Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: quansuvn trong 03 Tháng Sáu, 2021, 09:23:25 pm



Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 03 Tháng Sáu, 2021, 09:23:25 pm
Tên sách: Lửa của đất
Tác giả: Nguyễn Tư Đương
Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân
Năm xuất bản: 2009
Số hoá: ptlinh, quansuvn



LỜI NHÀ XUẤT BẢN


Tiếp theo cuốn Phú Quốc nơi đầu sóng xuất bản năm 2007, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân tiếp tục cho ra mắt bạn đọc cuốn Lửa của đất. Đây là cuốn thứ hai trong bộ ký sự ba cuốn NƠI ĐẦU SÓNG của đại tá nhà báo Nguyễn Tư Đương.

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.


NHÀ XUẤT BẢN
QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 03 Tháng Sáu, 2021, 09:24:05 pm
ĐÔI DÒNG...


Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã kết thúc vẻ vang bằng đại thắng mùa xuân cách đây 15 năm, nhưng dư âm của kỳ công ấy vẫn đọng lại cho đến hôm nay.


Để có được độc lập tự do, dân tộc ta đã trải qua biết bao hy sinh, gian khổ. Đường lối đúng đắn, sự lãnh đạo tài tình của Đảng cùng với chủ nghĩa anh hùng cách mạng, sáng tạo của nhân dân, cán bộ, chiến sĩ ta có thể nói là yếu tố quyết định cho chiến thắng nhưng dù sao cũng không thể ngăn chặn hoàn toàn sự hy sinh xương máu. Tinh thần hy sinh cao cả, dũng cảm, mưu trí đó có một phần thuộc về Đảng bộ, nhân dân và chiến sĩ Hòn Đất.


Làm sao có thể quên được những ngày nếm mật nằm gai, bị quân thù bao vây đói cơm thiếu đạn trong Hòn vẫn tìm cách đánh và thắng quân thù; làm sao có thể quên được những người con trung hiếu của Hòn Đất đã ngã xuống, đã hy sinh một phần thân thể trên khắp mảnh đất quê hương này chỉ vì một mục đích duy nhất là hạnh phúc của nhân dân. Gian khổ đó mà vinh quang cũng đó; trong hiểm nguy mà sao lại ấm áp tình dân nghĩa Đảng, tình đồng chí, đồng bào.


Chiến tranh đã qua đi, cuộc sống mới đã đâm chồi nảy lộc, một thế hệ dấn thân vào cuộc chiến dần dần đi vào dĩ vãng nhưng những kỳ tích anh hùng sẽ mãi mãi sống với các thế hệ mai sau. Những nấm mồ liệt sĩ và những mẩu chuyện oai hùng sẽ chứng minh với lịch sử cái giá phải trả để đổi lấy độc lập, hạnh phúc, tự do.


Thực hiện chủ trương của Huyện ủy Hòn Đất, đồng chí Nguyễn Tư Đương ghi chép lại một phần cuộc kháng chiến của dân và quân Hòn Đất trong những năm dài đấu tranh ác liệt hào hùng trong chống Mỹ, cứu nước.


Với những điều kiện hạn chế, dĩ nhiên quyển ký sự này không thể ghi lại hết được những sự tích anh hùng, những chiến công của quân và dân Hòn Đất, thậm chí, có thể chưa mô tả được hết diễn biến và ý nghĩa của sự việc. Tuy nhiên chúng tôi vẫn cố gắng cho ra mắt bạn đọc vì thời gian sẽ không dừng lại.


Chúng tôi mong rằng quyển ký sự "Lửa của đất" sẽ được đồng bào, đồng chí phê bình, đóng góp cả về sự kiện lẫn cách diễn tả để làm phong phú thêm việc phổ biến truyền thống tươi đẹp của huyện Hòn Đất thân yêu.


BAN THƯỜNG VỤ HUYỆN ỦY
HÒN ĐẤT
Mùa Thu 1990


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 04 Tháng Sáu, 2021, 07:17:42 pm
Chương một
ƯỚC VỌNG
1


Một đêm vào giữa mùa xuân 1960, các tiểu đoàn "giáo phái"1 ("Giáo phái" là đơn vị vũ trang cách mạng, danh nghĩa bên ngoài là lực lượng Giáo phái Hòa Hỏa ly khai) của tỉnh Rạch Giá hành quân tới rừng Đìa Ổi. Khu rừng tràm khá rậm rạp, nhiều cây tràm lớn hơn thân người, những cây dây leo chằng chịt to bằng cổ tay cuộn quanh những thân cây nứt nẻ, trắng mốc. Khu rừng này nằm giữa ranh giới hai huyện Hòn Đất và Hà Tiên, có nhiều đường mòn của những người kiếm củi hoặc kiếm cá qua lại. Giữa rừng có đìa lớn, rất nhiều cá, những năm chiến tranh ít người đánh bắt, mỗi khi tới mùa nước cạn, cá đông đặc như sống trong chậu; xung quanh đìa có nhiều cây ổi cổ thụ, có lẽ vì thế nên khu rừng này gọi là Đìa Ổi.


Khi các tiểu đoàn hạ trại, trời đã gần sáng. Từng nhóm chiến sĩ lăn ra ngủ bên cạnh gốc tràm, cũng có vài ba người chưa ngủ, ngồi chụm đầu tán gẫu và chia nhau hơi thuốc lá khét mù.


Chính trị viên Ba Ca (Nguyễn Văn Khoảnh) ngồi tựa lưng vào gốc tràm, mắt anh khép hờ nhìn lên một mảng trời hừng đông rực rỡ.


Gần một tháng liền lãnh đạo học Nghị quyết Trung ương lần thứ 15, rồi tiếp việc triển khai nghị quyết cho tới hôm nay, Ba Ca mới thấy có chút thời gian rảnh rỗi cho riêng mình. Tự nhiên cái quá khứ nặng nề khắc nghiệt lại kéo anh về với chúng; những biến cố lịch sử, những đổi thay của cuộc đời mình cứ trôi bồng bềnh trong tâm tưởng.


... Hiệp định Giơ-ne-vơ về Việt Nam tháng 7 năm 1954 như một trái chín thơm ngon nhưng khó nuốt, anh chưa kịp hiểu hết ý nghĩa thắng lợi của nó, đã nhận lệnh đi tập kết. Lúc này rất nhiều người muốn được đi tập kết với động cơ khác nhau, riêng đối với anh, nó như một trách nhiệm lạnh lùng, không rõ nên vui hay buồn. Đúng hơn là, tình cảm của anh lúc đó đang bị xáo trộn ghê gớm. Anh biết rõ, khi lực lượng vũ trang của ta chuẩn bị tập kết, ta rút tới đâu, quân Hòa Hảo lấn chiếm đến đấy.


Một vùng rộng lớn nối liền xã Mỹ Hiệp Sơn - quê anh, với xã Nam Thái Sơn đã được giải phóng từ ngày 9 tháng 8 năm 1948, từ đó giặc Pháp và quân Hòa Hảo thèm rỏ rãi, nhưng vẫn phải đứng ở xa không làm gì nổi. Đến nay (1960) bọn chúng tới chiếm đóng không phải tốn một viên đạn. Hai năm vắng mặt lực lượng vũ trang cách mạng, hai năm quê hương mình, người thân thích ruột thịt của mình sống trong tay giặc, không hiểu những gì sẽ diễn ra... Những ngày chờ đợi xuống tàu ra miền Bắc, trong đầu anh không ngừng suy tưởng tới những năm tháng dài đằng đẵng ấy.


Khi khăn gói chuẩn bị lên đường đi tập kết, anh không có niềm vui háo hức, nhưng đột nhiên anh nhận lệnh "ở lai" trong đầu anh lại rối bời đầy nỗi lo âu. Dù trên có động viên "Ra đi cũng vinh quang, ở lại càng vinh quang", lúc này anh không nhận thức nổi điều đó.


Khăn gói trên vai, anh trở lại vùng quê. Vẫn vùng đất thân thương ấy cách đây vài tháng, người người đông vui, đến bây giờ trên giồng Mớp Giăng vắng ngắt, dường như cây cỏ cũng vàng vọt khô héo. Ba Ca cảm thấy mình lẻ loi một cách đáng sợ, ban ngày dấu mặt trong nhà, đêm đêm đi thăm dò tìm kiếm bắt liên lạc với tổ chức. Tìm hoài, tìm hoài anh chẳng liên lạc được với ai, anh lại xách khăn gói lặng lẽ đến rừng U Minh với hy vọng tìm được cơ quan lãnh đạo, hỏi xem mình phải làm gì và liên lạc với ai. Hàng tháng ròng mò mẫm tìm kiếm, không gặp một ai là người quen thuộc.


Trở về quê, anh tự vạch cho mình một chương trình hành động, tự mình hàng ngày đi tuyên truyền tổ chức quần chúng như hồi kháng chiến chống Pháp đã làm. Khoảng tháng 6 năm 1955 anh đã liên lạc được với Năm Bực, bí thư chi bộ, nhưng vẫn chưa được sinh hoạt Đảng. Cùng khoảng thời gian ấy, lực lượng Hòa Hảo bị quân Ngô Đình Diệm đánh tan. Một toán quân Hòa Hảo lẩn lút ở xã Mỹ Hiệp Sơn. Ba Ca đã thu được ba khẩu súng của chúng. Một khẩu tiểu liên tôm-xơn, một khẩu súng trường, một khẩu súng ngắn còn ngon lành. Đối với anh lúc này những khấu súng vừa thu được còn quý hơn vàng, ngay cả thời kỳ đánh Pháp trước đây, đội du kích xã anh cũng chưa bao giờ thu được một lúc chừng ấy khẩu súng. Có súng trong tay, niềm hy vọng trong anh lớn vụt lên, anh sẽ tổ chức lại du kích xã (như trước đây anh đã là xã đội phó) và sẽ làm cho chi bộ Đảng hiểu mình hơn.


Được tin Ba Ca lấy được súng của bọn Hòa Hảo, Năm Bực tới gặp, không một lời động viên khen ngợi, trái lại còn phê bình "tư tưởng vũ trang bạo lực lúc này là manh động"; không chỉ có thế, Năm Bực còn buộc anh đem súng trả lại cho bọn Hòa Hảo. Anh đành khóc thầm mà chấp hành chỉ thị của tổ chức.


Vài tháng sau Ba Ca được sinh hoạt Đảng và thay Năm Bực làm bí thư chi bộ, anh tự trách mình "trả súng bọn Hòa Hảo là một hành động hữu khuynh" giá giữ được mấy khẩu súng đó, anh sẽ tổ chức đội du kích bí mật. Nhưng dù sao điều ước vọng đó cũng chỉ là điều thầm kín, không hề giống với đường lối của Đảng. Bởi thời kỳ này Đảng nghiêm cấm đấu tranh vũ trang. Mặc dầu anh khao khát ước vọng được đấu tranh vũ trang, nhưng vẫn phải kìm nén để lãnh đạo quần chúng đấu tranh chính trị. Xã Mỹ Hiệp Sơn rất nhiều lần huy động hàng trăm phụ nữ cùng phụ nữ các xã của toàn huyện kéo tới Tri Tôn và thị xã Rạch Giá biểu tình đòi dân sinh dân chủ. Có 24 lần phụ nữ của xã anh do chị Kim Phụng dẫn đầu đã tới cổng dinh tổng thống, biểu tình buộc chúng phải bồi thường hoa màu và nhà cửa bị bọn lính ngụy đốt phá...


Những năm đấu tranh chính trị đơn thuần, anh thấy ít suy suyển tới sức mạnh và sự tàn ác của bọn Mỹ - ngụy; trái lại mỗi lần đấu tranh ta đều phải trả giá bằng ít nhiều sinh mệnh và sự tù đày. Và quần chúng ngày càng ít tin vào đấu tranh bằng phương pháp hòa bình có thể đem lại thống nhất độc lập cho Tổ quốc.


... Nghĩ tới đó Ba Ca thấy rùng mình: "nếu Nghị quyết 15 của Trung ương chậm một chút nữa, thì phong trào cách mạng của huyện sẽ khó tránh khỏi tan vỡ". Tháng 8 năm 1959 anh được chỉ định giữ chức Bí thư Huyện ủy, giữa lúc bọn Ngô Đình Diệm thực hiện luật "10/59" ở thời kỳ tàn bạo nhất. Chúng bắt bớ, chém giết bất kể người nào chúng nghi ngờ liên quan với cộng sản. Sự khủng bố của chúng đã tạo ra một bóng đen chết chóc khủng khiếp bao trùm lên huyện Hòn Đất. Xã Nam Thái Sơn vốn là xã có phong trào cách mạng vững vàng nhất toàn huyện, đến lúc đó gần như hoàn toàn tê liệt. Tên Thu, bí thư chi bộ Nam Thái Sơn, tên Kheng, tên Dệ là cán bộ trung đội của tiểu đoàn Thanh Long "giáo phái" đóng quân ở rừng Nam Thái đã ra đầu hàng địch và quay trở lại đánh phá phong trào.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 04 Tháng Sáu, 2021, 07:18:42 pm
Đầu năm 1960, Ba Ca được Tỉnh ủy điều động về làm chính trị viên kiêm bí thư liên chi lực lượng vũ trang "giáo phái" của tỉnh. Từ lâu anh đã có mối quan hệ với tiểu đoàn1 (Các tiểu đoàn "giáo phái" thực chất quân số chỉ có khoảng một trung đội) Thanh Long, con đỡ đầu của huyện Hòn Đất. Khi nhận nhiệm vụ này anh mới biết, tỉnh còn ba tiểu đoàn khác, là: tiểu đoàn Đinh Tiên Hoàng, Ngô Sở, Thất Sơn (mỗi tiểu đoàn chỉ có quân số khoảng một trung đội). Được về bổ sung vào lực lượng vũ trang, Ba Ca vui mừng khôn xiết: "Thế là thỏa nỗi ước mong bấy lâu nay".


... Nghe tiếng ngáy đều đều, Ba Ca bất giác nhìn khuôn mặt thanh tú của Thái Quý. Anh thầm mến phục người bạn, người đồng chí đã có công lớn xây dựng nên lực lượng vũ trang "giáo phái”. Năm 1956, khi Ngô Đình Diệm mở chiến dịch tảo thanh các lực lượng giáo phái, Tỉnh ủy đã giao cho Chín Quý và một số đồng chí khác, với danh nghĩa là người của Mặt trận Việt Minh tiếp xúc với Ba Cụt, thủ lĩnh Hòa Hảo để lập mặt trận liên minh chống Mỹ - Diệm. Giữa lúc quân Hòa Hảo đang hoang mang dao động, phần vì sợ lực lượng Ngô Đình Diệm, phần vì nguồn tiếp tế lương thực của chúng đã cạn, họ đã nhận số cán bộ của ta vào làm cố vấn quân sự cho trung đoàn Lê Quang (Hòa Hảo). Ta biết rõ tim đen của bọn Ba Cụt, chúng chỉ tạm thời dựa vào ta để khắc phục khó khăn về lương thực, và lấy ta làm đối trọng để đặt giá khi có thương lượng với Diệm. Nhưng dưới sự đạo diễn khéo léo của nhóm Chín Quý, trung đoàn Lê Quang đã đánh quân Diệm một số trận, như trận Vườn Cò (Long Mỹ), trận Xẻo Tân (huyện Giồng Riềng), nhất là trận Cây Bàng (An Biên) đã thắng lớn, loại quân Diệm ra khỏi vòng chiến khoảng một nghìn tên và thu rất nhiều chiến lợi phẩm. Tài năng của cán bộ quân sự "Việt Minh" qua trận Cây Bàng có sức hấp dẫn lớn đối với binh sĩ Hòa Hảo. Sau trận Cây Bàng ít lâu, Ba Cụt, thủ lĩnh Hòa Hảo đã bị Ngô Đình Diệm chiêu hàng rồi xử chém tại Cần Thơ. Khi mất chủ tướng quân Hòa Hảo đã tan rã. Tỉnh ủy Rạch Giá chỉ thị cho bộ phận của Chín Quý vận động số sĩ quan và binh sĩ Hòa Hảo có cảm tình với cách mạng, tổ chức thành những đơn vị ly khai...


Một loạt đạn tiểu liên nổ từ phía kinh Tâm Ngàn dội tới, dứt Ba Ca khỏi dòng suy nghĩ triền miên. Anh vùng đứng dậy, đi về phía mấy chiến sĩ của tiểu đoàn Thanh Long đang ngồi chuyện trò ở gần đó.

Ba Trung và Năm Dạ đang chia nhau mồi thuốc. Hai anh là người cùng quê ở xã Sóc Sơn, cùng ở tiểu đoàn Thanh Long. Năm Dạ hai mươi tám tuổi, hơn Ba Trung chừng ba tuổi, nên trong cách cư xử bao giờ Ba Trung cũng coi Năm Dạ là bậc đàn anh. Không phải riêng Ba Trung là người cùng làng, mà nhiều anh em khác cũng tỏ ra quý trọng Năm Dạ, bởi anh có cái gì đó dễ cuốn hút mọi ngươi.


Nhìn khuôn mặt đẹp trai rám nắng, và đôi mắt to đen chân thật của Năm Dạ, Ba Trung chợt nhớ tới trận đói hồi tết năm ngoái, cùng khoảng thời gian thằng Thu, bí thư chi bộ Nam Thái Sơn, thằng Khen, thằng Dệ của tiểu đoàn Thanh Long đầu hàng địch, làm cho tiểu đoàn Thanh Long bị cắt quan hệ với cơ sở quần chúng, và từ đó tiểu đoàn mất nguồn tiếp tế. Thời gian đó anh em cũng ở Đìa Bà. Tới gần tết cả đơn vị không còn một hạt gạo nào, hàng ngày họ phải ra đìa móc ngó sen và kiếm cá ăn trừ bữa. Một lần đúng vào ngày hai mươi tám tết, anh em vừa ở trong rừng ra, thấy có bốn cô gái đang tát cá. Năm Dạ nói với anh em:

- Phải gặp mấy cô gái này may ra móc nối được với cơ sở.

Năm Dạ bước nhanh vượt lên trước.

Mấy cô gái tưởng anh em là lính ngụy, ù té chạy. Năm Dạ cùng anh em chạy đón đầu, ngăn các cô lại. Năm Dạ giang rộng hai tay và nói to:

- Việc gì phải chạy nào. Xem người ta có phải là ngụy hay bọn ăn cướp không.

Các cô gái người nào người nấy mặt xám ngoét cắt không được một hột máu, không ai đáp lời Năm Dạ.

Năm Dạ nói dịu giọng:

- Các chị cứ dòm đi, xem chúng tôi là hạng người nào. - Năm Dạ nhìn về các bạn mình rồi lại nhìn mấy cô gái rồi nói tiếp - Chẳng có thì giờ nói với nhau dài dòng, xin tự giới thiệu với các chị, chúng tôi là người của cách mạng. Mấy hôm trước chúng tôi vẫn liên lạc với người của ông Sáu Thiêm và ông Ba Lời.


Một cô gái mạnh dạn nhìn từ đầu tới chân những người đàn ông đang đứng trước mình. Cô thấy người nào cũng xanh xao gầy guộc, ăn vận rách rưới. Chừng như cô cảm nhận được những người này không phải là người xấu, nên thái độ của cô bình tĩnh hơn.

Cô gái nói:

- Ông nói các ông liên lạc với ông Sáu Thiêm và ông Ba Lời tôi cũng biết vậy. Ông Sáu Thiêm1 (Sáu Thiêm: một đảng viên già kiên cường nổi tiếng của xã Nam Thái Sơn) và ông Ba Lời thì cả Tri Tôn này ai mà không biết.

Nghe cô gái nói giọng miền Bắc, Năm Dạ yên tâm, "mấy cô gái chắc chắn là dân Nam Thái Sơn”, anh càng hy vọng móc nối được với cơ sở.

- Thôi bây giờ thế này hen. - Năm Dạ nói. - Chẳng có cách gì để cho các chị hiểu được chúng tôi là ai. Tôi xin nói thiệt tình chúng tôi đã hết sạch lương thực rồi, nếu những ai còn thương yêu cách mạng, hãy mang giúp chúng tôi một ít lương thực. Đem đến chỗ này, tối chúng tôi nhận.

Cô gái nói đắn đo:

- Chúng tôi giúp các ông, rồi người của các ông đi đầu hàng "quốc gia" trở lại chỉ chọc cho người ta bắt chúng tôi đưa vào tù.

Năm Dạ phân trần:

- Năm ngón tay có ngón dài ngón ngắn. Vừa qua trong hàng ngũ cũng còn có kẻ hèn nhát, không chịu được khó khăn gian khổ, đã trở thành kẻ phản bội nhân dân, phản bội Tổ quốc. Nhưng đó không phải là tất cả mọi người cách mạng, không nên lấy hành động tội lỗi của mấy tên phản bội ấy để xem xét tất cả những người cách mạng. Ở trường hợp các chị đánh giá chúng tôi như thế nào đây... khó thiệt. Tùy tấm lòng các chị. Thôi các chị đi kiếm cá, chúng tôi cũng phải đi kiếm rau.


Trong hoàn cảnh cực kỳ khắc nghiệt, việc gặp gỡ mấy cô gái cũng chỉ nói với nhau được vài câu không đầu, không cuối như vậy, nhiều anh em nghĩ: cũng chỉ là chuyện gió bay lên trời, chẳng có hy vọng gì, trái lại Năm Dạ rất tin. Anh nói với anh em:

- Tôi nay mấy cậu ra chỗ đó, thể nào nhân dân cũng mang gạo ra cho chúng ta.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 04 Tháng Sáu, 2021, 07:19:27 pm
Tết đến nơi rồi, chẳng ai quên được cái tục lệ ngàn đời ấy. Anh em không ước ao bánh trái gì nhiều... mà chỉ ước ao mấy ngày tết được ăn những bữa cơm rau no nê. Nói tới việc nhân dân sẽ cho người mang gạo tới, dù đó chỉ là hy vọng mong manh cũng làm cho mọi người thấy vui hơn. Họ xúm lại bàn tán, mường tượng cái giờ phút hồi hộp ấy. Ai cũng biết những ngày này bọn ngụy đang bắt bớ, bắn giết nhiều người trong xã, và những người trong ấp chiến lược không khác gì trong nhà tù, mỗi người dân không dễ gì có thể lọt ra khỏi hàng rào, nhưng họ vẫn phân công nhau tới chỗ hẹn để tìm vận may.


Ba Trung và Minh (Bụng) núp kín vào sau lùm cây, chò đợi. Nghe tiếng phụ nữ nói xầm xì, Ba Trung chặc lưỡi hai tiếng. Đôi bên nhận được ám hiệu của nhau. Một cô gái lên tiếng:

- Đúng mấy anh hồi sáng. Tôi tưởng các anh không dám đến chỗ hẹn.

Cô gái đã đối thoại với Năm Dạ ban sáng đứng ra giao cho Ba Trung số bánh chưng và khoảng mười lít gạo. Ba Trung nhận món quà từ tay cô gái mà anh vẫn thấy bàng hoàng như trong giấc mơ. Không thể ngờ lại có sự may mắn như vậy, các cô gái đứng trước mặt anh chẳng khác nào ông bụt trong chuyện Tấm Cám.

Một cô gái vừa nói vừa khóc:

- Em về nói chuyện với mẹ em về việc gặp các anh buổi sáng. Mẹ em bảo đã lâu các anh không được tiếp tế, chắc các anh mày đói lắm rồi. Mấy đứa xem có cách gì tiếp tế cho các anh ấy.

Một cô gái khác nói cắt ngang:

- Nhân dân chẳng tiếc gì các anh... chỉ có điều mong mỏi, nếu anh nào không chịu đựng nổi khó khăn gian khổ thì tìm một nơi nào thật xa mà làm ăn, đừng có đầu hàng.

Câu chuyện cũ còn sống động trong trí nhớ của Ba Trung. Anh xúc động nói với Năm Dạ:

- Cái tết vừa rồi, nếu không gặp mấy cô gái, thì không hiểu còn chịu đói kéo dài tới bao lâu nữa.

Năm Dạ nhìn khuôn mặt tròn, trắng trẻo của Ba Trung vài giây rồi anh mỉm cười, nói:

- Cậu có nhớ mặt cô nào không? Biết đâu sau này hòa bình người bạn gái mà cậu làm quen ngày hôm ấy, lại chẳng trở thành người bạn đời.

- Quên chẳng hỏi tên một cô nào, nhưng thế nào cũng có ngày về Nam Thái Sơn sẽ tìm ra được mấy cô.

Ba Ca vừa bước chầm chậm vừa lướt nhìn những chiến sĩ đang ngủ, rồi dừng lại trước mặt đôi bạn đang tâm sự. Anh nói vui:

- Chuyện gì vui thế, cho mình góp với nghen?

- Xin mời anh. - Năm Dạ xê dịch có ý mời Ba Ca ngồi lên đệm lá khô và nói tiếp. - Không ngủ được, chúng tôi nói chuyện tầm phào cho vui.

Ba Ca ngồi bệt xuống và lấy tay vỗ vỗ vào chỗ đũng quần của Ba Trung bị rách toạc một mảng lớn. Anh vừa cười vừa nói vui vẻ:

- Không vá vô sắp lòi... ra đến nơi rồi.

Ba Trung đáp:

- Ở đây chẳng có đàn bà con gái chi, có lòi ra cũng chẳng ăn nhằm gì.

Mọi người cùng cười ồ lên. Giữa lúc chuyện tâm tình đang hứng thú Ba Trung kể lại một câu chuyện liên quan tới việc thiếu quần áo.

- Còn cái quần rách mà mặc như thế này cũng còn khá đấy. Một lần các má chiến sĩ và một số chị em phụ nữ tới thăm anh em đang ở rừng Nam Thái, anh Năm có nhớ không? Hình như vào cuối năm 1957... Phần đông anh em chỉ có nhất bộ. Tối hôm trước có một số anh em đi công tác ướt hết quần áo. Mấy thằng vừa lột quần áo ra phơi thì các đại biểu đến. Thằng nào có quần áo tươm tất thì ra tiếp các má và chị em, còn thì lủi vào bụi cây. Nào ngờ trong lúc các má nói chuyện với anh em thì mấy chị tò mò luồn về phía sau, nhìn thấy mấy ông mãnh đang ngồi tán gẫu với nhau, không ai có mảnh vải trên người. Các chị hoảng hồn bỏ chạy trở về nói với các má. Được biết bộ đội không đủ quần áo, các má khóc, có má trách: "Các con không đủ quần áo, sao không nói với các má để các má lo cho”. Ít ngày sau các má gửi tới cho một số bộ quần áo, cũng chỉ đủ bổ sung cho những thằng nào rách rưới nhất.


Ba Ca biết Năm Dạ và Ba Trung là người cùng quê, anh hỏi thăm:

- Lâu nay các cậu có nhận được tin tức của gia đình không?

Năm Dạ mỉm cười lắc đầu. Ba Trung đang cái đà cởi mở tâm sự, nhân câu hỏi của Ba Ca, anh tiếp tục bộc bạch tình cảm của mình:

- Từ ngày tôi đi thoát ly, má tôi có đến thăm một lần. - Đôi mắt buồn buồn của Ba Trung nhìn vào nơi xa xăm, rồi nói tiếp. - Má tôi kể về cảnh sống trong ấp chiến lược cực lắm má tôi căn dặn tôi nhiều lần: "Con đã theo cách mạng thì theo đến cùng, không được đầu hàng, anh Hai của con đã chết trong tù rồi. Đầu hàng là làm nhục vong linh của ba con và anh Hai con...". Nhớ lại hôm nhận lệnh nhập ngũ. Khoảng nửa đêm anh Năm Biên và Minh (Bụng) vào nhà tôi báo cho tôi biết: "Đồng chí đã bị lộ, theo chỉ thị của trên đồng chí phải rời khỏi địa phương, đi ngay bây giờ theo chúng tôi". Tôi mặc độc cái quần xà lỏn, giật vội cái áo vắt lên vai rồi nói nhỏ với bà già một câu gọn lỏn: "Con đi xa má lâu đó nghen". Mấy đứa bơi lội qua sông rồi chạy được một đoạn đường khá xa, má tôi mới đánh mõ và la to: "Bà con ơi Việt cộng bắt con tôi". Lắm lúc nhớ thương bà già phải chịu đựng đủ thứ cực khổ, mà chẳng biết làm thế nào đỡ đần bà già một chút.

Ba Ca cười nói thân mật:

- Chúng mình thoát ly như thế này đều để lại cho gia đình một gánh nặng không chỉ là công việc nhà, mà chính là hành động trả thù của bọn Mỹ - ngụy, chúng gây ra bao nhiêu nỗi thống khổ cho các gia đình có người tham gia cách mạng. Việc có giúp được gia đình hay không, đối với chúng ta lúc này là đánh giặc, nếu chúng ta đánh thắng giặc thì chắc chắn ngươi ở nhà cũng vui lòng.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 08 Tháng Sáu, 2021, 08:14:20 pm
2

Giữa khu rừng Đìa Ôi có một khoảng đất trống tương đối bằng phẳng, đủ chỗ tập hợp bốn "tiểu đoàn". Các tiểu đoàn đã tập hợp thành đội hình chữ "U". Động tác đội ngũ của anh em còn chuệch choạc, nhưng tinh thần chấp hành lệnh tỏ ra rất nghiêm chỉnh. Trong hàng quân không phát ra một tiếng động.


Ánh sáng mặt trời chiều đổ những bóng cây lên đội hình của các tiểu đoàn "giáo phái". Những mảng ánh sáng loang lổ vàng rực rỡ lay động trên nền đất. Hương tràm quyện vào hương cỏ mật thoang thoảng bay trong gió. Cái yên tĩnh hoang dã của rừng hòa nhập vào tâm trạng của những con người đang tràn ngập hy vọng, tạo thành không khí thiêng liêng của buổi lễ trước giờ xuất trận.


Chín Quý đứng ở khoảng giữa đội hình, nói dõng dạc:

- Thưa các đồng chí! Mấy năm nay bọn Ngô Đình Diệm tay sai đế quốc Mỹ chúng thi thố mọi thủ đoạn "tố cộng diệt cộng”, "ấp trù mật", "ấp chiến lược" tàn sát đày đọa đồng chí, đồng bào chúng ta, nhất là những tháng gần đây, chúng thực hiện luật "10/59", một đạo luật phát xít, chúng chém giết bất kể ai, kể cả những người không hề chống lại chúng, nếu chúng nghi ngờ có liên quan tới cộng sản. Tội ác của Mỹ - ngụy chất cao như núi, không lời lẽ nào tả xiết được. Chúng ta, những người cách mạng từ bao lâu nay mong mỏi được cầm súng xông lên giết lũ giặc man rợ ấy, để rửa sạch mối hận thù cho nhân dân, cho gia đình mình. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, với quyết tâm cao, trận đánh này chúng ta nhất định thắng, nhất định phải giải phóng cho đồng bào, đồng chí của chúng ta khỏi khu "trù mật" Ba Thê. Như các đồng chí đã biết đánh chiếm Ba Thê chúng ta sẽ gặp trở ngại gì. Ban lãnh đạo chúng tôi đã xác định: việc mở đột phá khẩu là một nhiệm vụ khó khăn nguy hiểm nhất, cần phải có những người gan góc nhất đảm nhiệm. Tôi đề nghị, ai xung phong giơ tay lên.

Cả hàng quân nhất loạt giơ tay, và gần như đồng thanh ’’Tôi xin xung phong".

Chín Quý bước từng bước một, dọc theo hàng quân, nhìn vào những khuôn mặt kiên quyết và đôi mắt rực lửa của từng cán bộ, chiến sĩ. Thật khó có thể phân biệt được ai quyết tâm hơn ai lúc này, Chín Quý đành chọn trong số anh em mình đã quen biết.

- Đồng chí Mười Đẹt, đồng chí Cung, đồng chí Sâm, đồng chí Thừa... mời các đồng chí ra khỏi hàng.

Chín Quý về vị trí chỉ huy, rồi hô:

- Đứng nghiêm. - Anh nói tiếp với giọng trang nghiêm. - Những đồng chí xung phong mở đột phá khẩu đây, chúng ta coi các đồng chí như đã hy sinh vì cách mạng. Để tỏ tấm lòng thành kính của chúng ta với các đồng chí, chúng ta làm lễ truy điệu... Một phút mặc niệm bắt đầu.


Kính cẩn nghiêng mình trước những người đồng đội của mình đang đứng trước đó, gây nên một cảm giác xúc động thiêng liêng, khơi dậy tình cảm yêu thương, khơi dậy tinh thần trách nhiệm cao cả đối với cuộc chiến đấu lâu dài và khắc nghiệt, khiến nhiều người không cầm nổi nước mắt.


Khu "trù mật" Ba Thê là khu kiểu mẫu thực hiện chính sách "tố cộng, diệt cộng" nằm trên vùng đất của tỉnh An Giang, giáp giới huyện Hòn Đất, được đích thân Ngô Đình Diệm tới cắt băng khánh thành. Chúng gom tất cả các gia đình có người tham gia cách mạng ở xung quanh dồn vào cái trại tập trung trá hình này. Bao quanh khu "trù mật" là sáu hàng dây kẽm gai, một con hào sâu hai mét, rộng hơn ba mét, dưới hào chông mìn dày đặc, bước lên khỏi hào gặp một hàng rào cây vót nhọn, ken kín đến con gà cũng không lọt qua được; tiếp đến là bức tường đất đồ sộ như một con đê cao ngập đầu người. Mấy trăm gia đình trong khu "trù mật" chịu sự kềm kẹp rất nghiệt ngã của một trung đội bảo an và một trung đội dân vệ ác ôn. Do đời sống đói khổ, dịch bệnh và bị bọn ác ôn hành hạ, có tháng nhân dân trong khu đã mất hàng chục mạng người.


Theo yêu cầu của Tỉnh ủy An Giang, Tỉnh ủy Rạch Giá đồng ý cho bộ đội "giáo phái" đánh vừa tập dượt trận đầu tiên vào khu "trù mật" Ba Thê. Nếu trận này thắng lợi sẽ có sức cổ vũ lớn tới phong trào cách mạng của cả hai tỉnh.


Đêm thượng tuần thứ hai (1960) dưới bầu trời đầy ánh sao, những chiến sĩ "giáo phái” cách mạng, mang quyết tâm sắt thép vào trận. Mười Đẹt, Cung, Thừa, Sâm ở tổ mũi nhọn đã bí mật mở cửa đột phá qua các chướng ngại vật, hướng thẳng vào trại lính bảo an.


Lâu nay bọn lính ngụy ở đây không có ai dám đụng đến chân lông chúng. Chúng ngông nghênh tự đắc coi khu "trù mật" Ba Thê là nơi "bất khả xâm phạm". Tối tối chúng thường chúi đầu vào bàn cờ bạc, rượu chè, rồi lăn ra ngủ. Bốn chiến sĩ của ta đã lọt vào trong trại của địch, lấy được hai khẩu súng rồi quay ra dẫn đơn vị vào êm thấm. Các mũi súng của anh em đã chặn cửa ra vào của chúng. Sau tiếng lựu đạn nổ thay pháo lệnh, tiếng liên thanh, súng trường nổ dồn dập. Những tên lính bảo an còn đang ngái ngủ chưa hiểu điều gì đang xảy ra, đã trúng đạn đổ vật xuống. Tên nào nhanh chân vừa thoát ra khỏi nhà lại vấp ngay những đường dao mã tấu của những tổ phục ở vòng ngoài. Những tiếng rú khủng khiếp chìm vào trong những tiếng nổ.


Chen vào tiếng súng nổ thưa thớt dần, là tiếng loa lặp đi lặp lại vài câu ngắn: "Hỡi đồng bào! Bộ đội cách mạng đã tiêu diệt sạch bọn bảo an, dân vệ. Bà con hãy xông ra phá hết cảnh gông cùm của bọn dã man". Bà con trong khu "trù mật" được các cán bộ địa phương hướng dẫn từ trước, khi nghe thấy tiếng nổ đã có nhiều người gói ghém đồ đạc, chuẩn bị sẵn sàng. Khi nghe thấy tiếng loa báo thắng lợi, lập tức họ cho ngay một mồi lửa vào cái lán đang ở. Những ngọn lửa bùng lên mỗi lúc một dữ dội tràn ngập toàn bộ khu "trù mật", soi sáng cả một vùng. Từng đoàn người gồng gánh chen chúc nhau, rời khỏi khu "trù mật". Những chiến sĩ "giáo phái" vai mang nặng chiến lợi phẩm, mải miết đi về phía căn cứ của mình.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 08 Tháng Sáu, 2021, 08:16:10 pm
Họ lại trở về căn cứ Đìa Ôi. Dưới tán lá xanh thẫm của rừng tràm, từng tốp năm, bảy người đứng ngồi, cười nói vui vẻ. Làn gió thổi triền miên từ phía biển vào lay động cành lá rì rào. Tiếng ríu rít của đàn chim sáo. Tiếng gõ "cốc cốc" đều đều của mấy chú chim gõ kiên, tạo ra âm đệm của dàn nhạc rừng. Cảnh góp vui cùng người hòa nhịp vui ngày chiến thắng. Chín Quý, Tám Quang, Tư Dữ và Ba Ca trong ban lãnh đạo trận đánh đang ngồi họp đánh giá kết quả trận đánh, và dự tính những công việc tiếp theo.

Chín Quý nói:

- Chúng ta đã thấy trước được tính chất khó khăn phức tạp của trận đánh, có biện pháp khắc phục tốt nên đã mang lại thắng lợi to lớn. Chúng ta đã tiêu diệt gọn một trung đội bảo an và một trung đội dân vệ, giải phóng toàn bộ số dân đã bị kìm kẹp trong khu "trù mật". Lực lượng ta trở về nguyên vẹn. Cả bốn đồng chí ở tổ mũi nhọn mà chúng ta đã làm lễ truy điệu vẫn còn sống (mọi người cười xúc động), không phải là linh hồn mà cả thể xác của những chiến sĩ cảm tử ấy sẽ cùng chúng ta tiếp tục chiến đấu.

Mọi người tiếp tục cười và xen vào những lời bình luận vui vẻ.

Ba Ca lau giọt nước mắt đậu trên gò má mình, rồi phát biểu:

- Lần đầu tiên tôi làm công tác chính trị trong quân đội. Riêng với bốn đồng chí tình nguyện vào tổ cảm tử, tôi theo dõi diễn biến tư tưởng rất chặt. Từ khi nhận nhiệm vụ, có hai đồng chí tỏ ra thao thức khó ngủ, trái lại hai đồng chí khác thì cứ ngủ ngon lành. Tôi tự hỏi: những người thao thức, đó có phải là hiện tượng quyết tâm chưa thật cao không? Và những người ngủ ngon kia là do tư tưởng quá đơn giản chăng? Tôi gặp từng người, đồng chí thao thức nói: "Các đồng chí đừng lo gì về chúng tôi. Đã quyết tâm là làm đến cùng, nhưng cũng khó ngủ, là vì phải lo làm sao mình hoàn thành thật tốt nhiệm vụ của cấp trên và anh em ủy thác". Với anh em ngủ ngon lại suy nghĩ khác: "Chúng tôi đã xác định tư tưởng rõ ràng rồi, dù có hy sinh cũng sẵn sàng, nên trong tư tưởng thoải mái, đến giờ ngủ thì ngủ cho kỹ...". Trong trận đánh cả bốn đồng chí đều hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc. Qua sự việc này tôi thấy công tác lãnh đạo phải có niềm tin lớn hơn đối với anh em. Trước cùng một công việc thái độ xử sự có thể không giống nhau.


Nhân dân hai tỉnh An Giang, Rạch Giá mấy năm nay nhẫn nhục chờ đợi, ngay cả trong những cuộc đấu tranh chính trị cũng vẫn chờ đợi lực lượng vũ trang xuất hiện. Chiến thắng Ba Thê như một ánh chớp lạ giữa đêm đông, đối với nhân dân cả hai tỉnh, nhất là những huyện xã ở gần đó, họ coi đó là ánh sáng của niềm hy vọng mà bấy lâu khao khát chờ đợi.


Nhận được tin chiến thắng Ba Thê, nhân dân xã Nam Thái Sơn (Hòn Đất), nhân dân xã Lung Lớn (Hà Tiên), nhân dân Tà Teng vùng núi Dài mang gạo, gà, lợn... đến ủng hộ bộ đội. Khu rừng Đìa Ôi trở nên nhộn nhịp khác thường. Tiếng nói, tiếng cười trong trẻo của chị em phụ nữ hòa vào tiếng trầm trầm gân guốc của mấy anh bộ đội. Ban lãnh đạo phải tạm hoãn cuộc họp để tiếp dân.


Hơn năm năm, kể từ ngày bộ đội Vệ quốc đoàn đi tập kết, đến hôm nay mới có cuộc họp mặt vui vẻ như ngày hội, giữa những người lính cách mạng với nhân dân.

Một bữa tiệc linh đình mừng chiến thắng, được bày trên lá rừng, với niềm hân hoan hiếm thấy.

Bữa tiệc chưa kịp kết thúc, đã nhận được lệnh chuẩn bị chiến đấu.

Trung đội trưởng Năm Dạ và chính trị viên Tư Hiền vừa đi trinh sát về báo cáo với Chín Quý:

- Chúng tôi đang đi về hướng Tà Teng, gặp nhân dân chống xuồng ngược chiều cho biết bọn lính đang tới đông lắm. Chúng tôi đi tiếp một đoạn, nhìn cánh đồng thấy đầy nhóc lính. Chúng tôi chạy vội về đây. Có thể bọn chúng đã đến rất gần.

Chín Quý bình tĩnh nói với mọi người:

- Tất cả các đơn vị về ngay vị trí chiến đấu. Các má và các chị em thông cảm, chúng tôi phải làm nhiệm vụ chiến đấu khẩn cấp. Địch đang tiến từ hướng Tà Teng tới và có thể chúng còn đi theo hướng khác. Các má các chị em trở về phải chú ý để tránh né chúng, theo tôi thì nên rút về hướng Hà Tiên.


Không khí hội hè vui vẻ chấm dứt. Khu rừng trở lại sự yên tĩnh như nó vốn có, chỉ có tiếng gió lá rì rào và tiếng chim hót.

Các chiến sĩ đã vào vị trí chiến đấu. Khẩu trung liên của Năm Dạ đã trực sẵn ở đầu hai con đường mòn gặp nhau. Từ trận địa của mình, anh em đã loáng thoáng thấy những tên địch đang tiến vào bìa rừng... Hai cánh quân địch đang tiến gần tới chỗ hợp điểm, đội hình của chúng đang bị dồn lại. Loạt đạn đầu của Năm Dạ bắn xuyên táo ngã gục hàng chục tên. Cùng một lúc các loại súng của các đơn vị "giáo phái" đồng loạt nhả đạn. Quân địch bị đánh bất ngờ, đứa nằm gục tại chỗ, đứa hoảng hốt chạy tháo lui, dẫm đạp lên nhau. Một hồi lâu chúng mới củng cố được đội hình. Súng cối và đại liên của địch bắn như đổ đạn về phía trận địa của ta, tiếp theo là tiếng la thét đốc thúc của bọn sĩ quan. Bọn lính ngụy lại lò dò, chạy từ gốc cây này sang gốc cây khác, chúng tiến rất chậm chạp. Tiếng súng của quân ta thưa thớt bắn tỉa từng tên địch. Một tên chỉ huy ngụy tỏ ra chủ quan, đứng ra chỗ rừng hoang, hắn vừa nâng cái ống nhòm lên ngang mặt, đã bị một loạt đạn của Năm Dạ quật ngã. Từ lúc tên chỉ huy chết, toàn bộ đội hình địch dừng tại chỗ rất lâu, rồi lại tổ chức những đợt xung phong nhưng chúng vẫn không tiến lên được.

Trận đánh kéo dài đến chiều. Chín Quý chủ động cho toàn đơn vị rút.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 08 Tháng Sáu, 2021, 08:17:34 pm
3

Các đơn vị "giáo phái" cách mạng rút về ém quân ở bờ đìa, ngày hôm sau mới giải quyết xong hậu quả trận đánh. Bảy tử sĩ đã được mai táng chu đáo. Tiểu đoàn Thanh Long kiểm tra lại quân số thấy thiếu trung đội trưởng Năm Dạ. Anh em thay nhau đi khắp rừng, tìm kiếm mấy ngày liền không thấy, mọi người phán đoán: trong lúc rút lui vội vã, Năm Dạ bị thương không ai biết, rồi bị địch bắt.


Thật ra Năm Dạ không bị địch bắt. Khi rút lui, anh bị hai vết thương khá nặng, một vết vào tay, một vết vào chân. Lúc đầu vết thương chưa tấy anh vẫn cố gắng đi thêm được vài trăm mét, rồi tiếp tục bò, cốt sao xa dần tiếng súng của địch đang nổ loạn xạ ở phía sau. Vết thương ra nhiều máu, gây choáng làm anh bị ngất xỉu đi lúc nào không biết. Khi tỉnh dậy thấy xung quanh tối đen như mực. Anh không hiểu tại sao mình lại ở chỗ này. Vài giây sau, anh định thần lại, anh mới nhớ ra cảnh ngộ của mình. Anh quyết định tìm một chỗ tạm nghỉ chờ đợi trời sáng rồi sẽ tính đến việc tìm về đơn vị.


Trời hừng đông. Nhìn thấy đìa nước cách mình vài chục bước chân, mừng quá, Năm Dạ quên cả vết thương ở bắp đùi, anh vùng đứng dậy, chưa kịp đứng vững đã ngã xuống.

Từ lúc nhìn thấy nước, cảm giác duy nhất còn lại ở anh là khát. Anh lại thử chống một bên tay còn lành, nghiến răng cố chịu đau để đứng dậy nhưng vừa đặt cái chân bị thương xuống đất, đã đau nhói tới đỉnh óc. Anh đành cố sức lết ra bò đìa. Uống nước xong, anh không còn đủ sức rời khỏi chỗ nữa, cố sức lắm anh mới xoay được tư thế nằm của mình cho khỏi rơi xuống đìa.


Năm Dạ vẫn còn đủ tỉnh táo để nhận thức cái gì sẽ đến với mình. Chỉ còn một cách chờ người của đơn vị tới đón, nhưng biết lúc nào mới có người của đơn vị mình tới; vết thương mỗi lúc một đau hơn, ngày mai chưa chắc có thể lết đi được nữa. Nghĩ vậy, anh cố bò nhích đi từng phân tới bụi khoai dại gần đó. Anh lấy lá khoai dại đựng nước, buộc túm lại thành từng búi, buộc lên cái cành lá sát mặt mình. Khi cần uống, anh đã có cái ống sậy vót nhọn xuyên vào túi nước, rồi cứ thế uống cho tới hết.


Đến ngày thứ ba những vết thương đã có giòi. Để giết thời gian, và vết thương bớt nhức nhối, anh lấy búp cỏ gay những con giòi béo trắng ra khỏi vết thương của mình.


Mấy ngày không có một hạt cơm vào bụng, nhìn những con giòi Năm Dạ chợt nảy ra ý nghĩ: có thể dùng chúng làm mồi câu được chăng. Anh mở nút túi áo, lấy sợi dây câu, móc cái mồi đặc biệt ấy rồi quang xuống nước. Không phải chờ lâu đã thấy cái phao bị kéo chìm nghỉm, anh giật mạnh lên được một chú cá trê nặng hơn nửa ki-lô. Tạo hóa thật độ lượng với những người gặp cơn hoạn nạn. Năm Dạ vơ đám lá khô quanh mình để nướng cá. Món cá nướng thơm phức. Anh ăn ngấu nghiến ngon lành. Ăn uống xong, anh cảm thấy khoan khoái dễ chịu hơn. Anh lại thả mồi câu tiếp. Ngày nào cũng ăn cá nướng, dù đã chán ứ tới tận cổ, nhưng anh cũng phải cố nuốt để có sức chờ đợi. Nằm ở đây tới ngày thứ sáu, vết thương đã mưng mủ đau nhức, nhiều lần bị ngất và những cơn sốt ngày một kéo dài hành hạ anh.


Cả đơn vị Thanh Long không ai còn hy vọng anh còn sống. Họ đã ngừng công việc tìm kiếm. Cuộc sống lại quay theo nếp bình thường. Hôm ấy, Sâm ra bò đìa kiếm cá, thấy một đàn quạ kêu ầm ĩ, rồi chúng bay sà xuống mặt đất, Sâm nghĩ: "ở đây có lẽ có quạ non, ta thử tới đó xem".


Đàn quạ đang nhảy xung quanh một xác người, thấy Sâm tới chúng bay vù lên cao. Sâm đứng sững lại, dán mắt nhìn vào cái xác người, tim anh đập như trống ngũ liên. Người nào đó mặc bộ bà ba đen, gối đầu lên đám rễ cây không hiểu còn sống hay chết. Nhìn một lúc lâu, Sâm mới nhận ra một vài nét quen thuộc. Bất giác anh kêu lên:

- Anh Năm!

Nghe tiếng người kêu tên mình, Năm Dạ chớp chớp mắt nhìn lên vòm lá, rồi lại khép hàng mi lại. Anh tưởng là mình đang nằm mơ. Lại nghe tiếng người gọi tên mình, không phải một lần mà nhiều lần, lúc này Năm Dạ mới tin rằng mình đang tỉnh.

- Anh Năm! Anh Năm! Em là Năm Sâm đây.

- Sâm ha...

Nói tới đó Năm Dạ xúc động quá, nước mắt chảy tràn. Sâm mừng quá, cứ quýnh lên, không biết phải làm gì, miệng lắp bắp mãi mới nói thành lời:

- Em cứ tưởng... Cả trung đội đi tìm anh mấy ngày liền. Thôi... anh chờ em về gọi anh em ra cáng anh... đơn vị ở gần ngay đây thôi...

Chiếc cáng cáng Năm Dạ vừa đặt xuống đất, anh em trong đơn vị đã chạy ào tới vây xung quanh, ai cũng muốn nói một vài câu để bày tỏ tình cảm của mình. Thế là nỗi nhớ mong thương tiếc đối với Năm Dạ của toàn đơn vị đã được khuây khỏa.


Được trở về với đơn vị, Năm Dạ vui vẻ bội phần. Anh quên hết đau đớn. Có người hỏi:

- Vết thương ở tay anh thế nào? 

Anh cười nói:

- Nếu mang theo con dao, thì tao đã trở thành La Văn Cầu.

Câu nói vui của Năm Dạ làm cho cả đơn vị yên tâm rằng sức khỏe của anh sẽ chóng hồi phục. Mọi người muốn góp sức mình làm một việc gì đó để cho vết thương của anh mau lành. Không chờ ai phân công, mỗi người tự tìm việc, người kiếm quần áo mang tới, người dọn chỗ cho anh nghỉ ngơi, người gánh nước tới tắm cho anh.


Khi tắm rửa xong cho Năm Dạ, y tá Tư Đổng mới thấy vết thương của Nãm Dạ đã bị hoại thư mủ xanh, nếu không phẫu thuật nhanh thì nguy tới tính mạng. Tư Đổng báo cáo với các cán bộ tiểu đoàn:

- Ca phẫu thuật lớn này phải bác sĩ mới làm được, ở đây chúng ta không có đồ phẫu, không có thuốc chống choáng, không có thuốc gây mê, thậm chí thuốc gây tê cũng không có.

Một cán bộ tiểu đoàn nói:

- Ở đây bây giờ cậu là bác sĩ, dùng cưa cây để cưa có được không?

- Cưa xương tay mà dùng cưa cây, sức đâu chịu nổi.

- Dùng cưa cây ta sát trùng cẩn thận... chẳng lẽ ta bó tay chờ thằng Năm nó chết.

- Tôi chưa thấy ai làm như vậy. Tôi không dám làm.

Họ bàn đi tính lại, cuối cùng vẫn đi tới quyết định y tá Tư Đổng phải thực hiện ca phẫu thuật bằng chiếc cưa của thợ mộc.

Cán bộ tiểu đoàn đem việc vừa bàn bạc hỏi Năm Dạ. Năm Dạ trả lời không một giây đắn đo:

- Tôi có thể chịu đựng được tất cả đau đớn.

Hồi ba giờ chiều, ca phẫu thuật được thực hiện. Bốn chiến sĩ khỏe mạnh được trao nhiệm vụ giữ chân tay Năm Dạ, phòng khi đau quá anh giãy giụa. Tư Đổng nghiến răng cưa khúc xương tay của bạn như cưa củi. Năm Dạ cắn vào môi đến tóe máu, nước mắt anh chảy tràn ra, nhưng không hề có một tiếng kêu rên. Có lúc đau đớn quá anh ngất đi giây lát. Nghe tiếng cưa chạy xoèn xoẹt, mọi người đứng ngoài cũng thấy đau nhói tận tim gan mình.


Ca phẫu thuật được thực hiện xong. Sức của Năm Dạ đuối dần, chỉ sau một giờ đồng hồ, anh vĩnh biệt đồng đội. Cả đơn vị khóc thương Năm Dạ - một cán bộ dũng cảm kiên cường cho đến phút chót của cuộc đời mình.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 09 Tháng Sáu, 2021, 07:55:20 pm
Chương hai
VỊ TRÍ "NHỮNG CÂY SÚNG"
1


Chiến thắng Ba Thê - Đìa Ôi gây một tiếng vang lớn, lan truyền trên khắp nẻo kênh rạch của hai tỉnh An Giang và Rạch Giá. Nó trực tiếp tác động tới huyện Châu Thành1 (Huyện Châu Thành A sau đổi tên là Hòn Đất), Hà Tiên, nó thôi thúc tinh thần phấn khởi cách mạng của nhân dân và reo giắc nỗi kinh hoàng cho Mỹ - ngụy. Nó tạo ra sự khởi động cho lịch sử của cả một vùng đất rộng lớn sang trang mới.


Ba Ca lại trở về cương vị cũ - Bí thư Huyện ủy Châu Thành. Anh bắt tay ngay vào việc triển khai Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng. Các cán bộ huyện sau khi quán triệt nhiệm vụ mới, được phân công xuống các xã ấp chuẩn bị tư tưởng tổ chức cho cơ sở bước vào hành động. Chỉ trong một thời gian ngắn, những tổ tự vệ không vũ trang đã chuyển thành các tổ hoặc tiểu đội du kích vũ trang hỗ trợ cho đấu tranh chính trị.


Những năm tháng dài sống trong nanh vuốt tàn bạo của chế độ Mỹ - ngụy hàng ngày diễn ra cảnh chết chóc tù đày, nhân dân ta bị tước quyền chống lại chúng bằng vũ lực, mặc dầu trong huyện thời kỳ đó, đây đó có giết một vài tên ác ôn nhưng vẫn chỉ là hiện tượng cá biệt, không đủ sức răn đe được chúng. Những tên ác ôn như Lâm Quang Phòng, Cái Văn Ngà, Đoàn Giang... vẫn sống nhơn nhơn tự đắc, muốn giết ai thì giết, chúng mổ bụng moi gan tại chỗ những người chúng nghi ngờ là "Việt cộng". Lòng căm giận bọn Mỹ - Diệm chất đầy, không còn đủ sự kiên nhẫn chờ sự lãnh đạo của Đảng, có người dân đã hành động tự phát. Nhân dân xã Nam Thái mãi tới sau này vẫn còn nhắc tới chuyện anh Hai Phuông giết tên trung úy (ngụy) Đoàn Giang như một huyền thoại. "Anh Hai có ý định từ lâu, nên đã làm quen với thằng Đoàn Giang. Anh biết nó có võ giỏi, muốn giết được nó phải lập mưu. Một hôm anh rủ nó tới nhà mình nhậu. Đi theo thằng Đoàn Giang có hai tên vệ sĩ. Anh Hai mời các anh Bất, Xả và Lâu là người bà con cùng dự bữa nhậu. Các anh đã thống nhất kế hoạch hạ thủ tên Đoàn Giang. Bữa nhậu kéo dài từ chín giờ sáng tới bốn giờ chiều. Bọn chúng say bét nhè. Thấy thời cơ đã đến, anh Hai Phuông nâng cốc rượu ngang mặt tỏ ý chạm cốc như thường lệ, nhưng nhanh như cắt, anh ném rất mạnh cái cốc đầy rượu vào mặt tên Đoàn Giang. Bất ngờ bị đánh tối tăm mặt mũi, tên Đoàn Giang không kịp giở võ, nó đã bị anh Hai tước súng, và trói nghiến lại. Trong lúc thằng Đoàn Giang bị đập cốc vào mặt, thì ba anh kia đè hai thằng lính xuống. Xả giật được súng gí vào bụng tên lính, bắn một phát. Một tên vệ sĩ chết lăn bên cạnh mâm nhậu. Trong lúc đó, Xả, Lâu và Bất lúng túng đã để tên vệ sĩ kia chạy mất. Anh Hai định dẫn thằng Đoàn Giang vào rừng để hỏi tội, nhưng nó nhùng nhằng không chịu đi, buộc anh phải nổ súng giết chết nó ngay trong nhà mình. Ngay trong đêm đó, anh em cơ sở cách mạng đã giúp cho vợ con anh Hai Phuông đi sơ tán...".


Việc Hai Phuông dùng mưu giết chết tên ác ôn khét tiếng, có võ giỏi làm cho bà con trong xã hả hê, nhưng ngay sau đó bà con sợ chúng trả thù, nhiều thanh niên phải bỏ trốn vào rừng.

... Từ tâm trạng của chính mình trong việc phải trả súng bọn Hòa Hảo, từ hành động của Hai Phuông và nguyện vọng của quần chúng mà Ba Ca được biết, anh rất tin Nghị quyết 15 sẽ được quần chúng đón nhận nhiệt liệt.


Gần tới ngày đồng khởi (14-9-1960) công việc ở cơ quan Huyện ủy càng bề bộn. Thường vụ Tỉnh ủy cử Hai Thiết, tỉnh ủy viên về tăng cường cho huyện. Ba Ca, Hai Thiết cùng vài đồng chí thường vụ hầu như hàng ngày phải gặp nhau hội ý để giải đáp những vấn đề do nhiệm vụ mới đặt ra. Xã này xin vũ khí, xã kia đề nghị cho phép giết tên trưởng ấp Y ác ôn, tên X làm mật vụ; xã kia nữa xin lực lượng hỗ trợ cho đồng khởi... Và một việc quan trọng nữa thúc bách phải làm ngay là: thành lập địa phương quân. Số cán bộ chiến sĩ của tiểu đoàn Thanh Long vừa được chuyển về huyện đang chờ nhận chỉ thị. Không khí trong khu rừng Đìa Mười Then mỗi lúc một nhộn nhịp, căng thẳng, mọi người đều có tâm trạng giông như những người lính trước giờ nổ súng.


Đêm đồng khởi. Cái giờ phút thiêng liêng được hun đúc bằng bao nhiêu nỗi khổ đau, cái giờ phút bùng nổ của lòng căm thù, cái giờ phút toàn dân vùng lên giành lấy chính quyền về tay mình đã điểm. Trên vùng đồng đất chua phèn, trên những cánh rừng tràm rộng lớn, trên những dòng kinh ngang dọc của huyện Châu Thành như bùng lên một ngọn lửa bất tử, dẫn những đoàn người già, trẻ, gái trai như những dòng thác cuốn phăng đi những ấp "chiến lược", cuốn phăng đi những tổ chức của ngụy quyền mà chúng đã dày công xây dựng. Từ cầu số ba, kéo dài đến Ranh Hạt, tiếng trống mõ, tiếng hô vang như sấm rền, làm cho bọn binh lính ở trong đồn bốt kinh hoàng không dám chống lại.


Mấy ngày đầu bọn ngụy quân, ngụy quyền ngơ ngác chưa hiểu rõ sức mạnh từ đâu bung ra ồn ào dữ dội xung quanh chúng, nhưng cũng chỉ ít ngày sau chúng đã nhận thức được dòng thác người tay không súng ống, vẫn là những người đã từng sống dưới lưỡi lê hà khắc của chúng. Guồng máy đàn áp của chúng lại bắt đầu động cựa rồi trở lại hoạt động bình thường với những công thức quen thuộc. Mũi súng của chúng lại chĩa vào các cuộc biểu tình, cho vào nhà tù những ai bị nghi ngờ là "Việt cộng" và tiếp tục mở những cuộc càn quét đánh phá cơ sở cách mạng... Nhịp độ dòng thác của "đồng khởi” tuy không còn sức cuồn cuộn như trước nhưng đã tạo ra một dòng chảy.


Thường vụ Huyện ủy đánh giá cuộc ''đồng khỏi" thắng lợi to lớn, phá vỡ một mảng lớn ấp "chiến lược" của địch ở nhiều xã, phá vỡ các tổ chức phản động của địch, tạo nên một khí thế cách mạng mới... Mọi người ít nhắc tới mục tiêu "giải phóng toàn huyện, giành chính quyền" ban đầu đã đề ra. Riêng bí thư Ba Ca thầm nghĩ: "Mục tiêu đề ra vượt quá xa khả năng hiện thực". Mãi sau này anh vẫn suy ngẫm rằng vào lúc đó đấy là tư tưởng lạc quan tếu.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 09 Tháng Sáu, 2021, 07:56:04 pm
2

Các "tiểu đoàn giáo phái" được điều động về thành lập đơn vị chủ lực của khu và của tỉnh, đã để lại cho các huyện Hà Tiên và Hòn Đất mỗi huyện một tiểu đội (ở Châu Thành 5 người và 3 khẩu súng trường). Trong những ngày chuẩn bị "đồng khỏi", đã thành lập địa phương quân huyện do Năm Triệu là tiểu đội trưởng, sau ngày "đồng khởi" Ba Trung lên thay. Tiểu đội địa phương quân trực tiếp dưới sự lãnh đạo của Thường vụ Huyện ủy và sinh hoạt cùng cơ quan Huyện ủy. Đòi sống của anh em thời kỳ này rất thiếu thốn. Tối ngủ không có màn, không có chiếu, mỗi người tự tìm một lùm cây kín đáo "chém vè", sáng dậy phải vuốt lại cây cỏ để xóa dấu vết. Ăn uống hàng ngày dựa vào sự giúp đỡ của dân cơ sở cách mạng; mỗi lần xuống xã công tác phải xin gạo, muối mang về. Tiểu đội hoạt động phân tán vào ban đêm, ban ngày trở về căn cứ (trong rừng) nghỉ ngơi và học tập. Sau "đồng khởi" ít lâu, Mỹ - ngụy lại ráo riết củng cố lại guồng máy kìm kẹp, ngoài hệ thống chính quyền các tổ chức phản động như: thanh niên cộng hòa, phụ nữ liên đới, ngũ gia liên bảo... lại tích cực hoạt động. Chúng dùng biện pháp cưỡng bức và lừa phỉnh buộc mọi người phải theo dõi lẫn nhau.


Ban đêm nếu có người lạ vào nhà phải hô hoán và đánh mõ báo động, ngày hôm sau phải báo cáo với ấp trưởng, nếu không tự báo để người khác cáo giác thì khó tránh khỏi bị bắt bớ tù tội.

Một lần giữa đêm mưa tầm tã, một tổ của tiểu đội địa phương quân về xã Sóc Sơn xây dựng cơ sở. Anh em vào nhà ông Năm Tảng, chú ruột của Ba Trung.

Vừa nghe thấy tiếng chó sủa ỏ trước sân, ông Năm đã vùng dậy gõ mõ báo động.

Ba Trung vào, gọi qua khe cửa:

- Chú Năm... chú Năm con là thằng Tòng đây.

Có tiếng thằng nhỏ con ông Năm Tảng:

- Ba ơi! ... Anh Ba về đó... Ba ơi! Anh Ba về.

Tiếng mõ rộ lên một hồi nữa, ông Tảng mới quẳng cái dùi xuống đất, rồi nhón chân bước ra, nhìn qua khe cửa.

Ba Trung gọi một lần nữa:

- Chú Năm... con là thằng Tòng đây. Chú không tiếp con, con hết gạo rồi con sẽ chết đói mất thôi.

Ông Năm Tảng khẽ mở cửa, vừa nói được hai tiếng "thằng Ba...” ông đã khóc nấc lên:

- Thằng Ba đấy ư... Ba con chết, chú không làm sao mà tới được...

Ở trong nhà, bà Năm Tảng vội vã xúc hai túi gạo và bọc một bọc muối, mang tới dúi vào tay Ba Trung. Bà Năm sợ hãi nói không ra hơi:

- Đi đi con... ở đây lâu nguy hiểm lắm.

Năm Biên nói với ông Năm Tảng:

- Chú Năm... chú xem ở đây những ai thương Việt Minh, những ai trung thành với quốc gia. Chú giúp chúng con việc này.

Ông Năm Tảng nói gạt đi:

- Tôi không dám làm... tôi xin các ông. Anh ruột tôi chết, sợ liên quan với các ông tôi không dám tới...

Chờ cho Năm Biên đứng tách ra vài bước, ông Năm Tảng nói nhỏ với Ba Trung:

- Thằng Hên nó ác lắm. Thôi mày đi cũng như tao đi.


Vài đêm sau tổ của Ba Trung móc nối được với các ông Ngô Văn Phú, ông Nguyễn Văn Rớt cũng là người cùng ấp. Ông Rớt móc nối ông Năm Tảng trở thành cơ sở tốt của xã. Cơ sở đó đã phát triển rất nhanh. Tư Thành mười tám tuổi con trai ông Năm Tảng đã trở thành một cán bộ đoàn tích cực, chỉ trong khoảng năm sáu tháng Tư Thành đã tổ chức được ba mươi thanh niên vào đoàn. Số đoàn viên ấy đã tuyển vào bộ đội và cơ quan huyện được hai mươi người.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 09 Tháng Sáu, 2021, 07:56:47 pm
3

Tới cuối năm 1960, địa phương quân huyện và du kích các xã tích cực diệt trừ ác ôn hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị mạnh mẽ hơn. Cơ sở cách mạng ở các xã trong toàn huyện được củng cố vững chắc và đều khắp, nhiều xã đã tạo ra những "mảng lõm", những căn cứ công khai làm nơi trú chân của bộ đội và cán bộ.


Địa phương quân huyện đã phát triển thành một trung đội, do Chín Đen là trung đội trưởng, Minh (Bụng) là trung đội phó kiêm tiểu đội trưởng tiểu đội một, Tư Tho trung đội phó kiêm tiểu đội trưởng tiểu đội hai, Ba Trung tiểu đội trưởng tiểu đội ba. Cả trung đội có bảy khẩu súng trường, số người còn lại mang mã tấu.


Lần đầu tiên trung đội được giao nhiệm vụ đánh giao thông trên đường Rạch Giá - Hà Tiên. Trận địa phục kích được chọn gần cầu số 3. Thường vụ Huyện ủy trực tiếp chỉ đạo, lấy phương châm "súng ít đánh theo kiểu cách súng ít". Kế hoạch rất giản đơn: chờ địch đi tuần trên tuyến lộ trở về chúng chủ quan, ta bắn chặn, buộc xe của chúng chạy chậm lại, lúc đó ta lao ra hai cây chuối lớn để xe của chúng bị lật, hoặc chúng dừng lại, lúc đó ta xung phong lên đánh giáp lá cà, cướp súng.


Tám giờ tối hôm đó anh em đã chiếm lĩnh trận địa xong, chờ mãi tới khuya mới thấy đèn xe lấp loáng. Chúng vào tầm bắn, anh em nổ súng theo kế hoạch. Địch bắn trả vào trận địa ta, nhưng xe của chúng vẫn giữ nguyên tốc độ. Tổ lao cây chuối do Tư Thảnh phụ trách không hoàn thành nhiệm vụ. Xe địch chạy mất. Trận đầu ra quân của địa phương quân thất bại. Ta hy sinh một và bị thương hai người. Trở về rút kinh nghiệm trận đánh, do một đồng chí thường vụ Huyện ủy trực tiếp chủ trì, đồng chí thường vụ nghiêm khắc đặt một câu hỏi:

- Tại sao không lao cây chuối chặn xe chúng lại?

Tư Thảnh có dáng người to cao như hộ pháp, đứng run bắn, ấp úng nói:

- Nó bươn nhanh quá, tôi sợ nó cán lên người.

Đồng chí thường vụ phê phán:

- Như vậy là chưa căm thù giai cấp, phải trả đồng chí về địa phương.

Tư Thảnh vừa khóc vừa nói van nài:

- Nếu phải tội đáng bắn thì bắn chết tôi ngay ở đây, đừng bắt tôi phải trở về nhà, tôi xin rút kinh nghiệm trận đánh sau sẽ làm tốt hơn.


Sau khi rút kinh nghiệm, địa phương quân lại tổ chức một trận đánh khác. Trận đánh này họ ém dưới chân cầu, để bắn ngược lên vào sườn xe với hy vọng làm như thế chặn được xe địch lại. Cũng như lần trước, anh em đã phục sẵn chờ đợi. Phát hiện có xe địch, Sáu Kía nổ phát súng lệnh, chẳng may đạn lép. Xe địch đi gần tới nơi, anh em mới nổ lẹt đẹt được mấy phát đạn, thì xe địch chạy vụt qua. Thế là lại thêm một trận đánh nữa không thành công. Trận đánh này không có ai đáng trách. Khi rút kinh nghiệm thường vụ Huyện ủy thấy ra một nguyên nhân rằng: tất cả anh em, kể cả người chỉ huy đều thiếu kiến thức quân sự. Muốn khắc phục nhược điểm đó ngoài việc rút kinh nghiệm phải cử ngay cán bộ đi học quân sự.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 10 Tháng Sáu, 2021, 07:35:48 pm
4

Nam Thái Sơn là xã có phong trào cách mạng vững vàng, cả thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Nam Thái Sơn luôn luôn là căn cứ của huyện và tỉnh. Từ sau Hiệp nghị Giơ-ne-vơ (1954) trong khu vực giáp ranh giữa Rạch Giá với An Giang, xã Nam Thái Sơn trở thành đối tượng chủ yếu của địch, chúng tập trung lực lượng đánh phá triền miên. Đến cuối năm 1959, số đảng viên cũ thời "chín năm" ở xã coi như chấm dứt vai trò lịch sử của mình.


Tháng 10 năm 1959 Tám Lai vừa hết thời gian đảng viên dự bị, mới mười bảy tuổi làm bí thư chi bộ, đánh dấu một bước ngoặt lịch sử của xã Nam Thái Sơn.


Những năm Mỹ - ngụy thực hiện cuộc "Chiến tranh đặc biệt", số người Nam Thái Sơn bị bắn giết tù đày nhiều nhất trong huyện, nhưng nhân dân trên mảnh đất đầy đau thương này vẫn giữ vai trò nòng cốt trong đấu tranh chính trị, và là cơ sở che giấu nuôi dưỡng "tiểu đoàn Thanh Long".


Tháng 3 năm 1961 tiểu đội du kích công khai của xã thành lập ở rừng tràm Nam Thái. Ngày lễ ra mắt có đông đủ đại biểu của huyện và các xã bạn. Tiểu đội gồm bảy người: Tám Lai, Tư Quang, Cường, Hoàng, Hào, Hoài, Nga; do Tư Quang là tiểu đội trưởng, Hoàng là tiểu đội phó. Cả tiểu đội có ba khẩu súng trương "oẳn tầm sào”. Ban chỉ huy xã đội cũng được thành lập cùng thời gian với đội du kích, Tám Lai được cấp trên chỉ định là xã đội trưởng kiêm chính trị viên xã đội.


Sinh hoạt của anh em du kích gặp rất nhiều khó khăn. Lương thực nhân dân cung cấp chỉ đủ ăn mười lăm ngày trong một tháng, số ngày còn lại anh em phải ăn trừ bữa rau muống, ngó súng và các thứ rau dại... Mỗi người không đủ một bộ quần áo, thường ngày đi hoạt động phải mặc quần xà lỏn, có người phải ở trần. Tối ngủ không có mùng mền, phải cởi truồng rồi chui vào cái nóp để chống muỗi. Nhiều lần các má chiến sĩ và chị em phụ nữ tới thăm, anh em không có quần áo phải chạy trốn vào trong bụi cây.


Nhân dân trong xã biết con em mình sống thiếu thốn, nhưng những năm tháng sống trong cái trại tập trung trá hình có cái tên mỹ miều "khu trù mật", đời sống của bà con đã kiệt quệ, nên chẳng làm sao khác được.


Dù gian khổ thiếu thốn, cũng không cản nổi tinh thần tiến công của những chiến sĩ du kích trẻ măng đầy hận thù kẻ địch. Ngay sau ngày thành lập, họ đã phân công nhau xuống các ấp, diệt ác phá kềm xây dựng cơ sở, với quyết tâm giải phóng Hòn Me, Hòn Sóc và kinh Tám Ngàn trong năm 1961. Quyết tâm ấy của họ đã trở thành hiện thực.


Bọn ngụy vừa tức giận vừa lo sợ trước hiện tượng du kích Nam Thái Sơn xuất hiện. Bọn tề điệp tay chân tai mắt của chúng luôn luôn bị mất tích hoặc bị xử tại chỗ. Chúng liên tiếp mở những cuộc càn quét với mục đích tiêu diệt du kích, mỗi lần chúng vào xã không bao giờ được đối mặt với du kích nhưng lần nào cũng bị bắn lén, hoặc sa vào hầm chông một vài tên.


Một lần, khoảng một đại đội địch hành quân từ "khu dinh điền” Kinh Tám càn lên cây số 14 kinh xáng Nam Thái. Bọn chúng vừa ló ra khỏi "khu dinh điền", nhân dân trong ấp đã báo cho du kích, cùng lúc đó bà con trong ấp gõ mõ, gõ thùng, chậu, gọi loa uy hiếp tinh thần địch.


Tiểu đội trưởng Tư Quang dẫn đầu tiểu đội, từ trong rừng vận động qua cánh đồng trông ra bờ kinh. Họ lợi dụng những nền nhà cũ bố trí trận địa. Một ông nông dân nhà ở gần đó tới động viên: "Các chú cứ bình tĩnh, bắn chúng chết vài thằng nhất định chúng nó dông".

Trên con đường độc đạo, bọn lính ngụy chủ quan vác súng đi ngông nghênh như đi chơi chợ.

Tư Quang hạ lệnh cho tiểu đội: "Chờ cho chúng vào khoảng mười, mười lăm mét mới nổ súng". Thực hiện đúng lệnh của tiểu đội trưởng, ngay loạt đạn đầu anh em đã quật ngã bốn tên. Trận đánh kéo dài khoảng một tiếng rưỡi đồng hồ. Du kích đã bắn chết mười một tên, bị thương sáu tên, buộc chúng phải lôi xác nhau, rút chạy.


Đây là trận chống càn lần đầu tiên (khoảng tháng 6 năm 1961) của lực lượng vũ trang toàn huyện. Du kích xã Nam Thái Sơn đã giành được thắng lợi rất tốt đẹp.

Ngay sau khi ngừng tiếng súng, tin chiến thắng đã loan truyền từ ấp này sang ấp khác. Và những áp-phích, khẩu hiệu "hoan nghênh du kích xã ta đánh giặc giỏi..." được dán la liệt các nơi. Ít ngày sau Huyện ủy, Huyện đội đã tổ chức cho cán bộ quân sự các xã của toàn huyện tới họp tại Nam Thái Sơn để rút kinh nghiệm trận đánh.


Cả tiểu đội du kích Nam Thái Sơn không có ai tới hai mươi tuổi. Họ sống rất vui tươi lạc quan, trong căn cứ rừng tràm khi họ đi hoạt động trở về là vang lên tiếng hát tiếng cười. Tư Quang vốn là học sinh trung học ở thành phố về, biết ít nhiều nhạc lý, anh đã sáng tác những ca khúc ngắn cho anh em hát. Hoài rất thích múa điệu lăm thôn, Tám Lai, Hoàng... đều là những thanh niên ham ca hát. Tiểu đội du kích trở thành một cực có sức hút thanh niên toàn xã. Mỗi lần biết du kích trở về "cứ", là các cô gái, kể cả những người còn ở trong "khu trù mật" cũng tìm đến và mang theo một món quà gì đó. Kinh Năm có các cô Xuân, Gái, Hứa, Muộn; Kinh Ba có các cô Bảy, Cúc, Hai Sửu, Tư Cương, Út Xuân, Năm Nhật, Năm Cam, Sáu Nga; Kinh Tư có các cô Sáu Lạc, Ba Ý, Ba Nhự, Năm Tuất, Hai Quán... và nhiều chị em ở các kinh khác là những người quan tâm chăm sóc động viên anh em du kích, mỗi lần có đông chị em đến là khu rừng tràm trở nên không khí hội hè.


Cuộc gặp gỡ các bạn bè trai gái, Tám Lai bao giờ cũng là chàng trai hấp dẫn mọi người. Phần vì Tám Lai đẹp trai, thông minh, hóm hỉnh, phần sâu xa hơn là những thành tích của xã hai năm qua gắn liền với tên tuổi của người bí thư chi bộ trẻ măng ấy.


Sau những phút vui vẻ quên đời, họ không quên vị trí nghiêm túc của người chiến sĩ. Tám Lai và Tư Quang nghiên cứu sáng tạo các loại hầm chông cạm bẫy để diệt địch. Tiểu đội du kích cùng với nhân dân trong xã đã đào hàng trăm hầm chông đón các nẻo đường địch có thể càn tới. Nhiều cuộc càn, địch đã bị hầm chông ngăn chặn, nhiều tên địch đã vĩnh viễn nằm dưới hầm chông. Có lần một tên ngụy rơi xuống hầm chông, chúng phải khênh về tới tận Rạch Giá mới nhổ chông ra được.


Tinh thần chiến đấu mưu trí táo bạo, vận dụng linh hoạt các cách đánh trong chống càn, diệt ác đã làm cho tiếng tăm của Tám Lai và đội du kích Nam Thái Sơn khiến kẻ thù kiêng nể.


Tuổi trẻ đôi khi vui vẻ quá trớn, không phân biệt việc nghiêm túc với sự đùa nghịch. Chính vì sự không phân biệt ấy, Tám Lai đã phải trả giá khá đắt.

Một lần anh em bắt được tên Hải, là mật vụ của địch. Con hắn là Phong và hắn đã nhiều lần chỉ chọc phá cơ sở cách mạng. Tám Lai bắt hắn ngụp lặn dưới một hố bùn, khi hắn lên bò, anh đưa cho hắn một cái gương và cái lược, bắt hắn soi gương chải đầu. Anh em du kích đứng quây xung quanh xem như xem một con thú làm xiếc. Mỗi lần hắn thực hiện mệnh lệnh của Tám, họ lại cười như nắc nẻ.


Tám Lai hỏi tên Hải:

- Mầy nhìn trong gương, thấy mặt mầy có đẹp không?

- Thưa ông xấu lắm ạ.

- Đúng mặt một tên gián điệp phải không?

- Dạ.


Mặt tên Hải láng một lượt bùn mỏng, những vệt nước kéo từ trên trán xuông thành những đường kẻ so le trắng mờ trông đến ngộ giống như cái mặt nạ.

Tám Lai hạ lệnh:

- Mầy thử cười xem có đẹp trai không nào?

Tên Hải nhe răng như con khỉ làm trò. Thế là cả tiểu đội du kích lại ôm bụng cười.

Câu chuyện Tám Lai mang tên Hải ra làm trò đùa, trả thù theo lối trẻ con đã đến tai anh Th, huyện ủy viên phụ trách binh vận. Cùng trong khoảng thời gian này xảy ra một việc khác. Tám Lai giao cho em ruột mình mới mười ba tuổi mang lưu đạn vào Tri Tôn giết một tên ác ôn. Chẳng may thằng nhỏ bị bắt. Ngay sau khi thằng nhỏ bị bắt, địch lùng bắt một số cán bộ cơ sở. Không rõ có phải do thằng nhỏ khai báo hay sự ngẫu nhiên trùng hợp, nhưng khi báo cáo với Thường vụ Huyện ủy, anh Th, đã gộp cả lại một mớ và đặt một câu hỏi mơ hồ: "Tám Lai có phải người của địch gài vào nội bộ ta không?". Từ đó Tám Lai bị đình chỉ công tác và Huyện ủy triệu về "Hòn" để chờ xử trí kỷ luật.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 10 Tháng Sáu, 2021, 07:36:59 pm
5

Xã Mỹ Hiệp Sơn - nơi mảnh đất gieo hạt giống "đỏ" đầu tiên của huyện Hòn Đất. Ngay từ ngày thành lập Đảng (3-2-1930), nơi đây đã có sự hoạt động của Đảng. Năm 1941 đã có tự vệ phản đế và nhiều tổ chức quần chúng khác, tham gia cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ. "Làn sóng đỏ" đó lan rộng ra khắp huyện Châu Thành và các huyện khác trong tỉnh Rạch Giá. Tới thời kỳ kháng chiến chống Pháp, sang thời kỳ chống Mỹ, cứu nước xã Mỹ Hiệp Sơn vẫn là một xã vững vàng giữ vững truyền thống của mình.


Năm 1962 xã Mỹ Hiệp Sơn thành lập tiểu đội du kích có bốn khẩu súng trường, do Lương Văn Hoóng là xã đội trưởng, Nguyễn Văn Hanh là xã đội phó kiêm tiểu đội trưởng. Ngay sau khi thành lập, du kích đã hỗ trợ đắc lực cho quần chúng nổi dậy phá ấp chiến lược Kinh Hãng, và cùng với du kích Nam Thái Sơn phá ấp chiến lược Kinh Tam. Từ năm 1962 đến đầu năm 1963 tiểu đội du kích đã phối hợp với các đơn vị chủ lực tỉnh, khu đánh nhiều trận đặc biệt là trận kinh xáng Ba Thê, tiểu đội đã thu được năm khẩu súng (hai trung liên).


Khoảng cuối tháng Giêng năm 1963, xã thành lập trung đội du kích có 20 khẩu súng (có khoảng 2 tiểu đội). Những thanh niên ngày hôm trước, nhìn hành động tàn bạo của kẻ thù lòng đầy căm giận nhưng bất lực, hôm nay được nhân dân trao khẩu súng, người nào người nấy khao khát được giáp trận với kẻ thù. Trong lúc tập luyện, trong lúc công tác vận động quần chúng, tâm tư của họ luôn luôn hướng tới một trận đánh. Một hôm (3-1963), được tin nhân dân báo bọn địch rất đông đang tiến từ xã Vọng Thê (An Giang) về phía đồn Thầy Giáo.


Đêm hôm qua xuống công tác xây dựng cơ sở về, nhiều anh em còn đang ngủ, anh Cầm, bí thư chi bộ xã hội ý chớp nhoáng với ban chỉ huy xã đội:

- Địch đang tiến về xã ta...

Xã đội trưởng Hoóng vừa được gọi dậy, còn đang dụi mắt, nghe Cầm nói tới đó, anh nói xen ngang:

- Chúng tới đâu rồi, sao không báo động?

- Còn xa. Chúng vừa ra khỏi Vọng Thê.

Hoóng giục xã đội phó Hanh:

- Hoóng ra báo cho anh em, tất cả sẵn sàng chiến đấu.

Cầm nói tiếp:

- Mới có tin địch rất đông, không rõ bao nhiêu, nếu chúng ta chặn đánh thì tổ chức chỉ huy như thế nào, vì trận đánh này là trận chống càn của xã ta, phải nắm chắc phần thắng.

Hoóng bộc lộ tình cảm sôi sục:

- Dứt khoát phải đánh, phải chặn chúng lại. Việc chỉ huy đánh như thế nào tôi xin chịu trách nhiệm. Thời gian khẩn trương rồi, tôi cho hành quân ngay bây giờ. Nếu chiến đấu kéo dài thì các đồng chí tổ chức tiếp tế việc ăn uống cho anh em.

Cô Sáu Hoa (tên thường gọi là Sáu Nhỏ hoặc Sáu Bắc), phó bí thư chi bộ nói với Hoóng:

- Cho tôi cùng đi chiến đấu với các đồng chí.

- Thôi bà ơi. Bà cứ ở phía sau lo hậu cần cũng không ít việc đâu.

- Tôi muốn trực tiếp chiến đấu.

Hoóng không để ý tới câu nói của Sáu Bắc nữa, anh chạy vụt tới chỗ anh em đang tập hợp. Chưa kịp phổ biến kế hoạch, anh đã hô "chạy theo tôi", vừa chạy Hoóng vừa nói với Ba Hanh và Sáu Mới:

- Phương án đánh thế này: Tao cho một tiểu đội tới ém ở chỗ đống rơm Lũng Môn, chúng mày cho một tiểu đội sang bờ tây kinh nước, bờ phía đông đã có hai tổ du kích ấp ở đó rồi. Để địch tới gần mới nổ súng. Phải quyết tâm chặn kỳ được không cho chúng vô ấp.    Kế hoạch tác chiến gọn lỏn chỉ có chừng ấy. Phổ biến xong, Hoóng dẫn một tiểu đội về hướng đã định.


Đến đầu ấp Năm, Sáu Mới cho tiểu đội dừng lại, tìm vị trí chiến đấu. Ba Hanh cùng một tổ ra ngoài ấp trinh sát. Lần đầu tiên họ chiến đấu ban ngày theo kiểu dàn trận đối mặt với địch, nhiều chiến sĩ lúng túng, nằm chỗ nào cũng thấy chưa yên tâm, nhưng thấy địch tới gần rồi, họ cũng phải tự bằng lòng với vị trí mình lựa chọn.


Xã đội phó Sáu Mới nhìn dọc theo bờ kinh, thấy nhân dân sơ tán kẻ gồng người gánh từ phía Vọng Thê đến, đội hình địch còn cách xa những người gồng gánh vài trăm mét.

Một lát sau xã đội phó Ba Hanh cùng một tổ trinh sát trong đám hỗn độn của bà con sơ tán tách ra, đến gặp Sáu Mới.

Ba Hanh vừa nói vừa chỉ tay về phía trước:

- Bắn đi!

Sáu Mới xua tay:

- Hãy để cho nó vô gần chút nữa.

Bọn lính ngụy vác súng đi ngông nghênh, tới cách ấp Năm khoảng hai trăm mét, chúng nằm rạp xuống bờ kinh rồi bắn như đổ đạn vào ấp. Du kích bị mất thế chủ động bất ngờ, anh em không ngóc đầu dậy được dưới các loại súng liên thanh của chúng mất khoảng một chục phút, rồi mới bắn trả lại được. Lập ngắm bắn, bị vướng xạ giới, anh hăng máu bật dậy đứng bắn. Anh bình tĩnh nổ từng phát một nhằm vào tên chỉ huy đang ngồi xổm bên cạnh chiếc máy bộ đàm và tổ đại liên của địch bên bờ kinh. Bắn được ba phát thì Lập bị trúng đạn, hy sinh.


Phía Lũng Môn, bộ phận của Hai Hoóng bắn rát vào sườn địch làm cho chúng phải đối phó cùng một lúc với hai hướng. Gần một giờ đồng hồ mà đội hình của chúng không nhích lên được một bước.

Trận đánh kéo dài khoảng hơn một tiếng đồng hồ, mỗi tiểu đội du kích đã có thương vong một hai người, anh em chủ động rút kết hợp ngăn chặn địch từng bước.

Thấy tiếng súng của du kích thưa dần, quân địch mới dám tiến vào ấp Năm, lục soát một hồi rồi rút.

Lần đầu tiên (trong chống Mỹ) du kích Mỹ Hiệp Sơn chiến đấu chống càn. Trận đánh đã bộc lộ nhiều nhược điểm: trình độ chiến thuật, kỹ thuật của họ quá thấp và công tác chuẩn bị mọi mặt chưa tốt. Sau trận đánh nhiều anh em hoang mang thiếu tin ở sức chiến đấu của mình.


Cấp ủy và ban chỉ huy xã đội họp kiểm điểm rút kinh nghiệm, thấy rõ nhược điểm, khuyết điểm của mình và đề ra kế hoạch khắc phục. Ngay sau đó xã huy động hàng trăm dân công đào công sự lập làng chiến đấu. Ở các hướng địch có thể càn tới xây dựng chiến hào, giao thông hào. Từ đó nhiều cuộc càn của địch đã bị du kích ngăn chặn ở phía ngoài ấp. Có trận địch từ Vọng Thê xuống khoảng một tiểu đoàn tấn công vào ấp Năm, chúng xung phong tới 20 đợt, trận đánh kéo dài suốt một ngày, địch vẫn không đột phá được vào trận địa của du kích. Những trận đánh thắng, càng làm cho đội du kích vững tin ở sức mình và ngày càng củng cố được niềm tin của nhân dân.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 10 Tháng Sáu, 2021, 07:37:32 pm
6

Vị trí của lực lượng vũ trang trong xã đóng một vai trò quyết định trong việc giữ vững vùng giải phóng và hỗ trợ mạnh mẽ cho đấu tranh chính trị. Nhân dân trong xã Mỹ Hiệp Sơn mở rộng các hình thức đấu tranh khôn khéo và quyết liệt hơn. Một lần bọn cảnh sát ngụy vào ấp bắt lính, chúng bắt được tám thanh niên. Mấy chục bà già và chị em phụ nữ kéo theo chúng tới tận cầu số hai, trên lộ 80, đòi thả con em mình. Chị Kim Phụng (Hai Hô) là cán bộ phụ nữ xã cũng ở trong đám đông ồn ào ấy. Kim Phụng rỉ tai với mấy phụ nữ khỏe mạnh: "Phải gây chuyện đánh lộn với chúng, để cho anh em chạy trốn". Chị em đều tỏ tinh thần sẵn sàng tham gia nhưng không ai tình nguyện gây chuyện với chúng. Kim Phụng tự nghĩ: "mình phải làm việc đó". Trong cái đội ngũ hỗn độn chị em phụ nữ gần như quây lấy bọn cảnh sát, người khóc lóc kể lể nỗi khổ do chiến tranh gây ra, người cãi lý với một tên cảnh sát nào đó. Kim Phụng thấy bọn chúng sơ hở, chị đi sánh ngang với một tên, bất ngờ chị ngáng chân hắn, đồng thời đẩy vào lưng làm hắn ngã sấp, Kim Phụng nhanh nhẹn đè trên lưng hắn rồi hô hoán. Ngay lúc đó chị em khác cũng xông tới ôm chặt lấy những tên khác. Năm tên cảnh sát đã bị chị em phụ nữ giữ chặt, chúng không kịp hành động gì.


Số thanh niên bị bắt lính thấy có cơ hội để chạy trốn, nhưng tay họ bị chúng trói giằng với nhau, đang lúng túng chưa biết làm cách gì để cởi trói, thì một bà già đã mượn được con dao của nhà dân bên lề đường mang tới cắt dây trói. Trong lúc bọn cảnh sát đang cố gỡ ra khỏi những cánh tay của chị em phụ nữ, số thanh niên bị bắt lính đã bơi qua sông về ấp.


Khi mấy tên cảnh sát vùng ra khỏi cánh tay mềm yếu của chị em, chúng mới hiểu chuyện gi vừa mới xảy ra. Chúng vội vàng chạy sục vào chỗ này, chỗ kia để tìm số thanh niên vừa chạy trốn.


Sau khi thả bọn cảnh sát ra, chị em phụ nữ mỗi người chạy tản một hướng vào các gia đình mình quen, tạm né tránh.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Sáu, 2021, 07:33:56 pm
7

Địa phương quân huyện, sau hai trận đánh giao thông không thành công, tiếp sau đó vài trận phục kích nữa bị lộ, anh em thiếu lòng tin tưởng vào cấp chỉ huy và lãnh đạo, hơn thế, còn nghi ngờ nội bộ có gián điệp.


Một đơn vị vũ trang trình độ kỹ thuật, chiến thuật chưa được rèn luyện, mà nhiệt tình của họ bị giảm sút, thử hỏi họ sẽ làm được gì. Ban Thường vụ Huyện ủy tỏ ra lo lắng, làm mọi việc để vực trung đội địa phương quân lên, mỗi trận đánh dù chưa thành công, cũng được rút kinh nghiệm sâu sắc. Quan tâm tới đời sống tinh thần vật chất của anh em. Cử cán bộ lên tỉnh, quân khu học các lớp quân sự...


Mọi việc cần làm, cho địa phương quân vững vàng hơn Thường vụ Huyện ủy đã làm tất cả, chỉ còn một trận đánh thắng. Chỉ có trận đánh thắng mới có sức thuyết phục người lính tự tin vào sức mạnh của mình, ngược lại mọi việc làm khác sẽ biến thành con số không.


Đầu năm 1963 công binh của huyện tự sản xuất ra được ba quả mìn đánh xe cơ giới. Đúng là của quý hiếm đối với huyện. Anh em nhìn quả mìn tròn giống cái nồi nhôm loại nấu đủ năm người ăn, cũng gởi gấm chút niềm tin: "của này mà nổ tung lên thì xe nào cũng đi đứt". Nhưng họ cũng chỉ phỏng đoán như vậy, chứ ai đã dùng nó bao giờ mà biết.


Thường vụ giao cho trung đội địa phương quân và xác định nhiệm vụ, đánh lần này phải nắm chắc phần thắng mới đánh. Mục tiêu trận đánh phải diệt kỳ được tên đại úy trưởng chi khu Tri Tôn. Công tác chuẩn bị được triển khai khá chu đáo. Tổ quân báo nắm rất chắc quy luật đi lại của tên đại úy Hiển. Ba Trung được giao chỉ huy trận đánh, anh tự đi trinh sát địa hình chọn nơi đặt mìn rồi lên phương án.


Tên Hiển thông thường vào chiều thứ bảy đi chiếc xe "jeep" về với vợ ở Rạch Giá, sáng sớm thứ hai hắn trở lại Tri Tôn. Ba Trung chọn điểm đánh cách thị trấn vài trăm mét, thời gian đánh vào sáng thứ hai, lúc hắn vào gần tới thị trấn rồi dễ sinh tư tưởng chủ quan.


Đúng như tính toán của Ba Trung, sớm thứ hai chiếc xe "jeép" của thằng Hiển chạy về bị trúng mìn lật nghiêng sang bên lề đường. Bà con thị trấn Tri Tôn kể lại: "Bọn đi trong xe chết sạch", trong đó có Lữ Hòa, một tên ác ôn khét tiếng, đã mổ bụng moi gan hàng trăm người. Riêng thằng đại úy Hiển bật ra ngoài xe, bị thương nặng. Hắn đang bò lồm cồm, nhìn thấy một con lợn, hắn hoảng hốt giơ tay lên trời rồi nói: "Con xin đầu hàng, các ông đừng bắn...". Từ đó thằng Hiển phát điên".


Trận đánh thắng trở thành tiếng nói kỳ diệu khích lệ mọi người, không riêng đối với địa phương quân, các cán bộ lãnh đạo của huyện cũng phấn khởi tin tưởng ở anh em hơn.

Kế trận đánh tên đại úy Hiển ít ngày, Thường vụ Huyện ủy lại nhận được tin: có một tên đại úy Mỹ là phái viên của vùng bốn chiến thuật (ngụy) tới kiểm tra vùng Châu Thành - Hà Tiên. Hắn thường qua lại trên đường 80, Ba Ca, bí thư Huyện ủy nói với huyện đội trưởng Chín Đen:

- Trận này phải giao cho Ba Trung.

- Ba Trung nó vừa nghỉ phép để chuẩn bị cưới vợ.

- Động viên nó tạm hoãn lại, nghỉ phép sau trận này.

Ba Trung mới nghỉ được một ngày phép đã có lệnh của huyện đội gọi về. Ba Ca và Chín Đen gặp Ba Trung trao đổi về tình hình chiến trường và động viên anh nhận nhiệm vụ chỉ huy trận đánh mới.

Đoạn đường từ Sóc Xoài tới Tri Tôn, Ba Trung thuộc như lòng bàn tay. Ba Trung trình bày phương án:

- Qua kinh nghiệm trận đánh trước, khi mìn nổ địch hoang mang không kịp phản ứng, nếu ngay lúc đó ta xung phong lên thu vũ khí vẫn còn đủ thời gian. Trận đánh này tôi chọn địa điểm ở Đập Đá cách bốt địch khoảng trăm mét, tôi cho đặt ba quả mìn theo kiểu nanh sấu, xe nó đi qua không dính quả này sẽ dính vô quả kia. Khi mìn nổ là phải xung phong lập tức, nhất định sẽ ăn.

Ba Ca và Chín Đen đồng ý với quyết tâm của Ba Trung, mỗi người bổ sung thêm vài ý kiến về công tác chuẩn bị và những tình huống không thuận chiều giải quyết như thế nào.

Tối hôm ấy Ba Trung dẫn trung đội tới thực địa phổ biến nhiệm vụ. Anh dẫn các tiểu đội trưởng lên mặt đường chỉ vào từng điểm sẽ chôn mìn. Chôn mìn xong, họ ém trong các bụi rậm.

Nằm chờ đợi suốt ba ngày ròng rã, tai và mắt họ lúc nào cũng căng ra để theo dõi tình hình địch, vẫn không thấy một chiếc xe nào chạy qua. Ba Trung suy nghĩ: chẳng cần phải dùng sức của cả trung đội, nếu để anh em ở lại hàng ngày ăn cơm nắm, cá khô và nhịn khát sẽ ốm hết. Anh quyết định lựa chọn hai người ở lại với mình thành một tổ, còn lại cho rút về căn cứ.


Ba anh em ngồi trong bụi đế, chịu đựng thêm một ngày nắng, khát cháy họng. Mãi tới chiều mới nghe thấy tiếng xe từ hướng Tri Tôn vọng tới. Ba Trung nhắc hai chiến sĩ chuẩn bị.

Một chiếc xe vận tải GMC chở đầy lính tiến mỗi lúc một gần trận địa. Năm Thắng cầm hai đầu dây điện chờ đợi. Bánh chiếc xe vừa chồm lên quả mìn, lập tức một tiếng nổ dữ dội hất chiếc xe quay ngược chiều nó vừa chạy, rồi lật nghiêng xuống vệ đường.


Ba Trung hô "xung phong", đồng thời chạy vụt lên, như người chạy thi, anh không để ý bất kể cái gì ngoài cái xe nằm nghiêng trước mặt. Đến nơi bên cạnh chiếc xe, bọn lính ngụy nằm chồng chất lên nhau, thằng chết thằng còn ngoắc ngoải, súng ống văng ra xung quanh, Ba Trung vội nhặt những khẩu súng vác lên vai cho tới khi không còn đủ sức vác nữa anh mới rời khỏi trận địa. Đi được ba bốn trăm mét, Ba Trung mới thấy tiếng súng liên thanh trong bốt Đập Đá bắn đuổi theo và lúc này anh mới biết vừa rồi mình xung phong lên có một mình.


Mệt mỏi quá, Ba Trung đang tính ngồi nghỉ lại hay cố gắng đi thêm một đoạn nữa, thì thấy hai chiến sĩ của mình ở trong bụi cỏ đế đi ra. Họ cùng reo lên "anh Ba", rồi chạy lại giằng súng trên vai anh "để em mang cho... để em mang", cứ như thể họ "tước" của anh tới khẩu súng cuối cùng. Anh chưa kịp nói gì, mấy cậu lính trẻ đã chạy khuất vào sau những bụi rậm. Ba Trung tay không còn một tấc sắt, một mình lững thững trở về cứ.


Ba Trung vừa tới sườn Hòn Me, nơi đơn vị đang đóng quân, cả đơn vị đã ra đứng đón anh như đón người anh hùng thắng trận trở về.

Ba Trung trách Năm Thắng:

- Bọn bây giành hết không để tao một khẩu nào, nếu trên đường về gặp địch thì tao chịu bó tay...

- Em sợ anh mang nhiều, chúng nó xông ra cướp mất... Trời! Em thấy khẩu trung liên, khẩu ga-răng ngon quá.

Ngay ngày hôm sau Thường vụ Huyện ủy đã nghe tin kết quả trận đánh, do quân báo thu lượm tin của địch cho biết: địch chết ba mươi lăm tên, trong đó có một trung úy tình báo. Thường vụ Tỉnh ủy đánh điện xuống biểu dương. Đây là một trận đánh hay nhất toàn tỉnh, diệt được nhiều tên địch, ta không có thương vong mà thu được chiến lợi phẩm.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Sáu, 2021, 07:34:54 pm
8

Tám Lai như cánh chim bị lìa đàn, anh thấy mình sống cô đơn, không nơi nương tựa. Mỗi buổi chiều, anh thường ra ngồi trên tảng đá, sườn Hòn Me, lòng đầy suy tư, nhìn về dòng kinh Nam Thái quê hương mình. Cái gì dẫn tới việc tổ chức nghi ngờ, rồi bỏ rơi mình. Chẳng lẽ vì sự chế diễu quá đáng một tên phản bội Tổ quốc mà phải chịu hình thức trừng phạt như thế này? Chẳng lẽ việc dám hy sinh thằng em ruột của mình lại trở thành một tội lỗi... Biết ngỏ tâm sự với ai, thanh minh với ai? Đã mấy lần anh nhắn nhe, xin được gặp Thường vụ Huyện ủy, để được đối thoại xem tội lỗi của mình ra sao, nếu phạm kỷ luật tại sao không thi hành ngay, nhưng chẳng thấy hồi âm. Mọi người quá bận rộn hay đã bỏ quên mình... Những câu hỏi ngổn ngang luôn luôn khuấy lên nỗi cay đắng, anh không thể tự giải thích được. Tuổi mười chín, tuổi ăn, tuổi ngủ nhưng đêm nào anh cũng trăn trở để tìm ra lối thoát. Cuộc chiến tranh lửa khói quyết liệt này không dành cho anh nhiều thời gian không gian để lựa chọn. Trước mặt anh đã vạch sẵn hai con đường: con đường cách mạng mà anh đeo đuổi từ khi còn nhỏ, tới nay anh đã bị gạt sang bên lề; con đường làm tay sai cho ngoại bang thì không bao giờ, dù chỉ thoáng nghĩ tối điều đó, anh đã thấy ghê tởm nhục nhã. Đi đâu, về đâu? Về quê làm ruộng như những người nông dân khác. Không được. Mình hãy còn trẻ, đã từng làm bí thư chi bộ kiêm xã đội trưởng tham gia tích cực việc giết bọn tề ngụy, chúng sẽ không để yên. Dòng máu anh hùng bất khuất của dân Nam Thái Sơn đang chảy mạnh trong anh khuyên nhủ, níu kéo anh đứng vững trong hoàn cảnh éo le này. Anh tự tìm cho mình một lối thoát, bằng cách dấn thân vào chiến đấu, dù một mình cũng chiến đấu. Mỗi lần gặp bạn bè cũ, anh không than phiền vì cảnh ngộ của mình. Điều cần nói, chỉ có một câu duy nhất, rằng: "mày có lựu đạn cho tao xin một trái".


Hàng ngày Tám Lai sống lầm lũi một mình ở hang núi, làm gì cũng chẳng ai biết, và cũng chẳng ai có thì giờ để ý tới anh, khi nào hết gạo hết muối, anh đến xin các gia đình cơ sở cũ. Không có đủ gạo thì kiếm rau dại ăn trừ bữa, anh như một cái bóng mờ, bị mọi người quên lãng.


Một lần ba tên lính ngụy chết vì bẫy lựu đạn ở gốc cây xoài. Dân trong ấp Thổ Sơn bàn tán xôn sao: không hiểu ai đã đóng một mảnh gỗ có khẩu hiệu: "Đả đảo đế quốc Mỹ và bọn tay sai", mấy thằng lính ngụy tới giật khẩu hiệu thì lựu đạn nổ.


Vài ngày sau lại có một chiến thắng vô chủ nữa. Ở một lối mòn từ bốt địch vào ấp, bọn lính thường qua lại, không hiểu ai cắm mấy cái biển đề "nguy hiểm chết ngươi" bên dưới dòng chữ là hình vẽ cái sọ người và hai cái xương bắt chéo, một tên lính ngụy hung hăng tới nhổ biển, lựu đạn nổ tung, hai tên chết và ba bốn tên khác bị thương.


Chẳng mấy lần bọn lính ngụy tới ấp Thổ Sơn, lại không chết một vài tên vì những cái bẫy vô chủ đó. Sau mỗi lần xảy ra chiến thắng vô thừa nhận, bà con trong xóm ấp lại xì xầm bàn tán, rồi vài ngày lại lắng xuống, chẳng ai có thì giờ tìm hiểu xem tác giả của trận đánh đó là ai.


Sự đời là vậy, việc ngay, gian dù kín tới đâu rồi cũng có lúc phải lộ ra. Hôm ấy địch lại kéo quân tới càn. Phát hiện địch từ xa, nhân dân toàn ấp đã thổi tù và, gõ thùng, gõ mõ rầm rĩ. Thanh niên nam nữ và những cán bộ hoạt động công khai chạy vào hang núi tạm lánh. Bà Tư nhìn thấy một thanh niên chạy ngược lại, rồi chui vào một bụi cây ở ven đường. Bà tò mò xem người đó là ai, nhưng chỉ thấy dáng người cao cao, vận áo màu cỏ đã rách một mảng lớn ở lưng. Trên nhà bà Tư nhìn xuống đoạn đường có người ẩn nấp khá rõ. Bà Tư vừa sàng gạo, thỉnh thoảng lại liếc nhìn xuống đường. Một tên lính ngụy đang bước, bỗng nhiên ngồi thụp xuống, rồi như co kéo với người ngồi trong bụi, có lẽ sợi dây bị đứt, tên lính ngã bổ ngửa, người trong bụi nhảy vọt ra nắm lấy đầu dây, nghiêng thấp người về phía sau kéo miết và tức khắc có một tiếng nổ inh tai. Anh thanh niên vừa xoay người lại, bà Tư nhận ra Tám Lai, bà buột miệng kêu khẽ: "Thằng Tám gan quá trời". Sau trận càn, bà Tư gặp bất kỳ anh cán bộ du kích nào là bà cũng kể lại trận đánh của Tám Lai. Từ đó nhân dân Thổ Sơn mới biết, những chiến công vô chủ trước đây thuộc về ai.


Tiếng tăm của Tám Lai như có cánh bay tới tai nhiều cán bộ đảng viên trong huyện. Những bạn bè hiểu anh càng thương anh hơn, những người chưa hiểu anh thì tỏ ra kinh ngạc trước đức tính kiên trì và tinh thần kiên cường dũng cảm anh đã biểu hiện. Một cán bộ bị cấp trên hiểu lầm bỏ rơi, hàng năm trời không cấp cho một xu nhỏ nào, không được một lời an ủi, đêm ngày lủi thủi một mình trong hang núi như một con thú, nhưng không hề ngã lòng. Nhiều bạn bè tìm đến thăm hỏi Tám Lai, nhiều trận đánh của địa phương quân, đại đội trưởng Ba Trung rủ Tám Lai cùng tham gia, giấu cấp trên. Mỗi trận đánh thắng, phần thưởng lớn nhất đối với anh là được các bạn chia cho vài quả lựu đạn.


Khoảng giữa năm 1962 chi bộ Nam Thái Sơn quyết nghị phát động xây dựng tổ chức du kích và tự vệ ở "Ba Hòn", xã đội trưởng Tư Quang nghĩ ngay đến đồng chí bí thư chi bộ cũ - Tám Lai, một cán bộ thông minh và táo bạo. Vào một buổi chiều Tư Quang trèo lên Hòn Me, mang theo những kỷ niệm đẹp về những ngày đầu tiên của đội du kích xã, anh nhìn thấy Tám Lai đang ngồi trên tảng đá, một tay chống má, đầu ngoẹo về một phía, mắt nhìn vào khoảng không xa xăm, khuôn mặt gầy tóp lại, quần áo rách tươm... thật tiều tụy. Mới hơn một năm mà những nét đẹp trai trẻ trung ở Tám Lai đã bị cảnh ngộ tước đoạt gần hết. Tư Quang chạy tới ôm chầm lấy bạn, giọng nghẹn ngào xúc động:

- Chúng tao rất nhớ mầy...

Tám Lai nhìn vào mắt bạn bằng cặp mắt cương nghị và chứa đầy ưu tư. Anh cố nén niềm xúc động đang trào dâng:

- Tao tưởng... đến những thằng bạn trai, đã từng cùng nhau vào sống ra chết cũng quên tao nốt.

Câu nói của Tám Lai ẩn giấu lời trách cứ sâu xa cách cư xử của người đời "khi vui thì vỗ tay vào...". Tư Quang rất thông cảm với bạn. Mới ngày nào khi Tám Lai đang là bí thư chi bộ kiêm xã đội trưởng, mấy cô gái mỗi lần vào "cứ" là sán lấy anh như ruồi thấy mật, một điều anh Tám, hai điều anh Tám, từ khi anh Tám bị tổ chức nghi ngờ, thôi thê là hết. Anh Tám trở thành người xa lạ. Điều đó đối với Tám Lai cay đắng không kém cái kỷ luật đang bị bỏ lửng.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Sáu, 2021, 07:35:39 pm
Biết mình có ngỏ lời an ủi như thế nào đối với Tám Lai lúc này cũng chẳng có ích gì, Tư Quang bá vai bạn cùng ngồi trên phiến đá.

Tư Quang còn chưa biết vào đề câu chuyện thế nào, để tránh được sự xúc phạm tới tình cảm của bạn, thì Tám Lai nói trước:

- Cậu lên đây có công chuyện gì thế?

Được Tám Lai gợi mở thẳng vào điều cần thiết, Tư Quang nói một mạch:

- Chủ trương của xã định xây dựng ở ấp này một trung đội du kích và bốn năm trung đội tự vệ. Độ này phong trào vũ trang của xã lên khá, riêng mấy ấp của Thổ Sơn còn lẹt đẹt. Cậu ở đây lâu rồi, mình muốn hỏi ý kiến của cậu về tình hình và tổ chức phát động quần chúng như thế nào cho phù hợp.


Tám Lai im lặng, đưa bàn tay xoa xoa vào hàm râu quá lứa không được cạo, mắt anh mở to nhìn không chớp vào khoảng không vô định. Im lặng tới vài phút đồng hồ. Trước đây Tư Quang chưa bao giờ thấy Tám Lai có cử chỉ trầm lắng như vậy. Khó khăn thì nhiều... chẳng cần phải nói...

- Tám Lai dìm từng lời của mình trong suy tư - Cái khó nhất là làm cho anh em tin rằng: giặc đến mình đánh được và đánh nhất định thắng. Khắc phục được cái khó đó thì phong trào sẽ lên.

Nói vài lời có tính nguyên tắc, Tám Lai ngừng lại, có ý chờ Tư Quang nói các bước công tác của mình. Hiểu được ý bạn, Tư Quang nói rõ những suy nghĩ của mình đã chuẩn bị trong đợt công tác.

Vẫn với phong cách mới mẻ, Tám Lai nói rất ngắn gọn nhưng cụ thể vào điều mình định nhấn mạnh.

- Ngay sau khi ta tổ chức các đơn vị du kích, tự vệ xong, làm thế nào huy động thật đông đảo quần chúng đào hầm chông, vót chống càng nhiều càng tốt. Chúng ta phải chuẩn bị trước, có người đi hướng dẫn cho từng bộ phận. Còn cách đặt cạm bẫy chúng ta chỉ hướng dẫn riêng cho anh em du kích và phải giữ bí mật. Làm thế nào trận đầu của anh em phải nắm chắc phần thắng.


Kế hoạch đợt công tác xây dựng lực lượng du kích và tự vệ do Tư Quang và Tám Lai đã thảo ra được đảng viên, cán bộ nhân dân của ấp Thổ Sơn rất đồng tình. Thời gian triển khai công tác tổ chức cụ thể chỉ mất ba bốn ngày đêm, những dự kiến của họ đã lần lượt trở thành hiện thực. Một trung đội du kích và bảy trung đội tự vệ đã được thành lập; đào được 107 hầm chông; hơn ba trăm bẫy lựu đạn được gài vào các gốc xoài, gốc dừa.


Không phải chờ lâu bọn lính ngụy đã dẫn xác đến. Tư Quang và Tám Lai ngồi ở một cửa hang của Hòn Me, lắng nghe theo dõi diễn biến của trận đánh qua những tiếng nổ, mỗi người theo đuổi một ý nghĩ khác nhau. Tư Quang chú ý nhiều đến việc phân loại những tiếng nổ, tiếng nổ nào của du kích, tiếng nổ nào của vũ khí địch, để đánh giá kết quả đợt công tác. Cũng những tiếng nổ ấy, mỗi lần nghe thấy tiếng nổ của bẫy lựu đạn, hoặc tiếng súng trường K44, Tám Lai cảm thấy vui hơn, qua những tiếng nổ ấy các đồng chí của mình sẽ hiểu mình hơn.


Trận đánh kết thúc thật đẹp. Ta không có thương vong. Địch bị tiêu hao nặng một trung đội.

Phong trào du kích chiến tranh ở Thổ Sơn1 (Thời kỳ này Thổ Sơn còn là một ấp của Nam Thái Sơn) phát triển sôi nổi. Hòa mình vào phong trào ấy, Tám Lai thấy mình bớt cô đơn. Nhưng chẳng được bao lâu phong trào lắng xuống, Tám Lai lại một mình sống vắng lặng trong hang núi. Có người hỏi: "Sao anh không hòa mình vào cùng đội du kích", anh im lặng không trả lời. Nhưng thâm tâm anh vẫn thì thầm giải đáp câu hỏi ấy. ''Mình đã bị tổ chức nghi ngờ loại ra khỏi Đảng và các tổ chức cách mạng, không có cương vị gì để móc nối với bất cứ tổ chức nào, móc nối vào chỉ gây rắc rổì thêm. Còn việc tự mình đánh giặc thì chẳng có gì rắc rối cả, nếu khôn khéo thì giết được giặc, nếu sơ hở thì giặc giết mình. Chẳng có phiền hà tới ai". Cứ như thế, Tám Lai tiếp tục làm theo cái quan niệm đã được đúc bằng thép của mình.


Độ này các bạn anh cho nhiều lựu đạn hơn. Tám Lai trở thành người có nghệ thuật cao trong việc đánh bẫy giết địch. Cũng trong thời điểm ấy, không có du kích nào của huyện Hòn Đất đánh giặc có hiệu suất cao bằng anh. Mãi về sau này những người chỉ huy và du kích kỳ cựu trong huyện đều thừa nhận rằng: số địch bị giết ở Thổ Sơn trong năm 1962-1963 quá nửa là do công của Tám Lai.


Bạn đọc có thể đặt câu hỏi: Tại sao Thường vụ Huyện ủy lại cư xử như thế? Chẳng lẽ Tám Lai không có khiếu nại gì? Câu hỏi thứ nhất, người viết chưa có cứ liệu để giải đáp. Câu hỏi thứ hai, xin trả lời rằng: Có.


Một lần Tư Ngần về Hòn Me họp Huyện ủy, chị thấy một người đàn ông mặc quần cộc, cởi trần, gầy guộc đang sốt rét run lên cầm cập ngồi sưởi nắng trên phiến đá, người kia vừa ngửng mặt lên, chị nhận ra là Tám Lai. Với sự nhạy cảm của phụ nữ, sự tiều tụy của Tám Lai đã gây cho Tư Ngần xúc động mạnh, chị khóc òa lên:

- Trời ơi! Cậu Tám mà đến như thế kia ư?

Tám Lai ngước cặp mắt mệt mỏi nhìn Tư Ngần, một lát sau anh mới cất giọng nói đứt quãng vì cơn rét:

- Tôi... đã nhắn... vào Thường vụ... khi nào họp... ghi vào cái mục linh tinh ấy, cho tôi được hỏi... tôi có tội gì... tới năm lần rồi... mà không ai trả lời tôi.

- Được rồi, chị sẽ đề nghị cho cậu.

Với tấm lòng đầy thương cảm, Tư Ngần vẫn không rời mắt khỏi khuôn mặt gầy guộc, xanh rốt của Tám Lai. Chị thấy ngượng ngùng như chính mình có lỗi đã để một đồng chí mình bị đày đọa như thế này.

- Thế cậu không còn quần áo... sao mà ở trần như vậy.

- Quần áo... có ý nghĩa gì... đến tính mạng... tôi có chết... cũng chẳng ai biết tới.

Tư Ngần vẫn chưa hết xúc động, nói:

- Cậu Tám... yên tâm, chị sẽ nói để cậu gặp Thường vụ... chị còn một cái bao bột, chị vận động chị em may cho em hai cái quần dài.

Nhờ Tư Ngần, ít ngày sau Tám Lai được thanh minh trước Thường vụ Huyện ủy, và chị em phụ nữ huyện đã gởi cho anh một bộ quần áo mới.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 14 Tháng Sáu, 2021, 08:02:01 pm
Chương ba
"TỐC KHU"

1


Vào cuối mùa mưa (10-1963) sau cuộc họp của Huyện ủy bàn về việc mở rộng phong trào phá "khu trù mật" (mà mọi người quen gọi là "tốc khu"). Tư Ngần, chủ tịch hội phụ nữ huyện, Ba Lời, bí thư đoàn thanh niên huyện mang theo câu hỏi của hội nghị "Tại sao Nam Thái Sơn là một xã có truyền thống đấu tranh lại không "tốc khu" được?" về Nam Thái Sơn tìm lời giải đáp. Được tổ chức trao nhiệm vụ trở về nơi chôn nhao cắt rốn của mình họ đều mang theo một tình cảm: phải mang hết sức mình để đưa phong trào cách mạng của xã mình lên. Một đêm, họ đi từ Ba Hòn băng qua những cánh đồng nước ngập, những con kinh rạch chảy xiết, xa hai mươi cây số qua nhiều đồn bốt địch, mới tới căn cứ du kích.


Trở lại cánh rừng tràm, mùi hương tràm thoang thoảng quen thuộc gợi Tư Ngần nhớ những ngày phấn khởi sôi sục của đồng khởi. Chị dừng lại trước một cái chòi, sàn chòi gần sát mặt nước. Hai chiến sĩ ngồi ôm súng trên sàn, một người nói giọng buồn buồn "chị Tư" thay cho lời chào. Không khí tẻ ngắt ảm đạm thoáng qua cảm giác của Tư Ngần. Chị ngồi ghé vào cạnh sàn thở một hơi dài, trút bớt cái mệt mỏi của một đêm dài lặn lội.


Nhìn thấy Tư Quang lội đến, Tư Ngần vui mừng:

- Tôi đang định tìm tới chỗ cậu, chúng ta họp với nhau để bàn việc triển khai nghị quyết của Huyện ủy.

- Anh Ba đã đến chỗ tôi, mời chị sang bên đó.

- Báo trước cho cậu như vậy... chứ cánh này còn phải nghỉ ngơi một chút, đêm qua đi mệt muốn chết.


Họ kéo nhau tới chòi của Tư Quang, chòi này rộng rãi hơn cái "tổ chim" vừa rồi, nó có đủ chỗ ngồi cho mươi người. Đây thường được coi là hội trường của tiểu đội du kích xã họp hành và sinh hoạt văn nghệ.

Các anh Ba Toàn, Năm Mai và các chị Tư Mai, Hai Sửu, Ba Khương, Hai Cúc... đã tề tựu cả trên sàn. Ba Lời và Tư Ngần vốn là đảng viên chi bộ này, nên không phải giới thiệu họ đã hiểu nhau. Trong lúc chờ đợi cuộc họp, họ nói với nhau đủ thứ chuyện tản mạn xung quanh tình hình trong xã mình. Nếu như lúc phong trào của xã đang lên, cuộc họp mặt như thế này sẽ râm ran tiếng cười, và lời qua tiếng lại trêu chọc nhau vui vẻ, nhưng lúc này mọi câu chuyện đều trầm lắng.


Xã đội trưởng Tư Quang vốn trầm tĩnh, anh ngồi tựa vào thân cây tràm, lắng nghe các bạn chuyện trò. Thỉnh thoảng câu chuyện của họ lại khơi dậy trong tiềm thức anh về đội du kích kể từ ngày thành lập. Trong khoảng hơn hai năm trời, du kích xã, ấp và các trung đội tự vệ đã làm biêt bao nhiêu công việc đáng kể như diệt bọn ác ôn, xây dựng cơ sở giành quyến chủ động ở Bình Sơn, Thổ Sơn, Kinh Năm và những việc không tên khác không sao nhớ nổi, tại sao đến nay vẫn gặp khó khăn.


Nghe Ba Lời thay mặt Huyện ủy giới thiệu Tư Ngần là bí thư mới của chi bộ, Tư Quang gạt những điều mình đang suy tưởng, nhìn vào khuôn mặt tròn đầy đặn như mặt trăng của Tư Ngần.

Cuộc họp chi bộ thảo luận ngay vào vấn đề Tư Quang vừa suy nghĩ. Những khó khăn và nguyên nhân lần lượt được phơi bày trong ý kiến của mọi người. Trong khoảng vài tháng gần đây, địch đã bắt và giết mất hàng chục cán bộ xã, ấp, số cán bộ lãnh đạo tổn thất quá lớn: Chi ủy có năm người, đã bị địch giết mất bốn người; phần đông quần chúng vẫn bị địch khống chế trong "khu trù mật". Một vài người bị địch bắt, bị chúng tra tấn không chịu đựng nổi, đã trở thành kẻ phản bội dẫn đường cho địch đánh phá cơ sở, làm cho nhân dân nghi ngờ né tránh không muốn tiếp xúc cán bộ đảng viên "không biết ai trung ai gian". Du kích không được nhân dân giúp đỡ tiếp tế thường xuyên như trước, nên cơ sở vật chất rất thiếu thốn. Anh em phải sang rừng Bình Sơn đốt than, nhờ dân ra chợ bán đổi lấy gạo. Hàng tuần lễ mới đổi được dăm bảy chục cân gạo. Giữa mùa nước nổi cả tiểu đội du kích không có một cái xuồng... Cuộc họp đã vạch ra được kế hoạch khắc phục và phân công nhau bám cơ sở với phương châm: Tin tưởng ở quần chúng và củng cố lòng tin của quần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng. Những khó khăn cụ thể như thiếu gạo, thiếu xuồng được phân công cho từng người lo liệu, có đảng viên nêu: "Chính tôi đã vô cơ sở vay mượn gạo, nhưng dân hết gạo rồi, vận động như thế nào". Biết rằng trong cuộc họp không thể giải đáp hết được những thắc mắc, Tư Ngần nói với anh em:

- Tối nay tất cả vào ấp, các đồng chí du kích cho một tổ đi trước cảnh giới. Sau đêm nay trở về ta rút kinh nghiệm, còn vấn đề gì ta bàn tiếp. Những đảng viên hợp pháp về trước tổ chức việc theo dõi hành động của địch, phổ biến mật hiệu cho cơ sở, chuẩn bị cho việc "đột" ấp an toàn.


Đêm hôm đó, trời đầy mây mưa, nhìn vào "khu trù mật" tối đen như mực, không có một đốm sáng nhỏ, Tư Ngần cùng hai chiến sĩ du kích đến gần bờ rào, dừng lại quan sát nghe ngóng một lần nữa. Không có ánh đèn có nghĩa là an toàn. Họ chui qua rào tới nhà má Đoàn.


Nhớ những ngày đấu tranh chính trị, những cuộc biểu tình ở Tri Tôn đòi dân sinh dân chủ, má Đoàn bao giờ cũng là nòng cốt và Tư Ngần là đảng viên trực tiếp lãnh đạo, hai người luôn bám sát nhau như bóng với hình, cả trường hợp địch khủng bố vẫn kiên trì dẫn dắt quần chúng đấu tranh cho tới thắng lợi. Lâu rồi mới được gặp nhau, má Đoàn rất vui mừng. Không có thời gian để tâm sự, Tư Ngần nói ngay vào công việc:

- Má ơi! Tình hình độ này căng quá. Anh em hy sinh nhiều. Theo ý của huyện chúng con về phá kềm để cho dân trở về kinh. Chúng con hết tiền, hết gạo, không có xuồng ghe. Đi mượn không được, mua thì không có tiền. Nhờ má nếu không được, thì chúng con đành ly hương sang Bình Sơn đốt than tạm kiếm sống, nếu như vậy thì không hoàn thành nhiệm vụ "tốc khu" để cho bà con mình về kinh. Nếu má giúp chúng con được hai giạ gạo, chúng con sẽ làm cho địch phải co lại, tạo điều kiện cho bà con về làm mùa.

Má Đoàn cố nén không khóc thành tiếng, nhưng giọng nói vẫn mếu máo và thỉnh thoảng lại lấy tay áo gạt nước mắt:

- Các con phải xa gia đình vì nước vì dân, đâu phải cho gia đình mình, dân phải lo cho các con chứ sao lại phải mua. Nếu giải phóng quê hương thì có phải giải phóng riêng gì cho gia đình các con... Tại sao khó khăn thế, mấy đứa không đến nói với má. Được rồi để má lo.

Má Đoàn sai con gái đi nấu cơm. Má vét hết số gạo của gia đình được khoảng mười cân. Anh em ăn cơm xong, má Đoàn mang gạo trút hết vào bòng của họ. Má căn dặn:

- Các con tạm dùng đã, mai má đi xin bà con. Tối mai các con đến...

Tối hôm sau Tư Ngần cùng một tổ du kích lại đến nhà má Đoàn. Má giao cho Tư Ngần một chiếc xuồng và hai mươi giạ gạo.

Kiểm điểm lại trong một đợt ngắn, không đầy một tuần bám cơ sở, đã giải quyết được nhiều khó khăn mà trong cuộc họp có người chưa tin rằng có thể làm được. Hai Sửu cùng một tổ du kích xin được năm giạ lúa và mượn tiền mua được một chiếc xuồng. Tư Ngần cùng một tổ du kích mượn được hai chiếc xuồng. Tổng cộng được bốn chiếc, và số lúa gạo của bà con giúp đỡ, tạm đủ cơ sở vật chất chuẩn bị cho kế hoạch "tốc khu", đưa nhân dân về vùng ta làm chủ.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 14 Tháng Sáu, 2021, 08:03:56 pm
2

Khoảng 10 giờ đêm 16 tháng 10 các đơn vị tham gia "tốc khu" đã áp sát hàng rào "khu trù mật". Ba Ca, bí thư và Tám Trung, phó bí thư Huyện ủy trực tiếp chỉ đạo đã có mặt ở Kinh Năm, kiểm tra hợp đồng lần cuối cùng. Hàng chục xuồng ghe của xã Mỹ Lâm tới phối hợp với nhân dân Nam Thái Sơn đã tới đậu chen chúc dọc theo kinh Đòn Dông.


Nhân dân trong "khu trù mật" đã được cán bộ báo trước, họ gói ghém sẵn đồ đạc của gia đình mình, chờ hiệu lệnh sẽ xông ra phá lán trại trở về ấp cũ.

Khoảng ba giờ đêm, ba tiếng súng nổ phá vỡ sự yên tĩnh của vùng đồng nước hoang vắng, tiếp theo là tiếng loa, tiếng đập phá ồn ào như một trận lũ tràn ngập trong "khu trù mật".

Từ Kinh Năm những con xuồng to nhỏ nối đuôi nhau lao ra "khu trù mật", những người chủ xuồng gọi to "ai không có xuồng tới đây... chúng tôi tới đón bà con đây"... Tiếng ồn ào gọi nhau như vỡ chợ diễn ra không quá một tiếng đồng hồ, những con xuồng lần lượt lao vào đêm tối đưa những người dân về ấp xóm cũ.


Sau ngày "tốc khu" anh em du kích thường xuyên ém cách bốt địch trong tầm bắn hiệu quả của súng trường. Họ vừa được huyện tăng cường cho năm khẩu "Ấp Bắc" (K44). Mỗi lần bọn lính lăng xăng ra khỏi đồn là "Ấp Bắc" lên tiếng. Bọn chúng liên tục bị thương, bị chết vì bắn tỉa và sa phải hầm chông cạm bẫy khi ra khỏi cổng đồn. Từ đó chúng hạn chế vào xóm ấp quấy phá.


Tháng 11 năm 1963 tướng lĩnh Sài Gòn đảo chính Ngô Đình Diệm, nội bộ ngụy quyền trung ương lục đục, lũ tay chân bên dưới càng dao động, trở thành nguyên nhân khách quan thuận lợi cho không khí khởi nghĩa "tốc khu" thêm mạnh mẽ hơn. Hơn mười ngàn dân Nam Thái Sơn đã thoát khỏi các "khu trù mật" trở về quê hương cũ của mình. Hầu hết các ấp đã giành được quyền làm chủ, trở thành sức mạnh hậu thuẫn cho lực lượng vũ trang. Du kích xã được đưa lên tuyến lộ hoạt động, phá tan nhiều tổ chức phản động của địch. Thời kỳ này bọn tề điệp tối đến không dám ngủ tại ấp, chúng phải trốn tránh vào chi khu Tri Tôn để giữ mạng sống. Hàng ngày từ xế chiều tới sáng hôm sau, du kích xã Nam Thái hoàn toàn làm chủ đoạn đường từ Vàm Răng đến Đập Đá.


Trong cao trào tiến công địch, nhiệm vụ quân sự không còn là việc dành riêng đối với du kích và bộ đội, mà từng người dân đã chủ động làm theo sức của mình. Dân làm trinh sát, dân làm hậu cần, dân tham gia làm hầm chông cạm bẫy...


Một lần nghe thấy tiếng súng nổ trong rừng, mấy bà má Kinh Năm bảo nhau nấu xôi giết gà, rồi mang tới căn cứ của du kích, các má nói với nhau: "Nếu có đứa hy sinh thì làm đồ lễ, nếu không thì cho chúng nó ăn".


Anh em du kích nhìn từ xa đã thấy các má đang bơi xuồng tới, mấy chiến sĩ trẻ tinh nghịch lấy một tấm ni lông đắp lên một khúc gỗ, giống như một người nằm trong đó. Mấy má tới nơi thấy vắng mặt Tư Ngần, một má hỏi:

- Con Tư đâu?

Một chiến sĩ nói giọng bùi ngùi:

- Chị Tư hy sinh buổi sáng.

Tư Ngần được các má rất cưng, khi nghe thấy Tư Ngần hy sinh, các má khóc òa lên và đòi được đến xem thi hài.

Mấy chiến sĩ cố bấm bụng, nín cười dẫn các má đến nơi. Một bà má kéo tấm ni lông lên để nhìn mặt người đã khuất lần cuối cùng. Nhìn thấy khúc gỗ, mới biết "mấy thằng trời đánh" này chúng nó lừa mình. Mấy bà đang khóc, chuyển thành cười và bực tức. Có bà quát tháo rầm lên:

- Tổ cha bọn bây còn sung sướng lắm đó mà bày trò...

Chửi mắng một hồi rồi bà ôm mặt cười. Từ nãy tới giờ các chiến sĩ du kích cố nín nhịn một trận cười, thấy các má tỏ ra thông cảm lập tức họ cười phá lên. Câu chuyện "chị Tư Ngần hy sinh" trở thành một câu chuyện vui, mãi đến những năm tháng sau đó, mỗi lần các má tới thăm du kích thường được ôn lại.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 14 Tháng Sáu, 2021, 08:05:39 pm
3

Dân Mỹ Lâm đã phá tan hoang các ấp chiến lược, trở về dựng nhà cửa trên nền đất cũ của mình. Trên dòng kinh Mớp Giăng kéo dài gần hai chục cây số, không còn đồn bốt giặc (kể từ 11-1963). Những túp nhà nhỏ bé lợp lá đưng, lá dừa vội vã được gửi gấm cuộc sống bình yên. Bóng xuồng ghe xuôi ngược tấp nập trên dòng kinh thẳng tắp đầy ánh nắng. Tiếng hát của tự do đây đó vút lên.


Niềm vui tràn ngập trên từng bước đi, từng giọng nói của mọi người. Đêm đến các đoàn thể ở xóm ấp họp hành ôn lại nỗi đau của cảnh tù ngục, bàn bạc kế giữ ấp giữ làng. Mấy ông già phấn hứng mỗi khi nhấp một ly rượu, lại kể chuyện xưa.

   "Xưa còn rừng rậm mớp mớp giăng
   Kinh múc từ nay thẳng thẳng băng
   Đồng rộng không dung loài khỉ mốc
   Đường ngay không dựa lũ mèo vằn
   Đèn soi bến nước lằn vân hớn
   Trăng chiếu dòng sông cụm cát đằng
   Nhà cửa xum nghiêng nghề nghiệp đủ
   Bốn mùa vẹn giữ thú làm ăn"
      (Thơ truyền miệng trong nhân dân xã Mỹ Lâm).


Trên những lối đi, trên những cánh đồng dấu vết xưa còn đó. Miếu thờ Nguyễn Trung Trực còn ấm khói nhang, nhắc nhở mọi người: một ngày lịch sử ông Trực tập trung quân ở đám lá Tối Trời, để tấn công thành Rạch Giá. Cánh đồng lúa trĩu hạt, nhắc đến các bà Nguyễn Thị Mười, Lê Thị Nến dùng chổi đuổi đánh tên quận Phước, bà Phạm Thị Kiều cưỡi trâu đuổi đánh bọn lính lệ, giữ ruộng đất cho thôn ấp (1930). Truyền thống đấu tranh xưa đã trở thành sức sống chiến đấu và chiến thắng của Mỹ Lâm hôm nay.


... Khi đã đẩy được giặc ra ngoài xã mình, nhân dân cùng với du kích đào chiến hào, làm hầm chông cạm bẫy dựng làng kháng chiến. Dân quân, du kích chăm lo việc tập luyện, đánh giặc giữ làng.

Một hôm trong một buổi tập chiến thuật tập kích do cán bộ quân sự của Huyện đội tới huấn luyện, vào giờ nghỉ giữa buổi tập, họ quây quần lại chuyện trò vui vẻ, tự nhiên Hai Hoóng hỏi Sáu Bắc, bí thư chi bộ kiêm chính trị viên xã đội:

- Chị có nhớ trận tập kích một tên điệp từ Long Xuyên tới không?

Hoóng chưa dứt lời, Sáu Bắc đã phì cười, rồi mắng thân:

- Bọn bay trời đánh không chết!

Mấy du kích trẻ tò mò, thúc Hai Hoóng kể lại. Hai Hoóng và mấy chiến sĩ cũ vẫn ôm bụng cười. Tiếng cười kéo dài càng làm cho những ngươi chưa biết chuyện thêm tò mò.

- Chuyện ra sao anh Hai kể cho chúng em nghe với.

- Để chị Sáu kể, chị biết kỹ hơn.

Một cô gái từ đâu tối nói xen ngang:

- Chị Sáu ơi! Vô trong nhà có khách đợi.

- Ai đó?

- Một anh bộ đội.

Sáu Bắc đứng dậy, trên đôi môi hồng của chị vẫn giữ nguyên nụ cười. Trong đầu chị những hình ảnh của câu chuyện mà Hai Hoóng vừa gợi đến, đang sống động không thiếu một chi tiết.


Khoảng cuối năm 1961, Tư Ngần là cán bộ của huyện về tăng cường cùng Sáu Bắc, bí thư chi bộ kiêm chính trị viên xã đội ở trong ban chỉ đạo phá ấp chiến lược. Tối hôm ấy "mấy thằng trời đánh không chết" bày ra một trò tinh nghịch. Hai Hoóng cùng hai du kích dẫn một người bị trói, đến chỗ Sáu Bắc và Tư Ngần đang ở. Hai Hoóng nói:

- Báo cáo với hai chị, chúng tôi vừa bắt được một tên điệp từ Long Xuyên tới, nó khai còn một thằng nữa đang ở nhà lão Mười, các chị tính sao?

Sáu Bắc trả lời ngay:

- Phải bắt sống chứ còn sao gì nữa?

- Các chị cho mượn thêm súng và lựu đạn, đề phòng nó đối phó.

Tư Ngần đưa khẩu súng ngắn và Sáu Bắc cũng lấy quả lựu đạn da láng duy nhất của mình đưa cho Hai Hoóng.

Sáu Bắc nói:

- Cậu phải tìm cho chúng tôi một cái gậy hoặc cái gì để đề phòng chứ.
Tôi đã trói nó rất chặt rồi, ở đây có hai chị em lo chi.

Nói xong, Hai Hoóng cùng hai chiến sĩ đi về phía đồn địch.

Tư Ngần tới hỏi cung tên gián điệp:

- Mày tới đây được giao nhiệm vụ gì? Liên lạc với ai?

Tên "gián điệp" nói như người ngọng:

- Thưa bà tôi là người làm ăn lương thiện, không làm gì cho "quốc gia", tôi bị bắt oan.

- Thôi đi! Nhân dân đã theo dõi hết mọi hành vi của mầy, khai thiệt sẽ được hưởng lượng khoan hồng của cách mạng.

- Thưa các bà...

Tên "gián điệp" nói nửa chừng, bỗng vùng căng chạy. Sáu Bắc bật dậy đuổi theo. Tên "điệp" chỉ cách chị độ mươi mét, chị hết sức cố gắng nhưng không sao rút ngắn được khoảng cách. Dưới ánh trăng, Sáu Bắc thấy tên "điệp" chạy qua rất gần chỗ tổ du kích đang ngồi, chị kêu "điệp chạy” mà họ không hề nhúc nhích. Chỉ còn vài trăm mét nữa tới đồn địch, Sáu Bắc biết mình không còn đủ sức để đuổi theo nữa, chị quay trở lại. Thái độ thờ ơ của tổ du kích làm cho Sáu Bắc giận điên người:

- Chúng mày làm ăn kiểu gì thế. Thu hết súng đạn của người ta, để tên điệp chạy mà cứ ngồi im re.

Mấy cậu du kích cười như nắc nẻ.

- Để súng cho các chị bắn chết nó hen?

Đến lúc này chị mới biết họ bày trò đùa.

Chị nói dỗi:

- Các cậu quá lắm... ngày mai về kiểm điểm xem trò đó có hay không.

... Đến lúc này chị vẫn thấy buồn cười nôn ruột vì một trò đùa quái quỷ của bọn thanh niên trẻ.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 14 Tháng Sáu, 2021, 08:06:50 pm
Người khách đang chờ chị là anh bộ đội có vóc người cao lớn đang đứng ở hàng hiên. Chị nhận ra anh bộ đội đó là Tám Dũng quê ở Sóc Sơn.

- Chị Sáu. - Dũng chào rồi nói vui. - Anh em địa phương quân chúng tôi tới đây chờ lệnh của chị.

Sáu Bắc nói niềm nở chân tình:

Các anh đến giúp cho xã chúng tôi rất mừng. Độ này rất sẵn "con mồi" nhưng anh em du kích chúng tôi chưa đủ sức, sức của các anh thì có thể thắng ngon lành.

- Thôi xin bà đừng khích chúng tôi vào chỗ chết.

- Anh không tin tôi ha... Các anh đánh chỗ nào cho tôi cùng tham gia, như thế đã yên tâm chưa nào. Tôi nói nghiêm chỉnh đấy. Anh ngồi xuống đây tôi nói cụ thể...


Sáu Bắc lấy ngón tay kẻ một đường thẳng xuống mặt đất. Nghe thấy tiếng du kích reo cười râm ran, chị đoán Hai Hoóng đang kể câu chuyện "bắt gián điệp”, bỗng chị bật cười thành tiếng. Tám Dũng ngơ ngác không hiểu tại sao Sáu Bắc lại bật cười lên như vậy.

Sáu Bắc nói tiếp nhưng tiếng cười thỉnh thoảng lại "khục khục” trong cổ họng:

- Đây là Ba Thê. - Sáu Bắc chỉ tay vào đường kẻ lờ mờ trên mặt đất. - Nó thường xuống kinh Hội Đồng khoảng một trung đội đến một đại đội, đi bằng xuồng... tới đoạn này có một bộ phận dẫn bộ... tới đây có một cái cầu khỉ, tới cầu khỉ chúng thường ùn lại. Nếu phục kích thì phục chỗ này. Ở phía trong này nhà dân ở thưa thớt.

Tám Dũng hỏi:

- Ở gần cầu khỉ có chỗ bố trí kín đáo không?

- Trời! Đến cả tiểu đoàn vô đây cũng có chỗ giấu. Tối nay các anh có thể đi xem địa hình rồi ém lại. Đã hai ngày hôm nay chúng không xuống, ngày mai có thể chúng kéo nhau xuống. 

- Tôi cũng nghĩ như vậy, rút ngắn thời gian chuẩn bị càng thuận lợi cho việc giữ gìn yếu tố bí mật bất ngờ. Tôi đề nghị chị giúp cho công tác hậu cần.

- Các anh khỏi lo. Đơn vị các anh có bao nhiêu người?

- Mười bảy người.

- Anh em du kích xã tôi đang dở chương trình huấn luyện, anh cho tôi cùng dự trận này để rút kinh nghiệm.

Tám Dũng nhìn thẳng vào đôi mắt đen cương nghị của Sáu Bắc, như tìm ở trong đó những điều mà bấy lâu nay trong dư luận ca ngợi về người con gái đẹp người đẹp nết này.

Tám Dũng cười nói:

- Được chị cùng chiến đấu chỉ tăng thêm sức mạnh, nhưng tôi đề nghị với chị, chị giúp chúng tôi bộ phận tải thương, chưa có người lo việc đó.

Tối hôm đó Tám Dũng dẫn trung đội vào trận địa. Sáu Bác và Bảy Cao đưa xuồng tới ém ở sau bụi tre, cách trận địa phục kích gần một cây số.

Trời sáng rõ dần, Tám Dũng căng mắt nhìn con đường và cánh đồng từ Vọng Thê xuống, vắng ngắt không một bóng người. Khi mặt trời lên vượt một con sào, mới xuất hiện một toán người, Tám Dũng đoán đó là bọn lính ngụy, từ dưới kinh bước lên. Chúng đi lộn xộn, tỏ ra chủ quan. Anh nhìn rõ dần cả trang phục của chúng. Vào cách trận địa phục kích của ta chừng một trăm mét, chúng ngồi túm tụm lại, hút thuốc và chuyện trò một hồi lâu. Hai tên lính đứng dậy đi trước vài chục mét rồi cả bọn tiến theo. Đến cầu khỉ hai tên đi trước dừng lại. Một tên nhìn xuống rạch nước, nói với tên đi sau:

- Đêm qua ai lội ở đây mà nổi sình thế này.

Tên đi sau nói:

- Chắc có người đi kiếm cá.

Tám Dũng vẫn bám chặt không bỏ qua một hành động nhỏ nào của hai tên lính ngụy. Một tên vừa bước chân ra khỏi đầu cầu, hắn nhìn thấy Tám Dũng. Ngay lập tức Tám Dũng ra lệnh, anh nói vừa đủ cho hai thằng lính ngụy nghe thấy:

- Muốn sống đi như bình thường, cử động gì khác tao bắn chết ngay.

Hai tên lính thực hiện đúng như lệnh của Dũng.

Bọn lính đi sau đã tới, dồn lại chen chúc ở đầu cầu. Dũng hạ lệnh nổ súng. Tiếng súng tiểu liên, tiếng lựu đạn của trung đội địa phương quân như giông bão bất ngờ quét vào bọn lính ngụy, chúng không kịp trở tay. Bộ phận đi đầu của địch bị tê liệt hoàn toàn. Hưng Tải như con sóc vượt qua đường mương, Tám Dũng vọt theo, họ xông vào đám lính ngụy vừa bị đánh tơi tả, thu súng và bắn chế áp vào bọn ở phía sau.


Thấy quân địch từ Vọng Thê xuống mỗi lúc một đông, Tám Dũng hạ lệnh cho đơn vị rút, anh trực tiếp chỉ huy một tổ cản hậu.

Sáu Bắc và Bảy Cao núp sau bờ tre hồi hộp theo dõi toàn bộ trận đánh. Khi nhìn thấy quân ta rút, các chị cho xuồng mở máy, phóng lên trận địa. Còn cách hơn một trăm thước đã nghe thấy tiếng anh em reo:

- Thắng to rồi... thắng rồi...

Không thấy Tám Dũng trong đội hình, Sáu Bắc lo lắng, hỏi:

- Anh Tám đâu các đồng chí?

- Ảnh còn chặn địch cho đơn vị rút.

Sáu Bắc nói với Bảy Cao đưa anh em về trước, còn mình cho xuồng vọt lên phía trước.

Bộ phận tiếp viện của địch vòng một cung rộng ra cánh đồng có ý chặn đầu quân ta, vừa tiến chúng vừa bắn rất rát.

Bộ phận cản hậu của Tám Dũng đang bị đe dọa nặng nề. Khanh bị trúng đạn vào đầu gối. Dũng phải cõng Khanh. Trong tổ chỉ còn khẩu ga-răng của Tám Dũng chống lại hàng trăm họng súng của địch.

Xuồng của Sáu Bắc vẫn lao ngược chiều với tiếng rú của làn đạn địch. Tới sát bộ phận cản hậu, chị cho dừng lại.

- Chị Sáu. - Tám Dũng quát to, nửa ra lệnh nửa reo mừng. - Chị cho thương binh về trước, để tôi cản chúng.

Tiếng máy nổ, tiếng đạn nổ ồn ào, khiến Sáu Bắc phải gào lên để đáp Tám Dũng:

- Anh lên xuồng ngay, không cần cản hậu. Nước ròng, cho chạy sát mé bờ nó có bắn cũng không trúng được đâu.

Thấy Sáu Bắc nói có lý, Tám Dũng xách súng trèo lên xuồng. Sáu Bắc hạ cái "đuôi tôm" của máy đẩy xuống nước, con xuồng khéo léo bám sát bờ kinh vọt lên phía trước. Những đường đạn địch bắn rất căng, liên tục "ví ví" trên đầu họ. Quả đúng như Sáu Bắc nói, cái bờ kinh là vật chắn kiên cố mà các loại đạn bắn thẳng của địch trượt qua một cách vô ích. Tám Dũng thầm phục con mắt quân sự của Sáu Bắc.

Tới ngã ba kinh, con xuồng cắt một đường gấp thước thợ vào kinh Hội Đồng, vừa tới chỗ an toàn, đã nghe thấy tiếng reo mừng chiến thắng của nhân dân vọng tới.

Tám Dũng cười nói với Sáu Bắc:

- Nếu xã nào cũng có đồng chí bí thư chi bộ như chị, thì bộ đội tới tham gia chiến đấu cùng địa phương sẽ nắm chắc phần thắng.

- Anh đừng khen quá lời...


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 15 Tháng Sáu, 2021, 02:48:25 pm
Chương bốn
THỜI KỲ VỮNG MẠNH

1


Năm 1964. Huyện Hòn Đất như một chàng trai cường tráng, từng trải đủ sức lực xông pha trước mọi bão tố. Lực lượng vũ trang đã trở thành lực lượng chủ yếu, song song với lực lượng chính trị làm chuyển biến nhanh mạnh tình hình của toàn huyện. Hầu hết các ấp "chiến lược" của địch đã bị phá, mở ra một vùng giải phóng rộng lớn, nối liền từ Mỹ Lâm, Nam Thái, Bình Sơn tới Thổ Sơn. Tổ chức chỉ huy và tổ chức hậu cần từ huyện tới các xã, các ấp đã xây dựng tương đối hoàn chỉnh. Đại đội địa phương quân có một trung đội công binh - đặc công, và hai trung đội bộ binh với quân số đầy đủ. Huyện đội có công trường sản xuất vũ khí thô sơ như mìn, thủ pháo... Các xã Nam Thái, Mỹ Lâm có trung đội du kích tập trung, các xã khác đều có một tiểu đội; nhiều ấp số lượng du kích phát triển tới hai mươi ba mươi người. Trình độ tác chiến, bộ đội địa phương đã sử dụng khá thành thạo cách đánh: phục kích, tập kích, chống càn và đánh đồn bốt có công sự tương đối vững chắc; du kích ở nhiều xã đủ sức độc lập chống càn với lực lượng địch ở cấp đại đội, tiểu đoàn, và biết sử dụng thành thạo các loại vũ khí thô sơ như chông mìn, cạm bẫy...


Toàn huyện hình thành trận địa chiến tranh liên hoàn khiến kẻ địch ở đâu cũng không yên, đi đâu cũng bị đánh. Địa phương quân đã đánh nhiều trận phục kích thắng lợi; nổi bật là trận ngã ba bến đò gần "Hòn", được nhân dân Thổ Sơn rất thán phục: "Chỉ có bộ đội cách mạng mới làm được như vậy".


Hôm đó đại đội trưởng Ba Trung vừa đi học trường quân chính quân khu về, thấy đơn vị mình vắng vẻ, chỉ còn có ba người ở nhà. Anh hỏi:

- Anh em đi đâu cả rồi.

Một chiến sĩ trả lời:

- Có tin nhân dân báo, thằng Tây đồn trưởng sẽ đưa quân qua bến đò, theo lệnh của anh Chín Đen, cả đơn vị vừa ra ngoải. Anh Chín cùng đi với đơn vị.

Được tin đơn vị chuẩn bị chiến đấu, Ba Trung lột nhanh cái bòng trên vai, vất xuống giường, rồi tất tả chạy ra bến đò.

Huyện đội trưởng Chín Đen đang đứng chỉ huy việc dàn quân, bên cạnh cái lò gốm. Thấy Ba Trung tới, Chín Đen reo lên:

- Ba Trung mày về rồi hen. Thiệt may! - Chín Đen siết chặt bàn tay Ba Trung, rồi nói tiếp. - Dân vừa báo cho biết, hôm nay thằng Tây, thằng Khen sẽ đưa một trung đội qua đây. Ta "phục" ở chỗ này nhất định sẽ diệt gọn chúng nó. Mày chỉ huy luôn trận này.


Nghe nhắc tới mấy tên ác ôn, Ba Trung sôi máu, nhận nhiệm vụ liền, và bắt tay ngay vào công việc. Anh vận dụng kinh nghiệm của mình và những bài học vừa học được ở trường quân chính. Ba Trung thay đổi toàn bộ đội hình của Chín Đen vừa bố trí. Anh kéo bớt một trung đội ở phía trước cho ém ở phía sau làm lực lượng dự bị và đề phòng phía sau. Lực lượng tham chiến ban đầu chỉ để lại một trung đội được "độn thổ" dưới những chồng nồi đất.


Gần trưa mới thấy có hai ba chiếc "tắc ráng" của dân ở phía Tri Tôn đang tới. Bọn lính ngồi xen kẽ với dân. Hai chiếc vừa cặp bến. Bọn lính nhìn lên thấy bến vắng tanh không một bóng người, chúng yên trí bước lên. Thằng Ba "thầy chùa" cũng là một tên ác ôn, đang ngân nga câu vọng cổ "Nếu mộng không thành thì sao...", chân hắn bước tới gần chỗ Ba Trung đang ém. Ba Trung níu cò. Loạt đạn nổ. Tên Ba "thầy chùa" đổ vật xuống cách Ba Trung khoảng bốn năm mét. Ngay lúc đó toàn bộ trận địa của đại đội địa phương quân nhất loạt nổ súng, những mũi súng gần như nhằm vào từng tên một. Cả bọn chúng cả thảy có năm tên, loạt đạn đầu đã giết năm tên. Anh em trong đống nồi đất nhảy ra trước mặt chúng, những tên còn sống sót vội vàng giơ tay xin hàng.


Bà con ngồi dưới xuồng, mất vài phút hồn vía lên mây. Trận đánh kết thúc rất nhanh, bà con được tận mắt nhìn thấy quân cách mạng đánh giặc, ai cũng khen "mấy anh địa phương quân đánh giặc thiệt giỏi". Trận đánh bắt tù binh, thu vũ khí mà không ai sứt một mảnh da, dân ngồi ngay trong khu vực trận đánh không một người nào bị thương.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 15 Tháng Sáu, 2021, 02:49:44 pm
2

Từ lâu, đồn bốt địch là những mục tiêu chướng tai gai mắt nhất, và cũng là những mục tiêu mà địa phương quân không dễ gì "nuốt" nổi. Thường vụ Huyện ủy đã trực tiếp chỉ đạo, cho đại đội địa phương quân tập dượt thử sức. Lần thứ nhất đánh vào đồn Đập Đá do ban chỉ huy huyện đội xây dựng phương án và trực tiếp chỉ huy. Trận đánh kéo dài đến sáng không mở được cửa, phải rút lui. Về kiểm điểm rút kinh nghiệm, người đổ tội cho "phương án dở òm", người đổ tội cho bộ đội "quyết tâm chưa cao"... Ý kiến qua lại, có người đã nóng tai đỏ mặt, không chịu nhau. Bí thư Huyện ủy phải đứng ra dàn hòa: "Hỏng trận này ta bày trận khác, không việc gì phải cay cú".


Trận thứ hai đánh vào đồn Tà Lốc. Công tác chuẩn bị lần này khá kỹ, tinh thần quyết tâm cao. Anh em vào tiếp cận hàng rào địch bị lộ, địch bắn ra bị thương mất vài người. Trận đánh bị bỏ dở, anh em khênh cáng nhau về. Từ lần đó trở đi nói tới đánh đồn, anh em địa phương quân thấy không còn hứng thú để bàn tới.


Một lần trong cuộc hội ý của cán bộ, một cán bộ trung đội hỏi đại đội trưởng Ba Trung:

- Anh đi học trên quân khu có được học cách đánh đồn không?

Ba Trung trả lời đầy tự tin:

- Có chớ... tao mà được giao nhiệm vụ chỉ huy đánh đồn thì đỡ lắm.

Mấy cán bộ trung đội xúm vào nói với Ba Trung:

- Kỳ này khỏi cho Huyện ủy, Huyện đội biết, chúng ta cứ tự làm lấy...


Thấy các cán bộ đều tỏ ra tin tưởng ở sự chỉ huy của mình, Ba Trung suy nghĩ đối chiếu hai trận đánh chưa thành công với bài bản mình đã học, xem thiếu sót cái gì. Anh nghĩ thầm: mình có thể làm được.

Ba Trung nói với cấp dưới của mình:

- Phương án đánh của tao khác với của Huyện đội, chắc sẽ không được Thường vụ thông qua.

- Chúng ta làm lén.

Nghe anh em nói "làm lén" Ba Trung thấy bùi tai. Ngay hôm sau anh đã lựa chọn được một mục tiêu thích hợp với sự thử sức của mình, đó là đồn Chòm Chuối trên đường "Hòn" về Tri Tôn, có một trung đội địch đóng.


Ba Trung cùng một tổ trinh sát đã bò vào trong hàng rào đồn Chòm Chuối điều nghiên xong, chỉ còn việc dựng phương án tác chiến, thì Thường vụ Huyện ủy thông báo: địa phương quân tỉnh chuẩn bị đánh Chòm Chuối, yêu cầu đại đội của huyện cho phối thuộc một trung đội. Ba Trung nổi nóng, không cho mượn quân. Thường vụ phải gọi Ba Trung tới giải thích "... Đánh địch ở đây không chỉ là trách nhiệm của họ, mà vì lợi ích của huyện ta..." lúc đó Ba Trung mới miễn cưỡng đồng ý.


Trận đánh của địa phương quân tỉnh vì nguyên nhân gì đó, không thành công, càng kích động tính hiếu thắng của những cán bộ trẻ trong địa phương quân huyện. Họ hăng máu tuyên bố công khai rằng: "Tỉnh không đánh được, để chúng tôi đánh". Ba Trung đến đại đội địa phương quân An Giang (đang trú quân nhờ đất của huyện mình) mượn khẩu ĐKZ 57, mặt khác cho anh em đắp sa bàn để huấn luyện đơn vị đánh theo phương án.


Huấn luyện xong, Ba Trung cho ĐKZ bắn thử. Việc tổ chức trường bắn luộm thuộm đã thiệt mạng hai người. Mặc dù có trục trặc trong công tác chuẩn bị như vậy, nhưng thời gian tiến hành theo kế hoạch trận đánh không thay đổi. Đêm hành quân vào trận địa lại gặp điều không may, khi qua cầu khỉ, xạ thủ đại liên bị ngã què chân. Trận đánh đành phải hoãn lại. Ngay sáng hôm sau, Ba Ca, bí thư Huyện ủy tới đơn vị, gặp Ba Trung. Ba Ca nói nhẹ nhàng nhưng có ý trách:

- Lần chuẩn bị các đồng chí không báo cáo đã chết mất hai người, lần này gần chết một người. Thôi không đi nữa nghen. Định đánh ở đâu phải báo cáo Thường vụ.

Bí thư Huyện ủy vừa ra khỏi đơn vị, Bé Hai - một chiến sĩ trẻ rất ham đánh, hỏi Ba Trung:

- Ta lại đi điều nghiên lần nữa chú Ba.

- Ừa... ta đánh lén không cho Thường vụ biết.

Đồn Chòm Chuối, đối với Ba Trung lúc này như một mối hận sâu sắc phải được rửa sạch, dù có bị kỷ luật cũng phải đánh.

Ba Trung cùng hai chiến sĩ đi trinh sát đồn Chòm Chuối một lần nữa. Bọn địch ở trong đồn tỏ ra chủ quan, chúng đã đẩy được địa phương quân tỉnh lui, thì ở đây không có lực lượng nào gặm nổi.


Trinh sát về, Ba Trung tổ chức họp hội đồng quân nhân, dân chủ thảo luận kế hoạch và xây dựng quyết tâm. Số người tham gia trận đánh tuyển chọn được mười bảy người gan góc linh hoạt nhất trong đơn vị.

Trước lúc hành quân vào trận, Ba Trung nhắc lại một điểm trong kế hoạch:

- Nếu ĐKZ bắn không trúng, tụi bay cứ đạp rào xông vào ném lựu đạn.

Đêm hôm ấy, trời đầy sao. Tới gần nửa đêm, anh em đã bí mật mở xong cửa mở, chỉ còn một hàng rào đơn sát đồn. Trong đồn địch vẫn vắng lặng như chết. Phát đạn thứ hai bùng lên một quầng lửa giữa lô cốt của địch. Ngay lập tức tiếng thét "Xung phong!" tràn ngập vào trong đồn địch cùng với tiếng nổ của lựu đạn. Trận đánh diễn ra trong vòng sáu, bảy phút. Anh em địa phương hoàn toàn làm chủ trận địa, thu toàn bộ vũ khí chiến lợi phẩm. Khi rút khỏi trận đánh họ chạy ngược về phía Tri Tôn, cách chi khu chừng một cây số, họ dừng lại nghỉ ngơi.


Ba Trung đã phán đoán trước: khi biết quân ta tấn công vào Chòm Chuối các trận địa pháo của địch xung quanh nhất định sẽ yểm hộ cho bọn ở đó và ngăn chặn lối rút ra của ta. Diễn biến đúng như vậy. Khi địa phương quân huyện vừa rút ra khỏi đồn vài trăm mét, trận địa pháo Tri Tôn, Lình Quỳnh đã rải đạn xung quanh đồn Chòm Chuối và dọc theo bờ kinh về phía "Hòn". Chờ cho địch bắn chán rồi, Ba Trung mới cho đơn vị men theo bờ kinh Lình Quỳnh trở về căn cứ.


Sau trận đánh Chòm Chuối, trinh sát của Huyện đội báo cáo lên Thường vụ Huyện ủy, cuối báo cáo là một câu hỏi: "Không hiểu đơn vị nào nửa đêm qua đã đánh đồn Chòm Chuối?". Ba Ca cười bất lực: "Lại cái thằng Ba Trung, chứ không còn ai vào đó".


Chỉ sau một ngày, tin chiến thắng Chòm Chuối đã chắp cánh bay tối các cơ quan Huyện ủy, Huyện đội và các đơn vị bạn đóng quân trong huyện, với mọi chi tiết đáng kinh ngạc.

Mấy anh em địa phương quân tỉnh tỏ ra ngượng ngùng khâm phục:

- Đ.má... mình cả hai cây ĐK 75 mà bị chúng đẩy ra, nó chỉ có một ĐK 57 mà quất chỉ mất năm phút.

Chiến thắng Chòm Chuối đưa khí thế chiến đấu của địa phương quân huyện lên như diều gặp gió. Anh em rất tin tưởng chiến thuật đánh địch trong công sự của đơn vị mình, thậm chí còn có người coi việc "đánh đồn còn khỏe hơn đánh bằng các hình thức khác".


Sau vài ngày nghỉ ngơi và rút kinh nghiệm, Ba Trung lại tổ chức điều nghiên Chòm Sao. Trận đánh địch trong công sự dã chiến ở Chòm Sao, diễn ra còn đẹp hơn trận đánh Chòm Chuối. Đại đội địa phương quân huyện đã tiêu diệt gọn một trung đội địch, bắt tù binh, thu vũ khí, và lần đầu thu được cả máy bộ đàm PRC25. Không đầy một tuần lễ sau trận Chòm Sao, địa phương quân lại tiêu diệt bốt một tiểu đội địch, thu toàn bộ vũ khí.


Số vũ khí thu được trong mấy trận đánh thắng liên tục, gần đủ để trang bị cho một đại đội. Ba Trung lựa những khẩu súng tốt nhất trang bị cho đơn vị mình, còn lại giao cho du kích các xã.

Không chịu thỏa mãn dừng lại năm 1967 đại đội địa phương quân huyện đã nhanh chóng mở rộng chiến thắng của mình bằng nhiều trận thắng liên tiếp. Trận đánh chiếm công sở địch ở Sóc Xoài. Đánh chiếm hội đồng xã Sóc Sơn. Đánh chiếm đồn Lình Quỳnh và đồn Ranh Hạt. Đánh chiếm hội đồng xã Nam Thái. Đánh chiếm và bắt sống tên đồn trưởng Kinh Hãng. Đánh chiếm đồn Mười Thập. Bắt sống tên Ngâu, một tên gián điệp lợi hại của Rạch Giá... Chỉ trong vòng hai mươi ngày địa phương quân đã đánh chiếm gần mười đồn tam giác.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 16 Tháng Sáu, 2021, 01:59:49 pm
3

Sau những ngày tháng liên tục chiến đấu thắng lợi, đại đội địa phương quân được lệnh lui về căn cứ để học tập. Một hôm anh em đang nghe giảng chính trị, chiến sĩ cảnh giới báo cáo:

- Có địch càn, chúng đang đuổi theo du kích Nam Thái.

Có ý kiến trong lóp đề nghị với giảng viên:

- Đề nghị chiến đấu đã, trở về sẽ học tiếp.

Đơn vị vừa phát động căm thù địch đã giết ba đồng chí Công, Tứ, và Sĩ là những chiến sĩ đặc công dũng cảm. Anh em đang khao khát đánh đổi nỗi hận thù đang dâng trào trong lòng mình lấy chiến thắng, mọi người đều đồng ý với ý kiến "chiến đấu đã...".


Không kịp phổ biến kế hoạch tác chiến, nhiều tiểu đội đã chủ động tập hợp chạy ra cửa rừng. Anh em nhìn thấy lính địch vẫn bám theo sau du kích. Với tinh thần hoàn toàn chủ động, không chờ lệnh, từng trung đội bám theo bờ kinh tiến lên. Khi tới tầm bắn có hiệu quả các hỏa lực trung liên đại liên của đại đội đã phát hỏa. Địch bất ngờ bị đại liên bắn lướt sườn, chúng nằm mọp xuống bờ kinh không dám ngẩng đầu lên. Các trung đội tiếp tục tiến vòng qua cánh đồng hình thành thế bao vây đại đội đi đầu của tiểu đoàn địch. Thấy bị bao vây, chúng nhốn nháo, rồi vỡ bung ra từng mảng, chạy tung toé ra cánh đồng nước, không còn sức chống đỡ. Các loại súng trường, tiểu liên của địa phương quân thả sức quét vào từng nhóm địch đang chạy hoảng hốt.


Phía Kinh Năm không còn địch, anh em nghe thấy tiếng súng phía Kinh Tư còn nổ nhiều, họ đã chủ động chuyển hướng. Sáu Thố, tiểu đội trưởng quân báo, từ lúc xuất kích chỉ có một quả lựu đạn cầm tay, anh thèm được làm xạ thủ trung liên đánh trận này. Sáu Thố nêu nguyện vọng của mình với cán bộ trung đội, được cán bộ trung đội đồng ý, anh xốc vội khẩu trung liên lên vai. Đôi chân sếu của Sáu Thố chạy như bay trên cánh đồng xăm xắp nước, tới bờ Kinh Tư, anh đặt súng và nhằm thẳng vào những toán lính đang chạy trên cánh đồng. Thấy địch không còn sức đề kháng, có ai đó hô "xung phong" lập tức mọi người vừa hò hét vừa xông ra cánh đồng đuổi bắt tù binh và thu chiến lợi phẩm.


Kết quả trận đánh, địch đã phải bỏ lại năm xác chết và nhiều vũ khí. Riêng Sáu Thố thu được hai khẩu trung liên, ba khẩu ga-răng và nhiều chiến sĩ khác mỗi người thu được một khẩu.

Kể từ ngày đồng khởi tới giờ, ở đất Châu Thành này chưa hề có trận đánh nào tinh thần chủ động tấn công, chủ động hợp đồng rất cao và diễn ra tuyệt đẹp như vậy. Nhân dân xã Nam Thái tận mắt thấy con em mình bày binh bố trận thật tài tình và dũng cảm. Khói đạn chưa kịp tan đông đảo bà con đã chạy ào ra chào mừng chiến công của bộ đội.


Ngày hôm sau bọn sĩ quan ngụy ở chi khu Tri Tôn ra chợ nhắn mấy bà quê ở Nam Thái: "Xin các ông giải phóng cho phép tới cánh đồng Nam Thái để nhặt xác đồng đội". Ba Trung viết thư trả lời chúng: "Chúng tôi đồng ý để các anh tới thu xác chết, với điều kiện: từ hôm nay trở đi không được đưa quân tới ruồng bố ở xã Nam Thái nữa”. Thằng thiếu tá chỉ huy trưởng chi khu viết thư đáp lại Ba Trung: "xin nhận điều kiện đó".


Từ đó cho tới vài tháng sau, bọn lính ngụy không dám ló mặt tới xã Nam Thái.

Từ ngày đế quốc Mỹ đưa quân vào miền Nam nước ta (1965), mật độ bom đạn ngày càng dày đặc hơn, bộ mặt chiến tranh tàn khốc hơn, sự hy sinh chết chóc của nhân dân ta lớn hơn, lòng căm thù đế quốc Mỹ trong nhân dân ta càng sâu sắc và tinh thần đoàn kết đánh giặc của nhân dân ta càng siết chặt hơn. Hòn Đất cũng ở trong bối cảnh chung ấy. Lực lượng vũ trang của huyện càng được tôi luyện càng tỏ ra vững chắc. Những trận đánh, những đợt diệt ác phá kềm vẫn diễn ra đều đặn và mạnh mẽ hơn trước. Hầu như không có tháng nào, không có một vài lần những đoàn xe của Mỹ - ngụy bị nổ tung trên lộ 80 vì trúng mìn của du kích và bộ đội. Hầu như tất cả những cuộc càn quét của chúng vào các xã trong huyện đều bị trừng trị thích đáng. Bom đạn lửa khói triền miên, không ai có thể nhớ hết từng việc làm, từng trận đánh của đơn vị mình, địa phương mình. Nhưng cũng có việc làm, một trận đánh, thậm chí một hành động của một người nào đó lại như đóng cột mốc trong trí nhớ. Xã đội trưởng Ba Non xã Sóc Sơn, không thể quên được hành động yêu nước của ông già Hai Thạnh, đã lập mưu giúp đơn vị anh giết được 17 tên Mỹ. Những chiến sĩ địa phương quân (1967) không bao giờ quên trận luồn càn ở Nam Thái, khi rút ra khỏi vòng vây an toàn, vẫn tiêu diệt gọn một trung đội địch, trận phục kích tiêu diệt gọn một trung đội địch ngay bên cạnh đồn Vàm Rầy... Nhưng đỉnh cao đáng ghi nhớ của toàn huyện là trận đánh đại đội biệt kích áo đen nằm cạnh chi khu Tri Tôn.


Chủ trương của Tỉnh ủy Rạch Giá: phải phá tan kế hoạch bình định của địch ở khu vực Châu Thành A (Hòn Đất). Hai đại đội địa phương quân của tỉnh đã được điều động tới đóng ở rừng Nam Thái.

Gần một tháng trời, đại đội địa phương quân huyện đã cho quân báo bám sát bọn cán bộ bình định.

Khi chuẩn bị lên phương án tác chiến, ban chỉ đạo của tỉnh mới phát hiện, địch vừa tăng cường một đại đội biệt kích áo đen ác ôn, đóng sát cạnh chi khu.

Ban chỉ đạo quyết định sử dụng hai đại đội, một đại đội của tỉnh và một đại đội của huyện, cùng một thời gian tiêu diệt cả hai mục tiêu trong đợt mở màn. Ngay từ lúc phân công mục tiêu tấn công cho các đơn vị, ban chỉ đạo đã gặp nhiều điều khó xử. Cả hai đại đội đều đòi đánh mục tiêu "cán bộ bình định". Gặp trường hợp này nếu là người chỉ huy có bản lĩnh phải xem xét nghiêm túc, khả năng, sở trường và tình hình lúc đó để trao nhiệm vụ cho từng đơn vị một cách thỏa đáng. Anh Ba Th, tham mưu trưởng tỉnh đội phụ trách về quân sự đã không làm như vậy. Anh đã thay động tác chỉ huy bằng cách cho hai đơn vị gắp thăm tìm sự may rủi (!?).


Địa phương quân huyện gắp trúng vào mục tiêu: bọn biệt động quân, một mục tiêu cứng quá với sức của mình. Anh em bàn luận xôn xao:

- Xem lại xem, nếu mình không đủ sức đánh thì báo cáo lên cấp trên, không nên liều...

- Không cần đề nghị, dù chết cũng đánh.

- Keo này ăn đứng thua nằm... phải đánh cho ra trò, cho mấy thằng địa phương quân tỉnh biết chúng ta là người như thế nào...


Nhiều anh em dự cảm thấy trận đánh này rất nguy hiểm, khó có thể thoát chết. Một số anh em đã viết sẵn những bức thư vĩnh biệt người thân, giấu trong ba lô. Có ngươi "di chúc" chia cái tài sản nghèo của mình cho bạn. Tinh thần của toàn đơn vị trong trận đánh này là "ra đi không về".


... Địa phương quân huyện hành quân vào cách trận địa khoảng 100 mét, bị địch phát hiện. Đại đội trưởng Ba Trung ra lệnh: "Xung phong!". Toàn đại đội chạy ngược làn hỏa lực của địch, họ liều chết xông vào chiếm những công sự dã chiến của địch còn nóng bỏng khói lựu đạn. Tư Danh nhanh nhẹn dũng mãnh như con mèo rừng vồ mồi, anh vừa hất quả lựu đạn vào ổ súng của địch, khi tiếng nổ vừa bùng lên là anh đã có mặt trong công sự. Trong vòng mười phút đầu riêng Tư Danh đã chiếm được sáu công sự của địch. Các mũi tiến khá sâu vào trong trận địa địch. Bọn địch chỉ còn trụ giữ được một số ít công sự, nhiều tên nhào xuống sông chạy trốn.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 16 Tháng Sáu, 2021, 02:01:04 pm
Trận đánh ở đoạn kết thúc thắng lợi, bỗng kho xăng bên cạnh bị trúng đạn bốc cháy. Viên đạn ĐKZ của địa phương quân tỉnh, đã gây ra một tai họa lớn. Ánh sáng soi rõ từng lá cây ngọn cỏ. Toàn bộ địa hình của đại đội địa phương huyện nằm phơi ra trước những cặp mắt thù địch của bọn lính trong chi khu. Chúng hạ thấp nòng pháo 105 ly để bắn trực xạ, cộng với hỏa lực khác trong chi khu dội lên đội hình của họ. Số thương vong của ta tăng lên hàng chục người. Anh em phải rút lui một cách hỗn loạn, bỏ lại nhiều xác đồng đội...


Trận đánh bọn biệt động áo đen, địa phương quân huyện đã thắng nhưng phải trả giá quá đắt. Số cán bộ và chiến sĩ cốt cán đã hy sinh gần hết. Anh em tỏ ra rất bi quan và tức bực với sự chỉ huy của tỉnh. Trong cuộc họp rút kinh nghiệm, có đông đủ cán bộ tỉnh, huyện đại đội trưởng Ba Trung không tự kiềm chế được đã nói nặng lời: "Các ông bất tài về mẹ nó đi".


Từ sau trận đánh bọn biệt động áo đen, địa phương quân huyện phải ngừng mọi hoạt động để củng cố, tối gần nửa năm vẫn chưa hồi phục được như cũ.

Đêm hôm ấy, từ lúc nghe tiếng súng nổ nhiều ở phía Tri Tôn, hầu hết các gia đình dân Nam Thái khó ngủ, nhiều người mẹ, người vợ có con trong bộ đội, đã chong đèn, lo lắng tới số phận người thân của mình.


Mờ sáng hôm sau đã có tin đưa tới các dòng kinh: Quân ta chiến thắng to. Địa phương quân huyện và tỉnh đã đánh tiêu hao nặng đại đội biệt động áo đen và hai đoàn "cán bộ bình định" của địch. Nhà này truyền tin cho nhà khác, không khí vui vẻ náo nức. Trong niềm vui, các gia đình bộ đội còn phập phồng lo âu, không hiểu người thân của mình trong trận đánh đêm qua, may rủi thế nào. Đoàn thể phụ nữ phân công các mẹ chiến sĩ và một số chị em đi đón thương binh và mai táng các tử sĩ. Nhiều chị em không chờ đoàn thể phân công, đã chủ động bơi xuồng về phía Tri Tôn. Trịnh Thị Nụ là một trong số chị em đó.


... Đôi tay Nụ vẫn khua mạnh mái chèo để theo kịp chị em, nhưng trong đầu chị vẫn triền miên suy nghĩ: "Anh ấy không hiểu có làm sao không?". "Trong xã ta không hiểu có ai làm sao không?". Mấy năm nay, mỗi lần nghe tiếng súng nổ nhiều ở đây đó, trong huyện, những câu hỏi đó thường day dứt trong đầu Nụ, và mỗi lần như thế là Nụ lại khóc thầm. Một lần Nụ đang gặt lúa, nhận được tin bộ đội chiến đấu ở Kinh Hai, còn sót thương binh chưa lấy về được. Kinh Hai còn đồn địch đóng, chỉ người nào còn thế hợp pháp đi lại ban ngày mới không bị địch bắt giữ. Nụ bỏ liềm trên đám lúa đang cắt dở, rồi bơi thẳng xuồng tới nơi vừa xảy ra trận đánh.


Nụ tìm được anh Nguyễn Văn Lúa bị gãy một bên chân. Nụ cõng Lúa đặt xuống xuồng của mình, rồi kiếm chà xếp lên trên, giả như người đi kiếm củi.

Lúa đau quá, khẽ rên rỉ. Nụ động viên:

- Từ bây giờ trở đi có đau cũng phải cắn răng lại, kêu rên lộ ra là chết cả.

Nụ bơi xuồng tới gần đồn địch, mấy tên lính đang chĩa cá bên bờ kinh, nhìn thấy Nụ trắng trẻo xinh xắn, chúng buông lời chọc ghẹo:

- Ồ... người đẹp ở đâu mà hôm nay mới xuất hiện.

- Cô em đi đâu đó?

Nụ trả lời đường hoàng:

- Lấy củi, mắt không nhìn thấy sao.

- Liệu trong củi có nhân không... cô em?

- Mắt mở to như thế kia, có hay không mà không thấy sao.

- Chỉ thấy em thôi.

Được một câu đùa ý nhị, cả bọn lính cười "hố hố". Nụ vẫn đều tay đẩy xuồng đi qua trước mặt chúng.

Nụ đưa thương binh thẳng tới nơi cơ quan Huyện ủy đang ở. Ba Ca, bí thư Huyện ủy tỏ ra vui mừng khen ngợi:

- Em đã làm một việc tốt mà nhiều đảng viên chưa chắc đã làm nổi.

Từ ngày ấy đến nay, rất nhiều lần Nụ cùng chị em làm nhiệm vụ tải thương và chăm sóc thương binh không nề hà khó khăn nguy hiểm.


... Dọc đường kinh lác đác một vài chiếc xuồng, đã đón được thương binh tử sĩ trở về, các chị em chở xuồng người nào cũng khóc như đám tang. Chẳng còn hiểu đầu đuôi ra sao nữa. Nụ cũng thấy mình xúc động, nước mắt cứ tràn ra.


Có hai anh bộ đội bơi xuồng từ phía trước về, Nụ hỏi tin tức trận đánh. Các anh tỏ ra rất lạc quan:

- Thắng to lắm. Địch chết rất nhiều. Kế hoạch bình định của chúng chắc chắn bị phá tan tành rồi.

Chỉ có một trận đánh thôi, mà mỗi người một thái độ khác nhau, người thì buồn rười rượi, người thì tươi roi rói. Nụ mỉm cười và lẩm bẩm một mình. "Có lẽ cánh phụ nữ mau nước mắt, khi thấy một vài ngươi bị thương bị chết...".


Đến cánh đồng trống, Nụ thấy thấp thoáng có người dìu nhau ở phía trước, chị đẩy mau mái chèo.

Nhìn thấy Nụ, một anh bộ đội gọi to:

- Chị Năm!

Nụ cho xuồng chậm lại, có ý định đón hai người lên. Hai anh bộ đội một lành một bị thương trao đối với nhau gì đó. Anh bộ đội người cùng xã với Nụ nói:

- Chúng tôi kè nhau về được, chị đi nhanh lên, đẳng còn thương binh nặng. Ngừng một lát anh bộ đội nói có vẻ thanh minh. - Chị Năm à... đánh trận này tức muốn điên lên được. Rõ ràng là mình thắng rồi, có người thu năm, sáu khẩu súng ra khỏi trận địa mấy trăm mét rồi mà đành bỏ lại... Mấy thằng cha địa phương quân tỉnh, bắn một phát ĐKZ trúng kho xăng cháy sáng như ban ngày. Thế là đạn của bọn chi khu cứ việc nhằm vào lưng quân mình, ức hộc máu ra được... Thôi chị đi nhanh lên.


Mỗi lúc một nhiều xuồng bơi ngược chiều với Nụ, các má, các chị ngồi trên xuồng, người nào cũng nước mắt ngắn, nước mắt dài. Nhiều người đã đi sớm hơn Nụ, chị em xông thẳng vào gần nơi xảy ra chiến sự để tìm thương binh bị lạc. Cô Lụa gặp Danh - người dũng sĩ xông xáo nhất trong trận đánh đã bị thương cả hai chân nhưng vẫn cố gắng bò tới một gò đất cao chờ người tới cứu.


Bây giờ Nụ mới hiểu: Tại sao ta chiến thắng lớn mà chị em phụ nữ Nam Thái buồn như vậy. Thanh niên Nam Thái chiếm số đông trong bộ đội huyện, vì vậy chiến thắng này nhân dân Nam Thái phải đóng góp phần nặng nề nhất.


Hoàn thành nhiệm vụ đón thương binh, và biết chắc chắn chồng mình còn sống, nhưng đi qua kinh nào cũng thấy tiếng khóc hờ chồng hờ con, Nụ thấy bàng hoàng xót xa. Nghĩ đến hạnh phúc riêng của mình trong chiến tranh lửa đạn này, sao nó mỏng manh quá, thế là Nụ lại khóc thầm.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 16 Tháng Sáu, 2021, 02:02:31 pm
Chương năm
TẾT MẬU THÂN

1


Gần tới giờ giao thừa, khu rừng tràm Nam Thái càng trở nên tĩnh mịch, nghe rõ từng cành cây cựa mình và tiếng gió lá thì thầm. Ở đâu đó rất xa, rất xa mơ hồ như ảo giác có tiếng gà gáy đang đổ hồi chen lẫn tiếng súng cầm canh. Trong văn phòng Huyện ủy chỉ còn vài ba người thao thức chờ đón giao thừa. Có tiếng của ai đó từ trong bóng tối vẳng tới:

- Có cậu nào đó còn thức, thắp đèn mang lên hội trường nghen.

Trong nhóm người còn thức có tiếng hỏi nhau:

- Hình như tiếng anh Ba, chắc có cuộc họp gì khẩn cấp.

- Cậu lấy đèn mang lên đi.

Lát sau trong cái hội trường nhỏ xíu, có vách lá che kín xung quanh, ánh đèn măng xông sáng rực, các ủy viên thường vụ và một vài cán bộ đầu ngành có mặt ở nhà lục tục kéo nhau tới hội trường. Những bộ mặt ngái ngủ cau có nhìn nhau, chưa hiểu có chuyện gì mà họp hành vào nửa đêm như thế này. Trong chiến tranh việc dựng nhau dậy lúc đêm khuya, chẳng có gì là đặc biệt, nhưng đối với ngày tết "ngừng bắn" việc đó lại trở nên không bình thường, nhiều người đã chuẩn bị cho một vài đêm ngủ ngon lành nên khi bị dựng dậy, họ cảm nhận thấy có gì khác thường trong cuộc họp này.


Trên khuôn mặt tròn, đôi mắt sáng đầy tự tin của bí thư Huyện ủy không che giấu niềm vui mới. Anh đưa bàn tav về phía Hai Thiết:

- Đồng chí Hai Thiết, Tỉnh ủy viên, kỳ này về tăng cường cho huyện ta, theo sự phân công của Thường vụ tỉnh, đồng chí Hai Thiết sẽ là bí thư Huyện ủy, tôi và đồng chí Hai Hiếu là phó. Đồng chí Hai Thiết thay mặt Tỉnh ủy giao nhiệm vụ cho đảng bộ ta.

Các cử tọa vỗ tay, xen lẫn tiếng ồn ào bàn luận.

- Thưa các đồng chí! Hai Thiết vừa nói dứt câu, mọi người trở lại trật tự, anh nói tiếp. - Cuộc chiến tranh đặc biệt, đế quốc Mỹ cố giấu mặt để thực hiện chính sách thực dân kiểu mới, nhưng khi thấy bọn ngụy có nguy cơ thua cuộc, buộc chúng phải lộ nguyên hình là một tên xâm lược thực dân kiểu cũ. Chúng ồ ạt đưa quân và vũ khí vào miền Nam, chúng đưa không quân ra đánh phá miền Bắc, mở rộng cuộc chiến tranh với mức độ ác liệt chưa từng có. Chúng đã đưa vào miền Nam hơn bốn mươi vạn quân Mỹ và chư hầu, cộng với hơn nửa triệu quân ngụy mở hai cuộc phản công lớn, nhưng vẫn không xoay chuyển được tình thế trên chiến trường, mà ngày càng lún sâu vào thế bị động lúng túng. Ngược lại, phía cách mạng đã tiến lên những bước vững chắc, giữ vững thế tiến công, phối hợp với các lực lượng đấu tranh nhịp nhàng, nhiều vùng nông thôn được giải phóng áp sát các đô thị, trong các đô thị phong trào công nhân, học sinh, sinh viên liên tục nổ ra với khí thế ngày càng mạnh mẽ... Nhận rõ thời cơ đã đến, Bộ Chính trị và Trung ương ra lệnh phát động toàn Đảng toàn dân ta thực hành tổng công kích và tổng khởi nghĩa, bắt đầu thực hiện đồng loạt vào đêm 30 Tết Mậu Thân này.


Nghe tới đó tất cả các cử tọa dường như nín thở. Hàng chục cặp mắt mở to không chớp, nhìn như thôi miên vào khuôn mặt khắc khổ của Hai Thiết. Họ sung sướng nhận thức trong tiếng nói của người lãnh đạo cao nhất huyện chứa đựng niềm hy vọng lớn lao đã nung nấu trong máu lửa, nay sắp trở thành hiện thực.

- Các lực lượng bộ đội chủ lực sẽ tiến vô giải phóng các thành phố đô thị. - Hai Thiết tiếp tục nói với niềm phấn khởi tin tưởng như gần tuyệt đối. - Nhiệm vụ của huyện ta, sẽ huy động tất cả các lực lượng bao vây và đánh chiếm các đồn bốt, chiếm lộ 80. Đại đội địa phương quân, rút ra một trung đội tăng cường cho tỉnh đánh vô thị xã, còn hai trung đội đứng ở Nam Thái sẽ tổ chức pháo kích vô Tri Tôn, nếu thị xã Rạch Giá được giải phóng, đó là thời cơ chúng ta sử dụng hai trung đội địa phương quân phối hợp với du kích Nam Thái cùng với lực lượng chính trị vào chiếm Tri Tôn...


Hai Thiết phổ biến nhiệm vụ xong, Ba Ca và Hai Hiểu mỗi người phát biểu thêm về biện pháp tổ chức tiến hành và phân công các cán bộ xuống phổ biến cho các xã, rồi cuộc họp giải tán.


Thời gian tổng tấn công và tổng khởi nghĩa đúng vào giờ giao thừa mà đã quá giờ giao thừa rồi, mới ra khỏi cuộc họp. Mọi người phải "vắt chân lên cổ" chạy, vẫn cảm thấy mình còn chậm chạp.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 16 Tháng Sáu, 2021, 02:03:15 pm
2

Cơ quan Huyện ủy đóng trên đất Nam Thái, nên Nam Thái là xã nhận nhiệm vụ sớm nhất. Sáng ngày mồng một Tết, xã đã tập hợp được du kích và tự vệ của các ấp gồm 206 người, tổ chức ra thành ba đại đội, do xã đội trưởng Tư Quang và xã đội phó Riểu chỉ huy. Hai đại đội được điều ngay đến bao vây đồn khu 3. Còn một đại đội du kích xã được giao nhiệm vụ ngăn chặn địch ở Kinh Năm.


Các đơn vị vừa vào vị trí chiến đấu xong xuôi, đã nghe thấy tiếng tù và, thùng thiếc, thau chậu ồn ào như bão tố nổi lên từ Kinh Tư lan dần sang các kinh khác, một lát sau rộ lên tiếng lựu đạn nổ ở Kinh Tư.


Tiếng súng, tiếng lựu đạn nổ kéo dài khoảng hơn một tiếng đồng hồ mối dứt. Tư Quang nhận được tin địch có khoảng một đại đội tăng cường do thằng đại úy Mọi chỉ huy, chúng vô Kinh Tư đã gặp địa phương quân và một bộ phận của T80. Hiện nay địa phương quân và anh em T80 đã rút, địch đang tiến về phía Kinh Năm.


Du kích đã nhiều lần chạm trán với bọn bảo an do thằng đại úy Mọi chỉ huy. Chúng thường hay giở trò cho một bộ phận nhỏ vòng vào sườn ta, nằm lại ở một vị trí nhất định, gây tiếng nổ thu hút sự chú ý có tính chất nghi binh; lực lượng chủ yếu thường dàn ra đánh thẳng vào chính diện trận địa của ta. Nếu ta bắn chúng chết một vài tên, cả bọn còn lại nằm luôn tại chỗ bắn chán rồi rút. Nếu trận địa của ta bị thủng, thì mấy thằng nghi binh kia cũng lập tức xông tới.


... Bọn địch đã vượt qua những đám cỏ rậm, cách trận địa của du kích khoảng hai trăm mét, đứa nào cũng đề phòng, tay nâng súng, lưng khom thấp mặc dầu cái lưng khom của chúng cũng chẳng có tác dụng gì trên cánh đồng trống trải này.


Các chiến sĩ du kích đã gắn chặt đường ngắm của mình vào các mục tiêu di động trước mặt, chờ lệnh.

Những tên lính ngụy vẫn nhấc từng bước nặng nề, đầy lo sợ, nhích dần vào tử địa.

"Bắn"! Một tiếng thét ngắn ngủi khô khốc từ miệng Tư Quang phát ra, lập tức những nòng súng của du kích giật lên, khạc lửa. Khoảng hơn một chục tên lính ngụy gục ngã trên ruộng cỏ. Những tên còn sống vội vàng nằm tại chỗ bắn vô tội vạ, rồi xê dịch chiếm địa hình che khuất.


Du kích chuyển sang bắn tỉa, nổ từng phát để tiết kiệm đạn.

Bọn địch ở phía sườn ta vẫn nổ từng loạt dài đạn liên thanh, nhưng tổ du kích bảo vệ phía đó vẫn chưa phải động tay.

Thế trận vẫn nhùng nhằng, nằm bắn nhau tại chỗ. Xem ra tên Mọi ác ôn lần này tỏ ra ngoan cố hơn, nó điều chỉnh lại đội hình, rồi lại thúc bọn lính xông vào lần nữa.

Bọn lính ngụy cắp súng vào nách vừa bắn vừa chạy được khoảng mươi mét đã gặp phải hỏa lực liên thanh, súng trường của du kích quật ngã hàng chục tên, chúng hoảng sợ quay đằng sau cắm đầu chạy.

Thấy đội hình địch rối loạn, nắm thời cơ Tư Quang hạ lệnh toàn đơn vị xuất kích. Anh em du kích vọt ra khỏi công sự, hô xung phong vang trời.

Trận chống càn kết thúc tốt đẹp. Du kích đã tiêu hao nặng một đại đội địch (giết 20, bị thương 30), bắt sống tên trung sĩ ban hai, thu một số vũ khí.

Bọn chỉ huy chi khu Tri Tôn tỏ ra cay cú. Ngay ngày hôm sau chúng vét hết số quân có thể cơ động được, gồm năm trung đội bảo an, dân vệ được đưa vào cuộc trả đũa, vẫn do tên Mọi chỉ huy. Chúng tiến vào Kinh Năm, với hành động thận trọng nhưng ngoan cố hơn.


Lực lượng ta vẫn không thay đổi, nhưng công sự được củng cố vững chắc, và thêm bí thư Huyện ủy trực tiếp chỉ huy.

Trận đánh diễn ra từ mờ sáng đến gần tối, du kích đã đánh lui nhiều đợt xung phong của địch, loại ra khỏi vòng chiến 41 tên.

Từ ngày mồng ba Tết trở đi du kích Nam Thái ngày nào cũng phải chống càn. Số thương vong của du kích không đáng kể, nhưng nguồn tiếp tế đạn dược khan hiếm, không đủ bổ sung hao hụt sau mỗi trận đánh. Khoảng một tuần lễ sau, trận địa của du kích bị thủng. Địch trong đồn "khu 3" nống ra. Chiến trường trên đất Nam Thái lại trở về tình trạng như ngày trước tết.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 16 Tháng Sáu, 2021, 02:04:09 pm
3

Ba Non chuẩn bị cho du kích và nhân dân đón cái tết "ngừng bắn", đến tối mồng một anh mới có thì giờ xả hơi. Anh về một gia đình cơ sở ở đầu doi, đến nơi vừa đúng lúc mâm cơm bày lên bàn.

Nhìn thấy Ba Non tới mọi người reo lên:

- Anh Ba đến đúng lúc.

- Ôi anh Ba! Anh thiêng quá, mọi người vừa nhắc đến...

Chủ nhà và mấy anh bộ đội kéo Ba Non vào bàn tiệc. Không khí bình yên hiếm hoi này khiến mọi ngươi vui vẻ hơi ồn ào. Trên mâm cỗ đầy món ăn điểm thêm một đĩa bánh tét màu xanh lá làm cho hương vị tết tăng thêm. Ba Non vừa ngồi xuống ghế, Sáu Hạnh đã rỉ tai "Thiệt hên... anh đến, tôi định cử người đi tìm". Nghe cách nói của Sáu Hạnh có chứa sự quan trọng, nhưng trong không khí tết nhất đang vui vẻ, Ba Non không hỏi lại.


Mọi người nâng cốc chúc mừng nhau. Có chất men vào, mọi câu chuyện trở nên hồn nhiên hơn. Nhiều câu chuyện của họ gợi đến những kỷ niệm thời thơ ấu, những niềm vui trong chiến trận. Ba Non chỉ góp vui với các bạn bằng tiếng cười. Trong chiến tranh ít có ngày nào đáng tin cậy vào sự bình yên bằng ngày Tết ngừng bắn. Ăn xong, Ba Non nằm ngả lưng xuống giường, với hy vọng ngủ bù cho bỏ những đêm thức trắng. Giấc ngủ đang sâu, không hiểu ai phát mạnh vào vai mình, Ba Non dụi mắt xem ai gọi mình.


Sáu Hạnh cười, hỏi:

- Tỉnh chưa nào?

Sáu Hạnh kéo tay Ba Non, ý nói ra ngoài kia. Theo thói quen của ngươi đã dày dạn với chiến trận, Ba Non đứng bật dậy theo bạn. Hai người ra đứng cạnh cây vú sữa. Sáu Hạnh nói vẻ xúc động:

- Có lệnh của Trung ương: Toàn miền Nam tổng tiến công và tổng khởi nghĩa, tất cả các nơi đúng 12 giờ đêm 30 Tết Mậu Thân này sẽ vào đánh thành phố, đô thị, từng địa phương phải chủ động phát động quần chúng kết hợp với lực lượng vũ trang tự giải phóng địa phương mình.

- Chúng tôi chưa nhận được lệnh gì của huyện.

- Tôi nhận được lệnh của tỉnh, ai ở địa phương nào sẽ phổ biến luôn cho địa phương đó. Vì lệnh này xuống khẩn cấp và yêu cầu giữ bí mật tuyệt đối. Tôi phải đưa đơn vị ra thị xã đây.

Có cái gì đó thật to lớn mà bấy lâu chồng chất trong hoài bão, bây giờ sắp bùng ra để trở thành hiện thực, làm cho Ba Non thấy choáng ngợp, sung sướng. Anh đứng lặng giây lâu, nhìn theo những chiến sĩ biệt động của thị xã mất hút vào bóng đêm, rồi mới chợt nhớ ra mình có bao nhiêu công việc phải làm gấp.


Cuộc họp của cán bộ và du kích xã được triệu tập khẩn cấp. Ba Non phổ biến kế hoạch phát động quần chúng, huy động lực lượng bao vây đồn bốt, công tác binh vận. Cuộc họp sắp sửa kết thúc, Ba Hanh cùng một số cán bộ của xã Mỹ Lâm đến. Ba Hanh nói chen vào cuộc họp:

- Theo lệnh của huyện, chúng tôi phối hợp cùng các đồng chí đánh chiếm Sóc Xoài. Ban chỉ huy chung của khu vực hai xã ta gồm anh Ba làm trưởng, tôi và anh Tư, trung đội trưởng "T80" làm phó. Toàn huyện sẽ thực hiện nhiệm vụ tổng công kích và tổng khởi nghĩa trước khi trời sáng.

Thời gian quá gấp gáp, nhiều người còn chưa thật rõ nhiệm vụ, đã phải tỏa xuống cơ sở. Ba Non và Ba Hanh đưa lực lượng du kích sang thị tứ Sóc Xoài. Họ vừa bố trí đội hình xong đã nghe thấy tiếng súng nổ, tiếng tù và, tiếng trống, mõ từ khắp nơi dội đến.


Sáng mồng hai Tết, từ khắp các ngả bà con xếp thành đội ngũ kéo nhau tới chợ Sóc Xoài. Cờ đỏ rợp trời. Tiếng hô khẩu hiệu như sấm ran. Những đoàn người bủa vây xung quanh những bốt nhỏ và hội đồng xã. Tiếng loa kêu gọi, hù dọa binh lính địch. Bọn chúng hoảng sợ trước khí thế xung thiên của quần chúng. Hầu hết các đồn lẻ đóng chừng một tiểu đội đều bỏ chạy. Bọn lính ngụy đang đi phép tết, vội vàng cởi áo lính trốn lủi không dám về đơn vị. Quân và dân hai xã vây trụ sở hội đồng xã Sóc Sơn đến hai giờ chiều thì đồn hội đồng bỏ chạy.


Không khí tổng công kích và tổng khởi nghĩa như trào xô bão cuốn. Lớp lớp thanh niên hai xã Mỹ Lâm và Sóc Sơn kéo nhau tối gặp ban chỉ huy, xin nhập lực lượng vũ trang. Du kích hai xã đã có ba mươi tay súng, số thanh niên mới tình nguyện đã bổ sung cho bộ đội huyện tỉnh được hơn ba mươi người.


Ngày mồng ba Tết. Sau khi địch đẩy lực lượng ta ra khỏi thị xã Rạch Giá chúng rảnh tay dùng hỏa lực phản kích ra xung quanh. Đạn pháo địch từ Rạch Giá bắn dữ dội vào thị tứ Sóc Xoài, đã gây ra nhiều đám cháy. Nhân dân trong thị tứ phải sơ tán ra các ấp xung quanh. Các đội du kích phải dựa vào những nhà gạch và đào công sự để đề phòng địch phản kích.


Khoảng mồng năm, mồng sáu, địch đưa lực lượng bộ binh ra phản kích. Từ đó trở đi, hàng ngày liên tục xảy ra những trận đánh giằng co quyết liệt, nhưng du kích vẫn giữ vững trận địa, làm chủ Sóc Xoài được mười sáu ngày đêm mối rút.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 17 Tháng Sáu, 2021, 06:55:55 pm
4

Chiến trận diễn biến ở phía xã Bình Sơn. Ngày mồng một Tết, dưới sự chỉ huy của xã đội trưởng Tư Chiến và bí thư chi bộ kiêm chính trị viên xã đội Bảy Tị, các lực lượng vũ trang và quần chúng đã tràn lên lộ 80 bao vây đồn Vàm Rầy, đồn Ranh Hạt và đồn Kinh Tư. Qua một ngày đêm không lúc nào ngớt tiếng tù và, tiếng trống, mõ, tiếng loa kêu gọi đã uy hiếp tinh thần địch. Tối ngày thứ hai đồn Ranh Hạt và đồn Kinh Tư phải bỏ chạy. Du kích thu được một trung liên và nhiều súng tự động.


Ngày mồng ba, khoảng một đại đội địch từ Kiên Lương (Hà Tiên) theo đường bộ tới hòng giải tỏa cho bọn lính ở đồn Ranh Hạt, nhưng chúng đến quá muộn. Du kích đã chiếm đồn, bố trí sẵn trong công sự. Du kích bất ngờ nổ súng. Chúng chưa kịp nhìn thấy đối phương, đã bị chết hàng chục tên. Trận đánh kéo dài cho tới chiều, địch vẫn không tiến thêm được một bước. Phía ta quân số có một trung đội, số thương vong đã lên tới bảy người, nhưng khí thế chiến đấu không hề giảm sút. Địch thấy không đủ sức kéo dài trận đánh, buộc phải khênh cáng nhau rút chạy.


Từ hôm đó không còn lực lượng nào đến chi viện cho bọn bị vây. Du kích hoàn toàn làm chủ đoạn đường từ Vàm Rầy đến Ranh Hạt kéo dài hai tháng trời, cả xã Bình Sơn lúc này địch chỉ còn lại đồn Vàm Rầy đang bị trong vòng vây rất chặt. Bọn địch trong đồn đã hết gạo, chúng phải dùng mũ sắt để giã thóc lấy gạo nấu cháo sống cầm hơi.


Các nơi lực lượng tiến công của ta đã rút khỏi các thị tứ, thị xã. Địch rảnh tay mở rộng các cuộc phản kích ra những vùng nông thôn. Du kích Bình Sơn không còn đủ sức trụ giữ trên tuyến lộ 80, phải rút lực lượng ra mé biển.


Hai tháng tổng tiến công và tổng khởi nghĩa, toàn huyện Hòn Đất đã quét hàng chục đồn bốt nhỏ (cấp tiểu đội, trung đội), cắt đứt tuyến lộ Rạch Giá - Hà Tiên, mở rộng vùng giải phóng. Các xã Nam Thái, Mỹ Lâm, Bình Sơn mỗi xã chỉ còn một đồn địch. Xã Sóc Sơn và Thổ Sơn đã mở rộng thêm vùng làm chủ.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 17 Tháng Sáu, 2021, 06:56:55 pm
5

Những ngày tổng công kích và tổng khởi nghĩa lực lượng vũ trang của huyện Hòn Đất đã dốc sức vào những trận đánh kéo dài liên tục, chưa kịp nghỉ ngơi lấy lại sức và nhất là chưa kịp bổ sung số vũ khí đã hao hụt. Khi địch điên cuồng phản kích, lực lượng vũ trang không còn đủ sức ngăn chặn địch lan tràn vào các ấp xã đã được giải phóng. Cuộc sống của nhân dân ở vùng giải phóng bị đảo lộn, không có mấy ngày được yên ổn. Địch đưa quân tới càn quét bắt bớ cán bộ, phá cơ sở cách mạng. Máy bay Mỹ tới rải thuốc hóa học phá rừng tràm, phá hoa màu. Trực thăng Mỹ, tàu "FOCA" Mỹ đổ bộ đánh phá căn cứ... gây thiệt hại lớn cho phong trào cách mạng. Nhân dân, những gia đình cách mạng luôn luôn phải đối phó với những tình huống nghiệt ngã. Thời kỳ này chỉ riêng xã Nam Thái, đã xuất hiện rất nhiều tấm gương các mẹ, các chị dám xả thân để bảo vệ cán bộ và bộ đội.


Mặc dầu sự khủng bố của địch luôn luôn đè nặng, nhưng nhiều gia đình vẫn có hầm bí mật để nuôi chứa cán bộ, bộ đội. Gia đình bà Phạm Thị Nguyệt là một trong những tấm gương đó. Bà Nguyệt anh em thường gọi là má Phụng. Từ sau ngày đồng khởi, mỗi lần đi công tác lẻ qua xã Nam Thái anh em bộ đội huyện, tỉnh thường tới nghỉ ở nhà má Phụng. Họ tin cậy má Phụng như mẹ đẻ của mình. Má cũng có bốn người con trai là bộ đội, hai trong số đó là liệt sĩ. Má chuyển tình thương yêu những giọt máu của mình thành tình cảm cách mạng. Nuôi chứa cán bộ, bộ đội ở thời điểm này hoàn toàn khác những ngày trước Tết Mậu Thân. Địch sục vào ấp như cơm bữa, không có lực lượng nào ngăn cản chúng. Một lần có năm anh cán bộ và bộ đội ở hầm bí mật trong nhà má. Em Trung - thằng bé hàng xóm lên mươi tuổi tới phiên gác. Ngồi trên cây cao, Trung vừa ăn xôi, vừa nhìn bốn phía. Đúng vào lúc miệng em đầy xôi, địch tới gần. Em ú ớ không phát được ám hiệu báo động.


Nghe thấy tiếng ú ớ của Trung như người bị bóp cổ, mọi người biết địh đến gần. Hai anh bộ đội thiếu bình tĩnh chạy ra ngoài đồng, đã bị chúng bắn chết. Còn lại hai anh ở trong nhà, chưa kịp xuống hầm bí mật, các anh đã lợi dụng vỉa hè làm công sự chống lại chúng. Bọn địch chết và bị thương ba tên. Chúng phải rút lui. Địch chạy xa rồi, mọi người mới tin rằng mình còn sống. Thật hú vía. Chỉ chậm một chút xíu nữa là chết hết với chúng nó.


Giữa thời kỳ này xã phát động mỗi gia đình có từ một tới ba hầm bí mật để nuôi chứa bộ đội và thương binh. Nhà má mới có một cái hầm, má nhất quyết phải đào thêm hai cái nữa. Ở nhà với má chỉ còn Bé Năm mới mười lăm tuổi và Út Tuân là con trai út mười tuổi. Ban ngày bé (gái) Năm với út Tuân cuốc xới đám đất ở đầu nhà để có đất mới, tối đến ba mẹ con thay nhau đào hầm bưng đất tới đổ lên đám đất mới cuốc để xóa dấu vết. Từ ngày có ba cái hầm bí mật, trong nhà má không mấy ngày vắng khách. Có chỗ ở lại nghĩ tới cái ăn. Chỉ có ba mẹ con chân yếu tay mềm, nhưng má cấy tới mười công đất, có vụ được ba trăm giạ lúa. Phần lớn số lúa dành cho việc nuôi chứa cán bộ và bộ đội. Sau này khi kể chuyện lại những ngày gian khổ ấy, má thường nói: "ở xã Nam Thái cứ 100 bà má thì có tới 99 bà má làm như vậy. Có bà má nhà hết gạo, phải đi vay chịu đến mùa trả, để nuôi cán bộ, bộ đội...". Má Phụng thấy việc nuôi chứa những người cách mạng như một nghĩa vụ thiêng liêng, giống như con mình đẻ dứt ruột ra mình phải yêu thương chăm sóc vậy. Má không còn nhớ bao nhiêu lần vì việc nuôi chứa cán bộ, bộ đội mà tính mạng gia đình má bị đe dọa. Hai lần địch bắt đưa má vào nhà tù tra tấn, gần một năm trời má không hề khai báo một lời. Khi ở nhà tù về, má lại bắt tay ngay vào những công việc âm thầm của một bà mẹ chân chính trong chiến tranh, lại lam làm nuôi con, nuôi bộ đội.


Một lần nữa vào giữa năm 1968, đêm đã khuya chị Sáu Tháo, bí thư chi bộ đưa hai anh bộ đội đến nhà má. Trong nhà má lúc này có một thương binh do quân y huyện đội gửi. Anh thương binh ấy là con trai của má. Sáu Tháo vừa nói:

- Chúng con tới nhờ má vài bữa...

Không chờ Sáu Tháo nói dứt câu, má đã hỏi:

- Bọn bây đã ăn cơm chưa, để má bảo em nó đi nấu.

- Chúng con ăn hồi tối còn no.

- Nếu vậy thu xếp chỗ ngủ đi. Bọn bây cứ ngủ trên nhà, đã có tao gác cho. Cửa hầm ngay dưới gầm giường này.


Bọn trẻ vừa đặt lưng, đã có tiếng ngáy. Má ngồi ghé vào thành giường nhìn vào khoảng không đen tối. Tiếng côn trùng rên rỉ, tiếng chó sủa từ xa văng vẳng đưa vào tâm trạng của má nỗi buồn lo mênh mông. Chiến tranh không biết kéo dài đến bao giờ. Mỗi lần gác đêm cho cán bộ, bộ đội ngủ là hình ảnh đứa con xa lại hiện về. Thằng Hai Lượng đẹp trai, hiền hậu ít nói, là đoàn viên thanh niên lao động tự nhiên bỏ ấp vào lính ngụy. Trong ấp nhiều người chê bai má không biết dạy con. Đúng là thằng Hai đã vào lính ngụy, nhưng má vẫn không tin nó sẽ hư hỏng, má đau khổ âm thầm chẳng biết thanh minh với ai. Hơn một năm sau Hai Lượng đeo cái lon trung sĩ ngụy về thăm má, nhìn thấy con má vừa thương vừa giận. Hai Lượng biết tâm trạng của mẹ, anh rỉ tai mẹ: "Con không bao giờ phản bội Tổ quốc đâu. Má cứ an tâm". Từ đó má gặp mọi người trong ấp không bị mặc cảm giày vò. Ít lâu sau Hai Lượng bắt sống tên Cuông, đồn trưởng mang theo súng về với cách mạng, bà con trong ấp mới vỡ lẽ "à, ra là như thế". Hoàn thành nhiệm vụ công tác nội tuyến, Hai Lượng xin vào đơn vị đặc công của quân khu. Má nhiều lần nhận được tin con lập chiến công, và cách đây vài ngày má nhận được tin Hai Lượng đã hy sinh trong dịp Tết Mậu Thân, rồi tiếp đến đứa con trai thứ hai... Má nhận đủ tất cả nỗi lo âu cay đắng của người mẹ chiến sĩ trong chiến tranh.


... Mờ sáng má ra đứng ở chái nhà, nhìn ra cánh đồng, thấy xe tăng của địch bò lổm cổm như cua. Chết rồi! Chúng nó đi ngược chiều gió nên không nghe thấy tiếng động cơ. Má vội vàng quát tháo om sòm:

- Sáng bảnh mắt ra rồi, không đứa nào chịu dậy xem lợn gà.

Nghe tiếng má nói to mọi người bật dậy, biết có địch tới gần, họ nhanh nhẹn chui xuống hầm bí mật.

Xe M113 dừng lại ở ngoài đồng, bọn lính ngồi trên xe nhảy xuống, xách súng kéo nhau vào nhà má Phụng. Một thằng hạ sĩ nói với má:

- Bà cho chúng tôi nấu nhờ một bữa cơm. - Chẳng chờ má trả lời được hay không được, tên hạ sĩ nói tiếp. - Nhà bà có gà hay có chó thì càng tốt, cho chúng tôi một con.

- Nhà tôi có mấy con gà nhép đó. - Má Phụng chỉ mấy con gà đang bới ở bờ rào trước cửa, rồi nói tiếp. - Có rau mùng tơi đó, các anh hái mà ăn tạm vậy.

Con chó tỏ ra không ưa gì bọn lính ngụy, nó lui ra một góc vườn rồi gầm gừ thỉnh thoảng lại sủa gâu gâu vài tiếng.

Thằng hạ sĩ vẫn lải nhải:

- Đi đêm hôm mệt mỏi, canh mùng tơi sao lại sức bà ơi.

Má Phụng nghĩ tới mấy đứa con mình đang ở dưới hầm bí mật, chỉ có một cái lỗ thông hơi bằng cái ống tre, nếu kéo dài thời gian chúng có thể bị ngạt. Làm sao đẩy nhanh bọn khốn nạn này đi càng nhanh càng tốt. Má nói với thằng hạ sĩ:

- Con chó nó dữ lắm, nếu các anh bắt được nó, tôi cho các anh.

Cả bọn lính reo hò đuổi theo con chó, tội nghiệp con chó, nó làm sao thoát khỏi bàn tay lũ ma quỷ ấy.

Bốn người ở dưới hầm bí mật, người nào người nấy mồ hôi đầm đìa, ai cũng có cảm giác ngạt thở. Họ phải chia nhau lần lượt, mỗi người ra ngồi cạnh lỗ thông hơi một lát. Họ nghe rất rõ tiếng cười nói của bọn lính ngụy.

Ở dưới hầm mỗi lúc thêm ngột ngạt, nếu kéo dài sẽ khó tránh khỏi cảnh chết ngạt. Họ thì thầm bàn với nhau:

- Chị Sáu... hay là ta liều... bật nắp hầm, ném lựu đạn rồi chạy.

-Không được. Có người nhà. 

- Thằng Tư xỉu rồi.

- Cho nó ra lỗ thông hơi.

Ở trên nhà, má Phụng vẫn đi lại giúp bọn lính việc này việc kia, trong bụng má như có lửa đốt, má chỉ mong bọn chúng nhanh chóng cuốn xéo đi. Bọn lính ăn uống xong. Một thằng lính tỏ ra tử tế, lấy mấy hộp thịt dúi vào tay út Tuân. Má Phụng gạt tay thằng lính và nói:

- Các anh đi trận mạc vất vả, mang theo mà ăn.

Thấy xe nổ máy, bọn lính vội vàng chạy ra cánh đồng. Má Phụng đi kiểm tra xung quanh nhà, thấy bọn lính đã rút hết, má bảo út Tuân mở nắp hầm.

Ba người sắp ngất xỉu, chỉ còn Sáu Thảo đủ sức ra khỏi hầm. Mẹ con má Phụng xúm lại kéo từng người bị đuối sức ra ngoài. Tư Nhuần trong tình trạng bất tỉnh, mặt trắng bệch như sáp, mắt nhắm nghiền, làm cho má Phụng lo sợ. Mọi người lay gọi hồi lâu Nhuần mới hồi tỉnh.

Nỗi lo sợ nhanh chóng qua đi. Sáu Tháo cười nói với má Phụng:

- Chỉ mươi phút nữa thôi thì chúng con vĩnh biệt má rồi. Lần trước con với Út Dơi, Út Gói cũng bị ngạt nhưng không đến mức như thế này.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 17 Tháng Sáu, 2021, 06:58:44 pm
6


Mặt trời đã vượt khỏi cánh rừng tràm phía đông. Từ sáng tới giờ không nghe thấy tiếng súng nổ. Anh em trong tổ quân y của quân y tiền phương của quân khu đang ở Kinh Hai hy vọng được yên tĩnh nghỉ ngơi. Họ đang ngồi trò chuyện bù khú với nhau ở trong nhà. Nhàn B đứng gác ở ngoài vào báo tin:

- Không hiểu bộ đội nào từ Kinh Tư dàn hàng ngang ở cánh đồng, và ở kinh Nam Thái cũng có khoảng một đại đội.

Mọi người tranh nhau nói:

- Làm gì có bộ đội nào ở đây mà đông thế?

- Nếu là địch mấy lần càn vừa rồi đều có xe tăng đi theo.

- Tốt nhất là ta cứ xuống hầm trước. Cảnh giác không thừa.

Ba anh bộ đội và Sáu Tháo, bí thư chi bộ kéo nhau xuống hầm. Mọi người vững tâm với cái hầm mình đang trú. Nó đã được thử thách qua mấy trận địch càn, chúng lấy lưỡi lê và thuôn sắt xăm chung quanh, nhưng không phát hiện được gì.

Hầm ở dưới cái giá kê bồ lúa, nắp hầm có khe hở nên nghe rất rõ tiếng động ở bên ngoài.

Tiếng giày nện cồm cộp và tiếng trao đối với nhau của bọn lính ngụy mỗi lúc một ồn ào. Anh em hồi hộp và cũng mừng thầm, mình đã xuống hầm kịp thời.

Một tên lính tới gần bồ thóc, nói to:

- Rõ ràng có một con bé từ chỗ này đi ra.

- Kiểm tra kỹ, có thể nó có hầm bí mật đâu đây.

Những người ngồi trong hầm chột dạ. Vừa rồi con gái của chị Nhỡn đậy nắp hầm trở về có thể chúng nó nhìn thấy chăng?

Tiếng lưỡi lê đâm "sột sột" xuống nền đất lấn dần vào phía cửa hầm. Bỗng nhiên có một luồng ánh sáng lờ mờ tràn xuống hầm. Một tên lính ngụy kêu hoảng hốt:

- Nắp hầm bọn bay ơi!

Y sĩ Nhàn ngồi gần cửa nói với Nhàn B đưa cho anh một quả lựu đạn. Ba Nhàn tính toán cách xử trí. Trong hầm chỉ có một khẩu cạc-bin và một quả lựu đạn, nếu ném lựu đạn rồi chạy ra cũng khó thoát, nhưng ngồi yên chờ địch ném lựu đạn xuống, càng nguy hiểm hơn. Anh quyết tâm chọn cách thứ nhất.

Bọn địch dùng sào dài thọc xuống cửa hầm, đầu sào chạm vào cái thùng dụng cụ mổ. Nghe tiếng động chúng chọc thêm vài cái rồi phán đoán với nhau:

- Đ.má thùng đại liên, đúng là thùng đại liên nghe tiếng va vào nó tao biết liền.

- Như vậy chúng nó có đại liên.

- Tản khai nhanh, chết bỏ ông nội bây giờ.

Tiếng chân chúng nện trên nền đất, rồi im lặng vài giây, lại có tiếng nói:

- Biết đâu chẳng phải cái kho của chúng nó, để tao làm cái cù nèo móc lên xem hòm gì.

Ba Nhàn thấy tiếc một thời cơ có thể ném lựu đạn. Giá ném ngay từ phút đầu, bây giờ chúng phân tán mất rồi.

Lại có tiếng "lục cục" trên thùng đồ mổ. Mỗi tiếng động như níu kéo các đầu dây thần kinh vốn đã căng thẳng của mỗi người trong hầm. Họ ngồi co lại sát gần nhau, không dám thở mạnh.

Bọn lính ngụy kéo được cái thùng đồ mổ lên mặt đất. Chúng cãi nhau:

- Cái này của tao.

- Đ.má công tao lấy lên.

- Mang về bán, cho cả trung đội làm một bữa nhậu.

Ba Nhàn phán đoán: "chắc lúc này chúng đang xúm lại xung quanh hòm đồ". Anh rút chốt quả lựu đạn da láng, toan ném, nhưng nghĩ lại, nếu ném lựu đạn ra còn mấy giây mới nổ, chúng có thể tránh được. Anh đứng dậy đẩy quả lựu đạn quả lựu đạn lăn về phía bọn lính đang đứng túm tụm. Một tên lính thét lên kinh hoàng "lựu đạn", cũng vừa lúc tiếng nổ chùm lên. Ba Nhàn giật khẩu cạc-bin ở tay Nhàn B, nhìn ra thấy khói mù mịt. Anh hô to "các đồng chí xung phong" rồi nhảy ra khỏi hầm. Nhảy theo y sĩ Nhàn là Nhàn B và Sáu Tháo. Thừa lúc bọn địch còn chưa hoàn hồn, mỗi người chạy theo một hướng mình tự lựa chọn.


Vừa ra khỏi hầm Ba Nhàn nhìn thấy một tên lính bị thương đang bò lên thềm nhà. Anh níu cò. Đạn nổ. Tên lính nằm sấp mặt, bất động. Một tên nữa đang bò ở mương cạn. Anh níu cò. Một tên nữa về chầu Diêm Vương. Trên mảnh vườn anh đang đứng, không còn một tên địch nào nữa. Có thể chúng nằm ở ngoài bờ kinh. Ba Nhàn quan sát và hạ quyết tâm rất nhanh. Nếu chạy vào rừng có thể gặp địch, tốt nhất là chạy tắt cánh đồng giữa Kinh Năm và Kinh Sáu. Chợt nhớ súng của mình sắp hết đạn, anh quẳng nó xuống mương nước, rồi quay ra chỗ xác lính chết ngổn ngang, nhặt ba khẩu tiểu liên quàng lên vai và xách một khẩu rồi ù té chạy. Một viên đạn M79 không biết từ đâu bắn ra, làm Ba Nhàn bị thương nhẹ. Anh tiếp tục chạy men theo chái nhà. Nhìn thấy một tên lính giương khẩu súng ga-răng nhằm về phía mình, Ba Nhàn nhanh tay hơn, anh găm về phía đó một loạt đạn tiểu liên, rồi tiếp tục chạy.


Sáu Tháo khi lên khỏi hầm chạy vào nhà dân, mượn quần áo cải trang làm lái buôn. Bọn lính đang lục soát trong xóm, nhìn thấy Sáu Tháo. Một tên hỏi:

- Chị này ở đâu?

- Tôi tới đây mua lúa.

Không may cho Sáu Tháo, một tên chiêu hồi đã nhận ra chị. Nó nói với tên chỉ huy:

- Chính nó là Sáu Tháo, bí thư chi bộ.

Mấy tên lính ngụy xông vào trói nghiến Sáu Tháo lại, rồi đẩy xuống chiếc xuồng dưới kinh kề đó.

Nhàn B chạy ra đến bãi tha ma, bị địch bắn chết.

... Các loại đạn tiểu liên, súng cối bắn đuổi theo Ba Nhàn, chưa đủ, chúng còn gọi trận địa pháo Tri Tôn nã pháo bắn chặn. Ba Nhàn bị thêm hai vết thương nữa. Đến gần Kinh Sáu, chỉ còn lại chiếc máy bay "cầu tiêu" vòng lượn rất thấp để ngăn chặn anh. Lúc này Ba Nhàn phần vì đã chạy một đoạn đường khá dài, phần vì vết thương, anh đã kiệt sức cố lê từng bước một. Đạn trên máy bay địch bắn xuống cày đằng trước cày đằng sau, nhưng "số phận" đã che chắn cho anh không bị trúng đạn.


Ba Nhàn cố lê vào nhà cô Út Mượt. Anh biết ở trong nhà ấy có hầm bí mật. Khi ngoảnh lại phía sau anh nhìn thấy vết máu in hình bàn chân trên lối đi. Ba Nhàn cởi áo xoa hết vết máu xong, mệt quá, anh ngồi tựa vào gốc tre tạm nghỉ, rồi ngất lịm đi lúc nào không hay.


Khi tỉnh dậy đã thấy mình ở trong rừng, anh ngơ ngác nhìn cảnh vật và những bóng người đi lại, vẫn tưởng mình đang trong giấc mơ. Anh nhắm nghiền mắt lại một vài giây rồi mở mắt ra vẫn thấy bóng hai cô gái, một cao mảnh khảnh và một bé loắt choắt như đứa trẻ lên mười, đang tất bật làm gì đó.

Cô gái loắt choắt nhìn thấy anh mở mắt. Cô reo lên:

- Chị Út ơi!... Chú Ba tỉnh rồi.

Lúc này Ba Nhàn mới chắc mình đang sống. Cô gái loắt choắt kia là Năm Nhỏ, con gái ông Sáu Ăng-lê, còn người kia là Út Dơi, em gái Sáu Tháo (vợ anh). Không hiểu mình đến đây từ lúc nào. Ba Nhàn tự hỏi. Tại sao người mình đau ê ẩm thế này.

- Chú Ba! Chú có nhận ra con không? Con là Năm Nhỏ đây.

Út Dơi tới ngồi bên cạnh Năm Nhỏ. Cô ngắt lời Năm Nhỏ:

- Anh Ba có nhận ra em không?. Thấy Ba Nhàn mỉm cười gật đầu, Út Dơi nói tiếp. - Chúng em đi tìm anh hoài, thấy anh nằm cạnh bụi tre. Ôi may quá. Chúng em đưa anh về đấy. Chắc anh khát nước lắm rồi, anh cố chờ một lát nữa, em lấy cháo cho anh ăn.

Bây giờ Ba Nhàn mới nhớ lại tất cả những gì vừa xảy ra đối với mình.

Ba Nhàn hỏi Năm Nhỏ:

- Ở đây chỉ có hai đứa bây?

- Dạ! Các chú về "Hòn" cả rồi.

Ba Nhàn đưa bàn tay lên vuốt đám tóc mềm mại của Năm Nhỏ. Anh nói với tình cảm của một người cha:

- Con còn quá nhỏ... làm cách mạng khó khăn lắm... dù thế nào cũng phải gắng chịu.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 18 Tháng Sáu, 2021, 08:07:59 pm
Chương sáu
CHUYỂN THẾ

1


Năm 1968. Với cái Tết Mậu Thân, huyện Hòn Đất giống như đống củi đang cháy được khơi lên hết mức, ngọn lửa bùng lên ánh sáng kỳ diệu, mọi người tràn đầy hy vọng, tưởng như cuộc tổng tấn công và tổng khởi nghĩa chỉ trong vài tháng là có thể quét sạch quân thù ra khỏi mảnh đất quê hương của mình.


Không lâu, niềm hy vọng đang căng phồng ấy xẹp dần, xẹp dần, không ít người tự hỏi: "Cái Tết Mậu Thân mình có bồng bột thái quá không?" và những câu hỏi tiếp sau đó.

Chiến tranh thật khắc nghiệt và khẩn trương, chẳng bao giờ chờ đợi mọi người thông hiểu mọi điều và nó cũng không dung nạp các loại lý thuyết dài dòng viển vông, nó đi theo cách của nó.

Chỉ vài tháng sau Tết Mậu Thân, lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị của Hòn Đất bị đẩy lui. Lúc đó cũng có người vẫn nhấn mạnh "Ta đang ở thế thắng, địch đang ở thế thua". Nhiều người muốn gạt sự đánh giá chiến lược chung chung sang một bên, thôi không bàn nữa, cứ nhìn ngay trước mắt xem tình hình ta, địch thế nào...


Các cơ quan Huyện ủy, bộ đội địa phương huyện lần lượt rời bỏ những cánh rừng tràm, rời bỏ những thôn ấp mà trước Tết Mậu Thân còn là căn cứ an toàn trở về Ba Hòn1 (Theo khẩu ngữ địa phương gọi Hòn hoặc Ba Hòn cũng coi là địa danh chỉ ba hòn núi: Đất, Me, Sóc).


Ba Hòn là những trái núi "rỗng" cô lập ở ven biển phía tây huyện. Nếu có cái ống nhòm, đứng trên bất kỳ hòn nào cũng có thể nhìn rõ khói bếp của từng căn hộ, từng ấp trong huyện. Nhưng khi đã vào cái căn cứ đặc biệt ấy tự nó đã tạo ra một khoảng cách, cộng với tác động của địch làm cho khoảng cách giữa cơ quan lãnh đạo của huyện với cơ sở quần chúng càng lớn.


Giữa lúc phong trào đang xuống, lực lượng vũ trang toàn huyện bị tiêu hao nặng nề không kịp bổ sung; cơ sở chính trị bị địch đánh phá liên tục, tư tưởng quần chúng xao xuyến, làm sao giữ vững mối liên hệ giữa lãnh đạo với quần chúng, làm sao ổn định được tình hình và đưa phong trào lên... là những câu hỏi không dễ dàng giải đáp.


Mấy hôm nay anh Hai Hiểu cân nhắc trong số huyện ủy viên, cán bộ phong trào ai có khả năng củng cố phong trào xã Bình Sơn. Chị Tư Ngần đã được xếp vào đầu bảng để lựa chọn. Từ lâu Tư Ngần thường được giao nhiệm vụ "gỡ rối". Năm 1966 cơ sở Đảng xã Bình Sơn bị địch đánh phá mất hết cấp ủy, chị được phân công xuống đây củng cố và đưa phong trào lên. Quen thuộc thân thế và con người của xã Bình Sơn, trong số huyện ủy viên có mặt trong hòn không ai hơn Tư Ngần. Nhưng Hai Hiểu còn đắn đo: giao việc giữa lúc cô ấy đang bệnh liệu có gây ra phản ứng gì không?


Hai Hiểu đến bệnh viện thăm và trao đổi công việc với Tư Ngần.

Trong hang dân y ngày cũng như đêm, phải có ánh đèn mới nhìn thấy mặt nhau. Tư Ngần và cô cứu thương Năm Nhỏ đang ngồi trò chuyện trước ngọn đèn dầu hỏa, nghe thấy có tiếng ai đó hỏi tên mình, Tư Ngần đáp rồi hướng mắt về phía đó.

- Cô Tư... sức khỏe đã khá chưa?

Nghe rõ tiếng Hai Hiểu, Tư Ngần vặn to đèn, ánh sáng màu vàng vọt tỏa rộng hơn trước một chút.

- Anh Hai. - Giọng nói của Tư Ngần nhỏ nhẻ yếu ớt. - Đã khá hơn, nhưng đi lại...

Chị định nói tiếp "chưa thật vững, mắt thường bị hoa", nhưng kịp dừng lại, chị thấy nói điều đó lúc này vô nghĩa, vì những người được coi là khỏe xung quanh mình cũng đều mang chứng bệnh ấy.

Chị nói lảng sang chuyện khác:

- Tôi nằm đây mới hơn một tuần lễ, mà sốt ruột quá chừng. Tình hình có gì mới không anh?

Hai Hiểu ngồi bệt xuống, ngả lưng vào vách đá, không trả lời ngay vào câu hỏi của Tư Ngần.

- Tôi đến thăm sức khỏe của cô. - Anh nói giọng trầm thư thả có vẻ quan trọng. - Tình hình có chiều hướng phức tạp hơn, có công chuyện tôi định nói với cô.

Nghe thấy bí thư Huyện ủy nói có "công chuyện", em Năm Nhỏ ý tứ đứng dậy đi chỗ khác.

Hai Hiểu nói tiếp:

- Vừa rồi lực lượng vũ trang của xã Sóc Sơn và Mỹ Lâm có đánh được vài trận. Mìn của du kích Sóc Sơn đã tiêu diệt gọn một trung đội biệt kích Mỹ. Cũng là gặp hên thôi, nó lấy được mìn của mình rồi, không hiểu làm sao chúng xúm quanh lại rồi để mìn nổ. Du kích xã Mỹ Lâm bắn chìm một "FOCA", bọn Mỹ ở trong tàu chết sạch. Anh em công binh huyện đánh cháy hai xe vận tải chở lính, số lính chết bao nhiêu chưa rõ. Bà con xã Nam Thái phục vụ việc chuyển quân vận tải trên tuyến hành lang chiến lược rất đắc lực, ngoài số thanh niên thiếu niên tham gia việc dẫn quân và vận tải, các bà má hằng đêm nấu cơm phục vụ bộ đội đi qua, có đêm nấu tới ba đợt. Hành lang chiến lược qua huyện ta vẫn được bảo đảm thông suốt, về hoạt động của địch, bọn biệt kích Mỷ dựa vào những tên phản bội ác ôn như thằng Tiến Đảnh, chúng liên tục "nhảy dò" và phục kích bắt cán bộ phá cơ sở của ta, gây cho ta nhiều tổn thất. Bình Sơn là xã bị địch đánh phá tổn thất lớn nhất. Không đầy ba tháng hy sinh hai bí thư chi bộ, số cán bộ xã đội bị thương vong liên tục, không kịp đào tạo người thay thế. Đồng chí Hòa mới được thường vụ quyết định là bí thư chi bộ, Hòa thì dũng cảm hăng hái đó nhưng chưa có nhiều kinh nghiệm công tác phong trào, nhất là trong lúc tình hình rất khó khăn phức tạp như hiện nay. Cô cũng biết đó. Bình Sơn là tuyến ngăn chặn thứ hai của địch trên hành lang chiến lược của ta, nếu ta không nhanh chóng củng cố tổ chức Đảng và lực lượng vũ trang ở đây thì nhiệm vụ trung tâm của chúng ta là bảo đảm đường hành lang thông suốt không thể hoàn thành nổi. Một mình Tư Hòa sợ bộn việc quá lại sinh ra sơ hở, cần có sự tăng cường chỉ đạo của Huyện ủy, nên cô xuống là thích hợp nhất. Cô xem sức khỏe thế nào, vài hôm nữa có thể đi được không?


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 18 Tháng Sáu, 2021, 08:08:34 pm
Tư Ngần thông cảm với sự đắn đo của đồng chí bí thư, chị cười nói:

- Anh yên tâm, tôi hết sốt rồi, mai mốt có thể đi được.

Hai Hiểu nói thêm về khả năng phát triển của tình hình và nêu ra những biện pháp tiến hành công tác, rồi anh tạt vào thăm anh em thương bệnh binh.

Ngồi một mình, đôi mắt tư lự của Tư Ngần nhìn vào khoảng không đen tối. Hình ảnh cái xã dài loằng ngoằng như một sợi dây bám lấy dòng kinh Tám Ngàn, hình ảnh những người thân quen ở xã Bình Sơn và những công việc mới mẻ sắp đến đang choán tâm hồn chị.


Hơn mười năm công tác cách mạng, những điều đã trải qua, đủ để cho Tư Ngần suy ngẫm cái hiện tại một cách vững vàng. Những người làm công tác phong trào không được phép chao đảo trước tình hình phức tạp, trước bước lui của lịch sử, dù có phải ngụp lặn gần như chết chìm cũng phải tìm thấy chỗ đứng của mình. Từ năm 1954 đến năm 1959 trong hoàn cảnh tay không một tấc sắt, tên đao phủ Ngô Đình Diệm lê máy chém đi khắp nơi, chém đầu bất kỳ ai tỏ thái độ chống lại chúng. Những năm đen tối ấy tưởng không bao giờ ngẩng đầu lên được, nhưng ý chí kiên cường bất khuất của những người cách mạng, của nhân dân dưới sự chèo lái anh minh của Đảng đã đưa tới đồng khởi năm 1960. Từ năm 1960 đến năm 1963 Mỹ - ngụy đưa ấp chiến lược - một thứ trại tập trung trá hình chụp lên các xã ấp trong toàn huyện, cán bộ và nhân dân phải sống những năm tháng lao đao lận đận, nhưng lòng vững tin ở thắng lợi của cách mạng và quyết tâm sáng suốt của lãnh đạo huyện đã đưa tới việc "tốc khu" năm 1963...


Tư Ngần biết khá rõ xã Bình Sơn như thế nào. Đã có lần vào năm 1966 địch tiêu diệt gần hết đảng viên và du kích xã, sau đó lần lần củng cố, tới Mậu Thân đã đưa được phong trào lên, và ngay sau Mậu Thân phong trào lại tụt xuống nhanh. Tới nay, địch coi Bình Sơn là một trọng điểm đánh phá, một tuyến ngăn chặn trên hành lang chiến lược của ta. Hầu như hàng ngày các loại máy bay (kể cả B.52) liên tục thả bom bắn phá dọc theo kinh Tám Ngàn, đêm đến tàu "FOCA” biệt kích Mỹ, máy bay trực thăng thay nhau tuần tiễu soi đèn trên mặt kinh như soi cá, chúng thấy bất kỳ vật gì đụng đậy là xả súng bắn không tiếc đạn. Dọc theo kinh Tám Ngàn, chúng xây dựng chiến lũy (kiểu hàng rào điện tử Mác Na-ma-ra) hàng rào kẽm gai nối liền chạy dài hai mươi cây số, dưới là bãi mìn và máy thu tiếng động; bên cạnh đó là "hàng rào” mật vụ, biệt kích, thám báo... Nhân dân các ấp không chịu đựng nổi sự đánh phá của địch đành bỏ nhà cửa ruộng vườn chạy lên lộ 80, và ấp Đạc Sáu chịu sự kiểm soát của chúng. Số cán bộ, đảng viên và du kích còn lại điểm trên đầu ngón tay, sống "lưu vong" bơ vơ ngay trên đất quê hương mình.


Phải làm gì để vực tình hình lên với lực lượng vật chất mỏng manh đó, nếu không có tổ chức chặt chẽ và ý chí sắt thép của những cán bộ đảng viên còn sống sót. Phải đưa họ vào các ấp bám lấy quần chúng, củng cố lại các tổ chức quần chúng, khai thác sức mạnh vô tận trong nhân dân để đưa phong trào lên. Không còn phép màu nhiệm nào khác nếu không bám được quần chúng. Suy nghĩ và suy nghĩ làm đầu chị nóng bừng choáng váng, Tư Ngần hoảng hốt sợ cơn sốt tái phát, sẽ giữ chân mình ở bệnh viện lâu hơn. Đối với chị bệnh viện là những ngày dài tù túng ngán ngẩm. Còn một lý do khác thôi thúc chị không chịu ngồi yên trong cái hang tối tăm đầy mùi thuốc men này. Cách đây không lâu, trong vòng ba tháng ba tấm khăn đại tang choàng lên đầu chị là cha, mẹ và cậu em ruột đã bị kẻ thù giết hại. Nước mắt nhớ thương và thù hận còn chưa khô trên khóe mắt chị. Bóng dáng những người thân thương oan khuất luôn luôn kêu gọi chị tiến lên. Tư Ngần đứng dậy vươn vai, mắt bỗng tối sầm lại, người lảo đảo muốn ngã, chị vội vã vịn vào tảng đá bên cạnh.


Ở ngách hang phía trong, tiếng Năm Nhỏ vọng ra:

- Chị Tư vô ăn cơm.

- Năm lại đây. - Trong lúc chờ thần kinh ổn định, Tư Ngần dặn dò Năm - Nhỏ. - Em nói với anh y sĩ chuẩn bị cho chị ít thuốc cảm sốt và cuộn bông băng, tối nay chị đi công tác nghen.

- Chị Tư... Chị đã khỏi bệnh đâu.

- Có công chuyện cần, chị phải đi. Ra công tác bên ngoài ở đồng bằng là chị hết bịnh. Em chuẩn bị mấy thứ đó, ăn cơm xong đưa cho chị nghen.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 18 Tháng Sáu, 2021, 08:09:20 pm
2

Đêm sáng trăng suông, cỏ cây sông nước đều phủ lên một màu xam xám bàng bạc. Không gian vắng lặng, tiếng gà gáy nghe mơ hồ rất xa như trên lộ Hà Tiên vọng tối. Vài mươi phút lại có tiếng máy bay trực thăng "ùn ụt" bay dọc theo kinh Tám Ngàn. Mỗi lần có tiếng máy bay, Hai Sơ lại chui vào bụi cỏ dại, mắt hướng về phía đó, nếu thấy ánh đèn pha trên máy bay không soi sáng về phía mình, anh lại tiếp tục kéo những sợi dây câu. Ôi may mắn kỳ lạ! Thả ba gắp câu, anh kéo lên, hầu như mỗi lưỡi câu được một con cá, con nào nấy to bằng bắp tay, bắp chân.


Anh xốc cái bòng đựng cá lên vai, thầm ước lượng: "Chừng này có thể đổi được hai giạ gạo”.

Mấy tháng nay số cán bộ, đảng viên "bất hợp pháp” của xã Bình Sơn vì liên lạc với gia đình bị đứt nối liên tục, anh em không được tiếp tế đều đặn, sống bữa đói bữa no. Họ phải tự túc bằng cách kiếm cá, nhờ dân (cơ sở) đem bán lấy tiền đong gạo và mua sắm những thứ cần thiết.


Kiếm được nhiều cá, Hai Sơ vui mừng như vừa lập chiến công. Anh nhanh nhẹn trở về căn cứ.

Nghe tiếng huýt gió làm ám hiệu, biết Hai Sơ đã kiếm cá về, Bảy Phước hỏi:

- Liệu có đủ bữa cháo không anh Hai?

Hai Sơ đặt bòng cá nặng trịch xuống trước mặt mọi người. Bảy Phước đặt tay lên sờ nắn túi cá rồi cười khà khà:

- Biết mà, anh Hai là vua sát cá. Thế này nhé. Bây giờ đói cũng không ngủ nổi đâu, các anh chờ tôi nấu một nồi cháo cá.

Hai Sơ không để ý đến điều Bảy Phước vừa nói. Anh hỏi:

- Các cậu cũng vừa về hen. Tình hình có gì không?

- Hiệp đồng tuyệt đẹp. Vừa về chưa kịp ngồi thì nghe thấy ám hiệu của anh.

- Đẹp. - Hai Phèn cười nói xen ngang. - sắp sửa phải nhịn đói rồi phải không anh Bảy.


Sau chuyến vào cơ sở "móc" gạo bị địch đuổi theo hút chết, Bảy Mốc đến bây giờ mới thấy thấm mệt, anh nằm xoài trên nền cỏ, không buồn góp chuyện, nghe Hai Phèn nhắc đến thất bại của mình, anh lên tiếng:

- Chúng mày yên trí, thua keo này ta bày keo khác, chúng ta kiếm được nhiều cá là chúng ta sẽ có gạo.

Không khí vui vẻ được Bảy Phước - anh chàng xã đội trưởng vừa tới tuổi thành niên khơi bùng lên ngắn ngủi rồi tắt ngấm. Sự mệt mỏi và nỗi lo lắng trước tình hình bi đát của xã, kéo tâm trạng mọi người trở lại trầm lắng. Mấy người lớn tuổi đốt thuốc hút, mắt chứa đầy suy tư nhìn vào đêm tối; còn mấy du kích trẻ vừa đặt lưng đã ngáy khò khò.


Đêm về khuya tiếng động càng vang xa. Thỉnh thoảng từ nơi xa xôi nào đó lại dội đến một loạt tiếng nổ của đạn pháo nghe như sấm rền. Loại tiếng động đó nhen vào lòng họ một nỗi buồn lo vu vơ.

Nghe tiếng đạn liên thanh và tiếng lựu đạn xen nhau nổ kéo dài trùm lên tất cả những tiếng động khác, Bảy Mốc nói với Hai Phèn:

- Tiếng nổ đó ở phía Lình Quỳnh, anh em mình lại gặp nó kích rồi.

- Có thế đoàn 195 dẫn quân qua hướng đó.

Hai Sơ đang nấu cháo nói vọng ra:

- Cháo sắp được rồi, gọi mấy đứa dậy là vừa.

- Im nào... nghe như có tiếng huýt gió... đúng rồi. Bảy Mốc vươn cổ lắng nghe rồi đáp lại ám hiệu. Nhận ra người mình, anh hỏi:

- Ai đó?

- Em... Tiên đây.

- Mày đi với ai đó?

- Chị Tư.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 18 Tháng Sáu, 2021, 08:10:35 pm
3

Thêm một ngày nữa họ sống yên ổn trong mảnh rừng tràm xen lẫn cỏ đưng lác.

Tư Ngần ngồi lắng nghe các đảng viên kể lại diễn biến tình hình trong xã mấy tháng qua. Có nhiều điều nếu ở trên huyện nghe báo cáo, không thể hình dung nổi, và như vậy việc chỉ đạo sẽ chuệch choạc khó tránh khỏi thiếu sót.


Nhìn vào số đảng viên chỉ còn sáu người, với số du kích xã không đủ một tiểu đội. Xã không còn một căn cứ nào ổn định... trong hoàn cảnh địch luôn luôn dùng lực lượng mạnh gấp hàng chục, hàng trăm lần liên tục càn quét đánh phá. Nếu chỉ thấy có thế thôi, thì không thể đầy đủ niềm tin vào việc vực phong trào của xã này lên được.


Những điều các đảng viên của xã vừa kể đã uốn nắn sự đánh giá của chị trước đó. Quần chúng có hoang mang vì sự càn quét và bom đạn của địch đánh phá triền miên, họ buộc phải chạy vào vùng chúng kiểm soát, nhưng cán bộ đảng viên vẫn móc nối được với cơ sở cũ, nhân dân vẫn một lòng hướng về cách mạng. Những ấp đông dân nhất như Tám Ngàn, Kinh Hạt, Đạo Sáu tổ chức cơ sở của ta vẫn giữ vững, địch dùng mọi thủ đoạn khủng bố nhưng vẫn chưa khống chế nổi. Điều đáng khích lệ đó sẽ là nền tảng cổ vũ niềm tin của cán bộ đảng viên đưa phong trào lên.


Đêm hôm đó Tư Hòa từ ấp Đạo Sáu trở về "cứ" khá sớm. Mấy đảng viên còn thức ngồi dưới ánh trăng suông uống nước trà, nói chuyện gẫu.

Bất kỳ ai vào bám cơ sở trở về, anh em ở "cứ" gặp lại nhau cũng vui mừng xúc động tưởng chừng bạn bè xa nhau rất lâu mới gặp. Mọi người vồn vã kéo Hòa ngồi xuống cùng uống trà, kể lại với nhau những chuyện mình gặp mấy ngày qua. Chuyện trò một hồi, có ai đó nhắc đến "Chị Tư trên huyện mới xuống".


Tư Ngần vào màn có ý tránh muỗi, để chờ Tư Hòa về. Trong giấc ngủ chập chờn, chị vẫn nghe thấy cánh đàn ông chuyện trò, tiếng được tiếng mất, tới khi có người nhắc đến tên mình thì chị tỉnh táo thực sự.

Chị ngồi dậy hỏi cánh đàn ông:

- Anh Tư về rồi hen?

- Chào chị Tư. Tôi vừa mới về.

Tư Ngần đứng dậy vung tay làm động tác hít thở, rồi gọi Hòa tới chỗ mình. Hai người ngồi xuống đệm cỏ. Tư Hòa tỏ ra vui mừng khi được tin Tư Ngần xuống tăng cường cho xã. Anh nói:

- Chúng tôi đang mong, chị xuống giúp chúng tôi thì còn gì bằng. Chị xem lực lượng của xã hẻo quá, mà địa bàn của xã quá rộng không biết bám nơi nào, bỏ nơi nào.

- Chúng ta cùng bàn bạc sẽ tìm ra cách giải quyết. Thường vụ giao nhiệm vụ cho tôi và các đồng chí đưa phong trào lên. Anh em đảng viên ở cả đây. Theo tôi, ngay tối nay chúng ta họp chi bộ, rồi phân tán ngay xuống nắm cơ sở, không nên tập trung ở căn cứ như thế này...


Hai người trao đổi thống nhất nội dung cuộc họp chi bộ. Ý kiến ngắn gọn về đánh giá tình hình và cách giải quyết của Tư Ngần được Tư Hòa trân trọng chấp nhận.

Cuộc họp chi bộ được triển khai ngay sau khi hai người hội ý. Không khí cuộc họp khẩn trương, thảo luận xoay quanh việc bám trụ giữ vững tinh thần quần chúng, bổ sung lực lượng người cho du kích xã, và tổ chức một trận đánh để cổ vũ phong trào.


Ngay sau khi giải tán cuộc họp, một số đảng viên đã trở về bám ấp mình được phân công.

Sớm hôm sau, vừa thức dậy, chưa kịp ăn cơm, họ đã nghe thấy tiếng động cơ xe M.113 và tiếp ngay sau đó máy bay lên thắng gào rú như một trận bão trên đầu.

Địch đổ bộ ở bờ kinh Tám Ngàn, cách căn cứ khoảng hơn một nghìn mét.

Lâu nay hoạt động của lực lượng vũ trang ta hoạt động yếu ớt, địch chủ quan coi thường, khi đổ bộ chẳng cần bắn dọn bãi, chúng cứ việc từ xa ào xuống đổ quân như sân bãi của mình. Chỉ mươi phút sau xe bọc thép đã áp sát tới bìa rừng, chúng bắn dữ dội vào tất cả những bờ bụi mà chúng nghi ngờ.


Tư Ngần, huyện đội phó Năm Thắng và một cô thanh niên xung phong rút chạy về phía Mũi Tàu. Thấy địch đến gần, họ chui vào trong một bụi sậy. Một tổ du kích ngăn chặn địch trên bờ kinh, buộc địch vòng xuống cánh đồng.

Năm Thắng nhìn thấy một toán địch đang tiến về phía mình, anh nói với Tư Ngần:

- Chị thấy không, bọn lính đang lại đây, chạy thôi.

- Không được chạy. Mình lạ nước lạ cái, chạy đi đâu. Ngồi lại đây nếu chúng đến gần ta dùng lựu đạn chiến đấu, có khi lập công, chạy lúc này nó không bắt sống thì cũng bắn chết.

- Chị không chạy thì em chạy. Ngồi đây chẳng có chi che chắn bảo đảm.

- Cậu phải nghe tôi. Cậu chạy là chết cả ba.

Nghe Tư Ngần, Năm Thắng đặt một quả lựu đạn ra trước mắt, một quả khác nắm trong tay.

Một tiểu đội lính ngụy cắp súng ngang hông đi lom khom dò từng bước một, chỉ còn cách chỗ họ nấp vài ba chục mét.

Tư Ngần ghé vào tai Năm Thắng nói thầm:

- Chúng nó chưa phát hiện mình, cứ để nó vào gần, không vội.

Mắt vẫn bám chặt những tên địch trước mặt, nhưng tay Tư Ngần vẫn khe khẽ nhấc những ngọn cỏ dại phủ lên cô thanh niên xung phong nằm kế bên. "Tội nghiệp con bé mới mười sáu mười bảy tuổi đầu, nếu địch phát hiện". Tư Ngần thoáng nghĩ đến giây phút mất còn, sắp sửa diễn ra.

Một tên lính nói với đồng bọn:

- Chưa biết chừng bọn "Việt cộng’' nằm ngay trong bụi đế kia.
   
Mọi người nín thở chờ đợi thời khắc dữ dội sắp đến, nếu chúng giương súng, lập tức họ sẽ vút lựu đạn tới. Một câu hỏi chợt đến với Tư Ngần "ném lựu đạn rồi liệu có chạy thoát không?". Bọn lính ngụy dừng lại nhìn soi mói giây lát rồi rẽ theo hướng khác, đi xa dần. Tư Ngần khẽ rung mình như trút bỏ được cái gì nặng hàng tấn đè lên tâm trí của mình.


Phía ngoài bờ kinh vẫn hỗn độn đủ mọi loại âm thanh. Tiếng xe tăng rồ máy, tiếng súng liên thanh, tiếng đại bác đua nhau gầm thét.

Bọn lính bộ binh sục sạo dưới cánh đồng, chúng lần lượt rút lên bờ kinh.

Thắng nói như nhận lỗi với Tư Ngần:,

- Em không nghe theo lời chị, chắc chết rồi.

Mắt Tư Ngần vẫn không rời những hành động của địch trên bờ kinh.

Máy bay lên thẳng ào ào như một trận bão, lần lượt hạ cánh rồi lần lượt cất cánh, đón bọn biệt kích "nhảy cóc" đi chỗ khác.

Nhóm Tư Ngần đi về phía Mũi Tàu, đến gần bờ kinh thấy một nhóm người đang chuẩn bị mai táng một tử sĩ, họ dừng lại. Tư Ngần hỏi Tư Hòa về kết quả chống càn. Tư Hòa nói tóm tắt vài câu "anh em đánh chặn, nó không vào "cứ" được, ta hy sinh một, số thương vong của địch chưa rõ, chỉ thấy chúng vất nhiêu bông băng", rồi anh lại tiếp tục công việc của mình.


Về tới căn cứ gần Mũi Tàu, lúc này Tư Ngần mới thấy cơ thể mình muốn rã ra từng mảnh. Chị ngồi tựa lưng vào gốc tràm, mắt nhắm nghiền lại một hồi lâu, tai vẫn lắng nghe động tĩnh xung quanh. Anh em đang xôn xao về việc hết sạch không còn hạt gạo nào.

- Chỉ còn cách là ra vét số gạo địch đã đổ xuống kinh mấy hôm trước.

- Nó thối sình lên còn gì mà vớt.

- Chưa thối đâu, có xa đây không?

- Vài trăm mét thôi. Chỗ gạo của anh Bảy Mốc bị chúng lấy đó. Hai chục giạ chứ có ít đâu.


Họ rủ nhau đi vét gạo dưới kinh. Khoảng một giờ sau họ mang về được một bòng gạo. Nói là gạo cũng chưa hẳn đúng, vì nó còn đâu hình thù hạt gạo, mùi ung ủng như mùi nước gạo để lâu ngày. Họ khích lệ nhau "Dù thế nào thì nó vẫn là gạo. Có chất gạo vào bụng là sống rồi".

Mấy người xúm lại nấu cháo, ngồi chuyện trò xuýt xoa tiếc số cá của Hai Sơ kiếm được không kịp mang theo.

Mọi người không ngờ, cái mùi thum thủm của gạo ngâm lâu, khi nấu thành cháo lại khó ngửi đến thế.

Năm Thắng, một tay nâng bát cháo, một tay bịt mũi rồi húp một hơi, làm cho mọi người cười sặc sụa.

Tư Ngần buồn cười nhưng cố nín, chị nhắc Năm Thắng:

- Cố mà ăn đi. Cậu đừng bày trò nữa.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 18 Tháng Sáu, 2021, 08:11:24 pm
4

Trong vòng hơn ba tháng, cán bộ đảng viên xã Bình Sơn đã móc nối củng cố cơ sở ở các ấp Tám Ngàn, Đạo Sáu, Ranh Hạt và xây dựng được một số cơ sở ở Vàm Rầy. Du kích xã được bổ sung người và vũ khí đủ một tiểu đội, đưa hoạt động vũ trang lên tuyến lộ 80 từ Vàm Rầy đến Ranh Hạt, trấn áp bọn phản động, đánh giao thông, đánh phục kích hạn chế hoạt động của bọn biệt kích thám báo.


Một lần, nhân dân báo cho đội du kích biết: vào lúc sẩm tối hàng ngày thường có khoảng một trung đội địch, đi bằng vỏ lãi qua cống Bà Đào. Tư Ngần gặp Bảy Phước và Hai Sơ, là đảng viên trong đội du kích, hỏi xem anh em xử trí với cái tin ấy thế nào.

Hai Sơ nói:

- Chúng tôi đã kiểm tra đúng như vậy. Đã lâu chúng ta không đánh trận nào ở khu vực này. Chúng đi lại rất chủ quan. Chúng tôi định tổ chức một trận phục kích.

Tư Ngần hỏi Phước, quyền xã đội trưởng:

- Ý của anh em trong tiểu đội thế nào.

- Quyết tâm rất cao. Anh em tin trận đánh này sẽ diệt gọn trung đội địch. Địa hình chỗ đó tất cả anh em chúng tôi rất thuộc.

- Tôi đồng ý. - Tư Ngần nói. - Ta phải có trận đánh ở khu vực này, nhưng phải hết sức thận trọng, lực lượng của ta còn mỏng yếu. Phải giữ được bí mật bất ngờ, đánh thật nhanh, diệt gọn rồi di chuyển nhanh mới tránh được thương vong. Nếu có trận thắng ở đây, sẽ làm cho địch hoang mang, đẩy được phong trào quần chúng lên...


Đã nhiều năm là bí thư chi bộ kiêm chính trị viên xã hội, Tư Ngần tích lũy khá phong phú kinh nghiệm chiến tranh du kích. Chị nhắc nhở anh em tính chủ động linh hoạt và không quên nhắc việc tiết kiệm đạn. Trận đánh do quyền xã đội trưởng Bảy Phước thực hiện.


Từ đêm trước họ đã vào nằm trong những bụi cỏ kín đáo, sát bờ kinh. Một ngày chịu phơi dưới nắng nóng như thiêu như đốt, khát nước tới cháy họng, nước kế ngay bên cạnh nhưng không ai dám nhúc nhích.

Bảy Phước luôn dướn cổ về phía trước, lắng nghe không bỏ sót một tiếng động nhỏ. Mỗi lần có tiếng máy đẩy nổ trên dòng kinh, là một lần anh hồi hộp nghĩ đến tình huống bất trắc có thể xảy ra.


Mặt trời chuyển dịch xuống gần đỉnh núi Mo Xo, ánh nắng yếu dần. Niềm hy vọng của đội du kích tăng lên. Mỗi chiến sĩ chủ động khéo léo gạt những lá cỏ che trước mặt mở cho mình một "cửa" quan sát trên dòng kinh. Vào giờ này những ghe xuồng của nhân dân đi lại vắng dần. Sương lam xóa mờ dần cảnh vật, mặt nước trên dòng kinh chuyển màu xám sẫm lại. Trong tiếng gió chiều xào xạc anh em du kích nghe thấy tiếng máy nổ rõ dần.

Bảy Phước hạ lệnh cho người bên cạnh vừa đủ nghe:

- Có địch tới, chuẩn bị sẵn sàng!

Lệnh chuẩn bị được chuyền nhanh khắp toàn đội. Chiếc vỏ lãi đi đầu vừa lọt vào đường ngắm khẩu B40 của Phước, phát đạn B40 quật trúng vỏ lãi, làm cho nó mất lái quay tròn tại chỗ. Cùng lúc đó đạn tiểu liên của du kích trùm lên chiếc vỏ lãi. Trong lúc hưng phấn Phước bắn thêm một phát B40 nữa, nhưng đạn trượt ra ngoài. Chiếc vỏ lãi thứ hai, thấy bị phục kích, địch vội vàng nhảy ùa xuống kinh để chạy trốn, nhưng hỏa lực tiểu liên của du kích đã ấn đầu chúng xuống, nhiều tên vĩnh viễn không bao giờ bơi tới bờ.


Trận đánh diễn ra chớp nhoáng trong vòng ba đến năm phút, tiểu đội du kích xã Bình Sơn đã tiêu hao nặng một trung đội địch.

Bảy Phước tới báo cáo Tư Ngần kết quả trận đánh. Nghe xong chị biểu dương tinh thần anh em đã dũng cảm hoàn thành nhiệm vụ. Chị nhắc riêng Bảy Phước:

- Trận đánh này mà cậu xài đến hai quả B40 lãng phí quá. Đánh địch đi trên vỏ lãi hoặc xuồng không có mui che chắn dùng tiểu liên là đủ.

Bảy Phước gãi đầu cười cười nhận lỗi:

- Lúc đó hăng lên, em quên mất.

Sau trận phục kích khoảng mười ngày, địch đưa khoảng một tiểu đoàn có xe bọc thép yểm hộ tới càn vào căn cứ. Địch mạnh. Anh em du kích phải rút lui. Khi rút Bảy Phước bị thương nặng. Anh ẩn nấp vào trong một bụi rậm, địch đi qua nhưng không phát hiện được.

Thấy địch vẫn tiếp tục truy đuổi theo đơn vị mình, Bảy Phước đã bước ra đứng ở chỗ trống rồi hô to:

- Việt cộng đây. Đừng kiếm nữa mất công.

Nghe tiếng gọi bọn lính ngụy quay lại, chúng quây xung quanh anh hòng bắt sống. Chờ chúng tới gần, anh rút chốt lựu đạn.

Bảy Phước anh dũng hy sinh, đồng thời giết thêm được bốn năm tên địch và tạo điều kiện cho đồng đội rút lui an toàn. Cho tới nay mỗi khi nhắc tới truyền thống chống Mỹ, cứu nước, nhân dân xã Bình Sơn vẫn dành lời trân trọng nhất để ca ngợi tấm gương anh hùng của Bảy Phước.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 19 Tháng Sáu, 2021, 07:22:17 pm
5

Khoảng thời gian cuối 1968 đến đầu năm 1969, nếu ta đứng ở bất kỳ điểm cao nào của Ba Hòn, nhìn về đồng bằng của huyện, bất kể giờ nào suốt ngày đêm, đều có thể thấy những chớp lửa bom, đạn hoặc những đám cháy. Và âm thanh chiến tranh lúc nào cũng rền rĩ chảy dài trên khắp các dòng kinh tưởng như không bao giờ dứt.


Không mấy ngày là không có thêm những khăn tang chụp lên đầu các bà mẹ, người vợ và lũ trẻ thơ, do bom đạn Mỹ gây ra. Nhất là xã Nam Thái Sơn, mười gia đình có tới chín gia đình mang khăn tang. Vào lúc đêm khuya khoắt tĩnh mịch, đi qua bất kỳ thôn ấp nào cũng thấy tiếng hờ khóc đau đớn vì cái chết của người thân.


Cuộc chiến đấu của nhân dân Hòn Đất đang ở vào thời kỳ gay go quyết liệt nhất. Lực lượng vũ trang của ta yếu hơn địch, tuy vậy anh em vẫn khôn khéo gan góc tránh mạnh đánh yếu, sà quần với chúng, không cho chúng thực hiện âm mưu một cách dễ dàng.


Chiến tranh là như vậy, đối phương chẳng bao giờ ngừng gây khó khăn cho nhau, cản bước nhau. Công bằng mà nói, ở Hòn Đất lúc này, phía cách mạng đang gặp khó khăn nhiều hơn. So với trước và trong dịp Tết Mậu Thân, vùng giải phóng của Hòn Đất bị thu hẹp nhanh chóng, ở tất cả các thôn ấp, cứ khoảng năm trăm đến một nghìn mét địch lại đóng một cái đồn (cấp tiểu đội đến trung đội). Hàng ngày chúng lùng sục, phục kích đánh phá cơ sở của ta. Điều kiện đi lại ban ngày từ xã này sang xã khác rất hạn chế, thời gian hoạt động tự do cho mọi lưc lượng cách mạng thường vào ban đêm.


Kể từ sau Mậu Thân, một trong nhiệm vụ trung tâm của huyện là tham gia việc bảo đảm vận tải và chuyển quân trên tuyến đường 1C (nhân dân thường gọi là đường Hồ Chí Minh). Đây là một đoạn hành lang chiến lược có tính chất sinh tử của miền Tây, nếu nhìn rộng ra, nó còn là một bộ phận của đầu mút của con đường chiến lược nối liền từ miền Bắc vượt qua Trường Sơn vào miền Nam.


Đêm đêm những đoàn vận tải bằng xuồng, ghe, bằng khuân vác; những đơn vị hành quân nối tiếp nhau, hầu hết là người miền Bắc, nhiều tân binh mặc quần áo mới còn thơm mùi hồ vào bổ sung cho lực lượng vũ trang Quân khu 9. Nhân dân Hòn Đất, nhất là xã Nam Thái Sơn từ người già đến các thiếu niên nam cũng như nữ đều tham gia việc dẫn quân và vận tải. Các bà trong hội bà mẹ chiến sĩ cắt canh nhau lo chỗ ăn chỗ nghỉ cho bộ đội. Trong Ba Hòn hầu như liên tục có khoảng hàng nghìn quân dừng lại nghỉ ngơi lấy sức để đi tiếp cung đường mới.


Mỗi chuyến dẫn quân hoặc đi vận tải, khó khăn nguy hiểm không kém vào một trận đánh.

Người được phân công làm giao liên dẫn quân, không chỉ là người thông thuộc đường sá, mà còn biết xử trí tình huống khi gặp những trắc trở trên đường. Việc dẫn quân trên tuyến đường 1C nhiều người cùng lứa tuổi thời ấy, thường nhắc đến xã đội trưởng Phan Thị Lánh. Mới hai mươi ba tuổi cô đã nổi tiếng là người gan góc hăng hái. Trung đội nữ pháo binh của huyện, do cô chỉ huy từng làm cho nhiều đồn địch ở khu vực Tri Tôn mất ăn, mất ngủ. Khi ấp Tám Ngàn bị địch "xúc", "tát" hết dân trên lộ và dồn vào ấp chiến lược Đạo Sáu, được trên phân công trở về địa phương công tác phong trào, cô đã cùng với các đồng chí của mình kiên trì bám dân xây dựng và củng cố cơ sở cách mạng, phục vụ trên tuyến đường 1C.


Một đêm Sáu Lánh cùng một tổ du kích nhận lệnh của Huyện đội tới khu rừng tràm Gọc Xây (Hà Tiên) nhận quân. Vào giữa mùa mưa, trận mưa rào đột ngột ập xuống. Mọi người ướt như chuột lột. Sáu Lánh rùng mình ớn lạnh, da thịt gai gai như sắp lên cơn sốt rét. Tiếng anh cán bộ đường dây loãng vào tiếng gió mưa ào ào:

- Ai phụ trách dẫn quân của Châu Thành?

Sáu Lánh không nghe rõ ai đang nói gì đó. Cô đứng thu mình lại chống với cái rét đang xâm nhập vào cơ thể. Tiếng sào va vào mạn xuồng lạch cạch. Một cảm giác gần như mơ hồ, có con xuồng vừa dừng lại trước mặt mình, và ai đó đang ở xuồng bước lên bờ.


Đêm tối mưa gió, đứng cách nhau ba bước mà không sao nhận ra nhau. Anh cán bộ đường dây nhắc lại câu hỏi ban nãy của mình, ngay trước mặt Sáu Lánh:

- Ai phụ trách dẫn quân của Châu Thành?

- Tôi đây.

Nhận ra tiếng người quen, anh cán bộ giao liên vui mừng:

- Chị Sáu hả? Chị đứng đây mà tôi hỏi hoài không trả lời.

- Anh Ba... Nào tôi có nghe thấy chi.

- Tối nay dẫn một đại đội, đại đội trưởng là anh Năm Viễn, tất cả có mười một xuồng chở tám mươi ba người, không kể người dẫn đường. Số anh em đang bị sốt rét chừng mười người.


Sáu Lánh phân công mấy chiến sĩ đi cùng, cô không quên nhắc lại cách xử trí các tình huống có thể xảy ra dọc đường, rồi bước xuống chiếc xuồng đi đầu đội hình cặp mé gần đó.


Trận mưa đã tạnh, ánh sáng sao thấp thoáng trên bầu trời. Đại đội trưởng Viễn có cảm giác người dẫn đường mới, vừa xuống ngồi phía sau lưng mình là một cô gái.

- Đồng chí ơi! - Viễn ngoảnh lại rụt rè hỏi Sáu Lánh. - Đồng chí có thể cho biết tình hình đoạn đường sắp tới, ta tới đâu đó?

Sáu Lánh ngoảnh lại nói:

- Chỉ còn vài cây số nữa ta sẽ đi vào huyện Châu Thành. Anh là Ba Viễn phải không?

- Vâng. Xin chị cho biết, chị thứ mấy?

- Tôi là Sáu Lánh. - Sáu Lánh im lặng giây lát rồi nói tiếp. - Phía trước chúng ta có ba điểm địch thường "kích". Anh cứ yên tâm, tôi sẽ báo cho anh biết trước.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 19 Tháng Sáu, 2021, 07:23:13 pm
Sáu Lánh nâng sào nhịp nhàng đẩy con xuồng lao đi. Những con xuồng phía sau lần lượt chuyển động bám theo sau. Chợt nhớ tới chuyến đi trước, Sáu Lánh mỉm cười. Do hiểu lầm từ ngữ địa phương đã sinh ra chuyện rắc rối đến tức cười và khá bực mình. Đội hình hành quân bộ gặp sông, cô phổ biến "chỗ này phải lội qua" anh em bộ đội miền Bắc tưởng trước mặt mình nước cạn, cứ để nguyên cả quần áo trên người bước xuông sông, có người suýt chết đuối. Cô phải la to "Nước sâu phải cởi quần áo...", mấy anh bộ đội tới lúc đó mới hiểu tiếng Nam Bộ "lội" có nghĩa là bơi. Giữa địa điểm nguy hiểm, đáng ra phải vượt thật nhanh, họ đã dồn lại co kéo nhau, và còn khúc khích cười với nhau nữa chớ...

... Đoàn xuồng đã ra khỏi cánh rừng, đang lao về phía đồng cỏ rộng mênh mông. Nhìn thấy pháo sáng bay lơ lửng tạo ra một quầng sáng rộng và những ánh chớp của đạn nổ phía trước, Viễn lo lắng hỏi:

- Chỗ sáng kia là ở đâu thế chị?

- Ba Hòn... đêm nay chúng ta sẽ tới nghỉ ở đó.

Viễn đã chiến đấu nhiều năm trên chiến trường miền Đông, nơi đó có rừng rậm bạt ngàn, tạt vào đâu cũng có vật che chắn. Lần đầu tiên xuống đồng bằng, mặc dầu đã được cấp trên phổ biến khá kỹ đặc điểm của chiến trường mình sắp đến, lúc này anh vẫn có cảm giác lo ngại vu vơ. Nếu xảy ra chiến đấu, nước mênh mông thế này đào công sự như thế nào, trường hợp di chuyển không có thuyền bè thì sao... Anh thầm cảm phục những chiến sĩ du kích dẫn đường. Họ bình tĩnh gan góc lạ kỳ. Đêm hôm qua, khi máy bay trực thăng địch tới, chúng dùng đèn pha rọi xuống rõ từng ngọn cỏ. Cô gái dẫn đường vẫn đẩy sào đều đều không ngừng lại. Viễn nhắc cô tạm dừng lại ẩn nấp, cô trả lời tỉnh queo "nó chiếu phía kinh bên kia, kệ nó"... Viễn bất giác quay lại nhìn Sáu Lánh, anh có cảm nghĩ cô gái này với cô gái dẫn đường đêm trước có phong cách giống nhau như đúc khuôn. Bên cạnh họ anh thấy yên tâm. Đoàn xuồng đã vượt qua sông Lình Quỳnh len lỏi vào một rạch nhỏ, hai bên bờ cỏ rậm rạp. Sáu Lánh tự nhiên ngưng tay chèo. Cô nói nhỏ với Viễn:

- Điểm này địch hay kích, các anh dừng ở đây, tôi lên trển xem thế nào.

Đoàn xuồng phải dừng lại, một mình Sáu Lánh xách súng lên bộ đi trinh sát. Cô đi khá lâu làm cho Viễn lo lắng, không hiểu có chuyện gì xảy ra.

Sáu Lánh nhón chân bước rất nhẹ như chiến sĩ đặc công đang mò trong đồn địch, đi một đoạn cô lại ngồi xuống lắng tai nghe ngóng, mũi cô bắt gặp mùi thuốc lá thơm trong không khí. Không nghi ngờ gì nữa, có bọn địch phục kích gần đâu đây.

Sáu Lánh trở lại chỗ xuồng của mình. Cô nói với Viễn:

- Anh nói với anh em, đưa xuồng lên khênh bộ một đoạn, khoảng hơn trăm thước thôi. Phải hết sức bí mật và nhắc anh em sẵn sàng chiến đấu.

Cô không nói với Viễn những gì vừa phát hiện được ở phía trước. Viễn cũng không hỏi gì thêm, anh lặng lẽ đi ngược trở lại báo cho cấp dưới của mình đúng những điều Sáu Lánh vừa nói.

Anh em khênh xuồng tới cái rạch nhỏ khác rồi lại bơi đi tiếp. Mọi người đinh ninh rằng mình vừa gặp con rạch cụt phải sang con rạch này mới đi được.

Đoàn xuồng tới cách "Hòn" chẳng còn bao xa nữa. Thỉnh thoảng lại có những loạt đạn pháo và loạt bom B57 nổ. Bom đạn nổ mỗi lúc một gần, nhưng tay chèo của Sáu Lánh không ngừng đưa đẩy trên dòng nước. Trong đầu cô suy nghĩ miên man "Không hiểu có bộ binh địch đánh chiếm trong hang "Hòn" không, liệu những người chỉ huy còn ở hang cũ hay đã thay đổi...". Tới ngoài tầm sát thương của bom đạn, cô ngừng tay chèo rồi nói với Viễn:

- Anh cho tất cả anh em lên bờ, tản ra đề phòng pháo địch bắn lạc. Tôi vô trỏng coi tình hình thế nào?

- Chị đi có lâu không?

Không trả lời câu hỏi của Viễn, Sáu Lánh lặng lẽ xách súng đi về phía đang có tiếng nổ. Vào càng gần tới chân núi, cô thấy càng nhiều hố bom đạn mới cày xới. Cây cối, đổ ngổn ngang, có chỗ lấp mất lối đi, cô phải đi vòng vèo mất khá nhiều thì giờ, nếu không phải là người quen, chỉ còn cách bỏ cuộc.


Cô đã tìm thấy khe suối bên cạnh có hòn sỏi khổng lồ nhẵn nhụi như đầu ông sư, đây là vật thể đáng nhớ để leo lên hang tỉnh đội. Đang định leo lên tảng đá trước mắt, nghe thấy một loạt tiếng nổ ở đầu nòng pháo, cô nhanh nhẹn nằm mọp xuống giữa khe của hai tảng đá. Một viên đạn pháo nổ gần, bụi đất đá tung lên rồi rơi xuống như một trận mưa rào. Sáu Lánh nằm chờ hết đợt tiếng nổ mới vùng dậy, lấy tay phủi qua bụi đất trên đầu mình rồi đi tiếp...


Ở ngoài xa Viễn nhìn thấy những ánh chớp vàng chói, và những tiếng nổ đinh tai, nhức óc phủ trên hướng đi của Sáu Lánh. Một loạt tiếng nổ, là một lần cơ thể anh sởn gai ốc, lo sợ cho cô gái dẫn đường. Nếu như có mệnh hệ gì đến với cô, việc di chuyển quân qua vòng lửa kia, chuyện gì sẽ xảy ra, ai mà biết được.


Đại đội trưởng Viễn suy tưởng miên man, nhưng mắt anh không một giây rời khỏi hướng đi của Sáu Lánh. Một bóng đen lờ mờ xuất hiện, rồi rõ dần, đang đi về phía mình. Đúng là Sáu Lánh đã về. Nỗi lo âu vừa rồi tan biến, Viễn chỉ thấy lòng mình tràn ngập nỗi vui mừng. Chờ Sáu Lánh tới gần anh reo lên khe khẽ:

- Chị Sáu... Tôi mong chị quá.

Sáu Lánh đáp lại tình cảm của Viễn bằng vài câu khô, lạnh:

- Anh Năm báo cho anh em đi thôi, đoạn đường này phải vượt thật nhanh. Chắc anh đã nhìn thấy gì rồi đó.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 19 Tháng Sáu, 2021, 07:24:18 pm
6

Kinh Vĩnh Tế, hàng rào Bình Sơn, lộ Cái Sắn là những tuyến ngăn chặn cố định, không đủ sức bóp ngẹt hành lanh chiến lược 1C. Trên huyện Hòn Đất độ này Mỹ ngụy tăng cường nhiều biện pháp đánh phá ngăn chặn sự vận chuyển của ta. Chúng dùng bom đạn, thuốc hóa học liên tục đánh phá vào những khu rừng tràm nằm trên tuyến đường. Chúng mở những trận càn quét lớn, nhỏ liên tục dài ngày ở một khu vực. Chúng dùng trực thăng đổ bọn biệt kích, dùng chiến thuật "nhảy cóc" tập kích vào các kho tàng hoặc phục kích đón lõng những đoàn vận tải của ta.


Một lần anh Ba Phước, giao liên huyện nhận nhiệm vụ dẫn hai đại đội nữ thanh niên xung phong, phần đông chị em ở tỉnh Cà Mau, họ chưa quen thung thổ chiến trường này.

Mấy ngày liền địch càn quét lùng sục, rồi cho bộ binh và xe bọc thép phục kích trong rừng Mỹ Lâm. Anh em trong cơ sở phát hiện được hành động của địch, nhưng mất liên lạc với anh em "rút" bảo vệ tuyến đường, không biết báo cho ai.


Ba Phước dẫn đầu đội quân "tóc dài" qua mảnh rừng tràm cây mọc thưa thớt rồi theo bờ kinh đi qua một cánh đồng rộng mênh mông. Ánh trăng hạ tuần mờ nhạt soi lên lối mòn và dòng kinh thẳng tắp. Phía trước họ là một đường viền đen thẫm, như một bức thành chắn ngang trước mặt. Sắp đến khu rừng tràm rậm rạp thuộc xã Mỹ Lâm. Nghe tiếng lá khô nát vụn dưới đôi bàn chân mình, Ba Phước cảm thấy rờn rợn. Đã nhiều năm làm công tác giao liên mò mẫm đêm hôm, biết bao lần thoát chết trong các trận địch phục kích, đến đây anh linh cảm một điều gì hết sức nguy hiểm sắp xảy ra. Anh huy động tất cả các giác quan sục sạo bốn xung quanh. Không gian vẫn yên lặng, không mách bảo anh điều gì khác, vẫn những làn gió nhè nhẹ rung xào xạc cây cỏ. Vẫn cái mùi hương tràm quen thuộc, vẫn tiếng côn trùng rên rỉ muôn thuở... Thoáng nghĩ đến tình huống gặp địch phục kích, anh thấy ớn lạnh xương sông. Làm gì để bảo vệ tính mạng của hàng trăm cô gái ở độ tuổi tràn đầy hạnh phúc, đang đi sau mình. Mãi về sau này Ba Phước cũng không thể phân tích nổi tại sao, cái gì đã khiến anh linh cảm rằng nguy hiểm sắp đến.


Gần hết tràn ruộng, Ba Phước ngoái lại phía sau ra lệnh:

- Bám chặt đội hình, đi nhanh lên.

Chị em vượt lọt vào rừng được hơn một trung đội. Địch xả các loại súng vào giữa đội hình. Nghe tiếng súng nổ, biết đơn vị mình đã lọt vào trận địa phục kích, Ba Phước chỉ kịp hô "bình tĩnh chạy theo tôi". Không chờ lệnh của Phước, lúc đó mạnh ai người ấy chạy. Số người theo Ba Phước chỉ còn hơn ba chục người.


Trời gần sáng. Tiếng súng vẫn nổ như pháo rang ở sau lưng họ. Những cành cây bị đạn tiện đứt rơi lả tả trước mặt mọi người. Ba Phước quyết định chạy ngoặt sang hướng khác. Đến một cái đìa cỏ, anh nói với chị em "mỗi người tự tìm một chỗ chém vè". Các cô gái tỏ ra sợ hãi lúng túng, không dám rời nhau nửa bước. Ba Phước nhảy ào xuống đìa, các cô gái như đàn giồng giồng bơi theo sau, rồi họ ngụp xuống chui vào trong bụi cỏ dại. Thật may mắn cho họ. Cái đìa khá rộng này có cả một rừng cỏ dại, đủ thứ ô rô, cóc kèn, cỏ đê và nhất là loại lúa tầm ma, chúng kết thành từng bè lớn. Đã ấn vào đây, có cả sư đoàn địch đến tìm mò cũng khó mà phát hiện được. Nói vậy, nhưng họ là người đang lẩn trốn, nên luôn phập phồng lo sợ, cứ tưởng như mình ở chỗ địch dễ dàng thấy.


Trời hừng đông. Những lá cỏ đẫm sương đêm vây kín xung quanh họ. Mỗi người chỉ nhìn thấy một mảng trời bị lá cỏ cắt nát thành hình kỷ hà. Họ bị tách ra khỏi thê giới bên ngoài. Thỉnh thoảng lại nghe thấy một loạt đại liên "cục cục cục..." xa xôi và đơn điệu. Một câu hỏi chung cồn cào trong lòng mọi người "ai chết, ai sống. Địch còn ở chỗ nào, chúng đang làm gì". Những câu hỏi ấy cứ bám riết trong đầu mỗi người, không sao giải đáp được. Thỉnh thoảng người này người kia cũng trao đối với nhau bằng ánh mắt ngụ ý "cứ yên tâm" hoặc nỗi lo âu.


Thời gian yên tĩnh trôi qua được chừng một tiếng đồng hồ, cái thứ yên tĩnh khắc khoải đến khổ sở ấy, thà nó cứ bùng nổ ra một cái gì đó còn hơn. Ít ai tin rằng sự yên tĩnh ấy là triệu chứng tốt lành.

Ba Phước nhìn lên bầu trời thấy đàn chim bay về phía biển, anh nhẩm đếm từng con, cho quên cái thời gian dài lê thê, rồi thầm ước "giá như mình có đôi cánh...". Thấy ngứa ngáy ở cổ, anh khẽ đưa tay lên gãi, eo ôi một con đỉa trâu đã hút máu no mọng.


Một loạt đạn tiểu liên nổ rất gần đâu đây, đúng là AK, tiếp đó ào ào như một trận bão tiếng nổ của súng AK15 đối lại, chấm dứt thời gian yên tĩnh. Tiếng nổ tạm ngừng vài giây, rồi tiếng súng AK lại nổ, rồi cũng như lần trước, hàng chục khẩu "AR15" dội trở lại. Cứ như thê kéo dài hàng tiếng đồng hồ.


Đám khói như một đám mây lớn tạo thành một bóng râm che kín đìa cỏ. Bọn dã man đã đốt rừng. Tiếng súng đã im bặt, thay bằng tiếng nổ lép bép của cây cỏ bị cháy. Người nào vừa nổ súng AK đó còn sống hay đã hy sinh? Tiếng súng nổ vừa rồi làm lóe lên một niềm hy vọng đốỉ với những người ẩn trong đìa cỏ, thì đám cháy rừng đã dập tắt.


Tiếng loa chiêu hồi của địch như phóng thẳng vào tai mọi người. "Hỡi anh em cán binh Việt cộng. Chúng tôi biết anh em đang lẩn trốn trong rừng và trong đìa cỏ. Anh em đã bị bao vây chặt, không còn con đường nào thoát. Chỉ có con đường hồi chánh, sẽ được hưởng chánh sách khoan hồng của quốc gia". Suốt ngày đên đêm, rồi ngày hôm sau, cái điệp khúc "hồi chánh quốc gia" nhức nhối ruột gan ấy cứ lải nhải mãi không thôi. Nó gieo vào số chị em trẻ dại nỗi hoảng sợ, tưởng như địch đã nhìn thấy, chúng đang chĩa mũi súng vào mình.


Đến ngày thứ ba ẩn dưới đìa cỏ, có người không chịu đựng được sự đói khát mệt mỏi và nhất là cái loa của địch đe dọa, đã định nhoai lên bờ đầu hàng. Thấy biểu hiện dao động xuất hiện trong hàng ngũ, chị em chủ động bảo vệ lẫn nhau, người nhúc nhích định bỏ cuộc, lập tức người bên cạnh níu kéo lại.


Rạng sáng ngày thứ tư, kể từ khi bị vây, tiếng súng lại rung chuyển cả khu rừng, có cả tiếng súng lớn và tiếng lựu đạn nổ không ngớt cho đến sáng mới dứt. Có cái gì đó khác hẳn những tiếng súng của địch bắn vu vơ mấy ngày hôm trước. Anh chị em lắng nghe, hồi hộp hy vọng có lực lượng chi viện đến cứu đơn vị mình.


Khu rừng trở lại vắng lặng. Tiếng đàn chim sâu ríu rít trên cành cây, tiếng cuốc kêu thiết tha gọi bạn báo hiệu một ngày mới. Ánh sáng vàng rực trải trên đìa cỏ. Các cô gái mở to mắt nhìn nhau khi nghe thấy tiếng gọi: "Các đồng chí ơi. Địch đã rút chạy rồi. Chúng tôi là bộ đội tiểu đoàn 401 đây". Tiểu đoàn 401 là đơn vị bảo vệ đường dây, ai cũng biết, nhưng kẻ địch xảo duyệt giả danh thì sao. Trong lòng mọi người xôn xao vui mừng, nhưng vẫn cảnh giác, đứng nguyên ở vị trí, không ai nhúc nhích.

Tiếng gọi mỗi lúc một gần, của nhiều người, ở nhiều hướng khác nhau vang động cả khu rừng.

"Anh chị em ơi! Địch rút rồi. Tôi là Ba Hanh đây".

"Tao là Sáu Chồn đây. Bọn bay ẩn đâu ra đi. Địch rút rồi".

Nghe rõ tiếng Ba Hanh, xã đội trưởng xã Mỹ Lâm và tiếng ông Sáu Chồn, cơ sở của đường dây, Ba Phước nói với chị em:

- Đúng là tiếng gọi của chú Sáu. Chúng ta lên thôi.

Ông Sáu Chồn, tên thật là Trần Văn Tui. Mọi người trong xã ít biết Tui là ai, nhưng nói đến Sáu Chồn thì họ có thể "à a" một tiếng kéo dài rồi nói: "Tưởng ai, chứ ông Sáu thì ai chả biết. Ông đã dẫn đàn chó vào rừng thế nào cũng xách về một con chồn, nên mới có tên là Sáu Chồn". Sáu Chồn nguyên quán ở Sa Đéc, thời còn trẻ trong đội ngũ Vệ quốc đoàn đánh Pháp, năm 1947 chuyển về công tác địa phương làm xã đội trưởng Tân Hội (Châu Thành, Rạch Giá) đã giết tên ác ôn Mười Khùng. Sau khi bộ đội ta tập kết ít lâu, để né tránh địch theo dõi, Sáu Chồn đưa cả gia đình sang Mỹ Lâm, tiếp tục hoạt động bí mật. Ông đã bắt sống tên Sen, tình báo đường dài của Mỹ (năm 1959). Khi có tuyến đường 1C, ông được Huyện ủy trao trách nhiệm là một đầu mối liên lạc của Đoàn 195 vận tải của Quân khu 9.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 19 Tháng Sáu, 2021, 07:25:13 pm
Đêm hôm ấy Sáu Chồn thao thức khó ngủ, vì tình hình nội bộ của Đoàn 195 mấy ngày gần đây diễn ra rất xấu. Chỉ trong vòng một tuần lễ, riêng "cái nút" ở Mỹ Lâm đã có một đại đội trưởng và một tiểu đội trưởng đầu hàng địch. Những tên đó đã từng được ông coi như người trong gia đình. Thằng Ư, tiểu đội trưởng, quê ở Sóc Trăng, sau lần mẹ hắn đến thăm hắn đã biến mất. Ông hy vọng hắn về quê không quay lại phá phách. Với thằng Hiến, đại đội trưởng thì hoàn toàn khác. Ngay từ cách thức chạy trốn của hắn cũng đã gây cho ông một "cú sốc". Một buổi tối, hắn cùng cô Thanh Vân, thanh niên xung phong đến nhà ông, hắn nói trí trá rằng: đơn vị hết gạo "nhờ chú Sáu chạy gấp cho hai mươi giạ". Ông đi "móc" kho gạo gửi bà con trong ấp được hai mươi giạ giao cho nó. Nhận được gạo, nó và cô Thanh Vân cho xuống xuồng đi ngay. Khoảng vài phút sau ông nghe thấy một loạt tiểu liên nổ ở hướng nó đi tới. Ông lo cho nó và cô Vân gặp địch phục ở dọc đường. Khoảng quá nửa đêm hôm đó có hai cô thanh niên xung phong đến hỏi ông: "Hiển và Vân có đây không?". Nghe ông kể lại việc thằng Hiển đến lấy gạo, hai cô thở dài, rồi im lặng trở về. Ông có cảm giác thằng Hiển đã gây ra một việc gì đó không bình thường trong đơn vị, không tiện hỏi. Cách một ngày nữa ông mới được tin cụ thể: thằng Hiển nói dối cô Thanh Vân để cô cùng đi lấy gạo nhưng vừa ra khỏi nhà ông khoảng một cây số, nó vất gạo xuống sông, rồi đè Vân xuống định cưỡng hiếp. Vân chống lại, nó đã bắn cô bị thương, nhét cô vào trong bao tải, rồi nó chèo xuồng tới đồn Sóc Xoài đầu hàng. Ngay ngày hôm sau nó dẫn đường cho máy bay lên thẳng đổ xuống rừng Mỹ Lâm đào kho súng của ta cất giấu ở đó, lấy 300 khẩu AK và hai khẩu cối 82 ly.


Những chuyện ấy đã làm ông mất ngủ nhiều đêm.

... Mờ sáng ông đã vùng dậy, ra chái nhà lấy mái chèo. Bà Sáu thấy động lục cục, đoán được ý ông, bà can ngăn:

- Ông Sáu nè, ông có nghe thấy tiếng súng đó không. Việc chi mà vội vàng vậy.

Xưa nay bà không bao giờ can thiệp vào công việc của ông. Công việc cụ thể của ông là gì bà không biết, bà chỉ biết đại lược ông đang công tác cách mạng, việc gì ông cần giúp, bà vui vẻ sẵn sàng. Gần một năm nay kể từ khi ông là đầu mối liên lạc của Đoàn 195, chẳng mấy đêm nhà bà vắng khách, có đêm bà phải thức vài lần để nấu cơm. Họ là khách của ông, nhưng có người qua lại nhiều lần trở thành khách của gia đình. Bà không hề than phiền những công việc không tên, do công tác của ông mà bà phải gánh vác. Những tháng sôi sục tham gia cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân, mọi người, mọi việc của cách mạng đều công khai, bà thấy tự hào mình có một chút công lao đóng góp. Nhưng những ngày gần đây, không hiểu sao bọn địch muốn đến chỗ nào cũng được, không có bộ đội nào ngăn cản chúng. Thỉnh thoảng lại có người trong hàng ngũ cách mạng đầu hàng khai báo dẫn địch đến bắt người đã nuôi và che giấu mình. Từ ngày nghe tin thằng Hiển đầu hàng bà càng thêm lo, nhà mình giống như cái quán trọ, người qua kẻ lại nhiều làm sao biết hết lòng dạ từng người.


Nghe bà nói, ông biết ý bà nhắc ông thận trọng. Ông chống mái chèo nhìn ra dòng kinh. Trên dòng kinh lác đác một vài chiếc xuồng tam bản qua lại, một chiếc đi tạt gần lại chỗ ông đang đứng. Ông Sáu nhận ra người ngồi trên xuồng là cô giao liên của xã. Ông bước ra sát bờ kinh, nói với cô giao liên:

- Rất may tôi đang định đi tới chỗ cô Sáu.

Cô gái ngồi trên xuồng nói vọng lên:

- Cô Sáu biểu cách đấy ba hôm có đơn vị thanh niên xung phong vận tải vũ khí bị chúng "kích" thiệt hại nặng. Số tử sĩ và số người lạc còn ở trong rừng, chú liên hệ với B80 tổ chức giải quyết hậu quả, có gì khó khăn báo cho cô Sáu biết.

- Súng nổ buổi sớm nhiều lắm, không hiểu có đơn vị nào chiến đấu.

- Suýt nữa cháu quên. Có tin trận chiến đấu vừa rồi thắng lớn, ta bắn cháy hai xe bọc thép, diệt nhiều địch buộc chúng phải rút chạy.

- Đã chắc nó rút thiệt chưa?

- Cháu chẳng biết gì hơn những điều cô Sáu biểu.

Một anh bộ đội khoác một khẩu AK bùn đất lấm lem từ đầu tới chân, từ dưới cánh đồng bước lên bờ kinh.

Ông Sáu ngoảnh nhìn về phía anh bộ đội, rồi nói với cô giao liên:

- Cháu về đi. Có thằng Tư bộ đội đến, chắc sẽ rõ mọi chuyện.

Bước tới trước mặt ông Sáu, anh bộ đội vừa thở vừa nói:

- Chú mượn giúp cháu bốn, năm cái leng...

- Mày nói tao nghe, trận đánh tối qua thế nào.

- Xin lỗi chú vội quá... Tối qua tiểu đoàn chúng cháu tập kích, tiêu diệt sở chỉ huy tiểu đoàn cộng một đại đội địch, tiêu hao nặng hai đại đội khác. Ta hy sinh và bị thương có năm người. Số địch còn lại chạy tán loạn. Bây giờ chúng cháu phải lo chôn cất số chị em thanh niên xung phong bị địch phục kích cách đây mấy hôm. Hiện nay còn một số chị em ẩn trong rừng, chúng cháu đang đi tìm.

- Mày có biết số thanh niên hy sinh khoảng bao nhiêu không?

- Nhiều. Có đến năm mươi người chứ không ít hơn.

Cô giao liên vẫn ngồi trên xuồng nghe hai người nói chuyện. Ông Sáu nói với cô giao liên:

- Mày về nói với Ba Hanh phải vận động thêm số hội viên nông hội cùng du kích giải quyết hậu quả, khoảng mười lăm người nghen. Phải thiệt khẩn trương nghen.

- Chú Sáu. - Anh bộ đội cười lộ hàm răng trắng bóng. - Được các chú giúp đỡ thiệt mừng. Thủ trưởng cháu đề nghị, mọi việc phải làm xong trong buổi sáng, càng sớm càng tốt. Có thể sáng mai địch sẽ có cuộc càn lớn. Cháu xin phép chú cháu về trước có được không. Đằng nào lát nữa các chú cũng đến.

- Ừ, mày cứ về trước đi.

Ông Sáu dẫn một số người len lỏi vào lối mòn, trong khu vực thanh niên xung phong bị địch phục kích.

Một cảnh khủng khiếp và thương tâm diễn ra trước mắt họ. Chỗ hai ba xác chết, chỗ sáu bảy xác chết... nằm nghiêng nằm sấp co quắp các kiểu. Những cô gái nằm đó còn để lại những dấu hiệu nỗi đau đớn ghê gớm trước giây phút tắt thở. Những đôi bàn tay nhỏ nhắn trắng như sáp, nắm chặt lấy bụi cỏ hoặc bấm sâu xuống nền đất. Những cái miệng há hốc méo xệch như đang gào thét kêu cứu. Có cái xác còn hơi ấm chừng như vừa tắt thở cách đấy vài phút.


Họ đi vào một vạt rừng mới bị đốn, gần ngay bờ đìa cỏ, những lửa than còn ngún khói. Tới gốc một cây tràm lớn đang cháy dở, dưới gốc tràm có một xác cô gái bị cháy hết quần áo. Cái thi thể trần trụi đó ở tư thế nằm bắn, đôi tay vẫn giữ chặt khẩu AK. Bên cạnh cô là một đống vỏ đạn. Mọi người đứng lặng vài giây để tỏ lòng ngưỡng mộ người chiến sĩ vô danh ấy.


Văng vẳng tiếng gọi của anh em bộ đội đang gọi những người đang còn ẩn nấp. Mấy người làm nhiệm vụ thu nhặt thi hài liệt sĩ thì thầm bàn tán.

- Có khi chị em ẩn ngay gần đây, nhưng sợ địch chưa rút nên chưa dám ra.

- Gọi to như thế, chẳng lẽ không nghe thấy.

- Tôi có lần "chém vè", địch rút lâu rồi, có người gọi nhưng còn nghe ngóng chán, vì sợ địch đóng giả.

- Có lý. - Ông Sáu Chồn nói. - Tao là người quen nhiều đứa trong bọn nó. Nghe tiếng tao chắc chúng nhận ra ngay. Gần đây có cái đìa cỏ rậm lắm. Chắc chúng chém vè ở đó.

Ông Sáu xăm xăm bước về phía đìa cỏ đưa hai bàn tay khum khum làm loa "Tao là Sáu Chồn đây. Chú tới tìm các cháu", ông nhắc đi nhắc lại vài lần câu nói đó.

Trong đám sậy dưới đìa bỗng lay động, và từ đó có tiếng con gái yếu ớt:

- Chú Sáu cứu chúng cháu với.

- Ôi chú Sáu. Ôi các anh kéo em lên với. Chân em tê không bước được.

...

Những người đứng trên bờ không ai bảo ai, đều lội ào xuông đìa dìu chị em lên.

Mừng vì qua được cơn hoạn nạn, các cô gái đều khóc nức nở. Cánh đàn ông cũng không cầm được nước mắt.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 20 Tháng Sáu, 2021, 08:08:00 pm
7

Từ sau Tết Mậu Thân vài tháng, Mỹ - ngụy điên cuồng phản kích. Chiến đấu liên tục, không được nghỉ ngơi và bổ sung lực lượng, sức chiến đấu của bộ đội địa phương và du kích đuối dần.

Tết Mậu Thân du kích xã Mỹ Lâm đã có gần một đại đội. Xã được giải phóng, ngày đêm ta đi lại tự do trên dòng kinh Mớp Giăng. Đến nay hầu như ấp nào cũng có đồn địch. Tàu FOCA Mỹ ngày đêm chạy trên kinh Mớp Giăng như chạy chỗ không người. Du kích xã chỉ còn lại không đầy một tiểu đội, vũ khí thiếu thốn, nhìn hành động hung hăng của địch, ức nghẹn tới cổ mà không làm gì được.


Đôi lúc họ chụm đầu lại ôn những ngày Mậu Thân sục sôi với bao nhiêu hành động ngây thơ mà cười ra nước mắt. Nghe lệnh tổng công kích và tổng khởi nghĩa cứ tưởng sẽ giải phóng miên Nam ngon lành trong một vài ngày. Khi rời căn cứ họ bảo nhau vứt hết nồi soong, mùng mền, thậm chí còn vài giạ gạo dự trữ cũng trút luôn xuống đìa cho cá. "Giải phóng đến nơi rồi mang theo của quỷ ấy làm gì cho nặng". Bây giờ mới thấy cái máu "bốc đồng" trong Tết Mậu Thân đã đem lại hậu quả gì.


Lệnh của cấp trên vẫn ban xuống "tiếp tục tổng tấn công và tổng khởi nghĩa". Chẳng còn sức đâu mà bao vây đồn bốt, cắt đường giao thông nhưng cũng phải làm một việc gì đó, vừa với sức mình để giữ nghiêm kỷ luật. Nhiều lần du kích Mỹ Lâm đã bàn cách đánh tàu FOCA để cảnh cáo bọn Mỹ hạn chế bớt sự hung hãn của chúng. Bàn bạc cũng giống như sự ước ao mà thôi, chẳng đi tới hiện thực nào cả. Giá như có lấy một hai khẩu B40, B41 và một cơ số đạn. Giá như có một khẩu ĐKZ 57... Giá như... Nhưng làm gì còn điều kiện như Mậu Thân, súng đạn cần là có, đạn bắn thả cửa.


Bí thư Sáu Hòa và xã đội trưởng Ba Hanh không bỏ qua bất cứ một cơ hội nào, khi gặp các đơn vị bộ đội trên tuyến đường 1C là ngỏ lời xin những của quý hiếm đó. Có ngươi lịch sự từ chối, có người nói chua chát "được như hồi tết thì chẳng phải để các đồng chí đề nghị". Nhưng cuối cùng sự kiên trì của họ cũng được đền bù, T80 (đơn vị bảo vệ tuyến 1C) đã cho một khẩu AT với một cơ số đạn.


Ẩn được giao khẩu súng đó, cả tiểu đội du kích coi khẩu AT như một bảo vật. Thì giờ rảnh là tranh nhau thử tập ngắm, tập bắn.

Một hôm tổ du kích tới chơi nhà ông Sáu Chồn. Vừa bước vào cửa Ẩn đã khoe:

- Chú Sáu... chú có biết loại súng nàv không, - Ông Sáu chưa kịp trả lời Ẩn đã gạ. - Chú Sáu còn gà không? Cháu mua một lít rượu. Chú cháu ta ăn mừng trước. Dứt khoát kỳ này cháu sẽ bắn chìm FOCA.

Trong huyết quản Sáu Chồn còn sôi sục dòng máu chiến sĩ, tuy sức lực đã cằn cỗi, nhưng nói tới chiến đấu ông vẫn giữ nguyên lòng hăng hái như xưa. Ông yêu mến những chiến sĩ du kích và ngược lại họ cũng yêu mến trân trọng ông như người chỉ huy cao nhất của mình. Thấy Ẩn khoe khẩu súng mới, ông cầm lấy rồi nói:

- Loại súng này thì ngon rồi. Đạn ít. Mỗi quả đạn mày phải đổi lấy một cái tàu của nó. Bọn Mỹ đang chủ quan lắm. Phải cho chúng một đòn, để cho chúng biết du kích Mỹ Lâm thế nào. Tao đồng ý cho bọn bây ăn mừng trước, nhà tao còn một con gà thịt được rồi, bây ra đằng sau mà bắt.

- Hoan hô chú Sáu, chiến công đầu thuộc về chú.

- Hoan hô. Có mồi rồi nhậu xong chưa biết chừng chúng đến.

- Mày làm thịt gà, tao đi lấy rượu.

Thấy bọn trẻ la hét đuổi gà vui vẻ, ông Sáu vui lây. Ông ngồi bắt chân chữ ngũ, mắt nhìn ra dòng kinh, suy nghĩ về lớp trẻ kế tiếp mình. Không đầy mười năm mà biết bao đổi thay, kể từ năm 1962 có lúc ta làm chủ toàn xã vào ban đêm, có lúc ta hoàn toàn làm chủ cả ngày lẫn đêm, đến nay ta làm chủ từng "lõm". Sự thay đổi ấy trong xã luôn luôn gắn liền với phong trào chiến tranh du kích. Ông không đủ trình độ để phân tích tại sao có sự thay đổi ấy. Nhưng ông biết rất rõ lớp trẻ trong đội du kích, các cán bộ xã đội như Nguyễn Thị Hoa, Lương Văn Hón, Nguyễn Văn Hanh, Nguyễn Ngọc Anh và các chiến sĩ như Ó, Ẩn, Út Lì, Mười Châu, Ly (người Khơ-me) thì dù có thay đổi như thế nào, họ vẫn là niềm tin của nhân dân, niềm tin của ông. Họ luôn luôn đưa tới ông những tấm gương về chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Bao nhiêu hình ảnh còn như đang sống động trước mắt. Cũng ở trong cái nhà này, cách đây không lâu thằng Ly đặt bàn tay vào hai quả lựu đạn da láng đeo ở lưng rồi nói với ông: "Hai trái này nếu cháu bị chúng vây, cháu còn ngáp thì dứt khoát phải cưa hai". Vài ngày sau đội du kích vào trong ấp công tác, gần sáng trở về "cứ", Ly mệt mỏi nằm nghỉ ở bờ kinh, ý định nghỉ một lát đỡ mệt rồi đi tiếp, chẳng dè ngủ một mạch cho tới sáng.


Sáng hôm ấy ông Sáu nghe thấy tiếng lựu đạn và tiếng súng nổ ở phía bờ kinh cách nhà mình vài trăm mét, ông băn khoăn lo lắng, "du kích đã về "cứ" rồi, ai đụng độ với địch ở đó. Tiếng súng nổ khoảng hơn mười phút rồi có một máy bay lên thẳng tới hạ cánh. Chúng xuống lấy xác nhau. Ông Sáu phán đoán chắc là một tên chỉ huy quan trọng hoặc biệt kích Mỹ nó mới dùng đến trực thăng. Chiều hôm đó anh em du kích đến nhà ông Sáu tìm Ly, ông nói với họ về tiếng súng nổ buổi sớm. Họ cùng đến hiện trường của trận đánh. Nơi máy bay đậu còn để lại nhiều vũng máu và bông băng vứt bừa bãi. Rẽ xuống ruộng lúa, đi theo một vệt máu kéo dài đã thâm đen và vạt lúa nhầu nát đến chỗ một xác người nằm sấp ông Sáu khựng lại, kêu khe khẽ: "đúng mày rồi Ly ơi! Mày đã thực hiện đúng lời hứa".


... Mãi cho đến lúc này, ông Sáu vẫn như thấy Ly đứng trước mặt mình nói những lời tiên đoán về số phận của mình. Nghĩ về Ly, ông lại càng thương yêu những chiến sĩ du kích trẻ đang quây quần quanh ông. Họ đang cười nói đó, nhưng có thể lát nữa thôi, có đứa sẽ ngã xuống vì sự nghiệp giải phóng quê hương. Chúng chẳng tiếc gì cuộc đời mình. Ông là người đi trước đâu dám nghĩ đến cái riêng cho mình.


Bữa tiệc nghèo chỉ có thịt gà luộc, vài con cá lóc nấu canh chua và mớ rau cải sông bày biện đã xong.

Xã đội phó Ngọc Anh cười nói:

- Chú Sáu mở tiệc mừng chúng ta sắp sửa lập chiến công. - Ngọc Anh nâng cốc rượu đưa về phía ông Sáu rồi nói tiếp. - Mời chú Sáu là người cao tuổi nhất làm chủ xị.

Ông Sáu nhấp một ngụm nhỏ rồi đưa lại Ngọc Anh. Ngọc Anh chuyển cho Ẩn:

- Sao lại thế. - Ẩn xua tay. - Anh uống trước đi.

- Sau chú Sáu đến cậu, trận đánh này có lập được công hay không cậu quyết định vì cậu giữ hỏa lực.

Mọi người cười nói gần như đồng thanh:

- Đồng ý.

Mấy người cùng gắp thức nhắm bỏ vào bát của Ẩn. Ẩn gắp bỏ ra dĩa, ngươi khác lại gắp bỏ vào cho Ẩn, đưa đẩy cùng với tiếng cười ồn ào vui vẻ.

- Bồi dưỡng xạ thủ.

- Chúc cậu chỉ một phát chìm FOCA.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 20 Tháng Sáu, 2021, 08:08:48 pm
Cốc rượu được chuyền tay mỗi người một ngụm. Hơi men nâng không khí phấn chấn của mọi người lên như cờ gặp gió.

Có ai đó nhắc đến chuyện cô Bảy Sen vừa ở nhà tù của ngụy ra. Câu chuyện lập tức được hưởng ứng rộng rãi.

- Nghe đâu nó định bắt chị Sáu "Bãi Lửa", nhưng nó bắt lầm.

- Nói đúng hơn là chúng bị mắc lừa.

- Chú Sáu biết rõ chuyện thế nào chú kể nghe.

- Hôm đó cô Sáu về thăm nhà.

Nói tới đó ông Sáu nhấp một ngụm rượu, rồi im lặng.

Từ lâu nay trong xã Mỹ Lâm lưu truyền nhiều chuyện gần như huyền thoại về bí thư kiêm chính trị viên xã đội Nguyễn Thị Hoa (tên thường gọi là Sáu Bắc, du kích gọi chị là Sáu Bãi Lửa là cái tên vui đùa vì bốn lần yêu, người yêu đều chết trận), chị là một cực có sức hấp dẫn nhân dân trong xã. Mỹ - ngụy hoảng sợ người con gái ấy, chúng đặt giá cái đầu Sáu Bắc hàng triệu đồng. Vì vậy anh em du kích rất quan tâm chuyện gì vừa xảy ra đối với người chỉ huy của họ.

An giục ông Sáu:

- Kìa chú kể tiếp đi.

- Hôm ấy. - Sáu Chồn nói nhẩn nha. - Bọn lính đến thẳng xóm Bắc rất sớm. Khi chị em cô Sáu nhìn thấy thì chúng đã tới gần. Bảy Sen chỉ kịp nói: "Chị chạy ra cửa sau, nhanh lên". Ba phút sau bọn lính kêu mở cửa. Hai thằng chĩa súng vào Bảy Sen, hỏi: "Mày là Sáu Hoa" "Đúng. Các ông hỏi gì". Mấy thằng lính cười hô hô: "Phen này mày hết đường chạy". Lúc đó Bảy cũng mừng đã lừa được địch, để chị Sáu chạy thoát. Chúng đưa Bảy đến Sóc Xoài rồi cho gọi một thằng chiêu hồi ra nhận diện. Tới lúc đó chúng nó mới ngã ngửa ra là bị mắc lừa.

- Cô Bảy lanh thiệt. Mưu mẹo có nòi.

Những câu chuyện được nối tiếp, hết người này tới người khác kể tưởng không bao giờ hết. Chị Sáu Bắc chỉ huy chống càn. Chị Sáu Bắc chỉ huy diệt ác ôn. Chị Sáu Bắc cứu chị Bảy Cao. Chị Sáu Bắc thoát chết trong trận địch phục kích...

Tàn bữa rượu họ tán chuyện bù khú với nhau, đủ loại nghiêm chỉnh và không nghiêm chỉnh cho tới xế chiều.

Đang tán chuyện, có người ngoài cửa nhắc:

- Có tiếng động cơ.

Họ xách súng chạy ra cửa. Ngọc Anh hỏi anh em:

- Tính sao bây?

- Chơi. - Ẩn trả lời gọn lỏn.

- Nghe tiếng máy còn xa, đủ thời gian chúng ta có thể tới xóm Bắc. Ở đó có địa hình tốt. Nhanh lên!

Ân, Út Lì, Mười chạy theo Ngọc Anh, họ vội vã không kịp chào tạm biệt ông Sáu

Ánh nắng chiều nhạt dần. Bóng những bụi cây sậy ngả dài, đu đưa trên mặt nước. Đàn trâu lững thững về chuồng. Tiếng quang quác của đàn chim ăn đêm bay xa dần về phía biển. Tiếng bom ầm ì từ xa xôi dội lại. Sáu Chồn không rời mắt khỏi dòng kinh, các giác quan của ông cố lọc ra tất cả mọi hình ảnh, âm thanh chỉ hướng vào con tàu.


Tiếng máy nổ và hình dáng con tàu tuần tiễu của bọn Mỹ rõ dần. Một chiếc hình con thoi màu xanh sẫm lao nhanh để lại phía sau nó một vệt bọt trắng xóa trước mắt ông. Một chiếc nữa, rồi một chiếc nữa. Chiếc cuối cùng vừa mất hút sau những lùm cây. Không phải chờ lâu, ông Sáu đã nghe thấy một tiếng nổ lớn và tiếp theo là tiếng đạn tiểu liên nổ, cùng lúc đó ánh lửa bùng lên chừng vài phút.


Hai chiếc FOCA quay trở lại, bật pha sáng, phóng như bay qua trước mặt ông ra biển. Sáu Chồn rất khoái, ném theo chúng một câu chửi: "Đ.má! Chúng bây chết một thằng rồi".

Chợt nhớ tới một tình huống có thể xảy ra sau trận đánh, ông vội vàng vào trong nhà thúc vợ con xuống hầm tránh pháo. Ngay lúc đó ông đã nghe tiếng máy bay lên thẳng xoáy trên đầu. Nghĩ đến đàn trâu của mấy gia đình buộc chung quanh trên nền đất gần nhà mình, ông cầm dao chạy ra, giơ cao con dao định chặt thừng trâu. Ông hàng xóm ngồi ở đầu nhà nhìn thấy hét:

- Chặt thừng trâu chạy ra ngoài đồng chúng bắn chết hết.

- Tập trung thế này nó bắn là chết hết.

Vừa nói ông Sáu vừa bổ từng nhát mạnh xuống. Thấy tiếng nổ của loạt đạn rốc-két từ máy bay vừa bắn xuống, đàn trâu chạy tung tóe mỗi con một hướng.


Máy bay địch bắn phá dữ dội khoảng mười phút rồi bay đi. Những đám cháy trong xóm, nơi máy bay bắn, ngọn lửa bốc lên cao soi sáng cả một vùng. Tiếng kêu la hoảng hốt chìm vào tiếng tre nứa cháy nổ. Người từ nhà này chạy sang nhà kia giúp nhau chữa cháy. Ông Sáu dập xong đám cháy trên chiếc ghe bầu của T80 ở trước cửa nhà mình, xong, ông lao tới đám cháy lớn ở xóm bên.


Mấy người đàn ông, người nào người nấy tay xách thùng, xách chậu đứng nhìn ngọn lửa rừng rực đang liếm trên cái khung nhà. Họ bậm môi giận dữ bất lực.

Sáu Chồn vừa tới, nghe có tiếng người than thở:

- Chết hết rồi!

- Nhà chị Tiết không chạy được người nào?

- Tất cả năm mẹ con.

Suốt đêm đó cả ấp xôn xao mất ngủ. Tin du kích bắn chìm tại chỗ một chiếc FOCA và cái tin mẹ con chị Tiết bị máy bay Mỹ bắn chết cháy trong nhà mình, truyền từ nhà này sang nhà khác, thấm vào mỗi người niềm vui và nỗi căm giận.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 20 Tháng Sáu, 2021, 08:09:43 pm
8

Đêm 5 tháng 5 năm 1968, mưa đầu mùa kéo dài mấy giờ liền. Mưa xối xả như tát nước vào mặt mọi người. Đội du kích Sóc Sơn, do xã đội trưởng Ba Non dẫn đầu vẫn mò mẫm trên đoạn đường gần cầu số 9. Cùng đi với họ có tổ công binh của huyện.


Đáng ra đêm nay, theo lệnh cấp trên, bước vào đợt hai tổng tiến công tổng khởi nghĩa, họ phải pháo kích vào chi khu Tri Tôn, nhưng lệnh xuống chậm không kịp chuẩn bị, họ phải thay thế bằng đánh giao thông. Chỉ tính vài tháng vừa qua trên đoạn đường này du kích Sóc Sơn và công binh huyện đã từng phá hủy hàng chục xe quân sự và diệt bàng trăm tên địch. Để thông đường, Mỹ - ngụy đã dùng mọi biện pháp đối phó. Dọc đường khoảng năm trăm đến một nghìn mét đóng một cái đồn cỡ một tiểu đội đến một trung đội; giữa đồn này với đồn khác thường xuyên tuần tiễu kết hợp phục kích. Mỗi lần có đoàn xe qua, chúng rải quân canh gác và cho rà mìn trước... nhưng mìn của du kích vẫn liên tục hất tung các loại xe của chúng xuống lề đường.


Gần sáng mới chôn mìn xong, trời vừa tạnh mưa. Ba Non đi kiểm tra lại đoạn đường vừa chôn mìn còn để lại nhiều dấu chân. Không còn đủ thời gian để ngụy trang nữa, Ba Non quyết định moi hai quả mìn mang về, để đêm khác đánh cho chắc ăn.


Về tới bờ dừa, nơi trú quân của đơn vị, anh em ngồi xúm lại bàn tán tiếc rẻ một đêm vất vả "công cốc".

Huyện đội phó Năm Thắng giải thích:

- Độ này thiếu thuốc nổ, anh em công trường phải nhặt từng quả bom bi lép, mỗi hòm mìn này là hai mươi quả bom bi đó. Mình đánh phải chắc ăn cho bõ cái công của anh em công trường bỏ ra.

Các cậu Thủ, Hồng, Kiên, Nam... đang mồi thuốc cho nhau, thì thầm gì đó rồi cười khúc khích. Năm Thắng tưởng mấy cậu du kích có ý "kê" điều mình vừa nói. Anh nói tiếp:

- Cơm không ăn còn đó lo gì. Đánh ẩu rồi không còn gì để mà đánh.

- Rút về là phải, anh em có than phiền gì đâu thủ trưởng.

Ánh sáng từ ngoài biển đã tràn vào soi rõ từng cọng cỏ. Bụng đói cồn cào, có nằm cũng chẳng ngủ được, Ba Non vùng dậy, đi lững thững ra bờ kinh. Anh tính ra đứng chơi ở bờ kinh chờ ghe xịp ở ngoài biển về, xin bà con một ít cá.


Mới đi cách xa chỗ đơn vị khoảng hơn một trăm mét, Ba Non yên chí vùng đất này của mình kiểm soát, anh không để ý đến xung quanh. Bất ngờ có một tên lính ngụy bước ở trong bụi ra, chĩa súng vào anh, nó hô "giơ tay lên". Nhanh như cắt, Ba Non gạt văng nòng súng của địch sang một bên, đồng thời rút khẩu súng ru-lô cho nổ liên tục năm phát, tên lính ngụy đổ gục xuống. Một tên lính khác cầm khẩu ga-răng cách anh vài bước, hoảng sợ đứng như trời trồng. Thấy súng mình hết đạn, Ba Non vội vàng chạy về nơi đóng quân. Chạy độ mươi bước anh mới thấy đạn rít bên mang tai. Anh kêu to: "Có địch... báo động chiến đấu".


Anh em chủ quan không đặt cảnh giới chu đáo, khi nghe súng nổ gần quá rồi, mắt nhắm mắt mở, vơ vội hành lý rồi chạy.

Riêng Thủ và Hồng đang ngồi chuyện trò, khi nghe súng nổ đã kịp thời vào vị trí chiến đấu.

Nhìn thấy một tên lính ngụy vừa bắn vừa đuổi theo Ba Non chỉ cách mươi mét, nếu nổ súng sẽ chết cả đồng đội mình, họ đành chờ Ba Non tới chỗ không còn cản trở, mới níu cò. Hai loạt đạn AK của Hồng và Thủ quật tên biệt kích ngã xấp xuống, khẩu ga-răng văng sang một bên cách chỗ họ một với tay. Bọn địch phía sau đã kịp dồn lên, chúng hò hét và bắn như đổ đạn vào cứ của du kích.

Thấy không đủ sức chống cự lại địch, Ba Non cho đơn vị rút lui.

Tiểu đội du kích Sóc Sơn cùng một số anh em trên huyện đội xuống công tác đã rút lui về nơi an toàn. Họ điểm lại không thiếu một ai, nhưng trong lúc vội vã không kịp chuẩn bị, họ đã bỏ lại nhiều thứ. Người mang nhiều nỗi lo buồn nhất là Năm Rự. Anh vừa nhờ cơ sở của xã mua từ trong vùng địch ra được một trăm hộp sữa, hộp thịt và hai mươi giạ gạo về nuôi thương binh, đến bây giờ thì trắng tay. Tiền hết rồi biết làm sao đây.


Bụng dạ mọi người đã đói mềm, nhưng sờ túi nắn bòng chẳng có gì có thể ăn được. Thay thế cho bữa ăn, họ xúm lại bình luận trận đánh tao ngộ vừa xảy ra, rồi cười (cười ra nước mắt).

Bỗng có một tiếng nổ như tiếng bom ở phía cửa vàm biến, chỉ độc có một tiếng thôi.

Anh em đứng bật dậy nhìn về phía tiếng nổ. Không còn âm thanh gì khác ngoài tiếng sóng biển ồn ào muôn thuở. Cột khói đen đang tan loãng vào không trung. Không có máy bay, tại sao có tiếng bom nổ? Họ hỏi nhau, nhưng chẳng ai đoán ra được một điều gì khả dĩ được coi là hợp lý.


Buổi chiều tổ trinh sát về đưa một tin phấn khởi. Dân đi đánh cá về cho biết: đại đội biệt kích ác ôn khét tiếng do thằng Hà chỉ huy, có sĩ quan Mỹ đi theo, trong lúc chờ tàu để rút về Rạch Giá, đã bị bom nổ ở cửa vàm, khoảng ba mươi tên chết tan xác và một số bị thương.


Ai đặt bom ở đấy? Anh em xôn xao hỏi nhau. Tổ trinh sát cũng không trả lời được. Mọi ngươi vui mừng hả hê, Ba Non cười nói to: "Bom của ai nổ ta cũng thắng. Chúng ta tới tận nơi xem".


Họ đến bãi cát ở cửa vàm biển. Những dấu vết còn lại đã nói với họ nhiều điều. Một cái hố bom còn ám khói. Từ hố bom hất tung ra đủ thứ. Những mảnh quần áo rằn ri, những mảng da thịt, ruột gan; những mảnh gỗ thùng, gỗ báng súng và rất nhiều vũng máu.


Mọi người thận trọng xem xét phán đoán theo nhận thức của mình. Thỉnh thoảng lại có tiếng reo lên thích thú:

- Ôi! Mảng da này đúng là da Mỹ rồi, lông nó vàng như lông bò.

- Đây có mảng da đen sì, như vậy là có cả thằng Mỹ đen nữa.

- Anh Ba xem này, đúng là vỏ thùng mìn của ta.

- Gạo, sữa, thịt còn nguyên chúng chưa kịp mang đi một tí nào...

Mọi thứ anh em nhìn thấy ở hiện trường nơi quả bom nổ, được coi là vĩ thanh của trận đánh "tao ngộ". Họ kết luận: Sau khi anh em rút, bọn biệt kích Mỹ đã thu được một số chiến lợi phẩm, trong đó có hai hòm bom bi (mìn), mỗi hòm hai mươi quả. Đến bờ biển, trong khi chờ tàu, một tên lính nào đó tỏ lòng tôn kính các ngài sĩ quan Mỹ, nó đã mang hai cái hòm gỗ để cho các ngài ngồi cho sạch sẽ. Cái xác nặng hàng tạ của ngài sĩ quan Mỹ đè lên hòm mìn. Mìn nổ tung.

Mãi tới hôm nay khi kể chuyện truyền thống, du kích Sóc Sơn vẫn cười thú vị về "hai quả mìn tao ngộ".


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 21 Tháng Sáu, 2021, 08:19:50 pm
Chương bảy
78 NGÀY ĐÊM TRONG VÒNG VÂY

1

Năm 1969. Tình hình chiến sự diễn ra ở Quân khu miền Tây rất phức tạp và ngày một xấu đi. Địch thực hiện bình định cấp tốc, lấn hầu hết vùng giải phóng rộng lớn mà trước Mậu Thân ta đã giành được. Lực lượng vũ trang của ta chống đỡ không đáng kể. Bộ đội chủ lực quân khu chiến đấu liên tục từ Tết Mậu Thân tới nay, quân số vũ khí trang bị hao hụt không được bổ sung.


Hai sư đoàn chủ lực ngụy (21 và 9), cùng với hỏa lực Mỹ chi viện tối đa, thay nhau hoặc cùng một lúc đẩy chủ lực quân khu từng bước lui về căn cứ U Minh.

U Minh - căn cứ truyền thống của bộ đội chủ lực và cơ quan lãnh đạo miền Tây bị địch uy hiếp nặng nề. Chiến dịch "nhổ cỏ U Minh" của Mỹ - ngụy nâng tới đỉnh cao nhất về sử dụng lực lượng của chúng ở miền Tây từ trước tới nay. Có lúc chúng dốc toàn bộ hai sư đoàn chủ lực cùng với lực lượng cơ động của các tỉnh, có các loại máy bay (cả B52) và pháo của hạm đội 7 yểm trợ, để càn quét đóng đồn. Địch đã chiếm được một phần đất quan trọng của U Minh Thượng và dồn ta về U Minh Hạ...


Miền Tây đang trong tình thế báo động khẩn cấp. Quân ủy Trung ương đã quyết định đại tá Lê Đức Anh, Tham mưu trưởng Bộ tư lệnh Miên, tới thay tư lệnh Quân khu 9, đồng thời tăng viện nhanh cơ sở vật chất và ba trung đoàn chủ lực cho quân khu.


Trung đoàn 3 thuộc Sư đoàn 9 (chủ lực Miền) được lệnh tách ra khỏi sư đoàn từ miền Đông mượn đường biên giới nước bạn hành quân về miền Tây.

Tháng 1 năm 1969 Trung đoàn 3 đã vượt qua sông Vĩnh Tế. Đặt chân lên đất miền Tây, Trung đoàn 3 đã liên tiếp lập chiến công.

- Tiêu diệt trận địa pháo Núi Sam.

- Tấn công vào căn cứ huấn luyện Chi Lăng, tiêu diệt sở chỉ huy và khoảng 1.000 tên, giải phóng số người bị bắt quân dịch.

- Tiêu diệt một tiểu đoàn biệt động quân ở chùa Tà Miết.

- Tiêu diệt và bức rút một số đồn bót xung quanh Bảy Núi (Tri Tôn, An Giang)...

Đầu tháng 8 năm 1969, theo lệnh Bộ tư lệnh Miền, Trung đoàn 3 rời vùng Bảy Núi tiếp tục hành quân về U Minh.

Những trận đánh vừa diễn ra ở vùng đất từ lâu địch coi như yên tĩnh, làm đảo lộn nếp suy nghĩ của các tướng ngụy Vùng 4 chiến thuật. Lực lượng "dép râu, nón cối"1 (Dép râu, nón cối, ý nói bộ đội chủ lực từ miền Bắc vào) xuất hiện ở vùng đất này, sẽ làm cho chúng không dễ dàng gì trong việc "nhổ cỏ U Minh", và chưa biết chừng còn là mối hậu họa của chúng.


Chúng vội vã bứt một phần lực lượng của chiến dịch "nhổ cỏ U Minh" điều động bằng mọi phương tiện tới vùng Hòn Đất làm nhiệm vụ bóp nghẹt tuyến đường 1C, ngăn chặn không cho quân tăng viện của "R"1 ("R": Bộ tư lệnh Miền) tới Quân khu 9. Đầu tiên chúng ném một liên đoàn biệt động tới đánh vào các chốt bảo đảm hành quân của ta từ Bảy Núi (An Giang) tới Ba Hòn.


Mỗi cái chốt của ta từ một tiểu đội đến một trung đội, nhưng bọn biệt động ngụy húc không bật nổi những thành lũy bé nhỏ đó. Các tiểu đoàn trong Trung đoàn 3 vừa hành quân vừa chiến đấu về Ba Hòn. Địch lại tung thêm một tiểu đoàn bộ binh nữa vào lực lượng ngăn chặn, nhưng vẫn chưa làm nên cơm cháo gì.


Lực lượng "bóp nghẹt" tuyến đường 1C tăng lên rất nhanh. Chúng ồ ạt đưa thêm một trung đoàn thuộc Sư đoàn 9 và chiến đoàn 50 xe bọc thép. Ít ngày sau chúng đưa thêm một tiểu đoàn bộ binh thuộc Sư đoàn 21, hai giang đoàn cùng một bộ phận tàu biệt kích hải quân Mỹ, dưới sự chi viện hỏa lực của pháo hạm đội 7, máy bay B52 và nhiều trận địa pháo mặt đất. Chúng khép chặt vòng vây xung quanh "Ba Hòn".


Trung đoàn 3 được đảng bộ và nhân dân Hòn Đất giúp đỡ đã vượt qua được nhiều tuyến ngăn chặn của địch và vượt qua lộ Cái Sắn được ba tiểu đoàn. Còn lại ở "Ba Hòn" một tiểu đoàn, một bộ phận nhẹ của trung đoàn bộ và khoảng một trăm thương binh, bệnh binh.


Ngay từ ngày đầu, các lực lượng của ta chiến đấu trong "Ba Hòn" đã gặp rất nhiều khó khăn. Số người kể cả dân và quân đội có khoảng hơn một nghìn người. Số lương thực dự trữ đã cạn từ 30 tháng 8 (khi địch còn chưa tấn công ào ạt vào Ba Hòn). Thiếu đạn dược và chất nổ, phải vượt qua kinh Vĩnh Tế sang Cam-pu-chia lĩnh.


Địch chuẩn bị tấn công, không kể hàng chục nòng pháo cỡ lớn bắn phá ngày đêm, riêng B52 mỗi ngày mười bốn lần tốp tới rải bom. Chỉ riêng ba ngày bom, pháo bắn phá chuẩn bị, vùng đất trên "Ba Hòn" đã bị lột đi từng mảng lớn màu xanh, núi non tưởng như muốn đổ sập xuống. Trước vài giờ địch tấn công, các đơn vị trong "Hòn" nhận được tin "Bác Hồ đã từ trần...", tin đó ập đến một luồng gió tiếc thương xao xuyến.


Lễ truy điệu Bác dưới làn khói bom đạn, không có hương trầm, không một vòng hoa, nhưng trang nghiêm và tràn ngập xúc động. Mọi người đứng một phút yên lặng, nước mắt chảy tràn, hướng về phương Bắc vĩnh biệt người lãnh tụ anh minh. Thay lời điếu, bằng lời hứa trước anh linh của Người "... Chúng ta nguyện trung thành với lý tưởng của Người, dù có phải chịu đựng hy sinh gian khổ đến thế nào, cũng kiên quyết giải phóng miền Nam thống nhất đất nước..."


Loạt đạn cuối cùng của đợt pháo địch bắn chuẩn bị, khói như một màn sương mù, cay sè lùa vào cửa hang. Tổ cảnh giới báo cáo "Chúng nó đổ bộ". Hàng chục chiếc máy bay lên thẳng, kéo đàn kéo lũ lần lượt hạ cánh ở nhiều điểm khác nhau.

Một tiểu đoàn bộ binh địch từ suối lớn, đi hàng dọc chậm chạp như một con sâu khổng lồ đang tiến về hướng hang Bà Luốc, nơi đại đội địa phương huyện giữ.

Trung đội (thực ra chỉ còn có chín người) do đại đội phó Đỗ Đức Trọng (tên thường gọi Sáu Thố) trực tiếp chỉ huy, đã ra vị trí chiến đấu ở trước cửa hang.

Bọn địch vẫn tiến dè dặt, thỉnh thoảng dừng lại bắn mấy loạt đạn thăm dò.

Tiếng súng liên thanh, tiếng lựu đạn như một làn sóng nổ lan rộng trên "Hòn", không ngừng vang rền. Sáu Thố suy nghĩ đến việc đỡ một đòn mạnh đầu tiên của địch với lực lượng mỏng manh của mình. Anh nhắc lại mệnh lệnh đã được phổ biến "phải hết sức bình tĩnh, có lệnh của tôi mới được nổ súng".

Anh chị em im lặng rê mũi súng theo mục tiêu mình lựa chọn.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 21 Tháng Sáu, 2021, 08:20:45 pm
Toán quân đi đầu chừng một đại đội đã lọt sâu vào trong tầm lựu đạn. Lệnh bắn của Sáu Thố vừa phát ra, lập tức đồng loạt cả trung đội phóng ra những loạt đạn tiểu liên, những trái lựu đạn chụp chính xác vào đội hình địch.

Bị đánh bất ngờ chưa kịp ẩn nấp, ngay từ loạt đạn đầu toán quân đi đầu của địch đã bị đánh tan tác.

Anh em chuyển làn hỏa lực xuống bộ phận địch ở phía sau.

Địch đã phát hiện được trận địa của ta, chúng lui xuống ở cự ly an toàn rồi gọi pháo.

Hàng chục viên đạn pháo nổ trước mặt và sau lưng trận địa ta, khói bụi mù mịt không còn nhìn thấy gì xung quanh. Sáu Thố cho đơn vị tạm rút vào trong hang.

Địch tiếp tục tiến, chiếm được đỉnh Hòn Me.

Đêm hôm đó anh em phân công nhau đặt mìn vào các lối mòn, nơi địch có thể đến tấn công vào cửa hang của mình.

Sáng sớm hôm sau, Sáu Thố ra chỗ vọng gác quan sát. Một toán địch chừng tiểu đội, chúng không theo lối mòn, nơi anh em đặt mìn, mà bò qua những tảng đá khấp khểnh. Sáu Thố rê mũi súng của mình vào tên lính gần nhất. Anh níu cò, súng nổ một loạt ngắn. Tên lính mất hút sau tảng đá. Để tiết kiệm đạn, anh gạt lại khóa hãm bắn phát một. Chờ tên địch ló đầu ra anh lại tỉa một phát. Nó cũng bắn tỉa lại anh. Đôi bên cù cưa, bên này "đùng" bên kia đáp "đoàng" một hồi lâu. Bọn biệt động quân ngụy khá xảo quyệt. Trong lúc chúng để mấy tên bắn nhau với Sáu Thố, một mũi chủ yếu của chúng lại tiến theo một hướng khác. Nghe thấy tiếng nói rì rầm ở sườn thấp, Sáu Thố nhìn xuống đã thấy bọn chúng đang tiến vào bãi mìn của mình. Anh hạ lệnh nổ mìn. Một tiếng nổ xé không khí, tung theo một trận mưa đất đá. Nghe tiếng nổ, tất cả bọn địch còn sống xô nhau lui xuống sườn núi, để lại những xác chết và một tên bị thương kêu khóc. Sáu Thố cùng một chiến sĩ xung phong lên thu được một khẩu AR15. Sau gần hai ngày chiến đâu, lần đầu thu được chiến lợi phẩm anh em vui mừng phấn khởi.


Ngay từ lúc mìn nổ Sáu Thố đã tự hỏi: "Mình chôn mười quả mìn, tại sao nổ có một quả". Đi kiểm tra lại anh thấy những quả không nổ đều bị cắt đứt dây điện, anh cho anh em nối lại và ngụy trang kín đáo hơn.


Đêm hôm ấy mưa lớn, trời tối đen như mực. Cả đại đội địa phương quân kéo nhau đi tìm địch. Mò mẫm tới nửa đêm không tìm ra nơi trú quân của địch. Ý định đánh một trận tập kích không thành, họ đành phải lặn lội trở về.


Mọi người vừa chợp mắt được hơn một giờ đồng hồ, đã bị những tiếng nổ ở cửa hang đánh thức dậy. Sáu Thố dụi mắt nhìn ra cửa thấy chớp lóe liên tục. "Chúng nó tập kích đơn vị mình". Nhận ra được điều nghiêm trọng đang xảy ra, Sáu Thổ quát to "cho nổ mìn". Một lúc lâu không thấy tiếng mìn nổ, anh bước vội mấy bước về phía chiến sĩ phụ trách điểm hỏa.

- Tại sao mìn không nổ?

- Chúng cắt hết dây rồi.

Một quả lựu đạn nổ gần, át tiếng trao đổi của họ. Sáu Thố nép vội vào cạnh tảng đá. Bên cạnh anh, hai ba chiến sĩ bị thương rên rỉ, lúc này anh mới biết mình cũng bị dính mảnh lựu đạn, vết thương ở sau lưng và ở đầu ngón chân đang nóng bỏng.


Ngoài cửa hang có tiếng còi toe toe kéo dài, từ lúc đó ngừng bặt không còn một tiếng động. Trong hang tối đen, ngột ngạt hơi thuốc nổ và mùi máu tanh lợm. Kẻ địch còn làm gì nữa, không lẽ chúng chỉ ném mươi quả lựu đạn rồi rút. Sáu Thố vẫn nắm chặt khẩu tiểu liên đã lên đạn, chờ đợi, nếu có địch xông vào là anh bóp cò. Các chiến sĩ cùng hành động như anh nhưng vẫn không có động tĩnh gì khác. Tiếng con nhái kêu kéc kéc đều đều, giữa nơi chết chóc này, nghe sao rờn rợn. Bỗng có một lóe chớp, đồng thời một tiếng nổ tưởng xé rách màng nhĩ. Một làn hơi thúc mạnh vào ngực, mọi người có cảm giác tức thở. Vị khói đắng ngắt lùa vào trong hang.


Chúng vừa cho bộc phá nổ hòng phá sập cửa hang. Lúc này Sáu Thố thấy nguy cơ đơn vị mình bị tiêu diệt. Nếu xông ra cửa sẽ bị tiêu diệt nhanh hơn, nhưng chẳng lẽ ngồi chờ chết.

Tiếng loa sột soạt ở cửa hang, rồi một lát sau tiếng nói rành rọt: "Hỡi anh em địa phương quân huyện Châu Thành. Cụ Hồ, vị lãnh tụ anh minh của các bạn đã mất rồi. Các bạn như rắn không đầu, còn hy vọng gì nữa. Ngoan cố chỉ uổng mạng vô ích. Hồi chánh quốc gia sẽ được về sum họp với gia đình. Các anh Sáu Thố, Tài, Hoành...".


Thằng Tống là cán bộ trung đội, vừa ra đầu hàng địch mấy hôm trước, nó đang đọc vanh vách tên từng người trong đơn vị, kêu gọi mọi người theo con đường ô nhục như nó.

Không khí trong hang im lặng, lạnh lẽo.

Sáu Thố cảm thấy mình phạm lỗi nếu để kéo dài tình trạng này, anh vùng đứng dậy đến động viên từng cán bộ chiến sĩ, hãy thể hiện lòng trung thành với lý tưởng của Bác Hồ bằng hành động kiên cường giữ vững trận địa, giữ vững vị trí chiến đấu của người cách mạng.


Không ai đáp lại lời kêu gọi của Sáu Thố, dù chỉ là một cử chỉ nhỏ. Những chiến sĩ ngồi ôm súng, cúi đầu câm lặng như đã hóa đá. Sáu Thố cảm thấy chân tóc mình đang dựng đứng lên. Không thể như thế được. Chẳng lẽ chỉ còn mình đang suy nghĩ, còn mọi người bạc nhược rồi sao. Một lần nữa Sáu Thố lại nhỏ nhẹ nhắc lại điều mình vừa nói:


- Vì tấm lòng kính yêu và nhớ thương Bác Hồ, chúng ta hãy kiên quyết dũng cảm làm theo lời dạy của Người. Từ lâu rồi chúng ta đã xác định với nhau: vì giải phóng miền Nam, giải phóng quê hương mình dù có phải hy sinh tính mạng vẫn không lui bước. Chính lúc khó khăn này mới chứng tỏ ai là người trung thành với lý tưởng cao cả của Bác. Chúng ta cần đánh dạt địch ra khỏi cửa hang, đề nghị đồng chí nào xung phong.


Những tiếng lựu đạn nổ ở cửa hang lấp tiếng Sáu Thố. Vài giây sau có tiếng đằng hắng, rồi có tiếng rắn rỏi: "Tôi xin xung phong". Nghe giọng miền Bắc hơi khàn, Sáu Thố nhận ra trung đội phó Ấm là người của đơn vị chủ lực tới phối hợp. Anh toan nhắc "ai nữa?" thì nghe thấy tiếng trung đội phó Hoành và tiếp theo là một số chiến sĩ của đơn vị mình tình nguyện xông ra cửa hang.


Số anh em xung phong, Sáu Thố tổ chức thành một tiểu đội, giao nhiệm vụ phản kích đánh bật địch ra khỏi trận địa.

Họ lặng lẽ đi theo đội hình hàng dọc hướng ra cửa.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 21 Tháng Sáu, 2021, 08:21:54 pm
Địch ném lựu đạn cầm canh. Một quả lựu đạn nổ chưa kịp tan khói, trung đội phó Ấm đã lao vút ra cửa. Anh quẳng ra ngoài một quả lựu đạn, rồi đứng trên bậc lên xuống hang quan sát. Chưa kịp bước ra khỏi hang Ấm đã bị địch bắn trúng. Ấm vừa hy sinh, Hoành tiến lên bám được thành cửa hang. Một viên đạn M79 của địch nổ gần, hất anh xuống hang.


Địch ở ngoài có ánh sáng dễ quan sát, ta ở trong bóng tối ra chưa kịp tiếp nhận cảnh vật xung quanh đã bị chúng đánh trước. Sáu Thố thấy đơn vị mình ở thế bất lợi, lực lượng còn rất mỏng, không đủ sức thực hiện quyết tâm, anh cho anh em rút lui.


Trời hừng đông, ánh sáng lờ mờ soi vào trong hang. Bộ phận ra phản kích không thành công, trở vào trong hang thiếu mất hai cán bộ. Một số người dao động từ hôm trước, thấy tình thế xấu đi, đầu têu là đại đội phó Ch đã cuống cuồng tìm lối chạy sang đơn vị bạn.


Sự rút chạy vô tổ chức của nhóm Ch tác động rất xấu tới tinh thần của đơn vị, làm cho cả những chiến sĩ vốn dũng cảm cũng trở nên hoảng hốt. Họ bất chấp mệnh lệnh, vội vàng mê muội như bị ma ám.


Là người chỉ huy, Sáu Thố chưa bao giờ gặp cảnh ngộ như thế này. Trước mặt mình còn ba tử sĩ nằm đó, bốn thương binh đang rên rỉ và chính anh cũng là thương binh. Chỉ còn y tá Cường là người khỏe mạnh vẫn giữ được bình tĩnh. Sáu Thố cố dằn nỗi sợ hãi đang len lỏi vào đầu mình. Anh nói với thương binh: Cường dìu người bị thương nặng nhất. Còn tất cả ai còn sức đi, nếu không đi được thì bò theo đường hang sang trung đội hai. Địch không dám vào hang đâu. Các đồng chí cứ yên tâm. Tôi đi sau bảo vệ.


Mấy thương binh còn đứng dậy được, run rẩy lần theo vách đá. Y tá Cường dìu một thương binh nặng, tiếp đến Sáu Thố vai khoác hai khẩu súng lần từng bước một. Trong hang sâu trời tối như có người lấy khăn đen bịt lấy mắt mọi người. Sáu Thố vừa bước đi vừa suy tưởng tới những việc vừa xảy ra và hồi tưởng tất cả những gì vui buồn cay đắng mà cuộc đời chiến sĩ của anh đã nếm trải. Anh đã đi lạc anh em lúc nào không biết.


Khoảng cách với trung đội bạn trong vòng ba trăm mét, Sáu Thố đã đi mất năm tiếng đồng hồ. Đến nơi anh hỏi thăm anh em, vẫn chưa thấy y tá Cường và thương binh tới.

Mệt mỏi, mất ngủ và căng thẳng vì những trận chiến đấu liên tục, Sáu Thố vừa ngả lưng xuống sàn đá, chưa đầy một phút, anh đã chìm vào trong giấc ngủ.

Nghe mơ hồ có ai đó nhắc đến tên mình, anh chồm dậy mỏ to mắt nhìn xung quanh. Trong ánh sáng lờ mờ, anh nhận ra y tá Cường. Ôi! Cường đã đưa thương binh đến rồi. Sáu Thố vui mừng hỏi dồn:

- Các cậu đi lối nào. Tại sao lại đi chậm như vậy?

Cường kể lại. Anh em đã đi men theo hang sát vỏ đồi, gặp một cửa hang có địch chốt, trong tay anh có hai quả lựu đạn và khẩu tiểu liên chỉ còn một băng đạn. Cường phát hiện địch trước. Chúng có năm sáu tên đang ngồi hút thuốc và tán gẫu. Phải cho anh em lui lại, ngồi bàn bạc với nhau khá lâu. Nếu không đánh nó thì không vượt qua được. Một mình Cường bí mật bò tới. Cường vụt liên tiếp hai quả lựu đạn và bắn quét vào chúng cho tới viên đạn cuối cùng. Bị đánh bất ngờ, tiểu đội cảnh giới của chúng bị tiêu diệt sạch. 


Giấc ngủ và câu chuyện của Cường trở thành liều thuốc an thần tuyệt vời, anh thấy trong người dễ chịu và nhìn nhận mọi vấn đề xung quanh sáng sủa hơn.

Có một việc cần phải đi ngay, Sáu Thố xách khẩu "AR15" và xốc lại cái bao đầy ắp đạn chiến lợi phẩm rồi ra cửa, tìm gặp cán bộ trung đội 2 để bàn việc lấy thi hài liệt sĩ.

Trung đội hai gom lại cũng chỉ có chín mười người cộng với khẩu cối "sáu", mấy ngày hôm nay anh em chiến đấu liên tục và đói ăn, muốn đánh bật địch ra là không thực tế, chỉ có khả năng mở một trận tập kích xua địch giãn ra một chút, nhưng cũng không phải là công việc làm ngay trong đêm được. Sáu Thố đang trao đối với cán bộ trung đội, chưa đi tới kết luận gì, đã nghe bộ phận cảnh giới báo cáo địch đang hành quân tới. Anh xách súng ra cửa hang cùng trung đội 2 chặn địch.


Với khẩu AR15 còn giàu đạn, anh sử dụng một cách hào phóng, cùng đồng đội đẩy lui nhiều cuộc xung phong của địch. Trận đánh kéo dài cho tới khi mặt trời lặn.

Ăn vội ăn vàng ba lưng bát cháo nấu với khoai dại, không kịp nghỉ ngơi Sáu Thố tổ chức ngay việc lấy tử sĩ.

Mặc dầu vết thương còn đau nhức, nhưng Sáu Thố vẫn trực tiếp chỉ huy việc thực hiện chính sách. Anh lại dẫn anh em đi ngược chiều cái "địa đạo" tối om ban sáng anh đã đi qua...

Buổi sớm. Khi mặt trời đã ban phát ánh sáng một cách thừa thãi lên cánh đồng núi non, trong hang đá nơi ở của trung đội công binh đặc công huyện ở vẫn còn mờ mờ ảo ảo như dưới ánh trăng. Nếu nhìn ra phía cửa hang còn thấy những mạch của những tảng đá chồng lên nhau nhìn về phía sau chỉ thấy hình thù cổ quái và những mảng đen ngòm.


Anh em trong trung đội đã thức dậy từ lâu, họ vừa ăn xong bữa sáng. Gọi là "bữa ăn" bởi chưa có từ ngữ nào thay thế, thực ra nó chỉ là cái giống giống như vậy. Đêm qua lấy được ít khoai dại, cả đọt cho đến rễ rửa sạch, rồi thái tuốt tuột vào nồi, với một lon gạo, nấu thành nồi cháo, đúng hơn là nồi cám lợn. Cán bộ trung đội đứng ra chia cho mỗi người được ba lưng bát. Đưa bát cháo lên miệng thấy mùi nồng nồng, nhưng húp đến miếng cuối cùng vẫn thấy thòm thèm, chẳng phải vì nó ngon lành gì mà vì đói. Dù sao nó cũng đánh lừa được cái bao tử, yên ổn được đến bữa chiều.


Ăn xong mỗi người tìm một chỗ, ngồi ôm súng tựa vào vách đá, ước ao một bữa cơm thực sự. Nhựa khoai bắt đầu ngấm, ai cũng thấy ngứa ngáy như kiến bò trong cổ họng, nhưng mỗi người chống ngứa một kiểu khác nhau. Người đưa tay gãi gãi nơi yết hầu, người ngồi khoanh tay cắn chặt môi, người nuốt nước miếng liên tục... Ngứa họng muốn kêu trời lên, nhưng họ vẫn lặng im không ai than vãn nửa lời. Kêu ca phỏng có ích gì. Còn hàng trăm nỗi khổ, khổ hơn ngứa họng, nếu chịu không nổi, có cách gì khác hơn là bỏ cuộc. Ai đó vừa đốt thuốc lá, thứ thuốc hạ đẳng khét như mùi khói phân bò, nhưng mũi của những chàng nghiện lập tức phát hiện ra thứ hương vị dễ chịu mà con tì con vị trong cơ thể mình đang thiếu.

- Thằng Hồng ăn mảnh heng?

- Anh Thủ cho em một hơi.

- Từ từ thôi làm gì mà đỏ nòng lên thế.

- A ha... có thuốc chống ngứa họng đây rồi.

Từ lúc có mùi thuốc lá, không khí trong hang bỗng nhộn nhịp hẳn lên. Những câu chuyện vui vẻ được nhen nhóm.

- Nhớ hồi Tết Mậu Thân, chị em phụ nữ mang tới cho cả cây Ru-by, thằng nào nghiện là có một bao trong túi.

- Mình đã biên thư cho má mình, không biết mấy thằng đi lấy gạo có đến được không, nếu đến được thế nào cũng có thuốc hút...


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 21 Tháng Sáu, 2021, 08:22:26 pm
Điếu thuốc chuyền tới tay trung đội trưởng Hà Xuân Thịnh thì đã gần tàn. Anh tham lam rít tới nóng bỏng môi, mới búng cái tàn rụng xuống, rồi ngửa mặt xả lên không một cuộn khói trắng. Hơi thuốc cho Thịnh cảm giác khoan khoái. Anh nghĩ tới cách đánh địch. Theo quy luật hoạt động của địch trong khoảng một tháng nay, chúng thường kéo đến đánh phá vào các cửa hang từ lúc sáng sớm chưa tan sương, tới hai ba giờ mới rút. Mấy hôm vừa rồi chúng tập trung đánh vào trung đội 1 và trung đội 2 nhiều hơn. Chỗ Sáu Thố ở cách đây chẳng bao xa nhưng không thể liên lạc được. Thịnh không được thông tin gì về đơn vị bạn, chỉ qua những tiếng nổ để phán đoán và biết các bạn vẫn giữ vững trận địa. Địch bắn đạn hóa học hơi cay vào cửa hang làm chảy nước mắt. Nghe cảnh giới báo động đạn hóa học, anh em nhanh chóng chui vào những cái màn đã nhúng nước. Hơi độc vào hang được ít, không gây ảnh hưởng gì.

Thịnh nhắc:

- Nó bắn đạn hóa học. Coi chừng nó sắp sửa tấn công.

Những loạt đạn súng cối vừa ngừng, anh em gọi nhau chạy ra chiếm lĩnh trận địa, sẵn sàng chiến đấu.

Khoảng một đại đội địch lợi dụng những tảng đá tiến thận trọng. Những tay súng bắn tỉa của công binh bắt đầu hoạt động. Anh em nhằm những mục tiêu ngon lành nhất, "nẻ" từng phát một.


Thấy trong đội hình của mình thỉnh thoảng lại lăn đùng ra một tên, mà không phát hiện thấy đối thủ, chúng điên khùng bắn như đổ đạn vào trận địa của trung đội công binh, vào bất kỳ tảng đá nào chúng nghi ngờ. Các đầu đạn đồng thi nhau đập chát chát vào đá bung lên những cụm bụi trắng. Trận đánh nhùng nhằng kéo dài mấy giờ liền. Địch "dũi" đầu lên, chen chúc gần trái bê-ta. Xuân Thịnh ấn nút điện cho bê-ta nổ. Quả bê-ta nổ như một tiếng bom. Khói bụi trùm lên đội hình quân địch. Im lặng vài giây, bọn chúng tiếp tục bắn yểm hộ cho nhau kéo xác đồng bọn rồi rút lui.


Đêm hôm ấy Thịnh, Hồng và Bé Hai đi nghiên cứu lại địa hình để đối phó với cuộc tấn công của địch ngày mai. Huyện đội đã cho phép trung đội "dốc túi" số mìn còn lại. Họ bố trí thành một trận địa mìn liên hoàn ngăn chặn tất cả các hướng, mà khả năng địch có thể tiến quân được.


Như thường lệ, sáng sớm tiếng đạn pháo địch nổ như sấm sét ở trên, dưới cửa hang. Dứt tiếng đạn pháo nổ, anh em tiến ra trận địa sẵn sàng chiến đấu.

Tiểu đội đi đầu của địch tiến vào trận địa mìn, anh em "thả" cho chúng đi về phía trung đội Sáu Thố. Giàn lưới giăng sẵn của họ chờ mẻ cá lớn hơn. Đội hình địch đi tiếp sau, khoảng một đại đội, chúng yên trí có tiểu đội trinh sát đi đầu không vướng gì, ung dung đi vào bãi mìn. Vừa chạm đầu vào một lối ngoặt, đội hình đang dồn lại, thì quả mìn định hướng mười ký lên tiếng, quét một nhát đổ hàng chục tên. Nghe tiếng nổ bọn chúng lui lại, túm tụm đúng vào "cái túi". Lập tức gần chục quả mìn nổ liên hồi. Gần như cùng một lúc, anh em công binh bồi thêm một loạt lựu đạn vào trong đám khói bụi mịt mù đó.


Trận đánh mìn diễn ra như một ánh chớp, không đầy ba phút đã tiêu hao nặng một đại đội địch. Từ lúc đó đến tối khu vực trận địa của trung đội công binh vắng lặng, không còn tiếng súng nổ.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 21 Tháng Sáu, 2021, 08:24:07 pm
3

Gạo! Tiếng kêu cứu ngay từ ngày đầu địch vây "Hòn”. Huyện ủy, Huyện đội đã tổ chức nhiều chuyến vượt vòng vây về đồng bằng lấy gạo. Chuyến được, chuyến mất. Quân số hy sinh và bị thương khi đi lấy gạo nhiều hơn quân số chiến đấu. Nhưng bộ đội chiến đấu trong "Hòn" vẫn không đủ cháo ăn.


Đêm 18 tháng 9 Huyện đội lại tổ chức một bộ phận do Bảy Tị chỉ huy, gồm Bảy Thuận, Bảy Đát, Cường, Ru.., về xã Bình Sơn lấy gạo. Huyện đội coi anh em đi lấy gạo như những chiến sĩ cảm tử. Trước lúc lên đường, anh em được ăn một bữa cháo no nê. Huyện đội phó Quân Nam và số anh em ở nhà tiễn chân ra tận cửa hang, động viên dặn dò, chúc tụng.


Đêm sáng trăng suông, đủ cho mọi người nhận ra cái lối đi vắt qua hố bom và cây đổ. Họ vượt nhanh qua khu vực tọa độ của máy bay B57 và đạn pháo. Vừa tới cánh đồng nước, họ bị địch ở trên núi phát hiện. Nước ngập tới bụng, chạy cũng dở, bơi cũng dở. Các loại trung liên, đại liên, súng cối của địch thi nhau bắn chặn phía trước, chặn phía sau. Đạn miết vào không khí víu víu liên tiếp bên tai. Đạn phóng túc túc xuống nước, nước bắn tung tóe lên mặt mọi người. Anh em cố bước thật nhanh ra khỏi chỗ đất chết này, nhưng mỗi lần cố họ lại ngã bổ nháo bổ nhào, không sao vượt nhanh hơn được. Những ngày đói khổ đã làm cho cơ thể họ suy nhược. Mệt mỏi quá, có người liều lĩnh mặc kệ, cứ thủng thỉnh bước một, chờ đợi sự may rủi của số phận.


Bảy Tị cố gắng bước thật nhanh, nhưng không quên chú ý tới đồng đội xung quanh. Nhìn thấy Cường ngã không dậy nữa, anh chạy lại đỡ bạn đứng dậy.

- Có bị thương không?

- Tôi mệt quá không thể nhấc chân nổi.

- Cố lên. Chậm chạp ở chỗ này nguy lắm. Đi... mình dìu... thế thế... Cố lên chút nữa.

Pháo sáng lơ lửng trên không, soi rõ từng cọng cỏ. Tiếng đạn quất xuống mặt nước púc púc và từng làn đạn lửa đỏ lừ nối đuôi nhau vút bay trên đầu.

Họ đã dìu nhau đến bờ kinh Lình Quỳnh, vượt qua khu vực hỏa lực dày đặc của địch. Bảy Tị nói:

- Các cậu ở đây chuẩn bị làm phao bơi, mình lên một đoạn xem có địch không. Hai chiếc tàu nhỏ FOCA của Mỹ - ngụy trang kỹ, chúng giấu mình vào dưới một lùm cây. Bảy Tị không nhìn thấy. Anh quay trở về báo cho anh em "Không có gì, ta đi thôi". Mọi người vừa bơi ra đến giữa kinh, các loại súng liên thanh trên tàu địch bắn quét trên mặt nước, đồng thời đèn pha bật lên sáng chói. Họ chắc mẩm phen này chết chìm ở dưới dòng kinh. Không ai bảo ai, mọi người đồng loạt bỏ phao lặn xuống đáy nước, rồi bơi ngầm vào phía bờ bên kia.

Bọn Mỹ gà mờ cứ nhè những chiếc phao bằng vải mủ1 (Vải mủ: vải cao su), trôi bồng bềnh, bắn mãi không thôi.

Họ lên bờ, Bảy Tị điểm lại quân số, thấy không thiếu một người nào. Vậy là đã hai lần họ thoát chết.

Tiếng gà thôi thúc báo canh ba. Tiếng nổ ầm ì ở phía "Hòn" thôi thúc họ phải cố gắng hơn nữa, mới có thể tới căn cứ trước khi trời sáng.

Không thể tả nổi cuộc hành quân của những chiến sĩ đã bị kiệt sức vì đói khổ vượt qua vòng vây phải trải qua gian nguy như thế nào.

Khi tới căn cứ, Bảy Tị vừa xuống lên "đến nơi rồi", mọi người trút hơi thở ra thật dài, rồi buông cái thân thể gầy khô của mình xuống thảm cỏ; có người cứ như thế chìm luôn vào giấc ngủ cho tới sáng.

Cả tháng nay Tư Ngần, Hai Phèn, Bảy Mốc... dồn sức vào việc củng cố cơ sở và vận động quyên góp gạo.

Việc quyên góp từng "táo" gạo của nhân dân trong ấp chiến lược, rồi vận chuyển ra cất giấu ở ngoài cứ là một việc không ít công phu và nguy hiểm, nhưng họ hiểu công việc họ làm sao có thể so sánh với những gì mà anh em ở trong "Hòn" đang phải chịu đựng. Thấy anh em bộ đội ở trong "Hòn" ra nhận gạo, họ rất mừng.

Ba Phèn nói với Bảy Tị:

- Gạo có rồi. Cứ ngủ đi cho lại sức, mai sẽ tính.

- Đói thấy ông nội rồi, nấu cho anh em một bữa cơm.

- Được rồi. Cứ đi nghỉ đi, việc đó cánh mình lo.

Trời vừa sáng, anh em du kích đã nấu xong cơm nước tinh tươm. Họ tới vực từng anh bộ đội dậy.

Cả tháng nay mới nhìn thấy cơm, hơi cơm gạo mới bay lên thơm phức. Có cả cá kho nữa. Đối với người đói dài, thì bữa ăn này được coi như đại tiệc. Bưng bát cơm lên là ăn nghiến ngấu.

Lưng lửng dạ rồi mới có anh vui vẻ phàn nàn:

- Ông nội nào kho cá bằng gì mà tanh không thể nuốt được.

Hai Phèn nói nhỏ như chính mình mắc lỗi: 

- Mấy hôm nay hết sạch muối, lấy nước biển kho đại.

Bảy Thuận và Bảy Tị ở lại cùng cán bộ xã tiếp tục vận động quyên góp gạo và chuyển vận những cung ngắn. Anh em khác vận tải gạo về trước.

Bảy Tị nguyên là bí thư chi bộ xã này, anh nắm khá kỹ tình hình cơ sở và địa hình, không phải mất nhiều thì giờ để trinh sát, móc nối. Ngay đêm sau họ vào liên lạc với số bà con cơ sở cũ của Tị.

Gia đình ông Tư Đá và bà Ba Cù nhận làm đầu mối vận động, và hằng đêm đặt ám hiệu báo an toàn hoặc không an toàn cho họ vào ấp.

Ban ngày hai anh em ẩn trong bụi đưng, bụi sậy kín đáo, cách ấp vài trăm mét. Ngày nào có bà con cắt đưng gần đó, họ ra cùng làm, nếu có gì nghi ngờ họ lại lánh vào trong bụi rậm.

Một hôm ngồi trong bụi sậy có lẫn dây bòng bong rất kín, hai anh em ngồi tựa lưng vào nhau, mỗi người nhìn một hướng. Gần trưa Thuận thiu thiu ngủ. Thấy có tiếng động lạ, Tị thúc cùi chỏ vào sườn Thuận để báo động. Thuận bừng tỉnh, nghe tiếng chó sủa đang tiến lại phía mình, không hiểu cái gì đang diễn ra ở phía ngoài đó. Anh hồi hộp kéo cần khóa nòng, lên đạn chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu. 


Cố tập trung tinh lực, Thuận nhìn qua kẽ lá thấy loáng thoáng bóng một người theo sau một con chó, không rõ dân hay lính. Con chó lao thắng gần đến chỗ họ đang ngồi, nó dừng lại lấv chân bới đất rồi sủa nhặng xị ra điều rằng trong cái bụi nàv có cái chủ nó đang cần. Chết đến nơi rồi, nếu là bọn lính thì chỉ có một cách nổ súng và nổ súng thì không thể thoát khỏi chết hoặc bị bắt sống. Họ thấy người gây gây như sắp lên cơn sốt rét. Làm sao bắt con chó câm họng, nếu không, thế nào chủ của nó cũng mò vào đây. Tị khe khẽ chặc lưỡi. Con chó gâu gâu càng hăng hơn. Thôi đành nín thở xem chủ nó thuộc loại người nào.


Một lát sau có tiếng chân người "xạp xạp" bước trên cỏ. Những cây sậy rung động mạnh, rồi xuất hiện khuôn mặt một ông già có nước da hồ bóng. Tị ngoắc tay ra hiệu cho ông già "vào đây". Mặt ông già bỗng đông cứng lại, mắt trợn tròn, miệng há ra kêu "ơ" một tiếng rồi không đóng lại được. Giây lâu ông mới nói được một câu "Tôi không biết”.

Tị nói với ông già:

- Chúng tôi không làm gi hại đến ông đâu, nhưng ông phải ngồi xuống đây giữ con chó lại đến tối mới được về.

Hiểu ý của Tị, ông già nắm sợi dây ở cổ con chó rồi ngồi xuống.

Họ ngồi bên nhau như thế, không ai nói với ai nửa lời. Trời sẩm tối, Tị ra hiệu cho ông già được tự do nhưng về phải giữ bí mật.

Cũng như mọi buổi tối, khi đàn chim ăn đêm quang quác gọi nhau bay về phía biển, mắt họ lại dán vào bờ rào ấp chiến lược, tìm ngọn đèn tín hiệu ấm áp. Một chấm sáng nhỏ như hạt đậu ở phía nhà bà Ba Cù hiện lên trong màn đêm. Họ khoan khoái đứng dậy vươn vai thở một hơi dài. Vừa bước đi Bảy Thuận vừa suy nghĩ về công việc của mấy ngày vừa qua, lòng anh thấy tràn ngập niềm tin yêu quần chúng cách mạng. Bà Ba Cù, một người đàn bà giá1 (Đàn bà giá: người đàn bà góa chồng), ở cách đồn địch khoảng nửa cây số, gia đình có ba mẹ con. Hằng ngày bà tới các gia đình quen thân vận động quyên góp gạo nuôi bộ đội. Hai cô gái thay nhau theo dõi tình hình địch và vận chuyển gạo tới những điểm hẹn. Việc làm của cả gia đình bà là công việc hết sức khó khăn nguy hiểm, nhưng bà không nề hà. Nhờ có nhiều người nhiệt tình ủng hộ cách mạng như gia đình bà Ba Cù, cách mạng mới có gạo nuôi quân.


Gần tới ấp, họ đi chậm lại, vừa đi vừa nghe ngóng. Ngọn đèn trước cửa sổ nhà bà Ba vẫn cháy leo lét báo cho họ biết mọi sự êm thấm.

Bảy Tị gõ nhè nhẹ vào cửa theo ám hiệu. Cô Nhung mở cửa. Hai người vừa bước vào, cô cười nói thì thầm:

- Hôm nay các anh chắc đói mềm ra rồi.

Tị hỏi:

- Có chuyện chi mà cô lên đèn chậm vậy.

- Buổi tối có mấy thằng lính và thằng đồn phó ra nhậu ở nhà ấp trưởng, chúng nó về muộn, em phải theo dõi xem chúng có đi đâu không?

Hai anh em ngồi xuống giường bên cạnh mâm cơm đã dọn sẵn, họ xới cơm ăn tự nhiên như về gia đình mình. Bà Ba như người mẹ đứng bên cạnh họ, nói nhỏ:

- Bọn bây xem số gạo ở điểm X nhiều quá rồi đó, chuyển thế nào?

- Tôi định nói với dì giúp. Làm sao chuyển công khai như các ghe xuồng khác của dân qua vàm Rày, như thế mới nhanh được.

- Ở cửa vàm độ này chúng nó xét kỹ lắm... Nhưng thôi... cũng được. Tao gửi phân tán các ghe câu, mỗi người chuyển một ít. Mầy định đặt điểm hẹn ở chỗ nào cho dễ nhận.

- Dì dặn kỹ mọi người cứ đưa tới cây tràm lớn cụt ngọn xòa xuống mặt nước cách vàm Rày khoảng hai cây số, ở sau cái cây tràm đó có cái mộ xây, cứ giấu vào những bụi cỏ quanh cái mộ đó.

- Được... Ngày mai tao cho con Mai đi thăm đường đất trước.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 22 Tháng Sáu, 2021, 08:05:51 pm
4

Kể từ khi địch tấn công vào "Hòn", số thương binh trong trạm phẫu tăng nhanh, trong vòng nửa tháng đã lên tới một trăm người. Tổng số y sĩ, y tá của trạm chỉ có mười hai người, phải làm rất nhiều việc quan trọng ngang nhau. Không thể để chậm chạp trong việc cứu chữa thương bệnh binh. Không được để thương bệnh binh nhịn đói. Không được để địch xông vào trạm bắn giết thương bệnh binh và còn nhiều việc khác như kiếm củi, kiếm rau, kiếm nước...


Y sĩ Út Sơn là trưởng trạm, nhiều ngày đêm liền (24/24 giò) đứng trước bàn mổ, có lúc không còn đủ sức, anh phải nằm ngay bên cạnh bàn nổ hướng dẫn y tá làm thay mình. Cùng trong thời gian ấy, có một việc khẩn cấp và đáng sợ hơn cả kẻ địch ở bên cạnh là nạn hết gạo. Từ đầu tháng tới giờ, mỗi bữa ăn anh đã phải đứng ra chia từng bát cháo cho anh em. Nếu để anh em thương bệnh binh nhịn đói dăm bảy ngày, thì việc cứu chữa sẽ trở thành con số không.


Hôm Út Sơn nghe y tá (kiêm quản lý) Năm Rự báo cáo hết gạo, anh nổi nóng biên ngay một bức thư gửi cho Hai Hiểu, bí thư Huyện ủy, với một cầu hỏi cộc lốc: "Chúng tôi đã hết sạch gạo, lấy gì nuôi thương binh. Anh cho cách giải quyết". Biên thư xong anh gọi Năm Nhỏ, một cô cứu thương nhỏ loắt choắt mới mười bốn mười lăm tuổi.

- Cháu mang thư này ngay bây giờ đưa đến cho chú Hai Hiểu, bảo chú ấy trả lời ngay.

Út Kiến còn ít hơn Năm Nhỏ tới hai tuổi, đứng gần đó năn nỉ:

- Chị Năm cho em đi với.

- Mầy hỏi chú Út cho phép thì đi.

Út Sơn cười độ lượng như người cha đối với con cái:

- Được. Các con đi cẩn thận đó. Đường từ đây sang hang Huyện ủy rất nguy hiểm. Khi chú Hai trả lời phải về ngay heng.

Út Kiến gầy tóp như cây sậy khô nhưng nhanh nhẹn như con sóc. Nhỏ và Kiến là hai đứa nhỏ tuổi nhất trạm phẫu, được các anh các chú rất cưng, thường giao cho những công việc nhẹ, nhưng các em không chịu, mà muốn được giao những việc như những người lớn.

Hai em hăm hở len lỏi qua con đường "lò ảng", ngóc ngách tối đen như mực, rồi ra tới cửa hang. Phía ngoài trăng tháng tám sáng vằng vặc, đạn pháo của địch thỉnh thoảng lại gầm thét đây đó.

Các em nhắm hướng chạy một mạch tới chân Hòn Me, rồi lại như hai con dúi chui tụt vào "lò ảng".

Bí thư Huyện ủy đang ngồi bó gối suy nghĩ trước ngọn đèn dầu hỏa. Anh vừa ngửng lên, thấy hai đưa nhỏ đứng trước mặt mình, đứa nào đứa nấy mồ hôi ướt đẫm quần áo thở hổn hển.

- Công chuyện gì thế Năm?

- Chúng con đưa thư của chú Út đến cho chú.

Hai Hiểu mở tờ giấy liếc qua, rồi đứng dậy đi vào phía trong, nói gì đó với bảo vệ. Lát sau anh trở lại ngồi xuống chỗ cũ, mắt đăm chiêu nhìn hai đứa trẻ.

- Cứ ngồi nghỉ hoặc ngủ một giấc cũng được. - Hai Hiểu nói với hai đưa nhỏ nhưng bàn tay anh vẫn vuốt phẳng bức thư của Út Sơn trên nền đá. - Các cháu ăn cơm rồi mới mang thơ về.

- Chúng cháu không ăn cơm đâu.

Nói đến cơm, bụng dạ các em cồn cào, rất thèm, dù chỉ được một bát cũng sướng, nhưng Năm Nhỏ nói "không ăn đâu" cũng là thật lòng, vì các em nghĩ đến người ở nhà, gần tháng nay thương binh phải ăn cháo, mình còn khỏe mạnh thế này mà ăn cơm có vẻ xa xỉ thế nào ấy.

Hai Hiểu cười nói:

- Chú cho nấu cơm rồi.

Vài chục phút sau, anh bảo vệ bưng nồi cơm và một bát cá kho đặt trước mặt các em, rồi mời khẩn khoản mấy lần các em vẫn im lặng. Mãi tới khi Hai Hiểu nói "cơm nấu cho hai cháu đó, ăn đi" các em mới cầm đũa.

Nhận được thư của bí thư Huyện ủy, các em lại nhanh chóng chạy về đơn vị.

Út Sơn nhận được thư từ tay Năm Nhỏ, anh nói luôn:

- Các con đã hoàn thành nhiệm vụ. Chú thưởng mỗi đứa một cốc sữa.

Năm Nhỏ khoe:

- Chúng con vừa được chú Hai cho ăn cơm no rồi.

Út Sơn xòe bàn tay rồi suỵt suỵt:

- Nói nhỏ thôi, anh em thương binh đang thèm cơm, nói thế anh em tưởng cấp trên còn gạo mà để anh em đói.

Theo chỉ thị của Huyện ủy, Huyện đội cấp tốc tổ chức một lực lượng đi về Nam Thái lấy gạo, số người do các đơn vị góp lại. Trạm phẫu của Huyện đội cử hai người là y tá Năm Rự và y tá Tài.

Mấy ngày trước khi bộ phận lấy gạo của Huyện đội đến, xã Nam Thái đã chủ động tổ chức vận tải gạo cho "Hòn" ba chuyến, đi lọt được một chuyến mười xuồng. Chuyến thứ hai gặp địch ngăn chặn phải quay lại. Chuyến thứ ba đưa đi tám xuồng, gặp địch bắn chìm sáu xuồng, hy sinh hai người, số còn lại cũng phải quay về. Địch phát hiện luồng gạo đưa vào "Hòn" chủ yếu xuất phát từ xã Nam Thái, từ đó chúng ngăn chặn tuyến đường từ Nam Thái Sơn vào "Hòn" nghiêm ngặt hơn.


Nam Thái Sơn là một xã đứng đầu toàn huyện về nhiều mặt, riêng về việc nuôi quân đánh giặc Nam Thái cũng là tấm gương sáng. Khi được tin có bộ đội ở "Hòn" về lấy gạo, nhân dân chủ động báo cho nhau mang gạo tới địa điểm tập trung, mặc dầu việc đi lại từ kinh này sang kinh khác rất nguy hiểm, nhưng chỉ trong hai đêm đã xong mọi việc.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 22 Tháng Sáu, 2021, 08:06:50 pm
Trên đường trở về "Hòn", đi qua Tà Lốc, Quyền và Tài bò qua đường 80 trinh sát, thấy phía đó ruộng khô không thể kéo xuồng được. Họ bàn với nhau phải đi dịch về phía chi khu Tri Tôn khoảng một trăm mét nữa. Vừa kéo xuồng men theo bờ kinh được một đoạn, Quyền nhắc "coi chừng đoạn này". Chưa nói dứt, địch đã nổ súng. Ngay loạt đạn đầu, địch đã giết một người và bắn chìm một xuồng. Những chiếc xuồng khác, trong lúc anh em mải tránh đạn, đã để trôi theo dòng kinh. Khi định thần lại thấy mất xuồng, Rự, Chiên, Quyền bơi theo xuồng dưới làn đạn địch. Bám được xuồng, các anh lấy súng bắn trả địch, đồng thời đẩy xuồng sang bờ kinh bên kia.


Vào được trong cánh đồng, nước ngập tới cổ, họ muôn đẩy xuồng vẫn phải bơi rất chậm chạp. Đạn liên thanh của địch vẫn tiếp tục lia theo họ. Một lát, một lát lại có tiếng hô "B40 tiến lên!" (theo quy ước mật có nghĩa là : tôi đã bị thương). Nghe tiếng kêu của bạn, họ lao tới cứu nhau. Chiến cứu được Cách. Rự cứu được Quyền. Riêng Trí vừa kêu "B40 tiến lên", do vết thương quá nặng, anh đã bị nhận chìm xuống dòng sông.


Khi vượt qua vùng chết do đạn địch gây ra, họ lạc nhau mỗi người một hướng. Chiến dìu Cách về tới Kinh Ba, không còn sức dìu bạn đi tiếp nữa. Trời gần sáng rồi, nếu chậm sẽ gặp nhiều khó khăn, trước hết là tính mạng của Cách khó bề qua khỏi. Chiến lo lắng gần như tuyệt vọng, chưa biết mình phải làm gì, trông cậy vào cái gì để cứu bạn thoát chết và mình ra khỏi cánh đồng nước mênh mông này. Anh chợt nhìn thấy ở phía trước có bóng người đang đẩy xuồng. Chiến ẩn vào một chỗ chờ đợi, với hy vọng nếu là thuyền của dân, dân sẽ giúp mình và bất đắc dĩ là địch thì anh có thời gian chủ động xử trí.


Chiếc xuồng mỗi lúc một gần, Chiến đã nhìn rõ bóng một cô gái mềm mại đang đưa đẩy mái chèo. Chiến bước ra chắn đường, nắm chặt một mạn xuồng. Cô gái hoảng hôt kêu "trời" một tiếng rồi ngồi thụp xuống. Chiếc xuồng quay tại chỗ nửa vòng. Chiến nói với cô gái tình cảnh của mình và nhờ cô giúp đỡ. Cô gái nhận ra tiếng nói của Chiến và Chiến cũng nhận ra chị Ba Bần người Kinh Ba.


Chị Ba vui lòng bỏ buổi đi kiếm củi, cho quay mũi xuồng lại, chở họ đến nhà y tá xã.

Sáng hôm sau, Cách chết. Năm Rự được giao nhiệm vụ mai táng, còn số anh em khác lao vào tổ chức lại chuyến về.

Mai táng bạn xong, Năm Rự tạt về thăm mẹ. Bà già vẫn ở một mình trong cái lều, không hơn cái lều của những người chăn vịt bao nhiêu, đi vào phải cúi, đi ra phải khom lưng. Có lần Năm Rự nói với mẹ "con tranh thủ về làm lại cái nhà này", bà kiên quyết gạt đi "con không phải lo chuyện ấy. Làm nhà chúng lại đốt. Mấy năm qua có tới hàng chục lần làm nhà mà có được ở lâu đâu. Mẹ ở thế này cũng được. Sau này yên hàn sẽ hay". Lòng thương mẹ, mỗi lần về nhìn thấy cái "lều vịt" ấy là nước mắt anh muốn trào ra. Nhưng biết làm sao được. Anh tự an ủi: cảnh sống khổ cực ở trong xã này, đâu chỉ có riêng mẹ mình.


Không có nhiều thì giờ, Năm Rự có ý tạt qua thăm mẹ một lát, cốt là nhìn thấy bà già mạnh giỏi là yên tâm rồi, anh chưa kịp nói cho gãy gọn một chuyện gì, đã chuẩn bị khăn gói.

Trăng rằm trung thu sáng như ban ngày. Nhìn về phía "Hòn" không mấy lúc vắng những ánh chớp của bom đạn nổ. Bà mẹ tỏ ra lo lắng nhiều điều nhưng bà im lặng không nói, mãi tới lúc tiễn chân con ra ngõ bà mới căn dặn con vài lời ngắn ngủi: "Trăng sáng lắm, khi vượt qua lộ con phải canh chừng cẩn thận".


Rự về tới đơn vị. Anh em đã mượn của dân được thêm hai chiếc xuồng nữa. Mọi thứ gạo muối, nồi soong đã xếp lên xuồng đầy đủ, chỉ còn chờ giờ nhổ sào.

Chiến đứng ở dưới xuồng nói trống không "Tao đi đồng một lát", rồi chống sào đẩy xuồng về phía bụi tràm.

Không ngờ Chiến đã lọt vào ổ phục kích. Những luồng đạn rất căng, không ngớt. Số anh em còn lại có ba người với một khẩu cạc-bin, thấy không đủ sức chống lại địch, họ vội vã rút chạy sang Kinh Năm.

Bà Tân nghe họ kể chuyện lại những gì vừa xảy ra, với tâm trạng lo âu hốt hoảng. Bà động viên:

- Thua keo này ta bày keo khác. Các con phải cố gắng, không thì anh em ở trong "Hòn" chết đói.

Bà Tân và bà con ấp Kinh Năm chủ động giúp đỡ họ mỗi người một việc. Người huy động tập trung gạo, người cho mượn xuồng, người đi trinh sát nắm tình hình địch trên tuyến lộ. Đêm sau họ đã có hai xuồng gạo. Chuyến về lần này chuẩn bị kỹ hơn. Lợi dụng lúc chập tối, trăng chưa mọc, họ vượt qua lộ 80. Vượt qua được tuyến ngăn chặn cứng nhất của địch, anh em rất mừng.


Những con xuồng nhỏ len lỏi vượt qua một cánh đồng cỏ dại rộng hàng chục cây số, đến con đường vào Hòn Sóc. Đây cũng là một tuyến ngăn chặn của địch. Anh em tạm núp vào bờ cỏ. Thìn và Tân là giao liên của huyện được cử lên mặt đường trinh sát. Trăng sáng như ban ngày. Hai người vừa bám được mặt đường đã bị địch phát hiện, chúng thi nhau xả đạn vào các bụi cỏ. Những chuỗi đạn lửa đan chéo nhau liên tục tuôn chảy trên bầu trời.


Trong lúc địch tập trung ngăn chặn đường kinh vào Hòn Sóc, anh em nhanh chóng bơi xuồng theo một nhánh kinh khác ra biển, rồi vòng trở vào Hòn Đất an toàn.

 Trước đây ít lâu, không ít người có cách nhìn mấy anh lính quân y là loại "lính cậu". Kể từ trận đánh ngày 5 tháng 5 năm 1969, mọi người đã có cách nhìn khác. "Chẳng qua cũng là do cách mạng phân công, nếu giao nhiệm vụ chiến đấu, họ có kém cạnh chi các đơn vị khác". Hôm đó hàng chục chiếc máy bay lên thẳng địch đổ quân xuống Hòn Đất, gần hang quân y, không đầy một tiểu đội y tá, cứu thương đã diệt bốn mươi tên địch, tiêu hao nặng một đại đội địch, buộc chúng phải rút chạy.


Bây giờ (kể từ khi địch bao vây "Hòn" ngày 3 tháng 9), anh em trong trạm phẫu được trang bị vũ khí tốt hơn, đầy đủ hơn, họ càng tin tưởng mình có thể đánh thắng địch, giữ vững trận địa.


Hàng ngày số người "giữ mũi" (vừa cảnh giới vừa chiến đấu) chỉ có ba bốn người. Những đêm bình thường họ cử hai người giữ cửa hang, còn một hai người khác ra ngoài trinh sát và hái rau, kiếm củi cho đơn vị.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 22 Tháng Sáu, 2021, 08:07:46 pm
Sáng ngày 19 tháng 9 năm 1969 một tiểu đoàn địch tấn công vào hang của đơn vị bạn ở gần đó. Y tá Đào Duy Hải phụ trách tổ "giữ mũi" nhìn thấy một cánh quân đang hành quân dưới sườn đồi. Chúng vừa tiến vừa thăm dò, thấy bất cứ một vật cản nào phía trước, chúng đều dừng lại bắn cối M79 hoặc ném lựu đạn vào đó rồi mới vượt qua.


Hải lên đạn sẵn sàng chờ địch. Anh không ngờ một cánh quân khác đi luôn ở phía dưới, khúc giữa của chúng xuất hiện ngay trước mặt trong tầm bắn hiệu quả nhất. Nhằm vào lũ lính đang chen chúc, anh níu cò nổ từng loạt đạn ngắn. Ba bốn tên đổ vật tại chỗ. Bị đánh tạt sườn bất ngờ, chúng vất ba lô chạy thoát thân, có đứa chạy đâm nhào vào cửa hang quân y. Hải đang say sưa đưa đường ngắm đuổi theo những tên địch chưa tìm được chỗ trú ẩn, bỗng tay phải của mình rời khỏi súng. Hải vừa tụt xuống hang kêu lên "tôi bị thương" cũng vừa lúc anh em ở phía trong ra tiếp sức.


Thấy địch bỏ chạy, Chiến, Thịnh và một số anh em xung phong ra thu được ba mươi ba lô chiến lợi phẩm và bắt được một tù binh.

Trận đánh ngoài dự kiến đầy thú vị, anh em reo cười trước đống chiến lợi phẩm vừa thu được. Những chiếc ba lô căng phồng, mở ra chiếc nào cũng ních chật cứng những gói gạo sấy. Đang lúc đói, những ba lô gạo sấy có giá lắm, nó có thể nuôi sống cả trạm vài tuần lễ.


... Đến cuối tháng 10, phần vì đói, phần vì chiến đấu liên tục quân số thương vong không được bổ sung, có bộ phận đã lui sâu vào trong hang "chém vè" hoặc dồn vào bộ phận khác.

Đội phẫu của Huyện đội chỉ còn sáu nam giới, ba bốn phụ nữ và một tổ chiến đấu của bộ đội chủ lực phối hợp. Công việc chuyên môn hàng ngày do y sĩ Út Sơn và mấy cô gái lo, còn số nam giới hình thành một tiểu đội chiến đấu do y tá Vũ Hoàng Giang là tiểu đội trưởng.


Từ tháng 9 sang tháng 10 anh em chiến đấu liên tục, ít có ngày được nghỉ ngơi yên tĩnh. Ban ngày đánh giằng co với địch ở cửa hang, ban đêm họ phải làm nhiều việc hơn, nếu không tập kích cũng phải mò mẫm gài mìn và công việc thường xuyên kiếm củi hái rau.


Tình hình trong "Hòn" lúc này giống như một gia đình đã hoàn toàn khánh kiệt. Huyện ủy chỉ thị cho các bộ phận "phải tự lực..." Anh em quân y Huyện đội cố gắng lắm cũng chỉ bảo đảm công tác phục vụ và không để địch xông vào hang giết thương binh, không còn sức đâu để "tự lực" chạy gạo. Với chừng ấy nhân viên và khoảng ba chục thương bệnh binh mà mười ngày trời chỉ có một lon gạo. Bữa ăn của họ hàng ngày chủ yếu là cây chuối hoặc rau thài lài nấu với chút bột ngọt. Thiếu đạm nhiều người đã mắc bệnh phù thũng.


Một hôm tham mưu trưởng Mười Hồng cử liên lạc đến báo y sĩ Út Sơn cho người sang Hòn Me khênh thương binh về chỗ đội phẫu (đang ở Hòn Đất), Út Sơn nổi khùng vì cấp trên chẳng hiểu tình hình đơn vị mình đang bi đát như thế nào. Anh quát nạt chiến sĩ liên lạc:

- Mày xem đội phẫu còn ai nữa. Mày về nói với thủ trưởng của mày, nếu không chỉ huy nổi thì nghỉ mẹ nó đi!

Ngay đêm hôm ấy, chính trị viên Tỉnh đội Phan Đình Găng và tham mưu trưởng Mười Hồng đã cùng một số trợ lý khênh ba thương binh nặng từ Hòn Me sang Hòn Đất giao cho đội phẫu.


Tiểu đội "giữ mũi" có ngày phải quần nhau với địch ba bốn trận, đêm đến vẫn không thể bỏ qua những công việc thường lệ. Hoàn cảnh khắc nghiệt đã vắt kiệt sức lực của họ. Bảy Giang mới hai mươi ba tuổi mà không khác một ông già, hai má tóp lại, tròng mắt thành hai cái hốc sâu chứa đầy bóng tối, thân hình chỉ còn da bọc xương, trông đến thảm hại. Những anh em xung quanh Bảy Giang, sức vóc cũng không hơn gì. Sau này mỗi khi hồi tưởng lại, họ vẫn chưa giải đáp nổi, tại sao lúc đó họ có sức sống dẻo dai như vậy.


Một lần Bảy Giang đi gần hết đêm để đặt mìn và bố trí hỏa lực. Trận mưa dầm tháng mười kéo dài không dứt làm cho bộ quần áo độc nhất trên cơ thể anh ướt sũng, về tới chỗ ở trời đã gần sáng, anh rét run cầm cập. Anh nói với Năm Chiến:

- Mấy đêm nay không được ngủ, mệt lắm. Cậu gác cho mình ngủ một chút.

- Được. Cứ ngủ.

Năm Chiến trả lời và xách súng ra cửa. Bảy Giang ngả lưng trên sàn. Hơi ấm của tấm mền vừa ngăn được cơn rét cũng là lúc anh ngủ thiếp đi. Giấc ngủ ngắn ngủi chừng vài mươi phút anh đã nghe thấy tiếng súng nổ và tiếng người nói xôn xao đâu đó như trong mơ. Anh cố gắng ngồi dậy, lảo đảo giây lát mới tỉnh hẳn. Có ai đó đứng rất gần đang tranh nhau nói.

- Giá để tao bắn thì nó chết.

- Tại súng hóc...

- Lúc rút tao tưởng cầm chắc cái chết. Nghe tiêng quả thủ pháo lạch cạch từ trên rơi xuống ngay trước mặt, phúc ông tổ nội nó không nổ.

- Anh rút đường nào?

- Đường dưới.

- Chết cha rồi. Tôi tưởng là địch ở dưới tôi liệng xuống.

Nghe tới đó Bảy Giang mới hiểu, địch tấn công, đại liên của ta bị hóc, anh em đã rút lui.

Giang vơ vội khẩu tiểu liên, chạy ra cửa. Khói súng, khói lựu đạn còn chưa tan trên trận địa. Anh em trong tiểu đội vừa đánh bật một đợt xung phong của địch.

Bọn địch vẫn còn ẩn sau tảng đá, bụi cây nào đó, Bảy Giang không nhìn thấy, nhưng nghe chúng trao đổi với nhau rõ mồn một.

- Anh có nhìn thấy mấy thằng Việt cộng chưa?

- Không thấy gì.

- Chúng ở phía sau tảng đá bự.

Bảy Giang nhận ra vị trí của hai tên địch vừa nói, một tên ở phía trên hang của mình độ vài chục mét, và một tên khác ở ngay ngôi chùa hoặc hố bom dưới sườn đồi cách chừng hơn trăm mét. Anh nói với xạ thủ B40 nằm bên cạnh. "Bắn một phát vào chùa, chỗ nó vừa nói". Ngay sau khi viên đạn B40 nổ lại thấy tiếng léo nhéo:

- Anh thấy không? Nó vừa bắn B40 khói còn đang lên đó.

Nghe tiếng súng chỉ điểm cho nhau mà tức đến điên ruột, Bảy Giang lệnh cho xạ thủ B40 bắn một phát vào hố bom. Từ dưới hố bom vọt lên một cột khói bụi, và cũng từ lúc đó không thấy chúng gọi nhau nữa.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 22 Tháng Sáu, 2021, 08:09:33 pm
Qua hai tháng ròng liên tục chiến đấu, cả đôi bên đều mệt mỏi, vào những ngày cuối tháng mười xuất hiện nhiều trận đánh cầm chừng. Bọn chỉ huy địch xua quân tới cửa hang của ta, chúng núp sau những tảng đá bắn như đổ đạn, hò hét xung phong nhưng quân vẫn nằm nguyên ở một chỗ cho tới khi rút lui. Về phía ta quân số còn rất mỏng, vũ khí đạn dược đã cạn tới đáy, nhiều bộ phận không còn sức để tổ chức những trận phản kích như trước nữa.


Đêm hôm ấy Bảy Giang dẫn một tổ đến kiểm tra các vị trí địch đã ẩn nấp ban ngày, mỗi người kiếm được một vài quả lựu đạn và ít đạn của địch bỏ lại. Ít lâu nay việc đi mót đạn và lựu đạn của địch sau mỗi ngày chiến đấu, cũng là một nguồn bổ sung vũ khí đáng kể đối với tiểu đội quân y. Kiếm lựu đạn xong rồi lại đi kiếm rau. Dưới ánh sáng sao lờ mò họ đi tìm đến những mảnh đất chưa bị bom đạn cày xới để tìm rau thài lài, anh em gọi là rau "gạo" (vì ở đây nó đã giữ thiên chức của gạo), khi vớ được loại rau lá nhọn ấy là phải nhổ tận gốc, nhổ tới khi không đủ sức mang mới thôi.


Đến khuya, mỗi người khệ nệ cắp một mớ rau thài lài bên hông trở về. Giao những mớ rau "gạo" cho cô y tá trực xong, Bảy Giang nói với anh em: "Tranh thủ ngủ cho lại sức, ngày mai có thể gay go hơn". Câu nói ấy anh đã nói với anh em nhiều lần, gần như một công thức, nhưng thực tế cũng gần như vậy.


Mờ sáng hôm sau, các trận địa pháo của địch đã dội xuống rung chuyển cả Hòn Đất. "Dàn hợp xướng Tân Tây Lan" kéo dài gần nửa giờ, tưởng như hòn núi này có thể biến thành tro bụi. Lúc đó bọn lính bộ binh ngụy mới tản ra thành nhiều mũi men theo những tảng đá tiến về phía cửa hang. Khẩu đại liên của bộ đội chủ lực bố trí ở tầng trên, anh em bình tĩnh nhằm bắn từng loạt ngắn dứt khoát vào đám mũ sắt nhấp nhô sau những tảng đá và đám cỏ tranh đang lay động mạnh.


Bảy Giang và các chiến sĩ trong tiểu đội lên đạn chờ địch vào tầm bắn hiệu quả. Bảy Giang vừa hô "bắn", tiếng súng liên thanh của cả tiểu đội anh ào lên như một trận bão. Ngay lập tức cánh quân ngụy nhốn nháo tìm chỗ ẩn núp. Bảy Giang cho tiểu đội mình đồng loạt ném lựu đạn. Bọn chúng bị thương la lối kêu cứu, nhưng những tên còn khỏe mạnh vội vàng bỏ chạy. Một lần nữa đạn tiểu liên của tiểu đội quân y lại ào ạt truy đuổi, cho tới khi không nhìn thấy bóng một chiếc mũ sắt nào xuất hiện trước trận địa mới thôi.


Khoảng nửa giờ sau chúng lại tổ chức một đợt tấn công khác. Lần này chúng đi theo hai cánh sườn từ trên xuống. Một mũi bị đại liên của ta chặn lại từ xa, còn một mũi tiến tới một tảng lớn bằng nửa gian nhà thì dừng lại. Núp sau tảng đá lớn đó chúng tung ra từng chùm lựu đạn. Lựu đạn địch ném đuối tầm cách chỗ tiểu đội quân y hàng chục mét tạo ra một hàng rào khói bụi. Bảy Giang cho tiểu đội mình bắn tỉa, chờ tên địch nào hiện trong đường ngắm lúc đó anh em mới níu cò cho nổ phát một. Trận đánh cù cưa kéo dài cả tiếng đồng hồ không phân thắng bại.


Bảy Giang suy nghĩ, nhưng chưa tìm được phép gì đuổi được địch ra khỏi khu vực trận địa của đơn vị mình. Anh nhìn sang xạ thủ B40 vẫn còn quả đạn cắm ở đầu nòng.

Biết B40 là loại súng bắn thẳng nhưng Bảy Giang vẫn hỏi bâng quơ:

- Này, B40 có bắn được cầu vồng không nhỉ?

- Chưa ai bắn cầu vồng, mà bắn để tự thiêu mình sao?

- Lui xuống một đoạn, nếu bắn lửa phun xuống dưới hang.

- Ừ thì thử xem.

- Cậu bắn được một viên rơi vào sau tảng đá kia, chỉ một quả nổ là chúng nó khiếp vía.

Xạ thủ B40 xê dịch lựa chọn tư thế một hồi rồi níu cò. Viên đạn kéo theo một vệt khói lam bay vút lên trời rồi lao thẳng xuống sau tảng đá nơi bọn địch đang ẩn nấp. Một tiếng nổ rất đanh xé bầu không khí đồng thời vọt lên một đám khói xám. Từ lúc đó trận địa vắng lặng cho đến tối.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 22 Tháng Sáu, 2021, 08:10:52 pm
6

Đại đội trợ chiến 616 thuộc Tỉnh đội Châu Hà giữ sườn Hòn Đất hướng biển. Cũng như các đơn vị khác, ngay từ ngày địch đổ quân, 616 ngày đêm liên tục chiến đấu. Có ngày đánh nhau giằng co với địch ở ngay cửa hang của mình, không còn, một chút thì giờ nghỉ ngơi, đêm đến lại kéo nhau đi mò tập kích địch.


Không riêng trong những trận chiến đấu, hàng ngày ra suối Lươn lấy nước, hoặc tới ngã ba Xá Lỳ lấy gạo cũng có thể xảy ra thương vong. Quân số tiêu hao dần không được bổ sung. Vào khoảng cuối tháng chín, một lần đại đội chuẩn bị cho một trận đánh tập kích, tập hợp tất cả số người còn sức chiến đấu, gạn lọc mãi cũng chỉ còn một tiểu đội.


Trần Văn Năm được chỉ định là tiểu đội trưởng và cũng là người chỉ huy trận đánh.

Địch có khoảng một đại đội đóng quân không xa trận địa của đơn vị. Hàng ngày anh em nghe rõ tiếng chúng nói chuyện với nhau. Như thường lệ chúng ăn cơm vào lúc tờ mờ sáng. Năm đã cho đơn vị mình ém sẵn từ đêm hôm trước, chờ lúc chúng quây quần xung quanh mâm cơm, anh phát lệnh nổ súng. Các loại hỏa lực B40, tiểu liên, lựu đạn của toàn tiểu đội bất ngờ chụp xuống, chúng không biết đường nào đối phó, chỉ trong vòng năm phút, họ đã tiêu hao nặng một đại đội địch (diệt tại chỗ khoảng hơn bốn mươi tên). Trận tập kích chớp nhoáng kết thúc. Khi rút lui, một tổ gồm Bảy Hùng, Hai Dũng và Phúc bị địch ngăn chặn. Trời đã sáng rõ, anh em vội vàng chui xuống một cái hang gần đó, không ngờ cái hang chỉ có một cửa huy nhất. Họ đành ngồi trong hang chờ tới đêm sẽ trở về.


Một ngày dài dằng dặc trôi qua, họ lần qua cửa hang nhìn lên thấy hai tên địch đứng gác, mỗi đứa đứng nhìn một hướng.

Bàn đi tính lại, không dám vượt qua vọng gác của địch, họ đành lui sâu vào trong hang, bấm bụng chịu đói khát thêm một ngày nữa.

Đã ba ngày bị giam trong cái hang tối tăm đó, nếu chịu bó tay sẽ chết đói ở trong hang không ai biết đến, họ tính tới nước liều để may ra thì thoát. Đêm hôm ấy, họ bò ra cửa hang chờ lúc địch thay gác, cắm đầu chạy một mạch xuống núi. Địch thấy động bắn mấy loạt liên thanh vu vơ rồi tình hình trở lại yên tĩnh.


Vượt qua được khu vực cảnh giới của địch, họ dừng lại trao đổi với nhau xem đi hướng nào. Nếu xuống bờ biển, ở dưới đó có thể gặp địch. Nếu về chỗ ở cũ của trung đội, địch đã chiếm mất rồi thì sao... Cuối cùng họ nhất trí với nhau, phải chạy về chỗ ở của ban chỉ huy đại đội. Mới có ba ngày địch không thể chiếm hết được. Nhưng lại gặp một câu hỏi: "mình về không biết ám hiệu anh em tưởng địch thì sao". Họ chặc lưỡi, đành phải liều một nước nữa.


Về tới gần trạm gác của trung đội 2, Dũng dùng động tác đặc công bí mật bò vào gần vọng gác. Người gác đang ngủ gà ngủ gật. Dũng nhẹ nhàng nắm lấy nòng súng của người gác, đẩy ngược lên trời, rồi khẽ nói "Dũng đây, Dũng đây!". Anh lính gác bàng hoàng giây lát mới định thần lại được.

- Ôi! Mày làm tao hết hồn... Dũng mày đã trở về rồi đó ư?

Ba anh em vào trong hang. Trung đội phó Danh Đời vẫn còn thức, ngồi ôm súng trước ngọn đèn dầu. Nhìn thấy Hùng, Dũng, Phúc những người bạn "mất tích” đã trở về, anh mở to mắt kinh ngạc, rồi đứng bật dậy ôm lấy các bạn mình.

- Tao tưởng chúng bây chết hết rồi... Đói lắm rồi hen?

Danh Đời xúc động ngắm nghía từng người một. Như chợt nhớ ra điều gì đó anh rời các bạn, vào góc tối của hang lấy ra một cái ba lô bẹp rúm đặt xuống trước mặt mọi người, và nói với giọng buồn buồn:

- Còn ít thóc đây... các cậu bốc ra mà nấu cháo.

Họ im lặng mệt mỏi ngồi quây tròn xung quanh chiếc ba lô, mỗi người bốc một dúm thóc rồi kiên nhẫn bóc từng hạt. Gần một giờ đồng hồ họ mới bóc được một lưng bát gạo.

Cơn đói còn mạnh hơn giấc ngủ, họ ngồi tựa lưng vào vách đá ngồi chờ nồi cháo.

Mùi gạo nấu làm cho mọi người tỉnh táo. Mỗi người tìm kiếm một cái bát đứng vây lấy nồi cháo. Hùng chia đều cho mỗi người được hơn một bát. Ăn xong, nhìn nồi cháo vét sạch trơn còn đang bốc hơi, mọi người vẫn còn thòm thèm. Hùng và Dũng vừa chống gối đứng dậy đã nghe thấy tiếng súng nổ lốp bốp ngoài cửa. Một lát sau anh em khênh vào hai người bị thương, máu me đầy mình. Tổ ba người Hùng, Dũng và Phúc xách súng vọt ra chưa tới cửa hang đã nghe thấy tiếng lựu đạn lách cách va vào vách đá rơi sâu xuổng đáy vực, có quả nổ ngay ở bậc lên xuống. Họ nép vào vách đá tránh mảnh lựu đạn.


Khi dứt tiếng nổ, Dũng gọi không thấy Phúc trả lời. Dũng vừa bò vừa lấy tay quờ quạng trên lối đi. Chắc cậu ấy chết rồi, nhưng sao không thấy xác. Dũng không tìm thấy Phúc, anh quay vào trong hang.

Hôm sau anh em lại đi tìm Phúc, mãi đến trưa mới thấy cậu ấy nằm ở tầng hang dưới. Mảnh lựu đạn găm khắp người Phúc, nhưng cũng còn may, không có vết thương nào nguy hiểm, mặt mũi sưng húp, tai điếc, ai hỏi gì cũng phẩy tay, lắc đầu rồi ra hiệu rằng trong lúc tránh lựu đạn nổ đã bị trượt chân xuống hang sâu.


Bọn địch đang hò hét gì đó phía ngoài cửa. Anh em im lặng lắng nghe. Chúng đang hò nhau vần đá lấp cửa hang. Mỗi lần chúng đẩy một tảng đá xuống cửa hang, chúng lại reo hò "này Việt này", "này Cộng này", "này Việt cộng này"... Xem chừng việc lấp cửa hang không thành, chúng dừng lại một lát rồi gọi loa chiêu hồi. Đáng giận nhất là mấy tên hôm trước còn là đồng đội với mình, hôm nay đứng trong hàng ngũ kẻ thù nói theo giọng lưỡi của chúng, kêu gọi mọi người "trở về với chánh nghĩa quốc gia"...


Lực lượng của toàn đại đội còn rất mỏng. Quân số còn cả thảy bảy người. Mặc dầu vậy họ vẫn tổ chức một trận phản kích, đánh hất địch ra khỏi cửa hang.

Đêm hôm ấy ra ngã ba Xá Lỳ lấy được một táo gạo, và mấy ba lô lá gáo cùng rau chai. Thê là họ lại có thể sống cầm hơi thêm vài ngày nữa.

Vào lúc mặt trời lên Hai Dũng ra thay gác. Anh nghe thấy bọn địch cười nói trên sườn cao rõ mồn một. Có tiếng đánh đàn mồm và hát vọng cổ "Phừng phưng phừng phưng... Ngày ngày cháo lỏng độn rau chai. Cây chuối không còn củ chuối cũng xơi. Các đồng chí ơi, hết gạo rồi biết làm sao đây...". Tiếng hát của kẻ thù đưa vào tâm trạng Dũng nhiều sắc thái, vừa chua chát, lo buồn vừa căm giận kẻ thù chế giễu mình. Nước mắt anh tự nhiên chảy tràn trên gò má.


Dũng phóng tầm mắt ra mặt biển, gặp những con thuyên đánh cá đang thong dong đi lại, gợi trong anh một nỗi ước ao da diết "Bao giờ mới có cuộc sống bình yên. Bao giờ mới bữa có nồi cơm đầy, có cá nấu canh chua ăn thả sức".


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 22 Tháng Sáu, 2021, 08:12:07 pm
7

Sau khi đi trao đổi phương án tác chiến và một số công việc cần thiết với Huyện ủy, trung đoàn phó Trần Quang Tỷ đi trinh sát địa hình xung quanh nơi ở của mình.

Vào càng sâu trong hang Hòn Me, càng tối mịt mùng như đi trong đêm, anh phải soi đèn và thận trọng từng bước một. Hang hốc ở đây bà con gọi là "lò ảng", nó hoàn toàn khác hẳn với những hang núi đá mà anh đã biết. Anh tưởng tượng, tạo hóa như một người khổng lồ điên rồ, lão ta xúc từng cần xé to bằng trái núi các loại đá tảng kích thước khác nhau, rồi từ trên cao đổ ào xuống. Một đống thành Hòn Đất, một đống khác thành Hòn Me, rồi một đống nữa thành Hòn Sóc. Những tảng đá xếp lên nhau hỗn độn hình thành hàng trăm, hàng nghìn hang hốc tự nhiên, chúng nối liền nhau hoặc độc lập với nhau, tầng tầng lớp lớp đi ngang đi dọc, có hang chạy ngang gần hết quả núi, có hang luồn lách lên đến đỉnh núi. Đi vào trong hang như đi vào mê cung, nếu không có người dẫn đường hoặc không tự mình đánh dấu, không biết lối nào ra. Phía trên mặt núi, có chỗ đất đá xen kẽ, cây cỏ mọc như rừng; có chỗ chỉ là những tảng đá lớn nhỏ xếp lên nhau, thỉnh thoảng gặp cửa hang, có hang như một cái giếng cạn đen ngòm không thấy đáy... 


Ba Tỷ suy nghĩ đến việc thực hành tác chiến trong khu vực. Địch có đông quân đến mấy đến địa hình này buộc chúng cũng phải xé nhỏ ra từng mũi để đánh chiếm cửa hang. Vào trong hang lại càng khó sử dụng được lực lượng lớn, kể cả với lực lượng nhỏ nếu không có người dẫn đường, không dám xông vào trận đồ bát quái này.


Về phía ta cũng bị địa hình hạn chế, không phát huy được sức mạnh tổng hợp của binh lực và hỏa khí, dễ bị địch chia cắt từng bộ phận; nhưng lại lợi thế cho chiến thuật du kích đánh nhỏ và có sẵn công sự vững chắc không có thứ bom đạn thông thường nào có thể phá nổi.


Phán đoán chính xác khá nhiều điều, nhưng khi trận đánh diễn ra, Ba Tỷ vẫn thấy bỡ ngỡ. Anh là người chỉ huy trong sư đoàn chủ lực của miền Đông, chưa bao giờ tác chiến với hình thức tương tự như thế này.


Không thể phòng ngự kiểu thụ động, chờ địch đến lúc đó ta mới động tay. Tư tưởng chỉ đạo của huyện như vậy. Anh nhận thức điều đó không khó, nhưng hành động như thế nào khi đơn vị mình chưa quen chiến trường và phương thức tác chiến du kích là một điều anh chưa hình dung nổi. Qua gần nửa tháng chiến đấu, đơn vị anh đã cùng các lực lượng địa phương tiêu hao nhiều địch, giữ vững trận địa, nhưng chưa có trận đánh nào đánh xứng với chức năng của bộ đội chủ lực cơ động.


Nhiều ngày trinh sát, trung đoàn 3 đã bám sát địch ở vòng ngoài, phát hiện một vị trí địch đóng dưới chân núi, chúng rất chủ quan. Ba Tỷ đã tổ chức một trận tập kích, ta có một đại đội thiếu, lợi dụng đêm tối (đêm 18-9) bất ngờ tấn công vào đội hình địch, tiêu diệt hơn một trăm tên, thu 8 súng, 300 lựu đạn và 20 thùng gạo sấy.


Trận đánh đêm 18 là một đòn răn đe đáng kể, làm cho bọn chỉ huy sư đoàn 21 điên đầu, tìm cách trả đũa.

Mờ sớm ngày 19 máy bay trinh sát OV10 đã vòng lượn, chỉ điểm cho máy bay phản lực ném bom. Vừa lúc dứt hai đợt bom nổ, Ba Tỷ thấy mấy chiến sĩ ở ngoài chạy vào, nháo nhác hỏi nhau.

- Có thanh sắt nào không?

- Làm gì có sắt ở trong hang này. Tìm sắt làm gì?

- Tìm cách nào cứu hai người vừa bị đá kẹp ở ngoài kia.

Nghe anh em nói có người bị đá kẹp, Ba Tỷ vội vàng ra xem tình hình thế nào.

Một tảng đá nặng hàng tấn, bị bom đánh lăn từ trên cao xuống, đè lên chân hai chiến sĩ cảnh giới. Ba Tỷ và mọi người đứng lặng người trước tiếng kêu cứu của họ. Anh đã chứng kiến nhiều cái chết, nhưng chưa bao giờ thấy cái chết bi thảm đe dọa đồng đội mình như thế này. Phải làm gì cứu họ trước đợt bom, đợt pháo của địch sắp sửa bắn tới. Ba Tỷ nói với một cán bộ trung đội đứng bên cạnh:

- Đồng chí kiếm ngay mấy tấm ván và huy động anh em ra ngay.

- Ván ở đâu cơ?

- Hang Huyện ủy. Nhanh lên!

Anh cán bộ vừa rời vài bước, anh em đã vác mấy tấm ván từ trong hang ra. Mọi người rất mừng, bắt tay ngay vào công việc cứu bạn. Họ thọc ngang tấm ván vào dưới đấy tảng đá, rồi ghé vai đẩy lên. Nhưng tảng đá lì lợm không hề nhúc nhích.


Mỗi người một ý kiến ồn ào, chẳng ai nghe ai. Ba Tỷ phải quát to:

- Trật tự! Làm chi mà ồn thế. Nghe tôi nói đây. Đặt các tấm ván về như thế... được... được, đồng chí đi lấy đá kê dưới tấm ván để có lực đòn bẩy.

- Tôi đề nghị thủ trưởng cho xê ván tất cả về một hướng này, ta kéo từng người một ra thì nhanh hơn.

- Đồng ý... dịch tấm ván ở giữa sang trái độ ba mươi xăng-ti-mét... được rồi. Tất cả ghé vai vô. Hai... ba nào... Hai ba nào!

- Báo cáo, được một chân của cậu Tâm ra rồi. May quá, dưới là đất mềm không thì nát bàn chân này ra rồi.

- Tất cả chú ý này. Ta cố gắng thêm một chút nữa nào. Hai... ba nào.

- Triển vọng rất tốt, cố gắng một đợt nữa.

- Hai.., ba nào!

- Hoan hô... kéo ra được cả rồi.

- Đưa các đồng chí vô trạm quân y, trừ người cảnh giới còn tất cả vô... vô nhanh lên.

Tiếng nổ của đạn pháo như sấm ầm ì xa xôi, rồi kéo dần vào cửa hang, nhưng không khí trong hang vẫn tràn ngập niềm vui vì đã cứu được đồng đội. Mãi đến khi tổ cảnh giới thông báo địch chuẩn bị tấn công, mọi người mới im lặng.


Ba Tỷ hỏi cán bộ phụ trách cảnh giới:

- Số lượng, hướng tiến của địch?

- Khoảng một đại đội, địch vẫn đi theo hướng cũ. Có một bộ phận đi giữa đội hình đeo nhiều túi nặng.

- Đồng chí ra nhắc anh em, quan sát kỹ, địch có thể đi nhiều hướng, cho đại liên và các hỏa lực khác ngăn chặn địch trong tầm bắn hiệu quả không phải chờ lệnh. Chú ý bọn đeo nhiều túi, có thể là bọn lính hóa học. Báo cho anh em chuẩn bị đối phó hóa học.

Ba Tỷ quay sang nói với trợ lý tác chiến:

- Thông báo cho tất cả các bộ phận đề phòng hóa học.

Tiếng chân bước, tiếng báng súng va vào vách đá, tiếng căn dặn nhau của các tô chiến sĩ từ trong hang xa dần ra phía cửa. Một vài phút sau đã nghe thấy có tiếng súng liên thanh, súng cối, lựu đạn nổ rền ở ngoài cửa hang.


Đúng như Ba Tỷ phán đoán, tấn công tới đợt thứ hai, địch dùng lựu đạn hóa học ném vào cửa hang. Mặc dầu đã có chuẩn bị từ trước mà vài phút đầu "hóa học” của địch cũng gây được ít nhiều tác dụng. Một số người bỏ vị trí chiến đấu lui sâu vào trong hang. Không khí trong hang lộn xộn. Tiếng ho, tiếng la thét duy trì trật tự... Phía ngoài bỗng im bặt tiếng súng, tiếng lựu đạn nổ thưa thớt. Chẳng lẽ trận địa phòng ngự của ta ở phía ngoài bị tê liệt rồi chăng. Ba Tỷ cử đại đội phó Hoàng Đạo Cật - một cán bộ được cả đơn vị yêu mến tin cậy ra tăng cường chỉ huy.


Từ lúc Cật ra trận địa, Ba Tỷ nghe ngóng động tĩnh không thấy có gì thay đổi. Vẫn tiêng nổ cầm canh của lựu đạn, thỉnh thoảng lại có luồng khói cay làm mọi người chảy nước mắt và ho sặc sụa.

Rõ ràng địch chưa rút, nhưng tại sao anh em không nổ súng. Chẳng lẽ địch đến đây chỉ làm chừng ấy việc. Ba Tỷ quyết định trực tiếp tới trận địa xem xét.

Hoàng Đạo Cật ngồi núp dưới một tảng đá, phía trước cách Cật khoảng hơn bốn chục mét có một tảng đá như một cái tủ đứng, ở đó thỉnh thoảng vọt ra một quả lựu đạn ném vê phía cửa hang, quả nổ xa, quả nổ gần, phần lớn đuối tầm.

Ba Tỷ bò tới một tảng đá sau lưng Cật vài mét. Nghe tiếng gọi, Cật ngoảnh lại và nắm tay đấm đấm vào ngực mình, ra hiệu địch chuẩn bị tấn công. Ba Tỷ nhìn phía trước thấy thấp thoáng những chiếc mũ sắt từ dưới đi lên, cách mình không đầy một trăm mét. Anh phán đoán bọn ở phía dưới xông lên thẳng cửa hang, sẽ được bọn đang núp sau tảng đá kia yểm hộ. Anh hỏi Cật:

- Có nhìn thấy những tên địch từ dưới đang lên không?

- Mười chín thằng còn ở dưới nữa chưa nhìn rõ.

- Chờ chúng vô tầm lựu đạn, đồng thời bắn B40 vô tảng đá kia.

- B40 không ăn thua đâu, nó núp phía sau.

- Cho nổ vào sườn tảng đá đó, dùng hơi nóng đốt chúng.

Xạ thủ B40 theo lệnh Cật di chuyển sang mô đá bên cạnh để tạo ra góc bắn tốt hơn.

Những chiếc mũ sắt nhấp nhô ban nãy đã khuất hẳn vào sau sườn đá bên dưới. Cật hạ lệnh nổ súng. Một loạt lựu đạn trùm lên đầu toán quân địch ở dưới thấp. Cùng lúc đó đạn B40 nổ ở sườn Hòn Đá lớn ở sườn trên. Bọn địch rút chạy để lại mười chín xác chết. Ta thu được ba tiểu liên AR15 hơn hai trăm lựu đạn (gồm lựu đạn hóa học).


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 23 Tháng Sáu, 2021, 07:42:57 pm
8

Người chỉ huy nổi tiếng về đánh tập kích thời kỳ này là đại đội phó Hoàng Đạo Cật quê ở tỉnh Sơn Tây. Cật đã thực hành nhiều trận đánh thọc sâu vào chỗ hiểm của địch, lập chiến công vang dội.

Đêm hôm đó Cật cùng hai chiến sĩ vượt qua vòng vây, đến khu rừng tràm thuộc xã Nam Thái Sơn tìm gặp Sáu Chấp, bí thư chi bộ thị trấn Tri Tôn để chuẩn bị một trận đánh.

Tuy chưa quen nhau, song qua tiếng đồn đã làm cho Sáu Chấp rất mến mộ tài năng và tinh thần dũng cảm của người chỉ huy có vóc người nhỏ bé ấy.

Sau cái bắt tay rất chặt, Cật nêu thẳng vào công việc:

- Ý của cấp trên muốn đánh thẳng vào sở chỉ huy của địch ở Tri Tôn, chúng tôi chỉ có ba đứa, đến xin ý kiến anh.

Lúc này Sáu Chấp được Huyện ủy phân công phụ trách một số công việc ở ngoài vòng vây, một việc lớn là bảo đảm việc vận chuyển trên tuyến đường 1C từ núi Tô về đến Tân Hội. Cùng với đảng viên cán bộ hai xã Nam Thái Sơn và Mỹ Lâm, anh đã tổ chức vận động thanh thiếu niên làm công tác vận tải và dẫn quân. Có đêm số dân công lên tới ba trăm người. Một nhiệm vụ khác tiến hành song song của Sáu Chấp là lãnh đạo phá kế hoạch bình định của địch ở thị trấn. Nếu có một trận đánh thắng ngay trong thị trấn, sẽ tác động trực tiếp việc chống phá bình định chuyển biến nhanh hơn. Gặp Hoàng Đạo Cật lúc này Sáu Chấp rất mừng. Anh lục lọi trong bòng mình xem còn gạo sấy và thuốc lá, lôi ra bằng hết để thết mấy người bạn mới.


Sáu Chấp nói với Cật:

- Đánh một trận vào thị trấn trong dịp này là rất đẹp. Chúng tôi vừa nhận được tin ở đó hiện nay đang có mấy tên cố vấn Mỹ và sở chỉ huy tiền phương của sư đoàn 21 ngụy. Việc khó nhất là ta làm thế nào bí mật vào gần được mục tiêu. Vào đó phải qua nhiều tầng cảnh giới của chúng.

Sáu Chấp vừa nói tình hình địch, vừa vẽ sơ đồ lên một tờ giấy.

Cật nghiêng đầu nhìn sơ đồ, rồi lấy tay vạch một đường thẳng vào điểm mình định hỏi:

- Từ đây tới đây mất mấy tiếng?

- Khoảng hai tiếng nếu không gặp gì trắc trở.

- Dù sao cũng phải trinh sát lại thật kỹ. Tôi đề nghị anh cho người dẫn đường, để tối mai có thể đi ngay được.

- Vào đó không thể đi đông được, rất dễ lộ.

- Tôi biết anh là người phụ trách chung ở đây, nhưng trận này anh giao cho tôi chịu trách nhiệm. Chúng tôi có ba người. Anh phối thuộc cho tôi hai hoặc ba người nữa là đủ.

Thái độ thẳng thắn hơi nôn nóng của Cật không hề làm Sáu Chấp phật ý, trái lại anh thích thú và tin cậy ở người chỉ huy quân sự có cái vỏ ngoài "nhóc con" ấy.

Sáu Chấp giới thiệu với Cật ba chiến sĩ địa phương quân, trong đó có trung đội phó Kỳ xin được tham gia trận đánh này, để trả thù cho em trai và đứa cháu ruột vừa bị địch giết ở Tri Tôn.

Cật nhìn từ đầu tới chân những chiến sĩ vừa được Sáu Chấp giao cho mình chỉ huy. Anh không nghi ngờ tinh thần chiến đấu của họ, nhưng về trình độ kỹ thuật, chiến thuật thì còn phải được xem xét nghiêm túc.

Cật hỏi:

- Các đồng chí được chiến đấu nhiều trận chưa?

Có người không trả lời mà phá lên cười, tiếng cười kéo dài, ám chỉ câu hỏi của Cật vừa rồi là ngây thơ, Cật cũng bật cười theo.

Qua thái độ của mấy anh lính địa phương, Cật thầm nghĩ "loại lính này sừng sỏ đây".

Ngay đêm đó Cật dẫn anh em đi trinh sát, luồn qua hàng chục lớp rào kẽm gai và ba lớp lô cốt của địch, nắm được tình hình địch, rồi trở về an toàn. Vượt qua thử thách ban đầu, anh em trong đội hoàn toàn tin cậy lẫn nhau.

Trận đánh chuẩn bị hết sức gọn nhẹ. Ngay kế đêm trinh sát họ đã thực hành trận đánh. Khoảng gần nửa đêm họ đã đặt xong sáu quả "rốc-két" ở sau lớp rào trong cùng, hướng vào căn nhà của bọn sĩ quan đang tiệc tùng. Anh em đã lui ra phía sau, chỉ còn mình Hoàng Đạo Cật chờ thời cơ điểm hỏa. Cật vẫn dán mắt vào mấy tên lính gác đang đi đi lại lại cách mình vài bước chân. Trong sở chỉ huy của địch vẫn ồn ào cười nói và tiếng bát đĩa va vào nhau lanh canh.


Cật đang kiểm tra lại các đầu dây điện lần cuối cùng, bỗng nghe thấy tiếng nổ lựu đạn ở phía ngoài, phản xạ tự nhiên, Cật dán chặt người xuống mặt đất. Anh chưa kịp suy nghĩ gì khác đã thấy đạn liên thanh từ các lô cốt quét ngang hàng rào, siêt không khí ngay trên lưng mình.


Ngưng tiếng súng một lát, Cật lại thấy phía trong nhà có tiếng cười nói bình thường và hai tên lính gác vẫn đi lại như trước. Chắc bọn chúng coi tiếng nổ lựu đạn vừa rồi là do con chồn nào đó vướng vào dây mìn.

Cật nhẹ nhàng như một con mối bò lại phía sau xem chuyện gì đã xảy ra với đồng đội của mình.

Nghe tiếng thở khò khè, Cật bò tới hỏi xem ai bị thương, nhưng vừa hỏi chưa dứt câu, bạn mình đã tắt thở rồi. Cật nhìn xung quanh xem có cái gì dễ nhận để đánh dấu nơi bạn mình đã yên nghỉ, rồi lại bò tiếp. Cách một vài bước anh lại gặp một người nằm úp mặt xuống nền cỏ, anh luồn tay vào ngực, không thấy tim người này đập nữa. Như vậy là mất hai người rồi. Anh tiếp tục bò lướt nhẹ về phía trước. Có tiếng xuýt xoa rất nhỏ như tiếng gió, chỉ có những chiến sĩ từng trải chiến trận mới nhận ra là hơi thở của một người nào đó đang phải nín nhịn sự đau đớn ghê gớm. Cật bò tới chỗ người bạn bị thương, anh ghé sát vào tai bạn:

- Cậu tên là gì?

- Kỳ.

- Cố bò ra bờ sông, chờ mình ở đó. Mình vào cho nổ. Nếu còn sống mình không bỏ cậu.

Dặn Kỳ xong, Cật trở lại vị trí chiến đấu. Anh ấn nút như trút hết căm giận vào đồn địch. Ánh chớp vàng rực, đồng thời với những tiếng sét bủa xuống nơi bọn địch đang ăn nhậu. Cả khu căn cứ của địch im ắng tê dại tới hàng phút mới có vài loạt đạn bắn vu vơ và tiếng hò hét nhau tới cứu chữa nơi vừa bị đánh phá.


Khi bấm nút Cật đã phát hiện còn hai quả đạn chưa nổ, có thể chúng bị đứt dây. Nếu như hai quả này bồi thêm vào bọn lính đang bâu lấy sở chỉ huy của chúng kia, thì có giá đây. Cật bò lên kiểm tra, đúng là dây điện bị đứt. Đoạn dây còn lại quá ngắn không bảo đảm an toàn, nhưng với quyết tâm rất cao, Cật không bỏ qua cơ hội tiêu diệt địch, anh tìm được một gò đất mỏng vừa đủ che cho cái cơ thể nhỏ bé của mình.


Cật nằm ngửa mặt lên trời rồi ấn nút điện. Một lần nữa căn cứ địch lại bị nhận chìm vào im lặng. Những tên còn sống không biết đạn pháo từ đâu bắn tới mà chính xác làm vậy.

Cật bò ra tới bờ sông gặp Kỳ ở chỗ hẹn. Kỳ mừng quá ôm lấy bạn mà nước mắt chảy tràn.

- Nào, bây giờ tôi kè anh. Cố gắng nhé!

Cật xốc nách nâng Kỳ đứng dậy. Trên đường về phải lội qua hai con sông, qua hàng chục cây số đồng nước, có chỗ sâu tới cổ, có lúc dìu có lúc Cật phải cõng bạn, cứ như thế họ trở về tới căn cứ.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 23 Tháng Sáu, 2021, 07:47:38 pm
9

Bộ phận giữ kho bạc chỉ có năm sáu người ở gần sở chỉ huy (nhẹ) của trung đoàn 3.

Buổi sớm hôm ấy, tiểu đội trưởng Ba Gồm gác, nhìn thấy ba cánh quân từ phía Lình Quỳnh hành quân tới gần Hòn Me. Trời mưa to. Người nào trong hàng quân cũng quàng tấm ni-lông. Gồm bán tín, bán nghi không rõ ta hay địch.


Ba Trung, cán bộ tham mưu của đường dây nghe anh em báo cáo có cánh quân nào đó đang tiến tới gần, anh chạy ra cửa quan sát. Màn mưa làm nhòe mọi hình ảnh trước mặt, anh chăm chú nhìn hồi lâu mà vẫn không phân rõ những bóng lố nhố trước mặt là quân bên nào.

Ba Gồm nói với Ba Trung:

- Có thể là tiểu đoàn 410 hoặc quân của trung đoàn 3?

Ba Trung văng tục:

- Đ... phải.

Qua Ống nhòm, Ba Trung vẫn bám chặt từng động tác của cánh quân trước mặt. Khi phải lội qua một cái mương, toán người phải lột bỏ tấm vải mũ che mưa ra, lộ rõ quần áo rằn ri.

- Đ... má, tụi ngụy! - Ba Trung vỗ vào vai Ba Gồm - Mày bảo thằng nào chạy sang báo cho anh Ba Tỷ biết.

Cách đây không lâu Ba Trung là đại đội trưởng bộ đội địa phương huyện, từng nổi tiếng là người chỉ huy gan góc, ham đánh giặc. Từ ngày chuyến sang tuyến đường 1C, không trực tiếp chỉ huy chiến đấu, nhiều lúc anh thấy ngứa ngáy chân tay. Bây giờ được dịp thi thố tài năng, Ba Trung hạ lệnh đưa súng cối và thượng liên còn để ở trong kho ra trận địa. Anh vừa là người chỉ huy vừa là xạ thủ súng cối 82.


Bọn địch đang hành quân, gặp trở ngại gì đó chúng dồn lại dày đặc ở một chỗ. Ba Trung hạ lệnh nổ súng. Các chiến sĩ giữ kho và cả Ba Trung đều là loại xạ thủ "một mùa", đạn của họ bay ra chỉ có giá trị uy hiếp địch nhiều hơn là tiêu hao chúng.


Họ vừa nổ súng độ mươi phút, đã nghe thấy tiếng nổ ở đầu nòng từ các trận địa pháo trên đất liền và các pháo hạm của hạm đội 7, rồi đạn pháo từ nhiều hướng như những đàn ong vù vù bay tới. Mọi người nhanh chóng rút vào trong hang. Đạn pháo nổ chồng chất trên ngọn núi, dưới chân núi nửa giờ liền.


Khi ngừng tiếng nổ của đạn pháo, họ lại nghe thấy tiếng các loại súng liên thanh ở phía trung đoàn 3. Như vậy là cánh quân của địch vừa qua trước mặt họ đã bị ngăn chặn.

Ba Trung cùng tổ cảnh giới ra ngoài cửa, gần tới cửa họ đã nghe thấy tiếng chuyện trò của bọn lính ngụy ở trên đầu mình. Triệu chứng này, chúng có thể tấn công vào hang. Ba Trung quay vào trong hang, cho anh em chuyển nhanh những thùng tiền (khoảng một trăm triệu tiền Sài Gòn) giấu vào trong hang sâu.


Đêm tối đã tràn vào trong hang. Ánh sáng vàng quạch của ngọn đèn dầu hỏa không đủ soi rõ mặt những người ngồi quanh nó. Họ chụm đầu lại bàn cách xử trí với các tình huống có thể xảy ra. Nếu địch dùng bộ binh tấn công vào trong hang. Nếu địch dùng bộc phá khối lớn phá sập cửa hang... Họ còn đang nêu ra các tình huống phức tạp có thể gặp, chưa kịp thảo luận, đã nghe thấy bộ phận cảnh giới báo cáo địch tới cửa hang. Không chờ ai ra lệnh, mọi người đứng bật dậy, bỏ dở cuộc họp bàn. Ba Trung đi theo chiến sĩ cảnh giới ra gần tới cửa hang. Anh nhìn qua khuông ánh sáng lò mờ, có một vật gì to bằng hai hòm đạn, từ trên ròng xuống. Đúng là bộc phá rồi. Để nó nổ thì mọi người trong hang này tan xương. Không kịp suy nghĩ thiệt hơn, anh xông ra cắt dây bộc phá rồi nhanh nhẹn lui vào phía trong. Thấy động, bọn địch ném xuống từng chùm, từng chùm lựu đạn liên tiếp.


Ánh chớp vàng và những tiếng nổ liên hồi thôi thúc họ phải khẩn cấp lựa chọn cách xử trí. Ba Trung nói với anh em phải rút nhanh. Hang có một cửa ra, đã bị địch chiếm rồi, rút bằng đường nào. Đường đi luồn trong hang thì chưa ai biết. Người chỉ huy dũng cảm như Ba Trung lúc này cũng tỏ ra rối trí. Cái Thu và thằng Tư là hai đứa nhỏ tuổi nhất (mới mươi bốn, mười lăm tuổi) níu chặt lấy tay Ba Trung van vỉ "Chú Ba... chú Ba đừng bỏ chúng cháu" càng làm cho anh nao núng. Anh nói với mấy đứa nhỏ "phải bình tĩnh" nhưng cũng là động viên chính mình.


Trong hang tối đen, không nhìn thấy bàn tay của chính mình. Ba Trung thử ném ra ngoài cửa một viên đá, lập tức bọn địch đáp lại bằng một loạt lựu đạn. Tiếng lựu đạn nổ nhắc mọi người nghĩ đến một tiếng nổ khác đáng sợ hơn. Nếu cứ lẩn quẩn ở đây vài phút nữa, có thể ra tro bụi. Mãi về sau này, khi chiến tranh kết thúc, những người có mặt trong hang hôm ấy còn sống sót vẫn thấy ân hận vì thiếu sự chuẩn bị trước những tình huống có thể xảy ra.

- Đi theo tao. - Ba Trung lấy hai bàn tay lần theo vách đá, đi theo sự may rủi.

- Tối như đui. Có thấy gì đâu.

- Đưa tao cái quẹt.

- Để báo cho địch nó thấy hen.

- Sợ cái con c...

Họ lần bước như những người mù vào một ngách hang, mà không hề biết lối này dẫn mình đi tới đâu. Càng đi càng thấy đen tối sâu thẳm như đang bước xuống địa ngục.

Đang bước, Ba Trung cảm thấy vừa có một làn gió nhẹ lướt qua má mình. Anh dừng lại nhìn về phía đầu gió. Hình như nơi đó có khoảng bóng tối mờ nhạt hơn. Anh lần đi vài bước về phía hy vọng mơ hồ ấy, tay anh quờ quạng bỗng đụng vào đám cây dây leo. Ba Trung rón rén vạch đám lá cây dây leo, một mảnh trời đầy sao hiện ra trước mắt anh. Thế là thoát rồi. Suýt nữa anh reo lên.


Hai đứa nhỏ vẫn níu áo anh, không rời nửa bước. Ba Trung ngồi xuống nói nhỏ với bé Thu và Tư:

- Có lối ra rồi. Từ đây đi phải hết sức bí mật. Nếu gặp địch, chú ném lựu đạn, các cháu lập tức giông ngay về Hòn Quéo.

Ba ngày đêm họ ẩn nấp trong những bụi rậm dưới chân Hòn Quéo. Trong bòng của Ba Trung chỉ còn lưng bát cơm sấy dành cho cả ba chú cháu. Lương thực dự trữ của anh em khác cũng không hơn gì. Đêm đên họ phải ra bãi biển mò cua. Đêm nào may mắn lắm mới kiếm được đủ mỗi người một con cua.


Hàng ngày mọi người nhìn về phía Hòn Me. Vẫn thấy tiếng súng nổ, họ cảm thấy mình đang sống bơ vơ, nếu ở đây kéo dài thêm có thể chết đói hoặc địch bắt sống. Trong lúc còn chưa muộn sao không trở về lại Hòn Me cùng anh em chiến đấu.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 23 Tháng Sáu, 2021, 07:48:14 pm
Đêm hôm ấy Ba Trung dẫn anh em trở về hang của Ba Tỷ. Ba Trung báo cáo với trung đoàn phó Ba Tỷ:

- Khi rút chúng tôi vẫn còn để lại trong hang một số hàng quý.

Trong lúc đơn vị đang thiếu thốn đủ thứ, nghe Ba Trung nói đến "hàng quý" Ba Tỷ hy vọng "Biết đâu lại chẳng có những thứ mình đang cần". Anh hỏi dồn:

- Hàng quý là hàng gì. Vải vóc? Tiền vàng?

- Tiền... định chuyển về quân khu thì bị tắc nghẽn ở đây. Đề nghị anh cho chúng tôi một tiểu đội có hỏa lực mạnh, đánh dạt chúng ra để chúng tôi chuyển kho.

Nghe tiếng "tiền", Ba Tỷ nhướng mắt nhìn Ba Trung một hồi lâu, như thể mình vừa nghe lầm. Tiền! Hay quá, nó có thể giúp mình gỡ thế bí hiện tại. Có tiền mình sẽ mua sắm xuồng ghe cho bộ đội tiếp tục hành quân. Có tiền sẽ có lương thực, thực phẩm... Ba Tỷ không giấu nổi nỗi vui mừng, anh cười nói với Ba Trung:

- Hai hôm trước chúng tôi đã đánh dạt chúng ra khỏi cửa hang ấy, có biết đâu trong hang các anh cất giấu tiền.

Ba Tỷ ngoảnh về phía anh em đang ngồi túm tụm xung quanh cỗ bài tú lơ khơ:

- Cật ơi! Lại đây có chút việc.

- Chuyện chi thế thủ trưởng? - Cật tới ngồi xuống bên cạnh Ba Tỷ.

- Cậu có biết cái hang của anh em đường dây, bên cạnh chúng ta không?

Không chờ Cật trả lời, Ba Tỷ nói tiếp:

Ở đó anh em còn giấu một số tiến lớn. Ngay đêm nay cậu dẫn một tổ trinh sát sang bển xem tình hình thế nào.

Ba Trung đặt một mảnh giấy xuống nền đá vừa vẽ nguệch ngoạc vừa thuyết minh với Cật:

- Đây là cửa vô... xuống gặp một hòn đá, trèo qua hòn đá ấy gặp hai ngách... bỏ ngách bên phải đi theo ngách bên trái... độ năm sáu mét có cái hang khá rộng, đó là chỗ ở của chúng mình. Đi sâu vào trong một chút gặp một cái hang bằng chừng nửa cái hang này, có một tảng đá lớn vuông cạnh, cạnh tảng đá ấy có một lối vừa người đi khom, qua cái cửa đó vài mét thì tụt xuống vài tảng đá lại đến một cửa hang nữa... Thôi khỏi phải nói... mình đi dẫn đường cho các cậu.

- Anh cứ nói kỹ thêm một vài chi tiết nữa là tôi có thể tới được.

Cật hỏi thêm một vài đặc điểm nơi cất giấu tiến, rồi trở lại chỗ chơi bài.
Ngay đêm đó Hoàng Đạo Cật dẫn tổ trinh sát đi.

Khuya lắm rồi mà Ba Tỷ vẫn thao thức không sao ngủ được, anh chờ đợi kết quả chuyến đi trinh sát của Cật. Thỉnh thoảng lại có những tiếng nổ liên hồi gần xa giống như một trận đánh dội vào trong hang, làm cho anh lo lắng.

Nghe tiếng nói thì thầm và tiếng bước chân nặng nề từ cửa hang vào, Ba Tỷ ngồi bật dậy, hỏi:

- Cật về đó hen?

- Vâng.

Ba Tỷ vặn to lửa chiếc đèn dầu, rồi soi về phía anh em vừa đi trinh sát về.

Nhìn thấy mỗi người đeo một gùi nặng, Ba Tỷ cười "khà khà" vỗ tay vào đùi mình:

- Bọn bây lấy về rồi hen?

Anh em đặt những hòn tiền trước mặt Ba Tỷ, rồi giành nhau bi đông nước.

Cật nói với Ba Tỷ:

- Vọng gác của địch cách cửa hang chừng hơn mười mét. Chúng chưa dám vào trong hang. Kho tiền vẫn còn nguyên dấu.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 23 Tháng Sáu, 2021, 07:49:37 pm
10

Cuối tháng 10. Dường như bàn tay của thiên nhiên cố vắt kiệt nước của những đám mây xám chỉ để tạo ra những trận mưa dữ dội kéo dài cả tuần lễ liền. Mưa nhiều cộng với trận đánh kéo dài, làm cho sức chiến đấu của cả đôi bên đều giảm sút. Mật độ của những trận đánh quyết liệt thưa dần.


Về phía ta, ngoài nạn đói kéo dài, đang lâm vào tình trạng thiếu vũ khí nghiêm trọng. Bộ đội địa phương chỉ còn đạn nhọn, và ngay đạn nhọn cũng phải sử dụng thật tiết kiệm. Hàng ngày đánh cù cưa bằng những trận bắn tỉa, không đủ đạn để tổ chức một trận đánh có ý nghĩa.


Huyện ủy chỉ thị và đốc thúc công trường của huyện đội phải sản xuất thật nhanh các loại mìn, thủ pháo và đặc biệt là cải tiến đạn rốc-két lấy được của địch, để ta có thể sử dụng thay đạn pháo.

Công trường Huyện đội có hơn mười người, do Đặng Văn Cương phụ trách. Anh em vừa cảnh giới chiến đấu tự bảo vệ mình, vừa sản xuất. Kể từ ngày địch bao vây đến nay, anh em chiến đấu và sản xuất liên tục không có đêm nào được ngủ tròn giấc.


Đêm hôm ấy trời mưa rất to. Anh em công trường vừa lắp xong liều thuốc phóng và kíp điện vào đuôi viên đạn rốc-két cuối cùng của kế hoạch.

Mười Hùng nâng viên đạn màu cỏ úa lên ngang mặt, ngắm nghía vẻ thích thú, và nói với Tư Cương:

- Anh Tư, chúng ta đã vượt kế hoạch, phải kiếm cái gì ăn mừng chớ?

Khuôn mặt tròn đôn hậu của Tư Cương ánh lên một nụ cười, nhưng anh vẫn cắm cúi nhồi thuốc nổ vào cái nồi gang làm cho xong quả mìn chống tăng. Một lát sau Tư Cương mới trả lời Mười Hùng:

- Tối nay anh em địa phương quân tới lĩnh thủ pháo. Giao cho họ xong rồi ta đi kiếm ít cá.

- Anh cho tôi đi. Tôi là người sát cá số "dách"1 (Số dách: số một), đã tung lưới ra là cá đừng hòng mà chạy.

- Cho tôi đi, ra ngoài hít thở khí trời thoáng đãng một chút.

- Hít thở khí trời thì ở nhà. Đi không cẩn thận thì hít khí đất.

Mọi người cười vui vẻ. Tư Cương đứng dậy xếp đồ nghề và quả mìn vừa làm xong vào góc hang. Anh bảo mọi người giải lao.

Họ ngồi xúm quanh ấm trà dưới ánh sáng rực rỡ của ngọn đèn măng-xông tán chuyện bù khú. Bụng người nào cũng lép kẹp, nên quẩn quanh rồi câu chuyện lại dẫn tới chuyện ăn uống và ước ao những thứ vụn vặt trong sinh hoạt hàng ngày.

- Bây giờ mà được hơi thuốc thì ngang với lên thiên đường.

- Cứ đè ông Giáp ra, bắt ổng phải chi thêm cho mỗi người một điếu.

- Đã quy định mỗi ngày chỉ được ba điếu, hút hết rồi lại định phá nội quy hen.

- Mỗi người nửa điếu vậy.

Thấy Giáp mang gói thuốc lá sợi ra, mọi người hau háu nhìn rồi lần lượt chìa bàn tay nhận phần.

Giữa lúc trời mưa lùa hơi lạnh vào trong hang đá, cảnh nghiện, được hơi thuốc lúc này, khoan khoái không tả nổi. Khói thuốc bay lượn quanh ánh đèn măng-xông, như những làn mây trắng mỏng bay lượn xung quanh ánh mặt trời, làm cho không khí trong hang ấm áp hắn lên. Đề tài chuyện trò của họ xoay sang những trận chiến thắng có vũ khí của công trường mình góp phần.

Trận phá hủy hai xe bọc thép của địch ở cầu Lình Quỳnh vừa rồi.

Trận đánh vào sở chỉ huy địch ở Tri Tôn.

Trận đánh vào trận địa pháo ở Lình Quỳnh... Họ kể với nhau với tình cảm đặc biệt thích thú: "... Anh em đặc công huyện mình giỏi thiệt. Trận địa đặt hỏa lực ở trên đồng nước ngập đến cổ. Bệ phóng đạn rốc-két là mấy cái cọc nạng và mấy cái bẹ chuối. Thế mà cũng phá hủy được một khẩu pháo, tiêu diệt một khẩu đội địch. Chuyên gia của Mỹ có đến tận nơi xem cũng chịu, không thể hiểu nổi "Việt cộng" dùng thứ vũ khí gì mà bắn từ dưới nước bắn lên...".

Huyện đội phó Năm Thắng cùng một số anh em địa phương quân huyện vừa đội mưa đến, người nào người nấy ướt sũng từ đầu tới chân.

Anh em công trường vốn "đói" tin tức bên ngoài. Thấy Năm Thắng đến họ quây lấy và đặt ra hàng loạt câu hỏi.

Thời gian khẩn trương, Năm Thắng chỉ nói tóm tắt diễn biến của địch, của ta trong khu vực rồi chuyển sang công việc của mình.

- Anh Tư còn đạn rốc-két không?

- Mới làm xong năm viên.

- Thế là gặp hên rồi. Ngần ấy quả cộng với số đạn đơn vị hãy còn là có thể làm ăn được rồi. Nếu chỉ có đạn nhọn với lựu đạn không thôi, anh em không khoái. Cho tôi lãnh cả số đó.

Việc giao, lĩnh vũ khí chỉ trong vòng mười phút đã xong. Anh em địa phương quân vừa ra khỏi cửa hang, Mười Hùng đã vắt cái chài lên vai.

- Nào những ai đi anh Tư?

- Tôi, Hùng, Sàng và Mười Lã đi, còn anh em ở nhà tiếp tục công việc.

Nói xong Tư Cường cởi quần áo ngoài, xách khẩu tiểu liên rồi xăm xăm bước ra ngoài cửa. Mọi người lật đật chạy theo sau.

- Làm gì mà vội thế anh Tư?

- Ra chỗ vọng gác, mình chờ ở đó.

Tư Cương hỏi người gác tình hình động tĩnh xung quanh, rồi vươn người qua cửa hang, dùng tai nhiều hơn là dùng mắt để quan sát tình hình. Gió thổi qua cửa hang ù ù ào ào như sóng biển. Những ánh chớp lóe ngắn ngủi vừa đủ cho anh nhận diện hòn đá lớn nằm chắn ở trước cửa hang khoảng vài chục mét. Những ngày đầu địch bao vây, chúng đã lợi dụng tảng đá đó làm vật che đỡ để ném lựu đạn vào trong hang, làm cho công trường gặp rất nhiều khó khăn. Và cũng ở sau tảng đá đó, Tư Cương đã dùng mìn định hướng của công trường mình sản xuất ra "thổi bay" cả tiểu đội địch. Độ này chúng đỡ quấy phá, nhưng Cương hết sức cảnh giác đề phòng địch phục kích.

- Anh em ra đủ rồi. Đi thôi anh Tư.

Nghe Mười Hùng nói ở phía sau, Tư Cương không nhìn lại, lặng lẽ bước. Họ xuống núi. Trời tối đen. Mưa như hắt nước vào mặt, không nhìn thấy gì phía trước, nhưng họ vẫn bước thoăn thoắt mà không hề vấp ngã, như những con sơn dương đi lại trong rừng kiếm sống.


Đến bờ đìa quen thuộc, không để mất thời gian, Mười Hùng đứng xạng chân hùng dũng vung cái chài thành hình nơm chụp xuống nước. Mẻ đầu tiên kéo lên được hơn hai kí lô cá, phần lớn là cá lóc, con nào con nấy bằng bắp tay bắp chân.


"Cá như sống trong chậu", nói như vậy cũng không ngoa chút nào. Ở vùng đất sình lầy miền Tây nầy, những năm tháng chống Mỹ, cứu nước biết bao nhiêu lần gặp tình huống địch vây ráp, cá đã trở thành nguồn lương thực quan trọng nuôi sống nhiều đơn vị; nếu như không có "cá như sống trong chậu" còn gặp khó khăn đến nhường nào.


Mười Hùng quăng năm mẻ chài đã thu được gần chục kilô cá. Thôi chỉ cần như thế là đủ ăn rồi. Họ tỏa đi hái rau rồi nhanh chóng trở về.

Tư Cương là một người có tinh thần trách nhiệm cao trước công việc của mình. Mỗi thứ vũ khí do công trường sản xuất ra, anh đều chăm chú theo dõi tới "số phận" của chúng.

Không phải tất cả vũ khí của công trường đã cấp phát đi rồi đều có hồi âm. Riêng đạn rốc-két là thứ vũ khí quý hiếm, được anh theo dõi chặt chẽ hơn. Năm quả đạn rôc-két giao cho Năm Thắng lĩnh đêm mưa ấy, chỉ mươi hôm sau anh em công trường đã được nghe anh em địa phương quân tới lĩnh vũ khí kể lại:

"Đại đội địa phương quân do đại đội trưởng Hà Văn Tý chỉ huy đã nhiều lần trinh sát một vị trí địch đóng ở sườn Hòn Me. Đây là một trong nhiều cụm địch đóng rải rác trên sườn đồi. Chúng có khoảng một đại đội hỗn hợp, gồm một trung đội lính Nam Triều Tiên, một trung đội biệt động quân ngụy, và một khẩu đội cối trong công sự dã chiến".


"Trận đánh tập kích được tiến hành. Quân ta có khoảng một trung đội do đại đội trưởng Tý trực tiếp chỉ huy. Từng mũi, anh em đã bò vào gỡ mìn và mở cửa bí mật qua hàng rào thép gai rồi ém lại. Những quả rốc-két đặt trên bệ phóng làm bằng những cọc nạng, do huyện đội phó Năm Thắng điều khiển. Gần sáng đội hình tập kích mới bố trí xong".


"Đại đội trưởng Tý hạ lệnh phát hỏa. Cùng một lúc những viên đạn rốc-két chụp lên đồn địch. Những tiếng nổ dữ dội bất ngờ. Địch còn đang choáng váng chưa kịp trở tay, quân ta đã xung phong lên, dùng lựu đạn thủ pháo và tiểu liên bắn găm vào những tên địch đang nhốn nháo chạy. Trận đánh diễn ra chớp nhoáng không đầy mười phút, ta đã tiêu diệt gọn một trung đội địch, và tiêu hao nặng hai trung đội khác. Sáng hôm sau bọn địch báo tin cho nhau: Trận đánh đêm qua Việt cộng đã sử dụng vũ khí mới".


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 23 Tháng Sáu, 2021, 07:51:34 pm
11

Trận đánh trong vòng vây của ta đã kéo dài hơn hai tháng. Khó khăn chồng chất. Số người chết, bị thương và ốm mất sức chiến đấu đã chiếm quá nửa quân số. Gạo và đạn càng thiếu thốn nghiêm trọng hơn. Mỗi bữa ăn, mỗi trận đánh, người chỉ huy phải đứng ra chia từng bát cháo, từng viên đạn. Sức chiến đấu của đại đội giảm xuống chỉ còn một phần ba so với ngày đầu ngày 3 tháng 9. Quân số và đạn dược không còn nguồn bổ sung, và cũng không có hy vọng được cấp trên chi viện.


Bí thư Huyện ủy Hai Hiểu, hơn ai hết là người hiểu sâu sắc những gì đang diễn ra trên mặt trận Ba Hòn. Quyết tâm lớn của toàn huyện và cũng là điều anh luôn luôn cổ vũ động viên là các đơn vị giữ vững trận địa, cho đến nay vẫn đạt được. Mặt khác anh cũng thấy rõ việc giữ vững trận địa và bị địch đẩy lui ra khỏi Ba Hòn, giới hạn của chúng rất mỏng manh. Nếu không chủ động xử trí trước sẽ bị động lúng túng. Thường vụ Huyện ủy nhất trí với việc đánh giá tình hình của bí thư và đề ra biện pháp giải quyết: rút khỏi Hòn từng bước; giữ vững tinh thần và bảo toàn lực lượng; phối hợp chặt chẽ trong Hòn và bên ngoài, mở một số trận đánh tạo thuận lợi cho ta di chuyển lực lượng. Kế hoạch rút lui phải giữ bí mật tuyệt đối.


Chiều hôm ấy, máy bay B57 thả mấy loạt bom ngay trước cửa hang Huyện ủy, tiếp đến những loạt đạn pháo từ hạm đội 7 và các trận địa pháo xung quanh dội đến. Hai Hiểu ngồi trong hang viết chỉ thị cho Bí thư xã Thổ Sơn (Ba Hòn nằm trong xã Thổ Sơn). Nghe thấy tiếng nổ dữ dội kéo dài, anh bảo vệ sĩ ra ngoài nắm tình hình. Anh đưa trang giấy mới viết sát vào ngọn đèn dầu hỏa, đọc duyệt lại:

"Gửi đồng chí Sáu Chấp, bí thư Thổ Sơn.

Địch tiếp tục bao vây, với ý đồ đánh chiếm kỳ được Ba Hòn. Lực lượng ta chiến đấu đã dài ngày, gặp rất nhiều khó khăn. Dự phòng tình huống xấu nhất, ta phải lui quân khỏi Hòn, các đồng chí phải chuẩn bị lực lượng và phương tiện cùng vớí Huyện ủy đưa anh em thương binh tới nơi an toàn...".


Vệ sĩ cùng hai người nữa từ phía cửa đi vào. Hai Hiểu bị quáng đèn nhìn không rõ mặt ai, anh hỏi:

- Ai đó. Tình hình ngoải sao?

Hai người vừa tới là Ba Ca và Ba Tỷ. Ba Ca vui vẻ đáp lời Hai Hiểu:

- Chúng nó vẫn bắn phá vào những tọa độ định sẵn đúng kiểu Huê Kỳ, không có gì mới.

Hai Hiểu nheo mắt nhìn hai người vừa tới, bỗng anh reo lên:

- Ôi! Hai anh Ba tới. Tôi đang mong.

Ba Ca nguyên là bí thư huyện Châu Thành. Sau Mậu Thân anh được cấp trên giao nhiệm vụ phụ trách việc vận chuyến trên cung đường từ biên giới đến Bộ Dầy Heo. Những ngày địch vây Hòn, anh ở cùng chỗ với Ba Tỷ. Nghe Huyện ủy thông báo việc chuẩn bị rút khỏi Hòn, họ đã rủ nhau tới gặp Hai Hiểu.

Mọi người ngồi xuống quây xung quanh ngọn đèn dầu.

Ba Tỷ cười nói hồ hởi:

- Đến gặp anh Hai để tạm biệt và thay mặt đơn vị cảm ơn Huyện ủy và nhân dân trong huyện nhà. Trong tình hình cực kỳ khó khăn huyện đã giúp chúng tôi việc ăn ở và chiến đấu, và nhất là việc mua sắm cho chúng tôi đủ xuồng ghe để chuyển quân.

- Nhiệm vụ chúng tôi... có chi mà anh khách sáo thế.

- Thiệt tình là vậy. Chúng tôi rất lo, nước nổi mênh mông như thế, nếu không có đủ xuồng ghe làm sao chúng tôi có thể đưa mấy trăm quân về U Minh theo mệnh lệnh của quân khu.

- Tiền của các anh gửi, bà con mua chứ có gì mà giúp.

Ba Tỷ vỗ vào vai Ba Ca:

- Nói tới tiền, cũng là gặp hên nhờ mấy ông "đường dây" này cho vay được mấy triệu.

Sau vài câu mở đầu vui vẻ, họ nói với nhau những công việc nghiêm túc. Bí thư Hai Hiểu thông báo việc từng bước rút quân khỏi Hòn. Tiếp đến Ba Tỷ báo cáo:

- Vừa rồi địa phương quân huyện đánh một trận tập kích đúng vào lực lượng tinh nhuệ của địch, trận đánh kết quả rất tốt. Vài đêm sau đơn vị đặc công của chúng tôi lại tập kích tiêu diệt đại đội biệt động quân của chúng. Mấy hôm nay tuy mật độ bom pháo của địch không thay đổi, nhưng rõ ràng hoạt động bộ binh của chúng yếu hẳn. Tranh thủ tình hình thuận lợi này, tối nay chúng tôi cho bộ đội hành quân. Nhờ anh chuyển lời chào của tôi tới các đồng chí trong thường vụ và cơ quan Huyện ủy.

- Tôi cũng tới tạm biệt các anh để đi Hà Tiên. - Ba Ca cười nói. - Hơn ba tháng địch dồn sức gây khó khăn cho chúng ta ở Ba Hòn. Anh em trong Hòn đã chiến đấu rất dũng cảm kiên cường, kềm chân được một lực lượng lớn của địch tại đây. Mục tiêu của địch là cắt tuyến đường 1C nhưng chúng đã không thực hiện được. Trong lúc chúng bị giam chân ở đây, thì tuyến đường vận tải chiến lược của chúng ta vẫn thông suốt, các đơn vị vận tải của chúng tôi vẫn hoàn thành kế hoạch. Tôi với anh Hai còn duyên nợ trên tuyến đường 1C này. Tới địa điểm mới tôi sẽ cho người tới bắt liên lạc với các anh.


Trong lúc họ tạm biệt nhau để rút khỏi Ba Hòn, cục diện chiến trường miền Tây đã và đang có những bước chuyển biến quan trọng, tác động rất lớn tới so sánh lực lượng ở chiến trường Hòn Đất, nhưng lúc này họ chưa thấy hết được.


Ngày 3 tháng 9, trung đoàn 20 sư đoàn 1 từ miền Đông đã hành quân về đến vùng Bảy Núi (An Giang). Sau gần một tháng chuẩn bị, trung đoàn 20 đã đánh phá một vùng rộng lớn, chiếm núi Tô, chiếm núi Dài, đánh nhà Bàng, tiêu diệt địch trong trung tâm huấn luyện Chi Lăng, đặc biệt là chiếm đồi Tức Dụp. Bọn ngụy ở đây thường huênh hoang "Bao giờ bò đực đẻ con thì Việt cộng mới chiếm được đồi Tức Dụp". Ngay sau khi đã chiếm được một số điểm khống chế quan trọng, trung đoàn 20 đã phá vỡ một loạt ấp chiến lược trong khu vực, mở ra một vùng giải phóng rộng lớn.


Đêm mồng 5 tháng 11 năm 1969 trung đoàn 1 và trung đoàn 3 (thiếu một tiểu đoàn) đã tấn công vào căn cứ hành quân của Mỹ - ngụy ở Xẻo Rô (An Biên, Rạch Giá) tiêu diệt sở chỉ huy lữ đoàn A thủy quân lục chiến cùng ba tiểu đoàn bộ binh ngụy, bắn chìm 12 tàu, phá hủy 6 khấu pháo, chặn đứng "chiến dịch làm cỏ U Minh" của địch.


Tình hình nói trên đã làm đảo lộn ý định chiến thuật của Bộ tư lệnh Vùng 4 chiến thuật ngụy. Ngày 8 tháng 11 năm 1969 chúng vội vã điều động toàn bộ lực lượng đã mệt mỏi không nuốt nổi Ba Hòn để đối phó với tình hình mới.


Những ngày ở Ba Hòn, đi một bước bọn chúng cũng sợ vấp mìn, sợ bắn tỉa, tối đến sợ tập kích, nhất là những trận tập kích liên tục vào cuối tháng 9 và tháng 10 làm cho bọn lính ngụy ở đây càng hoảng sợ hơn. Có tên lính đã viết thư gửi cho bô mẹ: "... tía má ơi! Trong này gian khổ chết chóc nhiều lắm. Đại đội của con không ngày nào không có năm bảy người chết hoặc bị thương. Có trận chết và bị thương mấy chục người, chính mắt con thấy. "Việt cộng" vẫn ở trong hang bắn ra, quân quốc gia không đánh chiếm được hang. Con sợ lắm tía má ơi. Bằng giá nào tía má cũng chạy cho con được về...". Nỗi chán nản sợ hãi của bọn lính ngụy ở Hòn đã lên tới đỉnh cao, nên khi nhận được lệnh rút lui khẩn cấp chúng đã hoảng hốt bỏ lại toàn bộ kho tàng.


Hai Hiểu đôn đốc một vài bộ phận rời khỏi Hòn. Công trường của Huyện đội đã di chuyển xuông xã Bình Sơn. Tất cả số anh em thương binh được chuyển sang Cam-pu-chia. Ban chỉ huy Huyện đội đang chuẩn bị về xã Nam Thái Sơn... Số còn lại của địa phương quân huyện chuyển sang chiến đấu ở Hòn Sóc.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 23 Tháng Sáu, 2021, 07:52:25 pm
Sáng ngày 8 tháng 11 năm 1969 Hai Hiểu được nhiều tin trái ngược nhau. Lần đầu có tin "nhiều tiếng nổ ở phía Hòn Đất, có thể địch đánh chiếm hang quân y và hang của địa phương quân tỉnh". Lát sau lại có tin "địch hành quân rất đông, từ Hòn xuống đi về phía Tri Tôn". Tiếp sau lại có tin "địch đã rút hết...". Anh bán tín bán nghi, không hiểu địch rút thật hay có thủ đoạn gì. Hai Hiểu cử cán bộ đi kiểm tra lại tình hình. Cán bộ đi kiểm tra về báo cáo, địch đã rút lui, bỏ lại rất nhiều vũ khí và lương thực.


Nhận được tin chính thức địch đã rút lui, anh em các bộ phận đang chuẩn bị rút vui mừng reo hò và bàn tán về "một trận đánh hai bên đều rút lui...".

Hai Hiểu cử liên lạc cấp tốc đi loan báo cho các bộ phận còn lại: "Thu nhặt nhanh chiến lợi phẩm, để phòng địch quay trở lại. Thu hết vũ khí rồi mới thu đến lương thực và quân trong quân dụng".

Không đầy một giờ sau anh em đã vác vào trong hang mình ở những thùng đạn, thùng lựu đạn còn mới toanh.

Trước đó vài tiếng đồng hồ, không ít người chỉ thấy sự chết chóc đói khổ và cực nhọc, tới lúc này đã mở ra đối với họ nhận thức mới mẻ: 78 ngày đêm ấy đã là sự sàng lọc nghiêm khắc nhất từ sau đồng khởi tới nay, tự nó tuyên dương những người kiên gan bám trụ chiến đấu, tự nó loại trừ những kẻ non gan, và cũng tự nó khắc dòng chữ chói lọi nêu chiến công oai hùng nhất trong lịch sử chống Mỹ, cứu nước của quân và dân huyện Hòn Đất.


Các cán bộ Đảng và anh em trong lực lượng vũ trang còn lại và trong "Ba Hòn" càng tự tin ở sức mạnh của chính mình. Ngay sau ngày địch rút, Hai Hiểu triệu tập cuộc họp Huyện ủy mở rộng học tình hình nhiệm vụ.

Huyện đội chỉ đạo tổ chức một trận đánh vào bọn địch đóng ở Hòn Sóc lập thành tích dâng hội nghị.

Nhận được lệnh của Huyện đội, đại đội trưởng Hà Văn Tý nhanh chóng xốc lại tổ chức của đơn vị. Toàn bộ quân số chiến đấu dồn lại còn được mười ba người.

Sáu Tý dẫn trung đội trưởng Nguyễn Văn Thinh, đội trưởng đặc công Ngô Bé Hai cùng các tiểu đội trưởng đi điều nghiên. Đêm hôm ấy anh em xuất phát từ Hòn Me, mãi tới khuya họ mới bám được vị trí địch đóng ở bên sườn Hòn Sóc. Họ chen vào giữa đội hình của tiểu đoàn địch.


Dưới bầu trời đầy sao, nhìn từ trên xuống gần suối lớn, họ thấy khá rõ khoảng mười chiếc lều bạt trắng xám, bên cạnh những công sự dã chiến. Nhìn lên phía trên cách vài chục mét cũng thấy những căn lều bạt dày đặc hơn.


Bữa sau, Sáu Tý lên phương án tác chiến. Anh phán đoán: Tiểu đoàn bảo an này có nhiệm vụ bảo vệ trận địa pháo 105 đặt trên đỉnh núi. Đại đội ở dưới gần suối lớn, nhiệm vụ của chúng là đề phòng ta ở dưới cánh đồng đánh lên. Nếu ta tấn công vào đại đội địch ở gần suối lớn, sẽ giữ được thế bất ngờ. Muốn giữ được bất ngờ phải bí mật ém lực lượng ở trong hang đá gần đó từ đêm hôm trước. Thời cơ tấn công vào lúc địch tập hợp ăn cơm chiều.

Phương án tác chiến của đại đội trưởng Sáu Tý được anh em đồng ý.

Đêm hôm sau anh em đã tới ém trong hang cách địch khoảng một trăm mét. Trời vừa hửng sáng, anh em lần lượt ra cửa hang quan sát tình hình địch và nhận vị trí chiến đấu của mình. Từng tốp địch, đứa nằm, đứa ngồi trong lều bạt và cạnh công sự dã chiến. Tên lính gác đứng lơ đãng nhìn xuống cánh đồng.


Mặt trời mỗi lúc một lên cao, bọn lính địch tản mát tìm những bụi cây lúp xúp xung quanh để tránh nắng. Sinh, Bé Hai và trung đội trưởng Thinh từ sáng tới giờ vẫn đứng bên cạnh Sáu Tý. Họ không bỏ qua một cử động nhỏ nào của địch.


Khoảng năm giờ chiều bọn lính nhà bếp bưng cơm đặt trên nền đất bằng phẳng. Nghe thấy tiếng còi, bọn lính kéo đến vây xung quanh mâm cơm.

Ba Tý nói với cán bộ:

- Chúng nó tập hợp, cho triển khai đội hình.

Nói xong Tý vọt ra ngoài cửa hang. Anh em lần lượt theo sau. Trong khoảnh khắc ngắn ngủi ra khỏi hang toàn đơn vị đã dàn đội hình hàng ngang, mỗi người dừng lại sau một tảng đá mình đã lựa chọn. Từ trên nhìn xuống, có người chỉ cách địch ba đến bốn mét.


Đại đội trưởng Sáu Tý hạ lệnh nổ súng. Những loạt lựu đạn liên tiếp chụp lên chỗ bọn địch đang tập hợp. Đám khói bụi trùm lên toàn bộ vuông đất trống trải. Bọn địch kêu la thất thanh.

Đòn khủng khiếp bất ngờ từ trên trời giáng xuống khiến địch không còn đủ bình tĩnh đối phó. Đại đội địch chỉ còn vài tên sống sót, chạy xuống lung sen "chém vè".

Địa phương quân Hòn Đất như những thiên thần xông thẳng vào trong đám khói bụi còn chưa tan. "Xung phong! Xung phong!". Tiếng thét hùng dũng va vào vách đá tràn xuống cánh đồng.

Địa phương quân hoàn toàn làm chủ trận địa, thu vũ khí và chiến lợi phẩm.

Nghe thấy tiếng nổ, cuộc họp của Huyện ủy dừng lại, mọi người ra ngoài hang đứng nhìn về phía đang diễn ra trận đánh. Một vệt khói kéo dài dưới chân Hòn Sóc. Tiếng nổ lựu đạn bổ sung cho vệt khói mỗi lúc một dày đặc hơn.

Mọi người hồi hộp, xầm xì bàn tán về trận đánh.

- Chắc ăn rồi! Chỉ thấy có tiêng lựu đạn.

- Sẵn lựu đạn da láng vừa thu được, các cậu ấy thả sức chọn.

Họ đứng nhìn và lắng nghe khá lâu, mãi tới khi đám khói tan loãng trong không trung, mới thấy tiếng súng của địch bắn. Tiếng súng địch nổ chừng vài phút rồi im bặt.

Cuộc họp Huyện ủy mở rộng lại tiếp tục. Câu hỏi về kết quả của trận đánh vừa rồi vẫn chưa dứt ra khỏi suy nghĩ của mọi người. Mãi tới tối sẫm các chiến sĩ địa phương quân mới tới hang Huyện ủy. Mọi người trong cuộc họp đứng xúm quanh vui mừng thăm hỏi những chiến sĩ vừa thắng trận trở về.


Anh em địa phương quân xếp chiến lợi phẩm gồm máy PRC 25 và hàng chục khẩu súng thành một đống trước mặt bí thư Huyện ủy Hai Hiểu.

Đại đội trưởng Sáu Tý nói:

- Đúng như lời đã hứa, chúng tôi đã đánh thắng và an toàn trở về, anh em chúng tôi mang chiến lợi phẩm tới chào mừng hội nghị. Rất tiếc là nếu chúng tôi có mười ba ngươi nữa thì vẫn không thu được hết chiến lợi phẩm.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 24 Tháng Sáu, 2021, 09:11:36 pm
Chương tám
CỦNG CỐ LỰC LƯỢNG

1


Sau khi rút khỏi "Ba Hòn", các bộ phận đi theo hai hướng, một về kinh Tám Ngàn Bình Sơn, một về hướng Nam Thái. Địa phương quân với số quân còn lại không đầy một trung đội được phân tán xuống các xã hoạt động với du kích.


Về xã hoạt động lúc này không còn cái thế như hồi trước Mậu Thân. Địch thực hiện "kế hoạch bình định cấp tốc", mỗi kinh mọc lên một đồn đến hai đồn đóng chừng một tiểu đội đến một trung đội. Tuyến kinh xáng Nam Thái mọc lên bảy đồn và một chi khu. Kết hợp với hệ thống đồn bốt, chúng đưa tới huyện hai đoàn bình định "Ca-rê 4 và Ca-rê 6" phân tán "ba cùng" với dân để "thanh lọc", truy bắt cán bộ, khống chế cơ sở cách mạng.


Đại đội địa phương quân trong tình trạng phải phân tán nhỏ, tự tìm mục tiêu tác chiến vừa với sức của mình, phối hợp với các xã phá kế hoạch bình định của Mỹ - ngụy.

Một lần vào mùa khô năm 1970, chính trị phó Huyện đội Hà Văn Tý dẫn một tiểu đội (chín người), phần đông là cán bộ, với ý định cùng du kích Mỹ Hiệp Sơn đánh phá bọn phòng vệ dân sự và củng cố cơ sơ chính trị của ta.


Trời đã xế chiêu, họ vừa đi đến khu rừng tràm gần Kinh Mười xã Nam Thái, nghe thấy tiếng động cơ nổ trên không ồn ào. Hàng đàn máy bay trực thăng nối đuôi nhau đổ quân xuống trảng trống gần đó. Họ dừng lại ẩn nấp. Từ lúc máy bay đổ quân, Sáu Tý không phút giây nào rời mắt khỏi khoảng trống của lá rừng, nơi đường bay của máy bay địch qua. Anh nhẩm đếm số lần máy bay hạ cánh, rồi nói với trung đội phó Sang ngồi gần đó:

- Chúng đổ xuống một tiểu đoàn chứ không ít.

Sang nói:

- Cung cách này, chúng lại càn quét dọc theo tuyến đường vận tải 1C.    Chúng ta khó có thể vượt qua đêm nay.

Trao đổi với nhau vài câu ngắn rồi mỗi người lại theo đuổi ý nghĩ riêng của mình. Sáu Tý suy nghĩ tới tình hình chiến sự trên chiến trường của toàn huyện mấy tháng qua. Trung đoàn 16 (thuộc sư đoàn 9 ngụy) liên tục "đổ dò" chà đi xát lại trên hành lang vận tải chiến lược. Ta chưa đánh được một trận nào đáng kể để ngăn chặn sự hung hăng của chúng. Lực lượng của ta quá mỏng, không đánh đối mặt được với chúng. Chẳng lẽ chúng chủ quan như thế lại không bộc lộ sơ hở, và sự sơ hở của chúng nếu ta nắm được thì không cần số lượng đông vẫn có thể cho chúng một vài đòn cảnh cáo...


Nghĩ vậy Sáu Tý xách khẩu K2 đứng vụt dậy, vẫy tay gọi trung đội trưởng Luyện lại chỗ mình. Sáu Tý nói với các cán bộ trung đội:

- Chúng vừa đổ quân, chắc bữa nay chưa thể tổ chức được việc càn quét, chỉ còn vài giờ nữa chúng xoay sở chỗ nghỉ quân là tối. Ý định của tôi: Ta đi điều nghiên ngay bây giờ, nếu địch sơ hở ta thực hành tập kích liền. Chúng ta có một B41, hai B40, mọi người đều mang K2 hỏa lực như vậy đủ để uy hiếp chúng ngay từ đầu. B41 nổ làm hiệu lệnh, nếu nơi thuận lợi cho việc ném lựu đạn, sẽ ném hết số lựu đạn mang theo rồi dùng tiểu liên quét.

Sang và Luyện nhìn Tý không chớp mắt. Tý đã gợi ra việc cần phải làm mà họ chưa kịp nghĩ ra. Lâu nay bàn tới chiến trận, họ vẫn mong có một trận đánh ra trò. Phải chăng điều Tý vừa nói trở thành hiện thực, và như vậy ý nghĩa sẽ lớn lao. Họ tin ở người chỉ huy trẻ trung, tài ba của mình. Không phải hiện tại, mà cách đây khoảng 3 năm, tên tuổi của Hà Văn Tý đã gắn với truyền thống của đơn vị.


Trận phối hợp với đại đội địa phương tỉnh đánh vào bọn "cán bộ bình định CR9" ở tại thị trấn Tri Tôn. Lúc đó Tý làm tiểu đội trưởng đặc công. Trận đánh đã vào đoạn kết thúc. Bọn cán bộ bình định đã bị bắn tan tác, phía địa phương quân huyện quân số thương vong năm, sáu người chưa kịp chuyển về phía sau. Số địch còn lại ngoan cố chống cự quyết liệt. Một khẩu trung liên của địch đang lia cái lưỡi lửa sát mặt lộ, làm cho quân ta tiến, lui đều gặp khó khăn. Tý gan góc xông lên dưới làn hỏa lực địch, ném liên tiếp hai trái lựu đạn, diệt luôn ổ súng.


Lệnh lui quân, đơn vị không còn đủ số người mang thương binh tử sĩ. Sáu Thố bị thương nhẹ, vẫn cố gắng cõng một thương binh nặng. Còn lại Bảo đang ở trạng thái hôn mê. Bảo vóc người to lớn. Việc cõng Bảo về căn cứ là một việc làm quá sức với vóc nhỏ bé của Tý. Vác bạn lên vai đi được một đoạn, cái cơ thể kềnh càng, mềm nhũn của Bảo lại truội xuống. Cứ như thế. Vác lên... rồi lại đặt xuống. Đi được hơn một cây số, Bảo đã tắt thở. Tình thương yêu đồng đội không cho phép Tý dùng dây kéo hoặc bỏ bạn ở lại giữa cánh đồng hoang vắng này. Sáu Tý suy nghĩ chỉ còn một cách chờ cho xác của Bảo lạnh cứng mới dễ vác. Anh vuốt mắt, nắn chân tay cho bạn rồi ngồi bên cạnh chờ đợi. Chỉ có mình "ên" với thi thể một người đã chết hơn hai tiếng đồng hồ. Sương đêm đã thấm ướt vai áo. Tý sờ cơ thể của Bảo đã lạnh. Anh vác bạn lên vai như vác một khúc gỗ, lúc mệt lại để Bảo đứng xuống tựa vào vai mình...


Cả đơn vị đã về "Hòn" đủ cả. Trời sáng rồi vẫn chưa thấy Tý và Bảo về, mọi người ra cửa hang ngóng trông về phía Tri Tôn. Nghe tiếng súng liên thanh nổ dồn ở phía ấy, anh em càng lo lắng không hiểu Tý có gặp tai họa gì không. Một hồi lâu mới thấy mái tóc đen nhấp nhô trên đồng cỏ, anh em reo mừng và chạy ào ra khỏi hang đón Tý. Từ đó địa phương quân huyện nhìn Sáu Tý như một thần tượng về lòng dũng cảm của đơn vị mình.


... Kế hoạch trận đánh tập kích chớp nhoáng của Sáu Tý dễ dàng được anh em nhất trí. Số người được phân công dự trận đánh gồm Sang, Phát, Luyện, Hiền... Họ bí mật nhanh chóng tiếp cận địch. Tới bìa rừng họ giấu mình trong lùm cỏ, nhìn ra khoảng trống chỉ cách địch vài chục mét.


Bọn địch khoảng ba trăm tên, ngồi trong đội ngũ phô những tấm lưng "rằn ri" về phía họ. Trước mặt chúng treo một tấm bản đồ lớn bằng tấm chiếu đôi. Tên chỉ huy đang nói và chỉ trỏ lên bản đồ. Mấy tên lính gác ở gần đó tỏ ra chểnh mảng, chốc chốc lại nhìn về phía tên chỉ huy.


Đúng như dự đoán của Sáu Tý, bọn địch tỏ ra hết sức chủ quan. Tý lấy tay ra hiệu cho anh em triển khai đội hình. Mọi ngươi đã ở tư thế sẵn sàng chiến đấu. "Bắn!". Xạ thủ B41, B40 vừa nhận lệnh của Sáu Tý. Những quả đạn đã bay vụt ra khỏi nòng, nối tiếp theo là loạt đạn tiểu liên không ngừng quét xâu táo vào những tấm lưng địch. Tiếp đến là tiếng lựu đạn nổ. Bọn lính ngụy kêu thét hỗn loạn, không biết đường nào mà chạy. Tiếng nổ gầm thét trong vòng 5 phút. Các chiến sĩ địa phương quân dũng cảm đã làm xong công việc của mình, họ lại lặng lẽ biến vào rừng.


Khoảng nửa giờ sau, mới thấy những tốp trực thăng mò tới bay lượn và bắn vung vãi xung quanh.

Anh em địa phương quân đã ngồi ở nơi an toàn. Họ đang chia nhau cùng hút điếu thuốc lá sợi, khoái trá kể với nhau những gì mình thấy trong khói súng.

Bóng đêm vừa tràn vào khu rừng, cũng là lúc những chùm pháo sáng bay lơ lửng trên trời. Tiếng máy bay trực thăng ồn ào, thay nhau đến thu quân và nhặt xác bọn lính ngụy vừa chết trận. Tiếng động cơ ầm ì không ngớt kéo dài tới khoảng 10 giờ đêm mới trả lại sự yên tĩnh cho khu rừng tràm.


Sáng hôm sau một số anh em công tác trên "đường dây" cùng các chiến sĩ địa phương quân huyện, tới xem hiện trường của trận đánh tập kích táo bạo của họ.

Những bông băng đẫm máu, trải rộng gần hết bề mặt những đám cỏ nhàu nát, rộng hàng ngàn mét vuông.

Một anh cán bộ "đường dây" vui mừng ôm lấy Sáu Tý:

- Các đồng chí đã đánh một trận tuyệt đẹp, đánh trúng vào tiểu đoàn "Trâu điên" là bọn ác ôn nhất. Chúng chết hàng trăm tên chứ không ít. Các đồng chí đã giúp chúng tôi mở thông hành lang chiến lược.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 24 Tháng Sáu, 2021, 09:17:45 pm
2


Từ sau Mậu Thân phong trào của xã Mỹ Lâm có chiều hướng đi xuống. Du kích phải chống đỡ liên tục với những đợt phản kích mạnh của địch. Nhiều trận càn, chúng đóng quân lại dài ngày để làm áp lực cho bọn phản động ở địa phương truy bắt cán bộ và bọn bảo an dân vệ đóng đồn. Chỉ trong vòng một năm chúng dựng đồn bốt trấn giữ khắp các ấp: đồn Chủ Kiều, đồn Quảng Xo, đồn Kinh Hãng, đồn Tư Hiền, đồn cảng Đất, đồn kinh Tư Chè... Khoảng bảy tám trăm mét, chúng dựng một đồn, đóng chừng một tiểu đội đến một đại đội. Đồn Kinh Hãng có cả trận địa pháo. Đồn bốt trở thành chỗ dựa cho bọn tề ngụy và bọn phản động hoạt động. Chúng lùng sục khắp các xóm ấp suốt đêm ngày. Cán bộ và du kích của xã bị địch bắt và hy sinh trong chiến đấu không kịp bổ sung. Số du kích xã chỉ còn lại ba cán bộ xã đội: Ba Ó, xã đội trưởng, Hai Tiếp và Hai Ất, xã đội phó. Trong vòng hơn hai tháng, hy sinh hai bí thư chi bộ. Ba Hanh bị địch moi hầm ở đìa nước ngọt, đã cùng ba chiến sĩ du kích bật nắp hầm, ném lựu đạn diệt một số địch rồi chạy vào rừng, tiếp đó họ đã chiến đấu rất kiên cường trong điều kiện không cân sức và hy sinh tất cả. Huyện ủy điều đông Sáu Tho, chi ủy viên của chi bộ Nam Thái sang thay Ba Hanh. Sáu Tho mới tới khoảng một tháng đã bị địch phục kích giết chết tháng 7 năm 1970.


Ba Non nhận được lệnh thuyên chuyển về Mỹ Lâm, nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Vào một đêm trời đầy sao, Ba Non cùng với Tường, đội trưởng đội phòng thủ Huyện ủy lội qua cánh đồng nước về Mỹ Lâm. Hai anh em đến nhà ông Hai Khỏe, một cán bộ cơ sở. Ông Hai tỏ ra vui mừng, nói với Ba Non:

- Chu cha! Lâu lắm mới gặp lại chú Ba... Lại về công tác ở xã nhà hen?

- Dạ. - Ba Non muốn đi ngay vào công việc. Anh hỏi. - Anh Ba Sung có đây không Bác Hai?

- Hai bữa nay không thấy đến. Có thể ở nhà ông Tư Hiền.

- Xin phép bác, có công chuyện gấp tôi phải đi ngay, thế nào cũng còn có dịp đến thăm bác chuyện trò dài hơn.

Ông Hai cười nói:

- Qua hiểu... bữa nào tiện công tác đến ở nhà qua một ngày. Lâu lắm rồi chỉ nghe thấy tiếng mà không gặp được người.

Hai anh em lại đi tiếp đến nhà ông Tư Hiền ở cuối xóm.

Nghe Ba Non nói cần gặp Ba Sung, ông Tư vồn vã mời hai người ngồi xuống cái ghế dài:

- Muốn tìm ai thì tìm, cứ ngồi nghỉ một lát, sẽ có người đi tìm cho. Đã ăn uống gì chưa?

- Đói meo rồi, chú có cơm nguội cho mỗi đứa một chén.

Ông Tư bưng nồi cơm, bát đũa và đĩa mắm cá đặt lên bàn, vừa nói với thằng con trai khoảng mười tuổi:

- Bây sang nhà ông Năm Diệm, nếu không có thì tới nhà ông Hai Còm tìm chú Hai về đây, nói với chú có người đang chờ rất cần nghen.

Hai vị khách không chờ lời mời, họ đã xúc cơm ăn tự nhiên như ở nhà mình.

Thằng nhỏ đã quen với việc liên lạc, nó lặng lẽ ra khỏi cửa đi vào đêm tối. Hai anh vừa ăn xong hai lưng cơm đã thấy thằng nhỏ về. Nó nói vừa đủ cho mọi người nghe:

- Du kích ở nhà ông Năm, các chú biểu mời các chú sang bển, chú Ba không ở đó.

Ba Non cùng với Tường sang nhà ông Năm Diệm. Vừa nhìn thấy Ba Non và Tường, tất cả mọi người như đồng thanh "ô" lên một tiếng rất vui mừng, rồi đứng dậy lần lượt bắt tay.

Họ đều là người quen thuộc cả, không ai cần phải giới thiệu. Ba Non tự giới thiệu nhiệm vụ mới của mình:

- Tôi được huyện điều về làm bí thư chi bộ ta.

Nghe Ba Non nói, mắt mọi người đều hướng về phía anh, gửi gắm sự tin cậy. Mọi người im lặng hồi lâu, sau lời giới thiệu của Ba Non. Cái không khí trầm lắng ấy mách bảo anh nhiều điều, mà họ không tiện nó ra bằng lời. Ba Non ngồi xuống trước ngọn đèn dầu hỏa vừa đủ soi rõ mặt mọi người.


Anh hỏi anh em về tình hình địch, tình hình ta. Trong thâm tâm Ba Non muốn có ngay một trận đánh "ra mắt" chi bộ. Anh hỏi anh em rất kỹ những hoạt động lẻ của địch, nhằm tìm một mục tiêu vừa sức với số lượng nhỏ bé của đội du kích còn lại. Các mục tiêu vũ trang của địch, anh em nêu ra không có mục tiêu nào dễ "sài". Ba Non nghĩ tới việc diệt tề. Anh hỏi:

- Có tên ác ôn nào đã có hồ sơ được Thường vụ Huyện ủy duyệt cho xử chưa?

- Có. - Ba Ó trả lời. - Thằng Ch là điệp ngầm đã chỉ điểm giết đồng chí Bảy Hải huyện đội trưởng.

Hai Ất góp ý kiến với thái độ tự tin:

- Đánh mục tiêu nào thì khó, chớ việc bắt thằng Ch thì không khó. Nó vừa về thăm vợ nó hồi chiều. Chỉ cần bảy người lại bao nhà nó, là bắt được.

Ba Non giơ tay xem đồng hồ, rồi nói:

- Bây giờ là mười hai giờ kém mười lăm rồi. Ba Ó viết bản án đi, xong ta đi ngay. Ta phân công nhau trước, ai bao ở ngoài, ai vô nhà bắt nó.

Tất cả mọi người đều giơ tay tình nguyện vào bắt tên Ch. Ba Nôn phải chỉ định:

- Ba Ó và Tường vô bắt nó, còn tất cả bao ở ngoài. Bắt nó đưa nó ra ngoài, đến đầu cầu mới xử.

Ba Ó viết bản án xong, gấp tờ giấy bỏ vào túi ngực rồi xăm xắn nói với mọi người:

- Chúng ta đi không thôi muộn.

Bốn anh em đi theo bờ kinh. Vừa đi được vài chục mét, Ba Non bảo mọi người dừng lại. Anh nói:

- Hồi nãy chúng ta chưa bàn tới việc, nếu nó đề phòng trước và dùng vũ khí chống lại, hoặc có một hai thằng nữa ở nhà nó thì chúng ta tính sao.

Hai Ất nói:

- Ta đi qua nhà cô Út Vàng hỏi thêm tình hình rồi hãy đến nhà nó.

Họ lại đi tiếp đến nhà Út Vàng. Nghe tiếng Ba Ó gọi, Út Vàng đang mơ mơ ngủ, vội vùng dậy ra đứng sau liếp cửa.

- Chị Út có thấy chiều tối nay thằng Ch còn ở nhà không?

- Buổi chiều nó với mấy thằng lính "Thần hổ” làm thịt chó nhậu ngay ở nhà nó, nhậu xong bọn "Thần hổ" về, còn nó vẫn ở nhà.

Nghe Út Vàng nói, mọi người yên tâm vì kế hoạch của mình không bị hẫng. Họ lặng lẽ bước từng bước thận trọng vào vườn nhà thằng Ch. Ba Ó và Tường nhón chân bước tới chái nhà. Các anh áp tai vào vách lắng nghe động tĩnh bên trong. Tiếng ngáy khoọc khoọc đều đều từng nhịp chứng tỏ nó đang ngủ say. Ba Ó và Tường xê dịch vị trí về phía cửa. Theo kế hoạch hai người đã bàn trước, Tường sẽ bấm đèn pin rọi thẳng vào mặt thằng Ch, đồng thời hạ lệnh cho vợ nó trói nó lại, nếu nó có hành động chống lại, sẽ nổ súng. Ba Ó sẽ xông vào trong nhà thu vũ khí và áp giải nó ra.


Ánh đền pin vừa soi vào mặt tên Ch, Tường hô gằn giọng:

- Nằm im. Động đậy tao bắn chết ngay.

Ba Ó đạp cái cửa rầm một tiếng, cánh cửa bật tung. Ba Ó xông vào trong nhà. Thằng Ch đang ú ớ chưa kịp tỉnh ngủ đã bị cái báng súng của Ba Ó giáng xuống đầu. Vợ tên Ch ngồi bật dậy hoảng sợ, lấy bàn tay che ánh đèn, miệng méo xệch kêu không thành tiếng. Tên Ch ưỡn mình định chồm dậy rồi lại nằm xuống bất động. Ba Ó thọc tay xuống đầu giường thu khẩu súng ngắn của hắn, rồi lấy dây định trói hắn lại. Tường chạy vào trong nhà vẫn giữ tư thế cảnh giác, một tay bấm đèn, một tay cầm ngang khẩu AK. Chỉ còn ba bước nữa tới chỗ thằng Ch, bất ngờ, thằng Ch vùng dậy chạy. Tường lập tức lao khẩu súng theo, đế báng súng trúng vào gáy hắn. Cú đánh trời giáng làm cho tên Ch chết không kịp kêu một tiếng.


Đồn địch đóng chỉ cách nhà thằng Ch vài trăm mét, mọi hoạt động của họ đều phải thật bí mật nhanh gọn. Ba Ó đặt tay lên ngực, lên mũi thằng Ch, thấy nó đã tắt thở. Anh lấy bản án rải lên ngực hắn.


Vợ tên Ch vẫn ở trong trạng thái mất hồn, đang ngồi gục đầu thổn thức. Tường nói với chị ta một câu cụt lủn:

- Thằng Ch là tên phản bội Tổ quốc, cách mạng xử tội nó làm gương cho kẻ khác.

Nói xong, cả hai người bước nhanh ra khỏi cửa. Một anh đứng bao vây ở bên ngoài hỏi khẽ:

- Nó đâu rồi.

- Xử xong rồi.

Mọi người lặng lẽ rút vào trong đêm tối.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 24 Tháng Sáu, 2021, 09:21:21 pm
3

Anh em đang ngồi ở nhà ông Năm Diệm, chờ bữa cơm sáng, ăn xong sẽ họp chi bộ. Lúc này Ba Sung, phó bí thư chi bộ vừa mới ở ấp Mỹ Tú về được khoảng hai tiếng đồng hồ. Ba Non và Ba Sung đang hội ý bàn về chương trình nội dung cuộc họp chi bộ, triển khai nghị quyết của Huyện ủy. Ngươi gác chạy vào báo có khoảng một đại đội địch từ Ba Thê xuống đã tới gần ấp 5. Mọi người chạy vội ra cánh đồng "chém vè" trong đám cỏ đế. Tới xế chiều người nào cũng đói mèm. Ba Ó lặng lẽ đi tới rẫy nhà ông Ba Khỏe, nhờ con ông Ba Khỏe đi xin cơm.


Ba Sung tìm ra được chỗ "chém vè" của Ba Non. Anh vui mừng nói ngay vào câu chuyện dở dang ban sáng:

- Tình hình nặng nề quá, tôi đang mong huyện cử người về, được anh về tôi rất mừng. Lực lượng xã mình độ này mỏng quá. Ở ấp Mỹ Tú, từ hôm thằng Sáu Liêm, ấp đội trưởng lấy bốn khẩu súng đi đầu hàng, nó quay lại chỉ chọc. Cơ sở có nhiều người hoang mang. Lâu rồi mình không có trận đánh nào, chúng nó tỏ ra khinh thường, bọn điệp ngóc đầu dậy hoạt động.

Ba Sung nhìn xung quanh không thấy Ba Ó, anh hỏi:

- Ba Ó đi đâu rồi?

- Vừa đi ra ngoài rẫy liên hệ với bà con kiếm ít cơm.

Ba Sung nói tiếp:

- Chắc anh đã nghe Ba Ó nói rồi, vừa qua chúng càn quét liên tục, có cả xe bọc thép, tàu FOCA yểm trợ, có khi chúng nằm lỳ ở xã ta mấy ngày liền để cho bọn lính địa phương lập đồn bốt. Không hiểu hôm nay có chuyện gì mà bọn bảo an của An Giang tới. Nghe dân báo: nó đóng thêm một đồn nữa ở ngay nhà ông Tư Hiền.

- Bọn mình vừa xử thằng Ch đêm qua. Chắc rồi bọn chúng sẽ biết du kích thường ở ấp này.

Ba Sung vẫn giữ nguyên giọng điềm đạm:
   
- Thằng Ch đã làm án từ lâu rồi, còn vài thằng nữa, đã có tội lỗi cụ thể, buổi họp tới chúng ta phải xét để báo cáo lên trên...

- Đồng chí xem địa điểm họp ở đâu.

Ba Sung nói đắn đo:

- Họp ở đây thì dễ lộ, vào rừng tràm dưỡng thì xe tăng, trực thăng... chúng quần luôn. Hay là ta lên ấp 5, ở đó cơ sở của ta vững... nhưng ở ấp 5 thì bọn bảo an ở Ba Thê cũng hay mò xuống.

- Vào rừng họp là tốt nhất, ở đó bí mật, an toàn hơn. Chúng muốn càn vô cũng phải có quân đông, không phải một chốc lát có thể tổ chức một cuộc càn như thế. Còn trực thăng thì do cách ăn ở của chúng ta, nếu chúng ta giữ bí mật tốt thì làm sao chúng phát hiện được.


Hai người ngừng trao đổi khi nghe thấy tiếng huýt gió ám hiệu. Ba Ó xuất hiện sau lùm cỏ dại. Khuôn mặt rám nắng của anh bóng nhẫy mồ hôi, miệng nở nụ cười, hàm răng trắng lóa:

- Đủ sống ba ngày rồi. - Ba Ó cười nói. - Có cơm nguội mắm sông đây, mỗi người ăn tạm một chén cho đỡ đói.

Nghe thấy nói có cơm, khuôn mặt khắc khổ của mọi người rạng rỡ hắn lên. Mọi người không ai bảo ai ngồi xúm lại bốc ăn.

Ăn xong mọi người xách súng đeo bòng chuyển chỗ ở. Họ im lặng bám theo nhau. Mặt trời lặn. Không gian càng trở nên hoang vắng. Tiếng cóc nhái, tiếng loài chim ăn đêm xa gần gọi nhau. Màu đen của đêm tối ùa đến bao phủ làng mạc cánh đồng... Trước mắt họ mọi vật đã nhòa lẫn, bụi cây bờ cỏ chỉ còn là một khối đen, không còn chi tiết. Bước lên một bờ mương Ba Non vướng chân vào một cái que, tình cờ anh cúi xuống nhặt, sờ tay thấy dây dợ lằng nhằng, thì ra đây là một gắp câu. Anh lẩm bẩm: "Của này quý đây, có lưỡi câu nhất định mai sẽ có cá ăn". Gặp cái may nho nhỏ khiến anh vui hơn.


Đến nơi ở, vừa đặt bòng xuống Ba Non đã nghĩ ngay đến việc câu cá. Anh hỏi:

- Cậu nào có dây dù không?

- Làm gì bằng dây dù?

- Tao vừa nhặt được một gắp câu, có dây dù rút ruột dù làm dây câu, tối nay bủa câu chắc chắn mai có cá ăn.

Tường nói:

- Dây dù thì có ngay đây. Đưa tôi buộc lưỡi câu cho. Tôi là tay sát cá số dách đây.

Mọi người xúm lại mỗi người làm một việc, người buộc lưỡi câu, người làm cần câu, người kiếm mồi câu, chỉ mươi phút đã xong mọi việc.

Câu cá là môn giải trí thú vị, ai cũng tỏ ra hào hứng. Họ kéo nhau tới bờ đìa gần đó, rồi tản ra mỗi người một chỗ. Chỉ vài phút sau đã thấy tiếng reo khe khẽ "hay quá!", "chú mày khá quá!"... Khoảng hơn một giờ anh em đã câu được mười chín con cá lóc, con nào cũng to bằng bắp tay, bắp chân béo nhẫy. Khi mọi ngươi gom cá lại, Ba Ó ứng khẩu thành thơ: "Ôi! Mùa xuân đã đến rồi. Cá ta câu đầy chậu. Cơm ta nấu đầy nồi. Ăn no ta thắng giặc. Tiến lên anh em ơi!".

Mọi người cười nói bình mấy câu thơ của Ba Ó.

Sáng hôm sau vợ Ba Sung và vợ Ba Tình mang chè thuốc và bát đũa tới. Mọi ngươi vui mừng xúc động trước sự sum họp quây quần đầm ấm trong điều kiện hết sức mỏng manh này.

Chị Ba Sung chớp chớp cặp mắt đầy nước mắt. Chị nói:

- Thấy chúng nó càn tới đông, súng nổ nhiều, chẳng hiểu tình hình các anh ra sao, ngồi đứng chẳng yên. Tôi tới rủ chị Ba cùng đi, hỏi thăm nhà ông Ba, được biết các anh chạy vội mang theo được mấy cái nồi, chẳng có gạo muối bát đũa gì. Chúng tôi đoán các anh sẽ vô rừng, chúng tôi đi kiếm để có gì thì biết đường mà tiếp tế.

Ba Ó nói đùa:

- Ông Ba Sung linh thiêng dẫn đường cho các chị tới đó... Nói cho vui chớ chuyến này may thiệt. Tưởng sáng nay ăn cơm muối, thì tối qua đi câu một lát mà được bao nhiêu cá, tưởng nhịn thèm không có thuốc thì tự nhiên có người mang thuốc tới.

Hai Ất đổ bòng cá ra khoe với khách mới đến. Các chị tấm tắc khen các anh kiếm cá giỏi. Vợ Ba Tình nhanh nhảu nhận phần làm cá.

- Các anh đưa dao em làm cho. Biết thế này em đã mang theo một ít lá chua.

- Các chị cứ ngồi nghỉ ngơi, để anh em chúng tôi làm.

Ba Non hỏi hai chị:

- Mấy ngày hôm nay ở trong ấp, tình hình bà con mình thế nào... các chị.

Vợ Ba Sung nói:

- Từ ngày chúng đóng đồn Chủ Kiều, Quản Xe bọn lính mò vô ấp hàng ngày nên bà con mình không dám quan hệ với nhau, chỉ có người nào thiệt tin nhau mới dám chuyện trò. Mấy ngày hôm nay ở đồn Kinh Hãng chúng đưa đến hai khẩu pháo và đưa máy ủi đến san ủi suốt ngày. Đạn ca-nông đêm qua chúng mới bắn thử vào đầu ấp mấy quả.


Ba Sung nhìn vợ bằng cặp mắt đầy thương yêu, rồi đưa mắt về phía Ba Non ý muốn nói: "Có cách nào gỡ, không thì bà con mình sẽ giảm sút lòng tin". Nhớ tới cuộc họp của chi bộ, Ba Sung nói với vợ Ba Tình:

- Chị về nói với ảnh và anh Năm Lầu, tối nay đến đây nghen.

Cuộc họp chi bộ đã được thực hiện ngay ngày hôm sau, có đủ mặt năm đảng viên (Ba Non, Ba Sung, Ba Ó, Năm Lầu và Ba Tình). Họ bàn bạc, phân công nhau xuống các ấp bám dân, làm hầm bí mật ở tại chỗ để giáo dục ổn định tư tưởng quần chúng cơ sở, phát hiện và ngăn chặn các tổ chức địch hoạt động; vận động, lựa chọn người vào lực lượng vũ trang và thu đảm phụ quốc phòng...


Họp xong Ba Non lục bòng lôi cuốn vở học sinh đã bị cong các góc ra đặt lên đầu gối, viết báo cáo vê huyện. Viết dược vài dòng nói về tình hình địch, anh ngừng lại suy nghĩ, mắt đăm đăm nhìn cành lá đang đung đưa trước mặt. Cái khó của việc làm báo cáo thường gặp, làm anh ngại nhất là khái quát thế nào cho đúng với thực chất tình hình. Một câu hỏi đang cựa quậy trong đầu anh: "Địch rải quân ra đóng nhiều đồn bốt, mục tiêu chủ yếu của chúng để làm gì?". Trong đầu Ba Non như có hai người tranh luận. Nếu như huyện Hòn Đất này không có con đường 1C đi qua, liệu chúng có đưa quân tới đông như vậy không? Có thể lắm nhưng nó sẽ đóng ở các ấp đông dân. Những đồn địch vừa đóng rõ ràng có mục đích ngăn chặn tuyến đường vận tải của ta. Ba Non ghi tiếp trên trang giấy: "... mục đích chủ yếu của các đồn bốt vừa mới đóng trên xã tôi, chúng nhằm vào việc ngăn chặn tuyến đường chiến lược, kết hợp với kế hoạch bình định là âm mưu lâu dài thường xuyên của địch. Chủ trương của chúng tôi, sẽ cố gắng phá sạch các tổ chức phản động và tai mắt của địch, làm cho đồn bốt của địch bị cô lập mất chỗ dựa. Mặt khác chúng tôi phân công nhau bám các ấp củng cố cơ sở chính trị, tăng cường lực lượng vũ trang...".


Viết xong bản báo cáo, Ba Non xé trang giấy, rồi gấp thành hình chữ nhật, đưa cho Tường, nhờ chuyển cho thường vụ Huyện ủy.

Tập trung tư tưởng để nhả ra hai trang báo cáo, anh không để ý gì đến xung quanh.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 24 Tháng Sáu, 2021, 09:22:19 pm
Mấy anh em du kích đang ngồi đấu khẩu với nhau chuyện gì đó, chắc là chuyện vui, thỉnh thoảng họ lại cười rộ lên, đến bây giờ anh mới lắng nghe. Thì ra họ đang nói chuyện về chị Sáu "Bãi lửa". Sáu Bắc, người nữ bí thư đẹp gái, tài năng, dũng cảm, mưu trí được nhân dân cả xã này tin yêu. Cuộc đời riêng của chị đầy bi kịch, năm lần hứa hôn là năm lần người chồng chưa cưới bị chết trận. Anh em du kích đã đặt cho chị cái tên "Bãi lửa" (kể đặt tên như thế cũng không phải nhưng chiến tranh mà). Nói tới Sáu Bắc là Ba Non nhớ ngay đến một kỷ niệm. Ngày được Huyện ủy giao cho trọng trách mới, bí thư chi bộ xã Sóc Sơn, Ba Non thổ lộ tư tưởng với Sáu Bắc: "nhiệm vụ nặng nề khó khăn không biết tôi có làm nổi không?". Sáu Bắc đã trao cho anh một "bảo bối", chị nói: "sức mạnh lớn nhất có ở mỗi chúng ta lúc này là lòng trung thành vô hạn với Tổ quốc, đối với Đảng. Khi tôi được Đảng trao nhiệm vụ bí thư chi bộ, tôi còn dốt hơn đồng chí. Mọi việc chúng ta làm đều vì nhân dân, vì Đảng, nếu ta chưa biết thì ta hỏi dân, hỏi các đồng chí xung quanh, mọi người sẽ chỉ cho, rồi từ tấm lòng trung thành với dân với nước của mình, sẽ đẻ ra sáng kiến trong công việc". Tấm gương và phương châm sống của Sáu Bắc đã giúp cho anh vượt qua nhiều khó khăn và trưởng thành như hôm nay.

- Một lần chị Sáu...

Ba Ó đang ngồi, thấy Ba Non tới ngồi bên cạnh, anh ngừng lại. Ba Non vỗ vào vai Ba Ó:

- Cứ nói tiếp đi.

- Chị đi cùng với cậu Tiền, xã đội phó vào khu trù mật Kinh Hãng xây dựng cơ sở. Khi trở về gặp địch phục kích. Xuồng của chị bơi gần bờ phía chúng phục. Một tên trong bọn chúng quát "ai"? Chị bình tĩnh đáp "tôi", ngay lúc đó chị hạ lệnh cho Tiền bắn để giành chủ động. Tiền bắn một loạt AK vào bọn địch trên bờ, rồi cả hai người nhảy xuống sông. Sau loạt đạn bất ngờ, chúng lúng túng hồi lâu rồi mới gọi đèn và bắn xỉa xuống cái xuồng bị lật úp. Cậu Tiền hy sinh. Chị Sáu nhảy xuống ngụp bơi vào bờ sát chỗ địch đứng. Bọn địch vẫn rọi đèn và bắn vào xung quanh cái xuồng một hồi nữa, chúng nói với nhau: "Chúng nó chết chìm hết rồi". Nghe rõ tiếng chúng bàn bạc với nhau, chị Sáu biết chắc chắn bọn chúng đã bị đánh lạc hướng. Chị bí mật luồn vào nhà Tám Long ở sát ngay chỗ địch "kích", mượn xuồng rồi bơi vô rừng. Chị Sáu gan góc mưu trí quá trời. Nếu lúc đó bám ở xuồng cũng chết cùng với cậu Tiền, mà có bơi sang bờ bên kia cũng khó thoát. - Ngừng một lát, Ba Ó đốt một điếu thuốc, hút một hơi rồi nói tiếp. - Tôi cũng đi với chị Sáu nhiều trận. Trước Tết Mậu Thân chị đưa tất cả du kích ấp xã lên gần cầu số 3 đắp mô, phá lộ, gài mìn đánh xe, phát loa kêu gọi binh lính địch. Tới gần sáng mới rút sang bên này xong. Anh em chui vào bụi để nghỉ ngơi. Khoảng nửa tiếng đồng hồ, có người đã ngủ, có người còn thức. Nghe tiếng huýt gió ở bờ sông, Ngọc Anh nói: "Hình như có tiếng huýt gió gì đó nghe kỳ lắm". Anh em lắng nghe không thấy, có người nói: "Làm gì có, nếu có thì cũng là dân đi làm lúa thôi". Chị Sáu ngồi nghiêng đầu lắng nghe. Xa mù lúc này dày đặc không nhìn thấy gì. Chị bảo An: "Cậu đi ra hướng Rạch Giá dòm xem có gì không?". Một lát sau, An về báo địch tới rất gần rồi. Chị Sáu hạ lệnh: "Mọi người ở tại chỗ sẵn sàng chiến đấu". Một số anh em du kích ấp bỏ chạy. Chị Sáu động viên "đứng lại chiến đấu. Cố gắng các cậu ơi". Nhưng làm sao giữ được chân mấy anh thỏ đế. Lúc này chỉ còn lại tôi, Ngọc Anh, Ân, Thạch bên cạnh chị Sáu. Chúng tôi nổ súng chặn địch lại. Nhưng suy tính mình có bắn chặn chúng tới một chừng nào đó rồi mình cũng phải rút. Lo cho chị Sáu phụ nữ chậm chạp, Ngọc Anh cứ thúc giục chị: "... Rút trước đi, cứ để chúng tôi chiến đấu, khi rút chị chạy chậm nguy hiểm lắm". Giục chị lui mãi chị không chịu...


Người nọ nối tiếp người kia kể về Sáu Bắc và những kỷ niệm chiến đấu của xã mình. Những tấm gương chiến đấu dũng cảm kiên cường của Sáu Bắc, Hai Hoóng, Ba Hanh... lần lượt được nhắc tới, hâm nóng thêm nhiệt tình của mọi người chuẩn bị bước vào đợt chiến đấu mới.


Chỉ trong vòng một tháng các đảng viên và du kích về bám cơ sở, đã xây dựng được cơ sở trong hai liên toán phòng vệ dân sự, diệt một liên toán trưởng ác ôn, thu hai khẩu súng, giết ba tên ác ôn khác (cơ sở nội tuyến hoạt động rất tốt, đến năm 1972 đã phá vỡ hoàn toàn hai liên toán phòng vệ dân sự này, thu 30 súng), đội du kích xã đã có bảy người trang bị đủ súng.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 25 Tháng Sáu, 2021, 07:58:33 pm
4

Đầu năm 1970 Huyện ủy quyết định thành lập đội biệt động thị trấn với nhiệm vụ diệt ác phá kềm và xây dựng cơ sở. Ngày thành lập đội, anh em về đông đủ trong nhà dân ở Kinh Năm. Ba Lời, chính trị viên Huyện đội trực tiếp giao nhiệm vụ cho đội. Quân số của đội kể cả bí thư chi bộ thị trấn cả thảy có năm người (bốn người của địa phương quân) do anh Trường là đội trưởng. Khoảng hai tháng sau Trường hy sinh, Bé Hai lên thay. Năm, sáu tháng liền anh em phải sống phân tán ở hầm bí mật trong nhà dân, hàng đêm đi móc nối xây dựng cơ sở. Qua những tháng củng cố và xây dựng cơ sở của đội biệt động, cơ sở cách mạng trong thị trấn đã có nhiều chuyển biến tích cực. Cơ sở đã thường xuyên là nơi cung cấp tình hình hoạt động của địch và giúp đỡ hậu cần của huyện mua sắm những nhu yếu phẩm.


Tháng 10 năm 1970, Huyện đội quyết định đánh đồn Sóc Xoài. Lực lượng tác chiến gồm tổ biệt động thị trấn và một tổ đặc công của huyện do Đức Dõng chỉ huy.

Các đơn vị tập trung về Hòn Me làm công tác chuẩn bị. Việc khó khăn đầu tiên họ phải gặp là khoảng cách từ Hòn Me tới Sóc Xoài quá xa, giữa mùa nước nổi, nếu đi trinh sát không thể đi rồi về trong đêm. Họ phải tìm một địa điểm trung gian không có dân làm vị trí tập kết.


Tổ điều nghiên gồm Đức Dõng, Bé Hai và Bảy Thuận, do Đức Dõng chỉ huy. Đêm hôm ấy, trên vai mỗi người ngoài vũ khí phải mang nồi xoong, những bó cọc nạng và sáu ngày gạo. Họ hành quân tới giàn gừa1 (Cây si) vào lúc quá nửa đêm. Anh em chui vào bụi cỏ dại ngủ một giấc ngon lành cho tới sáng. Mặt trời lên cao đánh thức họ dậy. Đức Dõng thận trọng bước ra khỏi bụi cỏ rồi lần theo lối mòn quan sát địa hình xung quanh. Tiếp theo đến Bé Hai, Bảy Thuận ra khỏi cái tổ tạm bợ ấy. Họ đều là những quân báo viên gan góc và từng trải. Sau khi xem xét địa hình xong, mọi người thấy yên tâm. Nơi đây đã lâu rồi, có lẽ từ ngày bọn biệt kích Mỹ bị nổ mìn ở cửa vàm biển tới giờ, không có người qua lại. Những lối mòn đã bị cỏ dại mọc trùm lên, những buồng dừa nặng trĩu quả không có người hái, họ chuẩn bị bữa ăn sáng. Mỗi người một việc, người kiếm củi, người vo gạo, tới khi bưng nồi gạo ra Bé Hai mới nhớ rằng nơi đây không có nước ngọt. Anh buông một câu nói trống không như tiếng thở dài: 

- Không có nước ngọt lấy gì mà nấu cơm.   

Đức Dõng cười chỉ tay lên buồng dừa:

- Nước ngọt trên đó thiếu chi.

- Mình chưa thấy ai nấu cơm bằng nước dừa.

- Vì chưa có ai gặp hoàn cảnh như chúng ta.

Thế là họ nấu cơm bằng nước dừa. Nồi cơm dần đi dần lại, những hạt gạo vẫn sống sụi ra không chịu chín cho. Họ đành phải ăn cho qua bữa. Ăn xong tráng miệng bằng nước dừa sao mà khó nuốt quá. Mọi người ước ao được một ngụm nước lã.


Bảy Thuận là người trẻ nhất trong tổ, vóc người gầy khô nhưng rất nhanh nhẹn tháo vát. Anh nhớ có một lần trèo lên cây dừa, nhìn vào nách cái bẹ của nó đều chứa một vũng nước mưa. Mấy trận mưa mới vừa rồi. Chắc chắn mỗi cây dừa sẽ còn lưu giữ được ít nhiều. Nghĩ vậy, Bảy Thuận trèo lên cây dừa ở gần đó, rồi ngó vào các hốc dưới chân bẹ. Các hốc còn đầy nước. Bảy Thuận khoái trá reo lên:

- Ai uống nước ngọt lên đây, xin mời cứ thoải mái. Ở đây có cả một kho nước ngọt.

Từ lúc phát hiện ra nguồn nước ngọt, mọi người thấy yên tâm, nếu có phải ở đây cả tuần cũng vẫn sống đàng hoàng.

Đêm hôm ấy họ băng qua một cánh đồng nước, rồi tới ngâm mình ở cạnh đồn địch. Đêm đã khuya lắm rồi, mà trong đồn địch vẫn còn sáng đèn và bọn lính vẫn đi lại cười nói ồn ào. Chúng đang cờ bạc gì đó. Những chiến sĩ quân báo vẫn ngâm mình dưới nước chờ đợi. Lũ đỉa đói được dịp kiếm ăn, chúng kéo tới bám vòi vào cơ thể họ. Chúng hút máu tới no mọng rồi tự rời ra. Họ đang dồn tâm trí vào mọi diễn biến trước mặt, không ai suy nghĩ tới một điều gì khác. Tiếng gà gáy xa gần đổ hồi... rồi trở lại vắng lặng. Ánh đèn măng-xông trong đồn phụt tắt. Toàn tổ quân báo từ từ nhổm dậy rồi nhón chân bước từng bước một, vào sát hàng rào chì gai. Đức Dõng ra hiệu cho các bạn nằm lại. Anh nhẹ nhàng đưa hai bàn tay về phía trước dò mìn, rồi lấy cọc nạng chống từng sợi dây thép gai lên, mở lối. Vào chưa hết được các lớp rào, Đức Dõng đã gỡ được ba quả lựu đạn bẫy. Bé Hai và Bảy Thuận như con mối lần lượt bò theo.


Đêm vắng lặng sâu thẳm. Tiếng sóng biển vỗ bờ ầm ì kéo dài vô tận. Tiếng cóc nhái thở than rên rỉ bên ruộng nước. Đàn muỗi kéo tới thi nhau vo ve bên tai các chiến sĩ quân báo, họ cắn răng chịu đựng lũ chúng đốt. Đêm hôm đó họ mới vào tới lớp rào thép gai thứ hai, trời gần sáng, phải quay ra. Họ phải mất bốn đêm "điều nghiên" mới nắm vững được cách bố trí binh hỏa lực của địch.


... Trận đánh được tiến hành. Dựa vào cửa mở của tổ quân báo đã bí mật mở từ trước, các mũi bí mật vượt qua. Mũi thứ nhất do Đức Dõng chỉ huy đã vượt lên đánh thắng vào lô cốt số hai. Quả bộc phá đặt vào lô cốt số hai do Đức Dõng điểm hỏa thay mệnh lệnh nổ súng, đã phát ra một tiếng nổ dữ dội. Sự yên tĩnh của đêm khuya khoắt bị phá vỡ. Tiếp theo là hàng chùm tiếng nổ của lựu đạn, thủ pháo của ta nổ trong lô cốt một và hai của địch. Bọn địch không kịp trở tay đã chết luôn trong giấc ngủ.


Địch ở lô cốt ba đã thức giấc, chúng bắn như điên như cuồng. Những chuỗi đạn lửa của súng tiểu liên, đại liên nối tiếp nhau lia trên mặt sân, không lúc nào ngớt.

Dựa vào công sự đã chiếm được, Bé Hai dùng cối M79, Bảy Thuận dùng tiểu liên bắn chế áp vào lô cốt số 3 để cho các bạn mình thu chiến lợi phẩm. Đạn M79 của Bé Hai rơi khá chính xác, làm cho hỏa lực địch phải câm lặng, hoặc bay vọt lên trời.


Thu xong chiến lợi phẩm (16 khẩu súng), Đức Dõng hạ lệnh rút. Trận đánh tuy chưa tiêu diệt toàn bộ đồn địch, nhưng với một tiểu đội anh em đã tiêu hao nặng một trung đội địch trong công sự vững chắc, cũng là một trận đánh hay nhất của lực lượng vũ trang toàn huyện kể từ Mậu Thân tới giờ. Trận đánh đồn Sóc Xoài đã có sức động viên mạnh mẽ các chiến sĩ biệt động của thị trấn Tri Tôn.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 26 Tháng Sáu, 2021, 07:49:34 pm
Chương chín
THU HÚT ĐỊCH

1


Năm 1971. Lần lượt các trung đoàn 3, trung đoàn 10, trung đoàn 20, trung đoàn 101 từ miền Đông đã vượt qua tuyên đường 1C máu lửa tới vùng U Minh. Những trung đoàn mới đến đã tạo ra sự chuyển động mạnh mẽ trên toàn bộ chiến trường miền Tây. Từ chỗ lúng túng bị động, ta đã vươn lên giành thế chủ động.


Chủ trương của quân khu là mở rộng địa bàn hoạt động của bộ đội chủ lực ở vùng ruột Hậu Giang, một vùng có ý nghĩa chiến lược. Muốn vậy phải căng kéo mỏng lực lượng của địch ra khắp nơi vào thời điểm ta lựa chọn.


Kể từ ngày tuyến đường 1C hình thành, Hòn Đất đã trở thành một chiến trường nhạy cảm, nó có ý nghĩa sinh tử với cả đôi bên. Đã nhiều lần địch đưa hàng sư đoàn được sự yểm trợ hỏa lực tối đa, kể cả B52 để hòng cắt đứt sự chi viện của ta từ Trung ương tới miền Tây.


Cuộc họp ở An Biên vào đầu năm 1971 gồm đại diện thường vụ các tỉnh ủy và đại diện ban chỉ huy các tỉnh đội của toàn quân khu đã thông qua các phương án tác chiến của các tỉnh.

Trước đó ít ngày thường vụ tỉnh Châu Hà đã hạ quyết tâm chọn Cô Tô và Ba Thê là nơi tập trung lực lượng để thu hút địch, quyết tâm ấy đã được Bộ tư lệnh Quân khu thông qua. Khi cuộc họp bàn tới chiến trường thu hút địch, Mười Hồng, tham mưu trưởng Tỉnh đội đã đề nghị thay đổi phương án cũ. Anh phân tích:

- Ta đánh Ba Thê cũng có thể thu hút được địch, nhưng đánh Ba Thê có những điều bất lợi: Ba Thê là vùng đồi trọc không có dân, đánh rồi ta khó giữ nổi được thời gian dài như dự định. Như vậy thời gian kìm chân địch sẽ không được như ý muốn. Và đánh ở đây ít tác động đến việc mở mang giành dân, chống phá kế hoạch bình định của địch. Tôi đề nghị đánh vô "Ba Hòn", nếu ta chiếm được "Ba Hòn” sẽ khống chế một khu vực rộng lớn đông dân. "Ba Hòn" vốn là căn cứ của huyện, của tỉnh và của tuyến đường 1C, nếu ta đứng ở "Ba Hòn", chủ lực địch phải đến giải tỏa. Với địa hình ở đây chúng ta có đủ điều kiện đánh giữ dài ngày...


Ý kiến của Mười Hồng làm cho các cử tọa trong cuộc họp xôn xao. Tư lệnh Lê Đức Anh cho cuộc họp tạm nghỉ. Ra ngoài hành lang hội trường, nhiều bạn bè vây lấy Mười Hồng, họ tỏ ra lo lắng thay cho anh. Anh trưởng phòng tác chiến quân khu nói nửa đùa nửa thật:

- Mày liều mạng chọc vào tổ ong vò vẽ, mày có biết quyết tâm chọn Ba Thê là nơi thu hút địch của thường vụ, đã được ông Sáu Nam1 (Sáu Nam là tên thường gọi của đồng chí Lê Đức Anh) thông qua mà mày dám to gan bác bỏ. Liệu phương án đánh của mày có kéo được sư 21, lữ dù, và hai chiến đoàn xe bọc thép về đó không?


Qua thực tế chiến đấu "bảy mươi tám ngày đêm" ở "Ba Hòn" và đổi phó với địch trên tuyến đường 1C, Mười Hồng đủ sức lý giải bảo vệ phương án của mình.

Cuộc họp tiếp tục. Tư lệnh Lê Đức Anh đặt trúng ngay mấy câu hỏi mà mấy bạn đồng cấp của Mười Hồng vừa sát hạch:

- Căn cứ vào đâu mà đồng chí tin rằng có thể thu hút được số địch mà chúng ta đã dự kiến? Quyết tâm sử dụng lực lượng của đồng chí như thế nào?

- Tôi có ý kiến. - Mười Hồng nói sôi nổi tự tin. - "Ba Hòn" là căn cứ then chốt có tính sinh tử của tuyến đường 1C, là điểm cao không chế một vùng đông dân, là căn cứ quan trọng của Châu Hà. Từ lâu địch với ta đã giành giật nhau ở nơi này. Tôi tin rằng nếu ta đánh chiếm "Ba Hòn" thì lập tức địch sẽ triển khai lực lượng ngay. Ta sẽ kéo được sư 21 và bộ phận quan trọng của sư 9, một đến hai chiến đoàn xe bọc thép. Phải chừng ấy lực lượng, địch mới đủ sức giành giật với ta. Quyết tâm của tôi: sử dụng hai tiểu đoàn bộ binh của tỉnh (A11, A12), hai đại đội đặc công, một đại đội đặc công trinh sát, một đại đội thông tin cộng với lực lượng của huyện Châu Thành A. Với lực lượng như vậy tôi tin có thể kìm chân địch, chứ không đủ sức tiêu diệt gọn tiểu đoàn địch.

Tư lệnh Lê Đức Anh gợi ý:

- Đồng chí thấy cần đề nghị gì thêm cứ nêu.

- Trong lúc chúng tôi đánh địch trên "Hòn", đề nghị trên cho lực lượng chặn viện của địch từ Hà Tiên về. Xin quân khu cho một triệu để chi phí cho việc chuẩn bị.

Tư lệnh Lê Đức Anh tỏ ra hài lòng:

- Được... Quân khu sẽ cho, không phải một triệu mà sáu triệu. Đồng chí nhớ về báo cáo lại với Thường vụ tỉnh và ban chỉ huy Tỉnh đội. Thôi không thực hiện phương án Ba Thê, mà thực hiện phương án "Ba Hòn". Đồng chí trình bày chi tiết với các đồng chí đó, một mặt tôi sẽ điện cho Tỉnh ủy và Tỉnh đội biết.


Vào những tháng cuối năm 1970 trở đi tình hình chiến sự ở khu vực Hòn Đất mỗi lúc một căng lên, tuy chưa có một cuộc đụng độ lớn, nhưng mật độ các trận đánh nhỏ dày đặc hơn; suốt ngày đêm hầu như không có giờ phút nào ngừng tiếng máy bay trinh sát, máy bay cường kích bay trên bầu trời, và không mấy lúc ngớt tiếng bom, tiếng đạn nổ. Đêm đêm trên tuyến đường 1C các đội vận tải, các đơn vị bộ binh liên tục di chuyển và số quân vào "Ba Hòn" mỗi lúc một đông.


Khoảng bốn giờ chiều ngày 6 tháng 1 năm 1971, tiểu đoàn "A11" và địa phương quân Hòn Đất đã tập kích vào quân địch đóng trên Hòn Đất và Hòn Me. Trận đánh diễn ra quyết liệt. Sau hơn một tiếng đồng hồ ta đã làm chủ trận địa, tiêu hao nặng hai đại đội địch. Ngay đêm hôm đó quân ta tiến sang bao vây Hòn Sóc.


Địch thấy nguy cơ mất "Ba Hòn", lập tức chúng tăng cường chi viện. Chúng huy động hỏa lực, các trận địa pháo ở quanh vùng kể cả pháo hạm thuộc hạm đội 7 Mỹ ở ngoài khơi quay nòng nhả đạn vào "Ba Hòn". Các loại máy bay địch nhào tới dội bom, tiếp theo là các lực lượng bộ binh thiết giáp của sư đoàn 21, sư đoàn 9 và cả lữ dù ngụy ùn ùn kéo đến.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 26 Tháng Sáu, 2021, 07:50:21 pm
Kế thu hút địch của tỉnh Châu Hà đã hiệu quả. Trận chiến ở "Ba Hòn" trở nên nóng bỏng. Hà Xuân Thịnh thời gian đó là trung đội phó đặc công địa phương quân huyện kể lại:

"Khi địch phản kích đánh vô "Hòn", lúc đó chúng tôi có một tổ còn đang ở gần cầu số 3. Vào lúc sẩm tối, nhìn về "Hòn", những chớp bom B52 lóe sáng đuổi nhau liên tục, tiếp đến những ánh chớp chồng chéo của đạn pháo. Chúng tôi đoán chúng nó chuẩn bị đổ quân. Ngay đêm hôm đó chúng tôi băng qua cánh đồng về hang Hòn Me, ở chung với anh em công trường huyện. Tôi gặp Tư Cương, anh Tư cho biết số anh em công trường hiện này đang làm nhiệm vụ dẫn quân trên đường 1C ở nhà chỉ còn hai người. Chúng tôi bàn với nhau kế hoạch đánh địch, bảo vệ hang. Ngay sau đó chúng tôi đã đặt hai trái cơ-lây-mo1 (Loại mìn định hướng của Mỹ) chặn lối địch có thể đến cửa hang. Sáng hôm sau người gác báo có địch đến. Tôi, y tá Mười và một người của công trường chạy ra cửa, thấy bọn địch vác súng đi nghênh ngang rất chủ quan, chưa tới chỗ đặt trái. Tôi nói với anh em: cứ mặc kệ nó, chờ nó vào đúng phương án mới châm trái. Chúng tiếp tục dẫn nhau tới chỗ chúng tôi đặt mìn. Hai trái mìn định hướng của chúng tôi quét hết sạch một trung đội đi đầu của địch. Nghe tiếng nổ anh em chúng tôi xung phong ra, thu được một máy vô tuyến PRC25 và mấy khẩu súng rồi lại rút nhanh vào trong hang. Bọn địch đi sau, từ lúc nghe tiếng mìn nổ, chúng ẩn vào sau những tảng đá, gọi pháo yểm trợ một hồi lâu mới hò hét thúc nhau lên kéo xác đồng bọn".


"Vài hôm sau tổ đặc công chúng tôi gồm: Tôi, Bé Hai, Hồng, Chinh và một tổ bộ binh địa phương quân nhận lệnh tập kích vào trận địa pháo địch ở Hòn Me để hợp đồng với đặc công của trung đoàn 20 đánh địch ở mỏm 334. Mấy hôm nay địch rải bột hóa học hơi cay vào các cửa hang, ban đêm không biết đâu mà tránh dễ bị ngạt, buộc chúng tôi phải tìm đường đi trong hang để tiếp cận địch ban ngày. Chúng tôi tìm được một cửa hang cách trận địa pháo của địch khoảng bốn, năm mươi mét. Trời vẫn chưa tối, chúng tôi nhìn thấy bọn lính đang đốn cây làm công sự. Mờ tối chúng tôi đặt xong bệ phóng của sáu quả đạn rốc-két. Tên lính gác đứng cách chỗ chúng tôi khoảng ba chục mét vẫn cầm ngang súng nhìn ngang nhìn ngửa mà không thấy gì. Chúng tôi châm điện, sáu quả rốc-két đồng loạt phóng theo một hướng. Đạn rốc-két nổ, khói bụi trùm kín trận địa pháo của địch. Khi khói bụi tan chúng tôi nhìn thấy một khẩu pháo 105ly đổ nghiêng, nòng chúi xuống đất. Bọn lính còn sống sót hớt hải sợ hãi, không biết những tiếng nổ kinh hoàng vừa rồi từ đâu dội tới. Giữa lúc đó anh em đặc công của trung đoàn 20 cũng nổ súng tấn công vào bọn địch đóng ở mỏm 334 Hòn Me, và đã tiêu diệt gọn một đại đội địch".


Địch kéo đến mỗi ngày một đông, chúng như đàn ruồi bâu kín cả "Ba Hòn". Hàng ngày không có giờ nào là không có tiếng bom đạn nổ. "Ba Hòn" như những cái đầu có nhiều sẹo lớn, do chiến trận hồi "bảy mươi tám ngày đêm" chưa lành, đến nay những cây cỏ đang bị bom đạn đào bới nốt những mảng còn lại. Nếu đứng từ xa nhìn về "Hòn", từng ngày thấy "Hòn" thay đổi; màu xanh của cây cỏ nhường chỗ cho màu trắng xám lấn dần.


Trận đánh này, khác với trận "bảy mươi tám ngày đêm", bộ đội ta được chuẩn bị kỹ và chiến đấu với tinh thần chủ động hơn. Gạo dự trữ trong hang đủ ăn vài ba tháng. Anh em tìm được nguồn nước trong hang, có đơn vị dùng ống cao su dẫn nước tới chỗ ở của mình. Đường đi lối lại trong hang được nối với nhau bằng một sợi dây, cứ lần theo dây có thể tới nơi mình cần đến không bị lạc. Đêm nào không đi chiến đấu họ có thể tổ chức từng nhóm ra bờ biển hoặc các đìa xung quanh đó kiếm cá...


Ngay từ ngày đầu địch mới đến, Huyện đội đã hạ lệnh cho các đơn vị của huyện ở trong "Hòn" phải bám lấy đỉnh núi, đánh địch từ xa; tổ chức đánh liên tục bằng các hình thức, tập kích nhỏ, đánh mìn, bắn tỉa... không cho địch có thời gian nghỉ ngơi hồi sức.


Các đơn vị thuộc huyện đã có nhiêu kinh nghiệm chiến đấu phòng ngự trong hang núi, tiêu biểu nhất là đội quân y. Nhiều trận anh em dùng mìn định hướng chặn các múi tấn công và tập kích vào địch có hiệu quả. Trận đầu tiên chỉ có một tổ gồm: Bảy Giang, Năm Rự và Thịnh nằm ngoài cửa hang bắn tỉa vào đội hình hành quân của địch. Anh em đoán chúng sẽ đi qua nóc hang của mình, họ đã gài sẵn một quả mìn định hướng. Bọn địch tới gần họ nghe rõ hai tên lính nói chuyện với nhau:

- Đi coi chừng "Việt cộng", chúng đón đường mày chết.

- Nó bắn chết tao, tao cho phép nó về ở với vợ tao.

Bảy Giang ấn nút điện. Quả mìn bắn ra hàng nghìn viên gang, quét gần sạch một trung đội. Hai tên lính đi đầu đã vượt qua quả mìn, nghe tiếng mìn nổ chúng nhào vào tảng đá trước mặt để tìm chỗ ẩn núp, không ngờ "Việt cộng" lại đứng ở chỗ đó. Mũi súng của Năm Rự chĩa sát vào bụng hai tên lính ngụy. Chúng kêu ú ớ như kẻ mất hồn, một tên nhảy liều xuống một cái hang kề đó, tên thứ hai chạy ngược lên núi.


Tên nhảy xuống hang chưa kịp kéo nòng súng xuống, Năm Rự chụp được. Hai bên kéo co nhau một hồi, Năm Rự bực mình bắn xuống hang một loạt.

Thịnh nhìn thấy tên lính đứng trước Năm Rự tháo chạy lên núi, tiện tay đang cầm quả lựu đạn đã rút chốt an toàn, anh quẳng theo nó. Không may quả lựu đạn va vào tảng đá văng trở lại. Tình huống nguy hiểm khẩn cấp, Bảy Giang chỉ kịp kéo Thịnh nằm xuống. Lựu đạn nổ, tung lên lưng họ một lớp bụi đất, may mắn làm sao, không có ai bị thương. Nghe tiếng nổ tên lính ngụy vội nằm mọp xuống. Bảy Giang nổi giận ném theo một quả lựu đạn trúng giữa lưng hắn. Hình dáng tên lính ngụy bị xóa luôn trong đám khói bụi mờ mịt.


Những trận đánh nhỏ như vậy luôn luôn diễn ra ở khắp "Ba Hòn". Ở Hòn Đất đội quân y phối hợp với một bộ phận đặc công của trung đoàn 20 đã đánh nhiều trận thể hiện tài nghệ quân sự. Họ tỏ ra rất ham mê chiến đấu. Một lần anh em đi trinh sát về báo cáo với đội trưởng Út Sơn, cách chỗ đơn vị đang ở khoảng hai trăm mét, có một hang rộng bằng cái nhà ba gian, trước cửa hang có cây trứng cá tỏa bóng mát. Hàng ngày có một trung đội địch đến đó, tựa súng ở ngoài cửa ngồi xúm lại đánh bài... Út Sơn nói với anh em "Nó ở xa ta, ta gài trái đánh bỏ". Tối hôm đó Mười Huấn, chính trị viên đội quân y, Thịnh và y tá Bảy Giang mang một đầu đạn đại bác 105ly tới gài vào chỗ địch thường tập trung.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 26 Tháng Sáu, 2021, 07:51:05 pm
Mười Huấn trở về, còn Thịnh và Bảy Giang ngủ lại ở cái hang bên dưới chỗ vừa đặt trái pháo. Khoảng bảy giờ sáng đã nghe thấy thiếng người nói ở hang trên:

- Mày đi đâu đấy?

- Tao đi kiếm cào cào.

Giang và Thịnh ngó đầu lên xem bọn địch làm gì. Một thằng đang ngồi dưới gốíc cây trứng cá, một thằng đang đi nhặt đầu mẩu thuốc lá, còn một số khác đi lại tản mạn ở ngoài cửa hang. Tên ngồi dưới gốc cây trứng cá mở máy PRC25 ra nói gì đó, rồi một lát sau cả bọn kéo nhau đi. Khoảng năm giờ chiều chúng lại về. Cả bọn đều tỏ ra mệt mỏi. Chúng dựng súng ở trước cửa hang rồi mở cơm nắm ra ăn. Bảy Giang nhìn thấy mục tiêu ngon lành quá. Anh điểm hỏa, không thấy mìn nổ. Bảy Giang cắt bớt một đoạn dây rồi lại châm điện. Châm đến lần thứ ba quả mìn vẫn không nổ. Hai anh em tiếc ngẩn ngơ: giá như có vũ khí tốt thì cả bọn chúng không có đứa nào thoát. Chờ tới tối họ gỡ đầu đạn pháo mang về.


Vừa tới nhà chưa kịp thở, anh em đã hỏi dồn:

- Kết quả khá không?

- Được mấy tên?

Bảy Giang thở hắt ra, nói:

- Mìn mang về để ngoài kia kìa. Không hiểu sao, mà làm thế nào nó cũng không nổ. Mình sợ dây dài quá điện yếu không đủ kích nổ, đã cắt bớt. Mình nối thêm một lô pin nữa vẫn không nổ. Nhìn một đống súng có cả M79 của chúng, mình đã có ý nghĩ nếu mìn nổ mình sẽ nhảy lên cướp ngay khẩu M79 trước tiên...


Có tiếng xuýt xoa, cắt ngang câu nói của Bảy Giang:

- Tiếc quá hen.

Bảy Giang nói tiếp:

- Hãy còn thời cơ. Ngày mai nhất định chúng lại đến. Ta kiểm tra xem tại sao mìn không nổ, chuẩn bị thật kỹ. Lần này đánh thì ta sẽ tổ chức hai tổ. Khi mìn nổ thì một tổ xung phong lên lấy súng, một tổ yểm hộ.


Nếu lấy được M79 thì hay quá, trong kho của ta còn rất nhiều đạn.

Họ bàn tán với nhau một hồi lâu rồi lăn ra ngủ. Sáng ra Bảy Giang và Thịnh kiểm tra lại mìn, họ đã phát hiện không phải là tại điện, mà do kíp bị thối.

Trận đánh mới được chuẩn bị ngay sau bữa ăn sáng, số người được lựa chọn là Khảm, Thịnh, Huệ (bộ đội chủ lực ở miền Bắc mới vào), vẫn do y tá Bảy Giang chỉ huy. Họ lại chôn mìn như cũ. Trong lúc chờ địch tới, Bảy Giang nhắc lại nhiệm vụ:

- Huệ chú ý, khi phát hỏa thì cậu bắn yểm hộ nhé.

Huệ nói ngập ngừng:

- Em không dám đánh. Lực lượng mình ít quá, lỡ bị thương thì rút thế nào?

Nghe tiếng nói ở hang trên, Bảy Giang biết địch đã đến. Lúc này không có thì giờ bàn bạc để thay đổi phương án. Anh nói với Huệ:

- Không dám đánh thì cứ ở đây, khi nào tôi xông lên cướp súng thì quan sát, tùy theo tình hình có thể bắn chi viện. Khi nào đánh xong, gặp nhau ở hang dưới này.


Khoảng mười hai giờ trưa, bọn địch đi đâu đó rồi trở về ngồi xúm lại ở cửa hang như hôm qua. Bảy Giang châm điện. Quả mìn nổ, gây ra một trận bão ở trong hang. Tiếng rào rào và tiếng sỏi đá rơi lách cách một hồi lâu. Khảm đứng trước Bảy Giang, nhảy lên trước. Bảy Giang nhảy tiếp. Một tiếng nổ thủ pháo ngay bên cạnh Khảm. Nghe tiếng Khảm gọi ở trong đám khói "em bị thương rồi", Bảy Giang tới bê xốc Khảm đưa xuống hang dưới rồi lại lên ngay.


Một tên tính ngụy bị thương, tay hắn còn cầm khẩu M79, hắn lết trên vũng máu. Của quý mà Bảy Giang ao ước đây rồi. Anh chửi tên lính ngụy "Đ. má mày, muốn sống thì bỏ súng xuống". Tên lính vội vàng đặt khẩu súng sang một bên. Bảy Giang chụp luôn. Để chắc ăn, anh quăng khẩu súng xuống hang dưới, rồi trở lại thu các loại súng khác. Lúc này anh mới để ý đến bọn lính ngụy nằm chết đè lên nhau và những vũng máu ngập nửa bàn chân.


Thịnh, cái anh chàng lính trẻ mới làm quen chiến trận này, cũng nhặt được bổn, năm khẩu tiểu liên AR15. Súng sẵn, đạn sẵn Thịnh cao hứng bắn vung vãi. Bọn địch ở trên nóc hang quang lựu đạn xuống. Giang và Thịnh chết hụt. Họ vội vàng xuống hang dưới.


Khi trở về người nào cũng mang đầy chiến lợi phẩm. Anh em trong đơn vị kể cả thương binh còn nhúc nhích được cũng ngồi dậy đón mừng họ.

Tối họp rút kinh nghiệm. Bảy Giang nhắc đến quả thủ pháo đã làm Khảm bị thương, không hiểu ai ném.

Huệ xúc động nói thành khẩn:

- Tôi thiếu bình tĩnh, không quan sát kỹ... Tôi xin nhận khuyết điểm, tôi hứa trận sau sẽ lập công như các anh.

Anh em trong đội quân y huyện cười xòa thông cảm "... trận đầu tiên mà". Họ rất thương cậu lính trẻ ở miền Bắc mới vào, chân ướt chân ráo đã phải xông vào trận mạc ngay.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 26 Tháng Sáu, 2021, 07:52:14 pm
3

Cái mốc thời gian, không gian ở đây đổi thay chỉ được chú ý đến khi chúng có liên quan tới sinh mệnh của họ. Mỗi tảng đá ở góc núi này đều thấm máu, dù bom đạn đã tẩy xóa họ vẫn nhó dòng máu của ai đã thấm lên chúng vào thời gian nào. Ở trước cửa hang quân y có một tảng đá bằng ba bốn chiếc tủ đứng, nó trở thành cái lá chắn quý giá chắn đạn pháo và lựu đạn của địch. Chỉ trong vòng một tháng trời cái lá chắn ấy đã bị mảnh đạn gọt đẽo chỉ còn lại một ụ nhỏ như một nấm mồ. Những chiến sĩ chiến đấu ở đây chú ý tới hiện tượng đó. Tảng đá ấy báo cho họ biết: ở đây ranh giới giữa cái sống và cái chết là rất mỏng manh.


... Độ này sự tiếp xúc giữa ta và địch rất gần, có thể nghe tiếng ho của nhau. Đôi bên rình nhau như mèo rình chuột, bất cứ bên nào, chỉ cần nhô cái đầu lên qua cái tảng đá mình ẩn núp một chút trong vòng vài ba tích tắc, là có thể mất mạng. Hàng ngày anh em quân y và đại đội 2 (bộ đội chủ lực) cùng nhau cảnh giới và chiến đấu. Sớm hôm ấy khoảng trung tuần tháng tư, Mười Phình và Năm Rự ở cửa hang dưới cảnh giới. Hai anh em rủ nhau đi gài mìn vào nơi địch thường tới ẩn nấp để đánh vào cửa hang. Họ xuống một cái thung lũng nhỏ. Rự nhìn thấy chi chít những mô giống như những người ngồi gục đầu. Năm Rự mải nhìn bước hụt, gây ra tiếng động, nhưng những mô kia vẫn yên lặng. Lúc này Năm Rự đã nhìn rõ, đó không phải là mô đá. Anh ghé vào tai Mười Phình nói:

- Địch.

- Mình thấy rồi, chúng nó ngủ gục.

- Tôi với anh tập kích luôn.

- Anh bắn, tôi ném mấy trái da láng này.

Đại đội phó Mười Phình, người dân tộc Mường tỉnh Ninh Bình, gan góc và thiện xạ. Y tá Năm Rự dũng cảm lanh lợi là người địa phương quen với chiến trường. Hai ngươi rất tin nhau. Họ rỉ tai nhau không đầy một phút đã hình thành kế hoạch của trận đánh. Mỗi người núp vào sau một tảng đá cách địch trong tầm lựu đạn. Mười Phình bắn găm vào chỗ quân địch nằm, ngồi dày đặc nhất, từng loạt đạn dài liên tiếp. Tiếng lựu đạn của Năm Rự đồng thời với tiếng tiểu liên của Mười Phình, cứ như thế kéo dài tới ba, bốn phút liền, cả một trung đội địch chết luôn trong giấc ngủ, không kịp có một phản ứng nào, ngoài tiếng kêu rên trước lúc tắc thở.


Không hiểu làm sao bọn địch ở phía trên núi biết bọn dưới thung lũng đã bị tiêu diệt, có lẽ chúng gọi điện cho nhau thấy mất liên lạc mà đoán ra. Chúng bắn đạn hóa học vào cửa hang của ta, và phóng lên trời từng chùm pháo sáng, rồi xua nhau đi thu xác.


Khói quả đạn pháo vừa nổ, làm cho họ ho sặc sụa và chảy nước mắt. Năm Rự đã có kinh nghiệm đối phó với loại vũ khí này. Anh nhanh chóng đái vào khăn mặt để thay mặt nạ. Phình hít phải khí độc suýt chết ngạt.


Tới gần sáng pháo sáng mới tắt. Dưới thung lũng yên tĩnh. Anh em trong đội quân y rủ nhau xuống thu chiến lợi phẩm. Họ đã thu được ba mươi cái ba lô quần áo, lương thực, một máy bộ đàm PRC25 và rất nhiều đạn và lựu đạn.


Sau trận đánh tập kích ngẫu nhiên ấy, hầu như ngày nào cũng có một vài trận đánh ở ngay trước cửa hang. Có lần địch đánh vào ban đêm, hai anh lính mới thấy địch đông quá đã bỏ chạy. Bé Út Kiến mới mười ba tuổi cùng cảnh giới thấy vậy, đã chạy theo níu áo mấy lính mới lại. Không níu được, em bực tức quay ra cửa, nhặt khẩu súng của một anh bỏ lại. Chờ địch đến gần, Út Kiến xả súng. Bọn địch bị chết vài tên, chúng lui về phía sau.


Bảy Giang và một số anh em nghe thấy tiếng súng, chạy ra tiếp ứng. Út Kiến chỉ vào hai cái xác lính ngụy nằm vắt ngang trên tảng đá, cách cửa hơn một chục mét:

- Chúng nó xô tới đông quá, cháu bắn đó.

Thấy Út Kiến tỏ ra chủ quan, Bảy Giang lấy bàn tay ấn đầu Út Kiến xuống và nhắc:

- Cháu còn nhỏ chưa chiến đấu được đâu, vào hang đi, ở đây nguy hiểm lắm.

Bảy Giang biết lời nhắc nhở của mình khó có thể thuyết phục thằng nhóc "hiếu chiến" này. Đây không phải là lần đầu, có lần đơn vị đi tập kích địch, đã ngăn cản không cho nó đi, anh em đi khá xa rồi ngoảnh lại đã thấy nó ở sau lưng mình. Hành động cưỡng lệnh của nó, không làm cho các chú giận mà càng thấy thương yêu nó. Mỗi lần gặp Út Kiến là Bảy Giang lại nhó đến cái giây phút lâm chung của ông Sáu Khoái. Ông Sáu Khoái bị thương nặng từ ngày đầu của "bảy mươi tám ngày đêm". Trước khi nhắm mắt ông trăng trối với anh em đội phẫu: "Tôi nhờ các chú chăm nom cháu". Từ đó Út Kiến đã trở thành một chiến sĩ nhỏ nhất trong đội quân y.


Rồi một đêm địch tập kích vào trong hang quân y. Nghe thấy tiếng nổ, Út Kiến như con sóc chạy vụt ra cửa. Bảy Giang và Thịnh chạy theo sau. Một quả đạn cối M79 hất Út Kiến ngã xuống sau một tảng đá.

Sau một hồi chiến đấu đẩy được địch ra ngoài xa, Bảy Giang mới trở lại nâng Út Kiến dậy. Anh sờ vào ngực thằng bé, thấy tim đã ngừng đập, Bảy Giang rên rỉ: "Ôi Út Kiên! Mày chết thật rồi ư?". Nghe thấy Bảy Giang nói Út Kiến đã chết, Thịnh cũng chạy đến. Họ đều chảy nước mắt khóc thương thằng nhỏ côi cút. Họ bàn với nhau việc mai táng Út Kiến ngay trong đêm. Út Kiến được gói gọn trong một tấm vải mủ thay quan tài. Trận địa đã im ắng tiếng súng. Những ngôi sao đêm khuya khoắt trải ánh sáng lạnh xuống những tảng đá khấp khểnh trước mặt họ. Thịnh vác Út Kiến lên vai, bất giác anh thốt lên một giọng ảo não:

- Út Kiến ơi! Hôm nay tao vác mày, không biết ngày mai ai sẽ vác tao đây?!


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 27 Tháng Sáu, 2021, 07:25:00 pm
4

Mặt trời buổi sớm chiếu chênh chếch, làm hằn rõ những dấu vết chiến trận trên sườn núi. Những hố bom, hố đạn pháo đen ngòm, những tảng đá bị bom đạn gọt đẽo và nung nóng vôi hóa loang lỗ kỳ dị, những đám cây cỏ bị cháy còn ngún khói... Các chiến sĩ "giữ mũi" không rời mắt khỏi những quang cảnh trước mặt. Một cánh quân địch khá đông đang lô nhô vượt qua những tảng đá tiến về phía họ. Bảy Giang và Năm Rự mỗi người nằm sau một tảng đá, bên cảnh họ để một chồng băng đạn AR15 đã nạp đầy đạn. Ý định của họ sử dụng loại tiểu liên chiến lợi phẩm rất sẵn đạn này để bắn một trận thỏa thích. Một tiểu đội địch vừa vượt qua một tảng đá lớn, lọt vào đường ngắm của họ. "Bắn"! Bảy Giang phát lệnh đồng thời níu cò. Tiếng súng của ta, của địch chen lấn nhau ào ào lên như một trận bão. Anh em "giữ mũi’' ở vị trí lợi thế có vật che đỡ vững chắc, đạn liên thanh của địch tha hồ bắn phá, tảng đá đứng trước mặt họ vẫn không suy suyển. Thỉnh thoảng có một viên đạn cối nổ gần, tung bụi lên lưng áo của họ.


Như thường lệ, bọn địch bị thương vong vài tên là chúng chùn lại, tìm chỗ kín ẩn nấp rồi bắn chỉ thiên cho hết giờ.

Thấy địch đã lùi xa ra mà tổ "giữ mũi" ở hang trên vẫn nổ súng, Bảy Giang nhìn lên tổ bạn. Khẩu trung liên do Khảm đang làm giá súng cho Thịnh bắn vẫn liên tiếp lóe lửa ngay trên đầu Khảm. Bảy Giang nhìn ra xung quanh, thấy một bộ phận địch tách ra khỏi đội hình, chúng đang bò gần tới tổ của Thịnh, nhưng họ mải bắn bọn địch phía trước mặt, không chú ý bên sườn. Bảy Giang lấy khăn tay phẩy phẩy làm tín hiệu có ý báo cho Thịnh biết địch tới gần. Thịnh nhận được tín hiệu nhưng tưởng các bạn báo "cho nổ mìn", anh lấy tay vẽ lên không gian một vòng tròn, ý muốn báo với các bạn mình "mìn đã hết". Địch vào rất gần rồi, không có cách gì làm cho tổ của Thịnh hiểu. Năm Rự nói với Bảy Giang:

- Hãy còn hỏa tiễn M72 đây, tao bắn vào bọn địch một phát, vừa báo động cho thằng Thịnh biết.

- Mày bắn không khéo đám thằng Thịnh cũng chết luôn.

Họ chưa tìm ra cách gì để cứu đồng đội của mình, thì đã thấy khói mù và một tiếng nổ kép rung chuyển trên hang của Thịnh. Năm Rự đau đớn nói với Bảy Giang:

- Chết rồi! Tổ thằng Thịnh nguy mất rồi!

Khoảng mười phút sau Khảm chạy về, quần áo, mặt mày, tóc tai của cậu ta đều cháy xém. Bảy Giang lo lắng hỏi:

- Có ai làm sao không?

- Em không biết ai sống ai chết thế nào.


Tối hôm đó Út Sơn giao cho y tá Năm Rự và Bảy Thuận (B) đi tìm Thịnh. Họ lần mò gần tới nửa đêm mới thấy xác của Thịnh dưới hang sâu. Hai anh em thay nhau mang thi thể của bạn về chỗ ở. Vừa đặt Thịnh xuống sàn đá mọi người xúm lại thăm hỏi.


Năm Rự nói:

- Khi bị thương có thể cậu ấy bị choáng, bò vào trong hang, chẳng may rơi xuống hang sâu.

Bảy Giang nói giọng bùi ngùi:

- Hôm vác thằng Út Kiến đi chôn, cậu ấy đã nói gở...

Út Sơn nói cắt ngang tiếng trao đổi xì xầm của mọi người:

- Việc mai táng đồng chí Thịnh, tôi phân công: Năm Rự với cô Nhàn đào huyệt. Bảy Giang, Giá, Thuận, Biếc phụ trách việc khâm liệm và khiêng thi hài đồng chí ấy. Chúng ta phải làm khẩn trương xong trước khi trời sáng.


Mọi người im lặng tản ra tìm phương tiện làm nhiệm vụ của mình.

Năm Rự ngại, đi với con gái lỡ có tình huống gì thêm vướng chân, anh đề nghị với Út Sơn, xin cho Nhàn ở nhà.

Cô Nhàn nói năn nỉ với Út Sơn:

- Anh Út để cho em cùng đi với anh Năm Rự, phụ với anh ấy, một mình anh Năm sợ không kịp.

Năm Rự từ chối khéo:

- Một mình tôi là đủ rồi, nếu có gì đã có mấy cậu khênh Thịnh xuống làm tiếp một chút. Ở dưới đó đất mềm.

Nhàn lý sự:

- Lỡ anh bị thương thì ai kè?

- Ừ thì cô đi nhưng pháo nó bắn đừng có bỏ chạy nhé.

Ý kiến qua lại vài câu rồi hai người vác xẻng cuốc ra khỏi hang.


Bảy Giang cùng anh em tìm đủ gỗ đóng cho Thịnh một cỗ quan tài. Khâm liệm xong, họ khênh Thịnh xuống núi. Vừa ra khỏi cửa hang vài chục mét đã thấy sau lưng mình chớp lóe và tiếng lựu đạn nổ dồn dập. Ai đó nói "địch đánh chiếm hang của chúng ta rồi", thế là họ đặt vội quan tài xuống, rồi mạnh ai người nấy chạy về, không còn kể trời đất gì. Vượt qua cả đội hình địch, mặc kệ chúng ném lựu đạn đuổi theo, cuối cùng họ đã về chỗ ở của mình an toàn.


Tiểu đoàn phó Tư Luyến và Mười Huấn, chính trị viên quân y đang ngồi trước ngọn đèn dầu hỏa tỏa ánh sáng vàng vọt. Họ im lặng nhìn vào vách đá. Bảy Giang bước tới trước mặt hai người, anh vừa thở vừa nói:

- Các anh không châm trái ư?

Mười Huấn trở lời lạnh lùng:

- Châm hết sạch rồi. - Im lặng một lát, Mười Huấn nói tiếp giọng lo buồn. - Chúng nó đang ngồi trên đầu chúng ta.

... Năm Rự mải miết đào, cán len trong tay anh nóng lên, những tảng đất được hất lên đều đều như máy. Lỗ huyệt mỗi lúc một sâu xuống. Nhàn đứng trên xếp những tảng đất gọn ghẽ xung quanh huyệt. Không ai nói với ai nửa lời. Mỏi lưng, mỏi tay quá, Năm Rự chống len ngửa mặt lên trời hít thở một hơi dài. Bầu trời đầy sao, không một gợn mây, không khí trong lành, mấy hơi thở làm cho Năm Rự cảm thấy dễ chịu. Anh toan thốt lên "Trời hôm nay đẹp quá!" thì hai chiếc máy bay OV10 từ đâu nhào tới. Chúng phóng những loạt đạn 20 ly xuống gần ngay chỗ họ đào huyệt. Thay vào lời lẽ mơ mộng, Năm Rự kêu lên:

- Nhàn ơi! Xuống ngay không chết bây giờ.

Tiếp theo những loạt đạn của máy bay bắn xuống là hàng chục quả đạn pháo nổ xung quanh họ. Giữa khoảng cách của những loạt đạn pháo, Năm Rự nghe thấy tiếng bọn địch ở phía hang của đơn vị mình, chúng đang hô xung phong.


Trời gần sáng rồi. Trong đầu Năm Rự nung nóng những suy tính: "Chạy lên chỗ anh Hai Phuông chỉ cách đây vài trăm mét... Hay là ta chạy về Sóc Sơn rồi trở về Nam Thái...". Năm Rự cầm tay Nhàn, kéo Nhàn lên khỏi lỗ huyệt. Vừa chạy được một đoạn đã nghe tiếng rú của đạn pháo, họ vội vàng nằm xuống một hố đạn pháo còn nóng bỏng, rồi kéo nhau chạy tới một hố bom nhảy đại xuống. Năm Rự lấy len đào bới như điên như rồ, làm được một cái hàm ếch để hai người tạm ẩn nấp.


Hàng chục trái pháo sáng lơ lửng trên tầng không, sáng như ban ngày. Không thấy tiếng đạn pháo nổ nữa, Năm Rự đứng dậy nhìn vê phía hang của đơn vị mình.

Anh chỉ thấy một mảng núi đen sẫm im ắng. Năm Rự nói với Nhàn:

- Ta về thôi. Chẳng có lý... chết hết được sao.

Hai người lên khỏi hố bom, đi một đoạn Năm Rự rẽ ngang nhặt dù pháo sáng. Cô Nhàn kêu lên trách móc:

- Trời đất ơi! Lúc này mà anh còn đi lượm những thứ đó.

Tao lượm về để có thứ mà chống đạn hóa học của chúng nó.

Nhặt được một ít dù, Năm Rự cặp vào nách, rồi nói với Nhàn:

- Chạy về suối Ông Tiết hen. Đi cửa hang đó về nhà. Tao chạy trước. Nói xong Năm Rự cắm đầu chạy.

Út Sơn đang đứng ở cửa hang, thấy Năm Rự về có một mình, anh hỏi:

- Con Nhàn, con Nga đâu?

Năm Rự ngạc nhiên, hỏi lại:

- Con Nga nào? Chỉ có cái Nhàn nó đang về sau tôi.

- Tao cho con Nga nó đi tìm mày. Thôi chết rồi...

Lại một đợt pháo nữa, đạn nổ như sấm như sét dưới sườn núi. Năm Rự đứng nhìn qua cửa hang. Ánh pháo sáng đã tắt rụi, thay cho chúng là những ánh chớp của đạn nổ. Năm Rự lo cho mấy đứa con gái mới mười bảy, mười tám tuổi yếu đuối, không hiểu chúng nó có thoát chết trong trận pháo này không.


Khoảng nửa giờ sau, Nhàn và Nga tóc tai xõa xượi chạy vào hang. Vừa nghe tiếng nói của Út Sơn, hai cô đã khóc òa lên.

- Thôi nào. - Út Sơn mắng thương. - Ra trận mà khóc ha.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 27 Tháng Sáu, 2021, 07:26:12 pm
5

Trận đánh đã kéo dài hơn ba tháng. Hang quân y ở Hòn Đất là nơi giằng co quyết liệt nhất, ở đây sức ta càng ngày càng đuối, không còn đủ sức đưa lực lượng ra chiến đấu ở xa cửa hang. Sau cái đêm địch tập kích, chúng đóng lỳ ở ngoài cửa. Chúng lấy đá lấp tất cả các cửa hang địch nghi ngờ ta có thể lọt ra được, chỉ còn lại một cửa hang lớn. Khoảng mười lăm hai mươi phút, chúng lại ném xuống hang một vài quả lựu đạn, kể cả lựu đạn hóa học. Thương tâm nhất là những thương binh bị chấn thương sọ não. Mỗi lần có tiếng nổ là anh em lại co quắp người lại rồi gào rú đến ghê sợ.


Đã mấy ngày liền không ra ngoài kiếm củi được, chị em nuôi quân phải gỡ ván sàn, cầu thang; xem cái gì không quan trọng thì gỡ dần ra làm củi đun, lần lần chẳng có gì quan trọng cả. Thấy tình trạng tất cả cầu thang có thể sẽ chui vào bếp, điều đó có nghĩa là chịu chết ở trong hang ban chỉ huy đội quân y quyết định dù có nguy hiểm cũng phải phân công nhau ra ngoài kiếm củi.


Tinh thần mọi người trong hang quân y giống như một sợi tơ mành bị níu kéo căng thẳng tới tột độ. Họ chuẩn bị cho trận chiến đấu cuối cùng. Chi bộ họp kiểm điểm lại lực lượng, kêu gọi tinh thần quyết tử bảo vệ hang, bảo vệ thương binh. Những người còn khỏe mạnh, bất kể nam hay nữ, cứ hai người trấn giữ một cửa hang.


Đại đội phó Mười Phình và y tá Năm Rự bàn với nhau: chẳng lẽ chúng ta chịu chết hết trong hang nay sao, chúng ta thử đánh lên, đánh hết đợt này đến đợt khác nhất định chúng phải bật ra.

Tám giờ sáng hôm ấy Mười Phình và Năm Rự bò ra một cửa hang trên cao nhìn xuống, thấy bọn lính đông nghịt, đứa đứng đứa ngồi, chúng đang nhìn xuống dưới núi. Họ dùng tiểu liên bắn găm vào chỗ bọn lính đứng dày đặc. Những loạt đạn chủ động bất ngờ giáng xuống làm cho bọn địch hoảng hốt không kịp đối phó. Khi chúng nhận ra chuyện gì vừa xảy ra thì họ đã tụt xuống hang.


Địch trả đũa bằng cách rót lựu đạn, thuốc nổ xuống hang. Sau những loạt tiếng nổ đinh tai, nhức óc, chúng lại chõ loa vào kêu gọi chiêu hồi. Chiều hôm đó đơn vị điểm lại quân số, không kể các cậu Huệ, Năm, Dịp bị mất tích từ ba hôm trước, hôm nay lại thấy mất y sĩ Điền nữa, mọi người nháo nhác hỏi nhau. Rõ ràng khoảng hai giờ chiều có nhiều người thấy Điền ở đây. Hay anh ấy ngủ ở ngách hang nào đó. Họ chia nhau đi tìm các ngách hang xung quanh không thấy tăm hơi gì. Có người nghi ngờ: "Anh ta mang súng ngắn theo, có thể bị chúng chiêu hồi?".


Khoảng năm giờ chiều Bảy Thuận (B) bò ra cửa hang quan sát, thấy hai thằng lính ngụy đang tắm ở dưới hố bom. Bảy Thuận (B) quay vào báo cho Bảy Giang. Hai người bàn với nhau bí mật bò ra cửa, Bảy Giang bắn vào hai tên đang tắm, Bảy Thuận (B) sẽ tung lên "mái" hang một quả thủ pháo để giết những tên địch nằm trên đó. Họ thực hiện ngay kế hoạch vừa bàn với nhau. Bảy Giang bắn chết một tên, còn một tên bỏ chạy. Bảy Thuận tung quả thủ pháo lên mái đá bị vướng lại rơi xuống. Họ ôm lấy nhau chờ chết. Cũng may mảnh thủ pháo chỉ gây cho họ chấn thương nhẹ. Sau đó vài giây, lựu đạn của địch từ trên mái đá lăn xuống lạch cạch, họ lui vội vào trong hang.


Bảy Giang kể lại cho Út Sơn và Mười Huấn nghe diễn biến vừa xảy ra. Bảy Giang tỏ ra tiếc rẻ:

- Nếu quả thủ pháo không lăn xuống, thì tôi bắn chết nốt một thằng nữa. Thằng ấy da rất trắng, to cao.

Mười Huấn liên tưởng tới sự mất tích của y sĩ Điền anh nói:

- Năm Điền cũng to con, trắng trẻo, có thể y bị chiêu hồi rồi chúng đưa y xuống tắm.

Từ câu chuyện của Bảy Giang kể và liên tưởng của Mười Huấn, mọi người khẳng định: "Y sĩ Năm Điền đã đầu hàng địch, như vậy không thể ở đây được nữa, phải cấp tốc di chuyển sang Hòn Me". Tất cả mọi người không còn giữ được tinh thần bình tĩnh, người khỏe nháo nhác chuẩn bị, anh em thương binh thấy y tá đi qua, có người khóc lóc: "các anh đừng bỏ chúng tôi". Mười Huấn được phân công ở lại, anh vặn to ngọn đèn dầu hỏa, hơ muội đèn vào tường thay bút viết khẩu hiệu "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh"...


Giữa lúc không khí hốt hoảng chưa kìm giữ lại được thì Năm Điền xuất hiện. Có người chui vội vào một ngách hang, tưởng rằng Năm Điền đã dẫn địch vào.

Út Sơn bình tĩnh hỏi Năm Điền:

- Anh đi đâu về?

Năm Điền thấy mọi người hốt hoảng trước mặt mình, anh ngơ ngác vài giây rồi nói:

- Tôi xuống hang dưới, định nghỉ một lát, chẳng dè ngủ quên mất.

Câu chuyện "Năm Điển đã đầu hàng địch" do rối trí của mọi người mà sinh ra vừa gạt sang một bên, lại một chuyện khác đến.

Khoảng mười giờ ngày hôm sau có tiếng loa "chiêu hồi" oang oang phóng vào trong hang. Thứ âm thanh từ lâu mọi người nghe đã nhàm tai, bỗng nhiên gây được sự chú ý:

"Tôi là Nguyễn Minh Huệ đây... tôi là Nguyễn Minh Huệ đây...", tiếp theo là tiếng nhiễu roọc roọc... hồi lâu. Anh em sởn gai óc khi nghe thấy tiếng nói của Huệ trên cái loa khốn nạn đó. Cách đây ba hôm, Huệ, Năm và Dịp cảnh giới bị mất tích. Từ lúc nghe tiếng Huệ ở cái loa chiêu hồi, anh em càng xao xuyến. Tiếng loa nói tiếp: "... Tôi đã bị quân quốc gia bắt sống. Tôi kêu gọi anh em hãy hồi chánh quốc gia". Tiếng loa vừa tắt, kế vào đó là tiếng bọn lính la thét, "Nó chạy... Nó chạy... đuổi bắt... bắn bắn", một loạt đạn liên thanh nổ. "Nó chết chưa... chết rồi". Từ lúc đó không còn nghe tiếng nói của Huệ nữa.

Tiểu đoàn phó Luyến nói giọng thiểu não:

- Chết rồi... thằng Huệ lính của đơn vị tao đấy.

Mười Huấn thở dài sườn sượt:

- Chúng mình chắc chết trong hang này thôi.

Qua những âm thanh ở phía ngoài vừa dội vào trong hang, mọi người đều khẳng định rằng Huệ đã không chịu đầu hàng địch.

Không khí xao xuyến lo sợ luôn luôn bám riết lấy mọi người. Tối hôm đó cả đơn vị họp để động viên nhau giữ vững tinh thần, đang họp nghe thấy người gác lên đạn và quát "ai?". Rồi tiếp ngay lúc đó có tiếng nói to xúc động:

- Chết mẹ rồi... thằng Dịp mày đã về.

Mọi người bỏ cuộc họp chạy ra, hỏi han ồn ào. Dịp đã kiệt sức, nằm dưới sàn đá. Tiếng nói của cậu ấy khao khao như tiếng gió, phải áp tai vào gần mới nghe rõ.

- Thằng Huệ bị bắt. - Dịp nói. - Còn thằng Nam...

- Thằng Nam làm sao?

- Cho tôi một miếng nước.

- Bảy vào pha cho cậu ấy một cốc sữa.

Anh em xúm lại dựng Dịp ngồi dậy. Người đưa nước, người đưa sữa tới. Ai cũng nóng lòng muốn nghe Dịp kể lại, ba ngày qua các cậu ấy gặp những tai họa gì.

Uống xong Dịp nhắm mắt lại một hồi lâu, mới đáp lại được ý muốn của anh em.

- Sáng hôm đó chúng nó tràn xuống. - Giọng nói của Dịp chậm rãi mệt mỏi. - Chúng nó xúm quanh cái xác cậu Thịnh. Một thằng la to: "Để tao mổ xác thằng này xem nó là quân Bắc Việt hay Việt cộng". Chúng tôi ném mấy quả lựu đạn vào bọn chúng, rồi rút về cái hang gần đó, lần theo hang đi đi mãi không biết lối nào mà ra. Tôi hôm đó chúng tôi đang ngồi nghỉ, thấy nước đái chảy xuống đầu mình. Chúng tôi đoán như vậy nghĩa là có cửa hang ngay trên đầu mình. Chúng tôi áp tai vào vách đá lắng nghe, thấy chúng gọi điện cho nhau, chúng nói bình thường không dùng tiếng lóng. Một thằng thiếu tá đang nói chuyện với một thằng đại úy ở đâu đó. Rõ ràng đây là sở chỉ huy, ít nhất là cấp tiểu đoàn. Chúng tôi chui lên ném lưu đạn vào bọn chúng, rồi lại rút xuống hang. Một lúc sau chúng ném lựu đạn thường và lựu đạn hóa học xuống hang. Nam hy sinh, tôi và Huệ bị ngạt nhẹ. Khi thấy tình hình êm, Huệ bàn với tôi bò qua cửa hang rồi chạy về. Chúng tôi thực hiện ngay. Không ngờ chúng phục sẵn trên cửa hang, Huệ vừa nhô đầu lên chúng chĩa súng bắt đầu hàng. Tôi nghe thấy chúng tra tấn đánh đập nhưng Huệ không hề khai báo. Còn lại một mình tôi, tôi tìm đường về.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 28 Tháng Sáu, 2021, 08:17:49 pm
6

Đội du kích Thổ Sơn (gồm cả thị trấn) quân số có bảy người do Sáu Chập chỉ huy. Kể từ khi bước vào đợt chiến đấu thu hút địch tới giờ đội du kích Thổ Sơn đã có bước tiến vượt bậc. Từ người chỉ huy đến chiến sĩ đều linh hoạt, dũng cảm áp dụng các loại chiến thuật du kích, chiến đấu có hiệu suất cao. Trong toàn đợt, kể cả phối hợp với chủ lực, đội đã đánh 33 trận, diệt 369 tên. Trên đoạn đường từ Tri Tôn đi Lình Quỳnh không mấy ngày là không có xe địch nổ tung vì mìn của du kích Thổ Sơn. Anh em đã phá 78 xe các loại (có 3 xe tăng).


Những trận đánh thắng đã khích lệ tinh thần toàn đội. Nhiều đêm anh em ra mặt đường chôn mìn, ban ngày vẫn tham gia những trận đánh trong "Hòn". Một lần anh em ngồi vào mâm cơm chuẩn bị ăn, có người vừa nâng bát lên miệng, người gác vào báo cáo:

- Trực thăng của địch vừa đưa bọn điếm tới, bọn lính đang đứng bu lại xung quanh bọn điếm.

Sáu Chấp bỏ bát đũa xuống theo người gác ra ngoài cửa hang, anh thấy bọn lính bu lại xung quanh những đứa con gái mặc áo xanh đỏ, chúng tỏ ra rất chủ quan. Thấy thời cơ mở ra một trận đánh thắng, anh phác qua kế hoạch chiến đấu trong đầu, rồi trở vào nói với anh em:

- Chúng ta đi đánh đã rồi vế ăn tiếp. Phải thật khẩn trương không sẽ mất thời cơ. Trận đánh này chúng ta tập kích bằng hỏa lực. Khi bố trí xong tôi bắn B40, Ba Suôn châm trái, hai khẩu AK bắn đón phía sau.

Nghe thấy Sáu Chấp nói "đi đánh", mọi người buông bát đũa đứng dậy, lấy vũ khí rồi theo nhau luồn trong hang, đến gần địch. Họ nhanh chóng triển khai chiếm những mô đá ở gần cửa hang, chỉ cách địch khoảng bốn năm chục mét, khoảng cách rất lý tưởng cho trận đánh tập kích ban ngày. Bọn địch, kể cả chỉ huy lẫn binh lính địch đang tít mắt trước bọn gái điếm ăn mặc hở hang, không còn đứa nào nhìn nhõi phía sau.


Du kích đặt xong ba quả rốc-két 95 lên bệ phóng. Ba Suôn báo cho Sáu Chấp biết mọi việc đã xong. Quả đạn B40 từ trên vai của Sáu Chấp vọt ra khỏi nòng, lập tức những quả đạn rốc-két bay vút theo. Chỉ trong chớp mắt những quả đạn đã nổ như sấm sét vào nơi địch đang đứng tập trung. Cùng lúc đó tiếng tiểu liên, lựu đạn hòa chung vào âm thanh hào hùng của trận đánh. Những cụm khói xám bốc lên từ đống xác lính địch nằm ngổn ngang (chết 36 tên). Bọn địch bất ngờ bị một đòn trời giáng, trong lúc chúng còn đang tối tăm mặt mũi, anh em du kích đã về hang của mình an toàn.


Ở "Hòn" công việc nặng nề căng thẳng dai dẳng vẫn là việc bảo vệ nơi trú quân. Không có đủ lực lượng giăng ra để ngăn chặn các hướng để chặn địch. Cũng như nhiều đơn vị đã làm, du kích Thổ Sơn dùng "bãi lửa" cảnh giới thay cho lực lượng sống. Nhiều lần bãi lửa đã phá vỡ cuộc hành quân của địch.


Số lượng mìn trên phát quá ít, anh em phải tự tìm đạn pháo, đạn cối, kể cả M79 của địch bắn không nổ để cải tiến thành mìn.

Một hôm Sáu Chấp nhìn thấy bọn lính ngụy vào vườn ở dưới sườn núi hái xoài. Anh nghĩ đây cũng là một mục tiêu, có thể dùng "bãi lửa" để tiêu diệt. Kiểm tra lại kho mìn của mình, Sáu Chấp thấy chỉ còn một quả đạn cối 60 ly và vài chục quả M79. Sáu Chấp đã được anh em công trường chỉ vẽ cách xếp lại các bộ phận trong đầu ngòi nổ của đạn M79 để biến nó thành một quả mìn đạp nổ. Tri thức đó lúc này thật quý giá. Anh tự làm và hướng dẫn cho vài anh em du kích cùng làm. Chỉ sau vài tiếng đồng hồ họ đã có đủ số mìn xây dựng một "bãi lửa". Tối hôm đó họ xuống vườn xoài, tìm những cây xoài sai quả nhất, đặt mìn dưới gốc và đón lõng những lối địch có thể đi qua.


Ngày hôm sau họ ngồi trên cửa hang nhìn xuống. Đúng như Sáu Chấp dự đoán, bọn lính mò vào vườn kiếm xoài. Khoảng mười tên đi vào trong vườn, chỉ một lát sau đã nghe tiêng nổ. "Chết tổ nội chúng bây rồi", mấy chiến sĩ cười khoái trá. Khoảng hơn mười phút sau chúng khênh mấy thằng chết và bị thương ra. Từ hôm đó trở đi không thấy những tên lính ngụy hung hăng sục sạo như trước.


Mặt trận "Ba Hòn” đã thu hút được một bộ phận quan trọng của Vùng IV chiến thuật (ngụy), không phải một tháng, mà kéo dài tới 105 ngày, vượt yêu cầu của Bộ tư lệnh Quân khu đề ra; tạo điều kiện thuận lợi cho chủ lực của quân khu mở rộng địa bàn hoạt động ở "vùng ruột Hậu Giang", là một thắng lợi to lớn. Ngay cả những ngày cuối cùng của đợt thu hút địch, các đơn vị trong "Hòn" bị dồn ép, số thương vong tăng lên, khó khăn trong việc lui quân chồng chất, nhưng Bộ chỉ huy Mặt trận vẫn ý thức được thắng lợi của mình đã thu được.

Mười Hồng, chỉ huy trưởng mặt trận thanh thản báo cho Trường nhân viên cơ yếu:

- Cậu ghi vào báo cáo với quân khu: Chúng tôi xin tạm biệt. Điện ngay cho quân khu và đề nghị trả lời ngay.

Mọi người nhìn theo Trường khuất vào bóng tối, rồi bắt đầu cuộc họp thảo luận bổ sung kế hoạch rút lui toàn bộ lực lượng ra khỏi "Hòn".

Nhiều việc đã được cuộc họp vạch ra cách giải quyết hợp lý, cũng có việc giải quyết cách nào cũng còn chỗ hở. Việc ngăn chặn không để địch bám theo đội hình rút lui của ta, việc đưa thương binh tới nơi an toàn là những việc nan giải nhất.


Mật độ các trận đánh tập kích nhỏ có hiệu quả cũng là một biện pháp quan trọng để ngăn địch bám, đã được triển khai tích cực. Kế bên cuộc họp của Bộ chỉ huy ở hang dưới, một bộ phận của địa phương quân huyện cũng đang chuẩn bị một trận đánh kết thúc, trước khi rút quân.


Bộ chỉ huy đang thảo luận tới vấn đề chuyển thương binh, một tiếng nổ lớn, khói lùa đầy hang, mọi người vội vàng nằm rạp cả xuống. Chỉ độc có một tiếng nổ rồi trở lại im ắng. Mọi người nhìn nhau lo lắng, suy xét vài giây rồi mỗi người nói ra điều mình vừa nghĩ.

- Lúc đầu tôi tưởng rằng địch tập kích.

- Tiếng nổ hình như ở hang dưới.

- Đúng rồi, khói ở hang dưới lên kia.

- Chết cha rồi, mấy cậu địa phương quân huyện ở dưới đó lại đánh nổ cái gì.

Mọi người đứng bật dậy, đi xuống hang dưới. Họ đau xót nhìn những chiến sĩ địa phương quân đang quằn quại trong vũng máu. Mười Hồng lay gọi từng người xem còn ai sống sót. Mười Hồng thở dài: "Họ chết hết rồi". Anh đưa tay sờ ngực Hai Đỏ, huyện đội phó một lần nữa, thấy tim còn đập thoi thóp. Mười Hồng gọi to:

- Hai Đỏ... Hai Đỏ ơi!

Hai Đỏ từ từ mở mắt mấp máy môi rất nhỏ. Mười Hồng chỉ nghe được một câu "... sửa trái pháo dù..." rồi Hai Đỏ tắt thở.

Cái tai họa của sáu chiến sĩ địa phương quân không đáng có, đã làm nặng nề thêm cho việc lui quân. Mười Hồng nói với huyện đội trưởng Bảy Tần:

- Anh giao cho một cán bộ nào giải quyết hậu quả ngay tối nay.

Cuộc họp của Bộ chỉ huy lại tiếp tục giải đáp câu hỏi:

- Chúng ta có hơn tám mươi thương binh, trong tay không có một cái xuồng ghe nào, làm sao đưa anh em sang tận đất Cam-pu-chia được?

- Giao cho một cán bộ có tinh thần trách nhiệm tốt, linh hoạt phụ thêm vào với anh em quân y, vào trong dân mượn xuồng ghe, nếu không đủ ghe ta có thể tổ chức đi nhiều chuyến.

- Chừng ấy người nếu có một cái ghe bầu là có thể chuyển hết, nếu mượn không được ta cho phép anh em có thể trưng dụng.

Bàn đi bàn lại, cuộc họp mới chỉ nêu ra được phương hướng và gợi ra khả năng cho cấp dưới thực hiện.

Vừa họp xong, y sĩ Út Sơn tới gặp Mười Hồng.

- Cậu đến thiệt đúng lúc. - Mười Hồng dùng hai bàn tay to bè của mình lắc lắc đôi vai gầy của Út Sơn rồi nói tiếp. - Chúng tó vừa bàn tới vấn đề thương binh chuyển đi như thế nào? Bàn rồi nhưng vẫn thấy còn lo. Các cậu giải quyết đến đâu rồi.

- Số thương binh nhẹ và trung thương, chúng tôi đã chuyển ra hết ở Hòn Quéo. Số thương binh nặng mười một người, hiện nay vẫn còn ở hang Hòn Đất. Tình hình rất gay, địch đã chiếm cửa hang, chúng liên tục ném lựu đạn, thuốc nổ vào hang. Anh em không còn đủ sức đẩy chúng ra nữa. Tôi đề nghị anh cho thêm người chuyển toàn bộ số thương binh nặng sang bên này.

- Cho thêm người ha. - Mười Hồng nắn nắn đầu ngón tay của mình, rồi lắc đầu, nói tiếp. - Thiệt khó đây. Cậu vào qua đây cậu thấy rồi đó, có ba bốn tử sĩ để ngoài cửa ấy, rồi lại mấy cậu địa phương quân vừa chết vì trái pháo dù của chính mình, chưa giải quyết được. Cậu thử hỏi bên huyện đội Bảy Tần vừa ở đây mới về... Nhưng thôi cũng đừng hỏi nữa, không còn người đâu. Các cậu cố gắng khéo thu xếp hen.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 28 Tháng Sáu, 2021, 08:19:03 pm
Út Sơn không nói thêm một câu, và cũng không chào, anh lặng lẽ ra cửa. Trời đã chạng vạng tối. Mười Hồng ngồi xuống khêu ngọn đèn dầu hỏa. Chiến sĩ báo vụ bước tới, đưa cho Mười Hồng cuốn sổ điện.

- Báo cáo thủ trưởng, trên quân khu đòi trả lời ngay.

Mười Hồng đưa cuổn sổ điện vào sát ngọn đèn, anh đọc khe khẽ:

- Bộ tư lệnh Quân khu yêu cầu báo cáo rõ, hiện nay các đồng chí đang gặp khó khăn gì. Tại sao lại có bức điện "Chúng tôi xin vĩnh biệt".

Mười Hồng không còn giữ nổi bình tĩnh, anh quát chiến sĩ thông tin:

- Gọi ngay thằng Trường ra đây.

Nghe thấy gọi tới tên mình, Trường ở ngách hang bước ra. Mười Hồng cầm cuốn sổ điện gí vào mặt Trường và nói giận dữ:

- Mày làm ăn thế hả... Mày không phân biệt thế nào là tạm biệt thế nào là vĩnh biệt hả... Tao sẽ giao mày cho bảo vệ người ta xem mày là loại gì!

Đêm 15 tháng 5 đội quân y đã đưa được gần hết số thương binh sang Hòn Me, còn lại mười một thương binh nặng. Số người khỏe ở lại bảo vệ thương binh có Mười Huấn, Bảy Giang, Năm Rự, Bảy Thuận (B) và hai cán bộ của bộ đội chủ lực là Tư Luyến và Mười Phình.    Ngày 16 là một ngày nặng nề. Địch vẫn ném lựu đạn thuốc nổ xuống hang theo kiểu cầm canh. Mỗi lần có tiếng nổ lớn, ngọn đèn dầu hỏa kéo dài ngọn lửa lên rồi tắt phụt và riếng rú đau đớn của thương binh sọ não, là tất cả mọi người lại chuẩn bị một trận đánh. Ánh sáng trong hang lúc nào cũng lờ mờ, không phân biệt ngày hay đêm tối. Khái niệm thời gian ở đây bị tước đi cái vỏ của nó. Không có tiếng gà gáy. Không có hừng đông. Không có chiều tà. Trong cảm giác mỗi người, tưởng như thời gian đang trôi qua cả cuộc đời mình. Ý thức được thời gian họ phải nhìn vào cái kim nhỏ bé của chiếc đồng hồ đeo trên cổ tay.


Đã tới giờ thực hiện trận đánh tập kích. Bảy Giang và Năm Rự vẫn là hai con sư tử của đội quân y, sẵn sàng nhận nhiệm vụ xông vào trước họng súng của địch.

Đêm đã khuya. Tiếng lựu đạn cầm canh của địch thưa dần, rồi vắng lặng. Bảy Giang và Năm Rự xách súng nhón chân bước rất nhẹ tới cửa hang. Một mảng trời đầy sao ùa vào mắt họ. Những ngày sống tù túng trong hang hằng mơ ước được sống dưới bầu trời khoáng đãng sáng sủa, riêng lúc này thì ngược lại. Trời sáng quá, nếu nhô đầu ra khỏi cửa hang, có thể gặp tình huống của cậu Huệ, những nòng súng lạnh ngắt của địch gí vào cổ. Họ nín thở thận trọng nghe ngóng để tránh mọi sai sót có thể xảy ra. Bảy Giang, Năm Rự nắm chặt quả lựu đạn da láng đã rút chốt an toàn, rồi bò ra khỏi cửa hang. Vừa nhìn thấy những tảng đá nhấp nhô, nơi địch thường lợi dụng để đánh vào hang, họ vụt luôn lựu đạn vào đó. Tiếp theo tiếng nổ của lựu đạn, Năm Rự lia đạn tiểu liên và Bảy Giang phóng đạn M79 tới tấp vào nơi bọn địch đang ngủ. Bọn địch bị đánh bất ngờ, hoảng loạn kêu thét, đến một phút sau mới phản ứng bằng những loạt đạn ngái ngủ không có phương hướng. Hai anh em an toàn rút vào trong hang, tới mười phút sau vẫn còn nghe thấy tiếng đạn liên thanh nổ.


Trận tập kích mang tính chất trinh sát, giúp cho họ rút ra một kết luận: Không thể nào rút lui qua cửa hang lớn được nữa.

Ngày hôm sau, họ bàn bạc đi tới quyết định: phải rút lui theo một con đường ngang hẹp vòng vèo khá xa, nhưng hy vọng an toàn hơn. Để lại bốn thương binh nặng nhất, giao cho Mười Phình và y tá Bảy Thuận (B) chăm sóc, đêm hôm ấy họ luồn xuống hang sâu. Đường rất khó đi, nhiều lúc tưởng đến phải bỏ nhau ở dọc đường, nhưng cuối cùng họ đã tới Hòn Me.


Ngày 19. Bảy Giang đứng gác ở cửa hang Hòn Me. Khoảng tám giờ anh nghe thấy một tiếng nổ lớn như tiếng bom ở phía Hòn Đất. Bảy Giang bồi hồi suy tưởng, lo lắng cho những đồng chí mình còn ở lại. Nhớ lại hôm chuẩn bị rút, anh với Mười Phình đặt khối bộc phá lớn ở cửa hang Mười Phình nói: "Nổ quả mìn này xong là hai đứa chúng tao đánh giáp lá cà với chúng nó". Bảy Giang lo lắng nhìn về phía Hòn Đất. Có thể các cậu ấy đang quyết tử chống lại địch và cũng có thể các cậu ấy đã hy sinh hết rồi.

Nửa đêm hôm đó, Bảy Giang ra thay gác, nghe thấy tiếng người gác nói chuyện rì rầm ở ngoài cửa. Bảy Giang hỏi:

- Ai đó?

- Tao và Bảy Thuận vừa về tới đây.

Thấy Mười Phình và Bảy Thuận về Bảy Giang rất mừng, hỏi:

- Có đưa được thương binh nào về không?

Nghe thấy tiếng nói của Bảy Giang, Mười Phình không trả lời vào câu hỏi. Anh nói luôn tình hình diễn biến trong ngày:

- Chúng nó ném lựu đạn dồn dập nhiều hơn mấy hôm trước. Tao nghe thấy nó xung phong ngay trước cửa. Tao châm quả mìn cuối cùng ấy. Xong chúng tao đưa mấy thương binh xuống hang dưới, để lại nồi cơm và toàn bộ mì tôm cho anh em. Chúng tao về đây hỏi xem ý kiến các thủ trưởng như thế nào.


Bảy Giang thầm lo cho số phận của mấy anh em thương binh. Anh buồn rầu nhìn vào khoảng không đen tối.

Ngày 20. Lệnh của Mười Hồng báo cho đội phẫu: chuyển nốt số thương binh còn ở Hòn Đất về Hòn Me. Một tổ gồm Hai Đính, Tư Rô do y tá Năm Rự phụ trách làm nhiệm vụ chuyển thương. Anh em vừa ra khỏi cửa hang được hơn một trăm mét đã gặp chuyện không may. Tư Rô bị trượt chân ngã gãy cột sống, súng văng xuống một cái hang sâu không tìm được. Thế là cuộc hành quân của họ đành hoãn lại, phải cõng nhau trở về.


Bảy Giang chỉ huy một tổ thay tổ của Năm Rự. Khoảng nửa đêm họ tới sườn Hòn Đất, cách cửa hang lớn của quân y vài trăm mét. Trời sáng trăng vằng vặc. Ở dưới nhìn lên rất rõ những lều bạt. Chỗ này chỗ kia thỉnh thoảng lại có một tốp địch tuần tiễu hoặc nháng ánh đèn pin. Bảy Giang cùng tổ của mình dừng lại quan sát khá lâu. Anh thấy địch còn đông, chúng canh gác cẩn mật, không thể đột phá vào trong hang. Mỗi lần có tiếng lựu đạn nổ ở trong hang, Bảy Giang lại thấy lòng mình nhức nhối xót thương đồng đội của mình nằm trong ấy. Anh cố nằm chờ đợi một thời cơ nào đó xuất hiện. Sương đêm làm mọi người đã thấm lạnh, nhưng tình hình trước mặt vẫn không có gì thay đổi. Thấy không còn khả năng vào hang, Bảy Giang mới cho tổ của mình rút.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 28 Tháng Sáu, 2021, 08:20:15 pm
9

Trời chạng vạng tốỉ. Mười Hồng, Sáu Chấp và anh em trong sở chỉ huy vừa khoác bòng lên vai chuẩn bị rút. Một anh giao liên của Huyện ủy từ cửa hang bước vào, đứng trước Mười Hồng.

- Báo cáo anh Mười. - Anh giao liên vừa nói vừa thở, làm cho câu nói luôn luôn bị đứt quãng. - Anh cho ý kiến... có một đại đội tân binh... từ miền Bắc mới vô... sốt rét và thương vong dọc đường... hiện còn gần sáu mươi người... anh em mất tinh thần... nghe tiếng súng gần là bỏ chạy... Cách giải quyết bây giờ thế nào.

Mười Hồng im lặng giây lát, nhìn những người xung quanh rồi nói lưỡng lự:

- Hay là ta đưa anh em xuống đồng bằng?

Sáu Chấp trả lời ngay vào câu hỏi của Mười Hồng vừa đặt ra:

- Đưa xuống đồng bằng lúc này sẽ chết hết. Tốt nhất là cứ đưa anh em đi thẳng giao cho quân khu.

Anh giao liên nói:

- Chúng tôi không còn người dẫn đường, đề nghị anh Mười cho người.

Mười Hồng quay lại nói với Sáu Chấp:

- Đồng ý với Sáu Chấp. Việc này Sáu Chấp ở lại sau lo cho nghen.

Mười Hồng cùng đoàn tùy tùng rút. Trong hang chỉ còn lại cán bộ và du kích xã Thổ Sơn. Ánh sáng của ngọn tọa đăng như được trải rộng hơn trước, Sáu Chấp mở bức thư của bí thư Huyện ủy vừa gởi tới, đưa sát vào ngọn đèn rồi đọc lẩm bẩm: "Ngày 19 tháng 5. Báo riêng cho mày biết, tao đang ở hang Tầm Moọc. Khi nào mày rút phải đợi lệnh của tao. Hai Hiểu". Đọc xong thư, Sáu Chấp nói với anh em du kích:

- Như các đồng chí đã biết, chúng ta phải cử ngươi dẫn tân binh tới Bệ Dầy Heo giao cho Rạch Giá. Việc này có nhiều khó khăn, tôi đề nghị lấy tinh thần xung phong.

- Tôi...

- Tôi xin xung phong!

Tất cả anh em đều giơ tay. Sáu Chấp chỉ định xã đội phó Quyền. Xong việc cử người dẫn quân, Sáu Chấp cho đơn vị di chuyển.

Tới gần con lộ, họ dừng lại nghe ngóng. Sáu Chấp nói với anh em:

- Đề phòng địch "kích", tao ra đằng kia hô xung phong, nếu phát hiện thì bọn bây nổ súng ngay.

Sáu Chấp núp sau một tảng đá hô to "anh em xung phong". Hô xong, Sáu Chấp nghiêng tai lắng nghe. Bỗng cổ tiếng ai đó ở bên kia đường gọi hối hả:

- Sáu Chấp ơi! Sáu Chấp ơi!...

Sáu Chấp im lặng không trả lời. Không hiểu ai đó sao lại biết tên mình. Có nên tới đó không? Sáu Chấp đang suy nghĩ, nên xử trí thế nào, thì lại có tiếng gọi:

- Sau Chấp ơi! Tao là Thuận, giao bưu Huyện đội đây.

Lần này Sáu Chấp nhận ra tiếng nói của Thuận. Anh phân vân tự hỏi: Thuận bị thương cụt cả hai chân sao lại nằm ở đây?

Sáu Chấp đến chỗ Thuận đang nằm. Thuận nói xúc động nghẹn ngào:

- Khi rút anh em biểu bò ra ngoài hang rồi có người đón... chẳng thấy ai đón... nhờ nhớ đường tôi bò tới đây.

Đội du kích Thổ Sơn ngồi quây lấy Thuận. Họ lặng người trước cảnh ngộ của bạn. Sáu Chấp nói với Thuận:

- Anh em đã rút hết rồi, chỉ còn vài người, nếu đưa cậu lên hang, địch đánh vô hang thì không đưa cậu đi được, bây giờ đành phải như thế này, cậu "chém vè" quanh đây, hàng ngày chúng mình mang cơm tới.

Thuận im lặng, không tỏ ra bằng lòng hay phản đối.

Mấy chiến sĩ du kích Thổ Sơn thay nhau cõng Thuận tới một bụi cây cóc kèn rậm rạp, giấu Thuận vào trong bụi rồi kéo nhau lên hang.

Trong hang Tà Moọc vẫn còn dấu vết người ở. Chiếu còn trải trên sàn. Đâu đó còn phảng phất mùi khói. Những hạt gạo vương vãi... vắng tanh vắng ngắt không một bóng người. Sáu Chấp biết Hai Hiểu ở trong hang này nhưng không biết anh ở tầng nào, ngách nào. Hang động chằng chịt phức tạp, nếu không biết đích xác, không dễ gì tìm nổi nhau trong đêm. Sáu Chấp cho anh em ngủ chờ sáng.

Mãi tới chiều hôm đó họ mới tìm tới được chỗ Hai Hiểu "chém vè" ở dưới hang sâu. Họ kéo nhau lên ngồi ở cửa hang cho thoáng.

Hai Hiểu nói:

- Ý tao, tao ở lại sau cùng giải quyết hết mọi việc rồi ra sau. Tao vừa nghe qua máy PRC25 chúng nó nói với nhau, ngày mai chúng sẽ đánh đúng vô điểm mình đang ở. Mọi việc như thế là tạm ổn, tối nay phải rút hết.

- Tôi nhất trí. - Sáu Chấp, tỏ ra lo lắng. - Nhưng còn cậu Thuận giao bưu cụt cả hai chân, không hiểu sao khi chuyển thương anh em bỏ sót. Tối qua chúng tôi gặp cậu ấy, tạm giấu cậu ấy trong bụi cóc kèn dưới chân núi.

Hai người im lặng suy nghĩ tìm cách đưa Thuận đi như thế nào. Sáu Chấp nhìn xuống dưới chân núi, thấy một chiếc xuồng nằm giữa những hố bom. Anh khẽ reo:

- Hay quá! Thằng Thuận gặp hên rồi!

Hai Hiểu chưa hiểu ý Sáu Chấp định nói gì. Anh hỏi:

- Còn hên cái gì nữa.

- Anh có nhìn thấy cái xuồng bên hố bom không. Nếu có xuồng thì có thể đưa thương binh được rồi.

Sáu Chấp ngoảnh vào trong hang gọi Út Thắng. Anh chỉ chỗ chiếc xuồng rồi căn dặn Út Thắng:

- Cậu xuống lấy chiếc xuồng ấy, đưa cậu Thuận ra Hòn Quéo.

Những người ngồi ở cửa hang nhìn theo Út Thắng xuống núi. Út Thắng chỉ cách chiếc xuồng vài chục thước. Bỗng hàng chục viên đạn pháo nổ, khói bụi trùm lên chiếc xuồng và không ai nhìn thấy Út Thắng đâu nữa.

Sáu Chấp than thở:

- Thôi, thế là Út Thắng nó chết rồi.

Khi hết những ánh chớp của đạn pháo, cũng là lúc bóng tối đã tràn đến xóa mò mọi cảnh vật trước mắt mọi người.

Anh em còn đang xúm lại bàn tính việc đi tìm Út Thắng. Nhìn thấy có một bóng người từ dưới núi đi lên. Họ hồi hộp theo dõi. Có tiếng reo bật lên:

- Thằng Út về rồi.

Út Thắng dừng lại ở cửa hang, nói trong tiếng thở gấp:

- Tôi đi gần tới thì một viên đạn pháo trúng vào chiếc xuồng vỡ tanh bành...


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Sáu, 2021, 02:15:47 pm
Chương mười
LẠI BÁM DÂN BÁM ĐẤT


Đội du kích Thổ Sơn còn ba người do Sáu Chấp chỉ huy đã rời "Hòn" vượt qua Lình Quỳnh tới ém ở cách đồng cỏ dại. Trong bòng của họ không còn dính một hạt gạo. Hàng ngày họ phải ra bờ kinh bắt ba khía luộc ăn trừ bữa.


Trưa hôm ấy Tụng đang móc ba khía ở ven bờ kinh thì nhìn thấy chiếc xuồng từ xa, đang tiến về phía mình. Anh vội lên bờ tạm lánh vào sau lùm cây. Chiếc xuồng lại gần. Tụng nhìn thấy người ngồi trước mũi xuồng là Đực (cối), cũng là người trong đội, người ngồi phía sau là một nông dân ở xóm Vàm Đồng. Tụng bước ra chỗ trống, ngoắc tay gọi họ vào bờ.


Nhận ra người đứng trên bờ là đồng đội, Đực cho mũi xuống quay gấp khúc lao vào bờ. Mũi xuồng vừa ghé vào thềm đất, Đực đã nhảy tót lên làm cho con xuồng chòng chành suýt đắm.

- Tao gặp hên rồi. - Đực ôm chặt lấy Tụng trong vòng tay của mình và cười nói phấn khởi. - Tao đã dẫn bộ đội chủ lực tới điểm an toàn rồi. Trên đường về "Hòn" tao cứ lo, chẳng biết tình hình trỏng ra sao. Sáu Chấp có ở đây không?

- Ở gần đây thôi.

Tụng dẫn Đực về chỗ ở. Sáu Chấp đang ngồi bó gối, suy nghĩ tới một số anh em thương binh. Không hiểu út Thắng và Bảy Thuận B (em ruột Chấp) có chuyển được số thương binh còn lại tới nơi an toàn chưa. Nghe thấy tiếng người, Sáu Chấp nhìn ra thấy Tụng và Đực đang đi tới.

Đực vẫn giữ thái độ phấn khởi vô tư như ban nãy. Anh nói với Sáu Chấp:

- Rất hên là tao gặp mày ở đây. Tao mừng lắm.

- Đừng mừng vội.

Thái độ nghiêm hơi lạnh của Sáu Chấp không hề làm cho Đực cụt hứng. Anh vẫn giữ nguyên thái độ hồ hởi:

- Còn công chuyện chi nữa, biểu tao, tao làm liền.

- Anh mượn xuồng, đêm nay đi ngay vô "Hòn" gặp Út Thắng và Bảy Thuận ở hang Tà Moọc, chuyển thương binh tới trạm chuyển thương xong về báo cáo với Huyện ủy ở rừng Nam Thái.

- Tao mượn được xuồng rồi. Tao đi đây.

Nhìn theo dáng người to kềnh càng của Đực, Sáu Chấp thầm cảm ơn sự hăng hái chất phác của anh.

Anh em bị đứt bữa mấy ngày, lúc nào họ cũng cảm thấy thèm được một bữa cơm no. Rảnh lúc nào là họ thì thầm kể với nhau về những bữa ăn ngon, mình đã trải qua và ước ao lúc này có được bữa ăn như vậy. Giống như chuyện thần thoại, họ vừa ước ao, đã thấy một ông già đeo một bị nặng đi vào chỗ họ ở.

Ông già nói:

- Tôi đi tìm người bị lạc. Chắc anh em đây cũng bị lạc chưa có cơm ăn.

Ông già vừa nói vừa bày ra năm ổ bánh mì, một cặp vịt đã mổ sẵn và khoảng bốn năm kí lô bún. Anh em sung sướng kinh ngạc trước những món quà của ông già vừa mang tới. Họ chưa kịp hỏi tên tuổi, quê quán thì ông đã vội vã đi ra bờ kinh. Mãi tới về sau này anh em vẫn nhắc tới bữa ăn cực ngon của ông già "trời sai xuống" cho. Họ muốn tìm gặp ông già, nhưng không ai gặp ông lần nào nữa.


Du kích vừa ăn xong bũa tiệc của ông già vô danh khao, họ đang vui vẻ bàn tán về cái may mắn bất ngờ đó, thì nhận được điện của bí thư Huyện ủy, báo cho Sáu Chấp biết: địch đưa xuống đồng bằng (Hòn Đất) một trung đoàn có xe bọc thép yểm trợ, chúng sẽ càn vào nơi du kích Thổ Sơn đang ở. Cái tin vừa đến làm cho họ đang vui chuyển sang lo. Một câu hỏi "đi đâu?" đặt ra trước mắt họ. Quay trở vô "Hòn" tạm né tránh cuộc càn của địch chăng. Vào "Hòn” lấy gì mà sống? Vào bám cơ sở... Sáu Chấp suy nghĩ tới Nghị quyết 01 của Trung ương Cục anh vừa được phổ biến ở trong "Hòn" mấy hôm trước. Sáu Chấp nói với anh em:

- Chúng ta phải bám lấy dân, xây dựng cơ sở, dân sẽ bảo vệ chúng ta.

Đã nhiều lần họ "đột" vào vùng địch tạm chiếm xây dựng cơ sở, phá tề trừ gian, nhưng lần này họ cảm thấy mình đang làm một việc mạo hiểm, bởi đã hơn ba tháng nay không nắm tình hình cơ sở. Lực lượng của mình chỉ có một tổ với ba khẩu súng trường, mà vào ấp có đồn địch đóng, nếu gặp địch sẽ đối phó như thế nào. Họ vẫn tiến bước về phía ấp Lình Quỳnh với sự phập phồng lo lắng.


Cả một vùng kinh rạch, cánh đồng hoang vắng chìm trong giấc ngủ, thỉnh thoảng có một vài tiếng nổ ở từ nơi xa dội đến. Tổ du kích vượt qua một khu vườn hoang, cỏ dại ngập đầu người, họ dừng lại trước một căn nhà lá. Sáu Chấp vào, nói qua phên liếp:

- Ông chủ nhà ơi!... Chúng tôi là người của cách mạng xin gặp gia đình ta có công chuyện.

Nghe có tiếng người trở mình rồi lại yên lặng.

Sáu Chấp nói tiếp:

- Chúng tôi là người của cách mạng. Mở cửa cho chúng tôi vô có công chuyện xin nói với gia đình... không phải lo ngại gì.

Anh đèn dầu bật sáng ba gian nhà hẹp. Người đàn ông gầy guộc đứng tuổi ra mở cửa:

- Xin mời các ông vô.

Ông chủ nhà đứng nhìn từ đầu tới chân mấy thanh niên ăn vận nhếch nhác, xem ra họ không có gì nguy hiểm, lúc đó ông mới lên tiếng:

- Mời các chú ngồi.

Sáu Chấp nói ngắn gọn những thắng lợi mới của địa phương mình, và kêu gọi sự tham gia đóng góp của nhân dân đối với công cuộc cách mạng. Ông Ba Lùn, chủ nhà không đáp ngay vào điều Sáu Chấp vừa nói, nhưng biểu lộ tình cảm hết sức thực tế. Ông xuống bếp lấy lên một đĩa khoai lang luộc rồi đặt lên bàn.

- Các chú đến không báo trước. - Ông Ba Lùn nói. - Nhà tôi chỉ còn ít khoai luộc và ít cơm nguội, các chú ăn tạm cho đỡ đói.

Anh em ăn uống xong, nhờ ông Ba Lùn dẫn sang những gia đình có cảm tình với cách mạng để tuyên truyền tổ chức cơ sở. Đêm đầu tiên bám dân có kết quả tốt. Gần sáng họ ra cánh đồng hoang, chui xuống lớp cỏ rậm, chờ khi mặt trời lặn lại vào ấp.


Một trung đoàn chủ lực ngụy cùng bảo an, dân vệ ở địa phương được máy bay, xe bọc thép yểm trợ, chúng quần đi quần lại từ rừng tràm này sang rừng tràm khác, vẫn không truy tìm được đôi tượng chúng cần tìm. Du kích Thổ Sơn và các đơn vị vũ trang của huyện vẫn sống an toàn trên mảnh đất thân thuộc của mình. Du kích Thổ Sơn xây dựng xong tổ chức cơ sở ở Lình Quỳnh, họ tiến vào thị trấn Tri Tôn. Từ xây dựng cơ sở chính trị, họ đã mở rộng sang việc vận động quần chúng đóng góp lương thực, tiền của cho công cuộc kháng chiến cứu nước, ở Tri Tôn có gia đình đã ủng hộ 9.000 đồng (tiền Sài Gòn). Nhờ dân đóng góp, du kích Thổ Sơn đã có hàng tấn gạo dự trữ để hoạt động dài ngày.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Sáu, 2021, 02:17:03 pm
2
   

Ba Đằng, Năm Thịnh và Năm Điều được phân công đi trước về rừng Nam Thái làm hầm bí mật cho cơ quan Huyện đội. Yêu cầu của ban chỉ huy Huyện đội, trong mười ngày phải làm xong mười lăm cái hầm. Vị chi mỗi người phải làm năm cái mà trong tay không có một chút phương tiện. Không phải đây là lần đầu nhận lệnh "chay", không có cơ sở vật chất tối thiểu để bảo đảm. Họ biết rõ thực tế, dù đòi hỏi cũng chỉ nhận được vài điều gợi ý về công tác vận động quần chúng.


Ba anh em hăng hái vượt qua hàng rào xe tăng, bộ binh địch ngăn chặn, gần sáng mới về tới rừng Nam Thái. Họ chụm đầu lại bàn bạc kế hoạch thực hiện. Việc đầu tiên phải nghĩ tới là phương tiện, tối thiểu mỗi người phải có một cái leng, một con dao, một cái thau và vài gam đinh... lấy ở đâu. Những thứ đó giá trị vật chất không lớn, nhưng kiếm được chúng trong lúc địch đang khống chế tới từng gia đình không phải là chuyện dễ. Họ nghĩ tới các má chiến sĩ như má Gấm, má Phụng, má Cồi, má Đoàn, má Tần, má Thân, má Xinh... chỉ có các má mới gỡ khỏi nước bí này. Ngay đêm đó họ chia nhau về Kinh Tư, Kinh Năm nhờ các má giúp đỡ. Các má giống như các bậc thánh. Họ vừa đặt ra trước các má những đề nghị, các má đều trả lời gần giống nhau "Đêm mai mốt các con đến, sẽ có đủ".


Đêm thứ tư họ bắt tay vào đào hầm bí mật. Bí quyết của đào hầm bí mật có đạt được mục đích hay không là việc tẩy xóa tất cả những dấu vết có thể gây cho địch nghi ngờ, và chính nó cũng là một việc nặng nhọc và đòi hỏi nhiều công phu nhất. Họ phải mang từng thau đất đổ xuống đìa cách xa bốn năm trăm mét. Khi đào xong lai phải kiểm tra từng lá cây ngọn cỏ, làm sao cho những con mắt soi mói cũng không thấy được khu rừng này có người đang ở.


Mới có chín ngày họ đã làm xong công trình được Huyện đội giao cho.

Cơ quan Huyện đội về ở được một ít ngày. Một hôm đang họp bị địch tới tập kích, anh em rút chạy vội vã, đã bỏ lại toàn bộ gạo nước, xoong nồi. Thế là "cơ nghiệp" của hậu cần lại một lần nữa phải xây dựng từ đầu. Các đơn vị lại phải xé lẻ ra từ đó.


Năm Điều cùng với Sáu Chấp, bí thư chi bộ xã Thổ Sơn chạy tới Kinh Năm. Họ biết gia đình bà Do thường nuôi chứa cán bộ, còn hầm bí mật. Đến nơi, họ nêu đề nghị của mình, bà Do tỏ ý ngần ngại:

- Tao chẳng giấu gì chúng bây, thằng Tẩng, rể của tao nó vừa đi chiêu hồi, nếu mấy đứa bây còn tin tao, tao chẳng ngại gì nuôi chứa chúng bây.

- Chúng con tin ở má!

Sáu Chấp thoáng nghĩ về mối quan hệ của gia đình bà Do. Bà có ba con trai đi bộ đội và từ trước tới nay cả gia đình bà đều tích cực tham gia công tác cách mạng. Dù thằng Tẩng con rể bà trở thành một tên phản bội, cũng không ảnh hưởng gì. Sáu Chấp nói tiếp:

- Thằng Tẩng nó sai lầm nó phải chịu trách nhiệm, không liên quan gì tới má.

Sáu Chấp và Năm Điều ở nhà bà Do được vài ngày yên ổn. Một hôm thằng Tẩng dẫn nửa tiểu đội lính ngụy tới nhà bà Do. Hai anh em xuống hầm bí mật ở gầm giường. Họ nghe khá rõ những tiếng động ở trên mặt đất. Mấy thằng lính hỏi thăm má Do, rồi ngồi nói chuyện phiếm với nhau khá lâu. Câu chuyện chúng nói với nhau chứng tỏ chúng không có nghi ngờ gì gia đình này. Họ thấy yên tâm khi không bị chúng xăm hầm, mỗi người theo đuổi ý nghĩ riêng của mình.


Năm Điều nhớ đến những ngày long đong lận đận, trước khi "Hòn" bị bao vây "bảy mươi tám ngày đêm". Nghe tin bà mẹ vừa bị địch bắt, Năm Điều được về phép thu xếp công việc gia đình. Anh cùng xã đội phó Quyến vừa về tới Kinh Sáu, đã nghe thấy bom B52 nổ ở "Hòn" hết đợt này đến đợt khác. Dứt tiếng bom lại tới tiếng đạn pháo nổ rền. Trời gần sáng. Năm Điều chờ ở ngoài ngõ, Quyến vào trong nhà nói chuyện với gia đình về việc ăn ở của hai người. Nhìn về "Hòn" thấy ánh chớp lóe liên tục, Năm Điều rất lo việc trở lại "Hòn" như thế nào. Quyến ở trong nhà ra báo cho anh thêm một tin đáng lo nữa:

- Cái hầm bí mật tôi nói với anh khi ở "Hòn", mẹ tôi sợ bà ấy đã lấp đi mất rồi. Chúng ta đành phải vào rừng ngủ tạm một đêm, đêm mai ta sẽ liên hệ với cơ sở.

Hai anh em chống xuồng vào rừng, mỗi người tự tìm lấy chỗ ngủ qua đêm. Tối hôm sau Năm Điều tới ngồi chờ ở nhà Quyến, đến hai giờ sáng không thấy Quyến về như đã hẹn. Không thể chờ lâu hơn được, Năm Điều đành phải tự tìm kiếm chỗ ẩn nấp. Anh nhớ đến nhà má Cồi, là một bà mẹ chiến sĩ nổi tiếng trung kiên gan góc ở xóm "nuôi chứa cán bộ". Má Cồi nuôi chứa cán bộ liên tục từ sau Hiệp định Giơ-ne-vơ đến nay. Năm Điều đến ở nhà má Cồi mười ngày, sống trong tình trạng "trở đi mắc núi, trở lại mắc sông". Muốn về "Hòn" không biết đơn vị mình ở chỗ nào địch ở chỗ nào. Muốn về nhà mình cũng khó, không biết bọn địch có phục kích xung quanh nhà mình không, về lúc này có khi gây tai họa cho người thân của mình.


Đến ngày thứ mười một, một toán lính ngụy đến đóng quân ngay ở nhà má Cồi. Căn hầm bí mật gần gốc cây đào trước sân, qua lỗ nẻ, Năm Điều thấy bóng bọn lính đi qua đi lại. Một tên hỏi má Cồi:

- Có tin Năm Điều trở về nhà bà đêm rồi.

Má Cồi trả lời:

- Nhà tôi không có ai là Năm Điều, các chú cứ hỏi hàng xóm, nếu có cứ kéo tôi ra mà bắn.

Chiều tối bọn địch mối rút. Má Cồi mở nắp hầm cho Năm Điều lên. Anh chưa kịp bày tỏ sự vui mừng, vì vừa qua cơn nguy hiểm, má Cồi đã nói:

- Độ này nó lục soát quá lắm, nó đã nghi rồi, tao hết dám chứa mày.

Tối hôm đó Năm Điều đánh liều về thẳng nhà mình. Hai cô em gái thấy anh về, các cô vừa nói vừa khóc:

- Tình hình như thế này tại sao anh về có một mình?

- Anh xem có gì nói với các em, rồi đi ngay đi, không thì chết hết.

Ba anh em vội vã nói với nhau về tình hình gia đình, rồi Năm Điều dặn lại em gái:

- Anh chưa thể đi được, phải chờ đợi ở đây ít ngày, anh sẽ "chém vè" ở ngoài đồng, hàng ngày các em giả làm người đi kiếm cá mang cơm cho anh.

Hàng ngày em gái mang cơm tới chỗ anh "chém vè", làm cho nỗi lo lắng ngày càng tăng thêm. Không phải lo cho mình, mà lo nhiều hơn cho mấy đứa em, không chừng chỉ vì mình mà chịu chết chóc, tù đày... Nghĩ tới đó anh liên tưởng tới các gia đình nuôi chứa mình, họ không hề có liên quan gì tới tình máu mủ, mới thấy hành động ấy cao cả nhường nào...


... Sáu Chấp thỉnh thoảng lại co duỗi đôi chân sếu của mình cho đỡ mỏi. Từ lúc biết chắc chắn mấy tên lính ngụy tới đây không có ý mò hầm, anh chuyển đề tài suy nghĩ. Anh điểm lại cơ sở của mình đã xây dựng trong đại đội phòng về dân sự của địch, điểm lại diễn biến tư tưởng của anh em đoàn viên gài vào làm nội tuyến, nếu như thực hiện việc binh biến... vẫn cái công việc phức tạp, khó khăn dai dẳng "phá kế hoạch bình định" của địch. Nhiều năm nay ta đã tốn khá nhiều công sức và xương máu. Địch xây, ta phá, địch lại xây, ta lại phá... cứ như kéo co với nhau, ai bền bỉ dẻo dai thì người ấy thắng.


Cuối năm 1968 địch lập chi khu kiểu mẫu, đổi tên thị trấn Tri Tôn thành Kim Sơn. Chúng lập khu định cư Sóc Sơn. Chúng tổ chức được một đại đội phòng vệ dân sự làm nòng cốt, đi đôi với sự tàn bạo của mấy tên ác ôn, chúng đã dựng được hình hài của "chi khu Kim Sơn kiểu mẫu", chỉ còn chờ ngày cắt băng khánh thành. Nhưng đội biệt động của thị trấn do anh chỉ huy đã làm cho ý đồ của chúng bị đảo lộn tất cả. Vào một đêm tháng tám, đội biệt động kết hợp với nội tuyến đã tiêu diệt gọn ban chỉ huy đại đội và bắt hai mươi tên phòng vệ dân sự, thu mười hai khẩu súng. Thực tế chi khu kiểu mẫu của chúng đã bị sụp đổ, nhưng bọn ngụy ngoan cố cố níu giữ ý đồ cũ, tới nay chúng lại nhen nhóm việc lập thị trấn Kim Sơn. Mấy hôm nay Sáu Chấp đã tổ chức cho đội biệt động thị trấn dùng bê-ta1 (Mìn lõm) đã phá hủy được ba bốn xe vận tải của chúng ở gần thị trấn. Các đoàn xe vận tải của chúng vẫn không ngừng vận chuyển trên tuyến đường Rạch Giá - Hà Tiên. Sáu Chấp suy nghĩ: Nếu cắt đứt được tuyến đường huyết mạch này của chúng sẽ gây được tác động rất lớn, vượt xa sự mong mỏi của huyện và ảnh hưởng trực tiếp mạnh mẽ tức thì đối với "chi khu Kim Sơn kiểu mẫu". Làm thế nào? Không thể đưa hàng trăm dân công lên phá đường, đắp vật cản như hồi năm 1962-1963 được. Nếu có thuốc nổ với khối lượng lớn... nhưng lấy ở đâu? Bom lép? Đúng rồi, nếu tìm được một quả bom lép... Sáu Chấp mỉm cười khoan khoái. Anh đang hứng thú suy nghĩ thì nghe thấy tiếng động trên nóc hầm. Một ô ánh sáng hình chữ nhật hiện ra. Tiếng bà Do nói vọng xuống:

- Chúng nó đi hết rồi.

Hai anh em bước lên mặt đất, họ vươn vai trút một hơi thở thật dài, cho bõ lúc ngột ngạt tù túng ở trong hầm. Bà Do đăm chiêu nhìn họ, tỏ niềm cảm thông. Bà nói:

- Mấy thằng đốn mạt ấy ngồi nói chuyện dai, tao lo bọn bây bị ngạt nhưng chẳng có cách chi đuổi chúng đi được.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Sáu, 2021, 02:17:49 pm
3

Năm Điều và Sáu Chấp ở nhà bà Do gần một năm trời. Hằng đêm họ lại ra đi, mỗi người làm công việc của mình. 

Năm Điều thời kỳ này là tiểu đội trưởng quân báo, anh đã tổ chức được một mạng lưới theo dõi tình hình địch trong chi khu Tri Tôn. Anh nhận được tin tức hoạt động hàng ngày của địch khá đều đặn, qua những hòm thư chết.


Công việc của Sáu Chấp đã được tiến hành đúng như dự tính. Anh em du kích đã kiếm được quả bom nặng 200 kí đưa về, nhờ công trường thay ngòi nổ. Họ phải mất ba bốn đêm vất vả nguy hiểm mới chuyển được quả bom ấy từ "Hòn" về Chòm Sao trên lộ 80. Quả bom nổ đã tạo ra một cái hố sâu cắt lộ 80, nối đầu một con rạch với sông Rạch Giá - Hà Tiên. Giữa mùa nước lũ, nước trên cánh đồng đầy ứ cứ theo con rạch chảy qua hố bom ra sông. Đoạn đường bị cắt, mỗi lúc một mở rộng, không thể khắc phục trong vài ngày, bọn địch phải đưa quân tới đóng ở Chòm Sao để bảo vệ cho quân làm đường.


Trong lúc đoạn đường bị phá ở Chòm Sao chưa kịp nối lại thì du kích biệt động của thị trấn đã dùng một trăm kí thuốc nổ (lấy từ đạn pháo lép) phá cống Sư Nam. Địch phải đưa quân tới đóng đồn Sư Nam. Vài ngày sau anh em lại cắt một đoạn đường ở Tà Xen. Tuyến đường Rạch Giá - Hà Tiên bị chặt đứt kéo dài hàng tháng trời địch mới nối lại được. Tiếp những ngày sau đó, du kích biệt động của thị trấn liên tục dùng mìn đánh phá hủy nhiều xe vận tải của địch; đi đôi với diệt ác ôn và phá tổ chức quần chúng của địch làm cho ý đồ lập "chi khu Kim Sơn kiểu mẫu" của địch một lần nữa tan rã hoàn toàn.


Anh em cán bộ và du kích vẫn phải ăn ở phân tán trong nhà dân. Khi nào địch đến, họ phải xuống hầm bí mật tạm né tránh. Sáu Chấp và Năm Điều thấy việc thằng Tẩng, con rể bà Do luôn dẫn bọn biệt động ngụy vào xóm khui hầm. Ở nhà bà Do lâu quá rồi có thể bị lộ, họ bàn với nhau chuyển chỗ ở. Năm Điều đi trước, anh về ở với gia đình mình. Các em gái đã sơ tán, ở nhà chỉ còn cô Xuân (em dâu) với đứa con mới đẻ. Năm Điều ở nhà hai ngày, bọn lính đã kéo đến. Chúng vừa bước tới sân, đã có một tên lên giọng hạch sách:

- Thằng Năm Điều vừa mới về, nó ở đâu?

Xuân bế con đứng ở cửa, trả lời dõng dạc:

- Ở đây không có ai là Năm Điều.

- Nếu tôi tìm được thằng Năm Điều ở trong nhà này thì sao?

- Nếu các anh kiếm được ai là Năm Điều ở đây thì cứ bắn tôi ngay chỗ này.

Tên chỉ huy xua bọn lính, chúng dùng thuốn sắt xăm hết nền nhà rồi ra ngoài vườn. Rất may là hầm ở ngay nơi trống trải bất ngờ, bọn lính đi qua lại nhiều lần nhưng vẫn không thấy.


Thằng chỉ huy thổi còi tập hợp lính chuẩn bị rút. Tiếng eo éo từ chiếc máy bộ đàm PRC25 phát ra: "Ó xám gọi cọp vằn. Thằng Tẩng nó biểu Năm Điều mới về đó, phải tìm cho bằng được". Thằng chỉ huy lầu bầu chửi tục:

- Đ. má! Biểu thằng Tẩng đến mà kiếm.

Tên chỉ huy lại hô lính tỏa ra tìm kiếm trong nhà ngoài vườn một lần nữa.

Xuân nghe thấy chúng nói với nhau "Thằng Tẩng báo...", cô thấy tình hình nguy hiểm, nhưng vẫn bình thản vạch vú ra cho con bú và nói nựng con như chẳng có chuyện gì xảy ra.

Lần này bọn lính làm chiếu lệ, chúng đi loanh quanh một hồi rồi báo cáo với thằng chỉ huy là không thấy gì.

Trời xế chiều, bọn lính ngụy mới rút. Xuân chờ cho chúng rút thật xa mối đi kiểm tra xung quanh. Biết chắc chắn chúng đã rút hết, lúc đó cô mới mở nắp hầm cho Năm Điều lên.

- Anh Năm. - Xuân không giấu sự lo lắng nói với Năm Điều. - Chúng nó biết anh mới về đây do thằng Tẩng báo.

- Ở dưới hầm anh có nghe thấy chúng nó nói với nhau... cũng đoán được điều đó. Tối nay anh phải đi.

Ăn cơm xong, trời vừa tối. Năm Điều dặn dò em dâu chuyển lời thăm mẹ và các em gái rồi khoác bòng biến vào đêm tối.

Anh đến nhà bà Do. Sáu Chấp vẫn còn ở đó. Năm Điều nói nhỏ với Sáu Chấp:

- Thằng Tẩng biết chúng ta về đây, nó báo cho bọn lính đến xăm hầm ở nhà tôi. Chúng ta phải rời khỏi đây ngay thôi.

Sáu Chấp nói:

- Tình hình bây giờ khác rồi. Chúng ta kéo nhau ra rừng ở.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 30 Tháng Sáu, 2021, 09:56:08 pm
4

Các cán bộ đoàn thể của huyện được phân công xuông vùng cơ sở yếu bám dân bám đất xây dựng cơ sở, tiến tới diệt ác phá kìm, mở rộng vùng ta làm chủ. Nguyễn Đức Toàn (Ba Toàn), bí thư huyện đoàn thanh niên, cùng với Bình, Thành, Danh thành một tổ công tác về xây dựng cơ sở xã Bình Sơn.
Phần đông nhân dân các ấp trong xã Bình Sơn bị địch dồn ra ấp lộ 80 để chúng dễ bề kiểm soát. Hàng ngày bọn lính bảo an, dân vệ, mật vụ tới từng nhà dân, chúng tuyên truyền lừa mị và khủng bố đe dọa. Các tổ chức cơ sở cách mạng của Bình Sơn một lần nữa lại nhão ra từng mảng. Nhân dân giảm sút lòng tin, không dám tiếp xúc với cán bộ cách mạng.


Nhóm của Ba Toàn có nhiệm vụ "đột" vào một ấp trên lộ. Hai tuần lễ liền họ đã phải "chém vè" ngoài đồng cỏ, hằng đêm vào ấp như vào trận đánh. Mỗi tuần gặp một hai lần địch phục kích. Cái chết như đang chờ đón họ ở mọi phía. Ba Toàn không tin rằng sau đợt công tác này mình sẽ còn sống trở về. Anh đã viết sẵn những bức thư để lại lời trăng trối, gởi Huyện ủy, gởi chi bộ và gởi gia đình mình. Anh tự xác định như mình đã chết, để nhẹ bớt lo buồn trước những ngày đói khổ nguy hiểm này.


Đến ngày thứ mười bốn, họ vào nhà ông Năm Bảo. Vợ chồng ông Năm câm lặng không đáp lại một lời trước những lời lẽ thiết tha gần như van vỉ của Ba Toàn. Hàng nửa giờ mắt ông Năm nhìn vào khoảng không đen tối, như một tín đồ sùng đạo đang tìm tới sự thiêng liêng của thượng đế. Ba Toàn nói hết lời. Anh ngồi im lặng chờ đợi. Ông Năm bỗng đứng bật dậy nói với cô con gái:

- Con đưa mấy anh ra vườn sau chỉ chỗ...

Không khí im lặng thiêng liêng chiếm lĩnh căn nhà nhỏ. Tất cả mọi người có mặt lúc đó đều hiểu, những tiếng nói của ông Năm vừa rồi là sự ký cược toàn bộ tính mạng, tài sản của gia đình vì lợi ích của cách mạng.


Hai Hạnh, con gái ông Năm đang độ tuổi dậy thì, xinh xắn và đầy nhiệt tình. Mấy tối nay, các anh cán bộ vào vận động ông Năm cho anh em được làm hầm bí mật trong nhà. Hạnh vẫn ngồi bên cạnh mẹ lắng nghe từng lời. Cô thầm mong bố mình đồng ý. Tối nay, khi nghe thấy ông Năm bảo cô "chỉ chỗ", cô mỉm cười đứng bật dậy. Cô đưa mấy anh cán bộ thẳng tới vị trí cô đã chủ động lựa chọn từ mấy hôm trước.


Từ hôm có hầm bí mật trong nhà ông Năm Bảo, nhóm công tác của Ba Toàn như được sống lại. Ít ngày sau họ phát triển cơ sở có hầm bí mật sang nhiều gia đình trong ấp. Ông Sáu Cứu, ông Tám Đê, ông Tư Tài trở thành những gia đình nuôi chứa họ. Ít lâu sau ông Tám Đê được kết nạp đảng, ông Tám đã móc nối được một cơ sở nội tuyến là một người lính truyền tin ở ấp Ông Tà. Anh lính truyền tin là cháu ruột của ông Tám đã báo cho tổ công tác những hoạt động của địch ở trong xã.


Địch đánh hơi thấy sự hoạt động củạ cách mạng trên tuyến lộ và trong xã Bình Sơn. Chúng đưa tới tăng cường cho Vàm Rầy một đại đội thám báo biệt kích, do tên trung úy Trung chỉ huy.

Mỗi lần tới ấp tên Trung thường đi mò gái. Hắn thấy cô Hai Hạnh là người có nhan sắc, có lần tới ấp hắn bỏ lính ở một chỗ rồi lẩn vào nhà cô Hai Hạnh để tán tỉnh.

Hành động của tên đại đội trưởng đại đội thám báo đã không qua được mắt tổ công tác. Họ quyết định phải bắt sống tên Trung.

Một hôm, vào khoảng tám giờ tối, Hai Hạnh báo cho tổ công tác biết, có một mình tên Trung vào trong nhà, toàn đại đội của hắn ở ngoài bờ kinh, cách khoảng một trăm mét.

Ba Toàn cùng một tổ đặc công của tỉnh Châu Hà ém sẵn ở dưới bếp. Trong lúc tên Trung đang giở ngón tán tỉnh, mũi súng của tổ đặc công đã gí vào lưng hắn. Việc bắt tên đại đội trưởng thám báo không hề gây ra một tiếng động.

Bọn lính thám báo ngồi chờ ở bờ kinh lâu quá không thấy đại đội trưởng, chúng bắn chỉ thiên vài loạt rồi kéo nhau về.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 30 Tháng Sáu, 2021, 09:57:32 pm
5

Từ cuối năm 1971 đến năm 1972, phong trào cách mạng Hòn Đất phát triển toàn diện. Cơ sở chính trị ở hầu khắp các xã được xây dựng và củng cố vững chắc, làm chỗ dựa cho lực lượng vũ trang mở ra nhiều trận đánh thắng lợi. Việc vận động quần chúng đóng góp vào quỹ đảm phụ quốc phòng cũng vào nền nếp, toàn huyện đã có quỹ lương thực bảo đảm nuôi quân, nuôi cán bộ hoạt động dài ngày.


Sự thường xuyên hoạt động mạnh mẽ đều khắp của cả hai lực lượng chính trị và vũ trang trong toàn huyện đã buộc địch phải co lại, giảm bớt các cuộc càn quét lùng sục.

Tình hình thuận lợi ấy tạo điều kiện cho các xã ngày một mở rộng hoạt động giành quyền làm chủ. Các xã Nam Thái, Mỹ Lâm, Sóc Sơn đã mở ra những "lõm" giải phóng, và làm chủ các khu rừng tràm.

Xã Thổ Sơn vốn là xã yếu so với phong trào toàn huvện, đến nay cơ sở chính trị và hoạt động của du kích đã khá hơn. Cuối năm 1972 Sáu Chấp lên công tác ở huyện, Bảy Thuận về thay làm bí thư chi bộ. Chỉ trong vòng một năm hoạt động, người bí thư trẻ tuổi ấy đã nổi tiếng, làm cho nhân dân trong xã tin yêu, làm cho kẻ thù kiêng nể. Thời kỳ này, xe của địch đi trên đoạn đường từ Vàm Răng tới Lình Quỳnh luôn luôn bị mìn của du kích làm nổ tung. Những tên ác ôn tỏ ra hung hăng ở đất Thổ Sơn, lần lượt bị du kích tiêu diệt. Nhiều tên tề điệp có nợ máu với nhân dân, hàng ngày vào lúc xế chiều là chúng chui vào trong đồn.


Một lần ở "cứ" rừng Sơn Nam, anh em đi công tác vắng, chỉ còn Bảy Thuận và Hậu là thương binh cụt một tay. Khoảng bốn giờ chiều ông Ch, dân cơ sở trong lòng địch ra "cứ" báo cho Bảy Thuận biết: thằng Q một tên mật vụ ác ôn vừa về nhà.

Nghe tới tên Q, Bảy Thuận từng theo dõi hắn, biết hắn là tên mật vụ lợi hại, có võ giỏi, rất xảo quyệt. Anh nghĩ ngay tới việc tìm cách bắt sống hắn. Nhưng lực lượng của mình mảnh quá, mình chỉ có hai người sức vóc yếu ớt, liệu có thực hiện được ý muốn không. Thoáng nghĩ như vậy, nhưng Bảy Thuận vẫn hỏi kỹ ông Ch những điều cần thiết.

- Chú có thấy hắn mang theo súng không?

- Có. Súng côn.

- Liệu tối nay hắn có ngủ ở nhà không?

- Nó về chiều như thế này thường ở lại với vợ nó.

- Tối nay chúng cháu sẽ vô ấp, chú xem tình hình an toàn thì thắp đèn làm ám hiệu báo cho chúng cháu. Có địch "kích" thì thôi.

Xong việc, ông Ch vác một bó củi ra khỏi rừng, như những người đi kiếm củi trở về.

Bảy Thuận ngồi một mình, tựa lưng vào gốc tràm suy tính tới những tình huống sẽ gặp. Nếu nó còn thức đã phát hiện ta từ xa, nó chạy?... Nếu ta vào nhà nó mà vẫn giữ được bí mật?... Sau khi suy tính kỹ, Bảy Thuận gọi Hậu tới trao đổi. Hai người thống nhất quyết tâm về kế hoạch thực hiện.


Khoảng tám giờ tối hôm đó, trời mưa lâm thâm, hai anh em đã tới vườn khoai cách nhà ông Côn vài trăm mét. Họ nằm lại nghe ngóng, ngọn đèn ám hiệu của ông Ch vọt ra những tia sáng nhỏ qua vách liếp. Bảy Thuận nhận được ám hiệu rồi nhưng vẫn còn nằm một hồi lâu nghe ngóng thận trọng rồi mới bước vào trong nhà.

Nghe tiếng Bảy Thuận, ông Ch mở cửa.

Thuận hỏi nhỏ:

- Hắn còn ở nhà không?

- Còn.

- Chú dẫn chúng tôi tới nhà hắn.

Ba người len lỏi theo lối mòn đầy cỏ rậm, đi khoảng chừng hơn hai trăm mét đến nhà tên Q. Ông Ch hướng dẫn cho Bảy Thuận lối ra vào của căn nhà, rồi quay về.

Căn nhà tên Q chìm lặng trong bóng tối. Bảy Thuận và Hậu nhón chân đi từng bước xung quanh nhà. Thỉnh thoảng họ lại áp tai vào vách lắng nghe. Tiếng ngáy từ trong căn nhà ghép bằng ván gỗ phát ra đều đều.


Biết chắc vợ chồng tên Q đã ngủ say, họ bắt tay hành động. Hậu gác chặn lối cửa sau. Thuận ở cửa chính, anh dùng bàn tay khẽ luồn qua khe của hai cánh cửa, đẩy dần cái then cài cửa sang một bên. Cánh cửa kẹt lên một tiếng rồi mở tung, ngay lúc đó ánh đèn pin của Bảy Thuận rọi thẳng vào mặt vợ chồng tên Q. Anh ra lệnh:

- Nằm im. Đứa nào đụng đậy, trái lệnh tao, tao bắn võ sọ... Thằng Q nằm úp mặt xuống, hai tay để sau gáy... Mụ kia đứng xuống đất... lật các gối lên... vất khẩu súng xuống nền nhà... rút dây võng kia... trói tay thằng lại... trói thật chặt... siết nữa... nữa.

Vợ chồng thằng Q làm theo lệnh của Bảy Thuận như một cái máy.

Nghe tiếng hô của Bảy Thuận, Hậu đi vòng về cửa trước hỗ trợ bạn. Hậu vào trong nhà thu vũ khí, kiểm tra lại sợi dây trói, rồi hạ lệnh cho tên Q đi ra.

Trời vẫn lất phất mưa, tối như bưng, cách nhau hai ba mét chỉ nhìn thấy hình khối lù lù không đường nét. Thằng Q đi trước, vờ đi chậm lại rồi thình lình đá một cú móc hậu vào bụng Bảy Thuận, rồi cắm đầu chạy. Thuận bị ngã nhưng vẫn giữ được bình tĩnh, anh rọi đèn theo Q. Hắn mới chạy được hơn chục mét, Bảy Thuận và Hậu cùng nhằm vào cái bóng chạy nghiêng ngả phía trước siết cò. Hai tiếng nổ gần như trùng nhau xô tên Q ngã sấp xuống mặt đất.


Thấy tiếng sung nổ gần, bọn lính trong đồn thổi còi báo động. Tiếp theo là những loạt đạn liên thanh bắn loạn xạ.

Từ ngày tên Q bị giết, bọn lính trong đồn cứ tối đến là đóng chặt cổng, không có đứa nào dám la cà ngoài ấp.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 30 Tháng Sáu, 2021, 09:58:45 pm
6

Sau đợt chiến đấu thu hút địch ở "Hòn", địa phương quân rút về khu vực xã Sóc Sơn. Về hình thức, địa phương quân lúc này có một đại đội với đầy đủ ban bệ, nhưng thực chất quân số chỉ có khoảng một trung đội. Đơn vị thường bị xé lẻ phục vụ đường 1C và công tác xây dựng cơ sở của toàn huyện.


Thời gian này, xã đội trưởng Ba Non đã được bổ nhiệm làm huyện đội trưởng. Anh trực tiếp nắm trung đội địa phương quân, dồn sức vào việc khuấy động phong trào du kích chiến tranh ở hai xã Mỹ Lâm và Sóc Sơn. Ngoài những việc diệt ác và đánh giao thông trên lộ 80, địa phương quân (cuối 1971-1972) đã làm được những việc đáng kể: trực tiếp làm áp lực cho anh em nội tuyến trong hai liên toán "thanh niên chiến đấu" khởi nghĩa, thu hai mươi khẩu súng, có hai trung liên. Tuyển được ở trong số "thanh niên chiến đấu" ấy hai mươi tân binh. Phục kích ở Tà Lúa, bắn chìm một vỏ vọt, tiêu hao nặng một trung đội biệt kích... Những việc làm của địa phương quân dưới sự chỉ huy của Ba Non, được nhân dân địa phương hết sức tin cậy.


Một lần có mấy ông già người xã Sóc Sơn đến "cứ" của du kích gặp Ba Non. Các ông than phiền về cái đồn Vàm Biển. "Thằng khùng đồn trưởng là mối tai họa cho dân cả vùng này. Nó muốn bắt ai bỏ tù, muốn đánh đập ai thì đánh. Biết bao nhiêu người mang thương tật trên người vì đòn roi của thằng khùng ấy".


Vốn là thổ công ở vùng này, Ba Non không lạ gì đồn Vàm Biển; không lạ gì tiếng tăm hung ác của thằng đồn trưởng mà dân thường gọi là thằng khùng. Nhiều lần Ba Non muốn tính sổ với cái đồn Vàm Biển nhưng hiềm một nỗi du kích không có đủ sức. Và cái đồn ấy ở cách biệt khỏi vùng dân cư như một ốc đảo, việc tiếp cận nó để trinh sát gặp nhiều khó khăn.


Nghe mấy ông già nói, Ba Non thân mật đáp lại:

- Thằng khùng đáng tội chết rồi đó. Nhưng chúng tôi chưa tìm cách nào vào đồn của nó được. Cô bác muốn chúng tôi trừ được cái tai họa do thằng khùng gây ra. Chúng tôi nhờ cô bác giúp theo dõi trong đồn nó có bao nhiêu quân, bao nhiêu súng, đặt ở chỗ nào, ngày đêm chúng ăn ở đi lại như thế nào?...

Một ông già nói:

- Được rồi, việc theo dõi chúng nó như mày vừa nói để chúng tao lo. Nhưng tao hỏi thiệt, mày có đủ gan diệt nó không?

- Sao lại không. Các tía không tin thằng Ba Non này hen.

- Chúng tao tin. Nếu bọn mày giết được thằng khùng thì chúng tao đãi chúng bây một bữa bia đái ra quần...

Câu chuyện tưởng như vui vẻ bình thường ấy, nhưng những ngày sau đó nhiều bà con ở gần đồn Vàm Biển đã lặng lẽ tự nguyện làm theo yêu cầu của Ba Non. Thời gian kể từ ngày gặp mấy ông già qua đi hơn hai tháng. Một hôm trời còn sớm tinh mơ, anh Tám Chuông, dân cơ sở ra "cứ" báo cho Ba Non biết tin: "Đêm hôm qua thằng khùng và thằng Tiến, tiểu đội trưởng đánh bạc thua, chúng phải mượn xuồng của dân, sớm nay chúng đi xúc nhao trâu để bán lấy tiền trả nợ".


Khi nghe Tám Chuông báo cáo xong, Ba Non nghĩ ngay tới lực lượng để bắt sống thằng khùng. Lúc này ở "cứ" chỉ còn anh và một lính mới mặt còn bấm ra sữa. Ba Non hạ quyết tâm dù có hai thầy trò cũng ra ngay cửa vàm đón bắt thằng khùng, không sẽ mất thời cơ.    Ba Non đang dặn dò anh lính trẻ về các tình huống cần xử trí trong việc bắt thằng khùng, thì Năm Thịnh và Năm Ưng về.

- Thiệt là hên quá chừng.

Ba Non vui mừng chỉ còn thiếu reo to lên. Họ trao đổi với nhau ngắn ngọn nội dung công việc phải làm, rồi xách súng đi thẳng ra cửa vàm.

Nhiều xuồng ghe đánh cá vào xúc nhao trâu ở ven biển đã trở về. Theo lệnh của bộ đội giải phóng, họ đậu lại ven bờ để kiểm soát.

Ba Non đặt hai bàn tay khum khum lên sát miệng làm loa, anh nói to:

- Tất cả những người xúc nhao trâu lên bò.

Lần lược những ngươi trên những con xuồng gắn máy nhảy lên bờ, đi ngang trước mặt mấy anh bộ đội. Tên khùng ăn vận như những người dân khác vừa đi qua trước mặt Ba Non mà anh không biết. Một ông già đi tới nói khẽ với Ba Non:

- Trời ơi! Thằng khùng vừa đi qua mặt anh. Lần này không giết được nó thì sẽ có nhiều người chết với nó.

Ba Non hạ lệnh cho anh em bắt giữ người đàn ông vừa đi qua được vài bước. Thằng khùng định đóng tiếp vai kịch dân lương thiện, nhưng không kịp.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 30 Tháng Sáu, 2021, 09:59:18 pm
7

Chiến thắng to lớn của các chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, chiến dịch Chen-la 1, Chen-la 2, chiến dịch Đường 9 - Quảng Trị và chiến thắng ở "vùng ruột Hậu Giang" của miền Tây như một làn gió lành không chỉ có sức cổ vũ, mà đã tạo ra nhiều thuận lợi cho quân và dân Hòn Đất đưa phong trào du kích chiến tranh tiến lên một cao trào mới. Các lực lượng vũ trang, chính trị của toàn huyện đã trụ vững ở địa bàn đồng bằng; phá vỡ một mảng quan trọng trong hệ thống chiếm đóng của địch, mở thông tuyến đường 1C.


Khoảng cuối tháng 10 năm 1973, thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy Châu Hà, lực lượng vũ trang của Hòn Đất có nhiệm vụ phối phợp với một số phân đội của tỉnh và quân khu chiếm lộ Rạch Giá - Hà Tiên rồi trụ lại cắt đứt tuyến đường giao thông tiếp tế quan trọng của địch.


Đoạn đường từ Sóc Xoài vê Rạch Giá do hai trung đội địa phương quân, một tiểu đội du kích Sóc Sơn và hai đại đội của tỉnh đảm nhận. Ban chỉ huy chung gồm Ba Non làm trưởng và các thành viên: Chín Oanh, bí thư chi bộ Sóc Sơn và tiểu đoàn trưởng Phiến.


Đêm 26 tháng 10 các đơn vị chia thành hai mũi, mũi thứ nhất do đại đội 410 và đại đội 3 của tỉnh chiếm đoạn đường từ Sóc Xoài đến đường trâu; mũi thứ hai do hai trung đội địa phương quân huyện cùng tiểu đội du kích Sóc Sơn chiếm từ Vàm Rảng đến Sóc Xoài. Ngày đầu địch phản ứng yếu ớt. Ngày thứ hai quân ta từ hai hướng tiến vào thị tứ Sóc Xoài, đánh chiếm được một nửa thị tứ. Địch dùng pháo, máy bay bắn phá quyết liệt cả vào khu dân cư, nhằm ngăn chặn quân ta. Ba Non hạ lệnh cho các đơn vị tạm lui ra, hình thành thế bao vây thị tứ. Dựa vào nền nhà vườn cây của dân, anh em tiến hành đào công sự làm trận địa.


Mặc dầu bom pháo địch bắn phá dữ dội, nhiều gia đình dân vẫn cùng bộ đội trụ bám. Một số gia đình ở sát về phía thị tứ, không thấy bộ đội đào công sự ở nhà mình thắc mắc, sợ sau này khi thi hành Hiệp định Pa-ri mình sẽ bị kẹt bên đất ngụy. Bà con đã đề nghị với bộ đội sang đào công sự ở nhà mình. Ông Tư Viết đến gặp Năm Thịnh nói:

- Mày biểu bọn nó đào công sự bên nhà tao, ráng lên tao phụ một tay, không lẽ bọn bay để tao lại phía quốc gia...

Tiếng đạn pháo nổ không lúc nào ngớt, những đám cháy gần đưa hơi nóng hầm hập, nhưng mọi người vẫn khẩn trương đào đắp trận địa. Nhân dân tại chỗ chủ động nấu cơm nấu nước tiếp tế cho bộ đội. Có gia đình giết chó, giết gà mang tới ủng hộ anh em. Mọi người chuẩn bị chiến đấu trong không khí đầy lạc quan tin tưởng vào chiến thắng sắp tới.


Ngày thứ ba chiếm giữ lộ 80, trên đoạn đường dài mười lăm mười sáu cây số từ cầu số 4 về Rạch Giá không giờ phút nào ngớt tiếng bom đạn. Địch đưa bộ binh có xe tăng yểm hộ cố sức đẩy lực lượng ta ra khỏi các trận địa chốt. Các đơn vị của ta dựa vào công sự kiên cường chiến đấu đánh bật nhiều đợt xung phong của địch.


Ở đầu cầu số 4, trận địa chốt của ta chỉ có một tiểu đội địa phương quân huyện. Địch đưa từ Hà Tiên về một đại đội biệt động do tên Hổ ác ôn chỉ huy, được máy bay và nhiều trận địa pháo bắn yểm hộ, chúng cố hết sức để đè bẹp cái chốt nhỏ bé ấy, nhưng mỗi lần xung phong lên chúng phải để lại một vài xác chết. Suốt ngày từ mờ sáng tới tối mịt không lúc nào ngừng chiến đấu, nhưng anh em vẫn gan góc bám trụ vững trận địa...


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 30 Tháng Sáu, 2021, 10:00:51 pm
8

Cùng thời điểm với các cánh quân khác, du kích Thổ Sơn được tăng cường một cối 60 ly và hai khẩu B41 và nửa tiểu đội bộ binh, do Sáu Chấp, huyện ủy viên chỉ huy hành quân vào chiếm lĩnh trận địa.

Đơn vị hành quân tới bờ sông Rạch Giá - Hà Tiên gặp tổ trinh sát do đội trưởng Quyền phụ trách. Quyền cho biết, địch đã đưa tới Sư Nam một trung đội.

Sư Nam là địa điểm du kích Thổ Sơn chọn làm trận địa chốt, một địa điểm khó thay thế. Muốn làm trận địa chốt để cắt lộ 80, trước hết phải quét trung đội địch, đó là một tình huống ngoài dự kiến.

Sáu Chấp hạ lệnh cho đơn vị triển khai đội hình bên bờ sông và phân công cho xã đội trưởng Quyền đưa một tổ sang bên kia chiếm bến vượt.

Khoảng gần nửa đêm, nhìn từ bò bên này sang bò bên kia, chỉ thấy từng mảng đen đặc quánh. Quyền chỉ tay vào một bóng cây đen sẫm cao hơn những mảng đen khác, nói với Sáu Chấp:

- Tôi sẽ lên ở chỗ cái cây đó... Anh có nhìn thấy không. Tôi vô nhà Mỹ Nhân, hỏi lại xem tình hình địch có gì thay đổi không. Buổi trưa địch đã giãn ra, biết đâu giờ nó lại thay đổi. Nếu tình hình ổn tôi sẽ phát ám hiệu bằng ánh đèn.

- Nếu khi sang bị lộ buộc phải nổ súng, các cậu cố gắng ghìm chân địch. Tao ở bên này dùng hỏa lực yểm hộ, rồi cũng vượt sang luôn.

Hai người trao đối với nhau xong những tình huống có thể xảy ra, Quyền cho anh em lấy cỏ ngụy trang. Mỗi người trong tổ của Quyền đội lên đầu một mớ cỏ, rồi họ nhoài người ra giữa dòng sông. Sáu Chấp nhìn theo, lúc đầu còn thấy lờ mờ những mớ cỏ trôi bồng bềnh, lát sau tất cả mất hút vào trong đêm.


Quyền dẫn đầu tổ, vừa lên bò nghe thấy có tiếng nói thì thầm, anh dừng lại định báo cho các bạn mình ở phía sau, nhưng ngay lúc đó có người quẹt lửa, ánh lửa soi rõ năm sáu tên lính ngụy đang đứng chụm lại mồi thuốc cho nhau, chỉ cách anh ba bước chân. Không chần chờ một giây, Quyền níu cò nhả một loạt đạn dài vào bọn chúng. Một toán địch cách đó không xa, nghe tiếng súng nổ chúng vội nằm xuống bắn chỉ thiên.


Sáu Chấp thấy tiếng AK nổ ở chỗ cây cao và một lúc sau có nhiều tiếng súng tiểu liên AR15 nổ cách đó khoảng hai chục mét, những loạt đạn lửa nối nhau bay lên trời. Anh phán đoán tổ Quyền gặp địch, họ đã nổ súng trước, và những loạt đạn bắn chỉ thiên kia là của địch. Sáu Chấp hạ lệnh cho xạ thủ B40 bắn hai phát vào chỗ đang có chớp lửa, rồi lập tức cho đơn vị vượt sông.


Đội du kích Thổ Sơn đã chiếm được mặt đường. Họ phân công nhau cảnh giới và kiểm tra kết quả trận đánh. Chỗ Quyền nổ súng có sáu tên ngụy chết nằm đè lên nhau. Cách đó khoảng hơn chục mét có ba tên lính hoảng sợ núp trong bụi bị họ lôi ra. Số lính còn lại của trung đội địch đã chạy mất hút.


Ngay trong đêm họ huy động nhân dân cùng tham gia đào công sự và họ đặt bãi mìn. Sáng hôm sau trận địa chốt đã xong xuôi mọi việc. Đồn Lình Quỳnh cách trận địa chốt của họ khoảng năm trăm mét vẫn im ắng không có phản ứng gì.

Sáu Chấp nghĩ tới việc tấn công địch bằng công tác binh vận. Trong lúc chưa nghĩ ra kế gì để trao cho thằng đồn trưởng Lình Quỳnh một bức thư, Sáu Chấp nhìn ra ngoài sân thấy một con chó lai khá to, anh hỏi con gái ông chủ nhà:

- Con chó kia của nhà em?

Mỹ Nhân, con gái ông chủ nhà trả lời:

- Nó ở trên đồn, hằng ngày xuống nhà em.

Sáu Chấp không ngờ câu hỏi vu vơ của mình lại có ích như vậy. Anh cười đắc ý và phát tay vào đùi mình:

- Hay quá. Mỹ Nhân lấy cơm cho nó ăn đi. Nó sẽ được việc.

Mỹ Nhân ngơ ngác không hiểu ý của Sáu Chấp, nhưng em cũng đi lấy bát cơm nguội đổ ra sân cho con chó.

Sáu Chấp mở sổ tay, xé một trang rồi đặt lên đầu gối viết thư cho tên đồn trưởng. Trong thư anh đe dọa "... Chúng tôi sẽ tấn công chiếm đồn, lúc đó các anh không còn thì giờ để hối tiếc. Hiện nay còn nhiều xác lính của các anh vẫn còn nằm ở phía trận địa của chúng tôi. Vì lòng nhân đạo, chúng tôi cho phép các anh đến lấy xác đồng đội của mình, nhưng phải cử người tới gặp chúng tôi nhận điều kiện...".

Bức thư buộc vào cổ con chó xong, Mỹ Nhân quất một roi, nó sợ hãi chạy biến về đồn.

Sáng sớm hôm sau, thay bằng thư trả lời của thằng đồn trưởng Lình Quỳnh hàng chục nòng pháo ở các trận đại pháo Hòn Sóc, Tri Tôn, nã đạn vào Sư Nam. Cái xóm nhỏ có năm mươi hai nóc nhà lần lượt bốc cháy. Tiếng đạn nổ, tiếng nổ trong đám cháy, tiếng người kêu cứu thảm thiết. Một số người dân bị thương. Ban chỉ huy trận địa chốt quyết định vận động nhân dân sơ tán thật nhanh ra khỏi khu vực địch đang bắn phá. Nhiều bà con không kịp mang theo đồ đạc, vội vã bồng con bế cái xuống xuồng bơi vào trong đồng.


Buổi chiều địch ngừng bắn phá. Anh em gác nhìn thấy một ông già trên chiếc xuồng con từ phía đồn địch đang bơi tới trận địa. Anh em tạm giữ lại. Mấy ông già trong ấp còn ở lại giới thiệu ông già vừa tới là ông Hai Kình, cũng là người trong ấp.

Ông Hai Kình nói với ban chỉ huy trận địa chốt:

- Ông trưởng đồn nhờ tôi đến nói với mấy ông cách mạng, xin các ông vì lòng nhân đạo cho vợ con lính có chồng chết ỏ đây, đến lấy xác chồng họ vào trưa ngày mai. Còn việc bàn giao đồn như ý của phía cách mạng, ông đồn trưởng đề nghị: hai giờ chiều ngày mốt, mỗi bên cử hai sĩ quan, không ai được mang theo vũ khí, tới gặp nhau ở nhà ông Hai Thiếc để thương lượng với nhau về việc đó. Nêu ông đồng ý tôi sẽ làm liên lạc báo cho ông đồn trưởng.

Sáu Chấp suy nghĩ: như vậy trong đồn đã núng thế, chúng mới chịu nhận gặp, và gặp nhau ở chỗ mình đang kiểm soát.

Sáu Chấp nói với ông Hai Kình:

- Ông về nói với đồn trưởng rằng chúng tôi đồng ý cho vợ con những người lính chết được tới nhận xác người thân của mình, nhưng ông Hai phải đi cùng với họ, và không được mang theo vũ khí. Ông báo cho đồn trưởng, chúng tôi đồng ý cuộc gặp ở nhà ông Hai Thiếc.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 30 Tháng Sáu, 2021, 10:01:30 pm
Chuyện con chó đưa bức "thông điệp” xem ra có thể dẫn tới một kết quả nào đó, nhiều anh em ngồi trong chiến hào bình luận về cuộc thương lượng sắp tới cho rằng: "... Đây là phát triển cao độ quan điểm vừa đánh vừa đàm...".


Đúng mười hai giờ trưa hôm sau, ông Hai Kình dẫn một số vợ lính đến nhận xác chồng.

Tình hình trong khu vực trận địa yên tĩnh, không có một tiếng nổ, như đón chờ cuộc thương lượng có lợi cho cách mạng sắp đến. Nếu như không có đám cháy nhà từ ngày hôm trước gây bận rộn cho mọi người, thì có thể tập trung lại mà ca hát được.


Đúng ngày giờ theo lời hẹn của đôi bên, sẽ gặp nhau ở nhà ông Hai Thiếc. Sáu Chấp đang phủi bụi đất bám đầy trên bộ quần áo chinh chiến của mình để chuẩn bị tới "bàn hội nghị" nhận điều kiện đầu hàng của địch. Ngọ từ tuyến công sự phía trước hớt hải chạy về làm cho sự tưởng tượng hứng thú về cuộc thương lượng sắp tới của Sáu Chấp bị hẫng.

- Anh Sáu. - Ngọ vừa nói vừa thở mạnh làm cho câu nói luôn bị ngắt đoạn. Bọn địch đến... khoảng ba mươi sáu xe tăng... bộ binh của chúng... đông không đếm xuể... có một cánh đang... vòng sườn bao vây ta.

Cơn bực bội lo lắng ùa vào trong đầu Sáu Chấp, anh văng ra một câu chửi:

- Đ. mẹ nó, xỏ lá!

Mấy anh em trong ban chỉ huy bàn tán hơi lộn xộn, có người trách móc chua chát, có người phát biểu bình tĩnh xây dựng.

- Mấy thằng cha "A11, A12" đều những thằng nói dóc, biểu kiên quyết bám trụ vài ngày mà mới ba ngày đã để địch xổng tới đây.

- Chúng nó có thể từ phía Tức Dụp hành quân tới, không theo lộ.

- Thôi, chúng ta phải phân công xuống các vị trí chiến đấu động viên anh em kiên trì bám trụ, không có lệnh không được tự động rút.

Những phát đạn từ xe tăng của địch bắn ra, tiếng rít rất căng lao vào ấp, cắt ngang lời bàn bạc của họ.

Không khí trên trận địa chốt vẫn bình tĩnh khẩn trương. Mọi người lên đạn và ngắm thử vào đội hình địch, đồng thời truyền nhau lời động viên của chỉ huy: "Bình tĩnh dũng cảm, ngắm bắn chính xác, tiết kiệm đạn".


Một chiếc M113 nghiến trên xích sắt cót két lừ lừ tiến vào gần trận địa chốt, miệng pháo của nó đều đặn khạc ra một đám lửa, bỗng sườn của nó bùng lên một đám lửa khói, và khựng lại. Miệng pháo của nó từ lúc đó im phắc. Trên trận địa chốt có tiếng reo "xe tăng địch cháy rồi" lẫn vào những tiếng nổ liên hồi.


Những chiếc xe tăng đi sau chiếc xe bị cháy dừng lại, chúng thi nhau nhả đạn. Những đám khói bụi bốc lên mù mịt trước sau trận địa chốt. Những đám cháy nhà trong ấp, khói đen đặc cả một vùng trời.


Bọn lính bộ binh của địch không nhờ cậy được vỏ thép của xe tăng, chúng dàn hàng ngang vọt tiến trên cánh đồng trống. Những viên đạn bắn tỉa của du kích Thổ Sơn lần lượt quật ngã từng tên, chúng phải chạy dạt vào một gò đất để trú ẩn. Tên chỉ huy gào thét ra lệnh xung phong, bọn lính vừa bật dậy thì gặp mìn định hướng của du kích quét đổ như ngả rạ. Cùng một lúc súng cối "sáu" của du kích rót đạn trúng vào lũ địch đang nhốn nháo. Đợt xung phong hùng hổ nhất của địch bị bẻ gãy, những tên địch còn sống quay đầu chạy, bỏ xác đồng đội nằm ngổn ngang ở phía sau lưng.


Mở đầu trận đánh diễn biến đúng như kế hoạch của ta định trước. Sự phối hợp rất đẹp giữa các loại hỏa lực cầu vồng, bắn thẳng và "bãi lửa" của du kích đã làm cho địch bối rối. Chúng phải củng cố đội hình hàng giờ mới tiếp tục trận đánh.


Trong lúc chờ đợi bọn bộ binh thay đổi đội hình, hàng chục nòng pháo trên xe tăng địch không ngừng bắn phá. Nhờ có công sự khá tốt, anh em trong trận địa chốt vẫn an toàn, chưa một ngươi nào bị thương. Những ngôi nhà của dân trong ấp tiếp tục bị đạn pháo địch đốt phá.


Đội hình của địch lại bắt đầu chuyển động. Tiếng đạn pháo nổ, tiếng xích xe tăng, tiếng động cơ rồ lên nhồi vào không khí oi bức sự căng thẳng ngột ngạt. Đội hình xe tăng của địch tiến theo hình dải quạt, bọn lính bộ binh một số ngồi trên xe, một số chạy lóc cóc theo sau, chúng tiến mỗi lúc một gần trận địa của du kích.


Hai khẩu B41 lại lên tiếng. Một chiếc rồi một chiếc xe tăng nữa bị trúng đạn bốc cháy. Chỉ cách vài phút sau một phát đạn súng cối của ta lại rơi trúng vào thùng một chiếc xe bọc thép, bọn lính ngồi trên thùng xe không đứa nào chạy thoát.


Các loạt súng chống tăng, súng cối ít ỏi của du kích đã gây hiệu quả bất ngờ, buộc bọn lính bộ binh của địch phải rời xa cái lá chắn thép, làm cho đợt tấn công mới của địch lại bị phá vỡ.


Trạng thái chiến trường cứ lặp đi lặp lại. Địch dùng xe tăng dẫn bộ binh, bị du kích chặn đứng; chúng lại dùng hỏa lực của xe tăng yểm hộ cho bộ binh riêng rẽ, và cũng bị phá vỡ. Trận đánh kéo dài đến tối. Ban chỉ huy trận địa chốt thấy số lượng đạn chống tăng đã cạn, nên chủ động cho đơn vị rút.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 01 Tháng Bảy, 2021, 09:48:28 pm
9


Cái mảnh gang của quả bom "mìn" độc ác đã đục một lỗ sâu hoắm, cắt đứt gân gót chân làm cho Sáu Thố không còn sức đi lại nhanh nhẹn như trước. Từ khi ra khỏi quân y, tổ chức đã dành cho anh "cái ghế" thường trực ban chỉ huy Huyện đội. Mỗi lúc rảnh việc, anh cố gắng tập luyện để cho những bước đi bớt cái dáng "cà xếch cà xẹo", nhưng hy vọng nhỏ nhoi đó cũng không dễ dàng đạt tới, lắm lúc đặt bàn chân bị thương xuống đất tưởng nó vẫn còn như cũ, đã tạo ra bước hụt đau nhói đến tận óc. Anh cắn răng nín nỗi đau ấy, nhưng một nỗi đau khác đôi lúc dội lên. Độ này nhiều trận đánh trên chiến trường toàn huyện tiếng súng nổ và tin chiến thắng liên tiếp đến tai anh, như tiếng trống thúc, tiếng reo hò cổ vũ người có tinh thần thượng võ đang trên sân đấu. Anh thèm muốn xách khẩu K21 (Tiểu liên AK, ở địa phương thường gọi là K2) chen vào đội ngũ, cùng nổ súng, cùng hò hét xung phong như các bạn trẻ của mình. Nhưng vết thương tai hại đã trói buộc anh vào "cái ghế" thường trực.


Hôm ấy Sáu Thố nghe một cán bộ trinh sát báo cáo, địch đang chuẩn bị một trận càn vào xã Nam Thái. Mấy hôm trước anh đã nghe cán bộ cơ sở của xã báo cáo, địch đưa quân vào Kinh Ba, Kinh Tư đốt phá nhà cửa của dân. Chúng tỏ ra chủ quan, du kích xã không đủ sức đánh. Sáu Thố muốn trả đòn chúng một trận, nhưng trong tay không có quân, đành phải nén chịu.


Khi nghe cán bộ trinh sát báo cáo xong, anh cho liên lạc gọi đại đội phó Năm Lầu tới.

Năm Lầu cùng một tổ địa phương quân sau hơn một tháng liên tục chiến đấu và công tác củng cố cơ sở, mới về căn cứ nghỉ chưa được hai ngày. Vừa tắm giặt xong, Năm Lầu thấy liên lạc của huyện đội đến, anh hỏi trước:

- Có công chuyện chi?

- Anh Sáu biểu mời anh lên ngay.

- Rất hên, tao vừa tắm giặt xong, bây giờ thì đi đâu cũng được.

Năm Lầu khoác khẩu K2 lên vai, rồi bước theo chiến sĩ liên lạc.

Thấy Năm Lầu tới, Sáu Thố vui mừng ôm lấy đôi vai gầy của bạn rồi nói ngay cảm nghĩ của mình:

- Các cậu về thiệt đúng lúc. - Anh kéo bạn ngồi lên đệm lá khô. Sáu Thố có phong cách khá độc đáo, không giống các cán bộ quân sự khác, khi nói chuyện với cấp dưới, kể cả khi giao nhiệm vụ anh thường nói giọng trầm trầm như người tâm sự. - Mấy bữa qua bọn ngụy quậy phá ở Nam Thái quá lắm, du kích xã yếu quá không đánh được một trận nào. Chúng nó vô ra như đi chợ, mình rất bực mà không làm chi được. Anh em trinh sát vừa báo, khoảng mai mốt chúng có cuộc càn vào Kinh Ba, Kinh Tư, Kinh Năm nhằm bắt sâu. Mình tính sẽ đánh một trận. Các cậu về đây có mấy người?

- Kể cả tôi, cả thảy có bốn người.

- Cũng được, nếu gộp cả tổ trinh sát lại, chúng ta có một tiểu đội. Ta tổ chức một trận phục kích. - Sáu Thố bẻ một cái que vẽ lên mặt đất thay cho sơ đồ. - Đây là Kinh Năm, đây là Kinh Ba, ta bố trí trên lộ Kinh Tư chỗ này... Địch qua đây thường chủ quan, vì yên chí có cái đồn này và cái đồn này bảo vệ. Nên đặt tổ chặn đầu ở khoảng này... chúng thường từ trên này xuống...


Địa hình xã Nam Thái đối với địa phương quân, người nào cũng thuộc như lòng bàn tay. Bởi vậy chẳng cần phải trinh sát địa hình Năm Lầu cũng hình dung ra được ý Sáu Thố muốn bố trí đội hình phục kích ở chỗ nào. Hai người bàn bạc với nhau hồi lâu những giả định, tình huống có thể diễn ra.

Năm Lầu vừa về tới đơn vị, mấy chiến sĩ đã xúm lại hỏi:

- Trên giao nhiệm vụ đi hướng nào anh Năm?

- "Kích" ở Nam Thái.

Khoảng nửa đêm hôm ấy, anh em đã núp kín trong những bụi cỏ, bên cạnh lộ Kinh Tư. Lại một đêm thức trắng như hàng trăm đêm trắng họ đã trải qua. Sự tỉnh táo của mỗi người gắn liền với sinh mệnh của chính mình và thắng bại của trận đánh. Họ không bỏ qua mọi động tĩnh xung quanh. Tiếng gió rì rào của cây lá, và thỉnh thoảng đồn bốt địch đây đó giật mình nổ vài loạt súng vang tới tai họ.


Trời sáng dần. Ánh bình minh chế ngự cả không gian. Qua kẽ lá họ nhìn rõ những người dân đi làm đồng lần lượt diễu qua. Khoảng tám giờ địch xuất hiện, khoảng một trung đội từ Kinh Ba tới. Một tên đi đầu dẫn một người dân bị trói, cách đội hình khoảng một trăm mét. Năm Lầu lấy tay vỗ vào vai tiểu đội trưởng Chín Vân và làm hiệu để cho thằng lính với người dân đi qua.


Tên lính ngụy đến trước mặt, cách Năm Lầu chừng ba mét, hắn hơi khom người rê rê nòng súng và nói:

- Coi chừng chỗ này có Việt cộng.

Anh em đã quen với cái trò tự trấn an của chúng, họ vẫn nín thở chờ đợi.

Đội hình trung đội địch dồn tối rất gần, Năm Lầu nổ loạt súng lệnh, lập tức Chín Vân điểm hỏa quả mìn định hướng. Tên địch bị trúng đạn nằm ngang trên mặt đường cách Năm Lầu một với tay. Những tên đi sau chưa kịp kinh hoàng đã bị mìn định hướng của Chín Vân quét, chúng chết đè lên nhau. Một số tên đi phía sau sống sót hoảng hốt tháo chạy về phía Kinh Năm vẫn bị đạn tiểu liên của địa phương quân truy theo.


Một đại đội ngụy đang hành quân từ Kinh Năm sang Kinh Tư, thấy súng nổ, chẳng biết nếp tẻ gì, chúng dừng lại, dàn quân rồi bắn như nổ đạn, giết luôn cả những tên lính ngụy thất trận đang chạy về phía chúng.


Đại đội phó Năm Lầu hạ lệnh cho trung đội trưởng Bảy Thành dùng một tổ bắn kiềm chế, và thúc Chín Vân cho anh em nhanh chóng thu chiến lợi phẩm.

Một tiếng nổ lớn và tiếng súng liên thanh vọng tới căn cứ. Sáu Thố nghiêng tay lắng nghe. Qua những âm thanh vừa nhận được, anh phán đoán trận đánh đã diễn ra đúng ý định.

Tiếng súng liên thanh, tiếng đạn pháo nổ mỗi lúc một dày đặc hơn, kéo dài tới hơn nửa giờ, xóa mờ ý nghĩa lạc quan ban đầu của Sáu Thố. Âm vang của tiếng nổ làm cho anh thêm lo. "Một trận đánh phục kích mà nhùng nhằng kéo dài, nhất là trận đánh đó lại ở nơi vùng địch kiểm soát thì khó tránh khỏi tổn thất nặng nề".


Ba anh cán bộ trợ lý tham mưu, chính trị, hậu cần ngồi chụm đầu bên gốc cây gần đó, đang thì thầm bàn tán. Mỗi anh phán đoán một phách, thỉnh thoảng có anh nhìn về phía Sáu Thố có ý muốn hỏi "ý anh Sáu phán đoán trận đánh ra sao". Sáu Thố vẫn im lặng nhìn về phía có tiếng nổ.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 01 Tháng Bảy, 2021, 09:49:18 pm
Không gian trở lại yên tĩnh. Cái yên tĩnh reo rắc sự ngờ vực đến khó chịu. Sáu Thố gọi chiến sĩ liên lạc cùng với mình tới chỗ trú của địa phương quân. Một góc rừng vắng tanh không một bóng người. Chỉ có vài chiếc bòng bẹp rúm nằm ở gốc tràm tưởng chừng chúng cũng đang sốt ruột chờ đợi thu chúng về. Khoảng hơn nửa giờ im tiếng súng mới nặng nề làm sao. "Không hiểu anh em đã gặp khó khăn gì?". Câu hỏi đó lớn dần lên trong óc Sáu Thố.


Có tiếng người nói "xù xì" ở phía bờ rừng đang tiến lại gần, Sáu Thố lần lượt nhìn thấy Chín Vân, Năm Lầu, Sáu, Sang... đủ cả chín người, lúc bấy giờ anh mới mỉm cười và thì thầm "Chiến thắng rồi". Anh em dừng lại trước mặt Sáu Thố, họ cười nói và đặt chiến lợi phẩm ngay dưới chân mình.

Trên khuôn mặt khắc khổ của Năm Lầu rạng rỡ một nụ cười. Anh vừa thở dốc vừa nói với Sáu Thố.

- Chúng tôi đã thực hiện y trang kế hoạch... thu được một PRC25, sáu AR15 và một khẩu côn còn ngon lành... đến đoạn chiến lợi phẩm chúng nó bắn rát quá, tưởng không rút nổi.


Trung đoàn 16 (sư 9 ngụy) có máy bay, trọng pháo yểm hộ, chúng hùng hổ truy lùng. Tới đâu chúng cũng gặp phải hầm chông, "bãi lửa" và những cây súng bắn tỉa của du kích. Những trận đánh không nhìn rõ đối phương ấy, không trận nào chúng thoát khỏi thương vong. Để hả nỗi bực tức, chúng thường trút xuống hàng tấn bom đạn phá nát cây cỏ, nơi vừa gây cho chúng phải đổ máu.


Một lần chúng tiến vào rừng Nam Thái khoảng một đại đội thám báo, chọc thẳng vào gần nơi ở của địa phương quân huyện và đội du kích Thổ Sơn. Quân số của ta có khoảng hai tiểu đội. Khi phát hiện có địch tiến vào rừng, anh em nhanh chóng thống nhất phương án đánh. Đại đội phó Ẩm chỉ huy bộ phận chặn đầu. Sáu Chấp chỉ huy bộ phận khóa đuôi. Các bộ phận bí mật vào trận địa phúc kích.


Bốn chiếc xuồng gắn máy của địch đã lọt vào trận địa. Ẩm hạ lệnh nổ súng. Địch bị bất ngờ, hai chiếc xuồng đi đầu bị trúng đạn, chìm lập tức. Những tên địch còn sống lóp ngóp bơi lội, bị đạn liên thanh của quân ta lia sát mặt nước, chúng lần lượt chìm nghỉm. Hai chiếc xuồng đi sau thấy phía trước bị chặn đánh, chúng luống cuống quay mũi định tháo chạy, bị bộ phận khóa đuôi của Sáu Chấp bắn chìm luôn một chiếc nữa, còn một chiếc chạy thoát.


Ở phía rừng Mỹ Lâm cũng xảy ra một trận đánh tương tự.

Khi các đơn vị rút khỏi khu vực thị tứ Sóc Xoài về trú quân tại rừng Mỹ Lâm, huyện đội trưởng Ba Non đã có ngay kế hoạch chủ động đánh địch. Anh hỏi đại đội phó Năm Lầu:

- Mày xem tình hình địch có chỗ nào sơ hở, ta có thể tổ chức một trận đánh tập kích hoặc phục kích.

- Mấy hôm nay theo tin của cơ sở cho biết, bọn địch khoảng một tiểu đội, có khi ít hơn, thường đi từ kinh Chủ Kiều lên đìa Hội đồng, chúng rất chủ quan.

- Tối nay tao với mày tới xem lại địa hình trên đoạn đường này rồi ta chọn một trận địa phục kích.

- Quãng đường này trống trải lắm. Trận đánh "độn thổ" ngày nọ tiêu diệt trung đội địch ở giữa Kinh Ba lên Kinh Tư (Nam Thái) do anh Sáu Thố tổ chức cho tôi đánh, cũng ở giữa cánh đồng trống trải, nhưng đường rút vào rừng gần hơn. Ở đây phải chạy qua mấy cái đồn địch.

- Để xem lại địa hình.

Tối hôm đó Ba Non, Năm Lầu và một tổ trinh sát đi trinh sát địa hình. Đến giữa cánh đồng không mông quạnh, rất xa xóm ấp, họ dừng lại bên một bờ kinh, Ba Non chỉ vào mấy bụi đế:

- Bố trí ở chỗ này. - Ba Non nhìn bên phải, bên trái một lát rồi nói tiếp. - Địch đi qua chỗ này đồng trống, chúng không chú ý. Trận đánh này nhất định chắc ăn. Đánh xong bọn bây chạy thẳng về rừng cấm, bọn địch ở đồn Chủ Kiều không dám ra đâu. Chú ý phải giữ được bí mật bất ngờ, ngụy trang thiệt kỹ nghen.


Ba Non hướng dẫn cho Năm Lầu xử trí những tình huống có thể xảy ra, điểm đặt mìn định hướng, thời cơ điểm hỏa, thời cơ xung phong... rồi anh trở về "cứ". 

Năm Lầu và tổ trinh sát ở lại, họ bắt tay ngay vào công việc tổ chức trận địa. Trời gần sáng, những giọt sương lạnh từ ngọn đế rơi vào trong lưng áo, khiến Năm Lầu rùng mình. Anh đang mường tượng trận đánh sắp diễn ra. Đây không phải là trận đầu Năm Lầu đánh phục kích nhỏ, nhưng trận này anh cảm thấy quá mạo hiểm. Nếu rơi vào trường hợp người chỉ huy khác trao nhiệm vụ, anh còn có thể bàn cãi; với Ba Non, một thần tượng về tinh thần mưu trí dũng cảm, không thể như vậy. Ba Non truyền sang cho anh một niềm tin trận đánh sẽ diễn ra như ý muốn, nhưng chưa phải đã hết lo âu.


Khoảng bảy giờ sáng, nghe thấy tiếng máy đẩy, Lầu không rời mắt dõi theo dòng kinh. Một chiếc xuồng xuất hiện, ngồi trên xuồng có một sĩ quan và bốn năm tên lính. Con xuồng lao vào mỗi lúc một gần. Năm Lầu điếm hỏa, quả mìn định hướng phụt ra đám khói lửa hình phễu trùm lên chiếc xuồng. Xuồng bị lật úp xuống. Những tên lính ngụy chết chìm tại chỗ. Lầu thét to:

- Xung phong!

Toàn tổ trinh sát hô hòa theo:

- Xung phong...

Anh em từ trong những bụi cỏ rậm lao ra bờ kinh, như những con báo lao tới con mồi. Chỉ trong nháy mắt họ đã thu hết chiến lợi phẩm.

Nghe thấy tiếng mìn nổ, Ba Non và một số anh em ở "cứ" ra cửa rừng đón.

Anh em tổ trinh sát an toàn trở về, người nào cũng mang nặng chiến lợi phẩm. Mọi người ở "cứ" chạy xô ra reo hò và mang giúp bạn.

Lầu cười nói với Ba Non:

- Thú thiệt với thủ trưởng, bố trí ở chỗ đó cũng "dội" lắm, nhưng thủ trưởng giao nhiệm vụ thì tôi tin...


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 02 Tháng Bảy, 2021, 08:47:52 pm
Chương mười một
GIẢI PHÓNG

1


Vùng trời vùng đất huyện Hòn Đất thời kỳ này như trải rộng ra. Những cánh rừng tràm rộng bao la, những con kinh dài tít tắp không còn là nơi kẻ thù dễ dàng giương lên những cạm bẫy nguy hiểm, hoặc tới lui tùy tiện như mấy năm về trước. Đây đó trong rừng tràm mọc lên những mái lán, tiếng đe tiếng búa của công trường vang lên hối hả.


Sau khi hai đồn địch đóng ở bìa rừng Nam Thái bị địa phương quân tiêu diệt, cơ quan Huyện ủy đã trở về đóng công khai ở đây. Rừng Nam Thái trở thành trung tâm của các đầu mối liên lạc từ tỉnh xuống, từ các xã lên. Ngày đêm người đi kẻ lại, ca hát, nói cười như cuộc sống bình yên. Độ này những tin tức từ miền Đông, từ vùng "ruột Hậu Giang" liên tiếp tràn tới, nhất là tin chiến thắng ở vùng núi Dài đã có sức cổ vũ mạnh mẽ đôi với huyện Hòn Đất. Một câu hỏi của Thường vụ Tỉnh ủy Châu Hà đặt ra là "Liệu Hòn Đất tự mình có đủ sức giải phóng xã Nam Thái không?".


Nhìn rộng ra chiến trường toàn miền, chiến trường miền Tây và kiểm lại thực lực của mình, ban thường vụ Huyện ủy Hòn Đất tự tin trả lời rằng: "Chúng tôi có thể tự lực giải phóng xã Nam Thái vào Thu Đông (1974)".


Anh Tư Thời, phó bí thư Tỉnh ủy và Hai Hiểu, tỉnh ủy viên được phân công bám sát chỉ đạo phong trào của Hòn Đất. Sau một cuộc họp với thường vụ Huyện ủy bàn kế hoạch "mở vùng mở mảng" đón thời cơ mới. Tư Thời thân mật nói với Sáu Chấp, ủy viên thường vụ huyện kiêm bí thư chi bộ Nam Thái:

- Tỉnh ta chưa giải phóng được một xã nào. Từ lâu nay Nam Thái Sơn là nơi có phong trào vững vàng nhất, tuy phong trào độ này có hơi xuống, mày xem cố gắng vực phong trào lên, liệu trong vòng hai tháng nữa có giải phóng được không?


Thật khó nói trước cái kết thúc sẽ như thế nào, khi một núi khó khăn đang án ngữ trước mặt. Sức kiểm soát của địch so với trước trong toàn huyện đã bị nới lỏng quá nửa, nhưng sức mạnh tại chỗ so với Nam Thái địch vẫn còn mạnh. Chúng vẫn còn đủ sức càn quét, đánh phá vào xã khi chúng muốn. Phong trào du kích chiến tranh yếu không đủ sức cản một cuộc càn nhỏ của địch. Nguyên nhân phong trào xuống là do vai trò lãnh đạo của chi bộ đảng giảm sút. Số lượng cấp ủy, đảng viên mấy năm chiến đấu khẩn trương quyết liệt, không kịp củng cố bổ sung. Toàn chi bộ còn mười tám người, cấp ủy còn hai người. Du kích xã còn sáu người... Sáu Chấp thấy nhiệm vụ trước mắt quá nặng nề, anh thận trọng trả lời:

- Là một đảng viên không được phép nghi ngờ nghị quyết của cấp trên, nhưng thật tình tôi chưa tin mình có thể hoàn thành được nhiệm vụ. Phải nhờ các anh giúp đỡ nhiều thì mới có thể làm chuyển biến tình hình này.

- Tất nhiên là phải cùng nhau ghé vai vô, đây là thời cơ chúng ta có thể đẩy phong trào lên nhanh. Khả năng giải phóng Nam Thái không đến nỗi quá tầm với của mình, nếu chúng ta tổ chức tốt việc phát động quần chúng.


Sau cuộc họp thường vụ Huyện ủy ít ngày, đảng viên và du kích xã Nam Thái được triệu tập đông đủ trong rừng. Họ chia ra từng tốp nhỏ, ban ngày học chính trị họp hành sơ kết, ban đêm đào công sự. Cả tuần lễ liền, hầu như suốt ngày đêm, khu rừng tràm bị khuấy động bằng đủ loại âm thanh. Khoảng một tuần lễ, những người con ưu tú của Nam Thái đã làm một khối lượng việc to lớn đáng kể. Họ chấn chỉnh lại tổ chức đảng, tổ chức quần chúng và củng cố đội du kích. Họ giáo dục động viên nhau giữ vững truyền thống, phát huy vai trò tiên phong của đảng viên và phát động phong trào thi đua giữa các tổ đảng...


Đại hội chi bộ đã bầu ra ban chi ủy mới, gồm: Hồng ddddb, bí thư chi bộ; Hồng Nam, phó bí thư chi bộ và các đồng chí Tư, Long, Phước là chi ủy viên. Phân công nắm lực lượng vũ trang gồm Năm Lầu, xã đội trưởng (người của địa phương quân huyện về tăng cường), Tưng, chính trị viên xã đội, Phước và Vân là xã đội phó.


Kết thúc những ngày học tập, họp hành, tất cả anh em đảng viên, du kích trở về bám cơ sở củng cố tổ chức và phát động quần chúng. Chỉ vài tuần sau phong trào đã có chuyển biến, vài bộ phận cơ sở bị đứt đã được chắp nối sinh hoạt. Địch đánh hơi thấy có dấu hiệu thay đổi, chúng đưa một tiểu đoàn bảo an tới càn quét khủng bố liên tục mấy ngày liền, ngày nào trong xã cũng có người bị bắt và bị thiêu trụi hàng chục nóc nhà. Được sự lãnh đạo chặt chè của chi bộ đảng, mặc dù địch bắt bớ đốt phá nhưng quần chúng vẫn giữ vững tinh thần. Một lần địch càn vào Kinh Tư, bọn lính xông tới định đốt nhà, chị em phụ nữ kéo ra hàng chục người ngăn cản và thuyết phục chúng. Một lính ngụy tỏ ra còn chút lương tâm nói: "Đốt nhà các bà chúng tôi cũng không muốn, nhưng không đốt thì "xếp" của chúng tôi trừng phạt, chi bằng các bà rỡ mái nhà xuống, chúng tôi đốt vài đống rơm kế bên, coi như đã thực hiện mệnh lệnh". Từ hôm đó bọn lính đến đốt vài đống rơm rồi rút.


Trong vòng một tháng các các bộ, đảng viên lăn lưng vào xây dựng củng cố và phát triển cơ sở chính trị, làm cho số lượng và chất lượng của các đoàn thể và lực lượng vũ trang tăng lên nhanh chóng.

Một lần phó bí thư Tỉnh ủy Tư Thời tới xã kiểm tra đợt hoạt động, anh hỏi Sáu Chấp:

- Liệu có thể cho lực lượng bung ra hoạt động được chưa?

- Chúng tôi đề nghị với tỉnh, trang bị cho xã khoảng 250 cây súng thì khi bung ra mới giữ nổi.

- Mày nói lại nghe, mới củng cố chi bộ vô bám cơ sở được một tháng, người ở đâu ra cầm súng mà cần nhiều súng như vậy.

- Tôi đã kiểm tra kỹ rồi. Nếu trên có đủ súng cấp cho.

Được tỉnh cấp thêm vũ khí, dù chỉ bằng nửa số lượng của Sáu Chấp đề nghị nhưng lực lượng du kích xã đã lớn vụt lên. Khí thế chiến đấu của các lực lượng quân sự, chính trị trong xã được thổi bùng lên mạnh mẽ. Tinh thần chuẩn bị phá kế hoạch mùa khô của địch trở thành phong trào thi đua khá rầm rộ giữa các cấp. Đêm đêm từng đoàn người túa ra sát đồn địch, thi nhau cắm những chà cây nhọn hoắt khắp cánh đồng để chống địch đổ bộ đường không, thi nhau làm hầm chông, "bãi lửa"... Chỉ trong ba bốn đêm, từ sự im lặng Nam Thái Sơn chuyển sang tư thế công khai thách thức. Mỗi cành cây nhọn hoắt dựng trên mặt ruộng được đeo một cái ống bơ, hoặc một cái biển nhỏ với dòng chữ "nguy hiểm chết người", chúng đã trở thành những người lính gác. Những "bãi lửa" và những dàn chông tràn ngập cánh đồng đã tạo ra thế trận phức tạp và hùng dũng, sẵn sàng nghênh chiến.


Một hôm (vào đầu mùa khô 1974-1975) Tám Trung, bí thư Huyện ủy gọi Sáu Chấp về hội ý. Tám Trung thông báo:

- Theo tỉnh cho biết: Trung đoàn 16 (sư 9 ngụy) lại về hoạt động ở vùng Châu Thành - Hà Tiên. Hiện nay chúng đã đưa tới một đại đội trinh sát. Hướng hoạt động của địch chưa rõ. Theo tôi phán đoán chúng có thể tập trung đánh phá từ xã Bình Sơn về phía Hà Tiên, vì nơi đây là căn cứ của Tỉnh ủy.

Mọi người có mặt trong cuộc họp đồng ý với phán đoán của bí thư Huyện ủy và chủ trương cho lực lượng các xã bung ra hoạt động. Xã Nam Thái được huyện tăng cường cho một trung đội địa phương quân, do Huyện đội phó Năm Ưng chỉ huy.


Vài ngày sau trung đoàn 16 ngụy kéo tới Tri Tôn. Hướng hoạt động của chúng đã bộc lộ hoàn toàn khác với sự phán đoán của thường vụ Huyện ủy. Chúng tập trung hướng vào Nam Thái Sơn, nhằm dẹp phong trào du kích chiến tranh của huyện Hòn Đất mà xã này là nòng cốt.


Quân và dân xã Nam Thái Sơn không hề bị bất ngờ. Họ đã đào đắp xong công sự, các gia đình đểu có hầm tránh pháo vững chắc; công tác tiếp tế tải thương đã được tập dượt chuẩn bị cho chiến đấu liên tục dài ngày.
   

Vào khoảng hai giờ sáng, một ngày đầu tháng 10 năm 1974, nghe tiếng súng báo động của tổ du kích cảnh giới ở phía Đập Đá, các đơn vị nhanh chóng vào vị trí chiến đấu.


Sở chỉ huy toàn xã bố trí ở Kinh Năm. Ban chỉ huy gồm Sáu Chấp, Năm Ưng và Bảy Luận (tỉnh ủy viên). Sáu Chấp và Năm Ưng đứng trên bờ công sự nhìn về phía vừa có tiếng súng nổ. Mảnh trăng hạ tuần tỏa ánh sáng lạnh xuống cánh đồng cỏ màu xám trước mặt họ. Không gian vẫn im lìm trong giấc ngủ.

Sáu Chấp hỏi Năm Ưng:

- Mày đã kiểm tra kỹ sự bố trí của địa phương quân chưa?

- Tôi đã dẫn họ đến đúng chỗ anh dặn.

Phía ngõ xóm có những tiếng chân bước vội vã và tiếng chuyện trò thì thầm của các chiến sĩ du kích đang vào trận địa.

Sáu Chấp suy nghĩ mông lung tới chiến trận sắp diễn ra. Không hiểu chuyện gì vừa xảy ra ở trạm cảnh giới. Liệu địch có tấn công vào sớm mai không. Chúng có tiến theo đúng hướng ta dự kiến không? Lực lượng của chúng là bao nhiêu?... Những câu hỏi đặt ra tự anh không giải đáp ngay được nhưng nó cứ lởn vởn trong óc.


Năm Ưng cũng suy nghĩ những điều tương tự như Sáu Chấp nhưng không ai nói với ai. Đứng mãi không thấy có động tĩnh gì họ kéo nhau vào trong nhà, pha trà uống và nói chuyện vãn.

Bóng đêm tan dần. Ánh bình minh bừng lên lấp lánh trên các dòng kinh và trải rộng ra khắp cánh đồng. Mọi người đã đứng ngồi ngay bên cạnh công sự, chờ đợi trận đánh sắp nổ ra. Sáu Chấp đứng ở vị trí quan sát nâng chiếc Ống nhòm nhìn về phía Tri Tôn. Đồng cỏ vắng ngắt không một bóng người. Nghe có tiếng nói lao xao ở phía bên, Sáu Chấp buông chiếc ống nhòm lủng lẳng trước ngực, nhìn sang.

Một chiến sĩ du kích mồ hôi nhễ nhại, vác ngang súng trên vai, đang rảo bước tới chỗ anh đang đứng.

- Anh Sáu. - Chiến sĩ du kích vừa đi vừa nói. - Địch đông lắm, chúng từ Đập Đá sang. Chúng tôi ước lượng chừng một tiểu đoàn, chúng đã dàn hàng ngang ra cánh đồng.

- Có xe tăng không?

- Không. Tôi không nghe thấy động cơ nổ.

- Thôi được. Cậu về đằng ấy bảo anh em sẵn sàng chiến đấu.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 02 Tháng Bảy, 2021, 08:49:20 pm
2

Từ lúc có tin địch tấn công, các cán bộ ngồi chụm đầu xung quanh tấm bản đồ trải trên mặt đất. Mỗi người nói theo suy nghĩ riêng, ngoài lề phương án đã được chuẩn bị.

- Như thế là phán đoán của thường vụ chệch rồi. Đến bây giờ thì không phải bàn cãi gì nữa. Chúng tập trung toàn bộ trung đoàn đánh vào xã này. Mới phát hiện có một hướng mà lực lượng địch dùng một tiểu đoàn, dứt khoát chúng sẽ không đi một hướng. Nếu chúng không dùng xe tăng yểm hộ, chúng sẽ dùng các trận địa pháo xung quanh yểm hộ.

- Lực lượng của chúng ta phân tán rộng, chúng chưa nắm được mục tiêu cụ thể, dù pháo có bắn trên diện rộng cũng không gây được tác dụng lớn.

- Chúng đi từ Đập Đá, Tri Tôn sang đều có thể vấp vào những "bãi lửa", dù nó có đi chệch sang bên này cũng dính "bãi lửa" này, rồi các anh xem...

Nghe thấy hai tiếng nổ lớn ở phía Đập Đá, người đang nói reo lên:

- Đó tôi nói có sai đâu, đúng tiếng mìn nổ rồi.

Mọi người đứng bật dậy. Sáu Chấp nâng ống nhòm hướng về phía tiếng nổ. Ngoài hai cụm khói bốc lên cao và những ngọn cỏ, không có cái gì khác lọt vào ống kính. Sáu Chấp phàn nàn:

- Cỏ rậm quá chẳng thấy cái ma gì.

Tiếng cười nói của phụ nữ như ở một góc chợ đang di chuyển đến sở chỉ huy. Gần hai chục chị em do bà Độ dẫn đầu tới gặp Sáu Chấp. Bà Độ hỏi Sáu Chấp: 

- Mầy biểu chúng tao làm chi nào?

- Thím đưa chị em tới Kinh Sáu, nếu địch đến thím cho chị em xáp vào đội hình của chúng và nói với anh em binh sĩ "Quân Bắc Việt về ấp đông lắm, họ đào công sự ở khắp nơi, anh em vô đó nhất định đánh nhau to, nhân dân chúng tôi sẽ chết lây". Tóm lại thím cùng chị em sẽ bàn thêm, làm sao hù dọa và vận động chúng lui quân. Nếu chúng có hỏi: Kinh Bốn và Kinh Năm có quân Bắc Việt không, thì cứ trả lời: không. Thím sang đó vận động thêm chị em đi cho đông.

- Tao hiểu rồi. - Bà Độ nói với chị em đứng phía sau. - Đi thôi bọn bây.

Đoàn phụ nữ đi được khoảng hai tiếng đồng hồ, ở phía Kinh Sáu có tiếng súng nổ dồn dập như một trận đánh. Tiếng súng nổ khoảng mươi phút rồi tắt ngấm. Trong sở chỉ huy mỗi người phán đoán một phách.

- Kiểu này là chúng đã đụng đầu với du kích ấp rồi. Mấy bà phụ nữ có lẽ không ra kịp.

- Nghe ồn lên một hồi rồi thôi, có khi chúng bắn nghi binh rồi nằm đó.

- Hay là phụ nữ đã vận động chúng rút lui rồi.

Có tiếng ùng ùng nổ ở đầu nòng pháo, Năm Ưng la to:

- Pháo nó bắn đó. Xuống công sự ngay.

Bốn năm viên đạn pháo nổ tản mát ở ngoài ruộng cách trận địa hàng trăm mét. Im lặng khoảng một phút, rồi đạn pháo nổ dày đặc nhích gần vào trận địa du kích. Pháo nổ khoảng năm phút, chiến trường trở lại im ắng.


Từ lúc pháo địch ngừng bắn, Sáu Chấp không mấy lúc rời mắt ra khỏi cái ống nhòm. Anh lia ống kính sang trái, sang phải, sục tìm trên cánh đồng cỏ, bỗng nhiên anh reo lên:

- Chúng đang tiến vào "bãi lửa"... sắp chết cha chúng rồi... nổ rồi... nổ rồi... nổ nữa.

Liên tiếp ba tiếng mìn nổ. Trong sở chỉ huy người nào cũng vui mừng nở nang mặt mày. Sau những tiếng mìn nổ, Sáu Chấp không thấy bóng một tên lính nào lọt vào ống kính của mình nữa.

Đội quân tóc dài từ Kinh Sáu trở về, người nào nấy tươi cười hớn hở.

- Anh Sáu ơi!

Nghe người gọi tên mình, Sáu Chấp ngoảnh lại, thấy đội quân chính trị trở về anh rất mừng. Anh hỏi chị Tám đang tới gần chỗ mình:

- Tình hình bên ấy thế nào?

- Bọn chúng rút hết rồi. Chúng em dọa "Có tới hàng ngàn quân Bắc Việt ở trong ấp". Có thằng hỏi: "Quân Bắc Việt ăn vận, súng ống thế nào".    Chúng em nói: "Người nào cũng đội nón cối, đi dép râu, có những khẩu súng gì đó hai ba người khênh mới nổi". Có thằng bảo chúng em nói xạo, cũng có thằng tin là thật. Chúng nó cãi nhau... Cuối cùng chúng bàn với nhau thế nào đó, thi nhau bắn chỉ thiên một hồi rồi lui.

- Thím Độ đâu?

- Má biểu chúng em về trước, báo cáo cho các anh biết. 

Nghe chị em phụ nữ báo cáo lại tình hình xong, ban chỉ huy hội ý chớp nhoáng, nhận định những tình huống diễn ra từ sáng tới giờ sát với phương án của ta đề ra. Mọi người còn đang trao đổi, Sáu Chấp nhìn ra dòng kinh, thấy những bè cỏ có khoảng cách đều đang trôi, có điều lạ nó lại trôi ngược dòng. Sáu Chấp đưa ông nhòm cho Năm Ưng:

- Mày có nhìn thấy gì không?

- Bọn địch đang lội, chúng bè cỏ trên đầu.

Sáu Chấp nổi nóng, quát mắng Năm Ưng:

- Mày bố trí địa phương quân thế nào. Địch tới đó rồi mà chúng nó không nổ súng. Nó vào đó sẽ thọc sườn bắt sống mất tổ du kích thôi.

- Tôi bố trí...

- Thôi... còn cãi gì nữa. Điều nhanh khẩu đại liên ra góc kia, bắn chặn chúng lại.

Bọn lính ngụy hai lần bị vướng bãi mìn, chúng thấy tiến quân trên cách đồng không trôi, bèn lẻn xuống dòng kinh. Nếu như không phát hiện sớm, không biết chuyện gì sẽ xảy ra. Trong đầu Sáu Chấp vẫn chưa hết bực bội về việc địa phương quân không nổ súng. Một lần nữa anh lại dồn vào Năm Ưng:

- Mày phải chịu trách nhiệm về việc này. Nếu để mất tiểu đội du kích, nếu để địch lọt vào đây.

Năm Ưng cùng tổ đại liên nhanh chóng di chuyển súng vào trận địa phụ, trên một eo đất, ở đó địa thế thật tuyệt, có tầm nhìn khá rộng. 

Địch vào cách khoảng hơn một trăm mét, Năm ưng hạ lệnh nổ súng. Đại liên và tiểu liên, súng trường của du kích phóng ra đồng loạt, những làn đạn xuyên táo vào đội hình địch. Nhiều tên chết chìm dưới dòng kinh, một số tên hoảng hốt dạt vào bờ hoặc chạy lên ruộng nhưng vẫn không thoát khỏi lưới lửa dày đặc.


Phải mất hàng chục phút, địch mới tổ chức lại được đội hình. Chúng dồn đơn vị phía sau lên cách khoảng bốn trăm mét, dùng đại liên, súng cối bắn như đổ đạn về phía ta, rồi thúc quân lên kéo xác nhau.

Trận đánh nhùng nhằng kéo dài đến tối.

Lần lượt tin tức từ các hướng của toàn xã báo cáo về ban chỉ huy. Từ trước tới nay ở trong huyện hiếm có trận đánh, diễn ra trên không gian rộng lớn, thực hiện đúng phương châm "Hai chân, ba mũi, giành thắng lợi giòn giã, phá tan cuộc càn lớn của địch, giết hàng chục tên địch. Ta không có ai thương vong". Tin chiến thắng loan nhanh khắp các xóm, ấp. Thanh niên nam nữ của Kinh Năm tụ họp vui cười ca hát như ngày hội.


Trong ban chỉ huy vẫn còn khắc khoải lo lắng, không hiểu tiểu đội du kích bảo vệ cánh sườn tới giờ vẫn chưa thấy ai về. Sáu Chấp giục Năm Ưng:

- Mày cử người đi tìm thằng Tưng xem tiểu đội ấy thế nào.

Có tiếng nói ở ngoài sân vọng vào:

- Tưng đây rồi, không phải tìm nữa. - Tưng cười cười nói nói từ ngoài sân bước vào trong nhà. - Mấy ông nội địa phương quân sao không nổ súng, làm chúng tôi hở sườn, khi chúng vấp vào hỏa lực của chúng tôi, chúng nó chết và bị thương hơn một chục tên, mũi ấy bị quằn lại; mũi khác đi qua trước địa phương quân, tôi yên chí chúng sẽ bị sẽ bị... nhưng nó đi qua. Chúng tôi lo quá, tưởng phen này phải đối phó địch tấn công từ hai hướng thì nguy, nhưng không hiểu sao, chúng đi được một đoạn rồi ngập ngừng quay trở lại. Chắc chúng nó sợ mìn...


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 02 Tháng Bảy, 2021, 08:50:05 pm
3

Trung đoàn 16 ngụy vẫn không chịu từ bỏ mục tiêu chúng đảm nhận càn quét, tiêu diệt lực lượng du kích Nam Thái Sơn. Cuộc càn của chúng kéo dài mười ngày liền vẫn ở trạng thái ngày đầu tiên. Ngày nào chúng cũng bị chết, bị thương hàng chục tên vì "bãi lửa" và những cây súng bắn tỉa của du kích, rồi khênh xác nhau về.


Quân và dân Nam Thái Sơn lại viết thêm vào trang sử chiến đấu của huyện Hòn Đất những dòng chói lọi. Chiến thắng mới này vượt xa sự hy vọng của Huyện ủy, Tỉnh ủy.

Khi địch ngừng cuộc càn, Huyện ủy kịp thời tổ chức một cuộc họp sơ kết kinh nghiệm, để phổ biến kinh nghiệm cho các xã khác. Cuộc họp vừa tiến hành được một ngày đã được tin của quân báo tỉnh cho biết: ngày mai chúng dồn sức toàn trung đoàn, do thằng sư đoàn phó sư đoàn 9 trực tiếp chỉ huy, đánh vô Nam Thái Sơn. Chúng thề với nhau: "Nếu không chiếm được Nam Thái Sơn sẽ không trở về". Huyện ủy tạm gác cuộc họp. Huyện đội trưởng Ba Non - người chỉ huy nổi tiếng dũng cảm mưu trí được thường vụ Huyện ủy phân công chỉ huy đối phó với cuộc càn mới của địch.


Lực lượng của ta ở Nam Thái Sơn vẫn không có gì thay đổi. Ngay trong đêm hôm ấy guồng máy chiến tranh của xã đã chuyển động xuống tới từng người dân ở các xóm ấp. Nhiều bãi mìn được bổ sung vào "trận đồ bát quái", Công sự trận địa được củng cố vững chắc thêm. Đích thân Ba Non đưa trung đội địa phương quân tới trận địa giao nhiệm vụ. Các cán bộ trong ban chỉ huy phân công nhau xuống kiểm tra từng đơn vị, tới gần sáng họ mới về sở chỉ huy.


Hừng đông vừa hé ở chân trời, tất cả các ấp đã ở tư thế sẵn sàng. Trên mặt đất, trên các ngõ xóm không còn một bóng người qua lại. Những bài học kinh nghiệm trong những năm dài chiến tranh không thừa chút nào. Hàng chục quả đạn pháo từ nhiều hướng bay tới, dập xuống Kinh Năm. Mặt đất rùng rình như một trận động đất. Các trận địa pháo của địch ở Tri Tôn, Hòn Sóc, Kinh Hãng, Đường Trâu, Ba Thê thi nhau nhả đạn tới nửa giờ liền. Thời kỳ này tổng thống Nguyễn Văn Thiệu (vì bị Mỹ giảm viện trợ) đã kêu gọi quân ngụy phải tiết kiệm đạn pháo, mà ở đây hôm nay chúng bắn không tiếc đạn, biểu hiện quyết tâm của chúng trong trận đánh này như thế nào. Hàng chục túp nhà tranh của dân bốc cháy.


Ấp Kinh Năm ngột ngạt trong lửa khói. Tiếng nổ đạn pháo vừa dứt, anh em du kích xông ra giúp dân dập lửa những đám cháy. Ba Non đứng trên thành công sự nâng ống nhòm quan sát. Cánh quân địch từ Đập Đá đang hướng thẳng tới Kinh Năm, vấp phải bãi mìn, chúng vòng qua, lại vấp phải mìn chúng dừng lại khoảng nửa tiếng đồng hồ rồi lại tiến. Chúng tiến rất chậm chạp. Mặt trời xế chiều rồi, mà mục tiêu chúng cần chiếm vẫn ngoài tầm đạn bắn thẳng. Tên sư đoàn phó cùng bộ sậu ngồi trên tắc ráng1 (Xuồng hình thoi dài hơn loại xuồng bình thường), chạy tới chạy lui hắn hò hét vào máy bộ đàm, đốc quân lính tiến lên.


Một lần nữa chúng sa vào "bãi lửa", chúng đang hoảng hốt thì đạn liên thanh của trung đội địa phương quân ở trận địa phục kích gầm lên như bão táp quét ngang đội hình. Lần này cả chỉ huy lẫn lính hoảng sợ thật sự. Tên sư đoàn phó cho tắc ráng quay mũi mở hết tốc lực máy, chạy thẳng về Tri Tôn. Bọn lính bỏ những xác chết, lội theo dòng kinh rút lui.


Phía rừng Nam Thái, suốt buổi sáng không có tiếng súng, mãi tới chiều mới có địch xuất hiện. Đại đội thám báo của chúng với ý đồ đánh vào "cứ", tên đại đội trưởng cáo già cho lính chạy ra chạy vô nghi binh, với thâm ý nhử cho du kích bắn hết đạn, rồi mới xông lên. Du kích không bị mắc lừa. Họ bình tĩnh, thực hiện bắn tỉa. Chỉ khi nào mục tiêu lọt vào đường ngắm, thấy chắc ăn họ mới siết cò. Một số tên lính ngụy đã mất mạng vì cái trò thụt thò nghi binh. Tên đại đội trưởng thám báo nổi máu yêng hùng, đứng bật dậy hô "xung phong". Hắn chưa dứt tiếng hô đã ngã vật xuống. Bị mất chỉ huy, bọn lính hoảng sợ mạnh thằng nào thằng nấy chạy. Anh em du kích xung phong lên thu được nhiều chiến lợi phẩm (một máy bộ đàm PRC25, một khẩu M79, và mười khẩu AR15).


Trận đánh ngày hôm nay là cái dấu chấm hết của kế hoạch phản công mùa khô của trung đoàn 16 ngụy. Sau gần một tháng trời cha con sa lầy ở cánh đồng Nam Thái Sơn, sức lực mệt mỏi, tinh thần rệu rã, chúng buộc phải lui về Hà Tiên để củng cố.


Lực lượng của xã Nam Thái Sơn lớn vụt lên trong khí thế tiến công, từ làm chủ Kinh Năm vươn ra phá tề diệt ác và làm chủ được các Kinh Ba, Kinh Tư, Kinh Sáu; bao vây các bốt địch còn lại. Nhân dân phấn khởi tin tưởng. Ngay sau ngày thắng lợi cuộc càn dài ngày của địch, đã có nhiều bài thơ ca truyền miệng biểu dương truyền thống vẻ vang của mình.

"Nam Thái quê ta cảnh đẹp giầu
Phong trào cách mạng có từ lâu
Bao năm Mỹ-ngụy gieo tang tóc
Nam Thái hiên ngang ngửng cao đầu".


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 02 Tháng Bảy, 2021, 08:50:49 pm
4

Tỉnh ủy đánh giá chiến thắng Nam Thái Sơn "... có giá trị thúc đẩy phong trào du kích chiến tranh của toàn huyện, và ảnh hưởng tốt tới phong trào toàn tỉnh. Nó tạo điều kiện thuận lợi cho ta mở một chiến dịch lớn...". Thật vậy, nó đã trở thành một loại năng lượng đặc biệt cho guồng máy chiến tranh của huyện Hòn Đất chuyển động khẩn trương hơn. Sau khi sơ kết rút kinh nghiệm, củng cố tổ chức vài ngày, lực lượng địa phương quân, dưới sự trực tiếp chỉ huy của huyện đội trưởng Ba Non, hành quân về xã Mỹ Lâm "mở vùng, mở mảng". Trưởng công trường huyện Tư Cương đưa người lên tận núi Dài cưa bom lép, lấy thuốc nổ để chế tạo mìn... Khu rừng Nam Thái thực sự trở thành "thủ phủ" của huyện Hòn Đất. Các đầu ngành của huyện công khai làm chòi, lán, hội trường la liệt ở dưới những tán lá tràm. Ngày đêm tiếng đe tiếng búa của công trường làm việc, hầu như không có giờ nghỉ. Mọi ngươi làm việc với tinh thần hăng hái say sưa chưa từng thấy.


Một hôm Tư Thời cùng một số anh bộ đội lạ mặt, tới chỗ làm việc của thường vụ Huyện ủy. Gặp Sáu Chấp, Tư Thời nói với anh bộ đội:

- Đây là đồng chí Sáu Chấp, ủy viên thường vụ Huyện ủy. - Anh Tư Thời vỗ vào vai anh bộ đội, giới thiệu. - Đây là đồng chí Lân, phó chủ nhiệm hậu cần của đoàn 101 bộ đội chủ lực của Miền mới về tăng cường cho quân khu ta. Đoàn 101 ít ngày nữa sẽ đến chiến đấu phối hợp cùng với chúng ta. Sáu Chấp cố gắng thỏa mãn yêu cầu của đồng chí Lân. Yêu cầu công việc này chỉ riêng bí thư Huyện ủy và Sáu Chấp biết thôi nghen. Thôi hai người làm việc với nhau, tôi còn chút việc ở đẳng.

Hai người ngồi xuống đệm cỏ, trước một cái bàn làm bằng thân cây tràm nhỏ ghép lại. Sáu Chấp hỏi anh bộ đội:

- Các anh ở miền Bắc mới vào?

- Chúng tôi vào lâu rồi, nhưng ở chiến trường khác.

Nghe Sáu Chấp nói tiếng miền Bắc, Lân có ý tò mò:

- Anh Sáu quê ở đâu?

- Tôi ở ngay xã này.

- Tôi nghe anh nói giọng Bắc.

- Vâng. Cả xã tôi gốc gác là người quê ở Nam Định, Thái Bình di cư vào đây làm ăn từ năm 1941, vì vậy xã này có tên là xã Nam Thái, còn thường gọi là Nam Thái Sơn vì có thời kỳ ghép cả xã Thố Sơn.

Sau vài câu chuyện thăm hỏi nhau, họ đi vào công việc. Lân trình bày:

- Vài hôm nữa đơn vị chúng tôi sẽ tới chiến đấu ở huyện nhà, chúng tôi đề nghị các đồng chí lo giúp cho việc tiếp tế lương thực thực phẩm. Trước mắt, tôi đề nghị: trong vòng mười ngày nữa, các đồng chí lo cho một nghìn giạ gạo, năm tạ muối và nửa tạ bột ngọt. Các loại thực phẩm khác tùy sức của địa phương có chừng nào thì giúp thêm chừng ấy.

Nghe Lân yêu cầu một khôi lượng lương thực thực phẩm quá lớn, trong thời gian ngắn, Sáu Chấp cảm thấy vượt quá sức mình. Anh ngồi im lặng vài giây suy tính "giá như trước đây thì xin chịu... Bây giờ có thể nhờ bà con Nam Thái...".

Sáu Chấp nói với Lân:

- Các đồng chí định địa điểm nhận gạo ở đâu?

- Ở ngay trong rừng này, nơi cụ thể do các đồng chí chọn.

Từ lúc được tin Trung đoàn chủ lực 101 sẽ về chiến đấu ở địa phương mình, trong Sáu Chấp bừng lên niềm hy vọng lớn lao. Anh dự cảm huyện mình có khả năng giải phóng sớm hơn các huyện bạn. Niềm tin tưởng phấn khởi mới giúp anh nảy nở nhiều sáng kiến trong công việc. Anh cho liên lạc mời cán bộ kinh tài và cán bộ phụ nữ huyện tới bàn kế hoạch mua gạo ngay chiều hôm đó.


Chỉ vài ngày sau một mạng lưới thu mua gạo đã chuyển động trên các chợ Trị Tôn, Xà Toóng, Đập Đá, cây số tám. Mặc dầu địch phong tỏa gạo rất chặt, nhưng số người tham gia mua gạo mỗi ngày một đông, bởi Sáu Chấp đã mạnh dạn định giá cao hơn thị trường (giá chợ 3.000 đồng ta cho giá 3.500 đồng). Hôm Lân tới nhận gạo, sau cái bắt tay siết chặt, Sáu Chấp vui mừng báo tin:

- Số gạo các đồng chí yêu cầu, chúng tôi mua dư một chút. Xếp ở gần đây, tôi sẽ cho người dẫn. Hãy ngồi nghỉ uống nước đã. Thú thật với đồng chí, khi nhận việc này tôi cũng lo không biết có kịp thời gian không.

- Chẳng riêng đồng chí lo. Chúng tôi cũng biết việc đưa một giạ gạo từ vùng địch ra chẳng dễ dàng gì. Như vậy là các đồng chí đã giúp chúng tôi xong một việc lớn. Chỉ vài tháng trước đây thôi, mỗi lần đi lấy gạo là khó tránh khỏi thương vong...


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 02 Tháng Bảy, 2021, 08:51:55 pm
5

Cuộc họp Huyện ủy mở rộng vào khoảng tháng 12 năm 1974, có các thủ trưởng của trung đoàn tham dự, bàn và quyết định nhiều vấn đề quan trọng, trong đó có hai việc lớn là phương án tác chiến và xây dựng chính quyền ở vùng mới giải phóng.


Phương án tác chiến của thủ trưởng đoàn 101 trình bày được coi là trung tâm để hội nghị thảo luận. Đoàn trưởng Hoàng Đức Đam phát biểu với thái độ tự tin, phương pháp diễn đạt mạch lạc gây ấn tượng khá mạnh với các cử tọa. Anh xòe rộng bàn tay chụp lên hàng chục cái chấm xanh - biểu tượng đồn địch vẽ trên bản đồ, thuộc khu vực xã Nam Thái Sơn, rồi nói:

- Chỉ cần trong một đêm chúng ta sẽ quét sạch hết những đồn bốt này. Không cần phải dùng nhiều lực lượng, có đồn ta chỉ sử dụng một tiểu đội hoặc một trung đội cũng chiếm được...

Nghe tới đó có cử tọa trố mắt như vừa nghe một câu chuyện thần thoại, không thể có trong đời sống. Ngay như trong tổng tấn công Mậu Thân, lực lượng và khí thế tiến công mạnh như thế, thằng địch dao động như thế, mà cũng chỉ xua được một số bốt nhỏ rút chạy, còn việc trực tiếp đánh chiếm đồn bốt của chúng cũng được một hai cái mà chẳng dễ dàng gì... Nhưng càng nghe, sự dẫn dắt hết sức chặt chẽ của báo cáo viên, các cử tọa càng thấy phương án ấy có nhiều khả năng trở thành hiện thực.


Bổ sung đầu tiên vào bản phương án tác chiến của Tư Đam, là ý kiến của tham mưu trưởng Tạo, về kế hoạch nghi binh. Tạo nói:

- Khi đoàn 101 biến mất khỏi vùng Bảy Núi, nhất định địch sẽ đánh dấu hỏi: đoàn 101 đi đâu? Nếu chúng nó đánh hơi thấy ta đang hoạt động ở vùng này, dứt khoát sư đoàn 9 ngụy sẽ nhào tới, và như vậy kế hoạch của chúng ta sẽ gặp nhiều khó khăn. Chúng ta cần có kế đánh lừa địch, dẫn chúng đi hướng khác. Theo tôi có thể lấy Kiên Lương là điểm hút địch tới đó. Làm sao cho địch tin chắc rằng chủ lực của ta chuẩn bị đánh Kiên Lương, công việc này đòi hỏi phải có tổ chức, kế hoạch không kém một trận đánh phải có sự tích cực tham gia của địa phương. Khi thực hiện nghi binh phải có sự chỉ huy chung như chỉ huy một hướng tấn công vậy. Nếu các đồng chí đồng ý hướng nghi binh, thì sau đây phải có cuộc họp riêng của những người thực hiện.

Phương án tác chiến được triển khai. Bộ phận nghi binh triển khai sớm hơn ít ngày. Một tiểu đội trinh sát đặc công của đoàn 101 chui vào đồn Kiên Lương trinh sát, khéo léo để lại dấu vết sự có mặt của bộ đội chủ lực.


Du kích xung quanh khu vực Kiên Lương (Hà Tiên) rải truyền đơn khắp các ấp xóm, kêu gọi nhân dân phối hợp với bộ đội chủ lực giải phóng quê hương. Dân công của xã Bình Sơn vận chuyển gạo, đạn tới một khu rừng cách không xa khu vực Kiên Lương. Bà con trong cơ sở "hợp pháp" đi chợ phao tin có quân Bắc Việt về rất đông chuẩn bị đánh nhau to ở Kiên Lương...


Sư đoàn 9 ngụy đang bị mất hút đối thủ, chúng lại nhận được nhiều tin của bọn mật vụ, thám báo ở khu vực Kiên Lương báo đến, rằng: Trong khu vực có sự hoạt động của quân Bắc Việt. Lập tức chúng kéo cả sư đoàn, tăng cường hai liên đoàn biệt động, một liên đoàn bảo an và thiết đoàn 11 tới Kiên Lương với ý đồ sẽ đánh quỵ đoàn 101. Khi ta phát hiện địch mắc mưu, đêm 17 rạng ngày 18, các lực lượng bộ đội chủ lực, địa phương, du kích đã ém sẵn xung quanh các đồn bốt địch từ xã Nam Thái sang Mỹ Lâm, thực hiện nổ súng đồng loạt. Chỉ trong vòng một đêm, ta đã tiêu diệt hai mươi lăm đồn bốt (cấp tiểu đội đến đại đội). Xã Nam Thái hoàn toàn giải phóng.


Đoàn 101 chuyển sang xã Mỹ Lâm, cùng với lực lượng của địa phương, ba đêm tiếp theo đã quét sạch hệ thống đồn bốt bên kinh Mớp Giăng. Cuộc tiến công của các lực lượng Hòn Đất như bão táp, khiến kẻ thù phải kinh ngạc. Chỉ trong vòng mười ngày đêm ta đã mở toang một vùng giải phóng rộng lớn, từ đầu tới cuối huyện kéo dài bốn mươi cây số. Đến lúc này sư đoàn 9 mới biết là đoàn 101 đang ở đâu. Nhưng chúng còn đang sa lầy vào cuộc càn, và bị hai tiểu đoàn địa phương Châu Hà bám chân không rút ra nổi.


Bộ chỉ huy mặt trận Hòn Đất, sau khi thu thập tình hình diễn biến giữa ta và địch tại mặt trận và khu vực liên quan, đã đi tới kết luận: Sư đoàn 9 sẽ chuyển hướng phản công vào Hòn Đất, trước tiên chúng sẽ chiếm "Ba Hòn" rồi tỏa các mũi xuống đồng bằng.


Trên cơ sở phán đoán như trên, bộ chỉ huy đã điều nhanh tiểu đoàn 7 và 8 của đoàn 101, và tiểu đoàn A11 của tỉnh đội Châu Hà (vừa tới phối hợp) tổ chức phục kích từ Vàm Rầy đến "Ba Hòn".

Trận địa phục kích được bố trí bí mật kín đáo. Họ không phải chờ lâu, ngay tối hôm sau, một tiểu đoàn địch đã hành quân từ phía Hà Tiên tới. 

Trời sáng trăng vằng vặc. Địch theo đội hình hàng dọc, bám sát lưng nhau. Chúng đã lọt vào đường ngắm khẩu 12.71y của bộ phận đón đầu. Lệnh phát hỏa. Súng liên thanh các loại bất ngờ gào thét như mưa giông chớp giật quét vào đội hình địch. Chỉ trong vài phút, đại đội đi đầu của địch đã bị tiêu diệt; toàn bộ đội hình tiểu đoàn địch bị xé rách ra từng mảng lớn, bốn năm chục tên nhảy liền xuống sông Vàm Rầy, bị chết chìm gần hết. Số sống sót chạy tản mát vào đồng cỏ, nhưng vài ngày sau cũng bị du kích bắt làm tù binh.


Tiếng vang chiến thắng của trận phục kích Vàm Rày làm xao động cả một vùng. Bọn địch đóng dã chiến trên "Ba Hòn" vội vàng rút chạy. Nhân dân vui mừng loan tin chiến thắng trên các nẻo xóm ấp, chợ quê. Hình ảnh thân thương của những chiến sĩ quân đội cách mạng choán đầy trong tình cảm của mọi người dân, kể cả những người dân đang sống trong vùng tạm chiếm. Vào giữa mùa dưa hấu, bà con đi chợ thấy các anh bộ đội đang hành quân trên bờ kinh Vàm Rầy, tất cả xuồng ghe chủ động áp vào bờ, họ ném hết dưa hấu lên ủng hộ bộ đội giải phóng. Một quả dưa hấu đưa tới tay một anh bộ đội lại kèm một lời chúc tụng chân thật cảm động.


Không đầy một tháng, được sự chi viện của cấp trên quân và dân Hòn Đất đã làm một khối lượng khổng lồ công việc. Giải phóng trọn vẹn một xã và giải phóng gần hết một xã khác, Tiêu diệt và bức rút 42 đồn bốt (phần lớn là tiêu diệt). Lập xong chính quyền ở hai xã. Phong trào du kích chiến tranh bùng lên như diều gặp gió. Riêng ở xã Nam Thái Sơn, từ sau ngày giải phóng, số lượng du kích tăng lên tới ba trăm người được trang bị đủ súng; trở thành căn cứ vững chắc của tỉnh, của huyện. Các cơ quan của tỉnh, huyện về đóng tại xã được nhân dân bảo vệ an toàn. Cả những người dân thường cũng có ý thức đánh địch bảo vệ cách mạng. Một lần cô Mùi vào rừng câu cá, gặp một tiểu đội lính ngụy. Thấy bọn chúng tỏ ra hoảng sợ, cô mạnh dạn hỏi:

- Các anh đi đâu đấy, lạc đường hen?

Một tên trong bọn ngụy trả lời:

- Chẳng giấu gì cô, mấy hôm Việc cộng tấn công mạnh quá, chúng tôi chạy trốn vô đây. Đã mấy ngày hôm nay chẳng có cơm ăn...

Mùi nghĩ ngay tới kế dụ địch về ấp để du kích bắt sống chúng. Cô nói:

- Chúng ta cùng là người Việt Nam với nhau, nhìn các anh đói khổ tôi rất thương, nhà tôi gần đây mời các anh vô nấu cơm cho các anh ăn... nhưng...

Thấy Mùi tỏ ra ngần ngại không nói hết ý của mình, một tên lính gạn hỏi:

- Chị đừng ngại, chúng tôi ăn xong rồi đi ngay thôi.

Mùi nói:

- Tôi sợ các anh mang súng ống thế kia vô ấp, lỡ có ai nhìn thấy họ báo du kích... Nếu các anh ưng... một điều kiện...

- Điều kiện chi chị cứ nói.

- Các anh phải giấu tất cả súng ở trong rừng, cởi áo lính, làm như người đi làm đồng trở về.

Bọn lính ngoan ngoãn thực hiện điều kiện của Mùi nêu ra. Chúng theo Mùi về nhà. Mùi cho em đi báo du kích ấp biết. Hai du kích ra rừng thu hết súng. Bọn lính đang ăn cơm thì du kích ập đến...


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 03 Tháng Bảy, 2021, 08:38:00 pm
6

Sở chỉ huy chỉ còn lại Tư Đam và Sáu Chấp ở nhà. Tư Đam rủ Sáu Chấp đi xem lại địa hình xã Nam Thái. Hai người bơi xuồng đến Kinh Năm, dừng lại. Họ neo xuồng rồi đứng trên một nền nhà cũ. Cả Kinh Năm bị đạn pháo địch đốt cháy trụi gần hết, còn thơ lơ vài ba mái nhà. Thỉnh thoảng có một cơn gió xoáy hút tàn than lên rắc đen vai áo của họ. Nhân dân trong ấp, từ hôm được giải phóng tới giờ đang xoay trần ra làm nhà, nói cho đúng hơn là làm lều tạm trú nắng mưa trên nền đất cũ của mình. Họ mất nhà, mất cửa trong đợt chiến đấu vừa qua, nhưng tịnh không có ai tỏ ra đau buồn. Sáu Chấp đứng cạnh Tư Đam nhìn ra cánh đồng về phía Tri Tôn.


- Anh Tư có thấy cái bụi cây xanh cao trội lên đó không - Sáu Chấp vừa nói vừa chỉ tay. - Mấy trận càn mới đây, cứ mỗi lần chúng nó tới gần chỗ đó, không vấp vào mìn thì cũng vấp hỏa lực của du kích, rồi chùn lại. Hai hôm nay, khoảng hai tiểu đoàn có xe bọc thép yểm trợ, đâu phải là ít, mà chúng cứ thập thò ở hướng này. Âm mưu của chúng muốn chiếm Nam Thái, tại sao hai lần tiến được khoảng một cây số không vướng gì mà chúng lại rút lui. Rõ ràng bọn lính này hoảng sợ, sợ gặp "bãi lửa", sợ gặp lực lượng ta. Chúng thừa biết lực lượng ta bây giờ mạnh hơn trước nhiều. Tình hình này tôi tính có thể đưa thẳng lực lượng vào Tri Tôn nhá thử xem. Ý anh thế nào?

- Mình đồng ý với Sáu Chấp, nhưng lực lượng của ta đang phân tán rộng, số còn ở nhà không đủ.

- Chỉ cần anh tăng cường cho một đại đội cộng với du kích Nam Thái là đủ.

- Không còn một đại đội nào. Có thể cho các cậu mượn một khẩu đội ĐKZ 75, một khẩu đội 12,7 ly và ba khẩu B40, B41. Một khẩu đội chỉ có xạ thủ chính còn xạ thủ phụ các cậu tự lo, huấn luyện cấp tốc một hai ngày.

- Thế cũng được.

Từ hôm xã Nam Thái được giải phóng, du kích xã vươn ra hoạt động trên lộ 80, đánh mìn và phục kích đánh giao thông; họ rất hăng, ai cũng mong được đánh một trận cho ra trò. Khi Năm Lầu xã đội trưởng được Sáu Chấp gọi lên giao nhiệm vụ, vừa nghe thấy Sáu Chấp nói "Chúng ta sẽ đánh vào Tri Tôn", chưa rõ nếp tẻ thế nào Năm Lầu đã nói xen ngang:

- Chúng tôi xin đánh vào một mũi.

- Khoan nào. - Sáu Chấp cười nói tiếp. - Có ai nữa đâu mà mũi với họng, chỉ có lực lượng của xã ta làm việc này thôi. Bên đoàn 101 sẽ cho mượn một số hỏa lực. Chúng ta lựa chọn người tổ chức lấy hai tiểu đội mạnh đầy đủ quân số, mục đích đánh thăm dò sự phản ứng của địch như thế nào và cũng là chủ động tấn công phá kế hoạch phản công của địch.

Sáu Chấp bẻ một cái que vạch lên mặt đất thay cho sơ đồ, anh vừa vẽ vừa nói:

- Đây là Kinh Nam Thái... đây là sông Rạch Giá - Hà Tiên... Cậu cho bố trí ở cái doi này, dùng ĐKZ bắn sang khu vực nhà tầng, đó là trụ sở quận của chúng, dùng trọng liên 12,7 ly bắn quét lên cầu không cho chúng vượt qua. Sườn bên phải ta bố trí một bãi lửa đề phòng địch vòng sườn...

Hai người bàn bạc với nhau khá kỹ về cách đánh, tình huống và cách xử trí.

Đêm hôm ấy Năm Lầu đưa đơn vị mình vào chiếm lĩnh trận địa, nhìn sang bên kia sông còn ánh đèn, nhiều gia đình trên đường phố chưa ngủ. Từng chiến sĩ lặng lẽ vào vị trí đã được chỉ định, họ khẩn trương bấm những nhát xẻng xuống mặt đất mềm. Gần sáng các công sự đã được ngụy trang giống như những lùm cỏ.

Năm Lầu đi kiểm tra từng vị trí, căn dặn anh em bí mật sẵn sàng chờ lệnh nổ súng.

Bên sông, tiếng gà thi nhau gáy báo hiệu đã kết thúc một đêm dài nặng nhọc. Năm Lầu đưa mắt nhìn theo dòng sông đang nhận ánh sáng mặt trời, mặt nước lấp loáng như dát bạc, không có một bóng ghe thuyền nào qua lại. Cái không khí bình yên giả tạo này, chỉ một lát nữa sẽ phơi bày bộ mặt khủng khiếp của chiến tranh. Năm Lầu mường tượng trận đánh sắp nổ ra, trong óc anh như có hai người tranh cãi nhau. Suy nghĩ triền miên nhưng mắt anh vẫn không rời khu vực đồn địch.

Khoảng một trung đội địch từ trong đồn đi ra gần đường cái, chúng đi không thành hàng lối, vừa đi vừa đùa nghịch nhau. Năm Lầu gọi Long, xạ thủ 12,7 ly, giật giọng:

- Long... bắn!

Những cụm khói lớn nhỏ bỗng nhiên vụt ra, đồng thời tiếng liên thanh gào lên khủng khiếp. Bọn địch đang đi bỗng ngã nhào lên nhau, tiếng kêu la thất thanh. Phải tới vài phút sau mới thấy bóng những tên lính đi khom từ các lối ngõ luồn ra chiếm mặt đường.


Anh em du kích ý thức được việc tiết kiệm đạn, họ bình tĩnh rê đường ngắm theo mục tiêu mình lựa chọn, thỉnh thoảng lại có một loạt đạn ngắn vang lên.

Địch đã chiếm lĩnh trận địa xong. Các loại đạn liên thanh của chúng tuôn ra như suối, chen vào những tiếng đạn súng cối, giống như âm thanh của băng pháo cối tạch tạch tạch... đùng... kéo dài tưởng như vô tận. Những ngọn cỏ bên cạnh công sự của du kích bị cái liềm vô hình cắt trụi dần. Trận đánh mỗi lúc một quyết liệt hơn. Bỗng nhiên một hỏa điểm đại liên trên nhà lầu xuất hiện. Hỏa điểm này khá lợi hại, chúng từ trên cao bắn xỉa xuống. Nếu không có công sự vững chắc keo này sẽ phải lúng túng. Những loạt đại liên, cùng những đạn cối nổ tung bụi rơi lả tả vào trong công sự của họ. Không phải chờ lâu, khẩu 12,7 ly của Long đã quật lại chúng một đòn xứng đáng. Khẩu đại liên câm họng một phút, chúng lại xuất hiện ở cửa sổ khác.


Từ nãy tới giờ Tiệm, xạ thủ ĐKZ vẫn nhăm nhe chọn cho mình một con mồi xứng đáng. Khi khẩu đại liên của địch xuất hiện, Tiệm quay nòng pháo về hướng đó. Cụm khói trắng trên cửa sổ đã lọt vào tâm vòng ngắm. Tiệm mím môi giật cò. Ùng ục, hai tiếng nổ liền nhau. Tiếng đại liên của địch câm bặt. Trái đạn đầu tiên chụp đúng mục tiêu, làm cho các xạ thủ ĐKZ phấn khởi tự tin hơn. Cặp mắt sắc của Tiệm lại tìm một con mồi khác. Những cụm khói trắng nhỏ, những tiếng liên thanh rối tinh rối mù, Tiệm nhận ra một hỏa điểm đại liên bên hông bức tường, cách nhà lầu vài mét. Tiệm lẩm bẩm "chết rồi các con ơi". Phát đạn thứ hai của Tiệm nổ, căn nhà bùng lên một đám cháy lớn, đám cháy cứ thế lan sang các nhà khác, khói bốc đen trời.


Bắn xong phát đạn thứ hai Tiệm cho khẩu đội di chuyển sang trận địa phụ. Trên đường di chuyển anh bị thương khá nặng. Anh em xạ thủ lúng túng, định đặt súng xuống để cõng khẩu đội trưởng. Tiệm quát to:

- Đưa súng ngay vào trong công sự, tao còn bò được.

Tiệm gắng hết sức đã bò tới công sự. Anh em vừa giá súng xong Tiệm nghiến răng chịu đựng đau đớn, kiểm tra lại đường ngắm, rồi hạ lệnh bắn. Một phát đạn trả đòn một hỏa điểm trung liên trên lầu vừa bắn Tiệm, đạn nổ trong lầu, khói đen lùa ra cửa sổ. Từ lúc đó trở đi tất cả những hỏa điểm ở trên lầu câm họng.


Năm Lầu vừa bắn địch vừa quan sát rộng ra toàn trận địa. Anh thấy ở dưới chân cầu vọt ra một chiếc xuồng gắn máy, rồi tiếp theo ba chiếc nữa chở đầy lính. Năm Lầu hạ lệnh:

- Tập trung hỏa lực bắn vào bọn vượt sông.

Năm Lầu vừa dứt tiếng, các loạt đạn liên thanh của du kích đã quét sát mặt nước về phía cầu. Ba chiếc ghe địch đi sau vòng trở lại, còn một chiếc tắc ráng tiếp tục lao về phía trước, chỉ còn cách bờ phía ta khoảng hai mươi mét. Một viên đạn B41 kéo theo cái đuôi khói trắng, cắm vào mạn tắc ráng rồi nổ tung. Chiếc tắc ráng quay một nửa vòng rồi chìm nghỉm. Gần một trung đội bộ binh địch ngồi trên xuồng, đứa chết đứa bơi lóp ngóp cũng bị đạn liên thanh của du kích nhấn chìm nốt.


Không khí chiến trận trở lại như cũ. Từ bờ sông bên kia địch vẫn bắn như vãi đạn, bờ sông bên này du kích bắn cầm chừng...


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 03 Tháng Bảy, 2021, 08:38:50 pm
... Sở chỉ huy của huyện vẫn ở Kinh Hai. Từ lúc có tiếng súng nổ ở Tri Tôn, thỉnh thoảng lại có bà con trong ấp tới sở chỉ huy hỏi thăm tin tức. Càng về trưa tiếng súng nổ càng dữ dội hơn. Có người tò mò treo lên cây cao, nhìn về phía Tri Tôn thấy đám cháy lớn. Họ thông báo cho nhau diễn biến trận đánh theo suy diễn của mình.


Với số du kích ít ỏi, dám xông vào tận hang ổ địch giữa ban ngày, đấu chọi với lực lượng địch đông gấp hàng chục lần, mọi người ở nhà lo lắng ít hy vọng họ trở về.

Những tin tức được tạo ra từ những tiếng nổ những ngọn khói mà mọi người thấy được, đã truyền đi các kinh, đến tai các mẹ, các chị có người thân đang tham dự trận đánh, họ kéo nhau đến sở chỉ huy.

Sáu Chấp đang ngồi duỗi chân như ôm lấy cái máy bộ đàm PRC25 lắng nghe tiếng nói rè rè từ trong máy phát ra "Lệnh của thiếu tá: đại úy phải tổ chức nhanh việc vượt sông, phải bắt sống bọn du kích...". "Báo cáo với thiếu tá chúng không phải là du kích... chúng là quân Bắc Việt, có đứa đội nón cối, chúng có đui-xết và ca-nông. Hỏa lực của chúng rất mạnh, xin thiếu tá cho thay kế hoạch"... "Không có kế hoạch nào khác. Ông đại úy định chống lệnh hen". Sau một câu hỏi hách dịch, trong máy chỉ còn lại tiếng nhiễu ro ro như tiếng gió. Sáu Chấp gỡ tai nghe của máy ra khỏi tai mình, lúc này anh mới nghe thấy tiếng nói của phụ nữ ồn ào như chợ xung quanh.


Mấy bà mẹ xúm vào hỏi Sáu Chấp về tình hình trận đánh. Khó mà trả lời được cụ thể, Sáu Chấp chỉ nói chung để cho các mẹ, các chị được vui lòng:

- Anh em đang chiến đấu thắng lợi. Các bà các chị cứ yên tâm về nhà đi. Khi nào có tin tức cụ thể chúng tôi sẽ thông báo tới các ấp.

Mọi người thấy có làm ồn ào ở đây cũng chẳng ích gì, họ lần lượt kéo nhau về. Có bà về nhà mổ gà, mổ vịt cúng vái khẩn khứa "cầu trời phật phù hộ độ trì cho du kích Nam Thái...".

Tiếng súng ở Tri Tôn, lúc đì đẹt thưa thớt, lúc ầm ầm như bão tố kéo dài cho tới tối. Dân Nam Thái bồn chồn lo lắng và chờ đợi kết quả của trận đánh.

Mặt trời vừa gác núi, một lần nữa chị em phụ nữ lại kéo đến sở chỉ huy, không giống như buổi trưa, lần này thái độ của mọi người trầm lắng hơn. Họ biết rằng cái gì họ mong mỏi, đã đến lúc được giải đáp.

Khoảng bảy giờ tối có ai đó đi đón du kích, từ ngoài cánh đồng trở về báo tin:

- Anh em đã về... chiến thắng rất to.

Như đàn ong vỡ tổ. Tiếng cười nói và cả tiếng khóc chen lẫn nhau ra đón đội du kích thắng trận trở về.


... Sáu Thố vẫn làm nhiệm vụ thường trực ban chỉ huy Huyện đội. Một trong những công việc thường xuyên cấp bách thời kỳ này là vấn đề bảo đảm vũ khí đạn dược. Số vũ khí của trên cung cấp rất hạn chế, luôn luôn ở tình trạng mắc nợ đối với các đơn vị. Riêng số mìn cho xã Nam Thái trong đợt chiến đấu này đã lên tới hàng trăm quả, chỉ trông mong vào sự sản xuất của công trường huyện. Anh em công trường phải làm việc ngày đêm không nghỉ, ban đêm họ phải thắp đèn lên để sản xuất mìn, thủ pháo và súng tự tạo mà vẫn không theo kịp đòi hỏi của chiến đấu.


Mới đây công trường có sáng kiến sản xuất loại súng pháo bắn đạn cỡ 105 ly. Anh em lấy đầu đạn 175 lép đem cưa phần chóp của nó, giữ lại phần hình trụ làm nòng pháo. Khẩu pháo thô sơ ấy được thử nghiệm bằng một trận pháo kích nhỏ vào đồn Kinh Ba (Nam Thái), bắn ba quả rơi vào trong đồn, bọn lính hoảng sợ đã xé rào bỏ chạy. Loại pháo tự tạo ấy được du kích và địa phương quân rất mê, bởi nó bắn bằng đầu đạn 105, loại đạn ấy anh em có thể kiếm được.


Một lần Sáu Thố nhận được tin quân ta vừa chiếm trận địa pháo Đường Trâu, kho đạn 105 vẫn còn nguyên. Anh lập tức thông báo tin ấy cho công trường biết. Cùng ngày, anh đang tiếp một cán bộ xã đội của My Lâm. Tư Cương, trưởng công trường huyện tới. Sáu Thố mừng rỡ nói to:

- Thiệt là hên... có ông Tư đây rồi. - Sáu Thố tươi cười chỉ vào xã đội phó xã đội Mỹ Lâm. - Đây có khách nợ của anh chờ ở đây... Trong kho của ông Tư còn khẩu pháo tự tạo nào không? Mỹ Lâm đang xin pháo và đạn nữa.

Tư Cương tủm tỉm cười, rồi ngồi bệt xuống đệm cỏ, đối diện với Sáu Thố, rồi nói chậm rãi:

- Anh Sáu muốn nói kho nào. Kho ở Đường Trâu chăng. Muốn chuyển cái kho đó về đây, tôi đề nghị trước hết anh cho tôi mượn cái xuồng, và sau nữa là mấy anh xã đội Mỹ Lâm giúp cho khoảng hai mươi dân công.

Anh cán bộ xã đội Mỹ Lâm cười nói:

- Chuyện dân công thì có gì khó. Tôi chỉ lo mìn và khẩu pháo tự tạo liệu có hay không?

- Dọn xong kho Đường Trâu, anh yên tâm mọi thứ đều có.

Sau vài câu chuyện nói vui vẻ, họ bàn bạc những việc làm cụ thể để giải phóng kho Đường Trâu.

Tư Cương bước vào đồng Đường Trâu, nơi quân ta vừa đánh chiếm mấy ngày hôm trước với tâm trạng đầy xúc động. Dưới cái lều bạt là một đống đầu đạn 105, còn nguyên màu sơn bóng loáng. Hàng chục năm công tác công trường sản xuất vũ khí, chưa bao giờ trong kho của anh có được một phần mười số đạn kia để làm mìn. Anh bồi hồi nhớ lại chuyện sau ngày bị bao vây ở "Hòn" bảy mươi tám ngày đêm, anh em công trường đi kiếm đầu đạn pháo và bom bi lép, có cả huyện đội phó Năm Thắng cùng đi. Anh em đã nhặt được đầy một chậu bom bi. Năm Thắng và ông Sềm vừa tới gần chỗ cái chậu đựng bom. Nghe một tiếng nổ lớn, Tư Cương đứng ở xa nhìn về chỗ cái chậu đựng bom, chỉ thấy một đám khói đen bốc lên. Anh vội chạy tới xem tai họa vừa xảy ra. Thật là một tai họa bi thảm. Ông Sềm và Năm Thắng chỉ còn lại những mảng thịt, xương bị vằm nát văng vãi ra xung quanh. Công trường của anh phải trả bằng giá đắt để có những quả đạn cải tiến và những quả mìn cung cấp cho các đơn vị...


Tư Cương đi một vòng xem lại toàn bộ nơi ăn chốn ở của địch. Chúng vội vã rút chạy, kho tàng của chúng để lại còn nguyên vẹn. Anh thích thú nhất là kho đạn và kho mìn còn lại hàng trăm quả.


Số anh chị em dân công, hầu hết là thanh niên đến nơi, họ chạy ùa vào trận địa pháo, có người đến cưới lên khẩu pháo, rồi rúc rích cười đùa với nhau. Một cô gái hỏi Tư Cương:

- Chúng em có ít người làm sao khênh được bốn khẩu ca-nông này?

- Những khẩu pháo hãy để đó tính sau, anh chị em hãy chuyển kho đạn trước. Mỗi người vác một viên cho xuống ghe.

Anh em dân công rất hăng hái và tự giác. Nghe Tư Cương nói họ kéo nhau đến ngay kho đạn. Mỗi người vác một viên đạn xếp xuống xuồng. Chẳng mấy chốc, be xuồng đã mấp mé mặt nước. Tư Cương dặn anh cán bộ phụ trách dân công những công việc phải làm tiếp, rồi xuống xuồng chuẩn bị về.

Anh cán bộ dân công đứng trên bờ nói vọng xuống:

- Ban chỉ huy dặn chúng tôi lãnh mìn, và súng, lãnh ở đâu?

- Tôi về sẽ quay lại ngay. Mìn lãnh ở đây, chờ tôi đến.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 03 Tháng Bảy, 2021, 08:42:31 pm
8

Ba tháng đầu xuân năm 1975 có nhiều sự kiện quan trọng đáng khích lệ trên khắp các chiến trường miền Nam. Ta chiếm tỉnh lị Buôn Ma Thuột, phá vỡ một mắt xích quan trọng trong hệ thống phòng thủ chiến lược trên cao nguyên, buộc địch phải rút bỏ toàn bộ Tây Nguyên, ở mặt trận miền Tây, các trung đoàn chủ lực của quân khu đã quét sạch đồn bốt địch trên kinh xáng Lái Hiếu với tới sát lộ Vòng Cung, uy hiếp thành phố Cần Thơ nơi đầu não Vùng IV chiến thuật của địch, ở phía Vĩnh Trà thế ta mạnh như chẻ tre, đã mở ra một vùng giải phóng rộng lớn nối liền Trà Vinh với Vĩnh Long uy hiếp đương số 4... Tin tức chiến thắng mới như một dòng thác phấn khởi ồ ạt tới Hòn Đất. Mọi người càng tin tưởng cuộc sống trong hòa bình thống nhất đất nước đang ở trong tầm tay. Sớm sớm chiều chiều trên dòng kinh Mớp Giăng, kinh Nam Thái, kinh Tám Ngàn... thuyền ghe đi lại đông vui, đây đó có tiếng hát hò. Cuộc sống bình yên trong tự do hé mở. Nhân dân, bộ đội đi lại hội họp không phải ngụy trang che giấu.


Sau chiến dịch phối hợp với đoàn 101 và bộ đội tỉnh, gần hết đất đai của huyện đã nằm trong vùng giải phóng. Bộ phận địch còn lại dồn lên chiếm giữ lộ 80 từ Sóc Xoài tới Vàm Rầy. Riêng xã Mỹ Lâm địch còn đóng ở Liên Thành một đại đội.


Đã ba bốn ngày hôm nay, bộ đội huyện và du kích xã Mỹ Lâm vây chặt đồn Liên Thành. Hàng ngày họ dùng pháo tự tạo, hoặc súng cối bắn cầm canh vào trong đồn. Bọn lính trong đồn đã nhiều lần kêu cứu. Cấp trên chúng đã ba lần đưa viện binh đến, nhưng gặp hỏa lực và "bãi lửa" của địa phương quân và du kích, chết vài tên, chúng đánh đấm chiếu lệ rồi rút. Bọn chỉ huy chi khu ngoan cố không muốn bỏ đồn Liên Thành, một lần nữa chúng dùng lực lượng lớn hơn để giải vây.


Huyện đội phó Năm Hưng chỉ huy việc vây đồn, phát biện thấy địch đông gấp bốn năm lần quân ta, chúng có 19 xe bọc thép yểm hộ, đã vượt qua sông. Anh điểm lại thấy lực lượng của mình quá mỏng, nhất là loại hỏa lực chống tăng, chỉ còn vẻn vẹn bốn quả đạn B41. Anh lo lắng: liệu có chống đỡ nổi hay đành phải bỏ dở dang cuộc bao vây. Họ trao đối với nhau. Năm Lầu cũng mang tâm trạng ấy. Năm Lầu được cử về hỏi ý kiến Ba Non.


Năm Lầu biết rõ cốt cách Ba Non như thế nào. Đúng à một con người có lá gan bằng thép, không bao giờ biết sợ, dù kẻ địch dàn ra trước mặt với sức mạnh gấp trăm lần mình. Suốt những năm chiến đấu, anh luôn luôn biểu thị sự gan góc mưu trí, điển hình là trận rạch Tầm Đéc (23-4-1970). Ta vẻn vẹn có chín người, mỗi ngươi có nột khẩu tiểu liên và một tới hai quả lựu đạn. Địch gồm cả sư đoàn 9 đang hành quân. Thấy địch đông quá có người bàn lui. Riêng anh quyết tâm đánh. Tác phong kiên quyết của anh buộc mọi người phải phục tùng. Họ phục kích, giấu mình trong những bụi cỏ dại. Khi địch hạ trại nghỉ ngơi, ngay trước mặt họ chỉ cách sáu bảy mét là sở chỉ huy tiểu đoàn địch. Chờ lúc chúng đang ăn cơm, Ba Non hạ lệnh nổ súng. Chúng hoàn toàn bị bất ngờ. Những loạt đạn tiểu liên của du kích quật chúng ngã chồng chất lên nhau. Anh em xung phong lên, mỗi người thu được bốn năm khẩu súng chiến lợi phẩm rồi biến vào đồng cỏ...


... Suy nghĩ về tính cánh của người chỉ huy của mình, Năm Lầu thấy việc mình sắp phải trình bày, có cái gì đó khó nói, nếu nói toạc ra rằng "địch đông quá tôi đề nghị cho đơn vị rút lui" sợ Ba Non cho mình là kẻ non gan.


Ba Non đang ngồi trong nhà dân, hội ý với Năm Thịnh về kế hoạch phối hợp với các chiến trường khác, đưa quân ra bao vây các đồn bốt nằm trên lộ 80. Năm Lầu vừa bước tới cửa chưa kịp chào, Ba Non hỏi trước:

- Có chuyện gì thế Năm?

- Báo cáo... địch đưa quân chi viện tới hơn một tiểu đoàn, có 19 xe M113 đã sang sông. Súng chống tăng của chúng tôi chỉ còn bốn quả đạn. Đề nghị anh cho ý kiến.

Ba Non im lặng nhìn vào khoảng không giây lát rồi nói với Năm Lầu:

- Về động viên anh em, bằng mọi giá phải giữ vững trận địa. Địch hiện nay đang suy sụp tinh thần. Nếu động viên giữ vững tinh thần anh em thì dù chúng có đông hơn thế cũng không làm gì nổi. Mày về nói với xạ thủ B41 biểu Ba Non hạ lệnh: mỗi quả đạn phải phá hủy một xe tăng.


Cuộc gặp gỡ không đầy một phút với Ba Non, đã diễn ra đúng như dự kiến của Năm Lầu. Anh chạy về tới trận địa, vẫn còn cảm thấy sượng sùng vì ý nghĩ của mình. Năm Ưng hỏi:

- Anh Ba có ý kiến gì?

Năm Lầu xịu mặt, nói cằn nhằn:

- Đã biểu mà... có hỏi ông Ba cũng đến thế thôi.

- Thế thôi là thế nào. Địch đông thế kia đánh hay rút. Đánh thì đánh thế nào với gần hai chục xe tăng của nó, mà mình có bốn quả đạn chống tăng?

- Quyết tâm như cũ. Anh Ba dặn, nói với anh em tinh thần quân địch đang sa sút, chúng ta cứ để nó tới gần, mỗi quả đạn B41 phải phá một chiếc xe tăng, nhất định chúng phải tan.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 03 Tháng Bảy, 2021, 08:43:28 pm
Nghe Năm Lầu nói xong, Năm Ưng lập tức rời sở chỉ huy xuống từng phân đội động viên tinh thần chiến đấu của anh em. Bọn địch triển khai đội hình chậm chạp, tiến ngập ngừng, mãi tới gần trưa chúng mới vào cách trận địa của ta vài trăm mét.


Năm Ưng không rời mắt dõi theo đội hình địch đang tiến vào chính diện trận địa của ta. Mười chín chiếc xe bọc thép dàn hàng ngang, lính bộ binh ngồi trên xe và lóc nhóc chạy sau xe. Chúng dừng lại ở vị trí xuất phát tấn công cách ta chừng ba trăm mét, dùng pháo vào trọng liên bắn như mưa.


Trận địa pháo ta vẫn im phắc, không có một tiếng súng nào đáp lại. Năm Ưng chăm chú quan sát tìm xem tên chỉ huy của chúng ở xe nào. Anh thấy một nhóm binh lính ngồi túm tụm, có cái cần ăng-ten nhô lên. Năm Ưng nói với chiến sĩ liên lạc:

- Mày có thấy mấy thằng đang ngồi chếch sau chiếc xe tăng không, ở chỗ bụi đế cao đó.

- Có.

- Đó là bọn chỉ huy của chúng. Có vô tuyến đó. Mày báo cho "cối sáu” lấy phần tử thiệt chính xác, bắn vào đó ba quả.

Chiến sĩ liên lạc vừa vọt ra khỏi công sự, vừa lúc đội hình địch chuyển động. Tiếng động cơ xe tăng, tiếng các loại đạn nổ tưởng như không gian muốn nứt tung ra. Năm Ưng đang lo lắng, nếu chừng kia chiếc xe bọc thép của địch tràn tới, mà mình chỉ có một khẩu súng chống tăng, rồi sẽ ra sao. Chiếc xe chỉ huy của địch bỗng dừng lại, làm cho Năm Ưng chú ý. Trên thùng xe bốc lên một cụm khói đen, và tiếp theo là hai cụm khói đen phụt lên cách nó vài mét. Năm Ưng mừng thầm. Súng cối của mình bắn rất trúng mục tiêu chỉ định.


Đội hình địch tiến chậm lại. Nơi đạn súng cối của ta nổ, chúng nhốn nháo kênh cõng nhau về phía sau.

Địch tiến tới cách trận địa khoảng hơn một trăm mét, Năm Ưng hạ lệnh cho toàn đơn vị nổ súng. Hỏa lực của trận địa ta tạo thành một lưới lửa dày đặc quét vào đội hình địch. Những tên lính bộ binh địch nằm rạp xuống hoặc vón thành cục sau xe tăng. Cùng lúc đó, một phát đạn B41 băn trúng chiếc M113. Chiếc xe trúng đạn phì ra một làn khói đen rồi khựng lại. Thấy chiếc xe M113 bốc cháy, toàn bộ đội hình của chúng quay 180 độ cắm đầu chạy, không kịp thu dọn xác đồng đội.


Tới khi bọn địch rút hết sang bên kia sông, Năm Ưng mới thở phào, trút được hết nỗi lo. Anh cười nói với Năm Lầu:

- Tao không ngờ chúng nó lại tan nhanh đến thế.

Ngày hôm sau, Năm Lầu tới gặp Ba Non, anh vui vẻ thú nhận:

- Thấy chúng đông xe tăng sợ muốn chết, lúc tôi về báo cáo với anh, rất muốn anh cho rút lui, nhưng thấy mặt anh tỉnh queo, tôi không dám nói nữa.

Những tin tức chiến thắng lớn, vượt sức tưởng tượng của mọi người ngày vẫn tràn tới. Mỗi lần họ gặp nhau, thay lời chào bằng đưa tin chiến thắng mới.

- Quân ngụy thất thủ ở Tây Nguyên, rút chạy theo đường 7 đang bị quân ta chặn đánh.

- Quân ngụy đã rút khỏi Quảng Trị, thành lập tuyến tử thủ ở sông Mỹ Chánh.

- Quân chủ lực của ta đánh tan tác quân đoàn 1 ngụy ở Thừa Thiên - Huế.

- Quân ta đã chiếm đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) hồi 13 giờ ngày 29 tháng 3...

Những ngày tháng sôi động này, mỗi người đều cảm thấy thời gian rút ngắn lại, công việc của mình đang làm có nguy cơ chậm trễ. Cuộc họp Huyện ủy Hòn Đất (21-4-1975) được thu gọn trong vòng một buổi sáng, mà mọi người vẫn lo cuống lên, còn quá ít thời gian để cho mình triển khai nhiệm vụ.


Cuộc họp mới đề ra được nhiệm vụ và những biện pháp chung lớn, chưa có thì giờ giải đáp cặn kẽ mọi câu hỏi đặt ra. Thường vụ giao cho Sáu Chấp bảo vệ phương án của huyện trước Tỉnh ủy.

Sớm hôm sau, Sáu Chấp đến trụ sở của Thường vụ tỉnh ủy đóng ở Kinh Ba xã Nam Thái. Bí thư Tỉnh ủy Tư Thơ đang ngồi ghi chép, thấy Sáu Chấp tới anh tỏ ý vui mừng:

- Tao đang chờ mày. Hẹn chiều hôm qua sao mầy không đến. - Anh Tư Thơ đưa bao thuốc mời Sáu Chấp, rồi nói tiếp. - Tình hình cực kỳ khẩn trương, mình không triển khai nhanh thì không kịp phối phợp với các chiến trường bạn và không tranh thủ được thời cơ.

Sáu Chấp đưa bản báo cáo cho Tư Thơ và trải tấm bản đồ lên mặt bàn.

- Nhiệm vụ lớn quá. - Sáu Chấp nhìn Tư Thơ, tìm sự cảm thông với điều mình sắp nói. - Đoàn 101 và các tiểu đoàn của tỉnh đã điều đi hết, không còn một đơn vị chủ lực nào, mọi thứ chúng tôi đều phải tự lo. Bí quá, tính mãi vẫn thấy thiếu lực lượng...

- Bí gì cứ nói nghen.

- Cả huyện có một đại đội địa phương quân, vũ khí lớn nhất là cối "sáu" và B41, rất ít đạn. Mấy đại đội du kích của xã Nam Thái, Mỹ Lâm mới thành lập còn bỡ ngõ trong tác chiến. Nêu được trên chi viện thêm thì chúng tôi mối có thể hoàn thành nhiệm vụ.

- Trước tình hình này các cậu không được chờ trên chi viện, tỉnh cũng phải góp lực lượng với quân khu để tập trung vào hướng có ý nghĩa chiến lược. Theo nghị quyết của Trung ương Cục: Tỉnh tự giải phóng tỉnh, huyện tự giải phóng huyện, xã tự giải phóng xã. Phối hợp và tranh thủ thời cơ quân chủ lực của toàn Miền đánh tan vỡ quân chủ lực địch, để giải phóng địa phương mình... Mày nói xem sự phân công và phương án tác chiến của huyện thế nào.

- Căn cứ vào lực lượng ta, địch, bước đầu chúng tôi triển khai lực lượng bao vây bức rút các đồn lẻ như đồn Kinh Tư, Ranh Hạt, Bót Nhỏ, Sư Nam, Đập Đá, Kinh Sáu (Tân Hội), nếu dứt điểm các đồn lẻ, sẽ dấn thêm một bước vây các đồn lớn; kết hợp với sự tác động của chiến trường toàn quân khu, toàn Miền chúng tôi sẽ tập trung lực lượng tấn công bức rút các đồn lớn còn lại. Chúng tôi phân công như sau: Ba Non (quyền bí thư Huyện ủy) trực tiếp chỉ huy địa phương quân và du kích tập trung của hai xã Mỹ Lâm, Sóc Sơn tấn công vào Sóc Xoài; Sáu Thố, chính trị viên huyện đội phụ trách xã Nam Thái, sử dụng lực lượng du kích tiến ra lộ 80 bao vây Đập Đá, tiến tới bao bây Tri Tôn; Năm Tuấn chỉ huy bao bây Ranh Hạt và Vàm Rầy; Năm Mai và Ba Toàn chỉ đạo xã Mỹ Lâm đối phó với lực lượng địch từ Ba Thê xuống. Mỗi khu vực lập ra ban chỉ huy chung. Còn tôi làm nhiệm vụ thường trực đảm bảo thông tin hậu cần vào huy động lực lượng bổ sung cho phía trước khi cần thiết.


Tư Thơ bổ sung một số ý kiến cụ thể vào phương án tác chiến của huyện Hòn Đất và nhấn mạnh:

- Những cánh quân lớn của ta tiến công "thần tốc" cách Sài Gòn chẳng còn bao xa nữa. Phòng tuyến "tử thủ" cuối cùng của Mỹ - ngụy ở Xuân Lộc đã tan vỡ. Tình hình Sài Gòn đang rối loạn, tinh thần thất bại đã tràn ngập trong quân ngụy; tình hình ấy tác động rất mạnh từng giờ từng phút tới ngụy quân, ngụy quyền ở những nơi chúng còn lại. Các cậu phải bám thiệt chắc tình hình địa phương mình, phải dùng lực lượng quần chúng hư trương thanh thế, áp đảo tinh thần địch mạnh hơn nữa, phát huy sức mạnh tổng hợp để giải phóng địa phương mình sớm hơn.


Tiêu đề: Lửa của đất
Gửi bởi: quansuvn trong 03 Tháng Bảy, 2021, 08:44:30 pm
Cả vùng Hòn Đất lúc nào cũng ầm ầm như biển động, không lúc nào ngớt tiếng trống mõ, tù và, tiếng reo hò. Những âm thanh quật khởi mỗi lúc một đông quánh, dồn ép dần ra lộ Rạch Giá - Hà Tiên, áp đảo tinh thần đang run sợ của bọn binh sĩ ngụy. Các đồn nhỏ của địch trên lộ rã nhanh như đám lá khô gặp cơn lốc. Chúng dồn lại giữ các đồn lớn như Sóc Xoài, Tri Tôn, Vàm Rầy.


Đêm 29 tháng 4 địa phương quân và du kích hai xã Sóc Sơn, Mỹ Lâm bao vây áp sát đồn Sóc Xoài. Ba Non, Năm Thịnh và Sáu Nhỏ trực tiếp chỉ huy bộ phận bao vây. Sở chỉ huy đặt ở chợ Sóc Xoài.

Từ mấy ngày hôm nay thanh niên trốn quân dịch ở khắp các xã xung quanh tới thị tứ Sóc Xoài ăn nhậu, ngày nào cũng tới thật khuya mới hết tiếng hò hét cười nói. Đạn cối và đạn pháo tự tạo của ta vẫn cầm canh vào trong đồn địch, ở ngoài phố các quán nhậu vẫn nhậu nhẹt như không có việc gì xảy ra. Những ngươi dân trong phố vui mừng dang rộng tay đón mừng lực lượng cách mạng tới. Trong quán nhậu họ công khai bàn tán về chiến sự mấy ngày qua.


Sớm ngày 30 địch phản kích có tính chất thăm dò, gặp hỏa lực của ta ngăn chặn, chúng chống trả yếu ớt, rồi chui tụt vào đồn. Khoảng mười một giờ, Ba Non nghe qua chiếc đài thu bán dẫn thấy Dương Văn Minh đang đọc tuyên bố đầu hàng. Anh chưa tin ở tai mình, bèn vặn núm âm lượng cho đài phát to hơn để mọi người cùng nghe. Nghe được tin chính quyền Sài Gòn đã đầu hàng, mọi người sung sướng trào nước mắt. Ban chỉ huy bàn với nhau phải lợi dụng thời cơ tấn công bằng binh vận.


Ba Non nói qua bộ đàm PRC25:

- Dương Văn Minh, tổng thông của các anh đã tuyên bố đầu hàng rồi, các anh còn chần chờ gì nữa. Chúng tôi không muốn kéo dài sự đổ máu. Chúng tôi mong muốn hòa bình vãn hồi dù chỉ sớm hơn một chút, để cho gia đình có con em xa cách vì cuộc chiến tranh này mau chóng được đoàn tụ. Chính phủ của các anh đã tuyên bố đầu hàng, chính phủ của các anh đã chấp nhận thua trận, các anh dù có cố níu giữ cái đồn này thêm một vài giờ nữa cũng vô ích, và níu giữ thêm giờ nào thì tính mạng của các anh càng thêm bấp bênh giờ đó. Nếu đầu hàng thì các anh sẽ được hưởng lượng khoan hồng của cách mạng.

Phía đầu máy bên kia có tiếng sột sạt khá lâu, mới có tiếng đáp lại:

- Xin các ông cho ngưng chiến đến năm giờ chiều. Chúng tôi còn hỏi thượng cấp của chúng tôi.

Khoảng nửa giờ sau, Ba Non nghe trong máy bộ đàm, thấy tên thiếu tá trưởng chi khu Rạch Giá hạ lệnh cho các đồn phải tử thủ. Anh cười nói với anh em:

- Bọn này chết đến đít vẫn còn ngoan cố. Nếu thế thì chúng ta tiếp tục cho pháo bắn.

Từ lúc đó trở đi đạn pháo của ta rót vào đồn Sóc Xoài nhiều hơn. Bọn địch trong đồn nằm im chịu đòn.

Chưa bao giờ họ đánh giặc lại sung sướng nhàn hạ như vậy. Trừ một số người cảnh giới, còn anh em tụ tập thành từng nhóm vài ba người ngồi uống trà, chuyện trò bù khú, đến bữa nhân dân mang tới ủng hộ những mâm cơm thịnh soạn, thịt chó, thịt gà. thịt heo... ăn thỏa thích.


Khoảng năm giờ chiều, Năm Thịnh nghe trong máy bộ đàm vắng cả tiếng nhiễu, cùng lúc đó có tin của cảnh giới: "Địch rút chạy về phía cầu số 4". Tiếng súng truy kích địch đã nổ loạn xạ. Ba Non, Năm Thịnh cùng một nhóm chiến sĩ xông vào đồn địch. Trên sân đồn địch còn để lại bảy xác chết đã phủ những lá cờ ba sọc, trong nhà còn vài tên lính bị thương đang rên rỉ. Bọn lính bị thương thấy quân ta, chúng van xin tha tội chết.

Thấy không còn việc gì làm ở thị tứ Sóc Xoài nữa, Ba Non hạ lệnh cho các đơn vị hành quân cấp tốc về Tri Tôn.

Đúng sáu giờ tối toàn bộ địch ở chi khu Tri Tôn đầu hàng, quân ta không phải tốn một viên đạn.

Đêm 30 tháng 4, nhân dân toàn huyện Hòn Đất thao thức như chờ đón giao thừa. Trên các dòng kinh thuyền ghe xuôi ngược đông vui nhộn nhịp, phần lớn thuyền ghe hướng về phía Tri Tôn.

Ánh sáng hừng đông đỏ rực rỡ và những lá cờ đỏ rực rỡ tràn ngập trên đường phố, trên dòng sông, trên các thôn ấp của huyện Hòn Đất. Niềm hân hoan đón mừng ngày giải phóng lên tới cực điểm, qua những tiếng reo hò, những nụ cười rưng rưng nước mắt. Đây đó chốc chốc lại có tiếng reo sung sướng vì cuộc hội ngộ bất ngờ. "Ôi! Anh... Ồi! Chị...". Ôi ngày giải phóng, ngày hết giặc giã, ngày hết bom dạn chết chóc, ngày hòa bình yên vui, ngày đoàn tụ những người thân, không sao kể hết được niềm vui.


Các chiến sĩ trong lực lượng vũ trang huyện Hòn Đất tràn ngập lòng tự hào tiến bước trong dòng người huyên náo, từng đơn vị vẫn khép chặt đội ngũ.

Tiếng hô vang dậy như sấm:

"Việt Nam hòa bình độc lập thống nhất muôn năm!".

"Hoan hô các chiến sĩ giải phóng quân!".

"Hoan hô các chiến sĩ du kích!".

"Hoan hô...!".

Tất cả các đơn vị địa phương quân và du kích đã xếp thành đội ngũ trên một bãi trống gần chợ. Trước những cái nhìn thán phục yêu mến của hàng ngàn người, những chiến sĩ chân trần không đồng phục lúc này trở thành thần tượng của sức mạnh, của niềm tin, của chiến thắng.


Bí thư Huyện ủy kiêm huyện đội trưởng Ba Non đứng trước hàng quân nói dõng dạc:

- Đồng bào và các đồng chí chú ý!

Hàng nghìn người đang ồn ào như chợ bỗng im phắc. Ba Non nói tiếp:

- Thưa đồng bào và các đồng chí. Kể từ ngày hôm nay quê hương chúng ta được hoàn toàn giải phóng, được sống trong hòa bình tự do. Tôi mong mỏi các giới đồng bào sẽ tích cực góp công sức về việc ổn định trật tự xã hội, cùng nhau đoàn kết xây dựng chính quyền cách mạng. Những ai có người thân trước đây cộng tác với Mỹ - ngụy, hãy khuyên bảo họ ra trình diện chính quyền cách mạng. Chính quyền cách mạng sẽ thực hiện đúng chính sách nhân đạo, không trả thù cá nhân, tạo cho họ một cuộc sống lương thiện.

Thưa tất cả bà con! Chúng ta đã phải đổ rất nhiều mồ hôi, xương máu và nước mắt để có ngày hòa bình hôm nay, chúng ta hãy siết chặt tay nhau giữ vững hòa bình xây dựng quê hương mình, đất nước mình ngày một giàu mạnh.

Tiếng hoan hô vang rền một hồi lâu.

Ba Non nói với lực lượng vũ trang:

- Các đồng chí bộ đội và du kích thân mến! Huyện ta đã hoàn toàn giải phóng, nhưng còn một số địa phương bạn vẫn còn bọn tàn quân ngụy lẩn lút chưa chịu đầu hàng, cấp trên yêu cầu chúng ta khẩn trương chi viện cho địa phương bạn. Tôi biết các đồng chí đã trải qua nhiều ngày đêm chiến đấu vất vả mệt nhọc, nhưng vì lợi ích chung, chúng ta hãy cố gắng. Ngay bây giờ chúng ta sẽ lên đường. Tôi thay mặt cấp ủy đảng chúc các đồng chí lên đường mạnh giỏi, thắng lợi.


Trong khoảng hơn một tiếng đồng hồ sắp xếp lại tổ chức, huyện Hòn Đất đã tổ chức ra một tiểu đoàn, do Năm Thịnh, Năm Lầu và Sáu Thố phụ trách. Tiểu đoàn Hòn Đất nhận nhiệm vụ tiếp quản thị trấn Châu Đốc và quét sạch bọn tàn quân ngụy còn lẩn quất quanh vùng.


Tiểu đoàn hành quân ra bến đò. Nhân dân đứng đông nghịt hai ven đường vẫy chào những người con ưu tú của mình, rồi rồng rắn đi theo sau.

Những con đò của nhân dân cho mượn đã xếp thành hàng dọc theo bến, nổ máy chờ đợi. Các chiến sĩ lần lượt xuống đò. Chị em phụ nữ trên những chiếc ghe tam bản, chở đầy bánh tét, bánh ú, trái cây tới ủng hộ anh em.


Những con đò chở quân theo đội hình hàng dọc lao về hướng núi Tô. Một lần nữa những tiếng hô xúc động lại vang lên:

"Hoan hô các chiến sĩ giải phóng!".

"Việt Nam muôn năm!".

Bà con đứng chen chúc trên cầu, dưới bến hướng cặp mắt khâm phục và trìu mến dõi theo những con đò, cho tới khi chúng mất hút vào trong màu xanh của rừng tràm...


Chiều 8-3-1990
NGUYỄN TƯ ĐƯƠNG