Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: quansuvn trong 12 Tháng Hai, 2021, 02:22:42 pm



Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Hai, 2021, 02:22:42 pm
- Tên sách: Chiến dịch Việt Bắc - Thu Đông 1947 - Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt của cuộc kháng chiến
- Tác giả:
- Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân
- Năm xuất bản: 2007
- Người số hóa: ptlinh, quansuvn


BAN CHỈ ĐẠO HỘI THẢO KHOA HỌC:

* TRƯỞNG BAN:
   Thượng tướng PHAN TRUNG KIÊN - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng

* PHÓ TRƯỞNG BAN:
   - Trung tướng PHẠM HỒNG THANH - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị
   - Thiếu tướng, PGS, TS. TRỊNH VƯƠNG HỒNG - Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam

* ỦY VIÊN:
   - Trung tướng PHẠM XUÂN THỆ - Tư lệnh Quân khu 1
   - Trung tướng ĐỖ BÁ TỴ - Ủy viên Ban Chấp hành Trung Ương Đảng, Tư lệnh Quân khu 2
   - Thiếu tướng, PGS, TS. NGUYỄN THẾ LỰC - Chánh Văn phòng Đảng ủy Quân sự Trung ương, Chánh Văn phòng Bộ Quốc phòng
   - Đại tá, PGS, TS. NGUYỄN MẠNH HÀ - Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam

* TỔ CHỨC THỰC HIỆN:
   - VIỆN LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM
   - BỘ TƯ LỆNH QUÂN KHU 1
   - BỘ TƯ LỆNH QUÂN KHU 2


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Hai, 2021, 02:23:32 pm
Lời nói đầu
   

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954), chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947, là một trong những sự kiện lịch sử có tầm chiến lược, tác động đến tiến trình của cuộc chiến tranh cách mạng Việt Nam. Đối với thực dân Pháp, đó lại là một thất bại nặng nề cả về quân sự lẫn chính trị: chiến lược "đánh nhanh, thắng nhanh" với đòn quyết định nhằm đè bẹp đối phương, nhanh chóng kết thúc chiến tranh, dựng chính quyền bù nhìn tay sai, nô dịch dân tộc ta một lần nữa, hoàn toàn bị phá sản; buộc chúng phải bị động thay chiến lược, kéo dài chiến tranh ngoài ý muốn.


Sự kiện Việt Bắc Thu - Đông năm 1947, luôn thu hút sự quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu của các nhà quân sự, chính trị, các nhà khoa học Việt Nam, Pháp và một số nước khác, suốt từ đó đến nay. Đã có rất nhiều công trình, bài viết đề cập tới sự kiện này, theo từng góc độ, khía cạnh khác nhau. Việc nghiên cứu, làm sáng tỏ thêm về chiến thắng này và vai trò căn cứ địa Việt Bắc trong kháng chiến chống thực dân Pháp, vẫn cần phải được tiếp tục bởi những giá trị của nó mang ý nghĩa lịch sử, thực tiễn quan trọng.


Nhân kỷ niệm 60 năm chiến thắng lịch sử vẻ vang đó, được sự chỉ đạo của Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam phối hợp với Bộ Tư lệnh Quân khu 1 và Bộ Tư lệnh Quân khu 2 tổ chức cuộc Hội thảo Khoạ học Chiến thắng Viêt Bắc Thu - Đông 1947 - Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt của cuộc kháng chiến.


Hơn 60 bài tham luận của các vị lãnh đạo, tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp của các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng, Tỉnh ủy, ủy ban nhân dân và Bộ Chỉ huy quân sự các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Phú Thọ, Yên Bái, Lạng Sơn; Huyện ủy và Ban chỉ huy quân sự các huyện Định Hoá, Sơn Dương; các vị lão thành cách mạng, các nhà nghiên cứu lịch sử thuộc Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hổ Chí Minh; Viện sử học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam; Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội; Khoa Lịch sử, Đại học Sư phạm Hà Nội; Đại học Sư phạm, Đại học Thái Nguyên,... đã gửi tới Ban Tổ chức Hội thảo.


Mỗi tham luận là một công trình nghiên cứu độc lập của các tác giả. Tuy đã có nhiều cố gắng, nhưng do câu thúc về thời gian; vả lại, tôn trọng thành quả nghiên cứu của các tác giả, nên khi tập hợp các bài viết thành một tập sách, có hiện tượng ở đôi chỗ số liệu, sự kiện, địa danh và tên người chưa thật thống nhất, nhất quán. Rất mong được sự cảm thông của các tác giả và bạn đọc.


Xin chân thành cảm ơn Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, các cơ quan chức năng, các cá nhân đã cộng tác, đóng góp vào sự ra đời của tập sách này.


BAN TỔ CHỨC HỘI THẢO


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Hai, 2021, 02:25:03 pm
THƯ CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP
GỬI CUỘC HỘI THẢO KHOA HỌC KỶ NIỆM 60 NĂM CHIẾN THẮNG VIỆT BẮC THU - ĐÔNG NĂM 1947


Các đồng chí thân mến!

Cách đây tròn 60 năm, vào Thu - Đông năm 1947, khi Toàn quốc kháng chiến mới diễn ra chưa đầy một năm, thực dân Pháp mở cuộc tiến công chiến lược quy mô lớn, bao gồm cả thủy, lục, không quân đánh vào Việt Bắc - căn cứ địa kháng chiến Trung ương, nhằm tiêu diệt bộ đội chủ lực của ta, phá cơ quan đầu não kháng chiến, phá hủy tiềm lực kháng chiến, khoá chặt biên giới Việt - Trung, nhằm nhanh chóng kết thúc chiến tranh trong danh dự.


Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã tiến hành cuộc phản công chiến lược trên toàn chiến trường Việt Bắc. Lực lượng vũ trang và đồng bào các dân tộc Việt Bắc, được quân và dân cả nước từ Bắc chí Nam phối hợp đã chiến đấu anh dũng và mưu trí, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, bảo vệ được các cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo kháng chiến, bảo toàn lực lượng chủ lực, đánh bại hoàn toàn chiến lược "đánh nhanh, thắng nhanh" của thực dân Pháp, buộc chúng sa lầy, bị động kéo dài chiến tranh ngoài ý muốn.


Chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947 là chiến thắng chung của cả nước, mà trực tiêp là quân, dân Việt Bắc. Chiến thắng đầu tiên ở quy mô chiến dịch ấy đã làm tăng thêm ý chí chiến đấu và củng cố lòng tin của nhân dân cả nước vào sự nghiệp kháng chiến chính nghĩa, nhất định thắng lợi.


Qua chiến thắng Việt Bắc, chúng ta có thể nêu lên những bài học quan trọng trong lãnh đạo, chỉ đạo chiến tranh - nguyên nhân trực tiếp đưa chiến dịch phản công đầu tiên đến thắng lợi:

- Đó là bài học về chủ động xây dựng căn cứ địa trước khi bước vào cuộc kháng chiến và suốt xuân - hè năm 1947. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng chỉ huy đã đặc biệt quan tâm đến xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang, bồi dưỡng cán bộ, củng cố tổ chức, tăng cường trang bị, giáo dục chính trị, nhằm nâng cao sức chiến đấu của bộ đội chủ lực, đồng thời phát triển lực lượng vũ trang địa phương, động viên quân và dân căn cứ địa Việt Bắc chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu đối phó với cuộc tiến công của địch.

- Đó là bài học biến bị động thành chủ động. Khi hàng vạn quân Pháp dùng bộ binh, xe tăng, pháo binh, không quân ồ ạt tiến công lên Việt Bắc, lúc đầu ta có bị bất ngờ, bị động, nhưng do bám sát tình hình, phân tích đúng những điểm yếu của địch, những khó khăn, nhược điểm của ta và khi bắt được kế hoạch tiến công của địch, ta đã kịp thời thay đổi kế hoạch tác chiến lúc đầu, Bộ Tổng chỉ huy đã triển khai 3 mặt trận: Đường số 2 - Sông Lô, Đường số 3 - Bắc Kạn và Đường số 4 - Lạng Sơn, chọn đúng cách tổ chức lực lượng và cách đánh thích hợp, đánh mạnh vào chỗ yếu của địch, bẻ gãy từng gọng kìm của chúng, buộc chúng phải đi đến thất bại.

- Đó là bài học về phát triển chiến tranh nhân dân lên một bước mới, tiến hành rộng rãi toàn dân đánh giặc, đánh địch bằng mọi cách, mọi thứ vũ khí có trong tay, đặc biệt là bước đầu vận dụng thực hiện phương châm: "Đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung" đã phát huy sức mạnh của bộ đội chủ lực kết hợp với lực lượng vũ trang địa phương cùng với toàn dân tiến hành chiến tranh du kích rộng rãi.


Bài học sâu sắc mà tôi cho là có ý nghĩa thời sự đối với chúng ta trong công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, đó là lãnh đạo, chỉ đạo luôn bám sát thực tiễn, dám nhìn thẳng vào sự thật về những điểm chưa đúng của ta trong đánh giá tình hình địch cũng như cách đánh lúc đầu và quyết tâm thay đổi cách nghĩ, cách hành động cho phù hợp, tức là phải dũng cảm thay đổi chủ trương khi đã thấy không phù hợp với thực tế khách quan. Nhờ vậy, chúng ta đã giành được thắng lợi.


Với thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám và chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông năm 1947, căn cứ địa Việt Bắc đã trở thành biểu tượng của niềm tin, của chiến thắng. Hai tiếng Việt Bắc thân yêu trở thành tên gọi của chiến công, đi vào lòng người, đi vào lịch sử hào hùng của dân tộc, cổ vũ toàn dân và toàn quân ta trên mọi nẻo đường kháng chiến.


Trong quá khứ, hiện tại cũng như tương lai, Việt Bắc luôn có vai trò, vị trí hết sức quan trọng đối với sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta. Vì vậy, tôi mong đồng bào các dân tộc Việt Bắc hãy nêu cao truyền thống cách mạng, nỗ lực phấn đấu tiến lên và mong Đảng, Nhà nước và đồng bào cả nước quan tâm giúp đỡ các tỉnh vùng căn cứ địa Việt Bắc phát triển giàu mạnh, sớm tiến kịp miền xuôi, tương xứng với vai trò căn cứ địa quan trọng bậc nhất của cách mạng Việt Nam. 


Nhân kỷ niệm 60 năm chiến thắng Việt Bắc, chúng ta càng tưởng nhớ đến đồng bào đồng chí đã ngã xuống trên các mặt trận Sông Lô, Đường số 3, Đường số 4, mùa khô năm 1947, đồng thời tưởng nhớ đến các liệt sĩ trên các chiến trường khác trong suốt 30 năm chiến trang giải phóng dân tộc để Tổ quốc ta có được ngày nay.


Tôi hoan nghênh Viện Lịch sử quân sự Việt Nam phối hợp với Quân khu 1 và Quân khu 2 tổ chức cuộc Hội thảo khoa học: "Chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947 - Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt của cuộc kháng chiến". Đây là một hoạt động rất có ý nghĩa để kỷ niệm chiến thắng Việt Bắc, nhằm tuyên truyền giáo dục truyền thống cách mạng cho toàn dân và toàn quân ta, nhất là cho thế hệ trẻ Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay và cả mai sau.

Chúc các đồng chí mạnh khoẻ, hạnh phúc.

Chúc Hội thảo thành công tốt đẹp.

Chào thân ái.


Hà Nội, ngày 25 tháng 10 năm 2007

Đại tướng VÕ NGUYÊN GIÁP


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Hai, 2021, 02:28:04 pm
PHÁT BIỂU KHAI MẠC HỘI THẢO
"CHIẾN THẮNG VIỆT BẮC THU - ĐÔNG 1947 - VAI TRÒ CĂN CỨ ĐỊA VÀ BƯỚC NGOẶT CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN"


Thượng tướng PHAN TRUNG KIÊN
Ủy viên Trung ương Đảng
Ủy viên QUTW, Thứ trưởng BQP
Trưởng ban Chỉ đạo Hội thảo


- Kính thưa các đồng chí lãnh đạo Trung ương và Bộ Quốc phòng

- Kính thưa các đồng chí tướng lĩnh, lão thành cách mạng

- Thưa các vị đại biểu, các nhà khoa học cùng toàn thể các đồng chí.


Trong không khí phấn khởi toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đang ra sức thi đua thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng, hôm nay Bộ Quốc phòng chỉ đạo Bộ Tư lệnh Quân khu 1, Bộ Tư lệnh Quân khu 2 và Viện Lịch sử quân sự Việt Nam tổ chức cuộc Hội thảo khoa học "Chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947 - Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt của cuộc kháng chiến". Thay mặt Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, tôi nhiệt liệt chào mừng quý vị đại biểu về dự Hội thảo quan trọng này, chúc các đồng chí dồi dào sức khoẻ, chúc Hội thảo thành công tốt đẹp.

Thưa các đồng chí!

Cách đây tròn 60 năm (Thu - Đông 1947 - 2007), trên mảnh đất lịch sử Việt Bắc - căn cứ địa kháng chiến của cả nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân Việt Bắc cùng quân dân cả nước đã anh dũng đập tan cuộc tiến công chiến lược quy mô lớn của thực dân Pháp lên Việt Bắc. Chiến thắng Việt Bắc trở thành một sự kiện lịch sử lớn của cuộc kháng chiến chống xâm lược. Với chiến thắng oanh liệt này, quân và dân ta đã đánh bại hoàn toàn chiến lược ''đánh nhanh thắng nhanh" của thực dân Pháp, đưa cuộc kháng chiến phát triển lên một giai đoạn mới.


Cùng với thời gian, chiến công của quân và dân ta trong chiến dịch Việt Bắc càng thêm sáng chói, trở thành biểu tượng của ý chí quyết chiến, quyết thắng, tinh thần chủ động, khí phách kiên cường và sức mạnh sáng tạo của chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện.


Thắng lợi của chiến dịch Việt Bắc là một thắng lợi có ý nghĩa chiến lược. Trong chiến dịch này, quân và dân ta không những tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực quan trọng của địch, làm phá sản hoàn toàn chiến lược "đánh nhanh thắng nhanh" hòng sớm kết thúc chiến tranh của địch mà còn bảo toàn cơ quan đầu não Trung ương, bảo toàn được lực lượng, phát triển lực lượng, tạo thế đưa cuộc kháng chiến bước sang một thời kỳ mới. Thắng lợi của chiến dịch Việt Bắc đã khẳng định sự đúng đắn của đường lối kháng chiến chống Pháp của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Qua chiến dịch Việt Bắc, Đảng, nhân dân và quân đội ta đã "trưởng thành trong kháng chiến, dày dạn trong gian khổ".


Cuộc Hội thảo khoa học "Chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947 - Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt của cuộc kháng chiến" hôm nay mang nhiều ý nghĩa, cả về khoa học và thực tiễn.

Cuộc Hội thảo khoa học lần này nhằm khẳng định và làm sáng tỏ thêm một số vấn đề sau:

- Âm mưu và hành động xâm lược, bản chất hiếu chiến, phiêu lưu mạo hiểm của thực dân Pháp thông qua kế hoạch tiến công lên Việt Bắc hòng phá căn cứ địa và chụp bắt cơ quan đầu não kháng chiến.

- Sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh - nhân tố quyết định thắng lợi của chiến dịch Việt Bắc, và toàn bộ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

- Tinh thần chiến đấu ngoan cường, dũng cảm, mưu trí sáng tạo của quân và dân cả nước, trực tiếp là quân và dân Việt Bắc và các lực lượng phối hợp đã tạo nên sức mạnh to lớn của cuộc chiến tranh nhân dân chiến thắng kẻ thù xâm lược trong giai đoạn đầu rất khó khăn của cuộc kháng chiến.

- Nghệ thuật chỉ đạo xây dựng và bảo vệ căn cứ địa, bảo vệ cơ quan đầu não Trung ương, nghệ thuật chỉ đạo tiến hành chiến tranh nhân dân, đặc biệt là nghệ thuật tổ chức, bảo đảm phối hợp hiệp đồng chiến đấu của quân và dân ta trong chiến dịch Việt Bắc, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh của chiến tranh nhân dân tạo nên thắng lợi to lớn trong những ngày đầu kháng chiến và trong suốt cuộc kháng chiến chống Pháp.

- Tầm vóc, ý nghĩa, nguyên nhân thắng lợi và những bài học kinh nghiệm về xây dựng, bảo vệ đất nước, vận dụng và phát huy trong sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng - an ninh nhân dân hiện nay.

Thưa các vị đại biểu và các đồng chí!

Thông qua cuộc hội thảo này, với tầm nhìn mới, tư liệu mới, chúng ta cùng nhau lý giải sâu sắc hơn nữa về sự kiện lịch sử trọng đại này, nhằm đúc kết những bài học quý báu cho hôm nay và mai sau.


Cuộc hội thảo lần này còn là một hoạt động thiết thực, góp phần giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ phát huy truyền thống cách mạng, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, ý chí tự lực, tự cường, truyền thống đại đoàn kết toàn dân trong công cuộc đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.


Trên tinh thần đó, thay mặt Ban chỉ đạo Hội thảo, tôi xin tuyên bố khai mạc cuộc Hội thảo khoa học "Chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947 - Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt của cuộc kháng chiến".

Kính chúc sức khoẻ các quý vị đại biểu và các đồng chí.

Chúc Hội thảo thu được nhiều kết quả tốt đẹp.

Xin trân trọng cám ơn!


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Hai, 2021, 02:29:57 pm
BÁO CÁO ĐỀ DẪN HỘI THẢO KHOA HỌC
CHIẾN THẮNG VIỆT BẮC THU - ĐÔNG 1947 - VAI TRÒ CĂN CỨ ĐỊA VÀ BƯỚC NGOẶT CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN


Thiếu tướng NGUYỄN VĂN ĐẠO
Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân khu 1;
nay là Trung tướng, Tư lệnh Quân khu 1


Cách đây 60 năm, ngày 7-10-1947, thực dân Pháp với mưu đồ thâm hiểm, mở cuộc hành binh chiến lược, từ 3 hướng bất ngờ tiến công lên Việt Bắc - căn cứ địa kháng chiến thần thánh của cả nước. Thực hiện chủ trương chiến lược "Đánh nhanh, giải quyết nhanh”, thực dân Pháp tiến công lên Việt Bắc Thu - Đông 1947 nhằm 4 mục tiêu cơ bản là: chụp bắt cơ quan đầu não kháng chiến, đánh quỵ chủ lực, phá hủy tiềm năng kháng chiến của nhân dân ta và dọn đường thành lập chính phủ bù nhìn Bảo Đại.


Song tham vọng thâm hiểm của kẻ thù đã bị thất bại nặng nề trước ý chí và quyết tâm cùng sức mạnh kháng chiến của quân dân cả nước nói chung và lực lượng vũ trang cùng nhân dân các dân tộc Việt Bắc nói riêng. Trải qua 75 ngày đêm anh dũng, kiên cường chiến đấu (7-10-1947 đến 19-12-1947), dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Thường vụ Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Tổng chỉ huy, quân và dân Việt Bắc đã đánh bại cuộc tiến công chiến lược của thực dân Pháp, bảo vệ an toàn căn cứ địa Trung ương và đứa cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp sang một giai đoạn mới.


Cùng với thời gian, chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947 đã trở thành biểu tượng của ý chí quyết chiến, quyết thắng, khí phách kiên cường và sức mạnh sáng tạo của chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.


Nhân kỷ niệm 60 năm chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947, thực hiện kế hoạch của Bộ Quốc phòng, tại Thái Nguyên, miền đất "Thủ đô gió ngàn" lịch sử này, dưới sự chủ trì của Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh Quân khu 1, Bộ Tư lệnh Quân khu 2 và Viện Lịch sử quân sự Việt Nam phối hợp tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề "Chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947 - Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt của cuộc kháng chiến", với mục đích:

1- Làm rõ thêm âm mưu và hành động xâm lược, bản chất hiếu chiến, ngông cuồng của thực dân Pháp, thông qua âm mưu và hành động chiến lược của thực dân Pháp tiến công lên Việt Bắc hòng chụp bắt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đánh quỵ chủ lực và phá nát căn cứ địa kháng chiến của ta để hoàn thành cuộc tái xâm lược.

2- Khẳng định và làm sáng tỏ thêm sự lãnh đạo tài tình, chỉ đạo sáng suốt của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Tổng chỉ huy; tinh thần chiến đấu anh dũng, ngoan cường, mưu trí, sáng tạo của quân dân cả nước, trực tiếp là lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc Việt Bắc, đã tạo nên sức mạnh to lớn của cuộc chiến tranh nhân dân chiến thắng kẻ thù xâm lược trong giai đoạn đầu đầy khó khăn của cuộc kháng chiến.

3- Nêu bật tầm vóc, ý nghĩa, nguyên nhân thắng lợi và những bài học kinh nghiệm về chỉ đạo xây dựng, bảo vệ căn cứ địa kháng chiến, bảo vệ cơ quan đầu não Trung ương; đồng thời làm rõ nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân, nghệ thuật chỉ đạo chiến dịch phản công, vận dụng và phát huy những bài học kinh nghiệm của chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947 vào sự nghiệp đổi mới đất nước, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quổc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Việt Bắc, miền đất địa đầu của Tổ quốc, nơi đây đã mang nhiều dấu ấn lịch sử hào hùng của ông cha ta trong quá trình dựng nước và giữ nước. Ngay sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, từ những năm 30 của thế kỷ XX, Việt Bắc đã sớm có cơ sở cách mạng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhiều cuộc đấu tranh anh dũng của nhân dân các dân tộc chống thực dân, phong kiến đã liên tục nổ ra, đỉnh cao là khởi nghĩa Bắc Sơn (25-9-1940). Tiếng súng Bắc Sơn đã báo hiệu một thời kỳ mới của cách mạng Việt Nam - thời kỳ đấu tranh chính trị kết hợp đấu tranh vũ trang giành chính quyền về tay nhân dân.


Việt Bắc là một vùng đất "địa linh, nhân kiệt", nhân dân các dân tộc có truyền thống đoàn kết, yêu nước và cách mạng và là nơi được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, sau 30 năm tìm đường cứu nước, chọn làm nơi trở về Tổ quốc để trực tiếp lãnh đạo cách mạng, tiến lên giành độc lập, tự do, cơm áo cho dân tộc.


Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, Việt Bắc - với những căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai, căn cứ địa Cao Bằng, đã trở thành "ngôi sao cách mạng", là đất đứng chân vững chắc, là nơi ra đời Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng và là căn cứ địa bàn đạp, làm nên thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Với truyền thống đó, núi rừng Việt Bắc một lần nữa lại được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn làm "Căn cứ địa" của cuộc kháng chiến trường kỳ và anh dũng của dân tộc ta chống xâm lược Pháp. Nhân dân các dân tộc Việt Bắc lại được Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng trao cho sứ mệnh lịch sử: "Cách mệnh đã do Việt Bắc mà thành công, thì kháng chiến sẽ do Việt Bắc mà thắng lợi". Và, ngay năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc của Nhà nước dân chủ cộng hoà non trẻ, với bao khó khăn, thách thức của giặc ngoại xâm, giặc đói, giặc dốt... dưới sự lãnh đạo của Đảng, Bác Hồ, lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc Việt Bắc, cùng nhân dân cả nước, đã đánh bại mưu đồ đen tối và hành động thâm hiểm của thực dân Pháp tiến công lên Việt Bắc Thu - Đông 1947, lập nên kỳ tích vẻ vang, bảo vệ vững chắc căn cứ địa, bảo toàn và không ngừng phát triển lực lượng vũ trang, đưa cuộc kháng chiến sang một giai đoạn mới.


Cuộc Hội thảo lần này có quy mô lớn, là sự kế thừa và phát triển của các kết quả nghiên cứu khoa học đã thu được trong thời gian qua, nhiều vấn đề, sự kiện lịch sử đã được kết luận, nay được làm rõ hơn với những tư liệu mới, nhận thức mới trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Trên cơ sở chủ để cuộc Hội thảo là: "Chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947 - Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt của cuộc kháng chiến", nội dung chính của cuộc hội thảo gồm những vấn đề cụ thể sau đây:

1- Bối cảnh quốc tế và trong nước: âm mưu, thủ đoạn của thực dân Pháp trong Hè - Thu 1947; chủ trương, kế hoạch quân sự và quá trình chuẩn bị của ta trước chiến dịch phản công Việt Bắc.

2- Quá trình thực hiện cuộc tiến công chiến lược của Pháp lên Việt Bắc; diễn biến, kết quả các trận đánh có ý nghĩa quan trọng, bẻ gãy các "gọng kìm" của địch, bảo vệ an toàn căn cứ địa, bảo vệ cơ quan đầu não Trung ương và các bước thực hành chiến dịch phản công của quân và dân ta trên chiến trường Việt Bắc.

3- Sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh - nhân tố quyết định thắng lợi của chiến dịch phản công Việt Bắc và toàn bộ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

4- Nghệ thuật chỉ đạo xây dựng và bảo vệ căn cứ địa, bảo vệ các cơ quan đầu não kháng chiến, nghệ thuật chỉ đạo tiến hành chiến tranh nhân dân, đặc biệt là nghệ thuật tổ chức, bảo đảm phối hợp hiệp đồng chiến đấu của quân và dân ta trong chiến dịch phản công Việt Bắc; phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân, sức mạnh của chiến tranh nhân dân tạo nên chiến thắng to lớn trong những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp.

5- Tầm vóc, nguyên nhân, ý nghĩa thắng lợi và những bài học kinh nghiệm về xây dựng, bảo vệ đất nước, vận dụng và phát huy trong sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân trong tình hình mới.


Tại cuộc Hội thảo này, Ban tổ chức đã nhận được hơn 60 báo cáo khoa học của các tướng lĩnh, các bậc lão thành cách mạng, các vị lãnh đạo Đảng, chính quyền địa phương trên địa bàn Việt Bắc, các nhà khoa học trong và ngoài quân đội.


Thông qua các báo cáo khoa học, tập trung ở 5 chủ đề của Hội thảo, chúng tôi tin tưởng rằng, các tham luận sẽ góp phần làm rõ hơn, sâu hơn, có hệ thống và đầy đủ hơn, với những tư liệu mới, nhận thức mới trong tình hình mới, về sự kiện rất quan trọng trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp, đó là sự kiện chiến dịch phản công Việt Bắc, đánh bại cuộc hành binh chiến lược của thực dân Pháp lên Việt Bắc Thu - Đông 1947.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Hai, 2021, 02:31:38 pm
CHIẾN THẮNG VIỆT BẮC THU - ĐÔNG NĂM 1947 VÀ BÀI HỌC VỀ PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TRONG XÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN HIỆN NAY


Thượng tướng PHAN TRUNG KIÊN
Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên QUTW,
Thứ trưởng Bộ Quốc phòng


Cách đây tròn 60 năm, vào Thu - Đông năm 1947, thực dân Pháp mở cuộc tiến công quy mô lớn vào căn cứ địa kháng chiến Trung ương của ta ở Việt Bắc theo ba hướng chính: đường không, đường bộ và đường thủy, với lực lượng lên tới 12.000 quân tinh nhuệ cùng nhiều phương tiện, võ khí chiến tranh hiện đại, nhằm phá tan cơ quan đầu não kháng chiến, phá hủy tiềm lực kháng chiến, tiêu diệt bộ đội chủ lực của ta; khoá chặt biên giới Việt - Trung, giành thắng lợi quân sự để thúc đẩy việc thành lập chính quyền bù nhìn trung ương, nhanh chóng kết thúc chiến tranh và lập lại ách thống trị thực dân lên đất nước ta một lần nữa.


Cuộc tiến công này của thực dân Pháp là một thử thách lớn, quyết liệt đối với toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc.


Với ý chí kiên cường, tinh thần quyết chiến, quyết thắng và trí thông minh, sáng tạo, quân và dân ta bằng nhiều biện pháp, đã từng bước làm chuyển thế trận, giành lại quyển chủ động đánh địch, đẩy địch từ thế chủ động sang thế bị động. Trải qua 75 ngày đêm chiến đấu, quân và dân Việt Bắc đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6.000 tên địch, bắn rơi 16 máy bay, bắn chìm 11 tàu chiến, ca nô, phá hủy hàng trăm xe quân sự... Bằng chiến thắng này, chúng ta đã đập tan cuộc tiến công đầy tham vọng của thực dân Pháp, bảo vệ vững chắc An toàn khu và cơ quan đầu não kháng chiến, bảo toàn lực lượng.


Thắng lợi của chiến dịch phản công Việt Bắc Thu - Đông năm 1947 có ý nghĩa lớn lao, cả về quân sự, chính trị và tinh thần trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.


1. Trong chiến dịch phản công Việt Bắc Thu - Đông 1947, chúng ta đã phát huy cao độ sức mạnh của các lực lượng võ trang, sức mạnh toàn dân, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954, diễn ra trong điều kiện nước ta vừa mới giành được độc lập. Xét về phương diện vật chất chiến tranh, chúng ta thua kém đối phương rất nhiều lần. Do vậy, để bảo vệ thành quả cách mạng, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm hoạch định đường lối kháng chiến với nội dung toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính.


Quá trình tiến hành chiến dịch Việt Bắc, quân và dân ta quán triệt rất sâu sắc đường lối chỉ đạo chiến lược này. Ngay    từ khi quân Pháp mới đặt chân lên căn cứ địa Việt Bắc, chúng đã sa vào thế trận chiến tranh nhân dân của ta. Đồng bào các dân tộc Việt Bắc một lòng nghe theo Đảng và Bác Hồ với tinh thần quyết chiến, quyết thắng, với phương thức phòng tránh và tham gia kháng chiến. Việc phá hoại đường sá, cầu cống, làm "vườn không, nhà trống", bất hợp tác với địch được tiến hành khẩn trương. Kè ngăn sông, chướng ngại vật được dựng lên ở nhiều địa điểm xung yếu. Dân quân tự vệ được huy động bố phòng, canh gác ở các An toàn khu (ATK), các địa điểm, nơi ở, nơi làm việc của các cơ quan, tổ chức Đảng, chính quyền, các kho tàng, binh công xưởng,...


Khắp nơi, ở đâu cũng có lực lượng võ trang và nhân dân địa phương bám đánh địch tại chỗ, bằng nhiều hình thức với võ khí thô sơ, tự tạo là chủ yếu, vừa tiêu hao, chia cắt lực lượng, làm chậm bước tiến quân của kẻ thù, vừa tạo thế trận tác chiến liên hoàn. Dựa trên sức mạnh chiến đấu của toàn dân và thế trận chiến tranh nhân dân, địa thế thiên hiểm rừng núi, bộ đội chủ lực bố trí hợp lý, tổ chức chiến đấu, bẻ gãy các mũi tiến công, các cuộc hành quân càn quét của địch. Với phương thức "đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung", nhiều đơn vị bộ đội được tổ chức thành các đại đội độc lập, phân tán về các địa phương để hỗ trợ và thúc đẩy phong trào chiến tranh du kích, phát động chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, bảo vệ bản làng, quê hương; vận động đồng bào triệt để thực hiện "vườn không nhà trống", bất hợp tác với địch, bảo vệ cơ sở cách mạng, kháng chiến,...


Cuộc phản công Việt Bắc Thu - Đông 1947 thực sự là cuộc chiến đấu của toàn dân, không phân biệt tiền tuyến và hậu phương. Trong chiến dịch này, ta đã triển khai được một thế trận liên hoàn, đánh giặc bằng sức mạnh của lực lượng võ trang ba thứ quân là bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân, du kích (tự vệ), phối hợp tác chiến nhịp nhàng buộc địch phải phân tán và bị động đối phó trên khắp các chiến trường, không còn khả năng tập trung đánh lớn theo ý đồ kế hoạch đã vạch ra.


Các chiến trường toàn quốc phối hợp với Việt Bắc, tuy chưa thật mạnh mẽ, nhưng khá nhịp nhàng, buộc địch phải đối phó khắp nơi, cả ở Bắc Bộ, Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ. Ở Hà Nội, đội biệt động trừ gian đã trừng trị tên Việt gian đầu sỏ Trương Đình Tri - Chủ tịch Hội đồng an dân Bắc Kỳ. Quân dân đồng bằng sông Hồng đẩy mạnh chiến tranh du kích, tiến hành tổng giải tán hội tề - chính quyền cơ sở của địch, đưa lực lượng võ trang địa phương luồn sâu vào địch hậu diệt ác trừ gian, tập kích đồn bốt. Tại Nam Bộ - nơi cách xa Việt Bắc hàng ngàn cây số, các hoạt động tác chiến và đấu tranh chính trị cũng diễn ra sôi nổi. Hàng trăm trí thức ở Sài Gòn đã cùng ký tên vào văn bản gửi Chính phủ Pháp phản đối chiến tranh, đòi đàm phán với Chính phủ Hồ Chí Minh. Công nhân, nhân dân lao động Sài Gòn - Gia Định tổ chức phá hoại cơ sở kho tàng, hậu cần của địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại. Trên chiến trường Khu 8, Khu 9, bộ đội địa phương cùng dân quân du kích đã tổ chức nhiều trận chống càn hiệu quả, diệt nhiều địch, phá hủy các phương tiện chiến tranh của chúng. Sự phối hợp tác chiến, cả nước hướng về Việt Bắc không chỉ tiêu hao sinh lực, mà còn làm cho ý chí và tinh thần của địch suy giảm, tạo thêm điều kiện thuận lợi cho quân và dân ta ở căn cứ địa Việt Bắc chiến đấu đập tan âm mưu của kẻ thù.


Có thể khắng định rằng, toàn dân đoàn kết, cả nước một lòng tâm huyết phối hợp với Việt Bắc là một nhân tố góp phần tạo nên thắng lợi của chiến dịch phản công Việt Bắc, Thu - Đông 1947. "Nó chứng tỏ một nước Việt Nam nhỏ, không có căn cứ địa chắc chắn, biên giới có thể bị bao vây, võ khí kém, nhưng với sự đoàn kết và cố gắng của toàn dân, dưới chế độ dân chủ cộng hoà, dưới sự lãnh đạo của Chính phủ Hồ Chí Minh và của Hội vẫn có thể kháng chiến thắng lợi"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 20-21).


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Hai, 2021, 02:32:33 pm
2. Bài học kinh nghiệm về sức mạnh đại đoàn kết toàn dân trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947, được vận dụng thành công trong kháng chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 -1975) và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.

Đường lối kháng chiến, đường lối quân sự của Đảng ta thể hiện sâu sắc quan điểm cơ bản: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, cứu nước là sự nghiệp của toàn dân. Tin tưởng vào nhân dân, dựa vào dân, nên trong những năm chiến tranh, Đảng đã phát động, tổ chức và không ngừng mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, dựa vào sức mạnh đoàn kết để đẩy mạnh kháng chiến. Không chỉ có quân đội, không chỉ có lực lượng vũ trang đánh giặc, mà toàn dân Việt Nam, không phân biệt già trẻ, gái trai, dân tộc, tôn giáo, đảng phái,... đều đánh giặc. Mỗi người dân là một chiến sĩ, hoặc trực tiếp cầm súng chiến đấu, hoặc tham gia phục vụ chiến đấu, tuỳ theo điều kiện và khả năng của mình. Không chỉ chiến trường mới là trận tuyến chiến đấu, mà trên cả nước, từ miền xuôi đến miền ngược, từ nông thôn đồng bằng đến đô thị, vùng tạm chiếm đến vùng tự do. Mỗi bản làng, thôn xóm, mỗi phố phường, nhà máy, công trường,... đều trở thành một "pháo đài", một trận địa chiến đấu. Ở vùng địch tạm chiếm, ở tiền tuyến, người dân yêu nước tham gia đánh giặc như một chiến sĩ, như một đội viên du kích, một nhân viên quân báo, hoặc một chiến sĩ đấu tranh trên mặt trận chính trị, một chiến sĩ binh vận, giao thông liên lạc, thông báo tin,... ở vùng tự do, ở hậu phương, người dân, bất kể là nông dân, công nhân, trí thức và các tầng lớp lao động khác, tích cực lao động làm ra của cải vật chất, sẵn sàng phục vụ tiền tuyến, sẵn sàng ra trận, động viên khuyến khích chồng con, anh em, người thân đi chiến đấu.


Sức mạnh của toàn dân đoàn kết không ngừng được phát huy dựa trên nền tảng vững chắc là liên minh công nông và trí thức. Công, nông là lực lượng trung kiên và triệt để cách mạng nhất, là chủ lực quân, đóng góp nhiều nhất và hy sinh nhiều nhất cho kháng chiến. Tầng lớp trí thức là một lực lượng yêu nước, năng động, sẵn sàng đi theo con đường cứu nước do Đảng lãnh đạo. Trong quá trình lãnh đạo kháng chiến chống thực dân Pháp và kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách thích hợp, mang lại lợi ích cho dân tộc, cho nhân dân, kết hợp hài hoà việc huy động sức dân với việc bồi dưỡng sức dân. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, chủ trương "vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”, chính sách giảm tô, cải cách ruộng đất đã mang lại quyền lợi thiết thực cho hàng triệu nông dân, đã động viên, khích lệ tinh thần của cả người ở mặt trận và người ở hậu phương. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, miền Nam tiếp tục đấu tranh trực diện với kẻ thù nhằm giải phóng miền Nam; miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện hợp tác hóa nông nghiệp, phát triển công nghiệp, từng bước xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, vừa sản xuất vừa chiến đấu. Chúng ta phát huy sức mạnh của chế độ mới, từng bước cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, động viên và kịp thời đáp ứng yêu cầu của tiền tuyến lớn miền Nam về sức người, sức của, phục vụ kháng chiến, tiến tới giành toàn thắng.


Các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc cũng cho thấy rõ: Đảng và Nhà nước ta đã huy động tối đa sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, bảo vệ vững chắc từng tấc đất thiêng liêng của ông, cha. Cũng nhờ phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, chúng ta đã giữ vững ổn định về chính trị, đưa đất nước vượt qua khủng hoảng kinh tế - xã hội và từng bước phát triển.


Cần nhận thức rằng: sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng có vai trò quyết định trong quá trình tập hợp, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân. Đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh to lớn của khối đoàn kết toàn dân vừa là yêu cầu khách quan, đồng thời là truyền thống tốt đẹp, là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của 30 năm chiến tranh giải phóng cũng như trong những năm chiến tranh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


3. Sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới đòi hỏi chúng ta không ngừng tăng cường nền quốc phòng toàn dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Xây dựng nền quốc phòng toàn dân là hoạt động của cả nước, trên mọi lĩnh vực, lấy lực lượng võ trang làm nòng cốt. Quốc phòng được thực hiện trong thời bình nhằm mục đích tự vệ, phòng thủ đất nước, nhưng phải chủ động ngăn chặn, đẩy lùi, làm thất bại mọi âm mưu của kẻ thù và sẵn sàng đánh thắng mọi quy mô, kiểu cách chiến sự chiến tranh khi xảy ra. Nghị quyết Đại hội X của Đảng xác định: "Xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững mạnh toàn diện; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng văn hóa và an ninh xã hội; duy trì trật tự, kỷ cương, an toàn xã hội; giữ vững ổn định chính trị của đất nước, ngăn ngừa, đẩy lùi và làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá, thù địch, không để bị động, bất ngờ" .


Kế thừa truyền thống "cả nước một lòng, toàn dân đánh giặc"; dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta đã vận dụng các bài học kinh nghiệm xây dựng nền quốc phòng toàn dân, tiến hành chiến tranh nhân dân, xây dựng lực lượng võ trang ba thứ quân bao gồm: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích trong kháng chiến chống thực Pháp, chống đế quốc Mỹ xâm lược vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Quan điểm của Đảng về sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân là sức mạnh tổng hợp, không phải đơn thuần hoặc chủ yếu là sức mạnh quân sự. Trong quá trình đổi mới đất nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta luôn có nhận thức đúng đắn về thế trận và tiềm lực của nền quốc phòng toàn dân. Xây dựng tiềm lực quốc phòng mạnh, đồng bộ, bao gồm nhiều yếu tố trên nhiều lĩnh vực. Sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân, của chiến tranh nhân dân, chính là sức mạnh của toàn dân đánh giặc, với lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân làm nòng cốt, dựa trên sức mạnh toàn diện của cả nước trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, xây dựng "thế trận lòng dân", phát huy được sức mạnh của khối đại đoàn kết loàn dân là nội dung cơ bản, là vấn đề mấu chốt của việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân trong điều kiện mới. Nghị quyết Đại hội X của Đảng chỉ rõ: "Xây dựng thế trận lòng dân làm nền tảng phát huy sức mạnh tổng hợp của cả nước, của toàn dân tộc và của cả hệ thống chính trị, trong đó lực lượng võ trang ba thứ quân làm nòng cốt"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Sđd, tr. 109).


Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân là vấn đề cơ bản, cốt lõi trong chiến lược phòng thủ, bảo vệ đất nước, bởi phương thức bảo vệ Tổ quốc ngày nay là cần phải kết hợp chặt chẽ đấu tranh võ trang với các hình thức đấu tranh phi võ trang, kết hợp bảo vệ với xây dựng, lấy xây dựng đất nước giàu mạnh, hoàn thành thắng lợi các mục tiêu kinh tế, chính trị và văn hoá - xã hội, coi đó là gốc của bảo vệ và bảo vệ là bộ phận hợp thành của xây dựng; xây dựng gắn với bảo vệ, bảo vệ phải nhằm mục đích xây dựng, phát triển tốt hơn. Vì vậy, nhiệm vụ củng cố quốc phòng trong tình hình mới, trước hết phải quán triệt sâu sắc quan điểm về Quốc phòng toàn dân của Đảng. Ra sức xây dựng vững chắc nền quốc phòng toàn dân - thế trận quốc phòng toàn dân, kết hợp với thế trận an ninh nhân dân. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân phải là nền quốc phòng của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; mang tính chất toàn dân, toàn diện, hiện đại và độc lập, tự chủ, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự quản lý, điều hành thống nhất của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam.


Vấn đề đặt ra là phải làm thế nào để khi cần thiết có thể nhanh chóng tổ chức và động viên được tiềm lực mọi mặt của đất nước, chuyển tiềm lực đó thành thực lực quân sự - quốc phòng, thành sức mạnh tổng hợp của nên quốc phòng toàn dân, để tiến hành chiến tranh nhân dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới. Việc củng cố quốc phòng, tăng cường xây dựng nền quốc phòng toàn dân trước hết và căn bản là phải dựa trên cơ sở chính trị ổn định và sự vững chắc của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, mà nền tảng là liên minh công nông và trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng. Chăm lo xây dựng thế trận lòng dân, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, đó là một yêu cầu cơ bản nhất của sự nghiệp xây dựng và củng cố nền quốc phòng toàn dân hiện nay. Do vậy, yêu cầu cơ bản có ý nghĩa quyết định của việc xây dựng sức mạnh quốc phòng, của "thế trận lòng dân" là khi chưa xảy ra chiến tranh thì toàn dân hăng hái lao động sản xuất, mọi công dân đều có trách nhiệm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; khi xảy ra chiến tranh thì thực hiện chiến tranh nhân dân "cả nước một lòng, toàn dân đánh giặc”, tạo ra nhiều những "tấm lưới sắt", "bức thành đồng" đánh giặc, bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng "thế trận lòng dân" là nội dung căn bản nhằm đáp ứng yêu cầu trên và cũng chỉ trên cơ sở xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc mới có điều kiện và khả năng làm thất bại thủ đoạn "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; mới nâng cao khả năng tự bảo vệ của mỗi người, của từng tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương. Đó chính là sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân.


Xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ, trang bị ngày càng hiện đại là một trong những yêu cầu cơ bản để bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới. Bài học từ chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947 vê phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân để làm nên chiến thắng là những gợi mở cho việc xây dựng nền quốc phòng loàn dân trong giai đoạn hiện nay, để xây dựng một nền quốc phòng lấy sức mạnh tổng hợp của toàn dân làm nền tảng, phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và sức mạnh của cả nước trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 16 Tháng Hai, 2021, 06:01:21 pm
SỨC MẠNH CHÍNH TRỊ - TINH THẦN CỦA QUÂN VÀ DÂN TA
TRONG CHIẾN DỊCH VIỆT BẮC THU - ĐÔNG NẰM 1947


Trung tướng PHẠM HỒNG THANH
Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị


Cách đây 60 năm (từ 7-10 đến 19-12-1947), chiến dịch phản công của quân và dân ta nhằm đánh bại cuộc hành quân lớn của thực dân Pháp lên Việt Bắc đã diễn ra và kết thúc thắng lợi.

Trong chiến dịch này, thực dân Pháp đã huy động hơn 12.000 quân, gồm 5 trung đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn dù, 2 tiểu đoàn pháo binh, 2 tiểu đoàn công binh, 3 đại đội cơ giới, 2 phi đội với 40 máy bay, 3 thủy đội xung kích với 40 tàu, xuồng chiến đấu nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não, căn cứ địa kháng chiến của ta và khoá chặt biên giới Việt - Trung. Lực lượng vũ trang nhân dân ta trong chiến dịch này có 7 trung đoàn bộ binh, 30 đại đội độc lập và dân quân du kích các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang. Nếu chỉ nhìn vào so sánh lực lượng quân sự trên chiến trường thì đối phương có ưu thế hơn ta. Chúng có lực lượng tác chiến đường không, đường thủy, đường bộ với vũ khí trang bị, phương tiện chiến tranh hiện đại. Nhưng chúng đã bị thất bại. 7.000 binh sĩ địch bị loại khỏi vòng chiến đấu; nhiều phương tiện chiến tranh và vũ khí bị ta thu và phá hủy. Ngàv 19-12-1947, đại bộ phận quân địch buộc phải rút khỏi Việt Bắc. Cơ quan đầu não và căn cứ địa kháng chiến của ta được bảo vệ vững chắc.


Đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về nguyên nhân, giá trị, ý nghĩa lịch sử của chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947 trên các phương diện nghệ thuật tác chiến chiến dịch, ý nghĩa chiến lược của chiến dịch, các nhân tố tạo nên thắng lợi của chiến dịch... Bài viết này góp phần làm rõ vai trò, sức mạnh của nhân tố chính trị - tinh thần, ưu thế tuyệt đối của quân và dân ta trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947 và trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ, cứu nước.


Thực tiễn lịch sử quân sự thế giới xưa và nay cũng như toàn bộ lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta xác nhận vai trò, ý nghĩa quyết định của sức mạnh chính trị - tinh thần. Sự giác ngộ về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, niềm tin vào tính chất chính nghĩa và thắng lợi của cuộc chiến tranh, ý chí kiên cường bất khuất, sự đồng lòng, đoàn kết chiến đấu, xả thân hy sinh vì các mục tiêu cao đẹp, tinh thần kỷ luật, trí tuệ và tài thao lược của bộ chỉ huy lãnh đạo chiến tranh..., là những yếu tố làm nên sức mạnh chính trị - tinh thần của quân và dân ta. Không có sức mạnh chính trị - tinh thần ấy thì không thể giành thắng lợi trước một đối phương có ưu thế hơn hẳn ta về vũ khí, trang bị kỹ thuật. Có thể cắt nghĩa sức mạnh chính trị - tinh thần của quân và dân ta trong chiến dịch Việt Bắc trên các nội dung sau: 


Một là, lòng yêu nước nồng nàn, ý chí giành độc lập tự do cho dân tộc và thống nhất Tổ quốc là động lực to lớn của quyết tâm chiến đấu và chiến thắng quân thù của quân và dân ta trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông năm 1947.


Sức mạnh chính trị - tinh thần trong chiến dịch Việt Bắc trước hết chính là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí giành độc lập tự do, thống nhất Tổ quốc của nhân dân ta. Lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã hun đúc nên truyền thống yêu nước, ý chí độc lập tự do, thống nhất đất nước của nhân dân ta. Đó là nguồn sức mạnh để nhân dân ta chống lại và chiến thắng những thế lực xâm lược có ưu thế về tiềm lực kinh tế, quân sự. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: Nhân dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước, đó là truyền thống quý báu. "Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó vượt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước...


Đồng bào ta ngày nay cũng rất xứng đáng với tổ tiên ta ngày trước... đều giống nhau nơi lòng nồng nàn yêu nước"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 366). Và "Đồng bào Việt Bắc gồm có Kinh, Thổ, Nùng, Thái, v.v... phong tục tập quán tuy có khác nhau ít nhiều, nhưng lòng nồng nàn yêu nước, lòng căm thù thực dân thì muôn người như một.


Lòng yêu nước của đồng bào, nhập với hình thế hiểm trở của núi sông thành một lực lượng vô địch"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 171-172). Thực tiễn lịch sử cho thấy, quân và dân các dân tộc Việt Bắc đã bước vào cuộc chiến đấu với tinh thần "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh"; "Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ". Với tinh thần, ý chí ấy quân và dân ta trong chiến dịch Việt Bắc đã mưu trí sáng tạo, kiên cường chiến đấu và đã lập nên những chiến công hiển hách.


Ý chí giành độc lập tự do và thống nhất Tổ quốc của nhân dân ta trong kháng chiến chống thực dân Pháp đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh diễn đạt ngắn gọn, đanh thép với một niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc:
   "Toàn dân Việt Nam chỉ có một lòng: Quyết không làm nô lệ,
   Chỉ có một chí: Quyết không chịu mất nước,
   Chỉ có một mục đích: Quyết kháng chiến để tranh thủ thống nhất và độc lập cho Tổ quốc.


Sự đồng tâm của đồng bào ta đúc thành một bức tường đồng xung quanh Tổ quốc. Dù địch có hung tàn, xảo quyệt đến mức nào, đụng đầu nhằm bức tường đó, chúng cũng phải thất bại"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tr. 150-151). Và "chúng ta, từ Chính phủ đến nhân dân, Nam đến Bắc, già đến trẻ, giàu đến nghèo, đều kiên quyết một lòng không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ, không chịu chia rẽ. Lực lượng của 20 triệu người vì tự do, vì Tổ quốc, vì chính nghĩa mà kháng chiến là một lực lượng tất thắng"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tr. 214-215). Đó chính là động lực tinh thần quan trọng tạo nên sức mạnh đoàn kết và ý chí quyết chiến quyết thắng, niềm tin vào thắng lợi của quân và dân ta trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông năm 1947.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 16 Tháng Hai, 2021, 06:02:00 pm
Hai là, khát vọng về xây dựng một chế độ xã hội mới, mang lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân là động lực tinh thần to lớn của quân và dân ta trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông năm 1947.


Sức mạnh của nhân tố chính trị - tinh thần của quân và dân ta trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông năm 1947 còn bắt nguồn từ khát vọng bảo vệ và xây dựng một chế độ xã hội mới mang lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Nếu như trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, biểu tượng về một chế độ xã hội tốt đẹp, công bằng, bình đẳng, bác ái, về một nhà nước mang lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân chỉ là điều mơ ước trong tâm thức của nhân dân lao động, thì sau Cách mạng Tháng Tám, hình ảnh của một chế độ xã hội mới đã trở thành hiện thực. Đây chính là động lực to lớn thúc đẩy nhân dân cả nước, quân và dân các dân tộc Việt Bắc chiến đấu hy sinh bảo vệ căn cứ địa cách mạng, bảo vệ cơ quan đầu não kháng chiến. Quân và dân ta trong chiến dịch Việt Bắc đều hiểu rõ rằng, chiến đấu bảo vệ căn cứ địa kháng chiến chính là bảo vệ chế độ xã hội mới; chiến đấu bảo vệ cơ quan đầu não kháng chiến cũng chính là bảo vệ cơ quan đầu não của một nhà nước của dân, do dân, vì dân đã mang lại cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc cho mình.


Nhìn lại lịch sử chỉ một tuần lễ sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, Chính phủ lâm thời công bố lệnh tổng tuyển cử trong cả nước. Ngày 6-1-1946, lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, toàn thể nhân dân Việt Nam phấn khởi nô nức đi bỏ phiếu bầu Quốc hội và sau đó là bầu hội đồng nhân dân các cấp theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu. Hơn 90% cử tri cả nước đi bỏ phiếu bầu những đại biểu chân chính có đủ đức, tài thay mặt nhân dân vào các cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước. Tháng 11-1946, Quốc hội khoá I đã thông qua bản Hiến pháp dân chủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Hiến pháp khắng định quyển làm chủ Nhà nước, quyền tự do dân chủ và nghĩa vụ của mọi công dân đối với Tổ quốc.


Chính phủ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã ban hành nhiều sắc lệnh mới, đạo luật mới xoá bỏ triệt để bộ máy thống trị cũ, củng cố chính quyền nhân dân các cấp, bảo vệ quyền tự do dân chủ, chăm lo ổn định và cải thiện đời sống của nhân dân. Những sắc lệnh của Chính phủ xoá bỏ sở Liêm phóng, sở Thông tin báo chí của địch... đã tạo cơ sở pháp lý cho nhân dân ta trấn áp và loại trừ bọn phản cách mạng, nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng, xây dựng và bảo vệ chính quyền của nhân dân. Trong lĩnh vực kinh tế - tài chính, Chính phủ ra sắc lệnh bãi bỏ thuế thân; phát hành tiền Việt Nam mới; ban hành các nghị định giảm thuế, miễn thuế cho các vùng bị bão lụt; ra thông tư tạm chia ruộng đất công cho dân nghèo theo nguyên tắc dân chủ; phát động phong trào đẩy mạnh tăng gia sản xuất và tiết kiệm để chống giặc đói. Trên mặt trận văn hóa - xã hội, Đảng và Chính phủ đã vận động toàn dân xây dựng nền văn hóa mới và đời sống mới, bài trừ mê tín dị đoan, xoá bỏ nạn mù chữ. Tiếng Việt chính thức được dùng trong hệ thống trường học. Công tác y tế, vệ sinh phòng bệnh được quan tâm, các bệnh viện được khôi phục và đưa vào hoạt động.


Những thành tựu trên mặt trận chính trị, mặt trận chống giặc đói, giặc dốt từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến tháng 10-1947 có ý nghĩa chính trị to lớn. Nhân dân ta được hưởng các quyền tự do, dân chủ, bình đảng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội do chế độ mới mang lại, đời sống được cải thiện, lòng tin đối với Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh không ngừng được tăng lên, hết lòng ủng hộ cách mạng và chế độ mới. Nhân dân ta nhận thức rõ hơn giá trị đích thực của độc lập tự do, của cuộc sống ấm no hạnh phúc mà chính quyền cách mạng mang lại. Do đó, khi Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương rút lên Việt Bắc để bảo toàn, xây dựng lực lượng, chuẩn bị đánh địch lâu dài, hàng chục vạn đồng bào, đông đảo đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, nhân sĩ yêu nước đã dũng cảm lên đường theo Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng căn cứ địa kháng chiến. Cán bộ, công nhân các ngành, nhân dân các dân tộc đã vượt qua mọi gian khổ, hy sinh di chuyển hàng vạn tấn máy móc, thiết bị đến vùng căn cứ địa kháng chiến. Điều đó tạo tiền đề vững chắc, quy tụ sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc nhất tề đứng dậy quyết tâm đánh bại thực dân Pháp trong chiến dịch Thu - Đông năm 1947 để bảo vệ căn cứ địa cách mạng, bảo vệ cơ quan đầu não kháng chiến - chính quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 16 Tháng Hai, 2021, 06:03:02 pm
Ba là, sự đồng lòng, phối hợp tác chiến của quân và dân cả nước là nhân tố quan trọng cổ vũ, động viên, tạo thế cho quân và dân các dân tộc Việt Bắc quyết tâm chiến đấu và chiến thắng quân thù.


Sức mạnh chính trị - tinh thần của quân và dân ta trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947 được tiếp sức bởi sự đồng lòng, phối hợp tác chiến của nhân dân cả nước. Thực tiễn chiến dịch Việt Bắc cho thấy, sức mạnh chính trị - tinh thần của quân và dân Việt Bắc thường xuyên được tiếp sức từ các bản, làng, thôn, ấp cả vùng tự do và vùng bị địch tạm chiếm ở các địa phương trong cả nước. Cùng với việc lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức quân và dân Việt Bắc chiến đấu đánh bại cuộc hành quân của địch, Trung ương Đảng, Chính phủ đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị cho các khu, cấp ủy, chính quyền địa phương đẩy mạnh chiến tranh du kích, buộc địch phải phân tán lực lượng đối phó, tạo điều kiện cho quân và dân Việt Bắc phản công tiêu diệt địch. Chấp hành chỉ thị của Đảng, Chính phủ, các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương, cùng với các đoàn thể quần chúng thanh niên, phụ nữ, từ khu, tỉnh đến huyện, xã ở vùng tự do cũng như vùng bị địch tạm chiếm đã tiến hành chiến tranh du kích, diệt ác trừ gian, động viên thanh niên tòng quân chiến đấu, đẩy mạnh sản xuất phát triển kinh tế.


Ngay sau khi quân Pháp đổ bộ lên Việt Bắc, tại Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, ta đã đẩy mạnh chiến tranh du kích, diệt tề trừ gian. Các đồn bốt xung quanh Hà Nội, đường số 5 bị ta thường xuyên đánh phá; nhiều ban tề, tổ chức bảo an, hệ thống chính quyền cơ sở của địch ta xoá bỏ. Ở miền Trung Trung Bộ, từ Đà Nẵng đến Quảng Nam, Khánh Hoà, Tây Nguyên, quân và dân ta tổ chức tiến công vào hệ thống phòng thủ của quân Pháp, giành nhiều thắng lợi, như trận đột kích vào Ninh Hoà, Cam Ranh (Khánh Hoà), Rộc Dừa (Bình Định), Xóm Lụa (Phan Thiết), ở Nam Bộ, nhiều trận phục kích, tập kích tiêu diệt địch đã diễn ra tại Sài Gòn và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Hàng trăm trí thức Sài Gòn đã cùng ký tên vào văn bản gửi Chính phủ Pháp, phản đối chiến tranh, đòi đàm phán với Chính phủ Hồ Chí Minh. Công nhân, nhân dân lao động Sài Gòn - Gia Định tổ chức phá hoại cơ sở kho tàng, hậu cần của địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại. Cuộc chiến đấu của nhân dân cả nước đã góp phần "chia lửa" với chiến trường Việt Bắc. Đồng thời, thắng lợi của các trận chiến đấu trong chiến dịch Việt Bắc đã trực tiếp góp phần cổ vũ động viên ý chí quyết tâm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của quân và dân cả nước.


Bốn là, đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo; quyết tâm chiến lược và sự vững vàng, sáng suốt, mưu lược của Đảng, Chính phủ, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhân tố quyết định khơi dậy và phát huy sức mạnh chính trị - tinh thần của quân và dân ta trong chiến dịch Việt Bắc.


Sức mạnh của nhân tố chính trị - tinh thần trong chiến dịch Việt Bắc còn bắt nguồn từ đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo; sự vững vàng, sáng suốt, mưu lược của Đảng và Chính phủ, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kịp thời đề ra đường lối kháng chiến. Chỉ thị "Toàn dân kháng chiến" của Ban Thường vụ Trung ương Đảng; "Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến" của Chủ tịch Hồ Chí Minh; tác phẩm "Kháng chiến nhất định thắng lợi" của Tổng Bí thư Trường Chinh đã xác định rõ mục đích chính trị của cuộc kháng chiến là giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, góp phần bảo vệ hoà bình thế giới. Nhiệm vụ của cuộc kháng chiến được xác định là vừa kháng chiến chống thực dân phản động Pháp xâm lược, giành độc lập và thống nhất Tổ quốc, vừa kiến quốc, xây dựng chế độ mới, chế độ dân chủ nhân dân. Lực lượng kháng chiến là toàn dân tộc, mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi thước đất là một chiến hào. Phương châm của cuộc kháng chiến là toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính. Đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo đó của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quy tụ được sức mạnh của cả dân tộc vào cuộc kháng chiến với niềm tin: Kháng chiến nhất định thắng lợi.


Thực tiễn chiến đấu ở Việt Bắc Thu - Đông năm 1947 đã chỉ rõ, có quyết tâm chiến đấu cao, nhưng phải có cách đánh mưu trí sáng tạo thì mới biến quyết tâm tiêu diệt địch thành hiện thực. Không có cách đánh đúng, mưu trí sáng tạo thì dù có tinh thần cao cũng không thê giành được thắng lợi, có khi bị tổn thất nặng nề. Trong chiến dịch Việt Bắc, nắm vững âm mưu, ý đồ của địch, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định đúng cách đánh chiến dịch, trên cơ sở đó đã phát huy trí tuệ của quân và dân ta, tìm tòi sáng tạo cách đánh hay để vừa tiêu diệt được địch, vừa bảo vệ và hạn chế đến mức thấp nhất những tổn thất của ta và do đó mà không ngừng củng cố ý chí quyết tâm chiến đấu, thực hiện càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng.


Khi thực dân Pháp mở cuộc hành quân lên Việt Bắc, ngày 15-10-1947, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra chỉ thị phải phá tan cuộc hành quân mùa đông của giặc Pháp. Đảng nhận định: "Địch càng dàn quân ra càng mỏng lực lượng. Chúng đem quân lên mạn ngược là một dịp cho ta để đánh chúng ở miền xuôi. Chúng đóng quân nơi xa càng dễ cho ta bao vây chúng và chặt đường tiếp tế, đánh chúng một cách rất có lợi trong khi chúng vận động"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Tập 8, Hà Nội, 2000, tr. 318-320). Từ đó Đảng đề ra nhiệm vụ: "Đánh mạnh dưới đồng bằng Bắc Bộ và Trung Bộ, khiến cho địch không thể đánh Việt Bắc"; "giam chân, chặt đứt giao thông, liên lạc giữa các cứ điểm của địch, không cho chúng tiếp ứng và tiếp tế; củng cố căn cứ địa về mặt hành chính, dân vận, quân sự, kinh tế... quân sự hóa các cơ quan hành chính; củng cố bộ máy hành chính và kháng chiến ở vùng địch kiểm soát"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Tập 8, Hà Nội, 2000, tr. 318-320).


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 16 Tháng Hai, 2021, 06:03:35 pm
Kế thừa nghệ thuật đánh giặc giữ nước của ông cha và lý luận quân sự Mác - Lênin, từ thực tiễn chiến đấu của quân và dân ta trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến, do vũ khí, trang bị, lực lượng của ta lúc bấy giờ còn hạn chế, Đảng và Chủ tịch Hồ Chi Minh đã xác định, trong chiến dịch này ta không thể dùng "trận địa chiến" theo kiêu dàn trận mà phải dùng cách đánh du kích, đánh địa lôi. Tư tưởng chỉ đạo tác chiến trong chiến dịch Việt Bắc là quán triệt tư tưởng tiến công, lấy ít thắng nhiều, triệt để dùng du kích chiến, vận động chiến để tiến công địch; triệt để phá giao thông, hạn chế khả năng cơ động của địch, tạo thế chia cắt, bao vây địch; đánh địch một cách chủ động, kiên quyết, linh hoạt, bí mật, bất ngờ. Theo tư tưởng chỉ đạo tác chiến đó, các trận đánh trong chiến dịch ngoài công sự với những hình thức chiến thuật là phục kích, tập kích. Quán triệt và thực hiện sáng tạo cách đánh đó quân và dân các dân tộc Việt Bắc đã phát huy sức mạnh của các lực lượng vũ trang mưu trí anh dũng chiến đấu tiêu diệt địch. Việt Bắc đã trở thành mồ chôn giặc Pháp với những địa danh đã đi vào lịch sử như Bình Ca, Thất Khê, Bông Lau, Chợ Mới, Chợ Đồn, Vũ Nhai, Tràng Xá...


Quyết tâm chiến lược và tư tưởng chỉ đạo tác chiến của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là kim chỉ nam cho mọi hoạt động tác chiến của quân và dân ta trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông năm 1947. Nói về nguyên nhân thắng lợi của chiến dịch này, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Chính phủ, sự điều khiển khôn khéo của Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng chỉ huy, sự dũng cảm của tướng sĩ Vệ quốc quân và dân quân du kích, nhờ sự hăng hái của toàn thể đồng bào, mà ta đã đánh tan cuộc tấn công vào Việt Bắc của thực dân Pháp"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Sđd, tr. 367).


Không những xác định quyết tâm chiến lược, đề ra cách đánh chiến dịch đúng đắn sáng tạo, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều hình thức biện pháp xây dựng và động viên chính trị - tinh thần làm cho quân và dân các dân tộc Việt Bắc quán triệt và thống nhất những quan điểm, nội dung cơ bản, tư tưởng chỉ đạo tác chiến và cách đánh chiến dịch. Công tác xây dựng và động viên chính trị - tinh thần trong chiến dịch Việt Bắc đã tập trung tuyên truyền giáo dục cho các lực lượng tham gia chiến dịch quán triệt quyết tâm của thực dân Pháp lên Việt Bắc. Làm cho bộ đội hiểu rõ vị trí, ý nghĩa chiến lược của chiến dịch đổi với quá trình phát triển của cách mạng và kháng chiến; nhận rõ nhiệm vụ của các lực lượng tham gia chiến dịch; những điểm mạnh và điểm yếu chí mạng của đối phương khi chúng mở cuộc hành quân lên Việt Bắc và cách đánh thắng chúng. Công tác giáo dục cổ vũ động viên đã được tiến hành một cách liên tục, bằng nhiều biện pháp, hình thức gắn liền với các giai đoạn, cả lúc thuận lợi cũng như khi khó khăn trong suốt chiến dịch. Trong suốt chiến dịch, Trung ương Đảng, Chính phủ, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những chỉ thị quan trọng, những lời kêu gọi kịp thời để cổ vũ ý chí, quyết tâm chiến đấu của quân và dân Việt Bắc để thực hiện mục tiêu chiến dịch. Công tác động viên chính trị, tuyên truyền cổ động, văn hóa văn nghệ đã thông tin chính xác, kịp thời tin chiến thắng, tình hình kháng chiến kiến quốc, những thắng lợi của ta trên toàn quốc. Nhờ làm tốt công tác xây dựng và động viên chính trị - tinh thần, lòng tin và quyết tâm chiến đấu của quân và dân ta được củng cố, giữ vững trong suốt chiến dịch Việt Bắc.


Thắng lợi của chiến dịch Việt Bắc là một thắng lợi có ý nghĩa chiến lược. Trong chiến dịch này, quân và dân ta không những bảo vệ vững chắc căn cứ địa và cơ quan đầu não kháng chiến của cả nước, mà còn bảo toàn được lực lượng, phát triển bộ đội chủ lực, tạo thế đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước sang một thời kỳ mới. Thắng lợi của chiến dịch Việt Bắc đã khẳng định sự đúng đắn của đường lối kháng chiến chống Pháp của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Qua chiến dịch Việt Bắc, Đảng, nhân dân và quân đội ta đã "trưởng thành trong kháng chiến, dày dạn trong gian khổ".


Sức mạnh chính trị - tinh thần của quân và dân ta trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947 là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí giành độc lập tự do thống nhất Tổ quốc. Với sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, sức mạnh ấy đã được nâng lên đạt đến đỉnh cao chói lọi trong chiến tranh nhân dân giải phóng. Điều rút ra từ đây là, sức mạnh chính trị - tinh thần chỉ được phát huy mạnh mẽ khi lý tưởng và mục tiêu chiến đấu của Đảng, Nhà nước và của toàn dân tộc là hoàn toàn thống nhất. Đó là cội nguồn của sức mạnh chính trị - tinh thần trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông năm 1947, của những thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta trong chiến tranh giải phóng dân tộc, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay cũng như mai sau.


Để xây đắp và phát huy sức mạnh chính trị - tinh thần trong sự nghiệp đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay, cần phải giáo dục, bồi dưỡng lòng yêu nước, ý chí kiên cường, lòng tự hào, tự tôn dân tộc cho mọi người dân. Phải chuyển ý chí chiến đấu vì độc lập tự do cho dân tộc và thống nhất Tổ quốc trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông năm 1947 thành ý chí quyết tâm xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Phải làm cho mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh thành ý chí của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, thành hiện thực sinh động trên đất nước ta. Đây là điểm cốt lõi của sức mạnh chính trị - tinh thần để nhân dân ta chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu, chiến thắng mọi kẻ thù của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ mới.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 16 Tháng Hai, 2021, 06:05:34 pm
VIỆT BẮC TỪ SAU NGÀY TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN
ĐẾN TRƯỚC CUỘC TẤN CÔNG THU - ĐÔNG NĂM 1947 CỦA THỰC DÂN PHÁP


PGS, TS. NGUYỄN VĂN NHẬT
Viện trưởng Viện Sử học, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam


Địa danh Việt Bắc - phần lãnh thổ phía Bắc của nước Việt Nam, xuất hiện trong thời kỳ vận động Cách mạng Tháng Tám, bao gồm các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc, nơi có nhiều đồng bào các dân tộc ít người cùng chung sống, là căn cứ địa vững chắc của cách mạng Việt Nam.


Tên gọi Việt Bắc được sử dụng thành văn đầu tiên trong cuốn sách Kinh nghiệm Việt Minh ở Việt Bắc, xuất bản năm 1944 của đồng chí Võ Nguyên Giáp. Sau đó, địa danh Việt Bắc được sử dụng rộng rãi trong nhiều tài liệu và báo chí của Đảng và Mặt trận Việt Minh.


Từ ngày 4-11-1949, địa danh Việt Bắc lần đầu tiên được Nhà nước đặt tên chính thức là cấp hành chính Liên khu với tên gọi Liên khu Việt Bắc, bao gồm các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Bắc Kạn, Cao Bằng, Hà Giang, Hải Ninh, Hồng Gai (Đặc khu), Lạng Sơn, Lào Cai, Phú Thọ, Phúc Yên, Quảng Yên, Sơn La, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Vĩnh Yên và Yên Bái1 (Sắc lệnh 127/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 4-11-1949, thành lập Liên khu Việt Bắc trên cơ sở hợp nhất Liên khu I và Liên khu X. Có tài liệu ghi có cả châu Mai Đà (Hòa Bình) và tỉnh Lai Châu).


Sau thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc (1952), 4 tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Sơn La và Lai Châu tách khỏi Liên khu Việt Bắc để thành lập Khu Tây Bắc1 (Sắc lệnh134/SL ngày 28-1-1953 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký).


Nhân dân các dân tộc Việt Bắc có lòng yêu nước và truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường. Từ khi thực dân Pháp xâm lược Tổ quốc Việt Nam, cùng với nhân dân cả nước, nhân dân các dân tộc Việt Bắc đã anh dũng đứng lên chống xâm lược, nhất là từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng.


Khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, nhất là khi phát xít Nhật kéo vào Đông Dương, phong trào cách mạng của đồng bào các dân tộc Việt Bắc chuyển sang một giai đoạn mới.


Năm 1941, khi về nước, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã chọn Cao Bằng làm căn cứ để trực tiếp chỉ đạo cách mạng Việt Nam. Trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc và theo sự phát triển của cách mạng, căn cứ dần được mở rộng ra các tỉnh Bắc Kạn, Lạng Sơn, rồi tiếp đến Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang, Bắc Giang, Vĩnh Yên... Đến trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Khu Giải phóng ở Việt Bắc đã được thành lập gồm 6 tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Hà Giang, Lạng Sơn, Thái Nguyên và Tuyên Quang (4-6-1945). Ủy ban lâm thời Khu Giải phóng được thành lập do lãnh tụ Hồ Chí Minh đứng đầu và ban hành 10 chính sách lớn trong Khu. Một nước Việt Nam mới thu nhỏ đã ra đời trên địa bàn của các dân tộc vùng Việt Bắc. Cũng tại Khu Giải phóng Việt Bắc, ngày 13-8-1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào quyết định Tổng khởi nghĩa. Ngay đêm 13-8, Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc được thành lập và ra Quân lệnh số 1 hạ lệnh Tổng khơi nghĩa. Đại hội Quốc dân Tân Trào ngày 16-8-1945 bầu ra Ủy ban Dân tộc Giải phóng tức Chính phủ lâm thời do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.


Ngày 16-8-1945, các lực lượng Giải phóng quân từ Tân Trào (Tuyên Quang) được lệnh tiến đánh Thái Nguyên, mở đường tiến về Hà Nội, mở đầu cho cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 giành độc lập cho dân tộc Việt Nam.


Như vậy, Việt Bắc hiểu nghĩa rộng là vùng trung du và miền núi phía Bắc Tổ quốc và cụ thể hơn là vùng căn cứ địa cách mạng Cao - Bắc - Lạng - Thái - Tuyên - Hà. Nơi đây là chiếc nôi của cách mạng, nhân dân các dân tộc Việt Bắc đã nuôi dưỡng, che chở cách mạng từ những ngày còn trứng nước cho đến khi Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.


Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954, Việt Bắc vẫn mang ý nghĩa ấy và thực sự là cơ quan đầu não, là linh hồn và là Thủ đô kháng chiến.


Với âm mưu "Quyết tâm cướp nước ta một lần nữa", ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố độc lập ngày 2-9-1945, ngày 23-9, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Nam Bộ. Cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta, mở đầu là nhân dân Nam Bộ, lại tiếp tục.


Sau nhiều nỗ lực của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta nhằm kiềm chế chiến tranh không thành, ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến.


Việc thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta dự báo trước. Đi đôi với việc xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng; đẩy mạnh tăng gia sản xuất, ổn định đời sống nhân dân, Đảng ta đã chú ý tăng cường xây dựng lực lượng vũ trang, xâv dựng căn cứ địa kháng chiến, chuẩn bị mọi điều kiện để tiếp tục cuộc kháng chiến lâu dài.


Nhận rõ hậu phương - căn cứ địa là nhân tố thường xuyên, quyết định thắng lợi của chiến tranh, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã sớm chú trọng xây dựng căn cứ chiến lược cho cuộc kháng chiến toàn quốc. Và một lần nữa Việt Bắc - cái nôi của cách mạng giải phóng dân tộc, lại được chọn làm căn cứ đầu não của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.


Miền rừng núi Việt Bắc hiểm trở là nơi cất giấu kho tàng, che chở bộ đội, cán bộ, đồng thời ngăn chặn sự bao vây quân thù. Địa thế Việt Bắc rất thuận lợi cho chiến tranh du kích phát triển, chiến tranh toàn dân mở rộng. Những nương đồi, thung lũng đất đai màu mỡ, tài nguyên khoáng sản phong phú của Việt Bắc, cùng sự lao động cần cù của đồng bào các dân tộc là nhân tố quan trọng đảm bảo cung cấp một phần lương thực, thực phẩm cho cán bộ Trung ương, cho lực lượng vũ trang, đáp ứng nhu cầu của cuộc kháng chiến.


Nhân dân các dân tộc Việt Bắc vốn có truyền thống cách mạng, được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh giáo dục, rèn luyện từ những ngày chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền, có cơ sở chính trị quần chúng vững chắc, có lực lượng vũ trang đông đảo, có chính quyền nhân dân các cấp, đảm bảo đủ các yếu tố để xây dựng thành căn cứ kháng chiến của cả nước.


Đối với kẻ địch, điều kiện tự nhiên Việt Bắc trở ngại cho tác chiến chính quy, hiện đại, hiệp đồng lớn, hạn chế hiệu quả của vũ khí, khí tài hiện đại, khó khăn cho việc vận chuyển lực lượng lớn và tiếp tế lương thực.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 16 Tháng Hai, 2021, 06:06:21 pm
Sau ngày Tổng khởi nghĩa Tháng Tám thắng lợi, với tầm nhìn xa, trông rộng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cử đồng chí Phạm Văn Đồng và một số cán bộ ở lại Việt Bắc giúp đồng bào xây dựng cuộc sống mới, qua đó củng cố thêm căn cứ địa cách mạng để làm hậu phương vững chắc nếu chiến tranh xảy ra.


Tháng 10-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh cử một phái đoàn Chính phủ, do đồng chí Nguyễn Lương Bằng dẫn đầu, lên Việt Bắc tiếp tục chuẩn bị căn cứ địa, trước hết là tìm địa điểm cho cơ quan lãnh đạo và di chuyển máy móc, lương thực, thực phẩm, vũ khí... dự trữ cho kháng chiến. Vùng giáp ranh giữa ba tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn, Tuyên Quang, bao gồm huyện Định Hóa (Thái Nguyên), nam Chợ Đồn (Bắc Kạn), Sơn Dương, Chiêm Hóa (Tuyên Quang), được chọn để xây dựng An toàn khu của Trung ương. Đó là những nơi "tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ" như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh.


Khi nguy cơ chiến tranh tới gần, tháng 11-1946, Đội công tác đặc biệt của Trung ương, do đồng chí Trần Đăng Ninh phụ trách, tiếp tục được cử lên Việt Bắc. Đội đã tiến hành những công việc cần thiết phục vụ cuộc tổng di chuyển; dự kiến và bố trí đường đi, nơi ở, nơi đặt cơ quan, công xưởng, kho tàng... Thị xã Bắc Kạn và một số địa điểm như Điềm Mặc, Phú Bình, Yên Thông (Định Hóa, Thái Nguyên) được chọn làm nơi làm việc của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và quân đội. Nơi đây được xây dựng thành An toàn khu (ATK) của Trung ương và của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.


Tháng 3-1947, các cơ quan Đảng, Chính phủ, Mặt trận, quân đội cùng hàng chục vạn đồng bào, cán bộ, chiến sĩ từ các hướng tập trung lên Việt Bắc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ở và làm việc nhiều nơi ở Việt Bắc. Thời gian đầu, Người làm việc tại Sơn Dương (Tuyên Quang), sau đó chuyển sang Định Hóa (Thái Nguyên). Định Hóa trở thành An toàn khu Trung ương bao gồm địa bàn 4 xã Phú Bình, Điềm Mặc, Thanh Định, Định Biên kế liền trong một thung lũng rộng lớn. Tại đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt cơ quan làm việc tại Khau Tý (xã Điềm Mặc), nơi có đường mòn đi Sơn Dương, xuống Đại Từ, lên Chợ Đồn, ra Phú Lương và nhiều lối tắt kín đáo, thuận lợi. Đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh ở và làm việc tại xóm Phong Hiển, xã Điềm Mặc. Các đồng chí Tôn Đức Thắng, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Lương Bằng... cùng các cơ quan Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Trung ương Quân ủy, Bộ Quốc phòng đóng tại An toàn khu cho đến ngày kháng chiến chống Pháp thành công.


Các công binh xưởng, xí nghiệp, nhà máy cũng lần lượt được chuyển lên căn cứ địa. Hàng vạn tấn máy móc, nguyên vật liệu được phân tán ra các vùng để tiếp tục sản xuất phục vụ cuộc kháng chiến. Hàng vạn tấn lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm khác, bằng nhiều phương tiện khác nhau, đã được chuyển dần lên Việt Bắc, đáp ứng yêu cầu cho nhân dân và lực lượng kháng chiến. Gần 63.000 đồng bào vùng xuôi tản cư lên Việt Bắc được phân chia về các thị xã, thị trấn, làng bản, dần dần ổn định cuộc sống.


Tuy vậy, như chúng ta đã biết, sau Cách mạng Tháng Tám thành công, nước ta gặp muôn vàn khó khăn: sản xuất đình đốn, tài chính kiệt quệ, đời sống nhân dân gặp khó khăn... Chính phủ và nhân dân ta chưa kịp có thời gian khắc phục hậu quả thiên tai, nạn đói, khôi phục sản xuất, thì kẻ thù đã tấn công xâm lược từ Nam ra Bắc. Cuộc chiến tranh từ cục bộ lan ra cả nước, rồi kháng chiến toàn quốc bùng nổ.


Địch chiếm đóng tất cả các vùng đồng bằng màu mỡ và giàu có. Việt Bắc - vùng rừng núi và trung du Bắc Bộ kinh tế kém phát triển, mang nặng tính tự cung tự cấp, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân còn nhiều hạn chế.


Để Việt Bắc trở thành căn cứ cách mạng, Thủ đô kháng chiến, công tác xây dựng và bảo vệ được khẩn trương triển khai.

- Về chính trị, trên cơ sở chính quyền các cấp đã được xây dựng trước và sau Cách mạng Tháng Tám, Trung ương Đảng chỉ đạo các địa phương củng cố, kiện toàn để các cấp chính quyền, Mặt trận, các tổ chức đoàn thể phát huy hiệu lực, động viên sức dân phục vụ sự nghiệp kháng chiến. Công tác xây dựng Đảng cũng được coi trọng với việc phát triển thêm nhiều tổ chức cơ sở và đội ngũ đảng viên. Đến cuối năm 1947, toàn khu Việt Bắc có tói hơn 20.700 đảng viên, trong đó có gần 9.700 đảng viên là người thuộc các dân tộc thiểu số.

- Về kinh tế, việc tăng gia sản xuất được đẩy mạnh. Năm 1947, Việt Bắc trồng cấy được 379.289 ha lúa, ngô, khoai, sắn; thu hoạch 450.000 tấn lương thực.

- Về văn hóa, giáo dục, tại căn cứ Việt Bắc ta đã xây dựng 4 trường trung học, 741 trường tiểu học, phát triển mạnh các lớp bình dân học vụ, xóa nạn mù chữ cho hơn 150.000 người. Cuộc sống mới, với đời sống văn hóa lành mạnh, phong phú, được xây dựng khắp các địa phương ở Việt Bắc.

- Về lực lượng vũ trang, đây là lực lượng trực tiếp chiến đấu và quyết định thành bại của cuộc chiến tranh, tuy đã được chú ý xây dựng, song còn quá nhỏ bé, trang bị vũ khí còn thô sơ và thiếu thốn, trình độ tác chiến còn hạn chế.


Do vậy, bước vào cuộc kháng chiến trực tiếp chống thực dân Pháp xâm lược, xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang là nhiệm vụ quan trọng trước hết đối với các khu, các tỉnh.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 16 Tháng Hai, 2021, 06:07:12 pm
Quán triệt quan điểm chiến tranh nhân dân, đường lối vũ trang toàn dân, các cấp ủy Đảng từ khu đến tỉnh, huyện, xã đã coi trọng việc xây dựng lực lượng vũ trang làm nòng cốt cho chiến tranh nhân dân. Chỉ trong một thời gian ngắn, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ đều được tăng cường về số lượng và chất lượng, đáp ứng yêu cầu sẵn sàng chiến đấu tại chỗ cũng như cơ động chiến đấu. Ở các tỉnh Việt Bắc, đến giữa năm 1946, mỗi huyện đều có 1 trung đội du kích tập trung, có huyện có 1 đến 2 trung đội du kích thoát ly và 1 trung đội cảnh vệ; mỗi tỉnh có 1 trung đoàn và 1 đại đội cảnh vệ. Tỉnh Lạng Sơn có Trung đoàn 125, Cao Bằng có Trung đoàn 74, Bắc Kạn có Trung đoàn 23, Thái Nguyên và Phúc Yên có Trung đoàn 22, Hà Giang và Tuyên Quang có Trung đoàn 112 và Trung đoàn Sông Lô. Bình quân mỗi tỉnh, lực lượng vũ trang lên tới hơn một vạn người. Đó là chưa kể các đơn vị chủ lực của Khu và Bộ đóng trên địa bàn Việt Bắc.


Sự lãnh đạo của Đảng trong lực lượng vũ trang được kiện toàn. Hệ thống cơ quan chính trị hình thành. Cấp Khu có ủy viên chính trị, Phòng chính trị; trung đoàn, tiểu đoàn có Ban và Tiểu ban công tác chính trị. Bên cạnh người chỉ huy, các cấp từ trung đội trở lên đều có Chính trị viên.


Lực lượng dân quân du kích và tự vệ được tổ chức thống nhất từ trên xuống dưới, ở Khu có ban dân quân, các tỉnh thành lập Tỉnh đội bộ do Tỉnh đội trưởng đứng đầu, huyện có Huyện đội bộ và xã có Xã đội bộ. Về lực lượng, mỗi tỉnh, huyện có đại đội du kích tập trung thoát ly như Vệ quốc đoàn. Các huyện ở gần trung tâm căn cứ địa, lực lượng dân quân du kích được phát triển mạnh hơn. Tính đến tháng 7-1947, đã có 17 đại đội; huyện trọng điểm của tỉnh Bắc Kạn là Bạch Thông có tới 6 đại đội. Một số cơ sở như thị xã Bắc Kạn, thị trấn Chợ Mới đã có đại đội du kích tập trung được huấn luyện và trang bị khá hơn.


Ngoài các đại đội du kích tập trung của tỉnh, huyện, ở xã còn có lực lượng du kích làm nhiệm vụ tuần tra canh gác, tác chiến tại địa phương và lực lượng dân quân rộng khắp vừa sản xuất, vừa phục vụ chiến đấu như giao thông, vận tải, phá hoại cầu, đường... Tỉnh Thái Nguyên còn có nhiều đội du kích đều là phụ nữ, phụ lão và thiếu niên. Chủ trương "võ trang toàn dân", "tự vệ rộng rãi" của Đảng ta đã thu hút nhiều đồng bào từ vùng thấp đến vùng cao tham gia, thực hiện đúng khẩu hiệu "Toàn dân kháng chiến”.


Do yêu cầu nhiệm vụ chính trị và phát triển lực lượng vũ trang, Việt Bắc thành lập Trường Quân chính và Trường Lam Sơn, nhằm huấn luyện, đào tạo cán bộ. Hai trường liên tiếp mở các khóa học dài hạn và ngắn hạn, đào tạo được nhiều cán bộ từ tiểu đội đến đại đội, đáp ứng nhu cầu của Khu và cung cấp nhiều cán bộ ưu tú là con em các dân tộc ít người cho các đơn vị chủ lực của Bộ Tổng chỉ huy.


Các lực lượng vũ trang Việt Bắc ngày càng lớn mạnh và trưởng thành, nhưng vũ khí, trang bị và lương thực còn gặp nhiều khó khăn, chủ yếu là dựa vào sự giúp đỡ, ủng hộ của nhân dân. Bộ đội đóng quân ở đâu, chính quyền và nhân dân ở đó cung cấp lương thực, thực phẩm. Mặc dầu còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, nhưng với tinh thần yêu nước, tấm lòng yêu quý bộ đội, đồng bào các dân tộc tự giác, hăng hái đóng góp mỗi xóm 1 bộ quần áo, mỗi thôn 1 áo trấn thủ và 1 chăn kháng chiến cho chiến sĩ. Để giải quyết một phần khó khăn, các đơn vị bộ đội đều thành lập Đội Nông binh khai phá đất hoang, tăng gia sản xuất để tự túc một phần lương thực và vật dụng hàng ngày như mũ nan bọc vải, giỏ mây hoặc tre đựng lựu đạn, bát ống bương... Mỗi chiến sĩ được cấp 180 đồng (tiền tài chính) phụ cấp 1 tháng, chăn và áo rét chỉ đủ cấp cho nửa quân số.


Trang bị vũ khí cho bộ đội là yêu cầu bức thiết để nâng cao chất lượng chiến đấu. Dưới sự lãnh đạo của Khu ủy, Tỉnh ủy, các xưởng sửa chữa vũ khí và sản xuất súng, lựu đạn, địa lôi lần lượt ra đời. Ngày 20-3-1947, thành lập xưởng sản xuất súng kíp; cuối tháng 7-1947, xưởng sản xuất lựu đạn, địa lôi của Chiến khu 1 ra đời. Cao Bằng mở rộng binh công xưởng đã được xây dựng từ trước, tăng thêm máy móc, thiết bị, thu hút thêm cán bộ, công nhân. Xưởng PC của Thái Nguyên vừa sửa chữa súng, sản xuất lựu đạn, vừa chế Phuy-mi-nát thủy ngân làm hạt lửa. Ngoài ra, mỗi làng xóm, xã đều mở lò rèn sản xuất vũ khí tự tạo...


Tuy vậy, việc sản xuất ở các xưởng còn gặp nhiều khó khăn: thiếu công nhân kỹ thuật, ít kinh nghiệm sản xuất, thiếu nguyên vật liệu, máy móc, thiếu cán bộ quản lý có kinh nghiệm, đời sống công nhân quá thiếu thốn. Vì vậy, kết quả sản phẩm làm ra ít và chất lượng không cao. Tính trong 10 tháng đầu năm 1947, với 40 công nhân mới sản xuất được 3 "đại bác kíp", 40 dao găm, 12 thanh kiếm, 337kg thuốc súng... Bộ đội vẫn thiếu vũ khí. Ở Chiến khu 1, cứ 3 người có 2 khẩu súng. Chiến khu 12 thì 2 chiến sĩ mới được trang bị 1 khẩu súng và không đủ cơ số đạn.


Song song với nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang, sẵn sàng chiến đấu, công tác tiêu thổ kháng chiến được tiến hành khẩn trương, ở mỗi tỉnh Việt Bắc đều thành lập ban phá hoại, có nhiệm vụ giải thích mục đích, ý nghĩa và hướng dẫn kỹ thuật, cách thức tổ chức phá hoại, tiêu thổ kháng chiến. Nhờ đó, nhân dân đã tự tay phá đi những gì do công sức của mình tạo dựng nên từ nhà cửa đến cầu đường, thậm chí cả đình, chùa, không cho địch lợi dụng để chống lại ta. Thị xã Thái Nguyên là một trong những địa phương thực hiện triệt để tiêu thổ kháng chiến, hầu hết nhà cửa đều bị phá. Trên trục Đường số 3 từ Việt Bắc trở về Hà Nội, ta đã đào hàng vạn hố răng lược, hố chống tăng, hào chữ chi, phá sập hàng chục cầu lớn nhỏ, đắp nhiều ụ đất, cắm cọc gỗ, bóc thanh tà vẹt, chặt hàng nghìn cây to cản mặt đường, làm tê liệt hàng chục ki-lô-mét đường ô tô. Trên các bãi trống được cắm cọc vót nhọn chống quân nhảy dù, dựng kè chắn ngang nhiều đoạn trên các dòng sông lớn.


Với chủ trương kịp thời và được nhân dân đồng tình, ủng hộ, đến cuối năm 1947, công tác phá hoại để kháng chiến ở nhiều địa phương đã hoàn thành tốt. Tuy nhiên, do dự đoán âm mưu địch chưa sát, bị chi phối bởi tư tưởng "đại hậu phương", nên công tác phá hoại, tiêu thổ kháng chiến ở phía sau căn cứ, từ thị trấn Chợ Mới đến thị xã Bắc Kạn, Phủ Thông, Đại Từ đi Tuyên Quang chưa hoàn thành, thậm chí có nơi chưa triển khai trước khi quân Pháp tấn công lên Việt Bắc.


Đi đôi với việc xây dựng căn cứ địa kháng chiến, việc giữ bí mật, bảo đảm an toàn các cơ quan của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh được Bộ Chỉ huy các chiến khu cũng như đồng bào các dân tộc Việt Bắc hết sức chú trọng. Ai cũng thấy đây là trọng trách rất nặng nề và vinh dự, là niềm tự hào được bảo vệ cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến. Tất cả các vùng rẻo cao, các cửa ngõ An toàn khu như các huyện Chợ Đồn, Chợ Rã, Bạch Thông (Bắc Kạn); Đại Từ, Định Hóa, Phú Lương (Thái Nguyên); Sơn Dương, Chiêm Hóa (Tuyên Quang), việc giữ gìn bí mật đều xây dựng thành quy chế chặt chẽ. Khẩu hiệu ba không: "không biết, không nghe, không nói" đã được các tầng lớp nhân dân, từ người già đến em nhỏ, thường xuyên nhắc nhở nhau tự giác thực hiện và đã trở thành nếp sống hàng ngày.


An toàn khu thực sự là khu an toàn, được bảo vệ chu đáo, trước hết nhờ lực lượng đông đảo là đồng bào các dân tộc. Không có việc gì xảy ra ở đây qua được tai mắt tinh tường của đồng bào.


An toàn khu, căn cứ địa Việt Bắc trở thành nơi che giấu và bảo vệ cơ quan lãnh đạo kháng chiến, nơi xây dựng và đứng chân của các lực lượng vũ trang, thành một trong những hậu phương quan trọng, thành chiến trường và bàn đạp xuất phát tiến công tiêu diệt địch.


Như vậy, trải qua hơn một năm vừa xây dựng, vừa chiến đấu dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương Đảng, quân và dân Việt Bắc đã trưởng thành về mọi mặt, cùng Trung ương xây dựng ATK - hạt nhân căn cứ địa kháng chiến của cả nước. Truyền thống đoàn kết, đấu tranh bất khuất của các dân tộc Việt Bắc ngày càng được phát huy. Các lực lượng vũ trang tuy trang bị còn thô sơ, thiếu thốn, kinh nghiệm tác chiến còn ít nhưng đã nêu cao tinh thần chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, cùng quân và dân cả nước giữ vững độc lập, chủ quyền trong chặng đầu của cuộc kháng chiến.


Việt Bắc đã và đang cố gắng xứng đáng với lời dạy và khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Việt Bắc trước kia là căn cứ của cách mệnh, đã nổi tiếng khắp cả nước, khắp thế giới. Thì ngày nay, Việt Bắc phải trở thành căn cứ của kháng chiến, để giữ lấy cái địa vị và cái danh giá vẻ vang của mình. Cách mệnh đã do Việt Bắc mà thành công, thì kháng chiến sẽ do Việt Bắc mà thắng lợi"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995).


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 16 Tháng Hai, 2021, 06:34:40 pm
ÂM MƯU, KẾ HOẠCH CHIẾN LƯỢC CỦA
THỰC DÂN PHÁP TRONG NĂM 1947


Đại tá, TS. TRẦN VĂN THỨC
Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử kháng chiến chống Pháp,
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Giữa tháng 1-1947, khi một lực lượng lớn quân viễn chinh Pháp đang bị vây hãm trong các đô thị Việt Nam ở phía bắc vĩ tuyến 16, thì tại chính quốc, trên vũ đài chính trị nước Pháp có sự thay đổi lớn, Vanh-xăng Ô-ri-ôn (Vincent Auriol) trúng cử Tổng thống. Tiếp đó, một Chính phủ mới được thành lập, do Pôn Ra-ma-đi-ê (Paul Ramadier) làm Thủ tướng thay cho Chính phủ của Lê-ôn Bơ-lum (Léon Blum). Hệ quả của sự thay đổi đó là Cao ủy Pháp ở Đông Dương, Đác-giăng-li-ơ (D'Argenlieu) - vốn là một thủy sư đô đốc, người theo đuổi chính sách quân sự cứng rắn, bị triệu hồi về nước (3-1947), thay vào đó là Bô-la (Emile Bollaert), một nghị sĩ thuộc đảng Xã hội cấp tiến.


Chưa đầy hai tháng sau ngày nắm quyền, trong một bài diễn văn đọc trước Quốc hội (18-3-1947), Thủ tướng Pháp, Ra-ma-đi-ê cho rằng vấn đề Đông Dương không thể giải quyết được bằng biện pháp quân sự đơn thuần, mà cần phải có sự kết hợp với chính trị.


Thực hiện sứ mệnh của mình, sau khi sang Đông Dương, Bô-la chủ trương nối lại các cuộc thương lượng với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (DCCH). Một trong những việc làm đó là cử phái viên Pôn-muýt (Paul Mus) tiếp xúc với đại diện Chính phủ ta là Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Ngoại giao Hoàng Minh Giám, tại Thái Nguyên, vào giữa tháng 5-1947. Trong cuộc gặp gỡ đó, đại diện của Bô-la đưa ra yêu sách đòi ta giải giáp, trao cho chúng 50% tổng số vũ khí; để cho lực lượng viễn chinh Pháp đi lại tự do trên lãnh thổ Việt Nam, đồng thời trao cho chúng số tù binh bị bắt. Đó là những điều kiện mà ta không thể chấp nhận được, thực chất là đòi ta phải hạ vũ khí đầu hàng. Kế đó, ngày 15-5, trong bài diễn văn đọc tại Hà Nội, Bô-la khẳng định sự có mặt của Pháp tại Đông Dương và vị trí của Đông Dương trong Liên hiệp Pháp, phủ nhận sự lãnh đạo của một đảng "độc quyền đại diện cho cả dân tộc Việt Nam" (ám chỉ Đảng Cộng sản Đông Dương), đồng thời "đón nhận sự hợp tác với tất cả các đảng phái" - tức là sẵn sàng đàm phán với các lực lượng quốc gia khác ngoài Việt Minh.


Chủ trương thương lượng với Chính phủ Việt Nam DCCH xuất phát từ quan điểm thực dân của Pháp trở nên bế tắc, không có lối thoát, Bô-la quay sang "giải pháp Bảo Đại". Ngày 10-9, trong bài diễn văn đọc tại thị xã Hà Đông, Bô-la công khai tuyên bố lập trường thực dân của Pháp về vấn đề Việt Nam với hai điểm chính. Một là, không công nhận Việt Nam độc lập và thống nhất. Hai là, không công nhận Chính phủ Việt Nam DCCH, do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu là đại diện chính thức của Việt Nam. Thay vào đó, Việt Nam sẽ được hưởng quy chế tự trị với một chính phủ thân Pháp và nằm trong Liên bang Đông Dương. Liên bang này do một viên thượng sứ người Pháp đứng đầu, mọi vấn đề an ninh quốc gia, kinh tế và ngoại giao của Liên bang thuộc quyền định đoạt của nước Pháp. Bô-la công khai chủ trương lập chính quyền bù nhìn thân Pháp, mà nhân vật quan trọng là cựu hoàng Bảo Đại - vị vua cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam, vốn đã buộc phải thoái vị trong mùa Thu cách mạng 1945.


Theo cách nhìn nhận của phía Pháp, thì Bảo Đại có thể là "chất keo" để gắn các lực lượng quốc gia thành một khối phục vụ quyền lợi của nước Pháp. Bởi lẽ đó, bọn thực dân cầm quyền Pháp ở Đông Dương, một mặt, luôn giữ sợi dây liên hệ với Bảo Đại ở Hồng Kông, tiến hành đàm phán với Bảo Đại về cái gọi là "chủ quyền, độc lập" của Việt Nam, mặt khác, lập các tổ chức chính trị giả hiệu và ngụy quyền các cấp, xúc tiến thành lập chính phủ bù nhìn trung ương, đối lập với hệ thống chính quyền dân chủ nhân dân của chính thể Việt Nam DCCH.


Cùng với giải pháp chính trị và nhằm hỗ trợ cho giải pháp đó, thực dân Pháp luôn chú trọng giải pháp quân sự. Tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương, tướng Va-luy (Jean Etienre Valluy) - một tên thực dân luôn chủ trương gắn hoạt động quân sự với việc lật đổ chính quyền dân chủ nhân dân - cho rằng, trước khi thương lượng, cần phải hạ Việt Minh, nếu không mọi hiệp định sẽ không đi đến đâu, việc nổi loạn lại tái diễn và chính nó sớm muộn cũng sẽ đuổi chúng ta ra khỏi Đông Dương một cách vĩnh viễn, hoàn toàn và nhục nhã. Tướng Va-luy đề ra mục tiêu nhằm cô lập Mặt trận Việt Minh, tiếp đó hủy bỏ nó. Trước hết phải tách khối quần chúng nhân dân Việt Nam khỏi cái đầu năng động của nó (Chính phủ Việt Nam DCCH). Muốn vậy, phải chứng minh chắc chắn ưu thế về vật chất cũng như ý chí chiến thắng của chúng ta (Pháp); làm cho người Việt Nam thấy cuộc xung đột Việt - Pháp là vô ích và không đủ sức đánh đuổi hoặc chiến thắng người Pháp; gây sự hoài nghi và mất niềm tin của quần chúng đối với Chính phủ Việt Nam DCCH. Tiếp đó, làm tan vỡ Chính phủ Việt Nam DCCH bằng một thất bại về quân sự chắc chắn và quyết định. Thất bại đó sẽ kéo theo sự tan rã của các xu hướng độc lập, sẽ thủ tiêu những kẻ cực đoan hoặc làm cho họ mất hết quần chúng. Va-luy đưa ra chủ trương, trong đó, về chính trị cần phải có một đường lốỉ chắc chắn và trước hết tuyên truyền ý chí của Pháp tuyệt đối muốn chiến thắng và không bỏ Đông Dương, cắt đứt quan hệ với Chính phủ Việt Nam DCCH; về phương diện quân sự, số quân cần thiết cho Đông Dương tối thiểu phải là 115.000 quân; cơ bản bình định Nam Bộ trước mùa Thu 1947, sau đó, mục tiêu quan trọng, chủ yếu là vùng rừng núi Bắc Bộ - nơi cơ quan đầu não kháng chiến, quân đội chính quy và các kho tàng công xưởng đã sơ tán lên đấy.


Trong cuộc họp Hội đồng phòng thủ Đông Dương ngày 25-4, Va-luy đề ra những điều kiện mà ông ta xét thấy cần thiết để ngăn chặn Việt Nam DCCH khôi phục và phát triển lực lượng. Đó là trong thời hạn tối đa 15 ngày, Việt Nam DCCH phải nộp cho Pháp một phần quan trọng phương tiện chiến tranh; phải lập tức chấm dứt mọi hành động chiến tranh, khủng bố và tuyên truyền; phải trả tự do ngay cho các con tin và tù binh Pháp; phải giao nộp cho phía Pháp những người đào ngũ thuộc quân đội Pháp và cả số người Nhật đang ở trong hàng ngũ Việt Minh; quân đội Pháp được tự do di chuyển trên lãnh thổ Việt Nam. Những điều kiện này, tương tự như Pôn-muýt, đại diện của Bô-la, đưa ra trong tiếp xúc với Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Ngoại giao Hoàng Minh Giám, tại Thái Nguyên (5-1947). Đó thực chất là yêu sách buộc ta phải hạ vũ khí đầu hàng.


Về quân sự, nàm 1947, Va-luy chủ trương gấp rút bình định, tiêu diệt lực lượng kháng chiến, giải quyết căn bản chiến tranh ở Nam Bộ trước mùa mưa, sau đó tăng cường lực lượng cho chiến trường Bắc Bộ, mở cuộc tiến công quân sự lớn vào vùng thượng du Bắc Bộ.


Để bình định Nam Bộ, Va-luy dành cho Nam Đông Dương một nửa số viện binh, đưa số quân Pháp ở chiến trường này lên đến 38.000, bằng 40% lực lượng quân Pháp ở Đông Dương. Từ tháng 2-1947, tướng Ny-Ô (Nyo), chỉ huy quân Pháp ở Nam Bộ, tiến hành hợp nhất 6 khu ở Nam Kỳ thành 3 miền để bình định. Ngày 17-2, Cao ủy lập ủy ban bình định Nam Kỳ. Quá trình thực hiện chương trình bình định Nam Bộ, quân Pháp vấp phải mâu thuẫn giữa tập trung lực lượng để càn quét và phân tán lực lượng để chiếm giữ đất đai, cùng với lực lượng hạn chế (khoảng 38.000 quân viễn chinh, 10.000 quân ngụy - vệ binh, thân binh) và quan trọng là phương thức hoạt động và cách đánh của lực lượng vũ trang và nhân dân ta rất linh hoạt, với nhiều hình thức, nên hiệu quả của chương trình bình định Nam Bộ thu được rất hạn chế.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 16 Tháng Hai, 2021, 06:36:27 pm
Tuy thế, Va-luy vẫn quyết tâm đeo đuổi kế hoạch quân sự năm 1947 của ông ta. Va-luy cho rằng sở dĩ công cuộc bình định ở Nam Bộ thất bại là do đã sử dụng những biện pháp "bình định cổ truyền", không phù hợp với tình hình chính trị hiện tại ở Việt Nam. Theo Va-luy, hiện tại Việt Nam DCCH đã hình thành một khối "tập trung và theo hệ thống thứ bậc, với cơ cấu hình chóp và dựa vào một lý tưởng có tác động trong quần chúng"1 (Y-vơ Gra, Lịch sử cuộc chiến tranh Đông dương, Sđd,  tr. 182, 183). Nếu chỉ đánh vào cơ quan đầu não, tức là "tách cái đầu hình chóp ra khỏi đầu não"2 (Y-vơ Gra, Lịch sử cuộc chiến tranh Đông dương, Sđd,  tr. 182, 183) thì vẫn chưa thể giải quyết được vấn đề căn bản, "không thủ tiêu được lý tưởng"3 (Y-vơ Gra, Lịch sử cuộc chiến tranh Đông dương, Sđd,  tr. 182, 183). Và, muốn làm được như vậy, quân viễn chinh cần có thểm nhiều lực lượng, phương tiện quân sự hiện đại, điều mà nước Pháp không thể đáp ứng được. Do vậy, về chính trị, phải "lập nên một hình chóp khác, cũng tập trung, tổ chức theo thứ bậc và theo một lý tưởng để chống lại hình chóp của Việt Minh"4 (Y-vơ Gra, Lịch sử cuộc chiến tranh Đông dương, Sđd,  tr. 182, 183). Để hỗ trợ cho giải pháp chính trị nói trên, Va-luy thấy cần thiết phải mở cuộc tấn công quân sự lớn vào miền núi Bắc Bộ, nơi cơ quan đầu não kháng chiến, lực lượng vũ trang, các cơ quan đoàn thể, nhà máy, kho tàng, v.v... đã chuyển lên từ sau khi chiến tranh đã lan rộng trên phạm vi cả nước.


Trên cơ sở đó, Va-luy đệ trình Chính phủ Pháp kế hoạch tấn công quân sự trong Thu - Đông 1947. Theo đó, Pháp dự định bao vây toàn bộ vùng rừng núi Bắc Bộ bằng hai binh đoàn. Một binh đoàn xuất phát từ Lạng Sơn và một binh đoàn xuất phát từ Lào Cai. Hai binh đoàn này sẽ gặp nhau ở Hà Giang nhằm bịt kín toàn bộ biên giới Việt - Trung. Đó là một kế hoạch quân sự lớn, Va-luy dự kiến cần một khoảng thời gian 6 tháng và phải tập trung cho chiến trường Bắc Đông Dương một lực lượng chừng 50.000 quân mới bảo đảm thành công. Thế nhưng, trong quá trình nghiên cứu, kế hoạch đó bộc lộ nhiều khó khần, khó có thể khắc phục được.


Trên thực tế, vào thời điểm mùa Hè 1947, phía Pháp chỉ có thể huy động một lực lượng khoảng 32.000 quân cho chiến trường Bắc Đông Dương, khôi quân cơ động cũng chỉ có thể tập trung được khoảng 12.000 quân thay vì 20.000 quân theo dự kiên. Vì thế, kế hoạch tấn công của Pháp trong Thu - Đông 1947 buộc phải điều chỉnh. Phạm vi tấn công bao vây toàn bộ vùng núi Bắc Bộ được thu hẹp lại trong khu vực căn cứ địa Việt Bắc. Kế hoạch cụ thể của cuộc tiến công này được giao cho tướng Xa-lăng (Salan), Tư lệnh quân Pháp ở Bắc Đông Dương, soạn thảo, được Va-luy đưa về Pháp thông qua Hội đồng phòng thủ Đông Dương (9-6-1947) và được Chính phủ Pháp phê chuẩn (7-1947).


Theo kế hoạch đó, địa bàn của cuộc tấn công bao gồm các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Cao Bằng và Lạng Sơn là căn cứ địa kháng chiến, nơi tập trung cơ quan lãnh đạo kháng chiến, các cơ quan, kho tàng, lực lượng chủ lực của ta. Đây là các tỉnh thuộc miền núi, trung du, địa hình hiểm trở, núi rừng trùng điệp, giao thông không thuận tiện, đường thủy và đường bộ đều ít và độc đạo. Về đường bộ, có đường số 4 chạy dọc theo biên giới Việt - Trung từ Móng Cái đến Cao Bằng; Đường số 2, Hà Nội - Việt Trì - Tuyên Quang - Hà Giang; Đường số 3, Hà Nội - Thái Nguyên - Bắc Kạn - Cao Bằng, về đường thủy, theo sông Hồng từ Hà Nội đến Việt Trì, rẽ vào sông Lô qua Tuyên Quang, theo sông Gâm lên Chiêm Hoá.


Kế hoạch tiến công theo dự kiến là 2 bước, do tướng Xa-lăng trực tiếp chỉ huy. Đây là cuộc hành quân hỗn hợp của các binh chủng thủy, lục, không quân. Bước thứ nhất, mang mật danh Lê-a (thường vẫn được gọi là cuộc hành quân Lê-a), tên một đèo cao 1.362m trên Đường số 3 giữa Nguyên Bình và Bắc Kạn. Theo đó, quân dù thiện chiến sê đổ bộ xuống Bắc Kạn, Chợ Mới, Chợ Đồn, thực hiện càn quét vùng xung quanh các địa điểm trên. Toàn bộ quân dù sẽ hội quân tại một địa điểm cách Bắc Kạn 20km, đường Bắc Kạn - Chợ Đồn. Đồng thời với việc cho quân dù nhảy xuống Bắc Kạn, hình thành hai mũi như hai gọng kìm từ hai hướng Đông và Tây, tiến hành bao vây chặt vùng căn cứ địa Việt Bắc, bao gồm 5 tỉnh là Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang và Thái Nguyên, ở hướng Đông, từ Lạng Sơn, lực lượng "binh đoàn B" gồm cơ giới và bộ binh theo Đường số 4 lên Cao Bằng. Lực lượng này có nhiệm vụ vừa hành quân càn quét vừa triển khai chiếm đóng một số điểm dọc theo Đường số 4, nhằm phong toả biên giới Việt - Trung trên quãng đường đó. Sau khi tới Cao Bằng, một bộ phận của "binh đoàn B" sẽ xuống Bắc Kạn phối hợp và hỗ trợ cho lực lượng dù đã được ném xuống khu vực này trước đó. Hướng này sẽ tạo thành một gọng kìm dài hơn 420km kẹp toàn bộ phía Đông của Việt Bắc. Hướng Tây, từ Hà Nội, lực lượng "binh đoàn C" gồm quân thủy theo sông Hồng, sông Lô, sông Gâm qua Việt Trì lên Tuyên Quang, tới Chiêm Hoá, tạo thành gọng kìm dài 250km. Theo dự kiến, khoảng một tuần sau ngày mở đầu cuộc tấn công, hai gọng kìm sẽ kẹp lại, hội quân tại Đài Thị (Đông Bắc Chiêm Hóa 12km).


Bước hai, mang mật danh Clo-clo, trọng điểm đánh phá càn quét là vùng Chợ Chu. Lực lượng địch theo các hướng từ Bắc Kạn xuống, từ Chợ Mới sang, phối hợp cùng quân dù nhảy xuống Chợ Chu. Một đơn vị dù khác nhảy xuống phía Nam huyện Định Hóa nhằm chặn đường Chợ Chu - Thái Nguyên. Sau đó, tuỳ tình hình mà tiến hành càn quét, lùng sục vùng khu tam giác Bắc Kạn - Chợ Chu - Chợ Mới.


Không gian tổng thể của cuộc tiến công trải rộng trên một địa bàn các tỉnh vùng núi Việt Bắc, nhưng trọng tâm tập trung chủ yếu là khu tứ giác Tuyên Quang - Đài Thị - Bắc Kạn - Thái Nguyên (khoảng 360km2), trong đó trọng điểm chính là vùng tam giác Bắc Kạn - Chợ Chu - Chợ Mới. Về thời gian của cuộc tiến công, dự kiến kéo dài trong khoảng 3 tháng.


Chủ trương của Pháp trong kế hoạch quân sự Thu - Đông 1947 là sử dụng sức mạnh tổng hợp, hiệp đồng thủy - lục - không quân, táo bạo đánh sâu vào vùng căn cứ địa Việt Bắc, gây yếu tố bất ngờ, tiến hành càn quét từng khu vực, lấn chiếm dần để dồn vây ta hòng thực hiện các mục tiêu mà kế hoạch đã đề ra.


Sau khi kế hoạch tiến công Việt Bắc được thông qua, Va-luy chủ trương tiến hành hàng loạt các hoạt động quân sự trên toàn bộ chiến trường Việt Nam. Ở miền Bắc, chúng mở nhiều cuộc hành quân nhỏ ra vùng ven đô thị vừa để mở rộng phạm vi hoạt động, củng cố thêm cho các đô thị và các địa bàn trọng yếu, vừa có tính chất thăm dò lực lượng ta.


Mối quan tâm lớn của Bộ chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương là vấn đề điều động, tập trung lực lượng cho kế hoạch Thu - Đông. Mặc dầu đã có nhiều cố gắng, nhưng trong Hè - Thu 1947, cũng chỉ có thểm một số tiểu đoàn Âu - Phi trong lực lượng tăng viện từ Pháp sang đổ bộ lên Hải Phòng cùng một tiểu đoàn cơ động An-giê-ri, một tiểu đoàn cơ động thuộc trung đoàn bộ binh thuộc địa số 1 và 1 tiểu đoàn gồm 5 đại đội được điều từ Nam Bộ ra.


Đến tháng 9-1947, toàn bộ lực lượng quân Pháp trên chiến trường Bắc Đông Dương lên tới hơn 20 tiểu đoàn, bao gồm cả lực lượng chiếm đóng và cơ động, được bố trí trên các địa bàn chiến lược quan trọng. Trung đoàn 21 bộ binh thuộc địa (21è RIC gồm 2 tiểu đoàn) đóng ở Hải Phòng và đồng bằng ven biển. Trung đoàn 6 bộ binh thuộc địa (6è RIC) đóng ở Hà Nội, Nam Định. Trung đoàn 3 bộ binh lê-dương (3è REI) đóng trên trục giao thông chính đồng bằng Bắc Bộ. Bán lữ đoàn dù cơ động (3 tiểu đoàn) do trung tá Xô-va-nhắc (Sauvagnac) chỉ huy. Bán lữ đoàn Ma Rốc (2 tiểu đoàn) nòng cốt lấy từ trung đoàn 5 Ma Rốc (5è RICM). Lực lượng cơ động chiến lược do trung tá Bô-phơ-rê (Bauíré) chỉ huy. 13 chi đoàn cơ giới và 1 chi đoàn xe tăng. Một trung đoàn pháo binh thuộc địa Ma Rốc (RACM) gồm 7 pháo đội 105mm và hai trung đội 155mm. Một tiểu đoàn pháo độc lập chuyển từ Trung đoàn pháo binh thuộc địa Ma Rốc (RACM). Hai phi đội gồm 40 máy bay ném bom, trinh sát, vận tải. Một thủy đội với 40 tàu vận tải, ca nô, tàu đổ bộ các loại và một số đơn vị lính thủy đánh bộ. Ngoài ra còn có tiểu đoàn ngụy Thái ở Tây Bắc, 2 tiểu đoàn biệt kích ngụy Lào đóng ở Sầm Nưa. Phần lớn các lực lượng nói trên nằm trong thành phần chuẩn bị tấn công lên Việt Bắc.


Kế hoạch tiến công này được giữ bí mật hoàn toàn cho tới trước ngày, giờ chúng nhảy dù xuống quanh thị xã Bắc Kạn (7-10-1947).


Tóm lại, âm mưu, kế hoạch chiến lược của Pháp trong năm 1947 là kết hợp biện pháp chính trị với tiến công quân sự, mà mấu chốt là thực hiện cuộc tiến công chiến lược vào căn cứ địa Việt Bắc, phá tan cơ quan đầu não kháng chiến, tiêu diệt bộ đội chủ lực ta, giành thắng lợi quân sự có tính quyết định, tiến tới thiết lập chính quyền bù nhìn trung ương, nhanh chóng kết thúc chiến tranh, lập lại ách thống trị thực dân lên toàn bộ đất nước ta.


Theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp, cuộc tiến công chiến lược lên căn cứ địa Việt Bắc "là cuộc tiến công mang nhiều tham vọng nhất của Pháp trong suốt quá trình chiến tranh xâm lược Đông Dương, ngoài kế hoạch Na-va sau này, nhằm kết thúc chiến tranh trong danh dự"1 (Võ Nguyên Giáp, Chiến thắng Việt Bắc đã đánh bại chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh của đế quốc Pháp, Bắc Kạn với chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947, Tỉnh ủy Bắc Kạn - Bộ Tư lệnh Quân khu I xuất bản, 1997, tr. 6-7).


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 16 Tháng Hai, 2021, 06:39:19 pm
CHỦ TRƯƠNG VÀ KẾ HOẠCH QUÂN SỰ CỦA TA TRONG HÈ - THU 1947
CHUẨN BỊ ĐỐl PHÓ CUỘC TIẾN CÔNG THU - ĐÔNG CỦA ĐỊCH


Đại tá, TS. VŨ TANG BỒNG
Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử Kỹ thuật quân sự,
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam



Sau ngày quân dân cả nước ta anh dũng đứng lên mở đầu cuộc kháng chiến toàn quốc, từ tháng 1 đến tháng 4 năm 1947, thực dân Pháp tập trung lực lượng phản công và tiến công lớn trên khắp các mặt trận ở Bắc Bộ và Trung Bộ. Nhưng chúng chẳng những không tiêu diệt được bộ đội ta, không lùng bắt được các cơ quan lãnh đạo kháng chiến, không đè bẹp được phong trào kháng chiến của nhân dân ta mà còn bị thiệt hại nặng nề. Tuy chúng có giải vây được các thành phố, chiếm được một số thị trấn đã bị phá hoại và lập đồn bốt trên một số trục đường giao thông, nhưng ta vẫn làm chủ ở nông thôn và duy trì được các cơ sở kháng chiến trong các đô thị. Trong khi đó, chiến tranh du kích phát triển mạnh mẽ ở Nam Bộ. Bằng các trận phục kích, tập kích nổi tiếng ở Cổ Cò (Sa Đéc), Tầm Vu (Hậu Giang), Giồng Dừa (Mỹ Tho), Mương Điều (Bạc Liêu)... quân và dân Nam Bộ đã thực hiện đúng chỉ thị của Trung ương Đảng "không để cho giặc Pháp đem hết của cải chiếm được ở Nam Bộ ra đánh Trung, Bắc"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 8 (1945-1947), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 156).


Chiến lược "đánh nhanh thắng nhanh" của thực dân Pháp tiếp tục bị phá sản. Từ tháng 5-1947, chúng phải tạm ngừng tiến công, chờ thêm viện binh từ chính quốc, ra sức tuyên mộ ngụy quân, ráo riết xúc tiến lập chính phủ bù nhìn tay sai, chờ đến Thu - Đông sẽ mở cuộc tiến công chiến lược "đánh thẳng vào tim quân thù", hòng giành thắng lợi quyết định.


Trước âm mưu, thủ đoạn mới của địch, Trung ương Đảng và Bộ Tổng chỉ huy đã lãnh đạo, chỉ đạo quân và dân ta đã chuẩn bị đối phó ra sao để tiếp tục đưa sự nghiệp kháng chiến tiến lên?


Cuối tháng 4-1947, tại Việt Bắc, Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị cán bộ Trung ương, do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì. Hội nghị nhận định "hơn 4 tháng kháng chiến toàn quốc đã chứng tỏ rõ địch không thể dùng võ khí tối tân mà tiêu diệt quân chủ lực của ta. Chúng phải đổi một giá rất đắt mới chiếm được một ít thành phố. Còn quân ta thì có tiến bộ về cách đánh du kích vận động. Chiến tranh sẽ quyết liệt hơn, nhưng ta rất có thể đánh lâu và bồi bổ thêm thực lực để một ngày kia phản công"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 8 (1945-1947), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 176, 180).


Hội nghị chỉ rõ "Việt Nam không thể có căn cứ địa rộng rãi và vững chắc như Tàu. Những căn cứ địa ở Việt Nam đều có thể bị địch đánh xuyên mũi dùi vào hoặc bao vây. Nhưng Việt Nam đã có một mặt trận đoàn kết toàn dân, nhân dân đã được hưởng chế độ dân chủ rộng rãi và liều chết giữ vững chế độ ấy. Tình hình Pháp lại đặc biệt nguy khốn và nước Pháp xa nước Việt Nam hàng vạn cây số, nên Việt Nam vẫn có thể kháng chiến và nắm chắc thắng lợi bằng cách mở mặt trận ở bất cứ nơi nào có bóng địch, đánh ngay cả ở sau lưng địch, trong ruột địch và tổ chức căn cứ địa không những ở rừng núi mà ở cả đồng bằng"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 8 (1945-1947), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 150-151).


Hội nghị đề ra những chủ trương và chính sách về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa nhằm thực hiện "toàn dân đoàn kết, kháng chiến lâu dài... vừa kháng chiến vừa kiến quốc, và lập nền kinh tế tự túc... vừa kháng chiến vừa dựng nên một nến văn hóa mới".


Về quân sự, Hội nghị chủ trương: "Phát triển du kích chiến ngay trong vùng địch kiểm soát và ngay trong những thành phố lớn mà địch tạm thời làm chủ, vừa tiêu hao, vừa tiêu diệt địch. Đồng thời bồi bổ những thiếu sót về vũ khí (kể cả vũ khí tối tân lẫn hạng nặng) về bộ đội và cán bộ để chuẩn bị tổng phản công"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 8 (1945-1947), nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 150-151).


Để thực hiện chủ trương trên, Hội nghị đề ra 6 nhiệm vụ cần kíp trước mắt là: "... Nắm vững và rèn luyện bộ đội... làm cho bộ đội ta xứng đáng là bộ đội cách mạng của nhân dân; cương quyết chuyển sang du kích, vận động chiến, giành quyền chủ động về chiến thuật; cấp tiến xúc tiến việc tổ chức huấn luyện vũ trang và lãnh đạo dân quân; tổ chức căn cứ địa ở miền rừng núi, ở đồng bằng; chế tạo các võ khí phá xe tăng, chặn ca nô (Ba-dô-ca, mìn, địa lôi) và vũ khí thô sơ; thực hành việc bộ đội tăng gia sản xuất"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 8 (1945-1947), nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 150-151).


Hội nghị quyết định "hóa một phần bộ đội thành dân quân"4 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 8 (1945-1947), nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 150-151) để phát động chiến tranh du kích.


Đánh giá cao kinh nghiệm kháng chiến của quân và dân ta ở Nam Bộ cùng những hình thức tổ chức chiến đấu sáng tạo mới xuất hiện như "làng kháng chiến" ở Bắc Ninh, Kiến An, "quyết tử quân" ở Quảng Trị, Thừa Thiên, Hội nghị nhắc nhở cán bộ phải tích cực "trao đổi kinh nghiệm và cố gắng học tập để làm tròn nhiệm vụ của mình"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 8 (1945-1947), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 150-151).


Với thực tiễn nóng hổi của 4 tháng đầu kháng chiến toàn quốc, Hội nghị cán bộ Trung ương một lần nữa khẳng định: "Kháng chiến nhất định thắng lợi"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 8 (1945-1947), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 150-151). Nghị quyết Hội nghị làm phong phú thêm đường lối kháng chiến của Đảng ta và được quân dân cả nước ra sức thực hiện.


Theo phương châm vừa kháng chiến vừa kiến quốc, các vùng nông thôn rừng núi và đồng bằng trên cả nước đều được gấp rút tổ chức thành hậu phương kháng chiến.


Chính quyền và đoàn thể các cấp từ Bắc chí Nam được kiện toàn, củng cố. Việc tăng gia sản xuất được đẩy mạnh. Chợ búa được mở thêm. Đê điều được bồi đắp. Công tác văn hóa, giáo dục được triển khai rộng khắp. Đồng bào tản cư nhanh chóng ổn định nơi ăn ở. Hàng loạt "thị trấn kháng chiến” mọc lên ở vùng tự do và căn cứ kháng chiến.


Tiền Tài chính lưu hành rộng rãi, góp phần bảo đảm việc cung cấp tại chỗ cho bộ đội, công xưởng, trường học, cơ quan.


Đảng bộ, chính quyền các khu và các tỉnh, huyện tập trung xây dựng những căn cứ địa của từng cấp, từng địa phương.

Việc sản xuất vũ khí được toàn Đảng, toàn dân dốc sức chăm lo.

Đến mùa Hè năm 1947, toàn quốc đã xây dựng được gần 200 công binh xưởng. Nhiều xưởng có từ 200 đến 500 công nhân. Ngoài ra còn có nhiều tổ, nhiều xưởng nhỏ sửa chữa vũ khí có từ vài người đến vài chục người, do chính quyền kháng chiến và đoàn thể quần chúng ở các huyện, xã tự thành lập. Giáo, mác, súng kíp, mìn, lựu đạn được sản xuất hàng loạt. Đạn nhồi lại được cung cấp cho các mặt trận. Súng hỏng hóc được sửa chữa. Súng Ba-dô-ca, súng cối các cỡ, súng không giật, mìn lõm, bom phóng... được nghiên cứu và sản xuất ở nhiêu xưởng quân giới"1 (Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Tập I, In lần thứ tư, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, tr. 221).


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 16 Tháng Hai, 2021, 06:41:08 pm
Thực hiện Sắc lệnh số 91 của Chính phủ về việc đổi tên Bộ Tổng chỉ huy quân đội quốc gia thành Bộ Tổng chỉ huy quân đội quốc gia và dân quân tự vệ, các ban chỉ huy tỉnh đội, xã đội dân quân thuộc Ủy ban kháng chiến hành chính các cấp được thành lập. Ngày 27-5-1947, Trung ương Đảng và Bộ Tổng chỉ huy quyết định triệu tập Hội nghị dân quân toàn quốc lần thứ nhất nhằm thống nhất việc tổ chức dân quân tự vệ và du kích trên cả nước.


Từ chỗ là những tổ chức vũ trang quần chúng do Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể cứu quốc xây dựng, dân quân tự vệ và du kích trở thành một bộ phận trong các lực lượng vũ trang của Nhà nước do cơ quan quân sự địa phương chỉ huy, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp. Đây là bước phát triển mới của các lực lượng vũ trang nhân dân ta, đặc biệt là đã kịp thời đáp ứng, kịp thời thực hiện đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện và trường kỳ mà Đảng ta đã sáng suốt đề ra ngay từ trước và trong những ngày đầu kháng chiến toàn quốc.


Trong thư gửi Hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rõ nhiệm vụ và vị trí, vai trò chiến lược của dân quân tự vệ trong cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện và trường kỳ.

Người khắng định: "Dân quân tự vệ và du kích là lực lượng của toàn dân tộc, là một lực lượng vô địch, là một bức tường sắt của Tổ quốc. Vô luận kẻ địch hung bạo thế nào, hễ đụng vào lực lượng đó, bức tường đó thì địch nào cũng phải tan rã"1 (Hồ Chí Minh, Về đấu tranh vũ trang và lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1970, tr. 174).


Đến Hè năm 1947, đã có hàng chục vạn nam, nữ, thanh niên, trung niên, phụ lão, thiếu niên thuộc các dân tộc ở Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ gia nhập dân quân du kích. Hàng ngàn làng kháng chiến được xây dựng. Hầu hết các thôn xã, làng bản đêu có các tiếu đội, trung đội, đại đội dân quân du kích.


Cùng với các công việc to lớn nói trên, ngày 12-6-1947, Bộ Tổng chỉ huy triệu tập Hội nghị quân sự lần thứ ba nhằm đề ra kế hoạch hoạt động để "phá sự chuẩn bị tiến công mùa Đông của địch", đồng thời gấp rút chuẩn bị, chấn chỉnh bộ đội, củng cố căn cứ địa, tích cực chuẩn bị tác chiến trong Thu - Đông.


Hội nghị nghiên cứu đặc điểm, thủ đoạn đánh phá của địch, bước đầu đúc rút kinh nghiệm tác chiến của quân và dân ta để huấn luyện cho bộ đội, dân quân du kích.


Căn cứ vào đường lối kháng chiến của Đảng và thực tiễn kháng chiến của quân và dân ta, Hội nghị quân sự lần thứ ba đã thống nhất xác định 11 nguyên tắc tác chiến chính của quân và dân ta. Đó là: Một: Giữ vững chủ động; Hai: Hiểu rõ lực lượng của ta và lực lượng của địch; Ba: Biết dùng lực lượng dự bị; Bốn: Biết tập trung binh lực khi cần, biết điều động rất nhanh chóng và kịp thời; Năm: Phải giấu lực lượng của mình, làm sai lạc phán đoán của địch; Sáu: Phải đánh bất thần, xuất kỳ bất ý, lợi dụng những nhược điểm của địch; Bảy: Phải thực hiện sự phối hợp về chiến lược và chiến thuật; Tám: Phải phối hợp bộ đội chủ lực với dân quân, du kích, tự vệ; Chín: Phải nặng về tiêu diệt chiến; Mười: Phải có kế hoạch thiết thực rành mạch; Mười một: Phải tiến cho kịp địch và hơn địch1 (Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr. 449, 450).


Tiếp theo đó, từ ngày 27 đến ngày 29-9-1947, Bộ Tổng chỉ huy lại triệu tập Hội nghị quân sự lần thứ tư nhằm phán đoán ý đồ tiến công của địch trong Thu - Đông sắp đến và bàn kế hoạch thống nhất cách đánh nhằm làm thất bại âm mưu "đánh nhanh thắng nhanh" của chúng. Hội nghị thống nhất nhận định: cuộc tiến công của địch trong Thu - Đông này nhằm bắt cơ quan đầu não kháng chiến, đánh quỵ chủ lực ta, phá các căn cứ của ta để tạo điều kiện cho việc thành lập một chính quyền tay sai, sau đó sẽ biến dần cuộc chiến tranh xâm lược thành một cuộc chiến tranh dũng người Việt đánh người Việt. Như vậy, Bắc Bộ sẽ trở thành chiến trường chính. Ở Trung Bộ, địch có thể chia cắt chiến trường thành nhiều khu vực nhỏ rồi tổ chức càn quét. Ở Nam Bộ, địch sẽ mở những cuộc càn quét lớn2 (Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr. 449, 450).


Về hướng tiến công chính của địch trong Thu - Đông, sau khi thảo luận, đa số các đại biểu tham dự hội nghị cho rằng địch có thể đánh đồng bằng Bắc Bộ hoặc Trung Bộ, nếu mạo hiểm chúng mới đánh lên Việt Bắc vì chiến trường Việt Bắc toàn là rừng núi, địch khó triển khai và phát huy ưu thế về binh khí kỹ thuật, lại là nơi ta tập trung chủ lực. Tuy nhiên, ở cả ba hướng trên, quân và dân ta phải tích cực chuẩn bị đối phó.


Khi bàn cách đối phó với cuộc tiến công mới của địch, Hội nghị cho rằng, với so sánh lực lượng hiện tại, ta không thể tiếp nhận một trận đánh quyết định với chủ lực địch mà cần làm thất bại âm mưu của địch tiêu diệt chủ lực ta. Do đó, Hội nghị chủ trương kiên quyết nắm vững bộ đội, giữ gìn chủ lực đi đôi với tiêu diệt từng bộ phận quân địch, bảo vệ căn cứ nhưng không cố thủ, thực hiện phối hợp chiến đấu giữa các khu và trên toàn quốc, phá tan âm mưu lập ngụy quyền của địch1 (Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr. 451, 462).


Về cách đánh, Hội nghị chủ trương: "Cách đánh của ta là du kích và vận động chiến. Kiên quyết phát động du kích chiến... Dùng đơn vị đại đội để hoạt động trên chiến trường của mỗi địa phương... kiên quyết tập trung từng tiểu đoàn cơ động đánh vận động chiến... Tránh phòng ngự chính diện, bộ đội phải ở lại sau lưng địch, Hóa chỉnh vi linh, Hóa linh vi chỉnh, Hóa trang lẫn vào dân khi cần..."2 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, 50 năm Quân đội nhân dân Việt Nam (Biên niên sự kiện), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr. 50).


Hội nghị nhấn mạnh: "Bao giờ cũng lấy việc bảo tồn chứ không phải việc giữ đất làm chủ... các cấp chỉ huy phải nắm vững bộ đội, độc lập tác chiến... mỗi đội viên Vệ quốc quân và dân quân du kích phải là một người cán bộ dân vận, một người cán bộ vũ trang tuyên truyền..."3 (Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr. 451, 462).


Hội nghị khẳng định: "Nếu chúng ta đối phó với cuộc tiến công mùa Đông của địch mà vẫn giữ được lực lượng là ta nắm phần thắng. Việc tiêu hao và tiêu diệt địch sẽ làm gia tăng phần thắng"4 (Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr. 451, 462).


Ngay sau Hội nghị quân sự lần thứ tư, căn cứ vào đường lối của Đảng, chủ trương của Thường vụ Trung ương Đảng, từ thực tiễn chiến đấu của các chiến trường, đặc biệt là các cuộc chiến đấu ở phía nam tỉnh Bắc Ninh, Chủ tịch Hồ Chí Minh và đồng chí Tống Bí thư Trường Chinh nhất trí với đề xuất của đồng chí Võ Nguyên Giáp quyết định phân tán một bộ phận chủ lực thành các đại đội độc lập hoạt động ở vùng địch hậu để phát động chiến tranh du kích; bộ đội chủ lực của Bộ và Khu phần lớn tổ chức ở quy mô tiểu đoàn. Thực tế đã chứng minh hình thức tổ chức "Đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung" là một chủ trương rất đúng đắn và sáng tạo của Đảng ta, phù hợp với giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến.


Trên đây là những chủ trương, kế hoạch tác chiến của quân và dân ta trong Hè - Thu 1947 chuẩn bị đối phó với cuộc tiến công Thu - Đông của địch. Những chủ trương, kế hoạch tác chiến đó có nội dung cốt lõi là đẩy mạnh chiến tranh du kích, triệt để áp dụng chiến thuật du kích, triệt để phát huy sức mạnh của toàn dân trong cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện để đánh thắng kẻ thù. Những chủ trương, kế hoạch tác chiến cụ thể và sáng tạo đó khẳng định sự chủ động về chiến lược của Trung ương Đảng và Bộ Tổng chỉ huy và là nhân tố quyết định làm nên thắng lợi của chiến dịch phản công Việt Bắc Thu - Đông 1947.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 16 Tháng Hai, 2021, 06:43:03 pm
SỰ LÃNH ĐẠO, CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG VÀ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
TRONG CHIẾN DỊCH VIỆT BẮC THU - ĐÔNG 1947


PGS, TS. NGUYỄN ĐĂNG THÀNH
Phó Giám đốc Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh,
kiêm Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng


Cuộc phản công chiến lược Việt Bắc Thu - Đông 1947 của quân và dân ta đã đánh bại âm mưu và hành động phiêu lưu quân sự của thực dân Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam ngay trong năm đầu toàn quốc kháng chiến. Đây là thắng lợi có ý nghĩa quan trọng tạo bước ngoặt và mở ra một cục diện mới trong cuộc kháng chiến của quân và dân ta. Đó là thắng lợi của lòng yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng của toàn dân tộc Việt Nam, là thành quả điển hình của đường lối chiến tranh toàn dân, toàn diện, của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là thắng lợi của trí tuệ, của bản lĩnh, của lòng quyết tâm đấu tranh vì hòa bình, độc lập của nhân dân Việt Nam, trong đó, trước hết là Bộ Tham mưu ưu tú của toàn thể dân tộc - Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.


Sáu mươi năm đã trôi qua, với độ lùi lịch sử, chúng ta càng thấy rõ sự lãnh đạo, chỉ đạo tài tình, sáng suốt, sát sao, kịp thời của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947. Có thể khái quát trên một số điểm sau đây:

1. Với tầm nhìn chiến lược, Trung ương Đắng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm tiên liệu trước âm mưu chiến lược của kẻ thù và những thách thức đối với cách mạng Việt Nam, tích cực chuẩn bị về mọi mặt, giành thế chủ động trong cuộc kháng chiến

Khi cuộc chiến lan rộng ra toàn quốc, Thường vụ Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổ chức nhiều hội nghị, nhiều phiên họp quan trọng đề ra những chủ trương, những quyết sách triển khai sâu rộng thế trận chiến tranh nhân dân trên cả nước1 (Hội nghị Quân ủy Trung ương mở rộng (2-1947), Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ hai (3 đến 6-4-1947), Hội nghị dân quân du kích (24-5-1947), Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ 3 (12 đến 15-6-1947), Hội nghị Thường vụ Trung ương mở rộng (16, 17-6-1947), Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ 4 (27 đến 29-9-1947), các phiên họp của Hội đồng quân sự toàn quốc lần thứ 4 (27 đến 29-9-1947), các phiên họp của Hội đồng Chính phủ (19-4, 30-4, 15-5, 2-6, 17-6,  5, 6-7, 26-7, 17-8, 12-9-1947...). Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành nhiều chỉ thị, lời kêu gọi, viết nhiều bài báo chỉ đạo và động viên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân quyết tâm đưa cuộc kháng chiến kiến quốc đi đến thắng lợi. Trên cơ sở phân tích những biến động của tình hình thế giới, phân tích tình hình nước Pháp, tình hình Đông Dương, nhất là tình hình trong nước, làm sáng rõ hơn đường lối kháng chiến "toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh", Trung ương Đảng, Chính phủ, Bộ Tổng chỉ huy đã định rõ những phương pháp tổ chức, giáo dục, động viên toàn quân, toàn dân giữ vững quyết tâm và niềm tin vào cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ nhưng nhất định thắng lợi; phân tích sâu sắc hình thái của cuộc chiến tranh, đặc biệt chú ý phán đoán âm mưu chiến lược của địch trong thời gian sắp tới, nhằm chủ động chuẩn bị đối phó. Tháng 4-1947, Hội nghị cán bộ Trung ương đã họp bàn về nhiệm vụ xây dựng căn cứ địa và nhận định âm mưu tấn công lên căn cứ địa của địch. Hội nghị cảnh báo: những căn cứ địa ở Việt Nam đều có thể bị đánh xuyên mũi dùi hoặc bị bao vây.


Ngay trong mùa Hè 1947, Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ 3 đã phán đoán mưu đồ chiến lược sắp tói của thực dân Pháp khi cho rằng chúng sẽ mở rộng phạm vi chiếm đóng trên những địa bàn chiến lược quan trọng còn do ta kiểm soát và chúng cũng có thể mưu đồ cuộc đại tiến công vào Việt Bắc nhằm tiêu diệt chủ lực của ta. Bởi vậy, trong khi đề ra nhiệm vụ chiến lược mùa Hè cho các lực lượng vũ trang một cách rất toàn diện (về cách đánh, các nguyên tắc tác chiến,...), Hội nghị đã đề ra nhiệm vụ cụ thể về củng cố bộ đội chủ lực, củng cố cơ quan chỉ huy các cấp, đào tạo bồi dưỡng cán bộ, củng cố căn cứ địa và nhiều biện pháp khác với tinh thần tích cực, chủ động khẩn trương, tạo thêm những yếu tố thuận lợi khi bước vào mùa khô.


Những cảnh báo về âm mưu chiến lược của thực dân Pháp tiếp tục được Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra trong bức thư gửi riêng cho đồng bào Việt Bắc (Khu 1), ngày 19-8-1947: "Hiện bây giờ Khu 1 chưa phải mặt trận chính. Nhưng đối với bọn thực dân hung ác, nay mai rất có thể Khu 1 trở nên mặt trận chính. Vì vậy chúng ta phải luôn luôn chuẩn bị sẵn sàng"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 191); sự chuẩn bị đó tập trung vào xây dựng lực lượng vũ trang, phát triển kinh tế, văn hóa, xây dựng cán bộ, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân...


Đặc biệt, ngày 12-9-1947, chỉ 2 ngày sau khi Cao ủy Pháp ở Đông Dương là Bô-la đọc bài diễn văn mà đằng sau "Luận điệu mơ hồ, danh từ bóng bẩy" là thái độ trịch thượng và lập trường ngoan cố của bọn thực dân phản động Pháp, khước từ thiện chí hòa bình, chà đạp lên khát vọng hòa bình độc lập, của nhân dân ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ tọa phiên họp của Hội đồng Chính phủ bàn về những công tác trước mắt trong đó có một nội dung quan trọng là bàn về kế hoạch đề phòng cuộc tấn công mùa Đông của giặc Pháp. Tiếp đó, ngày 15-9-1947, Thường vụ Trung ương ra chỉ thị quan trọng: "Bô-la nói gì? Ta phải làm gì?". Chỉ thị vạch trần âm mưu của Pháp đối với nền độc lập của ta, đồng thời khẳng định "không dùng bạo lực mà đè bẹp ý chí xâm lược của thực dân Pháp thì không thể có độc lập và thống nhất thật sự"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, Tập 8, tr. 294, 300). Sau khi nêu lại lập trường kiên quyết kháng chiến giành độc lập thật sự của nhân dân ta, Thường vụ Trung ương yêu cầu phải động viên mọi lực lượng của dân tộc, "sửa soạn phá những cuộc tấn công sắp tới của địch". Chỉ thị nêu lên những nhiệm vụ cần kíp trên các mặt chính trị, tuyên truyền, cổ động, kinh tế tài chính... về quân sự, Chỉ thị kêu gọi nhân dân cả nước "tích cực chuẩn bị chiến dịch mùa Đông về mọi mặt (...) đặng đối phó với cuộc tiến công có thể lan rộng và ác liệt của quân đội Pháp sau mùa mưa (...). Chuẩn bị chống các cuộc quân thù đánh xuyên mũi dùi, đánh vòng thật rộng, hay nhảy dù, đổ bộ sau lưng ta"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, Tập 8, tr. 294, 300). Chỉ thị của Thường vụ Trung ương ngày 15-9-1947 có tầm quan trọng đặc biệt trong việc chuẩn bị cho cuộc đối đầu quy mô lớn giữa quân và dân ta với quân đội viễn chinh Pháp sắp diễn ra trong Thu - Đông 1947. Tổng Bí thư Trường Chinh đánh giá: "Bản chỉ thị lịch sử này đặt cơ sở cho chiến thắng của chiến dịch Việt Bắc, chuyển cuộc kháng chiến anh dũng của nhân dân ta sang giai đoạn mới".


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 16 Tháng Hai, 2021, 06:44:12 pm
2. Vận dụng sáng tạo lý luận quân sự Mác - Lênin, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra quyết sách đúng đắn về phương hướng, nhiệm vụ và chiến lược quân sự phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

Trước hết phải nói đến Chỉ thị Toàn dân kháng chiến của Ban Thường vụ Trung ương Đảng; Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh; tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi của Tổng Bí thư Trường Chinh. Ngay từ đầu cuộc kháng chiến, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rõ mục đích chính trị của cuộc kháng chiến là giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, góp phần bảo vệ hòa bình thế giới. Nhiệm vụ của cuộc kháng chiến được xác định là vừa kháng chiến chống thực dân phản động Pháp xâm lược, giành độc lập và thống nhất Tổ quốc, vừa kiến quốc, xây dựng chế độ mới, chế độ dân chủ nhân dân. Lực lượng kháng chiến là toàn dân tộc, mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi thước đất là một chiến hào. Phương châm của cuộc kháng chiến là toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính. Đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo đó của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quy tụ được sức mạnh của cả dân tộc vào cuộc kháng chiến với niềm tin: kháng chiến nhất định thắng lợi.


Cụ thể hóa chủ trương của Đảng, Bộ Tổng chỉ huy đã tổ chức các hội nghị quân sự để kiểm điểm tình hình, rút kinh nghiệm, nhận định âm mưu địch, xác định các nguyên tắc tác chiến và cách đánh của ta... Đặc biệt, khi thực dân Pháp đang rốt ráo chuẩn bị cuộc tấn công quy mô lớn vào căn cứ đầu não kháng chiến, thì Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ 4 (9-1947), đã trở lại những vấn đề đã được đặt ra trong Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ 3, đó là dự kiến kế hoạch tấn công mùa khô của địch ở chiến trường Bắc Bộ. về chiến trường Việt Bắc, Hội nghị có những nhận định rất đáng chú ý: Chiến trường Việt Bắc là một chiến trường mới rất khó dự đoán..., nếu mạo hiểm, địch mới tấn công Việt Bắc trước. Nhưng dù tấn công từ hướng nào, thì mục đích của địch vẫn là diệt chủ lực của ta, phá tan căn cứ địa và cơ quan đầu não chỉ huy kháng chiến. Một phương hướng chiến lược quân sự mùa khô của ta đã được Hội nghị vạch ra: phải chủ động phá tan kế hoạch tấn công quân sự và âm mưu của địch, giữ gìn chủ lực, bảo vệ căn cứ. Biện pháp chiến lược được coi trọng là phát triển chiến tranh du kích, tùy theo tình huống và khả năng mà sáng tạo trong tập trung binh lực đánh vận động, coi trọng vũ trang tuyên truyền và củng cố cơ sở chính trị của quần chúng1 (Tạp chí Lịch sử Đảng, số 9/1997).


Giá trị chỉ đạo của Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ 4 đối với chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947 là ở chỗ (mặc dù một số dự đoán chưa thật sát về thời điểm, hướng tiến công và địa điểm quân địch sẽ đổ bộ), đã đề ra những nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trước mắt của lực lượng vũ trang, cả về tác chiến và xây dựng lực lượng kháng chiến, phương hướng hoạt động phù hợp trong điều kiện so sánh lực lượng ta - địch lúc đó cùng những biện pháp đúng đắn giải quyết mối quan hệ giữa bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương, giữa giữ gìn lực lượng và bảo vệ căn cứ địa... Hội nghị quân sự lần thứ 4 đã bàn sâu về hướng tấn công của địch trong Thu - Đông, về cách đối phó và đi đến kết luận: "Nếu chúng ta đối phó với cuộc tiến công mùa Đông mà giữ gìn được phần lớn lực lượng là ta nắm phần thắng"1 (Võ Nguyên Giáp, Chiến đấu trong vòng vây, Nxb Quân đội nhân dân, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 1995, tr. 151).


Sự chỉ huy tài tình của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thể hiện ở chỗ đã kết hợp với sự nỗ lực vượt bậc, trí thông minh, sáng tạo, tinh thần chiến đấu dũng cảm, của các lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc Việt Bắc. Đó là chủ trương phát huy cao độ tinh thần yêu nước của đồng bào các dân tộc, đúc thành một bức tường đồng xung quanh Tổ quốc: "Chúng ta, từ Chính phủ đến nhân dân, Nam đến Bắc, già đến trẻ, giàu đến nghèo, đều kiên quyết một lòng không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ, không chịu chia rẽ... Lực lượng của 20 triệu người vì tự do, vì Tổ quốc, vì chính nghĩa mà kháng chiến là một lực lượng tất thắng"2 (Võ Nguyên Giáp, Chiến đấu trong vòng vây, Nxb Quân đội nhân dân, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 1995, tr. 151).


Hưởng ứng lời kêu gọi ấy, dân quân du kích cùng đồng bào các dân tộc hăng hái tham gia bảo vệ và tiếp tục di chuyển máy móc, kho tàng, cơ quan, công xưởng về nơi an toàn để tiếp tục sản xuất. Nhân dân các làng bản nhanh chóng thu hoạch hoa màu, cất giấu của cải, đẩy mạnh việc phá hoại đường giao thông, ổn định hậu phương tại chỗ; chiến đấu, hỗ trợ chiến đấu và đảm bảo tốt công tác hậu cần để bộ đội ta đánh thắng giặc Pháp xâm lược.


Đó chính là động lực tinh thần quan trọng tạo nên sức mạnh đoàn kết và ý chí quyêt chiến quyết thắng, niềm tin vào thắng lợi của quân và dân ta trong chiến dịch Việt Bác và tạo nên nhiêu chiến công vang dội trên sông Lô, tại Đoan Hùng, đèo Bông Lau...


Khi thực dân Pháp mở cuộc hành quân lên Việt Bắc, ngày 15-10-1947, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị phải phá cuộc tấn công mùa Đông của giặc Pháp. Đảng nhận định: "Địch càng dàn quân ra càng mỏng lực lượng. Chúng đem quân lên mạn ngược là một dịp cho ta để đánh chúng ở miền xuôi. Chúng đóng quân nơi xa càng dễ cho ta bao vây chúng và chặt đường tiếp tế, đánh chúng một cách rất có lợi trong khi chúng vận động"1 ().    Từ đó Đảng đề ra nhiệm vụ: "Đánh mạnh dưới đồng bằng Bắc Bộ và Trung Bộ, khiến cho địch không thể đánh Việt Bắc"; giam chân, chặt đứt giao thông, liên lạc giữa các cứ điểm của địch, không cho chúng tiếp ứng và tiếp tế; củng cố căn cứ địa về mặt hành chính, dân vận, quân sự, kinh tế... quân sự hóa các cơ quan hành chính; củng cố bộ máy hành chính và kháng chiến ở vùng địch kiểm soát... Quán triệt Chỉ thị của Thường vụ Trung ương, quân và dân trên các chiến trường ở Bắc Bộ, Khu 5, Khu 6 và Nam Bộ đã tiến hành nhiều hoạt động chiến đấu phối hợp với Việt Bắc. Các cuộc tấn công của Bộ đội Tây tiến ở Sơn La, cuộc tổng phá tề ở ngoại thành Hà Nội, ở Nam phần Bắc Ninh, các cuộc tập kích ở Ninh Hòa, Cam Ranh... (Khu 5), các cuộc phục kích, tập kích ở Gia Định, vùng ven Sài Gòn, ở Biên Hòa, Mỹ Tho, Vinh Long, Cần Thơ... (Nam Bộ) đã chia lửa cùng Việt Bắc, buộc địch phải căng sức đối phó trên khắp các chiến trường.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 16 Tháng Hai, 2021, 06:45:57 pm
3. Bám sát diễn biến thực tiến, nhạy bén, năng động sáng tạo trong tổ chức chỉ đạo tác chiến, đánh bại cuộc tấn công chiến lược của địch lên Việt Bắc trong Thu - Đông 1947.

Trong quá trình chuẩn bị đối phó với những cuộc hành binh của quân Pháp trong Thu - Đông 1947, Đảng đã nhận định khả năng địch có thể tấn công lên Việt Bắc. Tuy nhiên, cho đến cuối tháng 9-1947, tại Hội nghị quân sự lần thứ 4, đa số ý kiến đều nghiêng về nhận định địch sẽ đánh đồng bằng, nếu mạo hiểm thì chúng mới đánh Việt Bắc1 (Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp - Thắng lợi và bài học, Sđd, tr. 109, 110). Việc phòng thủ Việt Bắc cũng chủ yếu tập trung bố trí lực lượng chặn địch từ hướng trung du đánh lên; ta cũng chủ quan cho rằng "địch không thể nhảy dù Bắc Kạn"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 8, Sđd, tr. 312). Tuy nhiên, do ta không đánh giá thật sát đúng âm mưu, cách đánh và hướng đánh của địch, nên công tác chuẩn bị đánh địch nhiều nơi ở Việt Bắc còn sơ sài, "hớ hênh, khinh địch (...) phá hoại chậm chạp"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 8, Sđd, tr. 312)...


Ngày 7-10-1947, khi nhảy dù xuống thị xã Bắc Kạn mở đầu cho cuộc tấn công ồ ạt lên Việt Bắc, quân Pháp đã giành được bất ngờ, "ở nhiều nơi địch nhảy xuống ta bị động, đối phó lúng túng”4 (Võ Nguyên Giáp, Chiến đấu trong vòng vây, Sđd, tr. 150), chịu một số tổn thất.


Mặc dù bị bất ngờ về hành động liều lĩnh của địch, nhưng nhờ bản lĩnh và tài thao lược, khả năng ứng phó nhanh nhạy với tình huống chiến trường, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Bộ Tổng chỉ huy kịp thời chỉ đạo quân và dân Việt Bắc nhanh chóng khắc phục thiếu sót ban đầu, kịp thời tổ chức lại thế trận phản công địch. Nhờ xác định phương hướng chung đúng đắn, nhờ khả năng nắm bắt thực tiễn và tinh thần sáng tạo, Bộ thống soái tối cao của ta đã có những quyết định và điều chỉnh chính xác nhanh chóng làm thay đổi cục diện, tạo thế trận ngày càng có lợi cho ta để giành thắng lợi cuối cùng trong chiến dịch.


Ngay sau khi địch nhảy dù xuống Bắc Kạn, Thường vụ Trung ương Đảng đã điện cho Tỉnh ủy Bắc Kạn chỉ thị phải lãnh đạo lực lượng vũ trang tích cực đánh địch, bảo vệ cơ quan, sơ tán kho tàng, tổ chức nhân dân làm vườn không nhà trống. Thường vụ Trung ương cũng điện báo gấp các địa phương trên cả nước về cuộc tấn công của địch, yêu cầu các Khu ủy, Quân khu ủy phải chỉ huy bộ đội đánh mạnh để phân tán lực lượng địch và phá cuộc tấn công Việt Bắc của chúng. Tiếp đó, ngày 9-10-1947, Thường vụ Trung ương Đảng ra "Chỉ thị cần kíp gửi các đồng chí Tỉnh ủy Bắc Kạn và các đồng chí phụ trách quân, chính, dân Bắc Kạn" yêu cầu thi hành những nhiệm vụ cần kíp về quân sự, về chính trị và kinh tế để đối phó với các mũi tấn công đang mở rộng của địch. Thường vụ Trung ương yêu cầu lãnh đạo địa phương phải dùng lực lượng bộ đội, dân quân du kích và toàn dân bao vây, giam chân địch trong tỉnh lỵ; ngăn chặn địch trên các đường giao thông trọng yếu; triệt để tiêu thổ, lập chướng ngại vật; tổ chức phục kích, đánh địa lôi, ngăn cản việc địch tiếp tế, vận chuyển, liên lạc; tiến hành phản công địch ngay trong thị xã và các điểm chúng mới chiếm đóng; thực hiện trừ gian, phòng phỉ, bảo mật, thực hiện nghiêm mật việc phòng không, bảo vệ nhân dân, cơ quan, kho tàng... Thường vụ Trung ương chỉ rõ: "Chúng ta có ba điều kiện để thắng: thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Điều cần thiết là chúng ta biết lợi dụng triệt để những điều kiện ấy để giành thắng lợi"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 8, Sđd, tr. 314).

Trong những giờ phút khó khăn đầu tiên của cuộc chiến đấu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu một tấm gương bình tĩnh và sáng suốt trước tình thế vô cùng khẩn trương. Ngày 11-10-1947, trong tiếng máy bay địch gầm rú, bắn phá, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa cuộc họp Hội đồng Chính phủ để thảo luận kế hoạch đối phó cuộc tấn công của Pháp, biểu thị quyết tâm kháng chiến và niềm tin vào thắng lợi.


Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Tổng chỉ huy đề ra nhiệm vụ hàng đầu là bảo vệ cơ quan đầu não bằng mọi giá, chủ trương điều chỉnh kế hoạch tác chiến, giành lại chủ động; chỉ đạo khắc phục những thiếu sót trong chuẩn bị và đánh địch, triệt để phá hoại đường sá, nhà cửa, sơ tán bệnh viện, công xưởng, kho tàng, di chuyển và bảo vệ các cơ quan, làm vườn không nhà trống... Đặc biệt, ngay sau khi nắm được kế hoạch tấn công của địch lên Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ban Thường vụ Trung ương họp khẩn cấp vào chiều ngày 14-10-1947 bàn và đề ra các quyết sách mới. Hội nghị nhận định cuộc tấn công lần này của Pháp không mạnh mà yếu nên phải mạo hiểm, địch sẽ gặp nhiều khó khăn to lớn vì rải quân trên một địa bàn quá rộng; mọi hoạt động của cuộc hành binh đều phụ thuộc vào khả năng tiếp tế, tăng viện bằng đường bộ và đường thủy, nếu ta biết lợi dụng triệt để những nhược điểm của địch, phát triển những ưu điểm của ta thì cuộc tấn công của chúng nhất định sẽ thất bại. Hội nghị thông qua các kiến nghị của Bộ Tổng chỉ huy: hình thành 3 mặt trận (Sông Lô - Đường số 2; Cao Bằng - Đường số 4; Bắc Kạn - Đường số 3); thực hiện ngay phương châm "đại đội độc lập - tiểu đoàn tập trung" tại Việt Bắc để làm nòng cốt cho phong trào du kích, phân tán cơ quan lãnh đạo...


Theo tinh thần của Hội nghị, ngày 15-10-1947, Thường vụ Trung ương ban hành chỉ thị "Phải phá cuộc tiến công mùa Đông của giặc Pháp". Bản chỉ thị phân tích rõ tình hình quân Pháp tấn công Việt Bắc (mục đích, chiến lược chiến thuật tấn công của địch) và khẳng định: "Cuộc tấn công này của địch không tỏ ra chúng mạnh (...) mà tỏ ra chúng yếu, phải mạo hiểm". Nắm vững mưu đồ và bản chất kẻ thù, chỉ thị nhấn mạnh: "Chúng ta phải trấn tĩnh đối phó, vẫn phải giữ gìn chủ lực, nhưng đồng thời cũng phải nhè những chỗ yếu của địch mà đánh những trận vang dội, những trận tiêu diệt để nâng cao tinh thần bộ đội và củng cố lòng tin tưởng của nhân dân vào tiền đồ cuộc kháng chiến"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 8, Sđd, tr. 318). Cùng với chỉ thị trên của Ban Thường vụ Trung ương, ngày 15-10-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi bộ đội, dân quân du kích Việt Bắc ra sức diệt địch. Người cho rằng địch mưu hội quân ở Bắc Kạn, tạo thành cái ô bọc lấy Việt Bắc, rồi chúng cụp ô lại, dưới đánh lên, trên đánh xuống để tiêu diệt chủ lực ta và phá cho được cơ quan đầu não kháng chiến. Người chỉ rõ: Chúng chỉ mạnh về hai gọng kìm. Gọng kìm mà gãy thì cái ô cụp xuống sẽ thành cái ô rách, cuộc tấn công của địch sẽ thất bại"2 (Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử, Tập 4, (1946-1950), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 129).


Tuân thủ chỉ thị của Thường vụ Trung ương và những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, dưới sự điều hành của Bộ Tổng chỉ huy, quân và dân ta ở Việt Bắc đã thực hiện hiệu quả phương châm đánh địch rất sáng tạo. Đó là không đưa bộ đội chủ lực ra đối đầu với pháo binh cơ giới của địch mà lấy tác chiến quy mô nhỏ làm chính, dùng lực lượng nhỏ là chủ yếu, dùng chiến thuật phục kích là chủ yếu đánh thẳng vào nhược điểm cơ bản của địch là phải tiếp tế tăng viện bằng đường bộ và đường sông trên một không gian rộng, đường núi hiểm trở, xa căn cứ ở đồng bằng. Phương châm "đại đội độc lập - tiểu đoàn tập trung" mang lại hiệu quả rõ rệt với sự phát triển mạnh của phong trào chiến tranh du kích. Các cơ sở sản xuất, kho tàng lui sâu vào rừng. Nhân dân làm vườn không nhà trống đẩy quân Pháp vào tình thế khốn đốn vì không thể khai thác được hậu cần tại chỗ. Cơ quan đầu não kháng chiến phân tán thành nhiều bộ phận song vẫn bảo đảm duy trì liên lạc chỉ đạo, chỉ huy giữa Trung ương với Việt Bắc và với chiến trường toàn quốc.


Đúng như dự đoán của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trải qua hơn hai tháng đánh lên Việt Bắc, vấp phải sự chống trả kiên cường, sáng tạo của quân và dân ta, bị đánh mạnh ở cả đường bộ, đường sông, chịu nhiều tổn thất, hàng ngàn quân bị loại khỏi vòng chiến đấu, nhiều phương tiện chiến tranh bị phá hủy, quân Pháp buộc phải co cụm vào các thị xã, thị trấn rồi rút đại bộ phận quân khỏi Việt Bắc. Cuộc tiến công quy mô lớn mà tướng Xa-lăng, chỉ huy cuộc tấn công ngạo ngược tuyên bố "Chỉ cần ba tuần lễ để đập tan đầu não Việt Minh"1 (Y-vơ Gra: Lịch sử chiến tranh Đông Dương, Sđd, lưu tại Viện Lịch sử Đảng) đã thất bại. Quân Pháp tuy có phá hoại một số cơ sở vật chất kháng chiến nhưng đã không thực hiện được bất cứ mục tiêu chiến lược nào đề ra cho cuộc tiến công. Thất bại của trận Việt Bắc cùng với khủng hoảng về chính trị, khó khăn về kinh tế làm cho Pháp nhận ra rằng không thể giải quyết chiến tranh bằng một cuộc hành quân lớn và cũng không thể tiến hành chiến tranh bằng sức lực đã cạn kiệt của nước Pháp. Sau thất bại Việt Bắc, chúng phải chuyển sang chiến lược mới là đánh kéo dài, chuyển trọng tâm sang bình định các vùng chiếm đóng hòng vơ vét sức người sức của, dùng chiến tranh tổng lực kết hợp cả quân sự, chính trị và kinh tế, hòng kéo dài chiến tranh. Thực tế lịch sử cho thấy thất bại của địch ở Việt Bắc Thu - Đông 1947 đánh dấu sự phá sản hoàn toàn của chủ trương chiến lược "đánh nhanh thắng nhanh", buộc địch phải thay đổi chiến lược, chấp nhận những bất lợi mới trên chiến trường.


Thắng lợi của cuộc phản công Việt Bắc Thu - Đông 1947 là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, mở ra một giai đoạn mới của cuộc kháng chiến với sự chuyển hóa lực lượng ngày càng có lợi cho ta. Căn cứ địa vững vàng và trưởng thành, bộ đội chủ lực và dân quân du kích đều được tôi luyện trong thực tế chiến đấu, được bổ sung khá nhiều trang bị, vũ khí. Cơ quan lãnh đạo kháng chiến được bảo vệ an toàn. Trong khi kẻ địch tìm mọi cách để chụp bắt "cơ quan đầu não của Việt Minh" thì Chính phủ kháng chiến do Hồ Chí Minh đứng đầu đã vừa liên tục di chuyển trong các huyện Võ Nhai, Định Hóa (Thái Nguyên), Sơn Dương, Yên Sơn (Tuyên Quang)... vừa tiếp tục điều hành công việc kháng chiến trên toàn quốc.


Ngay sau thắng lợi có ý nghĩa chiến lược ở Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chính phủ, sự điều khiển khôn khéo của Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng chỉ huy, sự dũng cảm của tướng sĩ Vệ quốc quân và dân quân du kích, nhờ sự hăng hái của toàn thể đồng bào, mà ta đã đánh tan cuộc tấn công vào Việt Bắc của thực dân Pháp"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 367).


Thắng lợi Việt Bắc đã củng cố và nâng cao uy tín của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước thêm phấn khởi và tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến. Một năm sau toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết: "Lực lượng của ta ngày càng thêm mạnh, như suối mới chảy, như lửa mới nhóm, chỉ có tiến, không có thoái"; còn lực lượng địch như "mặt trời lúc hoàng hôn, hống hách lắm nhưng đã gần tắt nghỉ"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Sđd, tr. 313-314).


Thắng lợi Việt Bắc có ý nghĩa chiến lược, mở ra một giai đoạn mới của cuộc kháng chiến, đồng thời để lại những bài học quý giá về dự kiến những khả năng và chủ động đương đầu với kẻ địch có lực lượng mạnh và phiêu lưu mạo hiểm; về sự nhạy bén trong đánh giá cục diện chiến trường; về một đường lối đúng đắn thể hiện tầm nhìn chiến lược, toàn diện, toàn cục, liên tục tổng kết thực tiễn, chủ động chuẩn bị đương đầu với những thách đố, kịp thời phát hiện và kiên quyết sửa chữa thiếu sót, tạo dựng, rèn luyện và sử dụng có hiệu quả đội ngũ cán bộ lãnh đạo tài ba là những nhân tố quyết định làm nên chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông năm 1947 vang dội. Những bài học ấy, cho đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: ptlinh trong 24 Tháng Hai, 2021, 08:47:33 am
PHẢI PHÁ TAN CUỘC TIẾN CÔNG MÙA ĐÔNG CỦA GIẶC PHÁP - MỘT QUYẾT TÂM CHIẾN LƯỢC CỦA TRUNG ƯƠNG ĐẢNG


PGS, TS. VŨ QUANG HIỂN
Khoa Lịch sử, Trường đại học Khoa học xã hội nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội


Thu - Đông năm 1947, thực hiện chiến lược "đánh nhanh thắng nhanh", quân Pháp mở cuộc tiến công quy mô lớn lên Việt Bắc. Trung ương Đảng ra chỉ thị "Phải phá cuộc tấn công mùa Đông của giặc Pháp". Đó là quyết tâm chiến lược trong việc tổ chức một chiến dịch phản công của quân và dân ta, chuyển cuộc kháng chiến sang một bước phát triển mới.

1. Cơ sở để xác định quyết tâm chiến lược.

1.1. Việt Bắc là nơi ta có những điều kiện thuận lợi để tiến hành một cuộc chiến đấu lâu dài, xây dựng căn cứ địa kháng chiến.

Trong chiến tranh cách mạng Việt Nam, Việt Bắc là một vùng nông thôn rừng núi có vị trí chiến lược hết sức quan trọng, nối liền với đồng bằng Bắc Bộ bằng một số trục đường bộ và đường thủy. Đường số 2 từ Hà Nội, qua các tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Tuyên Quang, lên tới Hà Giang. Đường số 3 từ Hà Nội, qua Thái Nguyên, Bắc Kạn, tới Cao Bằng. Đường thủy theo sông Hồng tới Phú Thọ, rồi theo sông Lô lên Tuyên Quang và sông Gâm tới Chiêm Hóa. Do bị chia cắt bởi những dãy đồi núi liên tiếp, giao thông giữa các tỉnh Việt Bắc không thuận lợi. Việt Bắc có đường biên giới với Trung Hoa, nên có thể mở đường liên lạc quốc tế.


Địa hình núi rừng Việt Bắc hạn chế hoạt động của các phương tiện cơ giới, tác chiến hiệp đồng binh chủng và phi pháo địch; thuận lợi cho việc xây dựng lực lượng và tác chiến của ta. Quân và dân ta có khả năng phát huy truyền thống "đánh giặc tại chỗ" từ làng bản, phát triển lối đánh du kích một cách chủ động, tránh những trận giao chiến theo ý muốn của địch, buộc địch phải phân tán nhỏ lực lượng để đối phó khắp nơi.


Thời tiết, khí hậu Việt Bắc có lợi cho các lực lượng tại chỗ của ta, không có lợi cho quân xâm lược trên những chặng đường dài hành quân, dễ gây cho chúng sự hao mòn sức lực.


Đó là nơi tập trung đông đảo đồng bào các dân tộc với truyền thống đoàn kết một lòng trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, có ý thức độc lập dân tộc và dân chủ khá sâu sắc, đã được giác ngộ và tổ chức theo phương hướng cách mạng của Đảng. Trong giai đoạn trực tiếp vận động cách mạng 1939-1945, Việt Bắc là căn cứ địa chung của cách mạng cả nước. Đồng bào các dân tộc Việt Bắc được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chăm lo giáo dục, đã phát huy cao độ tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất chống ngoại xâm, tuyệt đối trung thành, quyết tâm chiến đấu đến cùng vì độc lập tự do.


Hồ Chí Minh viết: "Việt Bắc là gốc tích tổ tiên Hùng Vương ta dựng nước. Là nền tảng chống ngoại xâm của ông cha ta, như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nùng Chí Cao. Là căn cứ chống Pháp của tiên liệt ta như cụ Hoàng Hoa Thám. Là căn cứ của cuộc dân tộc giải phóng, chống Pháp, chống Nhật. Là quê hương của Giải phóng quân, anh cả của Vệ quốc quân.


Đồng bào Việt Bắc có Kinh, Thổ, Nùng, Thái, v.v... phong tục tập quán tuy có khác nhau ít nhiều, nhưng lòng nồng nàn yêu nước, lòng căm hờn thực dân, thì muôn người như một.


Lòng yêu nước của đồng bào, nhập với hình thế hiểm trở của núi sông thành một lực lượng vô địch..."1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 365-366).


R. Xa-lăng, viên tướng chỉ huy quân đội Pháp ở miền Bắc Đông Dương lúc đó phải thừa nhận: "... Vùng này, dựa trên cơ sở các dân tộc ít người, đã trải qua hai năm dưới chính thể vững chắc của Việt Minh... Muốn lôi kéo dân chúng về phía chúng ta, chúng ta phải thể hiện quyết tâm và nêu lên những điều cam kết về chính sách của chúng ta sau này...".


Ở Việt Bắc có nhiều đơn vị bộ đội Vệ quốc đoàn đang được xây dựng và củng cố, cùng các lực lượng vũ trang địa phương, có khả năng đẩy lùi những cuộc tiến công lớn của địch. Xa-lăng đánh giá: "... Nếu ở đồng bằng chỉ có một số ít dân quân đánh bằng cạm bẫy, trên đường giao thông, thì ngược lại, ở phía Bắc này, lực lượng kháng chiến có chừng mười lăm tiểu đoàn. Họ tiếp tục tuyển mộ lính và đào tạo cán bộ. Kẻ thù đã tổ chức cả một hệ thống kháng chiến rất chặt chẽ, không những bảo vệ được ở mức cao nhất các cơ quan lãnh đạo mà còn có thể tiến hành một cuộc chiến đấu phòng ngự bền bỉ, ác liệt..."2 (Xa-lăng còn cho rằng: "Trong phạm vi khu tứ giác Chợ Chu - Tuyên Quang - Chiêm Hóa - Chợ Rã, đối phương tổ chức một căn cứ để điểu khiển, động viên kháng chiến. Bắc Kạn là thủ đô chính trị và tinh thần của căn cứ đó. Căn cứ quân sự được nối liền với Trung Quốc bằng hai đường: Bắc Kạn - Cao Bằng - Quảng Uyên và Tuyên Quang - Lào Cai - Hồ Khẩu..." (theo Trần Trọng Trung: Lịch sử một cuộc chiến tranh bẩn thỉu, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, tr. 167-168).


Như vậy, về tương quan lực lượng, Việt Bắc cũng là nơi địch tương đối yếu hơn, có nhiều sơ hở hơn so với vùng nông thôn đồng bằng, nhất là các đô thị có quân Pháp chiếm đóng.


Là Thủ đô kháng chiến, Việt Bắc là nơi đứng chân của các cơ quan đầu não. Ngay sau ngày Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh về Hà Nội, nhưng đồng thời đã có sự chuẩn bị xây dựng Việt Bắc thành căn cứ địa kháng chiến nếu chiến tranh nổ ra. Đó là nơi "tiến có thể đánh, lui có thể giữ". Trong bức thư ngày 2-9-1947, gửi đồng bào các tỉnh Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:

"Việt Bắc trước kia là căn cứ địa của cách mệnh, đã nổi tiếng khắp cả nước, khắp thế giới. Thì ngày nay, Việt Bắc phải thành căn cứ của kháng chiến, để giữ lấy cái địa vị và cái danh giá vẻ vang của mình. Cách mệnh đã do Việt Bắc mà thành công, thì kháng chiến sẽ do Việt Bắc mà thắng lợi"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Sđd, tr. 207).


Việt Bắc là nơi ta có đủ những điều kiện về thiên thời, địa lợi, nhân hòa để duy trì một cuộc chiến đấu lâu dài, làm thất bại những cuộc tiến công quy mô lớn của địch, xây dựng và bảo vệ căn cứ địa kháng chiến.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: ptlinh trong 24 Tháng Hai, 2021, 08:49:34 am
1.2. Tiến công Việt Bắc là một mưu đồ lớn, nhưng giặc Pháp có những khó khăn về nhiều mặt.

Tiến hành chiến tranh xâm lược thuộc địa, thực dân Pháp cần: khắc phục chỗ yếu về chính trị là chiến tranh xâm lược phi nghĩa, tránh những phản ứng bất lợi của dư luận thế giới; phát huy sức mạnh của quân đội nhà nghề và phương tiện chiến tranh hiện đại; tiết kiệm chi phí chiến tranh và sớm hoàn thành mục tiêu xâm lược thuộc địa để khai thác về kinh tế. Chính vì thế, lối đánh sở trường của quân xâm lược là "đánh nhanh thắng nhanh".


Sau khi hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu giam chân địch trong các thành phố, bộ đội chủ lực ta rút về hậu phương để chuẩn bị kháng chiến lâu dài. Thực dân Pháp mở rộng địa bàn chiếm đóng theo các trục đường giao thông nhằm củng cố các thành phố, thị xã đã chiếm được; đồng thời tập trung lực lượng, mở cuộc tiến công lớn lên Việt Bắc. Mặc dù chủ động tiến công, nhưng giặc Pháp gặp nhiều khó khăn khác nhau.


Thực hiện mưu đồ lớn, điều lo lắng của Xa-lăng và bộ tham mưu quân Pháp ở Bắc Đông Dương là vấn đề lực lượng. Họ trù tính cần có 20.000 quân để có thể đánh lên Việt Bắc, nhưng toàn bộ quân Pháp ở Bắc Đông Dương lúc này chỉ có 20 tiểu đoàn (kể cả quân chiếm đóng và quân cơ động). Việc xin thêm quân từ nước Pháp gặp nhiều khó khăn, vì thực dân Pháp còn phải lo đối phó với phong trào nổi dậy ở Ma-đa-ga-xca. Vì thế, Bộ chỉ huy quân Pháp chỉ tập trung được khoảng 12.000 quân để tiến hành cuộc tiến công lên Việt Bắc. Với lực lượng có hạn, những viên "quan cai trị" thực dân và những viên chỉ huy cuộc hành binh rất lo ngại. Mi-sô-đen (Michodel) cho là sẽ không đạt kết quả vì "Việt Minh có tài bẻ gãy các mũi tiến công, làm rối loạn đội hình đối phương, lại có tài thoát khỏi thế bị bao vây... Họ có thể sống dài ngày trong rừng, biết nhận địa hình thông thạo, có thể xuất quỷ nhập thần... Tóm lại, họ là những người không thể nào tóm bắt được". Không đảm bảo chắc chắn giành thắng lợi, bản thân Xa-lăng cũng "cảm thấy" đánh lên Việt Bắc là một ”kế hoạch mạo hiếm", tuy nhiên ông ta vẫn hy vọng vào khả năng tạo yếu tố bất ngờ bằng một "kế hoạch nghi binh chiến lược"1 (Trần Trọng Trung, Lịch sử một cuộc chiến tranh bẩn thỉu, Sđd, tr. 172. Để tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam, thực dân Pháp sử dụng nhiều thủ đoạn khác nhau, trong đó có vấn đề xúc tiến lập chính quyền tay sai, trao trả độc lập giả hiệu, vận động các thế lực đế quốc công nhận chính quyền này về mặt ngoại giao, âm mưu "dùng người Việt hại người Việt". Trong quá trình xúc tiến lập một chính phủ bù nhìn, con bài mà Pháp nghĩ đến lúc đầu không phải là Bảo Đại (Vĩnh Thụy), mà là cựu hoàng đế Duy Tân (Vĩnh San), nhưng chiếc máy bay chở ông ta về nước đã bị nổ trên bầu trời Bắc Phi. Trong khi đó Mỹ muốn thâm nhập vào khu vực châu Á nên đòi hỏi Pháp phải nới rộng quyền tự trị cho người bản xứ "không cộng sản". Mỹ cho người gặp Bảo Đại tại Hồng Kông  (8-1947), rồi gặp Chính phủ Pháp, ép Pháp sử dụng giải pháp Bảo Đại, buộc Pháp phải tự đặt mình trong chiến lược chống cộng của Mỹ ở khu vực. Khi thực dân Pháp đang lôi kéo Bảo Đại và thái độ của Bảo Đại chưa rõ rệt, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương chủ trương: "Việc công kích Bảo Đại nên dè dặt một chút", phải khéo "ly gian Vĩnh Thụy và Pháp"; "lúc này không nên công kích Bảo Đại hay Vĩnh Thụy hay tổ tiên nhà Nguyễn (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội , 2000, tr. 212 và 270)), đánh lạc hướng chú ý của Việt Minh về quân sự, và để tạo một miếng mồi chính trị dụ dỗ Bảo Đại đang còn do dự, Bộ tham mưu của Xa-lăng tung ra dư luận, rằng sau mùa mưa, quân Pháp chỉ còn chiếm đóng Nam Bộ, một phần biên giới Tây Bắc và Đông Bắc cùng với vùng duyên hải Bắc Bộ, còn phần lớn đất đai miền Bắc Đông Dương (kể cả Hà Nội) sẽ được trao cho chính quyền không cộng sản2 (Vào khoảng tháng 8-1947, những tin tức này được đưa trên một số tờ báo ở Hà Nội, Sài Gòn và Pa-ri. Đó là  "một việc làm hai mục đích". "Xa-lăng và Bộ tham mưu Pháp ở miền Bắc rất tin rằng "báo chí sẽ tiếp tay một cách vô ý thức" cho chúng và một khi đối phương đã bị lừa thì phần thắng sẽ nắm chắc trong tay". Ngày 18-9-1947, tại Hồng Kông, Bảo Đại lên tiếng: "Tôi vì hạnh phúc của dân mà thoái vị (?). Nay nếu dân lại muốn tôi ra giúp nước (?) và điều đình với Pháp thì tôi sẵn sàng chấp nhận cho hợp với nguyện vọng chung..." (xem: Trần Trọng Trung: Lịch sử một cuộc chiến tranh bẩn thỉu, Sđd, tr. 172)).


Về phía nước Pháp, tuy cuộc chiến tranh Đông Dương chưa trở thành một vấn đề quốc tế lớn, bộ máy tuyên truyền của Pháp ra sức mô tả cuộc chiến tranh này như những cuộc hành quân "bình định". Nhưng Pháp không chỉ phải lo đối phó với cuộc kháng chiến của nhân dân Đông Dương, mà còn phải đối phó với phong trào giải phóng dân tộc ở các thuộc địa khác ở châu Phi. Tình hình nội bộ nước Pháp không ổn định, phải thay đổi nội các nhiều lần. Vấn đề Việt Nam được bàn cãi náo nhiệt tại Quốc hội Pháp. Đảng Cộng sản Pháp, Tổng Liên đoàn Lao động Pháp tỏ rõ thái độ đòi Chính phủ Pháp phải giảng hòa với Việt Nam. Các Chính phủ Pháp tham gia kế hoạch Mac-san (Marshall) ngả mạnh sang hữu và lao sâu vào cuộc chiến tranh xâm lược ở Đông Dương.


Về quốc tế, cuộc nội chiến ở Trung Quốc bắt đầu chuyển sang giai đoạn mới. Từ giữa năm 1947, Quân giải phóng chuyển sang phản công, tiến dần tới biên giới Việt - Trung. Điều đó làm cho quân Pháp lo ngại. Bộ trưởng Mu-tê (M. Moutet) nói với tướng Xa-lăng rằng: Trung Hoa đỏ đang nổi lên và bắt đầu tiến xuống phía Nam rồi đó. Tôi yêu cầu ông làm mọi việc để không cho Việt Minh có thể tiếp xúc được với các đơn vị của Mao. Tháng 6-1947, nhận được báo cáo của đại tá Xi-de (Sizaire) chỉ huy quân Pháp ở Lạng Sơn về "những hoạt động của quân cộng sản ở vùng biên giới", Xa-lăng cho những hoạt động đó là "một sự cảnh cáo đối với tương lai của quân đội Pháp trên chiến trường miền Bắc". Quân Pháp cần mở một cuộc hành binh nhằm "bịt kín biên giới, ngăn chặn không cho Việt Minh tiếp xúc với (Quân giải phóng) Trung Quốc để loại trừ mọi sự viện trợ từ bên ngoài vào; truy lùng và tiêu diệt Việt Minh đến tận sào huyệt của họ, đánh cho tan tác mọi tiềm lực kháng chiến của họ" trước khi quân cộng sản Trung Hoa đến cửa ngõ biên giới1 (Francoi Joyaux, Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, Tập 1, Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội, 1981, tr. 85, 163 và 164).


Ban Thường vụ Trung ương Đảng chỉ ra rằng: "Tình hình Hoa Nam phát triển gay go, nên phản động Pháp phải đánh ngay miền biên giới. Cố nhiên có nhiều nhân tố thúc đẩy chúng phải đánh Việt Bắc và vùng biên giới. Nhưng tình hình Hoa Nam là một nhân tố quan trọng trong các nhân tố đó"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 8, Sđd, tr. 329).


Về tình hình cuộc chiến tranh ở Việt Nam, từ ngày cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, quân và dân ta đã đạt được những mục tiêu cơ bản do Trung ương Đảng đề ra. Địch "đang cố làm chủ các thành phố, đường giao thông vận tải, vùng mỏ, miền duyên hải và những cứ điểm ở biên giới. Nhưng chúng chỉ kiểm soát được một số thành phố, còn ta vẫn làm chủ ở thôn quê ngay xung quanh những thành phố ấy. Địch thiệt hại khá nhiều ở Bắc Bộ". "Chiến sự Nam Bộ và Nam Trung Bộ khá hơn trước".


Nghị quyết của Hội nghị cán bộ Trung ương (4-1947) khẳng định: "Cuộc kháng chiến tuy gian khó, nhưng có mấy điểm dưới đây làm cho ta rất tin tưởng ở thắng lợi cuối cùng:

a) Mặt trận dân tộc thống nhất chống Pháp bao gồm toàn dân;

b) Mặt trận ấy thực tế do Đoàn thể ta lãnh đạo;

c) Tinh thần nhân dân và bộ đội ta rất cao và hấp thu nhiều kinh nghiệm chiến đấu khá mạnh, khá nhanh;

d) Mục đích kháng chiến của ta được nhân dân Pháp và thuộc địa Pháp, các lực lượng dân chủ trên thế giới, nhất là các dân tộc Đông Nam châu Á đồng tình".


Ngay khi mở đầu cuộc tổng giao chiến, quân và dân ta đã làm cho thực dân Pháp bất ngờ. Điều bất ngờ đó không phải là ta kiên quyết kháng chiến chống Pháp, mà là ta không chủ trương một cuộc rút lui chiến lược như chúng tưởng, và hơn thế, lại chủ động bắt đầu cuộc kháng chiến toàn quốc ngay tại các đô thị. Quân và dân ta đã khẩn trương triên khai cuộc kháng chiến toàn dân toàn diện, bước đầu làm thất bại âm mưu "đánh nhanh thắng nhanh" của Pháp. Từ thực tế đó, Hội nghị cán bộ Trung ương khẳng định: "Chiến tranh sẽ quyết liệt hơn, nhưng ta rất có thế đánh lâu dài và bồi bổ thêm thực lực để một ngày kia phản công"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 8, Sđd, Hà Nội, 2000, tr. 176-179).


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: ptlinh trong 24 Tháng Hai, 2021, 08:51:47 am
2. Chủ động dự đoán và đánh trả cuộc tiến công lớn của quân Pháp.

Như trên đã trình bày, việc tiến công lên Việt Bắc của quân đội Pháp không phải là điều bất ngờ đối với ta. Thường vụ Trung ương Đảng và Bộ Tổng chỉ huy đã có dự đoán trước, chỉ ra những hướng tiến công chính và những hướng kiềm chế của địch.


Tháng 6-1947, Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ 3 nhận định tình hình và dự đoán những khả năng hoạt động quân sự của quân Pháp nhằm củng cố các đô thị lớn và các đường giao thông thủy - bộ quan trọng, ra sức càn quét vùng nông thôn do chúng kiểm soát, xây dựng ngụy quyền và ra sức vơ vét sức người, sức của phục vụ chiến tranh. Chúng có thể "khởi những cuộc tiến công lớn để chiếm đóng những vị trí chiến lược còn ở trong tay ta, hoặc để quét sạch miền trung châu Bắc Bộ, hoặc để khống chế miền Thanh - Nghệ hay Nam - Ngãi; chúng cũng có thể mưu đồ cuộc đại tiến công vào Việt Bắc"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 2, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1976, tr. 150). Hội nghị chỉ rõ: để chuẩn bị đánh địch, các căn cứ địa cần được củng cố thêm một bước, xây dựng và phát triển thêm một bước cơ sở chính trị, ra sức tăng gia sản xuất, tích trữ lương thực, đẩy mạnh phòng gian...


Ngày 19-8-1947, trong Thư gửi đồng bào Việt Bắc, Hồ Chí Minh nhận định: "Hiện giờ Khu 1 chưa phải là mặt trận chính. Nhưng đối với bọn thực dân hung ác, nay mai Khu 1 rất có thể trở nên mặt trận chính. Vì vậy, chúng ta phải luôn luôn chuẩn bị sẵn sàng. Chúng ta cần phải làm những việc sau này:

a) Đã đoàn kết phải đoàn kết thêm. Khắp nơi phải tổ chức Hội Liên hiệp quốc dân.

b) Tập luyện dân quân, tự vệ, du kích. Giúp đỡ bộ đội.

c) Ra sức tăng gia sản xuất, làm cho nhiều lúa, nhiều sắn, nhiều ngô. Nuôi cho nhiều gia súc.

d) Phát triển bình dân học vụ. Giúp đỡ đồng bào tản cư. Giữ gìn bí mật.

e) Các cán bộ quân sự, chính trị, hành chính và chuyên môn thì phải làm đúng bốn chữ: Cần, Kiệm, Liêm, Chính"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Sđd, tr. 191).


Trong chỉ thị "Bô-la nói gì - ta phải làm gì?” (15-9-1947), Thường vụ Trung ương Đảng nhắc nhở quân, dân cả nước phải ra sức "chuẩn bị chiến dịch mùa Đông về mọi mặt... đặng đối phó với cuộc tấn công có thể lan rộng và ác liệt của quân đội Pháp sau mùa mưa này. Chuẩn bị chống các cuộc quân địch đánh xuyên mũi dùi, đánh vòng thật rộng, nhảy dù đổ bộ sau lưng ta". "Mọi lực lượng của dân tộc ta phải được động viên... sửa soạn phá những cuộc tấn công lớn của địch trong những tháng tới đây. Quân sự thắng lợi giúp cho chính trị thành công. Cho nên "tất cả cho mặt trận, tất cả để thắng lợi" phải là khẩu hiệu của dân tộc ta lúc này"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 8, Sđd, tr. 300-302). Cùng ngày, Thường vụ Trung ương đã ra chỉ thị "Sửa soạn phá những cuộc tấn công lớn của địch".


Mùa Đông 1947, quân Pháp tập trung lực lượng tiến công lên Việt Bắc, mở đầu bằng những cuộc nhảy dù và đổ bộ phía sau lưng ta, chiếm đóng các thị trấn, thị xã ngăn cách Việt Bắc và miền xuôi: Bắc Kạn (7-10), Chợ Đồn (8-10), Phủ Đoan (12-10), Tuyên Quang (13-10).


Sau khi quân Pháp nhảy dù xuống thị xã Bắc Kạn (7-10- 1947), một vị trí nằm sâu trong lòng hậu phương ta, Ban Thường vụ Trung ương ra Chỉ thị cần kíp gửi các đồng chí Tỉnh ủy Bắc Kạn và các đồng chí phụ trách quân, chính, dân Bắc Kạn (9-10-1947), phân tích mục đích cuộc tiến công của địch, trong đó có việc "Cố chiếm một vài chiến công "nổi tiếng" để giữ vững lòng tin tưởng của bọn thực dân Pháp chủ chiến, và do đó để vận động trong cuộc tuyển cử hội đồng hàng tổng 19-10 tới; đồng thời để xúc tiến việc động viên và tập hợp các lực lượng Việt gian đặng tiến tới thực hiện mặt trận ’’phản kháng chiến" và lập chính phủ bù nhìn toàn quốc". Thường vụ Trung ương nhận định việc chúng nhảy dù một số địa điểm không chứng tỏ địch dồi dào lực lượng, đủ sức tấn công ta trên khắp các mặt trận. "Song dù sao nó cũng tỏ ra địch mạo hiểm và coi thường ta. Chúng nhân chỗ hớ hênh, khinh địch của ta (như phá hoại chậm chạp, cho rằng địch không thể nhảy dù Bắc Kạn, v.v.) mà tấn công ta”.


Ban Thường vụ chỉ đạo quân dân Bắc Kạn bao vây, giam chân địch ở tỉnh lỵ, ngăn địch đánh tỏa ra trên các con đường từ Bắc Kạn đi Chợ Đồn, Chợ Rã, Cao Bằng, Chợ Mới, Na Rì, Chợ Chu: dùng những đội phá hoại cản địch: tổ chức các đội chuvên môn phục kích và đánh địa lôi tiêu diệt địch khi chúng vận động và ngăn cản việc tiếp tế, vận chuyên của địch; tập hợp lực lượng phản công những nơi chúng chiếm đóng, kể cả trường bay, không cho chúng kịp củng cố vị trí; tổ chức trừ gian, phòng phỉ, phong tỏa tin tức, canh gác, kiểm soát việc đi lại; cắm chông ở những nơi địch có thể nhảy dù... Thường vụ Trung ương nhấn mạnh: "Tình thế gấp bức, giành thời gian là một việc hết sức trọng yếu", đây là một dịp để quân dân Bắc Kạn lập chiến công, góp sức với đồng bào cả nước giết địch.


"Chúng ta có ba điều kiện để thắng: thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Điều cần thiết là chúng ta biết lợi dụng triệt để những điều kiện ấy để giành lấy thắng lợi (TG nhấn mạnh)"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 8, Sđd, tr. 312-313).


Khi quân Pháp nhảy dù xuống một số vị trí trong lòng Việt Bắc, quân và dân ta đã trấn tĩnh phản công, gây cho đối phương nhiều thiệt hại: học viên Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn diệt hàng chục quân nhảy dù xuống gần nhà trường; đội cao xạ ở Cao Bằng bắn rơi 1 máy bay, làm thiệt mạng 12 sĩ quan Pháp, trong đó có Phó tham mưu trưởng quân đội Pháp ở miền Bắc Đông Dương; Vệ quốc quân đánh lui lực lượng địch đổ bộ lên Bình Ca; Vệ quốc quân và dân quân phối hợp đột kích Chợ Mới bắn đại bác vào kho của địch; dân quân xã Thanh Mai (Bắc Kạn) diệt 2 lính nhảy dù, thu 1 súng Moócchiê và một số vũ khí khác; Vệ quốc quân phản công đánh Cao Bằng...


Những trận chiến đấu trên đây gây cho quân Pháp nhiều thiệt hại và chứng tỏ khả năng quân và dân ta có thể giam chân địch và đánh thắng địch. Đó là cơ sở thực tế để quyết định tổ chức một chiến dịch phản công trên quy mô lớn, đập tan cuộc tiến công của giặc Pháp.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: ptlinh trong 24 Tháng Hai, 2021, 08:53:23 am
3. Phải phá tan cuộc tiến công mùa Đông của giặc Pháp.

Ngày 15-10-1947, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị "Phải phá cuộc tấn công mùa Đông của giặc Pháp”. Bản chỉ thị phân tích mục đích và tình hình của đối phương khi tiến công Việt Bắc: lực lượng của chúng có hạn; tình hình chính trị bên Pháp thúc bách; mưu đồ lập một chính phủ bù nhìn toàn quốc ở Việt Nam lâm vào một tình trạng bế tắc, nhùng nhằng; phải tranh thủ điều kiện thời tiết mùa khô để mở những cuộc hành quân lớn. Tình hình đó buộc Pháp phải tranh thủ thời gian, đánh táo bạo, hành động tích cực về quân sự để phục vụ kế hoạch xâm lược về chính trị.

Cách đánh của địch là:

"Triệt để lợi dụng ưu điểm về kỹ thuật (máy bay, ca nô, bom), nhảy quãng khá xa đằng sau lưng ta, đánh những vố bất ngờ, làm cho ta không kịp đối phó và bố trí ngăn cản chúng.

Bao vây căn cứ địa chính của ta và tìm cách tiêu diệt quân chủ lực của ta, hòng đè bẹp chí kháng chiến đáng sợ của dân tộc ta.

Cầm giữ quân ta trên miền rừng núi một phần nào để rảnh tay càn quét và củng cố miền xuôi, lập cơ sở cho chính quyền bù nhìn toàn quốc".


Ban Thường vụ Trung ương Đảng nhận định: "Trận tấn công mùa Đông của địch mới bắt đầu". "Nhưng lực lượng của chúng có hạn nên cuộc tấn công này chỉ ồ ạt lúc đầu. Rồi đây do sự phản công cố gắng của ta, địch bắt buộc phải thu hẹp địa bàn chiếm đóng lại và quay ra thế thủ, càn quét các vùng chung quanh vị trí hoặc bên cạnh đường giao thông lớn". "Chúng đem quân lên mạn ngược là một dịp cho ta để đánh chúng ở miền xuôi. Chúng đóng quân nơi xa càng dễ cho ta bao vây chúng và chặt đường tiếp tế, đánh chúng một cách rất có lợi trong khi chúng vận động". Ban Thường vụ cho rằng: "Cuộc tấn công này của địch không tỏ ra chúng mạnh, mà tỏ ra chúng yếu, phải mạo hiểm". "Chúng ta không sợ địch, nhưng cũng không được khinh địch. Chiến tranh sẽ gay go, quyết liệt hơn...". "Chiến tranh không có mặt trận sẽ hiện ra rõ rệt hơn". Nhiều khó khăn sẽ xuất hiện. "Chúng ta phải dự trước tất cả để trấn tĩnh đối phó, đối phó có kế hoạch"1 ().


Nhiệm vụ quân sự của quân và dân ta là: đánh mạnh dưới đồng bằng Bắc Bộ và Trung Bộ, khiến cho địch không thể tập trung quân đánh Việt Bắc; giam chân địch tại mấy căn cứ chúng vừa chiếm (nhất là mấy thành phố và Việt Bắc); bao vây những căn cứ đó, thu nhỏ lại thành như những hòn đảo giữa bể; triệt để làm vườn không, nhà trống chung quanh chỗ địch chiếm đóng, khiến cho chúng không thể ăn cướp của dân mà tự cấp dưỡng; đột kích tiêu diệt địch ở các cứ điểm chúng mới chiếm, trước khi chúng củng cố được vị trí; đột kích trường bay lẻ bằng những đội cảm tử; chặt đứt giao thông liên lạc giữa các cứ điểm của địch, không cho chúng tiếp ứng và tiếp tế; nghiêm ngặt phòng không và phòng nhảy dù...


Bản chỉ thị còn đề ra một loạt biện pháp về tuyên truyền cổ động; kinh tế, tài chính; ủng hộ mùa Đông binh sĩ; dân vận và công tác đảng. Bản chỉ thị vạch rõ: "Trong những lúc khó khăn như thế này, Hội ta không vững thì không thể chèo chống nổi với tình thế. Vậy phải tiếp tục vừa phát triển Hội, vừa thanh trừ những phần tử xấu ra ngoài Hội, căn cứ vào thực chất của từng người bộc lộ ra trong cơn thử thách nặng nề của chiến tranh".


Thường vụ Trung ương khẳng định: "Cuộc tấn công lần này của địch tỏ ra chúng mạo hiểm và khinh thường lực lượng ta. Chúng ta phải trấn tĩnh đối phó, vẫn phải giữ gìn chủ lực, nhưng đồng thời cũng phải nhè những chỗ yếu của địch mà đánh những trận vang dội, những trận tiêu diệt để nâng cao tinh thần bộ đội và củng cố lòng tin tưởng của nhân dân ở tiền đồ cuộc kháng chiến"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 8, Sđd, tr. 317-318).


Trong văn kiện Phụ chú một số điểm trong Chỉ thị ngày 15-10-1947, Thường vụ Trung ương nêu rõ năm nhược điểm của quân Pháp khi chúng tiến công Việt Bắc.


Trong khi ta có đủ những điều kiện về thiên thời, địa lợi và nhân hòa, thì địch có những chỗ yếu rất cơ bản. Ta có thể khắc phục những hạn chế và bỡ ngỡ ban đầu, khắc phục tâm lý chủ quan, rút kinh nghiệm và tổ chức chiến đấu để giành thắng lợi. Thường vụ Trung ương nêu rõ: "Nhất định ta sẽ tiêu hao và tiêu diệt địch làm cho địch thua thiệt nặng đến nỗi không thể gượng lại được sau chiến dịch mùa Đông này".

Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ những chỗ yếu của quân Pháp:

"a) Địch chỉ hoạt động được mấy tháng, sau mùa mưa thì chúng hết thiên thời.

b) Việt Bắc địa thế hiểm trở, quân địch không có địa lợi.

c) Địch càng lan rộng thì người càng thiếu, sức càng mỏng, chúng dễ bị tiêu diệt, chúng càng đánh lan ra, càng dở thói tham ô tàn nhẫn, càng làm cho đồng bào ta, miền ngược cũng như miền xuôi, đoàn kết chặt chẽ chống lại chúng, thế là địch không có nhân hòa".


Người khẳng định: "Cũng như các cuộc hành binh khác, kết quả địch sẽ thất bại"1 (Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 5, Sđd, tr. 328).

Biến quyết tâm chiến lược của Đảng thành hành động thực tiễn, quân và dân ta đã kiên quyết triển khai cuộc chiến đấu, đánh địch ở mọi nơi chúng xuất hiện, đẩy lùi cuộc tiến công quy mô lớn của địch, bảo vệ vững chắc căn cứ địa Việt Bắc và các cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến. Bộ đội chủ lực ta thêm trưởng thành và tích lũy được nhiều kinh nghiệm. Đặc biệt với chiến thắng Việt Bắc, quân và dân ta đã làm thất bại hoàn toàn chiến lược "đánh nhanh thắng nhanh" của giặc Pháp, buộc chúng phải quay về đánh lâu dài với ta. Ta có điều kiện tiếp tục triển khai mạnh mẽ cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân, tạo thế, tạo lực để tiếp tục tiến lên giành quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: ptlinh trong 24 Tháng Hai, 2021, 08:59:01 am
CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
VỚI CHIẾN DỊCH VIỆT BẮC THU - ĐÔNG 1947


Đại tá, TS. LÊ VĂN THÁI
Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử tư tưởng quân sự
 - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Mùa Xuân năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên căn cứ Việt Bắc1 (Ngày 4-3-1947, Người rời Sơn Tây qua bến Trung Hà, di chuyển lên Việt Bắc). Tại đây, Người cùng Trung ương Đảng và Chính phủ lãnh đạo cả nước kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, trong đó có cuộc chiến đấu đánh bại cuộc tiến công lớn của địch lên Việt Bắc Thu - Đông 1947.


Với tầm nhìn chiến lược sâu rộng, ngay từ khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị cho đồng chí Phạm Văn Đồng và một số cán bộ khác ở lại Tân Trào một thời gian chỉ đạo việc củng cố khu căn cứ địa. Cuối tháng 10-1946, trước dã tâm muốn cướp nước ta một lần nữa của thực dân Pháp, Người cử đồng chí Nguyễn Lương Bằng trở lại Việt Bắc chuẩn bị căn cứ địa kháng chiến. Tiếp đó, Đội công tác đặc biệt được thành lập, do đồng chí Trần Đăng Ninh phụ trách, có nhiệm vụ nghiên cứu các vị trí đặt cơ quan, cùng với các ban ngành liên quan tổ chức di chuyển các cơ quan và kho tàng, xí nghiệp lên Việt Bắc. Các huyện Chợ Đồn (Bắc Kạn), Chiêm Hoá, Sơn Dương (Tuyên Quang), Định Hoá, Đại Từ (Thái Nguyên) được chọn làm An toàn khu (ATK). Thấy trước tầm quan trọng của việc đảm bảo đời sống tại các khu căn cứ rừng núi, Người chỉ thị cho đồng chí Nguyễn Lương Bằng tìm mọi cách chuyển gần 20.000 tấn muối ở khu Văn Lý (Nam Định) lên Việt Bắc và Tây Bắc trước khi địch chiếm miền duyên hải.


Đợt tổng di chuyển lên căn cứ Việt Bắc diễn ra từ cuối tháng 11-1946 đến tháng 2-1947. Hàng vạn tấn máy móc, nguyên vật liệu, gạo, muối, vải từ những vùng địch có thể đánh chiếm được vận chuyển về các khu an toàn. Hàng chục vạn nhân dân, cán bộ, chiến sĩ từ các hướng tập trung lên Việt Bắc trong trật tự, bí mật. Chủ tịch Hồ Chí Minh theo dõi chặt chẽ cuộc di chuyển. Đầu tháng 3-1947, các cơ quan lãnh đạo kháng chiến lần lượt lên Việt Bắc. Từ đây, căn cứ địa Việt Bắc trở thành "Thủ đô kháng chiến". Công tác xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang được đẩy mạnh trong khu căn cứ. Các cấp chính quyền địa phương, các đoàn thể quần chúng, ra đời trước Cách mạng Tháng Tám được kiện toàn. Tổ chức Đảng, đặc biệt là các chi bộ, được chú ý củng cố. Công tác phát triển Đảng được đẩy mạnh1 (Năm 1947, toàn Việt Bắc có 20.705 đảng viên, trong đó có 9.669 đảng viên thuộc các dân tộc ít người); văn hóa giáo dục nâng cao trình độ cho nhân dân có bước chuyển biến tích cực.


Trong không khí cả nước cũng như ở Việt Bắc sôi nổi xây dựng hậu phương, căn cứ địa, phát triển lực lượng chính trị, quân sự, chuẩn bị đối phó với âm mưu mới của địch, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm "Đời sống mới", ký tên Tân Sinh. Tác phẩm chỉ ra rằng, trong kháng chiến gian khổ, mọi người cần cố gắng nhiều hơn, người thì lo đánh giặc, người thì lo phá hoại, người thì lo tản cư, toàn dân ai cũng khó khăn vất vả lại càng phải thực hiện đời sống mới là cần, kiệm, liêm, chính. Bằng lối diễn đạt hỏi - đáp và lời văn giản dị, Người hướng dẫn nhân dân và bộ đội sửa đổi những cái cũ không còn phù hợp, thực hiện những cái mối trong đời sống, trong cách ăn, mặc, cách đi lại và làm việc, làm cho quân dân ta trong kháng chiến "vật chất được đầy đủ hơn, tinh thần được vui mạnh hơn"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 110).


Vừa quan tâm đến cuộc vận động thực hiện đời sống mới trong cán bộ, bộ đội và nhân dân, Người còn hết sức lưu ý đến vấn đề giữ gìn bí mật trong khu căn cứ địa. Chính vì thế, ngày 8-4-1947, Người viết thư gửi ông Hoàng Hữu Nam, nhắc nhở "một khuyết điểm" rất to, đó là trên tuyến đường Tuyên Quang - Thái Nguyên, xe cộ để bừa bãi và không có ngụy trang, nếu có thì còn rất sơ sài. Như thế thì không những dễ bị máy bay địch bắn mất xe mà còn "địch dễ biết ta đi phương hướng nào"2 (Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử, Tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr. 79). Ngày hôm sau, vào lúc 17 giờ (9-4), Người viết tiếp bức thư gửi ông Hoàng Hữu Nam, thông báo tin quân địch chuẩn bị tấn công và chỉ thị "nhân viên và tài liệu Chính phủ phải rời ngay vào nơi an toàn. Lúc rời phải rất bí mật, chỉ một số người rất ít, rất cần thiết ở lại, nhưng cũng phải chuẩn bị sẵn sàng"3 (Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử, Tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr. 79).


Suốt mùa Hè năm 1947, quân Pháp co về các thành phố củng cố lực lượng, chuẩn bị cho một cuộc tiến công lớn khi mùa mưa chấm dứt. Tuy chưa phán đoán chính xác và đầy đủ hướng tiến công của địch nhưng Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã thấy trước rằng địch sẽ mở cuộc tiến công lớn trong Thu - Đông, chiến trường chính là Bắc Bộ. Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị cho các cấp ủy địa phương gấp rút chuẩn bị đối phó.


Nhằm thúc đẩy kháng chiến phát triển nhanh và vững chắc hơn nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc", ký tên X.Y.Z. Trong tác phẩm, Người giải quyết những vấn đề cấp bách vê xây dựng Đảng, rèn luyện tư tưởng, tác phong lãnh đạo và đạo đức cách mạng của cán bộ, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc. Nhấn mạnh vai trò của đội ngũ cán bộ trong sự nghiệp cách mạng, Người viết: "Muốn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Sđd, tr. 240, 269, 276), "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Vì vậy, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Sđd, tr. 240, 269, 276). Người giáo dục cán bộ, đảng viên khắc phục bệnh chủ quan, hẹp hòi trong quan hệ giữa Đảng và quần chúng. Người đề ra chính sách cán bộ nhằm đẩy mạnh việc huấn luyện, đào tạo, làm cho cán bộ có gan phụ trách, có gan làm việc. Người còn nhắc nhở: "Phong trào giải phóng sôi nổi, nảy nở ra rất nhiều nhân tài ngoài Đảng. Chúng ta không được bỏ rơi họ, xa cách họ. Chúng ta phải thật thà đoàn kết với họ, nâng đỡ họ. Phải thân thiết với họ, gần gũi họ, đem tài năng của họ giúp ích vào công cuộc kháng chiến cứu nước". Tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc", cùng với tác phẩm "đời sống mới" được viết trước đó, đã giải quyết những vấn đề cơ bản về xây dựng con người mới, cuộc sống mới, nâng cao sức chiến đấu của Đảng, động viên tiềm lực của đất nước, phát huy tính ưu việt của chế độ mới để giành thắng lợi trong kháng chiến.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: ptlinh trong 24 Tháng Hai, 2021, 09:01:25 am
Theo dõi sát sao việc xây dựng, củng cố căn cứ địa Việt Bắc, ngày 19-8-1947, Người viết thư gửi đồng bào Khu 11 (Khu 1 gồm các tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Phúc Yên). Trong thư, Người căn dặn: "Hiện bây giờ Khu 1 chưa phải là mặt trận chính. Nhưng đối với bọn thực dân hung ác, nay mai Khu 1 rất có thể trở nên mặt trận chính. Vì vậy, chúng ta phải luôn luôn chuẩn bị sẵn sàng. Chúng ta cần phải làm những việc sau: a) Đã đoàn kết phải đoàn kết thêm. Khắp nơi phải tổ chức Hội liên hiệp quốc dân. b) Tập luyện dân quân, tự vệ, du kích. Giúp đỡ bộ đội. c) Ra sức tăng gia sản xuất, làm cho nhiều lúa, nhiều sắn, nhiều ngô. Nuôi nhiều gia súc. d) Phát triển bình dân học vụ. Giúp đỡ đồng bào tản cư. Giữ gìn bí mật. e) Các cán bộ quân sự, chính trị, hành chính và chuyên môn thì phải làm đúng bôn chữ: cần, kiệm, liêm, chính. Tiếp đó, trong thư gửi đồng bào các tỉnh Việt Bắc, ngày 2-9-1947, Người nhấn mạnh vị trí, vai trò của căn cứ địa Việt Bắc: ’’Việt Bắc phải trở thành căn cứ của kháng chiến... Cách mệnh đã do Việt Bắc mà thành công, thì kháng chiến cũng do Việt Bắc mà thắng lợi"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Sđd, tr. 207).


Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, các căn cứ địa trong cả nước, cũng như căn cứ địa Việt Bắc, nhanh chóng được xây dựng và củng cố về mọi mặt. Việt Bắc trở thành hậu phương - căn cứ địa ngày càng vững chắc, là tiền đề trực tiếp và là một trong những nhân tố quan trọng đưa đến thắng lợi của quân và dân ta trong chiến dịch Thu - Đông năm 1947.


Sau một thời gian ráo riết chuẩn bị, đầu tháng 9-1947, kế hoạch tiến công lớn trên chiến trường Bắc Bộ của Bộ chỉ huy Pháp lộ rõ. Ngày 10-9, tại thị xã Hà Đông, Cao ủy Bô-la đọc diễn văn ngoan cố không công nhận nền độc lập của ta, không công nhận Chính phủ Hồ Chí Minh và sẽ kết thúc cuộc chiến bằng một cuộc tiến công quân sự. Trước tình hình đó, ngày 12-9, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa phiên họp Hội đồng Chính phủ bàn kế hoạch đề phòng cuộc tiến công mùa Đông của giặc và vấn đề tuyên dương công trạng quân nhân1 (Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử, Tập 4, Sđd, tr. 125). Tiếp đó, ngày 15-9, Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị "Bô-la nói gì - ta phải làm gì?", vạch trần âm mưu đen tối của thực dân Pháp và khẳng định lại lập trường kiên quyết kháng chiến của ta. Bản chỉ thị nhắc nhở quân dân cả nước phải tích cực chuẩn bị để đối phó với cuộc tiến công Thu - Đông của giặc; về quân sự "chuẩn bị chống các cuộc quân địch đánh xuyên mũi dùi, đánh vòng thật rộng, nhảy dù đổ bộ sau lưng ta"2 (Văn kiện quân sự, của Đảng, Tập 2, (1945-1950), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1976, tr. 208). Chấp hành chỉ thị của Thường vụ Trung ương Đảng, các địa phương đẩy mạnh thêm một bước công tác chuẩn bị chiến đấu. Các khu ủy 1, 10, 12 và các tỉnh ủy trên địa bàn căn cứ địa Việt Bắc phổ biến chỉ thị của Đảng, bàn biện pháp thực hiện. Công tác phá hoại, cản địch được tiến hành khẩn trương hơn. Các công tác khác cũng được đẩy mạnh. Cơ quan, xưởng máy, kho tàng chuyển về nơi an toàn. Dân quân tự vệ khẩn trương luyện tập, tuần tra canh gác, kiểm soát chặt chẽ những nơi xung yếu. Bộ đội hoàn chỉnh trận địa, triển khai đội hình chiến đấu, trang bị thêm vũ khí. Nhiều kinh nghiệm tác chiến được phổ biến đến từng chiến sĩ. Khắp nơi xuất hiện khẩu hiệu quyết tâm chiến đấu "phá tan cuộc tiến công mùa Đông của giặc Pháp".


Sáng ngày 7-10-1947, quân Pháp nhảy dù xuống thị xã Bắc Kạn. Vừa xuống đất, chúng lập tức bủa vây, lùng sục truy tìm cơ quan lãnh đạo kháng chiến. Đồng thời với cuộc đổ bộ đường không, quân Pháp mở những gọng kìm và mũi dùi lớn đánh lên Việt Bắc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư kêu gọi bộ đội, dân quân du kích và đồng bào cả nước ra sức chiến đấu tiêu diệt địch. Trong thư, Người vạch trần âm mưu của giặc là đánh ào ạt, chớp nhoáng, bất thình lình, dùng cách "sét đánh ngang tai" làm cho ta hoang mang trở tay không kịp. Ý định của chúng là hội quân ở Bắc Kạn tạo thành một cái ô bọc lấy Việt Bắc, rồi chúng cụp ô lại, khép chặt vòng vây, từ ngoài đánh vào, từ trong đánh ra, nhảy dù xuống những nơi nghi có cơ quan của Trung ương Đảng và Chính phủ ta để lùng bắt, phá cho được đầu não cuộc kháng chiến. Sau đó, chúng sẽ bình định các khu vực khác và lập chính phủ bù nhìn. Người nhấn mạnh: địch mạnh về các gọng kìm. Chúng ta quyết tâm chiến đấu bẻ gãy gọng kìm thì cái ô cụp xuống và sẽ rách1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Sự nghiệp, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2002, tr. 438). Ngày 11-10, Người chủ trì cuộc họp Đảng đoàn Chính phủ bàn về việc đối phó với cuộc tiến công của quân Pháp và vấn đề di chuyển cơ quan Chính phủ2 (Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử, Tập 4, Sđd, tr. 137).


Sau khi biết rõ thêm kế hoạch tiến công Việt Bắc của địch3 (Quân ta bắn rơi máy bay chở bộ tham mưu chiến dịch của Pháp đi thị sát mặt trận ngày 9-10 tại Cao bằng, thu tài liệu. Ngày 13-10, Bộ Tổng tham mưu đã có trong tay bản kế hoạch tiến công Việt Bắc của Pháp), ta càng chủ động hơn trong việc đối phó với giặc. Ngày 15-10, Chủ tịch Hồ Chí Minh chuyển về ở và làm việc tại xã Liên Minh, huyện Võ Nhai. Cùng ngày, Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị "Phải phá cuộc tấn công mùa Đông của giặc Pháp". Chỉ thị nhận định rằng, cuộc tấn công của địch không chứng tỏ chúng mạnh mà trái lại, tỏ ra chúng yếu. Cuộc tấn công này "chỉ ồ ạt lúc đầu"1 (Văn kiện quân sự của Đảng 1945-1950, Tập 2, Sđd, tr. 240). Quân địch dàn quân ra càng mỏng, càng là dịp tốt cho ta đánh chúng ở miền xuôi. Kẻ địch đóng quân ở nơi xa, càng dễ cho ta bao vây chặt đường tiếp tế và "đánh chúng một cách rất có lợi trong khi chúng vận động"2 (Văn kiện quân sự của Đảng 1945-1950, Tập 2, Sđd, tr. 240). Về phương hướng hành động cụ thể của quân và dân ta, chỉ thị nêu rõ là ta phải kiên quyết chiến đấu giam chân địch tại những căn cứ mà chúng vừa chiếm, bao vây những căn cứ đó, triệt để làm vườn không, nhà trống chung quanh chỗ địch chiếm, đồng thời cắt đứt sự liên lạc giữa các cứ điểm của địch, không cho chúng tiếp tế và tiếp ứng cho nhau. Quá trình chiến đấu phải giữ gìn chủ lực của ta, nhưng cũng phải nhạy bén, nhằm những chỗ yếu của địch mà "đánh những trận vang dội, những trận tiêu diệt... Bắt địch chuyển sang thế phòng thủ"3 (Văn kiện quân sự của Đảng 1945-1950, Tập 2, Sđd, tr. 240). Chỉ thị còn nhắc nhở: "Cuộc tiến công của địch lần này phải làm cho cán bộ ta chữa được bệnh chủ quan cho rằng địch không dám tiến công táo bạo, chưa dám đánh Việt Bắc, không dám nhảy dù hay đổ bộ xa căn cứ. Nó lại thúc giục các cấp chỉ huy mau nhận ra quy luật chiến tranh... Nó chỉ rõ cho cán bộ chỉ đạo các cấp của phong trào ta nhận rõ: muốn thắng địch, phải đoán đúng mưu kế của địch và phải giữ bí mật mưu kế của mình”4 (Văn kiện quân sự của Đảng 1945-1950, Tập 2, Sđd, tr. 240).


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: ptlinh trong 24 Tháng Hai, 2021, 09:03:11 am
Chấp hành chỉ thị của Thường vụ Trung ương Đảng, trong quá trình chỉ đạo cuộc phản công địch, Bộ Tổng chỉ huy liên tiếp điều động, bố trí lực lượng theo yêu cầu tác chiến. 30 đại đội độc lập, 18 tiểu đoàn tập trung của Khu 1, Khu 10 được thành lập nhanh chóng làm nòng cốt mở rộng chiến tranh du kích. Vừa tác chiến, các đại đội độc lập vừa dìu dắt dân quân tự vệ hoạt động. Các tiểu đoàn tập trung cơ động tiêu diệt các vị trí và đánh địch trên đường giao thông. Nhân dân hăng hái tham gia kháng chiến, thực hiện vườn không, nhà trống, ủng hộ và phối hợp với lực lượng vũ trang đánh địch. Do đó, quân Pháp đi đến đâu cũng bị đánh. Càng vào sâu căn cứ địa Việt Bắc, các binh đoàn tiến công của thực dân Pháp càng bị chia cắt làm nhiều mảnh, mỗi mảnh thành một mục tiêu tiến công của quân ta.


Trong thời gian này, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Thường vụ Trung ương Đảng, Hội đồng Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo các công việc đôi nội, đối ngoại, kháng chiến trong cả nước, đồng thời Người theo dõi sát sao mọi diễn biến trên chiến trường Việt Bắc. Nhận rõ tầm quan trọng của việc thông suốt mệnh lệnh tác chiến, Người căn dặn cán bộ, chiến sĩ: "Một mệnh lệnh gì trên xuống, của Bộ Quốc phòng hay Bộ Tổng chỉ huy đều phải đến khu, đến các trung đoàn, các đoàn thể và phải xuống tới tận người đội viên. Nếu mệnh lệnh đến khu rồi mắc nghẽn không xuống dưới nữa tức là khu không theo kỷ luật. Bộ đội sẽ kém sức mạnh. Mệnh lệnh cũng như dòng máu chảy từ tim ra đến đầu, các tứ chi. Nếu chảy đến tay mà mắc nghẽn thì tay bại. Tay bại người sẽ yếu đi. Các đồng chí cũng biết thời gian là quý. Dụng binh thắng bại nhiều lúc quyết định trong năm, mười phút. Vậy các đồng chí phải làm sao cho những mệnh lệnh ở trên xuống được nhanh chóng và thi hành chu đáo"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Sđd, tr. 224, 332, 341, 322). Người kêu gọi tướng sĩ Vệ quốc quân, dân quân du kích đua tài, xung phong diệt địch: "Cán bộ này với cán bộ khác, đơn vị này với đơn vị khác phải ra sức thi đua nhau ai diệt được nhiều địch hơn, ai cướp được nhiều súng hơn, ai lập được công to hơn... Riêng về phần tôi, tôi để dành một phần thưởng đặc biệt cho cán bộ, chiến sĩ nào hoặc đơn vị nào sẽ lập được công oanh liệt nhất, vẻ vang nhất"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Sđd,  tr. 224, 332, 341, 322). Người viết thư gửi đồng bào và chiến sĩ Khu 102 (Khu 10 gồm: Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ, Vĩnh Yên), nêu rõ ưu điểm và thiếu sót: "Mặt trận Sông Lô, Vệ quốc quân, dân quân du kích và đồng bào rất hăng hái cho nên thu được một ít nhiều chiến công vẻ vang. Trái lại, những mặt trận khác như Lào Cai, Yên Bái thì còn kém. Đó không phải vì đồng bào kém hăng hái hoặc là chiến sĩ kém dũng cảm. Nhưng vì ta kế hoạch tổ chức, tuyên truyền, vận động chưa được đầy đủ, chu đáo. Về mặt dân vận thì khu ta còn xao nhãng... Phải làm thế nào cho cuộc thắng trận vẻ vang ở sông Lô sẽ là bước đầu cho nhiều cuộc thắng trận khác. Phải làm cho Khu 10 thành khu kiểu mẫu về mọi mặt"3 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Sđd, tr. 224, 332, 341, 322).


Hưởng ứng lời kêu gọi và sự động viên khích lệ của Người, quân và dân Việt Bắc hăng hái thi đua diệt giặc, lập công. Trong khi quân Pháp bị đánh mạnh ở Việt Bắc, thì ở đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ chúng cũng bị chiến tranh du kích tiêu diệt nhiều sinh lực. Nhiều tên Việt gian bị bắn chết ngay giữa Hà Nội và Sài Gòn. Thực dân Pháp rơi vào thế bế tắc: Việt Bắc đánh không xong, đồng bằng Bắc Bộ chưa chiếm được, chiến tranh du kích ở Nam Bộ ngày càng mạnh.


Nhằm động viên tinh thần chiến đấu của quân dân ta và phổ biến kinh nghiệm tác chiến, tiến lên giành những thắng lợi mới trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, cuối năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm "Việt Bắc anh dũng"1 (Tác phẩm viết cuối năm 1947, Tổng bộ Việt Minh xuất bản lần đầu năm 1948), ký tên Tân Sinh. Bằng những tư liệu lấy từ các bức thư, điện, công văn, mệnh lệnh của quân Pháp do ta thu được, Người miêu tả những khó khăn của địch trong cuộc phiêu lưu mạo hiểm đánh lên Việt Bắc. Người khái quát bốn nhân tố quyết định thắng lợi của quân và dân ta trong Thu - Đông 1947 là: Sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Chính phủ, sự điều khiển khôn khéo của Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng chỉ huy, sự dũng cảm của tướng sĩ Vệ quốc quân, dân quân du kích và sự hăng hái của toàn thể đồng bào. Phân tích sự chỉ đạo chiến lược sáng suốt của ta, Người viết: Ngay lúc bắt đầu kháng chiến ta đã chủ trương trường kỳ kháng chiến để đánh tan mưu mô "đánh mau, thắng mau" của thực dân. Ta cũng thấy trước địch sẽ cố chiếm mấy thành thị và một số đoạn đường giao thông, nhưng lực lượng chúng càng rải ra thì càng mỏng, ta càng dễ tiêu diệt chúng. Cũng ngay từ đầu, Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng chỉ huy chủ trương dùng chiến thuật du kích để tiêu diệt địch. Càng ngày "chúng ta càng thấy những ý định trên là sáng suốt, nhất là trong cuộc địch tiến công vào Việt Bắc, chúng ta càng thấy rõ như thế"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Sđd, tr. 341, 314, 368). Cuối tác phẩm, Người nhắc nhở rằng, thực dân Pháp chưa bị đánh quỵ hoàn toàn, cuộc kháng chiến sẽ còn gay go hơn nữa. Vì vậy, "chúng ta chớ tự kiêu tự đại, chớ chủ quan, chớ khinh địch. Chúng ta phải luôn luôn chuẩn bị, cẩn thận đề phòng... Phải sửa chữa những khuyết điểm và cố gắng phát triển các ưu điểm"3 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Sđd, tr. 341, 314, 368). Đó là chìa khoá để đi tối thắng lợi mới.


Ngày 19-12-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi đồng bào cả nước, tổng kết một năm Toàn quốc kháng chiến.

Người khẳng định: kháng chiến ắt phải gay go, cực khổ, nhưng ta nhất định sẽ giành được thắng lợi. Qua một năm kháng chiến toàn quốc "lực lượng ta ngày càng thêm mạnh, như suối mới chảy, như lửa mới nhóm, chỉ có tiến, không có thoái"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Sđd, tr. 341, 314, 368), còn lực lượng của địch "như mặt trời vào lúc hoàng hôn, hống hách lắm nhưng đã gần tắt nghỉ"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Sđd, tr. 341, 314, 368). Cũng đúng ngày này, do bị thất bại nặng trên chiến trường, đại bộ phận quân Pháp nhục nhã rút khỏi Việt Bắc. Đêm 22-12-1947, tại thị xã Tuyên Quang, quân dân ta tổ chức trọng thể lễ mừng chiến thắng.


Chiến thắng của quân và dân ta trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947 là chiến thắng có ý nghĩa chiến lược về quân sự, chính trị và tinh thần. Chiến thắng đó bắt nguồn từ nhiều nhân tố, trước hết là sự lãnh đạo tài tình và sáng tạo của cơ quan lãnh đạo kháng chiến toàn quốc, do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Người, căn cứ địa Việt Bắc được xây dựng và củng cố, tính ưu việt của chế độ mới được phát huy, "lòng yêu nước của đồng bào, nhập với hình thế hiểm trở của núi sông thành một lực lượng vô địch, nó đã đánh tan cuộc tấn công của thực dân"3 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Sđd, tr. 341, 314, 368), tạo đà cho những thắng lợi tiếp theo trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 24 Tháng Hai, 2021, 09:07:18 am
BÁC HỒ VÀ CƠ QUAN ĐẦU NÃO KHÁNG CHIẾN DI CHUYỂN
TRONG CHIẾN DỊCH VIỆT BẮC THU - ĐÔNG 1947


TS. CHU ĐỨC TÍNH*
LÊ THỊ LIÊN**
* Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh
** Bảo tàng Hồ Chí Minh


Ngay sau ngày toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng và các cơ quan đầu não kháng chiến di chuyển dần lên Việt Bắc, căn cứ địa kháng chiến. Ngay từ những ngày đầu kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Nhân dân ta phải trường kỳ kháng chiến để đánh tan kế hoạch "đánh nhanh thắng nhanh" của thực dân Pháp.


Theo Bác lên căn cứ địa Việt Bắc có một tiểu đội vừa làm nhiệm vụ bảo vệ vừa giúp việc. Bác đặt tên cho các đồng chí trong tiểu đội đó là: "Trường, Kỳ, Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng, Lợi". Các tên Bác đặt vừa giữ được bí mật, vừa thể hiện ý chí và quyết tâm kháng chiến của toàn dân ta.


Ngày 7-10-1947, thực dân Pháp mở cuộc tấn công Việt Bắc. Âm mưu của chúng là tiêu diệt bộ đội chủ lực và phá tan cơ quan đầu não kháng chiến của ta. Chúng huy động 12.000 binh sĩ tinh nhuệ nhất trong hải, lục, không quân vào cuộc tấn công này.


Thực dân Pháp dự định trong vòng một tháng sẽ thực hiện thành công cuộc hành binh quy mô lớn nhất này. Kế hoạch của chúng là: sau khi nhảy dù xuống, sẽ lập tức bao vây, truy tìm Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị bộ trưởng, như vậy sẽ "chụp được trung tâm điểm của Hồ Chí Minh". Cuộc chiến tranh sẽ chấm dứt, chính phủ bù nhìn sẽ được thành lập, nước Pháp lại cai trị Việt Nam như trước!


Ngày 7-10-1947, từ sáng sớm, Bộ chỉ huy Pháp đã cho quân nhảy dù xuống thị xã Bắc Kạn và thị trấn Chợ Mới. Mở đầu cuộc tiến công lớn bằng cách nhảy dù xuống Bắc Kạn, Pháp hy vọng bắt sống được Hồ Chí Minh và cơ quan đầu não kháng chiến của ta.


Trong hơn hai tháng của chiến dịch, quân Pháp tiến công, càn quét đánh phá rất ác liệt nhiều nơi ở Việt Bắc. Cuộc sống ở chiến khu rất gian khổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và cơ quan đầu não kháng chiến của ta đã phải luôn luôn di chuyển nơi ở và làm việc. Trong thời gian xảy ra chiến sự, Bác vẫn luôn ở bên cạnh Bộ Tổng chỉ huy, theo dõi sát tình hình diễn biến của các mặt trận và kịp thời chỉ đạo.


Việc địch tiến công bắt đầu từ Bắc Kạn là ngoài dự kiến của ta. Vào thời điểm đó, một số cơ quan của ta tập trung ở thị xã và vùng ven, như Ty Ngân khố, cơ sở in giấy bạc, Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn (tiền thân của Trường sĩ quan Lục quân 1 ngày nay), bộ phận dự bị của Đài Tiếng nói Việt Nam và một số nhà máy, kho tàng,... Nhảy dù xuống Bắc Kạn, quân Pháp có gây bất ngờ và gây cho ta một số thiệt hại, nhưng không đạt được mục đích. Trước các cuộc hành binh của Pháp, nhiệm vụ hàng đầu của chúng ta là bằng mọi giá phải bảo vệ an toàn cho các cơ quan lãnh đạo.


Khi địch nhảy dù xuống Bắc Kạn, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thường vụ Trung ương Đảng còn đang ở Điềm Mạc thuộc huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên. Ngay ngày đầu tiên khi Pháp tiến công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp nghe Bộ Tổng chỉ huy tổng hợp, báo cáo tình hình. Sau khi nghe đồng chí Võ Nguyên Giáp báo cáo những diễn biến mới nhất và một số việc đã làm của Bộ Tổng chỉ huy, Bác hỏi:

- Địch có thể huy động bao nhiêu quân vào cuộc tiến công?

Đồng chí Võ Nguyên Giáp trả lời:

- Theo tin tức gần đây, Va-luy được tăng viện hai vạn quân.

Bác nói:

- Nước Pháp không đủ sức để theo đuổi một cuộc chiến tranh lâu dài. Chúng phải cố gắng đánh một đòn quân sự quyết định tạo điều kiện cho Bô-la đưa Bảo Đại về để tìm cách kết thúc chiến tranh. Dù Va-luy có huy động được hai vạn quân vào cuộc tiến công này thì với địa bàn rừng núi hiểm trở của Việt Bắc, với tinh thần cách mạng của đồng bào các dân tộc ở căn cứ địa, cũng không có gì đáng ngại...1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Chiến đấu trong vòng vây - Hồi ức, Hữu Mai thể hiện (in lần thứ hai), Nxb Quân đội nhân dân - Nxb Thanh niên, Hà Nội, 1998, tr. 167).


Từ khi rời Hà Nội trở lại Việt Bắc, Bác đã dừng lại nhiều nơi và di chuyển qua nhiều địa điểm. Do yêu cầu bảo mật, phải thường xuyên thay đổi chỗ ở, nên hành trang của Bác rất đơn giản: một chiếc ba lô đựng vài bộ quần áo, chiếc túi xách đựng tài liệu cùng với máy chữ Héc-mét và chiếc đồng hồ quả quýt... Bác dặn anh em mỗi khi tìm địa điểm mới cần lưu ý các điều kiện như:

Trên có núi, dưới có sông,
Có đất ta trồng, có bãi ta vui.
Tiện đường sang Bộ Tổng,
Thuận lối tới Trung ương.
Nhà thoáng, ráo, kín mái
Gần dân, không gần đường1 (Chuyện kể của những người giúp việc Bác Hồ, Nxb Thông tấn, Hà Nội, 2003, tr. 140).


Nhà của Bác trong thời gian này thường là một cái lán bằng tre, nứa, lá, làm theo kiểu nhà sàn của đồng bào miền núi. Nhà ở như vậy vừa tránh được ẩm thấp, vừa tránh được thú rừng. Tầng trên để Bác ngủ; còn tầng dưới, ban ngày Người làm việc và tiếp khách.


Ngày 8-10, quân Pháp nhảy dù xuống thị trấn Chợ Đồn. Ngày 9-10, một tiểu đoàn quân dù nhảy xuống thị xã Cao Bằng...


Ngày 11-10, Bác chuyển chỗ ở, vì có tin báo địch sẽ tiếp tục nhảy dù xuống một số địa điểm. Nơi ở mới của Bác là xã Tràng Xá, Tân Hồng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, ở Tràng Xá, lúc đầu anh em bảo vệ mượn nhà dân để đón Bác, sau đó mới làm lán để Bác ở. Lán của Bác đầu tiên làm ở ngoài bìa rừng, sau mới làm sâu vào bên trong.


Cũng trong ngày 11, Bác chủ tọa phiên họp của Hội đồng Chính phủ, giữa tiếng máy bay địch gầm rú bắn phá, để nghe đồng chí Võ Nguyên Giáp báo cáo tình hình chiến sự, thảo luận kế hoạch chuẩn bị đối phó với cuộc tấn công của Pháp, vấn đề di chuyển cơ quan Chính phủ và kế hoạch thi hành.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 24 Tháng Hai, 2021, 09:09:41 am

Theo kế hoạch, Bác và Thường vụ Trung ương sẽ tiếp tục ở lại An toàn khu Việt Bắc, vì nhân dân ở đây có truyền thống và kinh nghiệm bảo vệ cán bộ từ thời hoạt động bí mật. Trước mắt, Bác chuyển lên vùng cao và khi cần thiết sẽ chuyển tới nơi an toàn hơn, về phía Thành Cóc.


Chiều 14-10, Bác dự cuộc họp của Thường vụ Trung ương, nghe báo cáo âm mưu của địch, kiến nghị của Bộ Tổng chỉ huy và dự thảo chỉ thị của Thường vụ do đồng chí Trường Chinh trình bày. Kết thúc cuộc họp, Người nói:

- Tình hình cực kỳ rối ren về chính trị ở Pháp và phong trào đấu tranh ở các nước thuộc địa đã dẫn Pháp đến chỗ muốn sớm kết thúc chiến tranh Đông Dương. Chúng chỉ tiến công ồ ạt lúc đầu. Nếu ta thực hiện được đánh địch khắp nơi, buộc chúng dàn mỏng lực lượng đối phó, chúng sẽ thất bại. Giữ gìn được chủ lực qua mùa đông này là coi như thắng lợi. Nếu chuyến này chúng không thắng nhanh để kết thúc chiến tranh thì cục diện sẽ đổi mới có lợi cho ta1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Chiến đấu trong vòng vây, Sđd, tr. 178).


Từ ngày 15-10, Người chuyển về ở và làm việc tại làng Vang, xã Liên Minh, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Cũng trong ngày 15, Bác kêu gọi quân và dân Việt Bắc hãy ra sức đánh bại cuộc hành binh của địch, quân dân cả nước tích cực đánh địch để phối hợp với Việt Bắc. Người viết: "Địch hội quân ở Bắc Kạn tạo thành cái ô bọc lấy Việt Bắc, rồi cụp ô xuống, dưới đánh lên, trên đánh xuống, phá cho được cơ quan đầu não kháng chiến... Chúng mạnh ở hai gọng kìm, gọng kìm mà gãy thì cái ô cụp xuống sẽ thành ô rách và cuộc tiến công thất bại"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Chiến đấu trong vòng vây, Sđd, tr. 179).


Sau đó, để đề phòng quân địch bất ngờ nhảy dù, Người chuyển từ Điềm Mạc lên Khuôn Tát, xã Phú Đình, Định Hoá, Thái Nguyên. Trong thời gian Bác sống ở Khuôn Tát, buổi sáng sau khi nấu ăn xong, Người lại lên núi. Sau khoảng ba hay bốn ngày, Bác lại chuyển sang một địa điểm khác.


Ngày 22-10, có tin quân của Bô-phơ-rê đã có mặt ở Đài Thị và quân của Com-muy-nan cũng sắp tới đây để hội quân theo kế hoạch. Như vậy, "Cuộc hành quân Lê-a" sẽ kết thúc, và kế hoạch tiếp theo sẽ bắt đầu với cuộc vây ép khu tứ giác Tuyên Quang - Đài Thị - Bắc Kạn - Thái Nguyên, mà điểm trung tâm là Chợ Chu.


Đồng chí Võ Nguyên Giáp viết thư hoả tốc để nghị Bác và đồng chí Trường Chinh di chuyển ngay lên Thành Cóc theo kế hoạch đã bàn trong Thường vụ Trung ương Đảng. Đây là một cơ sở cách mạng lâu ngày của ta ở vùng cao, có nhiều đồng chí người Dao trung kiên. Đồng chí Trường Chinh rất phân vân vì lúc đó Bác đang bị ốm, nhưng Bác nói cứ làm theo kế hoạch. Đường lên Thành Cóc rậm rạp, Bác phải bỏ ngựa và nhiều đoạn phải rẽ lau, vạch cỏ mà đi.


Thực dân Pháp đặt nhiều kỳ vọng vào cuộc tiến công lên căn cứ địa Việt Bắc mà chúng cho là đang diễn tiến có nhiều thuận lợi, nhưng chúng đã bị thất bại thảm hại và so với kế hoạch thì cuộc hành binh của chúng đã bị chậm đi nhiều.


Ngày 3-11, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa phiên họp của Hội đồng Chính phủ, nghe báo cáo tình hình của các Bộ sau cuộc tấn công của Pháp và một số công việc khác.

Từ 8 giờ tối ngày 10 đến 3 giờ sáng ngày 11-11, dưới sự chủ toạ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc họp Hội đồng Chính phủ được tổ chức tại ATK, nghe báo cáo các công việc đã giải quyết trong kỳ họp Hội đồng Chính phủ lần trước và tuyên bố lý do chia nhân viên Chính phủ làm hai phân bộ để tiện cho Hội đồng, tránh những biến cố bất ngờ. Từ nay, Hội đồng Chính phủ sẽ họp làm hai nơi1 (Lê Văn Hiến. Nhật ký của một Bộ trưởng, Nxb Đà Nẵng, 1995, tr. 206, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dự cuộc họp Hội đồng Chính phủ tại ATK. 1 ATK. 1 là địa điểm nào, hiện nay chúng tôi chưa biết cụ thể).

Trong hai ngày 18 và 19-11, Bác đến ở nhà ông Ma Tử Vượng, xóm Sơn Vinh, xã Sơn Phú, huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên.


Ngày 20-11, Người chuyển đến ở và làm việc tại xã Phú Đình, huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên. Hằng ngày, Người và đồng chí Trường Chinh vẫn nghe đồng chí Võ Nguyên Giáp báo cáo những diễn biến của tình hình chiến sự.


Từ ngày 29-11 đến 3-12, Người ở và làm việc tại nhà ông Hiến ở thôn Khuôn Đào, xã Trung Yên, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.


Ngày 4-12, Người chuyển đến ở và làm việc tại Khuổi Tẩu, xã Hùng Lợi, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.


Từ ngày 8 đến hết tháng 12-1947, Bác chuyển đến thôn Bản Ca, xã Bình Trung, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn. Tại đây, ngày 8-12, Người đã tiếp và trả lời phỏng vấn của các nhà báo Việt Nam và nước ngoài về cuộc gặp gỡ giữa Vĩnh Thụy và Cao ủy Pháp, Bô-la (6 và 7-12-1947) tại Vịnh Hạ Long, trong tuyên bố của Người sau đó, có đoạn:

"Chính phủ và nhân dân ta rất mong cố vấn Vĩnh Thụy không có những hành động trái ngược với những lời cố vấn đã thề trước Tổ quốc và trước đồng bào, trái với nguyện vọng của dân tộc. Dù sao vận mệnh của dân tộc sẽ không vì một người, hoặc một nhóm người mà thay đổi"1 (Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, Tập 4, tr. 137-138).


Cùng ngày, Người điện gửi Giám mục Lê Hữu Từ nhân dịp lễ Thiên chúa giáng sinh. Người chúc Giám mục "mọi sự lành" để phụng sự Đức Chúa, để lãnh đạo đồng bào Công giáo tham gia kháng chiến và nhờ chuyến lời chúc phúc của Người tới toàn thể đồng bào Công giáo.


Ngày 19-12-1947, đúng một năm sau ngày Toàn quốc kháng chiến, cuộc tiến công chiến lược của Pháp nhằm vào căn cứ địa Việt Bắc kết thúc; đại bộ phận quân Pháp phải rút khỏi Việt Bắc, chỉ còn một lực lượng của địch ở thị xã Bắc Kạn, Cao Bằng và những vị trí bảo vệ giao thông trên dọc đường số 4 từ Lạng Sơn tới Cao Bằng, Đường số 3 từ Cao Bằng xuống Bắc Kạn.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 24 Tháng Hai, 2021, 09:11:54 am
Cũng trong ngày 19-12, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi gửi đồng bào và chiến sĩ cả nước. Người kêu gọi các tầng lớp đồng bào, chiến sĩ cả nước hãy ra sức phấn đấu, đóng góp cho kháng chiến và trịnh trọng tuyên bô: "Nhân dân Việt Nam sẵn sàng cộng tác thân thiện với nhân dân Pháp, song nhân dân Việt Nam quyết không đầu hàng, quyết không chịu mất nước, quyết không chịu làm nô lệ một lần nữa.


Và Chính phủ Hồ Chí Minh thề quyết lãnh đạo nhân dân và quân đội chiến đấu đến cùng, để phá tan xiềng xích của bọn thực dân, để tranh lại quyền thống nhất và độc lập. Chính phủ Hồ Chí Minh quyết làm trọn cái nhiệm vụ vẻ vang mà quốc dân đã giao cho, và quyết không phụ lòng tin cậy mà đồng bào đã đặt vào Chính phủ"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Sđd, tr. 315-316, 328).


Cùng ngày, Người viết: Thư gửi cán bộ Khu I; Thư gửi đồng bào và tướng sĩ Khu II; Thư gửi đồng bào và chiến sĩ Khu III; Thư gửi đồng bào và chiến sĩ Khu X; Thư gửi đồng bào, vệ quốc quân, dân quân du kích, cán bộ xung phong cảm tử Khu XI; Thư gửi đồng bào và tướng sĩ Khu XII và bài Kỷ niệm ngày thành lập Giải phóng quăn Việt Nam. Người ký Thông tư gửi các Bộ "về việc cử các nhân viên làm việc đắc lực để khen thưởng".


Trong dịp 19-12, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời sáu câu hỏi của các nhà báo về kinh nghiệm trong một năm kháng chiến toàn quốc vừa qua, về triển vọng cuộc kháng chiến năm tới, về cuộc tấn công mùa Đông của địch... Trả lời câu hỏi: "Theo Chủ tịch, kết quả cuộc hành quân mùa Đông của địch sẽ thế nào?, Người khẳng định:

"Cũng như các cuộc hành quân khác, kết quả địch sẽ thất bại, vì:

a) Địch chỉ hoạt động được mấy tháng. Sau mùa mưa thì chúng hết thiên thời.

b) Việt Bắc địa thế hiểm trở, quân địch không có địa lợi.

c) Địch càng lan rộng thì người càng thiếu, sức người càng mỏng, chúng dễ bị tiêu diệt, chúng càng đánh lan ra, càng giở thói tham ô tàn nhẫn, càng làm cho đồng bào ta, miền ngược cũng như miền xuôi, đoàn kết chặt chẽ chống lại chúng, thế là địch không có nhân hoà"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Sđd, tr. 315-316, 328).


Sau khi địch rút khỏi Việt Bắc, Bác từ Thành Cóc về Khuôn Tát. Lúc này, dù đã qua cơn yếu mệt, nhưng Bác vẫn còn gầy và xanh. Người đã đưa cho đồng chí Võ Nguyên Giáp xem bản thảo bài viết tổng kết một năm kháng chiến, bài "Việt Bắc anh dũng", tổng kết chiến dịch Việt Bắc, để kịp thời động viên đồng bào trước chiến thắng Việt Bắc.


Chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947 là chiến dịch phản công quy mô lớn đầu tiên của ta trên địa bàn rừng núi. Với cách đánh vận động, du kích chiến, ta đã đánh bại cuộc tiến công chiến lược của thực dân Pháp, làm tan vỡ cái gọi là "một đòn quân sự rất mạnh để kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương như một cuộc bắn pháo hoa đẹp mắt"1 (Nguyễn Văn Hoa - Phạm Hồng Việt, Hiểu thêm lịch sử qua các hồi ký, ký sự, tùy bút, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1997, tr. 169) mà giới quân sự Pháp khoe khoang khi bước vào cuộc hành binh.


Trong những ngày kháng chiến chống Pháp trên chiến khu Việt Bắc, mặc dù rất vất vả trong việc di chuyển nhiều chỗ ở và làm việc, phải theo dõi sát tình hình chiến sự của chiến dịch để kịp thời chỉ đạo, có những lúc Bác không được khoẻ, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn cùng Trung ương Đảng, Chính phủ chỉ đạo, lãnh đạo toàn dân, toàn quân ta "vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”.


Trong thời gian chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947 đang diễn ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết Những điều cần chú ý cho cán bộ chỉ huy cao cấp quân đội, căn dặn cách ứng xử của cán bộ đối với người, với việc, với vật và đối với địch.


Người tới thăm và dự buổi lễ bế mạc lớp bổ túc cán bộ quân sự trung cấp của quân đội. Nói chuyện tại buổi lễ, Bác căn dặn: Người cán bộ muốn tốt phải có đạo đức cách mạng. Quân sự giỏi song nếu không có đạo đức cách mạng thì khó thành công. Muốn có đạo đức cách mạng phải có năm điều: Trí - Tín - Nhân - Dũng - Liêm. Ngoài ra, phải biết tự phê bình và phê bình, phải thật thà đoàn kết và biết giữ kỷ luật.


Người viết thư khen ngợi hai lão du kích ở Kiến An: "Hai cụ thật xứng đáng với tổ tiên oanh liệt của ta, các phụ lão đời Trần, đời Lê, chẳng những kêu gọi con cháu, mà tự mình hăng hái tay chống gậy, tay cầm dao giết giặc cứu nước”.


Bác gửi thư cho đồng bào xã Duyên Trang, huyện Tiên Hưng, tỉnh Thái Bình, khen ngợi thành tích toàn dân trong xã từ tám tuổi trở lên đều thoát nạn mù chữ. Trong thư, Người căn dặn: "Học hành là vô cùng. Học càng nhiều, biết càng nhiều càng tốt... đồng bào trong xã gắng học thêm thường thức như làm tính, lịch sử, địa dư, chính trị, vệ sinh. Đồng thời cố gắng tăng gia sản xuất ủng hộ kháng chiến".


Trong tháng 10, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc", với bút danh X.Y.Z. Đây là một tác phẩm quan trọng về xây dựng Đảng, một tài liệu học tập rất bổ ích, thiết thực, một cuốn sách để cán bộ tu dưỡng về tư tưởng, đạo đức, phương pháp và phong cách công tác.


Ngày 10-11, Người viết: Thư gửi ông Giám đốc và toàn thể nam nữ giáo viên bình dân học vụ Khu III, khen ngợi thành tích xoá nạn mù chữ trong toàn khu. Người mong "Ông giám đốc, các giáo viên và các cơ quan đoàn thể cố gắng làm thế nào để chừng tháng 6 năm sau toàn thể nhân dân Khu III từ 8 tuổi trở lên đều biết chữ”, v.v.


Trong thời gian này, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã ký một số sắc lệnh và quyết định. Ngày 10-10, Người ký Quyết định truy tặng Huân chương Kháng chiến cho liệt sĩ Trần Bình, điệp báo viên Công an Hà Nội.


Ngày 17-10, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 263/SL-M, cử ông Phạm Văn Đồng làm đặc phái viên của Chính phủ tại Nam Trung Bộ.


Ngày 25-11, Người ký sắc lệnh số 265-SL/M, sáp nhập tỉnh Quảng Yên (gồm cả khu vực Hồng Gai) vào Chiến khu XII về mọi phương diện kháng chiến, hành chính và quân sự.


Ngày 7-12, Người ký sắc lệnh số 612/MDB, về việc khen thưởng các chủ tịch và ủy viên kháng chiến kiêm hành chính cấp xã, nhân kỷ niệm một năm ngày Toàn quốc kháng chiến, v.v.


Có thể nói âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của thực dân Pháp nhằm tiêu diệt chủ lực, phá tan cơ quan đầu não kháng chiến ta trong cuộc tiến công quy mô lớn lên Việt Bắc Thu - Đông 1947 đã hoàn toàn thất bại. Đây là một trận đánh lớn của thực dân Pháp, là một cuộc chiến, mà theo như viên đội Bi-cac viết thư cho vợ: "Ở Pháp người ta nói hết chiến tranh rồi. Kỳ thực ở đây chiến tranh vẫn tiếp tục. Lúc đi nhiều người bị hy sinh. Lúc về cũng như vậy"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Sđd, tr. 354).


Quân và dân ta thu được những thắng lợi to lớn trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947, do có sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự điều khiển khôn khéo của Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng chỉ huy; sự dũng cảm tuyệt vời của tướng sĩ Vệ quốc quân và dân quân du kích và sự hăng hái của đồng bào ta.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 24 Tháng Hai, 2021, 10:12:45 am
HOẠT ĐỘNG CỦA TỔNG HÀNH DINH TRONG MÙA KHÔ 1947


TRẦN TRỌNG TRUNG
Nhà nghiên cứu lịch sử quân sự


Chiến dịch Việt Bắc diễn ra sau khi quân ta đã hoàn thành nhiệm vụ tiêu hao và kìm chân địch trong các thành phố trong cuộc tổng giao chiến mấy tháng đầu kháng chiến toàn quốc. Đến tháng 5-1947, Trung đoàn Thủ đô đã cùng cơ quan lãnh đạo kháng chiến hoàn thành việc di chuyển lên căn cứ địa Việt Bắc. Do sớm có nhận thức về chiến tranh mùa nên trong suốt mùa hè 1947, các cơ quan Tổng hành dinh tập trung vào việc chuẩn bị cả về quân sự và dân sự, chính trị, tư tưởng và tổ chức, nhằm tạo thế mới lực mới, trước hết là nâng cao sức chiến đấu để bộ đội chủ lực và các lực lượng vũ trang địa phương sẵn sàng bước vào cuộc đọ sức mùa khô sắp tới.


Về chính trị, tư tưởng, bài nói của Tổng Bí thư Trường Chinh tại hội nghị Chúc Sơn (trung tuần tháng 1-1947) tiếp đó là các hội nghị chính trị viên toàn quốc, hội nghị cán bộ Trung ương lần 2 cùng với hàng loạt bài viết trên tờ Sự thật, đã góp phần truyền đạt quyết tâm và đường lối kháng chiến của Đảng. Công tác chính trị và lãnh đạo tư tưởng đã bước đầu củng cố niềm tin và thống nhất nhận thức của toàn dân toàn quân đối với sự nghiệp kháng chiến trường kỳ gian khổ nhưng nhất định thắng lợi, đồng thời động viên tinh thần và ý thức của đội ngũ cán bộ quân sự về trách nhiệm của người quân nhân cách mạng trong thời chiến.


Về tổ chức lực lượng và bồi dưỡng cán bộ, đồng thời với việc tổ chức hội nghị chuyên đề bàn về xây dựng bộ đội chủ lực và hội nghị dân quân du kích, việc đào tạo và bồi dưỡng cán bộ được Bộ Tổng chỉ huy coi là một trong những nhiệm vụ hàng đầu. Lớp bổ túc hơn 80 cán bộ trung cấp ở La Bằng (Đại Từ - Thái Nguyên) là lớp học có tầm quan trọng đặc biệt nhằm chuẩn bị đội ngũ cán bộ chỉ huy cốt cán cho kế hoạch Thu Đông sắp tới. Cùng với việc mở các trường lớp tập trung, điều mà Tổng hành dinh đặc biệt quan tâm là giúp cho cán bộ tại chức kịp thời tiếp thu những kinh nghiệm sốt dẻo về tổ chức chỉ huy và nguyên tắc chỉ đạo tác chiến. Trong các hội nghị Chúc Sơn và Tiên Kiên, tiếp đó là các hội nghị quân sự tháng 6 và tháng 9, Tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp rất coi trọng việc phân tích, lý giải để cán bộ chỉ huy cấp khu và trung đoàn nhận thức đúng đắn về các thủ đoạn hành quân, tiến công và phòng ngự của địch và những ưu khuyết điểm trong cách đánh của ta.


Về tổ chức chiến trường, sau cuộc họp liên tịch giữa hai cơ quan Quốc phòng - Tổng chỉ huy với lãnh đạo các khu và tỉnh trong căn cứ địa Việt Bắc, công tác phá hoại đường sá, cầu cống, việc cắm cọc trên các đồi trọc và ruộng khô đề phòng quân nhảy dù, việc động viên nhân dân làm "Vườn không nhà trống", v.v... được xúc tiến ở nhiều địa phương.


Thực tế cho thấy các cơ quan Tổng hành dinh đã hoạt động rất khẩn trương để chuẩn bị bước vào mùa khô. Tuy nhiên, trong bối cảnh quân và dân ta mới trải qua nửa năm kháng chiến toàn quốc, cho nên thật dễ hiểu nếu có những việc làm ấu trĩ, không sát thực tế và nếu tồn tại không ít vấn đề đặt ra nhưng chưa tìm được lời giải thỏa đáng. Ví dụ: làm thế nào để phát động chiến tranh du kích; làm thế nào để khắc phục những yếu kém về trinh sát, thông tin và cơ động bộ đội; cách đánh sắp tới của ta có gì khác so với xuân - hè vừa qua và đặc biệt nổi lên là những ẩn số vể địch. Bước vào thu - đông, Tổng hành dinh đứng trước những câu hỏi lớn chưa có lời đáp chính xác, chắc chắn: Đâu là hướng tiến công chủ yếu của quân Pháp? Khả năng huy động lực lượng của chúng là bao nhiêu? Cách hành binh của chúng thế nào?, v.v.


Những điều kiện buộc ta phải đầu hàng mà đối phương nêu lên trong cuộc gặp gỡ giữa đại diện hai bên Việt - Pháp tại thị xã Thái Nguyên trung tuần tháng 5, là sự kiện nổi bật đòi hỏi quân và dân ta càng phải đề cao cảnh giác hơn nữa trước âm mưu đánh lớn của địch trong mùa khô tới. Nhưng một vấn đề đặt ra: đâu là hướng tiến công của địch?


Trong hội nghị quân sự tháng 6-1947, ta phán đoán địch sẽ mở rộng phạm vi chiếm đóng ở châu thổ sông Hồng hoặc đánh vào hai vùng tự do rộng lớn ở Trung Bộ (Thanh Nghệ - Khu 4 hoặc Nam Ngãi - Khu 5). Việt Bắc là hướng tiến công được đặt vào khả năng thứ ba của sự phán đoán1 (Văn kiện quân sự của Đảng 1945-1950, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1976, tr. 151).


Bài diễn văn của cao ủy Bô-la là thêm một sự khẳng định về khả năng địch sẽ mở một cuộc hành binh lớn trong mùa khô. Tuy nhiên, tại hội nghị quân sự cuối tháng 9, Việt Bắc vẫn chỉ được đặt vào hàng thứ ba trong phán đoán các hướng tiến công của địch. Hội nghị nhận định: "Việt Bắc là một chiến trường mới, khó dự đoán... Nếu mạo hiểm, địch mới đánh (Việt Bắc) trước"1 (Văn kiện quân sự của Đảng 1945-1950, Sđd, tr. 224, 225). Và nếu đánh, mặt chính là Phúc Yên, Thái Nguyên, Phú Thọ, Vĩnh Yên, Tuyên Quang (tức là xuất phát từ phán đoán địch sẽ đánh từ trung du lên). Do đó, trong mệnh lệnh tác chiến ngày 4-10, Bộ Tổng chỉ huy giao nhiệm vụ cho các khu đánh chặn địch trên địa bàn được phân công, Bộ sẽ điều đại đoàn Độc lập vòng xuống hướng Nhã Nam để phối hợp với Khu 12 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch - BTTM xuất bản, Hà Nội, 1964, tr. 15, 16). Các chiến trường trong toàn quốc được lệnh phối hợp với Việt Bắc.


Riêng về biện pháp phát động chiến tranh du kích, sau khi nghiên cứu kinh nghiệm và khả năng thực tế của một đại đội thuộc Khu 12 có thể đứng chân và hỗ trợ cho dân quân du kích chiến đấu có hiệu quả trong vùng tạm chiếm ở Nam phần Bắc Ninh, Tổng chỉ huy đề nghị với Thường vụ cho phân tán 1/3 số đại đội chủ lực từ Khu 4 trở ra, đưa về giúp đỡ lực lượng vũ trang địa phương phát động chiến tranh du kích. Các đơn vị đó được gọi là đại đội độc lập. 2/3 tổng số đại đội còn lại vẫn giữ quy mô tổ chức tiểu đoàn và được gọi là các tiểu đoàn tập trung. Biện pháp chiến lược táo bạo này - mà hồi đó gọi là phương châm đại đội độc lập - tiểu đoàn tập trung - được Thường vụ Trung ương chấp nhận nhưng chưa kịp triển khai thì chiến sự đã nổ ra trên chiến trường Việt Bắc.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 24 Tháng Hai, 2021, 10:15:16 am
Sáng ngày 7-10, quân Pháp nhảy dù xuống thị xã Bắc Kạn và thị trấn Chợ Mới và hôm sau nhảy xuống Chợ Đồn, mở đầu cuộc hành binh táo bạo lên Việt Bắc. Cả ba vị trí trên đây hình thành một vòng cung phía Đông Bắc, không xa nơi đứng chân của các cơ quan Trung ương và Chính phủ3 (Lúc này cơ quan lãnh đạo kháng chiến ở vùng tây Chợ Chu và đông Sơn Dương (hai bên núi Hồng) cách Bắc Kạn chừng 40 km, cách Chợ Đồn chừng 35 km và cách Chợ Mới chừng 25 km đường chim bay).


Địch đánh thắng vào trung tâm căn cứ địa đúng vào thời điểm tại cơ quan đầu não kháng chiến vắng mặt ba đồng chí lãnh đạo. Tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp đi kinh lý Tuyên Quang, đang có mặt ở huyện lỵ Chiêm Hóa. Tổng Bí thư Trường Chinh và Tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái đều ở trong vùng trung tâm chiến sự là thị xã Bắc Kạn1 (Tổng Bí thư Trường Chinh đang làm việc với Tỉnh ủy Bắc Kạn. Tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái đang kiểm tra một đơn vị tân binh ở sân vận động thị xã). Ở cơ quan Bộ Tổng chỉ huy lúc này chỉ có Tham mưu chủ nhiệm Trần Văn Lư, Trưởng phòng Tác chiến Đào Văn Trường và Cục trưởng Chính trị Văn Tiến Dũng. Tối ngày 8, các đồng chí Võ Nguyên Giáp và Hoàng Văn Thái mới về tới cơ quan. Lúc này, trừ tin tức ở thị xã Bắc Kạn, cơ quan tham mưu Tổng hành dinh vẫn chưa được tin về hoạt động của địch trên các hướng Lạng Sơn - Cao Bằng và Lào Cai - Hà Giang cũng như hướng sông Lô - Đường số 2.


Hành động mạo hiểm của địch - nhảy thắng xuống trung tâm căn cứ địa - hoàn toàn khác với phán đoán của Tổng hành dinh, cũng tức là khác với mệnh lệnh tác chiến ngày 4-10 của Bộ Tổng chỉ huy. Cuộc hành binh của địch đã làm rõ một thực tế là công tác chuẩn bị chiến đấu của ta ở phía bắc hai thị xã Tuyên Quang và Thái Nguyên và nhất là trên vùng Cao Bằng - Bắc Kạn còn rất sơ khoáng2 (Nhất là công tác phá hoại đường sá và di chuyển các cơ quan vào sâu trong rừng. Sau này Tổng Bí thư Trường Chinh phê phán: đó là biểu hiện của "tư tưởng đại hậu phương chủ nghĩa"). Trước tình hình đó, tiếp theo mệnh lệnh của Phòng Tác chiến tối ngày 7-10 gửi Khu 1 điều Trung đoàn 72 lên tác chiên ở hướng Bắc Kạn, Bộ điện gấp cho các khu 1, 10 và 12, thông báo tình hình và ra lệnh chuẩn bị lực lượng sẵn sàng chiến đấu đánh trả địch, ngăn chặn đường tiếp tế của chúng, đồng thời huy động dân quân triệt để phá hoại đường sá, cầu cống, khẩn trương giúp dân làm vườn không nhà trống, di chuyển cơ quan, phối hợp cùng nhân dân phòng gian trừ gian..."1 (Tài liệu chỉ đạo các chiến dịch, Sđd, tr. 20, 21).


Thông qua những tin tức còn ít ỏi ban đầu, các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Hoàng Văn Thái, Văn Tiến Dũng thống nhất nhận định sơ bộ: Nhảy dù xuống trung tâm căn cứ địa, địch mạo hiểm nên chúng đã giành được bất ngờ. Mục đích của địch - như hội nghị quân sự cuối tháng trước đã phân tích - là nhằm tiêu diệt chủ lực và cơ quan lãnh đạo kháng chiến, phá căn cứ địa của ta. Ngoài lực lượng quân dù, không loại trừ khả năng địch hoạt động phối hợp trên các hướng Đường số 3, số 4, chúng có thể đưa quân từ Lạng Sơn lên chiếm Cao Bằng rồi từ trên tiến xuống phối hợp với quân ở Bắc Kạn càn quét khu vực mà chúng nghi là có cơ quan lãnh đạo kháng chiến. Cũng không loại trừ khả năng địch phối hợp tiến quân bên phía Phú Thọ - Tuyên Quang, khiến cho địa bàn Khu 10 cũng trở thành một mặt trận.


Trong khi cơ quan tham mưu chuyền đạt mệnh lệnh tác chiến bổ sung cho các Khu và thông báo phương hướng phòng tránh cho các cơ quan trung ương thì có tin tàu xuồng địch đã ngược dòng sông Lô lên tới Đoan Hùng, đang tiến lên Tuyên Quang. Pháo binh Khu 10 bỏ lỡ cơ hội diệt tàu địch trên sông khi chúng đi qua địa phận Phan Dư, Đoan Hùng, Lã Hoàng, Bình Ca. Nhưng ngay từ ngày 12-10, Tiểu đoàn 42 chủ lực của Bộ đã lập công đầu, dùng Ba-dô-ca bắn đắm tàu địch và đẩy lui cánh quân của chúng định đổ bộ lên Bình Ca. Ngày 13-10, khi có tin tàu địch lên tới Tuyên Quang cũng là lúc cơ quan tham mưu nhận được một tài liệu quan trọng từ mặt trận chuyển về. Đó là kế hoạch hành binh mùa khô của địch tiến công lên Việt Bắc. Quân ta thu được tài liệu này từ một máy bay địch bị đơn vị trợ chiên của Trung đoàn 74 bắn rơi ở Mặt trận Cao Bằng. Lập tức bản kế hoạch được dịch và tác nghiệp trên bản đồ. Toàn bộ ý đồ tác chiến chiến dịch mùa khô của địch thể hiện rõ từng hướng cụ thể trên tấm bản đồ chiến sự.


Với chừng 15 ngàn quân, cuộc hành binh của địch được dự trù thành hai bước:

Bước 1, mang tên Lê-a, trung tâm hoạt động là khu tam giác Bắc Kạn - Chợ Mới - Chợ Đồn. Theo kế hoạch, sau khi tổ chức phòng thủ xong ở ba vị trí nói trên, địch sẽ càn quét dọc Đường số 3 chung quanh thị xã Bắc Kạn và đường Chợ Mới - phố Bình Gia. Trong khi đó, bộ binh cơ giới từ Lạng Sơn tiến lên Cao Bằng rồi quặt xuống Bắc Kạn - Chợ Đồn sang hội quân với thủy đội xung kích từ phía Nam theo Đường sông Lô và sông Gâm lên Đài Thị, phía bắc Chiêm Hóa chừng 12km.

Nhìn vào bản đồ chiến sự sau khi tác nghiệp, ta thấy ngay trong bước 1 của kế hoạch hành binh của địch, cả 7 - 8 tỉnh từ phía trung du lên trung tâm căn cứ địa Việt Bắc đã bị kẹp trong một vòng vây lớn, gọng kìm phía đông dài chừng 400km, phía tây chừng 250km, một hình thái chiến sự ngoài tầm dự đoán của cơ quan tham mưu Tổng hành dinh. Riêng trong vùng tam giác Bắc Kạn - Chợ Đồn - Chợ Mới - tức khu vực hành binh đầu tiên của quân dù, với diện tích chừng 300km2 - không có bộ đội chủ lực của ta. Theo kế hoạch ngày 4-10, các trung đoàn chủ lực của Khu và của Bộ đều triển khai trên địa bàn trung du để đón địch.

Bước 2, mang tên Clo-clo. Với binh lực từ Bắc Kạn xuống, từ Chợ Mới sang phối hợp với quân dù ném xuống nam Chợ Chu (tức huyện lỵ Định Hóa) để chặn đường Chợ Chu - Thái Nguyên, địch sẽ tiến hành càn quét khu tam giác Chợ Mới - Bắc Kạn - Chợ Chu, lấy vùng Chợ Chu làm trọng điểm.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 24 Tháng Hai, 2021, 10:16:36 am
Cuộc họp ngày 13-10 giữa các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Hoàng Văn Thái, Văn Tiến Dũng và Đào Văn Trường, rút ra mấy kết luận quan trọng: kế hoạch tác chiến của ta không phù hợp với thực tế cuộc hành binh với ưu thế tuyệt đối về máy bay, pháo binh, cơ giới của quân Pháp đang diễn ra ngay ở trung tâm căn cứ địa. Tuy nhiên, đi sâu phân tích kế hoạch tiến công của địch, Tổng chỉ huy và các cán bộ quân sự Tổng hành dinh sớm phát hiện một thực tế là: trên một chiến trường rất rộng, lực lượng địch đông nhưng đội hình tiến quân bị dàn mỏng, chúng khó có thể phát huy được đầy đủ ưu thế binh lực và tính năng tác dụng của binh khí kỹ thuật trên địa hình rừng núi. Chúng phải dựa vào các trục đường bộ và Đường sông để giải quyết vấn đề tiếp tế và tăng viện trên một chiến trường thượng du rất xa các căn cứ ở đồng bằng. Đó là điểm yếu sinh tử của địch. Việc quân Pháp không thực hiện được hợp điểm ở Đài Thị đúng ngày 13-10 theo như kế hoạch là một dẫn chứng nói lên những khó khăn đầu tiên của địch về cơ động lực lượng trên chiến trường rừng núi. Nhưng về phía ta, thực tế mấy trận đánh đầu tiên cho thấy quân ta cơ động lực lượng chậm và cũng chưa đủ sức tập kích vào các vị trí mới được củng cố của địch. Các đồng chí đi sâu thảo luận vê thay đổi kế hoạch tác chiến, thay đổi tổ chức lực lượng và phương thức hoạt động để quân ta có điều kiện và khả năng tiêu hao tiêu diệt được địch, khoét sâu điểm yếu của quân Pháp khi chúng cơ động trên cả mấy trục đường bộ và Đường sông. Đã đến lúc cần và có thể vận dụng phương châm đại đội độc lập - tiểu đoàn tập trung.


Thường vụ Trung ương Đảng nhất trí với kế hoạch tác chiến mới do Tổng chỉ huy đề đạt. Theo kế hoạch đó, cùng với nhiệm vụ di chuyển, phân tán và bảo đảm an toàn cho các cơ quan Trung ương - được coi là một công tác trọng tâm - quân ta sẽ hình thành ba mặt trận: đường số 3, đường số 4 và sông Lô - đường số 2, do cán bộ chủ chốt của Bộ Tổng chỉ huy trực tiếp đảm nhiệm1 (Tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp đi Mặ trận Đường số 4 cùng bộ máy chỉ huy gọn nhẹ để theo dõi và chỉ đạo chiến trường toàn quốc; Tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái cùng một số cán bộ tham mưu sang hướng Võ Nhai, Tràng Xá theo dõi chỉ đạo Mặt trận Đường số 3; các ông Lê Thiết Hùng và Trần Tử Bình sang hướng Tuyên Quang - sông Lô - đường số 2. Cục trưởng Chính trị Văn Tiến Dũng cùng bộ phận nặng của Bộ Tổng chỉ huy ở lại Bản Vệ (sát chân núi Hồng) để theo dõi hoạt động trên các hướng, các chiến trường). Với binh lực chừng 20 tiểu đoàn chủ lực, tác chiến theo quy mô vừa và nhỏ là chủ yếu, lấy phục kích làm hình thức chiến thuật chủ yếu, lấy quân địch cơ động trên bộ và trên sông làm mục tiêu chủ yếu, tiêu hao, tiêu diệt địch, ngăn chặn đường tiếp tế và tăng viện của chúng, tiến tới bẻ gãy từng gọng kìm của địch, trước hết là phía tây - hướng sông Lô - Đường số 2 - được coi là gọng kìm yếu của địch. Để phối hợp với các tiểu đoàn tập trung tác chiến trên ba mặt trận nói trên, các khu nhận lệnh phái các đại đội Vệ quốc đoàn về hoạt động độc lập tại các châu (huyện), tập trung trước hết vào 4 tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, với nhiệm vụ chủ yếu là giúp đỡ lực lượng vũ trang địa phương phát động chiến tranh du kích, đánh địch rộng rãi, giúp đỡ nhân dân làm vườn không nhà trống, hạn chế khả năng lùng sục của địch, bảo vệ nhân dân, hỗ trợ và bảo vệ các cơ quan kháng chiến di chuyển sâu vào nơi an toàn. Các chiến trường toàn quốc được lệnh phối hợp chia lửa với Việt Bắc.


Với kế hoạch tác chiến đã thay đổi cả về tổ chức chiến trường, quy mô lực lượng, phương thức tác chiến và với chỉ lệnh "phải đánh mạnh trên hướng sông Lô và Đường số 4", các trận phục kích của bộ binh và pháo binh đã nhằm trúng vào các cánh quân cơ động trên bộ và trên sông của địch. Cách đánh hiểm của các đơn vị nhỏ và cơ động đã sớm đem lại hiệu quả rõ rệt1 (Đó là các trận đánh ở km 7 trên đường số 2 (22-10), Khoan Bộ (23-10), Đoan Hùng (24-10), Bông Lau (30-10), Khe Lau (10-11), Đèo Giàng (14-11), Đèo Mơ (18-11), Phủ Thông (30-11), v.v...). Sự chuyển hướng về phương thức tác chiến của ta đã khiến cho bước 1 của cuộc hành binh đứng trước nguy cơ phá sản. Sau ba tuần ra quân, địch không thực hiện được cái gọi là "tóm gọn" cơ quan lãnh đạo kháng chiến, không tạo được cơ hội đối mặt trực tiếp với binh lực lớn của chủ lực đối phương để tiêu diệt, kết quả phá hoại cơ sở vật chất trong căn cứ địa kháng chiến không đáng kể vì đi đến đâu cũng thấy cảnh đường sá bị phá hoại, trong làng bản thì nhà không đồng vắng, người, trâu bò, thóc gạo đều đã chuyển vào rừng sâu. Quân Pháp đứng trước một thực tế là mấy mục tiêu của cuộc hành binh còn xa vời, trong khi trên cả các hướng, hành quân bằng đường bộ hay đường thủy đều bị đánh liên tiếp. Trước tình thế ngày càng không cho phép duy trì tình trạng binh lực bị căng mỏng và bị tiêu hao hàng ngày, Bộ chỉ huy Pháp bắt đầu cho rút một số vị trí lẻ, co về hai trung tâm là Tuyên Quang và Bắc Kạn2 (Đáng chú ý là chúng buộc phải rút quân sớm khỏi cả những vị trí được xem là quan trọng trong cuộc hành binh, như Chợ Đồn (23-10), Chiêm Hóa, Chợ Rã (25-10)...).


Từ trung tuần tháng 11, Bộ Tổng chỉ huy nhận thấy địch có nhiều triệu chứng chuyển hướng, không theo đúng bước 2 như đã xác định trong kế hoạch, đồng thời cũng nhận thấy chớm nở tư tưởng chủ quan ở một số địa phương và đơn vị chủ lực của ta1 (Ví như Bộ tư lệnh Khu 10 đề nghị cho tập trung binh lực tiến công địch trong thị xã Tuyên Quang). Trước thực tế lúc này là trên địa bàn trung tâm chiến sự, lực lượng địch còn đông, trang bị còn mạnh, trong khi trình độ mọi mặt của ta chưa cho phép tiến công vào các vị trí tập trung quân của chúng, Bộ Tổng chỉ huy chủ trương vừa tiếp tục đánh vừa và nhỏ trên toàn mặt trận, tiếp tục tiêu hao địch rộng khắp, hạn chế và ngăn chặn các cánh quân địch đi lùng sục khủng bố, vừa lệnh cho các đơn vị chuẩn bị sẵn sàng đánh địch khi chúng rút chạy trên các hướng, nhất là phía Tuyên Quang - gọng kìm sông Lô - đường số 22 (Địch rút quân theo nhiều hướng: Sông Lô - đường số 2; Tuyên Quang - Sơn Dương - Thiện Kế - Vĩnh Yên; hướng giữa: trục đường 13 Tuyên Quang đi Thái Nguyên; hướng đường Chợ Chu - Đại Từ - Thái Nguyên và hướng đường số 3 Chợ Mới - Giang Tiên - Võ Nhai - Thái Nguyên).


Địch thu hẹp dần thế chiếm đóng và bắt đầu lui quân từ cuối trung tuần tháng 11. Cuộc rút chạy trên toàn mặt trận kéo dài gần một tháng. Do thiếu kinh nghiệm bám địch, thông tin chậm, khả năng điều động lực lượng hạn chế, nhiều trường hợp lại bị địch nghi binh đánh lạc hướng, nên quân ta bỏ lỡ nhiều cơ hội đón đầu hoặc truy kích tiêu diệt địch. Trừ một số trận hiệu suất chiến đấu cao như trận tập kích địch ở Phủ Thông (cuối tháng 11), phục kích ở Đèo Giàng (đầu tháng 12), v.v..., còn các trận trên đường 13 (Bình Ca - Đèo Khế), trận Phan Lương (tả ngạn sông Lô), trận phục kích ở Phục Linh - quán Ông Già (đường Chợ Chu - Thái Nguyên), trận đánh quân dù ở Võ Nhai, v.v... đều đạt kết quả thấp.


Như vậy là, dù đã phải điều chỉnh bước 2 của kế hoạch hành binh, địch vẫn buộc phải lui quân vì không đạt được mục tiêu đề ra. Tuy nhiên, ngoài hai thị xã Hà Giang và Lào Cai trên hướng Bắc và Tây Bắc, quân Pháp đã chiếm đóng thị xã Cao Bằng ở biên giới Đông Bắc và Bắc Kạn ở trung tâm căn cứ địa; chúng đã phá hủy được một số cơ sở kho tàng chưa kịp di chuyển, kể cả ở vùng sâu như Đầm Hồng, Bản Thi (phía trên Chiêm Hóa), về phía ta, đối chiếu với yêu cầu đề ra trong hội nghị quân sự cuối tháng 9, bộ đội chủ lực đã cùng lực lượng vũ trang địa phương làm thất bại cuộc tiến công quy mô lớn có tầm chiến lược của quân Pháp mà vẫn bảo toàn được lực lượng. Trải qua 75 ngày cọ xát với địch, bộ đội chủ lực được tôi luyện và trưởng thành một bước quan trọng, căn cứ địa kháng chiến vẫn đứng vững, cơ quan lãnh đạo kháng chiến được bảo vệ an toàn. Từ thực tế chỉ đạo, chỉ huy chiến lược, chiến dịch, cơ quan quân sự Tổng hành dinh cũng trưởng thành một bước quan trọng, qua mấy bài học rất bổ ích rút ra trong mùa khô này:

1. Đó là bài học về lãnh đạo chỉ huy phải bám sát thực tiễn, phán đoán đúng tình hình và xử trí kiên quyết nhưng linh hoạt sáng tạo mọi tình huống chiến lược, chiến dịch. Trong quá trình chuẩn bị, nếu chưa có điều kiện đánh giá đầy đủ tình hình, chưa có điều kiện khẳng định âm mưu, khả năng và thủ đoạn của địch, người lãnh đạo cần dự kiến khả năng mạo hiểm cao nhất của chúng để tránh chủ quan, để chủ động có phương án tối ưu và kế hoạch đối phó cho phù hợp. Mặt khác, trước tình hình thực tế diễn ra không sát đúng so với dự kiến ban đầu, không những người lãnh đạo phải nhạy bén phát hiện mà còn phải dũng cảm nhìn thẳng vào những thiếu sót và yếu kém, mạnh dạn thay đổi chủ trương và phương thức hành động cho phù hợp với thực tế khách quan đê giành thắng lợi.

2. Đó là bài học về tinh thần chủ động chuẩn bị về mọi mặt, nhất là bồi dưỡng cán bộ và thường xuyên nâng cao sức chiến đấu để bộ đội có đủ bản lĩnh hoàn thành nhiệm vụ. Trong mùa khô 1947, sở dĩ bộ đội chủ lực đã cùng các lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương làm thất bại cuộc hành binh quy mô lớn của quân Pháp, vì đã được chuẩn bị trong suốt mùa hè, cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và kỹ thuật, chiến thuật. Chiến đấu trên một chiến trường mà các điều kiện chính trị, địa hình và thời tiết ta đều thuận lợi hơn địch, lại dưới sự chỉ đạo đúng đắn về phương thức tác chiến và mục tiêu tiến công, cho nên dù trình độ trang bị kỹ thuật, tổ chức chỉ huy và kinh nghiệm chiến đấu còn hạn chế, quân ta vẫn phát huy được sức mạnh đã được chuẩn bị để tiêu hao tiêu diệt địch.

3. Đó là bài học về ý thức coi trọng công tác sơ kết, tổng kết sau mỗi đợt chiến đấu. Những kinh nghiệm đầu tiên trong cuộc tổng giao chiến trong các thành phố cũng như mỗi bài học rút ra trong suốt mùa hè khi chiến sự lan rộng đều được Tổng chỉ huy khái quát tổng hợp và phân tích nhằm bồi dưỡng cho cán bộ cấp khu và trung đoàn, trong các hội nghị quân sự trước khi bước vào mùa khô. Chắt chiu từng kinh nghiệm qua thực tế chiến đấu càng có ý nghĩa quan trọng đối với một quân đội vừa tròn ba tuổi đối mặt với một đội quân viễn chinh nhà nghề đã từng có kinh nghiệm hàng trăm năm chiến tranh thuộc địa. Sau này, một sử gia nước ngoài đã dẫn lời của Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp nói rằng: "Trong chiến tranh, thắng nhiều trận mà không rút được bài học kinh nghiệm có thể không lợi bằng chỉ mới thắng một trận mà đã học tập được nhiều điều bổ ích". Trong suốt 30 năm chiến tranh giải phóng, một trong những yếu tố tạo nên sức mạnh của quân đội ta, đó là biết lấy chiến trường làm trường học thực tế để không ngừng tiến bộ, càng đánh càng mạnh.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 24 Tháng Hai, 2021, 10:20:11 am
CHIẾN DỊCH VIỆT BẮC TRONG
HOẠT ĐỘNG TÁC CHIẾN CHIẾN LƯỢC THU-ĐÔNG 1947


Thiếu tướng, PGS, TS. TRỊNH VƯƠNG HỒNG
Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


1. Như đã biết, do đầu óc thực dân "thâm căn cố đế" nên khi nước Pháp còn rên siết dưới gót giày phát xít Đức, khi Đông Dương còn trong tay phát xít Nhật, nhiều người Pháp thực dân vẫn mơ về một nước Việt Nam "đẹp, bình yên, yên hoà", nơi mà "người Pháp có thể đi dạo chơi một mình không cần mang vũ khí, suốt từ đầu nọ tới đầu kia của đất nước", với "một sứ mệnh khai hoá văn minh"(!)1 (Phi-líp Đờ-vi-le, Pa-ri, Pari - Sài Gòn - Hà Nội, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1993, tr. 17). Và Đờ Gôn, người đứng đầu Chính phủ lâm thời Cộng hoà Pháp lúc đó, khẩng định lập trường trở lại Việt Nam là: "Dùng sức mạnh để khôi phục lại toàn bộ quyền lực của Pháp... Không thương thuyết, liên kết gì với chính quyền bản địa, chừng nào những chính quyền ấy chưa được Pháp tạo ra"2 (Phi-líp Đờ-vi-le, Sđd, tr. 20). Với chủ trương đó, thực dân Pháp dứt khoát gạt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra khỏi đối tượng thương lượng.


Vậy nên, trong cuộc thương thuyết giữa Ủy ban nhân dân Nam Bộ do đồng chí Phạm Xgọc Thạch làm trương đoàn với đại diện Pháp ở Sài Gòn đầu tháng 10-1945, phía Pháp đòi ta chấp nhận Tuyên bố ngày 24-3-1946 của Đờ Gôn, áp đặt chủ nghĩa thực dân cũ ở Việt Nam, đương nhiên là thất bại. Đầu năm 1946, sau nhiều lần đàm phán dưới các hình thức khác nhau, ngày 6-3-1946, đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và đại diện Chính phủ Pháp đã ký Hiệp định Sơ bộ. Tuy nhiên, đó là cách để chúng ta tỏ thiện chí hoà bình và để có thêm thời gian chiến lược xây dựng, củng cố lực lượng mọi mặt chuẩn bị cho trận đánh lớn lâu dài; với Pháp, đó là con đường giúp họ đưa được quân ra miền Bắc. Những vấn đề cơ bản liên quan đến vận mệnh Tổ quốc, vấn đề độc lập dân tộc, mục tiêu của cuộc kháng chiến chưa được giải quyết. Kế đó, để chuẩn bị cho một cuộc đàm phán giữa hai Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Pháp tại Pa-ri, hội nghị trù bị được mở ở Đà Lạt. Và, vào mùa Thu năm 1946, cuộc đàm phán chính thức đã diễn ra ở Phông-ten-blô. Trong cuộc hội nghị nàv, giới thực dân phản động hiếu chiến Pháp ra sức phá hại và ngoan cố bám giữ quan điểm thực dân về vấn đề Việt Nam; phái đoàn Việt Nam luôn giữ vững lập trường độc lập dân tộc, hoà bình và tiến bộ. Cuộc đàm phán không tìm ra mẫu số chung, hai bên không tìm được tiếng nói chung, Hội nghị Phông-ten-blô tan vỡ. Điều đó chứng tỏ Chính phủ Pháp đã nhất quyết chọn con đường vũ trang xâm lược toàn bộ nước ta. Với Pháp, thương thuyết chỉ là thủ đoạn để "chuẩn bị việc tái chiếm toàn cõi Việt Nam"1 (Linh mục Trần Tam Tỉnh, Thập giá và lưỡi gươm, Nxb Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh, 1998, tr. 68). Bản Tạm ước mà Chủ tịch Hồ Chí Minh ký với Chính phủ Pháp ngày 14-9-1946, là bước lùi cuối cùng, cực chẳng đã của Chính phủ ta, nhằm có thêm thời gian chuẩn bị cho cuộc kháng chiến quy mô toàn quốc. Không còn con đường nào khác.


2. Quy luật của chiến tranh xâm lược là đánh nhanh, thắng nhanh, đỡ tốn kém sức người, sức của và thời gian, đưa nhanh đất chiếm được vào khai thác. Yêu cầu mà giới thực dân hiếu chiến Pháp đặt ra là nhanh chóng trở lại Việt Nam, lấy sức người sức của của xứ sở này dùng tái thiết nước Pháp vừa bị chiến tranh tàn phá. J.Xanh-tơ-ni viết không úp mở: "Mảnh đất đẹp đẽ này (tức Đông Dương - người trích chú), nếu ta chộp ngay lấy từ đầu, thì sẽ trở thành một mối lợi vô cùng lớn lao có thể đóng góp khá nhiều trong việc phục hồi kinh tế của nước Pháp"1 (J.Xanh-tơ-ni: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ. Pa-ri, 1967; lưu Thư viện Trung ương quân đội, bản dịch, tr. 47).


Nóng lòng chiếm trở lại thuộc địa cũ, cộng với thói chủ quan và thái độ khinh thường đối phương, coi là "quân phiến loạn", "phái ngổ ngáo nhất của dân chúng"2 (Lời Đác-giăng-li-ơ, theo Phi-líp Đờ-vi-le, Sđd, tr. 135), phái thực dân hiếu chiến khẳng định rằng, với lực lượng hùng hậu của họ, "chỉ trong vài tuần là mọi ý định kháng chiến của những người yêu nước Việt Nam sẽ bị quét sạch bong và nhân dân trở lại phục tùng như cũ"3 (Theo Phi-líp Đờ-vi-le, Sđd, tr. 144).


Thế rồi, Lơ-cle không "lấy lại được Nam Kỳ trong vòng 18 ngày”4 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954, Tập I, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr. 80) như đã tuyên bố. Quân Pháp tiếp tục thất bại trong âm mưu đánh úp, bắt gọn Chính phủ kháng chiến tại Hà Nội hồi cuối năm 1946. Chủ trương chiến lược "đánh nhanh thắng nhanh" bước đầu bị giáng một đòn nặng, quân Pháp đi thêm nước cờ mới, tiến công căn cứ địa Việt Bắc. Theo cuốn "Lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương" của tướng Pháp Y-vơ Gra, tái bản năm 1992 và một số sách khác, thì đề xuất này có thể của R.Xa-lăng, Va-luy hay Đác-giăng-li-ơ, như sử sách Pháp đang còn bàn luận, nhưng ý định trên đã biến thành kế hoạch tác chiến được Tổng thông Ôriôn, Thủ tướng Ra-ma-đi-ê và Cao ủy Đác-giăng-li-ơ bàn bạc, cân nhắc và thống nhất. Theo đó, quân Pháp sẽ dùng một lực lượng lớn, gồm cả bộ binh, thủy binh, không quân, thiết giáp hành quân bao vây và nhảy dù "úp chụp" xuống Việt Bắc, "bắt giữ toàn bộ Chính phủ kháng chiến Hồ Chí Minh". Họ hy vọng đạt được mục tiêu này thì các lực lượng vũ trang kháng chiến ở miền Bắc sẽ tuần tự tan rã, cuộc kháng chiến ở Nam Bộ cũng sẽ "xì hơi vì bị đánh vào đầu". Ngoài việc phá hoại mùa màng, kho tàng, khủng bố tinh thần kháng chiến của nhân dân ở căn cứ địa, quân Pháp cũng đã trù liệu việc "bịt kín biên giới", đề phòng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc tiến sát xuống biên giới giáp Việt Nam. Đây là nước cờ tính đến cả xa và gần, thực chất nhằm nhanh chóng kết thúc chiến tranh. Tướng Xa-lăng, người chỉ huy trực tiếp cuộc tiến công này, cho rằng "Chỉ cần 3 tuần lễ để đập tan đầu não của Việt Minh"1 (Y-vơ Gra, Lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương, Nxb Plông, Pa-ri, 1979, bản dịch, tr. 185). Mục tiêu tiến công mà quân Pháp đặt ra cực kỳ hiểm độc. Hãy hình dung, nếu cơ quan đầu não kháng chiến không được bảo vệ an toàn, chu đáo, cuộc kháng chiến sẽ rơi vào tình thế khó khăn biết nhường nào?


Và rồi, suốt 75 ngày đêm "tiến công", "truy lùng" đối phương ở khắp miền rừng núi Việt Bắc rộng lớn, quân Pháp không đạt được mục tiêu của cuộc hành binh. Không những thế, chúng còn bị đánh, bị tổn thất nặng không chỉ ở Việt Bắc mà còn ở các chiến trường khác trên khắp cả nước. Chính Va-luy, Xa-lăng, Y-vơ Gra... đều khẳng định cuộc tiến công đầy tham vọng của họ đã bị thất bại toàn diện. Tham vọng biến thành thất vọng. Tướng Pháp J.Mác-xăng, trong cuốn Tấn thảm kịch Đông Dương thừa nhận: "Quân Pháp không đánh được đòn quyết định, không đạt được mục đích của cuộc hành binh. Cái gọi là thắng lợi chỉ là bề ngoài..."1 (Trần Trọng Trung, Tướng Ra-un Xa-lăng và cuộc tiến công lên Việt Bắc, Tạp chí Lịch sử quân sư, số 190, tháng 10-2007).


Ý nghĩa bao trùm, lớn lao của Chiến thắng Việt Bắc là nhờ đó, cuộc kháng chiến đã vượt qua thử thách khắc nghiệt, hiểm nghèo, tiếp tục phát triển.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 24 Tháng Hai, 2021, 10:21:38 am
3. Sau khi mở đầu kháng chiến toàn quốc thắng lợi, ta tiếp tục xây dựng và củng cố lực lượng về mọi mặt, chuẩn bị cho những cuộc chiến đấu mới.

Về chỉ đạo chiến tranh, chúng ta nhận rõ, đến giữa năm 1947, mặc dù đã được tăng viện 11 tiểu đoàn Âu - Phi, nhưng Pháp cũng chỉ đủ sức chiếm giữ một số thành phố, thị xã lớn như Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng, Hải Dương, khả năng chi viện cho nhau rất khó khăn. Sau một số cuộc hành quân nhằm mở rộng vùng chiếm đóng ở Đông Bắc và Tây Nam đồng bằng Bắc Bộ bị thất bại, quân Pháp tập trung lực lượng giữ thành phố.


Trong khi đó, các chính khách Pháp đã đưa ra nhiều phương án về cuộc chiến tranh Đông Dương. Tuy họ đều thống nhất về ý đồ xâm lược song lại trái ngược nhau về biện pháp. Cuối cùng, như đã biết, một giải pháp lặp lại và vận dụng công thức chiến tranh cổ điển "Đại bác và chính quyền tay sai" được lựa chọn. Đây là âm mưu nham hiểm của thực dân Pháp, kết hợp thủ đoạn chính trị và biện pháp quân sự. Về chính trị, họ cố tạo ra một chính quyền tay sai bản xứ, vừa lôi kéo, lừa mị dân chúng bằng một thứ lý tưởng quốc gia đối lập với chủ nghĩa yêu nước chân chính, về quân sự, vừa "bình định" miền Nam, vừa tập trung lực lượng lớn để đánh đòn quyết định ở miền Bắc, đè bẹp tinh thần và lực lượng kháng chiến của ta.


Chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới, quân và dân ta vừa ra sức triển khai thế trận kháng chiến lâu dài, vừa sẵn sàng phá các cuộc tiến công của quân Pháp, vừa triển khai các hoạt động quân sự, đánh địch trên khắp chiến trường toàn quốc.


Nhằm chỉ đạo chuẩn bị phá chủ chương chiến lược mới của địch, hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ ba đã họp vào giữa tháng 6-1947. Sau khi phân tích tình hình chung, đặc biệt về âm mưu và hoạt động của địch, hội nghị nhận định, quân Pháp có thể "khởi những cuộc tiến công lớn để chiếm đóng những vị trí chiến lược còn ở trong tay ta, hoặc để quét sạch miền trung châu Bắc Bộ, hoặc khống chế miền Thanh - Nghệ hay Nam - Ngãi, chúng có thể mưu đồ cuộc đại tiến công vào Việt Bắc"1 (Văn kiện quân sự của Đảng, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1976, tr. 150). Để chuẩn bị đánh địch, hội nghị chủ trương ra sức "củng cố, bổ sung và huấn luyện bộ đội đồng thời chú trọng củng cố dân quân". Hội nghị cũng chỉ đạo cần củng cố căn cứ địa thêm một bước, xây dựng và phát triển cơ sở chính trị, xây dựng khối đoàn kết toàn dân một lòng vì kháng chiến, ra sức tăng gia sản xuất, tích trữ lương thực, đẩy mạnh phòng gian, v.v...


Tiếp theo Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ 3, Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ 4 được tiến hành vào cuối tháng 9-1947. Hội nghị thống nhất nhận định về hướng tiến công của địch và đề ra chủ trương đẩy mạnh tác chiến Thu - Đông. Hội nghị nhận định: "Bắc Bộ là chiến trường chính, nếu địch không mạo hiểm thì đánh đồng bằng, nếu mạo hiểm thì chúng sẽ đánh Việt Bắc... Tấn công lên Việt Bắc, chúng sẽ đánh chiếm các tỉnh Phúc Yên, Thái Nguyên, Phú Thọ, Tuyên Quang, nối liền đương Hà Nội - Lạng Sơn. Chiến lược của địch là "đánh nhanh, thắng nhanh" nhằm mau chóng kết thúc chiến tranh. Hội nghị chủ trương kiên quyết nắm vững bộ đội, giữ vững chủ lực đi đôi với tiêu diệt từng bộ phận quân địch, "bảo vệ căn cứ, không cố thủ", thực hiện phối hợp tác chiến giữa các khu và phối hợp chiến lược toàn quốc, phá tan âm mưu chính trị lập ngụy quyền của địch.


Về chỉ đạo tác chiến chiến lược. Ngay từ Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ ba, 11 nguyên tắc chỉ đạo tác chiến đã được xác định, trong đó nêu rõ việc giữ vững chủ động, nắm chắc ta và địch, về sử dụng lực lượng, về nghi binh lừa địch tạo bất ngờ, tổ chức phối hợp tốt bộ đội chủ lực với dân quân, du kích, tự vệ, v.v...


Do ta còn ít kinh nghiệm và công tác quân báo cũng chưa ổn định nên việc phán đoán ý đồ của địch gặp nhiều khó khăn. Trong cả hai hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ 3 và 4, vẫn có ba ý kiến khác nhau là địch có thể tiến công vào đồng bằng Bắc Bộ, Thanh Hoá - Nghệ An và Việt Bắc.


Tuy nhiên, căn cứ vào việc Xa-lăng sang làm chỉ huy quân Pháp ở Bắc Bộ, việc dự đoán địch tiến công lên Việt Bắc được chú ý hơn. Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ 4 chủ trương "bảo vệ căn cứ, không cố thủ", thực hiện phối hợp giữa các khu và phối hợp chiến lược toàn quốc, phá tan âm mưu chính trị lập ngụy quyền của địch.


Về cách đánh, hội nghị nhấn mạnh "kiên quyết phát động du kích chiến", "kiên quyết tập trung để đánh vận động chiến", "tránh phòng ngự chính diện, bộ đội phải ở lại sau lưng địch, hoá chỉnh vi linh, hoá linh vi chỉnh, hoá trang lẫn vào dân khi cần". Hội nghị quán triệt nhiệm vụ phải "phá tan kế hoạch tiêu diệt ta của địch... Bao giờ cũng lấy bảo tồn lực lượng chứ không phải giữ đất làm chủ". Nếu thắng lợi về quân sự hồi đầu kháng chiến toàn quốc là do ta chủ động buộc địch phải chấp nhận sớm cuộc tổng giao chiến ở đô thị, mà chúng chưa kịp chuẩn bị đầy đủ, thì ở Việt Bắc, ta lại giành được thắng lợi do chủ động khước từ những trận đánh lớn mà quân Pháp cố tình nhử ta, với ý đồ đánh quỵ chủ lực ta. Lấy tiến công, phục kích, tập kích là chủ yếu để đánh thắng địch tiến công, không chủ trương phòng ngự bị động, là một bài học sáng tạo của ta trong tư duy chiến lược thời kỳ này.


Để phù hợp điều kiện về lực lượng địch, về chiến trường và năng lực chỉ huy chiến đấu của bộ đội, các trung đoàn đều phân tán 1 đến 2 tiểu đoàn thành đại đội độc lập, cùng dân quân, du kích đánh địch tại chỗ, bám sát và liên tục đánh địch cả nơi chúng trú quân cũng như trên đường chúng cơ động. Trong tiến công, quân Pháp mạo hiểm vận dụng chiến thuật "con trăn", chúng ta đã kịp thời khai thác chỗ yếu nhất về chiến thuật của chúng là những đoàn quân xa, những chiến thuyền buộc phải di chuyển trên những trục đường bộ, đường sông để duy trì sự sống cho một đạo quân lớn. Các tiểu đoàn tập trung của các trung đoàn, được tăng cường các đơn vị hoả lực của Bộ, lấy đánh địch trên đường bộ, đường sông khi chúng hành quân là chính. Nhờ cách đó, ta vừa căng địch ra ở khắp nơi, vừa thực hiện được nhiều trận đánh như trận Bông Lau (30-10) diệt đoàn xe 28 chiếc, trận Đoan Hùng
(Sông Lô, 23-10) đánh chiếm 2 tàu và làm bị thương hai tàu khác, v.v...


Như vậy, về chỉ đạo chiến tranh và nghệ thuật quân sự, tuy khi vào cuộc ta chưa xác định được thật cụ thể hướng tiến công chủ yếu và cách tiến công của địch, nhưng Thường vụ Trung ương Đảng và Bộ Tổng chỉ huy đã sớm dự kiến địch sẽ tiến công lớn trong Thu - Đông, nên đã sớm giao nhiệm vụ cho các chiến khu sẵn sàng đánh địch và hướng dẫn cách đánh cho các chiến trường. Nhờ vậy, dù địch có gây cho ta bất ngờ và khó khăn trong những ngày đầu do không dự kiến chính xác thủ đoạn của địch, nhưng chúng ta đã nhanh chóng chuyển hoá thế trận, sớm giành lại quyền chủ động trong quá trình đối phó và làm thất bại cuộc tiến công quy mô lớn, đầy tham vọng của địch. Điều này cho thấy, trong chiến tranh, có khi ta không dự kiến được hết âm mưu, thủ đoạn của địch, nhưng vấn đề quan trọng nhất là khi nắm được ý đồ của chúng, phải nhanh chóng xử trí đúng các tình huống chiến lược, phù hợp thực tế.

Vậy là, qua chiến thắng Việt Bắc, lực lượng kháng chiến đã trưởng thành vượt bậc về mọi mặt, tạo cơ sở vững chắc, tạo đà cho những thắng lợi mới.

Chiến thắng Việt Bắc bước đầu biến dự đoán và nỗi lo của thực dân Pháp thành sự thật. Tướng Lơ-cle, đầu năm 1946 cho rằng, trở lại Nam Bộ, Nam Trung Bộ, với quân Pháp, chỉ là một cuộc "dạo mát quân sự". Đầu năm 1947, trên đường ra sân bay Tân Sơn Nhất về Pa-ri, ông tâm sự với sĩ quan tùy tùng "ở đây có quá nhiều người tưởng rằng cứ việc lấp đầy hố những xác người là người ta có thể dựng lại nhịp cầu nối liền Việt Nam với Pháp"1 (Phi-líp Đờ-vi-le, Sđd, tr. 446, 447). Về Pa-ri, trong báo cáo gửi Thủ tướng Lê-ông Blum, ông viết: "Năm 1947, Pháp sẽ không dùng nổi vũ khí để đè nén một tập hợp đông hàng 24 triệu người đang lớn mạnh lên, mang tư tưởng bài ngoại và có thể cả tư tưởng quốc gia chủ nghĩa nữa"1 (Đờ-vi-le, Sđd, tr. 446, 447). Còn J.Xanh-tơ-ni từng cảnh báo Chính phủ Pháp: "Bảo lưu tại Hà Nội một chính phủ là đáng ngại, nhưng nói cho cùng thì thà cứ ở đây, họ còn ít đáng sợ hơn, so với việc họ tiến hành chiến tranh du kích ở miền Thượng du"2 (J.Xanh-tơ-ni, Câu chuyện về một nền hoà bình bị bỏ lỡ, Pa-ri, 1967, lưu Thư viện Trung ương Quân đội, bản dịch, tr.207).


Như đã nêu ở trên, âm mưu tiến công Việt Bắc của quân Pháp rất thâm hiểm mà mấu chốt là tiêu diệt cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến và lực lượng vũ trang cách mạng, giành thắng lợi quyết định, kết thúc chiến tranh, thiết lập lại ách thống trị thực dân cũ của Pháp trên đất Việt Nam và Đông Dương. Tuy nhiên, chúng đã chịu thất bại nặng nề: Căn cứ địa của Trung ương càng vững chắc hơn, thế trận chiến tranh nhân dân, thế trận toàn dân đánh giặc trên chiến trường chính Bắc Bộ, cũng như Trung Bộ và Nam Bộ đi vào thế xen kẽ, hình thành các vùng tự do, hậu phương trực tiếp của chiến trường. Chiến thắng cũng gợi mở cho Trung ương Đảng và Chính phủ thấy rõ hơn nhiều nội dung chiến lược phải xử lý, trong đó cần nhanh chóng xây dựng khối chủ lực cơ động mạnh, quả đấm chiến lược của lực lượng kháng chiến; về xây dựng ba thứ quân và đẩy mạnh phối hợp hoạt động giữa các chiến trường toàn quốc với chiến trường chính...


Với cuộc chiến chiến lược Thu - Đông 1947, mà chiến dịch Việt Bắc là hướng chủ yếu, ta đã phát huy được thắng lợi của cuộc chiến chiến lược mở đầu kháng chiến toàn quốc (12-1946 - 3-1947), tiến thêm một bước, và là đòn quyết định đánh bại chiến lược "đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp, buộc chúng phải bị động đánh lâu dài với ta, theo cách mà ta lựa chọn, trái hắn với ý đồ của chúng. Sau thất bại ở Việt Bắc Thu - Đông 1947, mâu thuẫn giữa tập trung lực lượng để tiến công với khả năng giữ các vùng Pháp chiếm đóng xuất hiện, đồng thời xuất hiện khả năng tiếp tục cuộc chiến có nhiều hạn chế, khó khăn buộc phải chuyển hướng chiến lược và phải dựa vào Mỹ để có cơ sở vật chất, tài chính tiếp tục chiến tranh.


Đặt chiến dịch Việt Bắc trong vị trí hướng chủ yếu, một hoạt động trung tâm của cuộc chiến chiến lược Thu - Đông 1947, sẽ thấy chiến thắng Việt Bắc là sự kiện lớn, có ý nghĩa và vai trò đặc biệt trong lịch sử 30 năm chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc 1945-1975 của nhân dân ta.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Ba, 2021, 07:55:49 pm
LỰC LƯỢNG VŨ TRANG VIỆT BẮC
TRONG CHIẾN DỊCH VIỆT BẮC THU - ĐÔNG 1947


Trung tướng PHẠM XUÂN THỆ
Tư lệnh Quân khu 1


Ngay từ những ngày còn sa lầy trong các đô thị, Bộ chỉ huy quân Pháp đã mưu đồ mở một cuộc tiến công quân sự lớn, chớp nhoáng, đánh đòn quyết định nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não tối cao và lực lượng chủ lực của cuộc kháng chiến, thiết lập ngụy quyền, kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Từ mùa Hè năm 1947, Bộ chỉ huy quân Pháp đã khẩn trương xúc tiến mọi công tác chuẩn bị để thực hiện mưu đồ trên.


Nhận rõ bản chất, mưu đồ hành động thâm độc và xảo quyệt của thực dân Pháp, Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ ba, họp từ ngày 12 đến ngày 15-6-1947, đã dự báo: có thêm viện binh, quân Pháp có thể "khởi những cuộc tiến công lớn để chiếm đóng những vị trí chiến lược còn ở trong tay ta, hoặc để quét sạch miền trung châu Bắc Bộ; hoặc để khống chế miền Thanh - Nghệ hay Nam Ngãi; chúng cũng có thể mưu đồ cuộc đại tiến công vào Việt Bắc”. Hội nghị đã xác định nhiệm vụ của quân dân ta là "Đánh vào đô thị, đánh rất mạnh các đường giao thông, đánh mạnh hơn trong các vùng do địch kiểm soát, đập tan mưu mô chính trị và kinh tế của địch". Hội nghị đề cao việc xây dựng lực lượng quân sự, chú trọng huấn luyện dân quân, củng cố các căn cứ địa và chỉ đạo cụ thể việc chuẩn bị phá kế hoạch Thu - Đông của địch.


Ngày 19-8-1947, nhân dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho đồng bào và chiến sĩ Khu 1. Người nhắc đến lịch sử cách mạng vẻ vang, truyền thống anh hùng bất khuất của nhân dân các dân tộc Việt Bắc, tiên đoán về âm mưu của địch. Sau khi nhắc nhở cần tăng cường cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, Người căn dặn đồng bào và chiến sĩ Việt Bắc: "Đã đoàn kết, phải đoàn kết thêm, khắp nơi phải tổ chức Hội Liên hiệp quốc dân. Ra sức tăng gia sản xuất, làm cho nhiều lúa, nhiều sắn, nhiều ngô, nuôi cho nhiều gia súc. Tập luyện dân quân tự vệ, du kích, giúp đỡ bộ đội. Phát triển bình dân học vụ. Giúp đỡ đồng bào tản cư. Giữ bí mật. Cán bộ quân sự, chính trị, hành chính và chuyên môn thì phải làm đúng bốn chữ: Cần, Kiệm, Liêm, chính. Tôi chắc rằng: Với truyền thống cách mạng lâu dài, với lòng sốt sắng yêu nước, với sự đoàn kết chặt chẽ, đồng bào và chiến sĩ Khu 1 sẽ làm tròn nhiệm vụ của mình".


Tiếp đó, ngày 2-9-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi đồng bào các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn nhắc lại những kỷ niệm hoạt động bí mật ở Việt Bắc "No đói có nhau, sướng khổ cùng nhau, đồng lòng một chí" và những ngày đấu tranh quyết liệt chống địch khủng bô. Cuối thư, Người động viên đồng bào: "Việt Bắc trước kia là căn cứ địa của cách mệnh, đã nổi tiếng khắp cả nước, khắp thế giới. Thì ngày nay, Việt Bắc phải thành căn cứ của kháng chiến, để giữ lấy địa vị và cái danh giá vẻ vang của mình...".


Ngày 15-9-1947, tại Việt Bắc, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị "sửa soạn phá những cuộc tấn công lớn của địch", đề ra nhiệm vụ cụ thể cho các địa phương về quân sự, kinh tế, về tuyên truyền cổ động, về tài chính và tiếp tế... Trung ương Quân ủy cũng triệu tập Hội nghị các cán bộ chủ trì Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng chỉ huy, các đơn vị trực thuộc Bộ. Cán bộ dân, chính, Đảng các tỉnh Việt Bắc dự kiến có chiến sự cũng được triệu tập đến họp để chuẩn bị đối phó với cuộc tiến công sắp tới của giặc Pháp.


Quán triệt chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ương Đảng, ngày 27-9-1947, Hội nghị quân sự lần thứ tư họp tại Việt Bắc, thống nhất nhận định về hướng tiến công của địch: "Bắc Bộ sẽ là chiến trương chính... nếu mạo hiểm thì chúng sẽ đánh lên Việt Bắc"1 (). Chiến lược của địch là "Đánh nhanh, thắng nhanh". Hội nghị chủ trương nắm vững bộ đội, giữ gìn chủ lực, kiên quyết tiêu diệt từng bộ phận địch, "bảo vệ căn cứ, không cố thủ", phá tan âm mưu lập ngụy quyền của chúng. Cách đánh của ta là "kiên quyết phát động du kích chiến tranh và áp dụng đánh vận động trong điều kiện thuận lợi". Vừa "dùng đơn vị đại đội để hoạt động... vừa tập trung từng tiểu đoàn chủ lực cơ động đánh vận động chiến".


Để thống nhất chỉ huy, phối hợp tác chiến và tăng cường tính độc lập của địa phương khi chiến trường bị chia cắt, Hội nghị chia Bắc Bộ thành ba khu, trong đó Khu A gồm Khu 1 và Khu 12 (tiền thân của Liên khu 1).


Phấn khởi trước sự động viên khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh với đồng bào và chiến sĩ Việt Bắc, khẩn trương chấp hành các chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ương và Bộ Tổng chỉ huy, Khu ủy và Bộ chỉ huy Khu 1, Khu 12 và các tỉnh trên địa bàn Việt Bắc đã khẩn trương bàn biện pháp thực hiện, đẩy mạnh công tác chuẩn bị chiến đấu, chuẩn bị lực lượng và xây dựng thế trận.


Các lực lượng vũ trang của Khu 1, Khu 12 được bố trí đảm nhiệm các nhiệm vụ như sau:

Khu 1 có 3 trung đoàn bộ binh được bố trí theo các địa bàn trọng điểm:

Trung đoàn 121 (Thái Nguyên - Phúc Yên), bố trí xung quanh thị xã Thái Nguyên và dọc phía Đông quốc lộ 3 (Sơn Cẩm, La Hiên, Đình Cả), sẵn sàng đánh địch tiến công vào thị xã và dọc đường số 3 đến Bắc Kạn. Một bộ phận của Trung đoàn dựa vào dãy núi Tam Đảo, sẵn sàng đánh địch ở Đa Phúc, Phúc Yên.

Trung đoàn 72, bố trí hoạt động xung quanh khu vực thị xã Bắc Kạn, Phú Lương, sẵn sàng đánh địch trên Đường số 3 đến Bắc Kạn.

Trung đoàn 74, bố trí xung quanh thị xã Cao Bằng, sẵn sàng đánh địch trên Đường số 4 từ Đông Khê lên thị xã Cao Bằng và Cao Bằng về Bắc Kạn.

Hai tiểu đoàn 19 và 53 trực thuộc Khu 1, bố trí xung quanh thị xã Thái Nguyên, sẵn sàng đánh địch từ Đa Phúc và Hiệp Hoà lên Thái Nguyên.


Khu 12 có 4 trung đoàn bộ binh, được bố trí như sau:

Trung đoàn 28, có nhiệm vụ chặn địch từ Đồng Đăng lên Na Sầm, Thất Khê và từ Lạng Sơn về Đồng Mỏ, đánh địch ở trong thị xã Lạng Sơn.

Trung đoàn 36 (Bắc Bắc), có nhiệm vụ chặn địch từ cầu Đuống lên và tiến công địch ở Nam phần Bắc Ninh.

Trung đoàn 59, ngăn chặn địch từ Chũ xuống Lục Nam và đánh địch ở Đình Lập, An Châu.

Trung đoàn 98, có nhiệm vụ giữ Phả Lại, khi địch tiến công lên Việt Bắc thì đánh vào Nam Sách, Kinh Môn.

Tiểu đoàn 517 trực thuộc Khu 12, bố trí và hoạt động trên Đường số 1; Tiểu đoàn 19 và Tiểu đoàn 43 làm dự bị cơ động.


Đến đầu tháng 10-1947, bộ đội chủ lực của Khu 1 và Khu 12 có bảy trung đoàn bộ binh, năm tiểu đoàn bộ binh độc lập trực thuộc Khu; tổng quân số khoảng hơn 6.000 người. Ngoài ra còn có các đại đội, trung đội bộ đội địa phương và dân quân du kích các tỉnh, huyện, bố trí tại địa phương. Hầu hết các trung đoàn của Khu 1 mới được thành lập, một số đơn vị của Khu 12 đang ở thời kỳ chấn chỉnh, củng cố sau chiến đấu. Trang bị vũ khí còn thiếu và không thống nhất. Mỗi tiểu đoàn có từ 1 đến 2 khẩu cối 60mm, 2 đại liên, 8 trung liên và 140 đến 160 súng trường các loại.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Ba, 2021, 07:57:00 pm
Thực hiện chủ trương của trên, Khu ủy và Bộ chỉ huy Khu đã chú trọng chỉ đạo tổ chức, xây dựng hệ thống cơ quan dân quân tự vệ từ cấp Khu đến các cơ sở. Tích cực hưởng ứng Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh và thư của Người gửi đồng bào các dân tộc Việt Bắc, lực lượng dân quân tự vệ phát triển khá nhanh. Đến tháng 8-1947, Khu 1 và Khu 12 có khoảng 33.000 dân quân tự vệ, trong đó có hơn 4.000 du kích thoát ly.


Công tác phá hoại được coi trọng ở các địa phương Việt Bắc. Từ tháng 5 đến tháng 9-1947, quân và dân Việt Bắc đã phá hoại các công trình kiên cố, cầu, đường, để cản địch, bố trí lực lượng làm trận địa giả, trận địa nghi binh. Đồng bào các dân tộc dọc các trục đường đã tiến hành đào hố "chân chim", "hố răng lược" trên các đoạn đường chủ yếu, cắm chông tre, chông sào ở các bãi trống đề phòng địch nhảy dù. Riêng Khu 12, từ ngày đầu kháng chiến đến tháng 9-1947, đã phá 138km đường sắt, 91 cầu, đào đắp 324.169m3 đất đá, làm hố, đắp ụ chống xe tăng, phá nhiều công sở ở thị xã, thị trấn và 7.950 căn nhà các loại.


Tuy nhiên, công tác phá hoại ở một số địa phương chưa được coi trọng, có nơi còn mang tư tưởng "đại hậu phương chủ nghĩa" nên dẫn đến chủ quan "tiêu thổ kháng chiến không triệt để". Mặt khác, một số tuyến đường từ Định Hoá, Chợ Mới lên Bắc Kạn, Cao Bằng ta có ý định để thông thương qua biên giới Việt - Trung và tuyến liên tỉnh Thái Nguyên - Tuyên Quang cũng để lại nên chưa phá hoại. Thị xã Bắc Kạn nằm sâu trong lòng Việt Bắc, từ cuối tháng 6 đến Thu - Đông 1947, mật độ dân số tăng lên khá đông gồm các cơ quan, nhà trường, kho tàng, công xưởng của Trung ương và đông đảo nhân dân đô thị các tỉnh bạn sơ tán lên. Do ảnh hưởng của tư tưởng "đại hậu phương" nên công tác phá hoại tiến hành chậm, chỉ làm sơ sài, chiếu lệ, kết quả chỉ phá được một ít nhà cửa và một ít đồn bốt cũ.


Thực hiện mệnh lệnh ngày 4-10-1947 của Bộ Tổng chỉ huy gửi các khu, Bộ chỉ huy Khu 1 và Khu 12 xác định nhiệm vụ của các lực lượng vũ trang Việt Bắc là:

- Bảo tồn lực lượng chủ lực trước cuộc tiến công ồ ạt của địch, lập nhiều căn cứ, cản đường dịch tiến nhưng không cố thủ.

- Phát động du kích chiến tranh, bám lấy địch và tập trung lực lượng đánh vận động tiêu diệt một bộ phận sinh lực của chúng.

- Phá hoại triệt để các đường tiến công của địch, đồng thời tiêu thổ tất cả các thị trấn, không cho địch lợi dụng chiếm đóng.

- Phân tán các cơ quan nặng, nhất là binh công xưởng, để tránh sự tàn phá của địch.


Theo đó, các đơn vị chủ lực và các tỉnh, huyện, xã đã tiến hành khẩn trương công tác củng cố căn cứ kháng chiến. Nếp sống thời chiến được xác lập, hệ thống giao thông liên lạc giữa các xã, từ xã lên cơ quan cấp trên được củng cố; trống, mõ, tù và được dùng làm các phương tiện thông tin, thông báo, báo động.


Công tác bảo vệ an toàn căn cứ được chú trọng, dân quân du kích đã đặt các trạm kiểm soát tại các đoạn đường trọng điểm. Tổ chức canh gác, tuần tra phòng giữ căn cứ địa và các nơi xung yếu. Công tác tiễu phỉ, trừ gian được triển khai tích cực. Các ổ phỉ ở Yên Thế (Bắc Giang), ở vùng cao, vùng biên giới Cao Bằng bị truy quét. Các tổ chức tình báo, gián điệp, phản động ở nhiều nơi bị phá rã.


Nhân dân được giáo dục về ý thức cảnh giác, thực hiện khẩu hiệu "Ba không", ở các vùng Định Hóa (Thái Nguyên), Chợ Đồn, Bạch Thông (Bắc Kạn), đồng bào các dân tộc được học tập về công tác bảo vệ, giữ bí mật, bảo đảm nơi ở, nơi làm việc của cơ quan Trung ương Đảng, Chính phủ được an toàn tuyệt đối. Đồng bào các dân tộc Việt Bắc coi việc bảo vệ các cơ quan Đảng, Chính phủ là trách nhiệm và vinh dự của mình, tự giác chấp hành nghiêm ngặt các quy định.


Tại căn cứ địa Việt Bắc, cán bộ, nhân viên cơ quan thực hiện nếp sống quân sự hoá, ba lô, tài liệu luôn gọn gàng, sẵn sàng cơ động. Nhân dân cất giấu phần lớn tài sản, chuẩn bị sẵn sàng di chuyển vào rừng để đối phó với các tình huống.


Đầu tháng 10-1947, giặc Pháp huy động 12.000 quân tinh nhuệ mở cuộc tiến công bảy tỉnh thuộc Việt Bắc và trung du theo Kế hoạch Lê-a.

Hồi 8 giờ 15 phút ngày 7-10-1947, thực dân Pháp bất ngờ mở cuộc hành binh chiến lược lên Việt Bắc. Mở đầu cuộc tiến công, giặc Pháp đã sử dụng nhiều máy bay ném bom, bắn phá dữ dội xuống các mục tiêu xung quanh thị xã Bắc Kạn để dọn bãi. Tiếp đó, hàng chục lần chiếc máy bay vận tải thả hai tiểu đoàn quân dù (khoảng 800 tên), do trung tá Sô-va-nhắc (Sauvagnac) chỉ huy, xuống các khu vực ngoại vi, các điểm cao khống chế và ngay trong thị xã Bắc Kạn. Cũng ngay chiều ngày 7-10, Pháp lại thả một tiểu đoàn quân dù (khoảng 300 tên) xuống chiếm đóng Chợ Mới (Bạch Thông, Bắc Kạn). Đồng thời, từ Đình Lập (Lạng Sơn), binh đoàn bộ binh, do trung tá Bô-phơ-rê chỉ huy (có 2 trung đoàn bộ binh cơ giới với 300 xe), được lệnh theo Đường số 4 tiến về Cao Bằng, hình thành gọng kìm phía Đông.


Ngày 8-10, Pháp tiếp tục ném hơn 200 lính dù xuống đánh chiếm thị trấn Chợ Đồn (Bắc Kạn), Cao Kỳ (Bạch Thông), nam thị xã Bắc Kạn 21km. Như vậy, ngay từ những ngày đầu, thực dân Pháp đã thực hiện cú nhảy táo bạo xuống trung tâm căn cứ địa Việt Bắc, hòng chụp bắt cơ quan đầu não của ta và hình thành gọng kìm phía Đông, tạo thành thế bao vây, chia cắt Việt Bắc.


Ngày 9-10, do cánh quân phía Đông của Bô-phơ-rê gặp nhiều khó khăn trên đường số 4, cơ động chậm, tướng Xa-lăng (Salan), Tư lệnh chiến trường Bắc Đông Dương, buộc phải sử dụng thêm 300 quân dù Pháp nhảy xuống thị xã Cao Bằng. Cũng trong ngày 9-10, từ Hà Nội, binh đoàn hỗn hợp bộ binh và lính thủy đánh bộ do Com-muy-nan chỉ huy, ngược sông Hồng, vào sông Lô lên Tuyên Quang, hình thành gọng kìm phía Tây. Trong khi đó, các tiểu đoàn dự bị của quân viễn chinh Pháp ở Bắc Đông Dương được tập kết ở sân bay Gia Lâm, sẵn sàng tung xuống những nơi phát hiện cơ quan đầu não kháng chiến.


Ngay từ đầu, cuộc chiến đấu của quân và dân Việt Bắc đánh trả cuộc tiến công chiến lược của địch đã diễn ra quyết liệt. Tại thị xã Bắc Kạn, địch dựa vào thế quân đông, hoả lực mạnh, khai thác yếu tố bất ngờ của chiến thuật nhảy dù, hung hăng càn quét đánh chiếm các khu vực trong và ngoài thị xã. Lực lượng vũ trang ta tuy mỏng, yếu và bị bất ngờ, nhưng vẫn anh dũng chiến đấu. Học viên Trường Võ bị Trần Quôc Tuấn đã tiêu diệt gọn một toán quân dù khi chúng vừa chạm đất. Tiểu đoàn 49 tân binh dùng lựu đạn đánh trả địch, diệt tại chỗ nhiều tên. Dân quân xã Thanh Mai tiến công vào những toán dù mới tiếp đất, tiêu diệt một số tên, thu 1 súng cối và 2 súng máy; dân quân xã Hà Vị chặn đánh toán lính dù vào Cốc Xá. Tại Chợ Mới, dân quân du kích Chợ Mới và các xã Yên Định, Cao Kỳ, Hoà Mục, Nông Thượng đã toả đi tìm diệt những tên lính dù lạc ra ngoài thị xã và Chợ Mới. Ngay từ ngày đầu, quân dù của Pháp đã bị chết và bị thương hàng trăm tên. Những ngày tiếp sau, dân quân du kích Bắc Kạn và Chợ Mới liên tục tổ chức các trận tập kích, phục kích, bắn tỉa, đánh trả các cuộc hành quân càn quét của địch nhằm mở rộng khu vực đổ bộ và giải toả giao thông trên đường số 3 từ Bắc Kạn vê Chợ Mới.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Ba, 2021, 07:59:48 pm
Trên hướng Lạng Sơn, đường số 4 bị ta phá ở nhiều nơi, khiến cho đoàn quân cơ giới của địch phải tiến theo kiểu sâu đo, vừa đi vừa sửa đường và đối phó với các trận phục kích, tập kích của ta. Địch phải bỏ xe pháo lại phía sau, cho lính đi bộ, dùng lừa ngựa thồ hàng. Trên đường số 4, bộ đội địa phương huyện Văn Lãng (Lạng Sơn) và dân quân du kích liên tục tổ chức bắn tỉa, đánh địa lôi, phục kích, tập kích vào đội hình tiến quân của địch, diệt nhiều tên tại Khuổi Slìn, Khuổi Slo...


Tại Cao Bằng, bộ đội và tự vệ thị xã tích cực bám trụ đánh địch. Phân đội phòng không của đại đội trợ chiến thuộc Trung đoàn 74 bố trí trên đồi Thiên Văn (Cao Bằng) đã chiến đấu dũng cảm, lập công xuất sắc, bắn rơi chiếc máy bay JU-52, diệt 12 tên sĩ quan địch, thu nhiều tài liệu có giá trị - trong đó có bản kế hoạch tiến công Việt Bắc của địch. Chiến sĩ liên lạc Nguyễn Doanh Lộc của Trung đoàn 74 đã được giao nhiệm vụ chuyên gấp tài liệu thu được của địch về Bộ Tổng Tham mưu. Đồng chí đã từ Cao Bằng luồn rừng, vượt núi liên tục bốn ngày, ba đêm mang tài liệu về đến Yên Thông (Định Hóa - Thái Nguyên) an toàn. Tài liệu thu được của địch, đã cung cấp những ẩn số về cuộc hành binh của địch, giúp cho Bộ Tổng chỉ huy sớm hoàn thành kế hoạch phản công.


Hành động của địch trong cuộc hành binh lên Việt Bắc, đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh phân tích trong thư kêu gọi quân dân cả nước tiêu diệt địch ngày 15-10-1947, Người cho rằng: địch hội quân ở Bắc Kạn, tạo thành cái ô bọc lấy Việt Bắc, rồi cụp ô lại, dưới đánh lên, trên đánh xuống, phá cho được cơ quan đầu não cuộc kháng chiến. Người chỉ rõ: "Chúng mạnh ở hai gọng kìm, gọng kìm mà gãy thì cái ô cụp xuống sẽ thành ô rách và cuộc tiến công thất bại".


Ngày 15-10-1947, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị "Phải phá cuộc tiến công mùa Đông của giặc Pháp", biểu dương tinh thần chiến đấu của quân dân Việt Bắc, vạch rõ những chỗ mạnh, chỗ yếu của địch và nhấn mạnh "Chúng đóng quân ở xa càng dễ cho ta bao vây và chặn đường tiếp tế đánh chúng một cách có lợi trong khi chúng vận động".


Theo quyết định của Bộ Tổng chỉ huy, các trung đoàn chủ lực của Bộ và của Chiến khu được phân tán, tổ chức thực hiện phương châm "đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung", nhằm thực hiện lối đánh kết hợp tác chiến du kích rộng khắp với tác chiến tập trung trên các hướng.


Cuối tháng 10-1947, các lực lượng vũ trang Việt Bắc đã mau chóng điều chỉnh lực lượng, kết hợp với lực lượng chủ lực Bộ, hình thành thế trận phản công theo kế hoạch của Bộ Tổng chỉ huy trên Mặt trận Đường số 3, Mặt trận Đường số 4 và Mặt trận Sông Lô.

- Mặt trận Đường số 3 gồm có Trung đoàn 121, Trung đoàn 72, Trung đoàn 165 (của Bộ). Trung đoàn 121, dùng tiểu đoàn tập trung đánh địch từ Thái Nguyên tới Phúc Yên, đưa 7 đại đội độc lập xuống các huyện Đông Anh, Yên Lãng (Phúc Yên), Võ Nhai, Đại Từ, Đồng Hỷ (Thái Nguyên). Trung đoàn 72, dùng tiểu đoàn tập trung đánh địch ở Bắc Kạn đến Thái Nguyên; đưa 5 đại đội độc lập xuống các huyện Chợ Đồn, Chợ Rã, Ngân Sơn, Na Rì, Bạch Thông (Bắc Kạn). Trung đoàn 165, đánh địch ở Chợ Rã, Chợ Đồn, Bắc Kạn.

- Mặt trận Đường số 4 có Trung đoàn 74, Trung đoàn 28. Trung đoàn 74 dùng tiểu đoàn tập trung đánh địch trên đường số 4, đoạn Cao Bằng - Đông Khê; đưa các đại đội độc lập xuống các huyện Nguyên Bình, Hà Quảng, Hoà An, Quảng Uyên, Phục Hoà, Đông Khê (Cao Bằng). Trung đoàn 28 dùng Tiểu đoàn 249 đánh địch trên đoạn đường số 4 từ Lạng Sơn đi Đông Khê và đoạn đường số 1 từ Lạng Sơn đi Đồng Mỏ; đưa 6 đại đội độc lập xuống các huyện Thất Khê, Thoát Lãng, Văn Uyên, Văn Quan, Lộc Bình và Đồng Mỏ (Lạng Sơn).

- Mặt trận Sông Lô có lực lượng của Khu 10 và một tiểu đoàn chủ lực của Bộ. Các tiểu đoàn tập trung được bố trí đánh địch trên sông Lô, đoạn từ Việt Trì đến Tuyên Quang, các đại đội độc lập bố trí phân tán xuống các huyện phối hợp với du kích và nhân dân đánh địch rộng khắp.


Phương châm "đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung" là nét sáng tạo độc đáo trong nghệ thuật dùng binh của Đảng và Bộ Tổng chỉ huy trong chiến dịch phản công Việt Bắc. Phương châm trên đã tạo điều kiện cho quân dân Việt Bắc đẩy mạnh "quần chúng chiến tranh", phát huy được sức mạnh tổng hợp, phát huy được thế và lực của chiến tranh toàn dân, toàn diện trên các mặt trận của chiến trường Việt Bắc. "Quần chúng chiến tranh" chính là tiền đề, là sự khỏi đầu của loại hình "chiến tranh nhân dân" ở Việt Nam.


Trong chiến dịch phản công, quân và dân Việt Bắc đã phối hợp với chủ lực của Bộ, chủ động bám đánh địch cả ngày lẫn đêm, đẩy mạnh hoạt động "du kích chiến" rộng khắp, hình thành thế bao vây, chia cắt quân địch, chọn thời cơ tập trung lực lượng đánh những trận tiêu diệt đạt hiệu suất chiến đấu cao. Những trận đánh tiêu biểu như trận phục kích đèo Bông Lau - Lũng Phầy (30-10), trận tập kích đồn Phủ Thông (30-11), trận phục kích Đèo Giàng (15-12-1947) đã khiến cho địch hết sức kinh hoàng.


Trận phục kích đèo Bông Lau - Lũng Phầy, do Tiểu đoàn 249, Trung đoàn 28 phối hợp với du kích Đông Khê tiến hành, đã diệt 94 lính Âu - Phi, 55 lính ngụy, bắt 101 tên, bắn cháy, phá hủy 27 xe trong tổng số 33 xe cơ giới, thu nhiều vũ khí đạn dược. Đây là trận phục kích đánh giao thông xuất sắc của ta kể từ khi địch tiến công lên Việt Bắc. Chiến công của Tiểu đoàn 249 đã được Đảng và Chính phủ tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhì và Tiểu đoàn được vinh dự mang danh hiệu "Tiểu đoàn Bông Lau".


Trải qua hai tháng rưỡi liên tục chiến đấu, quân và dân Việt Bắc đã góp phần quan trọng cùng chủ lực của Bộ bẻ gãy cả hai gọng kìm phía Đông, phía Tây của địch, cắt đường giao thông tiếp tế trên các đường số 3, đường số 4, thực hiện đúng quân lệnh của Bộ Tổng chỉ huy là ’’Phải đánh cho xứng với thanh danh Việt Bắc", và "tiêu diệt địch để bảo vệ Việt Bắc". Trong chiến dịch này, chỉ riêng quân và dân Việt Bắc đã đánh 167 trận, diệt hàng nghìn tên, bắt hàng trăm tên, bắn rơi 4 máy bay, phá hủy và bắn cháy hơn 30 xe quân sự. Chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947 khảng định Việt Bắc là căn cứ địa kháng chiến của cả nước, xứng đáng với lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Lòng yêu nước của đồng bào, nhập với hình thế hiểm trở của núi sông thành một lực lượng vô địch, nó đã đánh tan cuộc tiến công của thực dân".


Sau hơn hai tháng tiến công Việt Bắc, thực dân Pháp không những không thực hiện được mục tiêu đề ra mà còn bị thiệt hại lớn về sinh lực và phương tiện chiến tranh. Để cứu vãn tình thế, cuối tháng 12-1947, địch cố duy trì một phần lực lượng tổ chức chốt giữ thị xã Bắc Kạn, Phủ Thông, Cao Bằng và xây dựng phòng tuyến Đông Bắc dọc đường số 4, còn đại bộ phận rút quân khỏi Việt Bắc.


Thất bại nặng nề của cuộc hành binh chiến lược lên Việt Bắc Thu - Đông 1947 đã đánh dấu thất bại hoàn toàn của chiến lược "Đánh nhanh, thắng nhanh" của thực dân Pháp, trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương lần thứ 2 (1945-1954).


Chiến thắng Việt Bắc là kết quả của đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện của Đảng ta, kết quả của sự chỉ đạo trực tiếp, kịp thời và sáng suốt của Bộ Tổng chỉ huy. Chiến thắng Việt Bắc phản ánh tinh thần chiến đấu dũng cảm, anh dũng tuyệt vời của quân và dân Việt Bắc nói riêng và cả nước nói chung, trong những năm đầu của cuộc kháng chiến trường kỳ và anh dũng của dân tộc.


Chiến thắng Việt Bắc đã làm cho Pháp bị sa lầy, phải đánh theo cách đánh của ta và ngày một suy yếu, bị động trên khắp các chiến trường. Sau Thu - Đông 1947, căn cứ địa Việt Bắc ngày một vững mạnh và trở thành "đất Thánh" của dân tộc Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược. Chiến thắng Việt Bắc khẳng định sự lựa chọn xây dựng An toàn khu (ATK) Trung ương trong căn cứ địa Việt Bắc của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh là hoàn toàn đúng đắn, chính xác.


Chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947 để lại nhiều bài học quý báu cho quân và dân ta. Bài học bao trùm trên hết là kết hợp và giải quyết đúng đắn việc xây dựng lực lượng thế trận với phương thức tác chiến của chiến tranh nhân dân chống chiến tranh xâm lược.


Chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947 đã đi vào lịch sử, nhưng ý nghĩa chính trị, tinh thần và giá trị tư tưởng - nghệ thuật quân sự của nó đã, đang và mãi mãi phát huy tác dụng tích cực trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Sáu mươi năm đã đi qua, thời gian tuy đã lùi xa, trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hóa của đất nước hôm nay, lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm xưa vẫn luôn động viên, nhắc nhở quân và dân Việt Bắc: "Việt Bắc trước kia là căn cứ của cách mệnh, đã nổi tiếng khắp cả nước, khắp thế giới, để giữ lấy địa vị và cái danh giá của mình. Cách mệnh do Việt Bắc mà thành công, thì kháng chiến sẽ do Việt Bắc mà thắng lợi. Mong đồng bào đều gắng sức".


Phát huy truyền thống "Việt Bắc căn cứ địa", các lực lượng vũ trang Quân khu 1 và đồng bào các dân tộc Việt Bắc nguyện không ngừng phát huy tinh thần yêu nước và cách mạng, đoàn kết phấn đấu cho sự nghiệp xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ đảm nhiệm, giữ vững an ninh chính trị trên địa bàn, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động, không ngừng xây dựng quê hương Việt Bắc ngày một giàu đẹp.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Ba, 2021, 08:01:22 pm
CÁC LỰC LƯỢNG VŨ TRANG TÂY BẮC
TRONG CHIẾN DỊCH VIỆT BẮC THU - ĐÔNG 1947


Trung tướng ĐỖ BÁ TỴ
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng,
Tư lệnh Quân khu 2


Tây Bắc là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng không chỉ đối với miền Bắc Việt Nam mà cả khu vực Bắc Đông Dương. Vì vậy, trên chiến trường này, vào năm 1947, ta đã hình thành ba mặt trận chính: Mặt trận Sơn La, Mặt trận Lào Cai và Mặt trận Yên Bái. Trong thư gửi cán bộ, chiến sĩ và đồng bào các dân tộc đang chiến đấu trên chiến trường Tây Bắc (2-1947), đồng chí Võ Nguyên Giáp đã một lần nữa khẳng định ý nghĩa, tầm quan trọng của miền Tây Bắc.


Về phía thực dân Pháp, chúng cũng coi Tây Bắc là một hướng chiến trường vô cùng quan trọng. Ngay từ đầu năm 1947, địch liên tiếp mở hàng loạt các cuộc hành quân nhằm mở rộng phạm vi chiếm đóng; đồng thời đẩy mạnh việc sử dụng bọn tay sai, phản động, lôi kéo đồng bào các dân tộc để chống phá ta.


Vào thời điểm trước khi thực dân Pháp tiến công lên Việt Bắc (Thu - Đông 1947), lực lượng chủ lực của Khu 10 có 5 trung đoàn, 1 tiểu đoàn độc lập và 1 đại đội pháo binh với 5 trung đội. Các đơn vị được bố trí như sau: Trung đoàn 92 ở Yên Bái, Trung đoàn 171 ở Lào Cai, Trung đoàn 148 ở Sơn La, Trung đoàn 112 ở Hà Giang và Tuyên Quang, Trung đoàn 87 ở Vĩnh Yên.


Dưới sự chỉ đạo của Trung ương và Bộ Tổng chỉ huy, trực tiếp là Bộ Tư lệnh Khu 10, các đơn vị lực lượng vũ trang và đông đảo nhân dân các dân tộc trên địa bàn, mặc dù tổ chức còn non trẻ, trang bị còn thô sơ, đời sống mọi mặt còn gặp rất nhiều khó khăn, thiếu thốn nhưng đã chủ động, tích cực, ngoan cường, anh dũng chiến đấu với đội quân xâm lược nhà nghề của thực dân Pháp. Mục tiêu chiến đấu của ta lúc này là tiêu diệt, tiêu hao, ngăn chặn và làm giảm sức tiến công, mở rộng phạm vi chiếm đóng của quân xâm lược Pháp. Tuy vậy, do tương quan lực lượng cùng với những yếu tố về khách quan và chủ quan, các đơn vị của ta vừa chiến đấu ngăn chặn địch, vừa phải tổ chức rút về phía sau để bảo toàn lực lượng chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài. Do đó, thực dân Pháp đã đánh chiếm và mở rộng vùng kiểm soát của chúng ở Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, một phần Yên Bái. Như vậy, sườn phía Tây của căn cứ địa Việt Bắc đã trực tiếp bị uy hiếp; các đơn vị của ta cùng các cơ quan dân, chính, đảng của ba tỉnh trên phải rút về đứng chân ở Yên Bái và vùng tây nam Phú Thọ. Nhiệm vụ của lực lượng vũ trang Khu 10 lúc này đòi hỏi hơn bao giờ hết phải quyết tâm chiến đấu, giữ vững vùng lãnh thổ còn lại bên sườn phía Tây căn cứ địa Việt Bắc.


Vào đầu tháng 10-1947, quân Pháp từ Sơn La liên tục mở các cuộc hành quân đánh chiếm sang Yên Bái, chiếm đóng 4/5 đất đai của tỉnh miền núi này. Nhiệm vụ đặt ra cho lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc Khu 10 rất nặng nề: vừa trực tiếp chiến đấu bảo vệ sườn phía Tây căn cứ địa Việt Bắc, vừa tham gia các trận chiến đấu trên Mặt trận Sông Lô - đường số 2 từ Vĩnh Yên, Phú Thọ đến Tuyên Quang, Hà Giang.


Ngày 4-10-1947, sau khi dự hội nghị ở Khu về, các đồng chí Bằng Giang - Tư lệnh Khu 10 và Song Hào - Chính ủy, đã trực tiếp chỉ đạo mọi công tác chuẩn bị chiến đấu, kiên quyết đập tan cuộc tiến công của địch. Tinh thần làm việc trong cơ quan Bộ Tư lệnh khẩn trương hơn bao giờ hết. Các chỉ thị, mệnh lệnh, kế hoạch chuẩn bị tác chiến được gấp rút soạn thảo và nhanh chóng chuyển xuống các đơn vị. Từ thủ trưởng Bộ Tư lệnh, đến cán bộ, sĩ quan ở cơ quan đều được cử đi các hướng để cùng các địa phương và đơn vị xúc tiến công việc chuẩn bị chiến đấu. Công tác phòng tránh, sơ tán được thực hiện. Hai trung đoàn chủ lực của Khu được triển khai bố trí lực lượng tại Lập Thạch, ở hai bờ sông Lô, dọc theo đường số 2 từ Đoan Hùng - Tuyên Quang lên Chiêm Hoá. Ba trung đội pháo binh triển khai trận địa ở những vị trí hiểm yếu bên bờ sông Lô, sẵn sàng đánh tàu địch. Nhân dân các địa phương tích cực cất giấu lương thực, thực phẩm, đào hầm hào tránh bom đạn, thực hiện rào làng chiến đấu, xác định địa điểm sơ tán khi chiến sự xảy ra. Các đội du kích ngày đêm luyện tập, thực hiện tiêu thổ kháng chiến, lập kè ngăn sông ở Sóc Đăng. Thế trận toàn dân đánh giặc được xây dựng ở mọi nơi.


Ngày 10-10-1947, quân xâm lược Pháp ngược sông Lô, tiến theo đường số 2, thực hiện "gọng kìm thứ 2" tiến quân lên Tuyên Quang hòng siết chặt và nghiền nát căn cứ địa Việt Bắc. Phán đoán đúng ý đồ của địch, dọc sông Lô, các trận địa chiến đấu của ta được triển khai ở Phan Dư, Khoan Bộ, Đoan Hùng, Bình Ca sẵn sàng đánh địch. Cuộc chiến đấu của quân và dân Khu 10 trên Mặt trận Sông Lô và đường số 2 đã bắt đầu. Những trận đầu, do thiếu kinh nghiệm trong xây dựng và bố trí trận địa, bảo đảm thông tin liên lạc, nắm bắt thời cơ nổ súng...; mặt khác, do súng pháo của ta cũ kỹ, bị hỏng hóc trong quá trình chiến đấu, nên hiệu quả chiến đấu thấp, bỏ lỡ thời cơ tiêu diệt địch. Tất cả những vấn đề trên từng bước được chỉ huy các cấp kịp thời chấn chỉnh và khắc phục trong quá trình chiến đấu. Điều ấy được thể hiện ở trận chiến đấu trên bến Bình Ca, ngày 13-10-1947. Tại đây, hàng chục tên địch đã bị tiêu diệt, nhiều tên khác bị thương. Bình Ca đã làm nên chiến thắng trận đầu trên sông Lô, là khúc dạo đầu của những chiến công lẫy lừng trên dòng sông Lô lịch sử. Qua thực tế chiến đấu, Bộ Tư lệnh Khu 10 đã nhận rõ chỗ mạnh, chỗ yếu của địch cũng như những khuyết, nhược điểm của ta, từ đó đã kịp thời đề ra các giải pháp để chỉ đạo các đơn vị trước khi bước vào cuộc chiến đấu mới với mức độ và cường độ cao hơn. Bộ Tư lệnh đã tăng cường công tác chỉ đạo cho các đơn vị tổ chức thế trận chiến đấu, bổ sung thêm súng đạn, tổ chức nghiên cứu, học tập chiến thuật đánh địch đường sông; tổ chức tốt việc phối hợp tác chiến hiệp đồng giữa bộ binh, pháo binh và công binh trong chiến đấu; đặc biệt là trong những trận vận động tập kích, xây dựng phương án, cách đánh đặt pháo gần mục tiêu, bắn thẳng, chống lại tư tưởng sợ mất pháo, đặt pháo xa, bắn xa. Bộ Tư lệnh đã chỉ đạo cơ quan tham mưu nghiên cứu, đề xuất đánh những trận chắc thắng để rút kinh nghiệm, qua đó lấy thực tế để giáo dục, huấn luyện bộ đội, dân quân du kích, củng cố tinh thần quyết chiến quyết thắng cho cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang cũng như đồng bào các dân tộc trên địa bàn.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Ba, 2021, 08:02:01 pm
Về phía thực dân Pháp, sau khi đổ bộ lên thị xã Tuyên Quang, để tiếp tục thực hiện mục tiêu của cuộc tiến công, chúng tiếp tục tăng viện cho gọng kìm sông Lô. Tuy nhiên, quân tăng viện của Pháp bị ta liên tiếp chặn đánh từ ngày 14 đến ngày 18-10-1947, tiêu biểu là các trận chiến đấu trên sông Lô ở Phan Dư và Khoan Bộ. Như vậy là, sau hơn một tuần mở chiến dịch tiến công, bị quân và dân Khu 10 chặn đánh khắp nơi, cánh quân của Com-muy-nan bị tổn thất hơn 100 tên, một số tàu thủy bị bắn cháy và trọng thương.


Ở hướng phía tây Khu 10 (Lào Cai, Yên Bái và vùng tây nam Phú Thọ), với mục đích nghi binh, kiềm chế lực lượng của ta và mở rộng phạm vi chiếm đóng, quân Pháp cũng liên tiếp mở những cuộc hành quân càn quét. Các đơn vị chủ lực của Khu 10 gồm Trung đoàn 171, Trung đoàn 92, Trung đoàn 148 cùng với dân quân du kích và đồng bào các dân tộc đã tích cực chặn đánh địch để phối hợp, chia lửa với mặt trận chính.


Trên sông Lô và đường số 2, các trận đánh của ta thời gian đầu hiệu quả chưa cao, chưa tiêu diệt được nhiều sinh lực địch, nhưng thế trận đã từng ngày chuyển biến tích cực có lợi cho ta, khả năng bẻ gãy "gọng kìm sông Lô" của địch là rất lớn.


Trong khi các đơn vị của ta đang tích cực chuẩn bị cho những trận đánh mới, thì từ thị xã Tuyên Quang, quân Pháp tổ chức lực lượng hành quân đánh lên Chiêm Hoá. Dưới sự chỉ đạo của Bộ Tư lệnh, lực lượng dân quân, du kích đã tổ chức các trận địa bắn tỉa trên khắp các ngả đường, ban đêm bộ đội phối hợp với tự vệ đột nhập vào thị xã Tuyên Quang đánh địch. Trên Đường số 2, ta triển khai phục kích ở km 7 (đường Tuyên Quang - Hà Giang). Ngày 22-10, đội hình hành quân của địch lọt vào trận địa phục kích, ta nổ súng diệt và làm bị thương hơn 100 tên, quân địch hốt hoảng rút trở về thị xã. Trên đường rút lui về thị xã Tuyên Quang, chúng lại bị ta chặn đánh ở km 5, diệt thêm 30 tên nữa. Lính Pháp kinh hoàng gọi Tuyên Quang là "nghĩa địa khổng lồ". Một bộ phận quân Pháp tiến theo đường thủy, ngược sông Lô lên sông Gâm, cũng liên tiếp bị ta mai phục chặn đánh. Các lực lượng thủy, bộ của địch không phối hợp và chi viện được cho nhau, lại bị tổn thất nặng nề. Đến đây, cái gọi là "gọng kìm phía Tây" của thực dân Pháp trên thực tế đã bị bẻ gãy. Phía bên kia, "gọng kìm phía Đông" cũng cùng chung một số phận. Mục tiêu cuộc tiến công bị phá sản, quân Pháp bị lâm vào tình thế bị tiêu diệt lớn, bị động, lúng túng.


Như vậy, ta đã chủ động lập nên thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp và toàn diện, sẵn sàng "đánh trả" quân xâm lược Pháp, chứ không phải như mục tiêu cuộc tiến công của quân Pháp lên Việt Bắc mà chúng đã đề ra là "chụp bắt" cơ quan đầu não kháng chiến của Chính phủ Hồ Chí Minh.


Thực hiện sự chỉ đạo của Bộ Tổng chỉ huy, Bộ Tư lệnh Khu 10 lệnh cho các đơn vị tích cực chủ động chuẩn bị tổ chức các trận chiến đấu trên sông Lô, sông Gâm và đường số 2. Các đơn vị chủ lực của Khu (gồm cả bộ binh, pháo binh và công binh) đã thực hiện tốt công tác hiệp đồng chiến đấu, với sự phối hợp, giúp đỡ của lực lượng dân quân du kích và nhân dân các dân tộc trên địa bàn. Các vị trí hiểm yếu trên sông Lô, sông Gâm và đường số 2 được khẩn trương, bí mật xây dựng thành những trận địa phục kích sẵn sàng đánh địch. Phát huy thắng lợi, rút kinh nghiệm khắc phục những hạn chế của những trận đánh trước, Bộ Tư lệnh Khu đã phân công đồng chí Tham mưu trưởng trực tiếp chỉ đạo các trận địa chiến đấu, trong đó chú trọng đến khu vực Đoan Hùng. Được sự chỉ huy, chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Khu, pháo binh đã thực hiện "đặt gần, bắn thẳng", công tác hiệp đồng chiến đấu giữa các lực lượng (cả chủ lực và địa phương) được làm tốt hơn, thông tin liên lạc kịp thời, chính xác hơn, yếu tố bí mật, bất ngờ được khai thác triệt để.


Với thế trận đã được chuẩn bị, cùng với các hướng chiến trường khác, sông Lô và đường số 2 đã góp phần làm nên một "Việt Bắc, mồ chôn giặc Pháp". Những trận đánh ở Đoan Hùng, Bình Ca, Khe Lau, cùng với thắng lợi liên tiếp trên tuyến đường Tuyên Quang - Sơn Dương - Thiện Kê - Ninh Lai - Vĩnh Yên, đã được ghi vào lịch sử chiến đấu, xây dựng, trưởng thành của lực lượng vũ trang Khu 10 những trang vàng chói lọi. Thực dân Pháp phải thừa nhận trận địa lôi ở km 7 (Tuyên Quang - Hà Giang) là "tiếng nổ của hoả ngục”, trận đánh trên sông Gâm là "bể lửa Khe Lau", trận đánh trên sông Lô là "thảm họa Đoan Hùng".


"Gọng kìm phía Tây" của thực dân Pháp đã bị bẻ gãy. Quân và dân Khu 10 đã viết nên bản hùng ca sông Lô, mãi mãi vang dội núi sông. Trên Mặt trận Sông Lô và Đường số 2, quân và dân Khu 10 đã tiêu diệt 1.200 tên địch, bắn chìm và bắn cháy 15 tàu chiến các loại, góp phần đập tan chiến lược "đánh nhanh thắng nhanh" của thực dân Pháp xâm lược, đưa cuộc kháng chiến của quân và dân ta phát triển sang giai đoạn mới.


Ngày 23-12-1947, tại thị xã Tuyên Quang, quân và dân ta tưng bừng mở hội mừng chiến thắng. Vinh dự và tự hào, quân và dân Khu 10 được đón tiếp đồng chí Tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp tới dự.


Thắng lợi của quân và dân ta trong việc đánh bại hoàn toàn cuộc tiến công lên Việt Bắc của thực dân Pháp, Thu - Đông 1947 là kết quả của sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, Bộ Tổng chỉ huy, của sự phối hợp chiến đấu của toàn dân, toàn quân trên khắp các chiến trường cả nước, trong đó có sự phối hợp chiến đấu cũng như sự đóng góp to lớn của lực lượng vũ trang Khu 10 cùng với đồng bào các dân tộc trên địa bàn. Đặc biệt là những chiến thắng vang dội trên dòng sông Lô lịch sử sẽ mãi mãi là niềm tự hào, nguồn cổ vũ, động viên để lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc trên địa bàn vững bước đi lên, làm tốt hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh".


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Ba, 2021, 08:03:40 pm
MẶT TRẬN ĐƯỜNG SỐ 4
TRONG CHIẾN DỊCH VIỆT BẮC THU - ĐÔNG 1947


Thiếu tướng NGUYỄN VĂN ĐẠO
Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân khu 1;
nay là Trung tướng, Tư lệnh Quân khu 1


Đường số 4 (gồm đường số 4A và đường số 4B) là con đường chạy song song phía nam biên giới Việt - Trung, từ duyên hải Đông Bắc lên Việt Bắc. Đường số 4 B bắt đầu từ Tiên Yên (Quảng Ninh), qua Đình Lập, Lộc Bình đến thị xã Lạng Sơn. Đường số 4A từ Đồng Đăng đi Na Sầm, Thất Khê (Lạng Sơn) qua Đông Khê, thị xã Cao Bằng rồi Hoà An, Hà Quảng đến cửa khẩu Nà Xác (Cao Bằng). Đường số 4 có chiều dài khoảng 340 km, là tuyến đường ngang được nối với nhiều tuyến đường dọc quan trọng: ở Tiên Yên, nối với đường 18 xuôi về Hòn Gai, Hải Phòng; tại Lạng Sơn nối với Đường số 1A xuôi về Hà Nội và ở Đồng Đăng, nối với đường số 1B xuống Bình Gia, Bắc Sơn đi về Thái Nguyên; ở Cao Bằng, gặp đường số 3 để xuôi về Bắc Kạn; ngược lên biên giới được nối với các đường ra Trà Lĩnh, Quảng Uyên, Phục Hoà. Vì vậy, đường số 4 là con đường huyết mạch quan trọng dọc biên giới phía Bắc. Do vậy, thực dân Pháp luôn tìm mọi cách chiếm giữ con đường này để có thể khoá chặt biên giới Việt - Trung, không cho ta liên hệ với quốc tế; mặt khác, hình thành gọng kìm vây chặt vùng Việt Bắc. Nhưng cũng chính trên con đường này, quân và dân ta đã làm nên những chiến công vang dội, gây cho kẻ thù bao nỗi kinh hoàng. Báo chí, đài phát thanh và binh lính Pháp ở Đông Dương gọi đường số 4 là "Con đường chết chóc", "Con đường đẫm máu".


Ngay trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, quân và dân Mặt trận Đường số 4 đã sát cánh cùng các Mặt trận Sông Lô, Mặt trận Đường số 3, góp phần làm phá sản chiến lược "Đánh nhanh thắng nhanh" của thực dân Pháp, buộc địch phải chuyển sang kế hoạch đánh kéo dài, thực hiện bình định và chiếm đóng.


Ngày 7-10-1947, giặc Pháp bất ngờ mở cuộc tiến công chiến lược lên căn cứ địa Việt Bắc nhằm chụp bắt cơ quan đầu não kháng chiến; tiêu diệt lực lượng chủ lực; đánh phá kho tàng, các cơ sở kinh tế, quốc phòng, làm tê liệt tiềm lực chiến tranh của ta. Theo chúng, nếu kế hoạch Lê-a thành công coi như đã loại trừ về căn bản công cuộc kháng chiến của Việt Minh. Lực lượng còn lại có chăng cũng chỉ là lực lượng du kích kháng cự nhỏ, phá rối ở các địa phương riêng lẻ, sẽ tan dần theo các cuộc hành binh càn quét. Thực hiện kế hoạch Lê-a, tướng Xa-lăng tổ chức hai gọng kìm lớn, đồng thời sử dụng quân dù như mũi thứ 3 hòng khép chặt vòng vây Việt Bắc. Gọng kìm phía Đông do trung tá Bô-phơ-rê chỉ huy một binh đoàn thuộc địa, gồm: trung đoàn Ma-rốc số 5, một tiểu đoàn dù, một tiểu đoàn pháo binh, một tiểu đoàn công binh và một đại đội cơ giới. Lực lượng dự bị có trung đoàn lê dương (3è REI), hai đại đội pháo binh và hai đại đội công binh. Đúng 21 giờ ngày 7-10-1947, trung tá Bô-phơ-rê chỉ huy hai trung đoàn, có 300 xe cơ giới, xuất phát từ Đình Lập, Lạng Sơn, tiến theo đường số 4 hướng lên Cao Bằng. Nhưng dọc đường số 4, xe pháo của địch đều bị ta phá hỏng nặng; quân Pháp phải bỏ lại tất cả các loại xe, cho công binh sửa đường và hành quân bộ cùng với bầy lừa ngựa thồ hàng. Trên đường đi, chúng luôn bị dân quân du kích và bộ đội địa phương huyện Văn Lãng, Tràng Định liên tiếp bắn tỉa, đánh địa lôi, phục kích, quấy rối, nhiều tên bị tiêu diệt, buộc phải hành binh theo kiểu "sâu đo", vừa tiến quân vừa đối phó nên tốc độ hành quân rất chậm, hai ngày sau mới đến được Thất Khê. Để nhanh chóng làm chủ Đường số 4, tướng Xa-lăng huy động 300 quân dù nhảy xuông đánh chiếm thị xã Cao Bằng (9-10) và đánh chiếm Đông Khê (12-10) để yểm trợ và đón cánh quân của Bô-phơ-rê. Sau khi đón được đội quân của Bô-phơ-rê, chúng chia làm hai mũi đánh lên Nguyên Bình để rồi thọc xuống Ngân Sơn về Bắc Kạn, đồng thời dùng không quân yểm trợ cho bộ binh chia thành nhiều mũi, nhiều hướng, đánh chiếm các vị trí trọng yếu như: Cao Bình, Trà Lĩnh, Nguyên Bình, Tinh Túc, Quảng Uyên, Phục Hoà. Địch ở Cao Bằng lúc bấy giờ đã lên đến 2.000 quân. Chúng đi đến đâu đều cướp bóc, bắn giết, gây nhiều tổn thất cho nhân dân các địa phương, ở những nơi chiếm được, chúng dựng lên chính quyền bù nhìn, liên lạc với phỉ ở các địa phương, kích động và cung cấp vũ khí cho chúng để phối hợp chống phá kháng chiến. Quân Pháp được trang bị đầy đủ vũ khí hiện đại như: xe tăng, pháo, cối, đại liên...; quá trình chiến đấu còn được máy bay yểm trợ ném bom, tiếp viện đường không... Vì vậy, chúng chủ quan cho rằng: với quân số đông, được trang bị vũ khí đầy đủ, lại tiến công bất ngờ, sẽ nhanh chóng chiếm được Cao Bằng, Lạng Sơn, làm chủ con Đường số 4 chỉ trong vài ngày.


Vốn có truyền thống đấu tranh anh dũng chống giặc ngoại xâm, thực hiện lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân dân Cao - Lạng đã cùng nhân dân cả nước nhất tề đứng lên, kiên quyết kháng chiến bằng mọi khả năng, mọi phương tiện, đánh chặn bước tiến của quân thù. Tỉnh ủy, Ủy ban kháng chiến các tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn đã chỉ đạo quân và dân các địa phương tiến hành công tác tiêu thổ kháng chiến, phá cầu đường, nhà tầng và đồn bốt của giặc trước đây, kiên quyết không để giặc Pháp lợi dụng làm chỗ dựa để tiến công ta. Các đơn vị bộ đội chủ lực và địa phương lập kế hoạch bố phòng chu đáo. Trung đoàn 24 tỉnh Cao Bằng (11-1947 đổi thành Trung đoàn 74) và Trung đoàn 11 tỉnh Lạng Sơn (6-1948 đổi thành Trung đoàn 28) được bố trí dọc Đường số 4, phối hợp với bộ đội địa phương, dân quân du kích các huyện, xã bố trí trận địa đánh chặn địch từ xa, chiếm giữ các điểm cao, xây dựng trận địa bắn máy bay chống địch nhảy dù. Nhân dân các địa phương tổ chức đào hầm, cắm chông ở những nơi địch có thể đi qua hoặc có thể nhảy dù. Khắp Cao - Lạng sục sôi khí thế chiến đấu, quyết tâm đánh thắng giặc Pháp xâm lược. Ngay từ ngày đầu hành binh, đội quân của Bô-phơ-rê đã bị quân và dân Cao - Lạng liên tục dùng chiến thuật du kích, đánh địa lôi, phục kích, chặn đánh ở nhiều nơi dọc đường số 4 từ Khuổi Slìn, Khuổi So, Na Sầm, Thất Khê, Đông Khê đến Cao Bằng, buộc chúng phải liên tục đối phó rất vất vả. Phải mất 5 ngày hành quân và có sự yểm trợ của lực lượng nhảy dù, chúng mới đến được Cao Bằng và phải mất hơn nửa tháng địch mới rải xong quân dọc đường số 4, thực hiện bước đầu phong toả biên giới phía Đông.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Ba, 2021, 08:04:19 pm
Ngày 9-10, khi quân Pháp nhảy dù xuống Cao Bằng, quân và dân Cao Bằng đã giáng trả quyết liệt. Khẩu đội súng máy 12,7mm của Trung đoàn 24, đặt trên đồi Thiên Văn đã bắn rơi chiếc máy bay JU-52 tại làng Pác Cáy, thuộc xã Hoà Tung, thị xã Cao Bằng, diệt 12 sĩ quan, trong đó có tên Lăm Be - Phó tham mưu trưởng quân viễn chinh Pháp ở miền bắc Đông Dương, thu được bản kế hoạch tiến công Thu - Đông lên Việt Bắc của địch. Chiến công đầu của Trung đoàn 24 đã khích lệ tinh thần chiến đấu của quân và dân trên khắp các mặt trận. Ngay trong đêm 9-10, dân quân du kích của thị xã Cao Bằng đã đột nhập bãi đổ quân của địch ở Nà Lắc, thu 1 trung liên, 2 tiểu liên. Sáng hôm sau, dân quân du kích xã Đề Thám đã phục kích địch ra thu dù, tiêu diệt 11 tên. Khi địch tiến quân vào xưởng quân giới Lê Tổ (10-10), chúng vừa bị vướng mìn lại vừa bị các ổ súng của công nhân từ sườn núi bắn xuống, nhiều tên bị diệt, hai ngày sau buộc chúng phải rút lui. Ngày 11-10, quân và dân Cao Bằng đã phục kích, phá hủy 2 xe vận tải của địch trên đường từ Thất Khê lên Đông Khê, diệt một số lính Pháp. Ngày 12- 10, chúng nhảy dù xuống Đông Khê đã bị bộ đội và dân quân du kích huyện Thạch An tổ chức đánh trả quyết liệt.


Như vậy, có thể nói, quân và dân Cao - Lạng ngay từ những ngày đầu, đã bình tĩnh, dũng cảm, kiên cường, chủ động đánh địch bằng mọi khả năng, thu được những kết quả đáng kể. Tuy nhiên, lực lượng ta còn mỏng yếu, vũ khí trang bị lại thô sơ, thiếu sự chỉ huy thống nhất, không nắm chắc tình hình, chưa có sự hiệp đồng tác chiến giữa các đơn vị bộ đội và dân quân du kích, nên hiệu quả chiến đấu còn hạn chế.


Ngày 15-10, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị "Phải phá cuộc tiến công mùa Đông của giặc Pháp", kiên quyết chặt đứt Đường số 4 - yết hầu quan trọng nối liền Cao Bằng, Lạng Sơn và Móng Cái của địch. Với phương châm đánh từ nhỏ đến lớn, từ dễ đến khó, tránh chỗ rắn, đánh chỗ mềm. Bộ Tổng chỉ huy ra Huấn lệnh số 101/ĐB, xác định: Đại đội độc lập bố trí trên các chiến trường địa phương, quấy rối tiêu diệt từng bộ phận nhỏ của địch và phối hợp với bộ đội lưu động đánh những trận lớn. Nhiệm vụ của bộ đội lưu động (tiểu đoàn tập trung) phối hợp với các đại đội độc lập và du kích tiêu diệt địch ở những vị trí lẻ tẻ hay trong khi chúng vận chuyển trên đường giao thông. Tập trung hai đến ba tiểu đoàn đánh những trận lớn.


Ngày 26-10-1947, đồng chí Võ Nguyên Giáp cùng một số đồng chí trong Bộ Tổng chỉ huy rời Định Hóa sang Bắc Sơn, Bình Gia (Lạng Sơn) làm việc với Tỉnh ủy, Ủy ban Kháng chiến hành chính tỉnh Lạng Sơn về những việc cấp thiết để đẩy mạnh cuộc chiến đấu trên đường số 4. Lúc này cánh quân của Bô-phơ-rê đã đánh lên Cao Bằng, đang vòng xuống Bắc Kạn, cần tổ chức lực lượng mạnh để chia cắt, tập kích địch. Do đó, phải thành lập các tiểu đoàn tập trung, phải có các đại đội độc lập của các huyện sát kề mặt trận như Thất Khê, Na Sầm, Ôn Châu, vừa có lực lượng cơ động đánh địch, vừa có lực lượng bám đất, bám dân, phát triển chiến tranh du kích. Đồng chí Võ Nguyên Giáp truyền đạt mệnh lệnh số 132/ĐB của Bộ Tổng chỉ huy (27-10), thành lập ngay Mặt trận Đường số 4, vì con đường này sẽ trở thành huyết mạch vận chuyển tiếp tế của địch để giữ các cứ điểm trên trục đường Cao Bằng - Lạng Sơn. Mặt trận Đường số 4 có nhiệm vụ: cắt giao thông tiếp tế và bẻ gãy gọng kìm phía Đông của địch. Lực lượng tác chiến của Mặt trận Đường số 4 gồm: Trung đoàn 11 Lạng Sơn, có Tiểu đoàn 374 (6-1948 phát triển thành Trung đoàn 249) phụ trách đoạn đường từ Lạng Sơn - Đông Khê và Lạng Sơn - Đồng Mỏ. Hai tiểu đoàn còn lại phân tán thành sáu đại đội bố trí dọc Thất Khê, Văn Lãng, Đồng Đăng, Lộc Bình, Đồng Mỏ và Điềm He. Trung đoàn 24 Cao Bằng có, Tiểu đoàn 73 (tiền thân của Trung đoàn 251) phụ trách đoạn đường Cao Bằng - Đông Khê, còn lại phân thành các đại đội độc lập bố trí về các huyện Nguyên Bình, Hà Quảng, Hoà An, Quảng Uyên, Phục Hoà. Ban chỉ huy Mặt trận đã nhanh chóng tổ chức, triển khai đội hình chiến đấu. Để Trung đoàn 11 có điều kiện tập trung lực lượng đánh địch và giữ vững phía sau, Bộ Tổng chỉ huy điều Tiểu đoàn 223 độc lập của Bộ lên đứng chân ở Hội Hoan, huyện Văn Lãng (Lạng Sơn), phối hợp chiến đấu. Tỉnh ủy các tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn được giao trọng trách chỉ đạo phong trào thi đua giết giặc và phá hỏng các đoạn đường giao thông; chỉ đạo các địa phương gặt nhanh lúa mùa, sơ tán tài sản.


Thực hiện chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ương Đảng, Tỉnh ủy và Ủy ban Kháng chiến hành chính các tỉnh đã lãnh đạo, chỉ đạo các địa phương đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích, thành lập các đội phá hoại hoạt động dọc các trục đường chính, thành lập Ủy ban mùa Đông kháng chiến, vận động nhân dân quyên góp quần áo, chăn màn tặng bộ đội ngoài mặt trận. Chính quyền và các đoàn thể tích cực hoạt động, động viên và huy động mọi lực lượng giúp dân gặt hái. Thóc lúa thu về được cất giấu an toàn, nhân dân an tâm và tích cực tham gia kháng chiến, bộ đội và du kích cũng được tiếp tế kịp thời.


Với khẩu hiệu "Đánh giặc Pháp để giữ nước - tiễu phỉ để giữ nhà", đánh Pháp là việc cấp bách, nhưng tiễu phỉ cũng là vấn đề quan trọng mà các tỉnh cần phải đối phó. Vì vậy, các tỉnh đã chỉ đạo các địa phương có phỉ trên địa bàn thành lập Ủy ban Tiễu phỉ, chỉnh đốn các tổ chức dân quân tự vệ, bố trí canh phòng, lập làng chiến đấu, đào giao thông hào, đắp ụ tác chiến. Để bảo toàn và phát triển lực lượng đáp ứng yêu cầu kháng chiến trường kỳ, các tỉnh đã chỉ đạo lực lượng vũ trang dùng chiến thuật đánh phục kích, vào núi rừng hiểm trở tiêu hao sinh lực địch, ngăn chặn các cuộc tiến công lấn chiếm của chúng, bảo vệ cơ quan đầu não của ta và bảo vệ nhân dân. Các đội chống chiến xa, đánh địa lôi, những đội du kích, đại đội độc lập liên tục bám địa bàn đánh địch. Du kích bí mật tổ chức đột nhập vào các vị trí của địch ở các thị trấn, thị xã để liên tục quấy rối.


Các hình thức tác chiến của du kích phát triển rất phong phú và rộng khắp, làm cho địch vừa phải căng ra trên diện rộng, vừa phải co về vị trí để chống đỡ. Với khẩu hiệu: mỗi viên đạn một quân thù, bộ đội và dân quân thi đua chiến đấu đạt hiệu suất cao. Lực lượng du kích Cao Bằng, Lạng Sơn hoạt động tích cực, chiến đấu mưu trí và sáng tạo. Những tấm gương tiêu biểu cho chiến công của lực lượng du kích có thể kể đến: dân quân du kích huyện Văn Lãng kiên cường đánh chặn địch ở Khuổi Slìn, Khuổi So; liên tục quấy rối địch trên đường hành binh, gây cho chúng nhiều tổn thất. Tiểu đội nữ du kích tập trung của tỉnh Cao Bằng đã dũng cảm chiến đấu diệt nhiều địch ở Nước Hai, ở Ma Quan, ở làng Đèn. Công nhân xưởng Lê Tổ liên tục chặn đánh địch, diệt 60 tên, bảo vệ an toàn xưởng quân giới và nhân dân địa phương. Đội lão du kích Trùng Khánh do một lão du kích 70 tuổi chỉ huy đánh nhiều trận giữ làng và đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng mấy vần thơ: "Tuổi cao chí khí càng cao, múa gươm giết giặc ào ào gió thu, sẵn sàng tiêu diệt quân thù, tiếng thơm Việt Bắc ngàn thu lẫy lừng". Lão du kích Lương Văn Khoáng đã "chế tạo" ra đại bác bằng gỗ dùng phục kích địch ở Bó Ca, đèo Keng Phác, diệt 6 giặc (27-10). Ông Nông Văn Chấn lấy ống nước bằng kẽm chế thành súng hoả mai bắn chết 3 tên giặc. Cô du kích 17 tuổi ở Thạch An chỉ với một con dao cũng bắt được lính dù. Hai em thiếu niên ở Nước Hai (Hoà An) nhiều lần dũng cảm đặt mìn diệt 30 tên giặc trong tháng 12-1947...


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Ba, 2021, 08:04:59 pm
Các đơn vị bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương, tuy còn non trẻ, trang bị thô sơ, thiếu súng đạn, thiếu khí tài, thiếu quân trang, quân dụng, nhưng có quyết tâm chiến đấu cao, mưu trí sáng tạo, không ngại khó khăn gian khổ, sẵn sàng hy sinh để hoàn thành nhiệm vụ. Trước sức tiến công vối quy mô lớn của địch, có cả máy bay, đại bác yểm trợ, các đơn vị bộ đội của Cao Bằng, Lạng Sơn rất linh hoạt tránh đối đầu trực tiếp, phân tán lực lượng bám sát địch, thực hiện phục kích, tập kích nhỏ lẻ.


Khi Mặt trận Đường số 4 được thành lập, các đơn vị được bố trí hình thành thế trận đánh địch trên dọc đường số 4, thực hiện địa lôi chiến, triệt đường tiếp tế, bẻ gãy gọng kìm phía đông. Các đơn vị triệt để áp dụng chiến thuật du kích vận động chiến dọc đường giao thông và các căn cứ địch, tập kích các đồn nhỏ lẻ, tránh xung đột lớn để bảo tồn lực lượng, nhưng luôn tìm nơi sơ hở của địch mà đánh. Kẻ địch luôn phải cơ động trên trục đường giao thông để tiếp tế, đó là điều kiện thuận lợi cho lối đánh du kích của ta, vừa phát huy được sở trường, vừa đánh vào đúng chỗ yếu của chúng. Bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương luôn quán triệt và vận dụng sáng tạo phương châm "Tuyệt đối giữ bí mật, đánh nhanh, rút nhanh, chú trọng bảo toàn lực lượng, cướp súng giặc để giết giặc". Bài toán vừa bảo toàn lực lượng nhưng phải cướp được nhiều súng địch đã được các đơn vị tìm ra lời giải ngay từ những trận đầu, là dựa vào sự thiên hiểm của núi rừng và sự mưu trí, dũng cảm của mọi cán bộ, chiến sĩ. Kẻ thù ỷ vào quân lính nhà nghề đông, từng đánh nhau qua Chiến tranh thế giới thứ hai, nên chúng coi thường lực lượng ta chỉ là nông dân vào Vệ quốc đoàn, không được học hành cặn kẽ về quân sự, không hiểu sâu, nắm vững về thuật dụng binh, trang bị lại thô sơ. Vì vậy, địch chủ quan, kiêu ngạo, hễ nghe tiếng súng là chúng ào ạt phản công ngay nhằm áp đảo cả về hoả lực lẫn xung lực. Cán bộ, chiến sĩ của ta dù chân đất, áo vải cũng hiểu rõ chân lý muốn đánh kẻ địch mạnh cần phải mưu trí, táo bạo, ít súng đạn vẫn thắng được địch nếu tạo nên thế bất ngờ vào thời điểm bất ngờ, ở khoảng không gian bất ngờ nhất. Đường số 4, với cái thế tuyệt địa được thiên nhiên xếp đặt, giăng bẫy sẵn, tạo sẵn cửa tử, giúp ta dẫn dụ mai phục, buộc địch lâm cảnh bất lợi, tiến thoái lưỡng nan. Với địa hình thiên hiểm, một bên là núi cao, một bên là vực sâu, đường vòng theo chân núi, đi ngược phải lên đèo, về xuôi thì phải xuống dốc, là thế thuận lợi cho các trận phục kích. Kẻ địch luôn luôn bị thua vì chúng luôn chủ quan và bị bất ngờ. Chúng cứ nghĩ rằng: bắn pháo dữ dội vào rừng núi thì Việt Minh chui vào đâu mà mai phục; dùng máy bay rà soát từng ngọn cây, bắn hàng tràng đại liên xé cây, rạch đất thì Việt Minh nào chẳng phải lùi chạy; dùng binh lính tiền tiêu đánh chiếm chốt giữ các điểm cao, khống chế chặt chẽ mặt đường thì Việt Minh nào dám xung phong xuống mặt đường; chỗ bị đánh rồi thì chắc Việt Minh sẽ chẳng đánh lại chỗ đã bị lộ... Bởi thế nên kẻ địch luôn bị đánh rất bất ngờ, chết bất ngờ theo sự tính toán chủ quan của chúng. Ở trên những đoạn đường đèo quanh co khúc khuỷu, cả những nơi địa hình trống trải và ở ngay những địa điểm chúng vừa bị đánh, quân và dân ta vẫn tổ chức phục kích đánh địch rất hiệu quả. Tiêu biểu cho sự mưu trí sáng tạo trong việc bày binh, bố trận phục kích tiêu diệt quân thù đông và mạnh hơn ta gấp nhiều lần, của các đơn vị bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương, có thể kể đến: Trận phục kích Bông Lau - Lũng Phầy (30-10) của Tiểu đoàn 374 (tiền thân của Trung đoàn 249), Trung đoàn 11 tỉnh Lạng Sơn: chỉ có 1 đại liên Hốt-kít, 4 trung liên, 1 cối 60, vài khẩu trung liên, tiểu liên và súng trường còn lại là mã tấu, kiếm và lựu đạn, nhưng ta đã tiêu diệt gọn một đoàn xe cơ giới, bắn cháy và phá hủy 27 trên tổng số 33 xe, diệt 94 lính Âu - Phi, 55 lính ngụy, bắt 101 tên, thu 600 chiếc dù và toàn bộ vũ khí trang bị; ta chỉ hy sinh 1 và bị thương 5 đồng chí. Trận phục kích của Trung đội 1 Đại đội 670 huyện Thạch An, tại Bó Mò (cách Đông Khê 4km, ngày 20-11), đã phá hủy 2 xe quân sự, diệt 7 tên lính, làm 6 tên bị thương, thu 1 súng trường, 1 súng máy, 6 băng đạn. Trận phục kích Slằng Kheo (3-12) của Đại đội 670, phối hợp với trung đội du kích tập trung huyện Thạch An diệt 11 tên địch. Mặc dù địch đã rải được quân suốt dọc Đường số 4, lập nhiều đồn bốt ở những nơi xung yếu, nhưng chúng luôn bị các lực lượng dân quân du kích và chủ lực của tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn đánh cho những đòn nhừ tử. Trung đoàn 74 của đồng chí Chu Huy Mân liên tục nổ súng tiến công địch. Tiểu đoàn 73 của đồng chí Nguyễn Hữu An đã phục kích tại Nà Tốn, Nà Cau, tập kích đồn Cốc Bố, Ngườm Bái, tiêu diệt nhiều xe quân sự và quân lính Pháp. Đại đội 670 phục kích tại Phục Hoà, Trà Lĩnh. Đại đội 660 hoạt động ở Quảng Uyên. Đại đội 398 diệt địch ở Khau Măng. Riêng ở Cao Bằng, từ ngày 9-10 đến ngày 13-12, ta đánh 34 trận, tiêu diệt 344 tên, bắn bị thương 67 tên.


Sau khi bị quân và dân Việt Bắc đánh trả quyết liệt với trên 200 trận, cuộc hành quân Lê-a không đạt được mục đích, ngày 20-11-1947, Bộ chỉ huy Pháp ra lệnh rút một phần lực lượng và chuyển sang kế hoạch bình định, chiếm đóng hòng bám sâu lại trong lòng Việt Bắc. Gọng kìm phía Đông của Bô-phơ-rê bị chùn lại ở Cao Bằng, buộc phải rút khỏi một số vị trí như: Phục Hoà, Quảng Uyên, Tĩnh Túc để tập trung về giữ những vị trí quan trọng như: thị xã Cao Bằng (còn 400 quân), Nước Hai (200 quân), Đông Khê (200 quân). Chúng cố gắng duy trì trên Đường số 4 hệ thống đồn bốt để nối thông xuống Lạng Sơn và về duyên hải.


Trải qua hơn hai tháng liên tục chiến đấu, quân và dân trên Mặt trận Đường số 4 đã cắt đứt giao thông tiếp tế trên Đường số 4, bẻ gãy gọng kìm phía Đông của địch, thực hiện đúng Quân lệnh của Bộ Tổng chỉ huy là đánh mạnh trên đường 4, tiêu diệt địch, bảo vệ Việt Bắc. Trong tổng số hơn 6.000 tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu, 16 máy bay bị bắn rơi, hàng trăm xe quân sự bị phá hủy trên toàn chiến trường miền Bắc, Mặt trận Đường số 4 đã tiêu diệt 412 tên và hơn nửa số xe quân sự.


Giành được chiến thắng vẻ vang đó là nhờ có sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao, sáng suốt của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Tổng chỉ huy. Các cấp ủy Đảng, chính quyền và các đơn vị bộ đội đã quán triệt sâu sắc phương châm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng, vận dụng sáng tạo cách đánh, thực hiện tiến công kiên quyết, liên tục, bám địch mà đánh, đánh từ nhỏ đến lớn, từ dễ đến khó.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Ba, 2021, 08:05:32 pm
Sau thất bại Thu - Đông năm 1947, thực dân Pháp phải thực hiện chuyển hướng chiến lược từ "Đánh nhanh, thắng nhanh" sang "Đánh kéo dài, bình định vùng chiếm đóng", thực hiện chính sách "Dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh", mở rộng vùng chiếm đóng theo kiểu vết dầu loang ở ven đường số 4. Chúng đặt sở chỉ huy Khu biên thuỳ ở Lạng Sơn, chia thành 2 Phân khu Bắc và Nam. Phân khu Bắc gồm: tiểu đoàn 3 lê dương chốt giữ từ Cao Bằng đến Đông Khê rải thành 4 đồn. Tiểu đoàn 2 đóng ở Thất Khê, rải thành 6 đồn án ngữ dọc Đường số 4. Phân khu Nam chia thành 2 tiểu khu là Na Sầm - Đồng Đăng và Lộc Bình - Tiên Yên. Địch cố tạo thành tuyến đồn bốt vững chắc dày đặc công sự vừa để khống chế ta, vừa bảo đảm sự an toàn của chúng.


Những trận phục kích thắng lợi giòn giã đã làm tương quan lực lượng thay đổi có lợi cho ta, từ thế bị động phòng ngự, đối phó, quân ta chuyển sang thế phản công bộ phận. Lực lượng ta phát triển nhanh cả về số lượng, chất lượng và vũ khí trang bị. Những trận chiến đấu, với hiệu suất cao của Trung đoàn 74 Cao Bằng và Trung đoàn 11 Lạng Sơn, đã tạo thế cho các đại đội độc lập ở các huyện vững mạnh hơn, bao vây đánh phá các đồn bốt, phá thế kìm kẹp của địch. Quân Pháp bị sa lầy trong thế trận chiến tranh nhân dân của ta, sinh lực bị tiêu hao, lương thực, thuốc men thiếu thốn, tinh thần binh lính sa sút nghiêm trọng. Chúng buộc phải co cụm trong hàng rào đồn bốt, luôn phải căng thẳng đối phó với sự tiến công liên tục của ta. Với sự che chở của đồng bào, cộng với thế núi rừng thiên hiểm, lực lượng vũ trang ta hoàn toàn chủ động chọn địa điểm, địa hình và cách đánh thuận lợi nhất để giành phần thắng. Đường số 4 không bao giờ ngớt tiếng súng. Trong khi bộ đội chủ lực tạm nghỉ chuẩn bị cho những đánh lớn, thì dân quân du kích liên tục phá đường, phá cầu cống, cắt điện thoại, nghi binh, quấy rối, bắn tỉa tiêu hao địch ngay quanh đồn bốt. Bên cạnh đó, các địa phương còn đẩy mạnh công tác địch vận, một số lính Âu - Phi nhận thức được tính chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh xâm lược, nên đã nộp súng đầu hàng và xin được tham gia chiến đấu trong hàng ngũ của ta. Nhiều lính ngụy được giác ngộ làm nhân mối, báo cho ta nhiều thông tin về sự thay đổi trong các đồn bốt cả về xung lực và hoả lực, lịch trình các cuộc hành quân vận chuyển tiếp tế...


Trên đường số 4 đã diễn ra cuộc đấu trí, đấu lực quyết liệt về phục kích và chống phục kích. Địch đã tìm trăm phương ngàn kế để đề phòng bị phục kích, nhưng ta vẫn tổ chức nhiều lần phục kích với hiệu suất chiến đấu cao, phục kích ngày càng lớn, trên quãng đường ngày càng dài, trận sau thắng lớn hơn trận trước. Sau trận phục kích thắng lợi giòn giã ở Bông Lau - Lũng Phầy, của Tiểu đoàn 374, là trận Bố Củng - Lũng Vài, của Tiểu đoàn 223 của Bộ, phối hợp cùng Trung đoàn 11, ngày 8-1-1948, diệt gọn hai trung đội, phá hủy 16 xe, thu nhiều vũ khí trong đó có cả súng cối 60mm và súng máy 12,7mm và nhiều quân trang quân dụng. Tiếp theo là trận phục kích Bản Nầm của Tiểu đoàn 374, nơi địa hình trống trải, nhưng giặc Pháp đã phải phơi thây đầy đồng. Trên hướng Cao Bằng, Trung đoàn 74 cũng liên tục tổ chức phục kích tiêu diệt địch. Trận phục kích ở Nà Keng của Trung đội trợ chiến thuộc Đại đội 675 Tiểu đoàn 73, ngày 5-4-1948, tuy hoả lực chỉ có 1 súng máy băng tròn, đã diệt 60 tên địch. Tiếp đó, là trận phục kích Nà Ten của Tiểu đoàn 73, ngày 10-12-1948, diệt 30 tên địch, phá hủy 2 xe, thu nhiều vũ khí. Đại đội 670 Thạch An rất anh dũng, liên tục tổ chức phục đánh địch ở Ngườm Kim, Xộc Ngà. Sau này, những trận phục kích của Trung đoàn 74 Cao Bằng, Trung đoàn 28 Lạng Sơn và Tiểu đoàn 223 của Bộ với quy mô ngày càng lớn, trận nào cũng thắng lớn mà thắng ngay ở những trận địa đã phục kích đánh đi đánh lại nhiều lần, nhưng kẻ địch vẫn không sao chế ngự và tránh thoát được như ở Tông Va, Lũng Mười, Ngườm Kim, Bông Lau, Bố Củng - Lũng Vài, Bản Nầm.


Thực hiện khẩu hiệu "Du kích chủ động", các đại đội độc lập và dân quân du kích địa phương hoạt động ngày càng đa dạng hơn, từ quấy rối tiêu hao đến phục kích nhỏ và làm công tác địch vận kêu gọi binh lính ngụy, giác ngộ họ, tạo nhân mối, tổ chức lấy đồn bằng nội công ngoại kích. Du kích tổ chức đánh các đồn nhỏ, như đồn Chè Cáy, Kéo Thổ. Các trung đoàn, tiểu đoàn chủ lực phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ, diệt các đồn Bản Trại, Na Sầm, Lũng Vài, Nước Hai, Nguyên Bình.


Đường số 4 - con đường đã gây cho kẻ thù nhiều nỗi kinh hoàng, khiếp sợ, khi nhắc đến Bông Lau, Lũng Phầy, Bản Nầm, Lũng Vài, Bố Củng, Lũng Mười, v.v. Và mỗi lần phải vận chuyển tiếp tế từ Lạng Sơn lên Cao Bằng, chúng đều khiếp đảm. Đối với chúng ta, con Đường số 4 thực sự là "Con đường lửa", nơi đây đã tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh, đốt cháy ý chí xâm lược của kẻ thù. Qua cuộc đọ sức lớn, quyết liệt với quân xâm lược, quân và dân trên Mặt trận Đường số 4 đã thực sự trưởng thành, rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm về tổ chức, chỉ đạo, chỉ huy, hiệp đồng chiến đấu, huy động sức mạnh của toàn dân để chiến thắng kẻ thù. Những đóng góp to lớn, từ chiến công bắn rơi máy bay JU-52, thu tài liệu "Kế hoạch tiến công Việt Bắc của địch", nhờ đó Bộ Tổng chỉ huy có thêm cơ sở vững chắc hoàn chỉnh phương án đánh địch, đến những trận phục kích tiêu diệt vài chục xe quân sự, diệt và bắt hàng trăm lính Pháp, đã củng cố niềm tin vào sự thắng lợi của công cuộc kháng chiến. Chiến lợi phẩm thu được từ Mặt trận Đường số 4, có thể trang bị cho cả binh đoàn chủ lực, giúp giải quyết được nhiều vấn đề bảo đảm phục vụ cho tác chiến, đặc biệt là vũ khí trang bị trong điêu kiện ta còn nhiêu khó khăn.


Những chiến công vang dội của quân và dân Mặt trận Đường số 4 đã đóng góp một phần lớn lao vào chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947 của quân và dân Việt Bắc nói riêng và quân dân cả nước nói chung, xứng đáng với lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Cách mệnh đã do Việt Bắc mà thành công, thì kháng chiến sẽ do Việt Bắc mà thắng lợi".


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 17 Tháng Ba, 2021, 06:02:38 pm
MẶT TRẬN ĐƯỜNG SỐ 3
TRONG CHIẾN DỊCH VIỆT BẮC THU - ĐÔNG 1947

Thiếu tướng DƯƠNG CÔNG SỬU
Phó tư lệnh Quân khu 1


Đường số 3 dài gần 400km, bắt đầu từ đường số 1 (Yên Viên, Hà Nội), qua Đa Phúc đi Thái Nguyên lên Bắc Kạn, vượt đèo Cô-lê-a về Cao Bằng rồi đi về phía Đông đến cửa khẩu Tà Lùng. Đây là trục giao thông huyết mạch nối liền Hà Nội với căn cứ địa Việt Bắc, có vị trí quan trọng trong các hoạt động kinh tế, xã hội, đặc biệt là cơ động trong hoạt động quân sự.


Ngay trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến, Đường số 3 là trục giao thông chính để sơ tán, tản cư hàng chục vạn đồng bào, hàng nghìn tấn thiết bị, máy móc từ Hà Nội và các tỉnh miền xuôi lên Việt Bắc tham gia kháng chiến.


Chấp hành Chỉ thị ''Sửa soạn phá những cuộc tấn công lớn của địch" của Thường vụ Trung ương Đảng, từ ngày 27 đến 29-9-1947, Bộ Tổng chỉ huy triệu tập hội nghị quân sự lần thứ tư để thống nhất nhận định về hướng tiến công và đề ra chủ trương đẩy mạnh tác chiến Thu - Đông, tích cực chuẩn bị đánh bại kế hoạch của địch. Hội nghị phán đoán: "Bắc Bộ sẽ là chiến trường chính, nếu địch không mạo hiểm thì sẽ đánh đồng bằng, nếu mạo hiểm thì chúng sẽ đánh lên Việt Bắc... Tấn công lên Việt Bắc, chúng sẽ chiếm các tỉnh Phúc Yên, Thái Nguyên, Phú Thọ, Tuyên Quang, nối liền đường Hà Nội - Lạng Sơn, đồng thời có thể địch sẽ cấu kết với bọn Việt gian, thổ phỉ mở rộng phạm vi hoạt động của chúng ở biên giới Việt - Hoa từ Lạng Sơn qua Cao Bằng, Hà Giang đến Lào Cai". Chiến lược của địch là "đánh nhanh, thắng nhanh" nhằm tiêu diệt Chính phủ kháng chiến, tiêu diệt bộ đội chủ lực, phá nát các cơ sở kho tàng kháng chiến để sớm kết thúc chiến tranh. Mặt khác, thực dân Pháp còn đẩy mạnh các hoạt động chiến tranh tâm lý nhằm gây hoang mang, làm giảm lòng tin của nhân dân cả nước vào thắng lợi của cuộc kháng chiến; chúng rêu rao "Việt Minh chỉ là những bóng ma", để trên cơ sở đó chúng sẽ thành lập chính quyền bù nhìn phục vụ cho mưu đồ xâm lược.


Chấp hành nghị quyết và các chỉ thị của Trung ương Đảng và Bộ Tổng chỉ huy, Khu ủy 1 và các Tỉnh ủy, Tỉnh đội bộ dân quân đã tăng cường công tác chuẩn bị chiến đấu, tổ chức bố trí thế trận... sẵn sàng chiến đấu ngăn chặn các cuộc tiến công lớn của địch lên Việt Bắc. Trên hướng đường số 3, Khu 1 đã bố trí các lực lượng như sau:


Trung đoàn 121 (Thái Nguyên - Phúc Yên), bố trí xung quanh thị xã Thái Nguyên và dọc phía đông đường số 3 (Sơn Cẩm, La Hiên, Đình Cả), sẵn sàng đánh địch tiến công vào thị xã và dọc Đường số 3 đến Bắc Kạn. Một bộ phận của Trung đoàn dựa vào dãy núi Tam Đảo, sẵn sàng đánh địch ở Đa Phúc, Phúc Yến lên Thái Nguyên.


Trung đoàn 72 (Bắc Kạn), bố trí hoạt động xung quanh khu vực thị xã Bắc Kạn, Phú Lương, sẵn sàng đánh địch trên Đường số 3 đến Bắc Kạn.

Trung đoàn 74, bố trí xung quanh thị xã Cao Bằng, sẵn sàng đánh địch trên Đường số 4 từ Đông Khê lên thị xã Cao Bằng và trên Đường số 3 từ Cao Bằng về Bắc Kạn.

Hai tiểu đoàn 19 và 53, trực thuộc Khu 1, bố trí xung quanh thị xã Thái Nguyên, sẵn sàng đánh địch ở phía Đông Đường số 3 từ Đa Phúc (Phúc Yên) và Hiệp Hoà (Bắc Giang) lên Thái Nguyên.

Thực hiện mệnh lệnh ngày 4-10-1947 của Bộ Tổng chỉ huy gửi cho các Khu, Bộ chỉ huy Khu 1 xác định nhiệm vụ là: Bảo toàn chủ lực trước cuộc tiến công ồ ạt của địch, lập nhiều căn cứ, cản đường địch tiến nhưng không cố thủ; phát động chiến tranh du kích, bám lấy địch và tập trung lực lượng đánh vận động, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch; phá hoại triệt để các đường tiến công của chúng, đồng thời tiêu thổ tất cả các thị trấn, không cho địch lợi dụng chiếm đóng; phân tán các cơ quan nặng, nhất là binh công xưởng để tránh sự tàn phá của địch.


Chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tổng chỉ huy và nhiệm vụ của Khu 1 giao, lực lượng vũ trang và các địa phương dọc trục Đường số 3 vừa xây dựng thế trận theo phương án tác chiến, vừa huấn luyện sẵn sàng chiến đấu. Các địa phương đã hướng dẫn, phổ biến cho các tầng lớp nhân dân về công tác phá hoại; nhân dân các thị xã, thị trấn được quán triệt chủ trương "tiêu thổ kháng chiến". Chông mìn, cạm bẫy được cài đặt ở nhiều nơi dự kiến địch có thể tiến quân qua hoặc thả quân dù. Tuy nhiên, do tư tưởng "đại hậu phương chủ nghĩa", công tác phá hoại trên dọc trục Đường số 3 triển khai thực hiện chậm, có nơi làm qua loa, hình thức, thậm chí không phá hoại, hoặc chỉ phá một số nhà cửa và một ít đồn bốt cũ. Tuyến đường từ Định Hoá, Chợ Mới lên Bắc Kạn, Cao Bằng ta có ý định giữ lại để thông sang biên giới Việt - Trung. Tuyến liên tỉnh Thái Nguyên - Tuyên Quang cũng để lại nên chưa phá hoại. Từ cuối tháng 6 đến Thu - Đông 1947, thị xã Bắc Kạn mật độ dân số tăng lên khá đông, gồm các cơ quan, nhà trường, kho tàng, công xưởng của Trung ương và đông đảo nhân dân các tỉnh miền xuôi sơ tán lên tham gia kháng chiến. Các hoạt động của các cơ quan Trung ương, địa phương và sinh hoạt dân sinh ở đây vẫn mang nếp sống thời bình, chợ búa dập dìu, ngược xuôi tấp nập, điện sáng trong đêm.


Trên trục Đường số 3, công tác bảo vệ an toàn căn cứ được chú trọng, dân quân du kích đã đặt các trạm kiểm soát tại các đoạn đường trọng điểm, tổ chức canh gác, tuần tra phòng giữ căn cứ địa và các nơi xung yếu. Công tác tiễu phỉ, trừ gian được triển khai tích cực. Các ổ phỉ ở vùng cao Bắc Kạn, vùng biên giới Cao Bằng giáp Trung Quốc bị truy quét. Các tụ điểm tình báo, tổ chức gián điệp, phản động, nhiều tên bị bắt và phá rã. Nhân dân được giáo dục thường xuyên về ý thức cảnh giác, thực hiện khẩu hiệu "Ba không". Ở các vùng Định Hóa (Thái Nguyên), Chợ Đồn, Bạch Thông (Bắc Kạn), đồng bào các dân tộc được học tập về công tác bảo vệ, giữ bí mật, bảo đảm nơi ở, nơi làm việc của cơ quan Trung ương Đảng, Chính phủ được an toàn tuyệt đối.


Hồi 8 giờ 15 phút ngày 7-10-1947, thực dân Pháp bất ngờ mở cuộc hành binh chiến lược lên Việt Bắc. Mở đầu cuộc tiến công, giặc Pháp đã sử dụng nhiều máy bay ném bom, bắn phá dữ dội xuống các mục tiệu xung quanh thị xã Bắc Kạn. Tiếp đó, hàng chục lần chiếc máy bay vận tải thả hai tiểu đoàn quân dù (có khoảng 800 tên) do trung tá Sô-va-nhắc chỉ huy, xuống các khu vực ngoại vi, các điểm cao khống chế và ngay trong thị xã Bắc Kạn. Cũng ngay chiều hôm đó (7-10), Pháp lại thả một tiểu đoàn quân dù (có khoảng 300 tên) xuống chiếm đóng thị trấn Chợ Mới (Bắc Kạn).


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 17 Tháng Ba, 2021, 06:03:54 pm
Ngày 8-10, Pháp tiếp tục ném hơn 200 lính dù xuống đánh chiếm thị trấn Chợ Đồn (Bắc Kạn), Cao Kỳ (Bạch Thông), nam thị xã Bắc Kạn 21km. Như vậy, ngay từ những ngày đầu, thực dân Pháp đã thực hiện "cú nhảy táo bạo" nhằm chụp bắt cơ quan đầu não của ta.


Ngày 9-10, do cánh quân phía Đông của Bô-phơ-rê gặp nhiều khó khăn vì bị quân và dân Lạng Sơn chặn đánh và phá hỏng nhiều đoạn trên Đường số 4, dẫn đến cơ động chậm, phải bỏ cả xe pháo ở lại, dùng lừa ngựa thồ hàng, tướng Xa-lăng, Tư lệnh chiến trường Bắc Đông Dương, buộc phải sử dụng thêm 300 quân dù Pháp nhảy xuống thị xã Cao Bằng. Cùng ngày, từ Hà Nội, binh đoàn hỗn hợp bộ binh thuộc địa và lính thủy đánh bộ do Com-muy-nan chỉ huy, ngược sông Hồng, vào sông Lô, lên Tuyên Quang, hình thành gọng kìm phía Tây. Trong khi đó, các tiểu đoàn dự bị của quân viễn chinh Pháp ở Bắc Đông Dương được tập kết ở sân bay Gia Lâm, sẵn sàng tung xuống những nơi phát hiện cơ quan đầu não kháng chiến.


Cuộc chiến đấu của quân và dân trên trục Đường số 3 ngay từ đầu đã diễn ra quyết liệt. Tại thị xã Bắc Kạn, địch dựa vào thế quân đông, hoả lực mạnh, khai thác yếu tố bất ngờ của chiến thuật nhảy dù, đánh chiếm các khu vực bên trong và ngoài thị xã. Lực lượng vũ trang ta tuy mỏng yếu và bị bất ngờ, nhưng vẫn anh dũng chiến đấu. Học viên Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn đã tiêu diệt gọn một toán quân dù khi chúng vừa chạm đất. Tiểu đoàn 49 tân binh của Trung đoàn 72 dùng lựu đạn đánh trả, diệt nhiều tên. Dân quân xã Thanh Mai tiến công vào những toán dù mới tiếp đất, tiêu diệt một số tên, thu 1 súng cối và 2 súng máy; dân quân xã Hà Vị chặn đánh toán lính dù vào Cốc Xá. Dân quân du kích Chợ Mới và các xã Yên Định, Cao Kỳ, Hoà Mục, Nông Thượng toả đi tìm diệt những tên lính dù lạc ra ngoài thị xã và Chợ Mới. Bộ đội chủ lực Khu và bộ đội địa phương cùng dân quân du kích Bắc Kạn, Chợ Mới liên tục tổ chức các trận tập kích, phục kích, bắn tỉa, đánh địa lôi, đánh trả các cuộc hành quân càn quét của địch, mở rộng khu vực đổ bộ và giải toả giao thông trên đường số 3 từ Bắc Kạn về Chợ Mới.


Tại Cao Bằng, bộ đội và tự vệ thị xã tích cực bám trụ đánh địch. Phân đội phòng không của đại đội trợ chiến thuộc Trung đoàn 74 bố trí trên đồi Thiên Văn, Cao Bằng đã chiến đấu dũng cảm, lập công xuất sắc, bắn rơi chiếc máy bay JU-52, diệt 12 tên sĩ quan địch, thu nhiều tài liệu có giá trị - trong đó có bản kế hoạch tiến công Việt Bắc của địch. Tài liệu thu được của địch, đã cung cấp cho ta những ẩn số về cuộc hành binh của giặc Pháp, giúp cho Bộ Tổng chỉ huy sớm thành kế hoạch phản công.


Ngày 15-10-1947, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị "Phải phá cuộc tiến công mùa Đông của giặc Pháp", biểu dương tinh thần chiến đấu của quân dân Việt Bắc, chỉ rõ những chỗ mạnh, chỗ yếu của địch và nhấn mạnh: "Chúng đóng quân ở xa càng dễ cho ta bao vây và chặn đường tiếp tế đánh chúng một cách có lợi trong khi chúng vận động".


Theo quyết định của Bộ Tổng chỉ huy, các trung đoàn chủ lực của Bộ và của Khu thực hiện phương châm "đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung", kết hợp tác chiến du kích rộng khắp với tác chiến tập trung quy mô nhỏ trên các hướng.


Cuối tháng 10-1947, các lực lượng vũ trang Việt Bắc đã mau chóng điều chỉnh lực lượng, kết hợp với lực lượng chủ lực Bộ, hình thành thế trận phản công theo kế hoạch của Bộ Tổng chỉ huy trên các mặt trận Đường số 3, Đường số 4 và Mặt trận Sông Lô.


Mặt trận Đường số 3, do đồng chí Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái trực tiếp chỉ huy, có nhiệm vụ tích cực phá hoại, phục kích đường giao thông, triệt tiếp tế, buộc địch rút khỏi khu vực Bắc Kạn. Lực lượng được bố trí như sau:

Trung đoàn 72: Sử dụng Tiểu đoàn 55 đánh tập trung ở khu vực Bắc Kạn, Nguyên Bình, đường số 3; còn lại 5 đại đội độc lập phân tán về phụ trách các vùng Chợ Đồn, Chợ Rã, Ngân Sơn, Bạch Thông, Na Rì (Bắc Kạn).

Trung đoàn 121: dùng Tiểu đoàn 25 cơ động đánh địch từ Thái Nguyên đến Phúc Yên, còn 7 đại đội độc lập bố trí ở các huyện của tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Phúc Yên.

Trung đoàn 165 (thiếu) thuộc Bộ Tổng chỉ huy, phối hợp cùng với Tiểu đoàn 160 đảm nhiệm đánh địch ở vùng Chợ Rã, Chợ Đồn, Bắc Kạn, vừa đánh mạnh đường số 3 để cô lập địch ở Bắc Kạn, bức rút một số vị trí địch chiếm đóng vừa bảo vệ cơ quan, kho tàng trong căn cứ địa.


Nhờ có các "đại đội độc lập" làm nòng cốt dìu dắt dân quân du kích xây dựng và chiến đấu, phong trào "quần chúng chiến tranh" (khởi đầu của cụm thuật ngữ chiến tranh nhân dân) của các địa phương nhanh chóng phát triển rộng khắp. Lực lượng du kích tập trung của các tỉnh trên trục đường số 3, tính trung bình mỗi tỉnh có hai trung đội, mỗi huyện có một trung đội trực tiếp tham gia chiến đấu.


Khu 1 và các tỉnh ủy tập trung chỉ đạo thi đua giết giặc lập công và phá các đoạn đường giao thông còn lại, gặt nhanh lúa mùa và sơ tán tài sản của nhân dân. Để tăng cường sự chỉ đạo của trên và khắc phục khó khăn về phương tiện thông tin liên lạc, nhiều tổ phái viên của Khu 1 được cử xuống các đơn vị, địa phương để nắm tình hình và chỉ đạo tác chiến. Các trận phục kích nhỏ lẻ trên đường giao thông tiêu hao sinh lực địch, đã tạo đà cho lực lượng ta từng bước tiến tới đánh vào các vị trí đồn trú của địch.

Ngày 15-10, bộ đội và du kích Bắc Kạn phục kích ở km 23 Đường số 3 từ Bắc Kạn về Chợ Mới, tiêu diệt 95 tên địch. Ba công nhân ở Chợ Chu - Định Hóa đánh địa lôi diệt 24 tên giặc Pháp.

Đêm 15-10, Mặt trận Đường số 3 sử dụng lực lượng của Tiểu đoàn 19, do đồng chí Lâm Kính (1 trong 34 chiến sĩ Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân) chỉ huy tập kích vào quân địch ở Chợ Mới. Lần đầu tiên ta dùng 7 đại đội đánh cứ điểm do 1 đại đội địch chốt giữ. Do hạn chế về vũ khí trang bị, song với lòng quả cảm chiến đấu, ta đã diệt và làm bị thương hơn 100 tên địch, đốt cháy 2 kho đạn. Tiếp sau đó, ngày 16-10, bộ đội và đại đội du kích xã Cao Hoà (Chợ Mới) phục kích địch tại Bản Toòng, km số 3 đường Bắc Kạn đi Chợ Mới, phá hủy 3 xe quân sự và diệt 50 tên địch.


Trên Mặt trận Đường số 3, chiến tranh du kích ngày càng phát triển. Lực lượng dân quân du kích làm chủ các đoạn đường Bắc Kạn đi Cao Bằng, Chợ Đồn, Phủ Thông, Chợ Mới. Trận phục kích trên đường số 3 Cao Bằng - Bắc Kạn (21-10) đánh thiệt hại nặng 2 trung đội địch. Trận đánh địa lôi trên đường Bắc Kạn - Chợ Mới (23-10) của đại đội du kích hai xã Cao Kỳ và Hoà Mục (Chợ Mới) đã phá hủy 2 xe quân sự, diệt 62 tên địch.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 17 Tháng Ba, 2021, 06:04:36 pm
Những trận thắng dù chưa lớn, nhưng đã củng cố niềm tin của nhân dân các dân tộc vào khả năng chiến đấu của bộ đội và dân quân du kích. Các đại đội độc lập được đồng bào giúp đỡ, cung cấp tin tức, tiếp tế, dẫn đường, tải thương... nên công tác chuẩn bị chiến đấu và chiến đấu có nhiều thuận lợi. Tiếp sau đó, các trận tập kích, phục kích lại liên tiếp diễn ra ở Chợ Rã, Phủ Thông, Bản Thi (Bắc Kạn) góp phần tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch.


Tính đến ngày 20-11, quân và dân trên Mặt trận Đường số 3 đã đánh 17 trận, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên Pháp xâm lược, làm cho chúng bị hoang mang, lúng túng. Quân Pháp phải thu hẹp phạm vi đồn trú, việc tiếp tế hậu cần cho Cao Bằng và Bắc Kạn gặp nhiều khó khăn, buộc chúng phải sử dụng máy bay để tiếp tế.


Bị sa lầy trong thế trận chiến tranh nhân dân của ta, ở càng lâu trên núi rừng Việt Bắc, khó khăn đối với giặc Pháp càng lớn; lương thực, thuốc men thiếu thốn; tinh thần binh lính sa sút. Trong khi đó, trên tất cả ba mặt trận, ta đánh mạnh vào giao thông, tiếp tế và đẩy mạnh hoạt động địch vận. Điều đó đã tác động đến tâm lý tinh thần của đội quân đánh thuê, làm nảy sinh mâu thuẫn giữa binh lính da đen với sĩ quan Pháp. Một số lính Âu - Phi nhận thức được tính chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh xâm lược đã mang theo súng ra đầu hàng.


Từ giữa tháng 11-1947, sau hơn một tháng tiến công lên Việt Bắc, địch không những không thực hiện được các mục tiêu, trái lại chịu tổn thất nặng nề về sinh lực và phương tiện chiến tranh. Để cứu vãn tình thế, Bộ chỉ huy Pháp quyết định chấm dứt cuộc hành quân Lê-a để chuyển sang kế hoạch Xanh-tuya (Vành đai), thực hiện rút một phần lực lượng, kết hợp càn quét khu tứ giác Việt Trì - Tuyên Quang - Thái Nguyên - Bắc Giang.


Những ngày cuối tháng 11 và đầu tháng 12-1947, địch dùng nhiều tiểu đoàn, từ nhiều hướng bí mật càn đi càn lại khu vực Võ Nhai, Đại Từ, Phú Lương, Định Hóa thuộc tỉnh Thái Nguyên. Ngay trong đêm 24-11, một tiểu đoàn địch từ km 31 bí mật luồn rừng sang Quán Vuông. Hôm sau, 25-11, cánh quân này bất ngờ sục sạo sang Chợ Chu và vùng phụ cận. Ngày 26-11, máy bay địch bắn phá rồi thả 2 tiểu đoàn lính dù xuống La Hiên, Tràng Xá, hòng truy lùng cơ quan đầu não kháng chiến. Các cơ quan Trung ương của ta đã phán đoán đúng ý đồ của địch và di chuyển trước đó 10 ngày. Từ ngày 25 đến 27-11, một cánh quân khác của địch từ Phủ Lạng Thương qua Nhã Nam, bí mật luồn rừng, tiến về hướng Võ Nhai, Đồng Hỷ. Cánh quân này vận dụng triệt để các thủ đoạn ngụy trang, nghi binh. Khi sục sạo, chúng chia thành tốp nhỏ, giả trang nông dân, đội nón lá, mang sắc phục nâu chàm. Khi trú quân ban đêm, địch dựng trại và đốt lửa chỗ này, trú quân chỗ khác. Có nơi chúng bắt nhân dân địa phương vào ngủ trong trại rồi phục kích xung quanh. Ngoài những cánh quân sục sạo và càn quét trên, một cánh quân khác của địch bí mật men theo phía đông chân núi Tam Đảo, chiếm đóng 32 vị trí, tạo thành một vòng vây vô cùng lợi hại.


Những ngày này, cuộc đấu trí, đấu lực giữa ta và địch diễn ra căng thẳng quyết liệt. Địch dựa vào ưu thế vũ khí, trang bị hiện đại, thủ đoạn xảo quyệt, gian ác. Bộ đội và du kích ta dựa vào nhân dân, cơ động bí mật, linh hoạt giữa núi rừng Việt Bắc bao la, hiểm trở. Địch bị phục kích, tập kích, bắn tỉa khắp nơi. Nhiều trận đánh nhỏ lẻ nhưng đạt hiệu suất cao, khiến cho địch hoang mang, lo sợ. Trận tập kích đêm 27-11 tại Quảng Nạp, của Tiểu đoàn 103 do đồng chí Vũ Lăng chỉ huy, diệt 30 tên, làm bị thương hàng chục tên khác. Trận tập kích ngày 28-11 ở Lục Rã làm thiệt hại nặng 1 đại đội địch. Trận tập kích đồn Phủ Thông đêm 30-11 của một đại đội thuộc Trung đoàn 72, phối hợp với bộ đội địa phương Bạch Thông và du kích thị xã Bắc Kạn, diệt trên 50 tên trong công sự kiên cố, buộc địch phải co cụm cố thủ. Tuy không làm chủ hoàn toàn trận địa, nhưng trận đánh này của bộ đội và du kích làm rung chuyền cả hệ thống đồn bốt địch trên chiến trường Việt Bắc. Tiếp đó, trong trận phục kích ngày lõ-12 tại Đèo Giàng, ta diệt 60 tên địch, phá hủy 10 xe cơ giới.


Giữa tháng 12-1947, sau những cuộc hành quân càn quét với bao thiệt hại, địch lâm vào thế bế tắc. Trước sự phá sản của kế hoạch Xanh-tuya, Bộ chỉ huy Pháp quyết định rút một phần lực lượng tham chiến ra khỏi Việt Bắc, và duy trì một bộ phận lớn lực lượng chiếm đóng các thị xã Bắc Kạn, Cao Bằng, Lạng Sơn với mưu đồ cố bám sâu vào trong lòng Việt Bắc; đồng thời lập các cứ điểm, chốt giữ các đầu mối giao thông quan trọng trên đường số 3 và số 4.


Ngày 19-12-1947, chiến dịch phản công Việt Bắc kết thúc thắng lợi. Trải qua hai tháng rưỡi liên tục chiến đấu trong vòng vây của giặc Pháp, quân và dân trên Mặt trận Đường số 3 cùng quân dân Việt Bắc đã góp phần quan trọng cùng quân dân cả nước đánh bại cuộc hành binh chiến lược của giặc Pháp, thực hiện đúng quân lệnh của Tổng chỉ huy "Phải đánh cho xứng với thanh danh của Việt Bắc” và "Tiêu diệt quân địch, bảo vệ Việt Bắc". Quân và dân Mặt trận Đường số 3 đã loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, thu hàng chục tấn vũ khí, đạn dược và quân trang quân dụng.


Với chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947, quân và dân Mặt trận Đường số 3 đã cùng quân và dân Việt Bắc bảo vệ an toàn Trung ương Đảng và Chính phủ, bảo toàn và phát triển lực lượng vũ trang, giữ vững căn cứ địa kháng chiến, đánh bại cuộc tiến công quy mô lớn cùng chiến lược "Đánh nhanh, thắng nhanh" của địch, buộc chúng phải bị động đối phó với chiến lược đánh lâu dài của ta.


Qua cuộc đấu trí, đấu lực với địch trong chiến dịch phản công Việt Bắc, các lưc lượng vũ trang ta trưởng thành mau chóng, hăng hái, tự tin, vững bước sang giai đoạn mới của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.


Chiến công trên Mặt trận Đường số 3 nói riêng, chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947 nói chung, là kết quả của nhiều nhân tố; trong đó nhân tố chủ yếu là đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh; sự chỉ đạo, chỉ huy chặt chẽ, kịp thời Bộ Tổng chỉ huy và tinh thần đoàn kết, phối hợp chiến đấu chặt chẽ của lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc Việt Bắc trên từng mặt trận và trên khắp các chiến trường trong cả nước.


Sáu mươi năm đã đi qua, chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947 đã để lại cho hôm nay nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, cần được tiếp tục nghiên cứu, làm rõ tầm vóc và giá trị, đồng thời vận dụng sáng tạo trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Ba, 2021, 10:04:17 am
MẶT TRẬN ĐƯỜNG SỐ 2
TRONG CHIẾN DỊCH VIỆT BẮC THU - ĐÔNG NĂM 1947


Đại tá TIÊU XUÂN HỒNG
Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Tuyên Quang


Thực hiện chỉ thị "Toàn dân kháng chiến" (12-12-1946) và hưởng ứng Lời kêu gọi "Toàn quốc kháng chiến" của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-12-1946), cùng với nhân dân cả nước, quân và dân Tuyên Quang khẩn trương bắt tay vào nhiệm vụ củng cố hậu phương, xây dựng lực lượng, sẵn sàng chiến đấu theo khẩu hiệu "Tất cả cho kháng chiến", "Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ". Để đảm bảo an toàn các cơ quan lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, giữ gìn lực lượng và chuẩn bị cơ sở vật chất cho kháng chiến lâu dài, đầu tháng 3-1947, các xí nghiệp, trường học, công binh xưởng và các cơ quan, bộ, ban, ngành của Trung ương, Chính phủ và quân đội lần lượt rời khỏi Hà Nội, di chuyển lên ở và làm việc tại An toàn khu của Trung ương ở Việt Bắc. Hàng vạn tấn máy móc, nguyên vật liệu, lương thực, thực phẩm được quân và dân Tuyên Quang, cùng quân và dân các tỉnh bạn, bảo vệ, vận chuyển lên căn cứ địa Việt Bắc. Cùng thời gian này, nhằm cản bước tiến của địch và hạn chế việc chúng tận dụng cơ sở vật chất của ta phục vụ cho mưu đồ, xâm lược. Trung ương Đảng chủ trương triệt để phá hoại và tiêu thổ kháng chiến... không cho chúng lợi dụng. Thực hiện chủ trương của Đảng, quân và dân Tuyên Quang đã thực hiện triệt để phá hoại. Từ tỉnh đến cơ sở, các Ban phá hoại, Ban tản cư được thành lập. Với khẩu hiệu "Mất nhà còn hơn mất nước", "nhà không, vườn trống”, khắp nơi nhân dân hăng hái tham gia công tác tiêu thổ kháng chiến. Công tác phá hoại đường số 2 và thị xã Tuyên Quang được Tỉnh ủy giao cho lực lượng tự vệ thị xã và dân quân du kích các xã xung quanh thực hiện. Đường số 2 là con đường giao thông huyết mạch, có vị trí chiến lược rất quan trọng, xuất phát từ Hà Nội qua Vĩnh Phúc - Phú Thọ, ngược lên Tuyên Quang - Hà Giang và thông ra biên giới Việt - Trung, rất tiện lợi cho địch trong quá trình hành quân để tiến công ta. Với tinh thần "Tất cả cho kháng chiến", chỉ trong một thời gian ngắn, tỉnh đã huy động được 307.000 ngày công, phá được 5.000m2 nhà ở, 1.000 chiếc cầu lớn nhỏ, 22km đương liên tỉnh, 61km đường liên huyện và đào đắp nhiều hào hố, ụ đất chống xe cơ giới, cắm nhiều bãi chông mìn chống địch nhảy dù... Đảng bộ, chính quyền cùng quân và dân các dân tộc Tuyên Quang đã làm tốt công tác chuẩn bị về mọi mặt, sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu với niềm tin quyết thắng.


Thực hiện chủ trương của Đảng, quyết định của Bộ Quốc phòng về xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang địa phương đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến, tháng 4-1947, Tỉnh đội Tuyên Quang được thành lập. Đây là sự kiện quan trọng đánh dấu bước trưởng thành của lực lượng vũ trang Tuyên Quang.


Tháng 10-1947, thực dân Pháp mở cuộc tiến công lên Việt Bắc theo kế hoạch, hai gọng kìm (phía Đông và phía Tây) của địch dự định sẽ hội quân tại Đài Thị - Chiêm Hóa vào trung tuần tháng 10-1947.


Ngày 13-10-1947, binh đoàn Com-muy-nan đến được thị xã Tuyên Quang, gọng kìm phía Tâv của Pháp đã hình thành rõ rệt. Từ thị xã Tuyên Quang, để lên được Đài Thị - Chiêm Hoá, chúng phải hành quân theo Đường số 2 tới km 31 (đường Tuyên Quang - Hà Giang) rẽ phải, vượt phà Bợ lên Chiêm Hoá, qua Đầm Hồng để lên Đài Thị. Mặt khác, ca nô, tàu chiến địch sẽ chở quân ngược sông Lô, quặt qua sông Gâm rồi lên Đài Thị, Chiêm Hoá.


Để bảo vệ căn cứ địa Việt Bắc, bảo vệ cơ quan đầu não kháng chiến, giữ vững quân chủ lực và các cơ sở kháng chiến, Bộ Tổng Tham mưu và Bộ Tổng chỉ huy chủ trương dùng phương thức "đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung", kết hợp giữa lực lượng chủ lực với lực lượng vũ trang địa phương đánh địch trên đường hành quân, ở tất cả các mặt trận (Đường số 3, Đường số 4 và Mặt trận Sông Lô và đường số 2), tiêu hao sinh lực địch, bẻ gãy hai gọng kìm của chúng.


Đường số 2 và con đường từ km 31 đi Chiêm Hóa là một trong những con đường chuyển quân tiếp tế trọng yếu của địch. Chiêm Hóa - nơi địch dự định hội quân giữa hai gọng kìm, là đỉnh tháp của Mặt trận Sông Lô - Đường số 2. Việc đánh địch trên Đường số 2 có ý nghĩa quan trọng không chỉ là việc bẻ gãy gọng kìm phía Tây của địch, mà còn góp phần làm thất bại ý đồ hội quân của chúng, làm phá sản toàn bộ kế hoạch tấn công lên Việt Bắc của thực dân Pháp.


Chiêm Hoá, từ đầu năm 1947, đã là nơi ở và làm việc của nhiều cơ quan Trung ương, các Bộ, ban, ngành của Chính phủ; các cơ sở quân giới... Việc đánh địch ở Chiêm Hóa là nhằm bảo vệ an toàn cho cơ sở này, nằm giữa căn cứ địa kháng chiến. Sau ngày Toàn quốc kháng chiến, công tác chuẩn bị đánh địch, tham gia kháng chiến kiến quốc ở Chiêm Hóa được chuẩn bị rất tích cực. Huyện Chiêm Hóa xây dựng một trung đội cảnh vệ 30 người, một đội du kích thoát ly 40 người, do đồng chí Hường, người dân tộc Dao chỉ huy.


Khi địch tấn công lên Tuyên Quang, nhân dân đã thực hiện tiêu thổ kháng chiến. Dân quân, du kích xây dựng một số bãi chông chống địch nhảy dù ở Yên Nguyên, huyện lỵ và Đầm Hồng, lập các "Trạm gác trong búa nứa" canh gác chặt chẽ những nơi xung yếu.


Trung đoàn 112 (Hà Tuyên) của Khu 10, được lệnh phối hợp cùng lực lượng vũ trang địa phương đánh địch trên đường bộ và đường sông Lô, sông Gâm, Chiêm Hóa (thành lập từ đầu năm 1946) gồm 3 tiểu đoàn (Tiểu đoàn 1 (d508) đóng tại Tuyên Quang, Tiểu đoàn 2 (d718) đang hoạt động ở Hà Giang, Tiểu đoàn 3 mới thành lập, một đại đội trợ chiến, một đại đội vệ binh và một đội trinh sát, do đồng chí Bế Sơn Cương làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Lê Thuỳ làm Chính trị viên và đồng chí Mai Trung Lâm làm Trung đoàn phó.


Theo đó, Trung đoàn triển khai thực hiện nhiệm vụ. Hai đại đội hoạt động đánh địch xung quanh thị xã và dọc sông Lô lên tới Xuân Vân (ngã ba sông Lô - sông Gâm, cách thị xã trên 10km), bảo vệ cơ quan lãnh đạo tỉnh và sở chỉ huy trung đoàn; một đại đội phối hợp cùng du kích, tự vệ đánh địch từ km 5 trên Đường số 2 đi Hà Giang, một đại đội khác được lệnh hành quân gấp lên Đầm Hồng - Đài Thị (Chiêm Hoá) để đánh địch từ Chợ Đồn (Bắc Kạn) sang. Tiểu đoàn 718 được lệnh từ Hà Giang về Chiêm Hóa cùng quân, dân địa phương đánh địch cả lúc chúng tiến công lẫn lúc chúng rút lui.


Một đại đội từ Tuyên Quang hành quân gấp lên Chiêm Hoá, phối hợp cùng dân quân; du kích địa phương, học viên Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn tại Đầm Hồng đánh địch.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Ba, 2021, 10:05:08 am
Chiếm được thị xã Tuyên Quang, quân Pháp có bàn đạp để thực hiện cuộc hành quân lên Chiêm Hoá. Ngày 18-10-1947, địch huy động hai đại đội tiến quân thăm dò trên quôc lộ 2. Tự vệ, du kích địa phương phục kích tại km 5, tiêu diệt hơn 10 tên, buộc chúng phải co cụm về thị xã Tuyên Quang.


Phán đoán thế nào địch cũng hành quân lên Chiêm Hóa theo Đường sông Lô và đường bộ, lực lượng ta tích cực chuẩn bị chặn đánh cuộc hành quân của tiểu đoàn 3, do thiếu tá Ke-ga-va-rát chỉ huy, trên sông Lô và sông Gâm; đồng thời bộ đội, du kích tự vệ khẩn trương triển khai các trận phục kích trên đường số 2 và đường đi Chiêm Hoá. Tự vệ Tuyên Quang xây dựng trận địa phục kích bằng địa lôi tại km 7 đường Tuyên Quang - Hà Giang (thuộc xã Trung Môn - Yên Sơn). Đây là một đoạn đường dốc, hai bên là rừng rậm, phía trước (từ Tuyên Quang lên) có cây cầu đã bị đánh sập khi ta thực hiện tiêu thổ kháng chiến. Đỉnh dốc cao, cho phép ta có thể quan sát địch từ xa. Bốn quả bom ta thu được trong những trận đánh trước, đã được cải tạo lắp kíp nổ bằng điện thành địa lôi. Năm tự vệ của đội tự vệ Thành Tuyên được trao nhiệm vụ phụ trách trận địa phục kích. Ký tín hiệu liên lạc của tổ chiến đấu hết sức đơn giản, được thực hiện bằng các dây sắn rừng, truyền từ điểm quan sát tới nhóm có nhiệm vụ điểm hoả. Một đơn vị bộ đội được bố trí cách trận địa phục kích khoảng 10km, sẵn sàng đánh địch khi chúng vượt qua trận địa phục kích của tự vệ Tuyên Quang.


Khoảng gần 10 giờ sáng ngày 22-10-1947, gần 500 tên địch cùng đoàn lừa, ngựa, vận tải (thuộc Tiểu đoàn do Lơ Giốt chỉ huy) lọt vào trận địa phục kích. Lệnh điểm hoả được phát ra, 3 trong 4 quả địa lôi nổ trùm lên đội hình hành quân của quân Pháp. Xác địch, xác lừa, ngựa, vũ khí văng khắp nơi, vắt cả lên ngọn cây ven đường. Kết quả, 72 tên địch chết tại chỗ hơn 30 tên khác bị thương nặng. Tự vệ Tuyên Quang rút lui an toàn.


Nắm chắc địch bị thiệt hại nặng, khó có thể tiếp tục hành quân được, 2 trung đội bộ đội ở trận địa phục kích phía sau đã luồn rừng về km 5 tổ chức đánh tiếp một trận, tiêu diệt thêm 30 tên nữa khi chúng rút về thị xã Tuyên Quang.


Trận địa lôi ở km số 7 - "tiếng nổ của hoả ngục" như lính Pháp thừa nhận, đã bẻ gãy cuộc hành quân của địch. Đó cũng là trận đánh sáng ngời quyết tâm, ý chí "dùng vũ khí địch đánh địch", quyết đánh thắng quân Pháp bằng mọi cách, bằng mọi phương tiện - với tinh thần chủ động, sáng tạo. Những quả địa lôi đã trở thành ám ảnh trên khắp các ngả đường hành quân của địch, làm cho chúng khiếp đảm tới mức gọi Tuyên Quang là "nghĩa địa khổng lồ" và than thở "sẽ còn rất nhiều cây thập ác bằng gỗ mọc lên trong nghĩa địa khổng lồ Tuyên Quang".


Liên tục bị chặn đánh và bị mắc cạn, quân lương thiếu thốn, binh lính mệt mỏi, chiều ngày 19-10-1947, một bộ phận quân địch theo sông Lô, sông Gâm mới tới được xã Hợp Hoà (cách huyện lỵ Chiêm Hóa 9km). Từ đây, chúng theo đường mòn tiến vào chiếm đóng huyện lỵ Chiêm Hoá. Vài ngày sau đó, cánh quân bộ, sau khi vượt phà Bợ, bị đánh ở Cầu Cả, Đèo Gà, chật vật lắm mới lên được Chiêm Hoá. Từ Chiêm Hoá, địch tung quân càn quét các vùng xung quanh huyện lỵ và liều mạng tiến lên Đầm Hồng, Đài Thị tìm gặp cánh quân phía Đông. Tiếng súng đánh địch ở Chiêm Hóa vang lên khắp nơi. Không cho địch thực hiện mục tiêu hành quân, đêm 19-10, khi địch định tập kích vào phía sau đội hình của bộ đội chủ lực và Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn ở Đầm Hồng, ta đã chủ động xây dựng trận địa phục kích ở km số 4, diệt 14 tên. Sau khi chiếm Đầm Hồng, ngày 20-10-1947, Com-muy-nan liều mạng cho một bộ phận tiến lên Đài Thị. Nhưng đã quá muộn, cánh quân phía Đông của Bô-phơ-rê đã rút. Kế hoạch hội quân của 2 gọng kìm phía Tây và phía Đông tại Đài Thị (Chiêm Hoá) thất bại. Đây là thất bại của "sự mạo hiểm của kế hoạch hành binh" lên Việt Bắc của thực dân Pháp.


Không hợp được với cánh quân phía Đông như dự định, lại luôn luôn bị dân quân du kích địa phương và Trung đoàn 112 phục kích, tập kích, quấy phá, cánh quân Com-muy-nan mất tinh thần chiến đấu, tìm đường rút lui.


Phán đoán thế nào địch cũng phải rút khỏi Chiêm Hóa về Tuyên Quang, Bộ Tư lệnh Khu 10 chỉ thị cho các đơn vị, địa phương tăng cường chiến tranh du kích, đánh địa lôi trên đường số 2, đồng thời chuẩn bị một trận phục kích lớn trên sông Lô, ở phía Bắc Tuyên Quang, nhằm tiêu diệt tàu địch.


Ngày 24-10-1947, Ban chỉ huy Trung đoàn 112 lệnh cho Tiểu đoàn 718 ở Hà Giang về gấp Chiêm Hóa để đánh địch trên đường rút lui. Ngày 28-10, phần lớn Tiểu đoàn 718 về tới ngòi Quang (Xuân Quang - Chiêm Hoá). Ngay đêm 28-10, nhân dân và du kích tự vệ địa phương đã dùng mảng nứa, thuyền đưa tiểu đoàn vượt sông lên tập kết tại một địa điểm cách Đầm Hồng 4 km (khu vực Vật Nhèo). Ngày 29-10, một tổ cán bộ được cử đi trinh sát địa hình, tìm địa điểm phục kích địch rút từ Đầm Hồng về Chiêm Hoá.


Với lực lượng gần 4 đại đội, quân ta bố trí 2 trận địa phục kích; 1 trên đường bộ (dài gần 1km) phía dưới Đầm Hồng khoảng 4km; 1 tại Vật Nhèo, đánh địch rút bằng tàu chiến, ca nô trên sông Gâm, hai điểm cách nhau khoảng 400m.


Một giờ chiều ngày 1-11, toán quân bộ lọt vào trận địa phục kích; sau gần một giờ chiến đấu, ta diệt hơn 60 tên.


Quân địch phải dạt xuống bờ sông tháo chạy về Chiêm Hoá. Cùng lúc, 2 ca nô của địch cũng xuôi xuống Vật Nhèo; ta nổ súng, cả hai chiếc ca nô đều bị trúng đạn, một chiếc bốc cháy chìm ngay tại chỗ. Chiếc thứ hai định dạt vào bờ, bị ta đánh tiếp, hốt hoảng quay đầu tháo chạy, đâm phải thành đá và cũng bị chìm luôn. Dân quân cùng bộ đội nổ súng tiêu diệt nốt những tên còn sống sót. Trong hai trận đánh này, ta tiêu diệt gần 200 tên, bắn chìm 2 ca nô, thu nhiều vũ khí.


Sau thất bại đó, quân Pháp tập trung về huyện lỵ Chiêm Hóa tiếp tục tính kế rút về Tuyên Quang. Phán đoán địch sẽ rút bằng cả đường thủy lẫn đường bộ, hai đại đội bộ đội chủ lực từ Đầm Hồng qua Chinh, Cham, vượt sông Gâm (phía dưới huyện lỵ khoảng 10km) cắt đường rừng qua Nhân Lý về Yên Nguyên. Dân quân du kích các xã Yên Nguyên, Hoà Phú dẫn đường giúp bộ đội xây dựng trận địa phục kích dài gần 1km, suốt từ chân Đèo Gà (hướng Tuyên Quang) tới Cầu Cả. Trận địa chính bố trí cách Cầu Cả 500m (là đoạn đường độc đạo, hẹp, gần chân núi). Bốn giờ chiều ngày 5-11-1947, quân Pháp lọt vào trận địa phục kích. Sau gần 2 giờ chiến đấu quyết liệt, ta tiêu diệt và làm bị thương gần 100 tên. Không dám tiếp tục hành quân trong đêm tối, đêm 5-11, quân Pháp phải thu quân, thiêu hủy xác chết. Sáng ngày 6-11, chúng chia làm hai toán: một toán chở những tên bị thương theo ngòi Pác Nhung ra sông Lô, xuống ca nô về xuôi; phần lớn lực lượng còn lại tiếp tục hành quân trên bộ ra phà Bợ (thuộc Bình Xa - Hàm Yên). Bộ đội ta tiếp tục phục kích, truy kích địch trên đường ra km 31 (đường Tuyên Quang - Hà Giang).


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Ba, 2021, 10:05:40 am
Đêm 7-11 quân ta tập kích bằng hoả lực cối, trung liên vào quân địch dừng nghỉ ở chợ Bợ làm chúng hoảng loạn suốt đêm. Sáng ngày 8-11, một đại đội địch chia làm hai cánh tập kích vào Sở chỉ huy Trung đoàn 112 đóng ở Đồi Đá (cách chợ Bợ gần 1km). Trung đội vệ binh chiến đấu, đánh lui cuộc tập kích của địch, tiêu diệt hơn mười tên. Sau khi vượt sông Lô, quân Pháp tiến thẳng ra km 31 và tiếp tục bị truy kích. Đội du kích tập trung của Hàm Yên được điều xuống cùng dân quân, du kích các xã Thái Hoà, Đức Ninh... phối hợp với bộ đội phục kích trên đường rút lui từ km 31, theo đường số 2 về Tuyên Quang.


Trung đội du kích Hàm Yên (khoảng 50 người) được trang bị súng trường, địa lôi, lựu đạn... bố trí phục kích địch trên đoạn đường từ km 24 đến km 21 (thuộc xã Đức Long, nay là xã Đức Minh - Hàm Yên). Hai quả địa lôi được chôn tại km 21 và km 23,5. Sau khi vấp địa lôi tại km 29, bị chết một số tên, khoảng 14 giờ ngày 9-11, toán quân đầu tiên của địch đi tới km 24. Du kích giật dây nhưng địa lôi không nổ. Địch kéo xuống đến km 23,5, quả địa lôi thứ hai nổ, đội hình địch rối loạn. Chiều tối, sau khi gọi máy bay bắn phá dọc đường từ km 21 đến km 25, quân Pháp co cụm lại đóng quân tại km 21.


Ngày 10-11, quân Pháp vẫn tiếp tục rút từ phà Bợ về. Đêm 10-11, một đại đội bộ đội hành quân về Đức Long cùng dân quân, du kích tiếp tục chiến đấu. Tại chiếc cầu gần km 24, ta chôn 3 quả địa lôi, bố trí 1 trung đội cùng trung đội du kích phục sẵn 2 bên đường, 2 trung đội khác phục kích tại km 24,5. Sáng sớm 11-11, quân Pháp ở km 21 quay ngược lại đón đồng bọn ở chợ Bợ rút về. Địch cho một toán nhỏ đi trên đường quốc lộ để nghi binh, toán thứ hai đông hơn đi theo đường rừng. Phát hiện trận địa phục kích của ta bên dưới cầu km 24, quân Pháp bí mật bao vây, tập kích. Trung đội du kích và trung đội bộ đội chủ lực phải chiến đấu phá vòng vây, rút lui. Địch tiếp tục nống lên tới km 24,5, bị bộ đội ta đánh trả quyết liệt, hơn 30 tên thiệt mạng. Quân Pháp lại co cụm về km 21. Cùng ngày, những toán quân đi sau cũng rút về đóng quân tại km 21. Phần lớn lực lượng của Tiểu đoàn 781 tập kết tại Đức Long. Bộ đội và du kích cũng phối hợp truy kích địch làm cho chúng hoảng sợ, phải bỏ quốc lộ, cắt rừng qua Lăng Quán, men theo bờ sông rút về thị xã Tuyên Quang. Ngày 19-11-1947, những toán quân cuối cùng của binh đoàn Com-muy-nan mới rút về tới thị xã Tuyên Quang. Tiếng súng đánh địch trên Đường số 2 (thuộc địa phận Tuyên Quang) tạm ngừng.


Trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947, góp phần bẻ gãy gọng kìm sông Lô của quân Pháp, trên Đường số 2, km 31 đường đi Chiêm Hoá, quân và dân Tuyên Quang đã phối hợp với bộ đội chủ lực chiến đấu 48 trận, trong đó có 30 trận đánh độc lập; loại khỏi vòng chiến đấu 1.300 tên địch; bắn cháy và bắn chìm 10 ca nô, tàu chiến; phá hủy 1 máy bay; thu nhiều vũ khí trang bị và đồ dùng quân dụng. Những trận đánh này thể hiện rõ sự hiệp đồng tác chiến chặt chẽ giữa bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương. Đó cũng chính là minh chứng cho sức mạnh của cuộc chiến tranh du kích đánh thắng những cuộc hành quân lớn của địch và minh chứng hiệu quả của chiến thuật "du kích vận động chiến". Dân quân, du kích địa phương trưởng thành lên rất nhiều sau một thời gian quyết tâm dùng vũ khí địch diệt địch. Đánh địch bằng mọi cách đánh để bảo vệ địa bàn, bảo vệ căn cứ địa kháng chiến. Lực lượng vũ trang huyện Hàm Yên đã độc lập tác chiến 7 trận, phối hợp chiến đấu 2 trận, tiêu diệt gần 200 tên Pháp, thu một số vũ khí, trang bị và đồ dùng quân dụng.


Những trận phục kích nhanh, gọn, hiệu suất cao trên quốc lộ số 2 (km 7, km 24,5, km 29...); trên địa bàn huyện Chiêm Hóa (Đầm Hồng, Vật Nhèo, Cầu Cả) đã góp phần làm phá sản kế hoạch hội quân của địch, bẻ gãy cuộc hành quân lên Chiêm Hoá; góp phần làm nên chiến thắng Sông Lô, chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947 của quân và dân Tuyên Quang và quân, dân Khu 10.


Có được thành tích nêu trên, trước hêt là có đường lối đúng đắn của Đảng, sự vận dụng sáng tạo của Đảng bộ Tuyên Quang vào thực tế địa phương và sự giúp đỡ của các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể Trung ương, đặc biệt có sự giúp đỡ, phối hợp chiến đấu của các đơn vị bộ đội chủ lực của Khu đóng quân trên địa bàn tỉnh.


Hơn sáu mươi năm qua, từ khi những cơ sở cách mạng đầu tiên được hình thành; quân và dân các dân tộc Tuyên Quang vẫn một lòng trung thành, vượt qua mọi thử thách, đưa đường lối, chủ trương của Đảng thành hiện thực. Đánh giá thành tích qua các thời kỳ của tỉnh Tuyên Quang, trong bài phát biểu tại Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XI, đồng chí Tổng Bí thư Đỗ Mười đã nói: "Trong cuộc đấu tranh lâu dài giành độc lập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đầy hy sinh gian khổ của nhân dân ta, Tuyên Quang là một địa bàn chiến lược, một căn cứ địa vững chắc với khối đoàn kết của 22 dân tộc anh em - ở đây đã diễn ra những sự kiện quan trọng của cách mạng nước ta. Tuyên Quang, với khu Tân Trào lịch sử, là cái nôi ra đời của chính quyền cách mạng của nước ta, là một trong những An toàn khu của Trung ương tại Việt Bắc, nơi Trung ương Đảng và Chính phủ, đứng đầu là Bác Hồ kính yêu, đã lãnh đạo cuộc kháng chiến trường kỳ oanh liệt, đi đến chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi lẫy lừng. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Tuyên Quang đã cùng với Hà Giang đóng góp sức người, sức của, thiết lập chiến công to lớn góp phần xứng đáng vào thắng lợi vẻ vang của dân tộc ta. Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay, trong hoàn cảnh đất nước ta có nhiều khó khăn và tình hình quốc tế diễn ra rất phức tạp, Đảng bộ, quân và dân các dân tộc Tuyên Quang tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp, phấn đấu giữ vững ổn định chính trị, xã hội, tăng cường đoàn kết cộng đồng các dân tộc anh em, cùng nhân dân cả nước hăng hái thực hiện công cuộc đổi mới, đạt những kết quả bước đầu rất quan trọng.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Ba, 2021, 10:07:41 am
CHIẾN THẮNG SÔNG LÔ NIỀM TỰ HÀO CỦA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG PHÚ THỌ TRONG CHIẾN DỊCH VIỆT BẮC THU - ĐÔNG 1947


Đại tá LÊ QUANG ĐẠI
Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Phú Thọ


Hè - Thu năm 1947, thực dân Pháp âm mưu tiến công lớn trên chiến trường Bắc Bộ. Ngày 15-9-1947, Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị "Sửa soạn phá những cuộc tiến công lớn của địch". Ngày 27-9-1947, Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ 4, do Bộ Tổng chỉ huy triệu tập, phán đoán Bắc Bộ sẽ là chiến trường chính. Nếu địch không mạo hiểm sẽ đánh đồng bằng, nếu mạo hiểm chúng sẽ đánh lên Việt Bắc. Khu ủy và Bộ Tư lệnh Khu 10 đã họp và vạch ra phương hướng thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương và xác định rõ hướng tiến công chính của địch vào Khu 10 sẽ là đường sông Lô, vì đây là con sông quan trọng nằm trong căn cứ địa Việt Bắc. Nước sông sâu, dòng chảy chậm, ít ghềnh thác, tàu thuyền chạy từ Hà Nội lên vào cửa sông Lô ở Việt Trì để ngược lên Tuyên Quang, Hà Giang ngay cả trong mùa khô, kể cả các loại tàu 500 tấn. Phía hữu ngạn sông Lô có đường số 2 chạy song song với sông Lô. Vùng Sơn Dương, Chiêm Hóa (Tuyên Quang) là vùng An toàn khu có nhiều kho tàng và công xưởng cơ quan Trung ương Đảng, Chính phủ ở và làm việc. Nếu chiếm được sông Lô và kiểm soát được quốc lộ 2, địch sẽ chia cắt được căn cứ địa Việt Bắc; đồng thời tạo được thế bao vây uy hiếp hết sức nguy hiểm đối với các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên. Ngày 4-10-1947, Khu ủy và Bộ Tư lệnh Khu 10 đã họp ở Phan Lương, gần bờ sông Lô. Sau hội nghị này, không khí chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu sôi nổi trong các đơn vị bộ đội, dân quân du kích, nhất là các địa phương hai bên bờ sông Lô. Khẩu hiệu "Phá tan cuộc tấn công Thu - Đông của giặc" được nêu lên ở khắp mọi nơi trong toàn tỉnh. Lực lượng vũ trang và nhân dân Phú Thọ sẵn sàng phối hợp chiến đấu với các đơn vị chủ lực.


Trước đó, từ đầu năm 1947, hưởng ứng lời kêu gọi phá hoại để kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân các xã ven sông Lô ở Phú Thọ đã thực hiện "Vườn không nhà trống", người già và trẻ em sơ tán vào vùng sâu. Lực lượng vũ trang đã giúp dân "Lập làng kháng chiến'', dỡ bỏ nhà gạch, rào làng, phá đường vào làng, phá cầu, gài mìn, cắm chông, cạm bẫy, làm kè ngăn sông, cắm cọc nhọn chống quân nhảy dù... Các địa điểm ghi tên cột nước chỉ đường cũng được du kích Phú Thọ dỡ bỏ. Tấm biển chỉ đường đi Tuyên Quang, chôn ở Đầu Lô (Đoan Hùng), được dân quân di chuyển lên chỗ đường Thác Bà - Yên Bái để đánh lừa địch. Những việc làm đó thể hiện sự sáng tạo, mưu trí của lực lượng vũ trang Phú Thọ trong quá trình chuẩn bị chống giặc. Đêm đêm, trên quốc lộ 2, rực sáng ánh đuốc và tiếng hò reo phá đường chặn giặc của thanh niên nam nữ du kích quân Phú Thọ. Bộ đội, dân quân, nhân dân tham gia di chuyển kho tàng, công xưởng vào nơi an toàn hơn. Bộ đội và nhân dân phải khiêng vác hàng ngàn tấn phương tiện, đi xuyên rừng núi cả ngày và đêm, vừa đi vừa phá bụi, chặt cây mở đường. Khắp các làng mạc, rừng núi, đồng ruộng, sông ngòi, đường sá ven bờ sông Lô và quốc lộ 2 đều sục sôi không khí chuẩn bị chiến đấu. Nhân dân và lực lượng vũ trang các huyện Phù Ninh, Hạc Trì đã huy động tối đa nhân tài vật lực để phục vụ chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ quê hương Đất Tổ. Dân quân du kích Phú Thọ được củng cố tổ chức, trang bị thêm khí giới, làm nhiệm vụ canh gác tuần tra, trinh sát giúp bộ đội chuẩn bị trận địa, làm nhiệm vụ nghi binh phối hợp chiến đấu bảo vệ xóm làng. Trên tuyến sông Lô, làng nào cũng có một đội du kích cùng hàng chục dân quân. Tiểu đoàn 420 của tỉnh, với vũ khí thô sơ, phân tán xuống các huyện Phù Ninh, Hạc Trì cùng dân quân du kích các địa phương ven sông Lô bố trí trận địa, bám sát địch, sẵn sàng chiến đấu.


Lực lượng pháo binh Khu 10 được bố trí cơ động ở ba khu vực: 1 trung đội pháo ở Đoan Hùng có 1 khẩu ĐKZ 75mm, 1 trung đội pháo ở Phan Lương có 1 khẩu sơn pháo 75mm, 1 trung đội pháo ở Bình Ca có 1 khẩu pháo 75mm. Ngoài ra, 1 khẩu 37mm được đặt ở núi Dùm (khu vực Tuyên Quang) và 2 trung đội pháo bố trí ở phía sông Thao.


Tại Đoan Hùng, ta bố trí trận địa chiến đấu dài 5km, từ núi Đôn đến nhà thờ Vân Cương, dọc bờ sông Lô, quanh khu vực ngã ba sông Lô, sông Chảy, nơi được coi là một trong những cửa ngõ của căn cứ địa Việt Bắc. Trận địa pháo Voi Gầm bố trí tại các điểm Lã Hoàng, Ngọc Chúc (xã Chí Đám - Đoan Hùng), Gò Đồn (xã Thọ Sơn) để thực hiện tác chiến hiệp đồng với bộ binh, công binh. Trận địa giả được xây dựng ở xã Hữu Đô, Đại Nghĩa. Tỉnh đội Phú Thọ và huyện đội Đoan Hùng, xã đội các xã cùng với chính quyền địa phương huy động nhân dân các xã Hữu Đô, Đại Nghĩa, Phú Thứ, Vân Cương, Thọ Sơn, Hùng Long, Sóc Đăng, Vụ Quang... thu gom củi rác, rơm rạ đưa vào trận địa giả, chất thành 23 đống lớn, mỗi đống khoảng 8 - 10m3, cách nhau hơn 20m, lấy nhựa cây trám làm chất bén cháy. Hàng chục chiếc thùng sắt lớn bên trong chứa sẵn thuốc pháo được bố trí tại trận địa giả. Nhân dân các địa phương Đoan Hùng còn chuẩn bị trống, mõ, kẻng và cả chuông nhà thờ, sẵn sàng khua vang khi có hiệu lệnh. Nhân dân Chí Đám, Hữu Đô hái hàng trăm quả bưởi dùng nhọ nồi trộn dầu bôi đen, xâu lại thành từng chuỗi để giả làm thủy lôi lừa địch. Lực lượng vũ trang Phú Thọ còn dùng gỗ sơn đen giả làm pháo, bố trí ven sông ở từng chặng để đánh lừa địch. Bộ đội và dân quân du kích Đoan Hùng ngày đêm bám sát trận địa. Chính quyền các cấp còn huy động nhân dân đóng góp lương thực, thực phẩm và các phương tiện phục vụ bộ đội tỉnh và Khu chiến đấu. Nhân dân xã Chí Đám đã cử ra ban tiếp tế làm công tác hậu cần, trực tiếp phục vụ bộ đội như xay thóc, giã gạo, nấu cơm, đưa nước ra trận địa...


Ngày 7-10-1947, quân Pháp mở cuộc tiến công quy mô lớn lên Việt Bắc nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến và bộ đội chủ lực của ta. Chúng tiến công lên Việt Bắc theo hai hướng: hướng Đông, một binh đoàn tiến công từ Lạng Sơn lên Cao Bằng về Bắc Kạn, Tuyên Quang. Hướng Tây, một binh đoàn tiến công lên Việt Trì, Tuyên Quang hình thành hai gọng kìm bao vây Việt Bắc. Ngày 10-10-1947, giặc Pháp từ Sơn Tây vượt sông Hồng sang đánh chiếm Việt Trì làm đầu cầu đón bọn thủy chiến từ Hà Nội ngược lên Đoan Hùng, Tuyên Quang. Tiếng súng của quân xâm lược Pháp bắt đầu nổ trên bến Hạc Trì. Ta không chủ trương ngăn chặn địch ở Việt Trì, do vậy địch vào đây dễ dàng, chúng rất chủ quan. Ngày 11-10-1947, đoàn tàu chiến của địch từ Việt Trì xuất phát ngược sông Lô. Sáng 12-10, chúng đã tới địa phận Sóc Đăng, vướng phải kè ngầm cả đoàn tàu phải dừng lại để khắc phục... Vượt khỏi kè Sóc Đăng, địch tiến công dè dặt hơn. Tới Đoan Hùng, pháo binh của ta chĩa nòng xuống bắn, song do pháo hỏng hóc, tàu địch vẫn nguyên vẹn. Chúng tiếp tục ngược Tuyên Quang. Khi tiến công lên sông Lô, sau những lần bị bộ đội chủ lực phối hợp với bộ đội địa phương Phú Thọ chặn đánh, ngoài lực lượng tàu chiến, chúng dùng bộ binh càn quét hai bên bờ sông. Bộ binh giặc đánh ra Cầu Hai, đóng bốt ở Trạm Thản, đóng quân ở Đoan Hùng. Bộ đội địa phương Phú Thọ phối hợp tập kích với chủ lực phá tan bốt giặc ở Trạm Thản, tập kích vào Đoan Hùng...


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Ba, 2021, 10:10:13 am
Thực hiện chủ trương của Đảng "Phải phá cuộc tấn công mùa Đông của giặc Pháp", bộ đội địa phương Phú Thọ đã có nhiều trận đánh phối hợp đạt hiệu quả cao.


Ngày 23-10-1947, giặc Pháp dùng tàu vận tải chở quân và hàng tiếp viện theo Đường sông Lô lên Tuyên Quang, bị bộ đội của ta ở trận địa pháo làng Khoan Bộ (Lập Thạch - Vĩnh Yên) chặn đánh quyết liệt, tiêu diệt nhiều tên trên tàu. Trong trận này, dân quân du kích xã Tràng Sảo (Phù Ninh) đã phối hợp chiến đấu chặt chẽ với lực lượng pháo binh. Trước những đòn đánh dồn dập, mạnh mẽ của ta, bọn địch đang càn quét trong làng An Đạo, Bình Bộ (Phù Ninh) hoảng sợ chạy ra khỏi làng.


Được điện báo của đồng bọn bị đánh ở Khoan Bộ, ngày 24-10-1947, quân địch ở hướng Tây vội vã ra lệnh cho một đoàn tàu gồm 5 chiếc chở đầy lính, có 6 máy bay yểm trợ, từ Tuyên Quang xuôi dòng sông Lô về đón đồng bọn. Về phía ta, Khu 10 hạ quyết tâm phối hợp với bộ đội địa phương Phú Thọ phải bắn chìm từ 1 đến 2 tàu giặc để củng cố tinh thần chiến đấu của nhân dân. Một tiểu đoàn bộ binh thuộc Trung đoàn Sông Lô bố trí dọc tuyến ngã ba sông Lô, sông Chảy đến làng Lã Hoàng, sẵn sàng đánh địch từ dưới sông lên và chặn địch tiếp viện tới bằng đường bộ. Một đại đội phòng không của ta sử dụng súng đại liên đặt trên các mỏm đồi xung quanh trận địa pháo để đón đánh máy bay địch. Các trung đội dân quân du kích địa phương làm công tác nghi binh. Dân quân du kích làng Chí Đám (Đoan Hùng) đem bưởi đã bôi đen, xâu thành từng chuỗi giăng nhiều đoạn ngang sông giả làm thủy lôi để ngăn bước tiến của giặc. Dân quân du kích làng Hữu Đô (tả ngạn sông Lô) chuẩn bị nhiều đám khói nghi binh, thu hút bom đạn của phi pháo địch. Dân quân du kích Bằng Luân làm nhiệm vụ cảnh giới, tuần tra, đốt pháo cối trong thùng sắt để uy hiếp tinh thần địch và sẵn sàng nổ súng tiêu diệt chúng. Ba khẩu Ba-dô-ca vừa sản xuất ở xưởng vũ khí Sài Lĩnh cũng được điều động đến phối hợp chiến đấu với pháo binh. Toàn thể cán bộ, chiến sĩ các đơn vị chủ lực và bộ đội địa phương Phú Thọ trên trận địa đều nung nấu ý chí quyết tâm bắn chìm tàu chiến của giặc, để trả thù cho đồng bào An Đạo, Bình Bộ vừa bị chúng tàn sát ngày 23-10-1947.


Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 24-10-1947, nghe tiếng chuông báo động liên hồi từ phía đài quan sát, bộ đội ta nhanh chóng về vị trí chiến đấu. Chiếc máy bay Ca-ta-li-a của giặc bay sát mặt sông để trinh sát. Tiếp theo, 6 chiếc máy bay khu trục Hen-cát bay tới. Trinh sát của Khu 10 báo tin một đoàn tàu chiến gồm 5 chiếc của địch từ Tuyên Quang xuôi Đoan Hùng, đi đầu là chiếc LCM, tiếp theo là 2 chiếc LCT, sau cùng là 2 chiếc LCVP. Đúng 12 giờ trưa, chiếc LCM xuất hiện chỗ ngoặt của sông, tiến vào khu vực trận địa phục kích của khẩu đội pháo. Lập tức, hiệu lệnh chiến đấu được phát ra. Tiếng trống, mõ, kẻng, chuông rung lên liên hồi giục giã, xen lẫn tiếng nổ vang trời của các loại súng của bộ đội địa phương Phú Thọ. Cùng lúc đó, lửa khói bốc lên nghi ngút ở trận địa nghi binh. Pháo binh của ta bắn đến phát thứ ba thì đạn trúng giữa thân tàu, chiếc LCM vừa trôi vừa từ từ chìm nghỉm xuống dòng sông Lô. Đoàn tàu địch hoảng hốt chạy toả ra hai bên bờ sông. Một chiếc LCT vượt lên trước, lượn sát bờ tây sông Lô, đúng vào tầm bắn của ta. Khẩu đội pháo bắn liền ba phát đều trúng giữa thân và mũi tàu, làm đạn dự trữ trên tàu giặc nổ tung, nhiều tên hoảng hốt nhảy xuống sông. Dưới làn bom đạn của không quân và thủy đội địch, các chiến sĩ pháo binh, bộ binh của chủ lực và bộ đội địa phương Phú Thọ vẫn không rời trận địa. Trên bờ, lau sậy bốc cháy, dưới sông, tàu địch bốc cháy, dầu xăng chảy lênh láng mặt nước. Cả một khúc sông mịt mù khói lửa. Tàu chiến địch bị ghìm trên mặt sông. Máy bay địch bổ nhào xuống ném bom bắn phá trận địa nghi binh ở khu vực Hữu Đô. Chiếc máy bay Ca-ta-li-a lao ra mặt sông định cứu vớt đồng bọn, liền bị hoả lực của ta bắn bị thương và rơi ở Tuyên Quang. Chiếc LCVP đi cuối đội hình vội vã quay ngược mũi tàu chạy về phía Tuyên Quang, bỏ mặc hai chiếc bị thương chết máy trôi bồng bềnh trên mặt sông. Do mặt sông mù mịt khói lửa, hạn chế tầm quan sát của bộ đội, nên hai chiếc tàu bị hỏng đã trôi thoát qua trận địa phục kích trên bờ. Khi phát hiện ra, khẩu đội pháo binh của ta kéo pháo từ trận địa dưới mép nước lên bờ sông bắn được hai phát thì tàu địch đã trôi ra xa. Số địch nhảy ào xuống sông, phần bị pháo ta bắn tiêu diệt, phần bị bộ binh ta trên bờ bắn. Máu giặc loang đỏ dòng sông Lô. Giặc Pháp phải căng lưới thép ở đoạn sông Việt Trì để vớt xác binh lính của chúng.


Trong trận đánh này, với tinh thần chiến đấu dũng cảm, cách đánh mưu trí, sáng tạo, hiệp đồng tác chiến chặt chẽ giữa bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương, quân và dân Đoan Hùng đã tiêu diệt hơn 300 tên giặc, bắn chìm 2 tàu chiến, bắn bị thương 2 chiếc khác, bắn rơi 1 thủy phi cơ, thu 1 khẩu pháo 100mm, 10 súng cối, 4 trọng liên, hàng chục trung liên, 200 súng trường và tiểu liên cùng nhiều đạn dược và trang thiết bị khác.


Hơn 2.000 bộ đội và dân quân du kích đã trực tiếp tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu trong trận sông Lô. Các lực lượng vũ trang non trẻ của ta lần đầu tiên dùng pháo đặt gần bắn thẳng và dùng đạn có ngòi nổ trên không tiêu diệt giặc trên boong tàu, trên mặt nước và mặt đất, gây cho giặc bao nỗi kinh hoàng.


Sau thất bại ở Khoan Bộ và nhất là ở Đoan Hùng, quân Pháp buộc phải bỏ Chiêm Hoá, về Tuyên Quang, tập kết lực lượng chuẩn bị rút chạy. Bộ Tư lệnh Khu 10 quyết định truy kích địch trên cả đường thủy và đường bộ. Để đánh địch trên sông Lô, Bộ Tư lệnh Khu 10 chủ trương xây dựng trận địa Khe Lau (ngã ba sông Lô), sông Gâm (Tuyên Quang). Do tình hình khẩn trương, bộ đội phải tháo pháo thành nhiều bộ phận và khiêng vác từ ngã ba sông Lô, sông Chảy (Đoan Hùng) lên Khe Lau. Dân quân du kích các xã thuộc huyện Đoan Hùng lại một lần nữa không quản gian lao, kề vai sát cánh cùng bộ đội chuyển pháo lên phía trước. Chính tại Khe Lau này, ngày 10-11-1947, đã diễn ra trận đánh thắng lợi, quân ta bắn chìm, bắn cháy 3 tàu chiến và tiêu diệt trên 200 tên địch. Thắng lợi đó làm nên "bể lửa Khe Lau", ghi thêm một dấu son vào trang sử vàng sáng ngời của lực lượng Pháo binh Việt Nam trẻ tuổi phối hợp rất nhịp nhàng với lực lượng bộ đội địa phương Phú Thọ.


Ngày 22-11-1947, quân Pháp lặng lẽ rút quân khỏi Tuyên Quang. Biết sông Lô giờ đã trở thành con đường nguy hiểm, nên cánh quân phía Tây của địch hết sức đề phòng. Cánh quân rút theo dòng sông Lô, dưới sông có tàu chiến, ca nô, trên bờ có bộ binh đi sục sạo đề phòng ta phục kích, trên trời có máy bay yểm trợ. Lực lượng thủy binh gồm 2 chiếc tàu chiến và 4 ca nô. Ngày 24-11-1947, đoàn tàu chiến của giặc xuôi đến Lã Hoàng, nơi một tháng trước đó chúng bị thảm bại. Một chiếc tàu chiến của giặc trúng thủy lôi của ta, bị xé làm đôi, chìm xuống đáy sông, mang theo gần trăm tên giặc, phần lớn là sĩ quan tham mưu và nhân viên kỹ thuật. Những chiếc còn lại vội vàng chạy thoát thân. Thế nhưng, về tới Phan Lương, lại một chiếc LCT bị bắn đắm và hơn một trung đội giặc bị tiêu diệt. Ngày 26 tháng 11 năm 1947, đoàn quân thủy của giặc về đến bến Cóc (xã Trị Quận) bị mắc kè. Quân giặc phải dừng lại 2 ngày. Bộ đội và du kích kịp thời phục kích, bắn đắm 2 ca nô.


Trong khi đó, toán quân bộ của địch đến địa bàn Phù Ninh, trúng địa lôi của ta, 50 tên và 18 con ngựa bị diệt. Bộ đội và dân quân du kích xã Đông Quan (Phú Nham, Tiên Du, Gia Thanh ngày nay) còn chặn đánh địch ở cống Tiên Du, Vũng Gáo, chùa Nghè, diệt 13 tên. Ban đêm, một trung đội của Tiểu đoàn 510, phối hợp với dân quân du kích Tiên Du, tập kích vào đội hình trú quân của giặc, tiêu diệt một số tên. Trên toàn tuyến, dọc hai bờ sông Lô và quốc lộ 2, pháo binh, bộ binh và dân quân du kích các xã đã bám sát địch, truy đuổi liên tục, đánh vào đội hình hành quân của chúng.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Ba, 2021, 10:10:56 am
Để yểm trợ cho đoàn quân thất trận ở Tuyên Quang rút lui theo Đường sông Lô, ngày 22-11-1947, Pháp cho Trung đoàn Ma-rốc số 5 từ Hoà Bình tràn sang càn quét khu vực Hưng Hoá, Thu Cúc. Một tiểu đoàn từ Hưng Hóa vượt sông Hồng tại ngã ba sông Đà - sông Hồng sang Lâm Thao, càn quét và chiếm Việt Trì. Trên đường tiến quân lên Việt Bắc, theo sông Lô, cũng như cuộc hành quân đỡ đòn cho cánh quân phía Tây trước đó, lần này giặc Pháp lại gây bao tang tóc cho đồng bào ta. Chỉ tính riêng các huyện Lâm Thao, Hạc Trì, Phù Ninh và Đoan Hùng, 150 người dân bị giết và bị thương, 181 người bị bắt. Địch còn đốt phá 2.416 nóc nhà, 7 đình chùa, nhà thờ, cướp 72 con trâu bò và vô số lợn, gà. Khi giặc tấn công sông Lô, đồng bào huyện Phù Ninh phải tản cư, bỏ hoang 1.000 mẫu ngô không chăm bón và thu hoạch được. Địch ở Trung Hà (Sơn Tây) bắn súng cối tới tấp vào các làng xã vùng hạ huyện Lâm Thao, làm cho nhiều nhà bị cháy, vườn tược bị đạn chém nát. Dưới làn đạn địch, du kích các xã vẫn bình tĩnh bám sát các trạm gác, đánh kẻng báo động cho đồng bào tản cư, đồng thời tổ chức chiến đấu chặn các mũi tiến quân của địch vào làng, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân.


Ngày 24-11-1947, địch tiến vào xã Vĩnh Lại. Trung đội du kích xã chia làm hai tổ, bố trí dưới giao thông hào, nổ súng chặn địch. Do lực lượng địch đông gấp bội, hoả lực mạnh, nên sau ít phút chiến đấu, một tổ du kích bị đánh bật ra khỏi làng, tổ còn lại bị địch bao vây.


Tại huyện Hạc Trì, nơi diễn ra những trận giao tranh quyết liệt giữa ta và địch, đã xuất hiện những tấm gương ngời sáng về tinh thần anh dũng chiến đấu, hy sinh của quân và dân nơi đây. Trung đội nữ du kích Minh Hà (xã Chính Nghĩa) xung phong ra trận giật bom diệt địch. Đội lão du kích Minh Khai ra sát trận địa để phối hợp chiến đấu cùng bộ đội.


Ngày 19-12-1947, đúng một năm sau ngày toàn quốc kháng chiến, số quân địch còn lại ở Việt Trì phải rút hết về xuôi trong những ngày đông ảm đạm, chấm dứt cuộc tấn công Việt Bắc đầy tham vọng và thất bại nặng nề.


Hướng chính trên địa bàn Khu 10 đã thảm bại, hướng phối hợp, địch cũng bị thất bại nặng nề. Theo kế hoạch, để phối hợp với cuộc tấn công lên Việt Bắc, nhằm phân tán lực lượng ta ở Mặt trận Sông Lô, từ ba mặt Hoà Bình - Sơn La, Quang Huy (Nghĩa Lộ) - Thượng Bằng La (Yên Bái), giặc Pháp tiến công càn quét vùng Tây - Nam Phú Thọ.


Ngày 2-10-1947, giặc Pháp từ Quang Huy và Sơn La tiến ra càn quét huyện Thanh Sơn, chiếm Thu Cúc. Từ Thu Cúc, chúng mở rộng phạm vi càn quét ra cả huyện Thanh Sơn, Yên Lập và Cẩm Khê. Ngày 8-10-1947, quân Pháp từ Quang Huy, Thu Cúc, Thượng Bằng La tiến sang càn quét vùng Hiền Lương, Đan Thượng, Đan Hà (Hạ Hoà) hòng phối hợp với cánh quân bên kia sông Lô, buộc ta phải giãn lực lượng ra đối phó. Ngày 12-10, từ Hoà Bình, Sơn Tây, 300 quân Pháp đánh sang Tu Vũ, rồi càn quét vùng Thanh Thủy, Tam Nông. Trong các cuộc hành quân càn quét vùng tây nam Phú Thọ, địch đốt hơn 4.000 nóc nhà, phá 8 nhà thờ, 43 đình, chùa, giết 351 người, bắt 48 người và cướp bóc nhiều tài sản của nhân dân. Chúng bắt hàng nghìn đồng bào Mường (Thanh Sơn) và Thái (Sơn La) tản cư sang huyện Thanh Sơn, đem về xây dựng đồn bốt ở Thu Cúc và Tu Vũ. Chúng còn ra sức lôi kéo linh mục, dụ dỗ giáo dân đi lính và lợi dụng bọn hào lý để lập tề ở địa phương. Đối với những ai không cam tâm làm tay sai cho Pháp, chúng thẳng tay trừng trị. Không lôi kéo, dụ dỗ được giáo dân Hưng Hoá, ngày 15-10-1947, giặc Pháp chiếm đóng nhà thờ Hưng Hoá, đập phá nhà thờ, tàn sát nhân dân, hãm hiếp phụ nữ. Khi rút về Đồn Vàng, chúng đã bắt cả linh mục, thầy dòng và một số giáo dân đem theo. Sau vụ này, đồng bào Công giáo càng nhận rõ hơn bộ mặt của kẻ thù, thêm tin tưởng vào chính quyền kháng chiến. Giáo dân ở Hà Thạch (Lâm Thao) đã tổ chức mít tinh, phản đối hành động dã man của giặc Pháp và đòi phải trả lại tự do cho những người bị bắt.


Tại vùng tây nam Phú Thọ, nhân dân các xã phía nam các huyện Tam Nông, Thanh Thủy, Cẩm Khê đề cao cảnh giác, khẩn trương chuẩn bị kháng chiến. Riêng các xã phía Tây các huyện Thanh Sơn, Thanh Thủy, Yên Lập, công tác chuẩn bị kháng chiến gặp nhiều khó khăn. Nơi đây, đất rộng, địa hình không thuận lợi cho phá hoại và tiêu thổ kháng chiến. Đây là vùng giáp giới với Hoà Bình, Sơn La, là những địa phương mà địch đã chiếm đóng. Nhân dân phần lớn là đồng bào Mường và một số đồng bào Thái (Sơn La) tản cư sang, trình độ giác ngộ chính trị không đồng đều. Lực lượng dân quân du kích và các cơ quan chính quyền, đoàn thể mới thành lập, đang trong thời kỳ xây dựng, thậm chí, một số nơi chưa có chi bộ Đảng. Trung đoàn 148 bộ đội chủ lực hoạt động ở Sơn La mới rút về Thanh Sơn, nhằm phối hợp chiến đấu với lực lượng vũ trang địa phương, nên còn thiếu kinh nghiệm vận động đồng bào dân tộc ít người. Thực tế này khiến những cuộc chống càn thời gian đầu của bộ đội gặp nhiều khó khăn. Các đại đội độc lập phối hợp với dân quân, du kích chỉ tổ chức đánh được 6 trận ở huyện Thanh Thủy và 5 trận ở huyện Yên Lập, tiêu hao một phần sinh lực địch. Còn vùng Thanh Sơn, sau vài trận chống càn yếu ớt ở Thạch Khoán, Đồn Vàng, Lai Đồng, Xuân Đài, Thu Cúc, 2 đại đội độc lập của Trung đoàn 148 phải rút lui về Giáp Lai, Thạch Khoán, bỏ trống vùng thượng huyện Thanh Sơn. Bọn phản động lợi dụng thời cơ nổi lên lập tề ở Thu Cúc, Lai Đồng, Khả Cửu, Đồn Vàng và Tu Vũ.


Từ thực tế chống càn ở vùng tây nam Phú Thọ, cho thấy chiến tranh du kích muốn phát triển và đạt hiệu quả chiến đấu cao, thì cán bộ, bộ đội phải bám đất, bám dân, dựa vào dân để giết giặc, thực hiện đoàn kết dân tộc và đoàn kết lương giáo, cô lập và đi đến trừng trị những tên phản động tay sai. Trên cơ sở đó và căn cứ vào tình hình chiến sự vùng tây nam Phú Thọ, tỉnh điều động 3 trung đội bộ đội địa phương tăng cường cho mặt trận Tu Vũ và 2 trung đội cho mặt trận Thu Cúc. Cấp ủy, chính quyền và đoàn thể các huyện và xã vùng tây nam đã tổ chức cho nhân dân sơ tán vào rừng khi địch càn quét, địch rút lui lại trở về bám đất làm ăn. Khi địa phương bị địch chiếm đóng, cán bộ và bộ đội rút vào hoạt động bí mật, hóa trang thành những đội đặc biệt (như võ trang tuyên truyền, võ trang trừ gian) để bám dân, bảo vệ dân, tạo thêm điều kiện để nhân dân giữ vững tinh thần kháng chiến. Công an tỉnh tổ chức đội công an danh dự gồm 23 đồng chí vào đây làm nhiệm vụ diệt tề, trừ gian, giám sát, ngăn chặn hoạt động phá hoại của bọn phản động. Công an các xã Thu Ngạc, Võ Miếu, Tinh Nhuệ, Lai Đồng, Thu Cúc, Kiệt Sơn, Thạch Kiệt đã lập được danh sách 40 tên tề và do thám tay sai của giặc để phục vụ cho công tác phá tề, trừ gian và đưa người của ta vào hoạt động trong các ban tề.


Mặc dù gặp nhiều khó khăn, địch vẫn tăng cường càn quét, liên tục lùng sục gắt gao, nhưng quân và dân vùng tây nam Phú Thọ quyết không để cho địch rảnh tay, củng cố lại vị trí chiếm đóng và yểm trợ cho đồng bọn đang bị ta đánh ở Mặt trận Sông Lô. Từ ngày 20-11 đến ngày 23-12-1947, quân và dân các huyện tây nam Phú Thọ phối hợp với bộ đội chủ lực tích cực tổ chức các trận chống càn, liên tục bao vây, quấy rối vị trí trú quân và đóng quân của địch. Quân và dân ta đã tiêu diệt 100 tên ở Đồn Uốt (Ngọc Lập), làm tan rã 1 trung đội ngụy binh ở Tu Vũ, vận động được 60 lính dõng ở đồn Thu Cúc trở về với gia đình, buộc địch phải rút khỏi Đồn Vàng. Du kích dân tộc Mường xã Ngọc Lập (Yên Lập) dùng tên nỏ tẩm thuốc độc diệt 9 tên, khiến địch lo sợ, hoang mang. Trước hoạt động chống càn ngày càng mạnh của quân và dân vùng tây nam Phú Thọ, địch buộc phải co lại cố thủ ở hai vị trí Thu Cúc và Tu Vũ.


Tóm lại, trên cả hai Mặt trận Sông Lô và tây nam Phú Thọ, quân dân Phú Thọ đã chiến đấu và phối hợp chiến đấu chặt chẽ, góp phần bẻ gãy gọng kìm sông Lô, đánh bại cuộc tấn công mùa Đông của giặc Pháp lên Việt Bắc, làm phá sản chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh của chúng, bảo toàn được lực lượng và giữ vững hậu phương, đưa cuộc kháng chiến của dân tộc chuyển sang giai đoạn mới. Những hoạt động chiến đấu và phục vụ chiến đấu của nhân dân và lực lượng vũ trang Phú Thọ trong chiến dịch này, đã để lại những kinh nghiệm rất quý báu. Giáp mặt với quân xâm lược Pháp, quân dân các địa phương trong tỉnh không tránh khỏi bỡ ngỡ. Nhưng lòng yêu nước, chí căm thù giặc, sự vững tin vào kháng chiến của đồng bào các dân tộc trong tỉnh, cùng với sự lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện của các cấp bộ Đảng, chính quyền, đoàn thể cứu quốc và sự trưởng thành của lực lượng vũ trang, là những nhân tố đảm bảo chiến thắng. Hình thái chiến tranh nhân dân địa phương ở nước ta được xác định rõ ràng. Hình thức tổ chức lực lượng vũ trang nhân dân được cụ thể hóa thêm, vừa chiến đấu vừa luyện quân ngay trong chiến đấu để lập công, được coi là một quy luật xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang trong chiến tranh nhân dân. Đó là những nhân tố vô cùng quan trọng, đảm bảo cho phong trào kháng chiến trên quê hương Phú Thọ không ngừng phát triển, thu được nhiều thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược 1945-1954.


Sáu mươi năm đã trôi qua, những tên đất, tên làng như Chí Đám, Sóc Đăng, Phan Lương, Khoan Bộ - Đoan Hùng... mãi mãi đi vào lịch sử hào hùng của dân tộc. Chiến thắng Sông Lô đã thể hiện truyền thống chiến đấu kiên cường, kinh nghiệm đoàn kết hiệp đồng chiến đấu giữa các lực lượng vũ trang, nhân dân các dân tộc Khu 10 và tỉnh Phú Thọ.


Ngày nay, chiến thắng Sông Lô vẫn còn vang vọng, là niềm tự hào của lực lượng vũ trang Phú Thọ. Vinh dự là những người chiến sĩ cách mạng chiến đấu dưới lá cờ bách chiến bách thắng của Đảng quang vinh và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, phát huy truyền thống "Trung thành - Anh dũng - Chiến thắng", lực lượng vũ trang Phú Thọ tiếp tục phát huy bản chất cách mạng của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, thi đua lập nhiều thành tích mới trong các lĩnh vực công tác, mãi mãi xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân các dân tộc Đất Tổ trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Ba, 2021, 10:15:10 am
CHIẾN THẮNG SÔNG LÔ - MỘT THẮNG LỢI QUAN TRỌNG TRONG CHIẾN DỊCH VIỆT BẮC THU - ĐÔNG 1947


Đại tá HÀ ĐỨC DỤC
Trưởng phòng KHCN và MT Quân khu 2


Trong cuộc tiến công của thực dân Pháp lên Việt Bắc Thu - Đông năm 1947, sông Lô và đường số 2 được chúng xác định là một trong hai gọng kìm lớn để "siết chặt", "nghiền nát" trung tâm đầu não kháng chiến và chủ lực ta, hòng kết thúc chiến tranh một cách nhanh chóng.


Thực hiện sự chỉ đạo, chỉ huy của Trung ương Đảng và Tổng chỉ huy, Khu ủy và Bộ Tư lệnh Khu 10 đã xác định và xây dựng quyết tâm chiến đấu phá tan cuộc tiến công của Pháp, bẻ gãy "gọng kìm phía Tây" của chúng.


Cùng với các đơn vị chủ lực của Khu, thế trận toàn dân đánh giặc được xây dựng dọc sông Lô và đường số 2. Nơi nơi đều thực hiện "giương bẫy, giăng thành" với quyết tâm: địch đến bị đánh, địch lui bị chặn. Bằng thế trận đó, quân và dân Khu 10 đã ngoan cường, sáng tạo trong chiến đấu, cùng với cả Việt Bắc làm nên "mồ chôn giặc Pháp". Trong những chiến công còn vang vọng mãi, không thể không nhắc tới những trận đánh trên sông Lô lịch sử, như ước vọng "bao nhiêu dân Khu 10, mơ thành người sông Lô".


Đế đối phó với cuộc tiến công của địch, ngày 15-10-1947, Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị "Phải phá cuộc tiến công mùa Đông của giặc Pháp". Trung ương Đảng chủ trương tập trung lực lượng và cử cán bộ chủ chốt của Bộ Tổng chỉ huy tổ chức đánh địch trên các mặt trận: Mặt trận Sông Lô - đường số 2, Mặt trận Đường số 4, Mặt trận Đường số 3.


Mặt trận Sông Lô - đường số 2 rộng, trải khắp Khu 10, từ Vĩnh Yên, Việt Trì, Đoan Hùng lên Tuyên Quang, Chiêm Hóa và Sơn Dương. Là một trong hai hướng phản công, có ý nghĩa quyết định đến việc đánh bại cuộc tiến công mùa Đông của giặc Pháp, nên Mặt trận Sông Lô - đường số 2, được Bộ Tổng chỉ huy cử hai đồng chí Trần Tử Bình và Tạ Xuân Thu chỉ đạo, có nhiệm vụ đánh quân cơ động trên đường bộ, đường thủy, ngăn chặn tăng viện tiếp tế, tiến tới bẻ gãy gọng kìm phía Tây của địch.


Với niềm tin tưởng tuyệt đối vào đường lối kháng chiến của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, thực hiện chủ trương của Khu ủy, quân và dân Khu 10 hăng hái, quyết tâm tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch, bẻ gãy gọng kìm sông Lô của chúng, góp phần phá tan cuộc tiến công Thu - Đông, bảo vệ căn cứ địa kháng chiến. Được chuẩn bị khẩn trương và chu đáo, với quyết tâm chiến đấu cao và cách đánh linh hoạt, sáng tạo trên cả đường thủy và trên bộ; sự phối - kết hợp giữa bộ binh, pháo binh và công binh, các lực lượng vũ trang Khu 10 (tiền thân của lực lượng vũ trang Quân khu 2 ngày nay) đã liên tục chặn đánh địch từ Phan Dư, Khoan Bộ, Đoan Hùng, Bình Ca, Khe Lau đến km 7 đường số 2, Đầm Hồng, Bản Ty, Chiêm Hoá... tiêu diệt nhiều sinh lực địch, bắn cháy nhiều tàu chiến, bẻ gãy gọng kìm phía Tây của chúng.


Chiến thắng sông Lô của quân và dân Khu 10, góp phần cùng quân dân cả nước làm phá sản chiến lược "đánh nhanh, thắng nhanh" của thực dân Pháp, đánh bại cuộc tiến công Thu - Đông 1947 của chúng lên Việt Bắc, bảo vệ an toàn căn cứ địa và cơ quan đầu não kháng chiến trong những năm đầu của cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp.


60 năm đã qua đi, nhưng chiến thắng Sông Lô vẫn luôn là niềm tự hào của các lực lượng vũ trang và nhân dân Khu 10, là một trong những chiến thắng điển hình của Quân đội nhân dân Việt Nam, góp phần tô thắm thêm truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc và mãi mãi đi vào lịch sử. Nghiên cứu về chiến thắng sông Lô, chúng ta thấy:

Một là: Chiến thắng sông Lô là bước khởi đầu, góp phần khắng định sự tất thắng của đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện trong chiến tranh giải phóng dân tộc Việt Nam.

Vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng và chiến tranh giải phóng Việt Nam, kế thừa và phát huy truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc, trước kẻ thù là thực dân Pháp xâm lược có binh hùng, tướng mạnh, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm đề ra đường lối lãnh đạo đúng đắn, dẫn dắt toàn quân, toàn dân đương đầu và từng bước đánh thắng kẻ thù. Điều đó được thể hiện một phần qua sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng vũ trang và các tầng lớp nhân dân Khu 10.


Bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, sau ngày toàn quốc kháng chiến 19-12-1946, lực lượng vũ trang Khu 10 còn nhiều thiếu thốn về vũ khí, trang bị... phương tiện kỹ thuật chiến tranh, đời sống của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn.


Nhận thấy "điểm yếu chí mạng" của giặc Pháp là gọng kìm quá dài, buộc phải dựa vào đường bộ và đường sông để giải quyết vấn đề tiếp tế và chuyển quân, lực lượng bị rải ra trên các trục đường bộ, đường sông, đội hình kéo dài, địa hình hiểm trở, xa căn cứ, vận tải tiếp tế khó khăn, Trung ương Đảng đã chỉ đạo các khu, các mặt trận tổ chức đánh địch rộng khắp bằng mọi thứ vũ khí, buộc địch phải phân tán đối phó, để hỗ trợ cho các đơn vị chủ lực của ta đánh địch. Đồng thời, sử dụng một phần ba tổng số bộ đội chủ lực, tổ chức thành những đại đội độc lập, trung đội vũ trang tuyên truyền, ban xung phong công tác, luồn sâu vào vùng địch tạm chiếm, động viên tổ chức nhân dân, phát động chiến tranh du kích tiêu hao địch rộng rãi, đồng thời làm nòng cốt cho phong trào quần chúng, buộc địch phải căng kéo lực lượng đối phó và bị động trên nhiều hướng, khiến cho chúng quân đông mà bị phân tán, trang bị mạnh nhưng không thể phát huy được hiệu lực.


Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, Khu ủy Khu 10 đã chỉ đạo cho các tỉnh xây dựng, củng cố tinh thần, tư tưởng, ý chí chiến đấu cho nhân dân và lực lượng vũ trang. Các tỉnh tiến hành thành lập các tổ công tác và đội tuyên truyền vào vùng địch hậu hoạt động, vừa xây dựng cơ sở chính trị vừa vận động nhân dân tích cực tham gia kháng chiến. Các đội võ trang tuyên truyền đã phối hợp tốt cùng các đại đội độc lập của các trung đoàn chủ lực Khu 10, thực hiện luồn sâu vào hoạt động vùng sau lưng địch xây dựng cơ sở, phát động chiến tranh du kích, toàn dân đánh giặc. Nhân dân trong vùng địch tạm chiếm thực hiện tiêu thổ kháng chiến "vườn không nhà trống", tản cư vào các lán bí mật trong rừng, nuôi giấu cán bộ, bộ đội và du kích hoạt động. Nhân dân vùng tự do, đi đôi với việc tích cực ủng hộ vật liệu, phương tiện và dụng cụ, hàng triệu người, đã tham gia các đợt tổng phá hoại các công trình kiến trúc kiên cố, cầu cống, đường giao thông, đắp ụ trên đê, cắm kè trên sông, rào làng, để ngăn cản bước tiến của quân giặc. Các đội du kích, sau khi được xây dựng, củng cố về lực lượng, vũ khí, trang bị, đã kiên cường bám đất, bám dân, xây dựng cơ sở, diệt tề, trừ gian ở các địa phương, ngăn cản bước tiến và tiêu hao, tiêu diệt quân địch.


Như vậy, để đối mặt và giành được thắng lợi với kẻ thù mạnh hơn ta gấp bội về tiềm lực quân sự, Trung ương Đảng đã đề ra đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh là hoàn toàn đúng đắn. Quân và dân Khu 10 đã phát huy hết sức mạnh của mình, vận dụng linh hoạt cách đánh du kích, bằng nhiều loại vũ khí tự tạo, phát huy được thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp, trong đó lực lượng vũ trang ba thứ quân đã tỏ rõ vai trò nòng cốt cho toàn dân đánh giặc. Đây chính là bước tiếp nối truyền thống đánh giặc trong lịch sử dựng nước và giữ nước của ông cha, là bước thể nghiệm để Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục chủ trương, đường lối "Kháng chiến toàn dân, toàn diện" giành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam.


Hai là: Chiến thắng sông Lô cùng với những thắng lợi trong chiến dịch phản công của ta trong Thu - Đông 1947, đã mở đầu cho sự hình thành và phát triển nghệ thuật chiến dịch của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Sau khi giành được độc lập, Chính phủ đã ban hành các sắc lệnh đặt nền tảng cho việc xây dựng quân đội chính quy của quốc gia, các chi đội Vệ quốc đoàn đã phát triển thành các trung đoàn và tiểu đoàn độc lập. Nhưng do khả năng tác chiến ở quy mô cấp trung đoàn hạn chế, trình độ kỹ thuật, chiến thuật của bộ đội, trình độ tổ chức chỉ huy của cán bộ và tình hình trang bị của ta chưa đủ điều kiện để tiến hành những trận đánh lớn có thể chặn đứng cuộc tiến công của địch. Các binh chủng Công binh, Pháo binh, Phòng không chưa được tổ chức thành các đơn vị lớn. Phương tiện thông tin liên lạc thô sơ, chủ yếu là chạy bộ. Cung cấp hậu cần dựa vào chính quyền và nhân dân địa phương là chính. Đồng thời, địa bàn tác chiến của Mặt trận Sông Lô nói riêng và chiến dịch Việt Bắc nói chung rộng, khó bố trí đội hình tác chiến lớn.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Ba, 2021, 10:15:54 am
Nhận thấy giặc Pháp "phải mạo hiểm... gặp khó khăn lớn, nếu ta biết khai thác đánh vào chỗ yếu của địch thì nhất định cuộc tiến công sẽ thất bại...", nên chỉ đạo, chỉ huy của ta trong chiến dịch Việt Bắc nói chung và Mặt trận Sông Lô nói riêng, là đã không đem các trung đoàn chủ lực (còn hạn chế về vũ khí trang bị và kinh nghiệm chiến đấu...) ra đối mặt với lực lượng lớn của địch, có trang bị hiện đại. Thường vụ Trung ương Đảng đã chủ trương sử dụng lực lượng và hình thức tác chiến là: "Đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung" để đối phó với cuộc tiến công Việt Bắc của địch. Bằng các đơn vị nhỏ (phổ biến là đại đội), với chiến thuật phục kích là chủ yếu, phối hợp hoạt động tác chiến giữa chủ lực và địa phương, ta đã thực hiện tiêu hao, tiêu diệt địch rộng rãi.


Ngày 15-10-1947, Bộ Tổng chỉ huy ra Huấn lệnh ĐB/101, đã nêu những nguyên tắc mới về tổ chức bộ đội và bố trí lực lượng, về nhiệm vụ của các đại đội độc lập và tiểu đoàn tập trung. Huấn lệnh chỉ rõ: "... Bố trí và tác chiến cần phải thích hợp với tình thế... thực hiện ngay việc lấy đại đội làm đơn vị bố trí trên các chiến trường địa phương... Bộ đội chủ lực thì đặt ở những nơi cơ động gần mặt trận hoặc đường giao thông quan trọng trên nguyên tắc là nên tập trung từng tiểu đoàn phụ trách từng khu vực một". Nhiệm vụ của đại đội độc lập là: "Quấy rối, tiêu diệt từng bộ phận nhỏ của địch, đôn đốc phá hoại trong địa phương, giúp đỡ vũ trang tuyên truyền và phối hợp tác chiến với dân quân địa phương khi địch đến. Phối hợp với bộ đội lưu động đánh những trận đánh lớn". Nhiệm vụ của các tiểu đoàn tập trung là: "Phối hợp với các đại đội độc lập và du kích địa phương tiêu diệt địch ở những vị trí lẻ hay đang vận chuyển trên đường giao thông". Hình thức tác chiến chủ yếu được xác định: "trên cả ba mặt trận là đánh phục kích với quy mô cấp đại đội độc lập, nhằm tiêu hao, tiêu diệt bộ phận nhỏ quân địch đang cơ động là chủ yếu. Các tiểu đoàn tập trung phải luôn đứng chân ở địa bàn, sẵn sàng cơ động đánh địch khi chúng xuất hiện".


Có thể nói, chiến thắng sông Lô là một trong những chiến thắng trong năm đầu sau toàn quốc kháng chiến của quân đội ta, đánh dấu bước mở đầu cho sự hình thành và phát triển nghệ thuật chiến dịch của quân đội ta, thể hiện sự vận dụng sáng tạo nghệ thuật đánh giặc "lấy yếu đánh mạnh", "lấy nhỏ thắng lởn", "lấy ít địch nhiều" của tổ tiên ta, để chiến thắng kẻ thù mạnh hơn mình gấp nhiều lần. Những trận đánh nhỏ, rộng khắp, cùng các trận đánh lớn, quan trọng như trận phục kích diệt địch cơ động đường sống ở Khoan Bộ, Đoan Hùng, Khe Lau..., hay phục kích tiêu diệt quân cơ động vận chuyển bằng đường bộ tại km 7 - đường số 2, đã thực hiện được ý định chung của chiến dịch, cả ba mục đích của cuộc hành binh đều không đạt được, địch buộc phải lui quân với những tổn thất nặng nề, làm thất bại hoàn toàn cuộc tiến công của giặc Pháp, bảo vệ cơ quan đầu não kháng chiến, bảo vệ căn cứ địa Việt Bắc. Vượt qua những thử thách to lớn đầu tiên, quân đội ta đã trưởng thành một bước quan trọng nghệ thuật tác chiến, càng đánh càng hiểu về địch, hiểu mình. Thông qua tác chiến chiến dịch Thu - Đông 1947, đã hình thành nên nghệ thuật chiến dịch phản công của Quân đội nhân dân Việt Nam.


Ba là: Chiến thắng sông Lô là chiến thắng của sự phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ lực lượng giữa bộ binh, pháo binh, công binh và phòng không của quân đội ta.

Trong số những trận đánh vang dội của quân và dân Khu 10 trên Mặt trận Sông Lô trong Thu - Đông năm 1947, thì chiến thắng tại Đoan Hùng, ngày 24-10-1947, là trận đánh then chốt có hiệu quả nhất, thể hiện cách đánh hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng, tinh thần chiến đấu dũng cảm, cách đánh mưu trí, sáng tạo của quân và dân Khu 10, góp phần quan trọng trong việc bẻ gãy gọng kìm thứ 2 của địch.


Ngày 24-10-1947, Bộ chỉ huy Khu sử dụng 2 trung đội pháo binh 200 và 225 với 2 khẩu pháo 75mm, 2 đại đội bộ binh (663, 664), đại đội cảnh vệ Khu và lực lượng du kích địa phương, tổ chức phục kích ở khu vực ngã ba sông Lô và sông Chảy, nơi có nền đất tốt, ngụy trang kín đáo. Tại đây, ngoài các trận địa chính ta đã bố trí một số trận địa giả, dùng cây bôi sơn đen giả làm nòng pháo, dùng rơm rạ đốt khi trận địa chính nổ súng để ngụy trang, lừa máy bay địch đến bắn phá. Một đại đội bộ binh được bố trí ở Sóc Đăng sẵn sàng đánh địch đổ bộ bằng đường không, ngăn chặn tuyến đường bộ từ Việt Trì - Yên Bình - Tuyên Quang. Một đại đội khác được bố trí ở Ngọc Trúc để bảo vệ trận địa pháo. Đại đội cảnh vệ được bố trí chặn đánh địch từ Tuyên Quang tiến công theo bờ sông xuống ứng cứu. Đồng thời để nghi binh, lừa địch, ta đã sử dụng hơn 200 quả bưởi được sơn đen giả làm thủy lôi, thả trôi trên sông Lô để làm chậm tốc độ cơ động đường sông, buộc tàu chiến địch phải đi vào đúng luồng đã định để ta tiêu diệt.


Kết quả, ta đã bắn chìm 1 tàu chiến và 2 ca nô, bắn trọng thương 2 ca nô khác, bắn rơi 1 máy bay; hơn 100 tên địch bị tiêu diệt, nhiều tên bị thương, 3 tên bị bắt; ta thu 17 súng trường Mỹ, 3 tiểu liên, 3 súng máy 12,7mm, 4 súng FM, 1 súng cối 60mm có 20 viên đạn, 4 khẩu súng côn 12mm, 1 cối 81mm có 22 viên đạn, 1 pháo 75mm, 1 Ba-zô-ca, 5 lựu đạn, 1 máy vô tuyến điện, 1 thùng đạn và một số lớn thuốc tân dược. Đó là kết quả của sự phối hợp, hiệp đồng lực lượng chặt chẽ giữa bộ binh, pháo binh, công binh và phòng không của quân đội ta; hiệp đồng giữa quân và dân Khu 10. Từ trận đánh trên, cùng với những thắng lợi của chiến dịch Việt Bắc, nhiều nguyên tắc tác chiến, chỉ huy hiệp đồng binh chủng của Quân đội nhân dân Việt Nam đã được hình thành.


Cuộc tiến công lên căn cứ địa Việt Bắc trong Thu - Đông 1947 của thực dân Pháp là một thử thách vô cùng quyết liệt đối với toàn quân, toàn dân ta trong năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc. Với tinh thần "Thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ", bằng ý chí kiên cường, tinh thần quyết chiến, quyết thắng và trí thông minh sáng tạo, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã kịp thời đưa ra giải pháp thích hợp, từng bước chuyển thế trận, giành lại thế chủ động đánh địch, chuyển yếu thành mạnh, làm cho địch từ mạnh sang yếu, mất thế và lực. Từ đây, thực dân Pháp phải theo đuổi cuộc chiến tranh một cách bị động, kéo dài ngoài ý muốn của chúng. Thắng lợi và kinh nghiệm chiến thắng sông Lô, cùng với ý nghĩa của chiến dịch phản công Việt Bắc Thu - Đông năm 1947, là vốn quý để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược vững bước tiến lên, từng bước làm thất bại các âm mưu, kế hoạch của kẻ thù.


60 năm qua, ý nghĩa và giá trị của chiến thắng Sông Lô vẫn luôn đi cùng với những bước trưởng thành, lớn mạnh của quân đội ta nói chung và quân, dân Khu 10 nói riêng. Chiến thắng đó luôn cổ vũ và tiếp sức cho lực lượng vũ trang Quân khu 2 tiếp bước cha anh, thi đua giành được nhiều thành tựu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hôm nay và mai sau.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Ba, 2021, 10:18:34 am
VIỆT BẮC - CĂN CỨ ĐỊA CÁCH MẠNG CỦA CẢ NƯỚC


TS. HOÀNG NGỌC LA
Trường Đại học Sư phạm, Đại học Thái Nguyên


Việt Bắc "cái nôi" của cách mạng, là "đất Thánh" của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954), là mồ chôn giặc Pháp trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947 và chiến dịch Biên Giới 1950; là nơi, trong 9 năm kháng chiến, có Trung ương Đảng và Bác Hồ sáng soi, nơi nuôi chí bền gan chiến đấu của dân tộc, nơi khởi phát chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.


Nói tới vai trò của căn cứ địa Việt Bắc trong kháng chiến chống Pháp, nhân dịp kỷ niệm 60 năm chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947, bài viết này xin được góp phần làm rõ thêm các vấn đề sau:

- Vị thế chiến lược cơ động "Tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ" của căn cứ địa Việt Bắc.

- Việt Bắc - căn cứ địa cách mạng của cả nước.


Trong thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đồng bào các tỉnh Cao, Bắc, Lạng nhân kỷ niệm lần thứ hai ngày Quốc khánh 2-9-1947, Người viết: "Việt Bắc trước kia là căn cứ địa cách mệnh đã nổi tiếng khắp cả nước, khắp thế giới. Thì ngày nay, Việt Bắc phải thành căn cứ của kháng chiến, để giữ lấy địa vị và cái danh giá vẻ vang của mình".


"Cách mệnh đã do Việt Bắc mà thành công. Thì kháng chiến sẽ do Việt Bắc mà thắng lợi"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1980, tr. 149). Thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là sự khen ngợi, động viên nhân dân các dân tộc Việt Bắc, mà đó còn là sự đánh giá cao vai trò của Việt Bắc đối với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám. Với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954). Lịch sử cũng đã kiểm chứng sự nhận định đúng đắn, sáng suốt, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Hồ Chí Minh về vai trò của căn cứ địa Việt Bắc đối với thắng lợi của cuộc kháng chiến của dân tộc.


Xuất phát từ chủ trương khởi nghĩa vũ trang, trong thời kỳ vận động Cách mạng Tháng Tám, Trung ương Đảng và Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề xây dựng căn cứ địa cách mạng làm chỗ đứng chân xây dựng lực lượng và làm bàn đạp cho khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. Căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai ra đời từ cuối năm 1940, do Ban Thường vụ Trung ương Đảng trực tiếp chỉ đạo, với những cơ sở đầu tiên được xây dựng ở Bắc Sơn (Lạng Sơn) và Võ Nhai (Thái Nguyên). Căn cứ địa Cao Bằng được thành lập theo chủ trương của Hồ Chí Minh từ cuối năm 1940, và chính thức hình thành vào đầu năm 1941 với những cơ sở đầu tiên được xây dựng ở các huyện Hà Quảng, Hòa An và Nguyên Bình (Cao Bằng). Căn cứ địa Việt Bắc, với hai trung tâm này, không ngừng phát triển và mở rộng.


1. Căn cứ địa Việt Bắc được xây dựng trên địa bàn rộng lớn có vị thế chiến lược cơ động: tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ (tiến có thể đánh, lui có thể giữ), trở thành căn cứ địa cách mạng của cả nước, căn cứ địa đầu não của cách mạng Việt Nam.


Việt Bắc bao gồm các tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang và Hà Giang, có diện tích tự nhiên khoảng 50.000km2, chiếm 15% diện tích tự nhiên cả nước và 32% diện tích tự nhiên miền Bắc. Địa bàn phía Bắc của căn cứ địa Việt Bắc có núi rừng hiểm trở, nhiều thung lũng lòng chảo, lòng máng sâu, có các hang động kín đáo, có tác dụng che giấu bảo vệ lực lượng. Nhiều hang động đã đi vào lịch sử: hang Pác Bó (Hà Quảng, Cao Bằng) là nơi ở đầu tiên của Hồ Chí Minh khi về nước trực tiếp chỉ đạo cách mạng Việt Nam, sau 30 năm bôn ba hoạt động ở nước ngoài; hang Nà Kháo (Võ Nhai, Thái Nguyên) là căn cứ của Cứu quốc quân. Những khi bị địch khủng bố, hang động, núi sâu, rừng hiểm đã trở thành những hậu cứ an toàn và là căn cứ chiến đấu của lực lượng cách mạng. Trong kháng chiến chống Pháp, núi rừng Việt Bắc trở nên thành luỹ tự nhiên: "Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù".


Đặc biệt, Việt Bắc có tuyến biên giới tiếp giáp với Trung Quốc, dài trên 750km, với nhiều cửa khẩu thông sang Trung Quốc, tạo ra những điều kiện thuận lợi trong việc thông thương với bên ngoài, liên lạc với quốc tế.


Với quan điểm: cách mạng Việt Nam là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giối, và khi Chiến tranh thế giới lần thứ 2 bùng nổ, cách mạng Việt Nam là "bộ phận dân chủ chống phát xít”1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Những Nghị quyết cơ bản dẫn đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1983, tr. 257). Từ cuối năm 1940, chọn Cao Bằng làm nơi ở và hoạt động đầu tiên khi về nước, Hồ Chí Minh đánh giá cao vị trí Cao Bằng trong cách mạng Việt Nam, Người nói: "Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra nhiều triển vọng lớn lao cho cách mạng nước ta. Cao Bằng có phong trào tốt từ trước lại kề sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi"2 (Võ Nguyên Giáp, Từ nhân dân mà ra, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1964, tr. 34). Về nước, ở Cao Bằng, Người đã từ đây nhiều lần sang Trung Quốc để liên lạc, tìm kiếm Đồng minh chống Nhật, tranh thủ những lực lượng có thể tranh thủ nhằm mở rộng mặt trận chống phát xít Nhật, vì mục tiêu giải phóng dân tộc. Giữa năm 1945, về Tân Trào (Sơn Dương, Tuyên Quang) để trực tiếp chỉ đạo cuộc Tổng khởi nghĩa kịp thời cơ, Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục mở rộng quan hệ ngoại giao với bên ngoài, trong đó có Đồng minh Mỹ, nhằm tranh thủ sự giúp đỡ của họ dù là rất nhỏ về vũ khí và hợp tác với ta chống Nhật.


Phía Nam Việt Bắc địa thế thấp dần, là vùng bán sơn địa, cái gạch nối giữa vùng núi và đồng bằng, tạo thuận lợi để Việt Bắc liên lạc với phong trào cách mạng cả nước và sang cả nước bạn Lào... vừa là bàn đạp tấn công của cách mạng khi thời cơ đến. Để chỉ đạo cách mạng cả nước, liên lạc với Trung ương và phong trào cách mạng dưới xuôi, tạo ra thế và lực cho cách mạng, trong khi đánh giá cao vị trí Cao Bằng, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: "Từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được, có nối phong trào được với Thái Nguyên và toàn quốc, thì khi phát động đấu tranh vũ trang lúc thuận lợi có thể tiến công, lúc khó khăn có thể giữ"1 (Võ Nguyên Giáp, ATK Định Hóa, trung tâm của Thủ đô kháng chiến chống thực dân Pháp. Tạp chí Xưa và Nay, số 105, tháng 12-2001).


Đánh giá cao vị trí phía Nam khu Việt Bắc, trong cuộc vận động Cách mạng Tháng Tám, ngoài việc đẩy mạnh xây dựng, củng cố ATK chính thức của Trung ương tại ngoại thành Hà Nội, mà Vạn Phúc (Hà Đông) là trung tâm, Trung ương Đảng đã xúc tiến xây dựng các cơ sở cách mạng, hình thành ATK thứ 2 (ATK dự bị) trên địa bàn 3 huyện: Phổ Yên, Phú Bình (Thái Nguyên) và Hiệp Hòa (Bắc Giang), vừa để thường xuyên giữ vững liên lạc với phong trào cách mạng Việt Bắc và lãnh tụ Hồ Chí Minh, vừa làm cơ sở dự bị khi bị Pháp khủng bố ATK chính thức.


Dựa vào vị thế chiến lược cơ động "Tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ", rừng núi hiểm trở, sự đùm bọc của nhân dân các dân tộc, tại Pác Bó (Cao Bằng), từ ngày 10 đến 19-5-1941, Hồ Chí Minh đã chủ trì Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8, thành lập Mặt trận Việt Minh, hoàn chỉnh đường lối, phương pháp cách mạng thời kỳ 1939 - 1945, dẫn đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám. Cứu quốc quân trên căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai đã tiến hành 8 tháng đấu tranh chống địch khủng bố hết sức quyết liệt, bảo vệ an toàn Ban Thường vụ Trung ương Đảng và lực lượng cách mạng. Nhờ có núi rừng hiểm trở, địa bàn cơ động, công tác xây dựng lực lượng và đấu tranh cách mạng ngày càng phát triển sâu rộng ở Việt Bắc. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945), khởi nghĩa từng phần ở Việt Bắc nổ ra mạnh mẽ, đưa tới sự ra đời của Khu Giải phóng (4-6-1945) theo Chỉ thị của Hồ Chí Minh. Tân Trào (Sơn Dương, Tuyên Quang) trở thành Thủ đô lâm thời của Khu Giải phóng. Nà Lừa (Tân Trào) ở chân đèo De, núi Hồng nơi tiếp giáp ba huyện: Định Hóa, Đại Từ (Thái Nguyên) và Sơn Dương (Tuyên Quang) có vị thế chiến lược cơ động, được chọn làm nơi đóng đại bản doanh của Hồ Chí Minh. Tân Trào là nơi tiến hành Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng, Đại hội quốc dân Tân Trào, quyết định Tổng khởi nghĩa, đi đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám.


Đánh giá đúng đắn vị trí, vai trò căn cứ địa Việt Bắc đối với cách mạng Việt Nam, với tầm nhìn chiến lược của Hồ Chí Minh, sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, Người và Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã chủ trương tích cực củng cố căn cứ địa Việt Bắc, "để nếu bắt buộc chúng ta phải kháng chiến, các cơ quan lãnh đạo Trung ương có thể sẽ trở lại Việt Bắc"1 (Võ Nguyên Giáp, ATK Định Hóa..., Sđd). Vì vậy, các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Trần Đăng Ninh, đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ bí mật xây dựng, củng cố căn cứ địa Việt Bắc, lấy các huyện Định Hóa, Đại Từ, Phú Lương, Võ Nhai (Thái Nguyên), Chợ Mới, Chợ Đồn, Chợ Rã (Bắc Kạn), Sơn Dương, Yên Sơn, Chiêm Hóa (Tuyên Quang) làm địa bàn chính, trong đó vùng các huyện Định Hóa, Chợ Đồn, Sơn Dương, Yên Sơn được chọn làm nơi xây dựng ATK của Trung ương, nơi bảo đảm an toàn cho cơ quan đầu não kháng chiến của Đảng và Chính phủ.


Cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, các cơ quan Trung ương Đảng, Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, cùng các đồng chí lãnh đạo khác đã lên Việt Bắc để lãnh đạo kháng chiến. Lên Việt Bắc còn có các kho tàng, xưởng máy, nhà trường của Trung ương và đồng bào tản cư từ dưới xuôi lên.


Thực dân Pháp đã nhầm khi cho rằng: các cơ quan Trung ương, kho tàng, xưởng máy của Việt Minh từ Hà Nội rút lên vùng núi Việt Bắc sẽ lâm vào tình cảnh "tan rã", là cơ hội để Pháp mở cuộc "tấn công quy mô lớn", "bắt sống cả Chính phủ Hồ Chí Minh"2 (Phi-líp Đờ-vi-le. Pari- Sài Gòn - Hà Nội, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1993, tr. 487).


Bằng chiến tranh nhân dân, dựa vào địa bàn chiến lược cơ động, rừng núi hiểm trở, quân và dân Việt Bắc, trong chiến dịch Thu - Đông 1947 đã làm nên những chiến thắng oanh liệt, tiêu diệt nhiều sinh lực địch và phương tiện chiến tranh của chúng, bảo vệ được lực lượng, cơ quan đầu não kháng chiến, đánh bại chiến lược "đánh nhanh thắng nhanh" của thực dân Pháp, đưa cuộc kháng chiến của ta bước sang giai đoạn mới. Vị thế thuận lợi của Việt Bắc trong quan hệ quốc tế tiếp tục được phát huy trong kháng chiến chống Pháp. Thái Nguyên trở thành Thủ đô kháng chiến, là một trong những nơi diễn ra nhiều hoạt động ngoại giao nhất của Đảng và Chính phủ ta.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Ba, 2021, 10:20:54 am
2. Căn cứ địa Việt Bắc là nơi ở và hoạt động của lãnh tụ Hồ Chí Minh, của nhiều đồng chí lãnh đạo của Đảng, đã cùng với Đảng bộ các địa phương ra sức lãnh đạo nhân dân xây dựng lực lượng cách mạng hùng mạnh, có tinh thần chiến đấu kiên cường

Căn cứ địa Cao Bằng trong những năm 1941 - 1945, được Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ đạo, tập trung nhất là từ tháng 1-1941 đến 8-1942 và cuối năm 1944, bên cạnh Người còn có các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng... giúp sức. Xuất phát từ quan điểm cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, Hồ Chí Minh coi giác ngộ, tổ chức quần chúng cách mạng vào các đoàn thể cứu quốc của Mặt trận Việt Minh là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của căn cứ địa. Người luôn huấn thị cán bộ "phải dựa vào dân", "bám chắc vào dân", dân là "gốc cách mạng", Người nói: Đảng phải khơi lên cho hết chí khí cách mạng, tinh thần yêu nước của các tầng lớp nhân dân, tập trung mọi lực lượng giải phóng dân tộc, đánh đuổi Pháp, Nhật, hướng mọi công việc của Đảng vào khâu trung tâm cứu quốc.


Để nâng cao trình độ lý luận và phương pháp cách mạng của cán bộ, đảng viên, sau lớp huấn luvện cho 40 cán bộ Cao Bằng ở biên giới Việt - Trung (cuối năm 1940), về nước, tại Pác Bó (Hà Quảng), Lam Sơn (Hòa An), hang Kéo Quảng (Nguyên Bình) thuộc Cao Bằng, Người đã mở nhiều lớp huấn luyện cán bộ. Theo chủ trương của Người, Tổng bộ Việt Minh và Mặt trận Việt Minh ở Cao Bằng và các tỉnh cũng mở nhiều lớp huấn luyện công tác xây dựng các đoàn thể cứu quốc của Mặt trận Việt Minh, đồng thời tăng cường khối đoàn kết dân tộc.


Để mở rộng tuyên truyền, huấn luyện các hội viên cứu quốc, tự vệ, Hồ Chí Minh còn biên dịch nhiều tài liệu: Lịch sử Đảng cộng sản Liên Xô (B), Kinh nghiệm du kích Tầu, Cách đánh du kích, Phép dùng binh của Tôn Tử, Lịch sử nước ta. Sau Thư gửi đồng bào cả nước (Kính cáo đồng bào) viết tháng 6-1941, Hồ Chí Minh còn viết nhiều bài dưới dạng thơ cho mọi tầng lớp nhân dân (nông dân, công nhân, phụ nữ, phụ lão...), nhằm khơi dậy tinh thần yêu nước, kêu gọi sự đồng tâm hiệp lực trong cuộc đấu tranh đánh đổ ách thống trị của đế quốc Pháp, phát xít Nhật, giành độc lập tự do cho dân tộc. Hồ Chí Minh còn chỉ đạo và trực tiếp tham gia biên soạn, xuất bản tờ báo Việt Nam độc lập (gọi tắt là Việt Lập; mỗi đầu là tờ báo của Việt Minh tỉnh Cao Bằng, sau đó trở thành tờ báo của các tỉnh Cao, Bắc, Lạng, có tác dụng lớn trong tuyên truyền giáo dục, tổ chức quần chúng vào các đoàn thể cứu quốc của Mặt trận Việt Minh). Chương trình Việt Minh cũng được biên soạn xuất bản theo thể văn vần gọi là "Ngủ tự Kinh", tài liệu tuyên truyền còn được dịch ra tiếng các dân tộc Mông, Dao. Tỉnh Cao Bằng thời kỳ này được coi là nơi xuất bản nhiều sách báo cách mạng nhất ở nước ta. Theo đó là phong trào học chữ quốc ngữ, xây dựng nếp sống văn hóa rộng rãi trong nhân dân. Việc thực hiện đồng thời mục tiêu giải phóng con người, giải phóng xã hội, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đã tạo ra động lực to lớn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Đến khi Khu Giải phóng thành lập thì sự nghiệp xây dựng chính quyền, xây dựng kinh tế, văn hóa giáo dục tiếp tục được đẩy mạnh.


Với đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, phong trào cách mạng Cao Bằng không ngừng mở rộng ra các hướng: theo hướng Tây qua Bảo Lạc sang Hà Giang; theo hướng Nam xuống Ngân Sơn (Bắc Kạn) vào mùa Hè năm 1942; theo hướng Đông lên các huyện Quảng Uyên, Trùng Khánh, Phục Hòa, Hạ Lang, Thạch An làm bàn đạp tiến xuống Lạng Sơn. Đầu năm 1943, Cao Bằng đã có nhiều xã, tổng, châu hoàn toàn Việt Minh. Trên cơ sở lực lượng Việt Minh phát triển, lực lượng vũ trang, trước hết là tự vệ cứu quốc, được xây dựng. Đến cuối năm 1941, thực hiện Chỉ thị của Hồ Chí Minh, Đội du kích Pác Bó được thành lập, và cuối năm 1944, Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, đội quân chủ lực của cách mạng, ra đời tại khu rừng Trần Hưng Đạo (Nguyên Bình, Cao Bằng).


Tại căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai, do Ban Thường vụ Trung ương Đảng trực tiếp chỉ đạo, Đội Cứu quốc quân là một trong những đội vũ trang tiền thân của Đảng ra đời và trưởng thành trong cuộc đấu tranh cách mạng. Vừa chống địch khủng bố, Cứu quốc quân vừa phát triển lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang trên địa bàn các huyện Võ Nhai, Đồng Hỷ, Đại Từ, Định Hóa, Phú Lương của tỉnh Thái Nguyên và Yên Thế (Bắc Giang), Hữu Lũng (Lạng Sơn). Trước sự khủng bố ác liệt của Pháp, một bộ phận Cứu quốc quân tạm lánh sang vùng biên giới Việt - Trung, đến đầu năm 1943 về nước, cùng với bộ phận ở trong nước đẩy mạnh xây dựng lực lượng ở các tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang, một phần Lạng Sơn, Chợ Đồn (Bắc Kạn). Kết quả của phong trào Nam tiến từ Cao Bằng xuống Bắc Kạn, do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ đạo và phong trào Bắc tiến của Cứu quốc quân, từ địa bàn phía Nam Việt Bắc tiến lên, đến cuối năm 1943 đã xây dựng được các "con đường quần chúng", khai thông Cao Bằng với Thái Nguyên theo chủ trương của Hồ Chí Minh. Bước phát triển này của phong trào cách mạng ở khu vực phía Nam Việt Bắc đã đưa tới sự ra đời của Chiến khu Hoàng Hoa Thám (do đồng chí Hoàng Quốc Việt - Ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Đảng trực tiếp chỉ đạo) vào đầu năm 1944.


Trong cao trào chống Nhật cứu nước, các lực lượng vũ trang ở Việt Bắc đã làm nòng cốt cùng quần chúng nổi dậy giành lấy chính quyền, đưa tới sự ra đời của Khu Giải phóng gồm 6 tỉnh ở Việt Bắc, đó là hình thái hoàn chỉnh của căn cứ địa cách mạng Việt Bắc. Thực hiện 10 chính sách lớn của Mặt trận Việt Minh, trong hơn 2 tháng tồn tại (4-6 đến 13-8-1945), Khu Giải phóng đạt được nhiều thành tựu về các mặt: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa. Khu Giải phóng là hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nam mới, hơn một triệu đồng bào ở đó đã bước đầu được hưởng quyền tự do, dân chủ của cách mạng. Khu Giải phóng với Thủ đô Tân Trào, trở thành ngọn cờ hiệu triệu cổ vũ phong trào cách mạng cả nước, uy hiếp quân thù, bảo vệ cơ quan đầu não cách mạng, là bàn đạp tiến công của lực lượng cách mạng trong cao trào chống Nhật cứu nước và Tổng khởi nghĩa Tháng Tám.


Theo Nghị quyết Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ, lực lượng Cứu quốc quân và Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân được thống nhất thành Việt Nam Giải phóng quân. Lễ thống nhất được tổ chức tại Định Biên Thượng thuộc Định Hóa, Thái Nguyên (15-5-1945), Bộ chỉ huy đầu tiên gồm các đồng chí: Võ Nguyên Giáp, Trần Đăng Ninh và Chu Văn Tấn; lúc thống nhất, lực lượng đã lên tới 13 đại đội.


Có thể nói trong quá trình chuẩn bị lực lượng tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền, căn cứ địa Việt Bắc đã chuẩn bị được đội quân chính trị to lớn với hàng triệu người, đoàn kết, thống nhất trong Mặt trận Việt Minh và lực lượng vũ trang hùng hậu, bao gồm Cứu quốc quân và Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, sau thống nhất thành Giải phóng quân và lực lượng tự vệ cứu quốc đông đảo trong nhân dân giữ vai trò quan trọng trong Tổng khởi nghĩa Tháng Tám. Bế mạc Đại hội quốc dân Tân Trào, ngay chiều hôm đó (16-8-1945), Giải phóng quân, do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy, đã làm lễ xuất phát tại cây đa làng Tân Trào để tiến về giải phóng Thái Nguyên, mở đường cho quân ta tiến về Hà Nội.


Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã khẳng định vị trí, vai trò to lớn của căn cứ địa Việt Bắc, đó là căn cứ địa cách mạng của cả nước, là căn cứ địa đầu não của cách mạng Việt Nam. Có được như vậy đó là do:

Căn cứ địa Việt Bắc xây dựng trên địa bàn rộng lớn có vị thế chiến lược cơ động "Tiến có thể đánh, lui có thể giữ", vừa hiểm yếu, vừa dễ dàng liên lạc với phong trào cách mạng thế giới và cách mạng cả nước.

Lấy nông thôn miền núi để xây dựng căn cứ địa là truyền thống của tổ tiên ta trong đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong thời đại mới, do Cách mạng Tháng Mười Nga mở ra, khi xây dựng căn cứ địa cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa, vận dụng sáng tạo những truyền thống quý báu của cha ông về xây dựng căn cứ địa là "Thiên thời, địa lợi, nhân hòa" và học tập kinh nghiệm cách mạng thế giới. Đồng thời quán triệt những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, cách mạng giải phóng dân tộc là bộ phận khăng khít của cách mạng vô sản thế giới. Do vậy, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ giải phóng dân tộc, trong cùng một khoảng thời gian, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương Đảng và Hồ Chí Minh, các trung tâm căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai và Cao Bằng đã ra đời, không ngừng mở rộng và thống nhất lại trên địa bàn Việt Bắc rộng lớn.


Trong dự thảo Đề cương tổng kết căn cứ địa Việt Bắc (1966), Bộ Tư lệnh Quân khu Việt Bắc đã có nhận định hết sức đúng đắn rằng: "Giá trị về mặt địa thế của khu căn cứ địa Việt Bắc không chỉ là ở mặt hiểm yếu mà đáng kể nhất là về mặt địa bàn cơ động, chiến lược của nó". Cũng cần nói thêm rằng: tính chất cơ động chiến lược đó được thể hiện trong mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới và giữa căn cứ địa Việt Bắc với cách mạng cả nước.


Địa bàn cơ động chiến lược Việt Bắc đã trở thành "đất Thánh" trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, nơi đóng các cơ quan đầu não kháng chiến, nơi quyết định nhiều chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Chính phủ, là mồ chôn giặc Pháp và là nơi khởi phát chiến dịch Điện Biên Phủ, đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi.


Từ thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, Đảng ta khẳng định: "Nhờ một tổ chức rộng rãi và thích hợp và nhờ sự lãnh đạo khéo léo và thích hợp mà đoàn thể Việt Minh ở Việt Bắc đã phát huy được lực lượng của dân chúng để gây một phong trào cứu quốc mạnh mẽ và chuẩn bị cuộc vũ trang khởi nghĩa sắp tới (1945 - TG) một cách đầy đủ", Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Việt Bắc là căn cứ địa oai hùng của Quân giải phóng để chống Nhật, kháng Pháp". Ngoài căn cứ địa Việt Bắc, trong cao trào chống Nhật cứu nước còn có các chiến khu khác, song căn cứ địa Việt Bắc giữ vị trí quan trọng nhất.


Địa bàn Việt Bắc, địa lý tự nhiên và con người Việt Bắc giàu lòng yêu nước, kiên cường và bất khuất, với nền kinh tế tự cung tự cấp phong phú và đa dạng đã trở thành những nhân tố quan trọng góp phần quyết định đưa tới thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Chọn Việt Bắc làm căn cứ địa cách mạng và kháng chiến chống Pháp thể hiện tầm nhìn chiến lược đúng đắn của Đảng ta và Hồ Chí Minh.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Ba, 2021, 10:23:42 am
CĂN CỨ ĐỊA, HẬU PHƯƠNG TRONG
CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1945-1954)


Đại tá, ThS. NGUYỄN VĂN QUANG
Phó trưởng Phòng Quản lý khoa học, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Căn cứ địa, hậu phương kháng chiến luôn là một trong những nhân tố thường xuyên, trực tiếp góp phần quyết định thắng lợi của chiến tranh cách mạng. Bởi vì căn cứ địa, hậu phương là nơi đứng chân, là chỗ dựa vững chắc cả về tinh thần và vật chất cho tiến tuyến, là nơi xây dựng và bảo đảm tiềm lực của chiến tranh trên tất cả các mặt: chính trị, kinh tế, quân sự, văn hoá, khoa học kỹ thuật.


Vận dụng sáng tạo quan điểm mác xít về chiến tranh cách mạng, đồng thời kế thừa những kinh nghiệm quý báu của dân tộc ta trong mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, ngay từ rất sớm, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức đầy đủ và hết sức coi trọng nhiệm vụ xây dựng căn cứ địa, hậu phương kháng chiến. Quan điểm của Đảng ta về xây dựng căn cứ địa, xây dựng hậu phương kháng chiến là xuất phát từ điều kiện thực tế của đất nước, từ kinh nghiệm thực tiễn và thắng lợi vừa giành được trong Cách mạng Tháng Tám. Trong suốt 9 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng ta đã luôn quan tâm chỉ đạo và giải quyết thành công vấn đề xây dựng, củng cố, phát triển và bảo vệ hậu phương, căn cứ địa, tạo được chỗ dựa vững chắc và sức mạnh to lớn để giành thắng lợi quyết định.


Nước Việt Nam trải dài theo hướng Bắc - Nam, hẹp về bề ngang, phía Đông là biển, phía Bắc và phía Tây đa phần là rừng núi; xen kẽ giữa các vùng rừng núi, trung du và đồng bằng, có nhiều sông ngòi chia cắt, núi cao hiểm trở, được chia thành nhiều tỉnh, nhiều chiến khu, với đặc điểm và mật độ dân cư khác nhau. Trong điều kiện đó, hễ có chiến tranh là địch có thể chia cắt, khống chế nước ta thành nhiều chiến trường, nhiều mặt trận...


Trước toàn quốc kháng chiến, Đảng ta đã chỉ đạo các chiến khu, tỉnh, huyện chọn những vùng "có thế chiến lược lợi hại, tiến có thể đánh, lui có thể giữ" để xây dựng thành căn cứ địa, tạo thành chỗ dựa, chỗ đứng chân cho các cơ quan lãnh đạo kháng chiến, là nơi có tiềm năng xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, có khả năng giải quyết các vấn đề hậu cần, sản xuất lương thực, thực phẩm, đạn dược, thuốc men; che giấu, nuôi dưỡng các lực lượng vũ trang và chi viện cho các chiến trường.


Trong suốt cuộc kháng chiến chống Pháp, căn cứ địa, hậu phương kháng chiến của ta từng bước được xây dựng, củng cố, thành một hệ thống liên hoàn, bao gồm những vùng tự do, các khu du kích, căn cứ du kích sau lưng địch và tinh thần yêu nước hướng về kháng chiến, về Trung ương Đảng, Bác Hồ của nhân dân trong vùng tạm bị chiếm. Đó không chỉ là khu vực phía sau trận tuyến của ta, mà là một hệ thống căn cứ địa, hậu phương kháng chiến, với nhiều cấp độ khác nhau: căn cứ địa, hậu phương của cả nước, của từng vùng, từng hướng chiến lược, chiến dịch; của từng chiến trường; của từng khu, liên khu, chiến khu; của từng tỉnh, liên tỉnh, thành phố, huyện, liên huyện, liên xã, liên thôn... Hệ thống này không chỉ là vùng tự do, giải phóng mà còn gồm cả những chỗ đứng chân của các cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo kháng chiến, công binh xưởng, kho tàng, chỗ đứng chân hoạt động của lực lượng vũ trang ba thứ quân của ta ở trong vùng sau lưng địch. Cuộc kháng chiến càng phát triển thì tiền phương của ta càng mở rộng vào vùng hậu cứ địch; hậu phương của địch càng bị thu hẹp lại và nhiều vùng dần biến thành căn cứ địa, hậu phương của ta.


Thực tiễn xây dựng căn cứ địa, hậu phương kháng chiến trong kháng chiến chống thực dân Pháp cho thấy đây là một nhiệm vụ cấp thiết, mang tính sống còn của cách mạng, là một công tác toàn diện, nhiều mặt, kết hợp với nhau, của nhiều lực lượng, có chính quyền, có mặt trận, có nhân dân, có quân đội cùng tham gia dưới sự lãnh đạo của Đảng, được trải qua thử thách trong chiến tranh vừa xây dựng, vừa chiến đấu bảo vệ.


Ngay từ những ngày đầu chuẩn bị cũng như trong suốt cuộc kháng chiến, việc xây dựng, củng cố phát triển căn cứ địa, hậu phương kháng chiến cho cả nước được Đảng ta và Chủ tịch Hồ chí Minh đặc biệt quan tâm. Sau khi giành được chính quyền về tay nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dự đoán rằng sớm muộn gì thực dân Pháp cũng sẽ quay lại xâm lược nước ta một lần nữa. Vì thế, trước khi về Thủ đô Hà Nội, Người chỉ thị tiếp tục xây dựng, củng cố căn cứ địa Việt Bắc, chuẩn bị sẵn sàng đối phó với nguy cơ chiến tranh có thể xảy ra. Tranh thủ thời kỳ hoà hoãn ngắn ngủi, vừa củng cố, xây dựng chính quyền cách mạng non trẻ, Đảng ta vừa khẩn trương, chỉ đạo xây dựng các căn cứ địa, hậu phương trong cả nước, nhất là căn cứ địa Việt Bắc. Trước và trong những ngày toàn quốc kháng chiến, việc tổ chức di chuyển các cơ quan làm việc của Trung ương Đảng và Chính phủ đã được bí mật thực hiện từng bước nhưng hết sức khẩn trương và an toàn, để đảm bảo cho sự lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy của Bộ thống soái đối với các chiến trường không bị gián đoạn. Nhờ có tầm nhìn chiến lược, sự chỉ đạo nhanh nhạy và kiên quyết của Trung ương Đảng, quân và dân ta đã thực hiện thành công cuộc tổng di chuyển các cơ quan đầu não kháng chiến cùng hàng vạn tấn máy móc, công binh xưởng, trang thiết bị, vật chất kỹ thuật, đạn dược, thuốc men lên căn cứ địa Việt Bắc và một số vùng căn cứ địa phương, bảo toàn lực lượng và chuẩn bị kháng chiến lâu dài.


Cùng với việc xây dựng Việt Bắc thành căn cứ địa trung tâm đầu não kháng chiến của cả nước, ngay từ đầu và trong suốt cuộc kháng chiến, Đảng ta đã chỉ đạo quân và dân cả nước xây dựng, phát triển được nhiều căn cứ địa, hậu phương kháng chiến rộng lớn và vững chắc, hình thành các căn cứ địa, hậu phương kháng chiến lớn ở miền Bắc và miền Trung. Đó là Việt Bắc, các tỉnh Thanh Hóa - Nghệ An - Hà Tĩnh (Liên khu 4) và Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên (Liên khu 5). Ở Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ hình thành các vùng tự do và căn cứ địa rộng lớn như Xuyên Phước Cơ (Bình Thuận), Chiến khu Rừng Sác (Cần Giờ), An Phú Đông (Sài Gòn), Đông Thành (Long An), Láng Le - Bầu Cò (Bình Chánh), Dương Minh Châu (Tây Ninh), Đồng Tháp Mười, U Minh Thượng, U Minh Hạ (Cà Mau)... Ở từng chiến khu, từng tỉnh, liên tỉnh; từng huyện, liên huyện, xã, thôn trong cả nước đều hình thành các khu căn cứ địa, hậu phướng kháng chiến - nơi đứng chân xây dựng lực lượng và củng cố tiềm lực kháng chiến trên địa bàn. Hệ thống căn cứ địa, hậu phương kháng chiến trên cả nước tuy quy mô, phạm vi và mức độ xây dựng, phát triển ở từng vùng có khác nhau, song tất cả đều có vai trò, vị trí quan trọng trong tiến trình phát triển của chiến tranh trên từng địa bàn, trong từng giai đoạn, cũng như trong toàn bộ cuộc kháng chiến.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Ba, 2021, 10:24:24 am
Nhìn lại quá trình phát triển của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đặc biệt là diễn biến của cuộc chiến tranh trên chiến trường chính Bắc Bộ và trên các chiến trường phối hợp khác như Trung Bộ, Nam Bộ, chiến trường Lào, Campuchia, đã phản ánh rõ nét vai trò căn cứ địa, hậu phương kháng chiến trong cả nước. Ở nơi nào, giai đoạn nào, căn cứ địa, hậu phương kháng chiến được củng cố, phát triển vững chắc thì ở nơi đó, giai đoạn đó, kháng chiến phát triển thuận lợi, lòng dân hăng hái tin tưởng, bộ đội trên chiến trường giành thắng lợi to lớn.


Trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến, khi tương quan lực lượng địch mạnh, ta yếu, địch sử dụng chiến lược "Đánh nhanh thắng nhanh", chủ động tiến công mở rộng phạm vi chiếm đóng của chúng, đưa những lực lượng mạnh tìm diệt chủ lực của ta hòng sớm kết thúc chiến tranh. Đỉnh điểm của âm mưu này là việc thực dân Pháp, vào ngày 7-10-1947, đã bất ngờ huy động 12 ngàn quân tinh nhuệ gồm 5 trung đoàn bộ binh và lính dù, 4 tiểu đoàn công binh, pháo binh, 800 xe tăng, cơ giới, 40 máy bay, 40 tàu chiến, ca nô các loại, ồ ạt mở cuộc tiến công chiến lược lớn lên Việt Bắc, đồng thời dùng quân dù nhảy sâu vào căn cứ nhằm chụp bắt cơ quan lãnh đạo tối cao, tiêu diệt bộ đội chủ lực còn non trẻ của ta, hòng phá tan căn cứ địa kháng chiến, mau chóng kết thúc chiến tranh theo ý đồ của Pháp.


Cuộc tiến công chiến lược của thực dân Pháp đánh sâu vào căn cứ địa Việt Bắc trong Thu - Đông 1947 là một thử thách lớn của quân và dân ta trong năm đầu kháng chiến toàn quốc. Cuộc đấu trí, đấu lực diễn ra trong suốt 75 ngày đêm, trong tương quan địch mạnh, ta yếu cả về binh lực và kinh nghiệm tổ chức điều hành chiến tranh. Trong bối cảnh đó, dựa vào căn cứ địa, hậu phương kháng chiến đã được xây dựng và chuẩn bị tốt cả về chính trị, quân sự, hậu phương, hậu cần tại chỗ, đặc biệt là thế trận lòng dân, cơ quan lãnh đạo, chỉ huy tối cao của ta cùng quân dân Việt Bắc và các lực lượng phốỉ hợp đã bình tĩnh, chiến đấu kiên cường, bẻ gãy từng đợt tiến công của địch, từng bước giành lại quyền chủ động, cuối cùng đã phản công giành thắng lợi, đập tan âm mưu thực hiện chiến lược "Đánh nhanh thắng nhanh" của địch. Việc đập tan cuộc tiến công quy mô lớn của địch ngay tại căn cứ địa chủ yếu của cuộc kháng chiến đã bảo vệ an toàn cơ quan đầu não Trung ương Đảng và Chính phủ, bộ đội chủ lực được bảo toàn và phát triển nhanh chóng, căn cứ địa Việt Bắc được giữ vững và ngày càng củng cố, phát triển. Việt Bắc thực sự xứng đáng là căn cứ địa Trung ương, hậu phương vững chắc của cuộc kháng chiến của cả nước.


Từ sau chiến thắng Việt Bắc, cuộc kháng chiến của quân và dân ta chuyển sang một giai đoạn mới với nhiều vấn đề mới về tổ chức hoạt động chiến đấu, bảo đảm chiến đấu, xây dựng căn cứ địa, hậu phương kháng chiến. Những kinh nghiệm về xây dựng căn cứ địa Việt Bắc, đặc biệt là kinh nghiệm tổ chức chiến đấu, bảo vệ căn cứ địa, hậu phương kháng chiến, được Đảng ta sớm đúc kết và chỉ đạo vận dụng nhân rộng cho các địa phương trong cả nước.


Trên chiến trường chính Bắc Bộ, sau chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947, ta tiếp tục mở nhiều chiến dịch lớn, giải phóng Cao Bằng - Lạng Sơn, khai thông biên giới nước ta với Trung Quốc và các nước trong phe xã hội chủ nghĩa (1950), tiếp đó giải phóng Hoà Bình (1952) cùng với nhiều đất đai và dân cư. Từ đây, căn cứ địa, hậu phương kháng chiến thực sự được củng cố và mở rộng đến các tỉnh Cao Bằng - Bắc Kạn - Lạng Sơn, Hoà Bình và một số tỉnh ở trung du Bắc Bộ, sát với vùng miền núi và trung du Liên khu 3, tạo thành thế "da báo" xen kẽ trong vùng tạm chiếm của địch. Trên các chiến trường Liên khu 4, Liên khu 5 và Nam Bộ, các căn cứ địa tuy quy mô, phạm vi và cấp độ có khác nhau, nhưng đều được tiếp tục mở rộng và củng cố thêm một bước. Địch đã cố gắng mở nhiều cuộc tiến công càn quét, bắn phá vào các vùng căn cứ địa, hậu phương nói trên nhưng đều bị quân và dân ta tổ chức đánh trả kiên cường, gây nhiều thiệt hại nặng nề hoặc bẻ gãy hoàn toàn các cuộc hành quân càn quét, lấn chiếm của giặc Pháp. Đặc biệt là trên các vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh (Liên khu 4), Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên (Liên khu 5), tiếp giáp với vùng giải phóng Hạ Lào, Đông Bắc Campuchia... địch đã dùng các lực lượng không quân, hải quân, bộ binh, biệt kích, mở Hàng trăm cuộc tiến công lớn, nhỏ, đánh từ ngoài biển vào, từ vùng núi ở đất Lào sang, nhưng đa số đều bị tiêu diệt hoặc đánh bại. Vùng tự do của ta ở Liên khu 4, Liên khu 5 và Nam Bộ vẫn được giữ vững và không ngừng mở rộng, tạo thế liên hoàn với căn cứ địa Việt Bắc và các chiến khu miền Đông Nam Bộ, xuống tận Đồng Tháp Mười, U Minh - Cà Mau...


Trong giai đoạn 1951 - 1953, mặc dù đã ở vào thế thua, thế bị động, nhưng với những cố gắng quân sự cuối cùng, địch đã tập trung nhiều lực lượng binh lực, hoả lực, được huy động từ các chiến trường và viện binh từ Pháp, mở hàng trăm cuộc tiến công, càn quét, vây ráp, đánh phá quyết liệt vào các vùng căn cứ địa và vùng tự do của ta ở Liên khu 3, Liên khu 4, Liên khu 5 và Đông Nam Bộ, nhằm triệt phá tiềm lực của ta ở căn cứ địa, hậu phương kháng chiến, đồng thời gây hoang mang cao độ trong dân chúng. Những âm mưu, thủ đoạn trên của địch tuy có gây cho ta nhiều thiệt hại và khó khăn đáng kể, song nhờ tinh thần cảnh giác cao, mặt khác, bộ đội địa phương, dân quân du kích của ta lúc này đã có bước trưởng thành, cùng với nhân dân chiến đấu kiên cường, bảo vệ vững chắc hậu phương, căn cứ địa, bảo vệ an toàn các mục tiêu chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, giáo dục trên địa bàn, giữ vững sản xuất, ổn định đời sống, tạo chỗ dựa vững chắc cho chủ lực của ta trên các chiến trường tiếp tục chiến đấu.


Trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến 1953 - 1954, vùng căn cứ địa, hậu phương và vùng tự do của ta trên cả nước đã chiếm hơn 70% diện tích đất đai và gần 55% số dân. Địch chỉ còn chiếm giữ khoảng 30% đất đai, chủ yếu là vùng đồng bằng Liên khu 3, Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và các thành phố, đô thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Sài Gòn... Và, ngay ở các vùng địch tạm chiếm này, ta cũng đã xây dựng được nhiều cơ sở cách mạng, căn cứ đứng chân của các lực lượng vũ trang, liên tục quấy rối và tiến hành phá hoại ngay trong lòng địch.


Trong quá trình củng cố, xây dựng căn cứ địa - hậu phương kháng chiến và vùng tự do, Đảng ta đã rất chú trọng đến vấn đề xây dựng chế độ dân chủ nhân dân trên tất cả các phương diện: chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội... Chính quyền cách mạng các cấp điều hành theo mệnh lệnh thời chiến, làm việc có hiệu lực và có uy tín trong nhân dân. Mặt trận Tổ quốc được mở rộng, là nơi tập hợp ý nguyện chung của toàn thể dân tộc, do đó khối đoàn kết toàn dân được tăng cường. Các đoàn thể quần chúng như Đoàn thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Công đoàn, học sinh, sinh viên... ở tất cả các cấp đều được chính quyền cách mạng chú trọng xây dựng, củng cố, động viên phát huy vai trò của mình trong nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ hậu phương và tham gia phục vụ kháng chiến.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Ba, 2021, 10:25:16 am
Xây dựng căn cứ địa, hậu phương kháng chiến ổn định và phát triển về kinh tế, văn hoá, xã hội, giáo dục, y tế là một lĩnh vực hết sức quan trọng, có ý nghĩa quyết định trong vai trò của hậu phương đối với tiền tuyến.


Việc xây dựng nền kinh tế tự cung tự cấp tại các vùng căn cứ địa, hậu phương đã đạt được nhiều thành quả đáng ghi nhận. Để khuyến khích sản xuất, Đảng và Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách cụ thể như chia ruộng đất cho nông dân, thực hiện chế độ lĩnh canh, tiến hành giảm tô và xoá nợ cho nông dân vay trước cách mạng, quy định biểu thuế luỹ tiến về thuế nông nghiệp. Các chính sách trên đã thực sự đi vào đời sống của nông dân, đặc biệt là chính sách thuế nông nghiệp có lợi cho nông dân, điều tiết thu nhập của địa chủ, phú nông, góp phần bồi dưỡng sức dân trong kháng chiến. Nhờ đó, đa số nhân dân ở các vùng căn cứ địa, hậu phương kháng chiến đều đủ ăn, đủ mặc, có đời sống ổn định, sản xuất ngày càng tăng, chi viện lương thực, thực phẩm cho chiến trường ngày càng lớn. Về kết quả sản xuất lương thực ở các vùng tự do và căn cứ địa, chỉ tính từ Liên khu 4 trở ra, trong năm 1953 đã đạt hơn 2.700.000 tấn thóc, 650.000 tấn hoa màu các loại, cung cấp cho bộ đội 550.000 tấn thịt, rau, đậu; hàng ngàn con gia súc, gia cầm, 150.000 tấn dược liệu đông y... Riêng các tỉnh thuộc Liên khu 5, từ trước vốn là một vùng nông nghiệp kém phát triển, thiên nhiên khắc nghiệt, đất đai cằn cỗi, nhân dân thiếu àn, thiếu mặc, lại nằm giữa vòng vây kìm kẹp, đánh phá ác liệt của địch, sau 2 năm tổ chức xây dựng và đẩy mạnh sản xuất, đã cơ bản tự túc đủ lương thực, thực phẩm để cung cấp cho 2,5 triệu dân và các lực lượng vũ trang tại chỗ, ngoài ra còn chi viện cho các hướng chiến trường.


Ở Việt Bắc, diện tích trồng lúa và hoa màu cũng như kết quả thu hoạch nông nghiệp của nhân dân ngày càng tăng. Năm 1947, thu hoạch hơn 450 ngàn tấn lương thực. Từ năm 1951 đến 1954, tình hình sản xuất nông nghiệp của Việt Bắc tiếp tục ổn định và có những bước phát triển cao hơn, nhân dân không những đủ ăn, đủ mặc mà còn dành hàng chục ngàn tấn lương thực, thực phẩm cung cấp cho chiến trường tại chỗ, đặc biệt là chiến trường Điện Biên Phủ.


Về sản xuất công nghiệp tại vùng tự do, hậu phương, căn cứ địa, theo số liệu chưa đầy đủ, trong 9 năm kháng chiến, nền công nghiệp quốc phòng non trẻ ta đã sản xuất được hơn 12 ngàn tấn vũ khí, đạn dược và hàng quân sự cho các lực lượng vũ trang (chiếm tỷ trọng khoảng 15% tổng số vũ khí, đạn dược các lực lượng vũ trang ta sử dụng trên các chiến trường trong 9 năm), về nhịp độ phát triển, từ Liên khu 4 trở ra, năm 1953 sản xuất tăng 35 lần (so với năm 1946); ở Liên khu 5 tăng 4 lần (so với năm 1948), ở các vùng căn cứ khác tại Việt Bắc và Nam Bộ đều tăng từ 2 đến 3 lần (so với năm 1948). Trong điều kiện chiến tranh kéo dài và ngày càng ác liệt, sự chi viện, giúp đỡ của bạn bè, còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế thì thành quả do các vùng căn cứ địa, hậu phương kháng chiến tự sản xuất này có ý nghĩa rất to lớn, góp phần quan trọng đưa sự nghiệp kháng chiến phát triển đến thắng lợi.


Cùng với những tiến bộ dân sinh, dân trí, ở các vùng căn cứ địa, hậu phương tự do đời sống văn hoá, xã hội, giáo dục, y tế được chính quyền các cấp quan tâm chăm lo và không ngừng phát triển. Hầu hết các em trong độ tuổi học sinh đều được đến trường, nạn mù chữ cơ bản được thanh toán, phong trào bình dân học vụ phát triển rộng khắp. Sức khoẻ của nhân dân được chăm lo, ôm đau được cấp thuốc chữa bệnh. Một đời sống văn hóa mới mang đậm tính cách mạng, tính nhân văn đã đi vào cuộc sống của đông đảo quần chúng. Các tệ nạn xã hội như cờ bạc, rượu chè, trộm cắp, mê tín dị đoan đã giảm hẳn. Người người sống trong đoàn kết, yêu thương, mọi hiềm khích hận thù bị xoá bỏ. Những phẩm chất tốt đẹp về con người mới Việt Nam tại các khu căn cứ và vùng tự do đã dần hình thành rõ nét, tất cả đều hướng về cách mạng, hướng về kháng chiến và tin tưởng vào ngày toàn thắng.


Việc xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân ở căn cứ địa, hậu phương kháng chiến và các vùng địch tạm chiếm được Đảng và chính quyền các cấp đặc biệt chú ý cả về số lượng và chất lượng, về tổ chức, những ngày đầu kháng chiến có bộ đội địa phương huyện, dân quân du kích xã, thôn. Hầu hết các huyện, xã trong toàn quốc ở vùng căn cứ địa, vùng tự do và vùng sau lưng địch đều có từ một đến hai đại đội bộ đội địa phương; một hoặc hai trung đội dân quân, du kích bán vũ trang vừa tham gia sản xuất tại địa phương, vừa tham gia chiến đấu bảo vệ xóm làng... Cùng với việc phát triển về số lượng, công tác xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị được chú trọng đẩy mạnh. Hàng nghìn cán bộ, đảng viên đã được điều động tăng cường cho quân đội, bố trí vào các cương vị lãnh đạo, chỉ huy bộ đội địa phương và dân quân du kích, ở tất cả các phường, xã, ban chỉ huy xã đội, phường đội là các đồng chí trong cấp ủy cơ sở. Vì vậy, chất lượng công tác và chiến đấu của lực lượng vũ trang ba thứ quân trong các căn cứ địa và hậu phương được củng cố và tăng lên nhiều lần. Trong công cuộc bảo vệ căn cứ địa, hậu phương kháng chiến, cùng với lực lượng vũ trang ba thứ quân, các cơ quan chuyên trách như công an, toà án... có vai trò hết sức quan trọng, góp phần tăng cường sức mạnh của chính quyền nhân dân, đánh bại mọi âm mưu, hành động chống đối, đánh phá của địch, giữ vững trật tự an ninh, bảo vệ vững chắc căn cứ địa - hậu phương kháng chiến.


Thực tiễn xây dựng căn cứ địa, hậu phương kháng chiến trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, cho thấy đây là một quá trình tạo sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, là quá trình xây dựng lực lượng kháng chiến về mọi mặt: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội... Xuất phát từ yêu cầu của kháng chiến và khả năng của thực tế, việc xây dựng căn cứ địa, hậu phương trong kháng chiến nhằm mục tiêu cơ bản: đủ ăn, đủ mặc, đủ vũ khí cho toàn dân đánh giặc; ai cũng được học hành, được tham gia đóng góp cho kháng chiến, tất cả nhằm mục đích: huy động cao nhất mọi tiềm lực, sức mạnh vật chất và tinh thần của hậu phương cho tiền tuyến giành thắng lợi.


Việc xây dựng căn cứ địa, hậu phương chiến tranh trong kháng chiến chống thực dân Pháp tuy chưa có điều kiện dựa trên một nền tảng cơ sở vật chất kỹ thuật tiên tiến, hiện đại, nhưng bằng chủ trương, đường lối tiến hành chiến tranh đúng đắn, sáng tạo, Đảng ta đã giải quyết thành công vấn đề xây dựng căn cứ địa, hậu phương kháng chiến. Đây là một trong những nhân tố quyết định góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.


Vấn đề xây dựng căn cứ địa, hậu phương trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp được Đảng ta giải quyết trong những điều kiện lịch sử cụ thể của đất nước; tiếp đó được kế thừa, vận dụng thành công và phát triển lên một đỉnh cao mới trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, trong đó có vấn đề xây dựng căn cứ địa, hậu phương kháng chiến, đã đặt ra nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn cần tiếp tục nghiên cứu, giải quyết để xây dựng hậu phương trong thời bình, vận dụng có hiệu quả vào hai nhiệm vụ chiến lược hiện nay là xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Ba, 2021, 10:29:16 am
VIỆT BẮC - CĂN CỨ ĐỊA KHÁNG CHIẾN TRUNG ƯƠNG


TS. NGUYỄN XUÂN MINH
Trường Đại học sư phạm, Đại học Thái Nguyên


Lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam đã chứng minh vị trí, vai trò quan trọng của căn cứ địa. Đó là một vùng tương đối an toàn, có đủ các yếu tố địa lợi và nhân hoà, dùng làm nơi đặt đại bản doanh, huấn luyện bộ đội, đào tạo cán bộ, chế tạo vũ khí, đạn dược, cứu chữa thương binh, xây dựng và phát triển kinh tế tự cấp, tự túc. Đó cũng là bàn đạp tấn công quân thù, tiến tới giải phóng toàn bộ đất nước.


Xuất phát từ đặc điểm tình hình nước ta và vận dụng kinh nghiệm của ông cha trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm, Đảng ta chủ trương xây dựng căn cứ địa không chỉ ở miền rừng núi, mà cả ở đồng bằng. Hội nghị cán bộ Trung ương (4-1947) đã có một quan điểm rất đúng đắn về vấn đề xây dựng căn cứ địa: "Việt Nam không thể có căn cứ địa rộng rãi và vững chắc như Trung Quôc. Những căn cứ địa Việt Nam đều có thể bị địch đánh xuyên mũi dùi vào hoặc bao vây. Nhưng Việt Nam đã có một mặt trận đoàn kết toàn dân, nhân dân ta được hưởng chế độ dân chủ rộng rãi và liều chết giữ vững chế độ ấy. Tình hình Pháp lại đặc biệt nguy khốn và nước Pháp xa nước Việt Nam hàng vạn cây số, nên Việt Nam vẫn có thể kháng chiến và nắm chắc thắng lợi bằng cách mở rộng mặt trận ở bất cứ nơi nào có bóng địch, đánh ngay ở cả sau lưng địch, trong ruột địch và tổ chức căn cứ địa không những ở rừng núi mà cả ở đồng bằng”1 (Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương, Văn kiện Đảng 1945-1954, Hà Nội, 1979, tr. 30).


Với quan điểm ấy, ngay từ đầu kháng chiến, một hệ thống căn cứ địa đã được xây dựng trong cả nước, đáng chú ý là vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh, vùng tự do Liên khu 5, Chiến khu Đ, Đồng Tháp Mười, v.v... Đó là những căn cứ địa mang tính địa phương, thuộc phạm vi của một khu, hay một tỉnh. Căn cứ địa chính của cả nước (căn cứ địa kháng chiến Trung ương) được đặt tại vùng rừng núi Việt Bắc.


Khu vực Việt Bắc rộng khoảng 32.900km , gồm các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên và một số địa phương thuộc các tỉnh Vĩnh Yên, Phúc Yên, Phú Thọ, Yên Bái, Bắc Giang. Từ Việt Bắc, phong trào cách mạng có thể mở rộng sang hướng Tây Bắc để liên lạc với cách mạng Lào. Ở hướng Đông, Việt Bắc nối liền với vùng rừng núi Quảng Ninh, Đông Triều, phát triển xuống tận miền duyên hải Bắc Bộ. Về phía Nam, Việt Bắc là phên giậu của Thủ đô Hà Nội và vùng đồng bằng Bắc Bộ. Về phía Bắc, Việt Bắc cùng chung dải biên giới dài trên 750km với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa rộng lớn, vốn có mối quan hệ chặt chẽ và lâu đời với cách mạng Việt Nam. Vì vậy, Việt Bắc là một địa bàn chiến lược rất cơ động, một nơi dụng binh lợi hại, "tiến có thể đánh, lui có thể giữ".


Nhân dân các dân tộc Việt Bắc giàu lòng yêu nước, rất tha thiết với cuộc sống độc lập tự do, nên sớm đi theo Đảng làm cách mạng. Việt Bắc có cơ sở Đảng, cơ sở cách mạng ngay từ năm 1930. Những căn cứ địa đầu tiên của cách mạng nước ta cũng ra đời tại Việt Bắc, để từ đó hình thành Khu Giải phóng - hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nam mới.


Việt Bắc còn là nơi có điều kiện xây dựng nền kinh tế tự cấp, tự túc - một yếu tố quan trọng để tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài, nhất là trong lúc nước ta chưa có kinh tế hàng hóa và chưa thể tiếp xúc trực tiếp với lực lượng hoà bình, dân chủ thế giới.


Chính vì hội đủ các yếu tố "địa lợi’' và "nhân hoà" nêu trên, Việt Bắc đã được Trung ương Đảng, Chính phủ chọn làm căn cứ địa chủ yếu của kháng chiến.


Ngay từ cuối tháng 8-1945, với tầm nhìn chiến lược sáng suốt, trước khi rời Tân Trào để về Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân công đồng chí Phạm Văn Đồng cùng một số cán bộ ở lại Việt Bắc một thời gian để củng cố căn cứ địa. Người nói: "Biết đâu, chúng ta còn trở lại đây nhờ cậy đồng bào lần nữa''1 (Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr. 267).


Cuối tháng 10-1946, khi nguy cơ chiến tranh tới gần, đồng chí Nguyễn Lương Bằng được giao nhiệm vụ trở lại Việt Bắc để chuẩn bị địa điểm xây dựng căn cứ địa kháng chiến.


Từ giữa tháng 12-1946, một số cán bộ trong Đội công tác đặc biệt lần lượt lên Việt Bắc làm nhiệm vụ. Sau một thời gian khảo sát thực tế, cân nhắc kỹ lưỡng trên mọi phương diện, Đội quyết định chọn các huyện: Định Hoá, Đại Từ, Phú Lương (Thái Nguyên), Sơn Dương, Yên Sơn, Chiêm Hóa (Tuyên Quang), Chợ Đồn (Bắc Kạn) làm nơi ở và làm việc của các cơ quan Trung ương Đảng, Chính phủ, quân đội... trong trường hợp phải rời Hà Nội. Địa bàn các huyện nói trên chính là ATK của Trung ương - hạt nhân của Căn cứ địa Việt Bắc. Xây dựng ATK trong Căn cứ địa Việt Bắc là một sáng tạo chiến lược của Đảng ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Sáng tạo không chỉ về cách thức, mà cả về nội dung xây dựng.


Tại những địa phương được chọn làm địa điểm đón nhận các cơ quan Trung ương, các Ban Căn cứ địa cũng được thành lập. Đội công tác đặc biệt tổ chức phối hợp với cấp ủy, chính quyền các địa phương lập dự án xây dựng căn cứ địa về mọi mặt: phát động toàn dân tham gia kháng chiến, gia nhập lực lượng vũ trang, tổ chức bảo vệ căn cứ, củng cố hệ thống thông tin liên lạc, chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, đẩy mạnh sản xuất tự túc.


Từ đầu tháng 3-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh và các cơ quan đầu não kháng chiến, các cơ sở kinh tế, văn hoá, giáo dục... trực thuộc Trung ương lần lượt có mặt tại Việt Bắc. Các công binh xưởng, xí nghiệp, nhà máy cùng hàng vạn tấn máy móc, nguyên liệu, lương thực, thực phẩm... cũng được chuyển lên căn cứ địa. Từ Việt Bắc, đầu mối giao thông liên lạc với các vùng trong cả nước dần dần hình thành. Việt Bắc trước đây là căn cứ địa cách mạng của cả nước, nay trở thành căn cứ địa lớn nhất và quan trọng nhất của kháng chiến. Thực dân Pháp cũng nhận thấy: "Địch đã tổ chức trong khu tứ giác Chợ Chu - Tuyên Quang - Chiêm Hóa - Chợ Rã một căn cứ địa, từ chỗ ấy chúng chỉ huy và điều khiển cuộc kháng chiến"1 (Xa-lăng, Một đế quốc cáo chung: Việt Minh, địch thủ của tôi, Tập 2, (bản dịch tiếng Việt), tr. 77).


Chính vì thế, từ thượng tuần tháng 10-1947, thực dân Pháp đã mở cuộc tấn công quân sự quy mô lớn vào Căn cứ địa Việt Bắc, nhằm "Bịt kín biên giới, ngăn chặn không cho Việt Minh tiếp xúc với Trung Quốc... loại trừ mọi sự chi viện từ ngoài vào; truy lùng Việt Minh đến tận sào huyệt, đánh cho tan tác mọi tiềm lực kháng chiến của họ”1 (Xa-lăng, Một đế quốc cáo chung: Việt Minh, địch thủ của tôi... Sđd, tr. 74) để nhanh chóng kết thúc cuộc chiến tranh.


Địa bàn địch mở cuộc tấn công khá rộng lớn, bao gồm các tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Bắc Giang, Vĩnh Yên, Phúc Yên. Đây là các tỉnh thuộc miền núi và trung du, địa hình hiểm trở, núi rừng trùng điệp, giao thông không thuận lợi. Đường số 4 chạy theo biên giới Việt - Trung từ Móng Cái đến Cao Bằng. Đường số 2 từ Hà Nội lên Việt Trì - Phú Thọ, sang Tuyên Quang, Hà Giang. Đường số 3 chạy giữa lòng Việt Bắc, từ Hà Nội qua Thái Nguyên, Bắc Kạn tới Cao Bằng. Ngoài những con đường bộ độc đạo, nhiều đèo dốc kể trên, còn có con đường thủy từ Hà Nội theo sông Hồng đến Việt Trì, từ đó theo dòng sông Lô sang Tuyên Quang, đến Khe Lau ngược dòng sông Gâm tới Chiêm Hóa (Tuyên Quang).


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Ba, 2021, 10:30:19 am
Trải qua 75 ngày (7-10 đến 19-12-1947), với hai cuộc hành quân lớn (Lê-a và Xanh-tuya), dù kiểm soát được đoạn đường biên giới Lạng Sơn - Cao Bằng, tuyến đường số 3 từ Cao Bằng về Bắc Kạn và phá hoại một số kho tàng, thị trấn, làng bản của ta, thực dân Pháp đã không đạt được những mục tiêu chiến lược, lại bị thiệt hại rất nặng nề: khoảng 6.000 quân bị loại khỏi vòng chiến đấu, 16 máy bay bị bắn rơi, 11 ca nô, tàu chiến bị bắn cháy, bắn chìm... Ngày 19-12-1947, đại bộ phận quân Pháp phải rút khỏi Việt Bắc, đánh dấu một thất bại chiến lược đầu tiên của chúng trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương. Căn cứ địa Việt Bắc - đầu não của cuộc kháng chiến được giữ vững.


Sau chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947, Chiến khu 1 (gồm các tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Phúc Yên) và Chiến khu 10 (gồm các tỉnh: Lào Cai, Hà Giang, Yên Bái, Phú Thọ, Tuyên Quang, Vĩnh Yên) được Trung ương giao nhiệm vụ xây dựng Căn cứ địa Việt Bắc thực sự vững chắc. Nhưng sau đó, Trung ương nhận thấy vấn đề xây dựng Căn cứ địa Việt Bắc nói chung và ATK nói riêng là một công việc rất quan trọng, không thể giao cho các khu. Vì vậy, ngày 19-4-1949, Đảng đoàn Chính phủ họp (có đại diện của Khu 1 và Khu 10 tham dự) do Tổng Bí thư Đảng Trường Chinh chủ trì. Hội nghị quyết định:

- Lấy 6 tỉnh: Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang và Hà Giang làm căn cứ địa.

- Thành lập Ban Căn cứ địa, với tên "Đội củng cố số 7", gồm 5 người, do Trần Kiên phụ trách. Ban này có nhiệm vụ giúp Trung ương xây dựng kế hoạch và kiểm tra đôn đốc việc xây dựng Căn cứ địa Việt Bắc nói chung và ATK nói riêng.


Ngày 23-9-1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 110/SL về việc thành lập Ban Căn cứ địa Việt Bắc.


Tại Căn cứ địa Việt Bắc có cả một bộ máy Chính phủ gồm đủ các bộ, các ngành sống và làm việc trong những "căn nhà lá tồi tàn với những bộ trưởng ba lô trên lưng, hồ sơ đựng trong xà cột..."1 (Võ Nguyên Giáp, Chiến đấu trong vòng vây. Hồi ức. Hữu Mai thể hiện, Nxb Quân đội nhân dân và Nxb Thanh niên, Hà Nội, 1995, tr. 290). Nhưng chính "trong những ngôi nhà lá với những ông bộ trưởng như vậy, những quyết định của Nhà nước Việt Nam đã ra đời và đã chôn vùi số phận quân đội viễn chinh"2 (Võ Nguyên Giáp, Chiến đấu trong vòng vây. Hồi ức. Hữu Mai thể hiện, Nxb Quân đội nhân dân và Nxb Thanh niên, Hà Nội, 1995, tr. 290).


Trong ATK - Căn cứ địa Việt Bắc, Chính phủ thường xuyên duy trì mọi hoạt động điều hành công việc. Các cuộc họp của Hội đồng Chính phủ vẫn được triệu tập theo định kỳ. Ngoài vấn đề quân sự, ngoại giao, Hội đồng Chính phủ thường bàn tới những vấn đề về kinh tế, tài chính, nội thương, ngoại thương, xây dựng và củng cố hậu phương. Chính từ đó, mọi chủ trương, chính sách lớn được phát đi và thực hiện trong cả nước. Hàng loạt chiến dịch quan trọng cũng được quyết định từ trung tâm Căn cứ địa Việt Bắc.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Ba, 2021, 10:31:28 am
Cuộc kháng chiến càng phát triển, lực lượng vũ trang càng lớn mạnh thì yêu cầu nâng cao trình độ lãnh đạo, chỉ huy, tác chiến của cán bộ các cấp càng trở nên cấp thiết. Vì vậy, từ Căn cứ địa Việt Bắc, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Phân hiệu Võ bị Trần Quốc Tuấn Bắc Bộ, do Hoàng Đạo Thuý làm Giám đốc. Tháng 9-1947, Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn từ Khu 4 được chuyển ra Việt Bắc, sáp nhập với Phân hiệu Bắc Bộ và đổi tên thành Trường Lục quân. Học viên được học tập về chiến tranh du kích, nhiệm vụ cơ bản của quân đội, về phương châm đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung, cách đánh cứ điểm nhỏ...


Để khắc phục tình trạng yếu kém của cán bộ chỉ huy cấp tiểu đoàn và trung đoàn, đồng thời nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng vũ trang, từ năm 1947, tại Căn cứ địa Việt Bắc, Bộ Quốc phòng quyết định mở lớp bổ túc cho cán bộ cấp tiểu đoàn trưởng và trung đoàn trưởng về phương pháp tổ chức bộ đội và về đường lối quân sự của Đảng. Lớp học này khai mạc từ đầu tháng 8-1947 tại La Bằng (Đại Từ, Thái Nguyên). Mục đích của lớp học là nhằm giúp cho cán bộ nhận thức đúng đắn về đường lối quân sự của Đảng; hiểu biết về tổ chức, huấn luyện, giáo dục, quản lý bộ đội và biết nghiên cứu vận dụng kinh nghiệm chiến đấu. Những cán bộ quân đội, sau khi bổ túc trình độ, được phân công làm nhiệm vụ chỉ huy các đơn vị trên các chiến trường cả nước.


Ngày 12-3-1948, từ Căn cứ địa Việt Bắc, Bộ Quốc phòng ra Nghị định số 88-BCH thành lập Trường Quân chính trung cấp. Khoá học đầu tiên có 110 học viên. Chương trình huấn luyện gồm những vấn đề cơ bản về đường lối kháng chiến, xây dựng căn cứ địa, xây dựng và huấn luyện dân quân du kích, về chiến lược, chiến dịch, chiến thuật, tổ chức chỉ huy chiến đấu... Tính đến tháng 5-1950, Trường liên tục mở được 5 khoá học, với 675 học viên, kịp thời bổ sung nguồn cán bộ chỉ huy cho các đơn vị trên khắp các chiến trường toàn quốc.


Căn cứ địa Việt Bắc là nơi thể nghiệm nhiều chính sách quan trọng về kinh tế, tài chính, ruộng đất..., thực hiện chế độ dân chủ mới và tạo mầm mống chủ nghĩa xã hội, đồng thời cũng là đầu mối các quan hệ trong và ngoài nước.


Từ Việt Bắc, Trung ương Đảng và Chính phủ thường xuyên thu nhận được tình hình mọi mặt ở các địa phương và kịp thời đề ra phương hướng chỉ đạo cụ thể. Đầu năm 1948, đoàn đại biểu Nam Bộ, do Tư lệnh trưởng Khu 8 - Trần Văn Trà làm Trưởng đoàn, lên đường ra Việt Bắc để báo cáo tình tình. Sau 8 tháng hành trình vất vả, cuối tháng 9-1948, đoàn đại biểu có mặt tại Sơn Dương (Tuyên Quang), mang theo những tặng phẩm của đồng bào miền Nam gửi tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ.


Cùng thời gian trên, một phái đoàn đại diện Đảng và Nhà nước, do đồng chí Lê Đức Thọ - Ủy viên Trung ương Đảng - làm Trưởng đoàn, rời Việt Bắc lên đường vào Nam Bộ. Đến tháng 5-1949, phái đoàn tới Nam Bộ an toàn cùng với nhiều tài liệu quan trọng. Sự chỉ đạo kịp thời của Trung ương đã giúp cho phong trào kháng chiến ở Nam Bộ vượt qua thời kỳ khó khăn và chuyển sang bước phát triển mới. Cũng từ Việt Bắc, Trung ương đã phân công những cán bộ lãnh đạo có nâng lực và uy tín đến những vùng quan trọng: Lê Duẩn và Phạm Hùng ở Nam Bộ; Phạm Văn Đồng cùng với Nguyễn Duy Trinh và Nguyễn Chánh vào Khu 5; Hồ Tùng Mậu, Nguyễn Chí Thanh, Trần Hữu Dực ở Khu 4 và Mặt trận Bình - Trị - Thiên...


Căn cứ địa Việt Bắc còn là nơi đón tiếp, gặp gỡ giữa những nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam với đại diện Đảng Cộng sản, Chính phủ một số nước và các đoàn khách quốc tế.


Năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thường vụ Trung ương Đảng tiếp phái viên của đồng chí Chu Ân Lai tại xã Phú Đình (Định Hoá, Thái Nguyên), bàn về sự phối hợp chiến đấu giúp đỡ lẫn nhau giữa quân đội cách mạng hai nước: Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Đảng Cộng sản Trung Quôc.


Giữa năm 1948, tại Yên Lãng (Đại Từ, Thái Nguyên), Đại tướng Võ Nguyên Giáp, thay mặt Bộ Tổng chỉ huy, đã tiếp đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn, người phụ trách sinh viên Lào yêu nước. Sau buổi gặp mặt này, đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn được giới thiệu đến tham gia vào một đơn vị bộ đội Việt Nam đang làm nhiệm vụ mở đường xuyên qua vùng địch tạm chiếm Tây Bắc tới biên giới Việt - Lào.


Ngày 5-12-1949, từ trung tâm Căn cứ địa Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện chúc mừng tới Chủ tịch nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa - Mao Trạch Đông, nêu rõ: "... Hai dân tộc Việt - Hoa có mối quan hệ anh em trải qua mấy nghìn năm lịch sử. Từ đây, mối quan hệ ấy sẽ càng mật thiết để phát triển tự do và hạnh phúc của hai dân tộc ta, và để bảo vệ dân chủ thế giới và hoà bình lâu dài"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5 (1947-1949). Xuất bản lần thứ hai. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 1.398). Ngày 15-1-1950, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra tuyên bố công nhận nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa và ngày 18-1-1950, nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ra tuyên bố công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Tiếp đến, ngày 30-1-1950, Chính phủ Liên Xô và trong vòng một tháng sau đó, nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên và hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cũng lần lượt công nhận Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Đây là một thắng lợi rất to lớn về chính trị ngoại giao, góp phần nâng cao uy tín và địa vị của Nhà nước ta trên trường quốc tế.


Từ năm 1950, tại Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng tiếp Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Pháp do Lê-ô Phi-ghe dẫn đầu, các đoàn cố vấn Trung Quốc, đoàn điện ảnh Liên Xô và nhà đạo diễn nổi tiếng Các-men...


Cũng từ Căn cứ địa Việt Bắc, qua làn sóng điện của Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam, lập trường chính nghĩa cùng với những thắng lợi trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc của nhân dân Việt Nam được truyền đi khắp thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí của Người đã viết nhiều bài báo gửi đăng trên các tạp chí nước ngoài. Trong đó, đáng chú ý là bài: "Nước Việt Nam đấu tranh cho nền độc lập của minh" (bằng tiếng Pháp) của Hồ Chí Minh - với bút danh ĐIN, Thư ký Mặt trận Liên Việt (Mặt trận Dân tộc thống nhất) địa phương - gửi cho Tạp chí "Vì một nền hoà bình lâu dài, vì một nền dân chủ nhân dân", cơ quan ngôn luận của Cục Thông tin Quốc tế cộng sản. Trong bài báo, Chủ tịch Hồ Chí Minh giới thiệu tóm tắt lịch sử đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam từ năm 1940 đến năm 1950, phân tích các mâu thuẫn và khó khăn của Pháp và Mỹ, những thắng lơi ngoại giao to lớn của nhân dân Việt Nam vừa giành được. Trên cơ sở đó, Người nêu rõ lập trường và quyết tâm của nhân dân Việt Nam: "Để giành lại nền độc lập dân tộc và sự thống nhất đất nước của mình, nhân dân Việt Nam săn sàng đấu tranh 10 năm, 15 năm, 20 năm hoặc hơn nữa, nếu cần thiết"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 6 (1950-1952), Xuất bản lần thứ hai, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 33).


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Ba, 2021, 10:32:53 am
Thông qua những hoạt động tích cực của các cơ quan đầu não tại Căn cứ địa Việt Bắc, nhân dân thế giới ngày càng hiểu rõ sự nghiệp kháng chiến chính nghĩa của nhân dân ta. Đó là điều kiện cơ bản, bảo đảm vững chắc cho sự đồng tình, ủng hộ của lực lượng cách mạng thế giới đối với cách mạng Việt Nam.


Từ sau chiến thắng Biên giới Thu - Đông 1950, thế đứng của Căn cứ địa Việt Bắc được củng cố vững chắc hơn trước. Bắt đầu từ thời gian này, con đường liên lạc giữa Căn cứ địa Việt Bắc với đồng bằng Bắc Bộ và Liên khu 4 được đánh thông; sự thông thương giữa nước ta với quốc tế được mở ra trên nhiều hướng. Căn cứ địa Việt Bắc đã thoát khỏi thế bị bao vây phong toả của các thế lực đế quốc và do đó, nước ta có điều kiện tranh thủ sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế không chỉ về chính trị tinh thần, mà cả về vật chất. Đây là một trong những nhân tố góp phần quyết định đưa đến thắng lợi cuộc kháng chiến, đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7-5-1954) và Hiệp định Giơ-ne-vơ (21-7-1954).


Sau thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các cơ quan và các cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng, Chính phủ, Quốc hội... vẫn ở lại Căn cứ địa Việt Bắc một thời gian để tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo mọi mặt hoạt động của cả nước.


Ngày 12-8-1954, tại Thái Nguyên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đón tiếp các vị Trưởng đoàn trong Ủy ban Quốc tế giám sát đình chiến ở Việt Nam (gồm các nước Ấn Độ, Ba Lan và Ca-na-đa). Người phát biểu bày tỏ nguyện vọng hoà bình của nhân dân ta: "Nhân dân Việt Nam chúng tôi vốn yêu chuộng hoà bình, cho nên chúng tôi rất phấn khởi đón tiếp cuộc đình chiến. Chúng tôi sẽ đưa hết lực lượng và sẽ cố gắng không ngừng để giữ gìn hoà bình và thi hành đúng đắn tất cả những điều khoản đã ghi trong hiệp định đinh chiến..."1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 328).


Ngày 1-9-1954, tại đồi Giang, xã Độc Lập (nay là xã Tiên Hội, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên), đã diễn ra Lễ trình Quốc thư đầu tiên của Đại sứ nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa - La Quý Ba lên Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Dự Lễ trình Quốc thư, về phía Việt Nam có Chủ tịch Hồ Chí Minh, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Văn Đồng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam Võ Nguyên Giáp, Chánh văn phòng Bộ Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, Phụ trách Lễ nghi kiêm Xứ trưởng giao tế Bộ Ngoại giao Vũ Đình Huỳnh; về phía Cộng hoà nhân dân Trung Hoa có Đại sứ La Quý Ba, Tham tán Tạ Sảng Thu, Bí thư thứ hai Tào Quê Sinh, Bí thư thứ ba Lý Tô Quang và các chuyên gia Trung Quốc sang giúp ta trước đó.


Sau Lễ trình Quốc thư, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Đại sứ La Quý Ba duyệt đội tiêu binh bên sườn đồi Giang.

Từ Lễ nhận Quôc thư đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đến nay thời gian đã trôi qua 53 năm. Trải qua hơn nửa thế kỷ, nước ta đã có quan hệ ngoại giao với gần 170 nước trên thế giới (trong đó có hơn 70 nước đặt Đại sứ quán và hàng chục tổ chức quốc tế đặt cơ quan đại diện tại Hà Nội). Mối quan hệ thân thiện, hợp tác giữa nước ta với các nước trên thế giới được rộng mở như ngày nay có cội nguồn từ trung tâm Căn cứ địa Việt Bắc trong kháng chiến chống Pháp và những tháng đầu sau khi hoà bình lập lại.


Tối ngày 5-9-1954, Chủ tịch Bồ Chí Minh đến thôn Vai Cày (xã Hùng Cường, Đại Từ, Thái Nguyên) nói chuyện với bộ đội, công an, thanh niên xung phong và cán bộ, nhân viên cơ quan Trung ương trước khi vào tiếp quản Thủ đô. Người căn dặn: "Mấy năm kháng chiến, các cô, các chú đã học được nhiều đức tính tốt. Về xuôi nhất là về thành thị, sẽ có nhiều người phức tạp, nhiều thứ quyến rũ mình vào thói xấu...


Muốn giữ vững nhân cách, tránh khỏi hủ hoá, thì phải luôn thực hành 4 chữ mà Bác thường nói. Đó là: Cần, Kiệm, Liêm, Chính"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Sđd, tr. 345, 346).


Ngày 14-9-1954, tại xã La Bằng (huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên), Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh tổ chức Hội nghị cán bộ cao cấp toàn quân để quán triệt tình hình, nhiệm vụ mới và phổ biến những nhiệm vụ trước mắt của quân đội.


Hội nghị xác định phương châm xây dựng một quân đội nhân dân hùng mạnh, tiến dần từng bước đến chính quy và hiện đại hoá. Để thực hiện tốt phương châm đó, Hội nghị đề ra những công tác cần kíp trước mắt:

1- Củng cố và bồi dưỡng ý chí chiến đấu là một trong những công tác trung tâm hiện nay; 2- Chỉnh quân; 3- Chỉnh huấn quân sự; 4- Giữ vững vũ khí, bảo quản kho tàng, chiến lợi phẩm, quản lý chặt chẽ cơ sở vật chất của quân đội; 5- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, kiện toàn cấp ủy, chuẩn bị chi bộ ra công khai.


Thực tế lịch sử đã chứng minh việc chọn Việt Bắc làm căn cứ địa kháng chiến của Trung ương trong hoàn cảnh lúc bấy giờ là hoàn toàn đúng đắn. Đó là lúc Cách mạng Tháng Tám vừa thành công, chính quyền dân chủ nhân dân mới ra đời. Dù đã có trên một năm bảo vệ và xây dựng, nhưng khó khăn đối với Nhà nước cách mạng vẫn còn chồng chất, vấn đề xã hội chưa giải quyết được bao nhiêu. Nội bộ nhân dân chưa phải đã hoàn toàn thuộc về chế độ mới. Trong nước không phải nơi nào cũng an toàn.


Trong khi đó, chiến sự ngày càng lan rộng. Lực lượng của địch mạnh hơn ta. Chúng đã lần lượt đánh chiếm nhiều vùng rộng lớn, bao gồm cả các thành phố, các đường giao thông quan trọng. Nhưng ở Việt Bắc lúc bấy giờ, nhiều nơi vẫn chưa có chiến sự lan tới. Riêng Chiến khu I (gồm 4 tỉnh: Phúc Yên, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Cao Bằng) ”... là khu an toàn mà là khu căn cứ địa cho toàn quốc, chưa có địch trực tiếp..."1 (Báo cáo tình hình quân sự (tại Hội nghị đại biểu Liên Khu ủy 1, tháng 7-1948). Xem: Văn kiện của Đảng bộ Liên khu Việt Bắc, 1948, Tập 2, Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Khu Tự trị Việt Bắc xuất bản 1970, tr. 14).


Không những thế, xét về phương diện đối ngoại, thông thương quốc tế, trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể lúc đó, Việt Bắc có lợi thế hơn bất cứ một nơi nào khác trên đất nước ta. Việt Bắc chính là cửa ngõ tiếp nhận sự viện trợ của các nước trong phe xã hội chủ nghĩa.


Việc Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn căn cứ địa - ATK Trung ương ở Việt Bắc thể hiện tầm nhìn xa, trông rộng, chính xác, sắc sảo; chọn được nơi an toàn nhất, chắc chắn nhất cho các cơ quan đầu não tồn tại vững chắc và lãnh đạo cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi. Cũng nhờ đó, Căn cứ địa Việt Bắc đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ lịch sử vẻ vang: bảo vệ an toàn tuyệt đối cho các cơ quan Trung ương trong suốt thời kỳ kháng chiến.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Ba, 2021, 03:18:19 pm
MẶT TRẬN ĐƯỜNG SỐ 2
TRONG CHIẾN DỊCH VIỆT BẮC THU - ĐÔNG NĂM 1947


Đại tá TIÊU XUÂN HỒNG
Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Tuyên Quang


Thực hiện chỉ thị "Toàn dân kháng chiến" (12-12-1946) và hưởng ứng Lời kêu gọi "Toàn quốc kháng chiến" của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-12-1946), cùng với nhân dân cả nước, quân và dân Tuyên Quang khẩn trương bắt tay vào nhiệm vụ củng cố hậu phương, xây dựng lực lượng, sẵn sàng chiến đấu theo khẩu hiệu "Tất cả cho kháng chiến", "Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ". Để đảm bảo an toàn các cơ quan lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, giữ gìn lực lượng và chuẩn bị cơ sở vật chất cho kháng chiến lâu dài, đầu tháng 3-1947, các xí nghiệp, trường học, công binh xưởng và các cơ quan, bộ, ban, ngành của Trung ương, Chính phủ và quân đội lần lượt rời khỏi Hà Nội, di chuyển lên ở và làm việc tại An toàn khu của Trung ương ở Việt Bắc. Hàng vạn tấn máy móc, nguyên vật liệu, lương thực, thực phẩm được quân và dân Tuyên Quang, cùng quân và dân các tỉnh bạn, bảo vệ, vận chuyển lên căn cứ địa Việt Bắc. Cùng thời gian này, nhằm cản bước tiến của địch và hạn chế việc chúng tận dụng cơ sở vật chất của ta phục vụ cho mưu đồ, xâm lược. Trung ương Đảng chủ trương triệt để phá hoại và tiêu thổ kháng chiến... không cho chúng lợi dụng. Thực hiện chủ trương của Đảng, quân và dân Tuyên Quang đã thực hiện triệt để phá hoại. Từ tỉnh đến cơ sở, các Ban phá hoại, Ban tản cư được thành lập. Với khẩu hiệu "Mất nhà còn hơn mất nước", "nhà không, vườn trống”, khắp nơi nhân dân hăng hái tham gia công tác tiêu thổ kháng chiến. Công tác phá hoại đường số 2 và thị xã Tuyên Quang được Tỉnh ủy giao cho lực lượng tự vệ thị xã và dân quân du kích các xã xung quanh thực hiện. Đường số 2 là con đường giao thông huyết mạch, có vị trí chiến lược rất quan trọng, xuất phát từ Hà Nội qua Vĩnh Phúc - Phú Thọ, ngược lên Tuyên Quang - Hà Giang và thông ra biên giới Việt - Trung, rất tiện lợi cho địch trong quá trình hành quân để tiến công ta. Với tinh thần "Tất cả cho kháng chiến", chỉ trong một thời gian ngắn, tỉnh đã huy động được 307.000 ngày công, phá được 5.000m2 nhà ở, 1.000 chiếc cầu lớn nhỏ, 22km đương liên tỉnh, 61km đường liên huyện và đào đắp nhiều hào hố, ụ đất chống xe cơ giới, cắm nhiều bãi chông mìn chống địch nhảy dù... Đảng bộ, chính quyền cùng quân và dân các dân tộc Tuyên Quang đã làm tốt công tác chuẩn bị về mọi mặt, sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu với niềm tin quyết thắng.


Thực hiện chủ trương của Đảng, quyết định của Bộ Quốc phòng về xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang địa phương đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến, tháng 4-1947, Tỉnh đội Tuyên Quang được thành lập. Đây là sự kiện quan trọng đánh dấu bước trưởng thành của lực lượng vũ trang Tuyên Quang.


Tháng 10-1947, thực dân Pháp mở cuộc tiến công lên Việt Bắc theo kế hoạch, hai gọng kìm (phía Đông và phía Tây) của địch dự định sẽ hội quân tại Đài Thị - Chiêm Hóa vào trung tuần tháng 10-1947.


Ngày 13-10-1947, binh đoàn Com-muy-nan đến được thị xã Tuyên Quang, gọng kìm phía Tâv của Pháp đã hình thành rõ rệt. Từ thị xã Tuyên Quang, để lên được Đài Thị - Chiêm Hoá, chúng phải hành quân theo Đường số 2 tới km 31 (đường Tuyên Quang - Hà Giang) rẽ phải, vượt phà Bợ lên Chiêm Hoá, qua Đầm Hồng để lên Đài Thị. Mặt khác, ca nô, tàu chiến địch sẽ chở quân ngược sông Lô, quặt qua sông Gâm rồi lên Đài Thị, Chiêm Hoá.


Để bảo vệ căn cứ địa Việt Bắc, bảo vệ cơ quan đầu não kháng chiến, giữ vững quân chủ lực và các cơ sở kháng chiến, Bộ Tổng Tham mưu và Bộ Tổng chỉ huy chủ trương dùng phương thức "đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung", kết hợp giữa lực lượng chủ lực với lực lượng vũ trang địa phương đánh địch trên đường hành quân, ở tất cả các mặt trận (Đường số 3, Đường số 4 và Mặt trận Sông Lô và đường số 2), tiêu hao sinh lực địch, bẻ gãy hai gọng kìm của chúng.


Đường số 2 và con đường từ km 31 đi Chiêm Hóa là một trong những con đường chuyển quân tiếp tế trọng yếu của địch. Chiêm Hóa - nơi địch dự định hội quân giữa hai gọng kìm, là đỉnh tháp của Mặt trận Sông Lô - Đường số 2. Việc đánh địch trên Đường số 2 có ý nghĩa quan trọng không chỉ là việc bẻ gãy gọng kìm phía Tây của địch, mà còn góp phần làm thất bại ý đồ hội quân của chúng, làm phá sản toàn bộ kế hoạch tấn công lên Việt Bắc của thực dân Pháp.


Chiêm Hoá, từ đầu năm 1947, đã là nơi ở và làm việc của nhiều cơ quan Trung ương, các Bộ, ban, ngành của Chính phủ; các cơ sở quân giới... Việc đánh địch ở Chiêm Hóa là nhằm bảo vệ an toàn cho cơ sở này, nằm giữa căn cứ địa kháng chiến. Sau ngày Toàn quốc kháng chiến, công tác chuẩn bị đánh địch, tham gia kháng chiến kiến quốc ở Chiêm Hóa được chuẩn bị rất tích cực. Huyện Chiêm Hóa xây dựng một trung đội cảnh vệ 30 người, một đội du kích thoát ly 40 người, do đồng chí Hường, người dân tộc Dao chỉ huy.


Khi địch tấn công lên Tuyên Quang, nhân dân đã thực hiện tiêu thổ kháng chiến. Dân quân, du kích xây dựng một số bãi chông chống địch nhảy dù ở Yên Nguyên, huyện lỵ và Đầm Hồng, lập các "Trạm gác trong búa nứa" canh gác chặt chẽ những nơi xung yếu.


Trung đoàn 112 (Hà Tuyên) của Khu 10, được lệnh phối hợp cùng lực lượng vũ trang địa phương đánh địch trên đường bộ và đường sông Lô, sông Gâm, Chiêm Hóa (thành lập từ đầu năm 1946) gồm 3 tiểu đoàn (Tiểu đoàn 1 (d508) đóng tại Tuyên Quang, Tiểu đoàn 2 (d718) đang hoạt động ở Hà Giang, Tiểu đoàn 3 mới thành lập, một đại đội trợ chiến, một đại đội vệ binh và một đội trinh sát, do đồng chí Bế Sơn Cương làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Lê Thuỳ làm Chính trị viên và đồng chí Mai Trung Lâm làm Trung đoàn phó.


Theo đó, Trung đoàn triển khai thực hiện nhiệm vụ. Hai đại đội hoạt động đánh địch xung quanh thị xã và dọc sông Lô lên tới Xuân Vân (ngã ba sông Lô - sông Gâm, cách thị xã trên 10km), bảo vệ cơ quan lãnh đạo tỉnh và sở chỉ huy trung đoàn; một đại đội phối hợp cùng du kích, tự vệ đánh địch từ km 5 trên Đường số 2 đi Hà Giang, một đại đội khác được lệnh hành quân gấp lên Đầm Hồng - Đài Thị (Chiêm Hoá) để đánh địch từ Chợ Đồn (Bắc Kạn) sang. Tiểu đoàn 718 được lệnh từ Hà Giang về Chiêm Hóa cùng quân, dân địa phương đánh địch cả lúc chúng tiến công lẫn lúc chúng rút lui.


Một đại đội từ Tuyên Quang hành quân gấp lên Chiêm Hoá, phối hợp cùng dân quân; du kích địa phương, học viên Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn tại Đầm Hồng đánh địch.


Chiếm được thị xã Tuyên Quang, quân Pháp có bàn đạp để thực hiện cuộc hành quân lên Chiêm Hoá. Ngày 18-10-1947, địch huy động hai đại đội tiến quân thăm dò trên quôc lộ 2. Tự vệ, du kích địa phương phục kích tại km 5, tiêu diệt hơn 10 tên, buộc chúng phải co cụm về thị xã Tuyên Quang.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Ba, 2021, 03:19:00 pm
Phán đoán thế nào địch cũng hành quân lên Chiêm Hóa theo Đường sông Lô và đường bộ, lực lượng ta tích cực chuẩn bị chặn đánh cuộc hành quân của tiểu đoàn 3, do thiếu tá Ke-ga-va-rát chỉ huy, trên sông Lô và sông Gâm; đồng thời bộ đội, du kích tự vệ khẩn trương triển khai các trận phục kích trên đường số 2 và đường đi Chiêm Hoá. Tự vệ Tuyên Quang xây dựng trận địa phục kích bằng địa lôi tại km 7 đường Tuyên Quang - Hà Giang (thuộc xã Trung Môn - Yên Sơn). Đây là một đoạn đường dốc, hai bên là rừng rậm, phía trước (từ Tuyên Quang lên) có cây cầu đã bị đánh sập khi ta thực hiện tiêu thổ kháng chiến. Đỉnh dốc cao, cho phép ta có thể quan sát địch từ xa. Bốn quả bom ta thu được trong những trận đánh trước, đã được cải tạo lắp kíp nổ bằng điện thành địa lôi. Năm tự vệ của đội tự vệ Thành Tuyên được trao nhiệm vụ phụ trách trận địa phục kích. Ký tín hiệu liên lạc của tổ chiến đấu hết sức đơn giản, được thực hiện bằng các dây sắn rừng, truyền từ điểm quan sát tới nhóm có nhiệm vụ điểm hoả. Một đơn vị bộ đội được bố trí cách trận địa phục kích khoảng 10km, sẵn sàng đánh địch khi chúng vượt qua trận địa phục kích của tự vệ Tuyên Quang.


Khoảng gần 10 giờ sáng ngày 22-10-1947, gần 500 tên địch cùng đoàn lừa, ngựa, vận tải (thuộc Tiểu đoàn do Lơ Giốt chỉ huy) lọt vào trận địa phục kích. Lệnh điểm hoả được phát ra, 3 trong 4 quả địa lôi nổ trùm lên đội hình hành quân của quân Pháp. Xác địch, xác lừa, ngựa, vũ khí văng khắp nơi, vắt cả lên ngọn cây ven đường. Kết quả, 72 tên địch chết tại chỗ hơn 30 tên khác bị thương nặng. Tự vệ Tuyên Quang rút lui an toàn.


Nắm chắc địch bị thiệt hại nặng, khó có thể tiếp tục hành quân được, 2 trung đội bộ đội ở trận địa phục kích phía sau đã luồn rừng về km 5 tổ chức đánh tiếp một trận, tiêu diệt thêm 30 tên nữa khi chúng rút về thị xã Tuyên Quang.


Trận địa lôi ở km số 7 - "tiếng nổ của hoả ngục" như lính Pháp thừa nhận, đã bẻ gãy cuộc hành quân của địch. Đó cũng là trận đánh sáng ngời quyết tâm, ý chí "dùng vũ khí địch đánh địch", quyết đánh thắng quân Pháp bằng mọi cách, bằng mọi phương tiện - với tinh thần chủ động, sáng tạo. Những quả địa lôi đã trở thành ám ảnh trên khắp các ngả đường hành quân của địch, làm cho chúng khiếp đảm tới mức gọi Tuyên Quang là "nghĩa địa khổng lồ" và than thở "sẽ còn rất nhiều cây thập ác bằng gỗ mọc lên trong nghĩa địa khổng lồ Tuyên Quang".


Liên tục bị chặn đánh và bị mắc cạn, quân lương thiếu thốn, binh lính mệt mỏi, chiều ngày 19-10-1947, một bộ phận quân địch theo sông Lô, sông Gâm mới tới được xã Hợp Hoà (cách huyện lỵ Chiêm Hóa 9km). Từ đây, chúng theo đường mòn tiến vào chiếm đóng huyện lỵ Chiêm Hoá. Vài ngày sau đó, cánh quân bộ, sau khi vượt phà Bợ, bị đánh ở Cầu Cả, Đèo Gà, chật vật lắm mới lên được Chiêm Hoá. Từ Chiêm Hoá, địch tung quân càn quét các vùng xung quanh huyện lỵ và liều mạng tiến lên Đầm Hồng, Đài Thị tìm gặp cánh quân phía Đông. Tiếng súng đánh địch ở Chiêm Hóa vang lên khắp nơi. Không cho địch thực hiện mục tiêu hành quân, đêm 19-10, khi địch định tập kích vào phía sau đội hình của bộ đội chủ lực và Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn ở Đầm Hồng, ta đã chủ động xây dựng trận địa phục kích ở km số 4, diệt 14 tên. Sau khi chiếm Đầm Hồng, ngày 20-10-1947, Com-muy-nan liều mạng cho một bộ phận tiến lên Đài Thị. Nhưng đã quá muộn, cánh quân phía Đông của Bô-phơ-rê đã rút. Kế hoạch hội quân của 2 gọng kìm phía Tây và phía Đông tại Đài Thị (Chiêm Hoá) thất bại. Đây là thất bại của "sự mạo hiểm của kế hoạch hành binh" lên Việt Bắc của thực dân Pháp.


Không hợp được với cánh quân phía Đông như dự định, lại luôn luôn bị dân quân du kích địa phương và Trung đoàn 112 phục kích, tập kích, quấy phá, cánh quân Com-muy-nan mất tinh thần chiến đấu, tìm đường rút lui.


Phán đoán thế nào địch cũng phải rút khỏi Chiêm Hóa về Tuyên Quang, Bộ Tư lệnh Khu 10 chỉ thị cho các đơn vị, địa phương tăng cường chiến tranh du kích, đánh địa lôi trên đường số 2, đồng thời chuẩn bị một trận phục kích lớn trên sông Lô, ở phía Bắc Tuyên Quang, nhằm tiêu diệt tàu địch.


Ngày 24-10-1947, Ban chỉ huy Trung đoàn 112 lệnh cho Tiểu đoàn 718 ở Hà Giang về gấp Chiêm Hóa để đánh địch trên đường rút lui. Ngày 28-10, phần lớn Tiểu đoàn 718 về tới ngòi Quang (Xuân Quang - Chiêm Hoá). Ngay đêm 28-10, nhân dân và du kích tự vệ địa phương đã dùng mảng nứa, thuyền đưa tiểu đoàn vượt sông lên tập kết tại một địa điểm cách Đầm Hồng 4 km (khu vực Vật Nhèo). Ngày 29-10, một tổ cán bộ được cử đi trinh sát địa hình, tìm địa điểm phục kích địch rút từ Đầm Hồng về Chiêm Hoá.


Với lực lượng gần 4 đại đội, quân ta bố trí 2 trận địa phục kích; 1 trên đường bộ (dài gần 1km) phía dưới Đầm Hồng khoảng 4km; 1 tại Vật Nhèo, đánh địch rút bằng tàu chiến, ca nô trên sông Gâm, hai điểm cách nhau khoảng 400m.


Một giờ chiều ngày 1-11, toán quân bộ lọt vào trận địa phục kích; sau gần một giờ chiến đấu, ta diệt hơn 60 tên.


Quân địch phải dạt xuống bờ sông tháo chạy về Chiêm Hoá. Cùng lúc, 2 ca nô của địch cũng xuôi xuống Vật Nhèo; ta nổ súng, cả hai chiếc ca nô đều bị trúng đạn, một chiếc bốc cháy chìm ngay tại chỗ. Chiếc thứ hai định dạt vào bờ, bị ta đánh tiếp, hốt hoảng quay đầu tháo chạy, đâm phải thành đá và cũng bị chìm luôn. Dân quân cùng bộ đội nổ súng tiêu diệt nốt những tên còn sống sót. Trong hai trận đánh này, ta tiêu diệt gần 200 tên, bắn chìm 2 ca nô, thu nhiều vũ khí.


Sau thất bại đó, quân Pháp tập trung về huyện lỵ Chiêm Hóa tiếp tục tính kế rút về Tuyên Quang. Phán đoán địch sẽ rút bằng cả đường thủy lẫn đường bộ, hai đại đội bộ đội chủ lực từ Đầm Hồng qua Chinh, Cham, vượt sông Gâm (phía dưới huyện lỵ khoảng 10km) cắt đường rừng qua Nhân Lý về Yên Nguyên. Dân quân du kích các xã Yên Nguyên, Hoà Phú dẫn đường giúp bộ đội xây dựng trận địa phục kích dài gần 1km, suốt từ chân Đèo Gà (hướng Tuyên Quang) tới Cầu Cả. Trận địa chính bố trí cách Cầu Cả 500m (là đoạn đường độc đạo, hẹp, gần chân núi). Bốn giờ chiều ngày 5-11-1947, quân Pháp lọt vào trận địa phục kích. Sau gần 2 giờ chiến đấu quyết liệt, ta tiêu diệt và làm bị thương gần 100 tên. Không dám tiếp tục hành quân trong đêm tối, đêm 5-11, quân Pháp phải thu quân, thiêu hủy xác chết. Sáng ngày 6-11, chúng chia làm hai toán: một toán chở những tên bị thương theo ngòi Pác Nhung ra sông Lô, xuống ca nô về xuôi; phần lớn lực lượng còn lại tiếp tục hành quân trên bộ ra phà Bợ (thuộc Bình Xa - Hàm Yên). Bộ đội ta tiếp tục phục kích, truy kích địch trên đường ra km 31 (đường Tuyên Quang - Hà Giang).


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Ba, 2021, 03:19:33 pm
Đêm 7-11 quân ta tập kích bằng hoả lực cối, trung liên vào quân địch dừng nghỉ ở chợ Bợ làm chúng hoảng loạn suốt đêm. Sáng ngày 8-11, một đại đội địch chia làm hai cánh tập kích vào Sở chỉ huy Trung đoàn 112 đóng ở Đồi Đá (cách chợ Bợ gần 1km). Trung đội vệ binh chiến đấu, đánh lui cuộc tập kích của địch, tiêu diệt hơn mười tên. Sau khi vượt sông Lô, quân Pháp tiến thẳng ra km 31 và tiếp tục bị truy kích. Đội du kích tập trung của Hàm Yên được điều xuống cùng dân quân, du kích các xã Thái Hoà, Đức Ninh... phối hợp với bộ đội phục kích trên đường rút lui từ km 31, theo đường số 2 về Tuyên Quang.


Trung đội du kích Hàm Yên (khoảng 50 người) được trang bị súng trường, địa lôi, lựu đạn... bố trí phục kích địch trên đoạn đường từ km 24 đến km 21 (thuộc xã Đức Long, nay là xã Đức Minh - Hàm Yên). Hai quả địa lôi được chôn tại km 21 và km 23,5. Sau khi vấp địa lôi tại km 29, bị chết một số tên, khoảng 14 giờ ngày 9-11, toán quân đầu tiên của địch đi tới km 24. Du kích giật dây nhưng địa lôi không nổ. Địch kéo xuống đến km 23,5, quả địa lôi thứ hai nổ, đội hình địch rối loạn. Chiều tối, sau khi gọi máy bay bắn phá dọc đường từ km 21 đến km 25, quân Pháp co cụm lại đóng quân tại km 21.


Ngày 10-11, quân Pháp vẫn tiếp tục rút từ phà Bợ về. Đêm 10-11, một đại đội bộ đội hành quân về Đức Long cùng dân quân, du kích tiếp tục chiến đấu. Tại chiếc cầu gần km 24, ta chôn 3 quả địa lôi, bố trí 1 trung đội cùng trung đội du kích phục sẵn 2 bên đường, 2 trung đội khác phục kích tại km 24,5. Sáng sớm 11-11, quân Pháp ở km 21 quay ngược lại đón đồng bọn ở chợ Bợ rút về. Địch cho một toán nhỏ đi trên đường quốc lộ để nghi binh, toán thứ hai đông hơn đi theo đường rừng. Phát hiện trận địa phục kích của ta bên dưới cầu km 24, quân Pháp bí mật bao vây, tập kích. Trung đội du kích và trung đội bộ đội chủ lực phải chiến đấu phá vòng vây, rút lui. Địch tiếp tục nống lên tới km 24,5, bị bộ đội ta đánh trả quyết liệt, hơn 30 tên thiệt mạng. Quân Pháp lại co cụm về km 21. Cùng ngày, những toán quân đi sau cũng rút về đóng quân tại km 21. Phần lớn lực lượng của Tiểu đoàn 781 tập kết tại Đức Long. Bộ đội và du kích cũng phối hợp truy kích địch làm cho chúng hoảng sợ, phải bỏ quốc lộ, cắt rừng qua Lăng Quán, men theo bờ sông rút về thị xã Tuyên Quang. Ngày 19-11-1947, những toán quân cuối cùng của binh đoàn Com-muy-nan mới rút về tới thị xã Tuyên Quang. Tiếng súng đánh địch trên Đường số 2 (thuộc địa phận Tuyên Quang) tạm ngừng.


Trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947, góp phần bẻ gãy gọng kìm sông Lô của quân Pháp, trên Đường số 2, km 31 đường đi Chiêm Hoá, quân và dân Tuyên Quang đã phối hợp với bộ đội chủ lực chiến đấu 48 trận, trong đó có 30 trận đánh độc lập; loại khỏi vòng chiến đấu 1.300 tên địch; bắn cháy và bắn chìm 10 ca nô, tàu chiến; phá hủy 1 máy bay; thu nhiều vũ khí trang bị và đồ dùng quân dụng. Những trận đánh này thể hiện rõ sự hiệp đồng tác chiến chặt chẽ giữa bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương. Đó cũng chính là minh chứng cho sức mạnh của cuộc chiến tranh du kích đánh thắng những cuộc hành quân lớn của địch và minh chứng hiệu quả của chiến thuật "du kích vận động chiến". Dân quân, du kích địa phương trưởng thành lên rất nhiều sau một thời gian quyết tâm dùng vũ khí địch diệt địch. Đánh địch bằng mọi cách đánh để bảo vệ địa bàn, bảo vệ căn cứ địa kháng chiến. Lực lượng vũ trang huyện Hàm Yên đã độc lập tác chiến 7 trận, phối hợp chiến đấu 2 trận, tiêu diệt gần 200 tên Pháp, thu một số vũ khí, trang bị và đồ dùng quân dụng.


Những trận phục kích nhanh, gọn, hiệu suất cao trên quốc lộ số 2 (km 7, km 24,5, km 29...); trên địa bàn huyện Chiêm Hóa (Đầm Hồng, Vật Nhèo, Cầu Cả) đã góp phần làm phá sản kế hoạch hội quân của địch, bẻ gãy cuộc hành quân lên Chiêm Hoá; góp phần làm nên chiến thắng Sông Lô, chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947 của quân và dân Tuyên Quang và quân, dân Khu 10.


Có được thành tích nêu trên, trước hêt là có đường lối đúng đắn của Đảng, sự vận dụng sáng tạo của Đảng bộ Tuyên Quang vào thực tế địa phương và sự giúp đỡ của các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể Trung ương, đặc biệt có sự giúp đỡ, phối hợp chiến đấu của các đơn vị bộ đội chủ lực của Khu đóng quân trên địa bàn tỉnh.


Hơn sáu mươi năm qua, từ khi những cơ sở cách mạng đầu tiên được hình thành; quân và dân các dân tộc Tuyên Quang vẫn một lòng trung thành, vượt qua mọi thử thách, đưa đường lối, chủ trương của Đảng thành hiện thực. Đánh giá thành tích qua các thời kỳ của tỉnh Tuyên Quang, trong bài phát biểu tại Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XI, đồng chí Tổng Bí thư Đỗ Mười đã nói: "Trong cuộc đấu tranh lâu dài giành độc lập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đầy hy sinh gian khổ của nhân dân ta, Tuyên Quang là một địa bàn chiến lược, một căn cứ địa vững chắc với khối đoàn kết của 22 dân tộc anh em - ở đây đã diễn ra những sự kiện quan trọng của cách mạng nước ta. Tuyên Quang, với khu Tân Trào lịch sử, là cái nôi ra đời của chính quyền cách mạng của nước ta, là một trong những An toàn khu của Trung ương tại Việt Bắc, nơi Trung ương Đảng và Chính phủ, đứng đầu là Bác Hồ kính yêu, đã lãnh đạo cuộc kháng chiến trường kỳ oanh liệt, đi đến chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi lẫy lừng. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Tuyên Quang đã cùng với Hà Giang đóng góp sức người, sức của, thiết lập chiến công to lớn góp phần xứng đáng vào thắng lợi vẻ vang của dân tộc ta. Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay, trong hoàn cảnh đất nước ta có nhiều khó khăn và tình hình quốc tế diễn ra rất phức tạp, Đảng bộ, quân và dân các dân tộc Tuyên Quang tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp, phấn đấu giữ vững ổn định chính trị, xã hội, tăng cường đoàn kết cộng đồng các dân tộc anh em, cùng nhân dân cả nước hăng hái thực hiện công cuộc đổi mới, đạt những kết quả bước đầu rất quan trọng.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Ba, 2021, 03:22:39 pm
CHIẾN THẮNG SÔNG LÔ NIỀM TỰ HÀO CỦA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG PHÚ THỌ TRONG CHIẾN DỊCH VIỆT BẮC THU - ĐÔNG 1947


Đại tá LÊ QUANG ĐẠI
Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Phú Thọ


Hè - Thu năm 1947, thực dân Pháp âm mưu tiến công lớn trên chiến trường Bắc Bộ. Ngày 15-9-1947, Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị "Sửa soạn phá những cuộc tiến công lớn của địch". Ngày 27-9-1947, Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ 4, do Bộ Tổng chỉ huy triệu tập, phán đoán Bắc Bộ sẽ là chiến trường chính. Nếu địch không mạo hiểm sẽ đánh đồng bằng, nếu mạo hiểm chúng sẽ đánh lên Việt Bắc. Khu ủy và Bộ Tư lệnh Khu 10 đã họp và vạch ra phương hướng thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương và xác định rõ hướng tiến công chính của địch vào Khu 10 sẽ là đường sông Lô, vì đây là con sông quan trọng nằm trong căn cứ địa Việt Bắc. Nước sông sâu, dòng chảy chậm, ít ghềnh thác, tàu thuyền chạy từ Hà Nội lên vào cửa sông Lô ở Việt Trì để ngược lên Tuyên Quang, Hà Giang ngay cả trong mùa khô, kể cả các loại tàu 500 tấn. Phía hữu ngạn sông Lô có đường số 2 chạy song song với sông Lô. Vùng Sơn Dương, Chiêm Hóa (Tuyên Quang) là vùng An toàn khu có nhiều kho tàng và công xưởng cơ quan Trung ương Đảng, Chính phủ ở và làm việc. Nếu chiếm được sông Lô và kiểm soát được quốc lộ 2, địch sẽ chia cắt được căn cứ địa Việt Bắc; đồng thời tạo được thế bao vây uy hiếp hết sức nguy hiểm đối với các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên. Ngày 4-10-1947, Khu ủy và Bộ Tư lệnh Khu 10 đã họp ở Phan Lương, gần bờ sông Lô. Sau hội nghị này, không khí chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu sôi nổi trong các đơn vị bộ đội, dân quân du kích, nhất là các địa phương hai bên bờ sông Lô. Khẩu hiệu "Phá tan cuộc tấn công Thu - Đông của giặc" được nêu lên ở khắp mọi nơi trong toàn tỉnh. Lực lượng vũ trang và nhân dân Phú Thọ sẵn sàng phối hợp chiến đấu với các đơn vị chủ lực.


Trước đó, từ đầu năm 1947, hưởng ứng lời kêu gọi phá hoại để kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân các xã ven sông Lô ở Phú Thọ đã thực hiện "Vườn không nhà trống", người già và trẻ em sơ tán vào vùng sâu. Lực lượng vũ trang đã giúp dân "Lập làng kháng chiến'', dỡ bỏ nhà gạch, rào làng, phá đường vào làng, phá cầu, gài mìn, cắm chông, cạm bẫy, làm kè ngăn sông, cắm cọc nhọn chống quân nhảy dù... Các địa điểm ghi tên cột nước chỉ đường cũng được du kích Phú Thọ dỡ bỏ. Tấm biển chỉ đường đi Tuyên Quang, chôn ở Đầu Lô (Đoan Hùng), được dân quân di chuyển lên chỗ đường Thác Bà - Yên Bái để đánh lừa địch. Những việc làm đó thể hiện sự sáng tạo, mưu trí của lực lượng vũ trang Phú Thọ trong quá trình chuẩn bị chống giặc. Đêm đêm, trên quốc lộ 2, rực sáng ánh đuốc và tiếng hò reo phá đường chặn giặc của thanh niên nam nữ du kích quân Phú Thọ. Bộ đội, dân quân, nhân dân tham gia di chuyển kho tàng, công xưởng vào nơi an toàn hơn. Bộ đội và nhân dân phải khiêng vác hàng ngàn tấn phương tiện, đi xuyên rừng núi cả ngày và đêm, vừa đi vừa phá bụi, chặt cây mở đường. Khắp các làng mạc, rừng núi, đồng ruộng, sông ngòi, đường sá ven bờ sông Lô và quốc lộ 2 đều sục sôi không khí chuẩn bị chiến đấu. Nhân dân và lực lượng vũ trang các huyện Phù Ninh, Hạc Trì đã huy động tối đa nhân tài vật lực để phục vụ chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ quê hương Đất Tổ. Dân quân du kích Phú Thọ được củng cố tổ chức, trang bị thêm khí giới, làm nhiệm vụ canh gác tuần tra, trinh sát giúp bộ đội chuẩn bị trận địa, làm nhiệm vụ nghi binh phối hợp chiến đấu bảo vệ xóm làng. Trên tuyến sông Lô, làng nào cũng có một đội du kích cùng hàng chục dân quân. Tiểu đoàn 420 của tỉnh, với vũ khí thô sơ, phân tán xuống các huyện Phù Ninh, Hạc Trì cùng dân quân du kích các địa phương ven sông Lô bố trí trận địa, bám sát địch, sẵn sàng chiến đấu.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Ba, 2021, 03:23:34 pm
Lực lượng pháo binh Khu 10 được bố trí cơ động ở ba khu vực: 1 trung đội pháo ở Đoan Hùng có 1 khẩu ĐKZ 75mm, 1 trung đội pháo ở Phan Lương có 1 khẩu sơn pháo 75mm, 1 trung đội pháo ở Bình Ca có 1 khẩu pháo 75mm. Ngoài ra, 1 khẩu 37mm được đặt ở núi Dùm (khu vực Tuyên Quang) và 2 trung đội pháo bố trí ở phía sông Thao.


Tại Đoan Hùng, ta bố trí trận địa chiến đấu dài 5km, từ núi Đôn đến nhà thờ Vân Cương, dọc bờ sông Lô, quanh khu vực ngã ba sông Lô, sông Chảy, nơi được coi là một trong những cửa ngõ của căn cứ địa Việt Bắc. Trận địa pháo Voi Gầm bố trí tại các điểm Lã Hoàng, Ngọc Chúc (xã Chí Đám - Đoan Hùng), Gò Đồn (xã Thọ Sơn) để thực hiện tác chiến hiệp đồng với bộ binh, công binh. Trận địa giả được xây dựng ở xã Hữu Đô, Đại Nghĩa. Tỉnh đội Phú Thọ và huyện đội Đoan Hùng, xã đội các xã cùng với chính quyền địa phương huy động nhân dân các xã Hữu Đô, Đại Nghĩa, Phú Thứ, Vân Cương, Thọ Sơn, Hùng Long, Sóc Đăng, Vụ Quang... thu gom củi rác, rơm rạ đưa vào trận địa giả, chất thành 23 đống lớn, mỗi đống khoảng 8 - 10m3, cách nhau hơn 20m, lấy nhựa cây trám làm chất bén cháy. Hàng chục chiếc thùng sắt lớn bên trong chứa sẵn thuốc pháo được bố trí tại trận địa giả. Nhân dân các địa phương Đoan Hùng còn chuẩn bị trống, mõ, kẻng và cả chuông nhà thờ, sẵn sàng khua vang khi có hiệu lệnh. Nhân dân Chí Đám, Hữu Đô hái hàng trăm quả bưởi dùng nhọ nồi trộn dầu bôi đen, xâu lại thành từng chuỗi để giả làm thủy lôi lừa địch. Lực lượng vũ trang Phú Thọ còn dùng gỗ sơn đen giả làm pháo, bố trí ven sông ở từng chặng để đánh lừa địch. Bộ đội và dân quân du kích Đoan Hùng ngày đêm bám sát trận địa. Chính quyền các cấp còn huy động nhân dân đóng góp lương thực, thực phẩm và các phương tiện phục vụ bộ đội tỉnh và Khu chiến đấu. Nhân dân xã Chí Đám đã cử ra ban tiếp tế làm công tác hậu cần, trực tiếp phục vụ bộ đội như xay thóc, giã gạo, nấu cơm, đưa nước ra trận địa...


Ngày 7-10-1947, quân Pháp mở cuộc tiến công quy mô lớn lên Việt Bắc nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến và bộ đội chủ lực của ta. Chúng tiến công lên Việt Bắc theo hai hướng: hướng Đông, một binh đoàn tiến công từ Lạng Sơn lên Cao Bằng về Bắc Kạn, Tuyên Quang. Hướng Tây, một binh đoàn tiến công lên Việt Trì, Tuyên Quang hình thành hai gọng kìm bao vây Việt Bắc. Ngày 10-10-1947, giặc Pháp từ Sơn Tây vượt sông Hồng sang đánh chiếm Việt Trì làm đầu cầu đón bọn thủy chiến từ Hà Nội ngược lên Đoan Hùng, Tuyên Quang. Tiếng súng của quân xâm lược Pháp bắt đầu nổ trên bến Hạc Trì. Ta không chủ trương ngăn chặn địch ở Việt Trì, do vậy địch vào đây dễ dàng, chúng rất chủ quan. Ngày 11-10-1947, đoàn tàu chiến của địch từ Việt Trì xuất phát ngược sông Lô. Sáng 12-10, chúng đã tới địa phận Sóc Đăng, vướng phải kè ngầm cả đoàn tàu phải dừng lại để khắc phục... Vượt khỏi kè Sóc Đăng, địch tiến công dè dặt hơn. Tới Đoan Hùng, pháo binh của ta chĩa nòng xuống bắn, song do pháo hỏng hóc, tàu địch vẫn nguyên vẹn. Chúng tiếp tục ngược Tuyên Quang. Khi tiến công lên sông Lô, sau những lần bị bộ đội chủ lực phối hợp với bộ đội địa phương Phú Thọ chặn đánh, ngoài lực lượng tàu chiến, chúng dùng bộ binh càn quét hai bên bờ sông. Bộ binh giặc đánh ra Cầu Hai, đóng bốt ở Trạm Thản, đóng quân ở Đoan Hùng. Bộ đội địa phương Phú Thọ phối hợp tập kích với chủ lực phá tan bốt giặc ở Trạm Thản, tập kích vào Đoan Hùng...


Thực hiện chủ trương của Đảng "Phải phá cuộc tấn công mùa Đông của giặc Pháp", bộ đội địa phương Phú Thọ đã có nhiều trận đánh phối hợp đạt hiệu quả cao.


Ngày 23-10-1947, giặc Pháp dùng tàu vận tải chở quân và hàng tiếp viện theo Đường sông Lô lên Tuyên Quang, bị bộ đội của ta ở trận địa pháo làng Khoan Bộ (Lập Thạch - Vĩnh Yên) chặn đánh quyết liệt, tiêu diệt nhiều tên trên tàu. Trong trận này, dân quân du kích xã Tràng Sảo (Phù Ninh) đã phối hợp chiến đấu chặt chẽ với lực lượng pháo binh. Trước những đòn đánh dồn dập, mạnh mẽ của ta, bọn địch đang càn quét trong làng An Đạo, Bình Bộ (Phù Ninh) hoảng sợ chạy ra khỏi làng.


Được điện báo của đồng bọn bị đánh ở Khoan Bộ, ngày 24-10-1947, quân địch ở hướng Tây vội vã ra lệnh cho một đoàn tàu gồm 5 chiếc chở đầy lính, có 6 máy bay yểm trợ, từ Tuyên Quang xuôi dòng sông Lô về đón đồng bọn. Về phía ta, Khu 10 hạ quyết tâm phối hợp với bộ đội địa phương Phú Thọ phải bắn chìm từ 1 đến 2 tàu giặc để củng cố tinh thần chiến đấu của nhân dân. Một tiểu đoàn bộ binh thuộc Trung đoàn Sông Lô bố trí dọc tuyến ngã ba sông Lô, sông Chảy đến làng Lã Hoàng, sẵn sàng đánh địch từ dưới sông lên và chặn địch tiếp viện tới bằng đường bộ. Một đại đội phòng không của ta sử dụng súng đại liên đặt trên các mỏm đồi xung quanh trận địa pháo để đón đánh máy bay địch. Các trung đội dân quân du kích địa phương làm công tác nghi binh. Dân quân du kích làng Chí Đám (Đoan Hùng) đem bưởi đã bôi đen, xâu thành từng chuỗi giăng nhiều đoạn ngang sông giả làm thủy lôi để ngăn bước tiến của giặc. Dân quân du kích làng Hữu Đô (tả ngạn sông Lô) chuẩn bị nhiều đám khói nghi binh, thu hút bom đạn của phi pháo địch. Dân quân du kích Bằng Luân làm nhiệm vụ cảnh giới, tuần tra, đốt pháo cối trong thùng sắt để uy hiếp tinh thần địch và sẵn sàng nổ súng tiêu diệt chúng. Ba khẩu Ba-dô-ca vừa sản xuất ở xưởng vũ khí Sài Lĩnh cũng được điều động đến phối hợp chiến đấu với pháo binh. Toàn thể cán bộ, chiến sĩ các đơn vị chủ lực và bộ đội địa phương Phú Thọ trên trận địa đều nung nấu ý chí quyết tâm bắn chìm tàu chiến của giặc, để trả thù cho đồng bào An Đạo, Bình Bộ vừa bị chúng tàn sát ngày 23-10-1947.


Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 24-10-1947, nghe tiếng chuông báo động liên hồi từ phía đài quan sát, bộ đội ta nhanh chóng về vị trí chiến đấu. Chiếc máy bay Ca-ta-li-a của giặc bay sát mặt sông để trinh sát. Tiếp theo, 6 chiếc máy bay khu trục Hen-cát bay tới. Trinh sát của Khu 10 báo tin một đoàn tàu chiến gồm 5 chiếc của địch từ Tuyên Quang xuôi Đoan Hùng, đi đầu là chiếc LCM, tiếp theo là 2 chiếc LCT, sau cùng là 2 chiếc LCVP. Đúng 12 giờ trưa, chiếc LCM xuất hiện chỗ ngoặt của sông, tiến vào khu vực trận địa phục kích của khẩu đội pháo. Lập tức, hiệu lệnh chiến đấu được phát ra. Tiếng trống, mõ, kẻng, chuông rung lên liên hồi giục giã, xen lẫn tiếng nổ vang trời của các loại súng của bộ đội địa phương Phú Thọ. Cùng lúc đó, lửa khói bốc lên nghi ngút ở trận địa nghi binh. Pháo binh của ta bắn đến phát thứ ba thì đạn trúng giữa thân tàu, chiếc LCM vừa trôi vừa từ từ chìm nghỉm xuống dòng sông Lô. Đoàn tàu địch hoảng hốt chạy toả ra hai bên bờ sông. Một chiếc LCT vượt lên trước, lượn sát bờ tây sông Lô, đúng vào tầm bắn của ta. Khẩu đội pháo bắn liền ba phát đều trúng giữa thân và mũi tàu, làm đạn dự trữ trên tàu giặc nổ tung, nhiều tên hoảng hốt nhảy xuống sông. Dưới làn bom đạn của không quân và thủy đội địch, các chiến sĩ pháo binh, bộ binh của chủ lực và bộ đội địa phương Phú Thọ vẫn không rời trận địa. Trên bờ, lau sậy bốc cháy, dưới sông, tàu địch bốc cháy, dầu xăng chảy lênh láng mặt nước. Cả một khúc sông mịt mù khói lửa. Tàu chiến địch bị ghìm trên mặt sông. Máy bay địch bổ nhào xuống ném bom bắn phá trận địa nghi binh ở khu vực Hữu Đô. Chiếc máy bay Ca-ta-li-a lao ra mặt sông định cứu vớt đồng bọn, liền bị hoả lực của ta bắn bị thương và rơi ở Tuyên Quang. Chiếc LCVP đi cuối đội hình vội vã quay ngược mũi tàu chạy về phía Tuyên Quang, bỏ mặc hai chiếc bị thương chết máy trôi bồng bềnh trên mặt sông. Do mặt sông mù mịt khói lửa, hạn chế tầm quan sát của bộ đội, nên hai chiếc tàu bị hỏng đã trôi thoát qua trận địa phục kích trên bờ. Khi phát hiện ra, khẩu đội pháo binh của ta kéo pháo từ trận địa dưới mép nước lên bờ sông bắn được hai phát thì tàu địch đã trôi ra xa. Số địch nhảy ào xuống sông, phần bị pháo ta bắn tiêu diệt, phần bị bộ binh ta trên bờ bắn. Máu giặc loang đỏ dòng sông Lô. Giặc Pháp phải căng lưới thép ở đoạn sông Việt Trì để vớt xác binh lính của chúng.


Trong trận đánh này, với tinh thần chiến đấu dũng cảm, cách đánh mưu trí, sáng tạo, hiệp đồng tác chiến chặt chẽ giữa bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương, quân và dân Đoan Hùng đã tiêu diệt hơn 300 tên giặc, bắn chìm 2 tàu chiến, bắn bị thương 2 chiếc khác, bắn rơi 1 thủy phi cơ, thu 1 khẩu pháo 100mm, 10 súng cối, 4 trọng liên, hàng chục trung liên, 200 súng trường và tiểu liên cùng nhiều đạn dược và trang thiết bị khác.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Ba, 2021, 03:24:39 pm
Hơn 2.000 bộ đội và dân quân du kích đã trực tiếp tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu trong trận sông Lô. Các lực lượng vũ trang non trẻ của ta lần đầu tiên dùng pháo đặt gần bắn thẳng và dùng đạn có ngòi nổ trên không tiêu diệt giặc trên boong tàu, trên mặt nước và mặt đất, gây cho giặc bao nỗi kinh hoàng.


Sau thất bại ở Khoan Bộ và nhất là ở Đoan Hùng, quân Pháp buộc phải bỏ Chiêm Hoá, về Tuyên Quang, tập kết lực lượng chuẩn bị rút chạy. Bộ Tư lệnh Khu 10 quyết định truy kích địch trên cả đường thủy và đường bộ. Để đánh địch trên sông Lô, Bộ Tư lệnh Khu 10 chủ trương xây dựng trận địa Khe Lau (ngã ba sông Lô), sông Gâm (Tuyên Quang). Do tình hình khẩn trương, bộ đội phải tháo pháo thành nhiều bộ phận và khiêng vác từ ngã ba sông Lô, sông Chảy (Đoan Hùng) lên Khe Lau. Dân quân du kích các xã thuộc huyện Đoan Hùng lại một lần nữa không quản gian lao, kề vai sát cánh cùng bộ đội chuyển pháo lên phía trước. Chính tại Khe Lau này, ngày 10-11-1947, đã diễn ra trận đánh thắng lợi, quân ta bắn chìm, bắn cháy 3 tàu chiến và tiêu diệt trên 200 tên địch. Thắng lợi đó làm nên "bể lửa Khe Lau", ghi thêm một dấu son vào trang sử vàng sáng ngời của lực lượng Pháo binh Việt Nam trẻ tuổi phối hợp rất nhịp nhàng với lực lượng bộ đội địa phương Phú Thọ.


Ngày 22-11-1947, quân Pháp lặng lẽ rút quân khỏi Tuyên Quang. Biết sông Lô giờ đã trở thành con đường nguy hiểm, nên cánh quân phía Tây của địch hết sức đề phòng. Cánh quân rút theo dòng sông Lô, dưới sông có tàu chiến, ca nô, trên bờ có bộ binh đi sục sạo đề phòng ta phục kích, trên trời có máy bay yểm trợ. Lực lượng thủy binh gồm 2 chiếc tàu chiến và 4 ca nô. Ngày 24-11-1947, đoàn tàu chiến của giặc xuôi đến Lã Hoàng, nơi một tháng trước đó chúng bị thảm bại. Một chiếc tàu chiến của giặc trúng thủy lôi của ta, bị xé làm đôi, chìm xuống đáy sông, mang theo gần trăm tên giặc, phần lớn là sĩ quan tham mưu và nhân viên kỹ thuật. Những chiếc còn lại vội vàng chạy thoát thân. Thế nhưng, về tới Phan Lương, lại một chiếc LCT bị bắn đắm và hơn một trung đội giặc bị tiêu diệt. Ngày 26 tháng 11 năm 1947, đoàn quân thủy của giặc về đến bến Cóc (xã Trị Quận) bị mắc kè. Quân giặc phải dừng lại 2 ngày. Bộ đội và du kích kịp thời phục kích, bắn đắm 2 ca nô.


Trong khi đó, toán quân bộ của địch đến địa bàn Phù Ninh, trúng địa lôi của ta, 50 tên và 18 con ngựa bị diệt. Bộ đội và dân quân du kích xã Đông Quan (Phú Nham, Tiên Du, Gia Thanh ngày nay) còn chặn đánh địch ở cống Tiên Du, Vũng Gáo, chùa Nghè, diệt 13 tên. Ban đêm, một trung đội của Tiểu đoàn 510, phối hợp với dân quân du kích Tiên Du, tập kích vào đội hình trú quân của giặc, tiêu diệt một số tên. Trên toàn tuyến, dọc hai bờ sông Lô và quốc lộ 2, pháo binh, bộ binh và dân quân du kích các xã đã bám sát địch, truy đuổi liên tục, đánh vào đội hình hành quân của chúng.


Để yểm trợ cho đoàn quân thất trận ở Tuyên Quang rút lui theo Đường sông Lô, ngày 22-11-1947, Pháp cho Trung đoàn Ma-rốc số 5 từ Hoà Bình tràn sang càn quét khu vực Hưng Hoá, Thu Cúc. Một tiểu đoàn từ Hưng Hóa vượt sông Hồng tại ngã ba sông Đà - sông Hồng sang Lâm Thao, càn quét và chiếm Việt Trì. Trên đường tiến quân lên Việt Bắc, theo sông Lô, cũng như cuộc hành quân đỡ đòn cho cánh quân phía Tây trước đó, lần này giặc Pháp lại gây bao tang tóc cho đồng bào ta. Chỉ tính riêng các huyện Lâm Thao, Hạc Trì, Phù Ninh và Đoan Hùng, 150 người dân bị giết và bị thương, 181 người bị bắt. Địch còn đốt phá 2.416 nóc nhà, 7 đình chùa, nhà thờ, cướp 72 con trâu bò và vô số lợn, gà. Khi giặc tấn công sông Lô, đồng bào huyện Phù Ninh phải tản cư, bỏ hoang 1.000 mẫu ngô không chăm bón và thu hoạch được. Địch ở Trung Hà (Sơn Tây) bắn súng cối tới tấp vào các làng xã vùng hạ huyện Lâm Thao, làm cho nhiều nhà bị cháy, vườn tược bị đạn chém nát. Dưới làn đạn địch, du kích các xã vẫn bình tĩnh bám sát các trạm gác, đánh kẻng báo động cho đồng bào tản cư, đồng thời tổ chức chiến đấu chặn các mũi tiến quân của địch vào làng, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân.


Ngày 24-11-1947, địch tiến vào xã Vĩnh Lại. Trung đội du kích xã chia làm hai tổ, bố trí dưới giao thông hào, nổ súng chặn địch. Do lực lượng địch đông gấp bội, hoả lực mạnh, nên sau ít phút chiến đấu, một tổ du kích bị đánh bật ra khỏi làng, tổ còn lại bị địch bao vây.


Tại huyện Hạc Trì, nơi diễn ra những trận giao tranh quyết liệt giữa ta và địch, đã xuất hiện những tấm gương ngời sáng về tinh thần anh dũng chiến đấu, hy sinh của quân và dân nơi đây. Trung đội nữ du kích Minh Hà (xã Chính Nghĩa) xung phong ra trận giật bom diệt địch. Đội lão du kích Minh Khai ra sát trận địa để phối hợp chiến đấu cùng bộ đội.


Ngày 19-12-1947, đúng một năm sau ngày toàn quốc kháng chiến, số quân địch còn lại ở Việt Trì phải rút hết về xuôi trong những ngày đông ảm đạm, chấm dứt cuộc tấn công Việt Bắc đầy tham vọng và thất bại nặng nề.


Hướng chính trên địa bàn Khu 10 đã thảm bại, hướng phối hợp, địch cũng bị thất bại nặng nề. Theo kế hoạch, để phối hợp với cuộc tấn công lên Việt Bắc, nhằm phân tán lực lượng ta ở Mặt trận Sông Lô, từ ba mặt Hoà Bình - Sơn La, Quang Huy (Nghĩa Lộ) - Thượng Bằng La (Yên Bái), giặc Pháp tiến công càn quét vùng Tây - Nam Phú Thọ.


Ngày 2-10-1947, giặc Pháp từ Quang Huy và Sơn La tiến ra càn quét huyện Thanh Sơn, chiếm Thu Cúc. Từ Thu Cúc, chúng mở rộng phạm vi càn quét ra cả huyện Thanh Sơn, Yên Lập và Cẩm Khê. Ngày 8-10-1947, quân Pháp từ Quang Huy, Thu Cúc, Thượng Bằng La tiến sang càn quét vùng Hiền Lương, Đan Thượng, Đan Hà (Hạ Hoà) hòng phối hợp với cánh quân bên kia sông Lô, buộc ta phải giãn lực lượng ra đối phó. Ngày 12-10, từ Hoà Bình, Sơn Tây, 300 quân Pháp đánh sang Tu Vũ, rồi càn quét vùng Thanh Thủy, Tam Nông. Trong các cuộc hành quân càn quét vùng tây nam Phú Thọ, địch đốt hơn 4.000 nóc nhà, phá 8 nhà thờ, 43 đình, chùa, giết 351 người, bắt 48 người và cướp bóc nhiều tài sản của nhân dân. Chúng bắt hàng nghìn đồng bào Mường (Thanh Sơn) và Thái (Sơn La) tản cư sang huyện Thanh Sơn, đem về xây dựng đồn bốt ở Thu Cúc và Tu Vũ. Chúng còn ra sức lôi kéo linh mục, dụ dỗ giáo dân đi lính và lợi dụng bọn hào lý để lập tề ở địa phương. Đối với những ai không cam tâm làm tay sai cho Pháp, chúng thẳng tay trừng trị. Không lôi kéo, dụ dỗ được giáo dân Hưng Hoá, ngày 15-10-1947, giặc Pháp chiếm đóng nhà thờ Hưng Hoá, đập phá nhà thờ, tàn sát nhân dân, hãm hiếp phụ nữ. Khi rút về Đồn Vàng, chúng đã bắt cả linh mục, thầy dòng và một số giáo dân đem theo. Sau vụ này, đồng bào Công giáo càng nhận rõ hơn bộ mặt của kẻ thù, thêm tin tưởng vào chính quyền kháng chiến. Giáo dân ở Hà Thạch (Lâm Thao) đã tổ chức mít tinh, phản đối hành động dã man của giặc Pháp và đòi phải trả lại tự do cho những người bị bắt.


Tại vùng tây nam Phú Thọ, nhân dân các xã phía nam các huyện Tam Nông, Thanh Thủy, Cẩm Khê đề cao cảnh giác, khẩn trương chuẩn bị kháng chiến. Riêng các xã phía Tây các huyện Thanh Sơn, Thanh Thủy, Yên Lập, công tác chuẩn bị kháng chiến gặp nhiều khó khăn. Nơi đây, đất rộng, địa hình không thuận lợi cho phá hoại và tiêu thổ kháng chiến. Đây là vùng giáp giới với Hoà Bình, Sơn La, là những địa phương mà địch đã chiếm đóng. Nhân dân phần lớn là đồng bào Mường và một số đồng bào Thái (Sơn La) tản cư sang, trình độ giác ngộ chính trị không đồng đều. Lực lượng dân quân du kích và các cơ quan chính quyền, đoàn thể mới thành lập, đang trong thời kỳ xây dựng, thậm chí, một số nơi chưa có chi bộ Đảng. Trung đoàn 148 bộ đội chủ lực hoạt động ở Sơn La mới rút về Thanh Sơn, nhằm phối hợp chiến đấu với lực lượng vũ trang địa phương, nên còn thiếu kinh nghiệm vận động đồng bào dân tộc ít người. Thực tế này khiến những cuộc chống càn thời gian đầu của bộ đội gặp nhiều khó khăn. Các đại đội độc lập phối hợp với dân quân, du kích chỉ tổ chức đánh được 6 trận ở huyện Thanh Thủy và 5 trận ở huyện Yên Lập, tiêu hao một phần sinh lực địch. Còn vùng Thanh Sơn, sau vài trận chống càn yếu ớt ở Thạch Khoán, Đồn Vàng, Lai Đồng, Xuân Đài, Thu Cúc, 2 đại đội độc lập của Trung đoàn 148 phải rút lui về Giáp Lai, Thạch Khoán, bỏ trống vùng thượng huyện Thanh Sơn. Bọn phản động lợi dụng thời cơ nổi lên lập tề ở Thu Cúc, Lai Đồng, Khả Cửu, Đồn Vàng và Tu Vũ.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Ba, 2021, 03:25:07 pm
Từ thực tế chống càn ở vùng tây nam Phú Thọ, cho thấy chiến tranh du kích muốn phát triển và đạt hiệu quả chiến đấu cao, thì cán bộ, bộ đội phải bám đất, bám dân, dựa vào dân để giết giặc, thực hiện đoàn kết dân tộc và đoàn kết lương giáo, cô lập và đi đến trừng trị những tên phản động tay sai. Trên cơ sở đó và căn cứ vào tình hình chiến sự vùng tây nam Phú Thọ, tỉnh điều động 3 trung đội bộ đội địa phương tăng cường cho mặt trận Tu Vũ và 2 trung đội cho mặt trận Thu Cúc. Cấp ủy, chính quyền và đoàn thể các huyện và xã vùng tây nam đã tổ chức cho nhân dân sơ tán vào rừng khi địch càn quét, địch rút lui lại trở về bám đất làm ăn. Khi địa phương bị địch chiếm đóng, cán bộ và bộ đội rút vào hoạt động bí mật, hóa trang thành những đội đặc biệt (như võ trang tuyên truyền, võ trang trừ gian) để bám dân, bảo vệ dân, tạo thêm điều kiện để nhân dân giữ vững tinh thần kháng chiến. Công an tỉnh tổ chức đội công an danh dự gồm 23 đồng chí vào đây làm nhiệm vụ diệt tề, trừ gian, giám sát, ngăn chặn hoạt động phá hoại của bọn phản động. Công an các xã Thu Ngạc, Võ Miếu, Tinh Nhuệ, Lai Đồng, Thu Cúc, Kiệt Sơn, Thạch Kiệt đã lập được danh sách 40 tên tề và do thám tay sai của giặc để phục vụ cho công tác phá tề, trừ gian và đưa người của ta vào hoạt động trong các ban tề.


Mặc dù gặp nhiều khó khăn, địch vẫn tăng cường càn quét, liên tục lùng sục gắt gao, nhưng quân và dân vùng tây nam Phú Thọ quyết không để cho địch rảnh tay, củng cố lại vị trí chiếm đóng và yểm trợ cho đồng bọn đang bị ta đánh ở Mặt trận Sông Lô. Từ ngày 20-11 đến ngày 23-12-1947, quân và dân các huyện tây nam Phú Thọ phối hợp với bộ đội chủ lực tích cực tổ chức các trận chống càn, liên tục bao vây, quấy rối vị trí trú quân và đóng quân của địch. Quân và dân ta đã tiêu diệt 100 tên ở Đồn Uốt (Ngọc Lập), làm tan rã 1 trung đội ngụy binh ở Tu Vũ, vận động được 60 lính dõng ở đồn Thu Cúc trở về với gia đình, buộc địch phải rút khỏi Đồn Vàng. Du kích dân tộc Mường xã Ngọc Lập (Yên Lập) dùng tên nỏ tẩm thuốc độc diệt 9 tên, khiến địch lo sợ, hoang mang. Trước hoạt động chống càn ngày càng mạnh của quân và dân vùng tây nam Phú Thọ, địch buộc phải co lại cố thủ ở hai vị trí Thu Cúc và Tu Vũ.


Tóm lại, trên cả hai Mặt trận Sông Lô và tây nam Phú Thọ, quân dân Phú Thọ đã chiến đấu và phối hợp chiến đấu chặt chẽ, góp phần bẻ gãy gọng kìm sông Lô, đánh bại cuộc tấn công mùa Đông của giặc Pháp lên Việt Bắc, làm phá sản chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh của chúng, bảo toàn được lực lượng và giữ vững hậu phương, đưa cuộc kháng chiến của dân tộc chuyển sang giai đoạn mới. Những hoạt động chiến đấu và phục vụ chiến đấu của nhân dân và lực lượng vũ trang Phú Thọ trong chiến dịch này, đã để lại những kinh nghiệm rất quý báu. Giáp mặt với quân xâm lược Pháp, quân dân các địa phương trong tỉnh không tránh khỏi bỡ ngỡ. Nhưng lòng yêu nước, chí căm thù giặc, sự vững tin vào kháng chiến của đồng bào các dân tộc trong tỉnh, cùng với sự lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện của các cấp bộ Đảng, chính quyền, đoàn thể cứu quốc và sự trưởng thành của lực lượng vũ trang, là những nhân tố đảm bảo chiến thắng. Hình thái chiến tranh nhân dân địa phương ở nước ta được xác định rõ ràng. Hình thức tổ chức lực lượng vũ trang nhân dân được cụ thể hóa thêm, vừa chiến đấu vừa luyện quân ngay trong chiến đấu để lập công, được coi là một quy luật xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang trong chiến tranh nhân dân. Đó là những nhân tố vô cùng quan trọng, đảm bảo cho phong trào kháng chiến trên quê hương Phú Thọ không ngừng phát triển, thu được nhiều thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược 1945-1954.


Sáu mươi năm đã trôi qua, những tên đất, tên làng như Chí Đám, Sóc Đăng, Phan Lương, Khoan Bộ - Đoan Hùng... mãi mãi đi vào lịch sử hào hùng của dân tộc. Chiến thắng Sông Lô đã thể hiện truyền thống chiến đấu kiên cường, kinh nghiệm đoàn kết hiệp đồng chiến đấu giữa các lực lượng vũ trang, nhân dân các dân tộc Khu 10 và tỉnh Phú Thọ.


Ngày nay, chiến thắng Sông Lô vẫn còn vang vọng, là niềm tự hào của lực lượng vũ trang Phú Thọ. Vinh dự là những người chiến sĩ cách mạng chiến đấu dưới lá cờ bách chiến bách thắng của Đảng quang vinh và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, phát huy truyền thống "Trung thành - Anh dũng - Chiến thắng", lực lượng vũ trang Phú Thọ tiếp tục phát huy bản chất cách mạng của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, thi đua lập nhiều thành tích mới trong các lĩnh vực công tác, mãi mãi xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân các dân tộc Đất Tổ trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Ba, 2021, 03:26:33 pm
CHIẾN THẮNG SÔNG LÔ - MỘT THẮNG LỢI QUAN TRỌNG TRONG CHIẾN DỊCH VIỆT BẮC THU - ĐÔNG 1947


Đại tá HÀ ĐỨC DỤC
Trưởng phòng KHCN và MT Quân khu 2


Trong cuộc tiến công của thực dân Pháp lên Việt Bắc Thu - Đông năm 1947, sông Lô và đường số 2 được chúng xác định là một trong hai gọng kìm lớn để "siết chặt", "nghiền nát" trung tâm đầu não kháng chiến và chủ lực ta, hòng kết thúc chiến tranh một cách nhanh chóng.


Thực hiện sự chỉ đạo, chỉ huy của Trung ương Đảng và Tổng chỉ huy, Khu ủy và Bộ Tư lệnh Khu 10 đã xác định và xây dựng quyết tâm chiến đấu phá tan cuộc tiến công của Pháp, bẻ gãy "gọng kìm phía Tây" của chúng.


Cùng với các đơn vị chủ lực của Khu, thế trận toàn dân đánh giặc được xây dựng dọc sông Lô và đường số 2. Nơi nơi đều thực hiện "giương bẫy, giăng thành" với quyết tâm: địch đến bị đánh, địch lui bị chặn. Bằng thế trận đó, quân và dân Khu 10 đã ngoan cường, sáng tạo trong chiến đấu, cùng với cả Việt Bắc làm nên "mồ chôn giặc Pháp". Trong những chiến công còn vang vọng mãi, không thể không nhắc tới những trận đánh trên sông Lô lịch sử, như ước vọng "bao nhiêu dân Khu 10, mơ thành người sông Lô".


Để đối phó với cuộc tiến công của địch, ngày 15-10-1947, Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị "Phải phá cuộc tiến công mùa Đông của giặc Pháp". Trung ương Đảng chủ trương tập trung lực lượng và cử cán bộ chủ chốt của Bộ Tổng chỉ huy tổ chức đánh địch trên các mặt trận: Mặt trận Sông Lô - đường số 2, Mặt trận Đường số 4, Mặt trận Đường số 3.


Mặt trận Sông Lô - đường số 2 rộng, trải khắp Khu 10, từ Vĩnh Yên, Việt Trì, Đoan Hùng lên Tuyên Quang, Chiêm Hóa và Sơn Dương. Là một trong hai hướng phản công, có ý nghĩa quyết định đến việc đánh bại cuộc tiến công mùa Đông của giặc Pháp, nên Mặt trận Sông Lô - đường số 2, được Bộ Tổng chỉ huy cử hai đồng chí Trần Tử Bình và Tạ Xuân Thu chỉ đạo, có nhiệm vụ đánh quân cơ động trên đường bộ, đường thủy, ngăn chặn tăng viện tiếp tế, tiến tới bẻ gãy gọng kìm phía Tây của địch.


Với niềm tin tưởng tuyệt đối vào đường lối kháng chiến của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, thực hiện chủ trương của Khu ủy, quân và dân Khu 10 hăng hái, quyết tâm tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch, bẻ gãy gọng kìm sông Lô của chúng, góp phần phá tan cuộc tiến công Thu - Đông, bảo vệ căn cứ địa kháng chiến. Được chuẩn bị khẩn trương và chu đáo, với quyết tâm chiến đấu cao và cách đánh linh hoạt, sáng tạo trên cả đường thủy và trên bộ; sự phối - kết hợp giữa bộ binh, pháo binh và công binh, các lực lượng vũ trang Khu 10 (tiền thân của lực lượng vũ trang Quân khu 2 ngày nay) đã liên tục chặn đánh địch từ Phan Dư, Khoan Bộ, Đoan Hùng, Bình Ca, Khe Lau đến km 7 đường số 2, Đầm Hồng, Bản Ty, Chiêm Hoá... tiêu diệt nhiều sinh lực địch, bắn cháy nhiều tàu chiến, bẻ gãy gọng kìm phía Tây của chúng.


Chiến thắng sông Lô của quân và dân Khu 10, góp phần cùng quân dân cả nước làm phá sản chiến lược "đánh nhanh, thắng nhanh" của thực dân Pháp, đánh bại cuộc tiến công Thu - Đông 1947 của chúng lên Việt Bắc, bảo vệ an toàn căn cứ địa và cơ quan đầu não kháng chiến trong những năm đầu của cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp.


60 năm đã qua đi, nhưng chiến thắng Sông Lô vẫn luôn là niềm tự hào của các lực lượng vũ trang và nhân dân Khu 10, là một trong những chiến thắng điển hình của Quân đội nhân dân Việt Nam, góp phần tô thắm thêm truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc và mãi mãi đi vào lịch sử. Nghiên cứu về chiến thắng sông Lô, chúng ta thấy:

Một là: Chiến thắng sông Lô là bước khởi đầu, góp phần khắng định sự tất thắng của đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện trong chiến tranh giải phóng dân tộc Việt Nam.


Vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng và chiến tranh giải phóng Việt Nam, kế thừa và phát huy truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc, trước kẻ thù là thực dân Pháp xâm lược có binh hùng, tướng mạnh, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm đề ra đường lối lãnh đạo đúng đắn, dẫn dắt toàn quân, toàn dân đương đầu và từng bước đánh thắng kẻ thù. Điều đó được thể hiện một phần qua sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng vũ trang và các tầng lớp nhân dân Khu 10.


Bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, sau ngày toàn quốc kháng chiến 19-12-1946, lực lượng vũ trang Khu 10 còn nhiều thiếu thốn về vũ khí, trang bị... phương tiện kỹ thuật chiến tranh, đời sống của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn.


Nhận thấy "điểm yếu chí mạng" của giặc Pháp là gọng kìm quá dài, buộc phải dựa vào đường bộ và đường sông để giải quyết vấn đề tiếp tế và chuyển quân, lực lượng bị rải ra trên các trục đường bộ, đường sông, đội hình kéo dài, địa hình hiểm trở, xa căn cứ, vận tải tiếp tế khó khăn, Trung ương Đảng đã chỉ đạo các khu, các mặt trận tổ chức đánh địch rộng khắp bằng mọi thứ vũ khí, buộc địch phải phân tán đối phó, để hỗ trợ cho các đơn vị chủ lực của ta đánh địch. Đồng thời, sử dụng một phần ba tổng số bộ đội chủ lực, tổ chức thành những đại đội độc lập, trung đội vũ trang tuyên truyền, ban xung phong công tác, luồn sâu vào vùng địch tạm chiếm, động viên tổ chức nhân dân, phát động chiến tranh du kích tiêu hao địch rộng rãi, đồng thời làm nòng cốt cho phong trào quần chúng, buộc địch phải căng kéo lực lượng đối phó và bị động trên nhiều hướng, khiến cho chúng quân đông mà bị phân tán, trang bị mạnh nhưng không thể phát huy được hiệu lực.


Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, Khu ủy Khu 10 đã chỉ đạo cho các tỉnh xây dựng, củng cố tinh thần, tư tưởng, ý chí chiến đấu cho nhân dân và lực lượng vũ trang. Các tỉnh tiến hành thành lập các tổ công tác và đội tuyên truyền vào vùng địch hậu hoạt động, vừa xây dựng cơ sở chính trị vừa vận động nhân dân tích cực tham gia kháng chiến. Các đội võ trang tuyên truyền đã phối hợp tốt cùng các đại đội độc lập của các trung đoàn chủ lực Khu 10, thực hiện luồn sâu vào hoạt động vùng sau lưng địch xây dựng cơ sở, phát động chiến tranh du kích, toàn dân đánh giặc. Nhân dân trong vùng địch tạm chiếm thực hiện tiêu thổ kháng chiến "vườn không nhà trống", tản cư vào các lán bí mật trong rừng, nuôi giấu cán bộ, bộ đội và du kích hoạt động. Nhân dân vùng tự do, đi đôi với việc tích cực ủng hộ vật liệu, phương tiện và dụng cụ, hàng triệu người, đã tham gia các đợt tổng phá hoại các công trình kiến trúc kiên cố, cầu cống, đường giao thông, đắp ụ trên đê, cắm kè trên sông, rào làng, để ngăn cản bước tiến của quân giặc. Các đội du kích, sau khi được xây dựng, củng cố về lực lượng, vũ khí, trang bị, đã kiên cường bám đất, bám dân, xây dựng cơ sở, diệt tề, trừ gian ở các địa phương, ngăn cản bước tiến và tiêu hao, tiêu diệt quân địch.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Ba, 2021, 03:27:17 pm
Như vậy, để đối mặt và giành được thắng lợi với kẻ thù mạnh hơn ta gấp bội về tiềm lực quân sự, Trung ương Đảng đã đề ra đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh là hoàn toàn đúng đắn. Quân và dân Khu 10 đã phát huy hết sức mạnh của mình, vận dụng linh hoạt cách đánh du kích, bằng nhiều loại vũ khí tự tạo, phát huy được thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp, trong đó lực lượng vũ trang ba thứ quân đã tỏ rõ vai trò nòng cốt cho toàn dân đánh giặc. Đây chính là bước tiếp nối truyền thống đánh giặc trong lịch sử dựng nước và giữ nước của ông cha, là bước thể nghiệm để Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục chủ trương, đường lối "Kháng chiến toàn dân, toàn diện" giành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam.


Hai là: Chiến thắng sông Lô cùng với những thắng lợi trong chiến dịch phản công của ta trong Thu - Đông 1947, đã mở đầu cho sự hình thành và phát triển nghệ thuật chiến dịch của Quân đội nhân dân Việt Nam.


Sau khi giành được độc lập, Chính phủ đã ban hành các sắc lệnh đặt nền tảng cho việc xây dựng quân đội chính quy của quốc gia, các chi đội Vệ quốc đoàn đã phát triển thành các trung đoàn và tiểu đoàn độc lập. Nhưng do khả năng tác chiến ở quy mô cấp trung đoàn hạn chế, trình độ kỹ thuật, chiến thuật của bộ đội, trình độ tổ chức chỉ huy của cán bộ và tình hình trang bị của ta chưa đủ điều kiện để tiến hành những trận đánh lớn có thể chặn đứng cuộc tiến công của địch. Các binh chủng Công binh, Pháo binh, Phòng không chưa được tổ chức thành các đơn vị lớn. Phương tiện thông tin liên lạc thô sơ, chủ yếu là chạy bộ. Cung cấp hậu cần dựa vào chính quyền và nhân dân địa phương là chính. Đồng thời, địa bàn tác chiến của Mặt trận Sông Lô nói riêng và chiến dịch Việt Bắc nói chung rộng, khó bố trí đội hình tác chiến lớn.


Nhận thấy giặc Pháp "phải mạo hiểm... gặp khó khăn lớn, nếu ta biết khai thác đánh vào chỗ yếu của địch thì nhất định cuộc tiến công sẽ thất bại...", nên chỉ đạo, chỉ huy của ta trong chiến dịch Việt Bắc nói chung và Mặt trận Sông Lô nói riêng, là đã không đem các trung đoàn chủ lực (còn hạn chế về vũ khí trang bị và kinh nghiệm chiến đấu...) ra đối mặt với lực lượng lớn của địch, có trang bị hiện đại. Thường vụ Trung ương Đảng đã chủ trương sử dụng lực lượng và hình thức tác chiến là: "Đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung" để đối phó với cuộc tiến công Việt Bắc của địch. Bằng các đơn vị nhỏ (phổ biến là đại đội), với chiến thuật phục kích là chủ yếu, phối hợp hoạt động tác chiến giữa chủ lực và địa phương, ta đã thực hiện tiêu hao, tiêu diệt địch rộng rãi.


Ngày 15-10-1947, Bộ Tổng chỉ huy ra Huấn lệnh ĐB/101, đã nêu những nguyên tắc mới về tổ chức bộ đội và bố trí lực lượng, về nhiệm vụ của các đại đội độc lập và tiểu đoàn tập trung. Huấn lệnh chỉ rõ: "... Bố trí và tác chiến cần phải thích hợp với tình thế... thực hiện ngay việc lấy đại đội làm đơn vị bố trí trên các chiến trường địa phương... Bộ đội chủ lực thì đặt ở những nơi cơ động gần mặt trận hoặc đường giao thông quan trọng trên nguyên tắc là nên tập trung từng tiểu đoàn phụ trách từng khu vực một". Nhiệm vụ của đại đội độc lập là: "Quấy rối, tiêu diệt từng bộ phận nhỏ của địch, đôn đốc phá hoại trong địa phương, giúp đỡ vũ trang tuyên truyền và phối hợp tác chiến với dân quân địa phương khi địch đến. Phối hợp với bộ đội lưu động đánh những trận đánh lớn". Nhiệm vụ của các tiểu đoàn tập trung là: "Phối hợp với các đại đội độc lập và du kích địa phương tiêu diệt địch ở những vị trí lẻ hay đang vận chuyển trên đường giao thông". Hình thức tác chiến chủ yếu được xác định: "trên cả ba mặt trận là đánh phục kích với quy mô cấp đại đội độc lập, nhằm tiêu hao, tiêu diệt bộ phận nhỏ quân địch đang cơ động là chủ yếu. Các tiểu đoàn tập trung phải luôn đứng chân ở địa bàn, sẵn sàng cơ động đánh địch khi chúng xuất hiện".


Có thể nói, chiến thắng sông Lô là một trong những chiến thắng trong năm đầu sau toàn quốc kháng chiến của quân đội ta, đánh dấu bước mở đầu cho sự hình thành và phát triển nghệ thuật chiến dịch của quân đội ta, thể hiện sự vận dụng sáng tạo nghệ thuật đánh giặc "lấy yếu đánh mạnh", "lấy nhỏ thắng lởn", "lấy ít địch nhiều" của tổ tiên ta, để chiến thắng kẻ thù mạnh hơn mình gấp nhiều lần. Những trận đánh nhỏ, rộng khắp, cùng các trận đánh lớn, quan trọng như trận phục kích diệt địch cơ động đường sống ở Khoan Bộ, Đoan Hùng, Khe Lau..., hay phục kích tiêu diệt quân cơ động vận chuyển bằng đường bộ tại km 7 - đường số 2, đã thực hiện được ý định chung của chiến dịch, cả ba mục đích của cuộc hành binh đều không đạt được, địch buộc phải lui quân với những tổn thất nặng nề, làm thất bại hoàn toàn cuộc tiến công của giặc Pháp, bảo vệ cơ quan đầu não kháng chiến, bảo vệ căn cứ địa Việt Bắc. Vượt qua những thử thách to lớn đầu tiên, quân đội ta đã trưởng thành một bước quan trọng nghệ thuật tác chiến, càng đánh càng hiểu về địch, hiểu mình. Thông qua tác chiến chiến dịch Thu - Đông 1947, đã hình thành nên nghệ thuật chiến dịch phản công của Quân đội nhân dân Việt Nam.


Ba là: Chiến thắng sông Lô là chiến thắng của sự phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ lực lượng giữa bộ binh, pháo binh, công binh và phòng không của quân đội ta.


Trong số những trận đánh vang dội của quân và dân Khu 10 trên Mặt trận Sông Lô trong Thu - Đông năm 1947, thì chiến thắng tại Đoan Hùng, ngày 24-10-1947, là trận đánh then chốt có hiệu quả nhất, thể hiện cách đánh hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng, tinh thần chiến đấu dũng cảm, cách đánh mưu trí, sáng tạo của quân và dân Khu 10, góp phần quan trọng trong việc bẻ gãy gọng kìm thứ 2 của địch.


Ngày 24-10-1947, Bộ chỉ huy Khu sử dụng 2 trung đội pháo binh 200 và 225 với 2 khẩu pháo 75mm, 2 đại đội bộ binh (663, 664), đại đội cảnh vệ Khu và lực lượng du kích địa phương, tổ chức phục kích ở khu vực ngã ba sông Lô và sông Chảy, nơi có nền đất tốt, ngụy trang kín đáo. Tại đây, ngoài các trận địa chính ta đã bố trí một số trận địa giả, dùng cây bôi sơn đen giả làm nòng pháo, dùng rơm rạ đốt khi trận địa chính nổ súng để ngụy trang, lừa máy bay địch đến bắn phá. Một đại đội bộ binh được bố trí ở Sóc Đăng sẵn sàng đánh địch đổ bộ bằng đường không, ngăn chặn tuyến đường bộ từ Việt Trì - Yên Bình - Tuyên Quang. Một đại đội khác được bố trí ở Ngọc Trúc để bảo vệ trận địa pháo. Đại đội cảnh vệ được bố trí chặn đánh địch từ Tuyên Quang tiến công theo bờ sông xuống ứng cứu. Đồng thời để nghi binh, lừa địch, ta đã sử dụng hơn 200 quả bưởi được sơn đen giả làm thủy lôi, thả trôi trên sông Lô để làm chậm tốc độ cơ động đường sông, buộc tàu chiến địch phải đi vào đúng luồng đã định để ta tiêu diệt.


Kết quả, ta đã bắn chìm 1 tàu chiến và 2 ca nô, bắn trọng thương 2 ca nô khác, bắn rơi 1 máy bay; hơn 100 tên địch bị tiêu diệt, nhiều tên bị thương, 3 tên bị bắt; ta thu 17 súng trường Mỹ, 3 tiểu liên, 3 súng máy 12,7mm, 4 súng FM, 1 súng cối 60mm có 20 viên đạn, 4 khẩu súng côn 12mm, 1 cối 81mm có 22 viên đạn, 1 pháo 75mm, 1 Ba-zô-ca, 5 lựu đạn, 1 máy vô tuyến điện, 1 thùng đạn và một số lớn thuốc tân dược. Đó là kết quả của sự phối hợp, hiệp đồng lực lượng chặt chẽ giữa bộ binh, pháo binh, công binh và phòng không của quân đội ta; hiệp đồng giữa quân và dân Khu 10. Từ trận đánh trên, cùng với những thắng lợi của chiến dịch Việt Bắc, nhiều nguyên tắc tác chiến, chỉ huy hiệp đồng binh chủng của Quân đội nhân dân Việt Nam đã được hình thành.


Cuộc tiến công lên căn cứ địa Việt Bắc trong Thu - Đông 1947 của thực dân Pháp là một thử thách vô cùng quyết liệt đối với toàn quân, toàn dân ta trong năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc. Với tinh thần "Thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ", bằng ý chí kiên cường, tinh thần quyết chiến, quyết thắng và trí thông minh sáng tạo, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã kịp thời đưa ra giải pháp thích hợp, từng bước chuyển thế trận, giành lại thế chủ động đánh địch, chuyển yếu thành mạnh, làm cho địch từ mạnh sang yếu, mất thế và lực. Từ đây, thực dân Pháp phải theo đuổi cuộc chiến tranh một cách bị động, kéo dài ngoài ý muốn của chúng. Thắng lợi và kinh nghiệm chiến thắng sông Lô, cùng với ý nghĩa của chiến dịch phản công Việt Bắc Thu - Đông năm 1947, là vốn quý để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược vững bước tiến lên, từng bước làm thất bại các âm mưu, kế hoạch của kẻ thù.


60 năm qua, ý nghĩa và giá trị của chiến thắng Sông Lô vẫn luôn đi cùng với những bước trưởng thành, lớn mạnh của quân đội ta nói chung và quân, dân Khu 10 nói riêng. Chiến thắng đó luôn cổ vũ và tiếp sức cho lực lượng vũ trang Quân khu 2 tiếp bước cha anh, thi đua giành được nhiều thành tựu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hôm nay và mai sau.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 01 Tháng Tư, 2021, 11:02:23 am
VIỆT BẮC - NƠI RA ĐỜI CÁC QUYẾT SÁCH LỚN CỦA ĐẢNG
TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP
(1945-1954)


Đại tá TRẦN XUÂN QUANG
Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 1


Trước âm mưu của thực dân Pháp quyết tâm xâm lược nước ta một lần nữa, Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh tập trung lãnh đạo toàn dân và toàn quân ta "kháng chiến và kiến quốc". Nhằm tạo chỗ đứng chân, xây dựng tiềm lực chuẩn bị và tiến hành chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú trọng chỉ đạo xây dựng căn cứ địa kháng chiến của Trung ương và căn cứ địa của từng địa phương.


Sau ngày tuyên bố độc lập một thời gian ngắn, Thường vụ Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương tích cực củng cố căn cứ địa Việt Bắc. Các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Trần Đăng Ninh lần lượt được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ bí mật đi xây dựng căn cứ địa Việt Bắc, lấy các huyện Định Hoá, Đại Từ, Phú Lương (Thái Nguyên); Chợ Mới, Chợ Đồn (Bắc Kạn); Sơn Dương, Yên Sơn, Chiêm Hóa (Tuyên Quang) làm địa bàn chính.


Việt Bắc, quê hương của Cách mạng Tháng Tám, một lần nữa lại được đảm nhiệm sứ mệnh lịch sử, được Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn làm căn cứ địa của cả nước. Việt Bắc là một địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng, có khả năng cơ động cao, như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Tiến có thể đánh, lui có thể giữ”. Hơn nữa, núi rừng Việt Bắc rộng lớn và thiên hiểm, có khả năng che mắt và cản trở hoạt động của địch, tạo thuận lợi cho hoạt động của ta. Việt Bắc lại là vùng kinh tế tự cấp, tự túc khá phong phú, với nguồn lương thực, thực phẩm tại chỗ trong nhân dân. Đặc biệt, nhân dân các dân tộc Việt Bắc có truyền thống đoàn kết yêu nước, anh dũng, bất khuất chống ngoại xâm và có tinh thần cách mạng cao, một lòng theo Đảng và được rèn luyện trong cuộc vận động Cách mạng Tháng Tám, sẵn sàng và kiên quyết kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.


Hưởng ứng Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ tháng 3 đến tháng 5-1947, các cơ quan Đảng, Chính phủ, Mặt trận, quân đội, các nhà trường, công xưởng cùng hàng vạn đồng bào, cán bộ, chiến sĩ ở Hà Nội và các tỉnh miền xuôi đã lên Việt Bắc để tham gia kháng chiến. Từ đây, căn cứ địa Việt Bắc trở thành "Thủ đô kháng chiến"; hằng ngày, những tin tức, chủ trương, đường lối kháng chiến của Đảng, Chính phủ được truyền đi trên làn sóng điện của Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam. Việt Bắc trở thành niềm tin kháng chiến nhất định thắng lợi của nhân dân cả nước.


Căn cứ địa Việt Bắc là nơi diễn ra nhiều sự kiện quan trọng của đất nước, nơi Trung ương Đảng, Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Tổng chỉ huy đã ra các quyết sách lớn mang tính quyết định của cuộc kháng chiến trường kỳ và anh dũng của dân tộc ta chống thực dân Pháp xâm lược, quan trọng là từ An toàn khu Định Hóa (Thái Nguyên), ngày 15-10-1947, Thường vụ Trung ương Đảng đã hạ quyết tâm "Phải phá cuộc tiến công mùa Đông của giặc Pháp"; quyết định triển khai phương châm "Đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung" trên toàn quốc; quyết định mở các chiến dịch ỏ Đông Bắc và Tây Bắc; hạ quyết tâm mở chiến dịch Biên Giới Thu - Đông 1950; các chiến dịch Trung Du, Hoàng Hoa Thám, Hà - Nam - Ninh, chiến dịch Hoà Bình, Tây Bắc, Sầm Nưa; đặc biệt là chiến cuộc Đông - Xuân 1953 - 1954 với đỉnh cao là trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ.


Từ giữa năm 1947, sau khi nhận thêm một số quân mới tăng viện từ Pháp sang, thực dân Pháp tiếp tục mở các cuộc tiến công ra vùng nông thôn và ráo riết chuẩn bị mở cuộc tiến công quân sự quy mô lớn trong Thu - Đông 1947. Về quân sự, địch điều thêm quân ra Bắc Bộ, tăng cường trinh sát đường không, huấn luyện quân dù, biệt kích... Về chính trị, Cao ủy Pháp Bô-la tuyên bố thiết lập trở lại sự thống trị của Pháp ở Đông Dương, xây dựng chính quyền bù nhìn.


Về phía ta, từ ngày toàn quốc kháng chiến (19-12-1946), cuộc kháng chiến đã được phát động trên phạm vi toàn quốc. Trước "thế địch như lửa", chủ trương của Đảng ta là giữ gìn chủ lực, đánh bại chiến lược "Đánh nhanh, thắng nhanh" của địch. Phát hiện dấu hiệu về những hành động quân sự mới của địch, ngày 15-9-1947, tại Việt Bắc, Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị tích cực chuẩn bị tác chiến mùa Đông về mọi mặt (đó là động viên tinh thần kháng chiến, huấn luyện bộ đội, cất giấu kho tàng...), sẵn sàng đối phó với cuộc tiến công có thể lan rộng và ác liệt của quân đội Pháp (trong đó có việc sẵn sàng chống các cuộc hành binh của địch đánh xuyên mũi dùi, đánh vòng thật rộng và nhảy dù đổ bộ sau lưng ta). Cùng ngày, Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị "Sửa soạn phá những cuộc tấn công lớn của địch". Tiếp đó, từ ngày 27 đến ngày 29-9-1947, Trung ương Đảng đã tổ chức Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ tư. Hội nghị đã nhận định âm mưu chiến lược sắp tới của quân Pháp là tiêu diệt chủ lực của ta, phá các căn cứ, cơ quan đầu não của ta; đồng thời phán đoán hướng tiến công chủ yếu của cuộc hành binh lớn của địch.


Quán triệt và tổ chức thực hiện chỉ thị của Thường vụ Trung ương Đảng, Nghị quyết Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ tư, ngày 4-10-1947, Bộ Tổng chỉ huy ra Mệnh lệnh tác chiến, khẳng định địch tiến hành cuộc tiến công lớn trong Thu - Đông 1947. Về hướng tiến công chủ yếu của địch, Bộ Tổng chỉ huy dự kiến có ba khả năng: đồng bằng Bắc Bộ, Bình - Trị - Thiên, Việt Bắc. Nếu đánh lên Việt Bắc, hướng chính của địch là từ trung du (Phúc Yên, Vĩnh Yên, Phú Thọ...) đánh lên.


Như vậy, trước Thu - Đông 1947, Thường vụ Trung ương Đảng, Hội nghị quân sự toàn quốc và Bộ Tổng chỉ huy đã nhận định đúng về âm mưu địch tăng cường và mở rộng chiến tranh; phán đoán đúng ý đồ hành binh lớn của địch. Từ đó, Đảng ta đã lãnh đạo, chỉ đạo quân và dân cả nước, đặc biệt là chiến trường chính Bắc Bộ, tích cực chuẩn bị về mọi mặt, sẵn sàng phá tan cuộc tiến công mùa Đông của thực dân Pháp.


Sáng ngày 7-10-1947, cuộc tiến công chiến lược của Pháp lên Việt Bắc bắt đầu.

Ngay tối hôm đó, Thường vụ Trung ương Đảng điện cho các Khu ủy: "7 tháng 10; Pháp nhảy dù chiếm Bắc Kạn, Chợ Mới mưu tấn công Việt Bắc. Vậy Đoàn thể ra lệnh: Khu ủy và Chiến khu ủy chỉ huy bộ đội đánh mạnh để chia sẻ lực lượng địch và phá kế hoạch của chúng".


Cũng ngay ngày 8-10, Bộ Tổng chỉ huy ra Nhật lệnh kêu gọi bộ đội và dân quân chiến đấu phá tan cuộc tiến công mùa Đông của địch và Quân lệnh diệt địch, bảo vệ Việt Bắc. Nhật lệnh và Quân lệnh vạch rõ mưu đồ tiến công của thực dân Pháp, chỉ thị những nhiệm vụ cụ thể cho Vệ quốc quân, du kích, dân quân tự vệ, ủy ban kháng chiến các cấp và toàn thể đồng bào. Bộ Tổng chỉ huy cũng ra lệnh cho quân và dân cả nước phá kế hoạch Thu - Đông của địch "Chiến đấu theo mệnh lệnh đã định để phối hợp với Việt Bắc”.


Ngày 9-10, Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị cần kíp cho tỉnh Bắc Kạn kịp thời lãnh đạo quân và dân trong tỉnh đánh địch, bảo vệ nhân dân, cơ quan, kho tàng. Thường vụ Trung ương Đảng khẳng định: "Chúng ta có ba điều kiện để thắng: thiên thời, địa lợi, nhân hoà. Điều cần thiết là chúng ta biết lợi dụng triệt để những điều kiện ấy để giành lấy thắng lợi".


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 01 Tháng Tư, 2021, 11:03:15 am
Ngày 15-10-1947, Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị "Phải phá cuộc tấn công mùa Đông của giặc Pháp". Chỉ thị nhận định: "Cuộc tấn công này của địch không tỏ ra chúng mạnh... mà tỏ ra chúng yếu, phải mạo hiểm" và "cuộc tấn công này chỉ ồ ạt lúc đầu". "Địch dàn quân ra càng mỏng... là dịp cho ta để đánh chúng ở miền xuôi, chúng đóng quân nơi xa càng dễ cho ta bao vây chặt đường tiếp tế, đánh chúng một cách rất có lợi trong khi chúng vận động". Chỉ thị vạch rõ phương hướng hành động cụ thể cho quân và dân ta là: "Giam chân địch tại mấy căn cứ chúng vừa chiếm, bao vây những căn cứ đó... Triệt để làm vườn không nhà trống xung quanh chỗ địch chiếm đóng... Chặt đứt giao thông liên lạc giữa các cứ điểm của địch, không cho chúng tiếp ứng và tiếp tế... Phải giữ gìn chủ lực, nhưng đồng thời cũng phải nhằm những chỗ yếu của địch mà đánh những trận vang dội, những trận tiêu diệt... bắt địch chuyển sang thế phòng thủ"...


Bản chỉ thị ngày 15-10 đã nêu cao tinh thần quyết thắng của quân và dân ta, phân tích một cách khách quan, đầy đủ tình hình ta và địch khi Pháp vừa đưa quân lên Việt Bắc, khẳng định giặc Pháp nhất định chuốc lấy thất bại, ta nhất định giành được thắng lợi to lớn. Chỉ thị ngày 15-10-1947 là nhân tố quyết định quan trọng trong tình thế cực kỳ khó khăn, đã góp phần đưa quân và dân cả nước nói chung, quân và dân Việt Bắc nói riêng, đến chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947.


Trên cơ sở quyết định của Thường vụ Trung ương Đảng, trong cuộc họp chiều ngày 14-10-1947, về việc thực hiện ngay phương châm "Đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung”, Bộ Tổng chỉ huy đã ra "Huấn lệnh ĐB/101 gửi các khu 1, 10, 12, 14", nhấn mạnh: "Về chiến lược hiện nay không có sự phân biệt hậu phương và tiền phương... Về sự cần thiết phát động du kích chiến tranh rộng rãi... thực hiện ngay việc lấy đại đội làm đơn vị bố trí trên các chiến trường địa phương... bộ đội chủ lực thì đặt ở những nơi cơ động gần mặt trận hoặc đường giao thông quan trọng và nguyên tắc là nên tập trung từng tiểu đoàn phụ trách từng khu vực một". Huấn lệnh cũng định rõ nhiệm vụ của "Đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung"...


Chấp hành huấn lệnh của Bộ Tổng chỉ huy, chỉ trong thời gian ngắn, Chiến khu 1, Chiến khu 12 đã phái 23 đại đội bộ đội chủ lực về các địa phương làm nhiệm vụ. Với phương châm trên, các đại đội độc lập đã đảm nhiệm tốt vai trò làm nòng cốt của chiến tranh nhân dân địa phương, giúp đỡ xây dựng lực lượng dân quân du kích và phối hợp, dìu dắt trong chiến đấu và lập nên nhiều chiến công. Các tiểu đoàn tập trung đã liên tục cơ động trên các mặt trận, bám sát địch, vận dụng các hình thức chiến thuật liên tục đánh địch trên đường cơ động càn quét và ở ngay cả những nơi chúng đồn trú.


Có thể nói phương châm "Đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung" trong chiến dịch phản công Việt Bắc Thu - Đông 1947 là một sáng tạo về nghệ thuật quân sự Việt Nam trong những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp. Đó không chỉ là bài học kinh nghiệm ở tầm chiến dịch mà về cả chiến lược, không chỉ ở chiến trường Việt Bắc Thu - Đông 1947 mà trên phạm vi cả nước trong những năm sau đó.


Qua 75 ngày đêm anh dũng chiến đấu, quân và dân Việt Bắc đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6.000 tên địch, bắn rơi 16 máy bay, bắn chìm 11 tàu chiến và ca nô, bắn cháy, phá hủy hàng trăm xe quân sự, hơn 100 pháo, cối và hàng nghìn vũ khí bộ binh, thu hàng trăm tấn quân trang quân dụng... Điều quan trọng là đã làm phá sản chiến lược "Đánh nhanh, thắng nhanh" của thực dân Pháp, đánh bại cuộc hành binh chiến lược của chúng với "đòn quyết định" hòng đè bẹp cuộc kháng chiến của nhân dân ta để kết thúc chiến tranh.


Chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947 của quân và dân cả nước nói chung, quân và dân Việt Bắc nói riêng, là một thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, tạo ra bước ngoặt mới của kháng chiến thần thánh của nhân dân ta. Bằng sức mạnh to lớn của chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, được khởi nguồn từ "quần chúng chiến tranh" ở Việt Bắc, quân và dân ta đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, tạo đà để ta chuyển cục diện kháng chiến, liên tục tiến công địch trên khắp các chiến trường.


Tại căn cứ địa Việt Bắc, trong những ngày tháng Thu - Đông 1947 đầy khó khăn thử thách trong vòng vây kẻ thù, nhưng trước sự đùm bọc, che chở, bảo vệ an toàn tuyệt đối của đồng bào các dân tộc, Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Tổng chỉ huy luôn nắm chắc, bám sát tình hình trên chiến trường cả nước, sáng suốt và kịp thời đề ra những quyết sách lớn lãnh đạo toàn dân kháng chiến. Đặc biệt, đó là sự thường xuyên, trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo của Thường vụ Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Tổng chỉ huy đối với quân và dân Việt Bắc, đó cũng là niềm vinh dự, tự hào động viên lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc Việt Bắc hăng hái chiến đấu bảo vệ căn cứ địa kháng chiến của cả nước.


Bị thất bại nặng nề trong cuộc hành binh chiến lược lên Việt Bắc Thu - Đông 1947, thực dân Pháp phải chuyển sang đánh kéo dài, thực hiện âm mưu "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt". Trong 2 năm 1948 - 1949, giặc Pháp tăng cường củng cố các vị trí chiếm đóng ở Việt Bắc, đặc biệt là phòng tuyến Đông Bắc, nhằm ngăn chặn, chia cắt mối liên hệ của ta với bạn bè quốc tế.


Thu - Đông 1950, Trung ương Đảng và Bộ Tổng tư lệnh quyết định mở chiến dịch tiến công Biên Giới, nhằm: tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, mở đường giao thông với các nước bạn, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc. Thực hiện tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Chiến dịch này chỉ cho đánh thắng, không cho đánh bại", Bộ Tổng tư lệnh đã sử dụng tập trung phần lớn lực lượng chủ lực trên chiến trường Bắc Bộ (tương đương 2 đại đoàn) và huy động một lực lượng lớn quân và dân Liên khu Việt Bắc tham gia chiến đấu và phục vụ chiến dịch. Đây cũng là chiến dịch mà Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp ra trận.


Sau 29 ngày đêm liên tục chiến đấu tiến công địch, chiến dịch Biên giới đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh giao phó. Quân và dân ta đã tiêu diệt và bắt gần 8.300 tên địch, thu trên 3.000 tấn vũ khí, trang bị và phương tiện chiến tranh, giải phóng hoàn toàn Việt Bắc, mở thông biên giới từ Cao Bằng đến Đình Lập (Lạng Sơn).


Chiến thắng Biên Giới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với cục diện của cuộc kháng chiến; mở ra thời kỳ mới chuyển sang phản công và tổng phản công. Đối với thực dân Pháp, thất bại ở Biên giới là "thất bại chưa từng có trong lịch sử chiến tranh xâm lược của đế quốc Pháp", thất bại này còn kéo theo sự phá sản của hàng loạt các kế hoạch quân sự, chính trị khác của thực dân Pháp.


Những năm tiếp theo, tại căn cứ địa Việt Bắc, Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Tổng tư lệnh tiếp tục chỉ đạo các chiến dịch tiến công ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, đặc biệt là chỉ đạo chiến lược chiến cuộc Đông - Xuân 1953 - 1954.


Đông - Xuân 1953-1954, được đế quốc Mỹ giúp sức, chi phí phần lớn cho chiến tranh, thực dân Pháp đã đề ra và ráo riết thực hiện kế hoạch Na-va, quyết chuyển bại thành thắng. Trung tâm kế hoạch này là tổ chức, sử dụng khối chủ lực cơ động, quyết chiến với chủ lực ta ở chiến trường Bắc Bộ hòng giành thắng lợi quyết định. Đầu năm 1954, Pháp đã đưa tổng số quân lên đến 480.000 tên, trong đó có 146.000 lính Âu - Phi, xây dựng khối chủ lực cơ động gồm 100 tiểu đoàn bộ binh, 10 tiểu đoàn dù, sẵn sàng mở các cuộc hành quân quy mô lớn để diệt chủ lực của ta, đồng thời sẵn sàng cơ động ứng cứu những nơi bị uy hiếp, sẵn sàng đọ sức và đánh bại các cuộc tiến công của chủ lực ta.


Trước âm mưu của địch, tại Việt Bắc, Bộ Chính trị Trung ương Đảng chủ trương mở nhiều hướng tiến công để phân tán khối chủ lực cơ động của địch vừa tập trung được, tiêu diệt nhiều sinh lực của chúng; đồng thời đẩy mạnh chiến tranh du kích vùng sau lưng địch. Bộ Chính trị đề ra nguyên tắc chỉ đạo chiến lược và chỉ đạo tác chiến là giữ quyển chủ động, chọn nơi địch sơ hở, nơi địch tương đối yếu mà đánh, kiên quyết buộc địch phải phân tán, đánh chắc thắng, đánh tiêu diệt, vừa đánh địch vừa bồi dưỡng lực lượng ta.


Trước nguy cơ bị uy hiếp ở những hướng, khu vực chiến lược, địch buộc phải phân tán phần lớn các tiểu đoàn cơ động đã tập trung được ở đồng bằng Bắc Bộ, vội vã thiết lập nhiều tập đoàn cứ điểm trên khắp Đông Dương, trong đó Điện Biên Phủ là một tập đoàn cứ điểm lớn.


Ngày 6-12-1953, tại lán làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở đồi Tỉn Keo, xã Phú Đình, huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên, Bộ Chính trị họp nghe Tổng Quân ủy báo cáo quyết tâm và đã quyết định mở chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, trận quyết chiến chiến lược của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến trường kỳ và anh dũng chống thực dân Pháp xâm lược.


Việt Bắc - nơi cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến, nơi đã từng diễn ra các cuộc đọ sức quyết liệt giữa ta và giặc Pháp trong những năm đầu kháng chiến, nay trở thành hậu phương lớn, hậu phương trực tiếp của Điện Biên Phủ. Từ nơi đây, các đồng chí lãnh đạo của Đảng, Bộ Tổng tư lệnh đã cùng nhiều đoàn quân, nhiều đoàn dân công lên đường ra mặt trận.


Những ngày tháng đầu năm 1954, quân và dân Việt Bắc vừa tiếp tục làm tròn sứ mệnh lịch sử của mình là bảo vệ an toàn căn cứ địa Trung ương, đồng thời vừa động viên cao độ sức người, sức của cho Điện Biên Phủ với tinh thần "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng” và xứng đáng với lời tiên đoán, lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh "Cách mệnh đã do Việt Bắc mà thành công, thì kháng chiến sẽ do Việt Bắc mà thắng lợi".


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 01 Tháng Tư, 2021, 11:05:22 am
QUÂN VÀ DÂN THÁI NGUYÊN
TRONG CHIẾN DỊCH VIỆT BẮC THU - ĐÔNG 1947


Đại tá NGUYỄN VĂN TRÌNH
Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Thái Nguyên


Thái Nguyên là một tỉnh miền núi và trung du thuộc Bắc Bộ, nằm ở vị trí trung tâm của vùng chiến lược phía bắc sông Hồng, "Sẵn đường giao thông với quốc tế; liền với trung tâm tam giác, tức là có cái thế uy hiếp Hà Nội. Phía Đông có thể men theo rừng núi mà tiến đến lân cận Hải Phòng và đi ra bể. Phía Tây có thể men theo rừng núi mà tiến về Hà Đông hay liên lạc với Thanh Nghệ"1 (Võ Nguyên Giáp, Khi giải phóng - một sự nghiệp vĩ đại của phong trào giải phóng dân tộc). Nhân dân các dân tộc Thái Nguyên vốn có truyền thống đoàn kết, giàu lòng yêu nước và cách mạng, cần cù trong lao động và kiên cường anh dũng chiến đấu chống giặc ngoại xâm.


Thái Nguyên là một vùng đất có hội tụ đủ các yếu tố "thiên thời, địa lợi, nhân hòa". Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, ông cha ta đã từng coi "Thái Nguyên là phên giậu phía Bắc của kinh thành Thăng Long".


Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, Thái Nguyên là 1 trong 6 tỉnh của Khu Giải phóng Việt Bắc. Sau ngày toàn quốc kháng chiến (19-12-1946), Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định chọn vùng đất giáp ranh các tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang, Bắc Kạn (gồm các huyện Định Hoá, Đại Từ, Phú Lương, Võ Nhai - tỉnh Thái Nguyên; Sơn Dương, Yên Sơn, Chiêm Hóa - tỉnh Tuyên Quang và Chợ Đồn - tỉnh Bắc Kạn) để xây dựng thành Trung tâm ATK của Căn cứ địa Việt Bắc - "Thủ đô kháng chiến" của cả nước. Từ đầu mùa Hè năm 1947, các cơ quan của Trung ương Đảng, Bộ Quốc phòng - Tổng chỉ huy đã đến ở và làm việc tại Thái Nguyên. Ngày 20-5-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến ATK Định Hóa (Thái Nguyên), cùng với Trung ương Đảng và Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo toàn quân và toàn dân tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.


Nhận rõ vinh dự và trách nhiệm của một địa bàn chiến lược, được Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn làm Trung tâm Căn cứ địa kháng chiến của cả nước, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh ủy và Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh, quân và dân Thái Nguyên đã đoàn kết một lòng, quyết tâm xây dựng và bảo vệ vững chắc khu căn cứ.


Thu - Đông 1947, thực dân Pháp huy động khoảng 12.000 quân, với khoảng 800 xe, 40 máy bay, 40 tàu xuồng, mở cuộc hành binh chiến lược, bất ngờ tiến công lên căn cứ địa Việt Bắc. Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định: "Có thể nói trong kháng chiến chống Pháp, cho đến trước Điện Biên Phủ thì đây là cuộc tiến công chiến lược lớn nhất, tập trung ở mức độ cao lực lượng thủy, lục, không quân của thực dân Pháp lúc bấy giờ đánh lên Căn cứ địa kháng chiến Việt Bắc, nhằm mục tiêu tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến, tiêu diệt bộ đội chủ lực, phá hủy cơ sở vật chất và mọi tiềm năng kháng chiến của ta, thực hiện chiến lược "Đánh nhanh, thắng nhanh”, tạo điều kiện thành lập chính phủ bù nhìn Bảo Đại để nhanh chóng đi đến chấm dứt cuộc chiến"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Phát biểu tại Hội thảo khoa học "50 năm Thái Nguyên trong chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947 (1947-1997), do Tỉnh ủy Thái Nguyên tổ chức ngày 6-12-1997).


Mở đầu cuộc tiến công này, trong hai ngày 7 và 8-10-1947, giặc Pháp huy động hàng chục máy bay2 (Theo sách "Lịch sử quân dù Pháp" lưu tại Thư viện Trung ương quân đội thì "tổng số máy bay địch huy động để đánh phá và thả quân dù xuống thị xã Bắc Kạn là: 14 chiếc JU52 (Gioong ke) + 20 chiếc ĐaK (Đa-cô-ta), thị trấn Chợ Mới: 4 JU + 10 ĐaK, huyện lỵ Chợ Đồn: 5 Ju + 8 ĐaK) đến ném bom, bắn phá và thả khoảng 1.200 quân dù xuống đánh chiếm thị xã Bắc Kạn. Cũng trong ngày 7-10, cánh quân đường bộ, khoảng 7.000 tên, xuất phát từ Lạng Sơn theo đường số 4 lên Cao Bằng, sau đó quặt theo đường số 3 đánh xuống Bắc Kạn, hình thành thế gọng kìm bao vây Căn cứ địa Việt Bắc từ phía Bắc và Đông Bắc. Ngày 9-10, cánh quân đường thủy, khoảng 2.200 tên từ Hà Nội ngược sông Hồng lên sông Lô lên đánh chiếm Tuyên Quang, hình thành gọng kìm bao vây Căn cứ địa Việt Bắc từ phía Tây và Tây Bắc. Ý đồ của địch là hình thành 2 gọng kìm phía Đông và Tây, kết hợp với ném thẳng quân dù xuống khu vực thị xã Bắc Kạn, đánh phá, càn quét, lùng sục khu vực thị xã Bắc Kạn, thị trấn Chợ Mới (Bắc Kạn) và thị trấn Chợ Chu (Thái Nguyên) nhằm chụp bắt Chính phủ kháng chiến của ta để kết thúc chiến tranh.


Trước cuộc tấn công bất ngờ và ồ ạt của địch lên Việt Bắc, ngày 8-10, Bộ Tổng chỉ huy ra Nhật lệnh và Quân lệnh chỉ rõ những nhiệm vụ cụ thể cho bộ đội, dân quân du kích, tự vệ chiến đấu và Ủy ban kháng chiến các cấp, cùng toàn thể nhân dân. Tiếp đó, ngày 15-10, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị "Phải phá tan cuộc tiến công mùa Đông của giặc Pháp", nhấn mạnh: "Cuộc tấn công này của địch không chứng tỏ chúng mạnh, có đủ sức đánh ta ở khắp các mặt trận mà chứng tỏ chúng yếu, phải mạo hiểm"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng (từ 25-11-1945 đến 31-12-1947), Nxb Sự thật, Hà Nội, 1969, tr. 158), nhiệm vụ của quân và dân ta phải "làm cho địch thiệt hại nặng không thể gượng lại được sau mùa Đông này”. Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư kêu gọi bộ đội, dân quân du kích cùng toàn thể đồng bào ra sức đánh giặc.


Thực hiện Chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ương Đảng và hưởng ứng Thư kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng bộ, nhân dân và các lực lượng vũ trang Thái Nguyên đã nhanh chóng ổn định tư tưởng, tổ chức, khẩn trương làm công tác chuẩn bị kháng chiến, sẵn sàng đánh bại các cuộc tấn công của địch vào địa bàn tỉnh, quyết tâm bảo vệ vững chắc Trung tâm Căn cứ địa Việt Bắc. Việc địch nhảy dù chiếm đóng Bắc Kạn và tấn công theo hai đường thủy, bộ hình thành 2 gọng kìm bao vây Việt Bắc từ hai phía Tây - Tây Bắc và Bắc - Đông Bắc đã đặt tỉnh Thái Nguyên ở vào tình thế bị địch bao vây, uy hiếp từ nhiều phía. Ở phía Bắc, ngay sau khi nhảy dù đánh chiếm thị trấn Chợ Mới, quân Pháp đã cho một bộ phận tấn công sang chiếm đóng cầu Ổ Gà nằm giáp ranh địa bàn huyện Phú Lương. Hàng ngày, từ các vị trí chiếm đóng ở thị trấn Chợ Mới và cầu Ổ Gà, quân Pháp liên tiếp sục sạo, càn quét, đốt phá, cướp bóc của cải, giết hại nhân dân và thăm dò lực lượng ta ở huyện Phú Lương. Cùng thời gian trên, địch "tăng cường cho máy bay ném bom, bắn phá dọc hai bên đường số 3 từ cầu Đa Phúc lên thị trấn Chợ Mới, có tính cách dọn đường cho quân nhảy dù hơn là phá hoại các cơ quan kháng chiến của ta"2 (Báo cáo đặc biệt của Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Thái Nguyên. Tài liệu lưu trữ tại Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Thái Nguyên).


Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh ủy và Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh, Ban chỉ huy Tỉnh đội Thái Nguyên đã nhanh chóng triển khai công tác củng cố xây dựng lực lượng vũ trang. Cơ quan chỉ huy dân quân các cấp từ tỉnh xuống các huyện, xã được kịp thời củng cố, kiện toàn đủ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy. Các ban: Quân sự, Chính trị, Văn thư - Hành chính giúp việc cho Ban chỉ huy Tỉnh đội đều được khẩn trương củng cố, kiện toàn. Các Ban chỉ huy Huyện đội được kiện toàn đủ 3 cán bộ chỉ huy gồm: Huyện đội trưởng, Huyện đội phó và Chính trị viên.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 01 Tháng Tư, 2021, 11:06:14 am

Ngay sau khi địch nhảy dù xuống Bắc Kạn, Tỉnh ủy Thái Nguyên đã chỉ thị cho Ban chỉ huy dân quân các cấp tập trung chỉ đạo xây dựng, củng cố và phát triển lược lượng dân quân du kích. Ban chỉ huy Tỉnh đội điều động cán bộ, chiến sĩ, kiện toàn quân số và vũ khí trang bị cho trung đội du kích tập trung của tỉnh; bố trí trung đội này lên xã Yên Ninh (huyện Phú Lương) làm nhiệm vụ ngăn chặn các cuộc hành quân, càn quét của địch từ Chợ Mới, cầu Ổ Gà sang huyện Phú Lương.


Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy và lệnh của Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh, Ban chỉ huy Tỉnh đội đã chỉ đạo mỗi huyện xây dựng 1 trung đội du kích tập trung, biên chế 35 cán bộ, chiến sĩ, thoát ly sản xuất, do Ủy ban kháng chiến hành chính các cấp tỉnh, huyện trợ cấp nuôi dưỡng và trang bị vũ khí. Các trung đội này làm nhiệm vụ cơ động chiến đấu, phục vụ chiến đấu, có thể độc lập hoặc phối hợp tác chiến với bộ đội chủ lực trên địa bàn từng huyện. Lực lượng dân quân du kích được phát triển rộng rãi, nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng. Thực hiện phương châm "Đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung" của Bộ Tổng chỉ huy, Trung đoàn 121 (Thái Nguyên - Phúc Yên), do đồng chí Mã Thành Kính làm Trung đoàn trưởng, phái 5 đại đội độc lập về các huyện Phú Lương, Định Hoá, Đại Từ, Võ Nhai, Đồng Hỷ để vừa xây dựng, huấn luyện, dìu dắt dân quân du kích, hỗ trợ cho phong trào chiến tranh du kích ở địa phương, vừa sẵn sàng đánh địch bảo vệ địa bàn đứng chân, bảo vệ trục di chuyển của các cơ quan đầu não kháng chiến.


Trước thời điểm địch mở cuộc hành quân Xanh-tuya đánh vào Thái Nguyên, số lượng dân quân du kích toàn tỉnh đã lên tới trên 7.000 cán bộ, chiến sĩ (trong đó có 4.144 du kích ở các cơ sở, làng, xã, vừa sản xuất, vừa sẵn sàng làm nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu; 280 du kích tập trung thoát ly sản xuất ở huyện, tỉnh). Hầu hết mỗi xã trong tỉnh đều xây dựng được ít nhất 1 trung đội; mỗi thôn, xóm đều xây dựng được ít nhất 1 tiểu đội dân quân, du kích. Trung bình mỗi trung đội ở xã thuộc các huyện trung du (Phú Bình, Phổ Yên, Đồng Hỷ) có 4 tiểu đội; trung đội xã Tân Tiến (nay là xã Đông Cao) huyện Phổ Yên, có tới 5 tiểu đội. Mỗi trung đội ở các xã thuộc các huyện miền núi trung bình có 3 tiểu đội. Hầu hết các xã dọc các trục đường giao thông chính (đường số 3, 13 A, 1B) đều xây dựng được từ 1 tiểu đội đến 1 trung đội du kích bán thoát ly sản xuất, làm nhiệm vụ tuần tra, canh gác, bảo vệ giao thông, kiểm tra, kiểm soát người lạ mặt đi vào vùng ATK.


Trên địa bàn Thái Nguyên, có nhiều đơn vị bộ đội chủ lực của Bộ và của Chiến khu đứng chân làm nhiệm vụ chiến đấu. Nhân dân các dân tộc đã nhường áo, sẻ cơm, tích cực đóng góp, ủng hộ nhiều lương thực, thực phẩm. Lực lượng dân quân du kích giúp đỡ bộ đội đào hầm, hào công sự chiến đấu.


Cùng với việc xây dựng, phát triển lực lượng dân quân du kích rộng khắp, công tác "tiêu thổ kháng chiến" và tản cư, theo phương châm "vườn không, nhà trống", cũng được các cấp ủy Đảng, chính quyền và cơ quan chỉ huy dân quân các cấp trong tỉnh tập trung lãnh đạo, chỉ đạo. Công tác này, trước khi địch mở cuộc tấn công lên Việt Bắc Thu - Đông 1947, đã được nhân dân Thái Nguyên thực hiện tương đối triệt để ở thị xã Thái Nguyên và dọc đường số 3 (đoạn từ Đa Phúc lên thị xã Thái Nguyên). Do ảnh hưởng của tư tưởng "Hậu phương chủ nghĩa" nên các huyện phía Bắc tỉnh chưa phá hủy triệt để các nhà cửa kiên cố, đường sá và cầu, cống. Dọc đường số 3, đoạn từ Quán Triều đến thị trấn Chợ Mới, nhà cửa hai bên đường và toàn bộ hệ thống cầu cống hầu như chưa được phá. Các chợ Quán Triều, Giang Tiên, Đu và các nơi tập trung đông dân ở ngã ba Bờ Đậu, Đuổm, Trào... hằng ngày từ sáng sớm đến nửa đêm lúc nào cũng tấp nập kẻ mua, người bán, nên khi địch nhảy dù chiếm đóng thị trấn Chợ Mới, nhân dân hoảng loạn; lãnh đạo tỉnh Thái Nguyên và huyện Phú Lương phải tập trung ổn định tư tưởng, giải quyết nơi ăn, ở và việc làm cho hàng trăm hộ dân trong tình thế bị động.


Trước tình hình đó, Tỉnh ủy, Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Thái Nguyên đã khẩn trương cử cán bộ xuống giúp đỡ huyện Phú Lương tổ chức, huy động nhân dân và lực lượng dân quân du kích tập trung đi đào, phá đường, đánh sập tất cả các cầu, công trên đường số 3, lấy đất đắp thành ụ cản xe cơ giới địch. Tất cả các nhà lớn hoặc công trình kiên cố ở hai bên đường số 3 và các trục đường chính khác ở trên địa bàn huyện Phú Lương đều được nhân dân nhanh chóng thực hiện "tiêu thổ kháng chiến". Nhân dân ở các thôn, bản hai bên đường số 3, từ xã Sơn Cẩm lên xã Yên Ninh, đã thực hiện khá triệt để việc tản cư, làm "vườn không, nhà trống". Cán bộ, công nhân mỏ than Phấn Mễ đã lên tận km 31, sát cánh cùng nhân dân huyện Phú Lương đào, phá đường, đắp ụ cản xe cơ giới của địch.


Nhân dân và dân quân, du kích huyện Đồng Hỷ tập trung phá hoại các tuyến đường từ thị xã Thái Nguyên đi Võ Nhai, làng Hít và đập Thác Huống; huyện Phú Bình đào đất, đắp ụ cản xe cơ giới địch trên đê sông Máng; huyện Phổ Yên triển khai phá hoại triệt để các đường Sơn Cốt - Phúc Thuận, Phúc Thuận - Đèo Nhe; huyện Định Hóa tập trung phá đường đoạn km 31 - Quán Vuông - Chợ Chu... Các cầu lớn như Gia Bảy (thị xã Thái Nguyên), Huy Ngạc (Đại Từ), Giang Tiên (Phú Lương) trước đây do nhu cầu đi lại và vận chuyên hàng hóa nên ta chưa phá, nhưng từ khi địch mở cuộc tấn công, Tỉnh đội đã kịp thời huy động lực lượng dân quân du kích phá sập tất cả các cầu này. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ "phá hoại", "tiêu thổ kháng chiến", nhân dân và dân quân du kích trong tỉnh đã không chỉ đổ mồ hôi mà còn phải hy sinh cả xương, máu. Ngày 22-10-1947, du kích xã Yên Trạch, huyện Phú Lương đi phá cầu Suối Bốc, vướng mìn của địch cài lại, 4 chiến sĩ bị thương vong.


Do ta kịp thời làm tốt công tác "phá hoại", "tiêu thổ kháng chiến", khi quân địch tấn công vào Thái Nguyên, các phương tiện cơ giới của chúng đã bị vô hiệu hoá. Đi đến đâu chúng cũng gặp cảnh "đổ nát, hoang tàn", "vườn không, nhà trống", và bị lâm vào cảnh "đói, khát, què, điếc, mù, cảm".


Cùng với việc "phá hoại", "tiêu thổ kháng chiến” và tản cư thực hiện "vườn không, nhà trống", nhân dân và dân quân du kích Thái Nguyên đã hăng hái tự tạo vũ khí đánh giặc, làm hàng vạn chiếc chông tre, nứa vót nhọn cao từ một mét rưỡi đến hai mét, cắm khắp các cánh đồng, bãi trống, đồi trọc để chống quân địch nhảy dù. Đồng chí Nguyễn Phương - Tỉnh đối phó, được Ban chỉ huy tỉnh đội phân công trực tiếp theo dõi chỉ đạo, đôn đốc các Ban chỉ huy huyện đội tổ chức việc huy động nhân dân và dân quân, du kích làm chông, cắm chông. Tuy hiệu quá của việc cắm chông chưa cao, nhưng sau này, trong cuốn Lịch sử quân dù Pháp, người Pháp đã phải thừa nhận "khi Phân đội A nhảy dù xuống Tràng Xá (Võ Nhai), do Việt Minh chôn những cọc tre nhọn, nên một số lính nhảy dù đã bị thương khi tiếp đất”.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 01 Tháng Tư, 2021, 11:07:22 am

Để đảm bảo sửa chữa và sản xuất vũ khí trang bị, đáp ứng cho nhu cầu chiến đấu, cán bộ, chiến sĩ xưởng quân giới của Tỉnh đội ở các xã An Khánh, Cù Vân (Đại Từ) vào tận các hang ở núi Hồng để lấy phân dơi mang về chế thành thuốc nổ và ngày đêm lặn lội, tìm đào, phá bom "điếc" để lấy thuốc nổ về làm lựu đạn, mìn và địa lôi. Nhân dân đã thu nhặt hàng chục tấn lưỡi cày, diệp cày hỏng, chảo gang vỡ cung cấp cho xưởng quân giới của Tỉnh đội làm vỏ đạn, mìn...


Một trong những việc làm có ý nghĩa to lớn của nhân dân và lực lượng vũ trang Thái Nguyên trong thời gian này là đã bảo vệ và dẫn đường cho các cơ quan đầu não kháng chiến. Từ ngày 15-10-1947, các cơ quan đầu não kháng chiến bắt đầu di chuyển từ ATK Định Hóa sang ATK Võ Nhai. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rời nơi làm việc ở Khau Tý thôn Điềm Mặc (Thanh Định, Định Hoá) chuyển lên Khuôn Đào1 (Theo lời kể của đồng chí Vũ Kỳ - nguyên Thư ký riêng của Bác Hồ), sau đó đồng chí Chu Văn Tấn - Bí thư Khu ủy, Chỉ huy trưởng Chiến khu 1, trực tiếp dẫn đường cho Người di chuyển an toàn sang làng Vang, xã Liên Minh, huyện Võ Nhai.


Theo yêu cầu của Trung ương, tỉnh Thái Nguyên đã kịp thời thành lập trung đội du kích người địa phương, thông thuộc địa hình, có giác ngộ cách mạng và phẩm chất đạo đức tốt, được trang bị vũ khí bổ sung cho Đội Bắc Sơn làm nhiệm vụ bảo vệ và dẫn đường cho các cơ quan đầu não kháng chiến. Đội Bắc Sơn gồm 3 trung đội của tỉnh Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Giang, do đồng chí Lê Dục Tôn - một trong những người chỉ huy đầu tiên của Đội Cứu quốc quân II, trực tiếp làm Chính trị viên. Các đồng chí Hà Châm, Triệu Khánh Phương1 (Đều là cán bộ chỉ huy Cứu quốc quân trước đây) và một số cán bộ, chiến sĩ du kích xã Tràng Xá (Võ Nhai) được cử vào Đội Bắc Sơn làm nhiệm vụ liên lạc, văn thư, đánh máy...


Từ trung tuần tháng 11-1947, ta phán đoán "địch đã đánh hơi thấy Trung ương và Chính phủ ta chuyển về Võ Nhai nên có thể chúng sẽ táo bạo mở cuộc hành quân tập kích"2 (Lê Dục Tôn, Bảo vệ cuộc di chuyển của Trung ương từ Tràng Xá (Võ Nhai) đến Phú Minh (Đại Từ) - Kỷ yếu Hội thảo khoa học "Thái Nguyên trong chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947", tr. 67); phối hợp với cánh quân từ Bắc Kạn đánh xuống Thái Nguyên, địch sẽ ném quân dù xuống các huyện Đại Từ, Võ Nhai, thị xã Thái Nguyên. Để đối phó với tình huống đó, từ ngày 17-11-1947, các cơ quan đầu não kháng chiến và các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Chính phủ và quân đội ta lại di chuyển từ ATK Võ Nhai về ATK Định Hoá. Bác Hồ di chuyển từ làng Vang, xã Liên Minh, huyện Võ Nhai về xã Phú Đình, huyện Định Hoá.


Sau gần một tháng rưỡi tung quân lên Việt Bắc, ngoài việc đốt phá được một số kho tàng mà ta chưa di chuyển kịp và chiếm giữ được một vài nơi, quân Pháp không thực hiện được một mục tiêu cơ bản nào của cuộc tấn công. Chiếc ô chụp xuống Việt Bắc bị thủng nhiều mảng lớn. Cuộc hành binh Lê-a của Pháp cơ bản bị thất bại. Bộ chỉ huy Pháp quyết định chuyển sang thực hiện cuộc hành binh Xanh-tuya, kết hợp với việc rút lui tiến hành bao vây, càn quét khu vực tứ giác Tuyên Quang - Thái Nguyên - Việt Trì - Phủ Lạng Thương, rộng hơn 8.000km2, nhằm tiếp tục "lùng bắt kỳ được cơ quan đầu não kháng chiến, tiêu diệt bằng được chủ lực Việt Minh, phá nát căn cứ địa". Ngoài lực lượng chặn ta ở vòng ngoài, hướng càn quét chính của cuộc hành quân Xanh-tuya là Thái Nguyên, hai hướng khác là sông Thương - Yên Thế và Chợ Mới - Tuyên Quang xuống tới đồng bằng.


Tại Mặt trận Đường số 3, quân Pháp rút bỏ một số vị trí phía Bắc và Tây Bắc, tập trung lực lượng xuống Chợ Mới để chuẩn bị càn quét Thái Nguyên, hướng chủ yếu của kế hoạch Xanh-tuya. Sau khi thực hiện một loạt các hoạt động nghi binh, đêm 24-11-1947, từ Chợ Mới, 1 trung đoàn địch với khoảng 1,500 tên, bí mật hành quân theo đường số 3 xuống km 31, rẽ sang đường đi Chợ Chu (Định Hoá), lên chiếm đóng Phố Ngữ và Quán Vuông. Sáng hôm sau, từ Phố Ngữ và Quán Vuông, quân địch toả ra bao vây, càn quét, lùng bắt cán bộ, giết hại dân thường, cướp phá tài sản của nhân dân trong vùng. Từ Quán Vuông, quân địch càn lên chiếm đóng thị trấn và làm sân bay dã chiến ở cánh đồng Chợ Chu. Cũng sáng ngày 25-11, từ thị trấn Chợ Mới, 1 tiểu đoàn địch theo đường mòn qua Đồng Danh, làng Muồng càn vào các xã Tân Dương, Tân Thịnh ở phía Bắc huyện Định Hoá.


Ngày 26-11-1947, tại huyện Võ Nhai, địch cho máy bay ném bom, bắn phá và thả 1 tiểu đoàn dù (khoảng 500 quân) xuống chiếm đóng thị trấn La Hiên, khoảng 200 quân dù xuống đánh chiếm xã Tràng Xá. Tại huyện Đại Từ, địch huy động máy bay thả 400 quân dù xuống đánh chiếm làng Ngò (xã An Khánh) và khu Ba Gò (xã Cù Vân).


Tính đến chiều 26-11-1947, trên địa bàn các huyện Định Hoá. Đại Từ, Võ Nhai của tỉnh Thái Nguyên đã có khoảng 2.600 quân Pháp chiếm đóng (Định Hóa 1.500 tên, Đại Từ 400 tên. Võ Nhai 700 tên). Từ ngày 27-11, quân Pháp toả rộng ra càn quét, truy tìm lực lượng kháng chiến của ta. Cùng thời gian trên, từ cầu Đuống (Hà Nội), 1 trung đoàn bộ binh, do Ghi-rô chỉ huy, chia làm hai mũi: một mũi theo đường số 3, qua cầu Đa Phúc lên đánh chiếm thôn Phù Lôi, xã Thuận Thành; phố Thanh Xuyên, xã Trung Thành; làng Sơn Cốt, xã Đắc Sơn (huyện Phổ Yên); một mũi qua Phúc Yên, men theo sườn Tam Đảo lên đánh chiếm vùng tây nam huyện Đại Từ. Với đợt tấn công mới này, hàng nghìn quân Pháp đã toả ra chiếm đóng tới 32 điểm nằm trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.


Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, quân và dân Thái Nguyên đã trực tiếp đương đầu với cuộc hành binh Xanh- tuya của địch. Ngày 25-11, tiểu đội du kích xã Tân Dương (Định Hoá) phục kích tại làng Muồng, chặn một tiểu đoàn địch từ thị trấn Chợ Mới càn quét vào vùng đông bắc huyện Định Hoá, buộc chúng phải vòng lên phía Bắc. Ngày 26-11, du kích các xã Tân Dương, Phượng Tiến phối hợp với tự vệ Nhà máy Trần Quốc Toản chặn đánh 1 đại đội địch từ Chợ Chu càn vào, diệt 7 tên khi chúng còn cách nhà máy 200m, buộc chúng phải rút lui. Tại Đồng Mon, tự vệ Nhà máy quân giới A4, phối hợp với du kích xã Đồng Thịnh, chặn đánh 1 đại đội địch từ Quán Vuông càn xuống, diệt 1 tên, bắn bị thương nhiều tên, buộc chúng phải rút lui, bảo vệ an toàn nhà máy.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 01 Tháng Tư, 2021, 11:08:23 am

Ngày 27-11, địch cho 1 tiểu đội bí mật tập kích vào Nhà máy Trần Quốc Toản, bị 1 tiểu đội bộ đội chủ lực phục kích, diệt 2 tên. Một cánh quân khác của địch càn vào các xã Kim Sơn, An Lạc, nhằm dò tìm lực lượng ta, cũng bị du kích địa phương phối hợp với bộ đội chủ lực chặn đánh, buộc phải rút về Chợ Chu.


Sau 3 ngày liên tiếp tung quân đi càn quét ở Định Hóa không thu được kết quả, sáng ngày 28-11, địch tập trung lực lượng, tổ chức thành hai cánh quân càn quét từ Tây Bắc xuống Tây Nam huyện Định Hoá. Dân quân du kích các xã của huyện Định Hóa phối hợp với bộ đội chủ lực chặn đánh địch ở khắp nơi. Cánh quân thứ nhất của địch vừa xuất quân đã bị bộ đội và du kích các xã Phúc Chu, Đồng Thịnh, Yên Thông chặn đánh ở Khau Chan, Đồng Bén, Thẩm Rộc, Bãi Cọ, diệt và làm bị thương nhiều tên. Cánh quân thứ hai của địch cũng bị bộ đội và du kích ta chặn đánh liên tiếp. Trung đội du kích xã Trung Lương phục kích, đánh một trận táo bạo ngay trên mặt đường qua địa bàn xã, diệt và làm bị thương nhiều tên. Bị chặn đánh liên tiếp, hai cánh quân của địch bỏ kế hoạch gặp nhau tại Bình Yên. Chiều ngày 28-11, từ Bình Thành, quân Pháp tiếp tục chia làm hai mũi: một mũi càn thắng vào xã Phú Đình, một mũi càn sang thôn Điềm Mặc (Thanh Định). Quyết tâm bảo vệ căn cứ địa, các đơn vị bộ đội chủ lực và du kích huyện Định Hóa đã chặn đánh quyết liệt, chặn đứng cuộc tấn công của địch vào Phú Đình, diệt 10 tên. Đây là một trận đánh không lớn, số quân địch bị tiêu diệt không nhiều, nhưng có ý nghĩa to lớn, vì đã trực tiếp bảo vệ an toàn địa bàn của ATK. Trong trận đánh quyết liệt này, 8 cán bộ, chiến sĩ bộ đội chủ lực và du kích huyện Định Hóa đã anh dũng hy sinh. Cùng thời gian trên, mũi tiến công của địch lên Điềm Mặc, cũng bị Đại đội 2 thuộc Tiểu đoàn 103 chặn đánh quyết liệt gần 1 giờ, diệt 10 tên và làm nhiều tên khác bị thương.


Bị chặn đánh quyết liệt, quân Pháp buộc phải quay lại xã Bình Thành. Hôm sau (29-11), quân Pháp càn xuống xã Phú Minh (Đại Từ). Tại quán Ông Già, chúng bị Tiểu đoàn Vũ Lăng phối hợp với trung đội du kích tập trung huyện Đại Từ chặn đánh, diệt 10 tên. Đại bộ phận quân địch phải quay lại Bình Thành, còn một bộ phận nhỏ tiếp tục càn xuống thôn Tảo Dương, xã Cảnh Thịnh (Đại Từ). Đêm 29-11, bộ đội chủ lực và du kích xã Bình Thành tập kích vào nơi trú quân của địch ở Quảng Nạp, tiêu diệt và làm bị thương hàng chục tên. Sáng hôm sau, quân Pháp phải cho máy bay hạ cánh bắt buộc xuống cánh đồng Quảng Nạp để chở xác những tên bị chết và những tên bị thương về Hà Nội. Vì số địch bị chết và bị thương quá đông, nên máy bay của chúng chỉ chở được những tên bị thương và xác những tên da trắng, còn xác của những tên da đen chúng đem ném xuống giếng để phi tang1 (Theo lời kể của cụ Tiến (lão du kích) hiện ở xã Bảo Cường, huyện Định Hóa).


Ngày 2-12-1947, từ Bình Thành, địch định vòng lên Quán Vuông đi ra km 31, theo đường số 3 về thị xã Thái Nguyên. Nhưng toán quân đi trước dò đường đến Phố Ngữ bị bộ đội chủ lực và du kích chặn đánh, phải quay lại Bình Thành rồi rút qua Phú Minh, về Hùng Sơn (Đại Từ).


Qua 10 ngày đánh phá vùng ATK Võ Nhai không thu được kết quả, ngày 7-12-1947, quân Pháp rút dần về Đồng Hỷ. Trên đường rút quân, địch bị bộ đội và du kích ta chặn đánh ở dốc Măng Đắng, Trại Táo, La Thông, Na Đành, tiêu diệt và làm bị thương hàng chục tên. Đêm 7-12, tiểu đội du kích xã Đồng Bẩm đã tập kích địch, giải vây an toàn cho số du kích bị địch bao vây ở Chùa Hang. Lực lượng dân quân, du kích huyện Đại Từ phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực đánh địch ở khắp nơi, gây cho chúng nhiều tổn thất.


Ngày 30-11, tại xóm Cây Thị, Đại đội Tô Văn (bộ đội chủ lực) đã chặn đánh 1 toán quân địch từ làng Ngò lên Hùng Sơn, diệt 15 tên. Cùng ngày, tại thôn Đông Lực, du kích xã Cảnh Thịnh chặn đánh 1 toán quân địch càn từ thôn Tảo Dương xuống xã Phú Minh, diệt 7 tên.


Trong hai ngày 3 và 4-12, du kích Đại Từ phối hợp với bộ đội chủ lực liên tiếp tấn công vào vị trí đóng quân của địch ở làng Ngò, diệt 2 tên. Tại quán Ông Già, Đại đội Việt Hổ phối hợp với 1 tiểu đội du kích địa phương chặn đánh quân địch từ Bình Thành (Định Hoá) rút xuống Phú Minh (Đại Từ), diệt 5 tên.


Trong ngày 5-12, tại Khôi Kỳ, Bình Khang, Bình Thuận và Hùng Sơn, dân quân du kích tổ chức chặn đánh và tập kích diệt 60 tên, làm nhiều tên khác bị thương, quân Pháp buộc phải cho máy bay xuống sân bay dã chiến ở Hùng Sơn để chở những tên bị chết và bị thương về Hà Nội.


Trong các ngày tiếp theo, quân và dân Thái Nguyên đã phối hợp với bộ đội chủ lực của Bộ liên tục tổ chức chặn đánh, tập kích vào các lực lượng địch, diệt và làm bị thương nhiều tên Pháp. Tiêu biểu là trận Nông Vụ (còn gọi là Đan Hạ), trung đội du kích tập trung huyện Phổ Yên nhờ thông thạo địa hình, 4 chiến sĩ đã nghi binh rút lui nhử địch vào xóm, rồi bất ngờ nổ súng đánh bật chúng trở lại để 9 du kích mai phục ở trên đồi phía ngoài xóm bắn xuống. Bị kẹp giữa hai làn đạn chéo cánh sẻ của ta, địch đã phải rút chạy, bỏ lại 15 xác chết. Đây là một trong những trận đánh đạt hiệu quả chiến đấu cao của dân quân du kích.


Trải qua gần một tháng trực tiếp đánh trả cuộc hành quân Xanh-tuya của địch, quân và dân Thái Nguyên đã nêu cao tinh thần yêu nước và cách mạng, độc lập tác chiến và phối hợp với bộ đội chủ lực đánh 123 trận lớn, nhỏ, tiêu diệt 490 tên địch và làm bị thương hơn 100 tên khác, bắn rơi tại chỗ 1 máy bay, thu nhiều vũ khí và trang bị. Đặc biệt, đã góp phần bảo vệ an toàn tuyệt đối các cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến. Qua chiến đấu, lực lượng vũ trang Thái Nguyên đã lớn mạnh và thu được nhiều bài học kinh nghiệm quý báu trong công tác tổ chức chuẩn bị và thực hành chiến đấu, phát động rộng rãi "quần chúng chiến tranh" bảo vệ vững chắc căn cứ địa kháng chiến Trung ương và bảo vệ quê hương.


Bên cạnh các hoạt động chiến đấu, phục vụ chiến đấu, Thái Nguyên đã xuất bản các tờ báo "Tiếng loa”, "Thái Nguyên kháng chiến" để tuyên truyền tin chiến thắng trong nhân dân. Ủy ban tản cư, di cư đã tiếp nhận, giúp đỡ 15.000 người ở các tỉnh khác tản cư đến. Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh đã vận động nhân dân đóng thóc địa tô cho Quân nhu Cục để tiếp tế cho bộ đội chủ lực và trực tiếp nuôi dưỡng các đơn vị du kích tập trung. Ty y tế của tỉnh đã tự pha chế được một số thuốc thông thường để cấp phát cho nhân dân và phục vụ lực lượng vũ trang địa phương đánh giặc. Đặc biệt, nhân dân các dân tộc Thái Nguyên đã thể hiện xuất sắc truyền thống yêu nước và cách mạng, một lòng trung thành với Đảng, với công cuộc kháng chiến của dân tộc. Trong Thu - Đông 1947, các vị trí đứng chân của các cơ quan Trung ương đều được giữ bí mật tuyệt đối. Khi bị địch chiếm đóng, không có người dân nào hiệp thông theo giặc.


Chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947 đã đánh bại mưu đồ của thực dân Pháp, chuyển cục diện của cuộc kháng chiến trường kỳ và anh dũng của dân tộc Việt Nam sang một giai đoạn mới, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên.


Sáu mươi năm đã đi qua, hôm nay, trên con đường đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, trước những vận hội và thách thức, lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc Thái Nguyên nguyện không ngừng phát huy những truyền thống quý báu và đầy tự hào, cùng với toàn Đảng, toàn quân, toàn dân xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 01 Tháng Tư, 2021, 11:10:23 am
AN TOÀN KHU Ở THÁI NGUYÊN
TRONG CHIẾN DỊCH VIỆT BẮC THU - ĐÔNG 1947


TS. LÊ QUANG DỰC
Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy tỉnh Thái Nguyên


Cách mạng Tháng Tám thành công mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam - kỷ nguyên độc lập, tự do. Với tầm nhìn xa trông rộng, với nhãn quan chính trị sáng suốt, nhận rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn của chủ nghĩa thực dân, ngay sau ngày cách mạng thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân công đồng chí Phạm Văn Đồng cùng một số cán bộ ở lại Việt Bắc một thời gian để củng cố căn cứ địa. Vì như Người nói, chiến tranh có thể lại xảy ra, và như thế chúng ta còn phải quay trở lại nhờ cậy đồng bào một lần nữa1 (Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr. 267).


Đúng như tiên liệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với dã tâm quyết quay trở lại cướp nước ta một lần nữa, chỉ hơn 3 tuần sau ngày nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố độc lập, được sự giúp đỡ của quân Anh, đêm 22 rạng 23-9-1945, thực dân Pháp đã nổ súng đánh úp trụ sở Ủy ban nhân dân Nam Bộ và cơ quan Tự vệ thành phố Sài Gòn, mở đầu cuộc Chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai. Từ đó, quân Pháp từng bước mở rộng chiến tranh ra cả hai miền Nam - Bắc. 


Để chiến thắng kẻ thù có quân đông, trang bị vũ khí hiện đại hơn ta gấp nhiều lần, Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương phát động cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh. Thực hiện đường lối kháng chiến của Đảng, trong tình hình đó, vấn đề xây dựng căn cứ địa, xây dựng hậu phương kháng chiến ngày càng trở nên bức thiết. Vì vậy, từ cuối năm 1946 nhiều đoàn công tác đặc biệt của Trung ương, Chính phủ được cử lên Việt Bắc để củng cố, xây dựng căn cứ địa kháng chiến.


Cuối tháng 10-1946, đồng chí Nguyễn Lương Bằng được giao nhiệm vụ trở lại Việt Bắc để thực thi nhiệm vụ trên. Một số địa điểm thuộc các huyện Định Hoá, Đại Từ, Phú Lương cùng một số nơi khác được đồng chí và đoàn công tác đặc biệt lựa chọn làm nơi ở và làm việc của các cơ quan Trung ương Đảng, Chính phủ trong trường hợp phải rời khỏi Thủ đô Hà Nội1 (Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên, Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên, Tập I (1936-1965, 2003, tr. 204).


Tháng 12-1946, đoàn công tác đặc biệt thứ hai gồm đại biểu các ngành quân sự, an ninh, chính quyền, đoàn thể, do đồng chí Trần Đăng Ninh phụ trách, tiếp tục lên đường nghiên cứu việc di chuyển và chọn địa điểm an toàn cho các cơ quan đầu não kháng chiến ở và làm việc. Trên cơ sở khảo sát thực địa, cân nhắc kỹ lưỡng mọi yếu tố, đoàn đã quyết định chọn một số địa điểm nằm sâu trong căn cứ địa thuộc các huyện Định Hoá, các xã phía Bắc huyện Đại Từ, Tây Bắc huyện Phú Lương, một số xã của huyện Võ Nhai cùng với các huyện Sơn Dương, Yên Sơn (Tuyên Quang), Chợ Đồn (Bắc Kạn) làm nơi xây dựng An toàn khu (ATK) của Trung ương.


Vấn đề dặt ra là, tại sao một số huyện của tỉnh Thái Nguyên lại được Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn để xây dựng thành trung tâm của Khu an toàn, làm nơi cho các cơ quan của Trung ương, Chính phủ ở và lãnh đạo kháng chiến. Đây là vấn đề từ nhiều năm qua đã dành được sự quan tâm nghiên cứu, lý giải của các nhà khoa học lịch sử, đặc biệt là những nhà khoa học lịch sử quân sự.


Các kết quả nghiên cứu về căn bản đều đi đến thống nhất: một số huyện của tỉnh Thái Nguyên được Trung ương Đảng, Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn để xây dựng ATK, trước hết bởi ở đây có vị trí chiến lược quan trọng "tiến có thể đánh, lui có thế giữ". Từ xa xưa, Thái Nguyên đã được ông cha ta coi "là phên giậu che chắn phía Bắc của kinh thành Thàng Long", là cửa ngõ đi vào Việt Bắc, là cầu nối giữa đồng bằng sông Hồng với vùng rừng núi trùng điệp phía Bắc của Tổ quốc. Từ Thái Nguyên có thể sang Tuyên Quang, Phú Thọ lên Tây Bắc, hoặc ngược phía Bắc qua Bắc Kạn lên Cao Bằng ra biên giới Việt - Trung; cũng có thể xuôi theo phía Nam về Hà Nội và các tỉnh đồng bằng. Núi rừng Thái Nguyên trùng điệp, hiểm trở, các cơ quan Trung ương ở và làm việc vừa bảo đảm bí mật, vừa có thể di chuyển an toàn khi địch tấn công vào khu căn cứ.


Là tỉnh miền núi và trung du, Thái Nguyên có nhiều diện tích đất đai phì nhiêu, nhiều đồi bãi, cánh đồng màu mỡ, lại có hệ thống sông, suối có độ dốc khá lớn, thích hợp với việc tưới tiêu tự nhiên, nên Thái Nguyên có điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất tự túc, tự cấp một phần lương thực, thực phẩm. Với vị trí thuận lợi, Thái Nguyên còn có khả năng thu nhận tiếp tế từ bên ngoài vào, đảm bảo sinh hoạt, hoạt động của các cơ quan đầu não kháng chiến.


Là địa bàn sinh sống của nhiều dân tộc anh em, tuy ngôn ngữ và phong tục tập quán có khác nhau, song lòng yêu quê hương đất nước đã cố kết đồng bào thành một khối vững chắc.


Nhân dân Thái Nguyên có truyền thống đấu tranh cách mạng rất vẻ vang. Trong cuộc vận động giải phóng dân tộc, nhân dân Thái Nguyên đã sớm tiếp thu và đi theo đường lối cách mạng của Đảng, sớm có kinh nghiệm nuôi dưỡng, bảo vệ cán bộ, bảo vệ các đội vũ trang trong cuộc vận động Cách mạng Tháng Tám, khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân (1939-1945).


Trước khi bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc, tổ chức Đảng của Thái Nguyên khá phát triển, chính quyền các cấp đươc củng cố, trở thành nhân tố quy tụ nhân dân các dân tộc trong tỉnh. Các đoàn thể cứu quốc như Hội Phụ lão, Thanh niên, Phụ nữ, Nông dân... được tổ chức ở khắp nơi, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân hăng hái tham gia. Lực lượng vũ trang và bán vũ trang cũng không ngừng được củng cố phát triển và ngày càng lớn mạnh.


Như vậy, có thể nói Thái Nguyên đã hội tụ đủ các yếu tố về địa lý, kinh tế, chính trị, quân sự bảo đảm cho việc xây dựng một Khu an toàn.


Nhận rõ tầm quan trọng của Thái Nguyên, tin tưởng vào tinh thần và khả năng cách mạng của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh, Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm có sự quan tâm chỉ đạo xây dựng một số huyện của tỉnh Thái Nguyên thành một ATK cho cơ quan đầu não kháng chiến đứng chân hoạt động, bởi như lời Hồ Chủ tịch: Ở đây, lòng yêu nước của đồng bào, nhập với hình thể hiểm trở của núi sông thành một lực lượng vô địch1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 366).


Được Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn làm nơi xây dựng ATK là một vinh dự lớn, nhưng đồng thời cũng là một trách nhiệm nặng nề đối với Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Thái Nguyên. Đó là làm thế nào để đùm bọc, chở che, cấp dưỡng, bảo vệ an toàn cho các cơ quan đầu não kháng chiến trước sự bao vây tấn công, phá hoại của kẻ thù.


Nhận rõ vinh dự và trách nhiệm nặng nề này, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Thái nguyên đoàn kết một lòng, quyết tâm xây dựng và bảo vệ ATK. Ngay sau khi nhận được chỉ thị của Trung ương Đảng về vấn đề xây dựng ATK, Tỉnh ủy Thái Nguyên đã cử nhiều cán bộ xuống phối hợp với lãnh đạo các huyện Định Hoá, Đại Từ, Phú Lương, Võ Nhai về các xã tổ chức cho nhân dân học tập, thấu suốt đường lối kháng chiến, nâng cao ý thức cảnh giác, giữ gìn bí mật, xây dựng mối quan hệ đoàn kết, gắn bó giữa nhân dân với cán bộ, góp công, góp của xây dựng ATK.


Công tác xây dựng Đảng, củng cố hệ thống chính quyền, các đoàn thể quần chúng, củng cố, xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang được đặc biệt chú trọng. Được giao nhiệm vụ bảo vệ vòng ngoài, lực lượng công an tỉnh kết hợp với công an các huyện và các đơn vị bảo vệ của Trung ương làm tốt công tác bảo mật, phòng gian, xây dựng nội quy đi lại, quản lý chặt chẽ người ra, vào khu vực bảo vệ.


Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của các cấp bộ Đảng, lực lượng công an xã, dân quân, du kích và cơ sở quần chúng trong các thôn bản được tổ chức huấn luyện làm nòng cốt trong công tác bảo vệ. Những cơ sở này đã thực sự là những trạm gác kín đáo, trực tiếp bảo vệ địa bàn và các đầu mối giao thông quan trọng.


Được giáo dục, nhắc nhở thường xuyên, đồng bào các dân tộc trong tỉnh coi việc phòng gian, bảo mật, bảo vệ các cơ quan Trung ương Đảng tại địa phương là trách nhiệm của mình. Từ cụ già đến em nhỏ đều tự giác thực hiện triệt để khẩu hiệu ba không (không nói chuyện làm lộ bí mật, không nghe những điều không liên quan đến mình, không chỉ đường và cảnh giác đối với người lạ mặt). Mỗi người dân thực sự là một chiến sĩ bảo vệ ATK.


Cùng với việc xây dựng lực lượng, tổ chức bảo vệ, ngay từ những ngày đầu nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã dành hàng vạn ngày công, ủng hộ hàng chục vạn cây tre, nứa, gỗ, hàng triệu tàu lá cọ để xây dựng nơi ở, nơi làm việc của cơ quan đầu não kháng chiến, xây dựng kho tàng, công xưởng...


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 01 Tháng Tư, 2021, 11:11:52 am
Từ đầu năm 1947, hầu hết các cơ quan Trung ương Đảng, Chính phủ, Mặt trận, Bộ Quốc phòng, một số cơ quan đoàn thể, văn hóa đã chuyển đến ở tại ATK.


Nhân dân các dân tộc trong tỉnh nỗ lực tăng gia sản xuất lương thực, thực phẩm để vừa bảo đảm đời sống, vừa cung cấp cho kháng chiến. Nhiều nơi nhân dân ủng hộ các cơ quan, xí nghiệp, các đơn vị bộ đội ruộng đất, trâu bò để tăng gia tự túc. Nhiều gia đình nhường nhà ở của mình cho các cơ quan kháng chiến làm kho... Một trong những tấm gương tiêu biểu cho tấm lòng của nhân dân các dân tộc Thái Nguyên đối với kháng chiến là bà Bá Huy (xã Lục Ba, huyện Đại Từ). Sau ngày toàn quốc kháng chiến, bà đã ủng hộ công, của làm mười gian nhà gỗ, lợp lá, mua sắm giường, chiếu, chăn, màn... đủ cho sinh hoạt của 50 thương binh tại An dưỡng Đường số 1 (thành lập tháng 7-1947). Cùng với việc vận động chị em phụ nữ chăm sóc thương binh, bà còn ủng hộ 3 tấn thóc, 3 mẫu ruộng, 1 con trâu và một số nông cụ cho anh em thương binh sản xuất. Với những đóng góp quý báu đó, ngày 27-7-1947, bà Bá Huy được Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ và anh em thương binh gửi thư cám ơn, khen ngợi1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Sđd, tr. 177).


Có thể nói, đến giữa năm 1947, ATK của Trung ương trên địa bàn Thái Nguyên đã được xây dựng thành một hệ thống liên hoàn. Giữa núi rừng trùng điệp, giữa căn cứ địa lòng dân vững chắc, bộ máy điều hành cuộc kháng chiến cả nước hoạt động, chỉ đạo các chiến trường, các địa phương ngày càng thuận lợi, hiệu quả.


Thực hiện chiến lược "đánh nhanh thắng nhanh", Thu - Đông 1947, thực dân Pháp tập trung khoảng 12 nghìn quân bao gồm thủy, lục, không quân cùng với hơn 800 xe quân sự, 40 máy bay, 40 tàu, xuồng mở cuộc tấn công quy mô lớn lên Căn cứ địa Việt Bắc2 (Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Thái Nguyên, Thái Nguyên lịch sử đấu tranh vũ trang và kháng chiến chống Pháp (1941-1954), 1999, tr. 171, 173), nhằm khoá chặt biên giới Việt - Trung, ngăn chặn sự liên lạc của ta với cách mạng Trung Quốc; tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến, tiêu diệt bộ đội chủ lực, phá hủy cơ sở vật chất và mọi tiềm năng kháng chiến của ta; tạo điều kiện cho việc thành lập chính phủ Bảo Đại, nhanh chóng kết thúc chiến tranh.


Mở đầu cuộc tấn công này, liên tiếp trong hai ngày 7 và 8-10-1947, quân Pháp huy động hàng chục máy bay ném bom, bắn phá và thả khoảng 1.200 quân dù xuống đánh chiếm thị xã Bắc Kạn, thị trấn Chợ Mới, huyện lỵ Chợ Đồn. Đồng thời với việc nhảy dù đổ bộ vào sâu trong căn cứ của ta, hai cánh quân Pháp từ hai hướng: hướng thứ nhất từ Lạng Sơn theo đường số 4 lên Cao Bằng rồi theo đường số 3 đánh xuống Bắc Kạn; hướng thứ 2 từ Hà Nội ngược sông Hồng, sang sông Lô, đánh lên Tuyên Quang, tạo thành hai gọng kìm bao vây, kẹp lấy căn cứ địa Việt Bắc. Từ hai gọng kìm, quân Pháp mở các cuộc lùng sục, càn quét từ bên ngoài vào, kết hợp với quân dù đánh từ trong ra, quyết thực hiện bằng được các mục tiêu của chiến dịch.


Trước sức tấn công ồ ạt của địch lên Căn cứ địa Việt Bắc, ngày 8-10-1947 từ ATK Định Hoá, Bộ Tổng chỉ huy ra Nhật lệnh và Quân lệnh chỉ rõ nhiệm vụ cụ thể cho các lực lượng vũ trang, Ủy ban kháng chiến các cấp cùng toàn thể nhân dân. Ngày 15-10-1947, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị "Phải phá cuộc tấn công mùa Đông của giặc Pháp"1 (Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương, Văn kiện Đảng 1945-1954, Tập 2, quyển 1 (1946-1948), Hà Nội, 1979, tr. 131). Cũng trong ngày 15-10, từ ATK Thái Nguyên, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Thư kêu gọi bộ đội và dân quân, du kích cùng toàn thể đồng bào ra sức đánh giặc2 (Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Thái Nguyên, Thái Nguyên lịch sử đấu tranh vũ trang và kháng chiến chống Pháp..., Sđd, tr. 171, 173).


Thực hiện Nhật lệnh và Quân lệnh của Bộ Tổng chỉ huy, Chỉ thị của Trung ương và Thư kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng bộ, nhân dân và các lực lượng dân quân, du kích, tự vệ tỉnh Thái Nguyên nhanh chóng ổn định tư tưởng, gấp rút hoàn thành công tác chuẩn bị phục vụ chiến đấu và chiến đấu. Cơ quan quân sự các cấp từ tỉnh xuống huyện, xã nhanh chóng được củng cố, kiện toàn. Các đơn vị du kích tập trung làm nhiệm vụ cơ động chiến đấu, được biên chế đủ quân số. Lực lượng dân quân du kích, tự vệ được phát triển nhanh chóng cả số lượng và chất lượng. Các đơn vị chủ lực của tỉnh, của Chiến khu 1, của Bộ bố trí lại lực lượng cho phù hợp với đặc điểm tình hình, diễn biến của chiến sự. Hầm, hào giao thông, công sự chiến đấu được củng cố, xây dựng thêm. Bước ba của kế hoạch tiêu thổ kháng chiến được nhanh chóng triến khai bằng việc phá nốt các trục đường lớn dẫn vào ATK, các trọng điểm giao thông cuối cùng như cầu Gia Bảy, cầu Giang Tiên, cầu Huy Ngạc... được đánh sập. Hàng vạn cây chông tre, nứa dài từ 1,5m đến 2m được cắm khắp các cánh đồng, bãi trống, đồi trọc đề phòng chống quân địch nhảy dù...


Có thể nói, chỉ trong một thời gian ngắn, từ khi quân Pháp mở đợt tấn công lên Căn cứ địa Việt Bắc, công tác chuẩn bị của Thái Nguyên đã hoàn tất. Toàn tỉnh đã sẵn sàng chiến đấu đánh bại cuộc tấn công của địch, bảo vệ vững chắc trung tâm Căn cứ địa, Thủ đô kháng chiến của cả nước.


Sau khi biết được các bước trong kế hoạch tấn công của địch, một trong những nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa to lớn của nhân dân và các lực lượng vũ trang Thái Nguyên trong giai đoạn này là dẫn đường và bảo vệ an toàn cho các cơ quan đầu não kháng chiến, cho Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Chính phủ, quân đội... di chuyển từ Định Hóa sang Võ Nhai và ngược lại.


Sau hơn một tháng đưa quân lên Việt Bắc càn quét, đốt phá, quân Pháp không những không thực hiện được mục tiêu của cuộc tấn công mà còn bị quân và dân các tỉnh Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn chặn đánh khắp nơi, gây cho chúng nhiều tổn thất nặng nề. Cuộc hành quân Lê-a (bước một của cuộc tấn công lên Việt Bắc Thu - Đông 1947) của giặc Pháp về cơ bản đã thất bại.


Phán đoán các cơ quan đầu não kháng chiến của ta đang đóng ở vùng núi đá Võ Nhai, lực lượng bộ đội chủ lực của ta có từ 20 đến 25 tiểu đoàn đang đóng ở vùng Định Hoá, Đại Từ, Võ Nhai (Thái Nguyên), Yên Thế (Bắc Giang), lưu vực sông Phó Đáy và phía tây Tam Đảo, Bộ chỉ huy Pháp quyết định chuyển sang thực hiện cuộc hành quân Xanh-tuya. Bằng việc rút các lực lượng đã tham gia cuộc hành quân Lê-a, cùng trung đoàn bộ binh Ma-rôc số 5 và trung đoàn do trung tá Cô-xtơ (Coste) chỉ huy, quân Pháp tiến hành bao vây càn quét khu tứ giác Tuyên Quang - Thái Nguyên - Việt Trì - Phủ Lạng Thương rộng hơn 8.000km2, mà trọng tâm là địa bàn Thái Nguyên, nhằm tiếp tục lùng bắt cho kỳ được cơ quan đầu não kháng chiến, tiêu diệt bằng được chủ lực Việt Minh, phá nát căn cứ địa. Với đợt bao vây càn quét này, hàng ngàn quân Pháp đã chiếm đóng tới 32 vị trí trên địa bàn toàn tỉnh.


Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương Đảng, Chính phủ và Bộ Tổng chỉ huy, Đảng bộ, quân và dân Thái Nguyên đã dũng cảm, mưu trí dựa vào địa thế hiểm trở của núi rừng trùng điệp, với thế trận lòng dân, với tinh thần kiên quyết tiến công và kinh nghiệm đấu tranh vũ trang được đúc rút từ trong Cách mạng Tháng Tám, kiên cường đánh địch, bảo vệ An toàn khu, bảo vệ quê hương.


Trong chiến dịch này các lực lượng vũ trang Thái Nguyên vừa độc lập tác chiến, vừa chủ động phối hợp với bộ đội chủ lực đánh 123 trận lớn nhỏ, tiêu diệt 490 tên địch, làm bị thương hơn 100 tên khác, bắn rơi tại chỗ 1 máy bay B.24, thu nhiều vũ khí và trang bị chiến tranh1 (Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Thái Nguyên, Thái Nguyên lịch sử đấu tranh vũ trang và kháng chiến chống Pháp..., Sđd, tr. 205), góp phần đánh bại cuộc hành quân Xanh-tuya, góp phần xứng đáng cùng quân và dân Việt Bắc đánh bại chiến dịch tấn công Thu - Đông 1947 đầy tham vọng của địch, bảo vệ an toàn cho các cơ quan đầu não kháng chiến và Chủ tịch Hồ Chí Minh; bảo vệ vững chắc trung tâm Căn cứ địa Việt Bắc, Thủ đô kháng chiến của cả nước.


Trong niềm vui giải phóng, ngày 22-12-1947, tại thị xã Thái Nguyên, hàng ngàn cán bộ, bộ đội, dân quân du kích và nhân dân các dân tộc trong tỉnh tổ chức mít tinh mừng chiến thắng.


Trải qua thực tiễn chiến đấu, Đảng bộ, nhân dân và các lực lượng vũ trang nhân dân Thái Nguyên không ngừng lớn mạnh và trưởng thành. Nhiều bài học kinh nghiệm quý về thực hiện đường lối chiến tranh nhân dân, về xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng và bảo vệ ATK, về phát triển kinh tế tự cấp, tự túc... được đúc rút.


Sau chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947, cục diện chiến trường có nhiều thay đổi ngày càng có lợi cho ta. Thực hiện nhiệm vụ được giao, Đảng bộ, lực lượng vũ trang và nhân dân Thái Nguyên tiếp tục làm tốt công tác xây dựng, củng cố căn cứ địa, bảo vệ vững chắc ATK của Trung ương; tích cực tăng gia sản xuất lương thực, thực phẩm, huy động sức người, sức của ngày càng nhiều cho các chiến trường, đặc biệt là trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ, góp phần xứng đáng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 01 Tháng Tư, 2021, 11:13:24 am
HUYỆN ĐỊNH HOÁ, THÁI NGUYÊN TRONG CHIẾN DỊCH VIỆT BẮC VÀ TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP


TRẦN VĂN ÍCH
Bí thư Huyện ủy huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên


Định Hóa là một huyện miền núi, nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Thái Nguyên. Phía Đông giáp huyện Phú Lương; phía Nam giáp huyện Đại Từ, phía Bắc giáp huyện Chợ Đồn, Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn, phía Tây giáp các huyện Sơn Dương, Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Huyện có diện tích tự nhiên 520km2, dân số hơn 9 vạn người, có nhiều dân tộc anh em cùng chung sống từ hàng nghìn đời nay.


Với vùng đất thiên thời, địa lợi, nhân hoà, Định Hóa có vị trí chiến lược quan trọng, nằm giữa trung tâm Việt Bắc. Dưới con mắt của các nhà quân sự, Định Hóa là vùng đất chiến lược, là nơi lý tưởng để các tổ chức cách mạng nhỏ bé thủa ban đầu, có thể dựa vào thế lợi hại ở đây để xây dựng và phát triển lực lượng, làm nên nghiệp lớn về sau. Những dãy núi cao có nhiều hang động, cùng với những dải rừng rậm liên hoàn, là nơi đảm bảo bí mật, che giấu lực lượng và hoạt động của các tổ chức vũ trang, đồng thời cũng thuận tiện cho việc tiến trình những cuộc chiến đấu ngăn chặn các đợt tấn công của địch mạnh hơn, để bảo toàn lực lượng. Từ đây, ta có thể xuất quân tiến công địch ở những nơi khác, khi thắng có thế tiến về châu thổ sông Hồng, khi gặp khó khăn lại dựa vào núi rừng đại ngàn đứng chân an toàn.


Cùng với những lợi thế đó, con người ở đây giàu lòng yêu quê hương đất nước, có truyền thống chống giặc ngoại xâm. Khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (3-2-1930), nhân dân các dân tộc Định Hóa sớm tiếp thu và đi theo con đường cách mạng giải phóng dân tộc mà Đảng và Bác Hồ kính yêu đã vạch ra. Ngày 26-3-1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng mà trực tiếp là các tổ chức cách mạng ở địa phương, nhân dân đã phối hợp với lực lượng Cứu quốc quân nổi dậy đập tan chính quyền thực dân, phong kiến tay sai, giành chính quyền về tay nhân dân. Toàn huyện được giải phóng, chính quyền cách mạng được thiết lập từ huyện đến xã. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Định Hóa quyết tâm bảo vệ và giữ vững chính quyền, bài trừ nội phản, đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, góp phần cùng nhân dân cả nước chống thực dân Pháp xâm lược.


Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời (2-9-1945) chưa được bao lâu thì thực dân Pháp lại quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa (23-9-1945). Với trí tuệ của một nhà cách mạng thiên tài, tiên liệu được những khó khăn chồng chất của cuộc đấu trí, đấu lực với kẻ thù cả trình độ tác chiến và trang bị kỹ thuật vượt trội hơn ta, nhận thức rõ âm mưu của thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cử các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Phạm Văn Đồng và một số đồng chí khác trở lại vùng giáp ranh Thái Nguyên, Tuyên Quang, Bắc Kạn củng cố lực lượng. Đảm nhận trọng trách này, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta đã đến huyện Định Hóa và phía nam huyện Chợ Đồn chọn một số địa điểm để các cơ quan quan trọng của Trung ương đóng. Các đồng chí nhận thấy Định Hóa là vùng đất có vị trí chiến lược quan trọng, nằm giữa trung tâm Việt Bắc, nên đề nghị chọn Định Hóa làm An toàn khu (ATK) kháng chiến của cả nước. Tháng 6-1946, Đảng bộ Định Hóa được thành lập để kịp thời lãnh đạo nhân dân chuẩn bị mọi mặt xây dựng chiến khu. Tháng 12-1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Quân dân Thủ đô Hà Nội và các thành phố, thị xã Bắc vĩ tuyến 16 đã chiến đấu anh dũng, bảo vệ từng tấc đất của Tổ quốc. Tuy nhiên do lực lượng chênh lệch, để bảo toàn lực lượng có thể kháng chiến lâu dài, Bác Hồ, Trung ương Đảng, Chính phủ quyết định rời Thủ đô Hà Nội lên Việt Bắc xây dựng căn cứ kháng chiến lâu dài. Huyện Định Hóa vinh dự được Bác Hồ, Trung ương Đảng chọn làm nơi ở và làm việc của các cơ quan đầu não lãnh đạo cuộc kháng chiến.


Đầu năm 1947, các cơ quan Trung ương Đảng, Chính phủ, quân đội lần lượt chuyển lên Định Hóa, ngày 20-5-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh chuyển đến tại một địa điểm thuộc huyện Định Hóa để lãnh đạo, chỉ đạo cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc. Nhân dân đã đùm bọc, giúp đỡ, che chở, đóng góp nhân lực, vật lực, xây dựng lán trại, đi dân công, tiếp tế, nhường áo, sẻ cơm, nhường nhà cho bộ đội đóng quân, thực hiện "ba không" đảm bảo bí mật, an toàn tuyệt đối cho Bác Hồ và các cơ quan, đơn vị đóng quân trên địa bàn.


Với mưu đồ quyết tâm tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến của ta, ngày 7-10-1947 thực dân Pháp bất ngờ cho quân đổ bộ bằng đường không xuống thị xã Bắc Kạn, thị trấn Chợ Mới, nhằm đột kích, thọc sâu vào trung tâm căn cứ địa hòng chụp bắt cơ quan đầu não kháng chiến của ta. Với chiến lược hai gọng kìm, chúng cho một binh đoàn, do Bô-phơ-rê chỉ huy, từ Lạng Sơn theo đường số 4 lên Cao Bằng, rồi từ Cao Bằng theo đường số 3 xuống Bắc Kạn nhằm bao vây căn cứ địa Việt Bắc từ phía Đông; một binh đoàn do Com-muy-nan chỉ huy, ngày 9-10, từ Hà Nội ngược sông Hồng, sông Lô lên Tuyên Quang, bao vây Việt Bắc từ phía Tây và dự kiến sẽ hội quân tại Đài Thị (13-10-1947), sau đó sẽ toả ra càn quét, tiêu diệt quân chủ lực của ta, lùng bắt cán bộ, phá tan đầu não kháng chiến, lập chính phủ bù nhìn, kết thúc chiến tranh, đặt ách thống trị lên đất nước ta một lần nữa. Đánh lên Việt Bắc, quân Pháp còn nhằm khoá chặt biên giới Việt - Trung, ngăn chặn mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng Trung Quốc. Ngày 8-10-1947, tại Khau Tý, xã Điềm Mặc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi bộ đội, dân quân, du kích ra sức tiêu diệt địch. Ngày 15-10-1947, Thường vụ Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị "Phải phá cuộc tấn công mùa Đông của giặc Pháp” chỉ rõ nhiệm vụ cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân cả nước ra sức chiến đấu đánh bại cuộc tiến công của địch. Đáp lời kêu gọi của Bác Hồ và chỉ thị của Trung ương, nhân dân các dân tộc Định Hóa đã cùng quân, dân cả nước quyết tâm chiến đấu bảo vệ an toàn tuyệt đối cho Bác Hồ và các cơ quan Trung ương Đảng, đồng thời đập tan mưu đồ tiến công lên Việt Bắc của thực dân Pháp.


Trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947, nhân dân Định Hóa có những đóng góp to lớn trong việc bảo vệ an toàn cơ quan đầu não kháng chiến. Ngày 22-11-1947, kế hoạch Xanh-tuya của địch được triển khai. Đêm 24-11-1947, địch cho một cánh quân khoảng 500 tên kéo xuống chiếm đóng Phố Ngữ - Quán Vuông. Đêm 25-11-1947, chúng chiếm đóng Chợ Chu làm sân bay dã chiến, đồng thời tiến hành càn quét vùng Chợ Chu, Quán Vuông. Đảng bộ Định Hóa lãnh đạo quân và dân trong huyện đứng lên đánh giặc bảo vệ quê hương, bảo vệ Bác Hồ, Trung ương Đảng, Chính phủ. Cùng ngày 25-11-1947, cánh quân địch từ Chợ Mới đánh vào phía đông bắc Chợ Chu. Du kích xã Tân Dương đã lợi dụng địa hình hiểm trở, phục kích ở Khe Chuộc - Đèo Cút. Sau một ngày kịch chiến, các chiến sĩ du kích đã giết và làm bị thương nhiều tên địch. Không vượt qua được trận địa, địch buộc phải rút lên đường Tân Thịnh và rút chạy về Bắc Kạn. Ngày 26-11-1947, chúng cho một đại đội đánh vào Phượng Tiến nhằm mục tiêu phá Nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ, một đại đội khác tấn công vào Đồng Thịnh đánh phá Xưởng quân giới A4 và các cơ quan Tổng cục Chính trị. Tại Phượng Tiến, lực lượng tự vệ Nhà máy đã phối hợp với du kích xã Tân Dương, Phượng Tiến chặn đánh địch, diệt 7 tên, buộc chúng phải rút lui. Tại Đồng Thịnh, lực lượng tự vệ Xưởng A4 phối hợp với du kích xã Đồng Thịnh chặn đánh địch ở Khau Phao, Đồng Mọn, diệt và làm bị thương nhiều tên. Bị chặn đánh liên tiếp, nhưng địch vẫn chưa từ bỏ mưu đồ đánh bắt cơ quan đầu não kháng chiến của ta, Ngày 27-11-1947, địch thay đổi chiến thuật, dùng một tiểu đội tinh nhuệ bí mật tập kích phá hoại Nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ, nhưng bị tiểu đội Vệ quốc đoàn mai phục, đánh bất ngờ, diệt 2 tên, số còn lại tháo chạy. Cùng ngày, địch cho quân càn vào Kim Sơn, An Lạc, lực lượng du kích phối hợp với bộ đội chặn đánh nhiều trận khiến địch phải bỏ chạy. Ngày 28-11-1947, thực dân Pháp ở Định Hóa dồn quân, tập trung lực lượng, tổ chức thành hai gọng kìm càn quét từ phía tây bắc xuống đông nam huyện nhằm đánh đòn quyết định, tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến của ta. Cánh quân thứ nhất càn vào Phúc Chu, Đồng Thịnh, Định Biên, Thanh Định, Điềm Mặc. Cánh quân thứ hai càn qua các xã Bảo Cường, Trung Hội, Trung Lương và sẽ hội quân ở Bình Yên để tập trung đánh vào Phú Đình, Bình Thành - nơi địch cho rằng có cơ quan đầu não kháng chiến ở đây, rồi sau đó vượt đèo De sang Tuyên Quang. Nắm được âm mưu của địch, để bảo vệ cơ quan đầu não kháng chiến, Bộ Tổng Tham mưu, đã điều động Trung đoàn 131 ở phía tây nam huyện sẵn sàng đánh địch. Lực lượng du kích các xã phối hợp với bộ đội giết giặc lập công. Suốt từ ngày 25 đến 28-11, địch tập trung bắn nhiều đạn pháo và cối vào Yên Thông, Bản Bắc (Điềm Mặc), Lục Rã (Phú Đình) và chân đèo De. Khi cánh quân thứ nhất vừa xuất binh, lập tức du kích xã Phúc Chu nổ súng chặn đánh. Chúng vội vàng rút sang Đồng Thịnh, lọt vào trận địa phục kích của bộ đội thuộc Tiểu đoàn 160 và du kích ở Khau Chan, Đồng Pén chặn đánh xuống. Đến Bình Yên, chúng sa vào trận địa phục kích của một trung đội thuộc Tiểu đoàn 101, có du kích phối hợp, 10 tên địch bị diệt, số còn lại vội rút chạy về Thẩm Lộc. Quân ta nhanh chóng vận động, phối hợp với lực lượng ở Thẩm Lộc đánh địch. Trận đánh diễn ra ác liệt hơn một giờ, thêm 10 tên địch nữa bị tiêu diệt.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 01 Tháng Tư, 2021, 11:14:17 am

Thua trận, chúng tháo chạy sang Bản Cọ, bị một đại đội của Tiểu đoàn 131 cùng du kích chặn đánh, diệt một số tên. Cánh quân thứ hai cũng liên tiếp bị chặn đánh. Tại Trung Lương, đại đội du kích tập trung của huyện Định Hóa táo bạo phục kích ngay trên mặt đường, loại khỏi vòng chiến đấu nhiều tên địch. Bị chặn đánh liên tiếp, kế hoạch hội quân của địch tại Bình Yên bị thất bại, chúng buộc phải càn qua Sơn Phú xuống Bình Thành. Tại Cầu Đá, Trung Lương, địch bị bộ đội chủ lực và du kích chặn đánh quyết liệt, chịu nhiều thiệt hại. Chiều 28-11-1947, quân Pháp ở Bình Thành chia làm 2 mũi, một mũi đánh thẳng vào Phú Đình nơi có cơ quan đầu não kháng chiến của ta, mũi thứ hai đánh vào Điềm Mặc, sau đó vượt đèo De sang Tuyên Quang. Với quyết tâm bảo vệ cơ quan đầu não kháng chiến và Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đơn vị bộ đội chủ lực và du kích Định Hóa đã chặn đánh quyết liệt toán quân địch càn vào Phú Đình, chặn đứng cuộc tấn công của chúng ở phía ngoài, diệt hơn 10 tên. Đây là trận đánh tiêu diệt không lớn nhưng có ý nghĩa to lớn đã bảo vệ được an toàn cho Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng. Tám cán bộ, chiến sĩ bộ đội chủ lực và du kích bị hy sinh. Cùng lúc đó, toán quân địch càn vào Điềm Mặc lọt vào trận địa phục kích của quân ta tại cánh đồng Kam Tra, gần 100 tên địch bị tiêu diệt. Cuộc càn bị chặn lại, quân địch không sang được Sơn Dương. Đến ngày 29-11-1947, chúng phải quay trở lại Bình Thành để rút chạy sang Phú Minh, Đại Từ, nhưng đến quán Ông Già địch bị Tiểu đoàn 103 chặn đánh tiêu diệt 12 tên và làm bị thương nhiều tên, buộc phải quay trở lại Quảng Nạp, Bình Thành. Lợi dụng quân địch đang hoang mang, đêm 29-11-1947 bộ đội và du kích Định Hóa tập kích vào vị trí đóng quân của chúng, diệt và làm bị thương nhiều tên. Sáng 30-11, địch phải cho máy bay hạ cánh xuống cánh đồng Quảng Nạp chở xác bọn lính chết và bị thương về Hà Nội. Để yểm trợ cho máy bay hạ cánh, địch dùng nhiều máy bay chiến đấu quần trên không trút bom xuống những nơi chúng nghi ngò có trận địa của ta. Quân du kích, lực lượng tự vệ chiến đấu và bộ đội chủ lực dùng súng bộ binh đánh trả quyết liệt, bắn rơi 1 máy bay B.24 tại cánh đồng Chợ Chu. Ngày 3-12-1947, địch tổ chức một cuộc hành quân càn quét vào Yên Thông, thực hiện nghi binh để tìm đường rút chạy sang Phú Minh, Đại Từ. Một tiểu đội bộ đội và 7 du kích xã Binh Thành đã tổ chức chặn đánh, diệt 15 tên. Đến ngày 6-12-1947, toàn bộ quân Pháp đã rút chạy khỏi Định Hoá.


Cuộc chiến đấu của quân và dân Định Hóa góp phần xứng đáng cùng quân dân Việt Bắc đánh bại cuộc tiến công chiến lược của thực dân Pháp, làm phá sản chủ trương "đánh nhanh thắng nhanh” của chúng. Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Định Hóa đã làm tròn nhiệm vụ góp phần bảo vệ an toàn tuyệt đối cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng, Chính phủ và cơ sở kháng chiến đóng trên địa bàn.


Trong 9 năm kháng chiến trường kỳ của dân tộc, nhân dân Định Hóa không những hăng hái tham gia cách mạng, tổ chức xây dựng lực lượng dân quân du kích, bộ đội địa phương, phối hợp cùng bộ đội chủ lực chiến đấu bảo vệ quê hương, bảo vệ an toàn tuyệt đối lãnh tụ và các cơ quan Trung ương Đảng, Chính phủ, quân đội, mà còn góp nhiều sức người, sức của chi viện cho các mặt trận: 3.000 thanh niên tham gia bộ đội chủ lực, hàng vạn lượt người đi dân công. Trong phong trào "hũ gạo nuôi quân", "mùa Đông binh sĩ”, Định Hóa đã góp được trên 60 tấn gạo, 300 tấn thóc, 30 tấn thực phẩm và đã trực tiếp đưa ra trận tuyến. Chỉ riêng năm 1953, hơn 5.951 lượt người được huy động phục vụ tại địa phương và đi dân công hoả tuyến. Trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, huyện Định Hóa đã có 675 cán bộ, chiến sĩ trực tiếp tham gia chiến đấu, ngoài ra còn cung cấp cho mặt trận 36 tấn lương thực, 20 tấn thịt trâu, bò, 1 tấn thịt lợn. Tổng kết chiến dịch, đoàn dân công Định Hóa được Hội đồng Cung cấp Trung ương tặng cò danh dự và được Nhà nước tặng Huân chương Kháng chiến hạng Ba.


Tuy là một huyện miền núi với nền kinh tế tự cung tự cấp, nhưng trong 9 năm kháng chiến, nhân dân các dân tộc huyện Định Hóa đã đóng góp cho kháng chiến hàng ngàn tấn thóc và ủng hộ các cơ quan Trung ương hàng vạn tàu lá cọ, hàng vạn tấn củi, giang, nứa cho xưởng quân giới để sản xuất vũ khí, cho nhà máy sản xuất giấy in tiền, hàng vạn cây tre, gỗ để làm nhà cho các cơ quan. Nhiều hộ gia đình đã nhận chăm sóc, nuôi dưỡng thương binh, nhường nhà cho bộ đội ở... Trong phong trào "đỡ đầu địa phương quân", Định Hóa đã đóng góp được 52 mẫu ruộng, 10 con trâu để tăng gia sản xuất, 380.000 đồng để mua sắm vũ khí.


Những đóng góp của quân và dân Định Hóa trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, so với cả nước tuy còn nhỏ bé, nhưng trong điều kiện của một huyện miền núi, dân cư thưa thớt, kinh tế tự túc, tự cấp thì mới thấy được những đóng góp, hy sinh quả là to lớn cả về sức người, sức của góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung của cả dân tộc...


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 01 Tháng Tư, 2021, 11:17:51 am
VÕ NHAI TRONG CHIẾN THẮNG VIỆT BẮC THU - ĐÔNG 1947


Trung tá DƯƠNG ĐÌNH CƯỜNG
Trưởng ban KHCN, TT, MT, nghiên cứu biên soạn lịch sử, tổng kết chiến tranh, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Thái Nguyên


Võ Nhai là một huyện miền núi nằm ở vùng Đông Bắc của tỉnh Thái Nguyên, có diện tích tự nhiên là 843,5km2. Địa hình huyện Võ Nhai chủ yếu là núi đất, núi đá vôi và rừng già rậm rạp, xen kẽ các thửa ruộng nhỏ, tạo nên thế rất hiểm trở. Trong lòng các dãy núi đá vôi ở Võ Nhai có nhiều hang, động rộng, ăn sâu vào lòng núi, rất thuận tiện cho việc xây dựng các kho dự trữ hoặc làm nơi trú quân. Nhân dân các dân tộc huyện Võ Nhai từ xa xưa đã vốn có truyền thống yêu nước và truyền thống đấu tranh kiên cường, anh dũng chống giặc ngoại xâm, chống cường quyền, áp bức. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, truyền thống quý báu đó đã được nhân dân Võ Nhai phát huy cao độ.


Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, cùng với Đại Từ, Võ Nhai là nơi có tổ chức cơ sở Đảng ra đời sớm nhất tỉnh Thái Nguyên và là một trong hai căn cứ địa cách mạng quan trọng nhất của Đảng. Võ Nhai là nơi ra đời, chiến đấu và trưởng thành của Đội Cứu quốc quân thứ II - một trong những đơn vị tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Xứ ủy Bắc Kỳ, từ Võ Nhai, phong trào yêu nước và xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng đã lan nhanh sang các huyện Đồng Hỷ, Đại Từ, Định Hoá, Phú Lương của tỉnh Thái Nguyên, Yên Thế của tỉnh Bắc Giang, Sơn Dương của tỉnh Tuyên Quang và Bắc Sơn của tỉnh Lạng Sơn. Trong Cách mạng Tháng Tám 1945, Võ Nhai cũng là nơi giành và thành lập chính quyền cách mạng dân chủ nhân dân cấp huyện sớm nhất của tỉnh Thái Nguyên.


Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, Võ Nhai là huyện có phong trào kháng chiến phát triển mạnh, có các tổ chức cơ sở Đảng và chính quyền, cơ quan, đoàn thể các cấp vững vàng, có lực lượng dân quân, du kích đông đảo. Với đầy đủ các yếu tố tự nhiên và xã hội thuận lợi đó, huyện Võ Nhai đã được Đội công tác đặc biệt của Trung ương Đảng và Chính phủ chọn làm một trong những huyện An toàn khu trong Căn cứ địa kháng chiến Việt Bắc.


Đội công tác đặc biệt của Trung ương Đảng, Chính phủ do các đồng chí Trần Đăng Ninh, Nguyễn Lương Bằng dẫn đầu, đã lên Căn cứ địa Việt Bắc chọn ATK - nơi ở và làm việc của các cơ quan đầu não kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo cao cấp nhất của Đảng, Chính phủ, quân đội và các cơ quan, đoàn thể. Huyện Võ Nhai đã vinh dự cùng với các huyện Định Hoá, Đại Từ, Phú Lương (thuộc tỉnh Thái Nguyên), Sơn Dương, Yên Sơn, Chiêm Hóa (thuộc tỉnh Tuyên Quang), Chợ Đồn (thuộc tỉnh Bắc Kạn) được Đội công tác đặc biệt của Trung ương Đảng và Chính phủ chọn làm ATK.


Trong chiến dịch phản công Việt Bắc Thu - Đông 1947, ngay sau khi thực dân Pháp cho quân mở cuộc tập kích đường không, nhảy dù đánh chiếm thị xã Bắc Kạn, thị trấn Chợ Mới và huyện lỵ Chợ Đồn, phối hợp với hai cánh quân theo hai đường bộ và thủy tạo thành hai gọng kìm từ phía Đông và phía Tây bao vây, siết chặt Căn cứ địa Việt Bắc, từ ngày 15-10-1947, các cơ quan đầu não kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Chính phủ và quân đội: Trường Chinh, Tôn Đức Thắng, Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Thị Thập, Võ Nguyên Giáp... đã chuyển từ ATK Định Hóa sang ATK Võ Nhai. Chủ tịch Hồ Chí Minh và cơ quan của Người chuyển từ Khau Tý (Điềm Mặc) lên Khuôn Đào (một bản rẻo cao của người Dao), sau đó được đồng chí Tân Hồng (Chu Văn Tấn) - người xã Phú Thượng, huyện Võ Nhai, lúc đó là Chỉ huy trưởng Chiến khu Việt Bắc đón về ở và làm việc tại làng Vang, xã Liên Minh, thuộc ATK Võ Nhai. Các cơ quan Trung ương Đảng và Chính phủ cũng về ở và làm việc tại xã Tràng Xá. Bộ phận A Bộ Tổng Tham mưu và Tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp chuyển về ở xã Dân Tiến. Hầu hết các ngõ, xóm ở các xã Tràng Xá, Liên Minh, Dân Tiến thuộc ATK Võ Nhai đều có các cơ quan của Trung ương và bộ đội ta ở.


Cũng như ở ATK Định Hoá, nhân dân các dân tộc vùng ATK Võ Nhai đã vượt mọi khó khăn, gian khổ, thiếu thốn... nhường nhà, góp công, góp của xây dựng nơi ăn, ở và làm việc; cung cấp lương thực, thực phẩm cho các cơ quan đầu não kháng chiến của Đảng, Chính phủ và quân đội.


Dưới sự chỉ huy trực tiếp của đồng chí Mông Phúc Quyền - Huyện đội trưởng Huyện đội dân quân Võ Nhai, lực lượng dân quân, tự vệ Võ Nhai đã phối hợp với bộ đội chủ lực làm nhiệm vụ tuần tra, canh gác, giữ gìn trật tự, trị an ở địa phương và bảo vệ các cơ quan Trung ương.


Thực hiện Quyết định ngày 23-10-1947 của Tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp, các đồng chí Lê Dục Tôn, Triệu Khánh Phương, Hà Châm (người Võ Nhai, nguyên là những cán bộ Cứu quốc quân II năm xưa) đã hăng hái gia nhập và chỉ huy Đội Bắc Sơn (gồm 3 trung đội của 3 tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang, Lạng Sơn) làm nhiệm vụ tổ chức, phối hợp mọi lực lượng bộ đội, dân quân, tự vệ để bảo vệ các cơ quan Trung ương và giữ gìn trật tự, trị an cho nhân dân. Từ giữa tháng 11-1947, "thấy rõ triệu chứng địch sắp chuyển hướng cuộc hành binh từ tây bắc xuống đông nam Căn cứ địa, để phối hợp với cánh quân từ Bắc Kạn xuống Thái Nguyên, có thể địch sẽ ném quân dù xuống Đại Từ, Võ Nhai và thị xã Thái Nguyên", các cơ quan đầu não kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Chính phủ đã quyết định di chuyển từ ATK Võ Nhai trỏ về ATK Định Hoá.


Ngày 17-11-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh và cơ quan của Người đã chuyển từ làng Vang, xã Liên Minh (Võ Nhai) về đứng chân tại xã Phú Đình (Định Hoá).


Dưới sự chỉ huy trực tiếp của đồng chí Lê Dục Tôn, cán bộ, chiến sĩ Đội Bắc Sơn và dân quân, tự vệ Võ Nhai đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ và dẫn đường đưa đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh cùng các đồng chí Hoàng Quốc Việt, Tôn Đức Thắng, Nguyễn Thị Thập... di chuyển theo đường mòn từ Mỏ Mủng (Dân Tiến) qua Tràng Xá, Lâu Hạ (Liên Minh), đèo Nhâu (Văn Hán - Đồng Hỷ), La Hiên, Lịch Sơn (Võ Nhai), Động Đạt (Phú Lương) sang Phú Minh (Đại Từ) giao cho đơn vị bạn đón về xã Phú Đình thuộc ATK Định Hóa an toàn.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 01 Tháng Tư, 2021, 11:18:42 am

Trong quá trình bảo vệ và dẫn đoàn cán bộ Trung ương di chuyển từ ATK Võ Nhai sang ATK Định Hoá, lực lượng vũ trang Võ Nhai đã cử 12 dân quân trẻ, khoẻ thay nhau cáng các cụ nhân sĩ yêu nước Bùi Bằng Đoàn, Vi Văn Định và giúp đoàn vận chuyển tài liệu, hành lý và đi trước dẫn đường.


Sau một tháng tung quân lên Việt Bắc, cuộc hành binh Lê-a (bước 1 của cuộc tấn công Việt Bắc Thu - Đông 1947) của giặc Pháp cơ bản bị thất bại. Phán đoán lực lượng bộ đội chủ lực của ta có từ 20 đến 25 tiểu đoàn đóng ở vùng Định Hoá, Đại Từ, Võ Nhai (Thái Nguyên), Yên Thế (Bắc Giang), lưu vực sông Phó Đáy và phía tây dãy Tam Đảo; các cơ quan đầu não kháng chiến của ta đóng ở vùng Võ Nhai (Thái Nguyên), Bộ chỉ huy quân Pháp quyết định mở cuộc hành binh Xanh-tuya (bước 2 của cuộc tấn công Việt Bắc Thu - Đông 1947) bao vây, càn quét khu vực tứ giác Tuyên Quang - Thái Nguyên - Việt Trì - Phủ Lạng Thương rộng hơn 8.000km2, nhằm tiếp tục "lùng bắt kỳ được cơ quan đầu não kháng chiến, tiêu diệt bằng được chủ lực Việt Minh, phá nát căn cứ địa”.


Đêm 24-11-1947, khi đại bộ phận các cơ quan đầu não kháng chiến của ta đã di chuyển vào vùng Phú Đình, sát chân núi Hồng (thuộc ATK Định Hoá), thì cũng là lúc khoảng 1.500 tên địch từ thị trấn Chợ Mới (Bắc Kạn) theo quốc lộ 3 xuống km 31, ngược lên đánh chiếm vùng Quán Vuông, Chợ Chu (Định Hoá). Lúc đó, Bộ phận A của Bộ Tổng Tham mưu đang trên đường di chuyển qua Quảng Nạp vào Lục Giã (Phú Đình - Định Hoá), chỉ cách khu vực có chiến sự 10km đường chim bay.


Ngày 26-11-1947, từ 9 giờ 45 phút đến 11 giờ, Pháp huy động 32 máy bay (gồm 11 JU-52 và 12 chiếc DaK) ném bom, bắn phá và thả 1 tiểu đoàn tăng cường với một bộ phận quân dù xuống đánh chiếm thị trấn La Hiên. Đầu giờ buổi chiều, chúng huy động tiếp 14 máy bay (gồm 8 JU.52 và 6 DaK) ném bom, bắn phá và thả phân đội lính dù xuống đánh chiếm Tràng Xá. Nhiệm vụ của quân dù là tiêu diệt mọi lực lượng kháng chiến có trong vùng và thu thập các tin tức có liên quan đến các cá nhân Ban lãnh đạo của Việt Minh.


Tại thời điểm đó (26-11), một bộ phận nhỏ của Ban quản lý thuộc Bộ Tổng Tham mưu vẫn còn ở các khu vực Tràng Xá, bản La Chế xã Dân Tiến (Võ Nhai).


Ngay khi quân Pháp nhảy dù đánh chiếm thị trấn La Hiên, trung đội du kích tập trung huyện Võ Nhai đã phối hợp cùng với một đơn vị bộ đội chủ lực kiên cường đánh trả. Nhưng do tương quan lực lượng không có lợi cho ta, nên du kích và bộ đội phải rút vào rừng. Một số du kích bị địch bao vây, phải rút xuống hầm bí mật. Chiến sĩ du kích Lý Viết Va khi rút xuống hầm bí mật, bị địch phát hiện được, ném lựu đạn theo. Lựu đạn chưa nổ, Lý Viết Va bình tĩnh nhặt, ném trở lại phía địch, diệt 4 tên, nâng số quân Pháp bị ta tiêu diệt trong trận này lên 8 tên. Lợi dụng lúc lựu đạn nổ, quân Pháp phải nằm rạp cả xuống, Lý Viết Va bật dậy, lao ra khỏi hầm, chạy vào rừng mang theo súng của mình và cả súng của một đồng đội đã hy sinh. Bị thương nặng, Lý Viết Va vẫn cố gắng tìm về đơn vị, "nêu tấm gương sáng cho toàn Chiến khu về tinh thần chiến đấu bảo toàn vũ khí".


Tại Tràng Xá, quân Pháp vừa nhảy dù xuống chạm đất đã bị du kích huyện Võ Nhai và bộ đội chủ lực chặn đánh. Trong một trận đánh giáp lá cà, một du kích đã dùng lưỡi lê đâm chết một tên Pháp rồi rút vào rừng, mang theo súng của một chiến sĩ bộ đội đã hy sinh trong trận đó.


Sau khi nhảy dù đánh chiếm thị trấn La Hiên, quân Pháp nhanh chóng toả ra chiếm đóng khu phố cạnh đồn cũ, đặt 4 vọng gác chặn đường đi 4 phía Cúc Đường, Văn Hán, Đình Cả và thị xã Thái Nguyên; đồng thời cho quân lùng sục, càn quét các vùng Cúc Dinh, La Hoá, Đèo Khế. Ở Tràng Xá, quân Pháp toả ra lùng sục, đốt phá các làng Sơn Giữa, Đồng Rô, Cầu Nhỏ; đặt các vọng gác trên các đường đi Bình Long, Phương Giao, Đình Cả.


Du kích Tràng Xá đã phối hợp với bộ đội chủ lực tập kích vào hai vị trí trú quân của địch, diệt 8 tên, làm bị thương 29 tên; chặn mũi tấn công, càn quét của địch vào làng Trang, La Chế (Dân Tiến), bảo vệ an toàn cho bộ phận quản lý của Bộ Tổng Tham mưu rút về ATK Định Hóa (đêm 26-11). Tiểu đội du kích Tràng Xá phối hợp với bộ đội chủ lực phục kích 70 tên địch từ Tràng Xá càn vào Bình Long, diệt 4 tên, bắn bị thương 4 tên khác. Buổi tối cùng ngày, 4 du kích Tràng Xá cùng với một tiểu đội bộ đội chủ lực tập kích vào một vị trí trú quân của địch, diệt 1 tên quan ba người Pháp, 1 tên Việt gian và làm bị thương 8 tên khác (27-11).


Trong các ngày tiếp sau, dân quân du kích Võ Nhai đã liên tục phối hợp cùng bộ đội chủ lực tổ chức phục kích, tập kích quấy rối địch ở La Hiên và Tràng Xá, diệt và làm bị thương hàng chục tên, khiến cho địch suốt ngày đêm phải hoang mang chống đỡ. Du kích Võ Nhai chặn đánh địch ở đèo Bụt, Vực Han diệt 5 tên, bắn bị thương 1 tên. Tại đèo Giai Kiết, Trung đội 22, thuộc Đại đội 8 Trung đoàn 147 bộ đội chủ lực chặn đánh 200 quân địch từ La Hiên sang, diệt 23 tên, bắn bị thương nhiều tên khác (1-12).


Trong hai ngày 4 và 5-12-1947, du kích Võ Nhai và bộ đội chủ lực tiếp tục chặn đánh các cuộc hành quân, càn quét của địch từ La Hiên vào Vũ Chấn, Cúc Đường, làng Phang, làng Vũ, tiêu diệt và làm bị thương nhiều tên. 


Sau hơn một tuần tiến công, bao vây, càn quét vùng ATK Võ Nhai không những không tiêu diệt được bộ đội chủ lực và không lùng bắt được lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan đầu não kháng chiến của Việt Minh, mà còn liên tục bị lực lượng của ta chặn đánh, gây nhiều thương vong, quân địch từ thê tiến công lâm vào thế bị động chống đỡ. Trước tình thế đó, từ ngày 7-12-1947, quân Pháp từ Võ Nhai bắt đầu rút quân qua Đồng Hỷ về thị xã Thái Nguyên. Ngày 8-12-1947, tên lính Pháp cuối cùng ở Võ Nhai đã rút về Đồng Hỷ.


Trực tiếp đương đầu với cuộc hành binh Xanh-tuya của địch, nhân dân các dân tộc và các lực lượng vũ trang vùng ATK Võ Nhai vừa độc lập tác chiến, vừa phối hợp với bộ đội chủ lực đánh 23 trận lớn, nhỏ, loại khỏi vòng chiến đấu 159 tên địch, góp phần quan trọng cùng với quân, dân các dân tộc trong tỉnh và quân dân Việt Bắc đánh bại cuộc tiến công của địch lên Việt Bắc Thu - Đông 1947, bảo vệ tuyệt đối an toàn các cơ quan đầu não kháng chiến.


Sau chiến dịch phản công Việt Bắc Thu - Đông 1947, nhân dân và lực lượng vũ trang ATK Võ Nhai tiếp tục hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ: xây dựng và bảo vệ hậu phương, góp sức người, sức của chi viện cho các chiến trường.


Với những đóng góp đặc biệt xuất sắc vào công cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc, lực lượng vũ trang và nhân dân huyện Võ Nhai; lực lượng vũ trang và nhân dân 5 xã La Hiên, Tràng Xá, Phú Thượng, Lâu Thượng, Liên Minh (thuộc huyện Võ Nhai) đã vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý "Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân" thời kỳ chống Pháp. 


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Tư, 2021, 10:52:12 am
TUYÊN QUANG TRONG CHIẾN DỊCH VIỆT BẮC THU - ĐÔNG 1947


HOÀNG BÌNH QUÂN
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng,
Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Tuyên Quang


1. Tuyên Quang - một tỉnh trung tâm của căn cứ địa Việt Bắc.

Tuyên Quang là tỉnh miền núi phía Bắc của Tổ quốc, có diện tích tự nhiên là 5.860km2; phía Bắc giáp tỉnh Hà Giang; phía Nam giáp tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc; phía Đông giáp Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên; phía Tây giáp Yên Bái. Dân số Tuyên Quang trên 71,9 vạn người, gồm 22 dân tộc anh em. Toàn tỉnh có 5 huyện và 1 thị xã; 140 xã, phường, thị trấn, 2.085 thôn, bản. Trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Tuyên Quang vinh dự được chọn làm Thủ đô Khu giải phóng, căn cứ địa trung tâm; nơi lãnh tụ Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng ở, làm việc, lãnh đạo cách mạng cả nước.


Ngày 19-12-1946, cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng nổ trong điều kiện tiềm lực kinh tế và quân sự của ta còn nhiều hạn chế. Ngược lại, thực dân Pháp có đội quân viễn chinh nhà nghề, có nhiều kinh nghiệm đi xâm lược, được trang bị vũ khí hiện đại, nước Pháp có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh hơn ta gấp nhiều lần. Trong điều kiện so sánh lực lượng, vật chất giữa ta và địch hết sức chênh lệch, để kháng chiến lâu dài, vấn đề cơ bản đối với ta là phải bảo tồn và phát triển lực lượng kháng chiến, phải xây dựng được nển kinh tế có khả năng tự cấp, tự túc. Do đó, điều kiện đặc biệt quan trọng là phải xây dựng được những khu căn cứ vững chắc, an toàn.


Trong bối cảnh đó, Tuyên Quang là một trong những tỉnh được chọn làm căn cứ địa trung tâm của cuộc kháng chiến chống Pháp.


Trước hết, về địa hình, giao thông, Tuyên Quang là nơi "tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ". Địa hình Tuyên Quang tương đối phức tạp, phần lớn là đồi núi; chịu sự chi phối bởi các dãy núi cao như Tam Đảo ở phía Nam; Cao Khánh, Ba Xứ ở phía Bắc... và nhiều đỉnh núi cao như Chặm Chu (1.587m), núi Là (942m). Núi đồi Tuyên Quang được bao phủ bởi thảm thực vật nhiệt đới khá dày và phong phú. Tại đây có nhiều thung lũng, hang động có thể xây dựng các căn cứ du kích; đặt các cơ sở kinh tế, quân sự, tiện lợi cho cả việc tấn công lẫn phòng thủ. Tỉnh có 5 con sông lớn chảy qua: sông Lô, sông Chảy, sông Gâm, sông Phó Đáy, sông Năng và hàng trăm suối, ngòi, lạch tạo thành một mạng lưới giao thông đường thủy dày đặc. Cùng với hệ thống sông suối, núi đồi trùng điệp và các thung lũng sâu, hệ thống giao thông khá thuận lợi: Đường số 2 là con đường huyết mạch nối Tuyên Quang với tỉnh biên giới Hà Giang và các tỉnh miền xuôi. Bên cạnh đó, từ Tuyên Quang có thể dễ dàng đi các tỉnh Thái Nguyên, Yên Bái, Vĩnh Yên... qua các tuyến đường liên tỉnh. Ngoài ra, còn có nhiều con đường nội địa nối liền các huyện, xã, các khu dân cư, các cơ sở kinh tế - xã hội. Nhìn một cách tổng thể, vị thế và điều kiện tự nhiên của Tuyên Quang có đầy đủ các yếu tố cần thiết của một căn cứ chiến lược, cơ động, vững chắc trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.


Thứ hai, Tuyên Quang là vùng đất giàu truyền thống lịch sử, văn hoá. Trong lịch sử, Tuyên Quang đã từng được coi là trấn biên phía Bắc của kinh thành Thăng Long, có vai trò và đóng góp quan trọng trong các cuộc đấu tranh chống xâm lược. Nhân dân các dân tộc Tuyên Quang có tinh thần yêu nước sâu sắc, đoàn kết trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm cũng như trong lao động, sản xuất xây dựng quê hương, đất nước.


Thứ ba, Tuyên Quang là tỉnh có đất đai màu mỡ vào loại bậc nhất các tỉnh miền núi phía Bắc; khí hậu Tuyên Quang thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và sức khoẻ con người. Với điều kiện đất đai, thổ nhưỡng, khí hậu, lao động sẵn có, Tuyên Quang là nơi có nguồn lương thực, thực phẩm đủ bảo đảm cho những đội quân du kích, các cơ quan đầu não cách mạng trong một thời gian nhất định khi lâm thời bị địch cắt đứt các nguồn tiếp tế1 (Bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (năm 1947), Tuyên Quang có dân số trên 10 vạn người, diện tích sản xuất lương thực 35 ngàn mẫu, sản lượng lương thực 28 ngàn tấn; cơ bản ngăn chặn được nạn đói (tư liệu lưu trữ Tỉnh ủy Tuyên Quang)).


Thứ tư, và cũng là yếu tố hết sức quan trọng, quyết định, đó là nơi đây có phong trào cách mạng và cơ sở chính trị vững chắc, từng là Thủ đô Khu giải phóng, trung tâm căn cứ địa của cách mạng cả nước. Chính tại đây, Bác Hồ đã cùng Trung ương Đảng lãnh đạo cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi trong toàn quốc. Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, với tầm nhìn chiến lược sáng suốt, trước khi về Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân công đồng chí Phạm Văn Đồng cùng một số cán bộ chủ chốt của Đảng ở lại Tân Trào một thời gian để tiếp tục xây dựng củng cố căn cứ địa vững chắc về mọi mặt và dự báo "Biết đâu chúng ta còn trở lại đây nhờ cậy đồng bào một lần nữa".


Khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta, để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài, cuối tháng 10-1946, đồng chí Nguyễn Lương Bằng được giao nhiệm vụ trở lại Việt Bắc để chuẩn bị địa điểm xây dựng căn cứ địa kháng chiến. Nhiều địa điểm thuộc các huyện: Sơn Dương, Yên Sơn, Chiêm Hoá (Tuyên Quang), được chọn làm nơi ở và làm việc của các cơ quan Trung ương Đảng và Chính phủ. Đầu năm 1947, đợt tổng di chuyển các cơ quan, cơ sở hậu cần, kinh tế, quân sự của Trung ương lên Tuyên Quang, lên Việt Bắc đã hoàn thành.


Ngày 2-4-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh về đến Làng Sảo, xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương, Tuyên Quang. Đây là nơi ở và làm việc đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người trở lại Việt Bắc lãnh đạo toàn dân kháng chiến. Trong suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ở, làm việc tại hơn 20 địa điểm khác nhau trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang.


Cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước cùng 11 bộ của Chính phủ và 65 ngành, đoàn thể, cơ quan, cơ sở kinh tế, quân sự... của Trung ương cũng đặt nơi ở, làm việc tại 111 điểm trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang. Suốt một dải từ Sơn Dương, Yên Sơn, Chiêm Hoá đến Na Hang, với thế núi, sông hiểm yếu, đã trở thành khu căn cứ an toàn của Trung ương trong suốt cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược.


Tại vùng ATK ở Tuyên Quang, Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định và thông qua nhiều chủ trương, chính sách lớn về chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao,... lãnh đạo toàn dân và toàn quân ta đẩy mạnh kháng chiến, kiến quốc đi đến thắng lợi. Tại Tuyên Quang đã diễn ra nhiều đại hội, hội nghị quan trọng: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng; Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá II); Đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh - Liên Việt; Đại hội liên minh nhân dân ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia; Đại hội Anh hùng, Chiến sĩ Thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc lần thứ nhất; kỳ họp thứ 3, Quốc hội khoá I.


Tuyên Quang cùng với các tỉnh Việt Bắc được xây dựng vững chắc, toàn diện cả về chính trị, kinh tế, văn hoá, quân sự... để hoàn thành nhiệm vụ lịch sử giao phó. Đó là bảo vệ tuyệt đối an toàn Chủ tịch Hồ Chí Minh, các cơ quan Trung ương - đầu não của cuộc kháng chiến kiến quốc của cả nước; xây dựng, bảo vệ vững chắc căn cứ địa trọng yếu của cách mạng, nơi triển khai sớm nhất chế độ dân chủ mới; nơi mở rộng mốì quan hệ ngoại giao giữa Đảng, Chính phủ ta với các Đảng Cộng sản anh em, các nước xã hội chủ nghĩa và lực lượng tiến bộ trên thế giới; là niềm tin, là nguồn động viên to lớn, cổ vũ toàn quân, toàn dân ta bền gan kháng chiến cho đến thắng lợi.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Tư, 2021, 10:54:01 am
2. Tuyên Quang trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947

Thu - Đông năm 1947, thực dân Pháp huy động 12.000 quân tinh nhuệ, được trang bị đầy đủ vũ khí, phương tiện hiện đại, mở một cuộc tiến công lớn, thọc sâu vào hậu phương ta, đánh thẳng vào trung tâm Việt Bắc. Địch hình thành hai gọng kìm bao vây Việt Bắc từ phía Tây và phía Đông, với điểm hợp quân của 2 cánh quân là Đài Thị (cách huyện lỵ huyện Chiêm Hoá 12km về hướng Đông Bắc), hòng ngăn chặn sự liên lạc của ta với bên ngoài và tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến của ta.


Thực hiện Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chỉ thị Phải phá cuộc tấn công mùa Đông của giặc Pháp của Ban Thường vụ Trung ương Đảng, chiến trường Việt Bắc đã hình thành 3 mặt trận: Mặt trận Đường số 3, Mặt trận đường số 4 và Mặt trận sông Lô - Đường số 2, nhằm bẻ gãy 2 gọng kìm của địch. Tuyên Quang là địa bàn trọng yếu của Mặt trận sông Lô - Đường số 2, là nơi đóng vai trò quyết định trong việc bẻ gãy gọng kìm phía Tây của quân Pháp, bảo vệ an toàn tuyệt đối căn cứ địa kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh và các cơ quan Trung ương.


Trước khi địch mở cuộc tấn công lên Việt Bắc, thực hiện đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh của Đảng, quân và dân Tuyên Quang đã có những chuẩn bị tích cực để bước vào kháng chiến, sẵn sàng đánh trả các cuộc tấn công của địch. Cơ sở Đảng đã được xây dựng ở tất cả các huyện, thị xã. Lực lượng vũ trang, chủ yếu là dân quân, du kích, phát triển mạnh. Tháng 4-1947, Tỉnh đội Tuyên Quang được thành lập. Một số đồn công an được xây dựng tại những nơi trọng yếu. Phong trào phòng gian, bảo mật phát triển sâu rộng. Mọi ngả đường vào vùng căn cứ địa đều được canh gác cẩn mật. Tỉnh có hàng vạn dân quân, du kích, trong đó sô có chất lượng, có khả năng chiến đấu khoảng trên 5.000 người. Ngoài lực lượng cảnh vệ của tỉnh, huyện, mỗi huyện có một trung đội du kích thoát ly, mỗi xã có một trung đội dân quân chiến đấu. Vũ khí, hậu cần của dân quân, du kích một phần nhỏ được trang bị, phần lớn do nhân dân quyên góp, hỗ trợ. Vừa giúp đỡ các cơ quan Trung ương di chuyển vào các địa điểm an toàn, quân và dân Tuyên Quang vừa thực hiện sơ tán "tiêu thổ kháng chiến"; huy động 307.000 ngày công để phá 41.018m2 nhà, 100 chiếc cầu lớn, nhỏ với tổng chiểu dài hơn 1.000m, 22km đường quốc lộ, 61km đường nội tỉnh. Trên các trục đường bộ, nhân dân đã đào hàng ngàn hô nhỏ, hố chống tăng, đắp ụ, chặt cây làm chướng ngại vật cản đường hành quân của địch. Trên sông Lô, ta xây được 2 kè cản tàu chiến, ca nô. Các bãi rộng đều được cắm chông để tiêu diệt địch nếu chúng nhảy dù, đổ bộ. Trung đoàn 112 (Trung đoàn Hà Tuyên) và một số đại đội độc lập của trên được lệnh trực tiếp tham gia chiến đấu trên mặt trận Tuyên Quang - Chiêm Hoá. Dân quân, du kích có nhiệm vụ dẫn đường, cùng bộ đội của Khu và bộ đội chủ lực tổ chức các trận phục kích tiêu diệt địch, bảo vệ dân, bảo vệ địa bàn, bảo vệ căn cứ địa. "Còn nước là còn nhà, mất nhà còn hơn mất nước", đó là quyết tâm chiến đấu, chiến thắng của quân và dân Tuyên Quang.


Sau nhiều lần bị chặn đánh trên đường hành quân, ngày 13-10-1947, binh đoàn Com-muy-nan chiếm được thị xã Tuyên Quang, rải quân đóng chốt một số điểm cao, các vị trí quan trọng trong vùng ven thị xã, tập kết quân để theo đường thủy (sông Lô, sông Gâm) và đường bộ hành quân lên Chiêm Hoá hòng hội quân với binh đoàn Bô-phơ-rê từ Bắc Kạn sang. Cũng từ thị xã Tuyên Quang, quân Pháp theo Đường số 2 đánh xuống Đoan Hùng, theo đường 13A qua Bình Ca thọc vào càn quét vùng Sơn Dương. Sông Lô, sông Gâm, đường số 2, km 31 - Chiêm Hoá, Bình Ca - Sơn Dương trở thành các trục đường hành quân càn quét của quân Pháp, đồng thời là khu vực tác chiến cơ bản của bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương.


Nằm trong Mặt trận sông Lô - đường số 2 và cũng là địa bàn càn quét chủ yếu của gọng kìm phía Tây Việt Bắc của quân Pháp, nên chiến sự tại Tuyên Quang diễn ra khá dồn dập. Về cơ bản, có thể chia thành 3 giai đoạn ngắn. Giai đoạn 1 (13 đến cuối tháng 10-1947), từ thị xã Tuyên Quang, địch tấn công càn quét Chiêm Hoá và các vùng lân cận thị xã. Giai đoạn 2 (cuối tháng 10 đến 21-11-1947), địch rút lui từng phần từ Chiêm Hoá về Tuyên Quang, đồng thời tiếp tục các hoạt động càn quét về hướng Sơn Dương. Giai đoạn 3 (22-11 đến 15-12-1947) địch rút khỏi thị xã Tuyên Quang, tiến sâu vào Sơn Dương, đồng thời đưa quân tiếp viện lập gọng kìm càn quét vùng Sơn Dương - Thiện Kế, vùng tiếp giáp giữa núi Hồng và Tam Đảo, sau đó rút lui hoàn toàn khỏi Tuyên Quang.


Ở giai đoạn đầu, quân và dân Tuyên Quang đã phối hợp cùng bộ đội tổ chức các cuộc phục kích trên đường số 2, đường bộ đi Chiêm Hoá và trên sông Lô, sông Gâm, làm chậm bước hành quân của địch. Ngày 13-10-1947, ta phục kích bắn chìm tàu chiến địch ở bến phà Bình Ca. Trận Bình Ca đã mở đầu cho các chiến thắng khác của quân, dân ta trên Mặt trận sông Lô - đường số 2. Từ ngày 15-10 đến 22-10-1947, quân Pháp liên tục bị phục kích, vấp phải địa lôi ở km 5 đến km 7 đường Tuyên Quang - Hà Giang. Trận phục kích địa lôi của tự vệ thành Tuyên Quang tại km 7 (22-10-1947) đã tiêu diệt gần 100 tên, bẻ gãy cuộc hành quân của 1 tiểu đoàn Pháp. Cánh quân thủy hành quân theo sông Lô, sông Gâm lên Chiêm Hoá gặp nhiều khó khăn vì mắc cạn và bị phục kích. Tới ngày 20-10-1947, một toán quân lẻ của địch mới lên đến Đài Thị, song lại bị bộ đội và dân quân du kích địa phương đánh cầm chân. Trong khi đó, quân Pháp từ Bắc Kạn đánh sang Đài Thị, không thấy cánh quân phía Tây từ Tuyên Quang lên, nên đã rút lui. Kế hoạch hợp quân tại Đài Thị vào trung tuần tháng 10-1947 của quân Pháp đã không thực hiện được.


Không thực hiện được mục tiêu của kế hoạch hành quân, quân Pháp buộc phải bỏ Đầm Hồng, rút về Chiêm Hoá và tìm cách rút về Tuyên Quang. Ngày 1-11-1947, trên đường rút về Chiêm Hoá, cả 2 toán quân thủy, bộ của địch đều bị phục kích tại Vật Nhèo, gần 200 tên bị tiêu diệt, 2 tàu chiến và ca nô bị bắn chìm.


Đầu tháng 11-1947, theo đường bộ và đường sông, quân Pháp rút lui khỏi Chiêm Hoá về Tuyên Quang. Trung đoàn 112 cùng dân quân, du kích tiếp tục tổ chức các trận phục kích chặn đường rút lui của địch. Pháo binh được điều gấp từ Đoan Hùng lên đánh tàu địch trên sông Lô, sông Gâm. Ngày 5-11-1947, cánh quân bộ của địch lọt vào trận địa phục kích của ta tại cầu Cả (Yên Nguyên) và Đèo Gà (Hoà Phú) thuộc huyện Chiêm Hoá, hàng trăm tên địch bị tiêu diệt. Trong các ngày 6, 7 và 8-11, quân địch tiếp tục bị phục kích. Chúng bèn chia đội hình thành 2 bộ phận. Một bộ phận ra sông Gâm để rút về thị xã Tuyên Quang bằng ca nô, bị ta phục kích tại Khe Lau vào ngày 10-11-1947, bắn cháy, bắn chìm 3 tàu chiến và ca nô, tiêu diệt hơn 200 tên. Một bộ phận rút về theo đường số 2 bị bộ đội và du kích thoát ly của Hàm Yên phục kích tại km 21 đến km 24 (đường Tuyên Quang - Hà Giang) buộc chúng phải mở đường máu tắt qua Lăng Quán, theo dọc sông Lô rút về thị xã Tuyên Quang. Ngày 19-11-1947, toàn bộ quân Pháp từ Chiêm Hoá mới về đến được thị xã Tuyên Quang.


Trong khi cuộc hành quân của địch lên Chiêm Hoá bị ta bẻ gãy thì các cuộc hành quân xung quanh thị xã Tuyên Quang và tiến vào Sơn Dương của địch cũng liên tục bị chặn đánh. Sau khi đánh thắng trận đầu vào các ngày 12 và 13-10-1947, mở đầu cho chiến thắng sông Lô, bộ đội chủ lực, được sự hỗ trợ của du kích, tiếp tục chốt chặt con đường Bình Ca - Sơn Dương. Ngày 3-11-1947, gần 100 tên Pháp phải bỏ mạng khi chúng đổ bộ xuống Bình Ca hòng tiến vào Sơn Dương. Cùng ngày, dân quân du kích gài thủy lôi, địa lôi tại bến đò Văn Yên (Thắng Quân - Yên Sơn), tiêu diệt hàng chục tên Pháp, làm hư hỏng nặng 2 ca nô của địch.


Việc bẻ gẫy 2 gọng kìm phía Đông và phía Tây của quân Pháp làm cho chúng không hợp điểm được ở Đài Thị theo dự kiến, là chiến thắng có ý nghĩa chiến lược của ta, buộc quân Pháp phải chuyển qua bước 2 của chiến dịch, mà thực chất là cuộc rút lui có kế hoạch khỏi Việt Bắc.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Tư, 2021, 10:54:42 am
Tuy nhiên, địch vẫn tiếp tục đưa quân tiếp viện từ đồng bằng Bắc Bộ lên để dốc sức càn quét vùng tứ giác Tuyên Quang - Bắc Kạn - Thái Nguyên - Phủ Lạng Thương trong quá trình rút quân. Ở Tuyên Quang, chiến sự bắt đầu dồn về trục đường Bình Ca - Sơn Dương - Thiện Kê và khu vực Sơn Dương, vùng giáp ranh giữa núi Hồng - Tam Đảo. Quân ta tiếp tục đánh địch trên đường số 2, sông Lô, Bình Ca, Sơn Dương, Đèo Khế, Thiện Kế, Liễn Sơn, Vĩnh Yên. Lực lượng vũ trang Tuyên Quang tiếp tục tham gia truy kích địch, đưa đường cho bộ đội chủ lực tổ chức các trận phục kích, tiêu diệt địch trên đường rút chạy.


Rạng sáng ngày 22-11-1947, quân Pháp chia làm 3 toán rút khỏi thị xã Tuyên Quang theo 3 đường: theo đường số 2 xuống Đoan Hùng, theo sông Lô và theo đường Bình Ca - Sơn Dương. Toán rút theo đường số 2 tới km 5 (đường Tuyên Quang - Hà Nội) bị bộ đội phục kích bằng địa lôi, tiêu diệt một số tên. Chúng cho một đơn vị rút qua chợ Ruộc ra sông Lô, cũng bị vấp địa lôi, chết 30 tên. Ngày 23-11, toán quân từ Bình Ca kéo vào Sơn Dương cũng bị chặn đánh, thiệt hại gần một đại đội. Cánh quân rút theo sông Lô bị pháo kích ở Lã Hoàng (Phủ Đoan), Phan Lương (Sơn Dương).


Đồng thời với việc rút quân khỏi thị xã Tuyên Quang và khu vực sông Lô, Pháp tập trung khoảng 600 quân tại Việt Trì để tiếp viện cho các mũi rút quân của chúng. Cuối tháng 11, một tiểu đoàn địch từ Phúc Yên hành quân qua Vĩnh Yên rồi lên Thiện Kế (Sơn Dương) hòng đánh quét, hợp thành một mũi dùi mạnh để lập hai gọng kìm Tuyên Quang - Phủ Đoan và Bình Ca - Thiện Kế, nhằm càn quét khu vực Sơn Dương, đồng thời yểm trợ cho cánh quân từ Bình Ca rút về theo đường Sơn Dương - Thiện Kế. Cánh quân này cũng bị pháo kích, phục kích, song chúng vẫn tới được Thiện Kế vào đầu tháng 12-1947.


Quân Pháp ở thị xã Tuyên Quang qua Bình Ca, kéo vào Sơn Dương nhưng không dám tấn công sâu vào khu vực Tân Trào. Tại Sơn Dương, chúng bị phục kích ở Kỳ Lâm, Bắc Lũng.


Ngày 2-12-1947, quân Pháp bắt đầu rút khỏi Sơn Dương. Một toán theo đường Thiện Kế về Vĩnh Yên, toán khác định vượt qua Đèo Khế sang Đại Từ liên lạc với cánh quân Bô-phơ-rê, nhưng bị phục kích tại Đèo Khế, buộc phải quay lại nhập vào cánh quân rút theo đường Thiện Kế - Vĩnh Ninh - Đạo Trù - Vĩnh Yên. Ngày 15-12, quân Pháp đã rút khỏi Sơn Dương - Tuyên Quang. Gọng kìm sông Lô của quân Pháp bị bẻ gẫy hoàn toàn.


Ngày 19-12-1947, chiến dịch Việt Bắc - chiến dịch phản công quy mô lớn đầu tiên của ta trong kháng chiến thực dân Pháp kết thúc kết thúc thắng lợi. Trong chiến dịch này, quân, dân ta tiêu diệt hàng nghìn tên, làm bị thương hàng nghìn tên, bắt sống hàng trăm tên, bắn rơi 18 máy bay, bắn chìm, bắn cháy 51 ca nô và tàu chiến, phá hủy 255 xe cơ giới và hơn 100 khẩu pháo,... Riêng quân, dân Tuyên Quang đã tham gia chiến đấu 48 trận, trong đó có 30 trận đánh độc lập, 18 trận hiệp đồng tác chiến với bộ đội chủ lực, bắn chìm, bắn cháy 10 ca nô, tàu chiến, góp phần tiêu diệt hơn 1.200 tên địch trên Mặt trận sông Lô. Binh lính Pháp đã kinh hoàng gọi Tuyên Quang là "nghĩa địa khổng lồ". Bình Ca, km số 7, Đầm Hồng, cầu Cả, Khe Lau... trở thành mồ chôn giặc Pháp, là nỗi kinh sợ của quân xâm lược, là niềm tự hào chiến thắng của quân và dân Tuyên Quang.


Tác chiến trên địa bàn trọng yếu, quân, dân Tuyên Quang và các đơn vị bộ đội chủ lực đã có những trận đánh xuất sắc, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, góp phần quan trọng bẻ gãy gọng kìm phía Tây của quân Pháp, làm nên thắng lợi oanh liệt của chiến dịch Việt Bắc, một chiến dịch lớn đầu tiên của dân tộc ta sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, làm thất bại chiến lược "đánh nhanh, thắng nhanh" của thực dân Pháp, đập tan âm mưu của địch; bảo vệ an toàn căn cứ địa kháng chiến, bảo vệ tuyệt đối an toàn Chủ tịch Hồ Chí Minh và các cơ quan đầu não kháng chiến.


Thắng lợi của chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947 nói chung, chiến thắng của quân, dân Tuyên Quang trên Mặt trận sông Lô - đường số 2 nói riêng, có ý nghĩa cực kỳ to lớn, khẳng định một chân lý: với lòng yêu nước nồng nàn, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của Đảng; với ý chí quyết chiến, quyết thắng; với sự đoàn kết thống nhất cao độ; với chiến lược, chiến thuật đúng đắn, thì dù với vũ khí thô sơ, kinh nghiệm còn hạn chế, chúng ta nhất định sẽ chiến thắng quân thù, cho dù đó là một đội quân nhà nghề, được trang bị vũ khí và phương tiện hiện đại. Đặc biệt, những chiến công đầu tại Bình Ca, Khe Lau, km số 7, v.v..., đã tạo dựng và củng cố vững chắc niềm tin vào sự tất thắng của ta; động viên, khích lệ quân và dân ta trên khắp các chiến trường trong Thu - Đông 1947 và trong cả cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954).


Những chiến thắng trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947 nói chung và các trận đánh trên Mặt trận sông Lô - đường số 2 nói riêng, là thực tiễn sinh động về sự tiếp tục kế thừa và phát huy lên một trình độ mới nghệ thuật quân sự truyền thống của dân tộc ta. Dựa vào thế hiểm yếu của núi rừng, sông suối, với phương châm "lấy đoản binh thắng trường trận", "lấy ít đánh nhiều", "lấy yếu chống mạnh", dùng vũ khí địch đánh địch, đánh địch bằng mọi loại vũ khí có trong tay, lực lượng vũ trang của tỉnh đã vận dụng chiến thuật du kích "cách đánh chim sẻ", đánh địch cả khi chúng hành quân lẫn lúc chúng dừng chân nghỉ ngơi, đánh địch cả trên sông lẫn trên bộ, cả khi chúng tấn công, khi chúng rút chạy; chủ động phòng tránh có hiệu quả đòn tiến công hoả lực của địch; tìm địch mà đánh, chủ động đánh địch từ xa tới gần; tiến công địch trên mọi mặt trận; tích cực tiêu hao, tiêu diệt địch đi đôi với bảo vệ vững chắc mục tiêu của ta; giành và giữ quyền tự do hành động về mình; đẩy quân địch từ thế chủ động rơi vào thế bị động. Với tinh thần chủ động, tích cực tiến công; với cách đánh linh hoạt, uyển chuyển; với lòng quả cảm và trí thông minh, sáng tạo tuyệt vời, quân và dân Tuyên Quang đã quyết tâm chiến đấu và chiến thắng, góp phần cùng quân, dân Việt Bắc buộc thực dân Pháp phải chuyển sang chiến lược đánh lâu dài, đưa cuộc kháng chiến của dân tộc ta bước sang giai đoạn mới, giai đoạn chuẩn bị phản công, tiến tới tổng phản công.


Trải qua trận "quyết đấu" đầu tiên, Đảng bộ, quân và dân Tuyên Quang đã trưởng thành về mọi mặt. Trong toàn chiến dịch, tỉnh Tuyên Quang đã làm tốt công tác tiêu thổ kháng chiến, chuẩn bị trận địa chiến đấu, cung cấp hậu cần, tải thương, chuyển đạn, liên lạc phục vụ chiến đấu; đồng thời làm tốt công tác phòng gian bảo mật, giữ vững bí mật căn cứ địa kháng chiến. Lực lượng vũ trang của tỉnh thực hiện hiệp đồng tác chiến, sáng tạo những cách đánh, đáp ứng yêu cầu và thực tế chiến trường. Sau chiến dịch, bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và lực lượng dân quân du kích của tỉnh trưởng thành về nhiều phương diện, và được bổ sung thêm nhiều vũ khí, kinh nghiệm chiến đấu. Cơ sở chính trị, kinh tế, quân sự của tỉnh được tăng cường, đặc biệt là tinh thần và khả năng của nhân dân trong tỉnh về bảo vệ an toàn bí mật căn cứ địa, sẵn sàng đối phó với các cuộc tấn công, phá hoại của địch trong suốt cuộc kháng chiến.


Từ chiến thắng của quân và dân ta trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947, có thể rút ra mấy vấn đề như sau:

Thứ nhất, sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất, linh hoạt của các cấp ủy Đảng, các cấp chỉ huy quân sự là yếu tố đầu tiên, quan trọng bảo đảm chiến thắng của quân, dân ta.

Thứ hai, kết hợp chặt chẽ giữa phòng thủ với tấn công, trong phòng thủ có tấn công, lấy tấn công đề phòng thủ, là kinh nghiệm chiến đấu và chiến thắng quân địch.

Thứ ba, lòng dân cách mạng, quyết tâm chiến đấu của lực lượng vũ trang kết hợp với việc sử dụng đúng địa thế, địa hình, chọn đúng thời cơ, sẽ nhân sức mạnh của ta lên gấp nhiều lần.

Thứ tư, bảo đảm hậu cần tại chỗ trong chiến tranh, nhất là khi lực lượng, cơ sở vật chất của ta còn yếu là yếu tố bảo đảm sức chiến đấu, chiến thắng và phát triển của lực lượng kháng chiến.

Đó là những kinh nghiệm quý báu còn nguyên giá trị đối với Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước hôm nay.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Tư, 2021, 10:55:16 am
3. Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Tuyên Quang phát huy tinh thần  chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947

Những bài học lịch sử rút ra từ chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947, luôn là bài học quý giá đối với sự phát triển của tỉnh trong hiện tại và tương lai. Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV đã xác định: Để phát triển nhanh và bền vững, 4 phương châm của tỉnh là "Chớp thời cơ, đột phá mạnh, liên kết rộng, hợp tác sâu"; 2 động lực của tỉnh là truyền thống lịch sử văn hóa và đại đoàn kết dân tộc; 5 khâu đột phá là: thực hiện tốt quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội; đẩy mạnh phát triển công nghiệp; phát triển giao thông vận tải, thông tin, xây dựng kết cấu hạ tầng; ban hành rộng rãi các cơ chế, chính sách ưu đãi, khuyến khích và kêu gọi đầu tư; đẩy mạnh thực hiện cải cách hành chính.


Ngay sau Đại hội, phát huy truyền thống lịch sử của quê hương cách mạng, dưới sự lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương, phong trào toàn dân đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội phát triển sâu rộng và đã thu được nhiều kết quả quan trọng: kinh tế tăng trưởng, cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh theo hướng công nghiệp - dịch vụ - nông, lâm nghiệp; hạ tầng phát triển; thu hút đầu tư mạnh; đời sống nhân dân các dân tộc trong tỉnh được cải thiện và nâng cao; các vấn đề xã hội như giáo dục, y tế, văn hoá, giảm nghèo, lao động việc làm, chăm sóc các gia đình thương binh, liệt sĩ, người có công với nước, được quan tâm và thực hiện có hiệu quả.


Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng - an ninh, tỉnh đã tập trung xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, đạt nhiều kết quả trong củng cố, xây dựng các tiềm lực quân sự, quốc phòng, lực lượng vũ trang, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, huyện vững chắc; xây dựng lực lượng bộ đội địa phương theo hướng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; xây dựng lực lượng dự bị động viên sẵn sàng chiến đấu cao; xây dựng lực lượng dân quân, tự vệ rộng khắp, có số lượng hợp lý, có chất lượng cao. Thực hiện tốt công tác tuyển quân hàng năm, chính sách hậu phương quân đội và giải quyết chính sách tồn đọng sau chiến tranh.


Công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể thường xuyên được quan tâm chỉ đạo. Các cấp ủy chú trọng đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo theo hướng khoa học hoá, kế hoạch hoá và phân cấp mạnh, phát huy dân chủ, giữ vững kỷ cương, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức Đảng, nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý, điều hành của các cơ quan Nhà nước, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh của địa phương.


Phát huy tinh thần của chiến sĩ sông Lô oai hùng và thực hiện trách nhiệm với lịch sử, mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi tổ chức đảng của Đảng bộ Tuyên Quang không ngừng tự đổi mới, tự chỉnh đốn, vươn lên về mọi mặt để góp phần xây dựng Đảng bộ tỉnh thật sự trong sạch, vững mạnh, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ lãnh đạo nhân dân các dân tộc trong tỉnh nắm vững thời cơ, vượt qua thách thức, khai thác mọi nguồn lực, phát huy mọi tiềm năng, xây dựng tỉnh phát triển nhanh và bền vững, có chính trị dân chủ, chính sách hấp dẫn, hành chính thông thoáng, tài chính minh bạch, con người sống đẹp, môi trường gìn giữ, xã hội yên lành, xứng đáng với truyền thống cách mạng hào hùng của vùng đất đã vinh dự là căn cứ địa cách mạng, căn cứ địa kháng chiến của cả nước.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Tư, 2021, 10:56:37 am
AN TOÀN KHU Ở TUYÊN QUANG TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN
CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC


GIANG VĂN HUỲNH
Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Tuyên Quang


Tuyên Quang là vùng đất lịch sử, là vùng căn cứ địa trong Cách mạng Tháng Tám 1945 và trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

1. An toàn khu ở Tuyên Quang, nơi ở, làm việc của Trung ương Đảng, Chính phủ và các cơ quan trung ương

Từ khi ra đời, chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa toàn dân và chiến tranh nhân dân, Đảng ta sớm nhận thức rằng chúng ta không những phải có mục đích chính trị đúng đắn mà còn phải xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang nhân dân đồng thời phải xây dựng chỗ đứng chân và thực lực của cách mạng nhằm đảm bảo cung cấp sức người, sức của để tiến hành chiến tranh nhân dân chống chiến tranh xâm lược.


Điểm tựa đó phải được xây dựng ở nơi có địa hình, giao thông phức tạp khó khăn đối với địch khi chúng tiến đánh, nhưng thuận lợi cho ta trong hoạt động tác chiến, đảm bảo bí mật; là nơi có nền kinh tế đáp ứng được những nhu cầu tại chỗ về hậu cần cho lực lượng của ta trong buổi ban đầu; đó cũng là nơi sự kiểm soát, cơ cấu chính quyền địch tương đối yếu và lỏng lẻo hơn so với ở đô thị hay nông thôn miền xuôi. Thực hiện chủ trương đó, vùng núi rừng Việt Bắc được xây dựng thành căn cứ địa cách mạng của cả nước, trong đó một số huyện của Tuyên Quang là trung tâm, đóng vai trò quan trọng vào thành công trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945.


Ngày 19-12-1946, cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp của nhân dân ta bùng nổ trong điều kiện tiềm lực kinh tế và quân sự của ta còn nhiều hạn chế. Ngược lại, thực dân Pháp có một đội quân viễn chinh nhà nghề, giàu kinh nghiệm đi xâm lược, được trang bị vũ khí hiện đại, nước Pháp có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh hơn ta gấp nhiều lần. Trong điều kiện so sánh lực lượng vật chất hết sức chênh lệch giữa ta và địch, muốn đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi, chúng ta không thể "... Đem toàn lực dốc vào một vài trận hòng phân thắng bại" mà phải có thời gian để chuyển hóa lực lượng.


Để kháng chiến lâu dài, vấn đề cơ bản đối với ta là phải bảo tồn và phát triển lực lượng kháng chiến, phải xây dựng được những khu căn cứ vững chắc, an toàn, không những chỉ có vị trí, địa hình thuận lợi, có cơ sở và phong trào quần chúng vững mạnh, mà còn phải đáp ứng được những yêu cầu cần thiết về sức người, sức của cho cuộc kháng chiến.


Trong bối cảnh đó, Tuyên Quang cùng Việt Bắc được chọn làm một trong những căn cứ địa trung tâm của cuộc kháng chiến chống Pháp; một số huyện của Tuyên Quang trở thành An toàn khu (ATK) của Trung ương.


Nhận rõ dã tâm của thực dân Pháp muốn cướp nước ta một lần nữa, sau Hội nghị quân sự toàn quốc của Đảng, cuối tháng 10-1946, đồng chí Nguyễn Lương Bằng được giao nhiệm vụ trở lại Việt Bắc để chuẩn bị địa điểm xây dựng căn cứ địa kháng chiến. Một số địa điểm thuộc các huyện: Định Hoá, Đại Từ (Thái Nguyên), Chợ Đồn (Bắc Kạn), Sơn Dương, Yên Sơn, Chiêm Hóa (Tuyên Quang) được chọn làm nơi ở và làm việc của các cơ quan Trung ương Đảng và Chính phủ trong trưòng hợp phải ròi Thủ đô Hà Nội đi kháng chiến.


Giữa tháng 12-1946, một số cán bộ trong Đội công tác đặc biệt lần lượt lên vùng Việt Bắc làm nhiệm vụ. Cùng thời gian trên, các cơ quan Trung ương; các cơ quan, cơ sở hậu cần, kinh tế, đơn vị quân đội được chuyển ra vùng ven các thành phố, thị xã rồi chuyển dần lên Việt Bắc. Đầu năm 1947, đợt tổng di chuyển cơ bản hoàn thành. Các cơ quan Trung ương, Chính phủ, Mặt trận, Bộ Quốc phòng, các cơ quan kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế... đều lần lượt rời Thủ đô Hà Nội lên căn cứ địa Việt Bắc...


Ngày 2-4-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh trở lại Sơn Dương. Đây là nơi ở, làm việc đầu tiên khi Người trở lại Việt Bắc, lãnh đạo cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc. Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, để đảm bảo bí mật, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã liên tục di chuyển, thay đổi chỗ ở, làm việc tại gần 20 địa điểm khác nhau trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang.


Cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí Tôn Đức Thắng, Phạm Văn Đồng, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Quốc Việt và nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các Bộ, ban, ngành cũng từng về ở và làm việc tại nhiều địa điểm trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang.


Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, đã có 11 trong số 12 bộ, 65 cơ quan Trung ương đã từng đặt trụ sở và nơi làm việc tại Tuyên Quang. Địa điểm đặt trụ sở làm việc của các cơ quan, từ năm 1947, ở các địa phương cụ thể như sau:

Tại huyện Sơn Dương: Văn phòng Tổng Bí thư, Ban Tổ chức Trung ương, Ban Tuyên huấn Trung ương, Ban Nông vận Trung ương, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam... đóng tại xã Tân Trào. Ban Thường trực Quốc hội và Mặt trận Liên Việt, Bộ Lao động, Bộ Nội vụ, Thông tấn xã Việt Nam... đóng tại xã Trung Yên. Nha Công an, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, Nha Thông tin, Trung ương Đoàn, báo Tiền phong, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Ban tiếp tế ATK, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam... đặt tại xã Minh Thanh. Văn phòng Chủ tịch phủ - Thủ tướng phủ, Văn phòng Phó Thủ tướng, Ban Thanh tra Chính phủ, Bộ Công thương... đóng ở xã Bình Yên. Nhà in, toà soạn và trị sự báo Cứu quốc, kho cất giữ vàng bạc của Trung ương, Bộ Giao thông công chính... đóng ở xã Hợp Thành. Bộ Tài chính, Trạm cung cấp 19 - ATK, Đài Tiếng nói Việt Nam... ở xã Tú Thịnh. Ban nghiên cứu Không quân ở xã Đông Thọ, Nha nghiên cứu Kỹ thuật ở xã Cấp Tiến. Xưởng quân giới TĐ64 đóng ở xã Quyết Thắng; Khu B Nhà máy sản xuất vũ khí TK1 đặt ở xã Hào Phú; Khu A Nhà máy sản xuất vũ khí TK1 đóng ở xã Đông Lợi; Phòng Trung ương liên lạc miền Nam, Cục Tiếp tế vận tải ở xã Hợp Hoà...

Tại huyện Yên Sơn: Văn phòng Trung ương Đảng, Nhà xuất bản Sự thật, Bộ Kinh tế, báo Nhân dân... đóng ở xã Kim Quan. Bộ Y tế đóng tại xã Tân Long. Xưởng quân giới J1 đặt ở xã Xuân Vân. Trường Nguyễn Ái Quốc đóng tại xã Tân Tiến. Trường Ngoại ngữ Việt Bắc, Trạm giao thông ATK, Nha Ngân khố Trung ương... đặt ở xã Phú Thịnh. Bộ Canh nông tại xã Thái Bình. Trường quân chính Hoàng Hữu Nam, Nhà máy MK1 đóng tại xã Mỹ Bằng. Hội Văn nghệ đóng tại xã Trung Môn...,

Ở thị xã Tuyên Quang: Bộ Thương binh - Cựu binh đóng tại xã Tràng Đà. Xưởng quân giới J1, Bộ Canh nông, Nha Thông tin, Xưởng XF21 đóng ở xã Nông Tiến. Nha Nghiên cứu Kỹ thuật ở phường Minh Xuân...

Tỉnh huyện Hàm Yên: Xưởng quân giới TĐ31 đặt ở xã Minh Hương; Xưởng quân giới J3 ở xã Thái Sơn...

Tại huyện Chiêm Hoá: Văn phòng Trung ương Đảng, Văn phòng Tổng bí thư, đoàn cố vấn Trung Quốc, đoàn cán bộ cách mạng Lào, Ban Kinh tế Chính phủ, Ban Dân vận Trung ương... đóng tại xã Kiên Đài. Ban Kinh tế - Tài chính Trung ương đóng ở xã Kim Bình. Nhà máy in tiền Khánh Thi thuộc Bộ Tài chính đóng ở xã Hùng Mỹ. Trường Đại học Y khoa và bệnh viện thực hành, Ban Thường trực Quốc hội, Trường đại học Khoa học cơ bản, Trường Công an, một bộ phận Bộ Tư pháp, Ban Chế tạo dụng cụ y được đặt ở xã Xuân Quang. Xưởng quân giới J2 và Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, sân bay Soi Đúng; Nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo... đóng tại xã Vinh Quang. Nha Bưu điện đóng tại xã Phúc Thịnh. Bộ Quốc gia Giáo dục đóng tại xã Yên Nguyên, sở đúc tiền đóng tại xã Bình Nhân...

Ở huyện Na Hang: Cơ quan ấn loát đặc biệt Trung ương thuộc Bộ Tài chính đóng ở xã Trùng Khánh.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Tư, 2021, 10:57:28 am
2. An toàn khu ở Tuyên Quang là nơi diễn ra những sự kiện quan trọng, nơi ra đời nhiều quyết sách quan trọng quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược

Từ ngày 3 đến ngày 6-4-1947, tại Làng Sảo, xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương, Hội nghị cán bộ Trung ương Đảng họp bàn việc cụ thể hóa đường lối kháng chiến và rút kinh nghiệm những tháng đầu kháng chiến.


Ngày 15-5-1947, cũng tại Làng Sảo, Hội đồng Chính phủ họp bàn về vấn đề ngoại giao với Pháp; nghe báo cáo của Bộ Quốc phòng về tình hình các mặt trận.


Từ tháng 10 đến tháng 12-1947, tại thôn Khuôn Đào, xã Trung Yên, huyện Sơn Dương và thôn Khuổi Tấu, xã Hùng Lợi, huyện Yên Sơn, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương đã tập trung lãnh đạo các mặt trận chiến đấu, đánh bại cuộc tiến công càn quét của địch trong chiến dịch phản công Thu - Đông 1947, đưa cuộc kháng chiến chống Pháp bước sang thời kỳ mới.


Ngày 19-12-1948, tại thôn Khuổi Tấu, xã Hùng Lợi, huyện Yên Sơn, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi nhân dịp kỷ niệm 2 năm kháng chiến toàn quốc; gửi điện đến nhân dân Pháp, tố cáo những tội ác của thực dân Pháp, nêu cao quyết tâm chiến đấu của dân tộc ta.


Ngày 6-5-1949, tại Khấu Lấu - Vực Hồ, thôn Bòng, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, Hội nghị Trung ương mở rộng được tổ chức để thảo luận các đề án chính trị, chính quyền, kinh tế..., chuẩn bị cho Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II.


Từ ngày 14 đến 16-6-1949, cũng tại địa điểm trên, Hội đồng Chính phủ họp nhận định tình hình thế giới, trong nước, bàn một số vấn đề về Quốc phòng, Tài chính, Nội chính. Cũng tại đây, ngày 13-4-1950, Hội đồng Chính phủ họp, thảo luận các vấn đề: tình hình thế giới, trong nước, thực hiện chương trình ba tháng đầu năm và ra nghị quyết về công tác ngoại giao, giáo dục, cải tổ bộ máy tư pháp, giao thông công chính, nội vụ...


Từ ngày 11 đến ngày 19-2-1951, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng tiến hành tại Kim Bình - Chiêm Hoá. Kể từ khi thành lập, đây là Đại hội đầu tiên của Đảng được tổ chức trong nước. Cũng tại đây, đã diễn ra các sự kiện: Đại hội thống nhất Việt Minh - Liên Việt (3-1951); Hội nghị Liên minh nhân dân ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia và thành lập khối liên minh chiến đấu của nhân dân ba nước Đông Dương (3-1951); Đại hội Anh hùng, Chiến sĩ Thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc lần thứ nhất (5-1952).


Ngày 27-9 đến ngày 5-10-1951, tại Khấu Lấu - Vực Hồ, thôn Bòng, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, Hội nghị Trung ương lần thứ 2 (khoá II) họp, thảo luận về tình hình thế giới, quyết định các nhiệm vụ về quân sự, công tác trong vùng địch và kinh tế tài chính.


Cũng tại địa điểm này đã diễn ra các sự kiện: Hội đồng Chính phủ họp, nghe báo cáo của Bộ Tài chính về vay thóc vụ chiêm và các vấn đề về thuế, trong đó có việc miễn thuế nông nghiệp năm 1951 cho những vùng đặc biệt, việc chuẩn bị triệu tập Hội nghị Chiến sĩ Thi đua và tổng động viên nhân lực, chế độ doanh nghiệp quốc gia, các vấn đề thuộc về lương bổng và một số vấn đề kinh tế, tài chính khác (14 đến 16-11-1951). Hội đồng Chính phủ họp nghe báo cáo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về tình hình chiến sự ở Bắc Bộ trong ba tháng qua; phê duyệt ngân sách năm 1952; bàn việc phát động phong trào thi đua lập công, thông qua đề án chỉnh đốn bộ máy chính quyền Trung ương và địa phương, biên chế cơ quan các ngành, các cấp (15-2-1952). Hội đồng Chính phủ họp, thảo luận và quyết định một số vấn đề quan trọng: ban hành chế độ doanh nghiệp quốc gia và chế độ quản lý dân chủ xí nghiệp; tạm cấp ruộng đất của thực dân Pháp và bọn Việt gian cho nông dân; việc bồi dưỡng các Chiến sĩ Thi đua toàn quốc và vấn đề trừng trị bọn Việt gian phản động (18 đến 20-8-1952).


Trong tháng 8-1952, Chính phủ họp bàn về kế hoạch tác chiến Chiến dịch Tây Bắc.

Tại thôn Khuôn Điển, xã Kim Quan, huyện Yên Sơn, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng, Chính phủ đã ở, làm việc từ đầu năm đến tháng 8-1954. Tại đây, đã diễn ra nhiều phiên họp của Bộ Chính trị, Hội đồng Chính phủ, lãnh đạo toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta giành thắng lợi trong chiến cuộc Đông - Xuân 1953-1954, mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của dân tộc ta đến thắng lợi hoàn toàn. Bộ Chính trị họp, chỉ định cơ quan lãnh đạo chỉ huy chiến dịch, triển khai kế hoạch điều động lực lượng lên Tây Bắc (1-1-1954). Hội đồng Chính phủ kiểm điểm công tác năm 1953, đặt chương trình công tác năm 1954 và thông qua ngân sách năm 1954 (7-1-1954). Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho cán bộ và chiến sĩ ở mặt trận Điện Biên Phủ (14-3-1954), chỉ rõ nhiệm vụ trong chiến dịch này là "rất to lớn, khó khăn, nhưng rất vinh quang" và tin tưởng rằng cán bộ và chiến sĩ ta sẽ "Phát huy thắng lợi vừa qua, quyết tâm vượt mọi khó khăn, gian khổ để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang sắp tới". Cùng ngày, Hội đồng Chính phủ họp, nghe báo cáo về Hội nghị Giơ-ne-vơ, về vấn đề quân sự, ngân sách, cải cách ruộng đất.


Bộ Chính trị họp, bàn về chủ trương đàm phán ở Hội nghị Giơ-ne-vơ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo "Hiện nay súng ở trên mặt trận bắn càng nhiều, càng trúng địch chừng nào thì trên bàn họp Giơ-ne-vơ ta lại càng thêm lợi thêm chừng ấy. Giải quyết vấn đề theo nguyên tắc có lợi cho ta và địch có thể thừa nhận, nhưng trước hết là có lợi cho ta. Giải quyết vấn đề là phải có quan điểm toàn cục. Trong Hội nghị Giơ-ne-vơ ít nhất phải tranh thủ được thắng lợi chính trị" (5-1954). Hội đồng Chính phủ bàn về tình hình và nhiệm vụ mới, chỉ rõ: "Công tác mới nhiều, phức tạp, khó khăn. Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ, về mặt nhận thức phải toàn diện, đồng thời lại phải có sự nghiên cứu tỉ mỉ từng bộ phận" (13 đến 14-7-1954). Hội nghị lần thứ 6 (mở rộng) Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp (15-7-1954). Tại Hội nghị này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản báo cáo quan trọng gồm 2 phần Tình hình mới và Nhiệm vụ mới. Người khẳng định: "Mỹ là kẻ thù chính của hoà bình thế giới, ta phải tập trung lực lượng chống đế quốc Mỹ", "Mỹ đang biến thành kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Việt - Miên - Lào". Người nhấn mạnh: Trước tình hình mới hiện nay, ta không thể giữ cương lĩnh cũ. Trước kia khẩu hiệu của ta là "Kháng chiến đến cùng". Nay vì tình hình mới, ta cần nêu khẩu hiệu mới là "Hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ"... "Bất kỳ hoà bình hoặc chiến tranh ta củng phải nắm vững chủ động, phải thấy trước, phải chuẩn bị trước". Trong báo cáo, Người cũng đề ra 3 nhiệm vụ, 10 công tác và vấn đề điều chỉnh khu vực Pháp rút quân, đề phòng tư tưởng "tả" hoặc "hữu khuynh" có thể nảy sinh.


Ngày 22-7-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi đồng bào, chiến sĩ và cán bộ toàn quốc sau khi Hội nghị Giơ-ne-vơ thành công. Người chỉ rõ những nguyên nhân thắng lợi và nêu quyết tâm "chúng ta phải ra sức đấu tranh để củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong toàn quốc", về việc thực hiện Hiệp định Giơ-ne-vơ, Người nhấn mạnh việc điều chỉnh khu vực chỉ là tạm thời và khẳng định "Chúng ta quyết làm đúng những điều đã ký kết với Chính phủ Pháp, đồng thời chúng ta đòi Chính phủ Pháp phải làm đúng những điều họ đã ký kết với ta".


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Tư, 2021, 10:58:16 am
3. An toàn khu ở Tuyên Quang cùng với Căn cứ địa Việt Bắc là niềm tin, là nguồn động viên to lớn về chính trị, tinh thần, cổ vũ toàn quân, toàn dân ta nuôi chí bền gan chiến đấu cho đến thắng lợi hoàn toàn

An toàn khu ở Tuyên Quang là một trong những nơi đầu tiên thực hiện chế độ dân chủ mới, chế độ dân chủ nhân dân, cũng là một trong những đầu mối quan hệ giữa Trung ương với toàn quốc, giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và các tổ chức tiến bộ và nhân dân trên thế giới.


Trong những năm kháng chiến, chiến trường toàn quốc bị chia cắt, vùng tự do và vùng bị tạm chiếm xen kẽ nhau, việc giao thông đi lại gặp nhiều khó khăn vì bị địch phong toả. Mặc dù vậy, sự liên hệ giữa khu Căn cứ địa Việt Bắc với các địa phương, các chiến trường khắp ba miền Bắc - Trung - Nam vẫn được giữ vững.


Trung tuần tháng 9-1948, một phái đoàn đại diện Đảng và Nhà nước, do đồng chí Lê Đức Thọ làm Trưởng đoàn, rời Tân Trào, lên đường vào Nam Bộ, mang theo nhiều tài liệu quan trọng. Sự chỉ đạo kịp thời của Trung ương đã giúp cho phong trào kháng chiến ở Nam Bộ vượt qua thời kỳ khó khăn và chuyển bước phát triển mới.


Tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 4 được tổ chức tại Tân Trào - Tuyên Quang (14 đến 18-8-1949), Đảng ta đã nêu rõ nhiệm vụ giúp đỡ cách mạng nhân dân Lào, Campuchia "Mở rộng mặt trận Lào, Miên, vì: Lào, Miên không độc lập thì nền độc lập của Việt Nam khó mà đảm bảo".


Quán triệt Nghị quyết Hội nghị của cán bộ Trung ương Đảng lần thứ 4, tại cuộc Hội nghị cán bộ quân sự và chính trị cấp cao, Tổng Chỉ huy kiêm Tổng Chính ủy Võ Nguyên Giáp trình bày kế hoạch quân sự trong năm 1949. Bản kế hoạch nêu rõ nhiệm vụ cụ thể cho từng chiến trường. Khu 10 có nhiệm vụ giúp bạn xây dựng phát triển một số căn cứ du kích ở Bắc Lào; Khu 4 có nhiệm vụ giúp bạn phát triển cơ sở ở Hạ Lào, nhằm xây dựng căn cứ Bô Lô Ven. Đối với Campuchia, Bộ Tư lệnh Nam Bộ có nhiệm vụ tăng thêm cán bộ chính trị và lực lượng vũ trang vào nội địa, giúp bạn mở rộng thêm cơ sở và căn cứ du kích, tiến tới nối liền căn cứ Đông Nam với Đông Bắc.


An toàn khu ở Tuyên Quang là nơi diễn ra nhiều cuộc đón tiếp, gặp gỡ giữa những nhà lãnh đạo cách mạng ở Việt Nam với đại biểu nước ngoài như các cuộc đón tiếp, làm việc với Chính phủ kháng chiến Lào và Mặt trận Lào yêu nước Ítxala, đoàn cố vấn Trung Quốc, đại diện các Đảng Cộng sản: Pháp, Thái Lan, Liên Xô,...


Năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thường vụ Trung ương Đảng tiếp phái viên của đồng chí Chu Ân Lai - nhà lãnh đạo cách mạng Trung Quốc, bàn về phối hợp chiến đấu giúp đỡ lẫn nhau giữa quân đội hai nước. Sau đó, vào tháng 4-1949, lãnh đạo phong trào du kích Quảng Tây (Trung Quốc) đề nghị Quân đội nhân dân Việt Nam phối hợp chiến đấu, giúp đỡ Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc đánh quân Tưởng, giải phóng khu Ung - Long - Khâm.


Ngày 14-1-1950, tại Tân Trào, thay mặt Chính phủ kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời tuyên bố gửi Chính phủ các nước trên thế giới: "Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là chính phủ hợp pháp duy nhất của nước Việt Nam... và sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với các nước trên cơ sở tôn trọng chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền quốc gia bình đẳng".


Ngày 15-1-1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Tuyên Quang sang Bắc Kạn rồi bí mật theo đường Phục Hoà (Cao Bằng) qua Thủy Khẩu sang huyện Long Châu, mở đầu chuyên đi thăm Trung Quốc, Liên Xô, nhằm tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa và lực lượng tiến bộ trên thế giới đối với cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.


Đảng và Chính phủ Trung Quốc đã cử một số cố vấn sang Việt Nam, thường xuyên làm việc tại Tuyên Quang, giúp đỡ Chính phủ và nhân dân ta về các mặt chính trị, quân sự, kinh tế, tài chính.


Cũng từ vùng ATK ở Tuyên Quang, qua làn sóng điện của Đài Tiếng nói Việt Nam, lập trường chính nghĩa cùng những thắng lợi trong sự nghiệp kháng chiến kiến quốc của nhân dân ta được truyền đi khắp thế giới.


Có thể nói, nhìn về ATK ở Tuyên Quang và toàn bộ Việt Bắc, nhân dân cả nước ngày càng được tiếp thêm niềm tin và sức mạnh, nhân dân thế giới ngày càng hiểu rõ và đồng tình ủng hộ sự nghiệp "kháng chiến, kiến quốc" của dân tộc ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 07 Tháng Tư, 2021, 08:40:36 am
HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THựC DÂN PHÁP (1945-1954)


NGUYỄN ĐÌNH QUANG
Bí thư Huyện ủy huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang


Sơn Dương là một huyện nằm ở phía Nam tỉnh Tuyên Quang. Phía Bắc giáp huyện Yên Sơn; phía Nam và Tây Nam giáp các huyện Đoan Hùng, Phù Ninh (Phú Thọ), Lập Thạch (Vĩnh Phúc); phía Đông giáp huyện Đại Từ và huyện Định Hóa (Thái Nguyên). Toàn huyện có tổng diện tích tự nhiên là 789,26km2.

Đến năm 2007, dân số toàn huyện có gần 18 vạn người với 10 dân tộc: Kinh, Tày, Cao Lan, Nùng, Dao, Sán Chỉ, Sán Dìu, Mông, Hoa, Mường sinh sống gắn bó, đoàn kết tại 33 xã, thị trấn.

Sơn Dương là một huyện có truyền thống yêu nước và cách mạng.

1. Huyện Sơn Dương trước và trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945

Với truyền thống yêu quê hương, yêu đất nước vốn có tự lâu đời, sau ngày Đảng Cộng sản Đông Dương được thành lập, nhân dân các dân tộc huyện Sơn Dương một lòng một dạ đi theo Đảng, quyết tâm đánh đuổi quân xâm lược, giành lại độc lập, tự do.


Thực hiện Chỉ thị Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta, ngày 10-3-1945, nhận thấy thời cơ khởi nghĩa giành chính quyền đã chín muồi, Phân khu ủy Phân khu Nguyễn Huệ họp dưới sự chủ trì của đồng chí Song Hào - Bí thư Phân khu ủy, đã quyết định chọn Thanh La (nay là xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương) làm nơi khởi nghĩa giành chính quyền đầu tiên trong cả vùng.


Đêm 10-3-1945, ta đã giải phóng hoàn toàn xã Thanh La. Thừa thắng, quân cách mạng tiến về giải phóng đồn Đăng Châu, huyện lỵ Sơn Dương và các xã lân cận. Ngay sau khi Đăng Châu được giải phóng, Phân khu ủy Nguyễn Huệ tổ chức mít tinh tại Đình Thanh La, tuyên bố thành lập Ủy ban cách mạng lâm thời châu Tự Do.


Sau khi cuộc khởi nghĩa Thanh La thắng lợi, đồn Đăng Châu được giải phóng, châu Tự Do được thành lập, phong trào cách mạng phát triển cực kỳ nhanh chóng. Từ châu Tự Do, các đoàn quân khởi nghĩa được lệnh toả đi giải phóng các nơi, như: Đại Từ, Định Hóa, Yên Sơn, Chiêm Hóa, Nà Hang, Phù Ninh, Đoan Hùng...


Đầu tháng 5-1945, dưới sự chỉ huy của các đồng chí Lê Dục Tôn, Hoàng Bắc Dũng, Kim Ngọc, quân và dân ta đã giải phóng hoàn toàn vùng trung và hạ huyện Sơn Dương, chính quyền cách mạng các xã nhanh chóng được thành lập. Tại cuộc mít tinh lớn được tổ chức tại thôn Đồng Khuôn, xã Phú Lương (15-5-1945), đồng chí Lê Dục Tôn, thay mặt Phân khu ủy Phân khu Nguyễn Huệ, đã tuyên bố thành lập châu Kháng Địch, bao gồm khu vực trung, hạ huyện Sơn Dương và một phần Đoan Hùng, Phù Ninh (Phú Thọ), Lập Thạch (Vĩnh Phúc).


Sơn Dương được giải phóng, đã kết thúc ách thống trị tàn bao dã man của chế độ đế quốc, phong kiến; ước mong tự do độc lập bao đời nay của người dân đã trở thành hiện thực. Thắng lợi này đã tạo ra bước phát triển vượt bậc của phong trào cách mạng trong huyện, là điều kiện quan trọng tiên quyết để Bác Hồ cùng Trung ương Đảng quyết định về Sơn Dương - Tân Trào hoạt động cách mạng.


Ngày 21-5-1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh từ Pác Bó (Cao Bằng) về đến Tân Trào, Sơn Dương để lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng Việt Nam. Tại đây, Người chỉ thị thành lập Khu giải phóng, gồm các tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang với Tân Trào là trung tâm, trở thành Thủ đô của Khu giải phóng. Nhân dân Sơn Dương có sứ mệnh mới, xây dựng một chế độ mới - hình ảnh thu nhỏ của một nước Việt Nam mới.


Thời cơ Tổng khởi nghĩa xuất hiện, từ ngày 13 đến 15-8-1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào, quyết định lãnh đạo toàn dân khởi nghĩa, Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc được thành lập. Ngày 16-8-1945, Quốc dân Đại hội được triệu tập tại Tân Trào. Đại hội biểu thị ý chí quyết tâm sắt đá giành độc lập dân tộc của đồng bào cả nước và bầu ra Ủy ban Dân tộc Giải phóng - do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.


Từ Tân Trào - Sơn Dương, lệnh Tổng khởi nghĩa được truyền đi. Cả nước nhất loạt đứng lên giành chính quyền, giải phóng quê hương. Ngày 19-8-1945, Hà Nội tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi. Ngày 22-8-1945, Bác Hồ ròi Tân Trào về Hà Nội. Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 07 Tháng Tư, 2021, 08:42:04 am
2. Sơn Dương trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)

Sau ngày nước ta giành được độc lập, cách mạng Việt Nam lại đứng trước những thử thách hết sức gay go, phức tạp, phải đối đầu với thù trong, giặc ngoài. Tình thế cách mạng như ngàn cân treo sợi tóc.


Ở Sơn Dương, đời sống kinh tế xã hội của địa phương đang hết sức khó khăn, nạn đói diễn ra trầm trọng, kẻ thù luôn tìm mọi thủ đoạn phá hoại. Trước tình hình đó, cán bộ Đảng, chính quyền, đoàn thể bám sát quần chúng và cơ sở tuyên truyền vận động, hướng dẫn nhân dân bình tĩnh đấu tranh với quân Trung Hoa dân quốc của Tưởng Giới Thạch, đồng thời kiên quyết trừng trị bọn phỉ và tay sai của địch.


Cùng với chống giặc ngoại xâm, diệt giặc đói, giặc dốt là nhiệm vụ cấp bách trước mắt của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta. Các tổ chức Mặt trận Việt Minh, Hội Phụ nữ cứu quốc tích cực tuyên truyền vận động hội viên phát huy tinh thần tương thân, tương ái. Học tập Chủ tịch Hồ Chí Minh mỗi tuần nhịn ăn một bữa, các gia đình hàng ngày khi nấu cơm đều dành một nắm gạo bỏ vào hũ gạo cứu đói, đến cuối tuần, dồn số gạo trong hũ nộp cho tổ chức cứu đói; động viên nhân dân tích cực tăng gia sản xuất với khẩu hiệu "tấc đất tấc vàng"; đồng thời thực hiện các biện pháp để khắc phục nạn đói.


Mặc dù còn nhiều khó khăn, đồng bào các dân tộc trong huyện vẫn hăng hái tham gia Tuần lễ vàng do Chính phủ phát động để xây dựng nền tài chính quốc gia. Nhiều người không ngần ngại đóng góp cả những đồ vật quý giá của gia đình ủng hộ cách mạng. Nhân dân trong huyện còn tự nguyện đóng Đảm phụ quốc phòng, xây dựng Quỹ Độc lập, góp phần khôi phục xây dựng đất nước, quê hương.


Thực hiện lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh "những người biết chữ hãy dạy cho người chưa biết chữ... những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết", Sơn Dương tích cực đẩy mạnh phong trào bình dân học vụ. Mặt trận Việt Minh, Hội Phụ nữ cứu quốc là lực lượng xung kích trong vận động nhân dân tham gia phong trào bình dân học vụ. Cán bộ, hội viên vừa tích cực tham gia học tập, vừa động viên tạo điều kiện cho những người thân trong gia đình đi học. Những người biết chữ thì xung phong làm chiến sĩ "diệt dốt", các lớp bình dân học vụ được mở ở khắp nơi, lôi cuốn mọi tầng lớp nhân dân tham gia.


Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong điều kiện mới, ở Sơn Dương thành lập Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác để mở rộng việc học tập lý luận chính trị, văn hóa trong Đảng và nhân dân. Sách báo của Đảng được lưu truyền rộng rãi. Các lớp lý luận Cộng sản sơ giải đã bước đầu trang bị và nâng cao giác ngộ chủ nghĩa cộng sản cho cán bộ đảng viên.


Thời kỳ này, huyện còn chỉ đạo xây dựng chính quyền cơ sở thông qua việc giải thích, tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của nhân dân về chính quyền cách mạng. Từ đó, lựa chọn bầu những đại biểu xứng đáng vào chính quyền các cấp, vận động nhân dân hăng hái tham gia cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của đất nước, nhiều cán bộ đảng viên của huyện đã đến tận các làng bản vận động, tổ chức nhân dân đi bỏ phiếu.


Lúc này, toàn huyện mới có 5 đồng chí đảng viên nên các mặt công tác còn gặp nhiều khó khăn. Song, với sự hoạt động tích cực của Chi bộ Đảng, cán bộ các cấp từ huyện đến cơ sở trực tiếp tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, nhất là các chỉ thị, nghị quyết về công cuộc kháng chiến, kiến quốc của dân tộc. Nhờ sự hoạt động tích cực của Huyện ủy và của toàn thể cán bộ, đảng viên trong huyện, năm 1946 đã có 16.900 trên tổng số 17.500 dân số toàn huyện được học tập các chủ trương, đường lối của Đảng; có 8.500 người trong huyện hăng hái tham gia các tổ chức cứu quốc.


Nhờ sự hoạt động tích cực của mình, huyện luôn hoàn thành nhiệm vụ được giao, góp phần cùng toàn Đảng bộ, nhân dân các dân tộc trong tỉnh giữ vững thành quả cách mạng, bước đầu xây dựng chế độ mới và cùng cả nước vững vàng bước vào cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp.


Với địa thế hiểm yếu, phong trào cách mạng vững chắc được xây dựng từ thời kỳ Cách mạng Tháng Tám 1945, Sơn Dương - Tân Trào lại vinh dự được chọn làm một trong những nơi ở và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các cơ quan Trung ương Đảng, Chính phủ, Quốc hội, Mặt trận trong cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc chống thực dân Pháp xâm lược.


Ngày 2-4-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh về đến làng Sảo, xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương. Cùng với Người, các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, như: Tôn Đức Thắng, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Quốc Việt... và trên 40 cơ quan Trung ương của Đảng, Chính phủ cũng đã từng về ở, làm việc tại Sơn Dương như: Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng, Ban Tổ chức Trung ương, Văn phòng Trung ương, Văn phòng Chủ tịch phủ, Thủ tướng phủ, Ban Thường trực Quốc hội, Nha Công an, Bộ Ngoại giao, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Công thương. Bộ Giao thông công chính, Ban Thi đua ái quốc, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, Thanh tra Chính phủ, Mặt trận Việt Minh - Liên Việt, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Ban Nông vận Trung ương, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc,...


Sơn Dương - Tân Trào là một phần của trung tâm căn cứ địa kháng chiến của cách mạng Việt Nam. Đây là một trách nhiệm nặng nề, nhưng cũng vô cùng vinh dự của Đảng bộ và nhân dân Sơn Dương trong việc bảo vệ an toàn tuyệt đối nơi ở và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Chính phủ và các cơ quan Trung ương trong những năm tháng hoạt động tại địa phương. Mặt khác, đây cũng là điều kiện thuận lợi cho phong trào cách mạng của huyện. Đến trước tháng 10-1947, toàn huyện đã có 49 đồng chí đảng viên, 558 dân quân du kích. Hơn 80% dân số toàn huyện được học tập chủ trương, đường lối kháng chiến, kiến quốc của Đảng, Chính phủ.


Thực hiện chủ trương tiêu thổ kháng chiến của Trung ương, những ngôi nhà thân yêu bị phá đi, các thôn xóm ở địa bàn xung yếu trở thành bãi hoang cạm bẫy, chướng ngại vật được dựng lên khắp nơi trên các trục đường Bình Ca - Đăng Châu - Thái Nguyên, Đăng Châu - Thiện Kế - Phan Lương... hàng loạt bãi chông, với hàng vạn ngọn chông chống địch nhảy dù, đã mọc lên ở Trung Yên, Sơn Nam, Lâm Xuyên, Sầm Dương, Hồng Lạc, Kỳ Lâm...


Hưởng ứng thư kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chỉ thị Phải phá cuộc tấn công mùa Đông của giặc Pháp của Ban Thường vụ Trung ương Đảng (15-10-1947), quân và dân Sơn Dương đoàn kết một lòng, sát cánh cùng bộ đội chủ lực anh dũng chiến đấu và phục vụ chiến đấu.


Ngày 11-10-1947, quân dân các xã ven sông Lô, vùng hạ huyện Sơn Dương, tham gia chiến đấu đánh chặn địch tại Sóc Đăng (Đoan Hùng). Ngày 12-10-1947, quân ta phục kích bắn cháy tàu chiến địch tại Bình Ca, xã Vĩnh Lợi, huyện Sơn Dương. Ngày 13-10, quân ta nổ súng tiêu diệt gần 20 tên địch tại Thượng Ấm.


Chiến thắng Bình Ca, ngày 12 và 13-10-1947, báo hiệu sự chuyển biến mới về chiến cuộc trên Mặt trận Sông Lô, chứng tỏ ta có đủ sức mạnh và mưu trí để đánh thắng giặc. Chiến thắng Bình Ca cổ vũ mạnh mẽ tinh thần chiến đấu của quân dân Việt Bắc.


Sau chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947, Tổng Chỉ huy Võ Nguyên Giáp đã tặng thưởng Tiểu đoàn 42 đánh trận Bình Ca lá cờ đỏ thêu dòng chữ "Trận Bình Ca Tiểu đoàn 42 đã đánh lui một trận đổ bộ của giặc, xung phong cướp súng, bắn chìm pháo thuyền ghi một chiến công đầu tiên, mở đầu cho những chiến công rực rỡ khác cho chiến thắng Sông Lô". Tiểu đoàn 42 được mang danh hiệu "Tiểu đoàn Bình Ca".


Ngày 3-11-1947, thực dân Pháp dùng ca nô chở 200 quân đổ bộ lên Bình Ca hòng tiến sâu vào Sơn Dương, nhưng bị quân dân Sơn Dương chặn đánh quyết liệt ở nhiều nơi, diệt hơn 100 tên, buộc chúng phải rút lui, hủy bỏ kế hoạch hành quân. Không thực hiện được mưu đồ lại bị tổn thất nặng nề, ngày 21-11-1947, quân Pháp rút khỏi thị xã Tuyên Quang, đồng thời phối hợp với các cánh quân từ Vĩnh Yên, Việt Trì lên và từ Thái Nguyên sang để càn quét vùng căn cứ địa Sơn Dương. Quân dân Sơn Dương đã phối hợp với bộ đội chủ lực, tổ chức các trận đánh du kích nhỏ lẻ, tiêu hao sinh lực địch, ngăn chặn đường tiếp tế của chúng.


Từ bến phà Bình Ca, địch cho quân tiến vào Đăng Châu phối hợp với cánh quân từ Thái Nguyên sang. Tại Phan Lương, hai cánh quân từ Tuyên Quang và Việt Trì lên gặp nhau rồi tiến về xã Thiện Kế, phối hợp với cánh quân từ Vĩnh Yên cùng đánh ngược lên Đăng Châu. Dân quân du kích địa phương phối hợp cùng bộ đội chủ lực bám sát địch nhằm quấy rối, tiêu hao và đẩy chúng vào tình thế bị động.


Ngày 2-12-1947, quân Pháp đóng tại huyện lỵ Sơn Dương tổ chức càn quét ra vùng xung quanh, bị ta phục kích tại Bắc Lũng và Đèo Khế, diệt gần 30 tên.


Quân Pháp ở Đăng Châu luôn bị ta đánh phá, cắt đứt đường tiếp tế nên chỉ dám càn quét vùng lân cận và buộc phải dùng máy bay thả dù tiếp tế. Ngày 15-12-1947, địch rút chạy khỏi Sơn Dương bằng hai đường qua Đèo Khế về Thái Nguyên và qua Đèo Mon về Vĩnh Yên.


Tóm lại, trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947, quân và dân Sơn Dương đã tham gia đánh địch 8 trận lớn nhỏ, tiêu diệt gần 300 tên, bắn cháy 3 tàu chiến, thu nhiều vũ khí trang bị. Toàn huyện đã đóng góp hơn 10.000 ngày công, đặc biệt chị em trong tổ chức phụ nữ huyện, thường xuyên giúp đỡ bộ đội qua lại địa phương, chăm sóc thương bệnh binh chu đáo. Ngoài ra, Hội phụ nữ cứu quốc huyện còn tiếp tế cho bộ đội 1.200 chiếc bánh chưng và ủng hộ thương binh được 500 đồng.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 07 Tháng Tư, 2021, 08:44:38 am
Sau chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947, Sơn Dương tích cực thực hiện chủ trương "vừa kháng chiến vừa kiến quốc".


Để thu hút chủ lực và phá hậu phương kháng chiến của ta, tháng 5-1949, quân Pháp mở cuộc hành quân Pô-môn đánh lên Phú Thọ, Tuyên Quang. Do nắm được âm mưu của địch, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Sơn Dương, quân dân Sơn Dương phồì hợp chặt chẽ cùng bộ đội chủ lực chống lại phá tan cuộc hành quân Pô-môn của chúng.


Ngày 25-5-1949, tại xóm Tây Vực, xã Đông Lợi, toán địch lọt vào trận địa phục kích của ta. Bằng lựu đạn, súng kíp, lực lượng du kích xã Đông Lợi đã nổ súng tiêu diệt 8 tên. Tại xã Tam Đa, lực lượng du kích phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực, tổ chức phục kích bằng địa lôi do du kích xã tự chế, bố trí tại Cầu Giềng, tiêu diệt 34 tên. Cùng ngày, một toán quân địch từ Kim Xuyên rút chạy về Phan Lương, bị du kích các xã Sầm Dương, Lâm Xuyên phục kích diệt 15 tên, thu nhiều chiến lợi phẩm. Cùng với bộ đội chủ lực, lực lượng dân quân du kích huyện Sơn Dương đã mưu trí, dũng cảm, sáng tạo nhiều cách đánh khác nhau, phối hợp với quân dân trong tỉnh Tuyên Quang góp phần đánh bại cuộc hành quân Pô-môn của địch, bảo vệ vững chắc hậu cứ kháng chiến, tạo điều kiện để xây dựng và phát triển về mọi mặt, phục vụ kháng chiến trường kỳ thắng lợi.


Huyện Sơn Dương tập trung xây dựng lực lượng vũ trang mạnh, tăng cường công tác an ninh trật tự vững chắc từ cơ sở. Huyện đã hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ bí mật, an toàn cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí lãnh đạo và các cơ quan Trung ương Đảng, Chính phủ đóng tại địa phương.


Từ tháng 4-1947 đến tháng 12-1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ở và làm việc 48 tháng tại 5 địa điểm khác nhau ở Sơn Dương như: Làng Sảo (Hợp Thành), Khuôn Đào (Trung Yên), Lũng Tẩu, Khấu Lấu, Hang Bòng (Tân Trào)...


Từ ngày 1 đến ngày 4-12-1953, Quốc hội khóa I, kỳ họp thứ 3 đã họp tại Thác Dẫng, làng Lập Binh, xã Bình Yên, huyện Sơn Dương, dưới sự chủ tọa của quyền Trưởng ban Thường trực Quốc hội Tôn Đức Thắng, với sự tham gia của 166 đại biểu. Kỳ họp đã nghe Báo cáo tình hình trước mắt và nhiệm vụ cải cách ruộng đất do Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày và Báo cáo của Chính phủ về thành tích khảng chiến và dự thảo Luật Cải cách ruộng đất do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng trình bày. Ngày 4-12-1953, Quốc hội khóa I chính thức biểu quyết thông qua Luật Cải cách ruộng đất. Ngày 19-12-1952, Chủ tịch nước ký sắc lệnh 197/SL ban bố Luật Cải cách ruộng đất.


Trong thời gian ở và làm việc tại Sơn Dương, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trì nhiều cuộc họp của Đảng, Chính phủ, quyết đáp những vấn đề quan trọng của cuộc kháng chiến, kiến quốc. Đất và người Sơn Dương còn lưu giữ mãi những hình ảnh sinh động về hoạt động của Người và các đồng chí lãnh đạo cách mạng, các cơ quan Trung ương Đảng, Chính Phủ trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp hào hùng của dân tộc.


Với khẩu hiệu "Vì cả nước", quân và dân Sơn Dương hăng hái thi đua lao động sản xuất, tích cực ủng hộ sức người, sức của góp phần để kháng chiến thắng lợi. Năm 1952, toàn huyện có 150 thanh niên tình nguyện tham gia bộ đội; 1.000 người tham gia dân quân du kích; đóng góp cho Nhà nước được 264 tấn thóc; ủng hộ bộ đội được 20 vạn đồng; tặng thương binh được 320.225 đồng; giúp đỡ bộ đội địa phương được 298.775 đồng. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Sơn Dương đã đóng góp hàng chục vạn ngày công, hàng ngàn tấn lương thực, thực phẩm phục vụ kháng chiến. 76 người được tặng Bằng Có công với nước; 36 gia đình được tặng danh hiệu Gia đình có công với nước. Có 2.470 thanh niên tình nguyện tham gia bộ đội; trong đó, 145 liệt sĩ, 132 thương binh đã cống hiến hy sinh, xương máu của mình cho quê hương đất nước.


Ngày 21-7-1954, Hiêp định Giơ-ne-vơ được ký kết, kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta. Cùng cả nước, huyện Sơn Dương đã hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang trong những năm kháng chiến. Với những thành tích đặc biệt xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, huyện Sơn Dương và hai xã Tân Trào, Minh Thanh đã vinh dự được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Kiên trì con đường đúng đắn mà Đảng và Bác Hồ đã chọn - con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, ngay sau hoà bình, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Sơn Dương nỗ lực vượt qua thử thách, gian khổ, đoàn kết một lòng, phát huy truyền thống quê hương cách mạng Tân Trào; xây dựng quê hương Sơn Dương ngày càng phát triển; đóng góp tích cực vào cuộc đấu tranh thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Kinh tế, xã hội liên tục phát triển; văn hóa xã hội có nhiều lĩnh vực đạt thành tựu cao. An ninh - quốc phòng luôn ổn định. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được nâng lên. Niềm tin của nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng ngày càng được củng cố.


Những kết quả đạt được trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và trong công cuộc xây dựng đất nước có ý nghĩa hết sức quan trọng, là nền tảng để Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Sơn Dương có những bước tiến mạnh mẽ trong thời kỳ đổi mới; khai thác và phát huy có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh về đất đai, lao động, tài nguyên khoáng sản, văn hóa lịch sử; nhất là các khu di tích lịch sử cách mạng đặc biệt quan trọng của quốc gia, với 183 điểm di tích, chiếm tới 40% tổng số các điểm di tích lịch sử văn hóa toàn tỉnh, để đẩy mạnh phát triển kinh tế với cơ cấu công nghiệp, nông lâm nghiệp, dịch vụ thương mại và du lịch; sớm đưa huyện Sơn Dương vươn lên thành huyện có kinh tế phát triển bền vững, đời sống nhân dân được nâng cao, tương xứng với vị thế của địa phương đã vinh dự là Thủ đô Khu giải phóng trong Cách mạng Tháng Tám và là một bộ phận của ATK trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.


Trong phát triển kinh tế, huyện xác định phát triển công nghiệp và du lịch, lịch sử văn hoá, sinh thái làm động lực phát triển kinh tế, phát triển công nghiệp chế biến lâm sản, nông sản; quản lý tốt việc khai thác và chế biến khoáng sản, tập trung phát triển sản xuất vật liệu xây dựng; mở rộng và phát triển tiểu thủ công nghiệp, tạo ra ngành nghề mới thu hút lao động tại địa phương.


Đồng thời, nâng cao hiệu quả sản xuất nông, lâm nghiệp, chú trọng công tác thủy lợi; phát triển vùng nguyên liệu mía đường, trồng rừng, chăn nuôi đại gia súc; tích cực, chủ động thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển nông lâm nghiệp của huyện theo hướng sản xuất hàng hoá. Tiếp tục chăm lo phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo; chăm sóc sức khoẻ nhân dân; tạo việc làm, giảm nghèo bền vững, nâng cao chất lượng hoạt động của các thiết chế văn hóa ở cơ sở để phục vụ đời sống tinh thần của nhân dân; giữ vững khối đại đoàn kết các dân tộc trong huyện.


Tổ chức thực hiện tốt cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Mình, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Xây dựng chính quyền từ huyện đến cơ sở vững mạnh. Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong việc tham gia xây dựng Đảng, chính quyền và thực hiện các nhiệm vụ tại địa phương.


Với truyền thống, kinh nghiệm và thành tựu đạt được trong công cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và trong sự nghiệp đổi mới xây dựng đất nước; Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Sơn Dương đoàn kết một lòng, quyết tâm xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp văn minh, mãi mãi xứng đáng là huyện Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, với truyền thống quê hương cách mạng có di tích Tân Trào lịch sử.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 07 Tháng Tư, 2021, 08:49:38 am
BẮC KẠN TRONG CHIẾN DỊCH VIỆT BẮC THU - ĐÔNG 1947


MAI THẾ DƯƠNG
Ủy viên Ban Chấp hành trung ương Đảng - Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Bắc Kạn


Bắc Kạn là một tỉnh miền núi, có địa hình hiểm trở, núi rừng trùng điệp, giao thông không thuận tiện. Đường số 3 là con đường huyết mạch xuyên suốt Bắc Kạn, trở về xuôi đi xuống Thái Nguyên, về Hà Nội và ngược lên phía Bắc đến Cao Bằng tới biên giới Việt - Trung. Ngoài ra, còn có các đường tỉnh lộ nối trung tâm tỉnh lỵ với các huyện Ba Bể, Chợ Đồn, Na Rì.


Nhân dân các dân tộc Bắc Kạn vốn có truyền thống yêu nước và cách mạng, là tỉnh có cơ sở phong trào cách mạng phát triển kế tiếp sau các tỉnh khác ở Việt Bắc. Do ở vào vị trí cửa ngõ phía Bắc, là điểm huyết mạch nối liền giữa Cao Bằng với Thái Nguyên và toàn quốc, nên trong thời kỳ vận động cách mạng giải phóng dân tộc, cơ sở phong trào cách mạng ở Bắc Kạn đã nhanh chóng được xây dựng và phát triển. Trước khi Cách mạng Tháng Tám thành công, hầu hết các địa phương của tỉnh Bắc Kạn đã thành lập chính quyền cách mạng.


Nằm ở trung tâm căn cứ địa Việt Bắc, Bắc Kạn có thể chiến lược "tiến có thể đánh, lui có thể giữ", với đặc điểm "địa lợi, nhân hoà" nên được Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn làm chỗ đứng chân của các cơ quan Trung ương, địa điểm xây dựng các kho tàng, công xưởng, nơi tập kết các đơn vị quân đội và đón tiếp hàng vạn đồng bào từ các tỉnh miền xuôi tản cư lên.


Trong cuộc hành binh chiến lược lên Việt Bắc Thu - Đông năm 1947, với mưu đồ chụp bắt cơ quan lãnh đạo tối cao, tiêu diệt chủ lực, phá căn cứ kháng chiến để nhanh chóng kết thúc chiến tranh, thực dân Pháp đã chọn vùng xung quanh thị xã Bắc Kạn, thị trấn Chợ Mới làm địa điểm nhảy dù đổ bộ vào căn cứ địa Việt Bắc - mở màn cho cuộc hành binh chiến lược, kết hợp hải, lục, không quân từ hai hướng đánh lên Việt Bắc.


Sáng ngày 7-10-1947, quân Pháp đã bất ngờ huy động một số lượng lớn máy bay ném bom, bắn phá thị xã Bắc Kạn để dọn bãi, sau đó bằng hai đợt đổ quân liên tiếp, hơn 800 quân dù đã ồ ạt nhảy xuống chiếm các điểm cao không chế thị xã, đánh chiếm các vị trí quan trọng trong thị xã và các vùng phụ cận. Trong khi đó, nhân dân, các cơ quan công sỏ và lực lượng vũ trang trong thị xã đang hoạt động với nhịp sống thời bình của một hậu phương nằm sâu trong căn cứ địa.


14 giờ 30 phút cùng ngày, 200 lính dù Pháp tiếp tục được ném xuống đánh chiếm thị trấn Chợ Mới, khống chế tuyến đường Thái Nguyên đi Bắc Kạn.


Ngày 8-10, hơn 200 lính dù Pháp nhảy xuống đánh chiếm huyện lỵ Chợ Đồn. Như vậy, ngay những ngày đầu của cuộc tiến công lên Việt Bắc, ba vị trí trọng yếu của Bắc Kạn đã bị địch chiếm đóng, tuyến đường số 3 về xuôi bị cắt đứt.


Hoàn toàn bất ngờ khi bị địch đánh phá bằng không quân và đổ bộ đường không vào đúng vị trí được coi là an toàn nhất, nhân dân địa phương, đồng bào tản cư và cán bộ, nhân viên hoảng hốt sơ tán mỗi người một ngả; du kích, tự vệ lúng túng về tổ chức và chỉ huy, bộ đội của Chiến khu 1 và của Bộ hầu hết đều bố trí ở phía nam thị xã nên không kịp thời đánh quân nhảy dù. Nhìn chung, tình hình ta phổ biến là bị động, lúng túng.


Trước tình hình khẩn cấp của cuộc chiến đấu, cần phải thoát khỏi tình thế bị động bất ngờ, tập hợp lại lực lượng, tổ chức chiến đấu, bảo vệ an toàn các cơ quan Trung ương và nhân dân, nhanh chóng giành quyền chủ động, giữ vững địa bàn, tạo điều kiện cho phản công và tiến công quân địch. Đây là một nhiệm vụ nặng nề, một thử thách quyết liệt nhất đối với Đảng bộ, lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc Bắc Kạn.


Ngay sau khi rút khỏi thị xã, tối ngày 7-10, Tỉnh ủy Bắc Kạn triệu tập các đồng chí cán bộ chủ chốt của tỉnh họp tại Bản Áng, xã Dương Quang (huyện Bạch Thông). Trên cơ sở nắm bắt sơ bộ tình hình, hội nghị đã đề ra những nhiệm vụ trước mắt là: tập hợp và huy động ngay các lực lượng vũ trang và toàn dân tham gia đánh giặc, giữ vững tinh thần cho quân và dân, giúp đỡ, di chuyển ngay các cơ quan, kho tàng, xí nghiệp của cả Trung ương và địa phương đến nơi an toàn; bảo vệ và giúp đỡ nhân dân tản cư...


Đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh, sau khi ra khỏi thị xã, đã soạn thảo Chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ương Đảng và giao cho Tỉnh ủy Bắc Kạn tổ chức thực hiện một số nhiệm vụ cần kíp: "Dùng lực lượng bộ đội, dân quân du kích và toàn dân kịp thời bao vây, giam chân địch ở tỉnh lỵ, không cho chúng toả ra, đặc biệt ngăn địch trên các đoạn đường từ Bắc Kạn đi Chợ Đồn, Chợ Rã, Cao Bằng, Chợ Mới, Na Rì, Chợ Chu. Triệt để phá hoại, tổ chức những đội chuyên phục kích, đánh địa lôi. Tập hợp lực lượng phản công địch ngay ở trong thị xã và những nơi chúng mới chiếm đóng".


Ngày 9-10, tại bản Đán, xã Đôn Phong, huyện Bạch Thông, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã họp, trên cơ sở tình hình thực tế và thực hiện chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ương Đảng, đề ra chủ trương, biện pháp cấp bách:

- Đẩy mạnh chiến tranh du kích, tổ chức lực lượng chiến đấu, tiêu diệt sinh lực địch, ngăn chặn các cuộc hành quân càn quét của địch;

- Tổ chức thông tin liên lạc với Trung ương và Khu ủy, bảo vệ và giúp đỡ nhân dân thu hoạch vụ mùa; vận động nhân dân "tiêu thổ kháng chiến” làm vườn không nhà trống; tổ chức phá hoại đường sá, cầu cống; phát động toàn dân thực hiện triệt để khẩu hiệu ba không "Không tiếp tế cho địch, không dẫn đường cho địch, không làm việc cho địch".


Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, các đơn vị dân quân du kích đã khẩn trương tập hợp lực lượng, củng cố lại thế trận và chủ động tổ chức chiến đấu. Lực lượng dân quân du kích và tự vệ, cùng nhân dân giúp đỡ di chuyển các kho tàng, xí nghiệp từ trong thị xã lên phía nam Chợ Rã, Cao Kỳ và xung quanh Chợ Mới. Nhân dân trong vùng bị địch chiếm đóng tiếp tục tản cư ra vùng tự do, việc thu hoạch lúa mùa được tiến hành khẩn trương để góp phần bảo đảm lương thực cho du kích và bộ đội. Nhiều trạm gác quanh thị xã và trên đường Bắc Kạn đi Nà Cù được thiết lập để theo dõi chặt chẽ các hoạt động của địch. Các bãi chông, mìn, cạm bẫy được bố trí ở nhiều nơi, đã làm cho quân Pháp đi đến đâu cũng vấp phải thế trận chiến tranh nhân dân, khiến cho chúng ngày càng rơi vào cảnh khó khăn lúng túng, sinh lực bị tiêu hao, lương thực, thuốc men thiếu thốn, tinh thần binh lính sa sút.


Hệ thống giao thông liên lạc, thông báo báo động được thiết lập ở mỗi bản làng, nối xã này với xã khác và từ xã với cấp trên. Công tác bảo vệ căn cứ được đồng bào thực hiện nghiêm ngặt, đã bảo đảm an toàn, bí mật nơi ở và làm việc của các cơ quan, kho tàng, nhà máy...


Công tác tiêu thổ kháng chiến tiếp tục được đẩy mạnh, những nơi địch chiếm đóng, nhân dân đều thực hiện vườn không nhà trống, khiến cho chúng không thể tận dụng được nguồn lương thực, thực phẩm tại chỗ. Các địa phương đã huy động đông đảo nhân dân ở cả phía trước, phía sau, có dân quân du kích hỗ trợ, phá hoại nhiều đoạn đường nơi hiểm trở làm cho sự cơ động, liên lạc, tiếp tế giữa các cứ điểm của địch bị hạn chế, tạo điều kiện cho dân quân du kích và bộ đội phục kích đánh địch.


Lực lượng vũ trang địa phương đã liên tục bám đường, bám địch, mưu trí, linh hoạt đánh địch bằng mọi thứ vũ khí có trong tay, với nhiều quy mô, ở các loại địa hình. Bằng nhiều hình thức chiến thuật, bộ đội và dân quân tự vệ đã liên tục tổ chức phục kích địch trên đường giao thông, tập kích quấy rối tiêu hao sinh lực, cản bước tiến và giam chân chúng tại vị trí đóng quân.


Sự kịp thời, nhạy bén và chủ động trong chỉ đạo kháng chiến của Tỉnh ủy đã nhanh chóng ổn định được tình hình tư tưởng trong nhân dân; tập hợp và chấn chỉnh lại lực lượng dân quân tự vệ, du kích và tổ chức đánh địch rộng khắp.


Sau bất ngờ ban đầu, du kích thị xã, Đoàn cảnh vệ Bắc Kạn, Tiểu đoàn 49 tân binh, học viên Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn đã kịp thời nổ súng chiến đấu tiêu diệt và làm bị thương một số tên, cản bước chân địch, bảo vệ cho cán bộ, nhân dân và các cơ quan rút ra khỏi thị xã.


Ngày 9-10, địch huy động hàng trăm quân đến cướp phá kho tàng, công xưởng của ta ở khu vực xã Yên Định, hai tiểu đội du kích xã Yên Định và thị trấn Chợ Mới đã kiên cường tổ chức chặn đánh chúng ở cánh đồng Yên Định, diệt 5 tên, làm bị thương 6 tên, buộc chúng phải quay về Chợ Mới.


Ngày 10-10, trung đội du kích Chợ Đồn phối hợp với học viên Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn phục kích đánh địch tại Kéo Phay, diệt 2 tên Pháp khi chúng càn quét vào Bản Thi... Tiếp đó, đêm 13-10, trung đội du kích xã Bằng Viên tập kích, quấy rối địch ở châu lỵ huyện Chợ Đồn.


Từ ngày 10 đến ngày 13-10-1947, dân quân du kích tổ chức phục kích tại nhiều vị trí hiểm yếu trên đường số 3, buộc địch phải bỏ dở các cuộc càn quét và quay về vị trí đóng quân. Đặc biệt, đại đội du kích Cao Kỳ - Hoà Mục, do đồng chí Nguyễn Văn Sù chỉ huy, đã đánh một trận phục kích giao thông có hiệu suất chiến đấu cao, phá hủy 3 xe ô tô quân sự và diệt 50 tên địch.


Đêm 13-10, du kích Ngân Sơn phục kích ở đèo Khau Khang, phá hủy 1 xe vận tải, diệt 7 tên địch. Tiếp sau đó, du kích xã Láng Ngâm (Ngân Sơn) tổ chức phục kích đoàn xe tiếp tế của địch tại khu vực Đèo Giàng trên đường số 3, diệt 5 tên địch, phá hủy 1 xe tăng.


Ngày 14-10, từ Chợ Mới, 2 đại đội địch hành quân ngược đường số 3 lên Bắc Kạn, đại đội du kích xã Cao Kỳ - Hoà Mục đã lợi dụng địa hình, tổ chức phục kích tại khu vực núi Khau Chừn (đoạn km 23 Bắc Kạn - Chợ Mới), diệt 15 tên địch và làm nhiều tên khác bị thương.


Do biết phát động quần chúng, khơi dậy được truyền thống yêu nước và cách mạng của đồng bào các dân tộc, với truyền thống "Làng giữ làng, nước giữ nước", sự dũng cảm, mưu trí trong chiến đấu của dân quân du kích và bộ đội, sự nhạy bén trong lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp bộ Đảng, với sự chỉ đạo, giúp đỡ của Trung ương Đảng, Bộ Tổng chỉ huy và Khu ủy, chỉ trong một tuần sau khi Pháp nhảy dù xuống thị xã, từ thế bị động đối phó, quân và dân Bắc Kạn đã chuyển sang thế chủ động phản công tiêu diệt địch. Thực hiện chỉ thị: "Phải phá tan cuộc tấn công mùa Đông của giặc Pháp", ngày 15-10-1947 của Ban Thường vụ Trung ương Đảng và lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng bộ Bắc Kạn đã lãnh đạo lực lượng vũ trang và đồng bào các dân tộc Bắc Kạn sát cánh cùng quân và dân Việt Bắc tiến hành chiến dịch phản công Việt Bắc Thu - Đông 1947.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 07 Tháng Tư, 2021, 08:51:05 am
Mở đầu cho chiến dịch phản công, đêm 16-10-1947, du kích xã Yên Định và du kích thị trấn Chợ Mới đã phối hợp với Tiểu đoàn 19 bộ đội chủ lực tập kích vào quân địch đồn trú ở cứ điểm Chợ Mới. Đây là lần đầu tiên "tiểu đoàn tập trung" phối hợp cùng du kích mở cuộc tiến công vào cứ điểm có 1 đại đội, được bố phòng tương đối vững chắc của địch. Trận đánh không diệt gọn được địch, không chiếm được cứ điểm, nhưng ta đã làm thương vong gần 100 tên, đốt cháy 2 kho đạn trong cứ điểm này.


Khi các đại đội độc lập của Bộ và Khu 1 được điều về hoạt động trên địa bàn tỉnh, được sự hỗ trợ và phối hợp của các "đại đội độc lập", hoạt động chiến đấu của dân quân du kích địa phương ngày càng phát triển và rộng khắp. Việc các lực lượng nhỏ cỡ trung đội của địch liên tục bị ta tiến công, tiêu hao, tiêu diệt đã căng địch ra trên diện rộng, vừa buộc chúng phải co cụm để chống đỡ, buộc phải thu hẹp phạm vi chiếm đóng, rút bỏ một số vị trí và hạn chế các cuộc hành quân lùng sục. Do vậy, quân Pháp ngày càng khó khăn, lúng túng, không giữ được thế chủ động như khi mới đổ quân vào hậu phương của ta.


Ngày 19-10, đại đội du kích Cao Kỳ - Hoà Mục (Bạch Thông), đã phối hợp với công binh phục kích bằng địa lôi tại km 23, phá hủy 3 xe, diệt hơn 62 tên địch, trong đó có tên thiếu tá Phô-tơ-ni. Đây là trận đánh đạt hiệu quả cao của du kích Bắc Kạn.


Ngày 21-10, đại đội độc lập và du kích phối hợp với Tiểu đoàn 102 (Trung đoàn 165) tập kích địch ở Chợ Đồn, diệt và làm bị thương 2 trung đội địch. Trận đánh tuy không dứt điểm, nhưng bước đầu đã rút ra được kinh nghiệm về phối hợp, hiệp đồng giữa bộ đội chủ lực và dân quân du kích địa phương.


Ngày 30-11-1947, Đại đội 395 thuộc Trung đoàn 72 (Bắc Kạn) đã phối hợp với trung đội du kích thị xã Bắc Kạn, tiểu đội du kích xã Vi Hương (Bạch Thông) tiến hành tập kích đồn Phủ Thông. Sau gần 1 giờ chiến đấu, ta diệt 50 tên địch, thu 2 súng máy, 1 súng trường.


Đặc biệt, ngày 15-12-1947, tại Đèo Giàng (km 187 - 188) trên đường số 3, lực lượng vũ trang Bắc Kạn đã tổ chức trận phục kích giao thông đạt hiệu suất chiến đấu cao, bắn cháy và phá hủy 17 xe cơ giới các loại, diệt 60 tên địch, trong đó có 2 trung úy, làm bị thương nhiều tên và thu một số quân trang, quân dụng cùng 2 triệu đồng tiền Đông Dương. Đây là một trong những trận đánh điển hình của lực lượng vũ trang Bắc Kạn trên chiến trường Việt Bắc, và cũng là một chiến công lớn trong chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông năm 1947.


Ngày 19-12-1947, chiến dịch phản công Việt Bắc Thu - Đông năm 1947 kết thúc thắng lợi, đánh dấu thất bại của chiến lược "đánh nhanh, thắng nhanh" của thực dân Pháp, buộc chúng phải chuyển sang kế hoạch bình định và chiếm đóng hòng bám sâu vào trong lòng Việt Bắc. Chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947 đã tạo đà cho quân và dân Bắc Kạn vững bước đi lên và liên tiếp giành thắng lợi trong suốt cuộc kháng chiến trường kỳ và anh dũng của dân tộc.


Sau hai tháng rưỡi liên tục chiến đấu, lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc Bắc Kạn đã dũng cảm, ngoan cường, khi chiến đấu độc lập, lúc phối hợp chiến đấu cùng bộ đội chủ lực, đã đánh 68 trận, diệt và làm bị thương gần 1.000 tên địch, bắn cháy và phá hủy hàng chục xe tăng, xe quân sự, thu nhiều vũ khí đạn dược, quân trang, quân dụng. Nhân dân các dân tộc Bắc Kạn đã góp trên 5 vạn ngày công đào công sự, hầm hào giao thông đánh địch, đào hàng vạn hố chướng ngại cản giao thông của địch, với khối lượng trên 200.000m3 đất đá; cắm hàng vạn mũi chông chống địch nhảy dù; chuẩn bị hàng trăm địa điểm sẵn sàng phục kích địch, đồng thời làm tốt công tác vận chuyển tiếp tế lương thực và cứu chữa, tải thương.


Từ trong tình thế hiểm nghèo, từ bị động và lúng túng, quân và dân Bắc Kạn đã nhanh chóng chuyển sang thế chủ động đánh địch, lập công. Thành công trên được bắt nguồn từ nhiều nguyên nhăn, trong đó có nguyên nhân quan trọng là từ thành quả xây dựng chế độ mới và chuẩn bị thực lực kháng chiến của Đảng bộ, quân và dân các dân tộc Bắc Kạn từ khi giành được chính quyền.


Sau ngày toàn quốc kháng chiến, thực hiện lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và chỉ thị "Toàn dân kháng chiến" của Ban Thường vụ Trung ương Đảng, Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân trong tỉnh đã triển khai nhiều công việc, chuẩn bị một cách thiết thực cho công cuộc "kháng chiến, kiến quốc", tiếp tục củng cố xây dựng hậu phương căn cứ địa.


Đó là công tác xây dựng Đảng, củng cố chính quyền, đoàn thể. Thực hiện Nghị quyết Hội nghị cán bộ Trung ương tháng 4-1947, Tỉnh ủy ra nghị quyết về cuộc vận động chính trị "Thi đua phát triển Đảng", tiến hành từ tháng 4 đến hết tháng 6-1947. Tiếp theo cuộc vận động "Thi đua phát triển Đảng”, thực hiện chỉ thị ngày 28-7-1947 của Ban Thường vụ Trung ương Đảng, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh triển khai đợt phát triển Đảng "lớp Tháng Tám". Qua 2 đợt phát triển Đảng nói trên, Đảng bộ Bắc Kạn đã kết nạp được 375 quần chúng tiêu biểu vào Đảng. Đây là tiền đề quan trọng để Đảng bộ xúc tiến kiện toàn bộ máy Đảng, chính quyền, đoàn thể quần chúng các cấp, làm cho bộ máy đủ sức lãnh đạo nhân dân các dân tộc đối phó với tình hình chiến sự lan rộng.


Nhân dân các dân tộc Bắc Kạn sôi nổi hưởng ứng các cuộc vận động, các phong trào "Tuần lễ vàng" và gây "Quỹ độc lập", nhân dân các dân tộc Bắc Kạn, tuy còn nghèo khó, nhưng đã góp được 100 lạng vàng, bạc, 70 vạn đồng, 500 tấm vải và 100 con trâu, bò cho kháng chiến.


Thấm nhuần quan điểm "tăng gia sản xuất, thực hiện kinh tế tự cấp tự túc", "vừa kháng chiến vừa kiến quốc", Đảng bộ Bắc Kạn luôn chú trọng quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế của địa phương. Giữa năm 1947, tỉnh lần lượt thành lập các cơ quan chuyên môn như: Khuyến nông, Túc mễ, Khai hoang di dân, Tín dụng sản xuất, Thú ngư và Lâm chính. Thông qua các cơ quan chuyên môn và các đoàn thể quần chúng, Đảng bộ lãnh đạo đồng bào các dân tộc đẩy manh sản xuất, nhằm đảm bảo nhu cầu về lương thực, thực phẩm của tỉnh và đóng góp phần mình cho sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, tạo nguồn hậu cần tại chỗ cho cuộc kháng chiến lâu dài.


Phát huy quyền làm chủ và nghĩa vụ công dân dưới chế độ mới, tỉnh mở chiến dịch "Chống giặc dốt", nâng cao trình độ cho nhân dân. Phong trào bình dân học vụ, chống nạn mù chữ diễn ra sôi nổi. Các đoàn thể cứu quốc vận động hội viên thực hiện "đời sống mới'’, xoá bỏ các tập tục lạc hậu. Những biện pháp trên thực sự có ý nghĩa, giúp đồng bào các dân tộc nâng cao hiểu biết, gắn bó với Đảng, chính quyền và góp phần có hiệu quả hơn vào cuộc chiến đấu bảo vệ căn cứ địa kháng chiến.


Công tác phá hoại, tiêu thổ kháng chiến được Đảng bộ tỉnh quan tâm lãnh đạo. Thực hiện chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ương Đảng, cuối năm 1946, tỉnh thành lập "Ban phá hoại". Đầu năm 1947, những địa bàn được xác định là trọng điểm triển khai công tác phá hoại đã thành lập các ban phá hoại ở cơ sở, vận động, hướng dẫn nhân dân sinh sống dọc các trục giao thông tiến hành phá hoại giao thông và làm vườn không nhà trống.


Để giúp đỡ đồng bào tản cư, tỉnh thành lập Ủy ban tản cư và di cư. Ủy ban tản cư và di cư đã vận động nhân dân các dân tộc trong tỉnh đón tiếp, bố trí chỗ ở và giúp đỡ công ăn việc làm cho khoảng 2 vạn đồng bào các tỉnh miền xuôi tản cư đến địa phương. Ủy ban cũng vận động đồng bào các dân tộc giúp đỡ các cơ quan, nhà trường từ Hà Nội chuyển lên như: báo Toàn dân kháng chiến, báo Cứu quốc, Thông tấn xã Việt Nam, Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam, Bộ Ngoại giao, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp, Trường đại học Y - Dược Hà Nội... Ủy ban cũng đã tiếp đón, bố trí địa điểm cho các xí nghiệp, kho tàng, đơn vị quân đội tập kết về Bắc Kạn.


Quán triệt đường lối vũ trang toàn dân của Đảng, Đảng bộ và chính quyền đã lãnh đạo củng cố và xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, xác định đây là trọng tâm công tác của các cấp bộ Đảng. Giữa năm 1946, tỉnh thành lập Ủy ban Bảo vệ cách mạng; tiếp đó, đầu năm 1947, thành lập Tỉnh đội bộ dân quân. Cơ quan chỉ huy dân quân tự vệ các cấp được kiện toàn. Do có sự lãnh đạo chặt chẽ của các cấp bộ Đảng, chính quyền, nên chỉ trong thời gian từ ngày toàn quốc kháng chiến đến giữa năm 1947, toàn tỉnh đã xây dựng được 17 đại đội, riêng huyện Bạch Thông - đơn vị được chọn làm trọng điểm chỉ đạo, xây dựng được 6 đại đội. Ở một số địa bàn trọng yếu như thị xã Bắc Kạn, thị trấn Chợ Mới được chọn xây dựng thí điểm các đơn vị dân quân tự vệ tập trung. Lực lượng dân quân du kích trong toàn tỉnh lên đến hàng ngàn người, trung bình mỗi xã, mỗi thị trấn có từ 2 đến 3 tiểu đội du kích làm nhiệm vụ tuần tra canh gác, tác chiến tại địa phương. Dân quân du kích được huấn luyện chiến kỹ thuật chiến đấu, cách gài mìn, cắm chông, phá hoại giao thông...


Nhìn chung, công tác xây dựng căn cứ địa, chuẩn bị mọi mặt cho kháng chiến ở Bắc Kạn đã đạt được những kết quả to lớn. Nhưng do đặc điểm là địa bàn ở sâu trong căn cứ địa, chưa lường được hết âm mưu thâm độc và sự mạo hiểm của kẻ thù, nên vẫn có tư tưởng chủ quan "đại hậu phương chủ nghĩa". Mặc dù trong Chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ương Đảng, ngày 15-9-1947, về "Bô-la nói gì? Ta phải làm gì?" có dự kiến tới tình huống địch có thể đánh vòng thật rộng, nhảy dù đổ bộ sau lưng ta, song ở Bắc Kạn vẫn chưa có sự chuẩn bị đổi phó với tình huông như vậy. 


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 07 Tháng Tư, 2021, 08:51:34 am
Công việc tiêu thổ kháng chiến chưa làm được nhiều. Việc vận động nhân dân làm hầm hào phòng không, làm các bãi chông chống địch nhảy dù làm chưa tích cực; kho tàng, xưởng máy chưa kịp sơ tán. Dân số ở thị xã tăng nhanh do các cơ quan Trung ương và nhân dân dưới xuôi tản cư lên song việc tổ chức sơ tán, phòng tránh địch càn quét đánh phá chưa được dự kiến đầy đủ. Do vậy, ngay ngày đầu tiên, quân dù Pháp đã tạo được yếu tố bất ngờ, chúng đã phá được một số cơ quan, kho tàng, công xưởng như: kho Ngoại thương, Ty Ngân khố, kho quân y, quân giới; cướp bóc, bắn giết và bắt giam một số đồng bào, cán bộ và bộ đội của ta. Nhiều tài sản của Nhà nước và của nhân dân rơi vào tay địch.


Đây là bài học xương máu cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo chiến tranh, trong chuẩn bị lực lượng và xây dựng thế trận đánh địch tập kích bằng đổ bộ đường không. Khi thực dân Pháp cho quân nhảy dù xuống thị xã Bắc Kạn, Chợ Mới, Chợ Đồn, ta đều bị bất ngờ không tổ chức đánh địch được ngay khi chúng tiếp đất, mà chỉ tổ chức đánh tập kích và phục kích vào những ngày hôm sau, khi chúng đi càn quét. Như vậy, không còn là đánh quân nhảy dù, vì lúc này quân dù đã tiếp đất và chiếm đóng địa bàn như các đơn vị bộ binh đồn trú và càn quét. Từ bài học xương máu này, để chủ động đánh địch đổ bộ đường không trong chiến tranh tương lai (nếu xảy ra), Bắc Kạn xác định: xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, huyện vững chắc từ trong thời bình, đáp ứng cho thời chiến, là một trong những biện pháp chủ yếu đề phòng tránh, đánh trả tiến công đường không của địch trong chiến tranh công nghệ cao; trong đó sẵn sàng đánh bại quân địch đổ bộ đường không trong mọi điều kiện bằng quyết tâm nhanh nhất, kịp thời nhất, đánh liên tục từ khi địch đang cơ động trên không, thực hành đổ bộ đường không và trong suốt quá trình, đến tiêu diệt toàn bộ quân địch đổ bộ đường không.


Từ bài học cách đây hơn nửa thế kỷ, tỉnh chú trọng tổ chức, bố trí hệ thống phòng không nhân dân trong khu vực phòng thủ tỉnh, huyện, bảo đảm quan sát phát hiện, thông báo báo động kịp thời, không để bị bất ngờ; tổ chức lực lượng phòng không địa phương phục kích đón lõng, hoặc cơ động đánh các phương tiện bay chở quân ngay trên đường bay. Lực lượng vũ trang địa phương có thể đánh phủ đầu ngay khi địch vừa đổ quân, đứng chân chưa vững, kiềm chế, ngăn chặn không cho địch mở rộng bãi đổ bộ, đẩy địch vào thế bị động đối phó, tạo thời cơ cho các lực lượng vũ trang tiêu diệt toàn bộ quân địch.


Khắc phục tư tưởng coi tỉnh là địa bàn nằm sâu trong nội địa, sinh ra chủ quan về việc chuẩn bị địa phương trong sự nghiệp quốc phòng bảo vệ Tổ quốc. Khẳng định việc xây dựng căn cứ chiến đấu, chuẩn bị căn cứ hậu phương của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc từ trong thời bình là hoàn toàn đúng đắn. Bài học này đã và đang được Bắc Kạn nghiên cứu vận dụng vào xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân, trọng yếu là xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc. Khu vực phòng thủ tỉnh, huyện đã và đang được Bắc Kạn tập trung xây dựng, gắn xây dựng khu vực phòng thủ với xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng các khu căn cứ chiến đấu, căn cứ hậu phương của tỉnh, huyện vững chắc. Đặc biệt là xây dựng thế trận lòng dân ngày càng có chiều sâu.


Xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, huyện là nhiệm vụ mang tính tổng hợp, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, đến nhân lực, vật lực, tài chính và sức dân. Xuất phát từ ý nghĩa, vai trò và đòi hỏi của nhiệm vụ xây dựng khu vực phòng thủ địa phương trong tình hình mới, Đảng bộ và chính quyền tỉnh Bắc Kạn đã có nghị quyết chuyên để về thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - an ninh và xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh. Có quy hoạch, kế hoạch dài hạn, ngắn hạn, từng bước xây dựng, bố trí các cụm dân cư gắn với xây dựng các tuyến phòng thủ vững chắc trên từng địa bàn; từng bước xây dựng, củng cố khu vực phòng thủ có chiều sâu, có hệ thống làng xã chiến đấu, cụm chiến đấu liên hoàn, hệ thống công trình chiến đấu, hệ thống vật cản và công trình phòng tránh, đường cơ động, mạng lưới bảo đảm hậu cần, kỹ thuật, hệ thống thông tin liên lạc, các sở chỉ huy, căn cứ hậu phương của tỉnh, huyện... Tỉnh Bắc Kạn đã xác định cụ thể những việc cần làm trước, làm sau, làm ngay hoặc làm từng bước; thực hiện làm đến đâu chắc đến đó, hết sức coi trọng yêu cầu bảo đảm chất lượng các căn cứ hậu cần, kỹ thuật, có biện pháp tích cực trong quản lý, chống hư hỏng, xuống cấp.


Sáu mươi năm đã đi qua, nhưng 75 ngày đêm thử thách ý chí và nghị lực của quân và dân Bắc Kạn chiến đấu bảo vệ quê hương góp phần cùng quân và dân cả nước làm nên chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947 vẫn còn sống mãi trong ký ức bao thế hệ, lưu danh mãi về sau. Tự hào với truyền thống yêu nước và cách mạng, tự hào với những thành tích của quân và dân Bắc Kạn trong các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc Bắc Kạn nguyện đoàn kết, hăng hái phấn đấu trên con đường đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, cùng với quân và dân cả nước xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 07 Tháng Tư, 2021, 08:56:39 am
AN TOÀN KHU CHỢ ĐỒN
TRONG CHIẾN THẮNG VIỆT BẮC THU - ĐÔNG 1947


Đại tá HỨA THANH GIANG
Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bắc Kạn


Chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947 là một mốc son trong pho sử vàng truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Trong chiến công chung của quân và dân cả nước, huyện Chợ Đồn - một địa phương nằm trong trung tâm An toàn khu (ATK) Trung ương, đã làm tròn sứ mệnh cao cả, góp phần xứng đáng vào việc đập tan mưu đồ và hành động của thực dân Pháp hòng chụp bắt cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến, tiêu diệt bộ đội chủ lực của ta; góp phần quan trọng đưa cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc sang giai đoạn mới.


Sau ngày tuyên bố độc lập (2-9-1945), nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á ra đời, phải đối mặt với biết bao thử thách khó khăn, phức tạp. Đó là giặc đói, giặc dốt và đặc biệt là giặc ngoại xâm. Nền độc lập sau gần một thế kỷ đấu tranh mới giành được đang đứng trước tình thế ngàn cân treo sợi tóc. Trước tình thế đó, tháng 10-1945, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cử nhiều cán bộ cao cấp của Đảng trở lại Việt Bắc để chuẩn bị căn cứ kháng chiến, sẵn sàng di chuyển các cơ quan Đảng, Chính phủ lên căn cứ địa để lãnh đạo toàn dân kháng chiến lâu dài.


Trong khi thế giặc đang mạnh, việc tạm xa Thủ đô để bảo toàn cơ quan đầu não là cần thiết. Phương thức truyền thống mà ông cha ta đã từng làm là dựa vào thế hiểm trở của núi rừng và sự ủng hộ của nhân dân, ở núi rừng thì lấy núi rừng làm hiểm trở, ở đồng bằng thì lấy dân làm hiểm trở. Tuy nhiên, không phải nơi nào chúng ta cũng có thể tạo lập được ATK. Trong hoàn cảnh bấy giờ, không thể có một hậu phương tuyệt đối an toàn, mọi căn cứ đều có thể bị địch đánh xuyên qua. Do đó, ATK phải được xây dựng ở những nơi bí mật, phải là nơi có địa thế hiểm trở, tiến có thể đánh, lui có thể giữ, hạn chế tối đa uy lực của các loại vũ khí và phương tiện chiến tranh của địch. Là nơi hội tụ đầy đủ các yếu tố địa lợi, nhân hoà, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn là một trong những địa phương vinh dự được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn xây dựng ATK, làm chỗ đứng chân cho các cơ quan lãnh đạo kháng chiến, địa điểm xây dựng các kho tàng, xí nghiệp và là nơi tập kết các đơn vị quân đội.


Chợ Đồn là huyện miền núi ở phía tây của tỉnh Bắc Kạn, có địa thế hiểm trở, với những dãy núi đá vôi có nhiều hang động lớn rất thuận lợi cho việc trú quân, cất giấu kho tàng. Các dãy núi hầu hết nằm trong vòng cung Đông Bắc, nhưng không chạy theo một hướng nhất định. Từ núi Tao Tao, địa hình của Chợ Đồn thấp dần và ngả về cả hai hướng Bắc và Nam. Xen lẫn những dãy núi là những cánh rừng nguyên sinh và thung lũng đất đai màu mỡ thuận lợi cho sản xuất và khai thác lâm thổ sản. Phía bắc, Chợ Đồn giáp huyện Ba Bể, phía nam giáp Định Hóa (Thái Nguyên), phía đông giáp huyện Bạch Thông, phía tây giáp với huyện Na Hang và Yên Sơn (Tuyên Quang). Các địa phương lân cận đều có địa thế tốt, có nhiều đường mòn nối thông, qua lại thuận tiện. Chợ Đồn có ba sông chính bắt nguồn từ các vùng núi cao: sông Cầu, sông Nam Cường, sông Phó Đáy (Bình Trung). Mùa mưa lũ nước chảy xiết, hình thành nhiều thác lũ rất nguy hiểm. Mùa khô, mực nước các sông đều thấp, thuận lợi cho việc đi lại và cấy hái trên các triền sông. Đường sá giao thông của Chợ Đồn kém phát triển. Thời Pháp thuộc, Chợ Đồn chỉ có một đoạn đường cái dài khoảng 10km từ xã Đông Viên đến xã Phương Viên, nối với đường cái từ Bắc Kạn vào huyện lỵ. Còn lại hầu hết là các đường nhỏ hẹp nối liền huyện lỵ với các xã và các địa phương lân cận.


Chợ Đồn có nền nông nghiệp sớm phát triển, ngoài trồng lúa nước còn ngô, khoai, sắn, rau, đậu. Dưới lòng đất Chợ Đồn chứa nhiều khoáng sản quý như vàng, đồng, chì, kẽm... Chỉ riêng mỏ kẽm Bản Thi với chu vi khoảng 40km2, đã có trữ lượng hàng trăm vạn tấn quặng. Thời Pháp thuộc, các chủ thực dân phải tuyển dụng tới 80 thư ký, huy động hàng nghìn công nhân để quản lý và khai thác. Đây thực sự là nguồn tài nguyên quý, nếu quản lý và khai thác tốt sẽ bảo đảm cho nhu cầu của ngành công nghiệp phục vụ cho công cuộc kháng chiến và phát triển đất nước.


Thời kỳ đầu kháng chiến, Chợ Đồn có khoảng trên vạn người, gồm 5 dân tộc anh em sinh sống: Tày (70%), Nùng (17%), Dao (8,6), Kinh (19,4%) và một số người Hoa. Nhân dân các dân tộc Chợ Đồn vốn có truyền thống yêu nước nồng nàn, có tinh thần đoàn kết, gắn bó keo sơn, chung sức chung lòng chống giặc ngoại xâm để bảo vệ bản làng, quê hương. Đàn ông giỏi làm nương rẫy, săn bắn, nhanh nhẹn, dũng cảm. Phụ nữ giỏi trồng trọt, đan lát, thêu thùa dệt vải, may vá... Thời kỳ Pháp thuộc, bị đế quốc thực dân bóc lột tận xương tủy, nhân dân các dân tộc Chợ Đồn luôn khao khát được sống trong độc lập, tự do.


Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, cán bộ Đảng về Chợ Đồn tuyên truyền giác ngộ, nhân dân các dân tộc Chợ Đồn đã đồng cam cộng khổ một lòng theo Đảng làm cách mạng. Nhưng do điều kiện địa lý, giao thông đi lại khó khăn, nên phong trào cách mạng đến với Chợ Đồn có chậm hơn các địa phương khác. Đến trung tuần tháng 8-1943, "Con đường quần chúng" Nam tiến của Đảng mới phát triển đến khu vực huyện Chợ Đồn. Được sự lãnh đạo của Đảng, con đường quần chúng đã phát triển nhanh chóng. Nhiều cơ sở cách mạng được xây dựng liên hoàn hầu khắp các xã trong huyện. Già trẻ, gái trai đều hăng hái gia nhập Việt Minh. Các tổ chức cứu quốc của phụ nữ, thanh niên; các đội tự vệ và tự vệ chiến đấu được hình thành và phát triển trong các làng xã để giữ gìn trật tự trị an, bảo vệ cơ sở cách mạng. Mặc dù bị địch khủng bố gắt gao, nhưng nhờ được nhân dân ủng hộ và che chở, các đội tự vệ đã nhanh chóng phát triển thành những đội vũ trang, hình thành trung đội du kích tập trung (10-1944), được huấn luyện về chính trị và quân sự, làm nòng cốt vững chắc cho quần chúng nổi dậy cướp chính quyền. Nhờ có phong trào cách mạng phát triển nhanh chóng, chỉ trong gần 3 năm từ khi có cơ sở cách mạng đầu tiên (8-1943), ngày 30-3-1945, Chợ Đồn đã được giải phóng. Huyện Chợ Đồn vinh dự là một trong những địa phương đập tan chính quyền thực dân, thành lập chính quyền cách mạng sớm trong cả nước (6-1945).


Xét về mọi phương diện, Chợ Đồn hoàn toàn hội tụ đủ các mặt tốt của địa - quân sự, địa - chính trị hay địa - kinh tế. Như vậy, thế hiểm yếu của núi rừng, lòng yêu nước và cách mạng của nhân dân cộng thêm sự trù phú của thiên nhiên là điều kiện tốt cho việc xây dựng căn cứ kháng chiến vững chắc. Việc Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn Chợ Đồn là một trong các địa phương để xây dựng ATK là hoàn toàn đúng đắn và sáng suốt.


Ngày 19-12-1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Các cơ quan Trung ương Đảng, Chính phủ, Mặt trận, Bộ Tổng chỉ huy đã rời Thủ đô Hà Nội chuyển lên Việt Bắc để lãnh đạo, tổ chức cuộc kháng chiến lâu dài. Các cơ quan như: Đài Tiếng nói Việt Nam, báo Cứu quốc, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ và nhiều kho tàng, trạm xưởng đã về đứng chân và hoạt động trên địa bàn huyện Chợ Đồn. Trong đó, cơ quan vô tuyến điện Trung ương, Nha nghiên cứu khoa học đóng ở Phia Khao thuộc Bản Thi; xưởng quân giới và Bộ Tài chính đóng ỏ Bản Thi; cơ quan báo Sự thật đóng ở Khuổi Đăm, xã Nghĩa Tá; Đài Tiếng nói Việt Nam đóng ở Nà Đang, xã Lương Bằng...


Chấp hành chỉ thị của Chiến khu 1 và của tỉnh Bắc Kạn, sau ngày toàn quốc kháng chiến, Ủy ban kháng chiến hành chính Chợ Đồn được thành lập, từ đó, mọi mặt hoạt động của huyện được chỉ đạo thống nhất và kịp thời. Với vị trí là một trong ba địa phương - trung tâm ATK, nhiệm vụ to lớn đặt ra đối với cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc huyện Chợ Đồn là phải tích cực chuẩn bị lực lượng chiến đấu, đánh bại mọi âm mưu và hành động của địch, không chỉ bảo vệ quê hương, mà còn phải bảo vệ an toàn cho cơ quan Trung ương đóng trên địa bàn. Ngay khi các cơ quan Trung ương được chuyển đến Chợ Đồn, đồng bào các dân tộc ở đây đã bỏ ra hàng nghìn ngày công, ủng hộ hàng vạn tre nứa, gỗ để xây dựng nơi ở, nơi làm việc và kho tàng, trạm xưởng của các cơ quan kháng chiến. Mọi người dân từ già đến trẻ đều nêu cao ý thức giữ gìn bí mật, hết lòng đùm bọc, che chở các cơ quan Trung ương. Công tác phòng gian bảo mật được thực hiện triệt để, mọi ngươi dân đều nghiêm chỉnh thực hiện tốt khẩu hiệu ba không (không biết, không thấy, không nghe) ai làm gì biết nấy, ở đâu biết đó, không để lộ bí mật. Mối đoàn kết giữa các cơ quan, đơn vị và địa phương được xây dựng trên cơ sở tương thân tương ái, nặng nghĩa nước, thắm tình dân. Chính sách dân tộc được các cơ quan, mọi nhân viên và cán bộ thực hiện nghiêm chỉnh, nên được nhân dân địa phương hết mực thương yêu, tình đoàn kết giữa miền xuôi và miền ngược ngày càng thêm gắn bó. Mặc dù cuộc sống còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, nhưng nhân dân các dân tộc Chợ Đồn đã tự nguyện nhường cơm sẻ áo, san sẻ nhà cửa, ruộng nương, bãi đồi cho cán bộ, nhân viên của các cơ quan Trung ương.


Nhận rõ vai trò của địa phương, các đồng chí lãnh đạo huyện luôn chăm lo củng cố và phát triển Đảng và xây dựng lực lượng vũ trang, bán vũ trang. Ngay sau khi được thành lập (7-1947), Ban Châu ủy đã phân công từng đảng viên đến những nơi chưa có cơ sở Đảng để làm công tác phát triển Đảng. Chỉ trong thời gian ngắn, các cơ sở Đảng trong huyện đã được xây dựng đều khắp các xã, nhiều quần chúng ưu tú được giới thiệu và gia nhập Đảng. Đây là điều kiện thuận lợi căn bản bảo đảm cho công cuộc chuẩn bị kháng chiến và chiến đấu ở Chợ Đồn giành được thắng lợi. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Châu ủy, trung đội du kích chiến đấu được bổ sung quân số và phát triển thành 1 đại đội du kích thoát ly, được trang bị vũ khí tương đối đầy đủ. Tại các xã, đội tự vệ cũng được bổ sung lực lượng, bảo đảm mỗi xã có một trung đội du kích. Một số xã như: Phương Viên, Đông Viên, Ngọc Phái còn xây dựng được đại đội du kích. Trước khi Pháp tiến công Việt Bắc, huyện Chợ Đồn đã xây dựng được một đại đội du kích thoát ly, 3 đại đội và 18 trung đội du kích ở các xã, thường xuyên canh gác sẵn sàng chiến đấu. Ngoài ra, lực lượng dân quân cũng được xây dựng rộng rãi trong huyện vừa tham gia tuần tra canh gác vừa sản xuất, làm giao thông liên lạc, vận tải, phá hoại...


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 07 Tháng Tư, 2021, 08:57:13 am
Để đáp ứng nhu cầu chỉ huy chiến đấu, thực hiện sắc lệnh của Chính phủ và chỉ đạo của Tỉnh ủy, huyện Chợ Đồn đã thành lập Ban Quân sự. Các ủy viên trong Ban đều là những cán bộ có khả năng quân sự, đã được rèn luyện trong thực tiễn công tác và được cử đi học các trường quân chính. Dưới sự chỉ đạo của Đảng bộ, trực tiếp là Ban Quân sự, phong trào luyện tập quân sự được quy định chặt chẽ, có nền nếp. Các đơn vị dân quân du kích được tổ chức huấn luyện theo từng xã hoặc liên xã với thời gian từ 15 đến 20 ngày. Chương trình huấn luyện được xây dựng theo quy định của Tỉnh đội bộ dân quân và thường xuyên được bổ sung, nâng cao để phù hợp với yêu cầu sử dụng vũ khí trang bị cũng như yêu cầu tác chiến. Ban Quân sự huyện đã hướng dẫn các xã lập phương án tác chiến, xây dựng các tuyến phòng ngự xung quanh các cơ quan Trung ương, các kho tàng, khu lán trại sơ tán của nhân dân. Thực hiện chỉ thị ngày 15-9 của Ban Thường vụ Trung ương Đảng và chỉ thị của Tỉnh ủy Bắc Kạn về việc tăng cường chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, Đảng bộ Chợ Đồn đã tập trung lãnh đạo các lực lượng vũ trang địa phương chuẩn bị mọi mặt cho chiến đấu, đồng thời lãnh đạo triển khai công tác phá hoại, tiêu thổ kháng chiến. Trên đoạn đường Bắc Kạn - Chợ Đồn, Ban Quân sự huyện đã bố trí lực lượng chốt giữ; khi cần có thể huy động đại đội du kích tập trung của huyện, các trung đội du kích các xã bố trí trận địa phục kích đánh địch.


Ngày 7-10-1947, Pháp huy động 12.000 quân mở cuộc tấn công quy mô lớn lên Việt Bắc. Bắc Kạn là mục tiêu đầu tiên mở đầu cuộc tấn công. Khoảng 8 giờ 15 phút, địch cho 5 chiếc máy bay Xpit-phai (Spitfure) lồng lộn ném bom, bắn phá thị xã Bắc Kạn để dọn bãi, sau đó 30 chiếc máy bay vận tải dàn đội hình từng tốp 3 chiếc, ồ ạt thả 2 tiểu đoàn dù (khoảng 800 tên) do Trung tá Sô-va-nhơ chỉ huy, xuống chiếm các mục tiêu trong thị xã và điểm cao khống chế xung quanh thị xã. Cùng ngày, Pháp ném tiếp 300 quân dù xuống đánh chiếm thị trấn Chợ Mới. Ngày 8-10, giặc Pháp tiếp tục ném 4 đại đội quân dù xuống đánh chiếm huyện lỵ Chợ Đồn. Mặc dù đã có sự chuẩn bị từ trước, nhưng không triệt để, nên cũng như ở nhiều địa phương, quân và dân Chợ Đồn rơi vào thế bị động, bỏ lỡ thời cơ tiêu diệt địch và phải chịu nhiều tổn thất về người, tài sản. Trước tình hình đó, ngày 9-10, Tỉnh ủy Bắc Kạn triệu tập cuộc họp bất thường tại Bản Áng, xã Dương Quang, xác định nhiệm vụ cần kíp trước mắt là huy động các lực lượng vũ trang địa phương bao vây, ngản chặn địch từ thị xã nống ra các vùng xung quanh; tổ chức di chuyển ngay các cơ quan, xí nghiệp, kho tàng của Trung ương và địa phương đến nơi an toàn; bảo vệ và giúp đỡ nhân dân sơ tán ra khỏi vùng chiến sự. Cùng ngày, Thường vụ Tỉnh ủy họp tại bản Đán, xã Đôn Phong, huyện Bạch Thông đề ra chủ trương phát động chiến tranh du kích, tập hợp lực lượng du kích, tổ chức chặn đánh địch để gây ảnh hưởng, lấy lại lòng tin và tinh thần cho cán bộ và nhân dân; tổ chức, duy trì thông tin liên lạc với Trung ương và Khu ủy; bảo vệ và giúp dân thu hoạch lúa mùa; vận động nhân dân sơ tán, thực hiện "Vườn không nhà trống", tiếp tục tổ chức phá hoại đường sá, cầu cống; phát động toàn dân triệt để thực hiện khẩu hiệu "ba không" (không tiếp tế cho địch, không dẫn đường cho địch, không làm việc cho địch).


Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, các cơ quan, kho tàng, trạm xưởng đóng trên địa bàn huyện đã nhanh chóng phân tán thành nhiều bộ phận nhỏ chuyển đến những nơi an toàn để tiếp tục sản xuất và công tác. Các cơ quan, ban ngành của huyện đã khẩn trương chỉ đạo các địa phương triệt để thi hành chủ trương của Tỉnh ủy, đặc biệt làm tốt công tác phá hoại, gây cho địch nhiều khó khăn trong đồn trú và cơ động. Quân và dân Chợ Đồn đã nhanh chóng khắc phục mọi khó khăn, kịp thời triển khai các phương án đánh địch. Thực hiện phương châm đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung, Đại đội 653 của Trung đoàn 72 được đưa về hoạt động trên địa bàn Chợ Đồn đã nhanh chóng triển khai lực lượng giúp nhân dân địa phương sơ tán, cất giấu tài sản, thực hiện tiêu thổ kháng chiến, tổ chức lực lượng dân quân du kích làm nhiệm vụ canh gác, bảo vệ trật tự, trị an, giúp đỡ nhân dân ổn định cuộc sống nơi sơ tán, tổ chức xây dựng trận địa sẵn sàng chiến đấu. Đêm đêm, bộ đội cùng dân quân du kích, bảo vệ và vừa cùng nhân dân khẩn trương thu hoạch mùa màng, vừa tổ chức phá hoại cầu cống, đường sá để cản trở việc cơ động của địch. Đại đội 653 đã phối hợp với các đại đội du kích tập trung của huyện, cùng với dân quân du kích các xã củng cố các trận địa phục kích trên các ngả đường từ đồn châu lỵ Phương Viên đi Ngọc Phái, Đại Sảo, Rã Bản. Như vậy, việc đưa Đại đội 653 về hoạt động tại Chợ Đồn đã thực sự góp phần tích cực khôi phục và phát triển phong trào du kích chiến tranh tại địa phương, giúp các đơn vị vũ trang địa phương nhanh chóng tổ chức được các hoạt động tác chiến phục kích, tập kích có hiệu quả.


Ngày 10-10, hơn một trăm quân địch vượt Kéo Phay về Yên Thịnh, Bản Thi đã bị trung đội du kích tập trung phối hợp với học viên Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn tổ chức phục kích tiêu diệt 2 tên. Sau khi sục sạo, dùng Moóc-chi-ê bắn dọn đường, chúng tiếp tục hành quân về hướng Bản Thi. Khi đến Bô Khéo - Phai Kem, chúng lại rơi vào trận địa phục kích của Đại đội 653 và lực lượng du kích xã Yên Thịnh, Yên Thượng và Bản Thi, nhiều tên bị tiêu diệt. Đêm 13-10, trung đội du kích xã Bằng Viễn đã tập kích quấy rối địch ở châu lỵ Chợ Đồn, làm cho chúng hoảng sợ, mất ăn mất ngủ. Trưa ngày 16-10, Đại đội 653 phối hợp với du kích phục kích địch ở Kéo Phay, mặc dù trận địa phục kích bị lộ, nhưng ta vẫn tiêu diệt được 5 tên. Ngày 17-10, khoảng 80 tên địch cùng đoàn ngựa, lừa hành quân theo trục đường từ Bắc Kạn vào Chợ Đồn, đã bị du kích xã Yên Thuận và lực lượng của Tiểu đoàn 102, Trung đoàn 165 tổ chức phục kích ở Nà Chao, diệt 8 tên.


Phấn khởi và tin tưởng vào những thắng lợi, lực lượng vũ trang huyện Chợ Đồn ra sức củng cố trận địa, tăng cường tuần tra canh gác, sẵn sàng tổ chức đánh chặn địch để bảo vệ quê hương. Bị sa lầy trong thế trận chiến tranh nhân dân, quân Pháp bị đánh khắp nơi, bị tiêu hao lực lượng và phương tiện, các vị trí chiếm đóng của quân Pháp dần dần bị cô lập. Binh lính địch hoang mang, lo sợ trước những hoạt động của lực lượng vũ trang ta. Trên hầu khắp các mặt trận, lực lượng của địch đều bị quân và dân ta liên tục chặn đánh, tiêu hao nhiều sinh lực, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh. Trước tình hình đó, Bộ chỉ huy Pháp buộc phải ra lệnh rút khỏi nhiều vị trí chiếm đóng. Ngày 28-10, chúng rút khỏi Bản Thi, Yên Định, cuối cùng phải rút khỏi huyện lỵ Chợ Đồn vào ngày 3-11. Như vậy, chưa đầy một tháng chiếm đóng, không tìm thấy cơ quan đầu não kháng chiến, không giáp mặt được với chủ lực, luôn bị phục kích, quấy rốỉ tiêu hao, quân Pháp đã phải rút chạy. Chợ Đồn được giải phóng.


Những chiến công của quân và dân Chợ Đồn đã góp phần quan trọng cùng quân và dân các địa phương trên chiến trường Việt Bắc bẻ gãy cuộc tấn công quy mô lớn của địch, làm phá sản chiến lược "đánh nhanh, thắng nhanh" của Pháp.


Quân và dân Chợ Đồn tự hào vì đã hoàn thành sứ mệnh cao cả của mình - bảo vệ an toàn cho các cơ quan Trung ương. Có thể nói, quân và dân Chợ Đồn đã biết phát huy thế mạnh của địa phương, lợi dụng địa hình thiên hiểm, xây dựng được thế trận lòng dân vững chắc, huy động được sức mạnh của toàn dân đánh giặc. Nhờ có phong trào quần chúng tốt, có cơ sở Đảng vững mạnh, căn cứ kháng chiến đã được che chở an toàn. Có thể khẳng định rằng nhờ được xây dựng, được các tổ chức quần chúng, có cơ sở chính trị vững chắc, có lực lượng vũ trang bảo vệ, ATK Chợ Đồn thực sự đã có được một phòng tuyến vững chắc bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 07 Tháng Tư, 2021, 09:02:16 am
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ PHỈ Ở CHỢ RÃ, BẮC KẠN
TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP


Đại tá NGUYỄN ĐÌNH KHIÊM
Trưởng phòng Khoa học Công nghệ và Môi trường, Quân khu 1


Phỉ, hay còn gọi là thổ phỉ, theo từ Hán - Việt có nghĩa là phỉ bản địa. Phỉ còn được gọi theo ngôn ngữ đồng bào dân tộc Tày - Nùng là "thảo khấu", dịch ra tiếng Việt là "giặc cỏ". Phỉ vốn là những tên cướp có vũ trang, thường hoạt động ở những vùng rừng núi, lợi dụng địa hình hiểm trở, hẻo lánh để tổ chức cướp bóc. Trước Cách mạng Tháng Tám, dưới chế độ thực dân, phong kiến, phỉ chủ yếu là vấn đề kinh tế - xã hội. Lợi dụng những sơ hở, sự bất lực, đôi khi có sự dung túng, thoả hiệp của chính quyền phong kiến, nhiều toán phỉ đã tác oai tác quái, cướp của, giết người, xưng hùng xưng bá cát cứ một vùng. Phỉ là một tai họa cho nhân dân các dân tộc miền núi.


Bên cạnh nguồn gốc về kinh tế, phỉ còn được sinh ra từ sự áp bức, bóc lột, cường quyền của chính quyền phong kiến, của các tầng lớp trên trong cùng một hay khác sắc tộc tại bản địa. Do bị bóc lột nặng nề, bị chà đạp về quyền sống, để mưu cầu sinh tồn của gia đình, dòng họ, bản thân và chống lại các thế lực áp bức, một số người lương thiện cũng tự phát nổi máu phỉ (hay còn gọi là tự do, vô chính phủ), ra rừng làm phỉ...


Mặt khác, để duy trì quyền cai trị, mỗi thổ ty, hay tập đoàn thổ ty, thường có những cuộc cọ sát, tranh giành quyền lợi, quyền lực, dẫn đến tổ chức ra các đội quân vũ trang riêng để tự bảo vệ và thanh toán lẫn nhau. Ngạn ngữ vùng cao có câu "được làm vua, thua làm phỉ", đó cũng là một nguyên nhân dẫn đến sự hình thành của các tổ chức phỉ trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945.


Sau Cách mạng Tháng Tám, thời kỳ đầu, vấn đề phỉ ở Việt Bắc chủ yếu vẫn là vấn đề kinh tế, mang tính tự phát lẻ tẻ ở một vài vùng hẻo lánh. Chính quyền cách mạng đã có nhiều cố gắng giúp đỡ nhân dân các dân tộc giảm đói nghèo, xoá ách cai trị của thổ ty, xoá đi hận thù giữa các dân tộc, cùng nhau đoàn kết, chung sống hoà thuận xây dựng cuộc sống mới.


Từ khi quân đội Trung Hoa dân quốc của Tưởng Giói Thạch vào nước ta dưới danh nghĩa là quân Đồng minh giải giáp vũ khí quân đội Nhật (cuối 1945 đầu 1946) và sau ngày thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta, vấn đề phỉ ở Việt Bắc lại nổi lên, mang tính chất chính trị phản động, tay sai của đế quốc, phong kiến.


Với âm mưu thâm độc của chủ nghĩa thực dân, để thực hiện mưu đồ xâm lược nước ta lần thứ hai, Pháp đã móc nối các phần tử phản động, các thổ ty bị cách mạng tước đoạt quyền lợi, bọn ngụy quân, ngụy quyền trong chế độ cũ và bọn Quốc dân đảng Trung Hoa để tổ chức gây phỉ, chống phá công cuộc kháng chiến, kiến quốc của nhân dân ta.


Từ những vấn đề trên, vấn đề phỉ ở Việt Bắc trong kháng chiến chống Pháp có thể khái niệm như sau:

Phỉ là tổ chức phản động vũ trang ở miền núi, hầu hết là người bản địa và thường cùng dân tộc, hình thành và hoạt động phục vụ cho mưu đồ xâm lược của chủ nghĩa đế quốc. Phỉ hoạt động công khai và bán công khai với hình thức phổ biến tập trung thành từng tiểu đoàn, đại đội độc lập theo vùng lãnh thổ và phân tán rộng rãi trong dân. Phỉ thường lợi dụng địa hình hiểm trở làm chỗ dựa để hoạt động và tồn tại. Mục tiêu của phỉ là chống phả chính quyền cách mạng một cách toàn diện, thủ đoạn chủ yếu là gây bạo loạn vũ trang, kích động tâm lý dân tộc ly khai, kết hợp với tác chiến nhỏ lẻ, tập trung phân tán nhanh, tránh mạnh đánh yếu. Hình thức bảo đảm hậu cần của phỉ chủ yếu là cướp bóc.

Như vậy, phỉ ở Việt Bắc trong kháng chiến chống Pháp mang bản chất phản cách mạng, thù địch giai cấp; kích động chia rẽ khối đoàn kết các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam; lừa mị, lôi kéo và cưỡng ép quần chúng; phỉ là một đội quăn ô hợp, tàn bạo. Thu - Đông năm 1947, thực dân Pháp mở cuộc hành binh chiến lược tiến công lên Việt Bắc. Chúng đã nhanh chóng tung nhiều toán gián điệp, biệt kích vào sâu trong lòng Việt Bắc và biên giới Việt - Trung móc nối với các phần tử phản động trong tầng lớp trên và các toán phỉ của đặc vụ Tưởng đang lẩn trốn ở các sào huyệt hiểm trở. Một số lực lượng phỉ được Pháp thu phục và tiếp nhận vào quân đội ngụy.


Khi ta đang phải đối phó với cuộc tiến công của Pháp lên Việt Bắc, thì các lực lượng phỉ, được Pháp chỉ đạo và hỗ trợ, đã tăng cường phối hợp đánh phá, quấy rối từ phía sau, bên trong chiểu sâu của hậu phương ta.


Sau thất bại của chiến lược "đánh nhanh, thắng nhanh", giặc Pháp buộc phải chuyển sang bình định, chiếm đóng Bắc Kạn, Cao Bằng, lập phòng tuyến Đông Bắc. Pháp móc nối với một số tổ chức phỉ, chỉ đạo phỉ hoạt động chống phá ta ở một số vùng thuộc Bắc Kạn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Lạng Sơn, Bắc Giang, Quảng Yên...


Quá trình thực hiện nhiệm vụ chiến lược quân sự, song song với chỉ đạo quân và dân Việt Bắc đánh trả cuộc hành binh chiến lược của địch, bảo vệ an toàn căn cứ Trung ương, Chiến khu 1 đã động viên được đông đảo quần chúng nhân dân các dân tộc, tham gia kháng chiến; quan tâm chăm lo đời sống, sản xuất, văn hoá, xã hội của các dân tộc thiểu sô, chú ý giải quyết các mâu thuẫn vốn có giữa các dân tộc, củng cố khối đoàn kết toàn dân; đặc biệt là luôn chú trọng chỉ đạo giải quyết tổ chức "Nam dương Hoa kiều hiệp hội" và giải quyết vấn đề phỉ.


Tại Cao Bằng, Bắc Kạn, từ đầu năm 1948, Pháp đưa quân đánh chiếm các huyện biên giới... chiếm đóng huyện Nguyên Bình, câu kết với phỉ để quấy rối Chợ Rã, Chợ Đồn (Bắc Kạn); xúi giục phỉ ở Bảo Lạc (Cao Bằng) nổi loạn, phối hợp với phỉ ở Hà Giang, Lào Cai hòng bịt chặt biên giới phía Bắc.


Chợ Rã (nay là hai huyện Ba Bể và Pác Nặm), là huyện vùng cao phía bắc của tỉnh Bắc Kạn, phía Bắc giáp huyện Bảo Lạc tỉnh Cao Bằng, phía nam giáp huyện Bạch Thông, phía Đông giáp huyện Ngân Sơn, phía Tây giáp huyện Chợ Đồn và huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang. Chợ Rã có địa hình hiểm trở, cánh cung sông Gâm chạy dài theo hướng đông bắc - tây nam, xuyên suốt địa giới của huyện với nhiều ngọn núi cao trùng điệp. Núi Phja bjoóc (cứu quốc) cao sừng sững, trở thành nóc nhà chung của ba huyện: Chợ Rã, Chợ Đồn, Bạch Thông.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 07 Tháng Tư, 2021, 09:03:06 am
Trong cuộc vận động Cách mạng Tháng Tám, Chợ Rã từng là địa bàn của các đội quân Nam tiến hoạt động mở rộng khu căn cứ địa Cao Bằng nối liền với căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai. Chợ Rã là một trong những huyện đầu tiên trong cả nước thành lập được chính quyến cách mạng cấp huyện trong cuộc Cách mạng Tháng Tám.


Cách mạng Tháng Tám thành công, chẳng bao lâu sau, lợi dụng tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước ta còn có nhiều khó khăn, bọn phản động và phỉ ẩn náu trong rừng rậm, hoặc trà trộn trong dân, đã ngóc đầu dậy hoạt động. Chúng tìm mọi cách móc nối với đặc vụ Tưởng Giới Thạch và được chúng sử dụng làm công cụ chống phá chính quyền cách mạng.


Sau khi Pháp nhảy dù xuống Bắc Kạn, phỉ ở Chợ Rã mất chỗ dựa vào quân Tưởng, chúng đã tìm đường liên hệ với quân Pháp ở Bành Trạch, nhằm dựa vào Pháp để hoạt động chống phá. Pháp đã nhanh chóng nắm lấy lực lượng phỉ ở Chợ Rã, sử dụng phỉ làm lực lượng vòng ngoài bảo vệ cho các vị trí chiếm đóng của Pháp; đồng thời cung cấp vũ khí và chỉ đạo các tổ chức phỉ hoạt động phá hoại hậu phương kháng chiến của ta.


Khi Pháp đánh chiếm huyện lỵ Chợ Rã (16-10-1947 đến 16-11-1947), phỉ lại bắt đầu hoạt động, nhưng còn dè dặt, lực lượng còn yếu. Khi đã dựa được vào quân Pháp ở Bành Trạch, phỉ phát triển xây dựng lực lượng khá nhanh, từ vài chục tên (11-1947) đã lên hơn 500 tên (1-1948). Được Pháp trực tiếp chỉ đạo và hỗ trợ hoạt động, phỉ đã tăng cường các hoạt động tuyên truyền, chia rẽ đoàn kết dân tộc, kích động bạo loạn, nói xấu Việt Minh, xuyên tạc các chính sách của Đảng, Chính phủ, như: chính sách huy động lương thực, đi dân công phục vụ kháng chiến. Chúng dùng mọi thủ đoạn để lôi kéo, cưỡng ép nhân dân các dân tộc Nùng, Dao đi theo chúng. Một số đồng bào do trình độ giác ngộ còn hạn chế, lại vì quá nghèo khổ đã bị phỉ dùng vật chất cám dỗ, một số bị không chế, cưỡng bức vào các hoạt động tiếp tay cho phỉ như tiếp tế lương thực, dò la cung cấp tin tức, canh gác báo động, v.v.


Lực lượng phỉ phát triển rất nhanh, từ các nhóm lẻ tẻ hoạt động lén lút đã tập trung lại từng bộ phận lập căn cứ, đóng quân kiểm soát từng khu vực riêng. Bọn đầu sỏ phỉ là những tên tay sai phản động cũ, hám quyền lực và bọn đặc vụ Tưởng Giới Thạch trong Hoa kiểu. Lính phỉ phần lớn là dân chúng các dân tộc thiểu số, dân trí lạc hậu, bị lừa mị, mê hoặc bởi tập tục và cưỡng bức đi làm phỉ. Có hàng chục thôn bản bị "phỉ hoá" toàn bộ. Phỉ ở phía bắc Chợ Rã có mối liên kết chặt chẽ với các toán phỉ ở huyện Nguyên Bình - Cao Bằng.


Phỉ tổ chức thành các đồn, đóng ở những nơi xung yếu để dễ kiểm soát, dễ đi cướp phá và tiện hỗ trợ bảo vệ cho các đồn quân Pháp đóng ở Tĩnh Túc, Nguyên Bình, Bố Tổng Sinh, Cao Sơn, Bành Trạch. Phỉ đóng quân, thường tổ chức hệ thống quan sát cảnh giới, tuần tra, canh gác từ trên các đỉnh núi, đồi cao và các đường ra, lối vào cách nơi ở từ một đến hai ki-lô-mét; khi có tình hình, chúng báo động bằng bắn súng chỉ thiên, thổi tù và hay hú gọi, v.v.


Sào huyệt chính của phỉ ở Bắc Chợ Rã đóng tại Pác Nặm, xã Bằng Thành, Bản Nghiểng, xã An Thắng, Pù Choóng xã Xuân La. Những tên cầm đầu phỉ ở Chợ Rã là Sí Lìn (từng làm Bang trưởng Hoa kiều trong "Nam dương Hoa kiều hiệp hội", nghi là đặc vụ Tưởng), Triệu Văn Nhất (Quản chiểu Nhất), Bàn Đức Đeng (Thủ bạ cũ), Bàn Đức Mạn, Lý Trần Cua, Đặng Chàn Nhàn (đội thồn), Trương Văn Khoóng, Hoàng Văn Vận, Lục Văn Phia, Triệu Tài Văn, Hoàng Văn Pèng, Triệu Ta Slấn, Triệu Chòi Páo, Triệu Văn Piao (tức Thi Lộc), Triệu Văn Đình, Lâm Văn Vàng. Tổng chỉ huy phỉ là Sí Lìn và Triệu Văn Nhất. Đây là những tên đã có nhiều nợ máu với nhân dân và cũng là những tên chống phá cách mạng một cách quyết liệt.


Từ những hoạt động nhỏ lẻ, cướp của, giết người ở Bành Trạch phía bắc Thượng Giáo, được quân Pháp ở các đồn Nguyên Bình (Cao Bằng), Bành Trạch hỗ trợ, cổ vũ và kích động, phỉ đẩy mạnh hoạt động với quy mô ngày càng lớn, gây ra nhiều tội ác đối với nhân dân. Trong thời gian từ tháng 11-1947 đến tháng 2-1948, phỉ ở Chợ Rã đã giết 39 người, bắn và làm bị thương 3 người, đốt cháy 120 nhà, cướp 171 trâu, bò, ngựa và nhiều tài sản, gạo thóc, tiền vàng, bạc trắng của nhân dân... Được sự hỗ trợ và chỉ đạo của Pháp, lực lượng phỉ âm mưu đánh chiếm huyện lỵ Chợ Rã để phục vụ mưu đồ thành lập chính quyền bù nhìn tay sai của Pháp.


Những hoạt động tuyên truyền chống phá, cướp bóc ngày càng mạnh của phỉ đã gây cho cách mạng nhiều khó khăn, thiệt hại, nhất là về chính trị, kinh tế, an ninh - xã hội. Trước tình hình trên và dự đoán các hoạt động của phỉ sẽ ngày một lan rộng ở phía Bắc, Bộ chỉ huy Chiến khu 1 đã chỉ thị cho các tỉnh phải chú ý giải quyết nạn phỉ. Chỉ thị nhấn mạnh: "...Coi tiễu phỉ như một trong những nhiệm vụ hàng đầu...". Phương châm đối phó là: "...Không phải chỉ một mặt tiêu diệt, chúng ta vừa đánh vừa chiêu an, viết truyền đơn kêu gọi chúng"1 (Văn kiện Đảng bộ Liên khu Việt Bắc, Tập 1, tr. 266).


Thực hiện chỉ thị của Chiến khu 1, tháng 11-1947, Tỉnh ủy Bắc Kạn quyết định thành lập Đội vũ trang tuyên truyền, gồm 40 đồng chí, lên huyện Chợ Rã phối hợp với lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc để tiến hành cuộc vận động giải quyết phỉ.


Ngày 3-1-1948, các đơn vị tiễu phỉ của tỉnh lên tới Chợ Rã. Đại diện Tỉnh ủy và chỉ huy các đơn vị tiễu phỉ đã họp cùng với lãnh đạo Huyện ủy Chợ Rã để thành lập Liên đội tiễu phỉ. Liên đội bao gồm các đơn vị bộ đội của tỉnh và đơn vị bộ đội địa phương huyện Chợ Rã. Hội nghị đã vạch ra kế hoạch tác chiến, quyết định sử dụng Liên đội tiễu phỉ hành quân lên các xã phía bắc, tổ chức tiến công vào các sào huyệt của phỉ ở Bản Nghiểng và Pác Nặm.


Sáng ngày 4-1-1948, khoảng 300 tên phỉ đã tổ chức tiến công huyện lỵ Chợ Rã và cơ quan Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam đóng ở xã Cao Thượng. Trước tình huống bất ngờ, lực lượng vũ trang ta đã kiên cường đánh trả từ sáng đến trưa, diệt tại chỗ 20 tên phỉ, làm bị thương một số tên khác, số còn lại buộc phải rút về phía Bắc huyện.


Sau chiến thắng Sông Lô, Chiến khu 1 đã điều Tiểu đoàn 55 về tăng cường cho tỉnh Bắc Kạn tham gia tiễu phỉ.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 07 Tháng Tư, 2021, 09:05:41 am
Cuối tháng 1-1948, lực lượng bộ đội chủ lực Chiến khu và bộ đội địa phương cùng dân quân du kích Chợ Rã đã đồng loạt tiến công các vị trí phỉ ở Pù Choóng xã Xuân La, giáp ranh với huyện Nguyên Bình (Cao Bằng), Bành Trạch, Bản Trà; đồng thời tiến công đồn quân Pháp ở đầu cầu Tát Pục. Sào huyệt phỉ ở Bản Trà bị tiêu diệt, quân Pháp ở Tát Pục phải bỏ đồn rút khỏi Chợ Rã. Ngày 12-2-1948, ta tiếp tục tiến công sào huyệt phỉ ở Lủng Chủ xã An Thắng, diệt và làm bị thương nhiều tên, thu nhiều chiến lợi phẩm, thu hồi và trả cho dân hơn 50 con trâu, bò, ngựa bị phỉ cướp.


Trung tuần tháng 3-1948, ta tập trung lực lượng gồm 4 đại đội (Đại đội 39 Trung đoàn 72, Đại đội địa phương Chợ Rã Đại đội vũ trang tuyên truyền của tỉnh, Đội công an xung phong tỉnh) cùng 2 trung đội bộ đội địa phương huyện Bảo Lạc (Cao Bằng) và dân quân du kích mở đợt tiến công vào các vị trí phỉ đóng quân dọc vùng giáp ranh Chợ Rã - Nguyên Bình. Ta diệt và bắt 41 tên. Số phỉ còn lại bỏ chạy về Nguyên Bình (Cao Bằng), dựa vào đồn quân Pháp đóng ở Tĩnh Túc để nương náu, một số khác chạy vào rừng sâu lẩn trốn.


Các sào huyệt của phỉ liên tiếp bị phá, khiến cho nhiều tên phỉ hoang mang dao động, nhiều tên đã mang gia đình ra đầu thú.


Đảng bộ huyện đã chủ trương liên hợp lại các làng bản lẻ ở gần nơi có phỉ hoạt động và do du kích địa phương bảo vệ. Có sự giúp đỡ của du kích thoát ly của huyện, tình hình trật tự trị an ở các xã có phỉ đã dần dần ổn định.


Nhìn chung, công tác tiễu phỉ trong thời gian này chủ yếu là tập trung các hoạt động quân sự, chưa thực sự chú trọng đến việc xây dựng cơ sở chính trị, tuyên truyền, giáo dục vận động quần chúng và củng cố chính quyền cùng các đoàn thể.


Thực hiện nghị quyết của Tỉnh ủy Bắc Kạn về "Đấu tranh chống phỉ một cách toàn diện", Huyện ủy Chợ Rã đã đề ra chủ trương, kế hoạch chống phỉ trên tất cả các mặt chính trị, quân sự, kinh tế nhằm làm cho phỉ mất khả năng hoạt động, bị cô lập dẫn đến bị tiêu diệt và tan rã.


Về chính trị, tuyên truyền, giáo dục sâu rộng chủ trương chống phỉ của Đảng ta cho nhân dân các dân tộc trong vùng có phỉ, đẩy mạnh phân hoá hàng ngũ phỉ, giáo dục quần chúng thấy được âm mưu thâm độc của thực dân Pháp trong vấn đề gây phỉ, chia rẽ đoàn kết các dân tộc chống phá cách mạng, để đồng bào đấu tranh thoát khỏi sự khống chế của phỉ.


Về quân sự, đưa đội du kích thoát ly của huyện phối hợp với du kích địa phương bố trí sát nơi có phỉ hoạt động để tăng cường khả năng gây áp lực, ngăn chặn sự cướp phá của phỉ đối với nhân dân. Lực lượng công an, đẩy mạnh các hoạt động trong quần chúng nhằm phát hiện và bắt giữ những tên phỉ nằm vùng và những tên làm tai mắt cho phỉ.


Về kinh tế, thực hiện các biện pháp bao vây kinh tế phỉ, phát muối hoặc bán rẻ cho nhân dân vùng có phỉ, hay lệ thuộc vào phỉ, hoặc bị phỉ khống chế. Biện pháp trên nhằm đưa quần chúng thoát khỏi ảnh hưởng của phỉ, củng cố lòng tin của đồng bào các dân tộc vào chính sách của Đảng.


Sau những nỗ lực của Đảng bộ, của lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc huyện Chợ Rã trong đấu tranh giải quyết vấn đề phỉ, tình hình an ninh chính trị trên địa bàn đã tạm ổn định, một số tên đầu sỏ phỉ đã phải rút chạy về địa bàn Nguyên Bình để ẩn náu chờ thời cơ hồi phỉ...


Thực hiện chính sách "dùng người Việt đánh người Việt" và "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh", thực dân Pháp đã tăng cường các hoạt động cung cấp vũ khí, lương thực, thuốc men, củng cố các sào huyệt của phỉ dọc địa giới Chợ Rã với Cao Bằng. Pháp hy vọng dùng phỉ đánh chiếm huyện lỵ Chợ Rã để dựng nên chính quyền tay sai trong hậu phương của ta; đồng thời khuếch trương cho tổ chức phản động tay sai "Liên bang Tày - Nùng miền Bắc Đông Dương" do Pháp mới dựng nên ngày 10-7-1948.


Trung tuần tháng 8-1948, được sự giúp đỡ của Pháp, nhiều toán phỉ từ các vùng giáp ranh phía bắc Chợ Rã tràn về các xã Nghiên Loan, Bằng Thành, Giáo Hiệu. Phỉ đã tổ chức nhiều vụ cướp bóc, bắn giết nhân dân rất dã man. Năm 1949, Pháp tăng cường các hoạt động chi viện và chỉ đạo phỉ ở Chợ Rã đánh phá hậu phương của ta nhằm thu hút căng kéo lực lượng chủ lực của ta vào đối phó với phỉ và làm giảm áp lực tiến công của ta vào quân Pháp trên mặt trận đường số 3. Cuối tháng 2-1949, phỉ ở Chợ Rã đã đẩy mạnh các hoạt động cướp phá ở các xã Thượng Giáo, Nghiên Loan. Lực lường phỉ phát triển lên hàng trăm tên, chúng tung tin sẽ đánh chiếm huyện lỵ, cho lực lượng quấy rối uy hiếp huyện lỵ. Tình hình trên đã làm cho nhân dân các dân tộc cư trú ở các làng bản xung quanh huyện lỵ hoang mang, nhiều gia đình bỏ sản xuất, tản cư đi nơi khác, làm cho đời sống của nhân dân vốn đã khó khăn lại càng khó khăn hơn.


Trước diễn biến tình hình về tái hoạt động của phỉ ở Chợ Rã, Bộ chỉ huy Liên khu 1 đã chỉ đạo hai tỉnh Bắc Kạn và Cao Bằng phối hợp tiễu phỉ trên vùng địa giới tiếp giáp các huyện Chợ Rã, Nguyên Bình và Bảo Lạc.


Cuộc vận động tiễu phỉ lần này, có mục tiêu là phải chia cắt được lực lượng phỉ ra khỏi các vị trí gần nơi chiếm đóng của quân Pháp, làm cho phỉ mất chỗ dựa, phá, triệt tận gốc các sào huyệt của phỉ và tiêu diệt các lực lượng phỉ tập trung.


Huyện ủy Chợ Rã đã chủ trương phát động toàn dân chống phỉ, bên cạnh lực lượng bộ đội địa phương của tỉnh tăng cường, các lực lượng dân quân du kích tập trung của huyện và dân quân du kích xã giữ vai trò là lực lượng xung kích.


Cuối tháng 1-1949, lực lượng vũ trang ta bắt đầu tiến công vào khu vực địa giới giáp ranh hai huyện Chợ Rã và Nguyên Bình là nơi có nhiều sào huyệt của phỉ ẩn náu. Đội công an xung phong Chợ Rã đã lập mưu dụ phỉ và bắt sống được tên trùm phỉ Trương Văn Khoóng.


Cuối tháng 3-1949, ta tiến công và truy quét mạnh vào các sào huyệt phỉ ở Pác Nặm, Bản Nghiểng, xã An Thắng, diệt được nhiều phỉ, trong đó có nhiều tên đầu sỏ. Lực lượng tàn quân phỉ dạt về các vùng hẻo lánh của huyện Nguyên Bình và Bảo Lạc (Cao Bằng) để lẩn tránh.


Đầu tháng 4-1949, hai tỉnh Bắc Kạn và Cao Bằng đã tổ chức phối hợp thống nhất kế hoạch tiễu phỉ trên tuyến địa giới phía bắc và đông bắc Chợ Rã từ Bảo Lạc đến Nguyên Bình. Tỉnh ủy Bắc Kạn đã ra nghị quyết và giao trách nhiệm cho "Huyện Đảng bộ Chợ Rã phải đặc biệt theo dõi việc tiễu phỉ và chịu trách nhiệm đứng ra phối hợp các ngành vận động phỉ ở địa phương dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng"1 (Hội nghị Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn tháng 4-1949. Tài liệu lưu trữ tại Huyện ủy Ba Bể).


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 07 Tháng Tư, 2021, 09:06:38 am
Cuộc vận động tiễu phỉ trong nửa đầu năm 1949 nhìn chung phát triển thuận lợi. Liên đội tiễu phỉ không những đã xoá được nhiều hang ổ, sào huyệt, diệt nhiều sinh lực của phỉ mà còn vận động tuyên truyền, giác ngộ, giúp đỡ quần chúng nhận rõ bản chất của phỉ, tự nguyện tham gia vận động được nhiều lính phỉ ra đầu thú. Ban chấp hành Đảng bộ huyện đã đề ra được chủ trương đúng đắn để thực hiện chính sách phỉ vận của ta, đã chiêu hàng được một số tên trùm phỉ ở Bành Trạch, Thượng Giáo.


Đến giữa năm 1949, cuộc vận động tiễu phỉ đã đem lại sự ổn định an ninh chính trị ở khu vực các xã phía bắc và đông bắc Chợ Rã. Tỉnh ủy nhận định, lực lượng quân sự chủ yếu của phỉ đã bị đập tan. Tỉnh ủy đã quyết định rút bộ đội chủ lực của Liên khu tăng cường và bộ đội địa phương của tỉnh về mặt trận đường số 3, giải thể Đội võ trang tuyên truyền và Đội công an xung phong. Nhiệm vụ giữ gìn an ninh chính trị, trật tự xã hội được giao lại cho dân quân du kích Chợ Rã đảm nhiệm.


Qua cuộc vận động tiễu phỉ từ đầu năm 1948 đến cuối năm 1949, Đảng bộ, lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Kạn nói chung và huyện Chợ Rã nói riêng, đã kiên trì, dũng cảm chiến đấu và kiên quyết giải quyết vấn đề phỉ trên địa bàn hậu phương của căn cứ địa Việt Bắc. Ta đã thực hiện tốt phương châm "lấy chính trị làm chính, quân sự làm áp lực" vận động được quần chúng nhân dân các dân tộc tự nguyện tham gia đấu tranh chống phỉ. Ta đã diệt, bắt, gọi hàng và làm tan rã các lực lượng phỉ ở phía bắc huyện và vùng địa giới tiếp giáp với Nguyên Bình, Bảo Lạc tỉnh Cao Bằng, phá tan âm mưu thâm độc của thực dân Pháp dùng phỉ để thực hiện mưu đồ chiếm đóng lâu dài ở ngay trong lòng Việt Bắc. Kết quả trên của cuộc vận động tiễu phỉ ở Chợ Rã đã góp phần quan trọng vào chiến công của Đảng bộ, lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc giải phóng hoàn toàn tỉnh Bắc Kạn khỏi ách chiếm đóng của thực dân Pháp.


Sau một thời gian tương đối ổn định, tình hình an ninh chính trị Chợ Rã lại trở nên phức tạp. Pháp tiếp tục các nỗ lực chỉ đạo, hỗ trợ cho các lực lượng phỉ tăng cường hoạt động chống phá sâu trong lòng Việt Bắc. Pháp đã tung biệt kích nhảy dù, móc nối, liên lạc với bọn phản động tay sai và các lực lượng phỉ trong địa bàn liên tỉnh Bắc Kạn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hà Giang, Lào Cai... các tên trùm phỉ chạy ẩn náu ở vùng núi rừng hiểm trở lại tiếp tục quay về gây dựng lại các sào huyệt phỉ cũ ở Bản Nghiểng, Pác Nặm, Bản Mạ... Chúng tăng cường các hoạt động lừa mị và cưỡng ép nhân dân theo phỉ để phát triển lực lượng. Dọc tuyến địa giới phía bắc của huyện Chợ Rã, phỉ liên tục hoạt động cướp của, giết người, chống phá chính quyền cách mạng.


Trước những diễn biến mới về hoạt động của phỉ ở Chợ Rã, Tỉnh ủy Bắc Kạn đã chủ trương thành lập đoàn công tác tiễu phỉ với một cơ cấu nhiều thành phần lực lượng mới. Bên cạnh đại đội bộ đội địa phương tỉnh và trung đội vũ trang tiễu phỉ của huyện (mới tái lập) là nòng cốt làm áp lực quân sự, tham gia trong đoàn tiễu phỉ còn có cán bộ của các ngành, các giới. Phương châm của tỉnh trong đợt tiễu phỉ này là lấy vận động quần chúng vùng có phỉ khống chế làm nhiệm vụ chính. Nội dung vận động là tập trung tuyên truyền, học tập cho nhân dân các chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ và Điều lệ Mặt trận Liên Việt. Thông qua các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, đưa đồng bào vào các tổ chức của Mặt trận Liên Việt; đồng thời đẩy mạnh các hoạt động văn hoá, văn nghệ quần chúng gây nên một không khí chính trị mới và hướng dẫn đồng bào phát triển sản xuất, tổ chức, xây dựng một nếp sống mới.


Với tổ chức lực lượng chặt chẽ và phương châm hoạt động đúng đắn, các cán bộ trong đoàn vận động đã thực hiện ba cùng với nhân dân, dần dần gây được ảnh hưởng và uy tín trong đồng bào các dân tộc, từng bước ngăn chặn và làm thất bại các âm mưu chia rẽ, lôi kéo, cưỡng ép nhân dân của phỉ và thực dân Pháp.


Vừa tuyên truyền vận động quần chúng tham gia đấu tranh chống phỉ, Tỉnh ủy đã chỉ đạo đưa những tên trùm phỉ có nhiều tội ác với nhân dân ra toà án binh xét xử công khai một cách nghiêm minh trước công chúng; đồng thời giáo dục, phóng thích những kẻ lầm đường lạc lối, biết hối cải ra đầu thú về làm ăn lương thiện. Nhiều gia đình có con em theo phỉ đã hiểu rõ chính sách khoan hồng của Đảng, len lỏi vào rừng sâu kêu gọi con em trở về đầu thú chính quyền cách mạng.


Vừa vận động quần chúng vừa tăng cường công tác chấn chỉnh, củng cố, xây dựng chính quyền cơ sở và xây dựng lực lượng dân quân du kích, Đảng bộ Chợ Rã đã kiên quyết đưa những người yêu kém về chính trị, năng lực chiến đấu ra khỏi các ban chỉ huy xã đội, thay vào những người có thành phần cơ bản, hăng hái trong đấu tranh chống phỉ và giữ gìn trật tự trị an. Hoạt động quân sự đã làm tốt vai trò gây áp lực cho hoạt động chính trị. Các hoạt động quân sự đã được tiến hành theo một kế hoạch thống nhất chung trên địa bàn bốn tỉnh (Bắc Kạn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hà Giang) có tác dụng tốt trong việc bao vây, cô lập, tiến công, truy quét các lực lượng phỉ.


Đến cuối năm 1954, Chợ Rã đã cơ bản giải quyết được vấn đề phỉ. Các sào huyệt phỉ đã bị quét sạch, nhiều tên trùm phỉ bị diệt hoặc bị bắt, các lực lượng phỉ ở Chợ Rã bị tan rã hoàn toàn.


Từ thực tiễn giải quyết vấn đề phỉ ở Chợ Rã - Bắc Kạn trong kháng chiến chống thực dân Pháp, có thể rút ra một số kinh nghiệm chính, đó là:

- Nhận rõ gây phỉ là một âm mưu thâm độc của chủ nghĩa đế quốc, vấn đề phỉ trước hết là vấn đề chính trị, vấn đề quần chúng, vấn đề dân tộc.

- Nắm vững phương châm "Lấy hoạt động chính trị kết hợp với cải thiện dân sinh làm chính, quăn sự làm áp lực”, đẩy mạnh vận động quần chúng để giác ngộ nhân dân, dựa vào dân, động viên đồng bào các dân tộc cùng tham gia giải quyết vấn đề phỉ.

- Thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng, làm tốt công tác vận động, giáo dục và tranh thủ các thổ ty, các già làng, các tầng lớp trên tuyên truyền phỉ vận để giải quyết vấn đề phỉ.

- Dùng biện pháp quân sự để làm áp lực cho vận động thuyết phục. Biện pháp quân sự phải thận trọng và kiên quyết.

- Thống nhất lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy. Phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng, các ngành, các vùng, các địa phương, tạo sức mạnh tổng hợp để giải quyết dứt điểm vấn đề phỉ.


Những bài học kinh nghiệm về giải quyết vấn đề phỉ ở Chợ Rã - Bắc Kạn trong kháng chiến chống Pháp sẽ giúp chúng ta nhìn rõ hơn âm mưu của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế trong điều kiện mới đối với các vùng sâu, vùng cao, vùng biên giới, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số và vùng đồng bào có tôn giáo. Chúng ta cần vận dụng sáng tạo các kinh nghiệm trước đây, thực hiện tốt các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với các dân tộc thiểu số ở miền núi, luôn nêu cao cảnh giác, kịp thời phát hiện và làm thất bại các âm mưu và thủ đoạn chống phá của kẻ thù, tăng cường xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân thành sức mạnh tổng hợp trong sự nghiệp xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 08 Tháng Tư, 2021, 01:15:25 pm
CAO BẰNG TRONG CHIẾN DỊCH VIỆT BẮC THU - ĐÔNG 1947


TS. NGUYỄN THỊ NƯƠNG
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Cao Bằng


Cao Bằng là tỉnh miền núi phía Bắc, có đường biên giới dài 311km tiếp giáp với tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc. Địa thế Cao Bằng hiểm trở, hầu hết là rừng núi trùng điệp. Nhân dân các dân tộc Cao Bằng vốn có truyền thống đoàn kết yêu nước và đấu tranh anh dũng chống giặc ngoại xâm. Ngay sau khi Đảng ra đời, Cao Bằng đã sớm có cơ sở Đảng từ năm 1930, và nơi đây đã được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, sau 30 năm tìm đường cứu nước, chọn làm nơi trở về Tổ quốc để lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Sau Hội nghị Trung ương lần thứ 8, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, Cao Bằng đã trở thành căn cứ của cách mạng Việt Nam và là nơi ra đời Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, đội quân chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.


Ngày 19-12-1946, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược bùng nổ trên phạm vi toàn quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến. Thực hiện đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện của Đảng, mỗi phô" là một mặt trận, mỗi làng là một pháo đài, cả nước thành một mặt trận thống nhất chống thực dân Pháp xâm lược. Việt Bắc, một lần nữa, vinh dự được Trung ương Đảng và Bác Hồ chọn làm căn cứ địa của Trung ương để lãnh đạo quân và dân cả nước tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.


Mùa Hè năm 1947, Bộ chỉ huy quân sự Pháp xây dựng kế hoạch mở một cuộc tiến công quân sự lớn, chớp nhoáng, đánh đòn quyết định vào căn cứ địa Việt Bắc nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não tối cao và lực lượng chủ lực của cuộc kháng chiến, thiết lập ngụy quyền, kết thúc chiến tranh ở Việt Nam.


Ngày 15-9-1947, Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị nêu rõ: "Mọi lực lượng của ta phải được động viên vào việc chống mưu mô "dùng người Việt đánh người Việt" của thực dân Pháp và sửa soạn phá những cuộc tấn công của địch "đánh xuyên mũi dùi, đánh vòng thật rộng, nhảy dù đổ bộ sau lưng ta”. Các địa phương cần tổ chức các "binh đoàn dã chiến", các đội trừ gian diệt tề, các khu vực chiến đấu liên hoàn.


Ngày 23-9-1947, Khu ủy Khu 1 chỉ thị cho Bí thư Tỉnh ủy Cao Bằng gấp rút chuẩn bị mọi mặt về quân sự, chính trị, đề phòng khả năng khi giặc Pháp tấn công lên Việt Bắc thì bọn thổ phỉ sẽ quấy rối miền biên giới. Khi có chiến sự xảy ra, sự giao thông liên lạc giữa Khu và Cao Bằng sẽ rất khó khăn. Cao Bằng sẽ phải đối phó với nhiều vấn đề phức tạp như: thổ phỉ, quân Trung Hoa dân quốc,... Thực hiện chỉ thị của Khu ủy, công tác chỉ đạo kháng chiến toàn dân, toàn diện của Đảng bộ và chính quyền các cấp trong tỉnh được tiến hành rất khẩn trương. Ban Chấp hành Đảng bộ Cao Bằng họp phiên mở rộng triển khai công tác chuẩn bị cho kháng chiến, xác định nhiều vấn đề, trong đó trọng tâm tập trung vào: củng cố lực lượng vũ trang, xây dựng kế hoạch phòng thủ, triệt đế thực hiện kế hoạch tiêu thổ kháng chiến, tập trung phá hoại các tuyến giao thông - đường số 3, số 4, xây dựng các khu căn cứ của tỉnh và cơ sở... Tỉnh ủy và Ủy ban kháng chiến của tỉnh ra lời kêu gọi: "Giữa lúc Tổ quốc đang lâm nguy, bổn phận của mỗi người công dân là phải nỗ lực làm việc, tăng gia sản xuất để góp phần xương máu vào cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược".


Thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng, Tỉnh ủy và Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh lãnh đạo, chỉ đạo các địa phương đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích, thành lập các đội phá hoại hoạt động dọc các trục đường chính để phá cầu cống, kho tàng, phương tiệu, kiên quyết không cho địch lợi dụng. Thực hiện lệnh tiêu thổ kháng chiến, quân và dân Cao Bằng đã phá 124 nhà tầng và các đồn, bốt trước đây của địch. Nhân dân thị xã và một số thị trấn nằm trên các trục đường giao thông đã tổ chức cho dân sơ tán vào An toàn khu. Đảng bộ Cao Bằng đã thành lập Đội giao thông liên lạc đặc biệt để có thể giữ liên lạc thông suốt với Khu ủy khi có chiến sự. Xưởng quân giới Lê Tổ được tổ chức di dời ra khỏi thị xã Cao Bằng, lên đóng ở khu vực Lam Sơn (huyện Hoà An) để tiếp tục sản xuất vũ khí, lựu đạn trang bị cho bộ đội. Các huyện Trùng Khánh, Quảng Hoà, Nguyên Bình... có lò rèn thủ công đã tự chế tạo được vũ khí thô sơ, sửa chữa vũ khí hỏng hóc bổ sung cho lực lượng vũ trang. Tỉnh đội bộ dân quân cùng với các huyện đội bộ, xã đội bộ mới được thành lập (15-4-1947), khẩn trương kiện toàn về biên chế, tổ chức và chỉ đạo các địa phương củng cố lực lượng dân quân tự vệ để bảo vệ làng xã khi chiến tranh xảy ra. Toàn tỉnh lúc này có khoảng 8.000 dân quân du kích. Trong đó, huyện Trùng Khánh là huyện đi đầu về xây dựng lực lượng du kích, có 9 xã thành lập được các trung đội, đại đội du kích; xã nhiều nhất có 177 người tham gia, xã ít nhất cũng có 75 người. Trung đoàn 74 (trước 11-1947 là Trung đoàn 24) - bộ đội chủ lực của tỉnh, được bổ sung thêm 900 tân binh, bố trí án ngữ trên trục đường số 3 và đường số 4, chiếm lĩnh các điểm cao chuẩn bị đánh địch từ xa. Công tác huấn luyện quân sự cho bộ đội và dân quân du kích được tổ chức liên tục. Ngay trong những tháng đầu năm 1947, tỉnh đã đào tạo được 820 cán bộ chỉ huy các cấp. Tại thị xã Cao Bằng và một số nơi xung yếu, bộ đội chủ lực của Trung đoàn 74 đã bố trí, triển khai xây dựng trận địa bắn máy bay, đề phòng địch đổ bộ đường không. Ngoài ra, bộ đội và nhân dân còn tổ chức cắm chông ở những nơi dự kiến địch có thể nhảy dù. Cả tỉnh Cao Bằng sục sôi không khí chuẩn bị kháng chiến, sẵn sàng đánh trả quân thù khi chúng tấn công lên Cao Bằng. Có thể nói, ngay từ những ngày đầu năm 1947, quân và dân Cao Bằng đã chủ động làm công tác chuẩn bị kháng chiến, sẵn sàng đánh địch bảo vệ quê hương.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 08 Tháng Tư, 2021, 01:16:06 pm

Ngày 7-10-1947, thực dân Pháp huy động 12.000 quân tinh nhuệ mở cuộc tiến công quy mô lớn lên Việt Bắc với mục đích: chụp bắt cơ quan đầu não kháng chiến; tiêu diệt lực lượng chủ lực; đánh phá kho tàng, các cơ sở kinh tế, quốc phòng, làm tê liệt tiềm lực chiến tranh của ta... Để thực hiện kế hoạch Lê-a, tướng Xa-lăng tổ chức hai gọng kìm lớn, đồng thời sử dụng quân dù như mũi thứ 3 hòng khép chặt vòng vây Việt Bắc. Gọng kìm phía Đông do trung tá Bô-phơ-rê chỉ huy hai trung đoàn, có 300 xe cơ giới, xuất phát từ Đình Lập, Lạng Sơn, theo đường số 4 hướng lên Cao Bằng rồi theo đường số 3 vòng xuống Bắc Kạn bao vây phía Đông, Đông Bắc Căn cứ địa Việt Bắc. Cao Bằng nằm ở vị trí như một mắt xích quan trọng trong vòng khép kín của Chiến khu 1 và đã trở thành mục tiêu nhất định phải tiến công và chiếm đóng của địch.


Ngay sau khi cánh quân của Bô-phơ-rê xuất phát, Thường vụ Tỉnh ủy Cao Bằng nhận được thông báo của Khu ủy Khu 1 về cuộc tấn công của địch trên đường số 3 và đường số 4. Thường vụ Tỉnh ủy triệu tập cuộc họp bất thường và nhận định: sớm muộn bằng gọng kìm khép kín, địch sẽ tấn công Cao Bằng. Vì vậy, cần nhanh chóng triển khai các lực lượng phòng thủ trên hai hướng đường số 3 và đường số 4, đồng thời tăng cường trận địa bắn máy bay ở khu vực thị xã Cao Bằng.


Cánh quân của Bô-phơ-rê được trang bị hiện đại, có nhiều xe cơ giới và máy bay yểm trợ, dự kiến sẽ nhanh chóng chiếm giữ, làm chủ đường số 4. Nhưng ngay từ khi xuất phát, chúng đã bị bộ đội và dân quân du kích Lạng Sơn liên tục đánh chặn. Để nhanh chóng làm chủ đường số 4, tướng Xa-lăng, huy động 300 quân dù nhảy xuống đánh chiếm thị xã Cao Bằng và đánh chiếm Đông Khê để yểm trợ và đón cánh quân của Bô-phơ-rê. Khoảng 10 giờ sáng ngày 9-10-1947, 300 quân dù của Pháp đổ bộ xuống thị xã Cao Bằng, chiếm giữ một số vị trí xung yếu phía đông nam thị xã. Hàng chục máy bay ném bom gầm rú trên bầu trời thị xã và các xã lân cận. Cuộc chiến đấu đánh quân nhảy dù và đánh trả máy bay diễn ra vô cùng ác liệt. Bộ đội Trung đoàn 74 và dân quân tự vệ thị xã chủ động đánh trả máy bay địch bằng cả súng bộ binh. Khẩu đội súng máy phòng không 12,7mm của Trung đoàn 74, bố trí trên đồi Thiên Văn, đã bắn rơi chiếc máy bay JU.52, tiêu diệt 12 sĩ quan tham mưu trong đó có tên Lăm-be, phó tham mưu trưởng quân đội viễn chinh Pháp ở Bắc Đông Dương. Chiếc máy bay JU.52 đâm thẳng xuống khu đất cạnh làng Pác Cáy (nay thuộc xã Hoà Tung, thị xã Cao Bằng). Ta thu được toàn bộ kế hoạch tấn công Việt Bắc của thực dân Pháp. Đồng chí Nguyễn Doanh Lộc - chiến sĩ thông tin truyền đạt của Trung đoàn 74 đã chạy bộ liên tục 4 ngày 3 đêm từ Cao Bằng về Yên Thông (Định Hoá, Thái Nguyên) giao bản kế hoạch của địch cho Bộ Tổng chỉ huy. Nhờ đó, Bộ Tổng chỉ huy có thêm cơ sở vững chắc hoàn chỉnh phương án đánh địch, chỉ huy điều hành cuộc chiến đấu.


Khi quân Pháp nhảy dù xuống Nà Lắc (phía tây thị xã), mặc dù ở đây ta đã cắm nhiều chông tre, nhưng lực lượng phòng không của ta không có bộ binh bảo vệ, lại bị quân Pháp nhảy dù bao vây, nên đã phải phá vây rút quân ra ngoài. Địch chiếm được đồi Thiên Văn rồi tiến vào thị xã. Tiểu đội cảnh vệ của cơ quan Tỉnh ủy đã chiến đấu anh dũng. Quân Pháp ỷ vào đông quân, được trang bị vũ khí hiện đại, dự kiến nhanh chóng chiếm được Cao Bằng chỉ trong vài ngày. Nhưng ngay khi mới đặt chân xuống đất Cao Bằng, chúng đã vấp ngay sự chống trả quyết liệt của dân quân du kích và bộ đội địa phương ta. Ngay trong đêm 9-10-1947, du kích xã Đề Thám (Hoà An) đã bí mật luồn vào đồi Nà Lắc cướp một số vũ khí mà chúng thả dù xuống chưa kịp thu nhặt. Sáng hôm sau, đội lại phục kích quân địch ra thu dù, diệt 11 tên, thu 1 trung liên, 2 tiểu liên. Ngày 10-10-1947, địch chiếm được thị xã và tổ chức càn quét, lùng bắt cơ quan Đảng, chính quyền và lực lượng chủ lực của ta nhưng không thấy. Chúng cho quân tiến đánh vùng Lam Sơn thì bị lọt vào trận địa phục kích của tự vệ Xưởng quân giới Lê Tổ. Lợi dụng sườn núi cao, tự vệ của xưởng đã bắn vào đội hình quân địch, làm chúng chạy tán loạn, một số tên trúng đạn, vướng mìn bỏ mạng. Sau hai ngày tiên đánh, địch vẫn không vào nổi khu vực sản xuất, bị tiêu hao nhiều, buộc phải rút lui. Thực hiện chiến thuật "vết dầu loang", thực dân Pháp chia thành nhiều mũi, nhiều hướng tiến đánh ra vùng xung quanh thị xã và các huyện trong tỉnh. Kế hoạch của chúng thực hiện theo hai bước: bước một dùng không quân và bộ binh ồ ạt đánh chiếm các vị trí quan trọng dọc đường số 3 và đường số 4; bước hai, tập trung củng cố một số vị trí chính ở Cao Bằng, dựng lên chính quyền bù nhìn ở địa phương. Ngày 11-10, cánh quân Bô-phơ-rê từ Thất Khê lên, bị lực lượng của Tiểu đoàn 73 (tiền thân của Tiểu đoàn 251) của Trung đoàn 74 phục kích đánh chặn ở đèo Bông Lau, diệt nhiều tên, phá hủy 2 xe quân sự. Ngày 12-10, chúng cho quân đánh chiếm xã Đề Thám (Hoà An), đồng thời cho quân nhảy dù xuống Đông Khê (Thạch An) để đón cánh quân của Bô-phơ-rê. Sau khi đón được cánh quân từ Thất Khê lên, chúng tiến về Cao Bằng. Dọc đường, chúng bị các lực lượng dân quân du kích và Đại đội địa phương 670 của huyện Thạch An phục kích, đánh chặn ở Lũng Mười, Khuổi Ngọa, Nà Vài, Bản Lùng, diệt thêm nhiều tên địch. Ngày 14-10, quân Pháp từ thị xã tiến quân xuống Nguyên Bình, Ngân Sơn để đón cánh quân từ Bắc Kạn lên, bị bộ đội và du kích ta phục kích đánh ở Nà Bao, diệt một số tên. Ngày 20-10, bộ đội và du kích ta phục kích đánh địch trên đường xuống Bắc Kạn, diệt 30 tên. Ngày 21-10, chúng tiến công vào Mã Phục, Trà Lĩnh, bị dân quân liên tục chặn đánh. Ngày 27-10, chúng từ Mã Phục đánh xuống Quảng Uyên, rồi nống sang Trùng Khánh, bị đội lão du kích Trùng Khánh mang súng "Sàng là" tự tạo chặn đánh ở đèo Keng Phắc, diệt 6 tên, chúng hoảng sợ trước loại súng lạ, co về Quảng Uyên. Được tin chiến công của các lão du kích, Bác Hồ đã viết mấy vần thơ ca ngợi gương chiến đấu anh dũng của các cụ lão du kích:

Tuổi cao chí khí càng cao
Múa gươm giết giặc ào ào gió thu
Sẵn sàng tiêu diệt quân thù
Tiếng thơm Việt Bắc ngàn thu lẫy lừng.



Như vậy, ngay từ những ngày đầu, quân và dân Cao Bằng đã bình tĩnh, dũng cảm, kiên cường, chủ động đánh địch bằng mọi khả năng, thu được những kết quả đáng kể. Tuy nhiên, lực lượng ta còn mỏng yếu, vũ khí trang bị lại thô sơ, trình độ hiệp đồng tác chiến giữa bộ đội địa phương và dân quân du kích còn hạn chế, nên hiệu quả chiến đấu chưa cao. Trung đoàn 74, độc lập chiến đấu, không phối hợp được với dân quân du kích, nên kết quả chiến đấu chưa cao, vừa đánh vừa lui quân để bảo toàn lực lượng.


Tiêu đề: Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947-Vai trò căn cứ địa và bước ngoặt
Gửi bởi: quansuvn trong 08 Tháng Tư, 2021, 01:16:48 pm
Ngày 15-10, Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị "Phải phá tan cuộc tiến công mùa Đông của địch", kiên quyết chặt đứt đường số 4 - yết hầu quan trọng nối liền Cao Bằng, Lạng Sơn và Móng Cái của địch. Với phương châm đánh từ nhỏ đến lớn, từ dễ đến khó, tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, các đại đội độc lập được bố trí về các địa phương, quấy rối, tiêu diệt từng bộ phận nhỏ của địch. Tiểu đoàn tập trung, phối hợp với các đại đội độc lập và dân quân du kích tiêu diệt địch ở những vị trí lẻ tẻ hay trong khi chúng vận chuyển trên đường giao thông.


Ngày 27-10-1947, Mặt trận Đường số 4 được thành lập, có nhiệm vụ: cắt giao thông tiếp tế và bẻ gãy gọng kìm phía Đông của chúng. Với phương châm sử dụng các đại đội độc lập và tiểu đoàn tập trung, Trung đoàn 74 Cao Bằng được điều chỉnh bố trí lại đội hình chiến đấu. Tiểu đoàn 73 (tiền thân của Trung đoàn 251) phụ trách đoạn đường Cao Bằng - Đông Khê, còn lại phân thành các đại đội độc lập bố trí về các huyện Nguyên Bình, Hà Quảng, Hoà An, Quảng Uyên, Phục Hoà.


Tỉnh ủy Cao Bằng tăng cường công tác chỉ đạo phong trào thi đua giết giặc và phá hoại các đoạn đường giao thông; chỉ đạo các địa phương gặt nhanh lúa mùa, sơ tán tài sản, dự trữ lương thực phục vụ kháng chiến. Thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng, Tỉnh ủy và Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh lãnh đạo, chỉ đạo các địa phương đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích, thành lập các đội phá hoại hoạt động dọc các trục đường chính, thành lập Ủy ban mùa Đông kháng chiến, vận động nhân dân quyên góp quần áo, chăn màn tặng bộ đội ngoài mặt trận. Với khẩu hiệu "Đánh giặc Pháp để giữ nước - tiễu phỉ để giữ nhà", Tỉnh ủy đã chỉ đạo các huyện có phỉ trên địa bàn thành lập ủy ban Tiễu phỉ, chỉnh đốn các tổ chức dân quân tự vệ, bố trí canh phòng, lập làng chiến đấu, đào giao thông hào, đắp ụ tác chiến. Các đội chống chiến xa, đánh địa lôi, những đội du kích, đại đội độc lập liên tục bám địa bàn đánh địch. Du kích bí mật đột nhập, quấy rối, tiêu hao các vị trí của địch ở các thị trấn, thị xã. Các hình thức tác chiến của du kích phát triển rất phong phú và rộng khắp, làm cho địch vừa dàn quân ra nhiều nơi, vừa phải co về vị trí quan trọng để chống đổ. Với khẩu hiệu: Mỗi viên đạn một quân thù, bộ đội và dân quân thi đua chiến đấu đạt hiệu suất cao. Lực lượng du kích các địa phương hoạt động rất sôi động, chiến đấu rất mưu trí và sáng tạo, gây cho chúng nhiều tổn thất. Tiểu đội du kích nữ tập trung của tỉnh Cao Bằng đã dũng cảm chiến đấu diệt nhiều địch ở Nước Hai, ở Ma Quan, ở làng Đèn. Công nhân Xưởng Lê Tổ liên tục chặn đánh địch, diệt 60 tên, bảo vệ an toàn xưởng quân giới và nhân dân địa phương. Đội lão du kích Trùng Khánh, do một cụ già tuổi 70 chỉ huy, đã tổ chức nhiều trận đánh giặc giữ làng. Các lão du kích dù tuổi cao nhưng vẫn minh mẫn, sáng suốt, "chế tạo" ra đại bác bằng gỗ, súng "Sàng là”, súng hoả mai bằng ống nước, cung nỏ để đánh giặc. Ngay cả các em thiếu niên cũng chẳng khiếp sợ trước mũi súng giặc, hai thiếu niên ở Nước Hai đã dũng cảm đặt mìn giết chết 30 giặc trong tháng 12-1947.


Kẻ địch luôn phải cơ động trên trục đường giao thông để vận chuyển tiếp tế, đó là điều kiện thuận lợi cho lối đánh du kích của ta. Trung đoàn 74 và các đại đội địa phương luôn quán triệt và vận dụng sáng tạo phương châm đánh nhanh, rút nhanh, chú trọng bảo toàn lực lượng, cướp súng giặc để giết giặc. Đường số 4 quanh co khúc khuỷu, nhiều đoạn một bên là núi cao, một bên là vực sâu, là thế thuận lợi cho các trận phục kích. Bộ đội ta đã triệt để lợi dụng địa thế thiên hiểm, tổ chức những trận phục kích rất hiệu quả, diệt nhiều địch, thu nhiều chiến lợi phẩm. Trận phục kích của Trung đội 1 Đại đội 670 huyện Thạch An tại Bó Mò (cách Đông Khê 4 km), ngày 20-11-1947, đã phá hủy 2 xe quân sự, tiêu diệt 7 tên lính, làm 6 tên bị thương, thu 1 súng trường, 1 súng máy, 6 băng đạn. Trận phục kích Slằng Kheo, ngày 3-12-1947, của Đại đội 670 phối hợp với trung đội du kích tập trung huyện Thạch An, đã sử dụng súng thần cô