Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: quansuvn trong 31 Tháng Mười Hai, 2020, 11:12:19 am



Tiêu đề: Bình Minh Ba Tơ
Gửi bởi: quansuvn trong 31 Tháng Mười Hai, 2020, 11:12:19 am
- Tên sách: Bình Minh Ba Tơ
- Tác giả: Trung tướng Nguyễn Đôn
- Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
- Năm xuất bản: 1995
- Người số hóa: giangtvx, quansuvn


VÀI LỜI TÂM SỰ


Trong ngày kỷ niệm 40 năm khởi nghĩa Ba Tơ (11-3-1945 - 11-3-1985) các đồng chí tham gia cuộc khởi nghĩa và đông đảo anh em trong đội du kích Cứu quốc Ba Tơ được Tỉnh ủy và ủy ban nhân dân tỉnh mời về dự lễ khánh thành Tượng đài kỷ niệm khởi nghĩa Ba Tơ và nhà bảo tàng lịch sử.    


Trong kỳ họp mặt ấy, anh em ngỏ ý cần có một tập hồi ký viết rõ những sự kiên và quá trình xây dựng căn cứ, xây dựng lực lượng, từ 17 chiến sĩ cách mạng thành hai đại đội (Phan Đinh Phùng và Hoàng Hoa Thám) tham gia Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, rồi chuyển thành giải phóng quân tham chiến trên các chiến trường trong những tháng năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp.


Đáp ứng lòng mong muốn ấy, tôi lục lại ký ức của mình, lược biên và nhờ ghi chép lại tập hồi ký này để góp tư liệu phục vụ kỷ niệm lần thứ 50 khởi nghĩa Ba Tơ. Chắc không tránh khói sai sót, vì thời gian trôi qua đã quá lâu. Mong các đồng chí thông cảm.


                                                                      Ngày 11 tháng 3 năm 1994
                                                                                NGUYỄN ĐÔN


Tiêu đề: Bình Minh Ba Tơ
Gửi bởi: quansuvn trong 31 Tháng Mười Hai, 2020, 11:13:56 am
ẤN TƯỢNG TUỔI THƠ


Tôi bước vào con đường hoạt động cách mạng như một tất yếu phải xảy ra do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan.


Làng Vĩnh Lộc, nơi tôi sinh ra, là một vùng đất khô cằn, hai cánh đồng hẹp chạy ngoằn ngoèo giữa những đồi núi. Người dân quê tôi đời đời sinh sống trên mảnh ruộng bạc màu, mỗi năm thu hai vụ lúa - một vụ cấy, một vụ gieo; ngoài ra còn trồng mía ép mật nấu đường, trồng dâu nuôi tằm dệt vải, chằm nón đem đi bán ở chợ gần chợ xa. Vất vả là vậy mà cái đói nghèo vẫn đuổi sát sau lưng, như một căn bệnh kinh niên, từ đời này sang đời khác.


Vào những năm 1927 - 1928 phong trào học quốc ngữ lan đến làng tôi. Ban ngũ hương mấy lần hội họp cơm no rượu say mà chưa bàn nổi việc xây dựng một ngôi trường; cuối cùng mới bắt dân đi "xâu" công ích vào rừng đốn cây, chặt tre, cắt tranh mang về dựng một ngôi trường ba gian mái tranh vách đất, gần nhà họp Ban ngũ hương trên ngã tư Tổng Lộ nhìn ra cái ao làng, nơi có cây trâm cổ thụ nghiêng mình trên mặt nước ao tù.


Ngay từ những ngày dầu cắp sách đến trường, tôi gặp được người thầy giáo đầy tâm huyết với quê hương đất nước, luôn động viên lớp học trò nhỏ của mình cố gắng học tập để trở nên người hữu ích. Khi đã đọc thông viết thạo tôi say sưa với những trang sử ký trong sách giáo khoa. Tôi hứng thú khi đọc những trang sách có hình vẽ Hai Bà Trưng ngồi trên mình voi thúc quân đuổi theo Tô Định, Ngô Quyền đứng trên chiến thuyền chỉ huy thuỷ binh tiêu diệt quân Tống trên Bạch Đằng giang, Lý Thường Kiệt cắp giáo rạp người trên mình ngựa đuổi theo kẻ thù đến tận châu Ung, châu Liêm, Trần Quốc Tuấn tuổi già vẫn cầm quân ra trận, Lê Lợi đứng ra chiêu tập anh hùng hào kiệt dựng cờ khởi nghĩa ở đất Lam Sơn đánh đuổi quân Minh.


Trong giờ ra chơi thầy thường thì thầm kể cho chúng tôi nghe cuộc biểu tình do những người cộng sản lãnh đạo chiếm huyện đường Đức Phổ đêm mùng 8 tháng 10 năm 1930. Những người biểu tình đã đốt toàn bộ giấy tờ tài liệu, xoá sạch dấu vết cai trị của chế độ thực dân và vua quan Nam triều bán nước. Tôi so sánh những tấm gương các vị anh hùng dân tộc có công đuổi giặc xâm lăng, giành độc lập, giữ yên bờ cõi với những người cộng sản và nghi ngờ lời buộc tội của bọn quan lại đương thời coi người cộng sản là bọn cướp của đốt nhà, "cộng vợ, cộng chồng" làm điều phi luân bại lý...    


Cha tôi là một nông dân tham gia chống Pháp và vua quan Nam triều phong trào khất thuế do các nhà nho yêu nước quê tôi như các cụ Tú Tân, cử Đình... đề xướng. Phong trào thất bại, kẻ bị giam cầm, người bị tù đày biệt xứ, kẻ bị chém đầu. Nhưng tiếng thét chống ngoại xâm của họ vang vọng mãi đến thế hệ chúng tôi và hình ảnh cha như ngọn đèn phía trước gọi tôi bước theo trong đêm tối mịt mùng.


Anh tôi là một người tham gia "hội kín" mà sau này tôi biết là chi bộ cộng sản đầu tiên ở quê nhà. Tuổi nhỏ tôi thường được anh sai ra ngõ chơi để gác cho bạn bè anh đóng vai đám trai làng khăn xếp áo the rong chơi đến nhà tôi hội họp. Tuổi nhỏ tôi cũng được nhìn thấy lần đầu tiên lá cơ đỏ búa liềm treo trên ngọn cây trâm cổ thụ ở ao làng. Đó là một sáng tháng mười, trời se lạnh nhưng không mưa. Trên đường đến trường, từ xa bọn học trò chúng tôi đã nhìn thấy người đứng rất đông ở ngã tư Tổng Lộ chỉ tay về phía cây trâm ở ao làng. Bọn tôi chạy lại và nhìn thấy lá cờ đỏ búa liềm trên ngọn cây trâm nhẹ bay trong gió sớm. Một lúc sau lý trưởng đến quát nạt. Ông vào điếm canh định đánh mõ họp tráng đinh thì phát hiện trong mõ có truyền đơn. Ông gọi tôi lại bảo đọc to lên. Tôi cầm tờ truyền đơn in đông sương, màu chữ tím, đọc dõng dạc từng câu. Tháng năm trôi qua, hình ảnh lá cờ đỏ búa liềm vẫn còn in đậm trong trí ức của tôi và tôi nhớ trong truyền đơn có đoạn kêu gọi đánh đổ thực dân Pháp và vua quan Nam triều phong kiến bán nước, đòi người cày có ruộng...


Lá cờ đỏ búa liềm ngạo nghễ trên ngọn cây trâm già cho mãi đến trưa mới hạ xuống để lý trưởng đem lên trình quan huyện.


Sau những ngày ấy không khí trong làng sôi động hẳn lên. Một sáng cuối đông năm ấy, tiết trời còn lạnh, tôi co ro trong tấm áo tơi đến trường thì thấy anh Lâm Quang Mậu - người bạn thường lui tới với anh tôi - tay cầm chiếc cần câu dài đang thì thầm chuyện trờ với vài ba người khác trước cổng trường. Trông gương mặt, tôi đoán họ đang bàn điều gì hệ trọng. Tôi lặng lẽ bước qua đường vào lớp. Một lúc sau, khi những tia nắng đầu ngày bừng lên xua tan giá buốt cuối mùa đông, từng đoàn người từ các làng Vạn Lộc, Châu Nhai kéo đến, trên cánh tay trái có gim một băng đen. Bấy giờ anh Lâm Quang Mậu mới luồn lá cờ đỏ búa liềm vào chiếc cần câu cầm đi đầu đoàn biểu tình. Đoàn người kéo đi về hướng huyện lỵ, hô vang những khẩu hiệu đòi tổ chức truy điệu những người chết và bồi thường cho những người bị thương trong cuộc biểu tình ở Tổng Châu những ngày trước đó. Không khí đấu tranh tràn ngập quê tôi, mọi người chờ đợi thắng lợi. Nhưng buổi chiều một tin không vui báo về. Cuộc biểu tình kéo lên huyện lỵ làm bọn nha lại khiếp sợ, tên tri huyện chấp nhận yêu cầu để chuyển lên cấp trên. Nhưng trên đường về, khi đoàn dừng lại mít tinh ở gò Tạng (Hà Nhai) thì bọn lê dương từ tỉnh kéo lên xả súng máy bắn vào cuộc mít tinh. Một số người chết, nhiều người bị thương. Mẹ và bà tôi lo lắng, đứng ngồi không yên chẳng biết số phận anh tôi thế nào. Mẹ bảo tôi đi dò tìm tin tức. Tối hôm ấy anh tôi về, áo quần ướt sũng. Bà tôi mùng lắm, ôm cháu sờ khắp người xem có bị thương đâu không. Giọng run run, bà bảo:

- Ngày xưa cha mày cũng theo các cụ chống Tây, khất thuế. Cứ mỗi lần nghe súng Tây nổ, bà lại lo, nhưng biết khuyên các cháu thế nào bây giờ? Con nối nghiệp cha là nhà có phúc.

Anh tôi kể:
- Khi nghe tiếng súng, chỉ huy cuộc mít tinh ra lệnh giải tán. Đạn nó bắn chiu chíu trên đầu, cháu nhảy xuống đám ruộng cấm (ruộng giữ nước để nuôi cá sau vụ gặt) nằm tránh. Đợi khi im tiếng súng, bọn nó rút hết cháu mới lên bờ chạy về.

Giọng anh tôi rất vui, như người vừa dự vào một trò chơi nguy hiểm, khiến không khí gia đình cũng vui lây.
- Bây giờ rồi sao hả cháu? - Bà tôi hỏi.
- Đấu tranh nữa chứ bà, đấu tranh đến bao giờ mình giành lại được đất nước.


Tiêu đề: Bình Minh Ba Tơ
Gửi bởi: quansuvn trong 31 Tháng Mười Hai, 2020, 11:16:06 am
Mùa xuân năm sau, làng quê tôi thay đổi rất nhiều. Dưới sự lãnh đạo của Nông hội đỏ, bà con nông dân nghèo đòi tăng tiền công cấy, công cày, công gặt, công chặt mía nấu đường... Những tổ đổi công, vong công tương trợ làm ăn, giúp đỡ nhau qua những ngày giáp hạt. Đêm đêm các lớp học quốc ngữ vang lên trong thôn xóm. Đội Tự vệ đỏ thành lập do anh Mười Liết (một lính chiến của Pháp trong thế chiến 1914 -1918 mãn hạn trở về làng) làm đội trưởng. Đêm đêm theo hiệu lệnh của người đội trưởng, các đội viên bước đi rầm rập. Những buổi tập thường diễn ra ở sân nhà tôi hay sân đình, sân miếu. Hết tập đội ngũ đến tập bắn súng, tập lăn lê bò toài. Ngày làm lụng vất vả để kiếm miếng ăn, tối tham gia luyện tập. Nhưng không một ai phàn nàn mà còn tỏ ra hăng hái. Đội Tự vệ đỏ còn làm các việc tuần tra canh gác ban đêm. Từ ấy xóm làng yên vui, ngày đêm của ngõ mở toang. Cây trái ngoài đồng, trong vườn, bò, heo trong chuồng đêm đêm đã có những đội viên tự vệ đỏ ghé mắt nhìn vào nên kẻ gian không dám ngang nhiên trộm cắp. Thật là một thời kỳ "Nghiêu - Thuấn" ở quê tôi. Không khí ấy nung nấu trong tôi lòng khát khao một cuộc sống tự do, trong một đất nước độc lập, yên bình. Bọn hương lý trong làng thấy sức mạnh của đội Tự vệ đỏ nên cũng kiêng nê. Khi xét xử những xích mích dù to, dù nhỏ trong làng đều có ý kiến người tổ chức và chỉ huy đội tự vệ. Người dân đã bắt đầu ý thức được sức mạnh của mình nên không còn cảnh khoanh tay cúi đầu cung kính trước sự quát nạt của bọn hào lý trong làng. Một mùa xuân trôi qua cùng với vẻ đẹp thiên nhiên là vẻ đẹp bừng bừng khí thế cách mạng trên khuôn mặt của người dân quê tôi.


Đêm đêm từ những cuộc mít tinh trong từng thôn xóm để nghe chỉ thị của cấp trên vang lên tiếng trống, tiếng tù và và tiếng hô khẩu hiệu:

     Ủng hộ Xô - viết Nghệ Tĩnh!
   Đả đảo thực dân phong kiến!
   Đông Dương hoàn toàn độc lập!



Trong khi người dân quê tôi đắm mình trong không khí cách mạng tràn đầy hứng khởi thì một tin sét đánh từ tỉnh lỵ bay về. Giữa đêm 23 tháng 4 năm 1931, ở phía nam bờ sông Trà Khúc thực dân Pháp và vua quan Nam triều đã chém ông Nguyễn Nghiêm - một người cộng sản, bí thư đầu tiên của tỉnh Đảng bộ Quảng Ngãi. Nghe tin có người bật lên tiếng khóc. Cái chết của người chiến sĩ cách mạng Nguyễn Nghiêm như một lời cảnh cáo đối với bọn thực dân Pháp cướp nước và vua quan Nam triều bán nước, nung nấu lòng căm thù của quần chúng nhân dân. Nhiều cuộc hội họp, mít tinh lớn nhỏ bùng lên với tiếng thét uất nghẹn.

   "Đả đảo đế quốc khủng bố!
   Đả đảo vua quan Nam triều bán nước!
   Đả đảo cường hào gian ác!"



Cờ đỏ búa liềm ngạo nghễ tung bay trên đỉnh núi Đá Dê, núi Đá Chồng, núi Tron, núi Nón... trong suốt một tuần trăng sau cái chết của người chiến sĩ cách mạng Nguyễn Nghiêm.


Đầu tháng 5 năm 1931, một hôm đang ngồi trong lớp học nhìn ra tôi thấy tùng đoàn người từ phía tây kéo xuống, phía bắc kéo vào, hai bên có tự vệ đi kèm giữ trật tự. Thầy giáo cho lớp nghỉ học ra về. Tôi ôm sách vở chạy vụt ra đường theo đoàn biểu tình đến gò mả phía nam xóm trường thì thấy người các nơi kéo về đứng chật cái gò rộng. Cờ đỏ búa liềm bay phấp phới trên những băng vải trắng có dòng chữ màu đen "Chống khủng bố". Mọi người đang chăm chú đúng nghe diễn thuyết. Sau đó mọi người trật tự đi theo lá cờ tổng chỉ huy do anh Bảy Xất - một người anh họ của tôi cầm đi đầu. Khi đoàn biểu tình bước vào trận địa làng Phước Lộc thì được tin báo bọn lính Tây từ tỉnh kéo lên chặn ở cầu sắt Phước Lộc. Người chỉ huy ra lệnh phất cờ dừng lại để bàn cách đối phó. Nhưng phía sau tưởng là gặp địch nên tản sang hai bên rồi tự động bỏ chạy về các ngả.


Cuộc biểu tình tan vỡ hoàn toàn, về đến nhà mọi người lo bọn lính lê dương kéo đến triệt phá làng nên lập tức đào hầm cất giấu lúa gạo, khoai sắn, đồ đạc. Một không khí hoang mang lo sợ bao trùm khắp xóm làng. Hai ba ngày trôi qua không thấy bọn lính kéo đến. Nỗi lo chưa kịp tan hết thì được tin cùng ngày hôm ấy, đoàn biểu tình ở phía bắc Sơn Tịnh kéo đến cầu Bồ Đề (nay là cầu Kênh), cách huyện lỵ chừng 1 cây số thì bọn lính lê dương chặn lại, xả súng bắn chết mười bốn người, nhiều người bị thương, bị bắt.


Từ đây lại bắt đầu một thời kỳ bọn thực dân câu kết với phong kiến khủng bố phong trào cách mạng tỉnh tôi. Bọn lính lê dương kéo về phía tây Sơn Tịnh đóng ở An Đình, Châu Nhai... Ở mỗi tổng chúng đặt thêm chức bang tá với một đội lính bản xứ người Bắc; trong từng làng lập hội đồng kỳ hào, hội đồng tộc biểu (để quản lý người trong họ) và một đội dân đoàn để đàn áp khủng bố! Ngày đêm chúng lùng sục ráo riết những người cộng sản. Nhiều cán bộ hy sinh trong các cuộc mít tinh, biểu tình, hoặc bị bắt như các ông Tôn Diêm, Phan Thái Ất1 (Phan Thái Ất người Nghệ An vào hoạt động ở Quảng Ngãi), anh Xán, chị Trinh... Một không khí buồn lo lan tràn trong làng quê.


Một ngày đầu tháng tám năm 1931 nắng nóng, không khí oi nồng. Những đám mây đen kịt ở chân trời báo hiệu những cơn giông săp ập đến. Tên bang tá họ Tôn cùng với đội lính người Bắc từ Phước Lộc kéo về làng tôi. Bọn chúng gọi đám hương lý kỳ hào đến ra lệnh đưa lính về từng nhà tình nghi là cộng sản để bắt. Các anh Sáu Hứa, Bốn Vy, Bảy Xuất và anh tôi bị chúng lôi ra ngã tư Tổng Lộ tra tấn. Trước sau bọn lính chỉ hỏi có một câu "cộng sản ở đâu? khai ra". Đến chiều bọn chúng trói ngoặt cánh tay ra sau lưng, xâu thành một hàng dài bắt đi. Những ngày sau đó các cán bộ cốt cán trung kiên của Đảng ở nhiều cấp lần luợt sa lưới. Quần chúng hoang mang, bọn cường hào được dịp ngóc đầu dậy ức hiếp dân nghèo. Vài người trước có tham gia Tự vệ đỏ, nay lo sợ, chạy trốn vào nhà thờ, xưng tội với cha cố mong nhờ sự che chở. Từ hôm anh tôi bị bắt, bà và mẹ tôi rất lo lắng buồn phiền.

Bà tôi bảo:
- Bà chỉ sợ nó không chịu nổi tra tấn tù đày mà khai ra điều không phải thì có lỗi với cô bác và cha mày.

Trong hoàn cảnh ấy tôi phải tỏ ra là người cứng cỏi để can ngăn, an ủi bà và mẹ.
Tôi nói:
- Anh cháu dặn "trong bất cứ hoàn cảnh nào nhà ta cũng không lạy lục van xin ai cả".

Bà tôi trầm ngâm:
- Vậy thì bà yên lòng.


Trong những ngày nặng nề ấy lính lê dương, đi kèm có viên thông ngôn, về các đình làng kéo lên một lá cờ xanh rồi họp dân làng bắt ký giấy quy thuận nhà nước bảo hộ, bắt hội đồng hào mục, tộc biểu cam đoan không theo, không che giấu cộng sản và mỗi làng phải nộp về đồn Ba Gia hàng chục gánh heo, gà, vịt.


Mùa hè năm 1932 chúng tôi theo thầy giáo lên huyện dự kỳ thi sơ học yếu lược. Chúng tôi đi qua Gò Trạng, nơi bọn lê dương xả súng bắn vào đoàn biểu tình ngày 19 tháng 1 năm 1931, qua cầu Bồ Đề trên, quốc lộ số 1, nơi bọn lê dương bắn vào đoàn biểu tình khi họ ở trên cầu, trong tay không có một thứ vũ khí nào để tự vệ. Tôi hình dung ra cảnh hàng loạt người ngã xuống, quằn quại trong vũng máu trên mặt cầu hay rơi xuống lòng khe. Bất giác tôi nhớ lại lời bà tôi kể: "Họ có súng, mình tay không. Bao người tài giỏi như Cử Thụy, Tú Tân, Âm Loan, Bố Khiết... đã sắm đủ dao tu, thang dây, thang xếp để trèo vào Thành mà cũng chẳng được gì. Rốt cuộc người bị chém, kẻ bị đày, người chết trong tù, kẻ đi biệt xứ...". Đâu là phương hướng, là bến bờ trong cuộc đấu tranh chống Tây của những người yêu nước. Từ sâu kín lòng mình, tôi vô cùng kính trọng tấm gương hy sinh cao cả của những bậc anh hùng, nghĩa sĩ, những người ngã xuống để giành quyền tự do độc lập cho đất nước. Nhưng sự nghiệp của họ sẽ đi về đâu? Và rồi từ tầng sâu ý thức gợi cho tôi nhớ lại lời kêu gọi của Đảng Cộng sản trong các tài liệu mà tôi đã nhiều lần đọc cho người dân nghèo quê tôi nghe. "Mất nước phải đòi lại nước, mất tự do phải giành lại tự do", "thất bại là mẹ đẻ thành công". Tôi bỗng thấy như mình có thêm sức mạnh và quyết tâm đi theo con đường của cha anh và bao người đã đi.


Tiêu đề: Bình Minh Ba Tơ
Gửi bởi: quansuvn trong 31 Tháng Mười Hai, 2020, 11:17:52 am
XẾP BÚT NGHIÊN


Vào những năm 1932 -1935 phong trào cách mạng quê tôi lắng xuống mà sau này trong tổng kết lịch sử Đảng gọi là thời kỳ thoái trào. Thêm vào đó cuộc khủng hoảng kinh tế, nạn hạn hán ảnh hưởng rất lớn đến đời sống nhân dân, đặc biệt là dân nghèo.


Nhiều người đi tha phương cầu thực. Từ ngày anh tôi đi tù, cuộc sống gia đình ngày càng khó khăn. Tôi không có tiền lên huyện theo học trường tiểu học, đành ở nhà chuyển sang học chữ nho với các thầy đồ trong làng. Nhờ biết chữ nho mà tôi đọc được Luận Ngữ, Mạnh Tử, Đại học trung dung. Mỗi tháng tôi xin nghỉ vài hôm đi thăm anh, khi ở nhà giam huyện, lúc ở nhà lao tỉnh. Có lần bọn chúng bắt tù đi lên rừng đẵn gỗ, tôi phải lặn lội lên tận đầu nguồn sông Trà Khúc thăm anh. Những lần đi như thế thật vất vả nhưng đã mở rộng tầm nhìn và sự hiểu biết của tôi. Tôi được tận mắt thấy bọn lê dương phang báng súng vào đầu vào lưng người tù, hay cảnh những người tù bị chết trôi khi chuyển bè gỗ qua thác "Hú" chở về xuôi, cảnh những người tù mặt bủng da vàng đang lên cơn sốt, cũng phải dầm mình trong mưa gió làm công việc khổ sai. Lòng tôi đau thắt.


Có một kỷ niệm mà mãi đến bây giờ tôi vẫn không quên. Đó là lần đến thăm anh tôi bị giam ở đồn Núi Sứa vào ngày chủ nhật. Gặp lúc bọn lính dong tù ra sông Trà Khúc tắm. Suốt dọc đường, tôi cứ chạy theo để được nói chuyện với anh. Bỗng một tên quan binh Pháp đi ngược lại, gặp người lính khố xanh nó hô to "gác đê vu". Người lính đứng sững, nó dang tay tát bốp vào mặt. Máu miệng máu mũi người lính trào ra. Tên quan binh Pháp giật giật cổ áo anh lính rồi thản nhiên bỏ đi. Người cai khố xanh bước lại hỏi:

- Vì sao nó đánh anh?
- Dạ thưa thầy, tôi quên cài cúc áo cổ. - Người lính trả lời.
- Thôi cài lại rồi đi, khéo nó trở lại thì khốn. - Anh buông một tiếng thở dài, lẩm bẩm. - Rõ nhục! Rõ nhục!


Tắm xong đám tù ngồi trần phơi mình dưới nắng đợi áo quần khô. Tôi hỏi anh tôi về thái độ người cai lúc nãy. Anh tôi trả lời:

- Nhiều người đi lính cho Pháp hoặc vì bị bắt buộc, hoặc vì cơm áo nhưng trong thâm tâm họ vẫn còn tình cảm với giống nòi đồng loại. Có người được anh em tù chính tri tuyên truyền giác ngộ đã tỏ ra có cảm tình, giúp đỡ anh em lúc ốm đau. Nhưng bản thân họ chưa dám hành động. Lần đầu nghe anh tôi nói về người lính Việt Nam trong hàng ngũ lính thuộc địa Pháp đã khiến tôi thay đổi nhận thúc và thái độ trước đây với họ.


Khi chữ "Thánh hiền" trong tôi đã lưng vốn, thầy tôi bảo:
- Nghề làm thuốc cứu sống con người, giúp đồng loại đỡ đau khổ. Thầy khuyên em nên học lấy nghề làm thuốc.


Đang trong lúc chưa tìm thấy hướng đi cho cuộc đời, lại phải chứng kiến những cảnh đau lòng mà kẻ thù đổ xuống đầu dân mình, tôi nghe theo lời khuyên của thầy với ý nghĩ: "Ít ra mình cũng làm được điều có ích cho người dân nghèo".


Tôi xuống cầu Quán Cơm xin học nghề thuốc ở nhà ông Phan Đình Hiển - một người từng tham gia phong trào "Ba mươi - Ba mốt" bị tù, nay được thả về, mở hiệu bốc thuốc và chữa bệnh. Chính nơi đây tôi được tiếp xúc với nhiều chính trị phạm đã mãn hạn tù giam nhưng còn bị quản thúc ở quê, hàng tháng họ phải lên trình diện ở tổ mật thám tỉnh như các anh Phạm Viết My, Phạm Trân...


Trên đường về họ thường ghé lại ngủ ở nhà ông Phan Đình Hiển để chuyện trò, luận bàn thời cuộc. Qua đấy tôi được nghe về chuyện Hồng quân Trung Hoa, về những cuộc đấu tranh của các chính trị phạm đòi cải thiện đời sống, chống lại thái độ đối xử của giám thị với tù nhân. Có một lần cụ Trần Kỳ Phong, một nhà nho yêu nước đã từng bị thực dân Pháp lưu đày ở Côn Đảo ghé lại nhà ông Phan Đình Hiển. Sau bữa cơm chiều cụ gọi tôi lại hỏi thăm gia cảnh. Nghe tôi kể cảnh nhà túng thiếu, có người anh hoạt động cách mạng bị bắt tù, cụ trầm ngâm một lúc rồi khuyên tôi:

- Cháu phải cố gắng học tập, đọc nhiều sách báo, mở rộng kiến văn và phải lập chí tiến thủ. Có chí tiến thủ mà không có hiểu biêt thì khác chi thuyền không lái, làm sao cống hiến được nhiều cho xã hội, đất nước? Rồi cụ đọc cho tôi nghe một số bài thơ cụ sáng tác. Đến nay tôi chỉ còn nhớ vài câu.
    Cát bùn vùi lấp người thiên cổ,
   Sóng gió lần xoay cuộc đại đồng.



Một lần khác có người mang khăn gói vào xin gặp thầy Hiển. Thầy Hiển vừa bước ra, bỗng hai người ôm chầm lấy nhau thân thiết. Sau tôi mới biết đó là anh Đội Ngọc vừa ở nhà tù ra. Anh Ngọc kể lại cuộc đấu tranh đòi biệt đãi đối với tù chính trị ở nhà lao Buôn Ma Thuột và Quảng Ngãi đã giành thắng lợi. Anh còn kể bao nhiêu chuyện về phong trào đấu tranh của Mặt trận Bình dân Pháp. Với niềm lạc quan, anh Ngọc nói:

- Trước mắt ta phải lo đẩy mạnh phong trào, củng cố và phát triển tổ chức, kẻo nay mai thắng lợi đến nơi ta không lo kịp.


Tôi như bị thôi miên bởi đôi mắt sáng quắc, nụ cười cởi mở và giọng đầy lạc quan tin tưởng của anh Đội Ngọc và tự hỏi "Làm gì?" Phải làm gì bây giờ?" Chả lẽ ta chỉ bằng lòng với cuộc đời một thầy thuốc sao?"... Những câu hỏi ấy cứ bám riết lấy tôi, buộc tôi suy nghĩ và trăn trở...


Những ngày ở Quán Cơm, sau bữa cơm chiều, tôi thường đi bách bộ lên cầu Trà Khúc hóng mát. Cách cầu không xa có một người thợ cắt tóc dáng gầy, đen, có đôi mắt sâu thẳm, lầm lì, trong chiếc lều tạm bên đường. Người quanh vùng gọi anh bằng cái tên thân mật: "Anh Tư cắt tóc". Một hôm tôi đang dạo bước ra giữa cầu thì anh Tư đi theo và bắt chuyện. Qua lời tâm sự tôi biết anh là một chính trị phạm vừa được tha về còn đang bị bọn mật thám rình mò theo dõi. Anh dựng lều cắt tóc để kiếm sống. Từ hôm đó tôi thường lui tới, lúc cắt tóc, lúc nghe nói chuyện. Thì ra anh Tư tên thật là Tư Danh, huyện ủy viên Sơn Tịnh từ những năm 1930 - 1931, là bạn tù của anh tôi. Anh Tư Danh khuyên tôi đứng ra thành lập hội "Thanh niên báo chí", tìm đọc sách báo mới và tổ chức cho nhiều ngươi cùng đọc cùng nghe để họ hiểu biết thời cuộc, hiểu biết con đường đấu tranh gian khổ đòi quyền dân chủ dân sinh. Anh Tư nhận xét:


- Ông Hiển là người tốt, nhưng đã bắt đầu ngại hoạt động và có tư tưởng làm giàu. Còn ông Bạch Quang Ba cộng tác với báo Tiếng Dân do cụ Huỳnh Thúc Kháng chủ trương là tờ báo mang tư tưởng cải lương.


Nghe lời anh, tôi tổ chức một nhóm thanh niên góp tiền mua sách báo mới, trao đổi cho nhau đọc và đọc cho nhiều người nghe.   


Tháng tư năm 1936 mặt trận Bình dân Pháp giành thắng lợi lớn ở chính quốc. Chính phủ mới lên nắm quyền, nới rộng tự do ngôn luận trên các thuộc địa. Ở Đông Dương, Đảng chủ trương dùng sách báo công khai tuyên truyền, giáo dục quần chúng. Hội "Thanh niên báo chí" của chủng tôi hoạt động mạnh.


Năm 1937 một phái đoàn đại diện Chính phủ Pháp do Gô-đa, người của Đảng Xã hội dẫn đầu sang Đông Dương có đi qua Quảng Ngãi. Đảng chỉ thị cho cơ sở tổ chức quần chúng mít tinh đón tiếp, đưa yêu sách.


Ngày 1 tháng 3 năm 1937, hàng vạn quần chúng từ các huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh kéo vào, Đức Phổ, Mộ Đức, Tư Nghĩa kéo ra, Nghĩa Hành kéo xuống, đứng chật hai bên đường trong thị xã Quảng Ngãi, nơi phái đoàn đi qua, hô khẩu hiệu, đưa yêu sách. Tôi bị lôi cuốn trong không khí sôi sục cách mạng của quần chúng quê nhà, tham gia vào các cuộc mít tinh lấy chữ ký vào các bản kiến nghị gửi lên viện dân biểu Trung Kỳ. Chỉ trong một thời gian ngắn, các hội Nông dân Tương tế, Thanh niên Dân chủ phát triển mạnh ở khắp các làng xã miền tây huyện Sơn Tịnh. Được rèn luyện, trưởng thành trong phong trào quần chúng, cuối năm 1937 tôi được giới thiệu vào công tác trong hệ thống bí mật của Đảng. 


Tiêu đề: Bình Minh Ba Tơ
Gửi bởi: quansuvn trong 04 Tháng Giêng, 2021, 08:35:03 pm
MẶT TRỜI CHÂN LÝ


Mùa xuân năm 1938, tôi được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương tại chi bộ tổng Tịnh Thượng. Theo phân công của chi bộ, tôi tổ chức, xây dựng phong trào quần chúng, thành lập chi bộ Đảng ở các làng thuộc hai tổng Tịnh Thượng, Tịnh Châu. Để che mắt bọn mật thám, tạo điều kiện tiếp xúc với quần chúng, tôi đóng vai người buôn đường. Tay cầm ô, mình mặc áo dài the, chân mang đôi guốc mộc, tôi đi khắp thôn xóm vận động thành lập các chi hội - Thanh niên Dân chủ.


Cuối năm 1938 ở các làng Trà Bình, Châu Nhai, Xuân Hoà, Phước Lộc đã có chi bộ Đảng, và một số đảng viên dự bị hoạt động theo nguyên tắc đơn tuyến.


Mùa xuân năm 1939, cấp trên giới thiệu về chi bộ chúng tôi một đồng chí người Nghệ An thoát ly vào hoạt động bí mật ở quê tôi. Anh giúp chúng tôi phương pháp vận động quần chúng xây dựng phong trào, hướng dẫn học tập tài liệu "Tự chỉ trích". Vì là người miền ngoài, giọng anh nói khó nghe, chi bộ phân công tôi đi kèm để giải thích lại những điều bà con chưa rõ. Hoạt động với nhau một thời gian, nhưng theo nguyên tắc bí mật, tôi không được biết tên anh, chỉ gọi là đồng chí Nghệ. Sau này khi tập kết ra Bắc gặp lại anh, tôi mới biết tên anh là Thưởng. Chúng tôi ôm nhau mùng mừng, tủi tủi nhắc lại bao kỷ niệm của một thời gian khổ.


Giữa năm 1939, nhân kỷ niệm cuộc cách mạng tư sản dân quyền vĩ đại của nhân dân Pháp, Tỉnh ủy tổ chức mít tinh. Bọn quan cai trị đầu tỉnh đánh hơi được. Chúng huy động toàn lực chặn các ngả đường. Nhưng quần chúng khôn khéo vượt qua vòng kiểm soát về tập họp ở trường đua ngựa tỉnh, trương cờ băng hô to khẩu hiệu đòi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do lập hội, tự do đi lại làm ăn... Mặc dù quần chúng nắm chặt tay lập thành mấy hàng rào bao quanh, bảo vệ người diễn thuyết, nhưng bọn lính khố xanh, khố đỏ, mật thám xông vào đàn áp dã man, thu xé băng cơ, bắt đi người đại biểu. Quần chúng lại tập họp kéo theo đến trước tổ mật thám hô vang khẩu hiệu:

"Đả đảo khủng bố!
Thi hành quyền tự do dân chủ!"



Lại một đợt mưa dùi cui báng súng nã xuống đầu người dân quê tôi. Mười ba giờ chiều hôm ấy quần chúng tập họp gần trường tiểu học Bồ Đề lũ lượt kéo theo sau một đại biểu cầm trên tay tờ báo Phương Đông làm hiệu. Đoàn người đi được một đoạn thì bọn địch lại xông vào đàn áp, bắt giữ người đại biểu1 (Người đại biểu hôm ấy là anh Trần Long, em ruột anh Trần Nam Trung - nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam sau này) giải tán cuộc biểu tình.


Mỉa mai thay, nhân dân Pháp đã tốn bao xương máu phá tan ngục tù "Bát-ty" để đòi quyền "bình đẳng - tự do - bác ái" thì ở xứ sở Đông Dương cũng vào ngày ấy bọn thực dân Pháp kỷ niệm cuộc cách mạng lịch sử của dân tộc mình bằng dùi cui báng súng nã xuống đầu người dân quê tôi đi đòi quyền "bình đẳng - tự do - bác ái".


Cuối năm 1939 Chính phủ của Mặt trận Bình dân Pháp đổ, bọn phản động lên nắm chính quyền. Chúng ra lệnh giải tán Đảng Cộng sản ở Đông Dương, cấm các tổ chức dân chủ, đóng cửa, đình xuất bản sách báo tiến bộ, truy nã các đảng viên cộng sản. Một không khí ngột ngạt báo hiệu cuộc thế chiến thứ hai sắp bùng nổ.


Tháng tám năm ấy Huyện ủy Sơn Tịnh họp tại nhà đồng chí Mên ở Đại Lộc do đồng chí Nguyễn Chánh thay mặt Tỉnh ủy chủ trì. Tham gia cuộc họp có tôi, đồng chí Khế (túc trung tướng Trần Quý Hai), đồng chí Phấn, Khoách, Cừ, Hùng. Cuộc họp đi đến quyết định: Chuyển hướng công tác vào bí mật, một số cán bộ, đảng bộ đổi vùng hoạt động, các tổ chức công khai của Đảng thay đổi hình thức đấu tranh. Tôi và anh Niên được phân công tổ chức in ấn tài liệu cấp trên để phổ biến trong quần chúng, đảng viên củng cố phong trào. Vào một buổi sáng mùa hè, tôi và anh Niên đang in tài liệu trong buồng kín thì mẹ tôi bước vào. Nhìn thấy giấy tờ, mực in, bản đông sương, còn tôi đang cúi rạp người nắn nót hai chữ Bình - Đức1 (Bình - Đức là bí danh của Tỉnh ủy Quảng Ngãi) vào cuối bản tài liệu, bà lo lắng thở dài:

- Mày làm thế này cũng giống như thằng anh mày năm "Ba mốt" thôi. Rồi cũng lại đi tù con ơi!

Nói thế nhưng mẹ tôi lặng lẽ ra trước nhà ngồi gác cho chúng tôi. Tài liệu như những cánh chim đậu xuống tay người dân yêu nước quê tôi, khơi dậy phong trào vận động ủng hộ Hồng quân Trung Hoa, đòi phòng thủ Đông Dương, ủng hộ hòa bình chống chiến tranh. Ngoài công việc in ấn căng thẳng, tôi lao vào đọc sách báo vừa để giải trí vừa để học tập, tìm hiểu tình hình. Lúc bấy giờ các tờ báo hàng ngày, báo tuần như Dân chúng, Nhành lúa, Đông Phương đều bị đóng cửa, duy có tờ Tiếng dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng đang còn hoạt động. Một lần, đọc xong truyện ký Hồng Quân Trung Hoa, tôi mơ về vùng đất độc lập tự do như ở Diên An. Tôi thầm ước sau này Đảng chủ trương đấu tranh vũ trang, dù có phải hy sinh xương máu như cuộc vạn lý Trường Chinh ta cũng giành được một mảnh đất, ở đấy con người được sống trong độc lập, hít thở không khí tự do, và thương yêu nhau trong tình đồng chí, nghĩa đồng bào. Lần khác, tôi đọc cuốn sách về Phan Đình Phùng có người tướng trẻ tài năng Cao Thắng. Với cái lò rèn và năm ba người thợ giỏi tay nghề, ông đã làm ra hàng trăm khẩu súng có rãnh xoáy trong nòng. Với chiến thuật "Sa nan úng thủy", ông đã lừa kẻ địch vào của "tử" rồi phá đập ngăn nước, đá, gỗ ào ào đổ xuống kéo trôi hàng trăm tên địch, xác trôi lềnh dềnh trên dòng sông Ngàn Sâu. Tôi úp mặt xuống gối khóc khi đọc đến đoạn tướng trẻ tài ba ngã xuống giữa trận tiền khi đốc quân đánh vào đồn Đức Thọ.


Có lẽ vì căn duyên ban đầu ấy mà gần suốt cuộc đời hoạt động, tôi luôn là một chiến binh.

Đầu tháng chín năm 1939, tôi được bầu làm bí thư tổng Tịnh Thượng và được cử đi dự hội nghị bầu ban châp hành huyện Sơn Tịnh. Đầu tháng chín năm 1939 phát xít Đức tiến công Ba Lan. Anh - Pháp tuyên chiến với phát xít Đức. Đảng chủ trương in nhiều tài liệu giáo dục quần chúng vạch trần âm mưu của bọn phát xít, ủng hộ lực lượng Đồng minh chống phát xít.


Một sáng tôi đang bàn với anh Niên chuyển địa điểm in tài liệu mới vào rừng thơm thì lý trưởng dẫn mật thám đến nhà bắt tôi, đưa về sở mật thám Quảng Ngãi.


Tiêu đề: Bình Minh Ba Tơ
Gửi bởi: quansuvn trong 04 Tháng Giêng, 2021, 08:36:37 pm
THỬ THÁCH ĐẦU TIÊN


Vừa bước vào phòng tra, tôi nhìn thấy kìm kẹp, dùi cui, roi da, roi cá đuối, bình điện dây thừng cái treo trên xà, cái bở vương vãi dưới sàn nhà. Bùi Trọng Lệ, phó mật thám tỉnh bước vào phòng. Nó nhìn tôi xoi mói từ đầu đến chân, nhếch mép, môi dưới trễ xuống, mồm cong lên, vẻ mỉa mai thách thức. Nó nện gót giày đi lại trong phòng rồi bất ngờ dừng lại xông vào đấm đá tôi túi bụi. Tôi lùi dần, lùi dần vào góc tường, cắn răng chịu đựng. Quả như anh em tù nói, thằng Lệ đánh ác hơn tụi lính nhiều. Chúng đã mệt, nó thở hồng hộc kéo ghế ngồi, vẫy tay gọi tôi lại, rút trong ngăn kéo ra một tập tài liệu in đông sương ném lên mặt bàn, hỏi:

- Phải chữ mày viết đây không?

Bị bất ngờ, nhưng tôi cố trấn tĩnh trả lời:

- Tôi không biết.


Thằng Lệ nhếch mép, khoát tay hai thằng mật thám bước lại. Đợt tra tấn thứ hai lại tiếp tục. Bọn chúng thả sức quất roi tới tấp vào đầu, vào mặt, vào lưng tôi. Đến lúc tôi không còn sức chịu đựng ngã lăn ra sàn xi măng, chúng mới gọi lính lôi tôi vứt xuống xà lim.


Buổi chiều chúng đưa thêm một ngươi nữa vào xà lim. Nhờ ánh sáng tờ mờ chiếu qua cái của tò vò tít trên cao của xà lim, tôi nhân ra anh là một người cao lớn, có đôi mắt tròn sáng quắc. Tôi thoáng nghĩ: "Đây là một đồng chí cách mạng, hay tên mật thám trá hình đây". Nằm xuống sàn xà lim anh ta bắt đầu gợi chuyện.

- Anh ở đâu? Bị bắt mấy ngày rồi? Bọn nó đánh có đau lắm không? Đã khai báo gì chưa?

Trước sau tôi cũng chỉ trả lời có một câu:

- Tôi biết gì đâu mà khai.

Chừng như anh ta cũng đoán biết thái độ củạ tôị nên tự giới thiệu:

- Tôi là Nguyễn Cát, hoạt động công khai ở phía đông Sơn Tịnh.

Tôi lục tìm trong ký ức và nhớ lại ngày còn học nghề làm thuốc ở nhà ông Hiển có đôi lần nghe nhắc đến tên anh với vẻ kính trọng, nhưng tôi chưa được gặp mặt. Nghĩ vậy nhưng tôi vẫn cảnh giác. Đêm hôm ấy anh khuyên tôi:

- Bọn nó còn tiếp tục tra tấn anh nữa. Nhưng cố chịu đựng đừng khai, vì khai thì bọn nó còn tiếp tục đánh cho đến khi nào moi hết tin tức mới thôi. Anh nhớ khi nó đánh lấy hai cánh tay che đầu, đừng để bị tổn thương mà khi ra tù không tiếp tục hoạt động được.

Đúng như anh nói, mấy ngày tiếp theo chúng càng dánh tôi đau hơn, nhưng tôi vẫn không nhận nét chữ mình viết.

Hôm sau vừa bước vào phòng tra, Bùi Trọng Lệ chỉ ghế bảo tôi ngồi. Tôi chưa hiểu nó định giở trò gì thì hai tên mật thám dắt anh Phấn vào, mặt mày tím bầm, quần áo toạc rách, hai tay còng ngoặt ra sau lưng. Anh đi thẳng đến trước tôi. Nhân lúc thằng Lệ quay mặt đi, anh nói nhỏ: tôi khai anh in tài liệu. Một ý nghĩ vụt ra trong đầu tôi, không thể để chúng làm một đối chất giữa tôi và anh Phấn, phải choảng cho anh một trận để anh phản cung. Nhưng thằng Lệ đã vẫy tay gọi lính đưa anh Phấn ra. Quay lại nó bảo tôi:

- Với những thằng khác bọn nó đánh đủ rồi. Nhưng với mày thì tao đánh, đánh đến khi nào mày bỏ cái gan lì, khai ra hết mới thôi!

Cuộc tra tấn bắt đầu. Thằng Lệ xông vào đánh tôi rất ác. Hắn quất roi da, roi cá đuối vào đầu, vào lưng tôi, nó thúc mũi giày vào bụng, vào ngực, vào hông. Tôi ôm đầu, cắn môi đến bật máu tươi ra chịu đựng. Tôi ngã ra sàn nhà, thằng Lệ túm tóc kéo ngồi dậy hỏi:

- Mày có nhận thằng Võ Phấn tổ chức và đưa tài liệu cho mày in không? Đến nước này thì không chối được nữa, nhưng phải nghĩ cách lừa nó. Tôi trả lời:

- Mấy hôm nay ông hỏi Võ Phân là ai, tôi không biết là ai, còn anh này là Võ Giỏi, bạn học cũ cùng trường. Anh có thuê tôi in rồi trả tiền để tôi mua sách báo đọc, sau đó lại bắt tôi tả lại cách in đông sương, và viết chữ để nhận dạng.

Thế là cuộc tra tấn kết thúc. Chúng chuyển tôi sang nhà lao chờ làm án.


Tiêu đề: Bình Minh Ba Tơ
Gửi bởi: quansuvn trong 04 Tháng Giêng, 2021, 08:37:31 pm
TRƯỜNG HỌC TRONG NHÀ TÙ


Vào nhà lao Quảng Ngãi, tôi gặp lại anh Cát, anh Cừ, anh Chánh, anh Duân, anh Phấn... Chúng tôi tổ chức họp kiểm điểm, rút kinh nghiệm và nhận định: trong các cuộc đấu tranh công khai, nhiều quần chúng, đảng viên nòng cốt bị lộ mặt trong hoạt động, nhiều người thiếu cảnh giác. Có tỉnh ủy viên đọc xong tài liệu, cất để dưới gối hoặc dắt trên mành cửa. Bọn mật thám lợi dụng sơ hở ấy, lần ra đầu mối truy bắt, khám nhà, tìm thấy tài liệu. Khi bị sa lưới, một số ít người không chịu nổi tra tấn đã khai báo để lộ bí mật tổ chức Đảng.    Thế là trong một thời gian ngắn, theo lệnh từ chính quốc, bọn thực dân Pháp cùng với bộ máy tay sai đã phá vỡ các cấp đảng bộ từ liên tỉnh đến huyện và xuống một số chi bộ cơ sở. Mỗi chúng tôi đau xót với những khuyết điểm của mình đã tạo nên sự tổn thất lớn lao cho phong trào của Đảng. Đây cũng là bài học kinh nghiệm sâu sắc trong ký ức, giúp tôi vượt qua những chặng đường gian khổ sau này.


Phiên toà xử án tù chính trị mở tại dinh án sát tỉnh Quảng Ngãi. Từ mấy hôm trước chúng tôi đã bàn với nhau phải lợi dụng phiên tòa làm diễn đàn vạch trần dã tâm cướp nước và bán nước của thực dân Pháp và vua quan Nam triều, đòi quyền tự do dân chủ, đòi tổ chức phòng thủ Đông Dương, chống phát xít Đức - Ý - Nhật.


Buổi sáng, khi bọn chúng áp giải những chính trị phạm từ nhà lao tỉnh sang dinh án sát, thì đã thấy quần chúng đúng đông nghịt bên ngoài chờ nghe phiên toà xét xử những người cộng sản. Trước tòa chúng tôi đặt câu hỏi: "Chúng tôi, những người đấu tranh đòi quyền tự do dân chủ, chống chiến tranh phát xít, bảo vệ nền hoà bình cho nhân loại thì có tội gì? Phải chăng những kẻ cúi đầu trước sức mạnh của phát xít, cam tâm bán rẻ dân tộc, đất nước lại là người vô tội?". Bên ngoài quần chúng la ó, chúng lo sợ, vội vã, tuyên án rồi kết thúc phiên toa, đẩy chúng tôi lên xe áp giải về nhà lao. Dọc đường chúng tôi hô vang khẩu hiệu:

"Đả đảo phiên tòa bất công!
Đả đảo bọn cướp nước, bán nước!".


Tiếng hô làm náo động khu vực nội thành hôm ấy.

Bọn chúng căn cứ vào cấp lãnh đạo của từng người mà xử mức án từ một năm đến năm năm tù giam. Lần ấy tôi lãnh mức án hai năm tù giam. Cuộc sống trong nhà tù vô cùng nghiệt ngã. Mỗi ngày được hai bữa cơm gạo mục cá thối với mấy cọng rau úa vàng. Chúng tôi bàn nhau vận động anh em bên nhà lao thường phạm cùng nhau tuyệt thực làm reo, đấu tranh tẩy chay nhà thầu, đòi được nhận gạo, thức ăn về để anh em tù tự nấu. Cuộc đấu tranh thắng lợi, bữa ăn đảm bảo vệ sinh và khá hơn một chút. Nhưng cái được lớn nhất là gây được cảm tình với anh em bên nhà lao thường phạm. Họ nhận ra ở đâu, người cộng sản cũng là người đi đầu trong đấu tranh chống lại áp bức bất công. Nay mai mãn hạn tù trở lại quê nhà, họ sẽ là người tuyên truyền về lòng dũng cảm của những người cộng sản.


Để nâng cao hiểu biết lý luận cách mạng, chúng tôi tổ chức học tập chủ nghĩa duy vật biện chúng, nhân sinh quan và thế giới quan cách mạng.


Cụ Nguyễn Công Phương, cao tuổi nhất, có kiến văn rộng, là người đi từ phong trào yêu nước Cần Vương đến với chủ nghĩa cộng sản đã kể cho chúng tôi nghe lịch sử phong trào yêu nước tỉnh nhà. Những bài học kinh nghiệm của Ba-lê công xã ở Pháp và Cách mạng tháng Mười ở Nga. Những ngày lao công ở kho lưu trữ, chúng tôi lấy được các bản đồ Châu Á, Châu Âu, bản đồ thế giới, tìm những mẩu bút chì, nhặt giấy bao thuốc lá đem về lao tổ chức lớp học. Anh em bên lao thường phạm thường xuyên gửi báo chí do người nhà đi thăm nuôi mang vào cho chúng tôi đọc. Vì vậy tuy ở trong tù chúng tôi vẫn biết những gì đang xảy ra bên ngoài nhà lao.


Đầu tháng chín năm 1939, Đức mở mặt trận sang Châu Âu. Anh, Pháp tuyên chiến với Đúc. Tại các nước thuộc địa, bọn thực dân ra sức vét lính để cung cấp cho cuộc chiến tranh ở chính quốc, quanh thành Quảng Ngãi mọc lên những lều che tạm để nhốt tân binh. Trai tráng các làng quê bị bắt dồn về đây. Đêm đêm anh em phải chịu cảnh mưa dầm gió bấc, ngày ngày phải tập luyện dưới làn roi vọt của bọn cai đội. Thấy tình cảnh đó chúng tôi đã tuyên truyền họ, vạch trần âm mưu của bọn thực dân đưa người Việt sang Pháp làm bia đỡ đạn và khuyên họ trốn ngũ trở về quê quán với gia đình vợ con.


Cái ăn của người đi tù đã khổ, cái mặc cũng khổ không kém. Mỗi người được phát một bộ quần áo vải xanh mỏng, sợi dệt thưa như vải màn. Toàn nhà lao mấy trăm con người nhiều lần đấu tranh phản đối, buộc tên giám binh phải đến tận nơi hứa sẽ phát áo quần bằng vải xanh dày. Nhưng rồi chúng lần lữa mãi. Một hôm anh em tù chính trị làm lao công trước sân tòa công sứ, gặp lúc tên công sứ Han-ri-môn đến, anh em vẫn thản nhiên. Nó bực mình mắng "tù cộng sản không biết phép lịch sự". Một anh đứng ra bảo nó: "Chúng tôi không đứng lên chào ông vì muốn giữ phép lịch sự đối với ông". Anh em khoác tay, tất cả chúng tôi đứng lên cố tình giạng rộng hai chân. Anh quay lại: "Thưa ông, chắc ông nhìn thấy rồi chứ. Là người thay mặt cho nước đại Pháp cai trị xứ tôi, ông nghĩ sao?". Tên công sứ cúi gằm mặt, im lặng bước đi. Chỉ mấy ngày sau đó chúng mang quần áo mới đến phát cho anh em. Ở nhà lao Quảng Ngãi một thời gian, bọn chúng thấy tập trung chính trị phạm ở một nơi không lợi nên đày các anh có mức án cao lên nhà lao Buôn Ma Thuột. Số còn lại đưa đi các nhà lao Ba Tơ, Gi Lăng, Trà Bồng. Đây là những vùng rừng núi xa xôi. Bọn chúng nghĩ người cộng sản ở đây sẽ chết dần mòn về thể xác và tính thần.


Tiêu đề: Bình Minh Ba Tơ
Gửi bởi: quansuvn trong 04 Tháng Giêng, 2021, 08:38:46 pm
TRONG LÒNG CHẢO GI LĂNG


Mới năm giơ sáng, bọn địch đã đánh thức chúng tôi dậy, gọi tên từng người ra khỏi phòng, còng tay, rồi bắt ngậm một thanh gỗ ngắn vào mồm cột chặt ra phía sau để không ai hô được khẩu hiệu phản đối. Nhưng khi xe chạy qua các phố trong thị xã, chúng tôi đập mạnh vào thành xe. Đồng bào hai bên đường chạy ra, thấy bọn chúng còng tay, khớp miệng chúng tôi, có người xúc động quay mặt khóc. Xe nhằm hướng rừng núi phía tây mà chạy. Đến tận trưa, khi đã xa vùng dân cư chúng mới tháo khớp miệng cho chúng tôi. Buổi chiều xe bò qua một đèo cao rồi hãm tốc độ, thả trôi dần xuống một thung lũng có cánh đồng hẹp, kẹp giữa các sườn núi dốc. Trước mặt chúng tôi là đồn Gi Lăng nằm trên ngọn đồi trơ trọi cạnh sông Rinh. Nước từ thượng nguồn đổ qua thác đá tung bọt trắng xóa, nhẹ nhàng chảy giữa hai bờ cát trắng. Thung lũng Gi Lăng như một cái lòng chảo bốn bề vây kín rừng cao, núi thẳm. Buổi chiều tiết trời miền núi lạnh giá. Chúng tống ba mươi anh em chúng tôi vào một cái lán bốn bề trống huênh, trống hoác cạnh dãy chuồng nuôi dê. Mùi hôi thối xông sang không chịu nổi. Buổi tối gió thổi mạnh, rét cắt ruột như có trăm nghìn mũi kim đâm vào da thịt. Không chăn, không màn, anh em ôm nhau để truyền hơi ấm. Năm giờ sáng, sau hồi kèn báo thức, đám lính người Thượng xông vào lán lôi chúng tôi dậy sắp hàng nhận cuốc xẻng ra rừng làm việc. Suốt ngày ngồi xe, gần trọn đêm thức trắng, người mệt rã rời lại phải lao công cực nhọc, nhưng đến trưa chúng phát cho suất cơm gạo mục cá khô đầy ròi tữa. Thế ra ở đâu bọn thực dân Pháp cũng tìm cách giết dần người cộng sản. Một cuộc đấu tranh đã nổ ra đòi làm lại nhà cửa, cấp đủ chăn màn để chống rét, chống muỗi, cấp gạo, tiền để người tù tự tổ chức nấu ăn, cắt hai phạm nhân làm vườn rau và mỗi ngày chỉ làm việc bảy giơ, hàng tháng phải để một người tù theo xe nhà binh về tỉnh lỵ mua sắm những hàng cần thiết giúp anh em. Nói chung mọi yêu sách đồn trưởng đều chấp nhận. Riêng làm việc ngày bảy giờ thì hắn không giải quyết, lấy lý do lính đồn cũng phải làm việc ngày tám giơ. Từ đấy cuộc sống chúng tôi có khá hơn, tuy nhiên việc cấp phát chăn màn, tên đồn trưởng lần lữa mãi. Một hôm tên giám binh đưa quan một Ba-dô-va-ni lên thay viên đồn trưởng cũ, anh em tập họp cử tôi ra gặp hắn nêu yêu cầu đòi giải quyết. Tên giám binh nhìn tôi vẻ thách thức, nhún vai bảo: - Nếu chúng bay an cư lập nghiệp, sống yên ổn với vợ con thì ai bắt chúng bay lên đây làm gì để bây giờ đòi chăn, màn?

- Các ông bọn người cướp nước, chúng tôi những kẻ mất nước đấu tranh đòi quyền độc lập tự do cho dân tộc mình có khác gì nhân dân Pháp đấu tranh đòi quyền tự do bình đẳng, bác ái trong cuộc cách mạng tư sản dân quyền Pháp năm 1789. Tại sao các ông bắt bớ khủng bố, tù đày chém giết những người cộng sản chúng tôi. Các anh đứng phía sau giật giật gấu áo nhắc tôi kiềm chế - Tôi hạ giọng - Tôi mong các ông quan tâm giải quyết những yêu cầu chính đáng đó.


Tên giám binh bực dọc bỏ đi. Ba-dô-va-ni thay hắn hứa sẽ giải quyết. Vài tuần sau chúng tôi nhận được hai chiếc màn dài giăng suốt hai dãy sạp cho gần ba mươi anh em nằm. Sau này tôi nghe bọn lính nói lại, tên giám binh lệnh cho Ba-dô-va-ni chú ý những người cứng đầu để chuyển lên nhà lao Buôn Ma Thuột.


Bọn Pháp mở con đường từ Gi Lăng - Hải Giá đến Kông Plông. Chúng ra lệnh bắt xâu đồng bào thượng, tuổi từ 14 trở lên phải đi làm một tháng và dùng lao công của tù cộng sản. Gặp năm mất mùa, dân đi xâu chỉ mang theo bắp, sắn khô mà cũng chẳng đủ ăn no bữa, trên mình chỉ có một mảnh khố rách, thân hình tiều tụy. Họ làm công việc nặng nhọc, phá đá chặt cây dưới roi vọt của lính dồn, trong cái nắng gay gắt miền Tây và những cơn mưa rừng xối xả. Đêm đêm họ ôm nhau nằm dưới gốc cây, trong hang đá, bên đống lửa chống lại cái rét cắt da. Nhiều người đang đêm lên cơn sốt, sáng ra đã nằm chết còng queo. Trước thảm cảnh đó, chúng tôi bàn nhau phải cứu giúp đồng bào mình. Lúc này một số anh em đã học nói được tiếng Re, tiếng Cà Dong. Chúng tôi vận động họ đấu tranh đòi bọn cai, đội chỉ huy phải cho làm lán ở, cấp thêm lương thực, thuốc chữa bệnh, ốm được nghỉ, báo lên quan đồn xin khoán việc cho từng làng. Chúng tôi cũng khêu gợi tinh thần dân tộc, lòng yêu thương giống nòi đồng loại trong những người lính thượng. Ngày ấy có cai Đe - người dân tộc Re rất đồng tình, nhưng sợ. Anh nói:

- Cái bụng tao cũng thương bọn nó lắm. Nhưng chỉ sợ quan đồn cúp lương lột lon, còn bắt tù nữa.

Nhưng dù sao thì từ đấy bọn lính cũng đối xử với đồng bào tốt hơn. Việc ăn ở, làm xâu được cải thiện. Biết chúng tôi là những người cộng sản chống Tây bị bắt lên đây cầm tù, đồng bào thương lắm. Một lần tôi kể chuyện bọn Tây độc ác, quan ta nghe theo nó đánh người Thượng người Kinh bắt đi xâu nộp thuế; phải đánh đổ chúng nó dân mình mới có cái bắp, cái gạo ăn no, cái nước uống sạch, cái khố lành che thân, không phải đi xâu nộp thuế. Nghe xong một thanh niên Cà Dong, thân hình vạm vỡ, tóc xõa ngang vai, đôi mắt linh lợi, đứng phắt dậy, cầm tay tôi hỏi:

- Mày lên chỗ tao được không? Mày bày chúng tao học cái chữ, làm cái súng đánh Tây. Cái ná làng tao bắn không tới nó. Nó có cái súng, mình không có cái súng đánh không được.

Mãn hạn xâu, trước khi về anh còn hẹn sẽ xuống gặp tôi. Câu nói của anh thanh niên Cà Dong lại khơi dậy trong tôi ý nghĩ: "Có nên trốn tù cùng nhau lên vùng Cà Dong tổ chức đồng bào lập khu du kích chống Tây không? Làm cách mạng mà chỉ ký tên đưa yêu sách đòi dân chủ, dân sinh để rồi bị bắt bớ tra tấn tù đày thì đến bao giờ mới giành được độc lập tự do cho dân tộc?". Một năm bị giam cầm trong lòng chảo Gi Lăng, chúng tôi mất liên lạc với bên ngoài. Mãi sau này có người nhà lặn lội lên thăm, chúng tôi mới biết quân Nhật đã vào Lạng Sơn, lực lượng vũ trang cách mạng đã làm cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn xây dựng vùng căn cứ du kích. Ngày ấy chúng tôi chỉ biết Bắc Sơn là vùng rừng núi phía Bắc còn ở vị trí nào thì không rõ. Cái tin ấy như luồng gió thổi bùng ngọn lửa khao khát xây dựng khu du kích trong lòng tôi. Nhiều đêm thức giấc tôi cứ mơ màng nghĩ về vùng du kích Bắc Sơn.


Cuối năm ấy đồn Gi Lăng xây dựng lại. Anh em tù chúng tôi chia ra làm thợ nề, thợ mộc, thợ sơn.

Đồn trưởng Ba-dô-va-ni là một sĩ quan trẻ, thấp, béo, người đảo Coóc thường đến xem chúng tôi làm việc. Thấy tù cộng sản là những người khéo tay, qua chuyện trò hắn nhận ra chúng tôi hiểu biết, có lòng yêu dân tộc, đất nước nồng nàn. Một hôm hắn thể lộ tâm sự: "Người dân xứ Coóc chúng tôi cũng muốn giành độc lập cho xứ sở. Tôi đã vào Đảng Xã hội. Nhưng đã bao nhiêu cuộc nổi dậy đấu tranh đều bị chính phủ Pháp đàn áp dã man. Cuối cùng đành chịu vậy". Một thoáng buồn lướt qua khuôn mặt hắn. Từ hôm ấy Ba-dô-va-ni đối xử với chúng tôi thân thiện hơn.


Một hôm nhận được lệnh báo động của cấp trên, hắn tìm gặp anh Cự, người nói: tiếng Pháp khá nhất trong số chúng tôi, báo tin cho biết những người cộng sản Nam Kỳ làm bạo động.

Đêm hôm ấy nhóm trung kiên trong nhà lao họp lại nhận định: nếu cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ thắng lợi thì ảnh hưởng sẽ lan ra Nam Trung Bộ. Chúng tôi vạch kế hoạch cướp đồn Gi Lăng, lấy súng, đạn, lương thực, bắt Ba-dô-va-ni đem theo làm người huấn luyện quân sự, rồi tất cả kéo về vùng dân tộc Cà Dong cùng đồng bào lập khu du kích chống Pháp. Cuộc họp phân công anh Cự giữ liên lạc chặt chẽ với Ba-dô-va-ni để tìm hiểu thêm tình hình. Tôi, anh Trần Khuy, Trần Huy, Trần Long, Nguyễn Cừ chuẩn bị tư tưởng với anh em. Khi thời cơ đến sẽ giao nhiệm vụ cụ thể cho từng người.


Đêm ấy tôi trằn trọc mãi, mơ về một khu "Diên An" ở vùng rừng núi phía tây quê tôi. Gần sáng tôi thiếp đi trong niềm hân hoan của người sắp bước vào cuộc chiến. Nhưng bốn năm ngày sau đó, Ba-dô-va-ni báo cho anh Cự biết cuộc khởi nghĩa thất bại. Bọn Pháp đã xử bắn những người lãnh đạo, và xâu tay hàng trăm người chở đi thả xuống biển. Biết tin, chúng tôi lặng lẽ cúi đầu tưởng nhớ những đồng chí đã hy sinh và bỏ luôn kế hoạch cướp đồn Gi Lăng. Những ngày sau đó, chúng tôi vẫn khắc khoải chờ đợi tin tức hoạt động bên ngoài và chủ trương mới của Đảng.


Lần ấy anh Nguyễn Cừ theo xe nhà binh về Quảng Ngãi, ngủ đêm lại ở lao tỉnh để đến sáng hôm sau theo bọn lính ra phố mua hàng. Hôm ấy anh gặp mấy đồng chí chính trị phạm từ Thanh Hóa mới đưa vào sau khi vỡ chiến khu Ngọc Trảo và anh Bùi Lâm. Anh Lâm cho biết Trung ương chủ trương duy trì lực lượng vũ trang Bắc Sơn, xây dựng các khu căn cứ cách mạng, thành lập các đội du kích. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã về biên giói, triệu tập hội nghị Trung ương, ra Nghị quyết tám trong đó kêu gọi thành lập Mặt trận Việt Minh, xây dựng lực lượng vũ trang ở các địa phương, khi có thời cơ sẽ tiến hành khởi nghĩa từng phần, mở đường cho cuộc khởi nghĩa trong cả nước giành thắng lợi. Tin ấy như một câu trả lời, giải tỏa nỗi băn khoăn lo lắng của chúng tôi lâu nay: "Nếu chúng ta làm cuộc khởi nghĩa ở Gi Lăng thì có phần sai lầm manh động không?". Niềm vui lan tỏa trong anh em. Đêm ấy những người tù cộng sản trong lòng chảo Gi Lăng hát vang bài Quốc tế ca "Vùng lên hỡi khắp nô lệ ở thế gian", tiếp đến là bài Ta là thanh niên xích vệ: "Chúng ta là thanh niên xích vệ. Chúng ta là tự vệ đội ngày mai. Vì sanh trưởng trong đời đớn đau này, một là toàn thắng, hai là hy sinh. Vì công lý ta ra đấu tranh mau. Mau đặng giải phóng cho nhân quần đây. Dù cho thịt nát, xương tan hay lao tù, chúng ta cũng quyết chiến đấu đến khi thành công..."


Tiêu đề: Bình Minh Ba Tơ
Gửi bởi: quansuvn trong 04 Tháng Giêng, 2021, 08:39:56 pm
NHỮNG NGÀY SUM HỌP


Mùa đông năm 1941, tôi mãn hạn hai năm tù giam. Trước hôm trở về các đồng chí động viên, căn dặn tôi, mỗi người một câu:

- Về nhà đừng vì chăn ấm, vợ con mà nguội lạnh tinh thần chiến đấu. Nhưng cũng chớ vội vã, phải thận trọng tìm hiểu kỹ tình hình. Anh biết đấy. Trong vòng hai năm, ba lần các tổ chức Đảng được xây dựng lại. Nhưng cả ba lần đều bị kể địch truy tìm, khủng bố phá vỡ. Lần đầu các đồng chí ở nhà lao Trà Bồng tổ chức thành lập được Tỉnh ủy lâm thời do anh Võ Xuân Hào làm bí thư. Vài tháng sau đã bị bắt. Tháng 10 năm 1940 anh Đỗ Xán gặp đồng chí Phan Đăng Lưu trao cho tài liệu hướng dẫn tổ chức du kích. Trở về xã Sơn Kim anh Xán cùng một số đồng chí chế thuốc làm lựu đạn. Chẳng may thuốc bốc cháy. Bọn mật thám lần tìm ra manh mối tóm gọn. Đầu năm sau anh Nguyễn Năng Lự vượt ngục trở về hoạt động, bắt liên lạc với một số đồng chí ở phía tây Sơn Tịnh xây dựng lại phong trào. Công việc đang thuận lợi thì Lâm Tài phản bội chỉ điểm cho mật thám vây bắt ngay anh Nguyền Năng Lự trong nhà mình ở Phước Lộc.


Kẻ địch khôn ngoan, xảo quyệt lắm. Làm cách mạng không phải chỉ có lòng quả cảm, mà còn cần có óc thông minh, tài phán đoán, tinh nhạy để có những quyết định táo bạo kịp thời.

- Chúng ta có quá nhiều sai lầm trong những hoạt động trước đây. Khi phong trào quần chúng lên cao, chúng ta sinh ra chủ quan coi thường kẻ địch. Còn bọn địch như con mèo rình mồi, lợi dụng những sơ hở đó để khủng bố phá vỡ phong trào. Kết quả là chúng ta kẻ trước người sau vào tù, còn kẻ địch thì cười cợt trên sự ngu ngốc của chúng ta, chỉ có quần chúng phải chịu đau khổ vì những cuộc khủng bố. Giờ đây như rắn mất đầu.

- Chúng ta làm cách mạng là tin vào chân lý. Nhưng con đường đi đến chân lý không đơn giản. Đừng lấy quần chúng làm vật hy sinh cho những sai lầm của mình.

- Anh về cho bọn tôi gửi lời thăm bà, thím và chị ấy. Anh nói lại với nhà, bọn tôi đều khoẻ mạnh.


Quả có thế thật. Ba-dô-va-ni càng tiếp xúc với chúng tôi càng tỏ ra có cảm tình với người với người tù cộng sản. Bọn đội cai và đám lính Kinh, Thượng thấy thế cũng không dám hống hách khinh thường chúng tôi như trước. Cuộc sống được cải thiện, anh em ít đau ốm, thương yêu đùm bọc giúp đỡ nhau nhiều hơn. Buổi chia tay thật cảm động, kẻ ôm vai, người nắm chặt tay, buồn vui lẫn lộn. Hành trang mang về chỉ có cái giỏ mây tôi ngồi đan trong tù vào những ngày mưa gió được nghỉ lao công, mấy bộ quần áo, vài ba thứ lặt vặt. Nhưng trong đầu tôi đầy ắp những kinh nghiệm, những lời dặn dò và những điều cơ bản trong Nghị quyết tám được anh em truyền miệng cho nhau.


Tôi theo xe nhà binh có lính áp giải về nhà lao Quảng Ngãi. Xe chuỵển bánh, tôi ngoái lại nhìn cái lòng chảo Gi Lăng, ở đấy tôi có bao nhiêu kỷ niệm với những người đồng chí còn đang chịu cảnh chim lồng, cá chậu. Một niềm xúc động dâng trào, tôi thấy cay cay nơi khoé mắt.


Xe xuống chân dốc Cà Đao, trạm gác cuối cùng của đồn Gi Lăng, cái chốt an toàn đề phòng tù vượt ngục. Từ đây xe chạy men theo lưu vực sông Trà Khúc. Mỗi vùng đất đi qua, gợi tôi nhớ đến những địa danh đã vang lừng một thời chống Tây. Tôi lặng im ngồi nhìn ra bên ngoài, hình dung cảnh kẻ thù đàn áp những người dân vô tội quê tôi. Và lạ thay, cái đó không làm tôi khiếp sợ mà lại đốt bùng ngọn lửa căm thù trong lòng mình. Tôi thầm hứa: "Các anh ơi! Tôi sẽ không phụ lòng tin, những lời dặn dò tâm huyết của các anh". Xe vuợt cầu Trà Khúc đưa tôi về nhà lao Quảng Ngãi. Hôm sau sở mật thám gọi tôi lên làm giấy tờ để đưa về làng quản thúc.


Tôi đi tắt qua cánh đồng rồi bước nhanh trên con đường làng quen thuộc trùm bóng tre về nhà. Vừa bước vào tới sân, mẹ thấy, chạy tới ôm tôi:

- Con được về luôn rồi hả con?

Tôi gật đầu, đặt tay lên đôi vai gầy của mẹ mà lòng nghèn nghẹn. Tôi biết mẹ đã từng ngày bấm đốt ngón tay, từng đêm trằn trọc mong con mãn hạn tù trở về. Bây giờ anh chị tôi mới chạy ra, kẻ đổ cái giỏ mây, người cầm nón. Tôi theo vào nhà ngồi xuống bộ phản giũa, đưa mắt nhìn đồ đạc trong nhà. Tất cả vẫn nguyên vẹn, chỉ có cũ kỹ, tàn tạ hơn. Mẹ, rồi anh, chị cầm tay, nắn vai, nhìn vào khuôn mặt xanh gầy của tôi như đoán ra được những nỗi khổ cực mà tôi phải chịu đựng suốt hai năm tù tội. Một lúc sau họ hàng làng xóm kéo đến chật nhà mừng tôi mãn hạn tù trở về. Bà con rối rít hỏi thăm sức khoẻ, tin tức của những người thân còn ở lại. Tiếp những ngày sau đó, nhà tôi lúc nào cũng đông khách. Tôi gặp lại nhiều anh chị trong hội "Nông dân Tương tế" hội "Thanh niên Báo chí" hoạt động với tôi từ những nằm "ba sáu, ba bảy". Một vài đảng viên ở các chi bộ trong tổng chưa sa lưới mật thám cũng tìm đến thăm tôi. Trong bữa cơm gia đình, chúng tôi kể cảnh sống trong tù, sự tra tấn những ngày lao cộng cực nhọc giữa rừng sâu dưới nắng mưa tầm tã, chuyện thời sự thế giới, tin Nhật, Pháp giành giật miếng mồi Đông Dương, những tin đồn đại về sự tàn bạo của quân lính Nhật theo chân vài người lính Bắc mang vào. Câu chuyên đang say bỗng ngưng lại, từ sâu kín lòng mình chúng tôi linh cảm một cuộc sống đen tối sắp ập xuống đầu người dân quê tôi, nếu nay mai quân Nhật lật Pháp chiếm cứ Đông Dương. Nghỉ ở nhà được mấy hôm chựa kịp làm gì thì lý trưởng đã mang trát của sở mật thám gọi tôi đi an trí Ba Tơ. Lý trưởng là người trong họ nên mẹ tôi chạy đến năn nỉ nhờ làm giấy bảo đảm với huyện xin cho tôi được ở nhà mươi ngày vì đang ốm. Nhưng kỳ thật là để lo việc cưới vợ cho tôi. Mẹ bảo, giọng bùi ngùi:

- Con gái có thì, nó đợi con hai ba năm rồi. Bây giờ con đi an trí. Mẹ thì già lấy ai đi thăm con, chăm sóc mẹ lúc trái gió trở trời.


Tôi lặng im ngồi nghe mẹ nói. Vợ tôi là cô gái quê rụt rè, hiền hậu, hiểu công việc tôi đang làm, sẵn sàng hỵ sinh cho tôi đi hoạt động, thâm tâm cũng có lúc lo lắng những điều bất hạnh đến với mình, nhưng rồi tình yêu giúp cô vượt qua. Đám cưới chúng tôi rất đơn giản, không có cỗ bàn linh đình, nhưng rất đông vui. Họ hàng, bạn bè đồng chí đến chúc mừng hạnh phúc chúng tôi. Chưa qua tuần trăng mật, tôi đã bị giải ra nhà lao tỉnh để hôm sau theo lính áp giải lên "căng" an trí Ba Tơ. Hôm đi, mẹ tiễn tôi ra đến đầu làng. Mẹ xoa xoa lên đôi vai con như ngày nào tiễn tôi đến Quán Cơm trọ học nghề làm thuốc. Giọng nghẹn ngào, mẹ dặn:

- Lên đó ít lâu con nhớ đánh thơ về để mẹ khỏi lo nghe con.

Vợ tôi đưa chồng thêm một đoạn. Dọc đường tôi nói với vợ bao nhiêu điều. Vợ tôi chỉ lặng im nghe, thỉnh thoảng "vâng! vâng! dạ! dạ!". Lúc chia tay, vợ tôi chỉ nói được mấy lời:

- Anh yên tâm, giữ sức khoẻ, việc nhà đã có em, thu xếp được, em sẽ lên thăm.

Nói được chừng ấy câu rồi vợ tôi sụt sùi khóc. Vợ tôi là cô gái quê bình thường nhưng dịu dàng chân chất. Phần tốt đẹp nhất trong cô là tình yêu chồng, đức hy sinh và lòng son sắt. Tôi đứng lặng nhìn vợ khóc mà bỗng thấy yêu quý vô cùng.


Tiêu đề: Bình Minh Ba Tơ
Gửi bởi: quansuvn trong 19 Tháng Giêng, 2021, 08:53:09 am
ĐƯỜNG LÊN CĂNG AN TRÍ BA TƠ


Hôm ấy là một ngày mưa rét. Tôi và người lính khố xanh đi áp giải ngồi tàu lửa từ ga Quảng Ngãi vào ga Mộ Đức (nay là Thạch Trụ) để đón ô tô lên Ba Tơ. Tàu chạy nhanh, xóm làng hai bên đường chìm trong màn mưa lướt qua ngoài của toa gợi nhớ một thời hoạt động đi về. Tôi triền miên trong những cảm giác vui buồn thương nhớ những đồng chí kẻ mất người còn. Anh lính ngồi cạnh vỗ vai tôi bảo:

- Hôm nay tôi giải anh lên Ba Tơ, nhưng phải ngày mai mới có ô tô. Tôi muốn nhân dịp nghé thăm bà dì ruột ở làng Vạn Lý nên xuống tàu ta đi bộ lên đấy, ngủ lại, sáng mai đón xe về Ba Tơ.

Tôi gật đầu:

- Đi đâu, ở đâu tùy bác.

Xuống ga, mưa tạnh, trời hửng nắng nhưng se lanh. Gió heo may cuối mùa đông từng đợt thổi về. Tôi kéo cao cổ áo cho đỡ rét, bước nhanh theo người lính. Anh tâm sự:

- Tôi vì bát cơm manh áo phải đi lính, chứ thật lòng chẳng thích. Nhục lắm.

Chiều tối đến nơi, anh đưa tôi về một túp nhà ở giữa đồng, bốn bề che bằng tranh rạ rách nát. Cửa vào là tấm liếp tre che tạm. Bà cụ chủ nhà đen gầy, áo quần rách rưới đang ngồi bên bếp đun nồi khoai. Anh lính lên tiếng:

- Dì làm gì đó?

Bà cụ quay ra mừng rỡ:

- Ủa, con đến lúc nào? Còn ai nữa kia?

Anh lính đến gần nói nhỏ gì với bà. Bà đứng lên nhìn tôi, đôi mắt già rưng rưng ngấn lệ.

Bà quay lại dặn cháu:

- Con trông cho dì nồi khoai, sắp chín rồi đó.

Tôi đứng lặng nhìn cảnh sống cô đơn nghèo khổ của bà cụ, lòng dâng đầy niềm thương cảm đến nghẹn ngào. Quay sang tôi, bà bảo:

- Ở nhà uống nước, cô chạy ra đây một tí, về ngay.

Tôi ngăn bà lại hỏi:

- Cô ơi, ở làng Vạn Lý này cô có biết anh Trúng không?

- Biết chớ, tôi với nó cũng bà con xa mà.

- Nhờ cô nói anh Trúng ra đây cho tôi thăm.

Bà cụ không đáp lặng lẽ ra đi một lúc, quay về với cái bọc nhỏ trên tay, theo sau là một cậu bé gầy yếu chưa đến tuổi thành niên, trên đầu quấn khăn tang.

- Thằng "Trúng con" đây cháu nè.

Tôi ngỡ ngàng hỏi:

- Cha em đâu?

- Cha em ở tù về được một thời gian đau ốm luôn, ho ra máu rồi chết!

Tôi nghẹn ngào. Thế là một đồng chí trung kiên của Đảng, một đầu mối trong sơ đồ tổ chức của tôi ở huyện Đức Phổ đã mất! Em này còn nhỏ và chẳng biết gia cảnh thế nào, biết có nối chí cha không? Tôi ngậm ngùi tự giới thiệu tôi là bạn tù với cha em. Ba em là một đảng viên cộng sản mấy lần tù tội bị Tây cướp nước, nó tra tấn đánh đập hết sức dã man, nên bị đau phổi. Chúng tôi đã đấu tranh liên tục đòi chúng phóng thích anh ấy về nhà chữa bệnh, kéo dài cuộc sống, không ngờ anh ấy đã mất. Đây đúng là một tội ác chúng nó gây nên! Tôi cũng hứa là sẽ viết thư liên lạc với cậu bé1 (Nguyễn "Trúng con", nay là Nguyễn Duy Phê, sĩ quan cấp tướng, chuyên công tác cơ yếu ở Bộ Quốc phòng, tham gia hoạt động từ năm 1943).


Bữa cơm thật đạm bạc bên ngọn đèn dầu lạc leo lét. Ba con người ngồi quanh cái sàn tre, trên đặt một đĩa tép kho với muối hạt, bát dưa và ba cái chén; miệng chén sứt mẻ như răng cưa. Rổ khoai lang để bên cạnh, củ to nhất vừa một miếng ăn, còn lại những chạc khoai dài, to chỉ bằng ngón tay. Niêu cơm nhỏ chưa đủ mỗi người một bát. Tôi cầm chạc khoai đưa lên miệng thì bà cụ giằng lại và trao cho tôi chén cơm:

- Cháu ăn chén cơm trước cho ấm bụng.

Tôi thoáng nghĩ, có lẽ đây là bát gạo bà vừa vay bên nhà mẹ của Trúng để đãi khách. Giá không có chúng tôi, chắc chiều nay bà chỉ ăn khoai trừ bữa. Tôi hỏi chuyện làm ăn, bà kể:

- Lúa khoai đang lên xanh tốt thì có lệnh bắt phá lúa, phá khoai để trồng bông, trồng lạc. Trái mùa, lỡ vụ, lại bị hạn rồi lụt nên cả vùng mất trắng - Bà thở dài:

- Năm nay đói là cầm chắc cháu ạ.

Sáng hôm sàu chúng tôi từ giã bà cụ ra đường đón xe lên Ba Tơ. Chiếc ô tô hàng chạy bằng than củi ì ạch vượt đèo Đá Chát, bỏ lại phía sau trùng trùng điệp điệp núi thấp núi cao rồi như con bò già thở phì pho lê từng bước lên đỉnh Mốc. Từ đây có thể phóng tầm mắt nhìn rõ châu lỵ Ba Tơ và Hoàng Đồn. Đồn xây trên một khu đất cao, rộng bên bờ sông Liên, chung quanh có tường thành và hào sâu bao bọc. Ở bốn góc thành có tháp canh. Trước cổng đồn là con đường đá dẫn đến chân đường cách đấy chừng vài trăm thước. Chung quanh có những tường rào bao bọc. Xuống đến chân dốc Mốc, xe bắt đầu chạy chậm giữa những xóm nhà người Kinh thưa thớt hai bên đường. Xa xa, lẫn trong cây rừng thấp thoáng vài nóc nhà sàn chênh vênh trên sườn dốc cheo leo. Mấy nương sắn rạt hết lá trơ lại những thân mốc, vài ba nương ngô lá thân khô vàng héo hắt nằm giữa màu xanh núi rừng trùng điệp như những mụn vá trên chiếc áo chàm rách bươm. "Cuộc sống của dân quanh đây chắc là vất vả cực nhọc lắm". Tôi nghĩ vậy. Nhưng cảm giác đó không làm tôi lo lắng, mà ngược lại gợi cho tôi một ý nghĩ khác. "Lên đây vài ba hôm, sắp xếp xong chỗ ăn ở rồi sẽ tính chuyện tìm hiểu tình hình hoạt động trên này. Bà con nghèo quanh đây nhiều thế này chả lẽ không tổ chức được cơ sở Đảng?".

Xe chạy chậm trên con đường đất đỏ bầm như máu rồi dừng lại. Tôi hỏi anh lính:

- Đến nơi rồi hả anh?

Anh lính gật đầu, vươn vai, các đốt xương lưng kêu rôm rốp. Chúng tôi xuống xe. Anh em nghe tôi lên, ra đây đón. Gặp lại nhau tay bắt mặt mừng, chào hỏi rối rít. Anh lính quay sang tôi:

- Thôi ta đi, kẻo muộn giờ làm việc.

Tôi theo anh lính vào đồn. Đến sân gặp người cai đi ra, anh đứng rập chân chào, rồi hỏi:

- Thưa thầy, quan lớn có nhà không?

Người cai không trả lời, nắm tay, chìa ngón cái ra chỉ chỉ về phía sau. Tôi theo anh lính bước lên bậc thềm vào gian giữa. Viên quan một người Pháp mặc áo quần nhà binh chỉnh tề, ngồi ở cái bàn to kê giữa phòng đang chăm chú đọc sách báo. Cái cổ nung núc thịt, đỏ như cổ gà chọi, hằn lên hai ngấn. Bàn bên viên thông ngôn nắn nót viết từng hàng chữ vào cuốn sổ dày cộp. Anh lính rập chân chào, viên thông ngôn ngước lên. Không đợi anh nói, hắn hỏi ngay.

- Tù an trí hả?

- Dạ - Anh lính đáp.

Hắn đứng lên rời bàn đến viên quan một xổ một tràng tiếng Pháp. Bây giờ viên quan một mới ngước nhìn tôi, vẻ dò xét rồi từ từ đứng dậy chống hai tay lên bàn nói một thôi liền như trẻ con đọc bài. Qua lời dịch của viên thông ngôn, tôi hiểu: "Anh mãn tù ngồi, nhà nước bảo hộ cho về. Nhưng từ nay anh phải ở đây, việc sinh sống tự lo liệu lấy. Anh có thể làm ruộng, chăn nuôi, buôn bán, thích thì mang cả vợ con lên đây lập nghiệp, được đi lại làm ăn trong bán kính năm trăm mét quanh đồn. Nhưng nhất nhất phải tuân thủ theo luật lệ quan đồn như: mỗi ngày hai lần sáng, chiều đến đây trình diện. Đi xa quá năm trăm mét phải được phép quan đồn".

Viên thông ngôn trao đổi mấy câu ngắn với viên quan một rồi quay sang bảo tôi:

- Bây giờ anh ra ngoài tìm chỗ ăn ở, sáng mai vào đồn trình diện. 

Anh lính tiễn tôi ra cổng rồi dừng lại, giọng bùi ngùi anh nói:

- Bây giờ tôi phải vào đồn, còn anh ra phố tìm hỏi thăm bạn cũ. Người các anh lên đây nhiều rồi.

- Anh có ghé thăm dì, cho tôi gửi lời cảm ơn.


Từ giã anh lính, tôi đi ra phố. Bây giờ tôi mới nhìn kỹ cái châu lỵ Ba Tơ. Châu lỵ năm trong một thung lũng hẹp. Rải ra hai bên đường ba bốn cửa hàng tạp hoá, mấy quán ăn, bên cạnh mấy cái lều chợ xiêu vẹo gọi là Chợ Đồn, thêm vài hiệu may với mấy ông thợ già lọm khọm, mục kỉnh đeo trễ xuống sống mũi. Hai quán hớt tóc thụt trong đường, đôi ba cái quán nước, trên chiếc chõng tre bày vài nải chuối, mẹt khoai, miếng mít. Chừng ấy hàng quán của những người từ miền xuôi lên, cả vợ con buôn bán mà dân quanh vùng gọi là phố. Còn lại là những ngôi nhà lụp sụp mái tranh thấp ôm những tường đất nặng nề của các gia đình nghèo quanh năm làm ruộng, đốt than, kiếm củi bán ở các phiên chợ, hay làm thuê cho những gia đình giàu có trong vùng. Bao quanh châu lỵ Ba Tơ là những rặng núi cao lởm chởm chóp nhọn trông như chiếc nơm lật ngược.


Tôi xách chiếc va li tìm đường về nhà anh Duân mà trong đầu vương vấn mãi một câu hỏi: "Sao nó quản thúc tù bằng căng an trí mà lỏng lẻo vậy?", không phải một khu tập trung như tôi tưởng và tôi linh cảm thấy như có những âm mưu thâm độc nấp sau cái vẻ buông lỏng đó. Tôi bước vào nhà đã thấy anh em ngồi đợi ở đấy. Nhiều người tôi quen biết từ những ngày còn ở nhà lao Quảng Ngãi, nhưng cũng có người từ các lao Buôn Ma Thuột, Côn Lôn về đây, tôi chỉ nghe tên, nay mới gặp mặt. Gặp nhau chuyện như ngô rang. Từ những phán đoán, nhận định sức mạnh của phát xít Đức, lòng dũng cảm hy sinh của các chiến sĩ Hồng quân bảo vệ thành trì cách mạng trên mặt trận Xô - Đức, đến chuyện Nhật - Pháp đang gầm ghè nhau miếng mồi Đông Dương, và cuối cùng là việc làm ăn sinh sống hàng ngày.


Giữa tháng mười hai năm 1941, ngày đầu tiên tôi đến "căng" an trí Ba Tơ diễn ra như thế đấy.


Tiêu đề: Bình Minh Ba Tơ
Gửi bởi: quansuvn trong 19 Tháng Giêng, 2021, 08:55:20 am
BƯỚC KHỞI ĐẦU KHÓ KHĂN


Ở Ba Tơ, sau buổi trình diện, tôi thường lân la đến nhà từng anh gọi chuyện, bàn việc làm ăn sinh sống để tìm hiểu tư tưởng xu hướng từng người. Sau nhiều lần trò chuyện, tôi nhận thấy các anh hoạt động trong phong trào "ba sáu, ba chín" như anh Đề Xi, Nguyễn Niên, Nguyễn Húc, Phạm Xuân... rất dễ thông cảm. Trong lòng các anh ngọn lửa cách mạng còn đang âm ỉ. Các anh kiếm sống bằng việc đưa đò, trồng rau, đánh cá và khi cần sẵn sàng chiến đấu hy sinh. Các bậc đàn anh hoạt động trong phong trào "ba mươi, ba lăm" là những người có kiến thức rộng, trải qua thử thách trong nhà tù đế quốc. Phần lớn trong số đó có anh làm thuốc, làm ruộng giữ trọn vẹn tư cách đạo đức người cộng sản. Một số rất ít tỏ ra mệt mỏi, chuyển sang buôn bán và có tư tưởng an cư lập nghiệp lâu dài. Có người hám lợi buôn một bán mười gây ảnh hưởng xấu đối với đồng bào Kinh, Thượng quanh vùng, khiến bọn quan lại, lính tráng coi thường, xúc phạm uy tín người cộng sản. Điều đáng buồn là vì quan niệm sống, cách suy nghĩ khác nhau nên chẳng ai phục ai, thậm chí còn chê bai trách móc nhau.


Những ngày tiếp sau, chiều chiều tôi đi bộ ra chơi ở các nhà dân quanh vùng. Phần lớn họ không phải là người địa phương mà là dân đến từ tứ xứ Mộ Đức, Đức Phổ, Nghĩa Hành trong đó có cả người tham gia phong trào "ba mươi, ba mốt", mãn hạn tù về họ không muốn sống trong vòng o ép của bọn hào lý, bỏ làng lên đây tìm miền đất sống. Một số còn nuôi tư tưởng ẩn dật chờ thời cơ, một số khác đã nguội lạnh ý chí cách mạng, không còn quan tâm đến thời cuộc. Số còn lại là binh lính, cai đội, viên chức của nha kiểm lý đã về hưu ở lại đây lập nghiệp. Bọn này phần lớn là lái buôn, một số tên nhảy ra tranh chức phó tổng, cai quản các buôn làng người Thượng. Bọn chúng ra sức áp bức, bóc lột nên gây căm ghét, oán hận trong đồng bào người Thượng. Cuộc sống của đồng bào Thượng vô cùng cực khổ. Quanh năm bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, cày xới trên mấy mảnh ruộng bậc thang, trồng tỉa trên mấy lưng chừng núi mà thóc lúa, sắn ngô vẫn không đủ thuế má, nộp cống cho bọn cường hào, tù trưởng. Mùa hè cho chí mùa đông, đàn ông chỉ có cái khố rách, đàn bà chỉ có cái váy đụp và chiếc yếm che thân. Những ngày đi xâu phải ăn sắn, ngô trừ bữa và chịu đòn roi của bọn lính đồn. Vào những năm "ba chín, bốn mươi" đồng bào Thượng theo phong trào "Nước xu đỏ" nổi dậy chống Tây. Bọn Pháp đàn áp dã man, tàn bạo, đốt trụi buôn làng. Cuối cùng đồng bào phải chịu quy phục. Vài tù trưởng gan dạ cùng đồng bào chạy lên núi Bùi Hui - Cao Muôn lập làng mới chống Tây.


Tất cả những điều hiểu biết về anh em an trí và cuộc sống người dân quanh vùng cứ nung nấu mãi trong tôi một ý nghĩ: "Phải làm thế nào để tập hợp lực lượng, thống nhất ý chí, hành động, giữ lòng trung thành với Đảng, với cách mạng và uy tín với đồng bào, chờ thời cơ họạt động". 


Để giải quyết cuộc sống trước mắt tôi cùng anh Khoách thuê mấy sào ruộng cấy hai vụ để có đủ thóc ăn, bàn với anh Duân xây lò nấu nước mắm. Vì giá rẻ, chất lượng nước mắm tốt, chẳng bao lâu bà con quanh vùng đến mua rất đông. Cuộc sống tạm ổn định. Có tiền, anh Duân đặt mua tờ báo tuần bằng tiếng Pháp xuất bản ở Sài Gòn. Báo đến Ba Tơ hơi muộn, nhưng cũng giúp chúng tôi theo dõi được tình hình chiến sự xảy ra trên thế giới, đặc biệt là cuộc tiến công của phát xít Đức vào Liên Xô. Ngày ấy tôi như thông tin viên truyền lại những tin tức trong báo với anh em. Nhớ những lần báo tin phát xít Đức huy động hàng trăm sư đoàn mở cuộc tiến công theo hướng Mạc Tư Khoa, anh em lặng im không ai nói với ai một lời, trong tâm trạng lo lắng như chính Tổ quốc mình đang bị phát xít Đức tiến công. Cho đến một sáng tháng giêng năm 1942, chúng tôi, những người cộng sản Việt Nam đang bị giam lỏng trong thung lũng Ba Tơ, thở phào nhẹ nhõm khi biết tin Hồng quân Liên Xô mở cuộc phản công đẩy lùi phát xít đức hàng trăm cây số, rồi giam chân chúng giữa mùa đông tuyết lạnh. Thắng lợi của Liên Xô như ngọn gió lành xua tan tư tưởng bi quan lo lắng, mang đến lòng tin vào thắng lợi của cách mạng. Không khí hồ hởi lan tràn trong anh em tù an trí. Thắng lợi của Liên Xô như một tác nhân kích thích tôi quyết tâm xây dựng lại cơ sở cách mạng ở Ba Tơ. Thời gian này bọn quan đồn kiểm soát những người an trí chặt chẽ hơn. Trong những buổi trình diện, chúng xoi mói nhìn vào mặt từng người dò tìm những phản ứng.


Sau những buổi làm việc vất vả để kiếm sống trở về, tôi suy nghĩ cố tìm ra những sơ hở có thể lợi dụng được trong sự kiểm soát chặt chẽ của kẻ thù. Cuối  cùng, tôi nhận thấy đồng bào Kinh ở đầy có mối giao lưu kinh tế rộng rãi với miền xuôi. Hàng ngày có chuyến xe đò lên xuống mang đến và mang về bao nhiêu tin tức. Cách Ba Tơ một thôi đường còn một số chính trị phạm hoạt động từ những năm "ba mươi, ba mốt" nay nằm im, nhưng xem ra còn có hoài bão, chưa mất hẳn lòng tin. Tuy nhiên không phải có ít khó khăn. Mà cái khó lại ở trong lòng chính những người tù an trí. Tiếp xúc với một số anh em tôi đã nhận ra điều ấy. Có anh bảo:

- Năm "bốn mươi" khi tôi lên đây chỉ mới có con đường ô tô nối liền quốc lộ một với châu lỵ Ba Tơ, lên Giá Vụt. Vậy mà vài năm nay bọn Pháp đã mở con đường từ đây sang Com-Plông và đường vòng lên phía bắc nối với đồn Gi Lăng huyện Sơn Hà. Bọn nó muốn biến Ba Tơ - Gi Lăng thành căn cứ chống Nhật, giam lỏng tù an trí trong cái nơm nầy cho đến chết.

- Ở đây không cựa quậy gì được đâu, rồi cũng đến chết sốt rét thôi, và lúc cần chúng nó lia cho mấy băng đạn, thế là nằm lại với giun, ở đây thì làm sao liên lạc được với cơ sở miền xuôi, mà không có cơ sở, không có quần chúng, thì lấy đâu ra sức mạnh. Thôi thì đành lo việc làm ăn, giữ mình cho trọn nghĩa với Đảng, với dân.


Tiêu đề: Bình Minh Ba Tơ
Gửi bởi: quansuvn trong 19 Tháng Giêng, 2021, 08:56:46 am
Tôi ngồi nghe, lòng buồn và nghiệm ra một điều: "Thì ra thằng địch lấy sự buông lỏng làm cái nơm úp cho anh em mình rồi đục khoét cho ruỗng dần ý chí chiến đấu. Ghê gớm thật! Độc địa thật!" Tôi muốn nói với anh em: "Sao ta không giữ mình cho trọn nghĩa với Đảng với dân bằng cách xây dựng cơ sở, tìm cách liên lạc với miền xuôi gây dựng lại phong trào, biến ngọn lửa nhỏ thành đám cháy lớn". Nghĩ vậy nhưng tôi cắn chặt môi không để bật ra thành lời vì sợ anh em nghĩ rằng mình mới lên chưa nắm tình hình đã lên mặt dạy đời và còn ngại anh em cho là loại "ngựa non háu đá". Nhưng ngày tháng trôi qua, cái ý định phải xây dựng một tổ chức cơ sở Đảng, vận động cách mạng đốt cháy lòng tôi và đến lúc này không kìm giữ được nữa. Tôi trao đổi với anh Khoách. Chúng tôi nhất trí và kết nạp thêm anh Phạm Sanh. Để giữ bí mật và tạo thuận lợi cho công tác tuyên truyền vận động, chúng tôi lấy tên "Ủy ban vận động cách mạng". Cuộc họp chi bộ đầu tiên tiến hành trên gộp đá giữa lòng suối Nước Nen. Sau khi thống nhất nhận định tình hình, chúng tôi đi đến quyết định: tạo mọi điều kiện để gây mối quan hệ tốt giữa anh em tù an trí với các thanh niên địa phương và binh lính trong đồn. Tranh thủ tình cảm của nhân viên làm việc trong Nha kiểm lý đối với tù an trí, mà người trước tiên là thừa sở, đồng hương với anh Duân, đứng ra lập hội đá bóng để tạo cơ hội mở đầu cho các cuộc tiếp xúc. Từ đó chiều chiều trên sân bóng diễn ra những cuộc tranh tài. Có lúc là đội bóng nhà binh đá với liên quân thanh niên và tù an trí. Có lúc là đội tuyển của châu lỵ Ba Tơ đá với một đội bóng từ nơi khác đến. Kẻ đá người xem hò reo ầm ĩ, không khí vui vẻ hẳn lên. Qua những cuộc tiếp xúc ấy, quan hệ giữa binh lính và thanh niên địa phương với tù an trí ngày càng được cởi mở. Những mặc cảm, hố ngăn cách trước đây dần được san lấp. "Ủy ban vận động cách mạng" tiến hành thuận lợi chừng ba, bốn tháng. Trong một lần kiểm điểm trách nhiệm cá nhân, chúng tôi phê bình anh Phạm Sanh về việc đánh cơ tướng ăn tiền gây dư luận xấu trong quần chúng, coi đó như một trò bài bạc. Anh Sanh công nhận, nhưng không chịu sửa chữa, buộc chúng tôi phải đình chỉ công tác, đưa ra khỏi chi bộ. Trong thời gian này, tôi có mấy lần xuống Trường An gặp cụ Trần Toại, một chính trị phạm tham gia phong trào "ba mươi, ba mốt", nay đã già yếu. Qua chuyện trò tôi thấy cụ vẫn ưu thời mẫn thế, thiết tha với sự nghiệp cách mạng, nhưng e ngại mình tuổi già sức yếu. Sau khi nghe tôi trình bày những điểm cơ bản trong Nghị quyết tám của Trung ương. Cụ nóị:

- Tôi nay tuổi già, sức yếu, lại bị căn bệnh lao phổi hành hạ vào ngày đông gió rét. Tôi chỉ còn mong đợi các anh, lớp người trẻ cố gắng xây dựng lại phong trào. Được vậy tôi xin giới thiệu cùng các anh một con người tuyệt đối trung thành với sự nghiệp của Đảng. Đó là anh Nguyễn Tiểu.


Theo lời ông kể thì anh Tiểu nằm trong số quần chúng đi biểu tình trong phong trào cách mạng năm 1930 - 1931, bị bắt tù một thời gian rồi được tha về. Năm 1936 - 1937, anh có tham gia hoạt động trong Mặt trận Dân chủ Đông Dương, nhưng từ năm 1939 thì mất liên lạc. Anh là một cố nông, có vợ và hai con, cuộc sống vô cùng cực khổ. Cụ Toại là người tương trợ giúp đỡ anh vào những tháng giáp hạt, những ngày đứt bữa. Hôm đến thăm, anh đưa tôi vào cái lều làm bằng mấy thân tre bắt chéo vào cành mít. Bên trên lợp tạm mấy tấm tranh để che mưa nắng, bốn phía kẹp rạ thay tường. Anh Tiểu nói với tôi những lời tâm huyết. Giọng anh xúc động, ngắt quãng:

- Mấy năm nay tôi ở đây không xây dựng được phong trào. Từ ngày bọn Pháp lập nhà giam Ba Tơ rồi chuyển thành căng an trí, đưa anh em tù chính trị lên đây. Tôi mấy lần hỏi cụ Giáo1 (Cụ Trần Toại trước dạy học, dân quen gọi cụ Giáo. Đầu năm 30 tham gia Tỉnh ủy Quảng Ngãi, được phái xây dựng phong trào Phú Yên và làm bí thư Tỉnh ủy đầu tiên) thì biết anh em vẫn nằm yên chưa ai đứng ra xây dựng tổ chức. Thật lòng tôi buồn lắm. Chả lẽ Pháp rồi bây giờ thêm Nhật nhảy vào mà dân ta chịu mãi cảnh sống cơ cực thế này sao? Hôm nay gặp anh - Anh Tiểu ngước nhìn tôi, hai giọt nước mắt lăn trên đôi gò má hốc hác đen sạm, rồi nói tiếp - Tôi có gì để mất đâu hả anh? Nhà cửa rách nát, vợ con nheo nhóc, sống hôm nay chưa biết ngày mai cho cái gì vào miệng, nên tôi nguyện đem hết lòng, hết sức phục vụ cách mạng. Hiềm một nỗi, tôi dốt nát, ít học hành liệu giúp được gì cho các anh?

- Anh có hay đi đây đó không? - Tôi hỏi.

- Đi đâu hả anh?

- Như đi xuống Nghĩa Hành, Mộ Đức, Sông Vệ, Thu Xà?

- Không - Anh trả lời - Lam lũ quanh năm mà không đủ miếng ăn, tôi lấy tiền đâu đi đây đi đó - Anh nhìn tôi dò hỏi rồi tiếp - Nhưng nếu cách mạng cần thì tôi quyết làm bằng được, anh tin tôi.


Những lần gặp khác cụ Toại đã trao lại cho tôi, lớp con cháu của cụ, những kinh nghiệm thành bại trong suốt quãng đời hoạt động của mình. Thế là tôi đã tìm được một người cố vấn nhiều kinh nghiệm và một đồng chí liên lạc tin cậy.


Tiêu đề: Bình Minh Ba Tơ
Gửi bởi: quansuvn trong 19 Tháng Giêng, 2021, 09:02:01 am
Tháng 6 năm 1942 địch đưa anh Huỳnh Tấu từ nhà lao Buôn Ma Thuột lên an trí ở Ba Tơ. Để anh Tấu nghỉ yên một thời gian nhằm đánh lừa sự theo dõi của địch, sau đó chúng tôi liên lạc với nhau. Ủy ban nhân dân cách mạng được củng cố gồm tôi, anh Khoách, anh Tấu, do anh Tấu làm bí thư. Tháng 12 năm 1942 thêm anh Võ Phấn và Nguyễn Cừ vừa mãn hạn ba năm tù ở nhà lao Gi Lăng, địch đưa lên đày an trí. Thế là Ủy ban vận động cách mạng có 5 người.


Mãi đến lúc nầy anh Huỳnh Tấu mới khui cái "kho tài liệu" anh mang từ Buôn Ma Thuột về, gồm chương trình Việt Minh, tài liệu huấn luyện các đoàn thể quần chúng, và bản tóm tắt Nghị quyết tám của Trung ương. Nhớ hôm mở "kho tài liệu", anh Tấu nói:

- Chỉ có chừng nầy mà mình phải mất nửa năm mới chuẩn bị xong. Tháng nào cũng khai "ma lách" vài ngày, trốn "các vệ" để làm cái việc "trọng đại" này.

Anh Tấu lôi cái bình đụng nước uống bằng ống tre hai đáy, đục lớp xi gắn bên trong rồi lấy ra mấy tờ pơ-luya to bằng bàn tay, nét chữ nhỏ li ti, đưa cho tôi, nói tiếp:

- Hôm về thằng lính áp giải thấy mình xách theo cái ống tre, nó nói mỉa "anh đi tù bảy tám năm về, được cục vàng to ghê, tha hồ mà cất nhà lầu, mua ruộng". Mình chỉ cười, nghĩ thầm "có mày ngu mới không biết, cái này còn quý hơn vàng, có thể mua được cả đất nước". Ủy ban vận động cách mạng họp chủ trương tích cực xây dựng cơ sở ở huyện đồng bằng, tìm liên lạc với thủ lĩnh người Thượng có tinh thần chống Pháp, xây dựng lực lượng du kích, chuẩn bị căn cứ chống Pháp dựa vào đồng bào Thượng ở núi cao. Sau khi thống nhất chủ trương, chúng tôi phân tích thêm:

- Cách mạng Việt Nam khó giành được thắng lợi hoàn toàn một khi chủ nghĩa phát xít chưa bị đánh gục. Cuộc phản công của Hồng quân Liên Xô báo hiệu nguy cơ chủ nghĩa phát xít bị tiêu diệt đã rõ. Điều đó gieo lòng tin cho anh em lâu nay có tư tưởng chờ thời, vì họ hiểu rằng một khi chủ nghĩa phát xít bị tiêu diệt là cơ hội thuận lợi để cách mạng ở các nước thuộc địa đứng lên lãnh đạo quần chúng đạp đổ ách thống trị.

- Hiện nay bọn Nhật ở Đông Dương còn mạnh, nhưng là cái mạnh của con hổ bị sa lưới, lực lượng ta yếu nhưng là cái yếu của người đang độ phát triểp, dám chấp nhận sự hy sinh để giành độc lập, tự do cho đất nước.

- Chúng ta dựa vào sức mình là chính, đừng trông chờ vào quốc tế viện trợ. Nếu điều ấy xảy ra càng tốt. Nhưng trước mắt có thể thấy Hồng quân Liên Xô khó vào đến Đông Dương, có chăng chỉ đến Hoa Bắc. Khi ấy sức mạnh của Hồng quân Trung Hoa tăng lên gấp bội và tất nhiên có tác động đến tinh thần của đồng bào, đồng chí trong cả nước ta, tạo thuận lợi cho việc vận động xây dựng phong trào ở cơ sở.

- Hiện nay ta có khu du kích Bắc Sơn. Uy tín của Đảng ngày càng lớn, cơ sở Việt Minh đang xây dựng, phát triển nhanh chóng ở nhiều tỉnh phía bắc. Đó cũng là thuận lợi để chúng ta xây dựng cơ sở Việt Minh và các đoàn thể quần chúng.


Những ý kiến trên càng củng cố trong chúng tôi lòng tin vào sự thành công của cách mạng. Nhưng để phổ biến nhanh chóng, rộng khắp chương trình điều lệ của Mật trận Việt Minh và các đoàn thể cứu quốc cần tổ chức bộ phận ấn loát và gây quỹ nhằm đảm bảo những điều kiện vật chất cho việc hoạt động. Vì là người đã từng làm công việc in ấn tài liệu của Đảng từ những năm 1938 - 1939 nên anh em phân công tôi lo liệu. Khó khăn trước mắt là ở đây thường hai ba anh sống chung nhà, nhưng chưa sinh hoạt chung trong cùng tổ chức. Mỗi lần có người thân lên thăm ai đó, anh em khác phải sang ngủ nhờ nhà bạn. Hàng ngày chúng tôi thường hay qua lại thăm viếng nhau. Điều kiện ấy làm sao giữ được bí mật. Chúng tôi trao đổi mãi rồi cuối cùng cũng chẳng tìm ra được cách giải quyết. Ngày ấy tôi gầy yếu, thường hay sốt, ho vì viêm họng. Anh em bàn nhau phao tin tôi bị lao phổi. Nhiều người khuyên tôi làm đơn xin được về nhà chữa bệnh. Trước mắt phải sống cách ly để khỏi lây lan cho người khác. Tôi mua một chiếc thuyền, ngày ngày sống lênh đênh trên dòng sông Liên để được hít thở không khí trong lành chờ ngày được tha bổng sẽ về nhà chữa bệnh. Từ đó tôi sống trên chiếc thuyền có mui che kín đáo. Ngày ngày trừ những giờ làm việc ngoài đồng thỉnh thoảng tôi mới ghé về nhà anh Duân, nhưng giữ ý cách ly nhau khi chuyện trò. Tôi cùng anh Phân, anh Cừ chèo chống, cho thuyền vượt thác xuống ghềnh thành thạo trên đoạn sông từ Ba Tơ xuống dốc Mốc. Những lần đi lại trên dòng sông này chúng tôi đã tìm được một vũng nước sâu, lặng nằm ngay sau đồn địch. Tôi neo thuyền sát vực dốc đứng, bên trên lau lách che kín, lính đồn không nhìn thấy. Thuyền đi lại trên sông theo lạch nước bên ngoài, chẳng ai thèm để ý đến con thuyền nhỏ nép mình trong vũng nước sâu. Qua mấy tuần nghe ngóng không thấy binh lính, bọn nha lại, anh em nghĩ gì đến việc tôi ra ở sông trên chiếc thuyền. Tôi bắt đầu tính việc in tài liệu. Giấy mực thì mỗi lần vợ tôi lên thăm có mang theo cho một ít, tôi ky cóp lại, cộng với số giấy của các anh em khác mua ở cửa hàng tạp hóa cũng tạm đủ. Cái khó là tìm đâu ra đông sương bây giờ. Tôi xuống gặp anh Tiểu hướng dẫn kỹ cách quan sát thái độ người bán, lý do hỏi mua, cốt sao đừng để họ có tí nghi ngờ nào. Với anh Tiểu làm được việc này là khó, vì lâu nay anh có tiếp xúc buôn bán bao giờ đâu. Anh ngồi nghe tôi nói, vẻ suy nghĩ, một lúc sau, anh nhìn tôi, giọng cả quyết:    

- Việc này đối với tôi là khó. Nhưng anh yên tâm, tôi cố làm bằng được.

Anh Tiểu lặn lội đến phố Hoa kiều ở Thu Xà tìm được cửa hàng của một người Hoa. Ông chủ là người vui vẻ, vô tâm, cốt bán được hàng, không cần biết dùng vào việc gì. Mua được đông sương rồi, tôi bắt tay vào việc. Máy móc trong "nhà in" của tôi chỉ có cái ấm đất để nấu đông sương, cái bàn cờ làm khuôn đổ đông sương, mực tím và mấy tập giấy. Tôi nhìn những sản phẩm mình in ra "Chương trình Mặt trận Việt Minh", "Lời hiệu triệu của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc" mà sung sướng muốn reo lên. Tôi dựa lưng vào mạn thuyền, ngắm nhìn không chán những hàng chữ màu mực tím sắp hàng thẳng tắp trên những trang giấy trắng mà hình dung cảnh đồng chí, đồng bào quê tôi sung sướng đến nghẹn ngào khi đọc những lời tâm huyết trong tuyên ngôn của Mặt trận Việt Minh: "Hỡi đồng bào! Từ khi lập quốc, xét lịch sử nước ta chưa bao giờ nhọc nhằn đau khổ như lúc nầy. Nhưng chúng ta có cam tâm làm nô lệ mãi không? Chúng ta có chịu cho quân sài lang đế quốc giày xéo lên thân ta, đẽo khoét dân ta đến tận xương tuỷ không? Trăm lần không!


Một dân tộc có trên bốn nghìn năm lịch sử, trước sau bị Trung Quốc đô hộ đến mười thế kỷ mà vẫn không bị diệt vong, một dân tộc đã đẻ ra những vị anh hùng cứu quốc như Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung quyết không chịu làm vong quốc nô mãi"...


Tiêu đề: Bình Minh Ba Tơ
Gửi bởi: quansuvn trong 19 Tháng Giêng, 2021, 09:04:09 am
Tôi làm việc suốt mùa hè, đến mùa mưa, nước lũ đổ về ào ào tràn qua thác. Con thuyền chồng chềnh không viết, không in được, cũng là lúc công việc vừa xong. Từ đây, tài liệu theo chân anh Tiểu và những người thân lên thăm chúng tôi về khắp các vùng trong tỉnh: Trường An, Mộ Đức, Đức Phổ, Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, các miền phía đông, phía tây Sơn Tịnh, Bình Sơn... Tài liệu của Đảng như những mạch nước ngầm tự tìm dòng chảy trong lòng đất để rồi hội tụ thành con suối, con sông và cuối cùng chảy vào đại dương mênh mông. Chỉ một thời gian, các tổ chức cứu quốc được thành lập, phong trào hoạt động bí mật có cơ sở hầu khắp các vùng trong tỉnh.


Mùa xuân năm 1943, trước và sau Tết Âm lịch, vợ con, người thân, họ hàng và một số cán bộ nòng cốt ở cơ sở cũng trà trộn vào đây để lên thăm chúng tôi. Trong vài ngày họ ở lại Ba Tơ, chúng tôi tranh thủ bồi dưỡng phương pháp tuyên truyền, vận động xây dựng các tổ chức cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh. Hết hạn thăm nuôi, mỗi người ra về đều mang theo một hành trang nhỏ về kinh nghiệm tổ chức xây dựng phong trào. Riêng việc gây cơ sở trong vùng đồng bào Thượng ở núi cao, lâu nay có tư tưởng chống Pháp thì chưa làm được, mặc dù chúng tôi đã giác ngộ một số quần chúng tốt trong người Thượng ở mấy buôn làng quanh Ba Tơ. Nhưng khi nhờ họ đưa đường lên các vùng núi cao thì họ lắc đầu "ú hua! ú hua" (không dám! không dám). Hỏi kỹ chúng tôi mới hiểu họ sợ bọn địch bắt bỏ tù, và các tù trưởng thủ lĩnh bắt tội nặng nếu sào huyệt bị lộ.


Tôi tìm xuống cụ Trần Toại. Cụ Toại giới thiệu tôi với anh Giàu, một nông dân người Thượng thường làm thuê và được gia đình cụ Toại giúp đỡ lúc ngặt nghèo. Cuộc sống gia đình anh hoàn toàn ngược với tên gọi của anh. Sống giũa vùng rừng núi mà nhà dột trước dột sau. Quanh năm quấn trên mình cái khố rách, ngày mưa rét thì ngồi bên bếp lửa khoác thêm tấm đồ trên vai. Tôi đem đên cho anh vài bộ quần áo cũ, ít thuốc men. Khi đã quen thân, tôi ngỏ lời nhờ anh đưa tôi lên Giá Vụt gặp Già Kiêu, một tù trưởng nức tiếng chống Pháp trước dây. Anh Giàu vui vẻ nhận lời. Trở về tôi bàn với anh Khoách, anh Phấn lo liệu việc trá hình trình diện với lính gác cổng, tôi vắng mặt, rồi chuẩn bị hành trang lên đường.


Sau vụ thu hoạch vào tháng ba âm lịch là tết cổ truyền của đồng bào dân tộc Hre. Tết kéo dài một tháng. Thường là đầu tháng đến cuối tháng, hoặc từ đầu tuần trăng này đến đầu tuần trăng sau. Chuẩn bị tết, nhà nghèo cũng có sáu bảy ché rượu cần, mất bốn, năm yến gạo nếp để gói bánh. Nhà giàu đâm trâu, nhà nghèo cũng giết heo. Họ thăm viếng ăn chơi, ca hát, suốt ngày đêm vang tiếng cồng chiêng. Những thù hận, xích mích trong năm đều được đưa ra phân xử trong những ngày vui tết. Họ tháo những gút dây ghi hận thù để chứng tỏ lòng mình đã thanh thản, coi nhau như anh em. Tết cũng là mùa cưới vợ, chồng. Tùy theo giàu nghèo, xinh đẹp mà người ta đặt tiền cưới bằng nồi đồng, ché rượu, chiêng cồng, bò trâu, heo gà. Khi mọi thỏa thuận đã xong xuôi người ta chào nhau "ú ca các lé" (không còn phạt vạ gì nữa).


Tôi và Giàu lưng mang gùi, vai đeo túi trong đựng vải vóc, kim chỉ, áo quần may sẵn, ít thuốc chữa bệnh, vài ba chai rượu "vân cự" để che mắt lính tuần. Nếu gặp chúng tôi, tôi có thể nói dối là lái buôn đi bán hàng. Chúng tôi vượt Mang Đốc, qua đèo Trà Nô. Đến đây không con sợ gặp lính tuần, chúng tôi ngồi lại dưới bóng cây Kơ-nia giở cơm gói ra ăn. Ăn xong lại tiếp tục đi. Chúng tôi đi giữa tiếng cồng chiêng âm vang của núi rừng Tây Nguyên mừng lễ hội. Gần chiều chúng tôi lội qua sông Giá Vụt, dừng lại tắm rửa, rồi đặt chân lên vùng "đất cấm" của tù trưởng Già Kiêu.

Tôi hỏi Giàu:

- Gần đến làng Già Kiêu chưa anh?

Giàu chỉ tay ra phía trước trả lời:

- Qua cái đồi này, lội ngược con suối, rồi leo thêm hai dốc nữa, chừng nào mồ hôi ướt lưng mới tới buôn ngoài. Đến buôn ngoài tôi gặp ngay một thanh niên trạc tuổi hai lăm, cao lớn vạm vỡ, mình trần, tóc cắt ngang vành tai, mày rậm, mắt sáng quắc, ngang bụng nịt một thắt lưng to bản bện bằng dây thừng quanh lưng đeo ná, ống tên và một dao rừng ánh nước thép. Theo sau là mấy thanh niên cầm mác, mang ná và ống đựng tên. Giàu bước lên trao đổi gì với người thanh niên. Một lúc anh ta tiến về phía tôi, nhíu đôi lông mày rậm nhìn, vẻ ngờ vực. Giàu giải thích:

- Đây là người cộng sản anh em, an trí Ba Tớ muốn lên đây gặp cha mày bàn chuyện đánh Tây giành lại con nước cái rừng, bỏ cái thuế cái xâu đó.

Nghe xong anh nói to bảo tôi:

- Mầy đánh Tây, cần lúa gạo, thịt rượu gì lên đây cha tao cũng cho. Còn mộ binh ở đây không được đâu. Qua nhiều mùa rẫy từ hồi cha tao còn trẻ, nay đã già mà Tây cũng không lên đây được. Ông trời cho chúng tao xuống núi giết hết bọn Tây thì giữ núi này mà sống không đi xâu, nạp thuê cho Tây đâu.    Nghe anh Giàu dịch lại, tôi mỉm cười:

- Người cộng sản không cần cái gạo, cái thịt, cái rượu đâu, mà cần bàn với Già Kiêu hợp sức đánh thằng Tây.


Anh thanh niên quay lại dặn ba người cầm mác đứng canh gác chúng tôi, còn anh và hai người nữa vào bên trong. Họ đi rồi, tôi đứng lại nhìn ra chung quanh thấy thế núi thế khe ở đây thật hiểm trở. Kẻ thù đến đây làm sao đoán được, trong cánh rừng già kia cái gì đang đợi chung: một giàn thò, một bãi chông hay nước từ trên cao bất ngờ đổ xuống con suối cạn, đất đá cây rừng cuốn phăng đi hàng trăm tên lính! Tôi mỉm cười nhớ lại chiến thuật "sa nan úng thủy” của vị tướng tài Cao Thắng mà ngày nào tôi đọc thấy trong cuốn sách viết về cuộc chiến đấu chống Pháp của cụ Phan Đình Phùng. Tôi thầm phục tài tổ chức chống Tây của người tù trưởng già này.


Tiêu đề: Bình Minh Ba Tơ
Gửi bởi: quansuvn trong 19 Tháng Giêng, 2021, 09:06:07 am
Khi ba người trở lại, anh thanh niên gửi Giàu ở bên ngoài, rồi đưa tôi đến gặp Già Kiêu. Già Kiêu đứng ở đầu tra1 (Đầu hồi nhà) đợi khách. Bước vội lên mấy bậc thang, anh thanh niên đến trước mặt Già Kiêu.

- Thưa cha! Thằng tà-pọt (da trắng) này là người cộng sản an trí Ba Tơ lên đây gặp cha bàn đánh Tây. Bây giờ tôi mới biết anh ta là người con trai tâm phúc của tù trưởng. Già Kiêu niềm nở mời khách vào nhà. Tôi ngồi xuống chiếc chiếu hoa trải sẵn. Trong lúc Già Kiêu thổi bùng ngọn lửa, hâm nóng ấm nước chè xanh rồi rót vào hai cái bát sứ, tôi đảo mắt nhìn quanh. Trong gian nhà rộng, nồi đồng đủ cỡ nhỏ to sắp chồng lên nhau từ sàn lên đến mái. Trên đầu nằm của Già Kiêu hàng chục bộ chiêng, ché sắp thẳng hàng. Ở đầu tra, trên hai sợi song mây mắc đầy những bộ sừng trâu, răng hổ, răng lợn rừng và xương đầu trâu trắng hếu. Nhìn cách trang trí trong nhà cũng đủ biết vị tù trưởng già này là người giàu có và đầy thế lực đối với dân quanh vùng. Già Kiêu mời tôi uống nước rồi mở đầu câu chuyện. Ông nói tiếng Kinh rất sõi, thỉnh thoảng mới chêm vài tiếng dân tộc, giọng trầm, đục, chậm rãi:


- Mấy năm nay biết Tây bắt người cộng sản lên giam ở Ba Tơ, nhưng tao chưa gặp mặt. Nay có người an trí tà - pọt lên đây, cái bụng tao mừng lắm. Tao muốn nghe mày nói chuyện người cộng sản đánh Tây như thế nào. Liệu có thắng được nó không? Dân vùng này mấy lần nổi dậy đánh đồn. Nhưng cái ná không giết được chúng nó nhiều. Tây đem lính về đốt buôn phá rẫy. Dân phải bỏ làng kéo nhau lên núi cao. Ở đây không có muối, thiếu cái cuốc, cái rựa làm rẫy, cái nồi rang gạo, mảnh vải làm khế, cây kim sợi chỉ vá may. Có đứa sợ Tây, sợ đói ra hàng. Mấy lần Tây đồn, kiểm lý Ba Tơ nhắn lên mời tao ra làm chánh tổng, nhưng tao không nhận. Tao ghét thằng Tây, ghét quan ta, không muốn nhìn mặt bọn nó. Bây giờ mày lên đây ở lại lâu lâu, bày cho cách đánh Tây.


Tôi ngồi nghe, cảm thông với tấm lòng người tù trưởng già khao khát tự do.

Tôi nói:

- Từ khi Tây chiếm nước mình, người Kinh, người Thượng đều bị nó bắt đi xâu nhiều, nộp thuế nặng. Kêu xin thì nó đánh, chống lại thì nó giết, bắt tù. Người cộng sản chúng tôi đánh Tây là để giành lại đất nước, để người Kinh, người Thượng đi lại làm ăn, giúp đỡ nhau. Nước mình, mình giữ, đất mình, mình làm ăn, không ai áp bức ai, không phải đi xâu nạp thuế.

Già Kiêu chồm sang nắm tay tôi:

- Nghe mày nói tao sướng cái bụng quá, ước gì được vậy. Người tù trưởng già lặng im, đôi mắt mơ màng nhìn ra khung trời trước mặt như đang hình dung cảnh Kinh, Thượng kết đoàn, thương yêu nhau, bỏ qua mọi thù hận. Rồi gỗ quý, măng rừng... theo con suối con sông về xuôi; gạo, muối, vải vóc, cuốc, rựa, kim chỉ... theo vai người lên núi. Một lúc, già Kiêu quay sang hỏi tôi:

- Nhưng tao lo, thằng Tây có cái súng nhiều, bắn đi xa, còn cái ná mình bắn không tới nó, cái mác mình đâm không thủng thịt da nó, làm sao giết hết được, đuổi được nó ra khỏi nước mình?

Tôi cười:

- Thế mà lâu nay Tây có lên được buôn của già đâu. Mình đánh nó theo cách của mình, miễn sao giết được nhiều Tây, nhiều lính. Đánh hoài giết hoài thì nó phải bỏ nước mình mà đi.

- Mày nói trúng cái bụng tao rồi. Đã nhiều mùa rẫy, từ hồi thằng đội "Xạc" kéo lính lên bị cái chông giàng mũi tên độc của dân làng tao bắn chết thì chúng nó không dám lên nữa.

- Nhưng lâu nay thằng Tây nó làm người Kinh ghét người Thượng, người Thượng thù người Kinh, nên Kinh Thượng chưa hợp sức cùng nhau "bờ ró tà dẻ" (nổi dậy đánh giặc), chỗ này đánh, chỗ kia không, nên Tây bắt lính nơi này đi đánh nơi khác. Kinh, Thượng chưa có người tài giỏi chỉ cách đánh Tây. Nay mình có cụ Nguyễn Ái Quốc, người tài giỏi đi nhiều nước học cách đánh Tây, coi Kinh, Thượng như anh em một nhà, kêu gọi đánh đuổi thằng Tây ra khỏi nước mình rồi cùng nhau làm ăn, sao cho người Thượng có cái khố lành, cái váy đẹp, học được cái chữ người Kinh, có bữa cơm no. Bây giờ ở núi rừng ngoài Bắc mình cũng có một vùng Tây không lên được. Cụ Nguyễn Ái Quốc đang ở đấy bày người Thượng người Kinh đánh Tây, dạy họ học cái chữ.

Già Kiêu chăm chú nghe, thỉnh thoảng gật gật đầu, kêu lên "ọ, ọ! gió! gió" (ừ, ừ ! đúng! đúng!).

Tôi đọc và dịch đại ý bức thư của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Trầm ngâm suy nghĩ một lúc, Già Kiêu bảo tôi:

- Mày nói hay lắm! Đúng lắm! Tao chưa được nghe ai nói như mày, tao tin mày, tin cộng sản đánh được Tây. Nhưng việc này to lắm, phải giữ kín. Tao sẽ nghĩ, lần sau lên đây, tao sẽ nói cái bụng tao nghĩ gì.

- Ông cứ nghĩ, nhưng việc đánh Tây không chậm được đâu.

Tôi lựa cách nói cho Già Kiêu hiểu Nhật sẽ vào Đông Dương bắt dân mình phá lúa trồng bông, trồng lạc. Ngoài Bắc người đói chết đầy đường. Tây ghét Nhật nhưng sợ, vì Nhật - Đức - Ý hợp sức đưa quân đi đánh chiếm nhiều nước. Trước sau thì Nhật cũng cướp nước mình.

- Vậy đợi đến lúc đó đánh luôn thể - Già Kiêu ngắt lời tôi.

- Không, việc đánh Tây phải lo từ bây giờ. Nhật - Đức - Ý tuy mạnh nhưng đang trong thế thua. Vì bị quân Nga, Pháp, Mỹ, Ánh, Tầu hợp sức đánh lại. Dưới xuôi ngày nào tàu bay Mỹ cũng ném bom vào quân lính và tàu Nhật đậu ngoài khơi, có lần lửa bốc cháy suốt ngày đêm.


Hôm đó Già Kiêu thết tôi một bữa cơm rượu với thịt nai khô. Đêm ấy một già, một trẻ, người Thượng, kẻ Kinh nằm bên nhau say sưa bàn chuyện đánh Tây. Hôm sau tôi gửi biếu Già Kiêu một số hàng đem theo, mua một đôi gạc nai vắt lên vai trở về Ba Tơ để che mắt bọn người xấu.


Cuộc hành trình từ sớm đến chiều mới về đến Ba Tơ. Chia tay anh Giàu, tôi ghé thăm mấy anh em an trí ở xóm Đá Bàn. Trên đường về nhà tôi tạt vào Trần Cừ, chuyện trò một lúc, khoe với hắn chuyến buôn vừa rồi kiếm được món lãi kha khá. Cốt che mắt hắn. Cừ là người thông minh, sắc sảo, tham gia phong trào cách mạng từ những năm ba mươi, ba mốt, bị địch bắt tù ở Buôn Ma Thuột, nhờ tư chất thông minh, lại có chút ít học vấn nên trong nhà tù hắn tiếp thu lý luận nhanh, sinh ra tự cao tự phụ coi thường đồng chí. Điều tệ hại là trong tư tưởng hắn luôn luôn nghĩ "mình phải là lãnh tụ" và nguy hiểm hơn là trong đấu tranh có ai ngược với ý mình thì hắn tìm cách tiêu diệt, kể cả biện pháp tàn nhẫn nhất. Mãn hạn tù địch đưa Cừ lên an trí Ba Tơ. Trong thời gian ở an trí, Cừ lấy vợ, lập nghiệp ở đây. Biết rõ bản chất con người hắn, bọn mật thám bí mật liên lạc, tâng bốc hắn, dần biến thành tên tay sai. Bên ngoài, Cừ vỗ ngực tự nhận mình cùng cánh với anh em tù an trí, nhưng bên trong thường làm nhụt chí với lời "khuyên" anh em "vừa thôi các ông ơi! Để còn được về mà hoạt động, định nằm chết ở đây à?". Cừ còn bày anh em mánh khóe buôn bán gian lận đồng bào Thượng để chóng giàu. Khi Nhật nhảy vào Đông Dương, Cừ bí mật vận động một số anh em ký tên vào "Bản điều trần xin liên minh với Pháp chống Nhật". Nhiều người nghi ngờ, linh cảm thấy như có cái bẫy đang chờ họ bước vào sau những lời lẽ hùng hồn của Cừ. Nhưng ai cũng thích nghe nó nói để tìm lý lẽ biện bạch cho hành động nằm im lâu nay của mình. "Nước chảy đá mềm", lâu ngày rồi thằng Cừ cũng có thể làm hư hỏng tâm hồn cua một số người. Mấy lần chúng tôi bàn phải vạch mặt nó, nhưng chưa tìm ra cơ hội.


Tiêu đề: Bình Minh Ba Tơ
Gửi bởi: quansuvn trong 19 Tháng Giêng, 2021, 09:09:26 am
Tháng 5 năm 1943, chi bộ họp kiểm điểm, đánh giá kết quả công tác và thống nhất nhận định: Hiện nay đã xây dựng được cở sở cach mạng ở hầu hết các huyện trung châu. Riêng ở hai huyện Mộ Đức, Nghĩa Hành, phong trào hoạt động của các đoàn thể cứu quốc đang lên mạnh. Việc bắt liên lạc với Trung ương thì kể từ khi đồng chí Chu Huệ trốn nhà lao Buôn Ma Thuột tìm về Ba Tơ bắt liên lạc với anh em an trí, ta giao công việc này cho Chu Hụệ, nhưng đến nay đã năm tháng trôi qua mà chưa nhận được tin tức. Qua báo chí ta biết Hồng quân Liên Xô mở cuộc tiến công Phát xít Đức trên nhiều mặt trận, đặc biệt giành thắng lợi lớn trên mặt trận Lê-nin-gờ-rát. Mỹ, Anh chuyển hướng phản công sang Thái Bình Dương. Ở chính quốc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Pháp, những đoàn quân du kích chiến đấu anh dũng chống phát xít Đức. Từ những diễn biến đó có nhiều khả năng ở Đông Dương Nhật sẽ lật Pháp để trừ hậu họa, tránh một mũi dao đâm vào sườn. Tình thế đã đổi khác. Hội nghị quyết định đổi tên ủy ban vận động cách mạng thành ủy ban vận động cứu quốc. Mặt trận mở các lớp huấn luyện cho cán bộ cơ sở, giúp họ nắm vững chủ trương, phương pháp vận động quần chúng, xây dựng phong trào rộng khắp trên mọi miền trong tỉnh. Mặt khác tiếp tục vận động đồng bào dân tộc, bắt liên lạc với các thủ lĩnh chống Pháp người Thượng, xây dựng cơ sở, chuẩn bị lực lượng vũ trang, khi có thời cơ thì khởi nghĩa từng phần theo tinh thần Nghị quyết tám của Trung ương.


Anh Huỳnh Tấu đề nghị mở một cuộc tuyên truyền công khai rầm rộ bằng việc treo cờ, rải truyền đơn, dán biểu ngữ để cổ vũ phong trào quần chúng làm hậu thuẫn cho việc xây dựng cơ sở quần chúng. Sau khi trao đổi, thảo luận trong anh em nhận thấy cơ sở ta vừa xây dựng tuy nhiều, nhưng chưa vững chắc. Ta chưa chuẩn bị đầy đủ điều kiện để khi thoát ly có thể xây dựng ngay căn cứ chống giặc. Bọn mật thám Pháp, một số tổ chức thân Nhật ráo riết hoạt động dưới chiêu bài "Đại Đông Á’’ ca ngợi tinh thần "đồng chủng đồng văn". Một số người mắc mưu, hy vọng dựa vào Nhật để giành độc lập. Cũng có những tên do Nhật cài vào làm tay sai cho chúng. Tất cả bọn này lùng sục tận thôn xã dò tìm, đánh phá cơ sở ta. Những cuộc đấu tranh công khai vào những năm 39-40, 40-41 đã để lại một bài học đau xót, những kinh nghiệm nhớ đời. Phát động tuyên truyền công khai lúc này là làm lộ tổ chức, là đánh thức tinh thần cảnh giác của bọn mật thám Pháp và những tên tay sai Nhật mà lâu nay bọn chúng chủ quan tưởng rằng đã tiêu diệt được phong trào cách mạng Quảng Ngãi từ những năm ấy. Thực tế tình hình ở Ba Tơ, ta còn có thể lợi dụng được tính hợp pháp để cơ quan trung tâm tiếp tục hoạt động.


Vào những ngày cuối tháng 7 năm 1943, nguồn tin do người nhà mang lên cho biết: từ ngày 14 đến 17 tháng 7 ở Cầu Cát (phía nam thị xã Quảng Ngãi) xuất hiện cờ đỏ sao vàng và truyền đơn rải dọc đường xe lửa. Hiện nay bọn mật thám đang lồng lộn, truy tìm cơ sở cách mạng. Bọn chúng bắt những người bị tình nghi, tra tấn dã man nhiều chính trị phạm cũ.

Một buổi chiều, tôi đi Trường An gặp cụ Trần Toại, vừa về đến nhà thì anh Tấu đến.

- Khâm này! Cơ sở báo lên cho biết, đúng là có treo cờ, rải truyền đơn vào những ngày từ 14 đến 17 tháng 7 vừa rồi.

- Cuối tờ truyền đơn, ký tên tổ chức nào? Anh biết không? - Tôi hỏi.

- Không rõ.

- Chúng ta phải nhắn cơ sở tìm một truyền đơn gởi lên xem thử thuộc tổ chức nào? Phải đề phòng bọn AB1 (AB đoàn: Viết tắt của Agency Beuraux: cục tình báo của địch) đoàn mạo danh cách mạng anh ạ.

Anh Tấu ngồi lặng im, vẻ suy nghĩ, một lúc sau mới ra về. Suốt thời gian ấy chúng tôi chuẩn bị đối phó với những bất trắc xảy ra. Nhưng một tháng trôi qua bọn mật thám lùng sục truy tìm, vẫn không ra manh mối.


Cuối tháng 8 năm 1943. Buổi sáng khi mặt trơi vừa vượt qua rặng núi đằng đông, một chiếc xe con màu mận chín vượt qua Dốc Mốc chặy thẳng lên đồn Ba Tơ rồi sang nhà kiểm lý Ba Tơ. Lát sau, một toán lính khố xanh, mấy tên mật thám do phó mật thám Bùi Trọng Lệ chỉ huy kéo đến nha, xích tay anh Huỳnh Tấu và chạy xuống Trường An bắt đồng chí Huỳnh Máu, đầu mối liên lạc với Chu Huệ ở Nghệ Tĩnh, đưa về tỉnh. Chiều hôm ấy, anh Kiệt đi chăn vịt về bảo tôi:

- Rất có thể cơ sở ta ở đây bị lộ do cuộc phát động công khai vừa rồi.

- Nhưng ta có chủ trương phát động đâu?

- Chính anh Tấu nói với tôi là đã chỉ thị cho cơ sở trung châu treo cờ, rải truyền đơn.

- Anh bảo sao? Chính anh Tấu nói vậy à?

- Đúng! Anh Kiệt khẳng định, rồi tiếp - anh Tấu rất hối hận vì đã để xảy ra sự việc đáng tiếc đó. Vừa qua anh Chu Huệ vào, biết chuyện đã chỉ trích nghiêm khắc và nhắc lại chủ trương lúc này là cần giữ bí mật tổ chức, nhanh chóng xây dựng phong trào, quần chúng, chuẩn bị lực lượng vũ trang, khi có điều kiện tiến hành khởi nghĩa. Phát động quần chúng tuyên truyền công khai lúc này là bộc lộ lực lượng để kẻ địch tìm cách tiêu diệt. Thế là rõ. Đồng chí Tấu do nôn nóng chủ quan đã vượt ra ngoài nguyên tắc tổ chức, không tôn trọng nghị quyết chi bộ. Nhưng việc đã xảy ra rồi, bây giờ làm thế nào để duy trì cơ quan lãnh đạo ở Ba Tơ, củng cố các tổ chức cơ sở? Tôi không nghi ngờ tinh thần bất khuất của anh Tấu. Nhưng phải đề phòng, lỡ anh Tấu sơ hở trong khai báo, bọn mật thám theo đó lần tìm bắt thêm nhiều người nữa sẽ gây hoang mang trong quần chúng, phá vỡ cơ sở, phong trào ta vừa nhen nhóm. Tôi quyết định triệu tập họp chi bộ bàn biện pháp đối phó. Trong cuộc họp có ý kiến cho rằng cần nhanh chóng thoát ly khỏi căng an trí Ba Tơ, đề phòng bọn mật thám truy bắt các đồng chí khác nếu anh Tấu sơ hở khai báo.


Tiêu đề: Bình Minh Ba Tơ
Gửi bởi: quansuvn trong 19 Tháng Giêng, 2021, 09:10:33 am
Cũng có ý kiến đề nghị bên ngoài ta vẫn giữ nếp sinh hoạt bình thường, nhưng bên trong tổ chức canh gác cẩn mật, bảo vệ và duy trì trung tâm lãnh đạo, củng cố các cơ sở cứu quốc quanh vùng Ba Tơ. Mỗi người tự cất giấu tài liệu, áo quần, thuốc men ra rừng, khi có xe mật thám lên bắt người thì tất cả thoát ly rút vào rừng bàn cách tiếp tục hoạt động. Việc trước mắt là phải báo gấp cho các cơ sở tạm ngừng hoạt động để nghe ngóng phản ứng của địch. Chi bộ tán thành ý kiến này, coi đây là nghị quyết chung. Từ hôm ấy chúng tôi vẫn đi lại làm ăn, buôn bán bình thường, nhưng đêm đêm tôi và anh Kiệt chia nhau canh gác. Nhà tôi có cửa sổ nhìn về phía Dốc Mốc, ngồi đây có thể quan sát rõ ô tô lên xuống. Lần ấy vợ tôi lên thăm, ngạc nhiên thấy có bữa từ đầu hôm đến giữa đêm, có bữa từ giữa đêm đến sáng tôi ra ngồi bên cửa sổ nhìn ra ngoài trơi, cô rất lo ngại. Tôi phải nói rõ tình cảnh chúng tôi từ hôm anh Huỳnh Tấu bị bắt. Nghe xong cô cầm tay tôi, nói trong niềm xúc động:

- Vậy mà em lo anh có điều gì giận em.

Tôi kéo vợ ngồi sát bên mình kể cho cô nghe những công việc cơ sở phải làm để giữ bí mật tổ chức. Đêm ấy vợ tôi ngồi bên chồng trọn phiên gác. Hôm sau, cô ra về sớm để kịp báo tin cho các cơ sở Sơn Tịnh - Bình Sơn. Còn anh Tiểu báo ngay cho các cơ sở Mộ Đức, Đức Phổ, Nghĩa Hành.


Ngày tháng nặng nề trôi qua, chúng tôi sống trong thấp thỏm lo âu. Mãi đến hôm vợ anh Tấu lên thu dọn đồ đạc mang về có đưa cho tôi điếu thuốc hút dở. Mở ra, tôi đọc nét chữ li ti của anh Tấu: "Mọi việc đã xong, sắp mở phiên tòa. Chúc khoẻ, thành công". Thê là anh Tấu đã chịu cực hình tra tấn mà không hề hé môi để lộ tổ chức ở Ba Tơ. Tôi ngồi im lặng hình dung ra cảnh bọn mật thám như một bầy thú xông vào đánh anh tàn nhẫn. Tôi thầm nói với anh: "Anh Tấu ơi, anh đã trả giá quá đắt cho sai lầm vô nguyên tắc của mình, nhưng tinh thần của anh là tấm gương về lòng dũng cảm của Người cộng sản". Chị Tấu nghẹn ngào, nói qua nước mắt:

- Nhà tôi đang nằm ở xà lim tỉnh chờ ngày ra tòa, nhưng anh ấy yếu lắm, lần này chưa chắc qua khỏi. Sau này nghe một đồng chí kể lại, hôm bọn nó đưa anh Tấu vào phòng tra, thăng Lệ nhìn anh cười mỉa, giọng giễu cợt.

- Chẳng hiểu tôi với anh có duyên nợ gì mà năm ba lăm gặp nhau ở đây, giờ lại gặp.

- Vậy thì càng hay chứ sao, để ông hiểu rằng người cộng sản còn sống là còn đấu tranh cho, sự nghiệp cách mạng.

- Khá lắm! Anh là thằng cộng sản cứng đầu, quả chúng nó đoán không sai.


Cuộc tra tấn bắt đầu. Chúng nó đánh anh chết đi, sống lại mấy lần, máu mồm, máu mũi ộc ra đỏ cả sàn nhà. Trước sau chúng chỉ hỏi có một câu: "Tổ chức mày có những đứa nào? Mày có liên lạc với thằng Mau, con Mỹ, thằng Tri không?”. Trước sau anh Tấu vẫn trả lời: "Tổ chức chỉ có mình tao". Đến ngày thứ sáu, thằng Lệ thấy sức anh không còn chịu đựng được nữa, nhưng trong trận đấu này anh Tấu là người thắng cuộc. Thằng Lệ ra lệnh mang anh vứt xuống xà lim. Anh nằm trên nền xi máng, máu trong mồm úa ra ướt sũng vuông áo ngực, khắp người chỗ nào cũng thâm tím, sưng vù. Hai tay anh buông xuôi, gương mặt bình thản như người gánh nặng vừa vượt qua được dốc cao, giờ nằm ngủ một giấc dài cho lại sức. Lần ấy cùng với anh Tấu, bọn mật thám còn bắt anh Mau ở Nghĩa Hành, chị Mỹ, anh Tri ở Mộ Đức, do một liên lạc của Trung ương phái vào chắp nối với phong trào ở miền Trung, lúc trở ra đến Hà Tĩnh thì bị bắt, trong lời khai để lộ tên một số đồng chí.


Vụ án anh Huỳnh Tấu kết thúc đã giúp chúng tôi rút ra một kinh nghiệm tổ chức bảo vệ trung tâm phong trào cứu quốc ở Ba Tơ. Nhưng việc bắt liên lạc với Trung ương vừa mới bắt đầu nay đã bị gián đoạn.


Mùa đông năm 1943, được tin địch sẽ đưa một số đồng chí trung kiên vừa mãn hạn tù ở nhà lao Buôn Ma Thuột về an trí ở Ba Tơ, tôi, anh Kiệt, anh Khoách trao đổi tình hình và nhất trí nhận định: Bộ máy kìm kẹp của địch ở Ba Tơ có nhiều sơ hở, hàng ngũ anh em an trí dần dần đoàn kết. Một số người tìm đến chúng tôi dò hỏi muốn góp tay vào công việc chung. Tận dụng tình hình đó, chúng tôi cố tạo mọi cơ hội gây cho địch ảo tưởng rằng những người tù an trí Ba Tơ muốn an cư lạc nghiệp xây dựng cuộc sống lâu dài ở đây. Nhưng ngấm ngầm chúng tôi tạo mọi điều kiện mở lớp huấn luyện cho những thanh niên do những cơ sở giới thiệu lên nhằm đào tạo lớp cán bộ mới để mở rộng phong trào. Thực hiện chủ trương đó, anh Kiệt tiếp tục nuôi vịt, vừa để giải quyết cuộc sống trước mắt vừa làm tài chính cho Đảng. Tôi, anh Khoách, anh Đồng, một đồng chí tốt chưa khôi phục Đảng - thuê đất gần Dốc Mốc, xa Hoàng Đồn và Nha kiêm lý, để tránh sự dòm ngó của địch, mở trại trồng dâu nuôi tằm, tạo nơi đón người lên dự huấn luyện.


Đầu năm 1944, đồng chí Trương Quang Giao từ nhà lao Buôn Ma Thuột về nhà được mươi hôm thì mật thám bắt đưa đi an trí Ba Tơ. Anh Giao vừa lên Ba Tơ, chúng tôi bắt liên lạc ngay. Anh là người trầm tĩnh, kiên trung, giàu kinh nghiệm đấu tranh, cương quyết với kẻ thù, nhưng đầy lòng ưu ái đối với đồng chí, đồng bào. Sau khi ổn định việc ăn ở, anh Giao che tạm chiếc lều làm nghề cắt tóc để tiện việc tiếp xúc với nhiều anh em, tìm hiểu tính hình, tùy đối tượng mà tuyên truyền chủ trương của Đảng, động viên tinh thần chiến đấu, giữ vững ý chí của người tù cộng sản. Cái lều của anh ngày càng đông khách. Đám lính trong đồn cũng ra đây cắt tóc để được nghe anh nói chuyện. Lúc là chuyện tâm tình, khi là những lời bóng gió xa xôi kích động lòng yêu nước trong đám thanh niên binh lính.


Tiêu đề: Bình Minh Ba Tơ
Gửi bởi: quansuvn trong 19 Tháng Giêng, 2021, 09:13:53 am
Đông xuân năm 1944, Ủy ban vận động cứu quốc có thêm anh Giao họp kiểm điểm tình hình, đề ra nhiệm vụ mới: Đó là khẩn trương chắp nối với các cơ sở trung châu một thời gian tạm ngưng hoạt động để che giấu lực lượng, cần tiếp tục liên lạc với các tù trưởng người Thượng chuẩn bị lập khu căn cứ an toàn. Khẩn trương in ấn số tài liệu anh Giao mang về để mở lớp huấn luyện. Việc huấn luyện do anh Kiệt, anh Giao phục trách, nhưng chỉ tiếp xúc với từng người một để giữ bí mật. Tôi lo việc in ấn tài liệu. Nhưng lần này không thể dùng con thuyền cũ của tôi được nữa. Chúng tôi giao cho anh Khoách mua một ngôi nhà có trần bằng tre cây quấn rơm nhồi đất sét thật chắc chắn để cái "nhà in" của tôi đặt ngay trên đó. Không có đông sương, tôi nhờ các chị lên thăm chồng mua giúp rau câu biển, nấu thạch xoa đổ vào khuôn làm bàn in. Biết trên núi Cao Muôn có hai người anh em Rua và Rói kiên quyết lập căn cứ chống Tây, tôi bàn với anh Giàu đi một chuyên lên đấy. Chúng tôi mang theo vài bộ quần áo, ít thuốc men, mấy ống muối, vượt bến Buôn, ngược dòng suối Sung, gần trưa thì đến chân núi. Dừng lại nghỉ ở cửa rừng, trước mặt tôi là hai dãy núi cao, một con đường hẻm nằm kẹp ở giữa, lau lách cây rừng mọc lan ra gần lấp lối đi. Tôi hỏi:

- Con bao xa nữa thì đến buôn?

Anh Giàu nhẩm tính một lúc rồi trả lời:

- Đi đến chừng nào ông mặt trời quấn dưới chân mình thì gặp người của họ.


Chúng tôi kẻ trước người sau, bám vào cây rừng, leo theo con đường dốc đứng. Mồ hôi thấm ướt cả quần áo. Đến khi tụt được sang dốc bên kia thì trước mặt tôi là một cánh đồng rộng với những chân ruộng bậc thang. Gió đại ngàn tràn qua đỉnh dốc men theo sườn núi làm lay động cây rừng. Nhưng khi gió đổ vào cánh đồng thì loãng ra làm nổi sóng biển lúa xanh rờn. Không khí mát dịu. Tôi đưa mắt nhìn ra xung quanh, chỉ thấy vài chòi lúa bỏ trống, không người canh giữ. Nhìn địa thế hiểm trở tôi bảo anh Giàu:

- Chỗ này "bờ ró tà dẻ" (đánh giặc) tốt đấy.

- Ừ, mấy lần lính đồn lên đây, có thằng bị tên thuốc độc bò xác.


Chúng tôi leo qua các chân ruộng bậc thang lần tìm vào buôn. Đang đi bỗng tôi phát hiện thấy có nhiều người trai, gái, già, trẻ tay cầm ná, cầm mác chạy nhanh ra bốn phía rừng. Tôi đoán họ chạy về các vị trí bố phòng đã sắp sẵn. Chỉ còn lại một người già tay lăm lăm cây mác ra chắn lối chúng tôi. Giọng ông già vang lên, sắc lạnh:

- Lăm ti lé? (Đi đâu đấy).

Tôi trả lời lại bằng tiếng dân tộc:

- Tôi là người an trí ở Ba Tơ lên tìm các anh bàn chuyện đánh Tây.

Ông già quay sang anh Giàu, hỏi:

- Gió ủ? (Đúng không?).

- Gió! Gió! (Đúng ! Đúng). - Anh Giàu trả lời.

Vẻ căng thẳng trên khuôn mặt ông chợt biến mất. Ông nhìn tôi gật gật đầu, mỉm cười. Tôi bước lại nắm cánh tay ông. Cả thân hình ông như cây gỗ lim nấm mốc, dưới chân những mụn ghẻ lở loét. Ông đưa chúng tôi băng qua một ngọn đồi lau lách ngập đầu đến một cái gò trống, chỉ tay về phía mé rừng:

- Nhà tao ở đó.

Tôi nhìn theo hướng tay ông thấy bốn năm nóc nhà, mái tranh phên tre đã mục nát. Ông tiếp tôi ở đầu tra trên chiếc chiếu rách nát. Tôi liếc nhìn vào nhà thấy một người đàn bà và hai đứa nhỏ đang ngồi bên bếp lửa ăn sắn luộc. Tôi nói với ông già: "Chúng tôi là những ngươi cộng sản nổi dậy đánh Tây, bị nó bắt tra tấn tù đày rồi đưa lên an trí ở Ba Tơ". Tôi cũng giải thích nguyên nhân vì đâu người Kinh người Thượng sống nghèo khổ, cơm không đủ ăn, quần áo không có mặc, ôm đau không có thuốc... còn bị quan Tây, quan ta bắt đi xâu nạp thuế... Ông già chăm chú nghe, gật đầu tâm đắc.

- Lâu nay tao có nghe Tây bắt tù cộng sản lên an trí ở Ba Tơ, nhưng chưa thấy, chưa gặp bao giờ. Nay mày lên đây nói cái điều phải, trúng cái bụng tao nghĩ. Thì ra người Kinh, người Thượng nói chung cái miệng, nghĩ chung cái bụng. Vậy mà Tây nói người Kinh khinh ghét người Thượng, xúi chúng tao đâm, giết người Kinh. Thằng Tây ác quá, độc quá.

- Già nói đúng, thằng Tây muốn Kinh, Thượng ghét nhau như bó đũa chia ra để nó bẻ gãy cho dễ. Bây giờ Kinh, Thượng hợp sức đánh nó, như bó đũa nhập lại Tây không bẻ gãy được. Tây giam người cộng sản, nhưng nó không giam được cái bụng người cộng sản muốn đánh Tây. Nay tôi lên đây là muốn nhờ già giúp tôi gặp anh Rua anh Rói bàn chuyện đánh Tây.

- Tao tin cái bụng mày nghĩ như suối Sung, cái miệng mày nói như tiếng chim rừng hót hay, nhưng còn việc gặp Rua, Rói thì khó lắm. Chẳng biết nó ở đâu mà tìm. Lâu lâu nó mới ra đây đổi muối, đổi rựa. Khi nào gặp tao nói lại, coi cái bụng nó nghĩ sao? Nó chịu gặp tao mới dám dẫn mày đến, còn đi thế thì chông thò nó gài đâm mày chết mà dân làng còn bị phạt vạ.


Thế là hy vọng của tôi còn biết bao khó khăn mới thực hiện được. Tôi rảo bước qua đám cỏ may, cùng ngồi trên gộp đá, tôi chỉ về phía đông hỏi ông:

- Kia là vùng nào?

- Đó là đèo Eo Chim, có đường từ vùng Cơ Nhất sang huyện lỵ Minh Long, ở đó cũng có người Kinh.

Trước mặt tôi, xa xa đằng đông là những cánh rừng già trên dãy núi tai mèo trải dài về phía nam qua đèo Đá Chát, chen giữa các thung lũng là những cánh đồng lúa. Nhiều buôn làng người Thượng trên lưng chừng đồi núi.

- Qua nhiều mùa rẫy - Ông già nói tiếp - Cái đầu tao không nhớ, người Kinh có lên vùng Cơ Nhất này bày dân đánh Tây.

Tôi bỗng nhớ lại có lần cụ Trần Toại kể cho nghe trong phong trào Duy Tân và cả những năm 30, 31 ta có cử cán bộ lên vùng Cơ Nhất lợi dụng địa thế hiểm trở, lòng dân thuận hòa để xây dựng căn cứ.

Trong tôi bỗng bùng lên một ý nghĩ, phải chăng nơi đây hội tụ hai yếu tố quan trọng nhất cho việc xây dựng một vùng căn cứ du kích đánh Tây đó là "địa lợi và nhân hòa".

Mặt trời gác trên ngọn núi Cao Muôn chiếu những tia nắng rục rỡ xuống các cánh rừng chung quanh. Ông già chỉ tay về phía tây, nơi chiếc cầu vồng ngũ sắc hiện ra, một chân cắm vào rừng xanh, một chân chôn vào núi đá:

- Ông trời cho dân tao đấy, cứ mặt trời sắp đi ngủ thì nó lại nổi lên.

Tôi nhìn theo hướng tay ông và thấy ở đấy có thác nước đổ ào ào. Trên cao giội xuống tung bọt trắng xóa tạo nên một lớp sương mù khiến cảnh vật xung quanh vừa như thật lại như mơ. Thấy tôi định ra về ông ngăn:

- Mày ở lại nói cho tao nghe thêm điều phải điều trái, về bây giờ không kịp đâu mà dọc đường sẽ gặp con cọp đi tìm mồi nó vồ mất thôi.

Chiều hôm ấy tôi mặc tấm áo cho cháu bé đang ở trần như nhộng và tặng cho ông già một ít thuốc xittôvaxôn để chữa bệnh ghẻ, sâu quảng. Anh Giàu dốc hết túi gạo mang theo cho gia đình. Ông già thết chúng tôi một bữa cơm cõng khoai và thịt chuột, chấm muối ớt. Ông luộc một quả trứng gà dành riêng cho tôi:

- Thằng cộng sản an trí ốm lắm, ăn cái này cho mạnh cái chân leo lên đây bày cho dân Thượng đánh Tây.

Ông đặt quả trứng vào tay, đôi mắt già ngước nhìn tôi đầy cảm mến. Ngọn lửa trong bếp bốc cao, in bóng ba chúng tôi lung linh trên vách nứa. Sớm hôm sau ông già tiễn chúng tội một đoạn đường. Trước lúc chia tay ông còn dặn hết con trăng nữa thì lên. Chúc mạnh khỏe. Ú cá cát lé! Ông chào.

- Ú cá cát lé - Tôi chào lại.

Chúng tôi chia tay nhau đầy quyến luyến.


Tiêu đề: Bình Minh Ba Tơ
Gửi bởi: quansuvn trong 19 Tháng Giêng, 2021, 09:17:32 am
Cuộc phản công của lực lượng Đồng minh vào khu vực Thái Bình Dương phát triển nhanh. Ngày nào tàu bay Mỹ cũng lượn trên bầu trời, ném bom vào những nơi Nhật đóng quân. Ngoài biển tàu Nhật trúng bom bốc cháy, khói đen theo gió mang mùi dầu khét lẹt lên tận Ba Tơ. Trên chiến trường thế giới, phát xít đang lâm vào thế bị động.


Trước tình hình đó, chi bộ họp quyết định chuyển Ủy ban vận động cứu quốc thành Tỉnh ủy lâm thời, cử đồng chí Trương Quang Giao làm bí thư. Thế là sau một tháng ngã bệnh tưởng không qua khỏi phải đưa về nhà thương tỉnh chạy chữa, vừa ra viện trở lại Ba Tơ đồng chí Trương Quang Giao bắt tay ngay vào việc. Lúc này địch đưa các đồng chí Khế (túc Trần Quý Hai), Trần Khuy (túc Trần Nam Trung) lên an trí Ba Tơ. Tỉnh ủy có thêm lực lượng mới. Sau khi kiểm điểm những công việc đã làm được, phân tích tình hình trong tỉnh và trên thế giới, lường trước những khó khăn thuận lợi, hội nghị quyết định: Trong điều kiện còn có thể kiên quyết bảo vệ, duy trì trung tâm chỉ đạo phong trào tại Ba Tơ, dựa vào họ xây dựng căn cứ du kích bí mật, khi cần thoát ly tập thể. Tiếp tục vận động đồng bào Thượng ủng hộ cách mạng Ba Tơ, dựa vào họ xây dựng căn cứ du kích bí mật, khi cần thoát ly tập thể bắt tay ngay vào hoạt động, không để phong trào gián đoạn. Liên lạc với căng an trí Gi Lăng để phối hợp hành động, bằng mọi cách chắp nối với Xứ ủy và Trung ương để nhận chỉ thị mới... Một núi công việc đặt ra trước mặt chừng ấy con người. Nhưng như con sông con suối tự tìm dòng chảy trong lòng đất, tất cả chúng tôi tỏa ra, mỗi người lo một việc. Anh Giao chịu trách nhiệm chỉ đạo chung. Tôi, anh Kiệt lo xây dựng căn cứ du kích trong đồng bào Thượng. Anh Khế, anh Khuy phụ trách việc huấn luyện cán bộ cơ sở. Để đảm bảo có tài chính cho Đảng, chúng tôi bán nhà, bán trại tằm ở Dốc Mốc.


Lấy cớ vừa mới lên cần chỗ ăn, chỗ ở, anh Khế, anh Khuy đã dựng ngôi nhà ở vườn ông Tài, cách Hoàng Đồn gần cây số để làm nơi in ấn tài liệu, hội họp của tỉnh ủy và chỗ đi về của cán bộ cơ sở lên dự huấn luyện. Thời kỳ này sau vụ thu hoạch, lúc nông nhàn, các chị thu xếp lên thăm chồng, một số cán bộ cơ sở trà trộn vào đây theo lên dự các lớp huấn luyện. Ngoài việc tiếp tế những thứ cần thiết cho cuộc sống hàng ngày, các chị còn mang theo tin tức về tình hình cơ sở, cung cấp giấy mực, vải vóc, rau câu làm nguyên liệu in tài liệu. Những ngày ở lại với chồng, các chị nghe dặn dò cách giữ bí mật, cách cất giấu tài liệu trên đường đi, nếu chẳng may bị bắt thì phải có gan chịu mọi đòn tra tấn để bảo vệ cơ sở. Chúng tôi còn rất ít thời gian để âu yếm nhau. Qua các chị, những chỉ thị của Tỉnh ủy lâm thời bay về đến từng cơ sở. Các đồng chí trung kiên như Mai Quang Định, Trần Hải được phái đi bắt liên lạc với anh em ở căng an trí Gi Lăng và các cơ sở huyện Bình Sơn. Kẻ địch không sao ngờ được, sau cái vẻ bình lặng của cuộc sống thường nhật, ngọn lửa cách mạng đang lan tỏa khắp nơi chờ ngày bùng lên thiêu cháy bọn chúng.   


Mùa đông năm ấy, tôi trở lại Giá Vụt. Lần này chúng tôi đi trong mưa dầm gió bấc, giữa những con lũ rừng. Hôm vượt sông Giá Vụt, chúng tôi phải ôm mỗi người một thân cây bơi xuôi theo dòng nước, để tấp sang bờ bên kia rồi bám vào lau sậy leo lên dốc đứng tìm đường về buôn Già Kiêu. Gặp lại tôi ông mừng lắm.

- Sao lâu rồi, nay người anh em an trí tà-pọt mới lên. Tao trông đỏ hai con mắt.

Ông kể cho tôi nghe Tâỵ bắt dân các làng đi xâu, làm lại con đường đi Gi Lăng đi Kom Plông sang Măng Bút, sửa lại sân bay Vi Ranh, tàu bay Mỹ đổ xuống đó mấy lần.

- Người của tao đi xem về nói "Mỹ giống Tây lắm, ngực nó đỏ, đầy lông lá".

Tôi lựa lời kể cho ông hiểu những thay đổi tình hình.

- Trước sau gì rồi Nhật cũng thua quân Đồng minh. Nhưng trước khi đầu hàng Đồng minh, Nhật sẽ lật Pháp ở Đông Dương. Ta lợi dụng thời cơ đó nổi dậy đánh Nhật, đuổi Tây. Thời gian gấp lắm. Kinh Thượng phải hợp sức lại mới giết được thằng giặc, giành lại cái suối cái sông, cái rừng cái rẫy, cái ruộng cho người mình.

- Gió! Gió! (Phải! Phải). Già Kiêu gật đầu - Ông già im lặng một lúc, rồi nhìn tôi nói - Nghe cái miệng mày nói, cái bụng tao ưng lắm, con trai tao cũng ưng. Nhưng tao già rồi, không căng nổi dây ná, không phóng nổi cái mác đi xa, còn con tao sợ cái ná, cái mác không đánh lại thằng giặc có cái súng nhỏ, súng to. Cho nên tao sẽ giúp người anh em an trí cái gạo, cái muối để ăn, cái chỗ để lính ở đánh giặc.

- Ông định cho chúng tôi ở đâu? Đường vào có khó không?

Già Kiêu kéo tôi ra đầu tra, chỉ tay về mấy dãy núi cao đã phủ sương chiều:

- Từ đây đến đó gần một ngày đường leo qua nhiều đèo, nhiều dốc, có chỗ phải bò bằng hai tay. Trâu bò đến đó phải đi vòng xa theo đường khác, ở đấy có vùng lúa nước, cấy hai vụ, lúa đủ nuôi bảy tám chục con người cả năm. Lần trước mày về rồi, tao sai bọn cai nhà tao đwa trâu lên giẫm thối cỏ, cây lúa. Thóc thu được làm chòi để luôn ngoài đó với mấy gùi muối. Tôi nắm chặt tay ông:

- Người cộng sản an trí rất biết ơn ông. Người Kinh, người Thượng bây gia có chung cái bụng thù giặc Tây.

- Gió! Gió (Đúng! Đúng).

Tôi tiếp:

- Việc cầm quân đánh giặc người an trí chúng tôi chịu hết, thóc muốn có ông giúp đỡ. Nhưng ông nên chọn những trai làng khỏe mạnh góp vào để chúng tôi dạy nó cùng nhau đánh giặc.

- Gió! Gió! (Đúng! Đúng!). Lũ nó còn dẫn đường nữa chứ. Người anh em an trí ở dưới xuôi không quen đường rừng đâu.

- Ông là già làng nên khuyên dân giữ bí mật, trước nhà cắm "lá dâu" "dấu hiệu cấm người lạ vào nhà", ai đến không cho vào, ai hỏi gì chỉ nói "ú tân, ú nó, ú ní" (không nghe, không thấy, không biết).

- Việc đó tao làm được, người anh em an trí tin tao, tao tin người anh em an trí.

Già Kiêu với tay lấy chai ruợu, đặt cái bát ra giữa, rút con dao ở vách nứa. Khuôn mặt nghiêm trang, giọng trầm đục, ông vừa rót rượu vào bát rồi nói:

- Để giữ cái bụng thương nhau, không ai được phản, hôm nay chúng ta uống máu ăn thề trước trời đất.

Ông đưa ngón tay trỏ ra, lấy dao cắt cho máu nhỏ từng giọt vào bát rượu, rồi cắt một nhúm tóc ở đỉnh đầu quấy vào đấy. Xong ông đưa dao cho tôi. Tôi sửa lại thế ngồi nghiêm trang, cầm con dao cắt ngón tay mình cho máu hòa vào bát rượu. Già Kiêu bưng bát rượu bằng cả hai tay nâng lên ngang trán, mặt ngẩng cao đọc lời thề "Xói! Xói! Trác bò rầy” (Xin thề! Xin thề! Với trời đất...). Ông ngửa cổ uống nửa bát rượu, rồi trao cho tôi. Tôi cũng làm như ông và đọc lời thề "Chúng tôi, người Kinh, người Thượng đồng lòng đánh giặc giành đất nước. Ai phản bội sẽ bị tội chết". Ông già ngồi im lặng nhìn tôi. Xong tiệc rượu thề, Già Kiêu lấy một đồng tiền thời Minh Mạng đúc bằng đồng bẻ đôi đưa tôi một nửa, còn nửa kia ông bỏ vào túi bùa bảo mạng đeo trên cổ mình và một con dao nhỏ.

- Sau này mày không lên được, người khác đi thi phải đưa con dao này tao mới tiếp và đưa nửa đồng tiền để tao đậu lại đúng như một hào mới tin.

Tôi gật đầu lấy khăn tay gói chặt nửa đồng tiền vào túi.


Tiêu đề: Bình Minh Ba Tơ
Gửi bởi: quansuvn trong 19 Tháng Giêng, 2021, 09:18:29 am
Đầu năm 1945 Tỉnh ủy lâm thời họp nhận, định: Tình hình thế giới chuyển biến nhanh chóng, ở mặt trận phía Tây, Hồng quân Liên Xô tấn công như vũ bão tiêu diệt nhiều binh đoàn tinh nhuệ của phát xít Đức. Bọn Đức quốc xã đang huy động toàn lực để bảo vệ Bá Linh, ở mặt trận phía Đông, Hồng quân Liên Xã giáng những đòn trí mạng vào lực lượng hùng hậu nhất của quân đội Nhật ở Mãn Châu khiến bọn chúng không còn sức gượng dậy. Ở mặt trận Thái Bình Dương, liên quân Anh-Mỹ đã chiếm các quần đảo Mác-san, Ca-xô-lin, Phi-líp-pin, đổ bộ lên Ô-ki-na-oa và Kiu-sin, lãnh thổ của Nhật. Ở Pháp, trước khi lực lượng Đồng mình đổ bộ lên bờ biển Noóc-măng-đi ở phía bắc nước Pháp thì những người cộng sàn đã lãnh đạo các đoàn quân du kích cùng với lực lượng của tướng Đờ Gôn, chiến đấu anh dũng giải phóng nhiều thành phố. Trước tĩnh hình đó, có nhiều khả năng Nhật lật Pháp để rảnh tay đối phó khi lực lượng khi Đồng minh đổ bộ vào Đông Dương. Mặt khác, bọn Pháp thân phái Đơ Gôn, tích cực chuẩn bị lực lượng khi Đồng minh đến. Việc gần đây Pháp chở hàng bằng xe ô tô che kín vải bạt lên Ba Tơ, Gi Lăng, mở lại con đường Gi Lăng đi Kôm Plông, sửa lại sân bay Vi Ranh cho tàu bay Mỹ xuống chứng tỏ nhân định của Tỉnh ủy là có cơ sở.


Về phần chúng ta, phong trào ở trung châu phát triển rộng khắp. Các huyện đều xây dựng được đoàn thể cứu quốc như: Chỉ hội nông dân Cứu quốc, Đoàn thanh niên Cứu quốc... Cơ sở miền núi tạm thời có chỗ dựa nhưng cũng chỉ mới vận động được các tù trưởng, già làng, còn quần chúng chưa hiểu gì về cách mạng. Điều đáng lo là phong trào tuy phát triển rộng, nhưng chưa mạnh. Bởi lẽ ta còn thiếu cán bộ có năng lực, có kinh nghiệm vận động, có uy tín, do đó chưa thuyết phục lôi kéo được một số chính trị phạm lâu nay mất liên lạc còn đang nằm chờ thời, số người này lại có uy tín lớn trong quần chúng. Tiếng nói và thái độ ủng hộ cách mạng của họ có sức lôi kéo phong trào rất mạnh.


Anh Giao vẫn ngồi im lắng nghe ý kiến từng người, thỉnh thoảng cầm que cời than trong bếp cho ngọn lửa bốc cao rồi gạch một chữ lên nền đất như thể ghi nhớ một ý kiến cần khẳng định, hay phải phân tích thêm cho rõ. Đợi anh em nói xong, anh mới lên tiếng:

- Những ý kiến các đồng chí vừa nói đều đúng với tình hình phong trào tỉnh ta. Tôi nghe và cũng sáng ra nhiều vấn đề. Nhưng tôi có một ý kiến bổ sung.

Mọi người nhìn anh chờ đợi. Người đồng chí ấy đã qua nhiều nhà tù, chịu đủ cực hình tra tấn, chứng kiến những bước thăng trầm của phong trào cách mạng trong tỉnh, nên đã tôi luyện anh thành con người gang thép kiên trung. Anh là chỗ dựa của Tỉnh ủy lâm thời. Giọng anh chậm rãi, rành mạch, dứt khoát:

- Dân ta có tinh thần cách mạng. Phong trào yêu nước bắt đầu từ những ngày các cụ con khăn xếp áo the kéo dân đi đòi khất thuế cho đến khi Đảng ra đời. Mặc dù bọn Pháp bắt giam cầm tra tấn, tù đày chém giết những người yêu nước, nhưng phong trào tạm lắng rồi bùng lên. Đặc điếm đó là thuận lợi cơ bản cho việc vận động phong trào cách mạng trong tỉnh. Hiện nay cả Pháp lẫn Nhật đều ra sức áp bức vơ vét của dân để phục vụ chiến tranh. Lòng người vô cùng căm ghét, chờ đợi cách mạng đứng ra lành đạo nhân dân vùng dậy chống lại bọn chúng. Tình thế đó cho phép chúng ta phát động phong trào, vận động công khai bằng việc treo cờ, rải truyền đơn, dán biểu ngữ khắp các địa phương trong tỉnh và liên hệ với tỉnh bạn cùng phối hợp. Đồng thời chúng ta thoát ly tập thể. Một số đồng chí tỏa về địa phương lãnh đạo phong trào, giành giật quần chúng đừng để họ rơi vào cạm bẫy của bọn cơ hội mà thực chất là tay sai cho giặc, hoặc của bọn thân Nhật ráo riết hoạt động dưới chiêu bài: "Châu Á của người Châu Á". Một số khác đi sâu vào vùng đồng bào Thượng, tranh thủ uy tín của các già làng, các tù trưởng tuyên truyền giác ngộ đồng bào lòng căm thù Tây - Nhật, xây dựng căn cứ du kích để khi thời cơ đến ta có ngay lực lượng hậu thuẫn cho việc khởi nghĩa từng phần như tinh thần Nghị quyết tám của Trung ương.


Mọi người tán thành ý kiến anh Giao và chuyển sang những công việc cụ thể. Tỉnh ủy phân công anh Khuy (Trần Nam Trung) cùng các đồng chí trung kiên ở địa phưong lãnh đạo ba huyện Mộ Đức, Đức Phổ, Nghĩa Hành, đồng thời lo bắt liên lạc với phong trào cách mạng tỉnh Bình Định. Tôi, anh Khoách, anh Kiệt và một số đồng chí hăng hái, khỏe mạnh đi sâu vào rừng, vận động đồng bào Thượng xây dựng cản cứ du kích. Anh Giao, anh Khế (Trần Quý Hai) cùng một số đồng chí quê ở các huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa trả về địa phương hoạt động. Riêng anh Giao với cương vị bí thư Tỉnh ủy lâm thời thường xuyên liên lạc với ba nhóm để nắm tình hình, điều chỉnh chủ trương hoạt động cho phù hợp với từng giai đoạn, đồng thời tìm đường dây chắp nối với cơ quan lãnh đạo của Xứ ủy và Trung ương, liên hệ phối hợp hành động với phong trào Quảng Nam. Trước mắt, chúng tôi khẩn trương tổ chức việc in truyền đơn, biểu ngữ, chương trình, điều lệ Mặt trận Việt Minh, chuẩn bị băng cờ, khẩu hiệu và một số phương tiện cần thiết trước khi trốn thoát khỏi căng an trí Ba Tơ. Thời gian hành động dự kiến vào ngày 15 tháng 3 năm 1945. 


Tiêu đề: Bình Minh Ba Tơ
Gửi bởi: quansuvn trong 25 Tháng Giêng, 2021, 12:26:34 pm
BÌNH MINH BA TƠ


Trưa ngày 10 tháng 3 năm 1945, tôi đang đứng trước sân thì thấy anh Trợ, một cơ sở của ta ở Nghĩa Hành lên. Tôi kéo Trợ vào nhà. Vừa ngồi xuống chiếc chõng tre chưa kịp uống bát nước, Trợ nói ngay:

- Tối qua dưới tỉnh Nhật lật Pháp rồi!

- Anh có biết tụi nó lật nhau như thế nào không?

Tôi vừa hỏi vừa cầm cái ấm đất rót thêm nước chè xanh vào bát đưa cho Trợ. Anh uống một hơi, cầm cái nón lá vừa quạt, vừa thở, vừa nói, mồ hôi thấm ướt:

- Từ tối qua đến giờ người dưới tỉnh kéo lên đông lắm. Họ kể lại, chiều hôm qua một đoàn ô tô nhà binh Nhật bịt kín vải bạt từ phía nam chạy ra. Đến ngã tư, đoàn xe chia làm hai. Một số chạy lên ga An Bố, số còn lại chạy vào thành. Tốp xe lên ga chạy đến gần đồn khố đỏ thì chiếc đi đầu hỏng máy. Bọn lính, thợ trên xe nhảy xuống cầm kìm búa, cơ lê, chạy lại lật nắp đậy máy ra xem, cụm đầu vào nhau bàn tán một lúc, sau đó trải vải bạt dưới gầm xe chui vào chữa. Chúng thaỵ phiên nhau chữa một lúc lâu mà chiếc xe vẫn cứ nằm ì. Người qua đường dừng lại xem, nó xua tay đuổi đi. Tốp xe chạy vào thành thì dừng lại bên đường. Mỗi xe nó để lại hai lính gác cầm súng, lưỡi lê tuốt trần đứng gác không cho ai đến gần. Mấy  đứa khác thì tạt vào quán ăn uống như để chuẩn bị đi tiếp. Bọn Tây đi qua thấy xe nhà binh Nhật hỏng, nhìn nhau cười mỉa. Nhưng đến nửa đêm bọn lính Nhật từ trên xe bịt kín vải bạt nhảy xuống bao vây các đồn và công sở của Tây. Súng bắt đầu nổ. Mới đầu dân hàng phố chưa biết việc gì, nhưng mỗi lúc súng từ phía đồn khố xanh, khố đỏ nổ càng nhiều. Đạn làm thành những đường lửa đan chéo trên trời. Đèn trong phố tắt ngấm. Dân chỉ con biết nằm sát chân tường nhà mình để tránh đạn, chờ may rủi. Gần sáng thì tiếng súng thưa dần rồi tắt hẳn. Nghe đâu sáng sớm nay, Nhật xích tay một lô một lốc từ công sứ đến giám binh, quan lính tống lên xe chở ra Đà Nắng.


Ngồi nghe Trợ kể, tôi nghĩ thầm "mưu mô thằng Nhật ghê gớm thật. Nó dùng mẹo có một đêm mà cướp sạch trơn công sức bao lâu nay của thằng Tây. Thế là nhận định của Tỉnh ủy sát đúng với tình hình”. Tôi bảo Trợ:

- Anh đói thì lấy cơm nguội trong nồi, mắm trên giàn bếp mà ăn. Tôi phải chạy báo tin này với các ảnh.

Trời vừa sập tối, Tỉnh ủy lâm thời họp bất thường. Vào cuộc họp không khí trở nên trang nghiêm sôi động ngay. Anh Giao đặt thẳng vấn đề:

- Việc Nhật lật Pháp trước đây ta đã có dự kiến. Nhưng nay tình hình diễn ra có nhiều yếu tố ta chưa tính trước. Vậy có nên giữ chủ trương cũ, chạy trốn khỏi căng an trí Ba Tơ, tỏa về các địa phương lãnh đạo phong trào hay làm một cuộc khởi nghĩa ngay tại đây, cướp chính quyền, thu vũ khí, xây dựng lực lượng vũ trang lập căn cứ? 

Nhiều ý kiến tranh luận:

- Tôi thấy trốn lúc này là thuận lợi nhất. Vì bọn Pháp kẻ trực tiếp quản thúc chúng ta đã bị kềnh, bọn Nhật mới lên chưa nắm được bọn tay sai. Mạng lưới vây lùng, truy nã chúng ta hiện đang bỏ lỏng. Nhưng không lấy được vũ khí thì lấy gì xây dựng lực lượng vũ trang?

- Tôi thấy cách nghĩ đó thụ động. Đây là cơ hội nghìn năm có một để chúng ta khởi nghĩa cướp chính quyền xây dựng căn cứ làm hậu thuẫn cho phong trào cách mạng tiến đến giành chính quyền trong cả tỉnh.

- Chúng ta lấy đâu ra súng đạn? Và bằng cách nào huy động kịp lực lượng quần chúng? Vì theo tôi, nếu khởi nghĩa thì phải làm ngay ngày mai, trước khi bọn Nhật đưa lính lên đây, mà từ giờ đến mai ta còn bao nhiêu thời gian để lo việc này. Chúng ta không sợ chết, nhưng không tính toán kỹ trước khi quyết định một công việc hệ trọng như thế này thì sự hy sinh là vô nghĩa.

- Khó đấy. Nhưng quần chúng thì có thể huy động bà con quanh đây, và dưới Trường An. Vũ khí thì tạo ra. Gươm, dao, giáo, mác, súng đạn, có cái gì dùng cái ấy làm vũ khí. Nhưng thời cơ thì có một. Ngồi đây đợi có đủ mọi thứ rồi mới khởi nghĩa thì thời cơ đi qua.

- Tôi thấy ý kiến đó không ổn. Mưu việc đại sự đâu đơn giản vậy. Tình thế cuộc khởi nghĩa phải làm ngay trong ngày mai, để chậm bọn lính đồn và Nha kiểm lý biết tin sẽ quyết giữ, hoặc để Tây lên, hoặc để đợi Nhật đến giao lại lập công với chủ mới. Hiện nay bọn địch có đồn bốt trên cao, chung quanh thành hào bao bọc với số lính gần một "xắc-xông" đầy đủ súng ống lại thêm hơn mười tay súng bên Nha kiểm lý. Vậy liệu gươm, dao, giáo mác và mây cây súng săn có địch lại nổi chúng không? Hay bị chúng nó bóp chết ngay khi cuộc khởi nghĩa vừa nổi lên? Con quần chúng thì dân quanh đây nghèo, cuộc sống, lam lũ quanh năm, trình độ chính trị thấp. Đám vợ con lính, vợ con công chức và mấy gia đình dưới xuôi lên chỉ lo buôn bán làm ăn. Lâu nay họ có phục đạo đức những người an trí như chúng ta, nhưng không hiểu mấy về cách mạng. Bỗng chốc kêu gọi họ theo ta làm khởi nghĩa, liệu họ có đi không? Theo tôi trốn khỏi Ba Tơ lúc này, trở về xây dựng phong trào như chủ trương cũ của Tính ủy là Thượng sách.

- Thượng sách hay hạ sách? Bỏ qua một thời cơ thuận lợi đế tạo thế mạnh cho phong trào cách mạng là sai lầm.

- Nhưng đưa ra một chủ trương không đúng, gây tổn hại cho lực lượng cách mạng cũng là sai lầm.

- Tôi nghĩ cách mạng Việt Nam khó giành thắng lợi hoàn toàn khi chủ nghĩa phát xít chưa bị đánh gục. Hiện nay nguy cơ chủ nghĩa phát xít bị tiêu diệt đã rõ, điều ấy tạo thuận lợi mói cho cách mạng trong nước. Bây giờ bọn Nhật còn mạnh, nhưng là cái mạnh của con hổ sa lưới đang vùng vẫy, ta yếu nhưng là cái yếu của sức trai đang độ trưởng thành. Ta có những thuận lợi lớn như phong trào cách mạng trong lính phát triển nhanh, cơ sở Việt Minh đều khắp, quần chúng tin vào Đảng. Vì vậy tiến hành cuộc khởi nghĩa bây giờ, ngay ở đây là đúng. Phù hợp với Nghị quyết tám của Trung ương.


Cuộc tranh luận kéo dài một lúc mà chưa ngã ngũ có nên thực hiện theo chủ trương củ của Tỉnh ủy hay lợi dụng thời cơ tiến hành cuộc khởi nghĩa ở Ba Tơ. Anh Giao ngồi nghe không bỏ qua một ý kiến nào. Bấy giơ anh mói nói:

- Các đồng chí bàn nhiều rồi. Tôi chỉ nói một số việc cụ thể để chúng ta cùng quyết định thực hiện theo chủ trương nào thì đúng. Về lực lượng quần chúng cách mạng, sao ta chỉ nghĩ đến bà con đói khổ lâu nay cam chịu cảnh sống áp bức và không có gan nổi dậy, không có người cầm đầu. Nay ta có cả một tập thể những người cộng sản đứng ra lãnh đạo họ đánh Tây đuổi Nhật tức là khơi đúng vào cái mạch yêu nước chảy ngầm trong lòng họ bây lâu nay, họ sẽ hăng hái đi theo. Còn anh em an trí thì trừ một vài người mất tinh thần, thậm chí cam tâm làm tay sai cho địch như thằng Cừ, số đông vẫn hăng hái. Lâu nay họ như người leo dốc, leo mãi mà vẫn chưa tới đích thì nản. Nay ta phân tích tình hình, phổ biến chủ trương của Tỉnh ủy, tức là chỉ cho họ cái đích, rồi cầm tay họ cùng leo thì anh em sẽ theo và càng thấy gần tới đích thì càng hăng hái. Đám lính trong đồn kia thì sao? Thằng đồn trưởng đang mắc kẹt ở tỉnh, thằng đồn phó đang coi đồn ở đây. Lâu nay việc canh phòng lỏng lẻo. Tối bọn chúng cho lính về nhà, bảy giơ sáng mới vào trại. Lính ở lại đồn ban đêm chỉ có hơn chục tên. Số đông, có cảm tình với người an trí, trong đó có anh quyền Liệp1 (Chức vụ thấp nhất trong lính bản xứ) là người hăng hái nhất. Mấy lần trò chuyện tôi biết anh quyền Liệp đi lính một phần vì kinh tế, một phần vì có thù riêng với bọn hương lý ở làng. Đám lính đang ở trong thế "rắn mất đầu". Nếu ta dùng sức mạnh quần chúng áp đảo tinh thần rồi gọi ra giải thích chủ trương của cách mạng và chỉ cho họ con đường để tự cứu mình thì tôi tin họ sẽ bỏ đồn mà chạy. Tóm lại, theo tôi điều kiện khách quan rất thuận lợi. Đây là cơ hội nghìn năm có một. Điều kiện chủ quan chua đầy đủ. Nhưng tất cả chúng ta đồng lòng thì có thể khắc phục được. Tôi đề nghị: Chúng ta làm ngay cuộc khởi nghĩa cướp chính quyền ở Ba Tơ!

Hội nghị biểu quyết thống nhất như ý kiến phân tích của đồng chí bí thư với quyết tâm cao và tin tưởng tiến hành cuộc khởi nghĩa nhất định thành công. Cuộc họp kẹt thúc vào lúc nửa đêm. Theo kế hoạch, một số đồng chí trong Tỉnh ủy đi gặp anh em an trí còn có tinh thần, nói rõ quyết tâm khởi nghĩa Ba Tơ của tỉnh ủy, vận động họ tự trang bị giáo mác, dao rựa... để kịp sáng mai thừa lúc bọn địch chưa đề phòng, lợi dụng trình diện ta xông vào cướp đồn, chiếm trại lính, lấy vũ khí địch kéo sang chiếm Nha kiểm lý. Số khác vào các làng lân cận huy động quần chúng kéo đến làm áp lực, ủng hộ cuộc khởi nghĩa giành thắng lợi. Riêng tôi được phân công xuống Trường An cùng cụ Trần Toại tổ chức cuộc khởi nghĩa ở đấy rồi kéo quần chúng từ Trường An, Tân Long lên Ba Tơ tăng cường cho lực lượng khởi nghĩa.


Tiêu đề: Bình Minh Ba Tơ
Gửi bởi: quansuvn trong 25 Tháng Giêng, 2021, 12:30:08 pm
Trời còn mờ đất, tôi đã đến nhà cụ Trần Toại. Sau khi nghe trình bày vắn tắt chủ trương khởi nghĩa của Tỉnh ủy, cụ Toại liền phái cô Thoa, cô Diễn trong nhóm Thành niên Cứu quốc, đi triệu tập anh Tiểu, anh Cả, anh Sương và đồng chí Huỳnh Thanh, một cựu chính trị phạm đến nhà mình nghe tôi trình bày kế hoạch khởi nghĩa Ba Tơ và phát động quần chúng làm ngay cuộc khởi nghĩa ở Trường An. Khi sương mai chưa tan trên các triền núi thì trong thung lũng Trường An tiếng trống, tiếng mõ nổi lên, làm chấn động cả một vùng rừng núi. Truyền đơn biếu ngữ của Mật trận Việt Minh, cơ đỏ sao vàng theo anh Tiểu, anh Cả, anh Sương sang Tân An, Tân Long, ra xóm vạn chài, xuống Hóc Kè. Đoàn người vừa đi vừa đánh trống, dán biếu ngữ, rải truyền đơn, hô khẩu hiệu, đọc lời kêu gọi "Hỡi quốc dân đồng bào! Nhật lật Pháp. Thời cơ cứu nước đã đến. Ai có súng dùng súng, không có súng thì dùng gươm, dao, giáo mác, tự trang bị cho mình tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở Ba Tơ, đánh đuổi Nhật - Pháp, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc...". Đồng bào từ các ngả nhập vào đoàn biểu tình mỗi lúc một đông. Họ vừa đi viừa giục trống, hô khẩu hiệu "Đánh phát xít Nhật, đuổi thực dân Pháp! Việt Nam độc lập muôn năm!". Khi mặt trời ban mai vượt lên dãy núi đằng đông thì mọi người đã tập trung về gò Trường An. Trên mô đất cao, nhìn biển người đứng chật khoảng gò rộng, tôi càng hiểu ra sức mạnh to lớn của quần chúng một khi lòng yêu nước của họ được cách mạng khơi dậy. Tôi nói to: "Thưa đồng bào! Hôm qua Nhật đã lật Pháp trên toàn cõi Đông Dương. Lực lượng Pháp tan rã đang chạy trốn. Bọn Nhật vừa lên nắm quyền chưa kịp tổ chức bộ máy tay sai. Đây là cơ hội nghìn năm có một. Hơn tám mươi năm mất nước dân ta chịu làm thân trâu ngựa cho thực dân Pháp và vua quan Nam triều bán nước. Mấy năm qua, Nhật vào Đông Dương, dân ta phải chịu thêm một tầng áp bức nữa. Bọn chúng ra sức bóc lột đồng bào ta đến tận xương tận tủy. Biết bao nhiêu nghĩa sĩ, anh hùng cách mạng bị chúng bắt tù đày, bắn giết. Tội ác của chúng không sao kể xiết. Giờ đây thời cơ đã đến, chúng ta kiên quyết đứng lên đánh Nhật, đuổi Pháp giành độc lập cho Tổ quốc, tự do cho nhân dân. Dù phải hy sinh xương máu, chúng  ta thề quyết chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng. Giờ này anh em an trí Ba Tơ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã đứng lên khởi nghĩa cướp chính quyền. Đồng bào mau mau siết chặt hàng ngũ. Ai có súng dùng súng, có gươm dùng gươm, tiến về Ba Tơ hợp sức với anh em an trí và đồng bào làm cho cuộc khởi nghĩa thắng lợi thành công. Việt Nam độc lập muôn năm!". Tiếng hô khẩu hiệu vang lên như sấm dậy rung chuyển cả một vùng. Tôi giới thiệu cụ Trần Toại là người lãnh đạo cao nhất ở đây, và anh Huỳnh Thanh sẽ chỉ huy cuộc biểu tình tiến về Ba Tơ. Sau khi trao đổi với cụ Toại và anh Huỳnh Thanh một số công việc, tôi trở lại Ba Tơ, đến suối Loa gặp anh Giao, anh Khế, anh Kiệt, anh Khuy và một số anh em an trí khác. Hỏi qua tình hình mới biết: Kế hoạch bất ngờ cướp đồn không thực hiện được. Khi ta đến trình diện thì đội Phổ đã biết tin Nhật lật Pháp ở tỉnh lỵ Quảng Ngãi nên ra lệnh đóng chặt cổng đồn, bốn vọng gác quanh thành đồn có lính canh, súng ống nai nịt sẵn sàng.

- Bây giờ ta định sao? - Tôi hỏi.

- Theo tin cơ sở báo thì tên quan ba giám binh đang trên đường từ Quảng Ngãi chạy lên đây. Ta định đón bắt buộc nó ra lệnh giao đồn, súng đạn để ta tổ chức chống Nhật - Anh Kiệt trả lời.

Vừa lúc ấy mẹ anh Võ Phấn và người em trai Võ Thứ từ Mộ Đức lên. Thấy chúng tôi, bà hỏi ngay:

- Biết Nhật đánh Tây chưa?

Chúng tôi gật đầu. Bà hỏi tiếp:

- Bây giờ làm sao? Kéo nhau về chứ?

Chúng tôi chưa kịp trả lời thì đã thấy viên giám binh thất thểu đi lên, mặt mũi bơ phơ, hốc hác, bộ quần áo trên người lấm bẩn, ướt đẫm nước. Chắc đêm qua hắn phải luồn rừng lên đây để tránh bọn Nhật đuổi theo. Viên giám binh bị chặn lại. Chúng tôi cử anh Sanh ra nói chuyện. Hắn con đang ngơ ngác nhìn chưa hiểu điều gì xảy ra thì anh Sanh bảo:

- Các ông không phòng thủ nổi Đông Dương, ngồi chờ lực lượng Đồng minh, để cho Nhật chiếm. Vậy ngay bây giờ ông phải giao đồn và súng đạn cho những người an trí cộng sản để chúng tôi tổ chức đánh Nhật.

- Nhật mạnh lắm. Tôi khuyên các anh nên rút vào hoạt động bí mật. Xin lỗi, tôi phải về đồn, chiều nay mời các anh lên gặp, tôi sẽ tiếp.

Vì không hiểu ý đồ chúng tôi, lại thấy thái độ viên giám binh nhã nhặn lịch sự nên anh Sanh bằng lòng để nó đi, còn đưa tay vẫy chào và hô to "Vive Đơ Gôn!". Viên giám binh bắt gặp một chiếc xe kéo liền bước nhanh lên, chạy về đồn. Khi nghe anh Sanh trở lại trình bày nội dung cuộc nói chuyện thì cơ hội bắt giữ viên giám binh đã tuột khỏi tay chúng tôi. Tôi đề nghị anh Giao họp Tỉnh ủy lâm thời kiểm điểm việc thi hành nghị quyết đêm qua. Trong chòi canh bên đường ở suối Loa kẻ đứng người ngồi, cuộc họp sôi nổi ngay từ đầu. Sau khi nghe một số đồng chí trình bày cơ hội cướp đồn không con nữa, nhưng đã huy động được phong trào quần chúng quanh vùng Ba Tơ ủng hộ cuộc khởi nghĩa, nay việc bắt viên quan ba giám binh buộc nó phải giao đồn cũng không làm được, vậy chỉ còn cách trở về trung châu lãnh đạo phong trào, mở rộng cơ sở chờ thời cơ, tôi không còn giữ được bình tĩnh nói ngay:

- Chúng ta đã thảo luận, lường trước mọi khó khăn, thuận lợi và những điều có thể xảy ra rồi mới đi đến quyết định tiến hành cuộc khởi nghĩa Ba Tơ. Vì vậy cuộc khởi nghĩa không thể đình hoãn được - Tôi phân tích - Chúng ta huy động lực lượng quần chúng vũ trang ở Trường An kéo về tiếp ứng; các anh cũng đã phát động quần chúng Ba Tơ và anh em an trí đều vũ trang sẵn sàng cho cuộc khởi nghĩa Ba Tơ. Nếu kế hoạch khởi nghĩa hủy bỏ sẽ làm giảm khí thế quần chúng, gây mối nghi ngờ về quyết tâm của chúng ta. Kẻ xấu sẽ lợi dụng xuyên tạc làm giảm nhiệt tình cách mạng của quần chúng và Tỉnh ủy phải chịu trách nhiệm trước lịch sử về sự thất bại này!

Anh Kiệt phê phán gay gắt:

- Tôi thấy tiến hành khởi nghĩa mà chúng ta còn thiếu kiên quyết. Khi bất trắc xảy ra chúng ta có thảo luận, trao đổi nhưng chưa thành nghị quyết, không phân rõ trách nhiệm cho từng người trong Tỉnh ủy, không phổ biến cụ thể chủ trương của Tỉnh ủy, đến từng đồng chí trung kiên. Việc đồng chí Sanh thả tên quan ba về đồn là chưa hiểu rõ ý đồ của chúng ta. Tôi tha thiết yêu cầu: Chúng ta kiên quyết tiến hành cuộc khởi nghĩa. Mọi hành động phải phục tùng người chỉ huy như phục tùng mệnh lệnh quân sự.

Nghe xong tất cả ý kiến, anh Giao kết luận:

- Tên quan ba về đồn, nhưng trong tâm trạng hoang mang lo sợ. Binh lính thấy chỉ huy thiếu tư thế càng thêm dao động. Nhật vừa cướp chính quyền trong tay Pháp còn đang lo củng cố, trước hết là ở thị xã rồi đến các huyện và dọc trục đường giao thông huyết mạch. Vì vậy thời cơ khởi nghĩa cướp đồn, cướp chính quyền ở Ba Tơ vẫn còn. Chúng ta đồng tâm nhất trí, không sợ hy sinh nhưng thiếu kinh nghiệm chỉ huy đã bỏ qua nhiều cơ hội quan trọng. Tôi đề nghị: Quyết tâm thi hành nghị quyết khởi nghĩa Ba Tơ bằng bất cứ giá nào. Phát động cuộc khởi nghĩa trong nông thôn ở các huyện trung châu để phân tán lực lượng địch, bảo vệ căn cứ Ba Tơ - Anh Giao nhấn mạnh: Ngay ngày mai cuộc khởi nghĩa Ba Tơ phải giành được thắng lợi! Đó sẽ là ngòi nổ tạo ra một loạt phản ứng dây chuyền trong khắp cả tỉnh - Anh dừng lại nhìn chúng tôi như để truyền thêm nghị lực và quyết tâm, rồi tiếp - Theo phân công như trước, chúng ta chia thành ba bộ phận. Bộ phận ở Ba Ta do anh Khâm làm chính trị ủy viên kiêm bí thư chi bộ. Bộ phận ở các huyện phía nam do anh Khuy phụ trách lấy đồn Ba Tơ làm ám hiệu liên lạc giữa ba bộ phận với tỉnh ủy. Tôi đề nghị anh Khâm mang bí danh "Đôn", anh Khuy mang bí danh "Ba", anh Khê mang bí danh "Tơ" để nhắc mỗi chúng ta nhớ đến địa danh nổ ra cuộc khởi nghĩa lịch sử này.


Tiêu đề: Bình Minh Ba Tơ
Gửi bởi: quansuvn trong 25 Tháng Giêng, 2021, 12:31:41 pm
Trước lúc ra đi, anh Giao nắm chặt tay tôi và anh Kiệt nói lời tâm huyết: "Các anh ở lại quyết tâm giành thắng lợi trong cuộc khởi nghĩa Ba Tơ, cướp chính quyền, lấy vũ khí xây dựng căn cứ. Chúng tôi trở lại trung châu phát động cuộc khởi nghĩa để chi viện cho các anh".


Trong bàn tay nóng bỏng siết chặt đầy nhiệt huyết, quyến luyến, tin tưởng, chúng tôi tạm biệt nhau. Các anh đi rồi, tôi bàn để anh Kiệt trở lại Ba Tơ, tổ chức một đội tự vệ trang bị gọn, canh gác tất cả các ngả đường, cử anh Sanh, anh Thứ vào gặp viên giám binh buộc nó giao súng giao đồn để ta tổ chức đánh Nhật. Tôi và anh Khoách trở lại Trường An bàn với cụ Trần Toại tổ chức lực lượng quần chúng đưa vũ khí lên Ba Tơ chi viện cho cuộc khỏi nghĩa đêm 11 tháng 3 năm 1945.


Trên đường trở lên Ba Tơ, nắng đã nhạt màu ngả bóng dài dưới chân, tôi vừa đi vừa miên man suy nghĩ: Đánh đồn bằng cách nào? Sử dụng một lực lượng quần chúng đông, trong tay chỉ có vài cây súng săn liệu có phải hy sinh nhiều không? Làm thế nào liên lạc được với vài cơ sở trong đồn để lấy ít súng ra trang bị cho anh em? Vượt qua hào lũy bằng cách nào? Với người chỉ huy hăng hái nhiệt tình, dũng cảm, không sợ hy sinh như anh Kiệt, tôi hoàn toàn tin tưởng. Nhưng liệu sự hy sinh ấy có giành được thắng lợi không? Nếu cuộc khởi nghĩa thất bại thì gây ra biết bao nhiêu tổn hại cho phong trào cách mạng tỉnh nhà. Tôi bỗng nhớ đến lời nói trầm tĩnh của anh Giao. Cái vẻ trầm tĩnh của con người từng trải, giàu lòng tự tin, biết lường trước cái gì sẽ xảy ra và nghĩ chu đáo cách đối phó. Tôi bỗng thấy như mình được tiếp thêm nghị lực. Rồi thầm hứa: "Các anh ơi! Dù có phải hy sinh chúng tôi cũng quyết giành thắng lợi vì chúng tôi hiểu các anh và đồng bào gửi gắm lòng tin vào chúng tôi trong cuộc quyết chiến này". Trên đường chúng tôi gặp anh lính mang súng đi ngược chiều. Anh Khoách chặn lại hòi:

- Anh mang súng đi đâu?

- Tôi trốn về quê. Vùng tôi nhiều heo rừng ra phá lúa, tôi mang súng về bắn kiếm ăn.

- Nhật đã lật Pháp, thời cơ thuận lợi cho chúng ta làm cách mạng giành độc lập tự do cho dân cho nước. Anh nên trao súng và theo chúng tôi - Tôi nói.

Sau vài phút do dự, anh lính cởi thắt lưng bao đạn trao cả cây súng cho tôi:

- Các anh thương cho tôi về. Nhà tôi khổ lắm. Vợ con nheo nhóc. Tôi đi lính là vì sinh kế chứ không có lòng phản trắc Tổ quốc.

Tôi đeo bao đạn, khoác khẩu súng qua vai, có cảm tưởng mình thêm sức mạnh. Anh Kiệt đợi chúng tôi ở nhà ông Tài. Anh cho biết tên giám binh rất ngoan cố không chịu giao súng, giao đồn còn khuyên chúng ta theo nó lên Kông Plông tổ chức đánh Nhật.

Anh tiếp:

- Để uy hiếp tinh thần bọn lính trong đồn, tôi vừa tổ chức mít tinh quần chúng ở Hoàng Đồn, treo cờ tung truyền đơn hô khẩu hiệu "ủng hộ Việt Minh" kêu gọi lính đồn hạ vũ khí, giúp an trí đánh Tây đuổi Nhật.

- Ta có liên lạc với quyền Liệp không anh?

- Có anh Lựu, anh Động có gặp quyền Liệp. Anh ta cho biết tinh thần binh lính tan rã, nhiều đứa bỏ trốn. Đứa còn lại không nghe mệnh lệnh của đội Phổ. Quyền Liệp hứa đêm nay sẽ đưa ra cho ít súng.


Chúng tôi họp bàn thống nhất nhận định: Khả năng thương lượng không còn. Phương án duy nhất là tấn công. Trước hết chiếm Nha kiểm lý Ba Tơ để thu thêm một số vũ khí rồi bổ sung đạn dược chỉnh đốn đội ngũ sẽ tiến lên đồn bao vây ba mặt. Dùng lục lượng quần chúng bao vây, bên ngoài hô khẩu hiệu, nổi trống mõ uy hiếp tinh thần bọn lính trong đồn, khi nổ súng tiến công kêu gọi đầu hàng. Trời sập tối quyền Liệp đưa ra cho chúng tôi bốn khẩu súng và một số đạn. Lúc này cả súng săn và súng trường có bảy khẩu, chúng tôi chọn mười bảy đồng chí trung kiên trang bị thêm giáo, mác, dao rựa chia làm hai tốp. Một tốp bố trí chặn bọn lính đồn sang tiếp viện. Một tốp bí mật bao vây nhà viên kiểm lý Ba Tơ. Tôi, anh Kiệt và mấy người nữa bất ngờ đột nhập. Khi chúng tôi tiến vào thì Bùi Danh Ngũ cùng đám lý trưởng đang bàn mưu kiểm soát tình hình, chờ đón quân Nhật kéo lên. Thấy chúng tôi bất ngờ xuất hiện, Bùi Danh Ngũ lúng túng nhưng rồi chấn tĩnh hỏi giọng hách dịch:

- Các anh làm gì ở đây?

- Chúng tôi làm cách mạng! - Anh Kiệt chỉ lưỡi lê trên đầu súng thét to vào mặt hắn - Hôm nay chúng tôi không còn là người tù chịu sự kiểm soát của các ông. Những người cộng sản chúng tôi đã vận động quần chúng nổi dậy đánh Tây đuổi Nhật giành lại độc lập cho Tổ quốc.


Bùi Danh Ngũ tái mặt, đám lý hương run bần bật, có thằng thụp xuống, núp phía sau bàn xin các ông an trí tha tội chết.

Anh Kiệt ra lệnh:

- Các ông phải nạp hết vũ khí, giấy tờ. Từ nay chính quyền vùng Ba Tơ do lực lượng cách mạng kiểm soát. Ai trái lệnh cách mạng sẽ không tha tội chết.

Bùi Danh Ngũ cúi đầu, hạ giọng:

- Chúng tôi xin tuân lệnh các ông an trí. Hắn gọi người mang nộp vũ khí, còn hắn mang cả giấy tờ, con dấu ra dâng cho lực lượng cách mạng.


Thế là cuộc áp đảo chiếm Nha kiểm lý Ba Tơ xảy ra êm thâm không phải nổ súng. Chúng tôi cắt người ở lại canh gác bọn Bùi Danh Ngũ và đám lý hương, phân phát số súng đạn vừa thu được cho anh em rồi chia làm ba mũi: hai mũi áp sát vào phía nam và phía bắc. Mũi chủ công tiến thẳng trước mặt đồn có tôi, anh Kiệt, anh Nhạn, anh Thứ và một số đồng chí trung kiên. Bố trí xong trận địa, nhìn lên mặt thành không thấy lính gác, cửa đồn đóng chặt, chúng tôi hướng vào đồn kêu gọi:   "Hỡi anh em binh lính! Nhật lật Pháp, thời cơ đã đến. Anh em hãy bỏ vũ khí, đứng lên hưởng ứng cuộc cách mạng, ủng hộ Mặt trận Việt Minh. Anh em hãy mở cửa cho anh em an trí tiến vào chiếm đồn lấy vũ khí tổ chức đánh Nhật đuổi Pháp giành độc lập cho Tổ quốc. Chúng ta nhất quyết không chịu làm nô lệ".


Im lặng, không có tiếng trả lời, không có tiếng súng bắn ra. Chúng tôi cho nổ súng vào đồn! Tiếng ngói đổ rào rào, tiếng lính kêu khóc. Loa lại gọi, lời lẽ quyết liệt: "Ai đầu hàng cách mạng thì sống, ai chống lại thì chết !". Tiếp theo là những loạt súng đồng loạt nổ vào đồn. Chúng tôi nghe tiếng lính kêu khóc gọi nhau "Đầu hàng! Đầu hàng!","Ai chống cự là chết". Rồi một tên lính cầm ngọn đèn bão từ trong đồn chạy ra, miệng kêu "Đừng bắn! Đừng bắn!". Hai cánh cổng đồn bật mở. Chúng tôi ào vào. Đám lính trong nhà chạy cả ra sân, súng đạn chất thành đống. Một số anh trong đội vũ trang bắt lính ngồi thành hàng trước sân đồn, số khác chạy vào từng nhà bắt bọn lính còn trốn, tìm tên giám binh và đội Phổ. Tôi gặp quyền Liệp, anh báo cho biết đội Phổ và tên giám binh đã luồn ra cửa sau vượt sông chạy lên hướng Kông-Plông mất rồi.


Cuộc khởi nghĩa thắng lợi. Chúng tôi hạ cờ ba sắc, kéo lá cờ đỏ sao vàng lên đỉnh cột giữa sân đồn. Gió đêm thổi mạnh, lá cờ phần phật tung bay. Ngoài kia, trên các ngả đường đổ về phố huyện, dưới ánh đuốc bập bùng đồng bào vừa đi vừa hô vang khẩu hiệu "Việt Nam độc lập muôn năm".


Tiêu đề: Bình Minh Ba Tơ
Gửi bởi: quansuvn trong 25 Tháng Giêng, 2021, 12:33:32 pm
Tiếng trống, tiếng mõ, tù và vang lên mừng thắng lợi vang động núi rừng miền Tây.

Quyền Liệp đã tập họp đám binh lính trước sân đồn. Anh Kiệt đứng lên tuyên bố: Cách mạng đã khởi nghĩa thành công ở Ba Tơ. Theo chính sách khoan hồng, chúng tôi để các anh trở về quê hương bản quán làm ăn với vợ con, nhưng không được theo Nhật, Tây chống lại đồng bào. Ai phản bội sẽ bị nghiêm trị. Còn anh em nào muốn theo đi theo cách mạng đánh Nhật đuổi Tây giành độc lập cho đất nước thì ở lại... Trừ một số rất ít, phần đông binh lính mang rương hòm lục tục kéo nhau ra về.


Để khuếch trương thắng lợi của cuộc khởi nghĩa, chúng tôi cử một số đồng chí cưỡi ngựa về các buôn làng xa như Cơ Nhất, Vực Liêm, Măng Đốc, Giá Vụt báo tin vui. Đứng trên thành đồn nhìn các đồng chí tay cầm đuốc rạp người trên mình ngựa phi về các ngả tôi thấy lòng vui vô hạn, nước mắt chực trào ra. Đêm hôm ấy trời Ba Tơ đầy sao. Dưới ánh đuốc bập bùng chúng tôi thu dọn chiến lợi phẩm, súng ống đạn dược. Sau khi kiểm tra, anh Kiệt phát cho mỗi người trong lực lượng vũ trang một cây mút-cơ-tông, để dự trữ, còn lại anh giao cho những quần chúng trung kiên ở xóm vạn chài chuyển về Trường An - Cơ Nhất cất giấu.


Trời vừa rạng sáng, đồng bào Kinh, Thượng từ các buôn làng, hàng ngũ chỉnh tề, mang theo gươm, dao, giáo, mác... cờ đỏ sao vàng từ mọi ngả kéo về đứng chật sân vận động trước Hoàng Đồn. Trên sân dựng một cột cờ cao, dưới chân để chiếc bàn lớn. Khi mặt trời vượt đỉnh núi, nhưng sương sớm khói đá như những con gấu xám đang bò trên các sườn dốc, thì cuộc mít tinh bắt đầu. Anh Kiệt đứng trên bàn cao nói rõ tình hình đất nước và phong trào cách mạng trong tỉnh đang lên cao, kêu gọi đồng bào Kinh, Thượng đoàn kết dùng gươm dao, giáo mác cùng nhau đánh giặc. Tiếng hô khẩu hiệu vang lên tỏ rõ quyết tâm của đồng bào Kinh, Thượng một lòng theo Đảng cách mạng:

"Việt Nam độc lập muôn năm!"

Tiếp lời anh Kiệt, tôi đứng lên tuyên bố thành lập chính quyền cách mạng và xây dựng khu du kích Ba Tơ. Tôi nói:

- Kính thưa đồng bào! Kể từ đây các cấp chính quyền của Pháp lập ra không có hiệu lực. Cách mạng thành lập "Ủy ban nhân dân cách mạng Ba Tơ" để điều hành mọi công việc trong vùng, và thành lập lực lượng vũ trang cách mạng gọi là "Đội du kích Ba Tơ". Sau đó tôi đọc lời tuyên bố của ủy ban nhân dân cách mạng Ba Tơ:

"Kính thưa đồng bào!

Ủy ban nhân dân cách mạng Ba Tơ theo tiếng gọi giang sơn, nhận thấy nhiệm vụ nặng nề lịch sử phó thác, đã mạnh mẽ tiên phong phất cờ khởi nghĩa tiếp tục hưởng ứng các cuộc khởi nghĩa và đội quân du kích Bắc Sơn, dựng lên chính quyền nhân dân cách mạng Ba Tơ.

Chính quyền cách mạng Ba Tơ là một bộ phận khăng khít của chính quyền cách mạng toàn quốc, vừa là phần tử chống phát xít của mặt trận Dân chủ thế giới. Từ giờ phút này, chính quyền cách mạng tuyên bố xóa bỏ các thứ xâu thuế nợ nần của Pháp lập ra. Nhiệm vụ của chính quyền cách mạng là toàn dân Kinh, Thượng đánh đổ phát xít Nhật, tây sạch phát xít Pháp, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập.

Đội quân du kích cứu quốc Ba Tơ là lực lượng của cách mạng của Đảng, của toàn thể đồng bào, có nhiệm vụ chiến đấu cho nền độc lập tự do của đất nước bảo vệ đồng bào. Đồng bào hãy nuôi dưỡng bảo vệ nó hoàn thành nhiệm vụ.

Chúng tôi xin tuyên thệ trước đồng bào "Ủy ban nhân dân cách mạng" nguyện noi theo vết máu của tiền nhân, quyết rửa hờn giống nòi, phục thù cho Tổ quốc.

Chúng tôi kêu gọi đồng bào, lúc này hơn lúc nào hết, đồng bào Kinh, Thượng hãy mau mau đoàn kết lại, không phân biệt gái trai, già trẻ, không phân biệt giàu nghèo, không phân biệt tôn giáo hãy chung lưng đấu cật góp tài, góp sức tham gia vào cuộc cách mạng đem lại độc lập cho nước nhà...".

Tiếng hô khẩu hiệu vang lên biểu thị quyết tâm:

"Đánh đuổi phát xít Nhật!"

"Tẩy sạch phát xít Pháp!"

"Việt Nam hoàn toàn độc lập!"


Sau mít tính là cuộc diễu hành của đội du kích cứu quốc Ba Tơ. Đoàn quân bước theo nhịp "một -hai" trong bình minh Ba Tơ, diễu qua các đoàn biểu tình hát vang bài ca "Cùng nhau đi hồng binh:

   Cùng nhau đi hồng binh
   Đồng tâm ta cùng bước
   Đừng cho quân thù thoát..."


Sau cuộc mít tinh chào mừng thắng lợi và thành lập chính quyền cách mạng, đồng bào Kinh, Thượng ở phía động Ba Tơ phối hợp với đồng bào Hùng Nghĩa, Vạn Lý đào phá cầu đường, chặt cây xẻ đá lấp đường. Một bộ phận du kích Cứu quốc và tự vệ do đồng chí Lê Lạc chỉ huy liên lạc với đồng chí Trúng bố trí canh gác từ Đá Chát đến Dốc Mốc đề phong quân Nhật từ Mộ Đức, Nghĩa Hành kéo lên Ba Tơ.


Chiều ngày 13 tháng 3 năm 1945 chúng tôi họp kiểm điểm và thống nhất nhận định, quân Nhật sau khi ổn định trật tự ở trung châu, chúng sẽ kéo quân lên kiểm soát các đồn miền núi. Về phần ta đã hoàn thành mục đích cuộc khởi nghĩa giành chính quyền để phát động phong trào; đã thu được toàn bộ vũ khí trang bị cho mình để phát triển lực lượng vũ trang và xây dựng căn cứ địa cách mạng. Ta không cần chiếm đất giữ đồn để phải giao chiến với Nhật dễ bị tiêu hao, mà cần phải bảo toàn lực lượng.

Vì vậy chuyển chính quyền cách mạng hoạt động bí mật trong lòng dân. Chuyển đội du kích Cứu quốc hoạt động cơ động để xây dựng căn cứ và phát triển lực lượng.

Chúng tôi phân công: Anh Kiệt cùng anh em chuẩn bị mọi thứ cần thiết cho đội du kích Cứu quốc kéo về rừng núi, chuẩn bị tư tưởng cho đồng bào trong vùng Ba Tơ. Anh Khoách đi lên Giá Vụt mang ám tín hiệu trực tiếp gặp Già Kiêu, bàn với ông tiếp tế lương thực cho đội du kích kéo lên đó.


Sáng ngày 14 tôi xuống Trường An kiểm tra việc bố phòng. Tôi ghé vào chỗ làm việc của Mặt trận Việt Minh. Đồng bào lao xao kẻ đứng ngoài sân người ở trong nhà, đang xin ghi tên vào Hội Nông dân Cứu quốc, Phụ nữ Cứu quốc, Thanh niên Cứu quốc.

Anh Thanh ra bắt tay tôi và nói:

- Từ hai ba hôm nay, sau khi ở Ba Tơ về, đêm cũng như ngày đồng bào đến xin vào Mật trận Việt Minh. Đồng bào rất hăng hái và trân trọng, ai cũng muốn bày tỏ lòng thành với cách mạng, đem theo thóc gạo, tiền bạc, gà vịt ủng hộ cách mạng, ủng hộ đội du kích như vậy đấy anh ạ.

Nghe anh nói tôi thầm nghĩ, chắc phong trào ở trung châu cung sẽ vùng lên như nước vỡ bờ, không gì ngăn nổi.

Anh Thanh cùng tôi đến nhà ông giáo Đàm thì anh Tiểu, anh Cả và Sương đã chờ sẵn.

Bà Giáo nắm tay tôi nói nhỏ:

- Chiều tối qua, cô Bích (vợ tôi) có đến đây. Ông nhà tôi nói: Ba Tơ đã khởi nghĩa, lấy súng đạn kéo vào rừng rồi, có lên cũng không gặp. Sáng nay cô xin đi về gấp để kịp báo tin.

- Thế thì rất tốt, thím ạ - Tôi nói.

Cuộc họp bắt đầu. Tôi truyền đạt chủ trương chuyển chính quyền vào bí mật và hoạt động nửa công khai, cách đối phó với Nhật. Trước hết phải lãnh đạo tư tưởng nhân dân bình tĩnh làm ăn như thường. Trường hợp Nhật có bắt hỏi, thì nói: mọi việc do các ông an trí Ba Tơ bắt phải làm (chặt cây phá đường), bây giơ họ đi đâu không biết; đồng thời cho tên xã Thụy trở lại làm việc, tiếp xúc với Nhật, nhưng phải tuyệt đối trung thành với cách mạng, phải bảo vệ nhân dân và thường xuyên báo cáo tin tức của Nhật cho ta biết. Chiều hôm ấy tôi trở về Ba Tơ.


Ba Tơ vắng vẻ yên lặng trong bóng hoàng hôn. Gặp vài thanh niên, họ nói với tôi: Các anh đi hết rồi! Đi về phía tây, đồng bào buồn lắm, lo Nhật đến sẽ đốt nhà cướp của như xưa. Lòng tôi se lại, nhớ đến mấy ngày qua Ba Tơ rợp bóng cờ trong rừng giáo gươm tua tủa, mà nay bóng đen sẽ lại bao trùm.


Tôi lập tức cho Huỳnh Họa đem mật thư đưa cho anh Kiệt; đồng thời cho mời tổng Nguối (tù trưởng thế lực nhất trong vùng), ấm Bồ, xã Hương cùng một số khác tập hợp. Tôi nhắc lại nhiệm vụ cách mạng và nói rõ biện pháp đấu tranh khi Nhật kéo đến. Nếu Nhật hỏi thì trả lời: các ông an trí khởi nghĩa, chiếm đồn, lấy vũ khí, rồi đi đâu không biết. Đồng bào Kinh Thượng ở đây chỉ lo làm ăn... Mặt khác các ông chánh phó tổng, lý hương phải dò xem quân Nhật làm gì, muốn kéo quân đi đâu thì phải báo truyền cho đồng bào biết. Chúng tôi không giữ đồn nữa, nhưng chung quanh đây đều có người của chúng tôi.


Từ nay Kinh, Thượng phải giữ lời thề đoàn kết, ai phản lại, làm Việt gian, ai gây thù oán giết hại nhau, sẽ bị kỷ luật cách mạng. Mọi người cắt tóc cùng thề "đoàn kết", bà con vui mừng tin tưởng, nắm tay tôi chúc lên đường mạnh khoẻ, thành công.


Bây giờ nhớ lại những năm tháng ở Ba Tơ trong cảnh cá chậu chim lồng, trong đêm trường nô lệ, thất bại chồng lên thất bại, phong trào lại nối tiếp phong trào, tuy xa cách Trung ương hàng ngàn dặm, Nghị quyết tám của Trung ương từ hang Pắc Pó chỉ ghi nhớ trong đầu những người cộng sản, truyền từ nhà lao này qua nhà lao khác, vẫn được quán triệt và chấp hành triệt để, cũng như chỉ thị "Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" của Thường vụ Trung ương chưa nhận được mà Đảng bộ Ba Tơ đã kịp thời chớp lấy thời cơ vùng lên giành lấy chính quyền, chỉ nhờ ý chí kiên cường và lòng quả cảm được Đảng giáo dục rèn luyện, mà chúng tôi không đánh mất giờ phút lịch sử "ngàn năm có một" đó. Đến nay qua gần nửa thế kỷ, nhưng mỗi lần nghĩ đến tôi như còn hình dung thấy khuôn mặt hừng hực khí thế của từng đồng chí sẵn sàng hy sinh cho sự nghiệp vĩ đại của Đảng. Chính điều đó đã giúp chúng tôi vượt qua mọi khó khăn nguy hiểm, giữ trọn lòng trung thành với cách mạng, với nhân dân.


Cuộc khởi nghĩa Ba Tơ như tiếng pháo ầm vang báo hiệu cho đồng bào quê tôi vùng lên hướng theo ngọn cơ của Đảng, đẩy mạnh phong trào nhanh chóng tiến tới Cách mạng tháng Tám thành công.


Tiêu đề: Bình Minh Ba Tơ
Gửi bởi: quansuvn trong 25 Tháng Giêng, 2021, 12:35:56 pm
HY SINH VÌ TỔ QUỐC


Tại Hang Én tôi trình bày ý kiến với anh Kiệt nên chuyển lực lượng về Cao Muôn, Cơ Nhất vì ở đây có đủ điều kiện xây dựng căn cứ. Trước hết là đồng bào Kinh, Thượng có quan hệ mật thiết trong đời sống, có truyền thống chống Tây, và tham gia phong trào năm 1930, 1931, đã từng đùm bọc giúp đỡ những gia đình bị Pháp khủng bố, sau nữa lại có đường sông đường bộ thuận lợi cho liên lạc và tiếp tế từ trung châu lên miền núi, có đường vận động sang Minh Long, Sơn Hà ở phía bắc, có đường lui về phía tây Cao Muôn đến Giá Vụt, cũng có đường vào Bù Huôi đến An Lão (Bình Định). Điều kiện nhân hòa, địa lợi là tốt nhưng yếu tố tinh thần, ý chí của anh em chúng ta mới thật là quan trọng. Qua những ngày vùng lên khởi nghĩa được đồng bào ủng hộ, khí thế cách mạng trào dâng như sóng cồn gió cuốn. Giờ đây chuyển vào rừng núi phải chiến đấu liên miên với quân thù, biết bao nguy hiểm và biết bao khó khăn đói rét, ốm đau... Chúng ta phải làm cho anh em xác định quyết tâm chiến đấu đến cùng, ai không chịu nổi thì ta cho lui trước khi vào căn cứ.

Anh Kiệt ngẫm nghĩ và nhất trí hoàn toàn.

Đêm khuya, gió lạnh. Dưới bầu trời mây loãng để lộ từng đám sao mờ, bên kia Hang En là núi Cao Muôn sừng sững, nước sông Ba Tơ tuôn qua thác đá ào ào. Cảnh vật thiên nhiên uy nghi hùng vĩ gợi lên trong tâm hồn chúng tôi một cảm giác thiêng liêng bất diệt. Tại đây (Hang Én) đêm 14 rạng ngày 15 tháng 3 năm 1945 toàn đội du kích Cứu quốc Ba Tơ làm lễ tuyên thệ "Hy sinh vì Tổ quốc" để chuyển quân lên đường hoạt động.


Anh Kiệt tập họp toàn đội, có 17 anh em súng cắm luỡi lê lấp lánh nghiêm chỉnh trong hàng quân, sau phút chào cờ tiếng âm vang "Muôn năm bóng cờ" vừa dứt, tôi đứng trước hàng quân nói rõ tất cả những gì ngày mai mỗi đồng chí chúng ta phải gánh chịu và muốn vượt qua mọi thử thách gian nan, nguy hiểm, muốn chiến thắng được kè thù, nhân tố quyết định là phát huy ý chí cách mạng kiên cường không gì lay chuyển của người đảng viên cộng sản khi tuyên thệ xin vào Đảng. Chặng đường tù đày an trí năm sáu năm qua, chúng ta đã phải chịu đày đọa dưới bàn tay đẫm máu của quân thù, bây giờ trong tay có súng đạn, chúng ta hãy tiến lên hoàn thành nhiệm vụ của Đảng, của nhân dân giao phó trong giai đoạn mới.


Anh Kiệt nhắc đi nhắc lại về tình hình nhiệm vụ của đội du kích Cứu quốc đầu tiên này, và ý nghĩa phải khắc cốt ghi tâm giữ trọn lời thề hôm nay, dù chết sống trước quân thù cũng không thay lòng đổi dạ... Rồi anh quay lại đứng nghiêm trước cờ, giơ tay phải lên ngang tai: "Tôi, Phạm Kiệt xin thề hy sinh vì Tôi quốc”. Đến tôi và lần lượt từng đồng chí khác bước lên trước cờ: "Tôi là... xin thề hy sinh vì Tổ quốc"...


Từ đây lời thề trở thành khẩu hiệu khi cấp dưới chào để báo cáo cấp trên. Khi đổng đội đi công tác gặp nhau đều phải giơ tay chào "Hy sinh vì Tổ quốc” - "Hy sinh vì Tổ quốc".

Trong đêm tối mù sương đoàn quân lặng lẽ tiến về Cao Muôn...

Đùng! Đùng! Có hai tiếng súng nổ gần, anh em liền phân tán theo đội hình chiến đấu, và phái trinh sát đi tuần tra. Khi ra đến bến Buôn thấy có mấy người đi ngược dòng sông, đến nơi mới biết đấy là đồng chí Trần Lương, Nguyễn Cừ bắn súng để tìm chúng tôi.


Gặp nhau mừng rơi nước mắt, anh Lương nói: tình hình trung châu phát động quần chúng khởi nghĩa nông thôn chưa được phía nam phát động, một số xã đang tổ chức các hội Cứu quốc. Phía bắc anh Khế cũng báo cho tôi như vậy, quần chúng còn rất bỡ ngỡ, họ con e sợ chính sách "tam quang” tàn bạo của Nhật (giết sạch, đốt sạch, cướp sạch). Không cướp chính quyền để chi viện cho cuộc khởi nghĩa Ba Tơ được, vì vậy Tỉnh ủy quyết định báo tin cho các đồng chí trên này phải chuyển quân ra xây dựng căn cứ chính quyền và Việt Minh Ba Tơ phải chuyển vào hoạt động bí mật và bán công khai (bí mật với địch, công khai với quần chúng), như vậy là ba nhóm lãnh đạo đã thống nhất tư tưởng và hành động.


Chúng tôi đang trao đổi ý kiến thì đồng chí Nguyễn Niên (Hường) phụ trách tổ trinh sát ở suối Loa về báo tin: quân Nhật đã đi lên Ba Tơ. Khi đến trước đèo Lâm, nghe tiếng súng, chúng lập tức nằm ép bên đường nghe ngóng hồi lâu rồi dậy đi. Trong đoàn quân chúng bắt bọn Tây cạo trọc đầu với mấy tên lính bảo an dẫn đường (hình như có tên Ba-dô-va-ni trưởng đồn Gi Lăng) làm bia đỡ đạn đi trước. Thật là éo le cho số phận những người Pháp!


Chia tay anh Lương, ngày hôm sau, chúng tôi chuyển toàn đội vào trung tâm Cơ Nhất, tiến sâu vào bản làng hẻo lánh trên triền núi Cao Muôn. Thế là niềm mơ ước, cách đây mấy tháng tôi và anh Giàu khi đi tìm, nay đã trở thành sự thật. Nhiệm vụ trước mắt của chúng tôi là phải biến vùng này thành trung tâm căn cứ địa miền Tây Quảng Ngãi.


Sau khi bố trí trinh sát và kế hoạch bảo vệ xong, anh Kiệt tuyên bố cho anh em được tạm nghỉ để lấy lại sức sau năm ngày đêm căng thẳng gần như thức trắng. Mỗi người tìm cho mình một tảng đá bên bờ suối, đặt súng bên người, ngủ một giấc giữa trời tự do.


Ba chúng tôi (Kiệt, Đôn, Khoách) họp chi bộ Đảng (vừa là ban chỉ huy) nhận định tình hình và đề ra chương trình hành động: Hàng đầu là công tác tổ chức, tư tưởng, kỷ luật, công tác dân vận tiếp tế, và công tác trinh sát địch tình... Sau đó đưa ra toàn đội thảo luận, anh em đều nhất trí sự thành công của cuộc khởi nghĩa, ngoài quyết tâm kiên định không lay chuyển của Tỉnh ủy lâm thời và ban chỉ huy trực tiếp, còn có nguyên nhân quan trọng là nhận định kẻ thù rất chính xác, mặc dù có tên giám binh Pháp cầm đầu, nhưng tinh thần của chúng là tìm đường chạy trốn quân Nhật, nên thời cơ để vũ trang khởi nghĩa vẫn còn, chính vì thế mà trong đêm 11 tháng 3 ta đã giành được thắng lợi hoàn toàn.


Về mặt lãnh đạo và chỉ huy, anh em đều thừa nhận kế hoạch chiếm châu lỵ hành chánh, đập tan chính quyền địch trước là đúng. Ta đánh vào bộ phận chủ yếu đồng thời là điểm yếu về quân sự, làm cho địch tan rã ngay từ đầu, quần chúng trung gian hướng theo cách mạng một cách nhanh chóng.    Việc thành lập chính quyền cách mạng, quản lý trật tự an ninh, biểu dương lực lượng và động viên quần chúng Kinh, Thượng tham gia giành và giữ chính quyền ủng hộ Mặt trận Việt Minh là một thắng lợi lớn và còn là tiềm lực lâu dài.


Sự chuẩn bị tinh thần đoàn kết và phương pháp đấu tranh cho đồng bào Kinh, Thượng trước khi chuyển chính quyền vào bí mật nửa công khai và chuyển lực lượng vũ trang ra xây dựng căn cứ là đúng đắn để bảo toàn phát triển lực lượng. Cũng là một quyết định linh hoạt kịp thời...


Toàn đội cũng biểu dương tinh thần chiến đấu của anh em, tuy Đảng có chuẩn bị tư tưởng để tháo cũi sổ lồng, nhưng vẫn rất bất ngờ, cuộc vũ trang khởi nghĩa chỉ thông tin đến anh em không đầy một giờ, tất cả các đồng chí đều sẵn sàng làm nhiệm vụ, và hoàn thành nhiệm vụ thật tốt đẹp. Đó là nhờ ý chí cách mạng, tinh thần chỉ tiến không lùi của người cộng sản đã hun đúc từ lâu nên khi được đánh thức dậy là bất kỳ hiểm nguy khó khăn nào cũng sẵn sàng hy sinh cho cách mạng. Nhiều anh em chưa được khôi phục Đảng, vẫn tự đặt cho mình trách nhiệm của người cộng sản phải phấn đấu hoàn thành một cách xuất sắc. Đồng thời anh em cũng tự phê bình chung là quá say sưa với thắng lợi, đã có ý thức kỷ luật, ý thức cảnh giác chưa nghiêm túc như khẩu hiệu "vũ khí bất ly thân" chưa được thực hiện nghiêm. Việc giữ gìn "trang bị gọn gàng chặt chẽ cũng chưa tốt, đêm qua hành quân có người còn để vũ khí đồ đạc va chạm, hoặc đánh rơi, rất dễ lộ bí mật.


Riêng cá nhân đồng chí Đé Xi đứng lên xin tự phê bình về việc trong đêm 11 tháng 3, sau khi chiếm đồn, được chỉ huy giao cho kiểm tra chỗ ở tên đồn trưởng, đêm khuya ruột đói, đã ăn một thỏi gì giống miếng bánh dẻo, hóa ra đó là mìn (Đinamít). Đây là do sự dốt và thiêu ý thức cảnh giác, may mà ăn ít nên không xảy ra nguy hiếm. Đồng chí Trình Anh cũng tự phê bình trong đêm ấy thèm thuốc quá đã lấy giấy trong đồn vấn thuốc. Hai ba anh em lén lút xong thì người nào tím miệng, tím lưỡi! Thì ra giấy vấn thuốc là giấy than. Đó cũng là sự mất cảnh giác.


Tiêu đề: Bình Minh Ba Tơ
Gửi bởi: quansuvn trong 25 Tháng Giêng, 2021, 12:38:02 pm
Đề cao tinh thần trách nhiệm cách mạng và nâng cao ý thức kỷ luật quân sự, cũng trong cuộc họp này toàn đội thống nhất thông qua nội dung bản kỷ luật do đồng chí Phạm Sanh phụ trách quân pháp nghiên cứu. Nội dung bản kỷ luật của Đội du kích Cứu quốc quân Ba Tơ như sau:

XỬ TỘI NẶNG:

- Người nào phản bội du kích cứu quốc.

- Đào ngữ.

- Lúc đánh trận hay hành quân mà chống lại mệnh lệnh của chỉ huy.

- Cướp phá tiền của sản vật của dân chúng dùng làm việc cho mình.


MẤY ĐIỀU KỶ LUẬT KHÁC:

- Bất kỳ lúc nào cũng phải luôn chú ý đến tiếng còi hiệu, và phải lập tức thi hành.

- Giờ chào cờ phải hết sức nghiêm trang.

- Khi ra mệnh lệnh phải được sự đồng ý của chỉ đạo viên.

- Trong lúc hành quân không được trò chuyện ồn ào, hút thuốc lá, đốt lửa, làm rơi đồ đạc.

- Trong lúc canh gác không được ca hát, hút thuốc hay trò chuvện, hay làm việc khác, nhất là không được bỏ chỗ gác, không được rời vũ khí.

- Trong quân ngũ có điều gì bất bình, có quyền đưa ra toàn thể xét xử, cấm không được nói xấu vắng mặt.


NHỮNG ĐIỀU CỐT YẾU CỦA NGƯỜI LÍNH DU KÍCH:

- Hy sinh dũng cảm hăng hái để phụng sự Tổ quốc.

- Tuyệt đối phục tùng chỉ đạo viên.

- Kiên nhẫn chịu đựng mọi cực khổ, ăn nói phải lễ độ với mọi người.

- Không lấy của công làm việc riêng.

- Luôn luôn giúp đỡ dân chúng, khi đóng quân, cũng như rút quân, phải giữ gìn nhà của dân chúng cho sạch sẽ.

- Mua bán phải giữ lẽ công bằng, không được lấy của ai dù một cây kim sợi chỉ.

- Khi mượn của ai vật gì lúc đi cũng phải trả lại đầy đủ, làm hư hỏng phải bồi thường minh bạch.

- Không được hút xách say sưa1 (Nguyên bản kỷ luật này đồng chí Phan Phong giữ được, năm 1968 mới giao cho Bảo tàng cách mạng Trung ương, bản gốc được đánh máy trên máy chữ hermét, chỉ có ruy băng nửa đỏ nửa xanh mà không có giấy than).


Đúng ngày 16 tháng 3 năm 1945, sau khi chuyển quân ra bắc chân núi Cao Muôn, để thực hiện nguyên tắc "Hóa chỉnh vi linh - Hóa linh vi chỉnh" đã học được trong nhà tù về chiến tranh du kích, chúng tôi chia đội làm Ba Toán, mỗi toán sáu đồng chí (lúc này kết nạp đồng chí Hoa và Cả chính thức là đội viên trong đội) để chia nhau tiến hành công tác dân vận đi sát từng xóm, từng nhà, giáo dục nhiệm vụ cách mạng, ý thức bí mật ba không (không biết, không thấy, không nghe: ứ ni, ú nó, ú tân) và ăn thề đoàn kết đánh Nhật đuổi Tây với đồng bào trong vùng, ngày phân tán đi công tác, tối tập họp tại địa điểm định trước rút kinh nghiệm và bố trí kế hoạch cho những ngày tiếp theo. Qua vài ngày hoạt động, lương thực dự trữ mang theo đã cạn dần vì lương thực cướp được trong đồn thì đã phân phát cho nhân dân, khi chuyển quân, đồng bào ủng hộ, nhưng mang theo chí được 5-7 lon gạo, cho nên chúng tôi phải hạn chế ăn mỗi suất chí một lạng gạo. Mùa này ở Cơ Nhất bị hạn hán nên đồng bào dân tộc cũng đói. Chúng tôi phải hái rau rừng và xin rau lang của đồng bào để nấu cháo (cứ mỗi nồi cháo cho 6-7 đồng chí ăn thì chỉ một lon gạo cộng với rau lang đầy nồi để ăn độn cho no bụng). Qua thử thách như vậy, mới thấy rõ ý chí kiên cường của anh em, cũng là lúc thấy rõ tấm lòng của đồng bào dân tộc ở Cơ Nhất đối với đội quân trong thời kỳ trứng nước. Mặc dù khi chúng tôi đi khi đến đều tuyệt đối bí mật, nhưng rừng núi, sông suối là quê hương của đồng bào, nên ở đâu đồng bào cũng tìm đến cho khoai, cho rau. Một hôm tôi đi dân vận anh Cai Đe (người cai tôi quen biết khi ở tù Gi Lăng), chúng tôi mừng mừng tụi tủi, anh khóc và có năn nỉ chúng tôi ở lại cùng ăn một bữa cưm đoàn kết. Khi tôi ra đi, anh cũng đem mấy bát gạo còn lại đổ vào ruột nghé buộc phải mang về. Anh chỉ đám lúa đã hườm trái mây trước nhà nói: "Ngày mai tôi sẽ bứt lúa cho vào nồi rang là có gạo, các anh đừng lo". Tấm lòng chân thành của anh làm cho tôi nhớ mãi tình thương yêu của đồng bào dân tộc đối với chúng tôi.


Tình hình thiếu đói của đội du kích được đồng chí Phan Xuân, Nguyễn Nhạn và Nuyễn Chương (rể ông giáo Đàm) thông báo cho cơ sở vùng Trường An, Suối Bùn. Đồng bào quyên góp lương thực, thực phẩm, ngược dòng sông Vệ gửi lên trạm tiếp nhận ở phía đông bến Buôn. Đêm đêm những chiếc thuyền gỗ cạch cạch cạch theo nhịp ba tiếng một vào mạn thuyền, thì tiếng chim ụt ụt lại kêu lên làm ám hiệu cập bờ để giao hàng tiếp tế. Cơ sở Cứu quốc ở Trường An - Tân Long càng lo lắng bao nhiêu, thì bị gạo, giỏ khoai, cá khô, mực muối lại đầy ắp bấy nhiêu. Đặc biệt ông bà giáo Đàm và cả gia đình nhịn ăn để tiếp tế gạo cho du kích (sau này những ngày trở lại hàn huyên chuyện cũ chúng tôi mới biết). Thật là tấm lòng vàng hiếm có.


Qua những ngày đầu xây dựng căn cứ, chúng tôi càng thấm bài học du kích với đồng bào như cá với nước, thiếu nước thì cá không sao sống được. Tất cả đội viên chúng tôi càng gần gũi dân. Lúc đầu chúng tôi sợ phiền lòng dân, sợ lộ bí mật. Nhưng khi đã hiểu được và nắm được dân, chúng tôi thường cho phân tán một bộ phận ở hẳn trong nhà dân, để vừa làm công tác tuyên truyền giáo dục vừa giúp đỡ chăm sóc các em và lo thuốc men chữa bệnh cho đồng bào bị ốm đau. Qua đó mà địch tình, dân tình chúng tôi nắm chắc hàng ngày, niềm tin sắt đá vào dân càng củng cố, vị trí trú quân cũng như kế hoạch lưu động công tác ngày càng đi vào nền nếp ổn định.


Tiêu đề: Bình Minh Ba Tơ
Gửi bởi: quansuvn trong 25 Tháng Giêng, 2021, 12:41:01 pm
Song song với kế hoạch xây dựng cơ sở chính trị trong vùng căn cứ là công tác hàng đầu, chúng tôi tổ chức một nhóm công tác do anh Kiệt phụ trách đi sâu vào vùng núi Cao Muôn tìm sào huyệt của anh Rua, Rói để phối hợp hành động. Qua hai ngày cắt rừng vượt suối, thình lình anh Kiệt bị sa vào ổ phục kích. Tiếng chách hú nổi lên. Cả nhóm dừng lại. Tốp người núp trong cây, đá bước ra, giương cung chĩa mác vào những ông khách không mời mà đến. Sau mấy lời đối thoại, biết rõ không phải là lính đồn Tây mà là an trí đã khởi nghĩa Ba Tơ, anh em vui mừng đưa khách vào lán, hai bên trao đổi nhiệm vụ cùng đánh Nhật đuổi Tây. Nhưng cuối cùng họ chỉ hứa lúc nào cần đến với họ thì báo trước. Con bây giờ họ chỉ cố thủ trong sào huyệt, chứ không phối hợp chiến đấu. Anh Kiệt trở về thất vọng, vì lúc này không cần ẩn trốn trong hang cùng ngõ cụt nữa, mà phải làm chủ một vùng rộng mênh mông mới chiến thắng được quân thù.


Một nhóm khác do đồng chí Phan Phong, Trịnh Anh tiến lên vùng tây sông Re, đến chỗ sân bay Pháp và Mỹ mới xây dựng, vì được tin chúng đổ súng đạn xuống sông Xà Lò khi bỏ chạy. Các đồng chí lận sâu xuống các hố nước xanh lạnh như nước đá để tìm súng đạn, cứ mỗi lần cúi xuống là hô khẩu hiệu "Hy sinh vì Tổ quốc". Sông Xà Lò có loại dị vật, đồng bào gọi là con nhiễu, mình to bằng bề ngang bàn tay, dài bằng cái đòn gánh, giống như con đỉa khổng lồ. Gặp ngươi yếu nó quấn được thì chết chìm; chịu ngụp lặn được lâu, cắt nó ra từng đoạn mới giành được mạng sống. Cuộc mạo hiểm dưới đáy sông chỉ thu lượm được ít súng cạc - bin đã phá hỏng.


Một nhóm đi Sơn Hà, Gi Lăng để liên lạc với căng an trí do đồng chí Đức (Lạc) phụ trách, đến nơi mới biết anh em tản về các địa phương. Mặc dù đồn Gi Lăng chính là nơi bọn Pháp theo Đờ Gôn đã chuẩn bị nhiều vũ khí đạn được (Ba-dô-va-vy làm đồn trưởng) để chống Nhật, tạo thành một hệ thống lên Kông Long -  Công Tum nhưng tất cả bị Nhật đánh úp, ngày 9 tháng 3 khi cùng nhau tính kế ở thị xã Quảng Ngãi.


Cơ sở ở Ba Tơ báo tin cho biết sau khi Nhật lên chiếm đồn ngày 15 tháng 3 thì sau đó tên Bùi Danh Ngũ, kiểm lý châu Ba Tơ, cũng trả lại nhận chức cũ và đã tập họp bọn hào lý Kinh, Thượng ngóc đầu dậy hoạt động.    Chúng tôi viết một bức thư cảnh cáo nói rõ thời cuộc và nhắc lại lời thề của hắn xin về nhà làm ăn không dám có hành động chống lại cách mạng. Anh Nguyễn Khoách đến vận động nhà sư trụ trì chùa ở suối Loa, đem thư trực tiếp đưa cho Bùi Danh Ngũ1 (Bùi Danh Ngũ trở lại làm chức tri châu Ba Tơ). Nhà sư hăng hái nhận nhiệm vụ và cũng từ đó nhà sư trở thành cơ sở của Việt Minh nắm được nhiều tin tức từ châu lỵ báo cho chúng tôi.


Sau mấy ngày lưu động công tác nắm dân, chúng tôi bí mật chuyển quân lên xóm Ba Nhà (Gọi Tui) nơi trước đây tôi đã đến thăm. Toàn đội trèo núi từ sớm đến chiều mới tới nơi. Gặp lại chúng tôi, đồng bào hân hoan khôn xiết và trách sao chúng tôi lâu quá mới đến.

- Chúng tôi đợi để lấy được nhiều súng đạn, nay mới lên để cùng các anh đánh Nhật đuổi Tây.

- À, ở đây Nhật, Tây nó lên thì mình đánh nó chết hết thôi! Ông già làng vừa nói vừa cười rất hạ hê thấy anh em ta có đầy đủ súng đạn...


Những ngày ban sơ này chúng tôi đã đón nhận gần 20 anh em chính trị phạm Thanh Hóa từ nhà lao Quảng Ngãi1 (Chiến khu Ngọc Trảo (Thanh Hóa) bị địch đánh phá, chúng đày tù nhân vào Quảng Ngãi năm 1941) kéo lên tham gia đội du kích. Thấy rõ bước khó khăn ban đầu và tình hình tư tưởng anh em cũng móng trở lại quê hương hoạt động, chúng tôi nói rõ khả năng phong trào Việt Minh có thể bảo đảm đưa anh em lên xe lửa về Thanh Hóa. Cuối cùng còn ba đồng chí xin ở lại chiến đấu với đội du kích Cứu quốc Ba Tơ, không chịu về. Đó là đồng chí Súy, đồng chí Mộc và bác già Hương. Số còn lại lần lượt đưa về quê được an toàn.


Qua một tuần "vạn sự khởi đầu nan", bao nhiêu khó khăn bức bách đã vượt qua, các nhóm công tác đặc biệt đều trở về. Kết quả tuy ít, nhưng qua thử thách gian truân, mỗi người chúng tôi thêm kiên định vững vàng. Công tác dân vận, công tác tiếp tế được ổn định.


Tạm biệt xóm Ba Nhà trên núi Cao Muôn, chúng tôi lưu động toàn đội về vùng Nước Hoa. Buổi sớm tập hành quân, triển khai đội hình phong ngự đánh địch, một toán đóng giả quân địch. Đậi bộ phận làm quân ta lợi dụng địa hình, địa vật phục kích đánh địch khi vào chiến khu, tập xong thảo luận, lấy "quân địch" nhận xét quân ta, bố trí đúng sai thế nào? Xuất hiện lúc nào thì diệt được địch, bảo vệ được mình? Lợi dụng điểm cao, theo thế núi rừng, nhưng cao chừng nào thì thấy địch từ xa mà bắn được địch khi đến gần và có đường rút lui khi cần thiết được thuận lợi... Ngày nào cũng tập, ngày nào cũng bình kỹ thuật, chiến thuật một cách dân chủ, rồi kết luận làm bài học chung.


Đồng thời tập tháo lắp súng, bịt mắt để tháo lắp giả như bị hòng hóc trong chiến đấu ban đêm. Tập lấy đường ngắm cho trúng đích, rồi đưa nhau vào đầu suối tập bắn đạn thật, vẽ bia trên đá, vừa bắn được mấy viên thì nghe đạn bay chiu chiu trên đầu mình, lúc bấy giờ mới biết bắn vào đá đạn bị thia lia bay về phía mình rất nguy hiểm, sau phải tập bắn vào núi đất.


Tất cả đều lần mò trong thực tế thử nghiệm, vì không có thầy, không có sách. Sau này Mặt trận Việt Minh huyện Đức Phổ có một thanh niên Cứu quốc trước là lính khố đỏ (Huỳnh Quang Lầu) tình nguyện lên chiến khu, mới dùng đồng chí ấy làm huấn luyện viên kỹ thuật.


Càng tập luyện, càng thảo luận dân chủ, mỗi người chúng tôi càng thêm hiểu biết, và càng tin tưởng "một viên đạn là một quân thù". Trong giờ giải lao giữa rừng sâu vách núi hùng vĩ, lòng đầy phấn khởi, anh em cất tiếng hát:

"Ngắm cho nòng súng"
"Đừng cho quân thù thoát"
"Quân thiếu niên tiền phong"...


Mùa lúa tháng ba đã ngả màu ửng vàng trên đồng, ông chánh Run và phó Nia, chánh Liêu là thủ lãnh cao nhất trong vùng Cơ Nhất ngỏ ý với chúng tôi: "Chúng ta cần mua giữ lúa gạo trong vùng làm lương thực dự trữ lâu dài, muốn vậy cần nói với Việt Minh trung châu đưa vải vóc, áo quần kim chỉ, và lưỡi cày lưỡi cuốc lên. Chúng tôi sẽ đổi lúa gạo trong dân cho đội quân an trí. Đồng thời chúng ta tổ chức một lễ lớn cúng trời đất, toàn dân cùng ăn thề một lòng một bụng làm cách mạng, rồi chúng tôi cho cắm lá (ám hiệu của dân tộc, cấm trong không ra, ngoài không vào) không cho con buôn vào mua lúa, không cho Việt gian vào dò la tin tức, để giữ bí mật".

Chúng tôi đồng ý và định ngày làm lễ toàn đội ăn thề.

Một buổi chiều quang đãng, bên một mé rừng ở trung tâm Cơ Nhất, mấy nghìn đồng bào đại diện cho tất cả làng xóm trong vùng tập họp chỉnh tề giáo mác lấp lánh trong rừng người. Một giàn hoa - nêu cao, một con trâu buộc vào trụ đúng yên lặng.


Tôi và anh Kiệt thay mặt cho đoàn quân, ông chánh Run, phó Nia thay mặt cho toàn dân. Ông cất tiếng xói xói xói... (Hỡi trời đất ...) kéo dài một hồi lâu, các ông cùng chúng tội cắt máu ở tay mình chảy vào bát ruợu, dâng lên giàn hoa, cùng thề ai phản bội sẽ bị trời tru đất diệt. Rồi bưng rượu hòa máu chuyền tay nhau cùng uống ghi nhớ lời thề. Sau đó là lễ đâm trâu. Tiếng chách hú, tiếng hò hét reo vang, đánh dấu một ngày thiêng liêng, toàn dân Cơ Nhất từ già đến trẻ, từ gái đến trai một lòng một dạ theo cách mạng đánh Nhật đuổi Pháp giành độc lập cho núi sông đất nước này.


Cuộc liên hoan tưng bừng cho đến nửa đêm. Kết thúc, từng đoàn người trở về buôn làng, với ngọn đuốc soi đường trong đêm tôi, cũng là ngọn đuốc cách mạng.


Ba hôm sau được tin mấy lính Nhật cùng bọn tay sai dẫn đường từ Sơn Hà theo suối Tầm Rao xuyên rừng vào huyện Minh Long. Đồng bào dân tộc Minh Long báo tin cho chánh Liêu truyền tin cho chánh Run để báo cho chúng tôi biết và xin lệnh của đội cho nhân dân tiêu diệt chúng.


Để khỏi bộc lộ vùng căn cứ, và tránh sự tàn sát trả thù của Nhật, chúng tôi thuyết phục ông chánh Run theo dõi sát địch xem hành động của chúng nó. Nếu nó không áp bức khủng bố nhân dân, thì chúng ta bán ít lương thực, cho nó ngủ nhờ một đêm và chỉ đường cho chúng nó về Ba Tơ chứ không đánh giết chúng.


Ngày hôm sau từ Minh Long, chúng vào Ca Nhất hỏi thăm người già, trẻ con... có thấy cộng sản an trí Ba Tơ ở đâu không. Từ người lớn đến trẻ con đều nói: ú ni, ú nó... (không biết, không thấy). Cuối cùng chúng xin mua mấy con gà và cho mấy thanh niên canh gác cho chúng ngủ một đêm tại nhà lúa ngoài đồng. Nửa đêm, mấy thanh niên Cứu quốc của đồng bào dân tộc chạy vào báo cho đội là chúng nó đi xa mệt mỏi, ăn xong chúng ngủ lặng cả, yêu cầu đội cho phép cắt cổ lấy súng, không giết để lấy súng thì tiếc quá. Chúng tôi ra lệnh không giết. Anh em bực tức giậm chân, dập đuốc kéo nhau vể. Thấy anh em chưa thấy hết lợi hại, anh Kiệt cùng đi theo để thuyết phục tránh hành động mạo hiểm.


Mấy tên Nhật ngủ một đêm rồi hỏi đường về đồn Ba Tơ. Qua đó, chúng tôi thấy tinh thần cảnh giác của đồng bào và tinh thần kỷ luật của thanh niên chấp hành chủ trương cách mạng tốt.


Tiêu đề: Bình Minh Ba Tơ
Gửi bởi: quansuvn trong 25 Tháng Giêng, 2021, 12:42:46 pm
Về tình hình nhân dân trong căn cứ, qua mấy đợt vận động, qua ngày lễ tuyên thệ toàn vùng, qua thử thách tinh thần cảnh giác và ý thức kỷ luật, lại vận dụng phong tục địa phương cắm lá chặn đường, chúng tôi thêm tin tưởng, càng thấm thìa lời dạy của ông cha xa xưa "Dân là nước, nước nâng thuyền lên nhưng cũng có thể lật thuyền". Từ đây toàn đội càng tăng cường quan hệ quân dân, nhất là các đồng chí được phân tán bám sát xây dựng cơ sở. Qua thử thách chúng tôi kết nạp các đồng chí Nhóa, Beo và Nhép là thanh niên Cứu quốc dân tộc Re vào đội du kích Cứu quốc quân (Đồng chí Nhép sau này trở thành cán bộ dân tộc Re đầu tiên tham gia chiến đấu suốt hai cuộc chiến tranh, và hy sinh trong cuộc chiến đấu chống Mỹ ở Kom Long khi đồng chí là thiếu tá chỉ huy trưởng tiểu đoàn).


Sau lần anh Kiệt đi xem xét địa thế, chúng tôi quyết định chuyển quân về khu vục Nước Lá, xây dựng bố phòng chiến đấu, đảm bảo an toàn và tập luyện chiến đấu cho toàn đội.

Suối Nước Lá phát nguyên từ dãy núi Tai Mèo phía đông Cơ Nhất, có địa thế hiểm trở, đường vào độc đạo, hai bên là núi cao có rừng rậm khó xuyên qua. Có chỗ để tạo thao trường huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật. Chúng tôi tổ chức một cuộc hành quân để thu súng Tây còn bỏ lại trong nhân dân vùng tây Nghĩa Hành, đồng thời tập luyện hoạt động ra ngoài vùng căn cứ an toàn để rút kinh nghiệm.


Khánh Giang - Trường Lệ là các làng phía tây huyện Nghĩa Hành giáp phía đông huyện Ba Tơ, trên lưu vực sông Vệ, nguyên là vùng lộc điền của một tên đại Việt gian triều Nguyễn. Nhân dân ở đây toàn là tá điền nên tinh thần cách mạng khá tốt. Trong ngày khởi nghĩa Ba Tơ, nhóm cán bộ đồng chí Trần Lương về trung châu đã phát động quần chúng nhưng không cướp chính quyền, tuy vậy tinh thần hưởng ứng khởi nghĩa Ba Tơ, đang mong chờ tổ chức Việt Minh đến.


Những ngày Nhật đánh Pháp, lính khố xanh, khố đỏ rút chạy về đây rồi vất súng trong rừng, dưới suối, đồng bào thu lượm còn cất giấu, muốn nộp súng cho cách mạng, nhưng sợ Nhật biết thì nguy hiểm. Cuộc hành quân của chúng tôi nhằm hợp pháp hóa để đồng bào giao súng cho cách mạng, vì vậy phải cải trang như một đội bảo an binh. Anh Kiệt đóng vai đội, tôi đóng vai cai, anh Phan Phong đóng vai quyền, còn lại làm lính hơn mười người. Chúng tôi thông qua hệ thống cơ sở Cứu quốc, từ Ba Tơ, Trường An, suối Bùn và Hùng Nghĩa để nắm tình hình từ xa và bố trí các tổ cảnh giới ở đèo Đá Chát và suối Bùn là hai đầu đường địch có thể bất ngờ kéo vào Khánh Giang - Truờng Lệ để báo hiệu cho đội kịp thời đối phó.


Xuất phát từ Nước Lá, ba chiếc thuyền nhỏ ở bờ sông Vệ, xuôi dòng, gần trưa thì ghé vào chân núi Đá Chát. Hai cô gái con ông giáo Đàm đưa cơm lên bờ. Đúng 15 giờ lại xuống thuyền đến vị trí chỉnh đốn trang bị sẵn sàng chiến đấu, chia ra Ba Toán tiến vào làng, sục vào nhà, có ám hiệu của cơ sở chỉ dẫn để vận động. Cái khó là nói thế nào để đồng bào đưa súng cho bảo an binh mà tự biết là đưa súng cho quân cách mạng. Theo như đã chuẩn bị, tôi nói: Trong những ngày Tây chạy có bỏ súng ở vùng này. Chúng tôi biết bà con có bắt được, nếu đã nộp cho quân cách mạng rồi thì thôi, con chưa nộp thì nay chúng tôi về đây, bà con hãy giao cho chúng tôi. Đừng giữ lại để rồi sau này nộp lại cho Nhật, hay cho đội bảo an khác, thì bà con chẳng những có lỗi với Tổ quốc, mà chúng tôi cũng không hoàn thành được nhiệm vụ, bà con sẽ bị kỷ luật trừng trị.


Tiếng chó sủa, tiếng trẻ con reo nhau chạy theo làm rộn ràng làng xóm. Các ông chủ nhà chăm chăm nhìn mặt từng người bảo an binh miệng chúm chím cười, mà nước mắt lăn trên gò má, ấp úng, ngập ngừng như khó tìm lời đối thoại:

- Thưa các bác và thưa các anh, dạ tôi có nhặt được và cũng có cây súng săn với cây súng trường, sẽ giao nộp cho các anh làm nhiệm vụ. Nhưng lâu ngày quá chưa gặp được các bác, các anh, tôi xin mời vào nhà nghỉ một chặp, để chúng tôi làm cơm các anh cùng ăn với gia đình. Lâu ngày mới gặp, chúng tôi mừng lắm. Trời cũng đã chiều tối rồi, các anh nghỉ lại đêm nay rồi ngày mai sẽ đi cũng chẳng muộn gì. Mong các anh thông cảm tấm lòng của gia đình tôi - dạ xin mời. Miệng nói tay cầm tay như muốn kéo chúng tôi vào nhà, chiếc chiếu hoa trải sẵn trên phản.


Biết rằng đồng bào đã hiểu mình, tôi nói: Chúng tôi xin cảm ơn nhiệt tình của bác. Nhưng thời gian có ít, chúng tôi còn đi về Nghĩa Hành cho kịp không thể ở lại tới ngày mai. Xin gia đình cho chúng tôi nhận số vũ khí, kể cả súng sẵn của nhà. Thấy không thể giữ lại ăn cơm, đồng bào đưa hết súng đạn.


Chúng tôi cảm ơn gia đình và dặn dò sau này có bảo an binh hay quân Nhật về thu súng thì cứ nói là đã nộp cho bảo an binh nhận ngay này là được. Bà con dạ dạ đưa chúng tôi ra ngõ vẫn còn luyến tiếc không ở lại ăn cơm (thật tình có con heo đang cạo lông ở bếp), rồi ngó theo mãi bóng dáng người "bảo an binh" cách mạng khuất dần trong nẻo đường xa. Hành quân bên hữu ngạn, chúng tôi sục vào những nhà có súng, họ đều giao nộp, nhiều gia đình đối xử như thế, cũng có vài nhà ngơ ngác vì vẫn còn nghi ngờ chưa rõ chính tà. Lội sông qua tả ngạn sông Vệ gặp anh Phan Hùng (tức Phong) báo cáo đã thu được một cây súng máy nhưng mất cơ bẩm, còn một nhà có súng đạn thuyết phục mãi nhưng từ chối không chịu đưa. Tôi vào thuyết phục hết lời êm dịu cũng không xong, tôi lên giọng nộ nạt cũng không được. Cuối cùng tôi tát vào má người chồng, anh chồng vội ra bơ rào rút khẩu súng mút-cơ-tông, chị vợ lấy một mo đạn để trên giàn bếp đưa cho chúng tôi. Anh Kiệt chạy lại an ủi: "Ai bảo bác ngoan cố để thầy cai tức giận! Chúng tôi thu súng là để thực hiện nhiệm vụ lịch sử ích quốc lợi gia chứ không phải để lấy phần thưởng của quân Nhật đem súng đạn bắn giết đồng bào đâu!".


Lần đầu tiên mà cũng là lần cuối cùng tôi phải tát tai đồng bào trong đời tham gia cách mạng của tôi, một sự việc bất đắc dĩ phải làm vì sự nghiệp cách mạng. Tôi vẫn nhớ đời.

Hoàng hôn ập đến, chúng tôi lên đường trở về chiến khu Nước Lá trong đêm sương lạnh, ngủ lại giữa rừng. Cuộc hành quân thu được nhiều súng đạn, nhưng phần lớn là súng bị mất kim hỏa, mất cơ bẩm, lò xo. Kết quả quan trọng hơn là tập dượt, rút nhiều kinh nghiệm; mặt khác cũng là một cuộc võ trang tuyên truyền. Sau khi chúng tôi đi, bà con bàn tán xôn xao, cuối cùng họ đoán chắc là đưa súng đúng tay những anh em an trí khởi nghĩa Ba Tơ. Từ đó Khánh Giang - Trường Lệ và cả xã Hành Tín sau này chẳng bao lâu cơ sở Cứu quốc Việt Minh toàn vùng trở thành vành đai vững vàng phía bắc chiến khu Nước Lá của đại đội Hoàng Hoa Thám.


Tiêu đề: Bình Minh Ba Tơ
Gửi bởi: quansuvn trong 25 Tháng Giêng, 2021, 12:57:14 pm
SỐNG TRONG LÒNG NHÂN DÂN


Cuộc khởi nghĩa nông thôn ở trung châu để chi viện cho Ba Tơ tuy không thực hiện được nhưng phong trào cứu quốc phía bắc cũng như phía nam nhờ phát huy ảnh hưởng cuộc khởi nghĩa Ba Tơ đã đánh thức mọi tầng lớp nhân dân, nhất là anh em cựu chính trị phạm, tuyệt đại bộ phận đều hăng hái đứng lên hoạt động. Chỉ sau hai tuần lễ, những vùng có cơ sở trong thời kỳ bí mật đã phát triển các hội Cứu quốc, gần như toàn thôn đều tham gia. Không khí cách mạng sục sôi khắp các phủ huyện, không đủ cán bộ để hướng dẫn xây dựng phong trào.


Tỉnh ủy lâm thời triệu tập cuộc họp đầu tiên (ở trung châu) để thống nhất nhận định tình hình sau khởi nghĩa Ba Tơ, đề ra chủ trương mới.

Chúng tôi phân công anh Kiệt ở lại chiến khu để cầm quân, tôi về dự hội nghị. Từ Nước Lá ra nhà anh Tiễu, tôi đợi thuyền liên lạc xuôi dòng sông Vệ. Phía đông đầu cầu, bên hữu ngạn, có ánh đèn pin chớp lóe mấy lần trong bãi dâu. Thuyền từ từ cập bãi. Một thanh niên rảo bước trong đêm mờ vừa đến. Tôi nhận biết ngay đó là đồng chí Hinh, người bạn tù ở Gi Lăng, xa nhau đã năm năm trời. Anh nói nhỏ: Anh Lương giao cho tôi đón đồng chí! Cái vui mừng trong hoàn cảnh bí mật không nói bằng lời mà chỉ qua bốn bàn tay siết chặt lấy nhau.


Tôi theo anh về nhà một cơ sở làng Năng An. Cơm nước đã sẵn sàng bên ngọn đền dầu, trong gia đình im phăng phắc. Anh nói nhỏ khi tôi đang ăn: "Ngày mai đồng chí dậy sớm, cơm nước xong, tôi đưa đồng chí lên đầu cầu sông Vệ, sẽ đi trên một chiếc xe kéo của ta, vào đến cổng lớn bắc Đồng Cát, thì xuống xe. Có người cột khăn ở cổ tay trái đi trước thì đồng chí đi theo, để đến nơi họp hội nghị".


Đúng mờ sáng, trời mưa nhẹ hạt. Tôi lên đầu cầu, anh vẫy chiếc xe kéo, đưa tôi lên xe phủ bạt kín người. Ngồi trên xe nghe nhịp bước đều đều được hơn một cây số, tôi quan sát bên phải vệ đường. Một người thấp bé nhỏ con, vác một đon gánh cong cong, quấn một cuộn dây dừa như người thợ đi bán guốc ở thị trấn trở về. Qua dáng đi trong bộ quần áo cháo lòng, tôi ngơ ngợ như một người đã quen. Xe lướt nhanh qua ngang tầm, tôi nhìn kỹ, cũng vừa lúc người ấy ngước nhìn tôi. Ôi, anh Trương Quang Giao! Tôi muốn gọi tên anh nhưng kìm lại được. Anh giơ tay nói nhỏ "đi đi", và tôi thấy anh long lanh đôi mắt. Tôi cũng nghẹn ngào gạt nước mắt trong khi xe chạy. Thật tình nếu tôi không trở thành một người chiến sĩ đang bị quân thù truy tìm tiêu diệt, và ở một cảnh ngộ khác, tôi đã nhảy xuống xe để ôm chầm nhau.


Xe vào đến gần thị trấn, tôi buộc xuống, thì một người đi bộ cùng chiều lướt qua, cổ tay có cột khăn đúng ám hiệu. Tôi đi theo từ xa nhìn tới cũng thấy bộ dáng quen quen, qua khỏi thị trấn, trên đường vắng, anh mới quay mặt hỏi nhỏ: "Anh có khỏe không?". Thì ra là anh Trần Huy, người bạn đã từng nằm úp thìa chống lạnh và mưu toan khởi nghĩa hưởng ứng Nam Kỳ khởi nghĩa năm xưa ở Gi Lăng.


Về đến nhà anh gọi thợ hót tóc cho tôi để cái đầu bớt bù xù nham nhở vì những cuộc cắt tóc ăn thề với đồng bào dân tộc trong mấy tuần qua, làm cho mất cái dáng sống ở núi rừng, để hòa nhập vào làng người đồng nội.


Chiều hôm ấy đến vị trí để ngày mai họp hội nghị, vừa bước vào nhà, anh Giao ôm chầm hôn tôi, nước mắt lại trào ra. Anh nghẹn ngào nói: "Tao thấy mày mặt mày gầy tóp, tóc tai phủ cổ, tao thương quá. Tao biết anh em đã phải đương đầu biết bao nhiêu gian khổ hy sinh, mà chúng tao chưa làm được gì nhiều để chia sẻ với anh em nên tao khóc đấy!". Ôi, tình đồng chí sao mà thiết tha sâu sắc đến thế! Sâu sắc hơn cả mọi thứ tình yêu trong con người chúng tôi lúc bấy giờ!


Sống với anh Giao trong một tổ chức cách mạng ở Ba Tơ hơn một năm trời, tôi cảm phục tinh thần cách mạng, ý chí xả thân vì sự nghiệp cách mạng của anh, đến mức mỗi khi đau ốm nguy kịch anh vẫn không quan tâm đến sinh mệnh của mình. Lối sống đạo đức gần như khổ hạnh của anh, tình cảm nồng cháy của anh đã hút anh em đồng chí thật mãnh liệt!


Khi họp ở Suối Loa, anh nằng nặc xin cho ở lại, nhưng tổ chức đã phân công cho anh đi tìm đường liên lạc với Trung ương, với Xứ ủy. Anh chia tay với chúng tôi nhưng ngay ngáy lo âu cho chúng tôi có hoàn thành nhiệm vụ được không, vì đây đâu phải việc đã từng làm mặc dù có anh Kiệt, một đồng chí đã được rèn luyện gần 15 năm trong lò đế quốc, và đã được đồng chí Hồ Tùng Mậu, Trương Văn Linh truyền thụ những bài học quân sự từ trong nhà lao Buôn Ma Thuột. Còn tôi, một đảng viên trẻ, chưa từng thử thách qua một nhiệm vụ quan trọng nặng nề quyết liệt liệu có hoàn thành được nhiệm vụ hệ trọng của người chính trị viên nắm vững đường lối chủ trương của Đảng trong những lúc cần độc lập, quyết đoán hay không? Vả lại sức khỏe tôi, như một thư sinh ấy, có chịu đựng nổi rau rừng củ chuối không? Anh đã lo quá đỗi. Bây giờ, khi mọi việc đã qua, anh vui mừng khôn xiết. Mừng cho sự thành công, mừng cho anh em đồng chí đều được vẹn toàn, mừng cho đội du kích cứu quốc đầu tiên đã trưởng thanh. Đấy là những tâm tư mà anh đã thổ lộ với tôi trong buổi đầu gặp lại.


Đến tối thì các anh Lương, anh Khế cùng đến. Qua những giây phút ôm chầm siết chặt tay nhau, bốn chúng tôi trao đổi ý kiến về việc bổ sung Tỉnh ủy lâm thời, để có thêm cán bộ lãnh đạo theo kịp phong trào đang bột phát trong toàn tỉnh.


Anh Khế, anh Giao giới thiệu anh Nguyễn Chánh mới từ căng an trí Ly Hy (Thừa Thiên) về đã tham gia hoạt động ở Sơn Tịnh và anh Nguyễn Khiển (sau lấy bí danh là Chót) người anh ruột của tôi, là cán bộ trung kiên bí mật ở miền tây Sơn Tịnh của Ủy ban vận động cách mạng Ba Tơ đã tham gia vận động mở rộng phong trào có hiệu quả.


Anh Lương phụ trách phía nam giới thiệu đồng chí Hồng Châu (ở Mộ Đức), anh Ruộng (ở Đức Phổ) đã tham gia đây mạnh phong trào trong huyện, có nhiều thành tích. Chúng tôi đều nhất trí bổ sung bốn đồng chí vào Tỉnh ủy lâm thời, đồng thời xác định mở rộng Ủy ban vận động cứu quốc Quảng Ngãi, có các đồng chí Hồ Thiết, Trần Huy, chị Trinh (vợ anh Chánh), cụ Nguyễn Công Phương, đồng chí Sa ở Bình Sơn, đồng chí Bùi Bình, Bùi Định.


Tiêu đề: Bình Minh Ba Tơ
Gửi bởi: quansuvn trong 25 Tháng Giêng, 2021, 12:58:40 pm
Sáng hôm sau làm lễ chào cờ và khôi phục Đảng tịch cho các đồng chí được bổ sung vào Tỉnh ủy lâm thời xong, chúng tôi tiến hành hội nghị Tỉnh ủy lâm thời lần thứ nhất ở trung châu.


Tôi báo cáo toàn bộ công tác diễn biến từ sau hội nghị bất thường tại Suối Loa: Cuộc khởi nghĩa tuyên bố thành công lập chính quyền, thành lập đội du kích cứu quốc quân, cuộc chuyển quân ra xây dựng căn cứ Cơ Nhất, kết quả phát động xây dựng lực lượng quần chúng dân tộc trong căn cứ địa, tình hình nội bộ đội du kích cứu quốc quân, khả năng liên lạc tiếp tế.


Anh Lương báo cáo tình hình phong trào phát triển 6 phía nam từ sau ngày Ba Tơ khởi nghĩa, các tổ chức cứu quốc đang phát triển nhanh chóng ở các huyện. Thái độ anh em cựu chính trị phạm hăng hái hưởng ứng. Tình hình Nhật và ngụy quyền ở xã, thôn và bọn tay sai đang tích cực giành quần chúng với ta, nhưng triển vọng ta sẽ tập họp lực lượng đông đảo và từng bước làm tê liệt chính quyền địch ở nông thôn...


Anh Khế báo cáo tình hình phong trào phía bắc, các huyện Sơn Tịnh, Bình Sơn và bắc Tư Nghĩa đang phát triển mạnh, anh em cựu chính trị phạm đều nhận nhiệm vụ hoạt động. Còn vài đồng chí có tư tưởng cơ hội cho rằng dựa vào Nhật để nó trao quyền độc lập là lợi hơn. Manh động như Ba Tơ là tự thiêu thân, nếu không giải tán sẽ bị Nhật mổ bụng moi gan... Tuy vậy triển vọng đấu tranh chống độc lập giả hiệu để giành giật quần chúng là nhất định được, vấn đề phải phát huy ảnh hưởng Ba Tơ thật sâu rộng trong quần chúng...


Tỉnh ủy đánh giá cao tác động của cuộc khởi nghĩa và đội du kích cứu quốc quân ra đời. Bài học kinh nghiệm về phát động quần chúng chuấn bị vũ trang bạo động. Việc tranh thủ thời cơ, đánh giá tinh thần địch, và chọn yếu điểm để đập tan chính quyền ngay từ đầu. Việc kết hợp uy lực quần chúng với đội xung kích kiên cường và công tác binh vận đều là những bài học kinh nghiệm quý báu cần tổng kết.


Tỉnh ủy cũng xác định chuyển chính quyền bí mật nửa công khai, và chuyển quân ra xây dựng căn cứ địa là đúng thời điểm cần thiết, sớm hơn không tốt, mà chậm nữa không lợi, dễ mất quyền chủ động. Việc tiến hành công tác dân vận xây dựng cơ sở chính trị trong vùng căn cứ cần phải làm sâu rộng vững chắc hơn nữa. Việc lãnh đạo tư tưởng xây dựng kỷ luật và tích cực huấn luyện học tập kỹ chiến thuật rèn luyện tinh thần chiến đấu cần làm thường xuyên liên tục. Vấn đề tồn tại quan trọng nhất là tiếp tế vật chất và bổ sung thanh niên, tạo thêm vũ khí là những vấn đề lớn phải tập trung giải quyết mới nhanh chóng phát triển được lực lượng. Cuối cùng Tỉnh ủy lâm thời quyết nghị biểu dương lực lượng tham gia khởi nghĩa và đội du kích cứu quốc quân đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.


Hội nghị cũng quyết nghị chương trình hành động cấp bách, phát huy mạnh mẽ ảnh hưởng khởi nghĩa Ba Tơ để đẩy mạnh phong trào rộng khắp ở nông thôn và thành thị, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đảm bảo tiếp tế cho lực lượng vũ trang và mở rộng xây dựng căn cứ địa miền núi. Phải gấp rút tổ chức cơ quan thường trực của Đảng và Ủy ban vận động cứu quốc tỉnh, lập cơ quan biên soạn, in ấn tài liệu Việt Minh và các hội quần chúng. Chuẩn bị điều kiện ra tờ báo để tuyên truyền đập tan luận điệu độc lập giả hiệu của bọn Trần Trọng Kim. Ra sức thuyết phục, lôi kéo cán bộ đảng viên cũ ra hoạt động.


Hội nghị giao cho tôi ghi lại lời tuyên bố thành lập chính quyền cách mạng Ba Tơ để thường vụ duyệt và cho phát hành.

Hội nghị cử đồng chí Nguyễn Chánh tăng cường vào ban lãnh đạo lực lượng vũ trang, trực tiếp phụ trách chính trị ủy viên, tôi làm phó. Ngày hôm sau họp Ủy ban vận động cứu quốc Quảng Ngãi gồm các đồng chí trong Tỉnh, ủy lâm thời và các đồng chí trong danh sách bổ sung để triển khai thực hiện chương trình hành động do Tỉnh ủy thông qua.


Anh Chánh lúc này người còn gầy yếu vì chế độ khắc nghiệt của căng Ly Hy và phải thu xếp việc nhà với chị Trinh, nên hẹn với tôi sau một tuần nữa sẽ bố trí đón anh lên chiến khu.

Các ngả đường vào Cơ Nhất đều cắm lá, cấm nội bất xuất ngoại bất nhập vẫn giữ nghiêm. Lúa chín vàng trên cánh đồng đang được cắt đạp, không khí náo nhiệt trong các nhà lúa giữa đồng. Việc mua đổi lương thực các già làng đang thu dọn cất giấu trong các nhà kho ở mé rừng. Tình hình trong căn cứ hoàn toàn bình yên, ổn định. Lực lượng ở Nước Lá vẫn thường xuyên làm công tác dân vận, vẫn có mặt đó đây trong nhân dân.


Người liên lạc đón anh Chánh lên chiến khu lúc trời gần trưa. Anh Chánh bước đi chậm chạp, vì hai chân anh còn sưng tấy ghẻ lở từ Ly Hy mang về chưa lành hẳn. Toàn đội du kích cứu quốc quân đang tập họp quây quần chờ đón anh trên những thảm đá được nước lũ bào mòn trong dòng suối. Cuộc trò chuyện vui cười sôi động. Anh Chánh kể lại từ ngày chia tay ở nhà lao Quảng Ngãi, anh bị đày lên Buôn Ma Thuột, mãn năm năm tù địch đưa anh an trí ở Ly Hy rồi về nhà lao Huế. Cho đến ngày Nhật lật Pháp, anh tự giải phóng về nhà. Rồi vừa ăn cơm vừa nói chuyên. Anh thì nhạo báng việc thực dân Pháp chuẩn bị đánh Nhật nhưng khi một tiểu đội Nhật chạy bắn lung tung bên ngoài trại lính khố đỏ thì chỉ huy Pháp và mấy trăm quân hoảng hốt vọt tường mà chạy. Anh thì chửi đổng thằng giám binh thực là "Cà cuống chết đến đít còn cay". Không chịu giao vũ khí cho ta đánh Nhật, còn bảo đi lên Kông Lông làm tay sai cho nó... Một bầu không khí vui vẻ hả hê như một bầy trẻ đang cắm trại trong rừng, hòa lẫn tiếng âm vang của thác nước tuôn trào qua khe đá.    


Cuộc hàn huyên kết thúc, toàn đội hội nghị báo cáo tình hình để anh Chánh nắm rõ mọi mặt. Tiếp đến cuộc hội nghị chi bộ giữa ba chúng tôi và anh Chánh. Sau khi đánh giá sự lãnh đạo của chi bộ trong thời gian qua, đề ra việc phát triển đảng viên, kiện toàn chi bộ để tăng cường sức mạnh lãnh đạo chiến đấu của Đảng. Nhìn chung qua thử thách trong nhiệm vụ, đối với số đảng viên cũ đều có thể xét khôi phục Đảng, nhưng trước mắt quyết định khôi phục hai đồng chí Phan Hùng (tức Phong) và Nguyễn Niên (túc Hường) trước. Số còn lại tăng cường bồi dưỡng lý tưởng sẽ khôi phục sau.


Cuộc họp ban chỉ huy cũng bàn phương hướng mở rộng căn cứ địa ra các vùng Minh Long, Sơn Hà và phía nam Ba Tơ tạo điều kiện phát triển sang An Lão... đảm bảo cho lực lượng cơ động rộng rãi ra ngoài khu vục Cơ Nhất. Mặt khác đề nghị Tỉnh ủy chuẩn bị cơ sở để chuyển dần lực lượng vũ trang về đồng bằng, nhằm phát triển tự vệ và du kích dự bị để mở rộng lực lượng được nhanh chóng hơn.


Tiêu đề: Bình Minh Ba Tơ
Gửi bởi: quansuvn trong 25 Tháng Giêng, 2021, 01:01:36 pm
Lúc này bọn Nhật đã bố trí một toán quân chiếm giữ đồn Ba Tơ và một đội bảo an binh do đội Bá đóng ở Trường An. Bọn chúng bắt đầu săn lùng tin tức của đội quân an trí. Chúng thường kiểm soát ghe thuyền trên dòng sông và bắt bớ tra hỏi những người chúng nghi có liên lạc tiếp tế cho lực lượng du kích. Vì vậy chúng tôi chuẩn bị chuyển quân thay đổi địa điểm. Tiếp đến, được tin từ cơ sở ở Ba Tơ và Trường An đều báo bọn quân Nhật và lính bảo an của quản Trân chuẩn bị hành quân lùng quét vùng Cơ Nhất. Lập tức lệnh báo động toàn đội sẵn sàng chiến đấu theo kế hoạch đã chuẩn bị. Mãi đến chiều các tổ cảnh giới từ xa đều báo tin chưa thấy bóng địch xuất hiện.


Ban chỉ huy hội ý thống nhất quyết định chủ động chuyển quân về phía đông dãy núi Tai Meo, cử anh Chánh về báo cáo Tỉnh ủy chủ trương cho chuyển quân về đồng bằng, vừa tránh địch truy lùng vừa phát triển lực lượng được thuận lợi hơn.

Cuộc hành quân bắt đầu, sau khi bố trí lương thực vũ khí cho một đồng chí đang ốm phải ở lại và giao cho đồng chí Niên chăm sóc, chuyển về cơ sở Trường An nuôi dưỡng.

Từ Nước Lá ngược triền núi qua các đồi tranh xen lẫn những cánh rừng non đầy gai góc, không có đường mòn, đoàn quân cứ nhắm hướng đông mà leo lên cao dần. Trong đêm tối, cứ hai người đi trước lây báng súng chận rạp lau lách cỏ gai mở đường cho đồng đội tiến theo, gặp những vùng sình lầy thì nắm tay nhau vượt qua cho khỏi lún chìm. Khát nước thì lấy nước mạch nhĩ mà uống. Càng về khuỵa càng thấm mệt, vẫn leo lên, leo mãi cho đến đỉnh bằng mới dừng chân. Xuyên mắt qua sương mù dưới bầu trời đầy mây, đã thấy cánh rừng triền núi phía đông không xa. Đoàn quân được dừng lại nằm trên bãi cỏ tranh, vẫn ngủ ngon lành trong gió lạnh. Đến khi đồng chí gác báo thức khi trời bừng sáng, mọi người thức dậy mới thây quanh mình đầy vắt, hút máu no tròn như trái sim chín mọng. Đoàn quân lại lên đường trượt dần xuống núi tiến vào rừng sâu, tìm khe nước để tạm trú quân.


Qua mấy ngày địch hoành hành ở Trường An, ngăn cản tiếp tế, lúa ở Cơ Nhất chưa làm ra gạo, nên hành quân đến đây mỗi người trong ruột nghé chỉ còn vài lon gạo, phải độn củ rừng và hoa chuối. Tôi và anh Phan Phong phải cấp tốc đi tìm cơ sở để tổ chức tiếp tế và đưa anh Chánh về Tỉnh ủy.


Đứng trên cửa rừng nhìn xuống Suối Bùn, tôi tưởng đi đến chiều là đến nơi, nhưng đi mãi, ruột đói cồn cào, mặt trời đã lặn mà còn ở trên triền núi cao. Tôi và anh Phong quyết định phải dừng lại sáng mai sẽ đi tiếp. Tìm khe nước uống và hái rau rừng nấu ăn trừ bữa tối nhưng đánh diêm xòe lửa mà không cháy, que diêm cuối cùng anh Phong đánh cũng không thành công. Chúng tôi cươi xoa - trời hại ta, trời hại ta - nhưng hại sao được, không ăn rau chín thì ta ăn rau sống vậy. Nhờ những đọt rau sủng vừa chua lại vừa cay the thé nên cũng đẩy được các thứ "đặc sản" khác vào bụng ngon lành.


Ăn xong chúng tôi tìm được ngôi nhà trời cho, một bên vách đá tấn phía bắc, một bên chùm chà là đầy gai tỏa kín phía nam, cọp hùm cũng vất vả mới vào được. Thế là chúng tôi chui vào chia nhau mỗi người cầm súng gác nửa đêm, vừa làm lò sưởi cho bạn nằm co ôm lưng người ngồi mà ngủ.


Trời vừa sáng thì chúng tôi lại tiếp tục nhằm hướng đông đi xuống vượt qua sông, tìm nhà người bạn tù năm xưa mà đến. Anh Tứ thấy chúng tôi vừa lạ lại vừa quen quen, anh ngạc nhiên mời vào nhà, một chốc anh mới nhớ ra: Anh Khâm phải không?

- Đúng đây - Tôi trả lời.

Lúc này anh đã ở trong hội nông dân Cứu quốc, tôi nói mọi yêu cầu cần thiết để anh đi báo cáo cho anh Hiếu là bí thứ Cứu quốc ở vùng này, đã tham gia cách mạng phong trào 1930,- 1931 và phong trào dân chủ 1937. Từ năm 1943, Ủy ban vận động cứu quốc Ba Tơ đã tổ chức anh vào hội nông dân Cứu quốc. Vì vậy được tin tôi báo tình hình đội du kích cứu quốc đã chuyển quân tạm trú ở núi Tai Mèo, anh Hiếu lập tức chặt muỗng đường cát nấu một nồi khoai lang, mang lên địa điểm tôi chỉ để tiếp tế, ở nhà chị và mấy hội viên phụ nữ Cứu quốc cấy lúa làm gạo nấu cơm, vắt cho toàn đội mỗi người hai vắt, ăn tối và ngày mai. Anh Tứ bố trí người dẫn đường để vượt sông Vệ sang suối Chí, địa điểm trú quân tạm thời ở phía bắc núi lớn.

Đầu hôm, trời tối đoàn quân xuống khỏi núi, chị Hiếu đón đường đưa cơm, rồi vượt sông Vệ, dò dẫm đi vào rừng ngược dòng suối Chí.

Anh Chánh dặn dò rồi chia tay, theo anh Hiếu xuống ghe xuôi về Đức Tân để báo cáo với Tỉnh ủy.

Đồng chí Niêm sau khi đưa người ốm giao cho cơ sở, cùng tìm về gặp nhau ở suối Chí, đồng chí báo cáo: Bọn Nhật khá đông cùng với bảo an binh của quản Trần và quân lu loa của tên tổng Nguối (dân tộc) ngày hôm sau mới dò dẫm vượt bến Buông tiến vào Cơ Nhất, bắt đồng, bào tra hỏi đội quân an trí, đồng bào trả lời không biết.


Chúng bắt chánh Run tra hỏi, ông bình tĩnh trả lời: Từ ngày chiếm đồn Ba Tơ, an trí kéo lên núi Cao Muôn, họ có xuống làng một bữa, họ đến rồi đi như ma ai mà biết được. Chúng uy hiếp tinh thần, lấy gươm cứa cổ chảy máu, ông thét vào mặt chúng: "Tao già rồi có chết cũng được, nhưng tao chết thì con cháu tao nổi lên thì các ông chịu lấy". Không tìm được manh mối gì, chúng lẩn quẩn hù dọa nhân dân, nhưng sợ bị đánh úp, nên đến xế chiều chúng rút quân.


Qua hai ngày chờ đợi, anh Chánh trở về, truyền đạt chủ trương của Tỉnh ủy đồng ý chuyển quân về các huyện đồng bằng.

Ban chỉ huy quyết định chia làm hai bộ phận. Bộ phận về phía bắc gồm các đồng chí: Khoách, Phong, Lựu, Đồng, Thứ, Điệt, Súy, Mộc, Cả, Nhíp (Ngót).

Bộ phận về phía nam gồm các đồng chí: Đức (Lạc), Hoa (Niên), Phước, Trinh Anh, Dũ (Lầu), Nhạn (Cừ), Xuân, Hoa.

Anh Chánh, Kiệt và tôi chịu trách nhiệm yểm hộ đưa toàn bộ vũ khí xuống ghe chuyển về cơ sở, theo đường sông, còn anh em cải trang chia từng tổ đi bộ ban ngày theo ám hiệu tiếp đón ở địa điểm định trước.


Trời chiều, toàn đội chuyển ra cửa rừng, chờ cho tới bắt đầu ra sông. Theo ám hiệu, chiếc ghe chở vũ khí ghé vào bờ, những bó xác mía được bốc lên, cho súng vào giữa rồi bó kỹ phủ kín cả hai đầu. Chỉ để vài khẩu súng trường và tiểu liên trên sạp thuyền, chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, còn bao nhiêu cho xuống khoang thuyền giấu kín.


Trăng vừa lóe ánh hồng phía đông núi Lớn. Ba chúng tôi xuôi dòng vượt qua thị trấn Suối Bùn đến quận lỵ Nghĩa Hành, nơi có bót gác kiểm soát ghe thuyền. Đồng chí lái thuyền nhẹ đưa mái chèo êm ru lướt qua cửa ải. Ba chúng tôi thở phào như trút gánh nặng trên vai. Cái gánh nặng vô giá mà chúng tôi đã lớp lớp hy sinh mới giành được, vì vậy mà chúng tôi quyết tâm sống chết cùng nó, khi vượt qua cửa ải của quân thù, nếu phải nổ súng.


Tiêu đề: Bình Minh Ba Tơ
Gửi bởi: quansuvn trong 25 Tháng Giêng, 2021, 01:03:50 pm
Cắm thuyền giữa sông gần đập Bến Thóc, chờ cho trời tối, mới nhích thuyền vào bờ gần trại tằm, anh Hồ Thiết vác những bó xác mía phần của đơn vị phía nam, còn một nửa tiếp tục đưa ra phía bắc. Sáng hôm sau tôi theo đường xe lửa vào ga Hòa Vinh Tây thì gặp anh Huy đón đưa về Thiết Trường. Từ đó vùng Thiết Trường trở thành vùng chủ huy sở của đội Hoàng Hoa Thám.


Việc trước tiên là bố trí phân tán anh em về cơ sở an toàn bí mật, và nêu cao tinh thần kỷ luật quân nhân, tuyệt đối không ra khỏi nhà, chờ nhiệm vụ truyền đạt sau.

Cuộc họp Tỉnh ủy lâm thời lần thứ hai tại thôn Thiết Trường ngoài phần kiểm điểm tình hình để đẩy mạnh phong trào, đặc biệt giải quyết vấn đề phát triển lực lượng vũ trang.

Tỉnh ủy quyết định tổ chức ban vận động tài chính và ban quân nhu tiếp tế cho lực lượng vũ trang.

Tổ chức ban chỉ huy quân sự toàn tỉnh gồm anh Chánh trưởng ban, anh Kiệt và tôi làm phó ban.

Lập ban biên tập báo chí, xuất bản tờ Chơn độc lập để đập tan luận điệu độc lập giả hiệu của bọn thân Nhật.

Ban quân sự chúng tôi họp, quyết định phương thức phát triển lực lượng ở đồng bằng. Xây dựng lực lượng tự vệ trên cơ sở hội nông dân và thanh niên Cứu quốc, chọn những phần tử hăng hái nhất, khỏe mạnh nhất kết nạp vào đội tự vệ.


Giao nhiệm vụ cho các đồng chí đội viên du kích Cứu quốc Ba Tơ đã phân tán trong cơ sở, giáo dục chính trị và huấn luyện quân sự cho tự vệ.

Trên cơ sở lực lượng tự vệ phát triển và kinh qua giáo dục huấn luyện, thử thách trong công tác, mà chọn lọc tổ chức thành từng tổ du kích dự bị để chuyển lên bổ sung cho lực lượng du kích Cứu quốc quân tập trung.


Ban quân sự cũng quyết định xây dựng căn cứ du kích phía bắc ở vùng ven núi thuộc Vĩnh Sơn... và căn cứ du kích Núi Lớn ở phía nam để làm hậu phương trực tiếp cho hai đội du kích Cứu quốc tập trung. Đồng thời tổ chức các ban quân nhu tiếp tế ở các huyện do đoàn thể cứu quốc cử cán bộ phụ trách, phối hợp với cán bộ của đội du kích, chuyên lo huy động và tiếp nhận chu cấp cho lực lượng tập trung.

Những ngày cuối tháng 5 năm 1945 phong trào quần chúng lên đều khắp nông thôn, thì lực lượng tự vệ xã thôn cũng lớn mạnh theo, và các tổ du kích dự bị cũng phát triển ngày càng nhiều.

Sau khi Tỉnh ủy phát hành tờ báo Chơn độc lập phổ biến trong các hội cứu quốc, thấy phong trào vũ trang đang lên mạnh, thường vụ và ban quân sự quyết định tổ chức xuất bản một tơ báo bỏ túi cho lực lượng vũ trang, lấy tên là Tạp chí xung phong. Anh Chánh, anh Kiệt và một số đồng chí viết bài. Tôi phụ trách biên soạn và in ấn phát hành.


Công việc thường xuyên của đồng chí trong ban quân sự tỉnh là kiểm tra động viên giáo dục chính trị và huấn luyện quân sự của các đồng chí du kích Ba Tơ bố trí ở từng vùng, để phát triển tự vệ và du kích dự bị có chất lượng tốt.


Để hợp pháp hóa, tôi thường đóng vai thanh niên đi làm rể. Với chiếc áo dài đen, mũ cối trắng, tay cầm dù (trang phục thanh niên bấy giờ), cùng chú bé Chơn hơn mười tuổi, xách quà bánh đi trước dò đường. Không biết bao nhiêu lần qua tại Thi Phổ, Minh Tân, Đạm Thủỵ, Văn Trường, Hùng Nghĩa, Tân Lâm, Mỹ Trang, Mỹ Á để động viên thanh niên Cứu quốc hiểu rõ nhiệm vụ, tình nguyện tham gia tự vệ, du kích sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc...


Những đêm thanh vắng, sóng bể dạt dào và hàng phi lao vi vút, những bàn chân rập bước một - hai trên đồi Văn Bâng hay trên bãi cát Đạm Thủy của đội tự vệ nông thôn, lòng tôi tràn đầy phấn khởi. Liên tưởng đến 15 năm trước, tôi đã được xem như thế, mà giờ đây tôi lại đóng vai người lãnh đạo phong trào, nên niềm tin ý thức trách nhiệm càng thúc giục phải trăm phần chu đáo hơn trên bãi tập, để ngày mai đỡ đổ xương máu trên chiến trường... Những mái nhà tranh của anh Bình, anh Ruộng, anh Trắc... là chỗ trú đêm khuya với những bữa ăn bồi dưỡng vài bát cơm độn với khoai, một đĩa cá tép là những bữa ăn mặn nồng tình đồng chí, đến nay tôi vẫn nhớ như in.


Trở về Thiết Tường lại viết, lại in, cố gắng cho tờ Tạp chí xung phong sớm chào bạn đọc. Cái khó là làm sao có vài hình vẽ ký họa cho tăng thêm gợi cảm với bạn đọc. Tôi hý hoáy vẽ hình ảnh một nhóm du kích đang tập trong rừng thưa, và đề câu thơ chiến đấu: "Còi xung phong mỗi khi thúc giục. Dù chông gai bom đạn cũng không sờn" thay cho lời phi lộ.


Tờ báo số một được phát hành, đề rõ in tại nhà in Cao Muôn, được toàn thể độc giả trong lực lượng vũ trang và các cấp Việt Minh hoan nghênh nhiệt liệt. Để mở rộng khuôn khổ bài vở và có người chuyên trách, anh Chánh quyết định điều động đồng chí Phan Tâm về phụ trách tờ báo. Từ đó được ra đều kỳ (anh Tâm tức Chất bị tù từ Buôn Ma Thuột về tham gia đội du kích cứu quốc quân Ba Tơ khi xuống núi). Các em Nai, Dũng, Hoạt... đều là thư ký biên soạn in ấn phát hành (giờ đây Dũng, Hoạt đều là cán bộ trong Quân đội nhân dân Việt Nam). Nai đã hy sinh trong trận Sông Vệ ngày tổng khởi nghĩa.


Tôi lại đi kiểm tra phía bắc, từ Năng An, Long Phụng, Vạn Mỹ, Hoa Vinh lên núi Đình Cường... ở đây tôi gặp lại anh Nguyễn Duân, anh Nguyễn Thượng Tứ đang ngày đêm lo đẩy mạnh phong trào. Đến bãi tập ở đâu tôi lại nói bài rèn luyện ý chí chiến đấu trên thao trường, để ngày mai chiến thắng quân thù, đem lại độc lập cho Tổ quốc. Và mỗi người du kích dự bị phải hiểu rõ nhiệm vụ của mình, sẵn sàng thoát ly gia đình để gia nhập lực lượng du kích tập trung khi có lệnh, phải nâng cao tinh thần kỷ luật tự giác của lực lượng vũ trang cách mạng...


Sự phát triển tập luyện đã đến lúc phải tập luyện với khẩu súng thật, chứ không thể tập mãi với cây gậy tre và đâm chém với lưỡi dao phay được. Có hôm tôi hỏi kiểm tra một du kích dự bị đang tập ném lựu đạn, rút chốt vung tay ném, rồi nằm xuống. Anh trả lời: tôi tưởng tượng như rút ống bơm xe đạp, cho lựu đạn dài ra rồi ném tới phía trước. Không có vũ khí thật, không hình dung được thực tế.


Từ đấy tôi quyết định phải đưa du kích dự bị lên chiến khu tập với vũ khí thật. Nhưng vũ khí đâu có nhiều. Phía bắc cũng như phía nam mỗi bên chỉ hơn vài chục khẩu súng, cho nên phải tổ chức tập luân phiên từng đợt. Mặt khác phải tổ chức lò rèn và tìm kỹ thuật viên cơ khí để sửa chữa súng đạn hư hỏng và rên dao bảy để trang bị thêm (dao dài 7 tấc vừa chém vừa đâm, được phong trào Duy Tân bạo động gọi là dao TU).


Thế là chúng tôi phải rút một số đồng chí về Núi Lớn chuẩn bị vị trí ăn ở, thao trường và vũ khí để sẵn. Đồng thời quy định cho du kích dự bị phải mang lương thực 10 ngày ăn và nồi niêu mắm muối.

Được tập luyện với khẩu súng thật, cây gươm, con dao thật anh em rất phấn khởi, tin tưởng và trưởng thành. Khi tổ chức thành từng tiểu đội, trung đội, sức mạnh lòng tin càng cao.

Hết phiên tập, phân tán trở về, tôi dặn dò kỷ luật, bí mật, nhưng du kích dự bị phải báo cáo cho cán bộ đoàn thể nghe. Thế là "tai vách mạch rừng", chẳng bao lâu tai rỉ tai, miệng truyền miệng, đồng bào người người đều hớn hở tin tưởng lộ ra mặt "phen này nhất định thắng, không như tự vệ đỏ năm ba mươi". Phong trào nông thôn càng sôi động.


Tiêu đề: Bình Minh Ba Tơ
Gửi bởi: quansuvn trong 25 Tháng Giêng, 2021, 01:08:56 pm
Nhân dân Quảng Ngãi đã trải qua nhiều phong trào yêu nước chống Tây. Từ phong trào Cần Vương với cuộc khởi nghĩa Lê Trung Đình (1885), Nguyễn Bá Loan (1885 -1888), Thái Thú (1894), đến phong trào yêu nước màu sắc dân chủ tư sản như: Duy Tân (1904- 1908), cao trào khất thuế (1908 - 1916), cho đến phong trào do Đảng Cộng sản lãnh đạo (1930 - 1931), phong trào đấu tranh dân chủ (1936 - 1939)... qua bao thất bại, bao thăng trầm, nhưng hết đợt này đến đợt khác, như sóng biển đông còn âm vang mãi trong lòng người, với thời gian vô tận.


Từ ngày tiếng súng khởi nghĩa Ba Tơ rền vang đến thôn xóm, như trời hạn được mưa, chồi xanh lại dậy. Nên khi du kích về làng lấy dân làm gốc, lấy rừng người thay cho rừng cây, thì cả lực lượng chính trị và vũ trang song song phát triển như triều dâng.


Đầu tháng 6 năm 1945 Tỉnh ủy họp quyết định chỉnh đốn tên gọi UBVĐCC Quảng Ngãi thành Ủy ban vận động cứu quốc Quảng Ngãi của Tổng bộ Việt Minh, để được thống nhất trong Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh từ trung ương đến địa phương.


Đồng thời ra lời kêu gọi đồng bào các giới ủng hộ lực lượng vũ trang cách mạng, ủng hộ du kích cứu quốc quân. Mặt khác quy định lấy ngày 27 hàng tháng (ngày khởi nghĩa Ba Tơ theo âm lịch) làm ngày động viên quần chúng lập quỹ đặc biệt mua sắm khí giới cho lực lượng vũ trang. Với sức mạnh của nhân dân, với lòng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng, chỉ trong tuần cuối tháng, chúng tôi nhận được đủ thứ cần thiết, nào là xe đạp, đồng hồ, địa bàn, ông dòm, gang, sắt, đồng, nhôm, vải vóc... 


Chị em phụ nữ cứu quốc con gửi thêm quà bánh của ngày tết Đoan ngọ 5 tháng 5 âm lịch để úy lạo anh em trên chiến khu.

Cuối tháng 6 ban quân sự tỉnh họp quyết định thành lập hai đại đội tập trung, mỗi đội có từ 3 đến 5 trung đội, lấy tên: đại đội Phan Đình Phùng ở phía bắc và đại đội Hoàng Hoa Thám ở phía nam. Anh Kiệt làm đại đội trưởng đại đội Phan Đình Phùng, anh Chánh kiêm chính trị viên, anh Khoách, anh Thứ làm đội phó. Tôi làm chính trị viên kiêm đại đội trưởng đại đội Hoàng Hoa Thám, anh Đức, anh Dũ làm đại đội phó, sau bổ sung thêm Trần Công Khanh đại đội phó, anh Nhạn, anh Hoa (Niên) làm chính trị viên phó.


Đồng thời tăng cường và mở rộng ban quân nhu tỉnh, do tôi phụ trách chỉ đạo. Đồng chí Trần Hàm (Mộ Đức) làm trưởng ban; các đồng chí Trương Phương (Sơn Tịnh), Đào Du (Bình Sơn) làm phó ban và một số đồng chí của mặt trận đưa qua phụ trách các huyện. Để tăng cường quản lý chặt chẽ và tiếp tế kịp thời khi cơ động chiến đấu, tôi cho in phiếu có đóng dấu của đại đội, giao cho các trung đội, có quy định tiêu chuẩn để mang sẵn, đi đến đâu nhận tiếp tế ở đấy.


Đối với du kích dự bị và tự vệ có quy định trang bị: một ruột nghé dài 1,7 mét hoành 30 phân tây, một đoạn dây dừa dài 2 sải, một cái nồi đồng cho 3-5 người ăn, một cái mền, ba lon gạo rang, một thùng diêm, một cái ca uống núóc, một cái dao phay 7 tấc, chiến sĩ nào nghèo thì do hội Cứu quốc giúp đỡ mua sắm cho đủ. Đồng thời yêu cầu Tỉnh ủy rút bổ sung cho lực lượng một số cán bộ đoàn thể đưa vào làm chính trị viên trong các trung đội tập trung mới thành lập. Các đồng chí Nguyễn Trúng (Nguyễn Duy Phê), cơ sở trung kiên của trung tâm cách mạng ở Ba Tơ từ năm 1943 gặp lại tôi trên căn cứ Núi Lớn, đồng chí Hoàng Minh Thi cũng tuyên thệ gia nhập đội du kích Ba Tơ1 (Bí danh Minh Thi có khi anh thề trước thây cha khi cha bị địa chủ đánh chết) trong dịp này. Và nhiều đồng chí nữa nay đã trở thành cán bộ cao cấp trong quân đội nhân dân. Một số đồng chí khác đã ngã trên chiến trường, trở thành tấm gương chói lọi cho anh em noi theo, vẫn sống mãi trong tinh thần đồng đội bất diệt.


Ảnh hưởng cuộc khởi nghĩa Ba Tơ và phong trào Việt Minh lớn mạnh ở Quảng Ngãi đã lan tỏa rộng rãi trong các tỉnh miền Trung. Các đồng chí bị tù đày ở Buôn Ma Thuột, ở Đắc Tô trở về, hay an trí ở căng Trà Khê được giải thoát, đang phần tán hoạt động nhiều nơi, lần lượt tìm về liên lạc với Quảng Ngãi.


Những lữ khách mới ra tù từ trên xe lửa, hay xe hơi bước xuống tạt vào nhà dân tuy chưa quen biết bao giờ nhưng lân la hỏi thăm việc trồng mía nâu đường... rồi nói thật đi tìm cách mạng Việt Minh thì từ cơ sở sẽ đón đưa đến gặp thượng cấp là việc thường xảy ra. Việc chắp mối liên lạc không khó khăn gì. Vì vậy nên trong khoảng cuối tháng 6 năm 1945 Tỉnh ủy Quảng Ngãi đã trở thành cơ quan liên lạc liên tỉnh và đã triệu tập cuộc hội nghị liên tỉnh, có các đại biểu bảy tỉnh từ Quảng Trị trở vào. Các đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Lê Tự Nhiên, Hồng Xích Tâm, Trần Quê, Nguyễn Khanh... và ngày sau là đồng chí Tố Hữu (người được ủy nhiệm của Trung ương vận động khôi phục Xứ ủy Trung Kỳ) cũng đến kịp. Đồng chí đã thông báo tình hình chung, đánh giá cao cuộc khởi nghĩa Ba Tơ và phong trào Quảng Ngãi. Đồng chí đã truyền đạt tinh thần chỉ đạo của Trung ương lúc này là tập trung sức xây dựng tích lũy lực lượng chính trị và vũ trang chuẩn bị mọi mặt cho cuộc tổng khởi nghĩa. Không nên bộc lộ lực lượng, nhất là lực lượng du kích cứu quốc Ba Tơ và phải hết sức động viên giúp đỡ để phát triển lực lượng càng đông càng mạnh càng tốt. Cũng trong hội nghị này đã cử đồng chí Nguyễn Chí Thanh và Trần Quý Hai làm đại biểu miền Trung đi dự hội nghị Quốc dân đại hội Tân Trào. Đồng thời hội nghị cũng thông qua phương án khởi nghĩa toàn tỉnh của Tỉnh ủy Quảng Ngãi, chuẩn bị kịp thời hành động khi có thời cơ cấp bách không nhận được mệnh lệnh của Trung ương, như trường hợp quân Nhật đầu hàng, hay quân Đồng minh đổ bộ lên miền Nam Trung Bộ... Làng Vĩnh Lộc quê tôi được vinh dự tổ chức và bảo vệ cuộc hội nghị lịch sử này.


Từ khi liên lạc với Trung ương, nhận được nhiều tài liệu, trong đó có bản chỉ thị "Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" của Thường vụ Trung ương, tôi đọc đi đọc lại nhiều lần, lòng tin tưởng được nhân lên gâp bội vì đã bao năm quân thù đánh phá bưng bít thông tin, chỉ từ nhà lao này chuyển cho nhà lao nọ mà nghị quyết Trung ương được quán triệt. Cuộc khởi nghĩa Ba Tơ là sự cảm ứng thành công trong điều kiện như thế. Giờ đây chúng tôi đang chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa, đã được liên lạc với Trung ương, nhất định sẽ trăm phần thuận lợi, trăm phần tất thắng.


Tiêu đề: Bình Minh Ba Tơ
Gửi bởi: quansuvn trong 25 Tháng Giêng, 2021, 01:09:46 pm
Thực hiện chủ trương phương hướng của Trung ương do đồng chí Tố Hữu truyền đạt, Ban chỉ huy quân sự chúng tôi họp, quyết định đình chỉ các trận tập kích quân Nhật đã chuẩn bị. Để gây thêm thanh thế động viên khí thế quần chúng, chúng tôi quyết định đưa lực lượng vũ trang công khai trong quần chúng như hoạt động vũ trang tuyên truyền, diễu hành trước các cuộc mít tinh... Nhân dân thấy lực lượng của mình nuôi dưỡng xây dựng có hàng ngũ chỉnh tề, có trang bị súng gươm đầy đủ, đi đứng rập ràng. Tiếng râm ran khen ngợi xen lẫn tiếng nghẹn ngào nức nở của bà con trong cuộc mít tinh, vì sung suớng, vì thương yêu khi nghe lời thề "Hy sinh vì Tổ quốc" của đoàn quân vang lên trước cờ đỏ sao vàng, từ lâu chưa bao giờ thấy.


Không khí nông thôn đồng bào càng sục sôi, càng hăng hái, bọn tay sai Nhật càng khiếp sợ. Lý hương đang trưng thuế xin đem nộp cho Việt Minh, có tên đề nghị hẹn ngày, hẹn chỗ để Việt Minh đón đường tước đoạt, để chúng có cớ hợp pháp trình báo với cấp trên.


Ta cũng dùng các cơ sở kỳ hào nhân sĩ yêu nước, mang thư của Việt Minh, của đội du kích cứu quốc quân thẳng đến công đường huyện, phủ đưa thư vừa thuyết phục vừa răn đe, các quan huyện lúc này đều vâng dạ xin ủng hộ cách mạng, hoặc xin cho trung lập để có miếng cơm được ngày nào hay ngày ấy, chứ không dám tráo trở hai lòng. Tôi còn nhớ trong cuộc họp của các đồng chí lão thành cách mạng, các vị thân hòa yêu nước thuật chuyện, hình dung rõ tư thế hiên ngang của các cụ đầu tóc điểm sương, chít khăn đen áo dài tiến thẳng vào công đường kéo ghế ngồi đối diện với một tên tri phủ. Trước thái độ lầm lỳ bực túc trở giọng hách dịch mục hạ vô nhơn của tên trỉ phủ, các cụ dõng dạc trả lời: Tôi độc mã đơn thương đường đột đến với ngài là để nói về vận mạng quốc gia tồn vong trong lúc này, cũng như hạnh phúc và sinh mạng của ngài, mong ngài bình tĩnh, xem bức thư này và suy nghĩ cân nhắc hiện tại và tương lai, để chọn một con đường trước vận hội quốc gia dân tộc.

- Xem thư xong mặt ngài bạc phếch trắng dã, tiếng ngài run run: Bấy nay tôi cũng đã từng đọc những tờ truyền đơn, lời hiệu triệu của cụ Nguyễn Ái Quốc. Một con người có chút thức thời như tôi, đã trăn trở suy nghĩ nhiều. Tôi ngồi đây cũng như con bù nhìn để kiếm đồng lương, chứ lòng tôi không còn tin tưởng gì đến chính quyền Trần Trọng Kìm này tồn tại, cũng thấy rõ quân Nhật sắp hết thời, sụp đổ đến nơi rồi. Bên ngoài tôi phải nói lời của quan quyền, trong lòng vẫn ngổn ngang trước ngã ba đường, nhiều khi phó mặc cho thời cuộc, vì biết ai và ai biết cho mình, nên gắng gượng ngậm miệng ăn tiền. Nay được ngài thấu hiểu lòng tôi, ngài thay mặt cho Việt Minh đến với chúng tôi, tôi rất cảm ơn không dám hai lòng. Nhờ ngài báo lại với Việt Minh có việc gì giao cho tôi trong hoàn cảnh này tôi xin hết sức phục vụ. Rất cảm ơn ngài đã thân hành đến đây hội kiến chỉ rõ đường hơn lẽ thiệt...


Đấy cũng là những lời than vắn thở đài của ngụy quyền Trần Trọng Kim trước giờ hấp hối. Nhờ vậy mà có lần một đồng chí tỉnh ủy viên mang bạc lên cho ban tài chính, bị chúng bắt nhưng trước khí thế cách mạng và lời nói đanh thép của cán bộ ta trước mặt tên Lương Trọng Hối, tỉnh trưởng của chính phủ Trần Trọng Kim: "Đây là số tiền của nhân dân ủng hộ Việt Minh, ủng hộ cho đội du kích cứu quốc Ba Tơ. Tôi có trách nhiệm đi giao nộp. Việc xử lý thế nào là tùy ở sự định liệu của ông. Ông sẽ chịu trách nhiệm về việc này với cách mạng". Lời nói có uy thế làm cho tên đứng đầu ngụy quyền một tỉnh phải lo sợ rồi trả lại tự do và tài sản cho cán bộ ta.


Khắp các miền nông thôn ở phía bắc cũng như phía nam và đồng bào miền núi, ban đêm thì hết nơi này đến nơi khác mít tinh quần chúng, kết hợp với tuần hành của tự vệ và du kích cứu quốc quân; ban ngày các bộ phận kết hợp với cán bộ Việt Minh xung phong tuyên truyền ở các chợ, thị trấn. Nhiều khi xông vào cướp diễn đàn của bọn cơ hội quốc gia giả hiệu, để phổ biến chính sách của Việt Minh.


Ngụy quyền tổng xã hoàn toàn tê liệt tan rã, đến xin Vịệt Minh giao triện (con dấu).

Máy bay Mỹ quần đảo bắn phá những chiếc cầu đường sắt, đường quan. Ngoài khơi, những chiếc tàu biển của Nhật trốn chui trốn lủi, nhưng không thoát khỏi bom, rốc-két của máy bay và phóng lôi của tàu ngầm Mỹ bắn cháy. Khói lên ngùn ngụt, gió đông nồm đưa mùi khét lẹt, nồng nặc tỏa khắp đồng quê. Đó đây, những vườn tre bên vệ đường, những toán quân Nhật dừng xe, nằm lăn lóc ngủ ngày để chạy đêm. Những tên lính phòng không bị xích chân bên ô súng cao xạ bên cạnh các đầu cầu xe lửa trên bờ sông Vệ, sông Trà. Với bộ mặt bơ phờ hốc hác, chán chường, không còn cái vẻ kiêu hùng với cặp mắt đăm đăm của đội quân Phù Tang đầu trọc, không còn cái vẻ oai phong kéo xệch lưỡi gươm sát đất, hằm hằm như muốn mổ bụmg, moi gan của bá chủ Đại Đông Á nữa.


Khí thế phong trào Việt Minh thời tiền khởi nghĩa đã tác động đến binh lính ngụy quyền, tự động tìm bắt liên lạc với thanh niên xin tham gia cách mạng. Một cơ sở binh vận quê miền núi Việt Bắc trong hàng ngũ địch, được giao nhiệm vụ canh giữ kho súng Tây ở trại Khê Đỏ, đã mở cửa cho ta lấy súng chở đầy một xe ngựa chạy vào sông Vệ để đưa lên chiến khu.


Trong nhà ngoài ngõ, trên đồng trên phố đâu đâu cũng sôi sục sắp bùng lên bão tố cách mạng, không gì có thể ngăn chặn được.


Tiêu đề: Bình Minh Ba Tơ
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Giêng, 2021, 12:33:52 pm
PHẤT CỜ TỔNG KHỎI NGHĨA


Cuối tháng 7 Thường vụ Tỉnh ủy họp nhận định tình thế tiền khởi nghĩa đã xuất hiện, một mặt phải đề cao cảnh giác đề phòng khiêu khích, đề phòng manh động, một mặt phải động viên quần chúng, tăng cường lực lượng vũ trang, để sẵn sàng đón lấy thời cơ. Lực lượng vũ trang tập trung phải tích cực luyện tập sẵn sàng chiến đấu.


Để động viên hai đại đội tập trung Phan Đình Phùng và Hoàng Hoa Thám, Thương vụ giao ban quân sự to chúc duyệt binh trao cơ Tổ quốc sẵn sàng xuất quân khi có lệnh tổng khởi nghĩa.

Với nhip độ khẩn trương, ban quân sự quyết định vào trung tuần tháng tám, phải tập trung từng đại đội về chiến khu để làm lễ duyệt binh nhận cờ Tổ quốc và tuyên thệ tiến quân khi có lệnh.

Ngày duyệt binh ở đại đội Phan Đình Phùng đã đến. Đúng hẹn, hoàng hôn tôi xuống đò qua sông Trà Khúc lên bến Phước Lộc, một thanh niên tay cầm khăn trắng đón chào, đúng như ám hiệu, đưa tôi vào nhà cùng ăn cơm, rồi một người một xe đạp bánh đặc (không có truột bơm hơi) cùng đi về chiến khu Vĩnh Sơn - căn cứ của đại đội Phan Đình Phùng.


Trong đêm tối, chỉ trông vệt trắng trên đường mà đạp xe. Qua làng Vĩnh Lộc quê tôi, những chòi canh có tự vệ canh gác, người dẫn đường nói nhỏ ám tín hiệu rồi đạp xe đi luôn, cứ như thế qua hết các làng Châu Nhai, Phương Đình. Càng đến gần chiến khu, hệ thống canh gác tuần tiễu càng dày hơn, những tốp năm, bảy người mang dao tu đi ngược chiều.


Không gian tĩnh mịch trong đêm cuối hè đầu thu man mác. Dưới bầu trời sao sáng, tôi thầm nghĩ quê hương nay đã thực sự về ta. Chính quyền cách mạng tràn đầy khí sắc ở nông thôn. Một tên Việt gian khó mà lọt qua mạng lưới canh phòng nghiêm mật của nhân dân đã đứng lên làm chủ.


Qua khỏi đoạn đường đèo dốc Vĩnh Tuy, lại một người đón đưa tôi vào nhà để sáng sớm ngày mai vào chiến khu làm lễ.

Một gò cỏ xanh giữa các đồi cây lúp xúp dưới tán lá sum suê của những cây đại thụ. Thấp thoáng những trại lán của các đơn vị thuộc đại đội Phan Đình Phùng.

Hàng ngũ của các trung đội thẳng tắp, chỉnh tề, trang phục màu đen, thắt lưng đeo dao 7, tay cầm súng, đứng trước một cột cờ.

Anh Chánh, anh Kiệt hướng dẫn các đồng chí Hồ Thiết, đại diện cho Tỉnh ủy và Mặt trận Việt Minh, đồng chí Trung, đại diện cho Đảng bộ và Việt Minh Bình Định. Tôi thay mặt cho đại đội Hoàng Hoa Thám. Sau lời tuyên bố lý do và giới thiệu của các đại hiểu, anh Kiệt hô chuẩn bị chào cờ.

Một tiếng "Nghiêm" kéo dài.

- "Bồng súng", rập!

Súng, gươm, dao 7, bỗng nâng lên ngang ngực, lấp lánh ánh thép sáng trưng trước mặt hàng quân.

- "Chào cờ! Chào".

Lá cờ đỏ sao vàng từ từ kéo lên theo nhịp hát bài chào cờ (Ta tung hô muôn năm bóng cờ...). Tôi liếc mắt nhìn thấy các đồng chí Thiết, đồng chí Trung đứng nghiêm mà thân người rung rung và nước mắt trào lăn trên gò má.


Diễn từ của anh Chánh nói về tình hình khẩn trương, nhiệm vụ sẵn sàng tổng khởi nghĩa giành chính quyền đã đến gần, lực lượng du kích Cứu quốc quân phải sẵn sàng làm tròn nhiệm vụ lịch sử giao phó, mỗi đồng chí phải nêu cao tinh thần chiến đấu, phải khắc sâu lời thề "Hy sinh vì Tổ quốc" để tròn nhiệm vụ giết giặc cứu nước, cứu lấy giống nòi ra khỏi vòng nô lệ. Thời cơ ngàn năm có một, bỏ mất thời cơ là có tội với lịch sử, với nhân dân.


Đồng chí Hồ Thiết đọc thư của Mặt trận Việt Minh tỉnh và trao lá cờ đỏ sao vàng thật to, giương cao trước mặt đoàn quân. Ban chỉ huy đón nhận lá cờ đang nhẹ bay trong gió sớm.

Đồng chí Trung nghẹn ngào, hai tay rung rung nâng một ống nhòm và một tấm bản đồ trao cho ban chỉ huy và đọc thư của nhân dân Bình Định gửi đến đội du kích Cứu quốc Ba Tơ.

Tôi thay mặt cho đại đội Hoàng Hoa Thám phát biểu về phong trào cách mạng và lực lượng vũ trang đã phát triển ở phía nam... Mai đây đại đội Hoàng Hoa Thám cũng sẽ tập trung để sẵn sàng làm nhiệm vụ. Toàn thể cán bộ chiến sĩ đại đội Hoàng Hoa Thám sẽ quyết tâm hy sinh chiến đấu, sát cánh cùng đại đội Phan Đình Phùng hoàn thành sự nghiệp của Đảng cùa nhân dân giao phó... Anh Kiệt đứng trước các đại biểu thay mặt cho đại đội hứa hẹn: Chúng tôi quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang mà Đảng và mặt trận đã giao phó dưới lá cờ này.

   "Đánh Nhật đuổi Pháp nhất định thắng lợi".
   “Việt Nam độc lập nhất định thành công".

Tiếng hô vang vừa dứt, thì cuộc diễu hành bắt đầu. Các trung đội đi đều qua các vị đại biểu, và sau cùng là trận đánh kiếm của các đơn vị bạch binh biểu diễn. Tiếng loảng xoảng gạt đỡ đâm chém vang lên từ các lưỡi dao 7, lưỡi gươm loang loáng quay nhanh như chớp trên những thân hình chắc khỏe vụt tiến, vụt lui, thể hiện rõ lòng dũng cảm, kiên quyết mãnh liệt, tinh thông của những chiến binh.


Cuộc duyệt binh kết thúc. Các đồng chí cán bộ đại đội, trung đội quây quần chung quanh các đại biểu giữa núi rừng kể cho nhau nghe không khí cách mạng ở địa phương. Tôi gặp lại một số anh em là cơ sở năm 1937-1939, phần lớn có mặt trong hàng quân như anh em thợ rèn Từ Nhai ở quê tôi. Anh Trương Quang Nguyên ở chi bộ Trà Bình năm 1939 cũng có mặt ở đây cùng với cha là Trương Quang Phương đang làm trưởng ban quân nhu tiếp tế của huyện. Đồng chí Địch, đồng chí Sơn (Trần Kiên) đều là nhũng cán bộ trung đội rất quyết tâm, tôi càng thêm tin tưởng.


Đồng chí Trung phát biểu cảm nghĩ của mình: Tôi không ngờ chỉ trong thời gian ngắn từ khởi nghĩa Ba Tơ đến nay mà Đảng bộ và Mặt trận Việt Minh Quảng Ngãi đã xây dựng được lực lượng tập trung lớn mạnh như vậy. Lần đầu tiên trong đời tôi thấy một đội quân cách mạng nghiêm trang hùng dũng như hôm nay, nên tôi rất mừng, cảm động quá, người tôi run lên, cố nén cho khỏi khóc ba ra, nhưng nước mắt cứ chảy ròng ròng khi làm lễ. Tôi nghẹn ngào không nói lên lời. Các đồng chí hãy giúp chúng tôi, hãy đến với đồng bào Bình Định. Chúng tôi quyết noi gương các đồng chí, đứng lên giành chính quỵền.


Tiêu đề: Bình Minh Ba Tơ
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Giêng, 2021, 12:35:23 pm
Hôm sau tôi cùng anh Chánh sang Nghĩa Lâm thăm các chiến sĩ đang điều trị bệnh sốt rét và ghẻ lở. Ở đây ta có liên lạc được cơ sở trong nhà thương tỉnh giúp đỡ thuốc men và điều trị. Trong dịp này tôi được đồng chí Chúc dẫn đường đi thăm từng nhà và gặp đồng chí Nguyễn Quang Lâm đang hoạt động trong ban thanh niên cứu quốc Tư Nghĩa. Hỏi qua tình hình không có gì thay đổi, tôi quyết định đi thẳng xuống thị xã để đón đồng chí Hoạt trở vào cơ quan ấn loát cho kịp.


Đạp xe qua khỏi sân bay, thì đột nhiên lù lù bao nhiêu là lính Nhật. Quay lại thì dễ bị nghi ngờ. Tôi thản nhiêh huýt sáo đạp xe thong thả lướt trên đường. Tôi chuẩn bị tư thế nếu chúng ách lại lục soát thì chỉ có bắn rồi chạy tháo thân (tôi có mang khẩu ru-lô trong người). Vào thị xã không có tên Nhật nào, nhưng khi đến gần núi Bút thì lại đầy lính Nhật. Đèo đồng chí Hoạt trên xe, tôi hỏi vì sao bọn chúng trú đây đông thế?

- Đường xe lửa phía ngoài bị hỏng, bọn chúng không ra được. Chúng phải đổ quân vào các làng của thị xã để tránh máy bay Mỹ ném bom - Hoạt nói.

Một ý nghĩ nảy ra. Trước nay chỉ thấy quân Nhật chuyển vào nhiều, để rồi qua Thái Lan, Miến Điện... Nay lại chuyển ra chắc là bị đánh mạnh ở Việt Bắc hay bên Trung Quốc. Dù sao thì đây cũng là biểu hiện của sự thất bại của chú lùn ở Đông Nam Á.


Tôi càng nôn nao lo lắng. Phải khẩn trương tập trung đại đội Hoàng Hoa Thám cho kịp động viên duyệt binh để sẵn sàng lên đường chiến đấu kịp thời cơ.

Về đến cơ quan, anh Tâm đưa cho tôi xem mấy tờ (Chơn độc lập tờ, Tạp chí xung phong số 3 mới in xong và một số bài anh chuẩn bị cho số 4). Lúc này tờ Tạp chí xung phong bài vở vững vàng, trình bày và in ấn khá đẹp. Một tuần trôi qua, công tác chuẩn bị tập trung toàn đại đội Hoàng Hoa Thám đã được truyền đạt đến các đồng chí phụ trách đang lưu động theo từng trung đội ở nông thôn. Các ban quân nhu huyện đã chuyển lương thực trang bị lên suối Chí để tiếp tế theo kế hoạch sẵn sàng chiến đấu. Một số trung đội đang tập luyện và các đội lưu động ở gần để tập trung về Núi Lớn.


Trưa ngày 14 tháng 8, trên đường đến cơ quan thường trực Tỉnh ủy đóng tại Thi Phổ (gần nhà anh Trần Lương), gặp đồng chí Trần Chí Hiền từ Huế vào Nha Trang đang sửa chữa chiếc xe con, chào hỏi chưa dứt lời thì đồng chí Hiền nói: - Quân Nhật đã đầu hàng Đồng minh rồi - Chắc không? Tôi hỏi lại. - Đêm hôm qua tôi ở Huế nghe rađiô, Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Hiền nói - Thế thì mời đồng chí đi với chúng tôi vào cơ quan nói rõ để các đồng chí Tỉnh ủy nghe. Đây là một tin rất hệ trọng. Nếu sai đồng chí phải chịu trách nhiệm trước Đảng.


Sau khi nghe, đồng chí Trương Quang Giao (bí thư) cùng tôi trao đổi. Tin như vậy thì phải ra lệnh tổng khởi nghĩa chứ còn chờ đợi gì. Lúc này cơ quan chỉ có đồng chí Giao và tôi. Thảo chỉ thị số 8 (không có đồng chí đánh máy), chúng tôi lót giấy than viết tay, cấp tốc cho liên lạc chạy đến các Việt Minh phủ huyện. Chỉ thị số 8 viết: "Giặc Nhật đã đầu hàng Đổng minh. Các cấp hội, các ban chấp hành phải cấp tốc huy động toàn dân nhanh chóng vũ trang để kịp thời khởi nghĩa. Tình thế cấp bách, phải triệt để thi hành chỉ thị không được chậm trễ. Các đội tự vệ, tiểu đội du kích phải sẵn sàng!".


"Bạn chấp hành các cấp hội đều phải thi hành kỷ luật, triệt để huy động bằng hình thức công khai truyền đơn, cờ, áp phích, công khai biểu tình, mít tinh, võ trang, bắt giữ Việt gian".

Anh Giao bảo bây giờ Đôn phải chạy ra tìm anh Chánh về đây ngay. Tôi phóng xe ra đến nam núi Bút thì gặp anh Chánh đang phóng xe vào. Quay xe đi song song, tôi báo tin cho anh Chánh, thì anh Chánh cũng nói: Được tin chính xác trong thị xã đưa ra là Nhật đầu hàng nên tôi đạp xe vào đây. Thế là chính xác.


Về đến cơ quan, ba chúng tôi và có anh Hồ Thiết cũng vừa về, trao đổi xong ra chỉ thị số 9 nói rõ:

1. Tước khí giới quân Nhật và bảo an.

2. Phải huy động tự vệ du kích bảo vệ giữ gìn cơ quan cách mạng.

3. Phải huy động thợ rèn trong mỗi làng để rèn khí giới công khai.

4. Các cấp bộ và các ban chấp hành tổng làng đều phải may cờ Việt Minh cho nhiều.


Tôi và anh Chánh thống nhất kế hoạch quân sự. Ngày 15 và 16 tiến công chiếm các đồn miền núi, cướp vũ khí trang bị thêm cho ta.

- Đại đội Phan Đình Phùng có nhiệm vụ tiến công chiếm các đồn Gi Lăng, Sơn Hà, Trà Bồng, sau chuyển xuống phối hợp nhân dân khởi nghĩa chiếm huyện lỵ Sơn Tịnh, Bình Sơn và tây Tư Nghĩa.

- Đại đội Hoàng Hóa Thám có nhiệm vụ tiến công chiếm đồn Ba Tơ, Minh Long, Trường An và Nghĩa Hành, sau chuyển xuống phối hợp nhân dân khởi nghĩa chiếm huyện Mộ Đức, Đức Phổ. Bước sau sẽ phối hợp hai cánh quân bao vây tỉnh lỵ Quảng Ngãi và huyện lỵ Tư Nghĩa, chờ mệnh lênh tiếp sau. Hai bên phải giữ đường liên lạc qua Truông Ổi (tây Tư Nghĩa đông Nghĩa Hành) và các đường dự bị khác.


Ra khỏi cơ quan, trời chiều còn đỏ rực trên ngọn Núi Lớn. Tiếng tù và, tiếng mõ xa xa. Bỗng nhiên một hồi trống lớn rồi gióng ba thúc giục đùng đùng đùng và tiếng tù và tu tu tu dội lên trong xóm phía tây đường, rồi cờ đỏ sao vàng bay trên đoàn người vác đòn xóc, câu liêm, cuốc chĩa, rựa phát bờ, dao xắt chụối... đủ các, thứ vũ khí trong tay. Lại có từng nhóm nông dân băng qua các nẻo đường để đến nơi tập họp. Tôi hỏi việc gì mà chạy dữ vậy anh? Khởi nghĩa, khởi nghĩa rồi mà anh chưa biết à? Vừa nói vừa vút qua đường mất hút.


Tôi sực nhớ và nghĩ sao mà nhanh thế! Thật là khẩn cấp, thật là mau lẹ quá, người thực trong cuộc mà thấy như mơ. Về đến đồng Cát - Thiết Trường thì nam phụ lão ấu đang đổ ra đường xôn xao bàn tán thúc giục nhau may cờ may băng...


Không cần nghe, không cần quan sát gì nữa, tôi đạp xe chạy thẳng về cơ quan thì trên đồn Thương Chánh, từng đoàn người kéo xuống nói huyên thuyên: "Phải kiên quyết trấn áp nó mới chịu giao". Tôi hỏi xen ngang: "Giao cái gì?". "Khẩu súng lục".

Tôi đang viết vội mấy cái lệnh gởi các đồng chí phụ trách quân sự ở Mộ Đức, Đức Phổ tập trung du kích dự bị trong đêm có mặt ở chiến khu và nói với anh Tâm cho in nhiều truyền đơn bướm bướm và biểu ngữ kêu gọi khởi nghĩa.

Chị Trần Hàm thúc giục ăn cơm rồi đi kẻo đói. Chợt anh Thành (em út anh Hàm) đem giao một khẩu súng ru lô và mấy khẩu súng trường cho ban chỉ huy.


Tiêu đề: Bình Minh Ba Tơ
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Giêng, 2021, 12:36:35 pm
Đêm 14 chúng tôi vượt qua đèo Suối Ngổ đi đến suối Chí, địa điểm tập hợp toàn đội. Ở đây đã có mặt các đồng chí cán bộ cũ và mới: Đức, Nhạn, Phước, Trinh, Anh, Hoa, Họa, Trần Công Khanh, Khai, Dũ và Minh Thi, Trúng, Lê Kích, Mai Láo, Trần Hiệp, Nguyễn Văn Lịnh, Lâm Tự, Trân Công, Anh, On, Đinh San...


Biên chế cán bộ chiến sĩ vào 5 trung đội: Nguyễn Nghiêm, Cử Đình, Phạm Hồng Thái, Tư Tân, Ngô Đán và một đội dự bị, một ban thông tin tuyên truyền do đồng chí Tâm phụ trách với Hoạt, Nai, Dũng.

Mọi công việc sắp xếp, điều chỉnh vũ khí súng đạn, gươm dao đầy đủ cho các đơn vị.

Toàn đại đội tập hợp nghiêm chỉnh trước lá cờ của Tỉnh ủy giao cho tôi. Lúc này tiếng trống tiếng tù và đã vang vọng khắp nơi. Ai nấy đều nôn nao sốt ruột, mong được nhận nghiệm vụ để xuất quân, nên tôi chỉ nói vắn tắt mấy lời:

Thưa các đồng chí!

Từ ngày khởi nghĩa Ba Tơ, trải qua cuộc rèn luyện thử thách trên chiến khu Cao Muôn, rồi chuyển về đồng bằng sống trong lòng dân, bát cơm chén nước là của nhân dân nuôi dưỡng chúng ta. Thanh niên du kích, tự vệ là con em của đồng bào giao sinh mạng cho chúng ta.

Đội du kích Cứu quốc quân, đại đội Hoàng Hoa Thám chúng ta lớn mạnh đông đủ như ngày nay, là để hy sinh chiến đấu, giành độc lập cho Tổ quốc. Đó là sứ mạng nhân dân giao phó cho chúng ta.

Ngày nay thời cơ đã đến, quân Nhật đã đầu hàng Đồng minh. Tỉnh ủy Quảng Ngãi đã ra lệnh Tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

Nhiệm vụ của đại đội ta trước hết là tiến công chiếm các đồn Ba Tơ, Minh Long, Trường An và phối hợp nhân dân khởi nghĩa chiếm huyện Nghĩa Hành và Mộ Đức, Đức Phổ. Rồi phối hợp với đại đội Phan Đình Phùng ở phía bắc tiến lên giải phóng thị xã Quảng Ngãi. Đây là trận chiến quyết liệt với quân xâm lược Nhật và bọn tay sai. Các đồng chí hãy noi gương các liệt sĩ anh hùng đã xả thân vì nước như các cụ Lê Trung Đình, Tự Tân, Nguyễn Nghiêm... mà các đồng chí được mang tên các trung đội của mình. Các đồng chí hãy quyết tâm chiến đấu đến cùng, hãy anh dũng và kiên quyết làm tròn nhiệm vụ đã được giao phó. Chúng ta cùng thề "Hy sinh vì Tổ quốc" "Việt Nam độc lập muôn năm!".


Gần trưa các đơn vị tiến quân lên Ba Tơ, Minh Long, Trường An. Đến chiều có thư về báo cáo nhân dân và tự vệ ở Ba Tơ đã khởi nghĩa cướp chính quyền xong, lực lượng bảo an đã đầu hàng nộp súng. Con 12 tên Nhật khi nghe tiếng trống tiếng mõ nổi lên thì bỏ chạy vào rừng. Phía Minh Long cũng đã cướp chính quyền xong, ở Trường An không còn địch nên đồng chí Nhạn đưa trung đội xuống Đức Phổ. Đến nơi được tin đồng bào đã cướp chính quyền nên chuyển quân ra hướng Mộ Đức.


Đến mờ sáng ngày 16 tháng 8 tôi và anh Trần Công Khanh cùng hai trung đội đã áp sát bao vây quận lỵ Nghĩa Hành, đồng thời các đoàn biểu tình từ phía tây trên bộ, dưới thuyền cờ giong, trống gióng ào ào kéo đến. Tên tri huyện ra lệnh cho bảo an binh đầu hàng. Vừa lúc ấy thì đoàn biểu tình phía đông kéo lên. Dọc bờ sông Vệ đỏ rực cờ trong làn sóng người hô vang khẩu hiệu "Việt Nam độc lập muôn năm! Mật trận Việt Minh muôn năm!".


Kế hoạch giải phóng miền núi và cướp chính quyền Nghĩa Hành xong và được tin Mộ Đức, Đức Phổ đã cướp chính quyền xong trong ngày 15 tháng 8. Chiều ngày 16 chúng tôi chuyển quân xuống Kỳ Thọ - Hòa Vang, gởi báo cáo cho thường trực Tỉnh ủy và anh Chánh (lúc này thường trực ở Xuân Phổ).    Được thư Mộ Đức báo tin đêm 14 tháng 8 một xe Nhật bị hỏng đứng ở phía nam chợ Cát, đồng chí Trần Thành chỉ huy tự vệ định bí mật tiếp cận tập kích. Bị lộ bọn Nhật bắn đồng chí Thành trúng đạn hy sinh. Đồng bào nổi trống mõ, địch bỏ chạy lên rừng. Trưa ngày 15, bọn Nhật ở Quảng Ngãi vào lùng sục đốt mấy nhà dân trong vùng.


Một trung đội do đồng chí Hoa đội trưởng, đồng chí Nhơn chính trị viên, có nhiệm vụ tiến xuống đông Mộ Đức để qua đông Tư Nghĩa, đã bố trí phá cống Mỏ Cày để phục kích đánh xe Nhật. Đến tối, đang chuyển quân theo đường 1 thì gặp bốn xe Nhật từ Quảng Ngãi vào, ta triển khai phục kích bên đường bắn vào đèn xe rồi xung phong, chém được một số Nhật, nhưng đoàn xe thứ hai tiếp đến, dừng lại chi viện, ta bị thương vong một số phải rút lui. Kết quả ta diệt được nhiều địch nhưng không kịp thu hết vũ khí.


Nghe tiếng súng vòng cầu nổ nhiều ở hướng Mỏ Cày, chúng tôi cho trung đội đồng chí Huỳnh Quang Lầu tiến xuống phía bắc thị trấn Sông Vệ phục kích chi viện. Suốt đêm Nhật không vào ra. Đến gần trưa, tôi ra lệnh rút quân về phía tây đường sắt. Nhưng đồng chí Nguyễn Duân (Việt Minh Tư Nghĩa) yêu cầu chậm lại để ăn cơm đồng bào úy lạo chiến sĩ. Tôi không từ chối được, nên để đơn vị ở phía tây thị trân. Vừa ăn cơm xong, mấy xe Nhật từ phía nam ra. Thấy đồng bào đang tập trung đông ở bắc cầu sông Vệ, chúng xả súng bắn bừa bãi để chạy qua. Một số đồng bào bị thương. Trung đội đồng chí Huỳnh Quang Lầu bị tử thương ba, trong đó có đồng chí Dũ và Nai. Đứng trước thi hài các đồng chí hy sinh, cúi đầu vĩnh biệt khi mai táng, lòng tôi đau xót bao nhiêu, thì căm thù uất hận bây nhiêu. Chúng tôi cùng thề quyết tiếp tục sự nghiệp đến thắng lợi cuối cùng. Trong đêm 15 ấy, nghẹn ngào viết thư báo cáo cho anh Chánh, nước mắt tôi cứ nhỏ xuống từng hạt làm nhòe trang giấy mà tôi không làm sao ngăn được, thì cũng là lúc nhận được thư anh Chánh báo tin đại đội Phan Đình Phùng đã hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ miền núi. Đồng bào Sơn Tịnh, Bình Sơn cũng đã cướp chính quyền xong, ở đồn Gi Lăng ta đã dùng mưu bắt tên quản Trân, buộc hắn đầu hàng giao đồn cho ta nên không đổ giọt máu nào. Nhưng đánh Nhật ở đầu cầu Châu Ô thì đồng chí Tuôi cán bộ trung đội đã hy sinh.


Riêng ở Xuân Phổ, khi ta phát động khởi nghĩa, mấy tên Nhật kéo đến uy hiếp đàn áp. Bị đồng bào bao vây đâm chết mây tên, bọn chúng bỏ xe chạy bộ. Đoán thế nào chúng cũng trả thù, vì vậy trung đội của đồng chí Đề Xi đã về chi viện. Đúng ngày 15 tháng 8, một trung đội quân Nhật chia làm hai mũi kéo đến. Du kích cứu quốc quân và tự vệ phối hợp phục kích đánh diệt được một số, chúng phải rút lui, nhưng bên ta đồng chí Đề - Xi bị hy sinh rồi! Đọc đến đây lòng tôi quặn đau, thương tiếc vô cùng một đồng chí, một người bạn xuất thân từ dân chài lưới ở ven biển Bình Sơn, tiếng nói oang oang vì đã quen sóng gió, tác phong xốc vác chẳng bao giờ từ nan một việc gì. Trong tù cũng như trong khởi nghĩa, anh luôn luôn xung phong trong mọi việc gian nan nguy hiểm. Giờ đây anh không còn tiếp tục chiến đấu được nữa. Quá đỗi đau thương! Thư anh Chánh còn nhắc nhở, đã giành được thắng lợi rực rỡ, trong hai ngay qua nhưng phải hết sức đề cao cảnh giác, và phải giữ nghiêm kỷ luật quân sự, tránh mọi sơ hở tổn thất đáng tiếc, phải đề cao tinh thần trách nhiệm trong mọi tình huống...


Tiêu đề: Bình Minh Ba Tơ
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Giêng, 2021, 12:38:15 pm
Những ngày này liên tục bổ sung tự vệ. Quân số đại đội gần ngàn người. Sau khi chấn chỉnh lực lượng, chúng tôi điều động một bộ phận bố trí chiếm giữ cầu Xóm Xiết đến chợ Chùa (đường thị xã đi Nghĩa Hành). Bộ phận bố trí ở La Hà, Đại An ngăn chặn cắt địch trên đường thiên lý. Còn đại bộ phận đứng trên đường xe lửa theo kế hoạch, giữa hai đại đội nam bắc thị xã để chờ mệnh lệnh.


Ngày 18 tháng 8 tôi ra họp ban quân sự tại Xuân Phổ, thống nhất nhận định thắng lợi trong mấy ngày qua và rút kinh nghiệm qua những hy sinh tổn thất. Rồi đi sang Vĩnh Lộc để họp thường trực Tỉnh ủy. Qua sông Trà đến đường cái quan, từ Hà Tây lên Phước Lộc nhiều cây mù u to như cây cổ thụ đều bị chặt hạ nằm ngổn ngang trên đường. Từng đoàn người, tay cầm vũ khí gặp nhau đều giơ nắm tay hô to "Lê Trung Đình" để chào nhau. Đình làng và trường học Phước Lộc băng cờ rực rỡ. Trong vườn đình có cuộc mít tinh để tòa án nhân dân cách mạng xử tội tên bang tá đã chống cộng khét tiếng trong nặm 1930-1931. Tiếng hô đả đảo, đả đảo vang trời...


Về đến cơ quan Tỉnh ủy (lúc này đóng tại quê tôi), chúng tôi báo cáo tình hình xong, đồng chí Giao thúc giục tôi chạy về thăm mẹ kẻo bà mong lắm. Về đến nhà, mẹ tôi ôm đầu con vào ngực - Con có bị sao không? Nghe đánh nhau với quân Nhật mẹ lo quá! - Mấy hôm nay con cưỡi ngựa chạy mãi xây  sát đau chân chứ - Không sao đâu mẹ ạ - Bích nhà con đâu mẹ? Tôi hỏi - Vợ mày nó công tác phụ nữ ở Xuân Hòa, mấy hôm nay khởi nghĩa có về được đâu. Anh Khế mấy tuần nay không đến. Còn anh Mười Kiệt với anh Bốn mày, cũng đi luôn mấy hôm nay. Chỉ có anh Giao đến bữa thì lại ăn cơm rồi đi làm việc, chẳng thấy ngủ nghê gì cả. Đến hôm nay đã lấy được tỉnh chưa con? Mẹ tôi vừa trả lời vừa hỏi một thôi. Tôi không kịp trả lời.


Anh Giao về ăn cơm, nói mới nhận được báo cáo của anh Định (Mô) phụ trách thị xã, thì trong đêm 15-16 lực lượng thanh niên và công nhân công chức Cứu quốc phối hợp với nhân dân, tự vệ Nghĩa Lộ đã nổi dậy cướp chính quyền, chiếm các cơ quan như đồn khố xanh, sở mật thám, nhà đèn, bưu điện, ngân hàng. Tên tỉnh trưởng Lương Trọng Hối ta giữ lại dinh tuần ngũ để làm con tin liên lạc với Nhật. Như vậy coi như cướp chính quyền toàn tỉnh xong trong đêm 16 tháng 8. Quân Nhật nằm yên trong đồn khố xanh (góc thành tây nam) nhưng ta phải cảnh giác sẵn sàng chiến đấu. Mặt khác ta cũng tự kiềm chế, để thương lượng giải quyết đỡ tốn xương máu. Mẹ tôi vừa nghe, vừa loay hoay gói cho tôi một gói. Cơm nước xong tôi tạm biệt anh Giao. Mẹ tôi nói đây là hai khúc bánh tét mẹ nấu cho các anh mang theo, để đói đâu ăn đó. Con đem theo để phòng lỡ bữa.

- Con đi mẹ nhé - Mẹ tôi bước theo ghì đầu tôi vào ngực lần nữa - Con đi mạnh khỏe, phải cẩn thận con nhé. Hai hàng nước mắt lăn trên gò má mẹ, nhưng không một tiếng khóc. Tôi cũng bùi ngùi nhìn mẹ rồi treo lên ngựa quay về cơ quan.


Sau các trận đánh quyết liệt với quân Nhật ở Xuân Phổ, Mỏ Cày, Châu Ô, Đồng Cát, Cổ Lũy... các toán quân Nhật bố trí phòng không ở các đầu cầu Trường Xuân, Trà Khúc, Lam Điền, Trà Cầu, Sa Huỳnh... đứa thì bị tự vệ chém chết, đứa thì thấy nhân dân ầm ầm nổi dậy, đập xiềng chạy trốn, bọn Nhật không sao tìm được, cũng không đi nhặt xác bọn chết ở Xuân Phổ. Chúng đề nghị gặp Việt Minh để thương lượng.


Ngày 22 tháng 8 cuộc thương lượng đã đi đến thỏa thuận. Ủy ban khởi nghĩa tỉnh ra chỉ thị số 4 với nội dung: Thời ky cách mạng giới nghiêm khắp các ngả đường canh phòng nghiêm ngặt... có phần trở ngại cho sinh hoạt của đồng bào... bắt đầu từ ngày 21 tháng 8 các chợ hương thôn nhóm họp như thường...


Và chỉ thị số 14 ngày 22 tháng 8 nói rõ đình chỉ các cuộc tiến công quân Nhật, không xâm phạm người Nhật tránh xô xát đổ máu vô ích, trừ phi quân Nhật đánh đồng bào, ta phải đánh bảo vệ.

Nơi nào bắt được người Nhật, hoặc gặp người Nhật chạy lạc thì báo cáo lên trên để trao cho Nhật.

Đình chỉ các cuộc bãi công, đình công, bãi thị, những người làm việc trong các công sở phải làm việc lại...

Ngày 25 thấng 8 năm 1945 ta và Nhật ký hiệp định, (bên ta do đồng chí Trần Tống đại diện).

- Quân Nhật không can thiệp vào nội trị Việt Nam và các cuộc vận động quần chúng của Việt Minh.

- Việt Minh không xâm phạm quân Nhật, không dán yết thị và truyền đơn chống Nhật nữa. 

- Quân Nhật tuyệt đối không đánh nhân dân Việt Nam. Nếu quân đội nhân dân Việt Nam tự ý đánh quân Nhật thì quân Nhật sẽ cương quyết đối phó. Về bên Việt Minh cũng tuyệt đối không đánh quân Nhật, nếu quân Nhật tự ý đánh quân Việt Minh thì Việt Minh sẽ cương quyết đối phó lại như thế. (Bản hiệp định này nay còn lưu tại bảo tàng Quân khu 5).


Theo hiệp định, quân Nhật chỉ đóng trong đồn khố xanh và chuẩn bị rút về Đà Nẵng, ta mở đường giao thông số 1, khi đi phải báo trước, và được đi đến chợ mua lương thực thực phẩm.

Ngày 30 tháng 8, ngày hội lớn của nhân dân Quảng Ngãi mừng cách mạng mùa thu đại thắng, mừng chính quyền cách mạng đã được thành lập... Toàn đại đội Hoàng Hoa Thám tập trung từ An Đại xuống đường số 1. Trước mắt chúng tôi rợp trời cờ bay, tiếng hô dậy đất "Việt Nam độc lập muôn năm". Từng đoàn người xếp hàng tư, hàng năm, tràn ngập mặt đường nối tiếp nhau không một khoảng trống.


Năm trung đội xếp hàng ba của đại đội Hoàng Hoa Thám chỉnh tề chiếm phần đường bên trái rập bước tiến lên. "Hoan hô du kích Cứu quốc Ba Tơ". Đoàn phụ nữ vũ trang dao thắt ngang lưng tay vẫy cờ mặt nhìn theo đoàn quân tung hô nhiệt liệt. Ánh bình minh tỏa sáng trên sóng lúa rập rờn bên đồng ruộng như reo vui cùng với ngày đại thắng, tạo nên khung cảnh hiếm thấy.


Một chiếc máy bay Mỹ đen sì nghiêng mình xoi mói rồi bay đi, chẳng ai thèm để ý. Đoàn quân cùng với đoàn dân vô tận hùng dũng tiến lên, mãi đến cống Kiểu. Có một toán quân cùng với đội trưởng giương cao ngọn cờ bước tới. Chúng tôi xuống ngựa chào và nhận báo cáo: - Tôi chỉ huy trung đội thuộc đại đội Phan Đình Phùng theo lệnh đồng chí Chánh ra đón đại đội Hoàng Hoa Thám về tham gia cuộc duyệt binh (đó là Sơn, túc Trần Kiên).


Nhìn vào các ngả đường vào trung tâm thị xã, không thể đưa đoàn quân vào sân vận động được, nên chỉ cử một đơn vị đại diện, còn đại bộ phận dừng lại ở Bâng-ga-lụ (khách sạn) và trường học, bố trí cảnh giới đề phòng quân Nhật phản trắc.


Cuộc mít tinh tại sân vận động bị biển người tràn ngập từ trong cho đến các ngả đường, mà dòng người từ năm cửa ngõ vẫn ùn ùn kéo vào, nên không con đường duyệt binh, băng cờ ngập các đường phố, chuyển động không ngừng, tiếng hô "Việt Nam độc lập muôn năm", "thà chết không làm nô lệ", "ủng hộ Việt Minh", "Hy sinh vì Tổ quốc" cứ như thể không bao giờ dứt, cho đến khi tiếng loa vang yêu cầu đồng bào trật tự.

Từ trên khán đài đồng chí Nguyễn Chánh đứng lên tuyên bố:

- Theo tiếng gọi của Tổ quốc thiêng liêng, từ ngày khởi nghĩa Ba Tơ, đồng bào "Lê Trung Đình"1 (Lê Trung Đình là tên của một nhà lãnh đạo phong trào chống Pháp, bị xử tử, lấy tên ấy đặt cho tỉnh Quảng Ngãi trong Cách mạng tháng Tám năm 1945) đã đứng lên muôn người như một dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương và Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh. Ngày 14 tháng 8 quân Nhật đầu hàng. Theo lệnh của ủy ban khởi nghĩa, chúng ta đã hy sinh chiến đấu giành chính quyền từ miền núi đến trung châu. Đến ngàỵ 16 tháng 8 chính quyền toàn tỉnh đã thuộc về ta. Ủy ban nhân dân cách mạng đã được thành lập, trật tự an ninh đã được khôi phục bình thường. Nay Mặt trận Việt Minh tổ chức mừng ngày toàn thắng và ủy ban nhân dân cách mạng Lê Trung Đình ra mắt đồng bào.


Đồng chí Trần Toại chủ tịch và các đồng chí trong ủy ban đứng lên tuyên thệ nguyện đem hết tinh thần nghị lực phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân... Cuộc mít tinh chuyển sang tuần hành. Các đơn vị vũ trang diễu hành kéo dài cho đến quá trưa mới kết thúc. Từng đoàn người chuyển về địa phương trong tiếng reo vang đại thắng.


Quân Nhật thu nhận tàn binh và nhặt nhạnh thi hài hỏa táng rồi về thẳng Đà Nẵng.

Đại đội Phan Đình Phùng và Hoàng Hoa Thám tiến vào nội thành, lập chỉ huy sở ở đồn khố xanh, và chia quân bố trí bảo vệ các vùng xung yếu trong toàn tỉnh, sẵn sàng chiến đấu.


Tiêu đề: Bình Minh Ba Tơ
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Giêng, 2021, 12:42:27 pm
TỔ QUỐC LÂM NGUY, QUYẾT CHIẾN!


Ngày 2 tháng 9 Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Chính quyền cách mạng Trung Bộ tổ chức. Anh Chánh nhận chức vụ ủy trưởng quốc phòng Trung Bộ, trong ủy ban nhân dân cách mạng Trung Bộ, điều động anh Kiệt cùng một số cán bộ và mấy đơn vị du kích Cứu quốc quân Ba Tơ ra Huế bảo vệ cơ quan. Anh Trần Quý Hai dự hội nghị Tân Trào, trên đường nhận được tin Tổng khởi nghĩa, anh về Huế nhận công tác luôn.


Tôi đương bàn kế hoạch chiến đấu và mở rộng lực lượng giải phóng quân Quảng Ngãi thì được điện ra Huế. Đồng chí Thêm từ Quảng Nam - Đà Nẵng đưa xe vào đón. Lực lượng vũ trang Quảng Ngãi do đồng chí Thứ, Khoách... phụ trách.


Lần đầu tiên tôi ngồi vào chiếc xe bóng nhoáng của quan Tây để lại, nhún nhẩy qua các đoạn đường phá hoại, rồi êm ái lướt nhanh. Nhìn qua thị trấn, nông thôn đâu đâu cũng cờ đỏ sao vàng rực rỡ trong thôn xã, và những anh tự vệ mang băng cờ đỏ gác đường vào thị trấn. Xe qua Tam Kỳ, qua cầu sông Thu Bồn đến Đà Năng, vào một ngôi nhà đô sộ ở sông Hàn để ăn cơm đợi tiếp xăng. Tiếng chuông đổ, điện thoại reo: "A lô! A lô! Thái Nguyên Thành đây, Trần Cao Vân hả? Đã đến đây rồi, chờ lấy xăng. Đưa ra ngay". Lần đầu tiên tôi nghe điện thoại.


Xe bon lên đèo Hải Vân khi trời chiều. Cây rừng rợp bóng che mát mật đường, xe chạy chậm ngoằn ngoèo như rắn lượn, trườn lên đồi núi. Gần lên đỉnh sương càng mù, nhìn xuống biển nước xanh trong loang loáng, những áng mây vàng ấp bóng mặt nước đổi màu. Xa xa những cánh buồm rập rờn trên làn sóng tạo cảnh thiên nhiên cực đẹp. Qua khỏi đèo, vịnh Lăng Cô trải rộng một vùng nước bạc vỗ nhẹ vào bờ lượn quanh theo bãi cát.


Đồng chí lái xe cảm hứng giới thiệu ở đây có món sò huyết đặc sản, mà chưa được nếm thử...

Về đến Tòa khâm, nơi cơ quan Trung Bộ đón anh em về dự hội nghị do Đảng triệu tập, các chiến sĩ áo đen của đội du kích Cứu quốc quân Ba Tơ đang đứng gác. Một nhóm khác chạy lại tay bắt mặt mừng hỏi đủ chuyện. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh đến gặp ngay và cho biết đồng chí ra không kịp, cuộc họp Xứ ủy lâm thời vừa xong. Tình hình chung rất khẩn trương, giành được chính quyền đã khó, nhưng giữ được chính quyền càng khó hơn. Chúng ta phải gấp rút chuẩn bị đối phó với quân Đồng minh vào tước khí giới Nhật. Đồng thời phải chuẩn bị đánh bọn Pháp, chúng nó sẽ dựa vào nhau để xâm lược nước ta, bắt ta làm nô lệ lần nữa. Phong trào Quảng Ngãi mạnh mẽ nhất. Còn nhiều tỉnh tuy ta đã giành được chính quyền, nhưng phong trào tổ chức lực lượng còn yếu lắm. Công việc rất bề bộn, nhất là phải lo xây dựng lực lượng vũ trang cho mạnh mới được. Thôi ăn cơm nghỉ ở đây rồi anh Chánh sẽ làm việc cụ thể. Công việc Quảng Ngãi sẽ có đồng chí khác phụ trách, đồng chí sẽ nhận nhiệm  vụ mới. Cơm ở đây chỉ có bát đĩa là nhiều, chứ chắng có gì, cơm Việt Minh mà, nhưng phải cố gắng ăn để lấy sức làm việc.


Đúng như lọi anh Thanh đã ân cần nhắc nhở, cơm nước xong tôi lên phòng, nghỉ trên chiếc giường Hồng Công - có lẽ của viên khâm xứ hay quan cao nào đó. Tôi táy máy cầm nắm vào mấy cục gì xinh xinh bên gối đầu giường. Một ông trạc 50 tuổi, đầu chít khăn đóng, mặc bộ áo ka ki màu trắng dài ngang đầu gối đến bên giường:

- Dạ thưa ngài cần gì ạ? - Ông nói - Có chuông gọi tôi mà.

Tôi nhanh trí:

- Xin ông cho thêm nước uống.

Ông đi rồi tôi mới tự hiểụ, cái cục xinh xinh ấy là công tắc bấm đèn, bấm quạt, bấm chuông bồi phòng, mới hay thế nào là ở nhà Tây lấy vợ Nhật như dân thượng lưu thường kháo.


Đứng trên bao lơn nhìn qua thành Huế, một bức thành cao ngất chạy dài phía bắc sông Hương. Trên đường, dưới sông sau những ngày Tổng khởi nghĩa, Bảo Đại thoái vị, trước mắt tôi rừng cờ rợp đất chen dưới bóng cây xanh. Sông Hương thuyền bè chật ních, cờ đỏ lớn nhỏ cuốn theo chiều gió, xuôi, ngược, qua lại trên dòng sông. Người lại, xe qua nhộn nhịp trên cầu Tràng Tiền, với những cánh áo hồng, áo tím của các cô các bà mặt đầy son phấn, ở vườn hoa trước mặt Tòa khâm bên bờ sông Hương, một tốp nhạc binh trong bộ quần áo trắng toát tay cầm kèn đồng bóng loáng, đang tập bài ca cách mạng theo nhịp cờ của người nhạc trưởng. Trên đường một đơn vị thanh niên tuyên truyền mới chuyển thành giải phóng quân mang súng diễu hành rập bước trong bộ áo quần cộc màu ka ki vàng cháy. Tất cả, ồn ào, náo nhiệt, rập rờn xanh, đỏ, tím, vàng đủ màu đủ vẻ trước mắt. Tôi đang say trong cảnh vật thì đồng chí Thủy (bảo vệ anh Chánh) mời tôi vào làm việc, kéo tôi ra khỏi cảnh ngoạn mục của thành phố Huế tráng lệ nguy nga mới về tay cách mạng.


Anh Chánh phổ biến: Tình hình chung rất khẩn trương. Mấy thằng Tây mới nhảy dù xuống, chúng ta vừa bắt được đang khai thác. Bọn Pháp từ Xa-va-na-khét tiến theo đường 9 ta phải điều trung đội đồng chí Mai Láo (du kích Ba Tơ) phối hợp với lực lượng vũ trang Quảng Tri lên án ngữ Pha Lan, Lao Bảo phòng địch từ Lào đánh qua. Nhiệm vụ của anh là đi cùng anh Phan Tử Lăng (giám đốc bảo an binh của chính quyền cũ) đi kiểm tra tình hình trang bị vũ khí và lực lượng vũ trang các tỉnh Nam Trung Bộ. Anh Lang phái viên chính trị, anh Lãng làm phái viên quân sự... có nhiệm vụ trình bày nhận định của Trung ương và Xứ ủy lâm thời Trung Bộ với cán bộ Đảng và Việt Minh các tỉnh. Chúng ta đã làm các tỉnh tập trung khả năng xây dựng lực lượng vũ trang như chúng ta đã làm ở Quảng Ngãi. Đối với bảo an binh thì động viên anh em, những ai không tự nguyên tham gia quân đội cách mạng thì cho về. Tranh thủ sĩ quan và hạ sĩ quan, người nào có lòng yêu nước thì dùng làm huấn luyện quân sự, quan trọng là phải nắm cho được vũ khí... Mặt khác nói rõ với cán bộ Đảng và Việt Minh phải chuẩn bị kháng chiến, phải tích cực nắm công nhân, nông dân Cứu quốc, đưa những thanh niên hăng hái nhiệt tình vào lực lượng vũ trang, cầm súng thay cho bảo an binh. Phải chuẩn bị hậu phương căn cứ của mỗi tỉnh, mỗi huyện. Chuyển những phương tiện tài sản cần thiết ra ngoài thành phố, cái gì không dùng đến thì đưa về Quảng Ngãi, nhất là máy móc xe cộ cần cho quân giới... Phải chuẩn bị tư tưởng cho các đồng chí chính quyền các tỉnh sẵn sàng khi cần là chuyển ra ngoài thành phố, đừng say sưa luyến tiếc, phải chủ động để kháng chiến khi địch tấn công ta.


Anh Phan Tử Lăng là con người rất có ý thức tổ chức kỷ luật, chấp hành chủ trương cách mạng tốt, làm việc hăng hái chặt chẽ, cái gì cần như điều chỉnh vũ khí... thì bàn kỹ, thống nhất rồi quyết định, nhớ gửi liên lạc báo cáo.   


Tôi nhận một bộ quần áo cộc màu vàng cháy trong kho đưa ra và một băng đỏ, thêu chữ ủy viên chính trị có ngôi sao vàng, và giấy giới thiệu là phái viên chính trị của ủy trưởng quốc phòng Trung Bộ. Sáng hôm sau anh Phan Tử Lăng đưa xe đón tôi, hai anh em cùng đi về phía nam.


Tiêu đề: Bình Minh Ba Tơ
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Giêng, 2021, 12:43:40 pm
Vượt qua các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, ở đây Việt Minh đã nắm chắc vũ khí và đang tích cực xây dựng các chi đội giải phóng quân. Vào đến Sông Cầu làm việc, và nghỉ lại tòa sứ cũ. Tình hình xung đột nhau ở Tuy Hòa cũng đã giải quyết ổn thỏa. Trên đường vào phía nam chúng tôi xuất trình giấy tờ cho trạm gác của tự vệ. Sau khi xem giấy tờ hỏi đi hỏi lại: ủy trưởng quốc phòng Trung Bộ là cái gì? của anh tự vệ đeo băng đỏ mang sao vàng trên ca lô. Tôi giải thích một hồi rất ôn tồn lễ độ, đồng chí mới mở cửa cổng gác qua cầu Xóm Lụa. Đến sông Đà Rằng đang bị lũ ngập đường phải ngủ lại một đêm. Hôm sau xe vào đến phía nam đường vẫn ngập, ba người cùng đẩy, rồi chạy vào Nha Trang.


Qua hai ngày trên đường tôi đã tranh thủ thì giờ học cách đọc bản đồ, những dòng sông xanh, những con đường đỏ, đường đen, đường răng cưa xe lửa, xóm làng dân cư, bình độ đồi núi, vị trí đình chùa thành phố. Cái gì tôi cũng hỏi và anh Phan Tử Lăng nhiệt tình giảng giải. Đúng là một giáo viên quân sự. Anh thấy tôi không giấu dốt nên nói thêm chuyện tính năng tác dụng các thứ vũ khí, nào bức kích pháo (bắn vòng cầu thế nào), súng đại liên hốt-kích vì sao có vỏ ngoài để chứa nước...


Vào Nha Trang làm việc với anh Tôn Thất Vỹ, Trần Chí Hiền, truyền đạt lại nội dung của ủy truỏng quốc phòng Trung Bộ, nhất là vấn đề chuẩn bị kháng chiến, chuẩn bị chiến khu. Tấm bản đồ trải rộng. Chúng tôi thống nhất lây Đồng Trăn đất sét làm hậu phương để cất giấu những gì cần thiết nhất. Sau đó anh Hà Văn Lâu bàn việc lấy thanh niên bổ sung để phát triển lực lượng. Lúc này Nhật và tù binh Pháp chưa ra mặt hoạt động chống phá ta. Qua Ninh Thuận đi thẳng vào Phan Thiết. Trong khi phổ biến nhận định tình hình và chủ trương chuẩn bị kháng chiến với anh Nhơn (chủ tịch ủy ban nhân dân cách mạng) thì cũng là lúc nhận được tin từ Sài Gòn chuyển ra: "Đêm qua Pháp đã bắt đầu tấn công chiếm các cơ quan của ta". Thế là cuộc kháng chiến Nam Bộ bắt đầu đêm 22 rạng ngày 23 tháng 9. Trải tấm bản đồ xác định hướng xây dựng hậu phương căn cứ. Anh Nhơn cho biết có nhiều thứ máy móc và công nhân Dĩ An chạy ra. Máy móc của ngành xe lửa và xe cộ, bánh lốp, xăng dầu đưa lên chiến khu không tiện. Tôi đề nghị chủ tịch trưng dụng xe lửa cho chuyển ra giao cho Bình Định, Quảng Ngãi.


Tôi và anh Phan Tử Lăng đến đồn bảo an binh. Đồng chí chỉ huy tập hợp binh sĩ còn hô "tuốt lưỡi đồng bồng súng chào” (theo khẩu lệnh bảo an binh của chính phủ Trần Trong Kim lúc bấy giờ). Sau khi anh Lăng kiểm tra vũ khí, tôi nói rõ tình hình thực dân Pháp trở lại đây xâm lược. Không bao lâu chúng sẽ tấn công đến đây. Nhiệm vụ chúng ta là kiên quyết kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng. Anh em ai tình nguyện hy sinh chiến đấu để bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc thì được gia nhập giải phóng quân, anh nào vì hoàn cảnh gia đình không tình nguyện thì được về với vợ con. Việc tổ chức bổ sung xây dựng lực lượng và chỉ huy từ nay đặt trực tiếp dưới quyền của ủy ban nhân dân cách mạng và Mặt trận Việt Minh để kịp thời chiến đấu chống địch.


Trên đường trở ra Ninh Thuận để lên Đồng Nai, Đà Lạt, tôi miên man nghĩ đến tình hình thật cấp bách, phong trào cách mạng còn non kém, nhiều nơi quần chúng hưởng ứng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi nhưng tổ chức các đoàn thể mới đánh trống ghi tên, trong điều kiện quá dễ dàng, chứ tư tưởng chưa lường hết khó khăn trong việc bảo vệ chính quyền cách mạng. Vấn đề cốt yêu phải chăng là nắm cho được quần chúng công nhân và xây dựng cho được lực lượng vũ trang giảỉ phóng quân và du kích tự vệ.


Dừng lại Ninh Thuận kiểm tra vũ khí bảo an binh. Chỉ vẻn vẹn vài chục súng trường và đồng bào đánh cá mới vớt được một khẩu 20 ly bị sét rỉ không có đạn. Các đồng chí yêu cầu trên chi viện, nhất là chi viện súng đạn để phát triển lực lượng. Anh Lê Tự Nhiên thiết tha căn dặn vấn đề này. Tôi báo tin cho các anh biết về quân Nhật, Pháp dưới sự chỉ huy của Anh đã nổ súng đánh ta ở Sài Gòn và trao đổi ý kiến một mặt phải bao vây quân Nhật, đồng thời phải chuẩn bị hậu phương căn cứ để khi cần thì chủ động lui ra nắm chắc quần chúng công nông và lực lượng võ trang, không tiếc rẻ ở trong thành phố vì không thể nào giữ lâu dài được.


Xe lên Lâm Viên (Đà Lạt) bị hỏng giữa rừng, phải sửa chữa mấy giờ đồng hồ mới lên đèo Ngoạn Mục. Từng luồng sương mù mờ đục đã giăng từng mảng trên những đồi thông. Xe chạy quanh co vòng vèo, càng gần đến Đà Lạt sương càng mù nhiều hơn. Khi chạy vòng theo một khu rừng có những con hươu, con nai nghênh cặp sừng đầy nhánh nhóc. Anh Phan Tử Lăng nói với tôi, đây là những con cà tông trong khu rừng cấm, chỉ để cho bọn toàn quyền và Bảo Đại săn bắn giải trí, nên chúng nó dạn lắm. Xe đi chậm vào thành phố. Những ngọn đèn trên đường, lượn theo từng đồi cao xa xa trông như những chòm sao bên chân trời mù đục, chòm thấp, chòm cao kỳ ảo, trong bầu trời đầy sương nặng hạt.


Ra khỏi xe đã thấy lành lạnh người. Anh Chung Văn Năm đón, đưa chúng tôi vào một ngôi nhà sàn bằng gỗ khá sang trọng, đưa áo ấm mũ len cho chúng tôi dùng. Anh nói càng về đêm càng lạnh, dễ bị cảm và viêm ho.    Chúng tôi truyền đạt lại chủ trương và tình hình mới. Anh Lăng kiểm tra lực lượng bảo an và vũ khí đạn dược. Ở đây Nhật nhốt tù binh Pháp và Pháp kiều khá đông. Đó là mối lo không khác gì Nha Trang. Riêng về vũ khí thì ở đây khá nhiều, có hơn bốn trăm khẩu súng trường và ít súng máy, vì Nhật tịch thu của Pháp đưa về giữ ở đây.


Chúng tôi bàn kế hoạch kháng chiến. Anh Năm và Điềm đề nghị phải giữ đèo Blao vì đó là nơi địa thế hiểm yếu. Cuối cùng thống nhất là Lâm Viên phối hợp Đồng Nai thượng bố trí lực lượng ở đèo Blao và đưa thêm lực lượng phục kích, tiêu hao địch phía trước mới giữ được lâu.   


Mặt khác phải chuẩn bị hậu phương giáp với Ninh Thuận để hai bên dựa vào nhau kháng chiến lâu dài. Những thứ không chuyển vào căn cứ hậu phương thì trưng dụng xe đưa xuống Tháp Chàm để xe lửa chuyển ra phía bắc. Riêng số vũ khí, trừ phần trang bị thêm cho tự vệ, con lại anh Năm cũng đồng ý chi viện cho Ninh Thuận một số vì ở đây quá ít.


Viết đến đây, tôi chạnh lòng nhớ đến anh Năm, một con người nhân hậu nhiệt tình dễ mến. Trong khi làm việc, thỉnh thoảng anh lại ho. Anh quán triệt tình hình nhiệm vụ rất nhạy bén, và tình cảm đồng chí rất thiết tha, lo lắng cái riêng và cái chung khách quan và không cục bộ, nên sau khi xem giấy giới thiệu, anh làm việc giải quyết nhanh chóng. Tuy gặp nhau không lâu mà chúng tôi rất mến phục nhau. Trong chín năm đánh Pháp tôi để ý tìm nhưng không gặp, sau này mới biết hình như anh đã hy sinh trong năm đầu kháng chiến sau khi chuyển về hậu cứ.


Chiều hôm sau từ giã Lâm Viên trở lại Nha Trang để lên Buôn Ma Thuột. Chúng tôi dừng lại gặp cụ Trương Quang Hy giám đốc quận III xe lửa, để bàn việc giữ vững đường huyết mạch giao thông, tập trung sức vận chuyển các phương tiện từ Nam ra Bắc, cố gắng đưa thiết bị của cơ xưởng Dĩ An ra để xây dựng cơ xưởng quân giới.


Tuy mới gặp lần đầu một quan chức cao cấp của ngành hỏa xa nhưng là đồng hương Quảng Ngãi, cụ Hy rất phấn khởi, hăng hái và nhanh chóng thống nhất đưa trụ sở quận III đặt tại Ninh Hòa để phối hợp quân sự được thuận lợi.


Tiêu đề: Bình Minh Ba Tơ
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Giêng, 2021, 12:44:52 pm
Hôm sau xe vượt qua đèo Phượng Hoàng. Rừng núi âm u, đường đi hiểm trở. Tôi nghĩ, nếu đánh địch từ phía đông lên thì rất hiểm yếu có lợi cho ta. Xe lên đến đông Mađtrắc cửa ngõ phía đông Đắc Lắc, nơi quân địch đã kiểm soát và lùng sục những người tù vượt ngục từ Buôn Ma Thuột. Trên đường 21 chạy về phía tây, hai bên toàn là đồi tranh, lau sậy cao ngập đầu người. Xa xa có những mảng rừng xanh rậm. Gần đến Buôn Ma Thuột thì đồn điền cà phê, cao su trải dài hàng chục cây số trên nền đất đỏ. Tuy trong tù, anh em cũng thường nghe những câu thơ "đất đỏ rừng xanh", nhưng đến đây tôi với mục kích miền đất mới. Anh Sĩ Tuấn đón tiếp chúng tôi, rồi chuẩn bị thắt lưng mang giày ống khá oai vệ đưa chúng tôi đến trại bảo an binh, ở đây hàng ngũ tập hợp chỉnh tề, phần lớn là anh em dân tộc Ra đê, trong đó có những hạ sĩ quan và binh lính là cơ sở và cảm tình cách mạng do chi bộ nhà lao Buôn Ma Thuột tổ chức. Sau khi kiểm tra trang bị vũ khí, tôi nói rõ tình hình và nhiệm vụ bảo vệ nền độc lập. Kêu gọi anh em hăng hái ra nhập giải phóng quân "kiên quyết chống âm mưu giặc Pháp trở lại xâm lược bắt các dân tộc Kinh, Thượng chúng ta làm nô lệ lần thứ hai". Theo anh Sĩ Tuấn thì trong kho có một số bom, nhưng anh Lăng đến xem thì đó là bom lửa, không có hiệu quả sát thương. Tôi làm việc với anh Trọng Ba mới hiểu rõ tình hình phong trào mới xây dựng được ở thành phố. Vì vậy khả năng động viên thanh niên xây dựng lực lượng vũ trang có ít. Yêu cầu chi viện lực lượng để tăng cường phòng ngự bảo vệ ba biên giới (nơi giáp giới Cao Miên - Nam Bộ - Tây Kỳ).


Chúng tôi theo con đường 14 ra Plây Cu. Trên đường từ Buôn Hồ chạy mãi theo con đường nhựa nhỏ, hai bên là rừng thưa không có dốc cao rừng rậm. Ra đến núi Hòn Rồng, trông thẳng về hướng thị xã Plây Cu, vẫn một cảnh hoang sơ. Mấy khóm nhà tranh tiều tụy hai bên đường. Vào trong trung tâm, một số dinh thự lưa thưa trên đồi cao. Đó là những công sở dưới bóng cây gòn, cây thông cao vút, đó đây phủ một màu đỏ quạch đẫm mình trong gió bụi, đất ba dan ẩm ướt cuối mùa mưa.


Công thự vắng teo. Một đồng chí thay mặt Việt Minh và chính quyền tiếp chúng tôi và báo cáo tình hình: ở đây phong trào cứu quốc mới xây dựng trước khi Tổng khởi nghĩa không lâu, do một số thanh niên công chức liên lạc được với Việt Minh Bình Định. Công nhân thì có tổ chức khá nhưng ở xa - như đồn điền Bầu Cạn, Đắc Đoa. Ở thị xã chỉ có người Kinh buôn bán, đồng bào dân tộc ở xa trung tâm. Tóm lại quần chúng cách mạng rất mỏng.


Anh Trí sĩ quan chỉ huy bảo an binh báo cáo tình hình trang bị vũ khí, còn quân số bảo an nhiều anh em người Ba Na - Gia Ray bỏ về nhà, chỉ còn lại một số ít. Vì vậy yêu cầu chi viện lực lượng du kích Ba Tơ hoặc thanh niên tình nguyện để xây dựng lực lượng nhằm bảo vệ phía Bô Keo đề phòng địch từ Cao Miên tiến theo đường 19 kéo dài.


Xuống Quy Nhơn làm việc với anh Phan Phong và Giáp Văn Cương về việc mở rộng lực lượng vũ trang xây dựng chi đội giải phóng quân Bình Định thì đồng chí Phan Phong vừa được lệnh tăng cường cho Gia Lai.


Vừa gặp dịp một phóng viên Mỹ đi theo quân Đồng minh từ trong ra. Các đồng chí trong ủy ban nhân dân cách mạng chủ trương đón tiếp bằng một cuộc biểu dương lực lượng quần chúng mạnh mẽ quyết tâm bảo vệ chính quyền, làm cho bọn đế quốc biết nước Việt Nam đã có chủ.


Phố phường rợp bóng cờ đỏ sao vàng. Băng biểu ngữ bằng tiếng Anh và tiếng Việt, từng đoàn người diễu hành trên đường phố hô vang "Việt Nam độc lập muôn năm", "Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm", "Thà chết không làm nô lệ".

Những biểu ngữ đập vào mắt phóng viên trong cuộc mít tinh, khiến cho y ngạc nhiên khâm phục.

Vừa về đến Huế, báo cáo tình hình chung với anh Chánh xong, chúng tôi nhận được chủ trương cấp trên quyết định tổ chức Ủy ban quân chính Nam Trung Bộ, gồm các tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận, Đồng Nai, Lâm Viên, Khánh Hoa, Đắc Lắc, Phú Yên để phối hợp quân - chính trong các tỉnh tiến hành kháng chiến chống âm mưu địch từ Nam Bộ đánh ra, đổ bộ bờ biển để chiếm đóng cho đến vĩ tuyến 16; giữ vững giao thông chiến lược để chi viện cho Nam Bộ.


Ủy ban gồm các đồng chí Trương Quang Giao bí thư chính trị ủy viên (thay mặt Xứ ủy lâm thời), Phạm Kiệt chỉ huy quân sự, Nguyễn Đôn phó chính ủy. Lực lượng vũ trang sẽ điều động sau. Tôi phải nhanh chóng trở vào.


Đồng chí Lê Văn Hiến ủy trưởng tài chính cấp cho tôi một xe pho màu trắng để tranh thủ vào trước tổ chức cơ quan. Đến Quảng Ngãi, tôi rút một số cán bộ cùng vào Nha Trang. Làm việc với các đồng chí Khánh Hòa, chúng tôi quyết định đóng chỉ huy sở của Ủy ban quân chính tại Ninh Hòa để tiện liên lạc giao thông đi các tỉnh.


Theo tiếng gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh "Nam Bộ là máu của máu Việt Nam, thịt của thịt Việt Nam", từ đầu tháng 10 năm 1945, các tỉnh Trung Bộ và Bắc Bộ đâu đâu cũng tổ chức lực lượng vũ trang Nam tiến. Chúng tôi vừa bắt xong điện thoại, thì chi đội (ngang với tiểu đoàn bây giờ) của Quảng Ngãi do đồng chí Truyền Nga (chi đội trưởng), Minh Thi (chính trị viên) đã đến, dừng lại Ninh Hòa bổ sung trang bị để lên tàu vào Sài Gbn, Biên Hòa. Tiếp theo là đại đội Lê Trung Đình (du kích Ba Tơ) tăng cường cho Nha Trang.


Lại được điện đón chi đội Nam tiến của đồng chí Nam Long. Lúc này lương thực ở Nha Trang - Ninh Hòa, Ủy ban nhân dân cách mạng tích cực huy động, nhưng khó khăn. Anh Kiệt, anh Trương Quang Giao vừa đến cơ quan phụ trách thường trực. Tôi phóng xe đến Tuy Hòa giải quyết việc động viên tiếp tế lương thực cho Khánh Hòa và bộ đội Nam tiến. Ra Quy Nhơn để gặp đơn vị, nhưng đến nơi thì đơn vị đồng chí Nam Long đã cho tàu chạy vào phía nam. Tôi dùng phương tiện điện tín xe lửa yêu cầu dừng lại La Hai. Tôi quay xe vào Sông Cầu, lên La Hai gặp đồng chí Nam Long chỉ huy trưởng. Lần đầu những chiến sĩ giải phóng quân. Việt Bắc và du kích Ba Tơ gặp nhau, thật là hân hoan phấn khới. Tôi trình bày tình hình địch trên đường mà đơn vị đi qua, và những vị trí nhận tiếp tế. Đơn vị nghỉ lại một ngày cho lại sức vì từ Nha Trang trở vào phải sẵn sàng chiến đấu, ai biết đâu quân Nhật phản trắc đánh ta từ lúc nào.


Đơn vị đến Tuy Hòa nhận tiếp tế đầy đủ để dự trữ lương thực đem theo. Lúc này sau những cuộc xung đột rồi thương lượng với Nhât - quân Nhật thừa nhận không can thiệp và nội trị Việt Nam, chúng đóng quân ở các vị trí trọng yếu như: Nha Trang, Cam Ranh, Ba Ngòi, Ninh Hòa, Phan Rang, Phan Thiết, Đà Lạt, Buôn Ma Thuột. Ta có vây giữ, quân Nhật không được tự do hoạt động, nhưng sức ta mỏng, không đủ sức tiêu diệt, tước vũ khí chúng. Vì vậy phải đề cao cảnh giác, nhất là khi đoàn tàu chuyển quân qua những nơi có vị trí Nhật.


Tiểu đoàn quân Việt Bắc và anh Nam Long lên tàu qua cầu La Hai. Tôi trở ra Quy Nhơn đón đoàn quân Nam tiến của Thuận Hóa. Các tỉnh khúc ruột miền Trung mà tôi may mắn đã được qua lại, gần gũi tiếp xúc với phong trào nhân dân sau ngày Tổng khởi nghĩa, chính tai tôi nghe, mắt tôi thấy, tâm hồn tôi rung động với khí thế sục sôi của quần chúng nhân dân ai cũng muốn băng mình nhanh ra tiền tuyến vì "Tổ quốc lâm nguy!".


Tiêu đề: Bình Minh Ba Tơ
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Giêng, 2021, 12:46:07 pm
Những hồi còi của từng đoàn xe lửa chuyển quân Nam tiến dội vào không trung lộng gió mùa thu cách mạng đang băng băng chạy vào phía nam là biểu tượng của tinh thần "Quyết chiến quyết thắng" của cả một dân tộc quyết bảo vệ nền độc lập đến cùng. Những ông cụ, bà cụ đầu tóc bạc phơ, những trẻ em đang bồng trên tay mẹ vẫy cờ hoa "Hoan hô bộ đội Nam tiến", "ủng hộ bộ đội Nam tiến". Rừng người tràn ngập trên các nhà ga Đà Nẵng, Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Sa Huỳnh, Tam Quan, Phù Mỹ, Tuy Hòa... đón tiếp rồi tiễn đưa, không một tiếng khóc than sướt mướt, chỉ reo vang "Quyết chiến" mà nước mắt lăn dài trên má các cụ, các mẹ, các em... Thề khắc cốt ghi tâm, sống chết có nhau, từ tiền tuyến đến hậu phương là một. Vì vậy mà "hũ gạo cứu đói", "hũ gạo kháng chiến" ở các tỉnh có hàng trăm tấn đủ liên tục tiếp tế cho các đoàn quân Nam tiến chiến thắng quân thù.


Thành phố Quy Nhơn cách xa ga Diêu Trì, không có cơ hội như Tam Quan, Tuy Hòa. Vì vậy Ủy ban nhân dân cách mạng Bình Định yêu cầu tôi bẻ quặt đoàn tàu Nam tiến của Thuận Hóa chạy xuống Quy Nhơn.


Tôi lên tàu gặp đồng chí chỉ huy đoàn. Anh hỏi ngay sao lại xuống đây? Tôi nói: cần xuống để nghỉ một hôm cho đồng bào úy lạo bộ đội, và bộ đội động viên đồng bào.


Đoàn quân trang phục chỉnh tề. Những thanh niên vừa xếp bút nghiên lên đường đấu tranh, những cán bộ từ trường tiền tuyến chỉ huy, rầm rập diễu hành qua các phố phường Quy Nhơn. Lớp lớp đồng bào vẫy cờ tặng hoa và quà kỷ niệm, tiếng hô "ủng hộ Việt Nam giải phóng quân", "ủng hộ bộ đội Nam tiến" quyện với khúc ca quân hành "bao chiến sĩ anh hùng" của đoàn quân.


Đúng như kế hoạch chuyển quân, hôm sau đoàn quân Thuận Hóa dừng tàu cách bắc Ninh Hòa một cây số, đi bộ theo phía tây đường sắt vào ga Ninh Hòa (phòng quân Nhật đóng tại trường học Ninh Hòa phản trắc). Các đồng chí Nguyễn Minh Vỹ, Trần Chí Hiền... vui đón về Nha Trang để tăng cường chiến đấu bao vây quân địch.


Mặt trận Nha Trang có vị trí quan trọng nhất đối với phía nam. Trong khi quân Anh chưa đến thì Nhật và Việt Minh hòa hoãn không xâm phạm lẫn nhau, nhờ đó mà sự vận chuyên liên lạc không bị trở ngại. Khi quân Anh đến Nha Trang thì tù binh Pháp được Nhật thả ra và trang bị lại, bắt đầu gây hấn từ ngày 22 tháng 10 năm 1945. Quân Anh bắt quân Nhật đi trước yểm hộ cho Pháp - Anh tiến công vào các công sở ta trong thành phố (quân Nhật phải thi hành lệnh của Anh, đồng thời báo cho ta biết trước). Trong trận tấn công trong nội thành, ngày đầu tháng 10 năm 1945, bọn Pháp - Anh bị thiệt hại nặng phải co về cố thủ. Đến ngày 10 tháng 10 tàu chiến Pháp xuất hiện và cho lực lượng đổ bộ. Ngày 22 tháng 10 chúng lại nổ súng tấn công. Ta kiên quyết chiến đấu chung quanh vùng viện Pát-xtơ. Nhà đèn, nhà ga ta vẫn giữ vững.


Đêm 23 tháng 10 năm 1945, lực lượng ta chủ động rút khỏi trung tâm thành phố, chiếm lĩnh các điểm cao ngoại vi từ phía tây thành phố giáp đến đầu cầu Xóm Bóng (đơn vị đồng chí Lê Kích giữ vững ở đây), tạo thành một vòng cung bao vây kiềm chế địch; đồng thời được tăng cường lực lượng bộ chỉ huy mặt trận gồm các đồng chí: Trần Công Khanh, Nguyễn Thế Lâm (phó) Hà Văn Lâu (tham mưu trưởng), Nguyễn Mô (chính trị viên), kiên quyết chiến đấu ngăn chặn quân địch.


Để giữ vững vận chuyển khi cầu Xóm Bóng bị phá, Ủy ban quân chính Nam Trung Bộ đã bàn với cụ Trương Quang Hy (quận III xe lửa) làm đường bẻ ghi cho tàu chạy thẳng không vào ga Nha Trang. Nhờ đó, việc chuyển quân và vật tư máy móc vẫn được duy trì, đường điện tín, điện thoại vẫn được giữ vững. Cụ Trương Quang Hy cũng yêu cầu thông báo cho các lực lượng giải phóng quân đừng chặn bắt xe lửa dừng lại dọc đường như xe hơi, dễ gây nguy hiểm (vì lúc này quân ta hay dùng cờ chặn xe lửa để lên tàu bất kỳ nơi nào).


Cuộc chuyển quân Nam tiến kế tiếp nhau trên đường xe lửa. Khi thì một đại đội. Khi một chi đội. Cứ đến Tuy Hòa dừng lại bổ sung lương thực. Rồi vượt qua Ninh Hòa, Nha Trang tăng cường cho Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Phan Thiết, Phan Rang, Đà Lạt và đi ô tô lên Đắc Lắc.


Sau khi mặt trận Bắc Sài Gòn bị phá vỡ, đại đội du kích Cứu quốc Ba Tơ (do đồng chí Truyền Nga và Minh Thi chỉ huy) bố trí chiến đấu ở trận tuyến cầu Bình Lợi trong một thời gian, rồi lui về vùng Trảng Bom, Rừng Lá phối hợp với du kích địa phương phá cầu đường.


Đầu tháng 11 năm 1945, Nhật đổ quân thêm lên Phan Thiết, đồng thời cho quân từ Biên Hoa tiến theo đường 20 lên đèo Blao và theo đường phố ra Phan Thiết, bị quân ta đánh, thiệt hại trên Đĩa Chuối - Blao. Cánh quân đường số 1 cũng bị đánh mạnh phải quay về. Đại đội du kích Ba Tơ một bộ phận gia nhập vào đơn vị đồng chí Nam Long; lui ra Phan Thiết phối hợp, chiến đấu với quân Nhật. Sau gần một tháng bao vây, ngày 12 tháng 12 năm 1945, quân Nhật rút xuống tàu vào Nam. Chi đội đồng chí Nam Long chuyển ra phối hợp với Phan Rang, bao vây cắt tiếp tế. Quân Nhật phải dùng kế nghi binh (đặt bù nhìn đội mũ sắt trong đồn), lợi dụng ban đêm ngược dòng sông chạy về phía Đắc Lăc. Quân ta truy kích diệt một bộ phận, số còn lại chạy thoát.


Như vậy vào khoảng hạ tuần tháng 12 năm 1945, hai tỉnh Bình Thuận và Ninh Thuận hoàn toàn giải phóng. Để hiểu rõ tình hình mặt trận tây nam, tôi lên Đắc Lắc, vào kiểm tra kế hoạch chiến đấu phía Đắc Min rồi vào luôn miền Đông Nam Bộ. Đi đến Phú Riềng, tìm được trạm liên lạc đưa vào đồn điền. Trước của một ngôi nhà, giữa rừng cao su, có mấy chữ to "Đại bản doanh tướng quân”. Đồng chí Vũ Văn Đức chỉ huy trưởng đón tôi rất ân cần. Anh Đức chỉ huy tóc đã điểm sương. Có lẽ vì vừa đánh vừa lui quân từ mặt trận Bắc Sài Gòn theo đường 13 qua đường 14, đã trải lắm phong sương khói lửa, mà hậu phương thì không vững chắc, nên khi được mặt trận Nam Trung Bộ vào bắt liên lạc thì anh rất mừng.


Anh cho biết quân Pháp từ bắc cầu Sài Gon tiến lên, có thiết giáp xe tăng và có pháo binh đã tiến đến Hớn Quản (12-11-1945). Quân ta chỉ phục kích, đánh tiêu hao chứ không có đủ lực lượng, vũ khí để đánh tiêu diệt. Tôi chuyển bản doanh về phía này, để đưa vào phía sau xây dựng căn cứ đánh lâu dài. Tôi định ra trao đổi với các đồng chí ở Buôn Ma Thuột, nhưng chưa đi được. Nay anh đã đến, chúng ta bàn sự phối hợp, hai bên, cố giữ cho được vùng quan yếu nhất là ba biên giới Đắc Min để giữ đường hậu phương và dựa vào nhau mà đánh địch.


Tôi hoàn toàn nhất trí nhưng cũng trình bày cho đồng chí Đức hiểu rõ phong trào quần chúng ở Đăc Lắc và lực lượng vũ trang quá mỏng. Đắc Min tuy có truyền thống chống Pháp của thủ lĩnh Nơ Trang Long vẫn in đậm trong nhân dân, nhưng nhân lực kinh tế quá nghèo nàn. Đó là điều không thuận lợi lắm. Sáng hôm sau tạm biệt anh Đức.


Tiêu đề: Bình Minh Ba Tơ
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Giêng, 2021, 12:49:24 pm
Ra khỏi đại bản doanh, xe lao về phía bắc trong rừng cao su mịt mù. Địa hình địa thế rất bằng phẳng, ít sông ngòi đồi núi, chỉ có trại ấp còn công nhân đồn điền, lưa thưa hai ba cây số mới có xóm nhà. Cảm thấy khó khăn trong chiến đấu.


Đến đơn vị phòng giữ ba biên giới tôi dừng lại kiểm tra kế hoạch tác chiến. Tôi nhìn thấy một bờ lũy với chiến hào được xây dựng bằng cây rừng chĩa mũi nhọn về phía đất cao nguyên, do đồng chí Sĩ Tuấn đã hướng dẫn xây dựng.


Từ ngã ba đến đồn Đắc Min theo đường biên giới chỉ cách đường 14 không xa, mà rừng thưa đất bằng, quân Nhật luồn rừng nơi nào cũng được. Vì vậy tôi nói với anh Sĩ Tuấn chỉ huy tỉnh Đắc Lắc và đồng chí Tàu chỉ huy đại đội du kích Ba Tơ bố trí ở đây, không nên dồn quân phòng giữ một tuyến mà nên bố trí phá đường chặn đánh nhiều bậc ở địa hình có lợi cho ta để tiêu hao địch.


Về đến Ninh Hòa, Ủy ban Cứu quốc nghe tôi báo cáo, đều thống nhất ý kiến cần tăng cường lực lượng cho Đắc Lắc để bảo vệ ba biên giới và Đắc Min nhưng không còn lực lượng nào để có thể điều động được. Chúng tôi yêu cầu Quảng Ngãi chi viện gấp cho một phân đội. Lực lượng vừa đến Ninh Hòa, được xe cấp tốc đưa lên Buôn Ma Thuột. Đang nghỉ để chuẩn bị đến ba biên giới, thì ngày 30 tháng 11 Pháp tấn công chính diện vào phòng tuyến bảo vệ. Đồng chí Tàu chính trị viên hy sinh, nhưng địch không vượt qua được. Một bộ phận địch luồn rừng vòng phía sau phục đánh bắt một xe công tác của ta có cờ đỏ sao vàng, dùng xe ấy chọc thẳng vào thị xã bắp phá. Phân đội quyết tử thứ hai của đại đội Phan Đình Phùng anh dũng chiến đấu đánh giáp la cà tiêu diệt được nhiều địch và hy sinh đến người cuối cùng. Được tin, chúng tôi nghẹn ngào cúi đầu tưởng nhớ, đau thương.


Tinh thần hy sinh vì Tổ quốc để lại trong lòng nhân dân thị xã Buôn Ma Thuột không bao giờ nguôi. Trải qua bao năm sống trong lòng địch, đồng bào vẫn lấy ngày 27 tháng 10 âm lịch, nhà nhà đều cúng chiến sĩ trận vong để tỏ lòng biết ơn những người con Quảng Ngãi đã ngã xuống trong tư thế hiên ngang bất khuất.


Giặc Pháp tuy bất ngờ ập vào thị xã, nhưng trước sức đề kháng của quân ta đã bị thiệt hại, mất sức chiến đấu nên vội vã rút về biên giới. Đến ngày 3 tháng 12 có lực lượng tăng cường, chúng tôi mới tiến công lần thứ hai chiếm thị xã Buôn Ma Thuột.


Giữa tháng 12, sau khi Phan Thiết, Phan Rang được giải phóng, Ủy ban Cứu quốc Nam Trung Bộ, đã điều động một bộ phận lớn các đơn vị Nam tiến ở phía nam ra củng cố Ninh Hòa. Ủy ban quyết định đưa lực lượng của chi đội Nam Long và một số phân đội khác tăng cường cho Đắc Lắc.


Sau khi củng cố trận tuyến trên đường 14 bắc sân bay, ngăn chặn không cho địch tiến ra ngã ba đường 14 và 21, lúc này chỉ huy sở đóng ở đồn điền Ca-đa.


Để tiêu hao lực lượng, buộc địch phải co lại, Ủy ban quân chính Nam Trung Bộ quyết định tổ chức trận đánh phản công bằng hình thức tập kích vào thị xã. Hướng tiên công chính theo đường 14, có các đơn vị Bắc Sơn, Nghệ An, Thuận Hóa, Thanh Hóa tham gia với một tiểu pháo 37 ly và một sơn pháo 75 phối hợp. Hướng tây có một bộ phận do đồng chí Thái chỉ huy, hướng đông bắc do một phân đội tiến vào tập kích cơ sở thủy điện rồi phát triển vào thị xã. Đồng chí Nam Long chỉ huy quân sự và tôi làm chính trị viên.


Cuộc tiến công lúc đầu thuận lợi. Địch rút vào trung tâm, dựa vào một số nhà kiên cố chống cự. Đến gần sáng, địch dùng xe thiết giáp phản kích, ta không diệt được thiết giáp nên lui về giữ trận địa bắc sân bay (ngã ba đường 14 - 21). Cánh quân phía tây đi lạc đường không vào đến các khu phố, cánh phía đông vào phá thủy điện nhưng chỉ hỏng sơ sài. Sau đó, một mặt ngăn chặn và đánh du kích tiêu hao các mũi đột kích của địch. Đồng thời tổ chức lực lượng xuyên rừng vòng qua tả ngạn sông Sê-rê-pốc để phá cầu. Đồng chí Lan hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ này nhưng vì thuốc nổ không đủ mạnh nên chỉ phá vỡ một mảng bằng cái thúng. Sau ngày giải phóng miền Nam, tôi đến xem, vẫn còn chiến tích thời kỳ sơ khai chiến cuộc ở Đắc Lắc.


Trên đường 20, từ ngày 11 tháng 11 năm 1945, quân Nhật từ Biên Hòa tiến lên đánh vào trận tuyến đèo Blao. Quân ta chặn đánh rất anh dũng, tiêu diệt gần 30 tên và phá hủy một xe quân sự. Cho đến ngày 15 tháng 11 quân Nhật mới tiến lên Đà Lạt, phá vỡ tuyến bao vây của quân ta và chiếm giữ thành phố.


Nhìn chung trên chiến trường Nam Trung Bộ, trong tháng 12 năm 1945, quân Pháp đã hình thành ba cụm lực lượng: Chiếm giữ trung tâm thành phố Đà Lạt, Cam Ranh - Nha Trang, Buôn Ma Thuột. Quân ta giãn ra ngoài nhưng vẫn kiên trì bám giữ trận tuyến ngoại vi, nhất là Nha Trang và Đắc Lắc. Về phần ta, lực lượng vũ trang các tỉnh mới tổ chức đã phải đương đầu với quân Nhật và quân Pháp để bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo vệ lãnh thổ mới được giải phóng. Tuy được Trung ương và các địa phương tăng cường chi viện bằng các đại đội, chi đội Nam tiến, nhưng thời tiết khí hậu của mùa đông, chiến sĩ phải dầm sương dãi gió liên tục hàng tháng trời trên chiến trường, phần thì tiếp tế lương thực thuốc men đạn dược khó khăn thiếu thốn, đơn vị nào cũng bị tiêu hao xộc xệch, ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu không ít. Vì vậy Ủy ban Cứu quốc Nam Trung Bộ một mặt tổ chúc trường huấn luyện chính trị quân sự cho cán bộ, chiến sĩ tại Sở Míc (xưởng thuốc lá Míc), thực chất là một đơn vị thu dung giáo dục, chọn lựa những chiến sĩ ốm đau hay bị thương đưa về Tuy Hòa. Số khác được bồi dưỡng sức chiến đấu rồi bổ sung lại chiến trường. Mặt khác yêu cầu các tỉnh tuyển quân số bổ sung.


Trong cuộc kinh lý kiểm tra tình hình phía nam, anh Võ Nguyên Giáp ra đến Quảng Ngãi trong đêm đã khuya. Tôi đón chào trước sân đồn khố xanh cũ (chỉ huy sở chi đội). Biết tôi mới ở Ninh Hòa ra Quảng Ngãi, anh hỏi chúng ta có thể phản công chiếm lại Buôn Ma Thuột được không? Tôi trả lời: Lực lượng địch thì không đông lắm, chưa mở rộng chiến đấu, ta con giữ từ cây số 3 đến cây số 5 (bắc thị xã), nhưng địch có đại bác, xe tăng thiết giáp mạnh hơn ta. Nếu chúng ta có lực lượng mạnh, có thể tiến công theo trục đường 14 và phía tây Buôn Ma Thột, thì đánh vào thị xã được, nhưng bây giờ không có thêm lực lượng. Anh suy nghĩ. Tôi mời anh ở lại. Anh nói: Tôi phải trở ra ngay và dặn việc gì phải giới nghiêm? Để cho nhân dân ta đi lại tự do (lúc ấy ở Quảng Ngãi có lệnh giới nghiêm, ban đêm không được đi lại sau 10 giờ tối. Xe anh Giáp cũng bị xét hỏi nên anh mới dặn như vậy).


Qua mấy phút gặp anh Võ Nguyên Giáp trong đêm khuya tại thành Quảng Ngãi, tôi càng cảm thông với cấp trên trong tình hình cực kỳ khẩn trương của đất nước và sự quan tâm theo dõi của Trung ương.


Cuộc kháng chiến của quân dân Nam Trung Bộ và bộ đội Nam tiến trong buổi bình minh lập quốc, thật là "lực bất tòng tâm" nhưng đã anh dũng chiến đấu ngăn chặn từng bước quân thù gần ba tháng làm thất bại kế hoạch của tướng Lơ-Cléc chiếm đóng đến vĩ tuyến 16 trong vòng ba tháng.


Tiêu đề: Bình Minh Ba Tơ
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Giêng, 2021, 12:55:17 pm
Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến cuộc chiến đấu của quân dân Nam Trung Bộ. Tháng 12 năm 1945 Người gởi thư cho các chiến sĩ và đồng bào:

"Từ ba tháng nay, các anh chị em đã đổ xương máu để giữ từng tấc đất của Tổ quốc. Tôi cũng như bao nhiêu đồng bào ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ đã bao nhiều lần tức giận khi nghe bọn thực dân Pháp chà đạp lên miếng đất của ông cha ta, giết hại nòi giống ta. Đã bao nhiêu lần phấn khởi khi nghe những chiến công oanh liệt do những vị vô danh và hữu danh anh hùng của dân tộc ta tạo nên. Bao nhiêu lần hồi hộp, có thể khóc được, trước những gương hy sinh vô cùng can đảm của những người con yêu Tổ quốc. Do đó tôi càng tin chắc rằng: Với một quốc gia có những đứa con hy sinh như thế, đã có một khối toàn dân đoàn kết như thế, nước ta nhất định không thể bị mất lại một lần nữa" (thư lưu trữ tại phòng lịch sử quân sự Quân khu 5).


Nhận được thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân dân Nam Trung Bộ càng phấn khởi tin tưởng, càng sôi sục lòng căm thù quân xâm lược, nỗ lực chiến đấu để lập chiến công.

Ở mặt trận Nha Trang, từ cuối tháng 12 năm 1945, quân Pháp được thiết giáp hạm Ri-sơ-li-ơ đến chi viện (có pháo nặng 130 ly) bắn phá vào trận địa ta và vùng dân cư từ phía tây Nha Trang đến đèo Rù Rì. Thỉnh thoảng cũng bắn pháo vào Ninh Hòa - Vạn Giả. Một hôm trên đường từ Ninh Hòa vào Nha Trang để truyền đạt chủ trương của Ủy ban quân chính Nam Trung Bộ cho các đồng chí quân chính Nha Trang, địch tâp trung bắn phá dữ dội. Xe tôi phải chạy lên đường Đắc Lộ, Đại Điền để qua đò vào thành Khánh Hòa. Lần đầu tiên đập vào mắt tôi cảnh đồng bào tản cư lánh giặc, thực hiện vườn không nhà trống.


Từng đoàn người mang gánh, rương, hòm, thúng mủng, nồi niêu, chăn chiếu quần áo, tay xách nách mang. Có phụ nữ gánh một đầu thúng là thóc gạo, một đầu thúng là con thơ. Cũng có chị đi tản cư đẻ rớt giữa đường không nhà, không cửa. Tôi nhận thấy khuyết điểm của mình, của Mặt trận Việt Minh, chưa kịp thời hướng dẫn cho địa phương lãnh đạo, làm cho đồng bào lâm vào cảnh gieo neo khốn khổ.


Qua đến thành Khánh Hồạ, gặp các đồng chí lãnh đạo địa phương, tôi yêu cầu phải khẩn trương tổ chức và hướng dẫn cho cấp huyện, xã đưa đồng bào theo từng xóm thôn, cùng đến ở một xóm thôn an toàn và động viên đồng bào tại chỗ phải thương yêu giúp đỡ đùm bọc lẫn nhau mới có thể kháng chiến lâu dài.


Sau đó tôi trình bày nhận định của Ủy ban quân chính Nam Trung Bộ và sự chỉ đạo của cấp trên phải bảo toàn lực lượng kháng chiến lâu dài với các đồng chí lãnh đạo Khánh Hoa và các đồng chí trong ban chỉ huy mặt trận. Ta không thể giữ mãi cách đánh có trận tuyến, mà phải chuẩn bị cho mỗi khu vực có lực lượng vũ trang, dựa vào dân và núi rừng tiến hành đánh du kích.


Con đại bộ phận lực lượng lần lượt rút về hậu phương củng cố. Mặc dù địch tập trung bom đạn đánh phá ác liệt, mặt trận Nha Trang vẫn tiếp tục chiến đấu tiêu hao kiềm chê địch giữ vững trên tuyến Cây Da - Quán Giáng, đường xe lửa, đầu cầu sắt và bắc cầu Xóm Bóng trong thời gian hơn một tháng, bảo đảm các đơn vị ở phía Nam lần lượt chuyển ra.


Đầu năm 1946, Trung ương có ý định tổ chức Ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam. Đồng chí Tạo đã vào Ninh Hòa trao đổi với chúng tôi để tổ chức chỉ huy sở. Anh Trương Quang Giao trình bày tình hình địch ta và thấy rằng lập Ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam là không thích hợp vì khả năng thông tin liên lạc tiếp tế chiến trường không đảm bảo để chỉ huy.

Sau đó tổ chức thành hai Ủy ban:

- Ủy ban kháng chiến Nam Bộ bố trí chỉ huy sở ở Phú Yên.   

- Ủy ban kháng chiến Nam Trung Bộ bố trí chỉ huy sở ở Quảng Ngãi.


Anh Chánh điện tôi ra báo cáo tình hình thì cũng là lúc quân Pháp - Nhật bắt đầu mở cuộc tấn công. Cánh quân phía tây xuất phát từ Buôn Ma Thuột tiến theo đường 21, quân ta chặn đánh nhiều trận tiêu hao dọc đường và chặn đánh quyêt liệt, diệt nhiều bộ binh và dùng chai xăng tạc đạn đốt cháy nhiều xe cơ giới của địch trên đèo Phượng Hoàng. Ngày 26 tháng 1 năm 1946, địch dừng lại Ma đrắc.


Cánh quân phía nam xuât phát từ Đà Lạt, ngày 28 tháng 1 năm 1946 tấn công phòng tuyến ta tại Trại Mát Phi-nom, Đơ-răng rồi theo đường 11 tiến chiếm Tháp Chàm, Phan Rang, chia một bộ phận tấn công vào Phan Thiết. Một cánh tiến đến Cam Ranh và suối Dầu thì dừng lại. Quân dân hai tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận làm vườn không nhà trống và bám đánh diệt nhiều địch trên dọc đường.


Ngày 29 tháng 1 năm 1946, cánh quân Pháp đánh thủng phòng tuyên đèo Phượng Hoàng tiến đến Ninh Hòa và tiến vào phối hợp với cánh quân phía nam giải vây thành phố Nha Trang.

Lực lượng ta chủ động, theo kế hoạch chuyển quân rút theo đường núi Đá Ban - Dốc Mõ về Phú Yên tập kết.

Ủy ban quân chính Nam Trung Bộ được chấm dứt nhiệm vụ.

Từ đây tôi bị cuốn hút theo hai cuộc chiến tranh. Đi mãi trong hàng ngủ Quân đội nhân dân Việt Nam quang vinh của Tổ quốc.

Kể từ những ngày đầu tháng chín, nhận chiếc băng đỏ sao vàng với chức vụ phái viên quốc phòng Trung Bộ đi truyền hịch "Tổ quốc lâm nguy! Toàn dân chuẩn bị kháng chiến" cho đến ngày kết thúc nhiệm vụ trong Ủy ban quân chính Nam Trung Bộ (đầu tháng 2 năm 1946), có lẽ tôi là một trong những thanh niên được hạnh phúc nhất. Từ rừng núi Ba Tơ sớm được rong ruổi trên các ngả đường khúc ruột miền Trung với hình thế núi sông hùng vĩ, từ những dãy núi mây mù bao phủ trên nóc nhà Trường Sơn, đến bờ biển Đông trong xanh ào ạt, tiếng sóng vỗ bờ. Những cảnh ngoạn mục như Hải Vân, Sơn Trà, như cố đô Huế, như đèo Cả, Vũng Rô và Tây Nguyên mênh mông hùng vĩ, với miền duyên hải trù phú gieo vào tâm hồn tôi một niềm yêu nước thiết tha với nỗi lo âu giữ gìn bảo vệ.


Đặc biệt, những người đang sục sôi trong tim "Thà chết không làm nô lệ", những cán bộ Đảng, cán bộ Việt Minh, những chủ tịch Ủy ban nhân dân cách mạng cho đến các giới công, nông, trí thức, phú hào và anh chị em phụ nữ thanh niên, mọi người như một quyết tâm kháng chiến với niềm tin nhất định thành công.


Trải qua năm tháng, những chiến sĩ du kích Cứu quốc Ba Tơ có mặt trên khắp chiến trường, sát cách cùng những chiến sĩ giải phóng quân Nam tiến, không thiếu địa phương nào của miền Trung, miền Bắc hòa mình cùng những thanh niên tự vệ và binh sĩ yêu nước của từng địa phương thành một lực lượng vũ trang thống nhất, bao vây ngăn chặn tiêu diệt quân thù. Tôi còn gặp mặt những chiến sĩ Tiền phong Nam Bộ trong bộ quần áo xanh với ca lô xanh đội lệch, xin đổi gậy tầm vông nhận súng trường để tiến công địch ở Phan Thiết, Buôn Ma Thuột, Nha Trang.


Tất cả những con người ấy, những hình thế đất nước núi sông ấy, đã làm nên những chiến công từ cầu Bình Lợi cho đến Phan Thiết, Đà Lạt, Phan Rang. Từ ba biên giới đến Buôn Ma Thuột, Ma đrắc và đỉnh cao nhất là bốn tháng ác liệt trên mặt trận Nha Trang. Tuy cuộc chiến tranh nhân dân chưa hoàn thiện vì mới từ trong nhân dân mà ra, chưa qua một lớp quân sự sơ đẳng nào, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: "Quân đội ta là một quân đội thơ ấu tinh thần dũng cảm có thừa, nhưng thiếu vũ khí, thiếu kinh nghiệm, thiếu cán bộ, thiếu mọi mặt "nhưng trải qua bốn tháng dưới sự lãnh đạo quân sự chính trị của Ủy ban quân chính Nam Trung Bộ, không có những trận tiêu diệt chiến lớn, nhưng những gương chiến đấu hy sinh lẫm liệt của cá nhân, của tập thể đã lập những chiến công chói lọi trên khắp các chiến trường, khiến cho quân thù phải khiếp sợ và kính phục, cho đồng bào đồng chí quý trọng, thương yêu. Bốn tháng bao vây ngăn chặn quân thù, chính là một chiến công vô giá, đã góp phần để lại một Tạm ước mùng sáu tháng ba và một vùng quân thù không được bén mảng đến. Đó là vùng tự do "Nam - Ngãi - Bình - Phú", từ Cách mạng mùa thu tháng Tám, mãi đến thắng lợi cuối cùng sau chín năm kháng Pháp vẫn giữ vững độc lập tự do.


Ghi những dòng hồi ký này, lòng tôi bồi hồi tưởng nhớ đến bao nhiêu đồng bào, đồng chí. Đặc biệt, tôi nhớ đến những chiến sĩ du kích Cứu quốc quân Ba Tơ đã anh dũng chiến đấu hy sinh trên các chiến trường Nam Trung Bộ để bảo vệ độc lập tự do cho quê hương, Tổ quốc. Vinh quang bất diệt này là thuộc về các đồng chí.


Gần nửa thế kỷ trôi qua. Có biết bao sự kiện xảy ra, nay tôi hồi tưởng lại có chỗ nhớ, chỗ quên về tên người, tên đất và biết bao hành động anh dũng quên mình của mỗi người đã làm nên lịch sử.


Với tấm lòng chân thành, theo sự ủy thác cùa anh em, tôi ghi lại những điều còn nhớ. Nếu có chỗ chưa chính xác, chưa đầy đủ là vì thời gian trôi qua quá lâu, chứ nhất quyết không có lý do gì khác. Rất mong đồng bào, đồng chí và bạn đọc thông cảm.