Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: macbupda trong 02 Tháng Chín, 2021, 09:09:33 am



Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Chín, 2021, 09:09:33 am
Tên sách: Miền sóng vỗ
Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
Năm xuất bản: 2011
Số hóa: macbupda

(https://i.imgur.com/tOjgSvD.jpg)

(https://i.imgur.com/ldR6ZBn.jpg)

CÙNG BẠN ĐỌC!

Sinh trưởng ở một vùng quê giàu truyền thống yêu nước và đấu tranh chống ngoại xâm, lớp thanh niên chúng tôi ngày ấy được đắm mình trong hào khí Cần Vương hừng hực kháng Pháp của ông cha thuở trước. Nợ nước, thù nhà đã khiến tôi “xếp bút nghiên” lên đường và trở thành chiến sĩ của Trung đoàn 18, về sau là Trung đoàn 101 - Trần Cao Vân, thuộc Đại đoàn 325 danh tiếng.

Được trui rèn qua những trận đánh khốc liệt, những chiến dịch hết sức cam go trên chiến trường Bình Trị Thiên khói lửa, chiến trường Lào và vùng đông bắc Campuchia đầy gian khổ, tôi từng bước, trưởng thành và có thêm kinh nghiệm trận mạc. Hơn 40 năm liên tục gắn bó với biển, đảo, có thể nói Hải quân chính là máu thịt và là cuộc đời tôi với tất cả tình yêu thương, gắn bó tâm huyết.

Trải qua rèn luyện và thử thách, tôi lần lượt được cấp trên tin cậy giao đảm trách nhiều cương vị công tác khác nhau. Từ đơn vị chiến đấu cơ sở đến cơ quan tác chiến và lần lượt Phó tham mưu trưởng, Phó tư lệnh Tham mưu trưởng, đến Tư lệnh Quân chủng Hải quân, tôi được chứng kiến nhiều sự kiện với đầy ắp những kỷ niệm. Đọng lại trong tôi vẫn là ân tình sâu nặng đối với Đảng, với cách mạng, với quân đội và với nhân dân.

Suốt nửa thế kỷ làm lính Cụ Hồ, trở về với đời thường sau nhiều trăn trở, tôi quyết định ghi lại đôi điều suy ngẫm của mình về những tháng năm cầm súng đánh giặc. Trước hết là để con cháu trong gia đình tự hào về truyền thống của cha ông và quan trọng hơn là thấu hiểu được giá trị của độc lập, tự do. Qua cuốn sách nhỏ này, tôi muốn chia sẻ cùng các thế hệ kế tiếp về một khát vọng cháy bỏng là xây dựng Hải quân nhân dân Việt Nam hùng mạnh, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo thân yêu của Tổ quốc ta.

Cảm ơn Đại tá Nhà văn Nguyễn Minh Ngọc, người đã nhiệt tình dành thời gian giúp tôi thể hiện ý tưởng, hoàn thiện và nâng cao chất lượng bản thảo. Xin cảm ơn các đồng chí, đồng đội và bầu bạn xa gần cùng người thân trong gia đình đã động viên, khích lệ tôi thực hiện cuốn hồi ký “Miền sóng vỗ” này.

Độ lùi về thời gian cho phép ta nhìn rõ hơn và đánh giá khách quan hơn về các sự kiện xảy ra trong quá khứ. Tuy nhiên, trí nhớ của con người có giới hạn vì vậy chắc khó tránh khỏi khiếm khuyết. Rất mong đồng chí, đồng đội và bạn đọc lượng thứ.

Phó Đô đốc MAI XUÂN VĨNH


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Chín, 2021, 09:10:35 am
Chương một

QUÊ HƯƠNG VÀ TUỔI THƠ

Quê tôi ở làng Thọ Linh Thượng, tổng Thuận Thị, phủ Quảng Trạch, nay là thôn Thọ Linh, xã Quảng Sơn, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Tôi được sinh vào ngày 15 tháng 4 năm 1930, nhằm ngày 17 tháng 3 năm Canh Ngọ. Vậy nhưng khi tôi bắt đầu cắp sách đi học, không hiểu ai đã ghi ngày sinh là 15 tháng 4 năm 1931, chắc là có sự nhầm lẫn, bởi bác tôi, bà Mai Thị Nha khẳng định tôi sinh năm Canh Ngọ.

Cha tôi tên là Mai Xuân Húc (1901-1977) con trai trưởng của ông Mai Xuân Đóa (1871-1946) và bà Phan Thị Phờn (1880-1944). Mẹ tôi, bà Trần Thị Chạt (1904-1947) là con gái út của ông Trần Đình Phấn (1863-1947) và bà Phạm Thị Oanh (1864-1927). Ông bà ngoại tôi đều là người cùng quê. Mẹ tôi bảy lần sinh con (có hai lần sinh đôi) nhưng chỉ nuôi lớn được năm người: anh Mai Xuân Thia (1923-1980) và tôi, Mai Xuân Vĩnh rồi đến các em gái Mai Thị Liên (1935), Mai Thị Mẫn (1940), Mai Thị Me (1944), Mai Thị Quy (1946-1947). Còn các em khác mất khi chưa đầy tháng.

Mẹ kế tôi là bà Trần Thị Nhỏ (1913-1983) là con gái thứ hai của ông Trần Ngọc Tía và bà Đinh Thị Nga, người cùng quê. Bà sinh được ba người em là: Mai Xuân Quế (1950), Mai Thị Hoa (1953-1964), Mai Thị Thơm (1956).

Thủy tổ dòng họ Mai ở làng Thọ Linh của tôi là cụ Mai Phúc Khánh, quê gốc ở xã Trung Thanh Oai, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên, đạo Sơn Nam (xã Kiến Hưng, thị xã Hà Đông, Hà Tây, nay thuộc Hà Nội), ông là người thông minh, hiểu biết rộng, tính tình cương trực, có chí lớn. Dưới thời vua Lê Thái Tông (1460-1497) ông được triều đình giao cầm đầu một đạo quân vào Nam đánh dẹp quân phiến loạn Chămpa ở Ô Châu (nam Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế ngày nay).

Vâng mệnh triều đình, ông lo rèn tập quân binh, tích cực chuẩn bị quân lương và khí giới, thực hiện cuộc trường chinh hàng nghìn dặm, vượt qua nhiều vùng miền bây giờ còn chưa kịp khai phá. Với công trạng đánh dẹp quân giặc, vỗ về yên dân, ông Mai Phúc Khánh được vua phong tước “Tham Nghị Trác Lộc Nam”. Sau khi giành thắng lợi, triều đình cho ông lui quân về Bắc. Khi hành quân ra đến tây nam huyện Quảng Trạch, Quảng Bình ngày nay, thấy vùng đất dưới chân núi Ngùi bên dòng sông Rào Nan (một nhánh của sông Gianh) phong cảnh sơn thủy hữu tình, địa thổ phì nhiêu chưa có ai khai phá, ông bèn vận động thân binh tùy thuộc (được triều đình cho phép) ở lại đây khai phá thành ruộng vườn, định cư lập nghiệp lâu dài.

Ông Mai Phúc Khánh đề xuất, phương án định hướng “Kiến dĩ Ngùi sơn phát tích” (xuất phát từ núi Ngùi sẽ làm nên sự tích), vạch kế cho dân làm ăn. Vào khoảng năm 1473, sau một thời gian khai phá, sản xuất có kết quả, nơi ăn chốn ở ổn định, ông đề xuất và được người dân đồng tình lập ấp, đặt tên làng là Kim Linh. Như vậy, họ Mai là một trong những dòng họ có công đầu khai sơn phá thạch lập nghiệp ở vùng đất này.

Đến đời vua Minh Mạng năm thứ tư (1823) thấy tên làng mang chữ Kim là phạm húy Đức Thủy tổ Cao hoàng nhà Nguyễn (Nguyễn Kim) nên buộc làng Kim Linh phải đổi tên thành Thọ Linh (tên làng Kim Linh, Thọ Linh tồn tại đến nay trên 530 năm).

Ông thủy tổ Mai Phúc Khánh sinh và mất vào khoảng năm 1440-1504. Mộ ông hiện được an táng tại nghĩa trang dòng họ Mai ở Hà Sơn, Thọ Linh, xã Quảng Sơn, Quảng Trạch, Quảng Bình.

Hơn 400 năm sau khi ông Mai Phúc Khánh qua đời, vua Khải Định (1916-1925) xét thấy công lao của ông ngay từ buổi đầu khai khẩn, đặt nền móng lập làng xã, tạo cuộc sống cho dân bền vững và phát triển nên đã truy phong cho ông tước “Đại lang Dực bảo Trung hưng, Trung đẳng Linh phù Tôn thần”.

Tôi thuộc hàng hậu duệ đời thứ 15 của dòng họ Mai và là chắt nội của ông Mai Lượng (1838-1890) tục gọi Lãnh Mai (đời thứ 12). Xuất thân trong một gia đình nhà Nho nghèo có truyền thống hiếu học, mặc dù sớm mồ côi cả cha lẫn mẹ, nhưng ông Mai Lượng được người anh ruột là Mai Thức nuôi dạy và cho ăn học. Là người có tư chất thông minh, lại giàu ý chí và nghị lực, nên từ thuở thiếu thời, ông đã được nhiều người yêu mến.

Cùng với việc dùi mài kinh sử, ông Mai Lượng thường xuyên luyện tập võ nghệ cùng trai tráng trong làng. Trong khoa thi Hội võ năm Ất Sửu (1865), dưới triều vua Tự Đức, ông đỗ Cử nhân võ và được triều đình sung vào quân ngũ, được phong chức Hiệp quản. Ông Mai Lượng được bổ dụng chỉ huy một đơn vị trấn giữ ở Đèo Ngang. Tại đây, ngoài việc quân cơ, ông còn vỗ về dân chúng, chăm lo giúp dân khai hoang, đào kênh dẫn nước vào ruộng. Người dân trong vùng rất cảm phục và ghi nhớ công ơn của ông Lãnh Mai.

Sau đó, ông Mai Lượng được cử vào Đồng Hới để chỉ huy quân triều đình tại Quảng Bình. Khi phái chủ hòa hèn nhát trong triều đình Huế ký hiệp ước đầu hàng giặc Pháp (Hiệp ước Patenotre, 6-6-1884), với tinh thần yêu nước và ý thức độc lập dân tộc, ông vô cùng căm phẫn hành động xâm lược của thực dân Pháp và thái độ đầu hàng bán nước của triều đình. Với bản tính cương trực, ông chán ngấy trước thời cuộc nên đã từ quan về quê ở ẩn, kiên quyết bất hợp tác với những kẻ cam tâm bán nước cho ngoại bang.

Sau “sự biến kinh thành Huế”, ngày 23 tháng 5 năm Ất Dậu 1885, vua Hàm Nghi xuất bôn ra sơn phòng Tân Sở, Quảng Trị, xuống chiếu Cần Vương, kêu gọi nhân dân đứng lên chống thực dân Pháp, cứu nước. Khi xa giá vua Hàm Nghi ra đến Quảng Bình, sẵn nung nấu lòng căm thù giặc, ông Mai Lượng đã đến yết kiến Sơn Triều (triều đình vua Hàm Nghi). Vốn là một võ quan của triều đình Huế, ông được vua Hàm Nghi phong chức Lãnh binh, sát cánh với những người khác phò tá nhà vua chống giặc. Từ đó, nhân dân trong vùng thường gọi tên ông là Lãnh Mai.

Nhận lãnh sứ mệnh của Sơn Triều giao phó, ông trở về quê nhà chiêu mộ dân binh và nghĩa dũng, tập hợp lực lượng kháng chiến tại địa bàn thuộc hữu ngạn sông Gianh. Căn cứ của nghĩa quân Mai Lượng trải dài từ Cao Mại, thượng nguồn sông Rào Nan (nay thuộc xã Cao Quảng, huyện Tuyên Hóa) đến vùng Troóc (vùng núi phía tây huyện Bố Trạch, nay thuộc xã Phúc Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình).

Nghĩa quân Mai Lượng có đến hàng ngàn người, được tổ chức thành đội ngũ chặt chẽ, phối hợp với nghĩa quân của Nguyễn Phạm Tuân, Lê Trực, ông Tham La Hà,... tạo thành một phong trào kháng chiến rộng lớn trên đất Quảng Bình. Địa bàn hoạt động và kiểm soát của nghĩa quân trải rộng vùng giáp ranh ba huyện: Quảng Trạch, Bố Trạch, Tuyên Hóa của tỉnh Quảng Bình. Nghĩa quân Mai Lượng thường sử dụng lối đánh du kích, phục kích, khi xung trận thì rất dũng mãnh và mưu trí. Dưới sự chỉ huy của Lãnh Mai, nghĩa quân đánh thắng nhiều trận, gây cho giặc Pháp nhiều tổn thất và khiến chúng khiếp sợ.

Tại căn cứ, ông vừa luyện quân, vừa rèn đúc vũ khí kết hợp tăng gia sản xuất lương thực để chiến đấu lâu dài. Đến nay, ở vùng núi Cây Chanh - Cao Mại vẫn còn lưu lại dấu tích đồn trại, dấu tích lò rèn đúc vũ khí và những cây chè, cây mít đại thụ.

Sau khi vua Hàm Nghi bị giặc bắt (1-11-1888), mặc dù “lãnh tụ tinh thần” không còn nữa, trong thế bị địch dồn ép, bao vây cô lập, gặp muôn vàn khó khăn, nhưng nghĩa quân Mai Lượng vẫn không nản chí, vẫn tiếp tục chiến đấu đến cùng.

Giữa lúc nghĩa quân đang dồn sức chống lại sự tấn công của địch thì ngày 12 tháng 5 năm 1890 (tức 24-3 năm Canh Dần) Lãnh Mai mất vì bệnh sốt rét ác tính tại căn cứ Cao Mại, lúc vừa tròn 53 tuổi. Thi hài ông được nghĩa quân mai táng rất kín trong rừng để tránh sự trả thù của giặc. Sau này hài cốt của ông được gia đình và bà con đưa về an táng tại quê nhà.

Tuy Lãnh binh Mai Lượng qua đời cùng với việc nghĩa quân tan rã, nhưng ý chí kiên cường chống giặc cứu nước và lòng yêu nước thương nòi của ông đã để lại trong lịch sử dân tộc một tình cảm, một nét son sâu đậm. Nhiều tác phẩm thơ ca, hò vè, cùng một số công trình nghiên cứu lịch sử đã chủ tâm ghi lại cuộc đời chiến đấu bi hùng của ông.

Lăng mộ ông Mai Lượng tại khu vực Sủm Mặc (Hà Sơn) nằm bên hữu ngạn sông Rào Nan, đã được Nhà nước tôn tạo. Riêng nhà bia tưởng niệm Lãnh binh Mai Lượng được đặt trên nền nhà xưa, nơi ông được sinh ra và lớn lên tại làng Thọ Linh, xã Quảng Sơn, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Do có nhiều công lao đối với đất nước, mộ ông Mai Lượng được Bộ Văn hóa - Thông tin cấp bằng công nhận “Di tích Lịch sử - Văn hóa” cấp quốc gia ngày 24 tháng 1 năm 1998.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Chín, 2021, 09:11:21 am
*
*   *

Xã Quảng Sơn quê tôi là vùng bán sơn địa, tựa lưng vào dãy Trường Sơn, phong cảnh sơn thủy hữu tình, non xanh, nước biếc. Quả thật, tổ tiên, ông cha ngày xưa chọn nơi đây để khai phá sản xuất, lập làng định cư lâu dài là có một tầm nhìn sâu rộng, để lại phúc đức cho con cháu mãi mãi về sau phát triển.

Dòng sông Rào Nan trong xanh giàu tôm cá, thuận tiện cho giao thông đường thủy và cho tưới tiêu phục vụ sản xuất cả vùng phía nam huyện Quảng Trạch, đồng thời làm dịu bớt cái nắng hè oi bức. Ôm lấy xóm làng là những cánh đồng rộng, quanh năm lúa mượt mà xanh tốt. Ven bờ Rào Nan là những rặng tre kéo dài gần chục cây số như bức trường thành chắn gió, chống xói lở bờ sông. Đây là một nguồn lợi đáng kể. Rừng quê tôi giàu lâm thổ sản, từng là nguồn sống của người dân ngay từ buổi đầu khai thiên lập địa. Rừng điều hòa khí hậu, duy trì nguồn nước sinh sống và sản xuất. Vùng rừng phía nam huyện Quảng Trạch vừa là chỗ dựa, là nơi che chắn cho nghĩa binh chiến đấu chống thực dân Pháp, thời cần Vương (1885-1890), cũng như trong cuộc kháng chống Pháp (1947-1954) và chống đế quốc Mỹ xâm lược (1964- 1975) sau này, góp phần giải phóng quê hương và thống nhất đất nước.

Cách nay gần một thế kỷ, thời kỳ khó khăn nhưng nơi đây đã có trường học công, có chợ, cảnh trên bến dưới thuyền tấp nập. Người dân quê tôi sống bằng nghề làm ruộng và khai thác lâm sản: mây, tre, nứa, lá. Mặc dù được thiên nhiên ưu đãi nhưng dưới thời phong kiến, đế quốc và những năm chiến tranh, bà con vẫn sống trong cảnh lam lũ, gieo neo. Cho đến tận bây giờ, cuộc sống đã có phần khởi sắc nhưng vùng quê này vẫn chưa thoát nghèo. Dù ở trong hoàn cảnh nào, họ vẫn sẵn sàng hy sinh đánh giặc, giữ nước và cần cù lao động xây dựng quê hương.

Dẫu còn nghèo nhưng trải qua các thời kỳ, nhất là từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay, mảnh đất địa linh nhân kiệt này đã sản sinh ra nhiều người con trung hiếu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của dân, của nước giao cho.

Tôi là kẻ hậu sinh nhưng cùng với anh chị em cùng trang lứa chịu ảnh hưởng của truyền thống cha ông và thừa hưởng thành quả của quê hương. Lên bảy tuổi, tôi được học ở trường làng, trường tiểu học Thọ Linh mang tên “École Primaire Complémentaire de Thọ Linh”. Đây là một trong ba trường được mở ở huyện Quảng Trạch lúc bấy giờ, lần lượt từ thấp lên cao, từ một đến hai lớp lúc đầu cho đến khi hoàn chỉnh sáu lớp (1921-1927). Nhờ có trường học ở gần nhà, nên phần đông thiếu niên trong làng và các địa phương lân cận may mắn thoát được cảnh mù chữ, nhiều người biết đọc, biết viết.

Thuở đi học trường làng, học lực của tôi không đến nỗi nào nhưng do tính hiếu động và tinh nghịch nên tôi thường bị thầy quở phạt về “hạnh kiểm”. Một lần giữa giờ ra chơi, tôi cùng đám bạn học chia phe đánh giặc giả, công kênh nhau trên “ngựa chiến” hò hét “tấn công” làm náo loạn cả sân trường. Chỉ là trò chơi ham thích của trẻ hiếu động nhưng thầy Để - một ông thầy có “đức” hay dạy học trò bằng roi vọt lại không nghĩ vậy. Cho rằng các trò gây lộn và đánh nhau nên ông bèn gọi cả đám nghịch ngợm vào lớp và dùng cây roi mây dài hai thước quất chúng tôi túi bụi. Vệt roi mây bầm tím hằn trên lưng, mông tôi và lũ bạn đến gần nửa tháng sau vẫn chưa hết.

Lần khác vào ngày chủ nhật, tôi thơ thẩn chơi bên ngoài hàng rào của nhà trường. Ngó thấy mấy đứa con thầy Hoài hiệu trưởng đang chơi trong sân trường, thích quá tôi xin vào cùng chơi nhưng bọn này cự tuyệt không cho. Bực mình, tôi cố leo qua hàng rào và nói với chúng:

- Trường của làng, chứ trường chi của đứa nào. Bọn mi chơi được, tao cũng chơi được.

Mấy đứa con ông thầy Hoài cậy thế xúm lại xô tôi ra, tôi liền vung nắm đấm tự vệ. Bọn này bỏ chạy, vừa chạy vừa khóc về mách lại với thầy Hoài. Hôm sau thầy đến mách lại với ông nội tôi, thế là tôi bị mắng đe một lần nữa.

Năm lớp 3, trong giờ học toán, ông thầy Điềm giải mẫu một bài toán đố. Thầy vừa giải xong, tôi liền đứng dậy xin thầy cho lên bảng trình bày một cách giải khác ngắn gọn hơn. Thầy công nhận nhưng vẻ mặt thầy không vui. Đến giờ ra chơi, anh Trần Đình Điếng ghé tai nói nhỏ với tôi:

- Răng mi to gan rứa! Chẳng khác chi mi dám cãi lại thầy. Không sợ thầy quở ạ?

Nghe anh Điếng nói vậy, tôi cũng sợ, nhưng lỡ dại rồi biết làm sao? Chỉ biết rằng về sau thầy luôn nhìn tôi không mấy cảm tình.

Tôi rất mê các môn thể thao như đá bóng và bơi lội. Năm 13 tuổi, tôi được các anh lớn cho sung vào đội bóng làng Thọ Linh để thi đấu với đội bóng của các làng lân cận. Mê bóng đến nỗi buổi chiều đang chăn bò ngoài đồng nhưng hễ nghe tiếng trái bóng bình bịch là bằng mọi cách tôi dắt bò về chuồng để chạy ra sân vận động “đá hôi” vài lần khi quả bóng lăn ra ngoài đường biên. Tôi biết bơi và bơi giỏi là do hằng ngày chăn trâu ở bãi cỏ ven sông, khi trời nắng hễ cứ nóng lưng lại chạy xuống sông ngâm và bơi lội. Đây cũng là một cái thú của tuổi trẻ. Quê tôi có nhiều rừng và sông, suối nên phần nào tôi sớm hiểu biết về thiên nhiên và thích giải trí bằng đi câu cá và đi săn thú rừng như: nai, hoẵng...

Khi học trường làng, tôi ở với ông bà nội. Ông tôi tên là Mai Xuân Đóa (1871-1946), mới 14 tuổi đã theo cha là Lãnh Mai đánh giặc. Sau khi cha mất, ông bị giặc Pháp bắt giam. Ông tôi là người tư chất thông minh; thông hiểu về nho, y, lý, số, nhưng đồng thời cũng giỏi nghề nông, ngư (ngày nông, đêm ngư).

Nhờ vậy mà khi tuổi chưa trưởng thành, nhà cửa bị giặc tàn phá, ông đã cùng mẹ tự lực ngày đêm tích cực cần cù, sáng tạo lao động sản xuất xây dựng lại cơ nghiệp gia đình, làm đốc công xây dựng trường học, đình làng, nhà thờ họ. Ông cũng đóng góp nhiều công lao trong xây dựng họ hàng, làng xã, nhất là có uy tín với dân trong vùng về nghề bốc thuốc đông y. Với bản tính hiếu học, ông thường xuyên quan tâm đến việc học hành của con cháu, khuyên bảo con cháu làm theo điều hay lẽ phải. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông tôi làm Hội trưởng hội phụ lão của xã.

Ông nội tôi có hai bà vợ. Bà cả tên là Phan Thị Phờn sinh được chín người con, bốn gái, năm trai. Bà hai Trần Thị Khởi sinh được một gái, bốn trai. Các bác, các cô, các chú tôi đều tham gia cách mạng và làm ăn lương thiện.

Vào thời tôi đang học tiểu học, ông tôi có hai quyển sách “Hàm Nghi”“Phan Đình Phùng” thuộc loại sách cấm lưu hành thời bấy giờ, vì viết về lịch sử chống Pháp của phong trào Cần Vương mà hai vị đó là lãnh tụ. Ông nội tôi “chôn” hai quyển sách đó trong bồ lúa để trên trần nhà. Nhưng khi rỗi rãi nhà vắng vẻ không có ai, ông thường bảo tôi lấy sách đọc cho ông nghe. Mỗi lần hết đọc, tôi lại đem sách giấu vào chỗ cũ. Lúc bây giờ tôi đọc nhưng chưa hiểu gì và cũng không biết vì sao ông nội lại thích nghe đọc những quyển sách này. Tuy vậy mỗi lần đọc xong lại thấy căm tức quân giặc cướp nước, nhưng cũng chỉ dừng lại ở mức độ đó. Sau này lớn lên ngẫm nghĩ lại tôi mới biết ông nội thích nghe đọc những quyển sách đó vì khi mới 14 tuổi ông đã theo cha đánh đuổi giặc Pháp cướp nước.

Một lần nghe đọc xong, ông nội liền ôm tôi vào lòng và nói:

- Khi nghĩa binh Cần Vương tan rã, các bác đem chôn súng tại một địa điểm ở Khe Cái, trong đó có cả khẩu thần công, con cháu ai muốn biết chỗ đó, ông sẽ dẫn đường.

Bấy giờ tôi còn nhỏ dại nên nghe xong rồi cũng cho qua. Sau này nhớ lại, nghĩ lại mới tiếc hùi hụi, nhưng chẳng biết lối nào mà lần, vì ông tôi đã mất.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Chín, 2021, 09:13:02 am
*
*   *

Học xong bậc tiểu học, tôi về ở với cha mẹ, làm ruộng. Mùa thu năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công. Lúc này khắp nơi bừng bừng khí thế, nở rộ các phong trào diệt giặc đói, diệt giặc dốt và nhất là phong trào thanh niên, tự vệ luyện tập quân sự để sẵn sàng chống giặc ngoại xâm.

Thấy các anh thanh niên trong đội tự vệ xã ngày ngày tập luyện quân sự ở sân vận động rất khí thế, tôi nài nỉ xin được làm một chân liên lạc của đội nhưng các anh nhất quyết không cho với một lý do đơn giản là chưa đủ tuổi. Bấy giờ tôi đang ở độ tuổi trăng tròn. Mặc dù vậy, nhưng lúc nào đội tự vệ tập luyện tôi cũng tìm cách lân la đến gần.

Tuy chưa được chấp nhận vào đội tự vệ nhưng tôi và một số anh cùng trang lứa như Mai Xuân Tao, Trần Đình Thi có chút ít chữ nghĩa được xã phân công dạy bình dân học vụ, giúp bà con trong làng diệt giặc dốt; xóa nạn mù chữ. Một công việc không kém phần say mê, thu hút nhiệt tình của tuổi trẻ.

Cách mạng Tháng Tám thành công chưa được bao lâu, người dân vừa mới được hưởng bầu không khí tự do và độc lập thì thực dân Pháp lại rắp tâm cướp nước ta một lần nữa.

Ngày 27 tháng 3 năm 1947, giặc Pháp đổ bộ vào Quảng Bình từ cửa biển Nhật Lệ và cửa biển sông Gianh; chúng đánh chiếm thị xã Đồng Hới nhưng bị quân và dân ta chống trả quyết liệt. Dựa vào tiềm lực quân sự, ngày 28 tháng 3, giặc Pháp chiếm thị xã Đồng Hới và tiếp đó đóng đồn ở Thanh Khê. Ngày 15 tháng 4 năm 1947, chúng tấn công Ba Đồn.

Để chống địch, các cơ quan lãnh đạo của huyện, xã di chuyển vào vùng rừng núi lập chiến khu. Người dân quê tôi thực hiện chủ trương “tiêu thổ kháng chiến”, tản cư vào rừng, để lại vườn không, nhà trống và rào làng chiến đấu. Ngày 18 tháng 4 năm 1947, giặc Pháp mở cuộc càn vào xã tôi. Chúng thẳng tay giết người, cướp của, đốt nhà và phá hoại mùa màng, chặn đường sinh sống để hòng buộc dân làng phải khuất phục. Tuy nhiên, lòng dân trẻ già trai gái vẫn luôn hướng về cách mạng, về Bác Hồ, tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng. Sau cuộc càn, giặc Pháp đóng đồn Minh Lệ ngay xã Minh Trạch của chúng tôi.

Quê nhà nằm trong vùng địch tạm chiếm. Do bị giặc Pháp khủng bố ác liệt, nên mùa màng thất bát chẳng thu hoạch được bao nhiêu. Người dân tản cư sống lâu ngày trong rừng bị cạn dần lương thực, trong khi bệnh tật có dịp phát sinh. Nạn sốt rét, suy dinh dưỡng, dịch chấy rận, ghẻ lở, sâu quảng hoành hành mà thuốc thang không có gì, đã cướp đi nhiều sinh mạng của người dân trong đó có mẹ và em gái tôi. Sau một cơn sốt rét ác tính, mẹ tôi bị cấm khẩu chẳng nói được một lời nào với chồng con. Nhìn mẹ thoi thóp thở, mà cả nhà, cả bà con đành chịu bó tay vì giữa chốn rừng xanh, lại nằm trong vòng vây của giặc, tìm đâu ra thầy và thuốc?

Ngày 2 tháng 6 năm 1947 tức là ngày 14 tháng 4 năm Đinh Hợi, mẹ tôi trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 43 giữa rừng sâu. Không hòm, không vải, mai táng giữa rừng xanh với mấy thanh tre buộc lại. Sau đó, em gái tôi là Mai Thị Quy chưa đầy hai tuổi cũng bị sốt rét. Mẹ mất, thiếu dinh dưỡng trầm trọng, thuốc thang không có nên em cũng đi theo mẹ trong năm này.

Mẹ mất, rồi em mất. Tôi thương mẹ, thương em chết quá éo le trong sự bao vây của giặc. Mỗi khi nhớ mẹ, nhớ em, lòng tôi lại đau cắt. Tôi ôm mấy đứa em còn lại mà không cầm được nước mắt.

Nhớ lại trước đây mỗi khi đọc hai cuốn sách “Phan Đình Phùng”“Hàm Nghi” chống Pháp thời phong trào Cần Vương trong tôi đã có ý thức ghét Tây cướp nước và bọn Việt gian bán nước nhưng đến bây giờ trước cảnh quê hương bị tàn phá, chết chóc, nhà tan cửa nát, ruộng vườn xác xơ do giặc Pháp cướp nước gây nên, lòng tôi càng căm thù giặc cao độ.

Bấy giờ, phong trào du kích giết giặc trừ gian ngày càng phát triển mạnh và lên cao. Tuy chưa được vào du kích nhưng tôi vẫn tự kiếm được một lưỡi lê, lúc nào cũng mang bên mình với ý nghĩ: nếu gặp giặc Pháp và bọn Việt gian thì sẽ lao vào đâm chết chúng. Nhưng rồi nhà cửa và lúa khoai bị giặc cướp bóc tàn phá, cảnh nghèo đói ập đến, tôi cũng bị bệnh sốt rét hoành hành. Ngày nào tôi cũng bị lên cơn sốt, hàng tháng trời người gầy rộc, da vàng, đầu tóc rụng hết, mà không có lấy một viên thuốc. Thương con quá, cha tôi liều mua cái chân giò lợn đem luộc lên cho tôi ăn. Thấy thế, mấy bà bác, bà cô tỏ ý ngăn lại:

- Cháu nó đau yếu thế mà cậu cho ăn giò lợn luộc thì nguy to.

Cha tôi thở dài, gạt đi:

- Biết nó có sống được không mà kiêng cữ, thấy nó đói và thèm thì cho nó ăn kẻo tội.

Quả nhiên sau khi ăn hết cái giò lợn, như thuốc thần, cơn sốt dần suy giảm, sức khỏe của tôi phục hồi khá nhanh, như người ta thường nói “lấy độc trừ độc”.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Chín, 2021, 09:13:28 am
Khi sức khỏe của tôi đã bình phục, thì gánh nặng gia đình lại đè nặng lên vai cha tôi. Bây giờ, ba em gái tôi, một em 12 tuổi, một em bảy tuổi và em nhỏ nhất mới ba tuổi. Cha tôi lâm vào cảnh gà trống nuôi con, kinh tế gia đình rất khó khăn, ở trong vùng địch tạm chiếm thường xuyên bị càn quét khủng bố, cuộc sống rất bấp bênh. Thấy vậy, nên cuối năm 1947, cha tôi cho tôi thoát ly lên vùng Tuyên Hóa, chiến khu của tỉnh Quảng Bình để mong xin vào bộ đội Vệ quốc đoàn, hay làm bất cứ việc gì đó để sinh sống. Tại đây, tôi gặp người chú ruột là Mai Xuân Chữ và người anh ruột Mai Xuân Thia đang là cán bộ của Ty thông tin Quảng Bình.

Việc làm không có, nhưng xin vào bộ đội đâu có dễ vì ngày đó quân đội ta chưa phát triển nhiều. Chú Chữ an ủi tôi: “Lên được chiến khu, chú sắm cho cháu một cái bị, một cái gậy mà đi ăn mày còn hơn luẩn quẩn ở vùng địch tạm chiếm”. Thế rồi gặp dịp chú tôi thuyên chuyển công tác ra Sở thông tin Liên khu 4 ở Thanh Hóa, tôi liền đi theo chú để mong được học nghề và tìm kiếm việc làm. Tại Thanh Hóa, tôi cũng gặp một người chú ruột nữa là Mai Xuân Chương đang làm cán bộ lâm nghiệp ở huyện Cẩm Thủy. Tuy vậy, cả một thời gian ở xứ Thanh, tôi vẫn phải sống lay lắt bởi không kiếm được việc làm.

Thất vọng, đầu năm 1949, tôi một mình cuốc bộ từ Thanh Hóa về lại Quảng Bình, qua dốc Lâm Lang, Cao Mại về phường Chay. Nơi đây được tạm mệnh danh là “Chiến khu của xã”. Tôi gặp lại mấy anh em bà con và người làng học trường trung học Phan Bội Châu đang nghỉ hè ở đây cùng lứa tuổi, như Trần Đình Dỏng, Trần Đình Dâu, Phan Văn Toản, Trần Đình Các. Mấy anh em đó liền rủ tôi vào học trường trung học Phan Bội Châu. Tuy trong bụng rất muốn nhưng tôi lại phân vân vì không biết lấy tiền đâu mà học, hơn nữa, anh em đã học xong lớp đệ nhất, một mình tôi học lớp đệ nhất cũng buồn và lạc lõng. Thấy vậy, mấy anh em xúm lại tìm cách thuyết phục tôi đi học, chịu khổ ăn cơm với muối và nước mắm, có gì san sẻ với nhau. Còn học thì không lo, cứ xin vào thẳng đệ nhị, anh em sẽ phụ đạo giúp đỡ thêm để tôi theo kịp chương trình.

Được lời như cởi tấm lòng. Thế là tôi trở thành học sinh trường Phan Bội Châu ở Đạm Thủy, Tuyên Hóa. Mấy tháng đầu, anh Mai Xuân Thia - anh ruột tôi công tác ở Ty thông tin Quảng Bình giúp bằng cách xin cho tôi ở nhờ nhà anh chị Nậy ở thôn Huyện Nựu và thương lượng với nhà bếp của cơ quan nhượng lại mỗi tháng 10 cân gạo và một chai nước mắm, muối. Mua ở chợ một cái nồi đất, ngày hai bữa tự nấu lấy ăn. Gạo thì phần lớn là gạo hẩm để lâu ngày trong kho nên mốc và mọt, đem vo thì nổi lên mặt nước, nấu không nở. Ăn cơm với nước mắm pha muối, không rau, không thịt cá, vừa xáp, vừa mặn chát trong miệng. Thế nhưng có được cái ăn như vậy để đi học là tôi cảm thấy sung sướng rồi.

Cuối năm 1949, anh Thia tôi chuyển công tác ra Việt Bắc. Không còn chỗ dựa, tôi đành về Đạm Thủy ở chung với mấy anh em cùng quê đang học ở trường Phan Bội Châu. Cùng với cảnh một cái nồi đất treo ở góc bếp, ngày hai bữa, ăn với nước mắm pha muối còn thòm thèm, đi học vui đáo để. Ngày ngày miệt mài, nhờ anh em giúp đỡ, vừa ôn chương trình đệ nhất, vừa học chương trình đệ nhị, thế mà tôi cũng theo kịp. Đến bây giờ, tôi vẫn nhớ như in cảnh học sinh thời chiến, nhớ và cám ơn nhà trường.

Mãi mãi biết ơn thầy Ngân, thầy Khuyên, thầy Bàng, thầy Xứng, thầy Sơn... những người thầy đã dìu dắt và dạy dỗ mình. Xin cám ơn bạn bè cùng quê đã đồng cảm và chia sẻ, giúp tôi vượt qua thời điểm khó khăn để học hành. Cám ơn gia đình anh chị Nậy ở huyện Nựu, anh chị Mến ở Đạm Thủy - Tuyên Hóa với mái nhà tranh rất nhỏ nhưng đã sẵn lòng cho mấy anh em chúng tôi ở nhờ để đi học. Đây chính là tài sản vô giá, suốt đời không bao giờ tôi quên.

Cũng năm đó, trường trung học Phan Bội Châu ở Đạm Thủy, Tuyên Hóa bị máy bay giặc Pháp ném bom gây nhiều thiệt hại về nhà cửa. May sao lúc đó không phải giờ học tập trung của học sinh nên không gây thiệt hại nhiều về người. Vụ ném bom của giặc Pháp vào trường học càng làm dâng trào lòng căm thù của nhân dân, của học sinh đối với kẻ thù xâm lược càng nung nấu thôi thúc tinh thần tự nguyện của học sinh ra chiến trường giết giặc, cứu nước.

Tôi may mắn được sinh ra trong một gia đình có truyền thống chống giặc ngoại xâm. Từ ông Mai Lượng - cụ tổ tôi đến ông nội tôi chống Pháp thời Cần Vương và sau này thời chống Pháp, chống Mỹ xâm lược các chú tôi, anh tôi, em tôi đều là cán bộ kháng chiến quyết chống giặc giữ nước. Ảnh hưởng truyền thống đó cũng thôi thúc tôi vào bộ đội để đánh giặc Pháp đang xâm lược đất nước mình.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Chín, 2021, 09:15:17 am
(https://i.imgur.com/xue4XsV.jpg)

Cụ Mai Lượng thường gọi là Lãnh Mai (1838-1890), lãnh tụ nghĩa quân Cần Vương kháng Pháp cuối thế kỷ XIX (1885-1890)
ở khu vực hữu ngạn sông Gianh, Quảng Bình. Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh là chắt nội của cụ Mai Lượng

(https://i.imgur.com/A9bku8G.jpg)

Mộ cụ Mai Lượng ở xã Quảng Sơn, huyện Quảng Trạch, Quảng Bình, được Bộ Văn hóa Thông tin cấp bằng công nhận
di tích LỊCH SỬ - VĂN HÓA,  ngày 4.2.1998

(https://i.imgur.com/NDgvYxu.jpg)

Đại gia đình của Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh, gồm bố mẹ và các bác, các chú (1964)

(https://i.imgur.com/vVitX6S.jpg)

Cùng vợ và các con gái, con trai tại quê hương Quảng Bình (1984)


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Chín, 2021, 09:16:54 am
Chương hai

CHẶNG ĐẦU THỜI QUÂN NGŨ

Những ngày còn đi học mỗi lần bắt gặp bộ đội hành quân trên đường với với mũ lưới ngụy trang, ba lô, ruột tượng gạo, súng vác vai trông rất oai vệ, bao giờ tôi cũng dừng lại đứng nhìn các anh một cách trìu mến. Lòng luôn ao ước đến một ngày nào đó mình sẽ trở thành anh bộ đội đánh giặc.

Năm 1950, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta có bước phát triển mới. Chủ trương của ta trong giai đoạn này là tích cực cầm cự nhằm phá tan âm mưu của địch, khẩn trương hoàn thành nhiệm vụ chuẩn bị về mọi mặt để tiến tới tổng phản công giành thắng lợi. Khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến. Tất cả cho tổng phản công” thôi thúc mọi người. Ngồi học ở lớp, nghe thầy giảng bài mà tâm trí tôi cứ lởn vởn háo hức nghĩ đến việc tuyển mộ tân binh. Bài hát “Xếp bút nghiên lên đường tranh đấu. Xếp bút nghiên coi thường công danh như phù vân...” đã thuộc lòng tự bao giờ càng thôi thúc chúng tôi ra tiền tuyến. Càng thôi thúc hơn khi ngôi trường Phan Bội Châu của chúng tôi đang học bị máy bay giặc Pháp ném bom, bắn phá.

Thế rồi ngày mong đợi đã đến. Cán bộ quân lực Trung đoàn 18 đến tuyển tân binh tại trường trung học Phan Bội Châu. Anh em chúng tôi trúng tuyển với đơn tình nguyện có vạch chéo màu vàng. Niềm vui sướng không thể nào tả xiết, đó là ngày 1 tháng 5 năm 1950. Số tân binh vừa trúng tuyển vào đúng một trung đội, trong đó có hai nữ.

Mấy anh em làng Thọ Linh chúng tôi vào bộ đội nhưng gia đình đều không biết vì ở xa, liên lạc chỉ bằng chạy bộ, hơn nữa phải giữ bí mật để hành quân qua vùng địch tạm chiếm. Từ nơi tập trung, chúng tôi hành quân qua Thọ Linh, chỉ cách nhà mình khoảng 500m mà tôi không được phép qua nhà vì giữ bí mật tuyệt đối. Tuyệt nhiên không một ai thắc mắc hay đòi hỏi gì, bởi lòng đang tràn ngập niềm hạnh phúc.

Qua mấy ngày hành quân, chúng tôi về đến căn cứ của Trung đoàn 18 đang đồn trú ở huyện Lệ Thủy và Quảng Ninh, Quảng Bình. Sau ba tháng kết thúc huấn luyện tân binh, số anh em cùng làng Thọ Linh được phân về các đơn vị khác nhau của Phân khu Bình Trị Thiên, riêng tôi được cử vào học Trường hạ sĩ quan của trung đoàn. Thời gian huấn luyện tân binh và học ở Trường hạ sĩ quan, chúng tôi ở lán lẫn trong vườn nhà dân ở Đại Phúc, huyện Quảng Ninh để giữ bí mật, nhưng kỷ luật thì rất nghiêm ngặt.

Mặc cho cái nắng và gió Lào như thiêu như đốt, “đặc sản” của miền Trung làm khô rạc cả người, chúng tôi vẫn ngày hai buổi miệt mài lăn lê bò toài, tập xung phong, tập tấn công cao điểm... Trong khi đó, quân trang vẫn chưa được phát, chỉ với hai bộ quần áo mang theo từ lúc nhập ngũ đến nay vải đã sờn rách, nhiều chỗ hở da. Đến bữa cơm, anh em lấy gáo dừa làm bát, dùng mo cau đựng cơm canh. Cơm gạo hẩm, ăn không no. Đem đến nằm ngủ chung trên sạp, rệp bò lổm ngổm, chúng đốt vào da thịt nhoay nháy, khiến rất ngứa ngáy và khổ sở. Có lần máy bay địch ném bom, bắn phá lán doanh trại bị sập, bị cháy, vậy nhưng không một ai kêu khổ, không người nào thoái chí. Trên thao trường, phong trào thi đua luyện rèn vẫn luôn diễn ra sôi nổi. Trong giờ nghỉ, hoạt động văn nghệ, thể thao vẫn được đơn vị duy trì đều đặn, tạo nôn không khí hăng say, làm cho cán binh quên đi nỗi cực nhọc và thiếu thốn. Chặng đầu trong quản ngũ, chí nguyện vào bộ đội giết giặc vẫn còn tươi rói.

Trong quá trình phấn đấu, rèn luyện, một vinh dự lớn đã đến với tôi. Ngày 2 tháng 9 năm 1950, tôi được đứng vào hàng ngũ của Đảng cộng sản Đông Dương mà người giới thiệu là các đồng chí Võ Minh Thiên và Mai Ấu. Không thể nào diễn tả hết được niềm hạnh phúc, nỗi sung sướng và hãnh diện có lúc như thấy mình đang lâng lâng, tôi nghĩ đến người thân trong gia đình và thầm tự hào con đường mình đã chọn. Đến tháng 11 năm 1950, trong kỳ thi tốt nghiệp kết thúc khóa đào tạo hạ sĩ quan, tôi đứng thứ nhì toàn trường, được phong quân hàm trung sĩ. Ra trường, tôi về làm tiểu đội trưởng tiểu đội 2, trung đội 1 đại đội 88, tiểu đoàn 436, Trung đoàn 18.

Thời gian này, trung đoàn cơ động luyện tập ở khu vực miền tây của hai huyện Quảng Ninh và Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Mang theo kiến thức bài bản đã được học, về đơn vị mới tôi bắt tay ngay vào luyện tập chuẩn bị cho chiến đấu. Cường độ huấn luyện cũng không kém gì ở Trường hạ sĩ quan. Nghĩa là chúng tôi cũng tập vận động chiến, đánh công kiên, độn thổ đánh phục kích giao thông..., đủ cả.

Năm đó quanh vùng bị lụt lớn mất mùa, dân đói kém nên bộ đội lâm vào tình trạng thiếu lương thực nghiêm trọng. Chỉ có được một ít gạo khi nấu anh nuôi phải ghế thêm khoai sắn. Đến bữa ăn với nước ruốc (mắm tôm) do đó muốn no bộ đội phải ăn độn thêm rau má, rau tàu bay...

Do thực phẩm tự túc nên đơn vị phải phân tán bếp ăn theo tiểu đội. Tiểu đội của tôi hằng ngày đi tập về, buổi trưa tôi phân công hai người đi đào rau má, hai người vào nhà dân mượn hai cái nhủi mang ra ngoài ruộng sâu nhủi dam (cua đồng) gọi là có chút thực phẩm cho anh em. Ngày ấy, cả trung đoàn phái vượt qua muôn vàn khó khăn gian khổ, không chỉ thiếu thốn vũ khí đạn dược, lương thực, thuốc men, chăn màn, quần áo... mà cái thiếu lớn nhất là cơm không đủ no. Vì thiếu dinh dưỡng nên cơ thể dễ phát sinh bệnh tật, nhiều người bị sốt rét. Lắm anh bị ghẻ lở đầy mình, sáng ngủ dậy quần áo dính bết vào da phải nhẹ nhàng gỡ như lấy tấm bánh đa chưa khô ra khỏi phên phơi.

Tôi nhớ có lần đến bữa, lương thực dành cho cả trung đội chỉ còn lại độc một củ sắn to, vậy thì ai ăn, ai nhịn? Tình thế khiến anh nuôi nảy ra “sáng kiến” lấy củ sắn chà nạo thành bột rồi đem bỏ vào chảo quấy với rau tàu bay thái nhỏ, đun lên thành một thứ sền sệt không ra cháo, cũng chẳng ra canh. Vậy mà mỗi người múc một bát xì xụp ăn ngon lành.

Bị sốt rét, ghẻ lở... hành hạ nhưng trong tiểu đội không một ai xin nghỉ tập hoặc xin miễn phân công tác. Anh em vẫn tập luyện bình thường, ngoài giờ vẫn tranh thủ đi đào rau má hoặc nhủi dam. Người nào được phân công vào vùng địch tạm chiếm đi gánh lúa gạo vẫn sẵn sàng, không chút nề hà. Trong tiểu đội có những đồng chí như Thuỳnh và Kiên, ghẻ lở đầy mình người gầy và xanh xao, sức khỏe sút kém, chúng tôi thấy thương quá. Mọi người đề xuất để Thuỳnh và Kiên nghỉ, miễn tham gia công tác, hoặc đi bệnh viện nhưng các đồng chí ấy nhất quyết không chịu. Nghe nói chuẩn bị đi chiến đấu, anh em ai nấy đều rất hồ hởi, chỉ mong có lệnh là sẵn sàng đi ngay. Có điều là nếu để các đồng chí ấy nghỉ thì quân số còn lại chưa đầy một nửa.

Chúng tôi cơ động luyện tập, đóng quân trong nhà dân ở các làng từ Đồng Tư, Xuân Dục đến Vạn Xuân, Xuân Hòa, Phú Hòa, Châu Lê Xá, Thái Xá, Sa Lung lên đến Bang, Rợn... giáp ranh vùng địch tạm chiếm. Nói là vùng tự do nhưng nằm trong tầm ném bom của máy bay địch cất cánh từ sân bay Đồng Hới đồng thời cũng ở trong tầm pháo địch. Vì vậy, đơn vị luôn phải bí mật cơ động, không ở lâu một chỗ.

Bị chiến tranh tàn phá khốc liệt, lại thêm mất mùa đói kém, nhưng đồng bào ở đâu cũng thương yêu đùm bọc và hết lòng giúp đỡ bộ đội từ tinh thần cho đến vật chất. Những tiếng xưng hô “mẹ, con” rất gần gũi, nghe ấm áp và thân thương. Đây chính là nguồn cổ vũ động viên to lớn đối với anh em chúng tôi, những người lính Cụ Hồ.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Chín, 2021, 09:17:30 am
*
* *

Cuối năm 1950, đầu năm 1951, Tiểu đoàn 436 của chúng tôi được lệnh hành quân đi chiến dịch. Đêm đi, ngày nghỉ. Qua vùng đất đỏ Quảng Trị, gặp thời tiết mùa đông, mưa phùn gió bấc. Mặt đất não nề, vừa dẻo quánh lại vừa trơn trượt, đế dép cao su đất bám dày dễ đến năm phân. Không thể đi được, ai nấy đánh rửa sạch dép đeo bên lưng và đi chân đất. Trong điều kiện như vậy thành thử tốc độ hành quân không thể nhanh được. Phải hơn một tuần lễ, tiểu đoàn mới đèn được Kế Môn, Đại Lược, xã Phong Thạnh, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên. Đến đây chúng tôi mới được nghe phổ biến là Tiểu đoàn 436 được tách khỏi đội hình Trung đoàn 18 để sáp nhập vào Trung đoàn 101 (còn gọi là Trung đoàn Trần Cao Vân). Bấy giờ mọi người mới té ngửa ra vì quá bất ngờ. Những điều khúc mắc giữ kín trong quá trình hành quân đến giờ mới có dịp bộc lộ. Răng cớ sao hành quân chiến đấu mà đi lâu thế? Sao có lúc đơn vị đi vòng trở lại? Lúc bấy giờ anh em mới hiểu là kế nghi binh, giữ bí mật hướng hành quân của đơn vị.

Tiểu đoàn 436 gồm có ba đại đội khinh binh: 40, 56, 88 và đại đội 5 trợ chiến cùng tiểu đoàn bộ với quân số đầy đủ biên chế và được trang bị tương đối mạnh. Anh em trong tiểu đoàn gồm hầu hết những người quê ở Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, mới chân ướt chân ráo vào Thừa Thiên. Tuy quần áo nâu sờn rách, không màn cũng không chăn, phần lớn chân đất đầu trần, lại có người vẫn còn đang sốt rét, ghẻ lở, nhưng tinh thần chiến đấu và kỹ chiến thuật chiến đấu thì không chê vào đâu được. Vì vậy, Tiểu đoàn 436 được đánh giá là một đơn vị mạnh. Đến địa điểm mới, cán bộ, chiến sĩ nhanh chóng hòa nhập gần gũi với dân, được bà con yêu thương đùm bọc.

Có một điều thú vị là không hẹn trước mà khi về nhận công tác ở Tiểu đoàn 436, tình cờ tôi gặp được anh Đinh Xuân Tiến là con của bà bác tôi, Mai Xuân Đề là con chú ruột tôi cùng một số anh em người ho người làng Thọ Linh như Mai Dâu, Trần Ngọc Thia, Đinh Xuân Đệ, Đinh Xuân Yến... Các anh em ấy đều vào bộ đội trước tôi. Hôm tập hợp để ra mắt Trung đoàn 101, mặc dù trời chiều tối nhưng Tiểu đoàn trưởng Dương Bá Nuôi vẫn ra lệnh cho đơn vị phải ngụy trang kỹ bằng lá cây. Anh em ai cũng hiểu được ý của tiểu đoàn trưởng là dùng lá cây để che bớt quần áo sờn rách.

Cuộc tập hợp để giới thiệu Tiểu đoàn 436 sáp nhập vào Trung đoàn 101 diễn ra trong thời chiến, không trống giong cờ mở nhưng rất ấm cúng. Từ sau Cách mạng Tháng Tám thành công, cái tên Chi đội Giải phóng quân Trần Cao Vân đã làm nức lòng người, đặc biệt là lứa tuổi thanh niên. Giờ đây, chúng tôi được đứng trong đội hình Trung đoàn 101 - Trần Cao Vân, quả là “cầu được ước thấy”. Những tràng vỗ tay dài và những tiếng hoan hô vang trời, khiến chúng tôi ai nấy đều rất phấn chấn.

Sau khi ổn định biên chế tổ chức, đơn vị gấp rút bắt tay vào công tác huấn luyện chiến đấu. Chúng tôi tập đánh công kiên, đánh vận động, đánh phục kích giao thông... chuẩn bị cho mùa chiến dịch sắp tới.

Đầu năm 1951, Tiểu đoàn 436 được tham gia chiến đấu. Sức khỏe anh em trong tiểu đội 2 của tôi đã tương đối bình phục. Đội hình trung đội 1 do đồng chí Nguyễn Tư làm trung đội trưởng, đồng chí Lưu Xuân Cậy là trung đội phó. Đại đội 88 do đồng chí Phan Quế làm đại đội trưởng, đồng chí Vũ Khắc Lới là chính trị viên. Ban chỉ huy tiểu đoàn do đồng chí Dương Bá Nuôi làm Tiểu đoàn trưởng, đồng chí Lê Văn Dương là Chính trị viên. Trận đầu tiên, đơn vị đánh diệt vị trí An Gia (12-2-1951) gần thị trấn Sịa thuộc huyện Quảng Điền, trận này ta dứt điểm không gọn. Phải chờ đến ngày 13 tháng 3 năm 1951, tổ chức đánh lần hai, đơn vị mới diệt gọn.

Gần một tháng vừa rút kinh nghiệm, vừa tiến hành huấn luyện công kiên, đến ngày 9 tháng 3 năm 1951, Tiểu đoàn 436 được lệnh đánh diệt đồn Phổ Lại. Sau khi trận đánh thắng lợi, chúng tôi mới được biết cụ thể hơn về so sánh lực lượng. Ban đầu quân địch ở đây chỉ có khoảng một trung đội. Đến xẩm tối ngày 9 tháng 3, khi quân ta vận động đến gần đồn thì trinh sát phát hiện địch đã tăng cường thêm ba trung đội. Tình huống bất ngờ xảy ra ngoài dự kiến, vậy câu hỏi đặt ra là đánh hay hoãn? Sau khi hội ý chỉ huy, Tiểu đoàn trưởng Dương Bá Nuôi báo cáo xin ý kiến cấp trên. Đồng chí Hà Văn Lâu - Chỉ huy trưởng Mặt trận Bình Trị Thiên phân tích:

- Đây là thời cơ tốt vì công sự chiến đấu của địch chỉ đủ cho một trung đội, nay chúng bố trí đến bốn trung đội, nếu ta nổ súng, phần lớn bọn lính nằm ngoài công sự sẽ bị rối loạn ngay từ đầu. Chúng sẽ giẫm đạp lên nhau, bắn phải nhau mà chết...

Cho đến tận bây giờ, suy ngẫm lại, chúng tôi vô cùng kính nể nhãn quan tư duy chiến thuật của đồng chí Hà Văn Lâu ngày ấy. Ông không chỉ là bậc đàn anh mà còn là người chỉ huy mẫu mực và là bậc thầy đáng kính. Đúng như cấp trên đã nhận định Tiểu đoàn 436 đã diệt gọn đồn Phổ Lại trong một thời gian ngắn. Ta thu rất nhiều vũ khí, đạn dược. Chiến thắng An Gia, Phổ Lại nằm trong kế hoạch của Trung đoàn 101, đập tan phòng tuyến Phú Ốc - Sịa của địch chia cắt huyện Phong Điền.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Chín, 2021, 09:18:14 am
Ngay sau trận thắng Phổ Lại, tiểu đoàn chúng tôi chuyển về trú quân ở Kế Môn, Vĩnh Xương, Thạnh Hương xã Phong Thạnh, huyện Phong Điền để nghỉ ngơi, rút kinh nghiệm và chuẩn bị cho đợt hoạt động sắp đến. Phong Thạnh là một trong những xã nằm trên dải đất hẹp, bị kẹp giữa phá Tam Giang và các động cát chạy dài từ cửa Thuận An đến tiếp giáp địa phận tỉnh Quảng Trị. Lúc bấy giờ, địa bàn này được coi là vùng căn cứ tương đối an toàn.

Chưa kịp nghỉ ngơi, hai ngày sau chúng tôi đã phải chống trận càn của giặc Pháp vào dải đất này hòng triệt đường tiếp tế của bộ đội ta. Một thói quen của sẵn sàng chiến đấu là dù trú quân ở đâu, lâu hay mau, việc đầu tiên từng đơn vị phải làm ngay lúc mới đặt chân đến là đào hầm hố để phòng tránh máy bay, đồng thời xem xét và quan sát địa hình, thống nhất kế hoạch triển khai chiến đấu chống địch tập kích bất ngờ. Nhờ vậy mà khi có địch, chúng tôi triển khai chiến đấu được ngay theo lệnh của trên.

Sáng ngày 11 tháng 3 năm 1951, đơn vị được báo động triển khai chống địch càn ở khu vực đồi cát Thanh Hương Rú. Thời gian yên tĩnh chờ đợi, chưa phát hiện thấy địch mà chỉ nghe tiếng súng nổ ran ở phía nam, có thể là khu vực các làng Kế Môn, Đại Lộc gì đó. Vào khoảng 6, 7 giờ sáng, một cánh quân Pháp từ phía biển tấn công vào các nổng cát sau lưng vùng Vĩnh Xương và Thanh Hương nơi Tiểu đoàn 319 đang chặn đánh địch. Tiểu đoàn 436 chúng tôi được lệnh di chuyển triển khai thọc vào sườn phải của địch. Trận đấu diễn ra quyết liệt, từ sáng đến chiều. Bọn địch dạt ra mé biển vòng lại hòng đột kích vào sườn trái tiểu đoàn chúng tôi. Đội hình Tiểu đoàn 436 chặn đánh rát, buộc địch lùi ra ven biển đi về hướng Quảng Trị. Buổi chiều, một cánh quân lớn thuộc Binh đoàn Buttin từ hướng Quảng Trị vào hợp sức đánh nhau với ta ở Thanh Hương - Phong Thạnh. Quân địch bị tổn thất nhiều, tối đến chúng co cụm tại khu vực nhà thờ Tháp Một - Thanh Hương và lấy nơi này làm công sự cố thủ.

Trong ngày, Trung đoàn 101 đã loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch. Ta bắt được rất nhiều tù binh, lính Âu-Phi. Tối đến, Tiểu đoàn 436 được lệnh lui ra tổ chức, củng cố lại lực lượng để sáng mai tiếp tục tấn công địch. Tiểu đội tôi có ba đồng chí bị thương số anh em còn lại vẫn sung sức nhất là tinh thần ai nấy rất phấn chấn trước chiến thắng vừa rồi. Trận đánh đạt được kết quả tốt như vậy, có một nguyên nhân góp phần quan trọng là sau chiến thắng Phổ Lại, đơn vị được bổ sung thêm nhiều súng đạn.

Trong quá trình chiến đấu, có một tình tiết rất thú vị là mỗi lần quân ta phản xung phong khẩu đại liên 6,7 ly của đồng chí Tốn ở đại đội trợ chiến bắn yểm trợ rất chuẩn xác, xen giữa đội hình ta và xuyên thẳng vào đội hình địch. Làn đạn đại liên đã ghìm chân địch, làm cho chúng không thể tiến lên được. Ai cũng thầm khen xạ thủ Tốn, ngay đến bọn tù binh cũng phải thán phục.

Việc bọn địch rút vào trốn qua đêm tại nhà thờ Tháp Một - Thanh Hương, là thời cơ cho Trung đoàn 101 lập công. Sáng ngày 12 tháng 3 năm 1951, khi bọn địch vừa ra khỏi nhà thờ, với sự phối hợp của bộ đội địa phương và dân quân Phong Điền, được sự giúp đỡ của nhân dân, các đơn vị của trung đoàn tấn công vào khu vực co cụm của chúng. Mặc dù có pháo binh yểm trợ nhưng địch không chống cự nổi, đội hình bị vỡ, chạy tán loạn. Nhưng chạy tới đâu cũng gặp quân ta bố trí sẵn chặn lại, bọn chúng chỉ còn cách là giơ tay xin hàng.

Đến khoảng 8-9 giờ sáng thì trận đánh kết thúc. Trận chống càn Thanh Hương là trận thắng lớn nhất và là trận đánh tập trung cấp trung đoàn đầu tiên của Trung đoàn 101 do đồng chí Lê Tự Đồng làm Trung đoàn trưởng kiêm Chính ủy và đồng chí Lê Văn Tri - Trung đoàn phó, chỉ huy ở chiến trường Bình Trị Thiên thời đó. Binh đoàn Buttin của Pháp bị xóa sổ, một số ít sống sót chạy về Quảng Trị lại bị tóm gọn. Trận này ta diệt và bắt trên một nghìn tên địch!

Sau đó chúng tôi được trên thông báo là ngày 11 tháng 3 năm 1951, Binh đoàn Sockel từ Huế ra để phối hợp với Binh đoàn Buttin cũng bị Trung đoàn 95 chặn đánh ở Ưu Điềm, chúng phải rút lui về Huế.

Với chiến công vang dội này, về sau ngày 11 tháng 3 hằng năm được chọn làm ngày truyền thống của Đại đoàn 325 (nay là Sư đoàn 325) anh hùng.

Một nguyên nhân lớn của thắng lợi là Trung đoàn 101 được sự phối hợp chặt chẽ của bộ đội địa phương, dân quân du kích và sự giúp đỡ tận tình của chính quyền, đoàn thể, nhân dân địa phương trong công tác tiếp tế hậu cần, vận chuyển thương binh, áp giải tù binh về phía sau. Cán bộ, chiến sĩ chúng tôi rất cảm động vì mải chiến đấu từ sáng đến trưa chưa kịp nấu cơm vừa mệt, vừa đói nhưng bà con đà tự động mang cơm đến tiếp tế. Được nhân dân động viên, cố vũ bộ đội càng hăng hái chiến đấu. Đồng bào thì cứ tấm tắc khen:

- Bộ đội này không biết từ đâu đến, rất nghèo nhưng đánh giặc tài giỏi quá!


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Chín, 2021, 09:18:54 am
Được tham gia những trận chiến đấu ở đầu đời của mình trong hàng ngũ quân đội cách mạng, tôi tự hào với bước đầu được thử thách, có được một chút kinh nghiệm trận mạc. Hơn bao giờ hết, tôi càng thấy kẻ thù tàn bạo và thấu hiểu được nỗi khó khăn gian khổ của đồng bào ta... Tất cả những nhân tố đó vừa tạo cho chúng tôi tinh thần phấn khởi, vừa hun đúc thêm chí căm thù và quyết tâm đánh giặc.

Đời chiến sĩ trong chiến tranh vẫn luôn luôn cuốn hút chúng tôi tập trung cao độ vào công tác chiến đấu. Thế là sau chiến thắng Thanh Hương, đơn vị chúng tôi lại tiếp tục hành quân, di chuyển vị trí mới, tiến hành bổ sung quân số vũ khí, học tập chính trị, huấn luyện quân sự, chuẩn bị cho kế hoạch chiến đấu sắp tới.

Đang say sưa học tập, huấn luyện thì đột nhiên tôi được đại đội điều động làm nhân viên hành chính chuyên lo công văn giấy tờ và công tác tổ chức biên chế của đại đội. Một thoáng buồn vì không được cùng chiến đấu với anh em trong tiểu đội, nhưng rồi tôi cũng xác định được để làm tốt nhiệm vụ trên giao.

Ngày 26 tháng 6 năm 1951, Trung đoàn 101 tham gia trận chống càn Thanh Lam Bồ khi đang làm nhiệm vụ bảo vệ mùa ở huyện Phú Vang Thừa Thiên. Trận này trung đoàn tiêu diệt hoàn toàn hai tiểu đoàn lính Âu-Phi của địch.

Sau trận thắng Thanh Lam Bồ, tôi được đại đội phân công trở lại làm tiểu đội trưởng tiểu đội 2, chuyên trách huấn luyện đánh cướp xe tăng địch. Chúng tôi làm mô hình đúng kích thước giống như xe tăng thật bằng gỗ, tre; có tháp pháo, nòng pháo... để tập, do một hàng binh người Đức tên Kock huấn luyện. Hơn một tháng tập luyện, chúng tôi đã thành thạo các động tác nhảy lên xe tăng, bám theo xe tăng, với mục đích sử dụng vũ khí đánh diệt địch trong xe, còn việc lái cướp xe tăng là do mấy hàng binh người Đức đảm nhiệm. Anh em trong tiểu đội cứ việc tập luyện, còn đánh cướp xe tăng ở đâu thì chưa được biết, vì không ai nói.

Đến hôm thực hiện kế hoạch đánh vào thành phố Huế, chúng tôi mới được giao nhiệm vụ cụ thể. Nhưng thật tiếc là khi đã vào tới đàn Nam Giao rồi, chúng tôi lại được lệnh rút lui không đánh nữa vì tình hình thay đổi. Anh em trong đơn vị ai nấy đều tiếc hùi hụi.

Đầu năm 1952, sau trận đánh phục kích giao thông ở Văn Xá, huyện Hương Trà thắng lợi, tôi được cấp trên giao nhiệm vụ làm chiến sĩ chính trị của đại đội. Công việc rất mới mẻ như tham gia công tác giáo dục chính trị, theo dõi đôn đốc hoạt động của hội đồng binh sĩ thực hiện dân chủ về chính trị quân sự, kinh tế; công tác thương binh, liệt sĩ; công tác dân vận... Mặc dù chưa qua trường lớp nhưng được sự hướng dẫn bồi dưỡng của cấp trên, dần dà tôi cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ, tham gia các trận chiến đấu ở Sơn Tùng (13-3-1952), Dương Hòa (21-6-1952), cũng như trong hoạt động thường ngày của đại đội.

Sau trận Dương Hòa, tôi được phân công thay đồng chí Nguyễn Bá Liêm đảm nhiệm chức quản trị trưởng đại đội. Công tác của quản trị trưởng là công tác của đại đội bộ, bao gồm công tác hành chính quản lý, quân lương, quân trang, quân y, quân khí, tiểu đổi chiến sĩ liên lạc...

Có thể nói từ đầu năm 1951, đến quá nửa năm 1952, Trung đoàn 101 lớn mạnh không ngừng, đánh đâu thắng đó, nhổ được nhiều đồn bốt giặc cùng như tiêu diệt nhiều binh đoàn địch trong chống càn, bảo vệ dân. Trên chiến trường Bình Trị Thiên lúc bấy giờ, kẻ địch luôn khiếp sợ uy danh của Trung đoàn 101 và thực tế, chúng luôn tìm cách để né tránh.

Kế hoạch của Trung đoàn là đánh tiêu diệt địch, lấy vũ khí địch để trang bị cho Tiểu đoàn 328 được thực hiện vượt mức yêu cầu. (Tiểu đoàn 328 thành lập sau, chưa đủ vũ khí). Sau kỳ chỉnh huấn học tập tài liệu “Quân đội nhân dân Việt Nam”, tinh thần chiến đấu của bộ đội càng lên cao, đơn vị nào cũng hăng hái với khí thế thi đua giết giặc lập công.

Từ tiểu đội đến đại đội của các tiểu đoàn đều xin làm nhiệm vụ chủ công trong chiến đấu, được đánh vào nơi khó khăn nhất, nơi mạnh nhất của địch.

Chiến trường chủ yếu của Trung đoàn 101 là ở tỉnh Thừa Thiên và huyện Hải Lăng của tính Quảng Trị. Vùng đất này vốn đã nghèo lại bị địch tàn phá khốc liệt nên đời sống đồng bào gặp muôn vàn khó khăn, thiếu thốn. Thóc gạo, khoai sắn không đủ ăn, nhà cửa rách nát, có nơi nhà bị giặc đốt hết lần này đến lần khác, bà con phải dựng tạm lều lợp cỏ năn để ở. Những năm ấy gặp lụt lớn mất mùa, gạo lúa dự trữ chôn giấu dưới đất bị ngập nước, hầu hết bị hư hỏng. Tình hình kinh tế địa phương như vậy, chiến trường xa, sự chi viện của Trung ương cũng gặp khó khăn. Hệ lụy tất yếu là đời sống của bộ đội cũng muôn phần gieo neo. Thường thì các đơn vị không có đủ gạo, khoai, sắn, để bộ đội ăn. Lúa gạo bị ngâm nước lụt, nấu lên bị nát thối, đến bữa ăn anh em phải xới banh cơm ra cho mùi thối bay bớt đi mới nuốt được. Cơm gạo như vậy mà mỗi người chỉ được xới một lượt, chứ đâu có được ăn no. Tôi còn nhớ trước khi đi đánh vị trí An Gia, chỉ huy thông báo là Bộ chỉ huy Mặt trận quyết định khao cho mỗi người một lon gạo, cả hàng quân vỗ tay hoan hô không ngớt.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Chín, 2021, 09:19:44 am
Cái ăn đã vậy, cái mặc cũng chẳng khá khẩm gì hơn. Trong khi quân trang mới chưa được cấp phát, quần áo cũ anh nào cũng phải vá víu nhiều miếng. Mỗi lần đi tắm anh em phải ra sông, suối xa. “Quân tử nhất bộ” vậy nên tắm xong đành phải chờ quần áo se khô mới dám về. Đồng bào thấy bộ đội như vậy thì thương lắm, nhưng anh em chúng tôi thật sự xúc động khi thấy bà con quá nghèo túng mà vẫn dành dụm gom góp lương thực nuôi bộ đội. Quả thật, tâm lòng của người dân đối với cách mạng không gì có thể sánh được. Dân chở che bộ đội, động viên bộ đội, phối hợp với bộ đội đánh giặc. Có ở gần dân mới thấu hết lòng dân đối với công cuộc kháng chiến. Tình cảm quân dân keo sơn gắn bó là vậy. Nhờ có dân, bộ đội mới đánh thắng được kẻ thù.

Địa bàn vùng tự do tiếp giáp, xen kẽ với vùng tạm chiếm của địch. Để giữ bí mật và tránh địch tập kích bằng pháo binh và máy bay, bộ đội ta phải thường xuyên di chuyển nơi trú quân, không mấy khi ở lâu một nơi hai ba ngày. Ngày tập luyện, đêm lại hành quân. Có đồng chí mệt quá, chân vẫn bước mà mắt cứ nhắm và có lúc đứng ngủ luôn khiến cả đoàn quân đi sau cũng phải dừng lại, tưởng rằng có gì cản trở phía trước. Có anh lao xuống cả ruộng đất cày, mới bừng tỉnh, thấy đứt liên lạc phía trước, mới cố sức chạy lên cho kịp. Cũng may có tiền trạm đi trước bỏ cành lá hướng dẫn đi đường nên không ai bị lạc.

Đời lính có biết bao kỷ niệm, có những chuyện khiến chúng tôi nhớ mãi. Một lần đơn vị hành quân ở miền tây Quảng Trị, đường rừng lại đi đêm. Thông thường khi ra lệnh hoặc thông báo tình hình đều bằng hình thức truyền miệng. Hôm ấy, người đi đầu phát hiện được một cái hố giữa đường nên mới quay lại chuyền cho cả đội hình đi sau: “Chú ý có hố”. Chết nỗi, chẳng hiểu nghe tai nọ xọ tai kia thế nào mà từ “hố” được chuyển thành “hổ”. Thay một dấu sắc thành ra: “Chú ý có hổ!”. Lập tức, cả hàng quân tỉnh như sáo. Trời tối đen như mực, mỗi bước đi phải dò dẫm nhưng anh nào cũng cảnh giác đề phòng hổ vồ, không khí rất căng thẳng. Lâu nay từng nghe nói vùng rừng Quảng Trị có lắm hổ, thế nên ai nấy đều tin. Đến nơi dừng chân, hỏi ra mới biết là “hố” chứ không phải “hố”, lính tráng được một phen cười vỡ bụng.

Hành quân di chuyển nơi trú quân của chúng tôi phần lớn trên địa bàn tác chiến chủ yếu của Trung đoàn 101. Đó là những nơi quen thuộc như các thôn An Nhơn, Đông Dương, Diên Khánh, Kim Giao, Kim Long, Đơn Quế, Ngô Xá, Tân Lương... thuộc huyện Hải Lăng tỉnh Quảng Trị; Thanh Hương, Vĩnh Xương, Kế Môn, Đại Lược, Thế Chí, Vân Trình, Phú Nông, Chính An, Mỹ Phú, Tây Hoàng, Triều Dương, Vĩnh Nẩy, chiến khu Hòa Mỹ... thuộc huyện Phong Điền; Phong Lai, Nam Giảng... của huyện Quảng Điền; và các thôn khác của các huyện Hương Trà, Phú Lộc, Phú Vang... tính Thừa Thiên.

Vào mỗi đầu mùa mưa, chúng tôi lại được hành quân lên trú quân ở chiến khu Hòa Mỹ, có dịp vào rừng hái lá tơi, một loại lá họ với lá tro, lá nón để mỗi người tự may lấy một cái áo tơi che mưa, che nắng thay chiếu, thay ván để nằm.

Tình nghĩa quân, dân như cá với nước. Nhân dân chính quyền và các đoàn thể ở địa phương luôn tận tình giúp đỡ bộ đội. Bà con coi bộ đội như con em của mình. Nhiều thôn xóm nhà cửa, vườn tược bị giặc đốt phá, nhiều nhà ở dựng tạm, lợp cỏ năn chỉ vỏn vẹn chưa đầy 15 mét vuông nhưng gia đình nào cũng sẵn lòng cho bộ đội trú quân, không sợ giặc đến trả thù. Phần đông nhà nghèo, tối đến trời nóng bức nên cửa nhà cứ mở thông thống. Có lúc bộ đội hành quân về địa bàn quen thuộc, đến nơi vào khoảng 2-3 giờ sáng. Sợ làm bà con thức giấc, chúng tôi vào nhà nhẹ nhàng, phân công canh gác xong, đặt tơi lá xuống nền nhà ngủ đến sáng mới thức dậy chào.

Trong năm 1951, một lần chúng tôi về trú quân ở làng Kế Môn, xã Phong Thạnh, huyện Phong Điền. Địch phát hiện được, chúng dùng máy bay Đa-cô-ta, Gioong-ke thay nhau rải bom xuống làng suốt một ngày, gây thiệt hại nhiều nhà cửa, của cải nhưng người dân ở đây vẫn không hề nao núng. Vùng tự do xen kẽ với vùng địch tạm chiếm, nên khi di chuyển quân phải sẵn sàng chiến đấu. Như trên đã nói không những sẵn sàng chiến đấu trong lúc hành quân mà đến nơi trú quân công tác trước hết phải quan sát nắm được địa hình, phải đào hầm trú ẩn, đề phòng bom pháo của địch.

Có lần hành quân đến Long Hồ, Ngọc Hồ, trời vừa tang tảng sáng. Chúng tôi còn chưa kịp cởi ba lô, đã nghe thông báo có địch, không biết địch ở hướng nào chỉ nghe chung chung như vậy. Tiểu đội do tôi làm tiểu đội trưởng, đồng chí Sửu người Thanh Hóa làm tiểu đội phó được lệnh triển khai bố trí một đoạn men theo bờ của một con hói nhỏ rộng chừng 20m, hai bên bờ có các rặng tre và cây cối um tùm vì vậy mà hạn chế nhiều đến tầm nhìn. Vườn tược của dân ở đây có nhiều cây ăn quả. Chưa kịp đào công sự, cá tiểu đội dàn đội hình hàng ngang ở tư thế nằm bắn và chú ý quan sát phía trước qua bờ hói bên kia. Cần nói thêm rằng, tiểu đội 2 của chúng tôi được trang bị rất mạnh với chín khẩu súng trường bán tự động (kiểu Ga-răng của Mỹ) hai khẩu tiểu liên Tôm-xơn. Hiệu quả bắn của ba khẩu Ga-răng còn hơn một khẩu súng máy trung liên. Trong tiểu đội hầu hết anh em đã dự nhiều trận mạc, bản lĩnh và kỹ thuật chiến đấu, cũng như trình độ xạ kích rất tốt.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Chín, 2021, 09:20:20 am
Trời sáng rõ dần. Nhìn sang khu vườn bờ hói bên kia thấy có người đi lại và có một người mặc áo khoác, đầu đội mũ vải rộng vành trông giống như đồng chí Hân, trung đội phó trung đội 2. Chưa kịp phân định địch, ta thì liên tiếp các loạt súng máy từ bờ bên kia bắn xối xả vào đội hình tiểu đội. Chúng tôi phát hiện ổ súng máy đại liên của địch rất gần ngay bờ hói bên kia. Đạn đại liên bắn gần cày xới lên nền đất với tiếng lẹt xẹt bay sát thân mình, nhưng có điều lạ là tuy chúng bắn nhiều, bắn tháp và bắn gần như vậy mà không trúng vào ai cả. Tuy nhiên, nhìn ra thấy rõ những cây mít, cây nhãn đường kính trên 25cm bị xuyên thủng sát gốc, trông rất hãi.

Vì chưa có lệnh của cấp trên nên tôi vẫn chưa hạ lệnh cho tiểu đội bắn vì sợ lộ cả cuộc hành quân đi chiến dịch của đơn vị lớn. Cho người lui về sau báo cáo xin lệnh ban chỉ huy trung đội, nhưng khi các đồng chí Tế và Thuỳnh vừa mới lần lượt nhổm dậy thì ngay tức khắc dính đạn địch. Lúc này chỉ huy trung đội ở phía sau, thấy súng địch đã nổ mà vẫn không có bất cứ động thái gì với tiểu đội. Trước tình thế đó, nếu cứ chần chừ địch sẽ xóa sổ cả tiểu đội, tôi liền hạ lệnh bắn. Tiếng súng Ga-răng và Tôm-xơn nổ ran. Ngay loạt đạn đầu, đồng chí Đại tổ trưởng tổ ba người đã bắn gục tên xạ thủ đại liên của địch. Trước đòn giáng trả đích đáng của ta, nhiều tên địch chết và bị thương. Chúng buộc phải lùi ra xa, dùng súng cối và phóng lựu bắn về phía ta. Sau hơn một giờ, trận tao ngộ chiến của tiểu đội kết thúc, chúng tôi rút được nhiều bài học kinh nghiệm.

Trong điều kiện chiến trường lúc bấy giờ nhiều gian khổ, ác liệt, muốn có súng đạn thì phải diệt địch, lấy của địch để tự trang bị cho mình. Đời sống vật chất tuy rất thiếu thốn... nhưng tinh thần chiến đấu của bộ đội lúc nào cũng phơi phới. Mỗi lần tập hợp đơn vị, trước khi vào việc thế nào cũng hát mấy bài đồng ca, tiếng vỗ tay thay nhạc râm ran. Những đêm lửa trại của đại đội, của tiểu đoàn, có đông đảo đồng bào tham gia rất đầm ấm. Những vở hài kịch ngắn hấp dẫn đem lại tiếng cười sảng khoái, càng làm thêm nồng ấm tình quân dân.

Sau những trận chiến thắng đầu năm 1952, chúng tôi lại một lần nữa hành quân về xã Phong Thạnh, huyện Phong Điền thực hiện công tác củng cố đơn vị, tiến hành công tác huấn luyện quân sự, chính trị, nâng cao trình độ chiến đấu, chuẩn bị bước vào đợt chiến đấu mới. Bấy giờ, Trung đoàn 101 đang ở vào thời kỳ sung sức cả về tinh thần cũng như trình độ và kỹ năng chiến đấu.

Đang trong thời gian huấn luyện chuẩn bị cho chiến đấu, thì Ban chỉ huy trung đoàn lên Bộ chỉ huy Mặt trận Bình Trị Thiên để nhận kế hoạch. Quyền lãnh đạo chung Trung đoàn 101 được giao cho đồng chí Lê Văn Dương - Đảng ủy viên trung đoàn, là Tiểu đoàn trưởng kiêm Chính trị viên Tiểu đoàn 436 phụ trách. Cứ vài ngày một lần, anh Dương lại lên trung đoàn bộ để nắm tình hình. Mọi công việc thường ngày của trung đoàn do Phan Văn Xuân, tham mưu phó trung đoàn trực tiếp chỉ đạo giải quyết.

Cuối tháng 8 năm 1952, thực dân Pháp mở cuộc hành quân “Châu chấu” (Operation Sauterdle). Sáng ngày 29 tháng 8 năm 1952, địch càn vào khu vực Trung đoàn 101 đóng quân. Chúng tôi được lệnh triển khai bố trí quân ở các đồi Vĩnh Xương, Thanh Hương sẵn sàng vận động để tiếp cận địch. Để bảo đảm an toàn, cơ quan trung đoàn bộ được lệnh di chuyển về Đại Lược, Thế Chí (hướng cửa Thuận An), còn các đơn vị sẵn sàng chiến đấu tại chỗ. Vào thời điểm này các khẩu đội đại liên, trung liên của các đơn vị đang tập huấn tại Ban tham mưu trung đoàn. Nghe tin địch càn, anh em yêu cầu giải tán lớp tập huấn để về đơn vị nhưng Ban tham mưu nhùng nhằng không giải quyết. Mặc kệ, các khẩu đội vẫn tự động giải tán để kịp chạy về tham gia chiến đấu.

Khi cơ quan trung đoàn bộ di chuyển về hướng Đại Lược thì bất ngờ đụng cánh quân chủ yếu của địch từ hướng này đi lên. Toàn bộ cán bộ, nhân viên cơ quan đều bị sa vào tay giặc. Quân địch có đụng độ với số ít của bộ đội ta, nhưng sau khi bắt được hầu hết cơ quan trung đoàn bộ thì chúng chủ động rút. Kết cục bi thảm này là do tên Xuân, tham mưu phó trung đoàn, một điệp viên của Pháp cài vào hàng ngũ ta. Tên này đã âm thầm móc nối với địch để làm cái việc phản trắc này. Hành động phản bội của tên Xuân được xác định ngay trong ngày hôm đó, vì nhiều người dân đã trực tiếp nhìn thấy y bắt tay với quân Pháp và lên xe đi với chúng về Huế.

Trong trận này, tổn thất lớn nhất của Trung đoàn 101 là hầu hết cơ quan trung đoàn bộ bị địch bắt kèm theo số tài liệu mật, còn các đơn vị chiến đấu nói chung không bị tổn thất gì đáng kể.

Khi Trung đoàn trưởng Lê Thuyết và Chính ủy Hoàng Văn Thái từ Mặt trận về, hai đồng chí chủ trương không di chuyển trung đoàn mà chỉ hoán đổi vị trí đóng quân của các tiểu đoàn để sẵn sàng đánh địch, nếu chúng tiếp tục càn vào.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Chín, 2021, 09:21:08 am
Sau khi bắt được đa số cán bộ, công nhân viên của cơ quan trung đoàn bộ và lấy được tài liệu cơ mật của ta, ba ngày sau (3-9-1952), giặc Pháp mở tiếp cuộc hành binh “Cá sấu” (Operation Caiman) vào khu vực Thanh Hương - Vĩnh Xương. Chúng huy động lực lượng lớn, bao gồm tám tiểu đoàn bộ binh, hai tiểu đoàn dù, sáu tàu pháo, 18 tàu đổ bộ nhỏ, 55 máy bay, hai tiểu đoàn pháo (16 khẩu), 80 xe bọc thép lội nước, 180 xe vận tải, hòng tiêu diệt Trung đoàn 101.

Sáng sớm hôm ấy, cũng như các đơn vị khác của trung đoàn, Tiểu đoàn 436 của chúng tôi được lệnh triển khai hố trí trên các đồi cát có cây trâm bầu mọc lúp xúp thuộc làng Vĩnh Xương. Trong lúc chờ lệnh xuất kích, tất cả đều đào hầm chiến đấu cá nhân tại chỗ. Khoảng 7 giờ sáng, địch cho nhiều máy bay ném bom na-pan ở hướng khu vực tiếp giáp Quảng Trị, Thừa Thiên (Đông Dương, Thanh Hương) phía bắc. Tiếp sau đó địch cho quân nhảy dù xuống khu vực này để chặn đường ở phía bắc. Đến 9 giờ, một cánh quân địch từ hướng nam và hướng biển có xe bọc thép yểm trợ tấn công vào khu vực bố trí của Tiểu đoàn 436. Quân địch toàn là lính Âu-Phi da đen, chúng dựa vào xe bọc thép có hỏa lực mạnh ào ạt tấn công. Nhiều lần bị đơn vị chúng tôi phản kích đánh bật ra, bọn địch lùi lại, củng cố đội hình và tấn công tiếp. Cứ thế hai bên giành giật nhau trên mấy đồi cát, cuộc chiến đấu giằng co kéo dài đến chiều. Quân địch bị chết nhiều nhưng bộ đội ta cũng thương vong không ít.

Có điều nghĩ lại là khi quân ta bố trí chiến đấu ở các đồi cát Vĩnh Xương, mang tính chất thiên về bố trí giấu quân để xuất kích đánh vận động chiến, chứ ít thấy để chiến đấu phòng ngự. Vì vậy, khi địch tấn công vào, toàn đội hình của đại đội cũng như tiểu đoàn không phát huy được sức mạnh của hỏa lực, đơn vị sau sợ bắn vào lưng của đơn vị trước, kể cả không hỗ trợ được cho nhau khi phản xung phong. Kẻ địch dễ bẻ gãy từng đại đội.

Một minh chứng thiên về bố trí giấu quân để xuất kích đánh vận động chiến là lúc đó tôi làm quản trị trưởng đại đội 88. Bộ phận do quản trị trưởng (ngang cấp cán bộ trung đội) chỉ huy bao gồm: tiểu đội liên lạc 10 người; nhân viên quản lý hành chính, quân lương, quân khí, nuôi quân, quân y và nhân viên công tác chính trị... gọi chung là đại đội bộ. Khi chiến đấu, bộ phận đại đội bộ thường phái một số chiến sĩ liên lạc đi theo người chỉ huy đại đội, số còn lại được bố trí ở phía sau đội hình của đại đội để sẵn sàng phục vụ công tác hậu cần, công tác thương binh, tử sĩ... Thế nhưng toàn bộ đại đội bộ lại được bố trí chung trong đội hình cùng các đơn vị chiến đấu. Vì thế khi địch trực diện tấn công vào, bộ phận đại đội bộ cũng chiến đấu như các đơn vị chiến đấu khác.

Đến chiều, số cán bộ, chiến sĩ còn lại của đại đội 88 trong đó có số còn lại của anh em đại đội bộ chúng tôi vẫn sát cánh cùng Tiểu đoàn 328 do đồng chí Phương tiểu đoàn trưởng tiến hành phản kích lần cuối, đánh bật địch ra khỏi một đồi cát Vĩnh Xương. Chúng tôi phải xung phong trước làn đạn dày đặc của địch và cứ thế khom thấp người xốc thẳng vào chúng. Người trước ngã xuống, người sau tiến lên. Trong tình huống ác liệt như vậy mà dường như đạn địch lại “tránh” một số anh em chúng tôi. Khi đơn vị lui về khu vực tây bắc Thanh Hương thì trời đã sụp tối. Trên đường đơn vị vận động, địch liên tiếp cho máy bay ném bom và bắn đạn 20 ly vào đội hình nhưng rất may không ai bị thương vong gì lớn. Riêng tôi bị dính một mảnh bom nhỏ vào chân.

Sau khi được lệnh của cấp trên, các đơn vị tiếp tục củng cố lại để đêm đến sẽ đánh phá vòng vây của địch. Quân số đại đội 88 lúc này chỉ còn lại khoảng một nửa. Tôi được chỉ định phụ trách một trung đội, trong đó có cả một số đồng chí bị thương. Khoảng 8 giờ tối, đơn vị đánh phá vây về hướng huyện Hải Lăng, Quảng Trị. Trong khi đánh địch, một nửa quân số của Tiểu đoàn 436 vượt được ra khỏi vòng và Riêng đại đội 88, chỉ còn lại 8 người ở trung đội của tôi vì phải dìu một số anh em bị thương nên chậm là không thoát khỏi vòng vây được, khi địch đánh cắt ngang đội hình chặn lại.

Theo lệnh của tiểu đoàn, chúng tôi lui về khu vực Thanh Hương với hy vọng củng cố lại đơn vị để đánh mở vây tiếp. Nhưng sau đó chúng tôi không hiểu vì sao lại được lệnh chôn vũ khí và tùy nghi di tản về tập trung tại chiến khu Hòa Mỹ. Lúc này anh em ở các đại đội thuộc Tiểu đoàn 436 bị kẹt lại còn khá đông. Mặc dù có lệnh của tiểu đoàn, nhưng anh em không thực hiện mà cứ vây quanh không rời Ban chỉ huy tiểu đoàn. Tiểu đoàn vừa lệnh, vừa khuyên anh em nhanh chóng di tản. Trời càng về khuya, thấy nấn ná để hy vọng phá vây không được nữa, ai nấy đều phải rời Ban chỉ huy tiểu đoàn để tự tìm lấy đường vượt vòng vây của địch.

Lúc này trăng sáng rõ mồn một. Tàu địch từ ngoài biển liên tục bắn pháo sáng vào, làm cả khu vực sáng như ban ngày. Xung quanh im ắng, không một tiếng động. Cứ khoảng 5-7 phút, đạn pháo địch từ phía quốc lộ 1 bắn nhiều loạt chặn đường băng qua cánh đồng lúa ra bờ sông Ô Lâu.

Rời Ban chỉ huy tiểu đoàn, tôi dẫn tám anh em còn kẹt lại của đại đội 88, trong đó có hai người bị thương là đồng chí Đen quê ở Quảng Trị và đồng chí Lân quê Nghệ An. vết thương ở cánh tay đồng chí Đen băng bó từ sáng sớm, cả ngày trời nắng nóng đến lúc này đã có mùi. Từ sáng đến giờ chưa có gì bỏ vào bụng, nhưng không thấy ai kêu đói.

Tôi dẫn anh em đi quanh một số đồi cát có cây mọc lúp xúp với ý định tìm được một nơi đào hầm ẩn nấp giấu người, đợi ngày mai địch càn qua sẽ trở về đơn vị. Đi hết chỗ này đến chỗ khác, tôi thấy phương án này không thể được, ở lại đây thế nào cũng bị địch càn, diệt. Tôi giải thích và chọn phương án muốn ra khỏi vòng vây địch, phải vượt sông Ô Lâu, qua Phú Nông để tìm đường lên chiến khu Hòa Mỹ, được anh em tán thành. Hai đồng chí Đen và Lân nói chân tình:

- Anh Vĩnh ơi! Anh dẫn anh em đi thôi, tôi bị thương, yếu lắm rồi. Trước sau cũng chết, tôi ở lại đây, không đi đâu nữa. Anh em đi đi, đừng lấn bấn vì chúng tôi để rồi chết hết cả.

Nghe vậy, tôi vừa thương, vừa cảm động, nhưng vẫn gạt đi:

- Không được, anh em ta cùng chiến đấu, sống chết có nhau, chúng tôi không thể bỏ các đồng chí ở lại. Chúng ta cùng nhau đi đến cùng, sống cùng sống, chết cùng chết.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Chín, 2021, 09:21:33 am
Nhùng nhằng nói đi, nói lại, đêm đã khuya. Thời gian không còn nhiều nữa, tôi quyết định và được anh em đồng tình.

- Tất cả anh em phải vượt sông Ô Lâu qua Phú Nông, không bàn cãi nữa.

Tôi phân công người giúp đỡ các đồng chí bị thương, ai nấy đều sẵn sàng. Kế hoạch là đợi cho loạt đạn pháo bắn chặn cầm canh vừa dứt là chạy nhanh vượt thoát ra cánh đồng lúa, hướng về phía bờ sông Ô Lâu. Qua được bãi đạn pháo, thấy anh em đầy đủ cả mừng quá; cứ thế chúng tôi vượt qua cánh đồng lúa đang chớm vàng. Mỗi lần địch bắn pháo sáng, chúng tôi phải đi lom khom, thấp người xuống, đề phòng địch phát hiện. Đến lúc này, bụng đói cồn cào, tôi giơ tay tuốt nắm lúa, bỏ vào miệng nhai không biết rát. Riêng các đồng chí thương binh kêu đau nhức vết thương nhiều quá. Đến gần bờ sông, chúng tôi nằm sát xuống đất để dò la quan sát mọi động tĩnh trên sông đề phòng địch phục kích nhất là đối với thuyền và ca nô của chúng tuần tra. Đã 2 giờ sáng rồi, không gian im lặng như tờ. Bỗng chúng tôi phát hiện một chiếc thuyền nhỏ trôi giữa sông, cứ đoán già đoán non. Thuyền cứ trôi dần về hạ lưu, qua ngang gần chỗ chúng tôi. Dưới ánh trăng và pháo sáng, quan sát kỹ khoảng 30 phút không thấy người, không thấy chèo bơi. Khấp khởi nửa mừng nửa lo, tôi dặn nhỏ anh em nằm im để tôi cùng một đồng chí nữa bơi ra lấy thuyền. Khi tiếp cận đến thuyền, quá mừng vì thuyền trôi không, không người cũng không có gì trên thuyền cả. Chúng tôi vừa bơi, vừa kéo thuyền vào để đưa anh em qua sông. Rất lạ, cả một thời gian nằm dò la quan sát không thấy ai quanh mình, nhưng khi vừa mới kéo thuyền vào bờ, đột nhiên thấy người dân xuất hiện mỗi lúc mỗi đông, có đến cả trăm người. Ai cũng giành lên thuyền để sang sông trước. Tôi giải thích:

- Đề nghị bà con để chúng tôi chuyển thương binh sang trước. Lần lượt, chúng tôi sẽ đưa hết mọi người qua sông, bà con cứ tin chúng tôi. Tất cả im lặng, trật tự, đề phòng địch phát hiện.

Cứ thế lần lượt vừa bơi, vừa đẩy thuyền, hết chuyến này đến chuyến khác, tuy có chậm nhưng tất cả mọi người đều qua sông an toàn. Lúc này khoảng 4 giờ sáng. Sực nhớ ra điều gì, tôi kiểm tra lại cái xách nhỏ đeo bên người xem hai chiếc vòng vàng còn không? Yên chí, vẫn còn. Mỗi chiếc vòng vàng gần hai lạng đó là chiến lợi phẩm thu được trong trận đánh diệt đồn Sơn Tùng đêm 13 tháng 3 năm 1952. Đi vào làng Phú Nông, gặp đồng bào cho biết “địch chiều tối qua còn đi qua đây, các anh phải cẩn thận”.

Chúng tôi về tạm nghỉ ở Mỹ Phú, lấy lại sức, băng bó lại vết thương của thương binh. Chuẩn bị đến đêm sẽ vượt qua quốc lộ 1 (quãng này thường bị địch phục kích) để lên chiến khu Hòa Mỹ. Gặp những anh em còn lại của đại đội 88, tôi mừng vui khôn xiết, nhưng lòng vẫn thấy bùi ngùi khi nhiều người không còn nữa.

Ai cũng đinh ninh là mấy anh em chúng tôi hy sinh cả rồi, thế mà bây giờ vẫn còn sống. Tôi báo cáo với Ban chỉ huy đại đội sự việc ngày qua và xin trả lại hai chiếc vòng vàng mà đại đội giao cho tôi giữ trước trận chiến đấu.

Sau một thời gian củng cố, Trung đoàn 101 lai tiếp tục hoạt động chiến đấu trên chiến trường Thừa Thiên, tiêu diệt được nhiều địch, khôi phục lại khí thế đơn vị và lòng tin của nhân dân đối với trung đoàn.

Còn nhớ trong trận chống càn của địch ở Thanh Hương - Vĩnh Xương cuối tháng 8 và đầu tháng 9 năm 1952, đồng bào rất tin tưởng vào sức chiến đấu của trung đoàn. Hễ phát hiện thấy đường dây điện thoại của các đơn vị còn ở ngoài rìa làng, là bà con tin rằng bộ đội đang còn ở đây, nhiều người không chịu sơ tán mà ở lại giúp bộ đội chiến đấu.

Cuối năm 1952, Trung đoàn 101 hành quân ra vùng Thanh-Nghệ-Tĩnh, tích cực chuẩn bị mọi mặt cho cuộc chiến sắp tới. Khi hành quân, thiếu áo ấm, nhưng ai cũng có một chiếc áo lá tơi tự may ở chiến khu Hòa Mỹ để chống lại giá lạnh của mùa đông.

Lần thứ hai trong đời bộ đội, tôi hành quân qua trước cửa nhà mình. Vì giữ bí mật nên khi đi qua ngõ, đơn vị chỉ cho 5 phút chạy vào nhà thăm bố mẹ, nhưng rất tiếc là cả nhà đi vắng cả, chỉ gặp được thím Đào (vợ chú ruột Mai Xuân Đào). Sau này được gia đình kể lại là trong trận càn cuối tháng 8 năm 1952, địch lấy được tài liệu và tiến hành rải truyền đơn khắp vùng Bình Trị Thiên nêu danh sách cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 101 đã bị chúng tiêu diệt, gây tâm lý hoang mang trong nhân dân. Sau tin ấy, bố tôi hễ thấy bộ đội từ phía nam đi qua làng là ra đón chờ hy vọng có gặp con mình không?

Ra vùng Thanh-Nghệ-Tĩnh, Trung đoàn 101 vừa củng cố tăng cường mọi mặt nâng cao khả năng chiến đấu của đơn vị, vừa làm nhiệm vụ bảo vệ hậu phương khi ta tiến hành chiến dịch ở Tây Bắc. Trong đội hình của trung đoàn, Tiểu đoàn 436 vừa huấn luyện, nhất là huấn luyện đánh địch có công sự vững chắc vừa tiến hành huấn luyện diễn tập chống địch đổ bộ đường biển vào hậu phương trải dài trên các địa phương từ Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh), Diễn Châu (Nghệ An), đến Quảng Xương, Nga Sơn (Thanh Hóa). Cuối năm 1953, chúng tôi tiếp tục làm công tác huấn luyện chiến đấu ở khu vực hai huyện Nghi Lộc, Nam Đàn tỉnh Nghệ An.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Chín, 2021, 09:22:17 am
*
* *

Trung tuần tháng 3 năm 1954, Tiểu đoàn 436 đang chiến đấu ở chiến trường Hạ Lào và đông bắc Campuchia, thì nhận được thông báo của Bộ Tổng tư lệnh là ta đã đánh “Trần Đình” (mật danh của chiến dịch Điện Biên Phủ). Lúc này, chúng tôi mới hiểu là nhiệm vụ chiến đấu thọc sâu của đơn vị mình nhằm mục đích phối hợp với chiến dịch “Trần Đình”.

Cũng như mọi lần chuẩn bị cho chiến đấu ngoài công tác huấn luyện quân sự, chính trị, tiểu đoàn phải tiến hành một loạt công tác như chấn chỉnh tổ chức biên chế, bổ sung quân số, trang bị, kế hoạch hậu cần... nhưng có khác trước là lần này có tăng số đầu đơn vị, tăng nhiều quân số. Thêm một tiểu đội điện đài được trang bị máy vô tuyến 102E. Quân số không những được tăng cường mà có chọn lọc kỹ càng nhất là về tiêu chuẩn chính trị, nhiều cán bộ từ các đại đoàn phía Bắc bổ sung vào.

Các đồng chí nguyên là cán bộ trung đoàn như Trung đoàn phó Lê Kích làm Tiểu đoàn trưởng, Phó chính ủy Nguyễn Minh Đức làm Chính trị viên tiểu đoàn. Đồng chí Nguyễn Bình Sơn nguyên Tiểu đoàn trưởng làm Tiểu đoàn phó. Nguyễn Ngọc Định nguyên Chính trị viên tiểu đoàn làm Chính trị viên phó. Một số đồng chí tiểu đoàn phó làm đại đội trưởng. Bổ sung trang bị hậu cần lần này ngoài lương thực, thực phẩm, quân trang còn đặc biệt được cấp một triệu đồng tiền Đông Dương và có thêm mỗi người một miếng vải bạt dài 2m, rộng lm che mưa. Được biết là tiểu đoàn hoạt động độc lập dài ngày, hậu cần tự túc.

Trước lúc lên đường làm nhiệm vụ, Tiểu đoàn 436 vinh dự nhận được thư của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp trực tiếp viết tay. Bức thư có đoạn viết: “Các đồng chí lần này đi làm nhiệm vụ yêu nước và quốc tế, rất gian khổ, nhưng rất về vang. Phương chăm hoạt động là: quân sự và chính trị song song; củng cố và phát triển song song; độc lập hoạt động, tự lực tự cường và tự túc; chiến trường không hạn chế; thời gian không hạn định. Chúc các đồng chí đã đi là chiến thắng, xứng đáng với truyền thống bộ đội Cụ Hồ”.

Vì giữ bí mật nên bức thư này chỉ được phổ biến rất hạn chế ở một số ít cán bộ trước lúc lên đường. Đồng chí Đồng Sĩ Nguyên, đặc phái viên của Tổng Quân ủy có nói với cán bộ: “Các đồng chí càng tích cực chiến đấu thì càng gần đến ngày gặp đơn vị bạn”. Còn đơn vị bạn là đơn vị nào không ai biết.

Trong một thời gian ngắn chuẩn bị, quân số của Tiểu đoàn 436 bây giờ gần bằng biên chế non hai tiểu đoàn, được trang bị rất đầy đủ vũ khí, đạn dược. Lúc này, tôi được giao nhiệm vụ phụ trách công tác hậu cần của tiểu đoàn. Chức vụ này tương đương đại đội phó. ở tuổi 23, vinh dự được phụ trách công tác hậu cần của một tiểu đoàn tăng cường đi chiến đấu ở nơi xa nhưng đồng thời cũng gợi lên một phần lo lắng vì tôi chưa được đào tạo và kinh qua làm cán bộ ngành hậu cần. Hơn nữa với nhiệm vụ hậu cần lần này là tự túc, không còn như lâu nay “trên cấp, dưới nhận”. Tuy rằng trách nhiệm công tác hậu cần còn có Đảng ủy, thủ trưởng tiểu đoàn và cả tập thể tiểu đoàn cùng lo, nhưng mình là người phải lo trước hết, không thể ỷ lại vào ai.

Thật tình tôi chưa hình dung được hết rồi đây công tác hậu cần tự túc nếu ở một chiến trường xa lạ sẽ tiến triển như thế nào? Nơi mà mình chưa nắm được gì về con người và điều kiện ngoại cảnh. Có lẽ bí mật của nhiệm vụ chiến đấu đặc biệt nên trước lúc lên đường cũng không nhận được chỉ đạo cụ thể gì của cơ quan hậu cần cấp trên. Suy nghĩ, lo lắng là để tìm mọi cách hoàn thành tốt nhiệm vụ. Tôi xác định: “Mình phải tích cực xông xáo, tự tin và có cả tập thể ủng hộ giúp đỡ nhất định công tác hậu cần của tiểu đoàn sẽ tốt”. Trải qua chiến đấu gian khổ ở chiến trường Bình Trị Thiên, thử thách đó càng củng cố lòng tin của tôi.

Quá trình chuẩn bị tích cực, khẩn trương như vậy nhưng toàn tiểu đoàn vẫn giữ được bí mật, không để lộ ra không khí rầm rộ. Chỉ trừ một số cán bộ chủ chốt từng cấp được phổ biến hạn chế tình hình nhiệm vụ của mình, còn nói chung cán bộ, chiến sĩ của tiểu đoàn vẫn quen với nền nếp chuẩn bị đi chiến đấu như mọi khi, chẳng ai cần tò mò gì, chỉ biết làm theo mệnh lệnh cấp trên.

Thế rồi lệnh báo động. Đêm 19 tháng 12 năm 1953, Tiểu đoàn 436 lấy phiên hiệu là “Chí Long” tách khỏi đội hình của Trung đoàn 101, Đại đoàn 325, trực thuộc Bộ Tổng tư lệnh, lên đường làm nhiệm vụ.

Tất cả súng, đạn, lương thực, thực phẩm, quân trang, quân dụng, y cụ, thuốc men... để dùng dài ngày đều trên vai người lính. Trung bình trên 40kg một người, với vòng lá ngụy trang che kín, cả đơn vị lặng lẽ tiến bước, nhưng trong lòng mỗi người ai cũng phấn chấn vì được đi chiến đấu. Qua một ngày đầu hành quân thì ai cũng biết đơn vị mình đang tiến về hướng nam. Rất nhiều anh em trong tiểu đoàn đã từng chiến đấu ở chiến trường Bình-Trị-Thiên đều tự tin chắc mình trở lại chiến trường cũ.

Thêm một kỷ niệm nhỏ lặp lại trong đời hành quân của tôi. Đêm 24 tháng 12 năm 1953, đơn vị vượt sông Rào Nan quê tôi, rất lặng lẽ và bí mật. Trong lúc chờ cho tiểu đoàn qua sông hết để hành quân tiếp, mùa đông giá rét khiến anh em qua trước ngồi nghỉ cụm lại trên các thửa ruộng lúa đã gặt. Thật không ngờ, tôi ngồi nghỉ đúng vào mảnh ruộng thường gọi là “sác cạn” thuở nhỏ tôi đã từng tham gia cày bừa cùng cha mẹ ở đây. Một thoáng bâng khuâng nhớ nhà, nhớ mẹ cha, nhớ bà con lối xóm. Rồi tôi lại xốc ba lô lên vai đi tiếp như không có gì xảy ra. Cứ đường rừng đi miết đến Ba Lòng (Quảng Trị) thì bắt đầu đi xuyên vào dãy Trường Sơn. Tới lúc này mới biết rằng không phải trở lại chiến trường cũ nữa.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Chín, 2021, 09:22:50 am
Chúng tôi xẻ dọc Trường Sơn, ngày đi đêm nghỉ, theo đường mòn lu lấp của đồng bào thiểu số. Không thể nào nhớ hết là đã vượt qua bao nhiêu sông suối, trèo qua bao nhiêu đỉnh núi, có dốc núi cao rêu phong trơn trượt chưa có dấu chân người, chúng tôi phải đóng cọc làm tay vượn để lên dốc. Khi qua đỉnh núi Ngọc Linh cao 2.050m, đồng chí Kính tiểu đội trưởng của đại đội 88 bị trượt chân, hai quả lựu đạn mỏ vịt đeo bên lưng vướng phải dây chạc chìu phát nổ. Đồng chí Kính hy sinh và một số đồng chí khác thương vong. Tuy là đi đường rừng sâu nhưng chúng tôi vẫn giữ nghiêm bí mật tuyệt đối vì dưới chân phía đông dãy Trường Sơn đồn bốt địch còn đóng dày đặc.

Thỉnh thoảng gặp một bản làng dân tộc thiểu số. Chính sách dân tộc và kỷ luật dân vận được giữ rất nghiêm. Đồng bào thiểu số ở đây đời sống còn lạc hậu. Đàn ông mặc khố không phải bằng vải mà bằng vỏ cây đập dập. Thiếu muối trầm trọng, có lần cả tiểu đoàn đang hành quân qua một bản, bất ngờ có một ông già mình trần mặc khố vỏ cây chặn đường xin muối “có cho muối mới được đi”, “nếu không cho muối thì cho một khẩu súng”. Đơn vị phải giải thích mãi ông già mới chịu để cho bộ đội đi.

Đi qua bản đồng bào thiểu số trên đỉnh Trường Sơn nếu thấy trước cửa làng có cắm cành lá tươi là tín hiệu cấm người lạ không được vào. Nhiều lần gặp trường hợp như vậy thương lượng không được vì tôn trọng chính sách dân tộc, công binh phải mở đường vòng tránh, chậm thời gian hành quân ít nhất là nửa ngày. Có một lần, đơn vị đi trước không để ý, cứ theo đường đi vào làng nên bị dân phạt vạ với lý do “động đến thần linh, bản làng gặp xui xẻo”. Làng yêu cầu phải nộp 10 trâu, 10 lợn và 15 con gà để cúng tạ thần linh. Giữa rừng thẳm, núi cao này lấy đâu ra trâu, lợn để nộp? May sao nhờ gặp được đồng chí cán bộ dân vận của Khu 5 đang công tác ở đây giúp đỡ thương lượng mãi cuối cùng phải nộp hai con gà giúp để cúng thần. Giải quyết xong được vụ việc, chúng tôi phải đi nhanh kịp với bộ đội đang hành quân.

Hôm bị trượt khi leo dốc đá ở núi Ngọc Linh, chiến sĩ Trường bị thương không tiếp tục hành quân được, đành phải gửi lại nhờ dân giúp đỡ, khi đến nơi sẽ cử người quay lại đón. Hơn một tháng sau, quay lại đón, dân giấu biệt đồng chí Trường. Dân không cho đón với lý do họ đã nuôi bộ đội Trường và Trường đã là dân làng. Cuối cùng với sự kiên trì thương lượng đi đôi với kế hoạch giải thoát mới đưa được đồng chí Trường trở về đơn vị. Trường cho biết những ngày sống với dân, đồng chí được gia đình đối xử rất tử tế. Sau này được biết có dân tộc thiểu số trên dãy Trường Sơn có hủ tục là mấy năm lại đem giết một người để làm lễ tế trời. Nếu không bắt được người ngoài thì phải lấy một người trong làng để tế. Dân tộc thiểu số ở đây sống biệt lập từng bộ tộc. Bộ tộc yếu phải thần phục bộ tộc có người đứng đầu tài giỏi hơn. Thời Pháp thuộc, có quân lính Pháp một lần lên đây bắt dân nộp thuế bị dân bắn tên tẩm thuốc độc chết người. Từ đó chúng không dám đến nữa.

Đến nửa chặng đường trên dãy Trường Sơn thì lương thực đã cạn. Theo kế hoạch thì đến đây sẽ được tiếp tế, nhưng vỡ lỡ kế hoạch. Cả một tuần ngày đi đêm nghỉ. Được đến chỗ nào có bản làng dân tộc thiểu số là đồng chí Nguyễn Bình Sơn và tôi lại thắp đuốc vào làng thương lượng với dân đổi ngô, sắn, khoai bằng một ít muối hoặc bằng một số quần áo mới chưa mặc của cán bộ, chiến sĩ tự nguyện đóng góp để giải quyết thêm cái ăn cho bộ đội. Thông thường đêm nghỉ ở các thung lũng gần khe suối để bảo đảm sinh hoạt thuận tiện cho bộ đội, nhưng muốn gặp đồng bào để xin đổi lương thực thì phải leo núi cao vì buôn làng của họ ở đỉnh núi. Hôm nào cũng vậy, giải quyết được một số lương thực thì trời vừa sáng, chúng tôi cứ thế lại tiếp tục theo bộ đội hành quân. Không ngủ, không nghỉ, vậy mà nhờ sức khỏe “trời cho” cứ việc tiến bước không xuất hiện một ý nghĩ nào chùn bước. Đến lúc này, bước đầu tôi đã cảm nhận được một phần nào là hậu cần tự túc.

Nhân đây, tôi xin kể đôi điều về đồng chí Nguyễn Bình Sơn. Đồng chí nguyên là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 436, nhưng do yêu cầu nhiệm vụ đặc biệt của đơn vị, đồng chí Sơn giữ cương vị tiểu đoàn phó. Những ngày chiến đấu ở chiến trường Bình-Trị-Thiên, đồng chí Sơn là một cán bộ nhanh trí, dũng cảm luôn dẫn trước bộ đội khi chỉ huy chiến đấu. Ngay trong lần chiến đấu thọc sâu này có lần tiểu đoàn bị địch bao vây, đồng chí đã mưu trí, dùng cảm chỉ huy bộ đội phá tan vòng vây của địch, về sau, đồng chí Nguyễn Bình Sơn phụ trách cố vấn quân sự ở Lào, được bạn rất tín nhiệm. Những lúc cùng đi giải quyết lương thực cho bộ đội giữa đại ngàn Trường Sơn, tôi cảm nhận đồng chí Sơn là cán bộ mẫu mực, sống chan hòa với bộ đội, không nề hà bất cứ việc gì. Đồng chí không chỉ giỏi về quân sự, mà còn giỏi cả về dân vận, là người đi trước, xứng đáng để tôi học tập.

Gần một tháng rưỡi hành quân vượt núi băng rừng, vô cùng gian khổ, qua miền tây Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Tây Nguyên, khi lối đi chưa có đường mòn, nhất là từ miền tây Quảng Trị trở vào, chúng tôi đã đến khu căn cứ kháng chiến vùng Hạ Lào. Đến chiến trường mới lạ, chúng tôi rất vui mừng khi gặp được Ban cán sự quân tình nguyện Khu 5 và giờ đây, Tiểu đoàn 436 - Chí Long đã là quân tình nguyện Việt Nam chiến đấu trên đất nước bạn.

Tại đây, chúng tôi đóng quân ở trong rừng. Một hôm, chiến sĩ bảo vệ khu vực Tiểu đoàn bộ báo cáo có một người đàn ông dân tộc thiểu số xin vào gặp Ban chỉ huy Tiểu đoàn. Các đồng chí trong ban chỉ huy hỏi người đó là ai, chiến sĩ bảo vệ đáp:

- Báo cáo, không rõ. Chỉ biết đó là một người đóng khố, ở trần, da đen cháy, có mang theo cái xắc bên hông, tay cầm một cái lao, rất giống thợ săn.

Ban chỉ huy Tiểu đoàn cho người ra mời vào. Qua câu chuyện, người đàn ông tự giới thiệu:

- Tôi tên là Muồng, Lê Viết Muồng, quân tình nguyện Liên khu 5 được cử lên công tác ở vùng này giúp bạn Lào.

Bấy giờ mọi người mới vỡ ra. Trông ngoại hình không một ai trong chúng tôi dám nghĩ người đàn ông này lại là người Việt, là đồng đội của mình. Đồng chí Muồng cho biết đã hoạt động ở đây được bốn năm một mình giúp dân bạn xây dựng, vận động nhân dân theo cách mạng, chống thực dân Pháp. Thực hiện ba cùng, cùng ăn, cùng ở, cùng sản xuất với đồng bào. Đồng chí Muồng phải chịu đau đớn cà răng, căng tai, đóng khố, mình trần, phơi nắng cho người đen nhẻm rồi học nói tiếng Khạ (một bộ tộc Lào), để dễ bề hoạt động. Sống trong dân, không lấy vợ, đồng chí Muồng đưa bà con vào đấu tranh tận trong đồn giặc mà Pháp cũng không thể phát hiện ra người chiến sĩ Việt Nam ấy. Có lần Liên khu 5 mời đồng chí Muồng về họp, nhưng người dân nhất quyết không cho đi. Bà con bảo nếu cán bộ Muồng đi thì chúng tôi không có ai chỉ vẽ, làm sao mà sống được với thằng giặc?

Tấm gương hy sinh quên mình, cống hiến tất cả tuổi đời thanh xuân cho cách mạng của đồng chí Lê Viết Muồng khiến anh em trong đơn vị chúng tôi vô cùng cảm phục. Sau này, mỗi lần có đợt tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, tôi lẩn mẩn dò xem có tên đồng chí Muồng không mà vẫn chưa thấy?


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Chín, 2021, 09:25:03 am
*
*   *

Đến nơi, tuy bộ đội đã thấm mệt nhưng tiểu đoàn khẩn trương đi vào chuẩn bị chiến đấu ngay. Được Ban cán sự quân tình nguyện giúp đỡ, riêng phần công tác hậu cần chuẩn bị cho chiến đấu trận đầu được thuận lợi. Xuất phát từ căn cứ, qua một ngày, một đêm, hành quân đường rừng đúng 5 giờ sáng ngày 3 tháng 2 năm 1954 (sáng mồng một Tết Giáp Ngọ) ta tấn công diệt gọn cứ điểm Pui mặc dù quân địch ngoan cố chống cự đến hỏa điếm cuối cùng.

Chiến thắng trận đầu ở cứ điểm Pui - cứ điểm quan trọng nhất bảo vệ vòng ngoài đã làm cho địch ở thị xã Mường Mày, tỉnh Áttôpơ rúng động. Mặc dù quân giải phóng Pathét Lào làm nhiệm vụ bao vây, chưa tấn công vào thị xã nhưng xuất hiện triệu chứng bọn Pháp rối loạn chuẩn bị chạy về Pắc-xế.

Trước tình hình này, quân dân bạn siết chặt vòng vây kêu gọi địch đầu hàng. Sau khi diệt xong cứ điểm Pui, Tiểu đoàn 436 “Chí Long” nhanh chóng tiến về thị xã Mường Mày vào chiều ngày 3 tháng 2 năm 1954, tiến công vào thị xã tiêu diệt một tiểu đoàn địch, giải phóng thị xã Mường Mày - Áttôpơ. Sau đó, đơn vị tiếp tục truy kích một bộ phận địch theo hướng Nha Hớn chạy về Pạc-xoòng. Qua mấy ngày chiến đấu và truy kích địch bằng cách đi tắt băng rừng nhưng bộ đội tiến đến đâu, công tác bảo đảm hậu cần phải theo đến đó.

Đến giữa tháng 2 năm 1954, Tiểu đoàn 436 tiến về cao nguyên Bô-lô-ven. Đơn vị truy kích và tiêu diệt các đồn bốt ở Huội Coòng, Tha Teng, Lào Ngam, Bừng Khản... giải phóng toàn bộ cao nguyên Bô-lô-ven.

Qua 10 ngày chiến đấu, Tiểu đoàn 436, đại đội 200 quân tình nguyện cùng quân dân Hạ Lào đã giành được thắng lợi to lớn, loại khỏi vòng chiến đấu 3.000 tên địch, giải phóng hơn 2 vạn ki-lô-mét vuông với 30 vạn dân, một địa bàn có ý nghĩa chiến lược hết sức quan trọng, buộc quân Pháp phải điều hai binh đoàn từ Bắc Bộ và Xê-nô xuống Pắc-xế và Saravan để đối phó với cuộc tấn công của ta và bạn ở Hạ Lào.

Cùng lúc này Tiểu đoàn 436 nhận được thư khen của Bộ Tổng tư lệnh và động viên đơn vị đánh nhanh, đánh mạnh hơn nữa.

Trong đợt chiến đấu này, bộ đội ta bắt đầu ăn gạo nếp như người dân các bộ tộc Lào (gạo Lào dẻo như gạo nếp ở Việt Nam). Thức ăn chủ yếu là muối rang với một ít thịt trâu. Vùng cao nguyên Bô-lô-ven đất đai phì nhiêu, dân trồng lúa và cây ăn quả như chuối, đu đủ rất tốt và nhiều. Chúng tôi mua chuối, đu đủ để làm rau quả cho bộ đội. Ban đầu người dân Lào chỉ cho chứ không bán, dần dà những ngày sau bộ đội tiêu thụ nhiều thì có nơi dân lại bán. Bấy giờ, ở Lào nền kinh tế vẫn tự cung tự cấp, ở vùng nông thôn không có buôn bán gì, trái cây nếu ăn không hết thì đó rụng thối khắp vườn. Lúc đẩu bộ đội ta ăn gạo nếp và mắm Pa-đẹt ở Lào kể cả cách nấu và ăn không quen, dần dần sau này quen lại thấy bình thường.

Đến đây mới thấy việc lo lương thực cho bộ đội là một vấn đề rất lớn. Mỗi lần mua gạo ăn không đủ một tuần, bằng cách nhờ lãnh đạo các địa phương vận động nhân dân bán cho. Có lúc mua tập trung tiểu đoàn, có lúc phân công từng đại đội mua cho nhanh. Vũ khí đạn dược của tiểu đoàn được bổ sung bằng thu chiến lợi phẩm. Riêng về chăm lo sức khỏe có đồng chí Hồ bác sĩ phụ trách, ngày đêm kịp thời cứu chữa thương binh.

Cuối tháng 3 năm 1954, Tiểu đoàn 436 chúng tôi gặp lại Trung đoàn 101 từ Trung Lào xuống vùng giải phóng cao nguyên Bô-lô-ven. Sau khi nghe báo cáo về công tác bảo đảm hậu cần của tiểu đoàn, đồng chí Hoàng Văn Thái - Chính ủy Trung đoàn 101, có lời biểu dương và dặn dò, rồi đây khó khăn còn nhiều, “cậu” và anh em làm công tác bảo đảm hậu cần của tiểu đoàn phái cố gắng nhiều hơn nữa!

Trong thời gian này, đơn vị chúng tôi từ Hạ Lào tiến sang đông bắc Miên (Campuchia), tấn công diệt cứ điểm Vơn-xai có đại đội thiết giáp địch bảo vệ, giải phóng thị trấn Vơn-xai trên bờ sông Xê-xan thuộc tỉnh Ra-ta-na-ki-ri. Ngày 1 tháng 4 năm 1954, ta diệt một tiểu đoàn cơ giới địch đến tăng viện, thu rất nhiều vũ khí trang bị. Sau đó, đơn vị tiến về thị trấn Xiêm-pạng cách Vơn-xai khoảng 60km.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Chín, 2021, 09:25:22 am
Hành quân trên chiến trường Lào và Campuchia hầu hết là đi đường trong rừng, chủ yếu là rừng thưa có nhiều cây dầu rái và ụ mối. Mùa khô nắng nóng cháy cỏ cây, có khi đi cả ngày không hề gặp một khe suối nào còn nước. Mùa mưa anh em phải vượt suối vượt khe, nước chảy xiết. Hành quân từ Vơn-xai đến Xiêm-pạng gặp hôm trời nóng như nung, từ sáng sớm đến chiều tối vẫn không tìm đâu ra một ít nước để nấu cơm. Bộ đội khát nước quá, nhiều người khi gần đến đích đã lả đi. Người tới trước gặp suối phải quay lại tiếp nước cho người đi sau.

Về mùa khô, ban ngày nắng hầm hập nhưng về khuya trời lạnh thấu xương. Bộ đội ta chưa quen với khí hậu khắc nghiệt trên đất bạn nên sức khỏe bị giảm sút rất nhanh. Những ngày chiến đấu trên cao nguyên Bô-lô-ven, đêm ngủ giữa rừng khô, trải lá cây làm chiếu. Sáng ngủ dậy, thấy lưng áo bị thủng lỗ chỗ mới biết mối cắn thủng áo.

Đến Xiêm-pạng, Ban chỉ huy tiểu đoàn phân công tôi quay lại Hạ Lào, đem thư báo cáo tình hình của đơn vị với đồng chí Trần Quý Hai - Chỉ huy trưởng quân tình nguyện Việt Nam ở mặt trận Trung, Hạ Lào lúc bấy giờ.

Từ giữa tháng 4 năm 1954, công tác bảo đảm hậu cần của tiểu đoàn chúng tôi gặp nhiều khó khăn, nhất là lương thực. Gặp thời điểm giáp hạt, không tìm đâu ra gạo để mua. Bộ phận hậu cần vắt chân lên cổ chạy mua gạo mà vẫn không đủ, bữa ăn của bộ đội thất thường, rất dè xẻn. Anh em phải lấy củ nần (củ một loại cây có lá giống lá củ ráy, củ môn mọc hoang giữa rừng) thái nhỏ đem ngâm và luộc đi, luộc lại nhiều lần cho bớt ngứa để ăn dặm thêm.

Trước tình thế ấy, Tiểu đoàn 436 chủ trương tiến xuống khu vực đồng bằng gần đường 13 thuộc tỉnh Krachiê (Campuchia) vượt hàng trăm cây số qua vùng Bô Keo, Lumphat, Xê-rê-pốc, những nơi chưa có cơ sở cách mạng để mong giải quyết lương thực, tiếp tục chiến đấu. Đến tỉnh Krachiê, đơn vị phục kích diệt đoàn xe chở sĩ quan, hạ sĩ quan ở Pháp mới qua từ Sài Gòn lên tăng viện cho Binh đoàn 51 ở Pắc-xế, Pắc- xòong (Lào). Đoàn xe chở lính Pháp có quân bảo vệ nên có nhiều xe chở gạo của các chủ hãng gạo ở Sài Gòn lợi dụng theo sau chở gạo, thực phẩm qua Lào để bán. Khi đoàn xe chở lính Pháp bị diệt, ta bắt 35 tù binh, trong số xe gạo theo sau có một số quay đầu chạy về, một số dạt ra hai bên đường. Lúc này máy bay địch đến ném bom và bắn theo dọc đường 13 vừa xảy ra chiến trận.

Mặc cho máy bay địch quần thảo, chúng tôi vẫn khẩn trương thu chiến lợi phẩm. Đối với các xe gạo và đường sữa... của dân, chúng tôi đứng ra thương lượng để mua. Tôi trực tiếp giải thích:

- Bà con đừng sợ, bộ đội tình nguyện Việt Nam không lấy của dân mà xin được mua và trả bằng tiền Đông Dương ngay tại đây.

Thoáng chốc, mọi người hiểu ngay sự tình, họ đồng ý và nhanh chóng cho bốc dỡ gạo và hàng hóa xuống bên đường, tôi đưa tiền để bà con kịp chạy ra khỏi nơi nguy hiểm. Cứ thế từ chiều đến tối, chúng tôi mới chuyển hết số gạo vào rừng. Nhờ vậy, bộ đội có đủ gạo ăn để tiếp tục bước vào đợt chiến đấu mới. Không những có gạo mà chúng tôi còn mua được cả đường sữa cho thương binh, bệnh binh. Hậu cần luôn phải bám sát từng trận đánh của tiểu đoàn, cùng hành quân cơ động, cùng ra trận.

Đang thiếu gay gắt về lương thực, nhờ có chủ trương đúng đắn và táo bạo, tiểu đoàn đã mua được một số lượng gạo khá lớn. Việc giải quyết được bế tắc đeo đẳng những ngày qua khiến những người phụ trách hậu cần như chúng tôi cảm thấy vui mừng khôn xiết. Thế là bộ đội lại có gạo ăn để mở những trận chiến đấu mới.

Tiểu đoàn 436 càng đánh, càng mạnh, hiệu suất chiến đấu cao. Với những chiến thắng vừa qua, tiểu đoàn lại nhận được thư khen của Bộ Tổng tư lệnh và phấn khởi đón nhận thư khen các đơn vị chiến thắng trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 của Bác Hồ.

Vẫn hệt như khi còn ở trong nước, đơn vị chúng tôi không bao giờ trú quân lâu ngày tại một địa điểm mà cơ động liên tục để tránh phi pháo của địch. Có thời gian anh em phải phân tán, tỏa ra để làm công tác dân vận, giúp bạn xây dựng cơ sở cách mạng. Có nhiều nơi, dân bạn ở rải rác, lắm khi đi cả ngày đường mới gặp một bản, nhất là ở vùng cao. Vì bị kẻ địch tuyên truyền xằng bậy, có nơi dân chưa khi nào tiếp xúc với bộ đội nên khi thấy anh em ta đến là bà con liền bỏ trốn vào rừng. Cán bộ ta và cán bộ cách mạng của bạn phải công phu vận động, thuyết phục, người dân mới trở lại làng, bản. Và một khi đã hiểu ra, thì chính họ lại ủng hộ cách mạng, giúp đỡ bộ đội tình nguyện Việt Nam. Đến đây, chúng tôi càng hiểu và thấm thía lời dạy của Bác Hồ: “Dân vận khéo thì việc gì cũng xong”.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Chín, 2021, 09:27:09 am
*
* *

Mùa hè năm 1954, hoạt động trên chiến trường Campuchia ở các tỉnh Krachiê, Mônđunkiri, Tiểu đoàn 436 cũng tự lo hậu cần cũng bằng cách mua của nhân dân nước bạn. Những địa bàn đơn vị chúng tôi hoạt động lâu ngày như ở Lumphát, Xêrêchi... Kinh tế ở đây cũng vẫn chủ yếu là tự cung, tự cấp, không có trao đổi hàng hóa.

Vào tháng 6 năm 1954, sau khi tấn công cứ điểm Huội Tê ở tỉnh Krachiê, khu vực hoạt động của tiểu đoàn chỉ còn cách Nam Bộ theo đường chim khoảng 100km. Theo lệnh cấp trên, tiểu đoàn cử tổ xuống bắt liên lạc với Bộ tư lệnh Nam Bộ. Tổ liên lạc đi rồi nhưng sau đó cấp trên ra lệnh cho đơn vị chúng tôi quay lại, không tiến xuống Nam Bộ nữa. Tiểu đoàn lại hành quân hướng về hoạt động chiến đấu ở Chăm-pa-xắc thuộc vùng Hạ Lào. Hoạt động độc lập chiến đấu dài ngày trên một chiến trường có rất nhiều khó khăn, gian khổ, sức khỏe của bộ đội giảm sút. Đơn vị gặp khó khăn không chỉ việc bảo đảm lương thực mà còn thiếu thốn cả về thuốc men, quân trang, đồ dùng sinh hoạt. Chúng tôi lại phải kiếm củ nần, rau rừng để ăn dặm thêm. Những thứ này chỉ tạm thời no đầy cái bụng, nhưng chẳng có mấy dinh dưỡng. Khó khăn là vậy, nhưng có lệnh đi chiến đấu là đâu lại vào đó, ai nấy đều tích cực, hăng hái.

Cùng thời gian này, tôi phụ trách một tổ gồm các đồng chí cán bộ: Em, Vạn, Lê và hai chiến sĩ liên lạc, trong đó đồng chí Lê làm phiên dịch đi trước qua Chăm-pa-xắc chuẩn bị lương thực, thực phẩm, để bộ đội đến là có đủ cái ăn ngay để hoạt động. Chúng tôi mang theo gạo muối cho năm ngày, súng đạn và mỗi người một con dao, một tấm ni lông. Không địa bàn, không bản đồ, chưa biết đường đi, song cả tổ cứ thế băng rừng với hy vọng đến đâu gặp được dân sẽ hỏi tiếp đường đi đến Chăm-pa-xắc. Yêu cầu đặt ra rất gấp rút vì bộ đội sẽ tiếp tục hành quân theo sau.

Ngày đi, đêm nghỉ lại những nơi khe, suối có nước, lấy lá rừng làm chiếu. Có khi đi vài ngày mới gặp được một bản làng. Dân làng cho biết ở vùng này có rất nhiều hổ dữ. Nghe chúng tôi kể lại là tối đến anh em ngủ giữa rừng, dân lắc đầu lè lưỡi và nói: “Chắc các anh có ngậm ngải nên hổ mới tránh, chứ dân làng chúng tôi đi như các anh thì chắc chắn bị hổ vồ mất xác”. Quả vậy, chúng tôi để ý buổi mờ sáng qua suối cạn thấy rõ dấu chân cọp bước trên các tảng đá còn đọng nước. Lúc bấy giờ trên đường đi chúng tôi không những có kế hoạch chống địch nhất là bọn phỉ mà còn phải cảnh giác với thú dữ. Do vậy, ban đêm anh em thay nhau gác, nhưng đi mệt quá đêm khuya có lúc ngủ quên, thức dậy mới thấy hú vía.

Vào mùa mưa, nhiều khe suối nước ngập tràn bờ và chảy rất xiết. Không thể dừng lại chờ nước rút mà phải chặt cây làm cầu vượt, hoặc gói đồ đạc vào vải ni lông làm phao bơi qua để cho kịp kế hoạch cấp trên giao. Thiếu gạo nhưng rất may, rừng vào mùa mưa có rất nhiều măng tre. Những ngày cuối chặng hành quân, chúng tôi sống chủ yếu nhờ vào măng. Dọc đường gặp nhiều nai, hươu, bò rừng chạy từng đàn, mặc dù thiếu thịt nhưng chấp hành kỷ luật giữ bí mật không được nổ súng.

Rừng thưa ở Campuchia cũng như Lào, xen lẫn dưới các gốc cây là vô vàn ụ mối tạo nên nhiều rãnh đường chân chim. Do ít người qua lại nên thật khó phân biệt giữa đường mòn với đường rãnh chân chim. Có nơi chẳng thấy vệt đường mòn, anh em cứ nhè rãnh chân chim nhắm hướng mà đi. Đi một đoạn lại phải đẽo thân cây làm dấu, đề phòng bị lạc còn biết đường mà quay lại.

Đi đến ngày thứ năm, chúng tôi phải vượt qua thượng nguồn sông Xê-công. Mùa mưa, nước sông lên cao chảy xiết, mặt nước rộng trên 200m, một tình huống ngoài dự kiến. Quanh đây có rất nhiều tre và chuối rừng nhưng không có hy vọng gì làm được bè vì sông vừa rộng lại vừa chảy xiết. Bàn đi tính lại, cuối cùng chúng tôi thống nhất dùng vải ni lông làm phao bơi qua sông và phải tính toán làm sao trôi dạt đúng vào chỗ chọn bờ bên kia. Thật may là trong tổ, ai cũng biết bơi. Hai đồng chí Lê và Em bơi trước. Khi mới lội nước ngang ngực, chưa kịp bơi thì đột nhiên thấy giữa sông nổi lên một cục to và đen sì, cả hai vội vã quay nhanh vào bờ. Sông rộng nên không ai phân biệt được con vật gì, chỉ thấy nó quanh quẩn trong một khu vực, cứ lặn xuống rồi lại ngoi đầu lên thở phun nước phì phì, ai nhìn thấy cũng sợ.

Không thể chần chừ, chúng tôi di chuyển lên phía thượng nguồn để qua sông, vừa bơi, vừa để ý theo dõi đề phòng. Không hiểu sao khi chúng tôi bơi thì không thấy con vật lạ nổi lên, nhưng khi đã lên bờ bên kia rồi thì thấy cái đầu của nó lại nhô lên. Qua được sông rồi mà ai cũng thấy ớn. Khi gặp và hỏi người dân vùng này thì được biết đó là con cá heo to, chuyên sống ở khúc sông này nhưng được cái nó không hại người.

Khi đến Hạt-nhao thì trời vừa xẩm tối. Gặp một rẫy ngô sắp thu hoạch, ở giữa có một chòi cao. Chúng tôi ngó quanh quấn để tìm người dân nhưng không thấy ai, chỉ gặp một con chó to. Gặp người lạ nhưng con chó nguẩy đuôi làm quen ngay, anh em đi đâu nó cũng đi theo. Chúng tôi thầm mừng hôm nay được ngủ trên chòi cao, không còn sợ cọp, beo, rắn, rết gì nữa. Bờ sông cao thoai thoải, mọc đầy cỏ tranh, chúng tôi xuống sông tắm rửa và đi nghỉ ngơi. Đồng chí Em tắm nhanh và đi lên rẫy trước. Lúc này trời sập tối, đột nhiên nghe tiếng kêu ú ớ thất thanh của đồng chí Em. Tất cả chúng tôi vội chạy lên thì thấy đồng chí Em thở hổn hển, tiếng nói đứt đoạn kể lại:

- Con chó đi trước tôi bị hổ vồ mất rồi, nó không kịp kêu một tiếng nào cả.

Chúng tôi, sau một phút bàng hoàng nghĩ lại thật may là người không hề hấn gì cả. Bà con dân bản cho biết: “Hổ ở đây có khi chúng đi cả đàn chứ không chỉ một vài con”. Nghe mà sởn cả gai ốc!

Sau bảy ngày cực nhọc, cuối cùng chúng tôi cũng đến được Chăm-pa-xắc. Liên hệ mua được lúa và đang nhờ nhân dân xay giã thì cán bộ địa phương đến báo tin là có mấy người bộ đội Việt Nam đến gần làng rồi nhưng mệt lả không đi được nữa. Chúng tôi vội theo chân đến đó thì gặp đồng chí chính trị viên đại đội 40 cùng hai đồng chí chiến sĩ nữa. Họ thều thào nói tiếng được tiếng mất, vừa nói vừa ra hiệu là còn có ba người đi sau nữa. Chúng tôi dìu các đồng đội vào làng và tiếp tục tìm cứu đón những người đi sau.

Vừa đói vừa mệt lả mấy ngày rồi, không thể cho anh em ăn cơm ngay được mà phải cho từng người uống nước cơm để dần dần hồi sức. Khi tỉnh lại, anh em cho biết cả tổ có bảy người được đại đội 40 cử đi trước tìm đường cho đơn vị đến Chăm-pa-xắc nhưng chẳng may bị lạc đường. Đã mấy ngày rồi hết lương thực, không còn cái ăn, sức khỏe anh em suy kiệt, vừa đi vừa nghỉ từng chặng một. Cách đây một ngày, đồng chí Diên quê ở Nghệ An kiệt sức, không thể gắng được nữa. Trong đoàn chẳng ai còn đủ sức cáng võng, đành mắc võng vào cây để đồng chí Diên nằm lại, dự định khi gặp được dân sẽ quay lại đón. Thế nhưng lúc quay lại tìm rất kỹ, vẫn không thấy bóng dáng đồng chí Diên đâu, kể cả người và võng. Vô vọng, ai cũng đau xót, tiếc thương vì không cứu được một đồng đội của mình đã hy sinh vì nhiệm vụ.

Mấy ngày sau, đơn vị chúng tôi còn chưa kịp vào đợt tác chiến mới thì nhận được lệnh của cấp trên: Hiệp định đình chiến đã ký và Tiểu đoàn 436 nhanh chóng quay về Át-tô-pơ, chuẩn bị tập kết ra Bắc qua vùng giải phóng Lào.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Chín, 2021, 09:29:49 am
*
*   *

Trải qua hơn 200 ngày hành quân chiến đấu, được sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh, cuộc hành quân độc lập chiến đấu thọc sâu dài ngày của Tiểu đoàn 436 với tên gọi “Chí Long” vô cùng gian khổ. Cán bộ, chiến sĩ của tiểu đoàn đã khắc phục mọi khó khăn, vượt qua chặng đường núi rừng trùng điệp hiểm trở từ phía tây Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Tây Nguyên... Với tinh thần tự lực tự cường, mưu trí và dũng cảm, đơn vị đã nhiều lần tấn công địch với hiệu suất chiến đấu cao. Đã phối hợp cùng các đơn vị bạn và quân dân Hạ Lào, đông bắc Miên để “chia lửa” với chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng nhiều vùng đất đai rộng lớn, để lại tình cảm và ấn tượng tốt đẹp của quân tình nguyện Việt Nam đối với cách mạng và nhân dân nước bạn.

Qua chín năm kháng chiến gian khổ và vô cùng anh dũng, đất nước đã có hòa bình, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ai cũng phấn khởi. Anh em chúng tôi vừa mừng, vừa mong nhanh chóng trở về Tổ quốc mình. Mừng rồi chợt lo vì con đường hành quân về nước cũng gập ghềnh, gian nan chẳng kém gì những ngày ra đi. Đường đi cũng từ Hạ Lào qua Trung Lào bằng đường rừng để về miền Bắc Việt Nam phải qua nhiều ngày dài thăm thẳm, ai cũng thấy trước, chứ không phải mờ mịt như lúc ra đi.

Công tác chính trị tư tưởng cho một đơn vị sau khi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trở về, tưởng chừng đơn giản hóa ra cũng phức tạp, nẩy sinh nhiều “tham mưu con” đường đi ngắn dài. Nhưng cuối cùng quân lệnh như sơn, ai nấy đều phấn khởi chuẩn bị hành quân theo mệnh lệnh.

Trở về nước theo đường rừng dài ngày trong mùa mưa, cả tiểu đoàn mà trước hết là chúng tôi đã thấy công tác bảo đảm hậu cần cho chuyến đi này còn khó khăn hơn rất nhiều so với lúc ra đi từ Việt Nam. Những vấn đề mới đặt ra như tình hình sức khỏe bộ đội giảm sút, giải quyết vận chuyển thương binh, bệnh binh... Trừ trang bị vũ khí, còn các trang bị chiến đấu và sinh hoạt khác như quân trang, quân dụng, thuốc men... tiêu hao qua tám tháng hành quân chiến đấu chưa được bổ sung, ngay như khi có tiền cũng không biết mua ở đâu. Thiếu gì thì thiếu chứ đặc biệt lương thực, thực phẩm cho bộ đội phải được giải quyết ngay từ đầu, vì dọc đường hành quân sẽ không có điều kiện bổ sung.

Với sự nỗ lực của toàn tiểu đoàn mà trong đó cán bộ hậu cần đã chủ động có kế hoạch cụ thể, cùng với sự giúp đỡ của quân dân nước bạn và Ban cán sự quân tình nguyện ở Hạ Lào, công tác chuẩn bị lương thực, thực phẩm và các bảo đảm sinh hoạt tối thiểu khác cho đơn vị chúng tôi đã được hoàn tất. Giải quyết hàng chục tấn lương thực, thực phẩm ở nơi kinh tế tự cung, tự cấp của người dân còn nhiều khó khăn là điều trước hết chúng tôi mừng nhất.

Trong lần hành quân này, trên giao trách nhiệm cho Tiểu đoàn 436 giúp đỡ hai tiểu đoàn của bạn Lào, trong đó có một trung đội nữ cùng hành quân về tập kết ở Thượng Lào, vòng qua đường Việt Nam. Bạn còn ít kinh nghiệm tổ chức hành quân đường dài. Tiểu đoàn phải giúp đỡ bạn về mọi mặt, trong đó chúng tôi có trách nhiệm giúp bạn về công tác hậu cần.

Đường rừng tây Trường Sơn khe suối nhiều. Gặp một trận mưa to là nước tràn ngập, nhất là gặp suối lớn, cả đơn vị phải tạm dừng chờ nước rút, có khi phải nghỉ lại một, hai ngày là thường.

Trên đường hành quân, đơn vị đi qua các tỉnh như Át-tô-pơ, Sê-kông, Xa-la-van, Xa-van Na-khet và Khămmuộn của Lào, có một số vùng địch tạm chiếm. Theo hiệp định đình chiến, trên đường ta đi qua các nơi địch đang đóng giữ thì họ phải tạm thời sơ tán tránh xa 2km để bảo đảm an toàn. Vậy nhưng khi chúng tôi gặp đồn Pha-nốp mặc dù đã có báo trước nhưng cả lính Pháp và lính ngụy Lào ở đây vẫn trì hoãn không chịu sơ tán, trong lúc quân ta chỉ cách đồn chúng 500m. Thương lượng mãi không được, theo kế hoạch cả đoàn phải đi nhanh qua khu vực này. Tiểu đoàn quyết định nếu chúng không lui, ta vẫn đi. Khi thấy bộ đội ta rầm rập băng qua đồn, bọn lính ở đây vội vàng co giò tháo chạy vào rừng, súng đạn vứt vương vãi.

Khi đuôi của đoàn quân, bao gồm cả hai tiểu đoàn của Lào qua khỏi Ban-Na-Phào thì trực thăng của ủy ban kiểm soát quốc tế cũng vừa đáp xuống khu vực này để kiểm tra và có thể làm khó, dễ nhưng không kịp. Theo đường 12 băng qua khu vực tây bắc Quảng Bình, chúng tôi đã đặt chân lên vùng tây nam Hà Tĩnh. Một cuộc hành quân đường rừng dài ngày xiết bao cực nhọc và gian khổ nhưng trọn vẹn. Trong niềm vui chiến thắng, ai cũng được gặp lại quê hương và người thân, thật là sung sướng và hạnh phúc. Cho dù phía trước khó khăn vẫn còn nhiều nhưng ai nấy đều phấn khởi vì cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đã kết thúc thắng lợi.

Cuối năm 1954 đầu năm 1955, sau khi kết thúc làm nhiệm vụ biệt phái, Tiểu đoàn 436 lại trở về với Trung đoàn 101, đứng trong đội hình của Sư đoàn 325 tại Quảng Bình. Tổng kết đợt hoạt động chiến đấu ở chiến trường Lào và Campuchia, tôi được bầu là chiến sĩ thi đua của Tiểu đoàn 436. Cuối năm 1954, tôi được bổ nhiệm làm chính trị viên và là bí thư chi bộ đại đội 40 của tiểu đoàn. Ban chỉ huy đại đội có đồng chí Kim đại đội trưởng, đồng chí Đan đại đội phó, đồng chí Phương đại đội phó chính trị.

Quê hương Quảng Bình của tôi mặc dù không còn bóng giặc, nhưng qua nhiều năm bị chiếm đóng, giặc Pháp đã để lại đây cảnh điêu tàn xác xơ, mà nổi bật nhất là tình hình đói kém.

Hòa bình rồi bộ đội không thể trú quân mãi trong nhà dân được mà phải có doanh trại để đưa mọi hoạt động đi vào nền nếp chính quy. Trên không có kinh phí để cấp, bộ đội phải tự lực xây dựng doanh trại bằng cách vào rừng đốn gỗ, cắt tranh để làm nhà. Người lính bây giờ được tạm chuyển qua làm thợ rừng, thợ mộc. Xuất hiện những bàn tay khéo léo vật lộn với núi rừng, mưa nắng, tạo nên những khu doanh trại trên những đồi hoang tuy là tranh tre nứa lá nhưng khang trang nền nếp.

Hòa bình rồi nhưng đất nước vẫn còn bị chia cắt, đồng bào miền Nam vẫn nằm dưới ách thống trị của kẻ thù. Nhiệm vụ đấu tranh thống nhất nước nhà còn rất nặng nề đối với cả dân tộc Việt Nam, trong đó có nhiệm vụ đấu tranh vũ trang mà quân đội là lực lượng nòng cốt. Hầu hết mọi cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị chúng tôi đều nhận thức được điều đó.

Với những kinh nghiệm chiến đấu đã được đúc kết, trước yêu cầu nhiệm vụ mới, quân đội ta ra sức huấn luyện quân sự, học tập chính trị, xây dựng nền nếp chính quy, nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu. Đại đội 40 của chúng tôi được trên chỉ định làm đội mẫu rút kinh nghiệm trong huấn luyện. Với sự chỉ đạo sát sao của cấp trên, toàn thể cán bộ, chiến sĩ của đại đội chúng tôi đã xây dựng được tinh thần đoàn kết, quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ. Lần đầu tiên đi vào tổ chức huấn luyện chính quy, đại đội phải thể hiện sự mẫu mực từ công tác tổ chức cho đến xây dựng nội bộ. Từng chi tiết trong giáo án cho đến động tác của người cán bộ, chiến sĩ trên thao trường đều được coi trọng.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Chín, 2021, 09:30:15 am
Trước đây, tôi được rèn luyện ở trường hạ sĩ quan, cũng như trải qua chiến đấu học tập của cá nhân, nhờ vậy đã cùng các đồng chí trong ban chỉ huy đại đội lãnh đạo, chỉ huy đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ huấn luyện, được trung đoàn khen thưởng.

Hằng năm, từng tiểu đoàn thay nhau trực sẵn sàng chiến đấu ở sát khu giới tuyến quân sự tạm thời tại phía bắc sông Bến Hải, Vĩnh Linh. Mỗi lần như vậy là một lần thiết thực, thực hiện hành quân mang vác nặng luyện tập cơ động chiến đấu, duy trì ý thức cảnh giác sẵn sàng chiến đấu cho mình, khi kẻ thù đang ra sức phá hoại Hiệp định đình chiến, lăm le tiến công miền Bắc.

Tháng 6 năm 1957, vào thời điểm phong trào huấn luyện, xây dựng đơn vị đang diễn ra sôi nổi, mạnh mẽ, thì một niềm vinh dự lớn đã đến với chúng tôi, là được đón Bác Hồ kính yêu về thăm nhân dân tỉnh Quảng Bình và Sư đoàn 325. Sau khi biểu dương những thành tích của đơn vị đạt được trong thời gian qua, Bác đã ân cần dặn dò cán bộ, chiến sĩ phải tích cực cố gắng học tập quân sự, chính trị, nghiệp vụ, xây dựng đơn vị tiến bộ, luôn nâng cao tinh thần cảnh giác, ý thức tổ chức kỷ luật...; giữ vững đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân.

Niềm mong ước lớn nhất trong đời tôi là được một lần gặp Bác, thì nay đã trở thành hiện thực. Mãi về sau, nhiều anh em chúng tôi vẫn nghĩ là mình đang mơ, bởi niềm hạnh phúc quá lớn, quá bất ngờ. Càng phấn khởi hơn khi được khắc ghi vào tâm khảm những lời căn dặn đầy tình yêu thương của Bác.

Sau gần hai năm gắn bó với cán bộ, chiến sĩ đại đội 40, trong năm 1956, tôi được điều động về Tổng cục Chính trị cùng một số đồng chí khác đi làm phái viên tổ chức thí điểm các chi đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam ở các Sư đoàn 308, 316, 332... Đến năm 1957, tôi trở lại làm Trợ lý thanh niên ở Ban chính trị Trung đoàn 101.

Năm 1957, lần đầu tiên tôi được nghỉ phép về thăm gia đình sau bảy năm nhập ngũ. Gặp lại người thân sau mấy năm xa cách, vui buồn lẫn lộn. Vui vì có hòa bình rồi gặp được nhau để thổ lộ tình cảm mà bấy lâu chưa có tin tức gì cho nhau, kể cả khi tôi nói đã mấy lần hành quân qua làng mình mà không có điều kiện ghé thăm gia đình, đến lúc này cả nhà mới biết. Cha tôi là người vui hơn cả vì đã có lần không còn hy vọng gặp lại con. Vui là vậy nhưng rồi không nói ra mà trong lòng cũng thoáng hiện một nỗi buồn gia đình đoàn tụ sau chiến tranh thiếu vắng người mẹ và đứa em gái chết vì chiến tranh, mặc dầu đã có người mẹ kế hiền từ chăm lo con chồng như người mẹ đẻ. Hơn nữa, sau chiến tranh kinh tế gia đình sa sút thiếu đói trầm trọng cũng thêm điều lo nghĩ. Về đơn vị những tồn tại đó lại bị cuốn đi bởi công việc và phong trào, khí thế đang đi lên của đơn vị.

Theo thói thường của những người làm cha, làm mẹ, cha tôi và mẹ kế vào thời gian này nhiều lần khuyên tôi lấy vợ khi không còn sớm nữa. Thế là dự định thành sự thật. Được sự đồng ý của gia đình hai bên, năm 1958, đám cưới giữa tôi và cô Trần Thị Lý ở làng bên được tổ chức.

Ai cũng biết cưới vợ, gả chồng là việc hệ trọng và là niềm hạnh phúc của đời người nên làm cha, làm mẹ dù nghèo nhưng ai cũng muốn tổ chức lễ cưới của con mình sánh với họ hàng, làng xã. Được trên cho nghỉ phép về đến nhà trước hai ngày đã thấy gia đình chuẩn bị mọi thứ làm cỗ bàn mời khách ngày cưới. Đang trong phong trào vận động cưới xin tiết kiệm theo đời sống mới, tôi đề nghị bố, mẹ tôi đừng làm cỗ bàn gì hết mà tổ chức cưới theo đời sống mới với tiệc trà, bánh, kẹo. Bố mẹ tôi nói là mọi thứ đã chuẩn bị cả rồi, hơn nữa đã thống nhất với họ nhà gái, cận ngày rồi không thể thay đổi được. Tôi nhất quyết thưa với bố mẹ tôi là: nếu không thay đổi thì con xin hoãn cưới, trở về đơn vị. Chiều theo ý con, bố tôi lại phải sang trao đổi lại với họ nhà gái cho cưới theo đời sống mới và may quá bố mẹ vợ và người yêu của tôi cũng đồng ý. Đám cưới của chúng tôi có đông đủ họ hàng bà con, đại diện chính quyền địa phương, đông vui và ấm cúng. Phần tôi vừa mừng, song lại vừa băn khoăn là mình hành xử có cực đoan làm khổ bố mẹ, anh chị em trong gia đình không?

Thông cảm với hoàn cảnh của bộ đội, đâu có tuần trăng mật, mấy ngày sau tôi trở lại đơn vị, nhà tôi nén một thoáng buồn, vui vẻ tiễn tôi lên đường.

Tôi xin kể thêm về gia đình vợ. Bố vợ tôi là ông Trần Gia (1902-1992) và mẹ vợ tôi là bà Hoàng Thị Em (1907-1983) ở xã Quảng Hòa, huyện Quảng Trạch, Quảng Bình, cách nhà tôi không xa. Ông bà sinh được bảy gái, một trai: Trần Thị Bổn (1923), Trần Thị Lài (1930), Trần Thị Quế (1943), Trần Thị Huệ (1946-1962), Trần Thị Hương (1947), Trần Thị Lương (1954), Trần Hữu Đính (1948-2003) và vợ tôi Trần Thị Lý (1940). Gia đình làm nghề nông. Mấy chục năm tôi đi bộ đội xa nhà, gia đình tôi con nhỏ neo đơn, nhưng được bố mẹ vợ quan tâm, động viên, đỡ đần nhiều để vượt qua những lúc khó khăn như người ta thường nói “cháu bên nội, tội bên ngoại”.

Thời gian này tôi có quyết định rời khỏi Trung đoàn bộ binh 101 để nhận nhiệm vụ mới. Ra đi với một tình cảm lưu luyến, nhớ biết bao nhiêu đồng chí, đồng đội đã cùng chiến đấu và công tác, chia ngọt, sẻ bùi. Có những anh em cùng tôi rất nhiều ngày ở Tiểu đoàn 436 như Trương Thanh Hùng, Hồ Ngọc Kế, Lê Minh Liên, Nguyễn Văn Ngôn... Nhớ Tiểu đoàn 436 Trung đoàn 101, nơi đã từng rèn luyện, bồi dưỡng mình từ những ngày đầu làm “lính Cụ Hồ”.

Cuối năm 1958, tôi được trên cho đi học thêm ở trường văn hóa quân đội tại Lạng Sơn. Việc học tập cho cán bộ, chiến sĩ quân đội ở đây theo một chương trình riêng nhằm phục vụ cho việc bồi dưỡng, đào tạo nguồn sau này, vì vậy nhà trường chỉ tập trung vào các môn cơ bản như toán, lý, hóa, văn; cuối chương trình có thêm môn ngoại ngữ. Đến đầu năm 1961 thì tôi hoàn thành chương trình văn hóa 10/10.

Trong thời gian học tập tại đây, một lần nữa tôi lại có vinh dự được gặp Bác Hồ kính yêu khi Người đến thăm trường. Lần này thấy Bác tóc bạc, da dẻ hồng hào, mạnh khỏe như một ông tiên, học viên chúng tôi ai cũng mừng, cũng vui. Trong lúc nói chuyện, nhiều lần Bác phải ra hiệu ngừng vỗ tay để Người nói tiếp.

Cuối năm 1958, triển khai thực hiện quy định quân hàm và phong quân hàm các cấp của sĩ quan, hạ sĩ quan thuộc các quân, binh chủng trong toàn quân, tôi được phong quân hàm thượng úy do Bộ trưởng Bộ quốc phòng Võ Nguyên Giáp ký (20-11-1958).


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Chín, 2021, 09:31:17 am
(https://i.imgur.com/f5wSwEa.jpg)

Lãnh đạo xã Quảng Sơn, Quảng Trạch, Quảng Bình, địa phương từng gắn bó với bộ đội Hải quân trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1999)

(https://i.imgur.com/ZTLKZp0.jpg)

Lãnh đạo tỉnh Quảng Bình thăm Bộ tư lệnh Hải quân tại Hải Phòng (1997)

(https://i.imgur.com/e862Axf.jpg)

Với đồng chí Trần Đình Luyến, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Quảng Bình, tại lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng LLVTND của huyện Quảng Trạch (1999)

(https://i.imgur.com/qbVBY98.jpg)

Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh cùng vợ và một số gia đình CCB Việt Nam đến viếng tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Matxcơva, Liên bang Nga

(https://i.imgur.com/RANDMkm.jpg)

Bộ tư lệnh Hải quân năm 1986. Từ trái qua phải: Chuẩn đô đốc Nguyễn Dưỡng, Phó đô đốc Giáp Văn Cương, Đại tá Mai Xuân Vĩnh

(https://i.imgur.com/0bvykvN.jpg)

Một số đồng chí trong Bộ tư lệnh Hải quân các thời kỳ. Từ trái qua phải: Đại tá Trương Tải, Chuẩn đô đốc Huỳnh Kim, Chuẩn đô đốc Phạm Minh, Đại tá Hoàng Phúc, Thiếu tướng Hoàng Trà, Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh, Chuẩn đô đốc Trần Văn Giang, Chuẩn đô đốc Đoàn Bá Khánh, Phó đô đốc Lê Văn Xuân, Chuẩn đô đốc Phạm Huấn


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Chín, 2021, 09:32:51 am
Chương ba

TRỞ THÀNH NGƯỜI LÍNH BIỂN

Tháng 6 năm 1961, tôi được cử đi học đào tạo sĩ quan chỉ huy Hải quân ở Liên Xô.

Việc hết sức mới mẻ, nhưng cũng không quá bất ngờ vì những ngày học thêm văn hóa tôi cũng đã hiểu được định hướng của trên nếu hoàn thành tốt việc học văn hóa. Đoàn đi học hải quân lần này có năm người (các đồng chí Minh, Rô, Thiệu, Bài và tôi) đều đã là sĩ quan bộ binh đi học, được coi như đào tạo chuyển quân chủng, để kịp đáp ứng với Hải quân ta mới thành lập.

Sau chặng hành trình mười ngày bằng chuyến tàu hỏa liên vận, chúng tôi mới đến nơi học. Lần đầu tiên ngồi trên tàu hỏa dài ngày, phải chuyển tàu tới bốn lần. Từ ga Bằng Tường đến Bắc Kinh, qua Mãn Châu Lý (Trung Quốc), tới Mạc Tư Khoa (Liên Xô). Ngoại ngữ tiếng Nga chỉ mới bập bẹ năm, ba tiếng, giao tiếp trên tàu của nước bạn chủ yếu là ra hiệu và nói tiếng một. Trường đầu tiên chung tôi học là Trường Hải quân Ki-rốp ở thủ đô Ba-cu, nằm bên bờ biển Caxpiên thuộc nước Cộng hòa A-déc-bai-kan, nơi khai thác dầu khí lớn nhất của Liên Xô lúc bấy giờ. Trường Hải quân Ki-rôp là nơi đào tạo sĩ quan chỉ huy hải quân cho toàn Liên bang Xô viết. Chương trình học tập, đào tạo có chất lượng tốt với đội ngũ giảng viên có trình độ cao, nhiều kinh nghiệm. Cơ sở nhà trường được xây dựng trên một khu vực rộng, bao gồm đầy đủ giảng đường đến những nơi thực tập, luyện tập cho tất cả các môn học; nơi ăn ở cho hàng nghìn học viên. Bệnh xá nhà trường tương đương như một bệnh viện; nhà câu lạc bộ đa năng cho luyện tập thể dục thể thao, biểu diễn văn nghệ, chiếu phim, sàn nhảy... Có thể nói nhà trường đào tạo sĩ quan hải quân rất chính quy về mọi mặt. Ở trường này nếu học hệ 5 năm tốt nghiệp ra trường là sĩ quan chỉ huy - kỹ sư.

Cán bộ của nhà trường từ các giảng viên đến cán bộ khung phụ trách đơn vị học viên đều rất nhiệt tình giúp đỡ chúng tôi học tập với tình đồng chí. Năm đầu học các môn cơ bản, có những môn khó như lý thuyết, bài tập về cơ học, sức bền vật liệu, luyện kim, hình họa, xác xuất... do vốn liếng tiếng Nga của chúng tôi còn kém, các thầy giáo đã tận tình đến phụ đạo cho chúng tôi trong những giờ tự học. Đại tá Đô-rô-sen-cô, người phụ trách học viên Việt Nam là một người rất nhiệt tình và mẫu mực.

Học viên Việt Nam học ở trường này có ba người học trước chúng tôi một năm và sau chúng tôi lần lượt có rất nhiều người đến học ở đây. Lần đầu tiên làm học viên học ở nước ngoài, xin kể chuyện vui. Số là khi mới đến trường vào lúc đang chuẩn bị, chưa khai giảng, năm anh em chúng tôi được nhà trường cấp cho mỗi người bảy đồng rúp (tiền của Liên Xô) để tiêu vặt. Mới đầu chưa quen phong thổ, tiếng Nga bập bẹ từng chữ, phố xá ở đây chưa biết ra sao, nhưng ngày nghỉ, nhân có bảy đồng rúp trong túi, mấy anh em rủ nhau ra thành phố Ba-cu, nơi cách xa trường 20km, vào một cửa hàng ăn lớn. Ngồi vào bàn đọc quyển giới thiệu món ăn, chỉ hiểu được chữ của một ít món. Thế là gọi các món: gà quay, bíttết phương Đông, thịt nướng và một chai rượu nho. Đợi mấy phút thấy nhà hàng bưng lên mỗi người một con gà quay to. Mấy anh em nhìn nhau, gay to, cứ tưởng rằng quen như ở ta, mỗi người một đùi gà quay thôi, ai ngờ cả con gà, tiền đâu đủ để trả. Muốn nói với nhà hàng để hoãn các món còn lại, nhưng không đủ tiếng tăm nên đành im lặng, cứ ăn.

Ai cũng nghĩ mình là người nước ngoài sẽ rất xấu hổ khi không có đủ tiền để trả cho nhà hàng. Một sáng kiến nẩy ra là ăn được quá nửa bữa, cử một người quay lại trường mượn thêm tiền của anh em học viên Việt Nam mình. Mấy anh em còn lại cứ lai rai vì nhà hàng này có cả dàn nhạc, phục vụ khách vừa ăn, vừa nhảy nên ngồi ăn lâu bao nhiêu cũng được. Cuối cùng thanh toán tiền với nhà hàng vừa đúng mỗi người bảy rúp. Thật hú vía! May sao có tiền mượn thêm để có tiền đi xe buýt về trường. Mấy anh em cứ nhìn nhau ôm bụng mà cười vì chuyện vừa xảy ra.

Học về hải quân là việc mới mẻ đối với chúng tôi. Chương trình học tập nhiều lại học bằng tiếng Nga, kỷ luật, nội quy của trường hết sức chặt chẽ, nhưng mấy anh em chúng tôi đều là sĩ quan nên bảo nhau học thật tốt. Vì vậy năm nào chúng tôi cũng đạt xuất sắc, có tên trong bảng danh dự của nhà trường. Học cùng trường với chúng tôi còn có học viên từ một số nước xã hội chủ nghĩa và một số nước dân tộc chủ nghĩa có xu hướng chống đế quốc, thực dân. Vì vậy ở đây ngoài việc học tập còn thấy cả bóng dáng của phong trào đoàn kết quốc tế chống đế quốc.

Tuy nhiên, đây là thời điểm mà tình hình thế giới có nhiều biến động và ngay cả nội bộ phe xã hội chủ nghĩa cũng gặp nhiều khó khăn. Trước tình hình bất ổn của phong trào cộng sản quốc tế do chủ nghĩa xét lại gây nên, đến giữa năm 1964, tất cả học viên của Việt Nam đang học ở Liên Xô, dù chưa hết khóa học đều được lệnh trở về nước. Thấy rõ sự cần thiết phải đào tạo cán bộ để xây dựng các quân chủng, binh chủng còn non trẻ, cấp trên chủ trương để chúng tôi đi học tiếp ở Trung Quốc.

Từ đầu năm 1964, sau khi bị thua đau trên chiến trường miền Nam Việt Nam, đế quốc Mỹ liền giở trò “trả đũa”, chúng liều lĩnh gia tăng các hoạt động phá hoại ra miền Bắc nước ta. Đứng trước nguy cơ chiến lược “chiến tranh đặc biệt” bị thất bại hoàn toàn, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn quyết định đẩy mạnh chiến tranh xâm lược miền Nam và chuẩn bị mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Chín, 2021, 09:33:09 am
Cùng với việc chuẩn bị ráo riết kế hoạch đưa quân viễn chinh Mỹ vào miền Nam hòng cứu nguy cho quân ngụy Sài Gòn, đế quốc Mỹ mở các cuộc tiến công bằng không quân vào hành lang vận chuyển chi viện Bắc - Nam của ta ở biên giới Việt - Lào. Đi đôi với hành động phiêu lưu quân sự này, chúng đẩy mạnh các hoạt động quấy rối, phá hoại bằng tàu biệt kích ra vùng biển miền Bắc nước ta. Mỹ đưa tàu khu trục vào vịnh Bắc Bộ hoạt động khiêu khích, trinh sát chuẩn bị cho kế hoạch đánh phá vùng biển và bờ biển miền Bắc nước ta. Trung tuần tháng 4 năm 1964, Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ vạch kế hoạch ném bom miền Bắc Việt Nam.

Trước âm mưu điên cuồng mở rộng chiến tranh xâm lược nước ta của đế quốc Mỹ, theo lệnh của trên, để bảo đảm sẵn sàng chiến đấu cao nhất đầu tháng 7 năm 1964, toàn Quân chủng Hải quân đã chuyển vào trạng thái thời chiến. Lúc này, tôi không đi học tiếp nữa mà trở về Quân chủng Hải quân nhận nhiệm vụ Trợ lý tác chiến ở Khu tuần phòng 2.

Trước khi trở về Hải Phòng, tôi đến bệnh viện Bạch Mai khi biết tin cha tôi đưa em gái Mai Thị Hoa ra chữa bệnh ở đó. Gặp cha và gặp em, lòng tôi nặng trĩu một nỗi buồn khôn tả. Em tôi mắc bệnh hiểm nghèo không thể qua khỏi và mất khi mới 12 tuổi.

Tình hình trên vùng biển miền Bắc ngày càng căng thẳng. Từ ngày 31 tháng 7 năm 1964, tàu khu trục Ma-đốc của Mỹ ngày càng hoạt động sâu vào vùng biển nước ta từ Quảng Bình đến Thanh Hóa xâm phạm chủ quyền lãnh hải của ta. Sau nhiều lần khiêu khích, ngày 2 tháng 8 năm 1964, chúng bị tàu phóng lôi của Hải quân ta đánh đuổi.

Với ý đồ nham hiểm chuẩn bị “leo thang” mở rộng chiến tranh ra miền Bắc Việt Nam, sau lần tàu Ma-đốc bị đánh đuổi, chính quyền Mỹ dựng lên sự kiện “vịnh Bắc Bộ” vu cáo Hải quân nhân dân Việt Nam cố ý tiến công tàu chiến Mỹ ở vùng biển quốc tế để lấy cớ ngày 5 tháng 8 năm 1964, giặc Mỹ dùng lực lượng không quân tập kích vào lực lượng hải quân ta suốt dải ven biển miền Bắc từ Hòn Gai, Bãi Cháy đến Lạch Trường, Cửa Hội, sông Gianh. Trong trận dầu thử lửa này, cùng với lực lượng phòng không và nhân dân địa phương, bộ đội hải quân đã chiến đấu dũng cảm, kiên cường, góp phần quan trọng đập tan cuộc tập kích lớn bằng không quân của đế quốc Mỹ, bắn rơi 8 máy bay, bắn bị thương nhiều chiếc khác, bắt sống giặc lái An-vơ-rét.

Cùng với thành tích đánh đuổi tàu Ma-đốc ngày 2 tháng 8, chiến thắng ngày 5 tháng 8 năm 1964, đã mở đầu trang sử chiến đấu và chiến thắng hào hùng của Hải quân nhân dân Việt Nam. Và từ đó ngày 5 tháng 8 năm 1964 trở thành ngày truyền thống đánh thắng trận đầu của Hải quân nhân dân Việt Nam.

Thực hiện ý đồ mở rộng chiến tranh phá hoại nhằm ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc đối với cách mạng miền Nam, từ ngày 7 tháng 2 năm 1965, đế quốc Mỹ công khai đánh phá trên toàn miền Bắc bằng không quân và hải quân.

Sau trận ngày 28 tháng 4 năm 1965, máy bay Mỹ tập kích vào tàu của hải quân ta ở sông Gianh, Quảng Bình, cấp trên chủ trương làm mục tiêu tàu giả để phục kích đánh bọn cướp trời. Tôi được giao phụ trách một số cán bộ, chiến sĩ hải quân (trong đó có đồng chí Hưng, sau này là Chủ nhiệm Chính trị Vùng 4 hải quân) làm mục tiêu giả ở sông Gianh tại địa phận xã Quảng Trường, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Yêu cầu đặt ra là phải làm thế nào để máy bay trinh sát của Mỹ kể cả quan sát bằng mắt thường và bằng kỹ thuật cũng không thể phân biệt được mục tiêu giả. Sau khi làm kế hoạch định hình và các đặc điểm của tàu ta (tàu 79 tấn), trong ba ngày chúng tôi đã làm xong mục tiêu giả bằng tre, nứa. Trên mô hình tàu có đầy đủ đài chỉ huy, có súng pháo, có chiến sĩ hải quân ngồi ở mâm pháo... Tàu được sơn phết màu ghi, đứng gần cũng trông giống như tàu thật. Duy chỉ có trên mặt boong được lắp các tấm tôn sắt để đánh lừa rađa trên máy bay của địch.

Tham gia trận phục kích này gồm pháo cao xạ  37mm và 14,5mm (có 36 nòng pháo) của một số đơn vị thuộc Quân khu 4 và Quân chủng Hải quân do đồng chí Nguyễn Dưỡng, chỉ huy trưởng căn cứ 2 chỉ huy.

7 giờ sáng ngày 14 tháng 7 năm 1965, hai chiếc máy bay AD6 bay trinh sát dọc sông Gianh. Phát hiện được “mục tiêu”, chúng liền vòng lại hạ thấp độ cao quan sát rồi vọt lên cao gọi đồng bọn và bắn đạn khói chỉ thị mục tiêu cho máy bay ném bom từ tàu sân bay ngoài biển ập vào đánh phá.

Suốt một giờ, nhiều tốp máy bay địch hùng hổ lao xuống ném bom và bắn phá vào mục tiêu giả. Tiếng nổ dữ dội, khói bom mù mịt. Lúc này, trận địa pháo cao xạ của ta bắt đầu khai hỏa, từng loạt đạn căng như ngọn roi quất vỗ mặt vào bọn kẻ cướp. Kết quả, các đơn vị phòng không của ta đã bắn cháy và bắn bị thương bốn chiếc máy bay của Mỹ. Từ sau trận đánh, địch bay trinh sát lại mục tiêu, chiếc tàu giả không bị chìm mà trơ ra những cọc tre, khung tre. Những ngày sau đó bọn giặc lái Mỹ không còn ngó ngàng gì đến mục tiêu này nữa, có lẽ chúng biết là đã bị ta đánh lừa một vố đau.

Từ tháng 5 năm 1965, đế quốc Mỹ ngày càng tăng cường đánh phá các mục tiêu ven biển bằng không quân và hải quân. Địch dùng máy bay trinh sát sục sạo những nơi mà chúng nghi ta ngụy trang che giấu của tàu hải quân ở ven biển và trong các cửa sông trên địa bàn Quân khu 4. Máy bay Mỹ tấn công vào tàu hải quân ta ở Lạch Trường, Thanh Hóa trong các ngày 21 và 26 tháng 5 năm 1965, ở sông Lam, Nghệ An vào ngày 31 tháng 8 và các đài trạm rađa của ta.

Dọc theo bờ sông Gianh, ngày 28 tháng 4 năm 1965, hầu hết các điểm ngụy trang trú đậu của tàu ta đều bị máy bay địch phát hiện và đánh phá. Để bảo đảm cho các tàu có nơi ngụy trang trú đậu ở sông Gianh, làm nhiệm vụ bảo vệ vùng biển phía Nam của miền Bắc, Quân chủng Hải quân chủ trương đào ụ kết hợp ngụy trang cho tàu trú đậu ở khu vực này.

Cuối năm 1965, sau khi điều tra khảo sát địa hình, địa chất và thế phòng không, chúng tôi đã xác định được vị trí tại một con hói thuộc khu vực xã Tiến Hóa, huyện Tuyên Hóa, Quảng Bình. Tôi được cấp trên giao chỉ huy việc làm ụ tàu này, sử dụng lực lượng thủ công của Phân đội 5 tàu tuần tiễu và lực lượng dân công xã Tiến Hóa. Giúp việc về kỹ thuật công trình có hai kỹ sư công binh là đồng chí Lê Văn Vu và đồng chí Xiêm. Vì nằm trong khu vực máy bay địch đánh phá suốt ngày nên công việc lao động làm ụ tàu chỉ tiến hành vào ban đêm. Công cụ lao động không có gì hơn ngoài cuốc, xẻng để đào vét từng mét đất, bùn. Gặp một trận mưa to, đập ngăn nước để bơm khô công trình bị vỡ là mất toi cả chục ngày công sức của anh em. Lao động suốt đêm rất vất vả, nhưng không lo bằng công tác bảo đảm an toàn phòng tránh máy bay địch cho cả hàng trăm con người đang làm việc tại công trường. Hơn ba tháng lao động, ụ trú đậu tàu đã thành hình, chưa làm kịp công tác ngụy trang thì có lệnh trên cho tạm dừng để chờ kế hoạch mới.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Chín, 2021, 09:34:04 am
*
* *

Đầu năm 1966, khi Khu tuần phòng 2 giải thể, hầu hết cơ quan, đơn vị đều được chuyển ra Bắc thành lập đơn vị mới. Trên địa bàn Quân khu 4 lúc này, lực lượng hải quân chỉ còn lại Tiểu đoàn 8 rađa bờ biển trực thuộc Phòng thông tin rađa của Bộ tham mưu Quân chủng. Lúc này tôi là đại úy, được bổ nhiệm làm Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn này. Lại thêm một nhiệm vụ mới mẻ và không kém phần xa lạ.

Vốn dĩ tôi được học đào tạo bài bản để chỉ huy tàu chứ không hề được học chút gì về chuyên ngành rađa, thành thử khi nhận nhiệm vụ này cũng tự thấy hơi bị tréo giò. Tuy nhiên, sau khi suy nghĩ và cân nhắc, tôi nghĩ đã là cán bộ khi được trên tin tưởng giao nhiệm vụ thì dù khó khăn đến đâu cũng phải phấn đấu để hoàn thành nhiệm vụ. Để chỉ huy điều  hành được đơn vị, tôi phải xuống cùng cán bộ, chiến sĩ ở các đại đội để quan sát, học tập kỹ thuật và nắm những yêu cầu chỉ huy điều khiển hoạt động của rađa. Được sự ủng hộ và giúp đỡ nhiệt tình của anh em trong tiểu đoàn, tôi có thêm tự tin để hoàn thành tốt chức trách nhiệm vụ được giao.

Tiểu đoàn 8 có năm trạm rađa tạo thành những con “mắt thần” rải dọc bờ biển từ Nghệ An vào đến Vĩnh Linh. Lực lượng rađa hải quân có nhiệm vụ quan sát nắm chắc tình hình mặt biển, cũng như mọi hoạt động của địch trên biển. Từ đó, kịp thời phát hiện thông báo và hiệp đồng dẫn đường cho lực lượng của ta đánh địch trên biển, cũng như công tác phòng tránh của nhân dân ven biển.

Từ năm 1966, đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc với một cường độ đánh phá hết sức ác liệt suốt ngày đêm. Đi đôi với việc sử dụng máy bay từ các căn cứ không quân trên đất liền và từ tàu sân bay trên biển để ném bom bắn phá, Mỹ-ngụy còn dùng nhiều tàu khu trục, tàu biệt kích vào gần bờ của ta để đánh phá trục giao thông và các mục tiêu ven biển của ta, trong đó các trạm rađa hải quân là một trong những mục tiêu chủ yếu đánh phá của địch. Tàu biệt kích ngụy lén lút đột nhập vào gần các thôn xóm ven biển để đánh phá, uy hiếp tàu thuyền đánh cá ven bờ của ngư dân ta.

Đêm 23 tháng 4 năm 1966, trạm rađa 535 hải quân phát hiện ba tàu biệt kích ngụy xâm nhập vào ở phía đông Ròn, thuộc huyện Quảng Trạch, Quảng Bình. Đơn vị đã kịp thời thông báo và chỉ thị mục tiêu cho đại đội 10 pháo bờ biển bắn chìm hai chiếc.

Trong các năm 1967-1968, thực hiện chiến dịch “Rồng biển”, hải quân Mỹ đã dùng nhiều tàu khu trục, tàu tuần dương trong đó có tàu trang bị nhiều loại pháo hạng nặng như tàu Niu-giơ-đi, tàu Niu-póc-niu, tàu Can-be-ra... bắn phá dữ dội vào khu vực ven biển từ Vĩnh Linh đến Ninh Bình. Chúng bắn phá vào khu đông dân cư, cầu đường, bến phà, bến cảng, chân hàng, nhằm ngăn chặn tuyên giao thông vận chuyển hàng ra phía trước của ta dọc ven biển và trục giao thông quốc lộ 1, gây ra nhiều tội ác với nhân dân ta.

Nguy hiểm hơn, giặc Mỹ đã dùng tàu chiến kết hợp với máy bay từ các tàu sân bay tấn công vào các trạm rađa hải quân và các trận địa pháo bờ biển của ta. Trước đó, để chủ động tham gia chống chiến dịch “Rồng biển” của hải quân Mỹ, lãnh đạo chỉ huy Tiểu đoàn 8 đã chỉ đạo cụ thể kịp thời cho các đại đội về nhiệm vụ quan sát nắm địch trên biển, nhấn mạnh về công tác ngụy trang, phòng tránh địch đánh vào đơn vị rađa của ta. Để giáng trả hành động man rợ của địch, các đơn vị tàu hải quân, không quân và pháo binh bờ biển đã hiệp đồng chặt chẽ với các đơn vị rađa quan sát của hải quân, đánh hàng trăm trận, bắn cháy và bắn bị thương nhiều tàu khu trục địch. Ngay từ đầu chiến dịch “Rồng biển” của địch, ngày 25 tháng 10 năm 1967, các đại đội rađa 530, 540 của Tiểu đoàn 8 đã phát hiện và chỉ thị mục tiêu cho lực lượng pháo binh bờ biển Vĩnh Linh, Quảng Bình bắn cháy hai tàu khu trục Mỹ: Men-xphin và Uốc-cơ.

Chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của Mỹ đối với miền Bắc Việt Nam ngày càng ác liệt với một cường độ không lúc nào ngơi. Đến mức ngày nào, đêm nào nếu trong khoảng thời gian ngắn nào đó không nghe tiếng máy bay của địch gầm rú ném bom hoặc không thấy tàu sân bay, tàu khu trục địch trên biển gần hoặc bắn phá ven bờ là chúng tôi cũng như mọi người lại xuất hiện một “thắc mắc” là không hiểu sao hôm nay không thấy máy bay, tàu chiến địch đánh phá?

Ngoài việc không quân Mỹ tăng cường trinh sát phát hiện và đánh phá hệ thống rađa ven biển của ta, gây rất nhiều khó khăn cho hoạt động của ta, cùng với việc việc gây nhiễu, chúng còn dùng loại tên lửa không đối đất bắn chụp theo sóng phát rađa. Thực tế, địch đã phá hỏng một số rađa của ta, nhất là với hệ thống ăngten. Chúng tôi phải nhiều lần rút kinh nghiệm bằng cách tăng cường công sự bảo vệ khí tài và vị trí đặt ăngten sao cho khi máy bay Mỹ phóng tên lửa chụp sóng phát không trúng được vào chỗ đặt máy rađa. Điều quan trọng là phải luôn thay đổi phương án hoạt động của các trạm rađa. Các trắc thủ phải điều khiển quay ăngten nhanh và không theo quy luật để vừa sục sạo phát hiện được mục tiêu, lại vừa hạn chế địch bắn theo sóng phát của ta. Muốn vậy, các trắc thủ phải được huấn luyện giỏi về trình độ phát hiện, phân biệt mục tiêu, nhớ một lúc nhiều mục tiêu và gạn lọc nhanh được mục tiêu giả do mây hoặc do địch gây nhiễu.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Chín, 2021, 09:34:29 am
Một yêu cầu của quan sát mặt biển là phải nắm chắc thường xuyên tình hình, không để sót lọt mục tiêu, bảo đảm chính xác kịp thời, báo cáo thông báo lên trên và các đơn vị hiệp đồng tác chiến. Có nhiều trắc thủ giỏi như đồng chí Vững (trạm rađa 525) và các đồng chí Diện, Kiện, Minh (trạm rađa 535)... Mặc dù các trạm rađa luôn là một trong những mục tiêu đánh phá chủ yếu của địch, nhưng do ta có nhiều biện pháp ngụy trang, phòng tránh nên vẫn duy trì được hoạt động liên tục, quan sát nắm bắt tình hình mặt biển trên địa bàn Quân khu 4, nơi địch tập trung đánh phá ác liệt nhất, một cách kịp thời.

Thông thường, vị trí đặt các đài trạm rađa hầu hết đều ở trên đỉnh núi cao, do vậy, điều kiện sinh hoạt ăn, ở của bộ đội hết sức khó khăn. Có những vị trí suốt thời gian trong nửa năm luôn bị mây mù bao phủ, độ ẩm lớn không những gây ra nhiều bệnh tật cho cán bộ, chiến sĩ, mà còn dễ làm hư hỏng linh kiện điện tử của máy rađa, máy thông tin. Để bảo đảm bí mật, không có đường lộ thiên vào các chân núi có đặt trạm rađa nên mọi việc vận chuyển lương thực, nhiên liệu, vật tư... đều trên vai người lính. Có nơi lên đến hàng trăm, hàng nghìn mét so với mực nước biển. Mặc dù, cường độ làm việc suốt ngày đêm trong khu vực địch đánh phá ác liệt, sinh hoạt vật chất và tinh thần rất thiếu thốn nhưng bộ đội ở các đơn vị rađa hải quân lúc nào cũng hăng hái, điềm tĩnh, lấy hiệu quả hoạt động phục vụ đánh địch trên biển và bảo vệ an toàn cho nhân dân ven biển, làm niềm phấn khởi. Luôn tin tưởng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nên ai nấy đều rất lạc quan.

Địa bàn hoạt động của Tiểu đoàn 8 rađa trải dọc ven biển dài gần 300km. Các trục đường giao thông hàng ngày bị địch đánh phá chia cắt, các tổ cơ công phải thường xuyên cơ động vượt qua nhiều cung đường nguy hiểm đến các đơn vị để kịp thời sửa chữa các hỏng hóc của máy rađa và máy thông tin trong điều kiện linh kiện quá thiếu, phụ tùng mới thay thế không có. Anh em phải tìm mọi cách để phục hồi duy trì cái cũ, bảo đảm hoạt động cho các đài, trạm.

Khó khăn là thế nhưng một số đồng chí thợ sửa chữa giỏi của tiểu đoàn không bao giờ chịu bó tay. Các đồng chí phụ trách sửa chữa máy rađa, thông tin như: Trung, Khanh, Lượng, Đại... lúc nào cũng vui vẻ, hết lòng vì nhiệm vụ. Nhiều cán bộ luôn gương mẫu, dũng cảm, tận tụy, bám sát trực tiếp lãnh đạo chỉ huy các trạm rađa như đồng chí Tứ (trạm 520); các đồng chí Lê, Can, Lục (trạm 525); các đồng chí Nghĩa, Ngộ (trạm 535); các đồng chí Minh, Toản, Bát... (trạm 530); các đồng chí Vạn, Ưu, Thoan, Quý... (trạm 540)...

Sát cánh với tôi trong Ban chỉ huy Tiểu đoàn 8 rađa qua từng thời kỳ có các đồng chí Hoàng, Lý, Huynh, Vang, Cúc, Mã... là cán bộ chính trị; đồng chí Nhiễu, cán bộ quân sự. Tôi và các đồng chí Lý, Nhiễu ở trong Ban chỉ huy tiểu đoàn từ ngày thành lập cho đến khi sáp nhập tiểu đoàn vào đơn vị Sông Gianh.

Thông thường, Ban chỉ huy tiểu đoàn có ba hoặc bốn đồng chí, nhưng địa bàn hoạt động của đơn vị quá rộng, nên không mấy khi ở nhà đông đủ mà phải thường xuyên phân công nhau xuống cùng hoạt động với các trạm. Phải mất hàng tháng mới đi hết đến các trạm, trong điều kiện máy bay Mỹ tập trung đánh phá các tuyến giao thông thủy, bộ hết sức ác liệt. Hầu hết cầu đường chính đều bị phá hỏng, có nơi phải đi đường vòng tránh. Nhiều lúc gặp máy bay địch đánh phá anh em phải dừng lại ẩn nấp cách chỗ chúng đánh chừng 200-300m. Nguy hiểm là vậy, song không một ai chùn bước. Khi máy bay vừa dứt ném bom, lập tức phải nhanh chóng vượt qua. Có những lần ngồi trên đò, trên phà qua sông, máy bay địch đến đánh phá, không còn cách nào khác là phải ngồi yên, mặc kệ chúng nó, coi như “đánh bạc” vậy!

Có lần tôi và đồng chí Lý, chính trị viên tiểu đoàn trên đường từ Quảng Bình theo quốc lộ 1 ra trạm rađa 525 ở Hà Tĩnh. Vừa mới vượt qua trận đánh phá của địch ở chân phía nam Đèo Ngang đến xã Kỳ Nam, huyện Kỳ Anh, bà con ở đây cho biết:

- Mấy hôm nay cứ khoảng 30 phút một lần máy bay Mỹ lại ném bom tọa độ ở Đèo Con. Các chú phải tính toán làm sao để khi nó vừa ném bom xong, thì phải vượt qua ngay để tránh lần bom tiếp theo.

Thật cám ơn sự quan tâm chân tình và tinh thần cảnh giác cao độ của người dân địa phương. Khi hai chúng tôi đến gần Đèo Con thì địch vừa ném bom tọa độ xong. Nhớ lời dặn của bà con, chúng tôi vượt nhanh, nhưng lần này không phải sau 30 phút, mà khi chúng tôi vừa chạm đến Đèo Con thì bom nổ inh tai, nhức óc. Mảnh bom bay vèo vèo, nhiều mảnh rơi ngay trên đường quốc lộ số 1 quanh tôi và đồng chí Lý, nhưng rất may chúng tôi không hề hấn gì.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Chín, 2021, 09:35:07 am
Lần khác, tôi và đồng chí Ngô Quang Trà trợ lý hậu cần tiểu đoàn vừa đến cách cầu Họ (Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh) chưa đầy 300 mét, thì đột nhiên nghe tiếng máy bay gầm rú trên đầu. Ngẩng lên đã thấy bốn chiếc máy bay Mỹ xồng xộc lao xuống cắt bom, chúng tôi chỉ kịp vất xe đạp và lăn xuống vệ đường. Tốp máy bay vừa thả bom xong, chúng tôi nhảy lên xe nhanh chóng vượt qua cây cầu còn nồng nặc mùi thuốc súng. Ngó thấy một quả bom chưa nổ nằm trên mặt đất, nhưng nó quá gần rồi, không kịp tránh nữa và hai chúng tôi cứ thế vượt qua. Nếu là bom từ trường thì cũng đành phó thác cho “may, rủi” vậy.

Từ năm 1967, địch đánh phá khu vực Vĩnh Linh rất ác liệt bằng pháo mặt đất ở bờ nam sông Bến Hải bắn sang, bằng pháo hạm tàu từ ngoài biển bắn vào bằng máy bay ném bom nhất là ném bom tọa độ. Nhân dân Vĩnh Linh không chỉ đào địa đạo, xây dựng công sự chiến đấu và phòng tránh mà còn đào cả một hệ thống hào giao thông liên hoàn để bảo đảm an toàn cho việc đi lại trong khu vực...

Buổi chiều ngày 21 tháng 3 năm 1967, tôi đang công tác ở trạm rađa 540 ở Vĩnh Linh. Tại đây tôi cùng với Ban chỉ huy trạm họp bàn triển khai nhiệm vụ trinh sát mặt biển phục vụ cho chiến đấu và vận tải chi viện đảo Cồn Cỏ. Nơi chúng tôi ngồi họp cạnh  giao thông hào sâu 1,7 mét, bất ngờ một quả bom tọa độ rơi đúng vào vị trí. Hai đồng chí Thoan và Quý ngồi gần mép hào bị thương và bị đất chuồi xuống hố bom. Chiến sĩ Bao đang đi dưới hào bị mảnh bom cắt làm ba. Thật là đau xót!

Tôi và đồng chí Vạn trạm trưởng khi được anh em đến cấp cứu tỉnh lại, thấy quần áo mình bị rách toạc, mảnh vải dù ngụy trang bị xé thành nhiều mảnh nhỏ bay móc trên ngọn bụi tre gần đó. Chiếc điện thoại đặt ngay phía sau lưng bị vỡ toác, vậy mà chúng tôi may mắn không bị dính mảnh bom nào. Tôi bị chảy máu tai và mắt sau đó bị mờ, một thời gian nhìn không rõ chữ.

Đến khi tỉnh lại rồi mà nhiều người vẫn còn bàng hoàng, chưa nhận ra là mình bị bom hay bị đạn pháo 175mm của địch từ phía nam sông Bến Hải bắn sang. Không nghe tiếng máy bay và khi bom nổ cũng không kịp nghe tiếng nổ! Nếu có chết thì cũng chẳng có cảm giác gì? Nguyên nhân là quả bom do máy bay ném tọa độ lao xuống đúng giữa giao thông hào, mảnh bom và sức ép vọt lên cao, chúng tôi ngồi sát miệng hố bom là góc chết nên an toàn. Các chiến sĩ ở gần đó thấy bom nổ đúng vị trí họp thì đinh ninh là thủ trưởng và ban chỉ huy trạm chết hết rồi, nhưng lạ thay chúng tôi vẫn sống. Anh em nói đùa với nhau, quả thật “sống, chết cũng có số”.

Thời kỳ đầu của chiến tranh phá hoại, không quân và hải quân Mỹ thường tập trung đánh phá giao thông cầu, phà, đường sá, phương tiện giao thông, các trận địa, mục tiêu quân sự, chân hàng... dần dà chúng chuyển sang ném bom và bắn phá bừa bãi vào cả thôn xóm, khu dân cư, chẳng chừa nơi nào. Không quân Mỹ ném đủ loại bom khoan, bom phá, bom cháy, bom bi, bom từ trường... bắn các loại rốc két, đạn 20mm... dùng đủ các loại máy bay, từ F105, F4, F8, AD6 cho đến “siêu pháo đài bay” B52... Chúng đánh phá suốt ngày đêm không ngớt. Ban đêm hễ đánh chỗ nào là ở đó chúng thả đèn dù sáng rực cả một góc trời. Giặc Mỹ đánh phá điên cuồng, hành động của chúng hết sức dã man, tàn ác, giết hại nhiều dân thường. Có khi chúng thả bom xăng đốt cháy nhà dân cả một thôn. Tội ác của chúng không sao kể xiết.

Các cầu, phà từ phía nam Hà Nội trở vào khu Bốn đều bị giặc Mỹ đánh sập hoặc gây hư hỏng, bởi chúng đánh với mức hủy diệt. Một số nơi bị san phẳng như thị xã Đồng Hới, thị trấn Ba Đồn, cảng Gianh (Quảng Bình), Vinh, Bến Thủy (Nghệ An). Nhiều nơi chúng đánh đi, đánh lại nhiều lần. Có những thôn xóm bị bom của máy bay B52 san bình địa, nhưng quân dân miền Bắc không hề nao núng. Cảm động biết bao khi nhân dân Hà Tĩnh, Quảng Bình tự nguyện dỡ nhà lấy gỗ, ván, đá lát đường chống lầy cho xe qua những nơi trọng điểm đánh phá giao thông của quân Mỹ.

Giặc Mỹ dựa vào sức mạnh phương tiện chiến tranh hòng khuất phục nhân dân ta, ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc đối với công cuộc giải phóng miền Nam. Quân và dân miền Bắc đã vô cùng anh dũng, mưu trí giáng trả một cách quyết liệt, gây cho địch nhiều thiệt hại. Trong hơn bốn năm (từ 5-8-1964 đến 1-11-1968) quân và dân miền Bắc trong đó có Hải quân ta đã bắn rơi 3.243 máy bay chiến đấu các loại, 143 lần bắn chìm, bắn bị thương tàu biệt kích, tàu khu trục của Mỹ-ngụy.

Mặc dù địch đánh phá ác liệt như vậy nhưng sở chỉ huy của Tiểu đoàn 8 vẫn liên tục giữ vững chỉ huy các đơn vị, bám sát nắm chắc tình hình mặt biển, không để sót lọt mục tiêu tàu địch xâm phạm vùng biển của ta. Kịp thời báo cáo về Sở chỉ huy Quân chủng và thông báo đến các đơn vị hiệp đồng. Trong cuộc chiến tranh phá hoại, không thể xác định được nơi nào bảo đảm tuyệt đối an toàn, vì vậy ở đâu, trước hết tiểu đoàn phải làm công sự phòng tránh và ngụy trang giữ bí mật hoạt động của mình.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Chín, 2021, 09:35:54 am
Nhiều lần máy bay Mỹ đánh cách sở chỉ huy tiểu đoàn chừng 200-300 mét, nhưng công tác chỉ huy vẫn bảo đảm bình thường. Năm 1968, có lần ở khu vực ven rừng thuộc xã Quảng Kim (Quảng Trạch, Quảng Bình), để tránh bom địch, tôi yêu cầu các bộ phận của tiểu đoàn bộ phải đào hạ âm nền nhà ở, làm hầm, làm giao thông hào. Đất núi nhiều đá, rất khó đào, có anh em chủ quan, ngại khó, tôi kiên quyết yêu cầu làm bằng được. Sau một tháng mới làm xong hầm hào. Vào một đêm máy bay thả bom tạ và bom bi đúng vào khu vực đặt sở chỉ huy tiểu đoàn. May nhờ có công sự vững chắc và đúng quy cách nên không ai bị thương vong. Đến lúc này những anh em chủ quan, ngại khó mới thấy hết giá trị của việc làm công sự phòng tránh. Cũng nhân lúc này tôi có mấy vần thơ mộc mạc với tiêu đề “Yêu quá quê tôi ”.

Xẻ giữa rừng xanh những nóc nhà,
Mà cho giặc Mỹ cố tìm ta,
Ung dung ngồi mát bên bờ suối,
Nào khác lầu cao những mấy tòa.

Cây cao bóng mát lá xum xuê,
Chiến đấu bốn phương lại đi về,
Leo đèo, lội suối chân có mỏi,
Tưởng rằng gay quá, hóa vui ghê.

Trên cao gỗ quý, táu, lim, kiền.
Xen lẫn môn, khoai, chuối vô biên,
Dưới khe nước chảy cá, cua, ếch,
Tạo hóa đất này quá ưu tiên.

Trung nước, hiếu dân tựa sắt son,
Độc lập tự do nghĩa sống còn,
Kiên cường chống Mỹ không hề mỏi,
Yêu quá quê tôi, thắng lợi giòn.


Hoạt động cũng như sinh hoạt của các đơn vị rađa bờ biển của Hải quân nhìn bề ngoài trông thầm lặng với yêu cầu bảo đảm bí mật nhưng bên trong cán bộ, chiến sĩ luôn phải làm việc với một cường độ cao. Suốt ngày đêm kịp thời theo dõi, phát hiện và nắm chắc tình hình, phân biệt chính xác được hết mọi loại mục tiêu trên khu vực biển được giao trong mọi thời tiết, cũng như trong điều kiện đánh phá ác liệt của địch. Khi phát hiện được mục tiêu phải kịp thời báo cáo lên trên và thông báo đến các đối tượng hiệp đồng để kịp thời phòng tránh, đánh địch. Khi có những mục tiêu nguy hiểm như tàu khu trục, tàu tuần dương Mỹ vào gần để pháo kích vào bờ, tàu biệt kích ra vùng biển miền Bắc để chặn đánh tàu vận tải và tàu đánh cá của ta, đổ bộ “người nhái” vào bờ để phá hoại mục tiêu hoặc bắt dân để khai thác tin tức, thả đồ tâm lý chiến... các đơn vị rađa phải dùng mọi biện pháp để bám sát và theo dõi liên tục trong nhiều giờ, đồng thời kịp thời báo cáo, thông báo đến các đối tượng hiệp đồng cho kỳ được.

Trong những năm 1966-1967, các trạm rađa đã hiệp đồng thông báo mục tiêu chính xác cho các đơn vị pháo bờ biển Quảng Bình, Vĩnh Linh bắn bị thương nhiều tàu khu trục Mỹ và bắn chìm nhiều tàu biệt kích ngụy. Riêng trạm 540 còn làm tốt nhiệm vụ nắm tình hình mặt biển, phục vụ lực lượng vận tải tiếp tế cho đảo Cồn Cỏ trong tình hình địch ngày đêm ra sức ngăn chặn và tập trung đánh phá đảo, có ngày chúng đánh phá suốt 8 giờ liền. Để làm được như vậy, đòi hỏi trình độ kỹ thuật của cán bộ chỉ huy, của trắc thủ rađa, của chiến sĩ thông tin lúc bấy giờ phải được huấn luyện tốt và tích lũy được nhiều kinh nghiệm. Chỉ cần vệt quét thoáng qua trên màn huỳnh quang là đã nhận biết được ngay đó là mục tiêu gì. Nếu dừng vệt quét trong vài giây là có thể bị tên lửa từ máy bay Mỹ bám theo sóng phát của ta, đánh thẳng vào trạm rađa. Hầu hết các trạm rađa đều bị máy bay địch  đánh phá như vậy. Để sót lọt mục tiêu hoặc phải phán đoán sai mục tiêu là một khuyết điểm mà cả ca trực hôm đó đều day dứt với trách nhiệm của mình chứ chưa nói đến quở trách của cấp trên.

Ăngten của rađa phải để lộ trần với ngụy trang khéo léo không bị che khuất để thu, phát sóng quan sát mục tiêu, vì vậy rất dễ lộ với máy bay địch. Các chiến sĩ ta đã hết sức khôn khéo ngụy trang bằng nhiều cách kể cả ngụy trang bằng các khối đá lớn màu đen như ở trạm 525, anh em đã đặt ăngten trên đỉnh núi xen lẫn với những tảng đá lớn, bọn giặc lái Mỹ không thể nào phát hiện được.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Chín, 2021, 09:36:32 am
Toàn bộ các trục đường giao thông ở địa bàn Quân khu 4, ngày đêm bị máy bay và tàu chiến Mỹ đánh  phá, băm nát. Các trọng điểm đánh phá giao thông ác liệt của địch trên quốc lộ 1 như cầu Treo, cầu Hạ Vàng, cầu Cổ Ngựa, cầu Nghèn, cầu Già, cầu Phủ, cầu Họ, cầu Rác, Đèo Con (Hà Tĩnh); Đèo Ngang, Ròn, Tú Loan, cầu Càng, phà Gianh, khe Nước, Chánh Hòa, Quán Hàu (Quảng Bình)... và nhiều trọng điểm khác trên đường 22, đường 15. Các chiến sĩ lái xe vận tải của tiểu đoàn như Hải, Dinh, Trung, Tuệ, trên đường đến các trạm rađa nhiều lần gặp địch đánh phá đã dũng cảm vượt qua... Có lần thùng xe bị bom phạt mất chỉ còn đầu xe, anh em vẫn dũng cảm vượt qua bom đạn, đưa xe về sửa chữa để chạy tiếp. Nhiều lần địch đánh phá bị tắc đường ở quốc lộ 1 hoặc đường 22,  trong đêm tối không đèn, anh em lái xe chạy vòng tránh bàng qua những quả đồi và bãi cát trống không có vết xe với đường dài 5-7km vẫn đưa xe về đến đúng vị trí đã định.

Một lần, ban đêm chúng tôi đi từ Nghệ An vào Quảng Bình bằng ô tô vận tải do đồng chí Dinh lái trên đường 22. Bất ngờ gặp một đoàn xe vận tải vừa bị máy bay Mỹ chặn đánh, nhiều xe cháy sáng rực cả một đoạn đường dài gần cây số. Tình thế đặt ra lúc này nếu xe chúng tôi dừng lại thì sẽ chịu chung số phận, còn nếu chạy tiếp liệu có vượt qua được cung đường lửa này không? Không chút chần chừ, tôi lệnh cho đồng chí Dinh nhấn ga lợi dụng ánh lửa đang soi rõ mặt đường dùng tốc độ cao vượt thoát khỏi khu vực nguy hiểm. Kết quả xe chúng tôi vượt qua cung đường này an toàn nhờ tay lái vững vàng của đồng chí Dinh.

Trong điều kiện địch đánh phá giao thông với cường độ rất cao, cầu đường hư hỏng nhiều, việc vận chuyển tiếp tế lương thực của toàn tuyến trên địa bàn Quân khu 4 gặp nhiều khó khăn, tiểu đoàn đã chủ động hạ mức tiêu chuẩn gạo ăn để bảo đảm hoạt động chiến đấu lâu dài. Cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị đều đồng tình, vui vẻ.

Trong năm 1968, thực hiện chiến dịch vận tải lớn (VT5) nhằm đáp ứng nhu cầu chi viện vật chất cho tiền tuyến lớn miền Nam bằng hàng trăm chiếc thuyền của các ngành, các địa phương chuyển hàng chục tấn hàng hóa từ phía Bắc vào chân hàng ở Quảng Bình. Các trạm rađa Tiểu đoàn 8 có nhiệm vụ tham gia bảo vệ các tàu thuyền vận tải bằng cách quan sát nắm tình hình mặt biển, theo dõi đường đi của tàu vận tải, đồng thời kịp thời phát hiện, thông báo để tàu thuyền ta phòng tránh và đánh địch mỗi khi chúng ngăn chặn hoặc tập kích.

Liên tục trong ba tháng, các trạm rađa của Hải quân ở  phía Nam đã hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, góp phần vào thắng lợi của chiến dịch vận tải VT5. Phải nói trong điều kiện hết sức gian khổ và vất vả, ranh giới giữa sự sống và cái chết rất mong manh nhưng tất cả cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 8 không một ai lùi bước. Anh em đồng lòng với ý chí quyết tâm cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Là một trong những cán bộ chỉ huy của tiểu đoàn, tôi thực sự phấn khởi và tự hào trước thành tích hoạt động chiến đấu của tiểu đoàn.

Trong các năm từ 1967-1969, đơn vị đều được cấp trên biểu dương khen ngợi. Người chỉ huy hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, còn có một yếu tố hết sức quan trọng cũng mang tính quyết định là sự đồng lòng, đoàn kết giúp đỡ, sự động viên chân tình của tất cả cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị. Bài học “trên thuận, dưới hòa, khó khăn gì cũng vượt qua hết” tuy không mới nhưng tôi vẫn luôn nhớ nằm lòng.

Tiểu đoàn 8 rađa Hải quân hoàn thành tốt nhiệm vụ trong điều kiện chiến tranh phá hoại ác liệt đã được sự thương yêu đùm bọc, động viên giúp đỡ của các đơn vị bạn, của Đảng bộ, chính quyền, đoàn thể, giúp đỡ của nhân dân địa phương cả về vật chất và tinh thần, coi bộ đội như con em ruột thịt của mình, đã giành một tình cảm hết sức cảm động. Tiêu biểu như gia đình ông Dinh và gia đình bà Hiệu ở xã Phúc Lộc, Can Lộc, Hà Tình; gia đình mẹ Luân ở xã Quảng Đông, Quảng Trạch, Quảng Bình; gia đình mẹ Thắm ở xã Quảng Phú, Quảng Trạch, Quảng Bình; gia đình mẹ Niên ở xã Vĩnh Ninh, Quảng Ninh, Quảng Bình... Những nơi này đã tự nhiên thành như gia đình, như cơ sở, như nơi đón tiếp đỡ đầu và là nơi dừng chân của cán bộ chiến sĩ mỗi khi ra vào đơn vị. Tình nghĩa đó lưu giữ mãi trong tâm khảm của chúng tôi không bao giờ phai mờ được.

Cũng trong năm 1968, đoàn cán bộ Quân chủng Hải quân do đồng chí Tư lệnh Nguyễn Bá Phát dẫn đầu vào Vĩnh Linh kiểm tra tình hình chiến đấu của Trung đoàn 126 đặc công hải quân đang chiến đấu ở khu vực Cửa Việt, bắc Quảng Trị. Tôi được chỉ định đi cùng đoàn với tư cách là người chỉ huy các đơn vị rađa hải quân ở phía nam Quân khu 4, tháp tùng Tư lệnh để nhận những chỉ thị cần thiết trong mối quan hệ hiệp đồng chiến đấu. Thời kỳ này chiến tranh phá hoại của Mỹ đang ở mức cao điểm, chúng đánh phá mang tính chất hủy diệt nhất là các trục đường giao thông. Kể cả đường giao thông nông thôn, bến đò... Vì vậy đoàn phải chia nhỏ từng tổ đi bằng xe đạp vòng tránh theo đường làng.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Chín, 2021, 09:36:56 am
Từ đường 22 bắc sông Gianh trở vào vượt qua nhiều trọng điểm đánh phá của địch. Vì đi vòng tránh theo đường làng nên tôi cử đồng chí Thụ, chiến sĩ thông tin quen thuộc đường dẫn đoàn. Tổ chúng tôi đi cùng Tư lệnh có đồng chí Nguyễn Bá Đạt, bí thư Tư lệnh, tôi và đồng chí Thụ. Đến thôn Quảng Cư xã Xuân Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình, không thể đi bằng xe đạp được nữa. Cả đoàn lên đò qua sông Kiến Giang đi bộ xuống ven biển để vào Vĩnh Linh. Toàn bộ xe đạp và một số hành lý giao cho đồng chí Thụ ở lại trông giữ. Quãng đường chỉ hơn 100km mà phải đi ba ngày bằng xe đạp vì đang đi gặp địch đánh phá phía trước dừng lại, hết đánh lại tiếp tục đi. Khu vực Vĩnh Linh ngày nào cũng bị máy bay B52 và các loại máy bay khác ném bom rải thảm, pháo chụp, pháo bầy đủ loại, đủ cỡ từ bờ nam sông Bến Hải bắn sang, từ tàu chiến ngoài biển bắn vào. Nhưng quân dân Vĩnh Linh vẫn tích cực xây dựng hầm, hào liên thôn, kiên cường bám trụ chiến đấu.

Khi đoàn quay về đến Quảng Cư thì xe đạp và hành lý đã để dưới hào sâu mà vẫn bị bom bi phá hỏng một số. Chiếc áo đồng chí Thụ phơi trên cửa hầm phòng tránh, bị bom bi xuyên lỗ chỗ như tấm bia bắn tập. Những ngày vừa qua ở Quảng Cư có bến đò ngang đã bị máy bay địch đánh phá nhiều lần. Trên đường ra buổi sáng, buổi trưa dừng lại ăn cơm nắm nhưng không lúc nào trọn vẹn. Vừa dở cơm ra máy bay địch đã lại ném bom, bắn phá rất gần phía sau, lại phải thu dọn nhanh để tránh. Đến thôn Vạn Xuân, xã Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh, Quảng Bình, vừa chập tối chưa kịp tìm nơi nghỉ đã bị địch đánh ở đầu thôn. Tối hôm đó tưởng rằng phải nhịn ăn vì trời tối nấu cơm, có ánh lửa là dễ bị địch đánh, nhưng các mẹ chiến sĩ ở đây đã hết lòng tìm mọi cách che ánh lửa để nấu cơm cho bộ đội, mặc cho máy bay gầm rú. Nghĩa cử của dân đối với bộ đội thật vô bờ bến.

Chiều hôm sau ra đến bờ sông Gianh lúc này trên mặt sông rộng vắng lặng, không người, không thuyền đò qua lại, vì ban ngày máy bay địch đánh phá, với dưới sông đang còn thủy lôi và bom từ trường chưa rà phá hết. Không chờ đợi được nữa, nếu cứ đứng đây dễ bị bom đạn địch, tôi đề nghị đồng chí Tư lệnh Nguyễn Bá Phát cho tôi bơi qua sông để tìm đò ngang. Lúc đầu đồng chí Tư lệnh không đồng ý vì sông rộng, nguy hiểm. Bàn đi, bàn lại không còn cách gì hơn, cuối cùng Tư lệnh cũng đồng ý và cho thêm đồng chí Thụ cùng bơi. Khi bơi trong người không có một thứ gì bằng kim loại để tránh thủy lôi và bom từ trường. Rất may qua sông, gặp được bác Dột, bí thư chi bộ ở xóm Đồng, xã Quảng Phúc, Quảng Trạch. Không chút ngần ngại, bác lấy thuyền qua chở đoàn cán bộ qua sông. Cả chuyến đi qua nhiều nơi địch bắn phá, tôi rất lo mình là người tháp tùng còn có nhiệm vụ dẫn đường bảo đảm an toàn cho đoàn, nhất là đối với đồng chí Tư lệnh Nguyễn Bá Phát, nhưng rất may và rất mừng mọi người đều an toàn.

Qua chuyến đi này, đồng chí Nguyễn Bá Phát nói: “Có đi tận những nơi như Quảng Bình, Vĩnh Linh mới thấy hết tính chất ác liệt của chiến tranh phá hoại do đế quốc Mỹ gây ra, cũng như sự kiên cường chiến đấu, hy sinh của quân và dân ta”.

Do yêu cầu phát triển của tình hình chiến đấu ngày 26 tháng 7 năm 1969, Bộ tư lệnh Hải quân quyết định thành lập Tiểu đoàn Sông Gianh. Lực lượng của tiểu đoàn có một phân đội tàu chiến đấu, một phân đội công binh, hàng hải có trang bị ca nô rà phá thủy lôi, một trung đội thông tin tiêu đồ tình hình mặt biển, cơ quan phục vụ và bao gồm cả các trạm rađa của Tiểu đoàn 8 (tiểu đoàn đã giải thể). Ngoài ra, còn có một số tàu tuần tiễu nhỏ của Tiểu đoàn 136, Trung đoàn 172, là lực lượng phối thuộc, do đồng chí Trần Châu làm tiểu đoàn trưởng và tôi làm tiểu đoàn phó. Tiểu đoàn Sông Gianh ngoài việc trực thuộc Bộ tư lệnh Hải quân, còn có nhiệm vụ phối thuộc chiến đấu với Bộ tư lệnh Quân khu 4.

Ngay sau khi Tổng thống Mỹ Giôn-xơn tuyên bố ngừng ném bom đánh phá miền Bắc từ vĩ tuyến 19 trở ra (1-11-1968), máy bay, tàu chiến Mỹ tập trung đánh phá ác liệt hơn ở địa bàn Quân khu 4 với ý đồ ngăn chặn toàn bộ hệ thống giao thông, phá các phương tiện vận tải hòng cắt đứt chi viện của hậu phương miền Bắc cho miền Nam. Địch đánh phá liên tục ngày đêm. Dùng máy bay B52 ném bom rải thảm những nơi chúng nghi tập kết chân hàng, kho bãi, các trận địa pháo, tên lửa phòng không. Nhiều trạm rađa hải quân ta bị địch bắn phá bằng tên lửa.

Đầu năm 1971, Mỹ-ngụy mở cuộc hành quân “Lam Sơn 719” đánh ra đường 9 - Nam Lào với ý đồ triệt phá kho tàng dự trữ chiến lược, cắt đứt tuyến chi viện 559. Lúc này, địch càng tập trung đánh phá mạnh hơn ở khu vực Vĩnh Linh đi đôi với dùng máy bay B52 ném bom rải thảm, máy bay ném bom tọa độ còn có đủ loại pháo chụp, pháo bầy từ bờ nam sông Bến Hải sang, từ tàu chiến ngoài biển bắn vào. Từ phía biển tàu khu trục, tàu tuần dương, tàu biệt kích của Mỹ-ngụy liên tục hoạt động bằng pháo kích, bằng đỗ bộ biệt kích vào bờ để phá hoại ở địa bàn nam Quân khu 4. Mặc dù địch bắn phá ác liệt đến thế, gây nhiều thiệt hại nhưng quân và dân ta không hề nao núng vẫn bám trụ sản xuất và chiến đấu, vẫn không ngừng tuyến chi viện miền Nam.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Chín, 2021, 09:37:54 am
Trong chiến dịch phản công đường 9 - Nam Lào trong kế hoạch đề phòng địch đánh ra địa bàn nam Quân khu 4, Tiểu đoàn Sông Gianh cũng được nhận nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, phối hợp với Binh đoàn 70 thực hiện kế hoạch này. Khi làm việc với đồng chí Hồng Sơn, Tư lệnh phó Binh đoàn 70 lúc bấy giờ để báo cáo tình hình sẵn sàng chiến đấu của đơn vị không ngờ tôi lại gặp được đồng chí Trần Sơn nguyên Chủ nhiệm Thông tin Hải quân và đồng chí Nghi nguyên Phó chủ nhiệm Hậu cần của Quân chủng Hải quân, là những người đang phụ trách công tác thông tin và công tác hậu cần ở đây. Chúng tôi ai nấy rất vui mừng vì lại được cùng nhau chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu trong tình hình mới.

Lúc này, do địch tăng cường hoạt động của tàu chiến trên biển, nhất là các tàu biệt kích hoạt động về đêm trên vùng biển nam Quân khu 4, do đó lực lượng rađa của Tiểu đoàn Sông Gianh phải hoạt động cảnh giới, phát hiện bám sát theo dõi mọi hành động của tàu chiến địch với một cường độ rất cao, để báo cáo về Sở chỉ huy Quân chủng và kịp thời thông báo đến các đối tượng hiệp đồng chiến đấu. Hải quân ngụy Sài Gòn dùng tàu Vơ-đét PT và PTE có tốc độ cao 30-40 hải lý/giờ, trang bị pháo 40mm, 12,8mm, mang theo các toán biệt kích đổ bộ có mìn, súng ĐKZ, M79 ra hoạt động ở vùng biển miền Bắc để tập kích vào các mục tiêu quân sự, kinh tế, bắt dân ven biển để khai thác tin tức, thả hàng tâm lý chiến, bắn phá tàu vận tải, vây bắt thuyền đánh cá của ta.

Lúc này, Bộ tư lệnh Quân chủng Hải quân chủ trương sử dụng một số tàu tuần tiễu nhỏ, tàu vận tải và tàu đánh cá có trang bị vũ khí để đánh diệt tàu biệt kích ở vùng biển Quân khu 4. Tại đây, Tiểu đoàn Sông Gianh có hai tàu chiến của phân đội tàu 23, lực lượng phối thuộc có hai tàu tuần tiễu VT113, VT114 của phân đội 8 Trung đoàn 172 và hai tàu 235, 246 của phân đội 25 Trung đoàn 125. Ban chỉ huy Tiểu đoàn Sông Gianh lúc này do đồng chí Trần Châu làm tiểu đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Mã là chính trị viên và tôi là tiểu đoàn phó. Sở chỉ huy tiểu đoàn đặt tại xã Quảng Phúc, Quảng Trạch, Quảng Bình. Chấp hành chủ trương và ý định của Bộ tư lệnh Hải quân về việc đánh diệt tàu biệt kích địch, Tiểu đoàn Sông Gianh đã có kế hoạch và phương án sẵn sàng đánh tàu địch ở vùng biển Quảng Bình; các đơn vị tàu và các trạm rađa đều được quán triệt nhiệm vụ này.

Căn cứ vào quy luật hoạt động của tàu biệt kích địch về đường đi cũng như khu vực hoạt động, thời gian hoạt động và vừa qua nhịp độ hoạt động của chúng cũng tăng lên. Để khắc phục tốc độ chậm của tàu ta và chủ động phục kích đánh địch ở những khu vực chúng thường hoạt động, vì vậy, về đêm ta cho tàu ra biển bí mật đợi cơ trước, gần khu vực dự kiến tác chiến để sẵn sàng chặn đánh địch.

19 giờ ngày 19 tháng 2 năm 1971, Sở chỉ huy Sông Gianh cho hai tàu 43, 46 của phân đội 23 và hai tàu 235, 246 của phân đội 25 ra đợi cơ ở khu vực Hòn La - Vũng Chùa; hai tàu VT113 và VT114 của phân đội 8 đứng ở Xuân Lộc (phía trong sông Gianh) và giữ liên lạc chặt chẽ với sở chỉ huy.

19 giờ ngày 19 tháng 2 năm 1971, trạm rađa 535 báo cáo đã phát hiện một tốp tàu biệt kích ở đông Lý Hòa 10 hải lý đang đi ra phía bắc với tốc độ cao (30 hải lý/giờ). Sở chỉ huy Sông Gianh có đồng chí Trần Châu, tôi và đồng chí Nguyễn Mã, xác định lúc này tàu ta không thể kịp đón chặn đánh tàu địch trên đường đi ra mà quyết định sẽ chặn đánh, nếu chúng đi vào hoạt động đông cửa Gianh hoặc khu vực Hòn La - Vũng Chùa, đông cửa Ròn hoặc chặn đánh chúng trên đường về. Sở chỉ huy thông báo tình hình địch cho các phân đội tàu và lệnh cho phân đội 8 ra đợi cơ ở đông cửa Gianh bốn hải lý. Trạm rađa 535 có nhiệm vụ theo dõi bám sát tốp tàu biệt kích này, kịp thời thông báo vị trí của chúng về Sở chỉ huy. Khi tốp tàu này vượt qua đông mũi Ròn đến mút tầm quan sát thì sẵn sàng cảnh giới phát hiện mọi động tĩnh.

2 giờ ngày 20 tháng 2 năm 1971, rađa phát hiện địch quay trở vào. Sở chỉ huy lệnh cho hai phân đội 23 và 25 sẵn sàng đón đánh địch ở khu vực Hòn La - Vũng Chùa và phân đội 8, trong đó tàu VT114 do đồng chí Tải làm thuyền trưởng và trên tàu VT114 có đồng chí Nguyên, phân đội trưởng chỉ huy phân đội; tàu VT113 do đồng chí Tuyển làm thuyền trưởng xuất phát ra đón đánh địch ở khu vực Hòn Gió. Ngay sau đó Sở chỉ huy đã nhận được báo cáo của hai phân đội 23 và 25 là đã sẵn sàng chiến đấu theo lệnh. Gần 3 giờ sáng mới nhận được báo cáo. “Đã xuất phát” của phân đội 8. Lúc này sở chỉ huy lệnh cho trạm rađa 535 quan sát, theo dõi chặt chẽ, báo cáo kịp thời các mục tiêu địch, ta trên biển nhất là các tàu phân đội 8 đang đi hướng ra Hòn Gió; đồng thời sở chỉ huy cũng liên tục thông báo vị trí địch, ta cho các phân đội để đón đánh địch. Trên bản tiêu đồ chấm theo các phần tử của rađa thông báo thì có một tàu đang đi ra hướng Hòn Gió. Còn một tàu đang đứng ở đông Cửa Gianh (rađa chỉ phân biệt được loại tàu chứ không thể quan sát được số hiệu tàu). Sở chỉ huy điện hỏi “anh đang ở đâu” thì được phân đội 8 trả lời “Tàu VT114 đang dừng lại chờ tàu VT113 đang bị lạc”. Như vậy, đã xác định được tàu VT113 đang đi ra hướng Hòn Gió. Trong phương án tổ chức thông tin liên lạc, sở chỉ huy vẫn có quy ước liên lạc với tàu VT113, nhưng lúc này không liên lạc được với tàu VT113.

Thực tế cuối cùng tàu VT113 một mình dũng cảm chiến đấu với bốn tàu biệt kích địch ở khu vực Hòn Gió. Khi gặp địch, tàu VT113 bắn vào chiếc tàu địch đi đầu, chiếc này bị thương không kịp bắn trả nhưng các tàu địch đi sau vừa tháo chạy, vừa bắn xối xả khiến tàu ta bị trúng đạn pháo 40mm ở buồng lái và ở mạn phải gần vạch mớn nước, ta hy sinh hai đồng chí. Tàu VT114 mất liên lạc với sở chỉ huy và vẫn ở đông Cửa Gianh cho đến tan cuộc.

Sau trận đánh, theo kế hoạch là tàu VT113 sẽ trở về sông Gianh, nhưng đồng chí Tuyển quyết định cho tàu vào cửa sông Roòn và bị cạn ở bãi ngang phía nam Cửa Roòn; vì về sông Gianh đường xa hơn, phải đi tốc độ cao mới về kịp trước lúc trời sáng để tránh máy bay địch. Nếu đi tốc độ cao nước sẽ tràn vào lỗ thủng ở mạn phải, nguy hiểm.

Nằm trong khu vực máy bay Mỹ thường xuyên đánh phá, tôi phải trực tiếp huy động lực lượng ngụy trang và tổ chức kéo tàu VT113 ra khỏi cạn, đưa tàu về sông Gianh an toàn.

Sau trận đánh này, tàu biệt kích địch giảm hoạt động trên vùng biển của ta. Trước đó hàng trăm lần tàu biệt kích Mỹ-ngụy ra hoạt động đánh phá, quấy rối trên vùng biển thuộc địa bàn Quân khu 4 đều bị hệ thống rađa hải quân ta phát hiện và thông báo hướng dẫn chỉ thị mục tiêu cho các lực lượng tàu hải quân cũng như pháo bờ biển đánh chìm, đánh bị thương nhiều tàu biệt kích địch.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Chín, 2021, 09:39:54 am
Trước yêu cầu nhiệm vụ của lực lượng Hải quân trên địa bàn Quân khu 4 tham gia chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của địch ngày càng ác liệt cũng như sẵn sàng tham gia chiến đấu theo kế hoạch tiến công chiến lược năm 1972 ở hướng Trị - Thiên, từ ngày 15 tháng 8 năm 1971, Tiểu đoàn Sông Gianh được nâng cấp thành Hải quân khu vực 4 (tương đương cấp trung đoàn), gọi tắt là K4. Đồng chí Trần Châu làm chỉ huy trưởng, tôi làm chỉ huy phó, đồng chí Lê Văn Thư làm tham mưu trưởng. Cán bộ chính trị sau đồng chí Nguyền Mã, có đồng chí Phạm Trung Toan làm chính ủy, đồng chí Trần Á là phó chính ủy.

Tháng 9 năm 1971, Hải quân khu vực 4 được lệnh xây dựng phương án tham gia tác chiến đánh địch đổ bộ đường biển ở địa bàn nam Quân khu 4.

Đơn vị được tăng cường thêm một đại đội pháo ĐKB, một phân đội đặc công nước và lực lượng thông tin, công binh, hàng hải. Ngoài việc huấn luyện lực lượng chiến đấu của mình, Hải quân khu vực 4 còn có nhiệm vụ xây dựng và huấn luyện chiến đấu lực lượng dân quân tự vệ biển khu vực phía nam Quân khu 4 để cùng phối hợp với hải quân đánh địch trên biển và chống địch đổ bộ đường biển. Chúng tôi đã huấn luyện cho lực lượng dân quân tự vệ biển của các xã Cảnh Dương, Quảng Phúc, Quang Phú... sử dụng thành thạo các loại mìn PDM-1, PDM-2, kích nổ bằng cần gạt để đánh diệt tàu xuống đổ bộ, loại thủy lôi IAM sừng chạm để đánh tàu thuyền địch ở độ sâu nông, chống quân đổ bộ đường biển.

Cuối tháng 3 năm 1972, chấp hành lệnh của Tư lệnh Quân chủng, tách một bộ phận của K4 chuẩn bị tham gia vận chuyển chi viện chiến dịch Trị Thiên, đồng chí Trần Châu được chỉ định phụ trách bộ phận này. Về sau, đây là cơ sở để thành lập Hải quân khu vực 5 ở Cửa Việt. Tôi được chỉ định quyền chỉ huy trưởng K4 thay đồng chí Trần Châu.

Đầu tháng 3 năm 1972, cấp trên điều một số đơn vị công binh, hàng hải, rađa bờ, tàu tập kết khu vực sông Gianh sẵn sàng tham gia kế hoạch tiến công chiến lược năm 1972 ở hướng Trị Thiên. Sau này một số bộ phận trong lực lượng này được điều vào tăng cường cho K5 và Trung đoàn đặc công nước 126.

Tàu biệt kích địch hoạt động thưa dần nhưng tàu khu trục Mỹ lại tăng cường hoạt động khống chế vùng biển miền Bắc. Pháo tàu tập trung đánh phá giao thông ven biển nhất là ở địa bàn nam Quân khu 4. Chúng thường xuyên tập trung pháo kích vào các cầu phà và các chân hàng trên trục quốc lộ 1. Các trạm rađa của K4 như 530, 535, 540, 525 đều gia tăng cường độ hoạt động, kịp thời phát hiện theo dõi mọi hoạt động của tàu khu trục Mỹ để hiệp đồng thông báo mục tiêu cho quân dân ven biển kịp thời phòng tránh và đánh địch. Nhiều lần các trạm rađa bị máy bay Mỹ phóng tên lửa, nhưng nhờ có công sự kiên cố và ngụy trang khéo léo nên nói chung các đài trạm của ta vẫn bảo đảm an toàn. Tuy có hư hỏng một vài bộ phận, nhưng bộ đội rađa đã khẩn trương khắc phục để bảo đảm hoạt động liên tục.

Ngày 6 tháng 4 năm 1972, đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ 2. Chính quyền Ních-Xơn đã đưa chiến tranh phá hoại với mức độ ác liệt hơn hòng ép nhân dân ta phải nhân nhượng chúng. Ngày 7 tháng 4 năm 1972, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh ra mệnh lệnh: “Tăng cường sẵn sàng chiến đấu bảo vệ miền Bắc và làm tốt nhiệm vụ chi viện tiền tuyến trong tình hình mới”.

Từ ngày 6 tháng 4 năm 1972, tàu chiến Mỹ tập trung bắn phá dọc bờ biển từ Vĩnh Linh đến cửa sông Thái Bình. Chỉ riêng ngày 6 tháng 4, giặc Mỹ đã sử dụng hơn 300 lần chiếc máy bay ném bom trên địa bàn Quân khu 4. Từ đầu tháng 4 đến đầu tháng 5 năm 1972, pháo tàu địch đã bắn hàng trăm lần, hòng cắt đứt giao thông đường số 1 và tuyến vận tải ven biển của ta.

Trên địa bàn Quân khu 4 nói chung mà trước hết Quảng Bình là khu vực đầu cầu tiếp nhận hàng hóa chuyển từ miền Bắc vào chiến trường miền Nam, vì vậy nơi này máy bay, tàu chiến địch ngày đêm tập trung đánh phá hết sức ác liệt. Hoạt động của Hải quân K4 gặp nhiều khó khăn kể cả phòng tránh cũng như đánh địch. Tàu thuyền ban ngày phải sơ tán ngụy trang che giấu phòng tránh máy bay, bảo toàn lực lượng để ban đêm làm nhiệm vụ chiến đấu trên biển. Bộ đội di chuyển đến đâu, đều phải làm công sự phòng tránh vì địch ném bom, bắn bừa bãi chẳng chừa một mục tiêu nào, khu vực nào.

Trong khi địch điên cuồng đánh phá, hòng làm tê liệt mọi hoạt động của ta, thì quân và dân miền Bắc vẫn kiên cường với mọi biện pháp đánh trả cuộc chiến tranh phá hoại của địch và không ngừng tăng cường làm nhiệm vụ chi viện cho chiến trường miền Nam phát triển cuộc tiến công. Hiệp đồng chiến đấu của K4 với các lực lượng chiến đấu ven biển ở phía nam Quân khu 4 vẫn giữ vững.

Giữa tháng 4 năm 1972, thực hiện chủ trương của trên, K4 hiệp đồng với lực lượng máy bay ném bom của Quân chủng Phòng không - Không quân đánh tàu khu trục Mỹ, khi chúng vào pháo kích mục tiêu ven biển của ta trên khu vực Quảng Bình. Hải quân khu vực 4 do tôi chủ trì trực tiếp hiệp đồng với đồng chí Ninh, Phó tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không - Không quân, trong đó trách nhiệm của K4 là kịp thời phát hiện tàu khu trục Mỹ và chỉ dẫn mục tiêu cho máy bay của ta đánh.

Ngày 19 tháng 4 năm 1972, các trạm rađa 530, 535, 540 của K4 từ xa đã phát hiện hai tàu khu trục của địch. Tại sở chỉ huy K4, tôi lệnh cho trạm 535 và 530 bám sát mục tiêu và khi tàu địch chuyển hướng vào bờ, cứ hai phút phải báo cáo vị trí mục tiêu tàu địch một lần về sở chỉ huy. Sở chỉ huy K4 cũng liên tục thông báo rất chính xác vị trí tàu địch cho sở chỉ huy của không quân. Biên đội MiG-17 do hai phi công Lê Xuân Dị và Nguyễn Văn Bảy (B) thuộc Trung đoàn không quân 923, Sư đoàn 371, cất cánh từ sân bay Gát. Khi hai chiếc MiG-17 của ta xuất kích thì hai tàu khu trục Mỹ ở cách đông Lý Hòa 5km đang đi hướng vào nam song song với bờ để pháo kích.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Chín, 2021, 09:40:11 am
Được sở chỉ huy dẫn đường, biên đội MiG-17 của ta nhận rõ mục tiêu, lập tức bổ nhào công kích. Những quả bom 250kg vừa chạm nước đã bật lên lao thẳng vào tàu địch. Hai cột nước vọt lên trên thân tàu. Bị đòn hết sức bất ngờ, địch không kịp đánh trả, chỉ bắn vuốt đuôi. Máy bay ta trở về căn cứ an toàn. Nhưng chỉ 17 phút sau, nhiều máy bay từ tàu sân bay Mỹ ở vịnh Bắc Bộ đã lao vào trút bom đạn bừa bãi vào các mục tiêu ven biển của ta như hành động trả đũa vì bất ngờ bị đòn đau. Địch thú nhận: bốn quả bom đều trúng mục tiêu làm hai tàu khu trục bị hỏng nặng, trong đó, tàu Hegbee bị hỏng rất nặng.

Từ ngày 16 tháng 4 năm 1972, địch đánh sập toàn bộ cầu đường bộ từ Thanh Hóa trở vào hòng cắt đứt giao thông đường số 1 và tuyến vận tải ven biển. Hệ thống rađa ven biển của hải quân và nhất là các đơn vị rađa của Hải quân khu vực 4 nằm trong khu vực trọng điểm đánh phá của địch, phải hoạt động hết sức căng thẳng, vừa phải ngụy trang phòng tránh máy bay chống chiến tranh điện tử vừa phải tăng cường độ hoạt động để quan sát, cảnh giới không được để sót lọt mục tiêu tàu địch; kịp thời thông báo cho các đơn vị pháo bờ biển đánh tàu địch và phòng tránh của nhân dân ven biển.

Cùng với việc ném bom, bắn phá của máy bay tàu chiến, ngày 9 tháng 5 năm 1972, tổng thống Mỹ Ních-xơn ra lệnh dùng không quân của hải quân ồ ạt thả thủy lôi phong tỏa cửa biển, ảai cảng, sông ngòi của ta. Chưa đầy một tháng, Mỹ thả 13.000 thủy lôi xuống 43 khu vực sông biển miền Bắc.

Cuộc phong tỏa bằng thủy lôi trên khắp các vùng sông, biển miền Bắc nước ta là một âm mưu hết sức nham hiểm của đế quốc Mỹ hòng ngăn chặn hoạt động sản xuất và sự đi lại làm ăn sinh sống của nhân dân ta trên sông biển, ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc đối với miền Nam, bao vây ta xuất, nhập khẩu từ đường biển, cũng như ngăn chặn sự giúp đỡ chi viện của bầu bạn quốc tế đối với nhân dân ta.

Thủ đoạn của địch là vừa tăng cường đánh phá bằng bom đạn, vừa dùng các loại máy bay hải quân như A6A, A3B, A4, A7 thả các loại thủy lôi và bom từ trường như: MK50, MK52, MK42, MK48. Thả thủy lôi dưới nước, kết hợp với bom từ trường trên bờ. Thả nhiều đợt, nhiều lớp ở các luồng ra vào cửa sông, bến cảng, bến phà, nơi trú đậu tàu thuyền của ta ở miền Bắc với hàng chục nghìn quả thủy lôi trên một diện tích rộng hàng trăm ki-lô-mét vuông.

Thực ra thì từ ngày 26 tháng 2 năm 1967, đế quốc Mỹ đã thả thủy lôi MK42, MK50, MK52 mod-o ở các cửa sông Nhật Lệ, sông Gianh, sông Lam, sông Mã. Lúc đó, lực lượng hải quân đã hiệp đồng với công binh của Quân khu 4 phá gỡ bảo đảm an toàn giao thông nhất là giao thông vận chuyển chi viện chiến trường miền Nam. Từ ngày 9 tháng 5 năm 1972, Mỹ thả thủy lôi một cách ồ ạt, dày đặc trên một diện rộng. Vì vậy, ngày 20 tháng 7 năm 1966, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đã có chỉ thị cho Bộ tư lệnh Hải quân về chống địch phong tỏa giao thông thủy bằng thủy lôi.

Thực hiện chỉ thị của Quân ủy Trung ương và mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng, với vai trò nòng cốt trong chiến tranh nhân dân trên chiến trường sông biển, Quân chủng Hải quân đã xác định việc chống phong tỏa thủy lôi là nhiệm vụ trung tâm số 1 lúc này. Đây là một sự thử thách cả về ý chí và khoa học kỹ thuật đối với Hải quân. Vì vậy Hải quân không những động viên huy động mọi lực lượng có thể được của mình vào nhiệm vụ này mà còn chủ động phối hợp với các lực lượng của các quân khu, quân binh chủng, các cơ quan kinh tế biển của Nhà nước tổ chức lực lượng quan sát phát hiện, phá gỡ thủy lôi địch một cách rộng khắp để bảo đảm an toàn giao thông thủy.

Trên địa bàn hoạt động của K4 ở nam Quân khu 4 có những khu vực trọng điểm như sông Nhật Lệ, sông Gianh, vịnh Hòn La... địch đã thả thủy lôi ngăn chặn giao thông ngay từ đầu và liên tiếp thả bổ sung lại nhiều lần. Chúng không những thả thủy lôi mà còn tìm cách dùng máy bay khống chế, đánh diệt lực lượng rà phá thủy lôi của ta.

Trong điều kiện lực lượng phương tiện phá, gỡ thủy lôi còn nhiều hạn chế, máy bay, tàu chiến địch ngày đêm đánh phá ác liệt, K4 đã xây dựng quyết tâm và có kế hoạch biện pháp cụ thể cho lực lượng quan sát, rà phá thủy lôi của mình cũng như hiệp đồng huấn luyện hướng dẫn cho các lực lượng địa phương tổ chức hàng trăm trạm quan sát và nhiều đội rà phá thủy lôi để bảo đảm an toàn giao thông. Lúc này phân đội công binh hàng hải của K4 đã được phát triển thành đại đội, được trang bị canô C47 có trang bị ống phóng từ HT6 và một số khí tài rà phá thủy lôi khác, phóng từ 480, xuồng rà phá 311...

Để bảo đảm an toàn giao thông vận chuyển hàng chi viện chiến trường miền Nam không bị ngừng trệ nhất là ở luồng sông Gianh. Khu vực tuyến đầu tập kết chuyển hàng do đó công việc rà phá thủy lôi chúng tôi phải làm liên tục. Địch thả, ta phá, địch thả bổ sung ta lại tiếp tục phá. Có những chiến sĩ công binh hy sinh, bị thương trong khi rà phá, tháo gỡ thủy lôi của địch. Có đồng chí gặp lúc thủy lôi nổ gần gây chấn thương cột sống phải chịu thương tật suốt đời.

Thực hiện chiến tranh nhân dân trên chiến trường sông biển, không những chỉ có lực lượng hải quân mà ngày càng có nhiều lực lượng công binh của quân khu, của các tỉnh đội, huyện đội tham gia và cả dân quân tự vệ, sáng tạo ra nhiều loại khí tài rà phá thủy lôi, bom từ trường bằng khung dây từ, bằng kéo sắt, nam châm, kéo tấm tôn, ném bộc phá... Và sau khi cán bộ chiến sĩ đội 8 công binh Hải quân đã tháo mở được thủy lôi địch và biết được vận hành các loại thủy lôi MK42, MK50, MK52 qua các lần cải tiến, ta đã sản xuất được các loại khí tài rà phá thủy lôi như ống phóng từ HT5, HT6 để rà phá bom từ trường và thủy lôi từ tính MK52. Khí tài PD67 rà phá thủy lôi âm thanh MK50, khí tài xuồng 311, máy phóng từ 480 có cường độ phóng từ mạnh để rà phá các loại thủy lôi đã qua cải tiến. Tôi trực tiếp giao nhiệm vụ và kế hoạch rà phá thủy lôi cho đồng chí Nguyễn Văn Xuân quê ở Thái Bình, đại đội trưởng đại đội công binh hàng hải của K4 và trực tiếp theo dõi huấn luyện của đại đội này. Đồng chí Xuân là người thường hay hỏi lại cấp trên khi nhận nhiệm vụ nhưng lại là một cán bộ hăng hái, xông xáo, rất tận tụy nên đã luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Do được huấn luyện và chuẩn bị tốt nên 5 ngày sau khi trạm quan sát cảng Gianh hải quân phát hiện địch thả 36 quả ở bến 1 phà Gianh, canô phóng từ C47 của phân đội công binh K4 đã lần lượt phá nổ hết 36 quả.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Chín, 2021, 09:41:37 am
*
*   *

Để đáp ứng nhu cầu chi viện chiến trường, rút ngắn cung đoạn vận chuyển từ Bắc vào Nam, Chính phủ ta quyết định hiệp đồng với nước bạn, dùng tàu bạn chở hàng cho ta vào neo đậu chuyển tải hàng ở vịnh Hòn La (Quảng Bình). Từ đây, dùng thuyền chuyển tải về sông Gianh. Nhận nhiệm vụ của Trung ương giao, tỉnh Quảng Bình đã thành lập Ban chỉ đạo chiến dịch vận chuyển này. Nhiều lực lượng đã được huy động tham gia vận chuyển và bảo vệ vận chuyển Hải quân K4 được giao nhiệm vụ rà phá thủy lôi, bảo đảm thông luồng an toàn cho tàu chuyển tải tuyến Hòn La - sông Gianh và các trạm rađa 530, 535 quan sát nắm tình hình mặt biển kịp thời phát hiện thông báo cho các lực lượng đánh và phòng tránh tàu chiến địch. Thường vụ Đảng ủy Hải quân khu vực 4 đã có nghị quyết lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quan trọng này. Vì nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết đó, Hải quân khu vực 4 không những rà phá thủy lôi mà tôi còn quyết định bố trí trận địa đại đội pháo ĐKP ở xã Quảng Đông để sẵn sàng đánh tàu khu trục Mỹ, khi chúng vào gần đánh phá khu vực chuyển tải.

Sau nhiều lần địch thả, ta phá, để phục vụ chiến dịch vận chuyển tuyến Hòn La - sông Gianh ngày 8 tháng 5 năm 1972, công binh hàng hải của K4 đã rà phá mở thông luồng sông Gianh với khu chuyển tải Hòn La, và sẵn sàng dẫn đường cho tàu, thuyền chuyển tải của ta đưa hàng từ tàu bạn ở Hòn La vào đất liền. Đây là thành tích thông luồng đầu tiên của hải quân và của nhân dân miền Bắc trong chiến tranh phá hoại lần thứ 2 của địch.

Ngày 29 tháng 5 năm 1972, tàu Hồng Kỳ 150 (HK 150) của Trung Quốc chở 6.000 tấn gạo đến vịnh Hòn La để chuyển tải. Đến 30 tháng 5, các tàu, thuyền vận tải đã chuyển tải được 500 tấn gạo. Nhưng từ ngày 1 tháng 6 năm 1972, Mỹ đưa tàu chiến và máy bay đến khống chế, uy hiếp khu chuyển tải Hòn La và tuyến vận chuyển Hòn La - sông Gianh bằng cách cho ba tàu khu trục đến thường trực ở cách đông nam Hòn La trên dưới 10km cùng với máy bay suốt ngày đêm tìm cách đánh diệt tàu thuyền chuyển tải của ta. Ban đêm cả tàu chiến và máy bay thay nhau bắn, thả pháo sáng. Khu vực vịnh Hòn La sáng rực. Hễ phát hiện được tàu, thuyền ta mỗi khi đến tàu Hồng Kỳ hoặc sau khi lấy hàng xong rời đi là chúng tìm cách đánh phá. Không những đánh diệt tàu thuyền vận tải mà địch còn đánh phá các xã ven biển gần đó để ngăn cản ta chuyển hàng từ tàu vào bờ. Việc chuyển tải bằng tàu thuyền gặp khó khăn, chúng ta thực hiện phương án kéo hàng thả xuống biển bằng trục tời vào hai thôn ven biển gần Hòn La là Vĩnh Sơn và Thọ Sơn thuộc xã Quảng Đông. Khi phát hiện ta kéo hàng bằng trục tời, địch đã đánh phá có tính chất hủy diệt hai thôn nói trên. Các lực lượng phòng không; pháo bờ biển, liên tục kiên cường đánh trả địch để bảo vệ khu chuyển tải. Bất chấp kẻ địch tìm mọi cách đánh phá, các trạm rađa K4 liên tục cảnh giới, hiệp đồng thông báo cho pháo binh bờ biển đánh trả tàu chiến địch.

Có thể nói việc chuyển tải gặp rất nhiều khó khăn, lực lượng vận tải Quảng Bình không tiếc xương máu, tìm mọi biện pháp, mọi phương tiện kể cả thuyền nan chở từng tạ hàng, vật lộn với bom đạn bão gió gần một tháng mà cũng chỉ chuyển được hơn 5.000 tấn gạo vào bờ để chi viện cho chiến trường.

Lần lượt vào các ngày 27 tháng 6, 22 tháng 9 và 1 tháng 12 của năm 1972, các tàu Hồng Kỳ 152 - 162 - 162B của Trung Quốc vào vịnh Hòn La thực hiện phương án đặt các bao gạo kín nước vào bao ni lông để thả trôi vào bờ. Địch dùng máy bay trực thăng bắn chìm các bọc gạo trôi khi chúng phát hiện được. Phương án thả trôi dù gặp khó khăn bão, gió, thủy triều và địch đánh phá nhưng cũng đạt được kết quả nhất định.

Để ngăn chặn khu vực chuyển tải Hòn La - sông Gianh, địch tiến hành nhiều đợt thả thủy lôi bổ sung trên hành lang này. Vì vậy, lực lượng rà phá thủy lôi của K4 phải thông luồng. Từ tháng 5 đến tháng 9 năm 1972, lực lượng rà phá thủy lôi của K4 đã bốn lần thông tuyến Hòn La - sông Gianh.

Ở khu vực vịnh Hòn La, địch thả bổ sung bom từ trường. Canô phóng từ C47 của K4 được bố trí cặp mạn tàu Hồng Kỳ để rà phá thủy lôi, bom từ trường, mỗi khi địch thả. Ngoài đồng chí Cầu là người điều khiển chiếc canô này còn có các chiến sĩ Kế, Đam, Tiến... và đồng chí Nguyễn Văn Xuân đại đội trưởng đại đội công binh hàng hải là người chỉ huy cùng đi trên canô phóng từ này. Nhiều lần canô C47 rời tàu Hồng Kỳ ban đêm để rà phá bom, thủy lôi đả bị địch đánh nhưng anh em vẫn dũng cảm kiên trì thực hiện nhiệm vụ.

Khi tàu Hồng Kỳ chuẩn bị rời vịnh Hòn La, đêm trước đó chúng tôi cho canô phóng từ C47 về rà phá thủy lôi ờ sông Gianh với kế hoạch cho đi ven gần bờ để tránh phát hiện bằng rađa của tàu khu trục địch, nhưng khi canô C47 rời tàu Hồng Kỳ trên một hải lý thì bị máy bay địch bắn chìm, hầu hết đoàn thủy thủ hy sinh, chỉ còn lại đồng chí Đam thợ máy bơi được vào bờ.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Chín, 2021, 09:41:58 am
Đến bây giờ nhớ lại từng đồng chí thủy thủ của canô phóng từ C47, tôi không khỏi tiếc thương, cảm phục và tự hào về những chiến sĩ Hải quân đã hy sinh anh dũng trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Trong chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, lực lượng chống phong tỏa thủy lôi của K4 đã làm nòng cốt cùng các đơn vị ở khu vực nam Quân khu 4, tổ chức hàng trăm trạm quan sát, tiến hành hàng trăm lượt rà quét, phá nổ hàng trăm thủy lôi của địch, bảo đảm thông luồng an toàn cho giao thông vận tải.

Chống phong tỏa thủy lôi của đế quốc Mỹ, chúng ta phải đương đầu với một cuộc chiến tranh rất phức tạp, gay go, ác liệt, mà lực lượng vũ trang ba thứ quân cùng toàn dân đã mưu trí, dũng cảm, thông minh sáng tạo, đoàn kết hợp đồng chặt chẽ, lấy lực lượng Hải quân làm nòng cốt đã đạt được thắng lợi hết sức vẻ vang mà kẻ địch cũng không ngờ tới. Chỉ 48 giờ sau ngày Mỹ buộc phải chấm dứt hoàn toàn chiến tranh phá hoại miền Bắc (27-1-1973), toàn bộ vùng sông biển miền Bắc cơ bản đã quét hết thủy lôi, bom từ trường trên các luồng chính giao thông đường thủy. Công tác giao thông vận tải bảo đảm chi viện cho chiến trường lại khẩn trương tiếp tục thực hiện.

Từ ngày 9 tháng 6 đến ngày 22 tháng 10 năm 1972, địch mở cuộc phản công quy mô lớn trên chiến trường Quảng Trị. Do vậy, từ tháng 5 đến tháng 10 năm 1972, Mỹ tập trung đánh phá ác liệt trên địa bàn Quân khu 4, kể cả sử dụng máy bay B52, hàng trăm lần chiếc máy bay các loại mỗi ngày, tập trung đánh trên địa bàn Quảng Bình, Vĩnh Linh. Từ dầu tháng 6 đến tháng 10 năm 1972, chúng tiếp tục rải trên 6.000 thủy lôi, bom từ trường tại các khu vực trọng điểm giao thông trên địa bàn Quân khu 4.

Trước việc kẻ địch ngày càng lấn sau vào đánh phá các mục tiêu ven biển nhất là đánh phá giao thông trên tuyến quốc lộ 1, Bộ tư lệnh Hải quân đã lệnh cho K4 dùng thủy lôi đánh tàu khu trục Mỹ. Cán bộ chiến sĩ phân đội tàu 23 rất phấn khởi được Đảng ủy và Ban chỉ huy Hải quân khu vực 4 giao thực hiện nhiệm vụ này.

Đây là một nhiệm vụ rất mới mẻ vì nhiều lẽ. Lần đầu tiên Hải quân Việt Nam dùng tàu thả thủy lôi âm thanh từ tính loại lớn đánh tàu khu trục địch trên biển; không sử dụng tàu chuyên ngành rải, thả thủy lôi mà lại dùng tàu vận tải nhỏ có lắp vũ khí để đánh tàu biệt kích gần bờ, sức tải trọng nhỏ không thể để thủy lôi lớn trên mặt boong (sẽ mất ổn định), không có thiết bị rải, thả thủy lôi, nếu đẩy lăn thủy lôi từ trên mặt boong thì tàu sẽ bị lật chìm. Nếu dùng dây cáp treo thủy lôi ngầm hai bên mạn tàu, tốc độ tàu sẽ giảm tối đa. Mặt khác, không thể không tính đến trường hợp nào đó bị nước rò vào đầu thủy lôi gây chập mạch, thủy lôi nổ ngay... Trên vùng biển rộng mênh mông, nếu chí thả một số lượng nhỏ thủy lôi, thì xác suất gặp tàu địch sẽ vô cùng nhỏ.

Hơn nữa việc nhiều tàu khu trục địch đang liên tục cơ động khống chế vùng biển, chúng dễ phát hiện đánh diệt tàu ta từ xa, khi ta chưa kịp đến vị trí thả thủy lôi. Thường vụ Đảng ủy K4 đã có nghị quyết chuyên đề lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ này, trong đó cũng đã lường hết một số tình huống khó khăn có thể gặp để chủ động trong lãnh đạo và chỉ huy bộ đội. Khi trực tiếp giao nhiệm vụ cho phân đội tàu 23, gặp cán bộ, chiến sĩ, tôi nói rõ tầm quan trọng của nhiệm vụ, đồng thời cũng nói hết khó khăn, niềm tin, vinh quang và trách nhiệm để xây dựng quyết tâm thực hiện nhiệm vụ trên giao.

Một loạt vấn đề đặt ra hết sức mới mẻ đòi hỏi phải tự mầy mò nghiên cứu ứng dụng. Thường vụ Đảng ủy và chỉ huy K4 cùng cán bộ chiến sĩ phân đội tàu 23 có quyết tâm rất cao. Cùng với sự chi viện, giúp đỡ của cán bộ tham mưu huấn luyện, cán bộ kỹ thuật thủy lôi của quân chủng cử xuống, mọi khó khăn, bỡ ngỡ bước đầu dần dà được khắc phục. Mọi vấn đề, mọi động tác đều được viết thành giáo án huấn luyện.

Tôi và đồng chí Nguyễn Mã, bí thư Đảng ủy cùng một số cán bộ cơ quan tham mưu tập trung liên tục theo sát chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ này. Còn nhớ khi đặt vấn đề treo thủy lôi dưới vạch mớn nước hai bên mạn tàu, thắt đai chằng treo những quả thủy lôi mà mỗi quả nặng một tấn bằng dây cáp, sao cho thủy lôi không bị tuột lúc tàu chạy, lúc treo, lúc thả được dễ dàng. Đồng chí Vũ Tá Lâm, cán bộ quân huấn của quân chủng chính là người sáng tạo ra đai chằng treo thủy lôi hai bên mạn tàu. Một tổ cán bộ kỹ thuật vũ khí thủy lôi của quân chủng do đồng chí Nguyễn Hữu Trí phụ trách giúp đỡ, kiểm tra, chuẩn bị kỹ thuật thủy lôi. Thời gian này ta đã nghiên cứu cải tiến ngòi nổ tự hủy của thủy lôi, định thời gian thủy lôi tự hủy để bảo đảm an toàn đi lại của tàu thuyền ta sau này.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Chín, 2021, 09:42:25 am
Trải qua hơn 5 năm rađa ta theo dõi, đăng ký liên tục đầy đủ vệt đi của tàu khu trục Mỹ khi chúng đi lại hoạt động trên vùng biển của ta, nhất là những lúc chúng pháo kích vào bờ, nhờ đó ta đã chọn được những vị trí thả thủy lôi có xác suất trúng đích cao.

Cán bộ, chiến sĩ phân đội tàu 23 ra sức tập luyện công tác khiêng thủy lôi từ bãi ngang ra tàu, đưa và thắt thủy lôi vào đai chằng, cắt thả và rút chốt an toàn, tính cự ly giãn cách khi thả thủy lôi với những động tác thủ công nhưng đòi hỏi dứt khoát, nhanh chóng chính xác trong điều kiện tàu nhỏ chạy có sóng gió cấp 3, cấp 4.

Mọi công việc chuẩn bị được hoàn tất. Để thực hiện nhiệm vụ này, qua liên lạc hữu tuyến đồng chí Nguyễn Dưỡng - Tham mưu trưởng Quân chủng hỏi tôi bằng tiếng lóng:

- Đồng chí đang dùng loại “tiền” gì?

Tôi trả lời:

- Tôi chỉ có “tờ bạc 1.000” đồng.

Nghĩa là tôi sử dụng loại thủy lôi l.000kg. Đầu tháng 6 năm 1972, chuyến đầu tiên chúng tôi (K4) quyết định sử dụng một biên đội gồm hai tàu gỗ 36, 37 dưới dạng hoạt động của tàu cá trong đó có các chiến sĩ nòng cốt như Mố, Đàm, Tô, Chu, Canh, Ngự... do các đồng chí Phạm Phục, Nguyễn Chương làm thuyền trưởng và đồng chí Phạm Xuân Nựu chỉ huy phó phân đội 23 chỉ huy biên đội tiến hành bố trí thủy lôi ở khu biển đông cửa sông Gianh 15km, vào ban đêm. Tại sở chỉ huy K4, tôi trực tiếp chỉ huy việc bố trí thủy lôi này. Sử dụng hai trạm rađa 530 và 535 vừa làm nhiệm vụ dẫn đường hành quân của biên đội đến đúng vị trí bố trí thủy lôi, vừa cảnh giới thông báo cho biên đội tránh tàu khu trục địch.

Mỗi lần phát hiện tàu khu trục địch, phải lệnh cho tàu ta ngụy trang vừa chuyển hướng tránh tàu địch, vừa hoạt động dưới dạng tàu đánh cá. Các tàu ta được trang bị khí tài hàng hải bằng một la bàn rất thô sơ nên mọi việc dẫn dắt, xác định vị trí cũng như ra lệnh cắt thả thủy lôi khi đã xác định vào đúng vị trí bố trí đều do Sở chỉ huy trực tiếp ra lệnh. Mỗi chuyến đi trước lúc xuất phát tôi đều kiểm tra và nhắc các đồng chí thuyền trưởng phải đem về nộp lại đầy đủ các chốt an toàn của thủy lôi (vì nếu quên hoặc do thao tác lúng túng thả thủy lôi rồi mà chưa rút chốt an toàn thì thủy lôi mất tác dụng). Lần lượt những chuyến đi của biên đội tàu 36, 37 đã hoàn thành tốt việc bố trí các bãi thủy lôi ở đông cửa Gianh và đông Lý Hòa.

Thực ra việc bố trí một bãi thủy lôi từ 16-30 quả giữa biển khơi thì cũng chẳng khác nào nắm muối bỏ biển, nhưng chúng tôi vẫn tin chắc là sẽ trúng tàu địch như đã nói ở phần trên. Sở chỉ huy phải luôn theo dõi chặt chẽ khi có tàu địch hoạt động ở khu vực biển có bố trí thủy lôi.

Một hôm, tôi đang trên đường lên sớ chỉ huy bố trí ở một đồi cát, bỗng nghe tiếng nổ ục rất to ở phía biển. Tôi lệnh ngay cho trạm rađa 530 nhanh chóng mở máy quan sát thì phát hiện có một tàu khu trục đang loay hoay ở khu vực bãi thủy lôi, không thấy cơ động nữa. Như vậy, biết chắc tàu địch đã bị trúng thủy lôi của ta. Sau đó, chúng tôi biết chính xác tàu khu trục Mỹ có tên là “Oa-rinh-tơn DD843” bị trúng thủy lôi của ta, tuy không chìm tại chỗ nhưng bị hỏng hầu như toàn bộ, không thể cơ động và cũng không thể sửa chữa khôi phục được nữa, phải kéo về căn cứ Su-bic (Phi-lip-pin) và loại khỏi vòng chiến đấu.

Tiếp một thời gian ngắn sau đó, tàu khu trục Mỹ “Giô-dép-Xtơ-rao DDG16” cũng bị thương nặng ở các khu vực bố trí thủy lôi của K4. Phát triển cách đánh này, K4 còn tổ chức huấn luyện và hỗ trợ về kỹ thuật vũ khí thủy lôi cho dân quân hợp tác xã đánh cá Quang Phú (Quảng Bình) sử dụng thủy lôi đánh tàu khu trục Mỹ.

Trong một chuyến đi sau đó, một biên đội tàu phân đội 23 đi làm nhiệm vụ bố trí thủy lôi đánh tàu địch do đồng chí Độ phản đội trưởng 23 chỉ huy. Khi cơ động qua khúc sông gần phà Gianh, tàu đã vấp nổ thủy lôi của địch thả ở đây. Mặc dù khu vực này đã được rà phá nhiều lần và tàu ta qua lại không hề hấn gì, nhưng lần này thì lại vấp phải thủy lôi của địch. Tàu bị chìm, đồng chí Độ và hai chiến sĩ hy sinh.

Qua kinh nghiệm thực tế dùng thủy lôi đánh tàu khu trục địch ở K4, Quân chủng điều một số tàu của phân đội 23 do đồng chí Nguyễn Thành Tài, phân đội phó phân đội 23 vào phối thuộc K5 bố trí thủy lôi đánh tàu khu trục Mỹ ở khu vực biển phía đông Cửa Việt đạt kết quả rất tốt.

Với những thành tích xuất sắc trên cùng với những thành tích hoạt động trước đây, ngày 23 tháng 9 năm 1973, Phân đội 23 (K4) đã được Đảng và Nhà nước tuyên dương Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Chín, 2021, 09:43:17 am
Sau ngày Mỹ tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra (23-10-1972), chúng lại tập trung đánh phá trên địa bàn Quân khu 4. Hàng trăm tốp máy bay B52 ném bom rải thảm trên tuyến đường 22, tuyến đường Ba Trại - Vạn Trạch... Quảng Bình mà chúng nghi là nơi tập kết hàng dự trữ của ta.

Trước sự điên cuồng đánh phá của địch, quân và dân ta vẫn kiên cường, sản xuất và chiến đấu, đánh trả quyết liệt bắn rơi hàng trăm máy bay địch.

Đi đôi với bắn phá, đế quốc Mỹ vẫn tiếp tục thả thủy lôi, bom từ trường hòng ngăn chặn mạch máu giao thông vận chuyển của ta. Lực lượng của Quân chủng Hải quân liên tục cùng với lực lượng ba thứ quân nỗ lực rà phá, tháo gỡ hàng nghìn thủy lôi, bom từ trường làm mất hiệu lực phong tỏa của địch.

Trước tình hình đánh phá ác liệt tràn lan của địch, tôi đề nghị với Thường vụ Đảng ủy và chỉ huy K4 thống nhất chủ trương “Thông suốt cho bộ đội, kiên quyết bám trụ lâu dài, dựa vào dân, làm tốt ngụy trang phòng tránh và đánh địch, hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu để góp phần đánh thắng giặc Mỹ xâm lược trong mọi tình huống mà trong đó từng chi bộ và mỗi một đảng viên là đầu tàu, gương mẫu, kiên định đi trước”.

Ở khu vực đánh phá hủy diệt của địch, các lực lượng của K4 tuy gặp nhiều khó khăn vẫn kiên cường bám trụ để chiến đấu và công tác. Các đơn vị rađa mỗi lần bị địch bắn tên lửa theo tín hiệu sóng phát làm hỏng ăngten, hỏng máy là nhanh chóng tìm cách sửa chữa, khôi phục để bảo đảm quan sát cảnh giới nắm tình hình mặt biển. Làm tốt công tác ngụy trang che phòng, thường xuyên thay đổi phương án hoạt động, không để lộ trận địa.

Trong chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc, các trạm rada của K4 ở khu vực địch đánh phá ác liệt nhất ngay từ đầu cho đến lúc kết thúc chiến tranh phá hoại. Các trạm này đã kiên cường, mưu trí hoàn thành tốt nhiệm vụ, góp phần phục vụ cho các quân binh chủng bắn chìm, bắn cháy nhiều tàu địch, bảo vệ giao thông vận tải và sự đi lại, làm ăn của nhân dân trên biển.

Các đơn vị tàu thuyền, ban ngày sơ tán ngụy trang phòng tránh, ban đêm ra biển hoạt động. Máy bay địch đánh thăm dò vào khu sơ tán ngụy trang của tàu, dù có tổn thất một số nhưng cơ bản ta vẫn giữ được lực lượng để hoạt động chiến đấu. Đến lúc này mục tiêu ném bom bắn phá của máy bay địch xem ra không có định trước mà cả ngày lẫn đêm. Chúng vừa sục sạo trinh sát, vừa đánh phá một cách tràn lan mang tính hủy diệt, nếu thấy một hiện tượng gì khả nghi là bắn phá. Đề phòng địch phát hiện, đánh phá những quả thủy lôi nặng từ 500 đến l.000kg có sức công phá lớn chuẩn bị đánh tàu khu trục địch đều phải để phân tán ngụy trang kỹ dọc bờ sông, để nếu địch có đánh trúng thì chỉ nổ một hai quả. Như vậy mà vẫn bị trúng đạn khi địch đánh vu vơ thăm dò bằng bom bi và đạn 20mm. Sở chỉ huy và cơ quan của K4 ở đâu đều có công sự tương đối vững chắc, ngụy trang bí mật nên nhiều lần địch ném bom gần vẫn giữ được tương đôi an toàn. Việc đánh phá của địch như vậy nên không thể xác định được khu vực nào, vị trí nào là an toàn, mà chỉ có dựa vào công sự vững chắc và không để lộ mục tiêu.

Mặc dù có khó khăn nhiều mặt, nhưng tập thể cán bộ, chiến sĩ K4 kể cả các đơn vị phối thuộc vẫn luôn kiên cường để hoàn thành nhiệm vụ đánh giặc giữ nước ở nơi tuyến đầu địa bàn Quân khu 4.

Bị thất bại nặng trong cuộc tập kích chiến lược đường không vào Hà Nội. Hải Phòng (từ 18 đến 30-12-1972). thất bại trong chiến tranh phá hoại ở miền Bắc và nguy cơ chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” ở miền Nam bị phá sản, trước cuộc tiến công của quân dân miền Nam, chính quyền Ních-Xơn phải tuyên bố ngừng ném bom bắn phá, phong tỏa miền Bắc nước ta. Ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định “Về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam” được ký kết tại Pari.

Thế nhưng, 15 ngày trước khi tuyên bố ngừng ném bom, bắn phá phong tỏa miền Bắc, giặc Mỹ điên cuồng dồn sức ném bom rất ác liệt, gây thiệt hại lớn về người và của ở một số địa phương trên địa bàn Quân khu 4. Đáng chú ý vào lúc 17 giờ ngày 2 tháng 1 năm 1973, chúng dùng máy bay B52 ném bom rải thảm quê tôi, làng Thọ Linh, xã Quảng Sơn, Quảng Trạch, Quảng Bình làm chết 105 người, bị thương 109 người, 150 nóc nhà bị phá hủy, có xóm nhà cửa bị xóa sạch. Đau thương dồn nén lại, căm thù giặc cao độ, quân và dân ta càng ra sức chiến đấu và sản xuất, quyết tâm đánh thắng kẻ thù tàn bạo.

Nhân đây, xin kể lại những khoảnh khắc của gia đình người lính trong chiến tranh. Những người vợ bộ đội, chồng đi vắng nên mọi việc gia đình đều phải tự đảm đang gánh vác. Nhà tôi lúc này có ba con: Mai Thị Hòa, Mai Thị Trâm, Mai Xuân Viễn và cuối năm 1973 có thêm bé gái Mai Thị Hiền. Tôi về ghé thăm nhà sau trận máy bay B52 giặc Mỹ ném bom vào làng tôi. Nhà tôi kể lại là lúc đó bom nổ dữ dội quá, con gái lớn của tôi 9 tuổi, đang cầm cái lược chuẩn bị chải đầu, hoảng quá cuống cuồng cứ chạy đi chạy lại kêu “Mẹ ơi! Mẹ ơi” mà không xuống hầm trú ẩn; đứa bé một tuổi thì khóc thét van mẹ; nhà tôi cũng không kịp đưa các cháu xuống hầm trú ẩn. May mà bom không rơi vào xóm nhà tôi.

Có một lần tôi về thăm nhà, đang đêm máy bay Mỹ ném bom vào xóm nhà tôi, lửa đang cháy nhà hàng xóm, chưa kịp nói gì đã thấy nhà tôi vơ lấy cái túi cứu thương, trời tối đen, chạy vội đến chỗ bị ném bom để làm nhiệm vụ cứu thương, mặc cho các con đang đòi khóc mẹ. Liên tưởng những cảnh đó, tôi vừa thương nhà tôi, vừa cảm phục những người phụ nữ Việt Nam. Không những đảm đang việc nhà mà còn không quản ngại bom đạn nguy hiểm, tích cực phục vụ công việc của tập thể trong thời buổi chiến tranh chồng đang ở bộ đội. Mình làm tròn nhiệm vụ trong quân đội, một phần cũng nhờ sự đảm đang của người vợ ở hậu phương.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Chín, 2021, 09:48:33 am
(https://i.imgur.com/iolaopo.jpg)

Bộ tư lệnh Quân chủng tiếp Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát, nguyên Tư lệnh Hải quân và chị Điểm, phu nhân đồng chí Phát

(https://i.imgur.com/doLX19N.jpg)

Với đồng chí Phó đô đốc Hoàng Hữu Thái, nguyên Tư lệnh Hải quân (bên phải) năm 1995

(https://i.imgur.com/NHgHdc3.jpg)

Được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996)

(https://i.imgur.com/ge2kWnU.jpg)

Tại Sở chỉ huy diễn tập “BĐ-97” hiệp đồng chiến đấu trên biển giữa Hải quân và Không quân. Người ngồi thứ 2 bên trái là đồng chí Nguyễn Văn Hiến – Phó Tham mưu trưởng Quân chủng (nay là Phó đô đốc, Tư lệnh Hải quân

(https://i.imgur.com/XjVIprK.jpg)

Đoàn đại biểu Đảng bộ Quân chủng Hải quân với các đồng chí lãnh đạo Quốc phòng tại Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ VI (1996)

(https://i.imgur.com/T682pqE.jpg)

Đoàn đại biểu Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam do Chủ tịch Lê Quang Đạo dẫn đầu thăm Quân chủng Hải quân


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Chín, 2021, 09:49:58 am
Chương bốn

THỜI HOA ĐỎ

Tháng 8 năm 1973, tôi được cử đi học ở Học viện Hải quân Liên xô, đào tạo cấp chiến thuật chiến dịch tại thành phố Lêningờrát (nay là thành phố Xanh Pêtécbua). Trong đoàn đi học lần này có đồng chí Huỳnh Kim - Phó tư lệnh Quân chủng, đồng chí Nguyễn Dưỡng - Tham mưu trưởng Quân chủng, đồng chí Phan Khắc Thứ - Chủ nhiệm Chính trị và một số đồng chí chỉ huy các đơn vị cùng một số đồng chí là trưởng phòng thuộc Bộ tham mưu Quân chủng Hải quân. Các đồng chí Viễn, Cổ là cán bộ từ Quân chủng Phòng không - Không quân chuyển về công tác ở Hải quân cũng cùng đi học trong đợt này.

Gần 10 năm sau khi kết thúc học đào tạo sĩ quan chỉ huy hải quân, hôm nay được trên cử đi học lớp chiến thuật chiến dịch, có điều kiện để nâng cao trình độ cán bộ chỉ huy Hải quân. Được học một nội dung, chương trình chất lượng cao với những giáo viên giàu kinh nghiệm giảng dạy của Học viện Hải quân Liên Xô, một nước có lực lượng hải quân tiên tiến vào bậc nhất, nhì thế giới, vì vậy mà đã giúp cho chúng tôi không những nắm được chiến thuật của từng binh chủng của Hải quân như tàu mặt nước, tàu ngầm, tên lửa, pháo binh bờ biển, hải quân đánh bộ, máy bay hải quân, tác chiến điện tử... với sử dụng binh khí kỹ thuật hiện đại, mà còn hiểu biết về tổ chức hiệp đồng chiến đấu giữa các binh chủng, nhất là công tác tham mưu chiến dịch hải quân. Kết thúc lớp học tôi đạt được kết quả loại giỏi.

Trong những tháng cuối của kỳ học, tin dồn dập về chiến thắng trên chiến trường miền Nam khiến anh em chúng tôi vô cùng phấn khởi. Phấn khởi bao nhiêu thì tâm trạng cũng sốt ruột bấy nhiêu, ước gì được kết thúc lớp học ngay bây giờ để về nước tiếp tục tham gia chiến đấu giải phóng miền Nam trong lúc này. Thế nhưng không có tình huống đó xảy ra, mà điều duy nhất là phải đạt được kết quả học tập tốt để phục vụ lâu dài trong quân đội.

Sau khi kết thúc khóa học, tôi trở về nhận nhiệm vụ Phó phòng Tác chiến Hải quân. Đến tháng 10 năm 1976, tôi được bổ nhiệm Trưởng phòng Tác chiến Bộ tham mưu Quân chủng Hải quân. Ngay khi nhận nhiệm vụ Phó trưởng phòng Tác chiến ở Bộ tham mưu Hải quân, tôi khẩn trương bắt tay vào công tác ngay.

Vào thời gian này, miền Nam mới vừa được giải phóng, lực lượng hải quân được triển khai rộng khắp trên cả nước, là sự đột biến lớn cả về nhiệm vụ cũng như phát triển lực lượng của Quân chủng Hải quân, là bước ngoặt của lịch sử Hải quân Việt Nam. Vì vậy, đi đôi với củng cố tổ chức lực lượng, phải khẩn trương xây dựng kế hoạch tác chiến bảo vệ biển, đảo trước mắt cũng như lâu dài. Cơ quan tác chiến phải làm việc với một cường độ lớn để đáp ứng phục vụ lãnh đạo, chỉ huy của Quân chủng về kế hoạch tác chiến, huấn luyện trong tình hình mới, không những chung của hải quân mà đặc biệt kiểm tra hướng dẫn các đơn vị triển khai ở các địa bàn mới được giải phóng thực hiện đúng ý định, quyết tâm và kế hoạch chiến đấu bảo vệ biển, đảo của Bộ tư lệnh Quân chủng.

Năm 1976, lần đầu tiên sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, cán bộ chỉ huy hải quân thực hiện một cuộc khảo sát tình hình biển đảo vùng mới giải phóng do Thiếu tướng Tư lệnh Nguyễn Bá Phát và Thiếu tướng Chính ủy Hoàng Trà dẫn đầu cùng một số cán bộ cơ quan của Quân chủng và cán bộ Hạm đội 171. Cuộc hành trình đường biển này sử dụng các tàu khu trục HQ-01 và HQ-03 là những tàu chiến lợi phẩm vừa thu được của địch khi giải phóng miền Nam. Xuất phát từ Quân cảng Sài Gòn, đoàn lần lượt qua quần đảo Ba-lụa, Hải tặc; các đảo Phú Quốc, Thổ Chu, Nam Du, Hòn Chuối, Hòn Khoai ở vùng biển Tây Nam, Hòn Trứng, Côn Đảo, Hòn Hải, Cù Lao Thu,  bán đảo Phước Mai, Lý Sơn, Cù Lao Chàm, Sơn Trà (Đà Nẵng) ở vùng biển phía đông và đông nam với hải trình dài hàng nghìn hải lý.

Quán triệt ý định của Tư lệnh Quân chủng cơ quan tác chiến chủ trì lập kế hoạch hành trình khảo sát này thông qua Bộ tư lệnh Quân chủng. Thực ra lần đầu tiên đi trên vùng biển đảo mới được giải phóng nên kế hoạch hành trình cũng chỉ dựa theo số liệu hải đồ chung, chứ chưa thể chi tiết, khi vào vùng nước của từng đảo. Tôi và một số cán bộ cơ quan tác chiến cùng đi với nhiệm vụ làm công tác tham mưu tác chiến phục vụ chuyến hành trình này.

Một chuyến đi biển dài ngày không đơn thuần khảo sát biển mà còn khảo sát địa hình các đảo và gặp thăm cơ sở Đảng, chính quyền và bộ đội ta mới triển khai làm nhiệm vụ ở vùng mới giải phóng. Vì vậy thời gian hành trình phải điều chỉnh từng ngày cho phù hợp với diễn tiến công việc thực tế. Chuyến đi khảo sát này được coi như chuyến đi lịch sử vì nó được thực hiện ngay sau ngày miền Nam được giải phóng có đầy đủ lãnh đạo, chỉ huy và các cơ quan của Quân chủng tham gia.

Ta sử dụng hai tàu chiến lợi phẩm, đồng thời còn sử dụng một số nhân viên kỹ thuật quân ngụy đảm nhiệm vận hành các thiết bị ở trên tàu mà chúng ta chưa kịp có người thay thế. Chúng tôi, những cán bộ tham mưu tác chiến có dịp khái quát thực tế tình hình một vùng biển rộng lớn ở miền Nam đất nước, rất thiết thực bổ ích cho nghiệp vụ chuyên môn của mình. Nói chung công tác kế hoạch tham mưu tác chiến phục vụ cho chuyến đi này có kết quả tốt. Thế nhưng có một tình huống hay có thể nói là một sự cố diễn ra suýt nữa mất an toàn là khi biên đội tàu đi qua eo biển Gành Rái, phía bắc đảo Phú Quốc đột nhiên bị pháo bờ bắn, nhiều quả đạn nổ cách tàu trên dưới 50m. Quan sát kịp thời phát hiện là đạn bắn từ bờ bắc đảo Phú Quốc. Chính là pháo của Trung đoàn 101, đơn vị phòng thủ đảo Phú Quốc thuộc Quân khu 9 vừa mới được Bộ Tổng tham mưu điều chuyển về trực thuộc Quân chủng Hải quân từ ngày 30 tháng 12 năm 1975 và đầu năm 1976 chuyển về trực thuộc Vùng 5 hải quân.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Chín, 2021, 09:50:28 am
Ngay lập tức, chỉ huy sở tại tàu gọi Trung đoàn 101 lệnh cho pháo ngừng bắn. Trước đó về kế hoạch tham mưu đã có thông báo kế hoạch đi qua khu vực này cho Vùng 5 cũng như Trung đoàn 101 để theo dõi bảo đảm an toàn. Nhưng chỉ huy Trung đoàn 101 không có thông báo cụ thể cho các đơn vị của mình nên mới xảy ra như vậy. May mà kỹ thuật bắn pháo kém nếu không, đạn trúng tàu thì cơ sự sẽ nguy hiểm biết chừng nào. Qua sự việc này tự kiểm điểm, chúng tôi thấy công tác tham mưu của mình có khuyết điểm là vạch kế hoạch nhưng thiếu kiểm tra việc tổ chức thực hiện của đơn vị, một bài học lớn cho những người làm công tác tham mưu tác chiến như chúng tôi.

Trước tình hình bọn phản động ở Campuchia (K) liên tục xâm phạm đánh phá vào lãnh thổ của Việt Nam ta, ngày 31 tháng 12 năm 1977, Chính phủ ta ra tuyên bố: “Do phía Campuchia liên tục xâm phạm lãnh thổ Việt Nam, nhân dân và lực lượng vũ trang Việt Nam ở vùng biên giới buộc phải chiến đấu tự vệ bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ, tính mạng và cuộc sống bình yên của mình...”.

Sau ngày miền Nam vừa mới được giải phóng biết bao công việc bề bộn và hết sức nặng nề của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta để ổn định tình hình xây dựng đất nước, bảo vệ thành quả cách mạng mới bắt đầu triển khai thực tế thì ở biên giới Tây Nam bọn phản động Campuchia: Pôn Pốt - Iêng Xari lại gây ra tình hình hết sức căng thẳng. Ngay trong tháng 5 năm 1975, chúng đã xua quân tấn công đảo Phú Quốc (3-5-1975); nổ súng khiêu khích ở biên giới đất liền (8-5-1975); đánh chiếm đảo Thổ Chu, tàn sát và bắt đi 500 dân thường Việt Nam (10-5-1975), và tiếp thời gian sau đó, tình hình hoạt động phá hoại, khiêu khích do chúng gây ra ở biển đảo Tây Nam ngày càng căng thẳng, như xua quân tập kích vào tuyến biên giới ở An Giang, Hồng Ngự, Đồng Tháp, Hà Tiên, Tịnh Biên, Châu Đốc.

Trên biển từ tháng 2 năm 1977, bọn phản động K cho tàu chiến xâm phạm trắng trợn vùng biển của ta ở khu vực phía bắc đảo Phú Quốc, Hòn Đốc... bắt giết ngư dân của ta; dùng pháo từ các đảo Kiến Vàng, Keo Ngựa, Tre Mắm bắn vào đảo Hòn Đốc của ta. Ngày 23 tháng 5 năm 1977, Bộ Quốc phòng chỉ thị cho các lực lượng phía Nam kiên quyết bảo vệ lãnh thổ của ta, không dung thứ bất cứ sự xâm lấn nào của lực lượng khiêu khích, phản động K vào lãnh thổ ta, đồng thời ta tôn trọng chủ quyền lãnh thổ của K. Ngày 11 tháng 6 năm 1977, Bộ Tổng tham mưu có chỉ thị về sẵn sàng chiến đấu đối với lực lượng thường trực.

Ngày 16 tháng 6 năm 1977, Bộ tư lệnh Quân chủng chỉ thị Vùng 5 hải quân tăng cường triển khai bố trí lực lượng bảo vệ vùng biển và phòng thủ các đảo Phú Quốc, Thổ Chu, Hòn Đốc... nơi hải quân đang đóng giữ. Hiệp đồng với các đơn vị bạn kiên quyết trừng trị mọi hoạt động xâm nhập phá hoại, lấn chiếm của tàu K trên vùng biển của ta. Đồng thời lệnh điều một tiểu đoàn hải quân đánh bộ ra Phú Quốc để phối hợp với Vùng 5 bảo vệ biển đảo ở vùng biển Tây Nam.

Ngày 6 tháng 12 năm 1977, đoàn cán bộ của Quân chủng do Tư lệnh Giáp Văn Cương dẫn đầu đi kiểm tra tình hình sẵn sàng chiến đấu ở Hòn Đốc. Là trưởng phòng Tác chiến của Quân chủng, tôi cũng đi trong đoàn này. Sáng sớm, khi hai trực thăng Mi-8 chở đoàn vừa hạ cánh xuống trên đỉnh đảo Hòn Đốc, thì pháo cối của bọn phản động K từ đảo Keo Ngựa bắn sang tới tấp, có quả đạn nổ gần máy bay đang đậu. Tưởng chúng chỉ bắn khiêu khích, nhưng không, chúng bắn liên tiếp. Sợ hỏng máy bay, đồng chí Cương lệnh cho hai chiếc trực thăng rời đảo về căn cứ dù chúng bắn nhiều, nhưng ta vẫn kiềm chế không phản pháo ngay, tránh để lộ trận địa pháo, nhưng chúng không dừng, buộc ta phải đánh trả. Đồng chí Cương bảo tôi chuyển lệnh cho pháo đảo của ta bắn diệt các vị trí pháo của địch. Cả đại đội pháo 85mm của ta đồng loạt nổ súng, sau những phút cầm cự yếu ớt, pháo địch bị diệt, im bặt. Qua đây thấy rõ tính chất điên cuồng hiếu chiến của bọn phản động Pôn Pốt - Iêng Xari.

Năm 1978, tình hình biên giới phía Bắc và biên giới Tây Nam hết sức căng thẳng, ở biên giới đất liền và vùng biển Tây Nam, bọn phản động Pôn Pốt - Iêng Xari ráo riết hoạt động phá hoại khiêu khích mà đỉnh cao nhất là chúng đã xua quân tiến công xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới, tàn sát dã man đồng bào ta.

Thực hiện chỉ thị của cấp trên, Bộ tư lệnh Hải quân chủ trương: Tập trung lực lượng của Quân chủng vừa chuẩn bị tốt ở hướng bắc, hướng đông, vừa kiện toàn củng cố các đơn vị phía Nam, khẩn trương chuẩn bị tốt cơ sở vật chất, vũ khí, phương tiện chiến đấu, nâng cao chất lượng sẵn sàng chiến đấu mọi mặt của bộ đội quyết tâm giành thắng lợi khi xảy ra chiến sự.

Để phục vụ công tác sẵn sàng chiến đấu của Quân chủng, cơ quan tác chiến của Quân chủng, thực hiện chỉ thị của Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân chủng mà trực tiếp là sự chỉ đạo của Tư lệnh và Tham mưu trưởng, tiến hành làm các kế hoạch tác chiến tiến công đổ bộ bằng đường biển và chống địch đổ bộ đường biển, kế hoạch phòng thủ, bảo vệ chủ quyền vùng biển và các đảo...

Tiếp theo là làm kế hoạch huấn luyện diễn tập nâng cao trình độ kỹ chiến thuật tác chiến của bộ đội, cũng như qua thực tế, Quân chủng sẽ điều chỉnh bố trí lực lượng chiến đấu phù hợp từng khu vực.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Chín, 2021, 09:51:04 am
Trước tình hình rất khẩn trương đó, đất nước sau chiến tranh còn gặp nhiều khó khăn về cơ sở vật chất kỹ thuật cũng như sinh hoạt, nhưng vẫn phải tổ chức các cuộc diễn tập của bộ đội rất tốn kém để nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu kịp thời cùng các quân binh chủng chống mọi tấn công của địch. Phòng tác chiến là cơ quan trung tâm làm tham mưu kế hoạch tổ chức các cuộc diễn tập theo chủ trương và ý định của Bộ tư lệnh Quân chủng. Một vấn đề lớn là làm tham mưu kế hoạch sao cho phù hợp sát với yêu cầu vừa phòng thủ tốt tại chỗ, vừa sẵn sàng tấn công địch trong mọi trường hợp. Do yêu cầu khẩn trương của tình hình nên tôi cùng anh em trong phòng tác chiến làm việc không quản ngày, đêm để đáp ứng với sự chỉ đạo của Bộ tư lệnh Quân chủng. Các cuộc diễn tập phòng thủ các đảo Phú Quốc, Hòn Đốc; diễn tập đánh chiếm lại đảo khi bị địch chiếm gồm nhiều lực lượng tàu, hải quân đánh bộ, lực lượng phòng thủ đảo... tham gia được diễn ra ở vùng biển Tây Nam, suốt từ giữa năm 1977 đến đầu năm 1978. Cơ quan tác chiến đã cùng hiệp đồng với các cơ quan khác của Quân chủng phục vụ có kết quả tốt theo yêu cầu sẵn sàng chiến đấu.

Sang năm 1978, khi bọn phản động Pôn Pốt - Iêng Xari đem quân tấn công xâm lược giết hại đồng bào ta ở biên giới đất liền ngày một leo thang, thì trên vùng biển Tây Nam chúng đem tàu thuyền chiến xâm nhập vào vùng biển của ta hoạt động khiêu khích, bắt và bắn giết ngư dân ta, nhất là ở khu vực biển Phú Quốc, Hòn Đốc gây nên tình hình rất căng thẳng. Trên cơ sở kế hoạch bảo vệ vùng biển đảo đã được xây dựng, lực lượng tàu của Hạm đội 171, Vùng 5 và lực lượng phòng thủ đảo đã nhiều lần chặn đánh diệt nhiều tàu của bọn phản động Campuchia xâm nhập quấy phá ở vùng biển của ta.

Qua những lần đầu chặn đánh tàu địch, tôi và anh em ở phòng tác chiến của Quân chủng cùng cán bộ Vùng 5 và Hạm đội 171, trực tiếp cùng cán bộ chỉ huy tàu kịp thời tổ chức kiểm điểm rút kinh nghiệm về thủ đoạn hoạt động liều lĩnh của địch và kỹ chiến thuật chiến đấu của ta phục vụ cho sự chỉ đạo tác chiến của Bộ tư lệnh Quân chủng trong việc bảo vệ vững chắc vùng biển đảo ở khu vực biển Tây Nam. Trong tháng 4 và 5 năm 1978, các tàu chiến đấu của Vung 5 và Hạm đội 171 đã chặn đánh và bắn chìm 12 tàu của bọn phản động Pôn Pốt - Iêng Xari, khi chúng lợi dụng đêm tối xâm nhập bắn phá sâu vào vùng biển của ta.

Trong thời điểm rất khẩn trương, song song với việc chống tàu địch xâm nhập quấy phá trên vùng biển Tây Nam, dưới sự chỉ đạo của Bộ tư lệnh Quân chủng, cơ quan tác chiến của Quân chủng đã cùng với các cơ quan khác trong Bộ tham mưu và các Cục khác, giúp Vùng 5 làm kế hoạch tăng cường khả năng phòng thủ ở các đảo Phú Quốc, Hòn Đốc, Thổ Chu, trong đó có việc tăng cường bố trí lực lượng pháo 130mm, 105mm, 85mm và pháo cao xạ 37mm trên các đảo. Rất gần với các đảo của địch, do đó việc đưa pháo vào trận địa không có bến cặp tàu và đường kéo pháo làm sẵn, có nơi là rừng như ở đảo Phú Quốc, lại phải tiến hành vào ban đêm để giữ bí mật nên gặp rất nhiều khó khăn, tốn nhiều thời gian và công sức.

Tôi nhớ khi đưa pháo 130mm của Tiểu đoàn 21 do đồng chí Kính làm tiểu đoàn trưởng vào Gành Dầu, bắc đảo Phú Quốc, tiến hành suốt cả đêm đến sáng mà pháo chưa được kéo hết vào các trận địa vì phải vượt qua đường nhiều gốc cây và đất lún. Trong những lúc này không chỉ chúng tôi là cơ quan tác chiến và chỉ huy trưởng Vùng 5 như đồng chí Nguyễn Dưỡng phải theo sát đơn vị mà ngay cả Tư lệnh Giáp Văn Cương cũng theo sát trực tiếp chỉ đạo đơn vị thực hiện kế hoạch kéo pháo vào trận địa. Cán bộ, chiến sĩ quên cả mệt nhọc, ai cũng biểu lộ vui vẻ, phấn khởi khi hoàn thành được nhiệm vụ.

Kế hoạch tăng cường lực lượng Vùng 5 đã đạt được như: có Hải đoàn tàu 127 (đến tháng 12-1979 là Lữ đoàn tàu 127) mới thành lập, Trung đoàn bộ binh 101 được nâng lên thành lữ đoàn, có các tiểu đoàn phòng thủ ở các đảo Hòn Đốc, Thổ Chu... Đến lúc này sức chiến đấu bảo vệ biển đảo của Vùng 5 hải quân ở khu vực biển Tây Nam đã được tăng lên nhiều. Các đơn vị của Vùng 5 đã chuyển vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao, làm nòng cốt phối hợp với các lực lượng bảo vệ vững chắc vùng biển đảo của tổ quốc.

Thời gian này tình hình biên giới Tây Nam nóng lên từng ngày. Pôn Pốt - Iêng Xari cho quân đột nhập phá hoại, bắn giết dân ta nhiều nơi ở biên giới, chúng gây ra cảnh tàn sát hết sức dã man. Chấp hành lệnh của Bộ Tổng tham mưu. Từ ngày 16 tháng 4 năm 1978, Lữ đoàn hải quân đánh bộ 126 làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới chống xâm lược của bọn phản động Pôn Pốt ở khu vực Châu Đốc (An Giang) dọc tuyến kênh Vĩnh Tế. Với trách nhiệm là Trưởng phòng Tác chiến của Quân chủng, tôi cùng đi với lữ đoàn thực hiện nhiệm vụ này. Chỉ huy lữ đoàn có đồng chí Trần Sĩ Kịch.

Dọc tuyến sát kênh Vĩnh Tế phần lớn là ruộng lúa đã gặt, cánh đồng trơ trọi rất dễ lộ, nên mọi việc bố trí phòng thủ làm công sự trận địa đều phải tiến hành vào ban đêm. Bọn Pôn Pốt cũng thường đột nhập bắn phá vào ban đêm. Vì vậy đồng bào phải sơ tán hết. Từ khi có Lữ đoàn 126 về làm nhiệm vụ ở đây, chặn diệt được quân xâm nhập đánh phá của địch, bảo vệ được vùng biên giới nên đồng bào rất tin tưởng, dần dần hồi cư tiếp tục công việc sản xuất và ổn định cuộc sống. Trong 5 tháng làm nhiệm vụ bảo vệ vùng biên giới Lữ đoàn 126 đã chặn đánh địch nhiều trận, diệt hơn 1.000 tên địch.

Từ cuối năm 1977, tình hình tranh chấp chủ quyền ở vùng biển đảo của ta ngày càng tăng. Từ sau ngày giải phóng năm 1975, Hải quân được trên giao nhiệm vụ làm nòng cốt bảo vệ chủ quyền lãnh thổ trên vùng biển đảo rộng lớn của Tổ quốc mà trong đó khu vực quần đảo Trường Sa là một trọng điểm. Vào thời gian đó, chúng ta đã đóng giữ trên năm đảo: Song Tử Tây, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa, nhưng để ổn định tình hình khu vực này, chúng ta chủ trương không tổ chức đóng thêm các đảo nào nữa.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Chín, 2021, 09:52:12 am
Ngày 12 tháng 5 năm 1977, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam của ta đã ra tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Trước tình hình tranh chấp chủ quyền ở vùng biển đảo ngày càng nóng lên nhất là ở khu vực quần đảo Trường Sa, chúng ta vẫn luôn chủ trương giải quyết mọi tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, yêu cầu các bên không nên làm gì gây thêm tình hình căng thẳng, làm mất ổn định tình hình ở khu vực này.

Thế nhưng ngày 2 tháng 3 năm 1978, Phillipin lại mở rộng chiếm đóng bằng việc đem quân đóng giữ thêm đảo Loai-ta tây (Panata). Một số nước khác cũng đem tàu dưới nhiều dạng, nhiều hình thức tiến hành hoạt động trinh sát và lén chôn ngầm bia chủ quyền trên một số đảo và bãi đá ngầm... Những hành động trên ngày càng làm cho việc tranh chấp chủ quyền ở khu vực quần đảo Trường Sa tăng thêm căng thẳng, phức tạp.

Trước tình hình đó, để bảo vệ được chủ quyền lãnh thổ. Quân chủng Hải quân sau khi cân nhắc kỹ đã đề nghị trên cho phép đóng giữ một số đảo chưa có người đóng giữ gần các đảo ta đang đóng giữ, vì nếu để đối phương lấn chiếm đóng giữ làm việc đã rồi, sẽ rất khó khăn cho ta. Không những ta không bảo vệ được chủ quyền ở những đảo đó mà còn trở thành bị bao vây trong tình hình tranh chấp chủ quyền ở khu vực quần đảo Trường Sa ngày càng gay gắt. Việc đóng giữ thêm một số đảo lúc này phải được cân nhắc kỹ vì nó có quan hệ đến ổn định tình hình khu vực đang tranh chấp. Đồng chí Giáp Văn Cương, có tôi tháp tùng trực tiếp báo cáo xin ý kiến của Bộ trưởng Quốc phòng và Tổng Bí thư về việc này.

Sau khi được trên cho phép, dưới sự chỉ đạo của Bộ tư lệnh Quân chủng, cơ quan tác chiến phối hợp với Vùng 4 lập kế hoạch sử dụng các tàu HQ601, HQ605, HQ606... của Lữ đoàn 125 cùng cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 146 tiến hành đóng giữ trọn vẹn các đảo: An Bang (10-3-1978), Sinh Tồn Đông (Gơ-ri-sân) (15-3-1978), Phan Vinh (Hòn Sập) (30-3-1978); Thuyền Chài (1-4-1978); Trường Sa Đông (Đá Giữa) (2-4-1978).

Có một tình huống xảy ra, là sau mấy ngày ta đóng giữ đảo An Bang, Mailaixia đã đưa tàu chiến và tàu đổ bộ đến uy hiếp bằng cách dàn hàng ngang từ xa chĩa súng tiến vào đảo nhiều lần, nhưng bộ đội ta do đồng chí Dân chỉ huy vẫn vững vàng sẵn sàng chiến đấu, tránh khiêu khích, giữ vững liên lạc với sở chỉ huy, cờ đỏ sao vàng vẫn bay phần phật trước gió. Sau nhiều lần uy hiếp dọa dẫm không được, đối phương phải rút lui.

Để đề phòng tranh chấp, song song với việc đóng giữ các đảo nói trên, từ tháng 3 đến tháng 5 năm 1978, chúng tôi cùng cơ quan quân báo lập kế hoạch khảo sát 19 bãi đá ngầm và đồng chí Võ Xuân Triều phó phòng Quân báo được phân công trực tiếp chỉ huy đội khảo sát này. Qua khảo sát có thêm nhiều tư liệu, thông tin để Quân chủng bổ sung vào kế hoạch tác chiến phòng thủ bảo vệ biển đảo của ta.

Cũng trong năm 1978, khi Đảng và Nhà nước Việt Nam và Liên Xô ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác toàn diện, trong đó có hợp tác quốc phòng, an ninh, Quân chủng Hải quân có trách nhiệm làm tham mưu cho Nhà nước, Bộ Quốc phòng và trực tiếp bàn bạc với bạn về quy chế hoạt động trong việc bảo đảm kỹ thuật cho tàu hải quân của bạn ở vịnh Cam Ranh. Đồng chí Nguyễn Bá Đạt, chánh văn phòng Đảng ủy – Bộ Tư lệnh Quân chủng và tôi được cử làm chuyên viên phục vụ cho Bộ tư lệnh đàm phán với Hải quân Liên Xô. Tinh thần hữu nghị nói chung chung thì dễ, nhưng đi vào cụ thể nhiều vấn đề liên quan đến chủ quyền đến an ninh trật tự, đến các mặt bảo đảm hoạt động... mới thấy hết sức phức tạp, mặc dầu ta và bạn ai cũng hiểu dựa trên tình đồng chí để bàn bạc, đàm phán. Qua đợt phục vụ này tuy vất vả hàng tháng trời nhưng cũng tạo điều kiện cho mình được cọ xát nâng cao trình độ nhận thức, nghiệp vụ.

Thấy trước, không chóng thì chầy, tình hình tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Trường Sa cũng sẽ diễn ra phức tạp, uy hiếp đến phòng giữ chủ quyền của ta nên từ tháng 3 năm 1976, Quân chủng Hải quân đã khẩn trương triển khai nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu bảo vệ biển đảo, trong đó có một yêu cầu cấp bách là phải xây dựng ở đảo các công trình, công sự chiến đấu. Trung đoàn công binh 83 là đơn vị đầu tiên được giao làm nhiệm vụ thi công xây dựng. Cơ quan tác chiến và công binh của Quân chủng có nhiệm vụ không những làm kế hoạch, thiết kế công trình mà đã phối hợp với Vùng 4 trực tiếp tổ chức thực hiện và liên tục theo dõi chỉ đạo kiểm tra đôn đốc công việc này. Lần đầu tiên xây dựng công trình, công sự trực tiếp với nước biển ở đảo san hô, chưa có kinh nghiệm nên chưa bảo đảm chất lượng và tuổi thọ của công trình. Qua thực tế là những bài học sống động nâng cao nhận thức, trình độ cho cán bộ tham mưu chỉ huy chúng tôi về những yêu cầu kỹ thuật xây dựng công sự ở đảo san hô.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Chín, 2021, 09:52:22 am
Trong khi ở biên giới Tây Nam đang phải chống tấn công xâm lấn của bọn phản động Pôn Pốt - Iêng Xari, việc tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Trường Sa ngày càng tăng lên thì tình hình ở biên giới và vùng biển phía Bắc cũng diễn biến phức tạp, đòi hỏi phải khẩn trương tăng cường sẵn sàng chiến đấu. Quân chủng Hải quân có nhiệm vụ hiệp đồng với các quân khu ven biển bảo vệ chủ quyền biển đảo ở vịnh Bắc Bộ, đồng thời chống địch tấn công đổ bộ đường biển, đặc biệt bảo vệ quần đảo đông bắc và đảo Bạch Long Vĩ.

Tháng 9 năm 1978, sau khi chỉ đạo làm các công việc sẵn sàng chiến đấu ở vùng biển Tây Nam và Trường Sa, Tư lệnh Giáp Văn Cương chỉ thị cho tôi ra Hải Phòng và giao cho tôi làm kế hoạch đi khảo sát vùng biển phía Bắc. Đồng chí Nguyễn Ngọc Văn - Phó phòng Tác chiến vào thay tôi cùng một số cán bộ tác chiến tiếp tục phục vụ chỉ đạo công tác sẵn sàng chiến đấu của Bộ tư lệnh Quân chủng ở khu vực biển Tây Nam. Tham gia khảo sát cùng Tư lệnh còn có một số cán bộ của Quân chủng và chỉ huy Vùng 1. Qua các khu vực từ Trà Cổ, Mũi Ngọc, các đảo: Vĩnh Thực, Cái Chiên, Vạn Mặc, Vạn Vược, Bò Vàng, Đá Dựng, Thoi Dây, Cái Bầu, Hòn Chín, Vạn Hoa, Sậu Đông... Cho đến các đảo Thanh Lân, Cô Tô, Ngọc Vừng, Thượng, Hạ Mai, Cát Bà, Long Châu; đến các luồng lạch ở các Cửa Tán, Cửa Đại, Cửa Tiểu, Cửa Mô, Cửa Nội, Cửa Đối, Lạch Miều, Cửa Vạn...

Đoàn không chỉ khảo sát địa hình để làm kế hoạch tác chiến, mà còn quan hệ tìm hiểu tình hình các đơn vị phòng thủ bảo vệ tại một số đảo của Sư đoàn 242, Đặc khu Quảng Ninh để có quan hệ trong hiệp đồng chiến đấu. Qua nhiều địa hình phức tạp của từng đảo, bến bãi, luồng lạch để bổ sung đầy đủ hơn vào tình hình và số liệu mà trước đây ta đã có.

Cơ quan tác chiến chủ trì phối hợp với một số cơ quan khác phục vụ Bộ tư lệnh Quân chủng làm kế hoạch tác chiến và mệnh lệnh chiến đấu cho các đơn vị với yêu cầu rất khẩn trương vì tình hình bảo vệ biên giới đất liền cũng như vùng biển phía Bắc đang nóng lên từng ngày.

Từ tháng 10 năm 1978, Vùng 1, Vùng 3 hải quân và một số đơn vị đã nhận được mệnh lệnh mới của Tư lệnh Hải quân, khẩn trương triển khai kế hoạch sần sàng chiến đấu và hiệp đồng chiến đấu bảo vệ biển đảo. Khi chiến tranh nổ ra trên toàn tuyến biên giới phía Bắc (17-2-1979), trong nhiệm vụ của Quân chủng Hải quân hiệp đồng với các Quân khu chiến đấu bảo vệ biển đảo, cơ quan tác chiến của Quân chủng dưới sự chỉ đạo của Bộ Tham mưu tổ chức các bộ phận đi xuống cơ sở để theo dõi và giúp đỡ các đơn vị triển khai kế hoạch sẵn sàng chiến đấu. Khẩn trương đưa một số đơn vị mới được thành lập và nâng cấp vào làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu như các Lữ đoàn tàu 161, 170, 127, 125... Lữ đoàn hải quân đánh bộ 147, Trung đoàn 952 ở đảo Bạch Long Vĩ.

Ngày 7 tháng 1 năm 1979, đáp lời kêu gọi của nhân dân và Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, bộ đội tình nguyện Việt Nam cùng quân và dân nước bạn đánh đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt - Iêng Xari. Trong bộ đội tình nguyện Việt Nam có các lực lượng của Hải quân như Vùng 5, Hạm đội 171 và Lữ đoàn hải quân đánh bộ 126... cùng tham gia phối hợp giải phóng các cảng Ream, Kôngpông Xom, tỉnh Cô Công và các đảo. Sau ngày giải phóng, Vùng 5 hải quân giúp bạn Campuchia bảo vệ các đảo gồm có tiểu đoàn 562 ở đảo Cô Tang, 563 ở đảo Vai, 572 ở đảo Côrông - Salem, tiểu đoàn 573 ở đảo Phú Dự và đại đội 2 ở đảo Cô Công.

Tháng 12 năm 1979, khi Lữ đoàn 170 có kế hoạch hiệp đồng chiến đấu bảo vệ quần đảo đông bắc với Sư đoàn 242, đặc khu Quảng Ninh, tôi đến gặp đồng chí Thọ - Chỉ huy trưởng và đồng chí Phương - Chính ủy của Lữ đoàn tại khu vực đảo Chàng Ngọ để kiểm tra và thống nhất tổ chức sở chỉ huy phía trước của lữ đoàn ở khu vực này. Sau đó cùng với đoàn của cơ quan Quân chủng kiểm tra sẵn sàng chiến đấu của đảo Bạch Long Vĩ nhằm bổ sung kế hoạch chiến đấu và tăng cường lực lượng, nâng cao khả năng chiến đấu phòng thủ của đảo.

Lúc này do sự tàn phá của chiến tranh, nền kinh tế của đất nước chưa kịp phục hồi, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn. Các thế lực thù địch ra sức thực hiện âm mưu “chiến tranh phá hoại nhiều mặt” nhằm lũng đoạn cả về tư tưởng, chính trị cũng như phá hoại sự phục hồi kinh tế của ta. Chúng gây ra tình hình xâm nhập trái phép của bọn phản động chống phá quốc phòng an ninh và lừa đảo kích động một số người dân di cư bất hợp pháp ở nhiều địa phương ven biển, ảnh hưởng nhiều đến an ninh trật tự. Quân chủng Hải quân ngoài việc cảnh giác chống “chiến tranh phá hoại nhiều mặt” tác động vào đơn vị mình, còn có nhiệm vụ tích cực tham gia cùng các lực lượng chống mọi âm mưu hành động của chiến tranh phá hoại nhiều mặt, để gìn giữ an ninh trật tự ven biển, trên biển. Cũng từ năm 1979, trên vùng biển của ta ở vịnh Bắc Bộ cho đến vùng biển ở các tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, Quảng Ngãi có nhiều tàu cá nước ngoài lợi dụng tình hình xâm nhập hoạt động trái phép mà ta phải thường xuyên điều động lực lượng xua đuổi. Căn cứ vào kế hoạch của Bộ tư lệnh Quân chủng, cơ quan tác chiến phải thêm một mảng công việc cấp thiết để phục vụ Quân chủng kịp thời chỉ huy, chỉ đạo các đơn vị làm nhiệm vụ trước tình hình nói trên.

Việc chống xâm nhập tàu cá cửa nước ngoài đánh trộm hải sản trên vùng biển của ta hết sức phức tạp. Ở vịnh Bắc Bộ, hàng ngày có hàng trăm tàu cá nước ngoài xâm nhập. Chủ trương của ta là chỉ xua đuổi, tránh gây tình hình căng thẳng. Trên vùng biển rộng mênh mông, ta không thể đủ tàu để thường xuyên có mặt ở mọi khu vực và không có máy bay tuần tra. Vì vậy đuổi được khu vực này, họ lại xâm nhập vào khu vực khác.

Lực lượng rađa quan sát biển và tàu của ta phải liên tục hoạt động. Trực ban tác chiến cũng phải theo nhịp độ đó để phục vụ Quân chủng chỉ huy, chỉ đạo công việc này nhằm bảo vệ chủ quyền và an ninh trật tự trên biển.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Chín, 2021, 09:54:37 am
(https://i.imgur.com/N7tIoaN.jpg)

Được gặp Cố vấn Phạm Văn Đồng và cố vấn Võ Chí Công tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996)

(https://i.imgur.com/KgpnGFK.jpg)

Đại tướng Đoàn Khuê, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thăm và làm việc với Quân chủng Hải quân (1995)

(https://i.imgur.com/einy1YY.jpg)

Đồng chí Tổng Bí thư Đỗ Mười thăm Quân chủng Hải quân và qua máy VTĐ trực tiếp nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Trường Sa (1995)

(https://i.imgur.com/NcJMOQp.jpg)

Phó thủ tướng Trần Đức Lương, Trưởng ban chỉ đạo Nhà nước về Biển Đông và các hải đảo,
đến kiểm tra đóng tàu tuần tra cao tốc tại Nhà máy đóng tàu Sông Cấm, Hải Phòng (1997)


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Chín, 2021, 09:56:43 am
(https://i.imgur.com/QL2uZpY.jpg)

Với đồng chí Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu (1998)

(https://i.imgur.com/m8Xi6bQ.jpg)

Phó thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm Quân chủng Hải quân và dự lễ công bố quyết định của Thủ tướng Chính phủ,
thành lập Cục cảnh sát biển Việt Nam (1998)

(https://i.imgur.com/K9ubvrc.jpg)

Các đại biểu của Đảng bộ Quân đội dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII chụp ảnh lưu niệm trước Lắng Chủ tịch Hồ Chí Minh (1996)

(https://i.imgur.com/lPEmDxR.jpg)

Đồng chí Lê Danh Xương, Bí thư Thành ủy Hải Phòng thăm Bộ tư lệnh Hải quân (1998)


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Chín, 2021, 09:09:51 am
Chương năm

ĐƯỜNG RA BIỂN LỚN

Tháng 8 năm 1980, tôi được trên cử đi học trường quân sự cao cấp ở Liên Xô. Đang cuốn hút vào công tác chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu ở cơ quan tác chiến của Quân chủng, tin đó là một điều mừng vì được trên cho đi học để nâng cao trình độ phục vụ lâu dài trong quân đội. Tuy nhiên, tôi cũng có đôi chút băn khoăn là trong bối cảnh cơ quan tác chiến đã và đang phục vụ lãnh đạo, chỉ huy của Quân chủng vào thời điểm tình hình bảo vệ chủ quyền biển, đảo đang còn hết sức khó khăn phức tạp, rất tiếc là mình không được cùng anh em cán bộ tác chiến tiếp tục làm công việc này.

Thực ra, có mình hay không có mình chẳng có gì đáng nói, nhưng đây là một thứ tình cảm của trách nhiệm tự nhiên thông thường của người cán bộ khi thôi làm nhiệm vụ mà mình đang say sưa làm để nhận nhiệm vụ khác.

Trước khi đi học, tôi được phép về thăm nhà mấy ngày. Vừa được cử đi học, tôi lại vừa được đề bạt chức Phó tham mưu trưởng Quân chủng. Cổ nhân có câu “Phúc bất trùng lai” nhưng lần này đối với mình thì dường như là “Phúc trùng lai”, về thăm nhà trong hoàn cảnh kinh tế đất nước đang khó khăn, gia đình cũng nằm trong hoàn cảnh đó, nhưng một việc xảy ra khó khăn hơn là vợ tôi đột nhiên bị ốm nặng phải vào viện mổ cấp cứu, các con đang tuổi đi học, chưa tự lực được, phải nhờ người đem vợ đi bệnh viện cùng lúc tôi lên đường trở về đơn vị để kịp ngày đi học. Chưa hết, còn người anh ruột lại mắc bệnh hiểm nghèo đang ở vào giai đoạn cuối. Lúc này mới thật là “Họa vô đơn chí”.

Trước tình hình như vậy, có nên xin trên thôi đi học để lo những việc đột xuất của gia đình mới xảy ra. Việc công, việc tư những lúc này nhiều phân vân, khó xử. Cuối cùng tôi chọn phương án là xác định quyết tâm đi học theo quyết định của trên, mặc dù chân bước đi mà lòng chưa thanh thản.

Vào học trường Bộ Tổng tham mưu các lực lượng vũ trang Liên Xô mang tên Vô-rô-si-lôp(1) là trường đào tạo cán bộ quân sự cao cấp chỉ huy tham mưu cấp chiến dịch, chiến lược. Đây là Trường Quân sự binh hợp chủng thành cao cấp nhất của Liên Xô lúc bấy giờ. Các giáo viên giảng lý thuyết cho đến hướng dẫn bài tập đều là cấp tướng của các quân, binh chủng. Bắt đầu khóa học, chúng tôi được đi tham quan diễn tập thực binh ở một số đơn vị của các quân, binh chủng của bạn và ôn tập chiến thuật chiến đấu của sư đoàn bộ binh. Những việc đó, nhằm ôn tập kiến thức cơ sở cho học viên để đi vào học chỉ huy-tham mưu ở cấp cao hơn.

Đi học khóa này, có 11 người ở các quân binh chủng như các đồng chí Nguyễn Minh Long, Đỗ Phú Vàng, Lê Văn Nhân, Nguyễn Đáng, Từ Văn Biền ở bộ binh; Nguyễn Văn Thực ở Phòng không, Nguyễn Tiến Sâm ở Không quân, Nguyễn Văn Phác ở Tăng thiết giáp; Nguyễn Phượng ở Hậu cần. Hải quân có đồng chí Lê Kế Lâm và tôi. Cả 11 người học cùng một lớp. Học chung chương trình với sĩ quan các nước trong khối quân sự Vác-sa-va như: Cộng hòa dân chủ Đức, Tiệp Khắc, Ba Lan... Chương trình học tập rất nặng, ngoài việc học về chiến dịch, chiến lược quân sự, còn học lý luận chính trị, học lịch sử quân sự của Liên Xô và có cả phần giới thiệu về “chiến tranh cục bộ” ở Việt Nam, trong khi ở Việt Nam chúng tôi chưa kịp nghe phần tổng kết này.

Tài liệu học tập ở đây, qua những lần rút kinh nghiệm diễn tập quân sự của khối quân sự Vác-sa-va đều được sửa đổi bổ sung. Sau khi học lý thuyết về từng chiến dịch tấn công, phản công, phòng ngự... thì thực hành diễn tập trên bản đồ và ra thực địa kéo dài hàng tháng; diễn tập sử dụng lực lượng từng quân, binh chủng hợp thành. Khối lượng học nhiều như vậy, nhưng đều là tài liệu tối mật, tuyệt mật, hết giờ học ở lớp là phải gửi lại thư viện, tuyệt đối không được mang bất cứ thứ gì về nhà nghỉ, vì vậy không có gì để tranh thủ học thêm ngoài giờ được! Chúng tôi phải đề nghị nhà trường cho đến lớp học thêm một buổi vào ngày chủ nhật. Có điều, học trực tiếp bằng tiếng Nga, trong lúc trình độ ngoại ngữ của chúng tôi chưa thật thành thạo lắm, cho nên kết quả học tập, khi kiểm tra thi cử bị hạn chế phần nào. Bù lại, học viên Việt Nam hầu hết đã trải qua chiến đấu trong chiến tranh nên có kinh nghiệm thực tế giúp tiếp thu nhanh.

Có thể nói qua hai năm học tập ở trường này đã mở rộng và nâng cao kiến thức cho mình rất nhiều về chỉ huy-tham mưu chiến đấu hiệp đồng quân, binh chủng kể cả tổ chức huấn luyện diễn tập khi có nhiều lực lượng tham gia một cách chính quy bài bản.

Những ngày học ở Học viện Vô-rô-si-lốp, cường độ học tập rất cao, chế độ học tập của nhà trường rất nghiêm túc, chính quy, chặt chẽ. Đội ngũ giáo viên và cán bộ phụ trách có trình độ cao trực tiếp giảng dạy và hướng dẫn như thượng tướng Đi-mi-tơ-rốp, trung tướng Cô-lốp; các thiếu tướng Lô-ma-tren-cô, Ê-gu-rơ-nốp, Ma-kho-rin... Từ các giáo viên đến những người phục vụ học tập của nhà trường không những tận tình truyền đạt kiến thức cho học viên, giúp đỡ chúng tôi trong học tập với nghĩa tình thầy trò mà còn mang đậm tình đồng chí, tình hữu nghị giữa Liên Xô và Việt Nam. Tình nghĩa của những người anh em Xôviết mãi mãi đọng lại trong ký ức của chúng tôi.


(1) Vô-rô-si-lôp: Nguyên soái Liên Xô (1881-1969). Hai lần Anh hùng Liên Xô (1956, 1968), Anh hùng Lao động XHCN (1960). Trong chiến tranh giữ nước (1941-1945) ủy viên Ủy ban Quốc phòng và Đại bản doanh Bộ tổng tư lệnh tối cao, kiêm Tư lệnh phương diện quân... Chủ tịch Đoàn chủ tịch Xô viết tối cao Liên xỏ (1953-1960).


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Chín, 2021, 09:10:47 am
Tháng 7 năm 1982, tôi được bổ nhiệm làm Phó tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân chủng Hải quân. Tuy đã hiểu về nghiệp vụ và trước đây đã quen biết các đơn vị trong Quân chủng nhưng tình hình có nhiều thay đổi. Trong Bộ tư lệnh Quân chủng lúc bấy giờ có Tư lệnh Đoàn Bá Khánh, Chính ủy Trần Văn Giang và các anh Nguyễn Dưỡng - Phó tư lệnh phụ trách công tác huấn luyện; Huỳnh Kim phụ trách hậu cần; Hoàng Phúc phụ trách kỹ thuật; Phạm Huấn phụ trách lục quân của hải quân.

Mới thay đổi chức trách, nhiệm vụ nên tôi phải có thời gian tiếp cận các anh trong Bộ tư lệnh cũng như các đơn vị trong Quân chủng để hiểu thêm tình hình và tranh thủ sự giúp đỡ để hoàn thành nhiệm vụ. Thời gian này Quân chủng đang tổng kết công tác huấn luyện quân sự năm 1982 và chuẩn bị cho cuộc diễn tập chỉ huy-tham mưu có thực binh bắn đạn thật hiệp đồng giữa hải quân với không quân theo kế hoạch của Bộ Tổng tham mưu - Bộ Quốc phòng với tên gọi là diễn tập BM83 vào đầu tháng 3 năm 1983. Ngoài diễn tập chỉ huy-tham mưu trên bản đồ thì có huấn luyện diễn tập thực binh phân đoạn của từng phân đội, từng binh chủng về chiến, kỹ thuật, trước khi đi vào diễn tập thực binh tổng hợp hiệp đồng quân, binh chủng.

Tham gia bắn đạn thật của hải quân có tàu tên lửa 205U, tàu phóng ngư lôi 206, đơn vị tên lửa bờ biển; không quân có máy bay MiG-21, máy bay vận tải - ném bom AN-26, máy bay trực thăng vũ trang Mi-24. Đây là cuộc diễn tập hiệp đồng giữa hải quân và không quân với quy mô lớn nhất từ trước cho đến lúc này với sự tham gia hàng chục tàu và máy bay các loại, cùng với việc sử dụng ba tàu của hải quân làm bia bắn đạn thật ở khu vực biển Hải Phòng - Thái Bình; có sự chỉ đạo, kiểm tra của Bộ Tổng tham mưu - Bộ Quốc phòng mà trực tiếp là Tổng Tham mưu trưởng Lê Trọng Tấn và đặc biệt có sự quan sát diễn tập của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Đây là lần đầu tiên đoàn tên lửa bờ biển của hải quân ta tiến hành bắn đạn thật, phải có sự chuẩn bị tốt không những về kỹ thuật, vũ khí mà cả kế hoạch bảo đảm an toàn trên vùng biển rộng có nhiều tàu, thuyền của dân ta cũng như của nước ngoài hoạt động.

Quân chủng Hải quân được giao nhiệm vụ chỉ huy cuộc diễn tập này. Đồng chí Chuẩn đô đốc Đoàn Bá Khánh - Tư lệnh Hải quân là người chỉ đạo và Đại tá Nguyễn Dưỡng - Phó tư lệnh về huấn luyện quân sự được giao nhiệm vụ chỉ huy cuộc diễn tập này. Mặc dù mới nhận nhiệm vụ, không nằm trong Ban chỉ đạo cuộc diễn tập nhưng với cương vị là Đại tá Phó tư lệnh Tham mưu trưởng, tôi và đồng chí Thượng tá Lê Kế Lâm - Phó tham mưu trưởng kiêm Trưởng phòng tác chiến vẫn chủ động cùng với đồng chí Nguyễn Dưỡng tích cực khẩn trương chuẩn bị cuộc diễn tập. Khi giữa chừng làm công tác chuẩn bị thì cũng bất ngờ tôi được trên chỉ định thay đồng chí Dưỡng trực tiếp chỉ huy cuộc diễn tập này.

Được sự đồng thuận và ủng hộ của các đồng chí trong Bộ tư lệnh Quân chủng và anh em trong cơ quan tham mưu và tôi cũng tự nhận thức được đây cũng là một dịp tốt để học tập, thử thách, rèn luyện, cố gắng làm tốt chức trách của mình. Được sự ủng hộ của mọi người và sự nghiêm chỉnh chấp hành kế hoạch diễn tập của các lực lượng tham gia diễn tập nên việc chỉ huy diễn tập đúng theo kế hoạch, đạt kết quả rất tốt.

Việc phối hợp diễn tập giữa các tàu hải quân cũng như máy bay của không quân diễn tiến đúng theo kế hoạch hiệp đồng. Các tên lửa tàu và tên lửa bờ biển của hải quân đều bắn trúng mục tiêu. Những quả đạn tên lửa P15Y từ tàu tên lửa liên tiếp bay lao vào mục tiêu nhấn chìm tàu bia. Những loạt bom từ máy bay AN-26 và đạn rốc két từ máy bay trực thăng Mi-24 dội vào mục tiêu trông rất đẹp mắt. Đồng chí Phùng Thế Tài - Phó tổng tham mưu trưởng nhận xét: “Việc tổ chức chỉ huy diễn tập này rất tốt. Những người khó tính nhất cũng không thể có lời chê được”.

Có một tình huống gay cấn là còn hơn một giờ nữa là đến giờ G bắn đạn thật mà tổ bốn người đi định vị tàu bia cho máy bay ném bom và bắn tên lửa vẫn chưa rời khỏi tàu bia, rất nguy hiểm vì ở khu vực đặt tàu bia có sóng cồn lớn nên tàu làm nhiệm vụ thu quân ở tàu bia không thể cặp vào tàu bia được để thu quân. Một việc xảy ra ngoài kế hoạch, nếu không kịp thời khắc phục sẽ lỡ kế hoạch diễn tập và mất an toàn. Vì vậy chỉ huy diễn tập phải điều máy bay trực thăng nhanh chóng đến cẩu tổ chuẩn bị bia rời khỏi tàu bia. Vừa giải quyết xong việc này thì cũng vừa đến giờ phát hỏa. Cả sở chỉ huy thở phào sau những phút căng thẳng.

Công tác bảo đảm an toàn cho bắn đạn thật trên biển là một việc cực kỳ khó khăn do ta chưa quản lý được hết tàu thuyền làm ăn của dân. Mặc dù được thông báo trước là cấm tàu thuyền vào khu vực bắn, nhưng vì chưa nhận thức hết sự nguy hiểm nên vẫn có thuyền dân lén lút ra biển hành nghề. Đạn tên lửa dễ lao vào bất kỳ tàu thuyền nào đang ở trong tuyến bay của tên lửa. Kết hợp với lực lượng làm nhiệm vụ bảo đảm “sạch” trường bắn và người chỉ huy chọn thời điểm kịp thời ra lệnh bắn, khi đã sạch trường bắn phải hết sức đúng lúc để bảo đảm an toàn; khoảng thời gian đó phải tính từng phút từng giây do điều kiện thực tế buộc ta phải làm như vậy.

Công tác an toàn cho bắn đạn thật hôm đó đã được bảo đảm tuyệt đối. Nhìn chung, đây là một cuộc diễn tập lớn, có nhiều lực lượng của hải quân, không quân phối hợp bắn đạn thật có nhiều mục tiêu trên một trường bắn rộng lớn, nhưng nhờ sự nỗ lực quyết tâm của cán bộ, chiến sĩ, có sự chuẩn bị chu đáo mọi mặt, nên đã thành công hết sức tốt đẹp.

Cũng trong năm 1983, Hải quân tham gia diễn tập chỉ huy tham mưu cấp chiến dịch, chiến lược toàn quân do Bộ Tổng tham mưu chủ trì, trong đó có luyện tập kiểm tra làm công tác tham mưu theo phương pháp song song và nối tiếp theo từng chức trách của cán bộ chỉ huy tham mưu đang thực tế đảm nhiệm. Lúc này đồng chí Đoàn Bá Khánh là Tư lệnh và tôi Phó tư lệnh Tham mưu trưởng. Cán bộ tham mưu có đồng chí Lê Kế Lâm - Phó tham mưu trưởng, Trưởng phòng Tác chiến mới được bổ nhiệm một lần cùng tôi về Bộ tham mưu cũng được phân công tập trung vào việc điều hành diễn tập.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Chín, 2021, 09:11:09 am
Cuộc diễn tập diễn ra nhiều ngày, chỉ huy tham mưu Quân chủng, không những trình diễn để cấp trên kiểm tra mà còn phải hướng dẫn, kiểm tra tất cả các cơ quan của Quân chủng về công tác tham mưu chỉ huy của từng ngành, từng bộ phận, làm đầy đủ mọi việc, mọi văn kiện về công tác chỉ huy tham mưu.

Cuộc diễn tập công tác chỉ huy tham mưu lần này có thể nói lần đầu của toàn quân có đủ các quân binh chủng tham gia với quy mô lớn. Tư lệnh Đoàn Bá Khánh và tôi, từng người được báo cáo trình diễn, kiểm tra ở Bộ Tổng tham mưu với kết quả tốt. Các cơ quan của Quân chủng với sự tập trung huấn luyện cũng đã trình diễn kiểm tra tốt trước Tư lệnh Quân chủng. Cuộc diễn tập đã đem lại kết quả tốt, trình độ chỉ huy tham mưu của cán bộ được nâng lên nhiều.

Năm 1983, Bộ tham mưu Hải quân được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhì, do có nhiều thành tích trong xây dựng và chiến đấu. Đây là kết quả của một quá trình phấn đấu vì nhiệm vụ của toàn thể cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên quốc phòng của Bộ tham mưu Quân chủng. Tôi mới về lại làm tham mưu trưởng cũng rất vinh dự.

Cuối năm 1983, triển khai Nghị quyết của Bộ Chính trị Trung ương Đảng “Về nhiệm vụ củng cố quốc phòng, xây dựng lực lượng vũ trang bảo vệ Tổ quốc trong những năm 1983-1990” và Chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng về cuộc vận động “Phát huy bản chất tốt đẹp và nâng cao sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân trong ba năm 1983-1985”, Bộ tham mưu chủ trì lập kế hoạch tổ chức lực lượng hải quân trong ba năm (1983-1985) thông qua Đảng ủy và Tư lệnh Quân chủng để báo cáo Bộ Quốc phòng. Trong đó ngoài tăng cường một số đơn vị chiến đấu, rút gọn một số cơ quan, đơn vị phục vụ, thanh lí một số vũ khí trang bị hư hỏng, có đề nghị tổ chức biên chế của Cục tham mưu Lục quân... Khi Bộ Tổng tham mưu ra quyết định tổ chức biên chế cho hải quân, Bộ tham mưu đã chỉ đạo tổ chức thực hiện tốt ở từng đơn vị theo chỉ đạo của Tư lệnh Quân chủng.

Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị về “đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch”, bộ đội hải quân làm nhiệm vụ trên biển đã tích cực cùng các lực lượng ngăn chặn âm mưu, hành động này của địch, trong đó nổi lên là chống cướp tàu, thuyền để vượt biên bằng đường biển.

Đi đôi với việc duy trì nghiêm lực lượng trực chiến sẵn sàng và liên tục nắm tình hình mặt biển sẵn sàng ngăn chặn các hiện tượng vượt biên trái phép, Tư lệnh Giáp Văn Cương giao cho tôi nghiên cứu đề xuất bổ sung điều lệnh và quy chế quản lý, sử dụng lực lượng nhất là đối với lực lượng tàu cho phù hợp với tình hình lúc bấy giờ. Trong đó có việc là Sở chỉ huy Quân chủng phải nắm được từng tàu lớn, nhỏ của hải quân bất cứ lúc nào đang ở đâu, hoạt động gì trên các căn cứ và vùng biển Việt Nam. Việc này đòi hỏi các cấp chỉ huy từ tàu đến Hải đội, Hải đoàn, Lữ đoàn, Vùng hải quân phải thông suốt và chấp hành nghiêm trong lúc bảo đảm thông tin liên lạc của hải quân vừa thiếu, vừa lạc hậu là một việc rất khó khăn. Tuy vậy, từ khi có những quy định cụ thể về quản lý điều động sử dụng tàu cùng với việc giáo dục nâng cao ý thức trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ trong việc quản lý bộ đội đã góp phần tích cực vào việc gìn giữ an ninh trật tự trên biển và ven biển.

Trong tình hình các thế lực thù địch đang ra sức đẩy mạnh chiến tranh phá hoại nhiều mặt làm suy yếu Việt Nam và gây mất ổn định chính trị. Tình hình an ninh, trật tự trên biển diễn biến rất phức tạp, tàu thuyền nước ngoài xâm nhập hoạt động trinh sát, đánh trộm hải sản trên khắp vùng biển nước ta ngày càng tăng. Với sự tác động của bọn phản động, tình hình vượt biên trái phép bằng đường biển không giảm. Là lực lượng nòng cốt trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ trên biển. Hải quân Việt Nam đã phải cùng các lực lượng tập trung làm nhiệm vụ bảo vệ vùng biển, gìn giữ an ninh trật tự trên biển, sẵn sàng chống địch tấn công xâm lược từ hướng biển trong tình hình như đã nói trên. Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân chủng Hải quân đã có nghị quyết và nhiều biện pháp, kế hoạch để lãnh đạo chỉ huy các đơn vị trong toàn Quân chủng thực hiện tốt nhiệm vụ.

Vào thời điểm từ sau khi Việt Nam và Liên Xô ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác toàn diện (3-11-1978) đến nay Hải quân đã được bạn viện trợ một số phương tiện, vũ khí chiến đấu. Trong đó có các tàu hộ vệ chống ngầm, tàu tên lửa, tàu phóng lôi, tàu tuần tiễu săn ngầm, tàu rà quét thủy lôi, tàu đổ bộ...; các đơn vị tên lửa, pháo binh bờ biển, xe tăng, xe bọc thép...; lực lượng hải quân được mở rộng và tăng cường khả năng sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu. Với chức trách tham mưu tác chiến, tôi tập trung củng cố biên chế tổ chức, huấn luyện lực lượng mới bổ sung vào chỉ huy chỉ đạo nắm chắc tình hình trên biển, nhanh chóng ổn định, củng cố biên chế tổ chức, huấn luyện lực lượng mới bổ sung, thúc đẩy việc tăng cường xây dựng công trình chiến đấu ở các đảo trước hết tập trung xây dựng ở đảo Bạch Long Vĩ và các đảo ở quần đảo Trường Sa.

Bước sang năm 1984, mọi công tác này được đẩy mạnh. Khi tàu đánh cá và các tàu hoạt động khác của nước ngoài xâm nhập sâu vào các vùng biển của ta hằng ngày có hàng trăm lần chiếc. Quân chủng đã lệnh cho lực lượng tàu Vùng 1 hải quân, truy quét xua đuổi tàu nước ngoài xâm phạm ở khu vực biển Bạch Long Vĩ, Cô Tô, Thanh Lân và điều một số tàu của Vùng 3 (các tàu HQ-272, HQ-273, HQ-277, HQ-278) mà bạn vừa viện trợ vào tham gia truy quét xua đuổi tàu cá nước ngoài xâm phạm ở vùng biển Tây Nam.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Chín, 2021, 09:12:01 am
*
* *

Sau chiến tranh biên giới phía Bắc, yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc của lực lượng vũ trang cách mạng càng cấp thiết hơn bao giờ hết. Trước yêu cầu đó, hải quân là một thành phần của quân đội đòi hỏi phải tăng cường và nâng cao trình độ sẵn sàng chiến  đấu. Ngoài yếu tố tinh thần chính trị, tư tưởng trang bị, hải quân đang ra sức huấn luyện kỹ, chiến thuật hiệp đồng tác chiến trên biển.

Theo kế hoạch huấn luyện quân sự năm 1984 đã báo cáo Bộ Tổng tham mưu, đồng chí Giáp Văn Cương - Tư lệnh Quân chủng đã chỉ đạo Bộ tham mưu Hải quân lập kế hoạch diễn tập hiệp đồng chiến đấu đổ bộ đường biển với Hải quân Liên Xô mang mật danh “HN-84”, mà trong đó có thực nghiệm một số trang bị mới được Liên Xô viện trợ. Cuộc diễn tập hiệp đồng chiến đấu này diễn ra vào thời điểm đỉnh cao của sự hợp tác hữu nghị giữa ta và Liên Xô.

Căn cứ vào ý định của Tư lệnh Quân chủng, tôi cùng đồng chí Lê Kế Lâm - Phó tham mưu trưởng hướng dẫn cán bộ tham mưu tác chiến, huấn luyện, có sự tham gia của cán bộ các Cục tham mưu Lục quân và Cục huấn luyện Nhà trường làm các văn kiện diễn tập báo cáo Tư lệnh chuẩn duyệt. Khi làm kế hoạch diễn tập hiệp đồng với lực lượng của Hải quân Liên Xô có cố vấn quân sự của bạn cùng tham gia. Các văn kiện từ quyết tâm chiến đấu của người chỉ huy đến các kế hoạch chiến đấu từ cấp Quân chủng đến các đơn vị tham gia diễn tập đều thống nhất làm theo những quy định mới sau khi đã được tập huấn. Đây cũng là dịp để huấn luyện nâng cao trình độ của cán bộ tham mưu chỉ huy các cấp, các ngành.

Cuộc diễn tập có nhiều lực lượng tham gia như Lữ đoàn hải quân đánh bộ 147; các tàu chiến đấu và phục vụ chiến đấu của Vùng 1, của Cục kinh tế; các tàu đổ bộ của Lữ đoàn 125; máy bay trực thăng săn ngầm Ka-25, các đài trạm rađa... Về phía bạn có tàu sân bay Minck chở máy bay cất cánh thẳng đứng YAK-38 một số tàu chiến khác.

Diễn tập đổ bộ đường biển ở bãi biển huyện Quảng Xương, Thanh Hóa.

Để tiến tới diễn tập tổng hợp, Bộ tham mưu phải chỉ đạo kế hoạch tập luyện hiệp đồng phân đoạn của từng đơn vị. Mấy ngày trước đó, tôi cùng các đồng chí cán bộ huấn luyện tàu và cán bộ Cục tham mưu Lục quân xuống trực tiếp Lữ đoàn 147 kiểm tra huấn luyện hiệp đồng giữa xe tăng, xe lội nước, bộ binh với các tàu đổ bộ của Lữ đoàn 125. Những cuộc kiểm tra huấn luyện phân đoạn này rất bổ ích để kịp thời phát hiện khắc phục những tồn tại về kỹ, chiến thuật chiến đấu của bộ đội.

Trước lúc diễn tập mười ngày, đồng chí Tư lệnh Giáp Văn Cương và tôi vào trực tiếp kiểm tra việc chuẩn bị thao trường đổ bộ ở bãi biển các xã Quảng Nham, Quảng Thạch, Quảng Thái... Tại đây, mà đồng chí Trương Đăng Thái cán bộ tham mưu Lục quân được cử vào trước làm công tác chuẩn bị.

Ngày 14 tháng 4 năm 1984, cuộc diễn tập thực binh “HN-84” bắt đầu. Đồng chí Phó đô đốc Giáp Văn Cương - Tư lệnh Quân chủng vừa là Trưởng ban chỉ đạo diễn tập vừa là người chỉ huy diễn tập và tôi được phân công làm Tham mưu trưởng diễn tập với Sở chỉ huy diễn tập ở tàu đổ bộ LST 505.

Cuộc diễn tập gặp một trở ngại lớn là suốt cả thời gian hành quân trên biển cho đến khi thực hành đổ bộ, trên biển trời mù dày đặc, tầm nhìn dưới 100m. Để bảo đảm an toàn đội hình hành quân, các tàu phải kết hợp chặt chẽ quan sát rađa và quan sát mắt với liên tục dùng còi tàu phát tín hiệu để tránh va chạm. Đến thời gian triển khai đội hình thực hành đổ bộ rồi mà trời mù dày đặc, tầm nhìn xa dưới 100m nên người chỉ huy không thể quan sát được đội hình đổ bộ cũng như bãi đổ bộ.

Đồng chí Trần Sĩ Kịch - Lữ đoàn trưởng hải quân đánh bộ 147 và chỉ huy Lữ đoàn tàu 125 báo cáo là các đơn vị đã đến khu vực đổ bộ rồi, đang chuẩn bị chuyển vào tuyến xuất phát tấn công. Tôi đề nghị và được Tư lệnh Giáp Văn Cương đồng ý lệnh cho các đơn vị tiến hành đổ bộ ngay, đồng thời lệnh cho nổ các bãi bộc phá làm pháo hỏa chuẩn bị ở trong bờ để cho quân đổ bộ theo hướng pháo nổ mà tiến vào, vì trời sương mù không quan sát được bờ, nếu để chậm tàu bị trôi dạt ra ngoài hướng bãi đổ bộ. Đổ bộ vào bờ rồi trời mới giảm mù. Đồng chí Giáp Văn Cương và tôi đi máy bay trực thăng Ka-25 từ tàu LST 505 vào bờ vừa hạ cánh xuống thì các xe tăng đổ bộ đang phát triển vào tung thâm.

Trời sương mù quá dày đặc, không quan sát được bờ để điều chỉnh hướng và tốc độ nên có xe tăng bị trôi dạt vào phía nam ra ngoài rìa bãi đổ bộ. Cuộc diễn tập đổ bộ đường biển đạt được yêu cầu cả về giai đoạn hành quân trên biển và thực hành chiến thuật đổ bộ đường biển, bảo đảm an toàn trong điều kiện sương mù dày đặc. Tuy vậy, kết quả của diễn tập cũng bị hạn chế bởi ảnh hưởng của sương mù.

Qua đây để thấy một bài học lớn của hải quân hoạt động trên biển, chịu sự chi phối lớn của thời tiết. Yếu tố thời tiết có tác động lớn đến hiệu quả và bảo đảm an toàn hoạt động trên biển của hải quân. Vì vậy, yêu cầu chỉ huy hoạt động của hải quân luôn phải nắm chắc thời tiết. Cũng vì thời tiết xấu, sương mù quá dày đặc, nên máy bay của bạn cũng không bay diễn tập hiệp đồng với ta được.

Trong năm 1984, công tác tổ chức biên chế của Quân chủng có những thay đổi mà Bộ tham mưu Hải quân theo chỉ đạo của Bộ Tổng tham mưu và Tư lệnh Hải quân phải vừa nghiên cứu đề xuất, vừa phải tổ chức thực hiện khi có quyết định của trên. Tôi và đồng chí Nguyễn Vũ Bảo - Phó tham mưu trưởng kiêm Trưởng phòng Tổ chức động viên với chức trách của Bộ tham mưu tập trung chỉ đạo công việc này. Đó là chấn chỉnh tổ chức biên chế Lữ đoàn tàu 162 và chuyển Lữ đoàn 162 từ trực thuộc Vùng 1 về trực thuộc Vùng 3. Chuyển Lữ đoàn tàu 171 trực thuộc Bộ tư lệnh Quân chủng về trực thuộc Vùng 4. Chấn chỉnh tổ chức biên chế Trung đoàn công binh 83 và chuyển trung đoàn này từ Vùng 4 về trực thuộc Bộ tư lệnh Quân chủng; giải thể Đoàn 403 đào tạo hạ sĩ quan; chấn chỉnh tổ chức biên chế của Bộ tham mưu Hải quân...


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Chín, 2021, 09:12:31 am
Trước đây khi Bộ Tổng tham mưu có ý định điều lực lượng không quân hải quân về Quân chủng Không quân, tôi đề đạt với đồng chí Đoàn Bá Khánh - Tư lệnh Hải quân lúc bấy giờ là phải đề nghị với cấp trên không nên chuyển, vì lẽ không quân hải quân là một thành phần đồng bộ không thể thiếu của Quân chủng Hải quân và hoạt động tác chiến của hải quân. Ban đầu tuy còn nhỏ bé nhưng trong tương lai nó là một thành phần chủ yếu của hải quân. Tác chiến trên chiến trường biển, nếu hải quân không có lực lượng không quân thì điều tất yếu sẽ không chỉ gặp nhiều khó khăn mà có khi còn bị tổn thất.

Cũng là không quân nhưng lực lượng không quân hải quân có đặc thù riêng, đối tượng tác chiến của nó là hải quân đối phương, do vậy nó phải phối hợp và hiệp đồng chặt chẽ với lực lượng tàu và các lực lượng khác của hải quân theo kỹ chiến thuật chiến đấu, đặc thù của hải quân ở chiến trường biển.

Muốn cho không quân hải quân hoạt động có hiệu quả, hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng khác của hải quân thì phải thấy rõ hoàn cảnh đặc điểm của hoạt động hải quân, phải thống nhất theo một chương trình và kế hoạch huấn luyện của hải quân... Muốn vậy, không quân hải quân phải tổ chức biên chế trực thuộc Quân chủng Hải quân. Nếu lực lượng này chuyển sang Quân chủng Không quân thì ai chỉ đạo huấn luyện tác chiến theo đặc điểm của hải quân? Giả sử ở Quân chủng Không quân có tổ chức một đơn vị chỉ đạo không quân hải quân thì chắc hẳn cũng không thuận lợi bằng việc tăng cường một số cán bộ không quân cho Quân chủng Hải quân, hoặc theo ngành dọc Quân chủng Không quân giúp đỡ xây dựng lực lượng Không quân Hải quân. Nếu để không quân hải quân ở Quân chủng Không quân thì khi xảy ra tác chiến trên biển cần có lực lượng không quân lại phải điều lực lượng này về phối thuộc, như vậy sẽ không thuận lợi cho chỉ huy hiệp đồng và hiệu quả tác chiến không cao. Đây là lực lượng không quân mà Hải quân Liên Xô sẽ trực tiếp giúp Hải quân Việt Nam xây dựng dần. Nếu chuyển về Quân chủng Không quân thì khả năng bạn sẽ không trực tiếp giúp đỡ nữa.

Với nhiều lý do như đã nói trên, chúng tôi thiết tha đề nghị trên không nên điều lực lượng không quân hải quân, bước đầu mới thành lập gồm một số máy bay thủy phi cơ BE-12 trinh sát biển và chống ngầm, một số trực thăng chống ngầm Ka-25, đơn vị bảo đảm kỹ thuật... về trực thuộc Quân chủng Không quân. Tuy bước đầu có nhiều khó khăn nhưng nhất định sẽ trưởng thành đi lên.

Khi đề đạt không được trên chấp thuận, chúng tôi vẫn nghiêm chỉnh chấp hành và động viên anh em cán bộ chiến sĩ không quân hải quân với một tình cảm hẹn gặp lại và tổ chức bàn giao chu đáo cho Quân chủng Không quân, còn ở Quân chủng Hải quân thì tổ chức Phòng không quân trực thuộc Tham mưu trưởng Hải quân.

Cuối năm (10-12-1984), với thành tích sau nhiều năm phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ, Bộ tham mưu Hải quân được Chủ tịch Hội đồng Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhì. Đây là một vinh dự lớn cho cán bộ, chiến sĩ công nhân viên quốc phòng của Bộ tham mưu.

Để không ngừng củng cố và tăng cường khả năng bảo vệ chủ quyền vùng biển, hải đảo nhất là khu vực quần đảo Trường Sa, năm nào Bộ tư lệnh Quân chủng Hải quân cũng có ít nhất một lần đi kiểm tra công tác sẵn sàng chiến đấu và thăm hỏi động viên cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ bảo vệ biển đảo ở quần đảo Trường Sa.

Năm 1985, Bộ tư lệnh Quân chủng triển khai các hoạt động tiến tới kỷ niệm 30 năm thành lập Quân chủng. Tôi được phân công cùng với một số cán bộ các cơ quan quân chủng và Vùng 4 hải quân đi kiểm tra công tác sẵn sàng chiến đấu và thăm hỏi bộ đội ở quần đảo Trường Sa. Vào thời điểm này, bộ đội ở đảo gặp nhiều khó khăn thiếu thốn cả về đời sống vật chất, tinh thần. Một số công trình chiến đấu và bảo đảm sinh hoạt được xây dựng từ những năm cuối thập niên 70, sau ngày thống nhất đất nước. Do chưa có kinh nghiệm xây dựng ở môi trường biển đảo, đến nay nhiều công trình đã xuống cấp nghiêm trọng và có chỗ không sử dụng được nữa. Tuy nhiên, do nền kinh tế đất nước đang gặp khủng hoảng nên việc khắc phục mang tính chắp vá. Mặc dù vậy, tinh thần khắc phục khó khăn của cán bộ, chiến sĩ với một quyết tâm rất cao bảo vệ chủ quyền lãnh thổ biển đảo. Việc huấn luyện và thực hiện các chế độ sẵn sàng chiến đấu được duy trì chặt chẽ.

Qua kiểm tra thực tế về tổ chức sẵn sàng chiến đấu và đời sống bộ đội ở đảo, cũng như tập hợp những ý kiến đề đạt của anh em, chúng tôi tổng hợp báo cáo và đề nghị với Tư lệnh và Thường vụ Đảng ủy Quân chủng sắp tới phải quy hoạch lại bố trí chiến đấu ở các đảo cho hợp lý hơn và đề nghị Quân chủng cũng như Bộ Quốc phòng quan tâm cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội ở đảo.

Sau khi lĩnh hội ý kiến chỉ đạo của Tư lệnh Quân chủng, tôi đề nghị đồng chí Phạm Huấn - Phó tư lệnh Quân chủng kiêm Cục trưởng Cục tham mưu Lục quân, cử đồng chí Thượng tá Kính - Trưởng phòng Binh chủng bộ binh, pháo binh của Cục này cùng tham gia với cán bộ của Bộ tham mưu, nghiên cứu xây dựng đề án quy hoạch bố trí phòng thủ ở các đảo để trình trên phê duyệt trong những năm tới.

Cuối năm 1985, thực hiện Nghị quyết 27 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa V) về tiếp tục kiện toàn cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội và sự nghiệp quốc phòng, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra quyết định thành lập Đảng ủy Quân chủng Hải quân, trong đó tôi được chỉ định là Đảng ủy viên và được Đảng ủy bầu vào Ban thường vụ Đảng ủy Quân chủng. Khi Đảng ủy Quân chủng quyết định thành lập Đảng ủy Bộ tham mưu, tôi được chỉ định làm Bí thư Đảng ủy (30-10-1985).


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Chín, 2021, 09:12:50 am
Theo chương trình bồi dưỡng đào tạo cán bộ, cuối năm 1985, tôi được trên cho đi bồi dưỡng lý luận chính trị tại trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc.

Từ những năm đầu của thập niên 80, tình hình tranh chấp trên biển ngày càng nóng lên, trước tiên là khu vực quần đảo Trường Sa. Ngoài những tuyên bố về chủ quyền của mình ở quần đảo Trường Sa, một số nước đã đem quân chiếm giữ thêm các đảo và các bãi đá ngầm. Đơn cử như năm 1980, Philippin chiếm giữ đảo Công-đo (Ri-zai). Năm 1983, Malaixia chiếm giữ đảo Chim Én (Oa-lau). Năm 1986, Trung Quốc đã nhiều lần cho tàu tiến hành trinh sát, nghiên cứu địa hình, thủy văn, thời tiết, đồng thời thả ngầm những tấm bê tông có khắc chữ Hán lên các bãi đá ngầm thuộc quần đảo Trường Sa...

Trước tình hình đó, Bộ tham mưu đã theo dõi sát tình hình, báo cáo và đề nghị với Thường vụ Đảng ủy và Tư lệnh Quân chủng tăng cường các biện pháp để nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu của bộ đội. Sau khi có chỉ đạo của Thường vụ Đảng ủy và mệnh lệnh của Tư lệnh Quân chủng, tôi và các đồng chí Phó tham mưu trưởng: Mai Quang Thái, Trần Dực, Bùi Ủy, Nguyễn Vũ Bảo, Lê Kế Lâm, Trịnh Khắc Thuyết thống nhất kế hoạch phân công chỉ đạo triển khai các biện pháp sẵn sàng chiến đấu. Trước hết là tập trung đẩy mạnh công tác huấn luyện chiến đấu, duy trì chặt chẽ các chế độ sẵn sàng chiến đấu và đặc biệt đối với các đảo, ngoài những việc trên phải đẩy nhanh tiến độ xây dựng công trình, công sự chiến đấu, kiểm tra số chất lượng vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm dự trữ chiến đấu.

Sang năm 1986, tình hình bảo vệ biển, đảo phải được tăng cường bởi là một trong những hướng phải đối phó với chiến tranh phá hoại nhiều mặt của các thế lực phản động, đồng thời phải đối phó với tình huống có thể gây chiến tranh quy mô lớn. Các hoạt động tranh chấp chủ quyền biển đảo có xu hướng ngày càng tăng. Tháng 1 năm 1984, Hạm đội Nam Hải (Trung Quốc) cho tàu hoạt động thị sát ở quần đảo Trường Sa. Tháng 2 năm 1986, họ có những hoạt động trinh sát, tổ chức diễn tập hiệp đồng hành quân tác chiến trên biển từ Hoàng Sa đến Trường Sa...

Ở phần phía nam quần đảo Trường Sa, Malaixia đem quân chiếm giữ bãi đá san hô Kỳ Vân, Kiệu Ngựa (31-12-1986). Nhiều tàu cá nược ngoài xâm nhập sâu vào vùng biển Việt Nam đánh trộm hải sản nhất là ở vùng biển Bắc Bộ và biển Tây Nam. Để tăng cường hoạt động tuần tiểu ở vùng biển Tây Nam, Quân chủng điều tàu tuần tiễu có tốc độ nhanh tăng cường cho Vùng 5 và Bộ tham mưu chỉ đạo hệ thống rađa quan sát các vùng hải quân tăng cường công tác quân sát nắm tình hình mặt biển.

Tháng 5 năm 1986, đồng chí Giáp Văn Cương và tôi cùng một số cán bộ cơ quan Quân chủng và Vùng 5 đến kiểm tra các đơn vị của ta đang giúp đỡ bạn Campuchia tổ chức phòng thủ bảo vệ các đảo Cô Tang, đảo Vai, đảo Cô-rông-sa-lem, căn cứ Ream.

Mặc dù lực lượng hải quân so với nhiệm vụ vẫn còn nhiều bất cập nhưng chúng tôi vẫn nghiêm túc rà soát lại tổ chức biên chế để thực hiện chủ trương của Bộ Quốc phòng là nâng cao chất lượng quân số, hợp lý hóa một số tổ chức trên cơ sở nâng cao hiệu quả hoạt động không những ở cơ quan, nhà trường, đơn vị phục vụ mà kể cả các đơn vị chiến đấu như các lữ đoàn tàu, lữ đoàn hải quân đánh bộ... vì đây là một chủ trương đúng đắn của toàn quân.

Khi đồng chí Triệu Huy Hùng - Cục trưởng Cục tổ chức động viên, làm việc với Bộ tư lệnh Hải quân về công tác tổ chức lực lượng năm 1987, tôi có đề đạt ý kiến: “Thực hiện chủ trương của trên, Quân chủng Hải quân đã giải thể Cục tham mưu Lục quân, các phòng ban của Cục này đã chuyển thuộc Bộ tham mưu Hải quân và Cục huấn luyện Nhà trường; đồng thời đã thực hiện giảm biên chế một số cơ quan. Có một thực tế là Hải quân mới được phát triển nhưng so với yêu cầu làm nhiệm vụ nòng cốt bảo vệ vùng biển, đảo thi còn rất chưa tương xứng; mô hình tổ chức hải quân mới được xây dựng phải qua hoạt động thực tiễn mới chọn lọc dần để có được một tổ chức biên chế hợp lý nhất. Với tình hình này tôi đề nghị trên giữ nguyên tổ chức biên chế của Hải quân như đang xây dựng hiện nay. Sau khi có những ý kiến tương tự, cấp trên đã đồng ý với kiến nghị này.

Chuẩn bị cho Đại hội đại biểu Đảng bộ Bộ tham mưu lần thứ 3, tôi và đồng chí Trần Trọng Duyệt - Phó bí thư Đảng ủy cùng các đồng chí trong Đảng ủy tổ chức chỉ đạo trong toàn Đảng bộ tổ chức sinh hoạt phê bình và tự phê bình của các cấp ủy, đảng viên theo chỉ thị của Ban chấp hành Trung ương Đảng cùng với tinh thần dân chủ, làm cho mọi tổ chức đảng và đảng viên thấy mạnh yếu trong rèn luyện tư cách đảng viên, nâng cao sức mạnh lãnh đạo.

Mặc dù vẫn còn những hạn chế nhưng đánh giá chung là Đảng bộ Bộ tham mưu đã lãnh đạo các đơn vị của mình làm tốt công tác tham mưu chỉ huy cho Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân chủng, trong xây dựng cũng như hoạt động sẵn sàng chiến đấu của Quân chủng Hải quân.

Đại hội đại biểu Đảng bộ Bộ tham mưu lần thứ 3 (từ 28 đến 30-6-1986) đã thành công tốt đẹp, tôi và đồng chí Trần Trọng Duyệt được bầu làm Bí thư và Phó bí thư Đảng ủy Bộ Tham mưu.

Trong Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân chủng Hải quân lần thứ VI (từ 25 đến 27-9-1986), tôi được bầu vào Đảng ủy Quân chủng và được Đảng ủy bầu vào Ban thường vụ.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Chín, 2021, 09:15:35 am
(https://i.imgur.com/OlycZeX.jpg)

Năm 1988, ta đóng giữ tại mỗi bãi đá ngập nước ở quần đảo Trường Sa bằng một nhà cao chân (cấp 3-C3) một pông tông
và một nhà lâu bền (cấp 1-C1)

(https://i.imgur.com/1oKxsRy.jpg)

Tư lệnh Hải quân kiểm tra việc xây dựng nhà lâu bền (C1) ở bãi đá ngập nước

(https://i.imgur.com/JBpurWn.jpg)

Kiểm tra công tác sẵn sàng chiến đấu trên quần đảo Trường Sa (1996)

(https://i.imgur.com/bTzByjk.jpg)

Nhà ở của bộ đội Trường Sa


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Chín, 2021, 09:17:48 am
(https://i.imgur.com/JJ5pUra.jpg)

Kiểm tra kè chống xói lở ở các đảo trên quần đảo Trường Sa (1997)

(https://i.imgur.com/6p20ejl.jpg)

Thăm một vườn rau xanh ở Trường Sa (1995)

(https://i.imgur.com/Lg5DMyS.jpg)

Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh, Tư lệnh Hải quân viếng mộ liệt sĩ trên đảo Sinh Tồn (1995)

(https://i.imgur.com/DdRGJTW.jpg)

Đoàn văn công Binh chủng Tăng - Thiết giáp biểu diễn phục vụ bộ đội ở đảo Nam Yết (1996)


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Chín, 2021, 09:18:30 am
Chương sáu

BIỂN ĐÔNG DẬY SÓNG

Trước hết phải khẳng định rằng, chủ quyền không tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam ở biển Đông.

Tôi nghĩ rằng trong cuộc đời quân ngũ của mình có 40 năm ở Quân chủng Hải quân làm người lính biển, qua quá trình chiến đấu và công tác có nhiều kỷ niệm, nhiều ký ức khi làm nhiệm vụ người chiến sĩ hải quân bảo vệ vùng biển thiêng liêng của Tổ quốc mà trong đó một ký ức mạnh mẽ nhất, sâu sắc nhất là khi tham gia chống tranh chấp chủ quyền, chống lấn chiếm biển đảo của Tổ quốc ta ở quần đảo Trường Sa năm 1988.

Ở thời điểm đó, với cương vị là Phó tư lệnh Tham mưu trưởng, một thành viên trong Bộ tư lệnh Quân chủng Hải quân, theo đúng chức trách của mình được phân công cùng Tư lệnh Quân chủng thường trực ở Sở chỉ huy để điều hành công việc này. Với tư cách cá nhân, tôi xin kể diễn biến của sự việc này mang tính chất lịch sử mà ký ức làm nhiệm vụ của mình cũng nằm trong đó. Đã là lịch sử thì sự việc diễn ra thế nào phải kể lại, viết lại đúng như thế đó, người kể lại, viết lại phải chịu trách nhiệm.

Quần đảo Trường Sa của Việt Nam có vị trí địa chính trị, kinh tế, quân sự hết sức quan trọng. Tại đây, có nhiều nước tranh chấp và tình hình tranh chấp ngày càng nóng lên. Nơi này không chỉ là điểm nóng tranh chấp biển, đảo của khu vực mà còn là một trong những điểm quan tâm lớn về bảo đảm an toàn đường hàng hải của thế giới. Đối phương tranh chấp không chỉ bằng chính trị, ngoại giao mà còn ra sức xây dựng lực lượng hải quân để thực hiện biện pháp quân sự nhằm thôn tính biển đảo, độc chiếm biển Đông. Có nhiều đối tượng tranh chấp, trong đó Trung Quốc là nước có nhiều hoạt động nhất.

Đầu năm 1987, xoay quanh vấn đề tranh chấp biển đảo ở quần đảo Trường Sa có nhiều diễn biến phức tạp và ngày càng gay gắt. Song song với các cuộc diễn tập quân sự của hải quân, ngày 14 tháng 2 năm 1987, Trung Quốc đã đưa nhiều tàu dưới dạng tàu đánh cá đến khu vực quần đảo Trường Sa tiến hành các hoạt động trinh sát, thăm dò, đo đạc, khảo sát biển đảo, đặt ngầm các tấm bê tông “kỷ niệm” ở các bãi đá san hô ngập nước. Ngày 3 tháng 9 năm 1987, Quốc hội Trung Quốc thông qua quy chế đưa đảo Hải Nam thành tỉnh, trong đó bao gồm quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Từ giữa tháng 10 đến đầu tháng 11 năm 1987, Trung Quốc lại cho tàu nghiên cứu “Hải Dương 4” và một số tàu chiến dưới dạng khảo sát khoa học tiến hành hoạt động trinh sát thăm dò hầu hết các khu vực ở quần đảo Trường Sa và lần này đến tận 06°20 độ vĩ bắc, đặt bia kỷ niệm tại bãi Lu-i-xa. Chưa hết, trong các ngày từ 18 đến 27 tháng 10 năm 1987, tàu của họ ngang nhiên đi vào gần các đảo của ta ở An Bang, Thuyền Chài, Trường Sa Đông, Trường Sa, Song Tử Tây, với thái độ khiêu khích...

Đến lúc này, giữa hai nước còn tồn tại những tranh chấp chủ quyền về biển đảo nhất là ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vẫn biết rằng giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng Trung Quốc có tình hữu nghị lâu đời. Nhân dân Việt Nam luôn quý trọng và gìn giữ tình hữu nghị đó. Không những thế mà nhân dân Việt Nam vẫn luôn cám ơn sự giúp đỡ to lớn của Chính phủ và nhân dân Trung Quốc đối với Việt Nam trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước.

Tôi hiểu rằng, trong việc gìn giữ bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, vi quyền và nghĩa vụ của một dân tộc, vì sự trường tồn của dân tộc và đất nước, dân tộc Việt Nam bất luận trong trường hợp nào cũng kiên quyết bảo vệ từng tấc đất, từng tấc nước, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc mình. Nếu ai đó mà có hành động vi phạm, xâm phạm chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam thì nhân dân Việt Nam kiên quyết phản đối và chống tại các hành động đó.

Có một điều xuyên suốt là Việt Nam luôn chủ trương đấu tranh chống mọi vi phạm, xâm phạm để bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc mình bằng biện pháp thương lượng hòa bình, không dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực, nhưng nếu đối phương dùng vũ lực để tranh chấp thì buộc chúng ta phải đáp trả lại để tự vệ.

Thấy trước âm mưu của đối phương xâm chiếm quần đảo Trường Sa, độc chiếm biển Đông, từ lâu chúng ta đã chủ trương không ngừng tăng cường khả năng phòng thủ các đảo của lực lượng đóng giữ tại chỗ và lực lượng chiến đấu chi viện cũng như sẵn sàng chống tranh chấp khi đối phương đem quân lấn chiếm, đánh chiếm các đảo, các bãi đá san hô ngập nước của ta ở quần đảo Trường Sa.

Với những hoạt động vi phạm chủ quyền của đối phương ở quần đảo Trường Sa của ta ngày càng tăng và thấy rõ khả năng đối phương sẽ xâm chiếm quần đảo Trường Sa trong nay mai không còn nghi ngờ gì nữa. Trong đó có khả năng nhiều nhất là đối phương sẽ bí mật đem quân chiếm giữ các bãi đá san hô làm một việc đã rồi.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Chín, 2021, 09:18:52 am
Nhằm chủ động đề phòng việc đối phương có thể xâm chiếm các bãi cạn đá san hô, ngày 24 tháng 10 năm 1987, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân chủng lúc này có các đồng chí: Phó đô đốc Giáp Văn Cương - Tư lệnh, Bí thư Đảng ủy; Chuẩn đô đốc Lê Văn Xuân - Phó bí thư Đảng ủy; Chuẩn đô đốc Hoàng Hữu Thái - Phó tư lệnh, ủy viên Thường vụ; Đại tá Mai Xuân Vĩnh - Phó tư lệnh Tham mưu trưởng, ủy viên Thường vụ; Chuẩn đô đốc Đoàn Bá Khánh - Đảng ủy viên, Phó tư lệnh Quân chủng kiêm chỉ huy trưởng Vùng 4; Chuẩn đô đốc Phạm Huấn - Đảng ủy viên Phó tư lệnh Quân chủng... họp bàn thống nhất kiến nghị lên trên về chủ trương và kế hoạch cho tiến hành đóng giữ một số bãi đá san hô ngập nước mà dự đoán đối phương có thể xâm chiếm đóng giữ trước.

Sau khi tôi báo cáo tình hình diễn biến ở quần đảo Trường Sa và tình hình có liên quan và đề xuất dự kiến kế hoạch, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân chủng thảo luận do đồng chí Giáp Văn Cương chủ trì đã kết luận phần chủ trương, kế hoạch đóng giữ các bãi đá san hô. Cụ thể, năm 1988 sẽ tiến hành đồng thời đóng giữ bốn nơi: Đá Tây, Chữ Thập, Đá Lớn, Tiên Nữ. Nếu có thể thì đóng giữ thêm Đá Thị, Tốc Tan, Đá Lát, Năm 1989, đóng giữ Đá Thị, Tốc Tan, Đá Lát, nếu năm 1988 chưa thực hiện được. Đóng giữ thêm các bãi Gạc Ma, Núi Le, Châu Viên, Đá Đông. Năm 1990, tiếp tục đóng giữ những nơi mà năm 1989 chưa hoàn thành, đổng thời tăng cường củng cố mọi mặt cho tất cả các nơi đã đóng giữ kể cả cũ và mới. Thực tế những nơi mà ta quyết định đóng giữ lần này là các bãi đá san hô khi thủy triều dâng cao còn ngập nước nhưng từ đây ta tạm gọi là đảo chìm để tiện theo dõi.

Khi chuẩn bị cho cuộc họp này, Tư lệnh Giáp Văn Cương yêu cầu tôi báo cáo tình hình địch, ta. Đồng thời đồng chí trao đổi với tôi việc phải chủ động tổ chức đóng giữ một số nơi như đã nói trên để chống tranh chấp. Tôi nêu thêm ý kiến là khi tiến hành đóng giữ phải có biện pháp tránh làm kích thích đối phương chạy đua chiếm đóng đảo. Đồng chí Tư lệnh khẳng định:

- Tình thế này, mình không nhanh chóng đóng giữ trước thì đối phương cũng xâm chiếm, nếu để khi đối phương chiếm đóng rồi, ta bị động không thể nào làm kịp, vì lực của đối phương mạnh hơn ta. Ta nhất định phải chủ động không để bị bất ngờ, quá trình thực hiện nếu đối phương biết, thì ta vẫn làm vì đây là chủ quyền biển đảo của ta.

Khi thấy đối phượng dồn dập cho tàu hoạt động sâu vào cả phía nam quần đảo Trường Sa, Bộ tư lệnh Quân chủng thấy phải thực hiện kế hoạch đóng giữ các bãi đá ngập nước ngay tắp lự chứ không thế đến năm 1988.

Để kịp chủ động đề phòng đối phương xâm chiếm quần đảo Trường Sa, ngay trong đêm 24 tháng 10 năm 1987, Tư lệnh Quân chủng đã ra lệnh chuyển lên trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao cho tất cả các đảo thuộc Lữ đoàn 146 ở quần đảo Trường Sa, đồng chí lệnh cho Vùng 4, Lữ đoàn 125 sẵn sàng người và phương tiện để làm nhiệm vụ chi viện và đóng giữ đảo. Quân chủng đã điều các tàu HQ-613, HQ-616, HQ-931 của Lữ đoàn 125 tăng cường cho Vùng 4, đồng thời chuyển Lữ đoàn hải quân đánh bộ 126 về trực thuộc Vùng này.

Ngày 25 tháng 10 năm 1987, Tư lệnh Giáp Văn Cương trực tiếp báo cáo tình hình và đề nghị cấp trên cho đóng giữ các bãi như dự kiến kế hoạch của quân chủng, đồng thời đề nghị cho máy bay trinh sát khu vực quần đảo Trường Sa.

Ngay sau cuộc họp của Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân chủng, tôi chỉ đạo cơ quan tác chiến lúc đó do đồng chí trung tá Nguyễn Cảo - Phó trưởng phòng tác chiến phụ trách làm kế hoạch đóng giữ đảo để báo cáo Tư lệnh Quân chủng và hướng dẫn Vùng 4 hải quân thực hiện bằng cách dùng tàu đứng giữ trước và tiếp sau đó dùng tàu LCU, pông tông, nhà cao chân (C3) đóng giữ đảo. Việc đóng giữ bốn đảo nói trên phải được tiến hành đồng thời và hết sức nhanh chóng, bí mật.

Trong lúc chờ mệnh lệnh chính thức của trên để kịp chống tranh chấp, đêm 25 tháng 10 năm 1987, Quân chủng vẫn lệnh cho Vùng 4 gấp rút đóng giữ bốn đảo nói trên.

Ngày 29 tháng 10 năm 1987, cơ quan cấp trên thông báo trước cho Hải quân là trên đã đồng ý cho Hải quân đóng giữ bốn đảo và sẽ gửi mệnh lệnh chính thức sau. Ngày 6 tháng 11 năm 1987, Quân chủng Hải quân nhận được mệnh lệnh chính thức.

Thời gian này tôi thường trực ở Sở chỉ huy Quân chủng, nhận được báo cáo của Vùng 4 là đến 4 giờ ngày 25 tháng 10 năm 1987, các đảo thuộc quần đảo Trường Sa đã hoàn thành chuyển lên trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao.

Sau khi báo cáo tình hình với Tư lệnh Quân chủng và theo kế hoạch, Bộ tham mưu tiến hành điều tàu HQ-617 (Lữ đoàn 125) và các tàu HQ-712, HQ-967 của Cục kinh tế vào phối thuộc cho Vùng 4 để cùng với các tàu HQ-613, HQ-674 đang ở Cam Ranh làm nhiệm vụ đóng giữ đảo và đưa Hải đội tàu tên lửa 131 của Lữ đoàn 172 Vùng 1 vào Đà Nẵng trực chiến sẵn sàng làm nhiệm vụ chi viện đảo. Dùng các tàu HQ-701, HQ-712, HQ-967, HQ-968 kéo các tàu tên lửa: HQ-358, HQ-359, HQ-360, HQ-361 đến Đà Nẵng lúc 13 giờ 30 ngày 4 tháng 11 năm 1987. Sau đó, ngày 30 tháng 12 năm 1987 các tàu HQ-701, HQ-712 đến Cam Ranh.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Chín, 2021, 09:19:23 am
Ngày 11 tháng 11 năm 1987, Quân chủng lệnh điều tàu HQ-604 và HQ-961 của Lữ đoàn 125 phối thuộc cho Vùng 4 nhưng tàu đang hỏng phải sửa chữa nên đến ngày 21 và 24 tháng 11 năm 1987 hai tàu này mới tới được Cam Ranh. Theo lệnh của Quân chủng, ngày 7 tháng 11 năm 1987, Vùng 4 điều các tàu HQ-661, HQ-727, HQ-668 và một tàu cá từ Vũng Tàu ra Cam Ranh làm nhiệm vụ. Dọc hải trình, tàu cá hỏng lái phải dùng tàu HQ-668 kéo trở lại Vũng Tàu. Các tàu HQ-661, HQ-727 đến Cam Ranh lúc 15 giờ ngày 8 tháng 11 năm 1987.

Để tránh khiêu khích, giữ trạng thái đấu tranh hòa bình, ta chủ trương dùng các tàu vận tải nhỏ tàu đánh cá cùng với các cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn 146 và đơn vị công binh làm nhiệm vụ đóng giữ đảo để bảo vệ chủ quyền. Mặc dù trong tình hình tàu thuyền và cơ sở vật chất kỹ thuật của ta gặp nhiều khó khăn cả về số lượng, chất lượng, hơn nữa mùa này biển động, sóng gió lớn, tàu nhỏ đi biển hạn chế nhưng Quân chủng Hải quân vẫn hạ quyết tâm động viên mọi cán bộ, chiến sĩ khắc phục khó khăn gian khổ để bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.

Để có thêm lực lượng tàu, đồng chí Phó tư lệnh Hoàng Hữu Thái và Đại tá Nguyễn Ngọc Giám - Phó cục trưởng Cục kỹ thuật xuống các đơn vị và các xưởng đôn đốc nhanh chóng sửa chữa các tàu HQ-851, HQ-852, HQ-611, HQ-612, HQ-614, HQ-885, các tàu LCU và các pông tông Đ02, Đ03 sẵn đàng nhận lệnh điều động làm nhiệm vụ bảo vệ đảo, Dù có nhiều khó khăn nhưng việc đóng giữ đảo, chống tranh chấp vẫn được tiến hành một cách khẩn trương.

8 giờ ngày 28 tháng 10 năm 1987, tàu HQ-613 đo đồng chí Cao Đức Tại làm thuyền trưởng xuất phát đem quân đi đóng giữ Đá Tây. Trung tá Nguyễn Tấn Cang - Phó lữ trưởng Lữ đoàn 146 chỉ huy. Đến 15 giờ ngày 30 tháng 11 năm 1987, đã hoàn thành việc đưa quân lên đóng giữ bằng nhà bạt. Tàu HQ-613 vẫn neo lại đó để thường trực bảo vệ đảo.

Vào lúc 2 giờ sáng ngày 1 tháng 11 năm 1987, tàu HQ-617 cùng quản đóng giữ đảo xuất phát trực chỉ đảo Đá Lớn. Khi đến nơi gặp sóng gió to, tàu phải về neo đậu ở Nam Yết. Ngày 7 tháng 11 năm 1987, HQ-617 quay lại Đá Lớn để tiếp tục làm nhiệm vụ nhưng sóng gió lớn tàu đứt cả hai neo đành phải quay về Cam Ranh. Ý chí quyết tâm của bộ đội rất cao nhưng không khắc phục được khắc nghiệt của sóng gió trên biển.

Ngày 14 tháng 11 năm 1987, Tư lệnh Hải quân báo cáo với cấp trên về tình hình quần đảo Trường Sa. Tại Sở chỉ huy Quân chủng, các sĩ quan trực chiến như tác chiến, quân báo, thông tin bảo đảm hàng hải rada... đều làm việc theo chế độ tăng cường. Tại khu vực làm việc hàng ngày của mình, trực ban của các Cục chính trị, hậu cần, kỹ thuật cũng trực 24/24. Tất cả liên tục tập trung theo dõi nắm chắc tình hình và làm những việc theo yêu cầu để phục vụ cho lãnh đạo chỉ huy xoay quanh vấn đề bảo vệ chủ quyền ở quần đảo Trường Sa.

Thực tế lúc này có những việc bảo đảm bí mật phải thông tin bằng hữu tuyến nhưng tình hình thông tin hữu tuyến quân sự đường dài của ta rất khó khăn lúc được, lúc mất. Có những báo cáo của Vùng 4 phải vòng qua Sở chỉ huy cấp trên mới đến được Bộ tư lệnh Quân chủng Hải quân, mất thời gian tính, Trước tình hình tàu của ta vừa thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, nhiều hỏng hóc bất thường, tôi yêu cầu công tác chiến phải phối hợp với Cục kỹ thuật và các đơn vị để nắm chắc tình hình từng tàu lớn, nhỏ nhất là về công tác bảo đảm kỹ thuật của tàu để có hỏng hóc gì là phải kịp thời sửa chữa, sẵn sàng làm nhiệm vụ,

Sau buổi giao ban tại Sở chỉ huy sáng ngày 15 tháng 11 năm 1987, Bộ tư lệnh Quân chủng hội ý, nhận thấy tình hình thực hiện việc đóng giữ các đảo của ta chưa khẩn trương nên đã lệnh đốc thúc Vùng 4:

- Sử dụng tàu hiện có như HQ-671, HQ-674, HQ-617, HQ-661, HQ-727 làm nhiệm vụ chốt giữ ngay các đảo Chữ Thập, Đá Lớn, Tiên Nữ,

- Chuẩn bị gấp tàu LCU để đưa lên đóng giữ các đảo nói trên.

- Được sử dụng các loại tàu khi cần thiết để tăng cường cho các đảo như tàu HQ-01 ở Tiên Nữ, các tàu loại 159 ở Chữ Thập, Đá Lớn.

Tất cả các tàu đi làm nhiệm vụ, vũ khí phải sẵn sàng để chiến đấu khi cần.

Cũng lúc này Quân chủng điều Tiểu đoàn 5 của Trung đoàn công binh 83 vào Cam Ranh và sử dụng một tiểu đoàn của Lữ đoàn hải quân đánh bộ 126 cùng tham gia xây dựng công trình chiến đấu ở quần đảo Trường Sa.

Tiếp sau đó ngày 21 tháng 11 năm 1987, Tư lệnh Giáp Văn Cương cử đồng chí Phạm Huấn - Phó tư lệnh cùng một số cán bộ tác chiến và công binh vào Vùng 4 trực tiếp phổ biến nhiệm vụ và chỉ đạo triển khai thực hiện nhiệm vụ đóng giữ đảo.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Chín, 2021, 09:19:55 am
Phó tư lệnh Đoàn Bá Khánh kiêm Chỉ huy trưởng Vùng 4 báo cáo kế hoạch đóng giữ đảo: 20 giờ ngày 22 tháng 11 năm 1987, sử dụng các tàu HQ-661, HQ-674, HQ-727 do đồng chí trung tá Đỗ Xuân Công - Phó tham mưu trưởng Vùng 4 chỉ huy xuất phát từ Cam Ranh đi Đá Tây. Đến đảo Đá Tây, tàu HQ-727 sẽ thay cho tàu HQ-613 trực ở đây, để tàu HQ-613 do đồng chí trung tá Nguyễn Tấn Cang - Phó lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 146 chỉ huy đi khảo sát và đóng giữ bãi Chữ Thập. Đồng chí Đỗ Xuân Công tiếp tục chỉ huy HQ-661 và HQ-674 đi đóng giữ đảo Đá Lớn.

Tàu HQ-961 sẽ kéo tàu LCU-556 đi Đá Tây, chờ kết quả khảo sát của HQ-613 để cùng HQ-613 đóng giữ Chữ Thập.

Kế hoạch là vậy, nhưng do ảnh hưởng trực tiếp của cơn bão “Ni-va” nên các biên đội tàu không thể xuất phát theo kế hoạch được. Ở đảo Đá Tây, sóng lớn, tràn qua làm sập nhà bạt nên tàu HQ-613 phải tạm đưa toàn bộ cán bộ, chiến sĩ ở đây về Trường Sa Đông. Ngày 27 tháng 11 năm 1987, ta kiên trì dưa bộ đội quay lại chốt giữ Đá Tây.

Lúc này có hai yếu tố mang tính quyết định của việc đóng giữ đảo là số lượng, chất lượng tàu và thời tiết. Hầu như suốt cả tháng 12 năm 1987, biển động dữ dội bởi gió mùa đông bắc tràn về, trong khi phần lớn tàu ta là tàu nhỏ không chịu đựng được sóng gió lớn. Thêm vào đó, tàu sử dụng nhiều năm đã quá cũ. hỏng hóc bất thường nhiều nhưng thiếu phụ tùng, vật tư thay thế. Vì vậy, trong tháng 12 năm 1987, nhiều lần thay đổi kế hoạch mà tàu vẫn không xuất phát được. Ngay như ở Đá Tây, nhiều lần sóng tràn qua đảo, không bảo đảm an toàn nên Quân chủng đã lệnh cho tàu HQ-613 tạm thời đưa bộ đội rời đảo. Ngày 14 tháng 12 năm 1987, tàu về đến Cam Ranh.

Tuy vậy, mọi việc cho kế hoạch đóng giữ đảo vẫn duy trì xúc tiến khấn trương, khi sóng gió giảm là tiếp tục thực hiện được ngay. Kế hoạch hai tàu HQ-661, HQ-674 đóng giữ Đá Lớn không thực hiện được vì tàu HQ-661 đang hỏng máy phải sửa chữa. Ngày 28 tháng 12 năm 1987, tàu HQ-674 đi khảo sát Chữ Thập nhưng hai ngày sau vẫn không bắt gặp được đảo, máy phụ hỏng tàu trở về Cam Ranh (3-1-1988).

Tàu HQ-604 do đồng chí Thụ làm thuyền trưởng, ngày 28 tháng 12 năm 1987 đưa bộ đội và chở vật liệu đi đóng giữ Đá Tây. Đến ngày 15 tháng 1 năm 1988, làm xong nhà cấp 3 (C3) ở đảo Đá Tây.

Khi tình hình ở Đá Tây tạm ổn định, ngày 13 tháng 1 năm 1988, Vùng 4 lệnh cho HQ-604 có đồng chí Côn - Phó tham mưu trưởng Lữ đoàn 146 cùng đi khảo sát Chữ Thập. Khảo sát xong neo lại đó chờ lệnh. Đồng chí thuyền trưởng tàu HQ-604 báo cáo về Sở chỉ huy Vùng 4; “Kỹ thuật của tàu không bảo đảm an toàn nên không thể đi Chữ Thập được, xin cho tàu về Cam Ranh”.

Ngày 17 tháng 1 năm 1988, Vùng 4 lệnh cho đồng chí Thụ: “Cho tàu về Trường Sa Đông tránh sóng, chờ thời tiết tốt đi khảo sát Chữ Thập”. Mặc dù đã có lệnh như vậy nhưng thuyền trưởng Thụ vẫn tự động cho tàu về Cam Ranh vào ngày 18 tháng 1 năm 1988.

Sóng to, gió lớn, nên tàu HQ-961 do đồng chí đại úy Nguyễn Thanh Hiền làm thuyền trưởng không kéo tàu HQ-556 đi Chữ Thập được. Ngày 30 tháng 12 năm 1987, tàu HQ-961 có đồng chí Đỗ Xuân Công chỉ huy đi khảo sát Tiên Nữ. Khảo sát xong tàu về đến Cam Ranh ngày 8 tháng 1 năm 1988,

Trước tình hình trên, Tư lệnh Giáp Văn Cương yêu cầu tôi tổng hợp tình hình thực hiện nhiệm vụ đóng giữ đảo vừa qua thật cụ thể nhất là đánh được khả năng của ta và nguyên nhân những việc chưa làm được để báo cáo trong cuộc họp của Quân chủng vào ngày 9 tháng 1 năm 1988, kiêm việc lãnh đạo thực hiện chủ trương, mệnh lệnh của trên về đóng giữ đảo, chống tranh chấp của đối phương ở quần đảo Trường Sa.

Đảng ủy Quân chủng đã kết luận: “Nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quần đảo Trường Sa của ta có yêu cầu rất lớn, rất khẩn trương, song vì ảnh hướng của thời tiết, tình hình tàu thuyền, vật tư kỹ thuật quá khó khăn; nhận thức tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ với nhiệm vụ đóng giữ đảo, bảo vệ chủ quyền chưa đúng mức, còn chập chờn, do dự nên chưa thực hiện được đầy đủ mệnh lệnh của trên”.

Đảng ủy cùng nhận định đánh giá là: “Tình hình tranh chấp và các hoạt động xâm phạm trên các vùng biển của ta sẽ ngày càng phức tạp. Đặc biệt, ở quần đảo Trường Sa đối phương sẽ tăng cường các hoạt động thăm dò, trinh sát, tranh chấp chủ quyền bằng xâm chiếm một số bãi đá san hô ngập nước, xen kẽ vào các đảo ta đang đóng giữ, hoặc dùng lực lượng quân sự khiêu khích, đánh chiếm các đảo của ta đang đóng giữ...”. Với tình hình đó, Đảng ủy Quân chủng đã xác định: “Nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo ở quần đảo Trường Sa là nhiệm vụ quan trọng nhất, khẩn trương nhất và cũng vinh quang nhất của toàn Quân chủng trong năm 1988”. Đồng thời nhấn mạnh: “Thực hiện nhiệm vụ nảy, công tác chính trị tư tưởng phải chiếm 50%”.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Chín, 2021, 09:20:49 am
Nói công tác chính trị chiếm 50% là nói đến vai trò quan trọng của công tác đảng, công tác chính trị trong tiến hành đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của ta ở quần đảo Trường Sa đang diễn ra vào lúc này. Phải tuyên truyền giáo dục cho bộ đội và nhân dân ta hiểu rõ về chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc trên biển đảo nói chung và ở quần đảo Trường Sa nói riêng. Chủ quyền đó mang ý nghĩa sống còn của đất nước, dù phải vượt qua nhiều gian khổ hy sinh, chúng ta phải nêu cao tinh thần cảnh giác, ý chí tự lực, tự cường, chủ động, sáng tạo, kiên cường dũng cảm bảo vệ bằng được chủ quyền thiêng liêng đó.

Dù thực lực đối phương có ưu thế hơn ta, chúng ta vẫn tin tưởng vào sức mạnh tổng hợp của chúng ta để chiến thắng. Công tác chính trị không ngừng động viên tinh thần, ý chí mà còn động viên khuyến khích phát huy sáng tạo, tìm cách khắc phục mọi khó khăn để giành thắng lợi trong chống xâm phạm, xâm chiếm chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc ta trên biển, đảo.

Sau cuộc họp, nghị quyết của Đảng ủy Quân chủng được quán triệt nhanh đến các đơn vị để tổ chức thực hiện. Cấp ủy đảng và chỉ huy các đơn vị trực tiếp tham gia đóng giữ đảo, bảo vệ chủ quyền biển đảo ở quần đảo Trường Sa đã tiến hành như một đợt sinh hoạt chính trị, kiểm điểm sâu sắc những tồn tại là về nhận thức tư tưởng thực hiện nhiệm vụ.

Tôi chủ trì cuộc họp để khẩn trương thống nhất với Cục kỹ thuật đánh giá chất lượng kỹ thuật hiện tại của tàu thuyền và khả năng sửa chữa của các xưởng trạm để có kế hoạch chỉ đạo giúp đỡ các đơn vị thực hiện nhiệm vụ. Vấn đề tồn tại khó khăn nhất vẫn là thiếu vật tư, phụ tùng sửa chữa thay thế. Lâu nay ta quen nếp trên cấp dưới nhận, nhưng thực tế có những phụ tùng trong kho ta thiếu, mà ở chợ trời lại có bán. Theo cơ chế quản lý tài chính thì ta không có tiền mặt để mua. Tôi và đồng chí Giám - Phó cục trưởng Cục kỹ thuật sau khi bàn bạc đã thống nhất đề nghị Tư lệnh Quân chủng và được trên đồng ý cho mua một số vật tư, phụ tùng cho tàu ở chợ trời để giải quyết khó khăn trước mắt.

Trong khi tình hình ở quần đảo Trường Sa đang khẩn trương tập trung công tác bảo vệ chủ quyền thì Hải quân còn có nhiệm vụ làm nòng cốt bảo vệ vùng biển ở các khu vực vịnh Bắc Bộ, biển Tây Nam của ta, ngăn tàu cá nước ngoài xâm nhập đánh trộm hải sản ngày càng nhiều, gây mất trật tự trị an, vẫn được duy trì chặt chẽ mà trong đó cơ quan tham mưu thành phần chủ yếu làm tham mưu-chỉ huy ở Sở chỉ huy đã làm tốt mọi việc nắm tình hình, chỉ đạo điều hành các lực lượng thực hiện tốt mệnh lệnh của người chỉ huy.

Để sẵn sàng chiến đấu ở phía Bắc, Quân chủng tăng cường cho đảo Bạch Long Vĩ hai đại đội xe tăng, đồng thời tổ chức cụm chiến đấu số 1 ở khu vực này gồm các đơn vị: Vùng 1, Lữ đoàn hải quân đánh bộ 147, Lữ đoàn tàu 125, Hải đoàn 128. Việc thống nhất tổ chức chỉ huy, hiệp đồng chiến đấu do Vùng 1 phụ trách.

Ngày 14 tháng 1 năm 1988, Đảng ủy Bộ tham mưu do tôi chủ trì họp để nghiên cứu quán triệt nghị quyết của Đảng ủy Quân chủng, kiểm điểm trách nhiệm làm công tác tham mưu chỉ huy mà trọng tâm là xoay quanh vấn đề phục vụ lãnh đạo, chỉ huy bảo vệ chủ quyền biển đảo. Đồng thời, đề ra yêu cầu lãnh đạo các ngành, các đơn vị, các bộ phận trong cơ quan tham mưu nhận thức đúng tình hình, trách nhiệm, chủ động sẵn sàng đáp ứng công tác tham mưu chỉ huy trong mọi thời gian, mọi tình huống. Đồng chí trung tá Trần Trọng Duyệt - Phó bí thư Đảng ủy được phân công tổ chức quán triệt, theo dõi các đơn vị thực hiện chủ trương lãnh đạo này.

Nhằm bảo đảm cho công tác chỉ huy của Quân chủng, tôi cùng các đồng chí Phó tham mưu trưởng Vũ Mạnh Hiền, Nguyễn Vũ Bảo và các đồng chí Nguyễn Cảo - Phó trưởng phòng Tác chiến, Nguyễn Hoàng Nhiễu - Trưởng phòng Thông tin, Nguyễn Ngọc Tranh -Trưởng phòng Quân báo, Vũ Ngẫu - Trưởng phòng Rada... thống nhất chuẩn bị mọi việc tổ chức Sở chỉ huy cơ động phía trước và tăng cường Sở chỉ huy Quân chủng ở Thành phố Hồ Chí Minh để sẵn sàng khi cần là triển khai được ngay. Trong đó công tác thông tin liên lạc được chú ý nhất.

Sau cuộc họp của Đảng ủy Quân chủng, các cơ quan của Quân chủng, Vùng 4 và các đơn vị đẩy nhanh các hoạt động bảo vệ chủ quyền biển đảo ở quần đảo Trường Sa. Theo kế hoạch đã thông qua Quân chủng, Vùng 4 triển khai thực hiện:

6 giờ 15 phút ngày 23 tháng 1 năm 1988, tàu HQ-613 do đồng chí Cao Đức Tại làm thuyền trưởng chở vật liệu và lực lượng đóng giữ của Lữ đoàn 146 do đồng chí trung tá Võ Tiến Cai - Phó lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 146 chỉ huy làm nhà cao chân (C3) ở Tiên Nữ. Ngày 6 tháng 2 năm 1988, hoàn thành nhà C3.

Ngày 27 tháng 1 năm 1988, tàu HQ-17 ra trực chiến ở Trường Sa, sẵn sàng chi viện cho các lực lượng đóng giữ đảo. Tàu HQ-07 do đồng chí Nguyễn Viết Chức làm thuyền trưởng, chở vật liệu và lực lượng đóng giữ Đá Lớn. 12 giờ ngày 28 tháng 1 năm 1988, tàu đến Trường Sa Đông, gặp sóng gió to mất cà hai neo nên phải về lại Vũng Tàu.

Hai tàu HQ-661, HQ-712 do đồng chí thượng tá Phạm Công Phán - Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 146 chì huy đi khảo sát, đóng giữ Chữ Thập. Ngày 29 tháng 1 năm 1988, đến Trường Sa Đông thì tàu HQ-661 hỏng lái và đường ống dầu nhờn, phải dừng lại sửa chữa.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Chín, 2021, 09:21:22 am
7 giờ ngày 27 tháng 1 năm 1988, tàu HQ-931 chở hàng Tết cho bộ đội ở các đảo phía Nam. Đến ngày 1 tháng 2 năm 1988, khi tàu HQ-931 đang ở đảo Phan Vinh thì được lệnh đến Tiên Nữ cùng với tàu HQ-613 giữ đảo.

Nếu tính từ ngày 28 tháng 10 năm 1987, ngày mà tàu HQ-613 đem quân đi đóng giữ Đá Tây, đến thời điểm này vừa tròn 92 ngày. Chủ động thực hiện kế hoạch giữ đảo để chống đối phương xâm chiếm, lấn chiếm đảo, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc trong hoàn cảnh chủ quan, khách quan có nhiều khó khăn, hiệu quả chưa đạt được như kế hoạch đề ra, nhưng cũng từ đó mà rút ra và thấy được những vấn đề tồn tại để có những biện pháp thiết thực khắc phục trong những ngày tới.

Trong lúc này, Sở chỉ huy Quân chủng vẫn tập trung theo dõi việc đóng giữ đảo, bảo vệ chủ quyền ở quần đảo Trường Sa. Ngày 28 tháng 1 năm 1988, Sở chỉ huy nhận được tin: “Ngày 21-1-1988, có đoàn tàu khoảng hơn bốn chiếc. Trong đó có một tàu khu trục số 156, một tàu tuần tiễu số 9332, một tàu đổ bộ loại vừa số 932, một tàu dầu số 941 từ căn cứ D… đi Hoàng Sa, đồng thời ở căn cứ T có đoàn tàu bảy chiếc, trong đó có ba tàu đổ bộ lớn”.

Tôi trực chỉ huy, nhận được thông tin liền thông báo chỉ đạo ngay cho Vùng 4 hải quân: Lệnh cho các tàu chú ý quan sát theo dõi, hết sức cảnh giác sẵn sàng chiến đấu không để bị bất ngờ, nếu phát hiện tàu lạ phải nhanh chóng báo cáo về Sở chỉ huy Quản chủng. Đồng thời, tôi cũng báo cáo tin này với Tư lệnh Giáp Văn Cương đang công tác ở Vùng 3. Đồng chí Cương đã ra lệnh tiếp cho Vùng 4 gấp rút đi đóng giữ đảo đã định.

8 giờ 25 phút ngày 31 tháng 1 năm 1988, Sở chỉ huy Quân chủng nhận được báo cáo của Vùng 4: “23 giờ ngày 30-1-1988, HQ-661 và HQ-712 từ Trường Sa Đông do thượng tá Phạm Công Phán - Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 146 chỉ huy đi đóng giữ Chữ Thập; 6 giờ ngày 31 tháng 1 năm 1988, hai tàu đến Chữ Thập, phát hiện có bốn tàu chiến của Trung Quốc trong đó có các tàu hộ vệ pháo 502 và 503 ra ngăn cản không cho tàu ta tiếp cận đảo. Hai tàu HQ-661 và HQ-712 không thể nào tiếp cận đảo được, phải quay trở lại Trường Sa Đông. Hai tàu đối phương tiếp tục bám theo tàu ta đến 8 giờ 20 phút ngày 31 tháng 1 năm 1988, khi còn cách Trường Sa Đông khoảng 19 hải lý thì chúng quay về hướng Chữ Thập. Hai tàu ta về đến Trường Sa Đông lúc 16 giờ cùng ngày”.

Nhận được báo cáo này, Sở chỉ huy Quân chủng xác định là Trung Quốc đã chiếm đảo Chữ Thập và lệnh cho Vùng 4:

- Thông báo ngay cho các tàu, các đảo biết tin đi để cảnh giác sẵn sàng chiến đấu.

- Khi gặp tàu lạ thì bình tĩnh, tránh khiêu khích, tàu đang đi thì cứ tiếp tục đi theo kế hoạch, tàu đang neo ở đảo thì dựa vào đảo và sẵn sàng chiến đấu. Nếu đối phương nổ súng vào ta thì kiên quyết đánh trả.

- Lệnh cho các tàu khác sẵn sàng làm nhiệm vụ vè các lực lượng tiếp tục đóng giữ các đảo theo kế hoạch.

Quân chủng báo cáo với cấp trên về tình hình ở Chữ Thập và đề nghị trên cho không quân bay trinh sát. Ngày 2 tháng 2 năm 1988, máy bay ta phát hiện bốn tàu lạ vẫn ở Chữ Thập. Vì vậy, để đề phòng đối phương chiếm Đá Lớn, Sở chỉ huy Quân chủng đã chỉ đạo Vùng 4 lệnh cho hai tàu HQ-671 và HQ-701 đang đi tiếp tế hàng Tết cho các đảo phía Đắc phải hoãn lại để chuyển qua làm nhiệm vụ trinh sát, đóng giữ Đá Lớn. Hai tàu này xuất phát từ Cam Ranh lúc 22 giờ ngày 31 tháng 1 năm 1988, đi theo tuyến Phan Vinh, Sinh Tồn đến Đá Lớn lúc 8 giờ 20 phút ngày 6 tháng 2 năm 1988, neo lại giữ đảo.

Biên đội tàu HQ-661 và HQ-712 vẫn phải sẵn sàng để nếu tàu đối phương sơ hở hoặc rút đi thì nhanh chóng triển khai đóng giữ Chữ Thập.

Ngày 4 tháng 2 năm 1988, theo tin kỹ thuật ta nắm được đối phương rao báo với nội dung: “Từ 11 giờ ngày 1-2 đến 11 giờ ngày 30-6-1988, các tàu của Trung Quốc tại đảo san hô Vĩnh Thử (Chữ Thập) trong phạm vi bán kính 20 hải lý, tiến hành khảo sát và thi công. Yêu cầu các tàu thuyền qua lại chú ý tránh xa để bảo đảm an toàn”. Ký tên “Cảng Hoàng Phố”.

Từ nguồn tin trên một lần nữa ta xác định là Trung Quốc đã chiếm đá Chữ Thập và đang xây dựng công trình ở đây.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Chín, 2021, 09:22:17 am
Lúc này, Tư lệnh Giáp Văn Cương vẫn ở Vùng 4 trực tiếp kiểm tra, đôn đốc, chỉ đạo việc đóng giữ đảo. Ngay trong ngày 4 tháng 2 năm 1988, đồng chí Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Quân chủng đã triệu tập Đảng ủy Vùng 4 họp bất thường để nghe báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ đóng giữ đảo, bảo vệ chủ quyền biển đảo và bàn chủ trương tiếp tục thực hiện nhiệm vụ trong tình hình mới với nhận định và chủ trương: “Đối phương đã chiếm đóng đá Chữ Thập, trước mắt ta chưa thể đóng giữ xen kẽ được vì đối phương ngăn chặn từ xa. Có thể đối phương sẽ mở rộng xâm chiếm Đá Lát, Ga-ven, Châu Viên, Đá Tây, Đá Nam, Tốc Tan, Núi Le... và chiếm đóng xen kẽ vào những nơi ta mới đóng giữ. Vì vậy, ta phải nhanh chóng đóng giữ các bãi cạn đá san hô. Trước hết là Đá Lát, Đá Lớn, Châu Viên”.

Tư lệnh Quân chủng chỉ thị cho Vùng 4:

- Điều biên đội tàu HQ-661 và HQ-712 do đồng chí Phạm Công Phán chỉ huy về đóng giữ Đá Lát.

- Đồng chí đại tá Lê Văn Thư - Phó chỉ huy trưởng Tham mưu trưởng Vùng 4 ra Trường Sa giao nhiệm vụ cho đồng chí Phán đóng giữ Đá Lát, sau đó đồng chí Thư đi khảo sát, đóng giữ Châu Viên.

- Tàu HQ-505 do đồng chí thiếu tá Vũ Huy Lễ làm thuyền trưởng kéo HQ-556 đi đóng giữ Đá Lớn.

15 giờ ngày 4 tháng 2 năm 1988, Quân chủng báo cáo với cấp trên về tình hình Trung Quốc đã chiếm đóng Chữ Thập và có nêu tình huống: “Nếu ta lao vào đóng xen kẽ, đối phương dùng sức mạnh vũ lực ngăn chặn thì buộc phải nổ súng, để lao vào”.

12 giờ 20 phút ngày 5 tháng 2 năm 1988, cấp trên chỉ thị: “Trước tình hình đó, ta không dùng tàu đánh cá, tàu vận tải đóng xen kẽ, cũng không dùng tàu khác đến gần quanh khu vực này làm kích thích tăng thêm sự chú ý của đối phương. Nếu đối phương rút, ta khẩn trương thực hiện ý định. Tiếp tục đóng giữ Tiên Nữ, Đá Lớn”.

Thấy cần phải có thêm lực lượng tàu để nhanh chóng đóng giữ các bãi cạn, ngày 6 tháng 2 năm 1988, tôi lệnh điều các tàu HQ-187, HQ-188 của Vùng 1; các tàu HQ-604 của Lữ đoàn 125 và tàu HQ-967 của Cục kinh tế tăng cường cho Vùng 4.

Từ lúc này, Vùng 4 tiếp tục khẩn trương triển khai công việc đóng giữ đảo. 12 giờ ngày 13 tháng 2 năm 1988, tàu HQ-505 kéo tàu HQ-556 cùng quân đóng giữ đảo và làm nhà C3 xuất phát đi Đá Lớn để cùng hai tàu HQ-671 và HQ-701 giữ đảo.

Tàu HQ-614 do đại úy Nguyễn Ngọc Thành làm thuyền trưởng và trên tàu này có trung tá Nguyễn Văn Dân - Phó tham mưu trưởng và trung tá Lê Xuân Bạ - Phó chủ nhiệm Chính trị Vùng 4 chỉ huy đến Vũng Tàu nhận quân và vật liệu từ tàu HQ-07 đi đóng giữ Đá Lớn. Tàu xuất phát lúc 5 giờ ngày 13 tháng 2 đến 16 giờ ngày 14 tháng 2 năm 1988 thì tới Đá Lát.

Tàu HQ-851 do thiếu tá Hoàng Thái Lan làm thuyền trưởng và có Đại tá Lê Văn Thư chỉ huy đi tổ chức Sở chỉ huy phía trước của Vùng 4 ở Trường Sa về khảo sát đóng giữ Châu Viên đã đến Trường Sa, Đá Lát. 16 giờ ngày 12 tháng 2 năm 1988, đến Đá Đông.

16 giờ ngày 13 tháng 2 năm 1988, tàu HQ-852 do đại úy Nguyễn Quang Trung làm thuyền trưởng từ Vũng Tàu đi Châu Viên để cùng tàu HQ-851 đóng giữ Châu Viên, Đá Đông, nhưng dọc đường hỏng máy phải quay lại Vũng Tàu.

Trong khi các lực lượng của ta đang trên đường đi đóng giữ Đá Lớn thì 18 giờ 30 ngày 14 tháng 2 năm 1988, Sở chỉ huy Quân chủng nhận được báo cáo của Vùng 4: “17 giờ 15 phút ngày 14-2-1988 có ba tàu Trung Quốc đến Đá Lớn; tàu khu trục 162 vào cách đảo bốn hải lý thả trôi, hai tàu hộ vệ tên lửa 551 và 552 vào cách tàu HQ-701 và HQ-671 của ta hai hải lý. Ba tàu này khả năng đến để chiếm Đá Lớn, nhưng thấy tàu ta đang neo giữ đảo ở đó nên chúng vừa thả trôi theo dõi, vừa để xác minh hành động của tàu ta, uy hiếp để buộc tàu ta rời khỏi đảo”.

Trước tình hình đó, sau khi hội ý thống nhất trong Bộ tư lệnh, 18 giờ 50 phút ngày 14 tháng 2 năm 1988, Tư lệnh Quân chủng lệnh trực tiếp:

- Các tàu HQ-701, HQ-671 ủi bãi đóng giữ Đá Lớn.

- Tàu HQ-505 khẩn trương kéo HQ-556 đến Đá Lớn và đưa tàu HQ-556 lên bãi đầu bắc của đảo.

- Tàu HQ-851 đến Châu Viên chuẩn bị vị trí để khi cần cho ủi bãi; nếu HQ-851 hỏng máy thì cũng cho ủi bãi luôn để giữ đảo.

- Tàu HQ-613 chốt giữ Tiên Nữ, gặp sóng gió to mất cả hai neo, đang trên đường về Cam Ranh cũng có lệnh cho quay về ủi bãi Đá Lớn để giữ đảo nhưng do mất liên lạc với tàu nên không chuyển được lệnh này cho tàu HQ-613.

- Tàu HQ-713 do đại úy Nhuận làm thuyền trưởng, đem quân chốt giữ Tốc Tan, khi đến nơi đưa tàu vào lòng hồ ngay.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Chín, 2021, 09:22:33 am
Cùng lúc này, Quân chủng báo cáo tình hình mọi mặt lên trên và đề nghị:

- Cho không quân tiến hành trinh sát và chi viện chiến đấu.

- Đề nghị Nhà nước trưng dụng gấp cho Hải quân bốn tàu vận tải vào Cam Ranh vận chuyển xây dựng nhà đóng giữ đảo.

Trước tình hình hết sức khẩn trương, ngày 15 tháng 2 năm 1988, Đảng ủy Quân chủng họp bất thường, thống nhất nhận định và chủ trương:

“Đối phương đã đưa nhiều lực lượng hải quân xâm chiếm một số điểm để khẳng định chủ quyền của họ ở quần đảo Trường Sa, ngăn chặn các hoạt động đóng giữ của ta ở các bãi cạn đá san hô và có thể xâm chiếm, đánh chiếm cả những nơi ta đang đóng giữ. Tình hình ngày càng khẩn trương, nhất trí với những biện pháp xử lý của ta vừa qua và chủ trương nhanh chóng đóng giữ các bãi cạn cần thiết còn lại. Lệnh cho các nơi ta đang đóng giữ phải hết sức cảnh giác, sẵn sàng đánh trả nếu đối phương đến đánh chiếm. Thống nhất huy động lực lượng toàn Quân chủng để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quần đảo Trường Sa”.

Trong đêm 14 tháng 2 và tiếp sau đó, các đơn vị làm nhiệm vụ đóng giữ Đá Lớn đã khẩn trương triển khai chấp hành lệnh của Quân chủng:

1 giờ 30 phút ngày 15 tháng 2 năm 1988, tàu HQ-701 đã ủi bãi vào tây nam Đá Lớn.

9 giờ 15 phút cùng ngày, tàu HQ-671 ủi bãi, nhưng gặp bờ bồi san hô cao không ủi vào được, tàu bị hỏng máy phải sửa chữa và sau đó phải cấp cứu tàu HQ-701 vì khi ủi bãi tàu bị thủng, nước vào nhiều, có nguy cơ chìm. Tàu HQ-671 không ủi bãi nữa mà dừng lại đó để giữ đảo.

Tàu HQ-505 đến Đá Lớn lúc 6 giờ 30 phút ngày 17 tháng 2 năm 1988 và ngày 20 tháng 2, ta đã đưa tàu HQ556 vào bãi cạn phía nam Đá Lớn. Đến ngày 13 tháng 3 năm 1988, số cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn 146 làm nhiệm vụ đóng giữ đảo đã làm xong nhà cấp 3A ở phần nam Đá Lớn.

Tàu HQ-614 đang ở Đá Lát được lệnh không đi đóng giữ Đá Lớn nữa mà sẽ cùng tàu HQ-851 giữ Châu Viên. Ngày 16 tháng 2, tàu HQ-614 đã đến Đá Đông. Đồng thời, tàu HQ-661 đang ở Đá Lát cũng được lệnh qua giữ Đá Đông.

Lúc này thời tiết xấu, biển động, cán bộ chiến sĩ hải quân phải khắc phục vượt qua sóng gió lớn rất vất vả, nguy hiểm, tranh thủ từng giờ, từng phút kiên cường quyết tâm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc trong tình hình đối phương đang có những hành động tranh chấp quyết liệt.

Mấy tháng qua, các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật… đều hoạt động khẩn trương theo sát tình hình để phục vụ kịp thời cho Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân chủng lãnh đạo, chỉ huy bảo vệ chủ quyền quần đảo Trường Sa. Ở cơ quan Quân chủng, ngoài Bộ tư lệnh, cán bộ cục và một số trưởng phòng có liên quan phải trực tiếp tham gia giao ban hàng ngày để báo cáo tình hình và nhận chỉ thị của chỉ huy. Trong đó nổi lên là cơ quan kỹ thuật có nhiều khó khăn, bận rộn chỉ đạo công tác bảo đảm kỹ thuật tàu, thuyền trong điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật tàu thuyền quá thiếu thốn; các cán bộ lãnh đạo chỉ huy, các cán bộ ngành tàu của Cục kỹ thuật phải phân công nhau thường xuyên xuống tận các xưởng trạm các đơn vị tàu để hỗ trợ giải quyết khắc phục bảo đảm kỹ thuật tàu thuyền.

Tại Sở chỉ huy, ngoài kíp trực ban tăng cường, các sĩ quan tác chiến, quân báo, thông tin... lúc nào cũng có mặt đầy đủ làm công tác tham mưu phục vụ cho Bộ tư lệnh Quân chủng xử lý tình hình và Bộ tham mưu điều hành chỉ đạo theo dõi đơn vị thực hiện mệnh lệnh của Tư lệnh Quân chủng.

Do tình hình cấp bách phải nắm tình hình kịp thời, thông tin liên lạc kịp thời và nhất là trực tiếp xử lý kịp thời các tình huống xảy ra, vì vậy vấn đề cấp thiết là phải thiết lập một Sở chỉ huy tại Cam Ranh. Sáng 16 tháng 2 năm 1988, Tư lệnh Giáp Văn Cương nói với tôi như vậy và hỏi tôi: “Bộ tham mưu đã sẵn sàng tổ chức Sở chỉ huy tại Cam Ranh chưa?”. Tôi trả lời: “Tư lệnh yêu cầu lúc nào, cơ quan sẵn sàng triển khai lúc đó”. Tôi vừa dứt lời, đồng chí Cương chỉ thị ngay: “Sáng mai (17-2-1988) di chuyển Sở chỉ huy vào Vùng 4”. Sau đó, Tư lệnh thống nhất với tôi, lấy Thành phố Hồ Chí Minh làm Sở chỉ huy cơ bản, Hải Phòng là Sở chỉ huy hậu phương, Sở chỉ huy Quân chủng ở Cam Ranh cùng Vùng 4 trực tiếp chỉ huy bảo vệ chủ quyền quần đảo Trường Sa.

Tình hình gấp rút, nên ngay sau cuộc hội ý của Bộ tư lệnh và báo cáo cấp trên về việc di chuyển Sở chỉ huy, đồng thời xin máy bay của không quân vận tải di chuyển, tôi mời thủ trưởng các Cục họp vừa phổ biến vừa thống nhất kế hoạch di chuyển Sở chỉ huy. Hội ý Bộ tham mưu có các đồng chí Phó tham mưu trưởng: Nguyễn Vũ Bảo, Trần Dực, Vũ Mạnh Hiền... cùng một sô đồng chí trưởng phòng. Thời gian chuẩn bị ngắn nhưng các phương án lập Sở chỉ huy, di chuyển Sở chỉ huy, Bộ tham mưu đã chủ động có kế hoạch từ trước, nên tiến hành thuận lợi. Chỉ có công tác bảo đảm hậu cần ăn, ở cần phải có kế hoạch tiếp khi đến Cam Ranh vì đang trong tình hình chung kinh tế đất nước còn nhiều khó khăn.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Chín, 2021, 09:25:31 am
*
*   *

Đang vui Tết cổ truyền, sáng mồng một Tết Mậu Thìn (17-2-1988), ai cũng ngạc nhiên thấy nhiều cán bộ hải quân mang ba lô ra khỏi nhà đi công tác mà không có người thân đưa tiễn.

Di chuyển đợt dầu này có Tư lệnh, Phó tư lệnh Tham mưu trưởng và phần nhiều là cán bộ cơ quan tham mưu trên 60 người. 7 giờ sáng 17 tháng 2 năm 1988, chúng tôi đã có mặt ở sân bay Gia Lâm. Đến gần 10 giờ sáng, chiếc AN-26 đã lượn vòng tròn trên bầu trời sân bay Cam Ranh, phía dưới không một bóng người. Khoảng 10 phút sau máy bay mới hạ cánh được. Không quân thì không hiểu tại sao máy bay không liên lạc được với sân bay, còn Vùng 4 dù đã có điện báo trước mà vẫn thấy vắng hoe. Có lẽ nhiều người đang mải vui Tết, đón xuân, tôi nghĩ vậy.

Đến sân bay Cam Ranh vào gần trưa, ai nấy bụng đói meo. Được ăn bữa trưa đượm hương vị Tết, có cả bánh chưng thật ấm cúng tuyệt vời. Tất cả do đồng chí Ngô Thế Uy - Phó trưởng phòng hành chính phụ trách công tác hậu cần của Sở chỉ huy chủ động chuẩn bị rất kín đáo, không mấy người biết.

Về đến nơi, sau khi thống nhất với Vùng 4 hải quân, các ngành, các bộ phận nhanh chóng hiệp đồng với các bộ phận của Sở chỉ huy Vùng 4 triển khai. Sở chỉ huy phía trước của Quân chủng bắt đầu làm việc từ 1 giờ sáng ngày 18 tháng 2 năm 1988. Các đồng chí của từng ngành nghiệp vụ của Bộ tham mưu ở Sở chỉ huy như đồng chí Nguyễn Cảo - Phó trưởng phòng Tác chiến, đồng chí Nguyễn Hoàng Nhiễu - Trưởng phòng Thông tin, đồng chí Nguyễn Ngọc Tranh - Trường phòng Quân báo... ngay từ ngày đầu đã hướng dẫn và huy động các cán bộ cùng ngành ở Vùng 4 tham gia làm công tác nghiệp vụ ở Sở chỉ huy. Sở chỉ huy Quân chủng thay Sở chỉ huy Vùng 4 trực tiếp chỉ huy các lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, chống địch xâm chiếm quần đảo Trường Sa thông suốt và liên tục ngay từ đầu.

Kể từ thời điểm này, trong Bộ tư lệnh Quân chủng, đồng chí Tư lệnh Giáp Văn Cương và tôi thường trực chỉ huy tại Sở chỉ huy Cam Ranh.

Trước những diễn biến mới, chiều 18 tháng 2 năm 1988, Thường vụ Đảng ủy Quân chủng họp tại Vùng 4 và quyết nghị:

“Đối phương tranh chấp quyết liệt, đã xâm chiếm Chữ Thập và tiếp tục mở rộng xâm chiếm một số bãi cạn phía đông. Vừa qua ta đã có sự nỗ lực đóng giữ được bốn bãi cạn: Đá Tây, Đá Lát, Đá Lớn, Tiên Nữ, và có kế hoạch đóng giữ tiếp sáu bãi cạn nữa: Châu Viên, Đá Đông, Tốc Tan, Núi Le, Đá Thị, Ga Ven, nhưng có khó khăn phương tiện, kỹ thuật tàu thuyền, trở ngại về thời tiết, đồng thời cũng do chưa đánh giá đúng đối phương nên còn tư tưởng chập chờn, kể cả trong chỉ huy đã ảnh hưởng đến thực hiện nhiệm vụ.

Để kịp ngăn chặn đối phương mở rộng xâm chiếm, ta phải kiên quyết đóng giữ nhanh, đóng giữ đồng thời tất cả các nơi đã có kế hoạch đóng giữ; nếu cần, có thể dùng mọi loại tàu để ủi bãi, đóng giữ”.

Yêu cầu tăng quân số đóng giữ và xây dựng để triển khai cùng một lúc nhiều nơi nên Quân chủng đã lệnh điều thêm tiểu đoàn thứ 2 của Trung đoàn công binh 83, hai tiểu đoàn của Trung đoàn công binh 131 một tiểu đoàn của Lữ đoàn hải quân đánh bộ 147 đồng thời huy động 800 cán bộ, giáo viên, học viên Trường Sĩ quan chỉ huy-kỹ thuật Hải quân tham gia chuyển tải, xếp dỡ vật liệu xây dựng tại cảng Nha Trang và ngoài đảo.

Yêu cầu vận chuyển một khối lượng lớn vật liệu xây dựng nhà cho bộ đội đóng giữ ở các bãi cạn, phải huy động nhiều tàu vận tải của Quân chủng, của Nhà nước, của các địa phương, đồng thời phải tổ chức bến bãi, cầu cảng và cần có sự điều hành tập trung thống nhất nên đã thành lập Sở chỉ huy vận tải chuyên trách chỉ huy công việc này.

Khó khăn khi triển khai Sở chỉ huy ở Cam Ranh, như việc bảo đảm thông tin liên lạc, công tác nắm tình hình địch... thì có một vấn đề nổi lên là xây dựng công trình trên bãi đá san hô ngập nước ta chưa hề trải qua. Vừa rồi Bộ tham mưu chỉ đạo mà trực tiếp là Phòng công binh đã phối hợp với Vùng 4, Trung đoàn công binh 83 đã thiết kế thi công nhà cao chân (nhà cấp 3 - C3) có kết quả tốt trong việc góp phần kịp thời cho bộ đội đóng giữ, chống tranh chấp, xâm chiếm. Đến bây giờ xây dựng nhà kiên cố có kết hợp công sự chiến đấu (nhà cấp 1 - C1) trên nền đá san hô trong tình thế ta phải chạy đua với thời gian không có điều kiện khảo sát tình hình địa chất, không có thời gian nghiên cứu thử nghiệm.

Lúc bấy giờ, các đồng chí trung tá Phan Năng Giả - Trưởng phòng Công binh, trung tá Nguyễn Văn Tỉnh - Trung đoàn trưởng Trung đoàn công binh 83, trung tá Lê Thượng Uyển - Trung đoàn trưởng Trung đoàn công binh 131 đã cùng nhiều cán bộ công binh và các cán bộ, chiến sĩ của Tiểu đoàn 6 đo đạc biển thuộc Bộ tham mưu với một quyết tâm cao, mạnh dạn sáng tạo, chạy đua với thời gian, vừa nghiên cứu địa hình, vừa thiết kế, vừa vật lộn với môi trường khắc nghiệt để thi công nhà cấp 1. Việc xây dựng nhà Cl kịp thời cho bộ đội đóng giữ đảo là cả sự cố gắng vượt bậc ngoài suy nghĩ từ trước tới nay.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Chín, 2021, 09:27:46 am
Khi việc chống tranh chấp, xâm chiếm quần đảo Trường Sa của ta đã thành một vấn đề lớn, vừa cấp bách, hết sức quan trọng, có nhiều lực lượng tham gia, nhiều việc cùng một lúc phải làm như một chiến dịch dài ngày có quân, có dân, có hậu phương, có tiền tuyến, vì vậy tôi đề nghị đặt một “mật danh” chung cho hoạt động bảo vệ chủ quyền này là “CQ” (chủ quyền) được chấp nhận và từ đó nói đi “CQ” có nghĩa là đi bảo vệ chủ quyền ở quần đảo Trường Sa. Lúc này đang là năm 1988 nên gọi “CQ-88”.

Sau khi đã đóng giữ Đá Lớn, Bộ tư lệnh Quân chủng nhắc Vùng 4 nhanh chóng đóng giữ Châu Viên như đã lệnh. Chiều tối ngày 14 tháng 2 năm 1988, thấy nhiều khả năng địch sẽ chiếm Châu Viên, Vùng 4 đã điện cho đồng chí Thư: “HQ-851 phải giữ bằng được Đá Đông và Châu Viên, mà trước hết là Châu Viên”. Lúc này Sở chỉ huy không liên lạc trực tiếp được với tàu HQ-851, mà phải liên lạc vu hồi qua đảo Trường Sa, nhận được báo cáo của đồng chí Thư: “Dự kiến hai tàu HQ-851 và HQ-614 ngày 17 tháng 2 sẽ đi khảo sát Châu Viên”.

Ngày 18 tháng 2 năm 1988, Sở chỉ huy Quân chủng lệnh tiếp cho đồng chí Thư: “Các tàu HQ-614 và HQ-661 khẩn trương đến đóng giữ Châu Viên và triển khai làm nhà. Tàu HQ-851 trực ở Đá Đông, nếu cần ủi bãi”.

Lúc này, Tư lệnh Giáp Văn Cương và tôi liên tục có mặt trực tại Sở chỉ huy để theo dõi và xử lý tình hình. Các đồng chí trực chỉ huy của Vùng 4 và cơ quan của Quân chủng đều có mặt để báo cáo tình hình, nhận chỉ thị và truyền đạt mệnh lệnh của Tư lệnh, đồng thời nhận được báo cáo của đồng chí Thư về tình hình đóng giữ Châu Viên. Sự việc chống tranh chấp ở Châu Viên đã diễn ra như sau:

9 giờ ngày 18 tháng 2 năm 1988, biên đội tàu HQ-614, HQ-851(1) và HQ-614 do đồng chí Lê Văn Thư - Phó chỉ huy trưởng Tham mưu trưởng Vùng 4 chỉ huy. Sở chỉ huy cơ động của Vùng 4 đặt trên tàu HQ-614. Tại Sở chỉ huy này còn có đồng chí Nguyễn Văn Dân - Phó tham mưu trưởng Vùng và Lê Xuân Bạ - Phó chủ nhiệm chính trị Vùng) do đồng chí Lê Văn Thư chỉ huy. Khi đến khảo sát, đóng giữ bãi đá Châu Viên phát hiện trên bãi có một cột bê tông nhỏ. Đến 9 giờ 40 phút, phát hiện hai tàu lạ, trong đó có một tàu khu trục từ phía bắc xuống cách Châu Viên khoảng năm hải lý thì quay ngược lại hướng cũ.

14 giờ 30 phút, tàu khu trục số 162 và tàu kéo số 147 của Trung Quốc đến đông nam Châu Viên dùng xuồng máy đưa quân lên cắm cờ và cho nhiều xuồng đưa vật liệu xây dựng lên bãi Châu Viên. Đến 19 giờ 30 phút, đối phương có thêm tàu hộ vệ tên lửa 508....

Vào lúc 20 giờ cùng ngày, sau hội ý nhanh của chỉ huy, Sở chỉ huy Quân chủng lệnh cho đồng chí Thư: “Các tàu HQ-851 và HQ-614 đứng vững ở Châu Viên, bình tĩnh xử lý tình huống để bảo vệ đảo. Cho cắm cờ càng nhiều càng tốt. Tàu HQ-614 chuyển gấp vật liệu lên làm nhà, tàu HQ-851 yểm hộ. Tìm cách bảo đảm an toàn cho tàu HQ-851 ủi bãi. Trường hợp đối phương nổ súng, phải đánh trả quyết liệt”.

Cùng lúc, Quân chủng báo cáo diễn biến tình hình ở Châu Viên lên cấp trên và nhận được chỉ thị: “Cứ đóng giữ và cắm cờ tranh chấp, bình tĩnh đối phó với mọi hoạt động của đối phương, không mắc mưu, khiêu khích, nghiên cứu tăng thêm tàu cho Châu Viên để bộ đội bám trụ vững chắc”.

22 giờ 10 phút, Sở chỉ huy nhận được báo cáo của đồng chí Thư: “Sóng gió to, tàu rê neo, không ủi bãi được. Dựa vào thế tàu lớn, tàu đối phương ép tàu ta liên tục, thông tin liên lạc bị nhiễu, không bám đảo được. Đã cho HQ-851 và HQ-614 về Đá Đông lúc 20 giờ, đề nghị Sở chỉ huy theo dõi”.

Nhận được báo cáo này, 23 giờ ngày 18 tháng 2 năm 1988, Tư lệnh Giáp Văn Cương điện chỉ thị cho đồng chí Thư (không liên lạc trực tiếp được, phải qua đảo Trường Sa chuyển): “Đối phương chưa có gì trên đảo, chúng chưa dám bắn vào ta đâu, phải cho HQ-851 và HQ-614 quay trở lại Châu Viên nhanh chóng làm nhà đóng xen kẽ với đối phương, tôi sẽ tăng cường lực lượng cho anh”.

24 giờ ngày 18 tháng 2, Sở chỉ huy nhận báo cáo: “Ở Châu Viên, Trung Quốc đã có bảy tàu (tàu khu trục số 162 và bốn tàu hộ vệ số 502, 503, 508, 556, tàu kéo số 147 và một tàu chưa rõ số)”. Trong khi hai tàu ta về Đá Đông, có hai tàu đối phương bám theo ba hải lý rồi quay lại. Đề phòng đối phương tranh chấp Đá Đông như ở Châu Viên đồng chí Thư đề nghị:

- 5 giờ ngày 19 tháng 2, tàu HQ-614 triển khai lực lượng cắm cờ và làm nhà ở Đá Đông; tàu HQ-661 chốt giữ phía đông đảo, sẵn sàng ủi bãi; tàu HQ-851 chốt giữ đảo để chi viện hai tàu và sẵn sàng ủi bãi”.


(1) Tàu HQ-851 là tàu rà quét thủy lôi có lượng giãn nước 810 tấn. Tàu HQ-614 là tàu vận tải có lượng giãn nước 510 tấn.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Chín, 2021, 09:28:32 am
Nhận được báo cáo của đồng chí Thư, Sở chỉ huy lệnh tiếp: “Tiếp tục đóng giữ Châu Viên”.

Chấp hành lệnh của Sở chỉ huy, 5 giờ sáng ngày 19 tháng 2 năm 1988, hai tàu HQ-851 và HQ-614 đã quay lại Châu Viên.

Trên đường ta đến Châu Viên, đối phương đưa ba tàu ra ngăn chặn. Tàu ta vẫn tiếp tục trực chỉ hướng đã định, nhưng khi còn cách Châu Viên khoảng bốn hải lý, tàu đối phương ngăn chặn tàu ta tiếp cận đảo, trong đó có tàu hộ vệ 508 luôn kèm sát tàu HQ-851 của ta. Thấy không thể tiếp cận vào đảo được, lúc 8 giờ 40 phút cùng ngày, đồng chí Thư cho tàu HQ-614 quay về Đá Đông làm nhà, tàu HQ-851 vẫn ở lại cơ động cách Châu Viên bốn hải lý, để có thời cơ thì cho tàu tiếp tục tiếp cận đảo.

8 giờ 5 phút ngày 19 tháng 2, Sở chỉ huy lệnh tiếp cho đồng chí Thư: “Cứ cho biên đội kiên quyết đi thẳng vào đảo”.

Đồng chí Thư báo cáo: “Tàu địch kèm chặt và chặn đầu, tàu ta kiên trì luồn lách để tiếp cận đảo, nhưng không được”.

11 giờ ngày 19 tháng 2, tàu HQ-851 hỏng máy thả trôi cách Châu Viên khoáng bốn hải lý. Tàu hộ vệ 508 của đối phương vẫn kèm sát tàu ta. Đến 17 giờ cùng ngày, tàu HQ-851 tạm khắc phục được máy chính trái đi về Đá Đông. Lúc này, Châu Viên đã bị phía đối phương xâm chiếm.

Trước đó, lúc 10 giờ 30 phút ngày 19 tháng 2, Quân chủng có đề nghị cấp trên cho máy bay trinh sát khu vực Chữ Thập, Châu Viên, Đá Đông và tuyến Cam Ranh, Trường Sa. Máy bay chiến đấu sẵn sàng đánh trả nếu đối phương nổ súng vào tàu ta.

Nhằm đối phó kịp thời với mọi tình huống có thể xảy ra, 17 giờ 30 phút ngày 21 tháng 2, Quân chủng đã lệnh cho Vùng 1 hải quân và Vùng 3 từ trạng thái thường xuyên sẵn sàng chiến đấu lên tăng cường; Vùng 4, Lữ đoàn 162, Hải đội 131 từ trạng thái sẵn sàng chiến đấu tăng cường lên cao.

10 giờ 25 phút ngày 23 tháng 2, Quân chủng lệnh cho Lữ đoàn 125 (bộ phận phía Nam) chuyển lên trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao. Đồng thời điều các tàu HQ-601, HQ-709, HQ-719, HQ 532, HQ-965, HQ-652, HQ-653 cùng một số nhân viên kỹ thuật của Vùng 1, Vùng 3, Lữ đoàn 147 tăng cường cho Vùng 4. Một mặt, Quản chúng đề nghị trên bổ sung một số nhân viên, chiến sĩ kỹ thuật, mặt khác, lệnh cho các đơn vị:

- Tàu HQ-661 cắm cờ, đứng gác Đá Đông. Tìm cách cho tàu vào lòng hồ Đá Đông, nêu không được thì tìm chỗ thuận tiện ủi bãi.

- Đồng chí Phạm Công Phán đang ở Đá Lát (tàu HQ-712) cấp tốc làm xong nhà, triển khai các tổ chiến đấu lên chốt giữ trên xác các tàu bị cạn trước đây tại đảo. Cảnh giác theo dõi mọi động tĩnh của đối phương.

- Lữ đoàn 171 cho tàu HQ-13 ra ngay Trường Sa để sẵn sàng cơ động chiến đấu chi viện; dùng tàu HQ-965 kéo tàu HQ-07 ra đóng giữ Tốc Tan.

Theo lệnh điều động của Sở chỉ huy Quân chủng, trong các ngày từ 22 đến 27 tháng 2 năm 1988, các tàu HQ-652, HQ-709, HQ-719, HQ-532, HQ-967, HQ-901, HQ-903 và tàu kéo Đại Lãnh đã lần lượt đến Cam Ranh khẩn trương nhận nhiệm vụ.

Lúc này trực ở Sở chỉ huy, tôi liên tục theo dõi chỉ đạo các đơn vị chấp hành mệnh lệnh đi đóng giữ đảo bảo vệ chủ quyền ở quần đảo Trường Sa.

23 giờ ngày 19 tháng 2 năm 1988, tàu HQ-601 do đồng chí Phạm Hồng Sơn làm thuyền trưởng xuất phát chở quân và vật liệu làm nhà đóng giữ ở tây Đá Lát, đến ngày 3 tháng 3 năm 1988 đã làm xong nhà cấp 3. Cùng thời gian, tàu HQ-605 do đồng chí Lê Lệnh Sơn làm thuyền trưởng xuất phát chở quân và vật liệu làm nhà đóng giữ đảo ở tây Đá Đông. Ngày 10 tháng 3, làm xong nhà cấp 3.

16 giờ ngày 22 tháng 2, tàu HQ-13 do đồng chí Hoàng Đăng Trân làm thuyền trưởng đến đảo Trường Sa và 6 giờ ngày 27 tháng 2, tàu này đã đến Tốc Tan làm nhiệm vụ bảo vệ đảo.

Tàu HQ-713 do đồng chí Nhuận làm thuyền trưởng xuất phát ngày 22 tháng 2 và tàu HQ-07 do đồng chí Nguyễn Viết Chức làm thuyền trưởng xuất phát ngày 24 tháng 2, hai tàu này đi bảo vệ Tốc Tan. Đến ngày 27 tháng 2, cả hai tàu đã vào đứng ở trong lòng hồ Tốc Tan. 10 giờ 30 phút cùng ngày, tàu Đại Lãnh kéo tàu HQ-852 và pông tông Đ02 đi Đá Lớn. 8 giờ ngày 29 tháng 2 đến đảo và ngày 1 tháng 3 năm 1988 đã đưa Đ02 vào vị trí bắc đảo.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Chín, 2021, 09:29:28 am
17 giờ 30 phút ngày 27 tháng 2, tàu HQ-652 đi bảo vệ Đá Đông và đến đảo ngày 2 tháng 3. Vào lúc 7 giờ ngày 28 tháng 2 năm 1988, tàu HQ-613 đưa quân đi đóng giữ Núi Le và đến ngày 23 tháng 3 thì làm xong nhà cấp 3.

Trong lúc này các tàu HQ-961 và HQ-965 làm nhiệm vụ kéo pông tông và tàu đi giữ đảo nhưng dọc đường máy bị trục trặc kỹ thuật phải quay lại. Tàu HQ-931 đang đứng bảo vệ Tiên Nữ bị giông gió xô vào bãi cạn phải cấp cứu kéo về.

Từ ngày 2 đến ngày 3 tháng 3 năm 1988, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân chủng họp mở rộng có cả lãnh đạo chỉ huy của các Cục, Vùng 4 hải quân và đồng chí Phạm Quang Nho - Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 125... để nghe Bộ tham mưu báo cáo tình hình hoạt động đóng giữ đảo bảo vệ chủ quyền, chống đối phương xâm chiếm ở quần đảo Trường Sa và nghe phổ biến chỉ thị của trên về vấn đề Trường Sa. Bản chỉ thị nêu rõ:

“... Phải tranh thủ giữ thêm một số bãi đá ngầm...; tổ chức đóng giữ các đảo không dùng nhiều người; có thể dùng mọi loại tàu để giữ đảo, kể cả loại tàu hộ vệ chống ngầm 159. Công việc của ba năm (1988-1990) sẽ làm xong trong năm 1988…”.

Cấp trên đã có kế hoạch chi viện cho Trường Sa. Để giữ chủ quyền, ta sẽ cho tàu đánh cá của các tỉnh Thuận Hải, Phú Khánh ra hoạt động đánh bắt thủy sản ở Trường Sa. Về ngoại giao, cho công bố tư liệu chủ quyền Trường Sa...

Sau khi soát xét mọi công việc đã thực hiện trong thời gian qua và quán triệt chi thị của cấp trên, nhất là qua vụ Trung Quốc xâm chiếm trái phép Châu Viên, Quân chủng đã thống nhất nhận định đánh giá tình hình, đồng thời chủ trương:

“Đối phương đã đưa lực lượng Hải quân xàm chiếm quần đảo Trường Sa mạnh hơn ta nhiều lần, chúng sẽ mở rộng xâm chiếm, kể cả đóng xen kẽ vào những đảo ta đang đóng giữ như: Đá Lớn, Phan Vinh, Tốc Tan, Đá Đông, Thuyền Chài... và có thể gây cớ đề đánh vào các đảo cũ của ta. Vỉ vậy, ta phải:

- Nhanh chóng hoàn thiện việc đóng giữ các đảo: Tốc Tan, Núi Le, Đá Đông, Đá Thị, Len Đao, Phan Vinh B, Thuyền Chài C...; nếu có điều kiện sẽ đóng xen kẽ ở Châu Viên, Chữ Thập.

- Không bị khiêu khích khi đối phương ngăn chặn, nhưng ta vẫn kiên quyết duy trì cho tàu đi lại bình thường trên tất cả các hành lang từ trước đến nay ta vẫn đi.

Sau khi làm nhà cấp 3, nhanh chóng làm nhà cấp 1 và tăng cường khả năng chiến đấu. Mỗi điểm đóng giữ có một nhà cấp 3, một nhà cấp 1, một pông tông.

- Tăng thêm trang bị vũ khí cho các đảo đã đóng giữ trước đây.

- Để tăng cường chỉ huy trực tiếp: chia quần đảo Trường Sa thành năm khu vực. Khu vực 1 gồm các đảo: Trường Sa, Đá Lát, Đá Tây, Trường Sa Đông, Đá Đông. Sở chỉ huy đặt tại đảo Trường Sa. Khu vực 2 gồm: Nam Yết, Sinh Tồn, Sơn Ca, Sinh Tồn Đông, Đá Lớn. Sở chỉ huy đặt tại Nam Yết. Khu vực 3 gồm: các đảo Phan Vinh, Tiên Nữ, Tốc Tan, Núi Le. Sở chỉ huy tại Phan Vinh. Khu vực 4 gồm các đảo: Thuyền Chài, An Bang. Sở chỉ huy tại nam Thuyền Chài. Khu vực 5 là đảo Song Tử Tây”.

Sở chỉ huy phía trước của Quân chủng cũng được tăng cường cán bộ và phương tiện thông tin liên lạc. Lúc này ta triển khai nhiều đầu mối, nhưng thiếu máy thông tin liên lạc đường xa, trong khi Hải quân có nhiều máy P.609 liên lạc đường ngắn, liên lạc giữa máy bay và tàu. Đồng chí Nhiễu - Trưởng phòng thông tin Quân chủng đã quan hệ với Phòng thông tin Không quân và được cấp trên đồng ý đem máy thông tin P.609 đổi lấy 30 máy thông tin liên lạc đường dài 102E mà không quân chưa cần dùng đến để trang bị cho một số đơn vị hải quân.

Các ngành trực ở Sở chỉ huy lúc nào cũng theo sát tình hình vừa làm tham mưu chỉ huy vừa chỉ đạo đôn đốc giúp đỡ các đơn vị tổ chức thực hiện chỉ thị mệnh lệnh của Bộ tư lệnh Quân chủng. Đến lúc này, đồng chí Giáp Văn Cương - Tư lệnh Quân chủng kiêm luôn Chỉ huy trưởng Vùng 4 hải quân để trực tiếp chỉ huy lực lượng làm nhiệm vụ ở quần đảo Trường Sa.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Chín, 2021, 09:30:28 am
Tính đến đầu tháng 3 năm 1988, các lực lượng của ta đã cơ bản đứng chân phần lớn các nơi ta dự kiến đóng giữ và mỗi nơi đều có nhà cấp 3, pông tông đóng giữ và tàu làm nhiệm vụ bảo vệ, cụ thể:

- Đá Lớn: một nhà cấp 3, pông tông Đ02, các tàu làm nhiệm vụ đóng giữ HQ-556. HQ-701, các tàu làm nhiệm vụ bảo vệ HQ-505, HQ-852.

- Đá Lát: hai nhà cấp 3 và tàu bảo vệ HQ-712.

- Đá Tây: một nhà cấp 3.

- Đá Đông: hai nhà cấp 3 và các tàu bảo vệ HQ-851, HQ-652, HQ 661, HQ-605, HQ-614.

- Tốc Tan: pông tông 532 và các tàu bảo vệ HQ-07, HQ-713.

- Núi Le: đang làm nhà C3 và các tàu bảo vệ HQ-13, HQ-613.

- Tiên Nữ: một nhà cấp 3.

Tuy chưa đóng giữ hết các nơi theo dự kiến kế hoạch nhưng đến giai đoạn này, mặc dù đối phương dùng sức mạnh để tranh chấp ngăn chặn, ta gặp nhiều khó khăn về tàu thuyền, thời tiết, v.v..., nhưng ta đã huy động lực lượng tối đa để giữ chủ quyền quần đảo Trường Sa với cường độ hoạt động lớn và tốc độ tương đối nhanh, bước đầu ngăn chặn được việc mở rộng xâm chiếm của đối phương.

Ngày 4 tháng 3 năm 1988, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân chủng tiếp tục họp bàn thực hiện chỉ thị của trên: “Phải đóng giữ thêm một số bãi đá ngầm chưa có đối phương”.

Vừa qua, ta đóng giữ Đá Lát, Đá Tây, Đá Đông, Đá Lớn, Tốc Tan, Núi Le, Tiên Nữ; đối phương đã chiếm giữ Chữ Thập (31-1), Châu Viên (18-2), Gaven (26-2), Huygơ (28-2). Lúc này còn một số bãi cạn đá san hô ở khu vực cụm đảo Sinh Tồn, Nam Yết mà khả năng đối phương có thể tiếp tục xâm chiếm như: Đá Thị, Ét-mân, Ba Đầu, Đá Rốt, Gạc Ma, Cô Lin, Len Đạo, Én Đất và một số bãi đá ở đông kinh tuyến 115 độ như Vành Khăn, Suối Ngọc, Suối Ngà, Cỏ Mây

Soát xét lại khả năng hiện tại thì ta chưa đủ sức đóng giữ hết tất cả các bãi cạn đá san hô được. Thấy vị trí ở bãi cạn Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao, nếu đối phương chiếm giữ sẽ khống chế hành lang đi lại của ta ở khu vực 2 và khu vực 3. Vì vậy, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân chủng thống nhất: trước hết phải đóng giữ Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao, còn các nơi khác có kế hoạch sau.

Việc đóng giữ Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao, trong thời điểm này có thể để xảy ra các tình huống tranh chấp, vì xung quanh khu vực này có những điểm Trung Quốc đã chiếm giữ và một số lượng lớn tàu chiến của họ đang đứng bảo vệ các nơi đó. Ở Gaven có tàu hộ vệ pháo 503, hai tàu vận tải đổ bộ, một tàu kéo, một tàu đo đạc. Huygơ có tàu hộ vệ pháo 502 và một tàu vận tải. Chữ Thập có tàu hộ vệ tên lửa 510, một tàu đổ bộ và hai tàu vận tải. Châu Viên có tàu hộ vệ tên lửa 551. Ngoài ra, còn có ba tàu hộ vệ tên lửa đang cơ động quanh khu vực này là 531, 553 và 556.

Với tình hình và dự đoán như trên, việc đóng giữ ba nơi này được ta tiến hành hết sức khẩn trương, bí mật và tập trung. Diễn biến như sau:

11 giờ ngày 12 tháng 3, tàu HQ-671 do đồng chí Cúc làm thuyền trưởng, từ Đá Lớn đi Nam Yết qua phía nam Gaven để quan sát, thu hút sự chú ý của đối phương. 15 giờ cùng ngày, đến Nam Yết. 9 giờ ngày 13 tháng 3, tàu HQ-671 trở về Đá Lớn.

Tàu HQ-605 đang ở Đá Đông đến Tốc Tan trước 7 giờ ngày 13 tháng 3 gặp đồng chí Ngô Tiến Cai, Phó lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 146 (ở tàu Đại Lãnh) nhận nhiệm vụ sẵn sàng đóng giữ Len Đao.

Tàu HQ-13 từ Núi Le đến Tốc Tan nhận dầu ở tàu HQ-07 và ở đó sẵn sàng đợi lệnh. Sở chỉ huy sẽ điều tàu HQ-13 lên chi viện cho các tàu của ta đang làm nhiệm vụ ở Gạc Ma, Cô Lin khi cần.

14 giờ ngày 13 tháng 3, tàu HQ-17 từ Trường Sa lên Đá Lớn sẵn sàng chi viện cho các tàu của ta. 8 giờ cùng ngày, đến Đá Lớn. Tàu HQ-961 kéo pông tông Đ04 xuất phát từ Vũng Tàu lúc 23 giờ ngày 12 tháng 3 đi Tốc Tan và khi cần sẽ điều tàu HQ-961 lên Len Đao.

Đội hình chính đi đóng giữ Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao là các tàu vận tải. Tàu HQ-604(1) do đại úy Vũ Phi Trừ làm thuyền trưởng. Tàu HQ-505 do thiếu tá Vũ Huy Lễ làm thuyền trưởng. Tàu HQ-605 do đại úy Lê Lệnh Sơn làm thuyền trưởng.


(1) Tàu HQ-604 và HQ-605 là tàu vận tài có lượng giãn nước 770 tấn.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Chín, 2021, 09:31:56 am
20 giờ ngày 11 tháng 3 năm 1988, tàu HQ-604 xuất phát từ Cam Ranh đi Đá Lớn, chở theo hai khung nhà cấp 3, hai đội xây dựng của Trung đoàn công binh 83 cùng bộ phận cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ đóng giữ đảo của Lữ đoàn 146 do thiếu úy Trần Văn Phương chỉ huy, bộ phận đo đạc biển của Tiểu đoàn 6 hàng hải, hai học viên Trường sĩ quan chỉ huy-kỹ thuật Hải quân. Tất cả do trung tá Trần Đức Thông - Phó lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 146 chỉ huy, đến Đá Lớn lúc 9 giờ 30 phút ngày 13 tháng 3. Tại đây hai đồng chí Thông, Trừ đã gặp tàu HQ-505 để thống nhất kế hoạch đóng giữ Gạc Ma, Cô Lin.

12 giờ ngày 13 tháng 3 năm 1988, biên đội hai tàu HQ-604 và HQ-505 xuất phát từ Đá Lớn đi Cô Lin, Gạc Ma. Trước đó, 18 giờ ngày 12 tháng 3, Sở chỉ huy lệnh cho tàu HQ-605 phải có mặt ở Len Đao sau 18 giờ ngày 13 tháng 3 và không được muộn hơn 6 giờ ngày 14 tháng 3 năm 1988. Sau đó, Sở chỉ huy nhận được báo cáo của tàu HQ-605 với nội dung: 22 giờ ngày 13 tháng 3, xuất phát từ Tốc Tan đi Len Đao.

Tại Sở chỉ huy lúc này kíp trực ban có đông đủ các đồng chí chỉ huy và sĩ quan tham mưu các ngành của Quân chủng cũng như của Vùng 4. Ngay từ đầu tại Sở chỉ huy Quân chủng, tôi đã khẩn trương truyền đạt mệnh lệnh của Tư lệnh và hướng dẫn kế hoạch cho các đơn vị triển khai thực hiện kế hoạch đóng giữ đảo. Sở chỉ huy cũng tăng cường mọi biện pháp liên tục theo dõi nắm chắc mọi tình hình để xử lý các tình huống. Trực chỉ huy liên tục tại Sở chỉ huy Quân chủng có Tư lệnh Giáp Văn Cương và tôi.

Chỉ huy Vùng 4 và các Lữ đoàn tàu 125, 171, Lữ đoàn đóng giữ đảo 146; các Trung đoàn công binh 83, 131… luôn ở tư thế sẵn sàng triển khai chấp hành mệnh lệnh, chỉ thị của Quân chủng.

Để nghi binh răn đe đối phương, Sở chỉ huy báo cho đảo Sinh Tồn sẽ có tàu nước và tàu hàng đến tiếp tế; đồng thời lệnh cho đảo Nam Yết bắn thử các loại súng về phía nam 15km, đảo Song Tử Tây bắn thử các loại súng về phía bắc 4km. Trong các ngày 9 và ngày 10 tháng 3, không quân ta cho máy bay luyện tập ở khu vực 1. Vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 13 tháng 3 năm 1988, tàu HQ-604 đến Gạc Ma và tàu HQ-505 đến Cô Lin thả neo an toàn.

17 giờ 30 phút, Sở chỉ huy nhận báo cáo của hai đồng chí Thông và Trừ: “Lúc 17 giờ ngày 13 tháng 3, tàu hộ vệ 502 của đối phương từ phía Huygơ đến gần tàu ta 50m gọi loa tuyên bố đây là lãnh hải của họ, ta phải rời ngay. Mặc họ la hét, chúng tôi vẫn kiên quyết bám đảo, không rời một tấc.

Và tiếp đó, lại nhận được báo cáo: “18 giờ 10 phút ngày 13 tháng 3, tàu đối phương giãn ra cách tàu ta 500m và sau đó đi về hướng tây cách ta khoảng 6 hải lý. Hai tàu ta vẫn kiên quyết bám giữ đảo và dự kiến 2 giờ ngày 14 tháng 3, tiến hành khảo sát bãi cạn và đưa vật liệu lên làm nhà”.

Trước tình hình này, Bộ tư lệnh Quân chủng thống nhất xứ lý:

- 21 giờ ngày 13 tháng 3 năm 1988, lệnh cho các đồng chí Thông, Trừ (tàu HQ-604) và đóng chí Lễ (tàu HQ-505) quyết giữ Gạc Ma, Cô Lin và cho phép tàu ủi bãi để giữ bằng được hai bãi này.

- 22 giờ 5 phút ngày 13 tháng 3, lệnh tiếp: “Khẩn trương thả các xuồng máy, xuồng nhôm để bám giữ đảo, đồng thời chuyển vật liệu lên làm nhà”.

- 22 giờ 20 phút, Sở chỉ huy báo cáo tình hình tranh chấp ở Gạc Ma, Cô Lin và đề nghị cấp trên, sáng 14 tháng 3 cho máy bay chiến đấu sẵn sàng chi viện, đồng thời máy bay trinh sát tuyến Sơn Ca -Nam Yết - Sinh Tồn - Đá Lớn.

- 23 giờ ngày 13 tháng 3, lệnh cho tàu HQ-671 do đồng chí Cúc làm thuyền trưởng đi ngay từ Đá Lớn đến cùng HQ-604 giữ Gạc Ma và tàu HQ-931 do đồng chí Thủy làm thuyền trưởng ngưng tiếp nước ở Đá Đông đi ngay đến cùng HQ-505 giữ Cô Lin.

0 giờ ngày 14 tháng 3, lệnh cho các đồng chí Thông, Trừ, Lễ “dùng tất cả loại xuồng đưa quân đổ bộ lên đảo ngay trong đêm nay, cắm hai cờ ở mỗi đảo. Khi nước ngập dựa vào các mô đá trụ lại trên đảo. Tổ chức bốn tổ chiến đấu ở Gạc Ma và hai tổ chiến đấu ở Cô Lin. Mỗi đảo phải có xuồng máy, phao cá nhân, bơi chèo để đảm bảo an toàn. Đồng chí Lễ tăng cường xuồng máy LCVP cho tàu HQ-604 để vận chuyển vật liệu lên đảo làm nhà ngay trong đêm nay và ngày mai. Chú ý đề phòng đối phương lén lút đổ bộ lên đảo”.

Cùng thời gian này, Sở chỉ huy năm lần nhận được báo cáo của đồng chí Lễ: “Hai tàu ta vẫn neo ở vị trí cũ an toàn. Có nhiều tàu đối phương xuất hiện ở cự ly 6 hải lý, riêng tàu hộ vệ 502 vào gần tàu HQ-604 khoảng ba hải lý. Các tàu đối phương không lên đèn”


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Chín, 2021, 09:32:17 am
2 giờ 35 phút ngày 14 tháng 3, Sở chỉ huy nhận được báo cáo của các đồng chí Thông, Trừ:

“Lúc 0 giờ 30 phút ngày 14 tháng 3, tàu đối phương thả trôi ở phía tây nam cách ta năm hai lý. Dự kiến: 1 giờ ngày 14 tháng 3, dùng xuồng cao su khảo sát Gạc Ma; 6 giờ chuyển hàng lên”. (Thực tế đến 3 giờ 14-3, anh em ta mới lên cắm cờ ở Gạc Ma).

Trong lức chưa nhận được báo cáo của các đồng chí Thông, Trừ, Tư lệnh Quân chủng đã có lệnh tiếp:

“Đã có lệnh đổ bộ lên đảo, các đồng chí thi hành ngay, không được để đối phương chiếm mục tiêu. Chuẩn bị vị trí để khi cần các đồng chí tự quyết định cho tàu ủi bãi”.

Lệnh cho đồng chí Sơn ở tàu HQ-605: “Tới mục tiêu cho đổ bộ quân lên giữ đảo. Cắm cờ ở hai đầu đảo. Khảo sát vị trí để khi cần cho tàu ủi bãi”.

Do tình hình thông tin khó khăn nên mãi đến 7 giờ 5 phút ngày 14 tháng 3, Sở chỉ huy mới nhận được báo cáo của đồng chí Lễ: “5 giờ 30 phút ngày 14 tháng 3 có ba tàu Trung Quốc đến gần Gạc Ma, Cô Lin. 6 giờ 30 phút, tàu HQ-505 của ta đã cắm hai cờ ở Cô Lin. Tàu hộ vệ 502 của họ vẫn ép sát tàu HQ-604 của ta”.

1 giờ 45 phút ngày 14 tháng 3, Sở chỉ huy nhận được báo cáo của đồng chí Trừ: “4 giờ 35 phút ngày 14 tháng 3, phát hiện ba tàu đối phương đang tiến gần về Gạc Ma. 5 giờ 5 phút, tàu đối phương thả ba xuồng máy có 12 tên đến vị trí ta cắm cờ; anh em ta đứng xung quanh bảo vệ cờ, sau một giờ đối phương vẫn không dám đến gần”. (Điện số 16).

Tiếp đó, nhận được điện số 17 của đồng chí Trừ gửi lúc 6 giờ 45 phút ngày 14 tháng 3: “Tàu 556 đối phương đi về hướng Len Đao. Ở Gạc Ma, họ thả thêm ba xuồng và đưa quân lên đảo cắm cờ. Ta đang khẩn trương bốc hàng lên đảo, tình hình tranh chấp rất quyết liệt, tàu đối phương tiếp cận sát đảo”.

Sau bức điện báo cáo này, Sở chỉ huy mất liên lạc với tàu HQ-604. Thực tế khi Trung Quốc đưa 40 lính hùng hổ đổ bộ lên vị trí cắm cờ của ta ở Gạc Ma, một số cán bộ chiến sĩ của Lữ đoàn 146 và của Trung đoàn công binh 83 đo thiếu úy Trần Văn Phương (Lữ đoàn 146) chỉ huy đã bình tĩnh, dũng cảm đứng vây quanh kiên quyết bảo vệ cờ Tổ quốc không cho đối phương lao vào. Lập tức, đối phương điên cuồng nổ súng, đồng chí Phương ngã xuống. Ngay lúc đó, binh nhất Nguyễn Văn Lanh (Trung đoàn 83) xông lên cùng anh em xiết chặt xung quanh bảo vệ lá cờ Tổ quốc. Đối phương cho lính lao vào, hai bên giằng co đánh nhau bằng tay không. Khi đồng chí Lanh vừa đánh bật khẩu súng ngắn trên tay tên chỉ huy của đối phương thì một tên lính từ phía sau dùng lê đâm lén đồng chí bị thương ngã xuống. Một dòng máu nhuộm đỏ dưới chân cột cờ Tổ quốc, lá cờ đỏ sao vàng năm cánh vẫn hiên ngang bay trước gió. Trước hành động dũng cảm của các đồng chí Phương, Lanh và sự kiên cường anh dũng bảo vệ đảo, bảo vệ lá cờ Tổ quốc của cán bộ, chiến sĩ ta, đối phương phải rút quân về tàu của chúng.

Một khi không thể tranh chấp được với ta trên đảo Gạc Ma thì đến 7 giờ 50 phút ngày 14 tháng 3 hai tàu hộ vệ của đối phương 502 và 531 điên cuồng dùng pháo tập trung bắn vào tàu vận tải HQ-604 của ta, làm tàu bốc cháy và chìm ở phía nam Gạc Ma khoảng 300m. Các đồng chí Trần Đức Thông, Vũ Phi Trừ và một số chiến sĩ ta hy sinh tại đây.

Khi đối phương bắn vào tàu vận tải HQ-604 thì tàu vận tải đổ bộ HQ-505 của ta bình tĩnh nhổ neo ủi bãi, kiên quyết giữ đảo. Tàu ta đang ủi bãi thì 8 giờ 15 phút ngày 14 tháng 3, hai tàu đối phương (502 và 531) lại điên cuồng bắn vào tàu HQ-505 làm hỏng lái. Tuy nhiên, tàu ta vẫn tiếp tục kiên cường ủi bãi, bất chấp tàu địch tiếp tục điên cuồng bắn vào tàu ta. Đến 8 giờ 19 phút cùng ngày, tàu HQ-505 lên cạn được hai phần ba thân tàu. Tàu bốc cháy, anh em vẫn kiên cường dập lửa bảo vệ tàu, bảo vệ đảo. Từ đó trở đi, tàu HQ- 505 mất liên lạc với Sở chỉ huy. Trong thời gian tàu HQ-505 nằm cạn ở Cô Lin, tàu chiến đối phương ngày nào cũng vào gần dùng mọi thủ đoạn khiêu khích đe dọa, nhưng cán bộ, chiến sĩ ta vẫn bình tĩnh kiên cường giữ tàu, giữ đảo.

Riêng với tàu HQ-605, sau khi tàu xuất phát từ Tốc Tan đi Len Đao (22 giờ 23-3-1988), Sở chỉ huy cùng mất liên lạc với tàu. Thông tin chỉ huy trên biển chỉ có liên lạc bằng vô tuyến, ngoại trừ máy móc hư hỏng, nếu bị địch chế áp điện tử cũng bị mất liên lạc.

Liên tục trong gần một tháng, cán bộ và chiến sĩ thông tin ở Sở chỉ huy cũng như ớ các tàu, các đảo mặc dù có khó khăn về trang bị khí tài, nhưng với tinh thần bảo vệ chủ quyền biển đảo đã không quản ngày đêm tích cực tận tụy khắc phục mọi khó khăn giữ vững mạch máu liên lạc phục vụ chỉ huy. Đến lúc này, thông tin ớ Sở chỉ huy vẫn không ngừng canh liên lạc với các đài đối đã mất liên lạc.

17 giờ 40 phút ngày 14 tháng 3 năm 1988, qua thông tin của đảo Sinh Tồn, Sở chỉ huy nhận được báo cáo tình hình của tàu vận tải HQ-605:

“Vào lúc 5 giờ ngày 14 tháng 3. anh em đã lên cắm cờ ở Len Đao. Đến 8 giờ 20 phút cùng ngày, tàu hộ vệ 556 của đối phương từ phía Gạc Ma đến bắn vào tàu HQ-605, tàu bốc cháy, cán bộ chiến sĩ tàu cố dập lửa nhưng cháy lớn quá không dập được, một đồng chí hy sinh không lấy được thi thể, 18 đồng chí phải rời tàu bơi xuồng về đảo Sinh Tồn. trong đó có bốn đồng chí bị thương, về đến Sinh Tồn hy sinh một đồng chí. Sau đó tàu vận tải HQ-605 bị chìm tại Len Đao”.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Chín, 2021, 09:33:04 am
Sau khi các tàu HQ-604, HQ-605 và HQ-505 bi đối phương bắn chìm, bắn cháy, Sở chỉ huy lệnh cho tàu HQ-931 ở Đá Đông, tàu HQ-671 ở Đá Lớn treo cờ Chữ thập đỏ đến ngay khu vực Gạc Ma - Cô Lin - Len Đao làm nhiệm vụ cấp cứu, cứu hộ. Nếu bị đối phương dùng vũ khí uy hiếp, hoặc có hành động ngăn chặn, cản trở vẫn cứ bình tĩnh làm nhiệm vụ cấp cứu đưa anh em về đảo Sinh Tồn. Trên đường đi, mặc dù nhiều lần bị đối phương ngăn chặn và khiêu khích, tàu HQ-671 vẫn trực chỉ vào khu vực Cô Lin - Gạc Ma. 15 giờ ngày 14 tháng 3, tàu HQ-671 cập đuôi tàu HQ-505 đưa toàn bộ số cán bộ, chiến sĩ đi trên tàu HQ-604 đã cứu được về đến Sinh Tồn lúc 22 giờ cùng ngày.

Tàu HQ-931 từ Đá Đông lên Len Đao cũng bị đối phương ngăn chặn vây ép, nhưng ta vẫn bình tĩnh tránh mọi khiêu khích. 13 giờ ngày 14 tháng 3, đến Len Đao, lúc này tàu HQ-605 vẫn đang cháy. Quan sát kỹ khu vực này không có người, trên đảo Len Đao lá cờ đỏ sao vàng vẫn tung bay trước gió. Chiếu tối, tàu HQ-931 đi về đảo Sinh Tồn.

Cùng lúc Sở chỉ huy lệnh cho hai tàu HQ-671 và HQ-931 thì đồng thời cũng lệnh cho các tàu HQ-13 và HQ-961 dừng lại ở Tốc Tan, không lên khu vực Cô Lin - Gạc Ma - Len Đao để tránh gây thêm tình hình căng thẳng ở khu vực này.

Sáng 15 tháng 3 năm 1988, cho hai tàu HQ-671 và HQ-931 trở lại Gạc Ma - Cô Lin tiếp tục tìm kiếm, cấp cứu nhưng không phát hiện thêm người nào nữa. Chiều cùng ngày, đưa bớt số anh em của tàu HQ-505 về Sinh Tồn. Chỉ để lại một số đồng chí chốt giữ tàu, bảo vệ đảo Cô Lin. Sở chỉ huy điều tàu HQ-614 đến Sinh Tồn lúc 18 giờ ngày 16 tháng 3 để cùng với tàu HQ-671 và HQ-931 tham gia cấp cứu, cứu hộ.

Theo đề nghị của Quân chủng Hải quân, sáng ngày 16 tháng 3, máy bay AN-26 của không quân thả dù năm kiện hàng gồm thuốc men, quần áo... cho số anh em các tàu HQ-604, HQ-605, HQ-505 đang ở Sinh Tồn,

14 giờ ngày 16 tháng 3, từ Sinh Tồn tàu HQ-671 đã đưa các đồng chí thương binh về Cam Ranh lúc 4 giờ 30 phút ngày 18 tháng 3 năm 1988.

Tiếp sau đó các tàu Đại Lãnh kéo tàu HQ-462 cùng tổ chiến sĩ đặc công lặn của Đoàn 861, các tàu HQ-614, HQ-187, HQ-965... đến khu vực Cô Lin - Gạc Ma - Len Đao để làm nhiệm vụ tim kiếm, cấp cứu, cứu hộ. Một số lần tàu đối phương vào gần đe dọa, khiêu khích nhưng các tàu của ta vẫn bình tĩnh vượt qua mọi ngăn chặn để làm nhiệm vụ của mình, không lùi bước, không một chút do dự,

Sau sự kiện ngày 14 tháng 3 năm 1988, ngày hôm sau. Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân chủng họp mở rộng có sự tham gia của Thường vụ Đảng ủy Vùng 4 để đánh giá kết quả hoạt động bảo vệ chủ quyền của ta từ cuối năm 1987 đến nay, nhất là việc đụng độ xảy ra tranh chấp chủ quyền ở khu vực Cô Lin - Gạc Ma - Len Đao, đồng thời đề ra chủ trương, biện pháp đẩy mạnh hoạt động bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của ta ở quần đảo Trường Sa khẩn trương hơn, toàn diện hơn, vững chắc hơn trong thời gian tới. Hội nghị kết luận:

“Vừa qua đối phương đã sử dụng một lực lượng hải quân tương đối lớn để thực hiện ý đồ tranh chấp xâm chiếm quần đảo Trường Sa của ta, ở biển Đông. Sau hơn một tháng, đối phương tiến hành xâm chiếm ở quần đảo Trường Sa và thấy ta chống xâm chiếm bằng triển khai chiếm lĩnh các nơi nhanh chóng hơn, đối phương đã dùng thủ đoạn lấy sức mạnh quân sự để đẩy ta ra ở một số nơi nhưng không thành công, mà ta lại củng cố nhanh các vị trí đã đóng giữ, do đó đối phương chủ trương tăng thêm lực lượng điên cuồng nổ súng vào tàu ta để uy hiếp và thăm dò thái độ của ta Vì vậy, trận đánh vừa qua ở Cô Lin - Gạc Ma - Len Đao là có chủ trương của nhà cầm quyền đối phương và có sự chuẩn bị. Hiện nay nếu ta không tấn công về chính trị, ngoại giao, pháp lý và không có biện pháp đối phó tích cực về quân sự thì đối phương còn tiếp tục lũng đoạn khu vực này.

Về ta, vừa qua đã nhanh chóng triển khai đóng giữ những nơi cần thiết, nhưng gặp khó khăn về số, chất lượng tàu thuyền, thời tiết xấu kéo dài, sóng gió lớn liên tục lại hoạt động bảo vệ, chống tranh chấp chủ quyền trên một vùng biển rất rộng lớn, địa hình, địa chất rất phức tạp, do đó tốc độ triển khai có lúc chưa thực hiện được như kế hoạch thời gian đã đề ra.

Trận đánh ngày 14 tháng 3 năm 1988, có gây cho ta một số tổn thất, song đây là thắng lợi của ta. Nếu cứ để đối phương lặng lẽ chiếm hết nơi này đến nơi khác, mà ta không có phản ứng gì, thì vô hình trung đã thừa nhận chủ quyền của họ.

Ý thức bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc trên biển, đảo và tinh thần chấp hành mệnh lệnh của cán bộ, chiến sĩ ta rất tốt. Đã xuất hiện nhiều tấm gương kiên cường, dũng cảm hy sinh trong chiến đấu và tích cực trong lao động; triệt để chấp hành nhiệm vụ trên giao, xử lý tình huống đúng đắn, kiên quyết và mềm dẻo. Tuy nhiên, trong cán bộ và nhân dân vẫn còn một số nhận thức chưa đầy đủ về vấn đề bảo vệ chủ quyền đất nước ở khu vực này”.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Chín, 2021, 09:34:39 am
Trước tình hình như vậy, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân chủng chủ trương:

- Tiếp tục triển khai đóng giữ một số điểm cần thiết nữa.

- Củng cố các nơi mới đóng giữ, nhanh chóng xây dựng nhà lâu bền và tăng thêm phương tiện nổi bảo đảm sinh hoạt của bộ đội ở nơi mới đóng giữ,

- Tăng cường khả năng phòng thủ và điều kiện sinh hoạt cho bộ đội ở các đảo cũ.

Đề nghị với cấp trên:

- Đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao, pháp lý để bảo vệ chủ quyền biển đảo của ta.

- Động viên phong trào đấu tranh chính trị trong cả nước và quốc tế, đồng thời tuyên truyền trong nội bộ để đi đến thống nhất nhận định tình hình như đã nói trên đối với các cấp, các ngành và trong nhân dân.

- Đưa hoạt động kinh tế để hỗ trợ cho đấu tranh của hải quân, bảo vệ chủ quyền trên biển đảo.

Để thực hiện chủ trương của Thường vụ Đảng ủy và kế hoạch đã được Bộ tư lệnh Quân chủng chuẩn y, các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật dồn sức chỉ đạo, giúp đỡ các đơn vị triển khai một cách khẩn trương tích cực mọi nhiệm vụ, mọi công việc cho hoạt động bảo vệ chủ quyền quần đảo Trường Sa. Vùng 4 và các đơn vị tăng cường như Lữ đoàn 125, các Trung đoàn công binh 83, 131, Cục kinh tế và một số đơn vị của Lữ đoàn hải quân đánh bộ 126, 147, của Vùng 1, Vùng 3, của Trường sĩ quan chỉ huy-kỹ thuật Hải quân..., sau khi được phân công nhiệm vụ với khí thế “Tất cả vì Trường Sa” ra sức khắc phục mọi khó khăn gian khổ, hy sinh để hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Theo đề nghị của Quân chủng, để tăng cường lực lượng tàu vận chuyển phương tiện, vật liệu khấn trương xây dựng công trình chiến đấu ở đảo, tháng 3 năm 1988, Lữ đoàn 125 đã nhận được ba tàu vận tải (Hạ Long 01, Bạch Đằng, Sông Thao) từ Bộ Giao thông vận tải chuyển qua. Đến ngày 28 tháng 4 năm 1988, Bộ Tổng tham mưu đã có quyết định thành lập Trung đoàn tàu vận tải 955 (về sau nâng lên thành lữ đoàn) trực thuộc Vùng 4 để làm nhiệm vụ vận chuyển phục vụ sẵn sàng chiến đấu ở quần đảo Trường Sa.

Những ngày qua ở Sở chỉ huy phía trước, các kíp trực ban tác chiến, thông tin, quân báo... có các sĩ quan tác chiến của Quân chủng như các đồng chí Cảo, Vinh, Tuyết, Nhu, Hán, Hùng...; sĩ quan tác chiến Vùng 4 như các đồng chí Sửu. Thao, Rèm, Ban, Liễu...; sĩ quan quân báo có các đồng chí Tranh, Dũng, Thành...; sĩ quan thông tin như các đồng chí Nhiễu, Khánh, Bơi... đã làm việc với một cường độ rất cao suốt ngày đêm, nhưng không ai tỏ ra mệt mỏi, bây giờ đang sẵn sàng tham mưu phục vụ chỉ huy hoạt động trong tình hình mới.

Với kế hoạch đã thống nhất, Tư lệnh Giáp Văn Cương phân công tôi liên tục trực chỉ huy theo dõi điều hành hoạt động của các lực lượng. Đồng chí Tư lệnh chủ trì giao ban buổi sáng hàng ngày để kiểm tra chỉ đạo mọi hoạt động bảo vệ chủ quyền ở quần đảo Trường Sa đang diễn ra. Do đó, sự chỉ huy, chỉ đạo của Quân chủng được tiến hành rất chặt chẽ.

Đề phòng đối phương xâm chiếm xen kẽ trước hết ta phải nhanh chóng triển khai lực lượng của Lữ đoàn 146 đóng giữ một số nơi cần thiết bằng nhà C3. Sử dụng một số đơn vị của Trung đoàn công binh 83, 131 cùng các tàu vận tải của Lữ đoàn 125, Cục kinh tế Hải quân và Quân khu 5 vận chuyển quân cùng vật liệu để làm xong 10 nhà cấp 3.

Cụ thể, Lữ đoàn 146 làm xong nhà C3 ở Đá Lớn A (19-3-1988). Trung đoàn 83 làm xong bảy nhà C3 ở Núi Le (22-3-1988), ở Đá Thị (3-4-1988), ở Tốc Tan A và Tốc Tan B (4-4-1988), ở Đá Nam (7-4-1988); ở Thuyền Chài C và Phan Vinh B (21-4-1988). Trung đoàn 131 làm xong hai nhà C3 ở Đá Lớn B và Đá Lớn C (29-3-1988).

Song song với việc làm nhà cấp 3, cần phải làm nhà cấp 1 (bằng bê tông cốt thép) và cấp 2 (nhà khung sắt) để bảo đảm sinh hoạt và chiến đấu lâu dài cho bộ đội đóng giữ đảo. Việc này đòi hỏi không những ngân sách lớn mà phải có nhiều lực lượng đảm bảo việc sản xuất, vận chuyển một khối lượng lớn vật liệu trong điều kiện biển sóng gió lớn, đảo không có nước ngọt, phải có nhiều lực lượng thi công, trong bối cảnh thiếu kinh nghiệm xây dựng công trình trên các bãi san hô ngập nước, địa hình, địa chất rất phức tạp. Trong một thời gian cấp bách, một mình Quân chủng Hải quân làm không xuể.

Theo đề nghị của Bộ tư lệnh Hải quân, Hội đồng Bộ trưởng đã quyết định giao nhiệm vụ cho sáu tỉnh và thành phố, mỗi địa phương xây dựng một nhà cấp 1 cho hải quân (Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Nghĩa Bình, Phú Khánh, Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo. Thành phố Hồ Chí Minh). Và theo đề nghị trực tiếp của Hải quân, các tỉnh Bình Trị Thiên và Quảng Ninh, mỗi tỉnh nhận làm một nhà cấp 1.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Chín, 2021, 09:35:12 am
Như phần trên đã nói, lần đầu tiên làm nhà bê tông cốt thép trên bãi san hô ngập nước ta chưa có kinh nghiệm, lại không có điều kiện thời gian khảo sát thăm dò địa chất một cách đầy đủ, nhưng được sự chỉ đạo của Bộ tư lệnh Quân chủng Hải quân, sự hỗ trợ của Bộ tư lệnh Công binh, trực tiếp là Bộ tham mưu Hải quân, các đồng chí công binh hải quân đã mạnh dạn, sáng tạo nghiên cứu thiết kế và lập biện pháp thi công đã thành công trong việc xây dựng nhà cấp 1.

Việc xây dựng nhà lâu bền bằng bê tông cốt thép ở các bãi đá san hô ngập nước đòi hỏi không những về kỹ thuật xây dựng mà còn yêu cầu một khối lượng hàng trăm tấn vật liệu xi măng, sắt thép... cho mỗi nhà.

Việc vận chuyển và bốc dỡ lên đảo có nhiều sóng gió, không có thiết bị cầu cảng, hoàn toàn thu công bằng sức người. Yêu cầu vật liệu không được thấm nước mặn, nên xi măng và cát, đá từng bao đều phải được bọc kỹ bằng bao ni lông kín hai, ba lớp rất công phu, tốn kém. Các đồng chí Lê Thương Uyển - Trung đoàn trưởng và Trần Văn Thắng - Phó trung đoàn trưởng Trung đoàn công binh 131 hải quân, đồng chí Phan Năng Giả - Trưởng phòng Công binh hải quân và một số cán bộ kỹ thuật của phòng là những đồng chí trực tiếp nghiên cứu thiết kế và chỉ huy thi công đầu tiên nhà cấp 1 (C1) ở các bãi đá san hô ngập nước ở quần đảo Trường Sa.

Kết quả trong năm 1988, ta làm được tám nhà cấp 1. Trong đó, Trung đoàn 131 có sự phối hợp vận chuyển người, vật liệu xây dựng của các tàu vận tải của Lữ đoàn 125, Cục kinh tế Hải quân, Vùng 4, Tổng cục Hậu cần và Quân khu 5 đã làm được năm nhà ở Tiên Nữ (31-5), Đá Lớn nam (22-7), Đá Đông đông (9-8), Núi Le (20-8), Đá Lát bắc (4-9).

Theo thiết kế kỹ thuật của Hải quân, tỉnh Bình Trị Thiên đã huy động tàu Thuận An 2 và 67 công nhân, kỹ sư, có sự phối hợp tàu vận chuyển vật liệu của hải quân, làm xong nhà cấp 1 ở Đá Nam ngày 4 tháng 8 năm 1988. Tỉnh Nghĩa Bình huy động năm tàu: Quy Nhơn 1, Quy Nhơn 2, Lại Giang, Sông Côn, Ba Tơ và 109 công nhân, kỹ sư có sự phối hợp của Trung đoàn công binh 83 giai đoạn đầu, đã làm xong nhà cấp 1 ở Đá Lớn (bắc) ngày 4 tháng 8 năm 1988. Tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng huy động bốn tàu: Sông Thu, Vĩnh Điện, Hà Thân, Phú Vinh và 130 công nhân, kỹ sư làm xong nhà cấp 1 ở Tốc Tan A ngày 8 tháng 8 năm 1988.

Các địa phương còn lại như Phú Khánh, Thành phố Hồ Chí Minh, Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo, Hải phòng, Quảng Ninh do triển khai chậm, lại bị ảnh hưởng thời tiết nên không thực hiện được như kế hoạch đã đề ra.

Do không thể triển khai làm nhà cấp 1 ở tất cả các nơi mới đóng giữ, trong năm 1988, theo đề nghị của Quân chủng Hải quân, Bộ tư lệnh Công binh đã thiết kế sản xuất bảy nhà khung sắt. Trong đó, Bộ tư lệnh Công binh thi công xong hai nhà khung sắt ở Đá Tây, Đá Thị vào ngày 12 tháng 7 năm 1988. Còn lại ba nhà khung sắt do Trung đoàn công binh 83 làm xong ở Đá Đông B (31-10) và Trung đoàn công binh 131 làm xong ở Tốc Tan C (31-10) và Thuyền Chài C (1-11-1988).

Sau khi đối phương gây ra đụng độ đổ máu ở Gạc Ma, Len Đao, Cô Lin, đầu tháng 5 năm 1988, trong một buổi trao đổi về tình hình ở quần đảo Trường Sa có đồng chí Trần Quang Khuê - Phó tham mưu trưởng Vùng 4 cùng dự, với góc độ là cơ quan tham mưu, tôi đề nghị với Tư lệnh Giáp Văn Cương:

- Ta phải tổ chức quân đóng giữ Cô Lin và Len Đao vì khu vực Cô Lin - Gạc Ma - Len Đao nằm trong cụm Sinh Tồn, trên hành lang của ta đi từ Nam Yết, Sơn Ca qua Sinh Tồn đến Tốc Tan, Phan Vinh, Tiên Nữ, Núi Le... ở cụm Sinh Tồn, đối phương đã chiếm Huygơ, Gạc Ma, nếu để họ chiếm thêm Cô Lin, Len Đao không những chiếm phần lớn cụm Sinh Tồn thường xuyên đối mặt căng thẳng với các đảo Sinh Tồn và Sinh Tồn Đông của ta mà sẽ gây khó khăn cho hành lang đi lại của tàu thuyền ta ở khu vực này. Đối phương có sức mạnh hải quân, nhưng trước tình hình khu vực và thế giới, sau cuộc đụng độ 14 tháng 3 họ chưa thể làm tới được. Thời điểm này nếu ta có biện pháp tổ chức đóng giữ đúng cách thì đối phương không kịp đẩy ta ra được.

Hiện nay, tàu HQ-505 của ta đang ở Cô Lin, thường xuyên có các tàu chiến đối phương đến khiêu khích hòng đẩy ta ra khỏi nơi đây. Nếu ta không nhanh chóng kiên quyết làm nhà đóng giữ thì đối phương dễ thừa cơ để chiếm những nơi này.

Ban đầu Tư lệnh còn xem xét, vì lúc này tình hình đang căng thẳng nhưng sau đó đồng chí đem trao đổi lấy ý kiến trong Bộ tư lệnh Quân chủng và nhận được sự nhất trí về chủ trương đóng giữ Cô Lin, Len Đao, làm nhà cấp 2 với một kế hoạch, biện pháp cụ thể chặt chẽ nhất là tránh kích thích sự chú ý của đối phương. Tại Sở chỉ huy, tôi trực tiếp theo dõi, chỉ đạo thực hiện kế hoạch này.

Đồng chí Lê Văn Thư - Phó chỉ huy trưởng Tham mưu trưởng Vùng 4, đồng chí Phạm Công Phán - Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 146 và đồng chí Trần Đình Dần - Phó trung đoàn trưởng Tham mưu trưởng Trung đoàn công binh 83 được giao nhiệm vụ trực tiếp tổ chức việc xây nhà và đóng giữ hai nơi này. Quá trình tổ chức thực hiện như sau:

Tàu HQ-613 có nhiệm vụ chở quân và vật liệu đi xây dựng nhà cấp 2 ở Cô Lin và Len Đao, đến Sinh Tồn lúc 10 giờ ngày 23 tháng 6 năm 1988.

Lúc này ở Cô Lin ta có các tàu HQ-505, HQ-965, HQ-462 và ở Len Đao có các tàu HQ-706, HQ-187.

16 giờ ngày 23 tháng 6, tàu HQ-462, từ Cô Lin đến Len Đao, tiến hành ủi lên bãi cạn Len Đao lúc 1 giờ ngày 24 tháng 6 đã vào vị trí quy định.

14 giờ ngày 25 tháng 6, tàu HQ-706, từ Len Đao về Sinh Tồn gặp HQ-613 để nhận khung nhà sắt và bộ đội công binh Trung đoàn 83 do đồng chí Cù Kim Tài - Phó tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 886, chỉ huy thi công xong nhà cấp 2 ở Len Đao.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Chín, 2021, 09:35:54 am
Khi công bỉnh ta đang làm nhà trên đảo thì tàu 727 của đối phương vào gần khiêu khích. Ta gọi loa yêu cầu họ đi khỏi nơi này, không được xâm phạm chủ quyền của Việt Nam. Ngày 7 tháng 7 năm 1988, bộ phận này đã làm xong nhà khung sắt (cấp 2) cho bộ đội đóng giữ đảo.

17 giờ ngày 27 tháng 6 năm 1988, tàu HQ-613 đã chuyển bộ phận công binh của Tiểu đoàn 887 Trung đoàn công binh 83 do đồng chí Nguyễn Văn Tuân đại đội trưởng đại đội 7 chỉ huy cùng khung nhà sắt sang tàu HQ-965 đang trực ở Cô Lin để làm nhà cấp 2 ở Cô Lin. Đến ngày 10 tháng 7 thì hoàn thành nhà ở cho bộ đội đóng giữ.

Như vậy, trong hơn 8 tháng (từ cuối tháng 10 năm 1987 đến tháng 7 năm 1988) trong chống tranh chấp, bảo vệ chủ quyền của ta ở quần đảo Trường Sa, Hải quân Việt Nam đã cảnh giác, không bị bất ngờ trước âm mưu xâm chiếm biển đảo của đối phương, chủ động nhanh chóng huy động lực lượng và phương tiện, kiên cường, dũng cảm vượt qua mọi khó khăn thử thách chạy đua với thời gian kịp thời đóng giữ thêm 12 bãi cạn với 23 điểm đóng giữ (có thêm một điểm ở đảo Phan Vinh). Nếu tính cả chín đảo ta đã đóng giữ trước đây thì đến thời điểm này ta đã đóng giữ 21 đảo và bãi cạn với 32 điểm đóng giữ và chặn đứng được các hành động mở rộng xâm chiếm của đối phương. Trong 10 tháng (từ 1-1 đến 31-10-1988) ta làm xong 16 nhà cấp 3, bảy nhà cấp 2 và tám nhà cấp 1 với khối lượng vận chuyển vật liệu 37.281 tấn.

Từ tháng 4 năm 1988, hai đoàn cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn công binh 83 do đồng chí Trung đoàn trưởng Nguyễn Văn Tỉnh chỉ huy làm nhiệm vụ phá đá, đào mở luồng ở đảo Đá Lớn và đồng chí Phó trung đoàn trưởng Tham mưu trưởng Trần Đình Dần chỉ huy đào mở luồng ở Đá Đông, Đá Tây với một khối lượng đào đắp rất lớn, kết hợp thiết bị phao tiêu dẫn đường cho tàu vào lòng hồ để bảo đảm an toàn khi có sóng to, gió lớn.

Nhằm tăng cường công tác phòng không và bảo đảm cho lực lượng không quân hoạt động ở khu vực Trường Sa, ngày 29 tháng 4 năm 1988, Quân chủng Không quân đã tiến hành lắp đặt trạm rađa dẫn đường. Đến ngày 27 tháng 6 năm 1988, Quân chủng Phòng không hoàn thành việc lắp đặt rađa đối không ở đảo Trường Sa.

Song song với việc tiến hành đóng giữ và củng cố mọi mặt những nơi mới đóng giữ, ta khẩn trương tăng cường sức phòng thủ cho các đảo cũ, trang bị thêm vũ khí và củng cố công sự chiến đấu. Tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng và nêu cao tinh thần cảnh giác, quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển đảo, đồng thời chăm lo bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội. Công tác huấn luyện quân sự chiến đấu giữ đảo được tích cực tập luyện, có tiến hành kiểm tra bắn đạn thật nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu.

Có thể nói công tác lãnh đạo chỉ huy điều hành bảo vệ chủ quyền biển đảo ở Sở chỉ huy phía trước được tiến hành một cách toàn diện trong tình hình xảy ra tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Trường Sa năm 1988. Duy trì các kíp trực chỉ huy, trực ban, trực chiến trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao, bảo đảm chỉ huy liên tục trong mọi tình huống. Huy động một số lượng lớn máy thông tin bảo đảm thông tin liên lạc chỉ huy trực tiếp đến 96 đầu mối, kể cả đến từng tàu, từng điểm đảo.

Các đồng trí trực ban các ngành ở Sở chỉ huy có lúc làm việc liên tục cả ngày đêm không lúc nào tỏ ra mệt mỏi, mặc dù sinh hoạt đời sống vật chất còn nhiều khó khăn.

Bộ phận hậu cần phục vụ Sở chỉ huy do đồng chí thiếu tá Ngô Thế Uy - Phó phòng hành chính cơ quan Bộ tư lệnh phụ trách rất chủ động, tích cực tận tụy khắc phục khó khăn trong điều kiện vật chất còn nhiều thiếu thốn để bảo đảm tốt việc ăn ở cho cán bộ, chiến sĩ cơ quan và một số đơn vị trực thuộc với một tinh thần “Tất cả cho Trường Sa”.

Tuy về chủ quan có lúc, có nơi vẫn còn những hạn chế nhưng trong hoàn cảnh kinh tế đất nước sau chiến tranh còn nhiều khó khăn, phương tiện tàu thuyền của Hải quân ta còn yếu, môi trường biển hết sức khắc nghiệt trong mùa biển động, trong lúc đó trang bị tàu thuyền của hải quân Trung Quốc, đối tượng tranh chấp chủ quyền lớn hơn ta nhiều lần, với trên 100 tàu các loại, trong đó có 7 tàu khu trục tên lửa; 17 tàu hộ vệ tên lửa, 4 tàu hộ vệ pháo, 23 tàu chiến đấu tuần tiễu(1).

Với tinh thần cảnh giác, kiên cường dũng cảm, mưu trí sáng tạo; với quyết tâm cao không ngại hy sinh, gian khổ vượt qua mọi khó khăn, trở ngại hiểm nguy; được sự chỉ đạo của trên, sự giúp đỡ của các quân, binh chủng và sự ủng hộ của nhân dân cả nước, cán bộ, chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc trên quần đảo Trường Sa. Có bốn đơn vị và năm cán bộ, chiến sĩ Hải quân ta được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Nhiều đơn vị và cá nhân được khen trong đợt hoạt động này.


(1) Bảy tàu khu trục tên lửa có số hiệu: 109, 110, 133, 134, 162, 163, 164. 17 tàu hộ vệ tên lửa mang số: 506, 508, 510, 511, 512, 513, 531, 543, 545, 560, 551, 552, 553, 554, 556, 557, 558. Bốn tàu hộ vệ pháo: 501, 502, 503, 529.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Chín, 2021, 09:36:49 am
*
*   *

Năm nào cũng vậy, Quân chủng Hải quân thường cử đoàn cán bộ ra Trường Sa để thăm hỏi bộ đội, đồng thời kiểm tra công tác sẵn sàng chiến đấu và xây dựng đơn vị. Năm nay, tình hình tranh chấp ở quần đảo Trường Sa ngày càng quyết liệt. Sự kiện ngày 14 tháng 3 năm 1988, đối phương nổ súng gây đổ máu ở khu vực Gạc Ma - Cô Lin - Len Đao, thì tình hình tranh chấp không chỉ có “khẩu chiến bằng lý lẽ” mà đối phương đã dùng sức mạnh quân sự để xâm chiếm, càng làm cho tình hình tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Trưởng Sa đến đỉnh cao trong thế bí của họ. Nếu ta lùi bước thì họ càng lấn tới bằng vũ lực coi như việc hiển nhiên đã rồi.

Từ trước đến nay Việt Nam vẫn chủ trương giải quyết việc tranh chấp trên biển Đông là: “Không dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp thương lượng hòa hình...”. Mặc dù, lúc này đối phương đem nhiều tàu chiến nghênh ngang khống chế mặt biển khu vực quần đảo Trường Sa, nhưng việc bảo vệ chủ quyền ở khu vực này ta vẫn tiến hành theo kế hoạch. Vì vậy, cuối tháng 3 đầu tháng 4 năm 1988, tôi dẫn đoàn cán bộ của Quân chủng Hải quân và Vùng 4 đi thăm bộ đội Trường Sa. Chuyến đi nhằm kiểm tra sẵn sàng chiến đấu và nói rõ cho cán bộ, chiến sĩ hiểu về tình hình đối phương tranh chấp chủ quyền ở một số đảo vừa qua; đồng thời truyền đạt chủ trương, quyết tâm của Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân chủng, động viên bộ đội luôn luôn vững vàng có quyết tâm cao, kiên quyết bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. Trước tình hình mới đòi hỏi phải đề cao cảnh giác, hoàn thiện mọi việc để nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu hơn nữa.

Đoàn gồm trên 60 người đi trên chiếc tàu vận tải HQ-613 do đồng chí Cao Đức Tại làm thuyền trưởng và ba thuyền phó là Phạm Lê Quỳnh, Trần Văn Cương, Hà Văn Quynh. Trong đoàn còn có các đồng chí cán bộ của cơ quan Quân chủng và của Vùng 4. Điểm đến đầu tiên là đảo Song Tử Tây và sau đó từ bắc xuống nam lần lượt đến các đảo ta đóng giữ. Khi đi qua Subi nơi đối phương mới chiếm giữ ngày 23 tháng 3 năm 1988, tàu ta vẫn đi theo hải trình định sẵn. Khi qua đây có hai tàu vận tải có vũ trang của đối phương đang ở Subi, tôi liền nói với đồng chí Tại thuyền trưởng:

- Cứ đi bình thường, không chuyển hướng gì cả. Tất cả anh em trên tàu bình thản làm việc của mình, đừng làm gì để đối phương hiểu nhầm ta khiêu khích. Đường ta đi, ta cứ đi...

Và cứ thế, tàu ta đi qua, đối phương không có hành động gì thêm. Lần lượt đến các đảo Sơn Ca, Đá Thị, Nam Yết, Sinh Tồn... rồi đến tàu HQ-505 đang ở Cô Lin. Gặp chúng tôi, anh em tàu HQ-505 và tất cả chúng tôi ai nấy đều vui mừng như bạn bè, đồng chí, người thân lâu ngày gặp lại. Tôi cùng một số anh em tàu HQ-505 đi kiểm tra một lượt khắp tàu này. Cuộc đụng độ để lại một số vết cháy, vết đạn trên thân tàu HQ-505, nhưng cán bộ, chiến sĩ của tàu vẫn vững vàng đứng trên đảo Cô Lin để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc, mặc dù những ngày qua, tàu đối phương không ngừng có những hành động khiêu khích uy hiếp.

Cuộc hành trình qua Len Đao rồi đến Sinh Tồn Đông, phải nói rằng đi đến đảo nào trong hoàn cảnh đất nước còn nhiều khó khăn, nhưng hết thảy cán bộ chiến sĩ bảo vệ đảo cũng như các đơn vị công binh làm nhiệm vụ xây dựng các công trình trên đảo đều đầy ắp quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. Nói chuyện với anh em, tôi thông báo tình hình tranh chấp chủ quyền vừa qua. Thay mặt Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân chủng, tôi biểu dương tinh thần chiến đấu dũng cảm kiên cường bảo vệ chủ quyền biển đảo của các đơn vị, đồng thời yêu cầu cán bộ chiến sĩ ta phải cảnh giác sẵn sàng chiến đấu hơn nữa trong thời gian tới.

Rời đảo Sinh Tồn Đông, trước khi đi về đảo Phan Vinh, chúng tôi đến kiểm tra bãi đá Ba Đầu vì có tin ở đây, có ai đó đã đặt bia chủ quyền. Trên đường đi về Phan Vinh cách xa Ba Đầu khoảng 30 hải lý, tổ quan sát trên tàu báo cáo mạn phải cách 25 hải lý có một tàu lạ đang đi về hướng tàu ta. Ngồi ở đài chỉ huy, tôi nhắc đồng chí Tại thuyền trưởng quan sát theo dõi liên tục mục tiêu này là loại tàu gì? Khoảng 15 phút sau, mục tiêu lộ rõ là một tàu chiến. Đồng chí thuyền trưởng xin ý kiến xử lý. Tôi lệnh cho đồng chí Tại:

- Tàu ta cứ đi bình thường, theo kế hoạch với hướng và tốc độ không đổi. Chú ý theo dõi liên tục, nhận dạng mục tiêu, báo cáo hai phút một lần. Lệnh cho tất cả anh em trên tàu bình tĩnh, trừ những người đang làm nhiệm vụ điều khiển tàu, còn lại tất cả ở tại vị trí của mình, không đi lại lộn xộn. Tất cả đều làm theo lệnh.

Tuy còn ở xa nhưng có thể nhận biết đây là tàu đối phương đang tranh chấp chủ quyền với ta ở khu vực quần đảo Trường Sa. Sau khi xác định mục tiêu này là tàu khu trục tên lửa chạy với tốc độ rất cao theo hướng tiếp cận tàu ta, thuyền trưởng Tại báo cáo:

- Tàu khu trục đi với tốc độ này, có khả năng chặn đánh tàu ta, hoặc húc vào tàu ta, đề nghị thủ trưởng cho tàu ta chuyển hướng đi...

Tôi nói loa to để toàn tàu cùng nghe:

- Bình tĩnh, cứ đi theo hướng và tốc độ không đổi. Biển của ta, chủ quyền của ta, ta cứ đi. Mọi người bình tĩnh, tất cả xử lý theo lệnh của tôi. Ta không có hành động gì khiêu khích, nhưng nếu đối phương có hành động nhảy sang tàu ta, thì kiên quyết đánh trả bằng vũ khí bộ binh đã được trang bị, theo phương án kế hoạch đã được phổ biến quán triệt trước lúc đi. Từng bộ phận, từng tổ, từng người phải sẵn sàng chấp hành theo mệnh lệnh.... Nếu tàu đối phương vào gần, ta dùng loa phản đối như đã hướng dẫn. (Phần này ta đã có chuẩn bị trước lúc đi và đồng chí Tú cán bộ địch vận cùng đi trên tàu).

Tiếp đó, khi mục tiêu đã ở cự ly gần, tôi giải thích thêm để anh em vững tâm hơn:

- Tàu ta là tàu vận tải nhỏ đang đi trên vùng biển của ta, đối phương không có lý do gì để đánh tàu ta được. Tàu đối phương là tàu chiến lớn, đi với tốc độ cao để hòng uy hỉếp ta. Ta cứ bình tĩnh mà đi. Biển đảo của ta, chủ quyền của ta. Nếu đối phương cố tình húc cho tàu ta chìm, thì tàu của chúng không chìm cũng thủng ruột. Chưa có thằng thuyền trưởng nào đang đi trên đại dương lại cậy sức mạnh, có đầy đủ trang bị và vũ khí mạnh hơn để khống chế đối phương mà lại chọn biện pháp hạ sách là “húc tàu” cả.

Quay sang đồng chí Tại thuyền trưởng, tôi bảo:

- Mình đang ngồi ở đài chỉ huy với cậu đây. Cậu cứ bình tĩnh chỉ huy anh em lái tàu. Có việc gì mình sẽ xử lý.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Chín, 2021, 09:40:14 am
Tàu đối phương vẫn hùng hục chạy về phía tàu ta với tốc độ cao. Ở cự ly dùng ống nhòm quan sát thấy tàu khu trục tên lửa này là của Trung Quốc, mang số hiệu 101, là một trong những con tàu của họ đang tham gia tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Trường Sa của ta. Mặc nó, tàu ta vẫn bình thản chạy với hướng và tốc độ không đổi.

Khi cách tàu ta khoảng một hải lý, tàu 101 giảm tốc độ và khi vào cách ta dưới 500m, đối phương chuyển hướng đi song song với tàu ta. Trước tình huống này, tôi nói to:

- Chỉ có nguyên thủ quốc gia, khi đi trên biển mới có tàu chiến lớn hộ tống. Hôm nay tất cả chúng ta đều là “nguyên thủ” đi trên biển có tàu khu trục tên lửa đi hộ tống, như vậy có oai không?

Nghe vậy, cả tàu cười phá lên làm tan bầu không khí căng thẳng. Chạy song song với tàu ta, với khoảng cách 500m, đối phương không biết làm gì hơn khi tàu ta vẫn thản nhiên đi theo kế hoạch. Bám theo tàu ta chừng năm hải lý, tàu đối phương chuyển hướng xa dần và mờ dần. Đọng lại trong tâm trí chúng tôi vẫn là: “Biển, đảo của ta, chủ quyền của ta!”.

Trong chuyến đi đáng nhớ này, tôi có mấy câu thơ kỷ niệm tiêu đề “Mến anh chiến sĩ Trường Sa”.

Đi qua quần đảo Trường Sa
Bao nhiêu kỷ niệm thật là khó quên
Song Tử gần với Đá Nam
Sơn Ca, Núi Thị dặm đường là bao
Xa xa Nam Yết đảo cao
(1)
Nhìn về Đá Lớn hướng vào, hướng ra(2)
Cô Lin mười bốn tháng ba
Len Đao cùng hận Gạc Ma căm hờn.
Qua đây nhìn cụm Sinh Tồn
Đảo nối liền đảo, sóng cồn bãi che
Tốc Tan, Tiên Nữ, Núi Le
Tàu xuôi sóng nước, hướng về Phan Vinh.
Thương nhau biết mấy là tình
(3)
Đá Đông cách trở đội hình liền nhau
An Bang nghĩa nặng, tình sâu
Thuyền Chài nối bước bắc cầu sang ngang
(4)
Bốn mùa nắng sớm chói chang
Đá Tây, Đá Giữa nhìn sang, sáng trời
(5)
Con tàu nhẹ lướt biển khơi
Trường Sa, Đá Lát đầy, vơi thủy triều
Đường đi đến đảo còn nhiều
Dừng chân nghỉ lại buổi chiều đảo xa.
Mến anh chiến sĩ Trường Sa
Ngày đêm giữ đảo của ta kiên cường
Gửi anh tất cả mến thương
Gửi anh tình mẹ - Mẹ hiền Việt Nam

Sau chuyến đi thăm và kiểm tra sẵn sàng chiến đấu ở các đảo, điều đáng mừng chúng tôi báo cáo lại với Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân chủng là: Cán bộ, chiến sĩ ở đảo rất phẫn nộ đối với hành động của đối phương xâm chiếm chủ quyền lãnh thổ biển đảo của ta vừa qua. Mặc dù còn nhiều khó khăn vất vả, gian khổ, nhưng anh em đều tỏ rõ quyết tâm nêu cao tinh thần cảnh giác không ngừng nỗ lực làm mọi việc để nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu bảo vệ chủ quyền lãnh thổ biển đảo của Tổ quốc. Có nơi chỉ có chiếc tàu nhỏ bé hoặc chiếc nhà cao chân mới dựng lên giữa biển cả mênh mông, nhưng tinh thần người chiến sĩ không hề nghĩ mình đơn lẻ và gửi lời thề quyết tâm chiến đấu giữ đảo, giữ biển đến cùng với Đảng, Nhà nước, Quân đội, Quân chủng và nhân dân cả nước.

Đến đảo và chia tay với cán bộ, chiến sĩ ở đảo trong thời điểm này, để lại trong lòng tôi và mọi người một niềm tin kiêu hãnh, một ký ức, một dấu ấn, một tình đồng chí và bạn chiến đấu không bao giờ phai lạt.


(1) Nam Yết có độ cao hơn các đảo xung quanh.
(2) Khi tàu của ta từ bờ ra khu vực Nam Yết, Sinh Tồn, thường lầy đảo Lớn làm chuẩn để chuyển hướng.
(3) Đối phương chiếm Châu Viên làm ngăn cách giữa Đá Đông với các đảo Phan Vinh, Tốc Tan...
(4) Từ đảo Trường Sa đi Phan Vinh, Tốc Tan, Núi Le, ta thưởng lấy đầu bắc của đảo Thuyền Chài làm điểm chuyển hướng.
(5) Đá Giữa là tên gọi cũ của Trường Sa Đông.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Chín, 2021, 09:42:02 am
*
*   *

Với mục đích tăng cường khả năng chiến đấu chi viện đảo, từ ngày 26 đến 29 tháng 10 năm 1988, Quân chủng Hải quân được Bộ Quốc phòng cho tiến hành cuộc diễn tập hiệp đồng chiến đấu chi viện cho lực lượng giữ đảo do đồng chí Đô đốc Giáp Văn Cương, Tư lệnh Quân chủng chỉ đạo và tôi với cương vị là Chuẩn đô đốc Phó tư lệnh Tham mưu trưởng được phân công trực tiếp chỉ huy cuộc diễn tập này.

Cuộc diễn tập được tiến hành trên vùng biển thuộc địa phận các tỉnh Phú Khánh, Thuận Hải với sự tham gia lực lượng hải quân trên 30 tàu gồm các tàu tên lửa của Lữ đoàn 172 (Vùng 1), tàu phóng lôi của Lữ đoàn 162 (Vùng 3), tàu 159 AE của Lừ đoàn 171, tàu quét mìn của Lữ đoàn 161 (Vùng 3), tàu vận tài của Lữ đoàn 955 (Vùng 4)...; Tiểu đoàn đặc công nước 861; các trạm rađa của Tiểu đoàn rađa 451 (Vùng 4), các Trạm kỹ thuật vũ khí tên lửa, ngư lôi 63, 67 (Vùng 3), cũng các bộ phận của Sở chỉ huy cơ quan Quân chủng... Lực lượng không quân phối hợp tham gia diễn tập có máy bay MiG-21 của Sư đoàn không quân 372, trực thăng và Sở chỉ huy cơ động.

Trong số lực lượng tham gia diễn tập này có tàu tên lửa HQ-358, HQ-360, các tàu phóng lôi HQ-334, HQ-335; máy bay MiG-21 thực hành bắn đạn thật.

Đồng chí Chuẩn đô đốc Phạm Minh - Phó tư lệnh Quân chủng được phân công chỉ huy lực lượng tàu làm nhiệm vụ bảo đảm an toàn trường bắn.

Tư lệnh Giáp Văn Cương và Bộ trưởng Quốc phòng đi bằng trực thăng Mi-8 để quan sát theo dõi cuộc diễn tập.

Diễn tập trên biển vào mùa sóng to gió lớn, gặp rất nhiều khó khăn. Nhưng với tinh thần “Tất cả cho Trường Sa” cán bộ, chiến sĩ đã khắc phục khó khăn, hoàn thành cuộc diễn tập, nâng cao trình độ chiến đấu hiệp đồng của các lực lượng từ diễn tập trên bản đồ đến diễn tập thực binh phân đoạn, tổng hợp và thực hành bắn đạn thật. Khi bắn đạn thật, tàu tên lửa HQ-358 và các tàu phóng lôi HQ-334, HQ-395 đều đạt giỏi hoàn toàn trúng mục tiêu. Riêng tàu HQ-360 có một quả tên lửa không phóng được do trục trặc về kỹ thuật, chỉ huy đã kịp thời ra lệnh dừng bắn để bảo đảm an toàn. Các máy bay MiG-21 của không quân thực hành bắn tên lửa đạt giỏi.

Khó khăn lớn nhất là việc bảo đảm an toàn bắn đạn thật với điều kiện không có một mục tiêu tàu, thuyền, phương tiện nổi nào xuất hiện trên dải bắn của vùng biển rộng, dài có diện tích trên 900 km2. Mặc dù đã có thông báo trước cấm mọi tàu thuyền hoạt động trong dải bắn nhưng việc này rất khó thực hiện. Với quan sát của các trạm rađa và hàng chục tàu cảnh giới kết hợp với máy bay trực thăng ngăn chặn, nhưng hôm đó tôi cũng chỉ chọn được khoảng thời gian ba phút an toàn sạch trường bắn để ra lệnh bắn, vì tàu thuyền của dân ta không ngừng xâm nhập vào khu vực trường bắn. Khu vực này thường xuyên có nhiều tàu, thuyền dân đánh bắt hải sản và hôm nay có thể có một số tàu không nhận được lệnh cấm biển.

Cuộc diễn tập tại thời điểm đang căng thẳng trên vùng biển đã thành công và bảo đảm an toàn tuyệt đối, Thời gian này để bảo đảm phục vụ lãnh đạo chỉ huy của Quân chủng bảo vệ chủ quyền quần đảo Trường Sa và thềm lục địa phía Nam nên phần lớn cơ quan của Quân chủng đều ở Sở chỉ huy tại Thành phố Hồ Chí Minh và thay nhau trực ở Sở chỉ huy Cam Ranh. Tôi vẫn được phân công thường trực chỉ huy tai Cam Ranh để theo dõi, đôn đốc tiếp tục giải quyết công việc bảo vệ chủ quyền ở quần đảo Trường Sa. Trước hết, tập trung củng cố những nơi mới đóng giữ mà trong đó ngoài việc tăng cường cơ sở vật chất hậu cần, kỹ thuật, tư tưởng chính trị, cần phải tiếp tục đẩy mạnh xây dựng công trình công sự chiến đấu và cải thiện sinh hoạt của bộ đội cùng như tăng sự hiện diện của tàu ta trên quần đảo, nhất là những nơi chi mới có nhà cấp 3.

Củng vào lúc này, tuy là sự bình thường nhưng cũng để lại ấn tượng “Tất cả đang vì Trường Sa” bởi nhiều chuyến xe đưa cán bộ, chiến sĩ và chở vật chất hậu cần, kỹ thuật trên tuyến đường từ Thành phố Hồ Chí Minh đến Phú Khánh và ngược lại rất quen thuộc với các quán hàng ăn ở thị xã Phan Thiết và những câu chuyện tiếu lâm ngồi trên xe đường dài quên hết mệt mỏi. Từ ấn tượng này tôi chợt nhớ lại những ngày hành quân đi chiến dịch trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, mọi người ắp đầy lòng tự hào vào thắng lợi cuối cũng như hôm nay. Chỉ có khác là ngày trước đi bộ hai chân leo núi vượt sông, vượt suối, còn nay được đi bằng ôtô trên đường nhựa dù còn nhiều ổ gà, ổ trâu.

Mặc dù năm 1988, trong tình hình bận nhiều công việc trong công tác tham mưu chỉ huy đấu tranh bảo vệ chủ quyền ở quần đảo Trường Sa, Đảng bộ Bộ tham mưu vẫn duy trì nền nếp sinh hoạt đảng đều đặn. Tổ chức Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ 4 theo nhiệm kỳ. Tại đại hội này, tôi và đồng chí Trần Trọng Duyệt lại được bầu làm Bí thư và Phó bí thư Đảng ủy Bộ tham mưu.

Cũng cần nói thêm là trong lúc tình hình tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Trường Sa đang căng thẳng thì ngày 10 tháng 7 năm 1988, một máy bay của Mỹ bay từ Xingapo đi Subic (Philippin) bị rơi ở khu vực đảo Đá Lớn. Trên máy bay có ba người Mỹ, gồm: Richard Kamanrer, Stein Necker, Michael Rneel, họ may mắn gặp được tàu HQ-11 do đồng chí Nguyễn Quang Tạo làm thuyền trưởng, có đồng chí Chữ Minh Toa - Phó lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 171 chỉ huy đang trực bảo vệ đảo ở đó cứu sống. Cán bộ, chiến sĩ ta không những cứu sống ba người Mỹ mà còn đối xử rất tử tế với họ. Nhưng có lẽ quân đội Mỹ chưa hiểu được truyền thống nhân đạo của người Việt Nam nên đã dùng máy bay có những hành động đe dọa khi ta cho tàu vận tải đưa ba người của họ về đất liền để trao trả cho Mỹ. Sở chỉ huy Quân chủng đã liên tục xử lý đúng đắn trước tình huống đó. Khi ta chuyển giao những người Mỹ gặp nạn cho cơ quan hữu trách, họ rất cảm kích và tỏ lòng biết ơn cán bộ chiến sĩ Hải quân Việt Nam đã cứu sống và đối xử rất nhân đạo.

Tình hình ở quần đảo Trường Sa đang hết sức căng thẳng, nhưng chúng ta luôn cảnh giác coi trọng việc bảo vệ chủ quyền vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa nhất là vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa phía Nam của đất nước. Nơi đây không chí có tiềm năng lớn về dầu khí và nguồn tài nguyên thiên nhiên biển đa dạng và giàu có, mà còn là vùng biển nằm trên một đầu mối giao thông hàng hải, hàng không quốc tế. Biển Đông mang tính chiến lược cả về kinh tế, chính trị, quân sự hết sức quan trọng.

Biển Đông nối thông với mọi hướng. Từ đây qua eo biển Ma-lăc-ca có thể đến Ấn Độ Dương, đến Trung Đông, đến châu Âu, châu Phi. Vượt qua eo biển Ba Si có thể đi vào Thái Bình Dương, đến các cảng của Nhật, Nga, Nam Mỹ và Bắc Mỹ. Qua các eo biển giữa Phiìippin, Inđônêxia có thể đến Ôxtrâylia và Niu-di-lân rất thuận tiện cho vận chuyển lưu thông hàng hóa thương mại kinh tế, du lịch cũng như cơ động của các lực lượng quân sự.

Trước mắt ở thềm lục địa phía Nam của ta, tài nguyên dầu khí là nguồn lợi kích thích tham vọng của đối phương đang tự nhận chủ quyền vùng biển, thềm lục địa này là của họ. Với luận điệu cho rằng vùng này là ngoại vi của quần đảo Trường Sa, mà quần đảo này thuộc chủ quyền của họ, thực tế, đối phương đã có nhiều lần lén lút thăm dò khảo sát ở đây. Phải khẳng định nơi này là thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam theo như Công ước Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982, không phải là vùng tranh chấp.

Đặc điểm địa hình thềm lục địa ở phía đông nam nước ta có nhiều bãi san hô đang ngập nước từ trên dưới 5 - 20m như các bãi: Ba Kè, Quế Đường, Huyền Trân, Phúc Tần, Phúc Nguyên, Tư Chính, là những nơi mà trước đây chúng ta đã có nhận định là đối phương có thể chiếm làm vị trí đứng chân để tranh chấp chủ quyền với ta. Trước hết là tranh chấp khai thác nguồn lợi dầu khí, bởi hiện nay chúng ta đang khai thác dầu khí ở khu vực này(1). Khi xảy ra tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Trường Sa, vấn đề này thêm một lần nữa được khẳng định.


(1) Từ 1986-1989, ta đã khai thác được 2.5 triệu tấn dầu thô ở thềm lục địa phía Nam.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Chín, 2021, 09:42:27 am
*
*   *

Cuối tháng 5 năm 1988, Tư lệnh Giáp Văn Cương giao cho tôi chuẩn bị thêm những tình hình và các số liệu có liên quan đến khu vực này để đồng chí trực tiếp báo cáo xin chủ trương chỉ đạo của trên.

Sau khi có chủ trương chỉ đạo của trên, tháng 10 năm 1988, Quân chủng Hải quân đã triển khai kế hoạch bảo vệ chủ quyền ở vùng biển và thềm lục địa phía Nam gọi là DKl mà trước hết là tăng cường tuần tra chốt giữ và tiếp sau đó đóng giữ các bãi san hô ngập nước bằng công trình nhà “Trạm kinh tế-khoa học-dịch vụ”. Việc thiết kế và thi công nhà trạm này do Bộ Quốc phòng và Bộ Giao thông vận tảo thực hiện Quân chủng Hải quân tổ chức bảo vệ công trình này trong quá trình di chuyển cũng như thi công trên biển và tiếp nhận công trình này để làm nhiệm vụ bảo vệ. Đồng chí Hoàng Hữu Thái - Phó tư lệnh Quân chủng được Tư lệnh phân công trực tiếp chỉ đạo điều hành công việc này. Đến tháng 3 năm 1989, đồng chí Thái bị ốm, lúc này đồng chí Tư lệnh đang bận tham gia đoàn của Bộ Quốc phòng đi thăm một số nước nên Tư lệnh Quân chủng lại giao cho tôi nhiệm vụ này khi tôi đang ở Cam Ranh.

Như trên đã nói việc thiết kế, thi công nhà “Trạm kinh tế-khoa học-dịch vụ”, Nhà nước trực tiếp giao cho Bộ Giao thông vận tải, còn Hải quân không được phân công tham gia đoạn này mà chỉ cử người theo dõi tiên độ để nhận và sử dụng công trình.

Từ nhận thức xây dựng một công trình trên biển hở nhiều sóng gió lớn là một việc hết sức khó khăn, nhất là việc bảo đảm an toàn và bền vững của công trình có liên quan đến cấu tạo địa chất, sóng gió, dòng chảy... Để nắm được tình hình, tôi và đồng chí Phan Năng Giả - Trưởng phòng Công binh Hải quân đến tận nơi đang hàn ráp công trình để tìm hiểu kỹ hơn. Chúng tôi được đồng chí Thịnh, kỹ sư của Bộ Giao thông vận tải - người đang điều khiển thi công công trình này, hướng dẫn đi xem và giải thích thiết kế kết cấu của công trình nhà trạm.

Chúng tôi thắc mắc là tại sao nhà trạm này cao hàng chục mét được đứng vững bằng cách cắm vào mặt pông tông có trám đầy vữa xi măng, đá với khối lượng lớn làm trọng lực là chân đế của nhà trạm liệu có đứng vững không? Chưa dựa trên tính toán khoa học, nhưng tôi hình dung là làm như thế này nhà trạm đặt trên nền đá san hô chịu sự tác động lớn của sóng gió và dòng chảy sẽ dễ bị trượt, xê dịch và xê dịch trượt dần đến vũng sâu thì nhà sẽ đổ, rất nguy hiểm. Kỹ sư Thịnh giải thích là ở pông tông chân đế có cột bê tông cắm vào nền san hô để cố định vị trí chân đế. Nhưng với thiết kế và thiết bị thi công còn thô sơ như thế này, thì sẽ gặp khó khăn khi đóng cọc cố định qua thân của pông tông chân đế. Thấy tôi còn băn khoăn, kỹ sư Thịnh khẳng định và hứa bảo đảm là nhà dịch vụ này sẽ đứng bền vững trên biển vì đã tính toán đầy đủ các thông số, tác động của sóng gió, dòng chảy... trên biển. Việc thiết kế kỹ thuật bảo đảm an toàn cho công trình đã qua nhiều lần bảo vệ, phản biện do các cơ quan chức năng Nhà nước trực tiếp đánh giá nghiệm thu.

Qua những giải thích của kỹ sư Thịnh, tôi chưa thật tin lắm nhưng nghĩ rằng mình chưa có điều kiện để tính toán kỹ thuật cụ thể, hơn nữa thiết kế của công trình này đã được trên xem xét phê duyệt. Lý lẽ của mình đang ở mức cảm tính, chưa qua những tính toán khoa học, trong khi thời gian giao cho Hải quân tổ chức hạ đặt công trình này trên biển đang đòi hỏi hết sức cấp bách, không được chậm trễ. Nếu để chậm sẽ mất thời cơ ngăn chặn tranh chấp của đối phương nên tôi nghĩ là không có thời gian lùi, để bàn nữa mà cứ phải làm đi đã, tuy chưa thật tin lắm.

Đầu tháng 6 năm 1989, tiến hành kéo nổi công trình nhà trạm đầu tiên đặt ở bãi Phúc Tần gọi là nhà DK1/3. Lần đầu chưa có kinh nghiệm kéo một loại công trình cao lênh khênh trên biển như thế này, nên tôi phải thông qua một kế hoạch đi biển rất chặt chẽ, nhất là công tác bảo đảm an toàn trước sóng gió và đề phòng đối phương chống phá khi tình hình trên biển đang còn căng thẳng. Trước đó, tôi đã hiệp đồng với không quân về kế hoạch phối hợp bảo vệ an toàn cho công việc này. Ta phải thuê tàu kéo Đại Lãnh có mã lực lớn của Công ty trục vớt Bộ Giao thông vận tải kéo công trình này. Thuyền trưởng tàu Đại Lãnh yêu cầu Bộ tư lệnh Quân chủng Hải quân phải ký bảo đảm an toàn với đồng chí ấy. Thực ra, đã có nhiều cán bộ, chiến sĩ hải quân đi trên tàu kéo Đại Lãnh và có cả tàu hải quân đi theo bảo vệ thì cũng chẳng cần ký kết gì hơn nữa.

Mặt khác, nếu có ký kết gì thì cán bộ cơ quan Quân chủng đủ thẩm quyền để ký với tàu Đại Lãnh, nhưng trước sự yêu cầu gay gắt của vị thuyền trưởng, mặt khác trong tình hình yêu cầu cấp bách của công tác bảo vệ chủ quyền trên đảo, tôi đồng ý trực tiếp ký bảo đảm an toàn với tàu Đại Lãnh. Ngày 10 tháng 6 năm 1989 nhà DKl/3 được đặt lên bãi Phúc Tần. Khi đặt vào vị trí đã định mới đổ bê tông chân đè, mà chưa kịp đổ bê tông cọc cố định pông tông nên nhà bị lắc mạnh có nhiều khả năng mất an toàn. Trước tình hình đó, tôi và một số cán bộ tham mưu khẩn trương trực tiếp đi ra Phúc Tần để xem xét giải quyết. Sau khi đóng cọc cố định, công trình đỡ rung lắc.

Tiếp đó, ngày 16 tháng 6 năm 1989, nhà DK1/4 được đặt lên bãi Bà Kè cũng bị nghiêng trượt khỏi vị trí đã định ngay từ đầu, nên không sử dụng được.

Việc thiết kế thi công nhà trạm ở DKl theo cách này không bảo đảm, nên sau đó, xây dựng nhà trạm theo cách đóng cọc chân như đã làm nhà trạm DKl/1 tại Tư Chính (3-7-1989). Thực tế nhà DKl/3 ở Phúc Tần bị ảnh hưởng cơn bão số 10 (4-12-1990), trượt dịch dần ra rìa bãi san hô, gặp vũng sâu và bị đổ sập chìm xuống biển.

Quá trình thực hiện chứng tỏ sự băn khoăn về độ tin cậy bảo đảm an toàn cho công trình khi đang thi công lắp ráp trên đất liền không phải không có cơ sở. Tuy nhiên ta không đủ khả năng và điều kiện để xoay chuyển khắc phục với tình hình thực tế lúc bấy giờ như đã nói ở phần trên.

Dù chưa được trọn vẹn, nhưng những công trình đầu tiên như thế này cũng đóng vai trò tác dụng nhất định trong lịch sử, kịp thời góp phần bảo vệ chủ quyền vùng biển và thềm lục địa phía Nam của Tổ quốc, tôi nghĩ như vậy.

Để tăng cường cho việc bảo vệ chủ quyền ở vùng biển và thềm lục địa phía Nam, thời gian sau này, chúng ta đã xây dựng các nhà “Trạm kinh tế-khoa học-dịch vụ” DK1/6 ở bãi Phúc Nguyên (11-1990), DKl/7 ở bãi Huyền Trân (11-1991), DKl/8 ở bãi Quế Đường (11-991) và DK1/10 ở bãi Cà Mau (4-994).

Tháng 8 tháng 1989, Quân chủng Hải quân thành lập Tiểu đoàn DK1 thuộc Lữ đoàn 171 để lãnh đạo, quản lý các trạm DKl này.

Công tác bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc ta là một cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ. Tuy mới là khởi đầu, nhưng những việc làm và động thái đấu tranh nhằm bảo vệ chủ quyền biển đảo trong thời gian qua của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, trực tiếp là Quân chủng Hải quân đã có một sự nỗ lực vượt bậc. Tất cả với một tinh thần tích cực chủ động, sáng tạo, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Chín, 2021, 09:44:14 am
(https://i.imgur.com/wy5T1ur.jpg)

Tại lễ kỷ niệm 35 năm đường Hồ Chí Minh trên biển và thành lập Lữ đoàn 125 Hải quân (23.10.1961-23.10.1996)

(https://i.imgur.com/F8JdYuq.jpg)

Tư lệnh Hải quân kiểm tra các chế độ hoạt động tàu ngầm P4 của Trung đoàn tàu ngầm M96 Hải quân (1999)

(https://i.imgur.com/jbI4boi.jpg)

Gặp gỡ cán bộ Lữ đoàn tàu chiến đấu M70 (1998)

(https://i.imgur.com/UC9KFDz.jpg)

Thăm cán bộ Đoàn tên lửa bờ S79 (2000)


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Chín, 2021, 09:45:55 am
(https://i.imgur.com/njU6FFy.jpg)

Sau buổi lễ công bố quyết định của Thủ tướng Chính phủ về thành lập Cục cảnh sát biển (31.8.1998)

(https://i.imgur.com/0IxHBst.jpg)

Kiểm tra kết quả trên bia bắn đạn thật trong diễn tập chiến đấu bảo vệ căn cứ của Lữ đoàn Hải quân đánh bộ 126

(https://i.imgur.com/1agCGNB.jpg)

Thăm trạn ra đa 590 hải quân (1995)

(https://i.imgur.com/LGIeDq3.jpg)

Đi xuồng chuyển tải vào nhà dàn Trạm kinh tế-khoa học-dịch vụ DK1


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Chín, 2021, 09:11:19 am
Chương bảy

Ở BỘ TƯ LỆNH HẢI QUÂN

Đất nước đã thanh bình, nhưng Hải quân ta với chức trách và nhiệm vụ của mình trong hơn 10 năm qua chưa có một ngày hòa bình thực sự vì đang tập trung để hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc trong tình hình còn nhiều tranh chấp.

Để tăng cường khả năng sẵn sàng chiến đấu bảo vệ chủ quyền quần đảo Trường Sa và thềm lục địa phía Nam, sau diễn tập CQ-88, tháng 1 năm 1989, Quân chủng Hải quân quyết định chuyển một phần lực lượng của Vùng 1, Vùng 3 và Lữ đoàn tàu 171 vào địa bàn Vùng 4 để sẵn sàng cơ động bảo vệ chủ quyền ở quần đảo Trường Sa và thềm lục địa phía Nam.

Từ CQ-88, công tác hậu cần hải quân đã chuyển sang hoạt động hậu cần thời chiến để kịp báo đảm hậu cần của sự điều chuyển sẵn sàng chiến đấu của các đơn vị, nhất là việc bảo vệ chủ quyền ở quần đảo Trường Sa và thềm lục địa phía Nam, huy động hàng nghìn tấn lương thực, thực phẩm, nhiên liệu, thuốc men... kịp thời đáp ứng cho các lực lượng.

Năm 1989, ngoài việc tập trung bảo vệ chủ quyền biển đảo, công tác tham mưu chỉ huy còn phải hoàn thành một số công việc khác. Trong đó, Bộ tham mưu cùng các Cục chính trị, hậu cần, kỹ thuật lập kế hoạch chỉ đạo giúp Vùng 5 Hải quân rút quân ở Campuchia về nước sau 10 năm làm nghĩa vụ quốc tế (1979-1989). Vùng 5 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên đất bạn. Qua bảy đợt rút quân (từ 1-3-1989 đến 25-9-1989), Vùng 5 đã hoàn thành tốt việc rút quân theo sự chỉ đạo của Bộ Quốc phòng và Bộ tư lệnh Hải quân, thực hiện nghiêm chỉnh chủ trương đúng đắn của Nhà nước ta.

Cũng trong năm 1989, Bộ tham mưu cũng chủ trì kế hoạch di chuyển các Sở chỉ huy của Quân chủng ở Thành phố Hồ Chí Minh và Cam Ranh về Hải Phòng, đảm bảo duy trì công tác chỉ huy của Quân chủng được liên tục, chặt chẽ cũng như ổn định mọi nền nếp công tác và sinh hoạt.

Tháng 4 năm 1989, tôi tháp tùng Thượng tướng Đoàn Khuê - Tổng Tham mưu trưởng, đi thăm và kiểm tra công tác sẵn sàng chiến đấu của bộ đội đóng giữ ở quần đảo Trường Sa. Ngoài việc thăm hỏi động viên cán bộ, chiến sĩ đang làm nhiệm vụ, đồng chí Tổng Tham mưu trưởng trực tiếp kiểm tra bắn đạn thật của một số đảo. Qua tình hình tôi báo cáo và trực tiếp kiểm tra, đồng chí Đoàn Khuê biểu dương cán bộ chiến sĩ Hải quân đã phát huy tinh thần tự lực tự cường, khắc phục mọi khó khăn, kiên cường bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc trong điều kiện có nhiều khó khăn.

Một vinh dự lớn cho cán bộ, chiến sĩ và công nhân viên quốc phòng hải quân là ngày 13 tháng 12 năm 1989, Quân chủng Hải quân được Hội đồng Nhà nước tuyên dương danh hiệu “Quân chủng Hải quân nhân dân Việt Nam anh hùng”.

Để tăng khả năng hiệp đồng chiến đấu chi viện trên biển, cuối năm 1989, được sự đồng ý của Bộ Quốc phòng, Quân chủng Hải quân làm công tác chuẩn bị diễn tập CV-90 hiệp đồng chiến đấu giữa hải quân và không quân vào đầu năm 1990. Tư lệnh Giáp Văn Cương tiếp tục giao cho tôi chủ trì làm kế hoạch và trực tiếp chỉ huy cuộc diễn tập này, trong đó nhấn mạnh luyện tập công tác kiểm tra chuẩn bị kỹ thuật, vũ khí, đạn... Cuộc diễn tập được tiến hành qua các giai đoạn: luyện tập công tác tham mưu chỉ huy trên bản đồ; diễn tập thực binh, hành quân chiến đấu trên biển và bắn đạn thật.

Diễn tập lần này được tiến hành thực binh trên vùng biển của các tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa-Vũng Tàu, vào thời gian cuối tháng 3 và đầu tháng 4 năm 1990.

Tham gia diễn tập lần này có các đơn vị của Vùng 1, Vùng 3, Vùng 4, bao gồm các tàu tên lửa HQ-357, HQ-358, HQ-360, HQ-361; các tàu phóng lôi HQ-331, HQ-335, HQ-312, HQ-315; các tàu quét mìn HQ-852, HQ-861, HQ-862, HQ-863 và nhiều tàu phù trợ khác làm nhiệm vụ cảnh giới đảm bảo an toàn và bảo đảm hậu cần. Ngoài ra, còn có các trạm rađa bờ của Vùng 4 và các trạm bảo đảm kỹ thuật, vũ khí của Vùng 3. Tham gia diễn tập có cơ quan của Bộ tư lệnh Quân chủng và của các vùng hải quân.

Lực lượng không quân tham gia có các máy bay MiG-21, trực thăng Mi-8 và Sở chỉ huy hiệp đồng.

Sở chỉ huy diễn tập thực binh bắn đạn đặt tại đảo Cù Lao Thu. Tôi được giao nhiệm vụ trực tiếp chỉ huy diễn tập thực binh này.

Kết quả bắn đạn thật các tàu tên lửa HQ-358, HQ-361; các tàu phóng lôi HQ-331, HQ-335 và các máy bay MiG-21 của không quân đều bắn trúng mục tiêu, đạt loại giỏi. Cuộc diễn tập đạt kết quả rất tốt và bảo đảm an toàn tuyệt đối. Cán bộ, chiến sĩ và nhất là anh em ở các tàu, trải qua nhiều khó khăn, vất vả, song mọi người đều rất phấn khởi.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Chín, 2021, 09:11:55 am
Đồng chí Đô đốc Giáp Văn Cương - Tư lệnh Quân chủng Hải quân là người trực tiếp duyệt kế hoạch diễn tập này. Vậy nhưng khi bước vào diễn tập thì chẳng may Tư lệnh bị ốm nặng, không tham gia được. Và đồng chí Giáp Văn Cương đã ra đi mãi mãi khi cuộc diễn tập đang vào giai đoạn thực binh bắn đạn thật. Đồng chí mất đi để lại nhiều tiếc thương cho cán bộ, chiến sĩ hải quân.

Sau khi đồng chí Giáp Văn Cương mất, đồng chí Hoàng Hữu Thái - Phó tư lệnh được bổ nhiệm giữ chức Tư lệnh Quân chủng Hải quân.

Năm 1990, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân chủng Hải quân chủ trương tăng cường sức phòng thủ ở quần đảo Trường Sa và DK1 bằng tăng cường trang bị, xây dựng công sự chiến đấu lâu bền, tăng cường công tác kỹ thuật, hậu cần và coi trọng hơn nữa công tác chính trị, tư tưởng và xây dựng Đảng, nâng cao chất lượng hơn nữa lực lượng chiến đấu chi viện đảo.

Để tăng cường sẵn sàng chiến đấu ở các vùng biển, ngày 27 tháng 7 năm 1990, Quân chủng điều Lữ đoàn tàu tên lửa 172 từ Vùng 1 về trực thuộc Vùng 3. Tôi trực tiếp chỉ đạo Vùng 1 và Vùng 3 tổ chức thực hiện việc này. Ngày 4 tháng 10 năm 1990, sáp nhập Lữ đoàn 162 tàu phóng lôi và Lữ đoàn 172 tàu tên lửa thành một Lữ đoàn tàu tên lửa, tàu phóng lôi, lấy phiên hiệu là Lữ đoàn 172 trực thuộc Vùng 3.

Cuối năm 1990 đầu năm 1991, các đơn vị trong quân đội đang tập trung chuẩn bị Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội Đảng toàn quân lần thứ V, và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII. Thời gian này tôi được cử đi học lớp chính trị của cán bộ quân sự cao cấp tại Học viện Chính trị-Quân sự. Được học tập bồi dưỡng lý luận chính trị cũng là một dịp tốt, trước đó năm 1986, tôi đã được học ở Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc.

Vì đi học vào thời kỳ đơn vị của mình đang chuẩn bị Đại hội Đảng các cấp, nên học viên của lớp học này vẫn không cắt đảng số ở đơn vị. Tổng cục Chính trị hướng dẫn là số học viên này vẫn ứng cử hoặc được đề cử đi dự Đại hội Đảng ở đơn vị mình. Hướng dẫn này cũng được thông báo cho các đơn vị biết. Sau đó, đồng chí Bí thư Đảng ủy Quân chủng có gửi công văn cho Học viện Chính trị - Quân sự, thông báo ngày đại hội Đảng các cấp của Hải quân để tôi có thể về dự. Được sự đồng ý của Học viện, tôi lần lượt về tham dự từ đại hội chi bộ đến Đại hội Đảng bộ Quân chủng Hải quân (vòng 1).

Tuy nhiên, ngày 24 tháng 3 năm 1991, trước thềm Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân chủng khóa 7 một ngày, tôi bất ngờ nhận được quyết định là thôi kiêm chức Tham mưu trưởng Quân chủng Hải quân và một quyết định nữa là thôi làm Bí thư Đảng ủy Bộ tham mưu. Cả hai quyết định này đều do đồng chí Bí thư Đảng ủy Quân chủng công bố, trong khi tôi không hề được bàn bạc trao đổi gì cả ở Thường vụ Đảng ủy Quân chủng cũng như ở Đảng ủy Bộ tham mưu và cũng không hề được hỏi ý kiến gì về vấn đề này, mặc dù lúc này tôi đang là Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Quân chủng và là Bí thư Đảng ủy Bộ tham mưu.

Trước những vấn đề này, tuy có lấn cấn song tôi vẫn tự nhủ: Lúc này cần tập trung cho thành công của Đại hội Đảng, có ý kiến gì thì đừng xuất phát từ lợi ích cá nhân, phải vì sự đoàn kết của Đảng bộ. Trước hết, bình tĩnh trao đổi ý kiến với các đồng chí. “Sự tín nhiệm của đại hội với mình là do mình có xứng đáng hay không!”. Kết quả ở Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân chủng Hải quân khóa 7 (vòng 1) diễn ra từ ngày 25 đến 30 tháng 3 năm 1991, tôi trúng cử đại biểu đi dự Đại hội Đảng toàn quân khóa V vào thời gian từ 23 đến 27 tháng 4 năm 1991.

Tại Đại hội Đảng bộ Quân chủng (vòng 2) từ 24 đến 28 tháng 9 năm 1991, tôi trúng cử vào Ban chấp hành Đảng bộ và tiếp tục được bầu làm ủy viên Thường vụ Đảng ủy Quân chủng.

Ngày 20 tháng 6 năm 1991, kết thúc khóa học ở Học viện Chính trị - Quân sự với kết quả xuất sắc, tôi được bầu là Chiến sĩ thi đua và được nhận bằng khen của Bộ Quốc phòng.

Cuối năm 1991, thực hiện quyết định của Bộ Tổng tham mưu, tôi và Đại tá Nguyễn Vũ Bảo - Phó tham mưu trưởng Quân chủng cùng các đồng chí lãnh đạo chỉ huy Phòng tổ chức - động viên, nghiên cứu và ra quyết định tổ chức biên chế một số đơn vị. Chấn chỉnh Công ty hải sản Biển Đông thành Tổng công ty Biển Đông. Nâng cấp khung đào tạo thợ kỹ thuật thành Trường trung cấp kỹ thuật tàu Hải quân là nơi đào tạo hằng năm tốt nghiệp cho ra trường hàng trăm quân nhân chuyên nghiệp phụ trách công tác kỹ thuật của các ngành trên tàu hải quân.

Tháng 8 năm 1991, tôi được phân công làm trưởng đoàn đi thăm hữu nghị Hải quân Inđônêxia với mục đích quan hệ và tham quan tìm hiểu về tổ chức hoạt động của các nhà máy đóng, sửa chữa tàu hải quân, cảng vận tải Container để có thể tham khảo học tập hoặc liên doanh, liên kết kinh tế với nhà máy đóng tàu Ba Son và vận tải Container ở Tân Cảng của ta. Trong đoàn có một số cán bộ của cơ quan Quân chủng và nhà máy Ba Son cùng đi.

Trong chuyến đi này, đoàn ta đã đến chào xã giao Đại tướng Tinis - Tổng tư lệnh lực lượng vũ trang Inđônêxia. Thăm hữu nghị Đô đốc Tư lệnh Hải quân Inđônêxia; Phó đô đốc Tanto Koeswanto - Tư lệnh Hải quân ở Su-ra-bay-a; Chuẩn đô đốc Tonny Soekton - Giám đốc Học viện Hải quân. Ngoài ra, đoàn còn tham quan một số nhà máy đóng sửa chữa tàu, cảng Container, đặc biệt là có buổi gặp gỡ với một số thương gia Inđônêxia.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Chín, 2021, 09:12:45 am
*
*   *

Từ sau ngày 14 tháng 3 năm 1988, tình hình tranh chấp chủ quyền với một số quốc gia trên vùng biên, đảo của ta ngày càng có biểu hiện phức tạp. Mặc dù, Việt Nam trước sau như một luôn chủ trương “giải quyết tranh chấp bằng biện pháp thương lượng hòa bình và trong lúc chưa giải quyết được thì giữ nguyên hiện trạng, các bên không nên đơn phương có những hành động làm phức tạp thêm tình hình”...

Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, còn trực tiếp chỉ đạo điều hành giải quyết đã có Chính phủ và các cơ quan chức năng của Nhà nước. Trách nhiệm chỉ đạo, chỉ huy quân đội bảo vệ chủ quyền lãnh thổ đã có Bộ Quốc phòng. Quân chủng Hải quân là thành phần của lực lượng vũ trang có chức năng, nhiệm vụ làm nòng cốt bảo vệ chủ quyền lãnh thổ vùng biển, đảo của Tổ quốc. Vì vậy, Hải quân không những có trách nhiệm nặng nề mà là lực lượng trực tiếp trên biển, đấu tranh ngăn chặn mọi hành động xâm phạm chủ quyền vùng biển, đảo của ta.

Ngoài việc hàng trăm tàu thuyền nước ngoài thường xuyên xâm nhập đánh trộm hải sản trên các vùng biển của ta, thì tình hình gay cấn hơn cả trên biển vẫn là các hoạt động tranh chấp chủ quyền. Tính từ 1992-1999, Trung Quốc đã đưa 12 lần chiếc giàn khoan tàu khoan và 15 lần chiếc tàu khảo sát thăm dò dầu khí, địa chất, lấn sâu vào vùng biển Việt Nam ở vịnh Bắc Bộ. Họ dùng cả tàu chiến để bảo vệ lực lượng “khảo sát thăm dò” của mình, đồng thời ngăn cản tàu ta thăm dò khảo sát và tàu bảo vệ của ta đang hoạt động ở phía tây kinh tuyến 108 độ đông.

Cùng thời gian trên, ta phát hiện có hơn 44.000 lượt tàu đánh cá Trung Quốc lấn sang phía tây kinh tuyến 108 độ đông, vào sâu vùng biển của ta ở vịnh Bắc Bộ đánh trộm hải sản mà họ cho là vùng đánh cá truyền thống của họ.

Tháng 11 năm 1992, Trung Quốc đưa một giàn khoan vào hoạt động ở đông nam cửa sông Hồng 70 hải lý. Năm 1997, họ đưa giàn khoan Kantan 03 vào hoạt động ở tây kinh tuyến 108 độ, xâm phạm sâu vào vùng biển của ta bảy hải lý. Ta kiên trì tuyên truyền và dùng tàu xua đuổi sau gần một tháng họ mới chịu rút...

Ngoài ra, còn có 21 đợt tàu Trung Quốc hoạt động trinh sát quân sự và thăm dò khảo sát dầu khí ở khu vực biển quần đảo Trường Sa và thềm lục địa phía Nam của ta. Có đợt thăm dò kéo dài ba tháng.

Trong các năm từ 1995-1999, họ nhiều lần cho các tàu trinh sát ngang ngược vào gần các đảo của ta ở quần đảo Trường Sa và các nhà dàn của ta ở DK1 tại thềm lục địa phía Nam để quay phim, chụp ảnh.

Từ ngày 10 đến ngày 20 tháng 10 năm 1997, tàu trinh sát HD 12 và từ ngày 7 đến 13 tháng 3 năm 1999, một tàu trinh sát khác XGH 05 khi đến trinh sát quay phim chụp ảnh đã có lúc vào gần đảo ta dưới 1km. Tàu HD 12 khi vào hoạt động trinh sát ở khu vực DK1, đêm neo lại ở đó, ta dùng tàu phản đối xua đuổi họ vẫn không rời đi. Ngoài việc sử dụng tàu, họ còn dùng máy bay H6.D bay trinh sát khu vực quần đảo Trường Sa.

Năm nào Trung Quốc cũng dùng tàu tiến hành khảo sát thăm dò tài nguyên ở khu vực quần đảo Trường Sa và DK1. Hải quân ta kiên trì dài ngày dùng tàu bám sát tuyên truyền phản đối, xua đuổi. Từ ngày 18 tháng 4 đến ngày 5 tháng 5 năm 1997, biên đội bốn tàu đo đạc, trắc địa biển của họ hoạt động ở quần đảo Trường Sa và DK1.

Ngày 8 tháng 5 năm 1992, Trung Quốc ký với công ty năng lượng Crestone của Mỹ hợp đồng thăm dò dầu khí ở khu vực Tư Chính, thềm lục địa phía Nam của ta (Trung Quốc gọi Vạn An 21) với diện tích 25.165km2. Và ngày 8 tháng 2 năm 1995, họ đã xâm chiếm thêm bãi đá Vành Khăn ở quần đảo Trường Sa của ta.

Ngoài ra, dưới dạng tàu cá, Trung Quốc với nhiều hoạt động khác nhau vào cận kề vành đai san hô hoặc vào lòng hồ các đảo của ta như để thể hiện chủ quyền của họ. Ta kiên quyết kiên trì xua đuổi nhiều lần họ mới chịu rời đi, nhưng rời đảo này họ lại tiếp tục xâm nhập vào đảo khác của ta. Phải nói các hành động của tàu Trung Quốc xâm nhập vi phạm chủ quyền biển đảo của ta đã trở thành hệ thống. Đó là chưa kể các hoạt động tranh chấp chủ quyền của một số nước khác ở quần đảo Trường Sa.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Chín, 2021, 09:13:09 am
Ở vùng biển Tây Nam, nhiều tàu cá Thái Lan cũng xâm nhập khai thác hải sản trong vùng biển của ta. Mặc dù Việt Nam và Thái Lan đã ký hiệp định phân chia vùng chồng lấn (9-8-1997), nhưng tàu quân sự của họ vẫn tuần tiễu lấn sang vùng biển của ta ở tây nam đảo Thổ Chu và tây bãi cạn Cà Mau. Để bảo vệ chủ quyền và giữ gìn an ninh trật tự ở vùng biển tây nam, trong năm 1992, Quân chủng Hải quân đã điều một số lực lượng tàu của Lữ đoàn 171 và Lữ đoàn của Vùng 3 tăng cường cho Vùng 5 làm nhiệm vụ tuần tra quản lý vùng biển mà trọng tâm là khu vực đảo Thổ Chu và bãi cạn Cà Mau.

Những hoạt động cụ thể xâm phạm vùng biển, tranh chấp biển đảo như trên xảy ra liên tục, gây căng thẳng trên vùng biển đảo của ta mà Hải quân với nhiệm vụ làm nòng cốt bảo vệ chủ quyền biển đảo phải thường trực, trực tiếp đấu tranh ngăn chặn nhất là ở khu vực quần đảo Trường Sa và DK1.

Không những thế năm 1996, phía nước ngoài còn ngang nhiên tuyên bố quy định đường cơ sở ở quần đảo Hoàng Sa, hoặc như năm 1999, họ áp đặt lệnh cấm đánh cá ở biển Đông từ vĩ độ 12 bắc trở lên (từ 1- 6 đến 31-7-1999). Những việc làm đó gây nên tình trạng tranh chấp càng quyết liệt hơn, mà thực tế ở đây là vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam chứ không phải là vùng tranh chấp.

Ngày 3 tháng 7 năm 1992, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân chủng Hải quân họp quán triệt chủ trương của Bộ Chính trị và chỉ thị của Bộ Quốc phòng về nhiệm vụ bảo vệ quần đảo Trường Sa, thềm lục địa phía Nam, vùng biển vịnh Bắc Bộ và vùng biển Tây Nam trong tình hình mới, xác định đây là nhiệm vụ hàng đầu của Quân chủng.

Từ tháng 10 năm 1993, với trách nhiệm là Tư lệnh Quân chủng Hải quân, tôi đã chủ trì cùng các đồng chí trong Bộ tư lệnh trực tiếp xử lý đấu tranh ngăn chặn các hành động tàu nước ngoài xâm phạm chủ quyền trên vùng biển của ta. Đảng và Nhà nước ta chủ trương giải quyết những tồn tại trên biển thông qua con đường thương lượng hòa bình. “Không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực. Trong lúc chưa giải quyết được bất đồng thì giữ nguyên hiện trạng, các bên không làm những gì để phức tạp thêm tình hình”... Ta kiên trì thực hiện như vậy, nhưng đối phương vẫn ngang ngược cho là chủ quyền vùng biển của họ nên liên tục có nhiều hành động gây tình hình rất căng thẳng trên biển. Họ ỷ thế sức mạnh quân sự hòng lấn lướt, nhưng ta kiên trì, kiên quyết đấu tranh bảo vệ chủ quyền lãnh thổ biển, đảo của ta.

Tuy không có đụng độ vũ trang, nhưng phải nói là quyết liệt, rất quyết liệt. Tuy chúng ta đang sống trong hòa bình, xây dựng đất nước, nhưng Hải quân Việt Nam vẫn đang từng giờ, từng ngày đấu trí, đấu pháp rất căng thẳng với mọi hành động xâm phạm của đối phương để bảo vệ chủ quyền biển, đảo và thềm lục địa của Tổ quốc.

Khi đối phương có những hành động ngang ngược, xâm phạm chủ quyền vùng biển của ta, lực lượng bảo vệ biển đảo của Hải quân ta trong bất kỳ tình huống nào cũng bám sát đấu tranh bằng những biện pháp hòa bình, như ngăn chặn xua đuổi một cách kiên quyết, buộc họ phải rời khỏi vùng biển, đảo của ta mới thôi. Có nơi giằng co hàng tháng trời trên biển. Lại có lúc hết sức nguy hiểm vì đối phương cố tình cho tàu húc vào tàu ta. Quá căng thẳng, nhưng ta vẫn kiên trì, kiên quyết đấu tranh buộc họ phải rút khỏi vùng biển đảo của ta.

Đầu năm 1992, khi đang là Phó tư lệnh quân sự, tôi được phân công thêm chỉ đạo hoạt động kinh tế của Quân chủng. Để điều hành hoạt động kinh tế trong điều kiện mới sau khi bàn chủ trương thống nhất của Bộ tư lệnh và báo cáo Bộ Quốc phòng chuẩn y, tôi trực tiếp tổ chức thực hiện quyết định của Bộ Tổng tham mưu. Chấn chỉnh Cục kinh tế thành Phòng kinh tế trực thuộc Tư lệnh Hải quân.

Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng-an ninh ở địa bàn đảo Bạch Long Vĩ, một hòn đảo có vị trí chiến lược cả về chính trị, kinh tế, quốc phòng của ta trên vịnh Bắc Bộ, từ đầu năm 1976 cấp trên đã giao cho Quân chủng Hải quân công tác phòng thủ giữ đảo này. Đảo Bạch Long Vĩ có chiều dài 3km, chiều ngang nơi rộng nhất là l,2km, tổng diện tích là 3,6km2. Ngày 18 tháng 11 năm 1992, Chính phủ ra quyết định thành lập huyện đảo Bạch Long Vĩ.

Thực hiện quyết định này, tôi được Bộ tư lệnh Quân chủng phân công chỉ đạo cơ quan Quân chủng và Vùng 1 nghiên cứu quy hoạch lại mặt bằng của đảo để vừa phù hợp với nhiệm vụ quốc phòng cũng như có mặt bằng để triển khai cơ quan dân sự của huyện và mở rộng khu dân cư để phát triển kinh tế-xã hội. Quy hoạch này đã nhận được sự đồng thuận của lãnh đạo thành phố Hải Phòng và được cấp trên chấp thuận phê duyệt. Đến năm 1997, khi đi kiểm tra công tác sẵn sàng chiến đấu của Trung đoàn 952 và thăm cơ quan huyện đảo Bạch Long Vĩ, chúng tôi rất mừng là công việc triển khai xây dựng đảo theo quy hoạch tương đối phù hợp.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Chín, 2021, 09:13:40 am
Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân chủng Hải quân từng thời kỳ và từng năm đều có nghị quyết và kế hoạch cụ thể để nâng cao sức chiến đấu của bộ đội một cách toàn diện trên các mặt chính trị, quân sự, hậu cần, kỹ thuật. Trên cương vị Tư lệnh Quân chủng, từ cuối năm 1993 sau khi thống nhất trong Bộ tư lệnh về mặt quân sự, tôi tập trung vào chỉ đạo công tác huấn luyện bộ đội của tất cả binh chủng hiện có của Hải quân, nhằm nâng cao trình độ kỹ chiến thuật, chiến đấu và hiệp đồng tác chiến trên biển, đảo theo các phương án tác chiến. Đối với phòng thủ giữ đảo, đi đôi với huấn luyện kỹ chiến thuật tập trung tăng cường xây dựng công trình chiến đấu và công trình bảo đảm sinh hoạt của bộ đội.

Để tổ chức hợp luyện và kiểm tra trình độ sẵn sàng chiến đấu của bộ đội bằng tổ chức các cuộc diễn tập hàng năm, trong thời gian từ năm 1993-1999, tôi trực tiếp điều hành hầu hết các cuộc diễn tập như: diễn tập “Phòng thủ Cam Ranh” (1993) có các lực lượng của Vùng 4 và Lữ đoàn hải quân đánh bộ 126 tham gia, tổ chức bắn đạn thật các loại vũ khí, bắn mục tiêu đổ bộ đường biển đạt kết quả tốt. Thượng tá Lê Quốc Sắng - Trưởng phòng Binh chủng Lục quân được phân công trực tiếp chỉ huy bắn đạn thật. Đại tướng Đoàn Khuê - Bộ trưởng Quốc phòng trực tiếp theo dõi chỉ đạo cuộc diễn tập, có sự tham dự của các đồng chí lãnh đạo tỉnh Khánh Hòa.

Trước tình hình nước ngoài ngày càng gia tăng hoạt động xâm nhập tranh chấp thăm dò khai thác dầu khí và ngăn cản hoạt động thăm dò dầu khi của ta, nhất là ở khu vực thềm lục địa phía Nam và khu vực biển vịnh Bắc Bộ. Được sự chỉ đạo của Nhà nước và Bộ Quốc phòng, Quân chủng Hải quân đã chủ trì hiệp đồng với nhiều lực lượng tham gia như các Bộ Thủy sản, Giao thông vận tải, Xây dựng, Tài chính, Tổng công ty Bưu chính viễn thông, Tổng công ty Dầu khí... các đơn vị hải quân như Vùng 3, Vùng 4, Lữ đoàn 171, các nhà dàn DKl, hải đoàn 128, 129, tổ tuyên truyền đặc biệt của Cục chính trị,... tổ chức diễn tập bảo vệ chủ quyền và bảo vệ các hoạt động khai thác kinh tế của ta ở vùng biển quần đảo Trường Sa và thềm lục địa phía Nam với tên gọi là diễn tập “BM94”. Lần đầu tổ chức với nhiều lực lượng dân sự, nhiều ngành tham gia bảo vệ chủ quyền vùng biển nên rất mới mẻ, tôi được phân công chủ trì, chỉ huy cuộc diễn tập hiệp đồng này. Được sự tích cực tham gia, giúp đỡ của các đơn vị nên cuộc diễn tập đã thành công tốt đẹp, đúc kết được nhiều kinh nghiệm về chỉ đạo quốc phòng toàn quân tham gia bảo vệ chủ quyền biển đảo. Những năm tiếp sau đó, đều có tổ chức hình thức diễn tập BM này.

Thập niên 90, trong kế hoạch huấn luyện quân sự hàng năm Hải quân đã tổ chức nhiều cuộc diễn tập bảo vệ căn cứ, bảo vệ vùng biển, bảo vệ đảo với nhiều lực lượng tham gia như các đơn vị tàu, hải quân đánh bộ, pháo binh tên lửa bờ biển, đặc công nước, bộ đội giữ đảo, bộ đội bảo vệ căn cứ... có cả lực lượng hiệp đồng của Không quân và các quân khu ven biển, các hải đoàn dân quân tự vệ biển tham gia với nhiệm vụ trên giao là bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Hải quân là đơn vị chủ trì lập kế hoạch và tổ chức chỉ huy điều hành chung các cuộc diễn tập này.

Trên cơ sở đề nghị của Quân chủng Hải quân về huấn luyện diễn tập năm 1997, Bộ Tổng tham mưu đã ra chỉ lệnh tổ chức diễn tập “BĐ-97” và giao cho Hải quân tổ chức chỉ huy cuộc diễn tập này. Mục đích diễn tập là phối hợp chiến đấu giữa hải quân và không quân bảo vệ chủ quyền biển đảo.

Cuộc diễn tập này được diễn tập phân đoạn kiểm tra trình độ kỹ chiến thuật các biên đội tàu từ tháng 3 tháng 4 năm 1997, cho đến luyện tập công tác tham mưu tác chiến tại Sở chỉ huy và thực hành hành quân chiến đấu trên biển, bắn đạn thật của tàu và máy bay vào tháng 11 năm 1997.

Đây là lần đầu tiên Hải quân sử dụng tên lửa P21, P22 để kiểm tra tình trạng kỹ thuật của vũ khí và tình trạng kỹ thuật của tàu tên lửa, cũng như trình độ chuẩn bị tên lửa và tư thế sẵn sàng chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ trạm kỹ thuật; trình độ thao tác, chỉ huy bắn tên lửa của cán bộ, chiến sĩ tàu tên lửa mới 1241. Đồng thời, huấn luyện cơ động dây chuyền lắp ráp tên lửa theo yêu cầu chiến đấu của tàu.

Tham gia có lực lượng tàu của Vùng 3, Vùng 4, Lữ đoàn 125, các hải đoàn 128 và 129, các trạm kỹ thuật đạn tên lửa, ngư lôi của Vùng 3 và Đoàn tên lửa bờ 680, các trạm rađa của Vùng 3, Vùng 4; cơ quan Quân chủng cùng một số cán bộ của Học viện Hải quân và các đơn vị hải quân. Trực tiếp bắn đạn thật có các tàu tên lửa 1241: 371 và 372, ba tàu tên lửa 205, các tàu phóng lôi 206ME.

Lực lượng không quân có máy bay MiG-21 và trực thăng Mi-8. Sở chỉ huy hiệp đồng của không quân đặt bên cạnh Sở chỉ huy diễn tập của Quân chủng Hải quân. Theo dõi chỉ đạo diễn tập có-đồng chí Trung tướng Đào Trọng Lịch - Tổng Tham mưu trưởng cùng một số cán bộ cơ quan Bộ Tổng tham mưu; Thiếu tướng Phạm Văn Long - Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.

Tôi trực tiếp chỉ huy cuộc diễn tập này. Sở chỉ huy diễn tập đặt trên tàu HQ-960; Sở chỉ huy bảo đảm an toàn trường bắn do đồng chí Thượng tá Bế Quốc Hùng - Phó tham mưu trưởng Quân chủng phụ trách, đặt tại trạm rađa Côn Đảo để chỉ huy hơn 20 tàu có cả máy bay trực thăng không quân tham gia bảo đảm an toàn trường bắn. Cơ quan Quân chủng có các cán bộ tham mưu tác chiến, huấn luyện... do đồng chí Thượng tá Nguyễn Văn Hiến - Phó tham mưu trưởng phụ trách.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Chín, 2021, 09:14:08 am
Cuộc diễn tập bắn đạn thật lần này diễn ra vào mùa sóng gió lớn, cơn bão số 5 vừa đổ bộ vào đồng bằng sông Cửu Long gây thiệt hại về người và của cho nhân dân ta.

Tàu của ta lượng giãn nước nhỏ, chỉ thích hợp thao tác tốt vũ khí trong điều kiện sóng gió cấp 5 trở lại, nhưng lúc này biển động liên tục sóng gió cấp 6, 7 trở lên. Vì vậy, người chỉ huy diễn tập phải theo dõi chặt chẽ thời tiết để ra lệnh cho tàu bắn và người thuyền trưởng chỉ huy chọn tốc độ tàu và độ ổn định tàu để thực hiện lệnh phóng tên lửa, ngư lôi.

Quân chủng Hải quân đã thấy trước việc tổ chức bắn đạn thật các loại tàu của ta vào tháng 11 của năm là gặp khó khăn, nên chủ động tìm cách khắc phục. Thao trường bắn đạn thật lần này nằm trên vùng biển của các tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau với dải bắn bảo đảm an toàn của bắn tên lửa là rộng 40km và chiều dài trên 200km.

Mặc dù đã có thông báo trước, nhưng cận giờ bắn rồi mà thuyền của dân vẫn đi vào vùng cấm. Ở đây lại nằm sát tuyến hàng hải tàu quốc tế, vì vậy ta đã dùng tàu phát tín hiệu cấm, nhưng tàu bè nước ngoài vẫn cố đi lấn vào. Do đó, không chỉ chọn điều kiện sóng gió mà còn phải chọn thời gian bảo đảm an toàn từng phút, từng giây. Thực tế hôm đó chúng tôi phải chọn ra lệnh cho tàu bắn, khi một tàu buôn quốc tịch Pháp chỉ còn ba phút nữa là đi vào khu vực cấm.

Vì điều kiện thời tiết xấu, sóng gió lớn nên không thực hiện được bắn đạn thật theo thời gian kế hoạch. Thấy tình hình bộ đội chờ đợi lâu có hiện tượng mệt mỏi, tôi triệu tập một số cán bộ lãnh đạo chỉ huy đơn vị và cán bộ chủ chốt ở Sở chỉ huy bàn bạc thống nhất động viên anh em kiên trì; quyết tâm tiếp tục thực hiện cuộc bắn đạn thật này. Ngày hôm sau cuộc bắn đạn thật hoàn tất thắng lợi. Cán bộ, chiến sĩ tàu cùng mọi người trực tiếp tham gia cuộc diễn tập này, kể cả đồng chí Tổng tham mưu trưởng Đào Trọng Lịch, cùng cán bộ Bộ Tổng tham mưu ở trên máy bay trực thăng Mi-8 để quan sát cuộc bắn đều rất phấn khởi, khi thấy các loại tên lửa của các tàu lao rất chính xác vào mục tiêu. Các máy bay chiến đấu của Quân chủng Không quân cũng thực hiện tốt diễn tập bắn đạn thật.

Theo chức trách, nhiệm vụ, tôi cùng các đồng chí trong Bộ tư lệnh Quân chủng hàng năm chủ trì chỉ huy, chỉ đạo các cuộc diễn tập với nhiều lực lượng tham gia các đơn vị tàu, Hải quân đánh bộ, đặc công nước, bộ đội bảo vệ đảo, bảo vệ căn cứ hải quân và hệ thống rađa quan sát biển... theo các phương án chiến đấu bảo vệ căn cứ và chiến đấu chi viện bảo vệ đảo. Không những luyện tập nâng cao trình độ về chỉ huy, về kỹ chiến thuật, chiến đấu của bộ đội mà còn một điều thiết yếu là rèn luyện bộ đội ý thức cảnh giác sẵn sàng chiến đấu.

Cũng trong chương trình huấn luyện thường xuyên nâng cao kỹ năng chiến đấu của bộ đội, hàng năm Quân chủng Hải quân đều tổ chức thi thuyền trưởng giỏi, tập huấn từng ngành và thi tàu, xe vũ khí tốt, thực hiện cuộc vận động “Quản lý, khai thác vũ khí, trang bị kỹ thuật tốt bền, an toàn, tiết kiệm”.

Hải quân là lực lượng nòng cốt trực tiếp làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo, do đó phải đề cao tính chủ động sáng tạo trong thực hiện, cũng như trong chức năng làm tham mưu cho Bộ Quốc phòng và Nhà nước chỉ đạo thực thi nhiệm vụ này với kết quả cao nhất. Trước tình hình tranh chấp biển đảo càng ngày càng diễn ra phức tạp, căng thẳng trên tất cả vùng biển, đảo của ta từ khu vực vịnh Bắc Bộ đến biển Đông và cả vùng biển Tây Nam, mà trong đó nóng nhất là khu vực quần đảo Trường Sa và thềm lục địa phía Nam (DK1), Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân chủng Hải quân đã thống nhất chủ trương nâng cao khả năng chiến đấu bằng không ngừng tăng cường trang bị vũ khí, công trình, công sự chiến đấu đi đôi với huấn luyện chiến đấu, đồng thời từng bước cải thiện đời sống của bộ đội. Chủ trương này được Bộ Quốc phòng nhất trí và có sự chỉ đạo cụ thể thêm, được Nhà nước tích cực giúp đỡ.

Trong quần đảo Trường Sa có một số đảo diện tích rất nhỏ (dưới 0,2 km2) và phần lớn cao so với mặt nước biển không quá 3-4m, mặt đảo được cấu tạo bởi cát mặn, vụn san hô... Vì vậy, việc xây dựng công trình, công sự chiến đấu bền vững ở đây khó khăn, tốn kém hơn nhiều so với đất liền. Đó là ở đảo nối, còn xây dựng công trình, công sự ở các bãi đá san hô ngập nước biển còn khó khăn phức tạp hơn nhiều.

Sau ngày giải phóng miền Nam (1975) được sự quan tâm chỉ đạo của Bộ Quốc phòng, hằng năm Quân chủng Hải quân đã chăm lo xây dựng công sự chiến đấu, công trình bảo đảm sinh hoạt của bố đội ngày một tốt hơn. Tuy nhiên, trong điều kiện nền kinh tế đất nước còn nhiều khó khăn, ta thiếu kinh nghiệm xây dựng công trình ở đảo san hô, nhưng yêu cầu về thời gian gấp để kịp đáp ứng hoạt động chiến đấu phòng thủ và sinh hoạt của bộ đội, do vậy chất lượng công trình phần nhiều còn tính chất dã chiến. Sau hơn 10 năm chịu tác động của môi trường biển, nên nhiều công trình xuống cấp nghiêm trọng, có một số bị sụp đổ do đảo bị xói lở. Sau năm 1988, ta đóng giữ ở các bãi đá san hô ngập nước với công trình làm gấp cũng đòi hỏi phải sửa chữa và xây dựng mới.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Chín, 2021, 09:14:44 am
Xây dựng công trình, công sự có liên quan chặt chẽ với việc chống xói lở ở đảo. Nếu không chống được xói lở, không những công trình xây dựng sập đổ ra biển mà nguy cơ đảo còn bị biến dạng thành bãi đá san hô ngập nước. Yêu cầu của chiến đấu phòng thủ đảo là phải có công sự chiến đấu lâu bền, vững chắc. Sau khi Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân chủng thống nhất chủ trương và kế hoạch, có sự chỉ đạo của Bộ Quốc phòng và sự quan tâm của Ban chỉ đạo Nhà nước về biển Đông và các hải đảo, để nâng cao khả năng chiến đấu của lực lượng chiến đấu tại đảo ngoài yếu tố tinh thần và ý chí, phải làm tốt công tác huấn luyện và có công sự chiến đấu phòng thủ vững chắc.

Từ năm 1993, công tác xây dựng công trình lâu bền vững chắc ở các đảo trong quần đảo Trường Sa được tập trung đẩy mạnh. Làm tham mưu cho Quân chủng về xây dựng công trình, công sự chiến đấu và chống xói lở đảo, có Phòng công binh Bộ tham mưu do đồng chí Trần Đình Dần làm trưởng phòng. Tham mưu về xây dựng công trình bảo đảm sinh hoạt bộ đội có Phòng doanh trại Cục hậu cần do đồng chí Trần Minh làm trưởng phòng. Lực lượng tham gia thi công gồm Trung đoàn công binh 83 do đồng chí Hoàng Kiền làm Trung đoàn trưởng, Trung đoàn công binh 131 do đồng chí Trần Thắng làm Trung đoàn trưởng. Mỗi năm vận chuyển hàng vạn tấn vật liệu xây dựng kể cả nước ngọt ra đảo, chủ yếu do lực lượng tàu của Lữ đoàn 125 đảm nhiệm, cùng một số tàu vận tải của Tổng cục Hậu cần và các vùng Hải quân tham gia. Công việc bốc dỡ vật liệu xuống tàu và đưa lên đảo chủ yếu là lực lượng công binh. Việc chuyển vật liệu từ tàu lên đảo trong điều kiện không có thiết bị cầu cảng, anh em công binh và bộ đội giữ đảo phải làm hoàn toàn bằng thủ công với yêu cầu tuyệt đối không để dính nước biển. Để thuận lợi cho việc nắm chắc và chỉ đạo xây dựng công trình ở đảo, tôi đề nghị được chuyển về sinh hoạt đảng tại chi bộ Phòng công binh.

Sự tiến bộ xây dựng công trình ở các đảo thuộc quần đảo Trường Sa bắt nguồn từ sự quan tâm đầy đủ, chỉ đạo của trên, cộng với sự nỗ lực của toàn quân chủng nhưng phải nói rằng, lực lượng công binh Hải quân là lực lượng đi đầu và cũng là lực lượng trải qua nhiều khó khăn gian khổ, hy sinh, chủ động sáng tạo, liên tục bám trụ nhiều năm để nghiên cứu và trực tiếp xây dựng công trình, công sự chiến đấu ở đảo.

Phòng công binh có nhiều mạnh dạn sáng tạo trong thiết kế, các cán bộ của phòng thường xuyên đi sát theo dõi lực lượng thi công ở đảo. Đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ những kỷ niệm sâu sắc về chuyện xây dựng công trình ở đảo. Thực hiện chủ trương làm nhà ở cho bộ đội trên nóc các lô cốt phòng thủ hai phần chìm, một phần nổi ở đảo, để khi chiến đấu xảy ra, bộ đội nhanh chóng tụt xuống chiếm lĩnh lô cốt chiến đấu ngay, không cần thời gian cơ động, vừa nhanh, vừa tránh được thương vong.

Hải quân đề xuất làm nhà trên lô cốt phải bằng bê tông cốt thép, tương tự như làm nhà bê tông cốt thép, có tầng hầm, tầng nổi vậy, vừa vững chắc lâu bền ở môi trường đảo và về lâu dài làm như thế này là tiết kiệm, chưa nói đến tiện lợi khác cho sinh hoạt của bộ đội. Làm bằng bê tông cốt thép, nếu bị địch bắn sập nhà thì cũng không thể nào lấp hết lỗ châu mai mọi phía được, ta có đủ khả năng để khắc phục những vật cản đó. Nếu làm bằng gỗ, kết dính với lô cốt không vững chắc, nhà chóng xuống cấp. Và điều cản trở nhất cho chiến đấu là nhà dễ bị cháy khi địch bắn vào, khói lửa trùm lên đảo nhỏ, ảnh hưởng lớn đến tầm quan sát phát hiện địch, nhất là vào thời điểm chúng tấn công đổ bộ vào đảo.

Mặc dù đã có cán bộ công binh làm tham mưu cho Bộ Quốc phòng, nhưng qua nhiều lần trao đổi, cấp trên vẫn giữ ý kiến làm nhà trên lô cốt bằng gỗ. Biết rằng không làm theo chỉ đạo của cấp trên là sai về ý thức chấp hành, nhưng qua nhiều năm thực tế với tình hình phòng thủ ở đảo, chúng tôi rất tự tin vào ý kiến của Hải quân. Tôi lệnh cho đồng chí Dần - Trưởng phòng Công binh: “Cứ làm một nhà bằng bê tông cốt thép trên lô cốt để rút kinh nghiệm, nếu sai tôi chịu trách nhiệm”. Với thiết kế của Phòng công binh, nhà làm xong rất gọn đẹp và vững chắc, bộ đội phòng thủ đảo rất ưng ý. Khi thủ trưởng Bộ Quốc phòng ra đảo kiểm tra và kết luận làm như Công binh Hải quân là hoàn toàn phù hợp. Từ đó, Bộ đồng ý với Hải quân làm nhà ở cho bộ đội trên lô cốt phòng thủ bằng bê tông cốt thép.

Hoặc như khi bàn về làm kè chống xói lở đảo, có cả các chuyên gia của Nhà nước và Bộ Quốc phòng tham gia, có tham khảo kinh nghiệm làm đê biển ở ta và của các nước trên thế giới, đưa ra nhiều phương án, nhưng khi liên hệ với tình hình thực tế địa hình, địa chất và thời tiết sóng gió ở đảo của ta, thì lại có những phần không phù hợp. Trên cơ sở ý kiến tại hội thảo, kết hợp với kinh nghiệm xây dựng công trình ở đảo thời gian qua, công binh Hải quân đâ mạnh dạn sáng tạo, tự thiết kế phương án xây dựng kè chống xói lở ở đảo. Trải qua nhiều năm trong môi trường khắc nghiệt của biển đảo, kè vẫn bền vững. Một bài học về tinh thần dám nghĩ, dám làm, nghiên cứu học hỏi tự tin và biết chắt lọc qua trải nghiệm thực tế để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của các đồng chí cán bộ công binh Hải quân. Đến năm 2000, ta đã xây dựng được gần 5.000m tường kè chống xói lở, kịp thời bảo vệ được diện tích đất của các đảo.

Khi làm kè chống xói lở, tôi đề nghị kết hợp xây dựng công sự bắn cá nhân dọc theo bờ kè. Lúc đầu ý kiến của một số cán bộ Nhà nước theo dõi cấp vốn không đồng tình với lý do xây dựng công sự chiến đấu là kinh phí quốc phòng, còn xây kè chống xói lở là kinh phí của Nhà nước. Sau khi phân tích thuyết phục tiền nào cũng là tiền của Nhà nước và làm gì cũng nhằm mục đích giữ đảo, nên cuối cùng mọi người đều nhất trí với đề nghị của Hải quân nhằm mục đích cao nhất là phòng thủ giữ đảo.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Chín, 2021, 09:15:06 am
Việc xây dựng công sự chiến đấu và báo đảm sinh hoạt ở các đảo ở quần đảo Trường Sa, đã có sự nỗ lực lớn, tiến bộ lớn trong những năm 1993-2000 cả về số lượng và chất lượng nhưng đây cũng chỉ là mới bước đầu. Công việc này còn phải được tiếp tục tăng cường hơn nữa trong thời gian tới.

Để bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ giữ đảo và nhất là bảo đảm vận tải hàng vạn tấn vật liệu để xây dựng công trình, công sự ở các đảo, Quân chủng Hải quân đề nghị Nhà nước và Bộ Quốc phòng đầu tư tài chính đóng mới tàu vận tải. Tính từ sau năm 1988 đến năm 1999, Hải quân đã hiệp đồng với 12 nhà máy đóng tàu (Hạ Long, Bạch Đằng, Bến Kiền, Sông Cấm, Ba Son, X46, X51, A173, CT189, nhà máy đóng tàu Hải Phòng, nhà máy đóng tàu Hà Nội) triển khai thực hiện nhiệm vụ. Cục kỹ thuật Hải quân do đồng chí Đại tá Nguyễn Phương Ninh làm Cục trưởng được phân công theo dõi điều hành công việc này. Bên cạnh đó còn có Phòng tài chính Quân chủng do Thượng tá Nguyễn Nam Tiến làm trưởng phòng và đồng chí Hòa ở Văn phòng Bộ tư lệnh cùng tham gia. Kết quả các nhà máy đóng mới được 53 tàu, trong đó có 12 tàu vận tải quân sự 1.000 tấn, 23 tàu vận tải quân sự 450 tấn, 13 tàu cá kết hợp quốc phòng, một tàu chở quân, một tàu chở nước, một tàu chở dầu, một tàu kéo và một tàu vận tải đổ bộ.

Cũng trong thời gian này, công tác huấn luyện chiến đấu và xây dựng chính quy của bộ đội giữ đảo dần đi vào nền nếp. Được sự hướng dẫn, chỉ đạo của Bộ tham mưu, trực tiếp là Phòng binh chủng đã cùng với Vùng 4 tích cực chăm lo công tác huấn luyện chiến đấu. Làm việc với đồng chí Lê Quốc Sắng - Trưởng phòng Binh chủng (sau là Phó tham mưu trưởng phụ trách theo dõi khối lục quân hải quân), tôi đề xuất ngoài việc lập chương trình huấn luyện tổ chức tập huấn phải cùng Vùng 4 hàng năm có kế hoạch kiểm tra công tác huấn luyện chiến đấu và xây dựng nền nếp chính quy ở đảo. Khi đi thăm bộ đội và kiểm tra công tác sẵn sàng chiến đấu ở đảo phải kiểm tra đầy đủ các vấn đề này.

Hầu như năm nào, tôi cũng cùng cơ quan quân chủng và Vùng 4 thực hiện được yêu cầu này. Trong khi đi kiểm tra các mặt sẵn sàng chiến đấu của đảo, nhất là từ năm 1995 trở đi, trình độ kỹ chiến thuật, chiến đấu của bộ đội đã có nhiều tiến bộ và đi vào nền nếp. Những lần Tư lệnh đi kiểm tra công tác huấn luyện sẵn sàng chiến đấu của đảo đều có kiểm tra bắn đạn thật các loại vũ khí. Đại tá Lê Quốc Sắng - Phó tham mưu trưởng thường được giao trực tiếp điều khiển công việc này.

Khi kiểm tra sẵn sàng chiến đấu không chỉ kiểm tra một mặt nào mà phải kiểm tra toàn diện từ công tác tham mưu đến công tác chính trị, hậu cần, kỹ thuật, trong đó nổi lên là công tác giữ gìn bảo quản vũ khí, trang bị, dự trữ lương thực, thực phẩm, nước ngọt. Trong những năm 80 trở về trước, nước ngọt đối với các đảo là một vấn đề lớn, vì lúc đó ta có khó khăn chưa xây dựng được hệ thống hầm bể dự trữ. Vấn đề bảo đảm rau xanh trong bữa ăn của bộ đội ở đảo là nhu cầu đòi hỏi bức thiết nhất, nhưng cũng là vấn đề khó khăn nhất vì phương tiện vận tải không thể bảo đảm cung cấp rau xanh từ đất liền ra đảo hàng ngày, hàng tuần được.

Đại tá Cục trưởng Cục hậu cần Nguyễn Văn Đà và các Phó cục trưởng như: Thượng tá Vũ Văn Mọc, Thượng tá Đỗ Xuân Thành... được giao nhiệm vụ tích cực nghiên cứu giải quyết việc bức thiết này. Diện tích mặt bằng của đảo rất nhỏ và chất đất lại toàn là cát san hô. Vì vậy, để khắc phục được một phần rau xanh cho bộ đội, bằng chở đất từ đất liền ra để trồng rau tại đảo, phải xây tường bao quanh để chống chuột, phải che chắn boi boi của sóng nước biển mặn và tưới rau bằng nước tắm rửa của bộ đội. Với công phu như vậy dần dần ở các đảo đã có những vườn nhỏ trồng được các loại rau xanh. Các nhà giàn DK1 cũng trồng tự túc được một phần rau xanh.

Các đảo Bạch Long Vĩ, Thổ Chu đều ở địa bàn xung yếu nên công tác huấn luyện chiến đấu, kết hợp với xây dựng công trình, công sự chiến đấu phòng thủ đảo cũng được tăng cường. Trong hai năm (1994-1995), sau khi Trung đoàn công binh 131 xây xong một số công sự ở đảo Bạch Long Vĩ và Thổ Chu, tôi cùng các cơ quan quân chủng và chỉ huy Vùng 1, Vùng 5 trực tiếp kiểm tra kết quả xây dựng công trình, công sự chiến đấu và công tác huấn luyện bằng tổ chức diễn tập theo phương án chiến đấu phòng thủ bảo vệ đảo có kết hợp bắn đạn thật các loại vũ khí đạt loại giỏi. Công tác phòng thủ giữ đảo của các đảo này có nhiều tiến triển khi từng bước được xây dựng hệ thống đường cơ động chiến đấu.

Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước và Bộ Quốc phòng, đưa dân ra đảo để phát triển kinh tế biển, kết hợp bảo vệ chủ quyền biển đảo, Bộ tư lệnh Hải quân đã chỉ đạo Vùng 1 và Vùng 5 lập kế hoạch phối hợp với các địa phương (1995-1999), đưa dân ra đảo Bạch Long Vĩ 20 hộ (85 nhân khẩu) và đảo Thổ Chu 153 hộ (772 nhân khẩu). Mỗi lần ra thăm bộ đội ở đảo, tôi đều đến thăm các cơ sở Đảng, chính quyền để tìm hiểu tình hình hoạt động sản xuất và đời sống nhân dân, có kế hoạch cho bộ hải quân phối hợp với địa phương, giúp đỡ địa phương xây dựng đời sống dân cư ở đảo, nhất là khi các hộ dân mới chuyển ra định cư. Các trạm xá quân y, kết hợp với dân y để khám, chữa bệnh cho dân.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Chín, 2021, 09:16:09 am
*
*   *

Sau 27 năm xây dựng gia đình, đến năm 1985, khi ổn định công tác ở Bộ tư lệnh Hải quân, tôi mới chuyển gia đình từ Quảng Bình ra Hải Phòng. Lúc này tôi mới có điều kiện gần gia đình. Nói vậy, nhưng mọi công việc gia đình từ trước đến nay đều do nhà tôi quán xuyến lo liệu. Từ năm 1992, các con tôi đều công tác và học tập tại thành phố Hồ Chí Minh. Tôi thường đi công tác vắng nhà, sức khỏe nhà tôi giảm sút nên xin chuyển vào thành phố Hồ Chí Minh ở gần với con cái. Ngày 8 tháng 7 năm 1992, gia đình tôi một lần nữa di chuyển chỗ ở. Lúc này gia đình tôi đã có thêm ba người con rể là Trần Mậu Đình, Trần Triệu Phú, Đỗ Minh Khôi. Trong đó Đình và Phú đều ở bộ đội hải quân.

Ngày 19 tháng 1 năm 1993, tôi cùng các đồng chí trong Bộ tư lệnh Quân chủng do đồng chí Hoàng Hữu Thái - Tư lệnh chủ trì, đón đồng chí Tổng Bí thư Đỗ Mười đến thăm và làm việc với Hải quân. Tháng 6 năm 1993, Đại tướng Đoàn Khuê - Bộ trưởng Quốc phòng đến thăm và làm việc về xây dựng Quân chủng Hải quân chính quy, hiện đại, đáp ứng yêu cầu bảo vệ chủ quyền biển đảo và thềm lục địa của Tổ quốc trong tình hình mới.

Tháng 4 năm 1993, tôi thay mặt Bộ tư lệnh Quân chủng tham gia đoàn của Chính phủ do Phó Thủ tướng Trần Đức Lương - Trưởng ban chỉ đạo Nhà nước về biển Đông và các hải đảo, dẫn đầu đi thăm và kiểm tra tình hình ở quần đảo Trường Sa và khu vực DKl. Thành phần của đoàn có các đồng chí: Nguyễn Chơn - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Nguyễn Tấn Trịnh - Bộ trưởng Thủy sản, Bùi Sướng - Thứ trưởng Bộ Giao thông vận tải, Nguyễn Sinh Hùng - Thứ trưởng Bộ Tài chính, Hồ Anh Dũng - Tổng giám đốc Đài truyền hình Việt Nam, Trần Xuân Giá - Bộ trưởng Kế hoạch đầu tư… và một số ngành ở Trung ương tham gia. Khi báo cáo tình hình với đoàn, tôi đề nghị Chính phủ và Ban chỉ đạo Nhà nước về biển Đông và các hải đảo tăng ngân sách xây dựng công trình để tăng cường khả năng sẵn sàng chiến đấu cũng như cải thiện sinh hoạt của bộ đội ở đảo và tăng độ bền vững các nhà giàn ở DKl.

Ngoài việc nghe báo cáo về tình hình sẵn sàng chiến đấu, đoàn cũng đi sâu nắm tình hình đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội. Thay mặt đoàn, Phó Thủ tướng Trần Đức Lương biểu dương cán bộ, chiến sĩ Hải quân trong điều kiện còn nhiều khó khăn đã phát huy truyền thống của quân đội, của quân chủng nêu cao ý chí tự lực, tự cường, khắc phục mọi khó khăn, đoàn kết, quyết tâm, xây dựng đảo tiến bộ mọi mặt để hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ biển đảo của Tổ quốc. Đoàn cũng dừng lại khá lâu trên đảo Đá Tây để xem xét việc xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ đánh bắt và nuôi hải sản ở lòng hồ tại đây.

Từ ngày 5 đến ngày 11 tháng 5 năm 1993, tôi tham gia đoàn cán bộ cấp cao của quân đội do Thượng tướng Đào Đình Luyện - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tham mưu trưởng dẫn đầu thăm Vương quốc Thái Lan.

Đến tháng 10 năm 1993, tôi nhận nhiệm vụ: Quyền Tư lệnh Quân chủng Hải quân thay đồng chí Hoàng Hữu Thái nghỉ chữa bệnh. Cũng thời gian này, tôi được trên chỉ định làm ủy viên của Ủy ban Nhà nước về biển Đông và các hải đảo.

Tháng 12 năm 1993, tôi và đồng chí Thiếu tướng Phạm Thanh Ngân - Tư lệnh Quân chủng Không quân đi dự triển lãm hàng hải, hàng không (Lima-93) quốc tế tại Malaixia. Cuộc triển lãm này diễn ra trong nhiều ngày có sự trình diễn các loại máy bay tàu chiến hiện đại của nhiều nước trên thế giới nhất là thao diễn các loại máy bay chiến đấu hiện đại với những phi công ngoại hạng, nhằm giới thiệu cho những ai muốn đặt hàng mua. Thủ tướng Malaixia - Mahathir bin Mohamed cũng rất quan tâm dự hết các buổi thao diễn này. Nhân dịp này, tôi và đồng chí Phạm Thanh Ngân cũng đến chào xã giao Tư lệnh Hải quân và Tư lệnh Không quân Mailaixia.

Trong thời gian này, để duy trì tăng cường lực lượng sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vùng biển hải đảo, sau diễn tập RS93 phòng thủ căn cứ Cam Ranh, tôi vẫn quyết định duy trì trực chiến các tàu tên lửa, tàu quét mìn... của Vùng 3, tại Vùng 4 và Vùng 5 hải quân.

Do nhu cầu phát triển lực lượng nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ ngày càng tăng, theo đề nghị của Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Hải quân, Bộ Quốc phòng đã quyết định nâng cấp đơn vị giữ đảo Bạch Long Vĩ lên thành Trung đoàn 952 (14-10-1993); nâng cấp Trường sĩ quan chỉ huy kỹ thuật Hải quân thành Học viện Hải quân (17-4-1993) và nâng các xưởng sửa chữa tàu: X46, X50, X51 và xí nghiệp sửa chữa vũ khí dưới nước X2/8 thành các nhà máy (17-4-1993).

Thực hiện quyết định này, Bộ tư lệnh Quân chủng đã chỉ đạo tổ chức triển khai kịp thời để các đơn vị thực hiện nhiệm vụ theo yêu cầu mới.

Trường sĩ quan chỉ huy-kỹ thuật Hải quân đi lên từ Trường huấn luyện bờ biển, đào tạo cán bộ nhân viên kỹ thuật sơ cấp, phát triển thành Trường đào tạo sĩ quan Hải quân và nay là Học viện Hải quân, nơi vừa đào tạo cán bộ hải quân ở cấp phân đội có trình độ đại học và đào tạo bổ túc sĩ quan chỉ huy cấp chiến thuật, chiến dịch có trình độ sau đại học; vừa làm chức năng của một trung tâm nghiên cứu khoa học quân sự hải quân. Đến nay, nhà trường đã hơn 50 năm làm nhiệm vụ đào tạo cán bộ hải quân, góp phần không nhỏ vào việc xây dựng và chiến đấu của Quân chủng Hải quân.

Trong thời gian qua, Trường sĩ quan chỉ huy-kỹ thuật Hải quân đã tích cực tham gia làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển, đảo.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Chín, 2021, 09:16:46 am
Tình hình tranh chấp chủ quyền trên vùng biển đảo của ta ngày càng gay gắt, nên mọi công việc của Hải quân nhằm thực hiện nhiệm vụ làm nòng cốt bảo vệ chủ quyền biển, đảo được đặt lên trên hết và điều hành xuyên suốt liên tục không lúc nào gián đoạn, từ việc củng cố hệ thống nắm tình hình vùng biển trước những vấn đề nhạy cảm, không để bị bất ngờ trước mọi tình huống. Lực lượng chiến đấu ngoài việc trực chiến còn phải bảo đảm sẵn sàng cơ động làm nhiệm vụ, hệ số bảo đảm kỹ thuật cho hoạt động của tàu thường xuyên được kiểm tra. Kế hoạch xây dựng công trình, công sự ở các đảo và DK1, để tăng cường khả năng chiến đấu phòng thủ và bảo đảm sinh hoạt của bộ đội được thực hiện mỗi năm mỗi tăng với hàng vạn tấn vật liệu vận chuyển cho đảo. Công tác huấn luyện kỹ chiến thuật và diễn tập theo các phương án chiến đấu được chú ý nâng cao chất lượng.

Công tác chính trị tư tưởng, công tác bảo đảm hậu cần-kỹ thuật, công tác tham mưu chỉ huy ngày một cải tiến có chất lượng cao hơn, đáp ứng yêu cầu hoạt động sẵn sàng chiến đấu của Quân chủng... Có sự chỉ đạo của trên, cùng với sự động viên giúp đỡ của quân dân cả nước, suốt những năm 90, mặc dầu còn nhiều khó khăn tồn tại và những căng thẳng gay gắt xảy ra trên vùng biển đảo, nhưng Quân chủng Hải quân vẫn không từ một khó khăn nào, cán bộ chiến sĩ luôn đồng tâm hiệp lực, tích cực chủ động hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo.

Năm 1994, là năm có nhiều hoạt động thăm dò dầu khí của nước ngoài xâm phạm chủ quyền vùng biển của ta. Ngày 18 tháng 4 năm 1994, khi công ty dầu khí nước ngoài tuyên bố tiến hành hoạt động thăm dò dầu khí tại thềm lục địa phía Nam của ta trong một vùng biển rộng 25.165km2, như phần trên đã nói, Quân chủng Hải quân đã kịp thời có chủ trương, biện pháp trong thực hiện “BM-94” sẵn sàng đối phó ngăn chặn mọi hoạt động trái phép của nước ngoài.

Khi tình hình buôn lậu bằng đường biển rộ lên, tháng 10 năm 1994, Tư lệnh Hải quân đã chỉ đạo Bộ tham mưu điều động bốn tàu 206 của Vùng 3 vào tham gia phối hợp với địa phương chống buôn lậu ở khu vực biển các tỉnh Bình Định, Quảng Ngãi.

Trong ba ngày từ 10 đến 12 tháng 3 năm 1994, hội nghị đại biểu Đảng bộ Hải quân (khóa 7) giữa nhiệm kỳ nhằm đánh giá tình hình lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ của Quân chủng và công tác xây dựng Đảng trong ba năm qua. Đại tướng Đoàn Khuê - ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng tới dự và phát biểu: “Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn, song Đảng bộ Hải quân đã đoàn kết, nêu cao ý chí chiến đấu, chủ động khắc phục khó khăn, lãnh đạo toàn quân chủng vững bước đi lên, hoàn thành các mục tiêu mà Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng giao...”.

Thực hiện quốc phòng toàn dân và chiến tranh nhân dân trên biển từ những năm 60, trong chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc, bộ đội Hải quân đã có nhiều kinh nghiệm tổ chức dân quân tự vệ biển ở các địa phương ven biển, ở các xí nghiệp đánh cá, các công ty vận tải biển... Các ngành này đã phát huy hiệu quả trong hiệp đồng với lực lượng hải quân và các lực lượng vũ trang khác ven biển đánh máy bay và tàu chiến địch, chống địch phong tỏa bằng thủy lôi và tham gia tích cực trong vận tải chi viện chiến trường...

Lúc này do điều kiện thay đổi, lực lượng dân quân tự vệ biển ven biển do các Quân khu trực tiếp tổ chức chỉ đạo, được Hải quân giúp đỡ về mặt huấn luyện. Quân chủng Hải quân tập trung chỉ đạo tự vệ biển ở các đơn vị hoạt động kinh tế biển của Trung ương. Trải qua tổ chức hoạt động dân quân tự vệ biển khi tôi còn phụ trách hải quân ở địa bàn nam Khu 4 trong những năm chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, kế thừa truyền thống của Hải quân nhân dân, tôi cùng các đồng chí thủ trưởng Bộ tham mưu, Phòng quân sự địa phương, cùng các bộ ngành trung ương chăm lo xây dựng các lực lượng này cả về tổ chức, huấn luyện và hoạt động.

Đến thời điểm này ta đã có tám hải đoàn tự vệ biển phối hợp với Hải quân trong việc nắm tình hình mặt biển, bảo vệ chủ quyền và cấp cứu trên biển. Ở phía Bắc có năm hải đoàn tự vệ biển ở các Công ty vận tải biển Vosco, Công ty vận tải biển 3 Vinaship, Công ty vận tải xăng dầu đường thủy 1 của Bộ Thương mại, Công ty thủy sản Hạ Long của Bộ Thủy sản, Công ty vận tải và cung ứng xăng dầu đường biển của Tổng công ty Hàng hải Việt Nam.

Ở phía Nam có ba hải đoàn tự vệ biển ở các công ty vận tải biển thuê Việt Nam, công ty vận tải xăng dầu Vitaco của Bộ thương mại, Tổng công ty khai thác hải sản biển Đông của Bộ Thủy sản.

Hoạt động kinh tế kết hợp quốc phòng của hải quân đến nay cũng có nhiều chuyển biến tốt. Quân chủng Hải quân có 16 công ty, xí nghiệp ở các đơn vị được Nhà nước và Bộ Quốc phòng cho làm kinh tế kết hợp quốc phòng với các chuyên ngành đánh bắt hải sản, dịch vụ vận tải biển; đóng mới sửa chữa tàu biển, xây dựng công trình thủy, may mặc...


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Chín, 2021, 09:17:04 am
Từ năm 1992, tôi được phân công theo dõi chỉ đạo mảng công việc này. Hoạt động kinh tế của hải quân có hiệu quả, tiến triển tốt, trong đó có Công ty Tân Cảng Sài Gòn làm dịch vụ vận tải biển là một trong những đơn vị hoạt động kinh tế trong lĩnh vực quốc phòng có hiệu quả cao. Hầu hết các đơn vị làm kinh tế của hải quân trong khó khăn mới mẻ của cơ chế thị trường đều tự trang trải, góp phần cải thiện đời sống của bộ đội, không có đơn vị nào thua lỗ. Tuy là muôn thuở, nhưng qua đây tôi cũng tự nghiệm cho mình thêm một lần nữa là khi phát huy được sự đồng lòng, đồng sức từ Bộ tư lệnh Quân chủng cho đến các đơn vị thì mọi việc sẽ thành công. Cán bộ điều hành làm kinh tế ở các đơn vị hải quân có những đồng chí rất chịu khó học hỏi, chủ động, sáng tạo. Đó là các đồng chí: Vũ Trí Viễn - Giám đốc Công ty Tân Cảng Sài Gòn, Tống Vạn Thọ - Giám đốc Công ty 128. Nguyễn Ngọc Hồng - Giám đốc Công ty Hải Bình, Phạm Văn Uấn - Giám đốc công ty Hải Minh, Bùi Văn Hưng - Giám đốc Công ty Hải Công...

Khi đất nước ta mở rộng quan hệ hợp tác với các nước trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật, thì công tác đối ngoại quân sự cũng được tăng cường, góp phần gìn giữ hòa bình hữu nghị với các nước trong khu vực và thế giới để cùng nhau phát triển. Từ năm 1994 và cũng từ đây trên cương vị là Tư lệnh Quân chủng Hải quân, trong kế hoạch của Bộ Quốc phòng, hải quân đã có những hoạt động đối ngoại quân sự đáng chú ý.

Ngày 18 tháng 1 năm 1994, Bộ tư lệnh Quân chủng tiếp Đô đốc Gờ-rô-mốp, Tư lệnh Hải quân Liên bang Nga. Giữa Hải quân Việt Nam và Hải quân Liên Xô trước đây và Hải quân Liên bang Nga ngày nay, từ lâu đã có mối quan hệ hữu nghị tốt đẹp. Hải quân Liên Xô trước đây đã giúp Hải quân Việt Nam đào tạo nhiều cán bộ và viện trợ nhiều trang bị tàu thuyền, vũ khí. Nhiều cố vấn Hải quân Liên Xô mà tôi đã tiếp xúc, khi sang Việt Nam giúp huấn luyện sử dụng trang bị đã để lại cho Hải quân Việt Nam ấn tượng và tình cảm hữu nghị tốt đẹp. Tiêu biểu như Chuẩn đô đốc Sơ-cờ-va-rơ-sốp, Chuẩn đô đốc Gia-kha-rốp, Chuẩn đô đốc Cu-dơ-nhét-xốp, Chuẩn đô đốc Đê-viát- tai-kin; các Đại tá, Trung tá Lô-bốp, I-van-chốp, Ka-su-ba, Đô-zim, Oóc-lốp...

Vì vậy, dù trong hoàn cảnh nào nhân dân Việt Nam, Hải quân Việt Nam vẫn luôn trân trọng cám ơn sự giúp đỡ to lớn, quý báu và có hiệu quả đó của nhân dân và Hải quân Liên Xô trước đây, Hải quân Liên bang Nga ngày nay.

Trên tinh thần đó với không khí thân mật, cởi mở, tôi và Đô đốc Gờ-rô-mốp đã trao đổi các biện pháp gìn giữ và phát huy mối quan hệ hữu nghị giữa Hải quân Việt Nam và Hải quân Liên bang Nga nói chung và giữa Vùng 4 hải quân với bộ phận Hải quân Liên bang Nga công tác tại Cam Ranh. Chúc cho mối quan hệ hữu nghị đó ngày càng đơm hoa, kết trái.

Tiếp đó, ngày 7 tháng 4 năm 1994, đoàn Học viện Quốc phòng Cộng hòa Pháp do Đại tướng Phrăng-xoa Brét-xông dẫn đầu đến thăm Bộ tư lệnh Hải quân Việt Nam. Đoàn gồm trên 100 người, trong đó có nhiều cán bộ cao cấp các ngành của Pháp đang nghiên cứu và học tập ở Học viện này.

Trên tinh thần trọng thị, hữu nghị hiểu biết lẫn nhau giữa quân đội hai nước, tôi nhiệt liệt chào mừng và chân thành cám ơn ngài Phrăng-xoa Brét-xông và đoàn đã đến thăm Hải quân Việt Nam. Trong buổi giao lưu cởi mở, muốn tìm hiểu kỹ hơn về tình hình của Hải quân Việt Nam, đoàn đã đưa ra nhiều câu hỏi với Tư lệnh Hải quân Việt Nam. Trong đó bạn có hỏi một câu, không biết có ý thăm dò thái độ hay có ý lo lắng cho Hải quân Việt Nam là: “Trong việc tranh chấp chủ quyền quần đảo Trường Sa, hải quân đối phương mạnh hơn Hải quân Việt Nam nhiều, làm sao mà các ngài thắng được? Xin Ngài cho biết ý kiến...”.

Tôi cười vui và trả lời: “Trước hết xin cảm ơn Ngài đã quan tâm đến nhiệm vụ của Hải quân Việt Nam. Như các ngài đã biết là khi đế quốc Mỹ đem quân xâm lược Việt Nam, về quân sự Mỹ mạnh hơn Việt Nam nhiều lần, nhưng rốt cuộc Mỹ vẫn thua và cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam đã thắng lợi hoàn toàn. Ngày nay nếu ai đem quân xâm lược quần đảo Trường Sa của Việt Nam, thì nhân dân Việt Nam cũng tin tưởng sẽ đánh thắng cuộc xâm lược đó. Nếu có xẩy ra, xin Ngài xem cách làm của chúng tôi”.

Cuộc thăm hỏi và giao lưu diễn ra trong không khí hữu nghị cởi mở, hiểu biết lẫn nhau.

Từ ngày 9 đến 19 tháng 4 năm 1994, tôi được trên cử làm thành viên của đoàn quân sự cấp cao Việt Nam do Thượng tướng Đào Đình Luyện - Thứ trưởng Quốc phòng, Tổng tham mưu trưởng dẫn đầu thăm nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Tham gia đoàn còn có một số đồng chí Tư lệnh các Quân khu, quân binh chủng và cơ quan Bộ Quốc phòng.

Đoàn đại biểu quân sự cấp cao Việt Nam đã hội đàm với đoàn quân sự cấp cao Trung Quốc do Thượng tướng Trương Vạn Niên - Tổng tham mưu trưởng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc dẫn đầu. Mặc dù giữa Việt Nam và Trung Quốc còn tồn tại những vấn đề về biên giới trên đất liền và biển, đảo nhưng vẫn xác định điểm đồng nhiều hơn. Với tình đồng chí, trong phát biểu của trưởng đoàn ta lời đầu tiên là chân thành cám ơn về sự giúp đỡ to lớn của nhân dân Trung Quốc đối với Việt Nam trong đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng đất nước ngay nay. Đáp lại, trưởng đoàn quân sự Trung Quốc cung chân thành cám ơn sự ủng hộ của Việt Nam đối với cách mạng Trung Quốc. Hai đoàn nhất trí sẽ tiếp tục cùng nhau xây dựng tình hữu nghị láng giềng giữa nhân dân và quân đội hai nước ngày càng tốt đẹp.

Trong cuộc hội đàm, các thành viên hai đoàn đã cùng nhau ôn lại những kỷ niệm thân tình mà trước đây đã từng gặp và cộng tác với nhau trong không khí thân mật, vui vẻ. Đoàn ta có đến chào một số vị lãnh đạo Trung Quốc và thăm một số đơn vị quân đội, trong đó có căn cứ hải quân ở Thượng Hải. Đoàn ta cũng đi thăm một số nơi ở Bắc Kinh, Thượng Hải, Hàng Châu, Nam Kinh, Côn Minh...


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Chín, 2021, 09:17:33 am
*
* *

Để kịp chuyển hoạt động kinh tế của Quân chủng theo hướng phát triển hoạt động kinh tế của đất nước, phát huy tính chủ động của các công ty, xí nghiệp, trong quan hệ với các đối tác liên doanh và trong chủ động kế hoạch sản xuất, theo đề nghị của Quân chủng Hải quân, Bộ Quốc phòng có quyết định giải thể Tổng công ty Biển Đông. Từ ngày 11 tháng 7 năm 1994, chuyển các công ty 128 và 129, Xí nghiệp 433, đơn vị vận tải K34, trước đây trực thuộc Tổng công ty Biển Đông về trực thuộc Quân chủng. Sau đó một thời gian lại sáp nhập Xí nghiệp 433 và K34 vào Công ty 128.

Việc đổi mới tổ chức hoạt động kinh tế này những năm sau đó hiệu quả hoạt động của các công ty xí nghiệp ngày càng tốt hơn.

Tháng 10 năm 1994, tôi nhận quân hàm Phó đô đốc Hải quân. Tiếp tục các hoạt động đối ngoại quân sự, từ ngày 4 đến 9 tháng 12 năm 1994, tôi là thành viên trong đoàn quân sự cấp cao nước ta do Đại tướng Đoàn Khuê - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng dẫn đầu thăm Philippin, theo lời mời của Ngài Đơ Villa - Bộ trưởng Quốc phòng nước này.

Đoàn đã hội đàm với đoàn quân sự cấp cao Philippin do Ngài Đơ Villa - Bộ trưởng Quốc phòng dẫn đầu. Trong thời gian này, đoàn đến chào xã giao Tổng thống Philippin Phiđen Ramốt. Trong chuyến viếng thăm này, tôi cũng có điều kiện tiếp xúc hữu nghị với Chuẩn đô đốc Pio Carranza - Tư lệnh Hải quân Philippin.

Nhận lời mời của Tư lệnh Hải quân Việt Nam, đoàn Hải quân cấp cao Hoàng gia Thái Lan do Đô đốc Prachet Siridej - Tư lệnh Hải quân Hoàng gia Thái Lan dẫn đầu đã đến thăm Hải quân Việt Nam từ ngày 28 tháng 6 đến 1 tháng 7 năm 1994. Đây là lần đầu tiên bang giao giữa chỉ huy cấp cao của Hải quân hai nước Việt Nam và Thái Lan, mở đầu quan hệ hiểu biết lẫn nhau, để xây dựng mối quan hệ hữu nghị lâu dài mà trước hết là giữ gìn hòa bình, an ninh trật tự trên vùng biển kế cận của hai nước.

Trong cuộc hội đàm trao đổi giữa hai đoàn hải quân cấp cao hai nước, tôi có đề cập với Tư lệnh Hải quân Hoàng gia Thái Lan là vừa qua Thái Lan có bắt giữ một số tàu cá Việt Nam, giam giữ nhiều ngày mà không được phía Thái Lan thông báo cho Việt Nam biết để cùng nhau giải quyết, vì đây thực sự là dân đánh cá. Đô đốc Prachet - Siridej trả lời, là theo quy định của Thái Lan thì khi bắt các tàu vi phạm vùng biển, hải quân Thái Lan đều bàn giao ngay cho cơ quan hữu trách khác, chứ họ không xử lý và cũng không theo dõi sau đó. Để giải quyết việc này, hai bên đề nghị nên thiết lập đường dây nóng giữa hải quân hai nước, để khi có xảy ra vấn đề gì trên biển, nhất là các hoạt động vi phạm chủ quyền thì thông tin cho nhau kịp thời giải quyết những vướng mắc.

Cùng trong năm 1994, tôi đã tiếp Tùy viên quân sự một số nước đến chào xã giao Tư lệnh Hải quân Việt Nam, nhằm tăng cường hữu nghị, hiểu biết lẫn nhau và mong muốn xây dựng quan hệ hữu nghị song phương giữa hải quân hai nước, như Đại tá Lý Đức Lâm và Đại tá Lưu Sùng Du - Tùy viên quân sự Trung Quốc (19-3-1994); Đại tá Na-rông Nilaward - Tùy viên quân sự Thái Lan (5-5-1994); Trung tá Osvaldo Barcia Marrera - Tùy viên quân sự Cu Ba (9-7-1994)...

Trong các lần tiếp các tùy viên quân sự nói trên, ngoài những lời cám ơn, tôi cũng mong rằng các ngài tùy viên quân sự sẽ là những cầu nối tốt cho việc xây dựng quan hệ hữu nghị tốt đẹp giữa quân đội nói chung và hải quân nói riêng của hai nước. Tất cả các cuộc tiếp xúc này, đều diễn ra trong không khí thân thiện, hiểu biết lẫn nhau.

Năm 1995, tình hình xâm phạm tranh chấp chủ quyền trên vùng biển đảo của ta vẫn tiếp tục diễn ra quyết liệt như đã nói ở phần trên, đặc biệt nổi lên là nhiều lần Trung Quốc tiến hành hoạt động thăm dò dầu khí có cả tàu chiến hỗ trợ xâm phạm sâu vào vùng biển ta ở vịnh Bắc Bộ. Để bảo vệ chủ quyền, Nhà nước ta đã phản đối qua đường ngoại giao. Hải quân Việt Nam với trách nhiệm là lực lượng nòng cốt bảo vệ chủ quyền biển đảo, kịp thời phát hiện và theo dõi chặt chẽ mọi hoạt động xâm phạm của đối phương và kiên quyết, kiên trì trực tiếp đấu tranh trên biển bằng mọi biện pháp hòa bình, có lúc kéo dài hàng tháng để buộc đối phương phải ngừng ngay mọi hành động xâm phạm chủ quyền biển đảo của ta.

Trong lúc tập trung nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu của các đảo ở quần đảo Trường Sa, thì trong năm 1995, Hải quân làm nhiệm vụ bảo vệ Bạch Long Vĩ, đảo tiền tiêu của ta ở vịnh Bắc Bộ, sau nhiều lần rút kinh nghiệm diễn tập phòng thủ đảo. Tư lệnh Hải quân đã có quyết định tăng cường hỏa lực và công sự chiến đấu để nâng cao khả năng phòng thủ bảo vệ biển đảo ở khu vực này.

Cùng lúc này, theo kế hoạch của Bộ tư lệnh Quân chủng, các tàu vận tải của Lữ đoàn 125, của các vùng và của Tổng cục Hậu cần, cùng lực lượng công binh Trung đoàn 83, Trung đoàn 131 đã hoàn thành tốt kế hoạch xây dựng công trình, công sự năm 1995, nhằm tăng cường khả năng sẵn sàng chiến đấu ở các đảo Phan Vinh, Đá Đông, Đá Lát, Đá Thị, Cô Lin, Len Đao và đặc biệt chống xói lở ở đảo Sơn Ca đang có nguy cơ mất nhiều diện tích của đảo.

Theo kế hoạch thống nhất của Bộ tư lệnh Quân chủng, tôi trực tiếp chỉ đạo nâng cao mọi mặt của các đảo Song Tử Tây và Thổ Chu, khi các đảo này với tính chất vai trò, vị trí trong bảo vệ chủ quyền biển đảo đã được trên nâng lên đảo cấp 1.

Chỉ đạo tổ chức diễn tập, đánh địch đổ bộ đường biển và diễn tập tác chiến điện tử cho một số đơn vị khu vực phía Bắc như Vùng 1, Đoàn đặc công 861, Đoàn tên lửa bờ 679, Lữ đoàn hải quân đánh bộ 147, Trung đoàn công binh 131...


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Chín, 2021, 09:18:14 am
*
* *

Tiến tới kỷ niệm 40 năm thành lập Quân chủng Hải quân (7.5.1955-7.5.1995) ngày 24 tháng 4 năm 1995, tôi thay mặt Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân chủng chủ trì cuộc hội thảo khoa học “40 năm xây dựng và trưởng thành của Hải quân nhân dân Việt Nam”. Tham dự hội thảo có các tướng lĩnh và các nhà khoa học, các đại biểu của nhiều ngành trong và ngoài quân đội như: Trung tướng Phó giáo sư Hoàng Phương - Viện trưởng Viện lịch sử quân sự Bộ Quốc phòng, đồng chí Lê Minh Nghĩa - Trưởng ban Biên giới Chính phủ, Trung tướng Trần Hanh - Thứ trưởng Quốc phòng, đồng chí Đinh Nho Liêm - nguyên Thứ trưởng Ngoại giao; Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh - Phó cục trưởng Cục tác chiến Bộ Tổng tham mưu, Trung tướng Phó giáo sư Đỗ Trình - Phó viện trưởng Viện chiến lược quân sự, Thiếu tướng Phó giáo sư Phó tiến sĩ Hồ Thanh Minh (Cục khoa học công nghệ và môi trường Bộ Quốc phòng); Đại tá Nguyễn Huy Toàn, Thượng tá Phó tiến sĩ Nguyễn Quốc Dũng... (Viện lịch sử quân sự); Đại tá Lê Bằng (Tạp chí Quốc phòng toàn dân)... Về phía Quân chủng Hải quân có cán bộ các cục, các phòng của cơ quan Quân chủng. Phòng khoa học công nghệ và môi trường do đại tá Chữ Minh Toa làm trưởng phòng là cơ quan giúp Bộ tư lệnh tổ chức hội thảo này.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi thư chúc mừng hội thảo. Bức thư của Đại tướng có đoạn: “... Là người có trọng trách theo dõi chỉ đạo Hải quân ngay từ ngày thành lập, tôi vui mừng phấn khởi thấy sự trưởng thành của Quân chủng Hải quân 40 năm qua. Đó là kết quả của quá trình phấn đấu bền bỉ, không quản khó khăn gian khổ và hy sinh quên mình của những lớp cán bộ, chiến sĩ nối tiếp nhau... Dưới sư lãnh đạo chỉ đạo tuyệt đối, toàn diện của Đảng mà trực tiếp là Tổng Quân ủy và Bộ Quốc phòng, Quân chủng Hải quân đã lập được nhiều chiến công oanh liệt và thành tích to lớn, trong đó có những kỳ tích như “Đường Hồ Chí Minh trên biển”, chiến công nắm thời cơ “giải phóng quần đảo Trường Sa”...

... Biển của ta có ý nghĩa to lớn với tiền đồ phát triển của đất nước và do đó cũng trở thành mục tiêu tranh giành, lấn chiếm, cướp đoạt của nhiều thế lực khác nhau. Nếu ta có nhận thức đầy đủ rằng biển và đại dương sẽ là nguồn tài nguyên chủ yếu của nhân loại kể từ thế kỷ 21 thì sẽ thấy tầm chiến lược to lớn của vấn đề biển, bảo vệ biển, đi đôi với thăm dò, nghiên cứu và phát triển tài nguyên đối với nước ta là quan trọng nhường nào.

... Tôi mong rằng, trong hội nghị khoa học lần này, các đồng chí đi đến nhận thức đầy đủ hơn về tầm chiến lược của vấn đề; trên cơ sở đó đề ra những bước xây dựng và phát triển Hải quân nhân dân Việt Nam trong những năm trước mắt, đồng thời có những suy nghĩ về hướng tiếp tục nghiên cứu cho những bước tiếp theo; nghiên cứu sự kết hợp giữa quốc phòng và kinh tế, kinh tế và quốc phòng. Tôi chỉ nêu ở đây một ý kiến là việc phát triển Quân chủng Hải quân cần đặt trong khuôn khổ của thế trận chiến tranh nhân dân trên hiển, càng không thể tách rời sự tăng cường nhịp độ phát triển nền kinh tế ven biển và trên biển gần và xa...”.


Cùng với báo cáo trung tâm về 40 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Hải quân nhân dân Việt Nam, các bản tham luận trình bày tại hội thảo đều khẳng định thành tích của Hải quân đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển đảo, thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế và sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thành tích đó đã để lại nhiều bài học quý cho sự nghiệp xây dựng và chiến đấu của Hải quân nhân dân Việt Nam trong thời gian tới. Đồng thời, hội thảo cũng đề cập đến một loạt vấn đề về lý luận và thực tiễn rất quan trọng có tầm vĩ mô nhằm nghiên cứu, tham khảo cho việc tổ chức xây dựng Hải quân và xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân trên biển. Đặc biệt nghiên cứu thực hiện những lời chỉ huân rất quan trọng và sâu sắc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong xây dựng và thực thi nhiệm vụ của Hải quân nhân dân Việt Nam.

Cuộc hội thảo đã thành công tốt đẹp. Thay mặt Bộ tư lệnh Quân chủng Hải quân, tôi chân thành cám ơn các đại biểu tham dự hội thảo và xin tiếp nhận những ý kiến tham luận quý báu để nghiên cứu hoàn thiện vận dụng vào công tác xây dựng và chiến đấu của hải quân.

Ngày 6 tháng 5 năm 1995, Quân chủng Hải quân tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm 40 năm (7.5.1955- 7.5.1995) thành lập Quân chủng. Tôi chủ trì tổ chức buổi lễ. Đến dự lễ kỷ niệm có các đồng chí: Vũ Oanh - ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Nguyễn Thị Bình - Phó chủ tịch nước, Vũ Mão - ủy viên ủy ban Thường vụ Quốc hội, Lê Quang Đạo - Chủ tịch Đoàn chủ tịch ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Trung tướng Nguyễn Thới Bưng - Thứ trưởng Quốc phòng, Lê Danh Xương - Bí thư Thành ủy Hải Phòng; Đại tướng Văn Tiến Dũng, Đại tướng Chu Huy Mân, Đại tướng Nguyễn Quyết.... cùng đông đảo đại diện ban, ngành trung ương, địa phương và cơ quan Bộ Quốc phòng. Tham dự lễ kỷ niệm còn có các đồng chí nguyên là thủ trưởng Bộ tư lệnh Quân chủng; thủ trưởng các cục, các vùng hải quân, các đơn vị trực thuộc Bộ tư lệnh Quân chủng qua các thời kỳ đã nghỉ hưu. Đông đảo cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị hải quân và cơ quan quân chủng đều có mặt tại buổi lễ trọng thể này.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Chín, 2021, 09:18:34 am
Thay mặt Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân chủng, tôi đọc báo cáo nêu bật thành tích 40 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của hải quân. Thay mặt Đảng và Nhà nước, các đồng chí Vũ Oanh, Nguyễn Thị Bình đã biểu dương thành tích xây dựng và chiến đấu vẻ vang của Quân chủng Hải quân, đồng thời giao cho hải quân tiếp tục thực hiện sứ mệnh vinh quang là làm nòng cốt cùng toàn quân, toàn dân bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Ngày 13 tháng 5 năm 1995, Tổng Bí thư Đỗ Mười đến thăm Quân chủng Hải quân. Sau khi nghe tôi báo cáo tình hình của quân chủng, đồng chí đã gặp mặt và nói chuyện với đông đảo cán bộ, chiến sĩ. Đặc biệt tại Sở chỉ huy của Quân chủng, qua liên lạc vô tuyến đồng chí Tổng Bí thư đã trực tiếp nói chuyện và thăm hỏi động viên cán bộ, chiến sĩ đang làm nhiệm vụ ở quần đảo Trường Sa. Đồng chí biểu dương thành tích và tiến bộ của Quân chủng Hải quân trong xây dựng và trong hoạt động bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. Tổng Bí thư Đỗ Mười yêu cầu phải chăm lo xây dựng Quân chủng Hải quân vững mạnh về chính trị, quân sự hơn nữa để luôn luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Đầu năm 1995, tôi tham gia trong đoàn quân sự cấp cao nước ta do Đại tướng Đoàn Khuê - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng dẫn đầu thăm các nước Mianma, Thái Lan, Xingapo theo lời mời của Bộ trưởng Quốc phòng các nước này. Tại Mianma (từ 23 đến 27-2-1995) đoàn ta đã đến chào Thống tướng Than-xuê, hội đàm với Thượng tướng Lun-Maung, Bộ trưởng Văn phòng Thủ tướng Mianma; gặp gỡ Phó đô đốc Than-Nyunt, Tư lệnh Hải quân Mianma và Trung tướng Thein-win, Tư lệnh Không quân Mianma.

Khi đến thăm Vương quốc Thái Lan (từ 27-2 đến 3-3-1995), đoàn đã hội đàm với đoàn quân sự cấp cao Thái Lan do Đại tướng Vijit Sookmark dẫn đầu. Đoàn cũng đến chào quốc vương Bhumibol Adulyadej và Thủ tướng Chuan Leekpai. Trong chuyến thăm này tôi có đến thăm xã giao Đô đốc Prachet Siridej - Tư lệnh Hải quân Hoàng gia Thái Lan.

Ngày 6 tháng 8 năm 1995, đoàn quân sự cấp cao nước ta tiếp tục đi thăm Xingapo. Tại đây đoàn đã hội đàm với đoàn quân sự cấp cao Xingapo do ngài Lee Boon Yang - Bộ trưởng Quốc phòng dẫn đầu.

Đoàn ta đã đến chào Thủ tướng Goh Chok Tong; gặp gỡ xã giao với Thượng tướng Han Eng Juan - Tổng tham mưu trưởng quân đội Xingapo, tham dự có Chuẩn đô đốc Kwek Siew Jin - Tư lệnh Hải quân và Thiếu tướng Bey Soo Khiang - Tư lệnh Không quân Xingapo.

Cuộc đi thăm của đoàn quân sự cấp cao Việt Nam ở Mianma, Thái Lan, Xingapo đã làm tăng thêm sự hiểu biết và tính thân thiện giữa nước ta với các nước nói chung và giữa quân đội ta với quân đội các nước nói riêng trong bối cảnh các nước Đông Nam Á ngày càng xích lại gần nhau hơn.

Ngày 19 tháng 4 năm 1995, tôi chủ trì tiếp đoàn quân sự cấp cao Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc do Thượng tướng Trương Vạn Niên - Tổng tham mưu trưởng dẫn đầu đến thăm Bộ tư lệnh Hải quân trong chuyến thăm Việt Nam. Tiếp đoàn về phía Hải quân Việt Nam còn có Phó đô đốc Lê Văn Xuân - Phó tư lệnh về chính trị, Thượng tá Trần Quang Khuê - Phó tư lệnh Tham mưu trưởng.

Trong lần tham gia đoàn quân sự cấp cao Việt Nam thăm Trung Quốc (4-1994), lúc gặp Thượng tướng Trương Vạn Niên, tôi có nói: “Khi nào đồng chí đến Việt Nam, mời đồng chí đến thăm Hải quân Việt Nam”. Thượng tướng Trương Vạn Niên đã đáp lại lời mời đó, tôi nghĩ vậy. Trong đoàn quân sự cấp cao Trung Quốc còn có Chính ủy Hải quân Trung quốc.

Mặc dầu giữa hai nước còn tồn tại những bất đồng liên quan đến nhiệm vụ của Hải quân Việt Nam trên biển, nhưng buổi tiếp đón, giao lưu đã diễn ra trong không khí hữu nghị, vui vẻ thoải mái, để lại nhiều ấn tượng tốt.

Từ ngày 19 đến ngày 30 tháng 6 năm 1995, tôi dẫn đoàn Hải quân cấp cao Việt Nam thăm Liên bang Nga theo lời mời của ngài Vô-rô-nhin - Phó-trưởng ban An ninh quốc gia Liên bang Nga. Thành phần của đoàn có các đồng chí: Đại tá Nguyễn Phương Ninh - Cục trưởng Cục kỹ thuật, Thượng tá Bế Quốc Hùng - Phó tham mưu trưởng, Trung tá Nguyễn Minh Đằng - Trưởng phòng Đối ngoại, đồng chí Hoán - Viện trưởng Viện kỹ thuật Hải quân... Chuyến đi này của đoàn Hải quân Việt Nam chủ yếu là tìm hiểu, đàm phán việc mua và hợp tác đóng tàu chiến; tham quan các cơ sở nghiên cứu thiết kế và đóng tàu của Liên bang Nga.

Ngày 3 tháng 10 năm 1995, tôi cùng với Trung tướng Nguyễn Thới Bưng - Thứ trưởng Bộ quốc phòng tham dự lễ kỷ niệm 50 năm Quốc khánh Inđônêxia, theo lời mời của Chính phủ nước này. Trong thời gian dự lễ, chúng tôi đã đến thăm xã giao Bộ Quốc phòng và Bộ tư lệnh Hải quân Inđônêxia.

Cũng trong năm 1995, tôi tiếp Đại tá Gill - Tùy viên quân sự Ấn Độ, Đại tá Narông Nilaward - Tùy viên quân sự Thái Lan, Đại tá Kam-vang Vong-kham-sao - Tùy viên quân sự Lào đến chào xã giao Tư lệnh Hải quân Việt Nam.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Chín, 2021, 09:19:11 am
*
* *

Nhằm liên tục nắm chắc tình hình trên biển, không để bị bất ngờ và kịp thời xử lý mọi sự xảy ra trên biển, luôn là ưu tiên hàng đầu của hải quân. Tôi yêu cầu Bộ tham mưu, ngoài lực lượng trinh sát chuyên ngành của quân báo và lực lượng rađa quan sát biển, phải mở rộng mạng lưới nắm tình hình vùng biển đến tất cả mọi thành phần đang công tác trên biển đảo. Thực tế, Bộ tham mưu đã chỉ đạo phối hợp giữa ngành quân báo và ngành quân sự địa phương tổ chức huấn luyện cho các đôi tượng về công tác nắm tình hình trên biển. Và từ đó, các tàu vận tải của các hải đoàn tự vệ biển, các công ty vận tải biển, các tàu đánh cá... đã hợp thành mạng lưới có hiệu quả tốt góp phần kịp thời phát hiện tình hình xảy ra trên biển.

Để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo mà hải quân là lực lượng nòng cốt, Tư lệnh Hải quân đã phối hợp với Tư lệnh Không quân, Tư lệnh Phòng không, tổ chức mạng lưới chỉ huy tác chiến hiệp đồng giữa các quân chủng.

Cùng với việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo, Bộ tư lệnh Quân chủng cũng đặc biệt quan tâm đến việc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ và công nhân viên quốc phòng. Khu doanh trại cơ quan Bộ tư lệnh Hải quân ở Hải Phòng đã xuống cấp nghiêm trọng. Nơi này trước đây vốn là trại lính Pháp đã sử dụng nhiều năm dưới thời Pháp thuộc. Sau ngày giải phóng miền Bắc, từ khi tiếp quản (1955) cho đến thời điểm hiện tại chưa hề được sửa chữa nâng cấp. Nhà cửa đã hư hỏng dột nát nhiều, không bảo đảm được nơi ăn ở làm việc của cơ quan, nhất là vào mùa mưa bão.

Tôi đề xuất chủ trương kế hoạch và nhận được sự đồng thuận của Bộ tư lệnh Quân chủng, cùng các cơ quan là xóa hết các nhà cũ (trừ một nhà làm việc mới nâng tầng), quy hoạch chỉnh trang lại chỗ làm việc và nơi ăn ở của cơ quan, xây mới bằng vốn tự có của Quân chủng. (Việc này đã báo cáo với Bộ Quốc phòng). Bộ tham mưu được phân công chủ trì mà trực tiếp là Phòng hành chính Quân chủng do thượng tá Đỗ Xuân Quyết làm trưởng phòng thực hiện kế hoạch này, có sự chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ của Cục hậu cần Hải quân.

Doanh trại cơ quan Bộ tư lệnh Quân chủng hình thành bốn khu vực: làm việc, ăn ở, hoạt động thể dục thể thao và trạm khách. Sau 5 năm kế hoạch xây dựng cơ bản hoàn thành với 57.862m2 xây dựng. Nơi làm việc, ăn ở và phục vụ, mọi hoạt động của cơ quan đã được cải thiện và đi vào nền nếp. Trên đà thắng lợi, Bộ tư lệnh tiếp tục đầu tư xây dựng Sở chỉ huy Quân chủng theo hướng hiện đại hóa.

Đêm giao thừa tết Bính Tý (18-1-1996), qua cầu truyền hình của Đài truyền hình Việt Nam, Tư lệnh Hải quân chúc tết cán bộ, chiến sĩ ở quần đảo Trường Sa. Cảm động và đầm ấm xiết bao khi từ biển đảo xa đất liền, cán bộ, chiến sĩ hải quân phấn khởi, đón tết rất vui nhưng vẫn nêu cao cảnh giác sẵn sàng chiến đấu bảo vệ biển đảo của Tổ quốc.

Đầu năm 1996, tiến tới Đại hội Đảng toàn quân, và Đại hội Đảng toàn quốc, chấp hành điều lệ Đảng, chỉ thị của Ban Bí thư và Thường vụ Đảng ủy quân sự Trung ương, sau thành công của Đại hội Đảng bộ các cấp trong Quân chủng, Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân chủng Hải quân lần thứ 8 được tổ chức với 198 đại biểu đại diện cho trên 8.000 đảng viên của 24 đảng bộ trực thuộc Quân chủng. Đại hội được tiến hành từ ngày 29 đến 31 tháng 1 năm 1996. Đến dự và chỉ đạo Đại hội có Đại tướng Đoàn Khuê - ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ trưởng Quốc phòng; Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh - Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.

Lúc này đồng chí Phó đô đốc Lê Văn Xuân - Phó tư lệnh về chính trị, Bí thư Đảng ủy Quân chủng đã nghỉ hưu. Là Phó bí thư Đảng ủy Quân chủng, tôi chủ trì cùng Đảng ủy tổ chức kỳ đại hội lần này. Đại hội đã thành công tốt đẹp. Tôi được bầu lại làm Phó bí thư Đảng ủy Quân chủng và là đại biểu đi dự Đại hội Đảng toàn quân lần thứ VI.

Công tác sẵn sàng chiến đấu bảo vệ biển đảo, vẫn được duy trì chặt chẽ với các hoạt động diễn tập, chỉ huy tham mưu, rút kinh nghiệm, bổ sung các phương án chiến đấu sau các lần diễn tập có thực binh. Bộ tư lệnh Quân chủng thống nhất chủ trương tăng cường các tàu chiến trực chiến ở Cam Ranh và cảng Thị Nại (Quy Nhơn).


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Chín, 2021, 09:19:39 am
Để mở rộng và tăng cường bảo đảm kỹ thuật, hậu cần cho sẵn sàng chiến đấu của lực lượng tàu và các lực lượng sử dụng vũ khí kỹ thuật cao, tôi đề nghị Bộ Quốc phòng cho thành lập căn cứ bảo đảm kỹ thuật - hậu cần 696. Trước yêu cầu phát triển của Hải quân, với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo, cần phải được trang bị tàu thuyền, vũ khí trang bị kỹ thuật ngày càng hiện đại. Nhằm bảo đảm sử dụng và ngày càng được nghiên cứu, cải tiến nâng cao cần có nơi làm công tác bảo đảm trang bị vũ khí kỹ thuật cao, luôn ở tư thế sẵn sàng chiến đấu và sẵn sàng cung cấp cho tàu, cũng như các lực lượng khác khi có lệnh chiến đấu. Đây còn là nơi làm công tác bảo quản, kiểm tra chất lượng trang bị vũ khí kỹ thuật thường xuyên với định kỳ; là nơi huấn luyện, tập huấn thực tập cho cán bộ, nhân viên kỹ thuật của ngành kỹ thuật hải quân và của cán bộ, chiến sĩ ở tàu và của nhà trường... và sẽ là nơi nghiên cứu cải tiến vũ khí trang bị. Ngoài vũ khí trang bị, còn là nơi bảo đảm một số mặt bảo đảm công tác hậu cần cho tàu chiến đấu.

Ngay từ đầu, sau khi thống nhất trong Bộ tư lệnh Quân chủng, tôi trực tiếp báo cáo thiết kế nhiệm vụ và kế hoạch xây dựng căn cứ với đồng chí Đại tướng Đoàn Khuê - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, đồng thời hướng dẫn Bộ trưởng đi thực địa để xem xét quyết định. Lần lượt các đồng chí Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng và các đồng chí thủ trưởng Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Kỹ thuật, Tổng cục Hậu cần đến thực địa kiểm tra cụ thể. Các đồng chí thủ trưởng Bộ Quốc phòng đều nhất trí sự cần thiết thành lập căn cứ với địa điểm có nhiều thuận lợi.

Ngày 27 tháng 8 năm 1996, Bộ Quốc phòng đã ra Quyết định số 1477/QĐ-QP thành lập “Căn cứ bảo đảm kỹ thuật hậu cần 696” trực thuộc Bộ tư lệnh Hải quân. Thực hiện quyết định của Bộ Quốc phòng, ngày 26 tháng 9 năm 1996, Tư lệnh Hải quân ký Quyết định số 3745/QL, triển khai thành lập Căn cứ bảo đảm kỹ thuật hậu cần 696 tương đương cấp lữ đoàn trực thuộc Tư lệnh Hải quân. Bổ nhiệm Thượng tá Vũ Hồng Đô làm Chỉ huy trưởng căn cứ.

Ban quản lý xây dựng do đồng chí Đại tá Trần Quang Khuê - Phó tư lệnh Tham mưu trưởng Quân chủng làm trưởng ban. Công ty Hải Công, một đơn vị xây dựng công trình của Trung đoàn công binh 83 do đồng chí Bùi Văn Hưng làm giám đốc phụ trách xây dựng các công trình của căn cứ. Khi Bộ tư lệnh Quân chủng báo cáo với Ủy ban Nhà nước về biển Đông và các hải đảo, Phó thủ tướng Trần Đức Lương làm Trưởng ban đã cho đầu tư xây dựng cầu cảng mới tại đây.

Thành lập căn cứ bảo đảm kỹ thuật hậu cần 969 là có nhiều thuận lợi cho việc bảo đảm vũ khí trang bị kỹ thuật hải quân. Ban đầu có nhiều khó khăn, nhưng nêu có nhận thức đúng, quan tâm đầu tư mọi mặt cả về cơ sở vật chất và con người, thì sẽ phục vụ bảo đảm kỹ thuật, hậu cần tốt cho lực lượng chiến đấu của hải quân, nhất là với tàu thuyền theo hướng sử dụng vũ khí trang bị ngày càng hiện đại.

Cùng thời gian này, Quân chủng cũng thành lập một số đơn vị mới như Trung đoàn tàu ngầm 196, Trung tâm rađa tầm xa, Phòng đăng kiểm hải quân... theo quyết định của Bộ Quốc phòng.

Tháng 5 năm 1996, tôi cùng đoàn đại biểu của Đảng bộ Quân chủng Hải quân dự đại hội đại biểu Đảng toàn quân lần thứ 6. Tại đại hội này, tôi trúng cử đại biểu đi dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII.

Tại Đại hội Đảng toàn quân lần thứ VI, tôi có điều kiện gặp gỡ đại biểu từ các quân khu, quân binh chủng và cơ quan Bộ Quốc phòng. Trong Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, tôi được gặp nhiều đại biểu của các tỉnh thành, nhất là các tỉnh thuộc địa bàn Khu 4 quen thuộc. Những cuộc gặp thân tình, trong bầu không khí hân hoan mừng thắng lợi của các đại hội. Đặc biệt, chúng tôi được gặp chào mừng nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nguyên Chủ tịch nước Võ Chí Công - những bậc thầy của cách mạng Việt Nam khỏe mạnh tham dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII.

Từ ngày 26 đến 29 tháng 8 năm 1996, tôi dẫn đoàn cấp cao Hải quân Việt Nam đi thăm hữu nghị Hải quân Hoàng gia Thái Lan theo lời mời của Đô đốc Prachet Siridep - Tư lệnh Hải quân Hoàng gia. Lần đi này, cũng là đáp lễ chuyến thăm Hải quân Việt Nam của đoàn cấp cao Hải quân Hoàng gia Thái Lan vào tháng 6 năm 1994.

Trong đoàn Hải quân Việt Nam có các đồng chí: Đại tá Nguyễn Phương Ninh - Cục trưởng Cục kỹ thuật, Đại tá Phạm Xuân Nựu - Chỉ huy trưởng Vùng 5, Thượng tá Nguyễn Văn Hiến - Phó tham mưu trưởng Quân chủng, Đại tá Nguyễn Ngọc Lan - Trưởng phòng Quân báo, Thượng tá Nguyễn Viết Cường - Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn hải quân đánh bộ; Thượng tá Nguyễn Minh Đằng và trung tá Nguyễn Ngọc Vinh - Trưởng và Phó phòng đối ngoại... Tham gia đoàn còn có Đại tá Nguyễn Bạch Vân - Tùy viên quân sự Đại sứ quán Việt Nam tại Thái Lan.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Chín, 2021, 09:20:03 am
Đoàn đã có cuộc gặp gỡ hữu nghị, trao đổi tình hình với đoàn cấp cao Hải quân Hoàng gia Thái Lan do Đô đốc Prachet Siridep - Tư lệnh Hải quân Hoàng gia dẫn đầu. Trong cuộc trao đổi này, hai bên có đề cập đến vấn đề tuần tra chung của hải quân hai nước ở vịnh Thái Lan và tổ chức đường dây nóng để kịp thời thông báo tình hình cho nhau, mỗi khi có tình hình xảy ra có liên quan trên vùng biển kế cận của hai nước, nhất là các vi phạm an ninh, trật tự và khai thác hải sản trái phép. Cuộc gặp gỡ trao đổi diễn ra trong không khí rất hữu nghị, hiểu biết lẫn nhau.

Đoàn Hải quân Việt Nam đã đến chào xã giao Đại tướng Chaovalit Yongchaigudh - Bộ trưởng Quốc phòng và Đại tướng Viroj Sang Snit - Tư lệnh tối cao quân đội Thái Lan. Đoàn ta đến thăm căn cứ hải quân Sattahip, tại đây tôi gặp lại phó đô đốc Sunant Pattanawong - Chỉ huy trưởng căn cứ mà trước đây đã có lần gặp tại Phuket; thăm một số nơi như Đôn Mương, sư đoàn không quân ở Utapao, các nhà máy đóng và sửa chữa tàu...

Năm 1997, tình hình tranh chấp chủ quyền trên vùng biên của ta vẫn diễn ra ngày càng căng thẳng hơn với các hành động xâm phạm như thăm dò dầu khí, đánh bắt hải sản của nước ngoài. Mặc dù có nhiều việc phải làm, song nhiệm vụ trung tâm thường xuyên của Hải quân vẫn là hoạt động bảo vệ chủ quyền biển đảo, không lúc nào được giảm thiểu, mà trước hết là đối với người lãnh đạo chỉ huy. Vì vậy, tôi và các đồng chí trong Bộ tư lệnh Quân chủng đều đồng tâm nhất trí làm mọi việc để tăng khả năng sẵn sàng chiến đấu của bộ đội, cảnh giác kịp thời, phát hiện mọi hành động xâm phạm chủ quyền trên vùng biển của ta, để đấu tranh ngăn chặn.

Nhằm tăng cường khả năng phòng thủ giữ đảo, ta xây dựng và củng cố các trận địa pháo, các sân bay trực thăng, các trạm rađa quan sát ở các đảo thuộc quần đảo Trường Sa, cũng như ở các đảo Bạch Long Vĩ, Thổ Chu. Phong trào trồng cây xanh và trồng rau, xây dựng đời sống văn hóa có hiệu quả, góp phần cải thiện một bước đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội ở đảo cũng như ở nhà giàn DK1. Với mục đích này, tôi đề ra chủ trương với khẩu hiệu “Xây dựng đảo mạnh về phòng thủ, tốt về lối sống văn hóa, đẹp về cảnh quan, môi trường”.

Để phù hợp với yêu cầu sẵn sàng chiến đấu, Tư lệnh Quân chủng đã đề nghị Bộ Quốc phòng thay đổi một số tổ chức, biên chế, đồng thời tăng ngân sách mua sắm, đóng mới tàu thuyền. Khởi công xây dựng Sở chỉ huy Quân chủng theo hướng hiện đại hóa.

Nhận lời mời của Phó đô đốc Eduardo MA Santos - Tư lệnh Hải quân Philippin, tôi dẫn đoàn Hải quân cấp cao Việt Nam thăm hữu nghị Hải quân Cộng hòa Philippin từ ngày 22 đến 25 tháng 1 năm 1997. Các thành viên của đoàn gồm: Đại tá Ngô Đức Lô - Chỉ huy trưởng Vùng 3, Đại tá Phan Đức Lĩnh - Chỉ huy trưởng Vùng 4, Đại tá Lê Quốc Sắng - Phó tham mưu trưởng Quân chủng, Đại tá Nguyễn Văn Bình - Cục trưởng Cục kỹ thuật, Thượng tá Vũ Văn Mạc - Cục trưởng Cục hậu cần, Trung tá Phạm Ngọc Minh - Trưởng phòng Tác chiến, Thượng tá Nguyễn Minh Đằng - Trưởng phòng Đối ngoại, Thiếu tá Phan Văn Việt - Bí thư Tư lệnh và Trung tá Lê Văn Cầu - cán bộ Cục đối ngoại Bộ Quốc phòng.

Đoàn ta đã được Hải quân Philippin đón chào thân mật, thịnh tình. Khi gặp gỡ với đoàn bạn do Phó đô đốc Eduardo MA Santos - Tư lệnh Hải quân dẫn đầu, với tinh thần rất cởi mở, bạn muốn hiểu thái độ của ta về tình hình ở quần đảo Trường Sa nhất là đối với các đối tượng tranh chấp. Với tinh thần hữu nghị, tôi khẳng định và nói rõ lập trường của Việt Nam là: “Quần đảo Trường Sa. từ trước đến nay thuộc chủ quyền của Việt Nam, hiện đang có tranh chấp của một số nước. Việt Nam chủ trương và đề nghị các bên không dùng vũ lực hoặc đe dọa. dùng vũ lực, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp thương lượng hòa bình. Trong lúc chưa giải quyết được thì giữ nguyên hiện trạng, không làm gì phức tạp thêm tình hình”.

Báo chí Philippin cũng phỏng vấn nhiều về vấn đề quần đảo Trường Sa, trong đó có những câu hỏi như: “Việt Nam có bao nhiêu quân đóng trên các đảo, có trang bị những vũ khí gì? Có chống được các nước mạnh đánh chiếm không?...”. Tôi trả lời: “Việt Nam có bao nhiêu quân, bao nhiêu vũ khí trên các đảo đó là bí mật quân sự, chắc các bạn cũng hiểu, tôi xin miễn nói vấn đề này, mong các bạn thông cảm. Chúng tôi tin tưởng và kiên quyết, bảo vệ thắng lợi chủ quyền của Việt Nam ở quần đảo Trường Sa trong mọi tình huống...”. Cuộc gặp gỡ đầy tế nhị, nhưng không khí rất vui vẻ, cởi mở làm tăng thêm tình hữu nghị giữa hải quân và nhân dân hai nước.

Trong chuyến thăm hữu nghị này, đoàn ta đã đến chào xã giao ngài De Villa, Bộ trưởng Quốc phòng và ngài Đại tướng Arnulfo G Acedera CR AFD, tổng tham mưu trưởng quân đội Philippin.

Trong năm 1997, Hải quân Việt Nam cũng đón chào Đô đốc Thira Hao Charoen đến thăm khi ông vừa nhận chức Tư lệnh Hải quân Hoàng gia Thái Lan.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Chín, 2021, 09:21:08 am
*
*   *

Bước vào năm 1998, tình hình tàu nước ngoài xâm nhập hoạt động trinh sát, thăm dò dầu khí ở quần đảo Trường Sa và khu vực DK1 ở thềm lục địa phía Nam, vi phạm chủ quyền vùng biển, đảo và thềm lục địa của ta hết sức nghiêm trọng với một thái độ ngang ngược. Mặt khác có hàng trăm tàu đánh cá nước ngoài vào sâu vùng biển của ta, đánh trộm hải sản ở khu vực vịnh Bắc Bộ và vùng biển Tây Nam, gây mất an ninh trật tự trên biển.

Sau khi thống nhất trong Bộ tư lệnh Quân chủng, tôi yêu cầu và chỉ đạo Bộ tham mưu tăng cường lực lượng tàu trực và tuần tra trên biển, kiểm tra sẵn sàng chiến đấu của các đảo, cảnh giác sẵn sàng đối phó với mọi hoạt động xâm phạm chủ quyền của đối phương. Thường xuyên nắm chắc tình hình các tàu trực chiến ở DK1 và hiệp đồng lực lượng BM bảo vệ chủ quyền biển đảo. Hải quân đã điều động hàng trăm lượt tàu làm nhiệm vụ ngăn chặn xua đuổi các hành động xâm phạm chủ quyền của tàu nước ngoài trên các vùng biển của Tổ quốc.

Ngoài các đảo ở quần đảo Trường Sa, tôi cùng các cán bộ tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật đi kiểm tra công tác sẵn sàng chiến đấu và đời sống của bộ đội, đồng thời giữ mối quan hệ mật thiết với cấp ủy Đảng và chính quyền ở các đảo Bạch Long Vĩ, Thổ Chu. Đoàn đã trực tiếp kiểm tra trình độ kỹ, chiến thuật của cá nhân cũng như của các phân đội và trình độ luyện tập theo các phương án chiến đấu bảo vệ đảo.

Với ý định cung cấp tình hình cho các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Bộ Quốc phòng nắm được tình hình nhiệm vụ của Quân chủng Hải quân để từ đó lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng và hoạt động của hải quân đáp ứng với tình hình mới, nhiều lần tôi đề nghị với Đại tướng Đoàn Khuê - Bộ trưởng Quốc phòng bố trí thời gian để Hải quân được báo cáo vấn đề này, nhưng vì công việc của các đồng chí ấy quá bận nên chưa thực hiện được.

Bộ trưởng Đoàn Khuê cũng rất quan tâm vấn đề này. Tháng 6 năm 1998, thay mặt Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân chủng, tôi trực tiếp báo cáo tình hình Hải quân với các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và quân đội. Trong buổi dự nghe báo cáo này có đồng chí Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải, Đại tướng Đoàn Khuê - Phó bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ trưởng Quốc phòng; Trung tướng Trương Khánh Châu - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Thiếu tướng Cao Tiến Phiếm - Chánh văn phòng Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng...

Hải quân có tôi và Đại tá Nguyễn Phương Ninh - Cục trưởng Cục kỹ thuật. Chúng tôi báo cáo số liệu thực tế để đánh giá đặc điểm tình hình các vùng biển đảo của ta và các đối tượng tác chiến, đối tượng tranh chấp chủ quyền hiện nay và thời gian tới; tình hình và khả năng thực hiện nhiệm vụ của Hải quân Việt Nam, trong việc làm nòng cốt bảo vệ chủ quyền biển đảo và thềm lục địa cũng như tham gia bảo vệ Tổ quốc, chống địch tấn công từ hướng biển. Nét nổi bật mà các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và quân đội đều cùng nhìn nhận là thực lực của Hải quân ta so với yêu cầu nhiệm vụ còn một khoảng cách lớn, từ đó đặt vấn đề phải quan tâm đầu tư xây dựng lực lượng hải quân hơn nữa.

Tuy nhiên, không thể theo ước muốn chủ quan của mình, mà vấn đề phụ thuộc vào khả năng kinh tế của đất nước, vì đầu tư xây dựng thực lực hải quân rất tốn kém. Tôi đề xuất các phương án, kế hoạch xây dựng lực lượng hải quân thời gian trước mắt và lâu dài để các đồng chí lãnh đạo nghiên cứu và chỉ đạo. Tất cả các đồng chí tham dự buổi họp đều nhất trí với việc đánh giá tình hình của Hải quân và thấy rõ sự cần thiết cũng như cấp thiết tăng cường đầu tư xây dựng lực lượng.

Để tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước trong việc bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và an ninh, trật tự ở vùng biển và thềm lục địa Việt Nam. Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, nghị quyết của Quốc hội khóa IX kỳ họp thứ 5 về việc phê chuẩn Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1992, ngày 28 tháng 3 năm 1998, Chủ tịch Quốc hội Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký Pháp lệnh tổ chức lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam.

Sau khi Chủ tịch nước ký quyết định quy định tính hiệu lực của pháp lệnh và Nghị định của Thủ tướng Chính phủ về lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam, Chỉ thị của Bộ trưởng Quốc phòng về triển khai tổ chức thực hiện Pháp lệnh Cảnh sát biển, ngày 23 tháng 5 năm 1998, với trách nhiệm của trên giao, tôi ký Quyết định số 1913/QĐ-TL lâm thời tổ chức Cục cảnh sát biển trực thuộc Bộ tư lệnh Quân chủng Hải quân. Tổ chức biên chế gồm có cơ quan Cục và các Vùng cảnh sát biển 1 và Vùng cảnh sát biển 5.

Đại tá Hồ Minh Chấp được bổ nhiệm làm Cục trưởng Cục cảnh sát biển. Tư lệnh Hải quân quyết định chuyển và cải hoán bảy tàu phóng ngư lôi kiểu 206M thành tàu Cảnh sát biển, trong đó bốn tàu cho Hải đội Cảnh sát biển 101 thuộc Vùng cảnh sát biển 1 và ba tàu cho Hải đội Cảnh sát biển 501 thuộc Vùng cảnh sát biển 5.

Ngày 31 tháng 8 năm 1998, Quân chủng Hải quân tổ chức lễ ra mắt lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam. Đến dự có Phó thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Trung tướng Nguyễn Văn Rinh - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng... cùng một số cán bộ của cơ quan Chính phủ, Bộ Quốc phòng và đại diện cấp ủy Đảng, chính quyền các địa phương. Ngay sau khi được thành lập, Cảnh sát biển Việt Nam đã nhanh chóng đi vào hoạt động, thực thi nhiệm vụ như trong pháp lệnh đã quy định.

Thực ra, từ năm 1996 khi trên có ý định thành lập lực lượng Cảnh sát biển, Bộ Quốc phòng đã chỉ đạo Hải quân nghiên cứu dự thảo về tổ chức nhiệm vụ, phương thức hoạt động, kế hoạch triển khai để trình Thủ tướng Chính phủ nghiên cứu quyết định. Trong đó bao gồm tuyển chọn cán bộ và tổ chức tập huấn nghiệp vụ chuyên ngành của Cảnh sát biển.

Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước và kế hoạch của Bộ Quốc phòng, hằng năm Học viện Quốc phòng đều mở các lớp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho các cán bộ lãnh đạo của các bộ, các ban ngành của trung ương và các tỉnh thành, trong đó có nội dung về quốc phòng-an ninh bảo vệ biển đảo trong thời kỳ mới, nhằm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và quyền lợi quốc gia trên biển, bảo vệ Tổ quốc. Chống địch tấn công từ hướng biển, thực hiện quốc phòng toàn dân trên biển, bảo đảm cho kinh tế biển phát triển bền vững theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, kinh tế kết hợp quốc phòng, quốc phòng kết hợp kinh tế. Tôi được phân công giới thiệu phần này với lớp học. Vừa là trách nhiệm, nhưng cũng là một dịp tốt để thống nhất với các cán bộ lãnh đạo các ngành, các địa phương nhận thức về biển, đảo của Tổ quốc trong thời kỳ mới để cùng chung sức bảo vệ biển đảo và khai thác thế mạnh của biển đảo, góp phần làm mạnh, giàu cho đất nước.

Nhận lời mời của Đô đốc Le Febvre - Tư lệnh Hải quân nước Cộng hòa Pháp, từ ngày 19 đến 31 tháng 10 năm 1998, tôi dẫn đoàn Hải quân cấp cao Việt Nam đi thăm Hải quân Pháp. Tham gia đoàn có Đại tá Quách Văn Nấu - Chỉ huy trưởng Vùng 1 hải quân, Đại tá Nguyễn Văn Bình - Cục trưởng Cục kỹ thuật, Thượng tá Nguyễn Quang Hưng - Trưởng phòng Quân báo, Thượng tá Nguyễn Minh Đằng - Trưởng phòng Đối ngoại, Trung tá Nguyễn Hồng Quân cán bộ Cục đối ngoại Bộ Quốc phòng. Cùng đi với đoàn còn có Đại tá Trần Đàm - Tùy viên quân sự Việt Nam tại Cộng hòa Pháp.

Chuyến đi thăm Hải quân Cộng hòa Pháp lần này nhằm mục đích xây dựng quan hệ hữu nghị, hiểu biết lẫn nhau giữa hải quân hai nước, đồng thời tìm hiểu một số trang bị của hải quân mà bạn muốn giới thiệu để ta tham khảo. Trong đó, bạn dự định bán một số tàu hộ vệ tên lửa trong kế hoạch thay đổi trang bị. Trong chuyến đi này, đoàn ta kết hợp đến thăm hãng Thompson để bạn giới thiệu về Sonar (máy thám thủy) và tham quan hội chợ Euronaval-98 (hội chợ trang bị Hải quân châu Âu).

Tại buổi gặp gỡ trao đổi với đoàn bạn do Đô đốc Le Febvre - Tư lệnh Hải quân Pháp dẫn đầu, hai bên đã thông báo cho nhau về tình hình hoạt động của hải quân mỗi nước với tinh thần cởi mở và mong muốn xây dựng quan hệ hữu nghị ngày càng tốt đẹp.

Bạn đã bố trí cho đoàn ta đến chào xã giao Bộ Quốc phòng Pháp và đi thăm một số căn cứ hải quân, tham quan một số tàu chiến đấu.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Chín, 2021, 09:22:57 am
*
* *

Trở lại công việc gia đình, trong năm 1998 với tôi có cả niềm vui và nỗi buồn đều đến giữa lúc nhiều công việc đòi hỏi mình phải tập trung hoàn thành chức trách, nhiệm vụ.

Như phần đầu đã đề cập, gia tộc tôi có ông Mai Lượng, thường gọi là ông Lãnh Mai, cụ nội bốn đời của tôi có công lớn trong phong trào Cần Vương chống Pháp xâm lược cuối thế kỷ XIX ở Quảng Bình. Ngày 24 tháng 1 năm 1998, mộ của ông được Nhà nước cấp bằng công nhận Di tích lịch sử văn hóa. Đây không chỉ là vinh dự cho gia đình, họ tộc mà còn của cả địa phương, tỉnh, huyện, xã.

Ngày 6 tháng 4 năm 1998, địa phương đã long trọng tổ chức lễ đón nhận bằng công nhận Di tích Lịch sử văn hóa Mộ Mai Lương, với một niềm vui hãnh diện. Là hậu duệ của Cụ, tôi tự nhủ mình phấn  khởi tự hao bao nhiêu càng phải phấn đấu phát huy truyền thống của cha ông bấy nhiêu.

Việc vui hãy còn mới mẻ, thì việc buồn đã ập đến. Có ai tính trước được “lá xanh thì rụng, lá vàng đội cây”. Trưa ngày 12 tháng 8 năm 1998, khi tôi đang làm việc với đồng chí Nguyễn Chơn - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng ở Hà Nội thì nhận tin con trai tôi mất. Dù biết trước bệnh tình của cháu khó lòng qua khỏi, nhưng với tình cảm của người cha, tôi không khỏi hụt hẫng khi được tin dữ này. Con trai tôi là Mai Xuân Viễn ở bộ đội hải quân, chẳng may mắc bệnh hiểm nghèo. Cháu ra đi mãi mãi ngày 12 tháng 8 năm 1998 (nhằm ngày 21-6 Mậu Dần) ở cái tuổi 27. Gia đình tôi chỉ có mình cháu là con trai. Nỗi buồn man mác, nhưng tôi phải cứng rắn để còn động viên nhà tôi đang trong tình trạng suy sụp nặng, vì nỗi niềm mẹ mất con.

Khi xảy ra nỗi đau buồn và mất mát này, các đồng chí lãnh đạo của quân đội, quân chủng, các đơn vị và cơ quan trong Quân chủng Hải quân, đông đảo bạn bè và họ hàng thân thuộc, cùng đơn vị nơi cháu công tác đến chia buồn, thăm viêng động viên tổ chức tang lễ chu đáo, phần nào cũng làm vơi bớt nỗi buồn khi tang gia bối rối.

Gác lại niềm đau riêng, tôi lại sát cánh cùng các đồng chí trong Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân chủng, lãnh đạo chỉ huy và điều hành mọi mặt công tác không một phút giây lơ là nhiệm vụ.

Với các biện pháp hòa bình như cảnh cáo xua đuổi nhiều lần, nhưng sang năm 1999, tàu khảo sát biển thăm dò dầu khí của nước ngoài vẫn tăng cường hoạt động trái phép xâm phạm chủ quyền ở vùng biển của ta, mà nhiều nhất là khu vực quần đảo Trường Sa và thềm lục địa phía Nam. Tại các đảo thuộc quần đảo Trường Sa, khi vắng tàu trực của ta, nhiều tàu nước ngoài dưới dạng tàu cá đã cho xuồng vào các bãi vành đai san hô và có nơi vào cả lòng hồ của đảo với hoạt động đánh bắt hải sản để trinh sát đảo. Mặc dầu bộ đội giữ đảo của ta có nhiều biện pháp cảnh cáo, nhưng lui nơi này họ lại xâm nhập nơi khác.

Trước tình hình này Bộ tư lệnh chỉ đạo Vùng 4 hải quân và tăng cường lực lượng tàu, xuồng kiên quyết và kiên trì ngăn chặn, xua đuổi quyết liệt. Có lúc tàu của ta còn bị tàu thăm dò dầu khí của đối phương cố ý đâm vào nhưng Hải quân ta vẫn quyết đuổi kỳ được họ ra khỏi vùng biển đảo của Tổ quốc. Tuy rằng, chưa để xảy ra xung đột vũ trang, nhưng đấu tranh ngăn chặn bằng biện pháp như thế này không kém phần căng thẳng.

Đi đôi với hoạt động bảo vệ biển đảo, chống các hoạt động xâm phạm chủ quyền của tàu nước ngoài. Quân chủng Hải quân vẫn không ngừng chăm lo công tác huấn luyện quân sự, chính trị, nâng cao trình độ tác chiến, ý thức cảnh giác sẵn sàng chiến đấu. Các cuộc diễn tập theo từng phương án tác chiến bảo vệ vùng biển đảo, được tiến hành theo kế hoạch. Đó là những công việc trung tâm thường xuyên mà Tư lệnh Quân chủng phải chỉ đạo thực hiện theo chức trách nhiệm vụ được giao.

Để từng bước xây dựng Hải quân nhân dân Việt Nam hiện đại, Quân chủng quyết định thành lập Ban chỉ đạo chương trình ứng dụng và phát triển công nghệ tự động hóa trong hải quân để từng bước ứng dụng trong các công tác tham mưu-chỉ huy; công nghệ số biên tập, sản xuất bản đồ biển; hệ thống điều khiển hàng hải; sử dụng vũ khí ở tàu....

Để tăng cường sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau, cùng nhau gìn giữ môi trường, hòa bình ổn định và phát triển kinh tế, mà trước hết là bảo vệ an ninh, trật tự trên các vùng biển giáp ranh của hai nước, trong chuyến thăm Thái Lan năm 1996, Tư lệnh Hải quân hai nước đã có đề nghị Chính phủ và Bộ Quốc phòng hai nước cho hải quân hai nước tổ chức tuần tra chung trên vùng biển giáp ranh của Việt Nam và Thái Lan ở khu vực biển Tây Nam (vịnh Thái Lan).

Sau khi được Chính phủ và Bộ Quốc phòng hai nước cho phép, qua hai vòng đàm phán cấp chuyên viên về quy chế và lộ trình tổ chức tuần tra chung và lập kênh cảnh báo vi phạm trên vùng biển giáp ranh của hai nước (vòng 1 tại Thái Lan, tháng 5-1997; vòng 2 tại Việt Nam, tháng 5-1998), ngày 15 tháng 6 năm 1999 tôi và Đô đốc Thira Hao Charoen - Tư lệnh Hải quân Hoàng gia Thái Lan đã ký thỏa thuận về quy chế phối hợp tuần tra chung và lập kênh cảnh báo vi phạm trên vùng biển giáp ranh của hai nước. Chuyến tuần tra chung lần đầu được tiến hành từ ngày 19 đến ngày 20 tháng 10 năm 1999, trong đó, Hải quân Việt Nam có hai tàu hộ vệ trực tiếp tham gia là các tàu HQ-11 và HQ-13. Từ đó về sau, việc tuần tra chung này của Hải quân hai nước Việt Nam - Thái Lan đã đi vào nền nếp.

Cùng với việc tuần tra chung còn có kênh thông tin liên lạc giữa hải quân hai nước. Chủ trương và cách làm này đã góp phần vào ổn định tình hình trật tự, an ninh trên vùng biển, tăng thêm tình hữu nghị và sự hiểu biết lẫn nhau giữa hải quân hai nước.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Chín, 2021, 09:23:20 am
Tháng 3 năm 1999, tôi và các đồng chí trong Bộ Tư lệnh Quân chủng đón và làm việc với đoàn cấp cao của Hải quân Philippin do Phó đô đốc Eduardo MA R. Santos, Tư lệnh Hải quân dẫn đầu thăm Hải quân Việt Nam. Trong buổi gặp gỡ trao đổi tình hình, hai đoàn Hải quân Việt Nam và Philippin đều thống nhất giải quyết tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Trường Sa bằng biện pháp thương lượng hòa bình. Đoàn Hải quân Philippin có đến thăm Vùng 3 hải quân Việt Nam. Trong những lần thăm, gặp gỡ trước đây cũng như lần này đều diễn ra trong không khí hữu nghị, tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau.

Nhận lời mời của Tư lệnh Hải quân Ấn Độ, tôi dẫn đoàn cấp cao Hải quân Việt Nam đi thăm Hải quân Ấn Độ từ ngày 5 đến ngày 12 tháng 9 năm 1999. Tham gia đoàn có Đại tá Nguyễn Văn Bình - Cục trưởng Cục kỹ thuật, Thượng tá Nguyễn Văn Hiến - Phó tham mưu trưởng Quân chủng, Trung tá Nguyễn Ngọc Vinh - Phó trưởng phòng Đối ngoại.

Giữa Ấn Độ và Việt Nam từ lâu đã có mối quan hệ hữu nghị tốt đẹp. Đã mấy lần tôi tiếp ông AFTAD SETH, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của An Độ tại Việt Nam đến thăm Hải quân Việt Nam tại Hải Phòng. Những lần tiếp xúc đó đều để lại ấn tượng tốt đẹp về quan hệ Việt Nam - Ấn Độ. Vào quãng tháng 4 năm 1997, ông AFTAD SETH có ngỏ ý với tôi là “Chúng tôi muốn mời ngài thăm Hải quân Ấn Độ”. Và đến năm 1999, ý định này mới thực hiện được.

Hải quân Ấn Độ do Đô đốc Sushil Kumar - Tư lệnh Hải quân dẫn đầu đã tiếp đoàn Hải quân ta rất thân tình và trọng thị. Qua hội đàm trao đổi, hai bên đều mong muốn tăng cường tình hữu nghị ngày càng tốt đẹp giữa hải quân hai nước.

Đoàn Hải quân ta đã đến chào xã giao ngài Yaswant Singh - Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Ấn Độ, ngài Đại tướng VP Malik - Tư lệnh Lục quân, ngài Thống chế Ay Tipnis - Tư lệnh Không quân Ấn Độ.

Đoàn ta cũng đến thăm Phó đô đốc Madhvendra Singh - Tư lệnh Hải quân miền Tây Ấn Độ ở thành phố Mumbai, gặp Chuẩn đô đốc K Mohanan chỉ huy căn cứ không quân Hải quân ở GOA, thăm hải quân miền Tây Belgan ở thành phố Calcutta và các cơ sở đóng tàu Hải quân Ấn Độ...

Đến đâu, đoàn ta cũng được bạn đón tiếp và trao đổi trong không khí thân tình, hữu nghị không những giữa hải quân hai nước mà còn rộng hơn, giữa nhân dân hai nước Việt Nam và Ấn Độ.

Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động, nhất là sau sự tan rã của Liên Xô và sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu, tuy mới đi được một chặng chưa dài nhưng đất nước ta đã vượt qua khủng hoảng kinh tế-xã hội, bước đầu giành được những thành tựu hết sức quan trọng trên tất cả các lĩnh vực. Nền tảng chính trị xã hội được giữ vững và ổn định, quan hệ đối ngoại được mở rộng, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Đó là những tiền đề hết sức cơ bản để đưa đất nước phát triển lên tầm cao mới, hội nhập mạnh mẽ với khu vực và thế giới, đồng thời có điều kiện để xây dựng và củng cố các lực lượng vũ trang.

Quả thật, những hoạt động đối ngoại quân sự luôn đem lại cho tôi nhiều xúc cảm thật mới mẻ, nhưng quan trọng hơn là qua đó để biết mình và biết người trong quan hệ ứng xử, góp phần xây dựng hòa bình, ổn định trong khu vực.

*
* *

Sinh ra khi đất nước còn đắm chìm trong nô lệ, từ tuổi thiếu niên tôi đã được sống trong một nước độc lập khi Cách mạng Tháng Tám thành công. Tận mắt chứng kiến biết bao cảnh đói rách, lầm than của người dân, tôi càng khâm phục và tự hào biết bao trước tinh thần anh dũng, chịu đựng hy sinh gian khổ của nhân dân ta trong hơn 30 năm chống giặc ngoại xâm, giành độc lập tự do cho Tổ quốc.

Sung sướng và tự hào, làm người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam, khi cầm súng đánh giặc trên mảnh đất quê hương thân thương mà anh dũng, khi làm người lính tình nguyện giúp nhân dân nước bạn, với tinh thần quốc tế trong sáng và một quãng thời gian dài ở Quân chủng Hải quân.

Có thể nói rằng, trong 40 năm ở Quân chủng Hải quân tôi đã được chiến đấu và công tác qua hầu hết các vùng miền biển, đảo của Tổ quốc, một bức tranh thủy mặc hoành tráng tuyệt vời của nước Việt Nam - một quốc gia có biển và có đầy đủ cứ liệu chủ quyền về biển đã in sâu vào tâm khảm tôi với lòng tự hào và lòng biết ơn to lớn đối với tổ tiên ta đã khai phá dựng nước mở mang bờ cõi, để Việt Nam có vùng biển, đảo bao la đẹp về thiên nhiên, giàu về tiềm năng như ngày nay mà dân tộc ta, nhân dân ta phải biết bảo vệ và khai thác thế mạnh đó để xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh và giàu mạnh.

Thực hiện nhiệm vụ làm nòng cốt bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc, bộ đội Hải quân được nhân dân cả nước thương yêu, cưu mang giúp đỡ, động viên và tạo mọi điều kiện để hoàn thành tốt nhiệm vụ. Ân tình sâu nặng ấy, chúng tôi mãi mãi khắc sâu trong tâm khảm. Đó là những gì mà tôi cảm nhận sâu sắc trong quãng đời làm người lính biển.

Từ đó, tôi tin tưởng các thế hệ cán bộ, chiến sĩ hải quân dù bất cứ tình huống nào cũng sẽ có đầy đủ bản lĩnh để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ làm nòng cốt cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc trên biển, đảo. Hải quân nhân dân Việt Nam mãi mãi xứng đáng với Huân chương Sao Vàng và danh hiệu cao quý “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” mà Đảng và Nhà nước đã trao tặng.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Chín, 2021, 09:27:02 am
(https://i.imgur.com/nBbcDW0.jpg)

Giao tiếp hữu nghị với Đô đốc Tanto Koeswto, Tư lệnh Hải quân In-dô-nê-xi-a (1995)

(https://i.imgur.com/7J8lPQ8.jpg)

Thăm hữu nghị Hải quân Hoàng gia Thái Lan, theo lời mời của Đô đốc Prachet Siridej, Tư lệnh Hải quân Hoàng gia Thái Lan (1996)

(https://i.imgur.com/jzeuMs4.jpg)

Tiếp đón Thượng tướng Trương Vạn Niên, Tổng Tham mưu tưởng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc
dẫn đầu đoàn quân sự cấp cao đến thăm Hải quân Việt Nam (1995)

(https://i.imgur.com/15v9Lnw.jpg)

Gặp gỡ hữu nghị với Phó đô đốc Than Nyunt, Tư lệnh Hải quân Mianma (1995)


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Chín, 2021, 09:30:10 am
(https://i.imgur.com/a27ljzZ.jpg)

Thăm hữu nghị Hải quân Cộng hòa Pháp theo lời mời của Đô đốc Le Febvre, Tư lệnh Hải quân Pháp (1998)

(https://i.imgur.com/OFHfMO2.jpg)

Thăm Hải quân Philippin theo lời mời của Phó đô đốc Eduardo Mar Santos, Tư lệnh Hải quân Philippin (1997)

(https://i.imgur.com/SwfYn9E.jpg)

Thăm hữu nghị Hải quân Ấn Độ theo lời mời của Đô đốc Sushil Kumar, Tư lệnh Hải quân Ấn Độ (1999)

(https://i.imgur.com/FAgtTXS.jpg)

Trồng cây lưu niệm tại cơ quan Bộ tư lệnh Quân chủng Hải quân


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Chín, 2021, 09:31:08 am
VĨ THANH

Nếu là người tâm nguyện suốt đời vì dân, vì nước nước thì không thể vì một lý do gì, kể cả tuổi tác, sức khỏe... để xin nghỉ ngơi, đó là điều khẳng định. Dẫu vẫn còn ý chí song tuổi tác đã cao, một khi đã có anh em khác đang phát triển thay thế được, nếu mình xin nghỉ hưu thì sẽ có lợi cho sự nghiệp chung và phù hợp với quy luật phát triển. Tự xét thấy vẫn còn sức khỏe và đầu óc còn tỉnh táo, nhưng với suy nghĩ như trên nên tôi đã trực tiếp đề nghị các đồng chí lãnh đạo Đảng và quân đội cho chuyển giao thế hệ. Có đồng chí lãnh đạo băn khoăn:

- Hiện nay tình hình tranh chấp chủ quyền trên vùng biển của ta đang có nhiều căng thẳng, nhạy cảm, nếu anh nghỉ thì các đồng chí kế cận đã đủ sức thay thế chủ trì hay chưa?

Không chút ngần ngại, tôi trả lời:

- Mỗi khi giải quyết những việc xảy ra trên biển đảo, đều có các đồng chí trong Bộ tư lệnh tham dự. Một khi người chỉ huy kết luận vấn đề thì tri thức chung đó, mọi người đều hiểu và nắm vững. Vì vậy, tôi tin các đồng chí ấy sẽ đảm đương tốt...

Khi đồng chí Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trao quyết định cho tôi thôi công tác, chờ nghỉ hưu, tôi rất phấn khởi, thoải mái, không có đề nghị gì đối với cá nhân, chỉ có chân thành cám ơn. Riêng đối với sự nghiệp xây dựng Quân chủng Hải quân, tôi còn nhiều điều băn khoăn, muốn kiến nghị với Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ Quốc phòng và cá nhân đồng chí Bộ trưởng mấy việc cụ thể như sau:

1. Hải quân là một trong ba Quân chủng của quân đội ta, với nhiệm vụ hết sức vẻ vang, nhưng cũng rất nặng nề là làm nòng cốt bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ trên các vùng biển, đảo của Tổ quốc, trong tình hình tranh chấp chủ quyền ngày càng căng thẳng gay gắt, những vụ vi phạm chủ quyền của nước ngoài liên tục xảy ra trên vùng biển, đảo của ta. Thế nhưng thực lực trang bị chiến đấu của Hải quân quá thiếu thốn và lạc hậu.

Từ 10 năm nay, không những Hải quân không phát triển mà ngày càng xuống cấp; trang bị tàu chiến đấu được bổ sung không đủ bù đắp số hao hụt do sử dụng đã nhiều năm. Nếu cứ đà này thì lực lượng chiến đấu của Hải quân sẽ ngày càng teo lại.

Quân chủng Hải quân cần có đầy đủ các binh chủng để có khả năng độc lập chiến đấu và làm nhiệm vụ trên biển. Cách đây 20 năm (21-8-1981) Hải quân đã được trang bị máy bay, thế nhưng sau đó số máy bay này lại được điều chuyển về Quân chủng Không quân với lý do: “để có điều kiện, khả năng duy trì hoạt động”. Thực tế từ khi chuyển về Quân chủng Không quân, số máy bay này chưa một lần nào cùng với Hải quân hoạt động làm nhiệm vụ hoạt động trên biển. Vì vậy, số máy bay này hư hỏng dần và bị loại bỏ, bởi lẽ hoạt động của không quân hải quân mang tính đặc thù riêng.

Quân chủng Không quân có thể giúp đỡ về kỹ thuật, chứ không thể làm thay Hải quân để sử dụng máy bay chuyên ngành của hải quân làm nhiệm vụ độc lập và nhất là hoạt động trong hiệp đồng chiến đấu với các binh chủng khác trong nội bộ Hải quân.

Với tình hình đó, tôi đề nghị Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ Quốc phòng và cá nhân đồng chí Bộ trưởng báo cáo với Bộ Chính trị và Nhà nước khẩn trương có chiến lược xây dựng Quân chủng Hải quân, dù kinh tế của đất nước còn khó khăn cũng phải cố gắng giải quyết tăng cường trang bị chiến đấu để vực Hải quân lên, tạo cho quân chủng ngày càng có khả năng hoàn thành nhiệm vụ tốt hơn. Trước hết là bổ sung tàu chiến đấu bằng cả hai cách là: mua và đóng mới, đồng thời cho khôi phục xây dựng lực lượng máy bay của hải quân. Xây dựng công nghiệp sản xuất vũ khí của hải quân và đổi mới trang bị, vũ khí của hải quân hiện đại hơn.

Trước đây, tôi đã trực tiếp báo cáo tình hình này trong cuộc họp có các đồng chí chủ chốt trong Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng và Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương. Khi ấy, đồng chí Đại tướng Đoàn Khuê còn đương nhiệm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Chín, 2021, 09:31:30 am
2. Về tổ chức biên chế.

Hiện tại, số tàu chiến đang tập trung ở Vùng 3 hải quân (Đà Nẵng), trong lúc này chiến trường đang nóng bỏng hơn lại ở quần đảo Trường Sa và thềm lục địa phía Nam. Vì vậy, lực lượng tàu chiến đấu của Vùng 3 luôn phải cơ động vào trực chiến ở phía Nam, xa sự quản lý của đơn vị, lại phân tán, rất khó khăn cho công tác chỉ đạo huấn luyện và bảo đảm các mặt của lữ đoàn tàu. Mặt khác sức cơ động của tàu ta rất hạn chế, bán kính hoạt động không xa, nên phải bố trí sao cho các tàu của ta tiếp cận mục tiêu ở cự ly thích hợp. Trong khi Lữ đoàn tàu 172 đã có biên chế một số tàu tên lửa, tàu phóng lôi cũng vừa sức, nay có thêm một số tàu tên lửa mới, thì nên cho thành lập đơn vị mới đứng chân ở phía Nam, để giảm bớt việc phải cơ động các tàu từ Vùng 3 hải quân vào trực chiến ở phía Nam.

Đề nghị nâng cấp các tiểu đoàn rađa bờ thành các trung đoàn rađa, vì cấp tiểu đoàn không đủ điều kiện để điều hành lãnh đạo, chỉ huy từ công tác chỉ đạo hoạt động, huấn luyện, bảo đảm kỹ thuật, bảo đảm đời sống, vật chất tinh thần cho bộ đội... Lý do thứ hai là số lượng đơn vị rađa trên từng vùng hải quân khá nhiều, địa bàn hoạt động các đơn vị này rất phân tán và ở những nơi đường sá đi lại khó khăn, môi trường sinh hoạt khắc nghiệt.

3. Việc quy hoạch các cơ sở đóng tàu chiến của chúng ta quá phân tán cả về đầu tư cơ sở hạ tầng, nhân lực và tổ chức chỉ đạo điều hành. Công nghiệp đóng tàu chiến khác xa với đóng tàu các loại tàu chuyên dùng khác, chủ yếu là phần vũ khí. Trong khi trình độ công nghiệp của ta thấp, kinh tế chưa phát triển, chưa có các tổ hợp công nghiệp sản xuất đóng tàu chiến. Hiện tại, chúng ta cũng chỉ mới đóng tàu chiến loại nhỏ, vì vậy nên tập trung đầu tư vào các nhà máy sửa chữa và đóng mới tàu của Hải quân đã có nền cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực. Nên giao cho Quân chủng Hải quân phụ trách đóng các loại tàu chiến nhỏ này, dưới sự chỉ đạo của Bộ Quốc phòng.

Ở Hải quân đã có Cục kỹ thuật bảo đảm về kỹ thuật tàu, có cơ quan chuyên trách về đóng tàu và tập thể lãnh đạo chỉ huy chuyên trách về hải quân để tham mưu giúp Bộ Quốc phòng chỉ đạo việc đóng tàu chiến. Nếu để một số ít cán bộ ở cơ quan Bộ giúp Bộ trực tiếp chỉ đạo việc đóng tàu chiến như hiện nay thì không thể làm được. Trong tình hình hiện nay, nếu Bộ Quốc phòng trực tiếp chỉ đạo điều hành việc đóng tàu chiến thì chí ít cũng phải thành lập Cục đóng tàu là cơ quan chuyên trách giúp Bộ.

4. Ban chỉ đạo Nhà nước về biển Đông và các hải đảo đã đồng ý cho Hải quân xây dựng cầu cảng ở sông Gianh (Quảng Bình), bảo đảm cho tàu hải quân tàu của cảnh sát biển, của bộ đội biên phòng có chỗ đứng chân để hoạt động. Suốt từ Cửa Hội (Nghệ An) đến Đà Nẵng dọc ven biển dài trên 400km không có một cầu cảng nào khả dĩ bảo đảm hoạt động cho tàu quân sự. Nhưng không rõ vì lý do gì mà trên lại hoãn việc xây dựng này, trong lúc dự án thiết kế đã làm xong, đã đóng cọc thử. Cảng sông Gianh là nơi có truyền thống chiến đấu nhiều nhất của Hải quân trong chiến tranh chống Mỹ, đất quy hoạch đã có sẵn nhưng để hoang như hiện nay liên tục có một số dân đã và đang lợi dụng lấn chiếm. Đề nghị Bộ Quốc phòng cho Hải quân xây dựng cầu cảng sông Gianh.

5. Việc xây dựng nhà giàn ở DK1, thềm lục địa phía Nam trước đây do kinh tế khó khăn nên chưa đầu tư đủ để xây dựng giàn chân đế vững chắc, đã có hai nhà giàn bị bão gió làm sập, gây thương vong. Đề nghị Nhà nước đầu tư cho xây dựng theo thiết kế mới vững chắc hơn để chống được bão gió và môi trường khắc nghiệt của biển.

6. Hiệp định giữa ta và Liên Xô (Liên bang Nga) về Cam Ranh sẽ hết hạn vào năm 2004. Vì vậy, đề nghị Bộ Quốc phòng báo cáo Chính phủ chủ động có chủ trương, kế hoạch quy hoạch lại căn cứ Cam Ranh lại sau khi bạn rút quân.

7. Bộ Quốc phòng đã có văn bản quyết định xây dựng Bảo tàng Hải quân từ 21 tháng 1 năm 1998, nhưng đến nay vẫn chưa triển khai xây dựng được vì một số lý do. Các thủ tục từ đất đai cho đến thiết kế, dự toán đều đã được Bộ Quốc phòng thẩm định. Đến nay, Quân chủng Hải quân chưa xây dựng được một bảo tàng truyền thống, không chỉ đối với lực lượng Hải quân hiện nay mà còn bắt nguồn từ truyền thống thủy quân của ông cha ta cách đây hàng ngàn năm. Việc xây dựng bảo tàng để tuyên truyền giáo dục cho các thế hệ người Việt Nam ta, truyền thống đánh giặc giữ nước là hết sức cần thiết. Đề nghị Bộ Quốc phòng cho khẩn trương xây dựng Bảo tàng Hải quân.

8. Vấn đề nhà đất đang là một vấn đề hết sức bức xúc của cán bộ Hải quân. Đất đai để phân cho cán bộ làm nhà ở đã có đầy đủ thủ tục pháp lý từ chuyển mục đích sử dụng cho đến việc chuẩn y quy hoạch xây dựng, thế nhưng trong cả thời gian dài từ 1993-2000, vẫn chưa cấp cho cán bộ được một suất đất nào, vì Bộ Quốc phòng có lệnh đình hoãn việc này. Tôi đề nghị Bộ Quốc phòng ngay bây giờ, xem xét cho phép Hải quân được cấp đất làm nhà ở cho cán bộ ở những nơi đã có đầy đủ thủ tục pháp lý.


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Chín, 2021, 09:32:40 am
Đó là những lời đề nghị và cũng là nguyện vọng của cá nhân tôi muốn phản ánh với Bộ Quốc phòng một số điều cụ thể tồn đọng ở Quân chủng Hải quân để mong được sự quan tâm giải quyết trước khi rời quân ngũ trở về với cuộc sống đời thường.

Tháng 3 năm 2000, tiến hành bàn giao công việc cho đồng chí Chuẩn đô đốc Đỗ Xuân Công - người mới được trên bổ nhiệm thay tôi làm Tư lệnh Hải quân. Buổi họp bàn giao có đông đủ các đồng chí trong Bộ tư lệnh, thủ trưởng Bộ tham mưu và các Cục chính trị, hậu cần, kỹ thuật, cảnh sát biển, Văn phòng Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân chủng; các phòng tài chính, cán bộ...

Buổi họp bàn giao diễn ra trong không khí trang trọng, thân mật, thoải mái.

Năm mươi năm sống trong quân đội chan chứa biết bao tình bạn, tình đồng chí, đồng đội với những cán bộ, chiến sĩ đã từng sống chiến đấu và công tác với mình, tôi ước ao được gặp họ tất cả để nói lời cám ơn và lời từ biệt khi trở về đời thường. Nhưng điều đó không thể thực hiện vì các đồng đội của mình đang làm nhiệm vụ trên lãnh thổ cả nước từ đất liền ven biển đến các vùng biển đảo mênh mông. Trong buổi gặp mặt chia tay đầy xúc động với đông đủ cán bộ, chiến sĩ của cơ quan Bộ tư lệnh và đại diện các đơn vị đóng quân tại Hải Phòng đến dự, tôi nói:

- Người ta thường hiểu khi ai rời nhiệm sở để về nghỉ hưu, vì nhiều lẽ nên có một thoáng buồn. Thực sự báo cáo với các đồng chí là nhận được quyết định nghỉ hưu, tôi rất phấn khởi vì thấy hợp lý, hợp tình và cũng hợp với nguyện vọng cá nhân của tôi. Hai năm nay, tôi trực tiếp đề đạt với trên, là nên cho tôi nghỉ để bổ nhiệm đồng chí khác thay tôi làm Tư lệnh Hải quân, vì thực sự đã có người thay thế. Tôi đã nhiều tuổi nhưng các đồng chí trong diện kế tục cũng không phải là ít tuổi nữa. Nếu cứ thấy tôi đang làm việc được mà kéo dài thời gian phục vụ thì chỉ lợi trước mắt, nhưng sẽ gây ùn tắc của quy hoạch cán bộ dẫn đến người sẽ thay thế được lại quá tuổi, lại không bổ nhiệm được, lại hẫng hụt cán bộ.

- Tính đến nay, tôi đã 55 năm đi theo cách mạng và 50 năm phục vụ trong quân đội, từ chiến sĩ đến trải qua làm cán bộ quân sự, chính trị, hậu cần, ở bộ binh rồi hải quân. Những năm, tháng ấy tôi được Đảng, Quân đội giáo dục đào tạo và bồi dưỡng; được nhân dân đùm bọc, được cán bộ, chiến sĩ nơi mình chiến đấu và công tác giúp đỡ. Đặc biệt, hơn 40 năm qua, ở Hải quân tôi luôn được cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên quốc phòng trong toàn Quân chủng; được các đồng chí trong Đảng ủy - Bộ tư lệnh Quân chủng và gần nhất với các đồng chí có mặt hôm nay thân ái cộng tác, giúp đỡ động viên tôi hoàn thành nhiệm vụ. Thế thì bây giờ được về nghỉ hưu còn có lấn cấn gì nữa?

Tôi chỉ biết cám ơn Đảng, cám ơn quân đội, quân chủng, cám ơn đồng chí, đồng đội, cám ơn các đồng chí có mặt hôm nay đã dành cho tôi nhiều ưu ái và tình cảm tốt đẹp. Hơn nữa tôi lại rất tin tưởng các đồng chí đang ở lại Quân chủng, đầy nhiệt tình và có đủ phẩm chất, tri thức, năng lực, để xây dựng Quân chủng ngày càng lớn mạnh, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ trên giao. Vì vậy bây giờ được về nghỉ hưu trước bối cảnh đó sao lại không phấn khởi các đồng chí? Tôi thực sự rất phấn khởi!

Một lẽ đương nhiên qua bao năm phục vụ trong quân đội, quân chủng, qua bao nhiêu năm sông, chiến đấu, công tác với đồng chí, đồng đội, cùng nhau chia sẻ gian lao, ngọt bùi, vui buồn, như sống trong một đại gia đình. Bây giờ chia tay tạm biệt tránh sao khỏi bỡ ngỡ, lưu luyến kẻ ở người đi, một thoáng buồn nhưng không phải buồn thiu, mà là buồn lưu luyến tình cảm vô biên của nghĩa tình, bởi quy luật trăng tròn rồi lại khuyết.

Năm tháng rồi sẽ qua đi nhưng tình cảm thì đọng lại mãi mãi và ngày càng tô đậm thêm.

Qua những năm tháng phục vụ trong quân đội, quân chủng sức mình có bao nhiêu, tận tụy phục vụ bấy nhiêu. Sở dĩ tôi hoàn thành được chức trách, nhiệm vụ là nhờ có sự ủng hộ, cộng tác giúp đỡ của tất cả anh em trong toàn quân chủng. Trong giờ phút gặp mặt chia tay này tự đáy lòng mình, cho phép tôi một lần nữa xin gửi đến các đồng chí trong Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân chủng; đến tất cả các thế hệ cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên quốc phòng trong toàn quân chủng, những đồng chí đang công tác và cả những đồng chí đã hy sinh, đã mất, hoặc đã rời quân ngũ chuyển ngành phục viên, nghỉ hưu, lời cám ơn chân thành nhất.

Nhiệm vụ làm nòng cốt bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc mà Đảng, Nhà nước, Quân đội giao cho Quân chủng Hải quân ta hết sức vẻ vang, nhưng cũng hết sức nặng nề. Phía trước chúng ta thuận lợi có nhiều mà gian nan cũng không phải là ít. Tôi rời nhiệm sở để trở lại đời thường, nhưng có một ước vọng, một niềm tin sắt đá là các đồng chí ở lại - một đội ngũ hùng hậu, dưới sự lãnh đạo của Đảng sẽ đoàn kết chung sức phát huy truyền thống “Chiến đấu anh dũng, mưu trí sáng tạo, làm chủ vùng biển. Quyết chiến, quyết thắng” của Hải quân nhân dân Việt Nam để xây dựng Quân chủng ta lớn mạnh không ngừng, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ trong mọi tình huống.

Chia tay với đồng chí, đồng đội, trở về với cuộc sống đời thường tôi xin hứa luôn làm tốt nghĩa vụ của người đảng viên, người công dân; giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, truyền thống của Hải quân nhân dân Việt Nam anh hùng.

                                                                                                                                                                               
TP. Hồ Chí Minh, 12-2010
M.X.V


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Chín, 2021, 09:35:21 am
(https://i.imgur.com/vdkSxbe.jpg)

Nhớ mãi quãng thời gian gắn bó với chỉ huy, lãnh đạo và các sĩ quan Bộ tham mưu Hải quân

(https://i.imgur.com/364sBvw.jpg)

Đoàn học sinh quân sự Việt Nam cùng các thầy giáo tại Học viện Quân sự cao cấp Liên Xô “Vô-rô-si-lôp” (1980-1982)

(https://i.imgur.com/YtWUdhp.jpg)

Tiếp Đô đốc Gơ-rô-mốp, Tư lệnh Hải quân Liên bang Nga tại Cam Ranh (1994)

(https://i.imgur.com/GQZJwP4.jpg)

Thăm Liên bang Nga theo lời mời của ngài Vô-rô-nhin, Phó trưởng ban An ninh Liên bang Nga (1995)


Tiêu đề: Miền sóng vỗ - Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Chín, 2021, 09:37:19 am
(https://i.imgur.com/DnOorzx.jpg)

Tại lễ bàn giao giữa hai Tư lệnh cũ và mới: Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh và Chuẩn đô đốc Đỗ Xuân Công

(https://i.imgur.com/mE9w3I5.jpg)

Sum vầy với gia đình, cùng vợ và các con, cháu (2010)

(https://i.imgur.com/7vkm7oy.jpg)

Tuổi 80 bên cạnh người bạn đời 70 tuổi (2010)

(https://i.imgur.com/jtn5zEQ.jpg)

Sau lễ nhận bằng tốt nghiệp của cháu ngoại Trần Thành Trung tại trường Đại học Maquarie ở Australia, tháng 9 năm 2011