Lịch sử quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: quansuvn trong 28 Tháng Năm, 2021, 07:58:21 pm



Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 28 Tháng Năm, 2021, 07:58:21 pm
- Tên sách: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
- Tác giả:
- Nhà xuất bản: Công an nhân dân
- Số hóa: macbupda, quansuvn


Chỉ đạo

Thượng tướng NGUYỄN VĂN HƯỞNG
                     Thứ trưởng Bộ Công an.
Thượng tướng THI VĂN TÁM
                     Thứ trưởng Bộ Công an.
Trung tướng TRẦN ĐẠI QUANG
                    Thứ trưởng Bộ Công an.
Thiếu tướng PHẠM DŨNG
                    Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh.
Thiếu tướng TRẦN TÔN THẤT
                   Phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh.
Thiếu tướng NGUYỄN VĂN KIỂM
                   Phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh.
Đại tá  PHAN THỊ MINH CHƯƠNG
                 nguyên Cục trưởng A28, Tổng cục An ninh
Đại tá BÙI THỂ DY
                Cục trưởng A28, Tổng cục An ninh.
Đại tá ĐINH NGỌC MIÊNG
                Phó cục trưởng A28, Tổng cục An ninh.
Đại tá TRẦN KIM DŨNG
                Phó cục trưởng A28, Tổng cục An ninh.

Chủ nhiệm
Thiếu tướng, Tiến sỹ PHẠM DŨNG
                  Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh

Thư ký khoa học
          LÊ NGỌC BỐN
          Trưởng phòng - Cục Chính trị an ninh

Công tác tư liệu
         Thượng tá NGUYỄN THANH HẢI
         Thượng tá TRẦN VĂN HƯỞNG
         Thượng tá NGUYỄN VĂN NGHĨA
         Thượng tá VŨ VĂN PHƯƠNG
         Thượng úy TRẦN MẠNH HƯNG
         Trung úy NGUYỄN HỮU DIỆU

Với sư hướng dẫn của
Trung tướng PHẠM TÂM LONG
              nguyên Thứ trưởng Bộ Công an.
Đại tá, Phó Giáo sư VŨ VĂN BÂN
             nguyên Phó Viện trưởng Viện Lịch sử Công an.
Đại tá, Tiến sĩ ĐỖ VĂN THUYẾT
             Viện trưởng Viện Lịch sử Công an.
Đại tá, Tiến sỹ Đỗ BÁ CỞ
             Phó Viện trưởng Viện Lịch sử Công an.
Thượng tá ĐÀO VĂN LẬP.
             Phó trưởng Ban 3, Viện Lịch sử Công an.


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 30 Tháng Năm, 2021, 04:26:46 pm
LỜI NÓI ĐẦU


Lịch sử của dân tộc Việt Nam là lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước. Trải qua hàng ngàn năm đấu tranh, bằng truyền thống đoàn kết và ý chí quật cường mà một nước nhỏ như Việt Nam ta đã lần lượt đánh bại những thế lực ngoại xâm sừng sỏ nhất đương thời, cắm những mốc son trong phong trào đấu tranh giành độc lập trên thế giới. Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập, mở ra bước ngoặt lịch sử vĩ đại cho cách mạng nước ta, đánh dấu một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của thời đại Hồ Chí Minh. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam nhất tề đứng lên đánh Pháp, đuổi Nhật, lật đổ chế độ phong kiến, lập ra Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, Đảng tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo của mình, dẫn dắt cả dân tộc tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng, đánh thắng hai đế quốc là Pháp và Mỹ, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, đưa nước Việt Nam thống nhất tiến lên con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa theo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.


Đấu tranh chống gián điệp là một bộ phận không tách rời của sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong suốt những chặng đường lãnh đạo của mình, Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm chỉ đạo hệ thống chính trị của Đảng cùng toàn thể nhân dân, xây dựng nền an ninh nhân dân vững mạnh, xây dựng thế trận “phòng và chống" phản cách mạng hoàn chỉnh, đánh bại âm mưu, hoạt động của các cơ quan gián điệp, phục vụ đắc lực cho cuộc chiến tranh giải phóng và xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Lực lượng chống gián điệp thuộc Công an nhân dân Việt Nam là lực lượng chuyên ngành, giữ vai trò nòng cốt, ra đời, trưởng thành mọi mặt từ cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt và lâu dài đó.


Trải qua 60 năm đấu tranh cách mạng, khi đất nước có chiến tranh hay khi đất nước đã hoà bình thì trận tuyến đấu tranh chống gián điệp vẫn không ngơi nghỉ, vẫn vô cùng gay go, quyết liệt. Đối tượng đấu tranh của ta là cơ quan tình báo gián điệp của các thế lực ngoại xâm, bọn phản động quốc tế, các thế lực thù địch hòng thực hiện âm mưu thôn tính và xâm lược. Điệp viên của địch không chỉ có vỏ bọc chắc chắn, trà trộn trong xã hội, lẩn khuất quanh ta mà chúng còn được các lực lượng vũ trang xâm lược và bọn phản động hỗ trợ, được trang bị các loại phương tiện hoạt động hiện đại và tinh vi. Nhưng cuối cùng, chúng ta đã giành thắng lợi vẻ vang, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng vĩ đại của dân tộc. Nguồn gốc để giành thắng lợi trên mặt trận đấu tranh bí mật này được khởi nguồn từ tư tưởng chỉ đạo, quá trình hoàn thiện đường lối, phương châm, nguyên tắc đấu tranh chống phản cách mạng của Đảng; là chủ trương xây dựng thế trận “phòng và chống” gián điệp, phát triển thành nền an ninh nhân dân vững mạnh; là quyết sách trong tổ chức lực lượng đấu tranh, phát huy cao độ tinh thần yêu nước và ý thức cảnh giác cách mạng của nhân dân, phối hợp chặt chẽ của các cơ quan đơn vị với nghiệp vụ phản gián sắc bén của cơ quan chuyên môn thành sức mạnh tổng hợp; là tinh thần chiến đấu mưu trí, sáng tạo, quyết đoán và quyết thắng của các thế hệ An ninh nhân dân trước mọi kẻ thù.


Tổng kết lịch sử đấu tranh chống gián điệp là thông qua hệ thống các sự kiện lịch sử để làm rõ quá trình hình thành, phát triển về đường lối, sự lãnh đạo của Đảng, của Nhà nước và của Bộ Công an; làm rõ quá trình tổ chức lực lượng tham gia đấu tranh và xây dựng thế trận “phòng chống" gián điệp; làm rõ cách thức triển khai các biện pháp đấu tranh của lực lượng nòng cốt trong cuộc đấu tranh này. Qua đó rút ra những bài học lịch sử có giá trị áp dụng vào thực tiễn sinh động đang diễn ra, góp phần hoàn chỉnh hệ thống lý luận chuyên ngành để các thế hệ mai sau chiêm nghiệm và kế thừa.


Tác phẩm “Tổng kết lịch sử đấu tranh chống gián điệp (1945-2005)", được hoàn thành với sự hướng dẫn tận tình về phương pháp luận Tổng kết của Viện lịch sử Công an và các nhà sử học uy tín; kiến thức thực tiễn phong phú và vô cùng quý báu của các đồng chí lãnh đạo chủ chốt trên lĩnh vực đấu tranh chống gián điệp của lực lượng An ninh qua các giai đoạn lịch sử. Đội ngũ nghiên cứu đã cố gắng khai thác các nguồn tư liệu để nhận thức lịch sử một cách trung thực, khách quan với mong muốn sẽ là tác phẩm hữu ích cho công tác nghiên cứu khoa học cũng như vận dụng vào thực tiễn của mặt trận đấu tranh bí mật vô cùng khó khăn, gian khổ, nhiều yếu tố nhạy cảm và khó lường.


Xin được trân trọng cảm ơn Viện Lịch sử Công an, các đồng chí nhân chứng lịch sử, các nhà nghiên cứu trong và ngoài ngành đã hướng dẫn, cung cấp tư liệu và đóng góp ý kiến quý báu cho tác phẩm.

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.


TỔNG CỤC AN NINH


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Sáu, 2021, 07:49:12 pm
PHẦN THỨ NHẤT
KHÁI QUÁT LỊCH SỬ ĐẤU TRANH CHỐNG GIÁN ĐIỆP
(1945-2005)



CHƯƠNG I
ĐẤU TRANH CHỐNG GIÁN ĐIỆP GÓP PHẦN BẢO VỆ CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG VÀ ĐÁNH THẮNG THỰC DÂN PHÁP
(1945-1954)


Lịch sử đấu tranh chống gián điệp thời kỳ từ năm 1945 đến năm 1954 là bộ phận của lịch sử đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ và chống thực dân Pháp xâm lược dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Là giai đoạn hình thành đường lối, phương châm, nguyên tắc, đối sách, sách lược và tổ chức lực lượng cũng như biện pháp nghiệp vụ đấu tranh chống gián điệp. Tương ứng với những bước phát triển của lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp, lịch sử đấu tranh chống gián điệp cũng có ba bước phát triển rõ ràng. Mỗi bước là một dấu mốc phát triển về đường lối chỉ đạo, tổ chức lực lượng đấu tranh, xây dựng thế trận phòng ngừa và đánh địch.


1. Giai đoạn từ năm 1945 đến giữa năm 1947

Giai đoạn này, Trung ương Đảng lãnh đạo cả dân tộc tiến hành cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền, lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà; đề ra chủ trương “hoà để tiến" nhằm loại dần kẻ thù và lãnh đạo tiến hành thắng lợi giai đoạn đầu tiên của cuộc chiến tranh nhân dân chống thực dân Pháp xâm lược.


Thời kỳ tiến hành tổng khởi nghĩa tháng 8 nám 1945, trên đất nước ta đồng thời tồn tại hai thế lực ngoại xâm là Pháp và Nhạt. Mặc dù Pháp phải dâng ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia cho Nhật nhưng vẫn nuôi tham vọng thiết lập lại quyền thống trị ở Đông Dương. Pháp giữ nguyên mạng lưới gián điệp, chỉ điểm đã có, tiếp tục thu thập tin tức của Việt Minh cũng như các đảng phái phản động nhằm chuẩn bị sẵn điều kiện thực hiện âm mưu đó: đám tàn quân do A-lếch-xăng-đờ-ri cầm đầu chạy sang Trung Quốc tìm cách liên lạc với cơ quan tình báo chiến lược OSS của Mỹ để nương náu và tung tay chân về Việt Nam hoạt động. Văn phòng cơ quan đại diện của Pháp tại 53 Trần Hưng Đạo (Gabetta) và nhà riêng của Sanh-tơ-ni tại 18 Nguyễn Chế Nghĩa biến thành trụ sở điều hành hoạt động bí mật của Pháp kiều cùng bọn Việt gian, chỉ điểm. Tuy Nhật nắm quyền thống trị ở Đông Dương nhưng vì phải tập trung lực lượng cho cuộc chiến tranh nên Nhật vẫn phải dựa vào Pháp, đặc biệt là đối với các cơ quan tình báo gián điệp của Pháp. Do đó, khi Nhật đầu hàng đồng minh, Pháp sử dụng ngay mạng lưới tay sai sẵn có từ trước, ráo riết triển khai các hoạt động nhằm thiết lập lại quyền thống trị.


Để tổ chức quần chúng đấu tranh đập tan bộ máy thống trị của kẻ thù, ngay từ tháng 5-1945, trong Chỉ thị “Sửa soạn tổng khởi nghĩa", Tổng bộ Việt Minh chỉ đạo các lực lượng cách mạng thành lập “Đội tự vệ", “Đội ám sát” (AS) làm nhiệm vụ trừng trị bọn mật thám, tay sai của Pháp, Nhật. Thực hiện chỉ đạo của Tổng bộ Việt Minh, các địa phương trong cả nước đều lập những tổ chức vừa mang tính chất vũ trang, vừa mang tính chất chính trị nhằm trừng trị bọn Việt gian và dẫn dắt quần chúng đấu tranh. Nhờ đó, trong tháng 8-1945, Pháp tung nhiều toán tình báo, hoạt động ở khắp ba kỳ nhưng đều bị lực lượng cách mạng phát hiện và bắt gọn: Toán biệt kích thủy quân do Bơ-lang-sa cầm đầu xâm nhập vào Hải Phòng; Mét-me nhảy dù xuống Bắc Ninh; Ca-tê-na cùng năm sĩ quan tình báo nhảy dù xuống Thừa Thiên... Khai thác bọn này ta nắm được chúng thực hiện lệnh của Chính phủ Đờ-gôn liên lạc với các đảng phái phản động cũ và bọn tay sai, quan lại như Phạm Quỳnh, Nguyễn Tiến Lãng,... để: "khi có thời cơ sẽ lập lại nền cai trị của Pháp ở Dông Dương”.


Đồng thời bắt các toán tình báo hoặc vô hiệu hoá hoạt động của chúng, Đảng chỉ đạo các Uỷ ban khởi nghĩa trong toàn quốc trấn áp mạnh bọn mật thám, gián điệp, các phần tử Việt gian phản quốc, đập tan mọi hoạt động chống đối của chúng. Trước, trong tổng khởi nghĩa, lực lượng cách mạng trên toàn quốc đã bắt và diệt 535 tên gian ác, trong đó có 126 tên mật thám, gián điệp của Pháp, Nhật: Nguyễn Văn Chung, Ngô Xuân Điền, Đỗ Đức Phin, Hoàng Sĩ Nhu, Trương Anh Tự, Nga Thiên Hương, Nguyễn Thế Nghiệp, Nguyễn Ngọc Sơn... Riêng tỉnh Nam Định bắt và diệt 20 tên mật thám Pháp. Những toán gián điệp bị bắt, những cuộc trấn áp bọn mật thám, tay sai của Pháp và Nhật vào thời điểm lịch sử này có tác dụng quan trọng vì nó vừa phá tan âm mưu của Pháp, vừa làm mất chỗ dựa của bọn Việt gian phản quốc, đẩy chúng vào tình thế tê liệt và mau chóng tan rã trước làn sóng cách mạng của quần chúng.


Thời điểm lịch sử này, lực lượng Công an chưa được thành lập, vì vậy công tác trấn áp phản cách mạng, bọn gián điệp và mật thám được thực hiện bởi các lực lượng cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, do các tổ chức nòng cốt dẫn dắt như “Tự vệ Việt Minh", “Tự vệ thành”, “Hộ lương gian ác”, “Trinh sát Việt Minh". Do trấn áp mạnh, đúng và trúng nên đã góp phần làm tê liệt hoạt động chống đối của kẻ thù, tạo điều kiện cho quần chúng đứng lên đánh đổ chế độ thống trị cũ, trừng trị và đập tan các thế lực phản cách mạng, thiết lập thành công hệ thống chính quyền dân chủ nhân dân từ Trung ương đến cấp cơ sở.


Tại mỗi địa phương, ngay sau khi giành chính quyền, thiết lập chính quyền cách mạng, Đảng đều chỉ đạo thành lập ngay cơ quan Công an (thực chất là lực lượng An ninh) - công cụ nòng cốt trấn áp phản cách mạng. Do diễn biến mau lẹ của tình hình nên Đảng cho phép tạm sử dụng mô hình tổ chức của các cơ quan Liêm phóng địch làm mô hình cơ quan Công an (Quốc gia tự vệ cuộc, Trinh sát, Liêm phóng); lưu dụng số nhân viên cũ ở những bộ phận không quan trọng để triển khai ngay công tác bảo vệ an ninh trật tự. Nhằm đảm bảo cho cơ quan chuyên chính phục vụ cách mạng tốt nhất, Đảng điều động các đồng chí là đảng viên trung kiên lãnh đạo những bộ phận quan trọng và tuyển chọn những thanh niên ưu tú, bổ sung cho các bộ phận làm nhiệm vụ trấn áp phản cách mạng. Như vậy, tuy ta kế thừa mô hình tổ chức và công sở, lưu dụng một số nhân viên của chính quyền cũ nhưng bản chất cơ quan Công an từ đây là cơ quan chuyên chính của cách mạng, do Đảng và Chính phủ lâm thời trực tiếp chỉ đạo với nhiệm vụ: bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo vệ nhân dân.


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Sáu, 2021, 07:49:46 pm
Từ sau cách mạng tháng 8-1945, cuộc đấu tranh chống phản cách mạng chuyển sang bước ngoặt lịch sử mới: Cuộc đấu tranh được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, trong điều kiện ta nắm chính quyền; được sự ủng hộ của mọi tầng lớp nhân dân, sự phối hợp của các lực lượng cách mạng khác. Trong khi đó, bọn mật thám gián điệp, bọn Việt gian phản quốc bị tan rã, bị đẩy vào tình thế cô lập và không còn điều kiện để dựa dẫm. Tuy nhiên, do tình hình diễn biến mau lẹ, khí thế cách mạng lên cao, lực lượng cách mạng còn nhiều ấu trĩ nên có lúc, có nơi ta trừng trị tràn lan hoặc để sót lọt những đối tượng nguy hiểm như: thả Giăng-xê-di, Phan Văn Giáo, Ngô Đình Diệm, Phạm Quỳnh, Trương Tử Anh... Sau này chúng gây hại cho cách mạng không nhỏ. Trong quá trình trấn áp, cũng chưa nhận thức được đối tượng là gián điệp hay phản động, mà chỉ nhận thức chúng là bọn phản cách mạng. Song dù công tác đấu tranh trấn áp phản cách mạng trong thời kỳ này hoàn toàn mới mẻ, lực lượng nòng cốt từ phong trào cách mạng mà thành nhưng đây là thời kỳ trấn áp mạnh, làm tan rã một bộ phận không nhỏ lực lượng phản cách mạng nguy hiểm nhất lúc dó. Vì vậy, cuộc đấu tranh chống gián điệp đã góp phần to lớn vào nhiệm vụ chiến lược của cách mạng là: "Đập tan chính quyền địch, tiễu trừ Việt gian, thiết lập chính quyền nhân dân"1 (Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, H. Chính trị quốc gia, 1996).


Thời gian hoà bình để củng cố hệ thống chính quyền cách mạng chưa đầy một tháng, đất nước lại phải đương đầu với những thử thách cực kỳ nghiêm trọng. Với danh nghĩa đồng minh, quân Tưởng kéo vào nước ta, chiếm đóng từ vĩ tuyến 16 trở ra. Tưởng câu kết với Mỹ, âm mưu độc chiếm miền Bắc Đông Dương. Quân Anh đổ bộ lên Sài Gòn, chiếm đóng từ vĩ tuyến 16 trở vào, âm mưu tranh giành ảnh hưởng với Mỹ và Tưởng bằng việc câu kết với Pháp tiến hành các hoạt động quân sự hòng độc chiếm miền Nam Đông Dương. Vì vậy, khi Anh đổ bộ lên Sài Gòn - Gia Định đã mang theo những trung đoàn lính Pháp, trong đó có hai tiểu đoàn biệt kích thuộc trung đoàn bộ binh thuộc địa số 5 (5e-RIC). Vừa đặt chân lên Sài Gòn, Anh và Pháp xúc tiến ngay âm mưu xâm lược; Anh tạo điều kiện cho Pháp vũ trang đánh chiếm Nam Bộ. Ngày 23-9-1945, quân và dân Nam Bộ mở đầu cuộc kháng chiến cục bộ chống thực dân Pháp xâm lược. Pháp huy động hơn 4.000 lính cùng Pháp kiều có vũ trang với sự tiếp sức của lữ đoàn Anh - Ấn và chừng 5.000 lính Nhật, mở cuộc tấn công bất ngờ, âm mưu thiết lập lại quyền thống trị ở Sài Gòn trong vòng 18 ngày. Trước sức tấn công của liên minh các thế lực ngoại xâm, quân và dân Sài Gòn - Gia Định đã anh dũng chiến đấu bằng mọi loại vũ khí có trong tay, cầm chân quân giặc, quyết đánh bại kế hoạch thôn tính Sài Gòn trong vòng 18 ngày của Lơ-cléc.


Cuộc kháng chiến cục bộ của quân và dân Nam Bộ mở rộng, lực lượng vũ trang chủ yếu lúc này là các trung đoàn Cộng hoà vệ binh và Quốc gia tự vệ cuộc. Nhưng vào thời điểm này Đảng chưa nắm được lực lượng Cộng hoà vệ binh, hơn nữa kỷ luật của lực lượng vũ trang Cộng hoà vệ binh rất yếu kém. Trước đó, cơ quan gián điệp Pháp cài được nhiều điệp viên vào hoạt động trong các trung đoàn, đã tác động làm cho nội bộ mất đoàn kết nghiêm trọng, vì thế lực lượng vũ trang này nhanh chóng tan rã. Một bộ phận đầu hàng Pháp, quay trở lại tấn công ta. Trước tình hình đó, Quốc gia tự vệ cuộc Nam Bộ trở thành lực lượng vũ trang nòng cốt trong những ngày đầu kháng chiến. Để đảm bảo vũ trang đánh địch, chặn bước tiến của chúng và trấn áp phản cách mạng, Quốc gia tự vệ cuộc chia làm hai bộ phận: Một bộ phận phát triển thành Bộ đội Hiệp Hoà, tiến hành vũ trang đánh địch; một bộ phận tiếp tục trấn áp phản cách mạng và bảo vệ cơ quan đầu não kháng chiến. Như vậy, ngay từ những ngày đầu kháng chiến, cuộc đấu tranh chống phản cách mạng đã có bước chuyển kịp thời, đáp ứng nhiệm vụ quan trọng bậc nhất lúc này là vừa vũ trang đánh địch vừa lùng bắt bọn Việt gian, bọn tay sai thân Pháp, vừa bảo vệ cơ quan đầu não của cách mạng rút ra căn cứ an toàn.


Cùng với việc sử dụng binh lực đánh chiếm, thực dân Pháp ráo riết triển khai hệ thống mật thám, gián điệp để chuẩn bị mở rộng chiến tranh. Chúng khôi phục Sở Mật thám Nam Kỳ, tăng cường nhân viên; thiết lập các quận cảnh sát, đồn cảnh sát, tổ chức mạng lưới Recherche (truy tìm) và Indicateur (chỉ điểm), trà trộn trong nhân dân, theo dõi, bắt cán bộ và cơ sở cách mạng. Pháp củng cố Phòng Nhì (2e Bureau), tuyển mộ thêm nhân viên để đảm nhiêm vai trò thu thập tin tình báo phục vụ cho yêu cầu quân sự. Vì vậy, lực lượng quân sự của Pháp chiếm đóng đến đâu thì mạng lưới Phòng Nhì phát triển đến đó. Nhân viên Phòng Nhì rải dọc theo hệ thống ba cấp của quân chiếm đóng: Tiểu khu (Secteus), chi khu (Sous Secteus) và cấp xã (Quariter). Mặc dù danh nghĩa là cơ quan tình báo quân sự nhưng chức năng của Phòng Nhì rất rộng. Nhiệm vụ chính của chúng là tổ chức cài điệp viên vào cơ quan kháng chiến, lực lượng vũ trang của ta; tung do thám, gián điệp, xây dựng mạng lưới chỉ điểm để thu tin và phá hoại. Cùng với cơ quan tình báo quân sự, Pháp tăng cường củng cố chi nhánh tình báo chiến lược SEH (cơ quan Nghiên cứu lịch sử) thực hiện các kế hoạch tình báo chiến lược ở Nam Bộ phục vụ Cao uỷ Pháp trong các kế hoạch mang tầm chiến lược.


Việc tăng cường các cơ quan mật thám, gián điệp và thực hiện chính sách đàn áp, khủng bố dã man của thực dân Pháp đã gây rất nhiều khó khăn vào những tháng cuối năm 1945 đến nửa đầu năm 1946 (trước khi Hiệp ước Hoa - Pháp ký kết). Trong thành phố, một bộ phận cán bộ ta trực tiếp chiến đấu kìm chân giặc bảo vệ cơ quan đầu não kháng chiến rút ra vùng căn cứ; một bộ phận hoá trang, hoạt động bí mật trong lòng địch làm nhiệm vụ thu thập tin tức phục vụ cho kháng chiến và tiến hành một số vụ diệt trừ bọn mật thám, ác ôn. Ở vùng căn cứ kháng chiến và vùng tự do, Quốc gia tự vệ cuộc tập trung vào nhiệm vụ tổ chức bố phòng, giáo dục nhân dân cảnh giác phòng gian bảo mật, chống do thám chỉ điểm và bảo vệ các cơ quan đầu não của kháng chiến. Trong bối cảnh vừa phục vụ các yêu cầu của cuộc đấu tranh vũ trang, vừa đáp ứng yêu cầu bảo vệ vùng còn tự do và căn cứ kháng chiến, Quốc gia tự vệ cuộc Nam Bộ đã có bước chuyển kịp thời về tổ chức lực lượng, không chỉ góp phần kìm chân địch, bảo vệ an toàn các cơ quan kháng chiến mà còn tiến hành tốt công tác diệt trừ bọn do thám chỉ điểm, bước đầu hạn chế hoạt động triển khai mạng lưới gián điệp của Pháp trên chiến trường Nam Bộ.


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Sáu, 2021, 07:50:36 pm
Ngay sau khi chính quyền cách mạng được thành lập, tình hình trên toàn quốc diễn biến mau lẹ, phức tạp, nhưng lực lượng An ninh từ Bắc đến Nam, ở trung ương và địa phương đều đã được thiết lập với mô hình tổ chức ba cấp rõ ràng, có sự chỉ huy chỉ đạo thống nhất; trong đó, lực lượng trinh sát tại chỗ được chú trọng phát triển mạnh. Cùng với lực lượng trinh sát của An ninh một số địa phương vẫn duy trì “Ban trinh sát của Đảng" và một bộ phận trinh sát hoá trang hoạt động trong “Ban liên lạc Việt Hoa”. Do có hình thức tổ chức lực lượng thích hợp, biết dựa hẳn vào luật pháp và vận động được quần chúng ủng hộ nên lực lượng An ninh non trẻ không chỉ đáp ứng yêu cầu kháng chiến ở Nam Bộ, yêu cầu "Hoà để tiến" ở Bắc Bộ mà còn khám phá nhiều vụ án gián điệp lớn: Khám phá ổ gián điệp biệt kích số 5 tại đường Lý Thành Nguyên, Chợ Lớn, bắt 8 tên thu nhiều tài liệu và vũ khí; khám phá mạng lưới gián điệp Pháp đánh vào Bộ đội Bình Xuyên;... Tại Bắc Bộ và Trung Bộ, đã khám phá tổ chức gián điệp Pacefic, thu được bản mật lệnh của Bộ chỉ huy quân đội Pháp về kế hoạch tấn công ta và một số tài liệu liên quan đến nhiều đầu mối gián điệp; bắt một nữ gián điệp Pháp từ Sài Gòn ra Hà Nội móc nối với đồng bọn ở Bắc Bộ; bắt tên Đức là Nhật kiều làm việc cho gián điệp Pháp; trừng trị tên Thám Hoan và Phạm Giao, làm việc cho gián điệp Nhật...


Nhằm tố cáo sự tráo trở của kẻ thù, ta đã đưa một số vụ điển hình ra Toà án Quân sự truy tố như các vụ: Vũ Mạnh Khoa, Phạm Huy Chương, Phạm Quang Lương, Nguyễn Vân Giậu, Đặng Văn Như. Đặc biệt là sự kiện trấn áp Quốc dân đảng trên toàn quốc vào tháng 7-1946, lực lượng An ninh không chỉ đập tan một đảng phản động có thực lực nhất lúc bấy giờ, mà còn phá vỡ thế liên kết giữa gián điệp Pháp với thế lực nội phản, tạo điều kiện để Đảng ta có thểm thời gian củng cố lực lượng đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến.


Đạt được một số kết quả trong giai đoạn đầu tiên vô cùng khó khăn này vì lực lượng An ninh đã quán triệt nghiêm túc sách lược của Đảng, chỉ đạo của Đảng, biết dựa vào luật pháp, vận động quần chúng ủng hộ, tạo ra áp lực chính trị mạnh mẽ. Lực lượng trinh sát tuy còn non trẻ, nghiệp vụ còn đơn giản nhưng đã chiến đấu bằng tinh thần yêu nước nồng nàn, ý chí quyết tâm tiêu diệt địch để bảo vệ tổ chức Đảng, bảo vệ chính quyền trong bối cảnh lịch sử ngặt nghèo. Đặc biệt là lực lượng trinh sát ở cấp cơ sở phát triển nhanh chóng, biết kết hợp giữa chiến đấu vũ trang với hoạt động bí mật, biết phối hợp với các lực lượng vũ trang khác của cách mạng để thu tin và đấu tranh chuyên án.


Sau khi “Hiệp ước Hoa - Pháp" ký kết, quân Tưởng rút về nước, thực dân Pháp càng ráo riết triển khai âm mưu phát động cuộc chiến tranh vũ trang xâm lược hoàn toàn đất nước ta. Đảng và Chính phủ đã tranh thủ mọi điều kiện để đàm phán, chấp nhận một số điều kiện nhượng bộ để kéo dài thời gian củng cố lực lượng nhưng thực dân Pháp càng lấn tới, quyết cướp nước ta một lần nữa. Pháp gây hấn ở Hải Phòng, sau đó gây hấn ở Hà Nội cùng nhiều địa phương khác. Thời kỳ hoà hoãn không thể kéo dài hơn, ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến; cuộc chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng trên phạm vi toàn quốc bắt đầu.


Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch, quân và dân ta dũng cảm, kiên cường tiến hành cuộc chiến đấu không cân sức, vừa chặn bước tiến của thực dân Pháp xâm lược, vừa bảo vệ an toàn Trung ương Đảng, Bộ chỉ huy kháng chiến rút dần về Chiến khu để lãnh đạo cả dân tộc tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ. Năm 1947, năm đầu tiên của cuộc kháng chiến diễn ra quyết liệt trên mọi bình diện nhưng chúng ta đã làm thất bại kế hoạch "đánh nhanh thắng nhanh" của Pháp.


Trong bối cảnh đó, yêu cầu bảo vệ Đảng, bảo vệ các cơ quan kháng chiến lúc này là nhiệm vụ cấp bách, có vai trò cực kỳ quan trọng. Trung ương Đảng và Ủy ban Hành chính kháng chiến chủ trương củng cố căn bản lực lượng An ninh với yêu cầu tập trung chỉ huy chỉ đạo, tập trung tối đa cho mặt trận. Quán triệt chủ trương của Đảng, ngày 24-1-1947, Nha Công an ra Quyết nghị A00092 về “Chương trình hoạt động của bộ máy Công an”. Quyết nghị nêu rõ: “Nha Công an có nhiệm vụ trực tiếp chỉ đạo các khu vực thuộc Bắc Bộ; Chánh, Phó Giám đốc và nhân viên Sở Công an Bắc Bộ được điều động đến các tỉnh, các đơn vị trực tiếp chiến đấu. Cơ quan hành chính của Nha tăng cường cán bộ chỉ huy cho cơ sở và chuyển lên chiến khu”. Theo đó, Nha Công an bố trí lại còn bốn bộ phận, trong đó có bộ phận Chính trị do Giám đốc Nha Công an Trung ương phụ trách. Tháng 4-1947, Trung ương Đảng họp Hội nghị cán bộ Trung ương. Hội nghị xác định: Củng cố và mở rộng mặt trận thống nhất chống thực dân Pháp xâm lược, thành lập các “Đội danh dự trừ gian”, các “Tiểu tổ bí mật”, các “Ban công tác đội” để đánh địch trong lòng địch”. Quyết định của Hội nghị Trung ương không chỉ là định hướng về tư duy đánh địch mà còn hình thành hai lĩnh vực căn bản đối với công tác đấu tranh chống phản cách mạng nói chung, chống gián điệp nói riêng là: Sử dụng lực lượng quần chúng rộng rãi chống do thám, gián điệp, chỉ điểm ở vùng ta kiểm soát và sử dụng các đơn vị chuyên môn hoạt động bí mật trên đất địch. Một tháng sau, Nha Công an triệu tập Hội nghị Công an toàn quốc; Hội nghị cụ thể hoá chủ trương của Đảng thành nhiệm vụ trọng tâm của Công an: “Tiễu phí, trừ gian, tổ chức mạng lưới giao thông”1 (Hội ngị Công an toàn quốc lần thứ I, tháng 5-1947). Đối với công tác chống gián điệp, Hội nghị chỉ rõ: “Thẳng tay quét sạch bọn mật thám chỉ điểm, chống địch gây cơ sở vào nội bộ của tổ chức kháng chiến và cơ quan của Đảng, kiểm soát các khu căn cứ địa”. Tháng 9-1947, Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị "Ta phải làm gì”. Chỉ thị nêu: “Phải sáng suốt nhận rõ kẻ gian, người ngay, kịp thời đối phó và đủ sức đánh quỵ bọn phản động chực đâm vào sau lưng ta, làm nội ứng cho địch trong lúc ta phải xông ra giết giặc”2 (Chỉ thị "Ta phải làm gì" - Văn kiện Đảng tập V, trường Nguyễn Ái Quốc, tr.76).


Sự chỉ đạo của Đảng và việc tổ chức lực lượng đấu tranh cho thấy: Ngay sau khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Đảng và Chính phủ đã đặc biệt chú trọng chỉ đạo công tác đấu tranh chống gián điệp; lực lượng Công an kịp thời chuyển hướng hoạt động theo yêu cầu của thời chiến. Trận tuyến đấu tranh chống phản cách mạng nói chung, chống gián điệp nói riêng đã được phân làm hai lĩnh vực rõ ràng là vùng ta kiểm soát và vùng địch tạm chiếm, ở mỗi lĩnh vực đã có biện pháp, cách thức tổ chức đấu tranh riêng: Vùng ta kiểm soát, tập trung vận động quần chúng phòng ngừa và trấn áp phản cách mạng để bảo vệ hậu phương kháng chiến, bảo vệ các cơ quan đầu não của cách mạng, đồng thời đáp ứng chủ trương “vừa kháng chiến vừa kiến quốc". Vùng địch kiểm soát, thành lập các đơn vị trinh sát mang tính vũ trang, vừa thu thập tin tức vừa tổ chức diệt bọn ác ôn, bọn tay sai chỉ điểm, phá âm mưu địch. Vấn đề mang tính chủ đạo cho cả hai lĩnh vực được triển khai có hiệu quả là lực lượng An ninh đã dựa hẳn vào nhân dân, tranh thủ sự cộng tác của các cơ quan đơn vị để tổ chức triển khai nhiệm vụ.


Quán triệt chỉ đạo của Đảng, lực lượng Công an ở vùng tự do cũng như vùng địch kiểm soát triển khai các mặt công tác tương đối đều, riêng ở Bắc Bộ và Nam Bộ diễn ra khá sôi động. Sở Công an Nam Bộ cài người vào Sở Mật thám, Sở cảnh sát Nam Kỳ, tổ chức nắm âm mưu từ trung tâm đầu não của chúng, tập trung làm rõ những đầu mối gián điệp Pháp cài vào Bộ đội Bình Xuyên, khu căn cứ rừng Sác, bắt hàng chục điệp viên và bọn đã nhận làm tay sai cho chúng. Tại Quận VI Hà Nội, Đội Quân báo thiếu niên Bát sắt luồn sâu vào nội thành Hà Nội mở tuyến đường giao thông bí mật, vừa thu thập tin tức vừa móc nối cơ sở cách mạng và liên hệ với các thân sĩ trí thức còn kẹt lại để đóng góp cho kháng chiến. Trong thời điểm Hà Nội bị quân Pháp phong toả, hoạt động của Đội Quân báo thiếu niên Bát sắt có ý nghĩa rất quan trọng, đã góp phần giúp Uỷ ban kháng chiến tháo gỡ nhiều khó khăn trong chỉ huy chỉ đạo, tạo điều kiện cho chiến sĩ ta thâm nhập vào nội thành hoạt động. Công an Trung Bộ mở các quán hàng trong nội thành Huế để móc nối cơ sở và thu tin từ các nhân viên của Pháp. Đặc biệt là công tác đấu tranh chống gián điệp, bảo vệ vùng tự do và căn cứ địa được tiến hành ráo riết và đạt kết quả cao. Tại chiến khu Việt Bắc, ta đã bắt các điệp viên Pháp, đặc vụ Tưởng: Vương An Bách, Trần An Dương, Dương Mãn Thanh, Vinh Phát, ngăn chặn âm mưu thâm nhập vào các cơ quan quân sự của chúng. Bắt Trương Đình Long, Nguyễn Văn Chính là tay sai của Phòng Nhì thâm nhập vào vùng tự do thu tin tức về bộ đội chủ lực và hướng di chuyển của lực lượng vũ trang ta.


Ngay từ giữa năm 1947, quán triệt chủ trương của Đảng, Nha Công an chỉ đạo Công an các khu, tỉnh phát động phong trào quần chúng tham gia phòng chống phản cách mạng kết hợp với bảo vệ xóm làng, ở Bắc Bộ, phong trào có tên gọi là “Phòng gian bảo mật”. Phong trào được cụ thể hoá bằng các khẩu hiệu “Ba không” (không nghe, không biết, không thấy), sở Công an Nam Bộ ra chỉ thị số 55/QĐ5 “Xây dựng khối đoàn kết nhân dân, nâng cao cảnh giác để phòng gian, trừ gian”, vận động thành lập các “Ngũ gia liên bảo”, “Thập gia liên bảo”. Những phong trào quần chúng vừa ra đời đã nhanh chóng phát triển rộng khắp, hình thức hoạt động khá phong phú và có nội dung đa dạng vì phong trào đáp ứng được nguyện vọng cũng như yêu cầu của quảng đại quần chúng nhân dân. Nhờ đó, tinh thần cảnh giác, ý thức tố cáo tội phạm, ý thức giữ gìn bí mật được nâng lên đáng kể.


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 06 Tháng Sáu, 2021, 07:49:01 pm
2. Giai đoạn từ giữa năm 1947 đến thu đông năm 1950

Về cục diện chiến tranh, Pháp bị thất bại trong kế hoạch tấn công vào Thủ đô kháng chiến của ta, buộc chúng phải chuyển hướng chiến lược từ “Đánh nhanh thắng nhanh" sang “Đánh kéo dài'' với chính sách căn bản là “Dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh". Chúng thay đổi hướng tấn công quân sự, từ sử dụng lực lượng lớn, ồ ạt tấn công vào căn cứ, hậu phương để tiêu diệt các cơ quan đầu não kháng chiến và bộ đội chủ lực sang bình định, củng cố vùng tạm chiếm, thực hiện kiểu “Chiến tranh tổng lực", đánh phá cơ sở kinh tế, lực lượng hậu bị của ta.


Phục vụ cho chiến lược “Đánh kéo dài”, Pháp triệt để sử dụng các cơ quan gián điệp, mật thám; xúc tiến lập ngụy quyền, Công an ngụy quyền làm công cụ đàn áp và là cầu nối triển khai các hoạt động gián điệp. Mục tiêu trọng tâm là điều tra toàn diện về quân sự, kinh tế, chính trị... phục vụ cho chiến tranh phá hoại, chiến tranh tâm lý. Sở Mật thám Liên bang Đông Dương (S.D.E.C.E) nằm trong Phủ Cao uỷ Pháp trực tiếp chỉ đạo và tổ chức điều tra tình báo chiến lược về chính trị; truy tìm các hoạt động bí mật, phá phong trào cách mạng, sở Mật thám có hệ thống ở ba miền (Sở Mật thám Kỳ). Riêng ở Tây Nguyên, chúng thiết lập sở Mật thám miền sơn cước Nam Đông Dương. Phòng Nhì (2B) là cơ quan phản gián và tình báo của Bộ Tổng tham mưu quân đội Pháp, có tổ chức chân rết sâu rộng trong khu tác chiến ở ba miền và thiết lập các cấp cơ sở đến phân khu quân sự, có thời kỳ đến từng đồn bốt. Chúng đặc trách tổ chức các hoạt động tình báo, chỉ điểm phục vụ âm mưu chiến lược quân sự cũng như cho từng trận càn quét. Ngoài ra 2B còn trực tiếp nắm bọn phản động, điều khiển bọn buôn lậu và những người có điều kiện thường ra vào giữa vùng ta và vùng địch, phục vụ cho việc thu lượm tin, chỉ điểm. Trong hệ thống quân sự còn có SEH (cơ quan Nghiên cứu lịch sử), SR, (quân báo), Bảo an quân đội, An ninh quân đội... Từ năm 1948, cơ quan gián điệp Pháp triển khai cấp tập các hoạt động gián điệp vừa phục vụ cho các mục tiêu chiến lược, vừa phục vụ cho các cuộc càn quét nhằm mở rộng vùng chiếm đóng, về căn bản hoạt động tình báo và phản gián ở giai đoạn này nặng về chính trị, có tính chiến lược.


Ở vùng địch kiểm soát, chúng tăng cường củng cố hệ thống ngụy quyền; lập ra các hội tề, biến bọn này thành mạng lưới chỉ điểm (gián điệp hoá), đồng thời là công cụ đàn áp cách mạng từ cơ sở. Dựa vào ngụy quyền, các cơ quan một thám, gián điệp tung tay chân nắm số cầm đầu phản động trong thiên Chúa giáo, trong các dân tộc ít người để thực hiện chính sách "Công giáo tự trị”, “Dân tộc tự trị” của âm mưu tổng quát “Dùng người Việt trị người Việt". Chúng sử dụng bọn này vừa làm công cụ đàn áp cách mạng, vừa làm chức năng “do thám hoá". Bằng thủ đoạn đó, cơ quan gián điệp Pháp đã biến những thế lực chống đối của cách mạng thành lực lượng phản động manh động và cực đoan ngay tại cấp cơ sở, làm hậu thuẫn cho chính quyền chiếm đóng, làm chân rết cho các cơ quan gián điệp.


Đối với vùng tự do và căn cứ địa cách mạng, cơ quan gián điệp Pháp tập trung phương tiện, tiền của, triển khai mọi hoạt động để thu tin, phục vụ cho giới quân sự tiến hành các cuộc càn quét, bình định, mở rộng vùng chiếm đóng. Ngoài việc huy động các tổ chức với số nhân viên sẵn có, chúng ráo riết tuyển mộ, mua chuộc, khống chế các hạng người có điều kiện thu thập tin tức để lập ra các ổ, dây do thám rải khắp các khu vực. Từ năm 1949, cơ quan gián điệp triển khai phương thức hoạt động mới: “Gián điệp đôi", “Gián điệp trá hàng”, “Gián điệp là con buôn lậu", “Gián điệp là trẻ em” tung vào hậu phương ta, dọc tuyến đường cửa ngõ lên chiến khu Việt Bắc và thâm nhập vào các cơ quan kháng chiến. Đặc biệt, chúng tập trung đánh nội gián vào các cơ quan, đơn vị Quân đội, các đoàn thể kháng chiến, phá ta từ bên trong. Có thể nói, giai đoạn này gián điệp Pháp hoạt động đa dạng, chồng chéo và vô cùng nguy hiểm. Trên thực tế, chúng đã gây cho kháng chiến những tổn thất đáng kể; có nơi, có lúc cơ sở cách mạng bị phá rã; có đơn vị bị địch khống chế, gây mâu thuẫn nghiêm trọng hoặc nội gián của địch lấy cắp được những tài liệu mật của kháng chiến.


Song song với hoạt động của gián điệp Pháp, từ năm 1948, gián điệp Nhật do tên Saito cầm đầu cũng ráo riết hoạt động. Chúng núp dưới danh nghĩa “Tìm hàng binh Nhật", hoạt động mạnh ở khu vực Hải Phòng và Sài Gòn - Gia Định. Bọn Công an ngụy quyền, Công an công giáo, An ninh quân đội của ngụy quyền cùng ra sức tổ chức hoạt động do thám nhằm phục vụ cho yêu cầu bảo vệ vùng chiếm đóng của chúng hoặc phục vụ cho các cuộc càn quét, cướp phá. Có thể nói, giai đoạn này các cơ quan mật thám, gián điệp đã có những thay đổi căn bản về quy mô, tổ chức hoạt động theo xu hướng mở rộng và đa dạng. Trên thực tế Pháp đã tập trung phát triển hoạt động gián điệp thành cuộc chiến tranh gián điệp nhằm hỗ trợ và cứu nguy cho lực lượng quân sự đang lâm vào tình thế bị động.


Để đánh bại âm mưu phát triển chiến tranh của địch, ngày 15-1-1948, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị mở rộng, đề ra chủ trương mới về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá... tiếp tục đẩy cuộc chiến tranh nhân dân lên bước cao hơn. Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị phát động phong trào thi đua ái quốc, động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Tháng 1-1948, Trung ương Đảng mở Hội nghị Trung ương lần thứ V và chủ trương: “Công tác ở vùng sau địch phải nhằm mục đích giữ vững và nâng cao trình độ, tinh thần quyết chiến của nhân dân, lập lại và kiên cố các tổ chức quần chúng của Đảng, làm rối ren và tan rã hàng ngũ địch, lập lại chính quyền ta"1 (Văn kiện Đảng tập VI, trường Đảng Nguyễn Ái Quốc, tr.54, 55). Tiếp theo, Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị “Phá hội tề” nhằm phá chính quyền cơ sở của địch, biến chính quyền của địch thành chính quyền của ta hoặc "đêm ta ngày địch". Chủ trương của Đảng là giải pháp thích hợp nhằm củng cố, xây dựng hậu phương, phát triển tiềm lực và nhân lực cho kháng chiến, tạo đà phá âm mưu “Dùng người Việt trị người Việt'' của Pháp ngay từ cấp cơ sở.


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Sáu, 2021, 07:37:23 pm
Thực hiện chỉ đạo của Đảng, năm 1948, Nha Công an triệu tập hai Hội nghị Công an toàn quốc (Hội nghị lần II và làn III) đề ra nhiệm vụ công tác và đổi mới tổ chức Công an để đáp ứng yêu cầu đánh địch trước bước chuyển mới của cách mạng. Nghị quyết Hội nghị lần II nêu: “Nhiệm vụ của Công an là triệt phá chính quyền bù nhìn, gây uy tín cho chính quyền Việt Nam; trừ diệt do thám địch; phong toả tiếp tế địch; làm nhẹ nhàng bộ máy của ta và giữ bí mật cho nó"1 (Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ II, ngày 29-2-1948). Hội nghị quyết định tăng cường lãnh đạo cho cấp huyện, mở lớp đào tạo Quận trưởng Công an và Đội trưởng điều tra đề phòng khi cuộc chiến khốc liệt, mất liên lạc có thể độc lập ứng phó với những hoàn cảnh khó khăn nhất: "... đặt một hệ thống tổ chức thích hợp và thống nhất, đơn giản nhưng đủ người làm việc; đào tạo Quận trưởng giỏi, cảnh giới hoạt động giỏi”2 (Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ II, ngày 29-2-1948). Như vậy, ngay khi cuộc kháng chiến chuyển sang giai đoạn “giằng co”, khi cơ quan gián điệp Pháp tăng cường hoạt động thì lực lượng Công an trên toàn quốc đã kịp thời điều chỉnh về tổ chức theo hướng tăng cường lực lượng về cơ sở, nâng cao năng lực lãnh đạo cho cấp Quận; đào tạo nghiệp vụ điều tra cho số cán bộ nhân viên trực tiếp làm công tác điều tra, công tác đấu tranh chống gián điệp.


Về triển khai công tác nghiệp vụ, tháng 9-1948, Ty Chính trị đề xuất lên Trung ương các biện pháp phòng, chống gián điệp chui vào nội bộ cơ quan Đảng, chính quyền và tổ chức kháng chiến. Thường vụ Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số 25/CT-TW “Về việc đề phòng gián điệp chui vào hàng ngũ Đảng và các cơ quan chính quyền". Chỉ thị quy định về chế độ tuyển dụng, quan hệ công tác, kiểm soát nội bộ... giao cho các tổ chức Đảng chịu trách nhiệm thực hiện với sự hướng dẫn của Công an. Ty Chính trị tiếp tục tham mưu cho Đảng về công tác phòng gian và trừ gian, tháng 1-1949, Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị cán bộ trung ương lần thứ VI, một trong những Nghị quyết quan trọng được thông qua là Nghị quyết về “Công tác phòng gian và trừ gian". Nghị quyết xác định đây là công tác cấp thiết, các bộ phận Đảng, chính quyền, Quân đội, các đoàn thể đều phải chú ý làm. Ngoài việc tổ chức chặt chẽ trong cơ quan đơn vị cần phải giáo dục cho quần chúng hiểu nhiệm vụ, cách thức phòng gian và trừ gian. Nghị quyết chỉ rỏ những vấn đề cơ bản trong công tác điều tra để các cấp Công an quán triệt: Đào tạo nhân viên hỏi cung can phạm, lập danh sách Việt gian trong toàn quốc; phân chia tội nặng, nhẹ để theo dõi; sưu tầm kinh nghiệm về chống gián điệp của ta và các nước để nghiên cứu và phổ biến trong Công an và Tình báo; huấn luyện trong Công an và trật tự biết cách hỏi giấy"1 (Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần VI, tháng 1-1949). Chỉ trong thời gian ngắn lực lượng An ninh đã tham mưu giúp Đảng định hướng và cụ thể hoá những vấn đề cơ bản về đấu tranh chống phản cách mạng, trọng tâm là chống gián điệp và bọn tay chân của chúng. Định hướng của Đảng xác định có tính nguyên tắc về: Tổ chức lực lượng đấu tranh và phạm vi tiến hành đấu tranh, về tổ chức lực lượng đấu tranh, Nghị quyết chỉ rõ: Các cấp bộ Đảng lãnh đạo và tổ chức lực lượng, Công an là nòng cốt, các tổ chức kháng chiến và nhân dân tham gia theo chức năng của mình, về phạm vi tiến hành đấu tranh: Công tác bảo vệ tập trung vào nội bộ các cơ quan, các mục tiêu quan trọng và địa bàn trọng điểm. Lấy cơ sở làm lực lượng cơ bản. Vừa đánh địch vừa đúc rút kinh nghiệm, kết hợp với kinh nghiệm của các nước để xây dựng hệ thống lý luận của Việt Nam. Cho đến nay, những định hướng của Đảng trong giai đoạn này vẫn nguyên giá trị và là căn cứ để phát triển thành đường lối đấu tranh chống phản cách mạng được ban hành tại Nghị quyết số 39 năm 1962.


Căn cứ Chỉ thị của Trung ương Đảng, Nha Công an xác định phương hướng công tác và những vấn đề trọng tâm của năm 1949 tại Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ IV: "Xây dựng bộ máy giản đơn, khoa học, đúc rút kinh nghiệm công tác điều tra, chuẩn bị tổ chức Hội nghị điều tra toàn quốc, in thành sách để phổ biến cho nhân viên điều tra". Hội nghị xác định công tác trọng tâm trong năm 1949: “Phải giữ cho hậu phương được bí mật và diệt trừ do thám địch, chấn chỉnh và tăng cường phong trào “Bảo mật phòng gian", “Ngũ gia liên bảo"".


Do chủ động xây dựng phương hướng công tác có trọng tâm, trọng điểm; chú trọng kết hợp giữa lực lượng chuyên môn với phát huy vai trò của quần chúng nên công tác phòng chống gián điệp ở giai đoạn này có bước chuyển rõ rệt. Tại các địa bàn dân cư, phong trào quần chúng phát triển khá đồng đều, có sự kết hợp chặt chẽ giữa tổ chức sản xuất với bảo vệ xóm làng, phát hiện do thám, chỉ điểm. Nhiều thôn, xã ở vùng tự do đã thành lập các trạm gác cố định để kiểm soát giấy tờ đối với người lạ mặt. Một số xã còn thành lập đội tuần tra, kiểm soát tình hình suốt ngày đêm. Hình thức kiểm soát công khai như vậy không chỉ nâng cao tinh thần trách nhiệm của cộng đồng mà còn ngăn chặn đáng kể hoạt động của bọn gián điệp, chỉ điểm. Công an khu XII là địa bàn của các cơ quan đầu não kháng chiến, đã làm giấy ra vào phát cho cán bộ kháng chiến và nhân dân để quản lý việc đi lại trên địa bàn. Nhờ có biện pháp kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ nên bọn do thám, chỉ điểm không có cơ hội thâm nhập, tiếp cận vào chiến khu.


Tại vùng địch kiểm soát, vùng tranh chấp, đồng bào tổ chức rào làng, xây dựng làng chiến đấu; lấy nội dung phong trào “Phòng gian bảo mật", "Ngủ gia liên bảo" làm nội dung hoạt động của làng chiến đấu. Từ khẩu hiệu “Ba không" (không nghe, không thấy, không biết) được phát triển thành “không bán lương thực cho giặc, không cộng tác với giặc, không đi lính cho giặc", đã trở thành thói quen trong cuộc sống của người dân vùng địch. Đây là mặt công tác căn bản, được triển khai đồng bộ và được các cơ quan kháng chiến cùng các tầng lớp nhân dân ủng hộ tích cực.


Để tổ chức phong trào, hướng dẫn cho quần chúng, Nha Công an chủ trương tăng cường lực lượng cốt cán cho Công an cấp tỉnh, huyện, đồng thời củng cố Công an xã, củng cố lực lượng bảo vệ cơ quan. Hệ thống Công an làng, xã; bộ phận bảo vệ cơ quan, đơn vị là lực lượng tại chỗ vừa giữ vai trò hướng dẫn quần chúng vừa giữ vai trò trực tiếp thực hiện nhiệm vụ ở cấp cơ sở. Hình thái hoạt động và biện pháp tổ chức hoạt động của phong trào quần chúng lúc này tuy còn đơn giản nhưng đã bước đầu hình thành trận tuyến đấu tranh chống phản cách mạng nói chung, chống gián điệp nói riêng mang tính toàn dân. Đây là cơ sở căn bản và bền vững hỗ trợ cho lực lượng An ninh trong công tác phòng và chống gián điệp.


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 13 Tháng Sáu, 2021, 07:32:15 pm
Nhờ có quần chúng giúp đỡ nên lực lượng Trinh sát chính trị triển khai có hiệu quả công tác điều tra, khám phá các đường dây do thám cũng như tổ chức thành công một số kế hoạch đưa cơ sở vào hoạt động trong hàng ngũ địch: Bắt Vương An Bách, Trần An Dương, Dương Mãn Thành, Vĩnh Phát là gián điệp Pháp, Tưởng hoạt động ở địa bàn Tuyên Quang. Truy bắt bọn gián điệp do Trương Đình Long, Nguyễn Văn Chính chỉ huy, hoạt động trong khu vực đóng quân của bộ đội chủ lực. Lực lượng Bảo vệ chính trị phối hợp với Bảo vệ quân đội bắt quả tang điệp viên Hoàng Xuân Bích đang trao tài liệu cho nhân viên Phòng Nhì; bắt Đoàn Văn Nghiệp, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 889 và Nguyễn Đình Điền là đặc phái viên của Trung tướng Nguyễn Bình lấy cắp tài liệu chuyển cho Phòng Nhì; Triển khai thắng lợi kế hoạch ngăn chặn nhân viên Phòng Nhì lôi kéo Trung đoàn phó Trung đoàn 42 vào mạng lưới gián điệp. Công an Ninh Thuận khám phá mạng lưới nội gián trong Ban quản trị Tiểu đoàn 89 thuộc Liện trung đoàn 81-82 do Nguyễn Cao Phan cầm đầu. Bắt Nguyễn Cao Phan cùng các tên Trần Nghiễm, Ngọc, Mạn và Long, đều đã tạo được vỏ bọc an toàn trong các cơ quan quân sự của tỉnh. Công an Mỹ Tho khám phá tổ chức gián điệp "Khu quốc gia" do Phòng Nhì điều khiển, bắt và truy tố 6 tên, trong đó có 4 tên là nhân viên Phòng Nhì...


Song song với công tác điều tra khám phá án, lực lượng Bảo vệ chính trị đã triển khai thành công một số kế hoạch đưa cơ sở vào hoạt động trong nội bộ địch nhằm nắm âm mưu địch ngay từ Trung tâm chỉ huy của chúng. Ban phản gián Thừa Thiên xây dựng nhiều cơ sở hoạt động trong bộ máy chính quyền ngụy, trong đó có anh Tráng Thông, là Trưởng Ty Công an ngụy. Với cương vị này, anh Tráng Thông thu được nhiều tin quan trọng về âm mưu, mạng lưới gián điệp của ngụy trên địa bàn Thừa Thiên. Tháng 6-1949, Ban phản gián Thừa Thiên phát hiện Đào Thị Bái là con buôn lậu, hoạt động gián điệp do viên sĩ quan mật thám Serra điều khiển. Ban phản gián mạnh dạn giáo dục chồng thị Bái là đồng chí Nguyễn Văn Lợi, cán bộ của Ban, thực hiện kế hoạch trá hàng, thâm nhập vào hàng ngũ địch. Từ đồng chí Lợi, Ban phản gián điều tiếp đồng chí Nguyễn Đình Hoà vào mạng lưới. Thông qua đầu mối thị Bái, hai cán bộ của Ban đã thâm nhập vào hàng ngũ địch, móc nối được với một số nhân viên mật thám Liên bang và thu được nhiều tin quan trọng.


Ở vùng địch kiểm soát, Trung ương Đảng xác định nhiệm vụ phá chính quyền cơ sở của địch, lập chính quyền của ta là nhiệm vụ chính yếu, giữ vị trí cực kỳ quan trọng nhằm phá chính sách “chia để trị'', “dùng người Việt trị người Việt" của kẻ thù. Trung ương Đảng chỉ đạo các cấp bộ Đảng, các cơ quan kháng chiến phải vận động quần chúng, mở chiến dịch phá tề, trừ gian với chủ trương: “Phải rất khôn khéo và mềm mỏng, phải tùy theo hoàn cảnh, tùy theo tình thế mà định cách đối phó với hội tề cho đúng"1 (Chỉ thị "Phá hội tề" của Thường vụ Trung ương Đảng, ngày 19-1-1948). Với vai trò là lực lượng nòng cốt, cơ quan Công an tham mưu cho Đảng xét, phân số tề, ngụy thành hai loại A và B để hướng dẫn lực lượng cách mạng có đối sách đúng với từng loại khi tổ chức phá tề. Loại A là bọn tay sai gian ác, phải diệt; loại B là loại ít nguy hiểm, có thể sử dụng, phải thực hiện chính sách giáo dục cải tạo để sử dụng lâu dài. Cùng với việc tham mưu cho Đảng, lực lượng Bảo vệ chính trị xác định rõ: Phá tề là phá cơ sở xã hội của địch, là đánh thẳng vào bọn mật thám chỉ điểm trà trộn ở cấp cơ sở nên tập trung lực lượng trinh sát để tổ chức và hướng dẫn quần chúng. Cuối năm 1948, phong trào tổng phá tề phát triển rầm rộ, đặc biệt là ở Bắc Bộ. Các tỉnh Hải Kiến, Bắc Ninh và xung quanh Hà Nội, 90% hội tề bị giải tán ngay trong tuần lễ đầu tiên của chiến dịch tổng phá tề. Hàng ngàn tên tay sai gian ác, bọn mật thám chỉ điểm nhiều tội ác đã bị trừng trị. Chính quyền cơ sở của địch bị phá rã từng mảng, hình thái chính quyền “đêm ta ngày địch” khá phổ biến. Thực chất đây là cuộc nổi dậy đồng loạt của nhân dân vùng địch kiểm soát, chống lại chính sách “dùng người Việt trị người Việt” của Pháp. Kết quả của chiến dịch phá tề còn góp phần quan trọng phá tan âm mưu “do thám hóa" của các cơ quan gián điệp Pháp.


Từ tháng 5-1949, tướng Rơ-ve triển khai kế hoạch quân sự mới, xác định Bắc Bộ là chiến trường chính, tập trung lực lượng cho chiến trường Bắc Bộ hòng thực hiện kế hoạch mở rộng vùng chiếm đóng, phát triển ngụy quyền và tăng cường bình định. Theo đó, tháng 10-1949, tướng Sác-sông, Tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở miền Nam triển khai kế hoạch rút quân để tăng cường cho Bắc Bộ, chỉ để lại chiến trường miền Nam 28 tiểu đoàn chính quy. Rút lực lượng quân sự nhưng chúng lại tăng cường lực lượng công an, an ninh, mật thám, để phát triển bình định và giữ đất. Sở Mật thám Liên bang (Sở An ninh Cao uỷ Đông Dương) tăng quân số lên gấp đôi. Cơ quan “Tình báo cục” do Trần Văn Hữu cầm đầu được bổ sung quân số, mở rộng quyền hạn và thiết lập hệ thống chân rết đến tận đồn bốt. Các tổ chức “Mật thám không quân", “Commanđo", Phòng Nhì được tăng cường lực lượng và trang thiết bị để đủ sức mở rộng hoạt động khắp chiến trường miền Nam. Chúng xúc tiến mạnh kế hoạch mua chuộc lực lượng Bình Xuyên của Lê Văn Viễn, bọn phản động trong đạo Cao Đài, Hòa Hảo... coi những lực lượng này là cơ sở xã hội làm hậu thuẫn cho chính sách bình định. Diễn biến tình hình trên cho thấy: Từ cuối năm 1949, tại chiến trường Nam Bộ, tuy hoạt động quân sự của Pháp giảm nhưng chúng lại tăng cường hoạt động gián điệp, thông qua hoạt động gián điệp để nắm ngụy quyền và các lực lượng nội phản khác.


Ở Trung Bộ, đặc biệt là các tỉnh Bắc Trung Bộ như Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Bình, là hậu phương của ta, nguồn cung cấp nhân tài vật lực cho kháng chiến; Bộ chỉ huy chiếm đóng sử dụng lực lượng Commanđo, CI (Biệt kích liên quân khu), tiến hành các cuộc càn quét chớp nhoáng có máy bay và cơ giới yểm trợ. Phòng Nhì sử dụng đảo Hòn Mê làm căn cứ huấn luyện gián điệp, tung vào đất liền, hoạt động dọc theo đường số I để thu tin tình báo và móc nối với bọn phản động lợi dụng tôn giáo âm mưu thành lập mặt trận chống Cộng sản. Chúng còn sử dụng bọn gián điệp từ Lào, vượt biên thâm nhập vào các vùng núi, nắm các thổ ty, lang đạo nhằm xây dựng những khu tự trị, gây chia rẽ dân tộc, phá kinh tế, làm suy yếu hậu phương của ta.


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 18 Tháng Sáu, 2021, 08:27:24 pm
Ở miền Bắc - chiến trường chính, ngoài việc tăng cường binh lực, phương tiện chiến tranh, Pháp tập trung mọi nỗ lực, triển khai ồ ạt các phương thức hoạt động gián điệp. Các cơ quan tình báo quân sự, mật thám liên bang, công an ngụy được tăng cường đáng kể cùng với mạng lưới mật vụ và bọn Việt gian chỉ điểm, bám theo các đơn vị vũ trang hoặc cắm chổi theo khu vực ở vùng tạm chiếm. Chúng lập ra các “Tiên y", hoá trang và trang bị gọn nhẹ theo dõi các đơn vị chủ lực của ta, dọc tuyến hành quân của các sư đoàn hoặc đột nhập vào các cơ quan kháng chiến, bắt cóc cán bộ khai thác hoặc phá hoại. SEH đặt thêm các trụ sở ở Đáp Cầu, Thái Bình, Hưng Yên, Hà Nam... Phòng Nhì thành lập thêm hệ thống đầu mối tại các miền, các khu vực trọng điểm ở hầu khắp các tỉnh Bắc Bộ (2B ZOT). Đặc biệt, cơ quan gián điệp Pháp chú trọng phát triển lực lượng, trang bị phương tiện cho mạng lưới điệp viên rải trên địa bàn 4 cửa ngõ lên chiến khu Việt Bác và dọc theo tuyến sông Đà để điều tra tin tức về ý đồ mở chiến dịch, hướng chuyển dịch các đơn vị chủ lực của ta. Chúng tăng cường đánh người vào nội bộ cơ quan kháng chiến, âm mưu móc nối với số cán bộ thoái hoá để đánh trở lại; hoặc dùng vật chất, quan hệ thân tộc dụ dỗ, cưỡng ép; hoặc sử dụng hàng hóa, biến bọn buôn lậu thành “gián điệp con buôn lậu".


Đối với Mỹ, từ cuối năm 1949, cơ quan tình báo Mỹ tăng cường viện trợ, can thiệp sâu vào lĩnh vực tình báo của Pháp và cùng phối hợp hoạt động. Dưới danh nghĩa “Phái đoàn viện trợ", CIA phái Conein cùng nhiều sĩ quan tình báo chuyên trách về tình hình Đông Dương đến Việt Nam, mở rộng bộ máy “tác động tinh thần" với mục đích vừa giúp Pháp, vừa thâu tóm địa bàn, chuẩn bị đến một lúc nào đó sẽ thế chân Pháp.


Như vậy, từ nửa cuối giai đoạn thứ hai của cuộc kháng chiến, Pháp đã nâng tầm hoạt động gián điệp thành cuộc chiến tranh gián điệp với quy mô mới: tăng cường lực lượng trên toàn chiến trường; phát triển thêm nhiều phương thức hoạt động với hướng thâm nhập chủ yếu là hướng vào nội bộ kháng chiến và nắm cho được kế hoạch tác chiến, tiềm lực quân sự của ta. Cùng với Pháp và bọn tay sai của chúng, cơ quan tình báo Mỹ, gián điệp Nhật cũng ráo riết hoạt động. Song đối tượng đấu tranh chính của ta vẫn là gián điệp Pháp. Âm mưu của chúng căn bản không thay đổi, nhưng về phương thức hoạt động, quy mô cuộc chiến tranh, mức độ huy động lực lượng tham gia đã phát triển ở trình độ cao. Việc bố trí lực lượng, đã chuyển từ bố trí theo bề mặt (en surface) sang bố trí theo kiểu dây chuyền (en chaine) và kiểu mạng nhện (en toile d’ araignée). Với kiểu bố trí lực lượng mới, gián điệp không chỉ phát triển mạng lưới điệp viên rộng rãi ở cả ba vùng chiến lược mà còn có chiều sâu, nhằm vào các mục tiêu quan trọng là các cơ quan Đảng, chính quyền, đơn vị vũ trang của ta.


Đối phó với âm mưu địch, Trung ương Đảng đã ban hành nhiều chỉ thị, hướng dẫn các cơ quan kháng chiến và lực lượng vũ trang tiến hành công tác phòng ngừa, đối phó với hoạt động của do thám, gián điệp để bảo vệ nội bộ, bảo vệ hậu phương trong bối cảnh cuộc kháng chiến đang có bước chuyển mới. Trung ương Đảng xác định: "Pháp đã nâng hoạt động gián điệp thành chính sách gián điệp"1 (Nghị quyết Hội nghị cán bộ Trung ương mở rộng lần thứ III, tháng 1-1950) và xác định chủ trương đấu tranh tại Nghị quyết Hội nghị Trung ương toàn quốc lần thứ III: “Tích cực phòng gian, trừ gian, chống chính sách gián điệp của địch, xây dựng đội quân ngầm, xây dựng căn cứ địa kháng chiến". Nhằm tăng cường sức chiến đấu đối với lực lượng nòng cốt trên mặt trận chống phản cách mạng, chống gián điệp, Trung ương Đảng chỉ rõ: “Công an là công cụ đấu tranh chống các lực lượng phản cách mạng trong nước và nước ngoài, bảo vệ quyền lợi của nhân dân. Các cấp ủy Đảng từ Trung ương đến địa phương phải chuyển biến về nhận thức, quan tâm đến công tác Công an, tăng cường cán bộ trong ngành Công an"2 (Chỉ thị số 10/CT-TW ngày 5-5-1950).


Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Đảng, Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ IV đã tập trung phân tích tình hình địch, ta và xác định những nội dung công tác chủ yếu. Hội nghị ra Nghị quyết, nêu rõ: “Địch càng yếu thì chúng càng tăng cường chiến tranh gián điệp, tập trung chính là chiến trường Bắc Bộ; công tác lớn lúc này là phản gián và điệp báo... Phải giữ cho hậu phương được bí mật và diệt trừ do thám... Phải phát triển công tác phản gián và điệp báo trên các đường tiến công hoặc rút lui của địch”1 (Nghị quyết Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ IV, tháng 2-1949). Sau Hội nghị Công an toàn quốc, Nha Công an mở Hội nghị điều tra lần thứ nhất. Hội nghị tập trung thảo luận hai vấn đề then chốt là: Tổ chức bộ máy làm việc và kinh nghiệm điều tra, nghiên cứu tình hình. Lần đầu tiên, những kinh nghiệm chống gián điệp được các địa phương đúc rút và báo cáo tại hội nghị để làm tài liệu cho các địa phương khác áp dụng. Tài liệu tổng kết Hội nghị điều tra, trong đó có những bài học kinh nghiệm quý được in thành hai cuốn sách để các địa phương nghiên cứu. Nha còn cử cán bộ về Liên khu III và Liên khu IV mở Hội nghị điều tra, phổ biến kinh nghiệm cho đội ngũ trinh sát bảo vệ tại hai địa phương này. Tháng 11-1949, Tổng Giám đốc Nha Công an Trung ương ra Chỉ thị số 1605/CT-P6 về việc “Sưu lầm và khai thác các tài liệu của cơ quan do thám địch". Đây là văn bản có tính lý luận, đúc kết từ thực tiễn đấu tranh, trong đó xác định đầy đủ mối liên quan mật thiết, hỗ trợ lẫn nhau giữa công tác điệp báo và công tác phản gián: “Việc lấy tài liệu địch với việc nghiên cứu các tài liệu đó một cách cẩn thận, sát thực làm cho ta hiểu rõ địch và giúp ta thực hiện cả hai công việc điệp báo và phản gián có hiệu quả”2 (Chỉ thị số 25/CT-P6, ngay 9-11-1949). Hơn một tháng sau, Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ V được triệu tập; các đại biểu đi sâu thảo luận “Đề án công tác phản gián”. Hội nghị thống nhất một số vấn đề cốt yếu về nhận thức: “Vì đang đi tới thế bị động về quân sự, Pháp sợ bị đánh bất ngờ nên phải tìm cách tăng cường gián điệp... Pháp đã đặt gián điệp thành chính sách rõ rệt, vì thế công tác phản gián là công tác quan trọng bậc nhất của ngành Công an hiện nay... Phải tiêu diệt bọn gián điệp Pháp, Mỹ, Tàu trắng ngay trong lòng địch và ở nơi mà sau này chúng sẽ hoạt động nhiều... Pháp sẽ dùng bọn Công giáo, Cao Đài, Thố Ty phản động làm cơ sở gián điệp. Ta phải hướng vào đó, phối hợp với các đoàn thể giác ngộ họ sao cho địch không còn chỗ dự trữ mà tuyển dụng gián điệp...1 (Nghị quyết Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ IV tháng 2-1949). Có thể nói đây là bước phát triển về lý luận nhận thức và nghiệp vụ có ý nghĩa quan trọng đối với Công an nói chung, lực lượng chống gián điệp nói riêng. Từ thực tiễn đấu tranh, giai đoạn này đã xác định một số nội dung có tính quy luật như sau: Khi thế và lực của địch bị suy giảm thì chúng càng tăng cường hoạt động gián điệp; lấy hoạt động gián điệp để hỗ trợ cho hoạt động vũ trang, giành lại thế đã mất. Đã xác định bọn gián điệp phải dựa vào bọn phản động mới phát triển được mạng lưới và triển khai các điệp vụ. Muốn đấu tranh chống gián điệp thắng lợi phải điều tra, khám phá âm mưu, dự báo hướng hoạt động của đối phương và chủ động đánh địch ngay từ nơi xuất phát cũng như chặn đường rút lui của chúng. Đặc biệt là đã xác định rõ: Muốn chủ động chống gián điệp phải tiến hành chống phản động, phải xoá bỏ cơ sở xã hội chúng có thể lợi dụng. Muốn xoá bỏ cơ sở xã hội kẻ địch có thể lợi dụng phải lấy giáo dục, thuyết phục làm chính với sự giúp đỡ của các cơ quan đoàn thể. Đây là những vấn đề then chốt, đánh dấu sự phát triển về đường lối, tổ chức lực lượng, phương pháp đấu tranh, mối quan hệ phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau trong đấu tranh chống phản cách mạng.


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 19 Tháng Sáu, 2021, 07:32:09 pm
Do có bước chuyển đổi căn bản về nhận thức nên thời kỳ này Nha Công an tập trung chỉ đạo các địa phương khẩn trương tăng cường chất lượng đội ngũ chuyên môn, củng cố mối quan hệ đối với các cơ quan đơn vị, đẩy mạnh công tác vận động quần chúng ở cả 3 vùng chiến lược. Những mặt công tác được triển khai có hiệu quả trong giai đoạn này là: Mở các lớp đào tạo cán bộ điều tra, cán bộ hỏi cung từ Trung ương đến các khu, tỉnh; mở rộng diện cử cán bộ nhân viên học nghiệp vụ và mở thêm các lớp Công an trung cấp; bố trí cán bộ theo hướng chuyên môn hoá, giám bớt bộ máy hành chính để tăng cường cho khu vực vành đai, địa bàn trọng điểm; thành lập "Đội trinh sát vũ trang"; củng cố các Ban phản gián ở địa phương; phổ biến kinh nghiệm của Hội nghị điều tra để nâng cao kỹ thuật nắm, đánh địch và vận động quần chúng.


Nhờ có bước chuyển biến căn bản về nhận thức cũng như tổ chức lực lượng đấu tranh nên hiệu quả chiến đấu của lực lượng Bảo vệ chính trị trên Toàn quốc khá đồng đều và đạt kết quả cao: tại Hà Nội, Ban phản gián xây dựng được nhiều cơ sở thâm nhập vào tổ chức Phòng Nhì và sở Mật thám Liên bang thuộc các tiểu khu Liễu Giai, Bạch Mai, Gia Lâm, trường cảnh binh Sinh Từ; xây dựng cơ sở là ngoại kiều tiếp cận bọn đặc vụ và gián điệp Anh. Cơ sở hoạt động tích cực và thu được nhiều tài liệu quan trọng về âm mưu, kế hoạch càn quét, bình định của Pháp; nắm được âm mưu của gián điệp Mỹ đang ráo riết tạo địa bàn thế chân Pháp. Các tỉnh Nam Định, Ninh Bình, Lạng Sơn, Hải Phòng đều xây dựng được cơ sở tin cậy trong hàng ngũ ngụy quân, ngụy quyền; một số cơ sở là nhân viên trong cơ quan thiết yếu của địch: Cơ sở Năng Quang Phú làm việc trong phòng hồ sơ của công an ngụy tại Nam Định, từ đó phát hiện tên Bắc là điệp viên của Phòng Nhì đã chui vào cơ quan kháng chiến và một số phần tử Đại Việt cộng tác với mật thám. Công an Hà Nội xây dựng cơ sở, tiếp cận Sác-lơ, thu được kế hoạch bọn Pháp đánh chiếm Việt Bắc và sử dụng bọn phản động người Hoa phá hậu phương ta. Tại Trung Bộ, Công an Thừa Thiên Huế xây dựng được nhiều cơ sở trong nội thành Huế, từ đó bắt 40 tên gián điệp, chỉ điểm thâm nhập ra vùng ta kiểm soát. Tại Nam Bộ ta đưa anh Nguyễn Văn Đáng vào làm việc tại Cao uỷ Pháp, đưa anh Nguyễn Văn Các vào làm tại Bộ tham mưu quân đội Cao Đài, anh Nguyễn Văn Nhung làm thư ký cho Nguyễn Tôn Hoàn cầm đầu bọn Đại Việt... Qua đó biết được nhiều tin tức về hoạt động của địch và phát hiện một số đầu mối gián điệp đánh ra vùng tự do. Cơ sở còn thu được tài liệu của Phòng Nhì và PES chỉ đạo các đảng phái phản động và bọn lợi dụng đạo Cao Đài, đạo Hoà Hảo chống phá cách mạng.


Song song với việc đưa cơ sở vào hàng ngũ địch để thu tin, lực lượng Bảo vệ chính trị đã khám phá hàng loạt vụ án quan trọng: Tại Ninh Thuận, khám phá vụ án gián điệp do Nguyễn Cao Phan cầm đầu hoạt động trong Ban quản trị tiểu đoàn 89. Công an Mỹ Tho phá tan âm mưu thành lập “Khu quốc gia'' ở huyện Châu Thành, bắt 7 nhân viên Phòng Nhì hoạt động tại địa bàn này. Công an Thừa Thiên Huê khám phá vụ án gián điệp do Lê Mậu Thành là giáo viên trường Khải Định cầm đầu, kịp thời phá tan kế hoạch thành lập “Lực lượng kháng chiến quốc gia" do Phòng Nhì chỉ đạo. Tại Hà Nội, Ban phản gián bắt hàng chục tên gián điệp, chỉ điểm thâm nhập vào khu căn cứ ở vùng Canh, Diễn; phá một ổ do thám bám theo sự di chuyển của cơ quan kháng chiến; bóc gỡ đầu mối nội gián đánh vào Ban phản gián của Công an Hà Nội. Công an Nghệ An bắt hàng chục tên chỉ điểm xâm nhập vào khu vực xưởng quân khí. Công an Thái Bình phá hai nhóm gián điệp hoạt động ở Quỳnh Côi và Kiến Xương...


Kết quả đấu tranh chuyên án giai đoạn này cùng với việc xây dựng cơ sở thâm nhập vào hàng ngũ địch thu tin tình báo không chỉ giúp cho Bộ chỉ huy kháng chiến mà còn khẳng định bước đầu ta đã đánh bại âm mưu và hoạt động của gián điệp Pháp để đi đến đập tan “Chính sách gián điệp” của chúng. Qua đó, góp phần đẩy giới quân sự lâm vào tình trạng thiếu tin tức tình báo để tiến hành các cuộc càn quét và bình định. Chúng cũng không nắm được ý đồ mở các chiến dịch của ta, không nắm được sự di chuyển của các đơn vị chủ lực, đẩy Pháp càng lâm vào tình thế bị động, ứng phó và càng nhanh đến bờ vực phá sản chiến lược “chiến tranh tổng lực”.


Từ năm 1950, nhất là sau thất bại trong chiến dịch Biên giới, Quân đội Pháp bị đẩy vào tình thế lúng túng và bị động cao độ. Giới quân sự đổ lỗi cho các cơ quan tình báo, gián điệp hoạt động không có kết quả, cơ quan tình báo chiến lược và Phòng Nhì hoàn toàn mất lòng tin đối với Bộ chỉ huy chiếm đóng. Tình hình đó làm cho bọn phản động mất chỗ dựa về tinh thần, thiếu tài trợ dẫn đến suy giảm khả năng khống chế địa bàn và đàn áp cơ sở cách mạng. Các hội tề, bọn đầu sở trong các tổ chức phản động giảm hẳn sự hung hăng, nhiều địa phương, hội tề tan rã từng mảng hoặc trở thành những hội tề hai mang. Hậu phương địch từng bước lâm vào tình trạng mất an toàn.


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 20 Tháng Sáu, 2021, 08:15:05 pm
3. Giai đoạn từ cuối năm 1950 đến cuối năm 1954

Chiến thắng Biên giới năm 1950 mở ra bước ngoặt mới cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta. Một vùng đất đai rộng lớn được giải phóng, hành lang từ Móng Cái đến Cao Bằng được mở cửa, tạo điều kiện để cách mạng Việt Nam trực tiếp nhận chi viện về người và của từ Liên Xô, Trung Quốc... Đây là điều kiện quan trọng thúc đẩy nhanh quá trình phát triển toàn diện của lực lượng kháng chiến, tạo ra bước nhảy vọt về tương quan lực lượng giữa ta và địch.


Thất bại trong chiến dịch Biên giới, Pháp lâm vào tình thế bị động, lúng túng, tinh thần đội quân viễn chinh sa sút, chính quyền tay sai và bọn phản động hoang mang, dao động. Để kéo dài chiến tranh, Pháp tăng cường xin viện trợ của Mỹ và cử Đại tướng Đờ Lát đờ Tát xi nhi (De Lattre de Tassigni) làm Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh, kiêm Cao uỷ Pháp ở Đông Dương. Sang Việt Nam, y triển khai kế hoạch “Đờ-lát”: Gấp rút xây dựng lực lượng cơ động mạnh, phát triển ngụy quân, lập tuyến phòng thủ bao quanh trung du và đồng bằng Bắc Bộ, tiến hành chiến tranh tổng lực hòng bình định cho được vùng tạm chiếm để giành lại thế chủ động đã mất. Với kế hoạch đó, quân Pháp xúc tiến xây dựng ở chiến trường Bắc Bộ phòng tuyến boongke gồm 113 vị trí; dồn dân, lập vành đai trắng; tăng số quân ở Đông Dương lên gần 100.000 tên so với năm 1950. Trên khắp chiến trường từ miền Nam đến miền Bắc, Pháp ráo riết mở các cuộc càn quét lớn và vừa, ngắn ngày và dài ngày nhằm tiêu diệt lực lượng chủ lực của ta, phá hậu phương, cướp phá kinh tế, dồn dân đẩy mạnh bình định.


Để hỗ trợ cho lực lượng quân sự, Pháp đầu tư tối đa về người và tiền của cho chính sách gián điệp. Kinh phí chi cho hoạt động gián điệp tăng gấp 3 lần trước đó; riêng ở Nam Bộ, chiếm 1/3 kinh phí chiến tranh trong năm 1951. Về nhân viên gián điệp, Pháp huy động mọi nguồn để bổ sung cho lực lượng trực tiếp chiến đấu như giảm biên chế hành chính, điều nhân viên ra chiến trường; rải điệp viên trên các đường tiến quân hoặc rút lui; cắm điệp viên vào từng đại đội, từng cứ điểm chiếm đóng. Nhân viên hoạt động tại các cơ quan gián điệp năm 1951 do đó tăng vọt: Sài Gòn - Chợ Lớn gồm 8.000 tên, Thừa Thiên gồm 1.200 tên; Hà Nội gồm 1.600 tên... Ngoài số nhân viên hiện có, chúng ra lệnh gọi bọn mật thám cũ thông thạo địa bàn trở lại làm việc như Georgin, Lannèque, Boubal... Huy động lực lượng Commanđo, biệt kích thuộc địa nhảy dù (DBCCP), biệt kích liên quân khu (CI) mở các cuộc càn quét chớp nhoáng thọc sâu vào hậu phương ta, kể cả vùng Thanh - Nghệ Tĩnh, đốt phá, cướp bóc, phá huỷ tiềm lực dự trữ, bắt cóc cán bộ, khai thác tin tức, cài cắm gián điệp ở lại hoạt động lâu dài. Để tăng cường hiệu quả cho chính sách gián điệp, tháng 5 - 1951, Pháp thành lập lực lượng “Biệt kích hỗn hợp nhảy dù" (GCMA) hoạt động trên địa bàn cả nước, nhưng tập trung chính ở chiến trường Bắc Bộ. GCMA kỳ Bắc Bộ có hệ thống GCMA miền tại 12 địa bàn trọng điểm như Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hòn Mê... với nhiệm vụ thâm nhập sâu vào hậu phương của ta theo hai phương thức: Từng tiểu đội, trang bị gọn nhẹ, đi bộ, có xích hầu dẫn đường, hoạt động từ 1 tuần đến 10 ngày để thu thập tin tức, chỉ điểm cho máy bay bắn phá; thả dù từng đại đội xuống vùng rừng núi thành lập những ổ nhóm do thám và móc nối với bọn phỉ làm rối loạn hậu phương ta.


Song song với phát triển các hệ loại, số lượng gián điệp, Pháp tổ chức thêm các cơ quan do thám của ngụy quyền, sử dụng các tổ chức ngụy quyền, ngụy đảng, hội đoàn làm tai mắt cho chúng. Cơ quan gián điệp lùng bắt, mua chuộc thân nhân, vợ con binh lính, kể cả cán bộ của ta để đánh ra vùng tự do dò xét và tung tin tâm lý. Thời kỳ này cơ quan 2B, SF chú trọng sử dụng phương thức "trá hàng", “nội gián”, “buôn lậu", "gián điệp đôi"... hoặc thành lập những “mặt trận ma" để chui vào hàng ngũ Đảng, các cơ quan kháng chiến cũng như thâm nhập sâu vào vùng tự do. Tình hình trên cho thấy quân đội chiếm đóng của Pháp đặc biệt khao khát tin tức về quân sự, nghiêng hẳn về do thám phục vụ ý đồ quân sự, giảm các hoạt động do thám về chính trị có tính chiến lược.


Do điều chỉnh về âm mưu, tăng cường kinh phí, tăng cường các lực lượng nên hoạt động của gián điệp Pháp ở giai đoạn này gây cho ta nhiều khó khăn. Các cơ quan 2B (Phòng Nhì), SF (Sở An ninh), SR (Quân báo) thống nhất với nhau về lề lối làm việc và phối hợp chặt chẽ trong hành động. Vì vậy chúng đạt được một số kết quả trong việc sử dụng “gián điệp đôi", "gián điệp trá hàng" "nội gián". Chúng dựng lên một số đảng phái chính trị ma biến bọn phản động vùng hậu phương ta thành những ổ do thám chỉ điểm theo chủ trương “do thám hoá”. Trong những tổ chức đó phải kể đến “Mặt trận dân chúng liên hiệp" của bọn phản động trong đạo Thiên Chúa hoạt động khắp ở các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hà Đông, Thanh Hoá, Nghệ An... Chúng cài được nhiều tay chân vào các đoàn, hội kháng chiến của ta để hoạt động.


Sau kế hoạch “Đờ-lát", tháng 5-1953, Pháp thực hiện kế hoạch “Nava". Với kế hoạch “Nava”, Pháp tăng kinh phí cho cuộc chiến tranh gián điệp lên 11.239 triệu Frăng, tập trung những nỗ lực cuối cùng vào mặt trận này hòng cứu nguy cho giới quân sự đồng thời chuẩn bị những điều kiện cần thiết tiếp tục đánh ta khi Pháp buộc phải rút khỏi Việt Nam. Pháp mở thêm các lớp đào tạo sĩ quan gián điệp; tuyển chọn binh lính Commanđo, CI, GCMA, một số đảng viên Đại Việt đưa ra nước ngoài đào tạo để cài cắm ở lại miền Bắc hoặc đưa về Hà Nội, Hà Đông, Sơn Tây huấn luyện cấp tốc rồi tung xuống các tỉnh rừng núi làm nòng cốt cho các hang ổ phỉ. Pháp dự kiến cuối năm 1954 sẽ tăng số GCMA là người bản xứ lên 50.000 tên.


Khi thấy Pháp bị sa lầy và sẽ thất bại ở chiến trường Đông Dương, Mỹ đẩy mạnh hoạt động gián điệp, sẵn sàng thế chân Pháp. Từ năm 1951, Mỹ tăng viện trợ lên gấp ba lần cho Pháp, giúp Pháp đủ tiềm lực kéo dài chiến tranh để Mỹ có thời gian chuẩn bị điều kiện triển khai hoạt động gián điệp. Tướng Ôđanien cầm đầu phái đoàn viện trợ quân sự (MAAG) sang Đông Dương nắm tình hình và chỉ đạo mọi hoạt động của Pháp. Trùm tình báo Donall Heath sang Việt Nam nắm các điệp viên của Mỹ đồng thời tiến hành mua chuộc điệp viên của Pháp, Nhật. Doolley khoác áo linh mục, nắm chức Khâm mạng Đông Dương, ra sức nuôi dưỡng bọn cầm đầu phản động trong Thiên Chúa giáo, mua chuộc bọn cầm đầu các đảng phái phản động, trí thức bất mãn. Thông qua hệ thống những hoạt động liên tục, từ năm 1951, Mỹ can thiệp càng sâu vào chiến trường Việt Nam, trong đó trọng tâm là hoạt động gián điệp. Càng ngày vai trò của cơ quan tình báo Mỹ càng chi phối hoạt động của Pháp và đến năm 1954, dường như Mỹ đã biến Pháp thành công cụ để thực hiện những bước chuẩn bị cuối cùng trong âm mưu thay chân Pháp xâm lược Đông Dương.


Dự kiến xu hướng phát triển của cục diện chiến tranh, tháng 2-1951, Trung ương Đảng tiến hành Đại hội đại biếu Đảng toàn quốc lần thứ II và quyết định đưa Đảng ra hoạt động công khai để tập trung mọi mặt, lãnh đạo kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn. Đại hội xác định nhiệm vụ chủ yếu của cách mạng Việt Nam lúc này là: “Tiêu diệt thực dân Pháp xâm lược và đánh bại bọn can thiệp Mỹ, giành độc lập và thống nhất hoàn toàn”1 (Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II, thảng 2-1951). Thực hiện nhiệm vụ chiến lược của Đảng, đầu năm 1951, Bộ đội chủ lực liên tiếp mở 3 chiến dịch vận động chiến, đồng thời chỉ đạo lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân vùng hậu địch phá bình định, nhổ đồn bốt. Tuy các kế hoạch của ta chưa đạt được mục tiêu chiến lược, nhưng đã gây cho quân đội Pháp những khó khăn nhất định trong quá trình triển khai chiến lược “chiến tranh tổng lực".


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 26 Tháng Sáu, 2021, 07:54:09 pm
Để tập trung lực lượng, củng cố trận địa chống phản cách mạng, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị về “Nhiệm vụ và tổ chức của Công an”. Chỉ thị nêu “Nhiệm vụ cơ bản của Công an là bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền nhân dân, bảo vệ nền kinh tế quốc dân, bảo vệ Quân đội, bảo vệ nhân dân2 (Chỉ thị số 05/CT-TW, ngày 12-5-1951). Chỉ thị nhấn mạnh công tác điều tra khám phá tổ chức và hoạt động gián điệp; chống gián điệp kinh tế, đặc vụ. Chỉ thị nhấn mạnh: “Các Cấp uỷ cơ sở phải cử cán bộ tin cậy, có trình độ sang làm công tác công an; không được điều động cán bộ Công an làm việc khác". Quán triệt chỉ đạo của Đảng, tháng 12 năm 1951, Nha Công an mở Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ VI, xác định một số vấn đề chính yếu có chiều sâu trong phòng ngừa và tổ chức đấu tranh: “Bảo vệ nội bộ là bảo vệ bí mật, bảo vệ nội bộ được thuần khiết, dựa vào lực lượng của chi bộ, của công đoàn. Phương châm của công tác chính trị bảo vệ là: Đi sâu vào cơ quan đầu não của địch; phối hợp với các địa phương làm công tác phản gián; phát triển Công an xã để chỉ đạo công tác phòng gian trừ gian; đề cao kỹ thuật đánh địch".


Đáp ứng yêu cầu của Hội nghị Công an toàn quốc, lực lượng Bảo vệ chính trị tập trung triển khai một số công tác lớn: Hướng dẫn các cơ quan đơn vị ở vùng tự do, củng cố và thành lập các "Ban bảo vệ cơ quan"', xây dựng nội quy, quy chế bảo vệ nội bộ, giúp các "Ban bảo vệ cơ quan" cách thức triển khai công tác bảo vệ nội bộ. Thành lập "Đội điều tra chủ lực”, đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ty Bảo vệ chính trị, làm nhiệm vụ tổ chức điều tra những chuyên án lớn và hướng dẫn các khu, tỉnh về nghiệp vụ điều tra án. Việc thành lập “Đội điều tra chủ lực" đánh dấu bước phát triển đầu tiên về bố trí lực lượng chuyên ngành, theo hệ loại đối tượng sau này. Thời gian này, công tác điều tra đã hình thành hai lực lượng là trinh sát nội tuyến và trinh sát ngoại tuyến. Trinh sát nội tuyến có trách nhiệm tổ chức đánh địch bằng hai cách thức: “Kéo ra”, “Đánh vào". Trinh sát ngoại tuyến có trách nhiệm theo dõi đối tượng cả “bề trong và bề ngoài". Đội ngũ điều tra viên nội tuyến và ngoại tuyến đều phải hoàn toàn bí mật để tiến tới “chức nghiệp hóa" và “xã hội hóa".


Tháng 8-1952, đồng chí Trần Quốc Hoàn, Ủy viên Trung ương Đảng được điều về phụ trách Nha Công an, chủ trì Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ VII. Hội nghị thông qua 7 kết luận. Những vấn đề nêu trong 7 kết luận được đúc kết từ thực tiễn thành lý luận đấu tranh chống phản cách mạng tương đối hoàn chỉnh trên tất cả các mặt công tác, vừa cụ thể hoá quan điểm của Đảng, vừa xác định nội dung, quy trình, biện pháp đấu tranh ở từng lĩnh vực. Những nội dung trong 7 kết luận không chỉ có giá trị chống gián điệp lúc đó mà đến nay vẫn còn nguyên giá trị.


Về vai trò tham mưu, trong giai đoạn này, lực lượng An ninh phát hiện các cơ quan và đoàn thể kháng chiến thường tự động xây dựng cơ sở, ra vào vùng địch để nắm tình hình. Do cơ quan, đoàn thể kháng chiến không có nghiệp vụ hướng dẫn điều tra nên hầu như cơ sở của ta bị địch lợi dụng, cung cấp cho tin giả và khai thác được bí mật của ta. Lực lượng An ninh đã kịp thời tham mưu cho Trung ương Đảng và Chính phủ ban hành các chỉ thị để định hướng đấu tranh: Chỉ thị số 18-CT/TW “Về việc dùng gián điệp đôi"; Chỉ thị “Về gián điệp trá hàng"- Chỉ thị “Về gián điệp là con buôn lậu”, “gián điệp là trẻ em". Bốn chỉ thị trên ra đời khá kịp thời nên giúp cho các cơ quan, đơn vị hiểu rõ vấn đề sử dụng cơ sở để thu tin tình báo cũng như quy định cấp nào được phép sử dụng cơ sở.


Để củng cố một bước công tác giữ gìn bí mật và bảo vệ nội bộ, lực lượng An ninh phối hợp với các cơ quan đơn vị củng cố nội quy bảo vệ cơ quan, quy định chặt chẽ việc ra vào vùng địch kiểm soát, đặc biệt là đối với lực lượng giao bưu, chiến sĩ làm công tác cung cấp nhu yếu phẩm thường xuyên phải ra vào vùng địch. Phong trào “Phòng gian bảo mật” và “Ngũ gia liên bảo" ở giai đoạn này được củng cố cơ bản, có nội quy, quy định sát hợp với từng vùng dân cư. Dưới sự hướng dẫn của các Ban Công an xã, Công an làng, tinh thần cảnh giác của nhân dân được nâng lên rõ rệt. Hệ thống trạm kiểm tra xét giấy, tuần tra canh gác được thiết lập trên mọi ngả đường, trong từng thôn xóm có tác dụng kiểm soát, ngăn chặn hoạt động và giao thông của bọn gián điệp, chỉ điểm. Công an còn phối hợp với các đoàn hội kháng chiến giáo dục nhân dân, tẩy chay và cô lập các ‘‘Mặt trận ma", góp phần hạn chế cơ sở xã hội chủ yếu của bọn gián điệp, làm cho chúng chỉ thu được những tin tức bề mặt và bên ngoài.


Nhằm đảm bảo an toàn tuyệt đối cho các chiến dịch quân sự, trinh sát Bảo vệ chính trị được điều đến các đơn vị Quân đội, đoàn dân công, kho trung chuyển và tham gia phụ trách công tác bảo vệ nội bộ hoặc bảo vệ cơ quan để phối hợp quản lý địa bàn phòng ngừa bọn do thám, chỉ điểm hoạt động. Đối với các địa phương có tuyến đường phục vụ chiến dịch, trinh sát Bảo vệ chính trị phối hợp với các cơ quan và chính quyền địa phương “xây dựng hành lang an toàn” từ hậu phương ra tiền tuyến, đảm bảo tuyến đường cung cấp nhân tài, vật lực cho chiến trường tuyệt đối an toàn. Tuyến “hành lang an toàn" lớn nhất được xây dựng từ Thanh - Nghệ vượt qua nhiều tỉnh đến Điện Biên Phủ là đóng góp đáng kể của Công an trong trận quyết chiến chiến lược cuối cùng.


Trên lĩnh vực đấu tranh chuyên án, lực lượng chống gián điệp đi sâu điều tra cơ bản, nắm vững diễn biến hoạt động của địch, đồng thời xây dựng mạng lưới cơ sở rộng khắp để nắm âm mưu, kế hoạch hoạt động ngay từ trung tâm đầu não của chúng. Trong năm 1951, Công an Hà Nội đặt tại mỗi khu phố 3 điều tra viên, xây dựng 259 cơ sở bí mật trong nội thành và thiết lập tuyến giao thông để chuyển tin được nhanh chóng, bí mật. Công an Hải Phòng xây dựng 15 cơ sở nằm trong cơ quan ngụy quân, ngụy quyền và Bảo chính đoàn. Công an Phú Yên điều 4 cơ sở cấp cao vào làm việc trong dinh Tỉnh trưởng, Ty Công an, Ty cảnh sát của ngụy quyền. Hầu hết cơ sở đều hoạt động tốt, thu được nhiều tin tức quan trọng liên quan đên âm mưu, hoạt động của địch, giúp cho cơ quan chỉ đạo kháng chiến chủ động tổ chức phòng ngừa.


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 27 Tháng Sáu, 2021, 07:31:14 pm
Từ năm 1951 đến năm 1954, lực lượng Bảo vệ Chính trị đã bóc gỡ hàng trăm đầu mối, ổ, dây do thám, đẩy lùi địch ra khỏi những địa bàn, mục tiêu cần bảo vệ ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam. Trong đó có một số vụ điển hình như: Toán gián điệp do Đỗ Kỳ Nhân cầm đầu (Hà Nội); Nguyễn Thượng Dụ (Ninh Bình); Mã Dùng Sáu (Cao Bằng); Mai Tùng Canh (Hải Phòng); ổ gián điệp “Lam lam hồng chi” (Nghệ An), ở Lạng Sòn, chỉ trong một tháng mở chiến dịch trừ gian, ta đã bắt 32 tên gián điệp, chỉ điểm. Tháng 11 năm 1952, Công an Liên khu IV khám phá ổ nhóm gián điệp ở Hòn Mê - Thanh Hoá, bắt 55 tên hoạt động từ Ba Làng - Thanh Hoá đến miền Tây Nghệ An. Tháng 8 năm 1952, Công an Liên khu III phá mạng lưới gián điệp hoạt động ở Ninh Bình do 2B ZOT chỉ huy, bắt 21 tên; Công an Lạng Sơn khám phá đường dây do thám hoạt động ở ba huyện: Bắc Sơn, Bình Giã, Bằng Nhạc, bắt 15 tên. Năm 1952, Công an Liên khu III tiếp tục bóc gỡ đường dây do thám hoạt động trên tuyến đường giao thông từ Thanh Hoá - Ninh Bình - Nam Định - Hoà Bình lên Điện Biên Phủ do 2B điểu khiến, bắt 16 tên. Để đảm bảo an toàn cho Bộ chỉ huy kháng chiến và các lực lượng tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, Vụ Bảo vệ chính trị phối hợp với Công an Liên khu III mở chiến dịch điều tra trên địa bàn cửa ngõ ra vào chiến khu Việt Bắc: Vĩnh Phúc, Sơn Tây, Phú Thọ, Nam Thái Nguyên, vành đai chân núi Tam Đảo, dọc sông Đà... bắt 48 tên gián điệp, phá 5 ổ do thám đóng giả con buôn hoặc mở quán bán nước trên các tuyến đường giao thông. Đã khám phá hàng chục đầu mối nội gián nằm trong các đơn vị quân đội hoặc cơ quan kháng chiến; có đầu mối ta sử dụng đánh trở lại nhưng địch vẫn không hay biết. Công an Thủ Biên khám phá vụ nội gián “Đỗ Thái”; Công an Hà Nội khám phá vụ nội gián “Hoàng Ngọc Tuyến”; khám phá đầu mối “Nguyễn Thị Toàn” chui vào Trung đoàn 802; bóc gỡ mạng lưới nội gián do Hoàng Minh Vượng chỉ huy hoạt động trong tỉnh đội Hải Ninh... Điểm đáng chú ý là chúng ta khám phá kịp thời khi chúng chưa chui sâu, leo cao và gây hậu quả nghiêm trọng.


Từ năm 1951, Pháp tập trung thực hiện phương thức mới là gián điệp biệt kích hỗn hợp nhảy dù (GCMA) với tham vọng sử dụng lực lượng biệt kích vũ trang phá rối hậu phương của ta để làm giảm áp lực quân sự trên chiến trường. Lực lượng Bảo vệ chính trị đã phối hợp chặt chẽ với các đơn vị Quân đội và nhân dân, nhất là đối với vùng núi, các tỉnh Thanh-Nghệ-Tĩnh tổ chức truy bắt gián điệp biệt kích. Vì vậy, hầu hết các toán GCMA vừa thâm nhập đã bị truy bắt ngay: Truy bắt và diệt gọn 52 tên GCMA nhảy dù xuống Lũng Pù, Hà Giang, đập tan âm mưu liên kết với bọn phản động đánh chiếm vùng Tây Bắc lập “Liên bang xứ Nùng, Thái, Mèo tự trị”; bắt tiểu đội GCMA do Tạ Minh Phượng chỉ huy nhảy dù xuống Chi Lăng; bắt một toán gồm 7 tên nhảy dù xuống vùng núi Cẩm Thủy. Công an Thanh Hoá bắt toán biệt kích gồm 34 tên do Châu Thông Chân chỉ huy, từ Lào xâm nhập vào vùng Tây Thanh Hoá âm mưu liên kết với bọn phản động thành lập xứ “Liên Châu Thái tư trị”; bắt và diệt 54 tên nhảy dù xuống huyện Hồi Xuân - Thanh Hoá. Công an Bắc Giang vây bắt một tiểu đội GCMA nhảy dù xuống Đồi Ngô... GCMA là phương thức hoạt động mới và thường ở địa bàn hiểm trở nhưng ta biết vận động nhân dân, phối hợp chặt chẽ với Quân đội chủ động truy bắt ngay khi chúng xâm nhập nên về căn bản đã đẩy lùi hoạt động của GCMA, phá tan tham vọng sử dụng GCMA để giành lại thế đã mất trên chiến trường của Bộ chỉ huy chiếm đóng.


Từ năm 1953, ta chủ động tiến hành các kế hoạch đánh lại địch bằng thông tin liên lạc hiện đại. Một trong những chuyên án đánh dấu bước trưởng thành của lực lượng đấu tranh chống gián điệp là chuyên án TN25: Tháng 5-1953, GCMA tung ra vùng Đại Từ, Thái Nguyên một toán gián điệp gồm 3 tên với nhiệm vụ thâm nhập vào Thủ đô kháng chiến thu tin tình báo chiến lược để phục vụ cho kế hoạch đánh chiếm Nà Sản và xây dựng cứ điểm Điện Biên Phủ. Vụ Bảo vệ chính trị bắt bí mật và sử dụng toán gián điệp đề đánh lại trung tâm địch theo kiểu “Trò chơi nghiệp vụ”. Trong quá trình đấu tranh, Ban chuyên án đã áp dụng đồng bộ các biện pháp trinh sát nội tuyến, ngoại tuyến, trinh sát kỹ thuật, cung cấp cho địch nhiều tin tức giả, dụ địch tăng cường nhân viên, tiếp tế phương tiện và bộc lộ những đầu mối đã cài cắm từ trước để bắt. Khi cuộc kháng chiến chống pháp thắng lợi, ta vẫn tiếp tục sử dụng ba điệp viên, bóc gỡ mạng lưới gián điệp cài lại trong kế hoạch hậu chiến của chúng. Từ năm 1953 cho đến năm 1958, GCMA không hề biết toán gián điệp này đã nằm trong sự điều khiển của cơ quan An ninh Việt Nam nên chúng cung cấp cho ta nhiều tin quan trọng, khen ngợi toán điệp viên, thậm chí còn tặng “Huân chương Thập tự sắt” cho Trần Thị Hán và đồng bọn. Đấu tranh chuyên án TN25 thắng lợi khắng định lực lượng An ninh có bước trưởng thành vượt bậc về nghiệp vụ, về khả năng tổ chức đấu tranh chuyên án, mở ra hướng đấu tranh mới cho những giai đoạn sau.


Tóm lại: Cuộc đấu tranh chống gián điệp trong giai đoạn lịch sử từ năm 1945 đến năm 1954 là bộ phận không tách rời của trận tuyến đấu tranh chống phản cách mạng; là cuộc đấu tranh gay go, phức tạp và vô cùng quyết liệt nhằm đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh giành chính quyền, giữ chính quýền và chống thực dân Pháp xâm lược. Đấu tranh chống gián điệp ở giai đoạn này đan xen với vũ trang đánh địch, về căn bản được phân thành ba vùng chiến lược rõ ràng. Quá trình phát triển về đường lối, tổ chức lực lượng và biện pháp tiến hành trong đấu tranh chống gián điệp ở giai đoạn lịch sử này có thể rút ra một số vấn đề sau:
Thứ nhất: Cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta do Đảng lãnh đạo, phát triển qua từng giai đoạn để giành thắng lợi hoàn toàn. Đấu tranh chống gián điệp là một bộ phận của quá trình đấu tranh cách mạng, cũng có những bước phát triển gắn liền với các bước phát triển của cuộc kháng chiến và mang tính nhân dân sâu sắc. Sự phát triến về đường lối lãnh đạo cuộc kháng chiến của Đảng cũng đồng thời là lãnh đạo đấu tranh chống gián điệp, hoặc trực tiếp chi phối và định hướng đối với trận tuyến đấu tranh này.

Từ thực tiễn đấu tranh, lực lượng An ninh đã dựa hẳn vào quần chúng, từng bước hướng dẫn quần chúng và các cơ quan đơn vị tham gia vào trận tuyến phòng chống phản cách mạng; bước đầu hình thành mối quan hệ khăng khít giữa “phòng” và “chống", đặt nền móng cho những bước phát triển ở giai đoạn sau. Đóng góp của quần chúng, của các cơ quan đơn vị trong giai đoạn này đã hỗ trợ đắc lực cho lực lượng An ninh khi lực lượng còn mỏng, nghiệp vụ còn hạn chế.

Giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến đến hết năm 1947, nhận thức để phân biệt giữa gián điệp và phản động chưa rõ ràng; nghiệp vụ đánh địch còn đơn giản; còn nặng về đối phó và mang tính chất khu vực. Từ năm 1948 đã có bước chuyển biến cơ bản, phân biệt rõ hệ loại gián điệp, xác định cách thức đấu tranh; song phải đến năm 1950 mới xây dựng được thế trận vững chắc giữa phòng và chống, phát triển lực lượng nòng cốt đủ sức đánh bại âm mưu của địch. Từ năm 1952, lực lượng chống gián điệp có sự phát triển về tổ chức và mang tính chuyên ngành; bước đầu xây dựng được hệ thống lý luận; đã áp dụng đồng bộ nhiều biện pháp nghiệp vụ, đấu tranh thắng lợi một số chuyên án đối với hai cơ quan tình báo sừng sỏ lúc này là Pháp và Mỹ.


Thứ hai: Thắng lợi của cuộc đấu tranh chống gián điệp trong giai đoạn lịch sử này là thắng lợi của việc đánh bại âm mưu của địch; góp phần đẩy thực dân Pháp lâm vào tình thế bị động và lần lượt phá sản các chiến lược chiến tranh. Là thắng lợi của tư tưởng “phòng ngừa và đánh địch” mang tính nhất quán từ chỉ đạo, tổ chức lực lượng đến hoạt động thực tiễn. Lực lượng nòng cốt chống gián điệp đã quán triệt sâu sắc và thực hiện có hiệu quả nguyên tắc: “Nghiệp vụ phục vụ chính trị"; xác định đấu tranh chống gián điệp phải gắn liền với đấu tranh chống phản động; dựa vào pháp luật để đưa bọn gián điệp, chỉ điểm ra đấu tranh công khai, tạo ra áp lực chính trị mạnh mẽ, răn đe những phần tử cộng tác hoặc có ý định cộng tác với cơ quan gián điệp.


Thứ ba: Cuộc đấu tranh gián điệp ở giai đoạn này còn biểu hiện sự non yếu, hạn chế: Năm đầu tiên, từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, ta chưa phân định rõ bọn gián điệp và bọn phản động; trong vùng địch kiểm soát có giai đoạn còn nặng về trừ gian, diệt ác, chưa đi sâu điều tra âm mưu và tổ chức của địch. Đặc biệt là công tác bảo vệ nội bộ có thời gian chưa được chú trọng đúng mức để địch lợi dụng cài cắm nội gián. Trong sử dụng “gián điệp đôi", có biểu hiện sử dụng tràn lan, không coi trọng nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn nên bộc lộ non kém và ấu trĩ, tạo cơ hội cho địch lợi dụng, gây khó khăn đối với các cơ quan kháng chiến. Thực tiễn cho thấy: Chống gián điệp là một trận tuyến đặc biệt, cần có nghiệp vụ chuyên môn, có lực lượng nòng cốt và được chuyên môn hoá để làm chức năng hướng dẫn phòng ngừa cũng như tổ chức đấu tranh.


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 03 Tháng Bảy, 2021, 08:50:28 pm
CHƯƠNG II
ĐẤU TRANH CHỐNG GIÁN ĐIỆP PHỤC VỤ NHIỆM VỤ
CHIẾN LƯỢC XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở MIỀN BẮC,
ĐẤU TRANH GIẢI PHÓNG MIỀN NAM,
HOÀN THÀNH SỰ NGHIỆP THỐNG NHẤT TỔ QUỐC
(1954-1975)


Sau khi Hiệp định Giơnevơ ký kết, đất nước ta tạm thời chia làm hai miền. Miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Miền Nam tiếp tục sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Cách mạng Việt Nam trong giai đoạn này đồng thời tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược: Tiếp tục hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam và tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Đế quốc Mỹ là kẻ thù chính, trực tiếp, trước mắt và lâu dài của dân tộc ta. Mỹ sử dụng bọn ngụy quyền tay sai; sử dụng các nước chư hầu, thành liên minh phản cách mạng điên cuồng tiến hành chiến tranh bằng mọi thủ đoạn xảo quyệt với bốn chiến lược: Chiến tranh đơn phương, chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ, Việt Nam hoá chiến tranh.


Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, nhân dân Việt Nam chấp nhận cuộc chiến đấu không cân sức với kẻ thù có tiềm lực mạnh nhất, âm mưu thâm độc nhất của thế kỷ thứ XX. Trước thử thách ngặt nghèo của lịch sử, cả dân tộc kết thành một khối, phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp, được cộng đồng quốc tế và nhân dân tiến bộ toàn thế giới ủng hộ; lần lượt đánh bại từng bước leo thang, từng chiến lược chiến tranh, đi đến đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước vào mùa xuân năm 1975; hoàn thành cuộc cách mạng giải phóng dán tộc, cả nước cùng bước sang thời kỳ cách mạng mới: Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Quá trình triển khai các bước leo thang chiến tranh, đế quốc Mỹ đã tập trung tối đa cho cuộc chiến tranh gián điệp đối với miền Bắc và miền Nam, hòng qua đó mở đường cho kế hoạch xâm lược hoàn toàn đất nước ta. Chúng đã huy động bộ máy tình báo, phản gián khổng lồ, dày dạn kinh nghiệm, được trang bị phương tiện khoa học kỹ thuật hiện đại nhất, với sự hợp lực của lực lượng quân sự Mỹ, bọn tay sai ngụy quyền và các nước chư hầu, tạo thành “Liên minh cộng đồng gián điệp Các cơ quan gián điệp của đối phương sử dụng mọi phương thức, tận dụng mọi điều kiện để tiến hành hoạt động gián điệp trên lãnh thổ nước ta. Chúng coi hoạt động gián điệp là cuộc chiến tranh bí mật mở đường cho vũ trang xâm lược cũng như duy trì ách thống trị.


Đối phó với âm mưu của kẻ thù, Đảng ta kiên định lập trường, tiếp tục xác định trận tuyến đấu tranh chống gián điệp là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; là một bộ phận khăng khít của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam.


1. Giai đoạn từ cuối năm 1954 đến cuối năm 1960

Ở miền Bắc: Theo Hiệp định Giơnevơ, miền Bắc được giải phóng, bước vào thời kỳ phục hồi và cải tạo xã hội; nhưng trận tuyến đấu tranh chống gián điệp lúc này vẫn diễn ra hết sức gay go phức tạp. Ngoài đối tượng cũ là cơ quan gián điệp Pháp, đặc vụ Tưởng, gián điệp Anh vẫn ráo riết hoạt động thì cơ quan gián điệp Mỹ dã chính thức thiết lập hệ thống hoạt động của mình ở hầu khắp các vùng trọng điểm, chiến lược và trở thành đối tượng chính.


Tháng 6-1954, CIA cử Edward Lansdale, trưởng Phái đoàn quân sự Mỹ (SMM) sang Sài Gòn làm cố vấn cho Ngô Đình Diệm; tháng 8-1954, trùm tình báo Lucien Conein ra Hà Nội, lập trụ sở cơ quan Phái đoàn quân sự Mỹ (SMM) tại Hà Nội và Hải Phòng. Tiếp theo, Speiman, trùm tình báo, chuyên gia dày dạn kinh nghiệm về di cư ở Triều Tiên được cử đến Hà Nội phối hợp với Doolley chỉ đạo chiến dịch dụ dỗ cưỡng ép đồng bào ta di cư vào Nam và xây dựng những đội quân ngầm vừa phá ta trước mắt vừa phá ta lâu dài. Chúng móc nối với những phần tử cầm đầu trong Đại Việt như Đặng Văn Sung, Cao Xuân Tuyên, Cao Xuân Trung; với bọn trùm phản động trong Thiên Chúa giáo như Phạm Ngọc Chi, Lê Hữu Từ, Võ Viết Hiền... tuyển bọn tay chân đưa ra nước ngoài huấn luyện để tung trở lại miền Bắc trong thời kỳ 300 ngày. Cùng với đưa tay chân ra nước ngoài huấn luyện gián điệp, chúng bí mật chôn giấu hàng chục kho vũ khí, súng đạn, máy vô tuyến điện ở các tỉnh Hồng Quảng, Hà Nội, Sơn Tây, Hải Phòng làm phương tiện hoạt động cho các đội quân ngầm sau này.


Ở các tỉnh vùng núi phía Bắc, từ năm 1953, cơ quan GCMA đã tuyển chọn hàng ngàn lính Commando, địa phương quân là người dân tộc đưa về trung tâm tại Hà Nội, Hà Đông, Sơn Tây huấn luyện phương thức hoạt động gián điệp biệt kích rồi tung về các tỉnh vùng núi Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Nghệ An, Thanh Hoá nhằm móc nối với các ổ nhóm phỉ, làm lực lượng nòng cốt để nổi phỉ chống lại cách mạng. Trước và trong thời kỳ chuyển quân tập kết, Pháp phối hợp với Mỹ tung vào vùng núi phía Bắc nước ta hơn 4.000 tên biệt kích GCMA, cài vào hàng chục hang ổ phỉ với tổng số khoảng 10.000 tên có đầy đủ vũ khí, lương thực, căn cứ hoạt động. Cũng trong thời gian này, Mỹ và Pháp phối hợp củng cố các tổ chức gián điệp trá hình đã có từ trước như “Đại chúng học vụ”, "Y tế lao động’’, “Bảo hiểm nhân thọ”, “Viễn đông Bác Cổ"; đặt dưới quyền điều hành của đại sứ Mỹ Donnall Heath. Tổ chức tình báo hỗn hợp Mỹ - Anh - Pháp mang tên Intelligen (CA DACIFIC) cũng được chuyển giao cho viên đại tá tình báo Mỹ Berlin phụ trách. Diễn biến hoạt động trên cho thấy Mỹ đã nắm hầu hết các tổ chức gián điệp của Pháp, Anh, thâu tóm để chỉ đạo; đồng thời Mỹ cũng đã thiết lập bộ máy chỉ huy, điều khiển mạng lưới gián điệp trên hầu khắp địa bàn trọng điểm ở miền Bắc và ráo riết xúc tiến kế hoạch nắm địa bàn Đông Dương.


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 04 Tháng Bảy, 2021, 07:54:53 pm
Tuy phải nhượng bộ Mỹ nhưng Pháp vẫn tiến hành nhiều hoạt động riêng rẽ bằng cách tiếp tục củng cố mạng lưới gián điệp sẵn có như toán TN25, H07. Các đầu mối gián điệp của Pháp thời kỳ này trực tiếp chịu sự chỉ huy của 15 cơ quan đại diện Pháp còn được tồn tại ở miền Bắc, trong đó quan trọng nhất là Tổng lãnh sự Pháp ở phố Nguyễn Chế Nghĩa do Doolley chỉ huy. Mạng lưới gián điệp thông qua số cha cố, giáo sĩ vẫn hoạt động ráo riết như Nguyễn Văn Vinh, Nguyễn Văn Thông, Lương Huy Hân, Heđê, Jacques, Denis... Số này được giao nhiệm vụ nắm các xứ, các địa phận trong Thiên Chúa giáo, vừa thực hiện âm mưu cưỡng ép đồng bào ta di cư, vừa cài cắm hoặc tạo vỏ bọc cho bọn gián điệp cài lại.


Thời kỳ 300 ngày là thời kỳ các cơ quan gián điệp Pháp, Anh, Mỹ hoạt động rất ráo riết. Thực tế chúng đã cài cắm khá nhiều điệp viên, chôn giấu được nhiều kho vũ khí và phương tiện để hoạt động lâu dài ở miền Bắc nước ta, trong đó tập trung chủ yếu ở các vùng được quy định chuyển quân tập kết thời hạn 100 ngày, 300 ngày như Hồng Quảng, Sơn Tây, Hà Nội, Hải Phòng.


Ở miền Nam: Mỹ công khai thế chân Pháp, dựng lên tập đoàn gia đình trị Ngô Đình Diệm, thẳng tay đàn áp các phe phái, tôn giáo thân Pháp, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ. Diệm sử dụng những phần tử phản động di cư vào Nam làm nòng cốt, lần lượt thôn tính các thế lực cạnh tranh, thiết lập “chính quyền công giáo'’, thực hiện chính sách “Tô Cộng, diệt Công'’ rộng khắp và tàn bạo, đánh phá vào hạ tầng cơ sở cách mạng đồng thời với truy bức về tinh thần trong mọi tầng lớp nhân dân toàn miền Nam.


Từ năm 1956, Mỹ chỉ đạo và hỗ trợ chính quyền Diệm thiết lập các cơ quan tình báo, an ninh khắp miền Nam: Mỹ điều hơn hai trăm nhân viên tình báo sang miền Nam, tăng số quân của phái bộ quân sự (MAAG) lên 3.500 tên; lập chi nhánh CIA ở miền Nam do Edward Lansdale chỉ huy. Ngô Đình Diệm thành lập cơ quan tình báo chiến lược với tên gọi "Sở Nghiên cứu chính trị xã hội" do Trần Kim Tuyến chỉ huy; lập "Ban công tác đặc biệt ở miền Trung" do Ngô Đình Cẩn trực tiếp chỉ đạo; lập "Ban công tác tinh thần" (sau đổi thành Ban phản gián - B42) trực thuộc Phủ Tổng thổng; lập Nha An ninh quân đội; Sở Tình báo quân đội; Bộ Công dân vụ. Sự ra đời của hệ thống các cơ quan tình báo, phản gián quân sự và dân sự càng làm cho đời sống chính trị, xã hội ở miền Nam ngột ngạt. Các cơ sở cách mạng của ta bị tổn thất nghiêm trọng, cách mạng miền Nam ở vào thời kỳ đen tối nhất bởi các cuộc tàn sát đẫm máu với chủ trương “Giết nhầm còn hơn bỏ sót” của Mỹ, Diệm.


Đảng ta sớm dự đoán được tình hình và dã tâm của Mỹ nên ngay từ năm 1950 đã xác định nhiệm vụ của cách mạng là “Đánh Pháp và can thiệp Mỹ". Tháng 7-1954, Đảng khẳng định rõ hơn tại Hội nghị Trung ương 6 khoá II: "Đế quốc Mỹ là kẻ thù của nhân dân thế giới và hiện nay đang trở thành kẻ thù chính, trực tiếp của nhân dân Dông Dương". Nghị quyết của Bộ Chính trị Trung ương Đảng tháng 9-1954 tiếp tục chỉ rõ nhiệm vụ cấp bách của Công an: “Nhiệm vụ của Công an là phải nhanh chóng chuyến hướng về tổ chức đấu tranh chống phản cách mạng". Trước diễn biến hoạt động của địch, lãnh đạo Bộ Công an quán triệt chỉ đạo của Đảng, nhanh chóng chuyền hướng công tác đấu tranh chống gián điệp ở miền Bắc, đồng thời cử đồng chí Viễn Chi làm đặc phái viên của Bộ trưởng lên đường vào Nam trực tiếp truyền đạt chỉ đạo của lãnh đạo Bộ. Đồng chí Viễn Chi vào tới Nam Bộ, làm việc với đồng chí Cao Đăng Chiếm, Mai Chí Thọ và đồng chí Phạm Hùng, thống nhất tư tưởng chỉ đạo đấu tranh chống phản cách mạng, nhằm bảo toàn lực lượng của Đảng, bảo vệ các cơ sở cách mạng trước sức tấn công tàn khốc của kẻ thù.


Ở miền Bắc, trước khi vào tiếp quản các thành phố, thị xã, Bộ Công an chỉ rõ: “Phải thiết lập trật tự cách mạng, đả kích bọn gián điệp, phản động...”, “Ra sức xây dựng cơ sở điều tra tìm hiểu những bọn tay sai địch cài lại và những âm mưu hoạt động của chúng... Nắm tình hình bọn gián điệp, đặc vụ, bọn tàn binh. Đặc biệt là danh sách, địa chỉ, lai lịch của chúng... chuẩn bị đặc tình có khả năng, có điều kiện theo địch". Thực hiện chỉ đạo của Bộ, một trong những công tác quan trọng được triển khai thời gian này là toàn miền Bắc đồng loạt tiến hành công tác đăng ký, quản lý hộ khẩu. Ngày 8-2-1956, Bộ ra Chỉ thị số 120/BVCT/P2 về “Công tác bảo vệ chính trị kết hợp với công tác đăng ký hộ khẩu”. Qua công tác quản lý công khai, lực lượng An ninh nắm được 12.000 đối tượng các loại trong đó có 230 sĩ quan, 2.480 hạ sĩ quan, 7.800 ngụy quyền; phát hiện 452 tên đã từng làm trong các cơ quan gián điệp, đặc vụ, 416 tên là chỉ điểm. Công tác quản lý hộ tịch, hộ khẩu đã hỗ trợ rất lốn cho lực lượng chống gián điệp tiến hành điều tra cơ bản, phát hiện đầu mối cài lại. Cùng với quản lý xã hội, Bộ chỉ đạo xây dựng quy chế, điều lệ quản lý người nước ngoài và công tác xuất nhập cảnh, qua đó nắm quan hệ của số gián điệp khoác áo ngoại giao, tu sĩ đang ở lại miền Bắc hoạt động.


Trong đấu tranh chống địch cưỡng ép di cư, Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số 91-CT/TW ngày 8-9-1954 và quyết định thành lập đoàn chống cưỡng ép di cư từ Trung ương đến địa phương. Hơn bốn trăm cán bộ Công an được cử tham gia các đoàn vừa làm công tác tuyên truyền, vừa nắm hoạt động của địch. Do vậy, phát hiện kịp thời nhiều tên gián điệp trà trộn vào các vùng công giáo, các khu tập trung, lừa phỉnh, cưỡng ép, buộc đồng bào ta phải ra đi. Đã phát hiện và trừng trị 23 tên ở xứ Thanh Hoá, Nghệ An; phá vụ án ở Ba Làng, Thanh Hoá, vạch mặt linh mục Nguyễn Duy Hiển, Võ Viết Hiền là tay sai của gián điệp Pháp. Do phối hợp chặt chẽ giữa chống cưỡng ép di cư với trừng trị bọn gián điệp nên không những hạn chế số đồng bào bị Mỹ ngụy dụ dỗ, cưỡng ép vào Nam, mà còn ngăn chặn Mỹ, Diệm cài cắm tay chân gây tình hình rối loạn ở miền Bắc và phá hoại nội bộ ta.


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 10 Tháng Bảy, 2021, 05:42:49 pm
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm và giành thắng lợi to lớn ở giai đoạn này là lực lượng An ninh đã khám phá hầu hết các ổ nhóm gián điệp do Mỹ, Anh, Nhật, Pháp, Tàu Tưởng cài lại. Do làm tốt công tác điều tra cơ bản, tập trung nắm tình hình ở các vùng mới tiếp quản và tổ chức trinh sát bí mật các khu vực theo quy định của Hiệp định do quân đội Pháp quản lý nên ta nắm được nhiều đầu mối gián điệp cài lại. Mạng lưới cơ sở ở các vùng địch kiểm soát như Hòn Gai, Hà Nội, Hải Phòng phát hiện hàng chục đối tượng nghi vấn gián điệp cài lại. Vụ Bảo vệ chính trị mạnh dạn điều toán gián điệp trong chuyên án TN25 từ Thái Nguyên về Hà Nội, Hải Phòng làm nhiệm vụ liên lạc với những đối tượng cài lại ở hai địa bàn trọng điểm này. Từ việc nắm tình hình các đối tượng, tháng 4-1955, Bộ Công an mở Hội nghị Bảo vệ Chính trị lần thứ II, xác định nhiệm vụ cơ bản của công tác trinh sát “Đánh mạnh vào những hoạt động của đế quốc Mỹ, Anh, Pháp do Mỹ cầm đầu và bọn chó săn của chúng là đặc vụ Tưởng... Tích cực phát hiện và thanh trừ những phần tử gián điệp, phản động ẩn nấp trong nội bộ cơ quan, trường học, công xưởng của ta”. Nghị quyết xác định 10 loại đối tượng phải điều tra nghiên cứu để tính toán từng biện pháp đấu tranh thích hợp. Năm 1957 Bộ mở Hội nghị Bảo vệ Chính trị lần thứ III, cuối năm tiếp tục mở Hội nghị Sưu tra và ra Nghị quyết sưu tra I, hướng dẫn về nghiệp vụ điều tra nghiên cứu, biện pháp đấu tranh và đối sách với từng loại đối tượng. Căn cứ Nghị quyết sưu tra, lực lượng chống gián điệp phối hợp chặt chẽ với các lực lượng liên quan và hệ thống chính quyền cấp cơ sở triển khai mạnh công tác “khoanh vùng đánh địch”, bóc gỡ cơ sở xã hội của gián điệp; truy bắt bọn gián điệp chui vào các tổ chức phản động. Trên cơ sở danh mục Sưu tra, lập danh mục đối tượng hiềm nghi, chuyên án, đã bố trí lực lượng trinh sát nội, ngoại tuyến, xây dựng cơ sở đi sâu điều tra từng đối tượng, vừa quản lý hoạt động của chúng, vừa phục vụ đánh địch lâu dài. Bộ xác định đối tượng chính tập trung điều tra là bọn 2B, SEH, SDECE, GCMA; bọn cầm đầu Đại Việt, số có chức sắc, lợi dụng tôn giáo; bọn ngụy quân, ngụy quyền có nhiều tội ác và bọn đặc vụ. Trọng tâm công tác điều tra nhằm vào các địa bàn địch tập kết rút quân, vùng chúng còn chiếm đóng; khu vực có nhiều tàn dư của ngụy quân ngụy quyền, vùng xung yếu. Do xác định đối tượng và địa bàn có trọng tâm, trọng điểm nên trong thời gian ngắn lực lượng An ninh đã căn bản làm rõ được hệ thống gián điệp cài lại cũng như một số đối tượng đang cộng tác với địch. Tại Hải Phòng đã phát hiện 18 đối tượng được cơ quan tình báo Mỹ đưa ra nước ngoài huấn luyện và đánh trở lại. Tại Hà Nội, phát hiện hàng chục đầu mối của bọn đặc vụ trong tổ chức “Quân thống", “Trung thống”, “Tổ hai quân uỷ hội'’; phát hiện bọn cầm đầu Đại Việt xây dựng mạng lưới tay sai chuẩn bị đón bọn gián điệp do Mỹ huấn luyện đánh trở lại. Qua giám sát tên Duyrăng, trinh sát Bảo vệ chính trị phát hiện Thụy An móc nối với nhóm “Nhân văn giai phẩm", kích động văn nghệ sĩ, sinh viên chống chính quyền. Công an Quảng Ninh đấu tranh thắng lợi chuyên án gián điệp cài lại AF110, bắt 5 đối tượng. Vụ Bảo vệ chính trị phát hiện nhân viên Ủy ban quốc tế là người Canada, Nam Dương; phát hiện cơ quan lãnh sự Pháp và tổng đại diện Pháp chỉ đạo bọn gián điệp cài lại; phát hiện một số đối tượng hiềm nghi chính trị có liên hệ với bọn gián điệp. Trong 3 năm, từ năm 1958 đến năm 1960, lực lượng An ninh tổ chức trinh sát 726 nhân viên trong các đoàn lâm thời, phát hiện một số đầu mối gián điệp cài lại; xác định rõ những mục tiêu chúng tìm cách xâm nhập để lấy cắp tin tức. Từ năm 1955 đến năm 1960, lực lượng An ninh tiến hành đấu tranh thắng lợi hàng chục chuyên án gián điệp, trong đó có các chuyên án điển hình như: M11, C30, H07, L550, KV58, TK90, TK04, KD27, VK21, GK16, DT11... Bắt tại Hải Phòng 32 vụ với gần 100 tên, Hà Nội 57 tên, Hải Dương 18 tên, Hồng Quảng 12 tên, Nam Định 14 tên, Thái Bình 10 tên... Đến năm 1960, về căn bản lực lượng chống gián điệp đã khám phá hoàn toàn các vụ gián điệp do Pháp, Mỹ, Anh, Tàu Tưởng cài lại; khai quật hàng chục kho vũ khí chôn giấu tại Hải Phòng, Hà Nội, Sơn Tây, Hồng Quảng, có kho gồm hàng trăm khẩu súng, hàng chục ngàn viên đạn cùng máy thông tin VTĐ. Phối hợp với các đoàn thể và chính quyền địa phương đẩy đuổi 26 tên gián điệp là người nước ngoài khoác áo tu sĩ, đập tan âm mưu kích động giáo dân chống chính quyền.


Trong các vụ ta đã khám phá, có hai vụ là TN25 và C30 là hai vụ điển hình, khẳng định bước phát triển vượt bậc về trình độ tổ chức, chiến thuật đánh địch cũng như công tác phối hợp và hiệp đồng tác chiến đạt đến trình độ cao. Ban chuyên án chủ động xâv dựng thế trận, chủ động triển khai các biện pháp nghiệp vụ, kết hợp nhuần nhuyễn giữa đấu tranh chống phản động với đấu tranh chống gián điệp, đưa cơ sở thâm nhập vào Trung tâm chỉ huy của địch; điều khiển chúng phải hoạt động theo sự sắp đặt của ta. Chuyên án C30 là trận đọ sức đầu tiên của cơ quan An ninh Việt Nam với cơ quan gián điệp Mỹ, đã phát triển thành chiến dịch phản gián hoàn hảo và giành thắng lợi to lớn.


Đối với GCMA tung vào sâu vùng núi cài cắm trong cộng đồng các dân tộc, lực lượng An ninh đã phối hợp với Công an vũ trang, Quân đội và nhân dân đồng loạt mở các chiến dịch tiễu phỉ, truy bắt gián điệp biệt kích. Vừa sử dụng lực lượng vũ trang truy quét, vừa lập án bắt bọn cầm đầu vừa gọi hàng nên từ năm 1955 đến năm 1959 đã giải quyết căn bản các vụ nổi phỉ, ổn định đời sống của cộng đồng các dân tộc anh em. Chỉ tính riêng vùng núi phía Đông sông Thao, đã diệt 1.983 tên, bắt 300 tên, gọi hàng 4.336 tên, thu 3.796 khẩu súng, trong đó có gần hai trăm tên GCMA, gần một trăm tên đặc vụ, là lực lượng nòng cốt của tổ chức phỉ. Hang ổ phỉ cuối cùng ở Đồng Văn được giải quyết cuối năm 1959, ta đã bắt và diệt hơn một trăm tên GCMA cùng với đặc vụ Tưởng. Trong đó một tổ trinh sát lấy danh nghĩa là người của Diệm từ Sài Gòn ra đã thâm nhập vào trung tâm chỉ huy của Vương Chí Thành, mưu trí điều ra ngoài để bắt 16 tướng phỉ cùng 12 tên GCMA và 7 tên đặc vụ Tưởng.


Lực lượng Bảo vệ chính trị phối hợp chặt chẽ với các tỉnh thuộc Khu IV cũ, đặc biệt là khu vực Vĩnh Linh, phát động phong trào “Bảo vệ trị an”, phát hiện điệp viên và tay sai của địch vượt tuyến ra Rắc. Từ năm 1956 đến năm 1960 ta đã bắt 216 gián điệp Mỹ, Diệm vượt tuyến, vượt biên, đấu tranh với 8 linh mục có liên quan hoặc che giấu bọn gián điệp, phản động.


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 11 Tháng Bảy, 2021, 06:38:19 pm
Song song với đấu tranh truy bắt bọn gián điệp cài lại, bọn vượt biên, vượt tuyến, lực lượng An ninh chủ động tăng cường công tác bảo vệ nội bộ. Tháng 10-1958, lực lượng Bảo vệ nội bộ được hoàn thiện về chức năng, nhiệm vụ. Ngoài lực lượng nòng cốt là Trinh sát bảo vệ nội bộ, các Ban bảo vệ chuyên trách ở cơ quan xí nghiệp, ban ngành cũng được củng cố và trở thành mạng lưới phòng chống gián điệp có bề rộng, có chiều sâu. Từ năm 1956 đến năm 1958, ta mở ba Hội nghị chuyên đề về bảo vệ kinh tế, vừa nhằm chống tham ô lãng phí vừa nhằm ngăn chặn mọi ngả đường xâm nhập vào mục tiêu của bọn gián điệp. Các lực lượng trinh sát chuyên ngành từ Trung ương đến địa phương được củng cố và thành lập mới như: Trinh sát ngoại tuyến, Trinh sát bảo vệ chính trị, Trinh sát kỹ thuật, Điều tra xét hỏi;... đều được củng cố về tổ chức mang tính chất, chuyên sâu, chuyên ngành rành mạch; công tác chỉ đạo thống nhất và tập trung; có quy định rõ cơ chế phối hợp tác chiến từ Trung ương đến địa phương.


Sáu năm sau khi Hiệp định Giơnevơ ký kết, cuộc đấu tranh chống gián điệp ở miền Bắc diễn ra vô cùng quyết liệt. Lực lượng An ninh đã phối hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chống gián điệp với đấu tranh chống phản động; phối hợp giữa công tác quản lý hành chính, công tác quản lý đối tượng nguy hại cho an ninh xã hội ở cơ sở nên đã góp phần đảm bảo an ninh chính trị được ổn định nhanh chóng khi miền Bắc vừa bước ra khỏi cuộc chiến tranh. Bước đầu công tác phòng và chống phản cách mạng nói chung, chống gián điệp nói riêng loại trừ căn bản cơ sở xã hội bọn gián điệp có thể lợi dụng; bẻ gãy nó lúc gây cơ sở ngầm của chúng trong âm mưu quay trở lại. Nhờ đó, khi mở rộng chiến tranh gián điệp ra miền Bắc, các điệp viên của Mỹ đã bị lâm vào tình thế thiếu cơ sở móc nối hoặc rơi vào chiến trường ta đã chuẩn bị sẵn.


Đối với miền Nam, sau khi thiết lập chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, cùng với tăng cường cố vấn và nhân viên tình báo cho chính quyền Diệm, Mỹ đầu tư tối đa cho Diệm xây dựng hệ thống Cảnh sát, mật vụ dày đặc khắp miền Nam. Cac cơ quan “Sở Nghiên cứu xã hội", “Đoàn công tác đặc biệt miền Trung" kết hợp với cơ quan Cảnh sát do Lê Quang Tung chỉ huy, tạo thành hệ thống đàn áp đẫm máu cũng như truy bức về tinh thần đến từng thôn, ấp, từng gia đình. Diệm áp dụng chính sách “Tố Cộng", “Diệt Cộng" theo luật 10/59 đồng thời thực hiện kiểu chiến tranh một phía với dã tâm lấp sông Bến Hải tiến ra Bắc.


Chủ động đối phó với âm mưu của địch, tháng 9-1954, Bộ Chính trị ra Nghị quyết về “Tình hình mới, nhiệm vụ mới và chính sách mới của Đảng" nhằm chuyển hướng lãnh đạo cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam phù hợp với bối cảnh lịch sử mới. Đối với công tác công an, lãnh đạo Bộ cử đồng chí Viễn Chi làm đặc phái viên của Bộ trưởng vào Nam truyền đạt chủ trương, sách lược đấu tranh chống phản cách mạng theo Nghị quyết của Trung ương: “Trong tình hình mới, Công an phải làm công tác tình báo, phản gián. Phải, hiểu địch từ nơi chúng xuất phát... chủ động đánh người vào cơ quan tình báo của địch, vào các tổ chức hoặc sử dụng người của địch đánh lại địch...". Tháng 10-1954, Xứ uỷ triệu tập Hội nghị Xứ uỷ và quyết định các tổ chức Đảng rút vào bí mật, lực lượng Công an chuyển hướng tổ chức và trực tiếp chịu sự chỉ đạo của Xứ uỷ. Cuối năm 1954,   các “Ban bảo vệ cấp ủy" được thành lập, đến đầu năm 1955, phát triển thành các “Ban địch tình” của Xứ uỷ, có hệ thống đến các khu, tỉnh vừa làm nhiệm vụ chỉ đạo các cơ sở điệp báo vừa làm nhiệm vụ bảo vệ tổ chức cơ sở Đảng, bảo vệ phong trào đấu tranh dưới sự lãnh đạo của Xứ uỷ. Với mô hình tổ chức mới, những đồng chí lãnh đạo ngành Công an chưa bị lộ và hầu hết lực lượng trinh sát được lệnh ở lại miền Nam tiếp tục hoạt động trong các “Ban địch tình của Đảng”.


Thời kỳ này, nhiệm vụ chủ yếu của “Ban địch tình” là nắm âm mưu, hoạt động khủng bố của địch để bảo vệ an toàn tổ chức cơ sở Đảng, bảo vệ phong trào cách mạng và chắp nối liên lạc. Bên cạnh đó, Ban địch tình cũng tổ chức đưa trinh sát và cơ sở thâm nhập vào lực lượng vũ trang Bình Xuyên, Hoà Hảo, trong hàng ngũ ngụy quyền, vừa nắm tình hình, vừa tác động tinh thần, thúc đẩy binh lính trở về với cách mạng. Một số vụ tập kích nhỏ vào trụ sở của địch, hoặc trừng trị những tên tay sai gian ác cũng đã được thực hiện. Song các hoạt động của “Ban địch tình” chưa đều và chưa đúng với đòi hỏi của cách mạng. Một số địa phương phát triển cơ sở không chọn lọc dẫn đến bị địch lợi dụng cài cắm tay chân, bóc gỡ cơ sở, đàn áp, gây tổn thất đáng kể.


Việc ra đời các “Ban địch tình", đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng là quyết định đúng và sáng tạo, đã đáp ứng kịp thời yêu cầu bảo vệ trong lúc phong trào cách mạng đang gặp rất nhiều khó khăn. Tuy hoạt động còn hạn chế, song các Ban địch tình là lực lượng nòng cốt phòng ngừa gián điệp, đặc biệt là nội gián để bảo vệ tổ chức cơ sở Đảng. Sau này, các “Ban địch tình” là lực lượng chủ yếu để thành lập lực lượng An ninh miền Nam.


Tóm lại: Giai đoạn 1954 đến 1960 là giai đoạn có tính chất bước ngoặt trong chỉ đạo và tổ chức đấu tranh chống gián điệp. Có thể rút ra một số vấn đề sau:

Thứ nhất: Đảng dự đoán đúng xu hướng phát triển của tình hình; xác định đối tượng chủ yếu cần tập trung đấu tranh là cơ quan gián điệp Mỹ cùng đồng minh của chúng. Từ dự đoán tình hình và xác định đối tượng đấu tranh đúng, Đảng chủ động tổ chức lực lượng, chủ động chuẩn bị chiến trường; đồng thời củng cố một bước lực lượng nòng cốt trên trận tuyến đấu tranh chống gián điệp; huy động lực lượng vũ trang và bán vũ trang với sự ủng hộ của quần chúng nhân dân triển khai có hiệu quả công tác "phòng'’ và “chống".

Vấn đề quan trọng có tính chất quyết định về sự sáng suốt và chủ động của Đảng ta là: Ngay khi vừa kết thúc cuộc kháng chiến chống pháp, Đảng đã xác định đúng đối tượng trước mắt và lâu dài của cách mạng Việt Nam; từng bước xác định đường lối đấu tranh; xác định những mặt công tác quan trọng nhất, chỉ đạo sâu sát, tổ chức lực lượng phòng, chống có bề rộng và có chiều sâu nhằm đánh bại âm mưu địch.


Thứ hai: Đây là giai đoạn lực lượng nòng cốt chống gián điệp phải đương đầu với các cơ quan tình báo, phản gián của Mỹ và tay sai. Chúng có lợi thế hơn ta về khoa học kỹ thuật, tài chính cũng như kinh nghiệm hoạt động; có lực lượng quân sự hùng hậu làm hậu thuẫn. Song do ta biết phát huy tinh thần cảnh giác của mọi tầng lớp nhân dân, hướng dẫn công tác phòng chống nên hạn chế được những ưu thế của địch. Trong đấu tranh ta đã chủ động chuẩn bị chiến trường đón đợi kẻ địch xâm nhập; chủ động cách đánh, không những chỉ làm chủ tình hình mà còn điều khiển Trung tâm địch phải hoạt động theo sự sắp đặt của ta. Chính vì thế, mặc dù kẻ địch dày công chuẩn bị và tập trung đầu tư cho chiến tranh gián điệp nhưng mạng lưới chúng cài cắm không chỉ bị vô hiệu hoá mà ta còn "tương kẽ tựu kế" và giành thắng lợi.


Thứ ba: Đây là giai đoạn điển hình về sự kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chống phản động với đấu tranh chống gián điệp; phá vỡ quy luật "câu móc" của hai loại đối tượng này. Ở nước ta, gián điệp và phản động câu móc với nhau không những chỉ là quy luật mà còn mang đặc thù riêng. Chống phản động là chống lực lượng hậu thuẫn của gián điệp; chống gián điệp là chặt đứt sự chỉ đạo và tài trợ của nước ngoài đối với bọn phản động. Ta triển khai đồng bộ công tác trấn áp phản động ngay sau hoà bình có ý nghĩa quan trọng, đã tạo ra địa bàn thuận lợi nhất để đối phó với gián điệp. Do đó, khi Mỹ, ngụy tung điệp viên ra miền Bắc hoạt động, chúng không còn chỗ dựa hoặc rơi vào chiến trường ta đã chuẩn bị và những bẫy nghiệp vụ ta giăng sẵn.


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 17 Tháng Bảy, 2021, 07:25:37 pm
2. Giai đoạn từ năm 1961 đến nửa cuối năm 1965

Cuối năm 1960, nhân dân miền Nam đồng loạt “đồng khởi”, võ trang chiến đấu và giành thắng lợi; Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ra đời, cách mạng miền Nam chuyển sang bước ngoặt mới. Cùng với miền Nam anh hùng, nhân dân miền Bắc lần lượt vượt qua mọi thử thách, từng bước ổn định an ninh chính trị, hoàn thành kế hoạch phục hồi và cải tạo xã hội. Tháng 9-1960, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III được tổ chức tại Hà Nội, Nghị quyết Đại hội xác định nhiệm vụ chiến lược chung của cả nước là: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà.


Thất bại trong chiến lược “chiến tranh đơn phương", cuối năm 1960, Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ (NSC) buộc phải quyết định leo nấc thang chiến tranh mới: Thông qua kế hoạch tình báo nhằm tăng cường tiềm lực, tăng cường sức mạnh hòng đè bẹp dân tộc Việt Nam. Cơ quan MAAG (Phái đoàn cố vấn viện trợ quân sự Mỹ) và USOM (Cơ quan viện trợ Mỹ), ở Sài Gòn soạn thảo “Kế hoạch chống nổi dậy" với tham vọng phá chiến tranh du kích, nắm lại các đảng phái chính trị, trí thức, tôn giáo để cô lập các tổ chức Đảng và phong trào cách mạng. Kế hoạch được Tổng thống Ken-nơ-đi thông qua tháng 1-1961. Tháng 4-1961, Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ xây dựng kế hoạch mang tên NSAN 52 với nội dung tăng cường quyền lực của phái đoàn cố vấn quân sự, triển khai lực lượng yểm trợ, đưa quân và thiết bị vào miền Nam. Theo đó, hơn bốn trăm lính “mủ nồi xanh" thuộc lực lượng đặc biệt được điều sang Việt Nam đóng tại Nha Trang. Lực lượng Bảo an từ 3 vạn tăng thành 6,3 vạn và đổi mới căn bản trang thiết bị. Mỹ thành lập đơn vị đặc biệt mang tên “Liên doàn 77", tiến hành huấn luyện phương thức gián điệp biệt kích cho dân vệ, địa phương quân hoạt động trên chiến trường miền Nam cũng như tung ra miền Bắc. Lực lượng đặc biệt Mỹ vừa độc lập tác chiến, vừa phối hợp với biệt kích ngụy, thành từng toán nhỏ cơ động, thọc sâu vào vùng đất nhân dân ta vừa làm chủ tiến hành tàn sát và bắt bớ.


Mỹ tài trợ và chỉ đạo cho ngụy thành lập “Phủ Đặc uỷ trung ương tình báo” hoạt động song song với “Sở Nghiên cứu chính trị xã hội”, “Nha Cảnh sát đặc biệt”, “Liên đoàn quan sát", Lực lượng đặc nhiệm” và hệ thống tình báo trá hình ở khắp các tỉnh. Năm 1960, chi nhánh CIA ở miền Nam có 200 nhân viên nhưng sang năm 1961 tăng lên 800 nhân viên; Mỹ lập thêm chi nhánh FBI; cố vấn và tài trở cho ngụy thành lập “Nha Cảnh sát quốc gia" vào năm 1962. Như vậy, để tiến hành “chiến tranh đặc biệt”, Mỹ, ngụy tập trung mọi cố gắng thiết lập hệ thống dày đặc các cơ quan gián điệp, phản gián; đầu tư tối đa và trang bị những loại phương tiện hoạt động hiện đại nhất cho lực lượng này. Đặc biệt, chúng tiến hành âm mưu vô cùng thâm độc là triển khai chiến lược "Tình báo đại chúng nhằm tình báo hoá các tầng lớp nhân dân ở miền Nam. Chúng sử dụng mọi loại người, mọi tầng lớp để thu thập tin tức đồng thời gây chiến tranh tâm lý, gây ra không khí thù địch, hoang mang, nghi kỵ trong mọi tầng lớp xã hội.


Vừa nỗ lực triển khai hoạt động ở miền Nam, Mỹ, ngụy vừa tập trung đào tạo và tung gián điệp ra miền Bắc, tiến hành phá hoại, tâm lý chiến và thu thập tin tức hòng làm cho miền Bắc suy yếu, không đủ sức chi viện cho miền Nam cũng như chuẩn bị điều kiện mở rộng chiến tranh ra miền Bắc. Các toán gián điệp con thoi được tung ra miền Bắc qua các ngả đường: Vượt giới tuyến, vượt biên giới Việt - Lào, trà trộn trong số con em cán bộ miền Nam ra Bắc, trong số người hồi hương về xây dựng Tổ quốc. Chúng còn sử dụng bọn đặc vụ Tưởng, Hoa Kiều, Đài Loan, nhân viên thường trú và lâm thời các nước tư bản, kể cả một số đối tượng thuộc các nước xã hội chủ nghĩa. Mục tiêu của chúng là móc nối cơ sở, thu thập tin tức về quân sự, kinh tế, chính trị; gây tâm lý chiến, kích động bạo loạn ở các vùng dân tộc và vùng đồng bào theo đạo Thiên Chúa.


Một trong những hướng tấn công của CIA, DIA và Tình báo Trung ương ngụy là từ năm 1957, chúng đã phát động cuộc chiến tranh gián điệp biệt kích đối với miền Bắc. Theo những nấc thang chiến tranh, chúng dần dần thiết lập ba trung tâm chỉ huy gồm: Sơ kỹ thuật, Sở liên lạc và Trung tâm Khăm Khao (Lào) với hàng chục khu huấn luyện để tung biệt kích ra miền Bắc, vùng giải phóng Lào cũng như chiến trường miền Nam. Từ năm 1961, Mỹ, ngụy ồ ạt tung biệt kích ra miền Bắc bằng ba phương thức xâm nhập: Đường không, đường biển và đường bộ (thậm thụt qua biên giới); nhằm vào các tỉnh vùng núi phía Bắc, dọc duyên hải (chủ yếu là khu IV cũ). Ngoài nhiệm vụ thu thập tin tức, phá hoại, biệt kích còn có nhiệm vụ móc nối với các tổ chức phản động xây dựng “khu an toàn", thực hiện phương châm “đánh Cộng sản trong lòng Cộng sản". Năm 1964, Mỹ thông qua kế hoạch 34A, xác định 72 loại hình hoạt động phá hoại miền Bắc, trong đó thành lập đơn vị SOG trực thuộc Bộ chỉ huy quân sự Thái Bình Dương, trực tiếp điều hành cuộc chiến tranh gián điệp biệt kích đối với miền Bắc.


Nhìn lại âm mưu và tổ chức triển khai hoạt động gián điệp, phản gián của Mỹ, ngụy giai đoạn này thấy rõ: Mỹ chủ động tăng cường hoạt động trên mọi lĩnh vực, tập trung đầu tư phương tiện và lực lượng nhằm giành thế chủ động về quân sự cũng như chuẩn bị điều kiện mở rộng chiến tranh. Chiến tranh gián điệp đã thực sự trở thành mũi nhọn, mở đường cho các bước leo thang quân sự của Mỹ. Được Mỹ tài trợ và chỉ đạo, ngụy quyền đã thiết lập và hiện đại hoá các cơ quan gián điệp cũng như phản gián trên khắp lãnh thổ, hoạt động ráo riết trên mọi lĩnh vực, biến nước ta thành chiến trường nóng bỏng nhất thế giới vào nửa cuối của thế kỷ XX cả về quân sự và gián điệp.


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 18 Tháng Bảy, 2021, 06:54:30 pm
Trước âm mưu, thủ đoạn hoạt động mới của địch, Đảng và Nhà nước ta kịp thời củng cố bộ máy tổ chức của các lực lượng tham gia đấu tranh chống gián điệp. Tháng 9-1961, Chính phủ ban hành Nghị định 132/CP, tổ chức lại ngành Công an. Theo Nghị định, các lực lượng nòng cốt làm công tác bảo vệ nội bộ, bảo vệ kinh tế, bảo vệ chính trị, trinh sát kỹ thuật được hoàn thiện một bước căn bản. Riêng lực lượng Bảo vệ chính trị được tăng cường, phát triển theo ngành dọc, đơn vị chỉ đạo cao nhất là Cục Bảo vệ chính trị (C61). Ngày 20-1-1962, Bộ Chính trị ra hai Nghị quyết 39/NQ-TW và 40/NQ-TW chỉ đạo về hai lĩnh vực quan trọng và cấp bách. Nghị quyết 39 về “Tăng cường công tác đấu tranh chống phản cách mạng để phục vụ tốt công cuộc đấu tranh nhằm thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà". Nghị quyết xác định đường lối đấu tranh chống phản cách mạng: “Đảng lãnh đạo, phát huy tinh thần yêu nước và ý thức cảnh giác cách mạng của nhân dân với sự hướng dẫn nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn”; xác định phương châm, nguyên tắc, chính sách trong đấu tranh chống phản cách mạng và nêu bốn nhiệm vụ cần kíp:

1- Đảm bảo thuần khiết nội bộ, bảo vệ nghiêm mật các cơ quan đầu não, xí nghiệp quan trọng, các đơn vị vũ trang thường trực.

2- Căn bản quét được các đối tượng phản cách mạng đã bộc lộ và tương đối bộc lộ ở miền Bắc.

3- Loại trừ khả năng bạo loạn của kẻ địch.

4- Căn bản nắm được tình hình gián điệp ẩn nấp trong nội bộ và ngoài xã hội.


Nghị quyết số 40 về “củng cố, tăng cường lực lượng Công an”. Nghị quyết xác định: “...Cuộc đấu tranh chống gián điệp và bọn phản cách mạng ngày càng gay go, quyết liệt, lâu dài. Cho nên, việc củng cố lực lượng Công an là một việc hết sức quan trọng và phải tiến hành một cách tích cực...”. Hai nghị quyết được ban hành cùng một ngày thể hiện Đảng ta chủ động hoạch định những vấn đề căn bản đối với nhiệm vụ đấu tranh chống phản cách mạng nói chung, chống gián điệp nói riêng; chú trọng củng cố, xây dựng lực lượng nòng cốt của cuộc đấu tranh, đảm bảo cho lực lượng nòng cốt vừa đáp ứng yêu cầu tham mưu, hướng dẫn vừa chiến đấu có hiệu quả trước quy mô, phương thức, thủ đoạn mới của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai.


Để chủ động xây dựng thế trận an ninh đổi phó với âm mưu mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, tháng 2-1960, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 186/CT-TW về quản lý, cải tạo những phần tử nguy hiểm cho an ninh xã hội. Tháng 12-1960, Bộ Công an ra Chỉ thị số 69/CT-P4 (kế hoạch 69), cụ thể hoá cách thức tổ chức thực hiện, xác định đối tượng cần tập trung cải tạo và cải tạo tại chỗ, quy chế phối hợp giữa cơ quan chuyên môn với chính quyền cơ sở. Hai Chỉ thị ra đời trong giai đoạn này có ý nghĩa to lớn, cho thấy công tác đấu tranh chống phản cách mạng được huy động cao nhất và triệt để nhất sức mạnh của chính quyền cơ sở và của cộng đồng. Kết quả của công tác cải tạo không chỉ giữ vai trò xoá bỏ cơ sở xã hội bọn gián điệp có thể lợi dụng mà còn nâng cao đáng kể tinh thần cảnh giác, nhận thức về địch, ta đối với các tầng lớp nhân dân. Do đó khi Mỹ, ngụy ồ ạt tung gián điệp, gián điệp biệt kích ra miền Bắc, chúng hầu như không còn chỗ dựa để ẩn náu và tổ chức hoạt động.


Đối với công tác tổ chức quần chúng tham gia phòng chống gián điệp, Trung ương Đảng đã ban hành nhiều chỉ thị, xác định cấp xã là địa bàn chiến lược và giao cho các Cấp uỷ Đảng cơ sở chịu trách nhiệm tổ chức lực lượng tham gia. Công an nhân dân chịu trách nhiệm vận động, hướng dẫn nghiệp vụ, xây dựng nội dung hoạt động cho phong trào “Bảo mật phòng gian", “Bảo vệ trị an". Nhờ đó, đã khơi dậy tinh thần yêu nước, ý thức cảnh giác cách mạng của cán bộ và nhân dân; nâng cao một bước kỹ năng phòng gian và trừ gian của các tầng lớp nhân dân ở mọi vùng miền. Sự đóng góp của quần chúng vì thế đã trở thành thế trận “thiên la địa võng", hỗ trợ đắc lực cho Công an phát hiện và đấu tranh với bọn phản cách mạng nói chung, bọn gián điệp nói riêng.


Đối với lực lượng nòng cốt đấu tranh chống gián điệp, căn cứ Chỉ thị số 20/CT/TW, ngày 22-6-1961, của Bộ Chính trị “về công tác phòng chống gián điệp biệt kích", lãnh đạo Bộ liên tiếp ra ba Chỉ thị (754, 755, 756) chỉ rõ cách thức tổ chức các lực lượng phối hợp, xác định chức trách, chế độ thông tin báo cáo, địa bàn trọng điểm trong phòng chống gián điệp biệt kích. Bộ quyết định thành lập “Đội chống gián điệp biệt kích", đặt tại Cục 61, đồng thời chỉ đạo Ty Công an trọng điểm thành lập tại Ty Công an “Tổ chống gián điệp biệt kích” để chỉ đạo và hướng dẫn phòng chống gián điệp biệt kích trên địa bàn từng tỉnh. Bộ liên tiếp mở Hội nghị về phản gián, Hội nghị bảo vệ nội bộ, Hội nghị ba chuyên đề nhằm nâng cao năng lực chỉ huy chỉ đạo, kỹ năng tác chiến cho lực lượng nòng cốt chống gián điệp, bảo vệ nội bộ, bảo vệ kinh tế.


Như vậy, ngay khi Mỹ, ngụy phát động “Chiến tranh đặc biệt", xúc tiến kế hoạch mở rộng hoạt động gián điệp ra miền Bắc thì Trung ương Đảng, Bộ Công an đã chủ động chuẩn bị chiến trường, tổ chức lực lượng và hoạch định biện pháp đấu tranh, sẵn sàng đón đợi kẻ thù.


Triển khai công tác cải tạo những phần tử nguy hại cho an ninh xã hội, Đáng chỉ rõ phương châm "kiên quyết và thận trọng"; Công an là nòng cốt, chính quyền các cấp, các cơ quan đoàn thể và quần chúng nhân dân từng xóm, từng bản phối hợp chặt chẽ; rà soát, lập danh sách đối tượng theo quy định của "kế hoạch 69". Trên cơ sở đó, cấp uỷ, chính quyền cùng với lực lượng Công an soát xét lần cuối mới ra quyết định đưa đi tập trung cải tạo hoặc cải tạo tại chỗ. Từ năm 1961 đến năm 1964 đã tập trung cải tạo 11.365 đối tượng là ngụy quân, ngụy quyền, gián điệp, chỉ điểm, đảng phái chính trị phản động. Qua công tác cải tạo, lực lượng An ninh phát hiện thêm nhiều nhen nhóm phản động và đầu mối gián điệp. Trong hai năm (1961, 1962) khám phá 32 tổ chức phản động, bắt 468 tên, trong đó có 11 tổ chức phản động lợi dụng đạo Thiên Chúa, gồm 90 tên. Thông qua công tác tập trung cải tạo và trấn áp các tổ chức phản động, lực lượng An ninh đã khám phá 50 vụ án gián điệp, bắt 277 tên gián điệp cài lại sau Hiệp định Giơnevơ. Trong đó có một số vụ điển hình được phát hiện thông qua kết quả trấn áp các tổ chức phản động và kết quả của công tác cải tạo như: Vụ Châu Thanh - gián điệp Mỹ câu kết với bọn phản động trong Thiên Chúa ở Nghệ An (1962); vụ linh mục Nguyễn Văn Thông (10-1964); vụ Nguyễn Phú Thọ; vụ GM65 ở Hải Phòng... Kết quả đấu tranh trong giai đoạn này đã được đồng chí Bộ trưởng khẳng định tại Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 20, năm 1965: "Đã căn bản hoàn thành công tác tập trung cải tạo, đã truy quét một số khá lớn những phần tử nguy hiểm cho an ninh xã hội, trừng trị mạnh mẽ những phần tử phản cách mạng hiện hành"1 (Báo cáo tổng kết tại Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 20, tháng 1-1964 - Trần Quốc Hoàn).


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 24 Tháng Bảy, 2021, 08:07:15 pm
Từ năm 1960, Đảng và Nhà nước kêu gọi kiều bào ở nước ngoài trở về xây dựng quê hương, đồng thời không ngừng mở rộng quan hệ ngoại giao trên trường quốc tế. Lợi dụng tình hình này, cơ quan gián điệp Mỹ xúc tiến mạnh phương thức gián điệp lâm thời, thường trú và trà trộn trong cộng đồng người Việt về xây dựng Tổ quốc. Lực lượng An ninh đã chủ động triển khai công tác nắm tình hình, phát hiện 8 điệp viên trà trộn trong số 20 ngàn Việt kiều trở về, đã lập án đấu tranh làm rõ đường dây hoạt động, mục tiêu xâm nhập của từng điệp viên. Trong đó chuyên án LH17 kéo dài 10 năm, ta khai thác được nhiều tin tức có giá trị từ Trung tâm chỉ huy của địch. Trên lĩnh vực đấu tranh chống gián điệp hoạt động theo phương thức lâm thời và thường trú, ta đã triển khai đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ, làm tốt công tác vận động quần chúng, tiến hành giám sát, bao vây không để cho các đối tượng xâm nhập mục tiêu, móc nối cơ sở, đặc biệt là các đối tượng quốc tịch Canađa, Ấn Độ, Pháp. Qua công tác trinh sát đã tham mưu cho Chính phủ, buộc Pháp phải rút 18 điểm là trụ sở đại diện đóng trên các địa bàn chiến lược về tập trung tại một địa điểm ở Hà Nội. Năm 1961, lực lượng An ninh thành lập đơn vị trinh sát 19-5 triển khai kế hoạch M1, M2, từ khống chế đường giao thông đến thực hiện hàng ngàn lượt trinh sát thâm nhập vào cơ quan thường trú của nước A2, thu được nhiều tài liệu có giá trị, giúp Đảng và Nhà nước nắm chắc âm mưu của kẻ thù. Tin tức thu từ hai kế hoạch M1, M2, còn giúp Đảng nắm được thực chất thái độ của một số nước xã hội chủ nghĩa đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta. Đặc biệt, lực lượng An ninh đã dự đoán được âm mưu và hoạt động của đối tượng X70, X77; tổ chức điều tra củng cố chứng cứ và tham mưu cho Đảng đề ra đối sách thích hợp với hai quốc gia có quan hệ chiến lược này.


Giai đoạn từ năm 1961 đến năm 1965 vừa là giai đoạn mở đầu, vừa là giai đoạn cao trào của cuộc đấu tranh chống gián điệp biệt kích do Mỹ, ngụy tung ra miền Bắc. Lực lượng An ninh quán triệt quan điểm chỉ đạo của Đảng, thực hiện "phòng" và “chống” với phương châm “giữ bên trong là chính, giữ bên dưới là chính”, “quét sạch nhà để đón khách không mời mà đến". Từ hai toán gián điệp biệt kích đầu tiên xâm nhập vào Sơn La và Hồng Quảng giữa năm 1961, Vụ Bảo vệ chính trị lập chuyên án PY27 và BK63 đấu tranh với chiến thuật “dùng người của địch, phương tiện của địch để đánh lại địch” - “Trò chơi nghiệp vụ" và đã nâng tầm chiến thuật đánh địch thành nghệ thuật. Quá trình đấu tranh, các Ban chuyên án khai thác được âm mưu tổng quát của Mỹ, ngụy, nắm được số biệt kích đang huấn luyện ở miền Nam, biết trước được những toán chúng sẽ tung ra miền Bắc để chủ động bố trí trận địa vây bắt các toán xâm nhập hoặc lập chuyên án dụ địch hoạt động theo kế hoạch của ta. Để chủ động truy bắt gián điệp biệt kích, không những ta thành lập những đơn vị trinh sát gồm nhiều binh chủng tham gia, phối hợp chặt chẽ với Công an nhân dân vũ trang mà còn chú trọng công tác hướng dẫn, tập dượt cho quần chúng tiến hành “'phòng” và “chống” biệt kích ngay tại địa bàn thôn, xã. Vì vậy đã xây dựng được thế trận phòng ngừa và đánh địch hoàn chỉnh, như thiên la địa võng đối với kẻ thù. Từ năm 1961 đến năm 1965, đã bắt 56 toán xâm nhập bằng đường không gồm 353 tên, thu hàng chục tấn vũ khí tối tân, phương tiện thông tin liên lạc hiện đại, thuốc chữa bệnh, lương thực, thực phẩm. Suốt 5 năm đấu tranh, lực lượng An ninh không để địch gây ra một vụ phá hoại nào, không để một điệp viên nào móc nối thành công với cơ sở của chúng ở trong nội địa. Ngày 5-8-1964, đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, cơ quan CIA chỉ thị cho điệp viên “Hạ Long" - Phạm Chuyên, xác định tọa độ, mục tiêu, chỉ điểm cho máy bay đánh phá vùng Đông Bắc và Hải Phòng. Song qua đầu mối Chuyên, lực lượng An ninh cung cấp cho địch những tin giả làm cho máy bay và tàu chiến không đánh phá trúng mục tiêu như chúng mong muốn. Giai đoạn đầu tiên của cuộc đấu mưu, đấu trí, lực lượng An ninh đã giành thế chủ động, điều khiển trung tâm địch hoạt động theo thế trận ta đã chuẩn bị sẵn. Đây là giai đoạn có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của các giai đoạn tiếp theo.


Ở miền Nam, để tăng cường công tác đấu tranh chống phản cách mạng, Trung ương Cục quyết định thành lập "Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam”, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Trung Ương Cục. Sang năm 1962, hệ thống Ban An ninh các tỉnh, huyện đã hoàn chỉnh và phát triển đến xã, ấp trong vùng ta kiểm soát. Cũng năm 1962, An ninh miền Bắc chi viện 260 cán bộ dày dạn kinh nghiệm cùng phương tiện thông tin liên lạc, giúp An ninh miền Nam thiết lập 5 cụm liên lạc bằng VTĐ trên toàn chiến trường, đảm bảo thông tin thông suốt giữa các khu với Trung ương Cục và với Bộ. Các lực lượng trinh sát Bảo vệ chính trị, Điệp báo, An ninh đô thị, Trinh sát vũ trang,... nhanh chóng được thành lập, được tăng cường quân số cũng như nghiệp vụ đáng kể do có sự chi viện tích cực của An ninh miền Bắc. Để đáp ứng yêu cầu bảo vệ Đảng, cơ sở cách mạng, Trung ương Cục ra Chỉ thị số 11/CTR giao cho lực lượng An ninh: “Xây dựng cơ sở phản gián trong nội bộ địch, chỉ đạo theo nguyên tắc: đơn tuyến, bí mật". Chỉ thị xác định: “Công tác phản gián là một công tác đặc biệt quan trọng... phải điều tra về tổ chức và hoạt động của gián điệp, chú trọng gián điệp Mỹ...”. Đối phó với hoạt động ráo riết, chồng chéo của hệ thống gián điệp Mỹ, ngụy, Trung ương Cục tiếp tục ra Chỉ thị số 69/CT, nhấn mạnh công tác chống gián điệp: “Hoạt động do thám gián điệp của địch là hoạt động chiến lược nhằm phục vụ âm mưu quân sự, chính trị của địch hòng tiêu diệt lực lượng cách mạng. Vì vậy, đánh bại hoại động gián điệp là nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa lớn làm thất bại chiến tranh đặc biệt của Mỹ". Đối với công tác điệp báo và an ninh đô thị, Trung ương Cục tập trung chỉ đạo và xác định rõ yêu cầu: phải nắm cho được âm mưu địch từ trung tâm xuất phát; giao cho lực lượng Trinh sát vũ trang, An ninh vũ trang, vừa nắm hoạt động của địch vừa tổ chức tập kích vào sào huyệt, các cơ quan chỉ huy đầu não của chúng. Lực lượng trinh sát nội tuyến chịu trách nhiệm bảo vệ nội bộ các cơ quan kháng chiến, ngăn chặn hoạt động gián điệp ở vùng ta kiểm soát. Qua thực tiễn đấu tranh, tháng 1-1963, Ban An ninh Trung ương Cục quyết định mở Hội nghị lần thứ nhất nhằm tập huấn nghiệp vụ, định hướng nhận thức cho lực lượng An ninh toàn miền. Hội nghị xác định: “Công tác chống gián điệp ở miền Nam hiện nay không phải là lấy nghiệp vụ kỹ thuật để đối phó với nghiệp vụ kỹ thuật của địch... điều mấu chốt là dùng lực lượng chính trị, dùng sức mạnh của quần chúng để đối phó. Có như vậy mới đảm bảo được thắng lợi".


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 25 Tháng Bảy, 2021, 04:49:22 pm
Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Ban An ninh Trung ương Cục, An ninh các khu, tỉnh củng cố một bước lực lượng Trinh sát chính trị và An ninh đô thị, tăng cường công tác chỉ đạo, hướng dẫn phong trào quần chúng ở vùng ta kiểm soát cũng như vùng còn đang bị địch khống chế. Ngày 28-8-1964, Trung ương Cục ban hành Chỉ thị số 03/CT: “Quy định nhiệm vụ an ninh là giáo dục và động viên sâu rộng tinh thần cảnh giác cách mạng trong toàn Đảng, toàn dân... Phát động và củng cố phong trào quần chúng bảo mật phòng gian đều khắp trong nội bộ và ngoài xã hội, liên tục đi vào chiều sâu trên cả ba vùng". Tháng 1-1965, Trung ương Cục ra Chỉ thị 3/6/CT, cụ thể hoá một số mặt công tác trọng tâm: “Tăng cường bảo mật phòng gian, tích cực và chủ động trừ gian, trấn áp do thám, gián điệp và phản động, đảm bảo trong sạch vùng giải phóng, vùng căn cứ...”. Năm 1964, miền Bắc tiếp tục chi viện cho An ninh miền Nam 500 cán bộ, số cán bộ chi viện được phân về các chiến trường trọng điểm, bố trí vào các vị trí chủ chốt ở các cấp từ khu đến huyện. Sự chi viện cán bộ cốt cán của An ninh miền Bắc đã góp phần thúc đẩy một bước về nghiệp vụ đánh địch, nâng cao hiệu quả chiến đấu của lực lượng nòng cốt chống gián điệp cũng như chỉ đạo phong trào “Bảo mật phòng gian”.


Để bảo vệ vùng giải phóng và căn cứ địa, bảo vệ tổ chức Đảng và phong trào cách mạng, lực lượng An ninh chú trọng công tác bóc gỡ mạng lưới gián điệp hoạt động ở khu vực “vành đai và vùng giải phóng. Trong đó tập trung phát hiện, bóc gỡ đầu mối nội gián. Kết quả tổng hợp từ 1961 đến 1965, đã khám phá 220 vụ nội gián, điển hình là bóc gỡ mạng lưới gồm 18 tên do tên Căn và Quýnh cầm đầu, chui vào tổ chức Đoàn thanh niên giải phóng ở Thủ Dầu Một. Năm 1962, An ninh Khánh Hoà phá hai tổ chức gián điệp hoạt động trong vùng căn cứ kháng chiến, bắt 131 tên. Lực lượng An ninh các tỉnh phối hợp với bộ đội địa phương bắt hàng trăm tên gián điệp do cơ quan tình báo Mỹ, ngụy tung ra hoạt động ở các khu hành lang, các tuyến đường giao thông liên lạc; vô hiệu hoá hàng ngàn cơ sở tai mắt của điệp viên trong các cộng đồng dân cư, các tổ chức xã hội, hàng ngũ phật tử.


Lực lượng Trinh sát chính trị, An ninh đô thị, An ninh vũ trang tích cực xây dựng mạng lưới cơ sở trong hàng ngũ ngụy quân, ngụy quyền và các đảng phái chính trị, thu được những tin tình báo giá trị giúp cho công tác phản gián có điều kiện phát triển. Hàng trăm đầu mối gián điệp, chỉ điểm đã được phát hiện trong giai đoạn này là nhờ các cơ sở trong nội thành, nội thị phát hiện. Đặc biệt là lực lượng Trinh sát vũ trang từ nông thôn đến thành thị đều ra sức trừ diệt bọn gián điệp chỉ điểm. Ở địa bàn thành phố, thị xã, ta có điều kiện và tập trung diệt trừ một số tên cầm đầu gian ác, sĩ quan tình báo, răn đe bọn tay sai chỉ điểm. Vùng nông thôn, lực lượng An ninh vũ trang tập trung diệt trừ bọn chỉ điểm ở xã, ấp, góp phần tạo đà cho quần chúng đứng lên diệt ác phá kềm. Phong trào diệt ác phá kềm vì vậy phát triển rộng khắp, hệ thống chính quyền cơ sở được mở rộng; hình thái chính quyền “đêm ta ngày địch” có bước phát triển. Đây là điều kiện quan trọng giúp lực lượng An ninh thâm nhập vào địa bàn, bám dân bám đất để hoạt động. Công tác đấu tranh chống gián điệp ở vùng ta kiểm soát kết hợp với công tác diệt ác phá kềm ở vùng địch kiểm soát, đã dần dần hình thành vùng đệm, tạo điều kiện để ta xây dựng được vành đai an toàn bảo vệ vùng giải phóng và căn cứ địa cách mạng.


Diễn biến tình hình trên có thể thấy, mặt trận đấu tranh chống gián điệp ở miền Nam giai đoạn này diễn ra trong bối cảnh lịch sử ngặt nghèo và vô cùng khó khăn. Đế quốc Mỹ là kẻ cầm đầu, thâu tóm toàn bộ các cơ quan tình báo gián điệp, cơ quan phản gián và đàn áp với sự hợp lực của lực lượng quân sự hùng hậu. Ngoài tiềm lực kinh tế, khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm hoạt động, chúng còn có thuận lợi cơ bản là chúng đang nắm chính quyền, có đủ điều kiện để chủ động hoạch định các âm mưu cũng như tổ chức hoạt động phục vụ yêu cầu chiến tranh. Trong khi đó, lực lượng cách mạng của ta vừa được phục hồi, đang bước đầu xây dựng; vừa phải bảo vệ mình trước sức tấn công tàn khốc của kẻ thù, vừa phải tổ chức đánh lại chúng trong điều kiện vật chất kỹ thuật, kinh nghiệm hoạt động còn rất hạn chế. Song chúng ta có thuận lợi căn bản là cuộc đấu tranh chống gián điệp được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đảng tổ chức lực lượng, huy động được tinh thần yêu nước, ý thức cảnh giác cách mạng của các tầng lớp nhân dân. Trong đấu tranh đã kết hợp giữa “phòng" và “chống”, kết hợp giữa sức mạnh của quần chúng với công tác nghiệp vụ của lực lượng nòng cốt để triển khai các hình thức đánh địch. Do có chủ trương đúng, tổ chức lực lượng đấu tranh thích hợp nên dù thua kém địch về nhiều mặt song thế của ta không ngừng lớn mạnh; cuộc đấu tranh diễn ra rộng khắp, ngay từ cấp cơ sở. Trong đó chủ trương đấu tranh chống gián điệp, chỉ điểm kết hợp chặt chẽ với phá kềm, phá chính quyền cơ sở của địch là chỉ đạo mang tính chiến lược, ngày càng phát huy thế mạnh của ta, khoét sâu yếu điểm của địch. Đây là mặt công tác được quán triệt, được chỉ đạo chặt chẽ và thực hiện thành công nhất ở giai đoạn này. Bọn gián điệp, chỉ điểm ở cấp cơ sở bị trừng trị hoặc lo sợ mà không dám hoạt động trước áp lực chính trị của quần chúng. Hệ thống chính quyền cơ sở của địch bị phá, đồng thời ta cũng xây dựng ngay hệ thống an ninh ấp, xã. Nơi nào chưa đủ điều kiện phá kềm, ta chủ trương biến chính quyền của địch thành chính quyền của ta hoặc “đêm ta ngày địch". Hình thức đấu tranh này không mới so với thời kỳ chống Pháp nhưng đã phát triển ở trình độ cao hơn, linh hoạt hơn và thích ứng với cuộc chiến tranh nhân dân của thời kỳ chống Mỹ.


Tóm lại: Từ năm 1961 đến năm 1965, cả nước bước vào cuộc chiến đấu quyết liệt với đế quốc Mỹ, đánh bại bước leo thang chiến tranh mới. Trên trận tuyến chống gián điệp, cuộc đấu tranh càng quyết liệt hơn bởi đế quốc Mỹ và tay sai triển khai đầy đủ các hệ loại gián điệp với quy mô lớn và ngày càng ráo riết trên khắp các vùng ở chiến trường miền Nam cũng như miền Bắc. Song Đảng đã chủ động đề ra những chủ trương đúng trên cơ sở dự đoán, dự báo đúng âm mưu và hoạt động của đối phương. Vì thế tổ chức lực lượng đấu tranh ở cả hai miền phù hợp với thực tế, phát huy được thế mạnh của ta, khai thác được điểm yếu của địch. Lực lượng Công an khẳng định được vai trò nòng cốt trên mặt trận đấu tranh; quần chúng nhân dân được tổ chức chặt chẽ trên cơ sở phát huy tinh thần yêu nước ý thức cảnh giác cách mạng, góp phần quan trọng xây dựng thế trận thiên la địa võng “bịt tai, che mắt" kẻ thù. Trong giai đoạn này có thể rút ra một số vấn đề sau:


Thứ nhất: Công tác đấu tranh chống gián điệp ở miền Nam gắn liền với phong trào đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang của quân và dân ta ở nông thôn cũng như thành thị. Đấu tranh chống gián điệp để bảo vệ tổ chức, bảo vệ cơ sở của Đảng hỗ trợ phong trào quần chúng, phá chính quyền cơ sở của địch. Đây là thắng lợi có ý nghĩa quan trọng, góp phần làm phá sản ở khâu quan trọng nhất của chiến lược “chiến tranh đặc biệt".


Giai đoạn này, công tác đấu tranh chống gián điệp đã thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trọng tâm là bảo vệ đường lối của Đảng, bảo vệ cơ quan đầu não và căn cứ cách mạng; hỗ trợ quần chúng ở vùng địch kiểm soát đứng lên phá kềm, xây dựng hệ thống chính quyền cấp cơ sở, hệ thống an ninh ấp, xã. Chống gián điệp đã kết hợp với hoạt động tình báo, nắm âm mưu và kế hoạch hoạt động của địch, tạo điều kiện để diệt trừ bọn tay sai ở cấp cơ sở, một số tên ác ôn khét tiếng.


Thứ hai: Quán triệt chủ trương của Đảng, lực lượng An ninh đã tiến hành đồng thời các biện pháp nghiệp vụ, kết hợp với tổ chức quần chúng; huy động được sức mạnh tổng hợp của toàn dân vào nhiệm vụ phòng và chống gián điệp ngay khi kẻ địch bắt đầu triển khai các kế hoạch tung gián điệp ra miền Bắc. Đã chủ động chuẩn bị trận địa đón đợi và đánh thắng các phương thức hoạt động gián điệp của đối phương, làm thất bại hoàn toàn âm mưu và hoạt động của chúng. Trong đấu tranh chuyên án, lực lượng An ninh tiếp tục áp dụng chiến thuật “dùnq người của địch, phương tiện của địch để đánh lại địch” thắng lợi và từng bước được nâng tầm thành nghệ thuật.


Đấu tranh chống gián điệp gắn liền với đấu tranh chống phản động, kết hợp chặt chẽ, đồng bộ và hỗ trợ đắc lực cho nhau. Đấu tranh chống phản động dẫn đến làm mất chỗ dựa, xoá bỏ cơ sở xã hội của bọn gián điệp. Trong giai đoạn này chúng ta đã tiến hành đồng thời hai mặt công tác với tinh thần kiên quyết và thận trọng nên không những giữ vững được bên trong, bên dưới mà còn tích cực tấn công kẻ địch, kể cả đưa người vào Trung tâm chỉ huy của địch tại Sài Gòn nắm âm mưu từ Trung tâm chỉ huy của chúng.


Thứ ba: Tiếp tục duy trì và phát triển ở trình độ cao hơn phong trào quần chúng tham gia phòng chống phản cách mạng. Vai trò của quần chúng biểu hiện rõ nét trong công tác cải tạo các phần tử nguy hại cho an ninh xã hội; công tác phòng gian và trừ gian, góp phần củng cố an ninh ở những địa bàn xung yếu quan trọng, làm mất những điều kiện gián điệp có thể lợi dụng để ẩn nấp và hoạt động. Phong trào quần chúng vừa có bề rộng, vừa có chiều sâu đã hình thành thế trận tương đối hoàn chỉnh phòng và chống phản cách mạng nói chung, gián điệp nói riêng. Phong trào ngày càng xuất hiện nhiều hình thức phong phú, nội dung thích hợp với từng vùng dân cư, địa bàn cụ thể nên tác dụng thực tiễn cao. Phong trào “Bảo vệ trị an", “Bảo mật phòng gian" không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với chống gián điệp mà còn là mặt hoạt động quan trọng đối với nhiệm vụ xây dựng miền Bắc vững mạnh, làm hậu phương vững chắc cho cách mạng miền Nam.


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 31 Tháng Bảy, 2021, 07:32:32 pm
3. Giai đoạn từ cuối năm 1965 đến cuối năm 1972

Từ năm 1965 đến năm 1972, Mỹ lần lượt thực hiện hai chiến lược chiến tranh là Chiến tranh cục bộ và Việt Nam hoá chiến tranh. Mục đích của hai chiến lược về căn bản không đổi, nhưng triển khai chiến lược sau trong thế yếu, thế thất bại so với chiến lược trước. Bình định vẫn là xương sống của hai chiến lược, nhưng thời kỳ Chiến tranh cục bộ là “tìm - diệt”, thời kỳ Việt Nam hoá chuyển sang “quét - giữ". Khi chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh thất bại cũng là khi đế quốc Mỹ phải rút khỏi Việt Nam theo Hiệp định Pari.


Đặc điểm cơ bản của chiến lược “Chiến tranh cục bộ” là: Mỹ ồ ạt đưa lực lượng lớn các binh chủng và khí tài vào miền Nam cùng với ngụy quân tham chiến. Lợi dụng thế mạnh về quân sự, từ tháng 8-1965, Mỹ - ngụy liên tục mở các chiến dịch càn quét lớn, dài ngày vào vùng hành lang và căn cứ của ta với ý đồ “đánh gẫy xương sống Cộng sản", “quét sạch du kích", mở rộng vùng kiểm soát ra nông thôn, mua chuộc các tầng lớp tay sai, tổ chức bộ máy tề điệp rộng khắp trong các tầng lớp nhân dân. Cùng với tăng cường hoạt động quân sự ở miền Nam, đế quốc Mỹ mở rộng quy mô, cường độ đánh phá ra miền Bắc bằng không quân và hải quân với dã tâm “đưa miền Bắc trở lại thời kỳ đồ đá”.


Để mở đường cho bước leo thang quân sự, Mỹ, ngụy tập trung củng cố, tăng cường lực lượng tình báo chiến lược và chiến thuật, quân sự và dân sự. Tổ chức tình báo quân sự CSC được thành lập, đặt Trung tâm chỉ huy tại Vũng Tàu, phát triển hệ thống theo chiều dọc tới cấp Trung đoàn của quân Mỹ. Ngụy quân thành lập “Biệt đội sưu tầm” trực thuộc F2 Bộ tổng tham mưu, Biệt đội sưu tầm có nhiệm vụ thọc sâu vào vùng giải phóng, căn cứ cách mạng như: chiến khu Đ, chiến khu Dương Minh Châu, khu vực căn cứ Tây Ninh, K5, K6, K9. Mỹ tăng viện trợ, bổ sung trang thiết bị, tăng cường sức chiến đấu cho cảnh sát dã chiến; đưa lực lượng cảnh sát từ 26.000 tên lên 72.800 tên.


Cơ quan CIA triển khai đầu mối xuống đến xã, ấp dưới danh nghĩa trá hình “Cơ quan phối trí an ninh bình định”, “Dân ý vụ"... phân loại dân chúng (phân chia tầng lớp nhân dân thành 17 loại), vừa thu tin tình báo vừa tiến hành tâm lý chiến, chiêu hồi, chiêu hàng và cài cắm nội gián. CIA củng cố thêm một bước các tổ chức an ninh, tình báo ngụy, tăng biên chế lên gần 15 vạn tình báo viên chuyên nghiệp, đưa những tên cốt cán ra nước ngoài tu nghiệp hoặc huấn luyện cấp tốc dưới danh nghĩa tham quan, nghỉ mát, chữa bệnh. Các tổ chức tình báo ngụy phát triển dày đặc, chúng cài nhân viên vào các cơ quan của ngụy quyền, ngụy đảng, các lực lượng chính trị, tôn giáo để quét vét cơ sở của ta. Tổ chức các ổ, dây do thám chốt giữ tuyến giao thông, xây dựng các kế hoạch nội gián đánh vào hàng ngũ cách mạng, hòng thực hiện chủ trương: “Muốn thắng Cộng sản không những phải đánh tan chủ lực mà còn phải tiêu diệt cho được hạ tầng cơ sở cách mạng".


Khi chuyển sang chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”, Mỹ - ngụy chuyển hướng hoạt động tình báo vừa để giành dân, chiếm đất, vừa chuẩn bị cho kế hoạch hậu chiến. Chúng không chỉ giữ nguyên quy mô, mức độ như thời kỳ "Chiến tranh cục bộ" mà còn triển khai hàng loạt kế hoạch mới. Trong đó, các cơ quan tình báo Mỹ ngụy đặc biệt chú trọng phương thức nội gián với hàng loạt kế hoạch lớn như: “Kế hoạch Bảo quốc”, “Kế hoạch Hải Yến”, “Kế hoạch P86"..:, thành lập “Biệt đội Thiên Nga” do CIA trực tiếp chỉ đạo, phát triển cơ sở trong lực lượng cảnh sát các cấp, chuyên trách thu thập tin tức và chui vào nội bộ ta. Mỹ, ngụy áp dụng chủ trương “Bốn mạnh dạn": Mạnh dạn khai thác hết số người bị bắt, đầu hàng, đầu thú; mạnh dạn khống chế; mạnh dạn giao việc; mạnh dạn tung trở lại hàng ngũ cách mạng. Cuối năm 1968, Tổng thống Thiệu ban bố sắc lệnh 280A/TT/SL, thành lập “Uỷ ban Phượng Hoàng”, là chương trình tình báo quốc gia lớn nhất miền Nam với mục đích tình báo hoá toàn bộ hệ thống chính quyền ngụy ở tất cả các cơ quan từ Trung ương đến cơ sở. Cấp trưởng của hệ thống chính quyền là Chủ tịch Uỷ ban Phượng Hoàng; CIA trực tiếp chỉ đạo và làm cố vấn cho từng cấp. Đây là kế hoạch tình báo tổng hợp giữa quân sự và dân sự, tồn tại từ tháng 7-1968 cho đến khi ngụy quyền Sài Sòn sụp đổ hoàn toàn.


Đối với miền Bắc, Mỹ - ngụy dùng mọi thủ đoạn, sử dụng mọi loại phương tiện để triển khai hoạt động gián điệp: Sử dụng hệ thống vệ tinh, máy bay trinh sát, cây nhiệt đới, nghe trộm điện thoại... Sử dụng các nhân viên lâm thời, thường trú là đồng minh của Mỹ và các nước phụ thuộc vào Mỹ để móc nối cơ sở, thu thập tin tức về chính trị, quân sự, kinh tế xã hội; về viện trợ của Liên Xô, Trung Quốc đối với nước ta. Cài gián điệp vào hàng ngũ lưu học sinh, cán bộ miền Nam ra Bắc học tập, công tác; đánh nội gián vào hàng ngũ cán bộ quân sự, dân sự dưới dạng lạc ngũ, mất tích, trao trả. Ngoài tung gián điệp biệt kích vào sâu trong đất liền, Mỹ - ngụy còn sử dụng tàu cao tốc bắt cóc ngư dân khai thác, giao nhiệm vụ rồi đánh trở lại; sử dụng “Người nhái” thuộc lực lượng Biệt Hải, thâm nhập vùng duyên hải phá hoại cầu cống, cơ sở vật chất.


Thời kỳ này không chỉ Mỹ và tay sai tổ chức hoạt động gián điệp ở miền Bắc, mà điệp viên của một số nước, kể cả các nước xã hội chủ nghĩa cũng ráo riết hoạt động nhằm điều chỉnh quan điểm, đường lối của Đảng ta theo định hướng của họ. Trong đó chủ yếu là điệp viên của X77 và X70, họ đã xây dựng cơ sở, móc nối với nhiều đối tượng trong cơ quan lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước và lực lượng vũ trang. Như vậy, ở giai đoạn này, hoạt động gián điệp đối với nước ta vô cùng quyết liệt về mức độ và quy mô với nhiều đối tượng khác nhau. Trong đó, đối tượng X70, X77 phát triển mạnh theo chiều hướng chủ yếu là nhằm vào nội bộ ta và hoạt động nội gián. Song đối tượng chính, nguy hiểm nhất vẫn là đế quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng.


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 01 Tháng Tám, 2021, 07:08:36 pm
Đối phó với âm mưu và hoạt động của địch, tháng 3-1965, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị 145/CT-TW về “Giữ gìn an ninh miền Bắc, đối phó bước leo thang mới của đế quốc Mỹ”. Tiếp theo, Trung ương Đảng ra Chỉ thị 125/CT-TW vê “Tăng cường giữ gìn an ninh ở miền Bắc, kiên quyết đánh bại âm mưu hoạt động gián điệp và phản cách mạng khác trong tình hỉnh chiến tranh phá hoại”. Hai chỉ thị đều xác định những công tác cấp bách về tổ chức lực lượng phòng chống, đối sách với các đối tượng phản cách mạng và cơ quan tình báo nước ngoài. Trung ương Đảng giao cho Bộ Công an củng cố hồ sơ, đưa một số vụ gián điệp ẩn nấp, gián điệp biệt kích ra xử công khai để phục vụ công tác ngoại giao và nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng cho nhân dân. Đối với cuộc đấu tranh chống gián điệp biệt kích, Trung ương Đảng nhấn mạnh vai trò của quần chúng, xác định cấp xã là địa bàn chiến lược, lực lượng tại chỗ là cơ bản và chỉ rõ tại Chỉ thị số 145/CT: “Muốn giành chủ động trong cuộc đấu tranh trước hết phải nắm được tình hình và chuẩn bị chiến trường. Muốn làm được như vậy, từng địa phương phải nghiên cứu tình hình chính trị và địa lý từng vùng, phát hiện những địa bàn nào biệt kích có thể xâm nhập, kiểm tra kỹ đối tượng ở địa bàn đó để nhận định khả năng biệt kích có thể xâm nhập ở đâu, bọn này sẽ về, khi về liên lạc với bọn nào"; Chỉ thị 125CT- TW xác định: “Trong cuộc đấu tranh chống gián điệp biệt kích nói riêng, chống phản cách mạng nói chung, vai trò của cấp xã là hết sức quan trọng, có một ý nghĩa chiến lược, vì vậy cần chú trọng củng cố tổ chức Đảng, chính, quyền xã, Công an, xã đội, dân quân... để cho các tổ chức ấy có thể lãnh đạo nhân dân đánh địch”. Quán triệt các chỉ thị của Đảng, Bộ Công an xây dựng nhiều kế hoạch phòng ngừa, truy lùng gián điệp biệt kích cho từng địa bàn: rừng núi, vùng biển, vùng Thiên Chúa giáo, vùng tề ngụy; truy lùng ban ngày, ban đêm; truy lùng khi có trăng, khi không có trăng... phổ biến đến từng người dân, xây dựng phương án và tổ chức tập dượt thuần phục. Để đối phó với gián điệp hoạt động theo phương thức P86, lãnh đạo Bộ Công an đã tham mưu cho Đảng và ban hành chỉ thị hướng dẫn đấu tranh: “Công tác đấu tranh chống phương thức này hết sức phức tạp... phải kiên trì giáo dục thuyết phục, phân hoá để họ tự khai báo, chỉ trinh sát với những phần tử ngoan cố, làm tay sai cho địch. Trong từng trường hợp có thể lập kế hoạch phái khiển đánh trở lại".


Đến năm 1965, Trung ương Đảng và Bộ Công an đã hoạch định tương đối hoàn chỉnh và sát hợp về phương hướng, giải pháp, quy mô đấu tranh cũng như đối sách với từng phương thức gián điệp. Sự chỉ đạo của Đảng, của Bộ cho thấy chúng ta đã chủ động chuẩn bị chiến trường, chủ động bố trí lực lượng, sẵn sàng đánh bại cuộc chiến tranh gián điệp. Công tác chuẩn bị chiến trường được tập trung vào những vấn đề mấu chốt quyết định đến thắng lợi là: Tiếp tục cải tạo những phần tử nguy hiểm cho an ninh xã hội, làm mất chỗ dựa của gián điệp; xác định phòng và chống phải kết hợp chặt chẽ, hỗ trợ cho nhau; xác định địa bàn cấp thôn, xã là địa bàn chiến lược, lực lượng tại chỗ là lực lượng cơ bản.


Để chủ động chuẩn bị thế trận, lực lượng An ninh tập trung tham mưu cho Đảng bố trí lực lượng triển khai đồng bộ công tác phòng ngừa, đồng thời tập trung giải quyết những công tác cấp bách và chiến lược. Từ năm 1965 đến năm 1972, toàn miền Bắc tập trung hoàn thành công tác cải tạo những phần tử nguy hại cho an ninh xã hội, xoá bỏ cơ sở quan trọng nhất bọn gián điệp có thể móc nối. Lực lượng An ninh triển khai công tác sưu tra chính trị, phân loại đối tượng, xây dựng cơ sở tiếp cận, theo dõi chặt di biến động của số đối tượng hiềm nghi; tiếp tục đấu tranh với các tổ chức phản động hiện hành, ngăn chặn âm mưu bạo loạn của các tổ chức manh động chống chính quyền. Thông qua kết quả công tác sưu tra, công tác đấu tranh chống phản động, ta phát hiện và truy quét hầu hết số đầu mối gián điệp đã móc nối với bọn phản động. Đã tổ chức đấu tranh thắng lợi 10 chuyên án gián điệp cài lại, bắt 38 đối tượng. Đây là một thắng lợi lớn, là kết quả của công tác điều tra nghiên cứu; kết quả của quá trình phối hợp chặt chẽ giữa chống phản động với chống gián điệp.


Đối với số gián điệp xâm nhập qua giới tuyến và biên giới, xâm nhập bằng đường biển hoặc từ miền Nam qua nước khác để vào miền Bắc, ta phối hợp đồng bộ giữa biện pháp trinh sát với quản lý công khai, nắm chắc di biến động của đối tượng, đồng thời bảo vệ mục tiêu chặt chẽ, không cho chúng tiếp cận. Qua đó đã phát hiện 295 đối tượng gồm 263 tên vượt tuyến 20 tên vượt biên, 8 tên xâm nhập bằng đường biển, 4 tên nhập cánh công khai. Qua khai thác, xác định 125 tên thuộc quân báo, 170 tên thuộc tình báo. Lực lượng An ninh đã tổ chức đấu tranh 32 chuyên án, bắt nhiều đối tượng, trong đó có điệp viên tạo vỏ bọc là con một cán bộ cao cấp từ miền Nam ra Bắc học tập, đã lọt vào gia đình đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng. Do quần chúng nhân dân cảnh giác cao độ nên nhiều tên vừa xâm nhập đã bị phát hiện thông qua nhận xét về ngôn ngữ thái độ ứng xử. Từ năm 1965, đông đảo bà con Việt kiều ở nước ngoài về Tổ quốc tham gia xây dựng đất nước, cơ quan tình báo Mỹ, ngụy lợi dụng cài điệp viên trong số các đoàn người trở về. Lực lượng An ninh thực hiện phương châm: Trường kỳ trinh sát và sử dụng đồng bộ các biện pháp nội tuyến, ngoại tuyến, kỹ thuật với từng đối tượng, đã xác định 111 đối tượng hiềm nghi và tổ chức đấu tranh 8 chuyên án. Tin tức thu được trong quá trình đấu tranh giúp lực lượng An ninh nắm được âm mưu, thủ đoạn của cơ quan tình báo địch; có chuyên án ta sử dụng điệp viên của địch để đánh trở lại thành công. Phối hợp chặt chẽ với Quân đội, tổ chức Đảng các cấp, chính quyền địa phương, lực lượng An ninh bóc gỡ toàn bộ số đối tượng hoạt động theo phương thức P86. Do làm tốt công tác giáo dục, đa số đối tượng khi trở về miền Bắc đã tự nguyện khai báo và tự nguyện đình chỉ hoạt động. Lực lượng An ninh lập án đấu tranh với 71 tên cố tình che giấu, tiếp tục làm tay sai cho địch, làm rõ tội trạng và xử lý với các hình thức: truy tố trước pháp luật hoặc giao cho cơ quan, đơn vị, chính quyền địa phương quản lý giáo dục.


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 07 Tháng Tám, 2021, 05:05:49 pm
Đấu tranh với đối tượng hoạt động theo phương thức lâm thời và thường trú giai đoạn này diễn ra hết sức quyết liệt và có độ nhạy cảm cao. Ngoài gián điệp Mỹ và đồng minh của chúng, đối tượng thuộc một số nước khác, đặc biệt là X70, X77 cũng hoạt động ráo riết và vô cùng nguy hiểm; tập trung ở địa bàn Hà Nội. Vụ Bảo vệ Chính trị phối hợp chặt chẽ với Công an Hà Nội, xây dựng thế trận an ninh nhân dân, bao vây, phong toả các cơ quan cố định và lâm thời; quản lý di biến động của nhân viên các cơ quan này. Trinh sát Bảo vệ Chính trị phối hợp với các lực lượng trinh sát chuyên ngành, triển khai các biện pháp trinh sát tổng hợp, điều tra 321 đối tượng là tay sai của cơ quan tình báo Mỹ. Quá trình điều tra đã xác định được 48 đối tượng hiềm nghi và đưa 261 đối tượng vào diện đấu tranh chuyên án. Qua đó làm rõ một số cơ quan cố định là trụ sở liên lạc và hang ổ hoạt động gián điệp của cơ quan tình báo Mỹ. Tiếp tục triển khai thành công kế hoạch trinh sát bí mật M1, M2 thu được nhiều tài liệu về âm mưu, chủ trương của một số nước về cuộc kháng chiến chống Mỹ của ta; nắm được ý đồ của họ đối với cuộc hội đàm bốn bên tại Pari. Cũng trong thời kỳ này, lực lượng An ninh thành lập đơn vị chuyên trách đấu tranh với đối tượng X70 và X77. Quá trình đấu tranh ta khám phá âm mưu của hai cơ quan đặc biệt X70, X77; phát hiện chúng móc nối nhiều cơ sở là cán bộ cao cấp trong nội bộ Đảng, Quân đội, cơ quan thiết yếu quan trọng nhằm điều chỉnh quan điểm của Đảng ta chịu sự ảnh hưởng của họ và tổ chức lật đổ. Lực lượng An ninh kịp thời phá án, xử lý các đối tượng, vừa đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, vừa đáp ứng chính sách ngoại giao phục vụ cho cuộc kháng chiến chống Mỹ.


Từ năm 1965 đến khi Hiệp định Pari được ký kết, Mỹ, ngụy vẫn duy trì cuộc chiến tranh bí mật, tung gián điệp biệt kích ra miền Bắc, tuy mức độ có giảm. Lực lượng An ninh tiếp tục đấu mưu đọ trí với trung tâm địch qua vô tuyến điện theo kiểu "Trò chơi nghiệp vụ”, điều khiển Trung tâm địch hoạt động theo sự sắp đặt của mình. Ngoài các toán do ta chủ động điều ra Bắc trong các chuyên án để bắt, lực lượng An ninh còn nắm được thời gian, địa điểm các toán và số biệt kích sẽ xâm nhập. Do vậy hầu hết các toán gián điệp biệt kích tung ra miền Bắc bằng đường không đều bị bắt gọn cùng toàn bộ phương tiện và hàng hoá. Cơ quan SOG, CIA, DIA và tình báo ngụy hoàn toàn thất bại trong trong quá trình thực hiện phương thức này hơn 10 năm. Từ năm 1961 đến năm 1973, lực lượng An ninh tổ chức đấu tranh 21 chuyên án, câu nhử để bắt 28 toán gồm 127 tên. Tổng kết thắng lợi trong đấu tranh chống gián điệp biệt kích, toàn miền Bắc đã bắt và diệt 103 toán; gồm 856 tên; đánh đuổi 75 toán Biệt Hải và 175 toán xâm nhập qua biên giới Việt Lào, thu hơn 100 tấn lương thực thực phẩm, quân trang, quân dụng, hàng chục tấn vũ khí hiện đại nhất lúc bấy giờ, 6 tấn thuốc nổ C4, 3 tấn máy thông tin. Lực lượng Bảo vệ Chính trị ở các tỉnh duyên hải đã tiến hành thẩm tra, xác minh 1.430 ngư dân đi đánh cá ngoài biển bị địch dùng tàu cao tốc, bắt khai thác, giao nhiệm vụ và đánh trở lại. Qua đó làm rõ (593 người nhận nhiệm vụ của địch trở về miền Bắc hoạt động.


Để góp phần vạch trần âm mưu của địch cũng như giáo dục ý thức cảnh giác cho mọi tầng lớp nhân dân, ta đưa 30 vụ ra xử công khai (3 vụ tuyên truyền rộng rãi ở trong nước và nươc ngoài); đưa các tang vật thu được của cuộc chiến tranh gián điệp biệt kích triển lãm tại 661 điểm trên miền Bắc, thu hút hơn 4 triệu lượt người đến xem.


Kết quả đấu tranh chống gián điệp giai đoạn 1965-1972 ở miền Bắc là kết quả của quá trình tích luỹ kinh nghiệm, trường kỳ trinh sát, mưu trí sáng tạo của lực lượng nòng cốt; là tinh thần cảnh giác cao độ của nhân dân và cán bộ nhân viên các cơ quan đơn vị trong phong trào “bảo mật phòng gian", "bảo vệ trị an". Với những chiến công đạt được trong giai đoạn này, lực lượng An ninh xứng đáng là lực lượng nòng cốt quan trọng của Đảng, góp phần vào nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ miền Bắc - hậu phương lớn của miền Nam.


Tại chiến trường miền Nam, đối phó với âm mưu của địch, Trung ương Cục đã để ra chủ trương tổng quát về công tác an ninh: “Triển khai sâu rộng công tác an ninh ở cả ba vùng chiến lược; phục vụ phá bình định, bảo vệ Đảng, bảo vệ an ninh vùng giải phóng; chuẩn bị điều kiện và lực lượng phục vụ các cuộc tống tiến công lớn". Để đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh mới, Trung ương Cục chủ trương kiện toàn một bước lực lượng An ninh. Trong hai năm, vừa chiến đấu, vừa kiện toàn tổ chức, tăng cường cán bộ; đến năm 1967, tổ chức An ninh từ Trung ương Cục đến các khu, các tỉnh và cấp cơ sở đã được hoàn thiện về căn bản. Lực lượng An ninh miền Bắc tiếp tục chi viện đợt III gồm hơn 1.000 cán bộ chiến sĩ cùng các loại tài liệu nghiệp vụ về chống phản cách mạng, hướng dẫn xây dựng đặc tình cơ sở, sổ tay công tác an ninh; góp phần thúc đẩy đáng kể sự phát triển về lực lượng cũng như chuyên môn của An ninh toàn miền. Bộ máy tổ chức làm công tác đào tạo được hình thành tới cấp tỉnh, tổ chức đào tạo nghiệp vụ dài hạn, ngắn hạn và huấn luyện cấp tốc cho lực lượng An ninh các cấp từ Trung ương Cục, đến cấp khu, tỉnh, góp phần nâng cao kiến thức địch tình, nâng cao hiệu quả chiến đấu trong toàn lực lượng.


Nhằm tổ chức các lực lượng đấu tranh và định hướng công tác đấu tranh trong bối cảnh mới, Trung ương Cục đã ban hành nhiều chỉ thị vừa mang tầm chiến lược vừa có giá trị trong đối sách như Chỉ thị về “Phá âm mưu dùng người của ta đánh người của ta”; Chỉ thị về “Phá kế hoạch Phượng Hoàng"; Chỉ thị về “Hướng vào các đô thị, thị xã, thị trấn đẩy mạnh trừ gian diệt ác”, Chỉ thị về “Phát động phong trào phòng gian bảo mật, bảo vệ cơ quan và Quân đội"; "chống địch cài cắm nội gián trong hàng ngũ tù, hàng binh";... Quán triệt chỉ thị của Đảng, An ninh Trung ương Cục đã soạn thảo hai bộ tài liệu về “Chống bình định" và “Đối phó với kế hoạch Phượng Hoàng" là hai vấn đề trọng tâm của giai đoạn này, tập huấn cho lực lượng An ninh. Trung ương Cục quyết định điều chuyển nhiều đồng chí lãnh đạo có kinh nghiệm và cán bộ cốt cán tăng cường cho những địa bàn trọng điểm để trực tiếp chỉ đạo và tổ chức đấu tranh.


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 08 Tháng Tám, 2021, 07:13:32 pm
Căn cứ chỉ đạo của Trung ương Cục và Ban An ninh Trung ương Cục, lực lượng An ninh toàn miền đã triển khai có hiệu quả hai mặt công tác chính yếu là đấu tranh đánh địch bảo vệ tổ chức Đảng, căn cứ cách mạng, vùng giải phóng và vận động quần chúng diệt ác phá kềm, phá chính quyền cơ sở của địch. Lực lượng Trinh sát võ trang, An ninh đô thị phối hợp với các lực lượng vũ trang địa phương tiến hành hàng trăm trận tấn công vào hang ổ của bọn tình báo, cảnh sát, mật vụ, diệt bọn cầm đầu, bọn gian ác. Trong đó có những trận tập kích táo bạo, gây tiếng vang lớn: An ninh T4 đánh vào nhà hàng Mỹ Cảnh trên sông Sài Gòn diệt 51 tên, làm bị thương 128 tên, có 1 Phó Giám đốc mật vụ; An ninh Trảng Bàng diệt và bắt 5 toán thám báo xâm nhập vào căn cứ; An ninh Cần Thơ đón đánh 4 toán gián điệp biệt kích gồm 52 tên trên đường chúng xâm nhập vào căn cứ; An ninh Kiến Tường tập kích hang ổ tình báo diệt 1 lưới trưởng và 15 mật báo viên; An ninh nội đô Sài Sòn - Gia Định nổ mìn tại trung tâm Tổng nha cảnh sát quốc gia diệt 17 tên; An ninh huyện Dương Minh Châu diệt một toán gián điệp biệt kích gồm 6 tên do Hà Văn Long cầm đầu...


Đối với lĩnh vực bảo vệ nội bộ, tuy đạt được những kết quả nhất định, bảo vệ an toàn căn cứ Trung ương Cục, bảo vệ bí mật về đường lối chỉ đạo của Đảng, các đồng chí lãnh đạo cao cấp, song còn nhiều sơ hở, nhất là ở các cấp cơ sở. Cơ quan gián điệp của địch cài cắm được nhiều đầu mối nội gián trong các đoàn thể kháng chiến ở các cấp xã, huyện, các đoàn dân công và các đơn vị hậu cần phục vụ. Nguyên nhân chính là công tác thu nạp nhân viên chưa được chặt chẽ, việc quản lý cán bộ chưa được chú trọng. Một số đoàn thể kháng chiến cấp huyện, xã bị địch cài nội gián, làm rối ren một thời gian dài hoặc bị địch bao vây lùng sục, đánh phá liên tục. Tuy ta đã tiến hành làm rõ một số đầu mối nhưng do hoàn cảnh chiến tranh ác liệt nên còn nhiều đầu mối nghi nội gián không được làm rõ.


Phục vụ cho tổng tấn công và nổi dậy Mậu Thân 1968, lực lượng An ninh triển khai toàn bộ lực lượng nắm địa bàn, nắm địch, bảo vệ cơ quan lãnh đạo mặt trận và tổ chức cho cơ sở quần chúng nhân dân truy tìm, tiêu diệt bọn ác ôn, gián điệp, chỉ điểm. Trong tổng tiến công, ta đã bắt và diệt 15.135 tên gián điệp các loại, trong đó có 135 nhân viên CIA, 269 nhân viên DIA; thu được nhiều tài liệu tình báo có giá trị, kể cả hồ sơ nội gián, mật báo viên của địch cài vào nội bộ ta. Tuy vậy ta để bộc lộ lực lượng, đưa cơ sở bí mật ra hoạt động công khai nên khi địch phản kích đã gây thiệt hại hết sức nặng nề. Nhiều xã, huyện mất hết cơ sở, cán bộ cách mạng không thâm nhập được địa bàn. Đây là một trong những bài học lớn trong chỉ đạo hoạt động bí mật.


Sau Mậu Thân 1968, An ninh Trung ương Cục ra chỉ thị 06 chấn chỉnh lại công tác nắm tình hình: "Phải chủ động nắm cụ thể, toàn diện, chính xác về tổ chức, âm mưu, thủ đoạn hoạt động của gián điệp Mỹ - ngụy, các tổ chức trá hình, các cơ quan đàn áp, bình định, chiêu hàng...", "... Phải tập trung khai thác, thẩm tra chính xác nguồn tin của các tổ chức quần chúng, các ngành, các giới, cơ sở tai mắt, số bị địch bắt thả về...” và ra chỉ thị giao cho lực lượng An ninh tổ chức, hướng dẫn quần chúng đấu tranh: “An ninh các cấp phải tham mưu cho cấp uỷ phát động phong trào quần chúng phá kế hoạch Phượng Hoàng; tích cực xây dựng cơ sở trong các cơ quan đầu não của địch, trong các tầng lớp nhân dân ở các vùng chiến lược... thực hiện khẩu hiệu: Một tấc không đi, một ly không rời, đánh địch phải đánh hiểm, đánh trúng đối tượng...”. Ngày 20-6-1969, An ninh Trung ương Cục mở Hội nghị bảo vệ cơ quan và xác định: “Chỉnh đốn tổ chức, đấy mạnh giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao cảnh giác cách mạng, chống chiến tranh tâm lý và gây nội gián của địch, tích cực phòng gian bảo mật, quản lý chặt chẽ cán bộ, bảo vệ bí mật chủ trương của Đảng". Được củng cố về mọi mặt, lực lượng An ninh toàn miền Nam dần dần phục hồi và chắp nối lại cơ sở, nắm lại địa bàn, triển khai các mặt công tác nghiệp vụ. Phong trào quần chúng chống bình định, chống gián điệp chỉ điểm có bước phát triển mới, tạo đà cho lực lượng vũ trang có điều kiện mở những chiến dịch vừa và nhỏ, từng bước giành lại thế chủ động trên chiến trường. Từ năm 1970, thế và lực của cách mạng có bước phát triển nhảy vọt; lực lượng An ninh tập trung vào nhiệm vụ truy bắt, trừng trị những đầu mối gián điệp địch cài vào nội bộ ta sau Mậu Thân; thẩm tra, bóc gỡ các đầu mối nội gián ở vùng giải phóng; triển khai mạnh công tác đấu tranh với phương thức cài gián điệp bằng con đường tù, hàng binh, lạc ngũ, mất liên lạc. Đồng thời phát động nhân dân diệt ác phá kềm, đứng lên làm chủ xóm, ấp, giữ vững an ninh. Các lực lượng bảo vệ cơ quan, trinh sát vũ trang phối hợp chặt chẽ với bộ đội địa phương và nhân dân truy quét hàng trăm toán gián điệp biệt kích xâm nhập sâu vào vùng giải phóng, vùng giáp ranh, dọc tuyến đường từ Trung Bộ trở vào đến cực Nam Nam Bộ, tuyến đường 1C, các tỉnh miền Nam Trung Bộ và Trung Bộ, vùng biên giới Việt Nam - Campuchia. Đến hết, năm 1970, lực lượng An ninh toàn miền Nam đã khám phá 496 vụ nội gián; trong có 376 vụ ở cấp ấp, xã. Kết quả đấu tranh chống gián điệp ở giai đoạn này có ý nghĩa khích lệ tinh thần cảnh giác cách mạng của quần chúng, phục hồi phong trào cách mạng sau tổn thất năm 1968.


Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị về chuẩn bị mọi mặt phục vụ cho những chiến dịch lớn, phối hợp với đấu tranh tại Hội nghị Pari, Trung ương Cục miền Nam ra Chỉ thị 165/TVKBN ngày 15-3-1972: “Những vấn đề cơ bản về công tác an ninh miền Nam”. Chỉ thị xác định nguyên tắc đấu tranh chống phản cách mạng nói chung, chống gián điệp nói riêng trong giai đoạn này là: “Chủ động tiến công địch, tích cực bảo vệ ta". Chỉ thị còn chỉ rõ những tồn tại, vướng mắc về tổ chức lực lượng đấu tranh và định hướng phải nhanh chóng chấn chỉnh, củng cố lực lượng đủ mạnh, hợp đồng chặt chẽ các lực lượng đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Triển khai chỉ thị của Đảng, lực lượng An ninh chú trọng công tác hướng dẫn quần chúng phá chính sách bình định, phá kế hoạch Phượng Hoàng, đảm bảo an ninh vùng giải phóng. Đồng thời tập trung đánh mạnh vào bọn đầu sỏ ở đô thị, truy bắt, đẩy đuổi bọn tay sai ở vùng nông thôn và các vùng giáp ranh, hạn chế tối đa hoạt động của bọn gián điệp trên địa bàn hành lang. Những kết quả chống gián điệp trong thời kỳ này đã góp phần hỗ trợ cho lực lượng vũ trang mở những chiến dịch lớn, giành đất, giành dân, đẩy địch vào thế bị động, làm thay đổi hẳn cục diện chiến trường, tạo thế để ta tổng công kích vào mùa khô năm 1972.


Tóm lại: Đảng ta đã kế thừa kinh nghiệm của các giai đoạn trước đó, vận dụng kinh nghiệm của các nước; nêu cao tinh thần độc lập tự chủ và sáng tạo trong chỉ đạo đấu tranh với từng loại đối tượng, vừa giải quyết yêu cầu bảo vệ mình, đánh thắng địch, vừa đáp ứng yêu cầu đối ngoại. Dựa vào nhân dân, phát huy tinh thần cảnh giác cách mạng của quần chúng, xác định địa bàn cấp xã có vị trí chiến lược quan trọng trong tổ chức đấu tranh; phối hợp đồng bộ giữa các ban ngành; kiện toàn tổ chức, nâng cao sức chiến đấu của lực lượng nòng cốt; đặt nhiệm vụ chống gián điệp dưới sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng. Đây là hệ thống những quan điểm, quyết sách đúng và sáng tạo trong tổ chức lực lượng đấu tranh nên đã khai thác triệt để được thế mạnh của ta, tận dụng điểm yếu của địch.


Lực lượng nòng cốt đấu tranh chống gián điệp có bản lĩnh chính trị vững vàng, mưu trí, sáng tạo và quyết thắng; biết tích luỹ kinh nghiệm, dũng cảm đương đầu với cơ quan tình báo đối phương có tiềm lực hơn ta nhiều lần và dày dạn kinh nghiệm. Trong đấu tranh biết dựa hẳn vào nhân dân, phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng, áp dụng đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ, góp phần làm cho chiến thuật đánh địch càng sắc sảo. Cuộc đấu mưu, đấu trí, đấu pháp, đấu lực bằng chiến thuật “dùng người của địch, phương tiện của địch để đánh lại địch" - “Trò chơi nghiệp vụ" trong giai đoạn này không chỉ là kế thừa tinh hoa của các giai đoạn trước mà còn tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện để nâng tầm thành nghệ thuật.


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 15 Tháng Tám, 2021, 06:49:26 pm
4. Giai đoạn từ năm 1973 đến tháng 4 năm 1975

Năm 1972, bộ đội chủ lực của ta thực hiện nhiều trận phản công lớn trên toàn chiến trường, tạo ra những chuyển biến mới về cục diện chiến tranh. Nửa cuối năm 1972, ta tiến hành thắng lợi cuộc tiến công chiến lược ở miền Nam đồng thời đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai ra miền Bắc, đập tan nỗ lực cuối cùng của Mỹ thông qua cuộc tập kích chiến lược B52, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pari, rút hết quân Mỹ, quân chư hầu ra khỏi Việt Nam, làm tình hình thay đổi hẳn, có lợi cho ta.


Sau hiệp định Pari, Mỹ vẫn tiếp tục thực hiện "Việt Nam hoá chiến tranh", chỉ huy ngụy quyền tiến hành "cuộc chiến tranh lấn chiếm và bình định". Nhân dân cả nước bước vào thời kỳ đấu tranh mới: Tạo thế, tạo lực, tạo thời cơ cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.


Phải rút khỏi miền Nam nhưng Mỹ vẫn dùng ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn làm công cụ để thực hiện chủ nghĩa thực dân mới, biến miền Nam thành một chế độ “Quốc gia" thân Mỹ. Mục tiêu trước mắt của Mỹ là lấn chiếm vùng giải phóng và bình định vùng chiếm đóng, đẩy lực lượng của ta ra xa. Để thực hiện mục tiêu đó, Mỹ tăng cường tiền của, vũ khí, phương tiện; tăng lực lượng vũ trang cơ sở, phát triển 1,5 triệu phòng vệ dân sự, điều hơn 20% sĩ quan chỉ huy xuống ấp, xã phục vụ cho lấn đất giành dân với khẩu hiệu: “Tràn ngập lãnh thổ’. Mỹ, ngụy xác định kế hoạch lấn chiếm giành dân lần này là nỗ lực cuối cùng; coi địa bàn chủ yếu của cuộc chiến tranh là ấp, xã với mục đích “giải quyết ấp, xã là giải quyết căn bản được cuộc chiến tranh". Vì vậy, chúng huy động khoảng 70 tiểu đoàn chủ lực cùng toàn bộ lực lượng phòng vệ dân sự và các lực lượng khác thực hiện lấn chiếm và bình định.


Song song với tăng cường quân sự, chuyển hướng tấn công, chúng xác định gián điệp và cảnh sát là lực lượng chủ yếu đảm bảo an ninh lãnh thổ, đảm bảo thắng lợi cho lấn chiếm. Do đó, Mỹ thay đổi phương thức hoạt động, chỉ huy ngụy quyền điều chỉnh lực lượng gián điệp và cảnh sát nhằm nhiệm vụ giữ an ninh vùng chiếm đóng và mở đường cho hoạt động lấn chiếm.


Cơ quan CIA đổi tên gọi thành cơ quan “Phụ tá đặc biệt” - OSA nhân viên được ngụy danh núp dưới các vỏ bọc xã hội hoá như: Cố vấn, nhân viên dân sự, nhân viên phát triển nông thôn... Nhưng thực chất, chúng không giảm lực lượng mà còn tăng thêm 3.000 chuyên viên mã thám, thiết lập hệ thống chí huy, chỉ đạo tới cấp xã và huyện. CIA tập trung mũi nhọn năm lực lượng thứ ba, giới trí thức, sinh viên, tôn giáo... chuẩn bị sẵn cơ sở cài vào nội bộ ta khi lực lượng này tham gia chính phủ liên hiệp. Chúng tạo dựng những con bài chính trị dạng như Trương Đình Du, chuẩn bị điều kiện cần thiết để đưa vào những vị trí cao cấp trong chính phủ liên hiệp.


Mỹ, ngụy sử dụng lực lượng gián điệp và cảnh sát bảo vệ lãnh thổ đang chiếm giữ bằng cách khống chế nhân dân, truy quét bằng hết cơ sở của ta; trọng tâm là nhằm vào các vùng giáp ranh, vùng lõm, truy bức tinh thần quần chúng, điều tra tình hình, phục vụ cho các hoạt động quân sự. Chúng thiết lập ra các chi Cảnh sát, Tình báo, An ninh quân đội; tổ chức lại Ủy ban Phượng Hoàng ở cấp xã, tăng quyền lực để “giải quyết chiến tranh ở ấp, xã và đổi tên Ủy ban Phượng Hoàng xã là “Trung tâm điều hợp hành quân xã". Ủy ban Phượng Hoàng là tổ chức có quyền lực tối cao trong hệ thống chính quyền cũng như quân sự. Mỗi xã đều thành lập các “Cuộc cảnh sát” trực thuộc Ủy ban Phượng Hoàng. Biên chế mỗi “Cuộc cảnh sát” xã từ 15 đến 20 nhân viên, có xã tới 70 đến 150 nhân viên. Chúng tăng cường khả năng tác chiến tại cơ sở bằng cách điều điệp viên ở thành phố, thị xã, làm văn phòng về nông thôn; mở các trung tâm huấn luyện, tuyển chọn thêm tay chân đẩy ra các hành lang và khu vực giáp ranh.


Sang năm 1973, Mỹ - ngụy dừng hẳn việc tung gián điệp biệt kích ra miền Bắc bằng đường không, sử dụng lực lượng này để tung ra vùng giải phóng ở miền Nam; tổ chức huấn luyện bọn Phòng vệ dân sự, địa phương quân hoạt động theo phương thức gián điệp biệt kích. Sau mỗi trận càn quét lấn chiếm chúng cài biệt kích ở lại hoặc tổ chức các đơn vị từ một tiểu đội tới một trung đội, thọc sâu vào vùng ta kiểm soát tấn công chớp nhoáng, phá hoại hoặc bắt cóc cán bộ và nhân dân. Chúng tăng cường hoạt, động nội gián, chuẩn bị các đầu mối cài vào số cán bộ, bộ đội bị bắt, trao trả theo Hiệp định Pari (T72), phục vụ cho âm mưu tiếp tục đánh ta lâu dài. Hàng ngàn người bị bắt đã bị chúng thẩm vấn để tuyển chọn điệp viên; Phủ Đặc uỷ Trung ương tình báo dưới sự chỉ đạo của nhân viên CIA trá hình đã tuyển chọn gần 100 đầu mối P86 để đánh vào vùng giải phóng hoặc trao trả ở Tây Ninh và Thanh Hoá.


Sau khi Hiệp định Pari ký kết, miền Bắc khẩn trương khắc phục hậu quả chiến tranh, đẩy mạnh sản xuất, giữ vững ổn định chính trị, tập trung mọi nồ lực chuẩn bị điều kiện kết thúc thắng lợi chiến tranh giải phóng. Do yêu cầu tập trung lực lượng giải quyết tại chiến trường miền Nam nên Mỹ, ngụy giảm hẳn hoạt động gián điệp đối với miền Bắc, song vẫn duy trì các phương thức nội gián, lâm thời, thường trú và bắt cóc ngư dân khai thác, đánh trở lại với mục đích cố nắm được chủ trương, kế hoạch, thực lực của ta trong giải quyết vấn đề miền Nam. Gián điệp thường trú và lâm thời một số nước vẫn hoạt động ráo riết, vừa nắm tin tức về cuộc kháng chiến chống Mỹ của ta, vừa tìm cách móc nối trong nội bộ Đảng, chính quyền để điều chỉnh quan điểm, đường lối đối nội, đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta theo ý đồ của họ. Trong đó, nổi lên vẫn là đối tượng X77 và X70, hoạt động ráo riết, đa dạng hơn; nhất là đối tượng X70. Họ đã móc nối cơ sở, cài tay chân vào nhiều cơ quan, đơn vị cũng như trong cộng đồng người Hoa, vừa thu thập tin tức, vừa ngấm ngầm chuẩn bị các kế hoạch chống phá khi ta giải phóng miền Nam. Một số phần tử X77 đã bị xử lý vẫn tiếp tục hoạt động; trong đó chúng đã móc nối được với một số trí thức trẻ và giao nhiệm vụ làm liên lạc.


Ngay sau khi Hiệp định Pari có hiệu lực, Đảng ta dự kiến hai khả năng: hoặc là hoà bình được duy trì, Hiệp định được thực hiện từng bước, phong trào cách mạng miền Nam có điều kiện phát triển những bước mới; hoặc là chiến tranh sẽ tiếp tục. Sau mấy tháng thi hành Hiệp định, thấy rõ xu hướng chống phá Hiệp định của địch, Đảng ta xác định cách mạng miền Nam phải diễn biến theo khả năng thứ hai và triệu tập Hội nghị Trung ương lần thứ 21. Hội nghị khẳng định, con đường cách mạng miền Nam vẫn là con đường bạo lực; kẻ thù chính của cách mạng miền Nam vẫn là đế quốc Mỹ và tập đoàn thống trị tay sai Mỹ. Đế quốc Mỹ là kẻ chủ mưu, là chỗ dựa cho bọn tay sai. Nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam là đấu tranh trên cả ba mặt trận: Chính trị, quân sự, ngoại giao. Nhiệm vụ của miền Bắc đối với miền Nam là ra sức chi viện cho miền Nam, khôi phục và phát triển kinh tế quốc dân, làm cho miền Bắc là chỗ dựa vững chắc của miền Nam.


Từ việc đánh giá tình hình, xác định nhiệm vụ cách mạng của cả nước trong giai đoạn cách mạng mới, Bộ Chính trị ra Nghị quyết 225/NQ-TW về công tác cán bộ. Tháng 2-1973; Chính phủ ban hành Nghị định 32/CP sửa đối bộ máy tổ chức của ngành Công an. Theo đó, hệ thống lực lượng trinh sát chuyên ngành, chuyên sâu có bước phát triển mới. Cục Bảo vệ Chính trị, các cục thuộc hệ Bảo vệ nội bộ, trinh sát kỹ thuật được thành lập hoặc tách thành những đơn vị mới, đáp ứng yêu cầu bảo vệ nội bộ, chống gián điệp trong tình hình mới. Đầu năm 1973, lãnh đạo Bộ triệu tập Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 28, quán triệt chỉ đạo của Đảng và xác định những nhiệm vụ của ngành Công an sau khi Hiệp định Pari có hiệu lực. Hội nghị ra nghị quyết, chỉ rõ: “Trên cơ sở rút kinh nghiệm đấu tranh chống gián điệp mấy năm qua và kế hoạch cụ thể tăng cường công tác phản gián đối với bọn gián điệp trà trộn trong các đoàn lâm thời và cơ quan cố định, kể cả chuyên gia nước ngoài ở nước ta; tăng cường trinh sát chống gián điệp ẩn nấp, nhất là gián điệp theo phương thức P86 của địch". Quán triệt chỉ đạo của Đảng và lãnh đạo Bộ, lực lượng An ninh xác định địa bàn trọng điểm, đối tượng trọng điểm và triển khai các mặt công tác điều tra nắm tình hình. Đối với phương thức lâm thời, thường trú, tập trung nắm di biến động của nhân viên các đoàn cố định và lâm thời; quản lý chặt nhân viên cơ quan ngoại giao hoặc có nhiệm vụ quan hệ với người nước ngoài; giáo dục và hướng dẫn quần chúng tham gia giám sát các địa bàn có trụ sở của người nước ngoài, mục tiêu người nước ngoài thường quan tâm. Thông qua công tác trinh sát bí mật và nguồn tin quần chúng cung cấp, ta phát hiện 128 đối tượng trong các đoàn lâm thời, thường trú có vấn đề nghi vấn, trong đó có 27 đối tượng nước B1, 6 đối tượng nước A1. Đã bí mật đấu tranh 5 chuyên án gồm 9 đối tượng (TH40, K117, SUZUKI...).


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 21 Tháng Tám, 2021, 02:19:25 pm
CHƯƠNG KẾT LUẬN


Từ mùa thu năm 1949, cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược đang chuyển biến mạnh mẽ. Nhu cầu phát triển của cuộc kháng chiến đặt ra “phải có lực lượng võ trang hùng hậu” từ du kích chiến tiến lên vận động chiến, từ chiến tranh du kích tiến lên chiến tranh chính quy. Ngày 18 tháng 8 năm 1949, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị về xây dựng bộ đội địa phương và phát triển dân quân trong giai đoạn mới, trong đó chỉ rõ: “Cuộc chiến tranh của ta chuyển sang giai đoạn tích cực cầm cự và chuẩn bị tổng phản công. Trong giai đoạn này, Đảng ta lấy du kích chiến là chính. Nhưng vận động chiến phải nâng lên ngang với du kích chiến và trở nên chủ yếu"1 (Văn kiện Đảng về kháng chiến chống thực dân Pháp, Tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1986, tr.227).


Ngày 25 tháng 8 năm 1949, Xứ ủy Nam Bộ họp hội nghị triển khai nhiệm vụ “tích cực cầm cự chuẩn bị tổng phản công”. Tiếp đó, trong ba ngày 3, 4, 5 tháng 9 năm 1949, Xứ ủy Nam Bộ triệu tập Hội nghị quân sự toàn xứ nhằm kiểm điểm toàn diện công cuộc kháng chiến trong bốn năm qua và đề ra nhiệm vụ trong thời gian tới. Tại hội nghị, Bí thư Xứ ủy Lê Duẩn đọc một báo cáo quan trọng, trong đó đề ra sáu nhiệm vụ trước mắt: “Gấp rút chỉnh đốn lại bộ máy chỉ huy quân sự các cấp, xây dựng ba thứ quân, tổ chức lại bộ máy quân giới, quân nhu, gia tăng công tác chính trị, địch vận, tuyên truyền đẩy mạnh phong trào thi đua giết giặc lập công”1 (Văn kiện Hội nghị Xứ ủy Nam Bộ 9-1949 - Phòng khoa học công nghệ môi trường Quân khu 7, LS.49, tr.16).


Chấp hành nghị quyết Xứ ủy, Bộ tư lệnh Nam Bộ ra chỉ thị phân chia lại chiến trường, củng cố nhân sự cấp khu và tỉnh, tổ chức lại các đơn vị võ trang. Theo đó, Phân khu Duyên Hải giải thể. Khu Sài Gòn - Chợ Lớn được mở rộng về phía tây bắc, gồm thêm toàn tỉnh Tây Ninh (Khu 7 còn lại ba tỉnh Biên Hòa, Bà Rịa và Thủ Dầu Một). Đồng chí Trần Văn Trà về trực tiếp giữ chức vụ Tư lệnh kiêm Chính ủy khu Sài Gòn - Chợ Lớn, đồng chí Tô Ký Phó tư lệnh; đồng chí Lê Đức Anh, Tham mưu trưởng.


Ngày 18 tháng 11 năm 1949, Bộ tư lệnh Nam Bộ ra chỉ thị số 137 về thành lập các liên trung đoàn trên cơ sở sáp nhập những trung đoàn hiện có nhằm xây dựng một số đơn vị võ trang tập trung mạnh trên chiến trường Nam Bộ.


Thực hiện chỉ thị của Bộ tư lệnh Nam bộ, Trung đoàn 312 sáp nhập với Trung đoàn 306 Phạm Hồng Thái thành Liên trung đoàn 306-312. Liên trung đoàn có 1 tiểu đoàn chủ lực và 6 đại đội độc lập hoạt động của địa bàn phía bắc và tây thành phố Sài Gòn, tỉnh Gia Định.

Ban chỉ huy Liên trung đoàn được chĩ định gồm 4 đồng chí :

- Trần Đình Xu (Liên trung đoàn trưởng)

- Nguyễn Văn Truyện (Chính ủy)

- Đào Sơn Tây (Liên trung đoàn phó)

- Nguyễn Văn Hâm (Liên trung đoàn phó)

Từ đây, tổ chức Trung đoàn 312 không còn nữa. Toàn thể cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 312 cũ chia tỏa ra, biên chế vào các đơn vị mới trong tổ chức liên trung đoàn. Nhiều đồng chí khác được điều chuyển về cơ quan khu Sài Gòn - Chợ Lớn, tỉnh đội Gia Định và các huyện đội mạn bắc, tây bắc Sài Gòn. Tháng 9 năm 1950, cùng với các liên trung đoàn khác, Liên trung đoàn 306-312 giải thể để trên chiến trường miền Đông Nam Bộ thành lập một trung đoàn chủ lực trực thuộc Bộ tư lệnh Nam Bộ lấy phiên hiệu trung đoàn Đồng Nai do đồng chí Trần Đình Xu làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Lê Xuân Lựu làm chính trị viên.


Phát huy truyền thống của Giải phóng quân liên quận từ những ngày đầu kháng chiến, cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 312 cũ nhanh chóng hội nhập trong tổ chức đơn vị mới, nỗ lực thực hiện nhiệm vụ được giao, lập được nhiều thành tích xuất sắc trên những bước đường chiến đấu còn đầy cam go thử thách từ cuối năm 1949 đến mùa thu năm 1954. Đó là đợt hoạt động quân sự tháng 1 năm 1950 tại Bến Cát, là chiến dịch Bến Cát tháng 10 - tháng 11 năm 1950, là các cuộc tập kích diệt tháp canh địch trên quốc lộ 1, quốc lộ 22, quốc lộ 13, các đường số 14, số 10, số 7, và phong trào tác chiến trong nội đô thành phố Sài Gòn.


Tháng 2 năm 1951, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng họp đề ra nhiệm vụ tiếp tục đẩy mạnh cuộc kháng chiến đến thắng lợi và xây dựng Đảng Lao động Việt Nam. Phân cục Trung ương Đảng tại miền Nam (gọi tắt là Trung ương Cục) được thành lập. Chiến trường Nam Bộ chia làm hai phân liên khu (Phân liên khu miền Đông và Phân liên khu miền Tây) và Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn. Các tỉnh sáp nhập lại thành liên tỉnh. Tỉnh Gia Định và tỉnh Tây Ninh nhập lại thành tỉnh Gia Định Ninh do đồng chí Tô Ký làm bí thư tỉnh ủy kiêm tỉnh đội trưởng. Tỉnh xây dựng một tiểu đoàn tập trung lấy phiên hiệu 306 do đồng chí Đỗ Thế Nhân làm tiểu đoàn trưởng. Cán bộ chiến sĩ của Trung đoàn 312 năm xưa chan hòa vào tổ chức các đơn vị mới: tiểu đoàn 306, tiểu đoàn 304, tiểu đoàn 302, tiểu đoàn 300, rồi cơ quan kháng chiến huyện Hóc Môn, huyện Đức Hòa Thành, tỉnh Gia Định Ninh, Phân liên khu miền Đông. Họ hăng hái tác chiến đánh địch, gia nhập các đoàn công tác làm nhiệm vụ tạo nguồn, vận chuyển, cung cấp lương thực, vũ khí đạn dược cho lực lượng nội thành Sài Gòn, làm công tác Cao Đài vận, địch ngụy vận ở địa bàn ven đô; tham gia tiểu đoàn vận tải chiến lược 320 làm nhiệm vụ vận chuyển hàng hóa và đưa đón cán bộ từ cửa biển Hàm Tân, Xuyên Mộc về chiến khu Đ và ngược lại. Trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, cán bộ chiến sĩ của Trung đoàn 312 cũ vừa tích cực tham gia công tác địch ngụy vận, Cao Đài vận, vừa nỗ lực đẩy mạnh hoạt động tác chiến đánh địch, tháo gỡ đồn bót tháp canh, hỗ trợ cho phong trào du kích chiến tranh phát triển trong giai đoạn cuối cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.


Trên thực tế, tổ chức đơn vị Giải phóng quân liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa, Chi đội 12, Trung đoàn 312 chỉ tồn tại trong vòng 4 năm (11-1945 - 11-1949). Tuy nhiên, kết quả hoạt động của đơn vị trong 4 năm ấy đã góp một phần không nhỏ vào thắng lợi chung của quân và dân miền Đông Nam bộ, quân và dân cả nước trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Có thể nói đây là một đơn vị đặc biệt với những đặc điểm riêng so với các tổ chức đơn vị võ trang khác trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trên chiến trường Nam Bộ.


Trước hết, đó là đơn vị võ trang cách mạng được thành lập sớm nhất trên chiến trường Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Do những đặc điểm lịch sử riêng, tại Nam Bộ, cho đến trước Cách mạng Tháng Tám chưa có các đơn vị võ trang cách mạng tập trung có hệ thống và chặt chẽ. Lực lượng võ trang và bán võ trang làm nòng cốt trong Tổng khởi nghĩa là những đơn vị Thanh niên cứu quốc, Tự vệ chiến đấu, Thanh niên tiền phong, một bộ phận quân du kích Nam Kỳ thành lập từ năm 1940 và một bộ phận ngụy binh cũ trong các tổ chức võ trang do Pháp hoặc Nhật thành lập trước đó. Sau Cách mạng Tháng Tám, để bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ mới giành được, hàng loạt đơn vị võ trang được thành lập nhưng thiếu hệ thống và thành phần hợp thành khá phức tạp. Tại Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định, ngoài tổ chức Xung phong công đoàn của Tổng công đoàn Nam Bộ có Cộng hòa vệ binh, đệ nhị, đệ tam, đệ tứ sư đoàn, các bộ đội tự lập và những đơn vị do các băng đảng giang hồ tụ thành. Sau ngày Nam Bộ kháng chiến bùng nổ, nhu cầu xây dựng những đơn vị võ trang cách mạng đặt ra cấp thiết. Trong nội bộ các đơn vị võ trang hiện có diễn ra sự phân hóa sâu sắc. Trong quá trình ấy, một đơn vị võ trang cách mạng do Đảng trực tiếp xây dựng, lãnh đạo, có tổ chức biên chế chặt chẽ, có mục đích hoạt động đúng đắn ra đời, vào ngày đầu tiên của tháng 11 nám 1945. Và phải sau đó một tháng nữa, các đơn vị Vệ quốc đoàn ở Nam Bộ mới lần lượt được thành lập. Trong điều kiện lực lượng võ trang ở Nam Bộ còn rất phức tạp, Hội nghị Thiên Hộ - Hội nghị chủ trương củng cố lại lực lượng võ trang và đặt lực lượng võ trang dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản - mới diễn ra trước đó và nghị quyết hội nghị chưa được quán triệt đầy đủ về các chiến trường, sự ra đời của Giải phóng quân liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa có ý nghĩa lịch sử quan trọng. Nó là đơn vị võ trang cách mạng đầu tiên được thành lập ở chiến trường Nam Bộ kể từ sau ngày 23 tháng 9 năm 1945!


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 21 Tháng Tám, 2021, 02:19:56 pm
Thứ hai, đó là đơn vị võ trang tập trung ở Nam Bộ có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản ngay từ ngày đầu thành lập. Thành phần hợp thành Giải phóng quân liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa hầu hết là thanh niên nông dân vùng ngoại thành phía bắc, tây bắc, thành phố Sài Gòn, một trong những chiếc nôi của cách mạng ở Nam Bộ. Đây là địa bàn được Ban Chấp hành Trung ương Đảng chọn làm căn cứ để lãnh đạo phong trào cách mạng của cả nước, của Nam Bộ và thành phố Sài Gòn. Nhiều đồng chí lãnh đạo của Trung ương Đảng, Xứ ủy Nam Kỳ, Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn và Tỉnh ủy Gia Định đều dựa vào đây để hoạt động cách mạng như Nguyễn Văn Cừ, Phan Đăng Lưu, Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Văn Tần... Nhân dân địa phương được trui rèn qua những cuộc đấu tranh đẫm máu như khởi nghĩa 18 thôn Vườn Trầu các năm 1871, 1885, khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940... Từ sau Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, nhiều đồng chí lãnh tụ cách mạng như Lê Duẩn, Tôn Đức Thắng... từ nhà tù Côn Đảo trở về đã về đây chỉ đạo xây dựng lực lượng kháng chiến. Lực lượng tham gia Giải phóng quân liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa ngoài thanh niên địa phương - vốn là những nông dân có trình độ văn hóa thấp, thiếu hiểu biết cơ bản về tri thức quân sự nhưng tấm lòng đầy nhiệt huyết cách mạng - còn có rất nhiều đảng viên Cộng sản từ những năm 1930-1940, nhiều cán bộ cốt cán hoạt động trên nhiều chiến trường ở Đông Nam Bộ và địa bàn Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định. Việc thành lập và tổ chức hoạt động của Giải phóng quân liên quận trong những tháng đầu được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Lê Duẩn, đồng chí Hoàng Quốc Việt. Ban chỉ huy gồm những đảng viên kỳ cựu như Trần Văn Trà, Tô Ký, Hoàng Dư Khương, Hoàng Tế Thế, Huỳnh Tấn Chùa... Phân đội nào cũng có đảng viên giữ chức vụ chính trị viên phân đội. Điều này làm cho đơn vị có chất lượng chính trị cao, tổ chức hoạt động chặt chẽ, đúng hướng và có hiệu quả. Trong giai đoạn lịch sử những năm đầu kháng chiến, tình hình lực lượng võ trang hết sức phức tạp, nhiều đơn vị võ trang chưa do Đảng nắm quyền lãnh đạo chỉ huy, chất lượng chính trị của Giải phóng quân liên quận, Chi đội 12 có ý nghĩa quan trọng. Từ đây, nhiều cán bộ lãnh đạo chỉ huy, đôi khi cả một hoặc hai phân đội được điều chuyển đi làm nhân cốt phát triển cho các đơn vị khác ở chiến trường Nam Bộ.


Thứ ba, đó là đơn vị liên tục bám trụ chiến đấu, gắn bó với phong trào chiến tranh nhân dân vùng ven đô và lập nhiều thành tích xuất sắc trên các mặt trận phục vụ kháng chiến. Mặc nhiên, hoạt động trung tâm của một đơn vị võ trang là tác chiến đánh địch. Ngay từ khi ra đời cho đến lúc giải thể tổ chức trung đoàn, Giải phóng quân liên quận, sau là Trung đoàn 312 đã liên tục chiến đấu, từ đánh nhỏ lẻ, diệt tề trừ gian đến phục kích, chống càn, tập kích, đánh vận động chiến và kết quả của hoạt động nói trên đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung trên chiến trường Gia Định và các tỉnh Đông Nam Bộ. Vừa độc lập tác chiến, đơn vị còn phối hợp với các đơn vị bạn như Trung đoàn 306, Trung đoàn 311, Trung đoàn 301, Trung đoàn 310 đánh nhiều trận thu được kết quả lớn.


Có thể nói những chiến thắng quân sự lớn ở chiến trường Đông Nam Bộ như trận Trung Hưng - Ràng năm 1946, trận La Ngà, trận Láng Le năm 1948, chiẽn dịch Bến Cát năm 1950 đều có sự phối hợp tác chiến có hiệu quả của Trung đoàn 312. Dù cơ động chiến đấu trên nhiều chiến trường, nhưng về cơ bản, đơn vị vẫn bám trụ trên vùng ven đô mạn bắc, tây bắc Sài Gòn (cả ở vùng căn cứ, vùng tranh chấp và vùng nội đô), đánh địch giữ làng, vận động quần chúng, xây dựng cơ sở cách mạng, bảo vệ nhân dân, bảo vệ lực lượng kháng chiến. Ngoài ra, nỗ lực hoạt động của đơn vị còn diễn ra trên các lĩnh vực khác. Đó là lập các cơ sở sản xuất tạo nguồn dự trữ cung ứng cho lực lượng hoạt động nội thành với những “ban công tác” nổi tiếng suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Đó là xây dựng và bảo vệ căn cứ địa của Khu Sài Gòn - Chợ Lớn, của tỉnh Gia Định và các cơ quan kháng chiến ở Tân Mỹ, Bình Lý, ở các chiến khu Đông Thành, Đồng Tháp Mười, Dương Minh Châu và những khu vực địa đạo lợi hại ở Phú Thọ Hòa, Phú Mỹ Hưng - Tân Phú Trung (sau này là địa đạo Củ Chi). Đó là hoạt động xây dựng lực lượng, bảo đảm hậu cần quân nhu, quân y xá, giao thông vận tải với những trại sản xuất lớn, những binh công xưởng, quân y viện, trường thiếu sinh quân, những đội công tác vận tải, liên lạc... Hàng đoàn “công-voa” xe bò chở lương thực thực phẩm nguyên hóa liệu cho binh công xướng lên căn cứ và chở vũ khí đạn dược từ căn cứ trở về các chiến trường, hàng chục cơ sở sản xuất lúa gạo, hoa màu, gia súc, đường mía, bột mì... hoạt động có kết quả. Dựa vào nhân dân, với tinh thần chủ động, tự lực cánh sinh để kháng chiến lâu dài, Giải phóng quân, Chi đội 12, Trung đoàn 312 đã gần như tự túc được hoàn toàn về lương thực và vũ khí. Trong điều kiện bị địch chia cắt phong tỏa ngặt nghèo sau trận bão lụt năm 1952, hoạt động của tiểu đoàn vận tải chiến lược 320 - mà cán bộ chiến sĩ chủ yếu lấy từ lực lượng Trung đoàn 312 cũ - đã góp phần cung ứng một lượng vũ khí đạn dược, thuốc men, tiền vàng, tài liệu quan trọng cho cóng cuộc kháng chiến. Trên mặt trận này, hàng trăm cán bộ chiến sĩ của trung đoàn đã anh dũng hy sinh. Thống kê thành tích của Trung đoàn 312 vì thế không chỉ đơn thuần thống kê số lượng và thành quả các trận đánh, mà phải thống kê hết những hoạt động âm thầm nhưng không kém phần quyết liệt của đơn vị trên các mặt trận xây dựng cơ sở, bám đất giữ làng và phục vụ kháng chiến. Và đó là một đặc điểm quan trọng của lịch sử Giải phóng quân liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa, Chi đội 12, Trung đoàn 312.


Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi. Toàn thể cán bộ, chiến sĩ của Trung đoàn 312 năm xưa lại tiếp bước vào cuộc đấu tranh mới: chiến đấu chống đế quốc Mỹ giải phóng miền Nam, chiến đấu bảo vệ biên giới và làm nghĩa vụ quốc tế, huấn luyện sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tố quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nhiều người trong số họ chuyển ngành, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trên các mặt trận kinh tế, chính trị tư tưởng, văn hóa xã hội... Dù ở nơi đâu, trên bất cứ cương vị nào, trong ký ức của họ luôn trào dâng một niềm tự hào khôn nguôi về những năm tháng được chiến đấu công tác trong đội hình Giải phóng quân liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa, Chi đội 12, Trung đoàn 312. Điều đó như một thứ năng lượng nuôi dưỡng quyết tâm của họ trên mỗi chặng đường tranh đấu. Và thứ năng lượng ấy, không chỉ lưu đọng trong trái tim mỗi cựu chiến binh Trung đoàn 312 hôm nay. Nó như một ngọn lửa, truyền tỏa sang thế hệ lực lượng võ trang kế cận, sang thế hệ những người lính hôm nay đang mỗi ngày hăng say luyện tập, mài sắc cảnh giác sẵn sàng chiến đấu bảo vệ sự bình yên của Tố quốc!


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 21 Tháng Tám, 2021, 02:20:58 pm
Đối với gián điệp ẩn nấp, nhất là đối tượng thuộc diện P86, lãnh dạo Bộ Công an chỉ đạo phải đấu tranh với tinh thần kiên quyết, thận trọng, không để lọt một đối tượng nào. Bộ tuyển chọn những cán bộ dày dạn kinh nghiệm thuộc hệ bảo vệ chính trị, bảo vệ nội bộ ở cơ quan Bộ và các địa phương, phối hợp với các ngành có liên quan làm nhiệm vụ tiếp nhận, trao trả tù, hàng binh theo Hiệp định Pari. Trong quá trình tiếp nhận, đã phát hiện hàng trăm đối tượng có dấu hiệu địch tuyển dụng, giao nhiệm vụ. Thẩm tra, xác minh, ta làm rõ cơ quan tình báo Mỹ đã tuyển dụng 32 đối tượng “Bắc vụ" và 28 đối tượng “Nam vụ”. Từ năm 1973 đến năm 1975, ta lần lượt xử lý toàn bộ những đối tượng P86 đánh ra miền Bắc trước và trong thời kỳ trao trả. Trong đó bóc gỡ toàn bộ điệp viên của “Kế hoạch Hải Yến" do CIA, Phủ Đặc uỷ Trung ương tình báo ngụy tiến hành từ năm 1969, bắt 8 điệp viên (7 điệp viên đánh ra miền Bắc, 1 điệp viên ở miền Nam).


Tại chiến trường miền Nam, Mỹ - ngụy sử dụng ba công cụ chủ yếu là: Cuộc Cảnh sát (cấp xã), Uỷ ban Phượng Hoàng xã, Phân chi khu quân sự xã để kìm kẹp, đánh phá hạ tầng cơ sở, đàn áp phong trào tại chỗ. Những công cụ này đều xây dựng cơ sở bí mật trong mọi tầng lớp nhân dân. Ở thành phố, thị xã, chúng tổ chức kìm kẹp tương tự như ở nông thôn, nhưng chặt hơn, sâu hơn. Đối với vùng giải phóng, địch sử dụng gián điệp cài vào nội bộ ta, chiêu hàng bí mật, tâm lý chiến, phá rối an ninh trật tự... mục tiêu chính là phục vụ cho lấn chiếm, giành dân và gây chiến tranh tâm lý.


Đối phó với hoạt động của địch, Trung ương Cục miền Nam xác định: "Công tác chống gián điệp phải tập trung cho chống phá bình định, giành dân, giành quyền làm chủ, mở rộng vùng giải phóng ở nông thôn, giữ vững vùng đã giải phóng". Đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới, lực lượng An ninh hướng công tác về cơ sở, nắm âm mưu địch sâu hơn, nắm quần chúng chắc hơn, tổ chức phong trào quần chúng làm công tác an ninh ở vùng giải phóng, vùng tranh chấp; phối hợp với phong trào "Tấn công địch phía trước, phá kìm kẹp phía sau". Chủ trương sáng suốt và kịp thời của Trung ương Cục đã giúp lực lượng An ninh hướng mũi nhọn cuộc đấu tranh vào âm mưu chiến lược của Mỹ, ngụy; hỗ trợ cho quần chúng vùng lên giành quyền làm chủ ở chính nơi mà kẻ địch cho là "Cuộc giành giật sống còn cuối cùng". Phong trào quần chúng phá kềm, diệt bọn ác ôn, bọn tay sai chỉ điểm phát triển mạnh và rộng khắp các vùng nông thôn, kể cả vùng Tây Nam Bộ. Chỉ tính từ năm 1973 đến tháng 5-1974 ta đã diệt 2.014 tên, bắt 1.588 tên ác ôn, nhân viên Phượng Hoàng khét tiêng ở vùng địch chiếm đóng; xây dựng dược 16.235 cơ sở là cán bộ nhân viên xã, ấp. Cuối năm 1974, hàng loạt “Ban tề" mật báo viên, nhân viên “Cuộc cảnh sát” ở địa bàn giáp ranh đã phải lưu vong hoặc trốn sâu vào vùng địch kiểm soát; hàng trăm ban An ninh thôn, ấp ở vùng trắng được phục hồi.


Đối với vùng hanh lang, vùng giáp ranh và vùng lõm đã vô hiệu hoá 11.635 tên là tay sai của "Sở Mỹ", trong đó có 38% là đối tượng gián điệp, chỉ điểm, nhân viên Uỷ ban Phượng Hoàng, ở vùng giải phóng ta vận động nhân dân củng cố phong trào "Bảo mật phòng gian”, giữ vững vùng giải phóng. Các lực lượng vũ trang tăng cường công tác truy lùng, đánh đuổi gián điệp biệt kích, bảo vệ an toàn cơ quan, kho tàng, tuyến đường vận chuyển. Hàng trăm toán gián điệp biệt kích đã bị bắt, bị diệt, có toán tới 30 tên. Từ năm 1973 đến cuối năm 1974, ta đã bắt, truy tố 343 tên gián điệp biệt kích, đưa đi tập trung cải tạo 1.420 tên.


Lực lượng An ninh các khu, tỉnh, huyện vừa khai thác số gián điệp bị bắt vừa soát xét lại vụ việc nghi nội gián trước kia chưa có điều kiện làm rõ để tổ chức bóc gỡ, từng bước củng cố nội bộ các cơ quan kháng chiến. Đến cuối năm 1974, ta đã khám phá 117 vụ nội gián, trong đó có 92 vụ ở các cấp cơ sở. Kết quả đấu tranh chống nội gián cho thấy, kẻ địch thu được một số kết quả ở cấp cơ sở, có tính chiến thuật nhưng chúng không thành công ở cấp cao và có tính chiến lược. Lực lượng An ninh đã hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ Đảng, bảo vệ nội bộ, bảo vệ các đồng chí lãnh đạo cao cấp. Đây là thành công có ý nghĩa quyết định đối với yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng. Cùng với đấu tranh bóc gỡ đầu mối nội gián, lực lượng An ninh đã chú trọng công tác thẩm tra, xác minh, giải oan nhiều trường hợp bị xử lý oan do cơ quan tình báo Mỹ, ngụy lập hồ sơ giả, tung tin bôi lem, làm khuynh đảo nội bộ ta.


Tóm lại: Giai đoạn từ năm 1973 đến năm 1975 là giai đoạn lịch sử ngắn nhưng có ý nghĩa quan trọng, là giai đoạn tạo thế, tạo lực, tạo thời cơ cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng. Công tác đấu tranh chống gián điệp ở cả hai miền Nam, Bắc đã đáp ứng được nhiệm vụ cơ bản của giai đoạn lịch sử quan trọng này. Việc kịp thời chuyển hướng đấu tranh, tổ chức lực lượng hướng về cơ sở, lấy xã, ấp giải quyết vấn đề chiến tranh 6 miền Nam là hệ thống những quyết sách sát hợp với diễn biến tình hình, đã phát huy cao độ vai trò của nhân dân, tao đã cho lực lượng cách mạng phát triển nhanh chóng, tạo thế và lực cho cách mạng. Trong đấu tranh, đã kết hợp chặt chẽ giữa trừng trị bọn gián điệp, chỉ điểm với phá thế kềm kẹp, giải quyết không chỉ mục tiêu đánh địch mà còn tạo ra áp lực chính trị mạnh, tác động tinh thần đối với hệ thống chính quyền tay sai ở cấp cơ sở của địch, góp phần phá âm mưu chiến lược của Mỹ, ngụy. Đây là một trong những yếu tố quan trọng, đánh bại bình định, chống lấn đất, giành dân, đẩy địch vào thế yếu, thế bị động; tạo thế, tạo lực, thúc đẩy thời cơ cho cuộc tổng tiến công đến sớm.


Trận tuyến đấu tranh chống gián điệp ở miền Bắc vẫn diễn ra quyết liệt, lực lượng An ninh sử dụng đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ; thực hiện các biện pháp phòng và chống đạt hiệu quả cao, nhất là đối với những phương thức hoạt động được đối phương tập trung triển khai như lâm thời, thường trú; bắt cóc ngư dân. Trong giai đoạn này, lực lượng An ninh miền Bắc đã giành được thắng lợi to lớn trong quá trình đấu tranh với đối tượng X70 và X77. Ta không chỉ vô hiệu hoá được hoạt động của điệp viên, bóc gỡ cơ sở của chúng mà chủ yếu là bảo vệ tuyệt đối an toàn đường lối của Đảng, tổ chức của Đảng nhưng vẫn đáp ứng yêu cầu đối ngoại phục vụ công cuộc giải phóng miền Nam, xây dựng và bảo vệ miền Bắc.


Đấu tranh chống nội gián ở miền Nam còn nhiều sơ hở, nhất là các cấp cơ sở, các đoàn thể quần chúng. Những thiệt hại do nội gián gây ra với cách mạng không nhỏ, song những thiệt hại đó chỉ xảy ra ở các cấp cơ sở nên kẻ địch không xoay chuyển được tình thế. Nhiệm vụ bảo vệ an toàn các cơ quan đầu não kháng chiến, các đồng chí lãnh đạo cao cấp, các chủ trương lớn là thắng lợi có ý nghĩa quyết định. Mặc dù kẻ địch đạt được kết qua ở mức độ nào đó trong các kế hoạch nội gián, song không gây tác hại đến mức làm khuynh đảo nội bộ ta hoặc chi phối khuynh hướng phát triển của cách mạng. Do đó, đấu tranh chống nội gián vẫn là thắng lợi to lớn ở miền Nam.


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 22 Tháng Tám, 2021, 02:11:41 pm
CHƯƠNG III
ĐẤU TRANH CHỐNG GIÁN ĐIỆP THỜI KỲ
XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC
VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA (1975-2005)


Cuộc đấu tranh chống gián điệp thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa từ năm 1975 đến năm 2005 diễn ra vô cùng gay go, quyết liệt và có độ nhảy cảm cao. Trên lĩnh vực bảo vệ an ninh chính trị, có thể phân thành hai giai đoạn rõ rệt là giai đoạn “chống kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt” (từ năm 1975 đến năm 1989) va giai đoạn “chống diễn biến hòa bình” (từ năm 1990 đến 2005).


1. Giai đoạn từ giữa năm 1975 đến cuối năm 1989

Mùa xuân năm 1975, quân và dân ta tiến hành cuộc tổng tiến công và nổi dậy, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Sau 30 năm kiên cường chiến đấu, dân tộc ta giành độc lập hoàn toàn, cách mạng nước ta chuyển sang bước ngoặt lịch sử mới: Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Giai đoạn lịch sử từ năm 1975 đến năm 1989, cách mạng nước ta phát triển thành hai bước rõ ràng: Từ năm 1975 đến năm 1986, cả nước vừa khắc phục hậu quả chiến tranh, ổn định an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, ổn định đời sống và sản xuất của nhân dân, vừa xây dựng Chủ nghĩa xã hội trước những tác động tiêu cực của đường lối, chính sách quan liêu bao cấp. Từ năm 1986 đến năm 1989, Đảng khởi xướng đường lối đổi mới, cả nước đi chặng đường đầu tiên thắng lợi của sự nghiệp đổi mới trước sự tấn công từ nhiều phía của bọn phản động quốc tế.


Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, tình hình an ninh chính trị ở các tỉnh phía Nam xuất hiện những vấn đề cấp bách cần được giải quyết: Hơn một triệu ngụy quân, ngụy quyền, hơn hai triệu đảng viên của 469 đảng phái phản động, 120.367 cảnh sát, mật vụ... tan rã tại chỗ; đa số ra trình diện và chấp hành học tập, cải tạo nhưng còn một bộ phận không nhỏ vẫn lẩn trốn hoặc thay đổi địa bàn tiếp tục chống phá. Dần dần chúng co cụm thành các ổ nhóm vũ trang, tổ chức phản động manh động chống chính quyền. Lực lượng Fulro ở các tỉnh Tây Nguyên được bọn phản động quốc tế hỗ trợ, hoạt động ráo riết và trắng trợn. Mặc dù đã thất bại, nhưng Mỹ vẫn nuôi ảo tưởng quay trở lại, tiến hành nhiều kế hoạch cài gián điệp ở lại, chờ thời cơ hoạt động. Sau một thời gian nằm im nghe ngóng, bọn gián điệp cài lại dần dần móc nối hoạt động, câu móc với các tổ chức phản động thành những liên minh phản cách mạng manh động gây ra nhiều vụ bạo loạn ở các tỉnh phía Nam.


Diễn biến tình hình trên càng trở nên trầm trọng do những tác động khách quan trọng nội tại xã hội ta sau chiến tranh: Đất nước liên tục bị thiên tai hạn hán; cơ chế quản lý quan liêu bao cấp không phù hợp với thực tiễn; một số sai lầm trong việc đề ra chính sách điều hành xã hội dẫn đến sản xuất bị đình đốn, lưu thông phân phối ách tắc, đời sống của nhân dân vô cùng khó khăn. Nạn tham nhũng, buôn lậu, trộm cắp hoành hành, tệ nạn xã hội phát triển, trật tự an toàn xã hội có biểu hiện rối ren. Từ năm 1978, số người trốn ra nước ngoài ngày một đông. Cùng với bọn di tản năm 1975, những người trôn khỏi Tổ quốc là nguồn để bọn phản động quốc tế sử dụng làm lực lượng xung kích chống phá ta. Đối với Mỹ, sau thất bại năm 1975, CIA điều chỉnh kế hoạch tình báo để phục vụ cho âm mưu đánh ta lâu dài. Chúng sử dụng bọn di tản, những người trốn ra nước ngoài làm lực lượng công khai phá hoại tư tưởng và bí mật xâm nhập về nước gây bạo loạn. CIA tăng cường cài điệp viên vào các đoàn lâm thời, trụ sở thường trú của các nước đồng minh với Mỹ hoặc lệ thuộc; móc nối với cơ quan đặc biệt TH, các nước thuộc khu vực quanh Đông Dương, hình thành vành đai trực tiếp uy hiếp an ninh nước ta và các nước Đông Dương.


Bị thất bại trong cuộc chiến tranh biên giới phía Tây Nam và phía Bắc, cơ quan đặc biệt TH càng tăng cường hoạt động gián điệp đối với nước ta. TH dùng mọi thủ đoạn, tận dụng mọi điều kiện, ồ ạt tung gián điệp vào sâu trong nội địa vừa thu thập tin tức vừa kích động người Hoa chống phá. Trong đó, ngoài số nội gián đã cài vào nội bộ ta từ nhiều năm trước, TH ráo riết mua chuộc, khống chế cán bộ và nhân viên các cơ quan Đảng, Chính quyền, lực lượng vũ trang làm cơ sở cho chúng. TH còn lợi dụng quan hệ thân tộc, giao lưu hàng hoá, chợ đường biên... tung tay chân vào nội địa hoặc bí mật bắt bà con các vùng giáp ranh khống chế, mua chuộc, giao nhiệm vụ. Sau thất bại ở biên giới phía Tây Nam và phía Bắc năm 1979, từ năm 1980 đến năm 1985, TH duy trì 7 đại đội phỉ hoạt động trong vùng rừng núi 6 tỉnh phía Bắc nước ta với mục đích vừa gây rối vừa kích động đồng bào dân tộc nổi dậy chống chính quyền. Để phục vụ cho âm mưu "bá quyền", TH phát động “kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt", đánh ta toàn diện trên mọi lĩnh vực. Một trong những hướng tấn công chủ yếu của chúng là sử dụng bọn phản động lưu vong, huấn luyện thành gián điệp biệt kích bí mật xâm nhập về nước mang theo các loại phương tiện chiến tranh, liên kết với các đầu mối gián điệp, với các tổ chức phản động trong nội địa thực hiện các kế hoạch “Trong nổi dậy, ngoài đánh vào", bạo loạn lật đổ chính quyền ở từng địa phương, xây dựng căn cứ, phát triển lực lượng, tiến đến thực hiện âm mưu bạo loạn lật đổ chính quyền trên cả nước vào các năm 1982, 1983, 1985, 1987. Do đó, yêu cầu của cuộc đấu tranh chống gián điệp ở giai đoạn này là vừa phải giải quyết những vấn đề căn bản do hậu qua chiến tranh, vừa phải chuyển hướng để đánh bại âm mưu mới, sự liên kết mới của các cơ quan gián điệp nước ngoài.


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 28 Tháng Tám, 2021, 01:43:29 pm
Trước diễn biến của tình hình ngày càng phức tạp, Đảng, Nhà nước nỗ lực tìm kiếm và đề ra các chủ trương, biện pháp mới, quyết tâm kiềm tỏa, đẩy lùi khó khăn, giữ vững ổn định chính trị trong giai đoạn lịch sử khó khăn nhất. Năm 1986, Đảng ta thực hiện chủ trương đổi mới toàn diện và triệt để, dần dần đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, vững bước trên con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trung ương Đảng, lãnh đạo Bộ Công an xác định miền Nam vẫn là chiến trường chính của trận tuyến đấu tranh chống phản cách mạng, tập trung chỉ đạo thực hiện những công tác cơ bản, cấp bách và mang tính chiến lược: Truy quét tàn quân địch; thu gom phương tiện chiến tranh; loại trừ khả năng co cụm, manh động vũ trang bạo loạn của số tàn dư là ngụy quân, ngụy quyền; tổ chức trình diện, cải tạo với những phần tử làm việc cho chính quyền địch, trọng tâm là đối tượng tình báo, an ninh, cảnh sát, đảng phái chính trị phản động; bóc gỡ mạng lưới gián điệp cài lại, chú trong đối tượng nội gián. Đối với công tác trình diện, cải tạo, mặc dù các lực lượng đã nỗ lực giải quyết nhưng số lượng đối tượng ra trình diện thấp (60%), các loại an ninh, cảnh sát, CIA, ra trình diện dưới 40%. Trước tình hình đó, Trung ương Cục ra Chỉ thị số 10/CT nhấn mạnh yêu cầu trấn áp phản cách mạng và xác định danh mục gồm 10 loại đối tượng cần trấn áp. Loại I gồm: “Hệ thống Công an, tình báo, CIA, các loại gián điệp, bọn phản bội đầu hàng, chiêu hồi, nội gịán". Thực hiện Chỉ thị của Trung ương Cục, Bộ tăng cường hàng ngàn cán bộ An ninh cho các tỉnh phía Nam để tập trung lực lượng giải quyết. Kết quả đã tiến hành cải tạo ngắn hạn 50.327 tên, cải tạo dài hạn 5.724 tên; truy bắt 50.000 đối tượng an ninh trốn trình diện, trong đó gần 10.000 tên là an ninh, cảnh sát, chiêu hồi, gián điệp; xác định được hơn 100 tên là trùm CIA như Tucket Richad White, Hoàng Huỳnh, Nguyễn Văn Thuận; đẩy đuổi 500 điệp viên quốc tịch Mỹ, đồng minh của Mỹ núp dưới danh nghĩa phóng viên, nhân viên xã hội, chuyên viên kỹ thuật, khoác áo tu sĩ, kẹt lại.


Trong quá trình đấu tranh, lực lượng An ninh tập trung đấu tranh trực diện với số đối tượng loại I, khai thác hồ sơ thu được của địch, phát hiện được hàng ngàn đầu mối nội gián, gián điệp cài lại trong kế hoạch hậu chiến của Mỹ, ngụy. Ta nắm được âm mưu tổng quát và một số kế hoạch cụ thể được Mỹ, ngụy triển khai từ năm 1968. Đã tham mưu cho lãnh đạo Bộ đề ra chủ trương đấu tranh tại Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 30, tháng 12-1975: “Phải tăng cường sưu tập, phát hiện địch từ các điểm xuất phát của chúng ở các địa bàn nước ngoài, đặc biệt chú trọng những trung tâm chỉ huy gián điệp của Mỹ và các địa bàn tập trung bọn di tản”. Quán triệt chỉ đạo của Bộ, lực lượng An ninh triển khai đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ, tập trung vào công tác điều tra cơ bản và làm rõ nhiều kế hoạch tình báo của Mỹ, ngụy đã tiến hành ngay trong quá trình bốn bên đàm phán tại Hội nghị Pari. Đặc biệt, ta phát hiện từ tháng 3 năm 1975, cơ quan tình báo Mỹ điều chỉnh kế hoạch hậu chiến được hoạch định năm 1968 thành “Kế hoạch lâu dài”. “Kế hoạch lâu dài” gồm 3 nội dung:

- Miền Nam có thể có chính phủ liên hiệp hoặc bị cách mạng giải phóng hoàn toàn. Phải chuẩn bị cho cả hai khả năng. Soát lại toàn bộ điệp viên CIA, chọn số không bị lộ huấn luyện cấp tốc để có thể cài lại.

- Tuyển nhân viên mới nhằm vào các thành phần trong cơ quan kinh tế, cơ quan chính trị, sinh viên, trí thức, tôn giáo, "có bộ mặt sạch sẽ", không hợp tác với Thiệu và Mỹ, có kahr năng tiếp cận nguồn tin, huấn luyện gián điệp để cài lại.

- Cất giấu phương tiện dự trữ để điệp viên hoạt động lâu dài.


"Kế hoạch lâu dài" của CIA ra đời trong lúc quân và dân ta tiến hành cuộc tổng tiến công nên chúng chỉ triển khai được một phần. Tuy vậy, CIA cũng cài được một số cơ sở ở miền Tây, quân khu I, quân khu II. Sau khi chiến tranh kết thúc, ta chủ động truy quét, bóc gỡ bọn gián điệp và phản động nên về căn bản mạng lưới gián điệp cài lại trong kế hoạch bị bắt, cải tạo hoặc tan rã. Chỉ tính riêng đầu mối Trương Đình Du, lực lượng An ninh đã bắt 11 điệp viên, tổ chức trinh sát hơn 100 đối tượng có dấu hiệu CIA cài cắm.


Từ đầu năm 1976 đến năm 1980, lãnh đạo Bộ chỉ đạo lực lượng Bảo vệ nội bộ tập trung mũi nhọn vào đấu tranh chống nội gián - phương thức nguy hiểm nhất mà cơ quan tình báo Mỹ, ngụy đã triển khai ráo riết từ năm 1968 trong kế hoạch hậu chiến. Tháng 9-1976, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị 236/CT-TW xác định: “Chúng đã tìm mọi cách gài người vào nội bộ Đảng, vào các cơ quan cách mạng, phá từ bên trong phá ra... Phải phát hiện, thẩm tra, kết luận, xử trí những tên nội gián làm tay sai cho địch, những phần tử đã đầu hàng giặc”. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IV tiếp tục nhấn mạnh: "Phải cảnh giác đề phòng những phần tử cơ hội chui vào Đảng”. Để triển khai công tác đấu tranh chống nội gián, Bộ Chính trị ra Nghị quyết thành lập “Tiểu ban đặc biệt bảo vệ Đảng” ở các tỉnh phía Nam; giao cho lực lượng An ninh phối hợp với các cấp ủy Đảng tổ chức quét hết mạng lưới nội gián: “Tập trung vào vấn đề chống mạng lưới nội gián của Mỹ, ngụy đã cài cắm vào nội bộ ta từ 30-4-1975 về trước mà chủ yếu là ở địa bàn các tỉnh phía Nam từ Bình Trị Thiên trở vào"1 (Nghị quyết Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 31). Thực hiện Nghị quyết của Đảng, Bộ triệu tập Hội nghị chuyên đề chống nội gián; quyết định thành lập Phòng chống nội gián đặt tại Cục KE3; thành lập các tổ chống nội gián tại Công an các tỉnh phía Nam và các tỉnh trọng điểm phía Bắc. Hội nghị ra Chỉ thị số 17 nêu rõ: “Phải coi công tác chống nội gián là công tác có tầm quan trọng đặc biệt, phải tiến hành khẩn trương, cấp bách và phải được tập trung chỉ đạo, tập trung lực lượng hoàn thành". Chỉ thị 17 xác định một số vấn đề về phương châm, nguyên tắc trong quá trình đấu tranh: “Giữ vững bên trong, tích cực phòng ngừa, bảo vệ an toàn nội bộ ta", “Khẩn trương phát hiện, kịp thời xử lý"; khi xử lý phải đảm bảo nguyên tắc “Kiên quyết và thận trọng". Sau 5 năm đấu tranh, ta đã tổ chức khai thác hàng chục ngàn hồ sơ về kế hoạch, đầu mối; thẩm vấn hàng ngàn sĩ quan chỉ huy, sĩ quan điều khiển của địch đang tập trung cải tạo; thẩm tra 36.800 hồ sơ thẩm vấn cán bộ ta bị địch bắt; 268.000 hồ sơ chiêu hồi. Phối hợp với các cơ quan chức năng xác minh, kiểm danh, kiểm diện 2.932 đối tượng là nội gián do CIA, Đặc uỷ Trung ương Tình báo, cảnh sát đặc biệt, Uỷ ban Phượng Hoàng, Biệt đội sưu tầm, An ninh quân đội thực hiện. Trong đó có những đầu mối điên hình: Vụ Nguyễn Thượng Biển, Đinh Văn Di, Nguyễn Văn Can, Võ Văn Ba, Vũ Thị Hằng, Tạ Văn Bốn, Nguyễn Thúc Tuân...


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 04 Tháng Chín, 2021, 08:05:23 pm
Năm 1980, Bộ tiến hành tổng kết công tác đấu tranh chống nội gián và đánh giá: “Tuy ta đã quét vét cơ bản mạng lưới nội gián Mỹ, ngụy cài lại trước ngày 30-4-1975 nhưng mới ở bề nổi khi xử lý còn nhiều vấn đề vướng mắc, cần phải tiếp tục tiến hành nghiên cứu lâu dài và thận trọng”.


Mặc dù Đảng ta và ngành Công an đã xác định nội gián là đối tượng nguy hiểm nhất; kịp thời chỉ đạo đấu tranh, tổ chức lực lượng đủ sức bóc gỡ mạng lưới địch cài cắm và đã đạt được những kết quả quan trọng. Nhưng từ sau năm 1980 không duy trì đúng mức công tác này, trong quá trình thẩm tra hoặc xử lý đụng chạm đến những vấn đề “nhạy cảm” chưa có đối sách cụ thể. Do đó, nhìn tổng quát, công tác chống nội gián tuy bước đầu đáp ứng được yêu cầu khách quan của lịch sử nhưng chưa đúng tầm với âm mưu, quy mô, mức độ mà kẻ địch đã thực hiện từ nhiều năm trước.


Trên lĩnh vực đấu tranh với phương thức lâm thời, thường trú, ta chủ động triển khai các mặt công tác phòng ngừa, trong đó đã thống nhất các phong trào quần chúng trong thời kỳ chống Mỹ thành “Phong trào bảo vệ An ninh Tổ quốc", nội dung và hình thức phù hợp với bối cảnh nước nhà thống nhất, mở rộng quan hệ ngoại giao. Bộ đã tham mưu giúp Đảng và Nhà nước ban hành nhiều chủ trương, chính sách, quy định về tiếp xúc, làm việc với người nước ngoài; về giữ gìn bí mật; về tăng cường công tác bảo vệ nội bộ. Những mặt hoạt động mang tính công khai của các tầng lớp quần chúng và cán bộ cùng với các biện pháp nghiệp vụ của lực lượng An ninh đã tạo thành thế trận bao vây, vô hiệu hoá căn bản hoạt động của gián điệp lâm thời, thường trú. Từ năm 1975 đến tháng 10-1978, theo dõi 178 đoàn, gồm 738 đối tượng Mỹ hoặc các tổ chức quốc tế do Mỹ chi phối, phát hiện 142 tên là CIA, 165 tên nghi DIA. Theo dõi số đối tượng thuộc nước Cộng hoà Pháp, phát hiện 15 tên là CIA. Từ năm 1979 đến năm 1986 đã theo dõi 33.488 lượt người nước ngoài vào Việt Nam. Ngoài phát hiện các đối tượng Mỹ, còn phát hiện các điệp viên của cơ quan đặc biệt TH, Thái Lan Nhật Bản, Pháp. Trong quá trình đấu tranh, ta chọn lựa một số điệp viên có đủ điều kiện, đánh trở lại trung tâm địch phục vụ yêu cầu nắm địch từ trung tâm chỉ huy của chúng.


Trên lĩnh vực đấu tranh với gián điệp của TH: từ trước năm 1975, cơ quan đặc biệt TH đã lợi dụng sự giúp đỡ cách mạng nước ta để tổ chức hoạt động gián điệp nhưng còn dè dặt, chủ yếu là thu thập tin tức nhằm điều chỉnh đường lối của Đảng, tác động để biến nước ta thành nước lệ thuộc vào họ. Thời kỳ này Trung ương Đảng đã chỉ đạo cơ quan An ninh thành lập bộ phận chuyên trách theo dõi đối tượng X70 đặt tại Cục 78, chuyên trách theo dõi đối tượng TH và những người theo quan điểm của TH. Từ những năm 1970, lực lượng An ninh đã biên soạn một đầu sách chuyên đề, hướng dẫn toàn ngành nắm tình hình, thực hiện đối sách cụ thể với đối tượng X70. Sau năm 1975, TH chuyển sang giai đoạn hoạt động mới với quy mô, tính chất ngày càng quyết liệt, trắng trợn, bộc lộ rõ bản chất phản động quốc tế và dã tâm thôn tính nước ta. Trung ương Đảng xác định TH là kẻ thù trực tiếp, nguy hiểm của cách mạng nước ta và kết luận tại Nghị quyết 31-NQ/TW: “Những đối tượng sau đây cần phải tập trung đấu tranh và trừng trị kịp thời:

1. Bọn gián điệp TH, bọn tay sai và đồng bọn của chúng.

2. Bọn gián điệp Mỹ, bọn gián điệp Nhật, Pháp, Anh và tay sai của chúng.

3. Mũi nhọn đấu tranh phải nhắm trước hết vào bọn gián điệp TH và gián điệp Mỹ là đối tượng nquy hiếm nhất, mà nguy hiểm trực tiếp là gián điệp TH. Trong bọn gián điệp thì nguy hiểm nhất là bọn nội gián”. Nghị quyết 31 của Bộ Chính trị chỉ ra những công tác lớn nhằm nắm cho được âm mưu, tổ chức hoạt động của từng loại đối tượng; xác định các vùng xung yếu; củng cố tổ chức Đảng, chính quyền nhằm đấu tranh có hiệu quả với âm mưu của CIA và cơ quan đặc biệt TH. Trung ương Đảng chỉ thị cải tổ bộ máy tổ chức Công an nhân dân, thành lập Cục Chống gián điệp TH (A14) và các bộ phận chuyên trách chống gián điệp TH ở địa phương để tăng cường tổ chức đấu tranh.


Trước năm 1978, lực lượng An ninh đã khám phá một số án như Lý Nghiệp Phu, Trần Hoạt, Quách Minh...; phát hiện mạng lưới điệp viên nằm trong “Hội Hoa liên”, “Báo Tân Việt Hoa", “Hội sinh viên Hoa kiều yêu nước", “Công ty hữu hạn Hoa Nam” và một số đầu mối nội gián cài vào nội bộ ta. Từ sau “sự kiện người Hoa”, sau hai cuộc chiến tranh biên giới phía Tây Nam và phía Bắc, cơ quan đặc biệt TH tiến hành hoạt động gián điệp với quy mô ngày càng lớn, nhiều cách thức mới, thủ đoạn hoạt động đa dạng. Hoạt động gián điệp không chỉ do cơ quan đặc biệt tổ chức mà nhiều cơ quan khác nhau, từ Trung ương tới địa phương đều tổ chức do đó diễn biến hoạt động hết sức phức tạp. Gián điệp TH hoạt động chủ yếu trên các lĩnh vực: cài nội gián; sử dụng Hoa kiều; chợ đường biên, hoạt động phỉ; gây chiến tranh tâm lý. Đặc biệt nghiêm trọng là TH câu kết với CIA sử dụng các tổ chức phản động người Việt lưu vong ở nước ngoài; móc nối với cơ quan tình báo Thái Lan và một số nước trong khu vực, sử dụng đất của họ làm căn cứ huấn luyện, cung cấp vũ khí và phương tiện chiến tranh, biến chúng thành những tên lính xung kích để thực hiện chiến thuật “trong nổi dậy, ngoài đánh vào”.


Để đấu tranh thắng lợi với gián điệp TH, Đảng ta xác định phải vận động tất cả các cơ quan ban ngành, các cộng đồng dân cư kể cả Hoa kiều, nâng cao cảnh giác, tích cực tham gia. Do vậy, khi giải quyết vụ gây rối ở miền Nam, ta đã bắt 140 tên cầm đầu an toàn và phát hiện trong số này có 7 tên đã đi Trung Quốc quay trở lại. Đã làm rõ Cục Tình báo Hoa Nam phái hàng trăm điệp viên vào miền Nam, ngụy trang là các công ty kinh doanh: “Công ty hữu hạn Hoa Nam”, “Công ty Trung Quốc thổ sản thương xã"... Chúng lập hệ thống chân rết dưới dạng các cửa hàng ở khắp 17 tỉnh thành phố miền Nam. Tại thành phố Hồ Chí Minh, lực lượng An ninh phá 8 tổ chức phản động dưới dạng đoàn hội: “Hội học sinh Hoa kiều yêu nước”, “Đoàn thanh niên chủ nghĩa Mác - Lênin"... bắt 41 tên cầm đầu. Khám phá một tổ chức phản động “Dân chủ tự lập” ở Điện Biên gồm 39 tên do Bạc Cầm Oan - gián điệp TH cầm đầu; phá tổ chức phản động tại Đồng Đăng gồm 50 tên do 4 cán bộ đảng viên của ta bị địch mua chuộc và trở thành kẻ cầm đầu, do gián điệp TH chỉ đạo. Chỉ tính trong 3 năm, từ năm 1978 đến năm 1980, lực lượng An ninh đã phát hiện 1.485 tên trong mạng lưới tình báo TH cài lại; 153 tên do Công an TH mới đánh sang. Từ năm 1980 đến năm 1986, phát, hiện, xử lý hàng trăm tên nội gián cài vào chính quyền cơ sở cấp xã, huyện, lực lượng vũ trang ở các tỉnh biên giới phía Bắc; hàng trăm tên chui vào các cơ quan xí nghiệp, ban ngành ở Trung ương và lực lượng vũ trang Quân khu I, Quân khu II.


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Chín, 2021, 08:30:52 pm
Đấu tranh chống gián điệp TH ở giai đoạn này diễn biến vô cùng gay go, quyết liệt. Ta vừa phải đấu tranh với hệ thống TH đã cài cắm trước năm 1975, vừa phải đấu tranh với những chiến dịch mới, cách thức hoạt động mới, ráo riết và trắng trợn có sự câu móc, hỗ trợ của lực lượng không nhỏ người Hoa trên đất nước ta. Đây cũng là giai đoạn Đảng ta hoạch định đường lối, phương châm, đối sách phù hợp với thực tiễn hoạt động của loại đối tượng đặc biệt này. Do đó, từng bước bóc gỡ căn bản số điệp viên đã cài cắm từ trước; đồng thời ngăn chặn có hiệu quả những chiến dịch hoạt động mới của cơ quan đặc biệt TH. Tuy nhiên do những đặc điểm về địa lý, xã hội; do lịch sử quan hệ lâu đời giữa hai nước, hai dân tộc đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình tổ chức đấu tranh cũng như xử lý đối tượng. Gián điệp TH cũng đã đạt được một số kết quả trong việc cài cắm, móc nối tay chân vào nội bộ các cơ quan Đảng, Chính quyền, Quân đội, Công an, nhất là ở sáu tỉnh biên giới, Quân khu I, Quân khu II, gây tác hại không nhỏ. Do đó đấu tranh với đối tượng TH vẫn luôn là mặt trận nóng bỏng và quyết liệt.


Từ năm 1980, bọn phản động trong giới cầm quyền TH phát động kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt; câu kết với Mỹ thiết lập vành đai chống Việt Nam, phát động “kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt”; hướng tấn công chủ yếu là “Trong nổi dậy, ngoài đánh vào”. Cơ quan đặc biệt chỉ đạo và tài trợ cho các tổ chức phản động lưu vong do Võ Đại Tôn, Đặng Văn Thanh, Lê Quốc Túy, Mai Văn Hạnh, Hoàng Cơ Minh, Trần Quang Đô cầm đầu thành lập tổ chức tại các khu vực có những trung tâm thù địch chống nước ta như Úc, Mỹ, Pháp, Canađa, Đức; sau đó lần lượt trở về Thái Lan xây dựng căn cứ bàn đạp, phát triển lực lượng, tổ chức huấn luyện, chuẩn bị các điều kiện xâm nhập về nước. Điển hình là tổ chức tình báo gián điệp do Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh cầm đầu; Túy, Hạnh thành lập tổ chức tại Pháp, năm 1980 chuyển về Thái Lan, được tình báo TH, tình báo Thái Lan chỉ đạo, cung cấp phương tiện hoạt động, tiền bạc, cho lập mật cứ, cử chuyên gia huấn luyện biệt kích, cho sử dụng cảng Rayon và đảo Samui làm đầu cầu tập kết vũ khí và biệt kích để tiến hành xâm nhập bằng đường biển. Chỉ trong một thời gian ngắn, chúng đã cung cấp cho tổ chức tình báo gián điệp do Túy, Hạnh cầm đầu hàng trăm tấn súng đạn, phương tiện hoạt động. Ngoài cung cấp đôla (USD), TH còn in cho chúng 300 triệu đồng tiền ngân hàng Việt Nam giả để phá hoại kinh tế của ta (vào thời điểm năm 1982, 1983, với 300 triệu đã đủ sức làm khuynh đảo nền kinh tế đất nước). Cuối năm 1980, Túy, Hạnh bắt đầu thực hiện kế hoạch xâm nhập về nước, móc nối với các tổ chức phản động trong nội địa hòng thực hiện âm mưu bạo loạn cướp chính quyền vào các năm 1982, 1983 và 1985. Gần 7 năm (1981-1987), lực lượng An ninh triển khai kế hoạch KHCM12 và ĐN10, dụ chúng tiến hành hơn 20 chuyến xâm nhập để đón bắt gần 200 tên biệt kích, thu hơn 300 tấn vũ khí và phương tiện hoạt động; bóc gỡ hàng chục đầu mối gián điệp cài lại; trấn áp 10 tổ chức phản động đã móc nối với CM12, có tổ chức gồm hàng ngàn tên; phá tan các kế hoạch bạo loạn cướp chính quyền của bọn phản động quốc tế.


Khi Túy, Hạnh thất bại, chúng lại tiếp tục nuôi dưỡng các tổ chức phản động lưu vong do Hoàng Cơ Minh, Trần Quang Đô, Đặng Văn Thanh cầm đầu. Từ năm 1987 đến năm 1989, chúng thực hiện nhiều cuộc hành quân bằng đường bộ, xâm nhập vào địa bàn các tỉnh Trung Bộ và Nam Bộ. Có cuộc hành quân tới 151 tên, tiếp tục thực hiện âm mưu liên kết với các đầu mối gián điệp, các tổ chức phản động trong nội địa, âm mưu cướp chính quyền ở từng xã, từng huyện; xây dựng mật cứ, phát triển lực lượng để đồng loạt nổi dậy cướp chính quyền. Từ năm 1987 đến năm 1989, lực lượng An ninh phối hợp với nước bạn, đập tan 3 cuộc hành quân ''Đông tiến", bắt và diệt gần 300 tên, thu gần 100 tấn vũ khí và phương tiện chiến tranh. Hoạt động gián điệp ở giai đoạn này có một số nét mới: Bọn gián điệp không chỉ thu thập tin tình báo mà chúng nghiêng hẳn về móc nối cơ sở, hoạt động vũ trang và làm lực lượng nòng cốt của các tổ chức phản động trong nước, hoặc bộ khung của lực lượng quân sự, chính quyền trong nội địa khi được thành lập. Do đó, quá trình đấu tranh chống gián điệp, lực lượng An ninh đã thực hiện chiến thuật mới: Thúc đẩy các tổ chức phản động phải bộc lộ để trấn áp.


Trong quá trình đấu tranh với phương thức này, lực lượng An ninh đã dự báo, tính toán trước những khả năng kẻ địch sẽ tiến hành chống phá ta để hoạch định đối sách thích hợp. Ta triển khai đồng bộ các biện pháp nắm tình hình; theo dõi chặt những đối tượng ở trong nước, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh công tác đấu tranh chống phản động, phá vỡ thế liên minh, hợp lực giữa bọn bên trong với bọn bên ngoài. Một trong những công tác cơ bản được chú trọng thực hiện và thực hiện có hiệu quả là tổ chức trinh sát nắm địch từ xa. Kết quả của công tác này giúp lực lượng An ninh nắm chắc được các tổ chức phản động lưu vong ngay từ khi bắt đầu hình thành; nắm được lực lượng, thời gian chúng chuyển về các nước trong khu vực xây dựng căn cứ bàn đạp. Do nắm chắc tình hình địch, nên đã chủ động xác định phương hướng đấu tranh cũng như áp dụng sắc sảo chiến thuật “dùng người của địch, phương tiện của địch để đánh lại địch”. Quá trình tổ chức đấu tranh lực lượng An ninh không những làm thất bại âm mưu, hoạt động của bọn phản động quốc tế mà còn tương kế bắt hầu hết bọn cầm đầu tổ chức; trấn áp mạnh các tổ chức phản động bên trong, phá tan liên minh phản cách mạng trong - ngoài, giữ vững an ninh chính trị trong giai đoạn đất nước đang gặp rất nhiều khó khăn. Thắng lợi trên trận tuyến này có ý nghĩa quan trọng đối với nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia. Không những ta đánh bại hướng tấn công chủ yếu của “Kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt”, mà còn xây dựng được địa bàn an ninh cần thiết đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng.


Tóm lại: Thời kỳ từ năm 1975 đến năm 1989 là giai đoạn lịch sử có nhiều diễn biến phức tạp. Đất nước ta trải qua những khó khăn thử thách to lớn trước bước ngoặt lịch sử mới. Đảng ta đã kịp thời chỉ đạo, xác định đối tượng nguy hiểm trước mắt và lâu dài để tập trung mũi nhọn đấu tranh. Xác định địa bàn trọng điểm là các tỉnh phía Nam để tập trung chỉ đạo và tập trung lực lượng tổ chức đấu tranh; xác định những phương thức hoạt động chủ yếu của địch cần phải chĩa mũi nhọn giải quyết.


Đấu tranh chống gián điệp và đấu tranh chống phản động đã hỗ trợ, tạo điều kiện cho nhau tạo thành thế trận phòng ngừa, trấn áp phản cách mạng hoàn chỉnh, phá vỡ thế liên kết trong - ngoài, đồng thời còn tạo điều kiện để ta thực hiện chiến thuật “Trò chơi nghiệp vụ" trong nhiều năm mà các cơ quan tình báo và các thế lực thù địch không hay biết. Làm tốt công tác đấu tranh chống phản động ở các tỉnh phía Nam cũng tức là xoá bỏ cơ sở xã hội và những điều kiện bọn gián điệp có thể móc nối hoặc ẩn nấp đối với địa bàn có hàng triệu người đã từng cộng tác với Mỹ.


Công tác điều tra nắm tình hình địch được củng cố một bước rất cơ bản, giúp ta dự đoán, dự báo đúng hướng hoạt động của địch. Lực lượng An ninh đã mạnh dạn sử dụng biện pháp trinh sát nắm địch từ trung tâm xuất phát âm mưu ở nước ngoài và đạt kết quả cao. Đã phối hợp chặt chẽ với các nước trong khu vực, kết hợp nhuần nhuyễn giữa phản gián với tình báo, đánh địch từ căn cứ bàn đạp, từ nơi xuất phát. Biện pháp và chiến thuật này tuy không mới nhưng được vận dụng sáng tạo trong điều kiện lịch sử mới đã đem lại thắng lợi to lớn. Quá trình đấu tranh với các tổ chức, đầu mối gián điệp, ta đã mạnh dạn xây dựng cơ sở đánh vào trung tâm của chúng ở nước ngoài, chuẩn bị điều kiện nắm âm mưu và hoạt động của chúng ở những giai đoạn sau. Đặc biệt là đã phát huy được tinh thần yêu nước của kiều bào, kể cả những người bị địch mua chuộc, ép buộc theo chúng nên giúp ta nắm được âm mưu của địch ngay từ khi chúng bắt đầu tập hợp lực lượng ở nước ngoài.


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 11 Tháng Chín, 2021, 08:18:23 pm
2. Giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2005

Giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2005 là giai đoạn đất nước bước sang thời kỳ mới của sự nghiệp đổi mới và tiếp tục đạt được những thành tựu to lớn; đã thoát khỏi tình trạng khủng hoảng và chuyển sang thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế sâu rộng. Đặc điểm nổi bật của giai đoạn lịch sử này là Đảng và Nhà nước xây dựng cương lĩnh cách mạng của thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội; ban hành nhiều quyết sách mới; xác định những thành phần kinh tế của thời kỳ quá độ, phát triển mạnh mẽ nền kinh tế thị trường; phát huy cao độ dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo; sửa đổi, bổ sung hệ thống luật pháp; mở cửa hợp tác quốc tế sâu rộng, thực hiện đường lối ngoại giao đa chiều, đa dạng.


Giai đoạn này tình hình quốc tế diễn biến hết sức phức tạp, xuất hiện nhiều yếu tố nhạy cảm và khó lường. Bước sang thập kỷ 90, Đảng Cộng sản Liên Xô và hệ thống các đảng Cộng sản ở Đông Âu lâm vào tình trạng khủng hoảng. Liên bang Xô Viết, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu tan rã. Cuộc chiến tranh lạnh kết thúc, thế giới chuyển từ đối đầu giữa hai siêu cường (thực chất là phe xã hội chủ nghĩa và phe đế quốc) sang đối thoại. Chủ nghĩa khủng bố đe dọa nghiêm trọng đến an ninh quốc tế và khu vực; một số quốc gia lợi dụng chống khủng bố thực hiện âm mưu lãnh đạo thế giới. Đế quốc Mỹ tiếp tục thể hiện vai trò sen đầm quốc tế, mở rộng quyền lực đối với các nước có nguồn nguyên liệu dồi dào, các khu vực chiến lược; tổ chức tấn công toàn diện, triệt để vào các nước còn lại của phe xã hội chủ nghĩa hòng xoá bỏ Đảng Cộng sản, lật đổ chủ nghĩa xã hội ở các nước này.


Trong bối cảnh đó, Mỹ và các thế lực thù địch xác định Việt Nam là một trong những tiêu điểm, là thành trì cuối cùng của chủ nghĩa xã hội và tập trung chĩa mũi nhọn tấn công. Chúng thực hiện âm mưu mới, phương thức mới, sự liên kết mới, nguy hiểm hơn nhằm phục vụ cho chiến lược “Diễn biến hoà bình” với mục đích cuối cùng là xoá bỏ Đảng Cộng sản, lật đổ Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Trong nhiều hình thức chống phá của “Diễn biến hoà bình”, trên lĩnh vực an ninh chính trị, các thế lực thù địch thực hiện những hình thức chủ yếu sau:

- Lập nhiều trung tâm phá hoại tư tưởng ở các nước Pháp, Mỹ, Canađa, Anh, Úc, Nhật...; sản xuất hàng trăm chương trình nghe, nhìn bằng tiếng Việt để tuyên truyền phá hoại tư tưởng, xuyên tạc tình hình nước ta trên trường quốc tế, đồng thời tán phát về nước hòng làm thối ruỗng tư tưởng cán bộ và nhân dân, xói mòn lòng tin đối với Đảng Cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

- Đưa tay chân vào nước ta núp dưới vỏ bọc đầu tư, sản xuất, kinh doanh, tư vấn, du lịch, tổ chức quốc tế...; móc nối với cơ sở cũ, các phần tử quá khích, bất mãn, để thu tin tình báo và tuyên truyền chống chủ nghĩa xã hội, kích động đa nguyên chính trị, đa đảng cầm quyền, thành lập những tổ chức chính trị đối lập hoặc đấu tranh đòi tự do nhân quyền theo thể chế tư bản.

- Cho tay chân nhập cảnh hợp pháp hoặc xâm nhập bất hợp pháp, mang theo tiền, vàng, tài liệu phản cách mạng về nước; mua chuộc các phần tử chống đối bên trong gây nổ, phá hoại, kích động biểu tình, bạo loạn, khủng bố, làm mất ổn định chính trị.

- Lợi dụng các vấn đề về nông thôn, nông dân; dân chủ nhân quyền, tôn giáo, dân tộc; biển đảo;... để xuyên tạc, bôi nhọ và gây sức ép đối với ta trên diễn đàn quốc tế.


Ở trong nước, một số phần tử bất mãn hoặc có khuynh hướng tư tưởng trái với quan điểm của Đảng đã tụ tập thành từng nhóm, tuyên truyền, xuyên tạc một số vấn đề lịch sử, chính trị, kinh tế...; đi đến lợi dụng dân chủ, công khai đả kích hoặc xúi giục những đối tượng khác biểu tình, chống chính quyền. Một số phần tử, ổ nhóm còn thu thập tài liệu bí mật quốc gia, sản xuất tài liệu nghe nhìn xuyên tạc tình hình trong nước, chuyển ra nước ngoài cho các thế lực thù địch; hoặc âm mưu thành lập những tổ chức chính trị đối lập. Được các thế lực thù địch kích động và làm hậu thuẫn, một số phần tử chống đối, quá khích trong tôn giáo, dân tộc từ ngấm ngầm dẫn đến công khai truyền đạo trái phép; dụ dỗ, khống chế đồng bào các dân tộc vượt biên tham gia các tổ chức phản động trá hình; kích động đồng bào, tín đồ trong tôn giáo khiếu kiện đông người, dài ngày và đi đến biểu tình, bạo loạn chính trị. Các thế lực thù địch không chỉ chỉ đạo và tài trợ cho các phần tử chống đối bên trong mà chúng còn tận dụng mọi sơ hở thiếu sót của ta trong điều hành xã hội, quản lý đất đai, an ninh nông thôn,... để xuyên tạc và phát động các chiến dịch chống phá trên diễn đàn quốc tế. Hoạt động của các thế lực thù địch; của các phần tử bất mãn, quá khích đã gây ra những tác động tiêu cực đến tư tưởng của cán bộ và nhân dân ta. Có nơi, có lúc, tình hình diễn biến phức tạp và đã xuất hiện những điểm nóng về dân chủ nhân quyền, an ninh nông thôn, tôn giáo và dân tộc. Cơ quan đặc biệt TH cũng tìm mọi cách tiến hành phương thức nội gián với những hình thức mới rất nguy hiểm. Chúng không chỉ cài cắm vào nội bộ ta mà còn tích cực kéo ra hoặc sử dụng từng vụ việc, từng yêu cầu. Đặc biệt là hệ thống chính trị của ta ở cấp cơ sở thuộc các tỉnh giáp biên giới, biển đảo tiếp tục bị chúng thao túng; một số không nhỏ cán bộ ở cấp cơ sở đã cộng tác với gián điệp TH.


Diễn biến tình hình những năm gần đây càng phức tạp, luôn có dấu hiệu đột xuất bất ngờ; trận tuyến chống gián điệp vì vậy không chỉ ngày càng gay go, phức tạp mà còn chứa đựng yếu tố nhạy cảm cao. Với xu hướng phát triển của xã hội, phát triển của thành tựu khoa học, hoạt động gián điệp tiếp tục xuất hiện những phương thức, thủ đoạn mới. Chúng áp dụng khoa học công nghệ thông tin để chỉ đạo, truyền tin giữa bọn bên ngoài với bọn bên trong rất nhanh chóng. Mối quan hệ giữa gián điệp với phản động ở giai đoạn lịch sử này không còn là câu móc, dựa dẫm vào nhau mà đã phát triển thành mối liên minh, hợp lực vô cùng nguy hiểm.


Trước những diễn biến phức tạp và đa dạng trong âm mưu chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nước ta; trước yêu cầu cấp bách của quá trình cải biến xã hội và hội nhập sâu rộng, Đảng xác định: Nhiệm vụ bảo vệ An ninh Tổ quốc, giữ vững, giữ ổn định chính trị là điều kiện tiên quyết đảm bảo cho quá trình triển khai và thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước. Quán triệt quan điểm của Đảng, lãnh đạo Bộ Công an triệu tập Hội nghị toàn quốc lần thứ 42, xác định những yêu cầu về tổ chức bộ máy, nhiệm vụ chủ yếu, công tác trọng tâm của toàn lực lượng. Trên lĩnh vực đấu tranh chống gián điệp, để phục vụ chính sách mở cửa hợp tác đa phương, đa chiều và hội nhập sâu rộng, Hội nghị định hướng nhận thức về đối tượng đấu tranh: Có đối tượng cũng là đối tác, có đối tác lại là đối tượng; Mỹ vẫn là đối tượng nguy hiểm, trực tiếp, lâu dài của ta. Âm mưu của Mỹ vẫn là thực hiện “Diễn biến hoà bình" hòng lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa, xoá bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong khi đó, ta và Mỹ đã bình thường hoá, thiết lập quan hệ ngoại giao, phát triển hợp tác kinh tế và nhiều lĩnh vực khác. Do đó, yêu cầu của cuộc đấu tranh chống gián điệp Mỹ phải có đối sách thích hợp để vừa chống được âm mưu của chúng, vừa tranh thủ đầu tư và làm ăn với Mỹ.


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Chín, 2021, 08:26:00 pm
TH vẫn là đối tượng nguy hiểm. TH và Việt Nam có những điểm tương đồng về văn hoá; quan hệ thân tộc; cùng chung tuyến biên giới, biển, đảo... Việc bình thường hoá quan hệ giữa hai nước không chỉ là xu hướng của thời đại, có lợi về an ninh chính trị, phát triển kinh tế của mỗi nước mà còn là nguyện vọng của nhân dân hai nước. Song cơ quan đặc biệt TH vẫn gia tăng các hoạt động gián điệp đối với nước ta, phương thức được họ chú trọng là cài cắm, móc nối hoạt động nội gián nhằm vào các cơ quan Đảng, chính quyền, các mục tiêu quan trọng, kể cả lực lượng Công an và Quân đội. Hoạt động gián điệp của TH không nhằm xoá bỏ Đảng Cộng sản, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam mà nhằm phục vụ cho âm mưu bành trướng, điều chỉnh đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, biến nước ta thành quốc gia lệ thuộc vào TH. Do đó, đấu tranh chống gián điệp TH phải được thay đổi về nội dung, biện pháp cũng như đối sách. Phải quán triệt và thực hiện bằng được nhiệm vụ bảo vệ Đảng; bảo vệ đường lối chính sách của Đảng, đồng thời phục vụ đắc lực cho đường lối đối ngoại, hợp tác kinh tế và an ninh lãnh thổ, duy trì quan hệ hữu nghị, láng giềng giữa hai nước, hai dân tộc.


Nghị quyết Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 43, 44, 45 tiếp tục chỉ rõ chủ trương đổi mới về phòng ngừa, đấu tranh chống gián điệp và bọn phản động. Căn cứ chủ trương của Đảng, chỉ đạo của Bộ Công an, Tổng cục An ninh soạn thảo 7 chuyên đề đấu tranh với từng loại đối tượng gồm: gián điệp Mỹ gián điệp TH, chống địch phá hoại tư tưởng, bảo vệ nội bộ; bảo vệ bí mật;... in thành sách và tổ chức tập huấn cho cán bộ chủ chốt trong lực lượng phản gián toàn quốc. Các chuyên đề đều cụ thể hoá tư tưởng đổi mới toàn diện, trọng tâm là các vấn đề về biện pháp nghiệp vụ, đường lối xử lý đối tượng trong quá trình đấu tranh, công tác nắm tình hình địa bàn và đối tượng xây dựng đặc tình ngoại biên, thủ đoạn hoạt động của gián điệp trong thời kỳ đổi mới. Trong đó nhấn mạnh yêu cầu, biện pháp mở rộng điều tra các căn cứ bàn đạp kẻ địch đang đứng chân ở các nước trong khu vực; phương án chống bạo loạn, gây nổ ở các mục tiêu thiết yếu quan trọng; công tác thuần khiết nội bộ; công tác bóc gỡ nội gián cũ và mới; công tác hướng dẫn “Phong trào bảo vệ An ninh Tổ quốc”. Việc sớm bổ sung, đổi mới hệ thống những nội dung nghiệp vụ cho phù hợp với bối cảnh lịch sử, tổ chức tập huấn trong toàn lực lượng là quyết định sáng suốt và chủ động của lãnh đạo Bộ Công an. Đây là vấn đề căn bản nhất, giúp cho lực lượng chống gián điệp tổ chức phòng ngừa và đấu tranh đúng đối tượng, có trọng tâm, trọng điểm; phục vụ có hiệu quả nhất các yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập sâu rộng trong giai đoạn tình hình quốc tế và khu vực biến động mau lẹ, nhạy cảm và khó lường.


Để tập trung chỉ đạo, tập trung lực lượng đấu tranh theo địa bàn và theo đối tượng, Lãnh đạo Bộ xác định những địa bàn trọng điểm và cho phép lực lượng An ninh được thành lập ba Cụm An ninh: Cụm I phụ trách địa bàn các tỉnh biên giới phía Bắc; Cụm II phụ trách địa bàn các tỉnh Tây Nguyên; Cụm III phụ trách địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Nam Bộ. Cùng với thành lập ba cụm An ninh, Bộ chỉ đạo các lực lượng trinh sát chuyên ngành tăng cường phối hợp giữa các lực lượng, giữa cơ quan chỉ đạo với địa phương, thực hiện chế độ thông tin báo cáo chặt chẽ; chú trọng công tác điều tra cơ bản, tăng cường công tác trinh sát ngoại biên; nắm chắc tình hình địa bàn, quản lý chặt di biến động của các loại đối tượng.


Song song với củng cố tổ chức bộ máy tổ chức của Công an nhân dân, đổi mới các biện pháp nghiệp vụ an ninh, Đảng xác định dứt khoát vai trò to lớn của quần chúng nhân dân trên mặt trận bảo vệ an ninh quốc gia trong bối cảnh lịch sử mới. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V xác định “Mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân là vấn đề vô cùng hệ trọng, có quan hệ đến vận mệnh chính trị của Đảng ta và sự sống còn của cách mạng nước ta”. Trên cơ sở đó, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương khoá VI, ngày 27-3-1990 về đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân tiếp tục chỉ rõ: “Để đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân cần quán triệt những quan điểm chỉ đạo: Một là, cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do dân và vì dân. Hai là, động lực thúc đẩy phong trào quần chúng là đáp ứng lợi ích thiết thực của nhân dân và kết hợp hài hoà các lợi ích, thống nhất quyền lợi với nghĩa vụ công dân. Ba là, các hình thức tập hợp nhân dân phải đa dạng. Bốn là, công tác quần chúng là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể. Những quan điểm đổi mới của Đảng về nhận thức vai trò quần chúng, biện pháp vận động quần chúng trong bối cảnh lịch sử mới thực sự trở thành đòn bẩy phát huy tinh thần đại đoàn kết toàn dân và sức sáng tạo to lớn của mọi tầng lớp nhân dân. Quan điểm của Đảng chỉ rõ mối quan hệ về lợi ích cá nhân và tập thể; mối quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ; mở đường cho các tầng lớp nhân dân tự nguyện tham gia, tích cực tìm tòi những mô hình hữu hiệu nhất với cộng đồng.


Chính vì vậy, phong trào quần chúng trong giai đoạn lịch sử này đã xuất hiện các mô hình tổ chức “tự quản" rộng khắp, nội dung thiết thực: “Cụm dân cư an toàn”, “Hội tự phòng”, “Số nhà tự quản”, “Đi gửi về báo", “Tổ xung kích an ninh”, "Hội đồng tự quản an ninh”, “Bình yên làng nghề", “Dòng họ kiểu mẫu”... Các tổ chức “tự quản” không chỉ có ý nghĩa tương thân tương ái trong cộng đồng mà chủ yếu là huy động sức mạnh, tinh thần đoàn kết của cộng đồng để cùng làm ăn, hỗ trợ lẫn nhau trong cuộc sống và bảo vệ cuộc sống được bình yên. Tự thân các tổ chức “tự quản” của quần chúng đã là sự kết hợp hài hoà giữa xây dựng nếp sống cộng đồng với đấu tranh loại trừ tội phạm ra khỏi đời sống cộng đồng. Đây là điều kiện quan trọng giúp cho lực lượng An ninh tổ chức, hướng dẫn quần chúng tham gia phòng chống phản cách mạng cung như phòng chống gián điệp.


Nhờ có mô hình tổ chức tự nguyện, hài hòa giữa quyền lợi của cá nhân, của cộng đồng với lợi ích chung của xã hội; mỗi công dân dễ dàng nhận thức được quyền lợi và nghĩa vụ, giúp cho sức đề kháng trước âm mưu, thủ đoạn hoạt động của địch đươc nâng lên rõ rệt. Do vậy, giai đoạn đầu của cuộc đấu tranh chống “diễn biến hoà bình”, ta đã vô hiệu hoá các chiến dịch phá hoại tư tưởng với quy mô lớn và liên tục của các thế lực thù địch. Hàng ngàn loại tài liệu phá hoại tư tưởng do các thế lực thù địch tán phát về nước công khai và bí mật, có địa chỉ và không có địa chỉ đều được quần chúng thu giữ và nộp cho chính quyền cơ sở, cho lãnh đạo cơ quan đơn vị. Những cuộc tiêu huỷ văn hoá phẩm phản động đồi truỵ diễn ra liên tục ở khắp vùng nông thôn đến thành thị và phát triển thành phong trào quần chúng rộng rãi. Vì vậy, các chiến dịch phá hoại tư tưởng mang tên “góp gió thành bão”, “chuyển ngọn nến dân chủ về quê hương”, “chuyển lửa về quê nhà”,... của các thế lực thù địch đã thất, bại nhanh chóng.


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 18 Tháng Chín, 2021, 08:20:35 pm
Trên lĩnh vực đấu tranh chuyên án, thời kỳ chống “kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt” lực lượng An ninh đã triển khai thắng lợi KHCM12. Quá trình triển khai kế hoạch, ta xây dựng được mạng lưới cơ sở đánh lại trung tâm chỉ huy địch ở nước ngoài nhằm “Dụ địch, đưa hầu hết số gián điệp biệt kích đã được huấn luyện ở Thái Lan về nước để bắt"1 (Chỉ thị của Bộ trưởng tại phiên họp với tổ chuyên án ngày 17-5-1984). Kết thúc kế hoạch, số cơ sở CM12 cùng với cơ sở trong các chuyên án khác tiếp tục được chuyển hướng ra nước ngoài; kết hợp với cơ sở trong cộng đồng người Việt để nắm tin tức của các thế lực thù địch và bọn phản động lưu vong. Nhờ có mạng lưới cơ sở ngoại biên, từ năm 1988, lực lượng An ninh nắm được tài liệu về hoạt động gián điệp của nhiều đối tượng lâm thời vào Việt Nam và quyết định lập chuyên án có bí số LD88. Bí mật điều tra, lực lượng An ninh nắm được các đối tượng trong chuyên án móc nối với số ngụy quân, ngụy quyền dưới dạng hợp đồng làm thuê cho các văn phòng đại diện, công ty đầu tư để thu thập tin tình báo; móc nối với cán bộ viên chức, đội ngũ trí thức trong các trường đại học, học sinh, sinh viên và những người có quan điểm trái với quan điểm của Đảng, ráo riết tuyên truyền đa nguyên, đa đảng, tự do kiểu tư bản, kích động chống đối. Một số đối tượng trong nước vốn đang có vấn đề bức xúc với cơ quan, với Đảng và Nhà nước đã bị chúng kích động, xúi giục và trở thành những kẻ cộng tác cho địch. Họ lợi dụng dân chủ, nhân quyền, núp dưới nhiều chiêu bài: “nói thẳng, nói thật”, “chống tham nhũng"... công khai đả kích đường lối của Đảng và chuyển tài liệu bí mật ra nước ngoài tán phát.


Đáp ứng yêu cầu đấu tranh trong bối cảnh lịch sử mới có nhiều yếu tố nhạy cảm, lực lượng An ninh quyết định tách chuyên án LD88 thành hai chuyên án: Chuyên án MA90, đấu tranh với mảng đối tượng từ nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam, hoạt động trên địa bàn các tỉnh từ miền Trung trở vào; chuyên án MB90, đấu tranh với mảng đối tượng là người Việt, núp trong “câu lạc bộ kháng chiến cũ" do Nguyễn Hộ cầm đầu. Trong thời gian này, Công an Hà Nội lập chuyên án MD90 đấu tranh với mảng đối tượng hoạt động ở phía Bắc, đối tượng chính là Miriam. Lợi dụng danh nghĩa là giáo viên dạy ngoại ngữ, Miriam thâm nhập vào hàng ngũ sinh viên, đội ngũ trí thức ở các trường đại học, tuyên truyền đa nguyên đa đảng và thu thập tin tình báo. Những năm sau, lực lượng An ninh tiếp tục lập nhiều chuyên án đấu tranh với điệp viên hoạt động theo phương thức lâm thời như các chuyên án BT91, TZ91, PQ55, TĐ93 HM26 SB36...; trục xuất các tên: Manoli, Morrow, Miriam, Lâm Văn Quang, Phạm Tô Giang, Bùi Duy Tân... là nhân viên tình báo của các thế lực thù địch nhập cảnh công khai vào nước ta, núp dưới danh nghĩa mở văn phòng đại diện, tìm cơ hội kinh doanh, lập công ty thương mại và dịch vụ, dạy tiếng nước ngoài, thăm thân,... nhưng thực chất là tổ chức hoạt động gián điệp, gây nổ khủng bố, kích động bạo loạn.


Qua đấu tranh với mảng đối tượng xâm nhập, lực lượng An ninh làm rõ nhiều kế hoạch chống phá của chúng dưới nhiều dạng khác nhau như: moi hỏi, thu thập tin tình báo; tán phát tài liệu, truyền bá đa nguyên, đa đảng, đòi dân chủ kiểu tư bản trong đội ngũ trí thức, sinh viên và học sinh. Đặc biệt, qua đấu tranh các chuyên án trên, lực lượng An ninh có đủ bằng chứng xác định một số đối tượng ở Hà Nội, miền Trung, trong giới văn nghệ sĩ ráo riết tập hợp lực lượng, sản xuất ấn phẩm xuyên tạc sự thật, nói xấu Đảng và Nhà nước, xúc phạm lãnh tụ; thu thập tin tình báo chuyển ra nước ngoài cho các thế lực thù địch sử dụng để chống Đảng, chống Nhà nước. Một số nhóm còn câu móc với các thế lực thù địch, dựa vào chúng, xúc tiến âm mưu thành lập tổ chức chính trị đối lập làm đối trọng với Đảng Cộng sản, kích động cán bộ và nhân dân đấu tranh chống Đảng. Lực lượng An ninh lập chuyên án T295, kiên trì đấu tranh, từng bước vô hiệu hoá và kiềm toả hoạt động chống đối của số đối tượng này. Tuy vậy, đối với mảng đối tượng trong nước, chúng ta còn có những hạn chế trong quá trình kiềm toả, xử lý, để họ tập hợp lực lượng, tuyên truyền và phát tán tài liệu chống đối ở trong nước, ngoài nước gây ra tình hình phức tạp; tạo cớ cho thế lực thù địch có tài liệu để xuyên tạc về nhân quyền, về tôn giáo và dân tộc ở Việt Nam trên diễn đàn quốc tế.


Cùng với đưa điệp viên nhập cảnh công khai núp dưới các hình thức khác nhau để thu thập tin tức, kích động chống đối, thành lập các tổ chức chính trị đối lập, các thế lực thù địch còn liên tục tiến hành các chiến dịch gây nổ khủng bố, phá hoại, kích động bạo loạn hòng làm mất ổn định chính trị. Đầu năm 1990, lực lượng An ninh lập chuyên án bí số LH90, đấu tranh với tổ chức phản động lưu vong danh xưng “Liên đảng cách mạng Việt Nam” do Hoàng Việt Cương cầm đầu là vụ án điển hình của giai đoạn này. Hoàng Việt Cương và đồng bọn thuộc 7 tổ chức phản động lưu vong tập hợp dưới sự chỉ đạo của thế lực thù địch, được các công ty lớn ở Mỹ và Hồng Kông tài trợ. Từ năm 1988, chúng đã cử tay chân về nước điều tra tình hình, móc nối cơ sở để chuẩn bị kế hoạch bạo loạn cướp chính quyền tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận vào ngày 7-3- 1993, gọi là chiến dịch “Đông Xuân'’. Đầu năm 1993, từ Hồng Kông, những tên cầm đầu tổ chức lập ra một “chính phủ lâm thời”, cắt đặt các bộ và xúc tiến kế hoạch gây nổ, gây bạo loạn lật đổ chính quyền cách mạng. Chúng điều hơn hai chục tên về nước, lập Bộ chỉ huy tiền phương tại thành phố Hồ Chí Minh với kế hoạch: Tổ chức gây nổ tại 17 mục tiêu ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận vào đêm 6-3, cho máy bay ném bom xuống thành phố Hồ Chí Minh, kích động quần chúng biểu tình và cướp chính quyền. Lực lượng An ninh đã nắm và theo dõi hoạt động của chúng ngay từ khi đấu tranh chuyên án LD88. Do nắm chắc hoạt động của từng đối tượng, nên từ ngày 1-3 đến ngày 9-3, ta lần lượt bắt bí mật 27 tên, thu toàn bộ thuốc nổ và phương tiện hoạt động, đập tan “Chiến dịch Đông Xuân". Trong số bị bắt có Pitơ Trần là Phó thủ tướng thứ nhất của Chính phủ lâm thời, kiêm Tổng chỉ huy Bộ chỉ huy tiền phương. Ban chuyên án sử dụng Pitơ Trần cùng điện thoại di động của y, tác động số đối tượng ở trong nước phải lộ diện để bắt gọn, đồng thời điều khiển Trung tâm chỉ huy ở nước ngoài phải bộc lộ âm mưu, kế hoạch, lực lượng sẽ xâm nhập về nước để chủ động đón bắt. Sau khi đập tan “Chiến dịch Đông Xuân", ta tiếp tục sử dụng Pitơ Trần triển khai thành công kế hoạch tác động đẩy lùi một số chiến dịch gây nổ, kích động biểu tình của Hoàng Việt Cương và đồng bọn.


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 19 Tháng Chín, 2021, 08:07:15 pm
Từ năm 1993 đến năm 2005, lực lượng An ninh tiếp tục đấu tranh thắng lợi nhiều chuyên án lớn như A392, QT93, ĐT93, PQ55, HC96, SB36; vô hiệu hoá âm mưu tác động tinh thần, kích động thành lập các tổ chức chính trị đối lập; vô hiệu hoá, đẩy lùi và đập tan hàng chục chiến dịch gây nổ, khủng bố, phá hoại mang tên “Chiến dịch Hoa Lan”, “Chiến dịch Hoa Phượng”, “Chiến dịch nở hoa trong lòng địch”... Từ năm 1996 đến nay, lực lượng An ninh triển khai đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ đấu tranh chuyên án HC96 với tổ chức phản động lưu vong danh xưng “Chính phủ Việt Nam tự do”, do Nguyễn Hữu Chánh cầm đầu, đấu tranh chuyên án HM26 với tổ chức “Việt Tân”, chuyên án SB36 với “Đảng nhân dân cách mạng hành động” do Nguyễn Sỹ Bình cầm đầu. Hơn 10 năm triển khai kế hoạch đấu tranh, lực lượng An ninh làm rõ âm mưu, sự chỉ đạo và tài trợ của các thế lực thù địch đôi với các tổ chức này. Dưới sự chỉ đạo của Tổng cục An ninh, Công an các tỉnh phía Nam phối hợp chặt chẽ, triển khai đồng bộ, đồng thời các biện pháp nghiệp vụ đón bắt hàng chục toán xâm nhập gồm gần 200 tên, thu thuốc nổ, máy chèn cướp sóng, tài liệu phản tuyên truyền, phương tiện hoạt động, ngăn chặn kịp thời hàng chục kế hoạch gây nổ, kích động bạo loạn của chúng. An ninh các nước Lào, Campuchia, Thái Lan, Philippin, đã phối hợp chặt chẽ với An ninh Việt Nam vây bắt hàng chục tên hoạt động đắc lực ở nước ngoài, giao cho ta. Mặc dù chúng liên tục thay đổi phương thức và tuyến xâm nhập; thậm chí thuê những người buôn bán nhỏ, xe ôm, gái làm tiền vận chuyển vũ khí và phương tiện nhưng nhờ có hệ thống cơ sở ở khu vực biên giới và ý thức cảnh giác của nhân dân nên lực lượng An ninh đủ điều kiện đón bắt gọn các toán mỗi khi chúng xâm nhập lãnh thổ.


Thế lực thù địch không chỉ tài trợ, chỉ đạo các tổ chức phản động lưu vong gây nổ, khủng bố mà chúng còn chỉ đạo và tài trợ để thành lập các tổ chức, đảng phái chính trị phản động ở nước ngoài rồi xâm nhập về nước phát triển tổ chức trong nội địa. Những năm qua, lực lượng An ninh liên tục đấu tranh nhiều chuyên án, kiềm toả, vô hiệu hoá hoạt động của chúng trên lĩnh vực này. Trong số đối tượng nguy hiểm hiện nay, Nguyễn Sĩ Bình, gốc Việt, quốc tịch Mỹ là một trong những tên nguy hiểm nhất. Bình thành lập “Đảng nhân dân cách mạng hành động” tại Mỹ từ những thập niên 80, đưa người, phương tiện in ấn tài liệu về nước, phát triển tổ chức. Năm 1984, lực lượng An ninh đã bắt gần 20 tên, trục xuất Bình ra khỏi lãnh thổ. Bị trục xuất nhưng Bình vẫn tiếp tục làm tay sai cho các thế lực thù địch. Y phục hồi “Đảnq nhân dân cách mạng hành động”, chuyển địa bàn về các nước trong khu vực, tuyển mộ hàng trăm tay chân từ khắp các lục địa vào tổ chức; phát triển hệ thống chân rết ở nhiều quốc gia và hướng về Việt Nam để chống phá. Lực lượng Cảnh sát các nước Thái Lan, Lào, Campuchia và một số nước khác phối hợp chặt chẽ với An ninh Việt Nam, đã tiến hành các biện pháp mạnh như không cho lập trụ sở, cấm các đối tượng nhập cảnh; giải tán các hội nghị, đại hội; bắt một số tên cầm đầu, quá khích. Từ năm 1990 đến nay, lực lượng An ninh đã đón bắt hàng chục toán với danh nghĩa “chi bộ” của “Đảng nhân dân cách mạng hành động” về nước để móc nối cơ sở phát triển tổ chức ở trong nước; thu giữ hàng tấn tài liệu, chặn đứng âm mưu của Bình và đồng bọn. Đối với tổ chức “Việt Tân” lực lượng An ninh vừa đấu tranh ngăn chặn hệ thống tổ chức phát triển ở trong và ngoài nước, vô hiệu hoá các chiến dịch tuyên truyền, khủng bố của chúng mà còn củng cố chứng cứ, xác định đây là một tổ chức khủng bố để tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ cùng phối hợp đấu tranh của các nước đối với tổ chức này.


Giai đoạn từ 1990 đến 2005, lực lượng An ninh đã bước đầu đấu tranh thành công với những phương thức, thủ đoạn mới của bọn gián điệp, về căn bản đã đẩy lùi âm mưu móc nối cơ sở trong số đối tượng bất mãn, quá khích; những đối tượng trong cộng đồng các dân tộc, tôn giáo, văn nghệ sĩ có nhân thân được dư luận quan tâm; kích động chống đối và cung cấp tin tình báo. Thủ đoạn của chúng thường núp dưới chiêu bài đòi dân chủ, nhân quyền, đòi tự do tôn giáo, đòi quyền lợi cho dân tộc ít người, đòi thả tù chính trị,... để chỉ đạo bọn bên trong, hướng dẫn cho bọn bên trong gây ra các điểm nóng, tạo cớ cho bọn bên ngoài can thiệp. Đặc biệt là giai đoạn này các thế lực thù địch triệt để sử dụng thành tựu khoa học tiên tiến, phương tiện khoa học công nghệ thông tin để chỉ đạo và tài trợ cho các thế lực bên trong. Vì vậy mọi diễn biến ở trong nước đều được chúng sản xuất thành các chương trình nghe, nhìn và chuyển ra nước ngoài rất nhanh chóng. Dưới sự chỉ đạo và tài trợ của các thế lực thù địch, các đối tượng ở trong nước ráo riết tiến hành các kế hoạch mua chuộc, kích động đồng bào ta trốn ra nước ngoài, vào rừng hoạt động phỉ, khiếu kiện kéo dài gây ra các điểm nóng về an ninh nông thôn, tôn giáo và dân tộc. Năm 2001 và năm 2004 đã xuất hiện hình thức biểu tình và bạo động chính trị ở Tây Nguyên.


Trên lĩnh vực này, công tác đấu tranh chống gián điệp không chỉ kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chống phản động mà đã trở thành mặt trận thống nhất dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Đảng. Nhờ đó, đã giải toả cuộc biểu tình của phật tử tại Huế do Thích Công Tạng, Thích Hải Chánh cầm đầu; giải tán cuộc biểu tình năm 2001, cuộc bạo động chính trị năm 2004 ở Tây Nguyên do Ksor Kơk và tàn dư Fulro lưu vong chỉ đạo. Được đông đảo bà con giáo dân, phật tử ủng hộ và sự hỗ trợ đắc lực của các cơ quan, đoàn thể, lực lượng An ninh đã bắt, truy tố Lê Quang Liêm, Nguyễn Văn Lý cùng một số đối tượng khác. Tổ chức đấu tranh chuyên án T295, kiềm toả, ngăn chặn những phần tử chống đối ở trong nước làm tay sai cho bọn gián điệp. Đây là lĩnh vực đấu tranh vô cùng gay go, phức tạp, có độ nhạy cảm cao nhưng chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng kể. Lĩnh vực đấu tranh này không chỉ đòi hỏi các thế hệ cán bộ chiến sỹ phải có trình độ nghiệp vụ sắc sảo, phẩm chất chính trị vững vàng mà cần có độ nhạy cảm chính trị cao và sáng tạo vì chúng là lực lượng quan trọng mà các thế lực thù địch luôn tìm cách lợi dụng hòng can thiệp vào nội bộ nước ta.


Trong đấu tranh chống nội gián, sau một thời gian chưa chú trọng đúng mức, Trung ương Đảng đã kịp thời kiểm điểm, đánh giá lại và xác định: Để bảo vệ Đảng, bảo vệ nội bộ, thống nhất về đường lối, tư tưởng, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phải làm tốt công tác chống nội gián trong tình hình mới. Quán triệt chỉ đạo của Trung ương Đảng, lãnh đạo Bộ Công an ra Chỉ thị số 59/CT-BCA, năm 1989, đánh giá lại những khuyết điểm trong quá trình thực hiện Chỉ thị 17/CT năm 1977; quyết định tập trung chỉ đạo, tập trung lực lượng, rà soát hồ sơ, thẩm tra đầu mối và xử lý dứt điểm đầu mối nội gián cũ, xây dựng kế hoạch phòng ngừa, chống nội gián mới. Tiếp tục triển khai công tác chống nội gián tuy có muộn, song là quyết định có ý nghĩa chiến lược về đấu tranh chống gián điệp để bảo vệ Đảng, bảo vệ nội bộ trong bối cảnh đất nước ta bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập sâu rộng trước sức tấn công ráo riết của các thế lực thù địch. Thực hiện Chỉ thị số 59/CT- BCA, lực lượng An ninh đã tập trung khai thác hồ sơ nội gián cũ đồng thời xây dựng kế hoạch đấu tranh với nội gián của cơ quan đặc biệt Mỹ và cơ quan đặc biệt TH. Do bố trí lực lượng có trọng tâm, tập trung vào địa bàn trọng điểm nên công tác đấu tranh chống nội gián có bước phát triển mới. Lực lượng An ninh đã lập hàng trăm chuyên án thuộc địa bàn cấp cơ sở; bóc gỡ từng mảng nội gián TH đánh vào hoặc kéo ra ở các cơ quan, địa phương lực lượng vũ trang của ta thuộc khu vực phía Bắc. Quá trình đấu tranh làm rõ cơ quan đặc biệt TH không chỉ đánh vào hoặc kéo ra mà chúng câu móc, sử dụng từng vụ việc, từng yêu cầu hoặc sử dụng hàng hoá, tiền bạc để đổi lấy tin tình báo.


Hoạt động nội gián của cơ quan TH hiện nay đang diễn ra hết sức phức tạp. Chúng đã cài cắm cơ sở đến các khu vực Tây Nguyên, vào lực lượng hành pháp của ta. Do đó, đấu tranh chống nội gián TH đang là cuộc đấu tranh vô cùng quyết liệt; phải được coi là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của các cấp bộ Đảng với sự kết hợp chặt chẽ giữa cơ quan chuyên môn với các cấp chính quyền, từ Trung ương đến cơ sở. Đấu tranh chống nội gián mới không chỉ là bóc gỡ đầu mối, mà chủ yếu là phòng ngừa, loại trừ những điều kiện kẻ địch xâm nhập vào cơ quan, đơn vị. Ngày 12-6-1993, Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 23/CT-BCT về tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Chỉ thị nêu rõ về nhiệm vụ của công tác bảo vệ nội bộ trong giai đoạn lịch sử hiện nay, nhấn mạnh việc thực hiện nghiêm ngặt các chế độ, thủ tục, quy chế quản lý cán bộ, đảng viên; kỷ luật trong phát ngôn, quan hệ với người nước ngoài; về bảo vệ bí mật tài liệu của Đảng và Nhà nước; quy chế về cử cán bộ đi tham quan, học tập công tác ở nước ngoài. Trên cơ sở chỉ đạo của Đảng, lực lượng An ninh chấn chỉnh một bước về quản lý nhà nước đối với công tác xuất nhập cảnh, quản lý người nước ngoài phục vụ công tác trinh sát, theo dõi đối tượng xâm nhập công khai hoặc bất hợp pháp. Hướng dẫn Công an các tỉnh thuộc biên giới phía Bắc tham mưu cho các cấp bộ Đảng rà soát lại toàn bộ đội ngũ cán bộ, đảng viên; tăng cường giáo dục chính trị, củng cố lập trường tư tưởng, kiên quyết chống lại âm mưu cài gián điệp vào nội bộ ta. Do chấn chỉnh công tác quản lý cán bộ, giáo dục cán bộ chiến sĩ nên hàng trăm đảng viên, cán bộ chủ chốt cấp huyện, xã đã tự nguyện báo cáo, giao nộp thư và quà do cơ quan gián điệp TH liên lạc, móc nối, dụ dỗ, khống chế cộng tác. Tuy vậy, đây là một mặt công tác có thời gian chúng ta còn thiếu sót về chỉ đạo. Tổ chức lực lượng đấu tranh chưa đúng tầm với âm mưu, hoạt động của địch; các cấp chính quyền và nhân dân ở các tỉnh biên giới còn coi nhẹ, mất cảnh giác trước những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt của cơ quan đặc biệt TH.


Tóm lại: Từ năm 1975 đến năm 2005 là giai đoạn lịch sử có nhiều biến động lớn ở trong nước và trên trường quốc tế. Sự khủng hoảng về đường lối và tan rã của các nước trong phe xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu tác động tiêu cực và trực tiếp đối với phản động quốc tế các thế lực thù địch xác định Việt Nam là một trong những tiêu điểm, là thành trì cuối cùng của chủ nghĩa xã hội và tập trung mũi nhọn chống phá quyết liệt với nhiều phương thức, thủ đoạn mới.


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 25 Tháng Chín, 2021, 08:34:31 pm
Kiên định với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng lãnh đạo nhân dân ta từng bước vượt qua khủng hoảng; thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới; đưa đất nước sang giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế sâu rộng, vững bước trên con đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Những thành tựu đạt được trong chặng đường vừa qua không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh chống phản cách mạng nói chung, chống gián điệp nói riêng. Trận tuyến đấu tranh chống gián điệp trong giai đoạn lịch sử 1975 - 2005 không chỉ gay go, quyết liệt mà còn là cuộc đấu tranh chống lại sự liên kết mới, phương thức mới, thủ đoạn hoạt động mới, có độ nhạy cảm cao và khó lường. Vượt qua mọi khó khăn, thách thức, lực lượng An ninh đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, góp phần giữ vững an ninh chính trị, bảo vệ Đảng, bảo vệ đường lối của Đảng, phục vụ đắc lực sự nghiệp đổi mới, quan hệ đa phương, đa chiều, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Diễn biến lịch sử đấu tranh chống gián điệp từ năm 1975 đến năm 2005 có thể rút ra một số vấn đề sau:


Thứ nhất: Từ năm 1975 đến năm 1989, trên lĩnh vực đấu tranh chống phản cách mạng nói chung, chống gián điệp nói riêng, Đảng ta luôn chỉ đạo và tổ chức lực lượng đấu tranh đúng; xác định đúng những vấn đề cấp bách cần giải quyết và đối tượng cần tập trung mũi nhọn đấu tranh. Đây là nhân tố cơ bản nhất quyết định thắng lợi của cuộc đấu tranh, định hướng công tác phòng ngừa có bề rộng và có chiều sâu; tạo tiền đề cho lực lượng mũi nhọn đánh đúng, đánh trúng, đánh hiểm; giữ vững, giữ ổn định an ninh chính trị, góp phần hoàn thành nhiệm vụ cải tạo xã hội, từng bước đẩy lùi nguy cơ, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng.


Đấu tranh chống gián điệp kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chống phản động và là vấn đề xuyên suốt trong phòng và chống phản cách mạng. Nhờ đó, chúng ta vừa bóc gỡ từng mảng gián điệp cài cắm trong “Kế hoạch lâu dài” của tình báo Mỹ, vừa trấn áp thành công đối với các tổ chức phản động manh động chống chính quyền. Đây là vấn đề có tính quy luật trong đấu tranh chống phản cách mạng nói chung, chống gián điệp nói riêng và đã được thực hiện thành công trong giai đoạn này.


Công tác đấu tranh chống gián điệp phối hợp chặt chẽ, nhuần nhuyễn với công tác tình báo thành một chỉnh thể nghiệp vụ đấu tranh chống phản cách mạng trên chiến trường Việt Nam, của Việt Nam. Hệ quả của quá trình phối hợp này không chỉ giúp cho công tác phản gián giành thắng lợi trên đất của ta mà còn mở ra xu hướng phát triển ngày càng hiệu quả trên đất đối phương, với các chiến thuật “trinh sát ngoại biên”, “nắm địch từ xa”, “đánh địch từ Trung tâm xuất phát”,... trong bối cảnh đất nước ngày càng hội nhập quốc tế sâu rộng, quan hệ đa phương đa chiều.


Thứ hai: Từ năm 1990 đến năm 2005, Đảng và Nhà nước tiếp tục công cuộc đổi mới, bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập sâu rộng. Yêu cầu của bước ngoặt mới đặt ra cho công tác chống gián điệp nhiệm vụ vô cùng khó khăn: Vừa phải bảo vệ an toàn nền an ninh của đất nước, vừa phục vụ tốt nhất chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong các bước đi của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế sâu rộng.


Lực lượng An ninh kịp thời đổi mới tư duy về công tác phản gián; xác định đúng những đối tượng nguy hiểm cần tập trung đấu tranh; âm mưu, mục đích của hai đối tượng trực tiếp, nguy hiểm nhất của cách mạng nước ta; từ đó đề ra biện pháp đấu tranh, đối sách thích hợp. Do chuyển hướng đúng nên đã ngăn chặn, đẩy lùi từng bước đi đến đánh bại những hướng tấn công chủ yếu của chúng và bọn tay sai, phá vỡ thế liên minh hợp lực giữa thế lực thù địch với thế lực nội phản; giữ vững, giữ ổn định an ninh chính trị phục vụ đắc lực sự nghiệp cách mạng trong bối cảnh tình hình quốc tế diễn biến phức tạp, nhạy cảm và khó lường.


Thứ ba: Đảng, Nhà nước và lãnh đạo Bộ Công an xác định an ninh quốc gia gắn liền với an ninh khu vực nhất là An ninh ba nước Đông Dương. Công tác phản gián mạnh dạn xúc tiến hợp tác quốc tế, phối hợp hành động đối với các nước trong khu vực, nhất là với An ninh Lào và Campuchia; kiên trì thực hiện biện pháp phản gián ngoại biên, nắm địch từ trung tâm xuất phát âm mưu, đón đánh từ căn cứ bàn đạp của chúng. Đây là một trong những yếu tố căn bản để ta chủ động chặn đánh trên đường xâm nhập hoặc chuẩn bị sẵn trận địa trong nước đón bắt khi chúng chưa kịp hoạt động; là yếu tố quan trọng giúp cho công tác đấu tranh chống phản động, loại trừ điều kiện kẻ địch có thể lợi dụng.


Thứ tư: Trên lĩnh vực đấu tranh chống nội gián, còn có sơ hở, thiếu sót trong quá trình tổ chức thực hiện đối với nhiệm vụ bóc gỡ mạng lưới nội gián cài lại. Sau khi tổng kết chống nội gián theo Chỉ thị 17/CT-BCA, đã có sự lơi lỏng về tổ chức lực lượng cũng như đối sách. Tình hình này kéo dài đến năm 1989 mới được khắc phục.


Đấu tranh chống nội gián mới đang là nhiệm vụ vừa mang tính cấp bách vừa mang tính chiến lược. Công tác phòng ngừa và tổ chức đấu tranh tuy đạt được những kết quả quan trọng nhưng đã bộc lộ những nhược điểm cần phải chấn chỉnh. Nhược điểm chính là công tác phòng ngừa còn thấp, hiệu quả chưa cao. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, quản lý nội bộ ở địa bàn biên giới còn nặng về hình thức và lỏng lẻo.


Lịch sử đấu tranh chống gián điệp từ năm 1945 đến năm 2005 là một bộ phận của lịch sử đấu tranh chống phản cách mạng trong sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh. Hơn nửa thế kỷ đã qua là khoảng thời gian không dài trong hành trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Với khoảng thời gian ấy, cách mạng nước ta đã trải qua ba chặng đường cách mạng vẻ vang: Đấu tranh giành độc lập dân tộc; tiến hành thắng lợi cuộc chiến tranh giải phóng; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh: Mỗi chặng đường cũng như trong mọi hoàn cảnh lịch sử, Đảng ta luôn chủ động, sáng tạo xác định đường lối và phương pháp cách mạng; khéo tổ chức lực lượng. Vì thế, Đảng đã huy động được sức mạnh của cả dân tộc thành sức mạnh tổng hợp, chiến thắng mọi kẻ thù, vượt qua mọi thử thách để hoàn thành sứ mệnh của mình là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.


Suốt những chặng đường lịch sử đấu tranh chống gián điệp 60 năm qua, Đảng đã trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo; tổ chức lực lượng đấu tranh; chủ động xây dựng thế trận “phòng và chống” xây dựng nền an ninh nhân dân vững chắc. Lực lượng nòng cốt trong cuộc đấu tranh là Công an nhân dân và Quân đội nhân dân, mũi nhọn của cuộc đấu tranh là lực lượng An ninh nhân dân. Sinh ra và trưởng thành trong quá trình đấu mưu, đấu trí, đấu pháp, đấu lực với nhiều kẻ thù cùng một lúc; tuy có nhiều bất lợi và vô cùng gian nan, nhưng lực lượng An ninh càng có điều kiện để tôi luyện và phát huy phẩm chất cách mạng trong sáng, hiệp đồng chặt chẽ, chiến đấu với tinh thần mưu trí, sáng tạo và quyết thắng mọi kẻ thù. Hơn nửa thế kỷ tiến hành cuộc đấu tranh oanh liệt và thắng lợi vẻ vang, có thể rút ra nhiều bài học lịch sử quý báu về đường lối và sự lãnh đạo của Đảng; về tổ chức lực lượng phòng và chống gián điệp; về biện pháp tổ chức đấu tranh; về năng lực lãnh đạo chỉ huy, tinh thần chiến đấu mưu trí, sáng tạo của các thế hệ lãnh đạo và cán bộ chiến sĩ lực lượng An ninh nhân dân. Những bài học lịch sử được rút ra từ thực tiễn cuộc đấu tranh 60 năm qua sẽ có tác dụng thiết thực cho các thế hệ sau kế thừa và phát huy.


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 26 Tháng Chín, 2021, 08:09:49 pm
PHẦN THỨ HAI
BÀI HỌC LỊCH SỬ


BÀI HỌC THỨ NHẤT
ĐẤU TRANH CHỐNG GIÁN ĐIỆP PHẢI NẮM VỮNG ĐƯỜNG LỐI CHÍNH TRỊ CỦA ĐẢNG; SÁNG TẠO TRONG ĐỐI SÁCH VỚI TỪNG LOẠI ĐỐI TƯỢNG, PHỤC VỤ ĐẮC LỰC CHÍNH SÁCH ĐỐI NỘI, ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TRONG NHỮNG ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ CỤ THỂ


Dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, từ nửa cuối thế kỷ thứ XIX, đầu thế kỷ thứ XX, các phong trào đấu tranh giành độc lập trên đất nước ta nổ ra rầm rộ nhưng cuối cùng đều thất bại. Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, mở ra kỷ nguyên mới cho con đường cách mạng của dân tộc ta. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam vững bước đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Mười lăm tuổi, Đảng lãnh đạo thành công cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8-1945, lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà; 30 năm sau, Đảng dẫn dắt cả dân tộc tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống xâm lược, đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, hoàn thành sự nghiệp giải phóng Tổ quốc. Từ năm 1975 đến nay, Đảng tiếp tục lãnh đạo toàn dân ta xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; đưa một đất nước với nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu và manh mún lại phải trải qua hai cuộc chiến tranh vệ quốc lâu dài vững bước trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong thế giới hội nhập.


Nguyên nhân cội nguồn cho những thắng lợi vĩ đại hơn 70 năm qua là cách mạng nước ta được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, với chính cương điều lệ theo đường lối của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Qua mỗi khúc thăng trầm của lịch sử, qua mỗi giai đoạn cách mạng, Đảng ta luôn sáng tạo và chủ động đề ra đường lối chính trị đúng, xác định phương pháp cách mạng đúng, tổ chức lực lượng làm cách mạng đúng và chớp được thời cơ.


Trong toàn bộ lịch sử hoạt động của Đảng, vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là người khai sáng tư tưởng và đường lối của Đảng mà còn kế thừa và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện lịch sử của Việt Nam một cách tài tình. Trung thành với tư tưởng của Người, Đảng tiếp tục hoạch định đường lối chiến lược, sách lược theo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và lãnh đạo cách mạng nước ta qua từng chặng đường để tiến tới xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.


Trong quá trình đấu tranh cách mạng, kẻ thù quan trọng số một của dân tộc là các thế lực ngoại xâm. Chúng không chỉ phát động chiến tranh xâm lược mà sau khi kết thúc chiến tranh, dù đã bị thất bại nhưng chúng vẫn nuôi tham vọng quay trơ lại. Bởi vậy, sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta từ năm 1945 đến nay trước hết là sự nghiệp đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giải phóng đất nước; sau khi đất nước đã được giải phóng, cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, chống âm mưu thôn tính và xâm lược vẫn phải tiếp tục nhằm đảm bảo vững chắc thành quả của cách mạng cũng như xây dựng xã hội mới. Đồng thời với đấu tranh giải phóng dân tộc là cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp nhằm xoá bỏ tận gốc rễ tư tưởng và giai cấp bóc lột. Đấu tranh giải phóng giai cấp là cuộc đấu tranh xây dựng đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” theo lý tưởng và mục đích của chủ nghĩa cộng sản khoa học. Trong tiến trình cách mạng đó, đấu tranh chống phản cách mạng nói chung, đấu tranh chống gián điệp nói riêng luôn luôn là nhiệm vụ giữ vị thế quan trọng khi đất nước có chiến tranh hay khi đất nước đã hoà bình; tạo điều kiện cần và đủ giúp Đảng và Nhà nước triển khai đường lối, chính sách lãnh đạo cách mạng thành công.


Từ thực tiễn lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn khẳng định: mặt trận đấu tranh chống phản cách mạng là một bộ phận khăng khít, không tách rời của cách mạng Việt Nam. Mặt trận đấu tranh đó không chỉ góp phần đánh đuổi ngoại xâm và bọn phản cách mạng, giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc mà còn phải bảo vệ thành quả của cách mạng, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa và bảo vệ cuộc sống bình yên cho nhân dân. Bởi vậy, sự nghiệp đấu tranh chống phản cách mạng luôn luôn được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp và toàn diện của Đảng, là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Đấu tranh chống gián điệp vì thế cũng là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Đó là cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ và vô cùng cam go quyết liệt. Đối tượng đấu tranh không chỉ là cơ quan tình báo gián điệp của các thế lực ngoại xâm mà gồm cả bọn phản động quốc tế, các thế lực thù địch, hoạt động thù địch đối với nước ta. Trong đối đầu vũ trang, cuộc đấu tranh chống gián điệp đã gay go quyết liệt thì khi đất nước đã hoà bình lại càng gay go, quyết liệt bội phần hàm chứa nhiều yếu tố bất ngờ và có độ nhạy cảm cao. Bởi vậy trận tuyến đấu tranh chống gián điệp không chỉ là bộ phận hữu cơ của sự nghiệp cách mạng, mà luôn luôn giữ vị trí hết sức quan trọng trong các chặng đường cách mạng của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm chống lại âm mưu thôn tính và xâm lược, chống lại bọn phản động quốc tế, thế lực thù địch, hoạt động thù địch hòng can thiệp vào nội bộ ta; là bộ phận của cuộc đấu tranh giai cấp trong mọi thời kỳ lịch sử.


Do đó, trong đấu tranh chống gián điệp, phải nắm vững đường lối của Đảng, thực hiện nghiêm túc đường lối và sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện tiên quyết đảm bảo cho cuộc đấu tranh giành thắng lợi. Nhận thức dứt khoát rằng chỉ có thể nắm vững đường lối của Đảng mới có thể xác định đối tượng đấu tranh đúng, tổ chức đấu tranh đúng hướng, đúng yêu cầu của cách mạng. Tức là phải nhằm vào đối tượng chủ yếu của cách mạng trong từng giai đoạn để đấu tranh; phải căn cứ vào từng thời điểm của cách mạng mà tập trung mũi nhọn đấu tranh với phương thức hoạt động gián điệp nào, đối tượng chủ yếu nào gây nguy hại cho cách mạng trong thời điểm lịch sử ấy; phải đáp ứng tốt nhất, kịp thời nhất các yêu cầu về an ninh chính trị giúp Đảng và Nhà nước triển khai đường lối chính trị, giải pháp và chính sách, kế hoạch cụ thể để lãnh đạo cách mạng thắng lợi.


Nắm vững đường lối của Đảng không phải là nắm chung chung mà phải hiểu rõ đường lối chiến lược, sách lược trong từng bước đi của cách mạng; phải nắm vững đường lối đối nội, đối ngoại, đường lối trong từng giai đoạn lịch sử, từng vấn đề của tồn tại xã hội. Có nắm vững đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước mới giúp ta phân biệt đúng bạn và thù, đối tượng cần tranh thủ, đối tượng cần đả kích, mới phân định rõ “đối tác” “đối tượng”, đặc biệt là thời kỳ đất nước mở rộng hợp tác quốc tế, quan hệ đa phương đa chiều trong thế giới hội nhập; mới đáp ứng các yêu cầu về an ninh chính trị, phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần đối với nhân dân một cách hiệu quả nhất.


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 16 Tháng Mười, 2021, 08:18:56 am
Chúng ta biết rằng hoạt động gián điệp được phát sinh bơi các cơ quan lãnh đạo từ cấp trung ương của đối phương, phục vụ trực tiếp cho quá trình hoạch định âm mưu, điều hành chính sách, triển khai các hoạt động của họ đối với nước ta. Hoạt động gián điệp là bước đi mở đầu cho những kế hoạch đó, được duy trì trong suốt quá trình thôn tính và xâm lược, kể cả quá trình quan hệ song phương. Hoạt động gián điệp cung cấp những tin tức tình báo cần thiết phục vụ cho việc hoạch định và triển khai âm mưu, ý đồ; hoặc trong quá trình triển khai âm mưu, triển khai hoạt động thực tiễn thì tin tức tình báo thu được và hoạt động chống đối khác do gián điệp thực hiện sẽ giúp cho việc duy trì, điều chỉnh kế hoạch, điều chỉnh hoạt động đã được định sẵn sát hợp với diễn biến thực tiễn. Vì vậy, khi xử lý mỗi điệp viên của đối phương đều trực tiếp tác động ngay đến các cơ quan lãnh đạo cao nhất của đối phương, đến quan hệ của hai quốc gia hoặc nhiều quốc gia. Có nghĩa là việc xử lý điệp viên tác động trực tiếp đến quan hệ đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta. Với ý nghĩa đó, nên giai đoạn xử lý điệp viên phải được tiến hành đặc biệt thận trọng. Yêu cầu cao nhất của công tác xử lý điệp viên không chỉ là vô hiệu hoá hoạt động, vô hiệu hoá âm mưu của chúng mà qua đó phải phục vụ tốt nhất cho nhiệm vụ đối ngoại, đối nội của Đảng và Nhà nước. Có thể khái quát bằng kết luận sau: Trong đấu tranh chống gián điệp phải quán triệt đầy đủ và thực hiện nghiêm ngặt quan điểm “nghiệp vụ phục vụ chính trị”.


Quá trình đấu tranh với gián điệp nhìn một cách khái quát được chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn điều tra làm rõ tội phạm và giai đoạn xử lý kẻ phạm tội. Muốn điều tra làm rõ tội phạm cơ quan An ninh phải triển khai các biện pháp nghiệp vụ cần thiết, mang tính chuyên ngành, chuyên biệt để thu thập chứng cứ làm rõ kẻ phạm tội về âm mưu, hành vi, thủ đoạn, mục đích của chúng. Đây là quá trình khách quan và bất biến.


Khi đã làm rõ tội phạm, giai đoạn tiếp theo là xử lý kẻ phạm tội. Quá trình xử lý kẻ phạm tội phải căn cứ vào quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về đối nội và đối ngoại để xác định biện pháp xử lý cụ thể. Biện pháp xử lý phải đảm bảo đình chỉ hoặc vô hiệu hoá hoạt động của điệp viên nhưng đồng thời phải phục vụ đắc lực cho yêu cầu ngoại giao và triển khai chính sách điều hành đất nước của Đảng và Nhà nước. Yêu cầu đó dẫn đến cùng tính chất, mức độ phạm tội nhưng điệp viên của nước này với nước khác; vào thời điểm này và thời điểm khác phải có hình thức xử lý khác nhau. Đây là quá trình phát triển do ý chí chủ quan của con người và là yêu tố luôn luôn động. Tức là xử lý điệp viên phải tuân theo pháp luật của nước ta nhưng lại được thực hiện với nhiều cách thức khác nhau được quy định bởi mối quan hệ: bạn và thù, tranh thủ và đả kích, chiến lược và sách lược, trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể nhằm tạo điều kiện có lợi nhất giúp Đảng và Nhà nước thực hiện đối sách trong quá trình lãnh đạo đất nước.


Từ quan điểm trên, căn cứ thực tiễn lịch sử đấu tranh chống gián điệp chúng ta thấy rõ: Quá trình điều tra làm rõ tội trạng của điệp viên đã khó nhưng sau khi đã làm rõ tội trạng của chúng thì việc tiến hành đối sách với điệp viên càng khó hơn, nhiều yếu tố nhạy cảm vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước trong đối ngoại cũng như đối nội. Công tác xử lý điệp viên đòi hỏi chúng ta không chỉ nắm vững đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước mà phải luôn nhạy bén về chính trị, kể cả năng lực dự báo, dự đoán xu hướng phát triển của tình hình quốc tế tác động đến cách mạng nước ta.


Trên cơ sở đó, có thể khái quát: Trong đấu tranh chống gián điệp, phải nắm vững đường lối của Đảng; phải thực hiện bằng được yêu cầu “nghiệp vụ phục vụ chính trị"; sáng tạo trong thực hiện đối sách với từng phương thức hoạt động của gián điệp, từng vụ việc, từng điệp viên; đảm bảo phục vụ đắc lực cho đường lối đối nội, đối ngoại của Đảng và Nhà nước trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể.


Để làm rõ lý luận nhận thức về quan điểm đã nêu, chúng ta điểm lại một số vụ án gián điệp điển hình hoặc có tính điển hình ở mặt này hay mặt khác, giúp chúng ta nhận thức đầy đủ hơn về yêu cầu nắm vững quan điểm của Đảng, thực hiện đúng nguyên tắc “nghiệp vụ phục vụ chính trị".


Trước hết cần nêu một số vụ án không thành công trong giai đoạn đầu của lịch sử chống gián điệp, đã để lại những hậu quả nặng nề, cần được rút kinh nghiệm nghiêm khắc cả trong quá trình điều tra cũng như quá trình xử lý đối tượng, đó là các sự kiện: bắt bớ ở Đông Miên, vụ Tám Ảnh, vụ Hộ Thành, vụ H122... Những sự kiện trên xảy ra tại các địa bàn khác nhau ở Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ; trong những hoàn cảnh khác nhau nhưng đều nằm trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược; khi lực lượng Công an còn non trẻ, nhận thức địch - ta còn ấu trĩ, nghiệp vụ còn giản đơn. Do đó đã mắc sai phạm từ quá trình điều tra đến quá trình xử lý những người bị bắt, gây hậu quả nghiêm trọng. Sự ấu trĩ và non yếu bắt đầu từ tiếp nhận nguồn tin không đủ căn cứ đã xác lập chuyên án. Trong quá trình điều tra cán bộ hỏi cung chưa có nghiệp vụ, dẫn đến tình trạng bức cung, mớm cung và chỉ căn cứ vào lời khai của người bị bắt để mở rộng bắt bớ dẫn đến bắt tràn lan, bắt không đúng tội kể cả bắt người vô tội, người có công. Việc bắt oan, sai tác động tiêu cực đến tình hình nội bộ; một số đồng chí không chịu nổi áp lực tinh thần đã phản ứng bằng cách tự tử. Sai phạm từ các sự kiện trên tác động tiêu cực không chỉ đối với những người bị oan sai mà nguy hiểm hơn là làm suy giảm lòng tin của cán bộ, nhân dân đối với tổ chức, với Đảng; làm suy yếu lực lượng của kháng chiến. Trung ương Đảng đã phải ra các chỉ thị chỉ đạo và thành lập các tổ công tác đặc biệt để điều tra lại, khẩn trương sửa sai mới khắc phục được hậu quả. Tuy những sai phạm trên được khắc phục và sửa sai nhưng đã để lại những hậu quả nặng nề. Có những trường hợp đến nay ta vẫn phải giải quyết.


Những vụ án đã dẫn tuy hãn hữu, nhưng để lại nhiều bài học đau xót và đắt giá, nhắc nhở cơ quan điều tra phải nắm vững đường lối của Đảng mới có thể nhận rõ địch, ta; mới có thể tổ chức đấu tranh đúng hướng, đúng chính sách, đúng pháp luật và đúng đối tượng. Nhắc nhở cơ quan điều tra phải nghiêm ngặt tuân thủ tính khách quan mới có được kết quả đúng và thực hiện đối sách đúng theo quan điểm “nghiệp vụ phải phục vụ chính trị”.


Hơn nửa thế kỷ đấu tranh chống gián điệp trong những bối cảnh lịch sử khác nhau; có nơi, có lúc điều kiện lịch sử hết sức ngặt nghèo và những yếu tố khách quan bất lợi chi phối công tác điều tra cũng như xử lý đối tượng. Nhận thức để đi đến hành động là một quá trình, được quy định bởi nhận thức và năng lực về chính trị, nghiệp vụ của mỗi cán bộ chiến sỹ. Vì vậy, trong quá trình đấu tranh không tránh khỏi va vấp, không tránh khỏi sai lầm, khuyết điểm. Nhưng về tổng thể toàn bộ cuộc đấu tranh chống gián điệp, cơ quan An ninh đã thực hiện thành công quan điểm “nghiệp vụ phục vụ chính trị'', tổ chức điều tra và xử lý điệp viên không chỉ đáp ứng yêu cầu đối nội, đối ngoại của Đảng và Nhà nước mà còn hỗ trợ đắc lực, giúp Đảng và Nhà nước chủ động triển khai đường lối, chính sách lãnh đạo cách mạng; chủ động tiến hành các đối sách về công tác ngoại giao song phương cũng như đa phương.


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 17 Tháng Mười, 2021, 04:51:51 pm
Thời kỳ đất nước ở vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, chính quyền non trẻ cùng một lúc phải đương đầu với nhiều kẻ thù. Cùng với việc thành lập “Chính phủ liên hiệp", Đảng chủ trương “hoà với Tưởng" để cô lập Pháp, loại dần kẻ thù. Quán triệt chủ trương, đối sách của Đảng, ngành Công an đã điều tra làm rõ hàng trăm tên đặc vụ Tưởng, gián điệp Pháp và bọn làm tay sai chỉ điểm cho chúng. Nhưng căn cứ vào luật pháp, căn cứ tình hình chính trị lúc đó, ta không đưa ra xét xử tất cả các vụ mà chỉ đưa ra truy tố những vụ điển hình nhất nhằm vạch tội của Pháp và Tưởng, được những người không đảng phái trong Chính phủ ủng hộ. Nha Công an đề ra hướng đấu tranh thích hợp bằng cách chỉ đạo các sở Công an thành lập “Đội trinh sát đặc biệt”, “Đội hành động"; chuyên trách làm nhiệm vụ bí mật trừ khử bọn gián điệp và “bọn chó săn” của Tưởng, Nhật, Pháp. Nhờ đó, ta vẫn trừng trị mạnh bọn gián điệp, bọn tay sai chỉ điểm nhưng vẫn đáp ứng yêu cầu thực hiện “sách lược mềm dẻo" để loại dần kẻ thù trong bối cảnh lịch sử đặc biệt của thời kỳ chính quyền cách mạng ở vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc". Đỉnh cao ở thời kỳ này là lực lượng An ninh “đập tan cuộc đảo chính phản cách mạng do Quốc dân đảng câu kết với quân đội viễn chinh Pháp tiến hành" và tổng trấn áp Quốc dân đảng trên toàn quốc, phá tan liên minh giữa thực dân Pháp xâm lược với thế lực nội phản. Sự sáng tạo của cuộc tổng trấn áp này là ở chỗ: lực lượng An ninh đã dựa hẳn vào luật pháp, vận động quần chúng tạo ra áp lực chính trị mạnh mẽ và chỉ chĩa mũi nhọn đả kích vào bọn nội phản; không đả động gì đến số gián điệp Pháp chúng đã móc nối và mềm dẻo đẩy đuổi lực lượng quân sự Pháp khi chúng can thiệp. Bởi vậy, mặc dù lúc này, Pháp đang lăm le tìm cớ để sử dụng lực lượng vũ trang tấn công ta nhưng chúng không có một lý do nào để thực hiện âm mưu đen tối đó.


Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đảng ta chủ trương thực hiện 3 mũi giáp công “quân sự, chính trị, ngoại giao” nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của thời đại để giành thắng lợi cuộc kháng chiến. Muốn vậy, Đảng cần phải nắm được âm mưu, ý đồ, kế hoạch tác chiến của Mỹ và đồng minh của chúng; đồng thời phải nắm được thái độ của các nước trong phe xã hội chủ nghĩa và của các nước đồng minh chiến lược đối với ta. Phục vụ yêu cầu của Trung ương Đảng, từ năm 1961 đến năm 1973, lực lượng An ninh tiến hành hai kế hoạch phản gián tuyệt mật là M1 và M2 thu được hàng chục ngàn tin tình báo có giá trị về chiến lược chiến thuật, có tính thời sự cao từ cơ quan cố định của một nước tư bản đóng tại Hà Nội. Tin tình báo thu được đã giúp Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra những quyết sách trong quá trình lãnh đạo dân tộc ta tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi. Đặc biệt, tin tức thu được từ hai kế hoạch còn có tính thời sự về chiến thuật cũng như chiến lược liên quan đến âm mưu, kế hoạch của Mỹ cùng đồng minh của Mỹ; liên quan đến ý đồ của một số nước đối với cuộc kháng chiến của dân tộc ta. Những tin tức đó đã được Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch sử dụng trong các cuộc đàm phán song phương với các quốc gia; tranh thủ được sự ủng hộ của quốc tế nhưng vẫn giữ vững đường lối ngoại giao độc lập, tự chủ, tự cường.


Cũng trong giai đoạn lịch sử này, lực lượng An ninh tiến hành đấu tranh chuyên án có bí số X77 do một chuyên gia lật đổ nằm trong cơ quan cố định của một nước đồng minh chiến lược với ta chỉ đạo. Âm mưu của chúng là sử dụng số đối tượng có vị trí cao trong cơ quan của Đảng, Nhà nước; số đối tượng có điều kiện tiếp xúc với nguồn tài liệu tuyệt mật của Đảng và Nhà nước để lấy cắp tin tình báo; sử dụng số đối tượng này tiến hành đấu tranh trên nghị trường, điều chỉnh đường lối của Đảng có lợi cho họ đi đến lật đổ Đảng và Nhà nước ta. Gần mười năm tổ chức điều tra, cơ quan An ninh nắm rõ, quản lý chặt từng đối tượng trong chuyên án, vô hiệu hoá âm mưu và hoạt động của chúng. Năm 1969, Trung ương Đảng cho phép phá án, bắt gần 20 đối tượng quan trọng, trong đó có những đối tượng là Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, cán bộ cao cấp trong cơ quan thiết yếu quan trọng, ngăn chặn cuộc đảo chính trên nghị trường của cơ quan tình báo đối phướng. Để giữ gìn quan hệ đồng minh chiến lược cũng như đảm bảo sự ổn định về chính trị, phục vụ yêu cầu tập trung mọi nguồn lực cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, ta không truy tố công khai các đối tượng bị bắt mà áp dụng biện pháp quản lý đặc biệt. Với đối sách này, Đảng và Nhà nước vẫn thực hiện thắng lợi chính sách ngoại giao độc lập, tự chủ, tranh thu được tối đa sự ủng hộ của họ nhưng vẫn bảo vệ tuyệt đối an toàn nội bộ và tổ chức đảng cũng như đường lối của Đảng mà không gây xáo động về chính trị.


Song song với quá trình đấu tranh chuyên án X77 lực lượng An ninh con đấu tranh thắng lợi nhiều chuyên án gián điệp khác do X70 và X77 là hai quốc gia đồng minh chiến lược với ta tiến hành. Hàng trăm điệp viên của X70 và X77 hoạt động ở hầu khắp các lĩnh vực kinh tế, văn hoá xã hội, kể cả trong lực lượng vũ trang và hệ thống công quyền; có những đối tượng giữ trọng trách trong các cơ quan cấp Vụ, cấp Bộ. Đáp ứng yêu cầu đối nội và đối ngoại, hầu như số điệp viên bị phát hiện trong thời gian này ta đều không đưa ra truy tố công khai; thậm chí có đối tượng không bị áp dụng biện pháp ngăn chặn theo luật định. Cơ quan An ninh đã tham mưu cho Đảng điều chuyển đối tượng ra khỏi cơ quan thiết yếu quan trọng, hoặc điều chuyển đến những vị trí công tác không có điều kiện thu thập tin tình báo và phá hoại nội bộ ta. Một số khác bị kỷ luật, đưa ra ngoài xã hội hoặc đưa vào diện quản lý đặc biệt. Vì vậy hai quốc gia X70, X77 không thực hiện được ý đồ điều chỉnh Đảng ta đi theo họ, điều chỉnh sự chỉ đạo của Đảng ta đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước theo chiều hướng có lợi cho họ. Đạt được kết quả trên chứng tỏ lực lượng An ninh không chỉ quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối của Đảng trong đấu tranh chống gián điệp mà còn mạnh dạn đề xuất lên Trung ương Đảng áp dụng những đối sách sáng tạo với điệp viên của X70 và X77 khi họ là đồng minh chiến lược, trong bối cảnh ta cần tranh thủ sự ủng hộ của họ để tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Do quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc quan điểm “nghiệp vụ phục vụ chính trị" nên lực lượng An ninh vẫn vô hiệu hoá được hoạt động của điệp viên đối phương đồng thời vẫn đáp ứng những điều kiện cần thiết giúp Đảng và Nhà nước tiến hành chính sách đối ngoại độc lập tự chủ, tranh thủ tối đa ủng hộ của Liên Xô, Trung Quốc và các nưởc xã hội chủ nghĩa anh em.


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 23 Tháng Mười, 2021, 08:06:47 pm
Cùng thời gian này, đối với gián điệp của Mỹ và đồng minh của Mỹ là kẻ thù trực tiếp, nguy hiểm, lâu dài của cách mạng, ta áp dụng đối sách bằng cách đưa ra truy tố công khai hàng chục vụ án gián điệp như: vụ án C30, H07, GM65, ED69 và hàng chục vụ án gián điệp biệt kích,... Mỗi vụ xét xử đều được tổ chức tuyên truyền rộng rãi ở trong nước và quốc tế nhằm tố cáo tội ác, vạch rõ thủ đoạn hoạt động của chúng trước quảng đại quần chúng nhân dân. Các vụ án gián điệp trên không chỉ được xét xử trong phòng xử án của toà hình sự mà còn được đưa đi xét xử lưu động ở những địa bàn cần thiết, đáp ứng yêu cầu phòng chống gián điệp. Chỉ tính riêng về phương thức gián điệp biệt kích, lực lượng An ninh đã đưa ra xét xử công khai 32 vụ, tổ chức triển lăm tại 661 địa điểm thu hút 4 triệu lượt người dân đến xem. Đây cũng là một sáng tạo trong đối sách với điệp viên. Thông qua các phiên toà, các cuộc triển lãm, người dân thấy rõ người thật việc thật hiểu thêm về tội ác của địch để tăng thêm lòng căm thù; hiểu thêm về thủ đoạn hoạt động của địch để nâng cao tinh thần cảnh giác, ý thức phòng ngừa tội phạm. Tác dụng từ những phiên toà lưu động, các cuộc triển lãm còn là một biện pháp răn đe, tạo ra áp lực tinh thần, tác động mạnh đến những đối tượng có tư tưởng chống đối, có âm mưu làm tay sai cho giặc.


Thời kỳ chống chiến tranh phá hoại nhiều mặt, để đối phó với âm mưu bành trướng bá quyền của bọn phản động quốc tế lực lượng An ninh phối hợp chặt chẽ với Quân đội nhân dân bóc gỡ mạng lưới gián điệp của T110 (sau này gọi là TH) ở các tỉnh biên giới phía Bắc, trong lực lượng vũ trang tại Quân khu I, Quân khu II. Để giữ cho quan hệ giữa hai nước không xấu hơn, ta chỉ đưa một số vụ điển hình ra xét xử công khai như: Thào Chín Vu, Lý Nghiệp Phu,... Số đối tượng khác liên quan đến cơ quan đặc biệt của T110 nhưng có độ nhạy cảm cao, lực lượng An ninh đề xuất với Đảng và Nhà nước thực hiện chính sách cán bộ triệt để với các hình thức: cho thôi việc, điều chuyển khỏi cơ quan quan trọng, địa bàn xung yếu, bí mật điều tra, sẵn sàng áp dụng biện pháp ngăn chặn khi cần thiết... Thực hiện chỉ đạo của Trung ương Đảng, Bộ Công an triển khai kế hoạch “Phòng chống bạo loạn - kế hoạch 778” ở các thành phố, thị xã và địa bàn trọng điểm có đông người gốc TH sinh sống nhằm huy động các lực lượng, chủ động đối phó với âm mưu nhân viên cơ quan đặc biệt kích động người gốc TH gây biểu tình, bạo loạn. Nhờ có đối sách đúng, phù hợp với tình hình nên khi TH phát động chiến dịch nạn kiều, gây chiến tranh ở biên giới phía Tây Nam và phía Bắc, ta đã căn bản loại trừ được hoạt động của gián điệp TH trong nội địa, ngăn chặn được các cuộc biểu tình, bạo loạn do điệp viên của TH kích động để rảnh tay đối phó với hai cuộc chiến tranh ở biên giới. Có thể nói trong khoảng thời gian dài TH đã lợi dụng quan hệ láng giềng và đồng minh chiến lược để tổ chức hoạt động gián điệp rộng khắp, điều tra mọi mặt tình hình của ta hòng chuẩn bị cho chiến dịch phá hoại toàn diện trên mọi lĩnh vực về kinh tế, chính trị, quân sự, xã hội... Nhưng TH chỉ đạt được một số kết quả về chiến thuật mà không đạt được ý đồ chiến lược. Vì vậy, đây là một thắng lợi to lớn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, trong đó có phần đóng góp quan trọng trong đối sách của công tác đấu tranh chống gián điệp TH.


Sau chiến dịch nạn kiều, sau hai cuộc chiến tranh ở biên giới phía Tây Nam và phía Bắc, TH đã công khai bộc lộ âm mưu và ráo riết tiến hành “kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt” đối với nước ta. Âm mưu và hoạt động của bọn phản động quốc tế trong thời kỳ này là vô cùng nguy hiểm vì đất nước đang gặp muôn vàn khó khăn về kinh tế, đời sống về vật chất và tinh thần của nhân dân xuống cấp nghiêm trọng, lòng tin với Đảng bị suy giảm. Lợi dụng bối cảnh đó, chúng tiến hành chiến thuật “trong nổi dậy, ngoài đánh vào” bằng việc bí mật đưa gián điệp biệt kích, vũ khí từ nước ngoài vào, liên kết với bọn phản động trong nội địa hòng gây bạo loạn cướp chính quyền từng vùng để đi đến bạo loạn cướp chính quyền trên cả nước. Do đã chủ động chuẩn bị chiến trường đón đợi kẻ thù nên từ năm 1980 đến năm 1990 lực lượng An ninh triển khai đồng thời, đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ, trên địa bàn rộng lớn với nhiều lực lượng tham gia đấu tranh thắng lợi nhiều chuyên án, triển khai thắng lợi nhiều kế hoạch phản gián lớn. Trong 10 năm đấu tranh, ta đã bắt và diệt gần 600 tên biệt kích, thu hàng trăm tấn vũ khí và phương tiện chiến tranh; phá hàng chục tổ chức phản động đã liên kết với gián điệp, bắt và gọi hàng hàng chục ngàn tên, đập tan nhiều kế hoạch bạo loạn có quy mô lớn của bọn phản động quốc tế, làm phá sản hoàn toàn chiến thuật “trong nổi dậy, ngoài đánh vào” của chúng.


Hầu hết các chuyên án gián điệp, các chuyên án phản động đã liên kết với gián điệp của bọn phản động quốc tế khám phá trong giai đoan này đều bi đưa ra xét xử công khai. Trong quá trình xét xử, ta tổ chức tuyên truyền thành chiến dịch, mời đông đảo phóng viên trong nước và ngoài nước đến dự; tổ chức triển lãm các loại phương tiện chiến tranh cho quảng đại quần chúng nhân dân tham quan; đưa phóng viên trong nước và nước ngoài đi thị sát các mật cứ của địch “xây dựng” bí mật trong rừng. Trong cáo trạng, ta cũng chỉ rõ hoặc để cho các bị cáo thừa nhận chúng được huấn luyện ở đâu, đi những đâu để nhận chỉ đạo và tài trợ, con đường xâm nhập về nước, con đường và địa điểm nhận vũ khí và tiền giả,... Từ các loại chứng cứ khách quan có tính thuyết phục cao qua các vụ án, cả thế giới đều hiểu rõ đối tượng phát động “kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt” đối với nước ta. Qua đó, dư luận thế giới thấy được bộ mặt thật, âm mưu bá quyền của bọn phản động quốc tế.


Đấu tranh thắng lợi các chuyên án, đưa bọn tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia trong giai đoạn này ra xét xử công khai không chỉ là đòn quyết định làm phá sản “kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt” của bọn phản động quốc tế, mà còn tạo điều kiện có lợi giúp Đảng và Nhà nước tiến hành đấu tranh trên mặt trận ngoại giao với tinh thần độc lập, tự chủ, bình đẳng và cùng có lợi, đi đến sớm bình thường hoá quan hệ giữa hai nước. Đối với tình hình trong nước, do ta đánh đúng, đánh trúng, đánh hiểm nên không những đã chủ động dụ hết số gián điệp biệt kích được huấn luyện ở nước ngoài về nước và bắt gọn mà còn thúc đẩy hầu hết các tổ chức phản động đang giấu mình phải bộc lộ để trấn áp. Thắng lợi trên mặt trận chống gián điệp giai đoạn lịch sử này đã góp phần quan trọng giữ vững, giữ ổn định an ninh chính trị, giúp Đảng và Nhà nước triển khai nhiều chính sách mới, đưa đất nước thoát dần ra khỏi tình trạng khủng hoảng; xây dựng được địa bàn an ninh cần và đủ, tạo tiền đề cho Đảng khởi xướng đường lối đổi mới.


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 24 Tháng Mười, 2021, 08:08:46 pm
Năm 1986, Đảng ta khởi xướng đường lối đổi mới. Sau 5 năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện và triệt để, Đảng lãnh đạo đất nước đạt được những thành tựu to lớn trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội. Đường lối đổi mới cùng với những thành tựu đạt được chứng minh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam theo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là hoàn toàn đúng đắn trong bối cảnh nhiều nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới bị sụp đổ và tan rã. Đất nước ta vững bước trên con đường đổi mới, chuyển sang thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế sâu rộng. Nhưng đồng thời với những bước phát triển của cách mạng, nước ta cũng trở thành tiêu điểm chống phá của các thế lực thù địch trong âm mưu xoá bỏ tư tưởng cộng sản, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Chúng thực hiện “diễn biến hoà bình" đối với nước ta; tập trung phá hoại tư tưởng, truyền bá đa nguyên đa đảng; gây nổ, kích động biểu tình, khủng bố; thành lập các tổ chức chính trị đối lập; lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, an ninh nông thôn, biên giới, biển đảo,... và những mâu thuẫn xã hội phát sinh tất yếu trong quá trình đổi mới để can thiệp vào nội bộ ta nhằm thực hiện âm mưu thôn tính và xâm lược. Đặc biệt, “diễn biến hoà bình" đối với nước ta lại nằm trong bối cảnh tình hình quốc tế ngày một diễn biến phức tạp, nhiều vấn đề mới phát sinh, nhạy cảm và khó lường. Vì vậy, cuộc đấu tranh chống gián điệp, làm thất bại âm mưu và hoạt động của các thế lực thù địch càng khó khăn, phức tạp bội phần. Muốn giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh này đòi hỏi phải nắm vững đường lối của Đảng, nhạy bén về chính trị, luôn đổi mới và sáng tạo trong đối sách mới có thể bảo vệ được thành quả cách mạng, phục vụ tốt nhất các yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, ngoại giao đa phương, đa dạng và hội nhập quốc tế sâu rộng.


Quán triệt quan điểm đổi mới của Đảng, hơn 10 năm qua công tác đấu tranh chống gián điệp đã được đổi mới căn bản trên các lĩnh vực, nhất là công tác điều tra cơ bản; cho phép lực lượng An ninh triển khai đồng bộ, đồng thời các biện pháp nghiệp vụ với yêu cầu “nắm địch từ xa, đánh địch từ nơi xuất phát". Nhờ chủ động nắm địch và đánh địch nên lực lượng An ninh từng bước vô hiệu hoá hoạt động của bọn gián điệp, đẩy lùi các chiến dịch phá hoại tư tưởng và truyền bá đa nguyên đa đảng; vô hiệu hoá, đẩy lùi và đập tan các chiến dịch phá hoại khủng bố; ngăn chặn âm mưu thành lập các tổ chức, đảng phái chính trị đối lập từ bên ngoài để phát triển ồ trong nước; đẩy lùi các chiến dịch lợi dụng dân chủ, nhân quyền, tôn giáo và dân tộc, kích động biểu tình, tuyên truyền xuyên tạc, bôi nhọ Việt Nam trên diễn đàn quốc tế.


Mặc dù các thế lực thù địch ráo riết tấn công ta từ nhiều phía, nhiều chiều, trên mọi lĩnh vực và vô cùng tinh vi nhưng an ninh chính trị những năm qua vẫn được giữ vững, giữ ổn định. Sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá hiện đại hoá không ngừng phát triển; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được đề cao. Việt Nam đang là điểm đến tin cậy cho các hội nghị lớn của quốc tế và khu vực, là địa chỉ đầu tư an toàn, có hiệu quả và nhiều tiềm năng. Có thể khẳng định: trên trận tuyến đấu tranh chống gián điệp thời kỳ đổi mới, chúng ta đã giành được thành tựu có ý nghĩa lịch sử, đóng góp quan trọng cho quá trình triển khai thắng lợi các chương trình phát triển kinh tế, xã hội; ổn định chính trị, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân để huy động các nguồn lực cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đồng thời tạo điều kiện cần thiết thu hút vốn đầu tư của nước ngoài, đàm phán song phương và đa phương trên chính trường quốc tế cũng như thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, giành thắng lợi ngày càng to lớn.


Đạt được thành tựu trên, một trong những vấn đề cốt lõi có tính cơ bản là lực lượng An ninh đã sớm xác định cuộc đấu tranh chống gián điệp mang tính thời đại, nắm rõ "đối tượng, đối tác". Việc xác định có tính nguyên tắc về đối tượng đấu tranh đã giúp cho lực lượng An ninh chủ động triển khai các biện pháp nghiệp vụ sắc bén, làm rõ tội phạm đồng thời tiến hành các biện pháp xử lý tội phạm sáng tạo, vừa đảm bảo an ninh chính trị, vừa đáp ứng yêu cầu hợp tác đầu tư, sản xuất kinh doanh và hội nhập quốc tế. Hướng đấu tranh và biện pháp xử lý đối tượng được thể hiện ở những cấp độ khác nhau: “Vô hiệu hoá - đẩy lùi - đập tan" đối với các hoạt động gây nổ, khủng bố; “bao vây - vô hiệu hoá - kiềm toả - trục xuất” đối với các nhân viên tình báo gián điệp vào nước ta dưới các vỏ bọc khác nhau; “vô hiệu hoá - kiềm toả - quản lý đặc biệt - bắt thả nhiều lần” đối với những đối tượng bất mãn, quá khích, cơ hội chính trị có thân phận được dư luận quan tâm, cố tình làm tay sai cho gián điệp hoặc tiếp tay cho các thế lực thù địch lợi dụng... Đối sách trên khắng định trong giai đoạn lịch sử đương đại, lực lượng An ninh không chỉ quán triệt nghiêm túc, tuân thủ nghiêm ngặt đường lối chiến lược, sách lược của Đảng mà còn thực hiện sáng tạo quan điểm “nghiệp vụ phục vụ chính trị".


Những năm gần đây, các thế lực thù địch ráo riết tiến hành các chiến dịch chống phá sự nghiệp cách mạng của Việt Nam. Chúng không chỉ tổ chức hoạt động gián điệp như các giai đoạn lịch sử trước mà đã phát triển với quy mô lớn, đa dạng, tổng hợp nhiều biện pháp, lợi dụng mọi điều kiện, vừa bí mật vừa công khai nhằm thu thập tin tình báo, tác động tinh thần, kích động chống đối, gây bạo loạn, khủng bố,... Rõ ràng âm mưu và hoạt động của các thế lực thù địch ngày càng nguy hiểm và thâm độc. Xu hướng lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc, an ninh nông thôn; lợi dụng những kẻ cơ hội chính trị, bất mãn, quá khích có nhân thân được dư luận quan tâm để kích động chống phá ta ngày càng gia tăng, có sự chỉ đạo chặt chẽ và công khai hơn. Một số lĩnh vực đã hình thành liên minh giữa thế lực bên ngoài với bọn bên trong. Vì vậy đấu tranh chống gián điệp, chống lại âm mưu và hoạt động của các thế lực thù địch phải được xem như là mặt trận đấu tranh tổng hợp, kết hợp chặt chẽ giữa đánh địch với xây dựng một xã hội với tiêu chí “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Do đó, một lần nữa cần nhấn mạnh: đấu tranh chống gián điệp tất yếu phải là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Đảng hoạch định đường lối đấu tranh, Đảng tổ chức lực lượng đấu tranh, trong đó lực lượng tại chỗ, cơ bản và quan trọng nhất là các tầng lớp nhân dân. An ninh nhân dân là lực lượng nòng cốt vừa có vai trò hướng dẫn về nghiệp vụ vừa trực tiếp tổ chức đấu tranh.


Thực tiễn đấu tranh hơn nửa thế kỷ qua và thực tiễn sinh động đang diễn ra của giai đoạn lịch sử mới, chúng ta khẳng định rằng nhiệm vụ cao cả của trận tuyến đấu tranh chống gián điệp là nhằm bảo vệ đường lối của Đảng và tổ chức Đảng; bảo vệ chính quyền dân chủ nhân dân, bảo vệ nhân dân trên con đường cách mạng, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa theo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Vì vậy, đấu tranh chống gián điệp phải nắm vững đường lối của Đảng, nhạy bén về chính trị; sáng tạo trong đối sách với từng phương thức gián điệp, phục vụ đắc lực chính sách đối nội, đối ngoại của Đảng và Nhà nước trong những điều kiện lịch sử cụ thể. Bài học lịch sử này vừa là phương pháp nhận thức, vừa là nguyên tắc công tác, vừa là mục đích hành động trong đấu tranh chống gián điệp ở mọi giai đoạn lịch sử của cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Mười, 2021, 09:39:28 pm
BÀI HỌC THỨ HAI
VẬN ĐỘNG, TỔ CHỨC TOÀN DÂN PHÒNG CHỐNG GIÁN ĐIỆP, PHÁT HUY VAI TRÒ TO LỚN CỦA NHÂN DÂN LÀ THỂ HIỆN SINH ĐỘNG VÀ SÁNG TẠO TƯ TƯỞNG TIẾN CÔNG, MANG ĐẶC THÙ VIỆT NAM


Mấy ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, các thế hệ người Việt Nam đã vượt qua mọi thử thách của thiên nhiên và chiến thắng các thế lực ngoại xâm để xây dựng đất nước, bảo vệ quyền độc lập tự do cho dân tộc. Qua từng chặng đường lịch sử, dân tộc ta đã xây dựng và bồi đắp truyền thống rất đáng tự hào bằng những phẩm chất quý báu được bắt nguồn từ thực tiễn cuộc sống. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, lòng tự trọng, tự hào dân tộc; là tinh thần đoàn kết, gắn bó keo sơn theo nghĩa “đồng bào” trong đại gia đình dân tộc Việt Nam; là quan hệ thương yêu đùm bọc lẫn nhau trong cộng đồng, làng xã theo nghĩa “một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”; là biết đặt quyền lợi của cộng đồng, của quốc gia dân tộc lên trên quyền lợi của bản thân theo nghĩa “có làng có nước".


Nhìn lại những trang sử vẻ vang mấy ngàn năm qua thấy rõ ông cha ta đã biết khơi dậy, bồi đắp và làm giàu thêm truyền thống quý báu, dẫn dắt cả dân tộc kết lại một khối, thành sức mạnh vô địch trước họa ngoại xâm, chiến thắng những đội quân xâm lược hùng mạnh nhất đương thời, xây dựng một quốc gia độc lập với nền văn hoá đậm đà bản sắc Việt Nam. Truyền thống đó được phát huy cao độ từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, lãnh đạo cả dân tộc làm cách mạng theo con đường cách mạng vô sản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.


Để lãnh đạo dân tộc đi đến thắng lợi, Đảng luôn xác định: Đảng là con đẻ trong phong trào cách mạng của nhân dân, Đảng dựa vào dân, không ngừng phát huy những phẩm chất cao đẹp của nhân dân để lãnh đạo, tổ chức cả nước làm cách mạng và bảo vệ cách mạng. Trong các văn kiện cũng như quá trình lãnh đạo thực tiễn, Đảng xác định rõ: Vấn đề quần chúng trong cách mạng là vấn đề chiến lược và kiên trì quan điểm “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng". Đảng dựa vào dân, tổ chức nhân dân thành lực lượng cách mạng. Lực lượng cách mạng ấy dưới sự lãnh đạo của Đảng đã trở thành sức mạnh tổng hợp của quá khứ, của hiện tại, của khát vọng để vượt qua mọi thử thách, trở thành lực lượng vô địch, hoàn thành sứ mạng lịch sử của mình.


Hơn nửa thế kỷ phấn đấu vì lý tưởng cộng sản, Đảng ta lãnh đạo một đất nước tuy đất không rộng, người không đông, nhưng đã đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc. Ngày nay Đảng tiếp tục lãnh đạo toàn dân, toàn quân đánh bại âm mưu, hoạt động của bọn phản động quốc tế cũng như các thế lực thù địch để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thế giới hội nhập.


Thành quả cách mạng vĩ đại đó là minh chứng cho sức mạnh bách chiến bách thắng của cuộc chiến tranh nhân dân khi đất nước có chiến tranh “càng đánh càng mạnh, càng mạnh càng thắng"; minh chứng cho sức mạnh vô địch của tinh thần đại đoàn kết toàn dân qua các chặng đường cách mạng “đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công đại thành công". Vai trò của nhân dân trong thời kỳ đất nước có chiến tranh hay khi đất nước đã hoà bình đều là biểu hiện sinh động của tinh thần yêu nước, ý thức cảnh giác cách mạng; tinh thần đại đoàn kết theo nghĩa đồng chí, đồng bào; phát huy sáng kiến, quy tụ được sức sáng tạo của cộng đồng, khai thác tiềm năng của thiên nhiên và con người thành hoạt động phong phú và đa dạng để đánh địch cũng như xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam thấy rõ nêu tổ chức được nhân dân tham gia tích cực vào công tác cách mạng, với sức sáng tạo của nhân dân, công tác cách mạng diễn ra muôn hình muôn vẻ về nội dung và đa dạng về hình thức, mang những đặc thù riêng của Việt Nam. Đặc thù đó được kết tinh thành tinh thần đại đoàn kết toàn dân, cả nước làm cách mạng. Bằng trí tuệ của hàng triệu người, cuộc chiến tranh nhân dân diễn ra với sự sáng tạo phong phú của mọi tầng, mọi giới, ở mọi vùng miền, thành sức mạnh Việt Nam. Sức mạnh ấy không chỉ là sức mạnh vật chất mà còn là tinh thần, trở thành sức mạnh bách chiến bách thắng đối với mọi kẻ thù, kể cả những đội quân xâm lược hùng mạnh nhất đương thời. Khi đất nước đã hoà bình, sức mạnh ấy được phát huy trong sản xuất kinh doanh để tạo ra của cải, nâng cao đời sống vật chất, đời sống tinh thần cho gia đình mình và cho toàn xã hội. Trên mọi lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, kể cả trong quản lý xã hội, từ các tầng lớp trong cộng đồng đã xuất hiện muôn vàn sáng kiến, cải tiến, làm tiền đề gợi mở, giúp Đảng và Nhà nước đề ra những chủ trương, chính sách mới, thúc đẩy xã hội tiến nhanh hơn, sát với thực tiễn cuộc sống hơn.


Cũng từ trong bối cảnh lịch sử mới, các tầng lớp trong cộng đồng đã không ngừng phát huy sáng tạo, thành lập ra các tổ chức “tự nguyện” gắn kết các hộ trong phường, xóm, dòng họ, nghề nghiệp, vừa hỗ trợ trong sản xuất kinh doanh, đùm bọc lẫn nhau, bảo vệ an ninh trật tự, chống lại mọi âm mưu và thủ đoạn phá hoại thành quả lao động, phá hoại cuộc sống của cộng đồng. Đó là những hình thái mới của việc phát huy vai trò quần chúng nhân dân vào công tác cách mạng nói chung, công tác đấu tranh chống phản cách mạng, bảo vệ an ninh Tổ quốc nói riêng.


Trận tuyến đấu tranh chống gián điệp là bộ phận trọng yếu của công cuộc đấu tranh chống phản cách mạng, là bộ phận không tách rời của sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng và cũng là sự nghiệp của quần chúng, do quần chúng nhân dân thực hiện. Đảng ta xác định: An ninh quốc gia là nhiệm vụ vô cùng quan trọng của toàn Đảng, toàn dân với nhận thức “Bảo vệ cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”. Vai trò của quần chúng đối với công tác công an được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ ngay từ năm 1951, khi nói chuyện với lớp Công an Trung cấp khoá II: "Công an có bao nhiêu người? Dù có vài ba nghìn hay năm bảy vạn đi nữa thì lực lượng ấy vẫn còn ít lắm bên cạnh lực lượng nhân dân. Năm vạn người chỉ có năm vạn cặp mắt, năm vạn đôi bàn tay. Phải làm sao có hàng chục triệu đôi bàn tay, hàng chục triệu cặp mắt và đôi tai mới được. Muốn như vậy phải dựa vào dân, không được xa rời dân. Nếu không thế thì sẽ thất bại. Khi nhân dân giúp đỡ ta nhiều thì thành công nhiều, giúp đỡ ta ít thì thành công ít, giúp đỡ ta hoàn toàn thì thắng lợi hoàn toàn”. Lời dạy của Người, quan điểm của Đảng ta về vai trò của nhân dân vừa là nguyên tắc vừa là biện pháp vận động, tổ chức quần chúng tham gia vào công tác đảm bảo an ninh trật tự. Vì vậy, tổ chức toàn dân tham gia phòng chống gián điệp không chỉ là đòi hỏi khách quan của lịch sử; kinh nghiệm rút ra từ lịch sử mà còn là quán triệt nghiêm túc, thực hiện sáng tạo quan điểm, chỉ đạo của Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu về vai trò của nhân dân trong công tác công an nói chung, công tác đấu tranh chống gián điệp nói riêng.


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 30 Tháng Mười, 2021, 12:19:33 pm
Vấn đề là ở chỗ cơ quan chuyên môn tổ chức, hướng dẫn như thế nào để phát huy được tinh thần yêu nước và ý thức cảnh giác cách mạng của nhân dân trong mỗi giai đoạn lịch sử; hình thức tiến hành ra sao để tinh thần cảnh giác cách mạng của nhân dân trở thành hoạt động thực tiễn của cộng đồng, thành thế trận đáp ứng được yêu cầu phòng ngừa và đấu tranh với từng phương thức hoạt động của gián điệp ở từng vùng miền, từng địa bàn khác nhau.


Chúng ta nhận thức rõ ràng trận tuyến đấu tranh chống gián điệp là cuộc đấu tranh đặc biệt, có những đặc thù riêng. Đối phương sử dụng các phương thức hoạt động khác nhau như: Gián điệp cài cắm, gián điệp cài lại, gián điệp biệt kích, nội gián, gián điệp con thoi, gián điệp lâm thời, thường trú, gián điệp đôi, gián điệp trá hàng, gián điệp là con buôn lậu,... Mỗi phương thức hoạt động của gián điệp đều có cách thức, thủ đoạn khác nhau vì vậy phải có đối sách, chiến thuật phòng ngừa và đánh địch khác nhau. Hơn nửa thế kỷ qua, dù khi đất nước có chiến tranh hay khi đất nước đã hoà bình, để đánh bại âm mưu và hoạt động của gián điệp, Đảng ta chủ trương “phòng và chống”. Chủ trương của Đảng được bắt nguồn từ thực tiễn sinh động trong quá trình lãnh đạo cách mạng với nhận thức: địa bàn chiến lược là địa bàn xã, phường; lực lượng cơ bản là lực lượng tại chỗ; lực lượng ấy chính là tổ chức các tầng lớp nhân dân thành thế trận để “bịt tai che mắt kẻ thù”. Lực lượng nòng cốt chống gián điệp giữ vai trò là cơ quan hướng dẫn nghiệp vụ chuyên môn cho quần chúng phòng ngừa và là lực lượng tổ chức đánh địch. Khi bàn về vấn đề này, Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn đã chỉ rõ những nguyên tắc, cách thức và quan hệ biện chứng giữa “phòng" và “chống” gián điệp. Tư tưởng chỉ đạo của “phòng và chống” là cốt lõi của nội dung và mục đích giữa yêu cầu phát huy tính tích cực của quần chúng với nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn; là hình thái của thế trận đánh địch mang đậm bản sắc Việt Nam khi vận dụng quan điểm của Đảng về vai trò của nhân dân trong phòng chống gián điệp.


Chúng ta cũng biết rằng, quy luật hoạt động chung của gián điệp là khi thâm nhập vào mục tiêu chúng đều phải tạo vỏ bọc, phải trà trộn vào cộng đồng, phải móc nối cơ sở mới có điều kiện để tổ chức hoạt động. Vì vậy, công tác “phòng" là bằng những hoạt động cụ thể của mỗi người trong cộng đồng, tạo ra những yếu tố khách quan, làm cho gián điệp không thể thâm nhập vào mục tiêu; nếu đã thâm nhập thì ngăn chặn, không cho chúng trà trộn vào cộng đồng, không để chúng móc nối cơ sở, không để chúng tổ chức hoạt động. “Phòng” còn là thông qua những hành động cụ thể mang tính chất phố quát, công khai, tạo ra áp lực chính trị và tinh thần, làm cho điệp viên của đối phương suy giảm ý chí. “Phòng” còn giúp cho chúng ta phát hiện được người và sự việc nghi vấn, tạo điều kiện, mở hướng cho cơ quan chuyên môn tổ chức đánh địch có hiệu quả hơn.


Bởi vậy, “phòng" và “chống” là hai mặt không thể tách rời. Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn đã kết luận tại Chỉ thị số 75/CT- VP4: “Phòng và chống là hai mặt gắn bó không thể tách rời; ở đâu và lúc nào cũng phải tích cực phòng; ở đâu và lúc nào thấy địch cũng phải tích cực chống. Muốn phòng và chống tốt thì phải dựa vào phong trào bảo vệ trị an vững chắc". Phải hiểu rằng “tích cực” không chỉ là chủ động mà thể hiện rõ tư tưởng tiến công. Phòng là để tích cực đánh địch; chống là để chủ động phòng ngừa. Muốn phòng và chống có hiệu quả, chỉ có thể là một quá trình vận động quần chúng, phát huy tính tích cực và cảnh giác cách mạng của quần chúng với sự hướng dẫn nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn. Quá trình ấy diễn ra liên tục lâu dài và được cụ thể hoá bằng những nội dung thích hợp đối với từng vùng, miền; đối với từng phương thức hoạt động của gián điệp và trong những điều kiện lịch sử cụ thể. Tức là công tác phòng ngừa phải “có bề rộng và có chiều sâu”. Nội dung trên là cụ thể hoá quan điểm: “Vận động, tổ chức toàn dân phòng, chống gián điệp, phát huy vai trò to lớn của nhân dân là thể hiện sinh động và sáng tạo tư tưởng tiến công, mang đặc thù Việt Nam”.


Nhìn lại hơn nửa thế kỷ đấu tranh chống gián điệp, từ những diễn biến lịch sử qua từng giai đoạn, có thể khẳng định cơ quan An ninh đã khẳng định xuất sắc vai trò là cơ quan chuyên môn nòng cốt, tổ chức toàn dân phòng, chống gián điệp theo nội dung đã nêu trên. Chúng ta điểm lại những hình thức và nội dung vận động, tổ chức toàn dân phòng chống gián điệp qua mỗi giai đoạn lịch sử để thấy rõ vai trò của quần chúng, vai trò của cơ quan chuyên môn trên lĩnh vực này:

Thời kỳ kháng chiến chống pháp, ngay từ năm 1947, quân đội viễn chinh Pháp lần lượt chiếm đóng các thành phố, thị xã và mở rộng cuộc chiến tranh ra vùng nông thôn, xây dựng ngụy quyền; đồng thời chúng phát triển mạnh mạng lưới gián điệp, chỉ điểm ra vùng tự do và căn cứ địa kháng chiến. Đối phó với âm mưu của giặc, tháng 5-1947, Nha Công an Trung ương mở Hội nghị lần thứ nhất, ra Nghị quyết và chỉ đạo toàn lực lượng thực hiện: “Phải tổ chức nhân dân tập trung vào sản xuất, giúp đỡ nhân dân bảo vệ đê điều, mùa màng, tiễu phỉ, trừ gian, phải nắm tình hình, kiểm soát nội bộ, xây dựng tổ chức Công an gần dân hơn và phù hợp với tình hình thời chiến”. Thực hiện chỉ đạo của Nha, Công an các khu, tỉnh ở Bắc Bộ và Trung Bộ từng bước vận động quần chúng thực hiện phong trào “phòng gian bảo mật” và được cụ thể hoá bằng nội dung “3 không” (không nghe, không biết, không thấy) để giữ bí mật. Giai đoạn sau, phong trào tiếp tục phát triển thành khẩu hiệu hành động “Không làm việc cho địch, không bán lương thực cho địch, không chỉ đường cho địch". Những nội dung trên cụ thể, dễ hiểu, dễ làm theo; phù hợp với trình độ nhận thức của đồng bào ta thời kỳ này và đặc biệt là nó hữu ích cho cuộc sống của đồng bào. Nhờ vậy nên đồng bào nhiệt tình tham gia, đã giúp cho công tác giữ bí mật được thực hiện tốt ngay từ địa bàn dân cư. Tuy nội dung hành động của phong trào đơn giản nhưng lại có giá trị thực tiễn cao, như những khẩu hiệu hành động và tính xã hội sâu sắc.


Đối với chiến trường Nam Bộ, cuộc vận động thành lập các “Ngũ gia liên bảo” được sở Công an Nam Bộ hướng dẫn bằng Chỉ thị số 55/QĐ5, ngày 6-7-1949: “Nhằm xây dựng khối đoàn kết nhân dân, nâng cao cảnh giác để phòng gian, trừ gian. Mỗi “Ngủ gia liên bảo” gồm 5 gia đình hợp lại, đoàn kết, tự kiểm soát lẫn nhau, do một người đứng đầu. Mỗi làng chia thành nhiều ấp, mỗi ấp chia làm nhiều xóm, mỗi xóm chia làm nhiều “ngủ gia liên bảo”, có nhiệm vụ lập danh sách các gia đình nộp cho Công an làng; phối hợp với trưởng Công an làng trong việc phòng gian và trừ gian”. Tuỳ theo địa bàn dân cư, nhiều địa phương còn phát triển quy mô lớn hơn, thành lập “Thập gia liên bảo”. “Ngủ gia liên bảo”, “Thập gia liên bảo” là tổ chức tự nguyện của quần chúng dưới sự hướng dẫn và kiểm soát của Công an làng, thực hiện quy ước chung được cụ thể hoá bằng 12 điều bất hợp tác với địch. Sự liên kết chặt chẽ trong từng cộng đồng dân cư, cùng thống nhất mục đích và hành động tự nguyện đã tạo ra mặt trận vô hình không chỉ có tác dụng phá chính sách “dùng người Việt trị người Việt” của địch, bảo vệ gia đình mình, xóm làng mình mà còn tạo ra áp lực đối với bọn gián điệp, Việt gian chỉ điểm. Với sự hướng dẫn của lực lượng Công an, nội dung của các phong trào ngày càng mang đậm tính chất chuyên môn kỹ năng phòng ngừa, sát với thực tiễn và đi vào cuộc sống hàng ngày của mọi tầng lớp nhân dân. Mỗi vùng, miền, trong những điều kiện cụ thể của chiến trường thì nội dung phong trào có những nét đặc trưng riêng. Vùng tự do và căn cứ địa của kháng chiến, phong trào tập trung vào nội dung chống do thám, giữ gìn bí mật, bảo vệ cơ quan kháng chiến. Vùng địch kiểm soát, nội dung tập trung vào bất hợp tác với địch, bảo vệ xóm làng, không cho địch xâm nhập, phát hiện gián điệp, chỉ điểm, bảo vệ cơ sở cách mạng. Cao hơn là tổ chức đấu tranh hợp pháp chống địch càn quét đốt phá hoặc vũ trang diệt ác phá kềm để thành lập Công an làng, xã.


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 18 Tháng Mười Hai, 2021, 07:50:54 pm
Có thể nói, phong trào “phòng gian bảo mật” trong thời kỳ kháng chiến chống pháp đã thể hiện sắc thái riêng biệt và mang tính chất đặc trưng của một quốc gia có nền kinh tế nông nghiệp, trồng lúa nước với 95% dân số là nông dân và nền văn hoá làng xã. Đảng ta đã phát huy được lòng yêu nước nồng nàn, khối đoàn kết toàn dân, tính cộng đồng, truyền thống tốt đẹp của cha ông trong bối cảnh lịch sử mới. Khi nội dung của phong trào sinh ra từ cuộc sống, gắn liền với cuộc sống, đem lại lợi ích thiết thực cho từng nhà thì nó tự nhiên và từng bước nâng cao nhận thức chính trị, nâng cao ý thức cảnh giác của mỗi người cũng như cả cộng đồng. Hình thức và nội dung đó không chỉ đáp ứng nguyện vọng của người dân, phục vụ cho chính cuộc sống của nhân dân mà quan trọng hơn là đáp ứng yêu cầu giữ gìn bí mật cho kháng chiến. Đây là vũ khí lợi hại nhất, là đòn cân não đối với bọn gián điệp chỉ điểm vì chúng đơn độc đối phó với cả một cộng đồng người. Chúng không chỉ dễ dàng bị lột mặt nạ khi hoạt động mà còn luôn luôn bị áp lực trước con mắt dò xét của quần chúng nếu chưa bị lột mặt nạ. Tình hình đó diễn ra liên tục, đan xen, thấm thấu trong cuộc sống đời thường của mỗi cá nhân ở cộng đồng dù sinh sống ở vùng địch kiểm soát hay vùng tự do và căn cứ địa cách mạng. Vì vậy, phong trào “phòng gian bảo mật” sinh ra từ cuộc sống và rồi tự thân nó lại đi vào cuộc sống, tồn tại trong cuộc sống của nhân dân hàng ngày hàng giờ nên phát huy được ý thức cảnh giác và trách nhiệm công dân, tạo ra thế trận phòng ngừa, bao vây, cô lập kẻ địch một cách bền vững.


Thời kỳ cả dân tộc tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, việc vận động quần chúng đã có sự phát triển mới với hình thức đa dạng và phong phú hơn, nội dung thiết thực và đi vào chiều sâu hơn thời kỳ kháng chiến chống pháp. Ngay sau khi miền Bắc được giải phóng, tại Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ VIII, tháng 8-1955, Đảng ta đã chỉ rõ “phải kết hợp với phát động quần chúng cải cách ruộng đất mà kết hợp trấn áp phản cách mạng, nâng cao cảnh giác cho quần chúng để quần chúng giúp đỡ đắc lực cho công tác bảo vệ trị an và phòng gian bảo mật. Ở vùng rừng núi phải quét sạch thổ phỉ, biệt kích“; "phương châm trấn áp phản cách mạng là đi đúng đường lối quần chúng". Từ cuối năm 1959, ở miền Bắc đã phát triển rộng rãi phong trào quần chúng “bảo vệ trị an" và tiếp tục duy trì hình thức hoạt động của phong trào “phòng gian bảo mật” của thời kỳ kháng chiến trong cơ quan đơn vị, lực lượng vũ trang. Ngày 13-11-1961, Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 32/CT-TW, xác định phong trào bảo vệ trị an “là hình thức tốt nhất để phát huy tính tích cực của quần chúng trong công tác đấu tranh chống kẻ địch, giữ gìn an ninh chung” và phát động phong trào thi đua với xã Yên Phong, thực hiện 7 chỉ tiêu bảo vệ trị an, trong đó 2 chỉ tiêu đầu tiên là “theo dõi, phát hiện âm mưu và hoạt động của bọn gián điệp, biệt kích và bọn phá hoại khác; đấu tranh chống luận điệu phản tuyên truyền”. Tháng 3-1962, Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 40/CT- TW về mở cuộc vận động Phong trào “bảo mật phòng gian" trong các cơ quan đơn vị và lực lượng vũ trang. Chỉ thị số 40 nhấn mạnh 7 nội dung của phong trào, chỉ rõ yêu cầu hướng dẫn cơ quan đơn vị và quần chúng chú trọng làm tốt các công tác sau: công tác bảo vệ nội bộ, bảo vệ cơ quan, bảo vệ tài liệu bí mật, thuần khiết nội bộ, cải tạo những phần tử nguy hại cho an ninh xã hội, thành lập đội ngũ bảo vệ cơ quan chuyên trách. Những nội dung trên bản chất là ngăn chặn bọn gián điệp, Việt gian xâm nhập vào nội bộ ta, thuần khiết nội bộ và thường xuyên kiểm soát nội bộ, đảm bảo cho các cơ quan đơn vị luôn trong sạch.


Với vai trò là cơ quan chuyên môn hướng dẫn nghiệp vụ, lực lượng An ninh đã tiến hành công tác điều tra địa bàn, nắm chắc tình hình tội phạm hiện hành, mục tiêu trọng điểm, đặc điểm dân cư để xây dựng nội dung thích hợp với yêu cầu phòng, chống gián điệp và bọn phản cách mạng: Đối với địa bàn có nhiều cơ quan thường trú, lâm thời và mục tiêu trọng điểm, nội dung vận động quần chúng là giáo dục, tổ chức nhân dân thành lập mạng lưới giám sát mục tiêu, phát hiện người và sự việc nghi vấn; bao vây, giám sát các trụ sở cố định và lâm thời, theo dõi sự di chuyển của nhân viên cơ quan này. Đối với địa bàn xung yếu, có nhiều tàn dư của ngụy quân, ngụy quyền và đảng phái phản động, ta phát động quần chúng tố giác tội phạm, vận động quần chúng tham gia vào công tác khoanh vùng trấn phản, công tác cải tạo tại chỗ và tập trung cải tạo những phần tử nguy hại cho an ninh xã hội. Đối với vùng núi hiểm trở, là địa bàn Mỹ, ngụy tung gián điệp biệt kích bằng đường không, ta tiến hành công tác khoanh vùng trấn phản; kết hợp công tác tiễu phỉ với truy lùng GCMA cài lại; giáo dục ý thức cảnh giác cho đồng bào, hướng dẫn cách thức nhận diện kẻ gian, phát hiện dấu vết khả nghi; giáo dục cá biệt đối với những gia đình có con em vào Nam; xây dựng các phương án truy lùng biệt kích xâm nhập bằng đường không trong các điều kiện thời tiết khác nhau, truy lùng ban ngày, truy lùng ban đêm, khi có trăng và không có trăng; hướng dẫn phương pháp truyền tin, ám tín hiệu khi truy lùng;... và tổ chức tập dượt theo những phương án đã định sẵn. Đối với vùng duyên hải, giới tuyến và biên giới, ta củng cố lực lượng dân quân du kích, tổ chức tuần tra canh phòng và xây dựng các phương án đánh đuổi biệt hải, đánh đuổi biệt kích “thậm thụt qua biên giới"; giáo dục và hướng dẫn cho nhân dân những nội dung cần bảo mật, nội dung khai báo hoặc đánh lạc hướng địch khi ra khơi bị chúng bắt khai thác. Đối với bà con ngư dân làm nghề đánh bắt xa bờ, trinh sát địa bàn phối hợp với chính quyền địa phương biên chế bà con thành từng đơn vị mang tính chất vũ trang, trang bị vũ khí để đánh đuổi biệt hải khi chúng bao vây bắt cóc.


Do có sự hướng dẫn nghiệp vụ tỉ mỉ, tập dượt thành thục nên quần chúng tham gia tích cực, có hiệu quả trong quá trình phòng ngừa cũng như đấu tranh ngay tại địa bàn cơ sở. Vai trò của quần chúng được thể hiện rõ nét nhất qua thắng lợi to lớn trong chiến dịch phản gián C30; hơn 10 năm triển khai thắng lợi kế hoạch M1, M2 và hơn 10 năm đánh bại cuộc chiến tranh gián điệp biệt kích. Đặc biệt là số gián điệp vượt giới tuyến, hầu như quần chúng nhân dân đều phát hiện, giúp đỡ để lực lượng An ninh đón bắt tại địa phận Vĩnh Linh, Quảng Bình; rất ít đối tượng vượt khỏi địa phận các tỉnh Khu IV cũ. Quá trình đấu tranh với đối tượng X70, X77, đều có sự đóng góp hết sức quan trọng của các tầng lớp nhân dân ở Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh. Kết quả trong phòng, chống gián điệp giai đoạn này là biểu hiện sinh động, hiện thực hoá quan điểm chỉ đạo, biện pháp tổ chức lực lượng của Đảng ta cũng như vai trò của lực lượng An ninh trong quá trình dẫn dắt quần chúng và hướng dẫn nghiệp vụ cho quần chúng. Đây là một trong những khâu công tác được hình thành sớm, có vai trò quan trọng trong 8 khâu công tác nghiệp vụ của Công an.


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 18 Tháng Mười Hai, 2021, 07:57:52 pm
Ở miền Nam, ngày 30-5-1962, Trung ương Cục ra Chỉ thị số 16/CT/R, phát động phong trào “phòng gian bảo mật" và xác định: “Mỗi đơn vị phải học tập, nhận rõ âm mưu, thủ đoạn hoạt động của địch... nâng cao ý thức cảnh giác để cho mọi người nhận rõ trách nhiệm của mình trong việc phòng gian bảo mật,... Mỗi cơ quan đơn vị phải tổ chức một bộ phận bảo vệ cơ quan, đơn vị theo nguyên tắc: thủ trưởng chịu trách nhiệm, chi bộ thực hành, chuyên môn hướng dẫn. Đồng chí Bí thư chi bộ trực tiếp phụ trách công tác phòng gian bảo mật cơ quan”. Đến năm 1972, Trung ương Cục ra Nghị quyết 165/TV/KBN và quyết định: Mặt trận toàn dân làm công tác an ninh, hình thành hai phong trào “toàn dân làm công tác an ninh” và phong trào “phòng gian bảo mật”. Nghị quyết nêu: “Phát động toàn dân phòng gian bảo mật, đánh bại âm mưu, hoạt động của gián điệp và phản cách mạng để giành quyền làm chủ và bảo vệ nhân dân, bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo vệ Đảng. Ngành An ninh hướng dẫn nội dung và tổ chức quần chúng tham gia vào công tác đấu tranh chống gián điệp, chỉ điểm”. Đối với phong trào “phòng gian bảo mật”, Nghị quyết nêu: “Phát động toàn thể cán bộ, nhân viên, chiến sĩ chủ động phòng ngừa và đánh địch, tích cực bảo vệ nội bộ, bảo vệ cơ quan, đơn vị theo nguyên tắc: Đảng lãnh đạo, Ban lãnh đạo cơ quan và Ban chỉ huy đơn vị phụ trách, toàn thể cán bộ chiến sĩ thực hiện, ngành An ninh hướng dẫn chuyên môn". Bước phát triển mới của phong trào quần chúng trong thời kỳ chống Mỹ là từ một phong trào đã tách thành hai phong trào với hình thức, nội dung khác nhau nhưng rành mạch, cùng hợp thành mục tiêu chung là xây dựng thế trận rộng khắp trong phòng ngừa và đánh địch; kết hợp chặt chẽ giữa công tác bảo vệ lực lượng kháng chiến, bảo vệ căn cứ địa và vùng giải phóng với trừng trị gián điệp, chỉ điểm, phá chính quyền cơ sở của địch. Xác định dứt khoát vai trò lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của tổ chức đảng cơ sở; vai trò hướng dẫn nghiệp vụ của lực lượng An ninh.


Ta biết rằng trong quá trình tiến hành chiến tranh xâm lược, đế quốc Mỹ áp dụng 4 chiến lược khác nhau nhưng xuyên suốt, cơ bản nhất của 4 chiến lược là vấn đề hạ tầng cơ sở, là nắm cho được nông thôn. Sau Hiệp định Pari, Mỹ, ngụy đều xác định mục tiêu cuối cùng và quyết định nhất là nắm cho được ấp xã, giải quyết vấn đề ấp xã là giải quyết chiến tranh. Trong khi đó phong trào “nhân dân làm công tác an ninh là đánh thắng vào bọn gián điệp, chỉ điểm, đánh thẳng vào hệ thống chính quyền ở cấp cơ sở của địch. Phong trào “phòng gian bao mật" là nhằm ngăn chặn mọi hoạt động của bọn gián điệp chỉ điểm, bảo vệ nội bộ ta trước sức tấn công từ nhiều phía, vô cùng thâm độc của kẻ thù. Quá trình phát triển của hai phong trào là quá trình xây dựng thế trận hoàn chỉnh bảo vệ ta và tấn công kẻ thù. Với ý nghĩa đó, phát huy vai trò quần chúng, sử dụng lực lượng quần chúng ở chiến trường miền Nam chính là diệt ác, phá kềm, phá chính quyền cơ sở của địch, dẫn đến phá âm mưu chiến lược của Mỹ, ngụy.


Quần chúng nhân dân tham gia phong trào với tinh thần yêu nước, căm thù giặc, tự thân đã có sức mạnh mãnh liệt lại được hướng dẫn cụ thể về nội dung nên đồng bào tự tin đứng lên đấu tranh với muôn vàn hình thức khác nhau và trở thành lực lượng nòng cốt phá kềm, trừng trị bọn gián điệp, chỉ điểm. Đặc biệt là thông qua vai trò của quần chúng, lực lượng An ninh cơ sở đã tổ chức trấn áp mạnh bọn phản cách mạng, không chỉ đảm bảo an ninh vùng giải phóng và căn cứ địa mà còn tạo ra vùng đệm (vành đai diệt Mỹ, ngụy), giúp cho công tác bảo vệ cơ quan, căn cứ cách mạng, các đồng chí lãnh đạo của kháng chiến được an toàn. Quần chúng không chỉ chở che, đùm bọc cán bộ An ninh mà còn phát huy tốt vai trò là tai mắt, giúp lực lượng An ninh trừng trị bọn ác ôn đầu sỏ, xây dựng hệ thống an ninh cấp xã, ấp và phá chính quyền địch, biến chính quyền của địch thành chính quyền của ta hoặc “đêm ta ngày địch”. Nhờ triển khai rộng khắp, tổ chức chặt chẽ, nội dung phong phú nên phong trao toàn dân làm công tác an ninh" đã hỗ trơ đắc lực cho phong trào "bảo vệ cơ quan" hoạt động có hiệu quả, góp phần bảo vệ an toàn các cơ quan của Bộ chỉ huy kháng chiến, các cơ quan đầu não, các đồng chí lãnh đạo cao cấp của mặt trận; làm giảm thiểu hoạt động của biệt kích xâm nhập vào căn cứ địa, giảm thiểu đầu mối nội gián cài vào nội bộ ta. Kết quả của công tác này giữ vai trò hết sức quan trọng đối với nhiệm vụ phá âm mưu chiến lược của Mỹ, ngụy là xây dựng ngụy quân, ngụy quyền, nắm hạ tầng cơ sở ở miền Nam. Để các phong trào có hiệu quả thiết thực, lực lượng An ninh đã dày công hướng dẫn, đi sâu vào quần chúng, dẫn dắt quần chúng qua từng bước phát triển của phong trào, ở vùng giáp ranh, vùng tranh chấp, cán bộ chiến sỹ an ninh đã chấp nhận gian khổ, hy sinh đi đầu trong mọi hoạt động để quần chúng làm theo. Tại chiến trường miền Tây Nam Bộ, lực lượng An ninh đã cùng với đồng bào thành lập các “làng rừng” trong các cánh rừng U Minh Hạ, U Minh Thượng vừa để bảo tồn cuộc sống vừa đáp ứng yêu cầu bảo vệ các cơ quan kháng chiến và căn cứ địa. Có thể nói đây là hình thức sáng tạo độc đáo của lực lượng An ninh miền Tây trong việc tổ chức, hướng dẫn quần chúng tham gia đánh địch thời kỳ chống Mỹ cứu nước.


Thời kỳ nước nhà thống nhất, đặc biệt là từ khi Đảng và Nhà nước thực hiện đường lối đổi mới, Đảng ta càng chú trọng vai trò của quần chúng. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IV xác định “mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân là vấn đề vô cùng hệ trọng, có quan hệ đến vận mệnh chính trị của Đảng ta và sự sống còn của cách mạng nước ta”. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ V tiếp tục xác định 4 quan điểm trong công tác vận động quần chúng của giai đoạn cách mạng mới là: “Cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân và vì dân. Động lực thúc đẩy phong trào quần chúng là đáp ứng lợi ích thiết thực của nhân dân và kết hợp hài hoà lợi ích, thống nhất giữa quyền lợi và nghĩa vụ của công dân. Các hình thức tập hợp nhân dân phải đa dạng. Công tác vận động quần chúng là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể". Quan điểm của Đảng tại Đại hội V không chỉ có giá trị như sự kết tinh từ thực tiễn cách mạng mà còn có giá trị về lý luận, khoa học mang đậm bản sắc của dân tộc ta với tầm chiến lược.


Đối với ngành Công an, ngay sau ngày miền Nam hoàn toàn thống nhất, lãnh đạo Bộ chủ trương chuyển hướng phong trào quần chúng cho phù hợp với bối cảnh lịch sử mới. Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 30 (tháng 12 năm 1975) đã thống nhất các phong trào quần chúng với tên gọi chung “Phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc”. Năm 2004, Chính phủ ban hành nghị định, lấy ngày 19 tháng 8 là “Ngày hội Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc". Nét mới của phong trào là đã kết hợp chặt chẽ giữa công tác đấu tranh chống tội phạm nói chung, chống gián điệp nói riêng vào hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như các lĩnh vực của đời sống xã hội. Một trong bốn nội dung cơ bản của phong trào là “làm giảm dần và từng bước loại trừ mọi hoạt động phản cách mạng và tội phạm khác ra khỏi đời sống xã hội”. Nội dung của phong trào giai đoạn này không chỉ phong phú, đa dạng mà còn mang tính xã hội cao và thiết thực đối với đời sống xã hội. Vì phong trào được sinh ra từ cuộc sống, đem lại lợi ích thiết thực cho mỗi cá nhân, mỗi gia đình và cộng đồng nên quần chúng đã sáng kiến hình thành ra nhiều hình thức tổ chức tự quản như: “Xây dựng cụm dân cư an toàn về an ninh trật tự", “bình yên làng nghề", “dòng họ kiểu mẫu", “hội tự phòng”, “số nhà tự quản”, “tổ xung kích an ninh”, “hội đồng tự quản về an ninh”,... Những hình thức tổ chức tự nguyện, đa dạng trong đời sống xã hội của các tầng lớp nhân dân không chỉ mang ý nghĩa phòng ngừa tội phạm mà còn từng bước kiến tạo nền tảng cho sự liên kết chặt chẽ trong cộng đồng.


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 18 Tháng Mười Hai, 2021, 07:58:24 pm
Nhờ có sự liên kết chặt chẽ kết hợp với hướng dẫn nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn nên công tác “phòng và chống” tội phạm mang tính xã hội cao. Điểm lại những chuyên án gián điệp lớn đấu tranh ở giai đoạn này có thể thấy rõ không có chuyên án nào không có sự đóng góp đáng kể của nhân dân: Trong KHCM12, ngay khi toán gián điệp biệt kích đầu tiên xâm nhập vào huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, bà con phát hiện và báo cho cơ quan An ninh. Kể cả người cha của điệp viên khi thấy con mình trở về đã thuyết phục để đưa con đi đầu thú. Trong 7 năm triển khai KHCM12 và ĐN10, cán bộ chiến sĩ tham gia chuyên án được nhân dân giúp đỡ, cộng tác tận tình nên dù địa bàn đấu tranh rộng, đối tượng đông, thông tin liên lạc với Trung tâm chỉ huy của chúng ở nước ngoài rất thuận lợi nhưng ta vẫn đảm bảo được tuyệt đối bí mật cho toàn bộ kế hoạch cũng như bí mật cho từng trận đánh. Vừa đón bắt các toán xâm nhập, ta vừa trấn áp mạnh 10 tổ chức phản động trải dài từ địa bàn tỉnh Phú Khánh đến các tỉnh miền Đông, miền Tây Nam Bộ đã móc nối với CM12, khám phá một số tổ chức gián điệp cài lại gồm hàng chục đối tượng cầm đầu nhưng vẫn giữ bí mật tuyệt đối cho KHCM12. Quá trình đấu tranh các chuyên án HM26, HM29, LH90, HC96, SB36, kéo dài hàng chục năm, cơ quan An ninh đều được quần chúng nhân dân giúp đỡ tận tình, nhất là đồng bào ở khu vực biên giới. Tin tức của quần chúng là một trong những nguồn làm căn cứ để xác lập chuyên án; và chính quần chúng ở biên giới là tai mắt quan trọng quản lý di biến động của số đối tượng xâm nhập về nước. Với sự giám sát của quần chúng ở biên giới cùng như quản lý di biến động của các đối tượng trong nội địa đã tạo điều kiện thuận lợi để cơ quan An ninh chủ động triển khai các kế hoạch trinh sát, tiến hành các biện pháp nghiệp vụ, vô hiệu hoá hoặc đón bắt bọn xâm nhập, đập tan các kế hoạch chống phá của địch.


Vai trò của quần chúng trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế còn được phát triển sang hình thức mới bằng việc lực lượng An ninh đã hướng dẫn đồng bào ta ở nước ngoài giúp cho công tác trinh sát ngoại biên “nắm địch từ xa, đánh địch từ căn cứ xuất phát". Để triển khai có hiệu quả biện pháp này, cơ quan An ninh đã chú trọng giáo dục, hướng dẫn những người có điều kiện đi ra nước ngoài công tác, học tập, làm ăn; bà con người Việt định cư ở nước ngoài; những người có điều kiện tiếp xúc với số đối tượng cần chú ý trong quá trình nhập cảnh vào nước ta để nắm tình hình. Nhờ những nguồn tin do quần chúng cung cấp nên cơ quan An ninh nắm được âm mưu và hoạt động của địch ngay từ trung tâm xuất phát; nắm được từng kế hoạch chống phá của chúng, chủ động triển khai phương án tác động “đẩy lùi, vô hiệu hoá” trước khi chúng tổ chức thực hiện. Những kế hoạch, những chiến dịch chúng đã triển khai thì ta chủ động xây dựng thế trận đón đợi và đập tan ngay từ khi bắt đầu thực hiện. Nhờ tiến hành các biện pháp “phòng, chống” có chiều sâu và từ xa nên những năm qua cơ quan An ninh đã vô hiệu hoá, đẩy lùi, đập tan hàng chục chiến dịch khủng bố có quy mô lớn và cực kỳ nguy hiểm của các thế lực thù địch nhưng không gây xáo động về chính trị, không ảnh hưởng đến yêu cầu mở cửa và hội nhập quốc tế.


Qua những chặng đường lịch sử đấu tranh chống phản cách mạng nói chung, chống gián điệp nói riêng, chúng ta đều thấy rõ vai trò của quần chúng là hết sức to lớn. Quần chúng nhân dân đã đóng góp tích cực và có hiệu quả vào công tác “phòng” và “chống”, hình thành một nền an ninh nhân dân có bề rộng và có chiều sâu. Từ thực tiễn vận động, tổ chức toàn dân tham gia đấu tranh chống gián điệp, có thể rút ra những vấn đề căn bản có tính quyết định đến việc duy trì, phát triển vai trò của quần chúng trong lịch sử:    Thứ nhất: Công tác vận động, tổ chức quần chúng nhân dân tham gia đấu tranh chống gián điệp phải đặt dưới sự lãnh đạo của các cấp bộ đảng. Chỉ có đặt dưới sự lãnh đạo của các cấp bộ đảng mới phát huy cao nhất tinh thần yêu nước, ý thức cảnh giác cách mạng của nhân dân; mới huy động được các lực lượng, các tổ chức, các giai tầng xã hội tham gia và có sự phối hợp chặt chẽ thành thế trận phòng và chống.


Thứ hai: Muốn phát huy được hiệu quả vai trò quần chúng phải xác định cấp phường, xã là địa bàn giữ vai trò chiến lược; lực lượng quần chúng tại chỗ là lực lượng cơ bản. Khi mỗi phường, mỗi xã đều tổ chức tốt các phong trào, phát huy cao nhất tinh thần yêu nước và cảnh giác cách mạng của cộng đồng, sáng tạo ra các hình thức liên kết thì tự thân phong trào đã đi vào cuộc sống của cộng đồng, phù hợp với từng cộng đồng. Đây là yếu tố quyết định để phong trào quần chúng phát triển bền vững và luôn luôn có xu hướng đổi mới.


Thứ ba: Cơ quan chuyên môn phải làm tốt công tác điều tra cơ bản, dự báo, dự đoán tình hình để xây dựng nội dung “phòng, chống” thích hợp với từng địa bàn, từng phương thức hoạt động của gián điệp và hướng dẫn nghiệp vụ cho quần chứng nhân dân. Với sự sáng tạo của quần chúng, với sự hướng dẫn nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn, chúng ta sẽ xây dựng được thế trận hoàn chỉnh, có bề rộng và chiều sâu. Có thể coi đây là yếu tố quan trọng và căn bản để xây dựng và củng cố nền an ninh nhân dân mang đặc thù Việt Nam.


Thứ tư: Muốn vai trò của quần chúng phát triển thành phong trào bền vững và ngày càng đổi mới phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan chuyên môn với hệ thống chính trị của Đảng. Chỉ có như vậy thì nội dung phòng, chống gián điệp mới được kết hợp chặt chẽ với các hoạt động sản xuất kinh doanh, trở thành thói quen, nền nếp trong đời sống xã hội của từng cộng đồng từng đơn vị. Có như vậy, quần chúng mới đủ điều kiện phát huy sức sáng tạo, hình thành ra các hình thức tổ chức mới, nội dung mới để vừa đem lại lợi ích thiết thực cho cuộc sống của mình của cộng đồng mình vừa có ích cho sự nghiệp chung.


Dân tộc ta vốn là một dân tộc được hình thành và phát triển từ một quốc gia trồng lúa nước, có nền văn hóa mang đậm dấu ấn làng xã mấy ngàn năm. Trong lịch sử đấu tranh dựng nước, giữ nước đã hình thành và bồi đắp thành truyền thống yêu nước nồng nàn, đoàn kết keo sơn với khát vọng “thà hy sinh tất cả, quyết không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ". Trong bối cảnh lịch sử cận hiện đại và hiện đại, Đảng Cộng sản Việt Nam đã phát huy cao độ tinh thần dân tộc, truyền thống vốn có, tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, giành lại độc lập tự do cho dân tộc. Ngày nay tiếp tục kế thừa, phát huy truyền thống của cha ông, xây dựng đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Từ nhận thức về vai trò của nhân dân, thấm nhuần quan điểm, đường lối của Đảng, lực lượng An ninh đã vận dụng và hướng dẫn quần chúng nhân dân phát huy cao độ lòng yêu nước, tinh thần cảnh giác cách mạng để tham gia vào trận tuyến đấu tranh chống gián điệp trong các giai đoạn lịch sử thành công. Bài học về vận động, tổ chức toàn dân chống gián điệp vì thế luôn luôn có giá trị thực tiễn quý báu và tính thời sự sâu sắc, mang đậm bản sắc Việt Nam.


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 25 Tháng Mười Hai, 2021, 08:27:42 pm
BÀl HỌC THỨ BA
ĐẤU TRANH CHỐNG GIÁN ĐIỆP CẦN PHẢI KẾT HỢP CHẶT CHẼ VỚI ĐẤU TRANH CHỐNG PHẢN ĐỘNG; XOA BỎ CƠ SỞ XÃ HỘI VÀ ĐIỀU KIỆN KẺ ĐỊCH CÓ THỂ LỢI DỤNG MỚI GIÀNH ĐƯỢC THẮNG LỢI TRỌN VẸN


Quy luật chung của bọn phản cách mạng là chúng luôn co xu hướng móc nối, liên kết và dựa dẫm vào nhau để hoạt động. Bọn gián điệp tìm mọi cách móc nối với bọn phản động, dựa vào bọn phản động để ẩn náu, xây dựng cơ sở, tổ chức hoạt động tình báo và xây dựng lực lượng ngầm để phá hoại hoặc nổi dậy khi có thời cơ. Bọn phản động cũng tìm mọi cách móc nối với gián điệp, dựa dẫm, nhận tài trợ, chỉ đạo hoạt động và khuyếch trương thanh thế để phát triển lực lượng.


Từ năm 1945 đến nay, đất nước ta đã trải qua hai thời kỳ lịch sử nối tiếp là: Từ năm 1945 đến năm 1975, cả dân tộc tiến hành đấu tranh chống giặc ngoại xâm, thực hiện thống nhất nước nhà; từ 1975 đến nay, cả dân tộc tiến hành xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Mỗi thời kỳ lịch sử, âm mưu, thủ đoạn, quy mô và cách thức hoạt động của các đối tượng phản cách mạng có sự khác nhau; nhưng chúng cũng chung mục đích cuối cùng là thực hiện âm mưu thôn tính và xâm lược.


Trải qua hai giai đoạn lịch sử với 30 năm tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, xã hội Việt Nam bị phân hóa sâu sắc; có thể nêu một số dạng cơ bản liên quan đến nội dung bài học lịch sử như sau: Dưới ách thống trị của Pháp và Mỹ, xã hội ta đã ra đời và tồn tại những lực lượng công khai làm tay sai cho giặc, đó là lực lượng ngụy quân, ngụy quyền, công an, tình báo,... đảng phái chính trị phản động.


Bên cạnh số công khai làm tay sai cho giặc, trong các cộng đồng dân cư còn có một số phần tử vì những lý do khác nhau, bí mật cộng tác với địch; trở thành tay sai, chỉ điểm sống ngay trong cộng đồng như những người dân lương thiện hoặc núp dưới những vỏ bọc yêu nước, kháng chiến.


Dưới ách đô hộ của ngoại xâm, trong xã hội còn xuất hiện các tầng lớp có quyền lợi chính trị, quyền lợi kinh tế gắn chặt hoặc lệ thuộc vào đế quốc xâm lược. Số này thường phân hoá theo các xu hướng chủ yếu là: đa số đặt quyền lợi của quốc gia dân tộc lên trên quyền lợi của bản thân, họ ủng hộ hoặc đi theo kháng chiến; một số an phận, lo cho cuộc sống cá nhân mình, gió chiều nào che chiều ấy; một số ít cộng tác với địch hoặc trở thành tay sai cho đế quốc xâm lược.


Khi đất nước có chiến tranh, những kẻ làm tay sai cho các thế lực ngoại xâm dù công khai hay bí mật đều trở thành công cụ của chúng, thẳng tay đàn áp cách mạng và gây ra nhiều tội ác. Khi đất nước đã hoà bình, số này tan rã tại chỗ, đa số ra trình diện với chính quyền cách mạng và chấp hành chính sách cải tạo để trở thành công dân lương thiện; một số chạy theo giặc, tiếp tục dựa vào thế lực ngoại xâm tìm mọi cách phá hoại công cuộc tái thiết đất nước. Chúng dần dần tụ tập thành các tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài, móc nối với các thế lực thù địch, làm tay sai cho chúng, chống ta lâu dài. Một số trốn trình diện, trốn cải tạo, thay đổi địa bàn, che giấu quá khứ, trà trộn vào cộng đồng, tiếp tục chống đối chính quyền cách mạng. Thực tiễn lịch sử cho thấy, số này sau một thời gian nằm im nghe ngóng đã co cụm thành những tổ chức phản động, hoạt động chống chính quyền rất manh động. Chúng không chỉ phá hoại công cuộc xây dựng đất nước mà còn tìm mọi cách móc nối với các thế lực ngoại xâm hòng phục hồi chế độ thống trị đã bị sụp đổ.


Sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954 và sau Đại thắng mùa xuân năm 1975, tàn dư của ngụy quân, ngụy quyền, các đảng phái chính trị phản động ở trong nước đã co cụm thành hàng trăm ổ nhóm vũ trang lẩn trốn trong rừng, gây vũ trang bạo loạn ở nhiều địa bàn. Khi chúng bị trấn áp, tiếp tục móc nối với lực lượng tản mạn ở nhiều địa phương nhen nhóm thành hơn một ngàn tổ chức phản động với số đông đối tượng tham gia, có tổ chức gồm hàng ngàn tên, trải rộng trên địa bàn 17 tỉnh, thành phố, chống đối ta quyết liệt và manh động. Lực lượng này chính là cơ sở xã hội quan trọng nhất cho điệp viên móc nối và tổ chức hoạt động. Ngược lại các tổ chức này cũng tìm mọi cách móc nối với điệp viên hoặc các thế lực thù địch để làm chỗ dựa.


Sau khi kết thúc chiến tranh, Đảng và Chính phủ phải bắt tay ngay vào công cuộc cải tạo xã hội và phục hồi kinh tế, chuẩn bị tiền đề cho các chương trình phát triển kinh tế xã hội theo đường lối chính trị của Đảng. Để lãnh đạo cách mạng, Đảng và Chính phủ ban hành nhiều chính sách mới trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Mục đích của các chính sách là đem lại quyền lợi chính đáng cho đại đa số nhân dân lao động, xây dựng đất nước theo con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa. Bản chất các chính sách mới là loại bỏ tận gốc rễ nguồn gốc bóc lột, xoá bỏ ảnh hưởng chính trị và văn hoá của chế độ phong kiến đế quốc. Về khách quan, chính sách và biện pháp mới đã tước đoạt quyền lợi hoặc một phần quyền lợi của giai cấp bóc lột; tác động trực tiếp đến các tầng lớp trên, phi xã hội chủ nghĩa, là cơ sở của chính quyền cũ. Vì vậy, mâu thuẫn xuất hiện ngay trong nội bộ nhân dân và cần được giải quyết. Quá trình giải quyết mâu thuẫn là quá trình đấu tranh giai cấp và là một trong những điều kiện khách quan hình thành những xu hướng khác nhau về nhận thức; hình thành cách thức phản ứng khác nhau trong các giai tầng xã hội.


Mặt khác, trong quá trình thực hiện chính sách mới, điều hành xã hội kiểu mới, chính quyền ở các cấp hoặc cá nhân một số người có chức, có quyền đã mắc những sai lầm về nhận thức hoặc về hoạt động thực tiễn cũng làm phát sinh những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân. Do trình độ và nhận thức khác nhau trong các giai tầng xã hội, là lực lượng chịu sự điều chỉnh của chính sách, biện pháp mới, cũng xuất hiện những vấn đề bức xúc và phát sinh mâu thuẫn. Đây là những mâu thuẫn thuộc về nội bộ nhân dân và là tất yếu, khách quan. Những mâu thuẫn này nếu không được giải quyết kịp thời sẽ phát triển sâu sắc thêm. Diễn biến trên chính là những yếu tố, những điều kiện để các đối tượng phản cách mạng, bọn gián điệp lợi dụng phục vụ cho âm mưu, hoạt động chống phá cách mạng.


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 26 Tháng Mười Hai, 2021, 07:05:02 pm
Từ khi Đảng và Nhà nước tiến hành công cuộc đổi mới, mở cửa hội nhập quốc tế, xã hội ta có những thay đổi căn bản. Cùng với những thành tựu to lớn về kinh tế, xã hội, khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế thì những diễn biến mới, phức tạp đã phát sinh trên hầu khắp các lĩnh vực từ quản lý, sản xuất kinh doanh đến sử dụng nguồn lực và phân phối sản phẩm lao động. Đặc biệt là Đảng và Nhà nước ngày càng phát huy cao độ dân chủ, nhân quyền với nhận thức “lấy dân làm gốc", “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra". Những bước đi đầu tiên trên con đường đổi mới không tránh khỏi ấu trĩ, non kém, thậm chí có những sai lầm của cơ quan công quyền cũng như của các tầng lớp khác trong xã hội. Từ đó đã xuất hiện những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân nhưng chưa được giải quyết thấu đáo và kịp thời nên một số lĩnh vực có diễn biến phức tạp. Trong khi đó, chủ trương phát huy dân chủ, nhân quyền ngày càng được đề cao, đã dẫn đến các hình thức bày tỏ nguyện vọng của nhân dân có những thay đổi căn bản; đó là tình trạng khiếu kiện tập thể, thậm chí có nơi, có lúc phát triển thành biểu tình manh động. Tình hình trên đã bị các thế lực thù địch lợi dụng, khai thác triệt để, mở các chiến dịch chống Đảng, chống Nhà nước, phá hoại tiến trình công nghiệp hoá và hội nhập quốc tế của ta.


Thời đại ngày nay thông tin liên lạc hết sức nhanh chóng và đa chiều. Việc tiếp nhận thông tin của một bộ phận nhân dân chưa được chọn lọc, dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng, xuyên tạc, gây hoang mang dao động. Vấn đề ruộng đất và nông dân, vấn đề dân tộc, tôn giáo, biển đảo,... là những vấn đề nhạy cảm; các thế lực thù địch tận dụng mọi điều kiện, mọi cơ hội để lợi dụng, kích động gây ra các điểm nóng và trở thành điều kiện để chúng tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta.


Hoạt động của kẻ địch ở giai đoạn này diễn ra đa dạng, với hình thức cơ bản là thông qua các nhân viên tình báo trực tiếp xâm nhập, tiến hành móc nối cơ sở, chỉ đạo hoạt động; thành lập các trung tâm phá hoại tư tưởng ở nước ngoài, lũng đoạn một số tổ chức phi chính phủ, lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, an ninh nông thôn, kể cả gây sức ép trong quan hệ song phương; lợi dụng diễn đàn quốc tế, xuyên tạc tình hình; sử dụng các phương tiện truyền thống, công khai kích động, làm cho diễn biến tình hình ngày càng có chiều hướng phức tạp hòng tạo ra sức ép trong quá trình thương thảo và đối ngoại.


Như vậy, sau khi đã kết thúc chiến tranh, ngoài những lực lượng là tay sai của thế lực ngoại xâm tan rã tại chỗ, tàn dư của chế độ cũ; thì những mâu thuẫn phát sinh trong quá trình xây dựng xã hội mới nếu không được giải quyết kịp thời cũng phát triển thành cơ sở xã hội và điều kiện để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá ta.


Thực tiễn cho thấy, thông qua các chuyên án cơ quan An ninh đấu tranh hơn nửa thế kỷ qua, đã chứng minh quy luật câu móc giữa gián điệp với phản động; chứng minh các thế lực thù địch, bọn gián điệp lợi dụng mâu thuẫn xã hội để hoạt động ngày càng ráo riết và đa dạng; từ đó cho ta bài học lịch sử quý báu là: Đấu tranh chống gián điệp cần phải kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chống phản động; xoá bỏ cơ sở xã hội và điều kiện kẻ địch có thể lợi dụng mới giành được thắng lợi trọn vẹn.


Thời kỳ lịch sử năm 1946, khi đất nước ở vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, Quốc dân đảng là một đảng phái chính trị phản động có thực lực nhất, đã tiến hành cuộc đảo chính phản cách mạng với sự chỉ đạo của cơ quan gián điệp Pháp, được quân đội viễn chinh Pháp hậu thuẫn. Trước tình thế ấy, cơ quan Công an đã tập trung mũi nhọn trấn áp Quốc dân đảng, đập tan cuộc đảo chính trước khi nổ ra 24 giờ. Bằng đòn quyết định này, ta không chỉ đập tan cuộc đảo chính mà còn buộc bọn gián điệp và lực lượng quân sự Pháp không dám can thiệp, dẫn đến phá vỡ thế câu kết giữa thù trong với giặc ngoài. Với tư tưởng tiến công liên tục, cơ quan Công an ở các tỉnh thành phố mở đợt tổng trấn áp Quốc dân đảng, bóc gỡ mạng lưới của chúng từ các cấp cơ sở, kể cả những địa bàn chúng đã câu kết với Pháp thành lập ra chính quyền phân liệt. Trấn áp bọn phản động Quốc dân đảng thời kỳ lịch sử này là đòn hiểm, không chỉ chặt đứt sự câu móc của chúng với gián điệp Pháp mà còn phá vỡ âm mưu lợi dụng bọn phản động để lập lại quyền thống trị nước ta. Không thành công trong cuộc đảo chính tháng 7 năm 1946, Pháp buộc phải công khai bộc lộ âm mưu phát động chiến tranh xâm lược nước ta. Trấn áp thành công Quôc dân đảng năm 1946 là minh chứng sinh động nội dung bài học lịch sử đã nêu.


Trong 9 năm kháng chiến chống pháp, cơ quan gián điệp Pháp triệt để áp dụng chính sách “dùng người Việt trị người Việt”, chúng xây dựng các “xứ Thái tự trị", “xứ Mường tự trị", “xứ Công giáo tự trị”... và các hội đoàn trá hình, thực chất là tập hợp lực lượng phản động chống phá cách mạng. Chúng điều điệp viên vào nắm các chức vụ chủ chốt trong những tổ chức này, biến thành công cụ đắc lực thực hiện âm mưu thống trị nhân dân ta ngay từ cấp cơ sở. Do nhận thức được âm mưu thâm độc của kẻ thù, lực lượng Công an non trẻ đã phối hợp chặt chẽ với các lực lượng kháng chiến trấn áp hàng loạt tổ chức phản động như: Tổ chức phản động trong tôn giáo do Lương Huy Hân, Lê Hữu Từ, Nguyễn Việt Khai, Huỳnh Phú Sổ cầm đầu; tổ chức phản động “Nhất tân dân tộc" ở Hoà Bình, tổ chức phản động ở Tây Bắc do Đèo Văn Ngảnh cầm đầu, tổ chức phản động ở Cao Bằng do Lý Đông A cầm đầu; bóc gỡ mạng lưới gián điệp trà trộn vào lực lượng Bộ đội Bình Xuyên... Nhờ trấn áp mạnh các tổ chức phản động nên ta đã góp phần phá thế câu kết giữa thù trong với giặc ngoài, làm rõ vai trò của cơ quan gián điệp lợi dụng các tổ chức phản động để hậu thuẫn cho lực lượng vũ trang trên chiến trường.


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 01 Tháng Giêng, 2022, 07:47:09 pm
Khi Hiệp định Giơnevơ ký kết, Pháp đã huấn luyện hàng ngàn tên biệt kích hỗn hợp nhảy dù (GCMA) cài lại các tỉnh miền núi của ta hòng làm lực lượng nòng cốt cho các tổ chức phỉ, kích động nổi phỉ ở hầu khắp các tỉnh Tây Bắc, Bắc và Đông Bắc. Chúng cài tay chân vào bọn phản động lợi dụng tôn giáo do Lương Huy Hân cầm đầu tại Nam Định, cài điệp viên vào các đoàn hội Thiên Chúa giáo ở Nhà thờ Nam Đồng, Nhà thờ Lớn Hà Nội, Nhà thờ xứ Đoài ở Nghệ An; kích động bọn phản động gây bạo loạn chống chính sách mới của Nhà nước; sử dụng bọn cầm đầu đảng Đại Việt tuyển mộ tay chân đưa ra nước ngoài đào tạo gián điệp để đánh trở lại; móc nối với các tổ chức phản động ở Nam Định, Ninh Bình, Hoà Bình,... vừa hoạt động tình báo vừa xây dựng lực lượng ngầm hòng thực hiện âm mưu bạo loạn khi có thời cơ. Với tinh thần thận trọng, kiên quyết và bền bỉ, từ năm 1954 đến năm 1960, lực lượng An ninh phối hợp chặt chẽ với Quân đội nhân dân và các lực lượng chức năng khác tiến hành trấn áp hàng chục tổ chức phỉ ở các tỉnh miền núi, bắt và diệt hàng trăm tên gián điệp nằm trong các tổ chức phỉ. Chỉ tính riêng ở Đồng Văn, khi trấn áp tổ chức phỉ do Vương Chí Thành cầm đầu, cơ quan An ninh đã bắt hơn 20 tên gián điệp là lực lượng nòng cốt của tổ chức phỉ. Đồng thời với trấn áp các tổ chức phỉ, lực lượng An ninh tiến hành trấn áp các tổ chức phản động là tàn dư của ngụy quân, ngụy quyền; tham mưu cho các cấp chính quyền tiến hành khoanh vùng trấn phản ở các vùng xung yếu. Đến năm 1960, đã căn bản kết thúc công tác khoanh vùng trấn phản và trấn áp các tổ chức phản động là tàn dư của ngụy quân, ngụy quyền. Trong quá trình trấn áp các tổ chức phản động, phát hiện được hàng trăm tên là điệp viên được cơ quan tình báo Pháp và Mỹ cài lại, nằm trong các tổ chức phản động cùng hàng trăm tên phản động đã nhận làm việc cho gián điệp, nằm chò bọn gián điệp móc nối.


Kết hợp với công tác chống phản động, từ năm 1954 đến năm 1965, lực lượng An ninh tập trung bóc gỡ toàn bộ mạng lưới gián điệp do Pháp, Mỹ và một số nước khác cài lại như các chuyên án gián điệp TN25, M1, C30, H07, GM65,... Hầu hết các chuyên án gián điệp khám phá ở giai đoạn này đều được bắt nguồn từ tin tức khi khám phá các tổ chức phản động hoặc quá trình điều tra các chuyên án gián điệp lại giúp ta phát hiện ra các nhen nhóm phản động. Trong chuyên án C30, lực lượng An ninh nắm số phản động trong Đại Việt, từ đó chuẩn bị chiến trường đón đợi bọn gián điệp được huấn luyện ở nước ngoài trở về móc nối, tạo điều kiện để Vụ Bảo vệ chính trị mở chiến dịch phản gián giành thắng lợi hoàn hảo. Trong chuyên án GM65, khi phá tổ chức phản động ở Phú Thọ, phát hiện đối tượng của tổ chức phản động đồng thời là điệp viên, giúp ta lập chuyên án gián điệp và đấu tranh thành công. Khám phá tổ chức phản động do Lương Huy Hân cầm đầu, ta thu được máy liên lạc VTĐ cùng một số phương tiện, tài liệu do cơ quan tình báo Mỹ cung cấp làm phương tiện hoạt động. Khi ta trấn áp tổ chức phản động do Nguyễn Viết Khai cầm đầu, Khai đã chạy trốn và được tàu chiến đợi sẵn ở cửa Ba Làng đón y chạy vào Nam... Đặc biệt là trong nhiều năm, lực lượng An ninh đấu tranh với đối tượng X70 và X77 đều phát hiện cơ quan đặc biệt của đối phương tận dụng triệt để quy luật trên, chúng không chỉ móc nối với số đối tượng có tư tưởng chống đối, bất mãn mà còn nhằm vào số cán bộ cao cấp có quan điểm sai trái hoặc bị kỷ luật, sử dụng số này để thu tin tình báo và phá hoại nội bộ ta với tham vọng tiến hành các cuộc đảo chính trên nghị trường.


Ở miền Nam, từ sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam đến năm 1985, tàn dư của ngụy quân, ngụy quyền và đảng phái chính trị phản động đã tập hợp, nhen nhóm tới 1.182 tổ chức phản động, manh động chống chính quyền. Trong quá trình điều tra và trấn áp các tổ chức phản động, lực lượng An ninh phát hiện hầu hết các tổ chức này đều có bàn tay của nhân viên tình báo đối phương ngụy trang dưới dạng “kẹt lại” hoặc cài lại chỉ đạo. Nhiều tổ chức phản động do nhân viên CIA trực tiếp tham gia và giữ vai trò chủ chốt. Do đó, lực lượng An ninh các tỉnh phía Nam đã triển khai đồng bộ công tác trấn áp các tổ chức phản động với tiến hành trục xuất số gián điệp đã tạo vỏ bọc, núp trong các tổ chức phi chính phủ hoặc tôn giáo; đồng thời tiến hành bóc gỡ mạng lưới gián điệp cài lại. Do chủ động kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chống phản động với đấu tranh chống gián điệp nên sau 10 năm đất nước thống nhất, lực lượng An ninh đã giải quyết căn bản các tổ chức phản động hoạt động manh động; đẩy đuổi hơn 100 điệp viên người nước ngoài khoác áo linh mục “kẹt lại”; bóc gỡ hàng trăm đầu mối nội gián, hàng chục ổ nhóm gián điệp cài lại; phá vỡ thế câu kết của chúng, đảm bảo an ninh chính trị ổn định trong bối cảnh đất nước ta đang gặp rất nhiều khó khăn.


Một trong những công tác được kết hợp nhuần nhuyễn và đạt kết quả mang tầm chiến lược là sau khi kết thúc chiến tranh, để chủ động chuẩn bị thế trận chống gián điệp, ta không chỉ trấn áp các tổ chức phản động hiện hành, tàn dư của chế độ cũ mà còn chú trọng công tác làm trong sạch địa bàn, loại trừ cơ sở bọn gián điệp có thể móc nối. Công tác này được thể hiện qua 3 mặt chính là: tổ chức trình diện, học tập cải tạo; khoanh vùng trấn phản; cải tạo tại chỗ và tập trung cải tạo đối với các phần tử nguy hại cho an ninh xã hội. Thực hiện đúng thời điểm và thực hiện tốt 3 mặt công tác cơ bản này không chỉ có giá trị loại trừ căn bản cơ sở xã hội của bọn gián điệp mà còn có ý nghĩa to lớn trên lĩnh vực cải tạo xã hội sau khi chiến tranh đã kết thúc. Thực tiễn thời kỳ lịch sử sau khi Hiệp định Giơnevơ năm 1954 có hiệu lực và sau Đại thắng mùa Xuân năm 1975, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở nước ta hết sức phức tạp. Khắc phục hậu quả sau chiến tranh, cải tạo xã hội cũ để kiến tạo xã hội mới là nhiệm vụ cấp bách của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Trong đó, đấu tranh chống phản cách mạng, xoá bỏ hệ tư tưởng của xã hội cũ là nội dung công tác cơ bản nhất. Thông qua các cấp chính quyền, các đoàn thể quần chúng, Đảng huy động toàn xã hội tham gia với lực lượng nòng cốt làm tham mưu cho Đảng và trực tiếp thực hiện là Công an nhân dân nói chung, An ninh nhân dân nói riêng. Những mặt công tác trên được tiến hành liên tục nhiều năm, kết hợp giữa tài liệu điều tra của cơ quan chuyên môn với vận động quần chúng tham gia tố giác tội phạm nên ta không chỉ loại trừ căn bản cơ sở xã hội kẻ địch có thể móc nối mà còn nâng cao đáng kể nhận thức về chính trị và tinh thần cảnh giác cách mạng của quảng đại quần chúng nhân dân. Đây là một trong những mặt công tác mang tầm chiến lược, giữ vị trí hết sức quan trọng, không chỉ chặt đứt sự câu móc của gián điệp với phản động mà còn là nhân tố tích cực góp phần xây dựng nền tảng của xã hội mới, xây dựng nền an ninh nhân dân vững chắc.


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 02 Tháng Giêng, 2022, 06:03:21 pm
Từ năm 1980 đến nay, bọn phản động quốc tế và các thế lực thù địch càng tận dụng triệt để và đa dạng hoá quy luật trên bằng việc thực hiện chiến lược “trong nổi dậy ngoài đánh vào” và “diễn biến hoà bình” hòng thực hiện dã tâm xoá bỏ tư tưởng cộng sản, xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Từ năm 1980 đến năm 1989, bọn phản động quốc tế chỉ đạo và tài trợ cho các tổ chức phản động người Việt lưu vong, biến chúng thành những tên lính xung kích, bí mật xâm nhập về nước cùng với hàng trăm tấn vũ khí, phương tiện chiến tranh để xây dựng mật cứ trong rừng. Từ đây bọn gián điệp biệt kích móc nối, liên kết với các tổ chức phản động trong nội địa, tổ chức huấn luyện, trang bị vũ khí cho chúng để bạo loạn cướp chính quyền. Từ năm 1981 đến năm 1989, lực lượng An ninh đã đấu tranh các chuyên án gián điệp biệt kích lớn, xâm nhập về nước do: Võ Đại Tôn, Lê Quốc Tuý, Hoàng Cơ Minh, Trần Quang Đô, Đặng Văn Thanh cầm đầu, bắt và diệt gần 600 tên, thu hàng trăm tấn vũ khí và các loại phương tiện chiến tranh. Trong quá trình triển khai các kế hoạch đấu tranh, ta đã làm rõ âm mưu, sự liên kết của chúng với các tổ chức phản động trong nước: Võ Đại Tôn hoạch định kế hoạch bạo loạn gồm 5 giai đoạn với “mật kế Z”, âm mưu hợp lực với các tổ chức phản động ở miền Trung để phát triển ra toàn quốc. Hoàng Cơ Minh, Trần Quang Đô thực hiện các cuộc hành quân “Đông tiến” hòng chiếm vùng Tây Nguyên và một phần địa bàn Trung Trung Bộ, xây dựng căn cứ kháng chiến quân, sử dụng lực lượng gián điệp biệt kích làm nòng cốt cho các tổ chức phản động trên địa bàn này để phát triển lực lượng gây bạo loạn. Tổ chức tình báo gián điệp do Lê Quốc Tuý, Mai Văn Hạnh cầm đầu đã móc nối, thoả thuận với các tổ chức phản động trong nội địa trước khi chúng công khai thành lập tổ chức tại Pháp. Tuý còn sử dụng tổ chức gián điệp cài lại do Huỳnh Vĩnh Sanh cầm đầu cùng một số đầu mối gián điệp cài lại, móc nối với các tổ chức phản động ở miền Trung và thành phố Hồ Chí Minh, thâm nhập vào lực lượng vũ trang Quân khu V, dụ dỗ số cán bộ thoái hoá biến chất tham gia tổ chức. “Tương kế tựu kế’, lực lượng An ninh khéo tác động, làm cho các tổ chức phản động trong nội địa, các đầu mối gián điệp phải bộc lộ để trấn áp. Trong 3 năm đầu triển khai KHCM12, lực lượng An ninh lần lượt trấn áp 10 tổ chức phản động đã móc nối với CM12, bắt và gọi hàng gần 10.000 tên; có tổ chức đã hình thành bộ khung chính quyền ở 17 tỉnh thành phố phía Nam; có tổ chức gồm hầu hết là bọn ngụy quàn, ngụy quyền hết sức manh động.


Có thể khẳng định công tác đấu tranh chống gián điệp ở giai đoạn này đă kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chống phản động và thu được những thắng lợi to lớn; là hệ thống liên tục những đòn đánh hiểm, đúng và trúng do đó đã phá vỡ thế liên minh, hợp lực giữa thế lực bên ngoài với bọn phản động trong nội địa, bẻ gẫy “kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt” của bọn phản động quốc tế. Đây là một trong những thành tựu quan trọng góp phần giữ vững, giữ ổn định an ninh chính trị trong bối cảnh đất nước ta đang gặp nhiều khó khăn trước sức tấn công từ nhiều phía của bọn phản động quốc tế.


Từ khi Đảng và Nhà nước tiến hành công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế sâu rộng thì mặt trận đấu tranh chống phản cách mạng càng diễn biến phức tạp hơn bao giờ hết; mối quan hệ giữa gián điệp với phản động càng nguy hiểm hơn, chúng không chỉ dựa dẫm vào nhau mà còn tạo thành thế liên minh, hợp lực trong ngoài hết sức nguy hiểm. Bọn bên ngoài giữ vai trò cung cấp kinh tài và chỉ huy, chỉ đạo bọn bên trong để bọn bên trong thực hiện. Bọn bên trong tạo cớ, tạo thời cơ để bọn bên ngoài công khai hoá các chiến dịch chống phá ta. Thế lực thù địch không chỉ khai thác triệt để những vấn đề nhạy cảm, những mâu thuẫn phát sinh của xã hội trong quá trình đổi mới và hội nhập để chống phá mà chúng còn tìm mọi cách tác động, xúi giục, thúc đẩy bọn bên trong châm ngòi hoặc làm sâu sắc thêm, diễn biến phức tạp hơn để bọn bên ngoài lợi dụng. Các vấn đề về nông dân và nông thôn, dân chủ, nhân quyền, văn hoá tư tưởng, xuất bản báo chí, tôn giáo, dân tộc, biên giới, biển đảo,... trong lịch sử vốn đã luôn phức tạp và nhạy cảm thì nay càng diễn biến phức tạp hơn bởi sự tác động đa dạng và nhiều chiều của các thế lực thù địch có sự liên kết giữa bọn bên trong với bọn bên ngoài. Trần Tam Tiệp cùng các đối tượng ở nước ngoài, móc nối với số văn nghệ sĩ cũ, bất mãn, tài trợ tiền và hàng hoá, chỉ đạo chúng thu tin tình báo, viết bài xuyên tạc tình hình trong nước, chuyển ra cho Trung tâm “Văn bút Hải ngoại” và 6 Trung tâm phá hoại tư tưởng lớn ở một số quốc gia sản xuất các chương trình nghe, nhìn để thực hiện chiến dịch “chuyển lửa về quê nhà”, “chuyển ngọn nến dân chủ về quê hương”, "góp gió thành bão"... Các đối tượng Miriam, Manoli, Morow, Đoàn Văn Toại,... lợi dụng chính sách mở cửa hội nhập quốc tế, nhập cảnh vào nước ta với danh nghĩa khác nhau nhưng thực chất là móc nối với số đối tượng bất mãn, quá khích đổ vừa thu tin tình báo vừa kích động biểu tình chống đối. Nguyễn Sĩ Bình thành lập “Đảng nhân dân cách mạng hành động” ở nước ngoài, cử tay chân về nước móc nối và thành lập các chi bộ ở trong nước, liên tục tuyên truyền chống phá cách mạng từ năm 1982 đến nay. Tổ chức “Việt Tân” không chỉ phát triển tổ chức ở ngoài nước mà còn liên kết với bọn bên trong âm mưu cho ra công khai tổ chức đảng “Việt Tân" ở trong nước. Cơ quan đặc biệt của thế lực thù địch đã sử dụng Ksokok và số Fulro ra hàng UNTAC năm 1992 cùng một số Fulro lưu vong khác chuyển tiền về nước, chỉ đạo bọn phản động lợi dụng dân tộc, kích động đồng bào Tây Nguyên biểu tình, bạo động chính trị vào năm 2001 và nám 2004 hòng thực hiện âm mưu cát cứ. Chúng còn sử dụng, xúi giục, kích động một số phần tử quá khích trong tôn giáo như Lê Quang Liêm, Nguyễn Văn Lý, Thích Quảng Độ,... xuyên tạc chính sách tự do tôn giáo, tổ chức truyền đạo trái phép, dụ dỗ tín đồ trốn ra nước ngoài và tụ tập khiếu kiện đông người... Vấn đề an ninh ở địa bàn Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và Tây Bắc ngày càng diễn biến phức tạp do tác động, xúi giục của cơ quan đặc biệt của thế lực thù địch đối với cộng đồng các dân tộc trên các lĩnh vực dân tộc, tôn giáo và hoạt động phỉ. Nghiêm trọng hơn, chúng còn cung cấp tiền, chỉ đạo một số đối tượng bất mãn, quá khích hoặc có quan điểm sai trái không phù hợp với quyền lợi của quốc gia dân tộc; biến số này thành những kẻ cầm đầu, lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền tổ chức khiếu kiện tập thể, sản xuất chương trình nghe nhìn xuyên tạc sự thật chuyển ra nước ngoài để bôi nhọ Việt Nam trên diễn đàn quốc tế.


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 08 Tháng Giêng, 2022, 05:34:37 pm
Các thế lực thù địch sử dụng bọn Hoàng Việt Cương Nguyễn Hữu Chánh, Nguyễn Sĩ Bằng,... thành lập các tổ chức phản động lưu vong, tiến hành gây nổ, khủng bố. Từ năm 1993 đến nay, các tổ chức phản động lưu vong liên tục tiến hành hàng chục chiến dịch gây nổ mang tên “Chiến dịch Đông Xuân", “Chiến dịch Hoa Lan", “Chiến dịch Hoa Phượng", “Chiến dịch nở hoa trong lòng địch”,... Hàng trăm lượt tay chân của chúng đã về nước dưới nhiều danh nghĩa khác nhau, móc nối với số đối tượng có tư tưởng chống đối ở trong nước để thực hiện các chiến dịch phá hoại. Gần đây chúng thay đổi thủ đoạn nhằm đánh lạc hướng cơ quan An ninh bằng việc dùng tiền thuê những người hành nghề xe ôm, buôn bán lẻ, gái mại dâm thường qua lại biên giới, vận chuyển tài liệu, thu gom thuốc nổ, tổ chức phá hoại, tổ chức rải truyền đơn, kích động biểu tình, bạo loạn.


Có thể nói đây là giai đoạn cơ quan đặc biệt của các thế lực thù địch đã sử dụng triệt để quy luật câu móc giữa gián điệp với phản động; lợi dụng triệt để các điều kiện xã hội để thực hiện âm mưu chống phá sự nghiệp cách mạng của chúng ta. Không những thế, chúng đã nâng tầm quy luật trên thành sự liên kết và hợp lực giữa bọn bên trong với thế lực bên ngoài; lợi dụng tiến độ phát triển khoa học công nghệ và hội nhập quốc tế tiến hành chỉ đạo và tài trợ cho bọn bên trong nhanh chóng, đa dạng và hiệu quả.


Những năm gần đây hoạt động của bọn phản động mới đang có xu hướng thay đổi: chúng vẫn ra sức liên kết, hợp lực với các thế lực bên ngoài để chống phá ta nhưng giảm thiểu quan hệ trực tiếp với các cơ quan tình báo hoặc tìm mọi cách che đậy quan hệ đó. Trên thực tế, bản chất quy luật câu móc giữa gián điệp với phản động không thay đổi nhưng do những diễn biến về quan hệ hội nhập giữa các quốc gia trên trường quốc tế ngày càng phát triển, xu hướng dẫn chủ ở trong nước ngày càng được đề cao, dân trí của các tầng lớp nhân dân ta được nâng lên rõ rệt và đặc biệt là chức năng chuyên chính của Đảng ta ngày càng vững mạnh. Đây là những nhân tố cơ bản tác động, làm cho bọn phản động bên trong hợp lực với bọn bên ngoài, núp dưới nhưng chiêu bài “dân chủ", “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo để hoạt động với bộ mặt “sạch sẽ” hơn, dễ loè bịp hơn. Đây là những thách thức mang yếu tố thời đại đối với lực lượng An ninh nhân dân.


Bằng những kinh nghiệm thực tiễn đấu tranh chống phản cách mạng trong chiến tranh cũng như khi đất nước đã hoà bình, lực lượng An ninh quán triệt sâu sắc phương châm “trừng trị kết hợp với khoan hồng”, “nghiêm trị kết hợp với giáo dục cải tạo”, nhằm hạn chế tối đa những điều kiện xã hội phát sinh, không để trở thành điều kiện cho bọn gián điệp lợi dụng; kiềm toả những phần tử bất mãn, quá khích, không để chúng có cơ hội thực hiện âm mưu câu móc với thế lực bên ngoài. Đồng thời thông qua biện pháp “nắm địch từ xa, đánh địch từ căn cứ xuất phát”, để nắm âm mưu, thủ đoạn và hướng tấn công của địch nên đã đẩy lùi, vô hiệu hoá và đập tan các chiến dịch phá hoại cực kỳ nguy hiểm của kẻ thù.


Trong bối cảnh tình hình quốc tế diễn biến phức tạp và khó lường; trong bối cảnh đất nước đang hội nhập sâu rộng nhưng từ năm 1990 đến nay, lực lượng An ninh đã đấu tranh thắng lợi nhiều chuyên án gián điệp, trong đó có hàng chục chuyên án lớn, điển hình như: chuyên án LĐ88, MA90, MB90, LH90, HC96, SB36, HM26,... là kết quả của sự kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chống gián điệp với đấu tranh chống phản động; xoá bỏ cơ sở xã hội bọn gián điệp có thể lợi dụng. Quá trình đấu tranh lực lượng An ninh từng bước làm rõ những đặc điểm và điều kiện để hình thành mối liên minh, hợp lực của chúng trong bối cảnh lịch sử mới để xây dựng đối sách vô hiệu hoá. Có thể xem đây như là diễn biến mới, cách thức mới trong quy luật câu móc giữa gián điệp với phản động cần được tiếp tục nghiên cứu và giải quyết hết sức sáng tạo trong quá trình đấu tranh mới có thể giành được thắng lợi trọn vẹn.


Thắng lợi trong đấu tranh chống gián điệp nói riêng, chống phản cách mạng nói chung những năm qua là đóng góp đặc biệt có ý nghĩa đối với yêu cầu giữ vững, giữ ổn định an ninh chính trị, làm tiền đề cho việc triển khai thắng lợi chương trình phát triển kinh tế xã hội trong những bước đi trên con đường đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng của cách mạng Việt Nam. Từ thực tiễn lịch sử đấu tranh, chống gián điệp hơn nửa thế kỷ qua, chúng ta thấy rõ: đấu tranh chống gián điệp cần phải kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chống phản động, xoá bỏ cơ sở xã hội và điều kiện kẻ địch có thể lợi dụng mới có thể giành thắng lợi trọn vẹn. Giá trị lịch sử của bài học này được thể hiện trên các nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất: Phải chủ động trấn áp các tổ chức phản động hiện hành, trước hết là các tổ chức phản động manh động chống chính quyền. Trong quá trình trấn áp phải quán triệt phương châm “nghiêm trị bọn chủ mưu, thủ ác; khoan hồng với những kẻ bị ép buộc, lầm đường và những kẻ hối cải”; “giảm hoặc miễn tội cho những kẻ lập công, thưởng cho kẻ lập công lớn”. Có như vậy, mới tạo điều kiện cho những người có tội thật thà khai báo, thành tâm hối cải và cộng tác với cơ quan An ninh giúp ta triển khai các biện pháp nghiệp vụ, dụ bọn gián điệp móc nối để đấu tranh. Đây cũng là nội dung quan trọng nhất của chuyên chính vô sản. Có như vậy chúng ta mới giáo dục thuyết phục giúp cho số người có tư tưởng chống đối từ bỏ tư tưởng chống đối, trở thành công dân có ích cho xã hội. Trong quá trình đấu tranh các chuyên án gián điệp phải làm rõ âm mưu, ý đồ và mối quan hệ của chúng với số đối tượng phản động, là điều kiện để ta thực hiện đối sách và triển khai các miếng đòn, thúc đẩy các tổ chức phản động còn đang giấu mình, đang nhen nhóm phải bộc lộ để trấn áp. Đích đến của đấu tranh chống gián điệp kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chống phản động là phải chặt đứt quy luật câu móc của chúng, phá vỡ mối liên minh hợp lực giữa bọn bên trong với bọn bên ngoài, đẩy chúng vào tình thế hoang mang, cô lập. Muốn vậy phải xây dựng được thế trận “phòng - chống” hoàn chỉnh; đánh đúng, đánh trúng, đánh hiểm. Nội dung trên thể hiện tư tưởng “tích cực bảo vệ minh, chủ động tiêu diệt địch” đã hình thành và ngày càng hoàn thiện từ thực tiễn lịch sử đấu tranh chống gián điệp nói riêng, chống phản cách mạng nói chung trên chiến trường Việt Nam, của Việt Nam.


Thứ hai: Song song với trấn áp các tổ chức phản động phải xoá bỏ cơ sở xã hội và điều kiện bọn gián điệp có thể lợi dụng. Quá trình xây dựng xã hội mới là quá trình đấu tranh giữa cái mới với cái cũ nên tất yếu xuất hiện những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân do nhận thức của từng cá nhân hoặc ảnh hưởng quyền lợi đối với một bộ phận trong xã hội. Giải quyết mâu thuẫn để đi đến thống nhất là một quá trình đấu tranh gian khổ và phức tạp, mang đặc điểm của cuộc đấu tranh giai cấp, giải quyết mâu thuẫn giai cấp. Đây là yếu tố khách quan. Nhưng cách thức giải quyết mâu thuẫn, thời gian và hiệu quả của việc giải quyết mâu thuẫn là do ý chí chủ quan của giai cấp lãnh đạo cách mạng. Giải quyết tốt các mâu thuẫn phát sinh, làm giảm thiểu số người có tư tưởng trái chiều, thực hiện công bằng dân chủ thực sự tức là loại trừ căn bản điều kiện chống đối và những vấn đề bức xúc trong các giai tầng của xã hội. Làm được như vậy có nghĩa là đã từng bước loại trừ dần cơ sở xã hội bọn gián điệp có thể lợi dụng.


Khi xã hội càng phát triển, nhất là mỗi khi cách mạng chuyển sang bước ngoặt mới, lại phát sinh những mâu thuẫn mới, biểu hiện với những hình thức mới. Từ khi Đảng và Nhà nước thực hiện đường lối đổi mới, mở cửa hợp tác quốc tế sâu rộng, phát huy dân chủ, nhân quyền thì những vấn đề về quản lý, sử dụng đất đai, vấn đề nông thôn và nông dân, quản lý và sử dụng tài sản công, giáo dục và sử dụng nguồn lực là con người, hình thành tư tưởng trái chiều, tự do ngôn luận và tự do tín ngưỡng,... đã có những diễn biến phức tạp và nảy sinh mâu thuẫn. Cách thức bày tỏ nguyện vọng cũng ngày càng thay đổi như khiếu kiện tập thể, khiếu kiện kéo dài đến tụ tập biểu tình; thậm chí khủng bố đe dọa,... vô hình dung đã tạo ra những điều kiện thuận lợi để các thế lực thù địch lợi dụng làm nguyên cớ can thiệp vào nội bộ ta.


Vì vậy, việc xoá bỏ những điều kiện kẻ địch có thể lợi dụng phải là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; là một quá trình thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp từ hoàn chỉnh hệ thống luật pháp, các cấp các ngành trong hệ thống chính trị của Đảng phải thực hiện đúng đường lối của Đảng, đúng pháp luật, đúng chính sách. Cán bộ thừa hành nhiệm vụ phải thực sự là công bộc của dân. Như vậy chưa đủ mà cần có chiến lược tuyên truyền, giáo dục, hướng dẫn các tầng lớp nhân dân, nâng cao nhận thức chính trị, nâng cao hiểu biết xã hội, phát huy lòng tự trọng, tự hào dân tộc để hành động thực tiễn không chỉ đúng mà còn vì quyền lợi của quốc gia dân tộc. Bởi vậy, nhận thức và hành động thực tiễn phải được thực hiện từ hai phía tức là từ phía hệ thống lãnh đạo và từ phía hệ thống chịu sự lãnh đạo. Chỉ có như vậy thì chủ trương, đường lối, chính sách, biện pháp của Đảng và Nhà nước mới thực sự đi vào cuộc sống và cuộc sống thực sự cần phải có. Tóm lại, chỉ khi nào thực sự “lấy dân làm gốc” và dân thực sự “coi mình là gốc” thì mới loại trừ được những điều kiện kẻ địch có thể lợi dụng.


Tiêu đề: Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005
Gửi bởi: quansuvn trong 09 Tháng Giêng, 2022, 01:50:20 pm
Thứ ba: Tiến hành quản lý đặc biệt đối với những người gây nguy hại cho an ninh xã hội, có nhân thân được dư luận quan tâm và số đối tượng cơ hội chính trị là biện pháp hiệu quả ngăn chặn bọn gián điệp lợi dụng. Để tổ chức đấu tranh chống gián điệp thắng lợi, cơ quan An ninh phải đặc biệt chú trọng công tác điều tra cơ bản, nắm diễn biến tư tưởng và di biến động của các loại đối tượng gây nguy hại cho an ninh quốc gia. Từ đó phân loại và đề ra đối sách thích hợp trong công tác “phòng” và “chống” với mục đích bảo vệ ta an toàn nhưng không gây xáo động về chính trị. Đối với số đối tượng có tư tưởng và hành vi chống đối, gây nguy hại cho an ninh, xã hội đồng thời là mục tiêu để bọn gián điệp và các thế lực thù địch lợi dụng nhưng nhân thân lại được xã hội quan tâm (cán bộ cao cấp, nhân vật nổi tiêng, có yếu tố nhạy cảm về chính trị trên trường quốc tế,...) việc bắt giam, truy tố họ theo luật định có thể gây bất lợi trong dư luận xã hội, tạo cớ cho các thế lực thù địch can thiệp hoặc xét công lao cống hiến, có thể chiếu cố, tạo điều kiện cho họ có cơ hội phục thiện. Nhằm đảm bảo yêu cầu chính trị và yêu cầu nghiệp vụ, ta đã thực hiện đối sách bằng việc tiến hành quản lý đặc biệt. Thời kỳ sau cách mạng tháng 8-1945, để chủ động tiến hành kháng chiến, ta áp dụng biện pháp "đưa đi an trí"; tập trung họ đến một địa điểm an toàn, cho phép họ tổ chức cuộc sống bình thường, được học tập, sinh hoạt để tự họ đình chỉ hành vi chống đối, chuyển đổi tư tưởng, có sự giám sát của lực lượng An ninh. Trong kháng chiến chống Mỹ và những năm gần đây, ta thực hiện đối sách bằng việc sử dụng “nhà an toàn" để quản lý đối tượng. Hiện nay ta thực hiện đối sách “kiềm toả”, “vô hiệu hóa". Từ bối cảnh lịch sử của nước ta, xét các khía cạnh đạo lý, truyền thống thì việc thực hiện đối sách trên là sự sáng tạo, đạt yêu cầu cả về nghiệp vụ, cả về chính trị. Trong thời đại ngày nay, muốn thực hiện đối sách “kiềm tỏa" và “vô hiệu hóa" thành công đòi hỏi cơ quan chuyên môn phải giỏi về nghiệp vụ, nhạy bén về chính trị, vững về khoa học kỹ thuật, kiên trì và nhẫn nại.


Thứ tư: Vấn đề xây dựng các mô hình “tự quản” ở cộng đồng dân cư là một trong những giải pháp hiệu quả góp phần tích cực loại trừ điều kiện để bọn gián điệp có thể lợi dụng. Mô hình “tự quản” được hình thành và phát triền mạnh trong những năm gần đây là kết tinh của truyền thống đoàn kết, thương yêu đùm bọc lẫn nhau của cư dân người Việt, được thể hiện trong bối cảnh lịch sử hiện đại. Đó là các hình thức “số nhà tự quản", “cụm dân cư văn hóa", “thanh niên xung kích”, “dòng họ kiểu mẫu”, “hội ngành nghề",... Hình thức tổ chức này vừa có ý nghĩa hỗ trợ lẫn nhau trong cuộc sống, vừa liên kết bảo đảm cho cuộc sống được bình yên. Mỗi tổ chức đều có quy ước cụ thể về cung cách làm ăn, quan hệ cộng đồng, quyền lợi và nghĩa vụ,... và cái chính là được cộng đồng tự nguyện xây dựng. Vì vậy, mỗi thành viên trong cộng đồng đều tự nguyện tuân theo, có thái độ ứng xử tích cực trước mỗi vấn đề trong cuộc sống. Chính điều đó đã làm cho từng cộng đồng liên kết chặt chẽ hơn, cùng nhau gương mẫu thực hiện kỷ cương luật pháp. Đây là vấn đề cơ bản, quyết định để tạo ra sức đề kháng trước những tác động xấu. cần phát huy và nhân rộng hình thức này trong bối cảnh lịch sử mới để các “tổ chức tự nguyện” thực sự là cầu nối giữa cơ quan chuyên môn với cộng đồng trong nhiệm vụ phòng chống gián điệp cũng như xây dựng đời sống vật chất và tinh thần trong toàn xã hội.


Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc ta đã tiến hành thắng lợi cuộc chiến tranh giải phóng và từng bước đưa đất nước tiến bước trên con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa. Công cuộc đấu tranh chống phản cách mạng nói chung, chống gián điệp nói riêng hơn nửa thế kỷ qua đã góp phần xứng đáng vào chiến công chung của dân tộc. Nhưng cuộc đấu tranh để bảo vệ thành quả cách mạng, phục vụ tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập sâu rộng trong bối cảnh tình hình quốc tế đang diễn biến hết sức phức tạp và khó lường là nhiệm vụ vô cùng nặng nề. Sự nghiệp đổi mới đã và đang đạt được những thành tựu to lớn, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ta đã và đang được cải thiện nhanh chóng; vị thế của đất nước ta đang được đề cao trên trường quốc tế. Song từ trong sự phát triển ấy cũng xuất hiện những mâu thuẫn xã hội, những vấn đề bức xúc và nhạy cảm phải được từng bước giải quyết. Các vấn đề về an ninh nông thôn, dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc, biên giới, biển đảo,... vẫn đang diễn biến phức tạp; có nơi, có lúc tình hình đã phát triển theo chiều hướng xấu. Trong khi đó, các thế lực thù địch lại ra sức lợi dụng, xúi giục, thúc đẩy làm cho tình hình phát triển nghiêm trọng hơn hòng can thiệp vào nội bộ ta, thực hiện âm mưu thôn tính và xâm lược. Chúng đã sử dụng bọn gián điệp thâm nhập vào các tổ chức phản động, móc nối, kích động những phần tử bất mãn, quá khích công khai chống đối chính quyền; lợi dụng những mặt hạn chế trong cộng đồng dân cư, trong tôn giáo và dân tộc để dụ dỗ, lừa phỉnh, mua chuộc hòng gây ra các điểm nóng. Hơn thế, chúng đã sử dụng thành tựu của khoa học công nghệ, vô tuyến viễn thông, giao thương quốc tế để tài trợ và chỉ đạo các thế lực chống đối ở bên trong tập hợp lực lượng, liên minh hợp lực ráo riết phá hoại. Các tổ chức phản động mới ngày càng ra sức lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc, công khai tập hợp lực lượng ở trong nước, công khai liên kết với các thế lực bên ngoài và công khai chống phá ta. Hoạt động của các tổ chức phản động mới ở nước ta cũng mang xu hướng thời đại nên vô cùng nguy hiểm. Vì vậy, nhiệm vụ giữ vững, giữ ổn định an ninh chính trị của đất nước trong bối cảnh hiện nay không chỉ nặng nề mà còn là thách thức to lớn. Sự nghiệp đấu tranh phòng chống gián điệp, phòng chống phản cách mạng ngày nay không chỉ phức tạp, nặng nề mà còn vô cùng gian nan, luôn luôn xuất hiện những diễn biến đột xuất bất ngờ và có độ nhạy cảm cao. Do đó đòi hỏi chúng ta không chỉ vững vàng về chính trị, giỏi về nghiệp vụ mà còn cần phải luôn luôn tìm tòi, sáng tạo, nhạy bén thì mới có thể hoàn thành được sứ mạng lịch sử được Đảng và nhân dân tin cậy giao phó.


Vì vậy, vận dụng bài học lịch sử “đấu tranh chống gián điệp cần phải kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chống phản động; xoá bỏ cơ sở xã hội kẻ địch có thể lợi dụng mới đảm bảo giành đươc thắng lợi trọn vẹn” là đòi hỏi khách quan của cuôc đấu tranh chống gián điệp nói riêng, chống phản cách mạng nói chung trong bối cảnh hiện nay.