Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 03:29:44 pm



Tiêu đề: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 03:29:44 pm
LỊCH SỬ BỘ ĐỘI CHỦ LỰC MẶT TRẬN TÂY NGUYÊN - QUÂN ĐOÀN 3
(1964 - 2005)



NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN
Hà Nội - 2005

Nguồn: Sưu tầm



*Chỉ đạo nội dung:

THƯỜNG VỤ ĐẢNG ỦY VÀ BỘ TƯ LỆNH QUÂN ĐOÀN 3

- Thiếu tướng, Tiến sĩ PHẠM XUÂN HÙNG
Nguyên Phó Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh Quân đoàn.





"QUYẾT THẮNG, SÁNG TẠO, ĐOÀN KẾT, THỐNG NHẤT, NGHIÊM TÚC, TỰ LỰC"





LỜI GIỚI THIỆU


   Tây Nguyên - địa bàn chiến lược quan trọng của cả nước. Do vị trí chiến lược của nó, nên trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Tây Nguyên sớm hình thành khối chủ lực tập trung mạnh.

   Được sự giúp đỡ của Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân các dân tộc Tây Nguyên, bộ đội chủ lực Tây Nguyên đã lập nên chiến thắng Plei Me. Những chiến thắng Sa Thầy, Đắc Tô, Đắc Xiêng, Ngọc Rinh Rua, Đắc Tô - Tân Cảnh không chỉ đánh dấu chặng đường phát triển, trưởng thành của bộ đội chủ lực Tây Nguyên mà còn là những mốc son về sự sáng tạo của các hình thức chiến thuật để nâng cao hiệu suất chiến đấu của bộ đội ta.

   Quân và dân Tây Nguyên qua nhiều năm chiến đấu đã tạo nên một trong những điều kiện để Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương hạ quyết tâm chiến lược Tổng tiến công mùa Xuân 1975. Trận mở màn Buôn Ma Thuột thắng lợi đã đẩy địch vào thế bị động, rút bỏ Tây Nguyên. Ta phát triển tiến công đến Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng.

   Ngày 26 tháng 3 năm 1975, toàn bộ khối chủ lực Tây Nguyên chuyển thành Quân đoàn 3. Quân đoàn 3 vừa được thành lập đã nhanh chóng bước vào Chiến dịch Hồ Chí Minh. Trong chiến dịch này, Quân đoàn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên hướng chủ yếu của chiến dịch, đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất, cùng đơn vị bạn đánh chiếm và làm chủ Bộ tổng tham mưu Quân ngụy, góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

   Kế tục và phát huy truyền thống bộ đội chủ lực Tây Nguyên, khi làm nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ biên giới của Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế ở Cam-pu-chia, cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 3 đã lập nên những kỳ tích mới. Quân đoàn 3 trở lại địa bàn nơi đã sinh ra, cùng nhân dân các dân tộc địa phương xây dựng Tây Nguyên ngày càng giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng - an ninh, văn hóa xã hội phát triển tương xứng với tiềm năng một vùng đất chiến lược của Tổ quốc.

   Tôi hoan nghênh chủ trương của Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân đoàn 3 về việc biên soạn cuốn Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005).

   Nhân kỷ niệm lần thứ 30 ngày thành lập Quân Đoàn 3, tôi chúc cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên trong Quân đoàn tiếp tục phát huy bản chất Bộ đội Cụ Hồ, truyền thống vẻ vang của Quân đoàn: ''Quyết thắng, Sáng tạo, Đoàn kết, Thống nhất, Nghiêm túc, Tự lực", xây dựng Quân đoàn vững mạnh toàn diện, sẵn sàng chiến đấu cao, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
.

Ngày 15 tháng 11 năm 2004
Đại tướng CHU HUY MÂN
                     
Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị,
Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 03:35:22 pm
LỜI NÓI ĐẦU


   Trước yêu cầu cấp thiết phát triển chiến tranh cách mạng trên chiến trường Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ngày 1 tháng 5 năm 1964 Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định thành lập Mặt trận Tây Nguyên, lấy phiên hiệu là chiến trường B3. Ngay sau khi Tây Nguyên được giải phóng, sứ mệnh lịch sử của B3 hoàn thành, ngày 26 tháng 3 năm 1975 Quân Đoàn 3 - Binh Đoàn Tây Nguyên ra đời trên cơ sở khối chủ lực Mặt trận Tây Nguyên chuyển gọn thành.

   Như vậy, kể cả giai đoạn tiền thân của mình, đến đầu năm 2005, lịch sử Quân Đoàn đã được hơn 40 năm. Trong suốt chặng đường chiến đấu và xây dựng gian khổ nhưng vô cùng oanh liệt đó, được sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, mà trực tiếp là Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng, Quân Đoàn đã cùng quân dân Tây Nguyên và cả nước tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, xây nên truyền thống: "Quyết thắng, Sáng tạo, Đoàn kết, Thống nhất, Nghiêm túc, Tự lực''. Kế thừa và phát huy truyền thống vẻ vang đó, những năm xây dựng trong hòa bình, chiến đấu bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế cao cả, Quân đoàn lại lập nên những kỳ tích mới. Với những chiến công đặc biệt xuất sắc, Quân Đoàn 3 đã được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

   Chấp hành Nghị quyết của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương ''Về đẩy mạnh nghiên cứu phát huy vai trị của khoa học lịch sử Quân sự trong thời kỳ mới'', để đáp ứng nguyện vọng tha thiết của lớp lớp cán bộ, chiến sĩ đã, đang công tác tại Quân Đoàn và đồng bào đồng chí đã cưu mang đùm bọc trong hơn 40 năm qua; nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập Binh Đoàn Tây Nguyên, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân Đoàn chỉ đạo tổ chức biên soạn: "Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên, Quân Đoàn 3 (1964 - 2005)". Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng việc tái hiện lại một cách hệ thống, tương đối toàn diện lịch sử Mặt trận Tây Nguyên - Quân đoàn 3 từ ngày thành lập đến nay là rất khó khăn, nên cuốn sách không tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định. Chúng tôi mong nhận được sự góp ý phê bình và bổ sung tư liệu của cán bộ, chiến sĩ và bạn đọc gần xa, để khi có điều kiện tái bản cuốn lịch sử sẽ hoàn thiện hơn.

   Nhân dịp cuốn "Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên, Quân đoàn 3 (1964-2005)'' được xuất bản, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân đoàn xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo của Thủ trưởng Bộ Quốc phòng, sự giúp đỡ của Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam và Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, các cơ quan, đơn vị, các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy và cán bộ, chiến sĩ Mặt trận Tây Nguyên (B3) - Quân đoàn 3 qua các thời kỳ... để cuốn sách bảo đảm chất lượng và sớm ra mắt bạn đọc.


THƯỜNG VỤ ĐẢNG ỦY
VÀ BỘ TƯ LỆNH QUÂN ĐOÀN 3


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 03:50:14 pm
Chương một
SINH RA TỪ TÂY NGUYÊN BẤT KHUẤT


   
   1. Tây Nguyên: vùng đất, con người, địa bàn chiến lược, truyền thống lịch sử.

   Tây Nguyên - nơi ra đời Mặt trận Tây Nguyên - Quân đoàn 3 là vùng cao nguyên rộng lớn ở miền tây Nam Trung Bộ, bắt đầu từ vĩ độ 15o 27' 15'' (huyện Đắc Glei, tỉnh Kon Tum) đến 11o vĩ độ bắc (huyện Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng), chiều rộng từ 107o đến 109o kinh Đông. Phía bắc giáp với tỉnh Quảng Nam, phía nam nối liền với các tỉnh miền Đông Nam Bộ, phía Đông giáp các tỉnh ven biển miền Trung Trung Bộ, phía tây giáp hai nước Lào và Cam-pu-chia với một đường biên giới chung khoảng 700km. Hiện nay, Tây Nguyên gồm năm tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông và Lâm Đồng; có diện tích 55.568,9 km2, dân số 4.445.403 người 1. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Tây Nguyên có các tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Phú Bổn, Lâm Đồng, Tuyên Đức và Quảng Đức. Phạm vi chiến trường Tây Nguyên gồm ba tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc (kể cả Phú Bổn) có diện tích khỏang 36.000 km2.

   Địa hình Tây Nguyên chủ yếu là rừng núi và cao Nguyên, xen kẽ là những thung lũng. Núi ở Tây Nguyên không phải là một dải liên tục liền nhau, mà tạo thành những khối phân cắt. Phần bắc Tây Nguyên thuộc tỉnh Kon Tum có nhiều núi cao rừng rậm, phân bổ tập trung ở phía bắc và Đông bắc, chiếm hai phần năm diện tích toàn tỉnh. Cao nhất là núi Ngọc Linh (2.598m), thấp dần về hai phía Tây nam (có các dãy Ngọc Kring 2.025m, Ngọc Rinh Rua, Chư Mom Ray) và Đông nam (Ngọc Ni Ay: 2259m). Từ phía bắc tỉnh Gia Lai chỉ còn một số dãy núi cao trên 1.000m như: Kon Ka Kinh (1.761m), He Reng (1.045m), Chư Nâm (1.484m), Chư Jor (1.402m) ở bắc và Đông bắc; Kông Mroui (1.251m), Kông Kbang (1.046m) ở phía Đông và Chư Gol (1.465m), Chư Ta Kom (1.262m) ở phía Tây bắc. Vùng trung Tây Nguyên từ nam tỉnh Gia Lai đến phía bắc tỉnh Đắc Lắc không có ngọn núi nào cao đáng kể. Vùng phía nam Tây Nguyên, từ nam tỉnh Đắc Lắc đến Lâm Đồng lại có nhiều dãy núi lớn vĩ độ cao trên dưới 2.000m như Chư Yang Sin (2.442m), Chư Năng Ộp (1.821m), Chư Yên Du (2.075m), Ri Đúp (2.287m), Lang BLan (2.167m), Be Nom Đan Se Na (1.931m) rồi thấp dần về cao nguyên Lâm Viên, Lâm Đồng.

   Chiếm một phần lớn diện tích của Tây Nguyên là các cao nguyên, có độ cao từ 400m đến trên 1.000m, trải ra như những bậc thềm cao thấp kề nhau, sườn phía Đông dốc đứng, sườn phía tây nghiêng thoai thỏai về phía sông Mê Kông. Thứ tự từ bắc vào nam là: cao nguyên Kon Plong (nằm giữa hai dãy núi An Khê và Ngọc Lĩnh, có độ cao 1.100m - 1.300m), cao nguyên Kon Tum (cao trung bình 500 - 600m), cao nguyên Plei Ku (rộng 4.500 km2), cao nguyên Đắc Lắc (cao trung bình 500m - 600m), cao nguyên Lang Bi Ang (Lâm Viên, rộng 1.500 km2, cao trung bình 1.500m), cao nguyên Di Linh (cao trung bình 500m - 600m). Trên mặt đất tương đối bằng và xiên dốc của các cao nguyên, đột xuất nổi lên một số núi có giá trị khống chế các khu vực xung quanh như Chư He Peng (1.045m) ở Kon Tum, Chư Hơ Drông (Hàm Rồng, 1.028m) ở tây nam Plei Ku, Chư Đlếc (803m) ở Buôn Hồ, Chư Pao Chư Minh ở Bản Đôn. Che phủ cao nguyên là rừng thưa, rừng khoọc, rừng le, rừng cao su, các nương cà phê, chè, hồ tiêu.                   
                                                                                                     
   Đan xen các vùng núi và cao nguyên là những thung lũng dọc lưu vực sông Đắc Bla, Pô Kô, Sa Thầy (Kon Tum), sông Ba, Ayun (Gia Lai), Krông Ana (Đắc Lắc). Ngoài thung lũng Ayun Pa có diện tích 4.000 km2, hầu hết các thung lũng sông thường nhỏ hẹp, nhưng có phù sa bồi hàng năm, có nguồn nước tưới thuận tiện cho phát triển nông nghiệp và đời sống nhân dân.

   Đất đai Tây Nguyên có nhiều loại: đất phù sa bồi lắng dọc các thung lũng sông (Ayun, Đắc Bla, Ea Krông), đất xám bạc màu (thung lũng Ayun Pa, tây sông Ea Hleo, Ea Krông, vùng hồ Lắc), đất vàng đỏ trên mác ma xít (bắc Kon Tum), nam Buôn Ma Thuột, bắc cao nguyên Lâm Đồng)...; nhưng nhiều nhất vẫn là đất đỏ bazan (đất feralít trên đá bazan và đá mác ma), trải rộng từ tây Kon Tum đến các cao nguyên Plei Ku, Đắc Lắc, Lâm Đồng. Đây là loại đất rất thích hợp với việc trồng cây công nghiệp như cao su, cà phê, hồ tiêu, bông, mía, đậu, lạc, cây ăn quả và phát triển gia súc 2.
    
   Bao phủ phần lớn mặt đất Tây Nguyên là rừng; nhiều nơi có diện tích rừng nhiệt đới nguyên sinh khá lớn 3. Do khí hậu nhiệt đới gió mùa khá ôn hòa, đất đai màu mỡ nên hệ động, thực vật rừng Tây Nguyên rất phong phú đa dạng về chủng loại. Theo kết quả điều tra bước đầu, Tây Nguyên có khỏang hơn 400 loài thuộc 180 chi và 75 họ thực vật bậc cao. Trong đó có nhiều hoại cây gỗ và dược liệu quý hiếm như: trắc, gụ, cẩm lai, pơ mu, giáng hương, kiền kiền, săng lẻ, sâm Ngọc Linh, đẳng sâm, sa nhân, quế, hà thủ ô, mã tiền... Tập trung tại Đắc Glei, Kon Rẫy, Kon Plong, Sa Thầy (Kon Tum), K Bang (Gia Lai), Ea Súp (Đắc Lắc), Gia Nghĩa (Đắc Nông). Những vùng núi cao ở Lâm Đồng, Đắc Lắc, Kon Tum chủ yếu là rừng thông. Dưới tán lá rừng, dưới sông suối hồ nước có gần 525 loài động vật có xương sống trên cạn (hơn 100 loài thú, 220 loài chim thường trú, 100 loài chim di cư, 90 loài bò sát...) và 70 loài cá nước ngọt; trong đó có hàng chục loài quý hiếm, 32 loài có tên trong sách đỏ của Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên quốc tế. tê giác một sừng, nai đỏ, voi, trâu rừng, ngựa rừng, bò rừng, hổ, báo, gấu, hoẵng, sóc bay, công, trĩ sao, gà tiền mặt đỏ... Với diện tích rất lớn, có hệ động, thực vật phong phú, rừng Tây Nguyên không những là nguồn tài nguyên quý giá của quốc gia và quốc tế, mà còn là nơi bảo đảm nguồn gien đa dạng phục vụ đời sống con người hiện tại và lâu dài. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, rừng Tây Nguyên không những là nơi che chở, góp phần nuôi dưỡng bộ đội và nhân dân để duy trì lực lượng, bám giữ chiến trường, chiến đấu giải phóng địa bàn; mà còn là căn cứ bàn đạp của những Đoàn quân lớn tiến xuống vùng duyên hải miền Trung Trung Bộ, vào Đông Nam Bộ, sang Hạ Lào và Đông bắc Cam-pu-chia.

   Tiềm ẩn trong lòng đất Tây Nguyên có nhiều tài nguyên khóang sản. Than nâu, than bùn, crôm có ở Đắc Lắc, Gia Lai; quặng sắt ở Kon Tum; vàng ở Kon Tum, Gia Lai; đá hoa, đá vôi ở Chư Sê, Plei Ku, Đắc Mil... Song đáng kể nhất là quặng bô xít có trữ lượng lớn (3 tỷ tấn) ở Kon Hà Nừng, Kon Bay, Kon Plong, Di Linh, Bảo Lộc, trọng điểm là vùng Đắc Nông.

   Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, lại có độ cao từ 400m đến hơn 2.000m so với mực nước biển, có núi, cao nguyên và vùng trũng nên khí hậu Tây Nguyên vừa có những điếm chung của vùng, vừa có những nét riêng, đan xen, phức tạp. Nhiệt độ không khí trung bình trong năm từ 21oC đến 23oC (riêng Đà Lạt 16,2oC), biên độ chênh lệch từ 6oC đến 8oC trong một ngày đêm; độ ẩm từ 81% đến 91%; số giờ nắng từ 2.300 giờ đến 3.000 giờ, lượng mưa trung bình từ 1.800mm đến 2.800mm. Một năm, Tây Nguyên có hai mùa  rệt: mưa và nắng. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 10 (ở Đắc Lắc, Lâm Đồng kết thúc vào tháng 11). Mưa thường liên miên, có trận kéo dài nhiều ngày, mặt đất ướt sũng, sông suối nước lũ dâng cao gây ngập lụt, xuất hiện đồng bão, trời đầy mây đen u ám... gây khó khăn về giao thông, cơ động lực lượng. Mùa khô kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau, đất đai se cứng, trời xanh cao đầy nắng, nhiều nơi khô hạn thiếu nước, nhưng cơ bản rất thuận tiện cho các hoạt động giao thông và quân sự.

   Với địa hình rộng lớn, lượng mưa tập trung vào sáu tháng trong năm, đã tạo cho Tây Nguyên có những sắc thái riêng về thủy văn. Đây là nơi bắt nguồn của 28 sông thuộc ba hệ thống sông: sông Đồng Nai, sông Mê Kông và sông Ba. Trong đó có ba sông Chính là Sê San, Sê Rê Pôk và sông Ba. Sông Sê San là hợp lưu của hai nhánh sông Pô Kô (bắt nguồn từ vùng núi Đakgrugok tỉnh Quảng Nam và Ngọc Linh tỉnh Kon Tum) và Đakk  Bla (bắt nguồn từ bắc Kon Plong) chảy theo hướng Đông bắc - tây nam, từ Kon Tum qua Gia Lai đổ về sông Mê Kông ở địa phận thị xã Stung Treng nước bạn Cam-pu-chia. Sông có chiều dài 231km, rộng từ 100m đến 200m, sâu 4m đến 6m, lưu tốc dòng 2m đến 3mlgiây, độ dốc trung bình 2,9%, chảy quanh co, có nhiều thác ghềnh, có trữ lượng thủy điện cao. Hiện nay có nhà máy thủy điện Ya Ly lớn thứ hai trong nước và đang xây dựng các công trình thủy điện khác. Sông Sê Rê Pôk là hợp lưu của các sông nhỏ ở cao nguyên Pleiku và Đắc Lắc như: Ia Đrăng, Ia Lốp, EaHleo, Krông Nô, Krông Ana, Krông Pack, Krông Puk chảy về phía tây bắc qua Bản Đôn sang thị xã Lom Phát tỉnh Rattanakiri nước Cam-pu-chia gặp sông Sê San và cùng chảy ra sông Mê Kông. Sơng Ba bắt nguồn từ núi Ngọc Rô, chảy qua 5 huyện phía Đông nam tỉnh Gia Lai, hợp lưu với sông Ayun tại Cheo Reo, với sông Krông Năng ở Đông nam Krông Pa rồi đổ ra Biển Đông qua cửa Đà Rằng (Phú Yên). Sông dài 300km, rộng 80m đến 120m, sâu từ 5m đến 7m, thường gây lũ lụt. Đây là con sông đổ về phía Đông lớn nhất của Tây Nguyên.

   Nhìn chung sông, suối ở Tây Nguyên thường dốc, bắt nguồn từ các vùng núi cao đổ về hai hướng Đông và tây; mùa mưa nước dâng cao chảy xiết gây cản trở giao thông, mùa khô ít nước; tạo nhiều thác nước vừa có tiềm năng thủy điện lớn, vừa là những cảnh đẹp như Ya Ly, Đa Nhim, Đrây H'Linh, Liên Khương, Đrayanna,...

   Ngoài hệ thống sông suối, Tây Nguyên còn có nhiều hồ nước lớn và nguồn nước ngầm phong phú. Bên cạnh những hồ nước lớn tự nhiên như hồ Tơ Nưng (Biển Hồ, rộng 230 ha), Hồ Plei Nông (46ha) ở Gia Lai, hồ Lắc ở Đắc Lắc, hồ Xuân Hương (Đà Lạt), ngày nay có thêm nhiều hồ lớn nhân tạo như lòng hồ Ya Ly, Ayun Hạ, Ia Hrung, Hoàng Ân (Gia Lai)... vừa có giá trị về thủy lợi, điều hòa khí hậu tạo môi trường trong lành, vừa là những thắng cảnh nổi tiếng. Với núi cao, sông dài, hồ rộng và nguồn nước khóang phong phú 4 đã tạo cho Tây Nguyên cảnh quan kỳ vĩ, một tiềm năng du lịch lớn không chỉ hiện tại mà cả mai sau. Trong hoạt động quân sự, hệ thống sông suối, hồ nước rộng khắp bảo đảm nguồn nước cho bộ đội và vận chuyển đường sông, đồng thời là những chiến hào thiên nhiên khổng lồ ngăn cản đối phương cơ động đường bộ và triển khai lực lượng.

    Nằm vào khoảng giữa vùng nam bán đảo Đông Dương, nơi có chung biên giới của ba nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia, Tây Nguyên sớm có mạng lưới giao thông đi các hướng: ra Bắc, vào Nam, xuống đồng bằng ven biển và sang hai nước bạn. Giữa những năm sáu mươi của thế kỷ XX, hệ thống đường bộ ở Tây Nguyên đã khá phát triển với trục đường 14 chạy dọc Bắc - Nam như ''xương sống'' và các đường nhánh nôí ra hai phía đông - tây: 19, 7, 21, 5, 18, 5a, 5b, 20 như những ''xương sườn''. Cùng với hệ thống đường bộ, đường không cũng được thiết lập rộng khắp với hàng chục sân bay lớn nhỏ, chủ yếu phục vụ cho các hoạt động quân sự của Mỹ, ngụy. Đáng kể là các sân bay Kon Tum, Aréa, Cù Hanh (Pleiku), Hòa Bình (Buôn Ma Thuột). Tại các cứ điểm quân sự lớn thường có sân bay dã chiến hoặc bãi đỗ trực thăng. Ngoài hệ thống đường giao thông thuộc khu vực địch kiểm soát, trong những năm chống Mỹ, ta làm thêm một số tuyến đường phục vụ cho các hoạt động quân sự, vận chuyển, tập trung ở phía tây như đường 128 (Đường Hồ Chí Minh) chạy dọc biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia. Phía Đông bắc có đường 220 nối đường 14 ở Võ Định (Kon Tum) chạy sang phía Đông tỉnh Gia Lai. Nhiều đường nhánh, đường ngang xuyên rừng (chủ yếu từ phía tây sang phía đông) gắn liền bền với các chiến dịch của bộ đội chủ lực ta ở khắp Tây Nguyên. Đường sông cũng được ta khai thác đưa vào sử dụng, nhưng chủ yếu là sông Sê San dùng để vận chuyển hàng hóa, khối lượng hạn chế.

      Hiện nay, các quốc lộ 14, 19, 20, 25 (đường 7 cũ), 27, 26 (đường 21 cũ), 28, 24 (đường 5 cũ), 18 được tu bổ nâng cấp bảo đảm giao thông thông suốt. Các tỉnh lộ: 666, 661, Đắc Tô - Ngọc Lây tỉnh Kon Tum; 662, 669, 670, 671, 664, 663, 661 tỉnh Gia Lai; 653b, 681, 684, 686, 687, 688, 689, 693 tỉnh Đắc Lắc và Đắc Nông; 721, 722, 723, 724, 725 tỉnh Lâm Đồng được tu bổ làm mới, có thể cơ động lực lượng dễ dàng. Ngoài ra, tuyến Đường Hồ Chí Minh đang được mở rộng nâng cấp qua Tây Nguyên có ý nghĩa lớn về kinh tế dân sinh và quân sự.




-----------------------------------------------------------------
1. Theo số liệu thống kê năm 2002.
2. Theo thống kê năm 2002 Tây Nguyên có: 178.575 ha lúa, 496.438 ha cây công nghiệp, 17.606 ha cây ăn quả và đàn gia súc: 9.468.024 con.
3. Hiện nay rừng tự nhiên Tây Nguyên còn khỏang 2,7 triệu ha và hàng trăm nghìn ha rừng trồng (năm 2002 có 101.247 ha rừng cao su, 27.728 ha điều, 17.606 ha cây ăn quả), có vườn quốc gia Yok Đôn (Đắc Lắc), khu bảo tồn thiên nhiên Chư Mom Ray (Kon Tum), Kông Cha Rang - Kon Ka Kinh (Gia Lai)...
4. Hiện nay nguồn nước khóang ở Tây Nguyên đã tìm thấy 5 vị trí ở Kon Tum, 3 vị trí ở Lâm Đồng...


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 03:55:32 pm
*
 

      Sống trên vùng đất Tây Nguyên rộng lớn và giàu đẹp có gần 30 dân tộc anh em. Theo số liệu thống kê, đầu những năm sáu mươi của thế kỷ XX, dân số khỏang 75 vạn người 1, gồm các dân tộc Gia Rai, Ba Na, Ê Đê, Xê Đăng, Cơ Ho, Ra Lai, Mơ Nông, Mạ, Giẻ Triêng, Chu Ru, Brâu, Rơ Mâm, Vân Kiều... chiếm 64%, dân tộc Kinh chiếm 36%. Năm 2002, dân số 4 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc 2, Lâm Đồng là gần 4,5 triệu người. Trong đó dân tộc kinh khỏang 3,5 triệu người; tiếp đến là dân tộc: Gia Rai (355.432 người), Ê Đê (233.626 người), Ba Na (174.134 người), Kơ Ho (113.089 người), Tày (92.293 người), Xê Đăng (86.910 người), Nùng (84.864 người), Mơ Nông (82.824 người), Mạ (33.164 người), Giẻ Triêng (27.584 người). Người Kinh sống tập trung  ở các đô thị, khu công nghiệp, khu kinh tế mới (sau 1975); các dân tộc Xê Đăn, Giẻ Triêng, H'rê, Rơ Mâm và một số lớn dân tộc Ba Na... ở tỉnh Kon Tum; các dân tộc Gia Rai, Ba Na tập trung ở tỉnh Gia Lai; các dân tộc Mơ Nông, Ê Đê và phần lớn dân tộc Tày, Nùng, Mường... ở phía Bắc di cư vào (sau 1975) tập trung ở tỉnh Đắc Lắc và Đắc Nông; các dân tộc Kơ Ho, Mạ, Chu Ru... và một số lớn dân tộc ít người phía Bắc di cư đến ở tỉnh Lâm Đồng.

       Theo các nhà nghiên cứu về dân tộc, nhân chủng, khảo cổ khẳng định từ xa xưa đã có người nguyên thủy sinh sống trên đất Tây Nguyên. Đặc biệt, những kết quả khai quật các di chỉ ở Lung Leng (Sa Thày, Kon Tum), Biển Hồ, Trà Dôm (Pleku), Mê Van (Đắc Lắc) có niên đại thuộc thời kỳ đồ đá mới đến giai đoạn đầu thời ký kim khí cho thấy Tây Nguyên là một trong những cái nôi của loài người trên đất nước ta. Từ giữa thế kỷ XVII người Kinh đã có mặt ở Tây Nguyên do quân nhà Nguyễn đánh ra Nghệ An bắt dân đưa vào sống ở vùng Tây Sơn.

   Giữa thế kỷ XIX trở đi người Kinh lên cao nguyên ngày một tăng. Lúc đầu là những giáo dân Thiên Chúa giáo từ Huế, Bình Định, Quảng Ngãi tránh sự truy nã của triều đình Huế; tiếp đến là các cuộc chuyển cư gắn với sự khai thác bóc lột mở mang Tây Nguyên của thực dân Pháp và sau này của Mỹ - ngụy. Riêng các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc và Tây Nguyên muộn hơn, chủ yếu là sau năm 1954 và nhất là từ năm 1975 đến nay.

   Trong cuộc đấu tranh kiên cường bất khuất, bền bỉ hàng nghìn năm với thiên nhiên, thú dữ và kẻ thù xâm lược để sinh tồn, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đã sáng tạo nên những giá trị vật chất và văn hóa tinh thần vô cùng phong phú, mang đậm dấu ấn của vùng cao nguyên. Về thiết chế xã hội, cho đến cuối thiên niên kỷ thứ hai, các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên còn ở một trình độ xã hội rất thấp, vào giai đoạn đầu của xã hội có giai cấp với nhiều tàn tích của xã hội Nguyên thủy. Ngoài những gốc tích có truyền thuyết về Hỏa Xá (Vua Lửa), Thủy Xá (Vua Nước) của người Gia Rai hoặc các ''Tơ Ring'' (một sự 1iên minh giữa các làng do tù trưởng cầm đầu), thì tổ chức xã hội duy nhất là làng (Plei, Kon - cách gọi của người Ba Na, Plơi -cách gọi của người Xê Đăng, Bôn - cách gọi của người Gia Rai, Plei Tum hay Plei - cách gọi của người Giẻ Triêng, Đê - cách gọi của người Brâu và Srúp - cách gọi của người Rơ Mâm), đứng đầu là chủ làng (già làng). Làng và một tổ chức xã hội có kết cấu chặt chẽ, là một khối cộng đồng thống nhất, một đơn vị tụ cư mang dấu ấn ''công xã nông thôn'', có hệ thống tự quản với phương thức vận hành xã hội theo luật tục.Từ khi thực dân Pháp và sau đó và đế quốc Mỹ chiếm đóng Tây Nguyên, đã tạo ra một tầng lớp mới như binh lính, công chức, người buôn bán và công nhân trong các đồn điền; đồng thời cũng tạo ra một tầng lớp tay sai trong bộ máy cai trị làng xã như chánh tổng, chủ làng. Về kinh tế, đồng bào Tây Nguyên mang nặng tính tự cung tự cấp, khai thác tự nhiên (săn bắn, hái lượm); song canh tác nương rẫy có vị trí hàng đầu, trồng nhiều thứ như lúa, ngô (bắp), dưa, bí, sắn, khoai, thuốc lá... Chăn nuôi trâu, bò, gà lợn (heo) dệt vải, rèn, đồ gốm, đan lát phổ biến ở nhiều dân tộc thiểu số. Nhưng nhìn chung, sản xuất còn ở trình độ thấp, nên thường bị thiếu đói.

   Đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên sống đơn sơ, giản dị, chất phác, dũng cảm, tâm hồn lạc quan phóng khóang, từ lâu đã tạo nên một nền văn hóa phong phú. Về văn học có những bản trường ca độc đáo có vần điệu, giàu tính chiến đấu, trữ tình và giáo dục hướng thiện như "Đam San ", "Xinh Nhã:, "Đăm Di''. Nhạc cụ có cồng, chiêng, đàn Trưng, Klông pút, Đinh túk... trầm bổng, giéo giắt như tiếng suối xa, thủ thỉ của gió ngàn. Nghệ Thuật múa (Soang) gắn liền với lễ hội đem lại niềm hứng khởi say sưa, hòa đồng cộng cảm sâu sắc. Nghệ Thuật tạo hình trang trí dân gian tinh tế, sáng tạo, có khiếu thẩm mỹ cao được thể hiện trên vải, đồ đan, nhà mồ và đặc sắc là nhà rông, vựa tạo môi trường không gian hoành tráng, nhân văn, nhưng cũng đầy huyền ảo, siêu thực và ấn tượng. Tài sản văn hóa vật thể và phi vật thể của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên không những động viên cộng đồng lao động sản xuất, đấu tranh với thiên nhiên, bệnh tật, giặc giã, hướng con người tới chân - thiện - mỹ và tự do, mà còn là tài sản vô giá đóng góp xứng đáng vào kho tàng văn hóa nước nhà.

   Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, nhân dân các dân tộc Tây Nguyên đã sáng tạo ra những giá trị vật chất, tinh thần phong phú và quý giá, đồng thời hun đúc nên truyền thống đấu tranh bất khuất, yêu chuộng hòa bình... mang đậm phong cách cao nguyên.

*

   Với đất đai rộng lớn, tài nguyên phong phú, nhân dân cần cù lao động, Tây Nguyên không chỉ là một địa bàn có ý nghĩa rất quan trọng về kinh tế - xã hội đối với cả nước, mà đây còn là một khu vực có tầm chiến lược quân sự của Tổ quốc và đối với vùng Nam Đông Dương, được thể hiện sinh động trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

   Nằm ở ngã ba, nơi có đường biên giới chung ba nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia, Tây Nguyên được ví như ''nóc nhà'' của bán đảo Đông Dương. Từ thế đất rất cao, thế đứng vô cùng lơi hại, Tây Nguyên có giá trị khống chế rộng các khu vực Xung quanh. Về phía bắc, do tiếp giáp với vùng rừng núi trùng điệp của tỉnh Quảng Nam và Lào, là một hướng cơ động lực lương lớn của ta. Hệ thống Đường Hồ Chí Minh và con đường 14, là những huyết mạch giao thông chi viện sức người, sức của cho các chiến trường. Phía nam, Tây Nguyên nối với Đông Nam Bộ bằng đường 14, với Sài Gòn bằng đường 20 và đi Phan Rang bằng đường 11; các binh Đoàn cơ động binh chủng hợp thành nhanh chóng tiến xuống Đông Nam Bộ, giải phóng Sài Gòn - Gia Định. Đối với vùng duyên hải miền Trung Trung Bộ, Tây Nguyên có giá trị khống chế hầu như toàn bộ. Những đơn vị cơ giới nhanh chóng theo đường 19 xuống Bình Định, đường số 7 (nay là đường 25) xuống Phú Yên, đường 21 (nay là đường 26) xuống Khánh Hòa, đường 11(nay là đường 20) xuống Ninh Thuận, hoặc theo đường số 5 (nay là đường 24) xuống Quảng Ngãi. Bộ binh còn cơ động bằng nhiều đường mòn, đường xuyên rừng xuống đồng bằng. Về phía tây, Tây Nguyên nối liền với Hạ Lào và Đông bắc Cam-pu-chia; có đường số 18 từ Tân Cảnh qua PLei Kần sang A Tô Pơ, cao nguyên Bô Lô Ven, Pắc Xế (nước Lào) và đường số 19 kéo dài từ Pleiku qua Đức Cơ sang thị xã STung Treng (Cam-pu-chia). Bên cạnh hai con đường trên, địa hình biên giới rất thuận tiện cho những đơn vị bộ binh lớn qua lại, tác chiến.Tây Nguyên là một địa bàn rộng, có dung lượng chiến trường lớn; vừa có thế liên tục, vừa có chiều sâu kín đáo; vừa có thế công vừa có thế thủ. Địa hình rừng núi, cao nguyên là nơi đứng chân vững chắc và tác chiến thuận lợi của những binh đoàn lớn, đánh những đòn tiêu diệt, giải quyết những nhiệm vụ chiến dịch, chiến lược. Khi tiến công, có thể triển khai lực lương binh chủng hợp thành với quy mô khác nhau, sử dụng cơ giới, không quân; cũng có thể đánh bao vây chia cắt trong từng khu vực hoặc toàn vùng; có thể đánh những đòn lớn vào khu vực trọng điểm, đồng thời cơ động lực lượng tiêu diệt, ngăn chặn tăng viện phản kích của đối phương; có thể phối hợp chặt chẽ giữa đòn tiêu diệt Chính của bộ đội chủ lực với tiến công rộng khắp của lực lượng vũ trang địa phương trong thế trận chiến tranh nhân dân thống nhất. Từ căn cứ Tây Nguyên có thể phát triển tiến công xuống các tỉnh ven biển miền Trung Trung Bộ cắt đôi miền Nam, tiến công về Đông Nam Bộ và Sài Gòn, phát triển sang Hạ Lào và Đông bắc Cam-pu-chia. Lúc tiến công gặp khó khăn, có thể tạm dừng để củng cố, chuyển thế, thay phiên. Trong phòng ngự, có thể lợi dụng địa hình từng khu vực hoặc toàn vùng tổ chức thế trận phòng ngự vững chắc, lâu dài, vừa có chiều rộng vừa có chiều sâu; kết hợp giữa các cụm điểm tựa, khu vực phòng thủ then chốt với thế trận bố phòng thiên la địa võng của chiến tranh nhân dân.  Thế trận Tây Nguyên vững chắc như bức tường thành bảo vệ các vùng duyên hải phía Đông, Đông Nam Bộ và các vùng kế cận khác.

   Bên cạnh những đặc điểm trên, Tây Nguyên còn là một chiến trường có tiềm năng lớn về bảo đảm hậu cần chiến lược tại chỗ. Với khỏang một triệu héc-ta đất trồng trọt, nhiều đồi rừng, sườn núi, tráng cỏ, sông suối, hồ nước có thể sản xuất một lượng lớn lương thực, thực phẩm... cho nhu cầu thường xuyên và cơ bản lâu dài. Cùng với trồng trọt, chăn nuôi, có thể tận dụng một lượng sản phẩm đáng kể từ khai thác tự nhiên làm thực phẩm, dược liệu, chất đốt, vật liệu Những dãy núi cao, rừng rậm là nơi thuận lợi để bố trí kho tàng, căn cứ hậu cần chiến dịch và chiến lược. Với hệ thống đường bộ, đường không và đường sông Tây Nguyên có thể cùng một lúc tiếp nhận lượng vật chất, lực lượng lớn chi viện từ các hướng, theo các phương thức đa dạng.

   Với những đặc điểm về địa lý, kinh tế, xã hội nhân văn và các mối liên quan với các chiến trường, khu vực Xung quanh, Tây Nguyên đã trở thành một địa bàn chiến lược quân sự, một vùng đất vô cùng trọng yếu trong các cuộc chiến tranh giải phóng trước đây và trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Thấy rõ giá trị của Tây Nguyên, trong cuộc chiến tranh xâm lược nước ta, thực dân Pháp cũng như đế quốc Mỹ đều rất chú trọng và tìm mọi cách giành giật địa bàn chiến lược có tính chất sống còn này. Vì vậy, cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược của Quân và dân Tây Nguyên trải qua muôn vàn gian khổ, quyết liệt hy sinh, lập nên bao chiến công hiển hách.





------------------------------------------------------------------
1. Theo số liệu thống kê năm 1965 tỉnh Gia Lai có 117.875 người, tỉnh Đắc Lắc có 519.000 người, tỉnh Kon Tum năm 1961 có 95.710 người.
2. Bao gồm cả Đắc Nông hiện nay.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 04:06:28 pm
*

   Từ giữa thế kỷ XIX, các giáo sĩ Hội thừa sai Pa-ri tới truyền giáo ở Kon Tum, lập được một số cơ sở Thiên Chúa giáo trong những làng của người dân tộc thiểu số. Theo chân các giáo sĩ, những Đoàn thăm dò, phi bộ Quân sự của thực dân Pháp liên tiếp lên Tây Nguyên thực hiện âm mưu cai trị vùng đất này. Bằng các thủ đoạn thâm độc: lừa bịp, mua chuộc, chia rẽ để trị đi đôi với trấn áp vũ trang mà chúng gọi là ''đánh giặc Mọi''; đến năm 1889 thực dân Pháp thiết lập chế độ ''trực trị'', Chính thức truất hẳn quyền hành của triều đình Huế khỏi Tây Nguyên. Dưới ách thống trị cực kỳ tàn nhẫn của quân cướp nước, người dân Tây Nguyên bị cướp đất đai màu mỡ để lập đồn điền; phải nộp sưu thuế, lao dịch cực kỳ hà khắc;  chìm đắm trong cảnh hủ bại ''ngu dân'' lơi dụng thần quyền mê hoặc; bị ''chia để trị'' và đàn áp dã man, bị đẩy và bước đường cùng, điêu đứng ngay trên mảnh đất của cha ông để lại.

   Quyết không chịu sống đời nô lệ, nhân dân các dân tộc Tây Nguyên đã phát huy truyền thống bất khuất, tinh thần thượng võ, ý chí kiên cường đứng lên cầm vũ khí chiến đấu chống quân xâm lược ngay từ khi chúng đặt chân lên cao nguyên. Những năm 1885-1886 nhân dân vùng An Khê hưởng ứng hịch Cần Vương cứu nước, tụ hội dưới cờ nghĩa của ông Mai Xuân Thưởng (Bình Định), san bằng nhiều cơ sở bàn đạp của bọn xâm lược, thành lập các đội nghĩa quân. Trong đó, nhân dân làng Tio (vùng Jrai) chặn đánh đàn công cán của công sứ Pháp Na-ven buộc chúng phải rút chạy về Quy Nhơn. Cùng thời gian này, đồng bào Ba Na, Xê Đăng ở Kon Tum sát cánh cùng nghĩa quân ở Bình Định, Quảng Ngãi đánh Pháp. Tiếp đó là những cuộc nổi dậy quật khởi của đồng bào Xê Đăng ở Kon Tum (1901, 1909 và 1914), đấu tranh chống sưu thuế của nhân dân An Khê, Cheo Reo hưởng ứng phong trào Duy Tân; ''phong trào nước thần'' phát triển ở Kon Tum rồi lan rộng khắp Tây Nguyên (1925-1929). Đặc biệt là cuộc khởi nghĩa của đồng bào Mơ Nông do Nơ Trang Lơng lãnh đạo, kéo dài hơn 20 năm (1914-1935). Bản anh hùng ca của quân khởi nghĩa đã âm vang khắp núi rừng, buôn rẫy Tây Nguyên bao la:

   Ơ buông sang1
   Ta giữ buôn xưa
   Ta giữ rẫy cũ ngàn xưa
   Ta sẵn sáng chống lại những ai đến cướp
   Quyết giết gíặc cho buôn vui
   Cho ngoài rẫy lúa chín
   Dân Mơ Nông ơi, vùng lên đi!
   Phụ nữ đánh bằng chày giã gạo
   Con trai cầm dao găm, giáo, mác
   Tất cả giơ lên như bông lau lách
   Giết bằng được tên Hăng-ri Mét
   Thì ta mới yên cái bụng làm rẫy, xây làng''2.


   Những cuộc đấu tranh của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đã gây cho thực dân Pháp nhiều tổn thất nặng nề. Ở nhiều vùng, nhân dân vẫn làm chủ núi rừng, nhiều buôn làng sống hiên ngang như những pháo đài bất khả xâm phạm. Nhưng do chưa có một đường lối đúng đắn, chưa có một đảng cách mạng tiền phong của giai cấp vô sản lãnh đạo, nên các phong trào đấu tranh, các cuộc nổi dậy dù rất ngoan cường mạnh mẽ, song qua nhiều lần vây ráp càn quét quét bằng nhiều thủ đoạn rất thâm độc của địch nên lực lượng bị tiêu hao dần mịn, đều lần lượt bị thất bại hoặc khống chế.

   Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (3.2.1930), cách mạng Việt Nam đã chấm dứt thời kỳ khủng hỏang về đường lối dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, nhân dân Việt Nam vững bước trên con đường đấu tranh, đánh đổ ách thống trị của đế quốc, thực dân làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám lịch sử, giành độc lập tự do cho Tổ quốc. Trong cuộc Tổng khởi nghĩa ấy, tuy ở địa phương chưa có cơ sở Việt Minh và tổ chức Đảng trực tiếp lãnh đạo, nhưng quần chúng yêu nước ở Tây Nguyên chịu ảnh hưởng từ lâu của Đảng Cộng sản Đông Dương (nhất là qua những Đảng viên bị địch đày ở ngục Kon  Tum) đã tự động nổi đậy giành chính quyền, thiết lập chính quyền cách mạng. Cờ đỏ sao vàng tung bay rực rỡ khắp cao Nguyên.

   Nhưng đồng bào các dân tộc Tây Nguyên cùng nhân dân cả nước hưởng những ngày vui độc lập chỉ trong thời gian ngắn. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, quân  Pháp gây hấn ở Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm  lược Việt Nam một lần nữa. Tháng 11 năm 1945, quân xâm lược Pháp trở lại giày xéo Tây Nguyên. Căm thù quân cướp nước và hưởng ứng lời kêu gọi cứu nước của  Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Tây  Nguyên Đoàn kết dưới ngọn cờ của Mặt trận Việt Minh  nhất tề đứng lên chiến đấu. Ngày 19 tháng 4 năm 1946, hơn một nghìn đại biểu các dân tộc Tây Nguyên và miền núi (các tỉnh đồng bằng) họp Đại hội đoàn kết dân tộc chống Pháp tại thị xã Pleiku. Trong lễ khai mạc, các đại biểu vô cùng xúc động lắng nghe thư Bác Hồ: "Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau...

   Giang sơn và chính phủ là giang sơn và chính phủ chung của chúng ta. Vậy nên tất cả các dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta...

   Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt...''3.

   Thực hiện lời kêu gọi đoàn kết dân tộc bảo vệ non sông của người, những buôn làng Tây Nguyên đã trở thành những làng kháng chiến, căn cứ du kích và pháo đài chiến đấu kiên cường. Làng kháng chiến Stơr (An Khê), Xốp Diu (Đắc Glei), xã kháng chiến Ya Hội, Ka nát (An Khê)... với vũ khí thô sơ, chông thò, cung nỏ, cạm bẫy, hầm chông... đã khiến quân thù khiếp sợ. Nhiều tấm gương kiên trung bất khuất: Đinh Núp 4 vận động nhân dân năm lần rời làng kháng chiến, lập nên kỳ tích; Chủ tịch xã kiêm xã đội trưởng Vừu 5 người dân tộc Ba Na ở nam Đắc Đoa (Gia Lai) bị địch bắt tra tấn dã man, cắt tai, xẻo mũi, chặt mười ngón tay nhưng vẫn mưu trí lừa địch vào bãi chông của du kích diệt hơn một chục tên. Địch tra tấn dã man khoét hai mắt đồng chí rồi bắn chết. Những gương chiến đấu anh dũng kiên cường đó đã góp phần giữ vững niềm tin với cách mạng, cổ vũ nhân dân đấu tranh, làm cho Đảng ngày càng bén rễ bám chắc ở Tây Nguyên.

   Ngày 27 tháng 11 năm 1953, Tổng Quân ủy đã xác định: ''Lực lượng ta có phát triển vào Tây Nguyên thì mới giành được thế chiến lược quan trọng nhất ở miền Nam. Nếu khu chiến lược đó ở trong tay địch thì cục diện  miền Nam rất khó cải biến''. Thực hiện chủ trương đó, bên cạnh sự phát triển của lực lượng vũ trang địa phương, các đơn vị bộ đội chủ lực được trên chi viện và gấp rút xây dựng ở Tây Nguyên ngày một tăng. Trong kháng chiến chống Pháp, các trung đoàn: 94, 95, 67, 108, 803, 120... đã phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang và nhân dân Tây Nguyên đánh hàng trăm trận lớn nhỏ, mở một số chiến dịch, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, phá hủy nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh của chúng. Đặc biệt trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, Quân dân Tây Nguyên phối hợp chặt chẽ với chiến trường chính Bắc Bộ, thực hiện thắng lợi chiến dịch Bắc Tây Nguyên (26.1 - 20.7.1954); loại khỏi vùng chiến đấu hơn 20.000 tên địch, diệt gọn binh đoàn cơ động loại và 15 tiểu đoàn khác, thu hơn 7.500 súng các loại và hàng trăm xe cơ giới, bức rút 182 đồn bốt tháp canh, giải phóng hoàn toàn tỉnh Kon Tum (7.2.1954) và phần lớn tỉnh Gia Lai; buộc bộ chỉ huy quân Pháp phải phân tán lực lượng cơ động, tạo điều kiện cho chiến trường chính giành thắng lợi vang dội ở Điện Biên Phủ, góp phần quyết định vào việc ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ, kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp.

   Trải qua thực tiễn đấu tranh cách mạng, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên càng biết ơn và tin yêu sâu sắc  đối với Đảng và Bác Hồ:

   "Người cứu dân tộc mình
    Cho suối đánh đàn, cho hoa "gơ ma'' nở

   Cho nương đầy lúa, rẫy đầy khoai
   Cho núi sông đầy cá nước hoa ngàn
   Cho con gái cườm đeo quanh cổ
   Là Bác Hồ Chí Minh".


   Giữ vững niềm tin sắt đá đó, phát huy truyền thống bất khuất, với kinh nghiệm đúc rút từ chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp, quân và dân Tây Nguyên bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước với thế và lực mới, lập nên những chiến công vang dội, giải phóng Tây Nguyên, góp phần xứng đáng vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc: giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.




------------------------------------------------------------------
1. Ớ dân làng
2. Tây Nguyên lũy thép thành đồng. Nxb Quân đội nhân dân; H.l972, tr. 19.
3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Tập 4, Nxb Chính trị quốc gia; H. 1995, tr 217-218.
4. Đồng chí Đinh Núp được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân năm 1955.
5. Đồng chí Wừu được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân năm 1956.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 04:10:09 pm
2. Chiến trường Tây Nguyên trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1963)

   Ngày 20 tháng 7 năm 1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương được ký kết. Mặc dù bị các thế lực phản động ra sức ngăn cản, Hiệp định chưa phản ánh hết thắng lợi to lớn của nhân dân ba nước Đông Dương trên chiến trường, nhưng nó đã đánh dấu thắng lợi vẻ vang cuộc kháng chiến 9 năm ròng rã chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ của dân tộc Việt Nam, Khơ Me và các bộ tộc Lào. Về Việt Nam, bản tuyên bố cuối cùng của Hội nghị đã thừa nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và  toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam; vĩ tuyến 17 chỉ là giới tuyến quân sự tạm thời phân chia hai khu vực tập kết trước khi tổng tuyển cử, không thể coi như một biên giới chính trị hoặc lãnh thổ.

   Với bước ngoặt lịch sử trọng đại này, cách mạng Việt Nam chuyển sang một thời kỳ phát triển mới: miền Bắc hoàn toàn giải phóng đi lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam còn dưới sự thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai. Sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân ta đến đây chưa hoàn thành, cuộc.đấu tranh để giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc còn phải tiếp tục diễn ra trong những điều kiện mới đầy gian nan thử thách. Lợi đụng triệt để Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương và thế suy yếu của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ nhanh chóng gạt Pháp, ráo riết áp đặt chủ nghĩa thực dân mới ở Nam Việt Nam, từng bước thực hiện âm mưu chiến lược cơ bản lâu dài xuyên suốt là: ''Tiêu diệt bằng được phong trào yêu nước của nhân dân ta, thôn tính miền Nam Việt Nam, chia cắt lâu đài đất nước ta, biến Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ, lập phòng tuyến ngăn chặn chủ nghĩa xã hội lan xuống Đông Nam Á, đồng thời lấy miền Nam Việt Nam làm căn cứ để tiến công miền Bắc, tiền đồn của hệ thống chủ nghĩa xã hội thế giới ở Đông Nam Á hòng đè bẹp và đẩy lúi chủ nghĩa xã hội ở vùng này, bao vây và uy hiếp các nước chủ nghĩa xã hội khác''1. Dưới sự chỉ huy của Mỹ, chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm được xây dựng và củng cố, miền Nam biến thành một ''quốc gia'' riêng. Lực lượng ngụy quân do Pháp để lại được gấp rút cải tổ và xây dựng thành một ''quân đội quốc gia'' tay sai trung thành, làm chỗ dựa cho ngụy quyền miền Nam và thực thi những âm mưu đen tối của ông chủ Mỹ. Được Mỹ huấn luyện và trang bị (với 1,5 tỷ đô-la vũ khí và phương tiện, từ 1955 đến 1960), sau kế hoạch dài hạn 5 năm quân đội ngụy có số lượng đông, nhiều binh chủng, có khả năng tác chiến trên các vùng chiến thuật.

Cùng với nó là một hệ thống căn cứ và công trình quân sự bao đường chiến lược, hệ thống truyền tin, kho tàng được xây dựng khắp miền Nam. Ngoài ra Mỹ còn lôi kéo một số nước thành lập ''Tổ chức hiệp ước Đông Nam Á'' (SEATO, tháng 9.1954), tự ý đặt miền Nam Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia dưới cái ô ''bảo hộ'' của tổ chức này. Với đội quân lớn làm chỗ dựa, từ cuối năm 1954 đến năm 1960, Mỹ, Diệm ráo riết tiến hành cuộc chiến tranh đơn phương. Các chính sách ''tố cộng'', ''diệt cộng'' sắc lệnh (5.1957) ''đặt cộng sản ra ngoài vùng pháp luật'', đạo luật khát máu 10-59 lê máy chém khắp miền Nam, ''cải cách điền địa'', ''định cư di cư''... được tiến hành đồng thời với các cuộc hành quân càn quét, khủng bố, tàn sát đẫm máu. Hàng chục vạn cán bộ, đảng viên, quần chúng bị sát hại, bắt bớ, giam cầm. Những vụ thảm sát man rợ như Kim Đôi (Thừa Thiên), Hướng Điền (Quảng Trị), Chợ Được Quảng Nam), Mỏ Cày (Bến Tre)... diễn ra khắp nơi; đặc biệt là vụ thảm sát ở trại tập trung Phú Lợi (Thủ Dầu Một) đầu độc 6.000 người, hơn 1.000 người chết, làm nhân dân cả nước sôi sục căm thù và loài người tiến bộ phẫn nộ.

    Cuộc chiến tranh đơn phương của đế quốc Mỹ và chế độ độc tài phát xít Ngô Đình Diệm vô cùng tàn bạo, thâm độc, gây khó khăn tổn thất nghiêm trọng cho cách mạng miền Nam nhưng không dập tắt được ngọn lửa đấu tranh đang âm ỉ trong quần chúng, có thời cơ sẽ bùng lên thiêu đốt quân thù. Từ thực tiễn đấu tranh cách mạng, nhân dân miền Nam nhanh chóng tiếp nhận và biến Nghị quyết Trung ương Đảng lấn thứ 15 (1959) thành hành động, làm nên cao trào Đồng khởi rộng khắp, đưa cách mạng miền Nam chuyển sang thế tiến công. Cao trào Đồng khởi cuối năm 1959, đầu năm l960 của nhân dân miền Nam, cùng với sự ra đời của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (12.1960) đánh dấu thất bại của chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ dưới thời Ai-xen-hao; đồng thời mở đầu thời mở đầu thời kỳ chuyển tiếp sang chiến lược ''chiến tranh đặc biệt'' của chính quyền Kon-nơ-đi.

   Là cấp độ cao hơn của chiến tranh xâm lược thực dân mới, là sản phẩm của thế bị động và thế thua; nên chiến lược ''chiến tranh đặc biệt'' mà đế quốc Mỹ áp dụng ở miền Nam là: dùng quân đội Sài Gòn làm lực lượng chủ lực chủ yếu do Mỹ cung cấp trang bị vũ khí và chỉ huy bằng hệ thống cố vấn; sử dụng kết hợp ba biện pháp cơ bản: tìm diệt bộ đội chủ lực và cơ sở hạ tầng cách mạng, bình định để nắm dân, phong tỏa biên giới vùng biển để ngăn chặn chi viện và phá hoại miền Bắc bằng biệt kích. Nội dung chủ yếu của chiến lược "chiến tranh đặc biệt'' thể hiện tập trung trong một kế hoạch toàn diện, dài hạn mang tên Stalây - Taylo nhằm "bình định" miền Nam trong vòng l8 tháng.

   Thực hiện kế hoạch Stalây - Taylo, Mỹ chuyển cơ quan viện trợ (MAAG) thành Bộ tư lệnh quân sự (MACV, 8.2.1962) do Pan Hác-kin (Paul HarKins) làm tư lệnh. Từ tháng 5 năm 1962 trở đi, Bộ tư lệnh này có quyền hạn như một bộ tư lệnh tiền phương của Mỹ ở Đông Nam châu Á. Đồng thời lực lượng yểm trợ và cố vấn Mỹ ở miền Nam tăng lên nhanh chóng: 3.900 tên năm 196l, 11.300 tên năm 1962 và 16.800 tên năm 1963 (gấp 8 lần năm 1960). Nhiều đơn vị trực thăng nguyên vẹn và thiết giáp nhẹ được chuyển đến miền Nam. Năm 1961, địch đã có 210 máy bay các loại, 268 xe cơ giới, đến năm 1963 tăng lên 627 máy bay (có 359 trực thăng) và 732 xe cơ giới. Cùng với gia tăng lực lượng Mỹ, lực lương ngụy quân cũng tăng mạnh cả chủ lực và địa phương; đặc biệt chủ trọng phát triển quân địa phương và tăng cường sức cơ động nhằm đối phó với chiến tranh du kích đang phát triển ở miền Nam. Năm 1960 quân ngụy có 152.300 tên (gồm 7 sư đoàn bộ binh, 1 lữ đoàn dù, 1 lữ đoàn thủy quân lục chiến...) 36.000 lính bảo an và 25.000 dân vệ; tới cuối năm 1963 chủ lực địch đã lên tới 206.000 tên (gồm 9 sư đoàn bộ binh, 1 lữ đoàn dù, 1 lữ đoàn thủy quân cục chiến...), 86.000 lính bảo an và 96.000 dân vệ. Để bảo đảm cho bộ máy ngụy quân ngụy quyền tay sai khổng lồ, viện trợ Mỹ liên tiếp tăng lên: từ 321,7 triệu đô-la (1960-1961) lên 675 triệu đô-la (1963-1964).

   Có quân đông, vũ khí phương tiện chiến tranh nhiều, lại rút kinh nghiệm từ cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp, những ''khu trù mật'', ''khu dinh điền'' trước đây và áp dụng kinh nghiệm mới của đế quốc Anh chống chiến tranh du kích ở Mã Lai; Mỹ - Diệm đẩy mạnh chính sách gom dân lập ''ấp chiến lược" - cái xương sống'' của "chiến tranh đặc biệt''. Để bảo đảm cho chính sách ''ấp chiến lược'' thành công và tiêu diệt lực lượng vũ trang non trẻ của ta, địch huy động các đơn vị chủ lực kết hợp bảo an, dân vệ được lực lượng pháo binh, cơ giới, không quân Mỹ trực tiếp chi viện, liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét. Năm 1961 chúng mở 1.253 cuộc hành quân từ cấp tiểu đoàn trở lên, năm 1962 có 2.577 cuộc (có 100 cuộc hành quân bằng ''trực thăng vận''), năm 1963 lên từ 2.948 cuộc hành quân. Trọng điểm càn quét của địch là vùng tây bắc Sài Gòn, 10 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và các vùng giáp ranh các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên ở Khu 5 của ta.

   Nhưng những cố gắng cao nhất của Mỹ, Diệm vẫn không đem lại kết quả như tham vọng của kế hoạch Stalây - Tay lo, mà còn thất bại thảm hại. Cách mạng miền Nam không bị ''tàn lụi'', mà trái lại càng phát triển và vững vàng tiến lên. Phát huy thắng lợi cao trào đồng khởi, quân và dân miền Nam đã phát triển thành cuộc chiến tranh cách mạng, đưa đấu tranh vũ trang lên song song với đấu tranh chính trị, từng bước đánh bại chiến lược ''chiến tranh đặc biệt'' của Mỹ. Đặc biệt, chiến thắng Ấp Bắc (ngày 2.1.1963) bẻ gãy cuộc hành quân của hơn 2.000 quân ngụy có máy bay, thiết giáp, tàu xuồng chiến đấu và pháo binh Mỹ yểm trợ do cố vấn Mỹ chỉ huy đã đánh dấu sự ''thất bại về chiến Thuật - chiến lược" của địch, và ''sau trận Ấp Bắc địch thấy khó thắng ta''.

   Sự phát triển của cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam không những làm cho kế hoạch Stalây - Taylo bị phá sản, chiến lược ''chiến tranh đặc biệt'' trượt nhanh về phía nấm mồ tiền định, mà còn làm cho mâu thuẫn trong lòng chế độ độc tài phát xít gia đình trị Ngô Đình Diệm và giữa chủ Mỹ với tớ Diệm tăng lên đến đỉnh cao. Nhằm tạo nên một chính quyền tay sai đắc lực hơn, đáp ứng mưu đồ leo thang mở rộng chiến tranh xâm lược, ngày 1 tháng 11 năm 1963 Mỹ buộc phải thay ngựa giữa dòng, giết tên tay sai đắc lực Ngô Đình Diệm mà chúng đã từng dày công nuôi dưỡng, đào tạo xây dựng suốt 15 năm (1948- 1963). Sau 21 ngày sụp đổ của chế độ Diệm, ngày 22 tháng 11 năm 1963, Tổng thống Mỹ Kon-nơ-đi bị giết. Giôn-xơn lên thay làm Tổng thống Mỹ tiếp tục đẩy mạnh cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, tiến tới nấc thang cao nhất của chiến lược ''chiến tranh đặc biệt'':  từng bước đưa quân chiến đấu Mỹ vào tham chiến ở chiến trường miền Nam và tiến hành chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc, mở đầu thời kỳ quá độ từ chiến lược ''chiến tranh đặc biệt'' sang chiến lược ''chiến tranh cục bộ''.



------------------------------------------------------------------
1. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 04:14:15 pm
Nằm trong bối cảnh chung của miền Nam, lại là một địa bàn trọng điểm, nên trong suốt mười năm đầu (1954-1963) cuộc đấu tranh giữa ta và địch ở Tây Nguyên diễn ra liên tục và ngày càng quyết liệt. Ngay từ khi hất cẳng Pháp, đưa Diệm lên nắm quyền, áp đặt chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam, đế quốc Mỹ rất chú trọng đến vùng đất chiến lược này. Chính  Rát pho (Radford) chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ (đến miền Nam ngày 22.12.1954, vạch kế hoạch 5 điểm ủng hộ Diệm) khi lên thị sát Tây Nguyên đã cho rằng: ''Tây Nguyên sẽ trở thành nhiều tuyến quan trọng cơ động, thành khu vực tập trung quân đội'', đặc biệt PleiKu sẽ là ''trục chiến lược'' khi chiến tranh xảy ra. Nhưng do Tây Nguyên đất rộng, người thưa, đồng bào dân tộc thiểu số chủ yếu sống trong các buôn làng nên những biện pháp thống trị và khai thác của Mỹ, Diệm ở dây có  khác so với toàn miền Nam, song cũng không kém phần khẩn trương, khốc liệt, tàn bạo.

   Tháng 9 năm 1954, địch tiếp quản Tây Nguyên. Để ''thâu hồi độc lập'', chúng khẩn trương lập bộ máy hành chính từ tỉnh đến quận và cơ sở, từng bước gạt bọn tay sai cũ của Pháp, lập các tổ chức chính trị phản động, ra sức tuyên truyền lừa bịp bằng các chiêu bài ''cách mạng quốc gia'', ban hành chính sách ''Kinh - Thượng đề huề - quân dân nhất trí - khai thác miền sơn cước'' (6.1955), tiếp đó là ''đồng  tiến xã hội''. Để khai thác và khống chế Tây Nguyên, địch đua hơn một vạn giáo dân và đồng bào dân tộc thiểu số miền Bắc (bị chúng lừa gạt cưỡng ép di cư vào Nam) đến chiếm các vùng đất đai màu mỡ, có giá trị quân sự và chính trị ven các trục đường giao thông chính và xung quanh các thị xã, thị trấn. Tiếp đó, từ tháng 3 năm 1957 đến năm 1962, chúng lừa xúc hàng chục nghìn dân các tỉnh miền Trung Trung Bộ và một số dân Nam Bộ lên Tây Nguyên lập các dinh điền, nhằm xây dựng các pháo đài chống cộng, vừa khống chế đồng bào dân tộc thiểu số xung quanh. Đồng thời với các hoạt động trên, Mỹ, Diệm ra sức xây dựng phát triển lực lưọng quân sự ở Tây Nguyên. Năm 1955 chúng lập sư đoàn bộ binh hạng nhẹ số 2 ở Kon Tum và sư đoàn bộ binh hạng nhẹ số 4 ở Buôn Ma Thuột1. Ngày 1 tháng 10 năm 1957, địch lập vùng 2 chiến Thuật - quân đoàn 2 đảm nhiệm hoạt động tác chiến toàn bộ vùng cao nguyên Trung Trung Bộ và duyên hải Nam Trung Bộ, bao gồm các tỉnh: Kon Tum, PleiKu, Phú Bổn, Bình Định, Phú Yên, Đắc Lắc, Khánh Hòa, Quảng Đức, Tuyên Đức, Ninh Thuận, Lâm Đồng và Bình Thuận. Bộ tư lệnh vùng 2 chiến Thuật - quân đoàn 2 ngụy đóng ở thị xã Plei Ku tỉnh Gia Lai do tướng Trần Ngọc Tâm làm tư lệnh (10.1957 - 8.1958); những năm tiếp theo là các tướng ngụy: Tôn Thất Đính (8.1958 - 12.1962), Nguyễn Khánh (12.1962 - 12.1963), Đỗ Cao Trí (12.1963 - 9.1964)... thay nhau giữ chức này.

   Đến cuối năm 1960, địch đưa sư đoàn 23 từ Dục Mỹ (Khánh Hòa) lên Buôn Ma Thuột, đảm trách địa bàn 7 tỉnh phía nam vùng 2 chiến thuật (Đắc Lắc, Khánh Hòa, Quảng Đức, Tuyên Đức, Ninh Thuận, Lâm Đồng và Bình Thuận). Cùng với xây dựng các đơn vị chính quy chủ lực, địch rất chú trọng xây dựng lực lượng bảo an, dân vệ, hệ thống tề điệp ở xã, buôn với hàng chục nghìn tên ở Tây Nguyên. Tại mỗi ''dinh điền'' đều có đồn bốt, tháp canh, do một trung đội đến một tiểu đoàn lính địa phương đóng giữ. Ở các quận lỵ đều có căn cứ quân sự.

        Dọc biên giới phía Tây có hệ thống đồn biệt kích, đa số quân trong các đồn này là bọn ác ôn người dân tộc thiểu số địa phương, bị nhồi sọ tư tưởng chống cộng cuồng tín.

   Để phục vụ cho mục đích quân sự và khai thác Tây Nguyên, Mỹ, ngụy đẩy mạnh việc xây dựng và củng cố hệ thống đường giao thông. Những con đường huyết mạch 14, 19, 21 và các tỉnh lộ xuyên sâu vào các buôn làng được gấp rút sửa chữa và làm mới. Các sân bay được tu sửa mở rộng xây dựng khắp các tỉnh, ở nhiều quận như: Kon Tum, Đắc Tô, Măng Đen, Cù Hanh, Hòa Bình, Phụng Dực, Liên Khương, Bản Đôn, Cheo Reo, Nhân Cơ, Tuy Đứa, Phi-di-a. Hàng vạn dân bị bắt đi lao dịch xây dựng các công trình quân sự.

   Quá trình xây dựng, củng cố bộ máy hành chính quân sự phát xít ở Tây Nguyên cũng là quá trình địch thi hành ''tố cộng'' ''diệt cộng'' đánh phá các cơ sở cách mạng ngày càng ác liệt. Từ giữa năm 1956, chúng mở những chiến dịch khủng bố gọi là ''chiến dịch thượng du vận'' để dồn dân vào các dinh điền, buộc phải khai báo, đầu thú. Hàng nghìn người bị bắt, bị tra tấn và giết hại, nhiều buôn làng bị đốt phá sạch. Tại các trọng điểm đánh phá như quận Đắc Tô, Đắc Pét (Kon Tum), Đắc Đoa, Nam An Khê (Gia Lai), Buôn Hồ, M'Đrắc (Đắc Lắc)... nơi nào cũng có địch lùng sục, cướp phá, đầu rơi, máu chảy. Những lớp chiêu hồi, ''tố cộng'' có khi kéo dài đến nửa tháng nhằm uy hiếp tinh thần dân chúng, phát hiện cán bộ đảng viên. Nhân dân bị cấm không được ngủ ngoài rừng, không được mang gạo ra rẫy...

   Song song với những cuộc càn quét, những chiến dịch khủng bố đẫm máu, Mỹ, Diệm còn kìm kẹp nhân dân trong các ''dinh điền'' - một loại ''ấp chiến lược'', ''trại tập trung'' ở miền nam. Cho tới tháng 12 năm 1959, địch đã lập được 176 dinh điền ở Tây Nguyên và dọc biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia với 220.000 dân. Trong mỗi dinh điền đều có binh lính đóng giữ, có hệ thống lô cốt, tháp canh; người dân bị giám sát, o ép gắt gao, bị kiểm soát mọi hoạt động... nhằm ''ngăn cản sự xâm nhập của cộng sản''.

   Cuộc chiến tranh đơn phương với những thủ đoạn vô cùng tàn bạo, thâm độc mà Mỹ, Diệm tiến hành trên cao nguyên tuy có  gây cho ta những tổn thất nặng, nhưng cơ bản các khu căn cứ miền núi vẫn được giữ vững. Có được như vậy là do cấp ủy Đảng và nhân dân địa phương kịp thời nắm bắt đánh giá đúng tình hình, chủ động linh hoạt tìm biện pháp đấu tranh hợp pháp, biết vận dụng phong tục tập quán của nhân dân để chống địch, bảo vệ cơ sở, bảo vệ phong trào.




-----------------------------------------------------------------
1. Tháng 4.1959, hai sư đoàn 2 và 4 (đổi tên thành sư đoàn 12 và sư đoàn 14) sáp nhập thành sư đoàn 22.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 04:42:36 pm
*

   Trong khi cuộc chuyển quân tập kết đang diễn ra sôi động; các cơ quan, đoàn thể, một số gia đình cơ sở ở Tây Nguyên và Trung Đoàn 84 (Đắc Lắc), Trung Đoàn 120 (Gia Lai) ra miền Bắc. Dưới sự lãnh đạo của Liên khu ủy Liên khu 51 và cấp ủy địa phương, một bộ phận cán bộ, đảng viên được phân công ở lại làm nòng cốt cho phong trào đấu tranh mới. Ở Kon Tum có 128 đồng chí, ở Gia Lai có 131 đồng chí và Đắc Lắc có trên 120 đồng chí được chọn trong số các đồng chí tự nguyện thuộc các cơ quan dân, chính, Đảng và quân đội, có đủ phẩm chất, ý chí và kinh nghiệm công tác quần chúng. Để che mắt địch, số cán bộ hoạt động hợp pháp khôn khéo lọt vào thị xã, thị trấn với tên gọi mới, dưới hình thức các nhà tư sản, chủ thầu, nhân viên công chính, bưu điện; một số khác tỏa về các buôn làng, đổi tên gọi và nói tiếng như. người địa phương, cà răng, xâu tai, đóng khố, đi chân đất, choàng tấm đồ, mang ná, vác rựa, để tóc dài... trở thành những cán bộ nằm vùng. Số cán bộ hoạt động bất hợp pháp tổ chức thành những tổ công tác trở về các vùng du kích, khu căn cứ trước đây, được nhân dân che giấu, cung cấp hậu cần; cũng có người bền bỉ gây dựng phát triển cơ sở trong vừng địch tạm chiếm.

   Cùng với việc bố trí cán bộ ở lại, các tỉnh đều tổ chức chôn giấu vũ khí để sử dụng sau này. Tỉnh Kon Tum để lại gần 80 khẩu súng và 4 tấn đạn; tỉnh Gia Lai để lại hai hầm vũ khí gồm 70 súng trường, 7 tiểu liên, 60 súng ngắn, và hàng chục nghìn viên đạn, các huyện 1, 2, 7 cũng để lại vũ khí. Ngoài ra, các loại vật chất thiết yếu như lương thực, thuốc chữa bệnh, văn phòng phẩm, nông cụ, muối ăn, tiền bạc... cũng được để lại chuẩn bị cho các hoạt động về sau.

   Xác định 1 tầm quan trọng của các khu căn cứ, các tỉnh sớm khôi phục lại căn  cứ cũ và tổ chức xây dựng thêm căn cứ mới. Tháng 9 năm 1954 Tỉnh ủy Gia Lai chuyển lên căn cứ Kon Hà Nừng, Sơ Lam Sơ Ró; đầu năm 1955 cơ quan tỉnh Kon Tum từ Ba Tơ (Quảng Ngãi) dời lên Kon Bờ Ê (xã Hiếu, Kon Plong); tháng 5 năm 1955 bộ phận chỉ đạo và cơ quan tỉnh Đắc Lắc chuyển từ vùng Thồ Lồ (tây Phú Yên) lên buôn Ma Nhao, Ma Thìn rồi về vùng buôn Uar, buôn Mùng.

   Để chỉ đạo sát phong trào cách mạng ở Tây Nguyên, năm 1955 Lên khu ủy 5 quyết định thành lập 4 liên tỉnh ủy, trong đó có Liên tỉnh ủy 4 gồm tỉnh ủy ba tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc do đồng chí Trương Quang Tuân làm Bí thư (kiêm Bí thư Ban cán sự tỉnh Đắc Lắc). Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Liên tỉnh ủy 4, phong trào cách mạng ở Tây Nguyên phát triển mạnh, cơ sở cách mạng được phát triển rộng khắp2, các cuộc đấu tranh của quần chúng chống địch "tố cộng'', chống cướp đất lập danh điền, bắt xâu, bắt lính, chống trưng cầu dân ý liên tục diễn ra và giành nhiều thắng lợi đặc biệt, phong trào đấu tranh đòi hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước cuối năm 1955 diễn ra sôi nổi, rộng khắp từ nông thôn đến đô thị, lôi cuốn hàng vạn quần chúng tham gia. Đây là cuộc đấu tranh chính trị có quy mô lớn, có tổ chức chỉ đạo chặt chẽ gắn đòi hiệp thương với các yêu sách về dân sinh, dân chủ đã nâng cao khí thế cách mạng, bước đầu rèn luyện thử thách cán bộ và quần chúng, làm cho ngụy quân, ngụy quyền lúng túng, bất ngờ.

    Từ năm 1956 đến năm 1959, phong trào đấu tranh của nhân dân Tây Nguyên tập trung chống các chiến dịch ''thượng du vận'', ''tố cộng" và chống cướp đất lập ''dinh điền'' của Mỹ, Diệm. Khi địch mở chiến tích ''thượng du vận'' vào các huyện H2, H3, đông và tây Cheo Reo, cấp ủy Đảng đã bám sát buôn làng, lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống bắt bớ, khủng bố, chống đi học tố cộng. Địch bắt, tra tần dã man nhiều cán bộ, đảng viên, cơ sở nhưng không một ai tiết lộ bí mật. Tại huyện 7 Gia Lai, địch bắt hàng loạt cán bộ, tra khảo, dìm xuống suối nhưng không ai sờn lòng. Bí thư chi bộ làng Krông Hra xã Yang Bắc bị địch chôn đứng đến cổ, dùng chày nện đất xung quanh cho trào máu, nhưng trước lúc hy sinh còn ráng sức hô ''Bok Hồ muôn năm''. Ở làng Nước Chè (xã Đắc Kôi, Kon Plông, Kon Tum) dịch bắt được đồng chí Đinh Gió tra tấn dã man nhưng không ép được dẫn đường đi càn; chúng xâu dây thép vào hai tay rồi nắm tóc kéo đi nhưng đồng chí kiên quyết chống lại và anh dũng hy sinh. Những tấm gương trung liệt của cán bộ và đồng bào các dân tộc Tây Nguyên không những góp phần bảo vệ cách mạng, tính mạng tài sản và phong tục tập quán tốt đẹp của nhân dân, nêu cao khí tiết cách mạng mà còn làm cho ngọn lửa đấu tranh cách mạng ngày càng lan rộng.

   Song song với đấu tranh chống ''tố cộng'', phong trào đấu tranh phòng địch cướp đất lập ''dinh điền'' cũng diễn ra quyết liệt kéo dài từ năm 1957 đến năm 1960. Tại Gia Lai, phong trào lúc đầu còn lẻ tẻ nhưng từ năm 1959 bùng lên mạnh mẽ, có lúc lôi cuốn được nhân dân 143 làng thuộc huyện 4 và 5 tham gia. Có nhiều cuộc đấu tranh tiêu biểu như: 6 làng của xã Ia Kreng (huyện 5) vũ trang giáo mác đòi  trả đất thắng lợi; 25 làng quanh dinh điền Lệ Ngọc đóng cọc chặn xe ủi, địch bắn chết và làm bị thương hàng chục người nhưng cuối cùng chúng phải nhượng bộ (tháng 2, 3 năm 1959). Ở Buôn Ma Thuột phong trào chống địch cướp đất được quần chúng Kinh -Thượng hưởng ứng mạnh mẽ và diễn ra quyết liệt suốt ba năm (1957-1959). Hàng trăm đoàn biểu tình kéo lên quận kêu kiện đòi trả đất. Khi địch dùng xe ủi đến cướp đất, nhân dân kết thành khối chặn xe. Trong cuộc đấu tranh giữ đất, đã huy động được đông đảo mọi tầng lớp nhân dân tham gia, đặc biệt là phụ nữ. Có nhiều tấm gương dũng cảm như chị Rơ Mah Cham (huyện 4, Gia Lai) bế con nằm chặn xe bị địch xúc đổ vô thùng xe, một chị làng Plei Bối (Phú Nhơn) lao vào chặn đầu đoàn xe... buộc chúng phải từ bỏ kế hoạch chiếm đất lập dinh điền.




-------------------------------------------------------------------
1. Tháng 9 năm 1954 Bộ Chính trị quyết định giải thể Trung ương Cục Miền Nam, thành lập Xứ ủy Nam Bộ V Liên khu ủy Liên khu 5 trực thuộc Trung ương Đảng.
2. Cuối năm 1958, Gia Lai có cơ sở ở 911 trong tổng số 1.001 làng, 55 chi bộ với 623 đảng viên và 674 đoàn viên; ở Đắc Lắc, từ năm 1954 đến năm 1956 xây dựng cơ sở ở 521 làng trong tổng số556 làng và 400 cơ sở trong thị xã Buôn Ma Thuột.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 04:44:43 pm
*

   Trước hành động ngày càng tàn ác của Mỹ, Diệm, cán bộ và nhân dân các dân tộc Tây Nguyên cũng thấy không thể chỉ đấu tranh với địch bằng lý lẽ đơn thuần.  Quần chúng ở một số nơi không nén nổi căm thù uất hận, đã tự động diệt ác ôn. Nhiều vụ thủ tiêu đã diễn ra như diệt tên Cơ (của dân làng Bà Bah, huyện An Khê), tên Đầm (của dân làng Nước Kua, huyện Kon Plông) và nhân dân các làng vùng Tu Mơ Rông, làng Đông Lốc, Mang Tôn (Đắc Glei) Đê Xơ Rơn, Đê Xơ Kiết, Đê Cúc, DJana (An Khê), buôn Oi Đak, Ma Hin (Cheo Reo), Ka Dăng Hroi, Bõung (M'Đrak)... tự động diệt ác ôn, sau đó mới báo cáo tổ chức, đã cho thấy quần chúng nhân dân không thể tiếp tục sống nén nhịn mãi được nữa, phải dùng vũ khí đánh trả kẻ thù tàn bạo.

   Cũng trong quá trình khủng bố của địch, thanh niên ở nhiều buôn làng Tây Nguyên đã kéo nhau ra rừng lập các trại ''bí mật''. Địch càng đánh phá, các trại ''bí mật'' ngày càng phát triển. Được cán bộ hướng dẫn, thanh niên ở các trại tổ chức thành đội ngũ và vũ trang bằng vũ khí thô sơ: cung nỏ, rìu, rựa, chông, thò, cạm bẫy chống địch lùng sục càn quét vào làng, bảo vệ nương rẫy. Hành động tự vệ ít nhiều mang tính tự phát của quần chúng và cán bộ cơ sở thể hiện nguyện vọng được cầm vũ khí, lập căn cứ kháng chiến; đồng thời cho thấy không còn con đường nào khác là phải dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng.

   Quán triệt các nghị quyết của Trung ương Đảng và tài liệu "Đề cương cách mạng miền Nam" của  đồng chí Lê Duẩn, tiếp thu kinh nghiệm của Nam Bộ, trước yêu cầu thực tiễn cách mạng, mùa hè năm 1958 Liên khu ủy Liên khu 5 ra nghị quyết về xây dựng căn cứ Tây Nguyên và miền Tây các tỉnh Trung Trung Bộ. Nghị quyết chỉ rõ : "Cần củng cố lực lượng vũ trang và nửa vũ trang hiện có và xây dựng căn cứ địa làm chỗ dựa, đồng thời xây dựng cơ sở quần chúng cách mạng làm điều kiện căn bản để duy trì và phát triển lực lượng vũ trang. Tổ chức tự vệ trong quần chúng nhằm bảo vệ các cuộc đấu tranh của quần chúng và giải thóatt cán bộ khí cần thiết''.

   Cùng thời gian này, Trung ương Đảng ra chỉ thị về nhiệm vụ trước mắt ở Tây Nguyên. Chỉ thị nêu rõ Tây Nguyên (Kể cả miền núi Liên khu 5 và miền núi đông bắc Nam Bộ) là vị trí chiến lược rất quan trọng đối với kẻ địch cũng như đối với ta; Mỹ, Diệm đang ra sức xây dựng Tây Nguyên thành một trung tâm căn cứ quân sự xâm lược ở miền Nam; vì vậy phải ''giữ gìn và phát triển lực lượng cách mạng, xây dựng Tây Nguyên thành căn cứ cách mạng của ta ở miền Nam; phá âm mưu xây dựng trung tâm căn cứ quân sự của Mỹ, Diệm tạo điều kiện đón thời cơ, tranh thủ chủ động trong mọi tình thế''.

   Chỉ thị của Trung ương Đảng và nghị quyết của Liên khu ủy đã tạo ra một bước chuyển biến quan trọng trong vùng núi Liên khu 5, đông bắc Nam Bộ nói chung và Tây Nguyên nói riêng. Đây là cơ sở để các địa phương xây dựng căn cứ cách mạng, từng bước xây dựng lực lượng vũ trang làm nhiệm vụ hỗ trợ đấu tranh chính trị và vũ trang tự vệ. Thực hiện chủ trương đúng đắn trên, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Ban cán sự địa phương các căn cứ cách mạng được củng cố và xây dựng ở khắp các tỉnh Tây Nguyên. Tại Kon Tum các huyện H16, H29, H30, H80, H40, H67 đều có các căn cứ (phía sau) và vùng phía trước để hỗ trợ nhau trong đấu tranh chống địch và xây dựng. Hai huyện H40 và H67 nằm ở vùng biên giới còn quan hệ với cách mạng Cam-pu-chia và Là0. Ở Gia Lai, các vùng căn cứ huyện l, 2, 7 và H2 (đông Cheo Reo) được cố và phát triển; mỗi căn cứ có từ 1 đến 2 tổ tự vệ mật làm công tác bảo vệ cơ quan, hành lang đưa đón cán bộ và diệt ác trừ gian. Tỉnh Đắc Lắc tập trung xây dựng hai căn cứ chính ở vùng Dliê Ya (phía bắc) và Nam Lung (phía nam Lắc), các huyện Buôn Hồ, M'Đrak, Cheo Reo1 đều có căn cứ. Khắp Tây Nguyên, hàng nghìn thanh niên nam nữ gia nhập lực lượng vũ trang, tự vệ, làm giao liên, tham gia các đội công tác. Vũ khí chôn giấu từ trước nay được đào lên; tổ chức lau chùi sửa chữa, trang bị cho các lực lượng. Một vài căn cứ đã xúc tiến lập các công binh xưởng sửa chữa, sản xuất vũ khí. Để bảo đảm nuôi quân, nhân dân các buôn làng nô nức đóng góp gạo, lúa, trâu, bò, gà, heo. Các "rẫy cách mạng" xuất hiện ở khắp nơi. Việc sản xuất lương thực, thực phẩm, tích trữ gạo, ngô, vải, muối, nông cụ... được đẩy mạnh tại các căn cứ kháng chiến. Trồng sắn (mì) được đặt tên hàng đầu và phát tnển rất nhanh, vì đây là cây dễ trồng, dễ dự trữ, địch lại khó cướp phá. Nhiều nơi nhân dân đặt tên gọi là''rẫy mì Thống nhất".

   Việc đẩy mạnh xây dựng các khu căn cứ cách mạng và sự ra đời của nhiều đội du kích ở Tây Nguyên vào cuối năm 1958 và năm 1959 có ý nghĩa lớn. Nó không những là bước tạo cơ sở vật chất, địa bàn, duy trì phát triển lực lượng cách mạng tại chỗ, là bàn đạp cho các hoạt động quân sự, là bước chuẩn bị quan trọng cho Tây Nguyên tiếp nhận những đơn vị chủ lục đến hoạt động mà còn là một mắt xích hữu cơ hợp thành của hệ thống căn cứ địa cách mạng ở miền Nam, nhân tố bảo đảm thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.




------------------------------------------------------------------
1. Cheo Reo lúc này thuộc tỉnh Đắc Lắc.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 04:49:55 pm
*

Tháng 1 năm 1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) họp hội nghị lần thứ 15 (mở rộng) xác định đường lối cách mạng miền Nam, phương hướng xây dựng và chiến đấu của các lực lương vũ trang ở miền Nam. Nghị quyết hội nghị nêu rõ: ''Con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền... Theo tình hình cụ thể và yêu cầu hiện nay của cách mạng thì con đường đó là lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang hoặc ít hoặc nhiều tùy tình hình... Khi sử dụng lực lượng vũ trang tự vệ và vũ trang tuyên truyền, cần phải thấu suốt nguyên tắc phục vụ cho đấu tranh chính trị và phục tùng lợi ích của đấu tranh chính trị... Phải hết sức che giấu và giữ gìn lực lượng... Nhưng do đế quốc Mỹ là đế quốc hiếu chiến nhất, cho nên trong những điều kiện nào đó cuộc khởi nghĩa của nhân dân miền Nam cũng có khả năng chuyển thành cuộc đấu tranh vũ trang trường kỳ... Đảng ta phải thấy trước khả năng ấy để chuẩn bị chu đáo và chủ động đối phó trong mọi tình huống''.

   Tháng 6 năm 1959, đồng chí Nguyễn Xuân Nhĩ -Ủy viên Thường vụ Liên khu ủy 5 vào Tây Nguyên phổ biến Nghị quyết Trung ương 15 cho Liên tỉnh ủy 4. Tháng 8 năm 1959, các tỉnh ủy Kon Tum, Gia Lai, sau đó là Đắc Lắc chính thức học tập và xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 15.

   Nghị quyết Trung ương 15 đã cắm mốc lịch sử vô cùng quan trọng, ph hợp với tình hình thực tế và đáp ứng nguyện vọng bức thiết của nhân dân, tạo bước chuyển biến căn bản và nhảy vọt cho phong trào cách mạng miền Nam, trong dó có Tây Nguyên. Đến đâu, Nghị quyết cũng được đón nhận với niềm xúc động khôn tả; ngọn lửa cách mạng vốn từ lâu vẫn âm ỷ nay bùng lên thành đám cháy lan tỏa ra khắp cao nguyên bao la thiếu đất quân thù.

   Thực hiện Nghị quyết 15, phong trào cách mạng ở Tây Nguyên phát triển mạnh mẽ. Lực lượng vũ trang cách mạng lớn mạnh không ngừng và ngày càng giữ vị trí quan trọng trong cuộc đấu tranh chống Mỹ, Diệm. Cuối năm 1959 Ban quân sự tỉnh Kon Tum được thành lập, do đồng chí Nguyễn Tuấn Tài (Trần Kiên) và sau đó là đồng chí Phan Phụ (Quyết) - Bí thư Ban cán sự tỉnh làm trưởng ban, đồng chí Nguyễn Bá Trình làm cán bộ quân sự chuyên trách 1. Ở Gia Lai,  đầu năm 1960 Ban quân sự tỉnh cũng được thành lập do đồng chí Vũ Trung Thành - Bí thư Tỉnh ủy và đồng chí Kpã Thìn - tỉnh ủy viên phụ trách. Tỉnh Đắc Lắc hình thành các ban quân sự ở các vùng (B) vào giữa năm 19622. Tiếp đó, các huyện ở Tây Nguyên cũng lần lượt tổ chức các ban quân sự huyện.

   Để xây dựng căn cứ địa cách mạng Tây Nguyên ngày càng lớn mạnh, thời kỳ này Trung ương bắt đầu chi viện cán bộ quân sự và chính trị cho các tỉnh. Tháng 9 năm 1959 đoàn cán bộ đầu tiên từ miền Bắc vào đã đến Đắc Lắc, đoàn gồm phần lớn cán bộ của Trung đoàn 120 (tập kết ra Bắc) do đồng chí Vũ Dũng phụ trách; tháng 10, đoàn thứ hai gồm 25 cán bộ do đồng chí Phùng Đình Ấm (Ba Cung) chỉ huy cũng đã đến tỉnh an toàn.

Cả hai đoàn được trên giao nhiệm vụ cùng tỉnh Đắc Lắc xây dựng đường hành lang chiến lược xuyên vào Nam Bộ. Cùng thời gian này, tỉnh Kon Tum cũng được chi viện một đoàn cán bộ quân sự gồm 24 đồng chí, do đồng chí Nguyễn Viên làm trưởng đoàn (đến làng Nước Kua, H29 ngày 10.9.1959); tỉnh Gia Lai được chi viện 25 cán bộ. Có đội ngũ cán bộ tại chỗ giàu kinh nghiệm hoạt động thực tiễn, am hiểu tình hình địa phương, nguồn cán bộ cấp trên chi viện có trình độ quân sự, chính trị, kỹ Thuật vững vàng cơ bản và các chiến sĩ được chọn lọc từ các đội tự vệ mật, đội công tác, du kích tập trung... nên cán đơn vị vũ trang tập trung thuộc các tỉnh đội lần lượt ra đời. Ngày 1 tháng 10 năm 1959 tại làng Nước Chè đơn vị vũ trang đầu tiên của tỉnh Kon Tum gồm 64 cán bộ, chiến sĩ, do đồng chí Huỳnh Văn Mẫn chỉ huy chính thức ra đời; đầu năm 1960 tỉnh xây dựng được đại đội 130, một trung đội đặc công, một trung đội trinh sát. Tại Gia Lai, tháng, 10 năm 1959 lập được 3 trung đội (10, 20, 30), đến đầu năm 1960 phát triển thêm 3 trung đội khác (40, 50, 60). Ở Đắc Lắc trung đội vũ trang đầu tiên gồm 30 cán bộ, chiến sĩ làm lễ ra mắt tháng 2 năm 1960 tại khu rừng Chư DJú (Dliê Ya) do đồng chí Cao Văn Khá chuyện) làm chỉ huy trưởng, đồng chí Vũ Hùng - chỉ huy phó và đồng chí Phan Đình Lương (Vân) - chính trị viên, đồng chí Mlô Nguynh là chính trị viên phó. Các huyện M'Đrak, Cheo Reo, Buôn Hồ cũng lập được từ 1 đến 2 tiểu đội vũ trang.

   Có Nghị quyết 15 soi đường, lực lượng vũ trang hỗ trợ, chuẩn bị chu đáo, lại được khởi nghĩa Trà Bồng (8.1959 ở Quảng Ngãi), Vĩnh Thạnh (Bình Định), Phước Sơn (Quảng Nam) và đặc biệt là phong trào Đồng khởi của nhân dân Nam Bộ thôi thúc cổ vũ; năm 1960 quân và dân Tây Nguyên đồng loạt nổi dậy tiến công địch, giành quyền làm chủ, mở đầu một cao trào cách mạng mới. Đầu tiên là cuộc nổi dậy của nhân dân làng Tà Bok huyện Đắc Glei tỉnh Kon Tum. Bức xúc trước sự o ép kìm kẹp của địch và đã chuẩn bị sẵn, trưa ngày 7 tháng 9 năm 1960 nhân dân mưu trí lừa địch vào nhà uống rượu, rồi bất ngờ trước vũ khí diệt 3 tên, phóng thích một tên. Khi tên Tụi rút lựu đạn thả ra hòng tẩu thóat đã bị chị Y Ngã lao vào ôm chặt để cho chồng diệt tên này. Sau khi diệt xong tốp địch, cả làng nhanh chóng rút vào rừng chuyển lên thế bất hợp pháp đánh địch.

   Tháng 10 năm 1960, thực hiện chủ trương của Liên khu ủy 5, được một lực lượng vũ trang của trên phối hợp, quân và dân Tây Nguyên đồng loạt tiến công và nổi dậy mạnh mẽ, giáng một đòn thôi động vào hệ thống ngụy quân, ngụy quyền ở cao nguyên. Tại Kon Tum, trong đêm 20 rạng ngày 21 tháng 10, ta hạ liền 6 đồn: Đắc Tả, Đắc Rú, Đắc Glei, Đắc Beng, Măng Đen, Măng Bút.; diệt và bắt 300 tên địch thu 50 súng. Đây là lần đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, bộ đội chủ lực Quân khu 5 tác chiến ở Tây Nguyên. Phối hợp chặt chẽ với đòn tiến công của bộ đội, các đội công tác hỗ trợ nhân dân phá banh các khu đồn dọc đường 14, đường 24, xung quanh Đắc Pét, Đắc Sút, quận lỵ Đắc Tô và Tu Mơ Rông, đưa 250 làng với 40.000 dân chuyển lên vũ trang bố phòng đánh địch, lập ra ủy ban tự quản. Một vùng rộng lớn ở bắc Tây Nguyên nối liền từ H29, H30, H40; H67, H80 do ta hoàn toàn làm chủ. Đây là nơi sau này phát triển thành căn cứ hậu phương chiến lược trực tiếp của lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

   Cùng với Kon Tum, Đồng khởi ở Gia Lai mở đầu bằng trận tiến công tiêu diệt đồn Kanát (huyện 2) đêm 23 tháng 10, loại khỏi vùng chiến đấu 100 tên địch, thu 80 súng và nhiều đạn dược. Hỏang sợ, địch bỏ đồn Ktoh và Đắc Bớt. Tiếp đó ta tiêu diệt đồn Plei Bông. Những đòn tiến công quân sự đã hỗ trợ nhân dân các huyện 1, 2, 6, 7 vùng lên gianh quyền làm chủ rộng khắp; đồng bào Kinh, Thượng nô nức tham gia, nhiều hình thức đấu tranh linh hoạt sáng tạo xuất hiện. Ngày 25 tháng 10 năm 1960, phụ nữ làng Sung Iao (huyện 45) do chị Rơ Chom Ban chỉ huy đã dũng cảm dùng thanh củi đánh một toán lính bảo an vào làng, diệt 6 tên, bắt 1 tên, thu 8 súng. Sau đó làng Sung Iao và các làng xung quanh chuyển sang bố phòng vừa đấu tranh vũ trang, vừa tạo thế hợp pháp. Cùng thời gian này, 3.000 dân ở đông Cheo Reo tổ chức biểu tình tuần hành 2 ngày liền, bao vây đồn Ơi Nu làm quân địch hỏang sợ, phải dùng súng cối bắn chặn quanh đồn, ngăn quần chúng tràn vào.

   Ở Đắc Lắc, sau khi trừng trị những tên ác ôn, hỗ trợ nhân dân đấu tranh, ngày 26 tháng 10, trung đội vũ trang tỉnh và đội công tác phục kích ở quả đồi buôn Hoang diệt một trung đội bảo an thu nhiều vũ khí, sau đó bức rút đồn Phú Đức, tập kích hỏa lực vào quận lỵ Buôn Hồ. Được sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang, nhân dân Đắc Lắc nổi dậy mạnh mẽ, làm chủ một vùng nông thôn rộng lớn từ giáp Gia Lai đến bắc đường 21 và từ đông đường 14 đến giáp vùng giải phóng tỉnh Phú Yên, với trên 30 xã hơn 300 buôn và 30.000 dân. Địch chỉ còn chiếm đóng quận M'Đrắk, Buôn Hồ...

   Sau gần bảy năm sống trong cảnh cá chậu chim lồng, với bao tủi nhục đắng cay mất mát đau thương, hờn căm dồn nén, nay nhân dân Tây Nguyên vùng lên với một sức mạnh quật khởi, ào ạt như dòng thác lũ cuốn phăng một mảng lớn hệ thống tổ chức ngụy quân, ngụy quyền ở vùng nông thôn mà địch đã dày công xây dựng trong nhiều năm trời, cùng nhân dân miền Nam đánh bại cuộc chiến tranh đơn phương của Mỹ, Diệm. Trong không khí tiến công và nổi dậy sôi động của quân và dân Tây Nguyên, tháng 11 năm 1960 tại xã Đắc Leh huyện 1 tỉnh Gia Lai, đông đủ đại biểu các dân tộc ít người Tây Nguyên tiến hành Đại hội thành lập Mặt trận dân tộc tự trị Tây Nguyên, bầu cụ Ybih Aléo làm chủ tịch, thông qua chương trình hành động, ra lời kêu gọi các dân tộc đoàn kết chống Mỹ, Diệm, giành độc lập tự do, thống nhất Tổ quốc; đồng thời cử một đoàn đại biểu đi dự Đại hội thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (20.12.1960).




-----------------------------------------------------------------
1. Theo sách "Kon Tum 30 năm chiến đấu kiên cường bất khuất (1945-1975)" do Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Kon Tum xuất bản năm 1993,ở trang 99 có viết: đồng chí Nguyễn Trọng Đàm (Lý) là tỉnh đội trưởng, đồng chí Nguyễn Bá Trình là chính trị viên đầu tiên của Ban quân sự tỉnh Kon Tum.
2. Giữa năm 1960, khi tách tỉnh Quảng Đức (mật danh B4), tỉnh Đắc Lắc chia làm 3 vùng: vùng bắc đường 2l (B3), vùng nam đường 21 (B5) và vùng thị xã Buôn Ma Thuột (B6).


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 04:55:25 pm
*

   Sau Đồng khởi, lực lương vũ trang cách mạng Tây Nguyên phát triển mạnh cả về quy mô, số lượng, chất lượng. Các tỉnh đội (Ban quân sự tỉnh) được củng cố kiện toàn; mỗi tỉnh đội xây dựng được từ 2 đến 3 đại đội bộ binh, trong đó có 1 đại đội đặc công, 1 đại đội người dân tộc thiểu số tây Nguyên và các trung đội trinh sát, công binh, thông tin, một số phân đội vận tải, hậu cần. Hầu hết các huyện đều xây dựng trung đội tập trung và một số đội vũ trang công tác. Do đường hành lang chiến lược phía tây từng bước được khai thông về Nam Bộ, nên Tây Nguyên được chi viện một số khung đại đội bộ binh hoàn chỉnh. Các tuyến vận chuyển từ tây sang đông được mở nối các căn cứ, để cơ động lực lương và chuyển vũ khí vật chất... do Ban giao bưu phụ trách.

   Tháng 5 năm 1961, Trung ương Đảng quyết định tổ chức lại chiến trường miền Trung thành Khu 5 và Khu 6, thành lập các quân khu tương ứng. Khu 5 bao gồm 9 tỉnh: Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Binh Định, Phú Yên, Kon Tum, Gia Lai; đồng chí Võ Chí Công - Ủy viên Trung ương Đảng làm Bí thư Khu ủy. Tiếp đó ngày 27 tháng 7 măm 1961, Bộ tư lệnh Quân khu 5 được thành lập do đồng chí Nguyễn Đôn - Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng làm tư lệnh kiêm chinh ủy. Về Đảng, Khu ủy 5 do Ban Chấp hành Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo; về quân sự, Quân  khu 5 do Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp chỉ huy. Khu 6 bao gồm 7 tỉnh: Khánh Hòa, Đắc Lắc, Ninh Thuận, Bình Thuận, Quảng Đức, Tuyên Đức, Lâm Đồng, đồng chí Trần Lê - Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng làm Bí thư Khu ủy. Bộ tư lệnh Quân khu 6 do đồng chí Y Blốc làm quyền Tư lệnh, sau đó là đồng chí Nguyễn Minh Châu, đồng chí Nguyễn Mô (Tư Khiêm) làm chính ủy. Về Đảng, Khu ủy 6 chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương Cục miền Nam; về quân sự, Quân khu 6 do Bộ tư lệnh Miền trực tiếp chỉ đạo. Đến tháng 3 năm 1963, Đắc Lắc, Khánh Hòa được tách ra, sáp nhập vào Quân khu 5.

   Để xây dựng Tây Nguyên thành căn cứ lâu dài và cho toàn miền. Nam, đáp ứng yêu cầu mắt địa bàn ''trung tâm cơ động trên toàn chiến trường'' Khu 5, cả miền Nam và nam Đông Dương; nhằm tiến hành thắng lợi cuộc chiến tranh cách mạng đánh thắng ''chiến tranh đặc biệt'' của đế quốc Mỹ trên địa bàn, Bộ Tổng tư lệnh và Bộ tư lệnh Quân khu 5 từng bước đưa các đơn vị bộ đội chủ lực đến chiến trường Tây Nguyên.

      Tháng 5 năm 1961, Tiểu đoàn 200 pháo binh - đơn vị chủ lực đầu tiên của miền Bắc chi viện cho Tây Nguyên đã đến Kon Tum. Tiểu đoàn có 3 đại đội1 với 148 cán bộ, chiến sĩ hầu hết quê ở miền Nam tập kết ra Bắc, trong đó có 4 chiến sĩ gái người Ê Đê2, được chọn từ hai tiểu đoàn pháo của Sư đoàn 305 và Sư đoàn 324, trang bị 2 sơn pháo 75mm (có 208 quả đạn), cối 81mm và 60mm cùng một số tiểu liên. Đại úy Trần Trọng Sơn làm tiểu đoàn trưởng, đại úy Hồ Thắc làm chính trị viên. Khi vào đến Tây Nguyên, tiểu đoàn được Khu ủy Khu 5 giao nhiệm vụ: phân tán xuống các địa phương thuộc huyện 40 (Kon Tum), vừa đánh địch, bảo vệ vùng giải phóng, vừa xây dựng cơ sở, củng cố địa bàn, làm chỗ đứng chân cho lực lượng lớn của ta sau này; đồng thời tổ chức một bộ phận xoi đường trục bắc - nam dọc biên giới phía Tây và tìm tuyến đường từ Kon Tum xuống Khu 5. Giữa năm 1961, Tây Nguyên được chi viện Tiểu đoàn 407 đặc công và tăng cường Tiểu đoàn 90 (thiếu một đại đội Tiểu đoàn 30, Tiểu đoàn 50 của Quân khu 5... khẩn trương bước vào đợt hoạt động vũ trang mạnh trên phạm vi toàn khu, nhằm củng cố mở rộng căn cứ rừng núi, hỗ trợ quần chúng nổi dậy phá ''ấp chiến lược'' - cái xương sống của chiến lược ''chiến tranh đặc biệt'', giành quyền làm chủ.

 Mở đầu đợt hoạt động, đêm 30 rạng sáng 31 tháng 8 năm 1961, Tiểu đoàn 90, Tiểu đoàn 407 đặc công, một phân đội học viên Trường Quân chính Quân khu 5 và Đại đội 207 Tỉnh đội Kon Tum bất ngờ nổ súng tiến công tiêu diệt quận lỵ Đắc Hà (địch mới lập gọi là Tu Mơ Rông), xóa sổ một đại đội bảo an, một trung đội biệt kích cùng bọn dân vệ, cảnh sát, chọc thủng một mắt xích quan trọng trên phòng tuyến cứ điểm bắc Tây Nguyên3 của địch.

Bị đòn bất ngờ, ngày 2 tháng 9 hai tiểu đoàn của sư đoàn 22 ngụy từ Đắc Tô hùng hổ tiến về phía Đắc Hà định chiếm lại quận lỵ và tiêu diệt đối phương. Nhưng chưa kịp tới Đắc Hà quân cứu viện địch đã bị lọt vào trận địa phục kích bày sẵn của ta. Tuy lực lượng ta chỉ có hơn ba đại đội, nhưng khéo tận dụng lợi thế địa hình, tạo thế trận chia cắt và đánh từ nhiều hướng; bộ đội dũng cảm, liên tục tiến công trong suốt một ngày, diệt gần hết tiểu đoàn địch đi đầu và đánh tan tiểu đoàn đi sau, bắt hơn 100 tù binh, thu hàng trăm súng các loại. Phát huy thắng lợi, quân ta tiến công tiêu diệt đồn Kho Knar (huyện 67), cứ điểm Măng Đen, bao vây Măng Búk buộc địch phải dùng máy bay thả dù tiếp tế cho đồng bọn ở đây. Phối hợp chặt chẽ với đòn tiến công quân sự, nhân dân 28 làng ở bắc Kon Tum đồng loạt nổi dậy phá tan bộ máy kìm kẹp của địch, giành quyền làm chủ. Chỉ trong hơn mười ngày tiến công và nổi dậy, quân và dân bắc Tây Nguyên đã loại khỏi vùng chiến đấu 640 tên địch; trong đó có tên quận trưởng Đắc Hà Nguyễn Hồng Ánh và các tên ác ôn phản động Prô, Plang, Niết, Kem phải đền tội. Hoang mang lo sợ, nhiều lính ngụy ở Kon Bi, Kon Kênh, bọn dân vệ mới được đôn lên bảo an ở Kon Tum bỏ ngũ. Các hoạt động vũ trang, chính trị, binh vận của ta ở bắc Tây Nguyên và miền Tây các tỉnh Quản Nam, Quảng Ngãi, Bình Định không chỉ làm bọn ngụy quân ngụy quyền ở địa phương khiếp sợ, mà còn làm chấn động đến bọn chóp bu địch ở Sài Gòn. Cuối tháng 9 năm 1961, Bộ tổng tham mưu ngụy vội vã đưa một lực lượng lính dù và lính thủy đánh bộ thuộc lực lượng dự bị chiến lược lên Tây Nguyên cứu nguy cho đồng bọn nhưng không mấy hiệu quả. Địch lại phải rút bỏ thêm một số cứ điểm dọc trục đường số 5 từ Măng Đen đến Giá Vụt.

   Phối hợp chặt chẽ với đón tiến công chính ở bắc Tây Nguyên, Tiểu đoàn 30 và Tiểu đoàn 50 của Quân khu 5 cùng quân dân Gia Lai tập kích buộc địch phải rút bỏ cứ điểm Kanát, tập kích quân địch ở dinh điền Chầu Bầu, tiểu khu hành chính Chợ Đồn, đánh giao thông, chống càn quét, hỗ trợ quần chúng nổi dậy. Cùng thời gian này, một lực lượng của ta đột nhập thị trấn Củng Sơn giải thóat các nhân sĩ của phong trào đấu tranh cho hòa bình bị địch đưa đi an trí và giải thóat luật sư Nguyễn Hữu Thọ bị địch quản chế ở Tuy Hòa. Trên hướng nam Tây Nguyên, dưới sự chỉ huy của Bộ tư lệnh Quân khu 6, lực lượng vũ trang tỉnh Đắc Lắc4 cũng tiến công rộng khắp: tập kích hỏa lực rồi tiến công đồn buôn Mghăn (19.9), Ea Rớt; huy động cả voi đánh địch ở danh điền Quảng Cơ, Khuê Ngọc Điền, buôn Yang Bông; diệt các chốt ở Chư M'gar, Quảng Nhiêu, Phú Học... hỗ trợ quần chúng nổi dậy, giành quyền làm chủ một vùng lớn ở phía bắc thị xã Buôn Ma Thuột.

   Đòn tiến công mạnh mẽ, rộng khắp trong tháng 9 năm 1961 đã đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của quân và dân Tây Nguyên. Lực lượng vũ trang cách mạng trưởng thành lớn mạnh thêm một bước mới và ba thứ quân hoàn chỉnh: bộ đội chủ lực, độ đội địa phương tỉnh huyện và du kích tự vệ làng xã. Đặc biệt thời điểm này đánh dấu sự xuất hiện và các hoạt động tác chiến đầu tiên của những đơn vị bộ đội chủ lực ở Tây Nguyên. Tuy số lượng ban đầu chỉ có mấy tiểu đoàn, trong đó một phần ba là lực lượng tăng cường cơ động, lại do hai quân khu (5 và 6) chỉ đạo, chỉ huy...nhưng đã thể hiện vai trò của  đội quân ''đàn anh''.

Ngay từ trận đầu ra quân đã đánh những đòn tập trung tiêu diệt, làm thôi động chiến trường, từng bước giữ vai trò nòng cốt trong đấu tranh quân sự ở địa bàn.




-----------------------------------------------------------------
1. Khi thành lập (22.12.1960) Tiểu đoàn 200 pháo binh có 4 đại đội. Hành quân đến tây Thừa Thiên để lại một đại đội cho địa phương.
2. Bốn chiến sĩ gái: Y Nay, Y Hồng, Y Ngoan, Y Na sau này hy sinh trong chiến đấu.
3. Phòng tuyến gồm các cứ điểm: Đắc Hà, Măng Đen, Măng Buk(Kon Tum) và Giá Vụt (Quảng Ngãi).
4. Lực lượng vũ trang tỉnh Đắc Lắc lục này có 6 đại đội và một số trung đội, các huyện có trung đội.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 05:00:45 pm
*

   Năm 1962 Mỹ, Diệm đẩy mạnh chiến lược "chiến tranh đặc biệt'' ở miền Nam Việt Nam. Tại Tây Nguyên, địch tập trung các sư đoàn 22, 23, lực lượng bảo an, dân vệ mở hàng trăm cuộc càn quét, có cuộc càn quy mô sư đoàn kéo dài nhiều tháng vào các khu căn cứ của ta; tập trung chủ yếu ở hướng bắc Kon Tum, Kon Hà Nừng,  Đắc Bớt (Gia Lai) và nam vùng Lắc (Đắc Lắc). Địch không từ một thủ đoạn tàn bạo nào: ném bom, bắn pháo bừa bãi, rải chất độc hóa học, triệt hạ nhà cửa, hoa màu, cướp phá tài sản, tàn sát dã man hàng nghìn thường dân. Tại khu dồn Plei Krông - Rơ Lung (H67, Kon Tum), chúng trộn thuốc độc vào gạo phát cho dân ăn, gây nên cái chết thảm thương cho 80 đồng bào dân tộc thiểu số. Đến cuối năm 1962 địch đã dồn được 414 làng với 64.350 người ở hai tỉnh Kon Tum và Gia Lai vào các ấp chiến lược. Ở Đắc Lắc, sau các cuộc càn quét khốc liệt ''An Lạc'', ''Dân Thắng'', ''An Dân'' của địch, đến đầu năm 1963 vùng căn cứ của ta chỉ còn 12 xã với hơn 3.000 dân.

   Trước cuộc tiến công điên cuồng của Mỹ, Diệm, phong trào cách mạng ở Tây Nguyên gặp rất nhiều khó khăn. Nhưng quân và dân Tây Nguyên nêu cao truyền thống bất khuất, kiên cường, mưu trí sáng tạo, liên tục tiến công địch trên cả ba mặt trận: chính trị, quân sự và binh vận. Trong năm 1962 có trên 3.000 cuộc đấu tranh chính trị với hàng chục vạn lượt quần chúng Kinh - Thượng xuống đường. Lực lượng vũ trang ba thứ quân vẫn giữ vững và ngày càng phát triển, tích cực đánh địch bảo vệ căn cứ, mở rộng vùng giải phóng và hỗ trợ đấu tranh chính trị, binh vận. Mặc dù lực lượng còn chênh lệch lớn so với địch, nhưng các đơn vị bộ đội chủ lực được quân dân địa phương phối hợp, tích cực đánh địch càn quét, đánh giao thông, tiến công đồn bốt cứ điểm gây cho chúng nhiều thiệt hại. Đặc biệt, bộ đội địa phương Kon Tum đã bắn rơi chiếc trực thăng đầu tiên, diệt 4 tên Mỹ bằng súng trung liên, mở ra cách đánh máy bay địch bằng súng bộ binh.

   Hưởng ứng phong trào "Thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công'' do Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam phát động, thực hiện mệnh lệnh chiến đấu của Bộ tư lệnh Quân khu 5, các đơn vị bộ đội chủ lực ở Tây Nguyên sát cánh cùng quân dân địa phương tiến công địch rộng khắp. Mở đầu đợt hoạt động ''diệt giặc,  giành dân'', ngày 2 tháng 1 năm 1963,. Tiểu đoàn 407 đặc công được đại đội đặc công tỉnh Gia Lai phối hợp, bất  ngờ tiến công trung tâm huấn luyện biệt kích Plei Mơ Rông. Sau ba giờ chiến đấu, ta xóa sổ hoàn toàn cứ điểm này, 250 tên địch bị chết và bị thương (có 12 cố vấn Mỹ), 140 tên bị bắt lám tù binh, gây chấn động mạnh cả vùng Tây bắc thị xã Pleiku, tạo điều kiện thuận lợi cho quân dân huyện 4 nổi dậy phá ấp chiến lược, giành quyền làm chủ. Trên hướng bắc, Tiểu đoàn 200 pháo binh được củng cố đã bước vào chiến đấu tập trung, dùng cối 81mm bắn phá cứ điểm Đắc Pét, chi viện cho lực lượng vũ trang địa phương đánh địch ở Đắc Tang, Đắc Rú, phục kích trên đường 14, phá vỡ hệ thống ấp chiến lược vòng ngoài của cứ điểm Đắc Pét. Tiếp đó, tháng 5 năm 1963, Tiểu đoàn 407 đặc công, một bộ phận của Tiểu đoàn 200 pháo binh cùng lực lương vũ trang Kon Tum đánh bại 57 cuộc càn lớn của trung đoàn 42 ngụy vào H40, tập kích sở chỉ huy trung Đoàn 41 ngụy ở bắc Kon Plong, phục kích giao thông trên đường số 5 đoạn Măng Đen - Cam Rẫy diệt hàng trăm tên địch, bắn rơi nhiều máy bay phá hủy nhiều xe quân sự. Hoạt động của ta ở Kon Tum đã góp phần phá vỡ kế hoạch mở đường cho cuộc hành quân lớn của ba sư đoàn ngụy, do Nguyễn Khánh - tư lệnh vùng 2 chiến Thuật chỉ huy, đánh vào khu căn cứ Măng Xin (vùng tiếp giáp ba tỉnh Kon Tum, Quảng Nam, Quảng Ngãi).

   Từ tháng 11 năm 1963, tranh thủ thời cơ thuận lợi khi Mỹ thay ngựa giữa dòng (Diệm, Nhu bị giết, Dương Văn Minh lên) nội bộ địch cắn xé lẫn nhau, tình hình chính trị rối ren, binh lính tề ngụy hoang mang dao động; quân và dân Tây Nguyên nổi dậy mạnh mẽ, phá vỡ từng mảng ''ấp chiến lược'' ở Đắc Tô, Đắc Glei (Kon Tum), các huyện 3, 6 và Khu 8 (Gia Lai), vùng B5, B3 (Đắc Lắc)1. Trong phong trào tiến công và nổi dậy cuối năm 1963, lực lượng chủ lực của Quân khu 5 hoạt động ở Tây Nguyên có 3 tiểu đoàn: 407 đặc công, 200 pháo binh, 303 súng máy, phối hợp chặt chẽ với quân dân địa phương, tích cực đánh địch. Nổi bật là trận tập kích hỏa lực rồi bao vây cứ điểm Đắc Pét diệt 96 tên địch, giải phóng hai ấp chiến lược với gần 1.000 dân, sau đó bức hàng một số đồn bốt khác. Tiếp đó cuối tháng 1 năm 1964, các đơn vị chủ lực và địa phương đồng loạt tiến công tiêu diệt vị trí Kon Bành. làm chủ Trí Đạo - Võ Định. Đặc biệt, ngày 1 tháng 2 năm 1964, một trung đội đặc công của Tiểu đoàn 407 cùng cơ sở nội thị tiến công khu cố vấn Mỹ trong thị xã Kon Tum (địch gọi là phái bộ MAAG) loại khỏi vòng chiến đấu hơn 100 tên địch (chủ yếu là Mỹ). Đây là trận tiến công quân Mỹ đầu tiên của bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương ở Tây Nguyên. Trận đánh đã làm cho địch hỏang sợ, phải ra  Kon Tum và vùng phụ cận. Chính hãng AP (Mỹ) đã thú nhận: ''Đây là một thất bại chưa từng có của Mỹ ở cao Nguyên Trung Bộ''.




------------------------------------------------------------------
1. Từ tháng 10 năm 1963,  hai tỉnh Đắc Lắc, Khánh Hòa được chuyển về Khu 5.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 08:32:05 pm
3. Mặt trận Tây Nguyên ra đời.

   Sau ba năm thực thi kế hoạch Stalây - Taylo không mấy kết quả, năm 1964 đế quốc Mỹ tiếp tục đẩy ''chiến tranh đặc biệt'' ở miền Nam Việt Nam đến mức cao, mở  đầu thời kỳ quá độ từ chiến lược ''chiến tranh đặc biệt''  sang chiến lược ''chiến tranh cục bộ''. Thực hiện tham vọng ''bình định'' miền Nam trong vòng 2 năm (1964-1965) và chống phá phong trào cách mạng, Mỹ thành lập ban chỉ huy liên quân Việt - Mỹ để nắm trọn quyền chỉ huy quân ngụy Sài Gòn; đồng thời ra sức tăng quân và vũ khí phương tiện chiến tranh hiện đại, đưa lực lượng cố vấn, yểm trợ Mỹ lên 26.200 tên, lực lượng ngụy quân lên 561.600 tên với 989 máy bay các loại và 732 xe cơ giới. Cùng với việc đẩy mạnh các hoạt động quân sự ''bình định'' ở miền Nam, Mỹ tiếp tục phá hoại miền Bắc, từng bước thực hiện ''chiến tranh đặc biệt'' ở Lào và can thiệp vào Cam-pu-chia.

   Tại Tây Nguyên, địch có 25.100 tên gồm 1.600 cố vấn và lực lượng yểm trợ Mỹ, 10.500 quân chủ lực ngụy và 13.000 quân địa phương; vũ khí trang bị lớn có 20 khẩu đại bác 155mm, 62 khẩu đại bác 105mm, 65 súng cối l06,7mm, 54 xe thiết giáp và 16 máy bay các loại. Bộ tư lệnh quân khu 2 quân đoàn 2 ngụy và một số đơn vị pháo binh, thiết giáp... Ở khu vực thị xã PleiKu, sư đoàn 22 ở tỉnh Kon Tum, sư đoàn 23 ở tỉnh Đắc Lắc. Ngoài ra, chúng còn bố trí các trại lính đặc biệt ở dọc biên giới phía tây, mỗi trại có từ 2 đến 3 đại đội dân vệ và một toán lính biệt kích.

   Trước tình hình Mỹ tiếp tục leo thang và mở rộng chiến tranh với quy mô ngày càng lớn, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 9, chỉ rõ: ''Chúng ta cần phải và có khả năng kiềm chế và thắng địch trong loại ''chiến tranh đặc biệt''... tích cực chuẩn bị để sẵn sàng ứng phó nếu đế quốc Mỹ mạo hiểm mở rộng cuộc chiến tranh ở miền Nam thành ''chiến tranh cục bộ''. Để thực hiện yêu cầu đó ''điều quan trọng nhất, quyết định nhất trong bất cứ trường hợp nào vẫn phải nỗ lực tăng cường lực lượng của ta về mọi mặt, đặc biệt là lực lượng quân sự''. Vì đấu tranh quân sự đóng vai trò quyết định trực tiếp ''trong việc đánh tan lực lượng quân sự của địch, chỗ dựa của nền thống trị của chúng, làm cho cách mạng thắng lợi''1.

   Thực hiện Nghị quyết 9 (khóa III) của Trung ương Đảng hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị chính trị đặc biệt (27.3.1964): ''Mỗi người phải làm việc bằng hai để đền đáp cho đồng bào miền  Nam ruột thịt'', quân và dân cả nước hăng hái thi đua trên các mặt trận sản xuất' công tác, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu. Miền Bắc xã hội chủ nghĩa sau 3 năm (1961-1963) thực hiện kế hoạch 5 năm lấn thứ nhất, đã có những biến đổi căn bản: thiết lập và củng cố quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa, kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế phát triển mạnh và đạt những thành tựu to lớn, ''đã tiến những bước dài chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc. Đất nước, xã hội và còn người đều đổi mới''2. Đây là cơ sở vững chắc, là nền tảng để nhân dân cả nước thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa và tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam tiến tới thống nhất Tổ quốc. Đặc biệt, việc xây dựng lực lượng vũ trang mạnh, có đầy đủ các quân binh chủng, chính quy hóa và tương đối hiện đại, vững vàng về chính trị, có sức chiến đấu cao không những đủ sức hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ miền Bắc mà còn kịp thời chi viện ngày càng lớn, đáp ứng yêu cầu của các chiến trường.

    Thi đua với hậu phương lớn miền Bắc, quân và dân ta trên tiền tuyến lớn miền Nam đẩy mạnh tiến công địch trên các mặt trận quân sự, chính trị, binh vận ở cả ba vùng chiến lược: rừng núi, đồng bằng, đô thị, giành những thắng lợi quan trọng2. Ta đang ở thế thắng, thế chủ động; địch đang lâm vào thế thua, thế bị động, chiến  lược ''chiến tranh đặc biệt'' đang bị phá sản, chính quyền  ngụy Sài Gòn đang làm vào cuộc khủng hỏang trầm trọng, toàn diện. Từ thực tiễn chiến đấu và xây dựng, lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam phát triển vượt bậc cả về số lượng, chất lượng, trang bị và tác chiến hiệp đồng giữa ba thứ quân (chủ lực, địa phương, du kích), hai lực lượng (chính trị, quân sự). Bộ tư lệnh Miền được thành lập (10.1963); nhiều căn cứ địa được xây dựng và được xây dựng, củng cố và từng bước hoàn chỉnh; các qân khu có bước phát triển mới cả về lực lượng, tổ chức,  trang bị, cách đánh. Để đáp ứng yêu cầu của chiến tranh  cách mạng, chuyển mạnh từ chiến tranh du kích sang tác chiến chính quy tập trung cơ động, nhiều đơn vị chủ lực  được gấp rút xây dựng trên cơ sở lực lượng vũ trang địa phương phát triển lên và những đơn vị chính quy được xây dựng huấn luyện ở miền Bắc lần lượt vượt Trường Sơn chi viện cho các chiến trường.




---------------------------------------------------------------------
1. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975. Những sự kiện quân sự. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, H. 1988, tr.99.
2. Hồ Chí Minh. Toàn tập, tập 11. Nxb ST, H.19..., tr. 224.2. Chỉ tính riêng năm 1963, ta loại khỏi vùng chiến đấu 7,8 vạn tên địch, bắn rơi và phá hủy 160 máy bay, hàng trăm xe quân sự, 34 đoàn tàu, bắn chìm bắn cháy 236 tàu thuyền chiến đấu; thu 1,1 vạn vũ khí; phá 2.895 trong tổng số 6.164 ấp chiến lược, giải phóng gần 9 triệu dân.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 08:35:34 pm
*

   Quán triệt Nghị quyết của Trung ương Đảng, chỉ thị của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, hiểu rõ vị trí chiến lược của Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ; đầu năm 1964 Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 5 tổ chức bộ phận tiền phương của Quân khu tại Tây Nguyên, do đồng chí Hà Vi Tùng làm Tư lệnh và đồng chí Dương Liên làm Chính ủy. Tháng năm 1964, bộ phận tiền phương vừa đến Tây Nguyên đã khẩn trương bắt tay vào tổ chức đợt hoạt động hè, nhằm giam chân một lực lượng cơ động của quân khu 2 - quân đoàn 2 ngụy, phối hợp chặt chẽ với hướng hoạt động chủ yếu của Quân khu ở đồng bằng Khu 5.

   Dưới sự chỉ huy trực tiếp của tiền phương Quân khu 5, lực lượng vũ trang Tây Nguyên vừa tích cực đánh địch vừa xây dựng củng cố mọi mặt. Đến giữa năm 1964, lực lượng chủ lực ở Tây Nguyên có 3 tiểu đoàn: 407 đặc  công, 200 pháo binh, 303 súng máy; lực lượng địa phương được xây dựng ở các cấp và có bước trưởng thành. Các tỉnh đội Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc đều có chỉ huy - cơ quan, các tiểu đoàn, đại đội, trung đội trực thuộc, phân đội bảo đảm phục vụ. Các đại đội cũng có chỉ huy và đại đội, trung đội thuộc. Ở làng xã có du kích,
tự vệ. Bên cạnh xây dựng củng cố lực lượng vũ trang, các căn cứ chiến đấu và cơ sở hậu cần được tổ chức rộng khắp. Nhiều căn cứ có dung lượng lớn, có đủ điều kiện cho các đơn vị chủ lực đến đứng chân và cơ động tác chiến. Cùng thời gian này, tuyến đường hành lang chiến lược phía tây (Tuyến 559 - Đường Hồ Chí Minh) đã mở qua Bạc, Chà Vằn (Hạ Lào) và đang từng bước khai thông qua Tây Nguyên trở thành tuyến cơ động vận chuyển chủ yếu của ta, chi viện sức người, sức của từ  miền Bắc cho  các chiến trường phía Nam.

   Những yếu tố khách quan về tự nhiên, xã hội, tình hình địch - ta cùng sự nỗ lực của Khu ủy, Quân khu 5 và cấp ủy Đảng, quân dân địa phương đã làm cho Tây Nguyên hội tụ đầy đủ những điều kiện cần thiết để phát triển chiến tranh chính quy, xây dựng thành chiến trường đánh tiêu diệt lớn của bộ đội chủ lực, thành căn cứ địa vững chắc của cách mạng miền Nam và ba nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia.

   Trước yêu cầu cấp thiết, ngày 1 tháng 5 năm 1964 Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định thành lập Mặt trận Tây Nguyên, lấy phiên hiệu là Chiến trường B31. Mặt trận Tây Nguyên đặt dưới sự lãnh đạo và chỉ huy trực tiếp của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh; đồng thời chịu sự lãnh đạo của Khu ủy 5 và quan hệ mật thiết, hiệp đồng tác chiến chặt chẽ với Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 5 . Nhiệm vụ chủ yếu của Mặt trận Tây Nguyên được Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh xác định là: ''Xây dựa Tây Nguyên thành chiến trường đánh tiêu diệt lớn, có đội quân chủ lực mạnh làm nòng cốt thúc đẩy ba thứ quân phát triển; tiêu diệt, tiêu hao nhiều và rộng rãi sinh lực, phương tiện chiến tranh của địch, thu hút và giam chân lực lượng chủ lực cơ động Mỹ, ngụy, tạo điều kiện cho đồng bằng và thành phố nổi dậy; phối hợp chặt chẽ với Trị - Thiên, Đông Nam Bộ và các chiến trường khác tiến công địch trong những thời điểm chiến lược. Đồng thời xây dựng hậu phương trực tiếp của chiến trường thành căn cứ địa vững chắc của cách mạng miền Nam và Đông Dương; xây dựng, bảo vệ hành lang chiến lược nối liền hậu phương với tiền tuyến lớn, phá thế chia cắt của địch, tiến lên chia cắt địch''.

   Phạm vi chủ yếu của Mặt trận Tây Nguyên gồm ba tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc. Bộ tư lệnh gồm: đại tá Nguyễn Chánh (nguyên Tư lệnh phó Quân khu 5) làm Tư lệnh và đại tá Đoàn Khuê (nguyên Phó chính ủy Quân khu 5) làm Chính ủy. Ba cơ quan của Mặt trận là Phòng Tham mưu, Phòng Chính trị, Phòng Hậu cần hình thành và từng bước được kiện toàn trên cơ sở cơ quan của bộ phận tiền phương Quân khu 5 và Bộ Quốc phòng chi viện. Các đơn vị trực thuộc Mặt trận gồm có: Tiểu đoàn 407 đặc công, "Tiểu đoàn 200 pháo binh, Tiểu đoàn 303 súng máy và một số phân đội bảo đảm, phục vụ.

   Mặt trận Tây Nguyên ra đời đáp ứng yêu cầu khách quan của lịch sử, phù hợp với những điều kiện địa lý, nhân văn, kinh tế của Tây Nguyên và đặc biệt do vị trí chiến lược của nó trong thế trận chiến tranh nhân dân của ta ở miền Nam và khu vực nam Đông Dương trong cuộc kháng chiến thống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Đồng thời, đó cũng là quy luật phát triển tất yếu của chiến tranh mạng: từ chiến tranh du kích tiến tiến lên chiến tranh chính quy, nhằm đánh những đòn tiêu diệt lớn, đánh bại lực lượng quân sự chỗ dựa chủ yếu của địch, góp phần đưa kháng chiến đến thắng lợi. Đối với Tây Nguyên, Mặt trận được thành lập không những đánh dấu bước phát triến nhảy vọt của phong trào cách mạng và lực lượng vũ trang nhân dân trên địa bàn, mà còn là sự kiện lịch sử quan trọng đánh dấu sự ra đời và mở đầu chặng đường lịch sử vẻ vang của bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - tiền thân của Quân đoàn 3 ngày nay.




-----------------------------------------------------------------
1. Ngày 1.5.1964, Thượng tướng Văn Tiến Dũng - Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam thay mặt Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh giao nhiệm vụ trực tiếp cho đồng chí Nguyễn Chánh, đặt tên mật danh cho Chiến trường Tây Nguyên là B3.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 08:37:59 pm
*

   Tháng 5 năm 1964, Thường vụ Khu ủy và Đảng ủy, Bộ tư lệnh quân khu 5 chủ trương mở đợt hoạt động thu đông trên toàn địa bàn nhằm tiêu diệt, tiêu hao sinh lực địch, phá ấp giành dân, rèn luyện lực lượng vũ trang và phối hợp với các chiến trường khác trong toàn miền Nam. Chỉ huy các đơn vị chủ lực của Mặt trận Tây Nguyên trong đợt hoạt động này vẫn do tiền phương Quân khu 5 tạm thời đảm nhiệm. Ba tiểu đoàn: 407, 200, 303 được lực lượng vũ trang địa phương và dân công hai huyện 40, 67 tỉnh Kon Tum hỗ trợ, có nhiệm vụ tiến công tiêu diệt căn cứ Plei Krông (bắc Kon Tum). Đây là một trung tâm huấn luyện biệt kích lớn của địch, có hệ thống công sự khá vững chắc, vật cản nhiều tầng, hỏa lực mạnh do tiểu đoàn bảo an 104 đóng giữ, được tăng cường một trung đội huấn luyện  của chư hầu (Đài Loan), có 12 cố vấn Mỹ chỉ huy.

   Quá trình chuẩn bị chiến đấu gặp trời mưa tầm tã, đất rừng ướt sũng, đường trơn, núi cao vực sâu....  nhưng những bước chân của quân và dân Tây Nguyên vẫn kiên trì, bền bỉ tiến vào vị trí triển khai ở các hướng tiến công. Trên đường hành quân, các chiến sĩ vô cùng xúc động khi thấy từng đoàn dân công huyện 40 và 67 tỉnh Kon Tum không có áo che mưa, phải dùng lá chuối rừng che hàng, lặng lẽ tiến ra phía trước, tối đến ngồi dựa lưng vào nhau để ngủ. Có một bà mẹ người dân tộc thiểu số làng Đắc Xây gùi 4 viên đạn cối, tay dắt theo đứa con nhỏ, tay kia bế đứa con trước ngực, luồn rừng lội suối ra trận...

   Sau những ngày chuẩn bị khẩn trương, đêm mùng 3 rạng ngày 4 tháng 7 năm 1964, ba tiểu đoàn 407, 200 và 308 do đồng chí Dương Loan (đại diện Quân khu 5) chỉ huy tiến công trung tâm huấn luyện biệt kích Plel Krông. Được hỏa lực ĐKZ 75, cối 81mm của đại đội 1 tiểu đoàn 200 và súng máy của tiểu đoàn 303 chi viện, các chiến sĩ đặc công liên tục tiến công, đột phá. Trận đánh diễn ra rất ác liệt, kéo dài gần 10 giờ đồng hồ. Quân địch dựa vào công sự, lô cốt, hỏa lực nhiều tầng ngoan cố chống cự; nhưng trước sức tiến công mạnh mẽ của ta, cuối cùng cứ điểm đã bị san phẳng. Trận đầu ra quân, Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên đã lập chiến công xuất sắc: loại khỏi vòng chiến đấu 500 tên địch (có 9 cố vấn Mỹ và 1 thiếu tá, 1 đại úy, 1 trung úy ngụy bị diệt, 29 tên bị bắt), tiểu đoàn 104 bảo an và trung đội huấn luyện Đái Loan bị xóa sổ; thu 200 khẩu súng các loại (có 7 đại liên, 10 trung liên, 3 cối 60mm) và gần ba tạ muối; phá hủy 40 nhà lính, 3 kho súng đạn, 8 xe ô tô. Về phía ta có 11 đồng chí hy sinh và 30 đồng chí bị thương.

   Trận tiến công Plei Krông là một trận đánh có hiệu suất chiến đấu cao, có tiếng vang lớn làm quân địch ở bắc Tây Nguyên run sợ và bọn chỉ huy quân khu 2 - quân đoàn 2 ngụy chóang váng. Phát huy thắng lợi, các lực lượng vũ trang  ta ở bắc Tây Nguyên đẩy mạnh tiến công địch ở cứ điểm Kleng và một loạt đồn bốt dọc phía đông sông Pô Kô. Với thành tích xuất sắc tiêu diệt cứ điểm Plei Krông, các đơn vị tham gia trận đánh được Bộ chỉ huy Quân giải phóng miền Nam tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba. Đây là tấm huân chương đầu tiên của bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

   Trong khi bộ đội chủ lực Mặt trận tập trung tiến công địch trên hướng Tây bắc Kon Tum, thì Tiểu đoàn 93 (Trung đoàn 2 bộ binh, Quân khu 5) được Đại đội 2 bộ binh và trung đội công binh (tỉnh đội Gia Lai) phối hợp do đồng chí Giáp Văn Cương (Quân khu 5) và đồng chí Kpã Thìn (tỉnh đội trưởng Gia Lai) chỉ huy đã bí mật triển khai trận địa phục kích giao thông trên đường 19, đoạn suối Đắc Pơ. Ngày 1 tháng 7 năm 1964, ta đánh một trận xuất sắc, diệt gọn một đoàn xe quân sự 41chiếc và đại đội hộ tống; làm sống lại hình ảnh các chiến sĩ Trung đoàn 96 và Tiểu đoàn 109 mười năm về trước chôn vùi binh đoàn cơ động 100 của thực dân Pháp. Trên hướng Đắc Lắc, lực lượng vũ trang tỉnh cũng đẩy mạnh tiến công địch: phục kích tiêu diệt đại đội biệt kích ác ôn ''Cọp đen'' (15.6), tập kích diệt một đại đội dân vệ ở ấp buôn Yun (29.6) và tiến công nhiều vị trí ở đông bắc Buôn Ma Thuột, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch, hỗ trợ đắc lực cho phong trào phá ấp chiến lược và đấu tranh chính trị của quần chúng.

   Trước nguy cơ thất bại hoàn toàn của ''chiến tranh đặc biệt'' ở miền Nam, tháng 8 năm 1964 đế quốc Mỹ dựng lên ''sự kiện Vịnh Bắc Bộ'', dùng không quân đánh phá nhiều nơi trên miền Bắc. Hòa chung tiếng súng với quân dân miền Bắc giáng trả kịp thời, trừng trị đích đáng không quân Mỹ, quân dân miền Nam trả lời đanh thép bằng một loạt đòn tiến công vào tận hang ổ quân xâm lược Mỹ: khách sạn Caraven (25.8 ), tàu chở xăng ở Nhà Bè (17.10), sân bay Biên Hòa (111), khách sạn Bơrinh (tháng 12)... Trong không khí sục sôi đánh Mỹ của cả nước, quân và dân Tây Nguyên mở một đợt tiến công mới. Tháng 9 năm 1964, các đơn vị bộ đội chủ lực Mặt trận phối hợp với lực lượng vũ trang tỉnh Kon Tum liên tục tiến công, giải phóng hoàn toàn quận Tu Mơ Rông và phần lớn quận Đắc Tô, Đắc Sút, tiêu diệt và làm tan rã 20 đại đội, 60 trung đội địch, loại khỏi vòng chiến đấu 8.000 tên (có 50 tên Mỹ và 20 sĩ quan ngụy), thu 1.506 súng các loại, phá hủy phá hỏng 126 xe quân sự, bắn rơi 26 máy bay. Một vùng rừng núi nông thôn rộng lớn ở bắc Tây Nguyên được giải phóng, nhân dân phấn khởi nô nức tham gia xây dựng và bảo vệ thành quả cách mạng. Những chiến thắng giòn giã của bộ đội chủ lực ở Tây Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi, hỗ trợ đắc lực cho quân và dân địa phương đẩy mạnh tiến công địch, phá ấp giành dân, đấu tranh chính trị và binh địch vận. Trong năm 1964, lực lượng vũ trang ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc đã đánh 1399 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 8.450 tên địch (có hơn 130 Mỹ), phá hủy 250 xe quân sự, bắn rơi 15 máy bay. Ở hai tỉnh Gia Lai, Kon Tum ta đã phá được 197 ấp chiến lược, giải phóng 74.000 dân; tổ chức được 913 cuộc đấu tranh chính trị với 192.000 lượt quần chúng tham gia. Trải qua thực tiễn đấu tranh, xuất hiện nhiều xã chiến đấu điển hình, các căn cứ được mở rộng và củng cố ngày càng vững chắc; lực lượng vũ trang địa phương phát triển cả về số lượng, chất lượng, trưởng thành trong cách đánh... tạo cơ sở địa bàn thuận lợi và phối hợp có hiệu quả với bộ đội chủ lực.


   Những tháng cuối năm 1964, Mặt trận Tây Nguyên được Bộ Tổng tư lệnh bổ sung khung cơ quan và một số phân đợt bảo đảm của Sư đoàn bộ binh 325, được Quân khu 5 chi viện cán bộ và một số phân đội phục vụ để xây dựng ngành hậu cần. Với nguồn cán bộ nòng cốt này, ba cơ quan của Mặt trận: Phòng Tham mưu, Phòng Chính trị và Phòng Hậu cần cơ bản được kiện toàn và củng cố một bước. Phòng Tham mưu có các ban: Tác chiến, Quân huấn, Quân lực, Trinh sát, Pháo binh, Công binh, Thông tin, Cơ yếu. Phòng Chính trị có các ban: Tuyên huấn, Tổ chức, Cán bộ. Phòng Hậu cần có các ban: Quân nhu, Quân y, Quân giới, Vận tải, do đồng chí Võ Tác (Võ Thành Vinh) làm trưởng phòng. Nhiều đơn vị bảo đảm cũng lần lượt ra đời: Viện quân y 1 (trên cơ sở khung tiểu đoàn quân y của Sư đoàn 325); Cửa khẩu VQ5 (Tân Lập) do lực lượng vận tải Sư đoàn 325 làm nòng cốt, hoạt động trên đất Cam-pu-chia, vừa tiếp nhận hàng do Trung ương chi viện qua đường Cam-pu-chia, vừa thu mua hàng hóa, vật chất cho Mặt trận.

   Cũng trong thời gian này, nhiều đơn vị chủ lực được Bộ Tổng tư lệnh và các quân khu ở miền Bắc chi viện cho Mặt trận Tây Nguyên, lần lượt vào chiến trường. Tháng 9, Trung đoàn bộ binh 320 đã vượt Trường Sơn đến Tây Nguyên với đầy đủ quân số, vũ khí trang bị. Cán bộ, chiến sĩ đơn vị được chọn lọc từ ba sư đoàn: 308, 304 và 350; đồng chí Tô Đình Khản làm trung đoàn trưởng, đồng chí Bùi Dự và sau đó là đồng chí Nguyễn Chức làm chính ủy. Đây là trung đoàn chủ lực cơ động đầu tiên của Mặt trận Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Cũng trong tháng 9, Quân  khu Tây Bắc chi viện cho Tây Nguyên Tiểu đoàn 545 bộ binh. Tiểu đoàn có 500 cán bộ, chiến sĩ, hầu hết là người dân tộc Tày, Nùng quê ở Cao Bằng, Lạng Sơn. Vào đến chiến trường Tiểu đoàn 545 được sáp nhập với Tiểu đoàn 407 đặc công (có khỏang 100 đồng chí, chủ yếu là cán bộ) thành Tiểu đoàn 952 trực thuộc Bộ tư lệnh Mặt trận. Cuối năm 1964 đầu năm 1965, Tây Nguyên tiếp tục được bổ sung Trung đoàn 101 bộ binh (Sư đoàn 325) và Tiểu đoàn 32 pháo binh trang bị súng cối 120mm ( trước đây thuộc Trung đoàn 16 pháo binh). Bên cạnh những đơn vị trên, Bộ tư lệnh Mặt trận thành lập Tiểu đoàn 30 súng máy phòng không 12,7mm.

   Được sự chi viện của Bộ Tổng tư lệnh và các đơn vị bạn, sự giúp đỡ của địa phương, sau một thời gian kiện toàn, củng cố, cuối năm 1964 đầu năm 1965 Mặt trận Tây Nguyên đã tương đối hoàn chỉnh, bao gồm: Bộ tư lệnh và 3 cơ quan Mặt trận, 2 trung đoàn bộ binh (320, 101), 1 tiểu đoàn đặc công bộ binh hỗn hợp (952), 2 tiểu đoàn pháo binh (200, 32), hai tiểu đoàn súng máy phòng không (303, 30) và một số đơn vị bảo đảm, phục vụ: Viện quân y 1, Cửa khẩu VQ5... Với khối chủ lực cơ động ngày càng lớn mạnh và tinh thần sục sôi đánh Mỹ, bộ đội chủ lực Tây Nguyên nhanh chóng triển khai trên các hướng, sẵn sàng bước vào cuộc tiến công mùa xuân năm 1965 cùng quân và dân Tây Nguyên lập những chiến công mới.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 08:39:27 pm
*
   

   Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, của nhân dân miền Nam, cả nước và ba nước Đông Dương nói chung, của phong trào cách mạng ở Tây Nguyên nói riêng, Mặt trận Tây Nguyên ra đời. Viện thành lập Mặt trận Tây Nguyên đánh đấu sự hình thành của một tổ chức quân sự mới với chức năng, tiềm lực lớn nhằm giải quyết những nhiệm vụ có tính chiến dịch, chiến lược gắn liền với địa bàn và trong mối quan hệ hữu cơ với các chiến trường. Đây là sự phát triển, thay đổi về chất của lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

   Quá trình ra đời của Mặt trận gắn liền với đường lối kháng chiến chống Mỹ của Trung ương Đảng, chủ trương biện pháp, lãnh đạo chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh và Khu ủy, Quân khu ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 5 đối với Tây Nguyên. Phương thức hình thành là sự kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng chủ lực tại chỗ của Quân khu 5 với các đơn vị chủ lực chính quy từ miền Bắc chi viện, có sự giúp đỡ chí tình, tạo điều kiện mọi mặt của các cấp ủy, quân và dân ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc. Mặt trận Tây Nguyên là hình ảnh vô cùng sinh động về cả nước đoàn kết, hết lòng vì Tây Nguyên và Tây Nguyên vì cả nước trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Sự ra đời của Mặt trận vừa có những nét đặc thù riêng, vừa nằm trong quy luật chung của quá trình hình thành, phát triển của quân giải phóng miền Nam.

   Quán triệt sâu sắc nhiệm vụ Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh giao, bộ đội chủ lực Mặt trận, Tây Nguyên phát huy truyền thống quân đội, truyền thống bất khuất của Tây Nguyên, Khu 5 đoàn kết chặt chẽ, sát  cánh cùng quân và dân các dân tộc trên địa  bàn vượt qua mọi khó khăn thử thách, vừa kiên trì xây dựng vừa tích cực chiến đấu, góp phần đánh bại chiến lược "chiến tranh đặc biệt", buộc đế quốc Mỹ phải chuyển sang thực hiện chiến lược ''chiến tranh cục bộ". Công cuộc xây dựng và chiến đấu của quân dân Tây Nguyên nói riêng, quân dân cả nước nói chung bước sang một giai đoạn mới.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 08:48:05 pm
Chương hai
VỪA CHIẾN ĐẤU VỪA XÂY DỰNG, CÙNG QUÂN VÀ DÂN TÂY NGUYÊN
GÓP PHẦN ĐÁNH BẠI CHIẾN LƯỢC ''CHIẾN TRANH CỤC BỘ CỦA ĐẾ QUỐC MỸ
(1965-1968)



1. Khẩn trương xây dựng, đẩy mạnh tiến công, mở chiến dịch Plei Me lịch sử

   Trước sức tiến công mạnh mẽ của quân và dân ta, đến đầu năm 1965 chiến lược ''chiến tranh đặc biệt'' của  đế quốc Mỹ ở miền Nam Việt Nam đang đứng trước nguy cơ thất bại hoàn toàn. Ngụy quyền Sài Gòn tiếp tục khủng hỏang, các cuộc đảo chính liên tiếp xảy ra1. Để cứu vãn tình thế và tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược ở  Việt Nam, ngày 20 tháng 1 năm 1965 trong thông điệp nhậm chức, tống thống Mỹ L.Giôn-xơn tuyên bố. Mỹ ''phải có hành động mạnh mẽ hơn để ngăn chặn sự sụp đổ hoàn toàn của quân đội Việt Nam cộng hòa và chính quyền miền Nam, giữ vững Nam Việt Nam''.

        Tiếp đó ngày 1 tháng 4 năm 1965, L.Giôn-xơn quyết định tăng lực lượng yểm trợ Mỹ từ 18.000 quân lên  20.000 quân. Giới quân sự Mỹ coi quyết định này là cột mốc của sự chuyển hướng chiến lược "chiến tranh đặc biệt'' sang chiến lược ''chiến tranh cục bộ'' ở Nam Việt Nam.

   Thực hiện âm mưu đó, đầu tháng 3 năm 1965 Mỹ từng bước đưa lực lượng chiến đấu và chư hầu vào miền Nam Việt Nam, đồng thời mở rộng hoạt động không quân ném bom bắn phá miền Bắc, đẩy cuộc ''chiến tranh đặc biệt'' lên nấc thang mới, bắt đầu có những yếu tố của cuộc ''chiến tranh cục bộ''.

   Trước những âm mưu và hành động leo thang chiến tranh mới của đế quốc Mỹ, cuối tháng 3 năm 1965  Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III họp Hội nghị lần thứ 11 (đặc biệt) về nhiệm vụ cấp bách trước mắt đã xác định: Nhiệm vụ cơ bản của ta là tích cực kiềm chế và thắng địch trong cuộc "chiến tranh đặc biệt'' ở mức cao nhất ở miền Nam, ra sức tranh thủ thời cơ, tập trung lực lượng của cả nước giành thắng lợi quyết định ở miền Nam, đồng thời chuẩn bị sẵn sàng đối phó và quyết thắng cuộc ''chiến tranh cục bộ'' ở miền Nam nếu địch gây ra... kiên quyết bảo vệ miền Bắc đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại và phong tỏa bằng không quân và hải quân của địch''2. Tiếp đó Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam công bố lập trường 4 điểm và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa công bố lập trường 5 điểm, khẳng định ý chí sắt đá, quyết tâm chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, không chịu khuất phục trước sức mạnh và chấp nhận một cuộc thương lượng theo điều kiện của quân xâm lược.

   Thực hiện quyết tâm của Trung ương Đảng và hưởng ứng mạnh mẽ tuyên bố trên, quân và dân hai miền Nam - Bắc thi đua trên các mặt trận chiến đấu, sản xuất, công tác giành nhiều thắng lợi. Trong khí thế tiến công địch rộng khắp ở miền Nam, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên hiệp đồng chặt chẽ, thống nhất hành động với  Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 5 mở đợt tiến công mùa xuân 1965 trên ba hướng trọng điểm: đông Gia Lai và Bình Định (lực lượng gồm Trung đoàn 2, Trung đoàn 10, Tiểu đoàn đặc công 409 chủ lực Quân khu và địa phương); tây Gia Lai và bắc Kon Tum (Trung đoàn 320, Trung đoàn 101, Tiểu đoàn đặc công 952 Mặt trận Tây Nguyên và lực lượng địa phương); vùng trung Quảng Nam (Trung đoàn 1 chủ lực Quân khu và địa phương).

   Để tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch, phá ấp, giành dân, mở rộng vùng giải phóng, tạo bước chuyển biến lớn cho chiến trường... phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực Khu 5 mở chiến dịch Đèo Nhông - Dương Liễu (Bình Định) và tiến công chi khu Việt An (Quảng Nam), Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên sử dụng tập trung 2 trung đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn đặc công, 1 tiểu đoàn pháo binh có lực lượng vũ trang địa phương phối hợp đánh địch trên hướng tây, tây bắc Plei Ku và tây bắc Kon Tum. Mở đầu đợt hoạt động, đêm 6 rạng ngày 7 tháng 2 năm 1965 Tiểu đoàn 409 đặc công, Đại đội cối 60mm (của Trung đoàn 2 Quân khu 5) và Đại đội 90 đặc công tỉnh Gia Lai bất ngờ tiến công sân bay Cù Hanh và trại lính Mỹ Hơ-lô-uây ở thị xã Pleiku. Theo người phát ngôn quân đội Mỹ tại Sài Gòn thú nhận: ''Việt Cộng đã giết chết và làm bị thương 117 lính Mỹ, phá hủy 21 máy bay và 52 căn trại lính thuộc tiểu đoàn không quân số 52''3. Trận đánh này đã buộc Tổng thống Mỹ L.Giôn-xơn phải triệu tập cuộc họp khẩn cấp Hội đồng An ninh quốc gia vào 7 giờ 45 phút tối 7 tháng 2, quyết định ''di chuyển phụ nữ, trẻ em Mỹ'' khỏi Sài Gòn và ra lệnh cho không quân Mỹ mở chiến dịch ''Mũi lao lửa'' ném bom ''trả đũa'' miền Bắc Việt Nam.

   Phối hợp chặt chẽ với đòn tiến công ở PleiKu, ngày 7 tháng 2 Đại đội 1 Tiểu đoàn 334 Trung đoàn 320 phục kích đoạn Plei Mơ Rông, Ninh Đức diệt và làm bị thương 27 tên, phá hủy 7 xe quân sự; Đại đội 1 Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 101 phá ấp Đắc Giao (H67) xóa sổ một trung đội dân vệ mở đầu cho hoạt động của bộ đội chủ lực B3 trên hai hướng. Tiếp đó, từ tháng 2 đến nửa đầu tháng 4, Trung đoàn 320 đánh một loạt trận phục kích giao thông, phá ấp ở Làng Bàng, Plei Te, Plei Grungrút. Nổi bật 1 trận tiến công cứ điểm Kleng và phục kích Krông của Tiểu đoàn 635, diệt 68 tên, bắt 12 tên, thu 11 súng. Cùng thời gian này, Trung đoàn 101 đánh liên  tiếp 13 trận tiêu diệt các đồn và ấp chiến lược của địch ở Đắc Giao, Rơ Bông, Đắc La, Đắc Siêng, Đắc Long, Đắc Tang, Đắc Ja, phục kích Mo Lẹt, Đắc La; trong đó nổi bật là các trận đánh của Tiểu đoàn 3 bộ binh trong hai ngày 21 và 22 tháng 2. Sau khi diệt ấp Rơ Bông và Đắc Giao, tiểu đoàn chuyển sang phục kích ở Đắc Long tiêu diệt một đại đội của tiểu đoàn 2 trung Đoàn 42 ngụy đi cứu viện, loại khỏi vùng chiến đấu 116 tên (có tên đại úy tiểu đoàn trưởng và 1 cố vấn Mỹ), bắt 5 tên, thu 25 súng các loại, 4.104 viên đạn, 2 máy thông tin 4. Trên hướng tây Gia Lai, Tiểu đoàn 952 kỳ tập đồn Ia Blan và Ia Châm, dinh điền Lệ Ngọc 1, Blang Dam. Hướng bắc Kon Tum, Tiểu đoàn 200 pháo binh pháo kích cứ điểm Đắc Pét... hỗ trợ cho địa phương phá ấp giành dân.

   Phối hợp chặt chẽ với chủ lực Mặt trận Tây Nguyên, các lực lượng Quân khu 5 và địa phương ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc đẩy mạnh tiến công địch  trên các hướng. Nổi bật là hoạt động của Trung đoàn 10 và Đại đội 1 địa phương ở phía đông tỉnh Gia Lai, tiến công tiêu diệt cứ điểm Kà Tung, đồn Kan Nát, uy hiếp đường 19 đoạn tây đèo Măng Yang, phục kích đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 22 biệt động quân... Những hoạt động của ta ở Gia Lai đã làm cho địch lo sợ, quân Mỹ phải dùng máy bay hạng nặng B57 và F100 từ sân bay Biên Hòa và Đà Nẵng lên ném bom tàn sát nhiều vùng dân cư ở khu vực giữa An Khê và Piei Ku.

   Trước nguy cơ bị uy hiếp mạnh ở bắc Kon Tum cuối tháng 3 địch điều trung đoàn 42 (2 tiểu đoàn), trung đoàn 40 (1 tiểu đoàn) và tiểu đoàn 21 biệt động quân có chân đoàn 8 thiết giáp, 2 trung đội pháo binh cùng lực lương bảo an dân vệ phối thuộc mở cuộc hành quân phản kích ''Quyết thắng 129'' tại vùng núi Cơn thuộc tiểu khu Đắc Sút, rồi mở lai cuộc càn thứ 2 mang tên ''Quyết thắng 134'' ở vùng núi này vào trung tuần tháng 4: ''nhằm tiêu diệt cho bằng được chừng 3 tiểu Đoàn Việt Cộng đang uy hiếp Đắc Sút''.

        Quá trình càn quét, địch tăng thêm tiểu đoàn 3 dù thuộc lực lượng tổng dự bị quân ngụy Sài Gòn, sử dụng hàng trăm lần chiếc máy bay (cả B57) đến hỗ trợ. Để kịp thời chỉ huy cuộc hành quân, ban chỉ huy trung đoàn 42 và bộ tư lệnh sư đoàn 22 ngụy chuyển lên Tân Cảnh.

   Mặc dù lực lượng địch khá đông, có pháo binh, không quân hỗ trợ mạnh nhưng Trung đoàn 101 chủ động kiên quyết triển khai đánh địch. Trong 2 ngày 29 và 30 tháng 3, Trung đoàn (thiếu Tiểu đoàn 1) vận động phục kích đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 21 biệt động quân và tiểu đoàn 2 trung đoàn 42 ngụy, trong đó diệt gọn đại đội 4 (tiểu đoàn 21) và đại đội 2 (tiểu đoàn 2), thu hàng chục súng các loại, bắn rơi 3 máy bay trực thăng. Ngày 13 tháng 4, Đại dội 2 Tiểu đoàn 3 phục kích giao thông đánh đoàn xe của trung đoàn 42 ngụy đi thu quân, phá hủy 14 chiếc, diệt nhiều tên, thu một số súng. Khi lực lượng cứu viện của địch rút lui bọn bảo an dân vệ ở các đồn Đắc Tả, Đắc Vên, Mo Lẹt, Măng Bút... hoang mang bỏ chạy. Trận chống càn thành công của Trung đoàn 101 có ý nghĩa cả về chính trị và quân sự. Lần đầu tiên, bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên có sự hỗ trợ của địa phương đã đánh trận quy mô cấp trung đoàn trong nhiều ngày, đánh bại kẻ địch có quân đông, vũ khí nhiều, không quân, pháo binh chi viện mạnh. Trận đánh cũng đánh dấu sự lớn mạnh của bộ đội chủ lực Tây Nguyên.

   Trung tuần tháng 4 năm 1965, đợt tiến công mùa xuân của quân và dân Tây Nguyên kết thúc thắng lợi. Trong gần 70 ngày đêm chiến đấu, bộ đội chủ lực đã sát cánh cùng các lực lượng địa phương đánh 28 trận với những quy mô, hình thức chiến Thuật khác nhau: 2 trận tiến công cứ điểm, 2 trận đặc công, 12 trận phục kích, 9 trận phá ấp, 3 trận pháo kích; diệt 490 tên địch (có 2 sĩ quan Mỹ), làm bị thương 166 tên (có 3 Mỹ), bắt 144 tên, phá hủy 23 xe quân sự và 3 máy bay, thu hơn 100 súng  các loại và 19 máy thông tin. Chiến thắng giòn giã của bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên mùa xuân 1965, không những hỗ trợ Đắc lực quân và dân địa phương liên tục tiến công và nổi dậy, phá banh hàng loạt ấp chiến lưc, giải phóng trên 10.000 dân với vùng nông thôn rộng lớn,  mà còn giam chân một lực lượng chủ lực địch trên cao nguyên, tạo thuận lợi cho chủ lục Khu 5 giành thắng lợi lớn ở Dương Liễu, Đèo Nhông, giải phóng nửa phần phía bắc tỉnh Bình Định và vùng tây Quảng Ngãi.

   Trong khi tiếng súng tiến công mùa xuân Ất Tỵ của quân và dân Tây Nguyên còn đang nổ, đêm mùng 4 và 5 tháng 4, Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên họp đánh giá đợt hoạt động xuân 1965 ''đã thu được một số thành tích tương đối khá, từng bước đưa các mặt hoạt động lên tương đối đều, toàn diện''; nguyên nhân là do chỉ đạo  chặt chẽ kịp thời sát đúng, sự giúp đỡ tận tình của Đảng bộ, nhân dân, lực lượng vũ trang địa phương và sự nỗ lực  của cán bộ, chiến sĩ trên chiến trường. Đồng thời Đảng ủy Mặt trận cũng chỉ rõ: so với yêu cầu của cuộc chiến đấu ngày càng phát triển và ác liệt thì trình độ tổ chức chỉ huy, ý thức chấp hành kỷ luật, tác phong chiến đấu, tinh thần chịu đựng gian khổ hy sinh của cán bộ, chiến sĩ ''còn chưa theo kịp''. Để tiếp tục đẩy mạnh xây dựng củng cố lực lượng và tích cực tiến công địch, Đảng ủy quyết định tổ chức một đợt chỉnh huấn toàn Mặt trận, vừa khẩn trương chuẩn bị mọi mặt dể mở đợt tiến công mùa hè với phương hướng nhiệm vụ chung là: Khẩn trương tranh thủ thời cơ, liên tục chiến dấu diệt thật nhiều sinh lực địch, hỗ trợ tốt hơn cho phong trào cách mạng của địa phương, phối hợp nhịp nhàng với chiến trường chung với một sự nỗ lực vượt bậc'', làm cho chiến trường B3 có những bước ngoặt chuyển biến lớn, tạo cơ sở tốt cho viện hoàn thành nhiệm vụ của năm 1965.




----------------------------------------------------------------
1. Nguyễn Khánh và một số tướng đảo chính lật đổ Trần Văn Hương (25.1), Lâm Văn Phát và Phạm Ngọc Thảo đảo chính lật Khánh không thành (19.2), Nguyễn Cao Kỳ và Nguyễn Chánh Thi lật đổ Khánh (20.2) ép Phan Khắc Sửu (Quốc trưởng) ký sắc lệnh chỉ địnhTrần Văn Minh làm quyền tổng tư lệnh.
2. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975. Những sự kiện quân sự, Sđd, tr. 123.
3. Hiện nay số liệu về kết quả diệt địch trong trận đánh này ở nhiều cuốn sách và tài liệu chưa thống nhất.
4. Trận này ta có 3 đồng chí hy sinh và 2 đồng chí bị thương.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 08:59:54 pm
*

   Ngày 27 tháng 4, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam nhận định: ''Cuộc chiến tranh đặc biệt ở miền Nam đã đến mức cao, có một số yếu tố chiến tranh cục bộ''; đồng thời chỉ thị cho các chiến trường: ''Đẩy mạnh tác chiến của bộ đội  chủ lực, mở những đợt hoạt động quy mô chiến dịch cùng lúc trên nhiều hướng, kết hợp tiến công quân sự với khởi nghĩa của quần chúng ở từng khu vực, thúc: đẩy nhanh quá trình sụp đổ của ngụy quân, ngụy quyền... chuẩn bị điều kiện đối phó và quyết thắng địch nếu chúng mở rộng thành chiến tranh cục bộ''. Đối với Mặt trận Tây Nguyên, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh xác định đấy là chiến trường chính để tiêu diệt sinh lực địch, phối hợp với Pa-thét Lào giữ vững và mở rộng  khu giải phóng Hạ Lào, tạo thành một căn cứ tương đối lớn ở miền Trung Đông Dương. Thực hiện chủ trương, chỉ thị của trên và nghị quyết của Đảng ủy Mặt trận, cán bộ, chiến sĩ vừa tích cực tập huấn vừa khẩn trương chuẩn bị mọi mặt, sẵn sàng bước vào đợt chiến đấu mới.

   Về phía địch, sau những thất bại liên tiếp đầu năm 1965, quân ngụy ở Tây Nguyên đã phải thu hẹp thế chiếm đóng ''tuyến kết hợp diện'' và bắt đầu co cụm. Mùa hè, địch có những thay đổi về cơ cấu tổ chức. Tháng 5, chúng tách hai tiểu khu Plei Ku và Kon Tum ra khỏi  vùng 2 chiến Thuật để thành lập biệt khu 24, sở chỉ huy biệt khu đóng tại thị xã Kon Tum; đồng thời tách trung đoàn 42 khỏi sư đoàn 22 thành trung đoàn độc lập đặt dưới quyền tư lệnh biệt khu này. Tại các trung đoàn bộ binh, địch tổ chức thêm một tiểu đoàn chiến đấu, gọi là  tiểu đoàn thứ tư. Tháng 6, địch bỏ tổ chức vùng chiến Thuật để thành lập quân khu. Vùng 2 chiến Thuật - quân đoàn 2 đổi thành quân khu 2 - quân đoàn 2, trung tướng ngụy Vĩnh Lộc thay Nguyễn Hữu Có làm tư lệnh quân đoàn 2 kiêm quân khu 2. Cùng thời gian này, địch đưa bộ tư lệnh sư đoàn 22, trung Đoàn 40? trung đoàn 41 từ Tây Nguyên xuống Bình định. Với lực lượng lính cộng hòa bị căng kéo, phân tán trên diện rộng, lực lượng dân vệ bảo an tinh thần bạc nhược, hành động dè dặt, quân địch ở Tây Nguyên chủ yếu giữ các vùng chiếm đóng và mở một số cuộc hành quân đối phó với các hoạt động của ta, nhằm ''ngăn chặn chiều hướng thua''.

   Sau thời gian ngắn chuẩn bị, bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên và lực lượng địa phương bước vào đợt tiến công mùa hè năm 1965 trên cả hai hướng Kon Tum và Plei Ku, phối hợp chặt chẽ với đòn tiến công và nổi dậy của ta trên hướng nam Tây Nguyên, bắc Quảng Ngãi (chiến dịch Ba Gia của Quân khu 5) và chiến dịch Đồng Xoài của Bộ chỉ huy quân sự Miền. Theo kế hoạch tác chiến, đêm 25 tháng 5, ba trung đoàn: 2, 10 và 12 (tức Trung đoàn 18, Sư đoàn 325) vừa vào đến chiến trường nam Tây Nguyên đã bắt đầu nổ súng, diệt gọn các cứ điểm Ama, Hork nhưng không tiêu diệt được lực lượng tiếp viện của địch trên dường số 7. Đầu tháng 6, Trung đoàn  12 diệt cứ điểm Ơi Nu, đánh quân tiếp viện, cắt đứt đường số 7 từ Mlá đi  Ơi Nu và cắt đường 19 đoạn từ Măng Yang đi An Khê. Cùng lúc, Trung đoàn 10 thọc sâu vào đường 21, phục kích diệt gọn một đoàn xe tiếp tế của quân đoàn 2 ngụy, xóa sổ đại đội hộ tống, thu và đốt trên 100 tấn gạo; một lực lượng tiến công tiêu diệt cứ điểm Hoành Châm, bao vây quận lỵ Thuần Mẫn, uy hiếp giao thông đường chiến lược số 14 đoạn Plei Ku - Buôn Ma Thuột. Địch đưa một chiến đoàn đặc nhiệm gồm 2  tiểu đoàn dù (1, 5), tiểu đoàn 2 (trung đoàn 40) từ Cheo Reo lên ứng cứu, nhưng lại rơi vào trận địa phục kích của  Trung đoàn 2. Bị đánh bất ngờ, quân dịch lúng túng chống đỡ, rồi rút chạy, co cụm ngoan cố kháng cự. Quyết không để cho địch chạy thóat, Trung đoàn 2 tổ chức tập kích ngay trong đêm, diệt gọn tiểu đoàn dù số l, đánh thiệt hại nặng ban chỉ huy chiến đoàn đặc nhiệm và hai tiểu đoàn còn lại. Thấy đồng bọn đi cứu viện bị vây diệt,  địch ở Thuần Mẫn hoang mang tháo chạy khỏi quận lỵ; 3 cố vấn Mỹ bỏ đám ngụy quân, leo lên trực thăng thóat thân. Được tin dữ, tướng Mỹ Đơ-puy ở Sài Gòn phải bỏ dở cuộc họp báo, vội vã lên Tây Nguyên. Tranh thủ thời cơ thuận lợi, quân và dân địa phương nổi dậy mạnh mẽ phá banh nhiều ấp chiến lược, làm chủ một vùng rộng dọc hai bên quốc lộ 14 từ ngã ba Mỹ Thạch đến Buôn Hồ. Ngày 28 tháng 6, lực lượng vũ trang tỉnh Đắc Lắc đánh một trận phục kích giao thông xuất sắc ở cây số 38 đường 21, phá hủy 18 xe quân sự (có 1 xe tăng), diệt 11  tên địch, bắt 8 tên, làm bị thương 6 tên.

   Trong lúc quân địch đang tập trung đối phó với chủ lực Quân khu 5 ở Đắc Lắc, thì bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên cùng lực lượng vũ trang địa phương hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum đánh mạnh vào hệ thống phòng ngự của địch. Trọng hướng trọng điểm phía tây Gia Lai,
đêm 31 tháng 5, rạng ngày 1 tháng 6 Tiểu đoàn bộ binh 952 bất ngờ nổ súng tiến công quận lỵ Lệ Thanh. Ngay từ phút đầu, đạn súng cối của ta đã trùm lên khu chỉ huy,  dãy nhà lính và trận địa, hỏa lực địch. Các chiến sĩ ĐKZ sáng tạo đắp công sự nổi, đặt súng lên bắt vượt trên hàng  rào diệt nhiều lô cốt hỏa điểm bên trong. Khi hỏa lực  chuẩn bị vừa chuyển làn, trên các hướng bộ đội đồng loạt xung phong đánh chiếm các mục tiêu được phân công. Bị đánh bất ngờ, địch chống cự rời rạc, yếu dần. Sau gần một giờ chiến đấu, ta làm chủ hoàn toàn quận lỵ Lệ Thanh, diệt và bắt toàn bộ quân địch, gồm chỉ huy khi khu, đại đội bảo an 142, một đại đội thám báo, một trung đội dân vệ, một toán mật thám; 110 tên chết tại trận, 12 tên bị bắt; 6 xe vận tải, 3 kho đạn, 1 hầm xăng và 3 khẩu trung liên bị phá hủy; 2 đại liên, 1 cối 81mm, 1 cối 60mm, 1 trung liên, 65 khẩu súng khác, trên 5.000 viên đạn các loại, 47 máy thông tin và nhiều thuốc chữa bệnh  bị tịch thu. Về phía ta, có 11 đồng chí hy sinh và 43 đồng chí bị thương1. Đây là trận đánh tập trung đầu tiên của Tiểu đoàn 952. Thắng lợi của trận đánh là kết quả sức mạnh tổng hợp của nhiều yếu tố, trong đó có sự vận dụng thành công chiến Thuật của đặc công và bộ binh có hỏa lực đi cùng; nó giải đáp câu hỏi về cách đánh cứ điểm địch nằm sâu trong vành đai ấp chiến lược và dinh điền.

   Chiến thắng Lệ Thanh mở đầu đợt hoạt động hè  của Mặt trận Tây Nguyên trên hướng tây Gia Lai, tạo  điều kiện cho Trung đoàn 320 (thiếu Tiểu đoàn 966) phục kích giao thông trên đường 19 tây, đoạn từ Thanh Bình đến cầu Ia Krai. Từ 9 giờ 30 phút đến 23 giờ ngày 1 tháng 6, Trung đoàn đánh liên tiếp ba trận, diệt gọn 2 đại đội (140, 979) thuộc tiểu đoàn 14 bảo an, 3 trung đội, 1 phân đội tình báo Plei Ku và toàn bộ phái đoàn kiểm tra bộ nội vụ ngụy quyền Sài Gòn; diệt 165 tên (có 2 cố vấn Mỹ, 2 thiếu tá ngụy) làm bị thương 74 tên, bắt 40 tên (có thiếu tá Lê Văn Cứ - phó tỉnh trưởng Plei Ku); phá hủy 34 xe quân sự, bắn rơi 5 máy bay và bắn cháy 3 chiến khác; thu 121 khẩu súng các loại, 3 máy thông tin và 8.000 viên đạn. Đây là một trận đánh hay, có hiệu suất chiến đấu cao.

   Những trận đánh liên tiếp của Trung đoàn 320, Tiểu đoàn 952 và lực lương vũ trang địa phương trên hướng tây nam Plei Ku đã gây chấn động mạnh. Quân  địch trong khu vực hỏang sợ, ngày 5 tháng 6 đã rút chạy  khỏi 6 đồn: Plei Bôn, Cà Lúi, Công Gô... Chớp thời cơ,  lực lượng vũ trang Gia Lai đẩy mạnh tiến công phá ấp giành dân: đột nhập dinh điền Lệ Chí, tiến công địch ở làng Chế Rùi, bao vây bức rút trung tâm huấn luyện biệt kích Ktoh, phục kích ở Măng Yang... gây cho địch nhiều thiệt hại. Được quân giải phóng hỗ trợ, từ ngày 3 đến ngày 9 tháng 6, đồng bào Thượng, Kinh nổi dậy đồng loạt, phá 13 dinh điền (Đức Nghiệp, Thanh Giáo, Lệ Ngọc 1, Lệ Ngọc 2, Thanh Bình, Đức Khánh, Trị Đức, Giáo Trạch, Lệ Phong 1, Lệ Phong 2, Đức Hùng...), giải phóng trên 10.000 dân.

   Phối hợp chặt chẽ với hướng tiến công trọng điểm ở tây Gia Lai, Trung đoàn 101, Tiểu đoàn 200 pháo binh cùng lực lượng địa phương tỉnh Kon Tum tiến công  mạnh vào hệ thống cứ điểm đồn bốt địch ở bắc Tây Nguyên. Từ ngày 28 tháng 5 đến ngày 3 tháng 6, Trung đoàn 101 tiến công cứ điểm Pô Kô, phục kích ở đông nam cầu 2km diệt gọn 4 trung đội (thuộc đại đội 103 bảo an và đại đội 3 biệt kích), diệt và làm bị thương 104 tên địch (có 4 cố vấn Mỹ), bắt 12 tên, thu nhiều vũ khí. Tiếp đó, ngày 25 tháng 6 Trung đoàn 101 phối hợp với một trung đội địa phương và du kích tiến công chi khu Tu Mơ Rông, pháo kích quận lỵ Đắc Tô. Tại Tu Mơ Rông địch có 340 tên, nhiều vũ khí, trong đó có 2 khẩu pháo 105mm, đóng trên núi Ngọc Hòe (điểm cao 1.557m). Cứ điểm này có chiều dài 350m, rộng 70m, xung quanh có 8 hàng rào thép gai và tre nứa, xen kẽ là những bãi mìn chống bộ binh, do tên Thanh quận trưởng chỉ huy. Để tạo vành đai bảo vệ, địch cưỡng ép hơn 10.000 dân trong vùng vào các ấp chiến lược bao quanh cứ điểm. Ta tuy vũ khí trang bị còn hạn chế, nhưng với quyết tâm rất cao, dũng cảm mưu trí sáng tạo đã chiến đấu liên tục từ 20 giờ 30 phút. đến 23 giờ, làm chủ hoàn toàn cứ điểm, 200 tên địch bị giết, 32 tên bị bắt làm tù binh; 2 pháo 105mm, 1 cối 61, 2 kho đạn, 13 xe quân sự và 5 xe ủi đất bị phá hủy; 147 súng các loại và 67 máy thông tin bị tịch thu. Để làm nên chiến thắng Tu Mơ Rông, 10 cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh và 28 đồng chí bị thương. Trận đánh không những đánh dấu bước trưởng thành mới của Trung đoàn 101 mà còn để lại những kinh nghiệm quý về tiến công  cứ điểm tương đối lớn của địch trên điểm cao ở vùng rừng núi Tây Nguyên.

   Phát huy thắng lợi, đêm 6 tháng 7 Trung đoàn 101  sử dụng Tiểu đoàn 2 tiến công và làm chủ quận lỵ Đắc Tô, loại khỏi vòng chiến đấu 80 tên địch, phá hủy 7 xe quân sự, 1 kho đạn và một kho xăng, thu 62 súng và 29 máy thông tin. Ngày hôm sau (7.7), Tiểu đoàn 1 của Trung đoàn phục kích trên đường 14 đoạn nam Đắc Tô, loại khỏi vòng chiến đấu 75 tên thuộc trung đoàn 42 đi cứu viện, trong đó có tên trung tá Nguyễn Văn Nho - trung đoàn trưởng bị tử trận. Những đòn tiến công quân sự của chủ lực Mặt trận trên hướng bắc Tây Nguyên đã tạo điều kiện cho quân và dân Kon Tum đẩy mạnh các hoạt động tiến công, diệt nhiều đồn bốt, phá banh nhiều ấp chiến lược dọc quốc lộ 14 như: Kon Rú, Kon Tra, Đắc Sé, Kong La... mở rộng vùng giải phóng. Đợt hoạt động mạnh của ta ở bắc Tây Nguyên mùa hè năm 1965 làm cho địch lo sợ; Chính hãng UPI đã phải thốt lên: ''Việt Cộng có thể cắt đôi miền Nam ở vĩ tuyến 15, nơi họ chiếm giữ gần hết tỉnh Kon Tum trong tuần qua''.




-------------------------------------------------------------------
1. Một sô trận đánh của các đơn vị thuộc Binh Đoàn Tây Nguyên, tập 5, Nxb QĐND, H.1996, tr. 25.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 09:03:34 pm
*

   Trong khí thế tiến công sôi động, rộng khắp của quân và dân Tây Nguyên, ngày 11 tháng 7 năm 1965 Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên họp kiểm điểm công tác lãnh đạo các mặt sáu tháng đầu năm, đồng thời ''quyết  nghị một số phương hướng lãnh đạo trước mắt trong đợt ba của chiến dịch mùa hè''. Thép đó, Đảng ủy ra nghị quyết ''về quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ''. Tuy lúc này những đơn vị chiến đấu lớn của quân viễn chinh Mỹ chưa lên Tây Nguyên, nhưng Đảng ủy Mặt trận đã dự kiến tình hình, âm mưu sắp tới của địch và nhận định:  ''Trên chiến trường B3, vùng rừng núi Tây Nguyên có vị trí chiến lược quan trọng. Để bảo đảm giữ vững các khu vực chiến lược này, trong thời gian tới chúng có khả năng đưa những đơn vị quân Mỹ hoàn chỉnh chiếm đóng ở các vị trí chiến lược quan trọng, chủ yếu và trước tiên có thể là Plei Ku, Kon Tum... Quân Mỹ xuất hiện trên chiến trường Tây Nguyên, nhất thời chúng có thể bơm thêm sức hoạt động cho bọn ngụy quân, nhưng chúng cũng không thể nào khắc phục được nhược điểm cơ bản của bọn ngụy quân... ngày càng suy yếu đồng thời trên 0chiến trường sẽ xuất hiện nhiều mục tiêu ngoài công sự cũng như trong hậu cứ, tạo điều kiện cho ta tiêu diệt chúng, mặc dù ban đầu chúng có thể đánh phá một số nơi và gây khó khăn tạm thời cho ta, chứ không thể đẩy lui  được phong trào cách mạng của ta đang phát triển''1. Trên cơ sở đánh giá khoa học và dự đoán sát đúng đó, Đảng ủy xác định: ''Chúng ta cần phải cảnh giác mọi mặt, thường xuyên bồi dưỡng, chuẩn bị tư tưởng cho bộ đội sẵn sàng diệt quân Mỹ. Quyết đánh thắng trận đầu và giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ biện pháp đề phòng binh khí, kỹ thuật Mỹ (nhất là máy bay, hóa chất độc)''; trước hết phải dám đánh Mỹ và quyết tâm thắng Mỹ, cứ đánh khắc tìm ra cách đánh.

   Nghị quyết tháng 7 năm 1965 của Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên có ý nghĩa rất quan trọng, nó không  những kịp thời chỉ đạo các lực lượng đẩy mạnh tiến công  địch trong đợt 3 hoạt động hè, mà còn thể hiện tính nhạy bén chủ động, kiên định cách mạng, đặt cơ sở cho việc chuẩn bị tư tưởng, xây dựng quyết tâm sẵn sàng bước  vào cuộc đọ sức với quân viễn chinh Mỹ trên chiến  trường Tây Nguyên. Ngay sau đó, nghị quyết của Đảng ủy Mặt trận đã được quán triệt trong đại hội Đảng bộ các cấp và cán bộ, chiến sĩ trên toàn chiến trường Tây Nguyên.

   Thực hiện nghị quyết của Đảng ủy Mặt trận, cuối mùa hè, đầu mùa thu năm 1965, các đơn vị chủ lực trên hai hướng tây bắc Kon Tum và tây nam Plel Ku phối hợp  chặt chẽ với quân và dân địa phương đẩy mạnh các hoạt  động tiến công địch. Hướng tây nam Plei Ku, Trung  đoàn 320 tiến hành vây cứ điểm Đức Cơ và phục kích  trên đường 19 tây diệt viện binh địch. Đầu tháng 8, Tiểu đoàn 966 xiết chặt vòng vây xung quanh cứ điểm Đức Cơ, liên tục pháo kích và bắn tỉa. Lúc đầu, quân địch trong trại ''lính đặc biệt' này có 400 tên ngụy và 12 cố vấn Mỹ, đến ngày 9 tháng 8, địch ở đây chỉ còn khỏang 150 tên và lâm vào tình trạng rất khốn quẫn. Để cứu nguy cho Đức Cơ, địch liên tục huy động nhiều lực lượng thay nhau đến giải vây và dùng máy bay tiếp tế, song quân cứu viện lại rơi vào các trận địa phục kích của ta. Chiến sự diễn ra quyết liệt xung quanh Đức Cơ và dọc đường 19 tây. Trong các ngày  3, 4, 5 của tháng 8, Trung đoàn 320 liên tục tiến công chiến đoàn dù ngụy, diệt 1 tiểu đoàn và đánh thiệt hại nặng hai tiểu đoàn còn lại. Địch dùng cả máy bay B57 và X-cai-rai-đơ liên tục đánh phá hỗ trợ nhưng vẫn không xoay chuyển được tình thế. Ngày 9 tháng 8, địch huy động một lực lượng lớn gồm: chiến đoàn  thuủy quân lục chiến, chi đoàn 3 thiết giáp, tiểu đoàn 21 biệt động quân, 1 đại đội công binh, 1 trung đội pháo 105mm từ Plei Ku tiến theo đường 19 tây hòng giải tỏa Đức Cơ. Lập tức Trung đoàn 320, Tiểu đoàn 952 và một đại đội pháo binh của Tiểu đoàn 200 từ trận địa  phục kích giao thông đường 19 ở  khu vực ngã ba Lệ Thanh đến ngã ba Đức Nghiệp đồng loạt nổ súng. Trận đánh diễn ra rất quyết liệt, kéo dài suốt ngày 9 đến 4 giờ 30 phút ngày 10 tháng 8. Ta loại khỏi vòng chiến đấu gần 500 tên địch (có 2 cố vấn Mỹ và 1 thiếu tá ngụy bị diệt), bắt 4 tên; phá hủy 10 xe bọc thép, 3 xe tăng, 12 xe ô tô, 2 pháo 105mm, bắn rơi 2 máy bay (1 F.105 và 1 L.19); thu 22 khẩu súng và nhiều quân dụng. Về phía ta có 107 đồng chí hy sinh và 102 đồng chí bị thương.

    Chiến thắng lớn của ta ở tây nam Plei Ku đã làm cho quân khu 2 ngụy hoang mang, tướng Oét-mo-len (Wiuiam Westmoreland) tư lệnh ''Bộ chỉ huy viện trợ quân sự'' (MACV) ở miền Nam phải vội vã điều lữ đoàn dù số 173 và lữ đoàn bộ binh số 2 Mỹ từ Phan Rang và Biên Hòa lên Plel Ku (10.8 ). Nhưng bọn lính dù Mỹ đi đến Thanh Bình đã bị súng cối và súng máy của ta đánh vào đội hình. Ngày 12 tháng 8, Oét-mo-len lén lút đáp trực thăng xuống Đức Cơ thị sát và khích lệ tinh thần binh lính. Khi chiếc trực thăng chở y vừa cất cánh thì một loạt đạn súng cối của ta rơi trúng sân bay Đức Cơ.

   Trung tuần tháng 8, khi các lực lượng ta ở tây nam Plei Ku mở vây Đức Cơ, thì ở bắc Tây Nguyên, Trung đoàn 101 được tăng cường hai khẩu pháo 75mm, 2 trung đội bộ đội huyện 40 tỉnh Kon Tum tiến công quận lỵ Đắc Sút. Nằm bên đường 14, cách thị xã Kon Tum 60km về phía bắc, quận lỵ Đắc Sút vốn là cứ điểm cũ của Pháp, được Mỹ, ngụy cải tạo xây dựng thanh cụm cứ điểm (gồm 12 cứ điểm) do ba đại đội bảo an (101, 104, 749), 2 đại đội dân vệ, 2 trung đội pháo 105mm và 2 trung đội biệt kích (có 12 sĩ quan Mỹ chỉ huy) với tổng quân số trên 450 tên, đóng giữ. Sau khi trinh sát nắm chắc tình hình, chuẩn bị chu đáo, lúc 18 giờ 15 phút ngày 18 tháng 8 ta bất ngờ nổ súng tiến công. Trận đánh diễn ra rất ác liệt, kéo dài 12 giờ. Đến 6 giờ 15 phút ngày 19, ta làm chủ hoàn toàn cụm cứ điểm, diệt gọn ban chỉ huy chi khu, 3 đại đội bảo an, loại khỏi vòng chiến đấu 145 tên (có 5 cố vấn Mỹ), bắt 211 tên, chỉ còn khỏang 100 tên chạy thóat được về Đắc Tô; phá hủy 20 xe quân sự và 2 kho đạn, bắn rơi 7 máy bay; thu 815 khẩu súng các loại (kể cả địa phương thu, có 2 pháo 105mm, 2 cối 81mm, 7 cối 61mm, 4 ĐKZ 57mm, 12 đại liên, 21 trung liên), 46 máy thông tin, 19.638 viên đạn nhọn, hàng trăm quả đạn cối, 4 tấn gạo. Về phía ta có 65 đồng chí hy sinh và 204 đồng chí bị thương.

   Đây là trận đánh có ý nghĩa cả về quân sự và chính trị là trận hiệp đồng bộ - pháo cấp trung đoàn đầu tiên tiến công cứ điểm địch của bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên. Với chiến công xuất sắc này, Trung đoàn 101 được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng nhì. Sau trận đánh, Tiểu đoàn 200 đã kéo được 2 khẩu đại bác 105mm chiến lợi phẩm về căn cứ, mở đầu truyền thống lấy pháo địch đánh địch của bộ đội pháo binh Tây Nguyên.

   Chiến thắng Đắc Sút đã kết thúc thắng lợi đợt tiến công mùa hè năm 1965 của quân và dân Tây Nguyên. Trong gần ba tháng liên tục tiến công, bộ đội chủ lực B3  được quân và dân địa phương hỗ trợ phối hợp, đánh 42 trận, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch (loại khỏi vòng chiến đấu 981 tên, làm bị thương 836 tên, bắt 437 tên), bắn rơi 18 máy bay, thu 780 súng các loại, mở rộng vùng giải phóng, buộc địch phải thu hẹp vùng kiểm soát. Trải qua chiến đấu gian khổ ác liệt, bộ đội chủ lực Tây Nguyên trưởng thành nhanh chóng, toàn diện. Chiến thắng mùa hè năm 1965 của quân và dân Tây Nguyên không những góp phần cùng quân dân toàn miền Nam đánh bại hoàn toàn chiến lược ''chiến tranh đặc biệt'' của Mỹ; mà còn là bước rèn luyện thử thách quan trọng để bước vào những đợt hoạt động dài ngày, những chiến dịch đánh tiêu diệt lớn quân viễn chinh Mỹ, trong cuộc ''chiến tranh cục bộ'' trên địa bàn Tây Nguyên.




------------------------------------------------------------------
1. Nghị quyết Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên họp ngày 11, 12, 13 tháng 7 năm 1965, tr. 18.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 09:08:23 pm
*

   Trước những thất bại liên tiếp ở Đồng Xoài  (11.5- 22.7), Ba Gia (29.5-20.7), Núi Thành (26.5), ''đặc biệt'' lo lắng về ''sự xâm nhập quy mô của lực lượng miền Bắc vào cao nguyên Trung phần'' và yêu cầu mở rộng chiến tranh xâm lược của phái hiếu chiến Mỹ, ngày 17 tháng 7  năm 1965 Tổng thống Giôn-xơn quyết định ồ ạt đưa  quân chiến đấu Mỹ và chư hầu vào miền Nam Việt Nam.  Tại cuộc họp báo ở Nhà Trắng, Giôn-xơn tuyên bố: ''Hôm nay, tôi đã ra lệnh đưa sang Việt Nam sư đoàn  không vận và một số lực lượng khác nữa để nâng hầu như ngay tức khắc tăng quân số chiến đấu của chúng ta  từ 75.000 lên 125.000. Sau đây sẽ cần thêm lực lượng bổ sung và lực lương này sẽ được đưa sang theo yêu cầu''. Đến đây cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ ở Việt Nam đã lên đến đỉnh cao nhất ''chiến tranh cục bộ''. Với chiến lược hai gọng kìm ''tìm diệt'' và ''bình định'', kết hợp leo thang đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân, đế quốc Mỹ tin rằng sẽ đánh bại lực lượng đối phương trong vòng 2 năm đến 2 năm rưỡi, giành thắng lợi quyết định.

   Thực hiện cuồng vọng đó, chỉ trong một thời gian  ngắn, Mỹ và chư hầu đã đưa vào miền Nam 4 sư đoàn, 4 lữ đoàn  (gồm 43 tiểu đoàn) nâng tổng số quân từ 85.720  tên (7.1965) lên 206.772 tên (12.1965). Cùng với tăng nhanh quân Mỹ, quân ngụy cũng được củng cố và phát triển thành 10 sư đoàn, 4 trung đoàn, 20 tiểu đoàn độc lập với tổng số 520.000 tên. Một lượng vũ khí phương tiện chiến tranh khổng lồ đổ vào miền Nam với hàng nghìn pháo lớn, 1396 xe cơ giới, 2.186 máy bay và 341 tàu chiến. Nhiều sân bay, quân cảng, kho tàng, hệ thống truyền tin, các tuyến đường bộ được gấp rút xây dựng và mở rộng phục vụ nhu cầu chiến tranh. Miền Nam Việt Nam trở thành một căn cứ quân sự khổng lồ.

   Trước âm mưu đen tối và hành động phiêu lưu leo thang chiến tranh cực kỳ nguy hiểm của đế quốc Mỹ,  ngày 20 tháng 7 năm 1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời  kêu gọi: "Đứng trước nguy cơ giặc Mỹ cướp nước, đồng bào miền Bắc và đồng bào miền Nam đoàn kết một lòng  kiên quyết chiến đấu; dù phải chiến đấu 5 năm, 10 năm,  20 năm hoặc lâu hơn nữa, chúng ta cũng kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn''. Lời hịch cứu nước của Người vang dậy núi sông, là hiệu lệnh chiến đấu giục giã quân dân hai miền Nam - Bắc bước vào cuộc đọ sức trực tiếp với quân viễn chinh Mỹ, với niềm tin sắt đá vào thắng lợi và lòng dũng cảm vô song.

   Mùa thu năm 1965, trong khí thế sục sôi đánh Mỹ  của cả nước, chiến trường Tây Nguyên có những chuyển  biến quan trọng. Xuất phát từ vị trí chiến lược, tình hình  chiến tranh phát triển, yêu cầu khẩn trương xây dựng khối chủ lực mạnh nhằm giải phóng bắc Tây Nguyên vào  cuối năm 1965; tháng 7 Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương cử Thiếu tướng Chu Huy Mân - Chính ủy Quân khu 5 làm Tư lệnh  kiêm Chính ủy Mặt trận Tây Nguyên1 thay đồng chhí Nguyễn Chánh và đồng chí Đoàn Khuê. Tiếp đó, trong Bộ tư lệnh và ba cơ quan Mặt trận có sự phân công mới: đại tá Nguyễn Chánh và thượng tá Nguyễn Hữu An làm Phó tư lệnh, đại tá Huỳnh Đắc Hương làm Phó chính ủy, thượng tá Bùi Nam Hà (Tham mưu phó Quân khu 5) làm Tham mưu trưởng, trung tá Đặng Vũ Hiệp (Phó chủ nhiệm chính trị Quân khu 5) làm Chủ nhiệm chính trị, trung tá Lê Trí làm Chủ nhiệm hậu cần Mặt trận Tây Nguyên.

   Để kịp thời chỉ đạo và bảo đảm cho khối chủ lực ngày càng lớn mạnh ở Tây Nguyên, tháng 8 năm- 1965 Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định Bộ Tổng Tham mưu trực tiếp chỉ đạo về quân sự và Tổng cục Hậu cần trực tiếp bảo đảm hậu cần cho Mặt trận Tây Nguyên. Cùng thời gian này, Bộ bổ sung cho Tây  Nguyên Trung đoàn bộ binh 33, hai tiểu đoàn vận tải bộ của Đoàn 559, tăng thêm một số cán bộ của hai sư đoàn 325, 304 và đoàn cán bộ của Tổng cục Hậu cần. Các Đoàn hành lang C02, C07 trước đây thuộc Quân  khu 5 cũng được chuyển giao cho Phòng Hậu cần Mặt trận.2

        Đến đầu mùa khô năm 1965, khi ta mở chiến dịch Plei Me, chiến trường Tây Nguyên đã có khối chủ lực cơ động mạnh, khá cân đối bao gồm: Bộ tư lệnh và ba cơ quan Mặt trận, 4 trung đoàn bộ binh (320, 101, 33 và 66 đang hành quân vào), 1 tiểu đoàn đặc công (952), 1 tiểu đoàn pháo binh (200), 1 tiểu đoàn súng máy phòng không (32), một số đơn vị bảo đảm phục vụ, với tổng quân số 7.853 cán bộ, chiến sĩ. Riêng lực lượng hậu cần hình thành hai khu vực: cánh Bắc và cánh Nam. Bên cạnh khối chủ lực Mặt trận, các lực lượng vũ trang địa phương ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc cũng có bước phát triển mới. Mỗi tỉnh đội đều có tiểu đoàn bộ binh, các dại đội binh chủng và bảo đảm, các huyện đội có đại đội, ở các xã có trung đội, làng buôn có tiểu đội du kích. Đây là lực lượng vừa tích cực dành địch tại chỗ, vừa thường xuyên củng cố xây dựng địa bàn, là nguồn bổ sung trực tiếp kịp thời cho các đơn vị chủ lực, là một nhân tố rất quan trọng tạo nên sức mạnh tổng hợp của lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên chiến thắng quân thù.




------------------------------------------------------------------
1. Lúc đầu Bộ Chính trị thông báo Thiếu tướng Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh, Thiếu tướng Chu Huy Mân làm Chính ủy Mặt trận Tây Nguyên. Sau do yêu cầu nhiệm vụ đồng chí Lê Trọng Tấn vẫn làm Phó tư lệnh Bộ chỉ huy Miền.
2. Đoàn hành lang C02 (Đoàn Đông Bắc) thuộc Quân khu 5, thành lập tháng 4 năm 1961, đảm nhiệm việc tiếp nhận hàng chi viện từ miền Bắc và từ Quảng Đà, cấp phát cho các lực lượng ta trên đất Kon Tum và chuyển tiếp cho Đồan hành lang C07 Tây Bắc) chuyển vào nam Tây Nguyên và Nam Bộ. Ngoàii ra còn có nhiệm vụ đưa đón bảo đảm sinh hoạt cho khách qua lại trên tuyến hành lang. Vị trí đứng chân của Đoàn từ cuối năm 1961 ở tỉnh Kon Tum.
Đoàn hành lang C07 (Đoàn Tây Bắc) thuộc Quân khu 5, thành lập tháng 3 năm 1961 trên cơ sở hành lang "giao bưu'' trên đất Gia Lai. Ngoài các nhiệm vụ tiếp nhận, cấp phát, chuyển tiếp hàng, đưa đón khách, Đoàn còn đẩy mạnh tăng gia tự túc. Lực lượng phần lớn là người Ê Đê, Gia Rai, Mơ Nông...


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 09:14:45 pm
*

   Tháng 9 năm 1965, trong khi ta đang khẩn trương chuẩn bị để mở chiến dịch giải phóng bắc Tây Nguyên, thì sư đoàn kỵ binh không vận số 1 Mỹ đổ bộ vào cảng Quy Nhơn, rồi lên chiếm đóng An Khê (từ 14.9.1960).

         Theo Oét-mo-len, mục đích đưa sư đoàn kỵ binh không  vận số 1 đến Tây Nguyên là ''nhằm đối phó với cuộc khủng hỏang ở cao nguyên miền Trung'' nơi có 3 trung đoàn chủ lực của đối phương đang hoạt động ở vùng tây  nam Plel Ku. Nhưng thực chất quân Mỹ lên Tây Nguyên   nhằm đạt tham vọng tiêu diệt chủ lực ta, dập tắt phong trào cách mạng, làm chủ vùng đất chiến lược này; vừa  thực hiện được chia cắt miền Nam và Đông Dương, khống chế miền duyên hải phía Đông, vừa đối phó với cuộc tiến công của ta sắp mở ở bắc Tây Nguyên mà chúng mới dò biết được. Đồng thời đây cũng là một hướng trong cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất của địch trên toàn miền Nam.

   Sư đoàn kỵ binh không vận số 1 à ''con đẻ'' của bộ rưởng quốc phòng Mỹ Mắc Na-ma-ra, được thành lập ngày 1 tháng 7 năm 1965 tại trung tâm huấn luyện Pho Ben-ninh (Fort Ben nông) bang Gioóc-gia (Mỹ), trên cơ sở sư đoàn kỵ binh số 1 (thành lập năm 1921, đã chiến đấu ở Tây, Tây nam Thái Bình Dương trong chiến tranh thế giới thứ hai và tham gia chiến tranh Triều Tiên 1950-1953). Khi đến Việt Nam, sư đoàn này có 15.787 quân, 434 máy bay trực thăng, 1.600 xe các loại (trong đó có 26 xe bọc thép hạng nhẹ), 54 khẩu pháo 105mm, 78 dàn rốc két (với 1972 ống phóng cỡ 70mm lắp trên trực thăng); tổ chức thành ba lữ đoàn gồm 9 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn trinh sát đường không, 5 tiểu đoàn trực thăng rốc két, 3 tiểu đoàn trực thăng công kích chi viện, 3 tiểu đoàn lựu pháo 105mm; tổng hành dinh đóng tại An Khê (Gia Lai), do tướng Kin - na (Harry W.B. Kin nard) chỉ huy. Đây là sư đoàn không vận cơ động đầu tiên, tinh nhuệ nhất của quân Mỹ.

   Với quân đông, vũ khí phương tiện chiến đấu nhiều và hiện đại, tầm hoạt động trung bình có bán kính từ 100km đến 150km, tối đa từ 250km đến 300km, chiến thuật chủ yếu của sư đoàn kỵ binh không vận số 1 là tập  kích bằng đỗ bộ đường không, sử dụng từng lữ đoàn tác  chiến độc lập. Thường chúng đổ bộ từ đại đội đến tiểu đoàn theo kiểu ''cóc nhảy'' vào cả phía trước, phía sau, bên sườn mục tiêu, nhằm ''bủa lưới'' rồi hợp vây ''cất vó'', ''phóng lao'' tiêu diệt đối phương. Bên cạnh những ưu thế về sức đột kích lớn, cơ động cao ít phụ thuộc vào địa hình thời tiết, tập trung lực lượng tiến công nhanh mạnh và bất ngờ vào các mục tiêu gần hoặc nằm sâu trong hậu phương của ta, giải quyết các nhiệm vụ hết sức đa dạng trong tiến công và phòng ngự, được không quân chi viện  mạnh, có nhiều phương tiện trinh sát, thông tin chỉ huy hiệp đồng thuận lợi; sư đoàn này cũng có những điểm  yếu khó khắc phục: tiêu thụ quá lớn, hậu cần nặng nề, máy bay trực thăng dễ bị hỏa lực tầm thấp tiêu diệt, binh  lính chủ quan khi bị đánh gần dễ hoang mang dao động, không phát huy được binh khí kỹ thuật. Song sư đoàn kỵ binh không vận số 1 vẫn dược các nhà quân sự Mỹ coi là một ''đơn vị lý tưởng'' của lục quân trong mọi loại địa hình; còn bộ trưởng quốc phòng Mắc Na-ma-ra cho rằng sư đoàn này ''đã tạo ra cho lục quân một khả năng mà không một lục quân nào khác trên thế giới ngày nay có được''. Vừa đặt chân lên Tây Nguyên, sư đoàn kỵ binh không vận số 1 mở các cuộc hành quân tìm diệt ở Bình Định và gấp rút chuẩn bị các cơ sở hậu cần, sân bay để hoạt động lớn ở Gia Lai.

   Trước những diễn biến mới về địch trên chiến trường, thực hiện chủ trương của Bộ chính trị và Quân ủy Trung ương: ''tranh thủ thời cơ đánh đau quân ngụy, làm suy yếu chỗ dựa về bình định, không để quân Mỹ rảnh tay tìm diệt, đồng thời khẩn trương chuẩn bị sẵn sàng đánh thắng quân Mỹ ngay từ trận đầu, nỗ lực cao nhất đánh bại chiến lược đánh nhanh giải quyết nhanh'' tiến lên đánh bại chiến lược ''chiến tranh cục bộ'' của Mỹ''1, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết định thay đổi chủ trương giải phóng bắc Tây Nguyên và hạ quyết tâm mở chiến dịch tiến công Plei Me. Mục đích của chiến dịch là tiêu diệt một bộ phận quân Mỹ, ngụy,  mở rộng vùng giải phóng, xây dựng căn cứ, phát triển chiến tranh du kích, rèn luyện và nâng cao trình độ tổ chức chỉ huy của cơ quan chiến tích, đội ngũ cán bộ các cấp và khả năng tác chiến của bộ đội.

   Sau khi nghiên cứu thực địa và phân tích kỹ, Bộ tư lệnh Mặt trận quyết định chọn địa bàn chiến dịch trong khu vực tứ giác: Plei Me - Bàu Cạn - Đức Cơ - Plei Thê rộng 1.200km2 thuộc phía Tây nam tỉnh Gia Lai, giáp biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia. Địa hình nơi đây chủ yếu là rừng khoọc tương đối bằng, xen kẽ là những tráng cỏ tranh, gần các trục đường có một số nương rẫy... thuận lợi cho các hoạt động tác chiến của bộ binh, song cũng tiện cho địch sử dụng trực thăng đỗ bộ đường không. Nổi lên đột xuất quanh khu vực có một vài dãy núi độc lập như Chư Yé (5.22m) ở phía bắc, Chư Gô (751m) ở phía đồng, Chư Pông (725m) ở phía tây nằm vắt ngang đường biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia. Trong khu vực tác chiến không có sông lớn, chỉ có con sông nhỏ Ia Đrăng và các suối Ia Muer, Ia Kreng, về mùa khô không gây nhiều trở ngại cho việc cơ động lực lượng. Chạy dọc phía bắc khu tứ giác là quốc lộ 19 tây, phía đông là quốc lộ 14, thuận tiện cho cơ giới. Ngoài ra còn một số đường đất như tỉnh lộ 21, đường nối quốc lộ 19 và quốc lộ 21 nằm ở phía đông và bắc khu tác chiến chiến dịch có thể cơ động xe cộ dễ dàng. Dân cư trong khu vực thưa thớt, hầu hết các làng, xã đều là vùng căn cứ cách mạng hoặc ta đã xây dựng dđợc cơ sở, vừa sống ''bất hợp pháp'' vừa ''hợp pháp'' với địch. Lực lượng địch đồn trú trong vùng chỉ có ba cứ điểm lớn là Đức Cơ, Tân Lạc và Plei Me, ta có thể vây để kéo viện binh. Nhưng cứ điểm Tân Lạc gần địch khó đánh, nếu vây cứ điểm Đức Cơ địch sẽ đổ bộ về phía biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia không có lợi cho viện bảo vệ hành lang và hậu phương ta. Vì vậy, Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên chủ trương vây cứ điểm Plei Me (quân số khỏang 500 tên, do 36 cố vấn Mỹ chỉ huy) nằm sâu trong tứ giác. Đây là căn cứ biệt kích hiểm yếu trấn giữ vừng tây nam Plei Ku; nếu ta vây, địch sẽ ứng cứu giải tỏa. Việc lựa chọn khu vực tứ giác Plei Me - Bàu Cạn - Đức Cơ - Plei Thê làm địa  bàn tác chiến chiến dịch bảo đảm đầy dủ các yếu tố thuận lợi cho cách đánh vây điểm diệt viện của ta. Với lực lượng khỏang một sư đoàn, ta có thể bí mật triển khai trên các hướng: vây cứ điểm Plei Me, đánh quân ngay cứu viện bằng đường bộ trên đường 21, bố trí thế trận có chiều sâu đánh quân Mỹ dỗ bộ đường không, đồng thời  có điều kiện bảo đảm hậu cần cho chiến dịch.

   Để bảo đảm chỉ đạo, chỉ huy chặt chẽ, kịp thời các  lực lượng trong từng giai đoạn chiến dịch, bên cạnh Bộ tư lệnh và cơ quan chiến dịch (do Bộ tư lệnh và cơ quan  Mặt trận Tây Nguyên chuyển thành), ta còn tổ chức một  sở chỉ huy tiền phương do đại tá Nguyễn Chánh, đại tá Huỳnh Đắc Hương phụ trách (giai đoạn đánh ngụy) và thượng tá Nguyễn Hữu An, trung tá Đặng Vũ Hiệp đảm  nhiệm (giai đoạn đánh Mỹ), đặt ở bắc núi Chư Pông.

   Mùa thu năm 1965, công tác chuẩn bị cho chiến  dịch Plei Me được khẩn trương tiến hành. Cùng với việc chuẩn bị chiến trường, kế hoạch tác chiến, vật chất hậu cần... Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận đặc biệt coi trọng  công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, nhằm làm  cho cán bộ, chiến sĩ quán triệt suất sắc tình hình nhiệm vụ, xây dựng quyết tâm dám đánh và quyết thắng Mỹ. Trên cơ sở nghị quyết của Đảng ủy Mặt trận, Thường vụ Đảng ủy tập trung chỉ đạo các đơn vị, cơ quan tiến hành  đại hội Đảng các cấp, quán triệt nghị quyết của Đảng ủy sâu rộng đến toàn thể bộ đội, coi đây là yếu tố tiên quyết để giành thắng lợi. Tiếp đó các đơn vị trong toàn Mặt trận mở đợt sinh hoạt chính trị tập trung quán triệt nhiệm vụ chiến dịch, nội dung tập trung vào cách đánh ''vây điểm, diệt viện'', xây dựng quyết tâm đánh thắng quân Mỹ, ngụy ngay từ trận đầu, ''phát huy truyền thống đánh gần, đánh thọc sâu bao vây chia cắt, đánh mạnh, xung mạnh, truy mạnh bảo đảm đã đánh là thắng, đã đánh là tiêu diệt gọn'', ''kiên quyết chống mọi biểu hiệu hữu khuynh, tiêu cực mà chủ yếu là sợ gian khổ, sợ ác liệt, sợ hy sinh, thắng kiêu,khó nản, thỏa mãn dừng lại''2, thiếu lòng tin đánh thắng Mỹ. Công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng thực hiện tốt phương pháp ''cơ bản cổ truyền'' là phát động tư tưởng, phát động giai cấp, phát động căm thù đới với quân xâm lược Mỹ và bè lũ tay sai bán nước; khơi dậy lòng tự hào đối với truyền thống anh hùng thống ngoại xâm của dân tộc, truyền thống kiên  cường bất khuất của nhân dân Tây Nguyên và vị trí chiến lược của Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ; đồng thời chú ý tuyên truyền chiến thắng của ta ở Đồng Xoài, Ba Gia... đặc biệt là những trận  đầu diệt Mỹ ở Núi Thành, Vạn Tường, quán triệt phương châm ''bám thắt lưng dịch mà đánh'' khi giao chiến với quân viễn chinh Mỹ. Đợt sinh hoạt chính trị lớn đầu tiên được tổ chức trên phạm vi toàn Mặt trận có ý nghĩa rất quan trọng, nó không những xây dựng quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ - một nhân tố cơ bản hàng đầu làm nên chiến thắng Plei Me lịch sử; mà còn khẳng định năng lực thực tiễn, tính chủ động sáng tạo và nhạy bén của Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên.

   Công tác chuẩn bị hậu cần chiến dịch được tiến  hành khẩn trương. Tổng nhu cầu vật chất bảo đảm cho chiến dịch là 202 tấn lương thực, thực phẩm, 50 tấn đạn và các cơ sở cứu chữa cho hàng trăm thương binh, bệnh binh. Mặc dù phải triển khai trong điều kiện giữ bí mật  cao, luôn bị địch rình rập đánh phá, vận chuyển chỉ bằng đôi vai, đường rừng, nhưng Phòng Hậu cần Mặt trận chủ động phối hợp chặt chẽ với các đơn vị, có dân công địa phương tăng cường đã cơ bản hoàn thành kế hoạch chỉ tiêu được giao. Lực lượng hậu cần chiến dịch tổ chức  thành hai bộ phận: căn cứ hậu cần phía sau có chỉ huy hậu cần, vận tải, kho đạn lương thực thực phẩm, trạm quân giới, Bệnh viện 2 (có khả năng thu dung điều trị 700 thương bệnh binh); căn cứ hậu cần phía trước ở làng Ba Bỉ (huyện 5), gồm có: chỉ huy hậu cần tiền phương, 2 trung đội vận tải, 100 dân công, kho đạn và bệnh viện tiền phương. Giữa hai căn cứ hậu cần phía sau và tiền phương có trạm tiếp chuyển T2. Các trung đoàn, tiểu đoàn, cơ quan chiến dịch được cấp phát đầy đủ đạn được, lương thực thực phẩm theo quy định. Riêng Trung đoàn 320 và Trung đoàn 33 được tăng cường mỗi đơn vị một tổ phẫu và 100 dân công. Mặc dù một số chỉ tiêu về lương thực, đạn dược vẫn còn thiếu, nhưng đây là một cố gắng lớn của ngành hậu cần Mặt trận còn non trẻ, lần đầu tiên phục vụ bảo đảm chiến dịch ở Tây Nguyên.

   Bên cạnh lực lượng chủ lực Mặt trận, Tỉnh ủy và Tỉnh đội Gia Lai nhất là quân dân huyện 5 - nơi chiến dịch sắp diễn ra, tích cực phối hợp với B3 làm công tác chuẩn bị. Tỉnh Gia Lai thành lập cơ quan chi viện tiền phương phục vụ chiến dịch, cử nhiều đoàn cán bộ xuống các xã vận động nhân dân đi dân công, huy động lương thực, thực phẩm. Các đồng chí Lê Tam - Bí thư huyện ủy và đồng chí Lư - Phó bí thư huyện ủy huyện 5 trực tiếp chỉ đạo chiến dịch phối hợp với bộ đội chủ lực. Tiểu đoàn bộ binh H15 của tỉnh được lệnh về triển khai ở phía đông đường 14, từ Mỹ Thạch đến tây sông A Yun để phối hợp đánh địch vòng ngoài. Hội phụ nữ giải phóng huyện do chị Rah Lan H-Bình làm hội trưởng tích cực huy động nhân dân đóng góp sức người, sức của cho bộ đội, vừa tổ chức sẵn các đội nữ đấu tranh chính trị khi  chiến dịch diễn ra. Nhiều cụ già ở các làng Sinh, Mùi, Nú, Hoa gói cơm nếp, gùi chuối, mía, gà đi hàng chục cây số thăm hỏi động viên bộ đội. Tạo các làng, hàng vạn công được huy động vào giã gạo, cả các cụ ông người dân tộc thiểu số cũng tham gia cho kịp phục vụ chiếu đấu, một việc mà bao đời nay người đàn ông dân tộc ở đây không bao giờ làm.

   Trong điều kiện còn rất nhiều khó khăn, quân và dân Gia Lai đóng góp cho chiến dịch 70 tấn gạo, 2 tấn thực phẩm và trên 20 nghìn ngày công là một nỗ lực phi thường, là nguồn động viên cổ vũ vô giá đối với cán bộ, chiến sĩ Mặt trận Tây Nguyên, là một nhân tố quan trọng góp phần làm nên thắng lợi của chiến dịch3.

    Đầu tháng 10 năm 1965, khi Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh thông qua quyết tâm và kế hoạch chiến dịch Plei Me của Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên, thì cũng là lúc những công tác chuẩn bị cuối cùng cho chiến dịch được gấp rút hoàn thành. Trước ngày chiến dịch nổ súng, các trung đoàn: 320, 33, Tiểu đoàn đặc  công 952, Tiểu đoàn 200 pháo binh, Tiểu đoàn 32 súng  máy phòng khơng v các đơn vị bảo đảm, hậu cần đã triển  khai xong ở các vị trí quy định. Các lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc cũng sẵn sàng nổ súng phối hợp.




------------------------------------------------------------------
1. Đại tướng Chu Huy Mân: Thời sôi động. Nxb QĐND, H.2004, tr 417, 418.
2. Mấy vấn đề công tác chính trị chiến đấu trong Chiến dịch Plei Me, từ 19.10 đến 25.11.1965. Phòng chính trị B3, Số 94/CT, tr. 2.
3. Theo báo cáo của Tỉnh ủy Gia Lai tại Hội thảo khoa học ''Chiến thắng Plei Me 30 năm sau nhìn lại'' thì mùa thu năm 1965 nhân dân Gia Lai huy động 1.200 tấn lương thực, lúc cao nhất có 2.500 dân công thanh niên phục vụ hỏa tuyến.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 09:26:15 pm
*

   Thực hiện kế hoạch chiến dịch, 4 giờ sáng ngày 19 tháng 10 năm 1965 Trung đoàn 33 bắt đầu rời vị trí tập kết ở Quênh Kla, cách Plei Me 15km về phía Tây, bí mật hành quân về phía mục tiêu1. Đến 17 giờ cùng ngày, đơn vị đến cách Plei Me 1,5km, sau đó lợi dụng đêm tới Tiểu đoàn 3 (thiếu Đại đội 2) vào chiếm lĩnh trận địa tiến công tiền đồn Chư Ho. Cùng lúc Đại đội 2, một trung dội (thuộc Đại đội 1 Tiểu đoàn 1) và hỏa lực Trung đoàn 33 bí mật tiếp cận xây dựng công sự vây ép Plei Me trên ba hướng: Tây nam, đông nam và Tây bắc, cách hàng rào địch từ 50m đến 100m. Nhằm nghi binh lừa địch, lúc 19 giờ Tiểu đoàn 200 pháo kích vào căn cứ Đức Cơ, một đại đội của Tiểu đoàn 952 nổ súng đánh Tân Lạc, một đại đội súng cối và một tổ công binh đánh vào ngã ba Phú Mỹ. Đại đội 2 thuộc Tiểu đoàn 15 (mới thành lập) bộ đội địa phương tỉnh Gia Lai tập kích vào trung đội dân vệ ở nhà thờ Mỹ Thạch. Tưởng ta tiến công hai cứ điểm Tân Lạc, Đức Cơ từ 19 giờ l5 phút đến 24 giờ, địch huy động máy bay đến thả pháo sáng, bắn phá xung quanh hai cứ điểm này.

   Đúng 22 giờ 45 phút ngày 19, trung đoàn trưởng Trung đoàn 33 ra lệnh cho Tiểu đoàn 3 nổ súng tiến công tiền đồn Chư Ho, làm hiệu lệnh chung vây lấn Plei Me. Lập tức hai khẩu cối 82mm bắn dồn dập vào đồn trong ít phút, bộc phá viên lên mở cửa nhưng chỉ nổ một quả, quả thứ hai không nổ, hàng rào thép gai bung lên rồi lại rơi xuống nhưng không dứt. Đại đội trưởng Long (Đại đội 3) và đồng chí bộc phá viên lao lên dùng ống bộc phá không nổ đè lên hàng rào, kết hợp tay chân vít dây thép gai xuống cho bộ đội xung phong. Chớp thời cơ, tiểu đội trưởng Thương dẫn đầu tổ thọc sâu nhanh chóng vượt qua hàng rào đánh thẳng vào nhà chỉ huy đồn, diệt khẩu đại liên cắt đứt đường rút lui của địch về hướng Plei Me, tạo điều kiện thuận lợi cho các mũi phát triển chiến đấu. Sau sáu phút nổ súng, ta làm chủ hoàn toàn Chư Ho (điểm cao 468), diệt gọn một trung đội địch.

   Cùng thời gian này, Tiểu đoàn  và hỏa lực súng cối, ĐKZ của Trung đoàn bắn phá Plei Me, diệt một số địch, phá sập một số lô cốt, nhà lính gây nhiều đám cháy. Lúc 23 giờ 02 phút, hai mũi vây ép ở hướng tây nam và  tây bắc đánh bộc phá mở thông hai hàng rào. Dưới ánh sáng của đèn dù và lứa cháy, bộ đợi tích cực đào công sự  vây ép xung quanh Plei Me. Ngay trong đêm, lực lượng phía sau của Tiểu đoàn 1 và cơ quan Trung đoàn 33  chuyển gỗ, nứa lên các trận địa vây lấn để làm hầm, vòng vây xung quanh cứ điểm Plei Me đã khép chặt.

   Chư Ho bị diệt, Plei Me bị tiến công và đang bị vây chặt làm cho chỉ huy quân đoàn 2 và biệt khu 24 ngụy lúng túng bị động. Phán đoán ta có thể phát triển đánh vào Phú Mỹ, Mỹ Thạch, Phú Nhơn, nên tư lệnh biệt  khu 24 chỉ thị cho thuộc cấp tăng cường phòng thủ các vị trí trên, nếu không giữ được thì rút về Hàm Rồng. Từ 2 giờ 30 phút ngày 20 tháng 10, máy bay địch đánh phá dữ dội vào trận địa vây ép của ta với cường độ ngày càng cao và ác liệt. Tính đến ngày 22, chúng đã huy động tới  360 lần chiếc máy bay các loại đánh phá xung quanh Plei Me. Để chuẩn bị ứng cứu bằng đường bộ, lúc 9 giờ ngày 20, một đại đội thám báo địch chia thành nhiều tốp nhỏ, từ ngã ba Ogri sục sạo hai bên đường 21 rồi tiến về phía Plei Me. Do Trung đoàn 320 làm tốt việc ngụy trang giữ  bí mật, nên địch không phát hiện được trận địa phục kích của ta xây dựng đêm 17, sáng 18 tháng 10 ở phía tây đường.

   Thực hiện mệnh lệnh của Bộ tư lệnh chiến dịch: tích cực bao vây tiêu hao địch ở Plei Me, cắt tiếp tế, triệt nguồn nước, khống chế đường không, sẵn sàng cơ động diệt viện. Trong ngày 20, bộ đội trên các hướng vây ép dũng cảm chịu đựng bom đạn ác liệt, vừa tích cực đào công sự, vừa linh hoạt mưu trí dùng hỏa lực, xung lực tập kích các toán quân trong đồn ra phản kích, khống chế sân bay, đường ra suối lấy nước, khu thông tin... gây cho địch nhiều thiệt hại. Tại trận địa chết giữ Chư Ho, một tiểu đội của Tiểu đoàn 3 chiến đấu rất quyết liệt, vừa đánh quân địch phản kích vừa đánh trả hàng chục lấn máy bay địch, giữ vững trận địa.

   Sáng ngày 21 tháng 10, địch dùng trực thăng đổ bộ tiểu đoàn 91 biệt kích dù xuống làng Khọp (Plei Xom) cách Plei Me 5km về phía bắc để thăm dò, cho trực thăng nghi binh trên hướng đồn Bo. Giữa trưa, biệt khu 24 đưa  chiến đoàn 3 thiết giáp tiểu đoàn 21 biệt động quân và tiểu đoàn 1 (trung đoàn 42) từ Plei Ku đến Phú Mỹ (ngã ba đường 14  và tỉnh lộ 21), đồng thời cho quân sục sạo ven đường 21 nhưng không phát hiện được gì.  Song  song với các hoạt động trên, máy bay địch đánh phá mạnh vào các trận địa vây lấn của ta xung quanh Plei Me. Đại đội 1 (Tiểu đoàn 3) bị bom đánh trúng đội hình làm đại đội trưởng Phúc hy sinh và một số chiến sĩ thương vong. Đại đội phó và chính trị viên Đại đội 1 dao động, cho phân đội rút ra. Nhưng chỉ có bộ phận vây phía sau nhận được lệnh rút, bộ đội không được tổ chức nên một số bị lạc, trong đó có đại đội phó. Đến chiều tối ngày 21 có 70 cán bộ, chiến sĩ của Tiểu đoàn  rời trận địa vây về đến đơn vị. Lúc này, lực lượng vây ép phía trước chỉ còn Tiểu đội 9 (Trung đội 3 Đại đội 1) và bộ phận hỏa lực gồm 1 đại liên, 1 ĐKZ 75 do trung đội phó Biên chỉ huy  huy tiếp tục chiến đấu, vẫn trụ bám sát hàng rào, nhưng bị mất liên lạc với cấp trên và không được tiếp tế. Lúc 16 giờ khỏang một đại đội địch từ trong cứ điểm nống ra trận địa vây của ta. Đợi chúng đến cách chiến hào 50m các chiến sĩ mới bất ngờ nổ súng, diệt tên đại đội trưởng và một số tên, bọn còn lại bỏ chạy vào đồn. Đêm 21, rạng ngày 22 bộ đội tranh thủ củng cố  công sự, đào thêm hố bắn, hàm ếch chuẩn bị cho trận đánh mới. Sáng sớm ngày 22, sau khi cho một trung đội nống ra bị đánh lui, địch tập trung pháo cối và máy bay đánh phá rất ác liệt vào trận địa của Tiểu đội 9; chúng dùng nhiều bom bi, bom na pan và bom xăng hòng hủy diệt trận địa. Khi tin rằng lực lượng đối phương bị tiêu diệt, 15 giờ hai đại đội địch từ trong đồn tiến ra trận địa vây. Mặc dù địch đông, nhưng các chiến sĩ vẫn bình tĩnh, dựa chắc vào công sự, hàm ếch chờ chúng đến thật gần mới bất ngờ dùng đại liên, trung liên bắn mãnh liệt vô tốp địch đi đầu buộc chúng phải tháo chạy ngược trở vào, bỏ lại nhiều xác chết và một số tên bị thương. Về phía Tiểu đội 9 cũng bị tổn thất: tiểu đội trưởng hy sinh, tiểu đội phó bị thương, đồng chí Châu xạ thủ trung liên bị thương lần thứ hai máu chảy nhiều đã tự dùng đất đắp vào vết thương để  cầm máu, không dám dùng băng vì sợ màu trắng dễ bị lộ. Sau đợt ra lấy xác đồng bọn  lúc 18 giờ 30 phút bị diệt thêm, địch tiếp tục đánh phá mạnh vào trận địa ta. Đến 19 giờ lực lượng vây ép chỉ còn 7 người, vũ khí còn 1 đại liên, 1 ĐKZ75 và một số AK, lựu đạn do trung đội phó Biên chỉ huy, nhưng ai củng quyết tâm chiến đấu giữ vững trận địa dù nhịn đói, chịu khát và phải hy sinh đến người cuối cùng.

   Đêm 22 tháng 10, chỉ huy Trung đoàn 33 chỉ thị cho Tiểu đoàn 1 tăng cường ngay một tiểu đội bộ binh trang bị mạnh do đại đội phó Sự (Đại đội 1) trực tiếp chỉ huy cho bộ phận vây ép, và quyết định tặng danh hiệu ''Đơn vị quyết thắng" cho Tiểu đội 9. Nhưng địa hình bị bom pháo làm biến dạng, nên đến 4 giờ sáng ngày 23 hai chiến sĩ Lành và Ngôn đem cơm nước mới tìm thấy trận địa vây ép. Có người chưa kịp ăn thì địch ập đến. Lập tức các chiến sĩ chặn đánh quyết liệt bằng AK, lựu đạn, lưỡi lê. Sau 20 phút chiến đấu, khỏang 20 tên địch bị diệt, số còn lại buộc phải tháo lui. Trong trận cuối cùng này, hầu hết vũ khí bị hư hỏng, chiến sĩ bị thương, kiệt sức, phải rút ra. Lúc 23 giờ cùng ngày, Bộ tư lệnh chiến dịch lệnh cho Trung đoàn 33 chuyển sở chỉ huy về Quênh Xom, đưa Tiểu đoàn 3 về đội hình, đồng thời tiếp tục dừng Tiểu đoàn 1 vào vây ép cứ điểm Plei Me ngay trong đêm 24 tháng 10.

   Sau năm ngày vây lấn, Trung đoàn 33 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ vây ép Plei Me, tiêu diệt 249 tên địch, làm bị thương nhiều tên, trong đó có tên đại úy Mỹ đồn trưởng bị thương nặng; bắn cháy 4 xe thiết giáp và 1 xe tăng, bắn rơi 13 máy bay, phá sập 10 lô cốt và nhiều nhà lính. Trận vây ép Plei Me không những buộc quân địch phải đi cứu viện, tạo điều kiện cho Trung đoàn 320 tiêu diệt, mà còn tìm hiểu thêm một bước trong hành động chiến thuật và chiến dịch của địch; đồng thời đánh dấu bước phát triển mới về nghệ thuật vây điểm của bộ đội chủ lực Tây Nguyên: dùng binh lực ít và không phải  công kiên dứt điểm vẫn kéo được viện binh lớn của địch.




------------------------------------------------------------------
1. Theo kế hoạch, ngày nổ súng mở màn chiến dịch Plei Me là 18.10, nhưng xét thấy Trung đoàn 33 cần chuẩn bị thêm, khi địch đã phát hiện dấu vết cho phát quang xung quanh cứ điểm... nên Bộ tư lệnh chiến dịch cho lui ngày nổ súng vào hôm sau (19.10).


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 09:29:06 pm
*

   Để cứu đồng bọn đang lâm vào tình trạng khốn quẫn ở Plei Me, ngày 23 tháng 10 tướng ngụy Vĩnh Lộc tư lệnh quân khu 2 - quân đoàn 2 quyết định đưa một lực  lượng lớn gồm: chiến đoàn 3 thiết giáp, tiểu đoàn 21 biệt động quân và tiểu đoàn 1 (trung đoàn 42) với hơn 1.000 tên do trung tá Nguyễn Trọng Luật chỉ huy, theo đường 21 đến giải vây cho Píei Me; đồng thời đổ bộ tiểu đoàn 22 biệt động quân xuống Plei Me Tô, đưa sở chỉ huy tiền phương biệt khu 24 đến Phú Mỹ. Chiến đoàn 3 thiết giáp là chiến đoàn cơ giới duy nhất của biệt khu 24 lúc đó, có 3 chi đoàn với trên 40 xe tăng, xe M113 và nhiều xe chở đạn, xăng dầu. Mặc dù quân đông, trang bị nhiều, cơ động nhanh, hỏa lực mạnh lại được máy bay pháo binh chi viện, trinh sát nhưng địch vẫn rất thận trọng. Lúc 12 giờ, địch rời Phú Mỹ theo đường 21 tiến về phía trận địa phục kích của Trung đoàn 320 ở khu vực từ điểm cao 601 đến điểm cao 538. Đội hình hành quân kéo dài 5km, chia làm bốn bộ phận, đi cách nhau 500m. Đi đầu là tốp xe tăng, xe bọc thép và khỏang 1 đại đội biệt động quân; tiếp đó là bộ phận chính gồm chỉ huy, cố vấn Mỹ, nhiều  xe cơ giới và hai đại đội biệt động quân; đoàn thứ ba ngoài số xe bọc thép có 2 xe kéo pháo (105mm), xe chở xăng dầu, đạn dược, và 2 đại đội bộ binh bảo vệ; sau cùng là 2 đại đội thuộc tiểu đoàn 1  trung đoàn 42.

   Mọi diển biến của lực lượng cứu viện địch đều bị trinh sát ta nắm chắc và báo cáo kịp thời về sở chỉ huy Trung đoàn 320 ở bình độ 530 phía tây cuối Ia Muer. Do địch thay đổi đột ngột tốc độ hành quân, chuyển sang đi  bộ, bắn phá ném bom dọn đường... nên trung đoàn  trưởng Tô Đình Khản phải nhiều lần ra lệnh cho hai tiểu  đoàn 635 và 334 đang xuất kích phải tạm dừng. Thời gian vận  động từ vị trí ém quân đến trận địa phục kích kéo dài gần 150 phút (từ 14 giờ 4 phút đến 16 giờ 30 phút) làm tinh thần của bộ đội rất căng thẳng, nhưng ai cũng chấp hành nghiêm mệnh lệnh, giữ được bí mật bất ngờ đến phút chót. Đúng 16 giờ 52 phút, Đại đội 1 Tiểu đoàn 635 bất ngờ nổ súng bắn cháy chiếc xe tăng đi đầu và bắn hỏng chiếc thứ hai, chặn đứng đội hình tiến quân của địch, làm hiệu lệnh cho trận (lệnh. Lập tức các cỡ súng của Tiểu Đoàn 635 từ trận địa phục kích bên tây đường đồng loạt bắn vào đoàn xe địch. Hai phút sau, Tiểu đoàn 334 cũng nổ súng mãnh liệt vào các mục tiêu. Các trận địa súng máy phòng không tích cực bắn máy bay địch bảo vệ đội hình chiếu đấu. Tiểu đoàn 966 từng bước cơ động sẵn sàng bước vào chiếu đấu trên các hướng theo mệnh lệnh của Trung đoàn.

   Trên hướng Tiểu đoàn 635, quân địch rất đông, bom pháo địch rất ác hệt, một số cán bộ, chiến sĩ bị thương vong, nhưng Đại đội 1 làm nhiệm vụ chặn đầu chiến đấu rất dũng cảm chặn đứng đoàn xe địch. Lúc 17 giờ hai đại đội 2 và 3 đồng loạt xung phong ra mặt đường đánh chia cắt đội hình địch, bắn cháy nhiều xe, diệt nhiều  bộ binh. Chiến sĩ Nguyễn Văn Hàm bình tĩnh bắn cháy 5 xe M113, Nguyễn Văn Lãng bắn 3 phát B40 diệt 3 xe tăng, Lương Văn Bạt cũng diệt 2 chiếc xe tăng khác. Ở Đại đội 3 có chiến sĩ bị thương nặng vẫn không rời trận địa, tiếp tục ở lại chiến đấu. Bị ta đánh mạnh, phần lớn lực lượng đi đầu và đi giữa đội hình hành quân của địch  bị tiêu diệt, số còn lại vừa điên cuồng chống trả vừa co cụm về phía đồng đường. Nhưng bộ phận đối diện hoang mang không đám nổ súng, nên khỏang 10 xe M113, xe tăng và gần một đại đội bộ binh địch chiếm được đồi cây Độc Lập. Theo dõi sát diễn biến trận đánh, trung đoàn trưởng Trung đoàn 320 lệnh cho Tiểu đoàn 635 tổ chức tiến công tiêu diệt ngay bọn địch co cụm. Sau nhiều lần tổ chức xung phong nhưng Tiểu đoàn 635 vẫn không chiếm được đồi cây Độc Lập, một Số chiến sĩ thương vong, trong đó có 5 cán bộ đại đội, buộc phải tạm dừng.

   Hướng khóa đuôi của Tiểu đoàn 334 do tiểu đoàn trưởng Luyện Bá Di và chính trị viên Vũ Năm chỉ huy,  chiến sự cũng diễn ra rất ác liệt. Đại đội 2 (tức Đại đội 14) khi vận động đến cách đường 21 khỏang 150m đến  200m, phát hiện nhiều xe địch cụm lại ở đỉnh điểm cao 601; cán bộ đại đội nhanh chóng hội ý, quyết định chuyển từ phục kích sang bao vây tập kích cụm địch này. Sau ít phút, đại đội chia làm hai mũi từ phía đông và phía Tây bắc tiếp cận mục tiêu. 17 giờ 04 phút đại đội trưởng chỉ huy hỏa lực bắn chuẩn bị dồn dập vào cụm địch. Bộ đội tiếp cận bị địch phát hiện bắn chặn quyết liệt. Chính trị viên đại đội hô lớn "xe cụm lại nhiều là thời cơ tốt cho đại đội ta lập công!". Lời động viên phát ra đúng lúc, có tác dụng cổ vũ mạnh, cán bộ, chiến sĩ bất chấp bom đạn dũng cảm xung phong đánh vào đội hình địch. Khẩu đội ĐKZ bắn cháy liền 4 xe, xạ thủ B40 bắn phát đầu tiên tiêu diệt 1 chiếc M113. Chớp thời cơ, trung đội trưởng Thông dẫn dầu đội hình xung phong, phối hợp nhịp nhàng với Trung đội 2 do đồng chí Tình chỉ huy đánh thọc sâu, chia cắt. Cách đánh áp sát dũng cảm của ta làm cho xe thiết giáp địch không phát huy được hiệu quả, bộ binh địch hoang mang chống cự yếu dần, rồi lần lượt bị tiêu diệt và xin hàng, máy bay pháo binh địch chỉ oanh tạc vòng ngoài. Sau hơn một giờ chiến đấu, Đại đội 2 làm chủ hoàn toàn điểm cao 601, diệt và bắt hơn 200 tên địch, bắn cháy phá hủy 30 xe quân sự và 2 pháo 105mm làm lứa cháy sáng rực một góc trời.

   Cùng thời gian này, Đại đội 13 Tiểu đoàn 334 tiến vào đồi Blou, tuy không thấy địch nhưng đại đội trưởng Đại đội 13 lại báo cáo cấp trên: địch ở đây rất đông. Do không kiểm tra kỹ, tiểu đoàn trưởng lệnh cho cối 81mm bắn dồn dập vào thung lũng Blou, đồng thời đưa Đại đội 15 (dự bị) xuất kích khi tới thung lũng không thấy địch. Trung đoàn cũng lệnh cho một đại đội (của Tiểu đoàn 966) cơ động về hướng thung lũng Blou chi viện cho Tiểu đoàn 334. Đến 17 giờ 13 phút, sau khi tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 334 báo cáo đã chiếm được thung lũng, trung đoàn trưởng lệnh cho tiểu đoàn dùng Đại đội 13 đánh lên đồi cây Độc Lập chi viện cho Tiểu đoàn 635. Nhưng cán bộ Đại đội 13 chấp hành không nghiêm mệnh lệnh đó, tự động cho bộ đội tiến về phía điểm cao 601.

   Sau hai giờ chiến đấu, lúc 18 giờ 30 phút ngày 23 tháng 10, quân địch ở trong trận địa của Trung đoàn 320 bị tiêu diệt phần lớn, chỉ còn lại 6 xe tăng và một số bộ binh (trong đó có tên Nguyễn Trọng Luật chiến đoàn trưởng và cố vấn Mỹ) co cụm ở đồi cây Độc Lập, 4 xe tăng ở bắc điểm cao 538, 2 đại đội thuộc tiểu đoàn 1 trung đoàn 42 cùng một số xe ở bình độ 600 (gần ngã ba Ogri). Trước tình hình đó, chỉ huy Trung đoàn quyết tâm tiêu diệt gọn cụm địch ở đồi cây Độc Lập và bắc điểm cao 538, sau đó phát triển về phía bắc đánh địch ở bình độ 600. Lực lượng tiến công gồm Đại đội 8 (Tiểu đoàn 966), hai trung đội (Đại đội 15), hai đại đội 2, 3 cùng hỏa lực Tiểu đoàn 635, Đại đội cối 81mm, một trung đội ĐKZ 75, một trung đội 12,7mm do đồng chí tham mưu phó trung đoàn trực tiếp chỉ huy. Tiểu đoàn 334 được lệnh bám sát địch ở bình độ 600, sẵn sàng tiến công.

   Đúng 2 giờ ngày 24, ta nổ súng tiến công địch ở  đồi cây Độc Lập. Nhưng do nắm địch không chắc, tổ chức chiến đấu chậm, hành động của bộ đội lộ liễu, bị địch phát hiện bắn chặn quyết liệt làm trung đội đi đầu thương vong nhiều cán bộ chỉ huy dao động chỉ cho bắn súng cối và mục tiêu, không tổ chức xung phong. Sáng 24, địch dùng trực thăng bốc tên chiến đoàn trưởng và cố vấn Mỹ về Plei Ku. Đêm 24, Đại đội 3 Tiểu đoàn 635 được lệnh đánh vào đồi  cây Độc  Lập, nhưng cán bộ do dự, không nổ súng, tự lui quân.

   Trong hai ngày chiến đấu, Trung đoàn 320 đã tiêu diệt hầu hết chiến đoàn 3 thiết giáp ngụy, diệt gọn tiểu đoàn 21 biệt động quân và một đại đội thuộc tiểu đoàn 2;  giết và làm bị thương khỏang 900 tên địch, bắt 6 tên; phá hủy phá hỏng 29 xe M113, 6 xe tăng, 6 xe đạn, gần 40 xe GMC, 2 pháo 105mm và bắn rơi 3 máy bay phản lực; thu 42 súng, 20.000 viên đạn, 8 máy thông tin. Về phía ta có 87 đồng chí hy sinh và 84 đồng chí bị thương. Đây là lần đầu tiên trên chiến trường Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, ta đã tiêu diệt một chiến đoàn thiết giáp  ngụy, bẻ gãy một cánh quân tiếp viện lớn trên địa hình không mấy thuận lợi, hoàn thành xuất sắc trận then chốt thứ nhất của chiến dịch Plei Me. Với dòn chí mạng giáng vào chủ lực ngụy ở đường 21, quân Mỹ buộc phải nhảy  vào cuộc chiến theo đúng ý định của ta.

   Ngày 24 tháng 10, tướng Kin-na vội vã đưa lữ  đoàn 1 thuộc sư đoàn kỵ binh không vận số 1 lên Plei Ku và lúc 7 giờ 15 phút 93 lần chiếc trực thăng đổ bộ một tiểu đoàn Mỹ xuống tây nam Phú Mỹ 2km. Đến 15 giờ cùng ngày chúng đổ bộ tiếp một tiểu đoàn Mỹ khác cùng pháo 105mm, cối 106,7mm xuống Plei Đô Đoát cách đông bắc Plei Me 10km. Được quân Mỹ hỗ trợ, ngày 25 và 26 tháng 10  tàn quân chiến đoàn 3 thiết giáp, tiểu đoàn 22 biệt động quân, tiểu đoàn 91 biệt kích và tiểu đoàn 1 (trung đoàn 42)  ngụy mở cuộc hành quân mới theo đường 21 nhằm giải  vây cho Plei Me. Trưa ngày 26 đã diễn ra một trận đánh ác liệt giữa 11 chiến sĩ ta đang vây ép phía đông nam Plei Me do trung đội trưởng Đậu Văn Phơn chỉ huy với một  tiểu đoàn bộ binh và 20 xe bọc thép, xe tăng địch. Cả năm  đợt tiến công của chúng đều bị đánh lui. Dưới làn bom đạn dữ dội giữa hai đợt chiến đấu, các chiến sĩ thu nhặt vũ khí  của đồng đội hy sinh, sử dụng hai đến ba loại súng đánh  địch. Trung đội trưởng Đậu Văn Phơn bị thương vẫn ráng  chịu đau bình tĩnh chỉ huy, động viên chiến sĩ. Trận đánh  kéo dài đến chiều tối, địch bị mất 40 tên ngụy, 3 cố vấn  Mỹ, 3 xe M113 và 2 xe tăng nhưng vẫn không sao nhổ  được trận địa ta. Sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ,  trung đội Đậu Văn Phơn được lệnh lui quân. Mặc dù chỉ  còn 5 chiến sĩ mệt lả vì đói khát, mình đầy thương tích  nhưng vẫn khiêng cáng hết thương binh, tử sĩ, mang theo súng đạn rời khỏi trận địa. Sau đó phân đội bị lạc 10 ngày mới tìm được đơn vị. Phân đội Đậu Văn Phơn đã nêu một tấm gương sáng về tinh thần chiến đấu dũng cảm, ý chí chấp hành mệnh lệnh và tình yêu thương đồng chí đồng đội.

   Xét thấy nhiệm vụ của ''Pha 1'': vây Plei Me, diệt viện trên đường 21 đã hoàn thành, quân Mỹ đang từng  bước tham chiến; 16 giờ ngày 25 tháng 10, Bộ tư lệnh chiến dịch ra lệnh cho Trung đoàn 33 ''mở vây toàn bộ'' Plei Me, nhanh chóng điều chỉnh đội hình đưa Tiểu đoàn   về làng Khô, Tiểu đoàn 2 về khu vực suối Ia Muer, Tiểu đoàn 3 về tây Chư Ho sẵn sàng đánh quân Mỹ đỗ bộ. Trung đoàn 320 cũng được lệnh cơ động về dừng chân ở đông nam sông Ia Đrăng và Plei Bon Ga sẵn sàng cơ động đánh quân Mỹ trên hướng Tân Lạc và Plei Me.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 09:37:09 pm
*
   
   Trước thất bại nặng nề của quân ngụy, ngày 26 tháng 10 năm 1965 tướng Oét-mo-len tư lệnh quân viễn chinh Mỹ ở miền Nam lên Tây Nguyên, ra lệnh cho tướng Kin-na tư lệnh sư đoàn kỵ binh không vận số 1 ngừng ngay cuộc càn quét của lữ đoàn 3 ở Bồng Sơn (Bình Định), tập trung lực lượng tham chiến ở khu vực Plei Me nhằm: ''Đi tìm địch và cướp lấy quyền chủ động về tay mình''. Đồng thời Oét-mo-len còn quyết định đưa một trung đoàn Nam Triều Tiên, 2 chiến đoàn dù ngụy, 2 trung đoàn vận tải lên Plei Ku. Để trấn an quân ngụy, làm đẹp lòng chủ Mỹ và lừa bịp dư luận, ngày 28 lũ tướng nguy Sài Gòn do Nguyễn Văn Thiệu cầm đầu mò đến Plei Me và kHoóc lác: ''Đây là trận cuối cùng mà Việt Cộng có thể gắng gượng được tại cao nguyên!''.

   Những ngày cuối tháng 10, đầu tháng 11 năm  1965 vùng tây nam Gia Lai vang động tiếng máy bay trực thăng và bom pháo địch. Quân Mỹ bước vào tham  chiến đã làm cho cường độ hỏa lực pháo binh, không quân tăng lên đột ngột, nhất là khu vực phía tây Plei Me. Sau khi đưa sở chỉ huy lữ đoàn 1 đến Bàu Cạn và các tiểu đoàn Mỹ đóng dọc khu vực Hòn Rồng, Phú Mỹ, Bàu Cạn, Plei Đô Đoát. Từ ngày 27 tháng 10 đến ngày 10 tháng 11, địch dùng 2 chiến đoàn thủy quân lục chiến lùng sục dọc hai bên tỉnh lộ 21; đồng thời đổ bộ từng đại đội, trung dội Mỹ vào sâu hậu phương chiến địch của ta để lùng sục thăm dò, tập kích nhằm phát hiện đối phương, tìm cách giành quyền chủ động và chuẩn bị cho những đòn phản đột kích chiến dịch của lữ đoàn 3. Trong quá trình đỗ bộ ''nhảy cóc'', địch đã bị các lực lượng ta chặn đánh tiêu hao. Ngày 1 tháng 11, một đại đội Mỹ tập kích vào trạm phẫu Trung đoàn 33, bị tiểu đội bảo vệ cùng y tá, bác sĩ, hộ lý, nhân viên hậu cần, thương binh chặn đánh quyết liệt; sau đó được một đại đội của Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 33 đến giải vây, diệt 60 tên. Địch tăng quân đánh chìm đại trạm phẫu, gây cho ta nhiều thiệt hại1. Ngày 3, khỏang một đại đội Mỹ và một trung đội ngụy đỗ xuống đông nam Plei Thê, bị một đại đội đi lấy gạo của Trung đoàn 33 đánh diệt một trung đội. Ngày hôm sau (4.11), một đại đội Mỹ và một đại đội ngày tập kích vào khu lán trại cũ của Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 33, bị Tiểu đoàn 3 vận động đến diệt một trung đội. Cùng thời gian này, Đại đội 8 Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 66 trên đường hành quân đến Ba Bỉ gặp một đại đội Mỹ, đã nổ súng diệt hơn 10 tên, phá hủy 2 trực thăng. Tiếp đó, ngày 6 Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 33 diệt hàng chục tên mỹ, rồi đánh thiệt hại nặng đại đội tiếp viện. Tuy đây chỉ là những trận nhỏ lẻ, diệt khỏang 5 trung đội Mỹ, chưa thực hiện được ý định của Bộ tư lệnh chiến dịch: tiêu diệt từng đại đội địch, nhưng có ý nghĩa rất quan trọng. Nó tạo ra những điều kiện và thế trận thuận lợi cho trận đánh then chốt sắp tới, bộ đội có những kinh nghiệm bước đầu nhưng rất quý giá trước đối tượng tác chiến mới là quân viễn chinh Mỹ. Về phía địch, những trận tập kích bằng đỗ bộ đường không trong ''Pha 2" chiến dịch làm cho chúng đang từ thế bị động chuyển sang thế chủ động về chiến thuật trong thế bị động về chiến dịch''2.

   Ngày 8 tháng 11 năm 1965, Đảng ủy chiến dịch Plel Me họp mở rộng dưới sự chủ trì của đồng chí Chu Huy Mân, thống nhất đánh giá kết quả giai đoạn một của chiến dịch đã hoàn thành; đồng thời chủ trương: ''Tiếp tục châm ngòi ở Plei Me nhử cho Mỹ vào sâu hậu phương ta, kiên quyết tập trung mọi lực lượng để tiêu diệt bằng được một bộ phận quan trọng sinh lực của chúng, đánh bại một bước chiến thuật "nhảy cóc'' của sư đoàn kỵ binh không vận số 1 để gây lòng tin tưởng và khí thế cho bộ đội quyết tìm Mỹ mà đanh, gặp Mỹ là  diệt, đồng thời dể rút kinh nghiệm đánh Mỹ, một vấn đề mà ta còn lúng túng chưa có kinh nghiệm''3.  Để kịp thời chỉ huy các đơn vị chiến đấu trong ''Pha 3'' chiến dịch, đảng ủy quyết định cử thượng tá Nguyễn Hữu An và trung tá Đặng Vũ Hiệp làm Tư lệnh và chính ủy tại sở chỉ huy tiền phương. Xác định rõ ý nghĩa đặc biệt quan  trọng của trận đánh phủ đầu quân viễn chinh Mỹ ở Tây Nguyên, khi tiễn chân đồng chí Nguyễn Hữu An và đồng chí Đặng Vũ Hiệp, Tư lệnh chiến dịch Chu Huy Mân căn dặn: "Trên cơ sở đã chuẩn bị, hai đồng chí có quyền một đổi một cũng đánh thắng trận này, nhưng chỉ được lần này thôi''4.

   Tiếp đó trong hai ngày 9 và 10, Bộ tư lệnh chiến dịch mở hội nghị quân chính sơ kết ''Pha 1'', ''Pha 2'' và triển khai ''Pha 3'' theo chủ trương của Đảng ủy và kế hoạch của Bộ tư lệnh. Nghị quyết sát đúng của  Đảng ủy và sự chỉ đạo kịp thời của Bộ tư lệnh chiến dịch đã làm cho hiệu quả chiến đấu trong ''Pha 3''  chiến dịch Plei Me nâng lên rõ rệt.

   Những ngày đầu của trung tuần tháng 11 năm 1965, cuộc chạy đua quyết liệt giữa ta và địch diễn ra từng ngày, từng giờ. Về phía ta, sau khi Trung đoàn 66 hành quân vào chiến trường, các trung đoàn được điều chỉnh lại cho phù hợp ý định chiến dịch. Trung đoàn 66 đứng chân ở phía đông nam Chư pông: sở chỉ huy trung đoàn ở bắc làng Trung 1, Tiểu đoàn 7 ở  bắc làng Trung 2, Tiểu đoàn 9 ở đông bắc Chư Pông, Tiểu đoàn 8 ở khu vực Ba Bỉ. Trung đoàn 33 bố trí sở chỉ huy, các tiểu đoàn 2, 3 và Đại đội 1 (Tiểu đoàn 1) ở khu vực gần làng Briêng; Tiểu đoàn 1 (thiếu) ở khu vực suối cạn gần Ba Bỉ. Trung đoàn 320 cơ động về triển khai ở Plei Thê giáp biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia. Tiểu đoàn 952 đặc công vẫn đứng chân trên hướng Bàu Cạn. Phối hợp với bộ đội chủ lực, các lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Gia Lai sẵn sàng đánh địch ở An Khê, Bàu Cạn, diệt biệt kích thám  báo, bảo vệ kho tàng trong khu tác chiến chiến dịch. Đảng bộ và quân dân Đắc Lắc vừa tích cực ủng hộ lương thực cho chủ lực, vừa chủ động sử dụng Tiểu đoàn 301, các đội công tác H5 tập kích 4 đại đội Hòa Hảo khét tiếng gian ác ở Quảng Nhiêu, giam chân sư đoàn 23 ngụy.

   Trong khi ta đang điều chỉnh thế bố trí và chuẩn bị "Pha 3'' chiến dịch, thì ngày 10 tháng 11 lữ đoàn 3 kỵ binh không vận (do đại tá Tim Brao chỉ huy) đã đổ bộ xuống Bàu Cạn và Hàm Rồng thay cho lữ đoàn 1. Ngày hôm sau (11.11) một bộ phận của lữ đoàn 3 được đổ xuống Plei Ngo cách Plei Me  10km về phía tây. Trước diễn biến mới, Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định: ''Tạm thời đình phương án đánh lại Chư Ho và đánh Plei Me để câu viện... mà trước mắt tập trung đánh bọn Mỹ đã ra và hiện còn trong hậu phương ta''5.

   Thực hiện mệnh lệnh của Bộ tư lệnh chiến dịch, đêm 11 tháng 11, 26 chiến sĩ và 4 khẩu cối của Tiểu đoàn  952 đặc công bất ngờ tập kích vào sở chỉ huy lữ đoàn 3 Mỹ ở Bàu Cạn. Sau 30 phút chiến đấu, ta diệt một đại đội chỉ huy (khỏang 200 tên), phá hủy 40 máy bay trực thăng. Cùng đêm, lực lượng vũ trang tỉnh Gia Lai tập kích sở chỉ huy sư đoàn kỵ binh không vận số 1 Mỹ ở An Khê gây nhiều thiệt hại cho địch. Đây không chỉ là trận đánh mở màn "Pha 3'' chiến dịch, mà còn là tiếng súng phối hợp với chiến trường Đông Nam Bộ tiến công quân Mỹ ở Bàu Bàng rạng sáng ngày 12 tháng 11 năm 1965.

   Phát hiện vị trí trú quân của Tiểu đoàn 9 Trung  đoàn 66 ở đông bắc núi Chư Pông, sáng 14 tháng 11 địch dùng máy bay và pháo lớn từ các trận địa gần Ia Muer, Plei Ngon đánh phá trong nhiều giờ; lúc 10 giờ 37 phút tiểu đoàn 1 (trung đoàn 7, lữ đoàn 3 Mỹ do trung tá Harold Moore chỉ huy đổ bộ xuống khu rừng (địch gọi là bãi đáp ''Tia X'') cách vị trí chỉ huy Tiểu đoàn 9 khỏang 1km về phía đông. Cùng thời gian này, chúng lập 2 trận địa pháo (12 khẩu 105mm) ở Tây nam quênh Kla 2km và đông nam Ia Đrăng 3km (địch gọi là Phan-cơn) để chi  viện cho tiểu đoàn 1. Ngay khi xuống đất, đại đội B (do đại úy John D. Herren chỉ huy) bắt được một chiến sĩ ta (đào ngũ). Qua khai thác, biết lực lượng ta ở gần đó, đại đội B Mỹ chia làm hai mũi tiến vào vị trí chỉ huy Tiểu đoàn 9, bắn chết chiến sĩ cảnh giới.

   Khi địch đánh vào, Tiểu đoàn 9 mới biết. Lúc này tiểu đoàn trưởng, tham mưu trưởng, chính trị viên phó tiểu đoàn đi công tác vắng, chỉ có chính trị viên tiểu đoàn ở vị trí chỉ huy, nhưng lại bỏ vị trí xuống Đại đội 12;  trong khi các phân đội đóng quân dọc theo suối lại không triển khai kế hoạch tác chiến tại chỗ. Trước tình hình đó, đồng chí trợ lý tác huấn trực tiếp chỉ huy tiểu đoàn chiến đấu, lệnh cho cán bộ, chiến sĩ cơ quan tiểu đoàn kiên quyết đánh chặn địch; đồng thời lệnh cho Đại đội 13 vận động đánh vào bên phải phía sau đội hình địch và Đại đội 11 đánh chặn mũi tiến công bên trái của chúng. Ở khu vực tiểu đoàn bộ, ngay từ những phút đầu nổ súng, chiến  sĩ vận tải Đinh Quốc Sủng chỉ huy tổ cảnh giới bắn gục 7  tên Mỹ rồi ở lại chặn địch và anh dũng hy sinh tạo điều kiện cho đồng đội kịp về báo cáo cấp trên; trợ lý chính trị tiểu đoàn Vũ Thanh Xuân tổ chức bộ phận trinh sát, thông tin, y tá, nuôi quân, vận tải chiếm lĩnh công sự dũng cảm chiến đấu đánh lùi nhiều đợt tiến công của địch; trợ lý quân nhu Vũ Quốc Sự, binh nhất Lê Văn Đính và Trịnh Minh Thái bắn rất chính xác, cứ nổ súng là hạ gục một tên địch.

   Chủ động phối hợp chiến dấu, đại đội phó Đại đội 11 Bùi Hồng Cầu dẫn dầu phân đội xông thẳng vào quân địch, đánh giáp lá cà, diệt chúng bằng lưỡi lê, báng súng và lựu đạn làm quân Mỹ khiếp sợ tháo lui. Từ bờ sông Ia Đrăng, tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Định thấy phía đơn vị có tiếng súng nổ đã chủ động tìm cách quay về, khỏang 11 giờ đến Đại đội 11, liền tổ chức đại đội này, một bộ phận của Đại đội 12 hỏa lực và 1 khẩu cối 82mm tiếp tục phản tập kích. Trước sự đánh trả quyết liệt của ta, cả hai mũi tiến công của đại đội B Mỹ bị chặn lại rồi lùi dần. Tiến công thất bại, địch dùng máy bay, pháo binh oanh tạc dữ dội vào đội hình chiến đấu của ta, đồng thời đưa đại đội A tăng viện cho đại đội B. Nhưng quân tăng viện vừa vượt qua con suối cạn đã bị Tiểu đoàn 9 chặn đánh thiệt hại nặng. Lúc 16 giờ 20 phút, được sự yểm trợ của hỏa lực pháo binh và rốc két, tiểu đoàn 1 Mỹ mở cuộc tiến công cuối cùng trong ngày, khi tiến được 150m thì bị đánh bật trở lại. Đên 19 giờ địch đổ bộ tiếp đại đội B (tiểu đoàn 2, trung đoàn 7) tăng cường cho tiểu đoàn 1 và dùng phi pháo oanh tạc dữ dội vào trận địa ta. Các đại đội của Tiểu đoàn 9 tự động rời vị trí chiến đấu: Đại đội 11, 12, 15 rút về tây bắc suối Khon Cha, Đại đội 13 rút về hướng tây nam. Trên đường lui quân, Đại đội 13 gặp chính ủy Trung đoàn 66 Lã Ngọc Châu. Sau khi nắm tình hình chiến đấu của Tiểu đoàn 9, đồng chí chính ủy Trung đoàn tổ chức ngay một trung đội (của Đại đội 13) tiếp tục bám nắm địch, đồng thời lệnh cho Tiểu đoàn 7 tổ chức tập kích cụm địch ngay trong đêm và báo cáo Tiền phương Bộ tư lệnh chiến dịch.

   Sau gần 9 giờ chiến đấu, Tiểu đoàn 9 đã hoàn thành xuất sắc trận phản tập kích, loại khỏi vòng chiến đấu 150 tên địch, bắn rơi 1 máy bay và truy kích chúng chạy gần 2km. Trận đánh có ý nghĩa ''quan trọng về mặt chiến thuật: ngay từ đầu cuộc tiến công của địch đang từ
thế tiến công đột nhiên chuyển sang thế phòng ngự. Về chiến dịch trận phản tập kích này có thể coi như là bắt đầu ngòi nổ của ''Pha 3'' và đã giành thắng lơi giòn giã. Ngoài ra còn có tác dụng tạo điều kiện thuận lợi cho Tiểu đoàn 7 tập kích đêm 14 rạng ngày 15 tháng 10''6.




------------------------------------------------------------------
1. Theo J.Pim Lott trong cuốn "Việt Nam những trận đánh quyết định", trong trận tập kích vào trạm phẫu, địch sát hại 15 chiến sĩ, bắt 43 người khác, lấy đi một số tài liệu, dụng cụ y tế.
2. Đại tướng Chu Huy Mân. Thời sôi động. Sđd, tr. 49.
3. Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp. Ký ức Tây Nguyên. Nxb QĐND, H.2000, tr. 72.
4. Đại tướng Chu Huy Mân. "Mấy ý kiến với chương II" bản thảo Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân đoàn 3 (1964 2005), tr. 2, 3 (ngày 20.8.2004).
5. Trận vận động tiến công của Trung đoàn bộ binh 66 ở thung lũng Ia Đrăng từ ngày l4 đến 17.11.1962, tr 2. Hồ sơ: 02-F10 Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng.
6. Nhận xét của Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên trong Tổng kết chiến dịch Plei Me, tr.6. Hồ sơ 02-F10.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 09:41:08 pm
*

   Sau khi bị Tiểu đoàn 9 đánh thiệt hại nặng và truy kích, tiểu đoàn 1 Mỹ rút chạy hơn 2km và co cụm lại ở bãi tia X. Trước thời cơ tiêu diệt địch, 21 giờ 30 phút ngày 14 tháng 11, Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 66 được lệnh tập kích ngay cụm địch này. Mặc dù nhận nhiệm vụ gấp, địa hình mới lạ, đêm tối, các ,đại đội đều có một số chiến sĩ đi lấy gạo chưa về kịp... nhưng được chiến thắng của đơn vị bạn cổ vũ, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 7 háo hức lập công. Sau 80 phút chuẩn bị, 22 giờ 50 phút, tiểu đoàn hành quân về phía mục tiêu, vừa đi vừa phổ biến nhiệm vụ, động viên bộ đội và củng cố tổ chức; chủ trương tích cực truy tìm tiêu diệt địch, gặp là bám sát, triệt để đánh gần của Đảng ủy tiểu đoàn được quán triệt tới từng cán bộ, chiến sĩ. Do địch di chuyển trong đêm, nên đến gần 5 giờ sáng ngày 15 trung đội trưởng Nguyễn Văn Chương (Đại đội 2) mới phát hiện được mục tiêu. Sau khi trực tiếp vào kiểm tra nắm rõ địch và cho các hướng vào chiếm lĩnh, lúc 5 giờ 10 phút tiểu đoàn trưởng Phạm Công Cửu hạ lệnh nổ súng. Lập tức 2 khẩu súng cối 82mm bắn dồn dập 14 quả đạn vào mục tiêu. Hỏa lực chuẩn bị vừa rứt, đại đội 1 và đại đội 2 từ hai hướng đông - đông nam và tây - tây nam đồng loạt đánh thẳng vô đội hình địch. Trung đội 2 (Đại đội 2) đánh trúng sở chỉ huy tiểu đoàn, Tiểu đội 6 của Vũ Hải Triều nhanh chóng diệt trung tâm thông tin cắt đứt liên lạc làm cho máy bay pháo binh địch không thể yểm trợ bộ binh đang bị đánh. Cuộc chiến đấu ở bãi Tia X diễn ra rất quyết liệt, bộ đội đánh giáp lá cà bằng lưỡi lê, báng súng, dao găm, lựu đạn. Đại đội trưởng Đại đội 2 Lê Văn Tam, tiểu đội phó Hà Huy Trọng, các chiến sĩ Phạm Văn Tiết, Trần Minh Duyên, Đỗ Văn Vinh đều diệt được từ 5 đến 7 tên địch, đạt danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ. Bị đánh bất ngờ, áp sát, địch bàng hoàng chống trả rồi tháo chạy. Sau 10 phút tiến công, ta cơ bản làm chủ trận địa. Số địch còn lại chạy dạt về hai phía, lợi dụng gốc cây, ụ  mối ngoan cố chống cự. Để cứu nguy cho tiểu đoàn 1 địch đổ thêm 2 đại đội pháo (12 khẩu 105mm) lập trận địa ở Cô-lơm-bớt (Columbus) và cho máy bay phản lực oanh tạc vào chiến địa. Trong cơn bối rối, một chiếc F100 đã ném 2 thùng napan vào sát nơi cố thủ của tiểu đoàn trưởng . Mo-re. Sau 25 phút truy lùng diệt thêm một số địch, lúc 5 giờ 45 phút trận đánh kết thúc; địch thú nhận có 40 tên bị giết. Bộ đội nhanh chóng rời khỏi trận địa. Ta chỉ để lại một trung đội thuộc Đại đội 1 và 2 khẩu cối 82mm ở bìa rừng gần bãi Tia X để phục kích diệt trực thăng địch đến lấy xác. Tiểu đoàn 7 cho bắn thử ngay súng M79 vừa thu được của địch để sử dụng đánh địch. Trên đường ta lui quân, máy bay địch chặn đánh ác liệt Các chiến sĩ dùng súng bộ binh bắn hạ 4 chiếc trực thăng. Trong cuộc chiến đấu với không quân Mỹ, chiến sĩ Nguyễn Hữu Tài (Trung đội 1 Đại đội 1) lấy thân mình làm giá súng trung liên để đồng đội bắn rơi 1 chiếc AD6. làm sống lại hình ảnh Bế Văn Đàn ở Tây Nguyên; có chiến sĩ hy sinh trên lưng còn cõng thi hài đồng đội.

   Bị đòn đau, trong suốt ngày 15 địch bắn tới 6.000 viên đạn pháo và sử dụng từ 130 đến 140 lần chiếc máy bay đánh phá rất dữ dội vào khu vực tác chiến; trong đó lần đầu tin Mỹ sử dụng B52 (24 lần chiếc) làm nhiệm vụ chi viện chiến thuật cho bộ binh ở Tây Nguyên. Dưới làn bom đạn địch, các chiến sĩ phục kích dũng cảm bám trừ, kịp thời bắn hạ 2 chiếc trực thăng, khống chế bãi Tia X,  làm cho địch tăng viện khó khăn, đến 17 giờ mới đổ thêm được 2 đại đội (C và H) của tiểu đoàn 2 xuống trận địa và nhặt xác đồng bọn. Trong đêm 15, tàn quân tiểu đoàn 1 và tiểu đoàn 2 địch co cụm lại thành ba điểm ở phía bắc trận địa cũ.

   Theo dõi sát diễn biến trận đánh, thấy Tiểu đoàn 7  còn sung sức, Bộ tư lệnh tiền phương chiến dịch lệnh cho tiểu đoàn tổ chức tập kích lần thứ hai vào cụm quân Mỹ ở bãi Tia X trong đêm 15 rạng sáng ngày 16 tháng 11. Lực lượng sử dụng gồm Đại đội 3, Trung đội 1 Đại đội 1 và 2 khu cối 82mm. Thực hiện mệnh lệnh chiến đấu, Đại đội 3 do trung úy Vũ Đình Thước làm đại đội trưởng và trung úy Phạm Văn Chẩn làm chính trị viên vừa đi lấy gạo và tải thương về đã khẩn trương xuất kích. Đúng 2 giờ 30 phút trận thứ hai bắt đầu. Súng cối bắn liên tục 21 quả đạn vào mục tiêu, tiếp đó bộ binh đồng loạt xung phong. Hướng đông, trong vòng 10 phút đầu Trung đội 1 (Đại đội 1) do đại đội trưởng Lê Triệu chỉ huy đánh chiếm trận địa súng cối, phá hủy 3 khẩu cối 81mm rồi phát triển đánh địch ở cụm 2. Ở hướng nam, Trung đội 1 Đại đội 3 đánh vào cụm 1 địch. Trung đội 3 bị lạc đã chủ động tìm về phía có tiếng súng nổ, tạo thành một mũi vu hồi bất ngờ. Trong ít phút nổ súng địch ở cụm 1 bị tiêu diệt hầu hết; Đại đội 3 nhanh chóng phát triển tiến công sang cụm 3. Do yếu tố bất ngờ không còn, địch ở cụm 2 và 3 dùng hơi lực tập trung ngăn chặn, pháo lớn từ các vị trí xung quanh bắn trùm lên trận địa làm các mũi tiến công của Tiểu đoàn 7 gặp khó khăn. 5 giờ, tiểu đoàn trưởng cho các phân đội rời khỏi trận địa. Quá trình lui quân, một số chiến sĩ không nhận được lệnh rút, vẫn ở lại chiến đấu cả ngày 16. Chiến sĩ Trịnh Văn Thu một mình một súng dũng cảm đánh lui toán địch phản kích, sau đó đem theo tử sĩ và đầy đủ súng đạn rút ra an toàn.

   Hai trận tập kích liên tiếp, Tiểu đoàn 7 đã diệt đại đội C, trung đội chỉ huy, trung đội súng cối, loại khỏi vòng chiến đấu 250 tên địch, bắn rơi 6 trực thăng (trong đó có chiếc chở đại tá  Brao " lữ đoàn trưởng lữ đoàn 3 Mỹ). Địch thú nhận bị chết 79 tên, bị thương 128 tên và mất gần hai phần ba số sĩ quan tiểu đoàn. Ta thu 72 khẩu súng, 22 vô tuyến điện; phá hủy 3 khẩu cối 81mm. Về phía Tiểu đoàn 7 có 51 cán bộ, chiến sĩ hy sinh.  Ý nghĩa của trận đánh đó được Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên khẳng định: ''Hai trận tập kích liên tiếp của Tiểu đoàn 7 đã quyết định dứt khóat thế bị động hoàn toàn của quân Mỹ về mặt chiến thuật, buộc chúng rút lui có tính chất tháo chạy'', ''Tiểu đoàn 7 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ''.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Tư, 2021, 09:51:26 pm
*

   Để tránh bị tập kích đêm, sau khi nghi binh, chiều ngày 16 tháng 11 tàn quân tiểu đoàn 1 và tiểu đoàn 2 Mỹ vội vã rút khỏi bãi Tia X bằng đường bộ, đi về phía trận địa pháo Columbus và Albany ở hướng đồng. Cùng thời gian này, Chỉ huy tiền phương chiến dịch chỉ thị cho Trung đoàn 66 nhanh chóng cơ động Tiểu đoàn 8 từ Ba Bỉ về tiêu diệt lực lượng còn lại của 2 tiểu đoàn địch; đồng thời khẩn trương cho Tiểu đoàn 9 theo đường làng Sinh, Trạm 5 về triển khai ở khu vực làng Tung chặn địch. Chiều ngày 16, mệnh lệnh trên được chính ủy Trung đoàn 66 Lã Ngọc Châu giao cho chiến sĩ liên lạc  Nguyễn Đức Tăng chuyển đến Tiểu đoàn 8. Khi tiểu đoàn trưởng Lê Xuân Phôi nhận được mảnh giấy ghi mệnh lệnh từ trong túi áo đẫm máu thì cũng là lúc Nguyễn Đức Tăng trút hơi thở cuối cùng.

   Nhận rõ  tính khẩn cấp và ý thức được thời cơ tiêu diệt tiểu đoàn Mỹ đã đến, Đảng ủy Tiểu đoàn 8 họp xác định quyết tâm lãnh đạo đơn vị cơ động chiến đấu theo mệnh lệnh của trung đoàn. Tiếp đó, cán bộ tiểu đoàn, đại đội bàn kế hoạch hành quân, dự kiến cách đánh khi gặp địch trên đường cơ động (tao ngộ chiến) và sơ bộ hiệp đồng chiến đấu theo các tình huống. Thực hiện kế hoạch, chiều ngày 16 Tiểu đoàn 8 rời khu vực Ba Bỉ và đến trưa ngày hôm sau (17.11) tiến vào ngã ba làng Tung và làng Sinh, khu vực suối cạn.

   Cũng trong buổi sáng ngày 17, khỏang 400 quân Mỹ thuộc lực lượng còn lại của tiểu đoàn 1 (trung đoàn 7) và tiểu đoàn 2 (trung đoàn 5) lữ đoàn 3 hành quân về phía ngã ba làng Tung và làng Sinh. 9 giờ sáng bộ phận đi đầu của địch vượt qua suối cạn đã bắt được 2 chiến sĩ trong tổ săn máy bay của Đại đội 1 Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 33. Sau khi dừng lại 20 phút để tra hỏi, địch lại tiếp tục hành quân.

   Lúc 12 giờ, nhận được tin đơn vị bạn thông báo phía trước có địch, tiểu đoàn trưởng Lê Xuân Phôi cho đơn vị dừng lại khẩn trương triển khai đội hình chiến dấu thành hai thê đội. Bộ đội chiếm lĩnh trận địa xong thì 2 trung đội Mỹ tiến vào. Đợi địch vào thật gần, cách 40 - 50m, Đại đội 6 mới bất ngờ nổ súng đồng loạt rồi xung phong. Sau 5 phút chiến đấu, 2 trung đội Mỹ đi đầu bị tiêu diệt gọn, 2 chiến sĩ bị địch bắt trước đây được giải thóat.

   Đợt đánh mở đầu vừa kết thúc, cũng là lúc đội hình hành quân chính của địch tới cách trận địa 300m. quân Mỹ vừa đi vừa bắn, pháo binh máy bay đánh mạnh vào trận địa, nhưng các chiến sĩ Đại đội 6 vẫn kiên quyết chiếm địa hình có lợi, rồi hình thành nhiều mũi chiến đấu, từ phía bắc đánh mạnh vào đội hình quân địch. Chủ động hiệp đồng theo tiếng súng, Đại đội 8 quay lại bất ngờ đánh vào sườn tây. Cùng lúc, tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 33 Bùi Thế Luận lệnh cho Đại đội 2 đánh một mũi trên hướng bắc - đông bắc, còn mình trực tiếp chỉ huy Đại đội 1 đánh từ hướng đông lại. Hỏa lực cối 82mm của Tiểu đoàn 8 bắn mạnh vào các mục tiêu,  chi  viện bộ binh chiến đấu. Đại đội 7 cũng được lệnh bước vào chiến đấu trên hướng Đại đội 6, nhưng bị bom địch đánh cắt ngang đội hình, chỉ có một trung đội kịp lên tham chiến.

   Bị bao vây và đánh mạnh cả bốn mặt, địch co cụm trên  một dải đất hẹp, mỗi chiều chừng 200m nhưng vẫn ngoan cố chống cự. Trên trời, máy bay địch từng đàn thi nhau ném bom, bắn rốc két và đạn 20mm hòng cứu nguy cho đồng bọn trên mặt đất. Bộ đội dũng cảm áp sát đội hình quân địch, thực hiện đánh gần, đánh liên tục, kiên quyết tiêu diệt quân Mỹ. Càng về chiều, trận đánh càng trở nên khốc liệt. Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 8 Lê Xuân Phôi bị đạn pháo thủng bụng lòi một đoạn ruột máu chảy đầm đìa nhưng cố gượng dậy dùng tấm vải dù ngụy trang buộc ép lại rồi tiếp tục chỉ huy bộ đội chiến đấu và anh dũng hy sinh1; chính trị viên tiểu đoàn bị thương nặng; nhiều cán bộ, chiến sĩ hy sinh. Trước tình hình đó, tiểu đoàn phó Bùi Thế Luận phụ trách chỉ huy chung hai tiểu đoàn tiêp tục chiến đấu. Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 8 nghiêm chỉnh tự giác chấp hành mệnh lệnh. Lòng căm thù giặc Mỹ, tấm gương anh hùng của người chỉ huy quả cảm và đồng đội đã ngã xuống càng tiếp thêm sức mạnh cho cán bộ, chiến sĩ. Các phân đội siết chặt đội hình, các tổ, mũi chiến đấu bám sát yểm hộ cho nhau đánh giáp lá cà, tiêu diệt địch bằng lưỡi lê, báng súng, dao găm. Chính trị viên phó Đại đội 6 Đinh Văn Đế ba lần bị thương vẫn kiên quyết ở lại chỉ huy đơn vị chiến đấu, bắn chết 5 tên  và dùng dao găm đâm chết ba tên khác. Chiến sĩ Cao Đình Thơ bằng một đường lê chính xác đâm chết một tên Mỹ, cứu sống đồng đội các đồng chí: trung úy Đoàn Ngọc Đảnh đại đội trưởng Đại đội 8, thiếu ý Nguyễn Xuân Ngạch - trung đội trưởng (Đại đội 7), trung úy Vũ Đình Dự - chính trị viên Đại đội 8, thiếu úy Vũ Đức Thắng - trung đội trưởng (Đại đội 8 ), đồng chí Chương - trung đội phó Trung đội 3 (Đại đội 6), đồng chí Mỹ - tiểu đội trưởng (Trung đội 2, Đại đội 6), chiến sĩ Lê Văn Quỳnh, xạ thủ trung liên A (dân tộc thiểu số, Trung đội 2, Đại đội 6), tiểu đoàn phó Bùi Thế Luận là những tấm gương chiến đấu rất dũng cảm, diệt từ 5 đến 15 tên Mỹ. Chiến sĩ Huân xông pha trong lửa đạn cứu chữa thương binh, chuyển tử sĩ không để sót một người nào.

       Khi tiểu đoàn phó Bùi Thế Luận hy sinh2, cán bộ chiến sĩ của Tiểu đoàn 8 và Tiểu đoàn 1 tiếp tục chiến đấu cho đến khi trận đánh kết thúc. Sau gần 8 giờ chiến đấu vô cùng quyết liệt, khỏang hơn 17 giờ ngày 17 tháng 11 trận đánh kết thúc thắng lợi. Gần 400 tên địch của tiểu đoàn 1(trung đoàn 7) và tiểu đoàn 2 (trung đoàn 5) lữ đoàn 3 Mỹ bị loại khỏi vòng chiến đấu, chỉ còn vài chục tên sống sót chạy được về căn cứ. Địch thú nhận có 151 tên tử trận và 121 tên bị thương trong trận đánh này. Đây là một trận đánh thể hiện khí phách anh hùng và lòng dũng cảm vô song của cán bộ, chiến sĩ Mặt trận Tây Nguyên; đồng thời là trận đánh khủng khiếp nhất và thất bại thảm hại nhất của quân viễn chinh Mỹ trong chiến dịch Plei Me. Về trận đánh này, Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên đã nhận xét đây ''không những là một trận kết thúc của một cuộc chiến đấu về mặt chiến thuật, mà về mặt chiến dịch nó là một trận then chốt quyết định về sự thất bại căn bản đối với mục đích và nhiệm vụ của lữ đoàn 3 Mỹ trong chiến dịch Plei Me''.

   Để tiếp tục giáng cho quân Mỹ những đòn chí mạng, ngày 18 tháng 11 Bộ tư lệnh chiến dịch ra lệnh cho Trung đoàn 33 tập kích trận địa pháo Phan-cơn ở phía tây suối Ia Muer. Thực hiện mệnh lệnh, từ 16 giờ 30 phút ngày 18, hai tiểu đoàn 2 và 3 cùng phân đội súng cối do tham mưu trưởng trung đoàn trực tiếp chỉ huy nổ súng tiến công trận địa pháo địch. Sau ít phút chiến đấu, ta diệt một đại đội và chỉ huy tiểu đoàn 2 trung đoàn 7 Mỹ, loại khỏi vòng chiến đấu 200 tên địch, phá hủy 3 khẩu pháo 105mm, 1 khẩu cối 81mm, 5 máy bay trực  thăng và bắn rơi 2 chiếc khác; thu 750 viên đạn pháo và 30 viên đạn cối.

   Quân Mỹ bị thất bại nhục nhã, lữ đoàn 3 kỵ binh không vận bị đánh tơi tả ở thung lủng Ia ĐRăng, buộc địch phải ném lực lượng dự bị cơ động chiến lược của ngụy ra đỡ đòn cho quân Mỹ. Ngày 17 tháng 11, chiến đoàn dù số 1 ngụy đỗ xuống Đức Cơ và sau đó được đưa tiếp đến Plei Thê và tây suối Ia Kreng. Cùng ngày, chiến đoàn dù số 2 cũng được đổ xuống đông suối Ia Muer nhằm đánh vào hậu phương và cắt đứt đường vận chuyển của ta.

   Trước diễn biến mới về địch, Bộ tư lệnh chiến dịch chủ trương sử dụng Trung đoàn 320 (dự bị chiến dịch trong pha 3) đang dừng chân ở Plei Thê và phía bắc núi Chư Pông tiến công tiêu diệt từ 1 đến 2 tiểu đoàn dù ngụy, đồng thời cơ động Trung đoàn 66 về làm lực lượng  dự bị chiến dịch. Nhưng khi địch đỗ bộ đúng như phương án dự kiến, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 635 dao động, cho đơn vị rút về hướng núi Chư  Pông. Trung đoàn 320 chỉ còn Tiểu đoàn 334 nằm kẹp giữa hai chiến đoàn dù ngày. Từ ngày 18 đến 27 tháng 11, Trung đoàn chỉ tổ chức đánh được 3 trận nhỏ, diệt khỏang 200 tên; bỏ lỡ thời cơ tiêu diệt địch không hoàn thành nhiệm vụ.

    Ngày 19 tháng 11 năm 1965, lữ đoàn 3 kỵ binh không vận Mỹ hốt hỏang rút hết lực lượng còn lại khỏi thung lũng Ia Đrăng cái viễn cảnh cho cuộc tiến công vô thung lũng Ia Đrăng ''chẳng khác gì một cuộc dạo chơi nhỏ dưới ánh mặt trời và sau đó trở về căn cứ dể ăn thức ăn nóng và tắm mát bằng vòi phun hoa sen'' mà quân Mỹ tưởng tượng ra đã bị đảo ngược, trở thành một thảm bại, hãi hùng trong thực tế ngay khi chúng đặt chân lên Tây Nguyên.

   Trong quá trình diễn ra chiến dịch Plei Me, các lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân các dân tộc tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc tích cực tiến công và đấu  tranh trực diện với địch phối hợp chặt chẽ với hoạt động của bộ đội chủ lực. Đặc biệt, quân và dân Gia Lai liên tục hoạt động tạo vành đai diệt Mỹ xung quanh các căn cứ An Khê, Bàu Cạn... diệt gần 100 tên Mỹ - ngụy, phá hủy nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh; du kích các xã huyện 5 tích cực bắn tỉa làm cho địch nơm nớp lo sợ... có tác dụng căng kéo địch, hỗ trợ cho bộ đội chủ lực Mặt trận tác chiến. Trong cuộc đấu tranh trực diện với địch, chị Kpã HNét hội trưởng đội phụ nữ xã E5 dũng cảm cởi áo nằm chặn đầu xe địch không cho chạy vào làng, phá rẫy, buộc lính Mỹ phải nhượng bộ. Ở Ia Me, chị Goch phải dằn lòng hy sinh đứa con nhỏ để giữ bí mật cho bộ đội Trung đoàn 320. Lực lượng dân công phục vụ chiến dịch không quản ngày đêm, bom đạn ác liệt. Nhiều chiến sĩ bị thương lạc rừng được bà con đồng bào dân tộc thiểu số bí mật cứu chữa, đưa về nuôi dưỡng, sau trở về đơn vị cũ. Ngoài ra còn biết bao hành động và chiến công thầm lặng, những hy sinh mất mát của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên trong phối hợp hành động với chiến dịch Plei Me không thể tính được.

   Ngày 26 tháng 11, chiến dịch Plei Me kết thúc toàn thắng. Trải qua 38 ngày đêm chiến đấu liên tục (19.10- 26.11), ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 2.974 tên địch (có khỏang 1.700 tên Mỹ); tiêu diệt tiểu đoàn 2 và đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 1, lữ đoàn 3, sư đoàn kỵ binh không vận số 1 Mỹ; tiêu diệt chi đoàn 3 thiết giáp, tiểu đoàn 21 biệt động quân, 1 đại đội thuộc tiểu đoàn 2 trung đoàn 42, đánh tiêu hao một lực lượng của chiến đoàn dù số 1 và 2 ngụy; đánh thiệt hại nặng lực lượng biệt kích trong cứ điểm Plei Me; phá hủy 88 xe quân sự (có 42 xe tăng và xe bọc thép), 5 khẩu pháo 105mm, bắn rơi 59 máy bay; thu 73 khẩu súng các loại và 58.000 viên đạn. Về phía ta, có 554 cán bộ, chiến sỹ hy sinh và 669 đồng chí bị thương.

Chiến dịch tiến công Plei Me là chiến dịch đầu tiên ở Tây Nguyên, động thời là chiến dịch tiến công quân Mỹ đầu tiên của ta ở chiến trường miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. ''Thắng lợi của chiến dịch có ý nghĩa đặc biệt quan trọng''3, nó là bản anh hùng ca về chủ nghĩa anh hùng cách mạng của quân và dân Tây Nguyên, là nguồn động viên cổ vũ lớn lao quân và dân hai miền Nam, Bắc thi đua giết giặc lập công, đánh bại cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất (1965-1966) của quân Mỹ. Âm hưởng của chiến thắng nhanh chóng vượt qua không gian một khu vực, trường tồn mãi với thời gian, làm chấn động cả nước Mỹ và thế giới. Từ thực tiễn chiến dịch đã giải đáp một vấn đề nóng hổi: Việt Nam có đánh được Mỹ không? Và khẳng định: chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng là vô địch, nhất định sẽ đánh bại chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ; bộ đội ta với trang bị mang vác vẫn có thể tiêu diệt gọn tiểu đoàn bộ binh Mỹ, đánh bại chiến thuật cơ động bằng máy bay trực thăng của Mỹ những đơn vị tinh nhuệ nhất của chúng ở chiến trường rừng núi trong  "Chiến tranh cục bộ'' ở miền Nam. Chiến thắng Plei Me không chỉ là mốc son lịch sử sáng chói của quân và dân Tây Nguyên, mà còn để lại nhiều bài học có giá trị về nghệ thuật quân sự. Đó là bài học về nghệ thuật nghiên cứu dự báo đúng đối tượng tác chiến mới; lựa chọn cách đánh đúng và thắng địch ngay từ trận đầu; vận dụng linh hoạt, sáng tạo các loại hình chiến thuật trong điều kiện cụ thể từng trận, buộc địch phải đánh theo cách đánh của ta; về nghệ thuật chỉ huy xuất sắc trong chiến dịch; đặc biệt là bài học về công tác đảng - công tác chính trị đã xây dựng được ý chí quyết tâm dám đánh và quyết thắng Mỹ. Khẩu hiệu ''Tìm Mỹ mà diệt'', "Tìm ngụy mà đánh'' đã trở thành phong trào sôi nổi trong các lực lượng vũ trang Tây Nguyên và toàn miền Nam. Đây là những viên ngọc quý trong kho tàng nghệ thuật quân sự Việt Nam.

   Với chiến công đặc biệt xuất sắc, các đơn vị tham gia chiến dịch Plei Me đã được Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh tặng thưởng hai Huân chương Quân công hạng nhất4; 2 đơn vị và 13 cá nhân được tặng Huân chương Chiến công giải phóng hạng hai,  6 đơn vị và 53 cá nhân được tặng Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba; 2 đại đội được tặng danh hiệu ''Đại đội Anh dũng diệt Mỹ''; 5 trung đội được tặng danh hiệu Trung đội Anh dũng diệt Mỹ''; 3 tiểu đội được tặng danh hiệu ''Tiểu đội Anh dũng''; 54 cá nhân được tặng danh hiệu ''Dũng sĩ diệt Mỹ'', 3 cá nhân được tặng danh hiệu ''Chiến sĩ diệt M113 và xe tăng''. Đặc biệt, liệt sĩ đại úy Lê Xuân Phôi - tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 66 được Nhà nước truy tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (năm 1995).




------------------------------------------------------------------
1. Đại úy Lê Xuân Phôi tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 8 được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lương vũ trang nhân dân ngày 30.8.1995.
2. Đồng chí Bùi Thế Luận được truy tặng Huân chương Chiến công hạng nhì.
3. Phát biểu của Đại tướng Đoàn Khuê - Ủy viên, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong Hội thảo ''Chiến thắng Plei Me, 30 năm sau nhìn lại'' tại Hà Nội, năm 1995.
4. Trong bức điện gửi Bộ tư lệnh Măt trận Tây Nguyên tháng 12 năm 1965, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh - Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Quân ủy Trung ương giải thích: "Quân đội ta không có huân chương nào cao quý hơn Huân chương Quân công hạng nhất, nhưng để xứng đáng với chiến thắng Plei Me, nên tặng chiến thắng này hai Huân chương Quân công hạng nhất".


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Tư, 2021, 03:02:13 pm
2. Tạo thế, tạo lực, liên tục tiến côn   'đánh bại cuộc phản kích mùa khô lần thứ hai của địch ở Tây Nguyên.

   Mặc dù đưa một lực lượng lớn quân viễn chinh Mỹ là chư hầu vào miền Nam, thực hiện ''chiến tranh cục bộ'', nhưng trong thu Đông 1965 quân địch vẫn bị thất bại liên tiếp ở Vạn Tường, Plei Me, Đất Cuốc, Bàu Bàng - Dầu Tiếng, Đồng Dương trên 30.000 tên địch, trong đó có 9.000 tên Mỹ bị loại khỏi vòng chiến đấu. Biện pháp ''tìm diệt'' bị đánh phủ đầu, gọng kìm ''bình định'' vẫn dậm chân tại chỗ, chiến tranh phá hoại miền Bắc bị giáng trả đích đáng. Nhưng với bản chất xâm lược và ngoan cố Mỹ, ngụy tiếp tục leo thang chiến tranh bằng hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 và 1966-1967 hòng giành thắng lợi quyết định. Trong cuộc phản công mùa khô lần thứ nhất (12.1965 - 6.1966) địch thực hiện kế hoạch ''5 mũi tên'', tập trung lực lượng Mỹ, chư hầu và quân ngụy nhằm tiêu diệt lực lượng chủ lực và đối phó với các hoạt động quân sự của ta trên hai hướng Khu 5 và miền Đông Nam Bộ.

   Với 206.772 quân Mỹ và chư hầu cùng 520.000 quân ngụy, trong 6 tháng đầu năm 1966 địch đã tổ chức 1.880 cuộc hành quân từ cấp tiểu đoàn trở lên, sử dụng 191.378 lần chiếc máy bay (trong đó có 1.976 lần chiếc B52), 54.163 lần chiếc tàu thủy yểm trợ hành quân và đánh phá căn cứ địa của ta. Song song với cuộc phản công ở miền Nam, Mỹ tiếp tục mở lại cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân ra miền Bắc, lần đầu tiên dùng máy bay B52 ném bom đèo Mụ Giạ miền tây Quảng Bình; bước đầu xây dựng hàng rào điện tử ở khu phi quân sự; tiến công ngoại giao xảo quyệt dưới nhân hiệu ''hòa bình thương lượng'' hòng lừa bịp dư luận và che giấu bộ mặt xâm lược phi nghĩa của chúng.

   Trước tình hình đó, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta họp hội nghị lần thứ 12 (27.12.1965) đề ra ''Nghị quyết lịch sử'' khẳng định: ''Mặc dù đế quốc Mỹ đưa vào miền Nam hàng chục vạn quân viễn chinh, lực lượng so sánh giữa ta và địch vẫn không thay đổi lớn''; đồng thời quyết định: "Động viên lực lượng của cả nước, kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất cứ tình huống nào để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước''. Nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước hiện nay rõ ràng là nhiệm vụ thiêng liêng của cả dân tộc ta, của nhân dân ta từ Nam chí Bắc''. Phương châm chiến lược của cuộc kháng chiến là đánh lâu dài, nhưng hướng phấn đấu tích cực là: ''Tập trung lực lượng của cả hai miền, tranh thủ thời cơ giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn''.

   Thực hiện Nghị quyết 12 của Trung ương Đảng, chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh1 và Bộ chính trị, Quân ủy  Trung ương chủ trương phát triển thế chủ động tiến công, giành thắng lợi quân sự ngày càng lớn, tiến lên giành thắng lợi quyết định trên chiến trường chính miền Nam.

        Để miền Nam đánh mạnh thắng to, lực lượng bộ đội tập trung trong năm 1966 được đưa lên từ 27 vạn đến 30 vạn, gồm 35 trung đoàn chủ lực, 51 tiểu đoàn bộ đội địa phương, đồng thời phát triển dân quân du kích rộng khắp. Các đơn vị binh chủng trong bộ đội chủ lực được tăng cường, lực lượng đặc công biệt động phát triển mạnh, các đơn vị chuyên trách đánh giao thông đô thị được xây dựng. Trong xuân hè 1966 đã có 9 trung đoàn bộ binh, 3 trung đoàn pháo binh mặt đất, cùng một số đơn vị phòng không, công binh, thông tin với đầy đủ quân số vũ khí trang bị được lệnh hành quân vượt Trường Sơn vào chiến trường Tây Nguyên, Khu 5 và miền Đông Nam Bộ.

   Là một chiến trường trọng điểm đánh tiêu diệt sinh lực địch, cuối năm 1965 đầu năm 1966 Mặt trận Tây Nguyên được tăng cường một lực lượng lớn các đơn vị bộ binh, binh chủng, bảo đảm và từng bước được xây dựng củng cố về mọi mặt. Tháng 2 năm 1966 Trung đoàn 24A2 do thiếu tá Phùng Bá Thường làm trung đoàn trưởng và thiếu tá Nguyễn Mạnh Thạch làm chính ủy đã hành quân vượt Trường Sơn vào bổ sung cho Mặt trận Tây Nguyên. Tiếp đó là trung đoàn bộ trung đoàn pháo binh 68A, một đại đội chỉ huy và Tiểu đoàn pháo binh 11 (có 12 khẩu pháo 105mm do trung đoàn trưởng Nguyễn Đức Giá chỉ huy), trung đoàn bộ binh 88 (Sư đoàn bộ binh 308), Tiểu đoàn 96 pháo binh (có 12 khẩu cối 120mm),

         Sư đoàn bộ binh 325B3 (do đồng Chí Vương Tuấn Kiệt (Vương Phú) làm sư đoàn trưởng, đồng chí Trần Văn Trân làm sư đoàn phó, đồng chí Quốc Tuấn làm chính ủy, đồng chí Trần Xuân Lư làm phó chính ủy, đồng chí Thái Bá Nhiệm làm chủ nhiệm chính trị, đồng chí Nguyễn Lương Thầm làm trưởng ban tác chiến, đồng chí Nguyễn Quốc Thước làm phó ban...) cũng lần lượt vào chiến trường. Cùng thời gian này, Tổng cục Hậu cần chi viện cho chiến trường Tây Nguyên Quân y viện 84 (tức Viện Quân y 211) do bác sĩ Võ Văn Vinh - Cục phó Cục Quân y làm Viện trưởng, đồng chí Khuất Duy Kính làm Chính ủy và ba viện phó là: bác sĩ Lê Cao Đài, bác sĩ Trần Nam Hưng, đồng chí Lê Công Viện. Đội ngũ cán bộ của bệnh viện được chọn trong các chuyên viên ở hai bệnh viện tuyến cuối của quân đội là Viện Quân y 108 và Viện Quân y 1034. Cục Quân giới cũng bổ sung cho Tây Nguyên hai đoàn cán bộ. Đoàn 10 do đồng chí Tô Văn Của làm trưởng đoàn, Đoàn 30 do đồng chí Lê Văn Chức làm trưởng đoàn. Một đoàn cán bộ của Bộ Quốc phòng do đại tá Vũ Văn Cẩn - Phó chủ nhiệm Tổng Cục Hậu cần kiêm Cục trưởng Cục Quân y, làm trưởng đoàn cũng được tăng cường vào Tây Nguyên để nghiên cứu tình hình và trực tiếp giúp đỡ các ngành của Mặt trận.

   Trên cơ sở lực lượng chủ lực tại chỗ và những đơn vị vừa từ miền Bắc chi viện, tháng 12 năm 1965 Mặt trận Tây Nguyên thành lập 2 sư đoàn bộ binh (1 và 6). Sư đoàn bộ binh 1 gồm 3 trung đoàn bộ binh vừa tham gia chiến dịch Plei Me: 320, 33, 66 và một số phân đội hỏa lực, bảo đảm do đồng chí Nguyễn Hữu An làm sư đoàn trưởng và đồng chí Hoàng Thế Thiện làm chính ủy. Sư đoàn bộ binh 6 gồm 2 trung đoàn bộ binh: 24, 88, Tiểu đoàn 200 pháo binh, 1 tiểu đoàn súng máy phòng không, một đại đội công binh. Nhưng 2 trung đoàn (24, 88) đang trên đường hành quân vào chiến trường, nên Sư đoàn 6 mới hình thành bộ tư lệnh, cơ quan và một số phân đội trực thuộc. Đầu tháng 4 năm 1966, khi Sư đoàn 325B vào chiến trường, vẫn được giữ nguyên tổ chức biên chế và đổi phiên hiệu thành Sư đoàn 10 (mật danh là Nông trường 10). Bên cạnh các đơn vị trực tiếp chiến đấu, lực lượng bảo đảm phục vụ cũng được củng cố, tổ chức cho phù hợp yêu cầu chiến trường: thành lập 2 tiểu đoàn vận tải bộ: Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2, Xưởng quân giới X53, xúc tiến xây dựng các căn cứ hậu cần ở cánh Bắc, cánh Nam và cánh Trung. Việc tăng cường quân số lên 32.000, thành lập các sư đoàn bộ binh và các phân đội, cơ sở bảo đảm phục vụ đánh dấu sự lớn mạnh vượt bậc, là bước tiến nhảy vọt của Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên nhằm đáp ứng yêu cầu đánh tiêu diệt lớn quân địch; song cũng làm mất cân đối giữa khả năng có hạn về bảo đảm hậu cần với nhu cầu cho các hoạt động của bộ đội. Đây cũng là vấn đề nan giải của chiến trường Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến thống Mỹ, cứu nước.

    Để tăng cường, thống nhất việc lãnh đạo, chỉ huy Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên và đáp ứng tình hình phát triển của chiến tranh trên địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng này, ngày 27 tháng 4 năm 1966 Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết ''Về việc thành lập Đảng ủy, Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên''; xác định rõ nhiệm vụ của Đảng ủy và Bộ tư lệnh Tây Nguyên là: ''Lãnh đạo và chỉ đạo việc xây dựng, tác chiến của các lực lượng chủ lực hoạt động ở Tây Nguyên, bảo đảm hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ quân sự mà Trung ương và Quân ủy Trung ương giao cho''. Về quan hệ giữa Đảng ủy, Bộ tư lệnh Tây Nguyên với Khu ủy và Quân khu 5, Bộ Chính trị quy định: giải quyết theo ''nguyên tắc quan hệ giữa bộ đội chủ lực hoạt động ở địa phương với cấp ủy địa phương. Đảng ủy và Bộ tư lệnh Tây Nguyên có nhiệm vụ giúp đỡ cấp ủy địa phương chỉ đạo việc xây dựng, tác chiến của các lực lượng vũ trang địa phương, phối hợp hoạt động giữa chủ lực và địa phương''. Đối với Trung ương Cục miền Nam, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Tây Nguyên ''có nhiệm vụ liên lạc và báo cáo tình hình... phối hợp chiến trường, trao đổi kinh nghiệm''5.

   Cùng ngày, Bộ Chính trị ra Nghị quyết ''... chỉ định Đảng ủy  "Chiến trường Tây Nguyên'' gồm 11 đồng chí: Bí thư Đảng ủy Chu Huy Mân, Phó bí thư Lê Trọng Tấn6 và các ủy viên: Hoàng Kiện, Đặng Vũ Hiệp, Hoàng Phương, Quốc Tuấn, Nguyễn Nam Khánh, Vương Tuấn Kiệt, Thái Dũng, Bùi Nam Hà, Nguyễn Hữu An.

   Việc kiện toàn Đảng ủy và Bộ tư lệnh chiến trường Tây Nguyên, xác định rõ nhiệm vụ chức năng, các mối quan hệ giữa lãnh đạo chỉ huy chiến trường với Trung ương Cục miền Nam, Khu ủy Khu 5, Quân khu 5 và địa phương các tỉnh Tây Nguyên của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng là một quyết định đúng đắn, kịp thời. Nó không những đáp ứng yêu cầu thực tiễn và phương hướng xây dựng phát triển lực lượng vũ trang, đẩy mạnh tác chiến, đưa chiến tranh cách mạng ở địa bàn chiến lược quan trọng Tây Nguyên hòa nhịp với toàn chiến trường miền Nam; mà còn tăng thêm sức mạnh cho khối chủ lực, làm cho mối quan hệ giữa Đảng ủy, Bộ tư lệnh và các đơn vị chủ lực với Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương càng thêm gắn bó.




--------------------------------------------------------------------
1. Ngày 16.1.1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với Hội nghị cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước và Quân đội  nghiên cứu quán triệt Nghị quyết 12 Ban Chấp hành Trung ương.
2. Đây là Trung đoàn 42 Trung Dũng thuộc Quân khu 3, khi đến chiến trường Tây Nguyên, đơn vị có 2.634 cán bộ, chiến sĩ.
3. Sư đoàn bộ binh 325B có 8.059 cán bộ, chiến sĩ; trong Sư đoàn có 2 trung đoàn bộ binh 95B và 101B. Trung đoàn bộ binh 95B do đồng chí Lê Khắc Cần làm trung đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Hữu Hưu làm Chính ủy. Trung đoàn l01B do đồng chí Ma Văn Minh làm trung đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Thế Hân làm chính ủy.
4. Đầu tháng 5.1966 cán bộ, chiến sĩ Quân y Viện 84 vào đến chiến trường Tây Nguyên.
5. Lịch sử bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3, Biên niên sự kiện, Nxb Quân đội nhân dân, H. 2002, tr. 50:
6. Do yêu cầu nhiệm vụ thay đổi, đồng chí Lê Trọng Tấn không vào tham gia Đảng ủy chiến trường Tây Nguyên.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Tư, 2021, 03:11:48 pm
*

   Sau chiến dịch Plei Me, bên cạnh ý nghĩa to lớn của trận đầu thắng Mỹ, tình hình tư tưởng trong bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên cũng có những diễn biến phức tạp. Do hành quân chiến đấu liên tục, dài ngày, ác liệt, thương vong; ăn uống kham khổ, thuốc men thiếu thốn, bệnh tật, nhất là sốt rét ác tính và bệnh tê phù hoành hành. Triệt để lợi dụng khó khăn của ta, địch ráo riết tiến hành chiến tranh tâm lý rất thâm độc, hăm dọa; dụ dỗ, kêu gọi chiến sĩ ta ''chiêu hồi''... đã ảnh hưởng không nhỏ đến tư tưởng bộ đội. Trong khi đó củng cố, lãnh đạo chính trị, giáo dục tư tưởng sau chiến thắng ở không ít đơn vị cơ sở chưa theo kịp yêu cầu tình hình, chưa chủ động tích cực đấu tranh trước các biểu hiện tiêu cực sa sút; có nơi buông lỏng lãnh đạo, chỉ huy quản lý, cán bộ thiếu ân cần chăm sóc và thuyết phục cấp dưới lúc khó khăn... làm cho nội bộ đơn vị mất đoàn kết, nhiều đồng chí không yên tâm với nhiệm vụ chiến đấu, xây dựng chiến trường lâu dài. Nghiêm trọng hơn có những cán bộ, chiến sĩ sa sút ý chí chiến đấu, dao động, thôi thúc nhiệm vụ; vi phạm kỷ luật, chính sách.

   Trước tình hình trên, Đảng ủy Mặt trận kịp thời đề ra "chủ trương tiến hành củng cố bộ đội toàn diện. Trước hết tập trung nâng cao ý chí chiến đấu, phẩm chất khí  tiết, xây dựng quyết tâm đánh Mỹ đến cùng''1. Thực hiện chủ trương trên, đợt chỉnh huấn chính trị tập trung lớn đầu tiên cho cán bộ trung cao cấp toàn Mặt trận được tổ chức. Từ ngày 25 tháng 12 năm 1965 đến ngày 5 tháng 1 năm  1966, 166 cán bộ trung cao cấp (gồm 13 cán bộ trung đoàn, 29 cán bộ tiểu đoàn, 124 cán bộ cơ quan trung đoàn và Mặt trận) được quán triệt tình hình và nhiệm vụ cách mạng miền Nam, chiến trường Tây Nguyên; học tập truyền thống và bản chất quân đội, thực hiện lời dạy của Bác Hồ... liên hệ kiểm điểm cá nhân sâu sắc, tự giác dân chủ đề cao tự phê bình và phê bình. Kết thúc đợt chỉnh huấn, Thiếu tướng Chu Huy Mân tuyên bố và đợt tất cả những bản kiểm điểm về khuyết điểm, tất cả cán bộ giữ bản ưu điểm của mình để phát huy, rồi trao dây trói tù binh Mỹ cho chính ủy các trung đoàn 66, 33, 320 trong tiếng vỗ tay vang dậy. Ngay sau đợt chỉnh huấn chính trị thành công, Bộ tư lệnh Mặt trận tổ chức tập huấn về nghệ thuật chiến dịch tiến công cho cán bộ trung đoàn, sư đoàn và đầu ngành ba cơ quan Mặt trận; đồng thời chuẩn bị cho đợt tiến công mùa xuân Bính Ngọ 1966.

   Từ ngày 15 tháng 2 đến ngày 7 tháng 4 năm 1966, Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên mở đợt tiến công mùa Xuân, nhằm tiêu diệt và kìm chân một bộ phận Quân Mỹ - ngụy, hỗ trợ phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng và phối hợp chiến trường toàn miền Nam.
    
        Trong đợt 1 (15-20.2) Trung đoàn 66 và Trung đoàn 320 (Sư đoàn bộ binh 1) đánh 4 trận quy mô cấp tiểu đoàn, trung đoàn ở khu vực Ia Vầm (Đắc Lắc) tiêu hao một lực lượng của trung đoàn 45 ngụy, phá hủy một số xe thiết giáp. Đợt 2 (21.2-27.3) ta đánh một số trận nhỏ lẻ chống cuộc càn quét của lữ đoàn 3 sư đoàn 252 Mỹ ở bắc Buôn Ma Thuột. Sang đợt 3 (30.3-7.4), Trung đoàn 66 và Trung đoàn bộ binh 88 (vừa hành quân vào chiến trường, phối thuộc cho Sư đoàn bộ binh 1) đách bại đợt tiến công của lữ đoàn 3 sư đoàn kỵ binh không vận số 1 Mỹ ở Chư Pông. Nổi bật là trận đánh ngày 2 tháng 4 của Trung đoàn 66. Khi ta tập kích cụm địch ở Đồi Xanh không thành công, địch dừng một tiểu đoàn bộ binh từ Đồi Xanh tiến lên đồi Đá Trắng, bị Tiểu đoàn 8 chặn đánh diệt 80 tên. Kết quả đợt tiến công mùa xuân 1966 tuy còn hạn chế: loại khỏi vòng chiến đấu gần 600 tên địch, diệt gọn 1 đại đội bộ binh và 1 chi đội xe bọc thép, bẻ gãy cuộc càn quét của địch ra khu vực buôn Ia Vầm và Chư Pông..., nhưng nó đã giam chân một lực lượng địch đáng kể, tạo điều kiện cho Khu 5, Đông Nam Bộ, đập tan cuộc  phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất của Mỹ, ngụy.

   Sau đợt tiến công mùa xuân, Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên dự định mở tiếp cuộc tiến công mùa hè ở cánh Bắc (Kon Tum), nhưng công tác bảo đảm hậu cần khó khăn nên phải chuyển xống cánh Nam. Hướng tác chiến chủ yếu được chọn ở tây nam Plei Ku, bao gồm khu vực Plei Gi Răng, Bàu Cạn, Plei Me, Chư Pông, Đức Cơ do hai sư đoàn bộ binh 1 và 10 đảm nhiệm. Hướng tiến công thứ yếu ở bắc Kon Tum: khu vực Đắc Pét, Đắc Tô, Tu Mơ Rông, đường 14 do Sư đoàn bộ binh 6 phụ trách. Đợt tiến công mùa  hè kéo dài từ ngày 21 tháng 5 đến ngày 15 tháng 8 và chia làm ba đợt.

    Trong đợt 1 (21-30.5) chiến sự diễn ra đồng thời trên cả hai hướng tây nam Gia Lai và bắc Kon Tum. Hướng chính, do chuẩn bị chưa đầy đủ nên Tiểu đoàn 966 Trung đoàn 320 phải chuyển từ công kiên sang vây điểm Plei Gi Răng (21-27.5); Trung đoàn 66 diệt địch nống ra Đồn Mo (24.5). Ngày 27 tháng 5 địch đổ bộ một lực lượng xuống Sùng Lễ, ta chủ trương mở vây Plel Gi Răng để tập trung tiêu diệt quân ứng cứu. Nhưng do chấp hành kỷ luật không nghiêm, Tiểu đoàn 21 súng máy phòng không Sư đoàn bộ binh 1 bị máy bay địch đánh trúng đội hình, không tổ chức đánh trả, tự động, rút quân, bị địch lấy mất 5 khẩu 12,7mm. Ngày 29 tháng 5 Trung đoàn 66 chuyển sang tiến công cụm địch đổ bộ ở Chư Pa, khi tiêu diệt được khỏang 2 đại đội địch, bộ đội lại tự động lui quân. Trước tình hình đó, Bộ tư lệnh Sư đoàn 1 lệnh cho Trung đoàn 33 và Tiểu đoàn 7 (Trung đoàn 66) tiếp tục tiến công quân địch còn lại ở Chư Pa. Quá trình tiến công bị địch đánh chặn, khả năng tiến công giảm sút, ta phải lui quân.

   Trên hướng thứ yếu bắc Kon Tum, từ ngày 19 đến ngày 24 tháng 5, Đại đội 5 Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 24 có hỏa lực tăng cường, vây ép cứ điểm Tu Mơ Rông. Chiều ngày 24, địch đưa trung đoàn 42 (thiếu), tiểu đoàn 21 biệt động quân lên ứng cứu, song lại rơi vào trận địa phục kích của Trung đoàn 24 ở khu vực đèo Đắc Rô Gia; ta phá hủy 27 xe (có 3 xe M113), loại khỏi vòng chiến đấu  khỏang 300 tên địch, thu gần 100 súng các loại. Để cứu nguy cho quân ngụy, Mỹ buộc phải đưa lữ đoàn dù 1 thuộc sư đoàn dù 1013 vào tham chiến. Ngày 6 tháng 6, khi lực lượng đi đầu của lữ đoàn dù 1 vừa đặt chân lên Tân Cảnh đã bị Trung đoàn 24 bất ngờ tập kích ở Đắc Prông, diệt chỉ huy tiểu đoàn 1, 1 đại đội và 2 trung đội, loại khỏi vòng chiến đấu 150 tên, phá hủy một trận địa pháo. Để gỡ thế bị động và tìm diệt lực lượng ta, ngày hôm sau (7.6) lữ đoàn 1 bổ sung quân số, vũ khí cho Đắc Prông, động thời dùng 1 đại đội thám báo lần theo dấu vết lui quân của ta, rồi đổ bộ một lực lượng xuống Đắc Trâm định đánh vào sau lưng Trung đoàn 24. Ngày 7 tháng 6, Đại đội 7 Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 24 do đại đội phó Bân chỉ huy đánh bật đợt xung phong của 1 đại đội Mỹ, diệt 40 tên, thu một số súng đạn. Ngày hôm sau (8.6) một đại đội địch từ hai hướng Đắc Mong và Đắc Sia tiến vào trận địa Đại đội 1 Tiểu đoàn 4, nhưng bị ta chặn đánh quyết liệt. Chủ động hiệp đồng theo trung đội súng, Đại đội 2 kịp thời xuất kích chi viện cho phân đội bạn, trung đội súng cối của Tiểu đoàn 4 cũng kịp chi viện hỏa lực cho bộ binh chiến đấu. Sau ít phút nổ súng, ta diệt 116 tên, số địch còn lại tháo chạy về phía sau.

   Buổi chiều và đêm 8 tháng 6, địch dùng máy bay, pháo binh đánh phá rất mạnh vào khu vực nam Đắc Trâm, thả pháo sáng đổ thêm quân, chuẩn bị cho đợt tiến công ngày hôm sau. Nắm chắc mọi diễn biến mới về địch, ban chỉ huy Trung đoàn 24 quyết định di chuyển toàn bộ đội hình lên dãy núi Cơ Nông ngay trong đêm, dựa vào công sự trận địa làm trước của đơn vị, đánh tập trung tiêu diệt nhiều địch. Đúng như ta dự đoán, lúc 11 giờ 30 phút ngày 9 tháng 6, khỏang 200 tên Mỹ dược hỏa lực phi pháo chi viện, chia làm bốn mũi đánh vào trận địa các đại dội 8, 6 và 12. Để cho địch vào cách chiến hào tiền duyên hơn chục mét, các chiến sĩ bất ngờ đồng loạt ném lựu đạn, nổ súng mãnh liệt đánh bật chúng xuống sườn núi. Chớp thời cơ, súng cối, đại liên, B40 từ trận địa nhiều tầng bắn xối xả vào quân địch co cụm. Bị đòn bất ngờ, hơn 100 tên địch bỏ xác tại trận, bọn còn lại tháo chạy. Đợt đầu tiến công bị thất bại, địch dùng máy bay, pháo cối bắn phá rất ác liệt dai dẳng vào toàn bộ trận ta, rồi mở đợt tiến công thứ hai vào lúc 16 giờ, nhưng lại bị đánh bật trở lại. Trong đợt chiến đấu này, xuất hiện nhiều tấm gương dũng cảm: đồng chí Trọng (Đại đội 12), đồng chí Am (Đại đội 13)...  luôn sâu sát gương mẫu, quyết đoán chỉ huy phân đội diệt nhiều địch, giữ vững trận địa, bảo vệ được thương binh có sức cổ vũ bộ đội hăng hái chiến đấu.

   Bị mất tiếp hơn 100 quân và không chiếm được trận địa đối phương trong đợt tiến công cuối chiều, địch chuyển sang tiến công ban đêm nhưng đã bị Tiểu đoàn 5 đánh bại. Thấy đánh dàn trải không được, địch tập trung đánh vào từng điểm chốt của ta trong đêm. Với thủ đoạn xảo quyệt này, từ 17 giờ 30 phút đến 24 giờ ngày 9 tháng 6, hàng trăm tên địch mở liên tiếp 8 đợt tiến công vào trận địa chốt của Đại đội 7, mỗi đợt có từ 50 đến 60 tên, có hỏa lực phi pho chi viện mạnh. Tuy chiến đấu rất  dũng cảm nhưng quân số Đại đội 7 bị tiêu hao dần, nên đợt tiến công thứ 7, quân địch đột nhập vào một phần trận địa. Với quyết tâm cao, lực lượng còn lại của Đại đội 7 do đại đội trưởng Hà chỉ huy, được hỏa lực Tiểu đoàn 5 chi viện đã tổ chức phản kích thành công trong đêm, khôi phục lại trận địa. Đợt tiến công thứ 7 thất bại, địch tập trung pháo cối, dùng máy bay ném bom napan đánh phá hủy diệt trận địa Đại đội 7, rồi cho bộ binh chia làm bốn mũi xung phong đánh chiếm. Mặc dù quân số Đại đội 7 còn ít, ai cũng mệt mỏi đói khát, một số bị thương nhưng cán bộ, chiến sĩ động viên nhau kiên quyết tiêu diệt địch, giữ vững trận địa. Đợt chiến đấu thứ 8 diễn ra khốc liệt, địch chiếm được trận địa. Ngay trong đêm, 16 cán bộ, chiến sĩ còn lại của Đại dội 7 do đại đội trưởng Hà chỉ huy đã dũng cảm mưu trí tập kích, diệt 48 tên địch, thu 30 súng khôi phục lại trận địa.

   Ngày và đêm 10 tháng 6, địch tiếp tục dùng pháo binh, máy bay kể cả B52 đánh phá, thả bom na pan, bắn đạn hóa học hủy diệt trận địa ta; đồng thời đỗ quân xuống điểm cao 986 nhằm vây chặt, ''cất vó'' Trung đoàn ở Đắc Trâm. Về phía ta, tuy đánh bại các đợt phản kích của địch, giữ vững trận địa, nhưng lực lượng bị tiêu hao, số thương binh lên đến hơn 200, đạn súng cối và gạo đã hết, nước uống không có. Để bảo toàn lực lượng, tiếp tục chiến đấu lâu dài, thực hiện mệnh lệnh của đồng chí Nguyễn Hữu An - Phó tư lệnh chiến trường Tây Nguyên trực tiếp chỉ đạo lực lượng chủ lực hoạt động trên cánh Bắc, Trung đoàn 24 tổ chức lui quân đêm mùng 10 rạng sáng ngày 11 tháng 6, mang theo thương binh và súng đạn trở về vị trí tập kết an toàn.

    Trong đợt 1 hoạt động mùa hè, Trung đoàn 24 đã tiêu diệt tiểu đoàn 1, tiêu hao nặng tiểu đoàn 2 (thuộc lữ đoàn dù 1 sư đoàn dù 101 Mỹ) và 1 tiểu đoàn thuộc trung đoàn 42 ngụy; loại khỏi vòng chiến đấu hơn l.000 tên Mỹ, 300 tên ngụy; phá hủy 27 xe quân sự, 6 pháo 105mm, 2 cối 106,7mm, bắn rơi 2 máy bay; thu trên 500 súng các loại, buộc địch phải rút khỏi cứ điểm Tu Mơ Rông; góp phần cùng quân và dân Kon Tum giải phóng một vùng rộng phía tây bắc tỉnh. Đặc biệt, chiến thắng Đăc Trâm đã giáng đòn phủ đầu nặng và lữ đoàn dù 1 sư đoàn dù 101 Mỹ khi chúng hùng hổ ra quân ''tìm diệt'' đầu tiên ở bắc Tây Nguyên. Với chiến công xuất sắc này, Trung đoàn 24 được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba và được Tỉnh ủy Kon Tum gửi thư khen ngợi.

   Sau đợt 1 hoạt động hè, ta nhanh chóng củng cố và chuẩn bị mọi mặt, tiếp tục mở đợt tiến công thứ hai (19.6- 15.7). Trong đợt này, ta chủ trương đánh công kiên cứ điểm Tân Lạc, tập trung bốn trung đoàn bộ binh: 66, 320, 33, 95 diệt viện đổ bộ đường không ở khu vực nam đường 19 tây. Nhưng địch không ra đúng ý định, ta chỉ đánh được 14 trận nhỏ (có 6 trận đánh mìn), nổi bật là các trận đánh quân Mỹ của Trung đoàn 66 ở tây suối Ia Le (của Đại đội 13, Tiểu đoàn 9 diệt 137 tên Mỹ ngày 19, 20 tháng 6) và tây Đức Vinh (của Tiểu doàn 7 diệt gần 100 tên Mỹ, bắn cháy 4 xe M113 ngày 3 tháng 7). Đặc biệt, trận tây Đức Vinh đã hình thành bước đầu chiến thuật vận động tiến công kết hợp chốt, mở ra khả năng mới để nâng tốc độ đánh tiêu diệt của bộ đội chủ lực chiến trường Tây Nguyên lên trình độ cao hơn.


   Trong đợt 3 hoạt động hè (20.7-15.8 ), ta sử dụng  Sư đoàn bộ binh 1 đánh địch trong khu vực Plei Thê, Thanh Giáo, Bàu Cạn, Plei Me, Phú Nhơn, Ia Muer. Sư đoàn 10 đảm nhiệm khu vực Lệ Thanh, Sùng Lễ, Chư Pa đến nam Plei Gi Răng. Đợt này ta đánh 28 trận vừa và nhỏ, tiêu biểu là trận đánh gặp địch (tao ngộ) của Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 320 ở tây bắc Ba Bỉ (8.8, diệt gọn 1 đại đội Mỹ, giết 130 tên, thu nhiều vũ khí) và hai trận phục kích, vận động tập kích của Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 66 ở nam Chư Pông (14, 15.8, loại khỏi vòng chiến đấu 160 tên địch, bắn rơi 2 trực thăng).

   Ngày 15 tháng 8 năm 1966, đợt tiến công mùa hè của quân và dân Tây Nguyên kết thúc thắng lợi. Trong gần 3 tháng chiến đấu, bộ đội chủ lực được sự phối hợp của quân và dân địa phương, đã loại khỏi vòng chiến đấu 3.813 tên địch (có 2.828 tên Mỹ), diệt gọn 2 tiểu đoàn, 3 đại đội và 10 trung đội Mỹ, 2 đại đội ngụy, phá hủy 48 xe quân sự (có 26 xe M113) và 10 pháo cối lớn, bắn rơi 35 máy bay, thu hàng trăm súng các loại. Thắng lợi của đợt tiến công mùa hè đã hạ uy thế lữ đoàn dù 1 (sư đoàn 101), lữ đoàn 3 (sư đoàn 25) Mỹ, giam chân một lực lượng cơ động quan trọng của địch ở Tây Nguyên, phối hợp chặt chẽ với các chiến trường Khu 5, Trị Thiên và miền Đông Nam Bộ.




------------------------------------------------------------------
1. Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp. Ký ức Tây Nguyên. Sđ d, tr. 121.
2. Sư đoàn bộ binh 25 Mỹ mệnh danh ''Tia chớp nhiệt đới", thành lập ngày 1.10.1941 tại Ha-oai, tham gia chiến tranh thế giới thứ hai và chiến tranh Tiều Tiên (1950-1953), đến Việt Nam từ ngày 29.12.1965, rút khỏi Việt Nam tháng 4.1971.
3. Sư đoàn dù 101 Mỹ thành lập trong chiến tranh thế giới thứ hai, đến miền Nam từ ngày 29.7.1965, rút khỏi miền Nam ngày 10.3.1972. Thương vong trong chiến tranh Việt Nam khỏang 20.000 quân, gấp 2 lần thương vong trong chiến tranh thế giới thứ hai (9.328).


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Tư, 2021, 03:36:08 pm
*

   Mùa thu năm 1966, bộ đội chủ lực Tây Nguyên phát triển thành 3 sư đoàn bộ binh, trong khi lực lượng vũ trang địa phương phát triển chậm hơn, không theo kịp yêu cầu hỗ trợ cho chiến tranh chính quy, thiếu cân đối giữa ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân
quân du kích. Bên cạnh đó, việc bảo đảm hậu cần cho các đơn vị chủ lực gặp nhiều khó khăn vì ''xa hậu phương, giao thông vận tải tiếp tế khó khăn... nhân dân Tây Nguyên nhất mực trung thành với cách mạng, hết lòng giúp đỡ bộ đội; nhưng dân số thưa, kinh tế nghèo lại bị bóc lột phá hoại trong nhiều năm, không đủ khả năng đáp ứng những nhu cầu cần thiết của đánh vận động với những binh đoàn lớn''1. Để giải quyết những mâu thuẫn trên và bảo đảm cho chiến trường liên tục phát triển tiến công giành nhiều thắng lợi mới, tháng 8 năm 1966 Đảng ủ y và Bộ tư lệnh chiến trường quyết định giải thể Sư đoàn bộ binh 6 và Sư đoàn bộ binh 10; cán bộ cơ quan hai sư đoàn được tăng cường cho cơ quan B3. Bộ đội chủ lực Tây Nguyên được tổ chức thành hai khối: cơ động và tại chỗ. Khối cơ động gồm Sư đoàn bộ binh 1 (có Trung đoàn 320, Trung đoàn 66, các tiểu đoàn binh chủng), Trung đoàn bộ binh 88 và Trung đoàn bộ binh 101B. Khối chủ lực tại chỗ gồm 3 trung đoàn bộ binh đứng chân ở 3 tỉnh: Trung đoàn 24A ở Kon Tum, Trung đoàn 95 hoạt động ở huyện 4 và 5 Gia Lai, Trung đoàn 33 ở bắc Buôn Ma Thuột.

   Cùng thời gian này, Bộ tư lệnh Chiến trường quyết định thành lập Trường Quân Chính B3 (mang tên Trường Huấn luyện cán bộ) (20.8 ) do đồng chí Hồ Bắc làm hiệu trưởng và đồng chí Đoàn Trọng Thông làm chính ủy; thành lập 3 tiểu đoàn bộ binh độc lập: Tiểu đoàn 101 (lựa chọn những đồng chí quê ở Việt Bắc, Tây Bắc trong Trung đoàn 101B), Tiểu đoàn 35 và Tiểu đoàn 36 (rút từ 2 trung đoàn 24A và 33); đẩy nhanh việc xây dựng căn cứ hậu cần, tổ chức 3 binh trạm: Binh trạm Bắc, Binh trạm Trung, Binh trạm Nam. Các đội điều trị ĐT3, ĐT4 bố trí cơ động theo các hướng tác chiến của bộ đội; 2 tiểu đoàn thu dung 22, 23 và các xưởng dược, quân giới... được tổ chức củng cố đi vào hoạt động. Công tác tăng gia sản xuất lương thực, trồng sắn (mì) được đưa vào nghị quyết của các cấp ủy Đảng, vào kế hoạch của các đơn vị và Bộ tư lệnh chiến trường, được coi là một nhiệm vụ quan trọng như nhiệm vụ chiến đấu. Thực hiện chủ trương của Đảng ủy Chiến trường, với khẩu hiệu hành động ''biến rẫy hoang thành nương sắn'', một chiến dịch khai hoang đã diễn ra rộng khắp. Bộ đội ngày luyện tập, đêm lợi dụng ánh trăng đào đất tra hom. Chỉ trong một thời gian ngắn những nương sắn xanh rờn đã xuất hiện ở khắp nơi, ven các bìa rừng, đường giao liên, trong thung lũng, ven bờ sông Sa Thầy. Xúc động trước tinh thần lao động quên mình của bộ đội, chiến sĩ hậu cần Trần Bích đã sáng tác bài thơ ''Cây sắn tiến công", có đoạn:

      "Một cây sắn ta trồng,
      Là một tên Mỹ gục.
      Ngàn cây sắn ta vun,
      Là ngàn tên ngụy tan thây".


   Sau một năm đánh Mỹ, ta rút ra dược quy luật phản kích và thủ đoạn tác chiến của quân Mỹ ở Tây Nguyên. Chúng ỷ vào sức cơ động của trực thăng, hỏa lực không quân, pháo binh mạnh; khi phát hiện lực lượng đối phương là đổ quân ''nhảy cóc'' sâu vào sau lưng thực hiện bao vây, chia cắt, chặn đường tiếp tế rồi đánh bật đối phương ra khỏi khu chiến. Quân Mỹ thường rất chủ quan và dễ bị mắc lừa. Vì vậy tháng 9 năm 1966, Đảng ủy và Bộ tư lệnh chiến trường Tây Nguyên quyết định mở chiến dịch Sa Thầy, dùng mưu kế lừa địch vào khu vực rừng già có nhiều ngọn núi nhô cao ở hai bên bờ đông, tây sông Sa Thày để tiêu diệt. Đây là vùng căn cứ của ta, bộ đội quen thuộc địa hình, việc cơ động lực lượng và bảo đảm hậu cần cớ nhiều thuận lợi, có điều kiện nhử địch vào khu quyết chiến đã chuẩn bị sẵn. Với địch, địa hình khu vực tác chiến mới lạ, xa căn cứ, nhiều khe sâu rừng rậm bao bọc dễ bị chia cắt, cơ lập, tiêu diệt.    Để đạt mục đích tiêu hao một bộ phận sinh lực quân Mỹ, ngụy; hỗ trợ phong trào phá ấp giành dân, phát triển chiến tranh du kích của địa phương, rèn luyện bộ đội; phối hợp với các chiến trường toàn miền Nam đánh bại cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai của đ ịch. Bộ tư lệnh Chiến trường huy động toàn bộ khối chủ lực B3 tham gia chiến dịch. Trên hướng chính: đông, tây sông Sa Thày bố trí Sư đoàn bộ binh 1, Trung đoàn bộ binh 88, Trung đoàn bộ binh 95 (thiếu), 3 tiểu đoàn pháo binh, phòng không. Ở hướng phối hợp có lực lượng chủ lực tại chỗ và lực lượng vũ trang địa phương: Trung đoàn bộ binh 24A ở Kon Tum, Trung đoàn 33 ở Đắc Lắc, 1 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 95 ở nam đường 19 tây đến bắc Buôn Ma Thuột.

   Thực hiện kế hoạch, giữa mùa mưa năm 1966 công tác chuẩn bị cho chiến dịch được gấp rút triển khai. Các đơn vị cơ quan chiến dịch tiến hành trinh sát, làm kế hoạch, chuẩn bị trận địa, vận chuyển đạn, gạo từ phía tây ra các vị trí tập kết, liên tục, bền bỉ, bí mật. Trong quá trình chuẩn bị, nhân dân miền Tây Gia Lai mặc dù còn thiếu thốn, khó khăn nhưng đã giúp đỡ bộ đội hơn 140 tấn gạo, 12 tấn sắn, 56 tấn ngô và hàng chục trâu bò ''để bộ đội ăn no đánh thắng''. Ngoài ra địa phương còn chi viện hàng trăm dân công làm công tác vận chuyển phục vụ chiến dịch. Nhiều bà con làng Nú, làng Sinh vai gùi gạo, tay ôm bó sắn luộc; có những cô gái gùi đạn nặng gần gấp hai trọng lượng cơ thể, như YLeng vóc người không lớn lắm đã gùi được 112kg. Phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực trong giai đoạn chuẩn bị chiến dịch, lực lượng vũ trang các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc dẩy mạnh các hoạt động đánh địch nghi binh. Tiêu biểu là trận tập kích vào sân bay Tân Tạo của Tiểu đoàn 407 đặc công Gia Lai đêm mùng 3 tháng 9. Ta nổ súng đúng lúc, sư đoàn kỵ binh không vận số 1 Mỹ đang làm lễ kỷ niệm 1 năm tới Việt Nam, làm nhiều tên đang dự lễ chết gục ngay tại chỗ, 40 máy bay bị phá hủy.

         Sau khi đã chuẩn bị cho hướng chính của chiến dịch 1005 tấn vật chất (829 tấn gạo, 91 tấn thực phẩm, 85 tấn vũ khí) và làm xong chiếc cầu giả, mắc dây điện thoại qua sông Pô Kô (15.10). Trong hai ngày 18 và 19 tháng 10, Trung đoàn 95 pháo kích vào cứ điểm Plei Gi Răng khêu ngòi, dụ địch. Bị mắc lừa, ngày 23 và 24 tháng 10, địch dùng 24 lần tốp B52 và pháo lớn (155, 17, 203mm) từ các trận địa mới lập ở Sùng Lễ, Sùng Thiện đánh phá dữ đội vào khu vực cầu treo; đồng thời vội vã mở cuộc hành quân Pôn-ri-vơ 4 đổ bộ lữ đoàn 2 sư đoàn bộ binh số 4 Mỹ2 và cho biệt kích xuyên rừng tiến vào vùng đông và tây sông Sa Thày. Trong thế trận đã chuẩn bị, từ ngày 26 đến ngày 29 tháng 10, Trung đoàn 95 và Trung đoàn 320 đánh nhiều trận cấp tiểu đoàn, tiêu diệt từng đại đội, trung đội của lữ đoàn 2 sư đoàn 4 Mỹ ở tây bắc Plei Gi Răng 10km (26.10), khu vực B1, B2 điểm cao 621, làng Mít Dép, bắc Sơn Ló, bắc Chư Grou (khu A). Do nhận thức không đầy đủ về nhiệm vụ, trong khi địch tiếp tục đổ quân vào khu chiến, Trung đoàn 320 để lại Tiểu đoàn 6 đánh nhỏ lẻ, còn toàn đơn vị hành quân lên phía bắc. Căn cứ vào tình hình cụ thể địch, ta Bộ tư lệnh chiến tích chủ động cho các đơn vị kết thúc đợt 1 chiến dịch để củng cố và chuẩn bị bước vào đợt 2.

   Để tiếp tục dụ địch vào sâu hơn nữa, ta dùng một bộ phận nhỏ hoạt động thu hút dịch ra bờ sông Sa Thày và cho công binh bắc cầu giả qua sông ở khu vực C và D. Hoạt động nghi binh của ta đã làm cho địch tiếp tục đổ bộ lữ đoàn 2 sư đoàn 4, lữ đoàn 3 sư đoàn 25 Mỹ và tung biệt kích ngụy vào các khu vực C, D, B; đồng thời tập trung hỏa lực đánh phá dữ dội vào hai bên bờ đông, tây sông Sa Thày. Sau các trận đánh mở đầu đợt 2 của Tiểu đoàn 6  trung đoàn 320 (ngày 5.11 diệt 1 trung đội Mỹ), Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 66 (ngày 10.11 diệt 100 tên ở D1) và Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 88 (ngày 11.11 tiêu hao lực lượng lữ đoàn 2 sư đoàn 25 Mỹ ở Bãi 9) địch phản ứng mạnh. Ngay sau khi dùng máy bay F100 và pháo 175mm bắn phá dọn bãi, từ 9 giờ đến 14 giờ ngày 11 tháng 11 địch dùng 125 lần chiếc trực thăng (có cả loại H21 chở pháo) đổ bộ tiểu đoàn 2, 1 đại đội pháo 105mm (6 khẩu), 1 trung đội cối 106,7mm thuộc trung đoàn 8, lữ đoàn 2, sư đoàn 4 Mỹ và 1 đại đội biệt kích ngụy xuống bãi C1. Quá trình đổ bộ, chúng dùng máy bay trực thăng nghi binh đổ bộ giả ở bãi C2 và đổ 1 đại  đội xuống bãi C9 để bảo vệ sườn phía nam cho lực lượng  chính ở C1.

   C1 là một cái rẫy bỏ hoang lâu ngày nằm trên một quả đồi có diện tích khỏang 24 ha (dài 600m, rộng 400m) nằm ở phía tây sông Sa Thày, trên trục giao liên bắc- nam và ở sâu trong hậu phương ta. Đây là vị trí có giá trị chiến thuật, đã từng là trọng điểm của các đợt tiến công ''tìm diệt'' của địch ở khu vực này3. Do hiểu rõ địa hình C1 và ném bom phát quang 200m trên đỉnh đồi, ngay khi đổ bộ, địch tổ chức đội hình vòng tròn khép kín với ba tuyến công sự; bố trí chỉ huy tiểu đoàn 2, một đại đội chỉ huy ở giũa, trận địa pháo 105mm ở phía tây, trung đội cối 106,7mm ở phía đông, 2 đại đội bộ binh ở vòng ngoài; trọng tâm phòng ngự hướng về phía tây nam và đông nam. Địch ở C1 tuy quân số nhiều, hỏa lực chi viện mạnh nhưng công sự vật cản dã chiến, tinh thần binh lính có phần sa sút.

   Việc địch đổ bộ chiếm C1 diễn ra đúng như dự kiến của ta. Vì vậy, ngay khi chúng xuống C1, Trung đoàn 88 được tăng cường Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 66 và hỏa lực đã triển khai đội hình tiến công ban ngày vẫn giữ  được bí mật. Lúc 16 giờ 57 phút, trung đoàn trưởng Trung đoàn 88 ra lệnh cho súng cối bắn chuẩn bị sớm hơn kế hoạch 9 phút và kéo dài hơn tạo điều kiện cho bộ binh áp sát mục tiêu. Đúng 18 giờ, bộ đội được lệnh xung phong đánh chiếm C1. Trên hướng chủ yếu của Tiểu đoàn 2 đảm nhiệm, Đại đội 7 do đại đội trưởng Vực chỉ huy từ phía tây bắn đánh lên chiếm một số công sự vòng ngoài rồi phát triển vào bên trong. Quá trình tiến công, đại đội trưởng bắn một quả B40 làm nổ tung kho đạn 105mm, đội hình thọc sâu phải tạm dừng. Cùng thời gian này, đại đội 6 tiến công ở phía bắc, nhưng bị bom bi rơi trúng đội hình, bộ đội đánh đến gần đỉnh C1 không đủ sức phát triển tiếp. Đại đội 5 bị lạc, nhưng sau đó cũng lần lượt đưa được các trung đội vào tham chiến. Khi đánh chiếm được tuyến công sự vòng ngoài, địch bị dồn lên đỉnh C1 thì đại đội trưởng Quang, chính trị viên Tiểu đoàn 2 (đi cùng Đại đội 5) và một số chiến sĩ Trung đội 1 hy sinh, liên lạc với cấp trên bị đứt, mũi tiến công b bị chững lại. Trước tình hình đó, cán bộ đại đội lúng túng, không xử trí tình huống kịp thời. Tiểu đoàn không nắm được các đại đội, phân đội cối 82 và ĐKZ ở phía sau bị bỏ quân không sử dụng...

   Hướng tiến công thứ yếu, sau khi dừng cối 82 bắn 38 quả đạn vào đánh C1, Tiểu đoàn 7 (Trung đoàn 66) nhanh chóng đánh chiếm đồi C1B, nhưng bị bom bi chặn ngang không phát triển tiến công sang C1 theo kế hoạch. Cũng thời gian này, mũi phối hợp phía đông cơ động đến Khe Trâu thì tự ý dừng lại (cán bộ báo cáo lên trên: quân địch chặn mất đường!). Chỉ có một tiểu đội công binh hoàn thành tốt nhiệm vụ thu hút nhiều hỏa lực địch về phía đông.

   Đêm 12, rạng ngày 13 tháng 11, quân Mỹ ở C1 bị tiêu diệt phần lớn, chỉ còn gần một đại đội co cụm lên đỉnh đồi tiếp tục chống cự. Trung đoàn trưởng Trung đoàn 88 quyết định đưa đại đội dự bị vào chiến đấu, cùng 2 tiểu đoàn 2 và 7 tiếp tục tiến công tiêu diệt tàn quân địch; đồng thời tăng cường đồng chí tham mưu phó và đồng chí chủ nhiệm chính trị trung đoàn xuống Tiểu đoàn 2 để tổ chức động viên bộ đội chiến đấu. Nhưng do tổ chức chiến đấu chậm, trời gần sáng vẫn không nổ súng được, nên trung đoàn trưởng ra lệnh lui quân, chỉ để lại phân đội cối 120mm tiếp tục tập kích hỏa lực vào C1 diệt thêm một số quân địch. Sáng ngày 13 tháng 11, địch đổ quân dọn xác đồng bọn ở C1 và buổi chiều rút hết quân khỏi cứ điểm này. Kết quả trận C1: ta đã đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 2 trung đoàn 8, lữ đoàn 2, sư đoàn 4 Mỹ, phá 6 pháo 105mm, 3 cối 106,7mm. Mặc dù chưa tiêu diệt gọn tiểu đoàn địch, nhưng chiến thắng C1 đã giáng một đòn nặng đầu tiên vào sư đoàn bộ binh số 4 Mỹ, gây cho chúng lúng túng về mặt chiến dịch, đây ''là một trận điển hình về hiệp đồng đánh quân Mỹ đổ bộ đường không''.

   Phát huy thắng lợi, ngày 13 tháng 11, Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 66 tiến công tiêu diệt gọn 1 đại đội thuộc lữ đoàn 3 sư đoàn 25 Mỹ ở nam C1 khỏang 12km; Tiểu đoàn 8 và Tiểu đoàn 9 cũng tiêu diệt gọn 1 đại đội Mỹ khác ra lùng sục ở phía tây khu D. Từ ngày 19 đến 21, Trung đoàn 66 tiếp tục tiến công lữ đoàn 3 sư đoàn 25 Mỹ ở khu D, diệt hơn 100 tên, bắn rơi 3 máy bay. Bị đánh đau, địch buộc phải co cụm lại ở hai điểm lớn là C16 và D10, mỗi vị trí khỏang 1 tiểu đoàn bộ binh, 1-2 đại đội pháo (105mm); đồng thời đổ tiếp 2 tiểu đoàn Mỹ xuống nam, bắc khu B nhưng bị Trung đoàn 320 và Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 95 phục kích tiêu hao phải chùn lại. Ngày 27, 28 tháng 11 địch vội vã cho máy bay bốc quân rút chạy khỏi khu vực đông, tây sông Sa Thày.

   Phối hợp với hướng chính của chiến dịch, các đơn vị chủ lực tại chỗ và quân dân địa phương đẩy mạnh các hoạt động tiến công địch. Ở tây nam Gia Lai, Tiểu đoàn 101 và lực lượng vũ trang địa phương đánh nhiều trận nhỏ lẻ ở khu vực Thăng Đức, diệt 1 đại đội Mỹ (thuộc tiểu đoàn 1, lữ đoàn 2, sư đoàn kỵ binh không vận số 1), bắn rơi 3 máy bay (21.11); một phân đội pháo binh tập kích hỏa lực cứ điểm Plei Me (26.11). Trên hướng bắn Kon Tum, Tiểu đoàn 6 hoạt động mạnh ở khu vực Plei Kần, cùng địa phương tiêu hao, giam chân quân địch ở các căn cứ, tích cực đánh giao thông ngăn chặn địch cơ động và tiếp tế.

   Nắm chắc những diễn biến mới về địch, để giải quyết khó khăn về lương thực, ngày 27 tháng 11 Bộ tư lệnh chiến dịch chủ động kết thúc đợt 2 chiến dịch rút 2  trung đoàn 95 và 320 về Xóm 10 cũ, chỉ để lại Tiểu đoàn 6 đánh nhỏ lẻ ở khu vực làng Nú và đường 5b; đồng thời khẩn trương củng cố rút kinh nghiệm để bước vào đợt 3. Những ngày cuối tháng 11 và đầu tháng 12 năm 1966, trong khi ta khẩn trương chuẩn bị theo hướng dụ địch vào đế đánh tiếp một số trận tiêu diệt sinh lực địch ở khu C và khu D, thì địch dùng không quân, pháo binh đánh phá rất dữ dội vào khu chiến. Mỗi ngày có tới hàng trăm tấn bom và hơn 100 tấn đạn pháo, hàng chục lần chiếc má y bay B52 được huy động ném bom rải thảm dọc hai bờ đông, tây sông Sa Thày4. Ngày 6 tháng 12, địch dùng 111 lần chiếc trực thăng dỗ quân xuống Xóm 10 (Cà Đin) và đẩy trung đoàn 42 ngụy nống ra Plei Kleng và Plei Le (Kon Tum). Ta chủ trương rút chủ lực vào bí mật để chuẩn bị cho các nhiệm vụ tới; chỉ dùng Tiểu đoàn pháo binh 200 pháo kích Cà Đin, tiêu hao nặng 1 tiểu đoàn bộ binh và 1 đại đội pháo binh Mỹ. Sau khi dùng một lực lượng trinh sát B3 và trinh sát Trung đoàn 320 hoạt động nghi binh nhằm kéo địch ra lại hướng chính đông, tây sông Sa Thày, nhưng không dụ được dđch, Bộ tư lệnh chiến dịch chủ động kết thúc chiến dịch.

   Chiến dịch Sa Thày thắng lợi giòn giã: ta đánh 73 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 2.410 tên địch (có 2.050 tên Mỹ); diệt gọn 1 tiểu đoàn, 8 đại đội Mỹ và 5 đại đội, 2 trung đội ngụy, tiêu hao nặng 1 tiểu đoàn Mỹ khác; phá hủy 25 khẩu pháo, 17 xe quân sự, bắn rơi 20 máy bay, thu 71 súng các loại. Nét độc đáo của chiến dịch Sa Thày là ta đã "thành công trong nghệ thuật chuẩn bị, lừa địch, buộc địch hành động theo ý định của ta":. Cùng với chiến dịch Plei Me, chiến dịch Sa Thày đã giáng một đòn nặng nề, làm mất hiệu lực chiến thuật ''trực thăng vận'' của quân Mỹ ở chiến trường Tây Nguyên, buộc địch về sau phải dè dặt, cơ động từng tiểu đoàn trên một trục, một hướng để tránh bị tiêu diệt. Với chiến thắng Sa Thày, bộ đội chủ lực B3 đã góp phần quan trọng cùng quân dân Tây Nguyên và toàn miền Nam đánh bại cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai của địch, giáng một đòn chí mạng vào chiến lược ''chiến tranh cục bộ'' của đế quốc Mỹ. Với chiến thắng oanh liệt ở Sa Thày, bộ đội chủ lực chiến trường Tây Nguyên được tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba.




----------------------------------------------------------------------
1. Nghị quyết của Đảng ủy Chiến trường Tây Nguyên ''Về công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng trong các đơn vị chủ lực ở Tây Nguyên'', ngày 31.8.1966.
2. Sư Đoàn bộ binh số 4 Mỹ thành lập năm 1917, tham gia Chiến tranh thế giới thứ 2 ở châu Âu, có mặt ở miền Nam từ ngày 25.9.1966, sở chỉ huy đóng tại La Sơn (nam Plei Ku), rút khỏi miền Nam ngày 7.12.1970.
3. Tháng 1 và tháng 4 năm 1966, địch đã đổ bộ 1 đại đội bộ binh và 2 khẩu pháo 105mm xuống C1, sau đó rút đi.
4.Trong chiến dịch Sa Thày, địch sử dụng 306 lần chiếc máy bay B52, ném 10.500 tấn bom.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Tư, 2021, 04:01:19 pm
*

   Sau chiến dịch Sa Thày, Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên nhanh chóng tổ chức tổng kết chiến dịch, rút kinh nghiệm, chỉnh huấn, củng cố tổ chức biên chế lại theo nguyên tắc gọn nhẹ cơ quan và trực thuộc, tăng cường và xung lực và các thành phần trực tiếp chiến đấu,
lấy tinh binh, tinh cán nâng cao chất lượng làm chính; quyết tâm thực hiện thắng lợi ''nhiệm vụ trước mặt'' mà Đảng ủy chiến trường đã đề ra: ''khẩn trương nâng cao sức chiến đấu cho bộ đội, liên tục đánh nhỏ khắp nơi đồng thời sẵn sàng tranh thủ thời cơ đánh một số trận tiêu diệt vừa và lớn, để phối hợp chiến trường''1. Trong lần chỉnh huấn này, cán bộ cao cấp tập trung nghiên cứu học tập tài liệu ''Tình hình và nhiệm vụ mới'' của đồng chí Nguyễn Chí Thanh; cán bộ trung cấp học tập quán triệt nghị quyết của Đảng ủy Chiến trường, kết hợp tổng kết chiến dịch, chiến thuật, chú trọng tự phê bình và phê bình, quán triệt quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng, nâng cao ý chí chiến đấu, ý thức tổ chức kỷ luật, quan điểm quần chúng. Cán bộ sơ cấp và chiến sĩ học tập một số tài liệu nhằm củng cố nâng cao lập trường cách mạng và ý hí chiến đấu, tính tổ chức kỷ luật. Công tác xây dựng Đảng tập trung xây dựng chi bộ ba tốt gắn với xây dựng khí tiết cách mạng. Được sự chi viện giúp đỡ của Tổng cục chính trị, đầu năm 1967 Báo Tây Nguyên, Phân xã Thông tấn xã Giải phóng, Đội văn nghệ xung kích, Đội chiếu bóng, Nhà in trực thuộc Phòng Chính trị B3 lần lượt ra đời bước vào hoạt động, góp  phần tăng cường củng cố thêm trận địa tư tưởng cách mạng và kịp thời phục vụ nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho bộ đội và đồng bào các dân tộc Tây Nguyên.

   Song song với xây dựng ý chí quyết đánh, quyết thắng Mỹ, việc huấn luyện quân sự để bộ đội biết đánh, biết thắng địch được tiến hành chặt chẽ, toàn diện cả về tư tưởng quân sự, chiến thuật, kỹ thuật, tổ chức chỉ huy, quản lý bộ đội, tác phong chiến đấu. Các hình thức chiến thuật: phục kích, tập kích, đánh gặp địch (tao ngộ chiến), tiến công địch trong công sự, vây điểm, đánh giao thông, bắn máy bay trực thăng; các thủ đoạn chiến đấu: đột phá, thọc sâu bao vây, chia cắt, vu hồi được chú trọng huấn luyện, thục luyện nâng cao. Đặc biệt chiến thuật tổ 3 người được tập trung xây dựng, cách đánh xe cơ giới được rèn luyện kỹ.

   Nhằm bảo đảm các nhu cầu trước mắt, thường nhật và lâu dài, công tác hậu cần thời gian này vừa tập trung đẩy mạnh phong trào nui quân phòng bệnh nâng cao sức khỏe, chăm lo cải thiện đời sống bộ đội; vừa tích cực tiếp nhận, khai thác các nguồn hàng, đồng thời chủ động tăng gia sản xuất tự túc một phần lương thực thực phẩm, phấn đấu đạt chỉ tiêu 1.000 gốc sắn 1 người ở đơn vị chiến đấu và 1.500 - 2.000 gốc sắn 1 người ở cơ quan và đơn vị phía sau. Với tinh thần chủ động sáng tạo, vượt khó khoa Dược của Viện Quân y 211 đã sản xuất được cồn bằng men lá cây theo cách làm của đồng bào dân tộc địa phương, và kinh nghiệm này được phổ biến nhanh chóng, góp phần hạn chế áp xe do tiêm thiếu cồn khử trùng da. Tiếp đó, bộ phận X.quang của Viện đã lắp đặt thành công và đưa vào sử dụng máy X.quang đầu tiên ở chiến trường Tây Nguyên, tạo điều kiện cho công tác chẩn đoán điều trị thương bệnh binh. Cho đến đầu tháng 2 năm 1967, trước khi bước vào đợt hoạt động xuân, hậu cần Chiến trường Tây Nguyên được củng cố toàn diện và có bước phát triển mở rộng. Hệ thống tổ chức hậu cần Chiến trường bao gồm ba binh trạm (Bắc, Trung, Nam), các quân y viện (1, 2, 3, 4, 211, đội phẫu), lực lượng vận tải (Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 2, Đại đội vận tải dân tộc), các đường hành lang (C02, C05, C07)... hoạt động đồng bộ, hiệu quả. Lượng đạn toàn B3 sau chiến dịch Sa Thày chỉ còn l.500 quả đạn cối 82, thuốc nổ thiếu nghiêm trọng, nay tăng lên 450 tấn; gạo có 3.000 tấn, quần áo 5.000 bộ, 20.000 chiếc màn, thuốc men đủ dùng đến hết tháng 6. Lần đầu tiên bộ đội ở Tây Nguyên được cấp thuốc lá, bàn chải và thuốc đánh răng, giấy viết thư. Quân số khỏe đạt 87%, có đơn vị như Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 66 đạt 90%. Phong trào tăng gia tự túc do Bộ tư lệnh chiến trường phát động thu dược nhiều kết quả. Trong 6 tháng đầu năm 1967, toàn B3 trồng được 14 triệu gốc sắn, gieo 1 vạn ký lúa giống và 1.500kg ngô; chăn nuôi được 8.900 con gà, 700 con lợn, 30 trâu bò. Các đơn vị Binh trạm Nam, Viện 4, Trung đoàn 320, K28... vượt chỉ tiêu tăng gia. Quân y sản xuất được 17kg cao động vật, 23.000 viên thuốc và 11.000 lít thuốc chữa bệnh các loại. Quân giới sản xuất 144 quả mìn định hướng, 40 mìn xe, 200 lựu đạn 1289 con dao; chữa 2.500 quả lựu đạn, 467 khẩu súng, bộ đội săn bắn dược 53 tấn thịt thú rừng. Trong điều kiện còn nhiều khó khăn, nhưng Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên vẫn dành 159 tấn lương thực cấp cho lực lượng vũ trang địa phương và 19 tấn gạo kịp thời cứu đói choàng, bảo đảm cho hàng nghìn lượt bộ đội và cán bộ qua lại chiến trường.

   Trước yêu cầu tác chiến tập trung, hiệp đồng binh chủng ngày càng lớn ở Tây Nguyên, Đảng ủy và Bộ tư lệnh chiến trường quyết định thành lập Trung đoàn pháo binh 40 (mật danh công trường 40). Ngày 5 tháng 2 năm 1967 Trung đoàn pháo binh 40 ra đời, trong biên chế có chỉ huy, cơ quan, 4 tiểu đoàn súng cối, súng máy phòng không (30, 31, 32, 34), 2 đại đội trực thuộc (trinh sát, thông tin). Chỉ huy trung đoàn gồm các đồng chí Nguyễn Đức Giá (trung đoàn trưởng), Sơn Hùng (chính ủy), Nguyễn Xô và  Nguyễn Thành Lai (trung đoàn phó). Sự ra đời của trung đoàn pháo binh đầu tiên đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của bộ đội pháo binh Tây Nguyên và s ự trưởng thành lớn mạnh của bộ đội chủ lực trên chiến t rường. Từ đó về sau, ngày 5 tháng 2 trở thành ngày truyền thống của Trung đoàn pháo binh 40 tiền thân của Lữ đoàn pháo binh 40 ngày nay.



------------------------------------------------------------------
1. Nghị quyết "Sau chiến dịch mùa khô năm 1966'' của Đảng ủy Chiến trường Tây Nguyên, họp ngày 15-17.12.1966.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Tư, 2021, 04:11:27 pm
*

   Với thế và lực mới, ngày 3 và 4 tháng 2 năm 1967, Thường vụ Đảng ủy Chiến trường Tây Nguyên họp mở rộng, quyết định chuyển đợt hoạt động đệm thành Chiến dịch Sa Thày 21; nhằm tiêu diệt tiêu hao sinh lực, phương tiện chiến tranh của địch, mở rộng vùng giải phóng, hỗ trợ phong trào đấu tranh chính trị và phát triển chiến tranh du kích ở địa phương, phối hợp với các chiến trường toàn miền Nam; đồng thời rèn luyện và nâng cao khả năng của cơ quan, trình độ tổ chức chỉ huy, chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ. Lực lượng chủ lực cơ động B3 gồm Sư đoàn bộ binh 1 và Trung đoàn pháo binh 40 đánh địch trên hướng chính đông - tây sông Sa Thày, sẵn sàng phát triển vào Chư Pa - Sùng Thiện. Trên các hướng phối hợp: Tiểu đoàn 101, Trung đoàn 95 (thiếu) hoạt động ở khu vực nam đường 19 đến bắc Plei Me; Trung đoàn 33 tác chiến ở bắc Buôn Ma Thuột Trung đoàn 24 đảm nhiệm bắc Kon Tum, Tiểu đoàn 6 Tây Ninh đánh địch ở khu vực Pa Kha - Tà Xẻng. Ở các hướng tác chiến đều  có lực lượng vũ trang địa phương phối hợp.

   Trong khi ta chuẩn bị chiến dịch Sa Thày 2, cũng là lúc Mỹ, ngụy đẩy mạnh cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai (1966 - 1967) với hai gọng kìm song song là tìm diệt chủ lực đối phương và bình định nông thôn, tập trung chủ yếu ở miền Đông Nam Bộ. Sau thất bại trong cuộc hành quân Át-Tơn Bo-rơ (14.9-25.11.1966) ở Tây Ninh, chúng huy động một lực lượng lớn binh lực mở liên tiếp các cuộc hành quân Xi-đa-phôn (8-26.1.1967 đánh phá vùng ''Tam giác sắt'': Bàu Bàng - Bến Súc - Củ Chi), Gian-xơn Xi-ty (22.2-14.5.1967 đánh phá căn cứ Dương Minh Châu nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam); đồng thời mở các cuộc hành quân ở Khu 5, Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long, tổ chức phòng ngự Đường 9 - Bắc Quảng Trị, xây dựng hàng rào điện tử Mác Na-ma-ra ở vùng giới tuyến, tiếp tục leo thang đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân, tiến công ngoại giao và củng cố ổn định tình hình chính trị nội bộ ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn, củng cố tập đoàn tay sai Thiệu - Kỳ.

   Nằm trong kế hoạch phản công chiến lược lần thứ hai, ngay từ đầu năm 1967, quân địch ở Tây Nguyên mở nhiều cuộc hành quân liên tiếp. Tại Gia Lai, từ ngày 1 tháng 1 đến ngày 10 tháng 2 năm 1967, chúng huy động một lực lượng lớn gồm 2 lữ đoàn dù, 1 tiểu đoàn thuộc sư đoàn 25, 1 tiểu đoàn thuộc sư đoàn kỵ binh không vận số 1 Mỹ, liên đoàn 2 biệt động quân (thiếu), trung đoàn 3 thiết giáp, sau đó tăng thêm lữ đoàn 1 sư đoàn bộ binh số 4 Mỹ và 2 tiểu đoàn pháo mở cuộc hành quân Sam-hút-tơn. Đây là chiến dịch phòng ngự cơ động nhằm ngăn chặn và phá chuẩn bị tiến công của ta vào vùng tây Plei Gi Răng. Tiếp đó, từ giữa tháng 2 đến ngày 30 tháng 4, địch mở cuộc hành quân Frăng-xi Ma ri-ôn vào vùng tây Gia Lai với lực lượng 2 lữ đoàn (1, 2) sư đoàn bộ binh 4, 2 tiểu đoàn thiết giáp và 2 tiểu đoàn pháo hỗn hợp Mỹ. Phối hợp với các cuộc hành binh của quân Mỹ trên hướng tây, quân khu 2 - quân đoàn 2 ngụy cũng mở nhiều cuộc hành quân càn quét: Tân Thắng 131 (vào vùng Đắc Đoa, Suối Đôi), Tân Thắng 135 đến 144 (khu vực đường 19 kéo dài) xúc 14.000 dân vào các ''khu định cư'' Plei Dịt, Tân Lạc. Tháng 5 chúng mở tiếp các cuộc hành quân vào vùng Chư Pa, Đức Vinh, trục đường 15, Giáo Trạch, Ba Bỉ, Chư Pông. Ở Đắc Lắc, từ tháng 3 đến tháng 5 năm 1967, địch huy động lữ đoàn 1 (sư đoàn dù 101 Mỹ) cùng trung đoàn 45, tiểu đoàn 23 biệt động quân, một lực lượng bảo an, trung đoàn 8 thiết giáp, các tiểu đoàn pháo mở các cuộc hành quân Xim-sơn (ở vùng  Krông Pách, Krông Dung), Phi Bằng 5 - 6 (ở Buôn Hồ, Mê Van, Quảng Nhiêu, Lạc Thiện, Đạt Lý, Khánh Dương, Phước An). Hướng Kon Tum, chúng dùng trung đoàn 42, lực lượng bảo an, biệt kích mở cuộc hành quân Tân Thắng 132 - 134 ở vùng Đắc Tô, Kon Kô, rồi mở rộng hoạt động biệt kích ở ba trọng điểm: Sa Thày, tây  Đắc Tô và đông bắc Tân Cảnh.

   Trên hướng chính của chiến dịch, đầu tháng 2 năm 1967 địch làm đường, bắc cầu sắt qua sông Pô Kô, đỗ quân chiếm khu B bên bờ tây sông Sa Thày, lập các trận địa pháo ở Pông Giông, công trường Đất Đỏ (bờ đông).

        Giữa tháng 2, lữ đoàn 2 Mỹ tổ chức hai mũi tiến quân sang bờ tây sông chiếm bãi D10 và C16 lập bàn đạp nhằm đánh sâu vào căn cứ của ta. Tại mỗi vị trí có 1 tiểu đoàn bộ binh và 1 đại đội pháo binh Mỹ. Như vậy, ta c chưa khêu ngòi, quân địch đã ra. Bộ tư lệnh Chiến trường quyết định cho các đơn vị nổ súng mở đầu chiến dịch Sa Thày 2. Chấp hành mệnh lệnh, sáng ngày 15 tháng 2 Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 66 tập kích tiểu đoàn 1 (trung đoàn 12, lữ đoàn 2 Mỹ) ở vị trí D10, tiêu hao nặng 2 đại đội địch. Cùng thời gian này, Trung đoàn 320 tập kích hỏa lực vào vị trí C16 diệt nhiều tên Mỹ, phá hủy 1 trực thăng. Tiếp đó, trưa ngày 17, Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 66 diệt gọn đại đội C (tiểu đoàn 2 Mỹ), bắn rơi 2 trực thăng ở Mít Dép (bờ đông sông Sa Thày); Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 320 phục kích ở phía tây C16 diệt đại đội C và 1 trung đội của đại đội A (tiểu đoàn 1, trung đoàn 22, lữ đoàn 2 Mỹ). Bị thua đau, ngày 3 tháng 3 địch đưa một lực lượng của sư đoàn kỵ binh không vận số 1 từ An Khê lên Sa Thày ứng cứu và đưa lữ đoàn 1 sư đoàn dù 101 từ Phan Rang lên Tây Nguyên. Nhưng quân ứng cứu vừa đổ xuống đất đã bị Trung đoàn 320 đánh liên tiếp ba trận ở tây bắc C16, đông bắc công trường Đất Đỏ và bị Đại đội 1 (Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 88) tiến công ở tây D10 mỗi trận ta diệt từ 1 trung đội đến 1 đại đội Mỹ. Ngày 8 tháng 3, địch buộc phải rút chạy khỏi D10.

   Trên các hướng phối hợp, Trung đoàn 95 liên tục tiến công: Tiểu đoàn  đánh 8 trận ở đường 19 và bắc Plei Me diệt 119 tên địch, bắn rơi 5 trực thăng, phá hủy 5 xe quân sự và 1 khẩu pháo 105mm. Tiểu đoàn 2 phục kích diệt 1 đại đội ngụy ở Quynh Xom, pháo kích cứ điểm
Tân Lạc, phá ấp Huy Bang giải phóng 700 dân. Công binh đánh giao thông phá hủy 11 xe (có 8 xe bọc thép) diệt 116 lính Mỹ. Những trận đánh của Trung đoàn 95 đã buộc địch phải chấm dứt cuộc hành quân Tân Thắn 131 và chuyển thành Tân Thắng 135 ở vùng Đức Cơ để đối phó với ta. Phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực, lực lượng vũ trang địa phương Gia Lai tập kích hỏa lực vào căn cứ của sư đoàn kỵ binh không vận số 1 Mỹ ở An Khê, diệt và làm bị thương 120 tên, phá hủy 38 máy bay, 7 lô cốt, 3 nhà lính. Ở Đắc Lắc, Trung đoàn 33 đẩy mạnh các hoạt động, phá ấp Buôn DLung, diệt gần hết một tiểu đoàn thuộc trung đoàn 45 ngụy (22.2). Hướng Kon Tum, Tiểu đoàn 6 Tây Ninh diệt một số biệt kích.

   Trong khí thế tiến công sôi động và tiếng súng giết giặc đầu xuân nổ vang trên các hướng, ngày 24 tháng 2 Đại hội mừng công lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên lần thứ nhất khai mạc trọng thể. Hơn 100 Chiến sĩ thi đua và Dũng sĩ tiêu biểu cho phong trào thi đua của ba thứ quân lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên đã tham dự. Qua 2 năm (1965-1966) chiến đấu gian khổ, bền bỉ, liên tục và anh dũng, hưởng ứng phong trào thi đua ''Quyết thắng giặc Mỹ xâm lược'' được phát động từ chiến dịch Piei Me, các lực lương vũ trang Tây Nguyên đã giành được những kết quả to lớn: loại khỏi vòng chiến đấu 13.225 tên địch, bắt 586 tên, thu 1.299 sáng các loại, phá hủy phá hỏng 326 xe quân sự, bắn rơi và phá hủy 266 máy bay các loại. Qua thực tiễn chiến đấu và phục vụ chiến đấu đã xuất hiện 86 đơn vị ''Anh dũng diệt Mỹ'', 411 Dũng sĩ, 636 Chiến sĩ thi đua, 108 Chiến sĩ quyết thắng, được tặng thưởng hai Huân chương Quân công hạng nhất, 1 Huân chương Quân công hạng nhì, 3 Huân chương Quân công hạng ba. Hai đơn vị: Đại đội 8 (Trung đoàn 66) và Đại đội 3 (Trung đoàn 33) được tặng cờ danh dự ''Đại đội anh dũng diệt Mỹ'' đầu tiên của chiến trường. Kết luận Đại hội, Thiếu tướng Chu Huy Mân - Tư lệnh kiêm Chính ủy Chiến trường Tây Nguyên kêu gọi: "Mỗi chúng ta phải xứng đáng với sự nghiệp vĩ đại của nhân dân, với sự tích anh hùng của dân tộc. Muốn thế, trước hết phải kiên định lập trường giai cấp và ý chí đấu tranh cách mạng, trau dồi tư tưởng, khí tiết và phẩm chất cách mạng, phải có kỷ luật tự giác cao. Đó là cái quý nhất, cao đẹp nhất của con người, của những chiến sĩ gang thép trong đội quân gang thép''. Mang theo nhiệt huyết, quyết tâm và kinh nghiệm đánh Mỹ, diệt ngụy từ Đại hội, các đại biểu nhanh chóng tỏa về đơn vị cơ sở làm nòng cốt thúc đẩy phong trào thi đua, đưa chiến dịch Sa Thày 2 phát triển thắng lợi.

   Đầu tháng 3 năm 1967, đợt 1 chiến dịch Sa Thày 2 kết thúc thắng lợi giòn giã. Bộ tư lệnh Chiến trường chủ trương nhanh chóng điều chỉnh lực lượng, tiếp tục tiến công đợt 2 (11-31.3). Mở đầu đợt hoạt động, ngày 12 tháng 3 Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 88 vây ép, pháo kích quân địch ở C16; cùng lúc Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 66 vận động tiến công tiêu hao nặng 1 đại đội thuộc lữ đoàn 2 sư đoàn 4 Mỹ và đánh thiệt hại 1 đại đội khác của tiểu đoàn 2, trung đoàn 35, sư đoàn 25 Mỹ ở Mít Dép. Đêm hôm sau (13.3), Tiểu đoàn pháo binh 31 (Trung đoàn 40) tập kích hỏa lực ba đợt vào lữ đoàn bộ lữ đoàn 2 sư đoàn 4 ở Sùng Thiện, loại khỏi vòng chiến đấu 350 tên Mỹ, 70 tên ngụy, phá hủy 8 pháo lớn, 7 máy bay trực thăng và 30 xe quân sự. Sau hai đợt pháo kích, đặc công của ta đột nhập vào Sùng Thiện phá hủy 2 xe quân sự, 1 máy bay trực thăng và đốt cháy 1 kho xăng. Cùng đêm 13, ta pháo kích C16, công trường Đất Đỏ gây nhiều thiệt hại cho địch. Bị đánh tơi tả, tiêu hao nặng lữ đoàn 2, sư đoàn 4 Mỹ phải tháo chạy khỏi bờ tây sông Sa Thày. phát huy thắng lợi, ta phát triển tiến công sang bờ đông sông và dùng một lực lợơng đánh về hướng Chư Pa, buộc địch phải đưa lữ đoàn 1 sư đoàn 4 Mỹ từ Tuy Hòa lên Tây Nguyên đối phó. Nhưng lữ đoàn 1 vừa đổ quân xuống Chư Pa đã bị pháo kích tiêu hao và ngày 23 tháng 3 bị Tiểu đoàn 101 chặn đánh tiêu diệt gần 2 đại đội. Cùng thời gian này, trung đoàn 35 sư đoàn 25 Mỹ bên bờ đông sông Sa Thày cũng bị đánh liên tiếp, bị Trung đoàn 320 đánh vận động tiêu diệt một đại đội và tiêu hao 1 đại đội khác ở phía bắc công trường Đất Đỏ. Để tránh bị tiêu diệt, ngày 28 tháng 3, quân Mỹ phải rút chạy khỏi Chư Pa và bờ đông sông Sa Thày, co về phòng thủ trên tuyến  đường 15 (Sùng Thiện, Sùng Lễ, Lệ Thanh). Phối hợp với hướng chính, Trung đoàn 95 đánh mạnh trên đường số 5, đường 19 tây, Plel Me, Phú Nhơn; Trung đoàn 24 pháo kích thị xã Kon Tum; Trung đoàn 33 pháo kích vào Buôn Hồ, Buôn Đôn... tiêu hao một lực lượng quân ngụy buộc địch phải phân tán đối phó, tạo điều kiện cho hướng chính của chiến dịch phát triển thuận lợi.

   Cuối tháng 3, đầu tháng 4 năm 1967, địch rút bỏ Sùng Thiện, đưa lữ đoàn 2 sư đoàn 4 và tiểu đoàn 2 lữ đoàn 3 sư đoàn 25 về Pleiku củng cố, đồng thời dùng lữ đoàn  sư đoàn 4 Mỹ mở cuộc hành quân Frăng-xi Ma-ri-ôn và cho tiểu đoàn 11 biệt động quân ngụy càn quét vùng Tân Lạc, Thanh Giáo, Lệ Ngọc nhằm bảo vệ phía nam Piei Ku, gom dân lập ấp chiến lược. Trước diễn biến mới về địch, Bộ tư lệnh Chiến trường quyết định chuyển sang đợt 3 chiến dịch (1-30.4). Trong suốt một tháng chiến đấu, ta đánh 50 trận, trong đó có 4 trận phục kích và chống càn cấp tiểu đoàn của Trung đoàn 88 và Trung đoàn 95 ở khu vực phía nam đường 19 tây. Trên hướng  phối hợp, Trung đoàn 24 tập kích vào Kon Tây, Trung đoàn 33 pháo kích Buôn Đôn gây cho địch một số thiệt  hại.

   Ngày 30 tháng 4, chiến dịch Sa Thày 2 kết thúc thắng lợi. Sau 75 ngày đêm chiến đấu, bộ đội chủ lực Tây Nguyên được lực lượng vũ trang địa phương phối hợp đã đánh 140 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 4.941 tên địch (có 3.397 tên Mỹ, 1.541 tên ngụy), bắt 4 tên; tiêu diệt 10 đại đội, 1 trung đội Mỹ và 1 tiểu đoàn, 3 đại đội, 3 trung đội ngụy; tiêu hao 1 tiểu đoàn, 14 đại đội, 1 lữ đoàn bộ binh Mỹ và 4 đại đội, 1 trung đội ngụy; bắn rơi 61 máy bay, phá hỏng 180 xe quân sự và 20 khẩu pháo; thu l29 súng các loại và 17 vô tuyến điện. Những kết quả to lớn trong chiến dịch Sa Thày 2 không những có ý nghĩa về tiêu diệt sinh lực địch, hỗ trợ phong trào phá ấp giành dân, phối hợp chiến trường, rèn luyện bộ đội; mà còn đánh dấu bước phát triển mới về nghệ thuật khêu ngòi bằng gây ép nhử địch vào các khu vực ta đã chuẩn bị sẵn để tập trung lực lượng bao vây, tiêu diệt. Điểm nổi bật trong chiến dịch này là ta sử dụng rất thành công hỏa lực pháo cối tập kích địch đồng loạt cùng một thời gian đạt hiệu quả cao, góp phần nhanh chóng cải thiện thế chiến dịch, tạo điều kiện cho bộ binh mở thêm hướng tiến công mới, làm chiến dịch phát triển, giành thắng lợi lớn.





------------------------------------------------------------------
1. Chiến dịch Sa Thày 2 còn được gọi là đợt tiến công mùa Xuân 1967.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Tư, 2021, 04:16:04 pm
*


   Tiếng súng tiến công mùa Xuân vừa tạm lắng, ngày 2 tháng 5 năm 1967 Đảng ủy Chiến trường Tây Nguyên chủ trương ''đẩy mạnh hoạt động tác chiến, tiếp tục tiến công địch'' mở đợt tiến công mùa hè. Hướng tiến c ông chủ yếu ở khu vực Chư Pa, các hướng phối hợp ở trục đường 19 tây, Tây bắc Kon Tum, bắc Buôn Ma Thuột.

   Trong khi ta đang chuẩn bị đợt hoạt động hè, bị địch phát hiện dấu vết trên hướng chính, chúng liền phản ứng. Ngày 15 tháng 5, lữ đoàn 1 sư đoàn 4 Mỹ từ Đức Cơ, Sùng Lễ mở hai mũi tiến công ra vùng Chư Dam, Chư Pa, định phá sự chuẩn bị tiến công và đẩy ta ra xa. Thời cơ tiêu diệt địch đã đến, các đơn vị trên hướng chính được lệnh chuyển sang chặn đánh cả hai cánh quân địch. Từ ngày 15 đến ngày 30 tháng 5, chiến sự nổ ra rất ác liệt ở vùng rừng núi Chư Dam, Chư Pa, Chư Lom. Tại Chư Dam, Trung đoàn 320 đánh 4 trận diệt 420 tên địch, bắt 1 tên, bắn rơi 6 trực thăng, thu 36 súng và 2 vô tuyến điện. Hướng Chư Pa, Trung đoàn 66 cũng đánh liên tiếp 4 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 392 tên, bắn rơi 2 trực thăng, thu 3 súng và 1 vô tuyến điện. Trung đoàn 88 đánh 11 trận, diệt 272 tên, bắn rơi 2 trực thăng, phá 8 xe quân sự. Sau 8 ngày chiến đấu, Sư đoàn bộ binh 1 đã đập tan cuộc hành quân ''tìm diệt'' của lữ đoàn 1 sư đoàn 4 Mỹ. Địch bị đánh tơi tả buộc phải tháo lui co về giữ tuyến phòng thủ đường 15. Phối hợp chặt chẽ với hướng chính, Trung đoàn 95 đánh mạnh ở hai huyện 4 và 5 Gia Lai diệt 77 tên Mỹ, phá 5 xe quân sự; Trung đoàn 33 đánh 5 trận, diệt 68 tên Mỹ và 90 tên ngụy, bắn rơi 3  trực thăng, phá 1 xe; Trung đoàn 24 đánh 6 trận, diệt 312 tên, thu 38 súng.

   Để đối phó với ta trên hướng bắc Kon Tum, từ ngày lê tháng 6 năm 1967, địch đưa lữ Đoàn dù l73 lên Tân Cảnh và mở cuộc hành quân Greely. Chủ động đánh địch, đêm 16 và tối 17 tháng 6, ta dùng ĐKB, cối 120mm, 82mm đánh căn cứ Tân Cảnh, phá cơ sở hậu cần của cuộc hành quân. Hỏang sợ trước sự xuất hiện của loại hỏa tiễn mang vác ĐKB, địch ráo riết lùng sục và treo giải thưởng 100.000 đồng cho ai cung cấp tin tức về loại vũ khí mới này. Ngày 20 tháng 6, địch đổ bộ một tiểu đoàn của lữ đoàn 173 Mỹ xuống Ngọc Kring thăm dò, sau đó tiến sang Ngọc Bờ Biêng, nhưng bị Tiểu đoàn 6 Tây Ninh đánh trận phủ đầu đẫm máu. Để cứu nguy cho lữ đoàn 173, chiến đoàn dù số 1 thuộc lực lượng tổng dự bị của quân ngụy Sài Gòn và 2 tiểu đoàn thuộc sư đoàn kỵ binh không vận số 1 được vội vã đưa lên Tây Nguyên mở cuộc hành Quân ''Dân Thắng 161'' ở Tây bắc Kon Tum; một trung đoàn Nam Triều Tiên cũng được cấp tốc đưa lên cao nguyên.

   Trong tháng 6, hướng Gia Lai, Trung đoàn 88, Trung đoàn 95 đánh một số trận nhỏ lẻ và pháo kích. Nổi bật là trận tập kích xuất sắc của Tiểu đoàn 952 đặc công vào thị xã Plei Ku (10.6), Tiểu đoàn địa phương Gia Lai đánh ấp Lệ Chí, loại khỏi vòng chiến đấu 338 tên địch (có 183 tên Mỹ), bắt 18 tên, giáng một đòn mạnh vào hậu cứ của địch. Riêng hướng Đắc Lắc, Trung đoàn 33 hoạt động yếu.

   Đầu tháng 7, địch tăng quân mở các cuộc càn quét lùng sục xung quanh các cứ điểm Tân Cảnh, Đức Cơ, Chư Kram, Lang Beng. Nhưng tinh thần binh lính địch bạc nhược, gặp ta là bỏ chạy, có hiện tượng tránh đụng độ với chủ lực ta. Vì vậy trong tháng 7, Trung đoàn 1741 và Tiểu đoàn 101 chỉ đánh được một số trận phục kích và pháo kích ở Đắc Siêng, vận động tiến công ở Đắc Vai Kông tiêu hao đại 2 đội Mỹ; Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 66 đánh một trận xuất sắc tiêu diệt 2 đại đội Mỹ ở nam Đức Vinh; Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 320 phục kích diệt một số địch ở bắc Da Bo.

   Ngày 20 tháng 7, đợt tiến công mùa hè của quân và dân Tây Nguyên kết thúc thắng lợi. Ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 2.763 tên Mỹ và 1.560 tên ngụy, bắt 32 tên, phá hủy 75 xe quân sự và 22 pháo lớn, bắn rơi phá hỏng 27 máy bay, thu 273 súng các loại và 17 vô tuyến điện. Đợt tiến công mùa hè đã phá tan âm mưu chiến lược của địch là kiềm chế Tây Nguyên tập trung quân đánh phá đồng bằng, đẩy địch vào thế đối phó lúng túng bị động, buộc phải chuyển vào phòng ngự sớm hơn trước mùa mưa. Cùng với thắng lợi của chiến dịch Sa Thày 2, kết quả của đợt tiến công mùa hè đã tạo cho quân và dân Tây Nguyên thế và lực mới, mở những chiến dịch giành thắng lợi ngày càng to lớn hơn.




------------------------------------------------------------------
1. Trung Đoàn bộ binh 174 do trung tá Đàm Văn Ngụy làm trung đoàn trưởng, đồng chí Hoàng Thanh Trà làm chính ủy, đồng chí Lý Long Quân làm trung đoàn phó, có 2.883 cán bộ, chiến sĩ, vào chiến trường Tây Nguyên ngày 30.5.1967.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Tư, 2021, 04:24:16 pm
3. Giữ vững quyền chủ động tiến công địch, mở chiến dịch Đắc Tô 1, đánh bại cuộc phản kích mùa khô lần thứ ba của Mỹ, ngụy.

   Cuối tháng 7 năm 1967, Đảng ủy Chiến trường Tây Nguyên họp đánh giá thắng lợi to lớn của quân dân Tây Nguyên qua ba đợt hoạt động đông, xuân, hè 1966-1967, chỉ những ưu khuyết điểm và rút ra những kinh nghiệm quý giá trong lãnh đạo, chỉ đạo; đồng thời đề ra nhiệm vụ phương hướng, yêu cầu lãnh đạo Chiến trường thời gian tới, trong đó tập trung làm công tác chuẩn bị cho chiến dịch Đắc Tô 1. Cùng thời gian này, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh cử thiếu tướng Hoàng Minh Thảo làm tư lệnh và đại tá Trần Thế Môn làm chính ủy Chiến trường Tây Nguyên thay Thiếu tướng Chu Huy Mân về làm Tư lệnh quân Khu 5; đại tá Cao Văn Khánh được bổ nhiệm làm Phó tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên. Tiếp đó, đảng ủy Khu 5 chỉ định đồng chí Trần Thế Môn - đảng ủy viên (Đảng ủy Khu 5) làm Bí thư Đảng ủy Chiến trường Tây Nguyên và đồng chí Hoàng Minh Thảo - đảng ủy viên (Đảng ủy Khu 5) làm Phó bí thư.

   Tuy đầu tháng 9 năm 1967, sau khi được cấp trên phê chuẩn, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên mới chính thức quyết định mở Chiến dịch Đắc Tô 1; nhưng công tác chuẩn bị chiến dịch được chủ động tiến hành ngay từ khi đợt tiến công mùa hè vừa kết thúc. Trong hai tháng 7, 8 các đoàn cán bộ của B3 và Sư đoàn bộ binh 1 đã đi chuẩn bị chiến trường. Cuối tháng 8, cán bộ quân sự từ cấp tiểu đoàn trở lên rời tây nam Gia Lai lên khu vực Đắc Tô trinh sát địa hình, sau đó ở lại đón bộ đội và làm công tác tổ chức chuẩn bị chiến đấu. Song song với công tác chuẩn bị chiến trường, việc chuẩn bị lực lượng theo phương châm: ''Ra sức tăng cường chất lượng, để chiến thắng số lượng đông của địch'' được tiến hành tích cực, toàn diện nhằm nâng cao chất lượng chính trị, chiến thuật, kỹ thuật để ''diệt lữ đoàn Mỹ''. Do thường xuyên phải tác chiến với quân địch đông về số lượng, lắm bom nhiều đạn, liên tục ác liệt dài ngày, trong khi ta còn thiếu thốn, trang bị có hạn nên Đảng ủy, Bộ tư lệnh Chiến trường đặc biệt quan tâm xây dựng cho bộ đội tinh thần quyết chiến quyết thắng giặc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai. Công tác xây dựng chi bộ 4 tốt được chú trọng; dân chủ được phát huy; những vướng mắc về tư tưởng được phát hiện và giải quyết. Lần đầu tiên trên toàn chiến trường Tây Nguyên dấy lên phong trào tự nguyện đăng ký chỉ tiêu diệt Mỹ rộng khắp; từ chiến sĩ nuôi quân đến đồng chí Tư lệnh đều đăng ký chỉ tiêu thi đua. Những từ ''Đánh to Thắng lớn'', ''Diệt lữ đoàn Mỹ'' được mọi người nhắc đến với lòng tin tưởng và quyết tâm rất cao.

   Giữa những ngày chuẩn bị chiến dịch khẩn trương sôi động, Đoàn văn công Tổng cục Chính trị và Đội văn nghệ xung kích B3 chia ra từng tổ, đến tận trung đội, đại đội biểu diễn động viên bộ đội trước khi bước vào chiến đấu. Để đạt được chỉ tiêu đã giao ước, các đại đội, tiểu đoàn tích cực luyện tập chiến thuật tập kích, vận động tiến công kết hợp chốt theo phương án tiêu diệt đại đội, tiểu đoàn Mỹ. Từng tổ 3 người, từng tiểu đội tự động ra thao trường ôn luyện ngoài giờ về chiến thuật, kỹ thuật bắn các loại súng khi lên dốc, xuống dốc. Các đồng chí trong Bộ tư lệnh và cán bộ ba cơ quan Chiến trường xuống tận đại đội kiểm tra, động viên bộ đội, vừa nắm thực chất và kịp thời uốn nắn việc chuẩn bị bộ đội, chuẩn bị vật chất, vừa tạo gắn bó trên dưới, vun đắp truyền thống đoàn kết của lực lượng vũ trang Tây Nguyên.

   Chiến dịch Đắc Tô 1 được mở trong khu vực rừng núi trùng điệp phía tây bắc tỉnh Kon Tum, cách thị xã Kon Tum khỏang 40km. Ngoài vùng thung lũng Đắc Tô - Tân Cảnh và dọc đường 18 đến Plei Kần (gần ngã ba biên giới Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia) do quân địch đóng giữ thành cụm cú điểm lớn, địa hình khu vực tác chiến chia ra làm hai phần rõ rệt bắc và nam đường 18. Phía bắc có các dãy núi Ngọc Van (1.416m), Ngọc Sia (1.556m), Ngọc Tụ (700-900m). Phía nam gồm nhiều dãy núi có độ cao từ 700m đến 1.300m, bị hai con suôí Đắc Klong và Đắc Kal (phụ lưu sông Sa Thày) chia cắt.

        Phía đông suối Đắc Klong có dãy Ngọc Bờ Biêng (1.262m, cách Đắc Tô 7km về phía nam), Ngọc Tang, Ngọc Rinh Rua, Ngọc Dơ Lang cao trên 1.000m, rồi thấp dần về phía bãi bằng Plei Lăng Lô Kram. Bờ tây suối Đắc Klong là dãy Ngọc Kom Liệt (826m, cách Plei Kần 2km về phía nam); nam suối Đắc Kal có dãy Ngọc Kring (882m), xa hơn khỏang 4km là điểm cao 875 có nhiều bãi le, tương đối bằng, tiện lợi cho việc đổ bộ trực thăng. Địa hình khu vực tác chiến tuy không rộng lắm, nhưng có đầy đủ các yếu tố để mở chiến dịch tiến công quy mô sư đoàn tăng cường. Từ các dãy núi bên bờ tây sông Pô Kô như Ngọc Bờ Biêng, Ngọc Tang, Ngọc Rinh Rua ta có thể bố trí hỏa lực khống chế toàn bộ thung lũng Đắc Tô, Tân Cảnh, buộc địch phải đưa quân ra phản kích. Khu vực trung tuyến Ngọc Dơ Lang là khu quyết chiến thứ nhất có thể triển khai hàng trung đoàn, đánh bại đợt phản kích và đòn phản kích thứ nhất của địch. Khu vực Ngọc Kom Liệt, Bãi Le, điểm cao 875 là trung tâm không gian chiến dịch, nơi triển khai lực lượng chủ yếu của ta thực hiện trận quyết chiến then chốt chiến dịch. Các khu vực phía bắc đường 18, đông, đông bắc Tân Cảnh có thể triển khai lực lượng vừa và nhỏ đánh vào sau lưng đội hình địch, khống chế sân bay Đắc Tô, uy hiếp Tân Cảnh, cắt giao thông đường 14... hỗ trợ cho hướng chủ yếu chiến dịch.

   Ngày 15 tháng 9, khi Bộ tư lệnh Chiến trường quyết định chính thức chuyển vào giai đoạn chuẩn bị chiến dịch, và ngày 22 quyết tâm chiến dịch được thông qua lần cuối, công tác vận chuyển gạo đạn và cơ động lực lượng chiếm lĩnh trận địa, làm công sự diễn ra bí mật, nhưng rất khẩn trương sôi động. Khu vực mở chiến dịch nằm trong tầm khống chế của hỏa lực pháo binh và máy bay địch nên công tác chuẩn bị được lãnh đạo tổ chức rất chặt chẽ. Dưới trời mưa tầm tã, bộ đội và dân công phải đi xa chặt hàng vạn cây lồ ô, nứa đan phên lát hàng trăm kilômét đường thồ, làm dàn ngụy trang ở những đoạn đường trống. Khi chiến dịch mở màn, đã có tới gần 500km đường bộ được mở phục vụ vận chuyển và cơ động lực lượng. Nhưng khó khăn nhất và sôi động nhất là công tác bảo đảm hậu cần chiến dịch. Do nguồn hàng ở xa, núi dốc đường trơn, tất cả đều vận chuyển bằng đôi vai và xe đạp thồ, nên một lực lượng lớn được huy động vào vận tải. Bên cạnh các đơn vị vận tải bộ của Phòng Hậu cần, các binh trạm, Sư đoàn 1 và các trung đoàn, Bộ tư lệnh Chiến dịch còn huy động Trường Quân chính, Trường Quân y, các bệnh viện, xưởng dược, xưởng quân giới và cơ quan B3 tham gia ''chiến dịch'' vận chuyển. Một lực lượng lớn gồm 3.400 thanh niên xung phong và dân công của các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc cũng được huy động tham gia phục vụ chiến dịch. Với quyết tâm ''Không vì hậu cần mà ảnh hưởng đến chiến đấu'', các chiến sĩ vận tải động viên, giúp đỡ nhau, thi đua tăng cân tăng chuyến, gùi hàng vượt trọng lượng cơ thể băng qua ''dốc Trăm bậc'', đỉnh đồi ''Cây đa gió lộng'' cao hàng nghìn mét, vượt sông Sa Thày chảy xiết bền bỉ tiến ra phía trước. Đội nữ vận tải Phòng Hậu cần đưa năng suất gùi bình quân 50kg/1người/1chuyến; Tiểu đoàn 6 vận tải đạt năng suất 42kg; cán bộ, chiến sĩ viện Quân y 211 chưa quen gùi thồ cũng đưa năng suất thồ xe đạp lên 120kg và gùi lên 60kg. Xưởng dược X38 tổ chức một đội xe đạp thồ vận chuyển suốt cả chiến dịch. Trong đợt vận chuyển này xuất hiện nhiều kỷ lục gùi hơn 100kg, thồ xe đạp 2 tạ/chuyến. Trong gian lao, vất vả các chiến sĩ vận tải rất yêu đời. Những lời ca:

      "Tôi là người chiến sĩ giải phóng quân       
                  Vượt dốc, băng sông, xuyên rừng, lội suối                    
                  Còn trẻ lắm, năm nay mười tám tuổi…"


   Sôi nổi, say sưa luôn được các nữ chiến sĩ cất lên mỗi tạm dừng chân trên đường ra trận. Thi đua với bộ đội thanh niên xung phong và dân công cũng liên tục đưa suất vận chuyển tăng lên. Có gia đình đi dân công bà mẹ đi gùi gạo theo sau là đứa con lớn cõng em hàng tháng trời; có chị gùi đạn sau lưng, địu con trước; có bà mẹ dân tộc thiểu số gần 60 tuổi cũng chẳng bằng được đi dân công và gùi tới 40kg đạn là nhiều ngày. Ngoài vận chuyển, thanh niên xung phong dân công còn tích cực làm đường, dựng kho tàng, đào sự cáng thương, nuôi dưỡng thương bệnh binh.

   Với quyết tâm cao hơn núi'', đến trước ngày chiến dịch nổ súng, đã có 679 tấn lương thực, thực phẩm, đạn dược thuốc men, trong đó có 10.000 bánh lương khô tự chủ chỗ của quân nhu Tây Nguyên được chuyển đến các trận địa. Riêng Tiểu đoàn 6 Tây Ninh (do đồng chí Cơ làm đoàn trưởng và đồng chí Tiêu Văn Mẫn làm chính trị viên) làm nhiệm vụ chốt chiến dịch được cấp 4.000 bánh lương khô bảo đảm cho đơn vị đánh địch trong 7 ngày. Toàn chiến dịch có 2.500 tấn rau tươi, 28 con trâu bị, 30 con lợn và hàng trăm con gà được đưa ra mặt trận phục vụ bộ đội. Trong chiến dịch này có sự đóng góp giúp đỡ quý báu của địa phương. Có gia đình đã ủng hộ đến 75% số lượng ta chỉ giữ lại 25% để nuôi sống và làm giống; có gia đình chỉ để lương thực đủ làm giống, ủng hộ toàn bộ cho bộ đội, còn gia đình ăn sắn và rau rừng.

   Để tăng quân số trực tiếp chiến đấu, lực lượng quân y toàn Chiến trường mở một đợt thi đua điều trị đột xuất, nuôi dưỡng thương binh, bệnh binh trả nhanh quân số về đơn vị. Chỉ trong  2 tháng (28.8 28.10) các bệnh viện, bệnh xá, tiểu đoàn thu  dung đã điều trị 1.646 thương bệnh binh đủ sức khỏe trở về đơn  vị, vượt 100% chỉ tiêu được giao. Ngoài ra quân y Chiến trường  còn mở một lớp tập huấn 8 ngày (7-15.9) cho 86 y bác sĩ nhằm nâng cao chất lượng cứu chữa bệnh. Thời gian này, tờ nội san  ''Quân y Tây Nguyên'' cũng ra số đầu tiên đăng tải 8 bài, kịp thời giới thiệu những kinh nghiệm quý rút ra từ thực tiễn khám chữa và phòng chống bệnh ở chiến trường. 

    Những kết quả to lớn toàn diện trong gần 3 tháng chuẩn  bị chiến dịch ở khu vực nằm sâu trong tầm khống chế của  địch, bảo đảm tuyệt đối bí mật đến trước giờ nổ súng không những là một kỳ công, mà còn là một thành công lớn của nghệ Thuật chuẩn bị chiến dịch, sự vận dụng sáng tạo quan điểm sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân và tinh  thần chủ động tích cực khắc phục khó khăn của Đảng ủy, Bộ tư lệnh, các cơ quan, đơn vị và nhân dân trên Chiến  trường Tây Nguyên.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Tư, 2021, 04:26:20 pm
*

    Thực hiện kế hoạch tác chiến chiến dịch, ngày 15 tháng 10  các đơn vị làm nhiệm vụ trên hướng chính cơ động lực lượng vào khu vực tập kết. Các đơn vị chủ lực tại chỗ được lệnh cùng lực lượng vũ trang địa phương đẩy mạnh tác chiến  nghi binh, thu hút sự chú ý của địch. Tại Gia Lai, đêm 15 tháng 10, ta dùng 1 trung đội cối 82mm pháo kích Đức Cơ. Tưởng ta chuẩn bị tiến công lớn trên hướng Plei Ku, sư đoàn bộ binh số 4 Mỹ vội vàng mở cuộc hành quân Mác Ác-Tơ (Mác Arthur) ra vùng tây Gia Lai. Trong khi lữ đoàn 1 Mỹ  đang hành quân thăm dò ở tây Đức Cơ, thì đêm 26 tháng 10 Tiểu đoàn 33 pháo binh dùng ĐKB tập kích hỏa lực vào sở chỉ huy quân đoàn 2 ngụy, căn cứ La Sơn và sở chỉ huy sư đoàn 4 Mỹ ở Plei Ku, giết và làm bị thương 300 tên, phá hủy 15 xe quân sự. Ngày 30 tháng 10, Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 95 tiêu diệt 1 trung đội ngụy, phá hủy 3 xe GMC ở tây bắc Plei Ku. Phối hợp với bộ đội chủ lực, từ ngày 15 đến ngày 30 tháng 10 du kích Huyện 4 Gia Lai tích cực hoạt động đánh nhỏ lẻ diệt 103 tên địch, phá hủy 7 xe quân sự, thu 3 súng. Những trận đánh kết hợp với các hoạt động nghi binh khác của ta trên hướng tây Gia Lai đã thu hút được sự chú ý của địch về hướng này.

   Ở Đắc Lắc, do địch đang dùng tiểu đoàn 1 lữ đoàn 2 sư đoàn 4 Mỹ và trung đoàn 45 ngụy đánh ra vùng Chư Diê Lia, Mê Van nên các lực lượng ta trên hướng này được lệnh nổ súng từ ngày 20 tháng 10 trở đi. Đêm 27, hai đại đội đặc công tỉnh tập kích sở chỉ huy sư đoàn 23 và một đại đội pháo của tiểu đoàn 232 ngụy ở tây thị xã Buôn Ma Thuột 2km, diệt 250 tên, phá 3 pháo 105mm, 30 xe quân sự (có 4 xe bọc thép), đốt cháy 1 kho xăng, làm nổ tung 1 kho đạn, thu 6 súng. Địch thú nhận trận này chúng bị chết và bị thương hơn 200 tên, chủ yếu là sĩ quan. Cùng đêm, ta pháo kích vào sở chỉ huy trung đoàn 8 thiết giáp, phá hủy 4 xe bọc thép và diệt 50 tên địch. Tiếp đó từ ngày 28 đến 31 tháng 10, Trung đoàn 33 tập kích tiểu đoàn 1 (trung đoàn 12, lữ đoàn 2, sư đoàn 4 Mỹ) ở nam Ya Súp diệt 40 tên, chặn đánh thiệt hại nặng sở chỉ huy trung đoàn 8 thiết giáp ngụy, phá hủy một số xe khi chúng đi ứng cứu quân Mỹ. Đại đội 1 Tiểu đoàn 301 địa phương và du kích phục kích giao thông trên đường 21, liên tục đánh vào trung đoàn 45 ngụy từ khu vực Phước An đến Buôn Ma Thuột, diệt và bắt hàng chục tên địch, thu 17 súng, phá sập 1 cầu.

   Trước khi mở màn chiến dịch, ta đã hoạt động nghi binh khá thành công, cầm chân được sư đoàn bộ binh số 4 Mỹ và nhiều đơn vị chủ lực ngụy ở Gia Lai, Đắc Lắc; diệt 807 tên (có 340 tên Mỹ), phá hủy 3 pháo, 28 xe quân sự (có 8 xe bọc thép), phá 2 cầu, 1 kho đạn, là kho xăng, thu 20 súng; làm cho La - Xâu tư lệnh quân Mỹ ở Tây Nguyên lo sợ báo cáo lên Oét-mo-len: ''Tình hình Tây Nguyên ngày càng trở nên đáng lo ngại... Mối đe dọa ở Pleiku, Buôn Ma Thuột rất nghiêm trọng, nếu không tăng thêm lực lượng thì chúng ta sẽ bị o ép mạnh''. Ngày 30 tháng 10, lữ đoàn 173 Mỹ được đưa vội vã từ Phú Yên lên Tây Nguyên.

   Tranh thủ thời cơ quân địch bị giam chân ở Gia Lai, Đắc Lắc, các lực lương trên hướng chính chiến dịch đã khẩn trương, hoàn thành những công việc chuẩn bị cuối cùng vào ngày 25 tháng 10. Ngày 26, một trung đội của Tiểu đoàn 6 Tây Ninh chiếm lĩnh trước một số điểm cao ở Ngọc Bờ Biêng và ngày 29 toàn tiểu đoàn hoàn thành chiếm lĩnh trận địa chết chiến dịch ở Ngọc Bờ Biêng, Ngọc Kông  Kreng, Ngọc Tang, sớm hơn kế hoạch bốn ngày. Cùng thời gian này, các lực lượng pháo binh, phòng không của Trung đoàn 40 bí mật triển khai trận địa ở các khu vực. Riêng Đại đội 1 Tiểu đoàn 31 tháo rời 2 khẩu sơn pháo 75mm, kiên trì bền ba đua được hai khối thép lên đỉnh Ngọc Bờ Biêng sẵn sàng khống chế căn cứ Tân Cảnh, sân bay Đắc Tô; đồng thời dùng 2 khẩu ĐKZ 75 và 6 khẩu cối 82mm phối thuộc Tiểu đoàn 6 giữ cụm chốt chiến dịch. Tối mùng 3 tháng 11, Sư đoàn bộ binh 1 cơ bản chiếm lĩnh xong trận địa theo kế hoạch: Trung đoàn 320 ở khu vực Ngọc Dơ Lang, Lăng Lô Kram, Trung đoàn 66 ở Ngọc Kom Liệt, Đắc Vang Công, Tiểu oàn 2 Trung đoàn 174 ở Đắc Vang Kham.

        Hướng đông đường 14, lực lượng vũ trang địa phương triển khai xong thế trận sẵn sàng nổ súng; riêng Trung đoàn 24 đến ngày 5 tháng 11 vẫn chưa triển khai xong. Trong khi ta triển khai lực lượng chiến dịch, quân địch vẫn không phát hiện được gì. Chúng dùng tiểu đoàn 3 (trung đoàn 8, lữ đoàn 1, sư đoàn 4 Mỹ) tiến hành các hoạt động thăm dò ở vùng Plei Kần, chốt Ngọc Rinh Rua; triển khai trận địa pháo ở Tân Cảnh, Đắc Mót, Plei Kần. Ngày 2 tháng 11, qua lời khai báo của một tên phản bội đầu hàng, địch mới biết hướng tiến công chính của ta, liền vội vàng điều quân đối phó. Ngày 3 tháng 11, địch mở cuộc hành quân Mác Ác-Tơ 2 với lực lượng lữ đoàn 1 (sư đoàn 4), lữ đoàn dù 173, 1 tiểu đoàn (của sư đoàn kỵ binh không vận số 1), liên đoàn 2 biệt động quân và tiểu đoàn 3 trung đoàn 42 ngụy. Ý định của địch là dùng hai lữ đoàn Mỹ cùng một lúc tiến hành phản kích trên hai hướng tây và tây nam Tân Cảnh. Lữ đoàn 1 sư đoàn 4 triển khai trên hướng tây nam đánh chiếm Ngọc Dơ Lang, Ngọc Kông Kring. Lữ đoàn dù 173 đánh trên hướng tây chiếm các điểm cao phía nam Plel Kần, Ngọc Kom Liệt. Cả hai cánh sẽ hợp vây chiến dịch tại khu vực điểm cao 875. Thực hiện ý định đó, 10 giờ ngày 3 tháng 10 hai đại đội của tiểu đoàn 3 trung đoàn 8 lữ đoàn 1 đổ bộ chiếm điểm cao 882 Ngọc Dơ Lang; 13 giờ 30 phút chúng đổ tiếp 2 đại đội xuống Ngọc Non và triển khai các trận địa pháo 105mm ở Plei Kần, Ngọc Rinh Rua, Tân Cảnh, Sân bay Đắc Tô 2, Đắc Mót. Lữ dù 173 từ An Khê được đưa cấp tốc lên Kon Tum. Ngày 5 tháng 11 tiểu đoàn 9 dù ngụy từ Phú Bài (Huế) cũng được đưa lên Đắc Tô.

   Theo kế hoạch, ngày 5 tháng 11 ta mới bắt đầu nổ  súng mở màn chiến dịch. Nhưng quân Mỹ ra sớm, lại đổ ngay vào hai khu quyết chiến của ta là Ngọc Kom Liệt, Ngọc Dơ Lang và Ngọc Kông Kring. Trước diễn biến mới về địch, nhận định đây là thời cơ thuận lợi, ta đã rút ngắn được thời gian khêu ngòi, Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định: Tiểu đoàn 6 Tây Ninh kiên quyết ngăn chặn tiêu hao địch, giữ vững khu chốt, đồng thời dùng hỏa lực khống chế sân bay Đắc Tô, Tân Cảnh hỗ trợ cho lực lượng chính tiêu diệt địch ở khu quyết chiến; Sư đoàn bộ binh 1 phải giữ kín lực lượng, chờ địch vào khu quyết chiến đã chuẩn bị sẵn, liên tục xuất kích tiêu diệt từng đơn vị quân Mỹ bằng các hình thức chiến Thuật chốt kết hợp vận động tiến công, phục kích, tập kích, đánh liên tục nhiều trận nhằm tiêu diệt từng tiểu đoàn địch. Trung đoàn 24 và lực lượng vũ trang Kon Tum đánh nhỏ trong những ngày đầu, thời gian cao điểm vây diệt tiểu đoàn 3 trung đoàn 42 ngụy ở đông bắc Đắc Tô, đánh phá thị xã Kon Tum, đường 14.

   Thực hiện quyết định trên, 15 giờ 30 phút đến 17 giờ 30 phút ngày 3 tháng 11 trên mỏm đồi Yên Ngựa dãy Ngọc Bờ Biêng, Tiểu đội 7 (Đại đội 11 Tiểu đoàn 6) mở màn chiến dịch Đắc Tô 1 bằng một trận đánh quyết liệt với 2 đại đội Mỹ, diệt hàng chục tên, thu 3 súng. Tối mùng 3, địch pháo kích dữ dội vào trận địa Tiểu đội 7, làm liên lạc với cấp trên bị đứt. Trong đêm, các chiến sĩ tranh thủ củng cố công sự chuẩn bị cho trận đánh ngày hôm sau. Sáng mùng 4, địch dùng máy bay ném bom đào, bom xăng, bom na pan, bom mang chất độc hóa học vào trận địa Tiểu đội 7, làm nhiều đoạn hào bị san phẳng, cây cối bị phát quang, cháy trụi. Từ 8 giờ sáng đến chiều, địch dùng 2 đại đội bộ binh có hỏa lực chi viện mạnh tiến công 8 đợt vào chốt ta, nhưng đều bị các chiến sĩ Tiểu đội 7 dũng cảm mưu trí đánh lui; 120 tên Mỹ phơi xác trước trận địa, 5 súng và 1 vô tuyến điện bị tịch thu. Do trận địa hư hỏng nặng, tối mùng 4 Tiểu đội 7 được lệnh rời khỏi chốt. Ngày hôm sau (5.11) địch chiếm đồi Không Tên, 1 đại đội Mỹ bất ngờ ập đến trận địa thứ hai của Đại đội 11 ở Ngọc Tang. Tại đây, ta chỉ có 1 trung đội bộ binh (thiếu) và 2 khẩu ĐKZ, nhưng các chiến sĩ không hề nao núng, dũng cảm dùng lưỡi lê, báng súng, dao găm, lựu đạn đánh giáp lá cà với địch, diệt 70 tên. Chiến sĩ Nguyễn Tấn lẩn đầu ra trận chiến đấu rất quả cảm, khi chỉ còn 1 viên đạn cuối cùng đã chờ cho tên Mỹ đến thật gần mới nổ súng tiêu diệt.

   Bị thất bại, ngày 7 tháng 11 địch tăng quân rồi liên  tục tiến công lên chốt Ngọc Tang suốt 2 ngày 8 và 9. Trước quân địch đông, lắm bom nhiều đạn, lực lượng chốt của ta vừa kiên cường giữ trận địa, vừa dùng các tổ cơ động xuất kích ngắn đánh vào bên sườn đội hình tiến công của địch. Với cách phòng ngự tích cực này, ta tiêu hao nặng 2 đại đội Mỹ. Tối mùng 9, sau khi dùng ĐKZ bắn phá sân bay Đắc Tô, sở chỉ huy lữ Đoàn 1 Mỹ, ta chỉ để lại 1 tiểu đội tiếp tục chốt giữ Ngọc Tang, còn toàn bộ lực lượng rời khỏi chốt. Ngày hôm sau, tiểu đội ở lại chốt ỗa chiến đấu liên tục, đánh lui 5 lần tiến công của địch, loại khỏi vòng chiến đấu 70 tên Mỹ, thu 1 súng rồi lợi dụng đêm tối lui quân an toàn. Ngày 11 địch chiếm Ngọc Tang sau khi đã bị tiêu hao nặng một tiểu đoàn, 310 tên bị chết. Những trận đánh của lực lượng chết chiến dịch ở Ngọc Tang đã buộc địch phải phân tán đối phó, hỗ trợ đắc lực cho Sư đoàn bộ binh 1 tiến công tiêu diệt địch tại khu quyết chiến, đồng thời tạo điều kiện cho hai khu chốt chính của Tiểu đoàn 6 ở Ngọc Bờ Biêng và Ngọc Kông Kring tiếp tục củng cố vững chắc.

   Trong khi chiến sự diễn ra quyết liệt ở khu chốt chiến dịch phía đông, thì những trận đánh với hai cánh quân Mỹ của Trung đoàn 66 và Trung đoàn 320 ngày càng trở nên ác liệt. Trên hướng tây bắc, lúc 13 giờ 30 phút ngày 6 tháng 11, hai đại đội của tiểu đoàn 1 và hai đại đội của tiểu đoàn 4 trung đoàn 503 lữ đoàn 173 Mỹ từ Plei Kần cơ động bằng đường bộ và trực thăng đến chiếm các điểm cao của dãy Ngọc Kom Liệt, rồi hình thành hai mũi đánh vào sườn phải Sư đoàn bộ binh 1. Mũi tiến quân đường bộ của tiểu đoàn 1 Mỹ đã bị Đại đội 9 Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 66 chốt ở điểm cao 823 chặn đánh thiệt hại nặng đại đội D, diệt 70 tên, thu 2 súng và 1 vô tuyến điện. Khi Đại đội 9 nổ súng, Tiểu đoàn 9 cơ động lực lượng chi viện nhưng cán bộ tiểu đoàn đi trước dẫn đường bị thương vong, đơn vị đến chậm, địch đã chiếm được Ngọc Kom Liệt. Trong 4 ngày tiếp theo, Tiểu đoàn 9 mất liên lạc với Trung đoàn 66, không chủ động đánh địch. Cùng thời gian này, mũi đổ bộ đường không của tiểu đoàn 4 Mỹ vừa xuống điểm cao 823 đã bị bộ phận đài quan sát và trinh sát Trung đoàn 66 chặn đánh diệt 60 tên, tiêu hao nặng đại đội B, nhưng chúng vẫn chiếm được điểm cao này. Tối mùng 6 tháng 11, Trung đoàn 66 dùng Đại đội 3 (Tiểu đoàn 7) định tập kích chiếm lại điểm cao 823, khi tiếp cận bị lộ, địch dùng hỏa lực sát thương, ta phải lui quân. Ngày hôm sau (7.11) Trung đoàn sử dụng cối 82mm bắn 100 quả đạn vào điểm cao 823, gây cho địch nhiều thiệt hại buộc chúng phải rút bỏ điểm cao này lui về phía bắc dãy Ngọc Kom Liệt.

   Tại khu chiến Ngọc Dơ Lang, ngày 3 tháng 11 địch đổ bộ 2 đại đội của tiểu đoàn 2 lữ đoàn 1 Mỹ xuống đông bắc rồi chiếm điểm cao 882 làm bàn đạp. Ngày 6, hai đại đội này đánh sang chốt của Đại đội 9 Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 320 ở điểm cao 843. Ta sử dụng chiến Thuật chốt kết hợp vận động tiến công diệt được 20 tên địch, nhưng do sơ hở bị chúng chiếm mất chốt. Ngày hôm sau (7.11) địch từ điểm cao 843 tiến sang điểm cao 724, bị Đại đội 9 đánh vận động diệt đại đội C, loại khỏi vòng chiến đấu 100 tên, thu 6 súng, nhưng ta bị mất tiếp điểm cao 724. Ngày 8 tháng 11, địch đổ bộ tiếp 2 đại đội của tiểu đoàn 3 lữ đoàn 1 xuống nam điểm cao 865 dãy Ngọc Dơ Lang.
 
   Theo dõi chặt chẽ mọi diễn biến trên hai hướng tiến công của địch, dự đoán chúng sẽ tăng quân và tiến sâu hơn, Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định: Trung đoàn 174 dừng vận chuyển, khẩn trương cơ động ra khu vực phía tây Lăng Lô Kram, gấp rút hoàn thành mọi công tác chuẩn bị sẵn sàng bước vào chiến đấu; đồng thời lệnh cho Sư đoàn bộ binh 1 dùng phân đội nhỏ đánh vây ép, tranh thủ đánh vận động ngoài công sự, nắm chắc thời cơ tập kích địch trong công sự, bằng nhiều trận liên tức tiêu diệt tiểu đoàn Mỹ; Trung đoàn 24 và lực lượng địa phương đánh mạnh ở phía đông đường 14, thị xã và giao thông; Tiểu đoàn 6 vừa đánh địch vừa củng công sự và sơn pháo 75 sẵn sàng bắn vào Đắc Tô, Tân Cảnh theo mệnh lệnh.

   Thực hiện mệnh lệnh trên, tối mùng 8 tháng 11 Sư đoàn bộ binh 1 sử dụng hai tiểu đoàn (6 và 4) của Trung đoàn 320 tập kích địch ở điểm cao 724. Khi Tiểu đoàn 4 hành quân tiếp cận mục tiêu, cũng là lúc 2 đại đội Mỹ từ điểm cao 724 tiến về phía tây để tránh ta tập kích đêm. Lập tức Tiểu đoàn 4 nhanh chóng chuyển sang đánh vận động. Tiểu đoàn 6 kịp thời cơ động đến phối hợp. Sau 2 giờ chiến đấu ta đánh thiệt hại nặng 2 đại đội A, B tiểu đoàn 3 Mỹ, diệt 150 tên, số còn lại chạy ngược trở lại điểm cao 724; ta truy kích nhưng bị máy bay địch ném bom trúng đội hình, cán bộ hai đại đội 1, 2 và nhiều chiến sĩ thương vong, đại đội mất sức chiến đấu không dứt điểm được. Kịp thời chi viện cho Trung đoàn 320 đánh địch, pháo binh ta tập kích hỏa lực vào Ngọc Rinh Rua (phá hủy 2 pháo, diệt 20 tên) và điểm cao 823 (diệt 30 tên, phá 2 trực thăng).

   Trong tuần đầu chiến địch, Tiểu đoàn 6 Tây Ninh, Trung đoàn 66 và Trung đoàn 320 đã tiêu hao 5 tiểu đoàn Mỹ (tiểu đoàn 1, 2, 3 lữ đoàn 1 sư đoàn 4 và tiểu đoàn  ,4 lữ đoàn 173) chặn đứng hai hướng tiến công, phá vỡ âm mưu của địch đánh vào phía sau đội hình tiến công của ta; đồng thời tiếp tục dụ địch tiến sâu vào thế trận mà ta đã chuẩn bị sẵn để đánh những đòn tiêu diệt.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Tư, 2021, 04:50:05 pm
*

   Với lực lượng 12 tiểu đoàn cơ động, được pháo binh máy bay chi viện tối đa, sau một tuần ra quân cuộc hành quân Mác Ác-Tơ không đem lại kết quả như mong muốn; trái lại, địch bị đánh liên tiếp, bị tiêu hao, cả hai cánh quân đều bị chặn đứng. Không cam chịu thất bại, từ ngày 11 tháng 11 địch tiếp tục pháo kích và dùng tới 700 gần chiếc máy bay phản lực, trong đó có hàng chục lần chiếc B52 mỗi ngày ném bom xuống khu vực rừng núi tây nam Đắc Tô; đồng thời thúc bộ binh phản kích quyết liệt trên các hướng. Về phía ta, các đơn vị vẫn trụ bám kiên cường, liên tục tiến công tiêu diệt địch tạo thành một đợt chiến đấu cao điểm từ ngày 11 đến ngày 15 tháng 11.

   Tại Ngọc Kom Liệt, mờ sáng ngày 11, sau khi dùng bom pháo dọn đường tiểu đoàn 4 Mỹ từ điểm cao 823 mở cuộc hành quân giải tỏa về hướng tây. Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 66 được điểm chốt trinh sát yểm trợ kịp thời vận động chặn đánh cánh quân này. Trận đánh diễn ra rất ác liệt, kéo dài  suốt 8 giờ; với lối đánh gần, chia cắt địch ra từng mảng để  diệt, Tiểu đoàn 7 đã tiêu diệt gần hết tiểu đoàn địch, chỉ còn  một số tên liều chết chạy thóat về đồi Không Tên cụm lại, liền bị Tiểu đoàn 8 vận động đến tiêu diệt. Để cứu nguy cho 11 tiểu đoàn 4, 16 giờ 30 phút cùng ngày, lữ đoàn 173 cấp tốc tung 2 đại đội của tiểu đoàn 1 trung đoàn 503 từ Ngọc Kom Liệt xuống tiếp ứng. Nhưng chúng bị Tiểu đoàn 8 và phân đội 12,7mm của Trung đoàn 66 chặn đánh tiêu diệt đại bộ phận. Hàng trăm xác địch bỏ lại ngổn ngang trên trận địa, địch phải dùng cả máy bay B52 ném bom cứu nguy, nhưng lại ném bom nhầm vào đám tàn quân làm chết 40 tên Mỹ. Ngay buổi tối ngày 11, quân Mỹ dùng máy bay ném bom phá, bom xăng hủy xác đồng bọn. Như vậy, chỉ trong một ngày Trung đoàn 66 đã cơ bản tiêu diệt tiểu đoàn 4 và tiêu hao nặng tiểu đoàn 1 trung đoàn 503 lữ đoàn dù 173 Mỹ, diệt 490 tên, thu 21 súng và 6 vô tuyến điện. Trận đánh ''chốt kết hợp vận động tiến công'' xuất sắc của Trung đoàn 66 ở điểm cao 823, tiêu diệt gọn 1 tiểu đoàn Mỹ đã giáng một đòn mạnh mẽ vào lực lượng nòng cốt chiến dịch của địch, mê đầu bước phát triển mới về trình độ tác chiến tập trung của bộ đội chủ lực Tây Nguyên.

   Cũng trong ngày 11, khi chiến sự diễn ra quyết liệt ở Ngọc Kom Liệt, tại Ngọc Dơ Lang Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 320 kịp thời vận động chặn đánh 2 đại đội thuộc tiểu đoàn 3 trung đoàn 8 lữ đoàn 173 Mỹ từ điểm cao 724 nống ra, diệt gọn  đại đội B và tiêu hao nặng đại đội C, loại khỏi vòng chiến đấu 120 tên, bọn còn lại chạy ngược trở lại co cụm trên hai mỏm đồi. Lập tức Đại đội 2 Tiểu đoàn 4 được lệnh tiến công tiêu diệt cụm địch. Bộ đội nhanh chóng vận động áp sát mục tiêu, nhưng chưa kịp xung phong đã bị bom địch đánh trúng đội hình. Trước tình hình đó, tối ngày 11 Trung đoàn 320 tiếp tục sử dụng Tiểu đoàn 5 tiến công quân địch co cụm. Do hiệp đồng không chặt, khi cối 82mm bắn hết 60 viên đạn vào mục tiêu, bộ binh vẫn chưa kịp xung phong, nên trận đánh không thành công. Đêm 11 và sáng ngày 12, ta dùng súng cối bắn vào điểm cao 724 phá hủy 2 trực thăng và diệt 40 tên địch.

   Những trận đánh thắng giòn giã liên tiếp của Trung đoàn 66 và Trung đoàn 320 trong những ngày đầu tháng 11 và chốt chiến dịch của Tiểu đoàn 6 Tây Ninh như cái đinh đóng vào hông kẻ địch làm cho quân Mỹ chóang váng, lúng túng bị động đối phó. Trong cơn bấn loạn, quân Mỹ tiếp tục dấn sâu hơn nữa vào cái bẫy ''Đắc Tô'' của ta. Tranh thủ thời cơ thuận lợi, Trung đoàn 174 nhanh chóng hoàn thành tổ chức hai điểm chốt chiến dịch ở điểm cao 882 và 875, sẵn sàng bước vào trận then chốt quyết định của chiến dịch.

   Đúng như dự đoán của ta, sau những đợt phản kích, phản đột kích ở Ngọc Kom Liệt và Ngọc Dơ Lang không thành, bộ chỉ huy quân Mỹ tức tốc cử tướng A-bơ-Ram, phó tư lệnh Mỹ ở miền Nam Việt Nam lên Tây Nguyên xem xét tình hình, quyết định tổ chức một đòn phản đột kích mới vào sau lưng đội hình chiến dịch của ta, hòng xoay chuyển tình thế. Địa hình địch chọn để thực hiện đòn đánh mới là dãy điểm cao 845, 882, 875,  trong đó trọng tâm là điểm cao 875 vì nó có vị trí khá đặc biệt. Nằm cách quận lỵ Đắc Tô khỏang 25km về phía tây nam và cách Plei Kon 10km về phía nam, có chiều dài khỏang 500m, chiều rộng 350m, rừng già bao phủ, điểm cao 875 vừa có giá trị chiến Thuật, vừa án ngữ con đường tiến vào quần thể các điểm cao ở vùng rừng núi tây nam Đắc Tô, là nấc thang đầu tiên bước lên dãy Ngọc Tô Ba, một trong những căn cứ của ta ở Tây Nguyên. Bộ chỉ huy Mỹ cho rằng nếu chiếm được điểm cao 875 làm bàn đạp sẽ khống chế toàn bộ khu vực, từ đó thực hiện đòn đánh vu hồi vào sau lưng đội hình chiến dịch của ta, thay đổi thế trận.

   Phán đoán đúng âm mưu mới của địch và từ thực tế các trận đánh của Trung đoàn 66, Trung đoàn 320 đã chứng minh: với hình thức chiến thuật ''chốt kết hợp vận động tiến công'' bộ đội ta có thể đánh liên tục dài ngày dưới phi pháo ác liệt của địch để giành thắng lợi. Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định tập trung Trung đoàn 174 và Trung đoàn 66 của Sư đoàn bộ binh 1 thực hiện trận then chốt quyết định. Trong đó Trung đoàn 174 làm nhiệm vụ chủ yếu của trận then chốt, bố trí ở điểm cao 875; Trung đoàn 66 triển khai đội hình ở dãy Ngọc Kom Liệt, điểm cao 823 và 845 đánh địch vòng ngoài bảo vệ sườn trái. Đồng thời các trung đoàn 320, 24, Tiểu đoàn 6 Tây Ninh, lực lượng pháo binh, phòng không... đẩy mạnh tiến công địch trên các hướng.

   Thực hiện ý định của Bộ tư lệnh chiến dịch, trong các ngày 12, 15, 16 Đại đội 1 pháo binh dùng 2 khẩu pháo 75 trẽn dãy Ngọc Bờ Biêng bắn phá sân bay Đắc Tô 2 và căn cứ Tân Cảnh. Với cách đánh táo bạo đưa pháo lên cao, vào gần, bắn thẳng, ta đã làm tê liệt sân bay, gây thiệt hại nặng cho sở chỉ huy dã chiến sư đoàn bộ binh 4 Mỹ, xóa sổ trại biệt kích ngụy, diệt trên 350 tên (có 150 tên Mỹ), phá hủy 3 máy bay vận tải C130 chở đầy lính, 4 xe quân sự, bắn cháy 2 kho xăng, làm nổ tung 1 kho đạn trên 1000 tấn và phá hủy một cụm thông tin. Chỉ huy địch bị rối loạn, cái dạ dày dùng cho 16.000 quân bị vỡ, tiếp tế bị gián đoạn càng làm cho địch thêm rối bời. Bộ chỉ huy Mỹ ở Sài Gòn đã phải hốt hỏang kêu lên: ''Đây là cơn bão lửa kinh khủng nhất... Việt cộng bắn cả ngày lẫn đêm rất chính xác, gây thiệt hại, cho quân đồng minh".

   Cùng thời gian trên, Trung đoàn 24, lực lượng công binh, bộ đội địa phương tỉnh Kon Tum đẩy mạnh tiến công địch trên hướng đông bắc Tân Cảnh và đường 18. Ngày 11 tháng 11, Tiểu đoàn 304 tỉnh đội Kon Tum phục kích trên đường 14 diệt một đoàn xe 7 chiếc (có 3 xe tăng) và 100 tên Mỹ. Tiếp đó, đêm 14 một đại đội của Tiểu đoàn 406 đặc công tỉnh tập kích trại Nghĩa Binh ở thị xã Kon Tum, diệt 100 tên địch, thu 4 súng. Nổi bật là trận đánh luồn sâu đêm 16 rạng ngày 17 tháng 11 của Đại đội 6 Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 24, tiêu diệt hoàn toàn đồn cảnh sát và làm chủ thị trấn Tân Cảnh, đánh bại lực lượng phản kích của địch, diệt 6 xe (có 2 xe M113); đồng thời tập trung nhân dân mít tinh ủng hộ cách mạng ngay trong hậu phương địch đã gây tiếng vang lớn về chính trị và mở ra khả năng hiện thực đánh chiếm các mục tiêu ở sâu trong vùng địch kiểm soát. Từ ngày 14 đến ngày 19 tháng 11, địch huy động một lực lượng lớn gồm trung đoàn 42, chiến đoàn dù tiểu đoàn 23 biệt động quân do đích thân trung tướng Vĩnh Lộc, tư lệnh quân khu 2 - quân đoàn 2 ngụy trực tiếp chỉ huy và hơn một đại đội Mỹ thay nhau đánh lên các chốt của ta ở Ngọc Sia, điểm cao 1030, 1423 Ngọc Wan... nhưng đều bị Trung đoàn 24 đánh bại, loại khỏi vòng chiến đấu 500 tên địch (có 50 tên Mỹ).

   Những trận đánh liên tiếp của Trung đoàn 24, Tiểu đoàn 6 Tây Ninh, Đại đội 1 pháo binh (Trung đoàn 40), các phân đội trinh sát công binh và lực lượng vũ trang tỉnh Kon Tum đã gây cho địch nhiều thiệt hại, mất ổn định hậu phương chiến dịch, buộc phải phân tán lực lượng đối phó trên hướng đông bắc; đồng thời tạo thế trận chiến dịch của ta ngày càng vững chắc và điều kiện thuận lợi cho Sư đoàn bộ binh 1 tiến công tiêu diệt địch ở khu quyết chiến.

   Trên hướng chính của chiến dịch, chiến sự diễn ra  ác liệt ngay từ những ngày đầu trung tuần tháng 11. Sau đòn chóng váng ở Ngọc Bom Liệt, Bộ chỉ huy quân Mỹ lúng túng bị động đối phó nhưng vẫn rất ngoan cố, ngạo mạn tiếp tục tung quân ''tìm diệt''. Chiều ngày 11, lữ đoàn 173 Mỹ đỗ bộ tiểu đoàn 2 trung đoàn 503 xuống điểm cao 845. Liên tiếp trong ba ngày 12, 13, 14 chúng tổ chức hàng chục đợt tiến công lên điểm cao 862, nhưng đều bị Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 174 chốt chặn ở đây đánh bại, gây thiệt hại nặng 3 đại đội, diệt 220 tên, bắn rơi 1 trực thăng, thu 6 súng. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, tối 14 tháng 11 Tiểu đoàn 3 được lệnh rời khỏi điểm cao 882. Trong quá trình Tiểu đoàn 3 chiến đấu, ta dùng cối 120 và 82mm tập kích hỏa lực vào điểm cao 823 phá hủy 5 trong số 6 khẩu pháo 105mm, tiêu hao nặng đại đội A tiểu đoàn 4 Mỹ. Lực lượng phòng không và ĐKZ 75 bám sát các trận địa địch, tích cực đánh máy bay, bắn rơi và phá hủy 10 chiếc trực thăng. Đêm 17, ta pháo kích vào 2 trận địa của tiểu đoàn 3 (sư đoàn 4 Mỹ) ở nam Ngọc Dơ Lang và điểm cao 530, phá 6 khẩu pháo 105 và ĐKZ 106,7mm, diệt 70 tên địch.

   Bị thất bại liên tiếp, địch phải huy động một lực lượng lớn pháo binh và 700 lần chiếc máy bay, trong đó có hàng chục lần chiếc B52 mỗi ngày ném hàng nghìn quả bom, bắn hàng nghìn quả đạn pháo hòng hủy diệt đối phương. Vùng núi rừng trùng điệp, cây cối um tùm ở tây nam Đắc Tô bỗng chốc sạch quang, cháy trụi, trơ trọi nham nhở chi chít hố bom. Ở các trận địa của ta, nhiều đoạn hào, công sự bị san phẳng. Trong các chốt bị bom đạn Mỹ cày xới tưởng chừng như không còn sự sống, bộ đội ta vẫn bình tĩnh, kiên cường trụ bám trận địa, chủ động tổ chức những trận đánh kết hợp giữa chốt với xuất. kích ngắn đẩy lùi các đợt tiến công của địch. Những khẩu hiệu ''Quyết giữ trận địa đến cùng'', ''Phấn đấu đạt dũng sĩ diệt Mỹ cấp ưu tú'' ở khắp chiến hào có sức cổ vũ động viên bộ đội vượt qua mọi ác liệt, hăng hái giết giặc lập công.

   Đúng như dự đoán của Bộ tư lệnh Chiến dịch,  sáng ngày 18 tháng 11, sau khi dùng pháo binh máy bay đánh phá dữ dội dọn đường, hai tiểu đoàn 1 và 2 trung đoàn 503 lữ đoàn 173 Mỹ chia làm hai mũi tiến về hướng điểm cao 875. Tiểu đoàn 1 tiến quân bên phải, lúc 14 giờ 30 phút đến sườn tây bắc điểm cao 882, bị Tiểu đoàn 8 và một đại đội của Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 66 chặn đánh diệt 90 tên, thu 6 súng buộc phải dừng lại. Cùng thời gian này, tiểu đoàn 2 địch từ điểm cao 845 tiến xuống chiếm đồi ''Biệt kích'' ở tây bắc điểm cao 875 khỏang 1km tạo bàn đạp. Ở phía đông, hai đại đội thám báo từ Bãi Le tiến công thăm dò lên điểm cao 875, bị Đại đội 7 Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 174 chặn diệt. 28 tên, thu 3 súng. Ta khống chế trận địa, không cho địch lấy xác, buộc chúng phải đánh tiếp.

   Sau khi dùng máy bay B52 dội bom suốt đêm 18 và dùng máy bay phản lực, trực thăng vũ trang, pháo binh đánh phá hơn ba giờ liền vào sáng ngày 19; từ 9 giờ 45 phút tiểu đoàn 2 địch tổ chức tiến công 7 lần lên trận địa chốt của Đại đội 7 ở sườn đông bắc điểm cao 875, nhưng đều bị đẩy lùi đánh chính diện không được, địch bí mật chuyển hướng sang chiếm đồi Yên Ngựa ở phía bắc điểm cao 875 làm bàn đạp tiến công tiếp. Kịp thời phát hiện âm mưu mới của địch, Sư đoàn 1 nhanh chóng điều chỉnh đội hình, Trung đoàn 174 xuất kích Tiểu đoàn 2 (thiếu) và Đại đội 1 (Tiểu đoàn 1), hình thành bốn mũi bất ngờ đồng loạt xung phong đánh thẳng vào đội hình địch. Trận đánh diễn ra quyết liệt từ 14 giờ đến 18 giờ, ta tiêu diệt hoàn toàn tiểu đoàn 2 Mỹ, loại khỏi vòng chiến đấu 300 tên, thu 18 súng và 6 vô tuyến điện. Trong cơn bấn loạn, để cứu tiểu đoàn 2, Mỹ lại cho máy bay ném bom nhầm cả vào đám tàn quân làm chết và bị thương một số. Địch thú nhận trận này có 16 trong số 18 sĩ quan của tiểu đoàn 2 chết và bị thương, 3 đại đội trưởng thì 1 chết và 1 bị thương. Bộ chỉ huy quân Mỹ phải thừa nhận: ''Họ (Quân giải phóng) để lại một đám tàn quân của lữ đoàn dù 173 sau khi họ đã bao vây tiêu diệt bằng súng máy và súng cối''.

   Ngày 20 tháng 11, ta khống chế cả trên không và mặt đất, bắn rơi 12 trực thăng. Trước tình thế lữ đoàn dù 173 bị thiệt hại nặng, địch một mặt dùng phi pháo oanh tạc mạnh vào điểm cao 875, mặt khác huy động tiểu đoàn 2 trung đoàn 8 lữ đoàn 1 sư đoàn kỵ binh không vận số 1 Mỹ tăng viện phản kích. Ngày 21, tiểu đoàn 2 địch đổ bộ xuống Bãi Le rồi liên tục tiến công lên trận địa chốt của Đại đội 7 (Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 174). Từ những chiến hào bị bom đạn địch cày xới nát vụn tưởng như không còn sự sống, các chiến sĩ Đại đội 7 bất thần bật dậy bắn mãnh liệt vào đội hình tiến công của địch. Trung đội trưởng Nguyễn Văn Xảo đứng hiên ngang trên chiến hào, AK kẹp nách bắn quét gục từng tợp địch và chỉ huy phân đội lập công. Chiến sĩ Bùi Đình Ước gan góc dùng B40, AK, lựu đạn diệt 20 tên địch. Đặc biệt tổ ba người Phùng Quang Chí, Bùi Xuân Lộc, Đỗ Văn Chuyên với quyết tâm ''Thà hy sinh, không để mất chốt'' đã dũng cảm mưu trí đánh bại nhiều đợt xung phong của địch, diệt 102 tên Mỹ, nêu kỷ lục xuất sắc về thành tích diệt địch của tổ ba người trong một trận chiến đấu.

   Tuy bị mất gần một đại đội, nhưng lính Mỹ vẫn cố sống cố chết lao lên chốt theo lệnh chỉ huy. Cuộc chiến đấu diễn ra ngày càng quyết liệt. Ta và địch giành giật nhau từng đoạn chiến hào. Lúc 17 giờ ngày 21, quân địch chiếm được một đoạn hào dài 200m. Quyết tâm tiêu diệt địch, khôi phục lại trận địa, 4 giờ 30 phút ngày 22, Đại đội 7 phản kích chiếm lại được đoạn hào, đẩy địch xuống chân đồi. Sau khi tổ chức tiến công tiếp nhưng không thành, hàng chục tên chết và bị thương không lấy ra được, địch dùng bom xăng ném ồ ạt trên diện rộng để thiêu hủy xác và xóa dấu vết bại trận. Về phía ta, sau khi giành được thắng lợi có ý nghĩa chiến thuật, hoàn thành trận then chốt quyết định, Bộ tư lệnh Chiến dịch ra lệnh rút bỏ điểm cao 875, chỉ dùng một bộ phận nhỏ hỏa lực và bộ binh cơ động kiềm chế. Thực  hiện mệnh lệnh, đêm 22 tháng 11 Đại đội 7 rời trận địa chốt. Hôm sau, địch dò dẫm lên điểm cao 875, nhưng trận địa đã không một bóng người.

   Chiến thắng oanh liệt của Trung đoàn 174 tiêu diệt hoàn toàn tiểu đoàn 2 trung đoàn 503 lữ đoàn 173 và 1  đại đội thuộc tiểu đoàn 2 sư đoàn kỵ binh không vận số 1 Mỹ ở điểm cao 875 (loại khỏi vòng chiến đấu 400 tên có 372 tên Mỹ, bắn rơi 7 máy bay) đánh dấu bước phát triển tương đối hoàn chỉnh chiến thuật ''chốt kết hợp vận động tiến công''1, đồng thời là bước trưởng thành của trung đoàn trong trận đầu đọ sức với quân viễn chinh Mỹ ở chiến trường Tây Nguyên. Về trận đánh này, Bộ tư lệnh chiến trường Tây Nguyên đã nhận xét: ''Chiến thắng của Trung đoàn 174 ở điểm cao 875 là một bước phát triển tương đối hoàn chỉnh hình thức dùng điểm chốt khống chế, thu hút địch, tạo điều kiện cho lực lượng cơ động xuất kích từ bên sườn và phía sau bao vây tiêu diệt. Trận đánh... đã làm cho địch chóang váng, khiếp sợ cách đánh mới của ta và trước tinh thần anh dũng tuyệt vời của cán bộ, chiến sĩ ta''.

   Trong những ngày chiến sự diễn ra ác liệt ở điểm cao 875, ta cũng đẩy mạnh tác chiến trên các hướng khác. Tại Ngọc Dơ Lang, Trung đoàn 320 liên tục đánh kiềm chế và dùng hỏa lực tiêu hao tiểu đoàn 3 sư đoàn 4 Mỹ, diệt hơn 100 tên, phá hủy 6 khẩu pháo làm cho chúng phải ''án binh bất động''. Ở khu vực chốt chiến dịch, Tiểu đoàn 6 Tây Ninh đã dũng cảm đánh bại hàng chục đợt tiến công của hai tiểu đoàn Mỹ (trong đó có tiểu đoàn 1, lữ đoàn 1 sư đoàn 4 do đích thân tướng Pers, tư lệnh sư đoàn chỉ huy đánh lên điểm cao 1338), loại khỏi vòng chiến đấu 600 tên địch, rồi lui quân an toàn. Đại đội 1 pháo binh, sau khi bắn hết số đạn vào Đắc Tô, Tân Cảnh hoàn thành nhiệm vụ cũng được lệnh trở về căn cứ.

   Phối hợp với hướng chính chiến dịch, trên các hướng Gia Lai, Đắc Lắc ta đẩy mạnh các hoạt động quân sự nhằm cầm  chân, tiêu hao địch chia lửa với Sư đoàn 1. Tại Gia Lai, từ ngày 3 đến ngày 22 tháng 11, ta đánh 10 trận, diệt 189 tên địch (có 114 tên Mỹ), bắn rơi 5 máy bay, phá hủy 7 xe quân sự (có 2 xe bọc thép). Nhưng hoạt động của Trung đoàn 95 ở hướng này còn yếu, không hoàn thành nhiệm vụ giam chân sư đoàn 4 Mỹ. Ở Đắc Lắc, Trung đoàn 33 đánh một số trận ở Buôn Drằng (ngày 3 tháng 11, tiêu hao 1 đại đội, loại khỏi vòng chiến đấu 150 tên Mỹ thuộc tiểu đoàn 1 trung đoàn 12 sư đoàn 4, phá 2 pháo lớn, 2 xe M113, bắn rơi 2 trực thăng, phá hủy 1 hầm đạn), bắc Mê Van (ngày 17 tháng 11 diệt 1 trung đội Mỹ). Lực lượng vũ trang tỉnh Đắc Lắc pháo kích vào sân bay thị xã phá hủy 22 máy bay, loại khỏi vòng chiến đấu 60 tên địch (có 48 tên Mỹ).

   Ngày 22 tháng 11, chiến dịch Đắc Tô 1 kết thúc toàn thắng. Sau 20 ngày đêm chiến đấu liên tục, ta đã đánh 78 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 3.670 tên địch (có 2.690 tên Mỹ). Nếu tính cả giai đoạn hoạt động nghi binh chiến dịch và các hướng phối hợp, có 4.570 tên địch (4.030 tên Mỹ) bị loại khỏi vòng chiến đấu; 3 sân bay bị đánh hư hại nặng, 70 máy bay bị phá hủy và bắn rơi; 18 pháo lớn, 52 xe quân sự (16 xe bọc thép), 2 kho đạn bị phá hủy, 3 kho xăng bị đốt cháy; 104 súng các loại và 14 vô tuyến điện bị tịch thu. Về đơn vị, ta đã đánh qụy lữ đoàn dù 173, lữ đoàn 1 (sư đoàn 4) Mỹ, tiêu diệt gần hết 2 tiểu đoàn Mỹ và đánh thiệt hại nặng 6 tiểu đoàn (có 4 tiểu đoàn Mỹ), diệt 6 đại đội khác (có 2 đại đội Mỹ), làm mất sức chiến đấu 1 tiểu đoàn của sư đoàn kỵ binh không vận số 1 Mỹ và chiến đoàn 3 ngụy.

   Chiến thắng Đắc Tô 1 ''ghi thêm vào trang sử quyết thắng của dân tộc ta những nét vàng son chói lọi... là một trong những chiến thắng lớn nhất mở đầu Đông Xuân quyết thắng 1967-1968 của miền Nam anh hùng''l. Sau thất bại ở Đắc Tô, Bình Long - Phước Long và các chiến trường khác, quân Mỹ và chủ lực ngụy Sài Gòn buộc phải co dần vào thế phòng ngự chiến lược, giữ các thành phố và căn cứ lớn, từng bước thực hiện ''quét và giữ''. Đối với Bộ đội chủ lực Tây Nguyên, chiến dịch Đắc Tô 1 đánh dấu bước phát triển mới của nghệ thuật chiến dịch (lừa dụ địch, tiêu diệt địch ở khu quyết chiến), hoàn chỉnh thêm chiến thuật ''vận động tiến công kết hợp chốt'' và mở ra những khả năng mới về đánh tiêu diệt địch trên chiến trường. Đây là một cống hiến xuất sắc đóng góp vào kho tàng nghệ thuật quân sự của Quân đội ta. Với chiến công oanh liệt Đắc Tô 1, Chiến trường Tây Nguyên và các đơn vị tham gia chiến dịch được tặng thưởng hai Huân chương Quân công giải phóng (hạng nhì, ba).




------------------------------------------------------------------
1. Sau này chiến thuật ''chốt kết hợp vận động tiến công " được Bộ bổ sung, gọi là ''vận động tiến công kết hợp chốt''.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Tư, 2021, 09:31:06 pm
4. Chiến trường Tây Nguyên trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy năm 1968.

   Cuối năm 1967, ''chiến tranh cục bộ'' của đế quốc Mỹ ở miền Nam Việt Nam đã phát triển tới mức cao, nhưng bị quân và dân ta đánh bại một bước rất quan trọng. Do thất bại có tính chất chiến lược trong hai cuộc phản kích mùa khô 1965-1966 và 1966-1967 ở miền Nam, đế quốc Mỹ lâm vào ''tình thế tiến thóai lưỡng nan về chiến lược''1. Mặc dù liên tiếp gặp những khó khăn lớn về quân sự, chính trị, tài chính, nội bộ lục đục, địa vị  quốc tế suy yếu và bị loài người tiến bộ lên án mạnh mẽ; nhưng với bản chất đế quốc và hiếu chiến, đế quốc Mỹ vẫn ngoan cố tiếp tục theo đuổi và dấn sâu hơn vào cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Cuối năm 1967, Mỹ đã huy động vào cuộc chiến tranh Việt Nam 40% số sư đoàn  bộ binh sẵn sàng chiến đấu của cả nước Mỹ, 30% lực lượng không quân chiến thuật và 60% máy bay chiến lược B52, một phần ba lực lượng hải quân (4 tàu sân bay trong tổng số 12 chiếc). Đến tháng 1 năm 1968, lực lượng địch ở miền Nam có 1.195.000 tên, trong đó có 486.000 quân Mỹ, 57.800 quân chư hầu và 650.000 quân ngụy. Với lực lượng quân sự khổng lồ, địch chủ trương tiếp tục thực hiện chiến lược hai gọng kìm ở quy mô nhất định, giữ vững các vị trí then chốt, giữ thế giằng co cho tới khi bầu cử tổng thống ở Mỹ (11.1968), đồng thời tiếp tục tiến công ngoại giao buộc ta phải thương lượng trên thế mạnh của chúng.

   Về phía ta, sau hơn 13 năm kháng chiến và nhất là qua hơn 2 năm đương đầu với ''chiến tranh cục bộ'' của đế quốc Mỹ, ''chúng ta đã thắng địch cả về chiến lược và chiến thuật, lực lượng quân sự và chính trị của ta ở miền Nam đã lớn mạnh hơn bất cứ thời kỳ nào, ta đang nắm quyền chủ động trên khắp chiến trường'', ''chúng ta đang đứng trước triển vọng và thời cơ chiến lược lớn''2. Để giáng cho địch một đòn quyết định, giành thắng lợi to lớn, tạo nên sự chuyển biến nhảy vọt, buộc Mỹ phải thua về quân sự, tháng 12. năm 1967 Bộ chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp và ra Nghị quyết lịch sử:

        ''Chuyển cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam của ta sang một thời kỳ mới - thời kỳ giành thắng lợi quyết định''; đồng thời chủ trương: ''Động viên những nổ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ở cả hai miền đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên bước phát triển cao nhất, dùng phương pháp tổng công kích, tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định''.

   Nghị quyết tháng 12 năm 1967 của Bộ Chính trị đã được Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 14 (khóa III) thông qua (1.1968) và nhanh chóng biến thành hành động cách mạng của quân và dân hai miền Nam, Bắc. Hàng chục nghìn cán bộ, chiến sĩ trên miền Bắc được biên chế thành các trung đoàn, sư đoàn vượt Trường Sơn kịp thời bổ sung cho các mặt trận Trị Thiên, Khu 5, Tây Nguyên, Nam Bộ nâng tổng số Quân giải phóng miền Nam lên 220.000 bộ đội chủ lực và 57.000 bộ đội địa phương. Những chiến dịch chi viện vật chất kỹ thuật cho miền Nam diễn ra sôi động bằng Đường Hồ Chí Minh trên bộ, trên biển, qua đường Cam-pu-chia và ''hậu cần nhân dân'' phong phú đa dạng trên khắp miền Nam.

   Trong khí thế khẩn trương, bí mật chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, quân và dân Tây Nguyên tích cực chủ động chuẩn bị mọi mặt để các hướng, các địa phương nổ súng tiến công đúng thời gian quy định. Cuối tháng 11 năm 1967, sau khi được phổ biến sơ bộ chủ trương của cấp trên, Thường vụ Đảng ủy Chiến trường Tây Nguyên họp ra Nghị quyết ''Về kế hoạch Đông - xuân - hè 1967-1968"; đồng thời quyết định thành lập ở mỗi tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc một Đảng ủy và ban chỉ huy thống nhất, gồm đại diện Đảng ủy Bộ tư lệnh B3, đại diện tỉnh ủy tỉnh đội, trung đoàn chủ lực tại chỗ ở địa phương. Các Đảng ủy và Ban chỉ huy trên đặt dưới sự lãnh đạo và chỉ huy trực tiếp của Đảng ủy và Bộ tư lệnh B3. Tiếp đó Đảng ủy và Bộ tư lệnh Chiến trường họp hội nghị liên tịch với các đồng chí Bí thư tỉnh ủy ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc thống nhất kế hoạch ''Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa'' trên toàn bộ khu vực Tây Nguyên và từng địa phương.

   Cuối tháng 11 năm 1967, các Đảng ủy và Ban chỉ huy chung của các mặt trận Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc được thành lập và bước vào hoạt động. Tại Kon Tum, Ban chỉ huy chung do đồng chí Vương Tuấn Kiệt - Tham mưu phó B3 làm chỉ huy trưởng, đồng chí Nguyễn Văn Tiềm (Bùi Anh) - Bí thư Tỉnh ủy Kon Tum làm chính ủy, đồng chí Phùng Bá Thường - trung đoàn trưởng Trung đoàn 24 làm chỉ huy phó, đồng chí Nguyễn Phùng (Nguyễn Tập) - Phó bí thư tỉnh ửy làm phó chính ủy, đồng chí Lê Tấn Thuận - chính trị viên tỉnh đội làm chỉ huy phó cánh quân phía đông. Cùng thời gian này, Bộ tư lệnh chiến trường Tây Nguyên tăng cường cho Tỉnh đội Kon Tum: 1 đại đội ĐKB, l đại đội công binh và 331 tân binh.

   Ở Gia Lai, Ban chỉ huy chung mang ký hiệu ''Mặt trận 300'' do đồng chí Trần Văn Trân - Tham mưu phó B3 làm chỉ huy trưởng, đồng chí Võ Trung Thành - Khu ủy viên Khu 5, Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai làm chính ủy, đồng chí Kpã Thìn Ủy viên Thường vụ tỉnh ủy Tỉnh đội trưởng làm chỉ huy phó, đồng chí Trần Xuân Lư (phó chủ nhiệm chính trị B3) làm phó chính ủy.

   Tại Đắc Lắc, Ban chỉ huy chung gồm có: chỉ huy trưởng Trương Cao Dũng (Tham mưu phó B3), chính ủy: đồng chí Bốn Đạo (Bí thư Tỉnh ủy Đắc Lắc), chỉ huy phó: Nguyễn Cự (Tỉnh đội trưởng Đắc Lắc) và Ma Văn Minh (trung đoàn trưởng Trung đoàn 33), phó chính ủy: Huỳnh Văn Cần (chính trị viên tỉnh đội).

   Ngày 28 tháng 12 năm 1967, Bộ Tổng tư lệnh xác định nhiệm vụ cho Chiến trường Tây Nguyên trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1968 gồm ba điểm:

   1- Thu hút kiềm chế địch, phối hợp với chiến trường toàn miền Nam.
   2- Tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực Mỹ, ngụy.
   3- Đánh vào thị xã, diệt ngụy quyền, đẩy phong trào quần chúng vùng lên.

   Quán triệt sâu sắc Nghị quyết của Bộ Chính trị (12.1967) và nhiệm vụ Bộ Tổng tư lệnh giao, ngày 2 tháng 1 năm 1968 Thường vụ Đảng ủy Chiến trường Tây Nguyên chỉ thị cho các mặt trận Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc về nhiệm vụ, phương châm, nguyên tắc chỉ đạo ''Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa'' và chủ trương, mục đích, yêu cầu phương châm, tư tưởng, nguyên tắc chỉ đạo tác chiến chiến dịch trong ''Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa'' ở Tây Nguyên. Chỉ thị xác định rõ: ''Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa là cả một giai đoạn chứ không phải là một đợt, một lúc. Trong suốt cả giai đoạn này có thể diễn ra Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa đi lại nhiều lần để đi đến thắng lợi hoàn toàn''. ''Mục đích của Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa là đập tan ngụy quân ngụy quyền, tiêu diệt bộ phận quan trọng sinh lực quân Mỹ, biến hậu phương địch thành tiền phương ta; tăng cường lực lượng của ta gấp hai, ba lần, nhanh chóng tiếp tục chiến đấu kịp thời chống phản kích của địch thắng lợi... để đập tan ý chí xâm lược của địch''3.

   Tháng 1 năm 1968, cả Tây Nguyên chuyển vào nhiệm vụ mới với nhịp độ khẩn trương chưa từng có. Chỉ trong một thời gian ngắn, 27.800 bộ đội chủ lực, trên 6.000 bộ đội địa phương và khỏang 16.000 du kích được triển khai trên các hướng. Sư đoàn bộ binh 1 và các đơn vị binh chủng tập trung trên hướng đường 18 - Plei Kần, nơi dự kiến quân Mỹ sẽ xông ra phản kích khi ta đánh thị xã Kon Tum và thực hiện đòn tiêu diệt lớn. Các trung đoàn 24, 95, 33 được tăng cường cho các mặt trận Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc. Lực lượng tiến công các thị xã được bổ sung đủ một tiểu đoàn đặc công, một đại đội hỏa tiễn hỗn hợp (ĐKB, ĐKZ, 12,7mm). Cùng với chuẩn bị lực lượng vũ trang, công tác vận động quần chúng, tổ chức lực lượng đấu tranh chính trị và nổi dậy khởi nghĩa giành chính quyền được các tỉnh, huyện rất chú trọng. Hàng chục nghìn quần chúng được vận động sẵn sàng bước vào các cuộc đấu tranh, phục vụ chiến đấu.

   Bên cạnh những nhiệm vụ trên, công tác hậu cần được đẩy mạnh, vừa bảo đảm cho các lực lượng tiến công trên các mặt trận, các cánh, các hướng trong dịp Tết Mậu Thân, vừa bảo đảm cho các đợt ''Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa'' tiếp theo trong năm 1968. Ngoài sự chi viện đắc lực của Đoàn 559, Đoàn 17, Đoàn 86, sự giúp đỡ của ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Hậu cần Chiến trường còn tích cực thu mua tiểu ngạch, đẩy mạnh tăng gia tự túc, sản xuất vũ khí. Cả năm 1968 Bộ đội chủ lực toàn Chiến trường thu từ 6 nguồn trên được 8.894 tấn gạo, 928 tấn thực phẩm, 458 tấn muối, 92 tấn thuốc và dụng cụ y tế, 1.226 tấn đạn dược vũ khí và trên ba vạn lít xăng dầu. Trong đó, ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc giúp đỡ 669 tấn gạo; bộ đội chủ lực tăng gia tự túc được 6,7 triệu gốc sắn, hơn 380 tấn lúa ngô, hàng chục tấn đậu lạc chăn nuôi 1.400 con lợn, 6.300 con gà, săn bắn được 176 tấn thịt thú rừng, sản xuất 199kg cao xương động vật, 130kg cao thảo mộc, 85.360 lít và 1.125.700 viên thuốc đông y, 4.786 lít và 6.166.810 viên thuốc tây y, 714 lít cồn, 41.310 cuộn băng cá nhân và 30.600 ống tiêm. Quân y B3 bảo đảm 26.000 giường bệnh tuyến trung đoàn, 23.000 giường bệnh tuyến bệnh viện có thể tiếp nhận với 8.000 thương binh. Quân giới chế tạo được 1.107 quả mìn, 46.055 quả lựu đạn thủ pháo, tháo bom được 4.298kg thuốc nổ, thu  16 tấn sắt thép, sửa chữa gần 5.000 lượt khẩu súng các loại. Để bảo đảm hậu cần cho các lực lượng hoạt động trên hướng nam Tây Nguyên, Hậu cần B3 mở thêm Binh trạm 4 ở Đắc Lắc. Nhằm vận chuyển một khối lượng lớn vật chất bảo đảm ''Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa'' ở Tây Nguyên và cho chiến trường Nam Bộ, từ cuối năm 1967 và trong năm 1968 ta đẩy mạnh vận chuyển bằng ô tô trên đường 128 phía tây Tây Nguyên, từ Binh trạm Bắc đến Binh trạm Nam, mở thêm nhiều đoạn đường cơ giới khác với tổng chiều dài 350km. Ngoài ra, ta còn mở, soi thêm các đường gùi thồ từ phía tây sang các khu vực tác chiến phía đông, vươn dài tới các thị xã, thị trấn. Phương thức vận chuyển  cũng đa dạng: Đoàn 559 bảo đảm đến các chân hàng, Đoàn 17 đến VQ5, Đoàn 86 đến V4; Phòng Hậu cần B3 chuyển về các kho tàng ở các binh trạm; các đơn vị nhận từ các kho chuyển về vị trí tập kết. Hàng nghìn dân công của ba tỉnh được huy động vào các chiến dịch vận chuyển. Riêng bảo đảm vũ khí cho các đơn vị địa phương đánh địch trong các thị xã được vận chuyển bằng nhiều phương tiện, thực hiện từ trước, dựa vào dân. Nhiều nơi, lợi dụng địch sơ hở, chiến sĩ vận tải, quần chúng cách mạng giấu súng, đạn trong hàng hóa đưa vào nội thị. Đặc biệt ở thị xã Kon Tum có ông Du Dư Tòng không sợ hiểm nguy, dũng cảm dùng xe lam của gia đình chở 9 khẩu AK, 1 khẩu K54, 1 khẩu B40, 85kg thuốc nổ và nhiều lựu đạn vào nội thị ngay trước họng súng kiểm soát dày đặc gắt gao của địch hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Bà Nguyễn Thị Khảm - một cơ sở trong thị xã Kon Tum tự mua 30 bộ quần áo lính ngụy để bộ đội ta cải trang đánh địch, làm gương cho nhiều cơ sở noi theo...

   Trước ngày nổ súng ''Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa'', Bộ tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên mở một đợt tiến công cao điểm bằng lực lượng ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích) từ ngày 15 đến ngày 25 tháng 1 năm 1968. Mục đích của đợt hoạt động là: tiêu diệt sinh lực phương tiện chiến tranh của địch, giam chân thu hút lực lượng Mỹ lên hướng đường 18 - Plei Kần, kéo chủ lực địch ra ngoài thị xã tạo điều kiện cho các lực lượng của  ta áp sát mục tiêu, chuẩn bị bàn đạp, tập dượt và rèn luyện bộ đội, đồng thời bảo đảm bí mật cho Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân.

   Trên hướng đường 18 - Plei Kần, Sư đoàn bộ binh   1 đánh nhiều trận nhỏ và vừa, bắn máy bay, giam chân 3 tiểu đoàn Mỹ (thuộc sư đoàn bộ binh số 4 và lữ đoàn dù 173), trung đoàn 42 và tiểu đoàn dù 6 ngụy, diệt 1 đại đội ngụy và tiêu hao 1 đại đội Mỹ, loại khỏi vòng chiến đấu 725 tên địch (có 565 tên Mỹ), bắn rơi 33 máy bay, phá hỏng 26 xe quân sự và 7 đại bác, thu 37 súng các loại và 3 vô tuyến điện. Ở Kon Tum, ta áp sát thị xã đánh 3 trận tập kích và một số trận giao thông trên đường 14, giết 419 tên, bắt 43 tên, thu 60 súng và 4 vô tuyến điện; phá hủy 117 xe quân sự (có 18 xe bọc thép), 3 đại bác, 1 cầu và khu chứa máy bay, phá hủy và bắn rơi 50 máy bay. Nổi bật là trận đánh táo bạo vào sân bay Kon Tum của Tiểu đoàn đặc công 406 tỉnh đêm 10 tháng 1, loại khỏi vòng chiến đấu 250 tên Mỹ, phá hỏng 30 trực thăng, 104 xe quân sự (có 7 xe tăng) cùng khu nhà chứa máy bay, sau đó tập kích ấp Krông (20.1) diệt 1 đại đội bảo an, bắt 43 tên, thu 30 súng. Tại Gia Lai, liên tiếp diễn ra các trận tập kích, phục kích của Trung đoàn 95, Tiểu đoàn đặc công 408... loại khỏi vòng chiến đấu 818 tên địch (có 680 tên Mỹ), bắn rơi và phá hỏng 81 máy bay, 207 xe quân sự (có 25 xe bọc thép), 3 pháo lớn, đốt cháy 800 tấn xăng dầu. Có nhiều trận đánh xuất sắc: Tiểu đoàn đặc công 408 tập kích công binh xưởng (đêm 8.1) diệt gọn 1 đại đội bảo vệ và nhân viên chuyên môn kỹ thuật (120 tên), phá 2 khu cơ khí và 39 xe ủi, sau đó đánh sân bay Aréa (26.1) phá hủy 75 máy bay, 65 tấn đạn và đốt cháy 5 vạn lít xăng; Trung đoàn 95 đánh 2 trận phục kích giao thông đường 19 (15.1) diệt 150 tên địch, phá hủy 89 xe quân sự và đốt 50 tấn xăng dầu. Hướng Đắc Lắc, Trung đoàn 33 và lực lượng vũ trang tỉnh hoạt động liên tục tập trung vào các mục tiêu là đầu não ngụy quân, ngụy quyền địa phương, sân bay, kho tàng ở thị xã Buôn Ma Thuột và vùng phụ cận làm cho địch hoang mang lúng túng bị động đối phó, tạo khí thế cách mạng trong quần chúng lên cao. Ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 404 tên địch (có 7 0 tên Mỹ), diệt gọn 2 đại đội bảo an, chi khu Lạc Thiện; phá hủy 34 máy bay, 6 xe quân sự và 1.000 tấn bom đạn, thu 87 súng và 2 vô tuyến điện. Nổi bật là trận đánh sân bay thị xã (4.1) diệt 70 tên Mỹ, phá 20 máy bay, phá sập nhà dinh tỉnh trưởng; pháo kích sở chỉ huy trung đoàn 45 ngụy; đánh kho Mai Hắc Đế (21.1) phá hủy 1.000 tấn bom đạn; tiến công quận lỵ Lạc Thiện (24.1) diệt 2 đại đội bảo an, 2 đội bình định bắt 20 tên, thu 57 súng, phá 6 xe quân sự; đặt mìn ở phòng tham mưu sư đoàn 23 ngụy (26.1) diệt một số sĩ quan; tập kích quận lỵ Buôn Hồ (25.1).

   Trong đợt tiến công cao điểm trước Tết Mậu Thân, các lực lượng vũ trang Tây Nguyên đã đánh 36 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 2.366 tên địch (có 1.608 tên Mỹ), bắt 88 tên; diệt gọn 7 đại đội (có 1 đại đội Mỹ) và 1 chi khu; phá hủy 361 xe quân sự (có 62 xe bọc thép), 17 pháo lớn, trên 3.000 tấn bom đạn xăng dầu; bắn rơi và phá hỏng 198 máy bay, thu 205 súng các loại và 9 vô tuyến điện. Đòn tiến công trước tết của quân và dân Tây Nguyên đã phối hợp nhịp nhàng với đòn tiến công lớn của ta thu hút địch về hướng Nậm Bạc (Lào), Khe Sanh (Quảng Trị) tạo sơ hở trên chiến trường miền Nam. Điểm nổi bật trong đợt này là kết hợp chặt chẽ giữa tiến công địch rộng khắp với đòn đánh sâu vào các mục tiêu nằm trong hậu cứ của Mỹ, ngụy ở Tây Nguyên một khâu yếu mà xưa nay ta chưa làm được, buộc địch phải căng kéo, lúng túng bị động đối phó trên các hướng, tạo điều kiện thuận lợi và giữ bí mật cho ta chuẩn bị Tổng tiến công và nổi dậy. Đây là đợt diễn tập khá toàn diện của quân và dân Tây Nguyên trước khi bước và cuộc chiến đấu mới quyết liệt hơn.




------------------------------------------------------------------
1. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975. Những sự kiện quân sự, Sđd, tr. 177.
2. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975. Những sự kiện quân sự. Sđd, tr. 177.
3. Trích điện số 505/Tgk ngày 2.l.1968 của Thường vụ Đảng ủy B3, tr. 2, 3.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Tư, 2021, 09:45:36 pm
*


   Trước Tết Nguyên đán, miền Bắc công bố lịch mới, trong đó đón năm Mậu Thân 1968 sớm hơn một ngày so với lịch cũ. Bộ Tổng tư lệnh chỉ thị lui cuộc Tổng tiến công lại một  ngày để thống nhất hành động theo giờ G trên toàn miền Nam. Đêm 29 tháng 1 năm 1968, Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên nhận được lệnh trên, nhưng lúc này lực lượng vũ trang và quần chúng cách mạng đã triển khai trên các hướng sẵn sàng hành động, không thể rút ra hoặc giấu  quân tại chỗ an toàn được nữa. Vì vậy Bộ tư lệnh Chiến trường vẫn quyết định tiến công theo đúng kế hoạch vào đêm 29 rạng ngày 30 tháng 1 năm 1968.

   Trong giờ phút chuyển mình của lịch sử, cả miền Nam sục sôi khí thế ra quân, anh dũng xốc tới đáp lời hịch vang vọng núi sông của Bác Hồ:

      "Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua,
      Thắng trận tin vui khắp mọi nhà,
      Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ,
      Tiến lên! Toàn thắng ắ về ta".


   Đúng 0 giờ 30 phút ngày 30 tháng 1, Sư đoàn bộ binh 1 sử dụng Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 174 có lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương phối hợp nổ súng đánh chiếm làm chủ hoàn toàn thị trấn Tân Cảnh, mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân năm 1968 trên chiến trường Tây Nguyên và toàn miền Nam1.

   Trên hướng trọng điểm thị xã Buôn Ma Thuột tỉnh  Đắc Lắc, ta tiến công lúc 0 giờ 45 phút. Lực lượng địch ở đây tương đối yếu so với hai thị xã Plel Ku và Kon Tum. Quân Mỹ có bộ tư lệnh viện trợ quân sự và nhân viên kỹ thuật, 1 đại đội trực thăng với gần 400 tên. Quân ngụy có 1 tiểu đoàn bộ binh (trung đoàn 45), trung đoàn 8 thiết giáp (có 30% quân số, số còn lại đi phép Tết), bộ tư lệnh sư đoàn 23, sở chỉ huy trung đoàn 45, đại đội thám kích 413, đại đội trinh sát 23, đại đội vận tải 514, đại đội địa phương quân 702 và đại đội 23 biệt động quân. Ngay từ phút đầu cuộc tiến công, ta dùng súng cối, ĐKB bắn phá mạnh vào bộ tư lệnh sư đoàn 23 ngụy, sở chỉ huy trung đoàn 45, sân bay thị xã, sân bay Hòa Bình. Cùng lúc ở hướng chủ yếu đông nam, Trung đoàn 33 từ suối Ea Nao tiến công bộ tư lệnh sư đoàn 23, ta hành chính tỉnh, ban chỉ huy tiểu khu, đại đội 514 vận tải. Ở hướng tây bắc Tiểu đoàn 301 đặc công và Tiểu đoàn 401 bộ binh của tỉnh đánh vào căn cứ pháo binh (tiểu đoàn 231, 232), sau đó phát triển sang khu hành chính, chiếm Ty Ngân khố. Tiểu đoàn 3 đặc công (mới được trên bổ sung) đánh vào trung đoàn 8 thiết giáp nhưng bị lạc, gần sáng mới đưa được một mũi vào bên trong, diệt một số xe M113. Hướng tây nam, Tiểu đoàn 39 đánh chiếm Đài phát thanh rồi phát triển tiến công tiểu đoàn 4 (trung đoàn 45 ngụy)  và trại huấn luyện nghĩa quân, diệt và bắt hơn 300 tên địch. Tiểu đoàn 101 đánh vào bộ tư lệnh sư đoàn 23 ngụy và Băng-ga-lô (Mỹ). Nhìn chung đợt tiến công đầu tiên ta chiếm được một số mục tiêu quan trọng trong thị xã, nhưng không diệt được cơ quan đầu não ngụy quyền, không chiếm được bộ tư lệnh sư đoàn 23 và sở chỉ huy trung đoàn 8 thiết giáp Từ ngày 30 tháng 1 đến ngày 4 tháng 2, địch huy động lực lượng trung đoàn 45, chiến đoàn 318, trung đoàn 8 thiết giáp, bảo an, biệt kích tiến hành phản kích quyết liệt trên các hướng. Các lực lượng của ta vừa tích cực đánh địch phản kích, vừa tổ chức đột phá vào bộ tư lệnh sư đoàn 23, sở chỉ huy trung đoàn 8 t thiết giáp và một số mục tiêu khác nhưng không thành công. Pháo binh tiếp tục bắn vào các mục tiêu địch. Cùng với đòn tiến công địch trong thị xã Buôn Ma Thuột, lực lượng vũ trang các huyện đồng loạt tiến công vào các vị trí Buôn Hồ, Quảng Nhiêu, Buôn Du, Đạt Lý, Trung Hòa, Kim Châu Phát, Khánh Dương, Đức Lập, Gia Nghĩa.

   Phối hợp với tiến công quân sự, lực lượng chính trị quần chúng Đắc Lắc rầm rập xuống đường đấu tranh. Trong thị  xã Buôn Ma Thuột, khi bộ đội nổ súng, nhân dân ở các khu phố nổi dậy chiếm trụ sở ngụy quyền, xé cờ ba que, treo cờ giải phóng, rải truyền đơn, lùng bắt bọn tề điệp ác ôn, kêu gọi binh lính địch đầu hàng. Học sinh Trường kỹ thuật Đắc Lắc xé cờ ngụy, treo cờ giải phóng lên cột cờ nhà trường rồi chia nhau dẫn đường cho bộ đội. Quần chúng ấp 3 và 4 nổi dậy truy lùng bọn ác ôn bắt nhốt đầy trường A Dục. Sáng mùng 1 Tết, 7.000 quần chúng tập hợp trước sân chùa Khải Đoan ngay giữa thị xã nghe tuyên truyền đường lối cách mạng. Tại vườn cao su cổng 3, trên 3.000 quần chúng biểu dương khí thế cách mạng. Nhiều gia đình tham gia giúp bộ đội lập chiến lũy trên đường phố chặn đánh địch, dẫn đường, tiếp tế, cứu chữa nuôi dưỡng thương binh.

   Để tiếp ứng cho thị xã, một lực lượng lớn quần chúng cách mạng ở vùng ven và các huyện ở Đắc Lắc được huy động xuống đường đấu tranh. Ngày 30 tháng 1 có 18.000 đồng bào Kinh, Thượng từ các căn cứ, các buôn làng vùng giáp ranh và ven thị chia làm năm hướng trương băng cờ khẩu hiệu tiến về Buôn Ma Thuột. Hướng bắc, hơn 6.000 đồng bào vùng giải phóng H4, H5 tiến đến Buôn Chuôr Dăng bị địch xả súng bắn chết và bị thương nhiều người, phải lui về Tư Cung củng cố. Hướng nam, gần 2.500 quần chúng thuộc huyện 10 và vùng ven bị địch bắn chặn ở suối Ea Nao làm nhiều người thương vong, không tiến lên được. Ở hướng chủ yếu phía đông, hơn 9.000 quần chúng từ vùng giải phóng và căn cứ huyện 9 đã đi từ ngày 28 vì đường xa; sáng 30 đoàn biểu tình đến khu chiêu hồi ''Tình thương'' cách thị xã 9km trên đường 21, bị địch chặn lại. Đồng bào đấu tranh quyết liệt với địch, dùng loa kêu gọi nhưng bọn ác ôn vẫn dùng đại liên bắn xối xả vào đoàn người tay không. Trước sự tàn ác dã man của địch, quần chúng cách mạng vẫn xiết chặt đội ngũ, người trước ngã xuống, người sau tiếp tục tiến lên và hô vang các khẩu hiệu át cả tiếng súng quân thù. Má Hai ở dinh điền Khuê Ngọc Điền ba lần bị thương vẫn hiên ngang giương cờ, hô hào chị em tiến lên. Khi Má Hai ngã xuống, chị Mười xông lên giữ vững lá cờ rồi anh dũng hy sinh. Chị Ban ôm con nhỏ đi biểu tình bị địch giết con, chị lặng lẽ đặt xác con dưới tán cà phê bên đường tiếp tục xông lên đấu tranh với địch. Em gái H'Nam cầm cờ đi đầu đoàn biểu tình, địch bắn trọng thương đã trao cờ cho chị ruột là H'Lan và nhắc chị giữ vững lá cờ. Trong lúc địch điên cuồng tàn sát đồng bào, đồng chí Bùi Thế Châu và 5 đồng chí cán bộ binh vận đã quyết tử xông lên chặn họng súng đại liên địch. Trong cuộc đấu tranh này đã có trên 200 đồng bào ngã xuống trước cửa ngõ Buôn Ma Thuột.

   Ngày 6 tháng 2, đợt tiến công Tết Mậu Thân ở Đắc Lắc kết thúc. Chỉ hơn một tuần chiến đấu, quân và dân  mặt trận Đắc Lắc đã diệt và làm tan rã 2.000 tên địch, bắt 90 tên (có 1 tỉnh phó, 1 nghị viên quốc hội ngụy, 1đại úy FULRO), phá hủy 180 xe (có 15 xe bọc thép), 5 pháo l ớn,bắn rơi và phá hủy 28 máy bay, đốt cháy 12 kho xăng dầu bom đạn, thu 140 súng các loại và 9 vô tuyến điện; hơn 5.000 quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ. Cuộc tiến công của quân và dân Đắc Lắc mà tiêu biểu là trận đánh vào thị xã Buôn Ma Thuột là nổi bật nhất, là một điển hình trong Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 trên địa bàn Tây Nguyên.

   Tại Gia Lai, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy diễn ra đúng 0 giờ 45 phút ngày 30 tháng 1 năm 1968. Ngay từ phút đầu, lực lượng vũ trang tỉnh chia làm nhiều hướng nhiều mũi đánh thẳng vào trung tâm thị xã Pleiku. Hai đại đội 90 (đặc công) và 21 đánh vào tỉnh đoàn bảo an, tiểu khu Plei Ku, khu cảnh sát vùng 2, tòa hành chính tỉnh, diệt hàng trăm tên địch, bắn cháy nhiều xe quân sự, giải thóat gần 2.000 cán bộ và nhân dân bị địch giam giữ. Tiểu đoàn 408 đặc công tỉnh đánh vào sân bay Aréa bộ tư lệnh quân đoàn 2 ngụy, khu biệt động quân ở Biển Hồ phá hủy 45 máy bay trực thăng, 35 xe quân sự, gần 1.000 tấn bom đạn và hàng vạn lít xăng dầu. Tiểu đoàn 15 bộ binh tỉnh nhận lệnh chậm, đã hành quân cấp tốc trong đêm, kịp triển khai một lực lượng phối hợp với Đại đội 90 đặc công đánh địch ở đường Hoàng Diệu (nay là đường (nay là đường Hùng Vương); còn mũi thứ hai tiến về căn cứ trung đoàn 3 thiết giáp ngụy ở ngã ba Phù Đổng, nhưng vừa bố trí đội hình thì trời sáng. Cùng thời gian này hỏa lực ĐKB của ta liên tục bắn vào bộ tư lệnh quân đoàn 2 ngụy, phá hỏng dàn ra đa viễn thông. Trung đoàn 95 bộ binh chủ lực B3 diệt một đoàn xe 26 chiếc tại khu vực cầu Ayun (đường 19), không cho địch cứu viện Plei Ku. Từ 7 giờ sáng ngày 30 tháng 1, địch dùng pháo binh, máy bay đánh phá dữ dội và đến 10 giờ chúng cho bộ binh, xe tăng phản kích rất mạnh trong thị xã. Cuộc chiến đấu của ta ở nội thị Pleiku diễn ra rất quyết liệt, liên tục suốt mấy ngày, tiêu hao một số sinh lực địch, bắn cháy một số xe quân sự, rồi lui quân.

   Song song với tiến công quân sự, trong đêm giao thừa ta tổ chức đưa được hơn 40 cán bộ các ban ngành của tỉnh và thị xã vào nội thị; huy động hơn 10.000 quần chúng vùng ven, các huyện 3, 4, 5, 6 tiến về Plei Ku. Nhưng hầu hết cán bộ bị địch phát hiện, chặn đánh; lực lượng quần chúng bị đàn áp dã man từ ngoại vi thị xã, nên không tạo được sức mạnh của đòn tiến công chính trị và tỉnh lỵ. Trong cuộc đấu tranh chính trị có nhiều tấm gương dũng cảm xuất hiện: các đồng chí Võ Tiêu, Đặng Tiết (Mét), Nguyễn Thị Hương... dẫn đầu quần chúng xông vào thị xã.

   Phối hợp nhịp nhàng với đòn tiến công ở thị xã Pleiku, ta hoạt động mạnh ở các huyện 2, 3, 4, 5, 6. Bằng tiến công quân sự kết hợp với đấu tranh chính trị, binh vận ta đã giành được quyền làm chủ ở nhiều nơi, giải tán tề, diệt ác ôn, gây cho địch nhiều thiệt hại.

   Đợt tiến công mở đầu Tết Mậu Thân 1968, quân và dân mặt trận Gia Lai đã loại khỏi vòng chiến đấu 3.500 tên địch (có 1300 tên Mỹ), phá hủy phá hỏng 580 xe quân sự, 35 khẩu pháo, nhiều máy bay, đốt cháy hàng triệu lít xăng dầu. Để giành được chiến công lớn lao đó, chỉ tính riêng tỉnh Gia Lai đã có 350 cán bộ, chiến sĩ và đồng bào anh dũng hy sinh, 1.849 người bị địch bắt giam cầm tra khảo, 177 người bị thương và mất tích2.

   Ở thị xã Kon Tum, ta nổ súng lúc  giờ 15 phút ngày 30 tháng 1 (tức mùng 1 Tết theo lịch cũ). Trong khi ĐKB bắn dồn dập vào các mục tiêu biệt khu 24, khu 40 thì Tiểu đoàn 406 đặc công và Tiểu đoàn 304 bộ binh tỉnh đội Kon Tum cùng tự vệ mật chia làm bốn mũi tiến công đồng loạt vào các mục tiêu nằm sâu trung nội thị. Từ hướng tây, Tiểu đoàn 406 đặc công (cải trang thành lính ngụy) đánh vào toà hành chính, ty cảnh sát và tỉnh đoàn bảo an; lực lượng thị đội và trinh sát đánh vào cư xá sĩ quan địch. Ở hướng đông, Tiểu đoàn 304 bộ binh đánh chiếm sân bay Kon Tum. Trên - hướng nam, Đại đội đặc công 207 đánh vào trụ sở Châu Thành và các mục tiêu khác. Sau 30 phút chiến đấu, ta làm chủ được hai phần ba thị xã, trong đó có các mục tiêu quan trọng: tòa hành chính, ty cảnh sát, tiểu khu Kon Tum và sân bay. Riêng Trung đoàn 24 bộ binh chủ lực B3 (do trung tá Phùng Bá Thường làm trung đoàn trưởng và trung tá Lưu Quý Ngữ làm chính ủy) có nhiệm vụ đánh vào các mục tiêu chủ yếu là biệt khu 24, khu 40 trung tâm huấn luyện sĩ quan, nhưng vào chiếm lĩnh muộn, bị địch ngăn chặn sát thương gặp rất nhiều khó khăn. Tiểu đoàn 5 đảm nhiệm đánh biệt khu 24, khi bộ đội tiếp cận bị địch dùng pháo cối ngăn chặn dữ dội, máy bay trinh sát thả pháo sáng và trực thăng vũ trang bắn chặn trước tiền duyên, đội hình ta bị rối loạn. Hai đại đội 7 và 8 đánh từ phía bắc xuống nhưng không đột phá được phải dừng lại làm công sự chuyển sang đánh vây lấn. Chỉ có Đại đội 6 đánh vào được khu 40, cùng với lực lượng đặc công chiếm đầu cầu, nhưng sau đó bị địch chặn lại và bao vây. Tiểu đoàn 4 đột phá vào biệt khu 24 cũng không thành, bị đánh bật ra, thương vong cao.

   Sau đòn phủ đầu chóang váng, từ sáng ngày 30 tháng 1 trung đoàn 42, lực lượng biệt động quân, bảo an sau tăng cường 1 tiểu đoàn Mỹ dựa vào biệt khu 24, khu 40 và các cứ điểm khác tổ chức phản kích rất dữ dội trong thị xã Kon Tum, gây cho ta nhiều tổn thất3. Mặc dù lực lượng chênh lệch, tác chiến trong vòng vây của địch, nhưng các chiến sĩ đặc công, bộ binh chiến đấu rất anh dũng. Chiến sĩ A Xâu4 (Tiểu đoàn 406 đặc công tỉnh Kon Tum) một mình bám trụ tại khu vực chợ thị xã chiến đấu 2 ngày 3 đêm liền, xông pha giữa hang ổ giặc, bị thương nhiều lần đều tự băng bó, đánh lui 16 đợt tiến công của lũ biệt kích ''Lôi Hổ'' diệt nhiều tên. Dũng sĩ A Thang mới 16 tuổi chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, mở vòng vây về với đồng đội. Chiến sĩ liên lạc nội thị Trần Văn Hai không may sa vào tay giặc (ngày 29 tháng 1), bị địch tra tấn dã man vẫn không khai báo; lợi dụng sơ hở của bọn thẩm vấn, đã cướp lựu đạn diệt địch và anh dũng hy sinh. Song khốc liệt nhất là trận đánh của đại đội 6 Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 24 sáng ngày 31 tháng 1 năm 1968. Địch dùng bộ binh xe tăng bao vây rồi liên tục tiến công hơn một giờ đồng hồ. Cán bộ, chiến sĩ và cả thương binh phân đội đặc công quyết tâm tử thủ, kiên quyết đánh trả diệt hàng chục tên địch, phá hủy 3 xe bọc thép, bắn đến hết đạn và hy sinh đến người cuối cùng. Cả Đại đội 6 chỉ còn 3 thương binh là Rỹ, Ngôn và Trúc che mắt địch, tối bò ra trở về đơn vị. Trong khi Đại đội 6 chiến đấu, đêm 30 tháng 1 Tiểu đoàn 5 tổ chức lực lượng tiếp viện nhưng mấy lần đều không vào được trận địa. Tấm gương chiến đấu hy sinh vô cùng quả cảm của tập thể Đại đội 6 đã làm cả Trung đoàn 24 lắng đi vì xúc động. Sau trận đánh vào thị xã Kon Tum không thành, các đồng chí trung đoàn trưởng và chính ủy Trung đoàn 24 bị thi hành kỷ luật và được điều về B3; đồng chí Đặng Dự Nhượng (trung đoàn phó Trung đoàn 174) được giao tạm quyền trung đoàn trưởng và đồng chí Vũ Khắc Thịnh được cử làm chính ủy; đồng thời Trung đoàn 24 được lệnh chuyển sang đánh địch ở vòng ngoài thị xã Kon Tum...

   Trong đợt đầu tiến công Tết Mậu Thân, quân và dân trên mặt trận Kon Tum đã loại khỏi vòng chiến dấu 1.500 tên địch (có 650 tên Mỹ), phá hủy phá hỏng 253 xe quân sự (cớ 67 xe bọc thép), bắn rơi và phá hủy 37 máy bay, đốt cháy 5 kho xăng, làm nổ tung 3 kho đạn. Nhiều vùng nông thôn, ven thị quần chúng vùng lên khởi nghĩa phá ấp phá đồn, giành quyền làm chủ. Những nỗ lực hy sinh lớn lao của quân và dân ta ở Kon Tum góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của toàn chiến trường Tây Nguyên trong đầu xuân 1968.

   Ngày 9 tháng 2 tiếng súng diệt địch ở cao nguyên thưa dần. Trong 10 ngày đầu Tổng công kích và nổi dậy đầu xuân 1968, quân và dân Tây Nguyên ''đã thu được  những thắng lợi chưa từng có'', làm rung chuyển toàn bộ hệ thống ngụy quân, ngụy quyền, đánh thiệt hại nhiều đơn vị quân Mỹ, ngụy, loại khỏi vòng chiến đấu 5.630 tên địch (có 1.600 tên Mỹ), bắt 90 tên; phá hủy, bắn rơi 171 máy bay, phá hủy 520 xe quân sự (có 130 xe tăng, xe bọc thép) và 27 pháo lớn; thu 180 súng các loại và 12 vô tuyến điện. Giải phóng 39 ấp làng với khỏang 25.000 dân.

   Đánh giá cao những đóng góp quan trọng của quân và dân Tây Nguyên vào thắng lợi chung của toàn miền Nam trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, ngày 4 tháng 2 Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt Thường trực Quân ủy Trung ương điện ''Nhiệt liệt khen ngợi những thành tích vừa qua của quân dân Tây Nguyên, đặc biệt là thành tích của quân, dân thị xã Buôn Ma Thuột, Kon Tum, Pleiku và vị trí Tân Cảnh''. Đồng thời Đại tướng chỉ thị: ''Hãy thừa thắng xông lên, đánh mạnh, đánh trúng, đánh giòn giã hơn nữa, tiếp tục tiến công và phản công tiêu diệt địch nhiều hơn nữa... làm cho chúng tê liệt, đánh cho không không ngóc đầu dậy nổi, hỗ trợ đắc lực và động viên thúc đẩy quần chúng nổi dậy giành quyền, mở rộng vùng nhân dân làm chủ''.




------------------------------------------------------------------
1. Ở thị xã Tuy Hòa tỉnh Phú Yên, quân ta tiến công vào lúc 0 giờ ngày 30.1.1968
2. Lịch sử Đảng bộ tỉnh Gia Lai, tập1 (1945-1975). Nxb Chính trị quốc gia; H.1996, tr. 353.
3. Đợt phản kích này của địch làm Tiểu đoàn 406 mất gần 2 đại đội,Tiểu đoàn 304 mất 1 trung đội, Đại đội công binh tổn thất một nửa, Trung đoàn 24 tổn thất hơn 1 đại đội.
4. Đồng chí A Xâu dân tộc Giẻ Triêng, xã Đắc Pen, huyện Đắc Glei, chiến sĩ Tiểu đoàn 406 đặc công tỉnh Kon Tum, được tuyên dương Anh hùng lực lương vũ trang nhân dân ngày 23.12.1969.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Tư, 2021, 09:54:41 pm
*

   Tiếp tục thực hiện quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng và chỉ thị của Quân ủy Trung ương, với tư tưởng kiên quyết ''giữ vững và phát triển thế tiến công'', Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang và nhân dân ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc mở liên tiếp bốn đợt hoạt động cao điểm từ giữa tháng 2 đến đầu tháng 6 năm 1968.

   Trong đợt một tiến công cao điểm (17-25.2), với đội hình cơ bản vẫn bố trí như trước, có điều chỉnh (đưa Trung đoàn 209 bộ binh mới được tăng cường về đứng chân ở Plei Kần thay Trung đoàn 320 cơ động về hướng Buôn Ma Thuột và đưa Trung đoàn 174 về khu vực đường 14 bắc Pleiku), ta duy trì liên tục các hoạt động nhỏ và vừa đánh vào thị xã và vùng phụ cận, củng cố và mở rộng bàn đạp, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch. Toàn đợt một, ta đánh 22 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 632 tên địch (có 324 tên Mỹ), bắt 4 tên; phá hủy 29 xe quân sự, 6 pháo lớn, 1 trực thăng; thu 72 súng và 13 vô tuyến điện; giải phóng 7 ấp. Nổi bật là các trận đánh tiêu diệt đồn Kom Săm Lũ (17.2), diệt tổng đoàn dân vệ ở ấp Hà Mòn, Đắc Vác (của Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 24), phá đồn Trung Nghĩa, diệt đồn bảo an ở đông bắc Plei ku, phục kích đường 19 đoạn tây An Khê (20.2 của Trung đoàn 95), phục kích ở Buôn Tor tây nam Buôn Ma Thuột và Buôn Ana.

   Sau khi điều chỉnh lực lượng, chỉ duy trì Trung đoàn 66 và một bộ phận pháo binh hoạt động trên hướng Plei Kần, từ ngày 3 đến ngày 15 tháng 3 toàn Tây Nguyên mở đợt tiến công cao điểm thứ hai tiếp tục đánh vào các mục tiêu xung quanh ba thị xã Kon Tum, Plei Ku, Buôn Ma Thuột và vùng phụ cận. Hướng Gia Lai ta hoạt động liên tục và kết quả tốt hơn các hướng khác. Các đơn vị: Tiểu đoàn 6 (trung đoàn 320), Trung đoàn 95, Tiểu đoàn 304 Kon Tum đánh tốt. Nhiều trận đánh có hiệu suất cao: trận Chư Thoi của Tiểu đoàn 6 (diệt 1 đại đội Mỹ), phục kích đường 19 của Trung đoàn 95 (diệt 145 xe quân sự), phục kích đường 14 của Trung đoàn 174 (diệt 98 xe, bắn rơi 17 máy bay), trận tiến công ở bắc Buôn Ma Thuột của Trung đoàn 320 (diệt tiểu đoàn 4 ngụy), các trận đánh của Tiểu đoàn 5 (Trung đoàn 24 ) ở Chư Go Tông (tiêu hao 2 tiểu đoàn Mỹ, diệt 200 tên, thu 35 súng). Toàn đợt hai ta đánh 103 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 3.984 tên địch (có 2.943 tên Mỹ), bắt 26 tên, bắn rơi và phá hỏng 135 máy bay; phá hủy 373 xe quân sự bắn rơi và phá hỏng 135 máy bay; phá hủy 373 xe quân sự (có 68 xe bọc thép), 8 pháo lớn,  1 cầu, 1 kho đạn, 15 kho xăng, 1 khu ra đa; thu 103 súng các loại và 8 vô tuyến điện giải phóng 10 ấp.

   Được điện của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đồng bào và chiến sĩ miền Nam cổ vũ, từ ngày 25 tháng 3 đến ngày 15 tháng 4 quân và dân Tây Nguyên bước vào đợt tiến công cao điểm thứ ba, trọng điểm là hướng Kleng ( tây Kon Tum ). Ý định của ta là tập trung Sư đoàn bộ binh 1 (gồm Trung đoàn 66, Trung đoàn 209) được tăng cường Trung đoàn 24 (thiếu) và một bộ phận hỏa lực diệt đồn Kleng, đánh viện binh địch chuẩn bị bàn đạp sang phía đông thị xã Kon Tum; các hướng Gia Lai, Buôn Ma Thuột đẩy mạnh các hoạt động phối hợp. Khi ta đang chuẩn bị đánh Kleng, thì địch phát hiện được tuyến vận chuyển ô tô về hướng này, chúng liền đổ quân xuống Chư Tăng Kra để ngăn chặn (21.3). Chưa vây điểm, địch đã ra sớm, ta chuyển sang thực hiện phương án B. Đêm 25 tháng 3, Sư đoàn bộ binh 1 mở đầu đợt hoạt động bằng trận kỳ tập vào Chư Tăng Kra, loại khỏi vòng chiến đấu gần 2 đại đội Mỹ. Tiếp đó là các trận vận động ở Chư Go Tông và Ngọc Bay, tiêu hao nặng tiểu đoàn 3 (trung đoàn 8 ) và tiểu đoàn 1 (trung đoàn 35) thuộc sư đoàn 4 Mỹ. Phối hợp chặt chẽ với Sư đoàn bộ binh 1, Trung đoàn 24, Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 174) và Tiểu đoàn 304 Kon Tum đánh tiêu hao gần 2 tiểu đoàn Mỹ thuộc lữ đoàn  dù 173; Tiểu đoàn 6 (Trung đoàn 24) tập kích 2 trận ở phía đông bắc thị xã Kon Tum diệt gần 2 đại đội ngụy. Trên các hướng khác, ta dùng hỏa lực, đặc công, bộ binh tập kích, pháo kích các mục tiêu trong thị xã Kon Tum, sân bay Aréa (phá hủy kho bom), thị xã Buôn Ma Thuột. Trong 20 ngày tiến công, ta loại khỏi vòng chiến đấu 2.039 tên địch (có 1.379 tên Mỹ), bắt 5 tên; phá hủy 173 xe quân sự (có 57 xe bọc thép), 11 pháo lớn, 1 kho bom, 6 cầu, bắn rơi và phá hỏng 92 máy bay; thu 112 súng các loại và 6 vô tuyến điện.

   Quý II năm 1968, Chiến trường Tây Nguyên được  Bộ Tổng tư lệnh tăng cường Sư đoàn 325C1, 2 trung đoàn pháo binh 208 và 1582; đồng thời một số đơn vị bộ binh cũng lần lượt rời Tây Nguyên vào miền Đông Nam Bộ (B2). Thực hiện mệnh lệnh tiến công mùa hè (1968) của Bộ Tổng tư lệnh, từ ngày 28 tháng 4 đến ngày 25 tháng 5 quân và dân  Tây Nguyên bước vào đợt 4 hoạt động cao điểm với ''nhiệm vụ hàng đầu'' ''là tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch quan trọng và thu hút lực lượng cơ động Mỹ, ngụy càng nhiều càng tốt"3. Trên hướng chính tây Kleng, Sư Đoàn bộ binh 1 được tăng cường Trung đoàn 24 và hỏa lực, vây đánh 2 tiểu đoàn địch, nhưng chúng rút sớm. Do ta không dự kiến khả năng này nên gặp khó khăn về bảo đảm hậu cần và triển khai lực lượng khi địch co về cố thủ ở Chư Tăng Kra, Chư Ben, Chư Tô Bla. Vì vậy cả đợt hoạt động, hướng chính chỉ tổ chức đánh được 25 trận nhỏ lẻ, loại khỏi vòng chiến đấu 768 tên địch, bắn rơi 29 máy bay. Ở khu vực đường 18, Sư đoàn 325C tập kích địch ở Ngọc Hồi (2 lần), Ngọc Pơ và điểm cao 824. Các hướng phối hợp, ta dùng đặc công và hỏa lực tập kích các mục tiêu trong thị xã Plei ku, Buôn Ma Thuột, Kon Tum, tích cực đánh giao thông và phá ấp mở dân ở vùng Lệ Trung, Lệ Chí, Lệ Cần, Ninh Đức (Gia Lai) thu nhiều kết quả. Nhìn chung đợt hoạt động này ta đánh đồng loạt vào cả ba thị xã, duy trì được thế tiến công liên tục, giữ quyền chủ động chiến trường, thắng lợi giòn giã: loại khỏi vòng chiến đấu 2.808 tên địch (có 1.816 tên Mỹ), bắt 16 tên; phá hủy 237 xe quân sự (có 49 xe bọc thép), 24 pháo, 8 kho xăng và đạn, bắn rơi và phá hỏng 42 máy bay, thu 50 súng và 6 vô tuyến điện. Bên cạnh những kết quả trên, đợt này ta tiến công chưa mạnh, nhất l à ở các thị xã, chưa phối hợp chặt chẽ giữa hướng trọng đ iểm với các hướng khác, chưa phá vỡ được hệ thống phòng ngự điểm chốt của địch, phát triển chiến dịch chậm.

   Ngày 25 tháng 5 năm 1968, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đầu năm 1968 ở Tây Nguyên kết thúc thắng  lợi. Trong suốt 115 ngày đêm (30.1 - 25.5) quân và dân Tây Nguyên đã tổ chức thành công đợt tiến công Tết Mậu Thân và mở liên tiếp 4 đợt tiến công cao điểm giành được kết quả to lớn, toàn diện. Ngay từ phút đầu và cùng một úục ta tiến công đồng loạt, mãnh liệt vào ba thị xã, thị trấn Tân Cảnh và một số quận lỵ, đánh trúng tất cả các mục tiêu chủ yếu với thế bất ngờ, áp đảo, sau đó liên tục duy trì thế tiến công. Ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 15.223 tên địch (có 8.088 tên Mỹ), bắt 144 tên; bắn rơi và phá hỏng 451 máy bay, phá hủy 1.332 xe quân sự (có 325 xe tăng, xe bọc thép), 65 pháo cối lớn, 15 cầu, trên 50 kho với hơn 3.000 tấn bom đạn, đốt cháy hàng triệu lít xăng dầu, thu 520 súng các loại và 55 vô tuyến  điện; giải phóng 2.000 người khỏi lao tù và 55.000 dân ở 107 làng, ấp. Chiến công đầu năm 1968 của quân và dân Tây Nguyên đã góp phần quan trọng vào thắng lợi to lớn của toàn miền Nam trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân. Riêng với Tây Nguyên nó làm thay đổi, tương quan lực lượng và hình thái bố trí binh lực của địch trên chiến trường; đánh dấu sự trưởng thành nhiều mặt, sự phát triển nhảy vọt về tác chiến, mở ra nhiều khả năng để tiến công địch trong các thị xã, thị trấn và sự phối hợp đấu tranh hai chân (quân sự, chính trị), ba mũi (quân sự, chính trị, binh địch vận) đánh đổ từng bộ phận chính quyền địch, thiết lập chính quyền cách mạng. Mặc dù còn một số hạn chế trong chỉ đạo, sử dụng lực lượng, trình độ tác chiến, bảo đảm hậu cần, phối hợp tiến công quân sự và đấu tranh chính trị, giải phóng nông thôn... nhưng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 ở cao nguyên mãi mãi là một mốc son tươi thắm trong lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân Tây Nguyên.




------------------------------------------------------------------
1. Sư đoàn 325C vào Tây Nguyên đổi tên thành Sư đoàn 6, trong Sư đoàn có 2 trung đoàn bộ binh 95C, 10lC và một số phân đội hỏa lực bảo đảm.
2. Hai trung đoàn pháo binh 208 và 158 đến Tây Nguyên sáp nhập vào Trung đoàn pháo binh 40. Ban chỉ huy Trung đoàn pháo binh 40 gồm các đồng chí Tô Thuận (trung đoàn trưởng), Lê Ngọc Tuệ (chính ủy), Võ Khắc Phụng(trung đoàn phó), và Phạm Việt Thọ (phó chính ủy).
3. Trích điện số 552 ngày 13.4.1968 của Bộ Tổng tư lệnh giao nhiệm vụ mùa hè năm 1968 cho Chiến trường Tây Nguyên.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Tư, 2021, 10:26:36 am
*

   Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 trên toàn miền Nam của quân và dân ta đã giành được thắng lợi có ý nghĩa chiến lược. Chỉ trong một thời gian ngắn ta đã tiến công vào 5 trên 6 thành phố, 37 trên 44 thị xã, 64 trên 242 thị trấn quận lỵ, tiêu diệt và làm tan rã 147.000 tên địch (có 43.000 tên Mỹ), phá hủy 34% vật tư dự trữ chiến tranh của Mỹ ở miền Nam, phá 4.200 (trong tổng số 5.400) ấp chiến lược, giải phóng thêm 1,4 triệu dân. ''Thắng lợi rất oanh liệt của đòn tiến công và nổi dậy táo bạo, bất ngờ đó đã làm đảo lộn thế chiến lược của địch, làm phá sản chiến lược ''chiến tranh cục bộ'', làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh và ngồi vào bàn đàm phán với ta ở Hội nghị Pa-Ri''1.

   Tháng 3 năm 1968 Tổng thống Mỹ Giôn-xơn cách chức tổng chỉ huy quân Mỹ ở miền Nam của Oét-mo-len và đưa Abram tên thay, tuyên bố ngừng mọi hoạt động bằng không quân và hải quân chống Việt Nam dân chủ cộng hòa từ vĩ tuyến 20 trở ra (31.3) và đồng ý bước vào đàm phán với chính phủ ta, đồng thời không ra tranh cử tổng thống nhiệm kỳ tiếp theo. Về chiến lược quân sự, Mỹ chủ trương chuyển từ ''tìm diệt'' sang ''quét và giữ'' củng cố nâng cao hiệu lực chiến đấu cho quân ngụy Sài Gòn nhằm cải thiện thế phòng ngự để từng bước ''phi Mỹ hóa chiến tranh''. Thực hiện chiến lược quân sự mới ''quét và giữ'' Mỹ, ngụy vừa ra sức xây dựng tuyến phòng thủ xung quanh các thành phố, căn cứ, tiểu khu, chi khu quân sự, chốt trên các trục đường giao thông, lập vành đai ngăn chặn các cuộc tiến công mới của ta; đồng thời tổng động viên và tối tân hóa quân ngụy, đẩy các sư đoàn chủ lực ngụy ra phía trước cùng với quân Mỹ mở hàng loạt cuộc hành quân giải tỏa, càn quét hòng đẩy chủ lực ta ra xa các đô thị, căn cứ quân sự, bảo đảm an ninh cho chính quyền Sài Gòn.  

Tại Tây Nguyên, địch ra sức đôn quân bắt lính, điều động thêm lực lượng từ các nơi khác đến mở nhiều cuộc phản kích, đưa tướng Lữ Lan thay thế tướng Vĩnh Lộc làm tư lệnh quân khu 2, quân đoàn 2. Trong suốt hè thu năm 1968, Mỹ, ngụy ráo riết lùng quét ở các thị xã Kon Tum, Plei ku, Buôn Ma Thuột, đồng thời mở nhiều cuộc hành quân giải tỏa trên các hướng tây bắc Buôn Ma Thuột, tây bắc Kon Tum, tây Plei Ku. Từ tháng 8, quân Mỹ co về phòng thủ thị xã Plei ku, giao dần địa bàn Kon Tum và Đắc Lắc cho quân ngụy đảm nhiệm. Được sự hỗ trợ của hỏa lực và từ 1 đến 2 tiểu đoàn Mỹ phối hợp, quân ngụy mở 7 cuộc hành quân với lực lượng từ 1 đến 2 tiểu đoàn, thời gian từ 5 đến 7 ngày và các vùng Ngọc Vin, H16, bắc Kon Tum, nam bắc đường 19 đông, tây nam Đức Cơ, đông và đông nam La Sơn, tây bắc An Khê và bắc Buôn Ma Thuột. Tháng 12 chúng mở cuộc hành quân Gét-ti-phơn (cơn bão lớn) ở khu vực từ tây Kon Tum đến Plei ku nhằm phá thế chuẩn bị tiến công của ta.

Thực hiện chủ trương mở đợt 3 Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968 của Bộ Chính trị và quyết định của Trung ương Cục Miền Nam, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên mở đợt tiến công hè thu với hai đợt thường xuyên (tháng 6, 7 đầu tháng 8 ) và cao điểm (cuối tháng 8 ) nhằm giành thắng lợi to lớn... chuẩn bị điều kiện thật tốt cho đông xuân tiến công mãnh liệt hơn, quyết cùng toàn Miền giành thắng lợi quyết định''.

Trong đợt hoạt động thường xuyên, Bộ tư lệnh Chiến trường rút Sư đoàn bộ binh 1 và Trung đoàn 24 ở hướng Kon Tum về phía sau củng cố, chỉ để lại một trung đoàn bộ binh, Trung đoàn pháo binh 40 và Tiểu đoàn 6 (Trung đoàn 24) có lực lượng vũ trang địa phương phối hợp, tiến hành vây ép, tiêu hao, giam chân địch ở đường 18, tây Kleng, đường 14, thị xã Kon Tum. bằng 52 trận đánh nhỏ và vừa với nhiều hình thức chiến thuật: tập kích, phục kích, pháo kích, đánh giao thông... ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 1.566 tên địch (có 961 tên Mỹ), bắn rơi phá hỏng 31 máy bay, 95 xe quân sự, 19 pháo lớn, 2 kho đạn, 1 kho xăng, thu 3 súng và 4 vô tuyến điện. Ở Gia Lai, Trung đoàn 95 cùng công binh tỉnh luân phiên đánh nhỏ lẻ trên đường 19 các phân đội đặc công, ĐKB, súng cối phối hợp với các lực lượng vũ trang thị đội đánh nhỏ ở thị xã Plei Ku... loại khỏi vòng chiến đấu 1.212 tên địch (có 747 tên Mỹ), bắn rơi 2 máy bay, phá hủy 226 xe quân sự (có 48 xe bọc thép), 1 pháo, 36 nhà, 2 kho đạn, thu 21 súng. Hướng Đắc Lắc lực lượng địa phương liên tục đánh nhỏ, diệt 618 tên địch, bắn rơi và phá hỏng 19 máy bay, phá hủy 34 xe quân sự, thu 22 súng; đồng thời tích cực chuẩn bị gạo, đạn, địa bàn để đón Sư đoàn bộ binh 1 về hoạt động. Đợt hoạt động thường xuyên, toàn B3 loại khỏi vòng chiến đấu 3.359 tên địch (có 1.938 tên Mỹ), bắn rơi và phá hỏng 85 máy bay, phá hủy 418 xe quân sự (có 157 xe bọc thép), 20 pháo lớn, 41 lô cốt, 38 nhà lính, 4 kho đạn, 1 kho xăng, thu 80 súng và 6 vô tuyến điện.

Sau khi điều chỉnh lại lực lượng, đưa Sư đoàn bộ binh 1 về Đắc Lắc, từ ngày 14 đến 30 tháng 8 ta tiến hành đợt hoạt động cao điểm hè thu. Trên hướng chủ yếu tây Đắc Lắc, Sư đoàn bộ binh 1 và lực lượng vũ trang địa phương nổ súng tiến công quận lỵ Đức Lập và một loạt vị trí đóng quân của địch trên toàn tuyến Đắc Sắc, Sa Pa, Đắc Lao,... chặn đánh các cánh quân đến giải tỏa, diệt hơn 1.300 tên địch, làm tan rã hệ thống ngụy quyền từ quận đến xã, giải phóng hàng nghìn dân. Phối hợp chặt chẽ với hướng chủ yếu, các đơn vị chủ lực B3 và lực lượng vũ trang H80, H16, thị đội Kon Tum đồng loạt tiến công địch: ngày 14 tháng 8 vây ép địch ở điểm cao 824, pháo kích Đắc Uy, đánh giao thông đường 14; ngày 17 tập kích Đắc Siêng; ngày 23 pháo kích sân bay Kon Tum, biệt khu 24, sở chỉ huy lữ đoàn 1 (sư đoàn 4 Mỹ)... loại khỏi vòng chiến đấu 598 tên địch, bắn rơi và phá hỏng 7 máy bay, phá hủy 39 xe quân sự, 2 pháo lớn và 2 kho. Ở Gia Lai, ta đồng loạt đánh giao thông đường 19 và 14 vào ngày 14 tháng 8; ngày 17 Trung đoàn 95 đánh một trận phục kích xuất sắc trên đường 19 diệt 53 xe quân sự (có 4 xe tăng); Trung đoàn 24 liên tục đánh giải tỏa Chi Pou diệt 276 tên địch. Từ ngày 23, các đơn vị chủ lực và địa phương Gia Lai đồng loạt tiến công các mục tiêu KơTy Prông, khu nhân viên quân sự Mỹ, tiểu đoàn bảo an, sân bay Cù Hanh, sân bay Aréa, liên đoàn công binh Mỹ, cư xá sĩ quan, cắt giao thông đường 14 và 19; phá ấp Plei Beng, Ngô Sơn... loại khỏi vòng chiến đấu 1.605 tên địch (có 805 tên Mỹ), bắn rơi và phá hỏng 26 máy bay, phá hủy 334 xe quân sự (có 64 xe bọc thép), 5 pháo lớn, 1 kho đạn, 4 kho xăng, thu 41 súng.

Ngày 31 tháng 8, đợt tiến công cao điểm hè thu năm 1968 kết thúc thắng lợi. Chỉ trong nửa tháng tiến công, bộ đội chủ lực Tây Nguyên và lực lượng vũ trang địa phương đã đánh 126 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 4.114 tên địch (có 1.154 tên Mỹ, giết tên tướng ngụy Trương Quang Ân, 1 đại tá cố vấn Mỹ và nhiều sĩ quan), bắt 99 tên, bắn rơi và phá hỏng 89 máy bay, 424 xe quân sự (có 105 xe bọc thép), 16 pháo lớn, 2 cầu, 2 cống, 50 lô cốt, 81 nhà, 7 kho xăng, 3 kho đạn, 1 kho súng, thu 91 súng và 4 vô tuyến điện; phá 14 ấp chiến lược, giải phóng 6.000 dân. Thắng lợi của đợt tiến công hè thu năm 1968 ở Tây Nguyên là một nỗ lực rất lớn của quân và dân trên địa bàn trong điều kiện ta gặp rất nhiều khó khăn. Nó không những giữ vững thế chủ động tiến công, giáng tiếp những đòn mạnh vào dinh lũy cuối cùng của địch ở Tây Nguyên, củng cố mở rộng vùng giải phóng mà còn tạo điều kiện cho phong trào cách mạng địa phương phát triển mạnh mẽ. Tháng 7 năm 1968, tỉnh Gia Lai tiến hành Đại hội thành lập Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh. Đồng chí Ksor Ní (Phó bí thư Tỉnh ủy) được bầu làm chủ tịch tỉnh, Anh hùng Núp (Tỉnh ủy viên) và đồng chí Ngô Thành (Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy) làm phó chủ tịch. Tại nhiều huyện, xã nhân dân nô nức đi bầu hội đồng nhân dân giải phóng các cấp; tiếp đó các ủy ban nhân dân cách mạng cũng lần lượt ra đời và bước vào hoạt động.




------------------------------------------------------------------
1. Báo cáo chính trị tại Đại  hội lần thứ IV Đảng Cộng Sản Việt Nam. Nxb Sự thật, H. 1977, tr. 17, 18.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Tư, 2021, 10:33:56 am
*

Mùa khô năm 1968, Bộ Tổng tư lệnh điều động một số đơn vị của Sư đoàn 325C (tức Sư đoàn 6) từ Tây Nguyên vào miền Đông Nam Bộ và Sư đoàn bộ ra miền Bắc; một số tiểu đoàn binh chủng của B3 được chuyển về Quân khu 5 và các chiến trường khác. Vì vậy kế hoạch thành lập Đoàn 1 đứng chân ở nam Tây Nguyên và Lữ đoàn 1 (gồm Trung đoàn 66, 1 tiểu đoàn đặc công, 1 tiểu đoàn pháo cối) của Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên đều không thực hiện được. Nhằm củng cố nâng cao khả năng chiến đấu của các đơn vị và bộ đội, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Chiến trường rút Sư đoàn bộ binh 1 về phía sau củng cố, kiện toàn Đảng ủy và Bộ tư lệnh Sư đoàn1, đồng thời tổ chức chỉnh huấn lực lượng vũ trang toàn chiến trường. Nội dung đợt chỉnh huấn này được quy định cụ thể cho từng đối tượng. Cán bộ trung cao cấp học tập Nghị quyết của Trung ương Cục Miền Nam và Nghị quyết của Đảng ủy B3, học tập thư của Bác Hồ (3.1968), các chuyên đề về chống chủ nghĩa cá nhân và chống chiến tranh tâm lý của địch. Cán bộ sơ cấp và chiến sĩ học tập đề cương “Tình hình và nhiệm vụ”, học tập thư Bác Hồ và Nghị quyết Trung ương Cục Miền Nam. Dân quân du kích do các tỉnh đội tổ chức học tập, thời gian từ 2 đến 3 ngày.

Để phát huy hơn nữa sức mạnh to lớn của lực lượng vũ trang địa phương trong giai đoạn cách mạng mới. Cuối tháng 9 năm 1968 Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên tổ chức hai hội nghị chuyên đề về chiến tranh du kích và công tác quân sự địa phương. Các đồng chí bí thư, thường vụ Tỉnh ủy, đoàn đại biểu ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc và bốn huyện miền tây  (huyện 4, 5 tỉnh Gia Lai, huyện 6, 7 tỉnh Kon Tum, huyện 5 tỉnh Đắc Lắc) cùng nhiều cá nhân xuất sắc của bộ đội địa phương, dân quân du kích tham dự. Hội nghị đã khẳng định thành tích và bước trưởng thành vượt bậc của lực lượng vũ trang địa phương trong năm 1968. Cuối năm 1967 toàn Tây Nguyên có 5.311 bộ đội địa phương và 13.868 du kích, nhưng đến cuối năm 1968 bộ đội địa phương đã có 6.316 đồng chí và du kích là 16.322 người2. Về thành tích chiến đấu, năm 1968 lực lượng vũ trang địa phương Tây Nguyên đã loại khỏi vòng chiến đấu 14.559 tên địch (có 5.392 tên Mỹ), bắt 259 tên (chiếm 113 tổng số sinh lực địch bị diệt); diệt gọn 1 tiểu đoàn, 20 đại đội, 21 trung đội ngụy, 1 đội bình định, 5 trung đội Mỹ; tiêu hao 1 tiểu đoàn, 10 đại đội, 12 trung đội ngụy, 1 đại đội Mỹ; diệt 2 quận lỵ; bắn rơi và phá hủy 500 máy bay, 1.521 xe quân sự, trong đó có 455 xe bọc thép (chiếm 112 số máy bay và xe địch bị diệt), 45 pháo cối lớn, 77 kho, 247 nhà lính, thu 524 súng các loại; mở 88.195 dân (chiếm 21% dân số bị kìm kẹp)3. Quán triệt sâu sắc hơn vị trí chiến lược, nhiệm vụ phương châm của chiến tranh du kích, Hội nghị xác định phương hướng trong thời gian tới là: ''Ra sức xây dựng lực lượng vũ trang và bán vũ trang vững mạnh toàn diện, làm nòng cốt cho phát triển du kích chiến tranh, tích cực phá ấp giành dân, giải phóng toàn bộ vùng nông thôn. Ra sức xây dựng căn cứ địa. Tăng cường công tác chính trị trong lực lượng vũ trang nhân dân địa phương''. Về phương châm xây dựng, Hội nghị khẳng định: ''Dân quân du kích phải đạt tỷ lệ 12%, phải nắm chắc vấn đề chất lượng... phải đưa đại bộ phận Đảng viên vào du kích...  đưa hết thanh niên trung Đoàn vào du kích... Hàng ngũ du kích phải trong sạch về chính trị, bảo đảm cây súng ở trong tay những người trung thành tuyệt đối''. Sau hội nghị chiến tranh du kích và công tác quân sự địa phương, lực lượng vũ trang và bán vũ trang ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc có bước phát triển mới, hỗ trợ đắc lực cho bộ đội chủ lực tác chiến trên địa bàn, đưa chiến tranh nhân dân ở Tây Nguyên ngày càng phát triển mạnh mẽ.

        Tiếp sau chỉnh huấn, tổng kết năm, từ ngày 20 đến ngày 23 tháng 11 năm 1968 Đại hội liên hoan Anh hùng, Chiến sĩ thi đua và Dũng sĩ lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên lần thứ hai được tổ chức trọng thể tại khu giải phóng bên bờ sông Sa Thầy. Dự Đại hội có gần 300 đại biểu tiêu biểu cho phong trào thi đua giết giặc lập công và các lĩnh vực công tác của các đơn vị chủ lực và  địa phương trên toàn Chiến trường Tây Nguyên. Đoàn đại biểu ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, anh hùng Núp, Kpa Kơlơng và các đội văn công ba tỉnh cũng tham dự. Trong gần bốn ngày làm việc, các đại biểu đã nghe bản báo cáo tổng kết phong trào thi đua của toàn Chiến trường do đại tá Trần Thế Môn - Bí thư Đảng ủy, chính ủy Chiến trường Tây Nguyên trình bày và 60 bản báo cáo của các cá nhân, tập thể điển hình; đồng thời tham gia thảo luận chuyên đề, trao đổi kinh nghiệm chiến đấu và công tác. Được sự ủy quyền, Bộ tư lệnh Chiến trường đã trao cờ thi đua luân lưu: "Quyết chiến, quyết thắng'' của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho Trung đoàn bộ binh 95; cờ “Dũng mãnh đánh giỏi diệt gọn lữ đoàn Mỹ'' cho Sư đoàn bộ binh 1 (đã vào miền Đông Nam Bộ); cờ ''Giữ vững mở rộng phong trào, trụ bám giành dân, tiêu diệt nhiều địch'' của Ủy ban Mặt trận miền Trung Trung Bộ cho quân và dân tỉnh Gia Lai; cờ ''Liên tục tiến công, đánh giỏi diệt gọn nhiều đơn vị Mỹ, ngụy'' của Ủy ban Mặt trận miền Trung Trung Bộ cho Tiểu đoàn 304 Kon Tum; cờ ''Trung dũng kiên cường, liên tục tiến công vào thị xã'' của Ủy ban Mặt trận miền Trung Trung Bộ cho thị xã Buôn Ma Thuột; cờ ''Luồn sâu đánh giỏi, liên tục tiến công thị xã và căn cứ Mỹ'' của Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên cho Tiểu đoàn 408 Gia Lai; tặng danh hiệu ''Thành đồng quyết thắng'' cho 3 tiểu đoàn, danh hiệu Chiến sĩ thi đua  cho 1.156 cá nhân; trao 1 Huân chương Thành đồng hạng nhì, 10 Huân chương Quân công hạng nhất, 11 Huân chương Quân công hạng nhì và hạng ba cho các đơn .vị. Đại hội đã thay mặt toàn thể đồng bào và chiến sĩ Tây Nguyên gửi thư quyết tâm lên Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ lòng nhớ thương, tin tưởng và hứa với Người: Đoàn kết một lòng, vượt qua mọi khó khăn ác liệt, cùng cả nước bền gan chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng để sớm được đón Bác vào thăm. Đại hội liên hoạn Anh hùng, Chiến sĩ thi đua và Dũng sĩ lần thứ hai của lực lượng vũ trang Tây Nguyên là hình ảnh sinh động, tiêu biểu của khối đại đoàn kết của quân, dân các dân tộc và sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân đánh bại chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trên địa bàn rừng núi Tây Nguyên.

Ngày 30 tháng 11 năm 1968, cán bộ, chiến sĩ và đồng bào các dân tộc Tây Nguyên vô cùng xúc động nhận được điện thăm hỏi của Bác Hồ4. Người viết:

“Thân ái gửi đồng bào, cán bộ và chiến sĩ Tây Nguyên.

Tôi rất vui mừng nhận đưa thư báo cáo thành tích của Đại hội Anh hùng, Chiến sĩ thi đua, Dũng sĩ lần thứ 2 của các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng Tây Nguyên.

Như vậy là quân và dân Tây Nguyên, già trẻ, gái trai, Kinh, Thượng, Đoàn kết một lòng, luôn luôn nêu cao truyền thống anh hùng, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, thi đua diệt giặc, lập công, giữ gìn buôn rẫy, thu được những thành tích to lớn, cùng đồng bào cả nước đánh thắng giặc Mỹ xâm lược...

         Tôi nhiệt liệt khen ngợi các Anh hùng, Chiến sĩ thi đua, Dũng sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân giải  phóng, cán bộ, chiến sĩ và toàn thể đồng bào Tây Nguyên đã dũng cảm chiến đấu, xây dựng hậu phương vững mạnh, phục vụ tiền tuyến lập công vẻ vang. Giặc Mỹ và tay sai bị thua to trên khắp nước ta, đã phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom, bắn phá miền Bắc và chịu ngồi nói chuyện với đại diện hai miền nước ta. Nhưng chúng còn rất ngoan cố, hiếu chiến, chưa chịu từ bỏ âm mưu xâm lược. Vì vậy nhiệm vụ của quân và dân cả nước ta còn rất nặng nề.

Đồng bào và chiến sĩ Tây Nguyên đã đoàn kết càng phải đoàn kết chặt chẽ hơn nữa, cố gắng không ngừng, phát huy mạnh mẽ thắng lợi đã giành được, luôn luôn nêu cao cảnh giác, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu của địch, ra sức củng cố và phát triển vùng giải phóng và phục vụ tiền tuyến.

Tôi tin chắc rằng Tây Nguyên nhất định cùng cả nước tiến lên đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược.

Tôi xin gửi đến cụ Chủ tịch và các vị trong Phong trào Dân tộc tự trị và toàn thể đồng bào Tây Nguyên, các cháu thanh niên và nhi đồng lời thăm hỏi ân cần và lời chào quyết thắng.


Hà Nội, ngày 30 tháng 11 năm 1968

                                                   HỒ CHÍ MINH


Vô cùng phấn khởi trước tình yêu thương bao la ấm áp, sự ân cần động viên khen ngợi của Bác Hồ, một phong trào học tập làm theo thư Người được tiến hành sâu rộng khắp các đơn vị và địa phương trên chiến trường Tây Nguyên. Tình cảm kính yêu và lòng tin tưởng vô hạn đối với Bác Hồ đã nhanh chóng biến thành hành động cách mạng, quyết tâm thực hiện thắng lợi nghị quyết của Đảng ủy Chiến trường: ''Nỗ lực vượt bậc kiên quyết tiến lên giành thắng lợi to lớn nhất trong thời gian tới'', cùng toàn miền Nam đánh bại chiến lược ''Việt Nam hóa chiến tranh'' của đế quốc Mỹ.




------------------------------------------------------------------
1. Bộ tư lệnh Sư đoàn 1 gồm: đồng chí Trần Văn Trân - tư lệnh, đồng chí Nguyễn Văn Viên - chính ủy, đồng chí Lê Hữu Đức - tư lệnh phó, đồng chí Định - phó chính ủy, đồng chí Trần Duy Huynh – tham mưu trưởng. Thường vụ Đảng ủy Sư đoàn gồm 5 đồng chí trên.
2. Cuối năm 1967 tỉnh Kon Tum có l.651 bộ đội địa phương và 4.763 du kích; năm 1968 có 1.796 bộ đội và 4.208 du kích. Cuối năm 1967 tỉnh Gia Lai có 1.837 bộ đội địa phương và 7.258 du kích; năm 1968 có 2.504 bộ đội và 9.689 du kích. Cuối năm 1967 tỉnh Đắc Lắc có 1.823 bộ đội địa phương và 1.847 du kích; năm 1968 có 2.016 bộ đội và 2.425 du kích.
3. Sau định càn quét dồn xúc lại, ta giữ được 22.477 người dân.
4. Bác Hồ điện nhờ cụ I Bi ALê Ô - Phó chủ tịch Đoàn Chủ tịchU.B.T.Ư.M.T.D.T.G.P miền Nam Việt Nam, Chủ tịch Phong trào dân tộc tự trị Tây Nguyên chuyển.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Tư, 2021, 10:35:41 am
*

 Trong 21 năm trường kỳ gian khổ kháng chiến chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, thì giai đoạn chiến tranh cục bộ là đỉnh cao của cuộc đụng đầu lịch sử giữa nhân dân Việt Nam và đế quốc Mỹ. Khi ồ ạt đưa quân viễn chinh vào Việt Nam, Mỹ đã chọn Tây Nguyên làm chiến trường trọng điểm thi thố sức mạnh của quân đội chưa từng bị thua trận bao giờ trong các cuộc chiến tranh trước đó. Ngay khi bước vào cuộc chiến, bộ chỉ huy quân Mỹ tung con át chủ bài ''sư đoàn kỵ binh không vận số 1'' - một ''sáng kiến vĩ đại'' của Mác Na-ma-ra, được trang bị hiện đại bậc nhất với chiến thuật tân kỳ ''nhảy cóc'' lên Tây Nguyên. Với số quân đông gấp ba lần (35.200/12.000), lại có ưu thế tuyệt đối về máy bay, xe thiết giáp và đại bác, Mỹ, ngụy tưởng có thể ''tìm diệt'' quân giải phóng như cuộc dạo chơi dưới ánh mặt trời. Trước đối tượng tác chiến mới, quân và dân Tây Nguyên không hề nao núng. Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận đã triệt để phát huy ưu thế sự giác ngộ chính trị cao của bộ đội để giải quyết sự chênh lệch về trang bị vũ khí so với địch; kết hợp nhuần nhuyễn giữa tài thao lược của bộ chỉ huy chiến dịch với tính độc lập sáng tạo của từng đơn vị và tinh thần dũng cảm, trí thông minh của mỗi cán bộ, chiến sĩ, giữa bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang, quần chúng cách mạng địa phương tạo nên sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân, làm nên chiến thắng Plei Me lịch sử. Chiến thắng Plei Me không chỉ mở đầu giai đoạn đánh thắng chiến lược ''chiến tranh cục bộ'' của đế quốc Mỹ, mà còn giải đáp dứt khóat một vấn đề nóng hổi:  Việt Nam có đánh được Mỹ không? Tây Nguyên có đánh được Mỹ không? Và khẳng định chân lý: chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng ta là vô địch, nhất định sẽ đánh bại chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ.

Nối tiếp chiến thắng Plei Me, bộ đội chủ lực Tây Nguyên được quân và dân địa phương phối hợp đã giáng những đòn sấm sét xuống đầu sư đoàn 25 “Tia chớp nhiệt đới” Mỹ trong mùa mưa năm 1966. Khẩu hiệu ''Tìm Mỹ mà đánh, bám thắt lưng Mỹ mà diệt'' trở thành phong trào ở mọi đơn vị và là tư tưởng chỉ đạo khi bước vào trận của mỗi cán bộ, chiến sĩ. Song song với đòn tiến công quân sự phủ đầu quân viễn chinh Mỹ, lực lượng vũ trang địa phương được chủ lực hỗ trợ dìu dắt lớn mạnh không ngừng, trưởng thành nhanh chóng, từng bước đảm nhiệm vai trò nòng cốt của chiến tranh nhân dân địa phương và hỗ trợ ngày càng hiệu quả cho bộ đội chủ lực. Những “pháo đài thép'' như xã Đắc Uy (Kon Tum), khu 4, khu 5 (Gia Lai), xã Khuê Ngọc Điền (Đắc Lắc) xuất hiện ngày càng nhiều tạo nên thế trận thiên la địa võng của chiến tranh nhân dân, những điều kiện thuận lợi cho chủ lực về hoạt động.

Bị thua đau trong cuộc phản kích chiến lược mùa khô lần thứ nhất 1965-1966, quân Mỹ tiếp tục tung sư đoàn bộ binh số 4 mở cuộc hành quân. Sam Hút-tơn vào đông tây sông Sa Thày. Mặc dù được máy bay B52, trực thăng, phản lực, pháo binh chi viện tối đa, có quân ngụy bảo vệ sau lưng và thi thố những chiến thuật ''tân kỳ'', những mánh khoé xảo quyệt đúc kết qua lần thất bại trước; nhưng tham vọng ''tìm diệt'' của chúng lại bị ''vùi sâu'' xuống dòng sông Sa Thày. Chiến thuật ''trực thăng vận'' đổ quân ồ ạt mất hiệu nghiệm, buộc quân Mỹ phải cơ động từng tiểu đoàn trên một trục, một hướng khi hành quân để tránh ba tiêu diệt gọn từng đơn vị. Với thế và lực ngày càng lớn mạnh cùng những kinh nghiệm quý qua hai mùa khô thắng Mỹ, lại được quân dân địa phương hết lòng giúp đỡ, bộ đội chủ lực Tây Nguyên chủ động cài bẫy nhử địch vào vùng rừng núi trùng điệp tây nam Đắc Tô để tiêu diệt. Trong 20 ngày đêm chiến đấu, ta đã giáng cho lữ đoàn dù 173 và lữ đoàn 1 sư đoàn 4 Mỹ những đòn thôi sơn. Bọn ''thiên thần mũ đỏ'' bàng hoàng hốt hỏang tháo chạy và lữ đoàn 1 thảm bại kinh hoàng kết thúc giai đoạn ''tìm diệt'' của chúng. Chiến dịch Đắc Tô 1 đã hoàn chỉnh chiến thuật ''vận động tiến công kết hợp chốt'' của bộ đội chủ lực Tây Nguyên và góp phần phát triển nghệ thuật chiến dịch Việt Nam.

        Bước vào cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, quân và dân Tây Nguyên mang theo khí thế tiến công hào hùng của cả miền Nam, với quyết tâm sắt đá và lòng tin mãnh liệt vào chiến thắng. Trong suốt 115 ngày đêm chiến đấu, bộ đội chủ lực Tây Nguyên sát cánh cùng quân và dân địa phương đánh đồng loạt, liên tục tiến công và nổi dậy, đưa chiến tranh vào dinh lũy cuối cùng của địch, giáng một đòn quyết đánh vào chiến lược ''chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ ở Tây Nguyên, góp nốt nhạc hào hùng vào bản đại hợp xướng ''Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!'' của dân tộc Việt Nam. Chiến thắng vang dội của bộ đội chủ lực và quân dân địa phương trên chiến trường Tây Nguyên đánh bại ''chiến tranh cục bộ'' của đế quốc Mỹ, đã tạo ra những tiền đề vững chắc để đánh thắng hoàn toàn chiến lược ''Việt Nam hóa chiến tranh'' của địch trên địa bàn.

        Nguyên nhân thắng lợi to lớn, toàn diện của quân và dân Tây Nguyên trong cuộc đọ sức với quân viên chinh Mỹ, trước hết bắt nguồn từ đường lối kháng chiến, đường lối quân sự và phương pháp tiến hành chiến tranh cách mạng đúng đắn, sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Là kết quả của sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, sát đúng của Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh và Khu ủy Khu 5; là kết tinh của sự lãnh đạo, chỉ huy chặt chẽ, nhạy bén, tài trí, mưu lược của Đảng ủy, Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên với tính linh hoạt, sáng tạo của chỉ huy các cấp và tinh thần chiến đấu dũng cảm ngoan cường, trí thông minh, dám xả thân vì sự nghiệp cách mạng của mỗi cán bộ, chiến sĩ đồng thời nó còn là biểu hiện sinh động của sự đoàn kết, chi viện, giúp đỡ chí tình của Bộ tư lệnh Quân khu 5, Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang, sự cưu mang đùm bọc  hết lòng của nhân dân ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc và sự phối hợp của các chiến trường trên toàn miền Nam.

        Năm tháng trôi đi, nhưng những chiến công oanh liệt Plei Me, Sa Thầy, Đắc Tô 1... đánh bại ''chiến tranh cục bộ'' của đế quốc Mỹ trên chiến trường Tây Nguyên mãi mãi là những trang hào hùng nhất, đẹp đẽ nhất trong lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vẻ vang của bộ đội chủ lực và quân dân Tây Nguyên anh hùng.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Tư, 2021, 10:43:28 am
Chương ba
VƯỢT QUA THỬ THÁCH TRỤ BÁM CHIẾN TRƯỜNG, LIÊN TỤC TIẾN CÔNG ĐÁNH BẠI MỘT BƯỚC
CHIẾN LƯỢC ''VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH, CỦA MỸ, NGỤY Ở TÂY NGUYÊN                                  
(1969-1972)



1. Chiến thắng mùa xuân Kỷ Dậu 1969, đánh bại trận quân cuối cùng của bộ binh Mỹ và bước đầu thử nghiệm “phi Mỹ hóa'' ở Tây Nguyên.

Qua ba đời tổng thống (Ai-xen-hao, Ken-nơ-đi, Giôn- xơn) các chiến lược và kế hoạch xâm lược tàn bạo của đế quốc Mỹ đối với Việt Nam liên tiếp bị thất bại. Lên cầm quyền trong lúc ''nước Mỹ đang có khủng hỏang về tinh thần, mắc kẹt trong chiến tranh, cấu xé và chia rẽ, xơ xác tơi bời, chửi nhau như vỡ chợ''1; thế và lực của Mỹ đã suy yếu nhiều trên thế giới, Ních - xơn buộc phải ''điều chỉnh'' chiến lược toàn cầu phản cách mạng, đưa ra ''học thuyết Ních-xơn''. Việt Nam được Mỹ chọn làm nơi thí điểm học thuyết mới này, theo đó chiến lược ''chiến tranh cục bộ'' được thay bằng ''Việt Nam hóa chiến tranh''.

Thực chất ''Việt Nam hóa chiến tranh'' là chuyển gánh nặng chiến tranh cho quân đội ngụy Sài Gòn, ''thay màu da trên xác chết'', vẫn tiếp tục thực hiện ba biện pháp chiến lược cũ (bình định, tìm diệt, phong tỏa biên giới) nhưng dưới những cái tên mới (chiến tranh giành dân, chiến tranh hủy diệt, chiến tranh bóp nghẹt) và nâng cường độ hoạt động ngoại giao kiềm chế sự giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc đối với cách mạng Việt Nam. Chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh'' rất thâm độc, nhưng nó là sản phẩm của sự thất bại, nên không tránh khỏi số phận thảm bại tiền định. Thực hiện chiến lược mới này, từ đầu năm 1969 đến năm 1972 địch vừa gấp rút xây dựng ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn, vừa dẩy mạnh bình định nội địa, tiến hành nhiều cuộc hành quân đánh phá căn cứ, triệt đường tiếp tế và cơ sở hậu cần tại chỗ nhằm tiêu hao, đẩy lực lượng ta ra vùng biên giới; đồng thời mở rộng chiến tranh sang Cam-pu-chia và Lào, từng bước rút dần quân Mỹ ra khỏi cuộc chiến tranh.

Nằm trong âm mưu đen tối và kế hoạch ''điều có chung của Mỹ, ngụy, Tây Nguyên sớm được chúng chọn làm nơi thực thi ''phi Mỹ hóa'' ở miền Nam. Đầu năm 1969 tổng binh lực của địch ở Tây Nguyên có 20 tiểu đoàn bộ binh, 9 tiểu đoàn thiết giáp, 9 tiểu đoàn pháo binh và một số đơn vị không quân với số quân là 68.792 tên, 246 khẩu pháo lớn 380 xe bọc thép và xe tăng, 371 máy bay các loại. Trong đó, quân Mỹ có sư đoàn bộ binh số 4, một tiểu đoàn của lữ đoàn dù 173 và các đơn vị cơ giới, không quân gồm 10 tiểu đoàn bộ binh, 4 tiểu đoàn thiết giáp, 6 tiểu đoàn pháo binh và 3 tiểu đoàn không quân với 15.600 tên co về phòng thủ thị xã Kon Tum, Plei Ku, vùng An Khê và trục đường 19. Ngoài ra một số quân Mỹ được tung ra chốt chặn các điểm cao ở Chư Tăng Kra, Chư Tăng An, Chư Tô Bla, Chư Pa, Chư Xang, Thanh An tạo thành tuyến ngăn chặn vòng ngoài. Lực lượng quân ngụy tăng nhanh cả về số lượng và vũ khí, phương tiện chiến tranh. Cuối tháng 2 năm 1969, quân cộng hòa (chủ lực ngụy) ở Tây Nguyên có trung đoàn bộ binh 42 (4 tiểu đoàn), trung đoàn bộ binh 45 (4 tiểu đoàn), trung đoàn bộ binh 47 (1 tiểu đoàn), liên đoàn 2 biệt động quân (3 tiểu đoàn), trung đoàn 8 thiết giáp (2 chi đoàn), trung đoàn 3 thiết giáp (3 chi đoàn), các tiểu đoàn pháo binh 221 (biệt khu 24), 232 (sư đoàn 23), 39 (quân đoàn 2) và 37; tổng số gồm 11 tiểu đoàn bộ binh, 5 chi đoàn thiết giáp, 3 tiểu đoàn pháo binh với 15.792 tên. Quân địa phương có 37.400 tên được tổ chức thành 4 tiểu đoàn bảo an, 95 đại đội địa phương quân, 70 đại đội biệt kích, 8 đại đội thám kích, 228 trung đội nghĩa quân, 4 đại đội cơ giới. Nhằm đối phó với các đợt tiến công của ta và từng bước ''phi Mỹ hóa'', quân ngụy được bố trí thành 5 cụm chính: Đắc Tô - Tân Cảnh, đường 18; Kon Tum, Kleng; Plei Ku, đường 19 tây; An Khê, đường 19 đông; Buôn Ma Thuột, đường 21, trọng điểm là thị xã Plei Ku, Kon Tum và An Khê - đường 19. Để tăng quân, từ tháng 1 đến tháng 3 năm 1969, địch tiến hành một đợt bắt lính lớn nhất ở Tây Nguyên; đồng thời đẩy mạnh đôn quân, đưa trung đoàn 14 thiết giáp từ đồng bằng Khu 5 lên đóng ở Đắc Tô - Tân Cảnh. Song song với tăng quân, địch phát triển thêm những tổ chức mới, lập thêm bộ chỉ huy lực lượng đặc biệt, tổ chức ở mỗi quận 1 liên đội bảo an (từ 3 đến 4 đại đội); lập thêm tiểu đoàn pháo 233 cho sư đoàn 23; bố trí ở mỗi tiểu đoàn bộ binh 1 trung đội trinh sát đồng thời địch thay toàn bộ súng ga răng và các bin bằng súng M16 cho các đơn vị cộng hòa, biệt động quân, từng bước trang bị cho địa phương quân.

Với binh lực lớn, lại được máy bay pháo binh Mỹ chi viện mạnh và một lực lượng bộ binh Mỹ hỗ trợ, ngay từ đầu năm 1969 quân ngày giữ vai trò chủ yếu tác chiến trên bộ ở Tây Nguyên. Trong tháng 1, chúng mở liên tiếp 3 cuộc hành quân ''Bình tây'' và tung nhiều toán biệt kích, dùng hàng trăm lượt máy bay ráo riết đánh phá sâu vào   vùng căn cứ của ta. Trong 3 tháng đầu năm 1969, địch tung 52 toán biệt kích, sử dụng 250 lần chiếc máy bay trinh sát và 260 lần chiếc phản lực đánh phá các kho tàng, đường vận chuyển cơ giới, cầu phà, rải chất độc hóa học...vào phía tây ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc. Cùng với các hoạt động trên, địch ra sức thực hiện âm mưu bình định cấp tốc, càn quét vây ráp. Chỉ tính riêng trong 2 tháng (1 và 2 năm 1969) đã có tới 147 cuộc càn quét với binh lực từ 1 đại đội đến hơn 1 tiểu đoàn; trọng tâm là các vùng Đắc Đoa, Lệ Ngọc (Gia Lai); Kla, Buôn Hồ, Phước An, Quảng Nhiêu (Đắc Lắc)...

Trước sự thay đổi chiến lược quân sự và âm mưu thủ đoạn mới của địch, quân và dân Tây Nguyên cũng như toàn miền Nam bình tĩnh, chủ động giáng trả và liên tiếp tiến công địch, kết hợp hai chân ba mũi; đồng thời đẩy mạnh xây dựng lực lượng, nâng cao chất lượng của ba thứ quân. Nhằm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, sâu sát kịp thời hơn đối với lực lượng vũ trang Tây Nguyên, đầu tháng 1 năm 1969 Bộ chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định giao cho Khu ủy, Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 5 lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp Đảng ủy và Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên. Ngày 5 tháng 1 năm 1969, Thường vụ Khu ủy và Quân khu ủy quy định cụ thể về việc lãnh đạo, chỉ đạo lực lượng vũ trang Tây Nguyên, trong đó giao cho Đảng ủy, Bộ tư lệnh B3 chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp ba tỉnh đội Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc. Đến đây Chiến trường Tây Nguyên giữ vai trò của một ''phần khu quân sự'' của Quân khu 5, vừa làm nhiệm vụ bộ đội chủ lực của một mặt trận, vừa đảm nhiệm vai trò lực lượng vũ trang dịa phương ở Tây Nguyên. Sự hòa quyện giữa nhiệm vụ của đội quân chủ lực với công tác quân sự địa phương, sự đoàn kết gắn bó keo sơn giữa bộ đội chủ lực với lực lượng vũ trang và nhân dân Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc đã tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn chiến thắng quân thù là nét đặc sắc của Chiến trường Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Sau khi Bộ Tổng tư lệnh điều động Sư đoàn bộ binh 1 vào miền Đông Nam Bộ, đầu năm 1969 ngoài Bộ tư lệnh, cơ quan B3, lực lượng chủ lực Tây Nguyên còn lại ba trung đoàn bộ binh: 66, 24, 95, hai tiểu đoàn đặc công, Trung đoàn pháo binh 402 và các đơn vị bảo đảm, hậu cần, nhà trường, bệnh viện.

Ngày 28 tháng 1năm 1969 Trung  đoàn bộ binh 28 (do thiếu tá Hoàng Nhiên làm trung đoàn trưởng, thiếu tá Nguyễn Xuân Hệ làm chính ủy, đại úy Nghiêm Xuân Núi làm trung đoàn phó và đại úy Nguyễn Gia Hưu làm phó chính ủy) từ Quảng Bình hành quân vượt Trường Sơn v vào đến Tây Nguyên với đầy đủ quân số, vũ khí, trang bị. Tiếp đó, Chiến trường Tây Nguyên dược bổ sung Tiểu đoàn pháo binh 85. Tháng 2, tổng quân số bộ đội chủ lực B3 lên đến 28.000 người. Bên cạnh khối chủ lực, lực lượng vũ trang ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc có số lượng ngày càng đông, cơ cấu khá cân đối. Đến đầu tháng 4 năm 1969, toàn Chiến trường Tây Nguyên có 5.643 bộ đội địa phương tỉnh, huyện và 17.332 du kích xã thôn. Các tỉnh đội đều có 1 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn đặc công, một số đại đội hỏa lực, bảo đảm; các huyện đội, thị đội tổ chức đại đội, trung đội3.

Để nâng cao chất lượng chiến đấu của bộ đội địa phương và du kích, ngoài việc thường xuyên chỉ đạo tổ chức huấn luyện cho các tỉnh đội, Bộ tư lệnh B3 đã mở 2 lớp huấn luyện cho 80 cán bộ đại đội, trung đội, huyện đội, xã đội, trợ lý dân quân và trợ lý tác chiến tỉnh đội. Ban Dân quân B3 cử nhiều lượt cán bộ xuống trực tiếp huấn luyện và dìu dắt 328 du kích các xã miền tây tỉnh Gia Lai, 60 du kích vành đai thị xã Plei Ku và 193 du kích huyện 67 tỉnh Kon Tum. Các trung đoàn và tiểu đoàn (độc lập) chủ lực B3 ngoài nhiệm vụ tác chiến còn được Bộ tư lệnh Chiến trường giao trực tiếp giúp đỡ huấn luyện, dìu dắt các đơn vị bộ đội địa phương và dân  quân du kích ở địa bàn hoạt động. Riêng Trung đoàn pháo binh 40 đảm nhiệm huấn luyện cho dân quân du kích ba xã miền tây huyện 67 Kon Tum. Với số lượng, chất lượng ngày càng tăng, khả năng chiến đấu được nâng lên, bộ đội dịa phương và du kích ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc đã phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực B3 ngay từ những ngày tiến công đầu xuân 1969 và thu được nhiều thành tích.




-----------------------------------------------------------------
1. Thừa nhận của Ních- xơn trong ngày nhậm chức 20.1.1969.
2. Trong Trung đoàn pháo binh 40 có Đại đội xe tăng 16, có mặt ở Tây Nguyên ngày 18.4.1968.
3. Tỉnh Kon Tum có Tiểu đoàn 406 đặc công, Tiểu đoàn 304 bộ binh, Đại đội 6, Đại đội 7 công binh, Đại đội 3l ĐKB, 1 trung đội trinh sát, 1 trung đội thông tin, 1 đại đội vận tải (bộ đội đánh) và 3 đại đội, 7 trung đội (bộ đội huyện) với tổng quân số 1.706 cán bộ, chiến sĩ, cùng 5.195 du kích (trang bị l.561 súng các loại). Tỉnh Gia Lai có Tiểu đoàn 408 đặc công, Tiểu đoàn 67 bộ binh, Đại đội 2 (Tiểu đoàn 406 đặc công), 3 đại đội công binh, 1 đại đội trợ chiến, 1 đại đội ĐKB, các phân đội tỉnh sát thông tin vận tải vệ binh (bộ đội tỉnh) và 5 đại đội, 10 trung đội (bộ đội huyện) với tổng quân số 2.416 người; lực lượng du kích có 10.642 người (trang bị 1.555 súng các loại). ở Đắc Lắc, bộ đội tỉnh gồm Tiểu đoàn 401 đặc công, Tiểu đoàn 301 bộ binh, Đại đội 303 bộ binh, Đại đội 312 công binh, Đại đội 314 trợ chiến, 1 đại đội vận tải hành lang, các trung đội trinh sát, thông tin, vận tải; bộ đội huyện có 2 đại đội và 11 trung đội, tổng quân sốlà 1.521 người; du kích có 1.495 người (trang bị 469 súng).



Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Tư, 2021, 10:47:54 am
*

Thực hiện âm mưu ''phi Mỹ hóa'' ở Tây Nguyên, ngày 10 tháng 1 năm 1969, địch huy động trung đoàn 42 và tiểu đoàn 11 biệt động quân (ngụy) có máy bay, pháo binh Mỹ chi viện hỏa lực mạnh, mở cuộc hành quân Bình Tây 48 vào vùng rừng núi Chư Pa (cách thị xã Plei Ku trên 30km về phía tây bắc) nhằm đánh phá hành lang, kho tàng của ta. Ngay khi tiểu đoàn 1 (trung đoàn 42 ngụy) vừa đỗ bộ xuống đã bị lực lượng vận tải, hậu cần của B3 chặn đánh. Cùng thời gian này, Trung đoàn 241 (do thiếu tá Nguyễn Quốc Thước làm trung đoàn trưởng và trung tá Vũ Khắc Thịnh làm chính ủy) đang vượt sông Pô Kô để sang vùng núi Chư Pa, xuống đường 14 đánh địch. Trước tmh hình địch đổ quân xuống Chư Pa ngăn chặn đường cơ động, chỉ huy Trung đoàn 24 đề nghị Bộ tư lệnh B3 cho đơn vị chuyển sang đánh quân địch ở Chư Pa và được cấp trên chấp thuận. Đồng thời Bộ tư lệnh B3 huy động các lực lượng của Phòng Hậu cần, Trường Quân chính, Binh trạm Trung vận chuyển đạn, gạo bảo đảm cho các đơn vị chiến đấu. Liên tiếp trong các ngày 11, 12, 13, 14 tháng 1 hai tiểu đoàn 4 và 6 (Trung đoàn 24) cùng Tiểu đoàn 8 liên tục tiến công đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 1, sở chỉ huy nhẹ trung đoàn 42 và tiểu đoàn 11 biệt động quân. Sau đó ta tập trung lực lượng đánh bốn tiểu đoàn 1, 3 (trung đoàn 42), 11, 22 (biệt động quân) và 1 đại đội Mỹ trên chốt Chư Pa.

Ngày 20 tháng 1 năm 1969, cuộc hành quân Bình Tây 48 - trận ra quân lớn đầu tiên của quân ngụy trong chương trình ''phi Mỹ hóa'' của địch ở Tây Nguyên bị thất bại hoàn toàn, 552 tên bị diệt. Trước thảm bại của quân ngụy, quân Mỹ không thể giữ mãi thái độ ''trùm chăn'' được nữa. Ngày 21 tháng 1, sư đoàn bộ binh số 4 Mỹ đổ bộ 2 tiểu đoàn xuống khu vực Trăng Thu (phía nam ngọn núi Chư Pa khỏang 10km) cùng 3 tiểu đoàn biệt động quân ngụy (11, 22, 23) mở tiếp cuộc hành quân Bình Tây 49 chủ động đón đánh địch, trong hai ngày 21, 22 tháng , Tiểu đoàn 4 (Trung đoàn 24), Tiểu đoàn 631 (mới được tăng cường) tiến công tiêu diệt gọn chỉ huy nhẹ tiểu đoàn 11 và 2 dại đội bộ binh địch ở Chư Pa. Tiếp đó, từ ngày 23 đến ngày 25, ta liên tục tiến công diệt 1 trung dội Mỹ, diệt gọn tiểu đoàn 23, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 22 biệt động quân. Ngày 27, tàn quân của tiểu đoàn 2 (trung đoàn 42), tiểu đoàn 22 biệt động quân tháo chạy khỏi Chư Pa. Cuộc hành quân Bình Tây 49 thất bại. Đánh giá các trận đánh diễn ra tại Chư Pa trong những ngày này, hãng tin AFP (28.1.1969) đã nhận xét: ''Đây là trận đánh ác liệt nhất kể từ cuộc tiến công đẫm máu hồi Tết Mậu Thân đến nay''. Cay cú vì bị đòn đau ở Chư Pa, quân Mỹ cho máy bay, pháo lớn tập trung đánh phá có tính chất hủy diệt vào khu chiến và nhiều nơi khác. Ngày 23 tháng 1, chúng ném bom vào khu tập trung Kon Hơ Ring (Kon Tum), gây ra vụ thảm sát lớn đầu tiên đối với đồng bào dân tộc thiểu số Xê  Đăng: làm chết 350 người dân theo đạo Thiên Chúa.

Mặc dù bị thất bại hên tiếp trong hai keo đầu, “phi Mỹ hóa'' ngày 28 tháng 1 tướng Lữ Lan tung tiếp tiểu đoàn 1 (trung đoàn 47 vừa từ Phú Yên lên), tiểu đoàn 4 (trung đoàn 42) và tàn quân tiểu đoàn 22 biệt động quân liều lĩnh mở cuộc hành quân Bình Tây 50. Song số phận cuộc hành quân này cũng không khác gì hai cuộc hành quân trước. Từ ngày 29 tháng 1 đến ngày 2 tháng 2, ta vừa kiềm chế tiểu đoàn 4, vừa tập trung lực lượng tiến công liên tục vào tiểu đoàn 22 biệt động quân và tiểu đoàn  (trung đoàn 47), diệt 240 tên địch. Nổi bật trong đợt tiến công này là trận đánh của Tiểu đoàn 4 và lực lượng đặc công vào tiểu đoàn Mỹ ở đỉnh Chư Pa, loại khỏi vòng chiến đấu 180 tên địch, thu 85 súng  các loại Ngày 3 tháng 2, tàn quân tiểu đoàn 22 biệt động quân rút chạy, địch đưa tàn quân tiểu đoàn 1 (trung đoàn 42) ra thay nhưng lại bị tiêu hao nặng phải tháo lui. Ngày 8 tháng 2 cuộc hành quân Bình Tây 50 thất bại hoàn toàn.

Sau gần một tháng liên tục chiến đấu ở Chư Pa, bộ đội chủ lực có sự phối hợp của lực lượng vũ trang địa phương đã đánh bại 3 cuộc hành quân liên tiếp của chủ lực ngụy có hỏa lực và bộ binh Mỹ hỗ trợ. Ta đánh thiệt hại nặng liên đoàn 2 biệt động quân, trung đoàn 42, tiêu hao nặng trung đoàn 47 ngụy và diệt 1 tiểu đoàn Mỹ; loại khỏi vòng chiến đấu gần 2.000 tên địch (có 371 tên Mỹ), phá hủy 9 khẩu pháo cối lớn, 1 kho đạn, bắn rơi 24 máy bay, thu 280 khẩu súng các loại. Chiến thắng Chư Pa là đòn phủ đầu đánh vào âm' mưu ''phi Mỹ hóa'' của địch trên Chiến trường Tây Nguyên.

Đợt chiến đấu đầu xuân Kỷ Dậu vừa kết thúc, Chủ tịch  Hồ Chí Minh đã gửi  điện khen ngợi cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 24 và các đơn vị lập công ở Chư Pa2. Đại đội 2 (Tiểu đoàn 2 vận tải), Đại đội 2 (Trung đoàn 24) và Đại đội 6 (Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 66) dược tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng nhất. Lời khen của Bác và những phần thưởng cao quý là nguồn động viên cổ vũ lớn lao quân và dân Tây Nguyên anh dũng tiến lên, hăng hái bước vào chiến dịch xuân, hè năm 1969.




------------------------------------------------------------------
1. Trung đoàn 24 thiếu Tiểu đoàn 5 (đang hoạt động ở hướng Kon Hơ Ring - Kon Tum).
2. Điện khen của Bác, sau khi phổ biến cho cán bộ, chiến sĩ được giao cho tổ cơ yếu Trung đoàn 24 giữ, nhưng bị bom B52 nên không còn.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Tư, 2021, 10:51:25 am
*

Được chiến thắng Chư Pa cổ vũ thôi thúc, đêm 22 rạng ngày 23 tháng 2 năm 1969 lực lượng vũ trang Tây Nguyên đồng loạt tiến công vào 37 mục tiêu địch trên khắp ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc mở đầu đợt tiến công mùa xuân. Tại Kon Tum, Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 24 và Tiểu đoàn 304 địa  phương giải phóng ấp Kon Hơ Rinh, đánh vào nhiều mục tiêu trong thị xã; Tiểu đoàn 20 đặc công tập kích sân bay Đắc Tô, Tân Cảnh; Tiểu đoàn 37 đặc công đánh vào căn cứ Lôi Hổ, Tân Phú. Trung đoàn 40C pháo binh lần đầu sử dụng pháo 85mm bắn phá căn cứ Plei Kần. Ở Gia Lai, Tiểu đoàn 408 đánh khu kho, sân bay Aréa, liên đoàn 2 biệt động quân, Ninh Đức;

Tiểu Đoàn 67 đánh Glar; Tiểu đoàn 6 đánh Plei Ku Ró. Tiểu đoàn 68 bảo an, Blang 3; Tiểu đoàn 31 pháo kích sân bay Cù Hanh, Aréa, bộ tư lệnh quân khu 2 quân đoàn 2 ngụy; Trung đoàn 95 và công binh cắt giao thông đường 19 ở đèo Măng Yang; Trung đoàn 24 cắt đường 14 ở khu vực Tà Uẩn; Trung đoàn 40B pháo kích Đức C Cơ. Hướng Đắc Lắc, Tiểu đoàn 401 đánh hậu cứ trung đoàn 45, sân bay thị xã Buôn Ma Thuột, khu thiết giáp, pháo binh; Tiểu đoàn 304 đánh phá quận lỵ Lạc Thiện; Tiểu đoàn 39 tiến công Ia Tan, trường huấn luyện; Tiểu đoàn 34 pháo kích, sở chỉ huy sư đoàn 23, sân bay Hòa Bình; công binh đánh xe trên đường 21. Trong một tuần (22-28.2), ta dã loại khỏi vòng chiến đấu 3.122 tên địch (có 965 tên Mỹ), bắt 55 tên, phá hủy 248 xe quân sự (có 163 xe bọc thép), 6 pháo lớn, 30 kho tàng, 996 đoạn ống dẫn dầu, phá sập 3 cống, thu 37 khẩu súng.

Chóang váng trước đòn tiến công đồng loạt, bất ngờ của ta, quân địch phản ứng dè dặt, chủ yếu dựa vào lực lượng tại chỗ, pháo binh, không quân chống đỡ phát huy thắng lợi và trước thời cơ thuận lợi, Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên quyết định mở tiếp đợt 2 tiến công mùa xuân (3- 19.3), tập trung 2 trung đoàn bộ binh (28, 66), Trung đoàn pháo binh 40, một tiểu đoàn công binh trên hướng chủ yếu phía tây Kleng nhằm tiêu diệt từng đơn vị cơ động Mỹ; đồng thời giữ vững và phát triển tiến công trên các hướng phối hợp. Thực hiện kế hoạch, đêm mùng 3 rạng ngày 4 tháng 3 lực lượng vũ trang Tây Nguyên tiến công đồng loạt vào các mục tiêu trong ba thị xã, vùng ven, các trục đường giao thông và cứ điểm Kleng. Trên hướng chính, ta dùng một lực lượng vây ép đồn Kleng, khêu ngòi, buộc sư đoàn 4 Mỹ phải mở cuộc hành quân vào khu vực rừng núi  phía tây cứ điểm này. Quân Mỹ dựa vào tuyến điểm chốt Chư Tăng Kra, Chư Tăng An đổ quân nống sâu vào đông, tây sông Sa Thầy hình thành tuyến ngăn chặn mới từ Ngọc Tô Ba đến Chư Hinh, Chư Mơ Nu. Đồng thời địch dùng một lực lượng biệt kích luồn sâu vào hậu phương ta, cho máy bay, pháo binh đánh phá ngăn chặn ta cơ động  lực lượng và vận chuyển. Đến ngày 6 tháng 3 trên hướng chính đã có 5 tiểu đoàn bộ binh (tiểu đoàn 1, 3 trung đoàn 8; tiểu đoàn 3 trung đoàn 12; 1 tiểu đoàn của lữ đoàn 3, 1 tiểu đoàn của lữ đoàn 2) sư đoàn 4 Mỹ và tiểu đoàn 4 thiết giáp. Trong thế trận đã bày sẵn, từ ngày 3 đến ngày 17 tháng 3 Trung đoàn 66 và Trung đoàn 28 có lực lượng  pháo binh chi viện, liên tục tiến công quân Mỹ. Nhiều trận đánh có kết quả tất như trận Chư Rơ Bang (của Đại đội 6 Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 66, ngày 4.3), trận Chư Đô (của Đại đội 2 Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 28, ngày 5.4), trận Đồi Tranh (của Đại đội 1 Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 28, ngày 13 tháng 3). Trong hơn 10 ngày ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 1.672 tên địch (hầu hết là quân Mỹ), diệt gọn 5 đại đội Mỹ, đánh thiệt hại nặng 4 đại đội Mỹ khác, phá hủy 50 xe (có 27 xe bọc thép), 15 pháo lớn, bắn rơi và phá hỏng 58 máy bay.

Trong khi ta tập trung lực lượng tiêu diệt quân Mỹ trên hướng chính, thì ở hướng Plei Kần chiến sự cũng diễn ra rất quyết liệt. Đêm mùng 3 tháng 3, lần đầu tiên ở Tây Nguyên ta sử dụng 4 xe tăng lội nước PT76 và pháo 85mm, súng cối tiến công cứ điểm Plei Kần. Xe tăng bí mật tiến sát hàng rào, dùng hỏa lực tiêu diệt nhiều mục tiêu rồi xông thẳng vào cứ điểm. Hai xe tăng mang số hiệu 511 và 527 đánh được vào bên trong khu A. Sau hơn một giờ chiến đấu, xe tăng ta đã diệt 6 xe bọc thép, phá 1 khẩu đại bác 175mm, làm cháy nổ 4 kho đạn và xăng dầu, bắn sập 15 lô cốt, 3 nhà bạt, diệt nhiều tên địch. Với thắng lợi giòn giã trong lần đầu xuất trận, Đại đội xe tăng 16 đã đặt nền móng và mở đầu truyền thống đã ra quân là chiến thắng của bộ đội xe tăng Tây Nguyên. Riêng tập thể xe tăng 511 lập chiến công xuất sắc được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng ba.

Để cứu nguy cho đồng bọn ở Plei Kần và tây Kleng, địch dùng một lực lượng lớn không quân, pháo binh đánh phá rất dữ dội, ném cả bom napan và chất độc hóa học vào xung quanh hai cứ điểm và vùng chiến sự. Mặc dù lực lượng ít, lại chỉ có vũ khí phòng không tầm thấp nhưng các phân đội cao xạ vẫn kiên quyết đánh trả bắn rơi nhiều máy bay địch. ''Khẩu đội thép'' - Đại đội 48 phòng không do đồng chí Trần Trọng Diễn chỉ huy chiến đấu liên tục 30 ngày đêm, có ngày đánh trả 76 lần chiếc máy bay địch. Để giữ vững trận địa, Đại đội đã hy sinh  đến người cuối cùng Khẩu đội đại liên của Vương Tử Hoàng (Trung đoàn 28) đánh máy bay ở Chư Đô, nhiều lần bị bom đạn địch trùm lên trận địa. Giữa trận bom thù dữ dội, lửa napan cháy khắp thân mình như cây đuốc sống nhưng Vương Tử Hoàng vẫn hiên ngang trên vị trí, tiếp tục chỉ huy khẩu đội bắn rơi 2 máy bay Mỹ. Trước lúc hy sinh người khẩu đội trưởng dũng cảm vẫn dành hơi thở cuối cùng động viên đồng đội giữ vững ý chí chiến đấu.

Phối hợp với hướng chính, các đơn vị chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương đánh mạnh trên các hướng khác Tiểu đoàn 20 đặc công đánh vào sân bay Đắc Tô diệt gọn 1 đại đội Mỹ (5.3), tiến công sở chỉ huy trung đoàn 42 ngụy diệt 150 tên, trong đó có tên trung đoàn trưởng và nhiều sĩ quan (9.3). Trung đoàn 24 và Tiểu đoàn 304 địa phương liên tiếp mở 6 ấp: Đắc Kăm Peng, Đắc Kăm Lốt, Kon Hơ Nông, Kon Gung, Đắc Mót, Kông Trăng Loi rồi bám trụ tiêu diệt quân địch đi giải tỏa. Ở Gia Lai, ta đánh 42 trận, trong đó có nhiều trận hiệu suất chiến đấu cao như: trận tập kích Plei Ku Ró của Tiểu đoàn 6 (5.3), đánh chi đoàn 3 thiết giáp của Tiểu đoàn 408 (5.3), đánh giao thông đường 14 của Đại đội 1 (Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 24 từ ngày 3 đến ngày 17 tháng 3 buộc tiểu đoàn 1 Mỹ thuộc lữ đoàn 3 phải ra giải tỏa) và đánh giao thông đường 19 ở đèo Măng Yang của Trung đoàn 95 (diệt 1 đoàn xe 32 chiếc và hơn 100 tên Mỹ). Hướng Đắc Lắc, ta đánh vào Buôn Ma Thuột làm trung đoàn 45 ngụy phải bỏ dở cuộc hành quân ở Buôn Hồ co về bảo vệ thị xã.

 Phát huy thắng lợi của đợt hai, ngày 20 tháng 3 ta chuyển sang đợt ba tiến công mùa xuân. Mở đầu đợt hoạt động, đêm 20 rạng ngày 21 tháng 3, quân và dân Tây Nguyên lại đồng loạt tiến công vào 20 mục tiêu địch ở thị trấn Tân Cảnh,3 thị xã, 5 sân bay và nhiều thị trấn khác. Tại Tân Cảnh, ngay từ phút đầu các chiến sĩ đặc công Tiểu đoàn 20 đồng loạt nổ súng diệt nhiều mục tiêu trong căn cứ 42, làm hệ thống đèn điện tắt ngấm. Quân địch hỏang hốt xô nhau chui xuống các công sự, hầm ngầm; xe tăng địch gầm rú bắn loạn xạ. Ở hướng tiến công chủ yếu, phân đội của Phạm Văn Nhỏ đánh thẳng vào sở chỉ huy và cơ quan tham mưu trung đoàn 42. Khi ta đang phát triển thuận lợi thì bị khẩu trọng liên từ lô cốt ba tầng và hỏa lực xe tăng bắn chặn xối xả. Lập tức chiến sĩ Hoàng Văn Liên dùng súng chống tăng bắn sập lô cốt dập tắt hỏa điểm nguy hại, sau đó bắn đứt xích chiếc xe tăng đi đầu. Cùng lúc chiến sĩ Bân bắn cháy nhà máy điện làm tê liệt hệ thống truyền tin của địch. Tuyến ngăn chặn bị chọc thủng, các chiến sĩ xông lên dùng thủ pháo, lựu đạn diệt gọn từng tốp dịch trong giao thông hào, dưới hầm ngầm. Trong lúc trận đánh diễn ra quyết liệt ở khu vực sở chỉ huy trung đoàn 42, thì mũi tiến công thứ yếu của Tiểu đoàn 20 cũng chiếm được khu nhà lính. Một khẩu đại liên của địch bất ngờ xuất hiện bị chiến sĩ Lý Nông Hiệt diệt ngay, tạo điều kiện cho đồng đội phát triển chiến đấu. Ở phía nam căn cứ, một mũi tiến công của ta nhanh chóng đánh chiếm trận địa pháo binh, rồi đánh về phía sở chỉ huy. Trong vòng 30 phút, Tiểu đoàn 20 tiêu diệt 212 tên địch, phá hủy  hàng chục xe cộ, pháo lớn... giáng một đòn rất nặng vào cơ quan đầu não trung đoàn 42 ngụy.

Cũng trong đêm 20 rạng ngày 21 tháng 3, Tiểu đoàn 37 tập kích căn cứ lữ đoàn 1 Mỹ ở Tân Phú (nam thị xã Kon Tum) diệt 162 tên, phá hủy 100 xe quân sự, bắn sập 17 lô cốt, đốt 4 bể chứa xăng lớn làm lửa cháy suốt 6 giờ liền. Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 24 diệt trận địa pháo Kon Hơ Ring. Trên hướng Gia Lai, ta tiến công vào hàng loạt mục tiêu: căn cứ sư đoàn bộ binh số 4 Mỹ ở La Sơn, khu nhân viên không quân Mỹ ở Plei Ku, khu sĩ quan Mỹ ở Tân Tạo, sân bay Aréa, cụm xe tăng ở cầu Hội Phú, ấp Trà Bá, Bàu Cạn. Ở Đắc Lắc, các mục tiêu: căn cứ sư đoàn 23 ngụy, trường huấn luyện biệt kích, sân bay thị xã, sân bay Hòa Bình, ấp Duy Hòa, Buôn Diêu, Liêm Sơn đều bị tiến công. Trong khi các hướng dồn dập nổ súng, ở thượng nguồn sông Sa Thầy, 2 trung đoàn 28 và 66 tiếp tục vây ép địch ở chư Hinh, điểm cao 467 và đánh địch nống ra giải tỏa. Từ ngày 23 đến 30 tháng 3, hai cánh quân nống ra của tiểu  đoàn 1 (trung đoàn 8 ) và tiểu đoàn 3 (trung đoàn 12) Mỹ bị đánh bại gần 200 tên bị diệt ở nam Chư Cô Tắc, Chư Kê Pắc và điểm cao 467. Bị thiệt hại nặng, ngày 30 tháng 3, lữ đoàn 1 Mỹ khiếp nhược buộc phải rút chạy khỏi vùng thượng nguồn sông Sa Thầy. Cuộc ra quân cuối cùng của sư đoàn bộ binh số 4 Mỹ ở Tây Nguyên bị thất bại hoàn toàn.

Ngày 31 tháng 3 năm 1969, đợt tiến công mùa xuân Kỷ Dậu của quân và dân Tây Nguyên kết thúc toàn thắng. Trong 40. ngày đêm, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 12.704 tên địch (có 6.212 tên Mỹ), bắt 197 tên, phá hủy 999 xe quân sự (có 500 xe bọc thép), 62 pháo cối lớn, 24 kho đạn, 13 kho xăng, bắn rơi và phá hủy 24 kho đạn, 13 kho xăng, bắn rơi và phá hủy 243 máy bay, thu 336 khẩu súng và 36 vô tuyến điện. Về đơn vị, có 13 đại đội Mỹ và 8 đại đội, 18 trung đội ngụy bị diệt gọn, 13 đại đội Mỹ khác bị tiêu hao chiến thắng mùa xuân Kỷ Dậu với đòn phủ đầu quân ngụy trong bước thử nghiệm ''phi Mỹ hóa'' và đánh bại đợt ra quân cuối cùng của bộ binh Mỹ ở tây Kleng đã tạo thêm thế và lực để quân và dân Tây Nguyên mở các chiến địch mới, giành thắng lợi ngày càng lớn hơn.



Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Tư, 2021, 10:54:45 am
2. Chiến dịch Đắc Tô 2 - đòn phủ đầu đối với chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh''.

Thực hiện ý định của Bộ tư lệnh Quân khu 5: ''Tập trung một bộ phận lực lượng chủ lực B3 mở khu chiến ở tây bắc Kon: Tum (Đắc Tô - Tân Cảnh - Ngọc Bờ Biêng) nhằm tiêu diệt một bộ phận lực lượng cơ động của địch, chủ yếu là Mỹ, diệt từ 1 - 2 tiểu đoàn Mỹ, đánh qụy 1 lữ của sư đoàn 4 Mỹ. Trên cơ sở tác chiến tiêu diệt mà kéo, kèm, thu hút, giam chân một bộ phận lực lượng cơ động của địch trên chiến trường Tây Nguyên, trực tiếp hỗ trợ cho địa phương diệt kẹp giành dân ở ven trục đường 14 và quanh thị xã Kon Tum''1. Mùa hè năm 1969, Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên mở chiến dịch Đắc Tô 2. Lực lượng tham gia chiến dịch bao gồm 3 trung đoàn (66, 28, 40), 3 tiểu đoàn (5, 20, 25) chủ lực và một tiểu đoàn địa phương (304) tác chiến trên bốn khu vực:

- Khu quyết chiến chiến dịch ở Ngọc Bờ Biêng, Ngọc Kom Liệt, Ngọc Dơ Lang do Trung đoàn 66, Trung đoàn 28 (thiếu Tiểu đoàn 2) và 2 tiểu đoàn pháo binh đảm nhiệm.

- Khu vây hãm Plei Kần: bố trí Tiểu đoàn 2,  1 đại đội công binh và một bộ phận hỏa lực.

- Khu thọc sâu, cắt giao thông, đánh hậu cứ ở Đắc Tô, Tân Cảnh, Diên Bình do Tiểu đoàn 20 đặc công, Tiểu đoàn 5 (Trung đoàn 24), Tiểu đoàn 304 Kon Tum và 1 đại đội công binh đảm nhiệm.

- Trận địa hỏa lực khống chế Đắc Tô, Tân Cảnh: bố trí 1 tiểu đoàn pháo binh hỗn hợp.

Thời gian nổ súng được ấn định vào đêm mùng 9 rạng ngày 10 tháng 5 năm 1969.

Ngày 18 tháng 4, Bộ tư lệnh Chiến trường giao nhiệm vụ cho các đơn vị tham gia chiến dịch: Lập tức cả Tây Nguyên bừng bừng khí thế ra trận ''đánh cho sư 4 đảo điên, đánh cho quân ngụy ở Tây Nguyên tơi bời''. Cao trào thi đua ''Trẩy hội Điện Biên, lập công dâng Bác'' diễn ra sôi động khắp chiến trường. Trên những con đường mòn từ phía tây hướng ra phía công, bộ đội, dân công gửi thồ gạo đạn nườm nượp nối nhau ra phía trước, náo nức như trẩy hội. Bên cạnh các đơn vị vận tải chuyên nghiệp là các đội vận chuyển vừa được huy động gồm cán bộ, chiến sĩ ba cơ quan B3, Trường Quân chính, Viện Quân y 211, các đội điều trị, xưởng dược, xưởng quân giới. Nhiều kỷ lục mới được lập nhiều tấm gương điển hình tiên tiến trên mặt trận vận tải xuất hiện. Đại đội 2 (Tiểu đoàn 2 vận tải) giữ vững danh hiệu ''Voi đầu đàn'' của ngành vận tải Tây Nguyên. Trong phân đội có nhiều kiện tướng gùn trên 100 kg  như Nguyễn Đình Cỏn, Võ Văn Hoan. Đặc biệt chiến sĩ Bùi Xuân Chế lập kỷ lục mới gùi 118kg một chuyến, gồm 5 đầu đạn ĐKB, súng, đạn, gạo, ba lô cá nhân trở thành tấm gương sáng thôi thúc cổ vũ bộ đội. Đội xe đạp thồ của Viện Quân y 211 gồm các y tá, hộ lý, bác sĩ, nuôi quân liên tục bám đường đưa hàng ra phía trước, nhiều chiến sĩ gái thồ tới 140kg. Cán bộ, chiến sĩ Binh trạm Bắc đã mạnh dạn tháo rời chiếc ô tô ra làm nhiều bộ phận, rồi khiêng gửi vượt núi cao sang tuyến đường mới lắp ráp lại vận chuyển rất hiệu quả. Trung đoàn 40 pháo binh phát huy dân chủ, tập trung trí tuệ tìm ra sáng kiến cải tiến bánh xe pháo 37mm làm giá đỡ chở nòng pháo 85mm, rút số lượng người khiêng từ 24 xuống còn 15 người và tăng tốc độ từ 2km lên 4km một ngày... đưa pháo vào chiếm lĩnh trận địa đúng thời gian quy định. Với quyết tâm rất cao, lãnh đạo chỉ huy chặt chẽ, tổ chức linh hoạt hợp lý khoa học, vừa tập trung cho hướng trọng điểm vừa chú ý đến các hướng khác... nên trong điều kiện chuẩn bị có nhiều khó khăn về lương thực, địa bàn rộng, thời tiết mưa lũ, địch đánh phá mạnh... ta vẫn bảo đảm được 324,6 tấn đạn, 1.997 tấn gạo, 180 tấn thực phẩm đáp ứng cơ bản các yêu cầu của chiến dịch.

 Phát hiện ta mở chiến dịch, từ ngày 3 đến ngày 7 tháng 5 địch mở cuộc hành quân ''Dân quyền 35'', tung 2 tiểu đoàn biệt kích ra điểm cao 731, Plei Phi Pháp và đổ bộ tiểu đoàn 1 trung đoàn 42 xuống phía bắc Plei Kần nhằm thăm dò, ngăn chặn chuẩn bị chiến dịch của ta. Đồng thời chúng gấp rút điều động lực lượng lên Đắc Tô. Đến ngày 11 tháng 5, địch đã tập trung được 12 tiểu đoàn bộ binh, 3 chi đoàn thiết giáp, 2 tiểu đoàn pháo trên hướng này. Để thống nhất chỉ huy cuộc hành quân, địch vội vã lập bộ chỉ huy hỗn hợp gồm tư lệnh biệt khu 24, liên đoàn biệt động quân, trung đoàn 42, trung đoàn thiết giáp và B12. Phối hợp với cuộc hành binh của quân ngụy trên hướng Đắc Tô, Tân Cảnh, từ ngày 8 đến ngày 12 tháng 5 sư đoàn 4 Mỹ mở cuộc hành quân Grai - ti-pon (cơn  bão táp) vào phía tây Plei Ku. Trung đoàn 45 và trung đoàn 53 ngụy cũng tiến hành giải tỏa ngăn chặn ở vùng Buôn Dơ Rây và Kho Lý cách Buôn Ma Thuột 15km về phía tây nam.

Địch ra quân sớm, trong khi ta đang ở giai đoạn chuẩn bị chiến dịch và chiếm lĩnh trận địa. Nhưng với tinh thần chủ động, cảnh giác cao ta đã kịp thời xuất kích một lực lượng tiến công tiêu diệt địch, đồng thời đẩy nhanh tốc độ triển khai lực lượng trên các hướng. Ngày 5 tháng 5, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 28 vào chiếm lĩnh trận địa gặp hai tiểu đoàn biệt kích địch ở Plei Phi Pháp, lập tức đơn vị chuyển sang tiến công. Liên tục trong 4 ngày (5-8.5), Tiểu đoàn 2 tiêu diệt 125 tên địch. Cùng thời gian này, Tiểu đoàn 8 (Trung đoàn 66) trên đường hành quân vào chiếm lĩnh trận địa ở Ngọc Bờ Biêng đã kịp thời phát hiện tiểu đoàn 4 (trung đoàn 42 ngụy), liền dùng 2 trung đội tập kích diệt 1 đại đội địch. Kịp thời chi viện cho bộ binh, Trung đoàn pháo binh 40 dùng pháo 105mm bắn phá vị trí Ngọc Hồi, pháo 85mm bắn 85 viên đạn vào cứ điểm Plei Kần, điểm cao 824 và dùng ĐKB bắn 50 viên vào hai căn cứ Đắc Tô, Tân Cảnh... phá hủy 8 pháo lớn, 1 trực thăng, nổ tung một kho đạn cháy một kho xăng gây thiệt hại cho sở chỉ huy cuộc hành quân và nhiều sinh lực địch. Để tránh bị tiêu diệt, tối mùng 9 tháng 5 địch vội vã rút tiểu đoàn 4 ở Ngọc Bờ Biêng về Tân Cảnh, rồi dùng 20 lần chiếc máy bay B52 ném bom vào ngọn núi này. Ngày hôm sau (10.5) chúng rút ,tiếp tiểu đoàn 1 (trung đoàn 42) từ Ngọc Hồi về bảo vệ Kon Tum. Đến đây cuộc hành quân ''Dân quyền 35'' thất bại hoàn toàn.

Trong khi các lực lượng ở hướng chính bước vào chiến đấu sớm, các đơn vị trên hướng phối hợp kịp thời chiếm lĩnh trận địa, chủ động nổ súng tiến công địch giành nhiều thắng lợi. Tiểu đoàn 4 (Trung đoàn 24) tập kích tiểu đoàn hỗn hợp Mỹ ở điểm cao 600 Làng Giả diệt 250 tên, bộ đội địa phương Đắc Lắc chặn đánh 1 tiểu đoàn ngụy ở tây nam Buôn Ma Thuột 28km diệt 1 đại đội; Tiểu đàn 631 tập kích căn cứ lữ đàn 3 Mỹ ở Tân Lạc loại khỏi vòng chiến đấu 300n, phá 12 pháo tự hành, 1 dàn ra đa, 10 xe quân sự, 4 kho đạn, 1 kho xăng; Tiểu đoàn 5 (Trung đoàn 24) và Tiểu đoàn 304 Kon Tum đánh vào Diên Bình diệt đại đội bảo an 749, phá sập cầu Diên Bình; Tiểu đoàn 406 đặc công tiến công sân bay Kon Tum. Nổi bật nhất là trận tập kích của Đội 58 Tiểu đoàn 20 đặc công và phân đội ĐKB, cối 82mm vào Tân Cảnh, phá nát căn cứ hành quân lên hợp Mỹ, ngụy loại khỏi vòng chiến đấu 300 tên Mỹ, Phá hủy 32 nhà tôn, 10 hầm ngầm, 6 lô cốt, 4 xe tăng, 4 máy bay trực thăng, 1 kho xăng... gây chấn động lơn đến toàn bộ quân địch ở tây bắc Kon Tum.

Bị uy hiếp mạnh cả ở sào huyệt lẫn vòng ngoài, ngày 12 tháng 5 địch vội vã mở cuộc hành quân ''Dân quyền 38'' tung 8 tiểu đoàn bộ binh và chiến đoàn 3 thiết giáp ra hướng tây bắc Kon Tum. Trong đó tiểu đoàn 23 biệt động quân được đổ xuống Plei Phi Pháp, tiểu đoàn 22 xuống Ngọc Rinh Rua, tiểu đoàn 4 (trung đoàn 42) xuống điểm cao 1338. Mặc dù quân ngụy vào khu quyết chiến từng tiểu đoàn, nhưng từ ngày 12 đến ngày 18 tháng 5 hai trung đoàn 28 và 66 chỉ đánh được những trận nhỏ tiêu diệt đại đội địch. Nguyên nhân ta chưa tiêu diệt được tiểu đoàn ngụy là do sự chỉ đạo chưa chuyển kịp từ đánh quân Mỹ ban đầu sang đánh quân ngụy. Các đơn vị đều lưỡng lự và cho rằng nếu tập trung lực lượng diệt ngụy thì khi quân Mỹ nhảy vào sẽ không còn đủ sức để đánh. Bên cạnh đó kinh nghiệm đánh quân ngụy của Trung đoàn 28 và Trung đoàn 66 còn có hạn. Về khách quan, đối tượng tác chiến là quân ngụy tuy có thua kém quân Mỹ về hỏa lực song thủ đoạn chiến đấu lại có nhiều mặt tinh ranh hơn quân Mỹ. Chúng thông thuộc địa hành, giỏi luồn lách, thường tìm cách né tránh ta, lợi dụng rừng le đào công sự, ''tự do di tản'' khi bị tiến công. Những ngày đầu chiến dịch bộ đội ta phải lùng sục rất vất vả, cứ nổ súng là địch bỏ chạy, rất khó bao vây diệt gọn. Vì vậy việc tìm ra hình thức chiến thuật mới để đánh bại thủ đoạn của quân ngụy, giành thắng lợi cho chiến dịch, xây dựng lòng tin cho bộ đội là một yêu cầu bức thiết của ta.

Quan tâm, nắm chắc mọi diễn biến của chiến địch và kịp thời rút kinh nghiệm, quyết tâm tìm ra cách đánh hiệu quả, Bộ tư lệnh Chiến trường quyết định chuyển sở  chỉ huy chiến dịch vào khu chiến Ngọc Dơ Lang để chỉ huy chặt chẽ hơn; đồng thời tập trung 2 trung đoàn 66, 28 tiêu diệt bằng được 2 tiểu đoàn biệt động quân, dùng 1 tiểu đoàn pháo cơ giới kiềm diệt tiểu đoàn  ở điểm cao 830 (tây Ngọc Dơ Lang). Nhiều cán bộ của Phòng Tham mưu B3 nhanh chóng tỏa xuống bám sát các đơn vị, cùng bộ đội rút kinh nghiệm tìm ra cách đánh thích hợp.

Trong những ngày cuối tháng 5, bộ đội kiên trì xuyên rừng lùng sục suốt ngày đêm. Chỉ huy tiểu đoàn đi cùng đội hình đơn vị, kịp thời chỉ huy bộ đội triển khai vây địch, tiến công liên tục Với cách đánh mới vận động bao vây tiến công liên tục, từ ngày 17 đến ngày 23 tháng 5 Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 66 đã đánh qụy tiểu đoàn 22 biệt động quân ở Ngọc Dơ Lang, loại khỏi vòng chiến đấu 210 tên địch, thu nhiều súng. Cùng thời gian này, tại Đắc Rơ Đê Hay, Tiểu đoàn 9 do tiểu đoàn trưởng Đinh Xuân La chỉ huy, đã liên tiếp vận động tập kích tiêu diệt hoàn toàn tiểu đoàn biệt kích ứng chiến số 2, loại khỏi vòng chiến đấu 327 tên và đánh tiêu hao tiểu đoàn biệt kích ứng chiến số 1 đến cứu viện. Đây là một trận đánh có hiệu suất chiến đấu cao trong chiến dịch Đắc Tô 2. Ngày 25, địch đổ bộ tiểu đoàn 11 biệt động quân xuống điểm cao 882 Ngọc Dơ Lang để thay cho tiểu đoàn 22. Nhưng chúng đã bị Đại đội 11 (Tiểu đoàn 3, Trưng đoàn 28) vây đánh liên tiếp, diệt 132 tên. Trước nguy cơ bị diệt gọn, ngày 29 tiểu đoàn 11 buộc phải rút chạy về hướng điểmcao 785 để hợp điểm với tiểu đoàn 1 (trung đoàn 42) ở điểm cao 702. Trên đường tháo chạy, bọn biệt động quân lại bị Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 66) và Đại đội 10 (Tiểu đoàn 3, trung đoàn 28) chặn đánh diệt hơn 1 đại đội. Trong 7 ngày tiểu đoàn 11 bị chết và bị thương 250 tên, cả ban chỉ huy tiểu đoàn bị xóa sổ. Cũng với cách đánh vận động bao vây tiến công liên tục, những ngày cuối tháng 5 hai tiểu đoàn 8 và 7 Trung đoàn 66 tiêu diệt hoàn toàn tiểu đoàn 23 biệt động quân ở điểm cao 843 và bắc điểm cao 785, loại khỏi vòng chiến đấu 419 tên, bắt 6 tên, thu 17 khẩu súng các loại. Nhưng trận đánh then chốt của Trung đoàn 66 và Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 28 trong những ngày cuối tháng 5 có ý nghĩa quyết định, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển thắng lợi.




-----------------------------------------------------------------
1. Báo cáo ''Diễn biến khu chiến tây bắc Kon Tum (từ ngày 5.5- 25.6.1969)'' của Phòng Tham mưu B3, tr. 2.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Tư, 2021, 10:56:52 am
*

Ngày 1 tháng 6, địch rút chạy khỏi Ngọc Dơ Lang. Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định kết thúc đợt hai, khẩn trương điều chỉnh lực lượng, bổ sung đạn dược để chuyển sang đợt ba: tiếp tục vây hãm Plei Kần, kéo quân ngụy ra để diệt, buộc quân Mỹ phải tham chiến để ta đánh, làm thất bại âm mưu ''phi Mỹ hóa'' ở Tây Nguyên. Thực hiện kế hoạch, ngày 4 tháng 6 các lực lượng chiến dịch đã hoàn thành triển khai trên các hướng. Trung đoàn  28 tiếp tục dùng Tiểu đoàn 2, 1 khẩu cối 120mm, 4 khẩu 12,7mm, 8 khẩu ĐKZ vây hãm cứ điểm Plei Kần, lực lượng còn lại triển khai đánh địch ở phía nam đường 18. Trung đoàn 66 đứng chân ở Ngọc Rinh Rua, điểm cao 724. Trung đoàn 40 pháo binh vừa chi viện hỏa lực chung, vừa khống chế địch ở các cứ điểm Đắc Tô, Tân Cảnh. Tiểu đoàn 5 (Trung đoàn  24) và Tiểu đoàn 304 Kon Tum đánh địch dọc đường 14 đoạn Đắc Tô - Kon Hơ Rinh. Trong những ngày tập trung mọi nỗ lực chạy đua với thời gian, chuẩn bị cho đợt ba chiến dịch, bộ đội rất phấn khởi được Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt Thường trực Quân ủy Trung ương  điện ''Nhiệt liệt khen ngợi cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang'' vừa giành được ''thắng lợi quan trọng, đánh bại một bước âm mưu phi Mỹ hóa'' ở Tây Nguyên; đồng thời chỉ rõ: ''Cần tiếp tục tiến công địch, mạnh bạo nắm thời cơ giành thắng lợi lớn nhất''. Cũng trong dịp này, Thường  vụ Khu ủy Khu 5 và Thường vụ Quân khu ủy Quân khu 5  gửi điện nhiệt liệt hoan nghênh chúc mừng thắng lợi ''có ý nghĩa chính trị quan trọng'' của B3 và động viên cán bộ, chiến sĩ tranh thủ thời cơ thuận lợi, khuếch trương chiến quả, phát huy cao độ mọi nỗ lực, kiên trì phương châm  ''lấy ít thắng nhiều, đánh dẻo dai bền bỉ'' giành những thắng lợi mới lớn hơn.

Mở đầu đợt ba chiến dịch, từ ngày 3 đến ngày 5 tháng 6, ta liên tục pháo kích vào cứ điểm Plei Kần, Ngọc Rinh Rua phá hủy 2 pháo 105mm, 4 xe, diệt một số sinh lực địch. Để cứu nguy cho đồng bọn ở Plei Kần và ngăn chặn ta phát triển chiến dịch, từ ngày 3 đến ngày  7 tháng 6 biệt khu 24, trung đoàn 47 ngụy gắng gượng mở cuộc hành quân ''Dân quyền 40'', tung 5 tiểu đoàn bộ binh, một số đơn vị thiết giáp có pháo binh, không quân yểm trợ ra vùng tây – tây nam Ngọc Rinh Rua và tiến theo đường 18 lên giải tỏa cho Plei Kần. Cánh quân địch đỗ xuống Ngọc Rinh Rua bị Trung đoàn 66 bao vây tiến công liên tiếp ở điểm cao 782, Ngọc Rinh Rua, bị tiêu hao từng đại đội. Cùng lúc, cánh quân tiến theo đường 18 bị Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 28 chặn đánh diệt 1 đại đội. Đường 18 vẫn bị cắt đứt, Plei Kần bị vây chặt khiến cho bọn lính ở trong cứ điểm lâm vào tình trạng khốn quẫn, thiếu đạn dược, lương thực, thuốc men, nước uống buộc địch phải dùng máy bay C130 thả dù tiếp tế Mục đích tìm diệt chủ lực đối phương không thực hiện được, lai bị thiệt hại nặng, ngày 7 tháng 6 chỉ huy biệt khu 24, trung đoàn 42, trung đoàn 47 nhóm họp quyết định kết thúc cuộc hành quân ''Dân quyền 40'' và chuyển sang cuộc hành quân ''Dân quyền 41'' nhằm mở thông đường 18, giải tỏa Plei Kần.

Trước âm mưu mới của địch, Bộ tư lệnh chiến dịch chủ trương tiếp tục vây hãm Plei Kần, đồng thời tập trung lực lượng tiêu diệt địch trên hướng đường 18 - Đắc Mót. Trong những ngày chiến đấu quyết liệt này, một tin vui lớn đã đến với quân dân Tây Nguyên và cả nước: Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam Việt Nam họp từ ngày 6 đến ngày 8 tháng 6 năm 1969 đã tuyên bố thành lập chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát làm chủ tịch và Hội đồng Cố vấn Chính phủ do luật sư Nguyễn Hữu Thọ đứng đầu. Ngay trong tháng 6 đã có 23 nước công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Tại Tây Nguyên, ủy ban nhân dân giải phóng các cấp được thành lập khắp ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc. Lá cờ nửa đỏ nửa xanh ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh của Mặt trận tung bay khắp các buôn làng, các đơn vị lực lượng vũ trang, giục giã quân và dân hăng hái thi đua ''Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào'' thực hiện lời dạy của Bác Hồ. Để chào mừng sự kiện lịch sử trọng đại này, Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên tổ chức mít tinh trọng thể, gửi điện lên Chính phủ cách mạng lâm thời khẳng định quyết tâm của quân và dân Tây Nguyên cùng toàn miền Nam kiên quyết đánh bại hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai; đồng thời ra lệnh cho các lực lượng vũ trang đẩy mạnh tiến công địch hơn nữa, thực hiện thắng lợi đợt ba chiến dịch Đắc Tô 2.

Trong thế trận đã chuẩn bị sẵn, từ ngày 6 đến ngày 13 tháng 6 Trung đoàn 28 đánh bại hàng chục đợt phản kích giải tỏa của nhiều đại đội địch, cắt đứt đường 18, khống chế chặt cứ điểm Plei Kần. Đặc biệt, trong một đợt chiến đấu không cân sức ngày 10 tháng 6, chiến sĩ Nguyễn Đình Lỡ thuộc Đại đội 10 Tiểu đoàn 3 cùng đồng đội xông thẳng ra mặt đường 18 giáp chiến với xe tăng, bộ binh địch đông gấp hàng chục lần. Khi đã bắn đến viên đạn cuối cùng thì một chiếc xe tăng địch chồm tới bắn xối xả về phía đồng đội. Không chút do dự, Nguyễn Đình Lỡ ôm quả mìn định hướng lao lên, dùng ngực áp chặt khối thuốc nổ vào thành xe rồi điểm hỏa và anh dũng hy sinh. Khiếp sợ trước hành động dũng cảm tuyệt vời của người chiến sĩ quân giải phóng, bọn địch còn lại hốt hỏang bỏ xe chạy dạt sang hai bên đường làm bia sống cho các cỡ súng của ta. Học tập noi theo tấm gương anh hùng của Nguyễn Đình Lỡ, nhiều chiến sĩ lần đầu ra trận cũng trỏ thành dũng sĩ. Riêng đại đội 10 đã có 50% quân số trở thành dũng sĩ diệt xe cơ giới trong chiến dịch Đắc Tô 2.

Tập trung lực lượng giải tỏa song không mấy kết quả ngày 13 tháng 6 địch đổ bộ tiểu đoàn 3 (trung đoàn 47) xuống Ngọc Bờ Biêng và tiểu đoàn 2 cùng 1 đại đội khác xuống tây Ngọc Non định bất ngờ đánh vào phía sau đội hình chiến dịch của ta. Cùng lúc, chúng đưa tiểu đoàn 2 (trung đoàn 42) lên chốt giữ Đắc Mót Lốp. Nắm chắc mọi diễn biến, Bộ tư lệnh chiến dịch lệnh cho Trung đoàn 28 tiếp tục đánh địch trên đường 18, vây hãm Plei Kần; Trung đoàn  66 vây diệt địch ở Ngọc Rinh Rua, tập trung pháo binh bắn phá vào Plei Kần, Ngọc Rinh Rua, Đắc Tô, Tân Cảnh. Từ ngày 13 đến 18 tháng 6, ta liên tục tiến công địch gây cho chúng nhiều thiệt hại. Riêng Trung đoàn 28 đánh thiệt hại nặng 2 chiến đoàn thiết giáp và tiểu đoàn 1 (trung đoàn 42) diệt 206 tên, bắt 9 tên, phá hủy 34 xe quân sự (có 25 xe tăng) và chặn đánh thiệt hại nặng 1 đại đội địch, phá 1 khẩu pháo 175mm từ Plei Kần nống ra.

Ngày 21 tháng 6 cuộc hành quân ''Dân quyền 41'' bị thất bại, địch mở tiếp cuộc hành quân ''Dân quyền 42'' với lực lượng 7 tiểu đoàn bộ binh có xe tăng, pháo binh, không quân hỗ trợ. Cánh quân phía nam gồm 2 tiểu đoàn  (2, 4) của trung đoàn 42 đỗ xuống Ngọc Long Rua định đánh vào phía sau đội hình ta ở nam đường 18 đã bị Tiểu đoàn 9 (Trung đoàn 66) chặn đánh diệt 95 tên. Cùng lúc, mũi chính gồm hàng trăm tên có xe tăng đi cùng, máy bay pháo binh chi viện từ Đắc Mót tiến theo đường 18 cũng bị Trung đoàn 28 chặn đánh quyết liệt ở Đắc Rơ Leng diệt 202 tên và 31 xe (có 25 xe tăng). Nhưng địch đã lọt được 25 xe tăng và 10 xe vận tải chở quân vào Plei Kần. Trung đoàn 66 do dự, bỏ lỡ thời cơ diệt địch. Thấy khả năng chiến đấu của các đơn vị giảm sút do hoạt động liên tục dài ngày và mục đích chiến địch đã đạt được, ngày 27 tháng 6 Bộ tư lệnh Chiến trường chủ động kết thúc chiến dịch Đắc Tô 2.

Sau 45 ngày đêm chiến đấu, quân và dân Tây Nguyên đã đánh 659 trận lớn nhỏ diệt và đánh thiệt hại nặng 15 tiểu đoàn Mỹ, ngụy, tiêu hao 10 đại đội và chỉ huy cụm biệt kích 5, căn cứ 42 Tân Cảnh, Tân Lạc, La Sơn... loại khỏi vòng chiến  đấu 12.997 tên địch (có 5.014 tên Mỹ), bắt 168 tên; phá hủy 1151 xe quân sự (có 406 xe tăng, xe bọc thép), 74 pháo cối lớn 317 nhà, 392 lô cốt hầm ngầm, 6 dàn ra đa, 101 kho các loại, bắn rơi và phá hủy 266 máy bay, phá sập 11 cầu cống và 1409 ống dẫn dầu. Riêng hướng chính chiến dịch (tây bắc Kon Tum) ta đánh 318 trận, giết và làm bị thương 6.150 tên (có 607 tên Mỹ), phá hủy 260 xe quân sự (có 165 xe tăng, xe bọc thép), 46 pháo lớn, 26 kho tàng, bắn rơi và phá hủy 128 máy bay, thu 294 súng các loại.

Chiến dịch Đắc Tô 2 ''đã thu được thắng lợi to lớn toàn diện, vượt hẳn các chiến dịch trước đây về số lượng cũng như chất lượng... đã hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ và những yêu cầu cơ bản của trên giao''. Chiến thắng Đắc Tô 2 đã giáng đòn phủ đầu vào chiến lược ''Việt Nam hóa chiến tranh'' của địch ở Tây Nguyên, làm thất bại một bước biện pháp chiến lược ''quét và giữ'', buộc chúng phải co về thế phòng ngự bị động. Điểm nổi bật của chiến dịch là nghệ thuật chọn hướng và khu vực tác chiến chủ yếu chính xác, tạo được thế và thời cơ đưa địch vào khu quyết chiến mà ta đã tập trung lực lượng, chuẩn bị sẵn để đánh trận then chốt tiêu diệt lực lượng chủ yếu của địch, giành thắng lợi quyết định. Về mặt chiến thuật, ta đã sử dụng thành công cách đánh mới: vận động bao vây tiến công liên tục, đánh bại chiến thuật đóng chốt trên điểm cao và thủ đoạn di tản, co cụm của quân ngụy. Đây cũng là chiến dịch ta thực hiện tốt phương châm ''lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều'', đạt hiệu suất chiến đấu cao; mở ra khả năng tổ chức những chiến dịch lớn hơn, có thể đánh qụy và tiêu diệt từng trung đoàn, đánh thiệt hại sư đoàn địch trên Chiến trường Tây Nguyên.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Tư, 2021, 11:01:08 am
3. Vượt qua thử thách, trụ bám chiến trường, liên tục tiến công giành chiến thắng.

Do địch đánh phá rất ác liệt ngăn chặn tiếp tế từ hậu phương lớn miền Bắc vào chiến trường miền Nam, nên từ đầu năm 1969 Chiến trường Tây Nguyên đã xuất hiện những khó khăn ngày càng lớn về bảo đảm lương thực, đạn dược, thuốc men, quân trang. Cho đến mùa hè, tình hình lương thực trở nên đáng lo ngại và trở thành mối quan tâm hàng đầu của Đảng ủy, Bộ tư lệnh và mọi cán bộ, chiến sĩ mặt trận. Số gạo còn lại của năm 1968 chuyển sang năm 1969 chưa đầy 63 tấn rưỡi. Lượng gạo dự trữ toàn B3 có lúc chỉ còn 40 tấn, lại phân tán xé lẻ ở nhiều nơi, góp lại cũng chỉ đủ nuôi quân một tuần: Trong khi đó chi viện từ miền Bắc vào bị tắc, lương thu mua từ các nguồn đều giảm sút do địch ngăn chặn phong tỏa. Mỗi chiến sĩ đi chiến đấu chỉ ăn có 4 lạng đến 4,5 lạng lương thực (kể cả sắn) một ngày, người ở phía sau chỉ ăn có 1,5 lạng. Thực phẩm cũng rất thiếu thốn, chỉ nhận được bằng 1/8 so với năm trước. Quân trang bình quân cứ 2 người chiến đấu và 8 người phục vụ mới có 1 bộ. Do không đủ lương thực, nên ngay khi tiếng súng ở vùng rừng núi Đắc Tô vừa lắng xuống, khối chủ lực Tây Nguyên không trở về hậu cứ tổng kết, ''khao quân” như mọi lần mà lật cánh về phía nam. Khi đến khu vực Cầu Lầy (Gia Lai) toàn bộ đội hình phải dừng lại để lấy sắn ăn thay cơm. Ngoài số bánh sắn mang theo, trên ba lô các chiến sĩ còn có thêm những bó lá sắn làm thức ăn dự trữ dọc đường. Trong đợt hành quân này, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 66 khiêng theo nhiều cuộn dây thép gai thu được của địch từ Kon Tum vào Phước Long để làm thao trường đánh công sự vững chắc. Hành quân ròng rã hơn một tháng trời với bao gian nan vất vả, nhưng không một ai tụt lại phía sau, tất cả bộ đội đều tới đích kịp thời gian chuẩn bị chiến dịch. Đến vị trí mới, cán bộ, chiến sĩ đặt ba lô là bắt tay ngay vào mở 200km đường, vận chuyển đạn gạo dưới trời mưa tuôn xối xả và bom đạn địch đánh phá suốt ngày đêm. Nhiều chiến sĩ đã hy sinh trong những ngày vô cùng gian khổ này, nhưng bộ đội không hề nao núng, giữ vững quyết tâm chiến đấu.

Địch củng hiểu rõ những khó khăn của ta, chúng càng rắp tâm đẩy mạnh cuộc ''chiến tranh bóp nghẹt''. Từ giữa năm 1968 và cả năm 1969, địch mở hàng trăm cuộc càn quét xúc tát gom dân, phá hoại sản xuất triệt nguồn sinh sống, thực hiện ''bình định cấp tốc'' vô cùng khốc liệt ở khắp Tây Nguyên1. Song song với âm mưu tách bộ đội ra khỏi dân, địch liên tục dùng máy bay, biệt kích đánh phá rất ác liệt dọc tuyến hành lang vận chuyển của ta ở phía tây. Chỉ tính riêng trong 3 tháng đầu năm 1969, chúng sử dụng 510 lần chiến máy bay và tung 52 toán biệt kích đánh phá tập trung vào các kho tàng của Binh trạm 4, Binh trạm Trung và Binh trạm Nam. Có trận chúng huy động một lực lượng lớn tập kích vào Viện quân y 211 nơi có gần 1.000 thương bệnh binh đang điều trị, cướp đi 7 tấn gạo, 380kg đường, đốt cháy nhiều nhà. Tàn bạo hơn, địch dùng cả chất độc CS phá hoại hầu hết các nương rẫy hòng gây ra cảnh đói khổ buộc quân và dân Tây Nguyên suy yếu mất sức chiến đấu và ''tàn lụi dần''.

Trong những ngày sóng gió, thử thách nghiêm trọng tưởng chừng như không thể vượt qua nổi, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Khu ủy, Quân khu ủy Quân khu 5 thấu hiểu những khó khăn của B3, thường xuyên gửi điện chỉ đạo, động viên, giúp đỡ Chiến trường Tây Nguyên tìm cách tháo gỡ khó khăn, quyết tâm vượt qua bước hiểm nghèo. Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Chiến trường tập trung mọi trí tuệ, làm việc cả ngày đêm họp bàn với lãnh đạo chỉ huy các đơn vị, cơ quan và địa phương tìm mọi biện pháp khắc phục khó khăn; đồng thời động viên kêu gọi toàn thể Đảng viên, đoàn viên, cán bộ, chiến sĩ toàn mặt trận đoàn kết thành một khối vững chắc ''vạn người như một'' phát huy cao độ tinh thần cách mạng tiến công, truyền thống cần kiệm, tự lực khắc phục khó khăn, chịu đựng gian khổ quyết tâm đứng vững trên địa bàn chiến lược Tây Nguyên tiếp tục chiến đấu cho đến thắng lợi cuối cùng. Thực hiện chỉ thị của Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lênh2 và Khu ủy, Quân khu ủy Quân khu 5, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Chiến trường tập trung chỉ đạo, tổ chức sản xuất tăng gia tự túc, kiên quyết giành 10% quân số để sản xuất chuyên nghiệp, giao cho các binh trạm bảo đảm cung cấp giống ngô, lúa... cho các đơn vị trong khu vực Để giảm bớt một  phần khó khăn trước mắt về lương thực, mùa hè năm 1969 Chiến trường Tây Nguyên đưa hầu hết thương bệnh binh nặng, Trường Quân chính, Trường văn hóa dân tộc và Trường Quân y với tổng quân số khỏang 5.000 người ra miền Bắc tiếp tục điều trị, học tập; đồng thời giải thể 5 tiểu đoàn pháo xe kéo, 2 bệnh viện cánh Bắc và Nam, giảm nhẹ khối cơ quan, phục vụ xuống tối đa. Khối chủ lực Tây Nguyên được kiện toàn lại, gồm 4 trung đoàn bộ binh (66, 28, 24, 95), 3 tiểu đoàn độc lập (631, 394, 5), 2 tiểu đoàn đặc công (20, 37), 1 trung đoàn pháo binh (40), Viện Quân y 211 và 3 cơ quan mặt trận.

Thực hiện phong trào thi đua ''Đẩy mạnh tăng gia sản xuất tự túc thực hành tiết kiệm'' do Bộ tư lệnh Chiến trường phát động, với khẩu hiệu hành động: ''Sản xuất như đánh giặc” các đơn vị, cơ quan vừa chiến đấu, công tác vừa giành từ 10% đến 15% quân số cho nhiệm vụ sản xuất. Bên cạnh những cây lượng thực chủ yếu như sắn, lúa, ngô bộ đội còn tích cực trồng nhiều khoai lang, bầu, bí, lạc, đậu, vừng; chăn nuôi trâu bò, lợn, gà; đánh bắt cá, săn bẫy thú rừng, thu lượm rau măng, mật ong, hái nấm, đào củ. Với bàn tay lao động cần cù, sáng tạo và thấm sâu ý nghĩa của lao động sản xuất bộ đội Tây Nguyên đã biến rừng hoang thành nương rẫy, bốn mùa xanh tốt lúa ngô, rau xanh nuôi quân đánh giặc Những nương rẫy từ phía tây ngày một lan rộng về phía đông sông Sa Thầy tạo thế uy hiếp địch. Vừa tranh thủ  ngày đêm sản xuất, các chiến sĩ vừa tích cực bảo vệ thành quả lao động: bắn máy bay, diệt biệt kích, chống thú rừng, sâu bệnh bảo vệ hoa màu, gia súc gia cầm, kho tàng. Nhiều tấm gương hy sinh quên mình bảo vệ sản xuất, kho tàng xuất hiện. Chiến sĩ Lê Văn Hiền không may sa vào tay giặc, bị tra tấn dã man, mổ bụng moi gan, vẫn không để lộ khu vực kho của đơn vị. Nữ du kích Y Huân dân tộc Ba Na bị địch đốt cả chân tay, vẫn nghiến răng không khai báo nơi để đạn gạo của bộ đội...

Nhằm khắc phục tình hình thiếu thuốc men tại chiến trường, với tinh thần tự lực, sáng tạo ngành quân y Tây Nguyên dã dựa vào dân, tiếp thu kinh nghiệm cổ truyền của đồng bào dịa phương tìm ra nhiều cây thuốc hay, nhiều bài thuốc quý, đưa phong trào sử dụng đồng y phát triển rộng khắp mặt trận, từ các đơn vị chủ lực đến địa phương. Xưởng X38 chế được cồn 900, sản xuất viên bổ Damin từ giun đất. Bộ phận sản xuất thủy tinh của Viện Quân y 211 do đồng chí Trần Bá Song phụ trách kỹ thuật, sản xuất được nhiều vỏ ống tiêm và dụng cụ y tế dùng cho xét nghiệm, cất giữ thuốc men. Các bệnh viện ở tuyến sau đã sản xuất tự túc được 10% thuốc chống sốt rét và kháng sinh, 30% thuốc an thần, 50% thuốc lỏng lỵ, 80% thuốc chống ghẻ lở và 100% cồn y học. Các bệnh xá tỉnh đội cũng sản xuất được nhiều loại thuốc, cao động vật, thực vật, nước giải khát từ quả dâu da, chôm chôm rừng. Riêng bệnh xá tỉnh dội Kon Tum, 6 tháng đầu năm sản xuất được hàng vạn viên bổ đẳng sâm từ cây thuốc quý sẵn có ở địa phương.

Kịp thời giới thiệu kỹ tthuật canh tác và phổ biến những kinh nghiệm lao động sản xuất, động viên bộ đội trên mặt trận quan trọng có ý nghĩa chiến lược này, Báo Quân giải phóng Tây Nguyên mở thêm chuyên mục về sản xuất. Phòng Hậu cần B3 dày công sưu tầm, biên soạn, xuất bản tập 1 'Sổ tay rau rừng'' giới thiệu 61 loại rau rừng ăn được, trong đó có hơn 50 loại có vẽ hình để bộ đội nhận dạng. Đội văn nghệ xung kích B3 và các đội tuyên truyền văn hóa của các trung đoàn 66, 28, 40, Phòng Hậu cần, Viện Quân y 211, ba binh trạm bám sát cơ sở động viên cổ vũ cho nhiệm vụ sản xuất, chiến đấu, sáng tác nhiều tiết mục mới. Bài hát ''Cây sắn then công'' đã âm vang núi rừng Tây Nguyên trong những ngày này. Để phục vụ sản xuất, bên cạnh nhiệm vụ làm vũ khí, sửa chữa súng đạn, các xưởng quân giới và tổ rèn dẩy mạnh việc sản xuất nông cụ, bàn thái săn, lò sấy măng, công cụ làm bánh kẹo từ sắt thép phế liệu. Tiêu biểu trong phong trào lấy thuốc nổ, sắt thép của địch để sản xuất nông cụ, làm vũ khí là chiến sĩ công binh Đào Công Quỹ, nhiều năm dũng cảm cưa bom lấy được hàng tấn thuốc nổ và nhiều gang, thép.

Sau một năm kiên trì, bền bỉ phấn đấu gian khổ, toàn Chiến trường đã thu được 535 tấn thóc, 136 tấn ngô hạt, 11 tấn đậu lạc vừng, 18 tấn thịt, 937 tấn rau xanh và để , lại cho năm sau 13 triệu gốc sắn, 2.400 con lợn. Ngoài ra bộ đội còn khai thác được 74 tấn thịt thú rừng, 14 tấn măng khô và hàng trăm tấn rau tự nhiên các loại. Tổng khối lượng vật chất thu được từ lao động sản xuất tự túc của toàn mặt trận trong năm 1969 đạt 1.054,8 tấn, chiếm 13% tổng khối lượng vật chất của Chiến trường (7.690 tấn). Cùng với lượng vật chất tiếp nhận của trên, thu mua qua các nguồn (5.762 tấn), địa phương cung cấp (491 tấn), thành quả lao động của bộ đội vừa kịp thời giải quyết những khó khăn trước mắt vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài, không những bảo đảm cho trên 20 nghìn bộ đội chủ lực, hơn 10 nghìn bộ đội địa phương... mà còn cung cấp gần 500 tấn vật chất cho 61.500 lượt bộ đội, cán bộ qua lại hành lang phía tây Tây Nguyên.




-------------------------------------------------------------------
1. Hai tháng 1, 2 năm 1969, địch mở 147 cuộc càn quét với binh lực từ 1 đại đội đến 1 tiểu đoàn; trọng tâm là vùng Đắc Đoa (k3), Lệ Ngọc (k5) Gia Lai; vùng Kla (H6), Buôn Hồ (H4), Phước An (H8), Quảng Nhiêu (H5) Đắc Lắc. Mỗi cuộc càn chúng đều ập đến bất ngờ bắt hết dân đi cướp phá mọi của cải, chà nát hoa màu, ra sức tuyên truyền chia rẽ đồng bào các dân tộc với cách mạng.
2. Ngày 25.5.1969 Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh chỉ thị: Lực lượng vũ trang Tây Nguyên ''phải làm cả ba nhiệm vụ: chiến đấu và chủ yếu), tăng gia sản xuất và làm công tác cơ sở''.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Tư, 2021, 11:05:03 am
*

Sau một thời gian củng cố và tổ chức chỉnh huấn chính trị làm cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức sâu sắc vị trí chiến lược của Chiến trường Tây Nguyên, phát huy truyền thống kiên cường bất khuất, ra sức khắc phục khó khăn gian khổ, tự lực tự cường, quyết đánh và quyết thắng giặc Mỹ xâm lược. Từ ngày 11 tháng 8 đến ngày 11 tháng 9 năm 1969 quân và dân Tây Nguyên bước và đợt tiến công mùa thu nhằm tiêu hao tiêu diệt địch rộng khắp, tạo điều kiện chuẩn bị cho chiến tích Bu Prăng - Đức Lập. Lực lượng tham gia đợt hoạt động này gồm 5 tiểu đoàn chủ lực (5, 631, 394, 2/95, 5/24) và ba tỉnh đội Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc.

Mở đầu đợt hoạt động, ta đồng loạt tiến công hàng chục vị trí địch ở khắp Tây Nguyên. Tại Đắc Lắc, ta đánh vào 30 mục tiêu ở thị xã Buôn Ma Thuột, Cheo Reo... nổi bật là các trận: pháo kích của Tiểu đoàn 394 vào sở chỉ huy sư đoàn 23 ngụy, tập kích của Tiểu đoàn 401 vào sở chỉ huy trung đoàn 45, tập kích của Tiểu đoàn 301 diệt đại đội bảo an ở dinh điền Tư Cung. Ở Gia Lai, ta diệt căn cứ Mỹ ở Cơ Ty Prông và tập kích nhiều vị trí địch ở khu vực Plei ku. Hướng Kon Tum ta đánh nhiều trận nhỏ. Trong một tháng tiến công, các lực lượng vũ trang Tây Nguyên đã loại khỏi vòng chiến đấu gần 2.000 tên địch, phá hủy hàng chục xe quân sự, bắn rơi hơn 10 máy bay buộc địch phải co lại giữ căn cứ, đô thị tạo điều kiện cho ta chuẩn bị chiến dịch ở phía tây Đắc Lắc và tăng gia sản xuất. Với thành tích lập được trong đợt hoạt động mùa thu, ngày 28 tháng 8 các lực lượng vũ trang Tây Nguyên đã được Bộ Tổng tư lệnh gửi điện khen ngợi.

Đầu tháng 9 năm 1969, giữa lúc Đại hội liên hoan Anh hùng, Chiến sĩ thi dua và Dũng sĩ của các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng Tây Nguyên lần thứ ba chuẩn bị khai mạc và bộ đội đang hối hả chuẩn bị cho chiến dịch mới thì một tin đau đớn đã đến: Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh tụ vĩ đại của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam, người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân, người chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản và phong trào giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới từ trần1. Bác đã để lại bản Di chúc lịch sử. Đáp lời kêu gọi của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, với tình cảm tiếc thương biết ơn vô hạn, ngày 6 tháng 9 Đảng ủy và Bộ tu lệnh Chiến trường Tây Nguyên tổ chức trọng thể lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau khi Thiếu tướng Hoàng Minh Thảo dọc tóm tắt tiểu sử ôn lại công ơn trời biển của Người Và điếu văn viếng Bác; thay mặt toàn thể cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên, Đảng ủy Chiến trường gửi điện lên Ban Chấp hành Trung ương Đảng bày tỏ lòng xúc động tiếc thương vô hạn và ân hận vì chưa hoàn thành triệt để nhiệm vụ quét sạch quân thù để đón Bác vào thăm Tây Nguyên thực hiện ước mơ thiêng liêng suốt bao năm của quân và dân trên chiến trường. Đồng thời biểu thị lòng tin tưởng, đoàn kết chặt chẽ xung quanh Ban Chấp hành Trung ương, ra sức học tập tư tưởng, đạo đức tác phong của Bác, chấp hành nghiêm mọi chỉ thị mệnh lệnh của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, kiên quyết khắc phục khó khăn, đạp bằng mọi trở ngại “Đoàn kết, chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi'' hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, cùng cả nước đưa lá cờ bách chiến bách thắng của Người đến đích cuối cùng.

 Sau tuần để tang Bác, Đại hội liên hoan Anh hùng, Chiến sĩ thi đua và Dũng sĩ lần thứ ba được tiến hành. Trong lễ khai mạc, toàn thể Đại hội kính cẩn mặc niệm trước chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đại hội làm việc trong 6 ngày. Sau bản báo cáo của đồng Chí Tư lệnh Chiến trường, có 29 bản báo cáo điển hình của tập thể và cá nhân được trình bày. Tiêu biểu cho phong trào thi đua có 5 đơn vị lập thành tích xuất sắc được tặng cờ danh dự, 15 đơn vị dược tuyên dương là ngọn cờ đầu trên các lĩnh vực  công tác, hàng chục đơn vị và cá nhân được tặng Huân chương Quân công và Huân chương Chiến công các hạng. Đại hội đã thông qua điện gửi lên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam và Bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng miền Nam, Khu ủy, Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 5, Quân khu Tây Bắc, Quân khu Việt Bắc kết nghĩa hứa lập thành tích xuất sắc đóng góp tích cực nhất cùng quân dân cả nước đánh cho Mỹ cút, ngụy nhào thực hiện kỳ được Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ. Đại hội cũng gửi thư kêu gọi toàn thể cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng Tây Nguyên thi đua giết giặc lập công, giành thắng lợi to lớn, toàn diện trong Đông xuân 1969-1970.

Tháng 9 năm 1969, sau khi trực tiếp nghe các đồng chí Giáp Văn Cương, Đoàn Khuê và Trần Thế Môn báo cáo tình hình, chủ trương và dự kiến sơ bộ phương hướng hoạt động mùa khô 1969-1970 của Chiến trường Khu 5 và Tây Nguyên, Thường trực Quân ủy Trung ương kết luận: “Chiến trường Tây Nguyên vẫn giữ một vị trí chiến lược hết sức quan trọng. Trước mắt và sau này dù khó khăn về tiếp tế hậu cần, ta vẫn quyết tâm khắc phục bằng mọi biện pháp tích cực nhất để duy trì bộ đội ta ở đó với số lượng nhất định bám đánh địch làm chủ vững chắc địa bàn này'', và xác định:' ''Chiến trường Tây Nguyên có ba nhiệm vụ chính là: chiến đấu, sản xuất, xây dựng và bảo đảm hành lang vận chuyển tiếp tế cho Nam Bộ... Ba nhiệm vụ trên đều có ý nghĩa chiến lược''.

Thực hiện chủ trương, ý định của Thường trực Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh và Khu ủy, Quân khu ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 5, sau khi hoàn thành ''Chiến dịch đánh phá giao thông ba thứ quân'' và ''chiến dịch săn máy bay'', Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên mở chiến dịch Bu Prăng - Đức Lập nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, thu hút giam chân quân địch ở Tây Nguyên, giữ dân mở rộng vùng giải phóng, rèn luyện và  nâng cao trình độ tác chiến của ba thứ quân, phối hợp chiến trường toàn miền Nam. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm: hai trung đoàn bộ binh (66, 28), Trung đoàn pháo binh 40, hai tiểu đoàn đặc công (20, 37) tác chiến trên hướng chính; Tiểu đoàn bộ binh 394 và lực lượng tỉnh đội Đắc Lắc đánh phá các mục tiêu ở khu vực thị xã Buôn Ma Thuột; hai trung đoàn (95, 24) cùng lực lượng vũ trang Gia Lai, Kon Tum tiến công địch trên các hướng phối hợp.

Để phân tán nghi binh lừa địch, từ ngày 18 đến ngày 25 tháng 10 ta đồng loạt nổ súng tiến công. Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 24 và địa phương Kon Tum tiến công Tu Mơ Rông, Plei Kần - đường 18, Đắc Pét, Măng Bút, thị xã Kon Tum, pháo kích căn cứ 42 Tân Cảnh sân bay Đắc Tô. Trung đoàn 95 và tỉnh đội Gia Lai đánh giao thông đường 19, căn cứ Tân Lạc và nhiều mục tiêu khác trong thị xã Plei ku: Những trận đánh ở Kon Tum, Gia Lai diệt nhiều sinh lực địch, phá hủy nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh, làm rối loạn thế trận của địch, tạo điều kiện cho hướng chính của chiến dịch hoàn thành mọi công tác chuẩn bị, nổ ,súng đúng kế hoạch.

 Rạng sáng ngày 29 tháng 10 năm 1969, Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 66 thực hành vây ép đánh lấn cứ điểm Ka Te trên điểm cao 936, chính thức mở màn chiến dịch Bu Prăng - Đức Lập. Đây là một căn cứ hỗn hợp bộ - pháo có vị trí quan trọng hàng đầu trong tuyến phòng thủ liên  hoàn phía tây nam Đắc Lắc, dọc biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia kéo dài suốt từ Bu Prăng đến Đức Lập. Ka Te cách biên giới 4km, cách đồn Bu Prăng 9km (về phía đông nam), có hình bầu dục diện tích 6.000m2 được địch xây dựng từ ngày 21 tháng 9 năm 1969 nhằm đối phó với cuộc tiến công của ta vào tháng 11 (theo tin chúng nắm được). Sau 37 ngày, địch đã hoàn chỉnh hệ thống công sự trận địa, vật cản khá vững chắc, gồm 92 hầm, công sự chiến đấu, nhiều nhà tôn nửa nổi nửa chìm, bao quanh có hàng rào thép gai bùng nhùng và bãi mìn chống bộ binh. Riêng khu trung tâm chỉ huy, thông tin, trận địa pháo và sân bay trực thăng có 2 hàng rào bảo vệ. Khi ta tiến công, lực lượng địch ở Ka Te có 1 đại đội pháo binh Mỹ (5 khẩu 105, 155mm), 2 đại đội ngụy thuộc cụm biệt kích số 5 (B13) với quân số 300 tên. Ngoài ra còn có 1 đại đội biệt kích cơ động ứng chiến bảo vệ vòng ngoài. Do Ka Te có vị trí rất quan trọng, nên bị tiến công, địch đưa quân ứng cứu giải tỏa ngay.

Ngày đầu vây lấn Ka Te, hỏa lực của ta đã đánh trúng trận địa pháo, nhà kho, nhà lính, diệt nhiều hỏa điểm và sinh lực buộc quân địch phải chui xuống hầm hào. Đại đội cơ động vòng ngoài của chúng nống ra bị Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 66 chặn đánh diệt 25 tên phải tháo chạy vào căn cứ. Địch huy động 18 lần chiếc máy bay đến bắn phá xung quanh Ka Te, bị Đại đội phòng không 49 (Trung đoàn 40) đánh trả quyết liệt, bắn cháy 1 chiếc. Rút kinh nghiệm, ngày hôm sau (30.10) các trận địa vây lấn của ta áp sát cách mục tiêu từ 40m đến 100m.Với cách đánh vây ép sát này, Tiểu đoàn 8 đã bắn sập 19 lô cốt, ụ súng, phá hủy 1 khẩu đại bác, diệt 40 tên, bắn rơi 6 máy bay trực thăng. Sân bay bị khống chế, nguồn nước bị cắt triệt, địch trong cứ điểm lâm vào tình trạng khốn quẫn. Để cứu nguy cho Ka Te, bọn chỉ huy B13 địch đưa tiểu đoàn biệt kích ứng chiến số 1 đến giải tỏa, nhưng Tiểu đoàn 7 chặn đánh phải tháo chạy. Ngày 31 tháng 10 và ngày 1 tháng 1 các chiến hào vây lấn của ta tiến sâu vào trong hàng rào xiết chặt thêm vòng vây, hỏa lực các cỡ của ta bắn tỉa chính xác diệt nhiều mục tiêu. Cuối ngày vây lấn thứ 3 có 50% ụ súng, lô cốt, công sự chiến đấu bị phá hủy và hai phần ba quân địch ở Ka Te bị thương vong. Lợi dụng đêm tối, quân địch rút chạy ra hướng đông bắc nhưng các chiến sĩ Đại đội 49 kịp thời phát hiện, hạ nòng súng 12,7mm bắn quét trên mặt đất diệt 30 tên, số còn lại chạy ngược trở lại cứ điểm. Hai tiểu đoàn biệt kích ứng chiến (số 1 và 5) đi giải tỏa, khi đến đồn điền chè Bu Prăng bị Tiểu đoàn 7 chặn đánh phải tháo lui. Thời cơ tiêu diệt Ka Te đã đến. Lúc 4 giờ 30 phút ngày 2 tháng 11 Tiểu đoàn 8 đồng loạt xung phong đánh chiếm những mục tiêu còn lại và làm chủ cứ điểm này sau một giờ tiến công.

Cứ điểm Ka Te bị diệt, 190 tên địch bị loại khỏi  vòng chiến đấu, 8 tên bị bắt, 14 máy bay bị bắn rơi, 62 súng bị tịch thu (trong đó có 2 pháo 155mm, 6 pháo 105mm còn nguyên vẹn) và hàng nghìn viên đạn, đã làm rung chuyển tuyến phòng thủ Bu Prăng - Đức Lập. Bọn địch ở các vị trí Bu Lon, Du Viên Via... hốt hỏang tháo chạy. Đặc biệt, thành công của việc vận dụng chiến thuật vây ép tiến lên diệt điểm không những củng cố lòng tin cho cán bộ, chiến sĩ về cách đánh địch trong công sự vững chắc bằng các thủ đoạn ''vây, lấn, tấn, phá, triệt, diệt'' - một yêu cầu mới đặt ra cho Chiến trường Tây Nguyên trong quá trình phát triển cuộc chiến tranh giải phóng mà còn làm cho quân địch khiếp sợ. Chúng đã phải thú nhận: ''Chiến thuật bao vây áp sát của Cộng sản Bắc Việt triển khai và áp dụng lần đầu tiên vào năm 1969 tại Cao nguyên Trung phần đã làm cho quân lực Việt Nam cộng hòa và đồng minh căng thẳng về thần kinh, ứng chiến bị động, buộc phải rời bỏ căn cứ''.

Mất Ka Te, địch huy động một lực lượng lớn đối phó, vội vã đổ tiểu đoàn 22 biệt động quân xuống bắc Đắc Song, tung trung đoàn 53 vào trận, đưa một liên đoàn hỗn hợp thuộc sư đoàn bộ binh số 4 Mỹ đến Buôn Ma Thuột. Lực lượng phản kích của địch đã bị Trung đoàn 28 chặn đánh quyết liệt ở ngã ba Đắc Song, diệt gọn 3 đại đội, đánh thiệt hại nặng 1 đại đội và 1 chi đội thiết giáp, bắn rơi nhiều máy bay. Chỉ tính riêng Tiểu đoàn 3 đã diệt và bắt hơn 300 tên. Cùng thời gian này, Trung đoàn 66 đánh tiểu đoàn biệt kích địch ở tây Bu Prăng, điểm cao 882, sau đó phát triển sang điểm cao 883. Nổi bật là trận đánh của Đại đội 2 Tiểu đoàn 7 do đại đội trưởng Nguyễn Đình Kiếp chỉ huy, trong một ngày diệt 220 tên địch, chiếm 120 công sự buộc tiểu đoàn biệt kích số 5 phải tháo chạy. Lực lượng pháo binh ta pháo kích Đắc Sắc, Bu Prăng; Tiểu đoàn đặc công 20 đánh chiếm quận lỵ Đức Lập... các hướng phối hợp hoạt động mạnh.

Từ, ngày 11 tháng 11 đến ngày 15 tháng 12, địch huy động 8 tiểu đoàn của sư đoàn 23, 4 tiểu đoàn biệt kích, 6 đại đội lực lượng đặc biệt, 3 chi đoàn thiết giáp, 5 đại đội pháo, 3 đại đội trinh sát và 1 đại đội công binh Mỹ, tổ chức thành 3 chiến đoàn (53, 220 và hỗn hợp) liên tục phản kích giải tỏa. Trên hướng Bu Prăng, Trung đoàn 66 và các đơn vị binh chủng liên tục tiến công bao vây tập kích địch 5 ngày liền (13-17.11), diệt gần hết chiến đoàn 220. Tiếp đó, từ ngày 21 đến ngày 25 tháng 11, Trung đoàn 66, Tiểu đoàn 37 và Đại đội 60 đặc công đánh thiệt hại nặng chiến đoàn 53 buộc chúng phải co về phòng thủ phía nam Bu Prăng. Cùng lúc hỏa lực ta tập trung đánh vào sở chỉ huy chiến đoàn 53 và căn cứ Bu Prăng, gây cho địch nhiều thiệt hại. Trận đánh then chốt quyết định diệt chiến đoàn 53 đã tạo điều kiện để kết thúc chiến dịch. Ở hướng Đức Lập - Đắc Song, Trung đoàn 28 vây ép điểm cao 804 tiêu hao một số địch, nhưng vây không chặt, đánh giải tỏa chưa tốt bỏ lỡ thời cơ khi địch thay quân.

Trên các hướng phối hợp, ta đánh hàng chục trận. Nổi bật là các trận đánh cắt giao thông đường 14 ở phía bắc Plei ku của Trung đoàn 24, đánh giao thông đường 19 của Trung đoàn 95 và hoạt động của lực lượng địa phương Đắc Lắc, Quảng Đức. Đặc biệt ngày 6 tháng 12, ta bắn rơi chiếc trực thăng ở tây nam Tu Mơ Rông, diệt tên đại tá Nguyễn Bá liên, tư lệnh biệt khu 24, 1 đại tá cố vấn Mỹ và nhiều sĩ quan khác. Tranh thủ thời cơ quân địch bị thu hút, kìm chân, tiêu diệt ở Bu Prăng - Đức Lập, lực lượng vũ trang địa phương và nhiều nơi ở Đắc Lắc, Gia Lai đẩy mạnh tiến công phá âm mưu ''bình định cấp tốc'', giành quyền làm chủ ỏ hàng chục làng với hơn 7.000 dân.

Ngày 5 tháng 12 chiến dịch Bu Prăng - Đức Lập kết thúc thắng lợi, 9.202 tên địch (có 2.053 tên Mỹ) bị loại khỏi vòng chiến đấu, 82 tên bị bắt; 618 xe quân sự (có 250 xe tăng, xe bọc thép), 48 pháo cối lớn, 212 lô cốt, 65 kho tàng, 368 nhà lính, 9 cầu cống, 1.407 ống dẫn dầu bị phá hủy; 163 máy bay bị bắn rơi và phá hỏng, 355 khẩu súng và 31 vô tuyến điện bị tịch thu. Với chiến công xuất sắc này, các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng Tây Nguyên đã được Bộ Chỉ huy các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng miền Nam Việt Nam tặng Huân chương Quân công giải phóng hạng nhì, được Thường vụ Khu ủy Khu 5 điện khen ngợi. Chiến thắng Bu Prăng - Đức Lập đã kết thúc một năm đầy khó khăn thử thách nhưng cũng rực rỡ chiến công của quân và dân Tây Nguyên.




-----------------------------------------------------------------
1. Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần lúc 9 giờ 47 phút ngày 2.9.1969.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Tư, 2021, 11:07:46 am
*

Đầu năm 1970, Mỹ, ngụy tiếp tục đẩy mạnh ''quét và giữ'', đề ra kế hoạch ''Bình định phát triển'' đưa cuộc chiến tranh giành dân lên quy mô chưa từng có, với những thủ đoạn tàn khốc quyết liệt, ráo riết thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh'' khắp miền Nam. Ngày 18 tháng 3 năm 1970, Mỹ thủ mưu, tổ chức đảo chính lật đổ chính phủ hợp pháp, hợp hiến của Xăm-đéc Quốc trưởng Nô-rô-đôm Xi-ha-núc, trắng trợn cho quân Mỹ và quân ngụy Sài Gòn xâm lược Cam-pu-chia hòng xóa bỏ ''đất thánh'' của Việt cộng; đồng thời đẩy mạnh ''chiến tranh đặc biệt'' ở Lào. Là khu vực tiếp giáp giữa ba nước Đông Dương, có quan hệ hữu cơ với vùng Đông  Bắc Cam-pu-chia và vùng Hạ Lào, Tây Nguyên chịu ảnh hưởng và tác động trực tiếp của các sự kiện xảy ra ở hai nước bạn. Đồng thời  đây cũng là nơi địch tập trung một lực lượng lớn ráo riết đánh phá. Tuy bị thất bại nặng nề trong năm 19691, nhưng vào năm 1970, địch ở Tây Nguyên vẫn còn 65.757 tên (có 10.000 quân Mỹ), 242 xe tăng xe .bọc thép, 236 khẩu pháo cối lớn và 383 máy bay các loại. Ỷ vào quân đông, lắm xe, nhiều súng, lại được pháo binh không quân Mỹ chi viện mạnh, quân khu 2-quân đoàn 2 ngụy liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét đánh phá cơ sở, đường vận chuyển chiến lược, các kho tàng bến bãi, hậu cứ của ta, hòng đẩy chủ lực B3 ra vòng ngoài.

Về phía ta, bước sang năm 1970 tuy còn không ít khó khăn nhưng thế và lực của Chiến trường Tây Nguyên đã có bước phát triển mới. Thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ 18 Ban Chấp hành Trung ương Đảng:  ''kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến, tiếp tục phát triển chiến lược tiến công một cách toàn diện, liên tục và mạnh mẽ''; hạ tuần tháng 2 năm 1970 Đảng ủy, Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên quyết định mở chiến dịch Đắc Siêng, nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng địch, đẩy mạnh phong trào phá ấp giành dân, rèn luyện và nâng cao sức chiến dấu của lực lượng vũ trang ba thứ quân, tích cực phối hợp chiến trường toàn miền Nam. Hướng chủ yếu của chiến dịch là vùng Đắc Siêng, Đắc Tô - Tân Cảnh, Plei Kần do các trung đoàn 66, 28 (thiếu), 40 và hai tiểu đoàn đặc công (20, 37) đảm nhiệm. Các hướng phối hợp ở đông bắc Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc do các đơn vị chủ lực tại chỗ và lực lượng địa phương tiến hành. Để trực tiếp kịp thời chỉ huy lực lượng tác chiến trên hướng chủ yếu, đầu tháng 2 năm 1970 Bộ tư lệnh tiền phương chiến dịch Đắc Siêng được thành lập, gồm các đồng chí: Vương Tuấn Kiệt- Tư lệnh, Đặng Vũ Hiệp - Chính ủy, Nguyễn Đức Giá -tham mưu trưởng, Lã Ngọc Châu - chủ nhiệm chính trị, Phan Hoan - tham mưu phó, Đặng Văn Khóat - chủ nhiệm hậu cần, Lưu Quý Ngữ - chính ủy hậu cần. Ngay sau Tết Nguyên đán, Bộ tư lệnh tiền phương và cơ quan chiến dịch đã lên đường ra phía trước.

Để chiến dịch Đắc Siêng giành thắng lợi, ta đã có một thời gian khá dài để chuẩn bị và củng cố lực lượng. Ngay sau chiến dịch Bu Prăng - Đức Lập, khối chủ lực cơ động của Chiến trường lật cánh lên phía bắc Tây Nguyên, từng bước triển khai nhiệm vụ mới. Trong tháng 1 và 2 cán bộ từ cấp trung đội trở lên được tập huấn, bộ đội huấn luyện  25 ngày, tập trung vào hai hình thức chiến thuật: bao vây đánh lấn và tập kích theo kiểu đặc công, ôn luyện nâng cao kỹ thuật sử dụng binh khí, chú trọng bồi dưỡng xạ thủ. Việc phát triển ''lớp Đảng viên, đoàn viên năm 1970” được tổ chức đã ''tăng cường. thêm thành phần ưu tú mới vào Đảng, vào Đoàn'', ''tăng cường chất lượng và nâng cao sức chiến đấu của Đảng, phát huy vai trò xung kích của chi đoàn, động viên quần chúng tham gia xây dựng Đảng''. Đặc biệt, cán bộ, chiến sĩ toàn chiến trường vừa hoàn thành đợt học tập Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyết tâm chiến đấu rất cao. Không khí thi đua ''Thực hiện lời Bác, biến thành cao trào hành động cách mạng, đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào'', ''Dũng mãnh tiến công, đền ơn Đảng, Bác'' tràn ngập trong các đơn vị. Riêng công tác bảo đảm đạn, gạo cho chiến dịch được chuẩn bị từ rất sớm. Đầu tháng 1 năm 1970, hai tiểu đoàn vận tải bộ 5 và 7, hai đội điều trị 3 và 4 cùng một lực lượng của ba trung đoàn 66, 28, 40 đã bước vào vận chuyển cho chiến dịch. Lần này, việc vận chuyển được tổ chức theo phương pháp mới. Ở tuyến ngoài, ta tích lũy dần, nhịp độ bình thường không gây nên hiện tượng đột xuất. Còn ở tuyến trong, lực lượng gùi thồ không vào trước mà bám sát phía sau đội hình hành quân của bộ đội. Hướng Trung đoàn 28 do Tiểu đoàn vận tải 5 và Đội điều trị 3 bảo đảm, hướng Trung đoàn 66 do Tiểu đoàn vận tải 2 và Đội điều trị 4 phụ trách. Với cách tổ chức mới này, vừa giữ được bí mật, vừa bảo đảm kịp thời, đầy đủ cho các đơn vị bước vào chiến đấu Trước khi chiến tích mở màn, đã có 320 tấn gạo, 141 tấn đạn, 20 tấn thực phẩm và 5 tấn vật chất khác được vận chuyển đến vị trí quy định trên hướng chủ yếu và 332 tấn vật chất cho các hướng khác.

Chiến dịch tiến công Đắc Siêng được tiến hành theo cách vây điểm diệt viện. Mục tiêu ta chọn để vây ép là trại biệt kích Đắc Siêng. Đây là một cứ điểm nằm sâu trong vùng rừng núi huyện 40 tỉnh Kon Tum, cách thị trấn Tân Cảnh 30km về phía bắc, phía tây 10km là biên giới Việt - Lào, phía đông 3km là sông Pô Kô. Căn cử Đắc Siêng có diện tích khỏang 3.000m2, nằm gọn trong một thung lũng hẹp tương đối bằng phẳng, cạnh đường 14, xung quanh từ 500m trở ra có nhiều điểm cao, mỏm núi có giá trị chiến thuật như 668, 702, 768, 1043... đặc biệt hai điểm cao 923 và 925 của núi Éc có thể khống chế cứ điểm. Do nằm sâu trong vùng căn cứ của ta, lại bị đánh hai lần (năm 1968) nên địch xây dựng Đắc Siêng thành một căn cứ kiên cố với hệ thống lô cút hầm ngầm tháp canh tường hộp; vây quanh có 7 lớp do kẽm gai được cài màn dày đặc, giữa có hào rộng cắm chông. Các khu Mỹ, sở chỉ huy, trận địa cối đều có hàng rào phân  khu. Ở phía bắc có sân bay, máy bay C130 có thể lên xuống được. Chiếm giữ Đắc Siêng là 3 đại đội biệt kích (424 tên) do các cố vấn ''mũ nồi xanh'' Mỹ trực tiếp chỉ huy, huấn luyện và 1 trung đội thám báo, 1 trung đội chiến tranh tâm lý. Vũ khí trang bị có 2 khẩu đại bác 105mm, 3 cối 81mm, 2 cối 106,7mm, 2 ĐKZ 75 và nhiều vũ khí bộ binh. Mặc dù Đắc Siêng chỉ là một đồn nhỏ, cô lập giá trị về chiến thuật chiến dịch không lớn lắm, nhưng đây là nơi chứng minh cho sự ''đúng đắn'' của ''Việt Nam hóa chiến tranh'' và vai trò của quân ngụy ở Tây Nguyên. Vì thế, khi cứ điểm này bị tiến công, địch sẽ cố sức giữ và đưa lực lượng lên cứu viện.

Thực hiện kế hoạch chiến đấu, mờ sáng ngày 1 tháng 4 năm 1970 rừng núi Đắc Siêng bất thần rung lên trong tiếng nổ xé trời của các loại hỏa lực của Trung đoàn 28 cùng một lúc bắn vào cứ điểm. Chiến dịch Đắc Siêng chính thức mở màn. Ngay từ phút đầu, cối 120mm bắn trúng khu trung tâm, ĐKZ diệt nhiều lô cốt mục tiêu  ở khu vực đầu cầu và sân bay. Cùng lúc bộ binh áp sát hàng rào, dùng B40, B41, 12,7mm, đại liên ghìm đầu quân địch ở bên trong nhanh chóng phát triển chiến hào vây lấn xiết chặt quanh đồn. Quân địch hoàn toàn bị bất ngờ. Sau đòn phủ đầu chóang váng, chúng phản ứng quyết liệt, tập trung đại liên, súng cối, ĐKZ bịt cửa mở, đồng thời cho hàng chục lần chiến máy bay có cả B52 đánh phá dữ dội, ném bom bi, bom phá, bom na pan xuống các trận địa vây lấn của ta. Để cứu nguy cho Đắc Siêng, từ ngày 1 đến ngày 6 tháng 4, biệt khu 24 đổ bộ 2 đại đội biệt kích xuống bắc và nam đồn và 3 tiểu đoàn (22, 23 biệt động quân, 4142) xuống Pô Kô Hạ. Đến ngày 7 tháng 4, địch đã huy động tới 50% lực lượng dự trữ cơ động ngụy ở Tây Nguyên, gồm 7 tiểu đoàn bộ binh, 4 chi đoàn thiết giáp và một lực lượng đáng kể pháo binh, không quân mở cuộc hành quân ''Tất thắng 17'' dể chi viện cho Đắc Siêng.

Ngay trong những ngày đầu chiến dịch, chiến sự ở Đắc Siêng diễn ra rất ác liệt. Dưới mưa bom bão đạn, bộ đội vẫn dũng cảm kiên quyết bám trụ, vừa đánh địch trong đồn phản kích vừa chặn đánh viện binh phía sau lưng. Các xạ thủ trung liên Tiểu đoàn  mang theo khí phách Vương Tử Hoàng vô cùng quả cảm, có khẩu đội chỉ còn một, hai người sau trận bom thù vẫn tiếp tục giá súng trên mặt đất trống trải kịp thời bắn quét hạ gục từng toán địch. Ở các trận địa súng cối, bộ đội có sáng kiến xẻ rãnh dẫn khói, dùng mũ tai bèo bịt nòng súng mỗi khi có máy bay trinh sát địch bay qua, hoặc dùng dây cao su nịt nòng súng để giảm tiếng vang làm bọn địch khó phát hiện vị trí trận địa. Lực lượng súng máy phòng không dựng lên lưới lửa tầm thấp thiêu cháy nhiều máy bay địch, khiến cho chúng tung cả hỏa mù mà hàng hóa thả xuống từ máy bay vẫn rơi phần lớn ra ngoài cứ điểm. Chính tướng Lữ Lan tư lệnh quân khu 2, quân đoàn 2 ngụy thú nhận: “ Hỏa lực của địch (tức quân giải phóng) khá mạnh nên đã ngăn trở việc vận chuyển bằng máy bay''.

Sau 6 ngày đêm vây lấn Đắc Siêng, Trung đoàn 28 và hỏa lực tăng cường giết và làm bị thương 240 tên địch (có 20 cố vấn Mỹ), phá hủy hơn 50% công sự, nhà. cửa, làm cháy nổ nhiều kho tàng đạn dược, phá hỏng 2 khẩu đại bác 105mm, 2 khẩu cối 106,7mm, 1 khẩu ĐKZ, bắn rơi 10 máy bay... buộc địch phải đưa quân lên ứng cứu giải tỏa đúng như dự kiến của ta. Xét thấy vây điểm đã kéo dược một lực lượng lớn quân địch vào khu quyết chiến và lực lượng vây lấn của ta không còn đủ sức đánh chiếm Đắc Siêng, ngày 6 tháng 4 Bộ tư lệnh tiền phương chiến thách ra lệnh cho Trung đoàn 28 rút lực lượng vây lấn trên hướng bắc - tây bắc ra để tập trung đánh quân ứng cứu, chỉ để lại một bộ phận chốt giữ núi Éc và khống chế sân bay. Cũng trong thời gian này, Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 28 bám đánh địch đổ bộ ở khu vực Đắc Sang, núi Éc. Nhưng do cách đánh không phù hợp trước đối tượng địch liên tục luồn lách di chuyển nên tiểu đoàn chỉ thu được kết quả hạn chế.

Trong khi Trung đoàn 28 đánh mạnh ở Đắc Siêng, phía nam Trung đoàn 66 do trung đoàn trưởng Hộ Đệ và chỉnh ủy Lê Ngọc Tuệ chỉ huy, bí mật ém quân kiên trì chờ đợi và kịp thời nổ súng tiêu diệt viện binh địch. Từ ngày 3 đến ngày 6 tháng 4, trung đoàn liên tục chặn đánh tiểu đoàn 1 biệt kích ứng chiến), tiểu đoàn 2 (trung đoàn 42), tiểu đoàn 23 biệt động quân, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch. Nổi bật là trận đánh tiểu đoàn 23 ở điểm cao 763, diệt hầu hết tiểu đoàn này, trong đó có tên tiểu đoàn trưởng và 3 cố vấn Mỹ. Khi tiểu đoàn 22 biệt động quân từ Đắc Còn vượt qua điểm cao 629 tiến vào điểm cao 763 ứng cứu đồng bọn, lập tức bị Tiểu đoàn 7 chặn đánh thiệt hại nặng. Phối hợp chặt chẽ với các đơn vị đánh địch phía trước, Đại đội 60 đặc công tập kích sở chỉ huy liên đoàn 2 biệt động quân diệt 90 tên; Đại đội 20 tập kích trận địa pháo ở Pô Kô Hạ, phá hủy 3 khẩu đại bác, diệt 50 tên. Ngày 7 tháng 4, địch tung tiếp tiểu đoàn 11 biệt động quân vào thay tiểu đoàn 22. Nhưng chúng vừa đến điểm cao 763 đã bị Tiểu đoàn 9 chặn đánh diệt 30 tên. Sau 9 ngày chiến đấu, Trung đoàn 66 đã diệt 973 tên, bắt 7 tên làm thất bại hoàn toàn âm mưu giải tỏa Đắc Siêng từ hướng nam của địch.

Phối hợp với hướng chính, các đơn vị đặc công pháo binh chiến dịch tập kích vào sở chỉ huy hành quân của địch ở Đắc Tô, kiềm chế trận địa pháo lớn của chúng ở Plei Kần, Pô Kô Hạ rất hiệu quả. Trên hướng Gia Lai,  Đắc Lắc chủ lực tại chỗ và lực lượng vũ trang địa phương giáng những đòn đau vào bọn Mỹ, ngụy ở sân bay Tân Tạo, Cù Hanh, Aréa, hậu cứ liên đoàn 2 biệt động quân và trung đoàn 47 gây cho chứng nhiều thiệt hại.





------------------------------------------------------------------
1. Năm 1969, quân địch ở Tây Nguyên bị loại khỏi vòng chiến đấu 47.747 tên (có 17.858 tên Mỹ), 475 tên bị bắt; 3.606 xe quân sự, 83 pháo cối lớn và 808 máy bay bị phá hủy, phá hỏng và bắn rơi; 1.343 khẩu súng và 144 vô tuyến điện bị tịch thu.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Tư, 2021, 11:11:08 am
*

Cuộc hành quân ''Tất thắng 17'' bị thảm bại. Để che giấu sự thật, ngày 12 tháng 4 địch tuyên bố giải thể cuộc hành quân này và mở tiếp cuộc hành quân ''Tất thắng 18''. Mặc dù đã cố bưng bít, nhưng những tin xấu từ Đắc Siêng vẫn rò rỉ làm cho 600 lính người Thượng ở Plei Ku phản chiến, không chịu lên ô tô đi ứng cứu động bọn, buộc chỉ huy địch phải tung trung đoàn 42 chủ lực vào tham chiến. Bị cấm trại nghiêm ngặt nhưng bọn lính vẫn tìm mọi cách đào ngũ. Chỉ riêng tiểu đoàn 3 chủ công có cố vấn Mỹ đi kèm cũng có tới 30 tên trốn trại, viên thiếu tá tiểu đoàn trưởng chống lệnh hành quân bị phạt tù.

Sau khi đổ bộ tiểu đoàn 1 (trung đoàn 42) và tiểu đoàn biệt kích số 4 xuống tây bắc Đắc Siêng 2km nhằm chuẩn bị bàn đạp tiến lên núi Éc. Trong 2 ngày (14 và 15 tháng 4), địch dùng 111 lần chiếc máy bay bắn phá núi Éc nhỏ hẹp rồi thực hành đổ bộ tiểu đoàn 3 (trung đoàn 42) xuống ngọn núi này. Âm mưu của chúng là chiếm ngọn núi có giá trị khống chế rộng ở bắc Đắc Siêng làm bàn đạp, phối hợp với bọn trong đồn phản kích đẩy ta ra khỏi thung lũng. Vì vậy chiến  sự ở Đắc Siêng ngày càng trở nên quyết liệt và lan rộng. Trên hướng tây bắc, tiểu đoàn  địch vừa đặt chân xuống đất đã bị Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 28 bám đánh, phai co cụm lại ở điểm cao 629. Ở phía bắc, tiểu đoàn 3 địch cũng bị các chiến sĩ chốt giữ núi Éc chặn đánh ngay từ đầu.

Tình huống chiến dịch đã xuất hiện. Bộ tư lệnh  tiền phương chiến dịch quyết định tập trung lực lượng lên phía bắc Đắc Siêng tiêu diệt tiểu đoàn 1, ngăn chặn tiểu đoàn 3 sau đó chuyển sang tiêu diệt nốt tiểu đoàn này. Thực hiện lệnh chiến đấu, đêm 16 tháng 4 Trung đoàn 66 cơ động lên phía bắc Đắc Siêng cùng với Trung đoàn 28 và Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 24 đánh địch ở khu quyết chiến mới. Ngày 18, Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 28 được Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 66 và Tiểu đoàn 5 (Trung đoàn 24) phốil hợp, từ các trận địa vây chuyển sang tiến công tiểu đoàn 1 địch ở điểm cao 629. Do nghiên cứu địa hình và nắm địch chưa kỹ, kế hoạch hiệp đồng thiếu chặt chẽ, thông tin liên lạc không bảo đảm cho chỉ huy... nên trận đánh phải kéo dài suốt 5 ngày đêm. Ta phải tổ chức 6 đợt tiến công mới tiêu diệt hoàn toàn tiểu đoàn 1. Khi ta đánh tiểu đoàn 1, địch đổ bộ thêm tiểu đoàn 4 1 (trung đoàn 42) xuống tây bắc Đắc Siêng cùng với tiểu đoàn 3 từ núi Éc tiến sang điểm cao 629 ứng cứu đồng bọn. Nhưng trên đường truy diệt tàn binh tiểu đoàn , Đại đội 9 Tiểu đoàn 3 phát hiện được tiểu đoàn 4 địch, liền chuyển sang tiến công diệt 55 tên, số còn lại bị cối 120mm của ta bắn trúng đội hình bỏ chạy tán loạn.

Ngày 21, tiểu đoàn 3 đi ứng cứu cũng bị Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 66 chặn đánh thiệt hại nặng phải tháo lui. Lúc 18 giờ ngày 22 tháng 4, trận đánh ở điểm cao 629 kết thúc thắng lợi, 300 tên địch bị diệt, 44 tên bị bắt, chỉ còn khỏang 60 tên liều chết chạy thóat về hướng Đắc Sang. Tiểu đoàn 1 của địch bị xóa sổ, thế trận của ta thêm vững chắc, tạo thuận lợi chuyển sang tiến công tiểu Đoàn 3 và tiểu Đoàn 4 địch.

   Đêm 22 tháng 4, Trung Đoàn 66 tập trung 2 tiểu Đoàn (7 và 8 ) bao vây tiểu Đoàn 3 trung Đoàn 42. Sau 2 ngày bị ta vây chặt ''vo tròn'', tập kích hỏa lực tiêu hao, gọi loa địch vận và tiểu đoàn 22 biệt động quân đi ứng cứu bị Tiểu đoàn 3 Trung Đoàn 28 chặn đánh đẩy lui, bọn lính tiểu đoàn 3 rất hoang mang. Thời cơ đã đến, ngày 25 và 26 Trung Đoàn 66 liên tục tập kích rồi chuyển sang tiến công "bóp bẹp'' tiêu diệt hoàn toàn tiểu đoàn địch. Tiểu đoàn 3 là đơn vị chủ công của trung đoàn 42 ngụy, khi tham chiến có 450 tên, sau 5 ngày bị đánh có 338 tên chết, 82 tên bị bắt làm tù binh, chỉ còn 30 tên chạy thóat.1 Đây là một trận đánh không những có hiệu suất chiến đấu cao2 mà còn hoàn thiện thêm hình thức chiến thuật mới ''vận động bao vây tiến công liên tục'' của quân giải phóng Tây Nguyên.
   
Trong khi hai Trung Đoàn (66, 28) tập trung tiêu diệt từng tiểu Đoàn địch, thì cuộc chiến dấu ở trận địa chốt chiến dịch núi Éc diễn ra vô cùng quyết liệt. Trên ngọn núi hình đế giày, có 2 mỏm (923 và 925) ở hai đầu, giữa là yên ngựa dài 200m, ta đã bố trí 2 chốt từ trước. Chốt phía nam yên ngựa có 15 cán bộ, chiến sĩ của Đại đội 12 (Tiểu Đoàn 3 Trung Đoàn 28) do đại đội trưởng Xuân và Chính trị viên phó Hòa chỉ huy, bên cạnh có trận địa cối 82mm do khẩu đội trưởng Thám phụ trách. Chốt phía Đông nằm trên đỉnh mỏm 923 gồm 12 tay súng của Đại đội 11 Tiểu đoàn 3 do đại đội phó Lê Minh Hồ chỉ huy và 5 chiến sĩ đại liên do tiểu đội trưởng Lương Xuân Thưởng phụ trách. Từ 10 giờ sáng ngày 15 tháng 4, sau khi dùng trực thăng và súng cối bắn dọn bãi, địch thực hành đổ bộ xuống yên ngựa. Khi chiếc trực thăng đi đầu vừa hạ cánh đã bị các chiến sĩ giữ chốt bắn cháy, diệt 1 cố vấn Mỹ và 2 tên ngụy, số còn lại bỏ chạy lên mỏm 925. Địch phản ứng mạnh, dùng máy bay, pháo cối đánh phá vào các chốt rồi tiếp tục đổ bộ. Nhưng cứ mỗi lần trực thăng địch tiếp đất là bị các tay súng bất ngờ xuất hiện trên mặt đất đã bị bom đạn cày xới ngổn ngang, lia những loạt đạn chính xác tiêu diệt. Với cách đánh này trong ngày đầu đã có 7 máy bay trực thăng bị phá hủy, hàng chục tên địch bị diệt, 16 súng và 5 vô tuyến điện bị tịch thu. Từ ngày 16 đến ngày 27 tháng 4, địch đánh phá rất dữ dội và tiếp tục đổ quân xuống núi Éc. Ngọn núi nhỏ bé rung chuyển dưới làn bom pháo địch, rừng cây bị cháy trụi, hố bom hố pháo chồng lên nhau? đất đá tơi vụn sém lửa na pan và sặc mùi chất độc hóa học. Nhưng cái tập thể nhỏ bé kiên cường chốt giữ vẫn tồn tại, các dũng sĩ luôn bất ngờ, kịp thời đánh trả mỗi khi địch xuất hiện. Hình ảnh dũng cảm của đại đội trưởng Xuân, đại đội phó Lê Minh Hồ, trung đội trưởng Trần Trọng Thóat, khẩu đội trưởng Lương Xuân Thưởng và các chiến sĩ Viên Đình Phúc, Lê Chí Vân, Mai Ngọc Xê, Nguyễn Đức Tại... băng qua lửa đạn rượt đuổi giặc, bên cạnh là những xác trực thăng ngùn ngụt cháy, mãi mãi in đậm trong tâm trí quân và dân Đắc Siêng. Những dũng sĩ núi Éc anh hùng gắn liền với chiến thắng oanh liệt Đắc Siêng đã ghi vào lịch sử kiên cường bất khuất của quân và dân Tây Nguyên những nét son tươi rói. 17 giờ ngày 27 tháng 4, lực lượng chốt giữ núi Éc bắn nốt 29 viên đạn cối còn lại vào mục tiêu địch rồi rút ra an toàn theo lệnh của cấp trên. Trong suốt 26 ngày đêm chiến đấu, các chiến sĩ chốt chiến dịch núi Éc đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, diệt 153 tên địch, bắt 7 tên, bắn rơi và phá hủy 15 máy bay, thu 27 súng các loại và 6 vô tuyến điện. Cùng với chiến công của chốt hỏa lực Đại đội 13 (cối 82mm) và Đại đội 14 (súng máy phòng không) Trung Đoàn 28, khống chế sân bay Đắc Siêng nhiều ngày diệt 206 tên địch, bắn rơi 13 máy bay... các chiến sĩ núi Éc đã góp phần ngăn chặn, giam chân, thu hút một lực lượng lớn quân địch, tạo điều kiện cho các lực lượng chiến dịch phát triển tiến công giành thắng lợi.

   Trên cơ sở kết quả đợt một chiến dịch, căn cứ vào thực lực của ta sau khi đưa một lực lượng đi làm nhiệm vụ quốc tế và âm mưu mới của địch; trong đợt hai chiến dịch Đắc Siêng (3.5-2.6) Bộ tư lệnh chiến trường chỉ để lại trên hướng chính hai trung Đoàn (28 thiếu và 40) tiếp tục đánh địch. Trung Đoàn 66 và Tiểu Đoàn 5 Trung Đoàn 24 được lệnh cơ động về bắc đường 18 hoạt động. Từ ngày 5 đến ngày 31 tháng 5, địch liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét "Bình tây 1'', ''Bình tây 2'', ''Bình tây 4'' vào khu vực nam - bắc sông Ia Đrăng, Binh trạm Nam và ''Bình tây 3" vào Binh trạm 4 nhằm đánh phá các căn cứ hậu cần B3. Mỗi cuộc hành quân chúng thường huy động từ 8 đến 11 tiểu Đoàn bộ binh, thiết giáp có máy bay, pháo binh chi viện rất mạnh nhằm triệt phá cơ sở hậu cần của chủ lực Tây Nguyên. Trước âm mưu và diễn biến mới về địch, Bộ tư lệnh Chiến trường kịp thời chỉ đạo các binh trạm, Trường Quân chính, cơ quan B3, các đơn vị sản xuất kiên quyết chống càn. Tại cánh Trung, ta kịp thời thành lập Ban chỉ huy chống càn (6.5), sử dụng Trường Quân Chính, Tiểu Đoàn 20, lực lương tân binh, bảo vệ kho, Viện Quân y 211, Xưởng dược X38 và bộ phận tăng gia của Trung Đoàn 24, Tiểu Đoàn 631, Tiểu Đoàn 26, 28 liên tục chặn đánh diệt 726 tên (có 350 tên Mỹ), làm bị thương 144 tên (có 52 Mỹ), phá 6 pháo lớn, 4 súng cối, 6 xe tăng, xe bọc thép, bắn rơi 26 máy bay, thu nhiều vũ khí. Hướng Binh trạm 4 và Binh trạm Nam, ta diệt được từ 300 đến 400 tên địch, bắn rơi nhiều máy bay, phá hủy hàng chục xe quân sự. Mặc dù tiêu diệt được nhiều địch, bảo vệ sơ tán được thương bệnh binh, giữ được nhiều kho tàng, nhưng quân địch dã gây cho ta những tổn thất lớn về vật chất: phá hủy hàng trăm tấn lương thực, hàng hóa, cướp phá đốt trụi hàng nghìn héc ta hoa màu và hàng trăm nghìn gốc sắn, tàn sát hàng trăm trâu bò.




-----------------------------------------------------------------
1. Theo Báo cáo ''Diễn biến chiến dịch xuân hè 1970 tại Đắc Siêng của Trung Đoàn 66, B3''. Hồ sơ số 19-F10.
2. Trận đánh tiểu Đoàn 3 địch, Trung Đoàn 66 có 29 đồng chí hy sinh, 164 đồng chí bị thương. Trong số hy sinh có 1 cán bộ tiểu đoàn, 6 cán bộ đại đội, trung đội.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Tư, 2021, 11:14:28 am
*

   Cuối tháng 4 năm 1970, tiếng súng diệt địch trên hướng Đắc Siêng còn đang nổ, cũng là lúc chiến sự bùng lên mạnh mẽ trên hướng Đông bắc Cam-pu-chia, nơi có chung hàng trăm kilômét biên giới với Tây Nguyên. Ngày 29 tháng 4, Mỹ, ngụy huy động một lực lượng rất lớn gồm sư đoàn 1 kỵ binh bay, sư Đoàn 25 bộ binh Mỹ và 6 sư đoàn (5, 25, 18, 7, 9, 21), 3 lữ đoàn (dù, lính thủy đánh bộ) 5 liên đoàn biệt động quân ngụy cùng nhiều xe tăng, pháo lớn, máy bay mở cuộc tiến công bất ngờ xâm lược Cam-pu-chia trên toàn tuyến biên giới. Mục tiêu của cuộc hành quân là tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến của cách mạng miền Nam và khối bộ đội chủ lực Miền, phá hủy cơ sở hậu cần của ta, thực hiện kế hoạch ''Việt Nam hóa chiến tranh'', đồng thời đàn áp phong trào cách mạng của nhân dân Cam-pu-chia.

   Thực hiện tuyên bố chung của Hội nghị cấp cao  nhân dân Đông Dương1, bộ dội ta được lệnh phối hợp chặt chẽ với bạn ''tiến mạnh về phía tây'', chủ động đánh nhanh, đánh mạnh, dành liên tục không hạn chế, tạo một bước chuyển biến quan trọng về cục diện chiến lược có lợi cho ta và bạn trong một thời gian ngắn. Chấp hành chỉ thị của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trưng ương Đảng, từ ngày 29 tháng 4 đến ngày 30 tháng 6 năm 1970, ta phối hợp với bạn mở cuộc phản công lớn đánh trả quân địch ở vùng Đông Bắc Cam-pu-chia. Trên hướng Đông và Đông nam, ta tập trung 4 sư đoàn chủ lực Miền (1, 5, 7, 9) do đồng chí Phạm Hùng - Bí thư Trung ương Cục lám Chính ủy và đồng Chí Hoàng Văn Thái - Tư lệnh Bộ chỉ huy quân sự Miền làm Tư lệnh.
 
        Hướng đông bắc, một lực lượng chủ lực của Chiến trường Tây Nguyên gồm: Trung đoàn 24, Trung đoàn 95, một số tiểu đoàn độc lập được lệnh tiến sang Hạ Lào và Đông Bắc Cam-pu-chia đánh địch.

   Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: ''Giúp bạn là tự giúp mình'', với tình cảm quốc tế trong sáng thủy chung, cuối tháng 4 năm 1970 Trung đoàn 24 (thiếu Tiểu Đoàn 5) được tăng cường Tiểu Đoàn 2 Trung đoàn 28 và 1 đại đội ĐKB, cối 120mm) do trung Đoàn trưởng Nguyễn Quốc Thước và Chính ủy Vũ Khắc Thịnh chỉ huy nhanh chóng rời Tây Nguyên sang Hạ Lào, đứng chân trong đội hình chiến đấu của Bộ tư lệnh 968 (Bộ tư lệnh mặt trận An Sơn)2. Nhiệm vụ trước mắt của Trung đoàn 24 là giải phóng thị xã A Tô Pơ, mở rộng địa bàn, bảo vệ đường hành lang chiến lược và tạo điều kiện cho cách mạng bạn phát triển. Mặc dù đường hành quân xa phải vượt núi băng sông, địa hình chưa quen thuộc, đối tượng địch mới lạ, ngôn ngữ bất đồng... nhưng với quyết tâm rất cao, lại được sự giúp đỡ của các đơn vị bạn và nhân dân địa phương nên trung đoàn đã nhanh chóng hoàn thành mọi công tác chuẩn bị, khẩn trương bước vào chiếm lĩnh trận địa tiến công.

   A Tô Pơ là một thị xã nhỏ (có khỏang l vạn dân) được sông Sê Kông bao bọc ba mặt (bắc, đông, nam) lưu thông với thị xã Saravan (phía bắc) và huyện Xiêmpạng (nước Cam-pu-chia) chủ yếu bằng đường sông.   

        Phía đông thị xã có cụm điểm cao Phuxaphong (600m), phía tây cách 7km là cao nguyên Bôlôven. Tại A Tô Pơ, lực lượng địch có 2 tiểu đoàn bộ binh: 4BI phòng thủ phía bắc và BV43 chốt giữ Phuxaphong phía đông; ngoài ra còn 1 đại đội công tác vũ trang, 1 đại đội trinh sát, 2 trận địa pháo (ở nam điểm cao 1001 và đông bắc thị xã 4km), với tổng quân số khỏang 1.000 tên do đại tá Khăm Còm (ngụy Lào) chỉ huy.

   Thực hiện kế hoạch tác chiến, từ 24 giờ ngày 7 tháng 4 bộ đội ta đồng loạt tiến công 6 vị trí địch ở thị xã A Tô Pơ và vùng phụ cận. Trên hướng chủ yếu, hai tiểu đoàn 4 và 6 Trung đoàn 24 nhanh chóng tiêu diệt sở chỉ huy 4BI, lám chủ hoàn toàn cứ điểm sau 40 phút tiến công. Thấy chỉ huy bị diệt, bọn địch ở hai đồn phía bắc bỏ chạy. Hiệp đồng chặt chẽ, khi tiếng bộc phá lệnh trên hướng chính nổ, các hướng khác đồng loạt nổ súng tiến công. Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 28) và đặc công đánh chiếm hai trận địa pháo; Tiểu đoàn 3 (quân tình nguyện Việt Nam ở Lào) đánh vào đồn địch bên bờ nam sông Sê Kông; Tiểu đoàn 4 đặc công tập kích vào các chốt ở Phuxaphong làm lửa cháy dữ dội. Phát huy thắng lợi, Tiểu đoàn 6 và Tiểu đoàn 2 có hỏa lực tăng cường tiến công các mục tiêu địch trong thị xã A Tô Pơ. Bọn ngụy Lào chống cự yếu ớt rồi nhanh chóng tan rã. Tên đại tá Khăm Còm và đại đội văn phòng bỏ chạy về hướng cao nguyên Bôlôven, 600 tên địch đầu hàng quân cách mạng. Lúc 10 giờ sáng ngày 8 tháng 4, các chiến sĩ Đại đội 6 và Đại đội 7 Tiểu đoàn 2 đánh chiếm và cắm lá cờ chiến thắng lên nóc dinh tỉnh trưởng, báo hiệu thị xã A Tô Pơ đã hoàn toàn giải phóng. Ngày 11 tháng 5, trước sự chứng kiến đồng đủ của Tỉnh ủy A Tô Pơ và các cơ quan quân, dân, chính địa phương bạn, Trung đoàn 24 bàn giao thị xã và toàn bộ chiến lợi phẩm thu được cho bạn, rồi nhanh chóng tiến lên phía bắc đánh địch trên cao nguyên Bôlôven.

   Trong những ngày tiếp theo, Trung đoàn 24 tổ chức trận địa phòng ngự trên đỉnh Phu Lăng Kẹo, một vị trí như bức bình phong bảo vệ thị xã A Tô Pơ. Địch cũng hiểu rõ giá trị của ngọn núi này. Vì vậy, từ ngày 8 đến ngày 13 tháng 5 chúng dùng một tiểu đoàn ngụy Lào có pháo binh ở căn cứ PS.38 và máy bay chi viện, liên tục tiến công lên chốt Phu Lăng Kẹo do Đại đội 13 phòng giữ. Các chiến sĩ giữ chốt chiến đấu rất dũng cảm, đẩy lùi hàng chục đợt tiến công của địch, đồng thời tích cực xuất kích ngắn đánh vào bên sườn phía sau đội hính tiến công của chúng, tiêu diệt nhiều sinh lực, giữ vững trận địa. Ngày 10 tháng 5, Đại đội 3 (Tiểu đoàn 3) do tham mưu trưởng Trung đoàn 24 trực tiếp chỉ huy, trên đường chi viện cho chốt Phu Lăng Kẹo đã phục kích bắt sống toàn bộ 56 tên thuộc đại đội văn phòng, thu 56 khẩu súng các loại và nhiều đạn dược.

   Đánh ngày không được, dịch chuyển sang đánh đêm. Tối 13 tháng 5 chúng dùng pháo bắn nghi binh, rồi bí mật cho một tiểu đoàn tập kích bất ngờ, chiếm trận địa chốt của ta: Trước tình hình đó, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 28 do tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Sáu chỉ huy cơ động tiếp cận Phu Lăng Kẹo ngay trong đêm 13 rạng ngày 14 tháng 5. Lúc 6 giờ ngày 14, Tiểu đoàn 2 bất ngờ nổ súng, đồng loạt xung phong. Sau 30 phút chiến đấu, ta làm chủ hoàn toàn trận địa, khôi phục lại chốt Phu Lăng Kẹo, diệt 120 tên, thu 200 súng các loại, trong đó có 3 khẩu ĐKZ 75, 4 khẩu súng cối. Với chiến công xuất sắc trong trận đánh này, Đại đội 6 Tiểu đoàn 2 được Quân khu Nam Lào tặng Huân chương Chiến công hạng hai.

   Bị tổn thất gần hai tiểu đoàn, bọn ngụy Lào phải từ bỏ ý định chiếm lại Phu Lăng Kẹo. Địch trong căn cứ PS.38 hoang mang bỏ chạy. Tiểu đoàn 2 tích cực truy kích, diệt một số vị trí địch trong khu vực, mở rộng vùng giải phóng thêm hàng chục kilômét vuông trên cao nguyên Bôlôven.

   Trong 15 ngày chiến đấu ở Hạ Lào, Trung đoàn 24 và các đơn vị tăng cường phối thuộc đoàn kết chặt chẽ với lực lượng vũ trang và nhân dân bạn liên tục tiến công, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 1.000 tên địch, giải phóng thị xã A Tô Pơ và vùng phụ cận. Trung đoàn đã được tặng Huân chương Quân công hạng ba và được Bộ tư lệnh Mặt trận An Sơn đánh giá ''hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ vượt yêu cầu thời gian quy định''. Trước yêu cầu nhiệm vụ mới, ngày 17 tháng 5 năm 1970 Trung đoàn 24 (thiếu) được lệnh cơ động về Đông Bắc Cam-pu-chia đánh địch. Riêng Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 28) được giao nhiệm vụ ở lại A Tô Pơ giúp bạn phòng giữ thị xã và bảo vệ Chính quyền cách mạng.




------------------------------------------------------------------
1. Hội nghị cấp cao nhân dân ba nước Đông Dương họp ngày 24 và 25 tháng 4 năm 1970.
2. Bộ tư lệnh mặt trận An Sơn do đại tá Hoàng Kiện (Tư lệnh phó Quân khu 4) làm Tư lệnh, thượng tá Ngọc Sơn làm Chính ủy; trung tá Tô Đình Khản và đồng chí Nguyễn Quốc Thước (trung đoàn trưởng Trung Đoàn 24) làm Tư lệnh phó.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Tư, 2021, 06:04:52 pm
*

      Trung đoàn 24 hành quân sang Đông Bắc Cam-pu-chia vào lúc các đơn vị chủ lực Miền đang đánh bại một bước cuộc hành quân lớn của Mỹ, ngụy, giúp bạn giải phóng nhiều đánh, trong đó Sư đoàn 5 đang tiến về hướng Stung Treng.

Thực hiện nhiệm vụ đánh chiếm Xiêm Pạng tạo bàn đạp phối hợp với Sư đoàn 5 tiến công thị xã Stung Treng. Đêm 18 rạng ngày 19 tháng 5 năm 1970, Trung đoàn 24 sử dụng Tiểu đoàn 4 và đại đội đặc công bí mật áp sát mục tiêu dịch. Đúng 5 giờ sáng, ta nổ súng. Sau ít phút, bộ đội đã tràn ngập căn cứ Xiêm Pạng, 450 tên địch bị bắt, toàn bộ vũ khí bị tịch thu. Thị trấn Xiêm Pạng được giải phóng, bọn lính ở các đồn bảo an trong vùng đều hốt hỏang bỏ chạy.

   Thực hiện lệnh cấp trên, đêm 19 tháng 5 Trung đoàn 24 để lại Đại đội 2 (Tiểu đoàn 4) ở lại Xiêm Pạng chờ bạn đến bàn giao, còn toàn bộ lực lượng lên 28 chiếc ca nô chở gạo của thương nhân Việt Kiều xuôi dòng Sê Kông tiến về hướng Stung Treng và lúc 10 giờ sáng hôm sau (20.5) đến cách thị xã 1km. Trung đoàn cho một bộ phận đánh chiếm sân bay Stung Treng và một bộ phận tiến về thị xã, nhưng Stung Treng vừa được đơn vị bạn giải phóng, Trung đoàn 24 được lệnh chuyển sang làm nhiệm vụ quân quản giúp bạn. Đồng chí Vũ Khắc Thịnh (Chính ủy trung đoàn) tham gia ban quân quản tỉnh được cử làm cố vấn chính trị; đồng chí Hà Đình Thuyên (tham mưu trưởng) làm chủ tịch quân quản thị xã Stung Treng. Trong những ngày cuối tháng 4 năm 1970, Trung đoàn 24 để lại Tiểu đoàn 4 (thiếu) giúp bạn bảo vệ thành quả cách mạng, ổn định tình hình mọi mặt ở địa phương; đồng thời cơ động Tiểu đoàn 6, Đại đội đặc công và Đại đội 2 Tiểu đoàn 4 do trung đoàn trưởng và phó chính ủy trung đoàn trực tiếp chỉ huy giải phóng tỉnh Prếtvihia.

   Đường đến Prếtvihia xa xôi, chủ yếu cắt rừng, vượt sông suối, địa hình lạ, khí hậu khắc nghiệt, ngôn ngữ bất đồng... nhưng được nhân dân giúp đỡ Trung đoàn 24 hành quân liên tục trong 10 ngày, vượt sông Mê Kông đến vị trí tạm dừng bước vào chuẩn bị chiến đấu ngay. Đối tượng tác chiến của đơn vị là 1 tiểu đoàn ngụy Lonnon, 1 đại đội cảnh sát cạnh dinh tỉnh trưởng và các đồn biên phòng dọc biên giới Cam-pu-chia - Thái Lan. Nhìn chung khả năng tác chiến của địch hạn chế. Sau một thời gian chuẩn bị, đúng 0 giờ ngày 16 tháng 6, Tiểu đoàn 6 và Đại đội đặc công bất ngờ nổ súng tiến công tiểu đoàn địch ở Prếtvihia. Chỉ trong vòng 15 phút chiến đấu, ta làm chủ hoàn toàn căn cứ, bắt gọn 600 tên địch, thu toàn bộ vũ khí. Đại đội cảnh sát và bọn lính ở nhiều đồn biên phòng hoang mang tan rã. Ta tiến đến đâu vùng giải phóng mở ra đến đó.

   Trong khi Trung đoàn 24 hoạt động mạnh trên hướng Stung Treng và Prếtvihia, từ ngày 3 đến ngày 27 tháng 6 Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên tập trung 4 tiểu đoàn (394, 2, 631, 1/95) tiến theo hướng đường 19 tây sang Đông Bắc Cam-pu-chia đánh địch. Các chiến sĩ Tây Nguyên và lực lượng bạn giải phóng tỉnh Ratanakiri, quận Chép, quận lỵ Cheyxeng, thị xã Tabomanchay.

   Ngày 27 tháng 6, đợt ba chiến dịch Đắc Siêng kết thúc, cũng là kết thúc toàn chiến dịch. Trong gần 3 tháng chiến đấu, lực lượng vũ trang Tây Nguyên liên tục cơ động đánh địch trên khắp chiến trường Tây Nguyên, Hạ Lào, Đông Bắc Cam-pu-chia. Ta đánh 1.519 trận lớn nhỏ, loại khỏi vòng chiến đấu 13.715 tên địch (có 2.937 tên Mỹ, trong đó có tướng ba sao Jôn Đin - là tư lệnh công binh Mỹ ở miền Nam và tướng hai sao Ađam bị diệt, 589 tên ngụy Cam-pu-chia; 330 tên ngụy Lào), bắn rơi và phá hủy 316 máy bay, 771 xe quân sự (có 320 xe tăng, xe bọc thép), 68 pháo lớn, 211 lô cốt, 18 cầu cống, 54 kho đạn và xăng dầu, thu 1867 súng các loại và 62 vô tuyến điện. Đặc biệt, lần đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, bộ đội chủ lực Tây Nguyên làm nhiệm vụ quốc tế. Với tinh thần trong sáng vô tư, trong gần hai tháng các chiến sĩ Tây Nguyên đã sát cánh cùng quân và dân hai nước bạn Lào và Cam-pu-chia liên tục chiến đấu, giải phóng các tỉnh A Tô Pơ, Ratanakiri, Stung Treng, Prếtvihia góp phần mở rộng vùng giải phóng liên hoàn trung Đông Dương. Khu căn cứ cách mạng Tây Nguyên, Hạ Lào, Đông Bắc Cam-pu-chia nối liền, đường hành lang chiến lược xuyên Đông Dương được bảo vệ vững chắc, mở ra thế chiến lược mới của cách mạng mỗi nước, trong đó có Chiến trường Tây Nguyên.

   Với thành tích xuất sắc đó, tiếp sau chiến dịch Plei Me (1965) quân giải phóng Tây Nguyên lại vinh dự được nhận Huân chương Quân công hạng nhất; được Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh gửi điện khen ngợi. Phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước, sự quan tâm động viên của cấp trên là nguồn cổ vũ mạnh mẽ quân và dân Tây Nguyên hăng hái thi đua lập những chiến công mới.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Tư, 2021, 06:09:18 pm
*

   Hè, thu năm 1970, Quân ủy Trung ương chỉ thị xây dựng căn cứ địa cho các chiến trường ở miền Nam và coi đây "là một nhân tố rất quan trọng để kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến lâu dài đến thắng lợi" cũng như để xây dựng kinh tế củng cố quốc phòng trong cả nước khi chiến tranh kết thúc thắng lợi''. Đối với Tây Nguyên, Quân ủy chỉ rõ: "Ý định của Trung ương là xây dựng căn cứ địa Tây Nguyên và giúp bạn mở mang căn cứ địa Đông Cam-pu-chia và Hạ Lào thành một địa bàn vững chắc và có khả năng ngày càng lớn về kinh tế cũng như về quốc phòng, tăng thêm dự trữ ngoài này vào, mở mang nông nghiệp, từng bước xây dựng công nghiệp, mở mang đường giao thông bộ và thủy''1. Cũng trong thời gian này Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra quyết định thành lập Khu ủy Chiến trường Tây Nguyên (gọi tắt là B6, nhưng do tình hình thay đổi nên nghị quyết không thực hiện được); đồng thời Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương giao cho Chiến trường Tây Nguyên phụ trách ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc và trực tiếp giúp đỡ hai tỉnh Đông Bắc Cam-pu-chia (Stung Treng, Ratanakiri) và một số tỉnh Hạ Lào (A Tô Pơ, Si Thăn Đon, Chăm Pát Xắc). Về quân sự, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh chỉ thị B3 phải ''Chú trọng việc xây dựng chủ lực, chăm lo tăng cường lực lượng tại chỗ, chú trọng tổ chức đường sá, tổ chức tuyến hậu cần và chú trọng công tác tổng kết kinh nghiệm'', giữ vững và phát triển thế tiến công, cải thiện hơn nữa thế chiến lược của ta, uy hiếp địch hơn nữa, chuẩn bị cho đánh lớn trong thời gian tới.

   Quán triệt và thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, ngày 20 tháng 7 năm 1970, Đảng ủy Chiến trường Tây Nguyên ra nghị quyết "Về phương hướng nhiệm vụ và công tác 6 tháng cuối năm 1970'', xác định rõ nhiệm vụ chiến lược cơ bản lâu dài của chiến trường là đẩy mạnh thế tiến công tiêu diệt địch, ra sức xây dựng củng cố hậu phương chiến lược vững mạnh toàn diện; tổ chức và đẩy mạnh việc sản xuất tự túc giúp bạn xây dựng củng cố và phát triển lực lượng về mọi mặt,  khẩn trương xây dựng Tây Nguyên thành căn cứ địa vững mạnh toàn diện.

         Cùng thời gian này, Đảng ủy Chiến trường ra nghị quyết ''Về cuộc vận động nâng cao chất lượng đảng viên và kết nạp lớp đảng viên Hồ Chí Minh'', coi đây là công tác trọng tâm của xây dựng Đảng.

   Thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của cấp trên, trong suốt hè thu năm 1970 Bộ tư lệnh Chiến trường tổ chức củng cố mọi mặt, triển khai tập huấn quân sự, chính trị cho các đơn vị bộ đội chủ lực và địa phương, động viên toàn mặt trận thu hoạch một vụ mùa thắng lợi. Sau đợt tập huấn, bộ đội chủ lực bước vào diễn tập cấp tiểu đoàn bộ binh, bắn đạn thật cho hỏa lực đi cùng, hội thao kiểm tra kỹ thuật đều đạt kết quả tốt. Công tác tổng kết chiến dịch, chiến đấu được chú trọng. Tới cuối năm đã có 17 bản tổng kết hoàn thành, tập trung đúc rút kinh nghiệm từ thực tiễn đánh chiến đoàn, trung đoàn ngụy, các hình thức chiến thuật bao vây đánh lấn, tập kích, bao vây tiến công liên tục, đánh ấp, đánh giải tỏa, đánh giao thông, chống phá bình định gom dân; về kinh nghiệm trong nắm địch, công tác tham mưu cấp tiểu đoàn, trung đoàn và tỉnh đội, kinh nghiệm sử dụng pháo binh, thông tin trong một số hình thức chiến thuật. Những kết quả nghiên cứu được đưa vào huấn luyện, góp phần nâng cao năng lực, trình độ chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ và đơn vị, tích cực góp phần phát triển nền nghệ thuật quân sự Việt Nam. Để giữ vững căn cứ địa và đánh bại âm mưu đánh phá của địch, Bộ tư lệnh Chiến trường tổ chức ''Hội nghị bảo vệ căn cứ''. Hội nghị tập trung bàn các nhiệm vụ: đánh biệt kích thám báo, đánh máy bay bảo vệ hậu cứ, sản xuất, hành lang; lần đầu tiên đặt ra nhiệm vụ sẵn sàng đánh bọn Khơ Me phản động; đồng thời khoanh vùng bảo vệ giao cho các binh trạm, cụm kho đảm nhiệm và lập hệ thống chỉ huy thống nhất. Nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của chiến tranh cách mạng, xây dựng căn cứ địa Tây Nguyên ngày càng lớn mạnh. Đảng ủy và Bộ tư lệnh Chiến trường quyết định thành lập Trung đoàn đặc công 400 (gồm 3 tiểu đoàn 20, 37, 9) giải thể Ban đặc công (thuộc Phòng Tham mưu B3), chuyển Tiểu đoàn 394 độc lập về Trung đoàn 95, bổ sung Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 95 cho Tỉnh đội Gia Lai, khôi phục lại Trường Quân chính Tây Nguyên. Tiếp đó Đoàn vận tải quân sự 470 (chuyên làm nhiệm vụ ''vận chuyển hàng hóa, đưa khách ra vào, vận chuyển thương binh đi ra của B3, B2 và các tỉnh phía nam Quân khu 5 cũng như của cách mạng Cam-pu-chia''), Đoàn sản xuất 670 (có hai nhiệm vụ cơ bản là sản xuất và chiến đấu) và Đoàn 237 làm nhiệm vụ chuyên gia giúp lực lượng cách mạng Cam-pu-chia và Lào ở những vùng giáp chiến trường Tây Nguyên) cũng lần lượt ra đời và bước vào hoạt động. Các đoàn 470, 670, 237 và Trung đoàn đặc công 400 đều trực thuộc Đảng ủy và Bộ tư lệnh Chiến trường. Song song với nhiệm vụ củng cố, phát triển, nâng cao chất lượng mọi mặt lực lượng vũ trang ba thứ quân và xây dựng căn cứ địa; trong nửa cuối năm 1970, quân dân Tây Nguyên lại giành được nhiều thành tích trong chiến đấu. Sau thắng lợi của đợt hoạt động đánh biệt kích dọc hành lang, chống phá càn líp khắp ba tỉnh Tây Nguyên2; từ ngày 29 tháng 8 đến ngày 20 tháng 10 ta sử dụng 8 tiểu đoàn, 10 đại đội bộ đội tỉnh và lực lương các huyện đội, du kích mở đợt tiến công mùa thu (H.25).

Khi ta sắp nổ súng địch mở chiến dịch bình định đặc biệt với hàng chục cuộc hành quân càn quét khắp Tây Nguyên, trọng điểm là các khu 5, 6, 7 tỉnh Gia Lai. Trước tình hình đó, Bộ tư lệnh Chiến trường chủ trương tập trung lực lương vũ trang địa phương kiên quyết đánh bại các cuộc càn quét của địch. Trên hướng Kon Tum, ta kịp thời chuyển hướng tiến công từ Măng Đen vào thị xã và ở phía tây thị xã, Hà Mòn, Đắc Vát. Tiểu đoàn 406 và Tiểu đoàn 304 đánh vào Trung Nghĩa, Hà Mòn, Đắc Vát, diệt ấp Đác Tem, Krông; phục kích diệt hàng chục tên địch trong cuộc hành quân ''Nguyễn Huệ'' ở vùng Đắc Mông, Đắc Hà; dùng ĐKB bắn vào sân bay Kon Tum, biệt khu 24 gây cho địch nhiều thiệt hại.

   Ở Gia Lai, Tiểu đoàn 67 chặn đánh địch ở Khu 6; Tiểu đoàn 631 và Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 95) đánh mạnh ở Khu 5, Tiểu đoàn 2 và các đại đội công binh 17, 18 đánh cắt giao thông đường 19; các đại đội 59, 50 tập kích Quen Mép. Tại Đắc Lắc, Tiểu đoàn 301 tập kích ấp Phú Quang, Plei Quen, Plei Te; Tiểu đoàn 394 tập kích Haranga (nam Khu 6); lực lương tuyên truyền H3 đột nhập hai ấp Plei La Nú và Plei Sâm. Đợt hoạt động này ta loại kho vòng chiến đấu 3.178 tên địch (có 457 tên Mỹ) làm bị thương 91 tên, bắt 31 tên; bắn rơi và phá hủy 5 máy bay, 248 xe quân sự (có 81 xe tăng, xe bọc thép), 5 pháo lớn, 3 súng cối, 32 đại liên, thu 71 súng và 4 vô tuyến điện.

   Bộ tư lệnh Chiến trường đã đánh giá về đợt tiến công mùa thu: ''Trong tình hình địch ra sức tiến hành bình định đặc biệt, lực lương chủ lực cơ động củng cố, lực lượng địa phương phải hoạt động liên tục dài ngày, bảo đảm cơ sở vật chất có khó khăn, nhưng ta đã tăng cường nỗ lực, kiên quyết tấn công và duy trì được thế tấn công liên tục trên ba tỉnh, giữ vững và phát triển thế tấn công ở chiến trường nông thôn và đã từng bước giành được thắng lợi trong việc chống phá bình định gom dân của địch''.

   Cuối tháng 1l và trong tháng 12 năm 1970, khi địch càn vào Binh trạm Nam, các lực lương vũ trang địa phương ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc phối hợp  chặt chẽ với Trung đoàn 24, Tiểu đoàn 5, Tiểu đoàn 20 và Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 95)... mở đợt tiến công mùa Đông. Ta đánh mạnh vào các mục tiêu Hà Mòn, Đắc Vát (Kon Tum), chống bình định ở Khu 6 (Gia Lai), tiến công ở Buôn Hồ (Đắc Lắc) diệt nhiều sinh lực, phá hủy một số phương tiện chiến tranh, buộc địch phải bỏ dở cuộc hành quân ra biên giới, rút toàn bộ lực lượng về đối phó.
 
   Trong khi tiếng súng diệt địch liên tục nổ ở Tây Nguyên, ở chiến trường Hạ Lào, Trung đoàn 28 cũng lập nhiều chiến công. Từ tháng 9 đến tháng 12 năm 1970, Trung đoàn 28 do trung đoàn trưởng Nguyễn Quốc Thước và Chính ủy Nguyễn Đằng chỉ huy, vượt qua những dãy núi đá tai mèo hiểm trở, chiếm lĩnh trận địa trên dãy Phu Luông, dũng cảm liên tục chiến đấu đánh bại cuộc hành binh ''Măng Con'' của 11 tiểu đoàn ngụy Lào, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Phát huy thắng lợi, Trung đoàn chuyển sang tiến công đánh chiếm nhiều mục tiêu chủ yếu của địch trên dãy Phu Luông, giải phóng một vùng đất đai rộng lớn thuộc sườn Đông cao nguyên Bôlôven, rồi trở về ngã ba biên giới kịp thời tham gia chỉnh huấn, chuẩn bị cho chiến dịch xuân hè 1971.




------------------------------------------------------------------
1. Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên, Quân Đoàn 3. Biên niên sự kiện. Sđd, tr.226.
2. Đợt hoạt động này, ta loại khỏi vòng chiến đấu 715 tên địch (có 134 tên Mỹ), bắt 20 tên, gọi hàng 821 tên, bắn rơi và phá hủy 4 máy bay, 70 xe quân sự, thu 319 súng các loại, giải phóng 700 dân.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Tư, 2021, 06:12:07 pm
*

   Bị thất bại nặng nề trên khắp các chiến trường Đông Dương trong năm 1970, nhất là việc mở rộng chiến tranh sang Cam-pu-chia, song đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai vẫn không cam chịu. Ngày 30 tháng l năm 1971, dưới sự chỉ huy của Mỹ, được không quân và một vạn lính Mỹ ở phía sau yểm trợ, cùng 4 tiểu đoàn ngụy Lào phối hợp, hơn ba vạn quân chủ lực ngụy Sài Gòn có 460 xe tăng, xe bọc thép, 250 pháo lớn, 700 máy bay mở cuộc hành quân lớn mang tên ''Lam Sơn 719'' đánh ra khu vực Đường 9 - Nam Lào. Mục đích của cuộc hành quân là cắt đứt hoàn toàn tuyến vận tải chiến lược của ta, hòng thực hiện âm mưu đen tối '''chiến tranh bóp nghẹt''; đồng thời chứng minh sự thành công của chiến lược ''Việt Nam hóa chiến tranh'', tạo thêm thế mạnh ép ta nhân nhượng trong cuộc đàm phán ở Pari. Đây là cuộc hành quân lớn nhất và điển hình kiểu ''Việt Nam hóa chiến tranh'' của địch. Để phối hợp với ''Lam Sơn 719'', quân khu 2-quân đoàn 2 ngụy mở cuộc hành quân ra vùng biên giới, nhằm chiếm Tà Xẻng -Phi Hà (A Tô Pơ) triệt phá hành lang vận chuyển của ta, kết hợp với lính đánh thuê Thái Lan và ngụy Lào từ Pắc Xế đánh sang hòng chiếm Sa ra van, A Tô Pơ. Hướng Đông Bắc Cam-pu-chia địch huy động 25 tiểu đoàn bộ binh và 5 tiểu đoàn thiết giáp ngụy Sài Gòn và Lon Non mở cuộc hành quân ''Toàn Thắng'' (1.1971) ở khu vực đường 7 nhằm thu hút lực lượng và phá dự trữ hậu cần của ta ở vùng này.

   Để đánh bại cuộc hành quân ''Lam Sơn 719'' của địch, ta tập trung 5 sư đoàn, 2 trung đoàn bộ binh, 8 tiểu đoàn đặc công, 20 trung đoàn binh chủng và nhiều đơn vị bảo đảm mở chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào. Trên các hướng Tây Nguyên, Đông Bắc Cam-pu-chia... các lực lượng vũ trang cách mạng được lệnh đẩy mạnh tiến công tiêu diệt địch, phối hợp chiến trường.

   Tại Tây Nguyên, từ ngày 13 đến ngày 22 tháng 2 năm 1971, quân khu 2, quân đoàn 2 ngụy dùng 5 tiểu đoàn bộ binh, 4 tiểu đoàn pháo và 4 đại đội lẻ do bộ tư lệnh tiền phương sư đoàn 22 chỉ huy, mở cuộc hành quân "Quang Trung 4'' vào vùng rừng núi thượng nguồn sông Sa Thầy. Đây là bước thăm dò và chuẩn bị bàn đạp để đánh ra vùng ba biên giới. Ngày l4 tháng 2, trung đoàn 42, tiểu đoàn 22 biệt động quân và 2 pháo đội đã ra Chư Hinh, sau đó chúng tăng lên 4 tiểu đoàn càn quét lùng sục vùng Cà Đin - Xóm 9 và hai bờ đông tây sông Sa Thầy. Từ ngày 24 đến ngày 28 tháng 2, địch chuyển hướng hành quân lên phía bắc tiến vào Ngọc Tô Ba. Do không gặp chủ lực ta nên quân địch khá chủ quan.

   Địch đã ra quân, trong khi ta đang gấp rút chuẩn bị mở chiến dịch ở vùng Đắc Siêng - bắc đường 181. Bộ chỉ huy tiền phương chiến dịch đã lên chỉ đạo triển khai những công việc cuối cùng. Các trung đoàn 28, 66, 40 đang vào cài thế trên hướng chính. Trước diễn biến mới về địch và được lệnh của Bộ Tổng tư lệnh, ngày 14 tháng 2, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên quyết định chuyển hướng chiến dịch từ phía bắc về phía nam đường 18, tập trung chủ lực tiêu diệt địch ở khu vực Ngọc Tô Ba, điểm cao 1030, 842. Với phương châm vây điểm, diệt điểm, diệt viện, lấy diệt viện làm chính, chiến dịch Ngọc Tô Ba phải đạt được mục đích đánh thiệt hại nặng một số tiểu đoàn địch, thu hút giam chân nhiều lực lượng chủ lực, đập tan âm mưu đánh ra vùng ba biên giới của chúng, tích cực phối hợp với mặt trận Đường 9 - Nam Lào. Trên các hướng phối hợp, ta đẩy mạnh phá ấp giành dân và tiến công địch rộng khắp ba tỉnh Tây Nguyên. Đây là một quyết định kịp thời đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tế khách quan, vừa thuận lợi cho bộ đội tác chiến ở địa hình quen thuộc, vừa bảo đảm được hậu cần, thể hiện bản lĩnh dày dạn và mưu trí thao lược của Đảng ủy và Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên.

   Thực hiện ý định tác chiến mới, ngay sau hội nghị quân chính toàn mặt trận (15.2) các trung đoàn 66, 28, 40 hành quân lật cánh trở lại phía nam đường 18 đánh địch. Khi ta hành quân vào khu vực tác chiến, cũng là lúc địch lập xong trận dịa pháo lớn, đưa sở chỉ huy trung đoàn 42 đến điểm cao 1030 và bắt đầu mở hai mũi tiến quân về phía hậu cứ của ta. Mũi một do tiểu đoàn 22 biệt động quân đaem nhiệm tiến về Điểm Năm vào vùng ba biên giới. Mũi hai có tiểu đoàn 1 trung đoàn 42 tiến lên khu vực đểm cao 935. Nắm chắc mọi diễn biến về địch, Bộ tư lệnh Chiến dịch kịp thời ra lệnh cho Trung đoàn 66 sử dụng 2 tiểu đoàn (7 và 8 ) bao vây tiêu diệt tiểu đoàn 1 trung đoàn 42, dùng Tiểu đoàn 9 truy đuổi, ngăn chặn, bao vây tiểu đoàn 22 biệt động quân. Trung đoàn 28 từ phía bắc đường 18 chuyển xuống đứng chân ở Đắc Văng Kram sẵn sàng cơ động lên hướng điểm cao 1030 cùng Trung đoàn 66 đánh địch trong khu quyết chiến. Riêng Tiểu đoàn 3 vào triển khai ở Đông nam điểm cao 875 phối thuộc cho Trung đoàn 66 tiêu diệt tiểu đoàn 22 biệt động quân.

   Sau khi chặn đánh, bao vây, chiếm được một số công sự địch, 12 giờ 4 phút ngày 1 tháng 3 Trung đoàn 66 đồng loạt tiến công vào tiểu đoàn 1 ở điểm cao 935 và làm chủ trận địa lúc 13 giờ cùng ngày. Tiểu đoàn địch bị tiêu diệt phần lớn, số còn lại tháo chạy theo hai hướng tây bắc và đông nam bị Đại đội 5 (Tiểu đoàn 8 ), Đại đội l (Tiểu đoàn 7) cùng phân đội 12,7mm truy diệt hầu hết, chỉ còn một số tên chạy được về trận địa pháo ở điểm cao 1030. Nhưng trận địa pháo này lại bị súng cối và ĐKZ của Trung đoàn 66 bắn phá mạnh, phá hủy 4 khẩu đại bác 105mm, diệt nhiều tên. 16 giờ trận đánh kết thúc, 354 tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu, 125 khẩu súng các loại và 21 vô tuyến điện bị tịch thu, 5 máy bay bị bắn rơi. Đây là một trận đánh có hiệu suất chiến đấu cao, đánh dấu bước tiến bộ mới về tốc độ đánh tiêu diệt của bộ đội chủ lực trong chiến thuật vận động bao vây tiến công liên tục ở địa hình rừng núi Tây Nguyên2.

   Bị đòn phủ đầu chóang váng, địch vội vã đổ bộ tiểu đoàn 2 (trung đoàn 42) xuống điểm cao 1030, xua tiểu đoàn 22 biệt động quân đi ứng cứu, tung tiểu đoàn 4 trung đoàn 42 xuống phía nam Plei Kần 6km. Trước diễn biến mới, Bộ tư lệnh chiến dịch chủ trương dùng Tiểu đoàn 8 (Trung đoàn 66) bao vây chặt tiểu đoàn 2 địch ở điểm cao 1030, tập trung hai tiểu đoàn 7, 9 (Trung đoàn 66) và Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 28 ) vây diệt tiểu đoàn 22 biệt động quân ở bắc điểm cao 935 khỏang 1km. Do tổ chức vây không chặt, Tiểu đoàn 9 chỉ diệt được khỏang 100 tên của tiểu đoàn 22, số còn lại chạy thóat về Plei Kần đêm mùng 3 rạng ngày 4 tháng 3.

   Sau khi tiểu đoàn 1 bị diệt, tiểu đoàn 22 biệt động quân phải tháo chạy, địch đổ tiếp 2 tiểu đoàn 3 và 4 (trung đoàn 42) xuống điểm cao 830 tây bắc Ngọc Tô Ba nhằm yểm trợ cho tiểu đoàn 2 rút chạy. Phán đoán đúng âm mưu của địch, ta sử dụng Tiểu đoàn 8 và Đại đội 2 Tiểu đoàn 7 bí mật phục kích ở bắc điểm cao 1030 để diệt tiểu đoàn 2, đồng thời dùng 2 tiểu đoàn 1 và 2 (Trung đoàn 28 ) bao vây chặn diệt tiểu đoàn 2 và 3 trung đoàn 42 vừa đổ xuống. Đúng như dự đoán của ta, lúc 17 giờ ngày 4 tháng 3 đội hình rút lui của tiểu đoàn 2 địch lọt vào trận địa phục kịch, bị đánh tan tác. Do trời tối, nên trận đánh kéo dài đến 10 giờ sáng hôm sau (5.3) mới kết thúc. Phần lớn tiểu đoàn 2 địch bị diệt, một bộ phận nhỏ có tên tiểu đoàn trưởng lều chạy về phía nam được trực thăng đến cứu, hai toán khác chạy về phía Đông bị Tiểu đoàn 3 và các lực lượng trinh sát, công binh, pháo binh truy diệt. Sau 15 giờ chiến đấu, ta diệt 230 tên địch, bắt 73 tên, thu 125 súng và 19 vô tuyến điện.

   Sáu ngày đầu ra quân, địch bị mất 1 tiểu đoàn, 2 tiểu đoàn bị tiêu hao thiệt hại nặng, 736 tên bị diệt, 180 tên bị bắt, 12 máy bay bị bắn rơi, 16 xe và 9 pháo cối lớn bị phá hủy. Lúng túng, hoang mang, ngày 5 tháng 3 chỉ huy sư đoàn 22 ngụy buộc phải rút nốt hai tiểu đoàn 3, 4 khỏi khu vực điểm cao 830. Cuộc tiến công ra vùng ba biên giới để phối hợp với cuộc hành quân ''Lam Sơn 719'' của quân đoàn 2, quân khu 2 ngụy bị đập tan ngay từ giai đoạn triển khai.
   
   Ngay khi giai đoạn một chiến dịch Nam đường 18 vừa kết thúc, Quân ủy Trung ương đã gửi điện khen ngợi các đơn vị vừa làm nên chiến thắng Ngọc Tô Ba: ''Đánh giỏi, lập công xuất sắc, trưởng thành nhanh chóng''. Phấn khởi, tự tin cán bộ, chiến sĩ Tây Nguyên lại hăm hở bước vào chuẩn bị cho những trận đánh sắp tới.




------------------------------------------------------------------
1. Theo kế hoạch cũ, Chiến trường Tây Nguyên được tăng cường Sư đoàn 2 Quân khu 5, mở chiến dịch ở khu vực Đắc Siêng - bắc đường 18 vào cuối tháng 3.1971. Khi địch đánh ra Đường 9 - Nam Lào, Tây Nguyên không được tăng cường lực lượng.
2. Trận này, Trung đoàn 66 có 22 đồng chí hy sinh, 60 đồng chí bị thương. Tiêu thụ 52 viên đạn B40, B41; 168 viên đạn cối 82, 60mm; 6 bình phun lửa; 361 lựu đạn thủ pháo...


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Tư, 2021, 06:13:44 pm
*

   Sau thất bại ở Ngọc Tô Ba, địch phải rút về tuyến phòng ngự đường 18: Plei Kần, Đắc Mót, Tân Cảnh và giữ khu điểm cao Ngọc Rinh Rua, Ngọc Bờ Biêng. Bộ tư lệnh chiến dịch chủ trương tranh thủ thời cơ thuận lợi, phát huy thắng lợi và quyền chủ động, chuyển từ phản công sang tiến công vào tuyến phòng ngự cơ bản của địch, buộc chúng phải bị động tập trung binh lực đối phó, từ bỏ ý đồ đánh ra vùng ba biên giới. Ý định chiến dịch trong đợt hai của ta là: bí mật, bất ngờ tiến công tiêu diệt cứ điểm Ngọc Rinh Rua, biến vị trí có giá trị chiến thuật chiến dịch này thành cái ngòi buộc địch phải ra giải tỏa, dụ địch vào khu quyết chiến ở phía bắc, Đông - Đông bắc, đông nam (Ngọc Rinh Rua). Tập trung lực lượng bố trí sẵn thành thế trận, đánh diệt từ 2 đến 3 tiểu đoàn địch bằng chiến thuật vận động bao vây tiến công liên tục và vận động tiến công kết hợp chốt.

   Tranh thủ thời gian quý giá giữa hai đợt chiến dịch, ta củng cố và huấn luyện bổ sung những nội dung thiết yếu nhất cho bộ đội theo phương án đánh địch trong công sự vững chắc trên điểm cao bằng bao vây đánh lấn; đồng thời tích cực chuẩn bị chiến đấu. Riêng các đơn vị chủ lực tại chỗ và lực lượng vũ trang địa phương ba tỉnh Tây Nguyên được lệnh đẩy mạnh tiến công. Trên hướng trọng điểm giành dân ở Gia Lai, từ ngày 15 tháng 3 đến ngày 30 tháng 4, Trung đoàn 95, Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 24, Tiểu đoàn đặc công 20 và các tiểu đoàn 394, 301, 67, bảy đại đội lẻ, các huyện đội, du kích liên tục tiến công dịch ở Phú Nhơn, Phú Thiện, ngã ba Mỹ Thạch. Trong một tháng rưỡi chiến đấu, ta diệt quận lỵ Phú Nhơn, tiểu đoàn 2 trung đoàn 45, 6 đại đội, 3 trung đội, 1 cụm xe pháo, 1 đội bình định; đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn, 1 chi đoàn thiết giáp và 3 đại đội; đánh tiêu hao 2 tiểu đoàn (1, 4/45), 3 đại đội; loại khỏi vòng chiến đấu 2.341 tên (có 46 tên Mỹ), bắt 154 tên, phá hủy 86 xe quân sự (có 42 xe tăng, xe bọc thép), 12 pháo cối lớn, 2 kho đạn, bắn rơi 14 máy bay, thu 238 súng các loại và 10 vô tuyến điện; giải phóng 7.453 dân. Các hướng khác, ta tập kích địch ở Hà Mòn, Đắc Vát, Plei Lăng Lô (Kon Tum), kho Mai Hắc Đế, chốt Buôn Hđốt, Buôn Kly, đột nhập dinh điền Quảng Trạch (Đắc Lắc)... diệt hàng trăm tên địch, phá hủy nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh, giải phóng 3.500 dân.

   Được chiến thắng vang dội ở Mặt trận Đường 9 - Nam Lào và những chiến công giòn giã của quân dân Tây Nguyên cổ vũ, cán bộ, chiến sĩ trên hướng chính bước vào đợt hai chiến dịch với quyết tâm rất cao. Mở đầu đợt hoạt động, 5 giờ sáng ngày 31 tháng 3 Tiểu đoàn 7, Đại đội 19 đặc công và Đại đội 15 ĐKZ của Trung đoàn 66 từ bốn hướng đồng loạt nổ súng tiến công tiểu đoàn hỗn hợp của địch ở điểm cao 1001 Ngọc Rinh Rua. Trên hướng chủ yếu đông bắc, Đại đội 2 Tiểu đoàn 7 do đại đội trưởng Nguyễn Văn Doãn và Chính trị viên Lê Bảy chỉ huy, dùng mìn ĐH10 và bộc phá mở thông 5 hàng rào kẽm gai. Khi bộc phá viên lên đánh hàng rào cuối cùng thì 2 khẩu đại liên địch bất ngờ xuất hiện bắn chéo cánh sẻ bịt cửa mở, làm một số chiến sĩ thương vong. Lập tức, đại đội trưởng Nguyễn Văn Doãn dũng cảm mưu trí dùng B40 dập tắt 2 hỏa điểm nguy hại, yểm trợ cho tiểu đội trưởng mở cửa Vương Văn Chài ôm bộc phá đánh bung hàng rào cuối cùng. Cửa mở vừa thông, Nguyễn Văn Doãn và Vương Văn Chài dẫn đầu đội hình đánh chiếm lô cốt đầu cầu rồi phát triển sang khu cố vấn. Hướng thứ yếu phía Đông gặp khó khăn, Trung đoàn kịp thời cho Đại đội 3 cơ động theo cửa, mở của Đại đội 2 vào bên trong đánh địch. Sau ba đợt tiến công, đến 10 giờ 30 phút ta chiếm được hai phần ba cứ điểm, địch dồn về phía tây nam ngoan cố chống cự. Để cứu nguy cho đồng bọn ở Ngọc Rinh Rua, địch dùng pháo binh, máy bay đánh phá mạnh vào xung quanh cứ điểm và các khu vực cửa mở. Nhưng các trận địa pháo ở Tân Cảnh, Đắc Tô, Plei Kần, Đắc Mót vừa phát hỏa đã bị pháo của Trung đoàn 40 bắn trả chính xác, phá hủy 6 khẩu đại bác, 5 xe làm chết hàng chục pháo thủ. Từng tốp máy bay AD6, A37 lao đến giội bom, hàng chục máy bay trực thăng đến bắn rốc két và đạn 20mm vào trận địa ta, bị súng máy phòng không và súng bộ binh đánh trả quyết liệt. 11 giờ, 2 chiếc trực thăng đều chết sà xuống định bốc bọn chỉ huy, lập tức Vương Văn Chài giương súng bắn rơi l chiếc; chiếc còn lại vừa chạm đất đã bị đạn cối bắn trúng, bốc cháy. Trong trận đánh này, chiến sĩ Vương Văn Chài đạt danh hiệu ''Dũng sĩ 5 nhất'': mở cửa thông trước nhất, đánh chiếm lô cốt đầu cầu trước nhất, bắt tù binh trước nhất, bắn rơi máy bay trước nhất và đánh vào sở chỉ huy địch trước nhất.

   15 giờ, ta mở đợt tiến công cuối cùng. Sau ít phút hỏa lực chuẩn bị ngắn, 4 mũi tiến công của 3 đại đội 2, 3, 1 đồng loạt xung phong đánh thẳng vào sở chỉ huy tiểu đoàn, trận địa pháo, khu thông tin. Trước sức tiến công mạnh của ta, địch bị chia cắt, rối loạn, chống cự yếu dần rồi rút chạy về hướng đông nam. Mặc dù cho máy bay đến ném bom mạnh vào xung quanh cứ điểm và thả hỏa mù tạo màn khói ngụy trang cho bọn tàn quân tháo chạy, nhưng ta đã phục sẵn ''cất vó'' toàn bộ. 16 giờ trận đánh kết thúc. Tiểu đoàn hỗn hợp địch gồm tiểu đoàn 4 (thiếu 2 đại đội), 1 đại đội bảo an, 1 đại đội pháo (thiếu 1 trung đội, thuộc tiểu đoàn 63) bị tiêu diệt hoàn toàn; 220 tên bị chết, 34 tên bị bắt, 5 máy bay bị bắn rơi, 4 pháo 105mm và nhiều súng đạn, đồ dùng quân sự bị tịch thu. Ngày hôm sau (1.4) những khẩu pháo chiến lợi phẩm ở Ngọc Rinh Rua được Đại đội 8 Trung đoàn pháo binh 40 quay nòng và bắn 104 quả đạn vào 2 căn cứ Đắc Tô, Tân Cảnh, gây cho địch nhiều thiệt hại.

   Trận tiến công Ngọc Rinh Rua là một trận đánh xuất sắc. Đây là lần dầu tiên ta tiến công cứ điểm có công sự vững chắc trên điểm cao trong tầm phi pháo ác liệt giữa ban ngày. Thắng lợi của trận đánh không những đã đập tan một mắt xích quan trọng trong tuyến phòng thủ tây nam Đắc Tô, Tân Cảnh của địch, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển, mà còn mở ra khả năng cho chủ lực Tây Nguyên tiến lên tiêu diệt những căn cứ có công sự vững chắc lớn hơn trên tuyến phòng ngự cơ bản của địch.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Tư, 2021, 06:15:36 pm
*

   Mất chiếc lá chắn Ngọc Rinh Rua, lại bị pháo binh ta uy hiếp mạnh, địch phản ứng quyết liệt. Từ ngày 31 tháng 3 đến ngày 5 tháng 4, chúng huy động một lực lượng lớn binh lực ở Tây Nguyên thành lập 5 chiến Đoàn (41, 44, 47, 53 và biệt động quân) liên tiếp phản kích ra khu vực Ngọc Rinh Rua nhằm đẩy lực lượng ta ra xa, bảo vệ căn cứ Đắc Tô, Tân Cảnh. Quân đoàn 2 ngụy cũng di chuyển sở chỉ huy nhẹ lên Tân Cảnh để trực tiếp chỉ huy phản kích. Phán đoán đúng âm mưu mới của địch, Bộ tư lệnh chiến dịch kịp thời điều chỉnh đội hình chiến đấu, tập trung lực lượng đánh bại từng chiến đoàn địch. Từ ngày 1 đến ngày 3 tháng 4, Trung đoàn 66 liên tục tiến công chiến Đoàn 41: bao vây khống chế tiêu hao tiểu đoàn 1 đổ bộ xuống Ngọc Rinh Rua, chặn đánh tiểu đoàn 2 từ Đắc Tô qua Đắc Ri Peng lên và đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 4; diệt khỏang 600 tên, bắt 22 tên, bắn rơi 7 máy bay, thu 90 súng và 7 vô tuyến điện. Cùng thời gian này, pháo binh ta đánh mạnh vào Đắc Tô, Tân Cảnh, Plei Kần khống chế các trận địa pháo, phá hoại cơ sở hậu cần, uy hiếp sở chỉ huy hành quân... hỗ trợ đắc lực cho bộ binh chiến đấu. Ngày 4 tháng 4, cuộc hành quân giải tỏa của chiến đoàn 41 thất bại hoàn toàn.

   Bị thất bại liên tiếp, địch cố tìm cách gỡ. Ngày 5 tháng 4 chúng tung chiến đoàn 53 vào trận. Cùng lúc đổ bộ 2 tiểu đoàn của chiến đoàn này xuống Ngọc Rinh Rua và Ngọc Rinh Rong, tiểu đoàn 11 biệt động quân được tung ra phía bắc điểm cao 887 bảo vệ sườn đông đội hình phản kích. Ngày hôm sau từ bàn đạp này địch tiến về hướng Ngọc Rinh Rua. Quá trình chiến đoàn 53 đổ bộ và tiến quân địch dùng pháo binh và huy động tới 50 lần chiếc máy bay phản lực; có hàng chục lần chiếc B52 chi viện. Nắm chắc mọi diễn biến về địch, Bộ tư lệnh tiền phương chiến dịch kịp thời ra lệnh cho Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 28 và Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 311 chặn diệt cánh quân từ Ngọc Rinh Rong lên giải tỏa và tiếp tục dùng Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 66 vây hãm Ngọc Rinh Rua. 15 giờ ngày 7 tháng 4, tiểu đoàn 4 địch lọt vào trận địa phục kích của Tiểu đoàn 9 Trung đòn 31 và bộ phận chặn đầu của Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 66 ở điểm cao 821. Do hiệp đồng chưa chặt nên trong 1 giờ tiến công ta chỉ diệt được 150 tên địch, bắt 3 tên. Ngày 8 tháng 4, chiến đoàn 53 rút chạy khỏi khu chiến.

   Hai lần giải tỏa Ngọc Rinh Rua đều thất bại, địch vội vã đưa trung đoàn 47 lên Đắc Tô, tăng lực lượng tham chiến lên 16 tiểu đoàn bộ binh và 9 pháo đội. Ngày 9 tháng 4, địch tập trung 2 chiến đoàn, tiến theo hai hướng lên giải tỏa Ngọc Rinh Rua. Chiến đoàn 47 từ Đắc Tô vượt sông Pô Kô chiếm Đắc Ri Peng và bắc điểm cao 702. Cùng lúc chiến đoàn 44 cũng vượt sông Pô Kô tiến theo hướng Đắc Ri Lốp lên điểm cao 717, qua sườn nam điểm cao 702 lên Ngọc Rinh Rua. Trong 2 ngày (9 và 10), Trung đoàn 28 tích cực bao vây tiến công, tiêu diệt hầu hết tiểu đoàn 1, tiêu hao tiểu đoàn 2 và 3 chiến đoàn 47. Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 31 cũng diệt gọn 1 đại đội thuộc tiểu đoàn 4 chiến đoàn 44. Riêng Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 66 chưa tích cực lùng sục truy diệt để địch chạy thóat. Bị đòn đau, ngày 10 tháng 4 Mỹ dùng B52 ném bom rải thảm vào khu chiến nhằm xóa dấu vết bại trận. Ngày 11 và 12 hai chiến đoàn 44, 47 rút chạy khỏi khu chiến.

   Tập trung hầu hết lực lượng cơ động của quân đoàn 2, quân khu 2 giải tỏa Ngọc Rinh Rua đều thất bại. Cứ điểm 1001 vẫn bị vây chặt, tuyến phòng ngự cơ bản tiếp tục bị uy hiếp mạnh, buộc địch phải điều lữ đoàn dù số 2 lên Tây Nguyên, đồng thời vét tiểu đoàn 3 ở Mỹ Thạch và tiểu đoàn 1 (trung đoàn 42) ở Dục Mỹ lên Kon Tum mở cuộc hành quân giải tỏa lần thứ 4. Ngày 13 tháng 4, dưới sự chỉ huy trực tiếp của tiền phương quân đoàn 2 ngụy ở Tân Cảnh, 3 chiến đoàn hành quân theo ba hướng tiến lên Ngọc Rinh Rua: chiến đoàn 44 hướng bắc, chiến đoàn 41 hướng đông và chiến đoàn dù hướng nam. Địch ra quân đông và sớm hơn dự kiến. Bộ tư lệnh tiền phương chiến dịch nhận thấy ý định tiến công tiêu diệt địch ở cứ điểm 1001 Ngọc Rinh Rua lần 2 không còn phù hợp, vì vậy chủ trương tập trung lực lượng tiêu diệt cho được 1 tiểu đoàn dù - một thắng lợi có ý nghĩa chính trị, đồng thời tiếp tục vây hãm Ngọc Rinh Rua và kiềm chế các cánh quân còn lại bằng pháo cối. Trong đợt này diễn ra một số trận đánh vừa và nhỏ của 2 tiểu đoàn 8, 9 Trung đoàn 66 và 1 trung đội thuộc Đại đội 5 Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 31, tiêu diệt tiểu đoàn 3, tiêu hao tiểu đoàn 4 chiến đoàn 41, loại khỏi vòng chiến đấu gần 400 tên, bắt 7 tên, thu 71 súng và 8 vô tuyến điện. Xét thấy tập trung lực lượng tiếp tục đánh địch trên hướng chính không hiệu quả, nửa cuối tháng 4 Bộ tư lệnh chiến dịch lần lượt cho các trung đoàn rời khỏi khu chiến về phía sau củng cố, chuẩn bị cho đợt 3 chiến dịch.




------------------------------------------------------------------
1. Trung đoàn 31 thuộc Sư đoàn 2 Quân khu 5 được tăng cường cho Mặt trận Tây Nguyên từ cuối tháng 3 đến tháng 6 năm 1971. Trung đoàn 31 tiền thân là Trung đoàn 64 Sư đoàn 320A, vào chiến trường Khu  5 từ tháng 1.1966, nay thuộc Sư đoàn 309, Quân đoàn 4.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Tư, 2021, 06:16:25 pm
*

   Sau một thời gian ngắn chuẩn bị, ngày 20 tháng 5 đợt 3 chiến dịch xuân hè 1971 ở Tây Nguyên mở màn. Trên hướng chính, lúc 3 giờ 30 phút ngày 22 tháng 5 Trưng đoàn 28 được phối thuộc Tiểu đoàn 9 Trung đoàn đặc công 400, bất ngờ tiến công tiểu đoàn 2 trung đoàn 42 ở điểm cao 1338 nhằm kéo quân địch ra giải tỏa để ta tập trung lực lượng tiêu diệt ở khu quyết chiến đông - đồng bắc. Do tổ chức chỉ huy chiến đấu thiếu chặt chẽ, tư tưởng chiến thuật quán triệt chưa sâu, không có lực lượng luồn lót sẵn nên cả 4 mũi đốt phá đều không thành công, đội hình bị ùn tắc trước cửa mở, thương vong cao. Trời sáng dần, ta vẫn chưa chiếm được đầu cầu nên Bộ tư lệnh tiền phương chiến dịch lệnh cho Trung đoàn 28 chuyển sang bao vây, tiêu hao, chuẩn bị thêm để tiến công tiếp và sẵn sàng diệt viện.

   Để cứu nguy và giữ 1338, từ ngày 23 đến ngày 31 tháng 5, quân đoàn 2 ngụy huy động 2 chiến đoàn (40 và biệt động quân) cùng một số đơn vị binh chủng với lực lượng 10 tiểu đoàn bộ binh, 2 chi đoàn thiết giáp, 5 pháo đội do bộ tư lệnh tiền phương sư đoàn 22 chỉ huy, mở cuộc hành quân giải tỏa mang tên ''Quyết thắng 22''. Địch tiến quân theo hai hướng. Hướng chủ yếu, chiến đoàn 40 chiếm Ngọc Non và điểm cao 978; hướng thứ yếu, chiến đoàn biệt động quân đổ xuống điểm cao 1001, 1089 rồi cùng tiến về phía điểm cao 1338. Chúng tiến rất dè dặt, chậm chạp.

   Ngày 1 tháng 6, Trung đoàn 28 tiến công địch ở điểm cao 1338 lần thứ hai. Do mở cửa chưa sạch, tổ chức hiệp đồng giữa bộ binh và hỏa lực, giữa các mũi không chặt, chỉ huy thiếu sâu sát, xử lý tình huống chậm nên hướng Tiểu đoàn 1 mở được 5 lớp rào lại bị địch ngăn chặn, thương vong nhiều, bộ đội phải chuyển sang bao vây để đánh giải tỏa. Trong những ngày nửa đầu tháng 6, địch tập trung 13 tiểu đoàn bộ binh tổ chức thành 5 chiến đoàn, đưa 3 chiến đoàn đi giải tỏa cho 1338. Trước diễn biến mới về địch, ta nhanh chóng củng cố lực lượng, điều chỉnh đội hình chuyển sang đánh vận động, phục kích tiêu hao, diệt hàng trăm tên địch thuộc các tiểu đoàn 7, 1, 2. Sau một số trận đánh vừa và nhỏ, lực lượng ta bị tiêu hao, sức khỏa bộ đội giảm sút. Nhận thấy khả năng tiêu diệt tiểu đoàn địch khó khăn, ngày l4 tháng 6, Bộ tư lệnh Chiến trường chủ động kết thúc chiến dịch trên hướng chính. Phối hợp tác chiến, trong đợt ba chiến dịch, hai trung đoàn 24, 95, các tiểu đoàn 406, 304, 631, 2 đẩy mạnh tiến công, đánh nhiều trận vừa và nhỏ, phá hoại nhiều phương tiện chiến tranh của địch, giải phóng một số ấp.

   Sau ba tháng rưỡi chiến đấu, chiến dịch Ngọc Tô Ba - Ngọc Rinh Rua thu được thắng lợi to lớn. Với 1.107 trận đánh lớn nhỏ, quân dân Tây Nguyên đã diệt 6 tiểu đoàn, đánh thiệt hại nặng 8 tiểu đoàn, đánh tiêu hao 12 tiểu đoàn khác, loại khỏi vòng chiến đấu 11.152 tên địch (có 229 tên Mỹ), bắt 730 tên; phá hủy 600 xe quân sự (có 190 xe tăng, xe bọc thép), 57 pháo cồn lớn, 20 kho, bắn rơi và phá hỏng 110 máy bay, thu 1.240 súng các loại và l37 vô tuyến điện; giải phóng 20.725 dân, đưa hàng nghìn lượt người dân tham gia đấu tranh chính trị, nổi dậy phá ấp giành quyền làm chủ. Đây là lần đầu tiên ở Tây Nguyên ta mở một chiến dịch phản công đánh bại hoàn toàn một cuộc tiến công lớn của địch và chuyển từ phản công sang tiến công địch thắng lợi. Về chiến dịch này, Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên đã nhận xét: ''Chúng ta đã hoàn thành nhiệm vụ cả chiến dịch, đã đạt được các mục địch đề ra, đạt được những chỉ tiêu cơ bản của chiến dịch, đã giành được thắng lợi to lớn, toàn diện có ý nghĩa chiến lược''. Một nguyên nhân thắng lợi và là điểm đặc sắc trong chiến dịch này là ta đã tổ chức được thế trận vững chắc, sâu và hiểm trên hướng chính ngay sát tuyến phòng ngự cơ bản của địch. Với thế trận tốt, chỉ huy mưu lược đã tăng thêm lực cho ta. Vì vậy, chỉ với 2 trung đoàn bộ binh, 1 trung đoàn pháo binh, cuối chiến dịch tăng thêm 1 trung đoàn bộ binh trên hướng chính, ta đã đánh bại chủ lực quân đoàn 2, quân khu 2 và tổng dự bị quân ngụy đông gấp 3 lần có máy bay pháo binh chi viện mạnh, đã tiêu diệt, đánh thiệt hại nặng, tiêu hao 17 tiểu đoàn trong số 26 tiểu đoàn của 9 trung đoàn, liên đoàn địch. Qua cuộc đọ sức ở Ngọc Tô Ba-Ngọc Rinh Rua đã khẳng định: bộ đội chủ lực Tây Nguyên mạnh hơn hẳn chủ lực quân đoàn 2 quân khu 2 ngụy, đồng thời mở ra khả năng đánh tiêu diệt lớn quân địch ngay trên tuyến phòng ngự cơ bản của chúng.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Tư, 2021, 06:18:14 pm
*

   Tháng 7 năm 1971, Đảng ủy Chiến trường Tây Nguyên ra nghị quyết "Về quán triệt tình hình nhiệm vụ nỗ lực phấn đấu, quyết tâm đánh bại chiến lược ''Việt Nam hóa chiến tranh'' của Mỹ, ngụy ở Tây Nguyên'' và '' Quyết tâm phấn đấu giành thắng lợi vụ mùa 1971''. Thực hiện nghị quyết của Đảng ủy, những tháng cuối năm 1971 Bộ tư lệnh Chiến trường chỉ để lại một số đơn vị chủ lực tại chỗ cùng lực lượng vũ trang địa phương tiếp tục duy trì các hoạt động tác chiến, đánh vào hậu cứ kho tàng, đường giao thông, căng kéo địch. Còn toàn bộ khối chủ lực tập trung về hậu cứ củng cố, huấn luyện, tăng gia sản xuất thu hoạch vụ mùa.

   Từ tháng 8, toàn mặt trận bước vào đợt tập huấn, huấn luyện, củng cố toàn diện về chính trị tư tưởng, tổ chức và kỹ thuật, chiến thuật theo phương châm ''lấy chính trị làm cơ sở, cán bộ làm trung tâm, kỹ chiến thuật là quan trọng, vai trò lãnh đạo của Đảng bộ là quyết định''. Về huấn luyện quân sự, cán bộ trung, cao cấp từ tiểu đoàn trở lên được tập huấn chiến thuật vận động bao vây tiến công liên tục, bao vây đánh lấn, đánh giải tỏa, đánh giao thông, cách đánh diệt chiến đoàn địch. Cán bộ tỉnh đội tập trung huấn luyện các nội dung đánh giải tỏa, chiến thuật đánh ấp. Từ tháng 10 tập trung huấn luyện cán bộ cấp đại đội, trung đội về chiến thuật đánh công sự vững chắc với các nội dung: mở cửa, đánh chiếm đầu cầu, chiến đấu bên trong. Thời gian này, việc huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật từng người, tổ, tiểu đội đến trung đội, đại đội được chú trọng. Các đơn vị đặc công tập trung học kỹ, chiến thuật binh chửng, đánh bám trụ. Pháo binh, phòng không rèn luyện kỹ thuật bắn, đánh hiệp đồng trong đội hình của bộ binh, đánh bám trụ và đánh bộ binh. Các đơn vị thông tim, công binh, hóa học đều rèn luyện theo yêu cầu đánh hiệp đồng trong đội hình tiểu đoàn, trung đoàn và chiến dịch. Cuối năm, các đơn vị chủ lực thực hành diễn tập đánh địch trong công sự vững chắc ở khu vực Đắc Son, điểm cao 1048 và khu vực gần biên giới Việt - Lào; các tỉnh đội tổ chức hội thao chiến thuật, kỹ thuật đạt kết quả tốt. Đây là lần đầu tiên ở Mặt trận Tây Nguyên, bộ đội có một thời gian khá dài tập trung củng cố, huấn luyện khá cơ bản, toàn diện, nâng cao chất lượng mọi mặt. Tư tưởng tiến công, quyết tâm dành tiêu diệt, tác phong chiến đấu: ''Xuất kích kiên quyết - Xung phong mạnh mẽ - Bám trụ kiên cường - Tiêu diệt triệt để - Đoàn kết và chủ động hiệp đồng" đã thấm sâu vào mỗi cán bộ, chiến sĩ.

   Thực hiện nghị quyết của Đảng ủy chiến trường, trên mặt trận sản xuất, bảo đảm hậu cần cũng diễn ra rất sôi động. Phong trào thi đua, thực hiện cho được chỉ tiêu: 315 kg thóc, 16 kg đậu lạc vừng, 1.000 gốc sắn, 80kg rau xanh, 6kg thịt chăn nuôi, 5 cây ăn quả, 5 cây thuốc lá, 1 hốc mía trên 1 người do Bộ tư lệnh phát động được các đơn vị, cơ quan và từng cá nhân hưởng ứng mạnh mẽ. Những nương rẫy ngày một lan rộng về phía Đông sông Sa Thầy tạo thế trận hậu cần chiến dịch uy hiếp địch. Cùng với việc đẩy mạnh tăng gia sản xuất, ngành hậu cần mặt trận còn có nhiều biện pháp tận thu các nguồn, bảo đảm kịp thời vũ khí, đạn dược, ăn mặc cho bộ đội, tích cực cứu chữa thương binh trả nhanh quân số khỏe về đơn vị, bảo vệ hành lang kho tàng, chấn chỉnh củng cố các binh trạm và hệ thống kho, mở thêm các tuyến đường vận tải cơ giới, thồ, gùi. Để tiếp nhận, thu mua, bảo quản, vận chuyển một lượng lớn hàng hóa từ Đông Bắc Cam-pu-chia và Hạ Lào cho Chiến trường Tây Nguyên, đồng thời giúp bạn củng cố căn cứ địa, giải quyết mối quan hệ giữa ta và bạn, tháng 7 năm 1971 Bộ tư lệnh Chiến trường thành lập Đoàn 671. ''Binh trạm miền Tây'' này đã hoàn thành tốt nhiệm vụ, tạo thêm một khối lượng vật chất dự trữ chiến lược khá lớn cho Mặt trận Tây Nguyên trong những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ.

   Giữa những ngày sôi động thi đua huấn luyện, củng cố, sản xuất và chiến đấu, Đại hội Anh hùng và Chiến sĩ thi đua toàn Mặt trận Tây Nguyên lần thứ năm được tổ chức. Hơn 300 đại biểu dự Đại hội. Thay mặt cho Bộ tư lệnh Chiến trường, Chính ủy Trần Thế Môn đọc báo cáo tổng kết, biểu dương những đơn vị và cá nhân lập thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua lập công đền ơn Đảng, Bác; rút ra 5 bài học kinh nghiệm quý. Đại hội quyết định tuyên dương 19 ngọn cờ đầu tiêu biểu cho lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng Tây Nguyên trong năm 1971. Về tập thể có: Đại đội 2 (Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 66), Đại đội 2 vận tải (thuộc Tiểu đoàn 2 trực thuộc Mặt trận), Phân đội thông tin 33, Khoa Nội (thuộc Viện Quân y 211), Đại đội 52 cao xạ, Đại đội 48 cao xạ, Tiểu đoàn 394, Tiểu đoàn 631, Tiểu đoàn 7 (thuộc Trung đoàn 66), Trung đoàn 66, Trung đoàn 95, xã Đắc Uy (tỉnh Kon Thum). Về cá nhân có các đồng chí: Vương Văn Chài, Trần Phúc Yên, Sầm Văn Khèn, Y Buông... Tin vui nối tiếp tin vui, ngày 20 tháng 9 năm 1971 Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho 21 đơn vị lập thành tích đặc biệt xuất sắc. Trong đó chiến trường Tây Nguyên có 5 đơn vị: Đại đội 42 súng máy cao xạ (thuộc Tiểu đoàn 30, Trung đoàn 40), Đại đội 2 vận tải (thuộc Tiểu đoàn 2 trực thuộc Mặt trận), Đại đội 7 bộ binh (thuộc Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 95), Đại đội 2 đặc công (Tiểu đoàn 430, tỉnh đội Gia Lai), dân quân du kích xã Đắc Uy (huyện 16, tỉnh Kon Tum). Những phần thưởng cao quý đó là nguồn cổ vũ động viên mạnh mẽ quân và dân Tây Nguyên hăng hái thi đua lập nhiều thành tích mới. 

    Để chuẩn bị cho Tây Nguyên tiến lên ''đánh to thắng lớn'', cuối năm 1971, bộ đội chủ lực Tây Nguyên được chấn chỉnh về biên chế tổ chức theo hướng gọn nhẹ, tăng quân số chiến đấu, tăng hỏa lực cho các trung đoàn bộ binh; thành lập thêm cơ quan tư lệnh pháo binh; lực lương đặc công tổ chức thành hai bộ phận chuyên trách: cơ động và đánh hậu cứ.


   Thời gian này, bộ đội chủ lực Tây Nguyên có bước phát triển mới. Sau khi bổ sung Trung đoàn 83 công binh (4.1971), Bộ Tổng Tham mưu tiếp tục bổ sung cho Chiến trường Tây Nguyên: Trung đoàn pháo binh 6751, Tiểu đoàn xe tăng 2972, Trung đoàn 7 công binh3, Đại đội 2 tên lửa chống tăng mang vác có điều khiển Maliútca (B.72), Đội sửa chữa quân giới T61. Đồng thời nhiều đoàn cán bộ của các tổng cục, binh chủng cũng lần lượt đến Tây Nguyên giúp Bộ tư lệnh, các cơ quan và các đơn vị tổ chức kiện toàn lực lượng, tập huấn nâng cao chất lượng chiến đấu và công tác. Những cố gắng không mệt mỏi của quân và dân Tây Nguyên trong suốt 17 năm kháng chiến chống Mỹ và tay sai, nhất là kết quả toàn diện trong năm 1971 đã tạo cho chiến trường thế và lực mới để bước vào cuộc tiến công chiến lược xuân hè 1972 với sức mạnh: ''Trường Sơn chuyển mình, Pô Kô dậy sóng, quét sạch quân thù, giải phóng Tây Nguyên''.




------------------------------------------------------------------
1. Trung đoàn pháo binh 675 do đồng chí Trần Ngự làm trung đoàn trưởng, đồng chí Hà Sĩ Quế làm chính ủy.
2. Tiểu đoàn xe tăng 297 có 5 đại đội, 37 xe tăng T54, T59, 3 cao xạ tự hành, 16 ô tô do đồng chí Đặng Vi làm tiểu đoàn trưởng và đồng chí Đồng Hữu Thao làm Chính trị viên. Vào đến Tây Nguyên tiểu đoàn được bổ sung Đại đội 16.
3. Trung đoàn công binh 7 do đồng chí Trần Đình Thiện làm trung đoàn trưởng, đồng chí Đoàn Văn Khóat làm chính ủy.



Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Tư, 2021, 06:24:29 pm
4. Chiến dịch xuân hè 1972 - đòn tiến công chiến lược quy mô lớn đầu tiên ở Tây Nguyên.

   Sau hơn 3 năm thực hiện chiến lược ''Việt Nam hóa chiến tranh'', đẩy mạnh ''Chiến tranh đặc biệt tăng cường" ở Lào và mở rộng chiến tranh sang Cam-pu-chia, quân xâm lược Mỹ và bè lũ tay sai ở Đông Dương càng thêm suy yếu.

        Đặc biệt những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của quân và dân ba nước Đông Dương trong năm 1971 ở Đường 9 - Nam Lào, Cánh Đồng Chum, Krek - Công Pông Thom đã dẫn đến những thay đổi quan trọng trong cục diện chiến tranh. Tại miền Nam Việt Nam, đầu năm 1972 quân ngụy Sài Gòn còn trên 1 triệu tên, được gần 10 vạn quân Mỹ, máy bay, pháo binh hỗ trợ, nhưng sức chiến đấu đã sa sút, buộc phải chuyển hẳn vào thế phòng ngự.

   Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị Trung ương Đảng (5.1971); ''Phát triển thế tiến công chiến lược trên chiến trường miền Nam, đánh bại chính sách ''Việt Nam hóa chiến tranh'' của Mỹ, giành thắng lợi quyết định trong năm 1972, buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng thương lượng trong thế thua'', xuân hè 1972, ta mở cuộc tiến công chiến lược trên 3 hướng: Trị - Thiên (chủ yếu) Tây Nguyên và Đông Nam Bộ (phối hợp). Trong đó chiến trường Tây Nguyên được Bộ Tổng tư lệnh giao nhiệm vụ: ''Tiêu diệt địch, giải phóng Đắc Tô - Tân Cảnh, có điều kiện thì giải phóng thị xã Kon Tum. Hướng phát triển có thể là hướng Plei Ku, có điều kiện thì mở rộng vùng giải phóng tây Plei Ku, giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột, hình thành căn cứ địa hoàn chỉnh nối liền với căn cứ địa miền Đông Nam Bộ''1.

   Quán triệt, thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng và chỉ thị, nhiệm vụ của Quân ủy, Bộ Tổng tư lệnh giao, cuối tháng 10 năm 1971 Đảng ủy Chiến trường Tây Nguyên họp bàn ra nghị quyết (số 116/A1) về chiến dịch xuân hè năm 1972, xác định quyết tâm: "Tích cực tạo mọi điều kiện, tập trung bộ đội chủ lực và binh khí kỹ thuật mở chiến dịch tấn công, đồng thời sẵn sàng phản công đánh bại quân địch, sau đó chuyển sang tấn công và mở chiến dịch tổng hợp phá ấp giành dân ở các tỉnh, nhằm: tiêu diệt một số chiến đoàn, trung đoàn địch, đánh qụy sư đoàn thuộc quân đoàn 2 và tổng dự bị quân ngụy; giải phóng một vài thị xã và giải phóng phần lớn nông thôn, mở Tây Nguyên thành căn cứ địa hoàn chỉnh nối liền với căn cứ địa rừng núi Trị -Thiên đến miền Đông Nam Bộ và Hạ Lào, Đông Bắc, Cam-pu-chia, hình thành căn cứ địa vững mạnh rộng lớn của cách mạng ba nước Đông Dương''.

   Ngay sau hội nghị của Đảng ủy Chiến trường Tây Nguyên, công tác chuẩn bị chiến dịch được tiến hành tích cực, khẩn trương và bí mật. Trong khi Bộ tư lệnh, cơ quan mặt trận, chỉ huy các đơn vị đi chuẩn bị chiến trường, nắm địch, xây dựng quyết tâm kế hoạch, thì một lực lương lớn bộ đội được huy động vào làm đường, vận chuyển đạn gạo. Để bảo đảm giao thông, 12 vạn công được huy động mở thêm các đường 50K, 60, 70A, 110 với 508km đường mới; sửa chữa mở rộng nâng cấp 480km đường cũ, phá ngầm mở thông hàng trăm kilômét đường sông... kịp thời khắc phục tình trạng độc tuyến trên các hướng. Trên mặt trận vận tải, một chiến dịch vận chuyển lớn được tổ chức với sự tham gia của hàng nghìn người thuộc các đơn vị chuyên nghiệp, các trung đoàn bộ binh, pháo binh, đặc công, Trường Quân Chính, Trường Quân y, Viện 21l, các đội điều trị. Ta tổ chức 5 tuyến có vận tải cơ giới: tuyến 50K được tăng cường Đại đội 2 vận tải ô tô do Binh trạm Bắc phụ trách; hai tuyến 60, 70 có ba đại đội vận tải ô tô (141, 1, 4 thuộc Tiểu đoàn 10) do Trung đoàn 83 công binh tổ chức bảo đảm; tuyến C09 thuộc Binh trạm Trung được tăng cường Đại đội 3 ô tô và Tiểu đoàn 6 vận tải bộ. Các tuyến vận tải bộ cũng vươn dài theo bước chân của các chiến sĩ gùi, thồ. Quá trình vận chuyển cũng là quá trình vật lộn gian khổ với đèo cao, dốc đứng, sông sâu, đánh máy bay, biệt kích địch bảo vệ xe, hàng. Những tấm gương dũng cảm xuất hiện ngày càng nhiều, kỷ lục mới luôn được lập. Chiến sĩ Nguyễn Công Thức thồ được 450kg, có chuyến thồ được 2 phuy xăng, đạt kỷ lục cao nhất thồ bằng xe đạp ở Chiến trường Tây Nguyên. Các đại đội vận tải ô tô 141 và 4 băng qua bom đạn của kẻ thù, bền bỉ vượt qua những dốc núi cheo leo kiên quyết đưa hàng ra phía trước. Chiến sĩ lái xe Hà Văn Thêm có lần bị máy bay địch bắn đuổi dọc đường, xe trúng đạn bốc cháy, toàn thân bỏng rộp vẫn giữ vững tay lái đưa hàng tới đích. Với những cố gắng rất lớn, từ tháng 1 đến tháng 6 năm 1972, lực lượng vận tải đã bảo đảm cho chiến dịch: 6.137 tấn hàng các loại, gồm 932 tấn đạn dược, 5.311 tấn lương thực (có 1.300 tấn tự túc và 300 tấn do nhân dân huyện 80 và 16 tỉnh Kon Tum ủng hộ), 315 tấn muối, 383 tấn thực phẩm, 128 tấn sữa và 351.668 lít xăng, 116.221 lít dầu mazút. Trung đó vận chuyển bằng cơ giới chiếm 89% tổng khối lượng, còn 11% do bộ đội gùi thồ. Đây là lần đầu tiên chuẩn bị bảo đảm cho một chiến dịch tiến công lớn nhất từ trước đến nay ở Tây Nguyên, với nhiều binh chủng kỹ thuật tham gia; trong điều kiện địa bàn rộng, thời tiết phức tạp, nguồn cung cấp từ hậu phương lớn vào luôn gặp khó khăn, địch rình rập đánh phá ác liệt, sức vận chuyển có hạn, kinh nghiệm vận tải cơ giới quản lý bảo quản sử dụng còn ít.
   
   Vì vậy ngay từ giai đoạn chuẩn bị và trong suốt quá trình thực hành chiến dịch luôn thiếu đạn, gạo so với kế hoạch và nhu cầu, nhất là giai đoạn đầu và giai đoạn cuối chiến dịch, ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả chiến đấu. Tuy vậy, những kết quả trên mặt trận giao thông vận tải chiến dịch bắc Tây Nguyên xuân hè 1972 là một cố gắng lớn, một bước tiến vượt bậc, một kỳ công của Chiến trường Tây Nguyên.

   Để tạo điều kiện cho Tây Nguyên hoàn thành thắng lợi chiến dịch, từ tháng 1 đến tháng 3 năm 1972 Bộ Tổng tư lệnh và Bộ tư lệnh Quân khu 5 bổ sung, tăng cường cho B3 các đơn vị: Sư đoàn bộ binh 320A, Trung đoàn bộ binh 24b2, Sư đoàn bộ binh 2 (thiếu Trung đoàn 31) Quân khu 5, Tiểu đoàn đặc công 20, 3 tiểu đoàn pháo phòng không 37mm, 1 tiểu đoàn súng máy phòng không 14,5mm, 1 tiểu đoàn thông tin, 1 tiểu đoàn vận tải ô tô (827), 2 tiểu đoàn vận tải bộ, 2 đội điều trị (17, 25) và một số phân đội bảo đảm, hậu cần, kỹ thuật. Bộ đội chủ lực Tây Nguyên có bước phát triển nhảy vọt cả về số lương và chất lượng.

   Trước khi chiến dịch mở màn, khối chủ lực B3 có 2 sư đoàn bộ binh (320A, 2), 4 trung đoàn bộ binh độc lập (66, 28, 95, 24B), 1 trung đoàn đặc công (400), 2 trung đoàn pháo binh hỗn hợp (40, 675), 1 tiểu đoàn xe tăng (297), 4 tiểu đoàn phòng không, 2 trung đoàn công binh (83, 7) và nhiều đơn vị trinh sát, thông tin, hậu cần - kỹ thuật cùng 423 xe (216 xe tác chiến, 207 xe vận tải). Tổng quân số lên đến 47.647 người, gấp 2 lần so với năm 1971 (24.483 người). Số tiểu đoàn bộ binh (29 tiểu đoàn) nhiều hơn thời kỳ cao điểm của năm 1968 (27 tiểu đoàn). Các trung đoàn bộ binh đều có trên 2.000 người, quân số chiến đấu từ 1.700 đến 1.800 người. Trung đoàn pháo binh 40 tổ chức thêm một tiểu đoàn pháo cơ giới, trang bị pháo 105 và 155mm thu được của địch.

   Thời gian này, nhiều đồng chí lãnh đạo, chỉ huy được tăng cường cho Mặt trận Tây Nguyên. Ban Bí thư Trung ương Đảng cử đồng chí Tư Thuận (Trương Chí Cương) - Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng vào trực tiếp làm Chính ủy chiến dịch; Bộ Tổng Tham mưu cử đồng chí Nguyễn Hòa vào làm Tư lệnh phó chiến dịch. Các cơ quan Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần cũng cử nhiều cán bộ, phái viên vào công tác giúp đỡ B3 mở chiến dịch.

   Cùng thời gian này, sở chỉ huy tiền phương chiến dịch được thành lập, đứng chân ở phía đông Đắc Tô - Tân Cảnh, trực tiếp chỉ huy lực lượng tác chiến trên hướng đông. Bộ tư lệnh tiền phương chiến dịch (Mặt trận cánh Đông) và chủ trì ba cơ quan gồm các đồng chí: Tư lệnh Nguyễn Mạnh Quân, Chính ủy Đặng Vũ Hiệp, Tư lệnh phó Hồ Đệ, phó chính ủy Lã Ngọc Châu, Tham mưu trưởng Trần Quốc Biên, Chủ nhiệm chính trị Nguyễn Hữu Hưu, Chủ nhiệm hậu cần Đặng Văn Khóat. Từ cuối tháng 2, đầu tháng 3 năm 1972 Bộ tư lệnh tiền phương bước vào hoạt động, trực tiếp chỉ đạo chỉ huy các trung đoàn 66, 28... sau đó là Sư đoàn 2 và các lực lượng binh chủng, đặc công, hậu cần - kỹ thuật triển khai công tác chuẩn bị chiến dịch.

   Nhằm phá giao thông vận chuyển, tiêu diệt tiêu hao một bộ phận sinh lực, phá hủy nhiều xe máy phương tiện chiến tranh, buộc địch phải phân tán binh lực đối phó, tạo điều kiện cho toàn mặt trận đẩy nhanh triển khai lực lượng chuẩn bị chiến dịch, đồng thời rèn luyện ba thứ quân; từ ngày 20 tháng 2 đến ngày 26 tháng 3, Bộ tư lệnh B3 mở một đợt tiến công trước chiến dịch xuân hè. Trong hơn một tháng chiến đấu, ta đã đánh 226 trận (có 44 trận đánh giao thông), diệt 1.150 tên địch (có 9 tên Mỹ); bắt 13 tên, bắn rơi và phá hủy 15 máy bay, 304 xe quân sự (có 50 xe tăng, xe bọc thép), 1 nhà máy điện, 7 lô cốt, 1 cầu, thu 31 súng và 2 vô tuyến điện. Nổi bật là các trận đánh giao thông cắt đường 14 của Trung đoàn 95 ở khu vực Chư Thoi, Chư Pao, của Tiểu đoàn 2 và bộ đội huyện, du kích các khu 2, 3, 5 tỉnh Gia Lai. Riêng Sư đoàn 320 quá trình vào chiếm lĩnh trận địa, cài thế chiến dịch đã đánh 14 trận nhỏ ở phía tây sông Pô Kô, diệt 109 tên địch, bắn rơi và phá hỏng 8 máy bay.

   Quá trình ta chuẩn bị chiến dịch, tình hình địch ở Tây Nguyên có nhiều thay đổi. Đầu năm 1972 địch phán đoán ta sẽ tiến công lớn, hướng chủ yếu ở Kon Tum, hướng thứ yếu là Đường 9 và miền Đông Nam Bộ; thời điểm tiến công sẽ vào dịp Tết Nhâm Tý, sau lại cho là trong mùa hè. Do vậy, ngay từ đầu năm 1972 chúng điều trung đoàn 47 lên cùng trung đoàn 42 phòng thủ Tân Cảnh, ra sức củng cố công sự, tăng thêm chướng ngại vật và dự trữ vật chất ở căn cứ 42. Song song với các hoạt động trên, địch đẩy mạnh thăm dò đánh phá kho tàng, đường vận chuyển của ta, bằng máy bay, biệt kích tập trung trên các khu vực Pô Kô Hạ, nam - bắc đường 18, các trục đường 60, 70. Mặc dù ta đã cố gắng giữ bí mật, nhưng địch cũng phát hiện được những bộ phận nhỏ của Trung đoàn 95, Trung đoàn 28 ở hướng đường 14 và bộ phận thông tin của Sư đoàn 320 ở đông Chư Mom Ray, biết ta làm đường 70B ở phía tây sông Pô Kô hướng về phía Võ Định.

   Không tin vào khả năng phòng giữ của quân khu 2 quân đoàn 2, ngày 4 tháng 3 địch điều lữ dù 2 lên Kon Tum và ngày 7 đổ bộ 2 tiểu đoàn của lữ đoàn này xuống lập tuyến phòng ngự ngăn chặn vòng ngoài ở dãy điểm cao bờ tây sông Pô Kô. Cùng lúc, trung đoàn 47 và bọn biệt động biên phòng được tung ra phía bắc Plei Kần, Pô Kô Hạ, Kon Kô ngăn chặn làm đường, phá kho tàng và chuẩn bị chiến dịch của ta. Đến ngày 30 tháng 3 (mở màn chiến dịch), địch đã tập trung ở Tây Nguyên 22 tiểu đoàn bộ binh (thuộc 7 trung đoàn của hai sư đoàn (22, 23), lữ dù 2; liên đoàn 2 biệt động quân), 8 tiểu đoàn thiết giáp (thuộc 4 trung đoàn 19, 3, 14, 8 ), gần 10 tiểu đoàn pháo và một lượng lớn máy bay. Ngoài quân chủ lực, chúng còn có 25 đại đội bảo an, 112 trung đội dân vệ, 3 đại đội thám báo, 1  chi khu 4 phân khu cảnh sát và 30 đoàn bình định. Riêng khu vực Đắc Tô - Tân Cảnh có 12 tiểu đoàn. Địch bố trí: trung đoàn 42 ở Tân Cảnh, Đắc Mót, Ngọc Rinh Rua, Ngọc Bờ Biêng, Ngọc Cung Giao, Plei Kần; trung đoàn 47 chốt giữ điểm cao 1015, nam Ngọc Bờ Biêng, Ngọc Rinh Rong và La Sơn (nam Plei Ku); trung đoàn 53 bảo vệ đường 14 đoạn Pleiku - Kon Tum; liên đoàn 2 biệt động quân lên phản kích ở khu vực Ngọc Lũ bắc Tân Cảnh bị Trung đoàn 28 chặn đánh phải lui về Biển Hồ củng cố, lữ dù 2 ở tây sông Pô Kô (tiểu đoàn 1 ở điểm cao 966, Cư Tơ Sung; tiểu đoàn 2 ở điểm cao 1049, nam 1015; tiểu đoàn 3 ở điểm cao 838, Ngọc Bờ Biêng), chỉ huy lữ đoàn dù ở Võ Định, trận địa pháo 155 - 105 ở Kon Trang Klả; trung đoàn 45 ở Phú Nhơn, Buôn Ma Thuột; trung đoàn 44 bảo vệ đường 14; các tiểu đoàn thiết giáp triển khai trên các hướng Tân Cảnh, Pleiku - An Khê, Buôn Ma Thuột. Quá trình chiến dịch diễn ra, địch đưa tiếp bộ tư lệnh sư đoàn dù 2, lữ dù 3, liên đoàn 6 biệt động quân lên Tây Nguyên, nâng tổng số binh lực lên khỏang 6 vạn tên (18.000 quân chủ lực, 27.000 quân địa phương, còn lại là dân vệ, nghĩa quân, cảnh sát, bình định).




------------------------------------------------------------------
1. Trích điện số 236 của Bộ Tổng tư lệnh gửi Chiến trường Tây Nguyên, Quân khu 5 và Miền, ngày 10.9.1971.
2. Giữa tháng 1 năm 1972, Trung đoàn 24B vào Tây Nguyên thì Trung đoàn bộ binh 24A rời Tây Nguyên vào Nam Bộ chiến đấu.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 12 Tháng Tư, 2021, 08:22:14 am
*

   Phối hợp chặt chẽ với các hướng trong cuộc tiến công chiến lược toàn miền Nam. Đúng 6 giờ ngày 30 tháng 3 năm 1972, Trung đoàn bộ binh 52 Sư đoàn 320 do trung đoàn trưởng Hồ Hải Nam và Chính ủy Đặng Ngọc Truy chỉ huy, nổ súng vây ép tiểu đoàn dù 2 ở điểm cao 1049, mở đầu chiến dịch bắc Tây Nguyên xuân hè 1972. Do bố trí trận địa vây lấn quá xa mục tiêu, hướng thứ yếu (tây bắc) và kiềm chế (đông nam) bị lộ khi vào chiếm lĩnh, địch lấy được tài liệu, biết kế hoạch chiến đấu của ta, nên tập trung lực lượng đối phó và gọi pháo binh máy bay đánh phá dữ dội vào trận địa. Mặc dù bộ đội chiến đấu rất dũng cảm đẩy lui nhiều đợt phản kích của địch từ điểm cao 1049 nống ra và Đại đội 1 súng máy phòng không 12,7mm do Đỗ Văn Bảy chỉ huy bắn rơi 4 máy bay... nhưng kết quả ngày đầu vây ép của trung đoàn rất hạn chế, ta tổn thất thương vong nhiều. Trước tình hình đó, Bộ tư lệnh Sư đoàn 320 kịp thời chỉ rõ nguyên nhân kết quả chiến đấu thấp là do vây chưa sát, cách dành không phù hợp, tổ chức hiệp đồng thiếu chặt chẽ, không thực hiện đúng kế hoạch tác chiến, thông tin liên lạc kém. Chấp hành mệnh lệnh của Sư đoàn, đêm 30 rạng ngày 31 tháng 3 Trung đoàn 52 rút kinh nghiệm, bổ sung kế hoạch, điều chỉnh đội hình, cử nhiều cán bộ xuống từng hướng quán triệt ý định, động viên bộ đội, củng cố quyết tâm, đưa trận địa vây áp sát mục tiêu và tập kích tiêu diệt 1 trung đội địch ở đồi C. Hai ngày (31 tháng 3 và 1 tháng 4), Trung đoàn 52 tiếp tục xiết chặt vòng vây quanh cứ điểm, dùng hỏa lực bắn phát một chính xác diệt hàng chục lô cốt ụ súng ở đồi A và B; chặn đánh các toán quân tiếp ứng gần, chuẩn bị tiến công dứt điểm. Thấy vòng vây của đối phương như chiếc thòng lọng đang siết dần quanh cổ, tên tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn dù 2 điện khẩn xin thượng cấp chi viện. Nhưng tướng Ngô Du - tư lệnh quân khu 2-quân đoàn 2 và tướng Dư Quốc Đống, tư lệnh sư đoàn dù 2 cùng bọn chỉ huy lữ dù 2 cũng không tìm ra phương cách cứu nguy hữu hiệu. Cuối cùng, chúng chọn phương án tiếp tục cho tiểu đoàn dù 2 cố thủ, dùng máy bay pháo binh chi viện hỏa lực rất mạnh và cho 2 tiểu đoàn (1, 3) từ ngoài đánh vào 1049. Hoang mang lo sợ, bọn lính đi ứng cứu cứ chạm súng với ta là lùi lại không chịu tiến. Sau những cố gắng giải tỏa không hiệu quả, địch tung lữ dù 3 vào trận, dùng trực thăng đổ tiểu đoàn dù 11 xuống tây nam điểm cao 1015, rút tiểu đoàn dù 3 khỏi điểm cao 838.

   Địch đổ quân tăng viện ra bờ tây sông Pô Kô. Mục đích vây ép đã đạt được, Trung đoàn 52 được lệnh chuyển sang tiến công tiêu diệt hoàn toàn tiểu đoàn dù 2, làm chủ điểm cao 1049. Thực hiện kế hoạch chiến đấu, 3 giờ 30 phút ngày 3 tháng 4 các hướng các mũi đồng loạt nổ súng tiến công. Hỏa lực chuẩn bị bắn dồn dập vào sở chỉ huy, tiêu diệt nhiều mục tiêu địch ở đồi A và B. Lợi dụng kết quả hỏa lực, bộ binh nổ mìn định hướng, đánh bộc phá liên tục mở toang những hàng rào cuối cùng. 4 giờ cửa mở đã thông, bộ đội ào ạt xông lên đánh chiếm đầu cầu, phát triển vào bên trong. Bọn lính dù điên cuồng chống cự nhưng không cản được sức tiến công mạnh mẽ của đoàn quân ''Tây Tiến''. Người trước ngã xuống, người sau tiếp tục xông lên. Tiểu đội trưởng Đỗ Thượng Vượng, liên lạc viên Lê Xuân Chữ, y tá Lê Văn Niết xông pha lửa đạn, tả xung hữu đột. 7 giờ, ta chiếm sở chỉ huy tiểu đoàn dù 2 và một nửa đồi B, đồi A. Phần lớn quân địch bị diệt, chỉ còn khỏang 40 tên chạy dạt về đông nam đồi A và bắc đồi B. Tên tiểu đoàn trưởng kêu cứu khẩn cấp. Máy bay, pháo binh địch đánh trùm lên toàn bộ trận địa. Do công tác tổ chức chiến đấu ở giai đoạn cuối trận đánh thiếu chặt chẽ, bộ đội chưa được quán triệt kỹ tư tưởng đánh chiếm xong trụ bám vững chắc, truy diệt triệt để; khi bị thương vong nhiều do bom pháo đã rối loạn đội hình, tự động rút ra trận địa vây lấn. Bọn tàn binh địch ở đông nam đồi A thừa cơ phản kích chiếm lại đỉnh đồi lúc 8 giờ cùng ngày. Chiến sự diễn ra rất ác liệt, khẩn trương nhưng thông tin liên lạc bị đứt hoàn toàn, chỉ huy trung đoàn, tiểu đoàn không nắm được tình hình, không kịp thời xử trí tình huống. Xét thấy khả năng tiến công lại điểm cao 1049 của Trung đoàn 52 không còn chắc thắng, vì đơn vị bị tổn thất nặng, địch lại đổ thêm 3 đại đội của tiểu đoàn dù 4 cho cứ điểm này; nên Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định chỉ để lại một lực lượng của Tiểu đoàn 4 và hỏa lực tiếp tục giữ thế vây, kiềm chế địch ở 1049, tạo điều kiện cho Trung đoàn 64 tiến công tiêu diệt tiểu đoàn dù 11 ở điểm cao 1015, lực lượng còn lại về phía sau củng cố và sẵn sàng đánh chiếm lại điểm cao này khi có lệnh.

   Mặc dù trận mở màn chiến dịch chưa đạt mục đích đề ra là tiêu diệt hoàn toàn tiểu đoàn dù 2 làm chủ điểm cao 1049, nhưng Trung đoàn 52 đã đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn địch, diệt 190 tên, bắn rơi 12 máy bay... giáng một đòn thôi động vào tuyến phòng ngự vòng ngoài bên bờ tây sông Pô Kô, buộc địch phải đưa quân ra khu vực này để đơn vị bạn tiến công tiêu diệt, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển đúng ý định. Trên đường chinh chiến tiếp sau, Trung đoàn 52 lập bao chiến công oanh liệt, vì đã nghiêm khắc rút kinh nghiệm và không bao giờ quên ''mối hận 1049 năm 1972''.

   Để thực hiện cho được ý định nhanh chóng đập vỡ tuyến phòng thủ ngăn chặn vòng ngoài của địch, đưa lực lượng tiến sang đường 14. Bộ tư lệnh chiến dịch và Sư đoàn 320 giao cho Trung đoàn 64 tiến công tiêu diệt tiểu đoàn dù 11 thuộc lữ dù 3 ở tây nam điểm cao 1015.
   
   Chấp hành mệnh lệnh chiến đấu, đêm 11 rạng ngày 12 tháng 4, Trung đoàn 64 do trung Đoàn trưởng Khuất Duy Tiến và Chính ủy Phạm Văn Đông chỉ huy, bí mật tiến vào chiếm lĩnh trận địa xung quanh điểm cao 1015. Quá trình cơ động bị tám trận bom cắt ngang đội hình và địch ra sức ngăn chặn, nhưng đến 5 giờ ngày 12 toàn đơn vị hoàn thành mọi công tác chuẩn bị, bộ đội sẵn sàng nổ súng. Đúng 6 giờ sáng, cụm pháo chiến dịch bắn chuẩn bị vào sở chỉ huy tiểu đoàn dù ở M1. 40 phút sau hỏa lực đi cùng trên các hướng tiến công tham gia bắn diệt một số mục tiêu ở phía trước và hai bên cửa mở. Lợi dụng kết quả hỏa lực, bộ binh thực hành mở cửa. Trên hướng tiến công chủ yếu (tây nam) đại đội trưởng Đại đội 10 Đặng Văn Lưu trực tiếp chỉ huy Trung đội 3 nổ mìn định hướng và đánh bộc phá mở thông cửa; rồi phối hợp với mũi thứ hai do đại đội phó Nguyễn Văn Hỏa và trung đội trưởng Nguyễn Ngọc Loan chỉ huy, xung phong đánh chiếm được một số công sự, dồn địch ở M13 về một phía. Bọn lính dù co cụm chống cự quyết liệt, máy bay pháo binh đánh phá dữ dội vào đội hình tiến công của ta. Tiểu đoàn 9 đưa hai đại đội 9 và 10 vào phát triển chiến đấu nhưng đến 10 giờ 30 phút vẫn chưa chiếm được hoàn toàn mục tiêu. Cùng thời gian này, ở hướng tiến công thứ yếu phía tây, Đại đội 7 Tiểu đoàn 8 chiếm được trận địa pháo địch trên đồi D3, khi phát triển sang mục tiêu M11 bị địch ngăn chặn phải tạm dừng. Mũi tiến công của Đại đội 6 vào mục tiêu D2 gặp khó khăn.

   Thấy hỏa lực chuẩn bị chưa đủ mạnh, chiều ngày 12, tư lệnh Sư đoàn 320 Nguyễn Kim Tuấn ra lệnh cho pháo lựu 122 và cối 120mm tiếp tục bắn phá liên tục 2 giờ liền vào điểm cao 1015. Hỏa lực Trung đoàn 64 và hai tiểu đoàn 8, 9 tham gia bắn cùng cấp trên, sau đó bộ binh xung phong đánh chiếm mục tiêu. Hướng chủ yếu ta làm chủ M13 và chiếm được một số công sự tuyến ngoài của mục tiêu M12 phải tạm dừng, củng cố. Hướng thứ yếu, vị trí chỉ huy Tiểu đoàn 8 bị trúng bom, tiểu đoàn trưởng Đàm Vũ Hiệp và Chính trị viên Nguyễn Văn The hy sinh. Đồng chí tham mưu phó trung đoàn được cử xuống trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn 8, động viên bộ đội giữ vững thế trận tiến công.

   Sau một ngày đánh địch phản kích, giữ vững trận địa; đêm 13 tháng 4 bộ đội trên các hướng giãn đội hình ra cách địch 150m giữ khỏang cách an toàn cho pháo bắn. Từ 9 giờ đến 16 giờ 35 phút ngày 14, ta dùng pháo Đ74, pháo lựu 122, cối 120mm bắn phá mạnh vào các mục tiêu M1, D2. Các tiểu đoàn tổ chức hỏa lực tiêu diệt mục tiêu trên hướng đảm nhiệm. Pháo binh ta bắn chính xác trúng sở chỉ huy tiểu đoàn địch, phá sập nhiều công sự, diệt nhiều sinh lực và cháy 2 kho. Bọn địch ở M11 dao động, một số bỏ chạy về hướng đông bị Đại đội 10 chặn đánh, chạy ngược trở lại. 16 giờ 35 phút, đội hình địch rối loạn, trung đoàn trưởng hạ lệnh xung phong. Hướng chủ yếu, bộ đội ào ạt xông lên đánh chiếm M12.

        Một toán địch lợi dụng công sự và cây gỗ to đổ chắn ngang điên cuồng chống trả, nhưng hai mũi tiến công của Đại đội 10 do Chính trị viên phó Dương Văn Niên và trung đội trưởng Bùi Huy Điển chỉ huy nhanh chóng đột phá qua, đánh vào bên trong. Khi trận đánh diễn ra quyết liệt, phân dội dự bị của trung đoàn kịp thời bước vào phát triển chiến đấu, làm chủ hoàn toàn M12 lúc 17 giờ 20 phút. Số địch còn lại co cụm về M11. Phối hợp với hướng chủ yếu, Đại đội 7 Tiểu đoàn 8 do Nguyễn Văn Hinh chỉ huy vượt qua khu lòng chảo đánh lên phía bắc M11, nhưng đồi dốc, địch bắn chặn không tiến được. Để cứu nguy cho bọn lính dù, máy bay địch lao đến oanh tạc dữ dội trận địa ta. Lực lượng phòng không chiến đấu mưu trí dũng cảm bắn rơi nhiều chiếc. Riêng Đại đội 2 (Tiểu đoàn 16) súng máy phòng không 12,7mm do Khuất Đình Nuôi chỉ huy đi phối thuộc cho Tiểu đoàn 8 đã bắn rơi 5 máy bay trong vòng 15 phút. Với cách đánh táo bạo, thông minh, trong trận đánh điểm cao 1015 Đại đội 2 đã hạ 9 máy bay các loại. Đêm 14 rạng ngày 15 tháng 4, Trung đoàn 64 làm chủ hoàn toàn điểm cao 1015, truy diệt thêm 80 tên địch (có tên Mễ - tiểu đoàn phó), bắt 30 tên. Số địch còn lại gồm 191 tên chạy về hướng đông, rơi vào trận địa phục kích đã bày sẵn của Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48 ở Ngọc Đi Ốc, thêm 107 tên bị bắt và 78 tên bị diệt.

   Sau 3 ngày tiến công, tiểu đoàn dù 11 bị tiêu diệt hoàn toàn, hơn 350 tên bị loại khỏi vòng chiến đấu, 20 máy bay bị bắn rơi, hàng trăm súng bị phá hủy và gần 160 khẩu bị tịch thu. Đây là trận tiêu diệt gọn 1 tiểu đoàn  dù đầu tiên trên Chiến trường Tây Nguyên, hạ uy thế các gọi là "lực lượng tin cậy nhất trong các lực lượng trù bị quốc gia'' của quân ngụy Sài Gòn. Bọn lính mũ đỏ hùng hổ kéo ra bờ tây sông Pô Kô hòng ''rửa mối hận'' năm trước ở Đường 9 - Nam Lào1, cho máy bay rải truyền đơn khắp núi rừng với lời lẽ huênh hoang, thách Sư đoàn 320 giao chiến và rùm beng tuyên bố với giới báo chí rằng sẽ ''nghiền nát Sư đoàn 320 Bắc Việt tại Tây Nguyên'', đã thảm bại nhục nhã. Chiến thắng ở điểm cao 1015 đã hoàn thành trận then chốt thứ nhất của chiến dịch, chọc thủng tuyến phòng thủ vòng ngoài bên bờ tây sông Pô Kô của địch, góp phần quan trọng tạo thế phát triển cho toàn mặt trận. Với chiến công vẻ vang này, Trung đoàn 64 vinh dự được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba.

   Sau khi ta làm chủ khu vực điểm cao 1015, Bộ tư lệnh chiến dịch chủ trương nhanh chóng mở thông đường 70B, đồng thời sử dụng Trung đoàn 64 tiếp tục cài thế sẵn sàng tiêu diệt quân địch phản kích chiếm lại khu vực này. Về phía địch, tướng Ngô Du - tư lệnh quân khu 2-quân đoàn 2 ngụy vội vàng lên Võ Định bàn với tư lệnh sư đoàn dù 2 Dư Quốc Đống tìm cách chiếm lại điểm cao 1015. Nhưng dù thượng cấp ban lệnh, bọn lính dù hoang mang không chịu đi, cuối cùng chỉ huy địch phải bỏ ý định chiếm lại điểm cao này. Cũng vào trung tuần tháng 4 năm 1972 ta tiến công mạnh trên toàn miền Nam, nhất là hướng Bình Long và Quảng Trị. Địch cũng thấy được hướng tiến công chiến lược chủ yếu của ta không phải ở Tây Nguyên; nên mặc dù tuyến phòng ngự phía tây sông Pô Kô bị chọc thủng, chúng vẫn phải điều động bộ chỉ huy nhẹ sư đoàn dù 2 và lữ dù 2 đi tăng cường cho Bình long, đưa liên đoàn biệt động quân 6 và tiểu đoàn 1 trung đoàn 47 lên Kon Tum. Trước thời cơ thuận lợi, Bộ tư lệnh chiến dịch kịp thời chỉ đạo Sư đoàn 320 đón đánh tiêu diệt 1 đại đội và đánh thiệt hại nặng 1 đại đội khác của tiểu đoàn dù 3 từ Đắc Kêng Peng mò sang khu vực Kon Kô Dốp (17.4), đánh chiếm lại điểm cao 1049 (21.4) rồi vượt sông Pô Kô phối hợp cùng Trung đoàn 28 cắt đường 14, tạo điều kiện cho lực lượng trên hướng bắc đánh chiếm Đắc Tô - Tân Cảnh.

   Phối hợp với Sư đoàn 320 tiến công địch bên bờ tây sông Pô Kô, các hướng khác đều tích cực hoạt động. Ở phía bắc, Sư đoàn 2 do sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn và chính ủy Lê Đình Yên chỉ huy pháo kích, tập kích vào trận địa pháo, sở chỉ huy trung đoàn 47, bao vây tiểu đoàn 9 thuộc lữ dù 3 và đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 4, tiêu hao tiểu đoàn 1 ở Ngọc Tụ. Trên đường 14 đoạn Kon Tum - Diên Bình, Trung đoàn 28 sau khi diệt tiểu đoàn 23 biệt động quân (24-28.3), tập trung lực lượng đánh phá giao thông, pháo kích Võ Định, tập kích diệt trận địa pháo ở Kông Trăng Lăng Loi (7.4) phá 9 pháo lớn, 20 xe, 3 kho đạn, 1 kho xăng, diệt 130 tên địch. Ở nam thị xã Kon Tum, Trung đoàn 95 tổ chức 7 chốt hỏa lực trên dãy Chư Thoi, chặn đánh một số đoàn xe trên đường 14 và đánh quân giải tỏa, phá hủy gần 100 xe, diệt hàng trăm tên; buộc địch phải huy động 2 trung đoàn 53, 45 và 2 chi đoàn thiết giáp có pháo binh máy bay chi viện mạnh nhưng vẫn không mở thông được đoạn đường huyết mạch này.

   Trong khi chủ lực đánh mạnh, trên hướng Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc lực lượng vũ trang địa phương tích cực đánh nhỏ và mở dân. Ở Kon Tum ta đánh khu kho Nguyễn Huệ trong thị xã, tập kích Kon Mơ Na, bắn ĐKZ vào đội hình tiểu đoàn 22 biệt động quân đang tập trung lên máy bay. Tại Gia Lai, bộ đội địa phương đánh giao thông ở đường 19, tập kích Be Len Tua, giải phóng 7.000 dân ở làng Dịt và Hà Lòng. Hướng Đắc Lắc, các đơn vị tỉnh, huyện đánh phá đường 7, giải phóng dân ở xã Đức An và Đức Lập.




-----------------------------------------------------------------
1. Trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Trung đoàn 64 do đồng chí Khuất Duy Tiến chỉ huy đã tiêu diệt chỉ huy lữ dù 3, tiểu đoàn 3, tiểu đoàn pháo binh địch ở căn cứ 31, diệt 370 tên, bắt 137 tên, trong đó có đại tá lữ trưởng Nguyễn Văn Thọ (20-25.2.1971).


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 12 Tháng Tư, 2021, 08:27:25 am
*
   

   Tuyến phòng thủ vòng ngoài ở bờ tây sông Pô Kô bị đập vỡ, đường 14 bị cắt đứt, địch ở thung lũng Đắc Tô - Tân Cảnh bị cô lập. Nắm vững thời cơ thuận lợi, Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định dùng Trung đoàn 66 được tăng cường Tiểu đoàn 37 đặc công, Đại đội 7 xe tăng, Đại đội 53 cao xạ tự hành, Đại đội 29 B72, 4 đại đội cối và súng máy phòng không, được các cụm pháo binh chiến dịch chi viện, tiến công tiêu diệt căn cứ 42 trung tâm chỉ huy của tập đoàn phòng ngự phía bắc tỉnh Kon Tum, giải phóng Đắc Tô, Tân Cảnh, hoàn thành giai đoạn 1 chiến dịch.

   Căn cứ 42 nằm trên một dải đồi trọc, cách thị trấn Tân Cảnh và đường 18 khỏang 1km về phía tây nam, rộng chừng 24 héc ta, có cấu trúc hình lục giác. Bên trong có nhiều loại công sự được cấu trúc vững chắc, xung quanh có từ 8 đến 14 hàng rào kẽm gai, xen kẽ có nhiều mìn chống tăng và chống bộ binh. Khi ta tiến công, lực lượng địch ở căn cứ 42 gồm có: chỉ huy sư đoàn 22 và cố vấn Mỹ, chỉ huy trung đoàn 42, chỉ huy trung đoàn 14 thiết giáp, chỉ huy biên phòng tỉnh Kon Tum, chỉ huy ba tiểu đoàn (1, 2, 4/42), 1 đại đội bảo vệ, 1 đại đội trinh sát, 1 đại đội công binh, 1 thiết đoàn (41 xe tăng, xe bọc thép), 1 tiểu đoàn pháo (10 khẩu 105, 155mm), với tổng số quân khỏang 1.500 tên, bố trí thành 13 khu. Là một cứ điểm phòng thủ mạnh, lại có nhiều cứ điểm và lực lượng xung quanh bảo vệ sẵn sàng ứng cứu, được máy bay pháo binh chi viện tối đa nên địch huênh hoang tuyên bố: ''Bao giờ nước sông Pô Kô chảy ngược thì Việt cộng mới đánh được''!

   Thực hiện kế hoạch chiến đấu, trong ba ngày (21, 22, 23 tháng 4) các cụm pháo chiến dịch của Trung đoàn 40 và Trung đoàn 675 bắn phá mạnh vào căn cứ 42. Đạn pháo rơi trúng hầm chỉ huy sư đoàn 22 khi chúng đang họp, diệt một số tên; phá hủy hoàn toàn khu thông tin, đài ra đa điều khiển máy bay, nhà máy điện, phá sập 50% nhà cửa, gây hàng chục đám cháy. Hỏa lực Trung đoàn 66 và lực lượng tăng cường tham gia bắn diệt nhiều lô cốt, hỏa điểm, xe tăng, xe bọc thép trước cửa mở. Lợi dụng kết quả hỏa lực chuẩn bị, bộ binh nhanh chóng chiếm lĩnh trận địa tiến công ở hướng đông (chủ yếu), tây bắc (thứ yếu) và nam (quan trọng). Xe tăng, cao xạ tự hành được hơn 30 cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 66 và công binh dẫn đường, vượt qua ngầm Đắc Ta Kan, cầu Đắc Sinh rẽ về hướng tây bắc và theo đường 14 chọc qua thị trấn Tân Cảnh tiến vào trận địa tiến công. Tranh thủ thời cơ khi xe tăng ta bất ngờ xuất hiện trong thị trấn, địch ở đây hoang mang; Tiểu đoàn 9 cùng đội công tác của tỉnh Kon Tum tiến công giải phóng Tân Cảnh lúc 4 giờ 55 phút ngày 24 tháng 4, tạo thêm thuận lợi cho các lực lượng tiến công trên hướng chủ yếu phía Đông.
   
   Đúng 4 giờ 30 phút ngày 24 tháng 4, trung đoàn trưởng Trung đoàn 66 Phùng Bá Thường ra lệnh tiến công. Lập tức, các loại hỏa lực của trung đoàn và xe tăng bắn dồn dập trong vòng 20 phút vào các mục tiêu. Căn cứ 42 chìm trong khói lửa, rung lên trong ánh chớp và tiếng nổ vang rền của đạn pháo cối. Trên các hướng tiến công, bộ binh nổ mìn định hướng và đánh bộc phá vào những hàng rào trong cùng. Hướng chủ yếu phía đông, Tiểu đoàn 7 mở thông 10 hàng rào thép gai, chỉ còn lại hàng rào cuối cùng. Bộ đội dùng tôn đặt lên để vượt qua, xung phong đánh chiếm đầu cầu. Hai xe tăng (số 328, 903) tiến thẳng vào cổng chính dùng hỏa lực diệt các mục tiêu phía trước, dẫn dắt bộ binh đánh thọc vào bên trong. 5 giờ 10 phút ta chiếm được đầu cầu, rồi đánh chiếm khu hội trường, nhà làm việc, phát triển sang sở chỉ huy trung đoàn 42. Tuy đã núng thế nhưng địch vẫn ngoan cố chống cự, dựa vào công sự và công trình kiến trúc cho bộ binh, xe tăng ngăn chặn, phản kích. Trên trời, máy bay địch gầm rú trút bom đạn xuống trận địa của ta. Giữa lúc trận đánh diễn ra ác liệt, khẩn trương tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Vượng nhảy lên nóc xe tăng 373 chỉ huy một lực lượng lao vào tiếp ứng. Khi bị thương, đồng chí vẫn nén đau tiếp tục chỉ huy đơn vị đánh thọc sâu vào sở chỉ huy địch. Được 4 xe tăng dẫn dắt, 2 xe tăng và 2 cao xạ tự hành đứng bên ngoài hàng rào chi viện, các chiến sĩ Tiểu đoàn 7 lần lượt đánh chiếm, làm chủ các mục tiêu: tiểu đoàn 1, tiểu đoàn 2, khu làm việc hậu cần, kỹ thuật, chỉ huy sở trung đoàn 42, chỉ huy sở sư đoàn 22 và khu cố vấn Mỹ.

        Trên hướng thứ yếu phía tây bắc, được 3 xe tăng và 1 cao xạ tự hành do trung đội trưởng Nguyễn Nhân Triển chỉ huy, chi viện hỏa lực, Tiểu đoàn 8 đánh bộc phá mở thông 7 hàng rào, rồi dùng gỗ đặt lên nửa hàng rào trong cùng cho bộ đội vượt qua đánh vào bên trong. Bộ binh, xe tăng phối hợp nhịp nhàng đánh chiếm các mục tiêu: khu cố vấn, kỹ thuật, tiểu đoàn 4. Riêng xe tăng trên hướng này bắn diệt hỏa điểm địch trên tháp nước và 4 xe tăng, phá sập 15 lô cốt, chi viện cho bộ binh rất hiệu quả. Khi thấy ta cơ bản làm chủ căn cứ 42, theo lệnh của trên, trung đội xe tăng của Nguyễn Nhân Triển rời căn cứ tiến sang phía tây bắc phối thuộc cho Trung đoàn 1 đánh chiếm căn cứ Đắc Tô 2. Cùng thời gian này, ở hướng tiến công phía nam, Tiểu đoàn 37 đặc công do tiểu đoàn trưởng Đỗ Công Mùi chỉ huy tổ chức mở hai cửa nhưng đều không thông. Thấy phân đội đặc công gặp khó khăn, trung đoàn trưởng lệnh cho Tiểu đoàn 37 tiến theo cửa mở của Tiểu đoàn 7, đánh chiếm các mục tiêu ở phía nam cứ điểm. Được 2 xe tăng và B72 chi viện, phân đội chia làm 2 mũi kết hợp với mũi vượt rào của Đại đội 19 đánh chiếm khu kho hỗn hợp, bãi xe, trận địa pháo.

   11 giờ trưa ngày 24 tháng 4, ta làm chủ hoàn toàn căn cứ 42. Lá cờ giải phóng nửa đỏ nửa xanh ở giữa có ngôi sao vàng 5 cánh do đồng chí Phan Quyết (Bí thư Tỉnh ủy Kon Tum) trao cho Trung đoàn 66 trước lúc xuất quân, được Nguyễn Xuân Hòa (tiểu đội trưởng Tiểu đội 4, Đại đội 2, Tiểu đoàn 7) kéo lên phấp phới bay tại trung tâm cứ điểm. Buổi chiều, bọn chỉ huy sư đoàn 22 trốn trong hầm ngầm cũng bị tiêu diệt và bắt toàn bộ.

   Sau hơn 6 giờ tiến công, Trung đoàn 66 và các phân đội tăng cường đã xóa sổ căn cứ 42, giải phóng thị trấn Tân Cảnh; loại khỏi vòng chiến đấu gần 1.000 tên địch (trong đó có đại tá Lê Đức Đạt sư đoàn trưởng sư đoàn 22 ngụy và tên cố vấn Mỹ), bắt 429 tên (có đại tá sư đoàn phó Vi Văn Bình), bắn rơi 8 máy bay, thu và phá hủy 100 xe các loại, 10 khẩu pháo lớn, hàng vạn viên đạn pháo và toàn bộ kho tàng, phương tiện chiến tranh trong căn cứ. Đây là lần đầu tiên ở Tây Nguyên ta dùng lực lượng hiệp đồng binh chủng mạnh tiến công một căn cứ lớn có công sự vững chắc nằm sâu trong tuyến phòng ngự cơ bản của địch, với tốc độc nhanh, giành thắng lợi trọn vẹn. Thắng lợi của trận then chốt quyết định đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc và phát triển nhảy vọt về trình độ tác chiến của bộ đội chủ lực Tây Nguyên, đồng thời kết thúc giai đoạn một chiến dịch.

   Khi bộ binh và xe tăng đánh chiếm căn cứ 42 tương đối thuận lợi, khả năng làm chủ cứ điểm đã rõ rệt. Bộ tư lệnh tiền phương chiến dịch kịp thời ra lệnh cho pháo binh chuyển bắn vào Đắc Tô 2, chuyển thuộc 4 xe tăng và 1 cao xạ tự hành cho Trung đoàn 1 Sư đoàn 2 tiến công tiêu diệt tiểu đoàn 1 trung đoàn 47 làm chủ cứ điểm lúc 11 giờ 30 phút. Trong trận đánh này, trung dội trưởng Nguyễn Nhân Triển cùng kíp xe tăng số 377 lập kỷ lục xuất sắc, diệt 7 xe tăng địch rồi anh dũng hy sinh. Cùng thời gian này, Trung đoàn 141 Sư đoàn 2 được tăng cường xe tăng tiến công làm chủ quận lỵ Đắc Tô; Trung đoàn 400 đặc công đánh chiếm Diên Bình.
   
   Căn cứ 42 bị tiêu diệt, Đắc Tô - Tân Cảnh được giải phóng đã làm rung chuyển toàn bộ hệ thống phòng ngự của địch ở tây bắc Kon Tum, nhanh chóng kéo theo sự sụp đổ của hàng loạt vị trí địch trong vùng. Hỏang sợ và vội vả địch rút khỏi Ngọc Bờ Biêng, Ngọc Rinh Rua, Trí Lễ; các điểm cao 1338, 966, 1062. Sở chỉ huy lữ dù 3 cũng rút khỏi Võ Định về thị xã Kon Tum. Nhưng quân tháo chạy và bọn đi đón đã bị trung đoàn 28 diệt và bắt hàng trăm tên. Trong cảnh hỗn loạn và bị địch thúc ép, hàng nghìn dân bỏ chạy khỏi Đắc Tô, Tân Cảnh theo đường 14 về phía nam. Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 28 dưới sự chỉ huy của trung đoàn trưởng Nguyễn Quốc Thước, chính ủy Nguyễn Đằng và trung đoàn phó Vũ Khắc Đua kịp thời bảo vệ, giúp đỡ dân tránh bom rơi đạn lạc, đưa hơn 400 người trở về khu dân cư an toàn, tổ chức cho hàng nghìn người đi thành đoàn tạo điều kiện về thị xã Kon Tum.

   Ngay khi Đắc Tô - Tân Cảnh được giải phóng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh gửi điện khen ngợi cán bộ, chiến sĩ vừa lập chiến công oanh liệt; đồng thời chỉ thị cho Bộ tư lệnh chiến dịch kiên quyết khắc phục khó khăn, hết sức tranh thủ thời gian, khẩn trương cơ động lực lượng thực hiện ngay ''Nhiệm vụ trung tâm là tất cả để tranh thủ thời cơ giải phóng Kon Tum".


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 12 Tháng Tư, 2021, 08:32:00 am
*

   Sau khi mất Đắc Tô - Tân Cảnh, địch co về phòng thủ thị xã Kon Tum, lập bộ chỉ huy tiền phương sư đoàn 23, tập trung lực lượng của sư đoàn này và liên đoàn 6 biệt động quân vừa ở Nam Bộ ra lập tuyến phòng ngự phía bắc thị xã.

        Về phía ta, tuy có thời cơ thuận lợi nhưng cũng gặp khó khăn lớn về bảo đảm đạn, gạo và cơ động bih khí kỹ thuật vì đường 50K chưa thông với đường 14 và đường 70B chưa vượt qua dãy điểm cao phía tây sông Pô Kô. Ở Sư đoàn 2, số gạo chỉ còn đủ dùng trong 2 ngày. Trước tình hình đó, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh chiến dịch chủ trương dùng một lực lượng tiến công tiêu diệt liên đoàn 6 biệt động quân ở khu vực nam Võ Định, Kon Trang Klả và các cứ diềm Kleng, Plei Kần để mở đường vận chuyển; đồng thời đẩy nhanh tốc độ làm đường, chuẩn bị vật chất, cơ động lực lượng để ngày 10 tháng 5 tiến công thị xã Kon Tum.

   Thực hiện chủ trương trên, từ ngày 26 tháng 4 đến ngày 10 tháng 5 các trung đoàn 28, 48, 64 đánh thiệt hại nặng liên đoàn 6 biệt động quân, Tiểu đoàn 20 đặc công tập kích căn cứ 42 Biển Hồ (diệt 400 tên, phá hủy 10 pháo lớn), Trung đoàn 95 diệt 3 đại đội và đánh thiệt hại nặng 1 đại đội khác trên đường 14, Trung đoàn 52 đánh chiếm cứ điểm Kleng, xóa sổ tiểu đoàn 62 biệt động quân. Riêng Trung đoàn 66 do chủ quan khinh địch, tổ chức hiệp đồng chiến đấu thiếu chặt chẽ, cán bộ không sâu sát, báo cáo sai... nên trận đánh Plei Kần không thành công, kết quả hạn chế, ta thương vong nặng phải lủi ra củng cố.

   Lợi dụng lúc lực lượng ta phân tán đánh địch bên ngoài, giảm nhịp độ tiến công để làm công tác chuẩn bị. Địch từ trạng thái hoang mang, bấn loạn ở thị xã Kon Tum dã chuyển sang củng cố, tổ chức phòng ngự lại, tăng thêm trung đoàn 45. Ngày 11 tháng 5, tướng Ngô Du - tư lệnh quân đoàn 2 ngụy bị cách chức, tướng Nguyễn Văn Toàn lên thay cho điều chỉnh lại đội hình, tập trung sư đoàn 23 dăng thành một tuyến phòng thủ mới khá chặt chẽ ngay sát phía bắc thị xã Kon Tum. Đến ngày 13 tháng 5, địch dã bố trí xong trung đoàn 53 trên hướng bắc, đông và nam, dọc hữu ngạn sông Đắc Bla; trung đoàn 44 ở tây bắc giữ khu vực ngã ba Trung Tín - Đường Ngang trung đoàn 45 làm dự bị, giữ căn cứ Lôi Hổ.

   Trước diễn biến mới về địch, trong khi ta vẫn chưa đủ điều kiện để thực hiện đánh nhanh giải phóng thị xã Kon Tum. Thường vụ Đảng ủy chiến dịch quyết định điều chỉnh lại kế hoạch tiến công thị xã thành hai bước: bước một đánh địch ở vùng ven, bước hai tiến công các mục tiêu bên trong giải phóng thị xã. Lực lượng sử dụng gồm 2 sư đoàn bộ binh (320, 2), 2 trung đoàn bộ binh (28, 66), có đặc công, xe tăng, pháo binh, cao xạ... tham gia.

   Thực hiện bước một đánh địch ở vùng ven, từ ngày 14 đến ngày 23 tháng 5 Trung đoàn 64 được tăng cường Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 48), 1 đại đội xe tăng đánh thiệt hại nặng trung đoàn 44 ngụy ở khu vực Đường Ngang - ngã ba Trung Tâm. Trung đoàn 48 (thiếu) tiến công căn cư Lôi Hổ nhưng do chuẩn bị quá gấp nên không thành, lại bị thiệt hại nặng. Trung đoàn 28 diệt được một số đại đội của trung đoàn 53. Trung đoàn 141 diệt một đại đội địch ở Kon Tiêu và Kon Kơ Pát. Đợt tiến công nay, ta diệt được một số đại đội địch nhưng chưa thực hiện được ý định đánh tiêu diệt gọn từng tiểu đoàn, chưa tổ chức được trận then chốt, chưa tìm ra cách đánh hữu hiệu trước đối tượng địch phòng thủ kiểu làng mạc, luôn di động lấn dũi có máy bay pháo binh chi viện mạnh.

   Phối hợp với đợt tiến công ở ngoại vi Kon Tum, Trung đoàn 95 và Trung đoàn 24 cắt đứt con đường 14 huyết mạch đoạn Chư Pao, Chư Thoi. Địch tiếp tế cho Kon Tum chỉ còn dựa vào đường không. Để cứu nguy cho Kon Tum quân đoàn 2 ngụy huy động 2 liên đoàn biệt động quân (2, 6), 1 tiểu đoàn biệt động biên phòng, 1 trung đoàn thiết giáp tập trung pháo cối từ các trận địa ở điểm cao 738, Ninh Đức, Plei Mơ Rông, Tân Phú, Tà Bới và nhiều máy bay mở ... cuộc hành quân Bắc Bình Vương 712 do tên chuẩn tướng phó tư lệnh quân đoàn chỉ huy nhằm mở thông đường 14. Nhưng suốt 10 ngày cuối tháng 5, địch vẫn không khai thông được con đường, lại bị diệt hơn 1.000 tên (trong đó có phó tư lệnh sư đoàn 23 Tạ Đình Liên và chi đoàn  trưởng chi đoàn 3 thiết giáp Diêm Phú Hưng), 62 xe và 4 pháo 105 mm bị phá hủy, 2 kho đạn bị nổ tung.

   Nửa cuối tháng 5 mưa nhiều, tuyến vận chuyển bị địch đánh phá rất dữ dội, chiến dịch kéo dài gây cho ta nhiều khó khăn. Quân số thương vong cao, gạo chưa chuẩn bị kịp, đạn còn lại chưa đủ một cơ số. Trước tình hình khẩn trương và yêu cầu phối hợp chung, Đảng ủy và Bộ tư lệnh chiến dịch động viên toàn mặt trận khắc phục khó khăn, bằng mọi cách vận chuyển gạo đạn, kiên quyết tiến công địch giải phóng thị xã Kon Tum trong một thời gian tương đối ngắn. Thục hiện quyết tâm trên, đêm 24 tháng 5 cuộc tiến công và thị xã Kon Tum bắt đầu. Trên hướng đông nam và nam, Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 48, Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 141, Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 1)  cùng Đại đội 209 thị đội Kon Tum vượt sông Đắc Bla đánh vào đông nam sân bay, nam tỉnh đường rồi trụ lại đánh địch phản kích. Hướng Đông bắc, đêm 25 Trung đoàn  (Sư đoàn 2) có xe tăng phối hợp nhanh chóng đột phá tuyến phòng thủ vòng ngoài, đánh thọc sâu diệt sở chỉ huy trung đoàn 53 ngụy ở Ngọc Hồi, rồi phát triển đánh chiếm khu kho 41, bệnh viện dã chiến bắc biệt khu 24. Trong 2 ngày tiến công, ta chiếm được các khu Ngọc Hồi, bệnh viện dã chiến 2, kho 41, một phần khu cơ giới, hai phần ba sân bay. Sở chỉ huy sư đoàn 23 ngụy phải di chuyển về phía nam thị xã, sở chỉ huy trung đoàn 44 lui về khu tiểu đoàn pháo 63.

   Từ ngày 26 đến ngày 28, địch tập trung bộ binh, xe tăng liên tiếp phản kích; đồng thời huy động một lực lượng lớn máy bay, pháo binh đánh phá rất dữ dội vào các khu vực ta chiếm trong thị xã. Cuộc chiến đấu diễn ra ngày càng quyết liệt. Trên các hướng, bộ đội dũng cảm đánh chặn địch, tích cực tiến công chiếm được hai phần ba biệt khu 24, ba phần tư khu cơ giới... nhưng lực lượng bị tiêu hao, thiếu đạn dược, gặp nhiều khó khăn. Trong khi đó Trung đoàn 64 và 52 vẫn chưa đột phá được trận địa phòng ngự địch ở ngã ba Trung Tín. Trước tình hình chiến sự diễn biến chậm chạp, Bộ tư lệnh chiến dịch đưa Trung đoàn 66 vào chiến đấu và điều chỉnh đội hình Sư đoàn 2 nhằm đẩy nhanh nhịp độ giải phóng thị xã. Trong những ngày này lực lượng vũ trang địa phương ba tỉnh Tây Nguyên tích cực đánh địch bằng nhiều hình thức chiến thuật để phối hợp với bộ đội chủ lực. Ở Gia Lai, ta đánh sân bay Cù Hanh phá 3 máy bay C130, đốt cháy 70 vạn lít xăng, làm nổ tung một kho đạn lớn. Lực lượng vũ trang tỉnh Đắc Lắc tập kích căn cứ Ia Súp, phá cầu Ơi Nu và đánh lui nhiều đại đội bảo an giải tỏa. Song song với tác chiến, quân và dân các tỉnh mở thêm được nhiều vùng dân cư quanh thị xã Kon Tum khu vực Ma Rốc, buôn Phum Tra. Đặc biệt, ngày 9 tháng 6, tướng Giôn Pôn-van trưởng đoàn cố vấn Mỹ tại quân khu 2, quân đoàn 2 ngụy đi trực thăng thị sát chỉ đạo sư đoàn 23 ngày phòng thủ thị xã Kon Tum; khi bay dọc đường 14 về Plei Ku bị ta bắn rơi, chết tại khu B1 Gia Lai. Đây là viên tướng được mệnh danh là nhân vật quan trọng thứ 3 của Mỹ ở miền Nam Việt Nam sau đại sứ Bân-cơ và tướng Oét-mo-len.

   Đầu tháng 6, cuộc chiến đấu ở trong thị xã Kon Tum ngày càng gặp nhiều khó khăn. Xét thấy những điều kiện giải phóng hoàn toàn thị xã không còn nữa, đêm 5 rạng ngày 6 tháng 6, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định cho các lực lượng trong thị xã Kon Tum lui quân, chủ động kết thúc chiến dịch Bắc Tây Nguyên xuân hè 1972.

   Trải qua 68 ngày đêm chiến đấu liên tục, khẩn trương, ác liệt, mặc dù ta chưa đạt được mục đích cao nhất của chiến dịch là giải phóng thị xã Kon Tum, nhưng chiến dịch tiếncông xuân hè 1972 của quân và dân Tây Nguyên cũng đạt được thắng lợi to lớn và có ý nghĩa chiến lược. Ta đã tiêu diệt sư đoàn 22 (thiếu), đánh thiệt hại nặng sư đoàn 23 và sư  đoàn dù 2, 2 liên đoàn biệt động quân (số 2, 6) và 10 tiểu đoàn khác; loại khỏi vòng chiến đấu 27.953 tên địch, bắn rơi phá hủy phá hỏng 212 máy bay, 1.227 xe quân sự, 146 pháo cối lớn, 75 kho, 25 cầu cống, 1 dàn ra đa, đốt cháy 70 vạn lít xăng và 1 vạn tấn bom đạn; thu 3.518 súng các loại, 88 xe, 3 trực thăng, 228 vô tuyến điện, 4 tổng đài, gần 9.000 viên đạn pháo và nhiều đạn dược, quân dụng, giải phóng phần lớn tỉnh Kon Tum và khỏang 4 vạn dân1.

   Chiến dịch bắc Tây Nguyên năm 1972 là chiến dịch tiến công quy mô tương đương quân đoàn đầu tiên trên Chiến trường Tây Nguyên, diễn ra trong điều kiện ta còn nhiều khó khăn. Thắng lợi của chiến dịch đã làm thay đổi cục diện chiến trường, mở rộng hoàn chỉnh thêm căn cứ địa rộng lớn của cách mạng ba nước Đông Dương, góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung của toàn miền Nam đánh bại một bước quan trọng chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh''. Từ thực tiễn phong phú của chiến dịch, nhiều bài học kinh nghiệm quý báu được rút ra, nhất là nghệ thuật giập thế trận, làm phong phú thêm kho tàng nghệ thuật quân sự Việt Nam.




------------------------------------------------------------------
1. Các số liệu trích dẫn theo (Báo cáo thành tích của chiến dịch xuân hè 1972 Tây Nguyên'' từ 26.3 đến 4.6.1972 của Bộ tư lệnh B3, tr. 1, 2.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 12 Tháng Tư, 2021, 08:34:55 am
*

   Ngay khi chiến dịch bắc Tây Nguyên vừa kết thúc, ngày 6 và 7 tháng 6 Thường vụ Đảng ủy Chiến trường Tây Nguyên họp mở rộng nghiên cứu nghị quyết, chỉ thị của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, đánh giá kết quả chiến dịch và đề ra chủ trương kế hoạch hoạt động trong mùa mưa năm 1972. Về tác chiến, Đảng ủy chủ trương ''tiếp tục phát triển cuộc tiến công trong mùa mưa" với trọng tâm là mở chiến dịch tổng hợp trên hướng tây nam Gia Lai.

   Thực hiện chỉ thị, mệnh lệnh của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, chủ trương của Đảng ủy chiến trường, cuối tháng 6 và dầu tháng 7 năm 1972 Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên tổ chức cho Sư đoàn 2, Trung đoàn 52 Sư đoàn 320 và Trung đoàn công binh 83 hành quân về Quân khu 5; đồng thời khẩn trương điều chỉnh lại thế bố trí lực lượng bảo vệ vùng giải Phóng và đánh địch ở thị xã Kon Tum, cơ động Sư đoàn 320 (thiếu) về tây nam Gia Lai mở mặt mặt trận mới. Trong hai tháng (7 và 8 ) hai trung đoàn (66, 28) cùng lực lượng pháo binh luân phiên nhau vừa chiến đấu, vừa củng cố huấn luyện. Tháng 7, Trung đoàn 66 đánh bại các cuộc hành quân lấn chiếm vùng giải phóng của 3 trung đoàn địch (45, 44, 53) ở vùng núi Ngọc Bay, Đắc Vát, Hà Mòn, Ngọc Quăn. Tháng 8, Trung đoàn 28 liên tục tiến công đánh thiệt hại nặng trung đoàn 44 ở Non Nước và trận địa pháo ở Kon Trang Klả. 60 ngày đêm chiến đấu, hai trung đoàn và lực lượng tăng cường đã diệt và bắt gần 1.500 tên địch, thu gần 400 súng các loại, giáng một đòn mạnh vào âm mưu lấn chiếm của địch, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng tây bắc Kon Tum. Cùng thời gian này, Trung đoàn 24B và Trung đoàn 95 vừa tích cực đánh giao thông đường 14, bảo vệ vùng giải phóng huyện 3 và 4 Gia Lai, vừa tranh thủ thời gian củng cố, huấn luyện nâng cao khả năng tác chiến. Tiểu đoàn đặc công 20 Trung đoàn 400 tập kích căn cứ 41A đánh thiệt hại nặng sở chỉ huy trung đoàn 53, diệt 1 tiểu đoàn pháo, loại khỏi vòng chiến đấu 300 tên địch, phá 7 pháo lớn.

   Hướng tây nam Gia Lai, tháng 7 ta thành lập Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận Đường 19 tây gồm các đồng chí lãnh đạo chỉ huy các đơn vị chủ lực, lực lượng vũ trang địa phương và chính quyền tỉnh Gia Lai. Đồng chí Phí Triệu Hàm (chính ủy Sư đoàn 320) làm Bí thư Đảng ủy, đồng chí Nguyễn Kim Tuấn (sư đoàn trưởng Sư đoàn 320) làm Tư lệnh Mặt trận. Dưới sự lãnh dạo chỉ huy trực tiếp của Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận Đường 19 tây, đầu tháng 8 Sư đoàn 320, Tiểu đoàn 5 đoàn 671, Tiểu đoàn 2 đoàn 470 và quân dân tây Gia Lai mở đầu chiến dịch tổng hợp bằng đòn tiến công liên tục, rộng khắp. Chỉ trong một tuần, ta đã diệt đồn Tầm, bức rút đồn Chư Phổ, làm chủ ấp Chư Bồ, cắt đứt đường 19 tây, giải phóng hơn 2.000 dân ở Thanh Giáo, Làng Dịt, mở ra một vùng giải phóng kéo dài 30km từ Thanh An đến, đông Đức Cơ. Trước nguy cơ Plei Ku bị uy hiếp từ hướng tây nam quân khu 2 quân đoàn 2 ngụy đã phải huy động sư đoàn 23 và 3 liên đoàn biệt động quân thay nhau phản kích giải tỏa, làm cho chiến sự ở tây nam Gia Lai ngày càng lan rộng và quyết liệt.

   Nhằm đáp ứng yêu cầu cấp bách phát triển chiến tranh chính quy trên chiến trường Tây Nguyên trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Được sự chuẩn y của Thường vụ Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, ngày 20 tháng 9 năm 1972 Đảng ủy và Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên quyết định thành lập Sư đoàn bộ binh 10. Hợp thành Sư đoàn là những đơn vị có truyền thống chiến đấu vẻ vang, được xây dựng chính quy trên miền Bắc, đã trải qua nhiều năm chiến đấu trưởng thành trong sự yêu thương đùm bọc và phối hợp tác chiến của lực lượng vũ trang và đồng bào các dân tộc Tây Nguyên: Trung đoàn bộ binh 66 anh hùng1, Trung đoàn bộ binh 28, Trung đoàn bộ binh 95 và 8 tiểu đoàn trực thuộc (37 đặc công, 32 pháo hỗn hợp, 41 pháo cơ giới, 30 cao xạ, 31 công binh, 26 thông tin, 25 vận tải, 24 quân y). Bộ tư lệnh và cơ quan Sư đoàn 10 được chuyển từ Bộ tư lệnh và cơ quan Mặt trận Cánh Đông trong chiến dịch xuân hè 1972. Khi thành lập, Bộ tư lệnh Sư đoàn gồm các đồng chí: sư đoàn trưởng Nguyễn Mạnh Quân, chính ủy Đặng Vũ Hiệp, sư đoàn phó Hồ Đệ, phó chính ủy Lã Ngọc Châu. Chủ trì ba phòng Tham mưu, Chính trị, Hậu cần là các đồng chí Trần Quốc Biên (tham mưu trưởng), Nguyễn Đằng (chủ nhiệm chính trị), Đặng Văn Khóat (chủ nhiệm hậu cần). Sư đoàn 10 là hình ảnh thu nhỏ của bộ đội chủ lực Tây Nguyên trong những năm đánh Mỹ, diệt ngụy vô cùng ác liệt gian khổ.

   Cùng thời gian này, Bộ tư lệnh chiến trường quyết định giải thể đoàn 400 đặc công, chuyển Tiểu đoàn 20 thành đơn vị độc lập trực thuộc B3; thành lập Trung đoàn bộ binh 25 (chủ lực tại chỗ) trên cơ sở đoàn bộ Đoàn 400 đặc công, Tiểu đoàn 5 (Đoàn 671) và Tiểu đoàn đặc công 20B; các đồng chí Trần Mạnh Hảo và Nguyễn Ngãi được cử làm trung đoàn trưởng và chính ủy. Ngoài ra, Phòng Sản xuất Tiểu đoàn 12 (cán bộ, chiến sĩ là người dân tộc thiểu số rút từ các địa phương lên, hoạt động ở tây nam Gia Lai) cũng lần lượt ra đời và bước vào hoạt động.

   Cuối năm 1972, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta đang tiến gần đến bước ngoặt lịch sử. Sau 18 năm xâm lược Việt Nam gặp thất bại liên tiếp, tình hình kinh tế, chính trị xã hội nước Mỹ bị tác động sâu sắc, trong khi cuộc bầu cử tổng thống đã đến gần... buộc chính quyền Ních - xơn phải chấp nhận bản dự thảo ''Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam''. Nhưng khi đã chắc chắn trúng cử lại vào Nhà Trắng, Ních-xơn lật lọng, cố tình dây dưa trì hoãn việc ký kết nhằm tranh thủ thời gian tuồn vũ khí trang bị cho ngụy quân, đẩy mạnh các hoạt động lấn chiếm vùng giải phóng, tiến hành cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B52 vào Hà Nội, Hải Phòng hòng ép ta nhân nhượng theo những điều kiện có lợi cho chúng. Đồng thời địch ráo riết chuẩn bị kế hoạch ''tràn ngập lãnh thổ'' mở rộng địa bàn chiếm đóng trong trường hợp buộc phải ký Hiệp định Pa-ri.

   Trước tình hình khẩn trương, phức tạp đó, Bộ Tổng tư lệnh chỉ thị cho B3 phải giữ vững, hoàn chỉnh và mở rộng vùng giải phóng bắc Tây Nguyên, sẵn sàng làm địa bàn đứng chân cho Chính phủ Cách mạng lâm thời  Cộng hòa miền Nam Việt Nam; tiêu diệt và làm tan rã  quân địch trong khu vực Đức Cơ, đẩy mạnh thế uy hiếp Plei Ku. Thực hiện chỉ thị trên, các lực lượng vũ trang Tây Nguyên tích cực phòng giữ vùng giải phóng và đẩy mạnh tiến công trên các hướng. Ở Phía bắc, Trung đoàn 66 tiêu diệt các cứ điểm Plei Kần (12.10), Đắc Siêng (29.10), Non Nước (23.12); Trung đoàn 28 tiến công trung đoàn 53 ở Ngọc Quăn, Kon Trang Klả, sau đó cùng Trung đoàn 66 và Tiểu đoàn 37 chặn đánh ba trung đoàn 44, 45, 53 lấn chiếm vùng giải phóng tây bắc Kon Tum. Phía tây nam Gia Lai, Sư đoàn 320 phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương giải phóng 9 làng với trên 1.000 dân từ Phú Mỹ đến Phú Nhơn, rồi cùng Trung đoàn 24 đánh bại cuộc phản kích lớn của 11 tiểu đoàn bộ binh, 3 chi đoàn thiết giáp, 2 tiểu đoàn pháo trên đường 19 tây. Tiếp đó từ tháng 12 năm 1972 đến ngày 27 tháng 1 năm 1973 quân và dân Tây Nguyên mở một đợt hoạt động mạnh trước ngày Hiệp định ngừng bắn có hiệu lực, tập trung trên hướng tây nam Gia Lai và tây bắc thị xã Kon Tum; giải phóng các cứ điểm Chư Bồ, Đức Cơ, 601 Lam Sơn, loại khỏi vùng chiến đấu 4.000 tên địch, bắt 481 tên, phá hủy 290 xe quân sự, 45 pháo lớn, bắn rơi và phá 65 máy bay, thu trên 1.000 súng các loại và 173 vô tuyến điện; giải phóng 15 ấp chiến lược và khu dồn dân. Những đợt tiến công liên tiếp của ta ở Tây Nguyên cuối năm 1972 và tháng 1 năm 1973 không những tiêu diệt nhiều sinh lực, phá hủy nhiều vũ khí phương tiện chiến tranh của địch, giành được dân, giữ vững và mở rộng vùng giải phóng; mà còn tạo điều kiện củng cố căn cứ địa, tăng thêm thế và lực để bước sang giai đoạn cách mạng mới.




------------------------------------------------------------------
1. Trung đoàn bộ binh 66 được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ngày 19 tháng 5 năm 1972.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 12 Tháng Tư, 2021, 08:36:34 am
*

   Tuy chỉ chiếm một phần năm thời gian trung cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhưng giai đoạn đánh bại chiến lược ''Việt Nam hóa chiến tranh'' có ý nghĩa quyết định trực tiếp buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri về Việt Nam, rút hết quân về nước.

   Bước vào Nhà Trắng trong tình thế thất bại, Ních-xơn nặn ra một ''học thuyết'' mới phản cách mạng mang tên y và được thử nghiệm ở Việt Nam bằng chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh''. Tây Nguyên, một địa bàn chiến lược quan trọng được Mỹ, ngụy thí điểm và thực hiện chiến lược mới này từ rất sớm. Ngay từ đầu năm 1969, với một lực lượng lớn quân ngụy đã được hiện đại hóa, có quân Mỹ hỗ trợ và máy bay pháo lớn chi viện, địch mở liên tiếp ba cuộc hành quân ''Bình tây'' nhằm thí điểm ''phi Mỹ hóa'' ở Tây Nguyên. Nhưng keo đầu đọ sức với chủ lực ta tại Chư Pa, quân ngụy đã tỏ ra non kém. Âm mưu ''chia sẻ trách nhiệm'', ''thay màu da trên xác chết'' chưa thể thực hiện được, sư đoàn 4 Mỹ buộc phải tung tiếp 2 lữ đoàn cứu nguy xuống tây Kleng dể rồi bị đánh tơi tả, rút chạy thảm hại. Phát huy thắng lợi, quân và dân Tây Nguyên mở chiến dịch Đắc Tô 2 giáng đòn phủ đầu vào chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh''. Đứng trước muôn vàn khó khăn thử thách do cuộc ''chiến tranh bóp nghẹt'' của địch gây ra, lực lượng vũ trang Tây Nguyên nêu cao ý chí quyết thắng sáng tạo, đoàn kết thống nhất, tự lực tự cường, trụ bám chiến trường, vừa đẩy mạnh sản xuất, xây dựng căn cứ địa, vừa lật cánh về nam Tây Nguyên mở chiến dịch Bu Prăng - Đức Lập giành thắng lợi giòn giã. Năm 1969, năm đầu đánh bại chiến lược ''Việt Nan hóa chiến tranh'', quân dân Tây Nguyên không chỉ đạt kỷ lục cao nhất về tốc độ mở các chiến dịch, về chất lượng diệt sinh lực và phá hủy phương tiện chiến tranh của địch, mà còn vượt qua những đỉnh cao của gian nan thử thách.

   Trưởng thành trong gian khó, lớn lên qua thử thách, lực lượng vũ trang Tây Nguyên đỉnh đạc chủ động bước vào các chiến dịch Đắc Siêng (1970), Ngọc Tô Ba - Ngọc Rinh Rua (1971), tiến công địch ở Hạ Lào và Đông Bắc Cam-pu-chia phối hợp hiệu quả với các cuộc phản cộng chiến lược của ta ở Đông Bắc Cam-pu-chia và Đường 9 - Nam Lào, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quốc tế. Trên đà thắng lợi, với thế và lực lớn mạnh chưa từng có, quân và dân Tây Nguyên đã mở cuộc tiến công chiến lược quy mô lớn đầu tiên ở cao nguyên, giải phóng phần lớn tranh Kon Tum, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung trong cuộc tiến công chiến lược toàn miền Nam năm 1972, buộc đế quốc Mỹ phải chấp nhận bản dự thảo ''Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam''.

   Trải qua thực tiễn chiến đấu đánh bại một bước chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh'' của Mỹ, ngụy ở Tây Nguyên; với tài trí thao lược của Bộ tư lệnh Chiến trường, tính chủ động linh hoạt của cơ quan mặt trận và chỉ huy các cấp, sự thông minh dũng cảm của cán bộ, chiến sĩ đã góp phần làm cho nghệ thuật chiến tích phát triển đến trình độ cao; vừa hoàn thiện những chiến thuật đã có, vừa sáng tạo những cách đánh mới phong phú. Trong đó, chiến thuật vận động bao vây tiến công liên tục được sử dụng rộng rãi mang lại hiệu quả cao, đồng thời bước đầu thực hiện thành công chiến thuật tiến công địch trong cứ điểm có công sự vững chắc bằng hiệp đồng binh chủng quy mô trung đoàn tăng cường - một cách đánh được vận dụng rộng rãi trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ của bộ dội chủ lực Tây Nguyên.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 12 Tháng Tư, 2021, 08:48:46 am
Chương bốn
GIỮ VỮNG VÀ MỞ RỘNG VÙNG GIẢI PHÓNG, TÍCH LỰC, TẠO THẾ, NẮM VỮNG THỜI CƠ,
TIẾN CÔNG GIẢI PHÓNG HOÀN TOÀN TÂY NGUYÊN
(28.1.1973 - 26.3.1975)



1. Giữ vững và mở rộng vùng giải phóng.

   Ngày 27 tháng 1 năm 1973, tại Pa-ri thủ đô nước Cộng hòa Pháp ''Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam" được ký kết. Nội dung cơ bản của Hiệp định là Mỹ phải tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, cam kết chấm dứt dính líu quân sự, rút hết quân Mỹ và các nước khác ra khỏi miền Nam Việt Nam, công nhận ở miền Nam có hai chính quyền, hai quân đội, ba lực lượng chính trị và hai vùng kiểm soát. Hiệp định có hiệu lực từ 7 giờ ngày 28 tháng 1 năm 1973.

   Hiệp định Pa-ri đánh dấu thắng lợi to lớn của nhân dân ta trong suốt 18 năm trường kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam bước vào giai đoạn cuối cùng với những thuận lợi chưa từng có: Mỹ đã ''cút'', ngụy cũng sẽ ''nhào''.

   Trước bước ngoặt của cách mạng và trong ngày lịch sử trọng đại này, Ban Chấp hành Trung ương Đảng kêu gọi quân và dân cả nước ''tăng cường đoàn kết, đề cao cảnh giác, củng cố những thắng lợi đã giành được, hoàn thành độc lập dân chủ ở miền Nam, tiến tới hòa bình thống nhất nước nhà''.

   Tuy buộc phải ký Hiệp định Pa-ri, cay đắng rút hết quân viễn chinh, âm thầm cuốn cờ về nước ngày 29 tháng 3 năm 1973, nhưng đế quốc Mỹ chưa chịu từ bỏ âm mưu thực hiện ''Học thuyết Ních-xơn'' duy trì chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam, chia cắt lâu dài đất nước ta. Để thực hiện dã tâm đó, trước khi Hiệp định Pa-ri có hiệu lực, Mỹ đã đưa thêm vào miền Nam 625 máy bay các loại, 500 khẩu pháo, 400 xe tăng, xe bọc thép, nhiều tàu chiến. Khi rút khỏi miền Nam, quân Mỹ để lại hầu như toàn bộ vũ khí, phương tiện chiến tranh, cơ sở vật chất cho quân đội Sài Gòn. Trong năm 1973, Mỹ còn đưa thêm vào miền Nam 124 khẩu pháo,  98 máy bay và nhiều phương tiện chiến tranh khác. Song song với viện trợ vũ khí, để lại cố vấn quân sự, Mỹ tiếp tục duy trì một lực lượng quân sự lớn ở khu vực Đông Nam Á làm ''lực lượng răn đe''; đồng thời dùng hoạt động ngoại giao xảo quyệt nhằm hạn chế viện trợ của Liên Xô, Trung Quốc đối với cách mạng Việt Nam.

   Có quân đông, dựa vào vũ khí Mỹ và được cố vấn Mỹ giúp đỡ, ngay trong ngày ký Hiệp định Pa-ri và liên  tục trong những ngày tiếp sau, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu xua quân lấn chiếm vùng giải phóng suốt từ Cửa Việt (Quảng Trị đến Sa Huỳnh (Quảng Ngãi), Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, thực hiện kế hoạch ''tràn ngập lãnh thổ''.

   Tại Tây Nguyên, địch tập trung binh lực lớn gồm 43 tiểu đoàn chủ lực (24 tiểu đoàn bộ binh, 11 tiểu đoàn thiết giáp, 8 tiểu đoàn pháo, chiếm 68% tổng số tiểu đoàn của quân đoàn 2, quân khu 2), 5 phi đoàn (chiếm 40% số máy bay của quân đoàn 2) và lực lượng địa phương (19 tiếu đoàn, 15 liên đội và một số đại đội bảo an, 144 trung đội dân vệ) 700 liên toán và 719 toán phòng vệ dân sự, 4 đại đội 16 chi và 169 phân chi cảnh sát). Tổng quân số lên tới hơn 60.000 tên. Thực hiện âm mưu và kế hoạch từ trước, sáng sớm ngày 28 tháng 1, hàng chục tiểu đoàn địch có xe tăng đi cùng và máy bay, pháo binh chi viện mạnh mở các chiến dịch ''vì dân'', ''tràn ngập lãnh thổ'' ào ạt lấn chiếm vùng giải phóng của ta ở khắp ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc. Trọng tâm là giải tỏa và chiếm lại các khu vực trên trục quốc lộ số 14 đoạn nam Kon Tum, nam Plei ku và quốc lộ 19 đoạn đèo Măng Yang - An Khê. Trong tuần đầu thi hành Hiệp định Pa-ri và lệnh ngừng bắn, ở tây bắc Kon Tum, địch đã nống ra Đắc Rơ Cót, tây suối Đắc Le; dùng 4 đại đội bảo an và 1 chi đoàn thiết giáp tiến chiếm Plei Ta, Plei Kla, Tân Điền, đổ  bộ 1 đại đội của trung đoàn 44 xuống vùng giải phóng của ta ở Hà Mòn, Đắc Vát. Cùng lúc 9 tiểu đoàn bộ binh (80, 89, 62, 90, 72, 254, 251, 2/44, 213) và chi đoàn 1 thiết giáp (trung đoàn 8 ) liên tục phản kích dọc trục đường 14 đoạn Chư Thơi, từ cầu số 6 đến cầu số 8. Hướng tây nam Gia Lai, 3 chi đoàn thiết giáp (1, 3/21, 3/3) và tiểu đoàn 2 (trung đoàn 45), liên đội 266 bảo an đánh vào các chốt trên dường 14 nam Plei Ku, đoạn Phú Mỹ đến Mỹ Thạch; tiểu đoàn 11 biệt động quân đổ xuống Chư Quênh Dâu cách bắc làng Dịt 3km. Trên đường 19, đoạn đông đèo Măng Yang - Hà Tam, 3 tiểu đoàn bộ binh (1/41, 2/45, 95) cùng Trung đoàn 19 thiết giáp ráo riết đánh mở đường. Tại Đắc Lắc, 3 tiểu đoàn bảo an có máy bay pháo lớn chi viện lấn chiếm vùng giải phóng ở khu vực nam Buôn Hồ - bắc Đạt Lý.

   Trước tình hình diễn biến rất khẩn trương, thực  hiện chủ trượng chỉ thị của cấp trên, ngay trong tháng 1 năm 1973 Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên chủ động điều chỉnh lực lượng, bố trí lại thế trận, kịp thời chuyển các đơn vị làm nhiệm vụ tiến công trước giờ ngưng bắn sang phòng giữ các khu vực vừa giải phóng. Sáng ngày 28 tháng 1, khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực, các lực lượng của mặt trận đã triển khai xong thế trận bảo vệ vùng giải phóng, sẵn sàng trừng trị quân lấn chiến vi phạm Hiệp định.

   Tại vùng giải phóng Kon Tum, Trung đoàn bộ binh 24B Trường Quân chính B3, Tiểu đoàn 20 đặc công và tiểu đoàn pháo phòng không 37mm triển khai lực lượng bảo vệ các mục tiêu chính Đắc Tô, Tân Cảnh, Plei Kần và xây dựng các trận địa chốt trên dãy Ngọc Rinh Rua, Ngọc Bờ Biêng, điểm cao 1015, 1038, các điểm cao phía đông Tân Cảnh. Sư đoàn bộ binh 10 bố trí 2 trung đoàn 66, 28, các phân đội hỏa lực giữ tuyến đông - tây suối Đắc Le dài hơn 20km từ Ngọc Quăn (điểm cao 751), Ngô Trang, Đắc Rơ Cót đến Ngô Thạnh, Krông, Trung Nghĩa. Tiểu đoàn 406 địa phương đứng chân ở bắc Do Lai và Tiểu đoàn 304 địa phương ở Kon Hơ Rinh tạo thêm thế trận vững chắc cho Sư đoàn 10 trên tuyến phòng giữ trực tiếp tiếp xúc với địch ở tây bắc thị xã Kon Tum. Cùng thời gian này, Trung đoàn 95, Tiểu đoàn 37 đặc công và Tiểu đoàn 631 hoàn chỉnh trận địa chốt cắt giao thông đường 14 ở nam Kon Tum và bảo vệ vùng giải phóng tây nam Kon Tum - tây bắc Plei Ku.

   Trên hướng Gia Lai, Sư đoàn bộ binh 320 triển khai lực lượng trong một khu vực rộng lớn từ làng Dịt đến Đồn 30, ngã ba Phước Thiện, Đức Cơ, cùng với Tiểu đoàn 2 (đoàn 470 ở Phượng Hoàng) và Trung đoàn pháo binh 675 tạo thành thế trận vững chắc ở tây nam Plei Ku. Riêng Trung đoàn 48 (thiếu) và Tiểu đoàn 12 chốt giữ trận địa cắt đường 14 phía nam Phú Mỹ. Tiểu đoàn pháo binh 33 bảo vệ khu vực Cu Lang 3 và Làng Ó. Tiểu đoàn 2 địa phương cắt đèo Măng Yang. Tiểu đoàn 67 và 1 đại đội của Tiểu đoàn 408 triển khai ở bắc ngã ba Plei Bôn. Ở Đắc Lắc, Trung đoàn bộ binh 25 giữ vùng giải phóng Buôn Hồ - Quảng Nhiêu, lập các chốt ở bắc Ia Tung, điểm cao 782, Chư Bao. Tiểu đoàn 3 Trung đoàn công binh 7 đứng chân ở nam Phú Nhơn. Các binh trạm, bệnh viện, nhà trường, kho tàng, trạm xăng, đơn vị sản xuất sẵn sàng đánh địch bảo vệ khu vực được giao.

   Trong thế trận đã chuẩn bị, các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích kịp thời, kiên quyết trừng trị quân địch lấn chiếm vùng giải phóng ngay từ sáng sớm ngày 28 tháng 1 năm 1973 và những ngày tiếp sau. Ở nam Kon Tum, Trung đoàn 95 và Tiểu đoàn 631 đánh thiệt hại nặng hai tiểu đoàn 251 bảo an và tiểu  đoàn 80 biệt kích, diệt 492 tên, bắt 21 tên, phá hủy 4 xe, phá sập 1 cầu, thu 98 khẩu súng và 21 vô tuyến điện. Hướng nam Plei Ku, Cụm 212 (gồm Trung đoàn 48 và Tiểu đoàn 12) do đồng chí Nguyễn Hữu Ưng (trung đoàn phó Trung đoàn 48) và đồng chí Lý Sĩ Điểm (phó chính ủy) chỉ huy, chiến đấu liên tục suốt 14 ngày, đánh thiệt hại nặng và giam chân trung đoàn 21 thiết giáp và 4 tiểu đoàn bộ binh địch, diệt 169 tên, bắt 2 tên, phá hủy phá hỏng 39  xe tăng, xe thiết giáp (trong đó có loại xe tăng M48 mới được sử dụng lần đầu tiên ở Tây Nguyên), bắn rơi 3 máy bay, thu nhiều vũ khí. Trên các khu vực tay bắc thị xã Kon Tum, đèo Măng Yang, Chư Nghé, Buôn Hồ, Tiểu Teo..., ta đều diệt được địch, bắn rơi máy bay, phá hủy một số xe cộ, thu vũ khí.

   Tuần đầu thực hiện Hiệp định Pa-ri, quân và dân Tây Nguyên nêu cao canh giác, kiên quyết giáng trả quân địch vi phạm Hiệp định đánh 73 trận, diệt 734 tên địch, bắt 28 tên, phá hủy hàng chục xe quân sự, bắn rơi một số máy bay, tgu 145 súng các loại và 23 vô tuyến điện. Song do lực lượng ta mỏng vừa chuyển sang phòng giữ, địa bàn rộng, kinh nghiệm chống lấn dũi còn ít; trong khi quân địch tập trung đông trên từng hướng, liên tục phản kích lấn dũi dai dẳng nhiều ngày, sử dụng nhiều xe tăng, pháo binh, máy  bay... nên dần dần đánh bật được ta ở  đèo Măng Yang chiếm được các ấp Plei Ta Cha, Tân Điền, Plei Kla tây nam Kon Tum), các ấp xung quanh Quảng Nhiêu, Buôn Hđơt, Buôn Cao, Hà Lan 3 và đàn áp hai cuộc biểu tình của 1.000 người dân ở phú Quang (phú Nhơn) và Đạt Lý 1 (Đắc Lắc).

   Những hành động trắng trợn phá hoại Hiệp định Pa-ri với quy mô ngày càng mở rộng và tính chất ngày càng ác liệt đã bộc lộ rõ âm mưu đen tối và rắp tâm phá hoại hòa  bình của tập đoàn Nguyễn văn Thiệu. Máu của quân và dân Tây Nguyên vẫn tiếp tục đổ đã cảnh tỉnh những ai buông lơi cảnh giác, "xả hơi", ảo tưởng hòa bình, trông chờ kẻ địch thực thi nghiêm chỉnh Hiệp định. Ngày 1 tháng 2 năm 1973, khi tiếng súng trừng trị quân lấn chiếm nổ vang khắp Tây Nguyên, tạo cuộc mít tinh trọng thể chào mừng thắng lợi của Hiệp định Pa-ri, Thiếu tướng Hoàng Minh Thảo - Tư lệnh chiến trường nhắc nhở: ''Cán bộ và chiến sĩ các lực lượng vũ trang Tây Nguyên nghiêm chỉnh và triệt để chấp hành mệnh lệnh của bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng miền Nam, luôn luôn đề cao cảnh giác, mài sắc ý chí chiến đấu, không ngừng phát triển lực lượng vững mạnh toàn diện làm hậu thuẫn cho nhân dân đấu tranh buộc địch phải thi hành Hiệp định Pa- ri giữ gìn hòa bình... Thực tế đế quốc Mỹ và tay sai đã không nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định. Bộ đội ta cần phải chiến đấu, máu của đồng bào và chiến sĩ vẫn chưa ngừng chảy, chúng ta kiên trì hòa bình với thiện chí của chúng ta, nhưng chúng ta cũng kiên quyết đánh bại mọi âm mưu lấn chiếm của kẻ địch, đồng thời cũng phải cảnh giác với mọi biểu hiện ảo tưởng, mất cảnh giác, mọi suy nghĩ không có lợi cho sự nghiệp cách mạng có thể xuất hiện''.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 12 Tháng Tư, 2021, 08:53:32 am
*

   Trong hai tháng (2 và 3 năm 1973), lợi dụng ta chấp hành nghiêm chỉnh Hiệp định Pa-ri, quân đoàn 2 quân khu 2 ngụy rút các đơn vị ở phía sau tăng cường cho các hướng lấn chiếm, tập trung giải tỏa đường giao thông và những nơi ta giải phóng trước ngày ngừng bắn có hiệu lực. Chỉ riêng trong tháng 2, địch đã mở tới 10 cuộc hành quân lấn chiếm cỡ chiến đoàn tăng cường trở lên. Các hướng An Khê - Măng Yang, đường 14 nam Plei Ku, Buôn Hồ, làng Dịt luôn có 7 tiểu đoàn bộ binh và nhiều xe tăng thiết giáp lấn chiếm giải tỏa. Các khu vực nam Phú Nhơn, Plei Bôn (Khu 3 Gia Lai), đường số 5 và tây nam thị xã Plei Ku, tây bắc thị xã Kon Tum thường xuyên có từ 3 đén 6 tiểu đoàn bộ binh được xe tăng, máy bay, pháo lớn hỗ trợ xâm lấn vùng giải phóng. Riêng khu vực đường 14 đoạn Chư Thoi, địch tập trung tới 11 tiểu đoàn bộ binh và thiết giáp liên tục giảil tỏa và đánh rộng sang hai bên, nhất là hướng tây đường. Cùng với tiến công lấn dũi ở phía trước, địch dùng máy bay pháo lớn đánh phá mạnh vào các mục tiêu nằm sâu trong vùng giải phóng nhằm sát thương sinh lực, triệt hạ kho tàng, ngăn chặn các tuyến vận chuyển cơ động, phá hoại sản xuất và dân sinh. Trong tháng 2 chúng đã gây ra 1.615 vụ ném bom bắn pháo; tháng 3 bắn 43.000 viên đạn pháo các loại vào vùng giải phóng. Đặc biệt nghiêm trọng, từ ngày 9 đến ngày 15 tháng 2 địch ném hàng trăm quả bom và bắn hàng ngầm quả đại bác có cả đạn hóa học và khu dân cư ở ba làng Bông Mô, Bông Bim và Bông Rung (Khu 3, Gia Lai) phá hơn 100 ngôi nhà, làm cháy hơn 100 tấn thóc, giết chết 50 trâu bò. Ngoài các hoạt động trên, địch còn tổ chức móc nối nhiều cơ sở điệp ngầm ở dọc biên giới phía tây, nhất là vùng giải phóng ở trục đường 19 và 18.

   Trong vùng kiểm soát, địch tổ chức ''các chiến dịch'' ''thanh lọc'' khủng bố dân. Tháng 3 có tới 36 cuộc hành quân cảnh sát được tiến hành, tập trung đánh phá truy tróc các cơ sở của ta, đàn áp những ngươi có tư tưởng chống đối hoặc có xu hướng tán thành hòa bình, tuyên truyền Hiệp định Pa-ri không theo ý chúng. Đi đôi với các hành động quân sự, địch đẩy mạnh các hoạt động chính trị thâm độc. Nhiều tổ chức phản động mới được lập ra, như cái gọi là: ''Mặt trận nhân dân tranh thủ hòa bình thực thi quyền tự quyết'', ''ủy ban đấu tranh chính trị'', ''ủy ban lâm thời bảo vệ quốc gia''... nhằm tập hợp bọn phản động chống phá cách mạng và lừa bịp dân chúng. Ở Đắc Lắc, Gia Lai... địch vực dậy tổ chức phun rô (FULRO)1, lập các đại đội chiến đấu, trang bị vũ khí, cung cấp tiền bạc, ráo riết hoạt động lôi kéo ép buộc đồng bào dân tộc thiểu số đi theo chống lại cách mạng. Trên khắp cao nguyên, bọn sinh viên phản động trong sinh viên, sĩ quan tâm lý len lỏi xuống tận các buôn làng, xóm ấp tuyên truyền xuyên tạc Hiệp định Pa-ri, vu cáo nói xấu cách mạng, gây chia rẽ kinh - Thượng, tổ chức biểu tình vu khống ta với Ủy ban quốc tế ở thị xã Kon Tum, gây ra vụ hành hung đối với phái đoàn thi hành Hiệp định của ta ở Buôn Ma Thuột. Lợi dụng thời cơ ''đục nước béo cò'', các đảng phái phản động như Quốc dân Đảng, Đại việt, Nhân xã Đảng... và những phần tử phản động đội lốt tôn giáo củng tăng cường hoạt động, mở rộng ảnh hưởng theo những ý đồ tăm tối. Những hành động quân sự và ''chiến tranh chính trị'' ráo riết thâm độc của địch ở Tây Nguyên, bộc lộ rõ âm mưu phá hoại Hiệp định Pa-ri ngay từ đầu, tạm thời gây cho ta không ít khó khăn.

   Trước những hành động trắng trợn phá hoại Hiệp định có hệ thống và ngày càng gia tăng của địch; thực hiện chủ trương chủ động kiên quyết đánh địch xâm lấn vùng giải phóng của Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh B3, quân và dân Tây Nguyên dũng cảm đấu tranh trên tất cả các mặt trận quân sự, chinh trị, binh vận để giữ gìn hòa bình, bảo vệ vùng giải phóng. Trong hai tháng (2, 3) toàn mặt trận đã diệt 3.058 tên địch lấn chiếm, bắt 96 tên (có 9 sĩ quan), phá hủy 152 xe quân sự (có 53 xe tăng, xe thiết giáp), 10 pháo lớn, 6 kho, bắn rơi 12 máy bay , thu gần 370 khẩu súng các loại và hơn 50 vô tuyến điện; mở được 16 ấp với hơn 2.460 người dân. Song song với đòn quân sự trừng trị quân địch vi phạm Hiệp (định Pa-ri, ta đẩy mạnh tiến công về chính trị, binh địch vận và pháp lý giành nhiều kết quả. Được tuyên truyền giải thích thấy rõ chính nghĩa cách mạng và bộ mặt thật phản dân hại nước của tập đoàn cầm quyền Nguyễn Văn Thiệu, nhiều lính địch mang súng chạy sang với cách mạng, có đơn vị chống lệnh hành quân không chịu lấn chiếm vùng giải phóng, hoặc báo cáo sai lên trên. Tháng 3, có 15 lính ra hàng ta và 1 đại đội, 1 trung đội chống lệnh hành quân. Do đấu tranh kiên quyết, có lý có tình, ta đã buộc chỉ huy tiểu đoàn địch ở hướng tây nam Gia Lai, tây bắc Kon Tum phải thừa nhận hành động vi phạm Hiệp định Pa-ri, chịu cam kết không lấn chiếm, không bắn pháo bừa bãi và càn quét quấy nhiễu nhân dân trong vùng, tham gia cùng ta làm nhà ''Hòa hợp'' hoặc dò gỡ mìn để dân đi lại làm ăn.

   Bên cạnh những kết quả bước đầu, trong giai đoạn này ta còn có nhiều hạn chế. Do phòng ngự mang tính thụ động, lúng túng trong cách đánh, địch đánh nơi nào ta đối phó nơi đó nên ở một số nơi địch giành được quyền chủ động. Mặc dù bộ đội chiến đấu rất dũng cảm nhưng địch vẫn mở thông được các đường 14 19 và lấn chiếm nhiều vị trí ở đông suối Đắc Le, Krông, Trung Nghĩa, Tà Rộp, Ngô Thạnh, Đắc Teng, Plei Klo (tây bắc thị xã Kon Tum). Tuy ta diệt được nhiều địch, song chưa tổ chức được những trận đánh tiêu diệt gọn, chưa giáng cho địch những đòn thật đau nên chưa cải thiện được thế trận phòng ngự.

   Đầu mùa hè năm 1973, sau khi tiểu đoàn 95 biên phòng ngụy bị ta đánh thiệt hại nặng ở tây Chư Thoi và hai tiểu đoàn 23, 62 bị trừng trị ở làng Dịt, địch buộc phản tạm hòa hoãn trên hai hướng này, để tập trung lực lượng lấn chiếm vùng giải phóng tây bắc Kon Tum. Đến cuối tháng 5, trong phạm vi Sư đoàn 10 phụ trách, quân địch đã có tới 17 tiểu đoàn bộ binh, 1 trung đoàn thiết giáp, 3  tiểu đoàn pháo2. Riêng hướng tây bắc Kon Tum, 15 tiểu đoàn địch và hàng chục xe tăng, xe bọc thép, 40 khẩu pháo lớn bố trí thành thế phòng ngự liên hoàn, kéo dài từ Ngô Trang, Ngọc Bay đến Krông, Trung Nghĩa. Từ các vị trí bàn đạp vừa chiếm, địch tiếp tục xâm lấn vùng giải phóng  của ta trên toàn tuyến, tập trung vào Đắc Rơ Cót, điểm cao 674 và vùng Chư Dệt, Võ Định. Cùng với tiến công phía trước, địch dùng máy bay, đại bác đánh phá rất mạnh vào hậu phương ta. Trong tháng 5, chúng tiến hành 54 vụ oanh tạc, ném 724 quả bom, bắn 12 quả rốc két, 64 lần pháo kích bắn 8.670 quả đạn pháo cối và sử dụng 428 lượt máy bay trinh sát vùng giải phóng do Sư đoàn 10 đảm nhiệm. Phối hợp với các hoạt động quân sự, địch đẩy mạnh các thủ đoạn chiến tranh tâm lý. Lợi dụng những nơi tiếp xúc trực tiếp với ta, chúng tung bọn ''Phượng Hoàng'', ''Thiên Nga'' gái điếm mua chuộc dụ dỗ chiêu hồi, mở nhạc vàng, biểu diễn văn nghệ gieo rắc ảo tưởng hòa bình hòng lung lạc cán bộ, chiến sĩ ta.

   Để đánh bại các cuộc tiến công của địch lấn chiếm vùng giải phóng, khôi phục lại những vị trí đã mất, cải thiện thế trận phòng ngự, giữ vững vùng giải phóng tây bắc Kon Tum. Bộ tư lệnh chiến trường quyết định tập trung lực lượng của Sư đoàn 10, mở cuộc tiến công quân sự, chính trị, binh vận mạnh mẽ.

   Thực hiện mệnh lệnh chiến đấu, từ ngày 28 tháng 5 đến ngày 6 tháng 6, Sư đoàn 10 tổ chức đợt một tiến công. Mở đầu đợt hoạt động, Tiểu đoàn 37 đặc công bất ngờ tập kích chiếm Trung Nghĩa - một vị trí quan trọng nằm trên đường 511, cách thị xã Kon Tum hơn 10km về phía tây, rồi vượt sông Pô Kô phối hợp với đơn vị bạn giải phóng Tà Rộp, Ngô Thạnh. Cùng lúc, Trung đoàn 24 được tăng cường Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 28 đánh chiếm các vị trí ở đông điểm cao 542 và nam Ngọc Bay; Trung đoàn 95 tiến công tiểu đoàn 251 bảo an ở khu ba làng (Plei Klo, Plei Klei, Plei Ta Cha). Sau đó các đơn vị chuyển sang phòng ngự, đánh địch phản kích. Đợt một, ta diệt 190 tên, bắt 22 tên, phá hủy 3 xe M113, sáu pháo lớn, bắn rơi 2 máy bay trực thăng, thu 80 súng và 7 vô tuyến điện.

   Bị mất các vị trí quan trọng ở bờ tây suối Đắc Le và khu vực ngã ba sông Đak Bla - Pô Kô, địch ở thị xã Kon Tum bị uy hiếp mạnh. Bộ tư lệnh quân đoàn 2 ngụy vội vã huy động 11 tiểu đoàn và nhiều xe tăng, máy bay, pháo binh, giao cho sư đoàn 23 chỉ huy, mở cuộc phản kích lớn nhằm chiếm lại các vị trí vừa mất. Đội hình phản kích của địch chia làm bốn cánh. Cánh thứ nhất gồm 4 tiểu đoàn đánh vào Trung Nghĩa; cánh thứ hai có 3 tiểu đoàn đánh vào Ngô Thạnh; cánh thứ ba có 2 tiểu đoàn tiến công Ngọc Bay và điểm cao 674; cánh thứ tư gồm 3 tiểu đoàn bảo an đánh vào khu ba làng và điểm cao 675. Cuộc phản kích kéo dài từ ngày 16 tháng 6 đến ngày 10 tháng 7.

   Trước diễn biến mới, Bộ tư lệnh Sư đoàn 10 chủ động chuyển sang đợt hai: kiên quyết giữ vững tuyến phòng thủ Đắc Rơ Cót - Ngọc Bay - Lam Sơn và vùng mới thu hồi Krông - Trung Nghĩa - Ngô Thạnh - Plei Klo. Các đơn vị nhanh chóng được điều chỉnh theo kế hoạch chiến đấu mới, Trung đoàn 28 cơ động về phía tây suối Đắc Le sẵn sàng đánh địch.

   Trong thế trận đã chuẩn bị sẵn, từ ngày 16 tháng 6 đến ngày 15 tháng 7 cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 10 dũng cảm chặn đánh cả 4 cánh quân địch. Trên hướng chủ yếu, Trung đoàn 24 đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 3 trung đoàn 45, diệt gần 70 tên ở khu vực đồi Tròn, điểm caơ 674 buộc địch phải rút về đông suối Đắc Le củng cố. Khi địch chiếm Trung Nghĩa, Đồi Tròn, ta kịp thời đưa Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 24 và Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 28 vào phản kích chiếm lại. Phối hợp chặt chẽ với Trung đoàn 24, Trung đoàn 28 cơ động Tiểu đoàn 1 và Đại đội 19 đặc công đón đánh tiểu đoàn 11 biệt động quân ở tây điểm cao 607. Tuy chỉ diệt được 32 tên, bắt 5 tên nhưng đã giáng đòn phủ đầu vào cánh quân vu hồi của địch, Phá vỡ một bước kế hoạch chiếm Ngọc Bay, Trung Nghĩa của chúng. Ở hướng nam, Tiểu đoàn 37 đặc công liên tục chặn đánh tiểu đoàn 1 trung đoàn 45 từ cầu Đắc Lếch đến Trung Nghĩa. Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 66 và Tiểu đoàn 63 Trung đoàn 95  đánh tiêu hao tiểu đoàn 2 trung đoàn 45 ở Ngô Thạnh. Sau đó hai tiểu đoàn 8, 9 Trung đoàn 66 chặn diệt tiểu đoàn 3 trung đoàn 47 và Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 95 đánh thiệt hại nặng đại đội 746 thám kích ở Plei Klo.

   Hơn một tháng rưỡi chiến đấu, Sư đoàn 10 đã đánh bại 2 đợt phản kích lớn của địch, khôi phục và giữ vững vùng giải phóng, đánh thiệt hại nặng 7 tiểu đoàn, diệt 905 tên, bắt 48 tên, phá hủy 9 xe tăng, xe bọc thép, 24 khẩu pháo, thu 205 súng các loại và 28 vô tuyến điện. Bên cạnh những thành tích trên, trong đợt chiến đấu này ta đánh giá địch chưa sát, nhất là về sử dụng lực lượng phản kích, mức độ ngoan cố, thủ đoạn lấn chiếm nên vận dụng cách đánh còn thiếu linh hoạt, chưa tiêu diệt gọn tiểu đoàn địch, tỷ lệ thương vong cao.




-----------------------------------------------------------------
1. FULRO: viết tắt từ tiếng Pháp: "Front unifié du lutte des races opprimées (Mặt trận thống nhất đấu tranh của các sắc tộc bị áp bức).

2. Trong đó 5 tiểu đoàn bộ binh và 1 chi đoàn thiết giáp chiếm giữ khu vực Kon Trang Klả, Bãi Ủi, Ngô Trang Kép, Đắc Rơ Cót, Non nước; 8 tiểu đoàn bộ binh, 2 chi đoàn thiết giáp, 2 tiểu đoàn pháo triển khai ở Đắc Lếch, Trung Nghĩa, Krông, điểm cao 628; 3 tiểu đoàn bộ binh, 1 chi đoàn thiết giáp và 1 tiểu đoàn pháo ở phía nam thị xã Kon Tum; các tiểu đoàn biên phòng chiếm đóng các trại biệt kích Đắc Pét, Plei Mơ Rông...


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 12 Tháng Tư, 2021, 02:09:30 pm
*

   Sau nửa năm thực hiện Hiệp định Pa-ri lợi dụng được niềm tin vào hòa bình, chờ đợi, thụ động của ta, địch liên tục phản kích khắp miền Nam. Chúng đã lấn chiếm được nhiều vùng giải phóng ở nam - bắc đường số 4, các lõm căn cứ ở Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và một số vùng giải phóng cũ ở Khu 5, Khu 8. Riêng ở Khu 9, ta kịp thời kiên quyết đánh trả và chủ động tiến công, nên địch đông hơn gấp năm, sáu lần vẫn không thực hiện được kế hoạch lấn chiếm.

   Trước tình hình nghiêm trọng đó, tháng 6 năm 1973 Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 211, vạch ra đường lối hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, khẳng định: ''Con đường cách mạng của miền Nam là con đường bạo lực cách mạng. Bất kể trong tình hình nào ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến tiến công''2. Về phương châm hoạt  động quân sự, Trung ương Đảng chỉ rõ: "Ta phải kiên quyết phản công và tiến công địch, giữ vững và phát huy thế chủ động về mọi mặt của ta, đánh bại các cuộc hành quân của địch lấn chiếm vùng giải phóng... Việc vận dụng phương châm trên phải gắn liền với yêu cầu giành dân và giành quyền làm chủ... nhằm giành lấy thế mạnh để thắng địch''3.

   Dưới ánh sáng Nghị quyết 21, quân và dân Tây Nguyên cùng toàn miền Nam và cả nước bước vào giai đoạn cuối cùng của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, giải phóng hoàn toàn miền Nam, với khí thế mới.

    Giữa mùa mưa năm 1973, Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên chỉ đạo Sư đoàn 10 vừa kiên quyết giữ tuyến phòng ngự trực tiếp tiếp xúc ở tây bắc Kon Tum, vừa luân phiên đưa lực lượng về phía sau củng cố, đồng thời giao cho Sư đoàn 320 chuẩn bị mở hướng tiến công mới ở phía tây Gia Lai, nhằm giáng một đòn đau vào nơi xuất phát các cuộc hành binh lấn chiếm của địch. Trong những ngày mưa tầm tã, tiếng súng trên hướng tây bắc Kon Tum vẫn không ngừng nổ. Những cơn mưa lớn kéo dài hàng tuần đã gây ra bao khó khăn cho người chiến sĩ giữ chốt. Hầm hào đầy nước, sạt lở, gạo, đạn ẩm mốc, quần áo luôn ướt sũng rách bươm, bùn đất ngập ngụa, bệnh lở loét hắc lào viêm nhiễm kẽ chân tay và sốt rét hoành hành, quân số chiến đấu ngày càng giảm dần. Kẻ địch cũng biết rõ, đã triệt để lợi dụng khó khăn của ta, ra sức đánh chiếm các chốt. Từ ngày 1 tháng 8 đến ngày 3 tháng 9, ba tiểu đoàn địch (1, 2/45, 2/44) liên tiếp đánh vào Trung Nghĩa, Đồi Tròn do Trung đoàn 28 chốt giữ. Cùng thời gian này nhiều đại đội địch tiến công vào tuyến phòng thủ của Trung đoàn 24 ở Đắc Rơ Cót, Ngọc Bay, điểm cao 674. Tàn bạo hơn, địch dùng máy bay, pháo cối đánh phá có tính hủy diệt trận địa ta. Chỉ riêng ngày 2 tháng 8, có tới 34 lần chiếc phản lực ném 200 quả bom các loại và pháo binh bắn hàng trăm quả đạn xuống khu vực nhỏ hẹp Trung Nghĩa, Đồi Tròn. Trong tháng 8, có 3.581 quả bom và 41.632 quả đạn pháo trút xuống Đắc Rơ Cót. Trên dải phòng ngự của ta cây cối cháy rụi, đất đá tơi vụn đỏ quạch, hố bom hố đạn chồng lên nhau. Nhưng trong hoàn cảnh cực kỳ gian khổ ác liệt: "Cây quanh mình trụi lá, đất đá hóa thành vôi", ''Cơm nắm ngày hai bữa, hớp nước cũng chia đôi"4, cán bộ, chiến sĩ càng đoàn kết thống nhất, đồng cam cộng khổ, sát cánh bên nhau bảo vệ từng tấc đất vùng giải phóng. Mỗi khi địch tiến lên chốt, lập tức các chiến sĩ bất thần xuất hiện, kịp thời quét những đường đạn chính xác quật ngã quân thù. Có nhiều trận ta và địch giành giật nhau từng đoạn hào, thước đất; bộ đội phải dùng cả súng phun lửa để  phản kích. Tiêu biểu nhất là trận đánh của Đại đội 1 Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 28 giữ chốt Đồi Tròn ngày 9 tháng 8. Lợi dụng trời nắng ráo, địch dùng máy bay pháo cối đánh phá suốt một giờ, rồi cho bộ binh (tiểu đoàn 1, trung đoàn 45) dàn hàng ngang tiến lên chốt. Trên trời, nhiều chiếc máy bay A37 bổ nhào sát trận địa nhưng không ném bom. Nắm chắc thủ đoạn mới của địch, bộ đội im lặng chờ cho chúng đến thật gần. Khi tên trung đoàn phó chỉ huy cuộc tiến công hí hửng điện về cho tên sư đoàn trưởng sư đoàn 23: "chứng tôi đã chiếm được chốt của Việt Cộng!'', thì cũng là lúc các loại hỏa lực của ta đồng loạt trút bão lửa xuống đầu quân địch. Với cách đánh gần, táo bạo trong ngày 9 tháng 8 Đại đội 1 đã diệt và làm bị thương 59 tên, thu 9 súng, bắn cháy 2 xe tăng bẻ gãy cả 3 đợt phản kích của lực lượng địch đông gấp bội.

   Trên hướng tây Gia Lai, ngày 20 tháng 9 năm 1973 Trung đoàn 48 Sư đoàn 320 được tăng cường Tiểu đoàn 2 đoàn 470, hai tiểu đoàn phòng không (10, 16), Tiểu đoàn công binh 17, 1 đại đội xe tăng, được Trung đoàn pháo binh 675 chi viện hỏa lực do trung đoàn trưởng Trần Ngọc Chung chỉ huy, bất ngờ tiến công cứ điểm Chư Nghé. Sau hơn 3 giờ chiến đấu, ta làm chủ hoàn toàn căn cứ biệt kích tiền đồn phía tây Plei Ku của địch, xóa sổ tiểu đoàn 80 biệt động biên phòng, diệt 87 tên, bắt 204 tên, thu 205 súng, 13 vô tuyến điện và 50 tấn đạn dược. Chiến thắng Chư Nghé không những mở rộng và hoàn chỉnh vùng giải phóng, bảo vệ con đường chiến lược và đường ống dẫn dầu ta đang mở qua phía tây Gia Lai vào miền Đông Nam Bộ; mà còn là lời cảnh cáo đanh thép đối với kẻ địch cố tình vi phạm Hiệp định Pa-ri. Trận Chư Nghé đã được Bộ Quốc phòng khen: ''Chuẩn bị chu đáo... thu được kết quả tốt, đạt được yêu cầu đánh nhanh, diệt gọn. Cần rút kinh nghiệm cho trận đánh sau và báo cáo về Bộ phổ biến cho các chiến trường''.

   Mất Chư Nghé, Tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu vội vã lên Tây Nguyên ra lệnh cho quân đoàn 2 quân khu 2 phản kích chiếm lại cứ điểm tiền tiêu quan trọng này, đồng thời trực tiếp động viên khích lệ tinh thần cho đám quân rệu rã vì triền miên xâm lấn. Cuối tháng 9, đầu tháng 10 quân địch tiến theo đường 5a, 5b ra phía tây thị xã Plei Ku, một lực lượng khác phối hợp tiến theo đường 19 lấn chiếm vùng giải phóng. Trên hướng đường 5b, trung đoàn 47 chiếm lại khu vực Dê Chí làm bàn đạp đánh chiếm bản Ti Tô. Ngày 12 tháng 10, tiểu đoàn 2 trung đoàn 47 ra thay cho trung đoàn 42 ở khu vực R-S.

   Theo dõi sát mọi hành động của địch trong khu vực, nắm chắc thời cơ, Sư đoàn 320 kịp thời cho Trung đoàn 48 xuất kích bao vây tiêu diệt địch ở khu vực R-S. Ngày 13 tháng 10, bằng một trận tiến công hiệp đồng bộ   pháo - mạnh, Trung đoàn 48 đánh thiệt hại nặng và làm tan rã tiểu đoàn 2 địch, diệt và bắt gần 80 tên, thu 51 khẩu súng và nhiều đạn dược. Thắng lợi của trận đánh đã khẳng định chủ trương dụ địch vào khu quyết chiến đã chuẩn bị săn để diệt gọn từng tiểu đoàn vào cuối năm 1973 của Sư đoàn 320 là đúng đắn. Sau trận R-S 10 ngày, Sư đoàn 320 (thiếu) lại đánh một trận hiệp đồng binh chủng lần thứ hai ở khu vực này, diệt gần hết tiểu đoàn 2 (trung đoàn 40), loại khỏi vòng chiến đấu 209 tên, thu 129 súng các loại, bắn rơi 3 máy bay, đập vỡ một mắt xích quan trọng trên tuyến chốt chặn mới ở tây Plei Ku, làm phá sản một bước ý đồ đánh chiếm lại Chư Nghé, Đức Cơ của địch. Ngay khi trận đánh kết thúc, Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên đã gửi điện khen ngợi cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 320 vừa lập chiến công, và coi ''đây là một trận đánh tốt, thể hiện tinh thần chấp hành nghiêm túc mệnh lệnh của Bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang miền Nam về việc trừng trị quân địch lấn chiếm''.

   Phối hợp với Sư đoàn 320 tiến công địch ở tây Gia Lai, Tiểu đoàn 20 đặc công luồn sâu tập kích khu kho của quân đoàn 2 ngụy ở phía tây Plei Ku, phá hủy hoàn toàn 3 kho đạn 4.000 tấn, diệt 32 tên địch. Cùng thời gian này, Tiểu đoàn 33 pháo ĐKB bắn vào sân bay Cù Hanh, phá hủy 5 máy bay. Bộ đội tỉnh Gia Lai tích cực đánh giao thông trên đường 19, 14, 21 và chống địch càn quét ở vùng Lệ Ngọc.

   Năm đầu thực hiện Hiệp định Pa-ri, các lực lượng vũ trang Tây Nguyên đã kịp thời chuyển hướng từ tác chiến tiến công là chính sang phòng ngự bảo vệ vùng giải phóng và từng bước làm quen với loại hình chiến đấu mới này ở chiến trường. Nêu cao truyền thống quyết thắng, sáng tạo, đoàn kết, thống nhất, nghiêm túc, tự lực các đơn vị chủ lực và địa phương đã đánh 1667 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 9.581 tên địch (diệt 9.010 tên có 69 sĩ quan, bắt 571 tên có 21 sĩ quan), phá hủy 374 xe quân sự (có 128 xe tăng, xe bọc thép), 75 pháo lớn, 19 kho bom đạn, xăng dầu, bắn rơi và phá 38 máy bay, thu 1683 súng các loại và 189 vô tuyến điện5. Thắng lợi trên mặt trận quân sự đã góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh giữ vững và bảo vệ vùng giải phóng, vùng căn cứ địa, giữ được dân buộc địch thi hành Hiệp định Pa-ri; đồng thời ''bước đầu cải thiện việc bố trí lực lượng, duy trì được thế trận áp sát và uy hiếp địch về mặt chiến dịch'', tạo đà cho quân và dân Tây Nguyên bước sang năm 1974 với thế và lực mới.




-----------------------------------------------------------------
1. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) lần thứ 21 họp hai đợt. Đợt 1: từ 19.6 đến 6.7.1973. Đợt 2: từ 1.10 - 4.10.1973 ra nghị quyết ngày 13.10.1973

2, 3. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 - 1975. Những sự kiện quân sự. Sđd tr. 289, 290, 291.

4. Ca dao trên vách chiến hào ở Đắc Rơ Cót.

5. Trích ''Báo cáo tổng kết năm 1973'' của Bộ tư lệnh B3. Trong thành tích chung năm 1973, lực lượng vũ trang ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc đánh 272 trận, diệt 1.526 tên địch, bắt 43 tên, bắn rơi 1 máy bay, phá hủy l32 xe quân sự (có 39 xe bọc thép), thu 210 súng và 10 vô tuyến điện.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 12 Tháng Tư, 2021, 02:17:47 pm
*

   Đầu năm 1974, binh lực địch ở Tây Nguyên còn tương đối lớn, bao gồm 2 sư đoàn bộ binh (22, 23), 5 liên đoàn biệt động quân (21, 22, 23, 24, 25), 5 trung đoàn thiết giáp, 12 tiểu đoàn pháo và 1 sư đoàn không quân, được bố tên tập trung trên hai khu vực chính. Sư đoàn 22, bốn liên đoàn biệt động quân, 4 trung đoàn thiết giáp và phần lớn pháo binh, không quân ở Gia Lai và Kon Tum; sư đoàn 23, một liên đoàn biệt động quân, 1 trung đoàn thiết giáp và một số phân đội pháo binh, không quân giữ Buôn Ma Thuột và Quảng Đức. Tiếp tục thực hiện âm mưu lấn chiếm vùng giải phóng, giành lại những vị trí đã mất và quyền chủ động trên chiến trường; giảm sức ép cho hai thị xã Plei ku và Kon Tum; trong ba tháng đầu năm 1974 quân đoàn 2 - quân khu 2 ngụy tập trung quân chủ lực và bảo an tổ chức 4 cuộc hành quân lấn chiếm, quy mô trung đoàn, sư đoàn.

   Ở đông bắc Kon Tum, hỏang sợ khi thấy đường 220 của ta xuất hiện và ngày càng vươn dài, địch vội vã đưa tiểu đoàn 2 (trung đoàn 40) chiếm Kong Kê Rơ Pô và 3 tiểu đoàn bảo an (251, 254, 280) chiếm vùng Kon Rốc, Cam Rẫy; sau đó đưa tiếp 2 tiểu đoàn (95, 62) biệt động quân ra thay, lập tuyến chốt chặn mới nhằm đánh phá ngăn ta mở đường. Hướng tây Gia Lai, sư đoàn 22, ba tiểu đoàn biệt động quân, 4 tiểu đoàn thiết giáp và 3 tiểu đoàn bảo an, đánh ra vùng Chư Nghé. Cùng lúc liên đoàn 23 biệt động quân, 3 tiểu đoàn bảo an, 1 chi đoàn thiết giáp lấn chiếm vùng Lệ Ngọc, Làng Siêu, bắc Đồn Tầm. Tại Đắc Lắc, 11 tiểu đoàn bộ binh, 1 chi đoàn thiết giáp và 1 tiểu đoàn pháo giải tỏa và ngăn chặn tuyến đường 1B của ta ở tây Bản Đôn. Cùng với các cuộc hành quân xâm lấn, địch tăng cường các hoạt động phá hoại hậu phương ta bằng phi pháo, biệt kích, gián điệp. Trong 3 tháng đầu năm 1974, chúng tung 40 toán biệt kích, sử dụng 250 lần chiếc máy bay trinh sát và 254 chiếc phản lực đánh phá vào tuyến hành lang chiến lược phía tây và vùng giải phóng. Đặc biệt nghiêm trọng, ngày 11 tháng 1 địch dùng tới 92 lần chiếc máy bay đánh phá vào khu vực Đức Cơ, Đức Nghiệp, Chư Bồ; ngày 31 tháng 1 có 46 lần chiếc phản lực ném hàng trăm quả bom phá, bom bi xuống khu vực cầu Diên Bình, 32 quả bom rơi trúng thôn 2 và 3 phá hủy 13 nhà dân, làm hàng chục người chết và bị thương, trong đó gia đình ông Hiệu có 7 người đang ăn cơm đều chết hết. Trong vùng kiểm soát, địch dùng lực lượng bảo an, dân vệ, cảnh sát tiến hành 3.700cuộc càn quét vây ráp, thanh lọc 10.000 dân, bắt đi l.250 người. Để củng cố ngụy quyền cơ sở, chứng tổ chức các ban chỉ huy phân, chi khu để điều khiển lực lương dân vệ, phòng vệ dân sự ở các ấp, xã; tiếp tục di dân từ đồng bằng lên Tây Nguyên.

   Mặc dù ra sức phản kích, nhưng quân địch đã mất quyền chủ động, phải lúng túng, bị động ứng phó. Quân tuy đông nhưng không đủ cho yêu cầu phòng giữ và lấn chiếm, buộc phải đưa 1.800 tên từ đồng bằng lên bổ sung (có 1000 tân binh, 800 lao công dân binh) và bắt lính ở Tây Nguyên được 400 tên, do vậy khả năng tác chiến và tinh thần binh lính ngày càng sa sút. Thủ đoạn chiến đấu của địch cũng không có gì mới. Khi lấn chiếm chủ yếu dùng đội hình dày đặc lấn dũi, có máy bay, pháo binh  chi viện mạnh. Lúc đánh chiếm mục tiêu chủ yếu dùng chiến thuật phân đội nhỏ, tiến công liên tục dai dẳng, kết hợp đổ bộ đường không chiếm các vị trí bàn đạp hoặc mục tiêu phía sau để tạo mũi vu hồi.

   Trước tình hình địch liên tục xâm lấn và thực hiện nhiệm vụ của Bộ Tổng tư lệnh giao: ''B3 trước mắt tập trung nỗ lực tổ chức phản công tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, đánh bại các cuộc hành quân lấn chiếm của  chúng, kiên quyết giữ vững vùng giải phóng''1, Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên chủ trương sử dụng một lực lượng đủ mạnh giữ các tuyến phòng thủ, tích cực đánh nhỏ và vừa ngăn chặn, đẩy lui địch trên hai hướng trọng điểm tây Plei Ku, Đông bắc Kon Tum; đồng thời mở thêm các hướng hoạt động mới của chủ lực trên đường 19 (đoạn An Khê) và tỉnh bộ 1 (Bản Đôn - Buôn Ma Thuột), đẩy nhanh công tác chuẩn bị tiến công cứ điểm Đắc Pét và Ya Súp hoàn chỉnh vùng giải phóng.

   Thực hiện chủ trương trên, trong 2 tháng đầu năm 1974, Sư đoàn 320 liên tục đánh nhỏ và vừa, chặn đứng cuộc hành quân phản kích tái chiếm Chư Nghé của sư đoàn 22, hai liên đoàn biệt động quân (23, 25), đánh thiệt hại nặng hai tiểu đoàn (1/41, 3/47). Hướng Kon Tum, Sư đoàn 10 vừa giữ vững tuyến phòng ngự tây bắc, vừa kịp thời dùng Trung đoàn 28 bao vây tiến công liên tục tiểu đoàn 3 (trung đoàn 40) địch ở Kông Ke Rơ Pô (đông bắc Kon Tum), diệt 197 tên, bắt 33 tên, thu 128 súng các loại, giáng một đòn nặng vào chiến thuật ''mạng nhện'' của địch phối hợp với hướng chính, Trung đoàn 95 đánh mạnh giao thông đường 19; Tiểu đoàn 408 đặc công tỉnh Gia Lai tập kích sân bay Aréa phá hủy 3 bồn xăng, đốt cháy  54 vạn lít; lực lượng địa phương các huyện 5 (Gia Lai), 16, 80, 29 (Kon Tum) đánh địch rất hiệu quả. Riêng Trung đoàn 25 (thiếu) hoạt động ở tây Đắc Lắc, tuy kết quả chưa cao, nhưng đã buộc địch phải đưa trung đoàn 44 và 1 tiểu đoàn thiết giáp lên hỗ trợ cho Bản Đôn.

   Sau 2 tháng hoạt động, địch ở Tây Nguyên bị đẩy lùi một bước và ngày càng lâm vào thế bị động đối phó, ta giữ vững thế trận và ngày càng nắm chắc quyền chủ động chiến trường. Phát huy thắng lợi, tranh thủ thời cơ, Bộ tư lệnh Chiến trường quyết định mở một đợt tiến công mới nhằm tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng một số tiểu đoàn địch, làm thất bại một bước âm mưu lấn chiếm của chúng, mở rộng vùng giải phóng, tạo điều kiện xây dựng củng cố bồi dưỡng lực lượng ta, thúc đẩy phong trào đấu tranh của quần chúng và phát triển chiến tranh du kích.

   Mở đầu đợt hoạt động, ngày 16 tháng 3 Trung đoàn 28  do trung đoàn trưởng Vũ Đình Thước chỉ huy được hỏa lực Sư đoàn 10 chi viện bất ngờ tiến công tiểu đoàn 95 biệt động quân ở điểm cao 800 đông bắc thị xã Kon Tum. Sau  25 phút chiến đấu, ta làm chủ hoàn toàn điểm cao này, rồi chuyển sang truy kích và đánh chiếm các chốt của địch ở 2 điểm cao 867, 920. Trong một ngày tiến công, ta xóa sổ tiểu đoàn 95 biệt động quân, diệt 218 tên, bắt 203 tên (có tên tiểu đoàn trưởng và tiểu đoàn phó), thu 230 súng các loại, hàng trăm viên đạn súng cối và nhiều tài liệu quan  trọng. Đây là lần đầu tiên Trung đoàn 28 tiến công địch trên điểm cao có công sự tương đối vững chắc bằng hiệp đồng bộ - pháo cấp trung đoàn tăng cường. Thắng lợi của trận đánh không những góp phần mở rộng khu giải phóng  đông bắc Kon Tum, bảo vệ đường 220 mà còn giải đáp một số vấn đề kỹ thuật trong cách đánh. Với chiến công xuất sắc này, Trung đoàn 28, Đại đội 10 được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba. Được chiến thắng của Trung đoàn 28 cơ vũ, sáng 18 tháng 3 Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 24 tập kích tiểu đoàn 62 biệt động quân ở gần cầu Kom Rẫy, diệt 72 tên địch, bắt 20 tên, thu 51 súng. Ngay chiều 18, hãng tin AFP đã đưa tin: ''Chiến sự dữ dội nhất kể từ ngày ngưng bắn nổ ra ở hai căn cứ biệt động quân cách Kon Tum 6 dặm về phía đông bắc. Quân Sài Gòn 72 chết, 111 bị thương''.

   Ngày 1 tháng 4, Đảng ủy chiến trường Tây Nguyên họp đánh giá tình hình lãnh đạo trong ba tháng đầu năm 1974, đề ra chủ trương trong thời gian tới: ''Tích cực thực hiện kế hoạch tiến công tiêu diệt địch, mở rộng vùng ta, đánh bại hành quân lấn chiếm của địch mùa khô... trên cơ sở đó đẩy địch bị động sâu hơn nữa, phát triển quyền chủ động của ta''. Thực hiện chủ trương trên, Bộ tư lệnh chiến trường quyết định cho Sư đoàn 10 chuyển sang thực hiện bước 2 của đợt hoạt động: dùng Trung đoàn 24 tiến công tiêu diệt chỉ huy tiểu đoàn 22 biệt động quân và tiểu đoàn 280 bảo an ở điểm cao 1227 Kon Rốc.

   Tuy đã chiến đấu hơn 2 năm ở chiến trường Tây Nguyên, nhưng đây là lần đầu tiên Trung đoàn 24 đánh công sự vững chắc quy mô toàn trung đoàn; vì vậy Đảng ủy Bộ tư lệnh Sư đoàn 10 rất quan tâm giúp đỡ đơn vị về mọi mặt. Sư đoàn trưởng Nguyễn Đức Giá, trưởng ban pháo binh cùng nhiều cán bộ 3 cơ quan sư đoàn xuống đơn vị, ra tận trận địa kiểm tra, hướng dẫn giúp đỡ trung đoàn tổ chức, chỉ huy trận đánh. Lúc 12 giờ 55 phút ngày 2 tháng 4, phát hiện thấy địch ở Kon Rốc đang đi lại lộn xộn sau buổi ngủ trưa, mặc dù còn 5 phút nữa mới tới giờ quy định nhưng chớp thời cơ, trung đoàn trưởng Đinh Xuân La ra lệnh nổ súng. Lập tức pháo 105mm, súng cối, ĐKZ ầm ầm trút đạn vào căn cứ Kon Rốc (điểm cao 1227). Pháo binh ta bắn rất chính xác phá sập nhiều công sự đánh trúng sở chỉ huy diệt tên Thanh - tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 280... làm quân địch rất hoang mang liên tục điện về tiểu khu Kon Tum kêu cứu. Sau gần hai giờ bắn phá, pháo binh ta đã phá sập trên một nửa số công sự, diệt nhiều sinh lực địch, làm tê liệt cứ điểm. 14 giờ 50 phút bộ binh trên hướng đồng loạt xung phong đánh chiếm mục tiêu. Các chiến sĩ ĐKZ, 12,7mm cũng kịp thời cơ động lên khu vực đầu cầu bắn chi viện cho bộ binh phát triển chiến đấu. Trước sức mạnh tiến công áp đảo của ta, mọi kháng cự của quân đã nhanh chóng bị đè bẹp. Hơn 15 giờ căn cứ Kon Rốc bị tiêu hoàn toàn, 116 tên địch phơi xác trên trận địa, 31 tên bị bắn hàng trăm khẩu súng bị phá hủy, 1 máy bay AD6 và 1 trực thăng bị bắn rơi. Cùng thời gian này, 2 trận địa pháo lớn địch ở Kon Kơ Pát và Kon Săm Lũ bị pháo binh ta kiềm diệt tê liệt hoàn toàn, 5 khẩu 105mm và 3 xe GMC bị phá hủy hàng chục tên địch chết và bị thương. Chiến thắng Kon Rốc đã chọc thủng "con mắt" rất lợi hại của địch ở đông bắc Kon Tum, giáng thêm một đòn mạnh vào âm mưu xâm lấn vùng giải phóng, đồng thời đánh dấu bước trưởng thành mới  của cán bộ, chiến sĩ đoàn ''Trung Dũng''.

   Trên đà thắng lợi, ngày 16 tháng 5, Đoàn 2602 (gồm Trung đoàn 66, 2 tiểu đoàn pháo 41, 32 Sư đoàn 10, trung đoàn 3 Sư đoàn 3243, một lực lượng của trung đoàn pháo binh 40 và Trung đoàn phòng không 234, Đại đội 6 xe tăng Trung đoàn 273, Tiểu đoàn trinh sát 28 và 4 tiểu đoàn công binh B3) có sự phối hợp của lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân hai huyện (30, 40) tỉnh Kon Tum, do đồng chí Vương Tuấn Kiệt (Tư lệnh phó Tham mưu trưởng B3) làm chỉ huy trưởng và đồng chí Lã Ngọc Châu. (chính ủy Sư đoàn 10) làm chính ủy, tiến công cụm cứ điểm Đắc Pét. Sau hơn 4 giờ chiến đấu, tiểu đoàn 88 biệt động quân bị xóa sổ, 115 tên địch bị diệt, 403 tên bị bắt, 2 pháo 105mm và 2 xe ô tô bị phá hủy, 1 máy bay bị bắn rơi, 635 khẩu súng các loạt bị tịch thu, gần 3.000 dân được giải phóng khỏi ách kìm kẹp nhiều năm của địch. Cụm cứ điểm Đắc Pét bị diệt, điểm chốt cuối cùng của địch án ngự đường 14 ở bắc Kon Tum bị xóa bỏ, đường chiến lược Đông Trường Sơn được khai thông, tạo điều kiện thuận lợi cho ta đẩy nhanh vận chuyển phục vụ chiến đấu và chuẩn bị cho các chiến dịch lớn vào giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Chiến thắng Đắc Pét đánh dấu bước trưởng thành mới về trình độ tác chiến hiệp đồng binh chủng của bộ đội chủ lực Tây Nguyên; được Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh gửi điện khen ngợi. Nhiều đơn vị tham gia trận Đắc Pét được khen thưởng, trong đó Trung đoàn 66, Trung đoàn 3, Trung đoàn 40 pháo binh hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được tặng Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhât4.

   Trong khi hướng bắc Tây Nguyên chiến thắng giòn giã, ở hướng nam, các đơn vị chủ lực và địa phương cũng liên tiếp lập công. Sư đoàn 320 đánh bại cuộc hành quân lấn chiếm của địch ra vùng Chư Nghé, thu hút giam chân 11 tiểu đoàn bộ binh và 3 chi đoàn thiết giáp địch, chia lửa với Sư đoàn 10, Tiếp đó, Sư đoàn 320 bí mật cơ động lực lượng lật cánh về tây nam Plei Ku, mở hướng hoạt động mới trên đường 20 và đường 21. Sau một thời gian ngắn gấp rút chuẩn bị, ngày 10 tháng 4, Trung đoàn 64 do trung đoàn trưởng Phạm Quang Bào chỉ huy đã bất ngờ tiến công đánh chiếm căn cứ Lệ Ngọc ở điểm cao 491 trên đường 20; rồi chuyển sang phục kích đánh quân ứng cứu giải tỏa. Trong 2 ngày chiến đấu, Trung đoàn 64 đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 67 biệt động quân và 1 đại đội xe tăng của trung đoàn 19, diệt 107 tên, bắt 36 tên, bắn cháy 9 xe tăng, thu 62 súng và 12 vô tuyến điện. Mắt xích quan trọng Lệ Ngọc trên tuyến phòng thủ phía nam quận lỵ Thanh An bị chọc thủng, buộc địch phải vội vã tăng quân đối phó ở tây nam Plei Ku, tạo điều kiện cho ta phát triển chiến đấu. Được chiến thắng Lệ Ngọc cổ vũ, trong hai ngày 15 và 16 tháng 4 Trung đoàn 48 do trung đoàn trưởng Trần Ngọc Chung và chính ủy Đoàn Đình Vinh chỉ huy được tăng cường hỏa lực mạnh tiến công đánh chiếm cứ điểm 711 Làng Siêu và điểm cao 601; tiêu diệt gọn tiểu đoàn 82 biệt động quân và chi đoàn 3 thiết giáp, loại khỏi vòng chiến đấu 417 tên địch, phá hủy 17 xe M113 và 12 xe GMC, bắn rơi 6 máy bay, thu 2 pháo 105mm và nhiều đạn  dược. Trận đánh đã làm đảo lộn kế hoạch và thế bố trí của địch ở tây nam Gia Lai, làm phá sản một bước âm mưu tập trung quân tải chiếm Chư Nghé, Đức Cơ của quân đoàn quân khu 2 ngụy.

   Sau chiến thắng Lệ Ngọc, Làng Siêu, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 320 lệnh cho trung đoàn 25 cơ động về phía tây tỉnh Đắc Lắc đánh địch mở rộng vùng giải phóng. Ngày 30 tháng 5, Trung đoàn 25 dược tăng cường Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48 và hỏa lực do trung đoàn trưởng Trần Minh Hảo và chính ủy Nguyễn Ngãi chỉ huy tiến công cứ điểm Ya Súp nằm sâu trong vùng giải phóng của ta. Chỉ trong hơn 2 giờ chiến đấu, tiểu đoàn 211 bảo an, trong đó có 50% là lực lượng FULRO đã bị diệt và bắt gọn, 65 tên bị giết, 60 tên bị bắt (có tên tiểu đoàn trưởng), 68 súng và 8 vô tuyến điện bị tịch thu. Đây là trận đánh có hiệu suất chiến đấu cao5, giành thắng lợi trọn vẹn và là trận đánh hiệp đồng binh chủng quy mô toàn đơn vị đầu tiên của Trung đoàn 25. Chiến thắng Ya Súp có ý nghĩa cả về quân sự và chính trị, phá tan ách kìm kẹp của địch, giải phóng các buôn Ya Súp A, Ya Súp B, Buôn Kha, Buôn Chua với 900 người dân, hoàn chỉnh vùng giải phóng huyện 5 Đắc Lắc.

   Phối hợp với đòn tiến công mạnh của Sư đoàn 320, các đơn vị chủ lực và địa phương ở nam Tây Nguyên tích cực đánh giao thông, hậu cứ, chống lấn chiếm, càn quét. Nổi bật là trận tắp kích cứ điểm Y2 (căn cứ 261) của Tiểu đoàn 631 do tiểu đoàn trưởng Trần Tất Thanh chỉ huy. Với cách đánh táo bạo, dũng cảm, chỉ trong một giờ tiến công, ta làm chủ hoàn toàn cứ điểm, diệt gọn 1 đại đội pháo hỗn hợp,  đại đội chỉ huy và ban chỉ huy nhẹ 1 tiểu đoàn 62; loại khỏi vòng chiến đấu 150 tên địch, thu 52 súng các loại (trong đó có 2 pháo 155mm, 4 pháo 105mm, 3 súng cối và 4 khẩu 12,7mm), 3.600 viên đạn pháo, 1 kho gạo và 6 xe ô tô sau trận đánh, Tiểu đoàn 631 dùng súng cối 120mm tập kích hỏa lực vào tiểu đoàn 90 của địch đến giải quyết hậu quả, làm chúng tháo chạy khỏi Y2. Đây là một trận đánh xuất sắc đạt hiệu suất chiến đấu cao6, được tặng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba.




------------------------------------------------------------------
1. Trích điện số 21 ngày 21.1.1974 của Bộ Tổng tư lệnh gửi B3.

2. Đoàn 260 được thành lập lâm thời, giải phóng Đắc Pét xong, thì giải thể.

3. Trung đoàn 3, Sư đoàn 324, Quân đoàn 2.

4. Trong trận Đắc Pét, Trung đoàn 66 diệt được 10 trong số 22 mục tiêu, diệt 51 tên, bắt 264 tên địch, trong đó có tên tiểu đoàn trưởng Trung đoàn 3 diệt 7 mục tiêu và 60 tên địch, bắt 150 tên.

5. Trận Ya Súp, ta có 2 đồng chí hy sinh, 10 đồng chí bị thương.

6. Trận Y2, Tiểu đoàn 631 có 5 đồng chí hy sinh và 33 đồng chí bị thương.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 12 Tháng Tư, 2021, 02:55:39 pm
*

   Mùa mưa năm 1974, địch ở Tây Nguyên đã suy yếu một bước và mất quyền chủ động. Mặc dù ra sức đôn  quân bắt lính nhưng chúng cũng chỉ bổ sung được quân số cho 7 tiểu đoàn, còn 5 tiểu đoàn bị ta đánh thiệt hại nặng (81, 82, 3/40, 3/47, 254) không sao bù đắp dược quân số hao hụt, tiểu đoàn 280 bị xóa phiên hiệu không thể phục hồi. Để tăng khả năng chiến đấu của quân chủ lực, từ tháng 7 năm 1974 các liên đoàn biệt động quân được biên chế thêm 1 đại đội pháo 105mm, các trung đoàn bộ binh cộng hòa được bổ sung một đại đội tên lửa chống tăng Tow (16- 18 ống phóng). Với quân số còn đông, lắm bom nhiều súng, quân đoàn 2 quân khu 2 ngụy tiếp tục xua quân phản kích, tập trung trên hai hướng tây bắc - bắc thị xã Kon Tum và tây - tây nam thị xã Plei  Ku, đồng thời dùng máy bay pháo lớn bắn phá liên tục vào vùng giải phóng.

   Ba tháng 7, 8 và 9 năm 1974 Quân khu 5 và Quân đoàn 22 Mở chiến dịch Nông Sơn - Thượng Đức và chiến dịch La Sơn. Một lực lượng của Quân khu 5 đánh mạnh trên hướng tây Quảng Ngãi và Bình Định. Để phối hợp với các chiến dịch, Bộ Tổng tư lệnh và Bộ tư lệnh Quân khu 5 chỉ thị cho Bộ tư lệnh chiến trường Tây Nguyên đẩy mạnh các hoạt động tác chiến nhằm giam chân chủ lực quân đoàn 2- quân khu 2 ngụy, không cho chúng cơ động tăng viện cho đồng bằng Khu 5.

   Chấp hành chỉ thị của trên, Bộ tư lệnh Chiến trường giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 10 đẩy mạnh hoạt động trên hướng Kon Tum; Sư đoàn 320 vây ép đồn Plei Me, đánh viện trên đường 21 và 5a, 5b; các đơn vị chủ lực chuyên trách và lực lương vũ trang ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc tích cực đánh giao thông, kho tàng, hậu cứ địch. Thực hiện mệnh lệnh chiến đấu, Sư đoàn 10 kiên quyết chặn đánh 2 trung đoàn 44, 45 địch lấn chiếm vùng tây nam Kon Rốc, điểm cao 601 bảo vệ vững chắc vùng giải phóng Kon Tum; đồng thời sử dụng Trung đoàn 28 tiến công tiểu đoàn 1 (trung đoàn 44) ở nam Kon Rốc. Trong 5 ngày liên tục chiến đấu, Trung đoàn 28 đã diệt và bắt 330 tên địch, thu 128 súng các loại và 17 vô tuyến điện. Chiến thắng nam Kon Rốc đã góp phần phá vỡ hệ thống phòng ngự mới của địch trên hướng đông bắc thị xã Kon Tum, mở rộng vùng giải phóng, bảo vệ tuyến đường 220 và thu hút giam chân một lực lượng đáng kể quân địch. Tiếp đó, từ ngày 30 tháng 9 đến ngày 12 tháng 10 Trung đoàn 28 (đồng chí Vũ Đình Thước làm trung đoàn trưởng, đồng chí Lê Xuân Thịnh làm chính ủy và đồng chí Đỗ Công Mùi làm trung đoàn phó) được hỏa lực tăng cường, có sự phối hợp của lực lượng vũ trang địa phương đánh chiếm cụm cứ điểm Măng Đen cách thị xã Kon Tum 37km về phía đông bắc. sau 13 ngày chiến đấu, ta làm chủ hoàn toàn cụm cứ điểm cuối cùng của địch nằm sâu trong vùng giải phóng, xóa sổ ban chỉ huy chiến thuật tiểu khu Kon Tum, ban chỉ huy chi khu Chương Nghĩa, tiểu đoàn 254; loại khỏi vòng chiến đấu 430 tên địch, phá hủy 3 kho đạn, 5 xe quân sự, thu 539 khẩu súng và hàng trăm quả đạn pháo. Chiến thắng Măng Đen đã giải phóng một vùng đất đai rộng lớn nối liền hai tỉnh Kon Tum - Quảng Ngãi, với 1.920 người dân. Điểm nổi bật của trận đánh này là ta thành lập Ban quân quản và đưa vào hoạt động kịp thời bảo vệ được tính mạng tài sản, tổ chức lại đời sống cho nhân dân và củng cố vùng mới giải phóng. Đây là nét sáng tạo trong nghệ thuật tổ chức, chỉ huy chiến đấu mà các đơn vị chủ lực và địa phương ở Tây Nguyên thực hiện trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ.

   Trong khi Sư đoàn 10 đánh mạnh ở Kon Tum, Sư đoàn 320 cũng tích cực tiến công ở Gia Lai. Ngày 4 tháng 8, Trung đoàn 48 vận động bao vây tiến công liên tục trên đường 21, diệt gọn ban chỉ huy và 2 đại đội của tiểu đoàn 81 biệt động quân, đánh thiệt hại nặng 2 đại đội khác, loại khỏi vòng chiến đấu 178 tên địch, thu 68 súng và 11 vô tuyến điện. Bị uy hiếp mạnh trên hướng tây nam Plei Ku, quân đoàn 2, quân khu 2 ngụy buộc phải đưa quân đi ứng cứu. Từ ngày 21 tháng 8 đến ngày 2 tháng 9, trung đoàn 53, trung đoàn 41 có xe tăng máy  bay pháo lớn chi viện chia  làm 2 cánh giải tỏa khu vực Plei Me. Chủ động, kiên quyết đón đánh địch, trong 2 ngày 29 và 30 tháng 8 Trung đoàn bộ binh 48 đánh vận động diệt tiểu đoàn 1 (trung đoàn 53) ở đông bắc Plei  Me, loại khỏi vòng chiến đấu 287 tên, thu 111 súng và bắn rơi 1 máy bay.

   Những tháng cuối năm 1974, Sư đoàn 320 chặn đánh và đẩy lui các cuộc hành quân lấn chiếm của liên đoàn biệt động quân 23 ở nam Thanh An, của trung đoàn 53 ở Bảo Đức, đường số 5a, 5b, làng Dịt, diệt hàng trăm tên địch,  bắn cháy nhiều xe bọc thép. Các đơn vị phòng không bảo vệ Đứa Cơ, Phước Thiện cảnh giác cao, kịp thời đánh trả hàng chục lần máy bay xâm phạm vùng trời giải phóng, bắn rơi 2 chiếc A37. Cùng thời gian này, Trung đoàn 95 đánh mạnh trên đường 19, phá hủy hàng chục xe quân sự, diệt nhiều sinh lực địch. Lực lượng vũ trang tỉnh Gia Lai tiến công khu kho hậu cần của quân đoàn 2 ngụy ở Cơ Ti Prông, diệt 40 tên, phá hủy 2 kho, 15 xe quân sự; đánh địch ở làng Mo diệt gần 100 tên, thu 32 súng. Bộ đội tỉnh và du kích Đắc Lắc tiến công tiểu đoàn 223 thông tin của sư đoàn 23 ở khu vực làng Dam và tây bắc Cẩm Ga, diệt 50 tên, phá hủy 16 xe quân sự.

   Năm 1974, năm thứ hai thực hiện Hiệp định Pa-ri  quân và dân Tây Nguyên giành những thắng lợi quan trọng về quân sự. Toàn mặt trận đã đánh 1930 trận, tiêu diệt 5 tiểu đoàn, 16 đại đội, 24 trung đội; đánh thiệt hại nặng 5 tiểu đoàn, 8 đại đội; đánh chiếm 1 chi khu, 8 cứ điểm, 9 chốt, 2 tiền đồn, bức rút 1 chi khu; loại khỏi vòng chiến đấu 12.806 tên địch; phá hủy 842 xe quân sự (có 84 xe tăng, xe bọc thép), 65 pháo lớn, 151 kho tàng, 4 cầu, bắn rơi và phá 46 máy bay; thu 3. 893 súng các loại và 375 vô tuyến điện. Địch buộc phải co về giữ các thị xã, thị trấn, chi khu và các trục đường số 14, 19, 21 và 7. Ta không những giữ vững mà còn từng bước mở rộng vùng giải phóng; nhất là phía tây đường 14, từ cực bắc Kon Tum đến nam Đắc Lắc và nối với chiến trường Nam Bộ. Thắng lợi về mặt quân sự đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho quân và dân Tây Nguyên củng cố và phát triển lực lượng, xây dựng thế trận và căn cứ địa, nâng cao sức mạnh chiến đấu và tiềm lực kháng chiến để bước vào những trận đánh cuối cùng giải phóng hoàn toàn Tây Nguyên.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 12 Tháng Tư, 2021, 04:12:01 pm
2. Tích cực, tạo thế, đẩy mạnh xây dựng căn cứ địa Tây Nguyên

   Sau nhiều năm phấn đấu, đến đầu năm 1973 căn  cứ địa cách mạng ở Tây Nguyên đã tương đối rộng lớn, liên hoàn bao gồm hầu hết vùng bắc và tây tỉnh Kon Tum, tây tỉnh Gia Lai và tây bắc tỉnh Đắc Lắc. Trong  vùng giải phóng, chính quyền cách mạng đã được thành lập từ cơ sở đến huyện, tỉnh đang điều hành mọi hoạt động. Lực lượng vũ trang cách mạng gồm khối chủ lực B3 và bộ đội địa phương, dân quân du kích ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc đã lớn mạnh trưởng thành có đủ khả năng bảo vệ vững chắc vùng giải phóng, là nòng cốt của chiến tranh nhân dân ở địa bàn. Kinh tế, cơ sở hạ tầng tuy còn rất khó khăn nhưng đang được củng cố xây dựng, từng bước vươn lên đảm nhiệm một phần quan trọng trong việc bảo đảm các nhu cầu xây dựng, phát triển lực lượng và nuôi quân  đánh giặc. Thế trận tiến công và phòng thủ gắn liền với địa thế rừng núi tạo cho căn cứ địa cách mạng Tây Nguyên ngày càng phát triển vững chắc. Tuy vậy, so với yêu cầu của cách mạng trong giai đoạn mới, căn cứ địa Tây Nguyên cỏn nhiều khó khăn, bất cập.

   Thấu hiểu điều đó và để giúp đỡ chiến trường Tây Nguyên giải quyết những khó khăn trước mắt, từng bước tạo thế và lực theo hướng cơ bản lâu dài, tháng 3 và tháng 4 năm 1973 Ban Bí thư Trưng ương Đảng và Quân ủy Trung ương cử đoàn cán bộ vào Tây Nguyên. Đoàn gồm các đồng chí Tố Hữu - Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Thống nhất Trung ương (Trưởng đoàn), Nguyễn Thọ Chân - Ủy viên Trung ương Đảng, Phó ban Thống nhất Trung ương, Phạm Chung - Phó Văn phòng Tr ung ương Đảng, Đinh Đức Thiện - ủy viên Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần và nhiều cán  bộ thuộc các cơ quan của Trung ương Đảng, Nhà nước và Bộ Tổng tư lệnh. Sau khi nghe Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh chiến trường Tây Nguyên báo cáo, trực tiếp kiểm tra mọi mặt công tác của mặt trận, đoàn cán bộ của Trung ương đã truyền đạt những chủ trương của Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương, bàn bạc nội dung kế hoạch chi viện 3 năm (1973-1975), chỉ đạo hướng dẫn  việc đẩy mạnh xây dựng căn cứ địa, phát triển sản xuất, củng cố mở rộng mạng lưới giao thông vận tải... đồng thời nắm cơ sở thực tiễn cho việc quyết định mở thêm trục đường Đông Trường Sơn. Sự quan tâm giúp đỡ của Trung ương Đảng, Quân ủy Trưng ương và Bộ Tổng tư lệnh dã tạo những thuận lợi lớn và tiếp thêm sức mạnh cho quân và dân Tây Nguyên xây dựng căn cứ địa, củng cố hậu phương chiến lược trực tiếp cho cuộc kháng chiến trên địa bàn.

   Tiếp đó, đầu tháng 7 năm 1973 tại Hội nghị về tình hình nhiệm vụ trước mắt của chiến trường B1, B3, Bộ Tổng tư lệnh đã kết luận: ''Cần khẩn trương xây dựng và củng cố, chấn chỉnh dược một lực lượng chủ lực mạnh theo đúng tinh thần quân số chiến đấu thực tế ở các đơn vị phải đủ, đúng biên chế tổ chức. Tăng thêm sức cơ động và khả năng bảo đảm cho bộ đội, tăng sức đột phá công sự, tăng khả năng diệt cơ giới, diệt máy bay. Bảo đảm đồng bộ cân đối giữa các binh chủng''. Tổng quân số của chiến trường Tây Nguyên khỏang 4 vạn người.

   Trong 2 năm (1973-1974) Chiến trường Tây Nguyên được bổ sung một lực lượng quân số, vũ khí trang bị và vật chất hậu cần từ hậu phương lớn miền Bắc, bao gồm: 18.831 cán bộ, chiến sĩ, gần 300 xe ô tô và 34.224 tấn vật chất các loại. Về đơn vị được bổ sung gọn 2 trung đoàn pháo phòng không cơ giới 234 và 593, một  tiểu đoàn xe tăng, 1 tiểu đoàn thông tin dây trần, 1 tiểu đoàn vận tải ô tô và một số phân đội bảo đảm, kỹ thuật. Nhiều đoàn cán bộ của Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục chính trị và Tổng cục Hậu cần được cử vào Tây Nguyên giúp đỡ Bộ tư lệnh Chiến trường chỉ đạo tổ chức và các ngành, các đơn vị triển khai thực hiện nhiệm vụ.

   Được sự chi viện của trên, để đáp ứng yêu cầu tác chiến hiệp đồng binh chủng có quy mô ngày càng lớn ở Tây Nguyên, ngày 3 tháng 2 năm 1973, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Chiến trường quyết định thành lập Trung đoàn xe tăng 273. Trong biên chế của Trung đoàn có ban chỉ huy, 3 cơ quan, 3 tiểu đoàn xe tăng, xe thiết giáp và một số phân đội bảo đảm phục vụ. Ban chỉ huy Trung đoàn 273 gồm các đồng chí: Lê Ngọ (trung đoàn trưởng), Mai Sinh Giá (chính ủy), Đỗ Phùng (trung đoàn phó), Vũ Đình Tư (phó chính ủy). Sự ra đời trung đoàn xe tăng đầu tiên và xuất hiện các trung đoàn phòng không cơ giới ở Tây Nguyên đã tạo sức mạnh chiến đấu hiệp đồng binh chủng lớn, đánh dấu buộc phát triển vượt bậc của khối chủ lực cơ động trên chiến trường. Tiếp đó các đơn vị: Trung đoàn bộ binh 261, trung đoàn đặc công 198, Trung đoàn 29 thông, Tiểu đoàn pháo Đ74, Đoàn vận chuyển đường sông, xưởng Quân giới Z61 lần lượt ra đời; Đoà 671 được tổ chức biên chế lại, Đoàn 670 giải thể, Tiểu đoàn 12 độc lập chuyển cho Tỉnh đội Gia Lai, Trung đoàn 95 tách khỏi Sư đoàn 10 thành đơn vị độc lập trực thuộc B3, hai sư đoàn bộ binh (320,10) được tăng thêm lực lượng pháo phòng không và pháo mặt đất xe kéo.

   Thực hiện nghị quyết tháng 4 năm 1974 của Quân ủy Trung ương và chủ động xây dựng khối chủ lực Tây Nguyên theo hướng binh đoàn chủ lực, tháng 8 năm 1974, Bộ tư lệnh chiến trường tiến hành tổ chức biên chế lại các đơn vị chủ lực theo hướng tăng cường hỏa lực, sức cơ động và quân số trực tiếp chiến đấu, giảm nhẹ thành phần phục vụ, thu gọn các đầu mối. Theo đó quân số chiến đấu tăng lên 5,48% (so với năm 1973), riêng bộ binh tăng 6,08%. Hai sư đoàn bộ binh 10, 320 được tăng cường thêm một trung đoàn pháo binh hỗn hợp. Các trung đoàn bộ binh, pháo binh, xe tăng, phòng không, đặc công, công binh, thông tin đều có đủ 3 tiểu đoàn. Các trường: Quân sự địa phương, Quân chính B3, Quân y B3, Trường Văn hóa thiếu nhi cũng được chấn chỉnh tổ chức biên chế theo hướng tinh gọn, thiết thực, hiệu quả. Cuối năm 1974, khối chủ lực B3 đã lớn mạnh vượt bậc, bao gồm: Bộ tư lệnh và 3 cơ quan mặt trận, 2 sư đoàn bộ binh (10, 320), 2 trung đoàn bộ binh độc lập (95, 25), 1 trung đoàn đặc công (198), 1 trung đoàn xe tăng (273), 2 trung đoàn pháo binh (40, 675), 2 trung đoàn phòng không (234, 593), 1 trung đoàn công binh (7), 1 trung đoàn thông tin (29), 4 trưởng, 3 binh trạm, 2 đoàn sản xuất và các bệnh viện, đội điều trị, xưởng trạm... với tổng quân số 47.400 cán bộ, chiến sĩ. Vũ khí trang bị gồm trên 50 xe tăng, xe bọc thép, 381 xe ô tô, gần 100 khẩu pháo xe kéo, ĐKB, H12, hơn 250 súng cối và ĐKZ, 110 khẩu pháo phòng không xe kéo, trên 250 súng máy phòng không, hàng vạn súng bộ binh, hàng trăm máy thông tin và 1.600km dây diện thoại. Khối chủ lực Tây  Nguyên đã lớn mạnh hơn hẳn, tạo thế trực tiếp uy hiếp quân đoàn 2- quân khu 2 ngụy, chuẩn bị cho việc chính thức thành lập Quân đoàn 3 vào mùa xuân năm 1975.

   Bên cạnh khối chủ lực mạnh, lực lượng vũ trang địa phương ba tỉnh Tây Nguyên cũng có bước phát triển mới. Tháng 4 năm 1973, Thường vụ Đảng ủy chiến trường Tây Nguyên ra nghị quyết xác định 6 nhiệm vụ2 của lực lượng vũ trang địa phương và phương hướng xây dựng: ''Phải ra sức phát triển dân quân du kích rộng, mạnh, đều khắp thành một lực lượng vũ trang mạnh của quần chúng, nằm trong quần chúng; đồng thời xây dựng bộ đội địa phương gọn, sắt, tinh nhuệ, vừa trang bị tương đối hiện đại vừa tận dụng vũ khí thô sơ để các lực lượng vũ trang địa phương thực sự là nòng cốt đẩy mạnh phong trào chiến tranh nhân dân trên các địa phương, từng bước nâng cao sức mạnh chiến đấu làm cho bộ đội địa phương và du kích của ta đủ sức đánh bại các cuộc hành quân của ngụy trong phạm vi địa phương''3. Tiếp đó, tháng 6 năm 1973 Bộ tư lệnh chiến trường đã xây dựng phương án tổ chức biên chế ba tỉnh đội Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc.

Nắm vững phương hướng xây dựng và được Bộ tư lệnh chiến trường trực tiếp chỉ đạo, lực lượng vũ trang địa phương ở Tây Nguyên phát triển cả về số lượng và chất lượng. Ba tỉnh đội Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc đã có 6 tiểu đoàn, 36 đại đội, 5 trung đội, 5 đội công tác vũ trang tuyên truyền với tổng quân số gần 6.000 cán bộ, chiến sĩ.Các đại đội trực thuộc tỉnh đội có từ 120 đến 200 người; các đại đội ở huyện có từ 14 đến 60 người. Lực lượng du kích có 14.767 người chiếm 11,8% tổng số dân trong vùng giải phóng, trong đó có 16,7% là nữ du kích, 3% là lão du kích, 9,5% là du kích thiếu nhi và 2% là du kích mật. Với lực lương khá đông, quen thuộc địa bàn đối tượng tác chiến, được huấn luyện khá chu đáo, trang bị khá mạnh, các lực lượng vũ trang địa phương kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự, chính trị, binh vận tích cực vận động quần chúng... đã dựng lên bức tường sắt giữ vai trò nòng cốt đánh bại quân địch xâm lấn các làng buôn, thôn xã, tích cực phối hợp với chủ lục trong các trận đánh lớn, các đợt hoạt động.

   Quán triệt chỉ thị của Bộ Tổng tham mưu: ''Khối chủ lực Tây Nguyên phải đạt trình độ thành thạo tác chiến binh chủng hợp thành, bảo đảm tiến công tiêu diệt phá vỡ hệ thống phòng ngự công sự vững chắc của địch q uy mô sư đoàn hoặc sư đoàn tăng cường có xe tăng, pháo binh và không quân chi viện... bảo đảm tiêu diệt trong vận động các chiến đoàn, binh đoàn của địch, nhanh chóng phát triển khi có thời cơ''4; trong 2 năm 1973, 1974 Đảng ủy và Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo tập trung mọi nỗ lực cho công tác huấn luyện nhằm nâng cao sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang, để chuẩn bị cho những nhiệm vụ lớn sau này.

   Mặc dù các đơn vị phải luân phiên tham gia chiến đấu bảo vệ và mở rộng vùng giải phóng, nhưng mặt trận vẫn cơ bản hoàn thành những nội dung thiết yếu trong kế hoạch huấn luyện hàng năm. Xác định rõ cán bộ là cái gốc của mọi công việc, huấn luyện cán bộ là trung tâm của công tác huấn luyện. Năm 1973, Bộ tư lệnh và ba cơ  quan mặt trận đã từ chức tập huấn bồi dưỡng cho 7.517 lượt cán bộ (thời gian từ 15 đến 45 ngày), mở 4 lớp tập huấn được 174 lượt cán bộ trung đoàn và tỉnh đội trở lên, bồi dưỡng nghiệp vụ cho 750 lượt trợ lý chủ chốt. Các sư đoàn, trung đoàn tổ chức tập huấn hai vòng cho 3.644 lượt cán bộ trung - sơ cấp. Trường Quân chính bồi dưỡng được 143 cán bộ khung và giáo viên, đào tạo hàng trăm cán bộ phân đội cho các đơn vị trong toàn mặt trận. Trường Quân sự địa phương đào tạo bổ túc hàng chục cán bộ cho ba tỉnh đội Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc. Trường Văn hóa thiếu nhi tiếp nhận và huấn luyện cho 818 học sinh. Tổng số cán bộ toàn mặt trận được tập huấn bồi dưỡng trong năm 1973 đạt 90%. Năm 1974 công tác huấn luyện cán bộ tăng lên về thời gian, phong phú về nội dung, tương đối cơ bản, hệ thống và toàn diện, Cán bộ trung cao cấp tập trung nghiên cứu, tập bốn nội dung: đánh công sự vững.chắc, đánh địch  trong thị xã thị trấn, đánh cắt giao thông, đánh địch lấn chiếm vùng giải phóng; đi sâu vào chiến thuật tiến công địch trong công sự vững chắc bằng hiệp động binh chủng, vận động bao vây tiến công liên tục, vận động tiến công kết hợp chốt; ngoài ra còn được nghiên cứu kinh nghiệm tổng kết chiến dịch, các hoạt động và một số trận đánh tiêu biểu. Cán bộ sơ cấp được huấn luyện một số chiến thuật, kỹ thuật chủ yếu, trọng tâm là mũi đột phá, phân đội mở cửa đánh chiếm đầu cầu, đánh công sự vững chắc, làm giáo án, phương pháp huấn luyện phân đội, điều lệnh kỷ luật và nghiên cứu một số trận đánh. Cán bộ binh không được bồi dưỡng về chiến thuật, kỹ thuật,  phương pháp huấn luyện chuyên ngành. Công tác huấn luyện chiến sĩ tương đối toàn diện, đi sâu vào các nội dung kỹ thuật bộ binh và chuyên ngành; chiến thuật cá nhân, tổ, tiểu đội trong một số hình thức chiến thuật cơ bản, trong mở cửa đánh chiếm đầu cầu và phát triển vào mục tiêu bên trong. Nhằm nâng cao chất lượng huấn luyện, thời kỳ này Bộ tư lệnh chiến trường còn tổ chức tổng kết 8 năm đánh Mỹ ở Tây Nguyên, tổng kết chiến thuật từ cấp đại đội trở lên và tổng kết một số chiến dịch, kịp thời rút ra những kinh nghiệm quý phục vụ công tác huấn luyện, giáo dục bộ đội.

   Do có kế hoạch, nội dung huấn luyện sát đúng từng đối tượng, thường xuyên quản lý chặt chẽ, cải tiến phương pháp, lấy thực tiễn chiến đấu công tác để kiểm nghiệm…nên kết quả huấn luyện ngày càng tiến bộ. Qua huấn luyện bồi dưỡng tập huấn, cán bộ các cấp đã quán triệt ngày càng sâu đường lối quân sự, đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng, nắm vững các nguyên tắc chỉ đạo tác chiến, nâng cao một bước trình độ tổ chức chỉ huy thực hành chiến đấu, huấn luyện và quản lý đơn vị. Chiến sĩ nắm vững về kỹ thuật, chiến thuật cá nhân, trong đội hình phân đội, nhất là tác chiến hiệp đồng binh chủng. Có nhiều đơn vị huấn luyện tốt như Trung đoàn 28, Trung đoàn 66, Trung đoàn 25, Trung đoàn 675, Trung đoàn 234... Kết quả kiểm tra nội dung bắn B40 của Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 25 đạt 100% yêu cầu, có 57,4% khá giỏi; kiểm tra pháo thủ của Trung đoàn 675 đạt 100% yêu cầu có 53% khá giỏi; kiểm tra 15 đồng chí trinh sát kế toán của Trung đoàn 40 đều đạt 100% yêu cầu, có 80% khá giỏi. Các đơn vị: Tiểu đoàn 37, Tiểu đoàn 63 Trung đoàn 95, Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 28 đạt kết quả cao trong huấn luyện chiến thuật. Những thành  tích toàn diện trong huấn luyện bộ đội và xây dựng chính quy nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang Tây Nguyên, trong điều kiện luôn phải luân phiên chiến đấu là sự cố gắng cao của cấp ủy, chỉ huy các cấp và mỗi cán bộ, chiến sĩ. Đây là cơ sở để bảo đảm chiến đấu thắng lợi và tạo điều kiện hoàn thành các nhiệm vụ khác.




-----------------------------------------------------------------
1. Trung đoàn bộ binh 26 thành lập được một thời gian ngắn, giải thể ngày 29.11.1973.

2. Sáu nhiệm vụ: đánh bại một bước quan trọng kế hoạch bình định, đánh bại hành quân lấn chiếm của địch, làm công tác binh vận, củng cố phát triển lực lượng, tham gia xây dựng căn cứ địa vùng giải phóng, sản xuất tự túc.

3. Nghị quyết Thường vụ Đảng  ủy B3 tháng 5.1974, tr. 19.

4. Trích điện số 1016 ngày 28.11.1973 của Bộ Tổng tham mưu gửi Bộ tư lệnh B3.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 12 Tháng Tư, 2021, 04:13:33 pm
*

   Song song với xây dựng về quân sự, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên đặc biệt coi trọng công tác đảng, công tác chính trị trong các lực lượng vũ trang. Trước bước ngoặt của lịch sử, Mỹ đã ''cút'' nhưng nhiệm vụ đánh cho ngụy ''nhào'' còn rất nặng nề; vừa có hòa bình vừa có chiến tranh, đa số cán bộ, chiến sĩ phấn khởi tin tưởng vào chủ trương đường lối lãnh đạo cách mạng của Đảng, xác định rõ trách nhiệm trong giai đoạn cách mạng mới, nâng cao cảnh giác, khắc phục khó khăn tiếp tục cống hiến hy sinh để bảo vệ thành quả và đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn. Song điều kiện mới, hoàn cảnh mới cũng đã nảy sinh xuất hiện những lệch lạc ở không ít bộ đội. Có những cán bộ, chiến sĩ lập trường giai cấp thiếu vững vàng, nhận thức chưa hết ý nghĩa to lớn của Hiệp định Pa-ri, xem xét phiến diện tình hình địch - ta, dẫn đến thiếu cảnh giác, chủ quan khinh địch. Cũng có không ít người ''xả hơi'' thỏa mãn, lo lắng tính toán tiền đồ, thu vén cá nhân, đòi hỏi chính sách đãi ngộ; thậm chí có kẻ sa ngã trước sự cám dỗ của vật chất và chiến tranh tâm lý thâm độc của địch. Chính vì vậy, một số cán bộ giảm sút trách nhiệm quản lý giáo dục chỉ huy bộ đội, làm việc theo chủ nghĩa trung bình trên không chê dưới không trách; chiến sĩ mất cảnh giác làm lộ bí mật bị địch ném bom nổ 2 kho đạn (10 tấn); Đoàn 671 cho ca nô chạy giữa ban ngày bị máy bay bắn thiệt hại; chiến sĩ Trung đoàn 234 thiếu ý thức trong sử dụng lương thực gây lãng phí, chậm được ngăn chặn. Hiện tượng tự do, kỷ luật không nghiêm, dùng chất nổ không dùng mục đích hầu như ở đơn vị nào cũng có.

   Đúc rút nhiều kinh nghiệm từ thực tiễn chiến trường và chủ động nhạy bén trước sự kiện lịch sử ký kết Hiệp định Pa-ri, Đảng ủy và Bộ tư lệnh chiến trường kịp thời tập trung lãnh đạo chính trị, giáo dục tư tưởng nhằm làm chuyển biến căn bản về tổ chức, con người phù hợp với tình hình nhiệm vụ. Tổ chức Đảng, chỉ huy các cấp được kiện toàn, đại hội Đảng được tiến hành từ cơ sở đến sư đoàn và tương đương theo một kế hoạch thống nhất. Việc nghiên cứu chỉ đạo đấu tranh chính trị, binh vận và pháp lý buộc địch phải thi hành lệnh ngừng bắn chấp hành nghiêm chỉnh Hiệp định Pa-ri được gấp rút tiến hành. Ban Tổng hợp nghiên cứu trực thuộc Phòng Chính trị B3 được thành lập.

   Kiên quyết đẩy lui khắc phục những nhận thức và hành động lệch lạc trong cán bộ, chiến sĩ, Đảng ủy và Bộ tư lệnh chiến trường tiếp tục đẩy mạnh ''Cuộc vận động dân chủ, đề cao kỷ luật, tăng cường đoàn kết trong Quân đội" triển khai cuộc vận động ''Nâng cao chất lượng chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu''; tổ chức cho cán bộ, chiến sĩ học tập bài viết "Nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân'' của Chủ tịch Hồ Chí Minh; kịp thời ra các chỉ thị: ''Về quản lý, sử dụng lương thực, thực phẩm''. ''Nâng cao ý thức làm chủ tập thể; quản lý sử dụng tốt cơ sở vật chất kỹ thuật''. Tháng 3 năm 1974, Thường vụ Đảng ủy chiến trường phát động phong trào thi đua ''Giành ba đỉnh cao quyết thắng'' trong thanh niên các lực lượng vũ trang Tây Nguyên. Ba nội dung chính gồm: ý chí quyết tâm cao, kỹ thuật giỏi, kỷ luật nghiêm nếp sống đẹp. Vừa đẩy mạnh giáo dục động viên, Đảng ủy và Bộ tư lệnh còn tích cực tổ chức kiểm tra. Hội nghị tập huấn về chức trách, chế độ kiểm tra trong Quân đội được tổ chức, "Chỉ thị về chỉ đạo công tác kiểm soát và chấp pháp hình sự'' được ban hành. Tháng 12 năm 1973, đoàn kiểm tra của Mặt trận do đồng chí Vương Tuấn Kiệt (Tham mưu trưởng B3) làm trưởng đoàn xuống kiểm tra Sư đoàn 10, làm rõ nguyên nhân đơn vị không tổ chức được những trận đánh then chốt trong năm 1973, đồng thời đề ra những biện pháp cụ thể để khắc phục nhược điểm, phát huy ưu điểm, hoàn thành tốt nhiệm vụ trong thời gian tới. Năm 1974, Bộ tư lệnh chiến trường quyết định thành lập ''Hội đồng kiểm tra tài chính nội bộ'' để tiến hành kiểm tra ở tất cả các đơn vị từ cấp trung đoàn và tương đương trở lên trong toàn mặt trận; trực tiếp kiểm tra Ban tài vụ Phòng Hậu cần B3, Đoàn 671, kịp thời chấn chỉnh và cho ngừng việc thu  mua ở hướng Lò Gò, Kra Chiê (Cam-pu-chia), nắm chắc việc thu mua ở  hướng Pắc Xế, Mường Khồng (Lào).

   Cuối tháng 9 năm 1973, Hội nghị đại biểu Đảng bộ Mặt trận Tây Nguyên lấn thứ nhất được tổ chức.'Tham dự Hội nghị có 118 đại biểu thuộc các Đảng bộ Sư đoàn 320, Sư đoàn 10, các trung đoàn: 7, 26, 675, 40, 234, 593, 273, Trường Quân chính, Trường Quân sự địa phương, Đoàn 671, Đoàn liên hiệp Khu vực 3; các đảng bộ tiểu đoàn trực thuộc: 1, l2, 20, 33, 408, bộ phận sĩ quan liên lạc và phục vụ quốc tế ở Đức Cơ; Đảng bộ các phòng: Tham mưu, Chính trị, Hậu cần và 8 đồng chí trong Đảng ủy chiến trường. Đoàn chủ tịch Hội nghị gồm 7 đồng chí: Trần Thế Môn, Hoàng Minh Thảo, Đặng Vũ Hiệp, Trần Xuân Lư, Nguyễn Mạnh Quân, Phí Triệu Hàm, Nguyễn Đức Giá. Trong 6 ngày làm việc nghiêm túc, khẩn trương các đại biểu nghiên cứu thảo luận đóng góp ý kiến vào bản dự thảo báo cáo đề án của Khu ủy Khu 5 và bản ''Báo cáo kiểm điểm lãnh đạo của Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên từ năm 1968 đến tháng 9 năm l973''; đồng thời bầu 16 đại biểu đi dự Hội nghị đại biểu Đảng bộ Khu 5 lần thứ ba. Đây là lần đầu tiên Đảng bộ Mặt trận tổ chức hội nghị đại biểu quy mô toàn chiến trường. Hội nghị không những rút ra những kinh nghiệm quý giá trong 6 năm lãnh đạo lực lượng vũ trang, mà còn thể hiện ý chí của toàn thể đảng viên, đoàn viên, cán bộ, chiến sĩ bộ đội chủ lực quyết tâm cùng quân dân Tây Nguyên và cả nước đánh cho ngụy  nhào, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

   Tháng 11 năm 1973, đồng chí Trần Thế Môn (Năm Minh) - Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Mặt trận Tây Nguyên được Quân ủy Trung ương điều động đi nhận nhiệm vụ mới. Đồng chí Hoàng Minh Thảo -Tư lệnh Mặt trận kiêm Bí thư Đảng ủy; đồng chí Đặng Vũ Hiệp - Phó Chính ủy được giao phụ trách Chính ủy Mặt trận. Tiếp đó tháng 4 năm 1974, Quân ủy Trung ương bổ nhiệm đồng chí Đặng Vũ Hiệp làm Chính ủy Mặt trận Tây Nguyên, đồng chí Vương Tuấn Kiệt (Tham mưu trưởng) làm Phó tư lệnh Tham mưu trưởng mặt trận, đồng chí Thái Bá Nhiệm làm Chủ nhiệm Chính trị mặt trận. Tháng 6 năm 1974, Thiếu tướng Vũ Lăng - Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu được bổ nhiệm làm Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên thay Trung tướng Hoàng Minh Thảo về làm Phó tư lệnh Quân khu 5. Cùng thời gian này Thường vụ Đảng ủy Quân khu 5 ra nghị quyết chỉ định Thường vụ Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên gồm các đồng chí: Đặng Vũ Hiệp - Bí thư, Vũ Lăng - ủy viên Thường vụ, Vương Tuấn Kiệt - ủy viên Thường vụ. Sau khi được kiện toàn, đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên lãnh đạo chỉ huy toàn chiến trường khẩn trương kiện toàn tổ chức biên chế theo hướng binh đoàn chủ lực binh chủng hợp thành, đẩy mạnh huấn luyện theo hướng tác chiến hiệp động binh chủng nâng cao sức mạnh chiến đấu, sẵn sàng bước vào cuộc Tổng tiến công chiến lược mùa xuân năm 1975.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 12 Tháng Tư, 2021, 04:17:43 pm
*

   Để giữ vững và xây dựng vùng giải phóng Tây Nguyên ngày càng vững mạnh, tích cực góp phần đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mau đến thắng lợi cuối cùng, song song với các nhiệm vụ tác chiến, huấn luyện, củng cố xây dựng lực lượng, công tác đảng, công tác chính trị, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận chủ trương: ''Nhanh chóng xây dựng căn cứ và vùng giải phóng, xây dựng hậu phương quân đội; đặc biệt là xây dựng kinh tế, phát triển sản xuất tăng nhanh tiềm lực kinh tế và tiềm lực quân sự tại chỗ để đánh thắng địch trong bất kỳ tình huống nào".

    Được sự giúp đỡ của đại diện Ủy ban Kế hoạch Nhà nước1, Bộ tư lệnh Mặt trận nhanh chóng hoàn chỉnh dự kiến phương hướng xây dựng kinh tế 3 năm (1974-1976) trong phạm vi vùng giải phóng. Cuối tháng 3 năm 1973, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận tổ chức, chủ trì Hội nghị chuyên đề về phương hướng nhiệm vụ xây dựng căn cứ 4 huyện miền tây: huyện 67 (Kon Tum), huyện 4 và 5 (Gia Lai), huyện 5 (Đắc Lắc). Tiếp đó, giữa năm 1973 Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận họp hội nghị liên tịch với Thường vụ tỉnh ủy và Thường trực ủy ban nhân dân cách mạng các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc thống nhất kế hoạch xây dựng và bảo vệ vùng căn cứ, vùng giải phóng, xây dựng hậu phương, bảo đảm hậu cần tại chỗ và cải thiện đời sống nhân dân trong năm 1973 và các năm sau.

   Thực hiện chủ trương của Đảng ủy và chỉ tiêu kế hoạch Bộ tư lệnh giao, lực lượng vũ trang Tây Nguyên vừa chiến đấu bảo vệ vùng giải phóng và huấn luyện, vừa tận dụng tranh thủ thời gian phát triển sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng (đường giao thông, kho, trạm, xưởng), bố trí thế trận hậu cần; đồng thời tích cực giúp đỡ địa phương khôi phục sản xuất, ổn định đời sống nhân dân, mở mang văn hóa, phát triển y tế giáo dục. Xác định sản xuất nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, trong đó sản xuất lương thực là trung tâm, ngoài việc giao chỉ tiêu hàng năm cho các đơn vị, Bộ tư lệnh Mặt trận tổ chức hai khu vực sản xuất lớn tập trung ở Plei Kần (cánh Bắc) và Tiểu Teo (cánh Nam) với 4 tiểu đoàn sản xuất chuyên nghiệp. Riêng cánh trung, bố trí 1 tiểu đoàn, 1 đại đội sản xuất chuyên nghiệp và 1 đại đội chăn nuôi. Các xưởng: dược, giấy, may, sửa chữa ô tô, quân giới được mở rộng và nâng cấp. Các bệnh viện V1 (cánh Bắc), V2 (cánh Nam), bệnh viện chuyên khoa tuyến cuối 211 (cánh Trung) và 3 đội điều trị (3, 17, 25), 1 đội vệ sinh phòng dịch được củng cố xây dựng theo hàng lâu dài. Hệ thống kho tàng được củng cố thành 2 tuyến: kho mặt trận ở phía sau, kho các đơn vị ở phía trước. Năm 1973 toàn chiến trường củng cố sửa chữa được 120 kho cũ, làm mới 220 kho. Năm 1974 xây dựng 2 kho chứa xăng dầu (A5) ở hai cánh Bắc và Nam, mỗi kho có sức chứa 1.000 tấn, kịp thời tiếp nhận nhiên liệu từ đường ống dẫn dầu xuyên qua Tây Nguyên vào miền Đông Nam Bộ. Nhằm đáp ứng yêu cầu vận chuyển cơ giới ngày càng tăng, các đoạn đường 14, 18, 19 trong các vùng giải phóng được dò gỡ mìn và sửa chữa lại.

    Nhiều cầu cống được khởi phục và làm mới như cầu Diên Bình, Thanh Giáo, Ngọc Lốc, Đắc Psi; phà Đắc Mót và Bến 8 được tổ chức đi vào hoạt động. Nhiều đường mới được mở ra, trong đó có đường 220 (dài 44,7km) nối đường 14 từ Võ Định qua đông bắc thị xã Kon Tum gặp đường 19 ở Măng Yang tạo thế uy hiếp địch. Trong 2 năm 1973, 1974 có 900km đường ô tô được mở mới, nâng tổng số đường cơ giới trong vùng giải phóng lên 1.332km. Bên cạnh hệ thống đường bộ, ta còn sửa chữa lại sân bay Đắc Tô, khai thông 110km đường sông, sử dụng ca nô vận chuyển hàng từ Bô Khăm (Cam-pu- chia) về các bến sông Sa Thày và suối Ia Lon. Hệ thống thông tin liên lạc với hàng trăm ki-lô-mét đường dây tải ba chạy dọc, ngang Tây Nguyên, giữ vững sự chỉ đạo của Trung ương với B3 và từ Bộ tư lệnh Mặt trận với các đơn vị trong toàn chiến trường.

   Với những cố gắng lớn, trong 2 năm 1973, 1974, Mặt trận Tây Nguyên đã tiếp nhận 34.224 tấn hàng hóa vật chất và hàng nghìn tấn xăng dầu do Trung ương chi viện và thu mua từ các nguồn; sản xuất được 8.240 tấn lúa, hàng chục triệu gốc sắn, hàng trăm tấn đậu lạc vừng, hàng nghìn tấn rau củ quả; chăn nuôi 21.820 con lợn và hàng chục nghìn gia cầm; hàng chục tấn hàng may mặc, thuốc chữa bệnh và hàng quân giới. Trong hoàn cảnh ta còn nhiều khó khăn về vật chất, kinh nghiệm sản xuất tập trung lớn ở chiến trường chưa nhiều, khí hậu thời tiết khắc nghiệt, địch thường xuyên đánh phá, bọn phản động trong giới lãnh đạo Khơ Me đỏ ở Quân khu Đông Bắc Cam-pu-chia ra sức ngăn cản... những kết quả về xây dựng kinh tế, tạo dựng cơ sở hạ tầng, thiết bị chiến trường là thành tích to lớn của lực lượng vũ trang Tây Nguyên. Thành quả do bàn tay, khối óc của bộ đội tạo ra kịp thời phục vụ những nhu cầu thiết yếu thường nhật, cứu đói cho dân, tăng nguồn dự trữ chiến lược trực tiếp của chiến trường, chuẩn bị cho đánh to, thắng lớn.

   Tuy Bộ tư lệnh B3 chỉ được giao nhiệm vụ cùng các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc xây dựng về mặt quân sự và tiến hành xây dựng căn cứ bàn đạp đứng chân, xây dụng mạng lưới giao thông vận chuyển trong vùng giải phóng Tây Nguyên; nhưng với bản chất truyền thống quân đội cách mạng và sự gắn bó máu thịt với đồng bào các dân tộc trên địa bàn, lực lượng vũ trang Tây Nguyên tích cực chủ động tham gia xây dựng căn cứ địa.

   Dưới sự lãnh đạo chỉ huy của Đảng ủy, Bộ tư lệnh Mặt trận và sự chỉ đạo trực tiếp của Phòng Chính trị B3 nhiều hội nghị giữa các đơn vị chủ lực và địa phương nơi đứng chân được tổ chức; nhiều tổ, đội công tác, tuyên truyền vũ trang tỏa xuống các làng buôn, thôn xã hoạt động; Đoàn văn công B3 và các đội chiếu phim kịp thời hướng về cơ sở phục vụ nhân dân. Trong 2 năm 1973-1974, bộ đội B3 đã tham gia giúp địa phương tổ chức bầu cử Hội đồng nhân dân, củng cố chính quyền cách mạng và các tổ chức quần chúng ở hàng chục xã; cấp hàng trăm héc ta đất và hàng chục tấn giống, huy động hàng vạn ngày công giúp dân sản xuất, dựng nhà, đào hầm, làm trường học, bệnh xá và trồng gần 10 triệu gốc sắn. Các bệnh xá Kon Đào (huyện 80 Kon Tum), xã B3 (huyện 4, Gia Lai), xã 4 (huyện 5, Đắc Lắc) được xây dựng, 54 ban y tế xã được củng cố và đi vào hoạt động, 16.180 lượt người dân được chữa bệnh, 17.439 lượt người được khám và cấp thuốc; 1.800 người tham gia xóa mù và học bổ túc văn hóa trong 170 lớp, 818 em thiếu nhi được học tập trung; 2 đội văn nghệ huyện và 75 đội văn nghệ xã dược củng cố đi vào hoạt động phục vụ 56.500 lượt người xem. Phong trào kết nghĩa quân dân phát triển mạnh: Trung đoàn 26 với xã B7, B14; Trung đoàn 64 với xã B8, B9; Trung đoàn 95 với xã B1, B2, B3; Trung đoàn 675 với xã B11, B13; các tiểu đoàn 33, 20 với xã B4, B6; Binh trạm Bắc với xã Đắc Xu, Rờ Kơi; Trung đoàn 28 với xã Đắc Cấm, Đắc Psi; Trung đoàn 25 với xã H5; Trung đoàn 40 với xã Tân Cảnh, Kon Đào 4, Kon Hơ Rinh. Tiêu biểu cho phong trào đoàn kết quân dân có Trung đoàn 95 với phong trào ''Nhường cơm sẻ áo''; Tiểu đoàn 20 với ''Rẫy vì dân'', Trung đoàn 64 với xây dựng làng Đoàn Kết ở khu 5 Gia Lai, Tiểu đoàn 631 và Sư đoàn 320 trong dìu dắt giúp đỡ phát triển phong trào du kích tây Gia Lai. Đặc biệt khi nạn đói lớn xảy ra ở các tỉnh Tây Nguyên mùa hè năm 1973 đe dọa tính mạng hàng vạn người, Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên đã huy động hơn 4.000 cán bộ, chiến sĩ và các phương tiện vận tải không kể ngày đêm đưa 1.355 tấn gạo, 109 tấn muối, 309 kiện và 4 tấn thuốc chữa bệnh, hàng vạn mét vải của Trung ương chi viện đến tay nhân dân. Nhiều đơn vị xuất cả gạo của mình để kịp thời cứu dân, quyết không để một người nào trong vùng đóng quân bị chết vì đói. Trong đợt này, lực lượng vũ trang Tây Nguyên đã giúp dân 68,8 tấn gạo, 37 tấn muối, 3 tấn giống 29.000 gốc sắn, hàng nghìn bộ quần áo và hàng  trăm mét vải. Những việc làm hết lòng vì dân và sự nghiệp cách mạng của bộ đội B3 đã thắt chặt mối quan hệ máu thịt, tình đoàn kết keo sơn với Đảng bộ, chính quyền cách mạng địa phương và nhân dân các dân tộc Tây Nguyên. Tin tưởng, mến phục Bộ đội Cụ Hồ, nhiều người dân trong vùng mới giải phóng, trước đây còn băn khoăn hòai nghi cách mạng do kẻ địch tuyên truyền xuyên tạc, nay nhanh chóng xóa bỏ mọi mặc cảm, phấn khởi yên tâm sản xuất xây dựng cuộc sống mới và tích cực tham gia công tác cách mạng.

   Bên cạnh những công tác trên, thời gian này Mặt trận Tây Nguyên còn được Quân ủy Trung ương và Bộ tư lệnh Quân khu 5 giao nhiệm vụ tổ chức đón tiếp 5.000 đồng chí bị địch bắt, nay trao trả theo Hiệp định Pa-ri. Với tình cảm biết ơn sâu sắc, hiểu rõ vinh dự, trách nhiệm được giao, 169 cán bộ, chiến sĩ trong Đoàn đón tiếp đã lao động không kể ngày đêm dựng hàng nghìn mét vuông nhà, chuẩn bị đầy đủ cơ sở vật chất xong trước thời gian quy định 20 ngày. Với khẩu hiệu hành động: ''Dù thiếu vật chất, không được thiếu tình cảm'', cán bộ, chiến sĩ Đoàn đón tiếp B3 đã hoàn thành tốt nhiệm vụ, bảo đảm tuyệt đối an toàn, chăm sóc chu đáo, đưa các đồng chí ''Chiến thắng'' về Khu 5 đầy đủ, được cấp trên khen ngợi.

   Qua 2 năm thực hiện Hiệp định Pa-ri, các lực lượng vũ trang Tây Nguyên, nòng cốt là bộ đội chủ lực đã kề vai sát cánh cùng Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trên địa bàn kiên trì phấn đấu, vừa giữ vững và mở rộng vùng giải phóng, vừa tích cực tạo thế xây dựng căn cứ địa, xây dựng hậu phương chiến lược trực tiếp ngày càng vững mạnh. Đây là giai đoạn chuẩn bị vô cùng quan trọng để quân dân Tây Nguyên cùng quân dân cả nước Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 trên toàn miền Nam.




----------------------------------------------------------------
1. Đồng chí Huỳnh Bá Vân - Ủy viên Ủy ban Kế hoạch Nhà nước vào làm việc với Bộ tư lệnh Mặt trặn Tây Nguyên tháng 3.1973.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 12 Tháng Tư, 2021, 04:27:14 pm
3. Chiến dịch Tây Nguyên mùa Xuân 1975.

   Sau 2 năm thi hành Hiệp định Pa-ri, đầu năm 1975 "so sánh lực lượng địch - ta, trên phạm vi cả nước cũng như trên chiến trường miền Nam, đã có những chuyển biến cơ bản rõ rệt có lợi cho cách mạng, ta đã mạnh hơn địch''1.

   Trên chiến trường miền Nam, quân ngụy Sài Gòn phải lui vào phỏng ngự chiến lược, giữ các đô thị, các đường giao thông và các địa bàn trọng yếu. Chúng không còn khả năng đánh chiếm lại những vùng đất quan trọng bị mất ở Nha Bích, Tống Lê Chân (Đông Nam Bộ), Tánh Linh (Khu 6) Đắc Pét, Măng Đen, Măng Bút, Chư Nghé, Ya Súp (Tây Nguyên), Nông Sơn, Giá Vụt (Khu 5). Đặc biệt Chiến thắng Đường 14 - Phước Long (6.1,1975) của quân và dân Đông Nam Bộ càng khẳng định quân chủ lực ngụy không thể đương đầu với chủ lực ta. Trong khi quân ngụy ngay càng sa sút lại bị Mỹ cắt giảm viện trợ  quân sự. Sau vụ Oa-tơ-ghết, Ních-xơn phải từ chức, G. Pho lên làm Tổng thống càng làm giảm khả năng can thiệp của Mỹ vào cuộc chiến tranh Việt Nam. Quân ngụy Sài Gòn vốn sống bằng đô-la và bắn giết bằng vũ khí Mỹ, nay bị ông chủ ''thờ ơ'' càng làm cho những khó khăn cố hữu bản chất không sao khắc phục nổi, đồng thời tạo ra một chỗ hổng về lòng tin đưa đến sự sa sút nghiêm trọng về tinh thần của binh lính. Tuy binh lực vẫn còn rất lớn: 1.351.000 tên, 2.074 xe tăng, xe bọc thép 1.556 khẩu pháo, 536 máy bay phản lực và 580 tàu xuồng các loại; nhưng do những nhận định chủ quan, sai lầm về đối phương, địch bố trí thế phòng thu trên chiến trường miền Nam theo kiểu ''nặng hai đầu'' tập trung binh lực trên hướng quân khu 1 (Trị - Thiên, Quảng Đà) và quân khu 3 (Sài Gòn Biên Hòa); còn ở giữa: quân khu 2 trong đó có Tây Nguyên, lực lượng ít hơn. Đầu năm 1975, toàn quân khu 2-quân đoàn 2 ngụy có 2 sư đoàn, 7 liên đoàn, 24 tiểu đoàn bộ binh chủ lực, 86 tiểu đoàn và 81 đại đội bảo an, 1.304 trung đội dân vệ cảnh sát; 13 tiểu đoàn, 8 đại đội, 5 trung đội Pháo binh (376 khẩu); 5 thiết đoàn, 13 đại đội xe tăng thiết giáp (487 xe); 16 phi đoàn (487 chiếc máy bay). Riêng khu vực Tây Nguyên (không kể Tuyên Đức, Lâm Đồng) lực lượng địch bao gồm: sở chỉ huy quân đoàn 2- quân khu 2, sư đoàn bộ binh 23, 7 liên đoàn biệt động quân (21, 22, 23, 24, 25, 4, 6), nhiều tiểu đoàn bộ binh chủ lực (30.900 tên) và 33 tiểu đoàn, 36 đại đội bảo an, 477 trung đội dân vệ, 5 đại đội và 2 trung đội cảnh sát; 8 tiểu đoàn, 7 đại đội, 25 trung đội pháo binh (230 khẩu); 4 thiết đoàn, 5 đại đội xe tăng thiết giáp (371 xe); 4 phi đoàn không quân (1 phi đoàn chiến đấu 32 chiếc, 2 phi đoàn trực thăng 86 chiếc, 1 phi đoàn quan sát huấn luyện 32 chiếc), tổng số 150 máy bay các loại2. Lực lượng tuy nhiều 63.000 tên, nhưng địch phải căng ra phòng ngự khắp Tây Nguyên, nuôi tham vọng giữ bằng được địa bàn chiến lược này. Hướng phòng ngự chủ yếu của địch là thị xã Plei Ku và Kon Tum. Hướng thị xã Buôn Ma Thuột chúng có sơ hở và yếu hơn cả.

   Về ta, tranh thủ điều kiện thuận lợi do Hiệp định Pa-ri đem lại, quân và dân hai miền Nam, Bắc nỗ lực phấn đấu thực hiện Nghị quyết 21 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng giành được những thắng lợi rất lớn. Hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa tập trung sức nguời, sức của khắc phục hậu quả chiến tranh, phục hồi lễ tế, đẩy mạnh sản xuất tăng cường tiềm lực quốc phòng, nâng cao sức mạnh chiến đấu của các lực lượng v ũ trang. Hai năm 1973, 1974 miền Bắc được mùa, sản lượng công nghiệp và thủ công nghiệp vượt mức kế hoạch, giao thông vận tải được khôi phục, 150.000 thanh niên nhập ngũ, 68.000 quân và hàng vạn thanh niên xung phong vượt Trường Sơn vào miền Nam chiến đấu, hàng chục vạn tấn vũ khí, lương thực, xăng dầu được chuyển đến các chiến trường. Ở miền Nam thế và lực của ta đã lớn mạnh vượt bậc, quyền chủ động chiến lược vẫn được giữ vững. Các quân đoàn và các khối chủ lực mạnh đứng vững trên các địa bàn chiến lược. Đường Đông Trường Sơn và đường ống dẫn dầu đã vươn tới Bù Gia Mập (miền Đông Nam Bộ), bảo đảm sức người, sức của cho đánh lớn, liên tục, dài ngày theo kế hoạch tác chiến chiến lược. Trong vùng địch kiểm soát, phong trào đấu tranh đòi hòa bình, dân sinh, dân chủ, hòa hợp dân tộc và lật đổ chính quyền Thiệu phát triển mạnh. Bên cạnh đó, những thắng lợi mới của cách mạng Lào và Cam-pu-chia càng tạo thêm điều luận thuận lợi cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta mau tiến đến đích cuối cùng.

   Nắm vững quy luật chiến tranh cách mạng và thời cơ chiến lược đang đến, tháng 10 năm 1974 và tháng 1 năm 1975, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp, kịp thời phân tích đánh giá đúng thực chất, khách quan khoa học tình hình mọi mặt và kết luận: ''Chúng ta đang đứng trước thời cơ chiến lược lớn, chưa bao giờ ta có điều kiện đầy đủ về quân sự và chính trị như hiện nay, có thời cơ chiến lược to lớn như hiện nay để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, để tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc''3. Trên cơ sở đó, Bộ Chính trị quyết định: ''Động viên nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, trong thời gian 1975, 1976, đẩy mạnh đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh ngoại giao, làm thay đổi nhanh chóng và toàn diện so sánh lực lượng trên chiến trường miền Nam theo hướng có lợi cho ta, tiến hành rất khẩn trương và hoàn thành công tác chuẩn bị mọi mặt, tạo điều kiện chín muồi, tiến hành tổng công kích - tổng khởi nghĩa, tiêu diệt và làm tan rã nguy quân, đánh đổ ngụy quyền từ trung ương đến địa phương, giành chính quyền về tay nhân dân''4. Ngoài kế hoạch chiến lược cơ bản giải phóng miền Nam trong 2 năm 1975-1976, Bộ Chính  trị còn dự kiến một phương án khác và một phương hướng hành động cực kỳ quan trọng dể khi ''thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975''5.

   Ngay sau khi Hội nghị Bộ Chính trị, ngày 9 tháng 1 năm 1975, Thường trực Quân ủy Trung ương họp quán triệt và bàn tổ chức thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị về chiến dịch Tây Nguyên. Tại Hội nghị này, ý định đánh Buôn Ma Thuột hình thành rõ rệt và chiến dịch Tây Nguyên chính thức được quyết định mở với mật danh "Chiến dịch 275''.

   Do chiến dịch Tây Nguyên - chiến dịch mở đầu cuộc tiến công chiến lược năm 1975 có ý nghĩa và tầm quan trọng lớn lao, nên Bộ Chính trị và Quân ủy trung ương cử Đại tướng Văn Tiến Dũng - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam vào chiến trường để trực tiếp chỉ dạo chiến dịch và tổ chức sở chỉ huy tiền phương của Bộ ở Tây Nguyên. Đồng thời Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định thành lập Đảng ủy và Bộ tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên6. Trung tướng Hoàng Minh Thảo (Phó tư lệnh Quân khu 5) được cử làm  Tư lệnh, đại tá Đặng Vũ Hiệp (Chính ủy Mặt trận Tây Nguyên) làm Bí thư Đảng ủy và Chính ủy, Thiếu tướng Vũ Lăng và các đại tá Phan Hàm, Nguyễn Năng, Nguyễn Lang làm Phó tư lệnh, đại tá Phí Triệu Hàm làm Phó chính ủy. Cơ quan chiến dịch được hình thành trên cơ sở nòng cốt là 3 cơ quan Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên. Bên cạnh Bộ tư lệnh chiến dịch có đồng chí Bùi San - Ủy viên Ban Thường vụ Khu ủy Khu 5 cùng một bộ phận cơ quan giúp việc để chỉ đạo các tỉnh ủy Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum huy động mọi khả năng của địa phương phục vụ chiến đấu.

   Căn cứ vào ý định tác chiến chiến lược của ta, phân tích lực lượng và thế bố trí của địch trên toàn chiến trường và riêng ỏ Tây Nguyên, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh chủ trương gấp rút tăng cường lực lượng, vật chất kỹ thuật, đẩy nhanh công tác chuẩn bị chiến dịch, tích cực hoạt động nghi binh thu hút địch ở Mặt trận Tây Nguyên và các hướng phối hợp.

   Trong thời gian từ giữa tháng 1 đến cuối tháng 2 năm 1975, nhiều đơn vị bộ binh, binh chủng, bảo đảm lần lượt đến Tây Nguyên theo sự điều động của Bộ Tổng Tham mưu. Sư đoàn bộ binh 968 do đồng chí Thanh Sơn làm sư đoàn trưởng và đồng chí Trần Trác làm chính ủy, từ Hạ Lào hành quân đến Gia Lai, Kon Tum ngày 15 tháng 1. Sư đoàn bộ binh 316 do đồng chí Đàm Văn Ngụy làm sư đoàn trưởng và đồng chí Hà Quốc Toàn làm chính ủy, được Trung đoàn vận tải ô tô 525 bí mật chuyển từ Nghệ An và đến khu vực tập kết Đắc Đam (tây Đắc Lắc) ngày 5 tháng 2. Cùng thời gian này, Trung đoàn bộ binh 95B (Sư đoàn 325), Tiểu đoàn đặc công 24, Trung đoàn phòng không 232, Trung đoàn công binh 575, một tiểu đoàn công binh cầu phà, một tiểu đoàn vận tải ô tô, một tiểu đoàn thông tin, một đại đội trinh sát, một trung đội khí tượng, Đội điều trị 48, ba trạm sửa chữa xe pháo và 8.000 quân bổ sung cũng có mặt ở Tây Nguyên. Các đơn vị phối thuộc bí mật tiến vào các vị trí quy định: Sư đoàn bộ binh 3 (Quân khu 5) đến khu vực đường 19 An Khê, Trung đoàn bộ binh 271 và Đại đội  đặc công 14 (Bộ tư lệnh Miền) lên Gia Nghĩa, Tiểu đoàn bộ binh 21 (Sư đoàn 470) đến Bản Đôn. Đến ngày mở màn (4.3.1975), lực lượng ta tham gia chiến dịch Tây Nguyên gồm 5 sư đoàn bộ binh (10, 320, 316, 968, 3), 4 trung đoàn bộ binh (95A, 95B, 25, 271), 1 trung đoàn (198) và 2 tiểu đoàn đặc công (27, 14), 1 trung đoàn xe tăng (273), 2 trung đoàn pháo binh (40, 675), 3 trung đoàn phòng không (232, 234, 593), 2 trung đoàn công binh (7, 575), 1 trung đoàn thông tin (29), 6 tiểu đoàn vận tải, một số đơn vị bảo đảm của Bộ và Mặt trận Tây Nguyên, lực lượng vũ trang địa phương các tỉnh diễn ra chiến dịch. Tổng quân số. 65.141 người, trong đó có 43.020 người trực tiếp tham gia chiến dịch. Riêng khôn chủ lực Mặt trận Tây Nguyên (B3) có 36 tiểu đoàn bộ binh, 5 tiểu đoàn đặc công, 13 tiểu đoàn pháo mặt đất, 18 tiểu đoàn pháo phòng không, 3 tiểu đoàn xe tăng, quân số 44.900 người; vũ khí, trang bị có 88 khẩu pháo lớn, 1.561 súng chống tăng, 6 cơ cấu bắn B72, 343 súng phòng không, hàng vạn súng bộ binh, 57 xe tăng xe bọc thép, 679 ô tô các loại... tham gia chiến dịch.

   Song song với việc tăng cường các đơn vị bộ binh, binh chủng, bảo đảm Bộ Tổng tư lệnh còn bổ sung một lượng vật chất rất lớn cho Mặt trận Tây Nguyên. Trên tuyến vận tải chiến lược và chiến dịch có trên 1.000 xe ô tô của Đoàn 559, các quân khu và Bộ Giao thông vận tải ngày đêm vận chuyển vật chất vào chiến trường Tây Nguyên. Đến cuối tháng 2 năm 1975, Đoàn 559 và các lực lượng tăng cường đã thực hiện được 110% kế hoạch vận chuyển cho chiến dịch. Lượng vật chất dự trữ toàn mặt trận đạt 17.359 tấn, riêng chuẩn bị cho chiến tích là 10.603 tấn; trong đó lương thực thực phẩm đạt 114%, vũ khí đạt 83%, xăng dầu đạt 24%. Quá trình chỉ đạo trực tiếp chiến dịch vận chuyển cho Tây Nguyên, đồng chí Đinh Đức Thiện - Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, thành viên cơ quan đại diện Bộ Quốc phòng trong chiến dịch Tây Nguyên đã kịp thời điều động đạn súng cối 160mm từ kho hậu cần B2 về B3. Những cố gắng cao của Ngành Hậu cần chiến lược và chiến dịch đã tạo cho Mặt trận Tây Nguyên có một lượng dự trữ vật chất rất lớn, bảo đảm cho bộ đội tác chiến hiệp động binh chủng dài ngày.




-------------------------------------------------------------------
1. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 -1975. Sđd, tr. 300.

2. Số liệu dẫn theo báo cáo ''Tổng kết về địch trong chiến dịch tiến công giải phóng Tây Nguyên tháng 3 năm 1975'' của Phòng Trinh sát Quân đoàn 3 ngày 29.5.1975, tr. 21, 22.

3. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước... Sđd, tr. 300, 301.

4. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước... Sđd, tr. 301.

5. Đại tướng Văn Tiến Dũng. Đại thắng Mùa Xuân. Nxb QĐND; H.1977. tr. 35.

6. Gọi là: ''Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên''.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 12 Tháng Tư, 2021, 04:31:22 pm
*

   Những tháng cuối năm 1974 và đầu năm 1975, công tác chuẩn bị chiến dịch ở Tây Nguyên diễn ra bí mật, nhịp độ ngày một khẩn trương và quy mô ngày càng lớn. Tháng 9 năm 1974, sau khi được Bộ Tổng tư lệnh giao nhiệm vụ mở chiến dịch ''nam Tây Nguyên'' với khu vực tác chiến chủ yếu là Đức Lập - Thuần Mẫn, Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên triển khai ngay công tác chuẩn bị chiến trường. Giữa tháng 10, Trung đoàn công binh 7 (thiếu) và Tiểu đoàn 17 Sư đoàn 10 từ bắc Kon Tum vượt 300 km vào tây bắc Đức Lập; từ ngày 28, tổ chức thi công các con đường 6b, 2b, N1, N5, 14C, 22, 23, 128. Cùng thời gian này, một tiểu đoàn công binh của Trung đoàn 7 và lực lượng của Sư đoàn 10, Trung đoàn 273, Trung đoàn 40, Trung đoàn 234 gấp rút sửa chữa, khôi phục các trục đường từ vị trí đứng chân ra đến đường 128 chuẩn bị cho cơ động về phía nam.Tháng 11 năm 1974, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh xác định ''Chiến trường Tây Nguyên là hướng chủ yếu chung cho cả miền Nam'' trong năm 1975 và giao nhiệm vụ lần hai cho Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên trực tiếp tổ chức chỉ huy ''Chiến dịch nam Tây Nguyên'' với yêu cầu cao hơn, địa bàn mở rộng đến hai thị xã Gia Nghĩa và Cheo Reo; công tác chuẩn bị chiến  dịch càng được đẩy mạnh. Các đoàn trinh sát chỉ huy, trinh sát hậu phương của Mặt trận mở rộng phạm vi hoạt động. Đầu tháng 12 năm 1974, trinh sát của các sư đoàn bộ binh, các trung đoàn binh chủng triển khai nắm địch, địa hình... trên hướng được phân công. Nhiều tuyến đường được sửa chữa và làm mới; hàng loạt cầu, phà, ngầm trên tuyến đường chiến lược 128 xuyên dọc Tây Nguyên và các đường cơ giới được gấp rút hoàn thành. Ngày 12 tháng 12, các chiến sĩ công binh bắc xong chiếc cầu phao trọng tải 50 tấn qua sông Pô Kô; bốn ngày sau, chiếc cầu phao thứ hai nối liền hai bờ sông Sê Rê Pôk cũng được đưa vào sử dụng. Cùng thời gian này cơ quan Mặt trận di chuyển về nam Tây Nguyên; hậu cần chiến dịch triển khai các kho, trạm và từ ngày 9 tháng 10 những chuyến hàng đầu tiên đã được chuyển vào các kho K10, K20, K37. Tháng 1 năm 1975, chiến dịch Tây Nguyên với trận đánh mở đầu then chốt Buôn Ma Thuột chính thức dược Bộ Chính trị quyết định, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp chỉ đạo; Bộ tư lệnh C hiến dịch tập trung mọi nỗ lực cho công tác chuẩn bị chiến địch, từ xây dựng quyết tâm, chuẩn bị chiến trường, chuẩn bị vật chất, chuẩn bị bộ đội đến điều quân, cơ động lực lượng, tổ chức nghi binh lừa dịch. Trong đó, nhiệm vụ ''trung tâm số một'' là xây dựng quyết tâm, phương án tác chiến chiến dịch và các trận đánh then chốt, quyết định. Mặc dù quá trình chuẩn bị, phải thay đổi điều chỉnh quyết tâm, phương án tác chiến chiến dịch đến 3 lần theo nhiệm vụ trên giao, lần sau nặng nề hơn lần trước; nhưng Phòng Tham mưu B3, sau đó là cơ quan Tham mưu chiến dịch đã tập trung cao độ, vận dụng sáng tạo nghệ thuật chiến dịch Việt Nam và kinh nghiệm tổ chức chiến dịch trong 11 năm đánh Mỹ của Mặt trận Tây Nguyên, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

   Sau một quá trình điều tra, nghiên cứu kỹ lưỡng, xem xét mọi vấn đề một cách công phu khoa học, vận dụng linh hoạt sáng tạo nghệ thuật quân sự Việt Nam vào tình hình cụ thể ở Tây Nguyên; Bộ tư lệnh chiến dịch đã hoàn chỉnh quyết tâm và phương án tác chiến chiến dịch. Trên cơ sở quyết tâm chính thức của Đảng ủy và Bộ tư lệnh chiến dịch, trong ba ngày 17, 18, 19 tháng 2 năm 1975 Hội nghị mở rộng bàn và xác định phương án tác chiến chiến dịch là: tiến công, nghi binh nhử, kéo địch về Plei ku và Kon Tum, cắt đứt các con đường 14, 19, 21 ''trói'' chặt địch ở bắc Tây Nguyên; nhanh chóng đánh chiếm Đức Lập, Thuần Mẫn cô lập địch ở thị xã Buôn Ma Thuột; tập trung lực lượng chủ yếu giáng đòn quyết định giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột và đánh bại lực lượng phản kích của địch.  Tiếp đó, phát triển tiến công đánh chiếm Cheo Reo, Gia Nghĩa, giải phóng ba tỉnh Đắc Lắc, Phú Bổn, Quảng Đức tạo điều kiện và thời cơ phát triển tiến công trên các hướng khác. Riêng trận then chốt quyết định Buôn Ma Thuột được xác định hai phương án: đánh quân địch chưa có phòng ngự dự phòng và đánh địch đã có lực lượng tăng cường phòng ngự dự phòng.

   Đêm 25 tháng 2 năm 1975, tại Sở chỉ huy chiến dịch trong một cánh rừng già ở Đông nam điểm cao 501 (1,5km) cách Buôn Ya Wằn 3km về phía đông thuộc tỉnh Đắc Lắc, giữa tiếng đại bác địch bắn cầm canh, Bộ tư lệnh chiến dịch thông qua phương án tác chiến và quyết tâm chiến dịch trước dại diện Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh. Các đồng chí Hoàng Minh Thảo, Đặng Vũ Hiệp ký quyết tâm; Đại tướng Văn Tiến Dũng ký phê chuẩn. Việc Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh quyết định mở chiến dịch Tây Nguyên, chọn thị xã Buôn Ma Thuột để đánh trận then chốt là quyết định chính xác và sáng suốt. Quyết định đó đã được Bộ tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên cụ thể hóa bằng quyết tâm và kế hoạch tác chiến chặt chẽ, khoa học, táo bạo, công phu. Các nhà chiến lược phương Tây đã bình luận: ''Chỉ riêng việc đó thôi (tức chọn Buôn Ma Thuột đã là thiên tài rồi!" Thực tiễn diễn biến chiến dịch Tây Nguyên vượt xa mức dự kiến ban đầu và phát triển thành chiến dịch mở đầu cuộc Tổng tiến công lịch sử mùa Xuân năm 1975.

   Theo kế hoạch tác chiến, chiến dịch Tây Nguyên sẽ diễn ra những trận đánh hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, đánh địch trong thành phố. Các đơn vị tham gia  chiến dịch đều được chuẩn bị tốt, quyết tâm chiến đấu cao; nhưng trình độ và kinh nghiệm tác chiến hiệp đồng bệnh chủng không đều; có đơn vị mới lần đầu vào Tây Nguyên chưa quen thuộc chiến trường và đối tượng tác chiến. Để khắc phục những nhược điểm đó, Bộ tư lệnh chiến dịch đã dành nhiều thời gian cho các đơn vị huấn luyện bổ sung. Các hình thức chiến thuật: tiến công địch trong công sự vững chắc, đánh địch trong thành phố bằng lực lượng binh chủng hợp thành... được chú trọng. Sư đoàn 10 giành nhiều thời gian huấn luyện cách đánh hiệp đồng ''cặp đôi'' 1 xe tăng, 1 xe bọc thép có bộ binh đi cùng nhằm tăng sức mạnh đột kích. Sư đoàn 320 tập trung huấn luyện tác chiến hiệp đồng giũa bộ binh và pháo binh có xe tăng, xe bọc thép yểm trợ. Sư đoàn 316 hoàn thành tốt đợt huấn luyện bổ sung ngắn về các mặt chiến thuật, kỹ thuật đánh địch trong đô thị.

   Song song với công tác huấn luyện, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh chiến dịch lãnh đạo chỉ đạo các đơn vị đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, động viên tư tưởng làm cho cán bộ, chiến sĩ nhận rõ ý nghĩa, tầm quan trọng, nhiệm vụ của chiến dịch nắm chắc tư tưởng chỉ đạo tác chiến: ''Mạnh bạo, chắc thắng, chủ động, cơ động, linh hoạt, bí mật bất ngờ"; thấy rõ đặc điểm chiến trường, nhiệm vụ của đơn vị và bản thân, vinh dự và trách nhiệm. Từ đó xây dựng quyết tâm chiến đấu cao, tinh thần chiến đấu dũng cảm, đoàn kết hiệp đồng lập công tập thể, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ.

   Để giữ bí mặt công tác chuẩn bị chiến tích và cơ động lực lượng vào cài thế trên các hướng, từ tháng 11 năm 1974 đến cuối tháng 2 năm 1975 một kế hoạch nghi binh tuyệt mật mang mật danh ''Kế hoạch tác chiến B'' được Bộ tư lệnh mặt trận, sau đó là Bộ tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên triển khai thống nhất, chặt chẽ, liên tục trên diện rộng với nhiều lực lượng tham gia. Mục đích của kế hoạch này là: ''Tranh thủ tiêu hao, tiêu diệt một số sinh  lực, phương tiện chiến tranh của địch trên một số điểm trọng yếu. Giam chân, thu hút, căng kéo chủ lực địch ở tại chỗ, không cho địch cơ động lực lượng về C3 (khu vục Đức Lập), C4 (khu vực Gia Nghĩa), C9 (Thuần Mẫn) luôn luôn làm cho địch hiểu lầm ta triển khai đánh Kon Tum; cắt đường 19 đông, uy hiếp Plei Ku. Tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho hướng C3, C4, C9 triển khai các mặt chuẩn bị''1.

   Thực hiện kế hoạch nghi binh, từ đầu tháng 11 năm 1974 những hoạt động ''chuẩn bị chiến dịch'' diễn ra rầm rộ ở bắc Tây Nguyên. Tiểu đoàn 1 thuộc Trung đoàn công binh 7 tăng cường máy húc và sử dựng nhiều bộc phá tiếp tục mở đường 220 (nối đường 14 ở bắc Võ Định vòng qua đông bắc thị xã Kon Tum đến đường 19 đoạn gần đèo Măng Yang); hai bến phà ở khu vực cầu Diên Bình và sông Đăk Bla được triển khai, một số trận địa pháo giả được xây dựng ở xung quanh thị xã Kon Tum. Đêm đêm các xe kéo pháo, xe tăng cơ động thay đổi vị trí; các xe vận tải bật đèn gầm tăng cường hoạt động chở hàng trên hướng tây bắc và đông bắc Kon Tum. Sư đoàn 10 ra sức củng cố hầm hào, công sự chiến đấu ở các khu vực trực tiếp tiếp xúc với địch; dùng súng cối bắn vào thị xã Kon Tum. Sư đoàn 320 tăng cường các hoạt động ở khu vực đường 19 tây. Pháo binh của ta bắn vào La Sơn, Thanh An, Đồn Tầm. Trung đoàn 95 chặn đánh các đoàn xe quân sự, tập kích một số chốt địch trên trục đường 19 đông. Trung đoàn 198 đặc công tập kích kho xăng Plei Ku. Hệ thống thông tin vô tuyến diện của các sư đoàn 10, 320 và các trung đoàn 40, 234, 273, 675 vẫn giữ nguyên vị trí, liên tục phát đi các bức điện, mệnh lệnh, báo cáo giả với tần suất ngày càng cao. Ngoài ra ta còn bố trí các đài vô tuyến điện 15W hoạt động ở khu vực Kleng, đông bắc Võ Định, bắc điểm cao 518 bên đường số 19 đông. Theo kế hoạch, dân công các huyện 40, 67, 30, 80, Diên Bình, Tân Cảnh (Kon Tum), huyện 4 và 5 (Gia Lai) rầm rộ mở đường. Các địa phương nô nức chuẩn bị đón tiếp bộ đội giải phóng. Nhiều người dân đi tìm người thân ở vùng địch kiểm soát, phao tin sắp đánh lớn ở Kon Tum. Giữa lúc địch bị hút vào các hoạt động nghi binh của ta, Sư đoàn 968 bí mật vào thay thế Sư đoàn 320 ở hướng tây Gia Lai và Sư đoàn 10 ở tây bắc Kon Tum, để hai đơn vị này hành quân vào nam Tây Nguyên. Các đơn vị binh chủng cũng rút dần lực lượng, cơ động vào Đắc Lắc.

   Những hoạt động nghi binh của ta rất hiệu quả, thu hút một lực lượng lớn chủ lực địch về hướng bắc Tây  Nguyên, làm cho chúng luôn lúng túng bị động đối phó trong một thời gian khá dài. Cuối năm 1974, địch phán đoán ta sắp mở chiến dịch ở bắc Tây Nguyên, lấy Kon Tum làm mục tiêu chủ yếu, chúng điều động 4 liên đoàn biệt động quân (6, 21, 22, 24) lên tăng cường dự phòng khu vực thị xã. Tháng 1 năm 1975 chúng phát hiện ta tăng thêm 1 sư đoàn ở tây nam Gia Lai, nên vội vã đưa liên đoàn biệt động quân 23 và 2 trung đoàn đoàn (44, 45) tăng cường cho Plei Ku. Tiếp dó, đầu tháng 2 địch phát hiện có lực lượng của hai sư đoàn 10, 320 ở nam Tây Nguyên. Chúng cho rằng 2 sư đoàn này ở đâu là ở đó có đánh lớn. Vì vậy địch tung ngay trung đoàn 53 ra lùng sục ở khu vực Quảng Nhiêu, Buôn Hồ; đưa trung đoàn 45 từ Plei Ku xuống phía tây Thuần Mẫn, Ia Hleo; đổ biệt kích thám báo xuống khu vực đứng chân của Sư đoàn 320 ở phía tây đường số 14. Ngày 10 tháng 2, quân khu 2 địch thông báo cho thuộc cấp: ''Chiến dịch đông xuân của Việt Cộng có thể bắt dầu từ ngày 10 tháng 2 và mạnh từ 18 tháng 2 tại Đắc Lắc, trọng điểm là Buôn Ma Thuột''2.

   Trước tình hình phức tạp về địch, Bộ tư lệnh chiến dịch nhận định: ''Những hoạt động lùng sục của địch có tính chất bị động, rời rạc'', ''chưa có triệu chứng địch phát hiện được ý định và lực lượng chiến dịch của ta''; đồng thời chủ trương ''kiên trì giữ bí mật ý định và lực lượng ở khu vực tác chiến chủ yếu, tích cực khôn khéo hoạt động nghi binh hơn nữa để nhử dịch về hướng bắc, tạo điều kiện cho quân ta tiếp tục chuẩn bị tốt ở hướng nam"3.

   Thực hiện mệnh lệnh của Bộ tư lệnh chiến dịch, Sư đoàn 320 co ngay đội hình về phía sau, chỉ để lại những tổ trinh sát bám địch. Sư đoàn 968 đánh vào một loạt vị trí địch, tiêu diệt chết Mỹ, bức rút đồn Tầm, chiếm dãy điểm cao 605, Chư Kra, Chư Gôi, uy hiếp mạnh các cứ điểm Thanh Bình, Thanh An (tây Gia Lai), đánh nhỏ ở bắc Kon Tum, cắt đường số 14 ở nam Tân Phú. Nhân dân vùng giải phóng Gia Lai, Kon Tum được huy động rầm rộ làm đường, làm trận địa pháo. Địch lầm tưởng ta sắp tiến công lớn vào Plei Ku, nên vội vã rút trung đoàn 45 đang lùng sục ở Cẩm Ga (Thuần Mẫn) về Thanh An đối phó.

   Những hoạt động nghi binh chiến dịch của ta đã thành công. Đầu tháng 3 năm 1975 phần lớn chủ lực quân đoàn 2 quân khu 2 địch vẫn bị giam chân ở Kon Tum, Gia Lai. Ở Đắc Lắc và khu vực Buôn Ma Thuột không có gì thay đổi. Ta có điều kiện và thời cơ tiến c công địch trong thị xã Buôn Ma Thuột theo phương án địch không có phòng ngự dự phòng.




------------------------------------------------------------------
1. Trích "Kế hoạch tác chiến B'' của Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên, tr. 9.

2. ''Tóm tắt một số tình hình địch phát hiện và đánh giá về chủ trương hoạt động của ta trong mùa khô năm 1974-1975'' của Ban Trinh sát Mặt trận Tây Nguyên ngày 5. 3.1975, tr. 3.

3. Trung tướng Hoàng Minh Thảo. Chiến dịch Tây Nguyên... Sđd, tr. 69, 70.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 12 Tháng Tư, 2021, 04:41:43 pm
*

   Đầu tháng 3 năm 1975, các lực lượng tham gia chiến dịch Tây Nguyên đã hoàn thành tập kết trên các khu vực quy định. Cụm lực lượng tiến công Buôn Ma Thuột có Sư đoàn bộ binh 316, Trung đoàn bộ binh 95b, Tiểu đoàn 4 (Trung đoàn 24), Trung đoàn đặc công 198, Trung đoàn xe tăng 273 (thiếu), 2 cụm pháo của Trung đoàn pháo bình 40 (thiếu) và Trung đoàn pháo binh 675, Trung đoàn phòng không 232 và Trung đoàn phòng không 234 (thiểu), Trung đoàn công binh 7 và Trung đoàn công binh 575, Trung đoàn thông tin 29, một số phân đội bảo đảm và lực lượng vũ trang tỉnh Đắc Lắc. Cụm lực lượng trên hướng Đức Lập, Quảng Đức gồm Sư đoàn bộ binh 10 (thiếu), Trung đoàn bộ binh 271, Tiểu đoàn đặc công 14, một tiểu đoàn pháo (Trung đoàn pháo binh 40), 2 tiểu đoàn phòng không (Trung đoàn 234). Cụm lực lượng trên đường 14 khu vực Thuần Mẫn có Sư đoàn bộ binh 320. Khu vực Bình Khê - Plei Bôn có Sư đoàn bộ binh 3 (thiếu) Quân khu 5, Trung đoàn 95A. Lực lương cắt đường 21 do Trung đoàn bộ binh 25 đảm nhiệm. Hướng Gia Lai, Kon Tum có Sư đoàn bộ binh 968 và lực lượng vũ trang địa phương đang triển khai đánh địch. Thời điểm tiến công địch đã đến, Bộ tư lệnh chiến dịch quyết địch cho các lực lượng đánh cắt giao thông nổ súng chia cắt chiến dịch, tạo thế, mở màn chiến dịch Tây Nguyên.

   Đêm 3 rạng ngày 4 tháng 3, Trung đoàn 95A đánh cắt giao thông đường số 19, diệt căn cứ A Dun và một số chốt  giao thông, làm chủ một đoạn đường dài 20km từ ngã ba Plei Bôn đến ấp Phú Yên. Một bộ phận của Sư đoàn 320 cắt đường 14 ở bắc Cẩm Ga. Ngày 4 tháng 3, Sư đoàn 3 (Quân khu 5) cắt đường số 19 ở đèo Thượng  An đến cầu số 13, diệt 9 chết và 2 đại đội địch. Đêm 4 rạng ngày 5 Trung đoàn 25 diệt một đoàn xe địch, cắt đứt đường số 21 ở đông Chư Cúc. Trung đoàn 9 Sư đoàn 320 đánh chặn một đoàn xe 15 chiếc của trung đoàn 45 ngụy ở Cẩm Ga, diệt 8 xe, thu 2 pháo 105mm, nhưng địch chạy thóat 7 xe, trong đó có tên sư đoàn phó sư đoàn 23, đường số 14 bị cắt đứt.

   Địch ở Tây Nguyên bị cô lập hoàn toàn với đồng bằng duyên hải phía đông, hai cụm bắc và nam Tây N Nguyên cũng bị cắt rời nhau. Trước diễn biến bước đầu thuận lợi, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh chiến dịch hạ quyết tâm đánh địch theo phương án địch không có phòng ngự dự phòng ở thị xã Buôn Ma Thuột, đồng thời xác định những biện pháp cụ thể để bảo đảm cho các đơn vị hoàn thành triển khai đội hình tiến công. Tận dụng những nhận định sai lầm của địch cho rằng hướng tiến công chính của ta ở bắc Tây Nguyên và tập trung binh lực đối phố trên hướng đường 19 An Khê - Plei Bôn và phía tây Gia Lai, Bộ tư lệnh chiến tích ra lệnh cho Sư đoàn 320 dùng Trung đoàn 48 đánh chiếm cứ điểm Chư Xê (7.3) và quận lỵ Thuần Mẫn (8.3)1, kéo trung đoàn 53 từ Buôn Ma Thuột và lên đoàn 21 biệt động quân (vừa từ Kon Tum đổ xuống sân bay Hòa Bình) lên đối phó. Tận dụng thời cơ khi địch ở Buôn Ma Thuột bị thu hút lên hướng Thuần Mẫn, Buôn Hồ, 2 trung đoàn công binh (7 và 575) khẩn trương khai thông các đoạn còn lại của đường 51, 57b, 57C, 50B, 50C, 50D để xe pháo cơ động tiến công thị xã. Riêng tuyến dường phía tây và tây nam (20C), để giữ bí mật, các chiến sĩ Trung đoàn công binh 7 cưa sẵn ba phần tư đường kính gốc cây, liên kết bộc phá ở các bến vượt, đến giờ quy định sẽ cho nổ và nhanh chóng dọn đường. Cùng thời gian này, Trưng đoàn thông tin 29 gấp rút triển khai mạng hữu tuyến điện; Sư đoàn 316 và lực lượng đặc công tiến vào các vị trí quy định. Hậu cần chiến dịch chuẩn bị sẵn những xe đạn dược,  xăng dầu sẵn sàng cơ động cùng đội hình hành quân chiếm lĩnh của các đơn vị.

   Theo đúng kế hoạch, ngày 9 tháng 3 Sư đoàn 10 (thiếu) được tăng cường đặc công, pháo binh, cao xạ do sư đoàn trưởng Hồ Đệ và chính ủy Lã Ngọc Châu chỉ huy bất ngờ tiến công quận lỵ Đức Lập. Tại đây, quân địch có 2.391 tên (chủ lực và bảo an), 12 pháo lớn, 15 xe tăng xe bọc thép... bố trí tập trung ở 5 vị trí: căn cứ 23, quận lỵ Đức Lập, Núi Lửa, Đắc Sắc, Đắc Song; ngoài ra còn nhiều chốt lẻ vòng ngoài như Bác Ái, Tư Minh, Ya Bét... và 2.500 tên phòng vệ dân sự. Với cách đánh táo bạo bỏ qua tuyến phòng ngự vòng ngoài của lực lượng bảo an dân vệ, tập trung lực lượng đánh thẳng vào mục tiêu chủ yếu, chỉ trong hơn 3 giờ tiến công Trung đoàn 28 và Trung đoàn 66 đã làm chủ hoàn toàn căn cứ Núi Lửa và căn cứ 23. Khi phát triển tiến công quận lỵ Đức Lập ta gặp khó khăn do nổ súng sớm trong khi nắm địch chưa kỹ, hiệp đồng không chặt. Ngày hôm sau (10.3) ta điều chỉnh bố trí lực lượng, tăng cường chỉ huy, tiến công lần thứ hai tiêu diệt hoàn toàn quận ly Đức Lập, làm chủ các mục tiêu Đắc Min, Đắc Sắc, Đắc song. Sau gần 2 ngày chiến đấu, Sư đoàn 10 đã đập tan tuyến phòng thủ tây nam Buôn Ma Thuột, tiêu diệt 2 tiểu đoàn địch, bắt hơn 100 tên, thu 14 pháo lớn và 20 xe tăng, xe bọc thép, giải phóng một khu vực rộng lớn với hàng chục nghìn dân. Chiến thắng Đức Lập ''ngoài ý nghĩa dứt điểm để có thể cơ động lực lượng sớm cho Buôn Ma Thuột... còn có ý nghĩa bảo đảm hành lang cho các lực lượng tiến công vào hướng nam... thu hút thêm sự chú ý của địch... bảo đảm bất ngờ cao nhất cho trận đánh then chốt quyết định''2. Đến đây, giai đoạn đánh tạo thế chiến dịch đã hoàn thành. Bộ tư lệnh chiến dịch kịp thời cơ động Sư đoàn 10 và lực lượng tăng cường về triển khai ở đông , bắc thị xã Buôn Ma Thuột sẵn sàng đánh địch phản kích.

   Trong khi tiếng súng tiến công trên hướng Đức Lập còn đang nổ, đêm mùng 9 tháng 3 từ các khu vực tập kết cách Buôn Ma Thuột từ 15 đến 25km, theo lệnh của Bộ tư lệnh chiến dịch, 12 tiểu đoàn bộ binh và binh chủng hình thành 5 mũi hành tiến cơ giới như 5 cánh sao ầm ầm tiến về phía thị xã. Từ 2 giờ sáng ngày 10 tháng 3, khi Trung đoàn đặc công 198 và hỏa lực ĐKB, H12 đánh vào kho Mai Hắc Đế, sân bay thị xã sân bay Hòa Bình và hậu cứ trung đoàn 53, các đoàn xe bật đèn pha mở hết tốc lực vượt qua tuyến phòng ngự vòng ngoài của địch đưa bộ đội vào chiếm lĩnh vị trí xuất phát tiến công.

   Đúng 6 giờ 30 phút ngày 10 tháng 3, các cụm pháo chiến dịch của ta bắt đẩu trút bão lửa xuống các mục tiêu trong. thị xã Buôn Ma Thuột, làm tê liệt nhiều hành động chiến đấu của địch. Đại tá Nguyễn Trọng Luật - chỉ huy trưởng tiểu khu Đắc Lắc hỏang sợ, bỏ nhiệm sở trốn sang hầm ngầm của đại tá Vũ Thế Quang - phó tư lệnh sư đoàn 23 vừa được tướng Phạm Văn Phú (tư lệnh quân đoàn 2 - quân khu 2) giao cho làm tư lệnh chiến trường nam Tây Nguyên. Được sự chi viện của hỏa lực, các mũi tiến công binh chủng hợp thành gồm bộ binh, xe tăng, xe thiết giáp, pháo phòng không đồng loạt đột phá trên các hướng.

   Trên hướng tiến công chủ yếu phía bắc, Trung đoàn 95B sử dụng Đại đội 6 thuộc Tiểu đoàn 5 diệt chốt ngoại vi ở điểm cao 596 lúc 4 giờ sáng ngày 10 tháng 3. Cùng thời gian này, Tiểu đoàn 4 đặc công (Trung đoàn 198) đánh chiếm làm chủ hai phần ba sân bay thị xã, dồn đại đội bảo vệ của địch về góc đông bắc sân bay. Lợi dụng kết quả chiến đấu của đặc công và hỏa lực pháo binh, Trung đoàn 95 tiến theo hai đường phố Cao Thắng và Phan Chu Trinh chiếm khu nhà thờ; 6 giờ, Tiểu đoàn 5 đánh chiếm Ngã Sáu Tại đây, cuộc chiến đấu diễn ra rất quyết liệt. Địch cho xe tăng, xe bọc thép và bộ binh ra phản kích, dùng máy bay ném bom làm Tiểu đoàn 5 tổn thất phải lui ra củng cố. Tiếp đó, Trung đoàn 95B dùng Tiểu đoàn 4 và 4 xe tăng tiến công lần thứ 2 chiếm được Ngã Sáu rời trụ lại đánh phản kích, đồng thời từng bước phát triển tiến công về hướng tiểu khu Đắc Lắc. Địch ngoan cố chống cự bắn cháy 1 xe tăng ta, nhưng đến 15 giờ toàn bộ tiểu khu và các khu hành chính, quân cảnh đều bị ta chiếm. Ở sân bay thị xã, lực lượng đặc công được 3 xe tăng chi viện cũng làm chủ toàn bộ mục tiêu lúc 17 giờ. Sự xuất hiện của xe tăng ta ngay giữa trung tâm thị xã Buôn Ma Thuột như cú sét đánh ngang tai, Tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu vội vã lệnh cho Phạm Văn Phú phải tử thủ giữ thị xã này bằng mọi giá.

   Ở hướng tây bắc, theo phương án tác chiến Trung đoàn 148 chiếm điểm cao Chư Ebua và triển khai xong đội hình chiến đấu lúc 5 giờ 30 phút. Song do pháo, cao xạ và một số xe tăng bị lạc đường vào chậm, trong khi hỏa lực của đơn vị chưa đủ mạnh để kiềm chế hỏa lực địch, nên chỉ huy trung đoàn cho bộ đội lợi dụng địa hình lồi lõm trong nghĩa trang ẩn nấp đợi lệnh xung phong và đề nghị cấp trên chi viện hỏa lực trực tiếp để mở cửa, xung phong. 9 giờ, các cụm pháo binh chiến dịch và pháp Sư đoàn 316 tập trung bắn yểm hộ cho Trung đoàn 148, tiêu diệt nhiều mục tiêu, đánh trúng trận địa pháo địch, làm một kho đạn bốc cháy. Lợi dụng kết quả hỏa lực, bộ binh mở cửa. Do cửa mở không sạch, xe tăng vừa tiến và đã bị dây thép gai quấn xích, địch chống trả quyết liệt gây cho ta nhiều thương vong. Trước tình thế đó, thượng sĩ trung đội phó Nguyễn Quang Trung3 chủ động thay cán bộ đại đội bị thương vong, chỉ huy mở cửa và dùng cảm ôm bộc phá xông lên đánh rộng cửa mở cho xe tăng, bộ binh vượt qua, rồi đưa đơn vị phát triển đánh chiếm các mục tiêu. Chiến sĩ công binh Vì Anh Đôi (Đại đội 7) ba lần bị thương vẫn quyết tâm mở đường cùng bộ binh xung phong đánh chiếm lô cốt, cướp đại liên địch bắn chi viện cho đồng đội xung phong. Y tá Tống Viết Bá vừa kịp thời cấp cứu thương binh, vừa tích cực đánh địch, bắn 9 quả B40, B41 diệt 5 lô cốt và 9 tên địch rồi anh dũng hy sinh. Đến 13 giờ, Trung đoàn 148 làm chủ các mục tiêu: tiểu đoàn 1 trung đoàn 45, khu pháo binh, khu thiết giáp, tổ chức hướng dẫn cho dân sơ tán, truy quét tàn binh; đồng thời đại bộ phận phát triển theo đường Phan Bội Châu, đánh tan cụm địch ở trường trung học Bồ Đề, quét sạch địch ở chùa Khải Đoan và tiến ra Ngã Sáu bắt liên lạc với Trung đoàn 95B.

   Cùng thời gian này, mũi thọc sâu phía tây của Tiểu đoàn 4 (Trung đoàn 24) có Đại đội 9 xe tăng và Đại đội 6 thiết giáp (Trung đoàn 273) tăng cường, chiến sự cũng diễn ra quyết liệt. Đúng 8 giờ Đại đội 2 do đại đội trưởng Lê Xuân Chuyển chỉ huy nổ bộc phá đánh bung cả bốn hàng rào trong ít phút, rồi nhanh chóng chiếm khu vực đầu cầu và phát triển vào bên trong. Cửa mở vừa thông, tiểu đoàn trưởng Trương Quang Oánh dẫn đầu thê đội một thọc sâu gồm bộ binh, xe tăng xe thiết giáp vượt qua cửa mở đánh xuống phía nam vào khu vận tải và khu kỹ thuật. Tại đây, phân đội thọc sâu bị địch dùng súng cối, M79... dành chặn rất mạnh, máy bay địch lao đến trút bom. Tiểu đoàn trưởng Oánh và trung đội trưởng Định xuống xe chỉ huy chiến đấu. Một khẩu đại liên địch bất ngờ xuất hiện bắn xối xả về phía ta, cả hai đồng chí Oánh và Địh ngã xuống. Cùng thời gian này Đại đội 3 và lực lượng dự bị của Tiểu đoàn 4 cũng bước vào chiến đấu đánh vào khu truyền tin. Tại khu vực cột cờ, 9 chiến sĩ lần lượt ngã xuống, đại đội trưởng đại đội 6 bị thương, nhưng cuối cùng các chiến sĩ chiếm được trung tâm truyền tin. Sau nhiều đợt tiến công, lúc 13 giờ 30 phút ngày 10 tháng 3, ta làm chủ hoàn toàn các khu gia binh, vận tải, truyền tin nhưng cũng bị tổn thất lớn: 60 đồng chí thương vong, trong đó có tiểu đoàn trưởng và một số cán bộ đại đội. Được lệnh của Bộ tư lệnh chiến dịch, Tiểu đoàn 4 do tiểu đoàn phó Bùi Văn Bịn chỉ huy, tạm dừng củng cố, sẵn sàng tiến công vào sáng hôm sau.

   Hướng tây nam, 2 giờ 10 phút Đội 2 đặc công (Trung đoàn 198) nổ súng đánh kho Mai Hắc Đế và làm chủ khu kho lúc 5 giờ. Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 174 đánh chiếm Chư Duê. 6 giờ, địch dùng bộ binh và 5 xe thiết giáp từ hậu cứ sư đoàn 23 ra phản kích vào kho và Chư Duê  nhưng bị đặc công và bộ binh ta đánh bại. Do xe tăng, pháo binh tăng cường vào muộn, nên 10 giờ ngày 10 tháng 3 Trung đoàn 174 mới tổ chức đột phá và đánh thọc thẳng và trung tâm thị xã. Trên đường hành tiến, bộ binh địch liên tục ngăn chặn phản kích, pháo binh máy bay oanh tạc dữ dội; nhưng bộ binh, xe tăng, pháo binh ta hiệp đồng chặt chẽ, chiến đấu dũng cảm, lần lượt chiếm ấp Ba Lê, khu Phạm Ngũ Lão, khu tham mưu địch. Nhiều chiến sĩ bị thương nhưng không rời vị trí, chiến đấu rất dũng cảm như Nguyễn Như Lai, Hà Ngọc Kim đều diệt được từ 4 đến 11 tên địch, bắt 20 tên. Do không nắm chắc địa hình và tình hình địch nên tiến đến sát khu sở chỉ huy sư đoàn 23 thì Trung đoàn 174 dừng lại củng cố.

   Trên hướng nam thị xã, Tiểu đoàn 5 Trung đoàn đặc công 198 nổ súng bất ngờ đánh địch ở sân bay Hòa Bình, nhưng vì quân địch đông đánh trả quyết liệt nên đến sáng ngày 10 tháng 3 ta mới chiếm được một số mục tiêu quanh đài kiểm báo và khu cảnh sát sân bay, phải tạm dừng, chuyển sang chốt giữ chờ bộ binh. Trung đoàn 149 cơ động tiếp cận mục tiêu bị địch phát hiện dùng máy bay pháo binh đánh chặn ở khu vực suối Ea Tam và đường Thống Nhất Nhưng bộ đội vẫn kiên quyết vận động, tiến công dũng mãnh vào các mục tiêu. Tiểu đoàn 7 đánh chiếm được khu cư xá sĩ quan, khu nhà thờ quân  đội rồi đánh vào ngã 5 sở chỉ huy sư đoàn 23, bị địch phản kích phải dừng lại Tiểu đoàn 8 lần lượt chiếm khu tiếp vận, sở thú y, ngân khố, phát triển chiếm một phần khu nhà lao, cùng Trung đoàn 95B đánh chiếm tiểu khu Đắc Lắc rồi dừng lại  củng cố. Tiểu đoàn 9 làm nhiệm vụ luồn sâu diệt chi khu quận lỵ Hòa Bình rồi tiến vào sân bay cùng Trung đoàn 198 tổ chức một đợt tiến công mạnh vào khu cố thủ chính của địch nhưng không thành công. Trời tối, tiểu đoàn phải dừng lại, củng cố để hôm sau đánh tiếp. Trải qua 1 ngày chiến đấu quyết liệt, ta đã thu được thắng lợi lớn: chiếm 2 trong 3 mục tiêu quan trọng nhất ở Buôn Ma Thuột là sở chỉ huy tiểu khu Đắc Lắc và sân bay thị xã, chiếm được một phần quan trọng và vây chặt sư đoàn bộ sư đoàn 23, khống chế sân bay Hòa Bình, bắn rơi 6 máy bay AD6. Lực lượng còn lại của địch trong thị xã Buôn Ma Thuột bị vây chặt, hoang mang dao động, quân cứu viện chưa kịp đến. Chiều ngày 10 tháng 3, quân địch  biết rõ ý định đánh chiếm Buôn Ma Thuột của ta thì đã muộn. Lực lượng địch ở bắc Tây Nguyên và các tỉnh trung Bộ còn đông nhưng các con đường 14, 19, 21 đã bị cắt không thể ứng cứu cho Buôn Ma Thuột. Về phía ta, các đơn vị đều chiến đấu rất dũng cảm, hoàn thành nhiệm vụ bước một, bộ đội rất phấn khởi và đang tích cực chuẩn bị cho nhiệm vụ bước hai. Lực lượng ta tiêu hao ít, vẫn đủ khả năng đánh chiếm nhanh toàn bộ sư đoàn bộ sư đoàn 23 và các mục tiêu còn lại trong thị xã trước khi địch đưa lực lượng đến phản kích. Để giành thắng lợi triệt để cho trận then chốt mở đầu giải phóng hoàn toàn thị xã Buôn Ma Thuột; Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định giữ vững các vị trí đã chiếm được, đồng thời tập trung lực lương mạnh tổ chức một đợt tiến công mới vào sáng ngày 11 tháng 3, tiêu diệt sở chỉ huy sư đoàn 23 ngụy và các mục tiêu còn lại.

   Sau một đêm củng cố chuẩn bị, bổ sung phương án, điều chỉnh dội hình và lực lượng, tổ chức hiệp đồng; sáng sớm ngày 11 tháng 3, bộ binh, xe tăng, xe thiết giáp của ta đã áp sát mục tiêu, sẵn sàng nổ súng; các trận địa pháo lớn sẵn sàng bắn vào sở chỉ huy sư đoàn 23 nguy. Giờ tận số của địch ở Buôn Ma Thuột đã điểm. Từ 6 giờ đến 8 giờ sáng ngày 11 tháng 3, pháo binh ta ầm ầm trút bão lửa xuống sở chỉ huy sư đoàn 23. Hỏa lực chuẩn bị vừa dứt, quân ta từ bốn hướng ào ạt tiến công đánh chiếm mục tiêu Trung đoàn 95B đánh trên hướng đông, bị địch chống cự mạnh, 2 xe tăng bị máy bay ném bom phá hủy, nhưng bộ đội vẫn kiên quyết tiến công đánh chiếm khu Biệt điện và tiến vào cổng chính sở chỉ huy sư đoàn 23. Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 24 có xe tăng, xe thiết giáp đi cùng đột phá trên hướng tây, đánh chiếm liên đoàn 350 rồi phát triển vào sở chỉ huy. Trên hướng nam, Tiểu đoàn 7 Trưng đoàn 149 vượt qua khu trường học công giáo, chiếm khu vực đại đội tổng hành dinh và tiến vào trung tâm chỉ huy. Tiếp đó Trung đoàn 148 từ hướng tây bắc dùng 1 đại đội và 2 xe tăng tiến vào sở chỉ huy sư đoàn địch.

   Trong đợt đột phá cuối cùng vào sở chỉ huy sư đoàn 23 ngụy, xe tăng 980 do đại đội trưởng Đoàn Sinh Hưởng chỉ huy đã xô đổ cổng sắt, cùng xe tăng của Bùi Mạnh Hùng, Phạm Hồng Vách dẫn dắt bộ binh đột phá chiếm trung tâm chỉ huy. Lúc 10 giờ ngày 11 tháng 3, lá cờ chiến thắng thấm máu các chiến sĩ đoàn Trung Dũng đã được 3 đồng chí Nguyễn Văn Thắng, Phạm Văn Vị và Đàm Duy Tộ thuộc Đại đội 1 Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 24 Sư đoàn 10 cùng đơn vị bạn4 cắm lên nóc nhà sở chỉ huy sư đoàn 23 ngụy, báo hiệu trận đánh đã thắng lợi. Từ nơi hội tụ của 4 mũi tiến công ở sở chỉ huy sư đoàn 23 ngụy vừa bị đánh chiếm, bộ đội nhanh chóng tỏa ra các hướng truy lùng tàn binh, nhanh chóng quét sạch quân địch còn lại trong thị xã Lợi dụng lúc quan quân hỗn loạn, Vũ Thế Quang và Nguyễn Trọng Luật chạy trốn, nhưng sau đó đều bị bắt làm tù binh. 11 giờ ngày 11 tháng 3 năm 1975, trận tiến công thị xã Buôn Ma Thuột kết thúc toàn thắng.

   Sau 32 giờ chiến đấu anh dũng, bộ đội ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 10.210 tên địch, thu 3.215 súng các loại (có 42 pháo lớn), 765 xe cơ giới, 3.200 tấn đạn, 1.170 vô tuyến điện và hàng triệu lít xăng dầu, bắn rơi và phá hủy 50 máy bay; giải phóng hoàn toàn thị xã Buôn Ma Thuột - trung tâm quân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa ở nam Tây Nguyên có diện tích 25km2 với 12 vạn dân. Trận then chốt quyết định Buôn Ma Thuột đã ''điểm trúng huyệt'', làm cho địch chóang váng bất ngờ, làm rối loạn sự chỉ đạo chiến lược và đảo lộn thế phòng thủ của địch ở chiến trường Tây Nguyên; đồng thời mở ra cục diện mới và thời cơ rất thuận lợi cho ta phát triển thắng lợi chiến dịch Tây Nguyên. Chiến thắng Buôn Ma Thuột cũng đánh dấu bước trưởng thành mới của quân đội ta nói chung và bộ đội chủ lực Tây Nguyên nói riêng về nghệ thuật chọn hướng chiến dịch và đánh trận then chốt, về tổ chức chỉ huy chiến dịch, tác chiến hiệp đồng binh chủng, nghệ thuật nghi binh, tạo thế, chuẩn bị chiến trường, vận dụng cách đánh địch phòng ngự trong thành phố một cách sáng tạo, có hiệu quả cao. Đánh giá về trận đánh này, báo Pháp ''Thế Giới'' số ra ngày 21 tháng 3 năm 1975 đã viết: ''Trong vài ngày, bản đồ quân sự miền Nam Việt Nam đã bị đảo lộn, chỉ có trận Buôn Ma thuột mà khiến cho từng mảng cấu trúc do chế độ Thiệu dựng lên bị sụp đổ. Hóa ra Buôn Ma Thuột mang cái đà của một bước ngoặt trong cuộc xung đột, đến nay đã được 30 năm''.

   Đêm 11 tháng 3, Bộ tư lệnh chiến dịch họp, nhận định: địch bị mất thị xã Buôn Ma Thuột nhưng các căn cứ bàn đạp ngoại vi vẫn còn, chúng có thể đổ quân tăng viện phản kích, chủ yếu trên hướng đông bắc nhằm chiếm lại thị xã; đồng thời chủ trương: nhanh chóng phát huy thắng lợi tiêu diệt quân địch ở các vùng phụ cận ngoại vi, trọng điểm là căn cứ 45 và 53, quét sạch tàn binh trong thị xã, từng bước củng cố khu vực đã chiếm, tiếp tục khẩn trương cơ động lực lượng còn lại của Sư đoàn 10 sang phía đông bắc Buôn Ma Thuột chuẩn bị đánh địch phản kích lớn.

   Thực hiện chủ trương đó, từ ngày 12 đến ngày 17 tháng 3 các đơn vị đẩy mạnh truy quét và tiến công địch. Ngày 12, Trung đoàn 174 có xe tăng phối thuộc đánh chiếm khu vực cầu Thọ Thạnh (Sê Rê Pok), diệt và bắt 95 tên, thu 3 pháo 105mm; .Trung đoàn 95B truy quét trong thị xã, bắt 100 tên ở khu nhà lao; Trung đoàn đặc công 198 bám chắc sân bay Hòa Bình, đánh lui các đợt phản kích của địch từ căn cứ 53 sang; Trung đoàn 24 (thiếu) được tăng cường xe tăng tiến công tiêu diệt căn cứ 45 và trung tâm huấn luyện 23, diệt và bắt 353 tên địch, thu 12 pháo lớn, 29 súng cối, 2 xe M113 và 241 ô tô, hơn 1.000 khẩu súng, gần 5 vạn viên đạn cối, hàng trăm máy thông tin.

   Trong không khí tràn ngập niềm vui chiến thắng và đồng loạt tiến công địch trên các hướng, ngày 12 tháng 3 quân và dân Tây Nguyên rất phấn khỏi được Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương điện: ''Nhiệt liệt khen ngợi cán bộ; chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên, anh chị em công nhân viên đã nêu cao tinh thần quyết thắng, anh dừng, mưu trí, sáng tạo, táo bạo và khẩn trương giành nhiều thắng lợi to lớn ngay trong những ngày đầu chiến dịch. Cần nhanh phóng nắm lấy thời cơ thuận lợi giành thắng lợi to lớn hơn nữa''. Chấp hành chỉ thị của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, Bộ tư lệnh chiến dịch ra lệnh cho các đơn vị đẩy mạnh truy quét, tiêu diệt các cứ điểm còn lại của địch ở ngoại vi và cơ động lực lượng sang phía đông sẵn sàng đánh phản kích.

    Ngày 13 tháng 3, Trung đoàn 148 đánh chiếm ấp chiến lược Châu Sơn; Trung đoàn 64 giải phóng Buôn Hồ, Chư Pao, Đạt Lý. Phối hợp với bộ đội chủ lực, lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Đắc Lắc tiến công, làm chủ quận lỵ Lạc Thiện. Ngày hôm sau (14.3), Tiểu đoàn 5 hung đoàn 24 giải phóng Chư Nga; Tiểu đoàn 21 Đoàn 559 giải phóng Bản Đôn Trung đoàn 149 có xe tăng phối thuộc tiến công căn cứ 53 nhưng không thành công. Trong khi các đơn vị bạn dồn dập tiến công địch, Trung đoàn 66, Trung đoàn 28 và các đơn vị binh chúng nhanh chóng cơ động từ khu vực Đức Lập về phía đông bắc thị xã tham gia chiến đấu. Lực lượng phòng không tích cực đánh máy bay bảo vệ vùng mới giải phóng.

   Phối hợp với hướng chính của chiến dịch, các lực lượng của ta hoạt động mạnh khắp Tây Nguyên, giữ vững thế chia cắt, giam chân vả buộc địch phải phân tán đối phó. Trung đoàn 25 vẫn cắt đứt đường 21 ở đông Chư Cúc, diệt một số xe, đánh bại lực lượng địch từ Khánh Dương lên giải tỏa. Trên đường 19 đông, Trung đoàn 95A diệt cụm địch ở ngã ba Plei Bôn, đánh bại các đợt phản kích giải tỏa, đánh thiệt hại nặng hai chi đoàn thiết giáp; Sư đoàn 3 Quân khu 5 đánh bại các cánh quân giải tỏa của sư đoàn 22 ngụy, diệt nhiều lực lượng địch ở khu vực lăng Mai Xuân Thưởng, Vườn Xoài, phát triển tiến công Bình Tân, Bình Tường, Đồng  Phú. Sư đoàn 968 đánh chiếm 2 chốt địch ở tây nam Plei Ku, áp sát Thanh Bình, uy hiếp Thanh An, dùng pháo binh đánh phá sân bay Cù Hanh và Kon Tum. Hướng Gia Nghĩa, Trung đoàn 271 đánh ấp Nhân Cơ, Nhơn Hải, áp sát sân bay Nhân Cơ.

    Cùng thời gian này, các chiến trường trên toàn miền Nam đẩy mạnh tiến công phối hợp với Tây Nguyên. Lực lượng tổng dự bị của địch vẫn bị giam chân ỏ hai đầu: Trị - Thiên Huế và Nam Bộ. Ở khu 5 ta đánh chiếm hai quận lỵ Tiên Phước, Phước Lâm, uy hiếp thị xã Quảng Ngãi, Tam Kỳ. Ở Thừa Thiên ta tiến công căn cứ Chúc Mao và nhiều mục tiêu trên trục đường số 1.




------------------------------------------------------------------
1. Trận tiến công quận lỵ Thuần Mần (Cẩm Ga) ta diệt 219 tên địch, bắt 121 tên, thu 200 khẩu súng (có 2 pháo 105mm) và 18 xe quân sự.

2. Trung tướng Hoàng Minh Thảo. Chiến dịch Tây Nguyên.. Sđd, tr 87, 88.

3. Đồng chí Nguyễn Quang Trung được Quốc hội và Chính phủ tuyên dương Anh hùng lực lương vũ trang nhân dân tháng 2 năm 1976.

4. Trung đội 2 Đại đội 1 Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 149 Sư đoàn 316 đánh vào sở chỉ huy sư đoàn 23 đã lấy 1 lá cờ của ta trong phòng truyền thống của địch, dùng bút bi viết tên đơn vị lên mép cờ, sau đó 3 đồng chí Nguyễn Đức Thịnh, Ngô Văn Quyền và Trần Văn Thanh mang cắm lên nóc sở chỉ huy sư đoàn 23 ngụy.



Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 12 Tháng Tư, 2021, 04:45:02 pm
*

   Buôn Ma Thuột thất thủ đã làm chấn động toàn miền Nam, lan tới Nhà Trắng và Lầu Năm Góc. Đại sứ Mỹ Ma-tin phải cấp tốc gửi cho Tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu một bức thư khích lệ: ''Ở Hoa Thịnh Đốn, mặt trận đấu tranh thời gian tới sẽ vô cùng gay go, nếu có thể có cơ  hội trong và tuần tới quân lực Việt Nam Cộng hòa đánh một trận đẹp mắt với quân Bắc Việt Nam để công chúng thấy rõ thì điều đó có tác dụng; phản ứng chính trị ở đây (Mỹ) sẽ rất tất đẹp nếu như có sự kiện như vậy... Đó là canh bạc có thể đem lai lợi ích tốt đẹp''1.

   Vâng lời chủ Mỹ, Nguyễn Văn Thiệu và Cao Văn Viên ký lệnh "tử thủ Buôn Ma Thuột'' và ra lệnh cho tướng Phạm Văn Phú - tư lệnh quân đoàn 2-quân khu 2 phải "tái chiếm Buôn Ma Thuột'' bằng mọi giá. Đồng thời, địch ra sức bưng bít tin đại bại ở Tây Nguyên, cho cảnh sát bắn chết nhà báo Pháp, Pôn Lê-ăng-đri vừa đưa tin về sự việc ta đã thật sự làm chủ Buôn Ma Thuột2.

   Lực lượng quân đoàn 2 - quân khu 2 ngụy ở bắc Tây Nguyên và duyên hải Trung Bộ tuy còn đông. Nhưng mọi con đường đổ về Buôn Ma Thuột đã bị cắt đứt, không còn cách nào khác ngoài đổ bộ bằng máy bay trực thăng. Trong cơn bấn loạn, trên thúc ép, tuyến bàn đạp dự kiến lại bị mất căn cứ 45, căn cứ 53 bị vây chặt, chuẩn tướng Lê Trung Tường - sư đoàn trưởng sư đoàn 23 vừa tình nguyện nhận chức tư lệnh lực lượng phản kích buộc phải đổ quân xuống khu vực không xác định trước ở Nông Trại - Phước An (đông Buôn Ma Thuột). Từ nhiều ngày 12 đến hết ngày 13 tháng 3, sau khi dùng hơn 100 lần chiếc máy bay ném bom dọn bãi, 145 lần chiếc trực thăng đổ bộ trung đoàn 45, pháo đội 232 xuống trục đường 21 từ điểm cao 581, Nông Trại đến Phước An, Chư Cúc. Tiếp đó, chúng lại đổ thêm trung đoàn 44 và sở chỉ huy sư đoàn 23 xuống vùng này. Địch hy vọng với lực lượng sư đoàn 23 con cưng ''Nam bình, Bắc phạt, Tây Nguyên trấn'' và bọn tàn quân liên đoàn 21 biệt động quân có thể ''đánh một trận đẹp mắt với quân Bắc Việt Nam'' ở đông Buôn Ma Thuột để xin viện trợ Mỹ, tiếp tục kéo dài chiến tranh.

   Chủ động đón đầu chuẩn bị và nắm chắc thời cơ thuận lợi tiến công tiêu diệt địch ngoài công sự, Bộ tư lệnh chiến dịch và Sư đoàn 10 kịp thời đua Trung đoàn 24, Trung đoàn 28 và lực lượng xe tăng, pháo binh, phòng không vào chiến đấu trên hướng đường 21. Đêm 13 rạng ngày 14 tháng 3, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 24 có xe tăng phối thuộc lợi dụng ánh sáng đèn dù vào chiếm lĩnh trận địa xuất phát tiến công. Đúng 7 giờ 7 phút ngày 14, trận tiến công tiểu đoàn 2 trung đoàn 45 địch ở điểm cao 581 mở màn. Ngay từ phút đầu pháo chiến dịch và hỏa lực cối 82, ĐKZ, 12,7mm của Tiểu đoàn 6 bắn dồn dập, chính xác vào các mục tiêu. 8 giờ 45 phút, bộ binh, xe tăng đồng loạt xung phong và làm chủ hoàn toàn trận địa sau 2 giờ tiến công. Gần 400 tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu, hàng trăm khẩu súng các loại bị tịch thu. Thấy tiểu đoàn 2 ở phía trước bị tiêu diệt, lực lượng còn lại của trung đoàn 45 địch co về khu vực đồn điền cà phê ngã ba Nông Trại nhập với tàn quân của liên đoàn 21 bảo vệ mặt phía tây quận lỵ Phước An. Ngày hôm. sau, địch đổ bộ tiếp trung đoàn 44 xuống khu vực này, nâng quân số của chúng ở Nông Trại - Phước An lên 5.600 tên.

   Địch tuy đông, nhưng công sự vật cản rất sơ sài, hỏa lực chi viện hạn chế, tinh thần quân lính rệu rã hoang mang. Chớp thời cơ thuận lợi, Trưng đoàn 24 được lệnh phát triển tiến công tiêu diệt địch ở Nông Trại - Phước An đồng thời Trung đoàn 28 cũng khẩn trương cơ động về hướng này dành địch. Bộ tư lệnh chiến dịch cử đại tá Nguyễn Năng - Phó tư lệnh chiến dịch xuống trực tiếp giúp Trung đoàn 24, thông qua phương án tiến công, ấn định thời gian nổ súng. Sau một đêm chuẩn bị, sáng ngày 16 tháng 3 pháo cối của ta bắn dồn dập vào các mục tiêu địch trong vòng 25 phút. Hỏa lực chuyển làn, lập tức bộ binh, xe tăng, xe thiết giáp dũng mãnh tiến công, nhanh chóng đập tan sự kháng cự của tiểu đoàn 3 địch, rồi thọc thẳng vào sở chỉ huy trung đoàn 45. Với cách đánh nhanh, táo bạo của ta toàn bộ ban chỉ huy trung đoàn 45 ngụy và chiếc trực thăng đang nổ máy chúng định dùng để chạy trốn đều bị tóm gọn. Lúc 8 giờ 15 phút, ta làm chủ hoàn toàn khu vực Nông Trại, thu 6 khẩu pháo 105mm còn nguyên vẹn và rất nhiều chiến lợi phẩm. Sáng hôm sau (17.3), Trung đoàn 24 làm chủ Phước An, sở chỉ huy sư đoàn 23 ngụy đã rút về Chư Cúc. Sau bốn ngày tiến công, Trung đoàn 24 và lực lượng tăng cường đã đánh tan trung đoàn 45, tiêu diệt 477 tên, bắt 377 tên, thu 1.806 súng các loại, 4 giàn hỏa tiễn X202, 1 máy bay trực thăng và rất nhiều đạn dược, giải phóng một vùng rộng lớn dọc trục đường 21, tạo điều kiện cho đơn vị bạn tiếp tục phát triển tiến công.

   Trước diễn biến thuận lợi, Bộ tư lệnh chiến dịch và Sư đoàn 10 dùng Trung đoàn 28 và một lực lượng xe tăng, pháo phòng không tiếp tục đánh địch trong hành tiến theo dọc trục đường 21 về hướng Khánh Dương. Từ chiều ngày 18 đến sáng ngày 19 tháng 3, Trung đoàn 28 và Tiểu đoàn 2 xe tăng (Trung đoàn 273) đánh tan tiểu đoàn 1 trung đoàn 44 địch, rồi tiếp tục truy kích đến cầu số 13. Tại khu vực cầu số 13, địch đánh sập cầu và lập tuyến chốt chặn bên bờ đông, kết hợp với máy bay, pháo binh hòng chặn bước tiến quân của ta. Nhưng trước sức tiến công mạnh mẽ của Trung đoàn 28, lực lượng địch chốt chặn nhanh chóng bị quét sạch; thừa thắng đội hình tiến công binh chủng hợp thành đánh chiếm chi khu quân sự Chư Cúc và làm chủ hoàn toàn khu vực thị trấn lúc 12 giờ. Trong cơn hỏang loạn, chuẩn tướng Lê Trung Tường chạy tháo thân, song chiếc máy bay trực thăng bị trúng đạn, y được đồng bọn lôi ra khỏi máy bay và đưa đi trốn. Tàn quân địch từ Chư Cúc chạy về hướng đông đã bị Trung đoàn 25 diệt và bắt 500 tên. Trong khỏang 20 giờ tiến công hành tiến, Trung đoàn 28 và lực lượng tăng cường đã vượt chặng đường dài 40km, đánh nhiều trận làm tan rã hoàn toàn trung đoàn 44, tàn quân liên đoàn 21 biệt động quân và lực lượng bảo an, diệt 250 tên, bắt 800 tên, thu 6 pháo lớn và nhiều vũ khí phương tiện chiến tranh, giải phóng một vùng đất rộng lớn dọc trục đường 21, tạo điều kiện cho các lực lượng chiến dịch phát triển về hướng đông.

   Trong khi tập trung một lực lượng mạnh đánh bại quân địch phản kích trên đường 21, Bộ tư lệnh chiến dịch sử dụng Trung đoàn 66 Sư đoàn 10 và Trung đoàn 149 Sư đoàn 316 tiến công tiêu diệt căn cứ 53. Nằm trên trục đường 27, cách trung tâm thị xã Buôn Ma Thuột 8km về phía đông nam, căn cứ 53 có hình chữ nhật chiều dài 1,2km, rộng 1km, có hệ thống công sự kiên cố, hầm ngầm chỉ huy ở giữa bằng bê tông, xung quanh có tuyến tường hộp dày 1,5m, cao 2m và 4 đến 6 hàng rào thép gai. Khi ta tiến công, lực lượng địch ở đây có ban chỉ huy trung đoàn 53, 1 tiểu đoàn bộ binh, 1 đại đội bảo vệ sân bay, 1 đại đội pháo, 1 chi đội thiết giáp, 1 đại đội thông tin, 1 đại đội vận tải, 200 nhân viên phục vụ và số tàn binh từ các cứ điểm xung quanh chạy về, tổng số khỏang 1.300 tên. Sau khi đẩy lui các đợt tiến công của một phân đội đặc công thuộc Trung đoàn 198 và Trung đoàn 149, bọn chỉ huy ác ôn ở đây càng ngoan cố, ráo riết tổ chức cố thủ để chờ quân tiếp viện. Để khích lệ bọn địch trong căn cứ này, Nguyễn Văn Thiệu dùng thủ đoạn phong cho tên trung tá Võ Ấn - trung đoàn trưởng trung đoàn 53 lên đại tá và đưa mồi vật chất ra nhử bọn lính. Mặc dù vậy, số phận của căn cứ 53 cũng nhanh chóng được định đoạt.

   Từ 17 giờ 10 phút ngày 16 tháng 3, hai trung đoàn (66 và 149) tổ chức tiến công. Trung đoàn 66 do trung đoàn trưởng Nguyễn Đình Kiệp chỉ huy, được tăng cường xe tăng, pháo binh, phòng không mở 2 cửa trên hướng bắc và hướng đông. Hướng chủ yếu phía bắc, Tiểu đoàn 7 do tiểu đoàn trưởng Hoàng Ngọc Toái và chính trị viên Phạm Quang Vinh chỉ huy bị địch tập trung đánh chặn quyết liệt gặp khó khăn, mãi đến 5 giờ 10 phút sáng 17 mới mở thông cửa mở. Hướng thứ yếu phía đông, Tiểu đoàn 9 do tiểu đoàn trưởng Bạch Công Nghĩa và chính trị viên Phạm Chào chỉ huy, bộ đội chiến đấu rất dũng cảm, dùng bộc phá đánh bung các hàng rào rồi xung phong chiếm được đầu cầu lúc 18 giờ 15 phút. Sau đó tiểu đoàn mở rộng khu vực đầu cầu, chiếm một phần cứ điểm rồi trụ lại trong đêm. Trước diễn biến trận đánh, đêm 16 Thường vụ Đảng ủy Trung đoàn 66 quyết định chuyển hướng thứ yếu của Tiểu đoàn 9 thành hướng chủ yếu và tăng cường cho hướng này 2 xe tăng, khẩn trương xốc lại đội hình sẵn sàng tiến công tiếp vào sáng hôm sau. Cùng thời gian này, Trung đoàn 149 cũng tổ chức đột phá trên hai hướng tây và tây nam, mở thông hai cửa mở lúc 22 giờ, chiếm được đầu cầu rồi trụ lại, chuẩn bị tiến công tiếp. 6 giờ 35 phút ngày 17 tháng 3, ta đồng loạt tiến công đợt hai trên cả bốn hướng. Quân địch ngoan cố chống trả quyết liệt, gọi máy  bay ném bom vào các khu vực cửa mở. Nhưng trước sức tiến công mạnh mẽ của ta, chúng suy yếu nhanh buộc phải tháo chạy. Đến 8 giờ ngày 30 ta làm chủ hoàn toàn căn cứ 53, loại khỏi vòng chiến đấu 400 tên địch, 120 tên bị bắt, 4 xe tăng và 2 pháo lớn bị phá hủy, trên 300 khẩu súng bị tịch thu. Do ta vây không chặt, một số lớn địch chạy thóat, trong đó có tên trung đoàn trưởng bị thương.

   Phối hợp với đòn tiến công của bộ đội chủ lực ở phía đông Buôn Ma Thuột, lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương nổi dậy mạnh mẽ, quét sạch 13 khu dồn, 35 ấp chiến lược và bộ máy kìm kẹp của địch; giải phóng hoàn toàn 70 buôn và 11 dinh điền, chính quyền cách mạng nhanh chóng được thiết lập ở các cấp. Ngày 18 tháng 3, tại ngôi chùa xã Lạc Giao đường Trần Hưng Đạo, Ủy ban quân quản tỉnh Đắc Lắc được thành lập, đại tá YBLốc làm Chủ tịch và đồng chí Lê Chí Quyết làm Bí thư Đảng ủy. Từ đây đồng bào các dân tộc tỉnh Đắc Lắc đã thực sự làm chủ vận mệnh của mình, ra sức khắc phục khó khăn ổn định mọi mặt, tích cực tham gia vào các công việc của cách mạng, giúp đỡ bộ đội tiến công về miền duyên hải và Nam Bộ.

   Trong hơn năm ngày tiến công, Sư đoàn 10 và các đơn vị xe tăng, pháo binh, phòng không chiến dịch đã lập chiến công vang dội, hoàn thành xuất sắc trận then chốt thứ hai của chiến dịch: đập tan cuộc phản kích ''tái chiếm'' Buôn Ma Thuột của quân đoàn 2 ngụy, xóa sổ sư đoàn 23 và liên đoàn 21 biệt động quân; diệt và bắt 5.266 tên, thu 3.718 súng các loại, 305 xe quân sự và 1 máy bay trực thăng; giải phóng hoàn toàn vùng đồng bắc tỉnh Đắc Lắc. Chiến thắng trên đường 21 đã góp phần quan trọng thúc đẩy chiến dịch  phát triển, tạo thế chia cắt địch về chiến lược, đẩy quân đoàn 2 quân khu 2 ngụy ở bắc Tây Nguyên đến ngày cơ tan vỡ và bị tiêu diệt nhanh chóng khi tháo chạy trên đường số 7, mở đầu bước suy sụp không thể cứu vãn nổi của quân ngụy. Thắng lợi của trận đánh khẳng định sự trưởng thành vượt bậc về nghệ thuật chỉ huy chiến tích, về trình độ tổ chức và thực hành tiến công địch trong hành tiến tiêu diệt lực lượng lớn quân địch phản kích bằng đổ bộ đường không và tinh thần chiến đấu rất dũng cảm của bộ đội ta.




------------------------------------------------------------------
1. Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Nxb QĐND, H.1980, tr. 317, 318.

2. Đại tướng Văn Tiến Dũng. Đại thắng mùa xuân. Sđd, tr. 91.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 12 Tháng Tư, 2021, 04:47:47 pm
*

   Buôn Ma Thuột bị mất, sư đoàn 23 bị đánh tơi tả trên đường 21, sư đoàn 22 bị tiêu diệt một bộ phận và đang bị bao vây ở đông An Khê, phần lớn lực lượng biệt động quân bị tiêu hao và giam chân ở bắc Tây Nguyên, các con dường 19, 14, 21 vẫn bị cắt triệt; Nha Trang, Cam Ranh bị bỏ ngỏ, hy vọng tái chiếm Buôn Ma Thuột bị tiêu tan, khối chủ lực quân đoàn 2 - quân khu 2 bị vậy chặt ở Plei Ku, Kon Tum và có nguy cơ bị tiêu diệt. Trước tình hình nguy ngập đó, ngày 14 tháng 3 tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu vội vã đến Cam Ranh tổ chức một cuộc họp khẩn cấp với Trần Thiện Khiêm, Cao Văn Viên, Phạm Văn Phú, quyết định rút toàn bộ lực lượng ở Plei Ku và Kon Tum theo đường số 7 về giữ vùng đồng bằng duyên hải Trung Bộ để bảo toàn lực lượng.

   Theo kế hoạch, địch sẽ rút trong 3 ngày: ngày 15 tháng 3 rải quân chốt bảo vệ và sửa đường 7, ngày 16 rút khỏi Kon Tum và ngày 17 rút khỏi Plei Ku. Lực lượng địch rút chạy gồm có: 6 liên đoàn biệt động quân, lữ kỵ binh 2 (3 thiết đoàn 19, 21, 3), 6 tiểu đoàn pháo, 1 tiểu đoàn thuộc trung đoàn 44, tiểu đoàn 89 liên đoàn 21, liên đoàn 20 công binh, liên đoàn 66 truyền tin, cơ quan quân đoàn 2, bộ phận sĩ quan của sư đoàn 6 không quân, 2 liên  đoàn bảo an và tàn quân các nơi chạy về. Ngoài ra còn có lực lượng đồn trú trong các căn cứ, quận lỵ, thị xã từ Phú Thiện đến Củng Sơn. Theo lệnh Thiệu, để giữ bí mật lực lượng địa phương không được thông báo ''để cho chúng chống giữ khi chủ lực rút'', còn ''địa phương quân là người Thượng thì trả chúng về với Tây Nguyên''.

   Thực hiện kế hoạch, đêm 14 rạng ngày 15 tháng 3, bộ tư lệnh quân đoàn 2 và lãnh sứ quán Mỹ ở Plei Ku tháo chạy bằng đường không về Nha Trang. Ngày 15, chúng đưa liên đoàn biệt động quân 23, thiết đoàn 21 và 1 tiểu đoàn pháo triển khai chốt giữ các điểm cao khống chế dọc đường số, từ Phú Thiện đến cầu Ơi Nu; một tiểu đoàn biệt động nống ra phía tây Cheo Reo chiếm dãy Chư Ba, bảo vệ vòng ngoài. Ngày 16, liên đoàn 6 biệt động quân, thiết đoàn 19, liên đoàn  công binh 20 từ Kon Tum, Plei Ku rút về Cheo Reo, triển khai tu sửa đường, bắc cẩu. Các liên đoàn biệt động quân 22 (ở Plei Ku), 7 (hướng đường 5a, 5b), 25 và 4 (đường 19, 20, 21) được lệnh triệt phá và tháo chạy. Địch cho nổ kho đạn ở Plei Ku, đốt phá nhiều tài liệu gây những đám cháy trong thị xã. Do đường 7 hẹp, chất lượng xấu, xe pháo địch chạy
hàng ba hàng bốn va quệt, húc đổ lẫn nhau làm cho giao thông luôn bị tắc nghẽn. Cuộc tháo chạy ngày càng lâm vào tình trạng hỗn loạn. Đây là lần đầu tiên trong cuộc chiến tranh ở Đông Dương, trong phạm vi một chiến dịch, có một quân đoàn địch được trang bị hiện đại phải bỏ địa bàn chiến lược quan trọng rút chạy.

   Về phía ta, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh đã sớm dự kiến một cuộc rút lui chiến lược của địch ở Tây Nguyên. Đêm 16 tháng 3, Đại tướng Văn Tiến Dũng thông báo địch đã rút bỏ Kon Tum, Plei Ku đang theo đường số 7 về Cheo Reo và lệnh cho Bộ tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên khẩn trương cơ động lực lượng truy kích và đánh nhanh vào Plei Ku, Kon Tum; đồng thời lệnh cho sở chỉ huy tiền phương Quân khu 5 ở Bình Định điều động bộ đội địa phương tỉnh Phú Yên lên chốt đường số 7 không cho địch chạy về Tuy Hòa.

   Chấp hành lệnh của trên, trước thời cơ tiêu diệt lớn quân địch xuất hiện, lúc 20 giờ 30 phút ngày 16 tháng 3 Bộ tư lệnh chiến dịch lệnh cho Sư đoàn 320 (được tăng cường Trung đoàn 95B, Tiểu đoàn 1 Trung đoàn xe tăng 273, Trung đoàn pháo binh 675, Trung đoàn phòng không 593) truy kích tiêu diệt dịch trên đường số 7; Sư đoàn 968 đánh chiếm Plei Ku, Kon Tum; Trung đoàn 95A đánh theo đường 19 chiếm Kon Tầng, phát triển về Lệ Trung, Plei Ku.

   Khi nhận lệnh, các đơn vị của Sư đoàn 320 và lực lượng tăng cường đang làm nhiệm vụ phân tán trên các hướng: Trung đoàn 64 (thiếu) và Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 48 đang truy quét ở Đạt Lý, Phước An; Trung đoàn 48 đứng chân ở tây Cheo Reo và Cẩm Ga; Trung đoàn 9 cơ động đánh địch ở Kênh Săn; Trung đoàn pháo binh 54, Trung đoàn phòng không 593 và sở chỉ huy Sư đoàn ở phía tây đường 14, Trung đoàn 95B (tăng cường) đang làm dự bị cho Sư đoàn 10 trên hướng dường 21. Để kịp thời chặn địch lại, tạo điều kiện cho lực lượng lớn cơ động đến tiêu diệt, 22 giờ 30 phút sư đoàn trưởng Nguyễn Kim Tuấn lệnh cho Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 64 là đơn vị đứng gần đường số 7 nhất, cơ động ngay về nam Cheo Reo chặn địch. Cũng trong đêm 16 và ngày 17 tháng 3, hậu cần chiến dịch và Sư đoàn 320 huy động 110 xe ô tô cấp tốc chở các đơn vị ở đông bắc Buôn Ma Thuột về Thuần Mẫn, rồi hành quân theo dường 7B tiến về hướng Cheo Reo.

   Đêm 16 rạng ngày 17 tháng 3, cán bộ và chiến sĩ Tiểu đoàn 9 hành quân liên tục vượt chặng đường dài gần 20km, qua nhiều dốc cao, khe sâu, rừng cây, đồi đá lởm chởm. Để chạy đua với cơ giới địch, có đoạn bộ đội phải dùng nứa làm đuốc, đốt cả quai dép cao su soi đường, bàn chân phồng rộp bật máu vẫn nén đau tiến về phía trước. 11 giờ 30 phút ngày 17 tháng 3, Đại đội 11 đi đầu đội hình Tiểu đoàn 9 đã ra đến đường số 7, cách Cheo Reo 2km về phía nam. Nhưng do trận địa chốt không đứng vị trí, Tiểu đoàn 9 được lệnh lui xuống phía nam 2km, lập trận địa mới. 16 giờ 35 phút, một đoàn xe địch lọt vào trận địa, các chiến sĩ nổ súng tiêu diệt gọn tốp xe đi đầu làm đội hình phía sau phải lùi lại, đường 7 bị cắt đứt. Ngoài số xe địch chạy thóat sáng ngày 17 về Củng Sơn, đại bộ phận lực lượng rút chạy của quân đoàn 2 - quân khu 2 nguy bị chặn lại, ùn ùn đổ về thị xã Cheo Reo.

   Trước nguy cơ bị bao vây tiêu diệt, dịch tập trung lực lượng quyết nhổ chốt của ta, mở đường máu về phía Củng Sơn. Sáng ngày 18 tháng 3, địch dùng 21 xe tăng, xe bọc thép, 25 xe chở bộ binh và 24 xe kéo pháo đánh tràn vào trận địa chốt của hai đại đội 9, 10 và trận địa phía sau của Tiểu đoàn 9 làm chiến sự diễn ra rất quyết liệt không phân tuyến, ngày càng lan rộng. Dưới sự chỉ huy kiên quyết của tiểu đoàn trưởng Nghiêm, chính trị viên Nguyễn Hữu Khản và tiểu đoàn phó Phạm Xuân Hùng, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 9 chiến đấu rất dũng cảm, đánh chặn địch ở trước chốt và trong trận địa. Ở đại đội 9, nhiều chiến sĩ lần đầu ra trận nhưng chiến đấu rất gan dạ, mưu trí, trở thành những dũng sĩ diệt xe tăng như Sẻng Vạn Vầu, Tạ Văn Kính, Nguyễn Văn Nhất, Hà Hồng Môn, Trần Văn Tuyển. Đại đội 11 có chiến sĩ Nguyễn Văn Quế vừa bổ sung về tháng 1 năm 1975, ngay từ những quả đạn đầu đã diệt 1 chiếc xe tăng M48 và 1 xe M113. Tiểu đội của Nguyễn Vi Hợi hầu hết là chiến sĩ mới lần đầu chiến đấu nhưng ai cũng lập công. Riêng tiểu đội trưởng Nguyễn Vi Hợi trong trận này diệt 6 xe bọc thép, ''bắt'' 6 xe bọc thép khác, diệt 20 tên địch và cùng đồng đội bắt 120 tên. Thấy nhân dân bị địch cưỡng ép chạy theo đói lả dọc đường, đồng chí đã tổ chức cho thanh niên đi lấy gạo, muối về cứu giúp, đồng thời vận động được trên 200 người dân trở về quê cũ, được bà con rất biết ơn mến phục. Khi xe tăng địch tràn vào vị trí chỉ huy tiểu đoàn, tất cả cán bộ, chiến sĩ trinh sát, thông tin, y tá, nuôi quân đều xông ra đánh địch, bắt được tên trung tá lữ đoàn trưởng lữ đoàn 23 biệt động quân. Sau một ngày chiến đấu quyết liệt, Tiểu đoàn 9 đã bẻ gãy ba lần phản kích của địch, diệt và bắt hàng trăm tên, hơn 50 xe tăng, xe bọc thép, thu 200 khẩu súng, giữ vững chốt, cắt triệt đường số 7, phá vỡ ý đồ dùng xe tăng bộ binh mở đường của dịch.

   Đánh ngày không được, địch chuyển sang đánh đêm. Chúng dùng máy bay C130 và Trực thăng bắn dọc hai bên đường số 7 và chiếu đèn cho xe tăng bí mật đến sát trận địa chốt của ta, rồi tất cả các xe bất ngờ bật đèn pha vừa bắn xối xả vừa chạy hết tốc độ lao qua. Nhưng thủ đoạn mới mở đường máu của địch bị Trung đoàn 64 đánh bại, gần 2.000 tên địch bị diệt và bị bắt, hơn 100 xe tăng, xe bọc thép, ô tô và hàng nghìn khẩu súng bị phá hủy và bị tịch thu, 1 máy bay trực thăng bị bắn cháy. Đặc biệt tổ vận chuyển thương binh tử sĩ của Đại đội 3 Tiểu đoàn 7 có 4 chiến sĩ khi cơ động đã phát hiện một bộ phận xe tăng, xe thiết giáp của thiết đoàn 19 và hàng trăm tên lính thuộc liên đoàn 2 biệt động quân sắp tràn vào sở chỉ huy Trung đoàn 64. Các chiến sĩ lập tức tổ chức đánh chặn. Chiến sĩ trẻ Trần Xuân Thiện dùng B40 diệt chiếc xe tăng đi đầu và bắn đứt xích 1 chiếc M113 đang bất ngờ chồm tới; sau đó cùng đồng đội dùng hỏa lực trên xe tiêu diệt địch. Với cách đánh táo bạo dũng cảm, chỉ trong hơn một giờ chiến đấu, 4 chiến sĩ đã diệt và bắt hơn 100 tên địch, bắn cháy 4 xe tăng và xe bọc thép, ''bắt'' 2 chiếc khác và 2 xe GMC. Đây không chỉ là một kỷ lục trong chiến đấu mà còn là chiến công của lòng dũng cảm, tinh thần chủ động  phối hợp, hiệp đồng tác chiến.

   Trong khi Trung đoàn 64 dựng lên ''cánh cửa thép''  ngăn chặn địch ở phía nam Cheo Reo, Sư đoàn 320 kịp thời cơ động lực lượng bộ binh và binh chủng vào chiếm lĩnh trận địa tiến công địch. Trên hướng bắc, Trung đoàn 9 phát hiện địch sắp tháo chạy đã chủ động chuyển sang tiến công làm chủ các vị trí Kênh Săn; Phú Nhơn, Mỹ Thạch, chấố chặn Chư Xê cắt đứt đường 7 và đường 14, cô lập Cheo Reo. Ở hướng tây, Trung đoàn 48 vừa cơ động đến đã tổ chức diệt bọn địch nống ra Chư Ba, dùng một tiểu đoàn cắt đường 7 ở bắc Cheo Reo 3km, lực lượng còn lại áp sát và sẵn sàng tiến công địch trong thị xã. Hướng tây nam, Trung đoàn pháo binh 54 dùng H12 bắn vào tiểu khu, trại Ngô Quyền và các cụm pháo binh, xe tăng địch ở Cheo Reo, nhanh chóng triển khai các trận địa pháo 122, 105 và 85mm. Trung đoàn pháo binh 675 và Trung đoàn phòng không 593 khẩn trương cơ động chiếm anh trận địa, triển khai đội hình chiến đấu.

   Ngày 18 tháng 3, Cheo Reo đã hoàn toàn bị cô lập và bao vây trên cả ba hướng: bắc, tây và nam, phía đông là dòng sông Ba; mọi con đường rút chạy bị cắt đứt, các mục tiêu địch nằm trong tầm súng của ta. Chiếc ''chảo khổng lồ'' thung lũng Cheo Reo với cái cán là con đường số 7 đang nóng lên từng giờ; số phận của đội quân lớn tay sai Mỹ với hàng chục ngàn tên đủ mọi sắc lính, pháo xe đã từng một thời ''hùng cứ cao nguyên Trung phần''đang được định đoạt.

   Sau khi dùng pháo bắn mạnh vào các mục tiêu địch ở Cheo Reo trong gần 8 giờ liền, đúng 17 giờ ngày  18 Trung đoàn 48 ào ạt xung phong, nhanh chóng làm chủ sân bay, trại Ngô Quyền, ty cảnh sát, đài phát thanh rồi mở đợt tiến công cuối cùng vào lực lượng co cụm của địch ở khu vục tiểu khu, giải phóng hoàn toàn thị xã Cheo Reo lúc 24 giờ cùng ngày.

   Phát huy thắng lợi, ngày 20 tháng 3 Trung đoàn 64 Sư đoàn 320 cơ động theo đường số 7 về phía đông. Trong khi Trung đoàn 64 đập tan những chốt đề kháng dọc đường, làm chủ Phú Túc và tiến về phía Củng Sơn; lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Phú Yên đã cắt giao thông đường số 7 đoạn đông Củng Sơn, giam chân một lực lượng lớn địch ở khu vực quận lỵ. Được sự phối hợp tác chiến của Tiểu đoàn 96 địa phương và Đảng bộ, chính quyền, nhân dân tỉnh Phú Yên giúp đỡ, Trung đoàn 64 nhanh chóng triển khai đội hình chiến đấu áp sát mục tiêu, nắm chắc thời cơ địch sắp tháo chạy, kịp thời chuyển sang tiến công vào chiều ngày 24 tháng 3. Địch ỷ vào quân đông, lắm xe nhiều súng ngoan cố chống cự và dùng máy bay đánh vào đội hình tiến công của  ta làm một số chiến sĩ thương vong. Nhưng các chiến sĩ Trung đoàn ''Quyết Thắng'' và Tiểu đoàn 96 địa phương kiên quyết đột phá, lần lượt làm chủ các mục tiêu: Hòn Một, Hòn Ngang, khu Sơn Tịnh, sân bay, truy kích theo đường số 5 bắt toàn bộ quân địch và 600 xe quân sự ở tây bắc ngầm sông Ba. Địch chỉ thóat được 11 xe M113 và một bộ phận liên đoàn 6 biệt động quân về thị xã Tuy Hòa.

   Ngày 24 tháng 3, cuộc truy kích thần tốc trên đường số 7 của Sư đoàn 320 và các đơn vị bộ binh, binh chủng tăng cường có sự phối hợp của quân và dân địa phương đã kết thúc toàn thắng. Chỉ trong tám ngày chiến đấu (17-24.3 ta đã diệt gọn toàn bộ tập đoàn quân địch rút chạy khỏi Tây Nguyên, Loại khỏi vòng chiến đấu hàng chục nghìn tên địch, trong đó cớ 14.729 tên lính chủ lực1, thu 5.75 súng các loại (có 79 pháo lớn), 499 máy thông tin, thu và phá 2.000 xe các loại (có 207 xe tăng, xe bọc thép), bắn rơi 6 máy bay. Để góp phần làm nên chiến thắng Cheo Reo - Củng Sơn, 56 cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh và 100 đồng chí bị thương.

   Tiếp theo hai trận then chốt giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột và đập tan lực lượng phản kích của địch trên đường 21, trận truy kích Cheo Reo - Củng Sơn là trận then chốt thứ ba của chiến dịch Tây Nguyên. Đây cũng là trận truy đuổi địch lớn nhất trong lịch sử chiến tranh cách mạng Đông Dương, là trận đánh xuất sắc nhất, ''ngoạn mục'' nhất của Đại đoàn Đồng Bằng trên chiến trường rừng núi Tây Nguyên. Ngoài ý nghĩa lớn lao về tiêu diệt sinh lực, phá hủy phương tiện chiến tranh, đập tan âm mưu co cụm lớn để giữ đồng bằng của địch, tạo điều kiện cho ta phát triển tiến công xuống duyên hải Trung Trung Bộ và miền Đông Nam Bộ; trận đánh còn để lại những kinh nghiệm quý giá về nắm thời cơ, xây dựng quyết tâm và chỉ huy chiến đấu truy kích, vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật giành thắng lợi lớn trong thời gian ngắn.

   Giữa lúc Sư đoàn 320 truy kích địch trên đường số 7, ngày 18 tháng 3 Sư đoàn 968, Trung đoàn 95A cùng lực lượng vũ trang địa phương hai tỉnh Gia Lai, Kon Tum tiến công giải phóng hoàn toàn thị xã Plei Ku, Kon Tum và các khu vực khác. Một tiểu đoàn của Sư đoàn 3 Quân khu 5 và một tiểu đoàn của Trung đoàn 95A giải phóng An Khê (22.3). Trung đoàn 271 đánh chiếm Kiến Đức và giải phóng thị xã Gia Nghĩa. Ngày 25 tháng 3 toàn bộ Tây Nguyên sạch bóng quân thù. Ước mơ cháy bỏng trong suốt 30 năm theo Đảng trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của nhân dân các dân tộc Tây Nguyên đã được thực hiện.




------------------------------------------------------------------
1. Trong số 14.729 tên lính chủ lực, có 1.044 tên chết và 13.685 tên bị bắt có 635 sĩ quan từ chuẩn  úy đến đại tá.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 12 Tháng Tư, 2021, 04:49:41 pm
*

   Tây Nguyên hoàn toàn giải phóng. Ngày 21 tháng 3, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh giao nhiệm vụ bổ sung cho Bộ tư lệnh chiến dịch Tây. Nguyên: ''Tiếp tục phát triển chiến đấu trên ba trục đường 19, 7, 21 giải phóng Phú Yên, Khánh Hòa, phối hợp với Sư đoàn 3 Quân khu 5 giải phóng Bình Định. Mục tiêu chủ yếu là diệt lữ dù 3, trung đoàn 40 ở Khánh Dương, đèo Ma ĐRắc - Phượng Hoàng và tiến xuống chiếm lĩnh Nha Trang, Cam Ranh".

   Chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tổng tư lệnh, Bộ tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên nhanh chóng tổ chức lực lượng phát triển tiến công về phía đông. Ba cánh quân: Sư đoàn 968 và Trung đoàn 95A, Sư đoàn 320, Sư đoàn 10 được tăng cường lực lượng binh chủng mạnh, như ba dòng thác lớn từ vùng cao nguyên đất đỡ ào ạt đổ về các tỉnh duyên hải phía đông theo ba trục dường 19, 7, 21 nhanh chóng nhấn chìm bọn ngụy quân, cuốn phăng bộ máy ngụy quyền mà địch đã dày công 30 năm xây dựng.

   Từ ngày 29 tháng 3 đến ngày 1 tháng 4, dưới sự chỉ huy trực tiếp của Bộ tư lệnh Quân khu 5, Sư đoàn 968 và Trung đoàn 95A cùng Sư đoàn 3 và quân dân tỉnh Bình Định liên tục tiến công tiêu diệt và làm chủ các vị trí Thủ Thiện, Lai Nghi, Phú Phong, Bình Khê, núi Trà Lam, lăng Mai Xuân Thưởng, sân bay Gò Quánh, giải phóng thị xã Quy Nhơn, vượt biển đánh chiếm các đảo Hòn Tre, Cù Lao Thu xóa sổ sư đoàn 22 - đơn vị cuối cùng của quân đoàn 2 ngụy, giải phóng hoàn toàn tỉnh Bình Định.

   Cùng thời gian này, Sư đoàn 320 và lực lượng xe tăng, pháo binh, phòng không tăng cường được quân dân tỉnh Phú Yên phối hợp giúp đỡ đã nhanh chóng diệt địch ở Hòn Một, cắt đường số 1 từ Phú Khê đến cầu Hòa Xuân, tập trung lực lượng tiến công giải phóng hoàn toàn thị xã Tuy Hòa lúc 9 giờ ngày 1 tháng 4. Ta diệt và bắt nhiều địch, thu nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh. Chuẩn tướng Trần Văn Cẩm - tư lệnh phó quân đoàn 2 kiêm tư lệnh chiến trường Phú Yên và đại tá Vi Văn Bình thanh tra quân đoàn 2 đều bị bắt làm tù binh.

   Trên hướng đường 21, từ ngày 22 tháng 3 đến ngày 1 tháng 4, Sư đoàn 10, Trung đoàn 25, Trung đoàn pháo binh 40, một tiểu đoàn xe tăng, lực lượng phòng không liên tục tiến công làm tan rã trung đoàn 40 và 4 tiểu đoàn bảo an, giải phóng Khánh Dương; sau đó tiêu diệt hầu hết lữ dù 3 địch ở đèo Ma ĐRắc - Phượng Hoàng, đập tan chiếc ''lá chắn phía tây'' Ninh Hòa của địch, ào ạt tiến xuống đồng bằng. Thừa thắng, bộ binh, xe tăng truy kích địch, đánh chiếm Dục Mỹ, Ninh Hòa, iếen theo đường số 1 giải phóng thành phố Nha Trang (2.4), quân cảng Cam Ranh (3.4).

   Ngày 3 tháng 4 năm 1975, chiến dịch Tây Nguyên kết thúc toàn thắng. Kết quả chiến dịch rất to lớn, vượt xa mức dự kiến ban đầu. Trong 30 ngày đêm liên tục tiến công, ta đã diệt và làm tan rã quân đoàn 2, một bộ phận lực lượng dự bị chiến lược, toàn bộ lực lương địch ở Tây Nguyên và hai tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa. Về đơn vị, đã diệt gọn sư đoàn 23, sư đoàn 22, lữ đoàn dù 3 cùng 7 liên đoàn biệt động quân (số 4, 6, 7, 21, 22, 23, 25), 4 trung đoàn thiết giáp (9, 8, 21, 19), 11 tiểu đoàn và 11 đại đội pháo. Tiêu diệt hầu hết và làm tan rã trung đoàn 40 của sư đoàn 22, một liên đoàn công binh và liên đoàn 24 biệt động quân. Tiêu diệt và làm tan rã 7 tiểu khu, 26 chi khu, 50 tiểu đoàn và 51 đại đội bảo an; toàn bộ dân vệ, phòng vệ dân sự, cảnh sát 7 tỉnh; đánh thiệt hại nặng sư đoàn 6 không quân. Loại khỏi vòng chiến đấu 28.514 tên lính chủ lực ngụy (diệt 4.502 tên có 165 sĩ quan, bắt 16.822 tên - có 779 sĩ quan, phóng thích 7.190 tên); thu và phá 17.183 súng các loại, 767 máy thông tin, 1.095 xe quân s ự, bắn rơi 44 máy bay, thu và phá 110 chiếc khác; thu hồi toàn bộ hệ  thống kho tàng, thiết bị chỉ huy, cơ sở h ậu cần - kỹ thuật của quân đoàn 2 và hai tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa. 

   Với thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên ta đã giải  phóng địa bàn chiến lược Tây Nguyên gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Phú Bổn, Quảng Đức và các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa với khỏang 1.600.000 dân.

   Chiến dịch Tây Nguyên đại thắng đã tạo ra sự thay đổi căn bản về so sánh lực lượng và  thế trận giữa ta và địch, dẫn đến sự sụp đổ và đột biến về chiến lược và tinh thần của  ngụy quân ngụy quyền Sài Gòn, tạo bước ngoặt quyết định đưa cuộc tiến công chiến lượt phát triển thành tổng tiến công chiến lượt trên toàn miền Nam. Qua chiến dịch, quân đội ta nói chung và bộ đội chủ lực Tây Nguyên nới riêng đã có bước trưởng thành vượt bậc về trình độ tổ chức, chỉ huy và thực hành chiến dịch tiến công hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, về nghệ thuật đánh chìm thành phố, đánh địch phản kích lớn bằng đổ bộ đường không và truy kích tập đoàn quân địch rút chạy trên địa hình rừng núi. Chiến dịch Tây Nguyên để lại nhiều bài học kính nghiệm quý báu, đóng góp xứng đáng vào kho tàng nghệ thuật quân sự Việt Nam.

   Đánh giá cao và kịp thời động viên quân và dân Tây Nguyên vừa làm nên chiến thắng vang dội, ngày 30 tháng 3 năm 1975, Quân ủy Trung ương đã gửi điện khen ngợi, bức điện có đoạn: ''Quân và dân cả nước vô cùng phấn khởi trước thắng lợi rực rỡ của quân và dân Tây Nguyên. Quân ủy Trung ương nhiệt liệt khen ngợi toàn thể cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên đã lập chiến công xuất sắc và tuyên dương công trạng của các đồng chí trong toàn quân''. Tiếp dó, Quốc Hội và Chính phủ đã tặng thưởng Huân Chương Quân công hạng nhất cho lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên và 3 sư đoàn (10, 320, 316); tặng Huân chương Quân công hạng nhì cho Sư đoàn 968 và các trung đoàn binh chủng tham gia chiến dịch; nhiều đơn vị và cá nhân được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba và Huân chương Chiến công các hạng. Những phần thưởng cao quý đó là nguồn cổ vũ động viên lớn cán bộ, chiến sĩ hăng hái thi đua giết giặc lập công trong trận quyết chiến chiến lược cuối cùng: Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 12 Tháng Tư, 2021, 04:50:47 pm
*

   Sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, so sánh lực lượng giữa ta và địch ở miền Nam đã thay đổi về căn bản. Thế và lực của ta đã hơn hẳn địch và ngày càng lớn mạnh, những điều kiện mới thuận lơi càng làm cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta tiến nhanh đến đích cuối cùng. Trong điều kiện vừa có hòa bình vừa có chiến tranh, bộ đội chủ lực Tây Nguyên sát cánh cùng quân dân địa phương bước vào nhiệm vụ mới: kiên quyết đấu tranh buộc địch phải thi hành Hiệp định Pa-ri, giữ vững và mở rộng vùng giải phóng, đồng thời tranh thủ mọi điều kiện thuận lợi để nâng cao sức mạnh chiến đấu, tích lực, tạo thế, xây dựng củng cố căn cứ địa, nắm vững thời cơ, mở chiến dịch tiến công giải phóng hoàn toàn Tây Nguyên.

   Với vai trò nòng cốt trên mặt trận đấu tranh quân sự ở địa bàn, bộ đội chủ lực Tây Nguyên nhanh chóng vượt qua những khó khăn ban đầu, kiên quyết đánh trả quân địch lấn chiến vùng giải phóng, giữ vững tuyến phòng thủ trực tiếp tiếp xúc trên hướng tây bắc Kon Tum và tây nam Plei Ku. Từ đầu mùa khô năm 1973 - 1974, ta giành lại quyền chủ động chiến trường, tìm phương thức tác chiến mới, liên tiếp giáng những đòn trừng trị nghiêm khắc và đập tan âm mưu ''hồi sức'' của địch. Những chiến thắng ở Chư Nghé, đường 5b, Lệ Ngọc, Làng Siêu, Kon Rốc, điểm cao 800, Đắc Pét, Măng Đen... đã đánh dấu bước trưởng thành mới toàn diện của bộ đội chủ lực trong tác chiến hiệp đồng binh chủng và tiến công địch trong công sự vững chắc. Bên cạnh đòn quân sự, cán bộ và chiến sĩ còn tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh pháp lý buộc địch phải thi hành Hiệp định Pa-ri; tích cực hoạt động trên mặt trận binh địch vận góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của quân và dân Tây Nguyên.

   Vừa làm tốt nhiệm vụ chiến đấu giữ vững và mở rộng vùng giải phóng, Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên triệt để tranh thủ điều kiện thuận lợi, chủ động nắm bắt những yêu cầu của chiến tranh cách mạng giai đoạn cuối,  kế thừa những kinh nghiệm về xây dựng lực lượng trong những năm trước, tập trung mọi nỗ lực xây dựng khối chủ lực Tây Nguyên theo hướng của một quân đoàn chủ lực cơ động binh chủng hợp thành. Đồng thời xây dựng lực lượng vũ trang địa phương có chất lượng ngày càng được nâng cao, số lượng hợp lý, cơ cấu cân đối đủ sức đảm nhiệm vai trò nòng cốt trong cuộc đấu tranh quân sự ở địa phương, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng.

   Cùng với chiến đấu và xây dựng, bộ đội chủ lực Tây Nguyên còn tích cực tham gia xây dựng căn cứ địa, củng cố chính quyền cách mạng cơ sở và các đoàn thể quần chúng, vận động nhân dân, khôi phục sản xuất phát triển kinh tế, văn hóa, kịp thời cứu đói và chữa bệnh cho dân; giúp đỡ lực lượng vũ trang địa phương chiến đấu bảo vệ vùng giải phóng, giữ gìn trật tự an ninh địa bàn và huấn luyện nâng cao khả năng mọi mặt.

   Những kết quả toàn diện về củng cố và phát triển lực lượng, xây dựng chính quy nâng cao sức mạnh chiến đấu và xây dựng căn cứ địa của bộ đội chủ lực Tây Nguyên trong 2 năm (1973-1974) không những đáp ứng yêu cầu chiến đấu giữ vững và mở rộng vùng giải phóng mà còn là bước chuẩn bị vô cùng quan trọng trước khi bước vào những chiến dịch lớn. Với khối chủ lực binh chủng hợp thành mạnh và lực lượng vũ trang địa phương được chuẩn bị tốt, quân và dân Tây Nguyên đã bước vào chiến dịch cuối cùng với sức mạnh dời non lấp biển, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, giải phóng hoàn toàn Tây Nguyên, mở đầu thắng lợi cuộc Tổng tiến công lịch sử mùa xuân năm 1975.

   Sau 11 năm trường kỳ, gian khổ kháng chiến, sống và chiến đấu trong tình yêu thương đùm bọc của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, đến đây Mặt trận Tây Nguyên (Chiến trường Tây Nguyên - B3) đã hoàn thành vẻ vang sứ mệnh lịch sử của mình, phát triển thành Quân đoàn 3 - quân đoàn chủ lực cơ động thứ tư của Quân đội nhân dân Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)
Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Tư, 2021, 10:18:16 am
Chương năm
      QUÂN ĐOÀN 3 THÀNH LẬP,
   THAM GIA CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH
(26.3 - 30.4.1975)


   1. Thành lập Quân đoàn 3.

   Sau Hiệp định Pa-ri, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta đang bước vào giai đoạn cuối. Để thực hiện triệt để mục tiêu chiến lược của cách mạng là đánh đổ ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc cần phải mở những chiến dịch quy mô lớn kế tiếp nhau có nhiều quân, binh chủng tham gia. Vấn đề xây dựng các quân đoàn chủ lực binh chủng hợp thành của lục quân đảm nhiệm vai trò quyết định trong các chiến dịch tiến công lớn có ý nghĩa chiến lược trở thành một yêu cầu cấp bách, tất yếu, khách quan, phù hợp với quy luật phát triển của chiến tranh và điều kiện của quân đội ta.

   Tháng 10 năm 1973, Bộ Chính trị Trung ương Đảng phê chuẩn đề nghị thành lập các quân đoàn chủ lực của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh. Ngày 24 tháng 10 năm 1973, Quân đoàn 1 (Binh đoàn Quyết Thắng) ra đời đứng chân trên miền Bắc. Trong đội hình Quân đoàn có 3 sư đoàn bộ binh 308, 312, 320B, Sư đoàn phòng không 367, Lữ đoàn xe tăng 202, Lữ đoàn pháo binh 45, Lữ đoàn công binh 299, Trung đoàn thông tin 140. Thiếu tướng Lê Trọng Tấn (Phó Tổng tham mưu trưởng) được cử làm tư lệnh và Thiếu tướng Lê Quang Hòa (Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị) làm Chính ủy Quân đoàn 1. Tiếp đó, ngày 17 tháng 5 năm 1974 Quân đoàn 2 (Binh đoàn Hương Giang) được thành lập trên chiến trường Trị - Thiên. Hợp thành quân đoàn là 3 sư đoàn bộ binh 304, 325, 324, Sư đoàn phòng không 673, Lữ đoàn pháo binh 164, Lữ đoàn xe tăng 203, Lữ đoàn công binh 219, Trung đoàn thông tin 463. Thiếu tướng Hoàng Văn Thái làm Tư lệnh và Thiếu tướng Lê Linh làm Chính ủy Quân đoàn 2. Hơn hai tháng sau, ngày 20 tháng 7 năm 1974, Quân đoàn 4 (Binh đoàn Cửu Long) được thành lập tại miền Đông Nam Bộ. Trong quân đoàn có 2 sư đoàn bộ binh (7 và 9), Trung đoàn phòng không 71, Trung đoàn pháo binh 24,  Trung đoàn đặc công 429, ba tiểu đoàn thông tin. Thiếu tướng Hoàng Cầm làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân đoàn 4. Việc hình thành các quân đoàn chủ lực binh chủng hợp thành đánh dấu bước phát triển mới cả về quy mô tổ chức lực lượng và về chất của quân đội ta sau gần 30 năm xây dựng; ta đã có đủ khả năng mở các chiến dịch tiến công bằng lực lượng binh chủng hợp thành quy mô lớn trên các hướng chiến lược, kết thúc chiến tranh.

   Trong khi tổ chức các quân đoàn 1, 2, 4 đứng chân trên các địa bàn chiến lược, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh sớm quan tâm xây dựng khối chủ lực Tây Nguyên theo hướng một binh đoàn tác chiến hiệp đồng binh chủng mạnh chuẩn bị cho những chiến dịch lớn. Khi chiến dịch tiến công có quy mô cấp quân đoàn tăng cường ở Tây Nguyên vào xuân hè 1972 kết thúc mặc dù còn nhiều khó khăn về bảo đảm hậu cần, ta vẫn duy trì một lực lượng lớn chủ lực ở đây. Từ sau Hiệp định Pa-ri, khối chủ lục B3 ngày càng được củng cố và phát triển lớn mạnh. Đến đầu năm 1974, Bộ Tổng tư lệnh đánh giá: ''Chiến trường B3 có khối chủ lực và binh khí kỹ thuật khá mạnh; có vùng giải phóng rộng và tương đối hoàn chỉnh, được sự chi viện trực tiếp của hậu phương lớn, có điều kiện hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến lược'' Cùng thời gian này, Quân ủy Trung ương chủ trương đẩy mạnh xây dựng khối chủ lực Tây Nguyên theo hướng chính quy, nâng cao khả năng tác chiến, "Tiến tới tổ chức quân đoàn ở Tây Nguyên''.

   Thực hiện chủ trương của Quân ủy Trung ương, tháng 6 năm 1974 Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết định xây dựng khối chủ lực B3 thành binh đoàn tác chiến hiệp đồng binh chủng. Các sư đoàn, trung đoàn bộ binh và binh chủng được tổ chức biên chế cơ bản và bổ  sung đầy đủ quân số, trang bị. Ba cơ quan mặt trận được kiện toàn, củng cố lại bảo đảm tinh, gọn, nhẹ, hiệu quả. Với những nỗ lực cao, toàn diện trong việc xây dựng, củng cố, huấn luyện nâng cao sức mạnh chiến đấu, đầu năm 1975 khối chủ lực B3 đã trở thành một lực lượng hùng mạnh, tiến hành thắng lợi chiến định Tây Nguyên, mở đầu cuộc Tổng tiến công chiến lược mùa xuân năm 1975.

   Ngay sau khi ta giải phóng Tây Nguyên, ngày 26 tháng 3 năm 1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Ủy viên  Bộ Chính trị, Bí thư Quân ủy Trung ương, Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ký Quyết định (số 54/QP-QĐ) thành lập Quân đoàn 3 trực thuộc Bộ Quốc phòng. Quyết định thành lập Quân đoàn đã được Đại tướng Văn Tiến Dũng công bố ngày 27 tháng 3, tại sở chỉ huy chiến dịch Tây Nguyên1. Quân đoàn 3 ra đời có ý nghĩa quan trọng, nó không chỉ kết thúc vẻ vang sứ mệnh lịch sử của Mặt trận Tây Nguyên (Chiến trường Tây Nguyên, B3) và đánh dấu sự ra đời của quân đoàn chủ lực cơ động thứ tư của Quân đội nhân dân Việt Nam, mà còn là bước phát triển mới về chất của bộ đội chủ lực Tây Nguyên.

   Ngày 27 tháng 3, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra quyết định (số 2347/NQ-TW) thành lập Đảng bộ Quân đoàn 3, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương về mọi mặt, chỉ định đồng chí Đặng Vũ Hiệp làm Bí thư Đảng ủy và đồng chí Vũ Lăng làm Phó Bí thư; đồng thời ra quyết định (số 2348/NQ) bổ nhiệm Thiếu tướng Vũ Lăng (Tư lệnh Mặt trận B3, Phó tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên) làm Tư lệnh Quân đoàn và đại tá Đặng Vũ Hiệp (Chính ủy kiêm Bí thư Mặt trận B3 và chiến dịch Tây Nguyên) làm Chính ủy Quân đoàn. Cùng ngày, Quân ủy Trung ương chỉ định 10 đồng chí làm ủy viên chính thức Đảng ủy Quân đoàn: Phí Triệu Hàm, Nguyễn Kim Tuấn, Nguyễn Quốc Thước, Lã Ngọc Châu, Bùi Huy Bổng, Hà Quốc Tỏan, Đoàn Hồng Sơn, Nguyễn Hải Bằng, Nguyễn Hữu Hưu, Nguyễn Minh Khang và 2 đồng chí ủy viên dự khuyết: Bùi Đình Hòe, Bùi Tố Tọa; đồng thời bổ nhiệm các đồng chí: đại tá Nguyễn Việt Năng , đại tá Nguyễn Kim Tuấn làm Phó tư lệnh và đại tá Phí Triệu Hàm là Phó chính ủy Quân đoàn.    Theo quyết định của Bộ Quốc phòng, buổi đầu thành lập cơ cấu tổ chức của Quân đoàn 3 bao gồm: Bộ tư lệnh, ba cơ quan: Bộ Tham mưu, Cục Chính trị, Cục Hậu cần và các đơn vị: Sư đoàn bộ binh 10, Sư đoàn bộ binh 320, Sư đoàn bộ binh 316, Trung đoàn đặc công 198, Trung đoàn pháo binh 40, Trung đoàn pháo binh 675, Trung đoàn phòng không 234, Trung đoàn phòng không 232, Trung đoàn phòng không 593, Trung đoàn xe tăng 273, Trung đoàn công binh 7, Trung đoàn thông tin 29, Trường Quân chính  và các đoàn sản xuất, thu mua.

   Tuy mới thành lập, nhung Quân đoàn 3 chính là khối bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên phát triển, trưởng thành trong giai đoạn cách mạng mới. Nhiều sư đoàn trung đoàn có lịch sử và truyền thống vẻ vang trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đều lập chiến công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, vừa hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong chiến dịch Tây Nguyên . Các thế hệ cán bộ, chiến sĩ đã 11 năm liên tục sát cánh với Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang địa phương đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi vượt qua bao gian nan thử thách, kiên trì và đẩy mạnh kháng chiến lập nên những chiến công vang dội, giải phóng hoàn toàn Tây Nguyên.

   Ba cơ quan Quân đoàn: Bộ Tham mưu, Cục Chính trị , Cục Hậu cần do ba phòng Tham mưu, Chính trị, Hậu cần Mặt trận Tây Nguyên chuyển thành. Đây là cơ quan cấp chiến dịch đã có nhiều kinh nghiệm và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ làm tham mưu cho Đảng ủy, Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên; đồng thời trực tiếp chỉ huy, tiến hành công tác đảng, công tác chính trị và bảo đảm theo chức trách trong các chiến dịch và hoạt động chiến đấu, xây dựng thường xuyên.

   *Bộ Tham mưu Quân đoàn là cơ quan chỉ huy, cơ quan trung tâm hiệp đồng với các cơ quan, các ngành, các đơn vị hữu quan, có chức năng làm tham mưu và giúp Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân đoàn về công tác quân sự. Tổ chức biên chế ban đầu của Bộ Tham mưu gồm 13 phòng, ban: Tác chiến, Quân huấn, Quân lực, Trinh Sát, Pháo binh, Phòng không, Thiết giáp, Công binh, Thông tin, Hóa học, Cơ yếu, Quản lý hành chính và Chính trị; 3 tiểu đoàn: trinh sát, cảnh vệ, trinh sát pháo binh; hai đại đội: công binh, hóa học và trạm sửa chữa thông tin. Tham mưu trưởng: đại tá Hồ Đệ; tham mưu phó: thượng tá Nguyễn Quốc Thước và thượng tá Lê Minh.

   *Cục Chính trị Quân đoàn là cơ quan đảm nhiệm công tác đảng, công tác chính trị. Tổ chức biên chế gồm 5 phòng: Tuyên huấn, Cán bộ, Tổ chức, Bảo vệ, Dân vận; hai ban: Chính sách, Tổng hợp hành chính; Viện kiểm sát, ủy ban kiểm tra Đảng ủy, Nhà Văn hóa và xưởng in. Chủ nhiệm chính trị: đại tá Thái Bá Nhiệm, phó chủ nhiệm: trung tá Nguyễn Đằng.

   *Cục Hậu cần Quân đoàn là cơ quan giúp Đảng ủy và Bộ tư lệnh Tổ chức các mặt bảo đảm hậu cần, kỹ thuật. Tổ chức biên chế gồm 10 phòng: Tham mưu kế hoạch, Chính trị, Quân nhu, Quân y, Quân khí, Quản lý xe máy, Vận tải, Doanh trại, Tài vụ, Xăng dầu; các đơn vị trực thuộc: bệnh viện, đội điều trị, vệ sinh phòng dịch, các tiểu đoàn vận tải ô tô vận tải bộ, thu dung, kho, trạm, xưởng, đội sản xuất, phân dội công binh, thông tin. Chủ nhiệm hậu cần : thượng tá Cấn Văn Tại; các phó chủ nhiệm: trung tá Đặng Văn Khóat, trung tá Lưu Sĩ Hiệp, trung tá Đỗ Thuyên.

   Ba sư đoàn bộ binh 10, 320, 316 trong đội hình Quân đoàn đều là những đơn vị vừa hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và đang phát triển chiến dịch Tây Nguyên. Đây là những sư đoàn bộ binh chủ lực tinh nhuệ, thiện chiến, lập nhiều chiến công. Với thế mạnh riêng, lại thường xuyên bổ sung hỗ trợ lẫn nhau, sức mạnh của mỗi đơn vị sẽ được nhân lên gấp bội trong ''ngôi nhà chung'' Quân đoàn 3 binh chủng hợp thành.

   * Sư đoàn bộ binh 10 (Đoàn Đắc Tô) thành lập ngày 20 tháng 9 năm 1972 tại tỉnh Kon Tum. Bộ tư lệnh Sư đoàn thuở ban đầu gồm các đồng chí: Nguyễn Mạnh Quân (Tu lệnh phó Mặt trận Tây Nguyên) là sư đoàn trưởng, Đặng Vũ Hiệp (Phó Chính ủy Mặt trận Tây Nga.yên ) làm chính ủy, Hồ Đệ sư đoàn phó, Lã Ngọc Châu - phó chính ủy. Tuy ra đời muộn so với các sư đoàn bạn trong Quân đoàn, nhưng các trung đoàn bộ binh và các tiểu đoàn binh chủng hợp thành Sư đoàn 10 đều ra đời rất sớm trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Cán bộ, chiến sĩ đã chiến đấu nhiều năm trên Chiến trường Tây Nguyên, lập nhiều chiến công. Từ khi thành lập đến đầu năm 1975, Sư đoàn tổ chức đánh nhiều trận, góp phần làm thất bại âm mưu ''tràn ngập lãnh thổ'' của địch ở tỉnh Kon Tum, từng buộc mở rộng vùng giải phóng. Trong chiến dịch Tây Nguyên, Sư đoàn được tăng cường binh khí kỹ thuật đập tan cụm cứ điểm Đức Lập, cơ động về phía đông đánh bại cuộc phản đột kích lớn của địch trên đường 21, tiêu diệt lữ dù 3 ngày ở đèo Ma ĐRắc - Phượng Hoàng, phát triển tiến công giải phóng Nha Trang, Cam Ranh hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Trong sư đoàn có Trung đoàn bộ binh 66 (Đoàn Plei Me), tiểu đoàn bộ binh 7 (Trung đoàn 66), Đại đội bộ binh 2 (Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 66), Đại đội bộ binh 10 (Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 28), Đại đội pháo binh 2 (Tiểu đoàn 32) và các đồng chí: Hoàng Khắc Dược, Lê Văn Nổ, Phạm Văn Vượng, Nguyễn Hồng Quảng được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; trong đó Đại đội bộ binh 2 Tiểu đoàn 7 hai lần được tuyên dương Anh hùng. Khi đứng trong đội hình Quân đoàn 3, Sư đoàn 10 gồm có: Bộ tư lệnh và 3 cơ quan Tham mưu, Chính trị, Hậu cần; ba trung đoàn bộ binh: 66, 28, 24, Trung đoàn pháo binh 4 và một số tiểu đoàn, đại đội trực thuộc. Bộ tư lệnh Sư đoàn: thượng tá Đoàn Hồng Sơn - sư đoàn trưởng, đại tá Lã Ngọc Châu - chính ủy, trung tá Võ Khắc Phụng sư đoàn phó, thượng tá Lưu Quý Ngữ - phó chính ủy.

    * Sư đoàn bộ binh 320A (Đại đoàn 320, Đại đoàn Đồng Bằng) thành lập ngày 16 tháng 1 năm 1951 tại đình Mống Lá, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Sư đoàn trưởng kiêm chính ủy đầu tiên: Văn Tiến Dũng. Trong kháng chiến chống Pháp, Sư đoàn 320 hoạt động ở vùng địch hậu lập nhiều chiến công cùng quân và dân đồng bằng Bắc Bộ giải phóng nhiều tỉnh. Trong kháng chiến chống Mỹ, Sư đoàn tham gia cuộc Tổng tiến công năm 1968 ở Quảng Trị, chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (1971), chiến dịch bắc Tây Nguyên và chiến dịch tổng hợp ở tây nam Gia Lai (1972), giữ vững vùng giải phóng. Trong chiến dịch Tây Nguyên (1975) Sư đoàn được tăng cường binh khí kỹ thuật hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ  truy kích địch ở đường số 7 làm nên chiến thắng Cheo Reo - Củng Sơn, phát triển tiến công giải phóng thị xã Tuy Hòa. Trong Sư đoàn có Tiểu đoàn bộ binh 9 (Trung đoàn 64), Đại đội bộ binh 11 (Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 48) và các đồng chí: Trương Công Man, Nguyễn Phú Vỵ, Đỗ Văn Châu, Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Văn Ngữ, Nguyễn Như Hoạt, Phùng Quang Thanh được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Biên chế của Sư đoàn khi thành lập Quân đoàn 3, bao gồm: Bộ tư lệnh và 3 cơ quan Tham mưu, Chính trị, Hậu cần; 3 trung đoàn bộ binh: 48, 64, 9, Trung đoàn pháo binh 54 và một số phân đội trực thuộc. Bộ tư lệnh Sư đoàn: thượng tá Bùi Đình Hòe - sư đoàn trưởng, thượng tá Bùi Huy Bổng - chính ủy, trung tá Ngô Huy Phát sư đoàn phó, thượng tá Đặng Văn Trượng - phó chính ủy.

   * Sư đoàn bộ binh 316 (Đại đoàn 316, Đoàn Bông Lau) thành lập ngày 1 tháng 5 năm 1951 tại Cốc Lùng, huyện Thóat Lãng (nay là huyện Văn Lãng), tỉnh Lạng Sơn; do đồng chí Lê Quảng Ba làm sư đoàn trưởng và đồng chí Chu Huy Mân làm chính ủy. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Sư đoàn 316 tham gia nhiều chiến dịch lớn trên chiến trường chính Bắc Bộ: Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào, Điện Biên Phủ; được Chủ tịch Hồ Chí Minh thưởng cờ ''Quyết Chiến Quyết Thắng''. Từ năm 1961 đến năm 1973, Sư đoàn làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào, tham gia các chiến dịch: Nậm Thà, Nậm Bạc, 139, Cánh Đồng Chum - Xiêng Khỏang. Trong chiến dịch Tây Nguyên mùa xuân 1975, Sư đoàn là lực lượng đột kích chủ yếu trong trận then chốt quyết định giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột. Với những thành tích đặc biệt xuất sắc, trong Sư đoàn có 7 đơn vị: Trung đoàn 174, Đại đội 11 (Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 174), Đại đội 3 (Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 148), Đại đội 9 (Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 148), Đại đội 21 (Trung đoàn 148), Đại đội 2 (Tiểu đoàn 14), Đại đội 5 (Tiểu đoàn 11) và 13 cán bộ, chiến sĩ: La Văn Cầu, Nông Văn Vương, Bế Văn Đàn, Triệu Văn Báo, Lý Văn Mưu, Đàm Văn Ngụy, Đặng Đức Song, Lương Tuyết Sơn, Đèo Văn Khổ, Hoàng Văn Vịnh, Đỗ Văn Trì, Vi Văn Pụn, Nguyễn Như Hành được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Khi đứng trong đội hình Quân đoàn 3, Sư đoàn 316 gồm có: Bộ tư lệnh và 3 cơ quan Tham mưu, Chính trị, Hậu cần; 3 trung đoàn bộ binh: 174, 149, 148, Trung đoàn pháo binh 178 và một số phân dội bảo đảm phục vụ. Bộ tư lệnh Sư đoàn: trung tá Nguyễn Hải Bằng - sư đoàn trưởng, thượng tá Hà Quốc Tỏan - chính ủy, trung tá Nguyễn Văn Thơi - sư đoàn phó, thượng tá Đoàn Độ - phó chính ủy.




-------------------------------------------------------------------
1. Lúc này sở chỉ huy chiến thành đã chuyển về tây Thuần Mẫn, gần sở chỉ huy Sư đoàn 320. Khi Đại tướng Văn Tiến Dũng công bố quyết định thành lập Quân đoàn 3, có các đồng chí: Thiếu tướng Vũ Lăng (phó tư lệnh chiến dịch), thượng tá Nguyễn Quốc Thước (phụ trách cơ quan Tham mưu chiến dịch), đồng chí Thế Nguyên (cán bộ Cục Tác chiến tăng cường làm Tham mưu phó chiến dịch), đồng chí Hoàng Dũng (Văn phòng Bộ Quốc phòng).


Tiêu đề: Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)