tức hai ngày sau khi Nhật Bản làm đảo chính), Hoàng đế Bảo Đại hủy bỏ toàn bộ các hiệp ước đã ký với nước Pháp và tuyên bố Việt Nam độc lập. Nhưng đó là một nền độc lập do Nhật Bản làm chủ và bị cột chặt vào Nhật Bản bằng một thứ "chủ nghĩa hợp tác" tàn tụy nhất. Hơn nữa, chính quyền Bảo Đại chỉ có hiệu lực trong các thành phố lớn và còn phải đối phó với những khó khăn về kinh tế hầu như không thể nào giải quyết nổi. Nạn đói khủng khiếp cuối 1944 đầu năm 1945 làm dân chúng phẫn khích càng đi theo Việt Minh vì cán bộ Việt Minh chủ trương phá kho thóc phát cho người đói.


Chính quyền Pháp thật sự không tồn tại nữa. Đó là một thực tế. Nhưng vẫn có những người Pháp, hoặc đơn độc, hoặc tụ tập thành từng nhóm nhỏ cố chống lại Nhật Bản, hoặc là những người ở khu vực biên giới Trung Quốc tiếp giáp với Bắc Kỳ (trong đó có tôi) đang chờ thời cơ giành lại chính quyền.
   Và bây giờ Hồ Chí Minh đang đến gần những người Pháp này. Nhận thức chính trị của ông vạch rõ, hiện nay chủ nghĩa phát xít Nhật Bản là mục tiêu duy nhất, cần phải tập trung những đòn tiến công của Việt Minh phối hợp đồng thời với các nước Đồng minh Anh, Mỹ, Trung Hoa và cả Pháp, những nạn nhân cuổì cùng của bọn quân phiệt Nhật Bản.
   Chính vì vậy từ mùa xuân 1945 Hồ Chí Minh đã tìm kiếm sự hợp tác và phối hợp với những nhóm người Pháp đang công khai chống kẻ thù Nhật Bản. Tháng 7 năm 1945 ông đã gửi đến tôi một thông điệp 5 điểm, nhằm tạo cơ sở cho một sự chung sống Pháp - Việt trong tương lai. Ông cũng đã tìm gặp tôi.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 07 Tháng Giêng, 2022, 08:12:10 am
VI
NHỮNG CUỘC TIẾP XÚC ĐẦU TIÊN


Tháng 4 năm 1944, nhân một bước liên lạc với Luân Đôn trước khi tiến hành cuộc đổ bộ của Đồng minh lên bờ biển nước Pháp, tôi có nói chuyện với đại tá Passy và phó của ông là Manuel trong ban giám đốc sở Nghiên cứu và tìm hiểu, gọi tắt là DGER, tức cơ quan chỉ huy các hoạt động mật thám, tình báo và hoạt động phá hoại của nước Pháp tự do đang kháng chiến chống Đức.


Được biết tôi rất hiểu rõ tình hình Đông Dương và đang có nhiệm vụ liên quan đến Đông Dương, Passy đã hỏi tôi, sau khi nước Pháp được giải phóng, liệu tôi có đồng ý chấp nhận được trao một nhiệm vụ tương tự như tôi đã tiến hành trong vùng lãnh thổ hải ngoại của nước Pháp bị chiếm đóng không (tức là chỉ huy các mạng lưới tình báo chống Nhật ở Đông Dương). Tôi hoàn toàn chấp nhận và sau đó tôi đã trở về Pháp để củng cố lại mạng lưới tình báo vừa mới bị Hiến binh Đức hủy hoại trong cuộc vây bắt cuối cùng. Việc củng cố lại mạng lưới tình báo trên đất Pháp, việc quân Đồng minh đổ bộ lên đất Pháp, rồi việc tôi bị mật thám Đức bắt giữ ngay trước khi quân Đồng minh đổ bộ, việc tôi vượt ngục, việc thủ đô Paris được giải phóng, tất cả sự việc đó hầu như đã làm tôi lãng quên những dự định sẽ tiến hành tại Đông Dương sau cuộc nói chuyện với Passy ở Luân Đôn hồi tháng 4 năm 1944.


Mãi gần một năm sau, tức sau vụ đảo chính của Nhật Bản ở Đông Dương hồi tháng 3 năm 1945, khi tôi được gọi về Paris, những dự án công tác tại Đông Đương mới lại được nhắc tới. Tôi xung phong tình nguyện lên đường công tác ngay.


Nhật Bản đã làm tan rã lực lượng của Pháp ở Đông Dương, nội dung công tác trước kia định giao cho tôi không còn lý do bám giữ nữa. Vì vậy, theo sự ủy nhiệm của đại tá Passy, tôi không phải bí mật nhảy dù xuống Đông Dương bắt liên lạc với lực lượng kháng Nhật, mà là chỉ huy cơ quan, tình báo có tên mật là Phái đoàn quân sự số 5, đặt trụ sở tại Côn Minh, một thành phố thuộc tỉnh Vân Nam ở miền Nam Trung Quốc.


Ban tham mưu Phái đoàn 5 cố tìm mọi cách để có thể thu lượm được tát cả các tin tức tình báo có thể thu được về tình hình Đông Dương, chủ yếu là tình hình Bắc Kỳ, Bắc Trung Kỳ và Lào. Để làm được việc này phải bố trí dọc theo tuyến biên giới Trung Quốc giáp Bắc Kỳ một số đội biệt kích thám báo trang bị nhẹ, gồm những người đã hiểu biết sâu tình hình địa phương và các dân tộc sống trong vùng đó. Những đội công tác này sẽ thu thập các tin tức tình báo nhằm phục vụ cho cuộc tiến công mà quân đội Đồng minh đang chuẩn bị tiến hành chống Nhật. Đối với những người Pháp chúng tôi, việc thu lượm những tin tình báo này phải dựa vào dân chúng Việt Nam có cảm tình và thái độ của các phong trào dân tộc chủ nghĩa đối với chúng tôi. Những việc này tôi đã nói kỹ trong tập sách đầu, nhan đề: "Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ" xuất bản năm 1967.


Có cần thiết để nhắc lại rằng, chúng tôi đặc biệt chú ý đến một tổ chức mà các bạn Đồng minh Mỹ của chúng tôi gọi một cách thiện cảm là Mặt trận Việt Minh? Chính nhờ có Mỹ làm trung gian nên cuối tháng 7 năm 1945 tôi đã nhận được thông điệp Việt Minh gửi Chính phủ lâm thời Cộng hòa Pháp, gồm 5 điều yêu sách (Tóm tắt là: Tổ chức phổ thông bỏ phiếu để bầu ra một quốc hội trong khi chờ đợi được độc lập; trao độc lập cho Việt Nam trong thời hạn sớm nhất là 5 năm, lâu nhất là 10 năm; trao trả lại các tài nguyên cho người Việt Nam, có đền bù, bồi thường đối với chủ cũ là người Pháp; trao cho người dân Đông Dương tất cả các quyền tự do mà Liên hợp quốc đã ban bố; nghiêm cấm buôn bán thuốc phiện).


Rõ ràng đây là sáng kiến đầu tiên của Hồ Chí Minh nhằm giảm bớt sự nghi kỵ của chúng tôi đối với ông, cũng như đối với phong trào mà ông là người tổ chức và chỉ đạo. Cũng nhân dịp này, những người Mỹ đang ở gần Hồ Chi Minh cho biết, ông Hồ muốn gặp tôi. Có thể lúc này, vị Chủ tịch tương lai của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã biết hồi cuối tháng 7 năm 1945 tôi có tiếp xúc với Nguyễn Tường Tam, một trong những thủ lãnh của Việt Nam Quốc dân đảng, là một đảng dân tộc chủ nghĩa cực đoan. Có thể lúc đó Hồ Chí Minh nghĩ rằng Nguyễn Tường Tam không chỉ hài lòng về sự ủng hộ của Quốc dân đảng Trung Quốc mà còn muốn gặp tôi để cầu cạnh "nước Pháp mới".


Những người Việt Nam theo chủ nghĩa dân tộc lúc đó cũng chưa nhìn rõ lắm những tình cảm của "nước Pháp mới" đối với thuộc địa to lớn của Pháp ở châu Á này. Bản tuyên bố ngày 24 tháng 3 năm 1945 của tướng De Gaulle đã đề xuất ý tưởng thành lập một Liên bang Đông Dương gồm 5 Nhà nước tự trị là Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Lào, Campuchia, không làm cho những nhà lãnh đạo của Việt Nam thích thú vì nó lùi xa so với nền độc lập mà Việt Nam đã đạt được sau khi Nhật Bản tiến hành đảo chính. Hơn nữa, nó còn duy trì và củng cố sự chia cắt ba "kỳ" thuộc nước Việt Nam là vương quốc An-nam cũ mà tất cả những người theo chủ nghĩa dân tộc đều muốn thống nhất.


Tôi đã nói với Nguyễn Tường Tam là, nếu chúng tôi không thể thỏa thuận được về những nhượng bộ, có thể buộc chúng tôi phải sử dụng vũ lực, thì ngược lại, chúng tôi vẫn trung thành với bản Tuyên bố Brazzaville và sẵn sàng nghiên cứu với ngươi Đông Dương những thay đổi có thể sửa được theo diễn biến tình hình, cũng như theo sự trưởng thành của những người dân được bảo hộ.


Đối với Hồ Chí Minh, phản ứng đầu tiên sau khi tôi nhận được thư là nhận lời ngay đến gặp ông hoặc ở Côn Minh là nơi ông có thể sẵn sàng tới, hoặc ở Cao Bằng là nơi tôi sẽ đến đó. Nhưng mãi đến ngày 15 tháng 10 năm 1945 tôi mới được gặp Hồ Chí Minh lần đầu, rất chậm và cũng có thể nói là quá chậm. Những trận mưa lũ kéo dài ở Việt Nam và vùng Thượng du Bắc Kỳ đã ngăn cản việc thực hiện dự án gặp gỡ.


Ngày 6 và 9 tháng 8 năm 1945, hai quả bom nguyên tử Mỹ hủy diệt thành phố Hiroshima và Nagasaki đã tạo thời cơ nhảy vọt không được để mất thời gian. Ngay từ ngày 10, Hồ Chí Minh sau khi đã chuyển các lực lượng du kích thành Giải phóng quân lập tức ra lệnh Tổng khởi nghĩa và ngày 13 thành lập Ủy ban dân tộc giải phóng. Tại Trung Kỳ và Nam Kỳ cũng như tại Bắc Kỳ, các uỷ ban Việt Minh sôi nổi hoạt động nhằm kiểm soát các thành phố và vùng nông thôn.


Ngày 14 tháng 8, Nhật Bản đề nghị ngừng bắn. Ngày 16, hai mươi ngàn người Việt Nam biểu tình tràn ngập quảng trường Nhà hát lớn. Lần đầu tiên, cờ đỏ có ngôi sao vàng ở giữa đồng loạt xuất hiện công khai tại thủ đô, sau đó trở thành Quốc kỳ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.


Ngày 17 và 18, những cuộc biểu tình vẫn tiếp tục, buộc Khâm sai Phan Kế Toại phải trao chính quyền cho Ủy ban cách mạng Hà Nội. Ngày 20 toàn bộ xứ Bắc Kỳ nằm trong tay Việt Minh. Ngày 21, Hoàng đẽ Bảo Đại thoái vị, trở thành công dân Vĩnh Thụy. Nền Cộng hòa dân chủ của Việt Nam được công bố. Hà Nội được chọn làm thủ đô, thay cho cố đô Huế.


Trong khi đó, tôi nhận được điện từ Paris gửi tới Côn Minh: "Chính phủ lâm thời Cộng hòa Pháp vừa nhận được tin Nhật Bản đầu hàng. Hãy hoạt động gấp trong thời hạn nhanh nhất".

Từ ngày 9 tháng 8 tôi đã quyết định trở về Hà Nội, nhưng sau nhiều lần bị trì hoãn, mãi tối ngày 22 mới đi được. Tôi và vài cộng sự viên phải khó nhọc lắm mới mượn được một chiếc máy bay Mỹ, cùng ngồi trong máy bay dưới sự canh gác của một nhóm người Mỹ đứng đầu là Patti.


Chuyện xảy ra trong những tuần tiếp theo tôi đã kể. Mãi tới ngày 27 tháng 8 tôi mới có được cuộc tiếp xúc đầu tiên với hai thành viên Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Võ Nguyên Giáp và Dương Đức Kiền. Tôi có ấn tượng ông Giáp là một người cực kỳ thông minh, cứng rắn và ôn hòa.


Ngày 2 tháng 9 Hồ Chí Minh xuất hiện công khai tại thủ đô trong ngày lễ Độc lập. Nhiều người dân Việt Nam phát hiện được, lãnh tụ của mình chính là nhà cách mang nổi tiếng Nguyễn Ái Quốc.

Ngày 7 tháng 9, tôi được tin sư đoàn thiết giáp số 2 do Leclerc chỉ huy được cử sang Đông Dương. Ngày 8, tôi có cuộc tiếp xúc đầu tiên với Cao ủy Pháp là đô đốc d'Argenlieu qua bức điện ông gửi cho tôi từ Chandernagor là nơi ông tạm đặt trụ sở làm việc trong thời gian chờ đợi đên Sài Gòn. Ngày 9 tháng 9 những đơn vị đầu tiên của đội quân Lư Hán tiến vào Hà Nội.


Cuối tháng 9 tôi đi Chandernagor báo cáo tình hình với đô đốc Thierry d'Argenlieu. Sau khi trình bày những diễn biến phức tạp và nghiêm trọng ở xứ Bắc Kỳ, tôi đề nghị xin từ chức để ông cử một đại diện chính thức của nước Pháp tới thay thế. Nhưng đô đốc không đồng ý. Ông chỉ thị cho tôi cứ tiếp tục công việc dù chưa được chỉ định chính thức và cứ quay trở lại Hà Nội với các quyền hành ông trao cho tôi. Tôi đành lại đi Hà Nội với chức vụ uỷ viên cộng hòa Pháp ở Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ. Cao ủy còn trao cho tôi vài cộng sự viên mới, một số dụng cụ và thuốc men cần thiết.


Trong thời gian tôi vắng mặt tại Hà Nội, tướng Allessandri là đại diện quân sự Pháp tại Bắc Đông Dương và cố vấn chính trị của ông là Léon Pignon đã tiếp xúc với Hồ Chí Minh. Trong bức điện gửi đi Chandernagor, cả hai nước đều nhận định Hồ Chí Minh là nhân vật "hùng mạnh và được kính nể".


Sau khi trở lại Hà Nội, tôi có một số cuộc tiếp xúc với một số nhà lãnh đạo Việt Nam, chủ yếu là Nguyễn Hải Thần, thủ lĩnh Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội mà chúng tôi đã có dịp gặp tại Quảng Tây năm 1943, trong khi ông ta đang tranh chấp với Hồ Chí Minh. Những cuộc dàn xếp giữa Nguyễn Hải Thần với Hồ Chí Minh hồi đó đã thất bại. Ngoài ra, Việt Nam Quốc dân đảng là một đảng dân tộc chủ nghĩa khác, có khả năng kình địch với Việt Minh, lại đã có thời liên minh lỏng lẻo với Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội. Còn Hoàng đế Bảo Đại thì luôn lảng tránh những đề nghị tiếp xúc của tôi.


Tất cả chỉ còn lại có Hồ Chí Minh là người tôi phải gặp, là người tôi phải đối thoại.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 07 Tháng Giêng, 2022, 08:13:13 am
VII
ĐỐI THOẠI VỚI HỒ CHÍ MINH


Ngay trong cuộc gặp đầu tiên vào ngày 15 tháng 10 năm 1945, tôi đã có ấn tượng giống như tướng Allessandri và Léon Pignon, tin chắc Hồ Chí Minh là nhân vật hàng đầu của Việt Nam và chẳng bao lâu nữa sẽ nổi bật trên vũ đài chính trị châu Á.


Mới thoạt nhìn, ông không có vẻ gì đặc biệt. Đó là một người tầm thước, có thể nói là nhỏ bé, gầy gò, mảnh dẻ. Tóc ông hồi đó chưa bạc trắng như một số người mô tả, mà hãy còn khá đen nhạt, cũng như bộ râu cằm nhà Nho, cùng với vầng trán cao rộng làm cho ông có vẻ giống như một trong những nhà trí thức An-nam mà ta thường gặp tại Quartier Latin, hơn là một nhà chỉ huy quân sự hoặc nhà lãnh đạo một chính đảng. Điều gây ấn tượng nhất chính là cặp mắt sáng ngời, sắc sảo, linh hoạt, rực cháy một ngọn lửa khác thường. Tất cả nghị lực hình như đều tập trung trong cái nhìn của ông. Ông thường mặc một bộ đồng phục bằng vải kaki màu sáng, thường gọi là bộ "đại cán", nhưng không ủi, và ít khi ông cài khuy cổ. Chân ông thường đi đôi giầy vải Vân Nam hoặc dép thuộc loại "dân nghèo". Rõ ràng, ông không quan tâm đến trang phục bên ngoài.


Chúng tôi cùng thỏa thuận với nhau những cuộc nói chuyện sẽ được giữ kín, không để cho dân chúng Việt Nam hoặc dân chúng Pháp biết, sợ họ bị kích động. Chỉ đến tối khuya tôi mới từ trụ sở đặt tại một nhánh thuộc Ngân hàng Đông Dương, đi tới một biệt thự (thường là một ngôi nhà nhỏ trong phố Paul Bert) là nơi ông chờ tôi, chứ không phải là nơi ông ở vì có thể ông không ở một nơi nào cố định mà thường thay đổi chỗ thường xuyên, ông thường đi với Hoàng Minh Giám sau đó là Bộ trưởng Bộ Văn hóa. Tôi cũng thường có Léon Pignon đi theo.


Những cuộc nói chuyện này kéo dài suốt sáu tháng. Vấn đề đưa ra tranh luận chủ yếu và tế nhị: đó là việc Hồ Chí Minh chấp nhận để quân đội Pháp quay trở lại Bắc Kỳ làm nhiệm vụ thay thế quân đội Trung Quốc. Và quả thật, hi vọng thiết lập lại chủ quyền Pháp dưới một hình thức nào đó tại Đông Dương cũng không đạt được nếu chúng tôi không trở lại đứng chân tại Hà Nội, thủ đô hành chính và tinh thần của Liên bang Đông Dương, trung tâm thần kinh của bán đảo sôi động này. Nhưng, vấn đề không phải là đổ bộ bằng vũ lực, giống và đơn giản như kiểu đổ bộ đánh chiếm thuộc địa ngày xưa. Nếu làm như vậy, các đơn vị quân Pháp sẽ vấp phải, không chỉ sự thù địch của các tổ chức dân tộc chủ nghĩa người Việt Nam đã có thời gian chuẩn bị để tiến hành một cuộc chiến tranh du kích, mà cả hai trăm ngàn binh lính Trung Quốc đã ập vào Bắc Kỳ với ý đồ bám giữ càng lâu càng tốt. Ngoài hai lực lượng đối địch này còn phải tính thêm ba mươi nghìn quân Nhật Bản trên danh nghĩa là tù binh, nhưng việc giải giáp đang tiến hành rất chậm, rất đáng lo ngại. Cuối cùng còn dẫn đến nguy cơ một cuộc tổng nổi dậy biến vùng Đồng bằng Bắc Kỳ và miền Bắc Trung Kỳ thành một lò lửa đe dọa tính mạng ba mươi nghìn người Pháp đang sống ở đó.


Nước Pháp, sau bốn năm chiến tranh và thiếu thốn, có ý định và các phương tiện lao vào một cuộc phiêu lưu như vậy không? Chắc chắn là không. Chuyến về Paris công tác hồi tháng 7 của tôi đã khẳng định điều đó.


Còn Hồ Chí Minh, vì lý do gì ông cũng muốn thương lượng trái với ý kiến của những phần tử "cực đoan". Theo tôi, trước hết, đó là lý do chính trị. Hồ Chí Minh nhất định là một nhà lãnh đạo mạnh nhất rồi, nhưng ông vẫn còn có hai đối thủ là Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội và Quốc dân đảng được Quốc dân đảng Trung Quốc ủng hộ. Hai đảng phái này thường công khai thể hiện sự chống đối, thậm chí tại các tỉnh biên giới còn đôi khi đi tới xung đột vũ trang. Tướng Tiêu Văn, mà chúng tôi đã gặp ở Quảng Tày năm 1942 là người chưa chút nào để mất hi vọng lôi kéo xứ Bắc Kỳ là nơi có hai trăm bốn mươi ngàn người Hoa sinh sống, vào quỹ đạo Trung Hoa. Tiêu Văn đã đến Hà Nội trong hàng ngũ đạo quân Vân Nam của Lư Hán và đang tìm mọi cách để thực hiện các mưu đồ của mình.


Trong tình hình đó, tôi nghĩ rằng nhất định Hồ Chí Minh không thể loại trừ mối đe dọa này nếu không dựa vào Pháp.

Hơn nữa, tôi cho rằng Hồ Chí Minh cũng rất hiểu, muốn xây dựng một Việt Nam theo hình ảnh những khát vọng của mình, hoặc chỉ muốn xây dựng đất nước một cách đơn giản, ông vẫn phải tìm kiếm sự hỗ trợ của một cường quốc. Cường quốc này không phải là Trung Quốc vì Quốc dân đảng cầm quyền đang nâng đỡ các đối thủ của ông. Trung Quốc hồi đó chưa phải là cộng sản, Mao Trạch Đông đang gặp nhiều trở ngại, đang ở tít miền Bắc Trung Quốc, không thể làm gì được cho Hồ Chí Minh. Còn Nga thì sao? Nước Nga hồi đó, từng bị Đức chiếm đóng, đang có nhiều vấn đề giải quyết sau chiến tranh vì đang phải hướng nỗ lực về Đông Âu.


Chỉ còn có Pháp là nơi tất cả giới tri thức Việt Nam hồi đó đều thông thạo ngôn ngữ, văn hóa, việc hợp tác sẽ dễ dàng thuận lợi hơn nhiều. Pháp cũng là nước Hồ Chí Minh có nhiều gắn bó. Năm 1945 Pháp không còn là một nước bại trận nữa - ít nhất cũng trong phạm vi châu Âu. Cuối cùng, nước Pháp hồi đó đang là nơi Đảng Cộng sản thu được nhiều thắng lợi, chiếm được nhiều ghế trong Quốc hội và cả một số ghế trong chính quyền.


Như chúng tôi đã nói nhiều lần, Hồ Chí Minh còn là một người thực tế. Chính sách "giành thắng lợi theo từng bậc thang liên tiếp" như trong thông điệp 5 điểm gửi tới Côn Minh hồi tháng 7 năm 1945 là biện pháp tốt nhất để đòi độc lập cho đất nước. Tại sao lại không tiết kiệm xương máu cho một cuộc chiến tranh, nếu có thể được?


Nhưng không phải chỉ có lý do chính trị. Đây còn có những tinh tế trong tâm hồn châu Á, một sự hài lòng trong con người từng luôn luôn chiến đấu chống Pháp trong vòng bí mật nay đàng hoàng đàm phán ngang hàng với những đại diện của cường quốc đã cai trị đất nước ông. Tôi nghĩ, con người, suốt cuộc đòi đấu tranh chống "chủ nghĩa đế quốc" Pháp này rất có thể có một niềm tự hào nào đó được góp phần vào việc làm cho Việt Nam trở thành viên đá tảng đầu tiên xây dựng khối Liên hiệp Pháp.


Liệu Hồ Chí Minh có nghĩ rằng trong khi áp dụng biện pháp thương lượng, sẽ tạo điều kiện thuận lợi để phi thực dân hóa các thuộc địa khác của Pháp ở châu Á và châu Phi, như Jean Lacouture đã viết không? Rất có thể. Từ thuở xa xưa, khi còn là một thanh niên, Hồ Chí Minh đã từng tranh đấu tại Paris cho việc giải phóng "các dân tộc bị áp bức" và ông luôn đặt vấn đề thuộc địa trong tổng thể cuộc đấu tranh của mình.


Nhất định là hồi đó, Hồ Chí Minh tìm cách thuyết phục chúng tôi là ông ghê tởm, không muốn sử dụng các biện pháp bạo lực.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 07 Tháng Giêng, 2022, 08:13:45 am
Để đạt được mục đích của mình, Hồ Chí Minh đã khôn ngoan tỏ ra đòi hỏi ít hơn một số đối thủ của ông. Trong khi những người này đòi hỏi phải đạt được độc lập hoàn toàn và ngay lập tức, coi đó như điều kiện tiên quyết cho mọi cuộc thương lượng, thì Hồ Chí Minh lại làm cho mọi người hiểu rằng không thể có được tất cả trong cùng một lúc, và chỉ nên đòi hỏi một nền độc lập tương đối, dựa trên sự tin tưởng trong lời cam kết của Pháp là sẽ trao độc lập hoàn toàn cho Việt Nam trong một thời gian nhất định. Hồ Chí Minh đã chờ đợi điều này suốt ba mươi nhăm năm. Ông có thể chờ thêm vài năm nữa. Nhẫn nại là đức tính của người châu Á.


Nhưng không phải vì thế mà những cuộc nói chuyện giữa chúng tôi đã diễn ra dễ dàng. Hồ Chí Minh tranh luận từng câu một, từng chữ một, trong các bản dự thảo hiệp định. Ông hút rất nhiều, đủ các loại thuốc lá Trung Quốc, Mỹ và cả thuốc lá loại nặng nhãn hiệu Gauloises của Pháp. Léon Pignon còn hút nhiều hơn. Tôi cũng hút nhiều bằng thuốc lá rời đặt trong tẩu. Những cuộc thảo luận của chúng tôi đã kéo dài mãi tới đêm khuya trong bầu không khí sặc khói thuốc. Mặc dù cả hai bên đều thông thạo tiếng Pháp, tôi vẫn có cảm giác như không cùng chung tiếng nói. Rất nhiều lần, sau khi kết thúc một buổi họp, các cộng sự viên và tôi đều cảm thấy thất vọng, cho rằng không bao giờ có thể đi tới thỏa thuận được.


Sẽ nhàm chán nếu kể lại những chi tiết trong những cuộc đàm phán hầu như kéo dài vô tận mà chúng tôi đã tiến hành với Hồ Chí Minh và các cố vấn của ông trước khi đạt được kết quả. Vấn đề chúng tôi phải tranh luận nhiều nhất là nội dung danh từ "độc lập". (Tôi còn nhớ, hồi đó tướng Leclerc đang tạm quyền chức vụ Cao uỷ ở Sài Gòn thay d'Argenlieu về Pháp công tác. Sau khi tôi báo cáo với Leclerc về tình hình cuộc đàm phán, ông đã điện ngay về Paris, đề nghị Chính phủ không nên ngần ngại, cứ tuyên bố từ ngữ "độc lập" cho Việt Nam).


Quy chế tương lai của Nam Kỳ cũng là một điểm tranh cãi mãi. Hồ Chí Minh muốn Nam Kỳ phải chính thức sáp nhập vào Nhà nước Việt Nam (theo quan điểm nổi tiếng: Thống nhất ba kỳ). Ngược lại, chúng tôi lại đặt hi vọng sẽ tổ chức trưng cầu ý dân để dân chúng Nam Kỳ được tự do bày tỏ nguyện vọng của mình.


Những cuộc tranh cãi này đôi khi đã dẫn đến việc ngừng họp kéo dài nhiều tuần, cho tới khi có một sự trung gian thiện chí làm hai bên trở lại gặp nhau. Vai trò này thường do Louis Caput nắm giữ. Ông là một đảng viên thuộc nhóm Xã hội Pháp ở Đông Dương, đã làm công tác giảng dạy lâu năm, được Hồ Chí Minh rất tín nhiệm vì đã ủng hộ một số khát vọng của Hồ Chí Minh.


Trước lúc ký Hiệp định Sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946, công thức "Nhà nước tự do trong Liên bang Đông Dương và khối Liên hiệp Pháp" đã được hai bên chấp nhận.

Nhưng vẫn còn vấn đề tranh cãi là địa điểm hội nghị tiếp theo. Đô đốc Thierry d'Argenlieu muốn họp trên lãnh thổ Đông Dương, là nơi tất cả các chuyên viên đang có mặt, cho nên đề nghị lấy Đà Lạt làm nơi tiến hành hội nghị. Hồ Chi Minh muốn họp tại Paris không chỉ vì lý do uy tín; ông muốn dân chúng Pháp được chứng kiến và một mặt nào đó là đảm bảo cho Hiệp định vừa ký kết. Họp ở Đà Lạt với đô đốc Cao ủy chẳng khác gì trước đây đã ký kết những hiệp ước bảo hộ với các đô đốc - thống đốc của Pháp. Ngược lại được tiếp đón ở Paris và hội đàm trực tiếp với Chính phủ Pháp, tức được công nhận là một nguyên thủ quốc gia của một nhà nước độc lập. Tướng Leclerc và tôi cùng ngả theo hướng Paris vì nhiều lý do khác nhau, mà lý do chính là nhằm tách Hồ Chí Minh khỏi sức ép của những người chung quanh và khỏi ảnh hưởng của Quốc dân đảng Trung Quốc. Nhưng chúng tôi cũng muốn cả hai bên đều được tách khỏi bầu không khí nóng bỏng và "thực dân" của những sự luyến tiếc quá khứ đang bao trùm xứ Bắc Kỳ.


Có thể nói, đây là một thử nghiệm đầu tiên về phi thực dân hóa một cách hòa bình. Hồi đó, cụm từ "phi thực dân hóa" hãy còn chưa thông dụng. Đó là điều đáng tiếc, và việc ý định này vấp phải phản ứng mãnh liệt của nhiều giới vì nhiều lý do hoặc cao cả, hoặc thiếu trong sáng, cũng là lẽ dĩ nhiên.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 07 Tháng Giêng, 2022, 08:15:01 am
VIII
ĐI PHÁP


Sau khi đã quyết định là cuộc họp sẽ tổ chức nếu không ở Paris thì ít nhất cũng ở Fontainebleau, Hồ Chí Minh có vẻ hài lòng một cách chính đáng nhưng cùng lúc đó, có lẽ ông cũng chưa lường trước được tất cả những gì sẽ xảy ra.


Nhiều đồng chí của ông nghĩ rằng chuyến đi Pháp này là một sự nguy hiểm trầm trọng. Nguy cơ bị rơi vào một cái bẫy ám ảnh nhiều người. Sau này, một số người cùng đi với Hồ Chí Minh bộc lộ với tôi, đã có lúc họ nghĩ rằng sẽ bị bắt giữ, nhất là khi hội nghị đi đến chỗ thất bại (những rủi ro ập đến với vua Maroc và với Ben Bell trong những cuộc hòa đàm với Pháp sau này khẳng định sự lo ngại của họ là đúng đắn).


Hồ Chí Minh, dù giữ vị trí cao nhất trong chuyến đi tới Pháp có thể tự hỏi liệu có bị rơi vào miệng chó sói hay không. Tôi nghĩ rằng, tại Hà Nội, chúng tôi là những người đối thoại Pháp đã gây cho ông một niềm tin đủ để làm tắt mọi nghi ngờ. Nhưng các nhà cầm quyền ở Mẫu quốc liệu có cho ông niềm tin đó không?


Tôi tự hỏi, liệu nước Pháp đã có bao giờ đánh giá đúng phẩm chất trung thực của Hồ Chí Minh trong việc nhận lời đi tới một nước hồi đó hãy còn là cường quốc bảo hộ, một cường quốc mà ông đã đánh đuổi trong gần ba mươi năm vì đã bị kết án tử hình.


Chắc hẳn, Hồ Chí Minh nghĩ rằng ông sẽ tìm thấy những người bạn ở Pháp. Như tôi đã viết ở phần trên, cánh cực tả ở Pháp sau khi chiến tranh kết thúc đã nắm giữ được một số ghế trong chính quyền. Trên thực tế, Chính phủ của George Bidault là người tiếp đón Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, gồm một bộ phận quan trọng là cộng sản. Có tới bẩy đảng viên cộng sản là bộ trưởng, bên cạnh đó còn có sáu đảng viên Đảng Xã hội.


Nhưng Hồ Chí Minh cũng hiểu rằng, tại chính quốc cũng như tại Đông Dương vẫn còn một số nhân vật không chấp nhận chính sách tìm kiếm một Tạm ước mới, với những người trước kia là dân bảo hộ, nổi lên chống lại chính quyền Pháp. Ông hiểu rằng, những nhân vật cổ hủ này, nếu không chiếm đa số, vẫn có thể tác động đến diễn biến tình hình. Họ vẫn có thể chờ cơ hội rất dễ xảy ra, để kích thích quân đội Pháp, tạm thời chiếm ưu thế về sức mạnh, nếu không phải là số lượng, lập lại nguyên trạng bằng vũ lực, như ý muốn của họ.


Về những vấn đề liên quan đến sự đón tiếp và kết quả của những cuộc đàm phán ở Pháp đối với Hồ Chí Minh cũng có thể là một chủ để đáng lo ngại.


Tôi nghĩ, hẳn là vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hỏa không thể quên được kỷ niệm ngày 7 tháng 3 hãy còn gần gũi. Ngày hôm đó, đứng trên bao lơn Nhà hát lớn Hà Nội, ông đã khéo léo giải thích cho dân chúng hiểu những lý do dẫn ông đi tới thỏa thuận với nước Pháp. Ông hiểu rằng, lúc này những kẻ thù của ông đang lợi dụng việc ông đi vắng vì những lý do rất dễ hiểu. Ông cũng biết, và đây cũng là vấn đề không kém quan trọng, là đội quân của Lư Hán đang bực tức vì Hiệp định Sơ bộ Pháp - Việt làm sụp đổ những tham vọng cố hữu cảa họ đối với Bắc Kỳ, nhất định sẽ lợi dụng ông vắng mặt để đảo lộn tình hình, có lợi cho các đảng phái đối lập do Trung Quốc giật dây.


Vì tất cả những lý do đó, trước khi lên đường Hồ Chí Minh đã căn dặn những người thay ông ở lại phía sau, cần "sẵn sàng đôi phó với mọi tình huống".

Từ tháng 4 năm 1946, trước khi Hồ Chí Minh lên đường, tôi đã đi Paris để chuẩn bị cuộc đón tiếp, đồng thời cũng để giải thích với công luận và với chính phủ về ý nghĩa và tầm quan trọng của cuộc hội đàm đã được ấn định, làm cho mọi người lường trước chúng tôi sẽ bị rơi vào vực thẳm như thế nào hoặc sẽ đạt được những chiều hướng phát triển như thế nào, nếu tiếp tục cuộc chơi này. Hồi 18 giờ 30 ngày 25 tháng 4 tôi đã tới gặp Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng lúc đó là Maurice Thorez, lãnh tụ Đảng Cộng sản Pháp, ông tán thành những điều khoản ghi trong Hiệp định ngày 6 tháng 3 mà ông đã nghiên cứu kỹ lưỡng. Ông nói: "Chúng tôi không thấy có điều gì phải xem xét lại nữa. Tất cả đều đáng hài lòng. Và nếu có những kẻ nào không tôn trọng thì ta phải áp dụng các biện pháp cần thiết, kể cả súng đạn".


Tôi hiểu, Maurice Thorez muốn ám chỉ các đảng phái Việt Nam thân Quốc dân đảng Trung Quốc mà mọi người phải tính đến chuyện họ sẽ phải chịu trách nhiệm về sự đổ vỡ.

Hồ Chí Minh đáp máy bay đi Paris ngày 31 tháng 5, có tướng Salan tháp tùng.

Lúc này xảy ra một việc bất trắc nữa làm lung lay tòa lâu đài dễ đổ vỡ của sự hòa hợp. Nội các Félix Gouin vừa mới bị lật đổ. Nước Pháp chưa có chính phủ để đón tiếp Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chúng tôi phải cho hai chiếc máy bay chở Chủ tịch và các thành viên trong đoàn đàm phán, chuyển hướng bay về Biarritz ở miền Nam nước Pháp.


Ngay khi vừa được chỉ định thành lập chính phủ mới, Georges Bidault là Chủ tịch Hội đồng Chính phủ đã triệu tập tôi đến họp để bàn việc tổ chức lịch trình của Hồ Chí Minh tại Pháp. Trong một cuộc họp liên bộ mà tôi được tham dự, hội nghị đã quyết định Hồ Chí Minh và tôi không dự cuộc hội đàm ở Fontainebleau. Trong thời gian chờ đợi ổn định chính phủ để có thể đón tiếp Hồ Chí Minh, cần phải làm cho ông khuây khoả.


Có lẽ, trong thời gian buộc phải dừng chân ở vùng bờ biển xứ Basque từ ngày 12 đến 22 tháng 6 cũng là lúc Hồ Chí Minh thể hiện tính cách của mình một cách hoàn hảo để cho tôi càng đánh giá cao sự tự chủ của ông. Thật vậy, ông không sốt ruột lo lắng về mười ngày nhàn rỗi, chờ đợi thành lập xong một chính phủ mới của Pháp, ông cũng thường xuyên có được những tin tức mà ông quan tâm nhất, liên quan đến tình hình Nam Kỳ.


Ngày 1 tháng 6, đô đốc Thierry d'Argenlieu đi trước những quyết định có thể đạt được ở Hội nghị Fontainebleau đã tuyên bố Nam Kỳ là một xứ cộng hòa tự trị. Hồ Chí Minh đã nhận được tin này trong lúc đang bay trên vùng trời Trung Đông trong cuộc hành trình đi Pháp.


Có lẽ, cũng không cần phải nhắc lại rằng, Nam Kỳ là một thuộc địa của Pháp, khác với Bắc Kỳ và Trung Kỳ là hai xứ bảo hộ. Điều đó giải thích lý do đô đốc d'Argenlieu muốn đảm bảo cho Nam Kỳ một quy chế đặc biệt trong tương lai.


Nhưng đối với Hồ Chí Minh, mục đích tối cao của ông là hợp nhất ba kỳ trong một nước Việt Nam thống nhất. Nam Kỳ tự trị riêng rẽ là một biện pháp không thể tiếp nhận được cả về nội dung lẫn hình thức. Đây là một vi phạm toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, là một "cú đâm sau lưng" làm nghi ngờ những thiện chí của chúng tôi. Ở Hà Nội, phe đối lập tố cáo rằng chúng tôi đã tìm cách đưa Chủ tịch đi xa nước Việt Nam để dễ đánh lừa, và đã ví Nam Kỳ như Alsace - Lorraine của Pháp.


Ngay khi máy bay vừa hạ cánh xuống sân bay Parme - Biarritz, Hồ Chí Minh đã tỏ ra bực tức tới mức đòi quay trở lại Hà Nội. Tôi đã hết sức làm yên lòng ông, bằng cách cam đoan rằng quyết định về Nam Kỳ chỉ là tạm thời và không tổn hại gì đến kết quả trưng cầu ý dân đã được ấn định trong thỏa thuận ngày 6 tháng 3.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 07 Tháng Giêng, 2022, 08:15:42 am
Sau đó, coi như không có vấn đề gì. Hồ Chí Minh đã kìm hãm được sự nóng ruột, tỏ ra hài lòng với tất cả những gì chúng tôi nghĩ ra để ông giải trí. Những người được gần gũi với ông đều có ấn tượng sâu sắc về tâm trạng thoải mái và tấm lòng nhân hậu của ông. Ông vui đùa với người này, người khác, trêu chọc cả một số cộng sự viên của tôi. Tóm lại, ông xử sự như một người đi nghỉ mát, không chú ý gì đến thời gian và càng không phải là một vị Nguyên thủ quốc gia thường phải đăm chiêu khi mở tập hồ sơ do nhân viên phục vụ mang lại trong đó quyết định vận mệnh của nhân dân ông và tất nhiên, cả của ông.


Nhiều lần tôi đưa ông đến Hendaye, là nơi bà chị tôi có một biệt thự. Hồ Chí Minh chơi đùa với các cháu tôi trên bờ biển, có vẻ như thật sự thích thú được sống bên lũ trẻ. Ông thật sự là "Bác Hồ" nhân hậu.


Khi chúng tôi dẫn ông đến làng Biriatou ăn cơm, ông hoàn toàn là một khách du lịch, tò mò chu ý đến mọi thứ, muốn xem, muốn hiếu mọi thứ. Trong cuốn sổ vàng của khách sạn ông ghi dòng chữ lưu niệm hiện nay vẫn còn được lưu giữ: "Biển và đại dương không ngăn cách được những người anh em quý mến nhau".


Một buổi sáng, chúng tôi xuống một chiếc tàu đánh cá ở Saint Jean de Luz, đi ra khơi trước lúc rạng đông. Đánh được nhiều cá, nhưng chuyến đi biển có vẻ quá dài khi tàu đi vào vịnh Biscaye có nhiều sóng. Nhân viên trong tàu do không biêt Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước kia đã nhiều năm đi biển, tỏ vẻ sửng sốt trước sự thích nghi của ông trên tàu và thấy ông hoàn toàn không bị say sóng. Bản thân ông cũng đánh được nhiều cá ngừ và ông rất thích chuyến ra khơi kéo dài suốt ngày, ông nhanh chóng làm cho mọi người thoải mái vì tính giản dị và những câu bông đùa của ông.


Sau này, mỗi lần gặp tôi, ông vẫn thường nhắc lại những ngày sống trên vùng bờ biển xứ Basque mà ông coi là những kỷ niệm đẹp đẽ trong đời.

Cuối cùng, ngày 22 tháng 6 chúng tôi rời Biarritz đáp máy bay tới sân bay Bourget. Đến 16 giờ chúng tôi đã bay trên vùng trời Paris. Sân bay Bourget đông nghịt người. Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại Marius Moutet cùng đông đảo quan chức dân sự, quân sự, đại diện chính phủ, đang đứng đón chào.


Trở thành người đứng đầu Nhà nước, được đón tiếp với đầy đủ nghi lễ tại một đất nước mà ông đã từng đấu tranh không ngừng, đấu tranh hết sức, trong gần ba mươi năm chống lại chính quyền, việc này đòi hỏi nhân vật được đặt trong tình huống này một mức độ tinh tế và khôn khéo đặc biệt. Một lần nữa, bản chất tự nhiên lại giúp Hồ Chí Minh vượt qua thử thách, ông không cần tìm cách thích nghi với những thủ tục lễ tân mà ông không bao giờ quan tâm đến, ông không cần tìm cách đối xử kiểu cách với những người đối thoại, hoặc với những nhân vật sang trọng. Con người ông như thế nào, ông vẫn thể hiện y nguyên như thế. Ông tuân theo sự hướng dẫn của Jacques Dumaine, Vụ trưởng Vụ Lễ tân Bộ Ngoại giao, cố truyền đạt tới ông những nghi thức xã giao. Nhưng ông vẫn giữ nguyên tính cách của cá nhân ông, hình ảnh của sự giản dị cao độ không ai có thể tước bỏ được.


Trung thành với những thói quen của mình, Hồ Chí Minh giữ nguyên trang phục đơn giản: đôi giày vải Vân Nam, bộ áo cứng thường mặc, nhưng lần này ông đã chú ý cài đủ các cúc áo, đến tận cổ. Ngoài ra, ông không chịu theo một số thủ tục lễ tân. Vì vậy, trong giấy mời tới dự đại tiệc chiêu đãi tại khách sạn Royal - Monceau mà Chủ tịch Georges Bidault cũng tới dự vào ngày 4 tháng 7 có ghi rõ: "mặc lễ phục", nhưng riêng ông vẫn không rời bộ quần áo quen thuộc đã làm ông nổi tiếng trước cả Mao Trạch Đông.


Ông đã tiếp nhận với nụ cưòi quen thuộc gian phòng dành cho ông trong khách sạn Royal - Monceau trên đại lộ Hoche. Nhưng, trước tiện nghi sang trọng của phòng ngủ, có vẻ như ông vẫn thích ngả lưng trên tấm thảm sàn nhà.


Trong những ngày ở Paris ông vẫn giữ thái độ yêu mến thành phố và nhân dân sống ở đây. Ông thích vi hành ra ngoài khách sạn, trà trộn trong những người qua lại, thăm lại những nơi trước kia ông đã sống, đã lao động, đã ấp ủ hoạt động chống đối... Nếu có lần ông đề nghị với tôi tổ chức cho ông đi xem bộ phim Cuộc chiến đấu đường sắt, thì đó không phải là để "có những ý niệm" như nhiều người, trong đó có tôi, lúc đó đã nghĩ như vậy, mà chỉ do ông có cảm tình với cuộc chiến đấu của nhân dân Pháp chống bọn chiếm đóng, và vào thời kỳ đó cũng mới chỉ có duy nhất một cuốn phim này thể hiện hình ảnh đó. Vả lại, hoàn cành diễn, ra cuộc chiến đấu của công nhân đường sắt Pháp khác hẳn hoàn cảnh ở Việt Nam trong thời điểm Pháp và Việt Nam đang tìm kiếm một tạm ước để sống.


Hồ Chí Minh cũng đề nghị được đi thăm những vùng bờ biển mà trước kia quân Đồng minh đã đổ bộ trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Trong chuyến đi ngắn tới vùng bờ biển Normandie ở miền Bắc nước Pháp, một tai nạn đã xảy ra và tôi lại được một lần nữa, nhận xét tính tự chủ luôn thường trực trong ông. Tôi vừa mới rời khỏi chiếc xe ô tô của mình để chuyển sang cùng ngồi với Hồ Chí Minh, thì chiếc xe trước đó chở tôi vụt quay ngang không rõ vì lý do gì, rơi luôn xuống hố cùng với những cộng sự viên của ông Hồ và cả những cộng sự viên của tôi. Dĩ nhiên, lúc đó tôi nghĩ ngay đến một vụ mưu hại. Có thể Hồ Chí Minh cũng nghĩ như vậy. Nhưng ông vẫn thản nhiên, không để lộ một nét gì bối rối trên gương mặt. Ông bình tĩnh tham gia kéo những người cùng đi với chúng tôi ra khỏi chiếc xe bị nạn. May mắn làm sao, những người này chỉ bị thương nhẹ. Ngược lại, chiếc xe của tôi đã biến thành hàng đồng nát và tôi rất tiếc. Chiếc Buick này vốn là ô tô của Tổng tư lệnh quân đội Nhật Bản tại Đông Dương mà tướng Leclerc đã trao lại cho tôi.


Khi tới Normandie, tôi mời Hồ Chí Minh nghỉ đêm tại một trang trại của tôi. Sáng hôm sau, lúc đó hãy còn sớm, tôi thức giấc thấy ông Hồ đã biến mất! Tôi phải chạy ra đồng để tìm kiếm. Thì ra, ông còn dậy sớm trước tôi, đang đi thăm mọi nơi, từ chuồng gà đến chuồng bò, ngắm nhìn súc vật, hỏi người quản lý các phương pháp chăn nuôi v.v...


Cuộc họp liên bộ trước khi Hồ Chí Minh tới Paris đã quy định tất cả mọi cuộc tiếp xúc giữa Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Pháp đều phải thông qua tôi. Nguyên tắc này, mới đầu được tôn trọng nhưng sau đó đã bị thả lỏng một cách nguy hiểm. Hồ Chí Minh thường vượt qua tôi để đạt được những điều mà tôi có đủ lý do can ngăn ông. Tôi được báo tin ông đã dành phần lớn thời gian để đi dạo mát, để đi nơi này nơi khác, gặp gỡ, tiếp xúc với nhiều người. Những người cùng đi với Hồ Chí Minh cũng giữ kín những hoạt động và những sợi dây liên hệ giữa họ với những người khác.


Hồ Chí Minh có vẻ thành thật xúc động trước sự tiếp đón ở Paris. Nhưng ông cũng rất tiếc vì không được gặp tướng De Gaulle và tướng Leclerc. (Đúng là tướng De Gaulle lúc nay rút lui về nghỉ tại Colombey sau khi rời bỏ chính quyền và tự đặt ra nguyên tắc không muốn dính líu gì vào công việc quốc gia). Trước khi rời Paris, Hồ Chí Minh đã nhờ tôi chuyển một tặng phẩm gửi tặng tướng De Gaulle. Trong giọng nói và cặp mắt của ông lộ rõ vẻ xúc động đã không thể gặp gỡ, nói chuyện với nhân vật mà ông thường ca ngợi là người cầm đầu lực lượng kháng chiến đã giải phóng nước Pháp.


Hồ Chí Minh cũng muốn gặp lại tướng Leclerc. Nhưng không hiểu vì những lý do gì tôi chưa được biết, tướng Leclerc không mấy khi có mặt tại thủ đô. (Hẳn là lúc đó, Leclerc đang bị một số kình địch chỉ trích thái độ "tự do" của ông đối với Đông Dương).


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 07 Tháng Giêng, 2022, 08:17:08 am
IX
HÒA BÌNH BỊ BỎ LỞ


Lúc này, mọi người đã nói tới thất bại của Hội nghị Fontainebleau đang tới gần. Về phía chúng tôi, có thể đã phạm sai lầm vì đã không cử một nhân vật chính trị hàng đầu đứng đầu đoàn đại biểu Pháp. Mặt khác đã không soạn thảo một thời gian biểu chính xác để cắt đứt những sự chậm trễ kéo dài ở châu Á (như sau này Pierre Mendès - France đã làm tại hội nghị Genève).


Những tham vọng chính trị ở Pháp cũng giữ vai trò trong vấn đề này. Thật vậy, trong khi các nghị sĩ cộng sản ủng hộ mạnh mẽ những yêu sách của Việt Nam thì cánh hữu lại cổ vũ những nhà thương lượng Pháp không khoan nhượng và kêu gọi phản lại những điều đã cam kết. Kết quả là: tình hình mỗi ngày một thêm căng thẳng và cả hai phía đều bi quan. Không cần phải suy nghĩ nhiều cũng thấy ngay phía Việt Nam cũng tăng thêm sự hoài nghi thường có của họ, ngày càng nghi ngờ chúng tôi đi chệch hướng những thỏa thuận ngày 6 tháng 3.


Nhưng tất cả những vấn đề này dù về hình thức hoặc về bầu không khí tạo ra cũng chưa đủ để làm cho hội nghị tan vỡ, nếu không xuất hiện những vấn đề cơ bản mà cả hai bên đều khác nhau về quan điểm tới mức không thể nào giải quyết được. Chủ yếu, đó là những vấn đề hợp nhất ba "kỳ", vấn đề thuế quan, đối ngoại, vị trí của tiếng Pháp. Trên thực tế, phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa muốn đạt được tất cả những đặc quyền của một nhà nước độc lập, nhưng phía Pháp lại muốn chỉ thừa nhận Việt Nam là một nhà nước tự trị nằm trong Liên bang Đông Dương và khối Liên hiệp Pháp. Như tôi đã viết, nếu Hồ Chí Minh chấp nhận khối Liên hiệp Pháp thì ông lại không muốn có Liên bang Đông Dương, ngại rằng cái liên bang này sẽ ngoạm mất Việt Nam.


Thất bại của Hội nghị Fontainebleau đã nhìn thấy rõ khi Paris nhận được tin một cuộc họp "liên bang" ngày 1 tháng 8 đã được đô đốc d'Argenlieu quyết định tại Đà Lạt, không chỉ gồm có Campuchia và Lào, mà cả xứ Nam Kỳ có vẻ như sẽ bị tách rời vĩnh viễn khỏi Việt Nam. Tin này đã khiến các đại biểu Việt Nam ngừng ngay cuộc đàm phán, mà chỉ nhờ có sự can thiệp của Hồ Chí Minh vài ngày sau mới được nối lại. Nhưng niềm tin đã chết. Đầu tháng 9 đoàn Việt Nam dẫn đầu là Phạm Văn Đồng đóng sập cánh của hội nghị, xuống tàu trở về Bắc Kỳ.


Nhưng riêng Hồ Chí Minh vẫn ở lại.

Sau khi kết thúc chuyến thăm chính thức, Chính phủ Pháp thông báo cho vị khách của mình rõ, ông không thể sử dụng lâu hơn nữa khách sạn Royal Monceau. Đây là một thái độ hợp lý, phù hợp với thông lệ, nhưng vẫn ít nhiều bị chỉ trích là chúng tôi muốn gây sức ép với Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để ông trở về nước ngay, vì chuyến đi đã kéo quá dài. Nhưng Hồ Chí Minh chưa đi vội. Như tôi đã viết, ông chuyển đến Soisy-sous-Montmorency, ở nhà ông Raymond Aubrac. Những người trong gia đình Aubrac đã cung cấp cho Hồ Chí Minh chỗ ăn, chỗ ở, chỗ hoạt động với một tình cảm như đã từng bộc lộ trong thời gian ông ở thăm chính thức Paris. Rất nhiều người đã tới thăm Hồ Chí Minh tại Soisy. Mọi người thường nhìn thấy nhà hoạt động cách mạng lão thành của Việt Nam ngồi trên bãi cỏ hoặc trên bậc thềm trong vườn nhà Aubrac, thân mật tiếp chuyện các nhà báo hoặc khách tới thăm thuộc đủ mọi tầng lớp.


Thời kỳ "hậu Fontaineblau" bắt đầu. Nhưng liệu còn một dịp may nào trong việc Hồ Chí Minh hãy còn ở Pháp, cho phép tránh sử dụng vũ lực không? Bởi vì, trong suốt thời gian này tình hình Đông Dương không ngừng xấu thêm. Từ khi ông Hồ đi vắng, nhiều sự cố liên tiếp đã xảy ra, đặt sự kiên nhẫn của Pháp, ngay cả những người không muốn sử dụng vũ lực, đứng trước thử thách.


Ngày 2 tháng 9, Hồ Chí Minh nhờ tôi chuyển một bức điện về nước, căn dặn việc tiến hành lễ kỷ niệm ngày Độc lập không được có một biểu hiện nào không hữu nghị với nước Pháp. Tại sao, cuối cùng ông lại mong mỏi ký với Marius Moutet bản Tạm ước nghèo nàn ngày 14 tháng 9, được soạn thảo vội vã ngay trong phòng làm việc của tôi, có những hứa hẹn ít hơn điều ông muốn tìm kiếm?


Sau khi ký bản Tạm ước, Hồ Chí Minh quyết định trở về xứ Bắc Kỳ, nhưng hình như ông vẫn còn luyến tiếc. Trước kia, ông nán lại nước Pháp là nhằm có được một hiệp định có lợi hơn, đó là điều dễ hiểu. Nhưng bây giờ sau khi bản Tạm ước đã ký và biết rõ rằng không còn tìm kiếm được gì hơn nữa, ông vẫn cứ chọn phương tiện chậm nhất để về nước, trong khi tình hình thời cuộc lại đòi hỏi phải trở về gấp, quả là rất lạ. Ông từ chối máy bay để chọn tàu thủy. Mặc dù tôi không tán thành, nhưng Bộ Hải quân vẫn dành cho ông chiếc tàu Dumont d'Urville để ông trở về Đông Dương.


Đó là điều duy nhất khiến tôi thật sự bối rối. Hồ Chí Minh lo ngại một vụ mưu hại dễ thực hiện bằng máy bay chăng? Nhưng vụ này do ai âm mưu tiến hành? Ông có mong muốn sự đổ vỡ không thể nào hàn gắn được sẽ xảy ra do ông vắng mặt không? Hoặc là, ít nhất, ông có hiểu rằng sự đổ vỡ đó đang tới gần và ông không muốn bảo lãnh? Quả thật, chỉ hai tháng sau, chiến tranh đả bùng nổ vào tối 19 tháng 12.


Tôi tiễn chân Hồ Chí Minh đến tận quân cảng Toulon. Hôm sau, 19 tháng 9 tôi chia tay ông trên bến cảng. Tôi tin chắc, không bao giờ gặp lại ông nữa.

Như tôi đã viết, lúc này tôi chỉ muốn được nghỉ công tác để quán xuyến những việc kinh doanh riêng mà bấy lâu tôi đã phải bỏ dở để phục vụ đất nước. Nhưng không có người thay tôi đảm đương nhiệm vụ ở Đông Dương. Cũng cần phải nói rằng, vị trí này ngày càng kém hấp dẫn. Tướng Morlière đã thay tôi tạm quyền chức vụ ở Hà Nội, đã cố hết sức làm mọi việc, nhưng tình hình ngày càng tồi tệ hơn.


Hồ Chí Minh về tới Hải Phòng ngày 21 tháng 10. Ông đã cố nắm guồng lái, cố duy trì quan hệ hữu nghị Việt - Pháp, về đến Hà Nội, ông đã cho cử Quốc thiều Pháp ngay sau Quốc thiều Việt Nam tại sân ga là nơi mọi người tập trung đón ông.


Ngày 20 tháng 11 xảy ra vụ đụng độ ở Hải Phòng như tôi đã viết. Chính phủ Pháp lại yêu cầu tôi trở lại Bắc Kỳ càng nhanh càng tốt. Tôi được cử làm Thống đốc Bắc Kỳ, được trao Toàn quyền dân sự và quân sự. Tôi rời sân bay Orly ngày 23 tháng 11, tới Sài Gòn ngày 26. Tại đây, tướng Valluy tạm giữ chức Quyền cao uỷ thay d'Argenlieu vắng mặt, khuyên tôi chờ kết thúc những hoạt động quân sự của Pháp tại Hải Phòng đã, rồi sẽ ra Hà Nội sau.


Vì vậy, mãi đến ngày 2 tháng 12 tôi mới đáp máy bay ra Hà Nội. Trong túi tôi mang theo bản "hướng dẫn công tác" của Phủ Cao ủy ở Sài Gòn, nội dung có ghi như sau:

"Danh dự quân sự không bị xúc phạm, uy thế phục hồi đang được nâng cao, vì vậy, nếu áp đặt những điều kiện khắc nghiệt sẽ là sai lầm về chính trị.

Từ nay trở đi không nên đẩy sự việc đến cùng, buộc Hồ Chí Minh và chính phủ của ông ta phải lao vào những giải pháp tuyệt vọng. Chính vì lẽ đó, tôi (Cao ủy Đông Dương) cho rằng việc Thống đốc đặt trụ sở làm việc tại dinh Toàn quyền trong lúc này là quá sớm và không hợp thời, có thể bị coi như một biểu hiện khiêu khích, có nghĩa là quay trở về với các biện pháp bạo lực".


Ngày 12 tháng 12, ông Léon Blum thuộc Đảng Xã hội lên nắm quyền ở Pháp. Ngày 15 tháng 12, Hồ Chí Minh gửi cho Léon Blum một công hàm nhưng Sài Gòn đã chậm trễ trong việc "chuyển thư" nên mãi tới ngày 26 tháng 12 Paris mới nhận được.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 07 Tháng Giêng, 2022, 08:18:13 am
Sáng ngày 19 tháng 12 tôi cũng đã gửi Hồ Chí Minh một bức thư, nhưng không hiểu sao, ông cũng không nhận được. Ngược lại, do một sự trùng hợp kỳ lạ, trong buổi sáng 19 tháng 12 Hồ Chí Minh cũng gửi thư cho tôi, yêu cầu tôi nhanh chóng gặp Hoàng Minh Giám "để cùng tìm ra một giải pháp nhằm cải thiện bầu không khí..." Tôi trả lời, tôi sẽ gặp Hoàng Minh Giám vào sáng mai, 20 tháng 12.


Nhưng tối 19 tháng 12 chiến tranh đã bùng nổ. Đối với tôi, không còn buổi gặp ngày 20 tháng 12 nữa.

Mãi tới bốn tháng sau, tức là sau khi tôi đã trở về Pháp điều trị các vết thương buổi tối 19 tháng 12 như đã viết, rồi lại quay lại Bắc Kỳ, tôi mới ngạc nhiên khi nhận được thư của Hồ Chí Minh viết ngày 24 tháng 2 năm 1947. Ai đã giữ lại lá thư này? Tôi tự hỏi như vậy. Dù sao, nội dung lá thư rất đáng chú ý. Đây là lời kêu gọi cuối cùng của Hồ Chí Minh nhằm cứu vãn hòa bình. Nếu chúng tôi công nhận "độc lập và thống nhất" của Việt Nam, liệu có đủ để chấm dứt xung đột, thiết lập một sự hợp tác được không?

Toàn văn bức thư như sau:

Gửi ông Sainteny, Ủy viên Cộng hòa.

Bạn thân mến,

Tôi vừa nhận được tin ông sắp trở về Pháp. Tôi gửi tới ông và bà Sainteny những lời chúc lên đường bình an và sức khỏe tốt.

Tôi tin chắc rằng, cũng như tôi, ông rất tiếc công việc chung vì hòa bình của chúng ta đã bị phá hủy bởi cuộc chiến tranh anh em này. Tôi đã hiểu ông khá rõ để nói với ông, là ông không phải chịu trách nhiệm về chính sách vũ lực và tái chinh phục này.

Vì vậy, tôi muốn được nhắc lại với ông, mặc dù mọi việc đã xảy ra, giữa ông và tôi, chúng ta vẫn còn là bạn. Và tôi cũng có thể khẳng định với ông, nhân dân hai nước chúng ta cũng vẫn là bạn của nhau.

Đã xảy ra khá nhiều chết chóc và tàn phá! Ông và tôi, chúng ta phải làm gì bây giờ? Chỉ cần nước Pháp công nhận nền độc lập và thống nhất của Việt Nam, lập tức những cuộc xung đột sẽ ngừng, hòa bình và niềm tin cậy lẫn nhau sẽ trở lại, chúng ta sẽ lại có thể bắt tay vào công việc xây dựng lại vì lợi ích chung của hai nước chúng ta.

Về phần tôi, tôi sẵn sàng cộng tác vì hòa bình, một nền hòa bình chính đáng và danh dự cho hai nước chúng ta. Tôi mong rằng, về phía ông, ông cũng sẽ làm việc theo hướng đó.

Chúng ta hãy cùng cầu mong Thượng đế ban cho chúng ta sự thành công.

Người bạn tận tụy của ông 24/2/47

Hồ Chi Minh1 (Toàn văn thư đánh máy trên giấy có tiêu đề: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Độc lập - Tự do - Hạnh phúc - Chủ tịch Chính phủ, kèm theo chữ ký đã được Sainteny in lại trong sách - ND)


Những câu hỏi và những nuối tiếc đan xen với nhau. Chúng tôi đã không đáp ứng được những gì Hồ Chí Minh yêu cầu. Trên thực tế ở Pháp không có một chính sách về Đông Dương. Mà làm thế nào có được một hệ thống chính sách này, trong hoàn cảnh cứ trung bình ba tháng một lần lại thay đổi chính phủ?


Từ lâu lắm, nước Pháp, qua những đại diện sáng suốt nhất của mình đã hiểu rõ đòi hỏi của người Việt Nam. Nước Pháp biết rõ, người Việt Nam không bao giờ từ bỏ việc đòi độc lập. Nước Pháp còn biết rõ, những khát vọng của người Việt Nam có cơ sở vững chắc. Dân tộc này đã trưởng thành, họ dễ dàng hấp thụ ngôn ngữ và văn hóa Pháp một cách đáng ngạc nhiên. Sự hấp thụ nhanh chóng này làm cho họ trở thành những người có khả năng nhất so với tất cả các dân tộc đang được Pháp "bảo hộ", có thể tự đảm đương vận mệnh của mình.


Tôi nghĩ rằng, một ngày nào đó, nước Pháp sẽ phải đề cập tiến trình trao cho người Việt Nam, nếu không phải là nền dộc lập, thì ít nhất cũng là một chế độ tự trị tiến bộ, và từ đó nước Pháp có thể duy trì cùng với dân tộc đã ràng buộc với Pháp và Pháp cũng ràng buộc với họ, những quan hệ có lợi.


Cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai, trong khi giải tỏa những sự nóng lòng sốt ruột, lại cũng làm đảo lộn vấn đề. Bị dồn ép một cách thô bạo vào chân tường, chúng ta buộc phải hoàn thành nóng một cuộc giải phẫu mà đáng lẽ chỉ có thể hoàn thành bằng phương pháp lạnh. Những biện pháp nửa vời do tính kiêu ngạo và những lợi ích dân tộc của chúng ta, không thể chấp nhận được nữa. Phải cho tất cả, và cho ngay lập tức.


Người ta đã nói xấu hành động của đô đốc Thierry d'Argenlieu rất nhiều. Nhưng tôi nghĩ rằng, vào năm 1945 không một người nào như ông lại dám nghĩ đến việc cải cách các vị trí của chứng ta ở Đông Dương mà lại không rơi vào thế trao đất nước này cho cộng sản. Chính do đó và cũng chỉ vì lý do đó, ông đã nhìn thấy vấn đề.


Về phần tôi, như tôi đã viết, tôi cho rằng Hồ Chí Minh cũng theo chủ nghĩa dân tộc như theo chủ nghĩa cộng sản và ta phải tận dụng sự may mắn đó. Trong mọi trường hợp, hồi đó chúng ta đã có thể, thay sự loại trừ Nam Kỳ ra khỏi Việt Nam, bằng việc để cho Nam Kỳ quyết đinh vận mệnh qua trưng cầu ý dân đã dự tính. Kết quả trưng cầu dân ý có thể sẽ khác với việc tuyên bố Nam Kỳ tự trị, hoặc cũng có thể diễn biến theo những điều kiện đáng hài lòng hơn.


Tôi thường được nghe nói: "Vâng. Những giải pháp này của ông không thể kéo dài tới mười năm được. Những người Việt Nam "cứng rắn" sẽ gậm nhấm dần dần số ít vị trí mà ta còn giữ được rồi sẽ đặt toàn bộ đất nước dưới chế độ cộng sản". Điều đó cũng có thể, nhưng sau đó sẽ ra sao? Có phải là chúng ta đang đi tới những kết quả tồi tệ hơn, đó là chiến tranh hay sao? Đáng lẽ, chúng ta đã tiết kiệm được cuộc chiến tranh này, đã có thể không phải phơi bày và làm thoái hóa tinh thần quân đội, và có thể chúng ta vẫn giữ được một vị trí nào đó ở Việt Nam, nếu không phải là kinh tế thì ít nhất cũng trong lĩnh vực văn hóa và tinh thần. Tôi có thể tin chắc điều này, bởi vì, như chúng ta đã thấy ngay cả sau cuộc chiến tranh thảm khốc này, những sợi dây liên hệ cùng dệt với Việt Nam suốt tám mươi năm chung sống vẫn không hề bị đứt.


Hơn nữa, Ấn Độ là một thí dụ để tôi càng củng cố thêm quan điểm của mình. Khi tôi nghĩ đến câu đô đốc Anh quốc Mountbatten nói rằng: "Tôi chỉ làm ở Ấn Độ những gì ông Sainteny muốn làm ở Đông Dương", tôi cảm thấy, cay đắng hơn là muốn khoe khoang. Chiến tranh đã làm nhiễm độc tất cả mọi vấn đề rồi rốt cuộc vẫn không phục vụ được việc tưởng rằng có thể ngăn chặn được chủ nghĩa cộng sản bằng vũ lực. Ngày nay, chúng ta càng hiểu rõ hơn điều đó.


Điều đáng buồn nhất, chắc chắn là kinh nghiệm Đông Dương giai đoạn 1945 - 1947 đã không rút được thành bài học cho chúng tôi, cũng như cho các bạn Đồng minh của chúng tôi. Bởi vì từ cuộc xung đột Pháp - Việt đã lại xảy ra cuộc xung đột Mỹ - Việt đến nay đã kéo dài bẩy năm1 (Tức là năm 1970, khi Sainteny viết những dòng này - ND) và đang đe dọa hòa bình thế giới.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 08 Tháng Giêng, 2022, 08:12:39 am
X
TÁM NĂM SAU


Ngày 21 tháng 7 năm 1954. Bóng đêm ập xuống Địa Trung Hải. Chiếc thuyền nhỏ căng buồm đón làn gió nhẹ, rời bên San Remo đi về phía đảo Corse.

Trong không khí tĩnh lặng, đài thu thanh trên thuyền chợt báo tin Hiệp định Pháp - Việt vừa được ký kết tại Genève. Chiến tranh Đông Dương đã kết thúc.

Bản tin bấy lâu chờ đợi làm tôi chìm đắm trong suy tưởng, cho tới khi người cùng đi với tôi nói to: "Tôi có cảm tưởng là cuộc hành trình của chúng ta sẽ bị rút ngắn!"

Suốt đêm hôm đó tôi ngồi sau guồng lái, suy nghĩ miên man chung quanh sự kiện vừa loan báo. Như vậy là đã phải mất tám nám chiến tranh để rồi lại quay trở về điểm xuất phát đầu năm 1946, trước khi tôi ký những thỏa thuận với Hồ Chí Minh! Tuy nhiên, có điều khác trước, đó là hiện nay chúng tôi đang ở trong thế bại trận.


Ngày 24 tháng 7 thuyền vừa cập bến Ajaccio thì cảm nghĩ của người cùng đi với tôi đã trở thành sự thật: huyện trưởng đảo Corse đang đợi trên bến, báo tin ông Guy La Chambre, Bộ trưởng Bộ các nước liên kết muốn gặp tôi.


Ngay tối hôm đó, tôi quay trở lại Paris trong chuyến bay cuối cùng của Air France. Ngày hôm sau, 25 tháng 7, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Pierre Mendès France nhắn tin qua Chánh văn phòng Philippe Bauđet là ông muốn cử tôi làm đại diện Chính phủ Pháp tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Vấn đề này đã được đưa ra thảo luận với ông Phạm Văn Đồng tại Genève, ngay sau khi hai ông vào ký hiệp định Pháp - Việt.


Nhiệm vụ này hứa hẹn nhiều tế nhị. Việc các lực lượng Liên hiệp Pháp đóng tại Bắc vĩ tuyến 17 phải rút hết xuống miền Nam đang đặt ra nhiều vấn đề phức tạp. Lịch rút quân đã được vạch ra, quy định chặt chẽ thời điểm rút hết khỏi từng vùng. Hạn chót là đến ngày 19 tháng 5 năm 1955,   tức ba trăm ngày sau khi ký Hiệp định Genève phải rút khỏi Hải Phòng là khu vực cuối cùng.


Trên thực tế, mặc dù đã có những giải thích nảy sinh trong khoảng thời gian mười tháng quân đội hai bên chung sống với nhau mà các thỏa thuận đã ấn định, những cuộc rút quân vẫn cần phải được tiến hành không có sự cố nghiêm trọng và phải thực hiện đúng kỳ hạn. Đạt được thành công là do tính tích cực của hai bộ tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang hai bên.


Ngược lại, người ta có quyền được hỏi, liệu tình cảm của những người Việt Nam sẽ ra sao khi họ tạm thời phải sống chia cắt. Đây là một giải pháp "hợp thời" như đã thực hiện ở Triều Tiền sau khi ngừng bắn. Nhưng ở Việt Nam, cũng gợi nhớ đến hình ảnh xa xưa với bức tường thành còn lại ở Đồng Hới, ghi nhận sự phân tranh giũa chúa Trịnh ở miền Bắc với chúa Nguyễn ờ miền Nam.


Đại diện Pháp ở Nam vĩ tuyến 17 lúc này là tướng Ely, Tổng cao ủy, một nhân vật vững vàng, được kính nể, thật sự là một đại sứ và có lẽ còn hơn thế nữa, bởi vì ông còn được lĩnh nhiệm vụ Tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang Pháp còn đóng tại năm vùng lãnh thổ thuộc Liên bang Đông Dương cũ.


Ở miền Bắc, đại diện Pháp, chức vụ lúc đó chưa được ấn định rõ rệt, có những nhiệm vụ chủ yếu như sau:

- Cố tìm cách tiếp xúc với những người hôm qua là kẻ thù, ngày xưa là dân bảo hộ của Pháp.

- Tránh những sự cố bao giờ cũng đáng lo ngại, xảy ra trong thời điểm Pháp rút quân.

- Tạo điều kiện thuận lợi cho những thực dân Pháp muốn rời khỏi Bắc Kỳ.

- Bảo đảm an toàn cho việc giữ lại những người muốn ở lại Bắc Kỳ.

- Đối với những người đi cũng như những người ở đều phải giải tỏa tranh chấp giữa hai bên Pháp - Việt, đừng để sự việc trở thành nghiêm trọng.

- Bố trí các cơ sở văn hóa để có thể tiếp tục hoạt động ở Bắc Việt Nam trong lĩnh vực này.

Tuy nhiên, tôi đã từ chối đề cử của ông Mendès France, và lại quay về đảo Corse.

Thật vậy, lúc đó tôi nghĩ rằng có đi Hà Nội cũng chẳng giúp ích gì được. Hơn nữa, sau khi tôi từ Hà Nội trở về Pháp năm 1947, người ta đã tiến hành những biện pháp làm mất uy tín của tôi trong chính sách hòa giải có gắn tên tôi vào đó, dẫn tôi đến quyết định lánh xa các vấn đề Đông Dương. Trong khi tiến hành Hội nghị Genève, tôi đã từ chối lời yêu cầu tham dự, giúp đỡ ông Georges Bidault.


Nhưng sau khi tôi đã về Paris hồi tháng 8, ông Pierre Mendès France vẫn ngỏ ý muốn tin cậy tôi.

Ngày 15 tháng 8 tôi tới gặp ông Pierre Mendès France là người tôi ít quen biết, nhưng đã từng có lần nói chuyện với ông rất lâu về các vấn đề châu Á, từ ngày ông chưa làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, ông tiếp tôi rất đơn giản. Chúng tôi trao đổi nhiều về những khía cạnh và những tiến triển dự kiến trong nhiệm vụ mà ông định giao cho tôi. Mendès France hoàn toàn đồng ý nguyện vọng của tôi, tức là tôi sẽ tới Hà Nội như một người "tiếp tục chứ không phải thanh toán" những vấn đề cũ. Hơn nữa, ông Mendès France trong cuộc họp ở Genève cũng đã rất xúc động khi đoàn đại biểu Việt Nam nhiều lần khẳng định là họ mong muốn giữ lại trong đất nước họ một sự hiện diện nào đó của Pháp là nước mà họ thừa nhận vẫn còn cần đến.


Khả năng đó đã tạo điều kiện cho nước Pháp trở lại Bắc Kỳ, đi sâu vào châu Á cộng sản và đặc biệt là đến tận biên giới giáp Trung Quốc hiện đã thuộc về Mao Trạch Đông. Mendès France rất thích thú điều này. Ông nói với tôi: "Đến Hà Nội, ông có thể đứng trên bao lơn nhìn vào Trung Quốc".


Chính vì vậy tôi đã nghe lời ông và nhiệm vụ này cũng làm tôi thích thú. Tôi nhớ lại, thời kỳ đó người ta thường nói nhiều đến "chung sống hòa bình" và những quan hệ sắp tới với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có thể là một kinh nghiệm nhằm rút ra nhiều điều phong phú và quý giá.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 08 Tháng Giêng, 2022, 08:14:48 am
Nhưng, cuộc chơi này cũng báo trước nhiều khó khăn. Ngày 15 tháng 8 năm 1954 khi rời khỏi trụ sở làm việc của ông Mendès France giữa lúc trời đang nắng chói chang tôi vẫn nghĩ tới những giông tố đang đợi tôi ở đầu bên kia trái đất. Liệu tôi có thực hiện được lời yêu cầu "cứu vãn những gì còn có thể cứu vãn", nối lại sợi dây liên hệ với những người hôm qua còn là những người đối đầu, tiếp tục cuộc đối thoại đã bị đứt quãng từ ngày 3 tháng 12 năm 1946 với Hồ Chí Minh. Thà rằng hồi đó cứ được ở lại Bắc Kỳ dù phải từ bỏ quyền lợi còn hơn là sau tám năm chiến tranh mới quay trở lại!


Ngày 27 tháng 8 tôi tới Sài Gòn. Trong khi chờ tiẽp tục cuộc hành trình tới Hà Nội, tôi có buổi nói chuyện với tướng Ely. Ông tỏ ra không tin tưởng lắm về những kết quả trong sứ mệnh của tôi và ngờ rằng sẽ gặp nhiều vấn đề quan trọng ở Nam Việt Nam.


Liền sau đó tôi gặp Tổng thống Nam Việt Nam Ngô Đình Diệm là người tôi biết rõ và có những quan hệ tốt, dù ông ta không ưa Pháp, ông thân mật tiếp tôi nhưng công khai tỏ vẻ thất vọng trước việc tôi đi làm nhiệm vụ bên cạnh những người anh em thù địch với ông, tức là những người cộng sản ở Bắc Việt Nam. Ông cho rằng việc tôi giữ chức đại diện Pháp tại Hà Nội, có nghĩa là trên thực tế, nước Pháp đã công nhận Chính phủ Hà Nội. Từ buổi đó, quan hệ giữa Ngô Đình Diệm với tôi ngày càng căng thẳng tới mức ông đã cấm không cho tôi kéo dài sự có mặt ở Nam Việt Nam. Đây là một trong những khó khăn mà tôi sẽ còn gặp phải.


Ngày 31 tháng 8 năm 1954 tôi tới Hà Nội. Ra đón tôi tại sân bay chỉ có một số quan chức người Pháp vì lúc này Hà Nội vẫn còn là khu tập kết của lực lượng Pháp chờ rút vào Nam, Chính phủ Hồ Chí Minh chưa trở về tiếp quản.


Trong hai ngày 5 và 6 tháng 9 tôi thăm một số sĩ quan chủ chốt còn sống sót tại Điện Biên Phủ vừa tới Hà Nội vài ngày trước trong đợt trao trả tù binh, hiện đang nằm điều trị tại viện quân y Lannessan1 (Nay là Viện quân y 108 - ND). Đó là Castries, Lalande, Langlais, Bigeard, Blanchet... và nhiều người khác.


Qua những câu trao đổi với họ, tôi dễ dàng nhận thấy họ ca ngợi phẩm chất chiến đấu của đối phương (hỡi ôi, trong lúc đó Chính phủ và nhiều chỉ huy quân sự Pháp lại coi nhẹ những giá trị này). Đây cũng là vấn đề làm họ cảm thấy cay đắng vì đã hy sinh vô ích trong cuộc chiến tranh kéo dài tám năm. Họ nhờ tôi chuyển thư tới gia đình. Vài hôm sau, trong dịp về Pháp tôi đã chuyển những lá thư này tới từng địa chỉ trong tâm trạng xúc động.


Tôi đã nhân dịp này đề nghị với Chủ tịch Mendès France cho tôi nghiên cứu tình hình tại chỗ trước khi chấp nhận lời đề cử.

Những cảm tưởng mà tôi thu lượm được ở Hà Nội đủ để khuyên khích tôi lao vào nhiệm vụ mà nhiều người coi đó là sứ mệnh hy sinh. Ngày 6 tháng 10, tôi lại lên đường đi Hà Nội với chức danh do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng chọn, là "Tổng đại diện Chính phủ Cộng hòa Pháp bên cạnh Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa".


Khi tới Hà Nội ngày 8 tháng 10, lúc đi bên cầu Doumer tôi gặp đại tá Lefebvre d'Argencé đang dẫn đơn vị cuối cùng rút khỏi thành phố. Rất nhiều báo chí đã đăng tấm ảnh này. Có điều, những tấm ảnh này không ghi được những dòng nước mắt chảy trên má người lính già, lúc ông đứng nghiêm chào chúng tôi và tôi ôm chặt lấy ông.


Phải có niềm tin mãnh liệt vào tương lai mới có thể quên được hình ảnh này.

Trong chương trình làm việc, không dự kiến việc tôi phải gặp Hồ Chí Minh ngay trong buổi đầu tiên cũng như trong thời gian ngắn đầu tiên của tôi tại Hà Nội. Paris đã chỉ thị cho tôi tránh "mọi cuộc tiếp xúc cá nhân và trực tiếp" với ông, trước khi tình hình trở nên sáng sủa. Hơn nữa, mãi tới ngày 10 tháng 10 Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới bí mật trở lại thủ đô. Đó cũng là ngày các đơn vị quân đội nhân dân Việt Nam, chủ yếu là sư đoàn 308 nổi tiếng đã tràn ngập Điện Biên Phủ, tiến vào tiếp quản Hà Nội.


Sau khi tôi tới Hà Nội được vài hôm, Phạm Văn Đồng lúc đó là Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao báo tin cho tôi biết, ngày 17 tháng 10 sẽ tiếp tôi ở Phủ Thủ tướng.

Dinh thự đã từng được đặt trụ sở làm việc của các Thống sứ Pháp tại Bắc Kỳ, nội thất không thay đổi mấy và bây giờ lại được chọn làm nơi làm việc của người đứng đầu ngành hành pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.


Cả Phạm Văn Đồng cũng hầu như không thay đổi. Vẫn tầm vóc cao lớn (so với người Việt Nam) thanh mảnh, trầm tĩnh, vẫn những gò má hóp sâu, cái nhìn chăm chú và rực lửa. Ông mặc bộ đồng phục màu sẫm, cài tất cả các cúc áo, thể hiện vẻ thanh tao khắc khổ. Người du kích chiến khu này đã trở thành người đúng đầu Chính phủ. Tiếng Pháp của ông, nếu còn đượm một chút âm điệu Việt Nam, vẫn luôn luôn uyên bác hiếm thấy, người nghe nhanh chóng nhận ra ông đã từng là một giáo sư.


Chúng tôi đang nói chuyện chung chung, ôn lại những kỷ niệm cũ, thì chợt cửa mở. Hồ Chí Minh bất ngờ xuất hiện một cách kín đáo, theo thói quen của ông mà tôi đã từng biết rất rõ.

Phạm Văn Đồng, có lẽ đoán trước sự bất ngờ dành cho tôi, đã đứng lên và mỉm cười.

Hồ Chí Minh! Nhưng có phải là Hồ Chí Minh thật không?

Tôi đã từng được nghe nhiều lần, những nguồn tin khác nhau nhưng rất đáng tin là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã bị thiệt mạng trong một trận ném bom hồi đang chiến tranh, và một người giống hệt ông đã được chọn để xuất hiện trước công chúng.


Chỉ một thoáng nhìn, tôi đã hiểu ngay đó chỉ là những tin đồn nhảm. Đúng là Hồ Chí Minh thật đang đứng trước mặt tôi, Hồ Chí Minh hôm nay cũng như ngày trước vẫn là người đứng đầu nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tám năm - và là tám năm dài dằng dặc - đã trôi qua kể từ năm 1946, điểm thêm cho cng một ít vệt mới. Đôi vai ông hơi trễ xuống, râu tóc ông đã bạc trắng, da ông có vẻ sẫm hơn, nhẵn hơn. Nếu người ông vẫn mảnh dẻ thì mặt ông lại đầy đặn hơn. Riêng có một điểm không hề thay đổi, đó là ánh lửa và sự linh lợi trong cái nhìn cũng như thái độ vừa từ tốn vừa hoạt bát của ông.


Vậy là chúng tôi lại giáp mặt nhau, tám năm sau buổi gặp gỡ ngày 3 tháng 12 năm 1946, lúc đó ông đang yếu mệt, và không che giấu tôi sự lo ngại trước diễn biến tình hình.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 08 Tháng Giêng, 2022, 08:17:18 am
Hồ Chí Minh có vẻ cũng xúc động như tôi. Có lẽ, cũng như tôi, ông đang thấy diễu qua trong trí nhớ những hình ảnh cuộc chiến đấu mà nhân dân Việt Nam đứng lên chống lại đạo quân viễn chinh của Pháp. Hồi đó, chỉ cách đây vài trăm mét, ngày 19 tháng 12 tôi đã bị thương nằm vật trên đường Borgnis Desbordes1 (Nay là phố Tràng Thi) khi chiếc xe bọc thép có vũ trang của tôi bị trúng mìn. Chắc hẳn lúc đó ông cũng nghĩ như tôi đang nghĩ. Nhưng chỉ vài giây sau, ông đã giơ cao hai cánh tay, xòe rộng hai bàn tay, nói với tôi: "Thế nào, ta ôm hôn nhau chứ?". Chúng tôi liền ôm choàng lấy nhau.


Ông tiếp tục nói với tôi:

- Ông thấy đấy, chúng ta đã đánh nhau, đã "chọi" nhau như ông vẫn thường nói ở Paris, trong suốt tám năm, nhưng mà là chiến đãu một cách đàng hoàng, thẳng thắn. Bây giờ hết chiến tranh rồi. Các ông cần phải tiếp tục thẳng thắn, và cùng với sự thẳng thắn đó, chúng ta sẽ cùng nhau thỏa thuận, cùng nhau cộng tác. Ông nghĩ thế nào? Mỗi bên một nửa.


"Cộng tác với nhau". Chắc chắn, đây là điều ông hi vọng. Nhưng mà là, cộng tác dưới một số điều kiện, mà trước hết là sự bình đẳng trong quan hệ ngoại giao. Đây là một vấn đề tế nhị mà nếu không có một giải pháp thỏa đáng thì có thể gây tổn hại, thậm chí có thể khiến cho dự định chung sống hòa bình không thê nào thực hiện được.


Thật vậy. Với chức vụ "Tổng đại diện" của Cộng hòa Pháp, thực chất tôi được thừa nhận lúc nào nước Pháp cũng đón nhận một Tổng đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến làm việc tại Paris. Ngay trong lúc này, thư ủy nhiệm trao cho tôi vẫn còn đang soạn thảo kỹ lưỡng và mãi tới ngày 16 tháng 12 tôi mới có thể trình Hồ Chí Minh. Văn bản này được viết rất thận trọng, đã hạn chế rất nhiều mức độ nhiệm vụ của tôi và có thể làm cho Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thất vọng.


Tuy nhiên, ông vẫn cứ coi tôi như một đại sứ thực thụ. Thậm chí, ông còn thừa nhận tôi là một trưởng đoàn ngoại giao trong nhiều năm tôi làm việc ở Bắc Kỳ, chứng minh tầm quan trọng của nhiệm vụ tôi tiến hành cũng như những lợi ích của Pháp đang còn giữ được ở đây. Nhưng, đây chỉ là một cử chỉ xã giao, thiện chí, và có lẽ là sự tín nhiệm cá nhân. Ngày 20 tháng 12, trong bữa "tiệc trà" do ông Phạm Văn Đồng tổ chức để chào mừng tôi sau khi tôi trình thư ủy nhiệm, có mời cả nhiều quan chức Pháp tại Hà Nội, Hồ Chí Minh còn thể hiện thiện chí của ông bằng cách lại bất ngờ xuất hiện, ngồi nói chuyện với chúng tôi một lúc và đề nghị tôi giới thiệu từng người Pháp có mặt với ông.


Tôi dần dần mất đi sự ưu ái đó, khi Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thấy nước Pháp vẫn chưa đối xử lại bằng quan hệ ngoại giao bình đẳng. Bắt đầu là việc Pháp không cho đặt tại Paris một văn phòng tùy viên thương mại Việt Nam năm 1956, mở đường cho một chuỗi sự kiện đáng tiếc kéo dài. Cho mãi tới năm 1966, khi tướng De Gaulle quay lại nắm chính quyền, Chính phủ Pháp mới mời một Tổng đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đại diện cho nước mình tại Pháp. (Đó là ông Mai Văn Bộ, ngày 17 tháng 5 năm 1961 được tiếp nhận là Trưởng phái đoàn thương mại của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở Pháp, ngày 1 tháng 8 năm 1966 được nâng lên làm Quyền Tổng đại diện và đến ngày 23 tháng 5 năm 1967 mối chính thức là Tổng đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông là người có phẩm chất công tác được tín nhiệm cao và có nhiều bầu bạn tại Pháp).


Những lý do gì đã ngăn cản Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Mendès France và những người kế tục ông, từ sau Hội nghị Genève 1954, không thiết lập quy chế bình đẳng ngoại giao mà Hà Nội chờ đợi? Mọi người ngờ rằng, đó là những phản ứng không nói ra của chính quyền miền Nam Việt Nam và cả của chính quyền Mỹ trước kia đã từng ủng hộ Việt Minh và lãnh tụ của Việt Minh là Hồ Chí Minh (mặc dù đã biết rõ quá khứ và những khát vọng của ông) nay muốn cân bằng đối chọi lại ảnh hưởng của Bắc Việt bằng việc biến Nam Việt thành một pháo đài chống cộng, không chì riêng cho Đông Dương mà cả khu vực Đông Nam Á. Đây chính là chính sách chống cộng do Ngoại trường Mỹ Foster Dulles khởi xướng và khai sinh ra hiệp ước Manilla.


Có lẽ do Ngô Đình Diệm báo động, chính quyền Mỹ đã lo ngại về sự có mặt của tôi ở Bắc Việt Nam tới mức đã thông qua đại sứ Pháp ở Washington buộc Bộ Ngoại giao Pháp phải gửi cho Bộ Ngoại giao Mỹ một bức điện làm dịu tình hình, nói rõ đã hạn chế sứ mệnh của tôi ở Hà Nội, nhằm làm yên lòng Mỹ. Từ ngày 16 tháng 9, ông Jean Daridan là Phó Tổng cao ủy Pháp ở Sài Gòn đã gửi cho tôi một bức thư cá nhân, nói rằng Chính phủ Pháp có vẻ tiếc về bước tiến về phía Hà Nội, và phải đợi tướng Ely từ Washington trở về mới có được những chỉ thị về hoạt động của tôi ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.


Hồi đó, Pháp chưa có những sức mạnh về vật chất và tinh thần để có thể làm trái ý Mỹ. Chúng tôi cũng không muốn làm tổn hại những lợi ích. quan trọng đang còn giữ được ở Nam Việt Nam, đồng thời cũng nghĩ đến những cơ may giữ được những lợi ích này ở miền Bắc cộng sản, nếu để cho chính quyền Bắc Việt được hưởng sự bình đẳng về ngoại giao.


Đó là điều dễ hiểu. Còn điều ít hiểu rõ hơn, đó là sự thiếu thống nhất ý kiến trong chính sách đối ngoại của Pháp. Bởi vì, hoạt động của tôi ở miền Bắc cũng không kém hữu ích so với đại sứ ở miền Nam Việt Nam, căn cứ vào những lý do mà tôi đã viết. Tại sao chúng ta lại không có được những cơ quan đại diện ngang nhau ở hai miền của xứ Đông Dương cũ? Hơn nữa, dù cho ta có nhân nhượng chính quyền Nam Việt Nam, tới mức loại bỏ cơ quan đại diện Pháp ở Hà Nội, thì cũng chưa chắc họ sẽ tỏ ra thích ứng hơn đối với ta. Ngược lại, những nhà cầm quyền Nam Việt Nam còn có thể coi cử chỉ này là một dấu hiệu yếu kém và sẽ còn đưa ra nhiều yêu sách hơn nữa, gây thêm nhiều khó khăn nữa.


Cuối cùng, trong trường hợp phải tổ chức Tổng tuyển cử như Hiệp định Genève ấn định, và nếu Việt Minh giành được thắng lợi như nhiều nhà quan sát nước ngoài đã dự báo, trở thành ông chủ của toàn bộ nước Việt Nam thống nhất, thì điều đó sẽ càng chứng minh sai lầm to lớn của chúng ta là ngay từ đầu đã không có một đại diện xứng đáng bên cạnh họ.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 08 Tháng Giêng, 2022, 08:18:13 am
Guy La Chambre thường nói: "Có Ely ở Sài Gòn và Sainteny ở Hà Nội, thế là cân bằng rồi". Nhưng trên thực tế trò chơi đồng đội không bao giờ có, hoặc có nhưng lại bỏ ngay. Hai nhiệm vụ mà tôi coi là đã bồi bổ cho nhau thì tướng Ely lại coi là thù địch lẫn nhau. Cơ quan Đại diện của Pháp ở Hà Nội ngày càng bị Sứ quán Pháp ở Sài Gòn đố kỵ.


Số nhân viên cơ quan Đại diện Pháp ở Hà Nội chỉ bằng một phần số nhân viên Sứ quán Pháp ở Sài Gòn. Cũng có lẽ, do hai cơ quan ở hai miền Nam, Bắc không giống nhau, cho nên đã tạo ra bầu không khí chính trị dẫn đến sự hung hăng từ lâu đã đối lập miền Nam với miền Bắc Việt Nam, làm cho việc chia cắt đất nước như Hiệp định Genève đề ra, cũng như sự khác nhau về hệ tư tưởng của hai miền, càng trỗi dậy. Hiện tượng này làm méo mó tầm nhìn từ Sài Gòn trong toàn bộ vấn đề Đông Dương: cái cây đã che lấp khu rừng. Tôi rất tiếc sự thiếu hợp tác, thiếu đồng bộ này khi nhìn thấy tận mắt cơ quan lãnh sự Anh ở Hà Nội được sự ủng hộ hoàn toàn của sứ quán Anh ở Sài Gòn.


Lúc này Chính phủ của Nữ hoàng Anh chưa chính thức công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhưng với chính sách thực tế cổ truyền của đất nước bên kia bờ biển Manche, người Anh đã "quên" không rút cơ quan lãnh sự Anh đã đặt tại Hà Nội từ trước Hội nghị Genève về nước. Gọi là cơ quan "Tổng" lãnh sự nhưng thật ra chỉ có ba nhân viên ngoại giao, đứng đầu là ông Geoffrey Baker, và công việc hàng ngày là chỉ chơi vài hiệp tennis trong sân cơ quan đại diện của Pháp, hoặc dự vài bữa cơm do các nhà ngoại giao không cộng sản, chủ yếu là đại diện Canada và Ấn Độ trong Uỷ ban Quốc tế kiểm soát và giám sát đình chiến mời. Ngoài ra, Tổng lãnh sự quán Anh quốc chẳng có một nhiệm vụ chính thức nào cả.


Một hôm, trong buổi chiêu đãi mừng kỷ niệm Quốc khánh Pháp 14 tháng 7 do chúng tôi tổ chức tại cơ quan Tổng đại diện Pháp ở Hà Nội, ông Phạm Văn Đồng gặp ba nhà ngoại giao Anh. Tôi giới thiệu: "Đây là ngài Tổng lãnh sự Anh...". Với một vẻ thản nhiên rất đáng ca ngợi, ông Đồng nói: "Chà! Tôi không được biết tại Hà Nội có một cơ quan lãnh sự Anh". Người Anh được giới thiệu đã "chịu mắc kẹt" bằng một nụ cười. Sự kiên nhẫn của ông đã mang lại kết quả. Vài tuần sau, lãnh sự Anh được mời dự tất cả những buổi chiêu đãi chính thức của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, dù chỉ đứng ở một vị trí thấp trong đoàn ngoại giao các nước.


Sau khi những nhà cầm quyền Pháp đã rút khỏi Hà Nội, thay bằng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mỹ cũng đã muốn duy trì ở Hà Nội một vị trí ngoại giao dưới sự điều khiển của Tổng lãnh sự Mỹ Cochrane.


Các nhà cầm quyền Việt Nam không trục xuất Tổng lãnh sự Mỹ nhưng đã "bóp nghẹt" dần dần, và chỉ nhờ có cơ quan Tổng đại diện Pháp nên lãnh sự quán Mỹ mới tồn tại được ở Hà Nội cho đến cuối năm 1954. Bên cạnh chúng tôi và những người Anh, còn có những người Canada, người Ấn Độ trong Uỷ ban kiểm soát và giám sát đình chiến. Còn đối với các nước Cộng sản thì họ đều có cơ quan đại diện ngoại giao tại Hà Nội, đồng nhất và hoạt động tích cực nhất là Trung Quốc và Nga Xô.


Tuy nhiên, ngay từ hồi đó người ta đã nhìn thấy một sự cạnh tranh giữa Liên Xô và Trung Quốc. Có thể nghĩ rằng, Hồ Chí Minh vẫn trung: thành với những biện pháp của mình là giữ vững một sự thăng bằng khó khăn giữa hai thế lực này. Liệu ông có nghĩ rằng, sau khi ông qua đời, những người kế tục ông có khôn khéo được như ông không? Có lẽ cũng vì thẽ cho nên trong di chúc để lại, Hồ Chí Minh đã khuyến khích Trung Quốc và Liên Xô chấm dứt những bất đồng của họ.


Thế giới cũng đã nhận thấy trong đoạn di chúc này lời căn dặn cao cả của Hồ Chí Minh thúc đẩy Trung Quốc và Liên Xô nối lại cuộc hòa giải đã bị đứt quãng. Mọi người còn nhớ Thủ tướng Liên Xô Kossyghin sau khi dự lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội trên đường về Matxcơva đã rẽ qua Bắc Kinh hội đàm với Thủ tướng Chu Ân Lai.


Liệu người Nga và người Trung Quốc có muốn tôn trọng ước nguyện của người đồng chí già Việt Nam của họ không? Chỉ riêng họ mới có thể trả lời. Điều có thể nhận ra là hai cường quốc vĩ đại của chủ nghĩa cộng sản đã hiểu ra rằng những mâu thuẫn đang tăng của họ, cho dù gọi là "mâu thuẫn nội bộ" vẫn có nguy cơ dẫn đến vực thẳm của cuộc đấu tranh tư tưởng. Cả hai bên, bên nào cũng muốn chờ cơ hội để nối lại những quan hệ đã bị phá vỡ mà khống bị mất thể diện là chủ động cầu cạnh làm thân trước. Bằng cách chấp nhận lời căn dặn cuối cùng của Hồ Chí Minh, họ đã có cớ gặp lại nhau mà họ đang chờ đợi, và cũng do đó họ đã tôn vinh tác giả bản di chúc đưa ra lời kêu gọi, không hề e ngại rằng uy thế của họ là hai nhân vật vĩ đại sẽ giảm sút vì đã biến người quá cố thành nhân vật vĩ đại thứ ba, mà ngay cả khi Hồ Chí Minh còn sống có lẽ họ cũng vẫn phải tôn trọng.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 08 Tháng Giêng, 2022, 08:26:11 am
XI
HỒ CHÍ MINH VÀ NHỮNG NGƯỜI CHUNG QUANH


Không nên quên rằng, Hồ Chí Minh sinh năm 1890 không phải từ thời thơ ấu đã được nuôi dưỡng ngay bằng các lý thuyết xã hội chủ nghĩa nhằm làm đảo lộn cấu trúc toàn thế giới. Và sau đó, khi đã trưởng thành, ông có nghiên cứu, thấm nhuần nhưng đều là tự học. Ngược lại, từ lúc thiếu thời ông đã được dạy dỗ theo cách cổ truyền. Nền văn hóa truyền thống mà ông được học từ lúc còn sống trong gia đình, cộng với nền văn hóa đại cương mà ông hấp thụ sau đó trong những chuyến đi xa tới nhiều nước, nhất là ở Pháp, đủ để phát triển trong ông khả năng phân tích, tạo cho ông sự mềm dẻo và tính thích tò mò nghiên cứu để vận dụng suốt đời. Ông đã đến với các lý thuyết mác-xít không phải từ mảnh đất chưa được học hành gì. Học thuyết mác-xít đã chinh phục ông khiến ông trở thành người truyền bá nhưng không phải vì thế mà ông không phân tích để vận dụng. Trước hết, ông là người thực tiễn, ông luôn luôn vận dụng cẩn thận lý luận vào hoàn cảnh thực tẽ, đặc biệt là trong hoàn cảnh Việt Nam, có những đặc điểm cần chú trọng.


Thật vậy, tôi xin nhắc lại là, Hồ Chí Minh luôn công nhận chỉ có lý luận của những bậc thầy tư tưởng của ông mới tạo điều kiện thắng lợi cho con đường ông đã vạch ra để đạt tới các mục tiêu, nhưng ông cũng hiểu rằng cần phải tôn trọng những khía cạnh của nền văn hóa Việt Nam và lúc nào cũng phải bám giữ tính chất Việt Nam. Ngay cả trong vấn đề này, ông đã nhìn đúng. Có thể đưa ra nhiều thí dụ trong lĩnh vực tôn giáo, văn hóa, giáo dục, học tiếng nước ngoài... Hồ Chí Minh đều có chính sách thích ứng với hoàn cảnh Việt Nam.


Về đặc tính cá nhân, Hồ Chí Minh không hề thay đổi chút nào tác phong của mình. Dù đã lên tới tột đỉnh quyền lực, uy tín tỏa ánh hào quang chiến thắng, những điều đó đều không ảnh hưởng tới cá tính của ông. Cho mãi tới lúc này, ông vẫn còn giữ lại được một vẻ khiêm tốn bẽn lẽn thời thanh niên khi dự hội nghị thành Tours, được Vaillant Conturier mời "đại biểu Đông Dương" lên phát biểu, hoặc khi Léo Poldès làm cho ông trở thành nhân vật rất được chú ý tại Câu lạc bộ ngoại thành Paris. Tôi cũng đã được nhìn thấy thái độ cư xử của ông lúc giáp mặt với Leclerc, d'Argenlieu, Goerges Bidault, Marius Moutet... đều như nhau, cũng như những lúc ông đối diện những nhân vật lẫy lừng đến thăm ông tại Hà Nội như Khroutchev, Nehru, Mikoyan, Cyrankievicz... Tôi nghĩ, đó cũng là đặc điểm của sự nhã nhặn châu Á, khiêm tốn, không phô trương.


Tôi còn nhớ, trong chuyến thăm chính thức nước Pháp, sau khi dự tiệc chiêu đãi tại tòa thị chính Paris, ông đã cầm một quả cam rồi đưa cho một bé gái đầu tiên trong đám đông đứng hoan nghênh ông phía dưới bậc thềm ngoài cổng. Người ta có thể cho rằng đây là một cử chỉ nhằm thu hút sự chú ý của quần chúng Paris. Thế nhưng, trong bữa cơm thân mật tổ chức tại Phủ Chủ tịch, chỉ có hai vợ chồng tôi và ông Phạm Văn Đồng được ông mời đến ông cũng cầm mấy quả quít đưa tặng vợ tôi. Đó là ông nhằm ý định gì? Nhất định không phải để cảm hóa tôi, bởi vì tôi biết ông rất rõ. Đấy có thể chỉ là phản xạ tự nhiên thừa hưởng từ những truyền thống cổ xưa của nhân dân Việt Nam, tức là dù quà tặng nhỏ bé đến đâu, thái độ cho quà vẫn quý hơn giá trị tặng phẩm. Đây có thể là biểu hiện ông hoan nghênh vợ tôi từ Pháp mới đến Hà Nội.


Chúng tôi được biết, cũng như ông, tất cả các bộ trưởng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong khi tiếp khách thì tiếp tại những dinh thự cũ của Pháp, nhưng khi trở về nhà lại sống một cách đơn giản nhất, trong những biệt thự chẳng một chút xa hoa lộng lẫy nào.


Trở lại thái độ của Hồ Chí Minh đối với các tín đồ Thiên chúa giáo và các tôn giáo nói chung, ở đây lại càng nổi bật nhân cách của Hồ Chí Minh và sự thức thời trong chính trị của ông. Chắc hẳn, trong khi công bố chính sách tự do tín ngưỡng, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trẻ tuổi muốn chứng minh chính sách tôn trọng tự do đã được ban hành. Không nên coi nhẹ sự kiện là từ thế kỷ 16, từ lúc bắt đầu truyền đạo, đến lúc này tại Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ đã có hơn một triệu con chiên ngoan đạo. Nhưng năm 1954, một nửa số này do bị Ngô Đình Diệm xúi giục và liên tục lôi kéo, đã di cư vào miền Nam vì lo sợ Việt Minh. Nhưng vẫn còn có tới năm hoặc sáu nghìn tín đồ Thiên chúa giáo chọn con đường ở lại miền Bắc, bất chấp những hành động cưỡng ép di cư.


Hồ Chí Minh hiểu là phải tin tưởng ở những người chấp nhận luật pháp Việt Nam mà vẫn không từ bỏ tín ngưõng của mình. Phạm Văn Đồng trong khi nói chuyện với tôi về tương lai của đất nước mình cũng tỏ ra rất bất bình trước việc cưỡng ép di cư các tín đồ Thiên chúa giáo và khẳng định với tôi, một khi nước Việt Nam hoàn toàn thống nhất cũng như hiện nay, sẽ không bao giờ có chuyện đàn áp tôn giáo.


Về phần tôi, cũng phải nói rằng, trong khi tiếp xúc với Hồ Chí Minh không một lần nào tôi thấy ông biểu lộ một chút gì tỏ vẻ bài xích, bi quan hoặc châm biếm đối với bất cứ một tôn giáo nào. Tôi không thể nào quên, trong cuộc hành trình đi Pháp năm 1946, trong chặng tạm dừng chân chờ đợi ở Biarritz, khi tôi sắp xếp chương trình giải trí cho ông, ông đã đề nghị tổ chức cho ông tới thăm Viện bảo tàng... tôn giáo ở Lourdes. Khi tới thăm, ông đã tỏ ra rất tò mò, muốn hiểu biết, rất lịch sự, rất tôn trọng Tổng giám mục Theas là người tiếp đón ông.


Cũng phải nhắc lại, trong thư gửi tôi đề ngày 24 tháng 2 năm 1947 ông Hồ đã tỏ ý cầu mong "Thượng đế phù hộ chúng ta", dường như muốn lấy Đức Chúa Trời làm nhân chứng, rằng cả ông lẫn tôi đều không ai phải chịu trách nhiệm về cuộc xung đột ác liệt từ ngày 19 tháng 12 năm 1946.


Cuối cùng, thật là thích thú khi được biết, trong bản di chúc của mình, nhà duy vật chủ nghĩa này đã viết: "Tôi để sẵn sàng mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác". Quả là lời tuyên bố rất ngạc nhiên của một người theo chủ nghĩa vô thần. Nhưng, cũng nên hiểu, ở Viễn Đông quan niệm "vô thần" có ý nghĩa khác với chúng ta thường nghe ở châu Âu.


Trong những năm 1954, 1955 và cả những năm tiếp theo, nhà cầm quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong các dịp lễ Toussaint1 (Tức ngày lễ các thánh (ngày mong mội tháng mười một)) và Noel đều thể hiện sự quan tâm đến nguyên tắc tự do tín ngưỡng và tự do thờ cúng. Từ trưa ngày 24 tháng 12 năm 1955 đã tuyên bố đây là ngày lễ của giáo dân, các tín đồ được tiến hành các nghi thức tôn giáo một cách nồng nhiệt và đông đảo trong đêm hôm đó. Năm 1955, trong thư gửi giáo dân Việt Nam, Hồ Chí Minh tuyên bố: "Trong đêm Noel hòa bình thứ hai này, đồng bào ta ở miền Bắc có thể tự do cầu nguyện Đức Chúa Trời vì quân địch không còn chiếm đóng nhà thờ, giết hại dân lành nữa". Lãnh tụ Việt Minh còn so sánh hoàn cảnh giáo dân được ở lại miền Bắc với đồng bào bị cưỡng ép di cư vào Nam đang "tưởng nhớ tới xóm làng quê hương". Ông kêu gọi "giáo dân hai miền đấu tranh cho hòa bình và thống nhất".


Cùng với việc tuyên truyền, giác ngộ giáo dân mà đích thân Hồ Chí Minh tiến hành, còn thành lập "Uỷ ban liên lạc giáo dân yêu nước" nhằm đấu tranh cho thống nhất là "ý chí kiên quyết của nhân dân hai miền Nam Bắc".


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 08 Tháng Giêng, 2022, 08:30:44 am
XII
CHUNG SỐNG HÒA BÌNH


Với chủ trương giữ lại những cơ sở của Pháp ở miền Bắc Việt Nam, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lúc đó hẳn là muốn thử nghiệm sự "chung sống" giữa nước Pháp "tư bản" với nước Việt Nam "cộng sản".


Năm 1954 sau khi quân đội Pháp đã hoàn toàn rút khỏi miền Bắc Việt Nam, tại đây vẫn còn hầu như toàn bộ các cơ sở kinh doanh, dịch vụ của Pháp như: công ty xe lửa và xe điện, sở điện, nước, bưu điện và vô tuyến viễn thông, bến cảng thương mại và trường dạy lái tàu biển, hạ tầng cơ sở hàng không, các bệnh viện và trường học... Trong số này có những cơ sở quan trọng như: Viện dịch tễ mang tên Pasteur; Viện ung thư, Trường Viễn Đông bác cổ, các trường trung học, đại học, bệnh viện; những công ty kinh tế tư nhân tạo thành nền tảng thiết yếu của nền kinh tế Bắc Việt như: công ty than, công ty xi măng, công ty rượu bia và nước đá, các ngân hàng, phòng thương mại, các khách sạn, các nhà chữa xe ô tô và đủ loại công xưởng. Trong số các xí ngiệp quan trọng nhất, chỉ riêng nhà máy dệt Nam Định mà phần lớn cổ phần thuộc về Thụy Sĩ, nên không gọi là cơ-sở của Pháp.


Từ tháng 8 năm 1954, trong cuộc đàm phán hai bên tại Phủ Lỗ, giữa các chuyên viên kinh tế kỹ thuật Pháp và Việt Nam, phía Việt Nam đã biểu lộ lòng mong mỏi và thừa nhận sự cần thiết để cho các cơ sở này tiếp tục hoạt động ở miền Bắc Việt Nam. Sau khi tôi trở lại Hà Nội, trong những buổi thảo luận với Phạm Văn Đồng, ông đều nhắc lại vấn đề này. Đại sứ Liên Xô tại Việt Nam lúc đó là Lavritchev cũng cổ vũ tôi giữ nguyên các cơ sở kinh tế Pháp tại chỗ.


Sau nhiều cuộc thương lượng, ngày 10 tháng 12 năm 1954 một bản thông báo có chữ ký của Phan Anh và Đặng Việt Châu, tức Bộ trưởng và Thứ trưởng Bộ Kinh tế Việt Nam đã ghi nhận những điều kiện do tôi yêu cầu để việc giữ lại các cơ sở kinh tế của Pháp ở Bắc Việt Nam trở thành hiện thực. Những điều kiện đó có thể được coi là đủ bảo đảm, thậm chí còn đáng khích lệ. Nhưng, đứng trước tình huống triển vọng tiếp tục hoạt động theo cấu trúc tư bản chủ nghĩa tại một nước đi theo chủ nghĩa Mác - Lênin chính thống, nhiều doanh nghiệp Pháp tỏ ra lo ngại, từ chối thử nghiệm một cuộc phiêu lưu. Lúc đó, người ta lo sợ tương lai các cơ sở này cũng chịu số phận giống như các cơ sở kinh tế phương Tây ở Thượng Hải.


Về phía Việt Nam, họ giữ lại các cơ sở của Pháp xuất phát từ lý do rất thực tế: họ muốn nền kinh tế trong nước tiếp tục vận hành. Hơn nữa, những người trước kia là "dân bảo hộ" của Pháp, lúc này vẫn chưa đủ khả năng thay thế các chuyên viên Pháp quản lý các xí nghiệp, mặc dù những người Pháp này cũng muốn trở thành các huấn luyện viên xuất sắc, tự hào về những học trò của mình, cùng chia sẻ với họ một sự đảm bảo tốt đẹp đê các cơ sở này hoạt động.


Sau này, sở dĩ không thực hiện được lâu dài việc chung sống, tôi nghĩ đó là sai lầm ở cả đôi bên. Về phía Việt Nam, từ những người thợ phụ nhưng có tài, chỉ sau một qúa trình chập chững không tránh khỏi lúc đầu, họ đã nhanh chóng trờ thành những chuyên viên kỹ thuật có thể thay thế người Pháp. Đúng là họ còn được sự giúp đỡ to lớn của các chuyên viên "nước bạn'' được cử tới Việt Nam làm việc bên cạnh họ. Đó là những cán bộ Liên Xô, Tiệp Khắc, Ba Lan, Hung, Đông Đức v.v... chưa kể đến các chuyên gia Trung Quốc (đặc biệt trong lĩnh vực giao thông) rất sốt sắng, làm việc không ngại khó nhọc vất vả, đóng góp có hiệu quả vào việc phục hồi các trục lộ quan trọng.


Hồ Chí Minh cũng đã tự mình can thiệp vào việc giữ lại các chuyên gia Pháp. Chỉ vài tuần sau khi tôi trở lại Hà Nội, trong một buổi tiếp xúc tôi đã nói với ông: "Ngài vẫn thường nói mong nước Pháp trở lại. Vậy thì tôi đây. Xin ngài cho biết đang chờ mong gì ở tôi?". Hồ Chí Minh trả lời: "Chúng tôi có rất nhiều việc phải làm và chúng tôi không thể cùng làm ngay trong một lúc được. Điều tôi mong muốn là các ông duy trì hoạt động kinh tế trên đất nước này; vì lẽ đó, chúng tôi đang cần đẽn các cơ sở kinh tế của các ông và muốn những cơ sở này vẫn ở lại". Sau khi tôi trả lời là, điều quan trọng cần phải có là sự tin cậy. Ông đáp: "Chúng tôi sẽ cố gắng!"


Chính phủ Việt Nam có thể khẳng định họ đã cố gắng. Nhưng theo sự nhìn nhận của chúng tôi, những cố gắng này có vẻ chưa bộc lộ hết và chưa đủ làm yên lòng những người Pháp như họ mong muốn.


Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cũng như Phạm Văn Đồng đều tỏ ra sốt sắng. Xin nêu một ví dụ: ngày 26 tháng 3 năm 1955 trong bữa cơm chỉ có ba người là Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng và tôi, Chủ tịch Việt Nam đã tố cáo chính quyền Nam Việt Nam, chính quyền Mỹ và cả Pháp nữa đang có thái độ thù địch đối với Bắc Việt Nam, muốn bao vây cô lập nhiệm vụ của tôi và làm cho sứ mệnh của tôi bị thất bại. Sau đó, ông đề nghị tôi khuyến khích những đồng bào tôi ở lại miền Bắc Việt Nam.


Cũng như mọi lần trước, lần này tôi đã nêu lên sự thiếu đảm bảo vững chắc khiến cho các doanh nghiệp Pháp lo lắng. Tôi cũng nêu lên sự kiện ở Thượng Hải và tất cả những lý do khác để chứng minh thái độ bi quan của các nhà kinh doanh Pháp, trong đó có việc thiếu đạo luật kinh doanh và những thỏa thuận thích đáng về tiền tệ. Nhưng Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục nói:

- Tất cả những điều đó ông nêu lên chứng tỏ ông chưa thật quyết tâm nghe và hiểu chúng tôi. Do đó, các ông đã bỏ mặc, không muốn chờ đợi để chúng tôi có thời gian giải quyết tất cả các vấn đề tế nhị này. Cũng cần phải nói thẳng, chúng tôi chưa chuẩn bị trên các lĩnh vực này. Còn trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, khoa học, nói gọn là trên tất cả các lĩnh vực không có sự tồn tại của chủ nghĩa thực dân, thì chúng tôi luôn luôn mong muốn một sự hợp tác rất chặt chẽ với Pháp. Rất tiếc là ông đã không giải thích được cho các đồng bào của ông hiểu rõ điều này.


Tôi nói lại, cách thức tốt nhất giúp tôi giải thích cho đồng bào của tôi, là ký kết một bản hiệp định có lý có lẽ trên tất cả các vấn đề lớn đang thương lượng. Cuộc nói chuyện kéo dài mà không đi đến đâu cả. Cuối cùng, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trở lại luận điểm mà ông đã nói với tôi khi tôi và ông vừa mới gặp lại nhau ở Hà Nội:

- Chúng ta đã chiến đấu thẳng thắn suốt tám năm. Bây giờ chiến tranh đã kết thúc. Chúng ta có thể cùng làm việc bên nhau, dựa trên tinh thần thẳng thắn đó, và lần này là vì lợi ích chung, vì hạnh phúc của nhân dân hai nước.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 08 Tháng Giêng, 2022, 08:32:27 am
Sau buổi nói chuyện trong bữa cơm giữa ba người, tôi điện về Paris báo cáo với Chính phủ Pháp:

"Tôi có cảm tưởng là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đang thật sự lo ngại khi thấy trong kinh tế Pháp rời bỏ miền Bắc Việt Nam. Dưới mắt các nhà lãnh đạo Việt Nam, đây là do nước Pháp muốn "chơi" con bài Nam Việt Nam, bỏ mặc Bắc Việt Nam và các Đồng minh, chế độ dân chủ nhân dân của họ đối phó với các vấn đề kinh tế.

Điều đáng thất vọng là đã không tạo được niềm tin cậy lẫn nhau và từ sự nghi kỵ đã đẻ ra những trì hoãn, lần lữa, những do dự, những sự không rõ ràng làm nản lòng những người Pháp có thiện chí và củng cố thêm lập trường chống đối của những người Pháp lúc nào cũng thù địch với mọi mưu toan chung sống.


Tất nhiên, phải đẩy mạnh thêm nỗ lực để đi đến giải quyết dứt điểm những lĩnh vực quan trọng như các xí nghiệp than. Theo tôi, một giải pháp thỏa đáng có thể ký kết trong tuần tới".

Thỏa thuận về vấn đề các mỏ than được ký kết ngày 8 tháng 4 năm 1955, Công ty than Bắc Kỳ của Pháp được bồi thường năm tỉ, trả bằng một triệu tấn than trong vòng mười lăm năm và được quyền thương lượng rao bán.


Xí nghiệp quốc doanh than Hồng Gai tiếp quản các mỏ than thay Công ty than Bắc Kỳ của Pháp, dựa theo các thỏa thuận ký kết ngày 8 tháng 4 năm 1955. Theo yêu cầu của Bộ Công nghiệp Việt Nam, một số "cán bộ" người Pháp chấp nhận ở lại một thời gian để cùng cộng tác với người Việt.


Còn những cơ sở Pháp từ chối thương lượng, cứ rời bỏ Việt Nam trở về Pháp đều được lĩnh bồi thường sau. Một vài cơ sở có thể thương lượng trên các điều kiện thỏa đáng cũng đã tiến hành mọi việc theo từng mức độ và cuối cùng tất cả đã cuốn gói ra đi.


Phần trách nhiệm của Hồ Chí Minh về thất bại trong mưu toan chung sống này như thế nào? Điều đó rất khó nói. Không ai có thể khẳng định được, vì đây thật sự là một chuyện cá cược khác thường, đòi hỏi tất cả hai bên đều phải có đầy đủ thiện chí vô tận và hoàn toàn lãng quên quá khứ.


Nước Pháp cũng phải chịu một phần trách nhiệm về thất bại của thử nghiệm này. Đây là một thử nghiệm hấp dẫn, dù chỉ tiến hành trong một thời gian nhất định, nhưng cũng không thiếu những bài học phong phú.


Mới đầu, nước Pháp cũng đã sắp xếp những phương tiện cần thiết cho mưu toan chung sống một cách trung thực. "Phái đoàn" của tôi (danh từ này vẫn còn là tên của cơ quan Tổng đại diện Pháp trong một thời gian lâu) từ năm 1954 đến 1955 gồm có một "tao đàn" những người có phám chất, bước vào "cuộc chơi" một cách hoàn toàn trung thực, tất cả đều tình nguyện làm việc tại một vị trí mà họ hiểu rất rõ nhiệm vụ. Phái đoàn này gồm có đô đốc Flichy, các ông Hubert Argod, Jean - Baptiste Georges - Picot, Pierre Billecocq, Roland Sadoun, Hubert Dubois, Roger Duzer, Loic Moreau, Cans, Beauchataud, các giáo sư Bourlière, Huard, Serafino và nhiều người khác mà tôi không thể nào kể hết, đều đồng thời làm việc, hoặc lần lượt từng người làm việc với một niềm tin và sự thông thạo, từ bỏ mọi hiềm thù và mọi ẩn ý xấu khi quay trở lại Việt Nam.


Nhưng ở Paris và những nơi khác, lại có những người che ô cho phái đoàn chúng tôi ở Hà Nội tìm mọi cách để làm biến đổi ý nghĩa và giảm bớt tầm vóc của công việc.

Hồ Chí Minh đã có lý khi nói đến "sự thù địch" đang bao vây chúng tôi. Sự thù địch này một phần là do Mỹ lo ngại sự có mặt của Pháp tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ là biểu hiện thừa nhận ngấm ngầm hình ảnh và quyền lực của Pháp trong khu vực Đông Nam Á. Một số cơ sở kinh tế của Pháp trong khu vực Hải Phòng (được di tản sau cùng, tức ba trăm ngày sau khi ký Hiệp định Genève) đã bị Mỹ đe dọa trừng phạt về kinh tế, trong trường hợp họ chọn con đường ở lại Bắc Kỳ.


Về phía các chủ doanh nghiệp Pháp, cũng cần phải nói thẳng ra là cũng có một số không muốn ở lại nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, dù có cơ hội chung sống hòa bình. Họ suy nghĩ dựa trên những nguyên tắc của họ là lợi nhuận, muốn rút về nước để được tiền bồi thường, đơn giản hơn và có lợi hơn.


Một tuần báo ở Paris đã tự bộc lộ mặt rất rõ là người phát ngôn của chính sách rời bỏ. Tờ báo này trong một bài có liên quan đến phái đoàn chúng tôi đã dùng những lời lẽ thật độc ác và dối trá để đi tới kết luận: "Thêm một lần nữa, đây lại là một sự mất danh dự của nước Pháp".


Họ đã gán cho chúng tôi "làm mất danh dự" Tổ quốc trong khi chúng tôi đang cố duy trì một số vị trí thỏa đáng của nước Pháp trong khu vực Đông Nam Á là khu vực đang quyết định sự tiến triển của thế giới.


Tiêu đề: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ
Gửi bởi: nhinrathegioi trong 08 Tháng Giêng, 2022, 08:33:58 am
XIII
NHỮNG CUỘC ĐỐI THOẠI CUỐI CÙNG


Tháng 7 năm 1966 là thời điểm tôi được gặp Hồ Chí Minh lần cuối cùng.

Lúc này, Tổng thống Cộng hòa Pháp De Gaulle đang chuẩn bị đi thăm Campuchia theo lời mời của Quốc trưởng Norodom Sihanouk. Ông cử tôi đi thu lượm tình hình tin tức tại một số nước châu Á. Sau khi đi Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu, Phnôm Pênh, Viêng Chăn, tôi tới Hà Nội và ở lại đây vài ngày.


Ngày 4 tháng 7 tôi có những cuộc nói chuyện với Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh vào buổi sáng, với Thủ tướng Phạm Văn Đồng vào buổi chiều, dự bữa cơm chiêu đãi do Bộ Ngoại giao Việt Nam tổ chức vào buổi tối. Buổi nói chuyện giữa tôi với Thủ tướng Phạm Văn Đồng kéo dài. Ông cho dọn thêm món ăn mời tôi. Tôi cảm thấy ông vẫn giản dị và thoải mái như buổi tôi gặp ông lần đầu tại Paris hồi tháng 4 năm 1946, khi ông dẫn đầu đoàn đại biểu Quốc hội Việt Nam, gọi là "phái đoàn thiện chí" tới thăm Pháp, mở đường cho việc ký kết Hiệp định Pháp - Việt ngày 6 tháng 3 rồi sau đó là Hội nghị Fontainebleau.


Buổi nói chuyện ngày 4 tháng 7 với Phạm Văn Đồng được bổ sung bằng một cuộc gặp bất ngờ. Hồ Chí Minh xuất hiện mà không báo trước, vẫn bước đi rất nhẹ, hai tay rộng mở, ông tươi cười nói: "Tôi được biết ông đang ở đây. Tôi không muốn chờ buổi gặp chính thức sẽ được tổ chức vào ngày mai nên lại đây ngay để chào ông". Sau đó, ông xen vào cuộc nói chuyện đã kéo dài hơn một giờ giữa tôi với Thủ tướng Phạm Văn Đồng, hỏi tôi nhiều chuyện về tình hình gia đình, con tôi đã bao nhiêu tuổi, nhờ tôi thay mặt ông ôm hôn các cháu v.v... Đây là cuộc nói chuyện ngẫu hứng, bên lề những vấn đề đang quan tâm, một lần nữa càng nổi bật đặc tính cá nhân và thái độ thân tình của Ho Chí Minh trong cuộc tiếp xúc ngắn. Lúc ông đi cũng kín đáo, nhẹ nhàng như lúc đến.


Ngày hôm sau, 5 tháng 7, mới là cuộc gặp chính thức của tôi với Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, đặt tại dinh Toàn quyền cũ của Pháp ở Đông Dương. Mặc dù tòa lâu đài này mang tên chính thức là "Phủ Chủ tịch" nhưng trên thực tế ông không ở trong tòa nhà này. Trái với cuộc gặp "bất ngờ" hôm qua, cuộc tiếp xúc chính thức hôm nay đã được tổ chức rất chu đáo.


Cùng dự buổi tiếp khách với Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn có Bộ trường Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, Vụ trưởng Vụ châu Âu Nguyễn Thanh Hà. Một lúc sau, hai vị này xin rút lui, chỉ còn lại Hồ Chí Minh và tôi nói chuyện lâu với nhau. Nhưng sau đó, ông Phạm Văn Đồng lại đến cùng với ông Thạch và ông Hà. Đến khi ông Hồ Chí Minh kết thúc buổi tiếp tôi, tôi vẫn còn tiẽp tục nói chuyện với các ông Đồng, Thạch, Hà.


Khi tôi đưa trình thư ủy nhiệm của Tổng thống De Gaulle, Chủ tịch Hồ Chí Minh liếc đọc nội dung "giới thiệu" tôi bằng những từ ngữ trịnh trọng kiểu ngoại giao rồi cười to và nói: "Lại giới thiệu ông với tôi à! Không cần thiết. Tôi nghĩ, chúng ta đã biết rõ nhau lắm rồi, quen nhau từ lâu rồi..." (Cũng với giọng nói này, sau đó ông còn bảo tôi: "Này! Ông đừng gọi tôi là Ngài Chủ tịch nữa. Giữa chúng ta với nhau, xưng hô như thế kỳ cục lắm".


Lá thư của tướng De Gaulle quả đã làm Hồ Chí Minh rất vui lòng, đã bù đắp được sự tiếc nuối của Hồ Chí Minh năm 1946 không thể gặp tướng De Gaulle trong chuyến đi thăm nước Pháp. Sự hài lòng của Hồ Chí Minh còn thể hiện rõ trong những dòng viết trong thư trả lời nhờ tôi chuyển tới Tổng thống nước Cộng hòa Pháp.


Sau khi những người khác đã lui ra ngoài hết, chỉ còn lại hai chúng tôi, chúng tôi mới đề cập đến vấn đề trọng đại nhất: đó là cuộc chiến tranh đang chia xé toàn bộ nước Việt Nam. Bằng những lời lẽ điềm đạm, nhà cách mạng lão thành giải thích cho tôi rõ những lý do khiến ông tin chắc sẽ giành được thắng lợi cuối cùng. Niềm tin này dựa trên sự khẳng định, chắc chắn Mỹ cũng như mọi tên "xâm lược" khác trong lịch sử từng ôm ảo vọng khuất phục Việt Nam nhưng cuối cùng đã phải mệt mỏi, chán nản bỏ cuộc, cộng với sự khẳng định chắc chắn nhân dân Việt Nam sẽ biết cách đương đầu với gánh nặng của cuộc chiến tranh này, dù kéo dài bao lâu cũng vẫn vượt qua được.


Tôi đưa ra nhận xét, điều này rất có lý nếu kẻ địch chỉ giữ mức độ gây sức ép như hiện nay, nhưng địch còn có thể tiến hành chiến tranh theo cách khác, và nếu Mỹ huy động một bộ phận lớn hơn nữa trong tiềm lực quân sự của họ thì tình hình sẽ đổi khác. Trong lời đáp lại của ông Hồ, tôi lại thấy nổi bật lên quyết tâm giống như hồi hai mươi năm trước khi ông phác họa trước mặt tôi triển vọng tình hình của một cuộc đụng độ Pháp - Việt, vẫn bằng một giọng trầm, bình thản, (còn trong lòng tôi thì lại lo lắng) ông nói: "Chúng tôi hiểu rõ sức mạnh của những kẻ thù của chúng tôi. Chúng tôi biết rõ, nếu Mỹ muốn thì họ có thể san bằng thành phố này cũng như họ có thể phá tan các thành phố quan trọng ở miền Bắc Việt Nam như: Hải Phòng, Nam Định, Bắc Ninh và tất cà những thành phố khác. Chúng tôi đang chờ và chúng tôi cũng đã chuẩn bị để đối phó, nhưng điều đó sẽ không làm suy yếu quyết tâm của chúng tôi chiến đấu tới cùng", ông nói thêm: "Các ông biết đấy, chúng tôi đã có kinh nghiệm, và các ông cũng" đã biết chiến tranh kết thúc như thế nào rồi". Trong khi liên hệ với chiến thắng Pháp, ông không hề tỏ ra khoe khoang hoặc muốn châm chọc chúng tôi. Ông chỉ đơn giản nhắc lại một thực tế đã xảy ra, dẫn ông đến niềm tin vững chắc.


Lúc này, tôi thấy rõ, trước mặt tôi là một nhân vật thật dũng cảm, và vẫn còn rất sáng suốt.

Ba năm sau, tức ngày 9 tháng 9 năm 1969, vài giờ sau khi dự lễ truy điệu Hồ Chí Minh ngay trong tòa nhà mà tôi đã gặp Chủ tịch Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lần cuối cùng, tôi lại có một buổi nói chuyện lâu với Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Dù đang rất xúc động bởi đã mất một nhân vật mà ông từng được sông và làm việc lâu năm bên cạnh, ông vẫn sẵn sàng tiếp chuyện tôi. Ông Đồng nói với tôi về hai vấn đề to lớn đang còn tồn tại trên đất nước Việt Nam: đó là chiến tranh và thống nhất. Và ông đã nói với tôi bằng một quyết tâm, một sự kiên định hệt như Hồ Chí Minh, bằng những lời gần như Hồ Chí Minh đã bộc lộ với tôi trong buổi nói chuyện cuối cùng năm 1966.


Điều này càng khẳng định trong tôi, như tôi đã đoán trước, là không thể chờ mong một sự thay đổi nào khác trong đường lối chính trị, cũng như trong các nhân vật lãnh đạo ở Việt Nam.

Hồ Chí Minh vẫn được đảm bảo có sự kế tục sự nghiệp vững chắc.