Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: macbupda trong 09 Tháng Năm, 2021, 07:27:08 pm



Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Năm, 2021, 07:27:08 pm
Tên sách: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng của thực dân Pháp trong Đông Xuân 1953-1954
Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
Năm xuât bản: 2009
Số hóa: macbupda

* Chỉ đạo nội dung:

   ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

* Tổ chức thực hiện:

   SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ - BỘ CHỈ HUY QUÂN SỰ

* Thẩm định nội dung:

   Đại tá, PGS.TS. NGUYỀN MẠNH HÀ

* Biên soạn:

   - ĐÀO TỨ XUYÊN, Trưởng ban
   - Đại tá NGUYỄN VĂN THÀNH, Phó Trưởng ban
   - LÊ XUÂN ĐỒNG, Thư ký
   - Đại tá, TS. VŨ TANG BỒNG
   - Thượng úy CÔNG PHƯƠNG KHƯƠNG
   - Trung úy NGUYỄN VĂN VIỄN

(https://i.imgur.com/OafOehM.jpg)


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Năm, 2021, 07:30:45 pm
Lời nói đầu

Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, có lẽ ít người biết đến Phú Yên - một tỉnh nhỏ ở Nam Trung Bộ. Có chăng người ta chỉ biết đến Phú Yên là do nó nằm giữa đèo Cù Mông ở phía bắc, đèo Cả ở phía nam và các địa danh: núi Đá Bia, Vũng Rô, núi sầm, đầm Ô Loan...

Lẻ loi như ngọn núi sầm
Thản nhiên như mặt nước đầm Ô Loan

Ấy vậy mà trong kháng chiến chống thực dân Pháp Phú Yên lại nổi tiếng toàn quốc về phong trào toàn dân đánh giặc bảo vệ vững chắc vùng tự do, với những đóng góp to lớn sức người, sức của cho sự nghiệp kháng chiến của dân tộc.

Bộ chỉ huy quân Pháp biết rất rõ Phú Yên không chỉ là một trong 4 tỉnh vùng tự do Liên khu 5, nơi đứng chân của các đơn vị, cơ quan trong tỉnh và một số tỉnh bạn mà còn là nơi xuất phát của những đòn thọc sâu, đánh hiểm của quân và dân Liên khu 5 vào các vị trí chiến lược của chúng ở Tây Nguyên và các tỉnh cực Nam Trung Bộ. Chúng đã liên tục tổ chức hàng trăm cuộc tiến công, càn quét đánh phá, quyết chiếm bằng được địa bàn này. Song Đảng bộ, quân và dân Phú Yên đã kiên cường chiến đấu, đặc biệt là góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng, cuộc hành quân mở đầu kế hoạch Nava - một kế hoạch đầy tham vọng của giới thực dân hiếu chiến Pháp và can thiệp Mỹ. Chiến thắng Átlăng đã góp phần rất quan trọng và xứng đáng vào thắng lợi vĩ đại của quân và dân cả nước ta trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.

Chính lòng yêu nước nồng nàn, ý chí kiên cường bất khuất của Đảng bộ và quân dân Phú Yên trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp đã làm nên chiến thắng Átlăng, đã làm nên tầm vóc, đã tạo cho Phú Yên có vị trí xứng đáng trong lịch sử dân tộc.

Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước và trong sự nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ quốc ngày nay, Phú Yên cũng là một địa phương điển hình của cả nước về những thành tích trong chiến đấu, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Với niềm tự hào chính đáng, từ nhiều năm nay bên cạnh các công trình lịch sử chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc đã được xuất bản, các thế hệ người dân Phú Yên mong muốn có một công trình khoa học trình bày tương đối đầy đủ, chi tiết và chính xác về chiến thắng Átlăng - một trong những chiến công đặc biệt xuất sắc của Đảng bộ và quân dân Phú Yên. Nguyện vọng thiết tha đó cũng phù hợp với các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương Đảng, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh Quân khu 5.

Nhằm đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng trên, những năm qua dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân, Sở Khoa học và Công nghệ, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Phú Yên cùng các cơ quan hữu quan đã hai lần tổ chức Hội thảo khoa học về chiến thắng Átlăng.

Từ gần 50 bản tham luận tại hai cuộc hội thảo trên, chúng tôi biên soạn thành cuốn sách “Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng của thực dân Pháp trong Đông Xuân 1953-1954”. Đây là một công trình tập thể, là thành quả của sự đóng góp quý báu của nhiều cơ quan, nhiều nhà khoa học ở Trung ương và địa phương.

Nhân dịp cuốn sách được xuất bản, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân, Sở Khoa học và Công nghệ, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Phú Yên xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Mặc dù tuổi đã cao, nhưng thể theo nguyện vọng của Đảng bộ, quân dân Phú Yên, Đại tướng đã nghe báo cáo và trực tiếp viết thư động viên khen ngợi Đảng bộ, quân dân Phú Yên. Đây là một vinh dự lớn cho Đảng bộ và quân dân Phú Yên. Chúng tôi củng xin chân thành cảm ơn Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, các cơ quan chức năng, các nhà khoa học và các đồng chí đã cộng tác nhiệt tình và đóng góp tích cực vào sự ra đời của công trình này.


                                                                                                                                                             
Ngày 10 tháng 11 năm 2009
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Năm, 2021, 07:38:58 pm
THƯ CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP
GỬI CUỘC HỘI THẢO
“Quân và dân Phú Yên góp phần đánh bại chiến dịch Átlăng
của thưc dân Pháp trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954”

Các đồng chí thân mến!

Trong giai đoạn cuối cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, vùng tự do Nam Trung Bộ (trong đó có tỉnh Phú Yên) là một mục tiêu trọng điểm của kế hoạch bình định miền Nam Đông Dương của địch và là một chiến trường phối hợp rất quan trọng của ta.

Thực hiện kế hoạch Nava, thực dân Pháp một mặt tập trung binh lực thành lập khối quân sự cơ động lớn ở đồng bằng Bắc Bộ, một mặt khẩn trương chuẩn bị lực lượng mở cuộc tiến công chiến lược ở Nam Đông Dương, trong đó hướng chiến lược là vùng tự do Liên khu 5. Ngày 20 tháng 1 năm 1954, chúng huy động 22 tiểu đoàn, trong đó có 4 tiểu đoàn cơ động và 2 tiểu đoàn dù ngụy chia làm 3 cánh mở cuộc tiến công đánh chiếm vùng tự do Phú Yên thực hiện bước một chiến dịch Átlăng.

Đúng thời điểm đó, theo kế hoạch tác chiến đã được Thường vụ Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định, dưới sự chỉ đạo của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, quân và dân Nam Trung Bộ đang gấp rút chuẩn bị mở cuộc tiến công chiến lược ở bắc Tây Nguyên.

Địch đánh ra Phú Yên, nhưng ta không bất ngờ bị động, không ảnh hưởng đến kế hoạch tiến công bắc Tây Nguyên của chủ lực ta. Nhiệm vụ đánh bại bước 1 chiến dịch Átlăng chủ yếu do quân và dân Phú Yên đảm nhiệm. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Liên khu ủy, Bộ Tư lệnh Liên khu 5, quân và dân Phú Yên đã dựa vào làng chiến đấu và thế trận đã được chuẩn bị sẵn, anh dũng đánh địch ngay từ khi chúng mới đặt chân tới; vừa chặn đánh địch ở phía trước, vừa tiến công chúng ở phía sau, tạo điều kiện cho các đơn vị chủ lực của Liên khu tiến công địch ở bắc Tây Nguyên. Quân và dân Liên khu 5 đã đánh bại chiến dịch Átlăng của địch tiêu diệt một lực lượng quan trọng quân cơ động của địch ở Tây Nguyên, đồng thời vùng tự do Phú Yên, đồng bằng Liên khu 5 được giữ vững.

Với chiến công xuất sắc đánh bại bước 1 cuộc tấn công ra vùng tự do của địch, quân và dân Phú Yên đã góp phần đánh bại chiến dịch Átlăng của địch. Chiến công vẻ vang ấy của quân và dân Liên khu 5 nói chung, của Phú Yên nói riêng là sự phối hợp tài tình với chiến trường chính, cùng quân và dân cả nước giành thắng lợi to lớn trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Tôi hoan nghênh lãnh đạo tỉnh Phú Yên đã tổ chức cuộc hội thảo khoa học quan trọng này. Cuộc hội thảo sẽ đánh giá đầy đủ hơn về những chiến công, thành tích chủ yếu, những phát triển sáng tạo và kinh nghiệm quý báu về chiến tranh nhân dân của Đảng bộ và quân dân Phú Yên trong kháng chiến. Tôi mong thành công của hội thảo sẽ góp phần động viên đồng bào, cán bộ, chiến sĩ, đặc biệt là thế hệ trẻ Phú Yên tiếp tục phát huy truyền thống quyết chiến quyết thắng trong kháng chiến vào sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa, làm cho Phú Yên trở thành một tỉnh giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng, an ninh, văn hóa xã hội phát triển, góp phần vào sự nghiệp đổi mới xây dựng đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Nhân dịp này, tôi thân ái gửi lời thăm hỏi ân cần đến các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, các gia đình liệt sĩ, các đồng chí thương binh, bệnh binh, các cựu chiến binh, lực lượng vũ trang và nhân dân tỉnh Phú Yên.

Chúc hội thảo thành công.

Chúc các đồng chí mạnh khỏe, hạnh phúc.


Chào thân ái
                                                                                                                                                 
Hà Nội, ngày 22 tháng 7 năm 2009
(https://i.imgur.com/Ocre5Pj.jpg)
Đại tướng VÕ NGUYÊN GIÁP


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Năm, 2021, 07:42:19 pm
MỞ ĐẦU

I. VỊ TRÍ CHIẾN LƯỢC CỦA PHÚ YÊN

Phú Yên nằm ở duyên hải Nam Trung Bộ, có tọa độ địa lý từ 12o39’10” đến 13o45’20” vĩ độ bắc và 108o39’45” đến 109o29’20” kinh độ đông. Phía bắc giáp tỉnh Bình Định, phía nam giáp tỉnh Khánh Hòa, phía tây giáp tỉnh Gia Lai và tỉnh Đắc Lắc, phía đông tiếp liền với biển Đông. Toàn tỉnh có diện tích 5.045km2, trong đó phần lớn là rừng núi hiểm trở. Ba mặt đều có núi: dãy Cù Mông ở phía bắc, dãy đèo cả ở phía nam, phía tây là rìa phía đông của dãy Trường Sơn. Phú Yên có nhiều núi cao như Hòn Chữ Nhơn (huyện Đồng Xuân) cao 1.318m, Hòn Ông (Tuy Hoà) cao 1.010m, ngọn Chư Vinh (huyện Sông Hỉnh) cao 1.364m. Dãy núi Cù Mông và dãy Vọng Phu - đèo cả chạy sát ra biển. Đặc điểm địa hình nói trên tạo cho Phú Yên có một vị trí chiến lược hết sức quan trọng.

Suốt 30 năm kháng chiến, miền núi Phú Yên là căn cứ địa vững chắc của cuộc chiến tranh nhân dân trên địa bàn, đồng thời là nơi đứng chân của các cơ quan, đơn vị, các địa phương bạn trong những lúc khó khăn. Do vậy, địch luôn tìm mọi cách để đánh chiếm địa bàn này, song chúng đều chịu nhiều thất bại cay đắng. Dựa vào thế chiến lược “thiên thời, địa lợi, nhân hoà”, nhất là ở các huyện miền núi, quân và dân Phú Yên đã xây dựng nhiều căn cứ, bố trí nhiều trận địa hiểm hóc, thực hiện nhiều trận đánh tiêu hao, tiêu diệt địch đạt hiệu suất chiến đấu cao. Đây cũng chính là bàn đạp để quân và dân ta mở những đợt hoạt động tiến công địch trên nhiều hướng ở đồng bằng và thị xã.

Phía tây của tỉnh là sườn đông của dãy Trường Sơn tiếp liền với vùng núi rừng trùng điệp Tây Nguyên tạo thành một vòng cung khép kín bao quanh từ đèo Cù Mông đến đèo cả. Nhiều mỏm núi nhô ra sát biển tạo cảnh quan đẹp, môi trường tốt để phát triển kinh tế. Hệ thống hang động đa dạng, có sức chứa lớn có thể chịu đựng bom đạn của địch với cường độ cao, bảo vệ lực lượng tác chiến giành thắng lợi. Vùng trung du có một số cao nguyên rộng tương đối bằng phẳng, đất đai màu mỡ như ở các huyện Sơn Hòa, Sông Hinh thuận lợi cho việc phát triển nông trường, trang trại, phù hợp với các loại cây công nghiệp, cây thực phẩm, trang trại chăn nuôi gia súc.

Vùng ven biển của Phú Yên có đồi núi thấp phân bố chủ yếu ven đường quốc lộ 1 và rải rác dọc bờ biển, độ cao trung bình 150m - 300m, chia cắt vùng đồng bằng ven biển ra thành những đồng bằng nhỏ. Đây cũng là nơi có nhiều hang động rất thuận lợi cho trú ém quân, chứa hàng, lập công binh xưởng.

Vùng đồng bằng phân bố chủ yếu ở khu vực thành phố Tuy Hòa, huyện Tây Hòa, huyện Đông Hòa, huyện Phú Hòa thuộc hạ lưu sông Ba có núi xen kẽ rải rác như núi Một (Hòa Tân); núi Sặc, núi Hương (Hòa Phong); núi Sầm (Hòa Trị); núi Miếu (Hòa Quang); núi Hương (Hòa Định Đông); núi Chóp Chài (Hòa Kiến)... Đây cũng là những vị trí có tầm quan trọng đặc biệt về quân sự. Chính vì vậy, thực dân Pháp và đế quốc Mỹ luôn tìm mọi cách chiếm đóng những vị trí này nhằm khống chế, đánh phá ta.

Đồng bằng Phú Yên có diện tích khoảng 816km2, trong đó vùng đồng bằng Tuy Hòa (bao gồm các huyện Tây Hòa, huyện Đông Hòa, huyện Phú Hòa hiện nay) chiếm 500km2, là đồng bằng màu mỡ nhất do nằm ở hạ lưu sông Ba luôn được bồi đắp bởi phù sa từ các vùng đồi bazan ở thượng lưu mang lại, được tưới nước từ hệ thống thủy nông Đồng Cam tạo cho Phú Yên có ưu thế sản xuất lương thực, so với các tỉnh khác ở khu vực miền Trung. Trong kháng chiến chống Pháp, gạo Tuy Hòa không những nuôi quân dân trong tỉnh mà còn chi viện cho các chiến trường Khánh Hòa, Tây Nguyên và các tỉnh khác ở cực Nam Trung Bộ.

Phú Yên có bờ biển dài 189km, đường cơ sở trên biển dài 90km đi qua Hòn Ông Căn (Bình Định), mũi Đại Lãnh (điểm A9 - huyện Đông Hòa), Hòn Đôi (Khánh Hòa), tạo nên diện tích vùng nội thủy khoảng 1.100km2, đường biên giới quốc gia cách bờ biển nơi gần nhất 22km, nơi xa nhất 39km tạo nên vùng diện tích lãnh hải của tỉnh 2.000km2. Bờ biển có nhiều chỗ núi ăn thông ra biển tạo thành nhiều đầm, vịnh, vũng, mũi, đảo và bán đảo. Trong đó, Vịnh Xuân Đài và Vũng Rô là những nơi lý tưởng cho tàu thuyền neo đậu, tránh gió bão. Tại Mũi Nạy (còn gọi Cap Varella), từ cuối thế kỷ XIX người Pháp đã đặt một ngọn hải đăng để hướng dẫn tàu thuyền đi biển. Đặc biệt Phú Yên có Vũng Rô, nằm trong địa phận xã Hòa Xuân Nam, huyện Đông Hòa, tiếp giáp với Vịnh Văn Phong - Đại Lãnh (tỉnh Khánh Hòa), có diện tích mặt nước rộng 16,40km2, sâu từ 14 đến 19m, kín gió, đáy vịnh ổn định; cửa vào rộng 2km. Trong kháng chiến chống Mỹ, cuối năm 1964, đầu năm 1965, 4 lần tàu không số của ta từ miền Bắc theo đường Hồ Chí Minh trên biển đã đưa khoảng 240 tấn vũ khí, đạn dược vào Vũng Rô để chi viện cho chiến trường Nam Trung Bộ. Cuối năm 1965, đầu năm 1966, Mỹ xây dựng Vũng Rô thành cảng tiếp nhận xăng dầu và các loại khí tài quân sự, vật chất phục vụ chiến tranh.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Năm, 2021, 07:43:58 pm
Do địa hình có nhiều núi đồi, nên Phú Yên có nhiều đèo dốc. Trong đó đáng chú ý là đèo Cù Mông nằm trên quốc lộ 1A có độ cao 245m (điểm phân ranh giữa hai tỉnh Bình Định và Phú Yên) và đèo Cả vượt qua dãy núi Đại Lãnh (còn gọi dãy Vọng Phu, một nhánh của dãy Trường Sơn nhô ra biển Đông) là ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa, dài 11km, cao 417m. Đặc điểm của đèo Cù Mông và đèo Cả là có vách taluy cao, nhiều vòng cua hẹp, độ dốc lớn, hai bên là núi cao khá hiểm trở. Đây cũng là những vị trí hết sức thuận lợi cho lực lượng ta lập trận địa phục kích chặn đánh các đoàn xe cơ giới của địch. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ đã diễn ra nhiều trận đánh nổi tiếng, tiêu biểu nhất là những trận đánh trên “Mặt trận đèo Cả” năm 1947 và trận đánh Mỹ đầu tiên của lực lượng vũ trang tỉnh năm 1965.
 
Trên các tuyến đường tỉnh, huyện, xã, đèo dốc cũng dày đặc: Đèo Cây Cưa trên đường ĐT642 (Triều Sơn - La Hai), đèo Thị trên đường ĐT641 (Chí Thạnh - Mục Thịnh), đèo Dinh ông, dốc Đá Đề (quốc lộ 25), dốc Phường, đèo Bình Thảo (huyện Sông Hinh), dốc Đồng Tranh, dốc Lỗ Chài (huyện Phú Hòa), dốc Đá Mài, suối Bùn, dốc Đỏ, dốc Lau (huyện Sơn Hòa). Đặc biệt dốc Chanh, dốc Mõ thuộc huyện Tây Hòa là những địa danh gắn với cuộc kháng chiến chông thực dân Pháp của quân và dân Phú Yên.

Hang, gộp, hốc ở Phú Yên khá nhiều và phân bố khắp các huyện trong tỉnh. Đáng chú ý là các gộp bãi Xép, hốc Gạo, hốc Võ, hốc Răm, suối Cùng, suối Lạnh, Mòng Mòng, hốc Nhum (huyện Tuy Hoà); hang Trai Thủy (tục gọi là hang Dơi) ở núi Chóp Chài, gộp Đá Bàn (thị xã Tuy Hoà); hốc Bé, hốc Tạ (huyện Tuy An); hốc Bà Beo, gộp Hòa Lợi (huyện Sông cầu); hang Thuồng Luồng, gộp Hòn Huệnh (huyện Sơn Hòa), hốc Bà Chiền (huyện Đồng Xuân)... Các hang, gộp, hốc là nơi đứng chân của nhiều cơ quan, đơn vị, kho tàng, bệnh viện... trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Các con sông ở Phú Yên đều phát nguồn từ dãy núi Trường Sơn ở phía tây, đèo Cù Mông ở phía bắc và đèo Cả ở phía nam: sông Bàn Thạch, sông Hinh, sông Cà Lúi, sông Cầu, sông Krông Năng, sông Con, sông Đồng Bò, sông Thá... Trong đó, đáng chú ý là sông Ba (còn gọi là sông Đà Rằng) dài 360km chảy qua địa bàn tỉnh 90km, là con sông lớn của miền Trung, có diện tích lưu vực 13.220km2, chủ yếu tập trung ở Gia Lai, Kon Tum.

Phần diện tích lưu vực nằm ở Phú Yên là 2.420km2, chiếm 18,3%. Ngoài ra còn có sông Kỳ Lộ, sông lớn thứ hai ở Phú Yên có chiều dài 120km, phần nằm trong tỉnh là 76km. Do hướng chính của các sông là tây bắc - đông nam hoặc tây - đông nên dọc theo bờ biển có nhiều cửa sông. Đường sá có mật độ cầu khá lớn, trung bình 2km có 1 cầu.

Suối ở Phú Yên có mật độ tương đối dày, đặc biệt là các huyện miền núi và vùng núi của những huyện đồng bằng. Đáng chú ý là suối Bà Năm, suối Bà Bông (huyện Sông Cầu); suối Cay, Đồng Dài, Đồng Sa (huyện Tuy An); suối Cái, suối Muồng (huyện Phú Hoà). Mật độ sông, suối dày tạo điều kiện thuận lợi lớn cho lực lượng ta trú quân, sản xuất, sinh hoạt. Sông, suối nhiều cũng góp phần chia cắt địa hình, đường giao thông khi bị đánh phá cầu, cống. Những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, ta phá hủy hầu hết các cầu để ngăn chặn xe cơ giới địch. Từ năm 1949, nhân dân Phú Yên lại sửa chữa các cầu tạm và các đường quốc lộ, tỉnh lộ, đường sắt để bộ đội cơ động đánh giặc và phục vụ sản xuất.

Thời tiết Phú Yên có 2 mùa rõ rệt. Mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8. Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12, tập trung vào 2 tháng cao điểm (tháng 10 và tháng 11). Thời tiết có ảnh hưởng nhất định đến kế hoạch hoạt động quân sự của ta và địch.

Thiên nhiên tạo cho Phú Yên một hệ thực vật, động vật phong phú không những cung cấp lương thực, thực phẩm cho bộ đội và nhân dân mà còn cung cấp nhiều vị thuốc quý để chữa bệnh.

Là một tỉnh nằm trên trục đường giao thông Bắc - Nam, Phú Yên có hệ thống đường bộ khá phát triển. Ngoài tuyến đường sắt, Phú Yên có quốc lộ 1A dài 124km chạy xuyên qua các thị xã Sông Cầu, huyện Tuy An, thành phố Tuy Hòa, huyện Đông Hòa nối liền Phú Yên với các tỉnh trong cả nước. Quốc lộ 25 dài 168km (phần qua Phú Yên dài 68km), từ thành phố Tuy Hòa đi Tây Nguyên, giao nhau với quốc lộ 14 trên địa bàn tỉnh Gia Lai. Đường Quy Nhơn - Sông cầu dài 30km chạy dọc bờ biển từ thành phố Quy Nhơn (Bình Định) vòng tránh đèo Cù Mông vào thị xã Sông Cầu, tỉnh lộ ĐT645 nối liền với vùng Tây Nguyên rộng lớn. Mạng lưới đường của 8 huyện, thị trong tỉnh nối liền đến tất cả các xã trên tất cả các vùng; đường ô tô đến tận trung tâm các xã.

Dân số Phú Yên tính đến năm 2009 (1-4-2009) là 861.993 người. Có 30 thành phần tộc người sinh sống, trong đó chủ yếu là người Việt (Kinh) chiếm 93%, Trong 30 thành phần tộc người kể trên, cư dân Việt, Chăm, Êđê, Bana, Hoa là những tộc người đã sinh sống lâu đời. Các tộc người khác do chuyển cư, di cư hoặc quan hệ hôn nhân (chủ yếu là từ các tỉnh miền núi phía Bắc) mà đến Phú Yên cư trú. Đặc tính chung của nhân dân Phú Yên là cần cù sáng tạo trong lao động, sản xuất, sông tương thân, tương ái giàu lòng yêu nước, kiên cường, bất khuất, tin tưởng tuyệt đối vào đường lối đổi mới của Đảng, vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Năm, 2021, 07:46:45 pm
II. TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC CỦA NHÂN DÂN PHÚ YÊN

Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, nhân dân Phú Yên đã góp phần xây dựng nên những truyền thống quý báu của dân tộc, trong đó nổi bật là truyền thống yêu nước, kiên cường bất khuất chống ngoại xâm.

Ngay khi thực dân Pháp xâm lược Nước ta, nhân dân Phú Yên đã nổi lên chống Pháp. Từ năm 1885, hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, nhiều sĩ phu yêu nước đã lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa. Ngày 15 tháng 8 năm 1885, Lê Thành Phương cùng các sĩ phu kéo cờ khởi nghĩa tại núi Một, thôn Tân An, tổng Xuân Vinh, phủ Tuy An. Chỉ trong một thời gian ngắn, Lê Thành Phương đã chiêu tập được một lực lượng nghĩa quân khoảng vài nghìn người. Dưới khẩu hiệu “Bình Tây sát tả”, nghĩa quân chia nhau đi bắt những kẻ làm tay sai cho giặc, đánh chiếm, làm chủ thành Phú Yên nhiều ngày.

Sau khi cuộc khởi nghĩa do Lê Thành Phương khởi xướng và lãnh đạo bị thất bại (1887), phong trào chống Pháp của nhân dân Phú Yên tiếp tục với cuộc vận động cứu nước của Nguyễn Hào Sự.

Năm 1892, cũng tại miền Tây huyện Đồng Xuân, hàng nghìn nông dân các làng Phú Xuân, Phú Hội, Triêm Đức, Kỳ Lộ dưới sự lãnh đạo của ông Nguyễn Hào Sự, nổi dậy đấu tranh chống sưu thuế, chống đi lính.

Phong trào cần Vương thất bại, thực dân Pháp tăng cường đàn áp, bóc lột nhân dân. Trong tình hình đó, tại Phú Yên lại bùng lên với cuộc khởi nghĩa của Võ Trứ và Trần Cao Vân (năm 1900). Đội quân khởi nghĩa có tới 1.000 người gồm cả người Kinh, người dân tộc ít người ở Đồng Xuân, Tuy An, Sơn Hòa.

Năm 1908 dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Hữu Dực và Lê Hanh phong trào chống sưu cao thuế nặng, chông cường hào, cổ động dùng hàng nội hóa, mở trường dạy học chữ Quốc ngữ tiếp tục bùng lên mạnh mẽ. Tuy bị đàn áp dã man, nhưng phong trào chống sưu thuế ở Phú Yên, cùng với phong trào đấu tranh khắp các tỉnh miền Trung đã làm rung động bộ máy thống trị của thực dân.

Trong hơn 20 năm, kể từ lúc thực dân Pháp đặt ách cai trị ở Phú Yên, nhân dân Phú Yên đã nổi dậy chống lại rất quyết liệt, liên tục. Nhưng do thiếu một đường lối lãnh đạo đúng đắn nên những cuộc đấu tranh đó vẫn chưa giành được thắng lợi. Tuy vậy, nó đã tô đậm truyền thông yêu nước - di sản tinh thần quý giá để nhân dân Phú Yên viết tiếp những trang sử vẻ vang trong thời đại mới.

Sau sự ra đời của một vài tổ chức yêu nước, ngày 5 tháng 10 năm 1930, tại thôn Đồng Bé, xã Xuân Long (Đồng Xuân) chi bộ Đảng tại Phú Yên được thành lập. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Phú Yên đã kiên cường bất khuất, hăng hái tham gia các phong trào cách mạng.
Cuối năm 1944, đầu năm 1945, tình hình thế giới và trong nước có những chuyển biến quan trọng. Đêm 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp. Ngày 12 tháng 3 năm 1945, Trung ương Đảng ra chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Phong trào Việt Minh phát triển mạnh mẽ ở nhiều địa phương trong tỉnh. Ngày 12 tháng 6 năm 1945, tại làng Hòa Đa, Tỉnh ủy lâm thời Phú Yên được thành lập. Các hội cứu quốc: Thanh niên, Phụ nữ, Nông dân, Công nhân ra đời dưới sự tổ chức lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh có hàng chục nghìn quần chúng tham gia. Sau khi nhận lệnh của Xứ ủy Trung kỳ, cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 nổ ra trên địa bàn tỉnh. Tối 24 tháng 8 năm 1945, khởi nghĩa thành công tại tỉnh lỵ Sông cầu. Chính quyền nhân dân được thành lập từ tỉnh đến khắp các huyện, xã.

Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa giành chính quyền cách mạng trong toàn tỉnh là thắng lợi hết sức quan trọng trong lịch sử đấu tranh cách mạng lâu dài trên địa bàn Phú Yên. Đây là thắng lợi của việc kết hợp đúng đắn hai nhiệm vụ chống đế quốc và phong kiến, đoàn kết các lực lượng yêu nước, các dân tộc, trên nền tảng khối công nông liên minh. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám đã tạo cho nhân dân Phú Yên có một động lực mới, khí thế mới trong đấu tranh cách mạng.

Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã đưa nhân dân ta từ một dân tộc bị nô lệ, bị áp bức nay được giải phóng, trở thành người làm chủ đất nước. Song vừa mới ra đời, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã bị chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động liên kết với nhau bao vây, chống phá quyết liệt. Với danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật, các đội quân đồng minh dồn dập kéo vào Việt Nam. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, quân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, mở đầu cuộc xâm lược Việt Nam lần hai. Ngày 6 tháng 10 năm 1945, quân Pháp đổ bộ chiếm đóng thị xã Nha Trang, làm địa bàn đứng chân đánh chiếm toàn tỉnh Khánh Hoà và mở rộng ra các tỉnh Nam Trung Bộ. Cùng với cả nước, nhân dân Phú Yên bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trong suốt 9 năm lập nên nhiều chiến công oanh liệt mà đỉnh cao là chiến thắng đánh bại bước 1 cuộc hành quân Átlăng, mở đầu kế hoạch Nava của thực dân Pháp trên địa bàn Phú Yên.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Năm, 2021, 07:49:58 pm
Chương một

TÌNH HÌNH CHIẾN TRƯỜNG CẢ NƯỚC VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA TRUNG ƯƠNG ĐẢNG
TRONG ĐÔNG XUÂN 1953-1954

I. CUỘC HÀNH QUÂN ÁTLĂNG VỚI THAM VỌNG
ĐÁNH CHIẾM VÙNG TỰ DO LIÊN KHU 5 CỦA THỰC DÂN PHÁP

Trải qua gần 8 năm tiến hành cuộc xâm lược nước ta, đến mùa hè năm 1953, thực dân Pháp đã đổ vào cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương 2.130 tỷ phơrăng. Nhưng hàng chục vạn quân viễn chinh vẫn bị giam chân ngày càng bị sa vào “đường hầm không lối thoát” trong cuộc chiến tranh xâm lược tàn bạo và bẩn thỉu. Cuộc chiến tranh hao người tốn của này không chỉ làm cho các tầng lớp nhân dân lao động Pháp - những người phải hứng chịu gánh nặng thuế khoá và binh dịch - thêm khốn khổ, mà còn làm cho giới cầm quyền Pháp ngày càng mâu thuẫn gay gắt do không giải quyết được những khó khăn chồng chất. Trong chính giới Pháp, những kẻ ngoan cố chủ trương tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương còn chiếm ưu thế, nhưng những người đứng về phía đòi chấm dứt chiến tranh ngày càng tăng. Chính phủ Pháp do Rơnê Mayơ (Réné Mayer) đứng đầu - Chính phủ thứ 18 của nước Pháp trong vòng 8 năm - mới tồn tại chưa được 4 tháng đã đứng trước nguy cơ sụp đổ. Tuy nhiên với bản chất hiếu chiến và ngoan cố, những kẻ hiếu chiến trong giới cầm quyền Pháp đã dựa vào Mỹ tiếp tục đẩy mạnh cuộc chiến tranh xâm lược.

Sau những thất bại liên tiếp trên chiến trường chính Bắc Bộ và Bắc Đông Dương, tháng 5 năm 1953, Chính phủ Pháp một lần nữa buộc phải thay thế viên chỉ huy quân sự cao nhất ở Đông Dương. Tướng Raun Xalăng bị triệu hồi; cử tướng Hăngri Nava - được coi là viên tướng tài năng nhất của nước Pháp sang làm Tổng chỉ huy đội quân viễn chinh Pháp. Sau hơn hai tháng thị sát tình hình, ngày 24 tháng 7 năm 1953, Nava đệ trình bản kế hoạch (sau này mang tên ông ta) lên Hội đồng quốc phòng Pháp và được thông qua. Đây là một kế hoạch chính trị - quân sự đầy tham vọng, là cố gắng cao nhất của giới thực dân hiếu chiến Pháp và sự viện trợ lớn nhất của Mỹ hòng đảo ngược tình thế, kết thúc chiến tranh theo điều kiện có lợi nhất cho thực dân Pháp.

Tư tưởng chủ đạo về tác chiến của kế hoạch Nava là: “Trong chiến cục 1953-1954, coi như một thời kỳ nguy hiểm, phải tránh tổng giao chiến và xây dựng khối cơ động tác chiến. Ngược lại, trong chiến cục 1954-1955, khi khối cơ động tác chiến của chúng ta (Pháp) đạt được số lương và được huấn luyện đầy đủ, ta phải tìm cách giao chiến”(1).

Nội dung chính của kế hoạch Nava bao gồm hai phần: chính trị và quân sự. Về chính trị, yếu tố hàng đầu là phải xác định rõ mục đích của cuộc chiến tranh ở Đông Dương. Nước Pháp, các chính phủ bù nhìn ở Đông Dương và Mỹ hợp thành một liên minh chống Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Mỹ coi Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là cộng sản nên sẽ là mục tiêu của Mỹ ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á. Đối với chính phủ bù nhìn (ngụy quyển) ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia, mục đích của cuộc chiến tranh nhằm tiêu diệt “kẻ thù bên trong”, là Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và các lực lượng kháng chiến Lào, Campuchia. Còn đối với Pháp là “ở lại Đông Dương và xây dựng một khối liên hiệp vững chắc”; muốn vậy phải có sự lãnh đạo thống nhất về chính trị và quân sự, kể cả ở Sài Gòn và Pari; phải bằng mọi cách thúc đẩy các chính phủ bù nhìn ở Đông Dương dốc sức vào cuộc chiến tranh, phải cho các chính phủ ấy (ngụy quyền) “nền độc lập rộng rãi nhất”.

Nava xác định phải tìm một lối thoát, giải quyết sự bế tắc ở Đông Dương. Lối thoát đó khó lòng là một thắng lợi bằng quân sự, mà chỉ có thể bằng chính trị, muốn vậy phải tạo nên những thắng lợi quân sự làm cơ sở cho một giải pháp chính trị.


(1) H. Nava - Thời điểm của những sự thật, Nxb Công an nhân dân - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, H. 1994, tr.89, 90.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Năm, 2021, 07:55:28 pm
Về quân sự, kế hoạch Nava gồm tổ chức và tác chiến. Kế hoạch tổ chức có 5 nội dung lớn. Một là, xin tăng cường binh lực, trước tiên khoảng 2 sư đoàn trong khối quân sự Bắc Đại Tây Dương sang. Hai là, phát triển lực lượng ngụy quân, mà quan trọng nhất là thành lập các tiểu đoàn khinh quân, tăng cường công tác đào tạo chỉ huy các cấp, thành lập các binh đoàn cơ động và các sư đoàn, giao trách nhiệm quản lý (chiếm đóng) lãnh thổ cho quân ngụy ở một số khu vực. Ba là, sắp xếp, bố trí lại lực lượng quân sự nhằm giảm bớt số nhân viên trong các bộ tham mưu lớn, bổ sung cho các bộ tham mưu cấp sư đoàn và các binh đoàn chủ lực dự kiến sẽ được thành lập. Bốn là, lưu động hoá các đơn vị chiếm đóng, tức là rút bớt các đơn vị thiện chiến, mà quan trọng là lực lượng Âu, Phi ở các đồn bốt. Năm là, thành lập các binh đoàn chủ lực.

Kế hoạch tác chiến tổng quát của kế hoạch Na va là trong Đông Xuân 1953-1954 tránh giao chiến với chủ lực đối phương, tập trung vào việc tổ chức binh đoàn tác chiến mạnh; từ Hè Thu 1954-1955, tiến hành giao chiến tiêu diệt toàn bộ chủ lực đổỉ phương. Kế hoạch tác chiến cụ thể được chia làm hai bước.

Bước thứ nhất, trong chiến cuộc 1953-1954, thực hiện phòng ngự chiến lược ở bắc vĩ tuyến 18, tránh giao chiến lớn với chủ lực đối phương, ngăn chặn đối phương tiến công Thượng Lào (Luông Phabăng, Cánh Đồng Chum); tiến công chiến lược ở miền Nam, nhằm bình định miền Nam và miền Trung Đông Dương, đặc biệt là tiến công đánh chiếm vùng tự do Liên khu 5.

Bước thứ hai, từ mùa khô 1954 trở đi, tiến công chiến lược từ vĩ tuyến 18 trở ra, giành thắng lợi quyết định, buộc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà phải kết thúc chiến tranh.

Kế hoạch Nava được dư luận chính giới Pháp và Mỹ đánh giá rất cao. Đây là cố gắng chiến tranh cao nhất, của thực dân Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương (1945-1954), với sự viện trợ lớn nhất của Mỹ, được Mỹ hậu thuẫn và ủng hộ tích cực nhằm xoay chuyển tình thế có lợi cho chúng. Ngoại trưởng Mỹ Đalét khẳng định: “Kế hoạch Nava trong hai năm tới nếu không phải là một thắng lợi hoàn toàn, thì ít nhất cũng thu được kết quả nhất định về quân sự”.

Đề cập đến kế hoạch tác chiến này, Đại tướng Nava - Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương giải thích, nói rõ thêm 3 điểm. Thứ nhất, dùng từ “tìm cách tránh giao chiến lớn”, Nava thừa nhận là khi Pháp đang ở thế phòng thủ, thì khó mà dám chắc là có thể tránh được giao chiến. Thứ hai, khi bộc lộ ý đồ: phải thanh toán cho được vùng tự do Liên khu 5, Nava nhấn mạnh kế hoạch này đã được tướng Xalăng, viên Tổng chỉ huy tiền nhiệm, nêu ra trong bản nghiên cứu từ tháng 5 năm 1953. Theo Nava, nếu trong năm 1954 Pháp không “thanh toán” được vùng tự do Liên khu 5 thì sau đó sẽ rất khó loại trừ được thực thể này, bởi vì lực lượng kháng chiến tại địa bàn Liên khu 5 đã phát triển “một cách rất đáng kể” trong vài tháng gần đây. Thứ ba, “kế hoạch này được xây dựng trong tương quan với tiềm lực ta biết được về đối phương và dự kiến khả năng phát triển của họ. Song cũng cần dè chừng hai trường hợp: một là, do đối phương vượt trội lên, chúng ta có thể bị những thất bại nghiêm trọng trong chiến cuộc 1953-1954; hai là, kế hoạch này chỉ có giá trị trong chừng mực viện trợ của Trung Quốc cho Việt Minh không tăng lên ồ ạt”(1).

Đánh chiếm vùng tự do của ta ở Liên khu 5 vốn là một ước mơ từ lâu của các viên Tổng chỉ huy quân Pháp.

Kế hoạch hành quân mang tên Átlăng (còn gọi là cuộc hành quân, chiến dịch Átlăng) chia làm ba bước:

Bước thứ nhất: mang mật danh “Arêtút” (Arétthuse) sử dụng 25 tiểu đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn công binh và 3 đơn vị pháo binh, sử dụng 22 tiểu đoàn, đổ bộ từ biển lên, từ Khánh Hoà đánh ra, từ Đắc Lắc đánh xuống, chiếm thị xã Tuy Hoà và tỉnh Phú Yên, thời gian kéo dài từ 20 đến 25 ngày trong tháng 1 năm 1954.

Bước thứ hai: mang mật danh “Axen” (Axelle) sau khi đánh chiếm tỉnh Phú Yên sẽ tăng quân đánh chiếm Quy Nhơn và tỉnh Bình Định, tiến hành vào đầu tháng 3 năm 1954 và kéo dài 2 tháng.

Bước thứ ha: mang mật danh “Áttila” (Atila), tập trung lực lượng từ Quảng Nam đánh vào, Bình Định đánh ra, Kon Tum đánh xuống và từ biển đánh lên, hợp điểm tại thị xã Quảng Ngãi, hoàn thành mục tiêu đánh chiếm vùng tự do Liên khu 5; thời gian bắt đầu từ tháng 5 năm 1954, kéo dài 2 tháng với lực lượng 45 tiểu đoàn bộ binh và 8 đơn vị pháo binh.
Cuộc hành binh này được mang mật danh “4.A” (bốn chữ A), chữ A thứ nhất là Átlăng (Atlante) - tên của cuộc hành quân và 3 chữ A tiếp theo là “Arêtút”, “Axen”, “Áttila” - các bước của cuộc hành quân.


(1) H. Nava - Thời điểm của những sự thật, Sđđ, tr.90, 91


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Năm, 2021, 07:58:43 pm
Chỉ huy cuộc hành quân này là các viên tướng Đờ Bôpho (De Beaufort - Tư lệnh Quân khu Tây Nguyên) và Bờlăng. Phan Văn Giáo - Thủ hiến Trung Việt (miền Trung), được Bảo Đại - Quốc trưởng của cái gọi là Quốc gia Việt Nam, giao nhiệm vụ; “sẵn sàng tiếp nhận bàn giao khi người Pháp đã giành thắng lợi”; dự kiến nhân sự để thiết lập lực lượng vũ trang địa phương, thiết lập các cơ sở hành chính và bình định vùng chiếm đóng với sự hỗ trợ của lực lượng các tiểu đoàn khinh quân (bộ binh). Theo đó Phan Văn Giáo đã huy động lực lượng nghĩa dũng đoàn (lực lượng bán vũ trang địa phương) và các đội quân thứ hành chính lưu động(1) từ bắc miền Trung mới được vội vã thành lập vào để xúc tiến công việc bình định.

Phạm vi của cuộc hành quân rộng chừng 26.000km2, có chiều dài khoảng 370km và chiều ngang trung bình 70km. Đây là vùng tự do, một căn cứ địa chiến lược của ta ở Liên khu 5, được xây dựng, củng cố duy trì và phát huy tác dụng tích cực suốt trong cả quá trình của cuộc kháng chiến. Đây là vùng đồng bằng ven biển miền Trung, đất đai khá màu mỡ, dân cư đông đúc với khoảng 2,5 triệu người. Chúng ta đã khai thác được nguồn nhân lực, vật lực dồi dào và sử dụng đường xe lửa làm tuyến giao thông quan trọng để vận chuyển lương thực, vũ khí, nối liền hai miền Nam, Bắc. Các tỉnh vùng tự do Liên khu 5: Nam - Ngãi - Bình - Phú (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên) có vị trí chiến lược quan trọng, phía đông giáp biển, phía tây giáp các tỉnh vùng Tây Nguyên và giáp với cao nguyên Bôlôven của Lào; phía nam giáp tỉnh Khánh Hoà - vùng đã bị địch chiếm đóng từ cuối năm 1945.

Lực lượng địch được huy động để tham gia cuộc hành quân Átlăng gồm có 6 binh đoạn cơ động là Binh đoàn bộ binh số 11 (ngụy) gồm các tiểu đoàn bộ binh 1, 11, 17; tiểu đoàn pháo binh số 1, từ Bình Trị Thiên vào. Binh đoàn bộ binh số 21 (ngụy) gồm các tiểu đoàn bộ binh 8, 27, 30, tiểu đoàn pháo binh số 2, một đại đội súng cối hỗn hợp từ Nam Bộ ra. Binh đoàn bộ binh số 41 (ngụy, còn gọi là Liên đoàn bộ binh sơn cước, do lực lượng này là quân ở Tây Nguyên) gồm các tiểu đoàn 1, 3, 8; tiểu đoàn pháo binh số 4. Binh đoàn bộ binh số 42 (ngụy, còn gọi là liên đoàn bộ binh sơn cước, do lực lượng này là quân ở Tây Nguyên) gồm các tiểu đoàn 3, 6, 7, hai đại đội súng cối hỗn hợp. Binh đoàn cơ động số 10 quân Bắc Phi và binh đoàn cơ động 100 vừa điều từ Triều Tiên sang, thuộc lực lượng quân viễn chinh Pháp. Ngoài ra Pháp còn sử dụng 14 tiểu đoàn khác tham gia cuộc hành quân này làm nhiệm vụ bình định.

Pháp đặt ra Phân khu Duyên hải, thuộc Đệ tứ quân khu (Tây Nguyên)(2) để chỉ huy và tiếp tế cho cuộc hành quân. Quân ngụy đặt Bộ chỉ huy nhẹ ở Nha Trang và một căn cứ tiền phương tại Ninh Hoà (Khánh Hoà).

Trên địa bàn giáp ranh giữa tỉnh Phú Yên và các tỉnh Tây Nguyên, từ năm 1946 đến trước khi mở cuộc hành quân Átlăng địch xây dựng một số đồn bốt nhằm ngăn chặn các cánh quân của ta từ vùng tự do Phú Yên đánh lên và liên tục tổ chức càn quét đánh phá các huyện miền núi của ta (Sơn Hòa, Sông Hinh ngày nay).


(1) Đội quân thứ hành chính lưu động (Group penment administratif mobil operations - viết tắt là GAMO) - một tổ chức bán quân sự, có liên quan mật thiết với vấn đề bình định và an ninh lãnh thổ, được thiết lập cuối năm 1951 tại Bắc Bộ và bắc miền Trung. Các đội quân thứ hành chính lưu động có nhiệm vụ thay thế các đơn vị hành quân trong vùng mới chiếm đóng để duy trì an ninh trật tự và thiết lập các cơ sở hành chính hạ tầng. Mỗi đội quân thứ hành chính lưu động gồm khoảng 60 người, chia thành 4 ban (hành chính, quân sự, y tế xã hội và thông tin).
(2) Theo Sắc lệnh số 61-QP, ngày 26 tháng 6 năm 1952, các quân khu thuộc quân đội quốc gia được thành lập kể từ ngày 1 tháng 7 năm 1952. Lãnh thổ Việt Nam được chia thành 4 quân khu.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Năm, 2021, 08:00:17 pm
Hệ thống đồn vùng giáp ranh gồm: vùng Bàu Bèn (Phước Tân) có 3 đồn Bà Lá, Ma Phu, Chánh Đơn. Xa hơn về phía tây nam có đồn Ai Nu. Đồn Cà Lúi thuộc xã Krông Pa, giáp ranh với xã Suối Trai. Đồn Aêriêng (Hai Riêng) giáp Tuy Bình, Chí Thán án ngữ trên đường 21 bis từ Mađrắc, Khánh Dương ra xã Hòn Nhọn. Ngoài ra còn có đồn Buôn Thô, nhưng địch đã chuyển về sáp nhập với đồn Aêriêng từ năm 1948. Phía tây bắc xã Thồ Lồ có đồn Đăk Pơk thuộc Gia Lai.

Quân số mỗi đồn của địch có khoảng 1 đại đội, chủ yếu là người dân tộc ít người. Riêng đồn Bà Lá và đồn Aêriêng khoảng 2 đại đội. Từ các đồn này, địch thường xuyên càn quét vào địa bàn các xã thuộc huyện Sơn Hòa, Sông Hinh (ngày nay), gây cho ta nhiều khó khăn tổn thất. Điển hình là vào năm 1952, địch càn xuống Phước Tân, Thồ Lồ bắt trên 200 dân và giết hơn 20 người.

Tiến hành cuộc hành quân Átlăng, thực dân Pháp hy vọng sử dụng lực lượng quân sự mạnh, tiêu diệt chủ lực và các lực lượng vũ trang cách mạng ta, phá cơ sở, chính quyền và các tổ chức đoàn thể quần chúng, “xoá sổ” vùng tự do Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên; chủ yếu là phòng ngừa một hiểm họa rất lớn, phá tan mối đe dọa thường xuyên của các căn cứ của Việt Minh ở Liên khu 5 đối với các chiến trường miền Nam Đông Dương. Đây còn là cuộc hành quân vừa để thực hiện mục tiêu chiếm đóng vừa nhằm mục đích bình định.

Về mục đích của cuộc hành quân Átlăng, Nava đã viết rõ trong cuốn sách Đông Dương hấp hối như sau: “Cuộc hành quân Átlăng có mục đích tiêu diệt Liên khu 5, bởi nó là một địa bàn có giá trị về kinh tế, nhân lực, quan trọng hơn là về chính trị và vị trí chiến lược”(1); “Đây là con đường nối liền Nam - Bắc giữa Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và Nam Bộ. Thông qua con đường này Việt Minh gửi cán bộ, vũ khí, tiền bạc cho lực lượng của họ ở phía Nam và Campuchia. Việc giải phóng rồi giao quyền quản lý trực tiếp nó cho Chính phủ Việt Nam (ngụy) sẽ có một ảnh hưởng về tinh thần rất lớn đối với toàn bộ nước Việt Nam, kể cả trong những vùng do Việt Minh kiểm soát. Đây là một cuộc trắc nghiệm chính trị hàng đầu”(2).

“Nhưng đây không phải là mục đích chủ yếu của cuộc hành quân. Đây là biện pháp phủ đầu chống lại một nguy cơ lớn. Thực vậy, Liên khu 5 cùng với những căn cứ địa trên cao nguyên Bôlôven là một mối nguy cơ thường xuyên đối với các vùng Nam Đông Dương (Nam Bộ, Nam Lào và Campuchia)... Chúng ta nắm được từ các nguồn tin chắc chắn là Bộ chỉ huy Việt Minh xem Liên khu 5 như một căn cứ để tung ra các cuộc hành quân quan trọng vào năm 1954-1955. Vì thế, do chúng ta chậm trễ trong việc tiêu diệt nó nên đang phải đối đầu với một vấn đề khủng khiếp”(3).

Vào cuối năm 1953, các dấu hiệu nghiêm trọng cho thấy có sự chuẩn bị của Liên khu 5 cho một cuộc tiến công, hoặc vào Đà Nẵng hoặc vào Nha Trang, nhiều khả năng là vào vùng Tây Nguyên. Sự phối hợp hành động của cuộc tiến công này với các cuộc tiến công khác vào Sênô có thể gây cho chúng ta những hậu quả hết sức bi thảm: sự cắt đứt hoàn toàn những đường giao lộ của chúng ta với vùng Bắc Lào, một cuộc tiến quân của Việt Minh vào Campuchia và Nam Bộ”(4).

Trong kế hoạch chiến lược và ý đồ của Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương - tướng Nava, cuộc hành quân Átlăng có vị trí và tầm quan trọng lớn thứ ba, sau Điện Biên Phủ và Trung Lào. Trong một bức điện gửi tướng Cônhi, Tư lệnh quân Pháp ở Bắc Bộ, Nava đã nói rỡ: “Tướng quân phải coi trách nhiệm toàn bộ của mình là đồng bằng và miền thượng du, miền này phải được ưu tiên và đặc biệt là phòng thủ Điện Biên Phủ. Hiện nay, đồng bằng đối với tướng quân chuyển xuống hàng khẩn cấp thứ hai và đối với tôi thì xuống hàng thứ tư sau Điện Biên Phủ, Trung Lào và cuộc hành quân Átlăng”(5).


(1) H. Nava - Đông Dương hấp hối (Phan Thanh Toản dịch), Nxb Công an nhân dân, H. 2000, tr.243-244.
(2), (3), (4), (5) H. Nava - Đông Dương hấp hối, Sđd, tr.243-244.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Năm, 2021, 08:04:52 pm
II. TÌNH HÌNH CHIẾN TRƯỜNG CẢ NƯỚC VÀ CHỦ TRƯƠNG
CỦA TRUNG ƯƠNG ĐẢNG, BỘ TỔNG TƯ LỆNH TRONG ĐÔNG XUÂN 1953-1954

Sau thắng lợi to lớn, có ý nghĩa chiến lược quan trọng ở Thượng Lào (4-1953), quyền chủ động chiến lược của, ta không còn bó hẹp trong phạm vi chiến trường Bắc Bộ nữa, mà đã mở rộng ra toàn bộ chiến trường Bắc Đông Dương. Trong khi Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy, Bộ Tổng Tư lệnh đang chuẩn bị xây dựng kế hoạch tác chiến trong Đông Xuân 1953-1954 thì vào cuối tháng 8 năm 1953, ta đã nắm được những nội dung cơ bản của Kế hoạch Nava. Trên cơ sở đó, trong Đề án trình Bộ Chính trị ngày 20 tháng 8 năm 1953, Tổng Quân ủy đã đề đạt chủ trương chiến lược và phương hướng tác chiến trong Thu Đông 1953 nhằm phá âm mưu địch, làm thất bại một bước kế hoạch Nava. Tổng Quân ủy nhận định: hiện ta chưa có điều kiện để tác chiến lớn ở đồng bằng, nên nhiệm vụ trước mắt là phá âm mưu tập trung binh lực và bình định đồng bằng của địch. Để tạo điều kiện cho tác chiến tương đối lớn của bộ đội chủ lực, cần tăng cường hoạt động ở Thượng Lào và các chiến trường khác để phân tán chủ lực của địch. Cuối tháng 9 năm 1953, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp tại Tỉn Keo, thôn Lục Giã, xã Phú Đình, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh bàn nhiệm vụ quân sự trong Đông Xuân 1953-1954. Vấn đề nổi lên trong chỉ đạo chiến lược là làm sao phân tán được khối chủ lực cơ động chiến lược của địch. Khi nghe Đại tướng Võ Nguyên Giáp báo cáo tình hình, “đôi mắt Hồ Chủ tịch chợt lộ vẻ chăm chú. Bàn tay Người đặt trên bàn bỗng giơ lên rồi nắm lại. Người nói: Địch tập trung quân cơ động để tạo nên sức mạnh. Ta buộc chúng phải phân tán binh lực thì sức mạnh ấy không còn. Bàn tay Bác mở ra, mỗi ngón tay chỉ về một hướng”(1).

Thực hiện phương châm “Tích cực - Chủ động - Cơ động - Linh hoạt” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị xác định, trên cơ sở thế trận chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện đã được xây dựng trong suốt 8 năm kháng chiến trên khắp các chiến trường, Bộ Tổng Tư lệnh quyết định sử dụng lực lượng mở các chiến dịch tiến công vào những hướng chiến lược địch tương đối yếu, sơ hở, nhưng vì quan trọng nên chúng không thể bỏ, buộc địch phải phân tán lực lượng cơ động chiến lược để đối phó, tạo thời cơ cho ta tập trung lực lượng tiêu diệt địch trên các hướng có lợi nhất; đồng thời đẩy mạnh chiến tranh du kích ở các vùng đồng bằng sau lưng địch, tranh thủ cơ hội tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch nếu chúng đánh vào vùng tự do của ta.

Chủ trương này nhằm giữ vững và phát huy quyền chủ động chiến lược, khoét sâu mâu thuẫn cơ bản của đội quân xâm lược là mâu thuẫn giữa tập trung và phân tán binh lực, để tạo nên thế trận mới, thời cơ mới. Và khi thời cơ xuất hiện, ta sẽ nhanh chóng tập trung lực lượng, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, làm chuyển biến cục diện chiến tranh. Như vậy, âm mưu tập trung binh lực của thực dân Pháp sẽ bị phá vỡ, kế hoạch Na va sẽ thất bại vì không có đủ lực lượng cơ động cần thiết để thực hiện tổng giao chiến với chủ lực ta như dự kiến.

Triển khai chủ trương tác chiến Đông Xuân 1953-1954, nhằm mục đích phân tán khối cơ động chiến lược của quân Pháp, Tổng Quân ủy và Bộ Chính trị xác định Tây Bắc là hướng chính để mở chiến dịch tiến công trong Thu Đông. Tại Hội nghị Bộ Chính trị họp ở Tỉn Keo, Chủ tịch Hồ Chí Minh kết luận: “Hướng chính (Tây Bắc) hiện nay không thay đổi, nhưng trong hoạt động có thể thay đổi. Phép dùng binh là phải thiên biến vạn hóa...”(2).

Trung tuần tháng 11 năm 1953, Đại đoàn 316 hành quân lên Tây Bắc nhằm giải phóng Lai Châu, giải phóng hoàn toàn Tây Bắc, uy hiếp vùng chiếm đóng của Pháp ở Thượng Lào. Bất ngờ trước cuộc tiến quân của chủ lực ta lên Tây Bắc, Bộ chỉ huy Pháp vội vã điều lực lượng cơ động (vốn chưa được xây dựng đầy đủ), nhảy dù xuống chiếm Điện Biên Phủ, biến nơi đây thành tập đoàn cứ điểm nhằm bảo vệ Tây Bắc, Thượng Lào và thu hút chủ lực ta đến để tiêu diệt. Từ ngày 3 tháng 12 năm 1953, với việc “chấp nhận cuộc giao tranh ở Tây Bắc... quyết bảo vệ Điện Biên Phủ bằng bất cứ giá nào”(3), Nava đã tự phá đi kế hoạch ban đầu của chính ông ta. Điều lý thú là, trong kế hoạch Nava cũng như đề án tác chiến ban đầu của Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam chưa hề có ba chữ Điện Biên Phủ. Thắng lợi của chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử chính là kết quả của sự chỉ đạo chiến lược đúng đắn, sáng suốt, tài tình của Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đứng đầu, bắt đầu từ Hội nghị Bộ Chính trị ở Tỉn Keo tháng 9 năm 1953.


(1) Võ Nguyên Giáp, Thế giới còn đổi thay nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi - Ban KHXH, Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 1991, tr. 75.
(2) Võ Nguyên Giáp, Thế giới còn đổi thay nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi..., Sđd, tr.75.
(3) Dẫn theo Sự thật về những lần xuất quân của Trung Quốc và quan hệ Việt - Trung, Nxb Đà Nẵng, 1996, tr.30.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Năm, 2021, 08:06:57 pm
Như vậy là, từ chỗ không có trong kế hoạch Na va, Điện Biên Phủ, một cách không tự giác, dần trở thành điểm trung tâm của kế hoạch Nava và là nơi đầu tiên phân tán một bộ phận quan trọng binh lực địch, từ nhiệm vụ cơ động tiến công chuyển sang nhiệm vụ chốt giữ, phòng thủ. Thực hiện phương châm “Tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt”, Bộ Tổng Tư lệnh nhanh chóng điều động các đại đoàn chủ lực đang đứng chân ở khu vực trung du Bắc Bộ, hành quân lên Điện Biên Phủ, chuẩn bị cho trận đánh lớn. Quân Pháp ở Lai Châu, trước sức uy hiếp của ta đã phải rút chạy
về Điện Biên Phủ đầu tháng 12 năm 1953.

Tiếp theo, từ ngày 20 tháng 12 năm 1953, Bộ Tổng Tư lệnh điều một bộ phận chủ lực, phối hợp với quân giải phóng Pathét Lào đánh địch ở Thàkhẹt (Trung Lào). Bộ chỉ huy Pháp bị động đối phó bằng cách đưa 5 tiểu đoàn cơ động từ Bắc Bộ sang, xây dựng một cãn cứ không - bộ kiểu tập đoàn cứ điểm ở Sênô để bảo vệ khu vực này.

Phát huy thắng lợi, chủ lực ta tiếp tục phối hợp với bạn Lào tiến công địch ở Hạ Lào, giải phóng thị xã Atôpơ và toàn bộ cao nguyên Bôlôven, buộc Bộ chỉ huy Pháp lại phải tung thêm 4 tiểu đoàn cơ động đến khu vực này và xây dựng một tập đoàn cứ điểm ở Pắc xế. Tổng chỉ huy Nava phải thừa nhận: “... đối phương vẫn bám lại, họ phân tán lực lượng, lợi dụng địa hình rừng núi, xâm nhập cả xuống phía nam, thường xuyên uy hiếp giao thông và có nguy cơ sẽ bóp nghẹt cả Trung Lào và Thượng Lào. Việc bảo vệ giao thông ở những khu vực này thu hút nhiều quân của ta (Pháp), do đó lại gây thiếu quân nghiêm trọng ở những nơi khác; xem xét theo quan điểm ấy, Việt Minh đã thu được một kết quả không thể chối cãi”(1).

Như vậy, không kể đồng bằng Bắc Bộ, Hạ Lào trở thành nơi phân tán khối cơ động chiến lược thứ ba của Pháp. Không những thế, bộ đội chủ lực Liên khu 5 phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương mở chiến dịch tiến công lên bắc Tây Nguyên ngày 26 tháng 1 năm 1954, giải phóng thị xã Kon Tum và khu vực bắc Tây Nguyên, tiến xuống sát đường số 19 ở phía nam. Lúc này, Bộ chỉ huy Pháp đang mở cuộc hành quân Átlăng (bắt đầu từ ngày 20-1-1954) với lực lượng lớn đánh vào vùng tự do các tỉnh thuộc Liên khu 5, đã buộc phải huy động 11 tiểu đoàn từ Nam Bộ ra, từ Bình Trị Thiên vào, lập thêm hai tập đoàn cứ điểm ở An Khê và Plei Ku để đối phó với ta. Tây Nguyên trở thành nơi tập trung binh lực lớn thứ 4 của quân Pháp.

Trong thời gian bao vây chuẩn bị đánh tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ theo phương châm tác chiến mới là “Đánh chắc, tiến chắc”, cuối tháng 1 tháng 1954, Bộ Tổng Tư lệnh lệnh cho Đại đoàn 308 từ Điện Biên Phủ tiến sang Thượng Lào, phối hợp với bộ đội Pathét Lào tiến công phòng tuyến địch ở khu vực sông Nậm Hu, đồng thời mở rộng địa bàn tác chiến, truy kích địch đến sát Luông Phabăng. Để bảo vệ kinh đô Luông Phabăng và các vị trí còn lại ở Thượng Lào, Bộ chỉ huy Pháp buộc phải đưa 5 tiểu đoàn tăng viện cho Luông Phabăng, 3 tiểu đoàn tăng viện cho Mường Sài, khiến cho Thượng Lào trở thành nơi tập trung binh lực lớn thứ 5 của quân Pháp trên toàn bộ chiến trường Đông Dương.

Như vậy, âm mưu xây dựng khối cơ động chiến lược tập trung ở đồng bằng Bắc Bộ trong kế hoạch Nava đã bị phá sản chỉ trong một thời gian ngắn. Chủ trương hoạt động và nghệ thuật chỉ đạo tác chiến của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh trong Thu Đông 1953 và Đông Xuân 1953-1954 đã được thực tế kiểm nghiệm là hoàn toàn đúng đắn, sáng tạo và quyết đoán, đẩy kẻ địch lún sâu hơn nữa vào thế bị động phòng ngự. Bằng các hoạt động tác chiến liên tục, rộng khắp, ta đã khoét sâu mâu thuẫn vốn đã trầm trọng giữa tập trung và phân tán lực lượng của địch, tạo ra được thế trận mới có lợi để quyết định tiến hành trận đánh lớn nhất kể từ đầu cuộc chiến tranh tại Điện Biên Phủ, giành thắng lợi oanh liệt, kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc.

Hội nghị Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp cuối tháng 9 năm 1953 đã xác định nhiệm vụ cho quân và dân miền Trung và Nam Bộ là phải giành cho được địa bàn chiến lược Tây Nguyên, phá âm mưu bình định vùng tự do ở Liên khu 5 và miền Nam của địch.

Tháng 11 năm 1953, trong báo cáo trình lên Bộ Chính trị về “Tình hình địch, ta ở Nam Trung Bộ, chủ trương chiến lược và kế hoạch công tác quân sự của ta sắp tới” và được Bộ Chính trị thông qua, có nêu nhiệm vụ: “Trong Đông Xuân này, Liên khu 5 cần phải tập trung lực lượng tiến công lên Tây Nguyên”; “phát triển lên Tây Nguyên phải coi là nhiệm vụ quan trọng bậc nhất”, “nhiệm vụ củng cố vùng tự do là nhiệm vụ quan trọng thứ hai”(2).


(1) H. Na va, Thời điểm của những sự thật, Sđd, tr.146.
(2) Khu 5 - 30 năm chiến tranh giải phóng, Tập 1: Kháng chiến chống thực dân Pháp, Bộ Tư lệnh Quân khu 5, xuất bản 1986, tr.223, 224, 225.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Năm, 2021, 08:09:31 pm
Về kế hoạch tiến công lên Tây Nguyên, Tổng Quân ủy đề nghị “phải tập trung lực lượng quân sự, cán bộ, huy động nhân vật lực, tăng cường chỉ đạo để thực hiện nhiệm vụ phát triển...”(1).

Đối với nhiệm vụ bảo vệ vùng tự do, cần xác định: “Củng cố vùng tự do hiện có sẵn là quan trọng. Vì có giữ được vùng tự do thì mới có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển vào Tây Nguyên, cho nên phải ráo riết tăng cường lực lượng địa phương và dân quân du kích, tăng cường việc tiễu phỉ trừ gian để bảo vệ vùng tự do”(2).

Liên khu ủy và Bộ Tư lệnh Liên khu 5 đã quán triệt sâu sắc chủ trương, kế hoạch tác chiến trong Đông Xuân 1953-1954 và vận dụng thực hiện sáng tạo sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh trên địa bàn Liên khu.

Trên cơ sở các chỉ thị, mệnh lệnh của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy, Bộ Tổng Tư lệnh, Liên khu ủy và Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Liên khu 5 đã triệu tập cuộc họp vào đầu tháng 12 năm 1953. Theo đó, Bộ Tư lệnh Liên khu quyết định toàn bộ chủ lực được tập trung cho nhiệm vụ tiến công lên Tây Nguyên. Kế hoạch tiến công phải chu đáo, cụ thể, tiến hành từng bước. Phải nắm chắc địch, nắm chắc ta, dự kiến mọi tình huống có thể xảy ra, đánh chắc thắng và thắng ngay từ trận đầu, kiên quyết đạt cho được mục tiêu đề ra. Nhiệm vụ bảo vệ vùng tự do được giao cho lực lượng địa phương. Trước mắt, khẩn trương xây dựng lực lượng, xây dựng làng chiến đấu, nghiên cứu phương án tác chiến cho từng vùng. Địch đánh đến địa phương nào, địa phương đó tự đối phó, tiêu hao, tiêu diệt từng bộ phận địch, kìm chân, không cho chúng nhanh chóng mở rộng phạm vi kiểm soát, hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại do địch gây ra. Địa phương nào địch chưa đánh đến, phải tích cực động viên nhân dân phục vụ tiền tuyến. Các chiến trường sau lưng địch tích cực đẩy mạnh chiến tranh du kích, đánh phá giao thông, bao vây đồn bốt, đánh sâu vào thị xã, thị trấn, gây rối loạn ngay trong sào huyệt địch; đẩy mạnh công tác binh vận, phá kế hoạch xây dựng ngụy binh của địch. Khi chủ lực ta đánh mạnh vào Tây Nguyên hoặc lúc địch đánh ra, vùng tự do, phải tổ chức các đợt hoạt động mạnh kìm giữ không cho địch rút lực lượng đi nơi khác; đồng thời, lợi dụng lúc địch sơ hở ra sức tiêu diệt sinh lực, mở rộng vùng du kích và vùng giải phóng(3).

Giữa tháng 12 năm 1953, kế hoạch tiến công lên Tây Nguyên của Bộ Tư lệnh Liên khu 5 được Bộ Tổng Tư lệnh, Tổng Quân ủy và Bộ Chính trị chính thức thông qua. Cuộc tiến công sẽ triển khai theo hai hướng: hướng chính bắc Kon Tum và hướng phối hợp đường 19 - An Khê. Đảng ủy và Ban chỉ huy chiến dịch được thành lập, do đồng chí Nguyễn Chánh, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Liên khu ủy, Tư lệnh kiêm Chính ủy Liên khu là Tư lệnh kiêm Chính ủy, đồng thời là Bí thư Đảng ủy chiến dịch. Hàng trăm cán bộ của cơ quan Liên khu ủy, Bộ Tư lệnh Liên khu, của các tỉnh, huyện được điều động về các địa phương làm nhiệm vụ huy động dân công phục vụ chiến dịch, đôn đốc việc xây dựng lực lượng, xây dựng làng chiến đấu, sẵn sàng đánh trả cuộc tiến công ra vùng tự do của địch.

Đúng thời gian này, Bộ chỉ huy Pháp một mặt tập trung xây dựng khối cơ động chiến lược để chuẩn bị cho đòn quân sự quyết định, mặt khác dồn một số binh đoàn cơ động vào miền Trung, triển khai kế hoạch mở cuộc hành quân đánh chiếm một số tỉnh thuộc vùng tự do Liên khu 5 như kế hoạch Nava đã dự liệu.

Cuộc hành quân Átlăng là một kế hoạch quy mô, sử dụng binh lực lớn nhất của thực dân Pháp kể từ đầu chiến tranh trên địa bàn các tỉnh Nam Trung Bộ. Đây cũng là kế hoạch mang tham vọng lớn nhất của thực dân Pháp không chỉ với khu vực chiến lược này mà còn ảnh hưởng tác động tới các chiến trường khác, đặc biệt là đỡ đòn cho mặt trận Điện Biên Phủ. Mặc dù vậy, cuộc hành quân Átlăng tuy có chủ động đề ra kế hoạch và thời gian mở màn nhưng nằm trong thế bị động lúng túng chung của thực dân Pháp.

Chấp hành triệt để sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, Bộ Tổng Tư lệnh, Khu ủy, Bộ Tư lệnh Liên khu 5 lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức, chỉ huy quân và dân liên khu vừa triển khai đối phó với cuộc tiến công lớn của địch, đồng thời vẫn kiên quyết chủ động mở chiến dịch Bắc Tây Nguyên (đòn tiến công chiến lược thứ 4), phối hợp nhịp nhàng với các chiến trường cả nước. Theo chỉ đạo của Bộ Tổng Tư lệnh, Bộ Tư lệnh Liên khu quyết định không rút các đơn vị chủ lực đang chuẩn bị mở chiến dịch Bắc Tây Nguyên về bảo vệ vùng tự do một cách thụ động. Nhiệm vụ bảo vệ vùng tự do Phú Yên, Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam được giao cho bộ đội địa phương, dân quân du kích là chủ yếu, có sự hỗ trợ của một bộ phận nhỏ chủ lực của liên khu.

Chính do quán triệt sâu sắc chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên, với tinh thần chủ động, tự lực, tự cường rất cao, quân dân Phú Yên đã góp phần rất quan trọng cùng quân và dân Liên khu 5 đánh bại hoàn toàn mưu đồ đánh chiếm vùng tự do Liên khu 5 của địch vừa phân tán, kìm chân địch, tạo điều kiện cho mặt trận Điện Biên Phủ giành toàn thắng.


(1), (2) Bộ Tư lệnh Quân khu 5 - Khu 5 - 30 năm chiến tranh giải phóng, Sđd, tr. 225.
(3) Phú Yên - 30 năm chiến tranh giải phóng (1945-1975) - Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Phú Yên xuất bản năm 1993, tr 130-131.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Năm, 2021, 08:14:43 pm
Chương hai

CÙNG QUÂN DÂN LIÊN KHU 5 GÓP PHẦN QUYẾT ĐỊNH
ĐÁNH BẠI CUỘC HÀNH QUÂN ÁTLĂNG

I. QUÂN DÂN PHÚ YÊN CHUẨN BỊ
ĐỐI PHÓ CUỘC HÀNH QUÂN ÁTLĂNG

Sáng ngày 20 tháng 1 năm 1954, quân Pháp bắt đầu mở cuộc tiến công quy mô lớn chưa từng có ra vùng tự do của ta ở Phú Yên. Lực lượng địch huy động vào cuộc tiến công này gồm 20 tiểu đoàn của 4 binh đoàn cơ động số 10, 100, 41, 42 và 2 tiểu đoàn dù. Địch sử dụng hàng chục máy bay ném bom và nhiều trọng pháo từ tàu chiến bắn hàng nghìn quả lên thị xã Tuy Hoà, dọc quốc lộ 1, trước và trong quá trình bộ binh cơ giới của chúng tiến công.

Ngày 20 tháng 1, tại thị xã Tuy Hoà địch vừa cho quân đổ bộ lên phường 6(1), vừa cho 2 tiểu đoàn nhảy dù xuống sân bay (Chóp Chài).
 
Ở hướng nam, địch sử dụng binh đoàn số 10, có hàng trăm xe cơ giới và xe bọc thép dẫn đầu vượt đèo Cả đánh ra, ngày 27 tháng 1 liên lạc với cánh quân ở Tuy Hòa.

Ở hướng tây, ngày 25 tháng 1 địch sử dụng hai binh đoàn 41, 42 từ Cheo Reo theo đường số 7 tiến xuống Củng Sơn, ngày 27 tháng 1 hợp nhất với cánh quân ở Tuy Hòa.

Sau khi hợp điểm các cánh quân, địch bố trí ở mặt trận Tuy Hòa 9 tiểu đoàn, mặt trận Tây Phú Yên 11 tiểu đoàn(2).

Ngày 11 tháng 1 năm 1954, Tỉnh ủy Phú Yên họp hội nghị dưới sự chủ trì của đồng chí Lê Vụ, Bí thư Tỉnh ủy để quán triệt sự chỉ đạo của Trung ương với chiến trường Liên khu 5 và Nghị quyết Hội nghị Liên khu ủy, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Liên khu 5, thông qua kế hoạch, phương châm, phương thức tác chiến của lực lượng vũ trang và nhiệm vụ của từng ngành, từng địa phương.

Tỉnh ủy đề ra phương châm chung là tích cực, chủ động, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân. Về tác chiến, các lực lượng vũ trang địa phương và du kích phải triệt để vận dụng chiến thuật du kích với phương châm “tích cực, chủ động, linh hoạt”. Hội nghị quán triệt, phổ biến 8 nội dung chính như sau:

Một là, phổ biến âm mưu và mục tiêu của cuộc hành quân Átlăng nhằm đánh chiếm lâu dài vùng tự do Liên khu 5 của thực dân Pháp, mở đầu tại Phú Yên (nhằm thực hiện giai đoạn 1 của kế hoạch Nava, kết thúc chiến tranh trong vòng 18 tháng).

Hai là, quán triệt chủ trương tự lực, tự cường của Phú Yên và các tỉnh vùng tự do Liên khu 5 phòng chống, đánh trả cuộc hành quân Átlăng để chủ lực Liên khu 5 tập trung vào chiến trường chính của chiến dịch (sau này mới biết là bắc Tây Nguyên).

Ba là, phổ biến và giáo dục cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân nêu cao tinh thần yêu nước, chí căm thù giặc, ra sức thực hiện kế hoạch chuẩn bị chống phá cuộc hành quân Átlăng, củng cố và giữ vững lòng tin vào chiến thắng vì thực dân Pháp đang ở thế bị động đối phó do bị thất bại và sa lầy ở chiến trường chính Bắc Bộ.

Bốn là, xây dựng kế hoạch bảo vệ tài sản của Nhà nước và tính mạng của nhân dân, kế hoạch sơ tán dân tạm lánh khi có giặc đến. Bất hợp tác với địch: không làm tề, không để giặc bắt thanh niên đi lính, không để chúng cướp lương thực, thực phẩm nhằm phá âm mưu lấy chiến tranh nuôi chiến tranh của thực dân Pháp.

Năm là, Ban chỉ huy Tỉnh đội vạch kế hoạch cụ thể sử dụng 3 đại đội trực thuộc tỉnh và 4 đại đội địa phương trực thuộc huyện phối hợp với lực lượng du kích tập trung bố phòng chuẩn bị đánh địch, tập trung vào hướng đèo Cả, tây nam Củng Sơn, thị xã Tuy Hòa và các xã ven biển của tỉnh.

Sáu là, Ty công an chuẩn bị địa điểm chuyển cơ quan lãnh đạo tỉnh cùng các tài liệu quan trọng; chuyển và phân tán bệnh viện dân y, quân y, xưởng quân giới lên hướng Ma Choi, Thồ Lồ, Đá Mài; chuẩn bị địa điểm chuyển trại giam, trại cải tạo An Xuân với hơn 400 tù nhân lên Phước Tân, Đá Mài và có địa điểm dự bị ở Thồ Lồ, theo dõi các đối tượng đặc biệt, khi cần thiết là tập trung quản lý. Đặc biệt số phạm nhân quan trọng giao cho một bộ phận tổ chức giam giữ riêng thật cẩn mật, đề phòng địch đánh giải thoát. Tham gia việc khảo sát, huy động nhân lực và bảo vệ cho các địa điểm hoạt động của dân công, cán bộ, bộ đội, phá hoại đường giao thông, cầu cống, trục quốc lộ 1 và liên tỉnh lộ 5, tỉnh lộ 6, tỉnh lộ 7 một cách tích cực. Bảo đảm an toàn, trật tự tuyệt đối khu vực tiêu thổ kháng chiến ở thị xã và hướng dẫn nhân dân thị xã tản cư, lánh cư về nông thôn an toàn, sớm ổn định chỗ ăn, chỗ ở cho dân và bảo vệ tài sản không để thất thoát. Khảo sát địa điểm và cùng với chính quyền hướng dẫn nhân dân, đơn vị di dời tài sản, trâu, bò, chuẩn bị thực hiện “vườn không nhà trống” khi địch đến, chuẩn bị kế hoạch phục vụ cho chiến trường Tây Nguyên. Chọn địa điểm hướng dẫn, bảo vệ hành lang, di dời 2.500 tấn lúa và 200 tấn gạo, hàng triệu hàng hoá các kho mậu dịch từ Tuy Hoà 1 sang khu vực núi Tuy Hoà 2 (Suối Muồng, Suối Cái, phía đông Vân Hòa) để cất giấu vừa bí mật vừa an toàn.

Bảy là, tranh thủ thu hoạch lúa và phân tán cất giấu ở trong dân, chuẩn bị gieo trồng kịp thời vụ kể cả vùng địch tạm chiếm.

Tám là, xây dựng kế hoạch lần lượt đưa dân về sống hợp pháp ở vùng địch tạm chiếm, đặc biệt là người già, trẻ con và phụ nữ.


(1) Qua nghiên cứu nhiều tư liệu của Trung ương, Quân khu 5 và ở địa phương chúng tôi thấy các tài liệu chưa đề cập rõ đến hướng tiến công của binh đoàn 100 của Pháp, nhưng tất cả đều khẳng định binh đoàn 100 (lính Âu - Phi) có tham chiến tại chiến trường Phú Yên trong chiến dịch Átlăng.
Theo lời kể của các nhân chứng, hướng đổ bộ từ biển lên phường 6, phường 7 là lính Âu - Phi, quân số khoảng 1 tiểu đoàn. Do đó có thể khẳng định binh đoàn 100 từ chiến trường Nam Triều Tiên về (cuối năm 1953) có tham gia chiến dịch Átlăng nhưng trong ngày 20 tháng 1 năm 1954 chỉ có 1 hoặc 2 tiểu đoàn đổ quân ra Phú Yên, hướng tiến công của chúng là từ biển đổ bộ lên.
(2)Như vậy, về số lượng các tiểu đoàn địch tham gia vào cuộc hành quân Átlăng ở Phú Yên cũng như thời gian hành quân của các binh đoàn địch có sự khác biệt nhất định so với các tài liệu từ trước đến nay đã viết. Qua so sánh, phân tích các nguồn tư liệu, chúng tôi thấy số liệu đã trích dẫn trên từ nguồn “Công tác đảng công tác chính trị lực lượng vũ trang Quân khu 5 (1945-2000)” (tập 1), Nxb Quân đội nhân dân, H, 2001 là đáng tin cậy và chính xác. Ông Võ Văn Khả, Trưởng tiểu ban Tác chiến Phú Yên trong chiến dịch Átlăng cho biết: Tỉnh đội không nắm được chính xác số lượng các tiểu đoàn địch tham gia cuộc hành quân Átlăng cũng như việc bố trí sử dụng lực lượng của địch tại các địa bàn trong tỉnh.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Năm, 2021, 08:16:17 pm
Sau hội nghị, đại diện Tỉnh ủy Phú Yên, đại diện Tỉnh ủy Khánh Hoà, đại diện Ban cán sự Đắc Lắc đã họp bàn việc phối hợp chiến trường để bộ đội chủ lực tập trung lên chiến trường chính Tây Nguyên. Hội nghị 3 tỉnh bàn bạc thống nhất và quyết định: lực lượng vũ trang Khánh Hoà được phân công đẩy mạnh hoạt động giao thông trên quốc lộ 1 phía nam đèo Cả, lực lượng vũ trang Đắc Lắc đẩy mạnh đánh địch trên đường Mađrắc xuống Củng Sơn. Riêng tỉnh Phú Yên ngoài nhiệm vụ đánh địch tại chỗ, đảm bảo tiếp vận cho các đơn vị chủ lực tiến công hướng Buôn Ma Thuột.
Về lực lượng tác chiến trên địa bàn có 3 đại đội địa phương tỉnh và 4 đại đội địa phương huyện. Các đại đội của tỉnh gồm Đại đội 377 đảm nhận địa bàn chủ yếu là thị xã và các xã đông bắc sông Đà Rằng. Đại đội 392 đảm nhận địa bàn chủ yếu ở Tuy Hoà 1 (từ đèo cả đến nam sông Đà Rằng). Đại đội 389 cùng các đơn vị bộ đội địa phương huyện và du kích chiến đấu ở các huyện phía bắc Phú Yên và tây Tuy Hòa. Các đại đội của huyện gồm Đại đội 380 (Huyện đội Sơn Hoà) đánh địch ở Củng Sơn, Đại đội 378 (ở Tuy Hoà) đảm nhận địa bàn ở phía tây Tuy Hoà, Đại đội 374 (Huyện đội Tuy An) đảm nhận địa bàn Tuy An, Đại đội 371 đảm nhận địa bàn Đồng Xuân.

Mỗi đại đội có từ 100 đến 120 tay súng, trang bị chủ yếu là súng trường, tiểu liên. Ngoài ra, mỗi đại đội tỉnh được trang bị 4-5 trung liên; đại đội huyện được trang bị 2-3 trung liên. Toàn bộ lực lượng bộ đội địa phương có khoảng 800 đồng chí(1).

Ngoài ra du kích ở các xã, phường phối hợp với bộ đội địa phương tổ chức, bố trí lực lượng sẵn sàng chặn đánh địch. Mỗi một xã, phường có từ 2 tiểu đội đến 1 trung đội du kích.

Căn cứ vào lực lượng và quyết tâm chiến đấu đã được Tỉnh ủy phê duyệt, Ban chỉ huy Tỉnh đội xây dựng kế hoạch bố trí, sử dụng lực lượng và chỉ đạo các hình thức tác chiến cho bộ đội tập trung, dân quân du kích. Theo đó, Đại đội 392 phối hợp với du kích các xã đông nam sông Đà Rằng chịu trách nhiệm bố phòng chuẩn bị đánh dịch từ Khánh Hòa vượt đèo cả ra Hòa Xuân. Đại đội 377 phối hợp với du kích thị xã chịu trách nhiệm bố phòng chuẩn bị đánh địch đổ bộ lên bãi biển Phú Câu (nay là phường 6 và phường 7) thị xã Tuy Hòa và các xã phía bắc sông Đà Rằng. Đại đội 389 phối hợp với Đại đội 380 và du kích các xã Sơn Hòa bố phòng chuẩn bị đánh địch từ Đắc Lắc tiến xuống Củng Sơn. Đại đội 371 (bộ đội địa phương huyện Đồng Xuân) phối hợp với du kích chịu trách nhiệm bố phòng đánh địch tại địa bàn huyện Đồng Xuân (gồm 2 huyện Đồng Xuân và Sông Cầu hiện nay) tập trung vào các xã Xuân Thọ, Xuân Phương và Xuân Lộc. Đại đội 374 (bộ đội địa phương huyện Tuy An) phối hợp với du kích chịu trách nhiệm bố phòng chuẩn bị đánh địch trên địa bàn huyện Tuy An, tập trung vào các xã ven biển như: An Chấn, An Mỹ, An Ninh và An Dân. Đại đội 378 (bộ đội địa phương huyện Tuy Hòa) phối hợp với du kích bố phòng chuẩn bị đánh địch ở các xã phía tây nam Đà Rằng tập trung vào các xã Hòa Phong, Hòa Bình, Hòa Thành và Phú Lâm. Đại đội 380 (bộ đội địa phương huyện Sơn Hòa) phối hợp với du kích xã bố phòng chịu trách nhiệm đánh địch ở huyện Sơn Hòa (chủ yếu phía tây nam Củng Sơn).

Lực lượng dân quân du kích các xã ven biển và vùng giáp ranh với địch ở đèo Cả - Hòa Xuân - Củng Sơn, vốn được xây dựng và thử thách qua thực tế liên tục chiến đấu chống địch đổ bộ càn quét, được bố trí phòng thủ ở các xã trọng điểm ven biển, thị xã Tuy Hòa, đông nam sông Đà Rằng và tây nam Sơn Hòa. Chọn những vị trì có địa hình thuận lợi cho phục kích địch và rút lui an toàn để xây dựng các ác chiến điểm, các công trình chiến đấu ưu tiên tập trung các loại hỏa lực như súng trường, bom, lựu đạn, mìn muỗi và hầm chông. Phương thức tác chiến của du kích tuỳ theo điều kiện, hoàn cảnh cụ thể để tác chiến độc lập hoặc phối hợp với bộ đội cùng đánh địch.

Bố trí những đơn vị nhỏ bộ đội phối hợp với du kích tập trung phục kích tại các đồi cao có cây cao che phủ, dưới chân có đá chẻ xếp thành hang ẩn nấp tránh được phi pháo, tránh được địch truy kích, rút lui an toàn; các đồi nhô ra sát quốc lộ, tỉnh lộ, dốc đứng khó leo lên như: đoạn từ Đá Trãi trở ra phía bắc đèo Cả, đèo Quán Cau (Tuy An), đèo Bà Thị (Chí Thạnh), đèo Tam Giang (đèo Chữ S) phía nam sông Cầu, đèo Cù Mông (Xuân Lộc) và đoạn từ đập Đồng Cam trở lên Ba Bản (Sơn Hòa).


(1) Số liệu do đồng chí Võ Văn Khả - nguyên cán bộ Tiểu ban Tác chiến Tỉnh đội Phú Yên cung cấp.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Năm, 2021, 08:18:04 pm
Ban chỉ huy Tỉnh đội đặc biệt chú trọng địa hình bãi biển, xác định đây là hướng địch đổ bộ nên bố trí thành khu vực tử địa, đặc biệt là bãi biển Phú Câu (phường 6 và phường 7 Tuy Hòa ngày nay). Đây là bãi hoang mọc đầy các loại cây gai bàn chải, gai quýt, gai mắt mèo, chỉ có ít đường ngang hẹp quanh co từ biển trở lên để cho người và trâu, bò đi lại, được bố trí thành bãi bom mìn, đạp lôi để lực lượng du kích tập trung cùng với các đơn vị của Đại đội 377 chuẩn bị đánh địch đổ bộ lên thị xã.

Khẩn trương kiện toàn hệ thống bồ tín hiệu treo trên các đồi cao ven biển và hệ thống mõ báo động khi có tàu thủy địch đến vùng biển địa phương để nhân dân kịp cất giấu ngư lưới cụ, tài sản quý và chuẩn bị tản cư tránh địch, đồng thời cũng để báo cho du kích tập trung đến vị trí sẵn sàng chiến đấu.

Nhằm ngăn chặn các mũi tiến quân của địch và sát thương bọn lính sửa đường, Ban chỉ huy Tỉnh đội nhấn mạnh cần tiếp tục phá hoại thêm các cầu và đường quốc lộ 1, đường số 6, đường số 7, đào thêm những hố sâu hơn 2m và rộng hơn 3m ở những đoạn xung yếu có gài mìn để chặn xe cơ giới.

Để chống quân nhảy dù ở các bãi cát lớn như Mỹ Long (An Dân - Tuy An), bãi Phú Sen (Hòa Định - Tuy Hòa) và gò Thị Thùng (An Xuân - Tuy An), kế hoạch của Tỉnh đội chỉ rõ biện pháp tăng cường cắm thêm các cọc tre cao từ 2 đến 3m.

Sau Hội nghị ngày 11 tháng 1 năm 1954, các đồng chí Lê Vụ, Bí thư Tỉnh ủy; Lê Văn Đức, Tỉnh đội trưởng; Lê Đài, Chính trị viên; Phan Trọng Xuyên, Tham mưu trưởng; Võ Xuân Vinh, Trưởng ban Chính trị Tỉnh đội và nhiều cán bộ cơ quan được phân công xuống huyện, xã, nhất là các xã phía nam để đôn đốc kiểm tra công việc chuẩn bị chiến đấu.

Các đại đội địa phương tỉnh được trang bị thêm hỏa lực. Mỗi đại đội có từ bốn đến năm khẩu trung liên. Các đại đội địa phương huyện cũng được bổ sung đầy đủ quân số, trang bị thêm hỏa lực, súng cá nhân, bom, mìn, lựu đạn. Lực lượng du kích các xã đều được phát triển thêm, trang bị thêm súng, lựu đạn, mìn. Từng xã, thôn cử ra một số du kích cùng cán bộ đoàn thể tổ chức hướng dẫn nhân dân tản cư đến các khu vực an toàn. Các kho tàng của tỉnh ở phía nam được khẩn trương chuyển ra phía bắc và lên miền Tây. Tài sản, lương thực của nhân dân được từng nhà đào hầm chôn cất. Lúc đầu khi thấy vắng bộ đội chủ lực trong tỉnh, nhân dân và lực lượng vũ trang địa phương có phân vân, lo lắng, nhưng sau hiểu được ý định của trên, tin vào sự lãnh đạo, chỉ huy sáng suốt của Liên khu ủy và Bộ Tư lệnh Liên khu, quân và dân Phú Yên tự tin vào sức mình, quyết biến mỗi thôn xã thành trận địa tiêu diệt giặc, quyết không để lương thực, thực phẩm cho chúng cướp phá, làm cho giặc đi đến đâu cũng chỉ thấy vườn không, nhà trống.

Được trên cho biết, cuộc tiến công của địch ra Phú Yên không còn bao lâu nữa, nên mọi công tác chuẩn bị được tiến hành rất khẩn trương, chạy đua với thời gian. Công việc xây dựng làng chiến đấu được nhân dân dốc sức làm cả ngày lẫn đêm. Mọi người, già, trẻ, gái, trai đều tham gia công việc bố phòng, phá hoại một số cầu đường ở các tuyến xung yếu.

Đêm đến, các mẹ, các chị lo học tập, thảo luận phương pháp làm công tác ngụy vận để đấu tranh chông địch cướp bóc, khủng bố, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại do địch gây ra. Hệ thống thông tin liên lạc được củng cố thông suốt, bảo đảm chỉ đạo, chỉ huy từ trên xuống dưới.

Tỉnh ủy, Ủy ban kháng chiến hành chính và Tỉnh đội Phú Yên đặc biệt chú trọng công tác động viên nhân tài, vật lực. Hàng nghìn thanh niên khỏe mạnh đã xung phong gia nhập các đơn vị bộ đội địa phương tỉnh, huyện và các trung đội, đại đội du kích tập trung của các xã. Chính quyền các xã huy động nhân dân tích cực, khẩn trương cả ngày lẫn đêm tiếp tục phá hoại đường sá, cầu cống, nhất là trên quốc lộ 1, các tỉnh lộ số 5, số 7.
Khi địch tiến công, Binh công xưởng QB.470 được lệnh nhanh chóng di chuyển toàn bộ số gang còn lại của Nhà máy đường Đồng Bò về Triêm Đức. Ngày 16 tháng 2, toàn bộ QB.470 được lệnh chuyển lên Cây Vừng, Phú Vang. Dân công cùng với thuyền, ghe, ngựa thồ đưa máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu vào tập kết an toàn theo đúng kế hoạch. Bên cạnh lực lượng làm nhiệm vụ bố trí xưởng trạm nhanh chóng đi vào sản xuất, các đơn vị đều bố trí một tiểu đội công nhân phối hợp với dân quân du kích xã đặt hầm chông, gài mìn bảo vệ địa bàn đứng chân, sẵn sàng đánh địch.

Căn cứ vào tình hình và kế hoạch tác chiến của ta, Vụ Quân giới tổ chức xây dựng các cơ sở sản xuất, bảo đảm cho các đơn vị chiến đấu ở phía nam. Sau hai ngày hành quân, ngày 24 tháng 3, dưới sự chỉ đạo của các đồng chí Hà Nhật phụ trách chuyên môn và đồng chí Dương Sum phụ trách chính trị, 30 cán bộ, công nhân viên cùng một số máy móc thiết bị đã tập kết an toàn tại dốc Chùa, xã Hoà Mỹ, huyện Tuy Hoà.

Cùng với việc cấp phát vũ khí trang bị và di chuyển các cơ sở sản xuất về nơi an toàn và thuận tiện cho việc bảo đảm cho các đơn vị chiến đấu, các đội sửa chữa lưu động được thành lập. Các đội nhanh chóng phối hợp cùng các đơn vị trên các hướng, kiểm tra, sửa chữa vũ khí kỹ thuật cung cấp cho các đơn vị chiến đấu. Các lực lượng vũ trang Phú Yên với vũ khí được trang bị đã sử dụng một cách sáng tạo, hiệu quả, tiêu diệt nhiều sinh lực địch.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Năm, 2021, 08:20:43 pm
Trong quá trình chiến đấu, mặc dù bị địch đánh phá, các binh công xưởng vẫn tăng cường sản xuất vũ khí đạn tiếp tục bổ sung cho các đơn vị. Phát huy thế mạnh của thế trận chiến tranh nhân dân đã được chuẩn bị sẵn, Đảng bộ và chính quyền Phú Yên huy động được mọi tầng lớp nhân dân tham gia vận chuyển vũ khí phục vụ chiến đấu. Nhiều chị em phụ nữ, các cháu thiếu nhi đã vượt núi cao, suối sâu, vượt qua lửa đạn tiếp tế lương thực, thực phẩm, vũ khí đạn tới các trận địa cho bộ đội đánh giặc. Các tổ sửa chữa vũ khí cơ động tăng cường hoạt động làm nhiệm vụ sửa chữa tại chỗ những vũ khí hư hỏng nhanh chóng trả ngay về cho đơn vị sử dụng. Trước những khó khăn về nguồn vũ khí trang bị, lực lượng vũ trang Phú Yên thực hiện tốt phương châm “lấy vũ khí địch đánh địch”, nhiều cán bộ, chiến sĩ tích cực lấy súng đạn địch tự trang bị cho mình.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chiến trường Phú Yên là một địa bàn xa sự chi viện của Trung ương, trong khi đó lại là mục tiêu chiến lược trong những nỗ lực cuối cùng của thực dân Pháp. Cùng với sự trưởng thành của các lực lượng vũ trang, quân giới Phú Yên đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, nguy hiểm, đặc biệt là sự thiếu thốn về tài liệu, thiết bị và nguyên vật liệu đã vượt lên chính mình vừa học tập, nghiên cứu vừa sản xuất, sửa chữa vũ khí từng bước bảo đảm cho các chiến trường. Không những cung cấp vũ khí trang bị cho quân và dân trong tỉnh mà còn giúp đỡ quân dân Khánh Hoà, nam Tây Nguyên đánh địch.

Quán triệt tư tưởng và phương châm chỉ đạo “phải lấy vũ khí địch đánh địch, nhưng về cơ bản và lâu dài thì cần phải tự sản xuất”(1) với tinh thần “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, quân và dân Phú Yên đã kịp thời sản xuất, sửa chữa bảo đảm vũ khí cho các đơn vị chiến đấu, đáp ứng yêu cầu đánh địch từ những trận nhỏ, trận vừa đến các chiến dịch có quy mô tập trung. Nhiều loại vũ khí được sản xuất, sửa chữa cải tiến đưa vào sử dụng theo yêu cầu cụ thể của từng trận đánh, từng chiến trường phát huy được tính năng tác dụng, hiệu suất chiến đấu cao.

Chính những vũ khí do quân và dân Phú Yên chế tạo đã cơ bản đáp ứng được yêu cầu của chiến trường Phú Yên trong điều kiện trang bị của quân đội ta lúc bấy giờ. Với vũ khí được trang bị, lực lượng vũ trang Phú Yên đã chiến đấu với kẻ địch có trang bị mạnh, hoàn thành nhiệm vụ tiêu hao, tiêu diệt địch, góp phần đánh bại cuộc hành quân Átlăng của thực dân Pháp, góp phần xứng đáng vào thắng lợi của quân và dân trong tỉnh trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954.

Từ sau Hội nghị Tỉnh ủy ngày 11 tháng 1 năm 1954, Ủy ban kháng chiến hành chính các cấp huy động nhân dân gặt hái, cất giấu tài sản, lương thực, di chuyển kho tàng, chuẩn bị cho nhân dân một số nơi tản cư, lánh cư đến những địa điểm an toàn, sơ tán cất giấu trâu, bò..., thực hành vườn không nhà trống khi địch đến, chuẩn bị kế hoạch dân công phục vụ chiến trường Tây Nguyên,... Lúc này, các kho lương thực của tỉnh có 2.500 tấn lúa, 200 tấn gạo, hàng hóa của các kho mậu dịch quốc doanh trị giá hàng trăm triệu đồng, đều phải huy động sức dân để khẩn trương di chuyển, cất giấu.

Trong những ngày đầu khi địch đánh ra Phú Yên, trước sức tiến công ồ ạt của chúng có phi pháo yểm trợ, bộ đội địa phương, quân và dân ta còn khá lúng túng. Việc tản cư, sơ tán nhân dân còn lộn xộn, tổ chức Đảng cơ sở xáo trộn, một số cán bộ, đảng viên, chiến sĩ dao động. Do chủ quan, một số người chưa đánh giá hết âm mưu địch đánh ra và chiếm đóng lâu dài cả tỉnh mà còn cho rằng địch chỉ càn quét, chiếm đóng ngắn ngày hoặc chỉ đánh chiếm phía nam, nên kế hoạch đối phó bị động, chỉ tập trung chuyển kho tàng từ phía nam ra phía bắc sông Đà Rằng, như kiểu đầu năm 1947. Nhưng sau đó, lãnh đạo Đảng các cấp đã nhanh chóng uốn nắn tư tưởng, chỉ đạo bộ đội địa phương, dân quân du kích và nhân dân tăng cường công tác bố phòng, bám đánh địch. Các huyện phía bắc tỉnh rút kinh nghiệm chuẩn bị đánh dịch, bảo vệ dân tốt hơn.
Ngày 31 tháng 1 năm 1954, Thường vụ Tỉnh ủy Phú Yên họp, quyết định tăng cường giáo dục cho nhân dân về âm mưu chiếm đóng của địch, khẩn trương tổ chức và phát triển lực lượng, tăng cường trang bị, củng cố các làng chiến đấu, đẩy mạnh công tác tuyên truyền binh địch vận, phá kế hoạch xây dựng ngụy quân, ngụy quyền của địch, chú ý trước tiên là Tuy Hòa và Sơn Hòa. Tỉnh ủy quyết định tản cư triệt để những người buôn bán ở thị xã Tuy Hòa. Các nơi khác thì đặt vấn đề lánh cư kết hợp với bố phòng và làm ăn. Ở các xã địch chưa đến, phát động nhân dân đẩy mạnh bố phòng, đào đắp công sự, phát triển hầm chông, cạm bẫy. Về kinh tế, chú ý cất giấu, phân tán tài sản, lương thực, động viên nhân dân đóng thuế nông nghiệp để nuôi quân.

Tỉnh ủy cũng quyết định sơ tán, phân tán các cơ quan Dân, Chính, Đảng của tỉnh về vùng căn cứ địa ở phía bắc tỉnh. Một số cán bộ già yếu được gửi ra tạm trú ở cơ quan liên khu đóng ở tỉnh Quảng Ngãi. Còn lại, bộ phận nặng đứng ở phía bắc, bộ phận nhẹ ở phía nam. Tỉnh ủy còn thành lập Ban chỉ đạo phía nam tỉnh và tăng cường củng cố giao thông liên lạc.

Quân và dân Phú Yên vừa chiến đấu, vừa giữ vững sản xuất, ổn định đời sống. Vụ lúa tháng chạp 26.000ha được thu hoạch, cất giấu chu đáo. Địch chỉ cướp và phá 790 tấn lúa, 90 tấn gạo trong kho, cướp 2.088 con bò và 90 con ngựa. Vụ tháng 3, nông dân đã sản xuất bằng diện tích vụ tháng 3 năm trước (năm 1953) đạt 6.000ha, lúa đen 1.500ha, trồng 2.500ha bông vải (bằng 2/3 năm 1953), giữ vững sản xuất muối. Nông dân tích cực đóng thuế nông nghiệp, tổ chức xay, giã gạo, đi dân công phục vụ chiến trường Tây Nguyên. Đầu năm 1954, thuế nông nghiệp năm 1953 thu được 5.600 tấn lúa và đầu năm 1954 thu được 1.300 tấn, thuế công thương nghiệp 3 tháng đầu năm 1954 thu được 31 triệu đồng.
Trừ các cụm địch đóng quân, còn các vùng khác trong tỉnh, tình hình kinh tế - xã hội ổn định, các phiên chợ vẫn họp, các luồng mậu dịch vẫn được lưu thông, giá cả ổn định, đường bưu điện trong tỉnh và liên tỉnh hoạt động bình thường.

Thế trận của quân và dân Phú Yên đã được bày sẵn. Đó là thế trận chiến tranh nhân dân, một thế trận thực sự do toàn dân Phú Yên tham gia.


(1) Nguyễn Chánh con người và sự nghiệp, Nxb Quân đội nhân dân, H, 1997, tr. 15.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Năm, 2021, 08:24:45 pm
II. CHIẾN ĐẤU ĐÁNH BẠI BƯỚC 1
CUỘC HÀNH QUÂN ÁTLĂNG TRÊN CHIẾN TRƯỜNG PHÚ YÊN

Ngày 20 tháng 1 năm 1954, được sự yểm trợ không quân, hải quân, pháo binh và cơ giới dưới sự chỉ huy của tướng Đờ Bôpho - Tư lệnh Quân khu Tây Nguyên, quân địch chia làm 2 cánh bắt đầu tấn công ra Phú Yên.

Tướng Đờ Bôpho, chỉ huy cuộc hành quân Átlăng chủ quan, tin chắc vào thắng lợi. Chúng sắp sẵn bộ máy cai trị ngụy quyền để lắp vào những vùng khi chúng đánh chiếm được. Nhưng quân và dân Phú Yên dựa vào làng chiến đấu và thế trận chiến tranh nhân dân được chuẩn bị sẵn chủ động đánh địch từ đầu, kiên quyết bảo vệ vững chắc vùng tự do.

Hướng thị xã, cánh quân đổ bộ lên bãi biển Phú Câu (nay là phường 6 và phường 7) gồm 2 tiểu đoàn lính Âu - Phi của GM100, vừa vào đến đất liền đã bị các loại hoả lực trung liên của Đại đội 377 và tiểu liên, súng trường bắn tỉa của bộ đội địa phương, du kích phục kích sẵn nhả đạn liên tục gây cho chúng nhiều thương vong.

Bị đánh bất ngờ, địch hoảng hốt vừa bắn bừa bãi vừa chạy tán loạn vướng phải chông mìn, đạp lôi do quân và dân ta gài sẵn bị thương vong thêm một số. Lực lượng du kích tập trung của thị xã cùng Đại đội 377 bộ đội địa phương dựa vào địa hình, địa vật, chướng ngại vật đã bố trí từ trước bình tĩnh đánh địch, gây cho địch nhiều tổn thất, buộc chúng phải vừa dò đường vừa tổ chức phản công, tiến quân một cách e dè, chậm chạp. Phải mất gần 1 ngày, địch mới tiến quân được khoảng 2km vào đến nội thị và hợp nhất với cánh quân nhảy dù xuống sân bay Chóp Chài.

Phía tây thị xã, cánh quân địch nhảy dù xuống sân bay Chóp Chài có khoảng 2 tiểu đoàn hoàn toàn nằm ngoài dự kiến của ta. Trong kế hoạch của Ban chỉ huy Tỉnh đội không lường trước địch sẽ nhảy dù xuống sân bay Chóp Chài (do sân bay bỏ hoang nhiều năm), nên không bố trí trận địa cọc rào tre chống nhảy dù như ở những nơi khác và không có kế hoạch sử dụng lực lượng chặn đánh. Chính vì vậy, ngoài một số lính dù của địch bị thương vì vướng phải gai bàn chải và gai mắt mèo còn lại nhìn chung là thuận lợi, nên tốc độ hành quân của chúng khá nhanh. Trên đường tiến quân từ Chóp Chài vào trung tâm thị xã để hợp nhất với cánh quân từ biển đổ bộ lên, địch bị Đại đội 377 cùng du kích thị xã kết hợp với bom mìn và hầm chông, phục kích chặn đánh gây một số thương vong. Tuy nhiên, do không tiên liệu được kế hoạch cho quân nhảy dù xuống Chóp Chài của địch nên ta bị động và phải ra lệnh rút Đại đội 377 về lại Phú Lâm để tránh hai gọng kìm của địch từ biển đánh lên, từ sân bay đánh xuống nhằm bảo toàn lực lượng chiến đấu lâu dài.

Sau khi hợp nhất lực lượng, địch cho quân đồn trú tạm trong thị xã: lính dù đóng ở sân bay Chóp Chài, lính Âu - Phi của GM100 đóng dọc đường Trần Hưng Đạo, khu vực hầm Ông Cồ (Nhà văn hóa và Trung tâm triển lãm Diên Hồng ngày nay), núi Nhạn... Sở chỉ huy lệnh cho các đơn vị bộ đội và du kích tiếp tục bám đánh địch, cản bước tiến của chúng.

Hướng nam, khoảng 11 giờ ngày 20 tháng 1 năm 1954, cánh quân địch (GM10) có xe bọc thép dẫn đầu đã tiến ra đến đèo Cả(1). Đại đội 392 do đồng chí Võ Văn Khả chỉ huy phối hợp với du kích các xã Hòa Xuân, Hòa Hiệp, Hòa Vinh ngoan cường bám đánh địch. Tại các mỏm đồi trên đèo cả đoạn từ đá Trãi (phía bắc cua đá Đen) trở ra, bộ đội địa phương phối hợp với dân quân du kích các xã tổ chức đánh chặn giao thông, buộc đoàn xe địch phải dừng cuộc hành quân trước những hố sâu đào sẵn. Khi công binh địch xuống khắc phục cầu cống, đường sá bị dính mìn của ta gài, khiến địch hết sức hoang mang, lo sợ.

Ngày 22 tháng 1 năm 1954, tại ngã ba Chợ Xô, một trung đội Âu - Phi đi lùng sục lọt vào ổ phục kích (ác chiến điểm) của ta. Khi toàn bộ đội hình địch lọt gọn vào trận địa phục kích, 2 khẩu trung liên của Đại đội 392 liên tục nhả đạn vào đội hình địch ở cự ly gần. Bị đánh bất ngờ, nhiều tên chết ngay tại chỗ, một số chạy dạt ra tứ phía tìm các chướng ngại vật để tổ chức chống trả. Trận địa phục kích của ta được bố trí chuẩn bị thành ác chiến điểm từ trước nên tất cả các chướng ngại vật như: nhà cửa, gốc cây, hầm hố... đều được gài mìn đạp lôi, mìn muỗi kết hợp với các hầm chông. Một số tên bị dính mìn, đạp lôi, vướng mìn muỗi, số còn lại hoang mang chạy thục mạng lại sụp hầm chông bị thương vong cả trung đội. Những tên lính Âu - Phi bị chông xuyên cả bàn chân không thể rút ra được, la hét ầm ĩ càng làm hoang mang tinh thần của đồng bọn. Địch phải gọi hai lượt trực thăng đáp xuống đầu cầu Bàn Thạch chở nhiều tên dính chông (cả người và bàn chông) về Nha Trang.


(1) Lực lượng vũ trang Khánh Hòa chủ yếu đánh phá các cơ sở hậu cần của địch: đánh cháy một kho xăng lớn của địch tại Phước Hải, tiến công vào căn cứ tiếp vận tiền phương của địch ở thị trấn Ninh Hòa, diệt hơn 100 tên địch, phá hủy 10 kho vũ khí và phương tiện chiến tranh, đốt cháy một kho xăng hàng trăm nghìn lít chuẩn bị cho chiến dịch Átlăng, không tham gia đánh giao thông ngăn chặn GM10 tấn công ra Tuy Hòa được như kế hoạch của Hội nghị liên tỉnh (Phú Yên, Đắc Lắc, Khánh Hòa).


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Năm, 2021, 08:26:32 pm
Trước hoạt động quân sự của ta ngày càng mạnh cùng với hệ thống đường giao thông bị phá hoại nặng nề nên phải mất một tuần các cánh quân địch mới tập kết được tại thị xã Tuy Hoà. Trong 10 ngày đầu cánh quân địch tiến đánh Phú Yên từ phía nam bị các đại đội 377, 392, 389, 378 và 380 cùng với lực lượng du kích chủ động tiến công tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, diệt và làm bị thương hàng trăm tên, bảo vệ được tính mạng, tài sản của Nhà nước và nhân dân. Dựa vào núi Vũng Tàu, bãi Xép, đồng chí Dậu - Bí thư xã Hòa Hiệp trực tiếp chỉ huy một tiểu đội du kích, chiến đấu diệt gần một trung đội địch. Trong một trận phục kích tại đường Vòi, du kích Hòa Hiệp dùng mìn phá hủy hai xe quân sự. Trung đội 17 Đại đội 377 do đồng chí Nguyễn Phúc Ánh chỉ huy đánh địch liên tục ở Thạch Tuân, Phước Lộc, Mỹ Lệ, Phú Thứ. Nhiều ngày không liên lạc được với đại đội, nhưng trung đội vẫn kiên cường bám trụ địa bàn. Anh em đào hầm bí mật để khi địch quá đông thì tạm lánh xuống hầm rồi bất thần lao lên tập kích từ phía sau lưng, diệt hàng chục tên. Riêng trận đánh tại cầu sắt Phú Lễ, đồng chí Hà Cậy, Trung đội phó dùng tiểu liên bắn vào đội hình địch đang qua cầu, diệt và làm bị thương 13 tên.

Tuy nhiên do thế của địch mạnh, lực lượng ta chỉ có thể ngăn chặn làm chậm bước tiến của địch, không đủ sức để tung những đòn quyết định. Sau một tuần lễ tiến đánh Phú Yên, các cánh quân địch đã hợp nhất được với nhau tại thị xã Tuy Hòa. Địch thiết lập một số đồn bốt, xây dựng một số cứ điểm ở các khu vực trọng yếu vừa chiếm được như: Bàn Nham - Bàn Thạch (Hoà Xuân), Hoà Hiệp, Phú Lâm, núi Sầm, Chóp Chài, Màng Màng, núi Hùng,... để khống chế lực lượng ta.

Bộ đội địa phương và dân quân du kích liên tục bao vây uy hiếp, bắn tỉa kết hợp với hầm chông, cạm bẫy, mìn ngăn chặn các cuộc hành quân càn quét của địch. Địch ít, du kích dùng súng bắn tỉa. Địch dồn lại đông, du kích giật bom mìn. Mỗi quả mìn nổ làm hàng chục tên giặc chết và bị thương. Chúng hoảng hốt chạy ra xung quanh ẩn nấp lại bị sập hầm chông, vướng lựu đạn, mìn. Tiêu biểu nhất cho hoạt động của bộ đội địa phương và dân quân du kích sau khi địch chiếm đóng Phú Yên là trận đánh của Đại đội 392 (chủ lực tỉnh) cùng du kích Hòa Hiệp kết hợp với nội ứng tiêu diệt đồn Thạnh Lâm (Hòa Hiệp) diệt và bắt sống toàn bộ trung đội địch, thu toàn bộ vũ khí (trong đó có 2 trung liên).

Tại Củng Sơn, ngày 25 tháng 1 năm 1954, cánh quân địch từ Đắc Lắc tiến xuống Củng Sơn, bị Đại đội 380 và du kích thị trấn Củng Sơn bố trí các ác chiến điểm tập trung bom mìn và hầm chông kết hợp với súng trường, trung liên đánh địch liên tục gây cho chúng nhiều thương vong, kìm hãm được tốc độ tiến quân và các hoạt động lùng sục, càn quét vào các thôn xóm của địch, hạn chế tối đa thiệt hại về tính mạng và tài sản của nhân dân. Khi chúng vượt sông Ba tiến công sang phía tây Tuy Hòa 1 lại bị Đại đội 378 và Đại đội 389 cùng với du kích các xã Tuy Hòa 1 chặn đánh, diệt và làm bị thương gần 50 tên, buộc chúng phải tiến quân rất chậm, mất mấy ngày mới đến Phú Thứ (Hòa Bình).

Trước tinh thần chiến đấu quyết liệt của quân và dân ta, mặc dù lực lượng đông, trang bị vũ khí hiện đại nhưng địch vẫn không thể tiến hành đánh nhanh, thắng nhanh như kế hoạch đề ra. Để khích lệ, cổ vũ tinh thần binh sĩ đang hoang mang lo sợ, tướng Nguyễn Văn Hinh - Tham mưu trưởng quân ngụy Bảo Đại cho thả tờ rơi ở nam Tuy Hòa thanh minh: Tốc độ tiến quân bị chậm không đạt được kế hoạch thời gian như đã hoạch định vì gặp nhiều trở ngại (tránh không nói bị chặn đánh).

Qua mười ngày chiến đấu chống lại cuộc tiến công ồ ạt của giặc Pháp, quân và dân Phú Yên đã diệt, làm bị thương gần 800 tên địch. Nhờ có mạng lưới bố phòng rộng khắp trong thế trận chiến tranh nhân dân đã được chuẩn bị sẵn nên quân và dân Phú Yên đã hạn chế được địch đi lùng sục, đánh phá vào các thôn xóm, làng mạc hai bên đường giao thông. Nhiều vùng ở Hòa Xuân, Hòa Vinh chỉ cách đường số 1 vài trăm mét, nhưng địch cũng không dám đến vì sợ sập hầm chông, vướng mìn.

Ngày 31 tháng 1, Thường vụ Tỉnh ủy họp kiểm điểm tình hình và kịp thời quyết định một số chủ trương. Hội nghị nhận định: 10 ngày qua các lực lượng vũ trang tỉnh đã chiến đấu rất dũng cảm, tiêu hao, tiêu diệt được khá nhiều địch, thực hiện được nhiệm vụ kìm chân, không cho chúng nhanh chóng mở rộng phạm vi kiểm soát, hạn chế được thiệt hại do địch gây ra. Nhưng do chưa đánh giá đúng âm mưu địch nên lãnh đạo còn chủ quan, công tác chuẩn bị chưa được chu đáo. Một số kho tàng mới chuyển qua bắc sông Đà Rằng. Việc tổ chức đưa dân tản cư, cất giấu tài sản còn nhiều lúng túng. Một số địa phương còn để địch cướp phá nhiều tài sản của nhân dân.

Hội nghị đề ra một số nhiệm vụ cấp bách, trong đó tập trung giáo dục cho nhân dân về âm mưu chiếm đóng của địch; nhận rõ các khó khăn tạm thời và thuận lợi cơ bản của ta, mặt mạnh tạm thời và mặt yếu cơ bản của địch. Những nơi địch đã chiếm đóng như Sơn Hòa, Tuy Hòa vận động nhân dân thị xã triệt để tản cư, kết hợp với bố phòng, tiếp tục sản xuất, chiến đấu. Đối với bọn phản động nguy hiểm phải tập trung giam giữ. Ở các xã địch chưa đánh đến, phải đẩy mạnh hơn nữa phong trào toàn dân làm công tác bố phòng, phát triển hầm chông, cạm bẫy, triệt để cất giấu, phân tán lương thực, tài sản. Động viên nhân dân đóng góp thuế nông nghiệp. Chuyển cơ quan của tỉnh ra phía bắc, tổ chức một bộ phận nhẹ ở phía nam, hình thành Ban chỉ đạo phía nam tỉnh, củng cố hệ thống thông tin liên lạc.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Năm, 2021, 06:42:30 pm
Rút kinh nghiệm ở Tuy Hòa, nhân dân các huyện phía bắc triệt để cất giấu, phân tán lương thực, tài sản. Công tác huy động lương thực, thuế nông nghiệp được nhân dân hăng hái đóng góp và kịp thời vận chuyển ngay lên các kho ở vùng núi tây bắc Đồng Xuân.

Đánh giá rất cao thành tích của quân và dân Liên khu 5, trong đó có quân dân Phú Yên, ngày 2 tháng 2 năm 1954 Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi điện: “Khen ngợi các cán bộ, chiến sĩ ở Tuy Hoà và vùng địch hậu Liên khu 5 đã tích cực hoạt động, tiêu hao và tiêu diệt nhiều sinh lực địch, bảo vệ tính mạng và tài sản nhân dân”(1). Thư của Đại tướng là niềm động viên lớn lao đối với quân và dân Phú Yên.

Sau khi chiếm được một số khu vực ở huyện Tuy Hòa 1, thị xã Tuy Hòa, Củng Sơn và thiết lập được các hệ thống đồn bốt, ngày 16 tháng 2 năm 1954, địch chia làm hai cánh tiến công ra các huyện phía bắc Phú Yên.

Các binh đoàn 41, 42 tiến theo đường Vân Hoà xuống Xuân Phước, Xuân Quang đến La Hai (ngày 21-2-1954) đánh chiếm các thị trấn thị tứ trên đường số 6.

Binh đoàn số 10 tiến theo quốc lộ 1 đánh chiếm các thị trấn, thị tứ trên quốc lộ 1 ra đến Chí Thạnh (ngày 20-2-1954). Đến ngày 24 tháng 2 năm 1954, hai cánh quân này gặp nhau tại La Hai.

Lực lượng địch ở phía nam Phú Yên lúc này còn 10 tiểu đoàn, trong đó bố trí tại Tuy Hòa 6 tiểu đoàn, 4 tiểu đoàn giữ phía tây Phú Yên(2).

Theo kế hoạch tác chiến của Ban chỉ huy Tỉnh đội, Đại đội 371 chặn đánh đường tiến quân của địch từ Xuân Phước xuống La Hai. Các đại đội 389, 374 cùng du kích An Chấn, An Mỹ, An Cư liên tục đánh địch trên quốc lộ 1. Từ thị xã Tuy Hoà ra đến Chí Thạnh chúng phải hành quân mất 4 ngày, bị ta chặn đánh, tiêu diệt và bị thương hàng trăm tên.

Cả hai cánh quân địch đều bị các đại đội 374 và 371 cùng với du kích các xã phía bắc tỉnh chặn đánh quyết liệt tại các khu vực có địa hình hiểm trở như: đèo Quán Cau (An Hiệp), đèo Thị (Chí Thạnh), đèo Cây Cưa, đèo Tam Giang và đèo Cù Mông ở huyện Sông Cầu gây cho địch nhiều thiệt hại nặng nề, hàng trăm tên chết và bị thương, phần lớn do mìn đạp lôi và hầm chông của quân ta bố trí phục kích sẵn, nên chúng lo sợ không dám tiến sâu vào thôn xóm, không dám mở rộng chiếm đóng. Trên đoạn đường từ Tuy Hòa ra Chí Thạnh, Sông Cầu nhân dân ta đã phá sập các cầu, cống, lập các ổ chiến đấu, gài bom, mìn nên địch phải rà phá mìn, sửa đường, tiến quân rất chậm. Một tiểu đoàn địch có phi pháo chi viện nhưng không sao tới được xã An Ninh, vì hàng chục tên bị sập hầm chông, vướng mìn và hàng chục tên ngã gục trước những viên đạn bắn tỉa của du kích An Ninh. Chỉ một đoạn đường 30km từ thị xã Tuy Hòa ra Chí Thạnh, địch phải đi mất bốn ngày và bị loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên.

Đến ngày 21 tháng 2 năm 1954, địch đã chiếm được những vị trí trọng yếu: thị xã Tuy Hoà, ngã ba Chí Thạnh, Sông Cầu, La Hai trên trục đường 1 và đường 6. Chúng bố trí một số đồn ở núi Hùng (An Chấn), núi Một (Hòa Đa), đèo Quán Cau (An Hiệp), Gò Điều (thôn Quán Cau), Chí Thạnh, Ngân Sơn, Triều Sơn (Xuân Thọ), thị trấn Sông Cầu, Gò Dúi (Xuân Lộc), Phong Niên (An Định), thị trấn La Hai và Phước Lãnh (Đồng Xuân).

Qua 2 tháng sau khi địch đánh ra Phú Yên, chúng chỉ chiếm đóng ở một số cứ điểm, tuy đã càn quét, lùng sục hầu khắp các vùng trong tỉnh, nhưng vẫn chưa bình định được vùng nào, trái lại chiến tranh du kích ở Phú Yên ngày càng phát triển mạnh.

Những thắng lợi to lớn, dồn dập ở Điện Biên Phủ, Tây Nguyên, Trung Hạ Lào đã làm cho kế hoạch tập trung quân cơ động của địch cho chiến dịch Átlăng không thể thực hiện được, trái lại quân cơ động của địch càng bị phân tán. Lực lượng ta càng đánh càng thắng lớn. Lính địch càng hoang mang, dao động. Hàng trăm lính địch tự động bỏ ngũ kéo về Khánh Hòa.

Nhân dân Phú Yên vừa chiến đấu, vừa ra sức phục vụ tiền tuyến. Công nhân trong các cơ sở sản xuất, xí nghiệp ngoài việc sản xuất còn tham gia đi dân công gánh gạo, mắm, muối theo chân bộ đội chủ lực lên chiến trường Tây Nguyên. Cán bộ, nhân viên dân y phân công người đi theo chăm sóc sức khoẻ dân công. Cán bộ, nhân viên quân y lo chăm sóc, điều trị thương binh, đưa thương binh về tuyến sau. Công nhân ngành quân giới tích cực sản xuất vũ khí cho chiến trường. Các đoàn dân công tiếp vận ra tiền tuyến có lúc lên đến 3-4 nghìn người, 5-6 trăm ngựa chở hàng luồn qua vùng địch đóng quân, nối tiếp nhau lên hành lang Tây Nam (Sơn Hoà) và hành lang Tây Bắc (Cây Vừng) để vào Tây Nguyên. Tại các xí nghiệp như cơ sở sản xuất giấy Việt Thắng, Việt Chấn, Nam Trung, Liên hiệp Công đoàn tỉnh chỉ đạo thành lập các ủy ban quản lý xí nghiệp để thực hiện kế hoạch sản xuất, chiến đấu. Phục vụ chiến trường Nam Trung Bộ và Đắc Lắc, trong chiến dịch Hè 1953 Phú Yên đã huy động 12.000 lượt công nhân, dân công, với hàng triệu ngày công sử dụng 55 ghe thuyền, 71 xe bò, 600 ngựa chở vũ khí, lương thực cho chiến trường. Riêng trong tháng 4 năm 1954 Phú Yên đã huy động 1.752 người và 551 ngựa thồ.


(1) Đại tướng Võ Nguyên Giáp với chiến dịch Điện Biên Phủ, Nxb Quân đội nhân dân, H, 2004, tr. 535.
(2) Công tác đảng, công tác chính trị lực lượng vũ trang Quân khu 5 (1945-2000), tập 1, Sđđ, tr. 485.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Năm, 2021, 06:43:37 pm
Phụ nữ, nữ thanh niên có phong trào chăm sóc người thân đi chiến đấu, đi dân công, chăm sóc gia đình thương binh, liệt sĩ, phong trào “Mùa đông binh sĩ”, lạc quyên tiền, vải may áo cho chiến sĩ; phong trào “nhận con” - vận động mỗi gia đình nhận 2-3 chiến sĩ do các đơn vị giới thiệu làm con nuôi, mỗi xã nhận 20-30 chiến sĩ làm con nuôi; nhận con em vùng tạm chiếm làm con nuôi. Nhân dân các xã của Tuy An, Đồng Xuân đã nhận nuôi hơn 200 thiếu niên vùng tạm chiếm Khánh Hoà, lo học tập lên đến cấp II, sau đó số này về lại Khánh Hoà chiến đấu. Nhiều nữ thanh niên hưởng ứng phong trào nữ thanh niên xung phong lấy thương binh làm chồng,...

Các cụ bạch đầu quân đan hàng vạn giỏ tre để gánh gạo đi chiến trường, vót hàng triệu cây chông tre để cắm ở các bãi bố phòng chống địch nhảy dù, chông càn quét. Các cụ nhắc nhỏ con cháu việc canh phòng - nhất là quan sát để kịp kéo “bồ tín hiệu” khi có giặc đến. Các cụ cũng tham gia canh phòng cùng con cháu trong làng, trong những dịp nông dân, thanh niên đi dân công chiến trường, ở làng chỉ còn người già, phụ nữ, trẻ em,...

Cả ngày lẫn đêm, nông dân, thanh niên, kể cả người già tham gia đào giao thông hào, làm hầm trú ẩn, làm hầm chông, xây dựng làng chiến đấu, bố phòng chống địch. Các hào giao thông ngầm đào dưới chân các luỹ tre làng để phòng tránh máy bay địch ném bom, oanh tạc, tránh địch khi chúng càn vào làng. Nhiều lũy tre làng dọc theo đường đi được dân làng đốn ngã hàng loạt làm chướng ngại vật cản địch càn. Công sức, tài sản nhân dân bỏ ra không kể xiết.

Sau khi địch thất thủ Điện Biên Phủ, binh lính ngụy còn ở Phú Yên càng hoang mang dao động, khi ra đường nghe ta nổ súng là bỏ chạy. Ta đẩy mạnh công tác địch vận.

Các cụ bạch đầu quân, các mẹ, các chị thường hát ca các câu hò, vè tại những vùng gần đồn địch, như:

Đó đây giặc Pháp thua to
Pháp thua về nước anh lo đường nào
Đường về Tổ quốc đồng bào
Là đường vinh dự lẽ nào anh quên


Hoặc:

Anh theo giặc Pháp đốt làng
Gây bao máu thắm nhuộm tràn đồng quê
Hãy mau mang súng trở về
Vợ con anh đợi, bạn bè chờ mong.


Với tác động của công tác binh địch vận, nhiều lính ngụy mang súng quay về với nhân dân, với chính quyền kháng chiến, hoặc trốn về với gia đình, ở Hoà Kiến, ngày 4 tháng 6 năm 1954, Đội công tác địch vận của các ông Lê Hân, Hồ Mạch, Nguyễn Ưng đã liên lạc bằng thư với Lê Dần - phụ trách một trung đội ngụy quân. Lê Dần đã đưa cả trung đội 22 người mang theo cả vũ khí về với kháng chiến. Chị Phan Thị Ỷ ở Liên Trì tuyên truyền lôi kéo 3 binh lính địch ở Cổ Rùa bỏ ngũ về với nhân dân.

Trong thời điểm địch tiến hành cuộc hành quân Átlăng ở Phú Yên, các lực lượng quần chúng đã vận động được 292 lính ngụy bỏ ngũ màng theo 250 súng về với nhân dân.

Cuối tháng 3 năm 1954, Tỉnh ủy và Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh mở Đại hội liên hoan mừng công toàn tỉnh tại Kỳ Lộ (xã Xuân Quang) có trên 400 đại biểu về dự. Đại hội hạ quyết tâm phát huy thắng lợi, đẩy mạnh khí thế thi đua giết giặc lập công, nỗ lực phục vụ tiền tuyến, quyết tâm đánh bại chiến dịch Átlăng, bảo vệ hoàn toàn phần đất tỉnh nhà, không để địch chiếm đóng. Sau Đại hội mừng công, lực lượng ta nhanh chóng tiến sâu vào phía nam tỉnh, chuẩn bị những trận đánh mới.

Đêm 21 tháng 4 năm 1954, Tiểu đoàn 365 tăng cường một đại đội của Tiểu đoàn 375, được dân quân du kích các xã và hơn 1.400 dân công xã Hòa Tân dùng ghe thuyền, bí mật đưa bộ đội sang phía nam sông Bàn Thạch. Bộ đội ta đã tiêu diệt gọn 1 tiểu đoàn ngụy tại Bàn Nham và Bàn Thạch (xã Hòa Xuân). Sau đó, dân công lại dùng sức người và ghe thuyền vận chuyển thương binh và chiến lợi phẩm về vùng căn cứ.
Chiều ngày 1 tháng 6 năm 1954, Trung đoàn 803 tiến công cứ điểm Tuy Bình. Lợi dụng mây mù, máy bay trinh sát của địch không hoạt động được, công binh Trung đoàn 803 cùng hơn 1.000 dân công huyện Sơn Hòa, nhiều nhất là của xã Suối Trai dùng ghe, sõng ghép nối làm cầu phao từ bến Suối Trai qua sông Ba, dài khoảng 200m trước lúc trời tối để cho bộ đội sang sông. Kết thúc trận đánh bộ đội địa phương và dân công huyện Sơn Hòa đã dùng phà chiến lợi phẩm bắc cầu từ bến Tuy Bình qua sông Ba, sang địa phận phía bắc để chuyển chiến lợi phẩm về vùng căn cứ của tỉnh trong hai đêm liền.

Chuẩn bị mở cuộc hành quân Átlăng, thực dân Pháp liên tiếp tung các toán gián điệp, biệt kích vào vùng tự do Liên khu 5 để điều tra thu thập tin tức, phát hiện cơ quan chỉ đạo, công binh xưởng, kho tàng, hành lang vận tải đi các chiến trường, nơi trú quân của bộ đội chủ lực để chỉ điểm cho máy bay oanh tạc, chuẩn bị dọn đường cho bộ binh tấn công. Thực dân Pháp còn đặc biệt chú ý đến hoạt động chiêu hàng, chiến tranh tâm lý, nhằm gây chia rẽ khối đoàn kết kháng chiến của ta.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Năm, 2021, 06:44:36 pm
Chủ động đối phó với các âm mưu và hành động của địch, nhiệm vụ của Công an Phú Yên lúc này là: “Chủ động đánh địch bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân, của cách mạng, không cho địch lập tổ chức tề ngụy, quét sạch bọn tay chân, bọn lưu manh, côn đồ, làm trong sạch địa bàn, bảo vệ cán bộ, bảo vệ cơ quan, kho tàng, vùng căn cứ cách mạng”. Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh đã giao cho ngành công an khảo sát, huy động nhân lực và bảo vệ cho các địa điểm dân công, cán bộ, bộ đội, phá hoại đường giao thông, cầu cống, trục quốc lộ 1 và liên tỉnh lộ 5, tỉnh lộ 6, tỉnh lộ 7 một cách tích cực; bảo đảm an toàn, trật tự tuyệt đối khu vực tiêu thổ kháng chiến ở thị xã và hướng dẫn nhân dân thị xã tản cư, lánh cư về nông thôn an toàn, sớm ổn định chỗ ăn, chỗ ở cho dân, bảo vệ tài sản không thất thoát; khảo sát địa điểm và cùng với chính quyển hướng dẫn nhân dân, đơn vị di dời tài sản, trâu, bò, chuẩn bị thực hiện “vườn không nhà trống” khi địch đến, chuẩn bị kế hoạch phục vụ cho chiến trường Tây Nguyên về nơi tập kết dân công của mỗi trạm. Chọn địa điểm hướng dẫn, bảo vệ hành lang, di dời 2.500 tấn lúa và 200 tấn gạo, hàng triệu hàng hoá các kho mậu dịch từ Tuy Hoà 1 sang khu vực núi Tuy Hoà 2 (Suối Muồng, Suối Cái, phía đông Vân Hoà) để cất giấu vừa bí mật vừa an toàn; Cùng với Văn phòng Tỉnh ủy, Văn phòng Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh khảo sát, dự kiến chuẩn bị cho cơ quan Tỉnh ủy, Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh, các bộ phận phía sau của tỉnh ở phía bắc Đồng Xuân như đồng Xe, suối Cối, Kỳ Lộ, Đồng Hội (Xuân Quang), Đá Mài; bộ phận chỉ đạo gọn nhẹ của tỉnh vẫn đặt phía nam Tuy Hoà 2 như Tây Hoà Kiến, Hoà Quang, Hoà Định; Chuẩn bị di dời bệnh viện dân y, quân y, quân giới lên hướng Ma Choi, Thồ Lồ, Đá Mài; di dời trại giam, trại cải tạo An Xuân về phía Phước Tân, Đá Mài và có địa điểm dự bị ở Thồ Lồ. Đặc biệt số phạm nhân quan trọng giao cho một bộ phận tổ chức giam giữ riêng thật cẩn mật, đề phòng địch giải thoát.

Ngành công an đã triển khai các hoạt động theo nhiệm vụ được giao. Kiện toàn tổ chức bộ máy, huấn luyện, phân công cán bộ nhằm tăng cường cho cơ sở huyện, xã và đồn kiểm soát, tăng lực lượng nghiệp vụ cho cơ sở, sắp xếp gọn bộ máy công an cấp tỉnh: phân hai bộ phận trực tiếp chỉ đạo và theo cơ quan bảo vệ an toàn phương tiện làm việc, hồ sơ, giấy tờ, giữ vững liên lạc với công an Khu 5, Tỉnh ủy, Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh, bảo vệ hai cơ quan Tỉnh ủy và Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh.

Sau khi cán bộ lãnh đạo công an tỉnh được quán triệt quan điểm, đường lối chính sách của Đảng và chỉnh huấn cho nội bộ ngành công an, tập huấn nghiệp vụ, chọn và phân công một số cán bộ các phòng ban, tăng cường cho công an huyện và các đồn công an để cử người tăng cường cho công an xã trọng điểm, địch có thể đánh chiếm trước. Số cán bộ còn lại cơ quan phân làm hai bộ phận. Bộ phận bám địch, bám dân để chỉ đạo đánh địch do đồng chí Trưởng ty Công an Nguyễn Thế Vịnh và đồng chí Trưởng ban Bảo vệ chính trị Nguyễn Nhưng trực tiếp chỉ đạo. Bộ phận di chuyển cơ quan, tài liệu đến căn cứ bắc Đồng Xuân để bảo vệ tài sản, bảo vệ tài liệu và giữ liên lạc với cấp trên, cấp dưới, quan hệ với cơ quan Tỉnh ủy, Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh do các đồng chí Trưởng ban Tư pháp và Trưởng Văn phòng công an phụ trách.

Đối với công an huyện, công an xã, đồn công an cũng được phân làm hai bộ phận. Bộ phận bám dịch, bám dân: khi địch chưa đánh đến thì tổ chức nắm địch, tuyên truyền, phát động quần chúng nhân dân, tham gia xây dựng làng chiến đấu, làm hầm chông, cạm bẫy, chuẩn bị đánh địch, giáo dục ý thức phòng gian bảo mật “không biết, không nghe, không thấy”. Khi địch đánh đến thì giúp dân tản cư, lánh giặc. Khi dân tản cư công an cùng với du kích bám địch, bảo vệ tài sản, nhà cửa cho nhân dân, tuần tra, canh gác, đề phòng kẻ gian lợi dụng, cướp bóc tài sản của nhân dân; địch đến thì cùng với du kích đánh địch, báo tin thường xuyên cho nhân dân yên tâm tản cư lánh địch. Bộ phận cùng với nhân dân tổ chức nhóm, trưởng liên gia giúp đỡ cho nhân dân tản cư lánh địch khi có lệnh. Phân công đảng viên, công an làm nòng cốt hướng dẫn nhân dân đi tản cư theo hướng đã chuẩn bị và đi có trật tự. Khi địch càn quét xong thì tổ chức nắm địch, hướng dẫn dân về nhà lấy lương thực, thực phẩm bổ sung hay hồi cư về nhà theo lệnh điều khiển của Ủy ban kháng chiến hành chính xã, thôn. Nhắc nhở nhân dân đề phòng hầm chông, cạm bẫy của ta hay của địch gài lại. Khi dân về, tổ chức canh gác, tuần tra, nắm địch, đề phòng địch càn quét trở lại, khi địch càn quét trở lại, kịp thời báo tin và hướng dẫn nhân dân tản cư như trước, nhất là việc trật tự, bảo đảm bí mật hướng lánh cư.

Đối với vùng sau lưng địch hay vùng địch chưa càn quét đến, công an có nhiệm vụ cùng với du kích tổ chức nắm địch, tuần tra canh gác, báo tin, báo động cho nhân dân yên tâm sản xuất làm ăn. Khi tiền tuyến cần huy động nhân tài, vật lực, nhất là dân công phục vụ chiến trường, hay lương thực, thực phẩm, phục vụ cho tiền tuyến, nuôi dưỡng thương binh, bệnh binh, mai táng liệt sĩ, giam giữ, nuôi tù hàng binh, phải phối hợp cùng chính quyền phục vụ đầy đủ, nhất là bảo vệ hành lang cho dân công đi chiến trường, hay nơi trú quân của bộ đội...

Các phòng chức năng của công an tỉnh chủ động phối hợp với công an các huyện, xã rà soát lại danh sách đối tượng lâu nay công an đã quản lý, xử lý hoặc sử dụng để nắm địch, đánh địch. Trên cơ sở đó phân làm ba loại: Loại nguy hiểm: địch đến có thể bắt tay và làm tay sai cho chúng, chống phá cách mạng, đề nghị Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh tập trung cải tạo kể cả số lưu manh chuyên nghiệp đầu sỏ (cụ thể như Trương Bội Hoàng, Đặng Phú Tân,...) Loại lưng chừng: gió mạnh chiều nào ngã theo chiều đó - cách mạng mạnh thì theo cách mạng, địch mạnh thì chạy theo địch - đề nghị bắt buộc đi tản cư theo quần chúng, không được ở nhà, bên ngoài thì thuyết phục nhưng nội dung bên trong là phải buộc họ tản cư với quần chúng để có sự giúp đỡ, giám sát của quần chúng. Loại lưng chừng hay bất mãn cá nhân, bố trí cơ sở quần chúng giám sát, ngăn chặn hành động đột xuất của họ - kể cả số lưu manh, ăn cắp vặt ở nông thôn.

Các loại đối tượng này được phân loại, lập thành danh sách và có đối sách từng loại, được thống nhất từ cơ sở xã, phường, đến Ủy ban kháng chiến hành chính huyện và được Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh phê duyệt trước. Khi địch đánh phá đến đâu, tuỳ tình hình, công an sẽ xử lý theo kế hoạch, có trường hợp đột xuất công an tỉnh xin ý kiến Tỉnh ủy và Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh để xử lý.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Năm, 2021, 06:46:12 pm
Thực hiện sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, công an Phú Yên đã triển khai hàng loạt các biện pháp công tác. Để đối phó với hoạt động gián điệp biệt kích của địch, Công an Phú Yên đã phối hợp chặt chẽ với lực lượng quân sự, giao thông, liên lạc, mậu dịch tổ chức bảo vệ an toàn hành lang vận chuyển quân, vận chuyển lương thực, vũ khí, đạn dược từ Phú Yên đi chiến trường Tây Nguyên. Các trạm kiểm soát ở phía nam và phía tây của tỉnh đểu được tăng cường lực lượng, dọc tuyến biển đặt thêm một số trạm để kiểm soát hoạt động xâm nhập của gián điệp, biệt kích địch tung ra vùng tự do, đồng thời bố trí lực lượng trinh sát ở những vùng trọng điểm, vùng xung yếu điều tra nắm tình hình kịp thời phát hiện các hoạt động xâm nhập của địch. Nhờ triển khai đồng bộ các biện pháp công tác, lực lượng công an đã phát hiện bắt giữ 4 tên gián điệp biệt kích tung vào khu vực miền Tây Sơn Hoà; bắt gọn 1 toán biệt kích nhảy dù xuống đồng Chay - xã Xuân Phước, huyện Đồng Xuân; phối hợp với bộ đội, dân quân và nhân dân đánh bại 11 cuộc đổ bộ của địch vào vùng ven biển huyện Tuy An, Sông cầu tiêu diệt 156 tên, làm bị thương 175 tên khác, bảo vệ an toàn vùng tự do ven biển Phú Yên.

Lực lượng công an từ tỉnh, huyện đến các xã đều chủ động tiến hành rà soát các loại đối tượng như bọn Việt gian, địa chủ, chức sắc tôn giáo phản động, có biện pháp, đối sách thích hợp khi chiến sự xảy ra. Đối với bọn phản động có tư tưởng chống đối, ta kiên quyết bắt xử lý; một số ta dùng biện pháp giáo dục thuyết phục để hạn chế sự hoạt động chống phá của chúng. Ở những địa bàn trọng điểm như Tuy Hoà, Sơn Hoà nơi mà địch có thể đánh chiếm trước, lực lượng công an có kế hoạch xây dựng cơ sở bố trí người ở lại. Trong các cơ quan, ban, ngành, lực lượng công an đã làm tốt công tác vận động phòng gian, bảo mật, xây dựng khu căn cứ kháng chiến gồm các xã Phú Mỡ, Thồ Lồ, vùng đồng bào các dân tộc ở Đá Mài, Bầu Bèng thuộc huyện Đồng Xuân.

Đi đôi với việc triển khai các biện pháp công tác, công an Phú Yên đã tổ chức lại bộ máy gọn, nhẹ, sẵn sàng di chuyển cơ động bất cứ lúc nào. Một số cán bộ làm công tác hành chính được tập huấn nghiệp vụ, sau đó phân bổ về các địa phương tăng cường cho các đơn vị cơ sở. Ty Công an cũng đã thành lập lại Đội Công an xung phong chuẩn bị cho việc phối hợp với bộ đội, du kích đánh địch. Hầu hết lãnh đạo chủ chốt của Ty Công an Phú Yên như các đồng chí Nguyễn Thế Vịnh, Lê Công Như... đều bám địa bàn để chỉ đạo chuẩn bị đánh địch.

Khi quân Pháp tiến công ồ ạt từ các hướng vào Phú Yên, do làm tốt công tác chuẩn bị đánh địch từ trước, lực lượng công an Phú Yên đã phối hợp với dân quân du kích, bộ đội địa phương chủ động chặn đánh địch quyết liệt, đồng thời bố trí lực lượng bám trụ, nắm tình hình địch, diệt tề, trừ gian, trấn áp các phần tử nhen nhóm phản động; tổ chức sơ tán cơ quan, dời trại giam với hơn 400 phạm nhân lên Xuân Lãnh rồi La Hai một cách an toàn. Bảo vệ hành lang chuyển quân và nơi đóng quân của bộ đội.

Đối với những nơi địch chưa đánh chiếm và vùng căn cứ, lực lượng công an đẩy mạnh công tác phát động quần chúng phòng gian bảo mật, thực hiện khẩu hiệu “Ba không”. Xây dựng tổ chức “Liên gia bảo vệ kháng chiến” bố phòng canh gác, chống địch càn quét, sơ tán người và tài sản, tiêu diệt các toán biệt kích vũ trang, bảo vệ an toàn vùng căn cứ và các cơ quan đầu não của tỉnh.

Công an Phú Yên đã tiến hành xây dựng mạng lưới đặc tình trong bộ máy ngụy quyền cấp tỉnh. Sau một thời gian nghiên cứu chuẩn bị, đồng chí Nguyễn Thế Vịnh - Trưởng ty Công an đã trực tiếp thực hiện phương án trinh sát nội tuyến. Đồng chí Lê Viết Tài (tức Lê Văn Miễn) là cán bộ trinh sát và đồng chí Võ Thành Long là cơ sở của ta được chuyển sang hoạt động hợp pháp trong vùng địch. Tháng 2 năm 1954, địch chiếm thị xã Tuy Hoà, bộ máy ngụy quyền được thành lập gồm: Trung tá Nguyễn Văn Đạt - tỉnh trưởng; thiếu tá Phạm Hữu Ngũ - trung đoàn trưởng trung đoàn bảo an và thiếu tá Lâm Bính - chỉ huy trưởng lực lượng Cảnh bị. Bằng mối quen biết trước với Lê Ba ở Văn phòng Tỉnh đường, đồng chí Long được Ba giới thiệu vào làm việc tại trung đoàn bảo an, đồng chí Tài trực tiếp liên lạc giữa đồng chí Vịnh và đồng chí Long.

Sau một thời gian tạo được sự tin cậy, đồng chí Long đã bố trí cho Phạm Hữu Ngũ gặp trực tiếp đồng chí Vịnh. Bằng sự tác động khôn khéo của đồng chí Vịnh, Phạm Hữu Ngũ nhận làm việc cho ta. Ngũ đã trực tiếp quan hệ với Đạt và thông qua mối quan hệ này ta nắm thêm được Lâm Bính. Đường dây liên lạc được tổ chức rất công phu bằng những tín hiệu mật mã khác nhau và cơ sở nội thị giúp đỡ. Những trường hợp cần thiết, Đạt, Bính, Ngũ tổ chức những cuộc hành quân trá hình ra vùng giáp ranh để gặp ta. Bằng cách này họ đã tiếp xúc với ta rất an toàn và bí mật.
Với những tin tức quan trọng mà Đạt, Ngũ, Bính cung cấp, ta đã nắm tình hình bộ máy chính quyền địch ở Trung ương và trong tỉnh; nắm được âm mưu, kế hoạch hoạt động, phương án tác chiến của Pháp trong cuộc hành quân Átlăng, phục vụ đắc lực cho Tỉnh ủy, Khu ủy Khu 5 chỉ đạo đánh địch.

Nhờ sự chuẩn bị khẩn trương, chặt chẽ, chu đáo, chủ động tổ chức nắm tình hình địch, nắm chắc các đối tượng chính trị, hình sự và phối hợp với lực lượng vũ trang đánh địch có hiệu quả, lực lượng công an Phú Yên giữ vai trò quan trọng góp phần đánh thắng bước 1 cuộc hành quân Átlăng của thực dân Pháp trên địa bàn Phú Yên.

Quân và dân Phú Yên đã tự lực tự cường, chủ động chuẩn bị chống phá cuộc hành quân Átlăng của địch với tương quan lực lượng quá chênh lệch, ta có khoảng 2. tiểu đoàn địa phương mà phải đương đầu với 20 tiểu đoàn địch được trang bị hiện đại. Nhưng do có tinh thần yêu nước và ý chí căm thù giặc cao, cùng với lực lượng dân quân du kích đông đảo của toàn tỉnh(1), được rèn luyện và thử thách qua nhiều năm chống địch đổ bộ càn quét ven biển và vùng giáp ranh phía tây nam tỉnh, được nhân dân nuôi dưỡng và động viên cổ vũ đặc biệt được sự lãnh đạo sáng suốt tài tình của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Bộ Tổng Tư lệnh, Khu ủy, Bộ Tư lệnh Liên khu trực tiếp là sự chỉ đạo cụ thể sát sao của Tỉnh ủy và sự chỉ huy năng động của Tỉnh đội dân quân Phú Yên đã đánh bại bước một quan trọng cuộc hành quân Átlăng của thực dân Pháp.


(1) Mỗi thôn trong tỉnh đều có một trung đội du kích, mỗi trung đội có khoảng 30-40 du kích đều ở trong tuổi thanh niên.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Năm, 2021, 06:49:52 pm
III. PHỐI HỢP VỚI LỰC LƯỢNG LIÊN KHU ĐÁNH BẠI
HOÀN TOÀN CUỘC HÀNH QUÂN ÁTLĂNG

Giữa lúc địch đang loay hoay củng cố thế trận, Bộ Tư lệnh Liên khu 5 quyết định rút một số đơn vị địa phương lên bổ sung cho chủ lực và tách một số đơn vị chủ lực đã có ra làm nòng cốt xây dựng các đơn vị mới của liên khu và các tỉnh. Chỉ trong vòng 30 ngày trên chiến trường Liên khu 5, trung đoàn chủ lực của liên khu (Trung đoàn 96) và một số tiểu đoàn tập trung khác của các địa phương cũng được thành lập.

Riêng với Phú Yên, đồng chí Nguyễn Chánh, Tư lệnh kiêm Chính ủy Liên khu 5 trực tiếp giao nhiệm vụ cho cơ quan chiến dịch, khẩn trương tổ chức lực lượng, tranh thủ thời cơ tiêu diệt sinh lực địch ở đồng bằng Phú Yên. Mặt trận rút Đại đội 4 của Tiểu đoàn 19 Trung đoàn 108, Đại đội 10, Tiểu đoàn 49 (Quảng Nam) và Đại đội 389 (Phú Yên) thành lập Tiểu đoàn 375 gồm 4 đại đội trực thuộc Tỉnh đội Phú Yên(1). Ban chỉ huy Tiểu đoàn gồm đồng chí Phạm Dưng - tiểu đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Hoanh - Chính trị viên, đồng chí Nguyễn Lầu - Chính trị viên phó, đồng chí Đôn Thanh - Tiểu đoàn phó.

Ngoài việc, chỉ đạo thành lập Tiểu đoàn chủ lực 375, tháng 3 năm 1954, Liên khu 5 điều động Tiểu đoàn 365 của Trung đoàn 803 về tăng cường cho chiến trường Phú Yên. Bộ Tư lệnh Liên khu còn bổ sung cho Phú Yên một đội đặc công gồm 60 cán bộ, chiến sĩ do đồng chí Đoàn chỉ huy.
Sau khi thành lập, Tiểu đoàn 375 nhanh chóng hành quân vào Đồng Xuân, Tuy An chiến đấu. Chiều tối 6 tháng 3 năm 1954, hai đại đội của Tiểu đoàn 375 vừa đến Xuân Sơn chưa kịp liên lạc với Tỉnh đội Phú Yên thì trinh sát báo tin sắp có đoàn xe địch chở lính Âu - Phi và hàng quân dụng từ Tuy Hòa ra La Hai.

Từ ngày đánh ra Phú Yên, địch chưa thấy chủ lực ta xuất hiện nên chúng chủ quan, sơ hở. Trên đường số 6 (đoạn từ Chí Thạnh lên La Hai) hầu như ngày nào cũng có các đoàn xe quân sự địch đi lại.

Với ý chí sẵn sàng tấn công tiêu diệt địch tranh thủ, yếu tố bí mật bất ngờ, Ban chỉ huy tiểu đoàn dù chưa kịp liên lạc báo cáo với Tỉnh đội đã khẩn trương chuẩn bị trận địa để tiêu diệt địch.

Tiểu đoàn 375 (thiếu)(2) có du kích xã An Định dẫn đường, ngay trong đêm đã triển khai đội hình phục kích trên đường số 6 (tại xóm Bàu Vườn). Đường số 6, ở đoạn này chạy sát và thấp hơn đường xe lửa. Tiểu đoàn chiếm lĩnh trên các sườn đồi rậm rạp phía nam đường. Bộ phận chặn đầu lót trong các nhà dân.

Sáng ngày 7 tháng 3, một đoàn xe 26 chiếc chở một đại đội lính Âu - Phi từ Tuy Hòa ra La Hai. Sau khi đội tuần tra của địch vừa quay gót trở về, 2 đại đội ta nhanh chóng bí mật vận động chiếm lĩnh trận địa bình tĩnh chờ đoàn xe địch đến. Hai chiếc xe Jeép đi đầu xuất hiện, ta để cho chúng đi qua trận địa an toàn. Liền sau đó một đoàn xe quân sự chở đầy lính Âu - Phi và hàng quân dụng nối đuôi nhau đi vào trận địa phục kích của ta. Chờ khi toàn đội hình của chúng đã lọt gọn vào trận địa, quân ta mới nổ súng, bộc phá tiêu diệt chiếc xe đi đầu. Các xe sau dồn lên thành một hàng dọc sát liền nhau. Bọn giặc đang lúng túng, kinh hoàng thì cả 2 đại đội ta đồng loạt nổ súng, ném lựu đạn. Khẩu Rimlé(3) 2 nòng gầm lên tạo thành lưới lửa đan chéo vào đội hình địch. Bị đánh bất ngờ, quân giặc hoàn toàn không kịp đánh trả. Nhiều tên chết vắt xác trên thành xe, một số tên sống sót chạy tản xuống lề đường lao bừa xuống bãi lầy, bị quân ta tiêu diệt và bắt toàn bộ.

Sau chưa đầy 20 phút, bộ đội ta tiêu diệt gọn đại đội Âu - Phi và đoàn xe quân sự 26 chiếc thu nhiều vũ khí, quân trang quân dụng.

Trận vận động phục kích tiêu diệt đại đội Âu - Phi và đoàn xe quân sự của Tiểu đoàn 375 có ý nghĩa vô cùng to lớn. Trận đầu ra quân thắng lớn đã khích lệ tinh thần chiến đấu của quân và dân Phú Yên, đặc biệt là cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 375 tạo niềm tin tưởng lớn lao cho quân và dân tỉnh nhà: ta nhất định bẻ gãy được cuộc hành quân Átlăng. Chiến thắng này làm rung động tinh thần chiến đấu của giặc Pháp. Lần đầu tiên trên chiến trường Phú Yên ta đã xóa sổ hoàn toàn một đại đội Âu - Phi và đoàn xe quân sự 26 chiếc của địch(4).


(1) Đại đội 1 do đồng chí Nguyễn Tài Nhuệ làm Đại đội trưởng; đồng chí Hồ Đắc Liên, Chính trị viên. Đại đội 2 do đồng chí Nguyễn Ngọc Bôi làm Đại đội trưởng; dồng chí Võ Sở, Chính trị viên. Đại đội 389 do đồng chí Võ Khắc Phụng, Đại đội trưởng; đồng chí Lê Hữu Giá, Chính trị viên. Đại đội 4 trợ chiến do đồng chí Trần Chiến Lược, Đại đội trưởng; đồng chí Lê Thám, Chính trị viên.
(2) Lúc này Đại đội 389 đang hoạt động ở nam Tuy An chưa về chiến đấu trong đội hình Tiểu đoàn 375.
(3) Một loại súng trung liên hiện đại của Pháp, ta thu được tại đèo Hải Vân, trang bị cho tiểu đoàn.
(4) Những trận đánh tiêu biểu của lực lượng vũ trang Phú Yên; Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Phú Yên xuất bản năm 2005.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Năm, 2021, 06:57:02 am
Đúng như nhận định của ta, sáng ngày 8 tháng 3 năm 1954 từ La Hai, địch cho đoàn xe cứu thương xuống trận địa để thu dọn chiến trường, có máy bay và xe quân sự đi theo hộ tống. Từ Chí Thạnh, chúng cho hai mũi tiến quân. Một đại đội đi thẳng vào khu vực trận địa để thu dọn chiến trường. Hai đại đội đến ga Phong Niên, hành quân ngược lên An Nghiệp và Đồng Me, An Định để làm hành lang bảo vệ cho đại đội thu dọn chiến trường.

6 giờ sáng ngày 8 tháng 3 năm 1954 đại bác địch từ Chí Thạnh bắn liên hồi vào An Nghiệp, An Định. Sau đó bộ binh địch dàn hàng ngang chia làm ba tốp tiến vào Đồng Me xã An Định. Chúng vừa đi vừa bắn thị uy. Khi chúng cách các luỹ tre đầu làng khoảng 50m, bộ đội và du kích đồng loạt nổ súng. Bị đánh bất ngờ, bọn giặc hốt hoảng nằm xuống, bám lấy bờ ruộng để chống cự. Chúng chưa kịp chấn chỉnh đội ngũ thì Đại đội 3 đánh bạt từ sưòn trái sang và khẩu Rimlé 2 nòng bắn chéo trùm lên đội hình địch. Địch nghe tiếng Rimlé 2 nòng biết là gặp phải chủ lực của ta nên vội vã tháo chạy, bỏ lại trận địa hàng chục xác chết và bị thương.

Vừa đánh xong trận Đồng Me, ngày 9 tháng 3 năm 1954, Tiểu đoàn 375 nhận được thông báo của Tỉnh đội Phú Yên kèm theo chỉ thị: “tiểu đoàn ngự lâm quân số 1 của địch đang chuẩn bị càn quét vùng An Lĩnh, Tiểu đoàn 375 có nhiệm vụ bảo vệ khu căn cứ và đánh tan cuộc hành quân càn quét của địch”(1).

Nhận được chỉ thị của Tỉnh đội, Ban chỉ huy tiểu đoàn quyết định triệu tập cán bộ đại đội và cán bộ tham mưu họp để phân tích tình hình và lập phương án tác chiến. Cuộc họp thống nhất nhận định hướng hành quân của địch và chọn Eo Gió là nơi phục kích. Ban chỉ huy tiểu đoàn bố trí Đại đội 1, Đại đội 2 đánh chính diện, ém quân hướng tây nam đối diện trảng cỏ. Khi có lệnh bí mật vận động chiếm lĩnh trận địa dọc theo sườn đồi. Hoả lực được bố trí ở điểm trung tâm để yểm trợ cho toàn trận địa và tiêu diệt các mũi phản kích của địch. Đại đội 3 ém quân ở phía đồi đối diện hơi chếch về hướng đông bắc có nhiệm vụ đánh tạt sườn vào đội hình địch, ngăn không cho chúng tháo chạy về Chí Thạnh.

Đêm ngày 9 tháng 3 năm 1954, tiểu đoàn bí mật hành quân đến nơi ém quân. 10 giờ sáng 10 tháng 3, pháo địch từ Chí Thạnh bắn tới tấp lên các sườn đồi Đồng Tròn, An Lĩnh, rồi bắn dịch lên các sườn đồi ở Eo Gió. Hết đợt pháo, máy bay Moral quần lượn quan sát khu vực vùng IV An Lĩnh để chúng tập trung quân. Tranh thủ lúc pháo địch chuyển làn các đại đội nhanh chóng vận động chiếm lĩnh trận địa và tổ chức bố trí, ngụy trang đội hình, máy bay địch không phát hiện được. Đúng như nhận định của Ban chỉ huy tiểu đoàn, địch tiến quân chia làm 2 mũi để hỗ trợ nhau và hội quân tại trảng cỏ giữa Đồng Tròn, chấn chỉnh đội hình để vượt Eo Gió vào An Lĩnh. Vượt qua một đoạn đường gần 10km dưới trời nắng gắt, mang vác nặng nên địch đã thấm mệt. Vừa đến trảng cỏ, chúng vội vã tháo ba lô, cởi súng, ngồi chờ đồng bọn. Đợi cho toàn bộ quân địch đã tập trung giữa trảng cỏ, chỉ huy tiểu đoàn ra lệnh nổ súng. Tất cả các loại súng của ta đồng loạt nã đạn vào đội hình địch. Địch thất thần, hoảng loạn, nhiều tên chết ngay tại chỗ, những tên sống sót bò dạt ra các hướng bám vào các chướng ngại vật chống cự lại, một số tìm cách chạy thoát thân. Đại đội 3 đồng loạt đánh chặn không cho chúng thoát về Chí Thạnh. Bị lưới lửa tập trung, bất ngờ, địa hình tác chiến bất lợi nên địch hoàn toàn bị tê liệt, chống trả yếu ớt. Chúng lập tức gọi máy bay, phi pháo đến yểm trợ. Mười phút sau, máy bay địch xuất hiện. Chúng quần lượn, bắn bừa bãi vào các sườn đồi ngăn chặn không cho bộ đội ta tiếp tục truy kích. Tiểu đoàn quyết định thu quân, đưa vũ khí chiến lợi phẩm, thương binh, tử sĩ về tuyến sau.

Trận chiến đấu diễn ra chưa đầy 20 phút, bộ đội ta đánh tan tiểu đoàn ngự lâm quân của địch, loại khỏi vòng chiến đấu trên 100 tên, thu hàng trăm súng các loại. Ta thương vong 8 đồng chí.

Như vậy là ngay sau khi thành lập, Tiểu đoàn 375 chỉ trong bốn ngày đã đánh liền bốn trận lớn, trận nào cũng đạt hiệu suất chiến đấu cao. Thắng lợi đó làm cho cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 375 thêm phấn khởi, quyết lập nhiều chiến công xuất sắc hơn nữa để góp phần mau chóng quét sạch quân địch, giải phóng tỉnh nhà. Chiến thắng này cũng làm rúng động tinh thần chiến đấu của các cánh quân địch đang tham gia bước 1 cuộc hành quân Átlăng.

Sau chiến thắng Eo Gió, địch ở Chí Thạnh tăng cường xây dựng lô cốt phòng thủ, không dám tổ chức càn quét ra các vùng lân cận.
Sau hơn một tháng phải ngừng cuộc hành quân Átlăng để tập trung lực lượng đối phó với ta ở chiến trường bắc Tây Nguyên, trung tuần tháng 3 năm 1954 địch chuyển sang bước 2 của kế hoạch. Ngày 10 tháng 3, hai binh đoàn cơ động số 41, 42 từ Phú Yên theo đường số 1 và 6 đánh ra Diêu Trì (Bình Định). Ngày 12 tháng 3, địch huy động lực lượng lớn quân cơ động cùng 18 tàu chiến, 13 máy bay, 230 xe cơ giới đánh ra Quy Nhơn. Các binh đoàn cơ động số 11, 21, 100 và dù chiếm đèo An Khê chuẩn bị đánh xuống.


(1) Những trận đánh tiêu biểu của lực lượng vũ trang Phú Yên, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Phú Yên xuất bản năm 2005.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Năm, 2021, 06:57:53 am
Ngày 10 tháng 3, quân địch từ Sông Cầu bắt đầu tiến ra đèo Cù Mông. Cùng ngày, bọn địch ở La Hai cũng theo đường số 6 tiến ra Vân Canh (Bình Định), phối hợp với hai cánh quân lớn của chúng từ biển đổ bộ lên Quy Nhơn và từ An Khê đánh xuống, Đại đội 371 Đồng Xuân và du kích các xã Xuân Thọ, Xuân Lộc, Xuân Cảnh, Xuân Thịnh phục kích trong các rừng dừa và trên đèo Cù Mông đánh địch nhiều trận. Có trận du kích đào hầm “độn thổ” ngay sát đường chờ quân địch tập trung đông mới giật bom, diệt hàng chục tên. Địch chưa kịp hoàn hồn, lực lượng ta bất ngờ xung phong, thu vũ khí, rồi nhanh chóng luồn ngay vào rừng dừa, làm địch không kịp đối phó. Từ Sông Cầu đến đèo Cù Mông, địch phải đi mất hai ngày và bị bộ đội địa phương, du kích ta diệt hơn 100 tên.

Thời điểm địch chuẩn bị bước hai kế hoạch Átlăng cũng là lúc mọi sự chuẩn bị của ta cho chiến dịch Điện Biên Phủ đã hoàn tất. Đúng một ngày sau khi địch đánh ra nam Bình Định thì ngày hôm sau (13-3-1954) quân ta tiến công tiêu diệt cứ điểm Him Lam, mở đầu chiến dịch tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Cuộc chiến đấu của quân và dân Phú Yên nói riêng, quân dân Nam Trung Bộ nói chung lúc này có tác dụng trực tiếp “chia lửa” với chiến trường Điện Biên Phủ. Sự phối hợp hoạt động giữa các chiến trường tạo thế trận mới, đẩy địch càng lún sâu vào thế bị động đối phó, tiếp tục phân tán lực lượng. Trong lúc muốn tăng lực lượng cho Tây Nguyên, địch lại phải điều binh đoàn dù rời khỏi địa bàn này vào tháng 3 năm 1954.

Theo kế hoạch đã vạch sẵn, khi quân địch đánh ra Bình Định bộ đội địa phương cùng dân quân du kích và nhân dân Phú Yên liên tục tổ chức chiến đấu, kiên quyết đánh bại bước 2 cuộc hành quân Átlăng của địch. Tiêu biểu là các trận ngày 24 tháng 3, chặn đánh cánh quân từ Phú Yên ra hợp với cánh quân ở Quy Nhơn, diệt 800 tên; trận tập kích “Trung Hoa hý viện” diệt 200 tên; trận đánh cứ điểm Thượng An... Liên khu còn sử dụng một số tiểu đoàn chủ lực cùng với lực lượng vũ trang địa phương Phú Yên, Đắc Lắc tiến công tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, góp phần chặn cánh quân đánh theo đường bộ ở ven biển, làm suy yếu cánh quân địch trên đường số 19... Lợi dụng lúc địch tập trung lực lượng đánh ra vùng tự do, quân và dân các tỉnh vùng địch hậu đẩy mạnh tiến công vào Đà Nẵng, Hội An, Ninh Hoà, Nha Trang, Phan Thiết, đánh cắt đường số 1 trên đèo Hải Vân; tiêu diệt nhiều xe địch trên các đường số 1, đường xe lửa Nha Trang - Sài Gòn, Phan Rang - Đà Lạt, đánh sâu hướng đường số 21, Ninh Hoà - Buôn Ma Thuột... Bị đánh ở nhiều nơi, cả trước và sau lưng, địch càng thêm bị động và lúng túng.

Ngày 19 tháng 3, Tỉnh ủy Phú Yên họp Hội nghị nhận định tình hình cuộc kháng chiến chung trong liên khu và trong tỉnh qua 2 tháng đánh trả chiến dịch Átlăng. Hội nghị chủ trương giữ vững và tăng cường thế tiến công địch, bảo đảm tiếp tế cho các mặt trận, phát triển mậu dịch lên vùng căn cứ địa, tăng cường công tác tư tưởng trong Đảng bộ, trong các lực lượng vũ trang và nhân dân.

Ngày 21 tháng 3, Tiểu đoàn 365 từ đường 19 (nam Bình Định) vừa hành quân vào đến xã Xuân Quang huyện Đồng Xuân (Phú Yên) thì phát hiện một tiểu đoàn địch từ La Hai đang hành quân lên vùng Suối Cối, xã Xuân Phước. Cùng hành quân với tiểu đoàn có đồng chí Hà Vi Tùng, Trung đoàn phó Trung đoàn 803. Tuy chưa nắm rõ âm mưu thủ đoạn của địch, thời gian lại vô cùng gấp rút, lực lượng ta vừa hành quân dài ngày còn mệt mỏi, nhưng với ý chí sẵn sàng tấn công tiêu diệt địch và tranh thủ thời cơ, yếu tố bí mật bất ngờ, đồng chí Hà Vi Tùng đã quyết định hội ý với Ban chỉ huy tiểu đoàn (lúc này đồng chí Phạm Đình Dư, Tiểu đoàn trưởng chưa về kịp) về hướng hành quân của địch và lệnh cho đơn vị chuẩn bị đánh địch theo phương án vạch sẵn.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Năm, 2021, 06:58:58 am
Phương án tác chiến cụ thể như sau: Lựa chọn suối Cối(1) dưới chân núi Hòn Ông làm trận địa phục kích. Đại đội hoả lực được bố trí ở chân núi Hòn Ông dọc theo suối Cối; Đại đội 211 bố trí hướng nam chân núi có nhiệm vụ chặn đầu không cho địch chạy về Xuân Phước; Đại đội 212 được bố trí ở các rẫy mía phía đông suối Cối đánh lướt sườn vào đội hình địch; Đại đội 213 bố trí phía bắc chân núi, có nhiệm vụ khoá đuôi không cho địch thoát chạy về Xuân Quang. Tất cả các đơn vị đều ém quân quanh chân núi, xoá hết dấu vết hành quân để giữ bí mật trận địa.

Đúng như nhận định của ta, 12 giờ 30 phút ngày 21 tháng 3 năm 1954 địch hành quân đến suối Cối. Chúng có vẻ chủ quan, khinh thường, vừa nghênh ngang hành quân, vừa bắn súng thị uy. Hành quân một khoảng đường khá xa, mang vác nặng dưới cái nắng oi nồng, gay gắt nên bọn địch đã thấm mệt và khát nước. Vừa đến suối Cối, chưa được lệnh chỉ huy, nhiều tên đã vội chạy xuống suối rửa mặt, tay, chân và uống nước. Lúc đầu chỉ một vài tên sau đó cả bọn cùng ùa xuống suối. Bọn chỉ huy địch thấy thế cho phép quân lính dừng chân nghỉ giải lao. Chớp thời cơ địch đang lộn xộn, ta nổ súng. Hoả lực từ súng phóng bom, ĐKZ, Bazôka, đại liên của ta chụp xuống lòng suối, lòng đường. Nhiều tên địch chết ngay tại chỗ. Những tên còn sống sót chụp lấy vũ khí bám vào bờ suối vừa bắn trả quyết liệt, vừa men theo bờ suối rút chạy. Vừa dứt hoả lực, 3 đại đội của ta từ 3 hướng đồng loạt xung kích chia cắt địch ra từng nhóm nhỏ để tiêu diệt. Song vốn là một tiểu đoàn thiện chiến nên sau những phút hoảng loạn ban đầu, địch tổ chức chống trả một cách ngoan cố và liều lĩnh. Kết hợp với súng phóng bom, pháo cối áp đảo địch, bộ đội ta tổ chức nhiều đợt xung phong, quần nhau với địch quyết liệt. Sau hơn 4 giờ chiến đấu quân ta làm chủ hoàn toàn trận địa, xoá sổ tiểu đoàn ngự lâm quân số 2, mang biệt hiệu “Hổ xám” của địch, tiêu diệt tại chỗ 123 tên, bắt 90 tên, một số tên chạy thoát. Ta thu trên 300 súng các loại và 8 máy vô tuyến điện. Ta tổn thất 50 đồng chí, trong đó có 3 cán bộ đại đội.

Đây là lần đầu tiên, một tiểu đoàn ta xoá sổ một tiểu đoàn thiện chiến của địch trên chiến trường Phú Yên. Chiến thắng đã khích lệ tinh thần chiến đấu của quân và dân Phú Yên, đặc biệt là cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 365. Sau trận này địch vô cùng khiếp sợ, tinh thần chiến đấu bị suy sụp góp phần dẫn đến thất bại của chiến dịch Átlăng.

Trong trận đánh này, lực lượng ta đã chọn địa đoạn vừa gần chân núi, vừa gần suối lại cạnh đường hành quân của địch, ta bố trí giấu quân kín đáo, bố trí trận địa hoả lực phát huy được sức mạnh của các loại hoả khí (nhiều tầng, có tầm bắn khác nhau, cơ động dễ dàng, kiểm soát được các tử giác). Khi nổ súng triển khai đội hình xung phong nhanh, đồng loạt, bất ngờ chặn được địch, dồn địch vào thế bất lợi. Tuy nhiên, địa hình hiểm trở cũng là bất lợi với ta, địch đã lợi dụng địa hình, địa vật để phản công quyết liệt, làm trận đánh phải kéo dài trên 4 tiếng đồng hồ.
Tận dụng thời cơ để tấn công địch khi mới về đến chiến trường Phú Yên là chủ trương hết sức chủ động linh hoạt của Ban chỉ huy tiểu đoàn mà tiêu biểu là đồng chí Trung đoàn phó Hà Vi Tùng. Chính yếu tố bất ngờ này đã góp phần kết thúc trận đánh thắng lợi với hiệu suất chiến đấu cao (địch nhận định quân chủ lực ta chưa có ở Phú Yên nên rất chủ quan). Tuy hình thức chiến thuật của trận đánh là phục kích, nhưng thực tế trận đánh có hình thức tao ngộ chiến, bởi thời gian chuẩn bị trận địa phục kích gần như không đáng kể, ta nắm địch chưa thật vững, chưa thành thạo địa hình và chưa củng cố lực lượng. Trên đường hành quân, nghe báo tin có địch càn quét, chỉ huy tiểu đoàn quyết định nhanh chóng và chính xác địa điểm bố trí trận địa tiêu diệt địch. Trận đánh giằng co, kéo dài, quyết liệt nhưng trước các tình huống khó khăn, ác liệt đó chỉ huy đơn vị đã bình tĩnh nghiên cứu tình hình thực tế, giữ vững quyết tâm, xử trí linh hoạt và kiên quyết thực hiện thắng lợi mục đích của trận đánh và ý định chiến thuật đề ra.

Hai tiểu đoàn bị xóa sổ tại Phú Yên chỉ trong vòng 15 ngày đã khiến Bộ chỉ huy quân Pháp hết sức bất ngờ, lúng túng. Chúng báo động cho các đơn vị: “Chủ lực Việt Minh đã vào Phú Yên”. Sau hai tháng tiến công ra Phú Yên địch đã phải trả cái giá bằng hàng nghìn binh lính bị tiêu diệt để kiểm soát vài thị trấn, một thị xã.


(1) Suối Cối, một nhánh suối nhỏ bắt nguồn từ hồ Phú Xuân và đổ vào sông Kỳ Lộ. Đến mùa khô bị kiệt nước, nhiều chỗ lộ ra những bãi sỏi nhỏ tạo thành đường đi cho nhân dân quanh vùng. Đoạn đường từ Xuân Quang đi Sơn Hội đến chân núi Hòn Ông (cao 758m), phía bên phải là sườn núi cây cối khá rậm rạp, phía bên trái là suối Cối chạy dọc theo đường đi, có đoạn con đường đi hẳn vào lòng suối (khi mùa khô). Bên kia suối Cối, những triền đồi thoai thoải, nhân dân làm rẫy trồng mía và làm ruộng bậc thang, dân cư thưa thớt ở dọc theo con suối.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Năm, 2021, 07:00:33 am
Riêng quân và dân Phú Yên, trong hai tháng đầu chưa có bộ đội chủ lực phối hợp, với ý chí tự lực, tự cường, dựa vào làng chiến đấu vận dụng linh hoạt các cách đánh du kích, đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 2.400 tên địch, giam chân một phần tư lực lượng cơ động của địch, góp phần tạo thuận lợi cho hướng chủ yếu tiến công giành thắng lợi.

Tiểu đoàn 365 và Tiểu đoàn 375, sau khi lập được những chiến công xuất sắc ở Tuy An, Đồng Xuân đã nhanh chóng tiến sâu vào phía nam, chuẩn bị những trận đánh mới.

Từ đầu tháng 4, sau các trận bị ta tiêu diệt nặng ở suối Cối (Xuân Phước), An Nghiệp, An Lĩnh (Tuy An), quân địch bắt đầu co cụm, tổ chức phòng thủ ở Chí Thạnh, Quán Cau, thị xã Tuy Hòa, Bàn Nham, Tuy Bình... Hai tiểu đoàn 365 và 375 vừa tiến vào phía nam đã cùng các đại đội địa phương huyện và du kích tranh thủ tổ chức tập kích vào các cụm quân địch, khi công sự của chúng mới xây dựng còn sơ sài.

Đêm 10 tháng 4, Tiểu đoàn 375 cùng Đại đội 374 Tuy An tập kích vào cụm quân địch ở đèo Quán Cau. Tuy nhiên, do kế hoạch tập kích bị lộ nên địch tăng cường lực lượng cùng các loại hoả lực chủ động phục kích khi ta vừa bắt đầu tiếp cận mục tiêu làm lực lượng ta thương vong khá nặng (trên 50 đồng chí). Do hoả lực địch quá mạnh, lực lượng ta phải rút lui không đưa được 19 tử sĩ về tuyến sau chôn cất(1). Đây là một khuyết điểm lớn. Tiểu đoàn bị Bộ Tư lệnh Liên khu 5 kiểm điểm nghiêm khắc.

Đêm 20 rạng ngày 21 tháng 4, Tiểu đoàn 365 được tăng cường một đại đội của Tiểu đoàn 375 tiến công cứ điểm Bàn Nham - Bàn Thạch (xã Hòa Xuân) do tiểu đoàn khinh quân 506 của địch chốt giữ.

Tối 20 tháng 4 năm 1954, lực lượng ta được du kích Hòa Tân dùng thuyền vượt sông Bánh Lái ngay trong đêm. Sau khi vượt sông đơn vị bí mật vượt qua khu vực ruộng sình lầy đến vị trí tập kết.

1 giờ 30 phút rạng sáng 21 tháng 4 năm 1954, trên hướng nam (khu A), tổ bộc phá đã tiếp cận mục tiêu và đặt xong bộc phá. Bất ngờ, một tên lính trong đồn nghe tiếng động khả nghi liền bắn một phát súng trường. Đồng chí Thơ, bộc phá viên của Tiểu đoàn 365 tưởng có lệnh nổ súng tấn công nên cho bộc phá nổ tung hàng rào số 1. Trước tình hình đó, tiểu đoàn ra lệnh tấn công mặc dù chưa đến giờ hợp đồng nổ súng. Hoả lực của ta bao gồm các loại ĐKZ, Bazôca, đạn cối, AT bắn chế áp vào đồn để xung kích xông lên chiếm lĩnh trận địa. Bộ đội ta lần lượt dùng lựu đạn, thủ pháo, trung liên, đại liên và hỏa lực cá nhân đánh chiếm từng khu nhà lính, nhà tên quan tư chỉ huy, kho đạn và các mục tiêu khác. Chỉ sau 30 phút chiến đấu, ta làm chủ khu A, chỉ huy tiểu đoàn ra lệnh cho đại đội 211, 212 phát triển qua khu B chi viện cho Đại đội 213 và Đại đội 1 Tiểu đoàn 375.

Tại khu B, do bị mất yếu tố bất ngờ (khu A nổ súng trước thời gian quy định) nên địch đã kịp đề phòng và tổ chức phòng ngự rất chặt chẽ. Ngay từ phút đầu hoả lực ĐKZ, bộc phá của ta đã đánh sập được một lô cốt đầu cầu, mở toang cửa mở cho xung kích tràn vào đánh chiếm. Các lô cốt còn lại bắn chặn đội hình tấn công của ta. Chỉ huy tiểu đoàn ra lệnh tập trung hoả lực diệt các lô cốt và các lỗ châu mai còn lại, tạo điều kiện cho xung kích đánh vào tung thâm. Với chiến thuật đánh cuốn chiếu, ta đã lần lượt đánh chiếm lô cốt thứ 2 và các dãy nhà lính. Tuy nhiên, do chưa diệt được lô cốt ở khu tung thâm trong lúc đạn cối 60 ly và AT đã hết, địch tập trang hỏa lực ngăn chặn lực lượng ta đánh chiếm tung thâm. Cùng lúc địch yêu cầu pháo binh từ đầu cầu Bàn Thạch và pháo hạm từ biển bắn cấp tập vào đội hình ta. Trận chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt, bộ đội ta liên tục xung phong nhưng bị hỏa lực của địch ngăn chặn dữ dội, nhiều đồng chí bị hy sinh và bị thương, trong đó có đồng chí Nguyễn Náo - Tiểu đoàn phó. Trời đã gần sáng, mặc dù ta chỉ mới đánh chiếm được một nửa khu B nhưng lực lượng ta thương vong khá nhiều, đồng chí Hà Vi Tùng hội ý với các đại đội cho dừng trận đánh để giải quyết thương binh và tử sĩ.

Nghe tiếng kèn lệnh, bộ đội ta tuần tự rút ra dưới làn mưa pháo của địch. Tiểu đoàn để lại 1 tiểu đội cùng dân quân Hòa Xuân chôn cất các liệt sĩ, lực lượng còn lại rút về Hòa Mỹ.

Sau hơn 3 giờ chiến đấu, ta diệt gọn cứ điểm Bàn Nham, một nửa đồn Bàn Thạch, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 200 tên địch, trong đó có tên tiểu đoàn trưởng, bắt 90 tên, trong đó có tên tiểu đoàn phó. Ta thu trên một trăm súng các loại, trong đó có 1 cối 80 ly, 2 cối 60 ly, 6 đại liên, 12 trung liên, 70 tiểu liên, 20 súng trường và nhiều quân trang quân dụng. Đặc biệt ta thu được một số tiền Đông Dương rất lớn (đây là tiền lương tháng của lính ngụy vừa mới đưa về, chưa kịp cấp phát). Ta hy sinh 30 đồng chí, trong đó có đồng chí Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 365; 109 đồng chí bị thương, trong đó có 2 đồng chí cán bộ đại đội.

Trận tiêu diệt cứ điểm Bàn Nham - Bàn Thạch đã giáng một đòn đích đáng vào mưu đồ chiếm đóng lâu dài của địch, tạo thế liên tục tiến công trên chiến trường.


(1) Hồ sơ lưu trữ Bộ Quốc phòng - phòng số 1, bản số 41.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Năm, 2021, 07:02:58 am
Tuy trận đánh thắng lợi giòn giã nhưng sự tổn thất của ta cũng khá nặng nề. Chiến công và tổn thất đó đã để lại bài học kinh nghiệm quý giá. Đó là trong công tác chuẩn bị chiến trường phải nắm chắc và phán đoán đúng quy luật hoạt động, cách tổ chức phản kích của địch khi bị ta tấn công. Từ những đánh giá nhận định đúng về địch để hạ quyết tâm chiến đấu chính xác và có cách đánh bảo đảm chắc thắng, sử dụng lực lượng thích hợp, trang bị hợp lý đủ sức chiến đấu trong những tình huống diễn biến phức tạp.

Trong trận Bàn Nham - Bàn Thạch, nếu như chúng ta phối hợp chặt chẽ hơn giữa các đơn vị, đồng loạt nổ súng trên 2 hướng; bộ phận thọc sâu hợp đồng chặt chẽ với bộ phận đánh phá cửa mở, cả lực lượng bên trong và lực lượng ở cửa mở phải đồng loạt diệt lô cốt, phá rào bảo đảm an toàn cho lực lượng xung kích thì kết quả trận đánh sẽ lớn hơn, hạn chế được thương vong cho ta.

Sau khi ta tập kích đồn Bàn Nham, địch tức tối lồng lộn, tìm cách lùng sục lực lượng ta để tiêu diệt. Chúng nhận định bộ đội chủ lực của ta đang đóng ở xung quanh khu vực Hoà Bình, Hoà Đồng, Hoà Phong, Hoà Mỹ nên tổ chức càn quét lên địa bàn các xã này. Lực lượng tiến hành càn quét là tiểu đoàn ngự lâm quân số 6 của địch. Đây là tiểu đoàn chuyên bảo vệ dinh Bảo Đại, được điều động về Phú Yên để tham gia chiến dịch Átlăng. Ngoài việc tinh thông võ nghệ, huấn luyện bài bản, tiểu đoàn này còn được trang bị vũ khí hiện đại hơn so với các đơn vị ngụy quân khác của địch. Chính vì vậy nên địch tỏ ra chủ quan và kiêu ngạo, coi thường lực lượng ta.

Ngày 29 tháng 4 năm 1954, sau khi nhận được báo cáo của trinh sát về việc địch chuẩn bị càn quét, Tỉnh đội Phú Yên chỉ thị: “Địch sẽ càn quét lên Hòa Bình, Hòa Mỹ, Hòa Đồng để tìm và diệt bộ đội chủ lực ta. Lực lượng gồm tiểu đoàn ngự lâm quân số 6, có phi pháo yểm trợ. Tiểu đoàn 375 có nhiệm vụ chặn đứng cuộc hành quân càn quét của giặc, bảo vệ khu căn cứ của ta”(1).

Nhận được chỉ thị, Ban chỉ huy tiểu đoàn liền tổ chức ngay cuộc họp dưới chân núi Một, thôn Hội Cư gồm cán bộ từ tiểu đội trưởng trở lên. Tiểu đoàn lúc này chỉ còn Đại đội 1(2), các đại đội khác đang hoạt động ở phía bắc tỉnh, quân số có 108 chiến sĩ. Lực lượng địch đông hơn hẳn ta, được trang bị vũ khí hiện đại. Nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh của Tỉnh đội, đồng chí Tiểu đoàn trưởng thay mặt Ban chỉ huy tiểu đoàn vạch phương án tác chiến: điều động Đại đội 1 cùng Trung đội 17 của Đại đội 377 ém quân ở thôn Phú Lạc cách ga - Gò Mầm(3) 1.000m về phía nam. Toàn đơn vị phải giữ bí mật tuyệt đối không để lộ một dấu vết nào cho địch biết có lực lượng ta tại đây. Khi giặc Pháp đi càn về đến cầu Phú Thứ, tổ hỏa lực gồm 2 khẩu trung liên đầu bạc và Rimlé 2 nòng bố trí chiếm lĩnh hai mố bê tông ở cống ga Gò Mầm bắn chính diện vào đội hình của giặc. Đại đội 1 và Trung đội 17 đánh tạt sườn vào đội hình, không cho giặc chạy thoát. Tiểu đoàn cũng giao nhiệm vụ cho đồng chí tổ trưởng trinh sát liên hệ với trạm thủy nông Đồng Cam ngay trong đêm đóng cống ga phía đầu nguồn để nước kênh cạn, thuận tiện cho bộ đội qua kênh.
Trận địa được bố trí xong. Đại đội 1 Tiểu đoàn 375 và Trung đội 17 chuẩn bị lại vòng ngụy trang, lau chùi vũ khí và nghiêm lệnh ém quân tuyệt đối bí mật chờ giặc đến. Nhân dân thôn Phú Lạc phấn khởi lo cơm nước cho bộ đội và du kích đầy đủ để ngày mai chiến đấu.

Khoảng 8 giờ sáng ngày 30 tháng 4, địch từ Phú Lâm kéo lên, chúng đi theo đội hình với tư thế sẵn sàng chiến đấu. Khi địch lọt vào trận địa của ta, chỉ huy Đại đội 1 đề nghị cho nổ súng nhưng Ban chỉ huy tiểu đoàn ra lệnh toàn bộ trận địa tiếp tục giữ bí mật chờ giặc đi càn về sẽ nổ súng tiêu diệt. Thắng lợi sẽ chắc chắn hơn. Toàn đơn vị chấp hành quân lệnh.

Bọn giặc kéo quân qua ga Gò Mầm một cách tự do. Chúng lên đến Phú Thứ chia làm hai toán: một toán đi càn lên Hoà Phong, một toán qua cầu Phú Thứ càn vào Hoà Đồng, hai cánh quân sẽ hội nhau tại Hoà Mỹ rồi rút về.

Khoảng 3 giờ chiều, chúng về đến Phú Thứ, mang theo gà, vịt, heo, bò cướp được của nhân dân. Phần vì mệt mỏi sau một ngày càn quét, lại không hề gặp lực lượng ta nên giặc rất chủ quan, hàng ngũ lộn xộn. Đại đội 1 Tiểu đoàn 375 cùng trung đội du kích xã Hoà Tân nhanh chóng bí mật chiếm lĩnh trận địa, địch không hề hay biết. Khi địch đến cách trận địa của ta 40m, Tiểu đoàn trưởng ra lệnh nổ súng. Khẩu Rimlé 2 nòng cùng hai khẩu trung liên đầu bạc đồng loạt nhả đạn. Nhiều tên giặc gục chết ngay tại chỗ, số còn lại tạt ra hai bên đường, số rơi xuống mương, số chạy xuống cánh đồng tìm cách chống cự. Ngay lúc đó vang lên tiếng thét xung phong, bộ đội ta lưỡi lê sáng ngời đầu súng nhanh chóng ập tới áp sát cạnh sườn đội hình giặc, chúng khiếp đảm không dám chống cự, vội vã giơ tay xin hàng. Trận đánh diễn ra nhanh chóng, trong vòng 15 phút, ta diệt và bắt gần 100 tên địch, trong đó có tên trung úy Trần Văn Hành. Đồng bào Hoà Đồng, Hoà Mỹ, Hoà Tân, Hoà Bình ra cùng bộ đội dân quân du kích thu chiến lợi phẩm đưa về căn cứ. Ba ngày sau đồng bào còn phải dọn nhiều xác giặc nổi trôi theo kênh nước. Lực lượng ta bị thương 3 đồng chí.

Chiến thắng Gò Mầm - một trận đánh đạt hiệu suất chiến đấu rất cao có ý nghĩa quan trọng trong việc động viên khích lệ tinh thần chiến đấu của lực lượng vũ trang tỉnh nói chung, Tiểu đoàn 375 nói riêng. Chiến thắng đó khẳng định sự lớn mạnh, trưởng thành vượt bậc của tiểu đoàn. Chỉ hơn một đại đội, ta vẫn có thể đánh bại một tiểu đoàn thiện chiến của địch, làm cho quân và dân trong tỉnh vô cùng phấn khởi, tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng.


(1) Những trận đánh tiêu biểu..., Sđd, tr. 135.
(2) Đại đội 1 Tiểu đoàn 375 do đồng chí Nguyễn Tài Nhuệ làm Đại đội trưởng và đồng chí Hồ Đắc Liên, Chính trị viên.
(3) Ga: Cống bơm, thoát nước.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Năm, 2021, 05:46:14 pm
Trận Gò Mầm thắng lợi là nhờ chỉ huy Tiểu đoàn 375 tuyệt đối tin tưởng vào dân, dựa vào sự giúp đỡ, che chở của dân để trú quân, phối hợp cùng trung đội du kích địa phương đánh giặc. Lực lượng chủ lực mới đến hoạt động ở một địa bàn không quen thuộc, thường xuyên bị địch càn quét, chưa nắm rõ tình hình về mọi mặt, trong khi yêu cầu chuẩn bị cho trận đánh gấp, phải bảo đảm bí mật tuyệt đối là vấn đề hết sức nan giải. Ban chỉ huy tiểu đoàn đã mạnh dạn tin vào dân, đặt niềm tin tuyệt đối vào nhân dân. Nếu không có sự che chở của nhân dân, trận Gò Mầm chắc chắn khó thắng lợi, bởi vì trận địa phục kích nằm ngay giữa cánh đồng trống, không có vật che khuất, địa bàn thuộc vùng địch tạm kiểm soát. Mặt khác, mọi công việc tiếp tế hậu cần cho tiểu đoàn đều dựa hẳn vào dân. Sự tin tưởng đó còn thể hiện ở chỗ tiểu đoàn đã phối hợp tác chiến tốt với lực lượng vũ trang địa phương. Mặc dù trình độ tác chiến, trình độ kỹ thuật, chiến thuật cá nhân, trang bị giữa tiểu đoàn và lực lượng vũ trang địa phương có sự chênh lệch, nhưng chính mối quan hệ quân dân thắm thiết, sự tin cậy đã tạo nên sự thống nhất, chặt chẽ trong hành động góp phần tạo nên thắng lợi của trận đánh.

Thắng lợi của trận Gò Mầm còn nhờ chỉ huy Tiểu đoàn 375 nắm chắc quy luật hoạt động của địch. Nắm vững địa hình, chọn địa đoạn phục kích phù hợp, giữ vững yếu tố bất ngờ, gây tổn thất nặng nề cho địch. Qua trinh sát, nghiên cứu địa hình, chỉ huy tiểu đoàn chọn ga Gò Mầm làm trận địa phục kích là hợp lý, táo bạo, bất ngờ. Bởi vì khi bị phục kích, toàn bộ đội hình địch sẽ bị phơi ra trước hoả lực của ta, do giữa cánh đồng trống trải. Trong khi đó, lực lượng ta tận dụng vật che chắn là các cống nước bằng bê tông vừa cao hơn địa hình xung quanh để bố trí hoả lực, vừa là công sự che chắn đạn khi địch phản kích. Cự ly giữa làng Phú Lạc (nơi ta trú quân) với trận địa phục kích cũng rất lý tưởng, vừa không quá xa để ta cơ động lực lượng, vừa đủ bảo đảm an toàn cho nhân dân khỏi bị đạn lạc trong giao chiến. Mặt khác, do nắm chắc quy luật hoạt động, bản chất của địch nên ta đã đón đánh địch khi chúng hành quân về, lúc này chúng rất chủ quan, chúng không bao giờ nghĩ ta có thể dám phục kích giữa cánh đồng trống, lại phải mang vác thêm nhiều thứ của cải cướp bóc được của nhân dân nên khi bị phục kích bất ngờ, đội hình sẽ rối loạn, chúng sẽ không kịp phản ứng. Kết quả trận đánh đã phản ánh đúng nhận định của ta.

Sau khi chiếm đóng thị trấn Chí Thạnh và các huyện phía bắc, địch đã nhiều lần tổ chức các cuộc càn quét đánh phá vào căn cứ nhưng đều bị lực lượng ta đánh cho tan tác, buộc chúng phải tháo chạy. Bị thua đau, nhưng bọn chỉ huy Pháp và bè lũ tay sai không từ bỏ ý đồ. Chúng cho rằng, nếu không đánh phá để xóa bỏ căn cứ An Lĩnh thì chi khu quân sự, trung tâm hành chính, các cơ sở kho tàng và phương tiện chiến tranh ở thị trấn Chí Thạnh cũng như các cứ điểm, đồn bốt của chúng đóng dọc trên trục đường quốc lộ 1A, từ phía nam đèo Quán Cau ra đến phía bắc Tam Giang, giáp với huyện Sông Cầu sẽ bị quân ta bao vây, uy hiếp.

Để tránh nguy cơ bị tiêu diệt, tiếp tục thực hiện kế hoạch bình định lấn chiếm và tìm diệt quân chủ lực của ta, sáng ngày 2 tháng 5 năm 1954, địch điều động một tiểu đoàn lính ngụy, được hỗ trợ của pháo binh, vượt qua đèo Thị tiến dọc theo tỉnh lộ 6 đến cầu Giữa, cách thị trấn Chí Thạnh khoảng 1km, băng qua đường sắt, nhằm hướng nam, tiến vào thôn Phong Thăng xã An Định, để từ đó mở cuộc càn quét vào thôn Phong Thái thuộc vùng V xã An Lĩnh.

An Lĩnh là một trong những địa bàn quan trọng trên chiến trường bắc Tuy An, một địa bàn toàn rừng núi, có Phân viện dã chiến 205 của liên khu, nhiều kho tàng dự trữ và cũng là nơi tập kết chuyển quân của ta.

Đại đội 2 Tiểu đoàn 375 do đồng chí Hồ Đình Phượng chỉ huy được lệnh bí mật về trú quân ở thôn Phong Thái đã được ba ngày, sẵn sàng cơ động khi có lệnh của trên. 9 giờ ngày 2 tháng 5 năm 1954, trinh sát đại đội báo tin, quân ngụy đã càn vào thôn Phong Thái, từ hướng bắc đang tiến về phía đơn vị, chỉ cách ta khoảng hơn 3km. Chỉ huy đại đội ra lệnh xuất quân.

Địa đoạn diễn ra trận đánh thuộc thôn Phong Thái vùng V xã An Lĩnh. Tại đây, có con đường mòn độc nhất chạy giữa thung lũng đi từ Phong Thăng, An Định đến vùng V An Lĩnh. Xung quanh địa bàn diễn ra trận đánh là núi đồi, sim, mua mọc lúp xúp xen kẽ với một số cây lớn. Phía đông đường mòn độc đạo có con suối nhỏ chạy dọc theo đường mòn, lòng suối cạn có nhiều tảng đá lớn lởm chởm, bên kia bờ suối là những bãi mía. Rải rác trong khu vực còn có một số mồ mả xây bằng đá tảng rất thuận tiện cho việc bố trí hỏa lực, trận địa phục kích.

Nhận lệnh hành quân của Đại đội trưởng, toàn đơn vị vận động theo hàng dọc, hướng về phía địch, bám sát đội hình, vừa đi vừa chạy trên con đường mòn độc nhất, băng qua làn đạn pháo mịt mù khói bụi vượt qua các đồi gò cao, trảng và khe suối lởm chởm đá và gai dưới ánh nắng oi bức. Khi cách địch khoảng 300m bất ngờ một loạt đạn pháo địch từ Chí Thạnh bắn trúng vào đội hình làm một số cán bộ, chiến sĩ ta thương vong, đội hình tiến quân của đại đội bị chia cắt làm đôi.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Năm, 2021, 05:47:10 pm
Sự việc xảy ra đã gây tổn thất và khó khăn nghiêm trọng, nhưng không làm nhụt ý chí chiến đấu và lòng quyết tâm tiêu diệt địch của Đại đội 2. Biến đau thương thành sức mạnh, đội hình phía trước vẫn giữ vững và tiếp tục tiến lên, tuyến sau vượt khói đạn, động viên nhau dũng cảm tiến nhanh hơn để bằng mọi cách kết nối lại đội hình nhằm đảm bảo phương án tác chiến khi gặp địch. Khi quân ta sắp vượt qua khỏi đồi sim thì phát hiện địch đang tụ tập dưới chân đồi cách ta khoảng 100m, chúng đang nghỉ dừng chân để chờ bọn sau đến. Đại đội trưởng phát tín hiệu dừng lại và ra lệnh khẩn trương bố trí trận địa chiến đấu. Dựa vào địa hình, địa vật tại chỗ, lập tức một chiến tuyến hình bán nguyệt kéo dài hơn 200m nhanh chóng hình thành. Trung đội 1 chủ công được bố trí ở chính diện. Trung đội 3 bố trí dọc theo bờ suối sát chân núi có độ cao 200m ở hướng đông. Trung đội 2, do bị tổn thất do pháo địch, quân số chỉ còn hai phần ba được bố trí ở hướng tây, Trung đội cối 60 ly và 81 ly được bố trí ở phía sau.

Từ trận địa ta bố trí đến chân đồi, nơi dừng chân của địch là một gò đất rộng (có độ dốc 15 độ) trống trơn, khô cháy. Khoảng cách của ta và địch không xa, nhưng vị trí chiến đấu của quân ta ở phía trên khu gò đồi, có cây rừng che khuất và được giữ bí mật tuyệt đối nên địch không hề hay biết. Càng về trưa, nắng nóng ở núi rừng càng gay gắt. Thêm vào đó là những đợt pháo 105 ly từ Chí Thạnh liên tục bắn phá dữ dội vào các khu vực xung quanh mà chúng nghi ngờ có quân ta làm rung chuyển cả núi rừng. Tình hình rất căng thẳng.

Khi tốp lính ở phía sau đã dồn lên thì chỉ huy địch ra lệnh cho quân vượt qua khu gò tiến vào nơi quân ta bí mật bố trí trận địa. Đi trước là tốp lính trinh sát và bộ đàm, sau đó là bộ binh dàn hàng ngang tiến lên. Vì hành quân đường xa, mang vác nặng lại bị nắng nóng và lo sợ nên tốc độ tiến quân của chúng rất chậm.

Bọn chỉ huy hò hét xua quân tiến lên vừa đi vừa bắn vào những đám mía, cánh rừng... Khi chúng cách trận địa của ta 40m, đơn vị được lệnh nổ súng. Lập tức toàn bộ hỏa lực của ta bắn mãnh liệt từ ba hướng nhằm thẳng vào đội hình của địch. Bị đòn đánh phủ đầu bất ngờ, chúng không kịp đối phó, nhiều tên chết và bị thương tại chỗ. Những tên ở dưới chân đồi quay đầu tháo chạy bị cối 60 ly và 81 ly của ta bắn chặn, làm nhiều tên chết và bị thương, số sống sót đứa thì bò lăn xuống khe suối, đứa chạy tản vào rừng để tìm đường chạy thoát thân. Một số tên ngoan cố, dựa vào các ụ mối và những ngôi mộ được xây bằng đá tảng làm điểm tựa dùng trung liên và đại liên bắn xối xả về phía ta nhưng đã bị hỏa lực ta từ trên các điểm cao bắn kiềm chế và làm vô hiệu hóa.

Trận đánh diễn ra khoảng 10 phút, từ ba hướng quân ta rời vị trí tiến lên áp sát địch. Lúc này, do mất liên lạc và phương hướng, cho nên nhiều loạt đạn pháo của địch vào đúng đội hình của chúng gây thêm nhiều thương vong và làm cho đội hình địch đã tan tác càng thêm rối loạn. Trận địa mịt mù khói đạn bao trùm không thể nhìn thấy nhau. Tranh thủ lúc pháo binh của địch bị lạc mục tiêu, để tránh bị thương vong, Đại đội trưởng ra lệnh thu quân và giao nhiệm vụ cho từng trung đội đưa những chiến sĩ hy sinh và bị thương về tuyến sau theo hướng thích hợp để tránh phi pháo của địch.

Sau hơn 20 phút chiến đấu, Đại đội 2 loại khỏi vòng chiến đấu trên 100 tên địch, đánh bại cuộc càn quét của 1 tiểu đoàn địch, bảo vệ vững chắc vùng căn cứ, thu 36 súng các loại, 4 máy bộ đàm và một số quân trang, quân dụng.

Về phía ta có 8 chiến sĩ hy sinh và 15 chiến sĩ bị thương, đa số bị sát thương là do pháo của địch.

Chiến thắng Phong Thái - An Lĩnh là một chiến công nối tiếp những trận thắng lớn trước đó, mà mở màn là trận diệt gọn 26 xe và 1 đại đội Âu - Phi ở xóm Bàu Vườn.

Sau khi đánh bại và làm tan rã 1 tiểu đoàn quân ngụy càn quét vào vùng V xã An Lĩnh, Đại đội 2 Tiểu đoàn 375 được lệnh bí mật hành quân cấp tốc về trú quân ở nhờ nhà dân tại xóm Hóc Lá, Đá Giăng thuộc vùng II xã An Nghiệp (nay là thôn Định Phong xã An Nghiệp).

Sáng ngày 6 tháng 5 năm 1954, toàn đơn vị chuẩn bị học tập chính trị thì nghe súng nổ từ hướng đông phía Chí Thạnh. Trinh sát đơn vị cho biết, địch đã bắt đầu mở cuộc càn quét với quy mô lớn, lực lượng đông - khoảng 2 đại đội tăng cường, được trang bị vũ khí đầy đủ - đang hành quân trên cánh đồng Lau (tên của cánh đồng) trống trải và tiến về phía đơn vị trú quân, cách ta khoảng hơn 500m.

Nhận được tin báo của trinh sát, Đại đội trưởng lập tức cho ngừng buổi học chính trị và ra lệnh toàn đơn vị khẩn trương chuẩn bị chiến đấu. Quân số của đại đội lúc này chỉ còn khoảng gần 100 tay súng (sau trận đánh tại Phong Thái - An Lĩnh, đại đội chưa kịp bổ sung quân số) nhưng trang bị khá đầy đủ.

Nhận lệnh hành quân của Đại đội trưởng, toàn đơn vị vận động vào vị trí chiến đấu. Đến 8 giờ, đội hình địch đã đến trước trận địa của ta. Chúng bắn vu vơ vào làng mà không hề hay biết trước mặt chúng khoảng 100m dọc theo rìa làng, Đại đội 2 của ta đã chủ động bố trí trận địa, sẵn sàng chờ lệnh nổ súng tiêu diệt.

Toàn bộ xóm Hóc Lá lúc này rất vắng lặng. Chỉ huy địch hùng hổ, quát tháo xua quân tiến vào làng. Khi khoảng cách giữa ta và địch trong cự ly 25m, Đại đội trưởng ra lệnh phát hỏa. Lập tức hàng loạt đạn các cỡ của quân ta bất ngờ bắn xối xả vào đội hình của địch. Những loạt đạn phủ đầu của quân ta đã làm nhiều tên chết và bị thương, số còn sống chạy tản ra nằm rạp xuống trên những đám ruộng trống trơn, khô cằn và không có địa vật che chắn, một số tên ngoan cố chống trả lập tức bị hỏa lực ta tiêu diệt.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Năm, 2021, 05:49:00 pm
Lính địch ở phía sau ngơ ngác hoảng sợ, quay đầu tháo chạy nhưng bị chỉ huy của chúng ngăn lại và ra lệnh tập trung tất cả hỏa lực bắn vào trận địa ta để giải nguy cho đồng bọn ở phía trước. Lập tức, Ban chỉ huy Đại đội 2 ra lệnh cho trung đội hoả lực tập trung súng cối 60 ly, 81 ly, súng phóng lựu và trung liên, tập trung bắn cấp tập, chính xác vào những tốp lính ở phía sau, đang lố nhố trên cánh đồng, làm cho đội hình chúng tan tác rối loạn. Các ổ đề kháng của địch bị đánh phủ đầu tắt lịm, quân địch nằm im hoặc tìm nơi ẩn nấp, không có cách nào tiến lên để ứng cứu cho đồng bọn ở phía trước. Trận đánh tiếp tục diễn ra quyết liệt, giằng co kéo dài khoảng 20 phút thì Trung đội 3 trong đội hình chiến đấu ở phía đông, được lệnh, xung phong đánh tạt sườn bên trái, làm cho quân địch vô cùng lúng túng. Trước tình hình nguy khốn, quân dịch gọi điện về trung tâm chỉ huy xin cứu viện. Chỉ mấy phút sau, 2 máy bay khu trục loại B24 - B28 của địch bay đến trận địa, thả hàng loạt bom na-pan, bom phá và từ trên không chúng liên tục bắn hàng loạt đạn đại liên rất khốc liệt xuống khu vực dân cư ở phía sau trận địa của đơn vị, làm cháy và phá hủy hầu hết các ngôi nhà của dân.

Chớp thời cơ địch đang chuẩn bị tháo lui, Trung đội 1 và Trung đội 2 do hai đồng chí Hồ Đình Phượng, Đại đội trưởng và đồng chí Nguyễn Bân, Chính trị viên trưởng dẫn đầu đồng loạt xung phong đạp qua xác giặc, tiến lên phía trước tiêu diệt địch. Thấy quân ta đánh quá mạnh, địch hoảng sợ giẫm đạp lên nhau tháo chạy về phía Chí Thạnh. Quân ta truy kích theo khoảng 1km, diệt và bắt thêm nhiều tên. Lúc này pháo 105 ly của địch bắn lên để ngăn chặn quân ta, nhưng nhiều loạt đạn 105 ly đã rơi trúng ngay vào đội hình địch. Để bảo toàn lực lượng, Đại đội trưởng ra lệnh thu quân rút về phía sau vì lực lượng của đại đội qua ba tháng chiến đấu liên tục, quân số bị hao hụt nên cần được bảo toàn để có sức chiến đấu lâu dài.

Sau hơn 1 giờ chiến đấu, Đại đội 2 đã đánh lui 2 đại đội địch đi càn quét có quân số và vũ khí nhiều hơn ta. Loại khỏi vòng chiến đấu gần 100 tên địch, đập tan cuộc càn quét của địch, bảo vệ vững chắc vùng căn cứ. về phía ta, có 7 đồng chí hy sinh và 10 đồng chí bị thương, trong đó có đồng chí Nguyễn Bân, Chính trị viên đại đội.

Trong trận An Lĩnh, Đại đội 2 (Tiểu đoàn 375) đã nắm vững thời cơ, nắm chắc tình hình, đánh giá đúng âm mưu, thủ đoạn của địch, chọn địa đoạn phục kích phù hợp khi có thời cơ vận động xuất kích tiêu diệt địch nhanh, gọn. Trong trận này, lực lượng ta đã táo bạo tiếp cận, nổ súng diệt địch giữa ban ngày. Trong điều kiện địch lợi dụng phi pháo, máy bay để tiêu diệt trận địa ta, ta vẫn bình tĩnh bám sát đội hình địch để tổ
chức xung phong và diệt địch.

Phối hợp với các đơn vị chủ lực, ngày 6 tháng 5 năm 1954 Đại đội 392 do đồng chí Bảo - Đại đội trưởng và đồng chí Hiền - Chính trị viên chỉ huy có cơ sở nội tuyến phối hợp tiến công tiêu diệt một trung đội địch đóng ở Thạch Lâm thu toàn bộ vũ khí.

Hệ thống phòng thủ của địch trong các vùng chiếm đóng ở Phú Yên bị sụp đổ trước sức tiến công dồn dập của ta. Tướng Đờ Bôpho buộc phải rút binh đoàn cơ động số 41 do tên đại tá Sốckên chỉ huy từ Diêu Trì (Bình Định) quay về phòng thủ Tuy Hòa. Tuy nhiên, trước những đòn tiến công liên tục của lực lượng ta, địch phải thu hẹp phạm vi kiểm soát của chúng ở Phú Yên.

Đến đầu tháng 4 năm 1954, bước 2 cuộc hành quân Átlăng hoàn toàn bị thất bại. Bước 3 kế hoạch dự kiến bắt đầu vào tháng 5 năm 1954 không thể thực hiện được nữa. Báo Le Monde (Thế giới), số ra ngày 2 tháng 4 năm 1954 thú nhận: “Átlăng đã phá sản hoàn toàn”. Quân và dân ta ở Tây Nguyên và Nam Trung Bộ là người trực tiếp đào mồ chôn kế hoạch đó.

Đây không chỉ là sự phối hợp chiến đấu nhịp nhàng chặt chẽ của quân và dân liên khu mà còn là kết quả của sự phối hợp chiến đấu giữa các chiến trường trong cả nước. Địch đã không thể thực hiện được âm mưu đánh chiếm vùng tự do Nam - Ngãi - Bình - Phú của ta và cũng không thể điều lực lượng cơ động từ chỗ này sang chỗ khác để hỗ trợ cho nhau, tinh thần binh lính ngày càng sa sút. Tướng Nava than thở: “Họ đã buộc chúng ta phải theo dạng chiến tranh của họ và chiến lược của họ...”(1).


(1) Vì sao Điện Biên Phủ, Sđd.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Năm, 2021, 05:49:56 pm
Trong khí thế tiến công mãnh liệt của quân và dân ta trên các chiến trường cả nước, ngày 13 tháng 3, trên chiến trường chính Bắc Bộ, quân ta bắt đầu tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Sau 5 ngày chiến đấu quyết liệt, quân ta đã hoàn toàn tiêu diệt phân khu Bắc. Một lần nữa Nava rơi vào tình trạng bị động đối phó. Sau chiến dịch bắc Tây Nguyên thắng lợi, cuối tháng 2 năm 1954, trên chiến trường Liên khu 5, Bộ Tư lệnh Liên khu quyết định đưa Trung đoàn 803 (thiếu) tiến vào đánh địch ở khu tam giác Plei Ku Cheo Reo - An Khê. Riêng Tiểu đoàn 365 được lệnh vào phối hợp với các lực lượng vũ trang Phú Yên, đánh mạnh vào sau lưng cánh quân địch đang tiến ra Bình Định. Mục tiêu trước mắt là tập trung lực lượng đánh bại cuộc hành quân Átlăng của địch.

Trong lúc quân và dân Phú Yên cùng quân dân trong liên khu đánh bại cuộc hành quân Átlăng của địch thì cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 của quân dân cả nước, giành nhiều thắng lợi vang dội trên khắp các chiến trường.

Ngày 7 tháng 5 năm 1954 tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bị quân ta tiêu diệt. Thắng lợi lịch sử vĩ đại này đã tạo cho quân và dân ta thế và lực mạnh chưa từng có trong chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Bước 1 của kế hoạch Nava trên chiến trường nam Đông Dương mà trung tâm là cuộc hành quân Átlăng đến đây đã thất bại.

Trong lịch sử chiến tranh Đông Dương từ trước đến nay, chưa bao giờ quân Pháp tập trung một lực lượng mạnh như thế, huy động những cố gắng chiến tranh lớn như thế vào một địa bàn hẹp ở chiến trường phía nam (Phú Yên và nam Bình Định). Thắng lợi to lớn của ta không chỉ là đánh bại một cuộc hành quân lớn của địch, giữ vững một khu căn cứ kháng chiến quan trọng mà còn tạo ra sự biến đổi về so sánh lực lượng giữa ta và địch, dẫn đến làm thay đổi cục diện chiến trường hoàn toàn có lợi cho ta.

Sau những chiến thắng lớn liên tiếp của ta trên khắp các địa bàn trong tỉnh, ngày 28 tháng 5 năm 1954 địch dùng 2 tiểu đoàn từ thị xã Tuy Hòa mở cuộc hành quân lên các xã Hòa Trị, Hòa Quang nhằm đẩy lực lượng ta ra xa, bảo vệ an toàn cho các cụm quân địch xung quanh thị xã Tuy Hòa. Nắm được kế hoạch hành quân của địch, Tiểu đoàn 375 do đồng chí Phạm Dưng, Tiểu đoàn trưởng và dân quân du kích Hòa Kiến dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Lê Vụ, Bí thư Tỉnh ủy và đồng chí Lê Văn Đức, Tỉnh đội trưởng, bố trí sẵn trong các nhà dân ở phía tây sân bay Tuy Hòa lập trận địa ngay trong lòng địch ở thôn Minh Đức, chờ giặc đi càn về sẽ đổ quân ra đánh.

Trung đội trợ chiến ém quân dưới suối, chân chùa Hang, khi có lệnh chiếm lĩnh trận địa, nhanh chóng vận động ra chợ Minh Đức. Khẩu Rimlé 2 nòng (hoả lực chủ yếu của tiểu đoàn) được bố trí trên mỏm đồi phía sau chợ ở độ cao 30m so với cánh đồng, khống chế diện rộng 500m mà tâm là cầu Minh Đức. Trung đội mạnh chiếm lĩnh các lũy tre quanh chợ Minh Đức tiếp giáp với cánh đồng, đồng loạt nổ súng với khẩu đội Rimlé. Hai trung đội còn lại cùng với dân quân du kích xã Hoà Kiến ém quân sát chân núi Chóp Chài, đầu thôn Minh Đức chiếm lĩnh các lũy tre, bờ đá, đường đi sát cánh đồng.

Đế đảm bảo an toàn, tiểu đội du kích thôn Minh Đức cùng hai trinh sát viên lập trạm kiểm soát bí mật đầu thôn Minh Đức, theo dõi các phần tử khả nghi đi về xóm Sủng, bắt ngay đưa về cơ sở bí mật tránh đưa tin cho địch. Trạm kiểm soát này hoạt động từ 5 giờ sáng cho đến 12 giờ trưa, sau đó rút về nơi ém quân của hai trung đội.

Sáng ngày 28 tháng 5 năm 1954 lúc trời vừa sáng, từng dợt pháo địch từ Tuy Hoà bắn tới tấp lên bìa rừng, bìa làng xã Hoà Quang - Quan Quang. Hai chiếc máy bay Moral yểm trợ cho bộ binh hành quân. Trên cánh đồng, bộ binh giặc xuất hiện, chúng đi thành hai gọng kìm như ta đã nhận định, theo đúng chiến thuật tấn công dàn hàng ngang với nhiều thê đội, vừa đi vừa bắn vu vơ thị uy.

Hai cánh quân của địch không bị một lực lượng nào chặn đánh và hội quân ở giữa hai thôn Tường Quang - Quan Quang. Lúc bấy giờ pháo địch chuyển làn, bắn tới tấp vào các khe suối, sườn dốc Thọ Vức và Cẩm Tú, bắn chặn đường từ An Lĩnh xuống, làm cho khu vực này mù mịt khói lửa. Tiếng đạn pháo vừa dứt, máy bay Moral xuất hiện yểm trợ bộ binh lùng sục vào các thôn Thọ Vức - Cẩm Tú nhưng không thấy bộ đội chủ lực của ta và cũng không gặp một sự kháng cự nào. Lùng sục chán chẳng có gì, 15 giờ ngày 28 tháng 5 năm 1954 chúng bắt đầu rút về. Lúc này chúng đi không thành hàng ngũ, lại dắt thêm trâu, bò, khiêng theo heo, gà, vịt vừa cướp được. Nhiều tên giặc say rượu mặt đỏ gay đi xiêu vẹo. Trong lúc đó, Tiểu đoàn 375 từ các điểm ém quân bí mật vận động chiếm lĩnh trận địa chờ giặc đến.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Năm, 2021, 05:51:49 pm
Bọn giặc về đến cầu Minh Đức - đây là vùng chiếm đóng an toàn của chúng nên chúng càng chủ quan đi lại lộn xộn, mất trật tự. Khi 1/4 quân số qua được cầu, tốp đi đầu đã gần đến chợ, bất ngờ khẩu Rimlé 2 nòng phát hoả tạo thành lưới lửa chụp trên đầu chúng. Từng loạt lựu đạn của trung đội chủ công ném ngay xuống đường. Nhiều tên chết ngay tại chỗ, những tên sống sót chạy ra cánh đồng, tạt xuống bờ ruộng tránh làn đạn của ta, tìm cách chống cự lại một cách yếu ớt. Khẩu Rimlé vẫn tiếp tục nhả đạn yểm trợ cho trung đội mạnh xung phong. Bọn giặc chẳng biết lực lượng ta nhiều hay ít, một số không chạy kịp, vứt súng nằm giả chết, một số chạy thục mạng ra giữa cánh đồng. Hai trung đội và dân quân du kích xã Hoà Kiến lập tức xung phong ra giữa cánh đồng quây chúng lại. Tất cả bọn chúng đều vứt vũ khí giơ tay xin hàng. Bộ đội ta dùng dây thừng trói chúng lại. Do lực lượng khá chênh lệch, ta không kịp trói từng tên giặc đành áp giải chúng đi giữa đồng. Máy bay địch xuất hiện nhưng đành bất lực nhìn quân của chúng bị giải đi mà không sao cứu được.

Trận đánh diễn ra nhanh chóng và bất ngờ. Bọn giặc bỏ xác tại chỗ trên 100 tên, ta bắt trên 200 tên, thu hàng trăm súng. Đồng bào các thôn xóm Sủng, Minh Đức, Tường Quang, Quan Quang thu chiến lợi phẩm và vũ khí, heo, gà, bò, vịt do quân giặc vứt chạy.

Tiểu đoàn 375 và quân dân du kích áp giải tù binh về căn cứ thì trời đã tối hẳn. Khai thác bọn tù binh cho biết, tên Nguyễn Khánh - trung đoàn trưởng chỉ huy trận càn cũng bị bắt, nhưng đến Hoà Quang, Nguyễn Khánh, lợi dụng sơ hở đã trốn thoát(1). Tiểu đoàn 375 bị thương vong 10 đồng chí.

Trận chống càn ngày 28 tháng 5 năm 1954 tại Quan Quang, Minh Đức là trận đánh dũng cảm và táo bạo trong kháng chiến chống Pháp trên địa bàn Phú Yên, một trận đánh đạt hiệu suất chiến đấu cao có ý nghĩa quan trọng trong việc động viên khích lệ tinh thần chiến đấu của quân và dân trong tỉnh, tạo niềm tin tưởng, phấn khởi vào thắng lợi cuối cùng.

Đây là một trận tiêu biểu của Tiểu đoàn 375 đánh quân Pháp trong cuộc hành quân Átlăng, Tiêu biểu ở chỗ lực lượng ta chỉ hơn một đại đội nhưng lại dám đánh một lực lượng hơn 1 tiểu đoàn thuộc binh đoàn cơ động của địch, tiêu biểu ở tinh thần gan dạ, táo bạo dám lập thế trận phục kích trong vùng địch để tạo yếu tố bất ngờ, khắc phục được tình trạng thiếu binh, hoả lực.

Đầu tháng 6 năm 1954, Bộ chỉ huy chiến dịch chủ trương mở rộng hành lang để chủ lực ta phát triển lên đường 21. Trung đoàn 803 dưới sự chỉ huy của đồng chí Phan Hàm gấp rút chuẩn bị tiến công tiêu diệt cụm cứ điểm Tuy Bình, Củng Sơn, Aêriêng. Hàng nghìn thanh niên xung phong, dân công Phú Yên gồng gánh đạn dược, lương thực, bám sát trung đoàn lên mặt trận phía tây.

Từ khi cuộc hành quân Átlăng bị thất bại, cụm quân ở Tuy Bình bị cô lập, chúng lo sợ bị ta tiến công, liên tiếp báo động nhiều lần trong ngày, tung lực lượng ra phát hiện dấu vết của bộ đội ta. Đảng ủy và Ban chỉ huy Trung đoàn 803 nhận thấy địch ở Tuy Bình tuy có tăng cường đề phòng ta tấn công, nhưng tinh thần binh lính chúng đang hoang mang nên quyết định tập trung lực lượng tiến công cứ điểm Tuy Bình. Đây là cứ điểm mạnh nhất trong cụm. Lực lượng địch ở đây có tiểu đoàn khinh quân 504 và một trung đội xe bọc thép. Tuy Bình bị diệt thì địch ở Aêriêng và Củng Sơn phải đầu hàng hoặc bỏ chạy. Ngoài lực lượng tiến công cứ điểm trung đoàn sử dụng một bộ phận đón đánh, tiêu diệt địch ngoài công sự.

16 giờ ngày 1 tháng 6, lợi dụng mây mù, máy bay trinh sát địch không còn hoạt động, công binh trung đoàn nhanh chóng bắc cầu phao để bộ đội vượt sông Ba sớm hơn kế hoạch. Chỉ sau 45 phút, đơn vị công binh và thanh niên xung phong đã bắc xong chiếc cầu phao dài gần 200m bằng thuyền, trên rải mê tre. Hàng chục chiến sĩ công binh, đứng ngâm mình dưới nước giữ cho cầu khỏi chòng chành khi bộ đội vượt qua.

Trời vừa chập choạng tối, các tiểu đoàn bộ binh, các đơn vị trợ chiến đã vượt sông, tiến vào chiếm lĩnh trận địa đúng theo kế hoạch.

Đúng 0 giờ ngày 2 tháng 6, các khẩu đội súng cối, ĐKZ và súng, phóng bom của ta bắt đầu dội bão lửa vào cứ điểm Tuy Bình. Các mũi các hướng đồng loạt tiến công mãnh liệt, ở nhiều khu vực, ngay từ loạt đạn ĐKZ và súng cối đầu tiên của ta, địch đã bỏ vị trí tháo chạy. Hàng trung đội địch giơ tay xin đầu hàng khi vừa thấy bóng chiến sĩ ta. Tuy nhiên, nhiều cụm địch do tên tiểu đoàn trưởng dựa vào trung đội xe bọc thép tổ chức chống cự quyết liệt, nhất là khu vực chỉ huy và khu hành chính. Hỏa lực trung liên và cối của địch bắn mãnh liệt ngăn chặn lực lượng ta tấn công. Ba chiếc xe bọc thép của địch, có gắn đại liên Vicker và pháo 37 ly vừa chạy vừa bắn loạn xạ. Hỏa lực của ta tập trung vào các điểm địch đang tổ chức chống cự, khiến chúng im bặt. Sau hơn 3 giờ chiến đấu, mục tiêu cuối cùng là khu hành chính đã bị ta xóa sổ, các cánh quân đã hợp điểm. Quân ta làm chủ cứ điểm Tuy Bình, các chiến sĩ ta ráo riết truy lùng, bắt được hàng trăm tù binh.


(1) Sáng hôm sau trinh sát ta xuống Hoà Quang được biết nhà bả Hường mất bộ quần áo bà ba phơi gần chuồng bò và nhặt được bộ quần áo sĩ quan ngụy vứt ở gần đó. Nguyễn Khánh sau này là đại tướng từng giữ chức thủ tướng chính quyền Sài Gòn. Nguyễn Khánh cũng từng giữ chức tổng tư lệnh tổng tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Năm, 2021, 09:49:53 am
Rạng sáng 2 tháng 6, phát hiện địch trốn chạy, trung đoàn ra lệnh cho Đại đội 1 Tiểu đoàn 39 truy kích. Quân ta lần theo dấu vết địch và đuổi theo, đến một vùng địa hình trống trải, chỉ huy đại đội nhận định địch vòng đường cái về Aêriêng liền cho đơn vị cắt rừng, chiếm lĩnh cao điểm cạnh đường trước khi địch đến. Ta vừa chiếm đỉnh đồi thì một đại đội địch cũng vừa tháo chạy về đến đây. Ta nổ súng đồng loạt, địch không kịp chống cự, một số tên bị diệt, đại bộ phận xin hàng.

Sau hơn 3 giờ chiến đấu quyết liệt, ta đã xóa sổ tiểu đoàn khinh quân 504, diệt Và bắt 600 tên, đại bộ phận bị bắt làm tù binh, trong đó có toàn bộ trung đội xe bọc thép. Ngoài vũ khí, quân trang quân dụng ta thu được đủ để trang bị cho 1 tiểu đoàn, ta còn thu được rất nhiều tiền Đông Dương. Đặc biệt ta còn thu một xe hồng thập tự đầy thuốc men, trên xe có trang bị phòng mổ dã chiến. Về ta, hy sinh 9 đồng chí.

Cứ điểm Tuy Bình bị tiêu diệt, đại đội địch ở Củng Sơn ngay trong đêm 1 tháng 6 xin đầu hàng. Hai đại đội địch đóng giữ cứ điểm Aêriêng bỏ đồn chạy trốn, nhưng đến đoạn buôn Boen đường số 9B thì chúng lọt vào trận địa phục kích của ta. Theo đúng kế hoạch, Tiểu đoàn phó Lê Hữu Trữ đem một đại đội phục kích sẵn tại đây. Địch vừa thấy bóng bộ đội ta trong rừng xung phong ra, hàng ngũ tán loạn, hầu hết bỏ súng giơ tay xin đầu hàng, số ít chạy vào rừng, nhưng sau mấy ngày đói khát lần lượt ra hàng. Các chiến sĩ ta bắt gần 100 tù binh.

Sau chiến thắng lớn tiêu diệt cụm quân địch hơn hai tiểu đoàn ở Tuy Bình, Củng Sơn và buôn Aêriêng, toàn bộ các huyện phía tây nam Phú Yên và phía đông Mađrắc (Đắc Lắc) được hoàn toàn giải phóng. Trung đoàn 803 khẩn trương chuẩn bị phát triển tiến công xuống Tuy Hòa.

Trận Tuy Bình là trận đánh với quy mô lớn nhất trên địa bàn tỉnh Phú Yên. Lần đầu tiên một trung đoàn ta tập kích cứ điểm diệt 1 tiểu đoàn địch. Tuy Bình là trận đánh được tổ chức với lối đánh nhanh diệt gọn, làm chủ chiến trường, đạt hiệu suất chiến đấu cao. Chiến thắng này càng đẩy địch vào thế hoang mang, dao động, tinh thần chiến đấu bị giảm sút, tác động tích cực đến phong trào cách mạng ở địa phương, bức rút các cứ điểm, giải phóng miền Tây Phú Yên.

Trình độ tổ chức chỉ huy hiệp đồng chiến đấu của cán bộ trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội rất chặt chẽ, sâu sát, chính xác. Trình độ kỹ thuật, chiến thuật cá nhân của cán bộ, chiến sĩ được huấn luyện, hợp luyện tốt, có tổ chức diễn tập thực nghiệm theo phương án tác chiến hiệp đồng binh chủng, nên công tác hiệp đồng chặt chẽ, cán bộ chỉ huy bình tĩnh, xử trí linh hoạt các tình huống chiến đấu quyết đoán, chính xác, kịp thời, kiên quyết, nắm vững thời cơ tiêu diệt gọn quân địch, làm chủ chiến trường, ta ít thương vong.

Trước nguy cơ bị tiêu diệt và để ngăn chặn sự sụp đổ hoàn toàn của ngụy quân, tướng Êly mới sang thay Nava làm Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương chủ trương: “thu hẹp phạm vi chiếm đóng có trọng điểm để bảo toàn và tập trung lực lượng”.

Ngày 16 tháng 6, địch rút chạy khỏi Sông Cầu.

Ngày 19 tháng 6, địch vội vã rút chạy khỏi Chí Thạnh, bỏ lại nhiều đồ dùng quân sự.

Tỉnh đội Phú Yên chỉ thị cho Tiểu đoàn 365 (thiếu) và Đại đội 1 Tiểu đoàn 375 tiêu diệt cứ điểm Núi Sầm, là cứ điểm mạnh nhất bảo vệ phía tây cho thị xã Tuy Hoà. Sau khi mở cuộc hành quân Átlăng, địch đã khẩn trương xây dựng hàng loạt cứ điểm đồn bốt, trong đó có cứ điểm Núi Sầm để bảo vệ cửa ngõ phía tây thị xã, ngăn chặn lực lượng ta có khả năng phát triển từ Tây Nguyên đánh xuống. Tuy lực lượng địch chốt giữ tại đây chỉ có một đại đội nhưng được trang bị vũ khí đầy đủ, công sự chắc chắn. Đặc biệt ở phía tây cứ điểm địch xây dựng 2 lô cốt có thể không chế được nhiều hướng. Cứ điểm Núi Sầm còn được bao bọc bởi nhiều lớp hàng rào kẽm gai có gài mìn tự động, nằm trong tầm pháo chi viện từ thị xã Tuy Hòa.

Đêm 20 tháng 6 năm 1954, hai tiểu đoàn 365 và 375 cùng bộ đội địa phương, dân quân du kích, dân công hoả tuyến bí mật tập kết chiếm lĩnh trận địa.

Đúng 0 giờ rạng sáng 21 tháng 6 năm 1954, cuộc tấn công bắt đầu. Hoả lực ĐKZ, Bazôka, súng cối của ta bắn chế áp cứ điểm Núi Sầm. Khẩu Rimlé 2 nòng kiềm chế các ổ châu mai của địch hỗ trợ cho Đại đội 1 của Tiểu đoàn 375 mở đột phá khẩu ở phía đông, Đại đội 212 đánh vào hướng đông bắc. Sau vài phút bị bất ngờ, địch trong đồn tổ chức chống cự quyết liệt. Hoả lực của địch bố trí tại cứ điểm theo 3 tầng. Ta đánh chiếm tầng 1, tầng 2 ở gần chân núi rất nhanh, nhưng phát triển lên tầng 3 rất khó vì dốc đứng và đá tai mèo sắc cạnh. Địch có lợi thế ở trên cao bắn và ném lựu đạn vào đội hình ta tới tấp. Trận địa cối của ta liên tục bắn chế áp, nhưng vẫn không tiêu diệt được hoả lực địch, đội hình của ta đông, lại ở ngoài công sự, bị hoả lực trong đồn bắn quyết liệt nên không phát triển được. Lúc này, pháo sáng của địch từ đồn và từ thị xã bắn lên liên tục, cả cánh đồng Tuy Hoà và cứ điểm Núi sầm sáng rực. Toàn đội hình Đại đội 1 Tiểu đoàn 375 lộ rõ. Bọn giặc trong đồn dốc hết hoả lực vào đội hình của ta. Sau hơn 4 giờ chiến đấu, đột phá khẩu vẫn không mở được, lực lượng ta bị thương vong gần một nửa. Tiểu đoàn 365 đưa Đại đội 213 dự bị vào tiếp chiến. Địch gọi pháo từ Tuy Hoà bắn trùm lên đội hình ta. Tình hình càng thêm khó khăn. Trời đã gần sáng, bộ đội ta không thể phát triển tấn công được nữa, hoả lực địch vẫn không chế rất mạnh. Trước tình hình đó, đồng chí Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 365 lệnh cho hoả lực của tiểu đoàn liên tục phóng bom, cối vào cứ điểm địch để hạn chế hoả lực trong đồn bắn ra. Đồng thời lực lượng ta nhanh chóng rút ra và chuyển thương binh, liệt sĩ về tuyến sau.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Năm, 2021, 09:51:50 am
Sau khi ta phóng bom và đạn cối, Bazôka, ĐKZ dồn dập vào đồn, hai ổ châu mai của địch tạm ngưng, hoả lực trong đồn lắng xuống. Các chiến sĩ khẩn trương chuyển thương binh, tử sĩ ra tuyến sau giao cho dân công hoả tuyến. Lực lượng ta vừa chuyển được hai chuyến cũng là lúc pháo địch từ thị xã bắn vào phía sau đội hình bộ đội ta. Tuy nhiên, vì địch ở trong đồn bị tê liệt không chỉ điểm cho pháo được nên chúng bắn không chính xác. Ta tổ chức lui quân, để lại một số liệt sĩ nhờ nhân dân trong vùng chôn cất. 29 liệt sĩ nằm trong cứ điểm không đưa ra được bị địch dồn vào một đoạn hào rồi lấp đất lên”(1).

Trận đánh cứ điểm Núi Sầm không thành công, lực lượng ta bị thiệt hại nặng nề, riêng Đại đội 1 Tiểu đoàn 375 thương vong mất 2/3 quân số. Tuy ta bị thiệt hại lớn, nhưng các nhà trại của địch tại cứ điểm Núi Sầm đều bị cháy rụi, nhiều công sự sập đổ, 1/3 quân địch trong đồn bị tiêu diệt, số còn lại mất hết tinh thần không còn khả năng chiến đấu. Sau trận Núi Sầm các tiểu đoàn 375 và 365 về đóng quân ở Hòa Quang, Hòa Định, Hòa Hội để củng cố, rút kinh nghiệm, bổ sung quân số chuẩn bị tho các trận chiến đấu mới.

Trận đánh cứ điểm Núi Sầm mặc dù không thành công nhưng nó thể hiện tinh thần đoàn kết, nỗ lực vượt bậc, dũng cảm không ngại hy sinh gian khổ của cán bộ, chiến sĩ 2 tiểu đoàn. Trận đánh cũng góp phần làm cho địch càng thêm hoang mang dao động dẫn tới thất bại hoàn toàn.

Trận đánh cũng thể hiện vai trò vô cùng quan trọng của nhân dân trong tác chiến của bộ đội. Dân rào đường chặn giặc, dân tham gia tải thương, dân lo chôn cất cho liệt sĩ. Những hành động tự nguyện cao đẹp đó của nhân dân Hòa Trị thể hiện tình quân dân cá nước, tinh thần yêu nước, sẵn sàng hy sinh vì thắng lợi cuối cùng, giải phóng quê hương.

Thừa lúc quân địch từ các nơi vừa chạy về thị xã Tuy Hòa chưa kịp củng cố công sự, Đảng ủy, Ban chỉ huy Trung đoàn 803 cùng Ban chỉ huy Tỉnh đội Phú Yên họp quyết định: Khẩn trương tập trung toàn bộ lực lượng, tiến công đồng loạt vào tất cả các mục tiêu quan trọng của địch trong nội thị và ngoại ô thị xã Tuy Hòa. Trước yêu cầu chiến đấu khẩn trương, nhiều đơn vị chỉ được giao nhiệm vụ trên sa bàn và bản đồ, chưa kịp trinh sát thực địa. Nhưng Phú Yên là chiến trường quen thuộc và có bộ đội địa phương và dân quân du kích phối hợp nên tất cả các đơn vị đều quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Đêm 21 tháng 6, trận tiến công lớn nhất, quyết liệt nhất của quân ta vào quân Pháp tại thị xã Tuy Hòa và vùng ven bắt đầu. Đại đội 211 (Tiểu đoàn 365), Tiểu đoàn 39, đội đặc công tỉnh, đội đặc công thuộc Trung đoàn 803, đại đội trợ chiến của trung đoàn cùng Tiểu đoàn 375, Đại đội 377 địa phương tỉnh đồng loạt tiến công địch. Chiến sự diễn ra ác liệt, kéo dài suốt đêm trong một khu vực gần 60km2. Lửa từ các kho xăng địch trong thị xã bị đặc công ta đánh cháy bốc cao hàng chục mét. Tiếng nổ từ các kho đạn địch bị phá hủy rung chuyển thị xã. Tại khu vực Màng Màng và khu vực Núi Hùng, Tiểu đoàn 375 đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn địch, phá hủy hơn 100 xe quân sự. Tại trung tâm thị xã đội đặc công tỉnh và đội đặc công khu do đồng chí Đoàn chỉ huy tiêu diệt gần hết Tiểu đoàn khinh quân 717, diệt hơn 200 tên, phá hủy gần 100 xe quân sự, đốt cháy một kho xăng lớn và nhiều kho đạn dự trữ của địch.

Phối hợp với chiến trường đồng bằng, ngày 24 tháng 6 năm 1954, Trung đoàn 96 của Liên khu 5 (mới thành lập) đã xoá sổ binh đoàn 100 khét tiếng của thực dân Pháp trên đường 19, giết và làm bị thương 700 lính Âu - Phi, bắt 1.200 tên, trong đó có tên đại tá Baru cùng toàn bộ Bộ tham mưu, thu 229 xe cơ giới.


(1) Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, ta xây dựng bia tưởng niệm các liệt sĩ hy sinh trong trận núi Sầm. Song bia chỉ nhắc đến liệt sĩ của Tiểu đoàn 365, do không nắm được Đại đội 1 Tiểu đoàn 375 cùng tham gia trận đánh.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Năm, 2021, 09:53:52 am
Chiến thắng vang dội của Trung đoàn 96 trên đường 19 là một niềm khích lệ động viên vô cùng lớn lao với quân và dân Phú Yên, đẩy quân địch ở Phú Yên vào tình thế hoang mang dao động cực độ. Nắm bắt được địch có ý đồ rút chạy, sau khi đánh vào thị xã Tuy Hòa, Tiểu đoàn 365 được lệnh vượt sông Ba hành quân cấp tốc vào đèo Cả, sẵn sàng đón đánh địch có thể từ Phú Yên rút chạy về phía nam và cũng có thể từ Nha Trang ra ứng cứu cho Tuy Hòa. Địa đoạn phục kích được Tiểu đoàn 365 chọn là đoạn cua chữ A, ở chân đèo Cả, đường quanh co gấp khúc, nhiều dốc lên xuống khá hiểm trở. Hai bên núi liền kề, vách đứng, vực sâu, đá gộp chồng chất, lực lượng ta dễ tiếp cận, giữ được bí mật có địa hình che đỡ, che khuất, rất thuận lợi cho việc phục kích đánh giao thông.

Khoảng hơn 9 giờ ngày 25 tháng 6 năm 1954, đơn vị đã đến vị trí tập kết. Lúc này có 1 trung đội địch đang cảnh giới trên đường. Các chiến sĩ bí mật nằm im không đánh. Sau khi không phát hiện lực lượng ta, địch bắn 3 phát cối, báo hiệu an toàn cho đoàn xe chuẩn bị qua đèo. Đơn vị nghe tiếng động cơ xe, nhưng vẫn chưa xác định được là xe từ ngoài vào hay trong ra. Chỉ huy ra lệnh sẵn sàng đánh địch. Lúc này ta phát hiện một chiếc xe bọc thép, trên nóc gắn trung liên đang chạy từ Tuy Hòa vào, theo sau là đoàn xe vận tải(1). Đoàn xe đi chậm, có lẽ vừa đi vừa thăm dò. Đợi cho đoàn xe lọt vào trận địa phục kích của ta, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 365 ra lệnh nổ súng. Các khẩu trung liên của tổ chặn đầu nhả đạn xối xả vào đội hình địch. Cả đoàn xe dồn lại. Ngay lập tức, các trung đội vận động xung phong dùng trung liên và thủ pháo đánh chia cắt đoàn xe địch. Bị đánh bất ngờ, địch bỏ xe tháo chạy ngược trở ra, hoặc chạy xuống bờ suối. Hỏa lực của ta vẫn tiếp tục nhả đạn vào đoàn xe, một số xe bốc cháy. Sau khi hoàn hồn lại, quân địch phối hợp với trung đội cảnh giới từ bờ suối tìm đường đột nhập vào trận địa của ta. Phát hiện được âm mưu của địch, các khẩu trung liên của ta tập trung vào đội hình địch đang tổ chức phản kích. Nhiều tên bị diệt, số còn lại tháo chạy tán loạn. Tiểu đoàn ra lệnh cho một trung đội truy kích tàn quân. Hai trung đội còn lại tràn xuống đường phá xe địch. Cả đoàn xe chở vũ khí (chủ yếu là đạn), đồ hộp, vô tuyến điện. Sau khi thu chiến lợi phẩm (ta chỉ thu vũ khí và đài vô tuyến điện), chiến sĩ ta lần lượt mở nắp ca pô xe, đập lựu đạn thả vào phá hủy.

Sau hơn 2 giờ chiến đấu, ta đã diệt được 79 xe (chỉ có xe đầu chạy thoát), diệt, làm bị thương và bắt làm tù binh 130 tên. Ta thu 1 đại liên, 1 trọng liên 12,7 ly, 5 tiểu liên, 20 súng trường, hàng chục máy vô tuyến điện và rất nhiều đạn dược, phá hủy 1 đại bác 75 ly, giải thoát 98 đồng bào bị chúng bắt theo. Sau trận đánh, Đại đội 211 được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng nhất.

Trên cơ sở nắm chắc cục diện chiến trường, thực hiện nghiêm mệnh lệnh của cấp trên, Tiểu đoàn 365 đã tổ chức cơ động cấp tốc vào đèo Cả sẵn sàng đón đánh địch có thể từ Phú Yên rút chạy về phía nam và cũng có thể từ Nha Trang ra ứng cứu cho Tuy Hòa, theo lệnh của Trung đoàn. Nhờ vậy mà ta có thời cơ tiêu diệt được đoàn xe vận tải của địch.

Đêm 29 tháng 6, ta dùng súng cối pháo kích vào nhiều mục tiêu địch trong thị xã, gây cho chúng nhiều thiệt hại. Tiếp đến đêm 8 tháng 7, các chiến sĩ đặc công lại đánh nổ một kho đạn lớn của địch ở phường 6. Lửa cháy rực trời, nhiều tiếng nổ dữ dội kéo dài từ giữa đêm đến sáng, làm cho binh lính địch trong thị xã càng kinh hồn, khiếp đảm. Lúc này các con đường vận chuyển, tiếp tế cho địch ở thị xã Tuy Hòa đã bị ta cắt đứt hoàn toàn.

Thừa thắng, quân ta siết chặt vòng vây quân địch trong thị xã và khẩn trương chuẩn bị cho trận tiến công, tiêu diệt toàn bộ quân địch trong thị xã, giải phóng hoàn toàn Phú Yên. Đang lúc mọi công tác chuẩn bị sắp hoàn thành thì ngày 20 tháng 7, Hiệp định Giơnevơ được ký kết. Lệnh ngừng bắn được các đơn vị nghiêm chỉnh chấp hành.


(1) Sau 5 tháng mở cuộc hành quân Átlăng ra Phú Yên, quân Pháp bị quân dân Phú Yên đánh cho tan tác. Để tránh nguy cơ bị tiêu diệt, địch tổ chức rút lực lượng và cơ sở vật chất về Nha Trang. Ngày 25 tháng 6 năm 1954, địch huy động 1 đoàn xe vận tải 80 chiếc chở lương thực, thực phẩm, vũ khí, quân trang quân dụng từ Tuy Hòa (nơi đăt trung tâm chỉ huy tiền phương cuộc hành quân Átlăng) về Nha Trang. Bảo vệ cho đoàn xe vận tải có 1 đại đội địch cùng hoả lực mạnh đại liên, trung liên đặt trên xe.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Năm, 2021, 09:59:13 am
Chương ba

TẦM VÓC, Ý NGHĨA, NGUYÊN NHÂN THẮNG LỢI
VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA CHIẾN THẮNG ÁTLĂNG

I. CƠN ĐỊA CHẤN ĐỐI VỚI THỰC DÂN PHÁP SAU THẤT BẠI CỦA CUỘC HÀNH QUÂN ÁTLĂNG

Mặc dù Nava cố bao biện rằng: “Cuộc hành quân Átlăng chẳng hề làm tổn hại gì đến các hoạt động trên các chiến trường khác, đặc biệt ở Bắc Bộ, dù đối với Điện Biên Phủ hay đối với đồng bằng”(1), nhưng những gì đã diễn ra lại cho thấy thất bại của Átlăng đã gây nên một “cơn địa chấn” thật sự trên bàn cờ bố trí binh lực, cũng như đối với tinh thần binh lính Pháp và binh lính bản xứ.

Trong cuốn hồi ký “Thời điểm của những sự thật” chính Nava cũng thừa nhận: “Trên các hướng phụ, các cuộc tiến công của Việt Minh thể hiện bằng các hành động nhằm kiềm chế lực lượng mặt đất của chúng ta và thu hút nó ra khỏi Điện Biên Phủ. Họ đã buộc chúng ta phải dành một số đơn vị để giải tỏa các đồn bốt bị bao vây. Ta đã bị giam chân mất một bộ phận lực lượng quan trọng lý ra có thể dùng để mỏ một chiến dịch chi viện cho Điện Biên Phủ”(2).

Theo như thừa nhận của phía Pháp thì thời điểm cuối năm 1953, trên địa bàn Liên khu 5 quân Pháp phải chống đỡ với cuộc tiến công của Việt Minh trong những điều kiện rất khó xử. Để đương đầu với cuộc chiến tranh nhân dân ở địa bàn này, ít nhất họ cũng phải có 5 binh đoàn cơ động: một ở Nha Trang, một ở Đà Nẵng và ba binh đoàn cơ động trên Tây Nguyên. Vậy mà để mở cuộc hành quân Átlăng, họ đã phải huy động tới 6 binh đoàn cơ động, trong đó có 4 binh đoàn (10, 100, 41, 42) và 2 tiểu đoàn dù trực tiếp nhảy vào dải đất nhỏ hẹp Phú Yên. Cho dù chất lượng của 6 binh đoàn này “có vấn đề” (theo lời Nava) đi chăng nữa thì đó cũng là con số quá lớn trong khi ở các chiến trường khác vẫn phải có đủ lực lượng cần thiết, nhất là trong thời buổi phải “thắt lưng buộc bụng”, tìm lời giải cho bài toán “tập trung hay phân tán lực lượng”.

Việc huy động tới 22 tiểu đoàn cho cuộc hành quân Átlăng chắc chắn sẽ có ảnh hưởng lớn, gây xáo trộn việc bố trí binh lực của H.Nava trên chiến trường. Chưa kể, cơn địa chấn sau sự phá sản của Aretuy (bước 1 cuộc hành quân Átlăng) còn gây xáo trộn nhiều hơn nữa cả trên bản đồ bố trí binh lực của Bộ chỉ huy quân Pháp và càng làm cho tinh thần của binh lính Pháp và binh lính bản xứ sa sút nghiêm trọng. Việc Nava cho xây dựng gấp rút 2 tập đoàn cứ điểm ở Plei Ku (11 tiểu đoàn) và ở An Khê (3 tiểu đoàn) để “chặn đứng bước tiến của đối phương” chưa thấy phát huy hiệu quả đến đâu nhưng rõ ràng nó đã làm cho cái túi dự bị chiến lược của Nava ở đồng bằng Bắc Bộ bị rút ruột.

Xét một cách toàn cục, việc quân và dân Phú Yên cầm chân được quân Pháp (trong hai tháng đầu tuy chưa có sự phối hợp của bộ đội chủ lực nhưng đã loại khỏi vòng chiến đấu hàng chục nghìn tên địch, giam chân được lực lượng cơ động của địch...) đã góp phần làm phá sản kế hoạch Nava, bảo vệ được một địa bàn chiến lược quan trọng của vùng tự do Liên khu 5.

Mặc dù sau thất bại của Aretuy ở Phú Yên, Bộ chỉ huy quân Pháp cũng chưa chịu từ bỏ Átlăng một cách dễ dàng. Ngày 12 tháng 3 năm 1954, chúng vẫn thực hiện tiếp bước 2 (Acxen) của cuộc hành quân, mở cuộc tiến công đổ bộ lên Quy Nhơn. Tuy nhiên, sau đòn tiến công chiến lược của ta ở bắc Tây Nguyên và ngay sau khi ta nổ súng tiến công cứ điểm Him Lam, mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ, ngồi trên máy bay trên đường từ Sài Gòn ra Hà Nội, Tổng chỉ huy Nava buộc phải ra lệnh đình chỉ cuộc hành quân Átlăng - niềm kiêu hãnh và là ảo vọng của Nava đối với vùng tự do Nam - Ngãi - Bình - Phú của ta.

Những ngày cuối tháng 1 đầu tháng 2 năm 1954 khi mà tình hình đang vô cùng rối ren sau những tin từ Hội nghị Béclin, triển vọng họp Hội nghị Giơnevơ bàn về Đông Dương dồn dập dội về những người cầm đầu thực dân Pháp ở Đông Dương, cùng với sự suy sụp trong đội quân bản xứ của Bảo Đại thì lúc này ta chọn những nơi hiểm yếu nhất trong hệ thống chiếm đóng của quân Pháp, bất ngờ ra đòn. Nava phải thừa nhận, phía Pháp chịu những tổn thất nặng nề hơn nhiều so với những năm trước đó. Những đòn tiến công dồn dập của ta ở Tây Bắc, Trung - Hạ - Thượng Lào và cuộc hành quân Átlăng ở vùng duyên hải miền Trung đã hút đi quá nửa khối cơ động chiến lược vừa được tập trung ở đồng bằng Bắc Bộ.

Đánh giá tác động của các cuộc tiến công trước “Điện Biên Phủ” của ta, trong đó có cuộc tiến công làm phá sản kế hoạch Átlăng, Tổng chỉ huy Na va rút ra hai vấn đề mà ông ta cho là hệ trọng nhất:

Một là, bộ đội Việt Minh đã kiềm chế lực lượng mặt đất của Pháp, đã giam chân một bộ phận quan trọng lực lượng bộ binh của Pháp đáng ra có thể dùng để chi viện cho Điện Biên Phủ.

Hai là, bộ đội Việt Minh đã làm suy yếu sức mạnh không quân của Pháp và thu hút nó ra khỏi Điện Biên Phủ.

Lần đầu tiên trên chiến trường Liên khu 5, bộ đội chủ lực ta triển khai tiến công trên nhiều hướng nhằm vào các vị trí chiến lược và cũng là thời điểm mà chiến tranh du kích ở Phú Yên nói riêng, ở vùng tự do Nam - Ngãi - Bình - Phú nói chung phát triển tới đỉnh cao, hỗ trợ đắc lực cho các đòn tiến công phía trước.

Hai vấn đề trên chính là hai bất ngờ lớn đối với Tổng chỉ huy Nava cũng như Bộ chỉ huy quân Pháp. Nava thừa nhận rằng ngay từ cuối năm 1953, ông ta đã phát hiện ra những triệu chứng cho thấy Liên khu 5 đang chuẩn bị tiến công, có nhiều khả năng sẽ đánh lên Tây Nguyên; song ông ta không ngờ đối phương lại dám đưa toàn bộ quân chủ lực lên Tây Nguyên, giao lại vùng duyên hải miền Trung cho lực lượng vũ trang các địa phương tự lo liệu. Điều làm cho Nava và Bộ chỉ huy cuộc hành quân Átlăng bất ngờ nhất chính là khả năng kìm chân các binh đoàn cơ động (GM) tinh nhuệ của Pháp mà quân và dân Phú Yên thể hiện ngay từ ngày đầu quân Pháp đặt chân lên Tuy Hoà và kéo dài liên tục sau đó. Chính điều này đã ngăn chặn không cho quân Pháp mở rộng phạm vi chiếm đóng và dẫn đến sự thảm bại của bước 1, rồi tiếp đó là bước 2 của cuộc hành quân Átlăng đầy tham vọng. Mặc dù sau khi hàng loạt vị trí phòng thủ ở Phú Yên bị đổ, Đờ Bôpho, chỉ huy cuộc hành quân, đã phải tức tốc điều GM 41 từ Bình Định vào cứu nguy nhưng cũng không cứu vãn được tình thế.

Thắng lợi to lớn của quân và dân Phú Yên không chỉ làm phá sản bước khỏi đầu của cuộc hành quân Átlăng (cũng là bước khởi đầu của kế hoạch Nava), không chỉ thu hút, kìm chân quân địch giữ vững được địa bàn, tiêu diệt nhiều sinh lực địch mà còn góp phần làm thay đổi tương quan thế và lực giữa ta và địch, dẫn đến làm thay đổi cục diện chiến trường Khu 5 và góp phần làm thay đổi cục diện chiến trường cả nước theo hướng có lợi cho ta


(1) H. Na-va, Thời điểm của những sự thật, Sđd, tr.198.
(2) H. Na-va, Thời điểm của những sự thật, Sđd, tr.198.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Năm, 2021, 09:59:37 am
II. NGUYÊN NHÂN THẮNG LỢI
VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

Khi nhìn nhận đánh giá thắng lợi của quân và dân Phú Yên trong việc đánh bại cuộc hành quân Átlăng cần gắn với các chiến thắng của quân và dân các địa phương trong Liên khu 5. Việc Bộ Tư lệnh Liên khu 5 kiên quyết, chủ động mở cuộc tiến công ở bắc Tây Nguyên đã thu hút một lực lượng địch đang tham gia cuộc hành quân Átlăng, góp phần giảm áp lực ở vùng duyên hải Bình - Phú. Mặt khác, cuộc chiến đấu kiên cường của quân và dân Phú Yên cầm chân quân địch, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực của chúng đã không cho phép Bộ chỉ huy quân Pháp huy động binh lực lớn để đối phó với cuộc tiến công của ta ở bắc Tây Nguyên. Có thể nói, quân và dân Phú Yên đã góp phần quan trọng cùng quân dân trong Liên khu làm nên chiến thắng trong chiến dịch tiến công bắc Tây Nguyên, đồng thời đánh bại cuộc hành quân Átlăng. Chiến thắng Átlăng cùng với chiến thắng bắc Tây Nguyên đã góp phần làm phá sản kế hoạch Nava, nỗ lực chiến tranh cao nhất của thực dân Pháp với sự viện trợ lớn của Mỹ hòng xoay chuyển tình thế từ bại thành thắng trong cuộc chiến tranh Đông Dương.

Như vậy chiến thắng của quân và dân Phú Yên cùng với thắng lợi của đòn tiến công chiến lược ở bắc Tây Nguyên đã kìm chân và tiêu hao một lực lượng lớn binh lực địch; quan trọng hơn là đã thu hút tới hơn 20 tiểu đoàn địch vào chiến trường này, buộc địch phải phân tán khối cơ động chiến lược của chúng, tạo điều kiện thuận lợi cho mặt trận chính - mặt trận Điện Biên Phủ giành thắng lợi.

Phát động được toàn dân cầm vũ khí, toàn dân tham gia kháng chiến, đặc biệt là trong quá trình chiến đấu đánh bại cuộc hành quân Átlăng là thành công, là bài học nổi bật trong tổ chức chỉ đạo chiến tranh của Đảng bộ và quân dân Phú Yên.

Đảng bộ, quân dân Phú Yên luôn xác định rõ cuộc kháng chiến của địa phương mình nằm trong thế chiến lược chung của cuộc chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, được Liên khu ủy và Bộ Tư lệnh Liên khu chỉ đạo chặt chẽ, hết sức tạo điều kiện, được các hoạt động của bộ đội chủ lực và hoạt động kháng chiến của các địa phương bạn hỗ trợ. Về phía mình, mỗi chiến công của Đảng bộ, quân dân trong tỉnh cũng sẽ góp phần làm nên chiến công chung của Đảng bộ và quân dân liên khu, của quân và dân cả nước.

Chính trong điều kiện đó, cuộc kháng chiến của Phú Yên, trong đó có trận chống càn Átlăng đã không ngừng phát triển và giành thắng lợi to lớn.
Chính lòng yêu nước của nhân dân được khơi dậy, được phát động, được tổ chức rất tốt ở Phú Yên đã tạo nên chỗ dựa vững chắc, đã giúp cho Phú Yên có những đóng góp xứng đáng sức người, sức của cho sự nghiệp kháng chiến của quân và dân liên khu.

Trong 9 năm kháng chiến nói chung, trong chiến dịch Átlăng nói riêng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân dân Phú Yên đã sớm hiểu rõ được kẻ thù tàn bạo. Và trong mỗi người dân đã sớm nảy sinh lòng căm thù mà chỉ có chiến đấu và chiến thắng mới thỏa mãn được. Trong 9 năm kháng chiến và trong cuộc chống càn Átlăng đáng ghi nhớ ấy, tinh thần quyết chiến quyết thắng của quân và dân Phú Yên đã biểu lộ với tất cả sự rộng lớn của nó. Hiện giờ dù đã được lãnh đạo các cấp hết sức quan tâm, dù các cơ quan chức năng đã có nhiều cố gắng nhưng chúng ta cũng mới chỉ ghi chép lại được một số ít sự việc. Chúng ta còn chưa biết hết những chiến công cụ thể của hàng nghìn anh hùng vô danh và vô số trận đánh ở các xóm làng.

Đó là tinh thần yêu nước nồng nàn, là chủ nghĩa anh hùng tập thể. Bởi vì không chỉ có những con người riêng lẻ lập nên chiến công, cũng không phải là hàng trăm người mà là tất cả các lực lượng, các đoàn thể, các cơ quan Dân, Chính, Đảng, toàn thể nhân dân trong tỉnh cùng đánh giặc. Thêm nữa chiến công sau lại oanh liệt hơn chiến công trước. Cuộc chiến tranh do toàn dân tiến hành và chủ nghĩa anh hùng tập thể là nét đặc trưng quan trọng nhất của chiến thắng Átlăng và của cuộc kháng chiến trên địa bàn này.

Ngay từ khi mới bước vào kháng chiến, nhận thức rõ vị trí và tầm quan trọng có ý nghĩa chiến lược của địa bàn không chỉ đối với địa phương, không chỉ đối với vùng tự do Nam - Ngãi - Bình - Phú mà còn đối với cực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, Tỉnh ủy Phú Yên đã sớm phát động phong trào xây dựng làng chiến đấu, tạo nên thế trận cho cuộc chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện. Các làng chiến đấu ở Phú Yên đều được xây dựng công phu và khá kiên cố. Sau này từ thực tiễn của những trận chống địch càn quét, bắn phá, tập kích, biệt kích, làng kháng chiến ở Phú Yên ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp với thực tiễn chiến đấu hơn. Các loại hầm hố công sự, nhất là hầm bí mật được cấu trúc tinh vi và nhiều loại hơn. Chông, mìn, lựu đạn và các loại vũ khí tự tạo khác cũng dần được cải tiến, ngày càng phong phú hơn về loại hình và cách đánh, thực sự là nỗi kinh hoàng đối với giặc.

Nhìn chung, các làng chiến đấu ở Phú Yên ngay từ những ngày đầu đối phó với các trận càn quét, biệt kích, tập kích của địch cũng như trong trận chống càn Átlăng đã phát huy được hiệu quả chiến đấu và tác dụng thiết thực của nó, tạo nên thế trận vững chắc cho cuộc chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện trên địa bàn. Khi bị kẻ thù tiến công, cướp phá, mỗi làng chiến đấu thực sự trở thành một cụm điểm tựa, một pháo đài ngăn chặn giặc, góp phần làm phá sản chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh” của giặc Pháp, buộc chúng phải căng quân ra khắp nơi để đối phó trong nỗi hốt hoảng, lo âu thường xuyên.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Năm, 2021, 10:03:58 am
Thực tiễn ở Phú Yên trong 9 năm kháng chiến, đặc biệt là trong chiến đấu đánh bại cuộc hành quân Átlăng đã chỉ rõ: để phát huy được ưu thế và hiệu quả của làng chiến đấu cần có sự phối hợp chiến đấu chặt chẽ giữa bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích, giữa làng nọ với làng kia, tạo nên thế trận liên hoàn, liên thôn, liên xã, liên huyện và toàn tỉnh. Trong thế trận đó, các làng chiến đấu hoàn toàn có thể đứng vững và đánh bại mọi cuộc tiến công của giặc, dù chúng có đông quân thiện chiến và nhiều bom đạn đến đâu cũng phải chịu thất bại trước thế trận đó.

Trong thế trận của cuộc chiến tranh nhân dân ở cơ sở, lực lượng vũ trang địa phương luôn giữ vai trò nòng cốt. Nhận thức rõ điều đó, cấp ủy và Đảng bộ Phú Yên hết sức chăm lo xây dựng bộ đội địa phương và dân quân du kích.

Một kinh nghiệm lớn trong xây dựng lực lượng vũ trang địa phương của Đảng bộ là phải trên cơ sở xây dựng lực lượng chính trị vững chắc mà xây dựng lực lượng vũ trang; phải tiến hành xây dựng lực lượng phù hợp với tính chất và yêu cầu của chiến trường; phải xây dựng được mối quan hệ gắn bó giữa bộ đội địa phương và dân quân du kích, giữa quân với dân. Trong quá trình chỉ đạo kháng chiến, Đảng bộ đã khẳng định và coi đó là những kinh nghiệm quý báu, đặc biệt là trong bối cảnh Phú Yên là vùng tự do nhưng phải liên tục chiến đấu chống lại các cuộc hành quân càn quét, đánh phá của địch.

Chính vì vậy, dân quân du kích ngày càng được Tỉnh ủy và cấp ủy Đảng các cấp chăm lo xây dựng, củng cố kiện toàn về mọi mặt, do chi bộ Đảng các xã trực tiếp lãnh đạo, chỉ huy. Việc xây dựng dân quân du kích luôn gắn bó chặt chẽ với cơ sở chính trị. Nơi nào có cơ sở chính trị mạnh, có các đoàn thể quần chúng mạnh thì dân quân du kích ở đó mạnh và chiến đấu tốt.

Trong tổ chức và xây dựng các lực lượng vũ trang địa phương, cấp ủy Đảng phải là người chủ trì lãnh đạo thống nhất các lực lượng, có cơ quan quân sự làm tham mưu. Các ban chỉ huy Tỉnh đội, Huyện đội, Xã đội qua nghiên cứu tình hình mọi mặt về địch, về khả năng của địa phương trong từng thời gian mà đề xuất với cấp ủy phương hướng tổ chức xây dựng lực lượng và tổ chức các hoạt động kháng chiến phù hợp, hiệu quả.

Để bộ đội địa phương và dân quân du kích có thể hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình, Đảng bộ Phú Yên luôn chăm lo, tăng cường giáo dục chính trị, nâng cao chất lượng về mọi mặt cho các lực lượng vũ trang. Tỉnh ủy thường xuyên gắn việc nâng cao chất lượng chính trị cho bộ đội và du kích với nhiệm vụ trọng tâm của Đảng bộ trong từng thời kỳ. Nâng cao chất lượng cho bộ đội và du kích còn có ý nghĩa tạo cho bộ đội địa phương, dân quân du kích không chỉ có khả năng tác chiến độc lập, mà còn hết lòng, hết sức đoàn kết hiệp đồng, hỗ trợ cho nhau đánh giặc, tạo điều kiện cho nhau lập chiến công. Không chỉ đánh giỏi mà còn phải giỏi làm công tác xây dựng cơ sở, vận động quần chúng.

Do hoàn cảnh chiến đấu phức tạp và ác liệt, bên cạnh thắng lợi, thành công công tác lãnh đạo của các cấp ủy khó tránh khỏi thiếu sót thậm chí sai lầm vấp váp. Kinh nghiệm ở Phú Yên trong chiến đấu đánh bại cuộc hành quân Átlăng của địch là Đảng bộ luôn luôn nắm chắc và chỉ đạo sát sao lực lượng vũ trang, khi thắng lợi không chủ quan thỏa mãn, khi vấp váp nhanh chóng tìm ra nguyên nhân và tập trung sức khắc phục để đưa sự nghiệp kháng chiến trên địa bàn ngày càng phát triển.

Trong hoàn cảnh khắc nghiệt của chiến tranh, nội tâm của mỗi con người thường bị giằng xé giữa sự sống và cái chết, giữa lòng kiên trung bất khuất và sự cầu an dao động, giữa sự hèn nhát và chủ nghĩa anh hùng. Trong bối cảnh ấy, sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là tổ chức cơ sở Đảng đóng vai trò quyết định. Mỗi chủ trương cụ thể của Khu ủy, Tỉnh ủy gắn liền với xương máu của nhân dân càng làm nổi bật trách nhiệm cao cả của những người cộng sản trong việc tổ chức cuộc kháng chiến ở mỗi xóm làng.

Trong những năm Đảng rút vào bí mật cũng như khi đã ra công khai(1), Đảng vẫn là người lãnh đạo và tổ chức cuộc kháng chiến của toàn dân tộc. Người đảng viên có lúc mang những tên gọi “Người của đoàn thể”, “Người của Hội”, “Cán bộ Việt Minh”, song nhân dân Phú Yên vẫn hiểu ngay đó là những đảng viên cộng sản, và họ được nhân dân hết lòng đùm bọc, che chở, kính trọng sâu sắc.

Lịch sử cuộc kháng chiến của quân và dân Phú Yên, đặc biệt là trong trận chống càn Átlăng đã góp phần làm cho vai trò những người đảng viên cộng sản càng được nâng cao. Trong suốt 9 năm kháng chiến và trong quá trình chiến đấu đánh bại cuộc hành quân Átlăng, các đảng viên luôn là những người tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lòng quả cảm, ý chí quyết chiến quyết thắng và sự kiên cường bất khuất của quân dân Phú Yên. Chính nhờ tổ chức Đảng, cơ sở Đảng bám rễ chắc chắn trong quần chúng đã tạo nên sự gắn bo máu thịt giữa Đảng với dân, giữa dân với Đảng trên mảnh đất này trong những ngày gian khổ và ác liệt.


(1) Sau Đại hội lần thứ 2 (tháng 2-1952) Đảng ta ra công khai, lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Năm, 2021, 10:07:01 am
Lịch sử kháng chiến trên địa bàn không phải không có sai lầm, thiếu sót. Nhưng dám nhìn thẳng vào sự thật, dám nhận sai lầm, thiếu sót, dám chịu trách nhiệm và từ sai lầm thiếu sót ra sức xây dựng, củng cố, rèn đúc ý chí quyết chiến quyết thắng, vươn lên giành thắng lợi là một bản lĩnh cách mạng cực kỳ cần thiết, cực kỳ quan trọng và quý báu mà quân và dân Phú Yên, đặc biệt là những người lãnh đạo cao nhất ở địa phương đã xây dựng được ngay từ những ngày đầu, trở thành một phẩm chất tốt đẹp có tính truyền thống của Đảng bộ và quân dân Phú Yên.

Bên cạnh vai trò tổ chức, lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền từ tỉnh, huyện đến các xã, thôn, mỗi chiến công của quân và dân Phú Yên trong 9 năm kháng chiến nói chung, trong chiến thắng đánh bại cuộc hành quân Átlăng nói riêng đều gắn liền với tên tuổi của các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy Tỉnh đội, Huyện đội, Xã đội, Thôn đội, các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy tiểu đội, trung đội, đại đội, tiểu đoàn, bộ đội địa phương và bộ đội chủ lực liên khu. Các đồng chí đó là những cán bộ lãnh đạo, chỉ huy được đề bạt lên trong chiến đấu, từ cuộc chiến tranh nhân dân trên địa bàn này. Các đồng chí đó vốn là những thanh niên nông dân chưa có đủ trình độ lý luận cần thiết, chưa có kiến thức đầy đủ về quân sự, thiếu trình độ văn hóa phổ thông, nhưng lại là những cán bộ giàu kinh nghiệm tác chiến du kích, hết lòng yêu quê hương, hết lòng trung thành với Tổ quốc và nhân dân, làm công tác quần chúng tuyệt giỏi. Sau mỗi trận chiến đấu, các đồng chí đó hầu như không có thời gian nghỉ ngơi: lo giải quyết hậu quả, chôn cất liệt sĩ, chăm sóc thương binh, đào hầm, lo ăn uống sinh hoạt cho đơn vị, động viên đồng đội; quan hệ với chính quyền, đoàn thể quần chúng và nhân dân, hiệp đồng với các đơn vị bạn, hội họp, nhận nhiệm vụ chiến đấu mới...

Chính cuộc chiến đấu gian khổ hy sinh nhưng xiết bao gắn bó với cơ sở, với nhân dân ở Phú Yên là cái lò rèn ưu tú nhất đào tạo các đồng chí đó trở thành những cán bộ lãnh đạo, chỉ huy giỏi, được nhân dân yêu mến, khiến quân thù khiếp sợ.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến ở Phú Yên nói chung, trong trận càn Átlăng nói riêng gắn liền với vai trò và công lao to lớn của các đoàn thể, của mọi tầng lớp nhân dân các dân tộc từ cụ già tới em nhỏ, đặc biệt là của những người phụ nữ. Có thể nói đây cũng là một thành công lớn, một bài học kinh nghiệm lớn trong tổ chức, lãnh đạo, chỉ huy của Đảng bộ Phú Yên.

Trong tất cả các đội du kích ở các làng xã đều có khá đông các nữ thanh niên cầm súng chiến đấu. Hầu hết các chị đều biết sử dụng thành thạo súng trường, lựu đạn và các loại vũ khí tự tạo như: chông, mìn, đạp lôi. Khi giặc đến các chị ngâm mình dưới các ao, đầm, kênh rạch; nấp trong hầm bí mật, trong các rừng cây, hốc đá, khe suối rồi bất thần lao ra tiến công. Khi giặc tháo chạy, các chị lại cùng nhân dân chôn cất những đồng bào và các đồng chí bị hy sinh, dựng lại những căn nhà bị địch đốt cháy, chăm dặm lại lúa màu, sửa sang lại làng chiến đấu, đào hầm bí mật cho người, gia súc và cất giấu lương thực.

Nhưng phần lớn những người phụ nữ Phú Yên là những người không có vũ khí và trụ lại trong các thôn xóm. Ở đây các mẹ, các chị tiến hành cuộc chiến đấu không kém phần gian khổ, luôn luôn phải chịu những khó khăn, thiếu thốn ghê gớm. Các mẹ, các chị đã làm tất cả những gì có thể làm được để cứu sống và chăm sóc bộ đội, cán bộ, du kích bị thương. Các mẹ, các chị đào hầm suốt trong 9 năm để nuôi giấu cán bộ. Các mẹ, các chị làm giao thông liên lạc, đảm bảo hậu cần... Các mẹ, các chị là những người có công đầu trong các cuộc đấu tranh trực diện với địch, chống địch bắt lính, cướp bóc, đốt phá, hãm hiếp... và làm các công tác địch vận. Các mẹ, các chị là lực lượng lao động chính làm ra lúa gạo nuôi cha, chồng, con, em mình sống và chiến đấu.

Phụ nữ Phú Yên đã thể hiện một tinh thần bền bỉ, kiên cường đáng kinh ngạc và họ có vai trò lớn trong lịch sử kháng chiến của Đảng bộ, quân dân Phú Yên nói chung, trong trận chống càn Átlăng nói riêng.

Nét nổi bật trong chiến tranh nhân dân ở Phú Yên là phong trào toàn dân tham gia bố phòng, toàn dân đánh giặc. Chính hầm chông cạm bẫy, vũ khí thô sơ, mìn, lựu đạn do nhân dân tham gia chế tạo cùng du kích bố trí đã góp phần tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, đã giam chân một phần tư các binh đoàn cơ động của địch (binh đoàn 10), không cho chúng tự do lùng sục đánh phá. Nhờ giữ vững được vùng tự do nên khi các tiểu đoàn, trung đoàn chủ lực vào có thể triển khai lực lượng chiến đấu thuận lợi, giáng những đòn bất ngờ, diệt gọn từng tiểu đoàn địch, làm chúng choáng váng, sa sút tinh thần chiến đấu nhanh. Những chiến thắng to lớn của quân và dân Phú. Yên góp phần làm suy yếu, phân tán lực lượng của địch trên chiến trường Liên khu 5, cùng cả nước kìm giữ địch, tạo thế, tạo lực, tạo thời cơ thuận lợi cho chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng, buộc địch phải ký Hiệp định Giơnevơ, lập lại hòa bình ở Đông Dương.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Sáu, 2021, 08:09:55 am
KẾT LUẬN

Đánh bại cuộc hành quân Átlăng là thắng lợi có ý nghĩa hết sức to lớn và quan trọng của quân và dân Phú Yên trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Thắng lợi đó đã góp phần rất xứng đáng vào thắng lợi chung của quân và dân Liên khu 5 nói riêng, quân dân cả nước nói chung trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ.

Trong suốt 9 năm kháng chiến, tuy là một tỉnh nằm trong vùng tự do Nam - Ngãi - Bình - Phú nhưng Phú Yên lại có đặc điểm vừa là hậu phương vừa là tiền tuyến, vừa là tiền tuyến vừa là hậu phương. Trước khi địch mở cuộc hành quân Átlăng, mặc dù quân và dân ta trên địa bàn phải liên tục đánh trả các cuộc càn quét, tập kích, biệt kích của địch nhưng hầu như không có những chiến dịch, những trận đánh lớn của bộ đội chủ lực. Dĩ nhiên một phần là do bộ đội địa phương và dân quân du kích ở Phú Yên rất mạnh, nhưng chính là do Đảng bộ Phú Yên đã quán triệt sâu sắc đường lối, chủ trương kháng chiến kiến quốc của Đảng, trực tiếp là của Liên khu ủy và Bộ Tư lệnh Liên khu, trên cơ sở đó đã phát động được cuộc chiến tranh nhân dân có chiều sâu và đã đạt tới đỉnh cao trong chiến đấu chống lại cuộc hành quân Átlăng của địch theo phương châm bám đất, bám dân, bám địch, dựa vào sức mình là chính.

Với sự vận dụng phương thức tiến hành chiến tranh đúng đắn đó, chiến tranh du kích ở Phú Yên đã từng bước phát triển từ thấp đến cao. Đặc biệt trong chiến dịch Átlăng, quân và dân Phú Yên đã liên tục phục kích, tập kích, quấy rối, tiêu hao, tiêu diệt địch bằng mọi loại vũ khí, một người cũng tiến công, đối tượng địch nào cũng đánh; đánh địch mọi lúc, mọi nơi: trong công sự, ở dã ngoại, trong làng, ngoài đồng lúa, kéo địch ra ngoài mà đánh, đánh thọc sâu vào hậu cứ của giặc... Tư tưởng tích cực tiến công địch đã được quán triệt và tích cực thực hiện trong mọi trận đánh lớn nhỏ. Một kết luận đã được khẳng định trong thực tiễn là: tiến công thì phát triển giành thắng lợi; không kiên quyết bám dân, bám đất để tiến công địch hoặc dừng lại là tạo điều kiện cho quân địch tiến công, càn quét đánh phá cơ sở ta, đẩy ta vào thế bị động.

Có thể nói cuộc kháng chiến của quân và dân Phú Yên dưới sự lãnh đạo của Đảng đã được tiến hành từ các thôn ấp và đúng là bắt đầu từ chính các thôn ấp. Ở đây tính chất và đặc điểm của cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện ngay từ đầu cho đến khi kết thúc đã thể hiện thật rõ nét như một quy luật của chiến tranh giải phóng, của chiến tranh cách mạng.

Thực hiện phương châm “Tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt”, chủ động tiến công “đánh vào nơi địch tương đối yếu và sơ hở nhưng là những địa bàn quan trọng nên chúng không thể bỏ” do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã xác định, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt của Trung ương Đảng, Bộ Tổng Tư lệnh, trực tiếp là của Liên khu ủy và Bộ Tư lệnh Liên khu, Đảng bộ và quân dân Phú Yên đã hoàn thành rất xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ vững chắc vùng tự do, đồng thời vẫn ra sức đóng góp sức người, sức của phục vụ chủ trương chiến lược của Bộ Tư lệnh Liên khu mở chiến dịch tiến công ở bắc Tây Nguyên và đã giành được thắng lợi to lớn, góp phần căng kéo, kìm giữ, phân tán khối chủ lực cơ động chiến lược của địch, đánh bại kế hoạch Nava ngay từ đầu khi kế hoạch đó của địch vừa hình thành.

Trong 2 tháng đầu quân Pháp tiến đánh Phú Yên trong bước 1 của cuộc hành quân Átlăng, mặc dù không có bộ đội chủ lực nhưng quân và dân Phú Yên với truyền thống tự lực, tự cường phát huy sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân đã kiên cường chặn đánh mọi mũi tiến công của địch ở mọi lúc, mọi nơi, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch không cho chúng nhanh chóng mở rộng phạm vi chiếm đóng. Các đại đội bộ đội địa phương, tỉnh, huyện cùng dân quân du kích đã rất sáng tạo, mưu trí linh hoạt trong đánh địch.

Trong suốt quá trình chiến đấu đánh bại cuộc hành quân Átlăng để tạo điều kiện cho Liên khu ủy và Bộ Tư lệnh Liên khu tập trung các đơn vị chủ lực mở chiến dịch bắc Tây Nguyên, quân và dân Phú Yên chủ yếu phải tự lực đương đầu với một kẻ địch đông hơn, mạnh hơn về trang bị vũ khí. Vậy mà đội quân lớn, thiện chiến và hung hãn với đủ mọi sắc lính của địch đều không thể thi thố được sức mạnh mà còn luôn luôn bị sa lầy, bị tiêu hao, bị tiêu diệt dần dần, cuối cùng phải chịu thất bại, phải rút chạy. Bọn địch hẳn thấy cay đắng và bất lực khi nhận ra rằng trong cuộc hành quân Átlăng mở đầu cho bước 1 của kế hoạch Nava và cũng là cuộc hành quân lớn nhất của chúng tại chiến trường Nam Trung Bộ ở Phú Yên không phải chúng đương đầu rồi bị đánh bại bởi một quân đội theo đúng nghĩa, mà bị đánh bại bởi một cuộc chiến tranh do toàn dân tiến hành, do toàn dân tự vũ trang, lấy bộ đội địa phương và dân quân du kích làm nòng cốt, có sự hỗ trợ của bộ đội chủ lực.

Phối hợp với lực lượng trên địa bàn, trong Đông Xuân 1953-1954, quân và dân Phú Yên nói riêng, quân dân Liên khu 5 nói chung đã đánh bại cuộc hành quân Átlăng, góp phần đập tan bước 1 kế hoạch Nava, đập tan sự cố gắng chiến tranh cao nhất và là cố gắng cuối cùng của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ nhằm giành thế mạnh về quân sự và xoay chuyển cục diện chiến tranh ở Đông Dương.

Các thế hệ người dân Phú Yên muôn đời ghi nhớ những hy sinh, những đóng góp to lớn của thế hệ cha anh mình trong chiến thắng Átlăng để giành lấy độc lập tự do cho đất nước, cho quê hương. Những bài học kinh nghiệm lớn trong chiến đấu đánh bại cuộc hành quân Átlăng của Đảng bộ, quân dân Phú Yên, vì vậy chẳng những có giá trị thực tiễn mà còn có giá trị lý luận sâu sắc.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Sáu, 2021, 08:13:27 am
PHỤ LỤC
MỘT SỐ TRẬN ĐÁNH TIÊU HAO, TIÊU DIỆT ĐỊCH
CỦA BỘ ĐỘI ĐỊA PHƯƠNG VÀ BỘ ĐỘI CHỦ LỰC
TRONG CUỘC HÀNH QUÂN ÁTLĂNG
CỦA THỰC DÂN PHÁP TRÊN CHIẾN TRƯỜNG PHÚ YÊN

TRẬN VẬN ĐỘNG TẬP KÍCH CỦA TIỂU ĐOÀN 375
TẠI BÀU VƯỜN  (XUÂN SƠN NAM)
Ngày 7-3-1954

(https://i.imgur.com/4vxF2tm.jpg)

1. Tình hình địa hình:

Địa đoạn phục kích nằm trên quốc lộ 6 thuộc xóm Bàu Vườn, thôn Tân Hòa xã Xuân Sơn. Tại nơi này đường sắt và quốc lộ 6 chạy song song sát nhau, cách nhau khoảng lõm.

Phía bắc quốc lộ và đường sắt là một đầm nước rộng chạy dọc theo quốc lộ vài trăm thước mọc đầy sen và súng, đáy đầm sình lầy nhiều. Phía nam là đồi núi hên hoàn xen lẫn xóm làng, nhà dân và những vườn cây ven đồi.

Do địa hình ở chân đồi nên đường sắt cao hơn quốc lộ khoảng 3m, trở thành một bở công sự tự nhiên có khả năng che chắn và bố trí hỏa lực thuận lợi để tiêu diệt địch.

2. Tình hình địch:

Ngày 20-1-1954 địch mở cuộc hành quân Átlăng đánh vào Phú Yên với lực lượng hơn 20 tiểu đoàn thuộc 4 binh đoàn cơ động và 2 tiểu đoàn dù nhằm chiếm đóng vùng tự do Phú Yên và các tỉnh Bình Định, Quảng Nam, Quảng Ngãi. Một tháng sau cuộc hành quân, tuy địch bị quân và dân Phú Yên chặn đánh quyết liệt, bị tổn thất nặng, nhưng do lực lượng mạnh, chúng vẫn chiếm đóng được những địa bàn quan trọng trên toàn tỉnh. Ngày 7-3-1954 đoàn xe địch gồm 26 chiếc, có một đại đội lính Âu - Phi đi theo bảo vệ, chở nhiều hàng quân trang quân dụng từ Tuy Hoà ra La Hai tiếp tế lương thực, vũ khí, quân trang, quân dụng cho đồng bọn đang chốt giữ ở đây. Đây là một đại đội thuộc binh đoàn cơ động của địch có kinh nghiệm tác chiến được trang bị vũ khí cá nhân và hỏa lực mạnh.

3. Đơn vị đảm nhân:

Trước những thắng lợi của quân và dân ta trên chiến trường cả nước trong Đông Xuân 1953-1954, để đẩy nhanh hơn nữa thời cơ tấn công địch đang hoang mang dao động, chấp hành chủ trương của Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh Liên khu 5 quyết định rút bộ đội địa phương tăng cường cho các đơn vị chủ lực. Tách một số đơn vị chủ lực làm nòng cốt bổ sung thêm lực lượng vũ trang địa phương thành lập các đơn vị chủ lực mới.

Tiểu đoàn 375 được thành lập ngày 14-2-1954 trên cơ sở hợp nhất Đại đội 4 của Tiểu đoàn 19 Trung đoàn 108; Đại đội 10 của Tiểu đoàn 49 bộ đội địa phương Quảng Nam và Đại đội 389 của Tỉnh đội Phú Yên. Đây là tiểu đoàn chủ lực đầu tiên của Tỉnh đội Phú Yên trong kháng chiến chống Pháp. Nhận được quyết định thành lập tiểu đoàn, đồng chí Phạm Dưng (Tiểu đoàn trưởng) cấp tốc đưa hai đại đội 1 và 2 (lúc này còn dừng chân ở Ba Tơ - Quảng Ngãi) về Phú Yên để sáp nhập với Đại đội 389 (Đại đội 3).

Chiều tối 6-3-1954, hai đại đội vừa đến Xuân Sơn chưa kịp liên lạc với Tỉnh đội Phú Yên thì trinh sát báo tin sẽ có đoàn xe địch chở lính Âu - Phi và hàng quân dụng từ Tuy Hòa ra La Hai.

Với ý chí sẵn sàng tấn công tiêu diệt địch và tranh thủ thời cơ, yếu tố bí mật bất ngờ, Ban chỉ huy tiểu đoàn chưa kịp liên lạc báo cáo với Tỉnh đội đã khẩn trương chuẩn bị trận địa để tiêu diệt địch.

Do trước đây đồng chí Tiểu đoàn trưởng và 2 đại đội đã diễn tập và đóng quân ở Xuân Sơn nhiều lần nên rất thông thạo địa bàn. Sau khi chọn địa hình, bố trí hỏa lực, phổ biến nhiệm vụ đến từng tiểu đội, lực lượng ta ém quân trong nhà dân cách trận địa 200m và đặt trạm tiền tiêu quan sát trên đỉnh đồi. Khi có lệnh xuất kích các chiến sĩ nhanh chóng bí mật vận động chiếm lĩnh trận địa dọc theo đường sắt, đồng loạt nổ súng ném, lựu đạn và thủ pháo xuống đường 6, xung phong tiêu diệt địch.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Sáu, 2021, 08:17:30 am
4. Diễn biến trận đánh:

Sáng ngày 7-3-1954, một đại đội bộ binh địch đi tuần tra từ Chí Thạnh lên, có máy bay Moral yểm trợ. Chúng lùng sục rất kỹ những đoạn đường xe sẽ qua và nghênh ngang vào từng ngôi nhà trong vùng. Được nhân dân niềm nở đón tiếp (để lừa địch nhằm che giấu lực lượng ta), chúng vui vẻ ra về không sục sạo kỹ nên không phát hiện được lực lượng ta.

Sau khi đội tuần tra của địch vừa quay gót trở về, hai đại đội ta nhanh chóng vận động chiếm lĩnh trận địa bình tĩnh chờ đoàn xe địch đến. Hai chiếc xe Jeép đi đầu xuất hiện từ xa, ta để cho chúng đi qua trận địa an toàn. Liền sau đó một đoàn xe quân sự chở đầy lính Âu - Phi và hàng quân dụng nối đuôi nhau đi vào trận địa. Toàn đội hình của chúng đã nằm trong tầm súng của ta. Tiếng bộc phá nổ vang, chiếc xe đi đầu chồm lên bốc cháy thành một đống chướng ngại vật. Các xe sau dồn lên thành một hàng dọc sát liền nhau. Bọn giặc đang lúng túng chưa hiểu chuyện gì xảy ra thì cả 2 đại đội của ta đồng loạt nổ súng, ném lựu đạn vào đội hình địch. Bị đánh bất ngờ, quân giặc không kịp chống trả, nhiều tên chết vắt xác trên thành xe, một số tên sống sót chạy tản xuống lề đường, lao bừa xuống bãi lầy bị quân ta tiêu diệt và bắt toàn bộ.

5. Kết quả trận đánh:

Trận chiến đấu xảy ra chưa đầy 20 phút, bộ đội ta tiêu diệt gọn đại đội Âu - Phi và đoàn xe quân sự 26 chiếc thu nhiều vũ khí, quân trang quân dụng.

6. Ý nghĩa trận đánh:

Trận vận động phục kích tiêu diệt đại đội Âu - Phi và đoàn xe quân sự của Tiểu đoàn 375 có một ý nghĩa vô cùng to lớn. Trận đầu ra quân thắng lớn đã khích lệ tinh thần chiến đấu của quân và dân Phú Yên, đặc biệt là cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 375, tạo một niềm tin tưởng lớn lao cho quân và dân tỉnh nhà: ta nhất định bẻ gãy được chiến dịch Átlăng. Chiến thắng này cũng làm rúng động tinh thần chiến đấu của giặc Pháp. Lần đầu tiên trên chiến trường Phú Yên ta đã xóa sổ hoàn toàn một đại đội Âu - Phi và đoàn xe quân sự 26 chiếc.

7. Bài học kinh nghiệm:

Tin vào dân, dựa vào sự che chở giúp đỡ của nhân dân là yếu tố vô cùng quan trọng để tạo nên thắng lợi.

Vừa mới đặt chân đến Phú Yên, tiểu đoàn hầu như chưa có căn cứ, cơ sở vật chất hậu cần. Nhưng vốn từng trải kinh nghiệm lại hiểu được lòng dân nên tiểu đoàn quyết tâm thực hiện tấn công địch. Ém quân vào nhà dân, dựa vào sự tiếp tế của dân và được nhân dân hết lòng bảo vệ che chở. Chính vì vậy mà khi địch đi lùng sục trước đó đã không hề phát hiện dấu vết nào của lực lượng ta.

Công tác tổ chức chuẩn bị chặt chẽ bảo đảm được yếu tố bí mật bất ngờ để thực hiện trận đánh thắng lợi.

Nắm bắt được ý đồ của địch, tiểu đoàn đã chọn địa đoạn phục kích hết sức hiểm hóc, là tử huyệt của kẻ thù. Ngay sau khi đội quân tiền trạm của địch vừa rút khỏi trận địa phục kích, tiểu đoàn đã nhanh chóng vận động chiếm lĩnh trận địa. Tập trung hỏa lực trên một không gian hẹp đánh phủ đầu quân địch khiến chúng hoàn toàn bị tê liệt.

Tận dụng thời cơ để tấn công địch khi chưa kịp báo cáo về Tỉnh đội Phú Yên là chủ trương hết sức chủ động linh hoạt của Ban chỉ huy tiểu đoàn mà tiêu biểu là đồng chí Tiểu đoàn trưởng Phạm Dưng. Chính yếu tố bất ngờ này đã đến kết thúc trận đánh hết sức nhanh chóng và đạt hiệu suất chiến đấu cao, quân địch hầu như bị tê liệt không kịp phản ứng chỉ biết tháo chạy theo bản năng, mặc dù đây là một đại đội thiện chiến của địch. Sau khi trận đánh đã kết thúc, cả ta và địch đều không biết lực lượng nào vừa đánh ở Bàu Vườn.

Nguồn:

- Lịch sử Tiểu đoàn 375, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Phú Yên xuất bản, tháng 12-2003.

- Những trận đánh tiêu biểu của lực lượng vũ trang tỉnh Phú Yên, tập 2, Bộ chỉ huy quân sự Phú Yên xuất bản, năm 2005.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Sáu, 2021, 08:20:18 am
TRẬN VẬN ĐỘNG PHỤC KÍCH CỦA TIỂU ĐOÀN 375 TẠI EO GIÓ - ĐỒNG TRÒN - AN LĨNH
Ngày 10-3-1954

(https://i.imgur.com/WF884H7.jpg)

1. Tình hình địa hình:

Eo Gió như một cửa ngõ tự nhiên phía đông bắc đi vào xã An Lĩnh, là đoạn đường dốc độc đạo chạy giữa hai triền núi thấp, cây bụi lúp xúp. Dưới chân Eo Gió là ruộng bậc thang, có trảng đất rộng, đá lộ đầu lởm chởm không canh tác được, cỏ mọc xanh tốt quanh năm, trẻ con thường cho trâu, bò ra đây chăn thả. Tại trảng cỏ này có vài cây cổ thụ thân to, người đi đường và trẻ chăn trâu thường núp bóng cây mát để nghỉ. Đây là điểm nghỉ chân lý tưởng của người đi đường, vì phải đi qua một đoạn đường dốc dài, nắng gắt giữa đồng An Định, An Nghiệp và cánh đồng Tròn vào đến đây thì bắt đầu leo dốc, nên không một người đi đường nào qua đây mà không dừng chân nghỉ sức.

Hai bên trảng cỏ là đồi núi thấp, đường độc đạo chạy giữa thung lũng, địa thế vô cùng hiểm trở cho ta bố trí trận địa phục kích.
 
2. Tình hình địch:

Hơn một tháng sau khi mở chiến dịch Átlăng, tuy bị quân và dân ta liên tục chặn đánh, nhưng do lực lượng mạnh, địch vẫn chiếm đóng được những địa bàn quan trọng trên toàn tỉnh. Để tiếp tục mở rộng địa bàn chiếm đóng, làm bàn đạp cho việc thôn tính toàn tỉnh và đánh ra Bình Định, địch liên tục mở các cuộc hành quân càn quét. Ngày 10-3-1954, tiểu đoàn ngự lâm quân số 1 của địch do tên Bảo Long (con trai Bảo Đại) làm tiểu đoàn trưởng danh dự, mở cuộc hành quân càn quét từ Chí Thạnh lên An Lĩnh với mục đích tìm và diệt bộ đội chủ lực của ta mà chúng nghi ngờ đang đứng chân ở An Lĩnh. Cuộc càn của địch dự kiến sẽ diễn ra trong nhiều ngày và được phi pháo yểm trợ tối đa. Đây là một tiểu đoàn tinh nhuệ thuộc binh đoàn cơ động của địch có kinh nghiệm tác chiến, được trang bị vũ khí cá nhân và hỏa lực mạnh.

3. Đơn vị đảm nhận:

Để đẩy nhanh hơn nữa thời cơ tấn công địch đang hoang mang dao động trên chiến trường Phú Yên; chấp hành chủ trương của Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh Liên khu 5 quyết định thành lập Tiểu đoàn chủ lực 375 tăng cường cho Phú Yên. Tuy vừa mới thành lập nhưng tiểu đoàn đã có những chiến thắng vang dội như trận Bàu Vườn, tiêu diệt đoàn xe 26 chiếc và diệt gọn một đại đội Âu - Phi; trận chống càn An Nghiệp đánh bại 1 tiểu đoàn địch đi yểm trợ giải toả trận Phong Niên làm nức lòng quân và dân trong tỉnh. Ngày 9-3-1954, Tiểu đoàn 375 nhận được thông báo của Tỉnh đội Phú Yên kèm theo chỉ thị: “tiểu đoàn ngự lâm quân số 1 của địch đang chuẩn bị càn quét vùng An Lĩnh, Tiểu đoàn 375 có nhiệm vụ bảo vệ khu căn cứ và đánh tan cuộc hành quân càn quét của địch”.

Nhận được chỉ thị của Tỉnh đội, Ban chỉ huy tiểu đoàn quyết định triệu tập cán bộ đại đội và cán bộ tham mưu họp để phân tích tình hình và lập phương án tác chiến. Hội nghị thống nhất nhận định hướng hành quân của địch và chọn Eo Gió là nơi bố trí trận địa phục kích tiêu diệt giặc. Trận địa được bố trí: Đại đội 1 và Đại đội 2 đánh chính diện, ém quân hướng tây nam đối diện trảng cỏ. Khi có lệnh bí mật vận động chiếm lĩnh trận địa dọc theo sườn đồi. Hoả lực được bố trí ở điểm trung tâm để yểm trợ cho toàn trận địa và tiêu diệt các mũi phản kích của địch. Đại đội 3 ém quân ở phía đồi đối diện hơi chếch về hướng đông bắc có nhiệm vụ đánh tạt sườn vào đội hình địch ngăn không cho chúng tháo chạy về Chí Thạnh.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Sáu, 2021, 08:23:07 am
4. Diễn biến trận đánh:

Đêm 9-3-1954, tiểu đoàn bí mật hành quân chiếm lĩnh trận địa. 10 giờ sáng 10-3, pháo địch từ Chí Thạnh bắn tới tấp lên các sườn đồi Đồng Tròn, vùng 4 An Lĩnh, rồi bắn lên các sườn đồi ở Eo Gió. Hết đợt pháo, máy bay Moral quần lượn thám thính khu vực vùng 4 An Lĩnh để chúng tập trung quân. Giữa lúc giao điểm dứt tiếng đạn pháo, tiểu đoàn vận động chiếm lĩnh trận địa và tổ chức bố trí, nguỵ trang đội hình, máy bay địch không phát hiện được. Đúng như nhận định của Ban chỉ huy tiểu đoàn, địch tiến quân làm hai mũi để hỗ trợ nhau và hội quân tại trảng cỏ giữa Đồng Tròn, nghỉ chân chấn chỉnh đội hình để vượt Eo Gió vào An Lĩnh. Vượt qua một đoạn đường gần 10 km dưới trời nắng gắt, mang vác nặng nên địch đã thấm mệt. Vừa đến trảng cỏ, chúng vội vã tháo ba lô, cởi súng, ngồi lấy nước ra uống. Có tên còn chủ quan lấy lương khô, kẹo ra nhai chờ đồng bọn phía cuối đội hình đang đi lên. Chờ khi toàn bộ quân địch tập trung giữa trảng cỏ, chỉ huy tiểu đoàn ra lệnh nổ súng. Tất cả hoả lực đồng loạt nã đạn vào đội hình địch. Địch thất thần nằm rạp xuống, nhiều tên chết ngay tại chỗ, những tên sống sót bò dạt ra các hướng, bám vào các chướng ngại vật chống cự lại, một số tìm cách chạy thoát thân. Đại đội 3 đồng loạt đánh chặn không cho chúng thoát về Chí Thạnh. Bị lưới lửa tập trung, bất ngờ, địa hình tác chiến bất lợi nên địch hoàn toàn bị tê liệt, chống trả yếu ớt. Chúng lập tức gọi máy bay, phi pháo đến yểm trợ. Mười phút sau, máy bay địch xuất hiện. Chúng quần lượn, bắn bừa bãi vào các sườn đồi ngăn chặn không cho bộ đội ta tiếp tục truy kích, tiểu đoàn quyết định thu quân, tổ chức thu vũ khí, đưa thương binh tử sĩ về tuyến sau.

5. Kết quả trận đánh:

Trận chiến đấu diễn ra chưa đầy 20 phút, bộ đội ta đã đánh tan tiểu đoàn ngự lâm quân của địch, loại khỏi vòng chiến đấu trên 100 tên, thu hàng trăm súng các loại. Ta thương vong 8 đồng chí.

6. Ý nghĩa trận đánh:

Trận phục kích Eo Gió tiêu diệt tiểu đoàn ngự lâm quân của Tiểu đoàn 375 có một ý nghĩa vô cùng to lớn. Chỉ trong vòng 4 ngày từ 7 đến 10-3-1954 Tiểu đoàn 375 đánh thắng 3 trận lớn đã khích lệ tinh thần chiến đấu của quân và dân Phú Yên, đặc biệt là cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 375, tạo một niềm tin tưởng lớn lao cho quân và dân tỉnh nhà: ta nhất định bẻ gãy được chiến dịch Átlăng. Chiến thắng này cũng làm rúng động tinh thần chiến đấu của giặc Pháp. Sau chiến thắng Eo Gió, địch ở Chí Thạnh tăng cường xây dựng lô cốt phòng thủ, không dám tổ chức càn quét ra các vùng lân cận.

7. Bài học kinh nghiệm:

Lựa chọn địa đoạn phục kích hiểm yếu, bảo đảm yếu tố bí mật bất ngờ.

Khi sử dụng chiến thuật đánh phục kích, việc lựa chọn trận địa phục kích hiểm yếu để đánh địch là yếu tố quan trọng tác động trực tiếp đến thắng lợi. Trong trận đánh này, lực lượng ta đã chọn địa đoạn phục kích ngay trên đường hành quân của địch qua thung lũng, là đoạn đường độc đạo, tiến thoái lưỡng nan, ta bố trí giấu quân kín đáo, bố trí trận địa hoả lực phát huy được sức mạnh của các loại hoả khí. Khi nổ súng, đội hình xung phong của ta triển khai được nhanh, đồng loạt, bất ngờ chặn được địch, dồn địch vào thế bất lợi và làm chúng thất bại nhanh chóng.

Trong trận đánh này, yếu tố bí mật, bất ngờ giữ một vị trí rất quan trọng, quyết định đến thắng lợi của trận đánh. Bộ đội ta luôn nắm quyền chủ động, phát huy được mọi ưu thế của mình, hạn chế chỗ mạnh, khoét sâu chỗ yếu của địch, chúng rất chủ quan, khinh thường, ta đồng loạt tấn công khi chúng đang nằm ngồi nghênh ngang, để ngay từ đầu có thể nhanh chóng đè bẹp quân địch, khiến chúng không kịp đối phó.

Tổ chức bố trí đội hình, sử dụng lực lượng hợp lý.

Nhờ chọn được địa thế hiểm, lực lượng ta đã tổ chức bố trí đội hình có các bộ phận chặn đầu, khoá đuôi, đánh tạt sườn, hoả lực và bộ phận chủ yếu đánh chính diện, tiện cơ động triển khai, chặn đứng được đội hình địch đang cơ động, khống chế, cô lập giữ chắc địch trong khu vực phục kích, không cho địch phía trước quay lại, phía sau dồn lên, buộc chúng phải ùn lại, tạo thuận lợi cho ta tập trung binh hoả lực tiến công đồng loạt, thực hiện bao vây chia cắt tiêu diệt địch, giải quyết trận đánh nhanh, gọn.

Nguồn:

- Lịch sử Tiểu đoàn 375, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Phú Yên xuất bản, tháng 12-2003.

- Những trận đánh tiêu biểu của lực lượng vũ trang tỉnh Phú Yên, tập 2, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Phú Yên xuất bản, năm 2005.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Sáu, 2021, 08:25:52 am
TRẬN PHỤC KÍCH CỦA TIỂU ĐOÀN 365 TẠI SUỐI CỐI - XUÂN PHƯỚC
Ngày 21-3-1954

(https://i.imgur.com/bRNMlnU.jpg)

1. Tình hình địa hình:

Suối Cối, một nhánh suối nhỏ bắt nguồn từ hồ Phú Xuân và đổ vào sông Kỳ Lộ. Đến mùa khô bị kiệt nước, nhiều chỗ lộ ra những bãi sỏi nhỏ tạo thành đường đi cho người dân quanh vùng. Đoạn đường từ Xuân Quang đi Sơn Hội đến chân núi Hòn Ông (cao 758m), phía bên phải là sườn núi, cây cối khá rậm rạp, phía bên trái là suối Cối chạy dọc theo đường đi, có đoạn con đường đi qua lòng suối (khi mùa khô). Bên kia suối là những triền đồi thoai thoải, nhân dân làm rẫy trồng mía và làm ruộng bậc thang. Dân cư ở dọc theo con suối thưa thớt.

2. Tình hình địch:

Hơn một tháng sau khi địch mở cuộc hành quân Átlăng nhằm chiếm đóng vùng tự do Phú Yên và các tỉnh Bình Định, Quảng Nam, Quảng Ngãi, tuy bị quân và dân ta gây nhiều tổn thất, nhưng do lực lượng mạnh, địch vẫn chiếm đóng được những địa bàn quan trọng trên toàn tỉnh. Ngày 21-3-1954 địch điều động tiểu đoàn ngự lâm quân số 2 đang đóng ở Xuân Quang càn quét vùng Xuân Phước và đóng đồn tại đây, hình thành cụm tam giác La Hai - Xuân Quang - Xuân Phước hỗ trợ cho nhau khống chế vùng tây bắc Phú Yên, làm điểm tựa để tấn công ra Bình Định khi cần thiết.

Tiểu đoàn ngự lâm quân số 2 là một tiểu đoàn thiện chiến của địch, chuyên bảo vệ dinh Bảo Đại mới từ Đà Lạt xuống tăng cường, được trang bị vũ khí cá nhân và hoả lực mạnh hơn so với các đơn vị khác. Từ ngày xuống Phú Yên đến nay, địch chưa nếm mùi trận mạc nên rất chủ quan, coi thường lực lượng ta.

3. Đơn vị đảm nhận:

Để đẩy nhanh hơn nữa thời cơ tấn công địch đang hoang mang dao động, Bộ Tư lệnh Liên khu 5 quyết định điều động Tiểu đoàn 365 thuộc Trung đoàn 803 về chiến trường Phú Yên để tăng cường sức chiến đấu cho quân và dân trong tỉnh đánh bại chiến dịch Átlăng của địch. Được về chiến đấu tại chiến trường Phú Yên, nơi gắn bó thân thuộc với tiểu đoàn, cán bộ, chiến sĩ toàn đơn vị đều thông thạo từng vùng, từng địa danh, từng con sông, con suối. Bởi Phú Yên là nơi khai sinh và nuôi dưỡng tiểu đoàn, nên cán bộ, chiến sĩ hết sức vui mừng và háo hức lập công.
Sáng 21-3-1954, tiểu đoàn vừa hành quân đến Xuân Quang 2, đang nghỉ chân ở khu rừng phía bắc đường mòn cạnh suối Cối thì trinh sát tiểu đoàn báo tin một tiểu đoàn thiện chiến của địch đang càn sang Xuân Phước, nhằm tiêu diệt các cơ quan đầu não của ta đang đóng ở phía tây Đồng Xuân.

Tuy chưa nắm rõ âm mưu, thủ đoạn của địch, thời gian lại vô cùng gấp rút, lực lượng ta vừa hành quân dài ngày còn mệt mỏi, nhưng với ý chí sẵn sàng tấn công tiêu diệt địch và tranh thủ thời cơ, yếu tố bí mật bất ngờ, Ban chỉ huy tiểu đoàn đã khẩn trương chuẩn bị trận địa để tiêu diệt địch.

Thời gian này, tiểu đoàn vừa được tăng cường 1 đại đội hoả lực với những loại vũ khí có uy lực lớn như Bazôka, ĐKZ, Lăngxơbom...

Cùng hành quân với tiểu đoàn có đồng chí Hà Vi Tùng, Trung đoàn phó Trung đoàn 803. Đồng chí đã quyết định hội ý với Ban chỉ huy tiểu đoàn (lúc này đồng chí Phạm Đình Dư, Tiểu đoàn trưởng chưa về kịp) về hướng hành quân của địch và lệnh cho đơn vị chuẩn bị đánh địch theo phương án vạch sẵn. Phương án tác chiến cụ thể như sau: Lựa chọn suố Cối, đoạn dưới chân núi Hòn Ông làm trận địa phục kích. Đại đội hoả lực được bố trí ở chân núi Hòn Ông dọc theo suối Cối; Đại đội 211 bố trí hướng nam chân núi có nhiệm vụ chặn đầu không cho địch chạy về Xuân Phước; Đại đội 212 được bố trí ở các rẫy mía phía đông suối Cối đánh lướt sườn vào đội hình địch; Đại đội 213 được bố trí phía bắc chân núi, có nhiệm vụ khoá đuôi không cho địch tháo chạy về Xuân Quang. Tất cả các đơn vị đều ém quân quanh chân núi, xoá hết dấu vết hành quân để giữ bí mật trận địa.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Sáu, 2021, 08:27:18 am
4. Diễn biến trận đánh:

Đúng như nhận định của ta, 12 giờ 30 phút ngày 21-3-1954 địch hành quân đến suối Cối. Chúng rất chủ quan, vừa nghênh ngang hành quân, vừa bắn súng thị uy. Hành quân một khoảng đường khá xa, mang vác nặng dưới cái nắng oi nồng, gay gắt nên bọn địch đã thấm mệt và khát nước. Vừa đến suối Cối, chưa được lệnh chỉ huy, nhiều tên đã vội chạy xuống suối rửa mặt, tay, chân và uống nước. Lúc đầu chỉ một vài tên, sau đó cả bọn cùng hùa xuống suối, hàng ngũ rối loạn, lộn xộn. Bọn chỉ huy địch thấy thế cho phép quân lính dừng chân nghỉ giải lao. Chớp thời cơ địch đang lộn xộn, chỉ huy tiểu đoàn ra lệnh nổ súng. Hàng loạt hoả lực súng phóng bom, ĐKZ, Bazôka, đại liên của ta chụp xuống lòng suối, lòng đường, nhiều tên địch chết ngay tại chỗ. Những tên còn sống sót chụp lấy vũ khí bám vào bờ suối bắn trả quyết liệt, vừa rút chạy. Ba đại đội của ta từ 3 hướng đồng loạt xung phong chia cắt địch ra từng nhóm nhỏ để tiêu diệt. Sau những phút hoảng loạn ban đầu, lại bị dồn vào thế bị bao vây khắp bốn phía, quân địch ngoan cố chống trả. Kết hợp với súng phóng bom, pháo cối áp đảo địch, lực lượng ta tổ chức nhiều đợt xung phong, quần nhau với địch quyết liệt. Sau hơn 4 giờ chiến đấu ta làm chủ hoàn toàn trận địa.

5. Kết quả trận đánh:

Lực lượng ta đã xoá sổ tiểu đoàn ngự lâm quân số 2, mang biệt hiệu “Hổ xám” của địch, tiêu diệt tại chỗ 123 tên, bắt 90 tên, một số tên chạy thoát. Ta thu trên 300 súng các loại và 8 máy vô tuyến điện. Ta bị thương vong 50 đồng chí, trong đó có 3 cán bộ đại đội.

6. Ý nghĩa trận đánh:

Trận phục kích tiêu diệt tiểu đoàn ngự lâm quân số 2 của địch có một ý nghĩa vô cùng to lớn. Đây là lần đầu tiên, một tiểu đoàn ta xoá sổ một tiểu đoàn thiện chiến của địch trên chiến trường Phú Yên. Chiến thắng suối Cối đã khích lệ tinh thần chiến đấu của quân và dân Phú Yên, đặc biệt là cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 365, củng cố niềm tin cho quân và dân ta: ta nhất định đánh bại chiến dịch Átlăng. Chiến thắng cũng làm cho địch vô cùng khiếp sợ, tinh thần chiến đấu bị suy sụp góp phần dẫn đến kết quả chiến dịch Átlăng bị thất bại.

7. Bài học kinh nghiêm:

Lựa chọn địa đoạn phục kích hiểm yếu

Trước khi tiến hành trận đánh, lực lượng ta chưa nắm kỹ tình hình địch, việc lựa chọn trận địa phục kích hiểm yếu để đánh địch là yếu tố quan trọng tác động trực tiếp đến thắng lợi. Do đặc điểm đánh địch đang cơ động, xác định đúng hướng hành quân của địch ta đã bày thế trận phục kích ngay trên đường hành quân của chúng. Trong trận đánh này, lực lượng ta đã chọn địa đoạn vừa gần chân núi, vừa gần suối lại cạnh đường hành quân của địch, ta bố trí giấu quân được kín đáo, bố trí trận địa hoả lực phát huy được sức mạnh của các loại hoả khí (nhiều tầng, có tầm bắn khác nhau, cơ động được dễ dàng, kiểm soát được các tử giác). Khi nổ súng, đội hình xung phong của ta triển khai nhanh chóng, đồng loạt nên đã chặn được địch, dồn địch vào thế bất lợi. Tuy nhiên, địa hình hiểm trở cũng là bất lợi với ta, địch đã lợi dụng địa hình, địa vật để phản công quyết liệt, làm trận đánh phải kéo dài trên 4 tiếng đồng hồ.

Tổ chức chỉ huy kiên quyết, chủ động, linh hoạt

Tận dụng thời cơ để tấn công địch khi mới về đến chiến trường Phú Yên là chủ trương hết sức chủ động linh hoạt của Ban chỉ huy tiểu đoàn mà tiêu biểu là đồng chí Trung đoàn phó Hà Vi Tùng. Chính yếu tố bất ngờ này đã dẫn đến kết thúc trận đánh thắng lợi với hiệu suất chiến đấu cao (vì địch nhận định quân chủ lực chưa có ở Phú Yên nên rất chủ quan). Tuy hình thức chiến thuật của trận đánh là phục kích, nhưng thực tế trận đánh có hình thức tao ngộ chiến, bởi thời gian chuẩn bị trận địa phục kích gần như không đáng kể, ta nắm địch chưa thật vững, chưa thành thạo địa hình và chưa củng cố lực lượng. Trên đường hành quân, nghe báo tin có địch càn quét, chỉ huy tiểu đoàn quyết định nhanh chóng và chính xác địa điểm bố trí trận địa tiêu diệt địch. Trận đánh giằng co, kéo dài, quyết liệt nhưng trước các tình huống khó khăn, ác liệt đó chỉ huy đơn vị đã bình tĩnh nghiên cứu tình hình thực tế, giữ vững quyết tâm, xử trí linh hoạt và kiên quyết thực hiện thắng lợi mục đích của trận đánh và ý định chiến thuật đề ra.

Nguồn:

- Tư liệu của Thiếu tướng Phùng Đình Ấm và đồng chí Trần Thành Chính, nguyên chiến sĩ Tiểu đoàn 365.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Sáu, 2021, 08:29:47 am
TRẬN ĐÁNH ĐỒN BÀN NHAM - BÀN THẠCH (HOÀ XUÂN)
CỦA TIỂU ĐOÀN 365 VÀ ĐẠI ĐỘI 1 TIỂU ĐOÀN 375
Đêm 20 rạng ngày 21-4-1954

(https://i.imgur.com/2qGIdfH.jpg)

1. Tình hình địa hình:

Cứ điểm Bàn Nham, Bàn Thạch nằm dọc theo phía đông quốc lộ 1, cách cầu Bàn Thạch về phía bắc - khoảng 150m. Cứ điểm được chia thành 2 khu: khu A là đồn Bàn Nham, khu B là đồn Bàn Thạch.

Phía bắc và phía đông của cứ điểm giáp cầu Bàn Thạch, thuộc thôn Bàn Thạch.
Phía nam và đông nam là thôn Bàn Nham.

Phía tây là thôn Thạch Chẩm.

Xung quanh cứ điểm là đồng ruộng trống trải, có một vài xóm nhỏ, dân cư thưa thớt. Đây cũng là nơi lập đồn đóng quân lý tưởng vì có tầm khống chế rộng, địa hình trống trải, pháo binh chi viện rất hiệu quả khi bị tấn công.

2. Tình hình địch:

Sau khi mở chiến dịch Átlăng, địch khẩn trương xây dựng cứ điểm Bàn Nham, Bàn Thạch để bảo vệ cửa ngõ phía nam thị xã và cầu Bàn Thạch, một chiếc cầu trọng yếu trên quốc lộ 1. Lực lượng địch chốt giữ tại cứ điểm Bàn Nham, Bàn Thạch là tiểu đoàn khinh quân 506 được điều động từ chiến trường Nam Bộ ra, trang bị vũ khí đầy đủ. Cứ điểm Bàn Nham - Bàn Thạch có tầm quan trọng đặc biệt đối với vùng nam Tuy Hòa, vừa phòng thủ vừa có thể xuất phát tấn công và chi viện cho các căn cứ trong vùng. Tại đây địch tích trữ quân nhu, quân dụng và vũ khí đạn dược đủ để tác chiến lâu dài. Tại đồn Bàn Nham (khu A), có 2 đại đội và chỉ huy sở tiểu đoàn khinh quân 506. Đồn Bàn Thạch (khu B) do một đại đội địch chốt giữ. Xung quanh cứ điểm còn được bao bọc bởi nhiều lớp hàng rào kẽm gai có gài mìn tự động, hệ thống giao thông hào nối liền các trại lính, các khu và các lô cốt bằng bê tông cốt thép. Mặt khác, cứ điểm nằm giữa trung tâm các đồn bốt, cứ điểm: phía nam có bốt Hòa Xuân, căn cứ Núi Hiềm; phía bắc có bốt Hòa Vinh, bốt bắc cầu Bàn Thạch; phía đông có bốt Thạch Tuân.

Quy luật hoạt động của địch: hằng ngày chúng cho quân đi càn quét lùng sục các thôn xóm xung quanh cứ điểm. Tối đến cử một tên đứng canh gác ở tháp canh, cứ 15 phút gõ mõ trả lồi theo tiếng mõ cầm canh ở lô cốt khu B. Thỉnh thoảng chúng lại bắn vu vơ vài phát súng.

3. Tình hình ta:

Sau khi lập nên chiến thắng suối Cối, Tiểu đoàn 365 hành quân về Xuân Phước, sau đó tiếp tục về suối Mít để nghỉ ngơi và củng cố lực lượng. Ở suối Mít nửa tháng, tiểu đoàn lại di chuyển về Hòa Thịnh gần khu vực đập Đồng Lau. Để tiếp tục tiến công địch đang trụ lại trên chiến trường Phú Yên, Tỉnh đội giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 365 được tăng cường thêm Đại đội 1 Tiểu đoàn 375 tiêu diệt cứ điểm Bàn Nham - Bàn Thạch. Chấp hành chỉ thị của Tỉnh đội Phú Yên, đồng chí Hà Vi Tùng, Trung đoàn phó Trung đoàn 803 trực tiếp chỉ đạo cùng các đồng chí Phạm Đình Dư, Tiểu đoàn trưởng và cán bộ chủ chốt của các đại đội xuống tận đồn Bàn Nham bí mật điều tra trong nhiều đêm liền. Sau khi điều nghiên chiến trường cụ thể, Tiểu đoàn 365 cùng Đại đội 1 Tiểu đoàn 375 lên phương án tác chiến và phổ biến cụ thể cho từng đại đội.

Đại đội 211 và Đại đội 212 của Tiểu đoàn 365 do đồng chí Phạm Đình Dư, Tiểu đoàn trưởng trực tiếp chỉ huy, vận động qua thôn Thạch Chẩm, từ phía tây nam đánh vào khu A (đồn Bàn Thạch). Đại đội 213 của Tiểu đoàn 365 do đồng chí Nguyễn Náo, Tiểu đoàn phó trực tiếp chỉ huy phối hợp với Đại đội 1 Tiểu đoàn 375 men theo bờ sông Bánh Lái từ phía bắc đánh vào khu B (đồn Bàn Thạch). Trận địa hoả lực được bố trí ở phía tây để hỗ trợ cho 2 hướng tấn công. Đồng chí Hà Vi Tùng đi cùng, chỉ huy chung hướng đánh khu A.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Sáu, 2021, 08:32:43 am
4. Diễn biến trận đánh:

Chiều 20 tháng 4 Tiểu đoàn 365 làm lễ xuất phát. Lúc này Đại đội 1 Tiểu đoàn 375 đang đóng quân ở Hòa Thịnh cũng được lệnh tập kết về phía tây nam Hòa Tân. Tối 20 tháng 4 năm 1954, đơn vị được du kích Hòa Tân dùng thuyền vượt sông Bánh Lái ngay trong đêm. Sau khi vượt sông, đơn vị bí mật chiếm lĩnh trận địa.

Sau khi tập kết lực lượng đến vị trí ém quân, các đơn vị thống nhất lần cuối thời gian nổ súng, hướng tấn công và các mục tiêu đảm nhiệm.

1 giờ 30 phút rạng sáng 21 tháng 4 năm 1954, trên hướng nam (khu A), tổ bộc phá đã tiếp cận mục tiêu và đặt xong bộc phá. Bất ngờ, một tên lính trong đồn nghe tiếng động khả nghi liền bắn một phát súng trường. Đồng chí Thơ, bộc phá viên của Tiểu đoàn 365 tưởng có lệnh nổ súng tấn công nên cho bộc phá nổ tung hàng rào số 1. Trước tình hình đó, tiểu đoàn ra lệnh tấn công mặc dù chưa đến giờ hợp đồng nổ súng. Hoả lực của ta bao gồm các loại: ĐKZ, Bazôka, đạn cối, AT bắn chế áp vào đồn để xung kích xông lên chiếm lĩnh trận địa. Bộ đội ta lần lượt dùng lựu đạn, thủ pháo bêta, trung liên, đại liên và hỏa lực cá nhân đánh chiếm từng khu nhà lính, nhà tên quan tư chỉ huy, kho đạn và các mục tiêu khác. Chỉ sau 30 phút chiến đấu, ta làm chủ khu A, chỉ huy tiểu đoàn ra lệnh cho hai đại đội 211, 212 phát triển qua khu B chi viện cho Đại đội 213 và Đại đội 1.

Tại khu B, do bị mất yếu tố bất ngờ (khu A nổ súng trước thời gian quy định) nên địch đã kịp đề phòng và tổ chức phòng ngự rất chặt chẽ. Ngay từ phút đầu hoả lực ĐKZ, cối bộc phá của ta đã đánh sập được một lô cốt đầu cầu, bộc phá nổ mở toang cửa mở, tạo điều kiện cho xung kích tràn vào đánh chiếm. Các lô cốt còn lại bắn chặn đội hình tấn công của ta.

Chỉ huy ra lệnh tập trung hoả lực diệt các lồ cốt và các lỗ châu mai còn lại, tạo điều kiện cho xung kích đánh vào tung thâm. Với chiến thuật đánh cuốn chiếu, ta đã lần lượt đánh chiếm lô cốt thứ 2 và các dãy nhà lính. Tuy nhiên, do chưa kịp diệt lô cốt ở khu tung thâm trong lúc cối 60 ly và AT đã hết, địch tập trung hỏa lực ngăn chặn lực lượng ta đánh chiếm tung thâm. Cùng lúc địch gọi pháo binh từ đầu cầu Bàn Thạch và pháo hạm từ biển bắn cấp tập vào đội hình ta. Trận chiến diễn ra vô cùng ác liệt. Bộ đội ta liên tục xung phong nhưng bị hỏa lực của địch ngăn chặn dữ dội không lên được. Nhiều cán bộ, chiến sĩ hy sinh và bị thương, trong đó có đồng chí Nguyễn Náo, Tiểu đoàn phó. Trời đã gần sáng, lực lượng ta thương vong khá nhiều, mặc dù ta chỉ mới đánh chiếm được một nửa khu B nhưng đồng chí Hà Vi Tùng hội ý với các đại đội cho lui quân.

Nghe tiếng kèn lệnh, bộ đội ta tuần tự rút ra dưới làn mưa pháo của địch. Tiểu đoàn để lại 1 tiểu đội cùng dân quân Hòa Xuân chôn cất liệt sĩ, còn lại rút về Hòa Mỹ. Trên đường đi có hai thương binh quá nặng bị hy sinh.

5. Kết quả trận đánh:

Sau hơn 3 giờ chiến đấu, ta diệt gọn cứ điểm Bàn Nham, một nửa đồn Bàn Thạch, diệt và làm bị thương hơn 200 tên địch, trong đó có tên tiểu đoàn trưởng, bắt 90 tên, trong đó có tên tiểu đoàn phó. Ta thu trên 100 súng các loại, trong đó có 1 cối 80 ly, 2 cối 60 ly, 6 đại liên, 12 trung liên, 70 tiểu liên, 20 súng trường và nhiều quân trang quân dụng. Đặc biệt ta thu được một số tiền Đông Dương rất lớn (đây là tiền lương tháng của lính ngụy vừa mới đưa về, chưa kịp cấp phát).

Ta hy sinh 30 đồng chí, trong đó có đồng chí Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 365; 109 đồng chí bị thương, trong đó có 2 đồng chí cán bộ đại đội.

6. Ý nghĩa trận đánh:

Trận tiêu diệt cứ điểm Bàn Nham - Bàn Thạch đã giáng một đòn đích đáng vào mưu đồ chiếm đóng lâu dài của địch, tạo thế liên tục tiến công trên chiến trường. Đánh phá sâu vào hậu phương căn cứ làm cho địch luôn bị đối phó. Trận đánh này làm hoang mang, rung động tinh thần chiến đấu của địch, góp phần cùng quân và dân Phú Yên bẻ gãy cuộc hành quân Átlăng của thực dân Pháp.

7. Bàỉ học kinh nghiệm:

Tuy trận đánh thắng lợi giòn giã nhưng tổn thất của ta cũng khá nặng nề. Từ chiến công và tổn thất đó rút ra bài học kinh nghiệm quý giá.

Trong công tác chuẩn bị chiến trường phải nắm chắc và phán đoán đúng quy luật hoạt động, tổ chức phản kích của địch khi bị ta tấn công. Từ những đánh giá nhận định đúng về địch để hạ quyết tâm chiến đấu và có cách đánh bảo đảm chắc thắng, sử dụng lực lượng thích hợp, trang bị hợp lý đủ sức chiến đấu trong những tình huống diễn biến phức tạp.

Trong trận chiến đấu này, nếu chúng ta phối hợp chặt chẽ hơn giữa các đơn vị, đồng loạt nổ súng trên hai hướng; bộ phận thọc sâu có sự hợp đồng chặt chẽ với bộ phận tạo cửa mở, cả lực lượng bên trong và lực lượng ở cửa mở phải đồng loạt diệt lồ cốt, phá rào bảo đảm cho lực lượng xung kích xung phong thì kết quả trận đánh sẽ cao hơn, hạn chế được thương vong.

Chiến đấu ở địa hình đồng bằng, trống trải, nhưng nếu biết dựa vào dân, hiệp đồng chặt chẽ với cơ sở với địa phương thì vẫn bảo đảm được yếu tố bí mật và giành thắng lợi. Trong trận đánh này, mặc dù địch kiểm soát nhân dân gắt gao để cắt đứt mọi liên lạc giữa nhân dân và bộ đội, thời gian chuẩn bị cho trận đánh gấp, nhưng cán bộ tiểu đoàn, đại đội đã nghiên cứu kỹ thực địa, vẫn liên lạc được với các cơ sở để cung cấp tình hình hoạt động của địch và mọi hoạt động liên quan. Trên cơ sở đó đơn vị đã chuẩn bị phương án chiến đấu nhanh, hành quân ém lót nhanh mà vẫn giữ được bí mật hành động chiến đấu.

Địa bàn ta phục kích là vùng tranh chấp, nằm gần các đồn địch, chúng dễ dàng cơ động chi viện cho nhau mỗi khi bị lực lượng ta tấn công. Mặt khác, địch có lợi thế về hoả lực, pháo binh sẵn sàng chi viện khi phát hiện được lực lượng ta. Những vấn đề đó đặt ra yêu cầu, ta phải đánh nhanh, diệt gọn, lui quân an toàn. Trong trận đánh này, khi nổ súng cán bộ, chiến sĩ phải quán triệt được tư tưởng: “Bí mật bất ngờ, tiến công đồng loạt”, kết thúc trận đánh đúng lúc, tổ chức lui quân nhanh gọn tránh được thương vong do bom pháo địch ngăn chặn. Đây là kinh nghiệm chính đồng thời cũng là nguyên nhân dẫn đến kết quả thắng lợi của trận đánh.

Nguồn:

- Lịch sử Trung đoàn 803. Nxb quân đội nhân dân H, 1999.

- Hồi ký của đồng chí Trần Đưa, nguyên chiến sĩ Tiểu đoàn 365.

- Lịch sử Tiểu đoàn 375, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Phú Yên xuất bản tháng 12-2003.

- Nhật ký chiến đấu của đồng chí Tạ Linh Tiên, nguyên chiến sĩ Tiểu đoàn 375.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Sáu, 2021, 09:28:46 am
TRẬN VẬN ĐỘNG PHỤC KÍCH
CỦA TIỂU ĐOÀN 375 TẠI GA GÒ MẦM - HOÀ TÂN
Ngày 30-4-1954

(https://i.imgur.com/WqsafUP.jpg)

1. Tình hình địa hình:

Ga Gò Mầm là hệ thống cửa cống nước, nằm trên kênh chính nam của hệ thống thủy nông Đồng Cam. Kênh chính nam chạy song song với đường 5 (tỉnh lộ 645 ngày nay), đến Gò Mầm chia thành hai: một nhánh mương chạy thẳng theo kênh chính về cánh đồng Hòa Tân - Hoà Vinh, một nhánh mương chạy song song với tỉnh lộ 645 về cánh đồng Hòa Thành, Phú Lâm. Chỗ chia kênh thành hai mương này có hai cống nước bằng bê tông, cao hơn bò kênh 1m, để điều chỉnh lưu lượng nước cho từng vùng. Địa hình xung quanh ga Gò Mầm là đồng ruộng trống trải, phía nam cách ga chừng 1.000m là thôn Phú Lạc, nhà cửa xóm làng tương đối trù phú, cây cối xanh tốt, thuận tiện cho việc giấu quân.

2. Tình hình địch:

Sau khi ta tập kích đồn Bàn Nham và giành thắng lợi (20-4-1954), địch tức tối lồng lộn, tìm cách lùng sục lực lượng ta để tiêu diệt. Chúng nhận định bộ đội chủ lực của ta đang đóng ở xung quanh khu vực Hoà Bình, Hoà Đồng, Hoà Phong, Hoà Mỹ nên liên tục tổ chức càn quét đánh phá các xã này. Lực lượng tiến hành càn quét là tiểu đoàn ngự lâm quân số 6 của địch. Đây là tiểu đoàn chuyên bảo vệ dinh Bảo Đại, được điều động về Phú Yên để tham gia chiến dịch Átlăng. Ngoài việc tinh thông võ nghệ, huấn luyện bài bản, tiểu đoàn này còn được trang bị vũ khí hiện đại hơn so với các lực lượng khác của địch. Chính vì vậy nên địch tỏ ra chủ quan và kiêu ngạo, coi thường lực lượng ta, không cảnh giác.

3. Đơn vị đảm nhiêm:

Ngày 29-4-1954, lực lượng trinh sát báo tin, địch chuẩn bị càn quét, Tỉnh đội Phú Yên chỉ thị: “Địch sẽ càn quét lên Hòa Bình, Hòa Mỹ, Hòa Đồng để tìm và diệt bộ đội chủ lực ta. Lực lượng gồm tiểu đoàn ngự lâm quân số 6, có phi pháo yểm trợ. Tiểu đoàn 375 có nhiệm vụ chặn đứng cuộc hành quân càn quét của giặc, bảo vệ khu căn cứ của ta”.

Nhận được chỉ thị, Ban chỉ huy tiểu đoàn liền tổ chức ngay cuộc họp dưới chân núi Một, thôn Hội Cư gồm cán bộ từ tiểu đội trưởng trở lên. Tiểu đoàn lúc này chỉ còn Đại đội 1, các đại đội khác đang hoạt động ở phía bắc tỉnh, quân số có 108 chiến sĩ. Tương quan lực lượng, địch hơn ta gấp vài lần và được trang bị vũ khí hiện đại. Đồng chí Tiểu đoàn trưởng thay mặt Ban chỉ huy tiểu đoàn vạch phương án tác chiến: điều động Đại đội 1 cùng Trung đội 17 của Đại đội 377 ém quân ở thôn Phú Lạc cách ga Gò Mầm 1.000m về phía nam. Toàn đơn vị và nhân dân phải giữ bí mật tuyệt đối không để lộ một dấu vết nào cho địch biết có lực lượng ta tại đây. Khi giặc đi càn về đến cầu Phú Thứ, tổ hỏa lực gồm 2 khẩu trung liên đầu bạc và Rimlé 2 nòng bố trí chiếm lĩnh hai mố bê tông ở cống ga Gò Mầm bắn chính diện vào đội hình của địch. Đại đội 1 và Trung đội 17 đánh tạt sườn vào đội hình, không cho giặc chạy thoát. Tiểu đoàn cũng giao nhiệm vụ cho đồng chí tổ trưởng trinh sát liên hệ với trạm thủy nông Đồng Cam ngay trong đêm đóng cống ga phía đầu nguồn để nước kênh cạn, thuận tiện cho bộ đội qua kênh.

Trận địa được bố trí xong. Nhân dân thôn Phú Lạc phấn khởi lo cơm nước cho bộ đội và du kích đầy đủ để ngày mai chiến đấu. Đại đội 1 Tiểu đoàn 375 và Trung đội 17 chuẩn bị lại vòng ngụy trang, lau chùi vũ khí và thực hiện nghiêm lệnh ém quân tuyệt đối bí mật chờ giặc đến.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Sáu, 2021, 09:31:19 am
4. Diễn biến trận đánh:

Mờ sáng ngày 30-4-1954 hai chiếc máy bay trinh sát Moral bay vè vè trên cánh đồng dọc theo tỉnh lộ 645. Chúng quần lượn nhiều vòng nhưng không phát hiện được nơi ém quân của bộ đội ta. Khoảng 8 giờ sáng, bọn giặc từ Phú Lâm kéo lên, chúng đi theo đội hình với tư thế sẵn sàng chiến đấu. Khi địch lọt vào trận địa của ta, chỉ huy Đại đội 1 đề nghị cho nổ súng, Ban chỉ huy Tiểu đoàn ra lệnh toàn bộ trận địa giữ bí mật chờ giặc đi càn về mới nổ súng, thắng lợi sẽ chắc chắn hơn. Toàn đơn vị chấp hành quân lệnh.

Bọn giặc kéo quân qua ga Gò Mầm an toàn. Chúng lên đến Phú Thứ chia làm hai toán: một toán đi càn lên Hoà Phong, một toán qua cầu Phú Thứ càn vào Hoà Đồng, hai cánh quân sẽ hội nhau tại Hoà Mỹ.

Khoảng 3 giờ chiều, chúng đến Phú Thứ, mang theo gà, vịt, heo, bò cướp được của nhân dân. Phần vì mệt mỏi sau một ngày càn quét, lại không hề gặp lực lượng ta nên giặc rất chủ quan, hàng ngũ lộn xộn. Đại đội 1 Tiểu đoàn 375 cùng trung đội du kích xã Hoà Tân nhanh chóng bí mật chiếm lĩnh trận địa, địch không hề hay biết. Khi quân địch chỉ còn cách trận địa của ta 40m, Tiểu đoàn trưởng ra lệnh nổ súng. Khẩu Rimlé 2 nòng cùng hai khẩu trung liên 24 đầu bạc đồng loạt nhả đạn bắn vào đội hình địch. Nhiều tên giặc gục chết ngay tại chỗ, số còn lại tạt ra hai bên đường, số rơi xuống mương, số chạy xuống cánh đồng tìm cách chống cự. Ngay lúc đó vang lên tiếng thét xung phong, bộ đội ta lưỡi lê sáng ngời đầu súng đã áp sát cạnh sườn đội hình giặc, chúng khiếp đảm không dám chống cự, giơ tay xin hàng. Trận đánh diễn ra nhanh chóng, trong vòng 15 phút, ta hoàn toàn làm chủ trận địa.

5. Kết quả trận đánh:

Ta diệt và bắt gần 100 tên địch, trong đó có tên trung úy Trần Văn Hành. Đồng bào thôn Phú Lạc, xã Hoà Tân, Hoà Bình và Hoà Vinh cùng bộ đội dân quân du kích thu chiến lợi phẩm đưa về căn cứ. Ba ngày sau đồng bào còn phải dọn nhiều xác giặc nổi trôi theo kênh nước. Lực lượng ta bị thương 3 đồng chí.

6. Ý nghĩa trận đánh:

Gò Mầm là một trận đánh đạt hiệu suất chiến đấu rất cao, có ý nghĩa quan trọng trong việc động viên khích lệ tinh thần chiến đấu của lực lượng vũ trang tỉnh nói chung, Tiểu đoàn 375 nói riêng. Chiến thắng đó khẳng định sự lớn mạnh, trưởng thành vượt bậc của tiểu đoàn. Với lực lượng chỉ hơn một đại đội, nhưng ta đã xoá sổ một tiểu đoàn thiện chiến của địch, làm cho quân và dân trong tỉnh vô cùng phấn khởi, tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng. Đó cũng là một đòn đau nhớ đời giáng vào đội quân tay sai, bán nước, làm nhụt chí tinh thần chiến đấu của địch, tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng ta có những chiến thắng lớn hơn.

7. Bài học kinh nghiệm:

Trận Gò Mầm thắng lợi đã để lại nhiều kinh nghiệm quý báu:

Một là, tin vào dân, dựa vào sự giúp đỡ, che chở của dân để trú quân, phối hợp cùng trung đội vũ trang địa phương đánh giặc.

Hoạt động ở một địa bàn không quen thuộc, thường xuyên bị địch càn quét, ta chưa nắm rõ tình hình về mọi mặt, trong khi yêu cầu chuẩn bị cho trận đánh gấp, phải bảo đảm bí mật tuyệt đối là vấn đề hết sức nan giải. Nhưng Ban chỉ huy Tiểu đoàn 375 đã biết tin vào dân, dựa vào dân, phối hợp chặt chẽ với nhân dân cùng bộ đội đánh giặc. Chính nhờ có sự ủng hộ giúp đỡ của nhân dân nên tiểu đoàn đã bố trí ém quân ở thôn Phú Lạc để tiện cơ động đến trận địa phục kích. Nếu không có sự che chở của nhân dân, trận Gò Mầm chắc chắn khó thắng lợi, bởi vì trận địa phục kích nằm ngay giữa cánh đồng trông, không có vật che khuất, địa bàn thuộc vùng địch tạm kiểm soát. Mặt khác, mọi công việc tiếp tế hậu cần cho tiểu đoàn đều dựa hẳn vào dân. Sự tin tưởng đó còn thể hiện ở chỗ: tiểu đoàn đã phối hợp tác chiến cùng lực lượng vũ trang địa phương, mặc dù trình độ tác chiến, trình độ kỹ thuật, chiến thuật cá nhân, trang bị giữa tiểu đoàn và đơn vị địa phương có sự chênh lệch, nhưng chính mối quan hệ quân và dân thắm thiết, sự tin cậy đã tạo nên sự thống nhất, chặt chẽ trong hành động, góp phần tạo nên thắng lợi của trận đánh.

Hai là, Tiểu đoàn 375 đã nắm chắc quy luật hoạt động của địch; nắm vững địa hình, chọn địa đoạn phục kích phù hợp, bí mật.

Sau khi trinh sát, nghiên cứu địa hình, tiểu đoàn quyết định chọn ga Gò Mầm làm trận địa phục kích là hợp lý, táo bạo, bất ngờ. Bởi vì khi bị phục kích, toàn bộ đội hình địch sẽ bị phơi ra trước hoả lực của ta, do giữa cánh đồng trống trải. Trong khi đó, lực lượng ta tận dụng vật che chắn là các công nước bằng bê tông vừa cao hơn địa hình xung quanh để bố trí hoả lực, vừa là công sự che chắn đạn khi địch phản kích. Cự ly giữa làng Phú Lạc (nơi ta trú quân) với trận địa phục kích cũng rất lý tưởng, vừa không quá xa để ta cơ động lực lượng, vừa đủ bảo đảm an toàn cho nhân dân khỏi bị đạn lạc trong giao chiến. Mặt khác, do nắm chắc quy luật hoạt động, bản chất của địch nên ta đã đón đánh địch khi chúng hành quân về, lúc này chúng rất chủ quan, chúng không nghĩ ta có thể dám phục kích giữa cánh đồng trống, lại phải mang vác thêm nhiều thứ của cải cướp bóc được của nhân dân nên khi bị phục kích bất ngờ, đội hình sẽ rối loạn, chúng sẽ không kịp phản ứng. Kết quả trận đánh đã phản ánh đúng nhận định của ta.

Nguồn:

- Lịch sử Tiểu đoàn 375, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh - Phú Yên xuất bản tháng 12-2003.

- Những trận đánh tiêu biểu của lực lượng vũ trang tỉnh Phú Yên, tập 2, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Phú Yên xuất bản năm 2005.

- Hồi ký của đồng chí Tạ Linh Tiên, nguyên chiến sĩ Tiểu đoàn 375.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Sáu, 2021, 09:33:19 am
TRẬN VẬN ĐỘNG CHIẾN TẠI PHONG THÁI - AN LĨNH
CỦA ĐẠI ĐỘI 2 TIỂU ĐOÀN 375
Ngày 2-5-1954

(https://i.imgur.com/ScRx6fw.jpg)

1. Tình hình địa hình:

Địa đoạn diễn ra trận đánh thuộc thôn Phong Thái vùng V xã An Lĩnh. Tại đây, có con đường mòn độc nhất chạy giữa thung lũng đi từ Phong Thăng, An Định đến vùng V An Lĩnh. Xung quanh địa bàn là núi đồi, sim, mua mọc lúp xúp xen kẽ với một số cây lớn. Phía đông đường mòn độc đạo có con suối nhỏ chạy dọc theo đường mòn, lòng suối cạn có nhiều tảng đá lớn lởm chỏm, bên kia bờ suối là những bãi mía. Rải rác trong khu vực còn có một số mồ mả xây bằng đá tảng rất thuận tiện cho việc bố trí hỏa lực, trận địa phục kích.

2. Tình hình địch:

Sau khi chiếm đóng thị trấn Chí Thạnh, địch đã nhiều lần tổ chức các cuộc càn quét đánh phá vào căn cứ nhưng đều bị các đơn vị của Tiểu đoàn 375 đánh cho tan tác, buộc chúng phải tháo chạy. Bị thua đau nhưng bọn chỉ huy Pháp và bè lũ tay sai không từ bỏ ý đồ xoá bỏ vùng căn cứ của ta. Chúng cho rằng, nếu không đánh để xóa bỏ căn cứ địa An Lĩnh thì chi khu quân sự, trung tâm hành chính, các cơ sở kho tàng và phương tiện chiến tranh ở thị trấn Chí Thạnh cũng như các cứ điểm, đồn bốt của chúng đóng dọc trên trục đường quốc lộ 1A, từ phía nam đèo Quán Cau ra đến phía bắc Tam Giang, giáp với huyện Sông Cầu sẽ bị quân ta bao vây, uy hiếp và tiêu diệt là điều không thể tránh khỏi.

Để tránh nguy cơ nói trên và cũng nhằm tiếp tục thực hiện kế hoạch bình định lấn chiếm, tìm diệt quân chủ lực của ta, sáng ngày 2-5-1954, địch đã điều động một tiểu đoàn lính ngụy, được hỗ trợ của pháo binh, vượt qua đèo Thị tiến dọc theo tỉnh lộ 6 đến cầu Giữa, cách thị trấn Chí Thạnh khoảng 1km, băng qua đường sắt, nhằm hướng nam, tiến vào thôn Phong Thăng xã An Định, để từ đó mở đầu cuộc càn quét vào thôn Phong Thái thuộc vùng V xã An Lĩnh.

Mở đầu cuộc càn quét, các trận địa pháo của địch bắn phá tới tấp vào các xóm làng, sườn đồi dọn đường cho bộ binh tiến lên, đồng thời cũng là một thủ đoạn để khích lệ, động viên tinh thần binh lính của chúng đang trên đường vào vùng rừng núi hiểm trở, rất nguy hiểm đối với mạng sống của những tên lính đánh thuê.

3. Tình hình ta:

An Lĩnh là một trong những địa bàn quan trọng trên chiến trường bắc Tuy An, một địa bàn toàn rừng núi, tại đây có Phân viện dã chiến 205, nhiều kho tàng dự trữ và cũng là nơi tập kết chuyển quân của ta.

Đại đội 2 Tiểu đoàn 375 do đồng chí Hồ Đình Phượng chỉ huy được lệnh bí mật về trú quân ở thôn Phong Thái đã được ba ngày, sẵn sàng cơ động khi có lệnh của trên. 9 giờ ngày 2-5-1954, được trinh sát đại đội báo tin, quân ngụy đã càn vào thôn Phong Thái, từ hướng bắc đang tiến về phía đơn vị, chỉ cách ta khoảng hơn 3km.

Nhận được tin báo của trinh sát, Đại đội trưởng lập tức cho ngừng buổi học chính trị và ra lệnh toàn đơn vị khẩn trương chuẩn bị chiến đấu.
Sau chưa đầy 5 phút, toàn đơn vị đội ngũ chỉnh tề, vũ khí trong tay, đứng nghiêm nghe Đại đội trưởng giao nhiệm vụ chiến đấu cụ thể cho từng trung đội, động viên cán bộ, chiến sĩ quyết tâm đánh tiêu diệt địch, phá tan cuộc càn quét để bảo vệ căn cứ, bảo vệ nhân dân và ra lệnh xuất quân.

Quân số của đại đội tham gia trận đánh có trên 100 tay súng, được biên chế thành 4 trung đội: 1, 2, 3 và trung đội súng cối 60 ly và 81 ly.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Sáu, 2021, 09:35:57 am
4. Diễn biến trân đánh:

Nhận lệnh hành quân của Đại đội trưởng, toàn đơn vị vận động theo hàng dọc, hướng về phía địch, bám sát đội hình, vừa đi vừa chạy trên con đường mòn độc nhất, băng qua làn khói bụi đạn pháo mịt mù và vượt qua các đồi gò cao, trảng đá và khe suối lởm chởm đá và gai dưới ánh nắng oi bức. Khi cách địch khoảng 300m thì bất ngờ một loạt đạn đại bác của địch từ Chí Thạnh bắn trúng vào đội hình làm một số cán bộ, chiến sĩ ta thương vong.

Sự việc xảy ra đã gây tổn thất và khó khăn nghiêm trọng, nhưng không làm nhụt ý chí chiến đấu và lòng quyết tâm tiêu diệt địch của Đại đội 2. Biến đau thương thành sức mạnh, đội hình phía trước vẫn giữ vững và tiếp tục tiến lên, tuyến sau vượt qua khói đạn, động viên nhau dũng mãnh tiến nhanh hơn để bằng mọi cách kết nối lại đội hình nhằm đảm bảo phương án tác chiến khi gặp địch. Khi quân ta sắp vượt qua khỏi đồi sim thì phát hiện địch đang tụ tập dưới chân đồi cách ta khoảng 100m, chúng đang nghỉ dừng chân để chờ bọn sau đến. Đại đội trưởng phát tín hiệu dừng lại và ra lệnh khẩn trương bố trí trận địa chiến đấu. Dựa vào địa hình, địa vật tại chỗ, lập tức một chiến tuyến hình bán nguyệt kéo dài hơn 200m đã nhanh chóng hình thành. Trung đội 1 chủ công được bố trí ở chính diện. Trung đội 3 bố trí dọc theo bờ suối sát chân núi có độ cao 200m ở hướng đông. Trung đội 2, do bị tổn thất do pháo địch, quân số chỉ còn hai phần ba được bố trí ở hướng tây, Trung đội cối 60 và 81 ly được bố trí ở phía sau.

Từ trận địa ta bố trí đến chân đồi, nơi dừng chân của địch là một gò đất rộng (có độ dốc 15 độ) trống trơn khô cháy. Khoảng cách của ta và địch không xa, nhưng vị trí chiến đấu của quân ta ở phía trên khu gò đồi, có cây rừng che khuất và được giữ bí mật tuyệt đối cho nên địch không hề hay biết. Càng gần về trưa, sức nóng ở núi rừng càng gay gắt. Thêm vào đó pháo 105 ly của địch từ Chí Thạnh liên tục bắn phá dữ dội vào các khu vực xung quanh mà chúng nghi ngờ có quân ta.

Khi tốp lính ở phía sau đã dồn lên thì bọn chỉ huy ra lệnh cho quân vượt qua khu gò tiến vào đúng nơi quân ta bí mật bố trí trận địa phục kích. Đi trước là tốp lính trinh sát và bộ đàm, sau đó là bộ binh dàn hàng ngang tiến lên. Vì hành quân đường xa, mang vác nặng lại bị nắng nóng và lo sợ nên tốc độ tiến quân của chúng rất chậm.

Bọn chỉ huy hò hét xua quân tiến lên và vừa đi vừa bắn vu vơ vào những đám mía, cánh rừng... Khi chúng cách trận địa của ta 40m, thì đơn vị được lệnh nổ súng. Chớp thời cơ, lập tức toàn bộ hỏa lực của ta từ ba hướng bắn mãnh liệt vào đội hình của địch. Bị đòn đánh phủ đầu bất ngờ, chúng không kịp đối phó, nhiều tên chết và bị thương tại chỗ. Những tên ở dưới chân đồi định quay đầu tháo chạy đã bị cối 60 và 81 ly của ta bắn chặn, làm nhiều tên chết và bị thương, số sống sót đứa thì bò lăn xuống khe suối, đứa chạy tản vào rừng để tìm đường thoát thân. Một số tên ngoan cố, dựa vào các ụ mối và những ngôi mộ được xây bằng đá tảng làm điểm tựa dùng trung liên và đại liên bắn xối xả về phía ta nhưng đã bị hỏa lực ta từ trên các điểm cao bắn kiềm chế và làm vô hiệu hóa.

Trận đánh diễn ra được khoảng 10 phút, thì từ ba hướng quân ta tiến lên áp sát địch. Lúc này, do mất liên lạc và phương hướng, cho nên những loạt đạn pháo của địch rơi tới tấp xuống khắp nơi, nhiều loạt rơi vào đội hình của địch gây thêm nhiều thương vong và làm cho đội hình của chúng đã tan tác càng thêm rối loạn. Trận địa mịt mù khói đạn bao trùm không thể nhìn thấy nhau. Tranh thủ lúc pháo binh của địch bị lạc mục tiêu, để tránh bị thương vong, Đại đội trưởng ra lệnh thu quân và giao nhiệm vụ cho từng trung đội đưa những chiến sĩ hy sinh và bị thương về tuyến sau theo hướng thích hợp để tránh phi pháo của địch.

5. Kết quả trận đánh:

Sau hơn 20 phút chiến đấu, Đại đội 2 đã đánh lui 1 tiểu đoàn địch đi càn quét có quân số và vũ khí nhiều hơn ta. Loại khỏi vòng chiến đấu gần 200 tên, đập tan cuộc càn quét của địch, bảo vệ vững chắc vùng căn cứ, thu 36 súng các loại, 4 máy bộ đàm và một số quân trang, quân dụng.
Về phía ta có 8 chiến sĩ hy sinh và 15 chiến sĩ bị thương, đa số bị sát thương là do pháo của địch.

6. Ý nghĩa trận đánh:

Chiến thắng Phong Thái - An Lĩnh là một chiến công vang dội, nối tiếp những trận thắng lớn trước đó, mà mở màn là trận diệt gọn 26 xe và 1 đại đội Âu - Phi ở xóm Bàu Vườn, góp phần đánh bại chiến dịch Átlăng năm 1954 ghi thêm một chiến công chói lọi vào trang sử của Tiểu đoàn 375 trên mảnh đất Phú Yên anh hùng. Trận đánh cũng thể hiện tinh thần dũng cảm, khắc phục hoàn cảnh khó khăn tiến công đến cùng của Đại đội 2 nói riêng, lực lượng vũ trang tỉnh nói chung, dù hy sinh vẫn không lùi bước.

7. Bài học kinh nghiệm:

Nắm vững thời cơ, nắm chắc tình hình, đánh giá đúng âm mưu, thủ đoạn của địch, chọn địa đoạn phục kích phù hợp khi có thời cơ vận động xuất kích tiêu diệt địch nhanh, gọn.

Giữ được yếu tố hí mật bất ngờ, bố trí binh lực và hoả lực tiện quan sát chi viện cho nhau, xung hoả lực kết hợp với nhau chặt chẽ, nhất là khi bộ binh xuất kích vận động qua địa hình trống trải...

Khi nổ súng phải xung phong, bám sát địch (để tránh sát thương bằng phi pháo và hoả lực), xử trí tình huống nhanh chóng kịp thời, nhất là trong tình huống đơn vị bị pháo kích khi hành quân, hy sinh nhiều, đội hình bị chia cắt vẫn kiên quyết cơ động, nhanh chóng xốc lại đội hình, bố trí trận địa phục kích không bỏ lỡ thời cơ tiêu diệt địch.

Nguồn:

- Lịch sử Tiểu đoàn 375, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Phú Yên xuất bản tháng 12-2003.

- Tư liệu của đồng chí Nguyễn Văn Xuân, nguyên chiến sĩ Tiểu đoàn 375.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Sáu, 2021, 09:39:28 am
TRẬN VẬN ĐỘNG PHỤC KÍCH CỦA ĐẠI ĐỘI 2 TIỂU ĐOÀN 375 TẠI XÓM HÓC LÁ, VÙNG II
(ĐỊNH PHONG – AN NGHIỆP)
Ngày 6-5-1954

(https://i.imgur.com/LYNM5HA.jpg)

1. Tình hình địa hình:

Địa bàn diễn ra trận đánh thuộc xóm Hóc Lá - Đá Giăng vùng II An Nghiệp, nay là thôn Định Phong xã An Nghiệp.

Phía bắc giáp khu dân cư của thôn Định Phong.

Phía nam giáp đồng ruộng nằm xen kẽ với núi đồi, cách đập An Nghiệp khoảng 1km.

Phía đông giáp con đường đất chạy từ An Định qua An Nghiệp lên An Lĩnh và chạy đến Sơn Long.

Phía tây giáp làng Thế Hiên.

Về phía trước mặt nơi đơn vị đóng quân và bố trí trận địa phục kích theo hướng tây bắc là cánh đồng Lau (tên của cánh đồng) giáp với vùng IV và V xã An Định. Phía đông nam tiếp giáp xa với xã An Lĩnh có những dãy núi cao liên kết và kéo dài đến 5km. Vị trí này rất thuận lợi cho việc giấu quân, bố trí trận địa để chiến đấu khi gặp kẻ địch.

2. Tình hình địch:

Sau khi chiếm đóng thị trấn Chí Thạnh, địch đã nhiều lần tổ chức các cuộc càn quét đánh phá vào căn cứ nhưng đều bị các đơn vị của Tiểu đoàn 375 phối hợp với các đơn vị bộ đội địa phương và dân quân du kích Tuy An đánh cho tan tác. Đặc biệt, ngày 2-5, khi địch vừa mở cuộc càn quét vào An Lãnh, bị ta phục kích tại Phong Thái đánh thiệt hại nặng hơn 1 đại đội.

Để tiếp tục thực hiện kế hoạch bình định lấn chiếm và tìm diệt quân chủ lực của ta, sáng ngày 6-5-1954, địch điều động lực lượng, được hỗ trợ của pháo binh, máy bay vượt qua đèo Cây Cam tiến dọc theo trục đường liên xã từ An Định lên An Nghiệp, để từ đó mở cuộc càn quét vào An Lĩnh, một địa bàn rừng núi hiểm trở, nơi đặt Phân viện dã chiến 205, nhiều kho tàng dự trữ và cũng là nơi tập kết chuyển quân của ta.

Với thế mạnh của pháo binh, bộ binh của chúng tiến đến đâu cũng được pháo từ Chí Thạnh yểm trợ đắc lực. Chúng bắn pháo tới tấp vào các xóm làng, sườn đồi để dọn đường cho bộ binh tiến lên. Lực lượng địch đi càn quét khoảng 2 đại đội lính ngụy, được trang bị vũ khí khá mạnh. Tuy nhiên, phần do chán nản, phần lo sợ bị lực lượng ta chặn đánh nên địch hành quân rất chậm.

3. Tình hình ta:

Sau khi đánh bại và làm tan rã 1 tiểu đoàn quân ngụy càn quét vào vùng V xã An Lĩnh (ngày 2-5-1954), Đại đội 2 Tiểu đoàn 375, do đồng chí Hồ Đình Phượng chỉ huy được lệnh bí mật hành quân cấp tốc về trú quân ở các nhà dân tại xóm Hóc Lá - Đá Giăng thuộc vùng II xã An Nghiệp, nay là thôn Định Phong xã An Nghiệp.

Sáng ngày 6-5-1954, toàn đơn vị vừa ăn sáng xong, chuẩn bị học tập chính trị thì nghe súng nổ từ hướng đông phía Chí Thạnh. Trinh sát đơn vị cho biết, địch đã bắt đầu mở cuộc càn quét với quy mô lớn, lực lượng đông (khoảng 2 đại đội tăng cường, được trang bị vũ khí đầy đủ), hiện chúng đang hành quân trên cánh đồng Lau trống trải và tiến về phía đơn vị trú quân, cách ta khoảng hơn 500m.

Nhận được tin báo của trinh sát, Đại đội trưởng lập tức cho ngừng buổi học chính trị và ra lệnh toàn đơn vị khẩn trương chuẩn bị chiến đấu. Sau lệnh triển khai của Ban chỉ huy đại đội, toàn đơn vị đội ngũ chỉnh tề, vũ khí trong tay, đứng nghiêm nghe Đại đội trưởng giao nhiệm vụ chiến đấu cụ thể cho từng trung đội, động viên cán bộ, chiến sĩ quyết tâm đánh tiêu diệt địch, phá tan cuộc càn quét để bảo vệ căn cứ. Quân số của đại đội lúc này chỉ còn khoảng gần 100 tay súng (sau trận đánh tại Phong Thái - An Lĩnh, đại đội chưa kịp bổ sung quân số), trang bị khá đầy đủ.

Trung đội 1 do đồng chí Hồ Đình Phượng, Đại đội trưởng trực tiếp chỉ huy, đảm nhận hướng tây nam (bộ phận chặn đầu). Trung đội 2, do đồng chí Nguyễn Bân, Chính trị viên đại đội trực tiếp chỉ huy bố trí trên hướng tây bắc, cách trận địa của Trung đội 1 khoảng 150m làm nhiệm vụ khoá đuôi. Trung đội 3, do đồng chí Đại đội phó chỉ huy, bố trí ở phía đông con đường, cách Trung đội 1 và Trung đội 2 khoảng 150m, có nhiệm vụ đánh tạt sườn bên trái đội hình địch. Trung đội 4 (trung đội cối 60 ly, 81 ly và súng phóng lựu) được bố trí trên gò phía sau đội hình chiến đấu của đơn vị.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Sáu, 2021, 09:42:36 am
4. Diễn biến trận đánh:

Nhận lệnh hành quân của Đại đội trưởng, toàn đơn vị vận động vào vị trí chiến đấu. Đến 8 giờ, đội hình địch tiến vào khu vực Hóc Lá. Chúng hò hét và bắn những loạt đạn vu vơ vào làng mà không hề hay biết trước mặt chúng khoảng 100m dọc theo rìa làng có Đại đội 2 đã chủ động bố trí trận địa, sẵn sàng chờ lệnh nổ súng.

Toàn bộ xóm Hóc Lá lúc này rất vắng lặng. Bọn chỉ huy của địch hùng hổ, quát tháo xua quân tiến vào làng. Khi khoảng cách giữa ta và địch trong cự ly 25m, Đại đội trưởng ra lệnh phát hỏa, lập tức hàng loạt đạn các cỡ của quân ta bất ngờ bắn xối xả vào đội hình của địch. Ngay những loạt đạn phủ đầu của quân ta đã làm nhiều tên chết và bị thương, số còn sông chạy tản ra, nằm rạp xuống trên những đám ruộng trống trơ, khô cằn và không có địa vật che chắn, một số tên ngoan cố chống trả lập tức bị hỏa lực ta tiêu diệt.

Bọn lính ở phía sau hoảng sợ, quay đầu tháo chạy nhưng bị bọn chỉ huy ngăn lại và ra lệnh tập trung tất cả hỏa lực bắn vào trận địa ta để giải nguy cho bọn lính của chúng ở phía trước. Lập tức, Ban chỉ huy Đại đội 2 ra lệnh cho trung đội hoả lực tập trung súng cối 60, 81 ly, súng phóng lựu và trung liên bắn cấp tập, chính xác vào những tốp lính ở phía sau, làm cho đội hình chúng tan tác rối loạn. Các ổ đề kháng của địch bị đánh phủ đầu tắt lịm, quân địch nằm im hoặc tìm nơi ẩn nấp, không có cách nào tiến lên để ứng cứu cho đồng bọn ở phía trước. Trận đánh tiếp tục diễn ra quyết liệt, giằng co kéo dài trong 20 phút thì Trung đội 3 trong đội hình chiến đấu ở phía đông, được lệnh rời vị trí, xung phong đánh tạt sườn bên trái, làm cho bọn địch vô cùng lúng túng. Trước tình hình nguy khốn, bọn sĩ quan chỉ huy trận càn gọi điện về trung tâm chỉ huy xin cứu viện. Chỉ mấy phút sau, hai máy khu trục loại B24 - B28 của địch lao vào trận địa, thả hàng loạt bom napan, bom phá và từ trên không chúng liên tục bắn hàng loạt đạn đại liên rất khốc liệt xuống khu vực dân cư ở phía sau trận địa của đơn vị, làm cháy và phá hủy hầu hết các ngôi nhà của dân. Nhưng mưu đồ thâm độc và tàn bạo của kẻ địch vẫn không thể cứu nguy được tình thế.

Chớp thời cơ địch đang chuẩn bị tháo lui, Trung đội 1 và Trung đội 2 do hai đồng chí Hồ Đình Phương, Đại đội trưởng và đồng chí Nguyễn Bân, Chính trị viên trưởng dẫn đầu đồng loạt, xung phong tiêu diệt địch. Thấy quân ta đánh quá mạnh, địch hoảng sợ hò hét và giẫm đạp lên nhau, kéo chạy về phía Chí Thạnh. Quân ta truy kích theo khoảng 1km diệt và bắt thêm nhiều tên. Lúc này pháo 105 ly của địch từ hướng An Ninh bắn lên để ngăn chặn quân ta nhưng nhiều loạt đạn 105 ly lại rơi trúng vào đội hình của chúng. Để bảo toàn lực lượng, Đại đội trưởng ra lệnh thu quân rút về phía sau vì lực lượng của đại đội qua ba tháng chiến đấu liên tục, quân số bị hao hụt nên cần được bảo toàn để có sức chiến đấu lâu dài.

5. Kết quả trận đánh:

Sau hơn 1 giờ chiến đấu, Đại đội 2 đã đánh lui 2 đại đội địch đi càn quét có quân số và vũ khí nhiều hơn ta. Loại khỏi vòng chiến đấu hơn 100 tên, đập tan cuộc càn quét của địch, bảo vệ vững chắc vùng căn cứ. Về phía ta, có 7 đồng chí hy sinh và 10 đồng chí bị thương, trong đó có đồng chí Nguyễn Bân, Chính trị viên trưởng đại đội bị thương ở đầu.

Chỉ trong thời gian ngắn, cách nhau 5 ngày, Đại đội 2 của Tiểu đoàn 375 đã đánh tan 2 cuộc càn quét có quy mô lớn của địch, góp phần chia lửa với chiến trường trong tỉnh đánh bại kế hoạch Átlăng.

6. Ý nghĩa trận đánh:

Chiến thắng tại xóm Hóc Lá, Phong Định là một trận đánh xuất sắc của Đại đội 2 Tiểu đoàn 375, nối tiếp những trận thắng lớn trước đó, mà mở màn là trận diệt gọn 26 xe và 1 đại đội Âu - Phi ở xóm Bàu Vườn, trận Phong Thái - An Lĩnh bảo vệ vững chắc vùng căn cứ, góp phần đánh bại chiến dịch Átlăng năm 1954 trên mảnh đất Phú Yên anh hùng. Chiến thắng đó khẳng định sức mạnh Đại đội 2 nói riêng, của lực lượng vũ trang tỉnh nói chung, sẵn sàng đương đầu và đánh bại bất cứ kẻ thù nào, dù chúng có xảo quyệt, tàn bạo đến mức nào đi chăng nữa. Chiến thắng cũng là một đòn đau nhớ mãi đối với quân địch khi chúng đặt chân đến mảnh đất này, Liên tiếp gặp thất bại, tính hung hăng cuồng bạo của đội quân đánh thuê bị giảm sút, đó là điều kiện thuận lợi để lực lượng ta đối phó với chúng trong thời gian tới.

7. Bài học kinh nghiệm:

Nắm vững thời cơ, nắm chắc tình hình, đánh giá đúng âm mưu, thủ đoạn của địch, chọn địa đoạn phục kích phù hợp khi có thời cơ vận động xuất kích tiêu diệt địch nhanh, gọn.

Trong trận này, lực lượng ta đã táo bạo tiếp cận, nổ súng diệt địch giữa ban ngày. Trong điều kiện địch lợi dụng phi pháo, máy bay để tiêu diệt trận địa ta, ta vẫn bình tĩnh bám sát đội hình địch tổ chức xung phong và diệt địch.

Giữ được yếu tố bí mật bất ngờ, bố trí binh lực và hoả lực hợp lý.

Mặc dù thời gian chuẩn bị hết sức khẩn trương, cấp bách, nhưng đại đội vẫn bố trí được các bộ phận chặn đầu, khoá đuôi, đánh lướt sườn, trận địa hoả lực với cự ly hợp lý, tiện quan sát chi viện cho nhau, xung hoả lực kết hợp với nhau chặt chẽ.

Xử trí tình huống nhanh chóng kịp thời, nhất là trong tình huống đơn vị bị máy bay ném bom, nhanh chóng tổ chức xung phong. Khi truy kích địch bị pháo địch ngăn chặn, tổ chức lui quân kịp thời.

Nguồn:

- Lịch sử Tiểu đoàn 375, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Phú Yên xuất bản tháng 12-2003.

- Tư liệu của đồng chí Nguyễn Văn Xuân, nguyên chiến sĩ Đại đội 2 Tiểu đoàn 375.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Sáu, 2021, 09:45:47 am
TRẬN CHỐNG CÀN QUAN QUANG - MINH ĐỨC CỦA TIỂU ĐOÀN 375
Ngày 28-5-1954

(https://i.imgur.com/RZCeZYE.jpg)

1. Tình hình địa hình:

Thôn Quan Quang - Minh Đức thuộc xã Hoà Kiến, nằm về phía tây bắc thị xã Tuy Hoà, cách thị xã khoảng 3km. Chạy dọc theo địa bàn xã là con đường liên thôn (xe ô tô cơ động được) từ quốc lộ 1 đi Cẩm Tú, Thọ Vức. Đoạn đi qua địa phận giáp giới giữa hai thôn có cầu Minh Đức làm bằng bê tông cốt thép, dài khoảng 30m. Phía bắc, phía nam cầu là đồng ruộng trống trải. Phía đông bắc là núi Chóp Chài, phía đông nam là khu dân cư của thôn Minh Đức. Dọc theo con lạch phía bắc và nam cầu là những luỹ tre dày, xanh tốt, rất thuận tiện cho việc ém quân.

2. Tình hình địch:

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, kế hoạch Na va hoàn toàn phá sản. Trên chiến trường Phú Yên, địch co về thị xã Tuy Hoà và các thị trấn để cố thủ. Tuy không còn hung hăng càn quét như trước nhưng chúng quyết tâm dồn hết lực cố đánh bật bộ đội chủ lực của ta ra khỏi vùng Hoà Quang để tạo hành lang an toàn cho thị xã Tuy Hoà.

Chiều 27-5-1954, trinh sát Tiểu đoàn 375 báo tin “Giặc Pháp tổ chức cuộc càn quét quy mô lớn với lực lượng một trung đoàn, trang bị đầy đủ có phi pháo yểm trợ. Sáng ngày 28-5-1954 chúng sẽ tiến quân bằng hai mũi: một mũi từ núi Sầm tiến quân càn quét dọc xã Hoà Quang, một mũi từ Chóp Chài tiến quân càn quét lên Quan Quang. Hai mũi họp nhau ở Hoà Quang - Quan Quang tấn công vào Thọ Vức - Cẩm Tú”(1). Lực lượng tiến hành càn quét, giải vây là trung đoàn ngụy quân thuộc binh đoàn cơ động 41 của địch do tên trung tá Nguyễn Khánh chỉ huy(2).

3. Đơn vị đảm nhiệm:

Ban chỉ huy Tỉnh đội Phú Yên chỉ thị cho Tiểu đoàn 375 cùng du kích các xã Hoà Quang, Bình Kiến, Hoà Trị tiêu diệt đánh tan cuộc càn quét quy mô lớn này của địch. Nhận được chỉ thị, Ban chỉ huy Tiểu đoàn 375 hết sức lo lắng, vì thực lực Tiểu đoàn 375 chỉ còn khoảng hơn một đại đội, đa số bị đau ốm. Số khỏe mạnh dày dạn kinh nghiệm chiến đấu đã đi phối hợp làm nòng cốt cho các đơn vị du kích bao vây các đồn bốt, cứ điểm giặc không thể tập trung kịp. Nhưng với tinh thần quyết tâm cao, nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh của cấp trên, Ban chỉ huy tiểu đoàn đã lựa chọn phương án tác chiến hết sức táo bạo. Đó là lập trận địa ở trong tỉnh, ngay trong lòng địch ở thôn Minh Đức, chờ giặc đi càn về sẽ đổ quân ra đánh.

Tiểu đoàn nhanh chóng tổ chức lại lực lượng. Rút các đồng chí có kinh nghiệm chiến đấu thành lập một trung đội mạnh, trang bị đầy đủ vũ khí, có tăng cường trung đội trợ chiến. Trung đội trợ chiến ém quân dưới suối, chân chùa Hang, khi có lệnh chiếm lĩnh trận địa, nhanh chóng vận động ra chợ Minh Đức. Khẩu Rimlé 2 nòng (hoả lực chủ yếu của tiểu đoàn) được bố trí trên mỏm đồi phía sau chợ ở độ cao 30m so với cánh đồng, khống chế diện rộng 500m mà tâm là cầu Minh Đức. Trung đội mạnh chiếm lĩnh các lũy tre quanh chợ Minh Đức tiếp giáp với cánh đồng, đồng loạt nổ súng với khẩu đội Rimlé. Hai trung đội còn lại cùng với dân quân du kích xã Hoà Kiến ém quân sát chân núi Chóp Chài, đầu thôn Minh Đức cách xóm Sũng đoạn đồng ngắn, chiếm lĩnh các lũy tre, bờ đá, đường đi sát cánh đồng chờ sẵn. Khi có lệnh xung phong, hai trung đội cùng dân quân du kích vận động ra giữa cánh đồng Minh Đức chặn đường về tiêu diệt và bắt giặc.

Tất cả các cán bộ, chiến sĩ mỗi người chuẩn bị một đoạn thừng để bắt trói tù binh, vì dự kiến tù binh sẽ rất đông, quân ta ít không quản lý được. Anh nuôi chuẩn bị cho mỗi chiến sĩ ba vắt cơm, lương khô, nước uống đầy đủ.


(1), (2) Thực tế lực lượng địch chỉ có khoảng hơn 1 tiểu đoàn, Lịch sử Tiểu đoàn 375, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Phú Yên xuất bản tháng 12-2003, tr. 66.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Sáu, 2021, 09:49:13 am
4. Diễn biến trận đánh:

1 giờ sáng ngày 28-5-1954, toàn đơn vị hành quân đến vị trí tập kết. Để đảm bảo an toàn, tiểu đội du kích thôn Minh Đức cùng hai trinh sát viên lập trạm kiểm soát bí mật đầu thôn Minh Đức, theo dõi các phần tử khả nghi đi về xóm Sủng, bắt ngay đưa về cơ sở bí mật tránh đưa tin cho địch. Trạm kiểm soát này hoạt động từ 5 giờ sáng cho đến 12 giờ trưa, sau đó rút về nơi ém quân của hai trung đội.

Sáng ngày 28-5-1954 lúc trời vừa sáng, hai chiếc máy bay Moral bay thấp vè vè trên ngọn tre, quần lượn từ Hoà Trị, Hoà Quang, Hoà Kiến dọc theo bìa rừng thám xét, sau đó chúng về lại sân bay Tuy Hoà. Lập tức từng đợt pháo từ Tuy Hoà câu lên bìa rừng, bìa làng xã Hoà Quang - Quan Quang tới tấp, hết đợt này đến đợt khác.

Pháo địch vẫn tiếp tục bắn. Hai chiếc máy bay Moral xuất hiện, lần này chúng bay cao hơn để yểm trợ cho bộ binh hành quân. Trên cánh đồng, bộ binh địch dàn hàng ngang với nhiều thê đội, vừa đi vừa bắn vu vơ thị uy.

Hai cánh quân của địch không bị một lực lượng nào chống đối. Chúng hội quân ở giữa hai thôn Tường Quang - Quan Quang. Lúc này pháo địch chuyển làn, bắn tới tấp vào các khe suối, sườn dốc Thọ Vức và Cẩm Tú, bắn phá đoạn đường từ An Lĩnh xuống, làm cho khu vực này mù mịt khói lửa. Tiếng đạn pháo vừa dứt, máy bay Moral quần đến, hướng dẫn bộ binh chúng lùng sục vào các thôn Thọ Vức - Cẩm Tú.

Sau một hồi càn quét bắn phá nhưng không thấy bộ đội chủ lực của ta và cũng không gặp một sự kháng cự nào nên quân địch rút về Hoà Quang nghỉ chân và đi bắt trâu, bò, heo, gà, vịt. Bọn chúng ăn uống nghỉ trưa ở Hoà Quang, đến 15 giờ ngày 28-5-1954 chúng bắt đầu lục tục rút về. Lúc này chúng đi không thành hàng ngũ, lại dắt thêm trâu, bò, khiêng theo heo, gà, vịt. Nhiều tên giặc say rượu mặt đỏ gay đi xiêu vẹo. Lúc này, Tiểu đoàn 375 từ các điểm ém quân bí mật đã vận động chiếm lĩnh trận địa chờ giặc đến.

Bọn giặc về đến cầu Minh Đức. Đây là vùng chiếm đóng an toàn của chúng nên chúng càng chủ quan. Qua cầu được 1/4 quân số, tốp đi đầu đã gần đến chợ. Bất ngờ khẩu Rimlé 2 nòng gầm lên tạo thành lưới lửa chụp trên đầu chúng. Từng loạt lựu đạn của trung đội chủ công ném ngay xuống đường. Nhiều tên địch chết ngay tại chỗ, những tên còn lại tạt xuống bờ ruộng tránh làn đạn của ta, tìm cách chống cự lại một cách yếu ớt. Khẩu Rimlé vẫn tiếp tục nhả đạn yểm trợ cho trung đội mạnh xung phong. Bọn giặc chẳng biết lực lượng ta nhiều hay ít, một số không chạy kịp vứt súng nằm giả chết, hay chạy thục mạng ra giữa cánh đồng. Hai trung đội bộ đội ta cùng dân quân du kích xã Hoà Kiến lập tức xung phong ra giữa cánh đồng quây chúng lại. Tất cả bọn chúng đều vứt vũ khí giơ tay xin hàng. Bộ đội ta lấy dây thừng trói chúng lại. Bọn chúng sụp lạy van xin: “Các anh đừng trói chúng tôi. Chúng tôi xin tuân lệnh các anh”. Do lực lượng khá chênh lệch, ta không kịp trói từng tên giặc đành áp giải chúng đi giữa đồng. Máy bay địch xuất hiện nhưng cũng bất lực nhìn quân của chúng bị giải đi mà không sao cứu được.

5. Kết quả trận đánh:

Trận đánh diễn ra nhanh chóng và bất ngờ. Địch bị diệt trên 100 tên, ta bắt trên 200 tên, thu hàng trăm súng, đồng bào các thôn xóm Sủng, Minh Đức, Tường Quang, Quan Quang, Hoà Quang thu chiến lợi phẩm và vũ khí, cũng như heo, gà, bò, vịt do quân giặc vứt chạy.

Tiểu đoàn 375 và dân quân du kích áp giải tù binh về căn cứ thì trời đã tối hẳn. Qua khai thác tù binh ta mới biết, tên Nguyễn Khánh(1), Trung đoàn trưởng chỉ huy trận càn cũng bị bắt, nhưng đến Hoà Quang thì trời đã tối, đường hẻm nhỏ, hắn lợi dụng sơ hở lẩn vào một chuồng bò rồi trốn thoát (sáng hôm sau trinh sát ta xuống Hoà Quang được biết nhà bà Hường mất bộ quần áo bà ba phơi gần chuồng bò và nhặt được bộ quần áo sĩ quan ngụy vứt ở gần đó).

Tiểu đoàn bị thương vong 10 đồng chí.

6. Ý nghĩa trận đánh:

Trận chống càn ngày 28-5-1954 tại Quan Quang, Minh Đức là trận đánh dũng cảm và táo bạo trong kháng chiến chống Pháp trên địa bàn Phú Yên, một trận đánh đạt hiệu suất chiến đấu rất cao, có ý nghĩa quan trọng trong việc động viên khích lệ tinh thần chiến đấu của quân và dân trong tỉnh, tạo niềm tin tưởng, phấn khởi vào thắng lợi cuối cùng. Nó cũng là một đòn đau nhớ đời giáng vào đội quân tay sai bán nước, làm nhụt chí tinh thần chiến đấu của địch, tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng ta có những chiến thắng lớn hơn.

7. Bài học kinh nghiệm:

Kiên quyết, táo bạo lập trận địa phục kích ngay trong vùng tạm chiếm, phối hợp với lực lượng dân quân để tiêu diệt địch.

Trong chiến đấu, việc đánh giá và nắm chắc thời cơ để giành thắng lợi của người chỉ huy là một việc hết sức quan trọng. Trong trận đánh này, tương quan lực lượng giữa ta và địch là khá lớn, trang bị của ta lại không mạnh, nhất là hoả lực để đánh đòn phủ đầu. Người chỉ huy trận đánh đã quyết định rất táo bạo là lập thế trận phục kích ngay trong vùng địch. Địch hoàn toàn bị bất ngờ, không bao giờ chúng nghĩ lực lượng ta lại có thể bố trí trận địa phục kích ngay tại cầu Minh Đức. Chính vì vậy, chúng không chuẩn bị tinh thần sẵn sàng chiến đấu. Mặc dù lực lượng địch đông hơn, nhưng sau những thất bại liên tiếp trên toàn chiến trường, tinh thần chiến đấu bạc nhược nên sức chống trả rất yếu ớt. Chỉ sau những loạt đạn phủ đầu, địch đã vứt bỏ súng xin hàng. Có thể khẳng định đây là một trận tiêu biểu của Tiểu đoàn 375 trong chiến dịch Átlăng. Tiêu biểu ở chỗ lực lượng ta chỉ hơn một đại đội nhưng lại dám đánh một lực lượng lớn hơn là 1 tiểu đoàn thuộc binh đoàn cơ động của địch, tiêu biểu ở tinh thần gan dạ, táo bạo dám lập thế trận phục kích trong vùng địch để tạo yếu tố bất ngờ, khắc phục được tình trạng thiếu binh, hoả lực. Đây là yếu tố quan trọng để chiến thắng.

Công tác chuẩn bị chu đáo tỉ mỉ, giữ bí mật, tạo bất ngờ để đánh địch.

Trong chiến thuật nói chung, yếu tố bí mật giữ vai trò rất quan trọng. Trong trận phục kích này, yếu tố bí mật, bất ngờ có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của trận đánh, bảo đảm cho tiểu đoàn luôn nắm quyền chủ động, phát huy được ưu thế của mình, hạn chế chỗ mạnh, khoét sâu chỗ yếu của địch để ngay từ đầu có thể nhanh chóng đè bẹp quân địch, khiến chúng không kịp đối phó. Trước trận đánh, công tác chuẩn bị hết sức chu đáo, bố trí trận địa hoả lực, trung đội mạnh, các trung đội chặn đầu, khoá đuôi, đánh tạt sườn hợp lý; nắm chắc được tinh thần địch đang hoang mang rệu rã, sức kháng cự yếu, nên chuẩn bị nhiều dây thừng để trói tù binh; đơn vị cũng đã cho người lập chốt gác, ngăn chặn các phần tử có thể đưa tin làm lộ bí mật, tin tưởng vào dân, mạnh dạn sử dụng lực lượng du kích địa phương để phối hợp tác chiến. Đánh địch lúc chúng đi càn về cũng là yếu tố bất ngờ để giải quyết trận đánh nhanh, bởi vì sau một ngày mệt mỏi, có tên còn say rượu, phải mang vác của cải cướp được của dân, mặt khác, khi về gần đến doanh trại là lúc chủ quan nhất. Đó là những yếu tố bí mật, bất ngờ trong trận đánh để giành thắng lợi.

Nguồn:

- Lịch sử Tiểu đoàn 375, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Phú Yên xuất bản tháng 12-2003.

- Những trận đánh tiêu biểu của lực lượng vũ trang tỉnh Phú Yên, tập 2, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Phú Yên xuất bản năm 2005.

- Tư liệu của đồng chí Nguyễn Văn Xuân, nguyên chiến sĩ Tiểu đoàn 375.


(1) Nguyễn Khánh sau này là Đại tướng, Thủ tướng chính quyền Sài Gòn (những năm 1964-1965).


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Sáu, 2021, 09:59:02 am
TRẬN TẬP KÍCH CỨ ĐIỂM TUY BÌNH XÃ ĐỨC BÌNH ĐÔNG (SÔNG HINH)
CỦA TRUNG ĐOÀN 803
Đêm 1 rạng ngày 2-6-1954

(https://i.imgur.com/pQ87icy.jpg)

1. Tình hình địa hình:

Cứ điểm Tuy Bình nằm trên ngã ba Đức Bình Đông. Quốc lộ 21 chạy từ Tây Nguyên xuống Hai Riêng đến Đức Bình Đông chia làm 2 nhánh: một nhánh chạy về Củng Sơn, một nhánh chạy ra bờ sông Ba qua sông Nhau về Sơn Thành (đường 5) nay là đường ĐT 645. Cứ điểm được bao bọc bởi 2 nhánh sông: Sông Ba ở phía bắc và sông Hinh ở phía nam, làm thành một chướng ngại vật tự nhiên ngăn cách giữa cứ điểm và vùng căn cứ du kích của ta ở tây bắc Củng Sơn.

Phía bắc của cứ điểm giáp sông Ba.

Phía nam của cứ điểm giáp đường 5 và bên trong là sông Hình.

Phía đông là quốc lộ 21.

Phía tây là đồng ruộng.

Xung quanh cứ điểm là đồng ruộng trống trải, có một vài xóm nhà dân sát bờ sông Ba. Đây cũng là nơi lập đồn đóng quân lý tưởng vì có tầm khống chế rộng, địa hình trống trải. Cách cứ điểm khoảng hơn 5km về phía tây nam là cứ điểm Buôn Thô và cứ điểm Aêriêng.

2. Tình hình địch:

Cứ điểm Tuy Bình được thực dân Pháp xây dựng năm 1947 để bảo vệ đường 21 và cửa ngõ phía đông Tây Nguyên. Cứ điểm được bố trí theo hình chữ nhật, rộng 18ha. Do chưa bị lực lượng ta tấn công nên địch bố trí công sự giản đơn, chướng ngại vật sơ sài, chỉ có một hàng rào dây thép gai bùng nhùng. Tuy nhiên hỏa lực của địch được bố trí ở cứ điểm rất mạnh, trong đồn có pháo 105 ly, cối ĐKZ. Các hướng đều có lô cốt và đại liên để ngăn chặn lực lượng ta tấn công. Lực lượng địch chốt giữ tại cứ điểm là tiểu đoàn khinh quân 504, trang bị vũ khí cá nhân đầy đủ. Ngoài ra còn có 1 trung đội xe thiết giáp 3 chiếc, do một tên trung úy người Pháp chỉ huy. Tổng cộng lực lượng địch tại cứ điểm khoảng 600 tên. Trận địa hoả lực địch được bố trí gần chỉ huy sở của tiểu đoàn. Nhà lính ở rải rác xung quanh sở chỉ huy, cứ 30 đến 40 tên ở một nhà. Cứ điểm Tuy Bình mang tính chiến lược của vùng tây Phú Yên, vừa phòng thủ vừa có nhiệm vụ tấn công và chi viện cho các căn cứ trong vùng như Củng Sơn, Aêriêng, Buôn Thô.

3. Tình hình ta:

Đầu tháng 6 năm 1954, Bộ chỉ huy chiến dịch chủ trương mở rộng hành lang để chủ lực ta phát triển lên đường 21. Trung đoàn 803 dưới sự chỉ huy của đồng chí Phan Hàm, Trung đoàn trưởng, gấp rút chuẩn bị tiến công tiêu diệt cụm cứ điểm Tuy Bình, Củng Sơn, Buôn Aêriêng. Hàng nghìn thanh niên xung phong, dân công Phú Yên gồng gánh đạn dược, lương thực, bám sát trung đoàn lên mặt trận phía tây.

Từ khi cuộc hành quân Átlăng bị thất bại, cụm quân ở Tuy Bình bị cô lập. Lo sợ bị ta tiến công, quân địch trong cứ điểm liên tiếp báo động nhiều lần trong ngày và tung lực lượng ra phát hiện dấu vết của bộ đội ta. Đảng ủy và Ban chỉ huy Trung đoàn 803 nhận thấy địch ở Tuy Bình tuy có tăng cường đề phòng ta tấn công, nhưng tinh thần binh lính đang hoang mang nên quyết định tập trung lực lượng tiến công cứ điểm Tuy Bình. Đây là cứ điểm mạnh nhất trong cụm. Tuy Bình bị diệt thì địch ở các căn cứ Aêriêng và Củng Sơn phải đầu hàng hoặc bỏ chạy.

Công tác chuẩn bị chiến trường được Ban Tham mưu trung đoàn tiến hành chu đáo. Ban chỉ huy trung đoàn đưa cán bộ đi trinh sát thực địa, nắm cụ thể địa hình, cấu trúc đồn, các trận địa hoả lực. Sau khi đi thực địa, trung đoàn tiến hành đắp sa bàn nghiên cứu, thống nhất cách đánh như sau: Tiểu đoàn 365 làm nhiệm vụ chủ công đột phá hai mũi ở phía tây và phía bắc. Tiểu đoàn 59 đột phá hướng nam, hướng thứ yếu. Tiểu đoàn 39 làm dự bị có nhiệm vụ sẵn sàng bao vây đánh địch rút chạy ngoài công sự.

Chỉ huy trực tiếp trận đánh là đồng chí Phan Hàm - Trung đoàn trưởng và đồng chí Võ Bẩm - Chính ủy.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Sáu, 2021, 10:00:00 am
4. Diễn biến trận đánh:

16 giờ ngày 1 tháng 6, lợi dụng mây mù, máy bay trinh sát địch không còn hoạt động, công binh trung đoàn nhanh chóng bắc cầu phao để bộ đội vượt sông Ba sớm hơn kế hoạch. Chỉ sau 45 phút, đơn vị công binh và thanh niên xung phong đã bắc xong chiếc cầu dài gần 200m bằng thuyền, trên rải mê tre. Hàng chục chiến sĩ công binh, đứng ngâm mình dưới nước để giữ cho cầu khỏi chòng chành khi bộ đội ta vượt qua.

Trời vừa tối, các tiểu đoàn bộ binh, các đơn vị trợ chiến đã vượt sông, tiến vào chiếm lĩnh trận địa đúng theo kế hoạch.

Đúng 0 giờ ngày 2 tháng 6, lính ở trong đồn bắn lên mấy phát pháo sáng xanh đỏ, các bộc phá viên lầm tưởng hiệu lệnh tấn công, liền cho nổ bộc phá. Trước tình hình đó, Trung đoàn trưởng lập tức ra lệnh nổ súng tấn công. Các trận địa súng cối, ĐKZ, phóng bom của ta dội bão lửa vào cứ điểm Tuy Bình. Các mũi, các hướng đồng loạt tiến công mãnh liệt, ở nhiều khu vực, ngay từ loạt đạn ĐKZ và súng cối đầu tiên của ta, địch đã bỏ vị trí chiến đấu tháo chạy. Toàn bộ địch giơ tay xin đầu hàng khi vừa thấy bóng chiến sĩ ta. Tuy nhiên, có nhiều cụm địch do tên tiểu đoàn trưởng dựa vào trung đội xe bọc thép tổ chức chống cự quyết liệt, nhất là khu vực chỉ huy và khu hành chính. Hỏa lực trung liên và súng cối của địch bắn mãnh liệt ngăn chặn lực lượng ta tấn công. Ba chiếc xe bọc thép của địch, có gắn đại liên Vicker và pháo 37 ly vừa chạy vừa bắn loạn xạ. Hỏa lực của ta tập trung vào các điểm địch đang tổ chức chống cự, khiến chúng im bặt. Xung kích ta nhào vào khu tung thâm. Thấy lực lượng đã chiếm được khu tung thâm, 1 chiếc xe bọc thép dừng lại, 3 tên lính Pháp chui ra khỏi xe xin đầu hàng. Hai chiếc xe bọc thép còn lại tháo chạy về phía bờ sông, nhưng thấy lực lượng ta vừa truy kích quyết liệt, vừa bắc loa gọi hàng, nên hốt hoảng chạy sa xuống vũng lầy, lính Pháp phải chui ra hàng. Sau hơn 3 giờ chiến đấu, mục tiêu cuối cùng là khu hành chính đã bị ta xóa sổ, các cánh quân đã hợp điểm. Quân ta làm chủ cứ điểm Tuy Bình, các chiến sĩ ta ráo riết truy lùng, bắt được hàng trăm tù binh.

Rạng sáng 2 tháng 6, phát hiện địch trốn chạy, Trung đoàn phái Đại đội 1 Tiểu đoàn 39 truy kích. Quân ta lần theo dấu vết địch và đuổi theo, đến một vùng địa hình trống trải, chỉ huy đại đội nhận định địch đi theo đường cái về Aêriêng nên cho đơn vị chạy cắt rừng, chiếm lĩnh cao điểm cạnh đường trước khi địch đến. Ta vừa chiếm đỉnh đồi thì một đại đội địch cũng vừa tới. Ta nổ súng đồng loạt, địch không kịp chống cự, một số tên bị diệt, đại bộ phận xin hàng.

5. Kết quả trận đánh:

Sau hơn 3 giờ chiến đấu quyết liệt, ta xóa sổ tiểu đoàn khinh quân 504 ngụy, diệt và bắt 600 tên, đại bộ phận bị bắt làm tù binh, trong đó có trung đội xe bọc thép. Ngoài vũ khí, quân trang quân dụng ta thu được đủ để trang bị cho 1 tiểu đoàn, ta còn thu được rất nhiều tiền Đông Dương. Đặc biệt ta còn thu một xe hồng thập tự đựng đầy thuốc Tây, trên xe có trang bị phòng mổ dã chiến, về ta, hy sinh 9 đồng chí.

Cứ điểm Tuy Bình bị tiêu diệt, đại đội địch ở Củng Sơn ngay trong đêm 1 tháng 6 xin đầu hàng. Hai đại đội địch đóng giữ cứ điểm Aêriêng bỏ đồn chạy trốn, nhưng đến đoạn buôn Boen đường số 9B thì chúng lọt vào trận địa phục kích của ta. Theo đúng kế hoạch, Tiểu đoàn phó Lê Hữu Trữ đem một đại đội phục kích sẵn tại đây. Địch vừa thấy bóng bộ đội ta trong rừng xung phong ra, hàng ngũ tán loạn, hầu hết bỏ súng giơ tay xin đầu hàng, số ít chạy vào rừng, nhưng sau mấy ngày đói khát lần lượt ra hàng. Các chiến sĩ ta bắt gần 100 tù binh.

Sau chiến thắng lớn tiêu diệt cụm quân địch hơn hai tiểu đoàn ở các căn cứ Tuy Bình, Củng Sơn và Aêriêng, toàn bộ các huyện phía tây nam Phú Yên và phía đông Mađrắc (Đắc Lắc) được hoàn toàn giải phóng. Trung đoàn 803 khẩn trương chuẩn bị phát triển tiến công xuống Tuy Hòa.

6. Ý nghĩa trận đánh:

Trận Tuy Bình là trận đánh với quy mô lớn nhất trên địa bàn tỉnh Phú Yên trong chiến dịch Átlăng. Lần đầu tiên một trung đoàn ta tập kích cứ điểm diệt 1 tiểu đoàn địch, là trận đánh được tổ chức với lối đánh nhanh diệt gọn, làm chủ chiến trường, đạt hiệu suất chiến đấu cao. Chiến thắng này càng đẩy địch vào thế hoang mang, dao động, tinh thần chiến đấu bị giảm sút, tác động tích cực đến phong trào cách mạng ở địa phương, bức rút các cứ điểm, giải phóng miền Tây Phú Yên.

7. Bài học kinh nghiệm:

Sử dụng hoả lực áp đảo địch ngay từ phút đầu trong tác chiến hiệp đồng xung hỏa lực là yếu tố quyết định để giành thắng lợi.

Triển khai đội hình đặt hoả lực bảo đảm được yếu tố bí mật bất ngờ, bắn diệt được các mục tiêu then chốt, tạo thời cơ thuận lợi cho các mũi tấn công. Khi hoả lực ngừng bắn thì xung lực nhanh chóng xung phong đánh chiếm các mục tiêu quy định làm cho địch bị động lúng túng không kịp đối phó.

Sử dụng lực lượng, trang bị vũ khí hợp lý, kỹ thuật bắn ĐKZ 75, cối 82 ly, cối 60 ly, trong chiến đấu bảo đảm bắn chính xác các mục tiêu quy định.

Công tác hiệp đồng chiến đấu rất chặt chẽ và ăn khớp, đúng thời cơ, khi hoả lực ngừng bắn thì xung lực nhanh chóng xung phong dùng bộc phá mở cửa đánh chiếm đầu cầu tạo tình huống bất ngờ đánh chiếm nhanh gọn và tiêu diệt gọn quân địch trong chốt điểm.

Trình độ tổ chức chỉ huy hiệp đồng chiến đấu của cán hộ trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội rất chặt chẽ, sâu sát, chính xác. Trình độ kỹ thuật, chiến thuật cá nhân của cán bộ, chiến sĩ được huấn luyện, hợp luyện tốt, có tổ chức diễn tập thực nghiệm theo phương án tác chiến hiệp đồng binh chủng, nên công tác hiệp đồng chặt chẽ, cán bộ chỉ huy bình tĩnh, xử trí các tình huống chiến đấu quyết đoán, chính xác, linh hoạt kịp thời, kiên quyết, nắm vững thời cơ tiêu diệt gọn quân địch, làm chủ chiến trường, ta ít thương vong.

Nguồn:

- Lịch sử Trung đoàn 803, Nxb Quân đội nhân dân, H, 1999.

- Hồi ký của các đồng chí Trần Đưa và Trần Thành Chính, nguyên chiến sĩ Tiểu đoàn 365.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Sáu, 2021, 10:07:42 am
TRẬN ĐÁNH CỨ ĐIỂM NÚI SẦM CỦA TIỂU ĐOÀN 365 (THIẾU) VÀ ĐẠI ĐỘI 1 TlỀU ĐOÀN 375
Đêm 20-6-1954

(https://i.imgur.com/I0QtizD.jpg)

1. Tình hình địa hình:

Núi Sầm nằm đơn lẻ giữa đồng bằng thuộc thôn Phụng Tường xã Hoà Trị, huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên, cách thành phố Tuy Hòa về phía tây khoảng 7km, cao 40 - 50m, dài từ 300 - 350m, rộng từ 100 - 200m.

Phía bắc giáp đồng ruộng và đường liên xã từ thị xã Tuy Hòa đi Hoà Quang.

Phía nam tiếp giáp đồng ruộng.

Phía đông giáp xóm Ao, xóm Chợ chạy dọc theo triền núi có con đường nhỏ và mương dẫn thủy.

Phía tây giáp đồng ruộng, xóm Lẫm.

Xung quanh núi có nhiều thôn xóm, dân cư đông đúc. Đỉnh núi bằng, sườn núi dốc, có chỗ dựng đứng cao hơn mặt ruộng khoảng chừng 30m, là nơi lập đồn đóng quân lý tưởng để khống chế cánh đồng Tuy Hoà và bảo vệ hướng tây thị xã Tuy Hoà.

2. Tình hình địch:

Sau khi mở chiến dịch Átlăng, địch khẩn trương xây dựng cứ điểm Núi Sầm để bảo vệ cửa ngõ phía tây thị xã, ngăn chặn lực lượng ta có khả năng phát triển từ Tây Nguyên đánh xuống. Lực lượng địch chốt giữ tại cứ điểm Núi Sầm có một đại đội, được trang bị vũ khí đầy đủ, công sự chắc chắn. Đặc biệt ở phía tây cứ điểm địch xây dựng 2 lô cốt có thể khống chế được nhiều hướng. Cứ điểm địch còn được bao bọc bởi nhiều lớp hàng rào kẽm gai có gài mìn tự động, nằm trong tầm pháo chi viện từ thị xã Tuy Hòa. Tinh thần quân địch ở cứ điểm Núi Sầm ổn định, có kỷ luật nghiêm là một cứ điểm mạnh của địch.

3. Tình hình ta:

Sau 5 tháng mở chiến dịch Átlăng đánh chiếm Phú Yên và các tỉnh thuộc vùng tự do Liên khu 5, địch không những không thực hiện được ý đồ chiến dịch: thôn tính địa bàn 4 tỉnh Nam - Ngãi - Bình - Phú mà còn bị quân và dân Phú Yên gây cho nhiều thiệt hại. Địch buộc phải co cụm về thị xã Tuy Hòa để tổ chức củng cố, bảo vệ lực lượng. Tỉnh đội Phú Yên chỉ thị cho Tiểu đoàn 365 (thiếu) và Đại đội 1 Tiểu đoàn 375 tiêu diệt cứ điểm Núi Sầm, là cứ điểm mạnh nhất bảo vệ phía tây thị xã Tuy Hoà. Đây là nơi tập trung các tiểu đoàn chủ lực của Liên khu 5 tăng cường cho Phú Yên trong chiến dịch Átlăng. Trước khi trận đánh diễn ra, ta đã bí mật vận động nhân dân chặt tre gai rào đường từ bến Lậu qua Long Tường, Phụng Tường ngăn chặn xe cơ giới địch.

Chấp hành chỉ thị của Tỉnh đội Phú Yên, Tiểu đoàn 375 và Đại đội 1 Tiểu đoàn 365 (thiếu) họp bàn kế hoạch tác chiến:

Đại đội 1 Tiểu đoàn 375 ém quân ở xã Hoà Quang, men theo kênh số 1 hành quân về Hoà Trị đóng lại ở xóm Ao, có nhiệm vụ mở đột phá khẩu ở phía đông nam núi Sầm, đánh vào trung tâm, chiếm trung tâm rồi phát triển ra các lô cốt... Tất cả dân công hoả tuyến đều bố trí dọc theo kênh số 1 về Hoà Quang.

Tiểu đoàn 365 do đồng chí Phạm Đình Dư, Tiểu đoàn trưởng trực tiếp chỉ huy ém quân khu đèo Dinh Ông di chuyển xuống núi Sầm. Đại đội trợ chiến bố trí trận địa cách núi Sầm 200m, lập trận địa ĐKZ phóng bom, Bazôka, cối 60 ly có nhiệm vụ bắn chế ngự để Đại đội 1 Tiểu đoàn 375 và Đại đội 212 của Tiểu đoàn 365 mở đột phá khẩu. Đại đội 212, đơn vị giỏi đánh công kiên mở đột phá khẩu ở phía đông bắc, tiêu diệt các lô cốt, hỗ trợ cho bộ binh chiếm lĩnh trận địa. Đại đội 213 của Tiểu đoàn 365 làm dự bị (Đại đội 211 của Tiểu đoàn 365 đánh vào thị xã Tuy Hòa, không tham gia đánh Núi Sầm).


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Sáu, 2021, 10:11:37 am
4. Diễn biến trận đánh:

Đêm 10-5-1954 hai tiểu đoàn 365 và 375 cùng bộ đội địa phương, dân quân du kích, dân công hoả tuyến bí mật tập kết về trận địa được bố trí theo kế hoạch thuận lợi.

Đúng 0 giờ, lệnh nổ súng tấn công bắt đầu. Hoả lực của ta bao gồm các loại: ĐKZ, Bazôka, đạn cối bắn chế áp vào đồn Núi sầm, khẩu Rimlé 2 nòng kiềm chế các ổ châu mai của địch hỗ trợ cho Đại đội 1 của Tiểu đoàn 375 mở đột phá khẩu ở phía đông, Đại đội 212 đánh vào hướng đông bắc. Sau vài phút bị bất ngờ, địch trong đồn tổ chức chống trả quyết liệt. Hoả lực của địch bố trí tại cứ điểm theo 3 tầng. Ta đánh chiếm tầng 1, tầng 2 ở gần chân núi rất nhanh, nhưng phát triển lên tầng 3 rất khó vì dốc đứng và đá tai mèo sắc cạnh. Địch có lợi thế ở trên cao bắn và ném lựu đạn vào đội hình ta tới tấp. Trận địa cối của ta liên tục bắn chế áp, nhưng vẫn không tiêu diệt được hoả lực địch, đội hình của ta đông, lại ở ngoài công sự, bị hoả lực trong đồn bắn quyết liệt nên không phát triển được. Lúc này, pháo sáng của địch từ đồn và từ thị xã bắn lên liên tục, cả cánh đồng Tuy Hoà và đồn Núi Sầm sáng rực. Toàn bộ đội hình Đại đội 1 Tiểu đoàn 375 lộ rõ. Bọn giặc trong đồn dốc hết hoả lực vào đội hình của ta. Sau hơn 4 giờ chiến đấu, đột phá khẩu vẫn không mở được, lực lượng ta bị thương vong gần một nửa. Tiểu đoàn 365 đưa Đại đội 213 dự bị vào tiếp chiến. Địch gọi pháo từ Tuy Hoà bắn trùm lên đội hình ta. Tình hình càng thêm khó khăn. Trời đã gần sáng, bộ đội ta không thể phát triển tấn công được nữa, hoả lực địch vẫn khống chế rất mạnh. Trước tình hình đó, đồng chí Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 365 lệnh cho hoả lực của tiểu đoàn liên tục phóng bom, cối vào cứ điểm địch để hạn chế hoả lực trong đồn bắn ra. Đồng thời lực lượng ta nhanh chóng rút lui và chuyển thương binh, liệt sĩ về tuyến sau.

Sau khi ta phóng bom và đạn cối, Bazôka, ĐKZ dồn dập vào đồn, hỏa lực ở hai ổ châu mai của địch tạm ngưng, hoả lực trong đồn lắng xuống. Các chiến sĩ khẩn trương chuyển thương binh ra tuyến sau giao cho dân công hoả tuyến. Lực lượng ta vừa chuyển được hai chuyến cũng là lúc pháo địch từ thị xã bắn vào phía sau đội hình bộ đội ta. Tuy nhiên, vì địch ở trong đồn bị tê liệt không chỉ điểm cho pháo được nên chúng bắn không chính xác. Ta tổ chức lui quân, để lại một số liệt sĩ nhờ nhân dân trong vùng chôn cất. Còn một số liệt sĩ không đưa ra được, bị địch tập trung dồn vào một đoạn hào lấp đất vùi lên(1).

5. Kết quả trận đánh:

Trận núi Sầm, lực lượng ta bị thiệt hại nặng nề, riêng Đại đội 1 Tiểu đoàn 375 thương vong mất 2/3 quân số. Tuy ta bị thiệt hại lớn, nhưng các nhà trại của địch tại cứ điểm Núi Sầm đều bị cháy rụi, nhiều công sự sập đổ, quân số trong đồn bị tiêu diệt lên đến 1/3, số còn lại mất hết tinh thần không còn khả năng chiến đấu. Sau trận núi Sầm các tiểu đoàn 375 và 365 rút về Hòa Quang, Hòa Định, Hòa Hội học tập rút kinh nghiệm, bổ sung quân số để chuẩn bị cho các trận tiếp theo.

6. Ý nghĩa trận đánh:

Trận đánh cứ điểm núi Sầm mặc dù không thành công nhưng thể hiện tinh thần đoàn kết, nỗ lực vượt bậc, dũng cảm không ngại hy sinh gian khổ của cán bộ, chiến sĩ hai tiểu đoàn. Trận đánh cũng góp phần làm cho địch càng thêm hoang mang dao động dẫn tới thất bại hoàn toàn.
Trận đánh cũng thể hiện vai trò vô cùng quan trọng của nhân dân trong phối hợp tác chiến cùng bộ đội. Dân rào đường chặn giặc, dân tham gia tải thương, dân lo chôn cất cho liệt sĩ. Những hành động tự nguyện cao đẹp đó của nhân dân Hòa Trị thể hiện tình quân dân cá nước, tinh thần yêu nước, sẵn sàng hy sinh vì thắng lợi cuối cùng, giải phóng quê hương.

7. Bài học kinh nghiệm:

Phải chuẩn bị hết sức chu đáo tỉ mỉ.

Đây là một nội dung mang tính nguyên tắc trong đánh công kiên, vì nếu không chuẩn bị chu đáo sẽ không thành công. Trong công tác chuẩn bị chiến đấu, trước hết cần nắm vững địch và địa hình. Phải kết hợp nghiên cứu trên bản đồ và ra thực địa, thực hiện đúng nguyên tắc trinh sát “mắt nhìn, chân tới, tay sờ”. Trận đánh cứ điểm Núi sầm, công tác nắm địch và chuẩn bị chiến trường của ta chưa tốt. Do thời gian gấp nên cả hai tiểu đoàn không tổ chức khảo sát thực địa, tập công đồn, hoặc đắp sa bàn để nghiên cứu cách đánh. Mặt khác, ta còn chủ quan khinh địch cho rằng: cứ điểm chỉ có một đại đội chốt giữ, tinh thần lại hoang mang dao động do bị lực lượng ta đánh khắp nơi nên trinh sát không kỹ (ta chỉ quan sát từ xa qua ống nhòm, không cử trinh sát điều nghiên cứ điểm). Do vậy, ta không nắm được cụ thể vị trí các hoả điểm, hệ thống vật cản của địch. Cứ điểm Núi Sầm được kết cấu vững chắc, kiên cố, hoả lực mạnh, chướng ngại vật bố trí dày đặc. Tuy xây dựng trong thời gian gấp, nhưng hệ thống này được địch tính toán chính xác, kết hợp chặt chẽ giữa 3 yếu tố công sự, hỏa lực và chướng ngại vật. Lô cốt được địch xây dựng theo kiểu mới (boongke) có nhiều góc cạnh, trong lô cốt chia nhiều ngăn để chiến đấu nhằm chống đỡ với bộc phá và hoả lực của ta. Với những khối bộc phá nhỏ không đủ sức công phá, phải có những khối bộc phá lớn mới đủ sức tiêu diệt nhưng lại ảnh hưởng đến mang vác của bộ đội khi tiếp cận. Hoả lực của ta bắn vào loại lô cốt này ít tác dụng. Nếu bộc phá viên tiếp cận để đánh thì quân địch ngăn chặn bằng tiểu liên và lựu đạn (vì địch có lợi thế ở trên cao). Mặt khác địa hình cứ điểm có nhiều nơi dốc đá dựng đứng, xung quanh cứ điểm và ở từng vị trí địch bố trí nhiều loại dây thép gai dày đặc, lực lượng ta không thể tiếp cận từ nhiều hướng, trong khi đó ta không mở được cửa mở nên bộ đội ta tuy đông nhưng không thể đánh chiếm vào khu tung thâm.

Xác định cách đánh chưa phù hợp.

Do nắm địch không chắc nên ta xác định cách đánh chưa phù hợp. Căn cứ vào địa hình và bố trí trong cứ điểm của địch, 2 đơn vị của ta chia làm 2 mũi tấn công trên hướng đông là khá hợp lý. Tuy nhiên, trên thực tế cả 2 mũi tiến công của ta đều bị địch bắn lướt sườn và trực diện, cụ thể là hỏa lực lô cốt phía đông và lô cốt phía bắc, ụ vệ tinh làm trở ngại cho xung kích của ta và gây nhiều thương vong. Tuy cứ điểm của địch rất kiên cố, nhưng không phải không có những điểm yếu, đó là hoả lực của chúng không thể kiểm soát được hết các tử giác khiến ta có thể lợi dụng được để tiếp cận các lô cốt, đánh bộc phá, lựu đạn qua các lỗ thông hơi, khi ta đánh địch dễ bị sức ép. Khi tấn công cứ điểm như Núi Sầm ta nên tấn công từ nhiều mũi trên nhiều hướng. Nếu không tiến công được, do chưa chuẩn bị kỹ chiến trường vẫn có thể rút quân để bảo toàn lực lượng.

Nguồn:

- Lịch sử Trung đoàn 803, Nxb Quân đội nhân dân, H, 1999.

- Lịch sử Tiểu đoàn 375, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Phú Yên xuất bản tháng 12-2003.

- Tư liệu của đồng chí Trần Đưa, nguyên chiến sĩ Tiểu đoàn 365; đồng chí Hoàng Kim Giai, nguyên Trung đội trưởng, Tiểu đoàn 375.


(1) Sau này ta dựng bia tưởng niệm các liệt sĩ hy sinh, nhưng do không biết Đại đội 1 Tiểu đoàn 375 cùng tham gia trận đánh nên bia tưởng niệm chỉ nhắc đến liệt sĩ của Tiểu đoàn 365. Đây là một sơ xuất đáng tiếc.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Sáu, 2021, 10:25:08 am
TRẬN PHỤC KÍCH DIỆT GỌN ĐOÀN XE 79 CHIẾC
CỦA ĐẠI ĐỘI 211 TIỂU ĐOÀN 365
Ngày 25-6-1954

(https://i.imgur.com/RMGmK8j.jpg)

1. Tình hình địa hình:

Quốc lộ 1A, đoạn đi qua đèo Cả có chiều dài 12km, đường quanh co gấp khúc, nhiều dốc lên xuống khá hiểm trở. Địa đoạn phục kích của trận đánh được đại đội chọn là đoạn đường cong, cua chữ A, ở chân đèo Cả. Tại đây, địa hình hiểm trở, hai bên núi liền kề, vách đứng, vực sâu, gộp đá chồng chất, lực lượng ta dễ tiếp cận, giữ được bí mật, có địa hình che đỡ, che khuất, rất thuận lợi cho việc phục kích đánh giao thông.

2. Tình hình địch:

Trên tuyến giao thông quan trọng này địch đã bố trí lực lượng chốt giữ và bảo vệ giao thông vô cùng cẩn mật. Lực lượng gồm có: 1 tiểu đoàn chốt ở Bàn Nham - Bàn Thạch, 1 trung đội chốt ở đồn Ba Tý, 1 đại đội chốt núi Hiềm.

Sau 5 tháng mở cuộc hành quân Átlăng ra Phú Yên, địch không những không thực hiện được ý đồ: chiếm đóng vùng tự do Liên khu 5 bao gồm 4 tỉnh Phú Yên, Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam mà còn bị quân và dân ta đánh cho tan tác. Để tránh nguy cơ bị tiêu diệt, địch tổ chức rút lực lượng và cơ sở vật chất về Nha Trang. Ngày 25-6-1954, địch huy động 1 đoàn xe vận tải 80 chiếc chở lương thực, thực phẩm, vũ khí, quân trang quân dụng từ Tuy Hòa (nơi đặt trung tâm chỉ huy chiến dịch Átlăng) về Nha Trang bảo vệ cho đoàn xe có 1 đại đội địch cùng hoả lực mạnh đại liên, trung liên đặt trên xe.

3. Lực lượng đảm nhiệm:

Sau khi đánh vào thị xã Tuy Hòa, theo lệnh của Trung đoàn 803, Tiểu đoàn 365 được lệnh vượt sông Ba hành quân cấp tốc vào đèo Cả, sẵn sàng đón đánh địch có thể từ Phú Yên rút chạy về phía nam và cũng có thể từ Nha Trang ra ứng cứu cho Tuy Hòa. Đây là một cuộc hành quân bôn tập của đơn vị suốt ngày đêm, men theo đoạn đường giữa Bàn Thạch và núi Hiềm, vòng xuống bí mật qua sông. Tiểu đoàn chọn địa đoạn phục kích tại cua chữ A, gần chân đèo Cả. Ban chỉ huy tiểu đoàn quyết định sử dụng Đại đội 211 làm chủ công, các đại đội khác làm dự bị. Đại đội tổ chức thành 3 bộ phận:

- Bộ phận chặn đầu là Trung đội 1 được bố trí cách chân đèo khoảng 500m, được trang bị 3 súng trung liên, súng AT, cá nhân được trang bị tiểu liên, súng trường và mỗi đồng chí 6 quả thủ pháo, do đồng chí Phạm Đình Dư, Tiểu đoàn trưởng trực tiếp chỉ huy.

- Bộ phận phục kích đánh lướt sườn là Trung đội 2, được bố trí cách trận địa của bộ phận chặn đầu khoảng hơn 100m. Trang bị như Trung đội 1, do đồng chí Đại đội phó chỉ huy.

- Bộ phận khóa đuôi do Trung đội 3 đảm nhiệm, đồng chí Đại đội trưởng trực tiếp chỉ huy trung đội.

Hai đại đội còn lại được bố trí phía sau sẵn sàng cơ động.

Cách đánh, bí mật tiếp cận các mục tiêu đã quy định, ưu tiên cho bộ phận chặn đầu nổ súng trước. Bảo đảm thu quân rời khỏi trận địa an toàn.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Sáu, 2021, 10:27:40 am
4. Diễn biến trận đánh:

Khoảng hơn 9 giờ ngày 25-6-1954, đơn vị đã đến vị trí tập kết. Lúc này có 1 trung đội địch đang cảnh giới trên đường. Các chiến sĩ ta vẫn bí mật nằm im. Sau khi không thấy lực lượng ta, địch bắn 3 phát cối, báo hiệu an toàn cho đoàn xe chuẩn bị qua đèo. Đơn vị nghe tiếng động cơ xe, nhưng vẫn chưa xác định là xe từ ngoài vào hay từ trong ra. Chỉ huy đơn vị ra lệnh sẵn sàng đánh địch. Lúc này ta phát hiện một chiếc xe bọc thép, trên nóc gắn súng trung liên đang chạy từ Tuy Hòa vào, theo sau là đoàn xe vận tải. Đoàn xe đi chậm, vừa đi vừa thăm dò. Đợi cho đoàn xe lọt vào trận địa phục kích, Tiểu đoàn trưởng ra lệnh nổ súng. Các khẩu trung liên của tổ chặn đầu nhả đạn xối xả vào đội hình địch, cả đoàn xe dồn lại. Ngay lập tức, các trung đội vận động xung phong dùng trung liên và thủ pháo đánh chia cắt đoàn xe địch.

Bị đánh bất ngờ, dịch bỏ xe tháo chạy ngược trở ra, hoặc chạy xuống bờ suối. Hỏa lực của ta vẫn tiếp tục nhả đạn vào đoàn xe, một số xe bốc cháy. Sau khi hoàn hồn, bọn địch còn lại phối hợp với trung đội cảnh giới từ bờ suối tìm đường đột nhập vào trận địa của ta. Phát hiện được âm mưu của địch, các khẩu trung liên của ta tập trung nhả đạn vào đội hình địch đang tổ chức phản kích. Nhiều tên bị diệt, số còn lại tháo chạy tán loạn. Tiểu đoàn ra lệnh cho 1 trung đội truy kích tàn quân, 2 trung đội còn lại tràn xuống đường phá xe địch. Cả đoàn xe chở vũ khí (chủ yếu là đạn), đồ hộp, vô tuyến điện, ta chỉ thu vũ khí và đài vô tuyến điện. Sau khi thu chiến lợi phẩm, chiến sĩ ta lần lượt mở nắp capô xe, đập lựu đạn thả vào phá hủy.

5. Kết quả trận đánh:

Sau hơn 2 giờ chiến đấu, ta đã diệt được 79 xe (chỉ có xe đầu chạy thoát), diệt, làm bị thương và bắt làm tù binh 130 tên. Ta thu 1 đại liên, 1 trọng liên 12,7 ly, 5 tiểu liên, 20 súng trường, hàng chục máy vô tuyến điện và rất nhiều đạn dược, phá hủy 1 đại bác 75 ly, giải thoát 98 đồng bào bị chúng bắt theo. Sau trận đánh, Đại đội 211 được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng nhất.

6. Ý nghĩa trận đánh:

Trận chiến đấu đánh đoàn xe địch tại đèo Cả thắng lợi, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ: đánh phá phương tiện chiến tranh của địch, nhằm uy hiếp và gây rối loạn căn cứ, hậu cứ địch, buộc địch đối phó phòng giữ, hạn chế lực lượng cơ động càn quét đánh phá vùng giải phóng căn cứ của ta, góp phần cùng các lực lượng đánh địch trên cả nước, dồn và đẩy địch vào thế bị động, thất bại, kết thúc chiến tranh.
Là một trận đánh đạt hiệu suất chiến đấu cao, tạo được tiếng vang lớn, làm cho địch ngày càng hoang mang dao động. Chiến thắng còn là niềm khích lệ lớn lao với quân và dân trong tỉnh, củng cố niềm tin vào thắng lợi cuối cùng của quân và dân ta.

7. Bài học kinh nghiệm:

Hiệp đồng chặt chẽ giữa các bộ phận, công tác tổ chức chu đáo, bảo đảm yếu tố bí mật, đánh nhanh, gọn, diệt địch và thu vũ khí, ta không thương vong.

Bài học kinh nghiệm rút ra từ thắng lợi này đó là công tác nắm địch. Trên cơ sở cục diện chiến trường, tiểu đoàn đã tổ chức cơ động cấp tốc vào đèo Cả sẵn sàng đón đánh địch có thể từ Phú Yên rút chạy về phía nam và cũng có thể từ Nha Trang ra ứng cứu cho Tuy Hòa, theo lệnh của Trung đoàn 803. Đây là một nhận định đúng và hoàn toàn chính xác. Nhờ vậy mà ta có thời cơ tiêu diệt được đoàn xe vận tải của địch.

Do có nhận định đúng nên có quyết tâm chính xác, tổ chức sử dụng lực lượng hợp lý, chọn mục tiêu và vận dụng cách đánh thích hợp nên giành thắng lợi. Trong trận đánh này, mặc dù lực lượng ta có mặt lúc này rất đông (2 tiểu đoàn), nhưng do nắm bắt được quy luật hoạt động của dịch cũng như bố trí trận địa phù hợp với địa hình và yêu cầu sử dụng lực lượng, Trung đoàn 803 chỉ sử dụng một đại đội để tham gia trận đánh.

Lựa chọn được địa đoạn phục kích hiểm yếu, ngay cua chữ A, ngay chân đèo cũng là yếu tố quan trọng để giành thắng lợi. Bởi đoàn xe chở nặng, vừa qua cua, vừa leo dốc, lại đi theo đội hình đông nên tốc độ chậm. Khi bị tấn công sẽ dẫn đến rối loạn hàng ngũ và tan rã.

Nguồn:

- Lịch sử Trung đoàn 803, Nxb Quân đội nhân dân, H, 1999.

- Hồi ký của đồng chí Trần Đưa, nguyên chiến sĩ Tiểu đoàn 365.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Sáu, 2021, 10:30:22 am
TRẬN PHỤC KÍCH TẠI GÒ TƠ CỦA ĐẠI ĐỘI 2 TIỂU ĐOÀN 375
Ngày 18-7-1954

(https://i.imgur.com/G5knpdo.jpg)

1. Tình hình địa hình:

Gò Tơ là một gò đất có nhiều mồ mả, nằm trơ trọi giữa cánh đồng thuộc thôn Đông Lộc, xã Hòa Trị. Đường hương lộ từ Hòa Trị đi Hòa Thắng chạy sát Gò Tơ về phía tây, đây là con đường độc đạo lúc bấy giờ.

Phía bắc và phía tây tiếp giáp với đồng ruộng và cách cứ điểm Núi Sầm khoảng 900m.

Phía đông nam có tiếp giáp xa với những vườn rừng của xã Hòa Thắng.

Phía tây là khu dân cư của thôn Đông Lộc.

Gò có bình độ cao hơn mặt đường, điểm cao nhất khoảng 0,6m. Trên gò có nhiều bụi tre gai, nhiều lùm cây rậm rạp mọc đan xen lẫn nhau. Nhờ những lùm cây rậm rạp, nhiều gò đông, nên địa hình này làm trận địa phục kích rất lý tưởng.

2. Tình hình địch:

Sau các trận thắng liên tiếp của ta trên chiến trường Phú Yên, đặc biệt là các trận Màng Màng thuộc xã Hòa Kiến, trận vận động tập kích vào thị xã Tuy Hòa làm tinh thần địch hoang mang khiếp sợ đến cực độ. Ngày cũng như đêm chúng co cụm ở các chốt điểm là chính, trong đó có cứ điểm Núi Sầm. Để tiếp tế lương thực cho lính tại cứ điểm Núi Sầm, hàng tuần địch cho 1 bộ phận áp giải dân phu đi mang vác lương thực, thực phẩm và bảo vệ hàng hóa từ thị xã Tuy Hòa về.

Lực lượng địch đi bảo vệ khoảng một trung đội bộ binh ngụy, được vũ trang đầy đủ. Ngoài số dân phu bị địch bắt đi mang vác còn có một số vợ lính đi theo về Tuy Hòa. Theo quy luật thì địch hành quân theo trục hương lộ (Hòa Trị, Hòa Thắng) để xuống Tuy Hòa phải qua đường độc đạo Gò Tơ.

3. Tình hình ta:

Đại đội 2 Tiểu đoàn 375 do đồng chí Hồ Đình Phượng làm Đại đội trưởng, đồng chí Nguyễn Hữu Sở, Chính trị viên được lệnh chốt tại xóm Bún, xã Hòa Định, với nhiệm vụ chặn đánh địch “nống ra” các xã vùng phía tây mương dẫn thủy thuộc chiến khu 2 huyện Tuy Hòa.

Đơn vị đóng quân trong nhà dân, nhưng đây là vùng mới được mở ra, nên tinh thần cảnh giác sẵn sàng cơ động chiến đấu rất cao, được quán triệt đến từng chiến sĩ.

Tháng 7 dương lịch, cũng là tháng còn nằm trong mùa hè, ban ngày trời nắng gay gắt, khí hậu rất nóng bức. Nhưng bộ đội vẫn luôn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu, súng đạn, thắt lưng, ngụy trang... luôn bên mình.

Ban đêm tuy có dễ chịu hơn song đơn vị lại phải đi hoạt động, nên không mấy khi được một giấc ngủ ngon lành.

Bà con ở xóm Bún luôn vui vẻ, phấn khởi vì được có bộ đội ở xung quanh làng xóm. Sự yên tâm, phấn khởi, tin tưởng bộc lộ qua thái độ của từng người dân, đặc biệt các thanh niên nam nữ.

Nhân dân cùng với bộ đội tổ chức đào nhiều hầm, hào tránh phi pháo, vét lại nhiều đoạn mương cạn thành những giao thông hào liên hoàn. Chính nhờ vậy, nhiều lần được tin địch “nống ra”, đơn vị vận động ra vị trí chiến đấu đều được cơ động dưới lòng mương, không phải vận động trên địa hình trống trải.

Chiều ngày 17-7-1954 trinh sát đại đội báo tin địch sẽ tổ chức đi lấy lương thực và hàng tiếp tế cho cứ điểm Núi Sầm vào sáng ngày 18-7-1954.
Đúng 20 giờ ngày 17-7-1954, Ban chỉ huy Đại đội 2 triệu tập một cuộc họp mở rộng từ Tiểu đội trưởng trỞ lên. Đồng chí Hồ Đình Phượng, Đại đội trưởng phổ biến mệnh lệnh chiến đấu. Đồng chí nêu rõ tình hình địch, địa điểm được chọn làm trận địa phục kích là khu vực Gò Tơ và phân công nhiệm vụ cho các trung đội và phổ biến các mặt công tác bảo đảm cho trận đánh. Sau khi nghe phổ biến, quán triệt nhiệm vụ các phân đội gấp rút chuẩn bị sẵn sàng chờ lệnh.

Tuy địa hình khu vực Gò Tơ, đơn vị đã đi lại nhiều lần rất quen thuộc, nhiều đồng chí trong đơn vị là người địa phương. Để bảo đảm nắm thật chắc thực địa và chủ động trong quá trình chiến đấu, Ban chỉ huy đại đội cùng Trung đội trưởng các trung đội 1, 2 và 3 đi khảo sát trận địa lần cuối cùng.

Sau khi trinh sát lần cuối, các trung đội lại được phổ biến bổ sung những điều cần thiết có liên quan đến trận đánh và bảo đảm tuyệt đối bí mật kể cả giờ xuất phát.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Sáu, 2021, 10:32:25 am
4. Diễn biến trận đánh:

Đúng 1 giờ sáng ngày 18-7-1954, toàn đại đội hành quân đến địa điểm phục kích. Đến 4 giờ sáng mọi công tác chuẩn bị cho trận đánh đã hoàn thành.

Đội hình chiến đấu của đại đội như sau:

Trung đội 1 đảm nhận đánh chặn đầu, được bố trí trực diện với tuyến hành quân của địch, có nhiệm vụ phát huy cao độ hỏa lực sẵn có, tiêu diệt tốp đi đầu của địch ngay những phút đầu, chặn đứng đội hình địch để các trung đội 2 và 3 xuất kích, nhanh chóng nổ súng xung phong tiêu diệt địch trước tiền duyên và tiếp tục truy kích tiêu diệt địch, bắt tù binh, thu vũ khí.

Các trung đội 2 và 3 ém quân phía sau các vật che khuất (cách mặt đường khoảng 30m) khi bộ phận chặn đầu nổ súng thì nhanh chóng phát huy cao độ hỏa lực, áp đảo tiêu diệt địch trước trận địa, nhanh chóng chớp thời cơ xung phong bắt tù binh, thu vũ khí.

Khoảng 9 giờ sáng ngày 18-7-1954, tại đài quan sát của đại đội, bộ phận trinh sát dùng ống nhòm nhìn rõ địch từ chân núi Sầm đi bộ theo trục hương lộ Hòa Trị đi Hòa Thắng. Có lẽ địch cho đây là khu vực tương đối an toàn, vì ở bốt Núi Sầm có thể nhìn thấy khu vực Gò Tơ rất rõ. Mặt khác, Gò Tơ lại nằm giữa đồng, địch không ngờ bộ đội ta lại phục kích ở đây nên rất chủ quan, thậm chí khi đã vào gần đến trận địa còn có nhiều tên la hét, chọc ghẹo phụ nữ, trò chuyện inh ỏi. Khoảng gần 10 giờ ngày 18-7-1954 toàn bộ đội hình quân địch đã nằm trọn trong trận địa phục kích của Đại đội 2.

Chỉ huy ra lệnh cho bộ phận chặn đầu nổ súng. Ngay loạt đạn đầu, Trung đội 1 bắn chết nhiều tên ở tốp đi đầu. Các trung đội 2 và 3 nổ súng cắt đứt đội hình quân địch. Đội hình địch bị dồn lại, các hỏa lực của ta nhả đạn chính xác làm nhiều tên địch chết và bị thương. Số còn lại chạy dạt ra giữa đồng, có tên ngoan cố bám bờ ruộng chống cự. Khẩu đội cối 60 ly của ta lại rót đạn chính xác vào đội hình của chúng.

Trên trận địa, lúc này quân địch chạy tán loạn, hầu hết chạy ra giữa đồng chống cự yếu ớt chờ chi viện. Nhưng chúng hoàn toàn thất vọng vì trận đánh quá bất ngờ nên địch không kịp trở tay chi viện kịp, chỉ có bọn địch ở núi Sầm dùng đại liên và cối 81 ly bắn xuống. Nhưng không gây ảnh hưởng gì đến quân ta. Số dân phu và vợ lính thì la khóc thê thảm và bỏ chạy tứ tán.

5. Kết quả trận đánh:

Trận đánh không quá 40 phút, Đại đội 2 đã xóa sổ hoàn toàn một trung đội ngụy tại Gò Tơ. Ta thu 15 súng các loại (gồm 3 tiểu liên, 5 Carbine và 7 súng trường Mas 36). Ta hy sinh một đồng chí (đồng chí Nguyễn Văn Bé, quê ở Quảng Nam, Chiến sĩ thi đua của Đại đội.

Đến 13 giờ cùng ngày đơn vị đã rút về đến địa điểm trú quân. Trên đường bộ đội về bà con các xóm trên trục đường đã hân hoan chào đón đoàn quân thắng trận. Nhiều người đem nước uống cho bộ đội, hỏi han rất thân thiết. Đến 18 giờ cùng ngày, sau khi đã lo hậu sự cho liệt sĩ Nguyễn Văn Bé xong, đơn vị lại tiếp tục hành quân đến địa điểm mới.

6. Ý nghĩa trận đánh:

Trận đánh biểu hiện ta càng đánh càng mạnh, đã đánh là thắng, không chỉ đánh địch vào ban đêm mà còn đánh địch giữa ban ngày, ngay trong vùng an toàn nhất của chúng. Trận đánh đã góp phần đánh bại chiến dịch Átlăng, kết thúc 9 năm trường kỳ kháng chiến chống Pháp.

Trận đánh đã biểu hiện tình cảm quân dân sâu đậm thắm thiết hơn bao giờ hết. Bộ đội được dân đùm bọc che chở, bảo đảm tuyệt đối bí mật trong trú quân, hành quân và mọi sinh hoạt khác, tạo mọi điều kiện thuận lợi để đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ.

7. Bài học kinh nghiệm:

Lựa chọn địa đoạn phục kích hiểm yếu, bảo đảm yếu tố bí mật bất ngờ.

Việc lựa chọn trận địa phục kích hiểm yếu để đánh địch là yếu tố quan trọng tác động trực tiếp đến thắng lợi. Trong trận đánh này, lực lượng ta đã chọn địa đoạn phục kích ngay trên đường hành quân của địch, là đoạn đường độc đạo, giữ được yếu tố bí mật bất ngờ, bố trí binh lực và hoả lực tiện quan sát chi viện cho nhau, xung hoả lực kết hợp với nhau chặt chẽ, nhất là khi bộ binh xuất kích vận động qua địa hình trống trải ...
Khi nổ súng, đơn vị tổ chức xung phong, bám sát địch (để tránh sát thương bằng phi pháo và hoả lực), xử trí tình huống nhanh chóng, kịp thời, kiên quyết không bỏ lỡ thời cơ tiêu diệt địch.

Tổ chức bố trí đội hình, sử dụng lực lượng hợp lý.

Nhờ chọn được địa thế hiểm, lực lượng ta đã tổ chức bố trí đội hình có các bộ phận chặn đầu, khoá đuôi, đánh tạt sườn, hoả lực và bộ phận chủ yếu đánh chính diện, tiện cơ động triển khai, chặn đứng được đội hình địch đang cơ động, khống chế, cô lập giữ chắc địch trong khu vực phục kích, không cho địch phía trước quay lại, phía sau dồn lên, buộc chúng phải ùn lại, tạo thuận lợi cho ta tập trung binh hoả lực tiến công đồng loạt, thực hiện bao vây chia cắt tiêu diệt địch, giải quyết trận đánh nhanh, gọn.

Nguồn:

- Theo lời kể của đổng chí Nguyễn Văn Minh, nguyên chiến sĩ Đại đội 2 Tiểu đoàn 375.


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Sáu, 2021, 10:37:44 am
TÀI LIỆU THAM KHẢO

- Công an nhân dân Phú Yên (Lịch sử biên niên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.

- Công tác đảng, công tác chính trị lực lượng vũ trang Quân khu 5 (1945-2000) (tập 1), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2001.

- H. Nava, Đông Dương hấp hối, (Phan Thanh Toàn dịch), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2004.

- Địa chí Phú Yên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003.

- Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.

- Khu 5-30 năm chiến tranh giải phóng - Tập 1: Kháng chiến chống thực dân Pháp, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 xuất bản, 1986.

- Trần Văn Trà, Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm, tập 5, Nxb Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 1982.

- Lịch sử Chính phủ Việt Nam, tập 1 (1945-1955), tập 2 (1955-1976), tập 3 (1976-2005), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008.

- Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.

- Lịch sử Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và phong trào cách mạng của thanh niên tỉnh Phú Yên (1930-2005), Tỉnh đoàn Phú Yên xuất bản, 2005.

- Lịch sử đấu tranh cách mạng của phụ nữ tỉnh Phú Khánh (1930-1975), Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Phú Khánh xuất bản, 1987.

- Lịch sử Ban Tổ chức Tỉnh ủy Phú Yên (1930-2005), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005.

- Lịch sử ngành Tổ chức Nhà nước Phú Yên (1945-2005), Sở Nội vụ Phú Yên xuất bản, 2006.

- Lịch sử Đảng bộ thị xã Tuy Hòa (1930-1995), Thị ủy Tuy Hòa xuất bản, 1999.

- Lịch sử Đảng bộ huyện Tuy Hòa (1930-1975), Huyện ủy Tuy Hòa xuất bản, 2000.

- Lịch sử Đảng bộ huyện Sơn Hòa (1930-1975), Huyện ủy Sơn Hòa xuất bản, 1998.

- Lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân huyện Sông Cầu, Huyện ủy Sông Cầu xuất bản, 2001.

- Lịch sử phong trào công nhân viên chức, lao động và công đoàn tỉnh Phú Yên (1930-2008), Liên đoàn Lao động tỉnh Phú Yên xuất bản, 2008.

- Lịch sử quân giới Phú Yên, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Phú Yên xuất bản, 1997.

- Lịch sử Y tế Phú Yên (1945-1975), Sở Y tế Phú Yên xuất bản, 2005.

- Nguyễn Chánh con người và sự nghiệp, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1997.

- Nguyễn Đình Đầu, Nghiên cứu địa hạ Triều Nguyễn - Phú Yên, Nxb TP Hồ Chí Minh, 1997.

- Phú Yên - 395 năm hình thành và phát triển (16-11-2006), Sở Khoa học và Công nghệ Phú Yên xuất bản, 2006.

- Phú Yên kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Phú Yên xuất bản, 1994.

- Phú Yên - 30 năm chiến tranh giải phóng (1945-1975), Bộ chỉ huy quân sự Phú Yên xuất bản, 1993.

- Hăng-ri Nava (H.Nava), Thời điểm của những sự thật, Nxb Công an nhân dân - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hà Nội, 1994.

- Đỗ Thiện, Đinh Kim Khánh, Tiếng sấm Điện Biên Phủ, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1984.

- Viện Sử học, Việt Nam những sự kiện lịch sử (1945-1975), Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2004.

- Viện Sử học, Việt Nam những sự kiện (1945-1986), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1990.

- Phú Yên một thời để nhớ, Hồi ký lịch sử xuất bản tại Phú Yên, 2001.

- Tổng thuật của ông Cao Văn Hoạch cung cấp cho Sở Nội vụ, tháng 9-2003.

- Tài liệu của ông Võ Văn Khả cung cấp cho Sở Khoa học và Công nghệ Phú Yên tháng 10-2008.

- Các bài tham luận tại Hội thảo khoa học do Sở Khoa học và Công nghệ phối hợp với Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Phú Yên tổ chức ngày 20-8-2009 (của Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; các đồng chí Nguyễn Duy Luân, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy; Cao Văn Hoạch; Võ Văn Khả; Đại tá, PGS. TS. Nguyễn Mạnh Hà; Đại tá, TS. Vũ Tang Bồng; Đại tá, TS. Trần Văn Thức; Đại tá, TS. Trần Ngọc Long; Đại tá Trần Văn Mười; Đại tá, ThS. Phạm Văn Hóa; Đại tá Nguyễn Công Trạng; Thượng tá, ThS. Ngô Nhật Dương; Trung úy Nguyễn Văn Viễn).


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Sáu, 2021, 10:42:13 am
(https://i.imgur.com/gOqen4h.jpg)

(https://i.imgur.com/AKU1Ko7.jpg)

Một chốt điểm của quân Pháp tại thị xã Tuy Hòa bị ta tiến công tiêu diệt năm 1954

(https://i.imgur.com/kI7tSyU.jpg)

Cứ điểm của quân Pháp tại núi Sầm (Hòa Trị) bị quân ta tiêu diệt năm 1954


Tiêu đề: Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Sáu, 2021, 10:46:01 am
(https://i.imgur.com/bm1UFA3.jpg)

Lễ tuyên thệ trước giờ xuất trận của một đơn vị vũ trang trong kháng chiến chống Pháp

(https://i.imgur.com/n13jg4y.jpg)

Bộ đội địa phương Phú Yên trong kháng chiến chống Pháp

(https://i.imgur.com/Lz9GT5A.jpg)

Đoàn quân tiếp vận của ta trong kháng chiến chống Pháp

(https://i.imgur.com/k6JvLD2.jpg)

Phụ lão Phú Yên tích cực đan giỏ phục vụ tiếp vận trong kháng chiến chống Pháp