Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: macbupda trong 01 Tháng Mười Hai, 2020, 06:05:29 am



Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Mười Hai, 2020, 06:05:29 am
Tên sách: Người con đất Quảng kiên trung
Tác giả: Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Thể hiện: Nguyễn Sỹ Long
Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
Năm xuất bản: 2011
Số hóa: macbupda

(https://i.imgur.com/2seI2IS.jpg)

Lời giới thiệu

Đại tá, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Lê Hải Lý là một cán bộ chỉ huy can trường trong chiến đấu, hết lòng vì đồng đội trong thời bình, giàu nghĩa tình trong cuộc sống. Từng sát cánh cùng anh trong những năm tháng ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tôi cảm nhận ở Đại tá Lê Hải Lý sự gan dạ, dũng cảm, sáng tạo của người cán bộ chỉ huy. Trong cuộc đời binh nghiệp, anh đã 5 lần bị thương, trong đó 3 lần được tổ chức cho ra miền Bắc, nhưng xin ở lại bám trụ chiến trường để tiếp tục chiến đấu.

Đại tá Lê Hải Lý cũng như nhiều thiếu niên được sinh ra và lớn lên ở nửa đầu thế kỷ XX, có một tuổi thơ gian khổ, nhưng cũng đầy bi tráng. Cha mẹ tần tảo nuôi 7 anh em khôn lớn. Năm 13 tuổi, Lê Hải Lý xung phong làm liên lạc cho đội du kích địa phương. Nhiều lần tham gia chiến đấu cùng bộ đội chủ lực, anh thấy bộ đội cũng có nhiều người nhỏ như mình nên quyết tâm xin đi cho bằng được, mặc cha mẹ cho rằng: “Mi còn con nít mà đánh giặc gi”. Cũng bắt đầu từ năm 1950, anh chính thức trở thành người chiến sĩ liên lạc Huyện đội Điện Bàn.

Từ khi anh trở lại miền Nam chiến đấu năm 1962 trên các cương vị chỉ huy từ đại đội lên tỉnh đội trưởng, Lê Hải Lý đã trực tiếp chiến đấu và chỉ huy chiến đấu 120 trận, từ tiêu diệt đại đội lính Mỹ đến tiểu đoàn lính ngụy. Những trận đánh có anh tham gia đã để lại trong tôi ấn tượng sâu đậm, thể hiện sự gan dạ, dũng cảm, linh hoạt, sáng tạo độc đáo của người chỉ huy có thể kể đến một số trận sau: Trận thứ nhất là tham gia Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Lúc đó, Lê Hải Lý bị vết thương ở bàn chân đang đi khập khiễng được cấp trên cho nghỉ an dưỡng, song anh vẫn xin đi chiến đấu với danh nghĩa Chính trị viên Tiểu đoàn 70 chủ lực của Tỉnh đội. Anh đã động viên cán bộ, chiến sĩ dũng cảm chiến đấu chiếm Tỉnh đường Quảng Tín (thành phố Tam Kỳ ngày nay). Trong một đêm một ngày, ta đã cắm được lá cờ Giải phóng lên dinh tỉnh trưởng. Sau trận này, cùng với thành tích của đơn vị được khen thưởng, Lê Hải Lý nhận tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhì.

Tham gia chiến dịch Z1, anh đã chỉ huy đơn vị chiến đấu quyết liệt với một tiểu đoàn lính Mỹ, một tiểu đoàn lính cộng hòa; một tiểu đoàn lính bảo an và có 30 xe tăng yểm trợ. Trong tình thế nguy nan, địch đã hình thành thế bao vây Tiểu đoàn 70, anh quyết đoán chỉ huy trực tiếp một trung đội đánh thẳng vào đại đội địch. Bản thân anh đã dùng súng AK của chiến sĩ tiêu diệt 15 tên lính Mỹ, kéo địch, về hướng tấn công bất ngờ của người chỉ huy. Hành động anh dũng đó của anh đã tạo cơ hội cho tiểu đoàn mở hướng vượt ra ngoài và đánh trở lại quân Mỹ-ngụy. Địch bị bất ngờ, hoang mang bắn lẫn nhau, còn Tiểu đoàn 70 được bảo loàn.

Ngày 23 tháng 3 năm 1975, Tiền phương tỉnh Quảng Nam điện cho Ban Chỉ huy vùng đông vượt qua vùng địch, gồm 3 xã chưa được giải phóng. Anh Lý chấp hành mệnh lệnh dùng hai Tiểu đoàn 70 và 72 vượt qua vùng địch đêm 23 tháng 3 năm 1975 đánh đồn Núi Cấm, trận địa pháo 105 ly ở Núi Cấm diệt gọn địch tháo chạy đánh sập cầu Kỳ Phú. Sáng 24 tháng 3 năm 1975, xe tăng bộ binh Sư đoàn 2 xuất hiện trên đầu cầu Tam Kỳ, ngã ba Trường Xuân, địch phải tháo chạy, ta vào giải phóng Tam Kỳ lúc 10 giờ 30 ngày 24 tháng 3 năm 1975.

Còn rất nhiều nữa những chiến công của người con đất Quảng hiếu trung - Đại tá, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Lê Hải Lý mà tôi không thể nói hết. Những kỷ niệm thời chiến tranh, tâm sự đầy nghĩa tình sau giải phóng, v.v. của anh được gửi trọn trong những trang sách này. Xin trân trọng giới thiệu đến bạn đọc gần xa để có dịp hiểu thêm về người con anh hùng của đất Quảng anh hùng “trung dũng kiên cường đi đầu diệt Mỹ”.


HOÀNG MINH THẮNG
Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng,
                                                                                                                                                           
Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam - Đà Nẵng,
Chính trị viên Tỉnh đội Quảng Nam


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Mười Hai, 2020, 06:07:02 am
Chương một

KÝ ỨC GIÁNG LA


Mỗi con người được sinh ra từ một miền quê, khi lớn lên, rời xa nơi chôn nhau cắt rốn, dù ít hay nhiều đều có những kỷ niệm khó phai. Với tôi, quê hương trong hoài niệm tuổi thơ là đói khổ, là cuộc sống trâu ngựa của người dân mất nước. Sớm tham gia hoạt động cách mạng, thoát ly năm 15 tuổi nên ký ức tuổi thơ tôi về quê hương là một chuỗi dài thương nhớ. Sau này lớn lên đi theo suốt cuộc trường chinh vĩ đại của dân tộc, khi đất nước ca khúc khải hoàn tôi mới có điều kiện trở về thăm quê. Lúc đó, quê tôi đã đổi khác, những người thân yêu nhất của tôi kẻ còn, người mất. Vì thế, ký ức về làng Giáng La càng được khắc sâu trong tâm thức.

Cư dân quê tôi có nguồn gốc từ Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh. Tương truyền, thuở xa xưa, xã Điện Thọ quê tôi từng là mảnh đất đầu cầu, làm cửa ngõ xuất quân cho những đoàn quân đi mở đất phương Nam vì có vị trí địa lý xa núi, gần sông, thuận lợi cho các hoạt động giao thương. Ngay từ triều đại nhà Trần, các lưu dân miền Bắc, chủ yếu là các xứ Thanh - Nghệ đã vượt qua bao gian lao nơi rừng sâu núi thẳm hay biển động chiều hôm vào đây lập nghiệp. Họ đã biến vùng đất hoang vu, rậm rạp, đầy thú dữ rắn rết thành những ngôi làng quần cư, vừa để khẳng định có sự sống của con người, vừa khẳng định chủ quyền lãnh thổ. Trong suốt tiến trình lịch sử của các triều đại phong kiến sau đó, quê hương tôi tiếp tục được mở mang, thay đổi tên làng, tên xã nhiều lần. Qua các lần chia tách, sáp nhập, đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, xã Điện Thọ gồm có 12 làng là Kỳ Lam, Long Hội, Bì Nhai, Ngọc Trâm, An Tế, Phong Thử, La Huân, Thủy Bồ, Châu Lâu, Ái Mỹ, Giáng La và Đức Ký. Trong số các làng trên thì Giáng La, La Huân, Đức Ký đã có xã hiệu từ thế kỷ XVI, là những làng có xã hiệu sớm nhất.

Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, cuộc sống của người dân quê tôi rất cực khổ, phần lớn chịu cảnh “ăn cơm vay, cày ruộng rẽ”. Bọn trẻ con chúng tôi lúc bây giờ, gia đình nào không có ruộng đất, đông con thì cho đi ở giữ trâu cho nhà giàu trong làng. Hầu hết người dân quê tôi lúc bấy giờ, từ nhà giàu cho tới hạng cùng đinh, chủ yếu sống bằng nghề nông. Thiên nhiên ban tặng cho đất Điện Thọ nhiều ưu đãi hơn một số vùng đất khác, nên mỗi năm cây được hai vụ lúa vào tháng ba và tháng tám.

Cùng với làm ruộng, nghề trồng bông dệt vải cũng góp phần làm nên diện mạo quê tôi. Có nơi, cả làng đều kéo vải. Họ làm ra những tấm vải có khổ hẹp ba tấc rưỡi. Sản phẩm làm ra không chỉ được tiêu thụ tại địa phương, trong nước mà còn được các thương nhân chở sang bán tại các nước láng giềng như Cam-pu-chia và Lào. Đặc biệt, ở các làng Giáng La, Thủy Bồ, Đức Ký còn có nghề đan lát bằng tre. Hoặc ở một số nơi dọc theo sông Thu Bồn, nghề trồng mía, làm đường cũng được phát triển. Các sản phẩm như đường bát, đường muổng, đường hạ đã từ thôn quê theo các thuyền buôn đi đến nhiều vùng đất nước.

Thiên nhiên ưu đãi đã làm nên sự trù phú của vùng đất Điện Thọ. Nhiều nghề phụ góp phần hình thành tính cách năng động, chịu thương chịu khó của người dân nơi đây. Tuy nhiên, trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, dù đã hết sức cố gắng bươn chải để thoát khỏi số phận, nhưng nhân dân vẫn không thể khấm khá được vì cuộc sống “một cổ hai tròng”, nạn vơ vét của bọn cường hào hoành hành. Do đó, trong làng có rất ít nhà ngói, chủ yếu là nhà tranh vách đất, hoặc làm bằng phên tre trát phân trâu và hầu như nhà nào cũng có vài ba chiếc xe kéo vải. Cuộc sống lênh đênh trên sông nước, lận đận với ruộng vườn, miệt mài với nghề phụ, nhưng nhiều người dân quê tôi không mấy ai thoát được cảnh ăn bữa nay lo bữa mai. Tuy nhiên, có một đặc điểm là dù lam lũ, cực khổ kiếm sống quanh năm đầu tắt mặt tối, nhưng trong làng, trong xã vẫn không có mấy người đi xin ăn. Họ chấp nhận đói khổ, lam lũ, đắp điếm cho qua ngày chứ không chấp nhận ngửa tay đi xin sự bố thí của thiên hạ. Sau này, khi tâm sự, trò chuyện với bạn bè, tôi vẫn thường ví đó là một trong những biểu hiện của sự khảng khái của con người xứ Quảng. Dưới thời Pháp thuộc, quê tôi có rất ít người được đi học; học lên bậc trung học lại càng ít. Vì vậy, đại bộ phận dân cư làm nông là chủ yếu. Cũng bởi môi trường tự nhiên và hoàn cảnh xã hội tác động nên dân quê tôi mang đặc điểm thật thà, chân chất, nói sao làm vậy, tình nghĩa thủy chung, tối lửa tắt đèn có nhau.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đã đem lại cho miền quê tôi một luồng sinh khí mới. Bắt đầu là tâm lý được làm chủ đất nước của nhân dân, cùng với đó là việc thực thi một số chính sách của nhà nước ta về giáo dục, khuyến nông, v.v. Trong xã đã có một trường học được mở với bậc lớp bốn, cuối bậc tiểu học. Tuy nhiên, niềm vui chưa kéo dài được bao lâu thì giặc Pháp núp bóng quân đồng minh kéo vào với danh nghĩa giải giáp quân Nhật, tiếp tục gieo rắc tội ác lớn nơi đây. Niềm vui được thoát khỏi đêm dài nô lệ của nhân dân bỗng chốc bị chúng nhấn chìm trong biển máu. Chính quyền non trẻ, nhân dân lầm than lại tiếp tục bước vào cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại của dân tộc. Đó là sự hy sinh, mất mát, tù đày, tiêu thổ kháng chiến, v.v. Trong 9 năm kháng chiến, xã Điện Thọ nằm trong vùng tạm chiếm. Nhân dân lại rơi vào cảnh bần cùng, cực khổ. Mọi nỗ lực trong xây dựng kinh tế đã bị tàn phá. Nhiều cánh đồng gần đồn địch, dù đất đai màu mỡ vẫn bị bỏ hoang. Làng Giáng La, một vùng đất từng được cán bộ, chiến sĩ suy tôn là “đất thánh của cộng sản”, hay “cái nôi cách mạng”, gần như một trăm phần trăm gia đình theo tiếng gọi của Đảng, Bác Hồ tham gia kháng chiến chống giặc ngoại xâm. Sau này, khi tổng kết hai cuộc chiến tranh, không chỉ riêng tôi mà còn biết bao người khác phải giật mình khi biết rằng con số thương binh, liệt sĩ, bà mẹ Việt Nam anh hùng của Giáng La hầu như nhà nào cũng có, nhà ít thì một, hai người, nhà nhiều tới năm bảy người. Riêng gia đình ông bà nội tôi đã đóng góp tới 4 bà mẹ Việt Nam anh hùng, 9 liệt sĩ, 12 thương binh.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Mười Hai, 2020, 06:07:47 am
Ngày 20 tháng 7 năm 1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, đất nước tạm thời chia cắt để chờ hai năm sau tổng tuyển cử. Một số cán bộ tập kết ra miền Bắc. Còn lại nhiều đồng chí được chuyển công tác khác và bố trí hoạt động bí mật. Theo hiệp định, ta bàn giao miền Nam lại cho chính quyền Ngô Đình Diệm. Nhưng chính quyền tay sai đã trắng trợn chống phá các điều ước của hiệp định. Chúng thực thi chính sách “tố cộng, diệt cộng” nhằm dập tắt ngọn lửa cách mạng trong quần chúng nhân dân. Với chính sách “giết nhầm hơn bỏ sót”, anh em nhà họ Ngô đã xua quân lùng sục, càn quét những nơi chúng nghi ngờ có dấu hiệu cộng sản, bắt bớ tất cả những ai chúng cho là cơ sở cách mạng. Chúng còn đặt ra luật 10/59 để tạo cớ lê máy chém đi khắp miền Nam. Làng Giáng La là một trong những cái nôi của phong trào cách mạng, được mệnh danh là vùng đất lịch sử lúc bấy giờ, bị địch chà đi xát lại nhiều lần.

Tuy sinh ra ở làng Giáng La, nhưng tôi thoát ly theo cách mạng từ tuổi niên thiếu nên hoài niệm về quê hương những ngày thơ ấu cứ như những thước phim quay chậm khi tuổi già xế bóng. Năm 15 tuổi, tôi đã tham gia bộ đội huyện Điện Bàn, sau đó đi tập kết ra miền Bắc. Đến năm 1961, tôi lại về chiến đấu trên quê hương. Dấu chân tôi đã in hầu khắp các xã của Điện Bàn. Có lẽ không chỉ riêng mình tôi mà những người con được sinh ra nơi đây đều thuộc lòng câu ca:

Đất Điện Bàn vừa xanh vừa mát
Người Điện Bàn dào dạt tình thương
Dù đi chín huyện mười phương
Tâm tư vẫn thấy nhớ thương Điện Bàn

Câu ca trên đã được đúc kết từ quá trình trải nghiệm cuộc sống, nói lên phong cảnh thiên nhiên và bàn chất thuần hậu của con người quê tôi. Trong điều kiện chiến tranh, tôi vẫn có ham thích tìm hiểu truyền thống quê hương. Bạn bè tôi thuở ấy có người bảo: “Bây giờ tập trung lo đánh giặc. Sau này hòa bình rồi tha hồ mà học tập nghiên cứu”. Thậm chí cũng có người tặc lưỡi: “Đánh nhau hết giặc về nhà tự do, muốn đi đâu thì đi, làm gì thì làm. Chuyện học tập để dành phần con cháu”. Tôi không nghĩ thế. Đối với tôi, việc tìm hiểu truyền thống của quê hương là trách nhiệm, nghĩa vụ của mọi người. Tôi cũng cảm thấy rất tự hào khi trang bị cho mình kiến thức xưa và nay về vùng đất nổi tiếng hiểm trở trong buổi đầu đi mở cõi của tiền nhân:

Tới đây xứ sở lạ lùng
Con chim cũng sợ, con cá vùng cũng kinh
pp

Chính cái lạ lùng của quê tôi đã khiến nhiều bậc tiền hiền dừng bước, quần tụ xây dựng nơi đây thành một vùng đất nổi tiếng về nhiều ngành nghề, lắm đặc sản. Đó là:

Hòa Đa buôn mật bán đường
Kim Bồng đục chạm miếu đường thờ vua
Vĩnh Điện tấp nập bán mua
Phú Bông dệt lụa sớm trưa rộn ràng

Nhưng có lẽ không có tài liệu nào in dấu sâu đậm bằng chính con tim khối óc yêu quê hương của mình. Những câu chuyện kể của thầy giáo, tiếng ru bập bõm của mẹ lúc còn thơ đã thôi thúc tôi tìm hiểu về lịch sử quê mình. Sau này, khi đọc một số cuốn sách, tôi được biết, lịch sử hình thành và phát triển của huyện Điện Bàn đã gắn liền với quá trình mở đất của dân tộc Việt về phương Nam. Vì thế, địa lý hành chính có nhiều thay đổi. Tuy nhiên, có một điều đặc biệt là tên gọi Điện Bàn không bao giờ thay đổi, nó được lưu giữ với nhiều truyền thống tốt đẹp về văn hóa, lịch sử và cách mạng. Ngày nay, Điện Bàn nằm cách thành phố tỉnh lỵ Tam Kỳ 48 cây số về phía bắc, cách thành phố Đà Nẵng 25 cây số về phía nam; phía bắc giáp huyện Hòa Vang, Đà Nẵng, phía nam giáp huyện Duy Xuyên; phía đông nam giáp thành phố Hội An; phía đông giáp Biển Đông và phía tây giáp huyện Đại Lộc. Viết hồi ký, tâm sự với lớp cháu con được sinh ra và lớn lên hay chí ít cũng mang trong mình dòng máu Điện Bàn, tôi mong sao mọi người đều biết rằng đây là vùng đất trù phú với nhiều sản vật dồi dào, là vùng trọng điểm lúa của tỉnh Quảng Nam, cùng với những ngành nghề thủ công nổi tiếng như: trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa, làm đường bát, trồng đay dệt chiếu, làm đồ gốm, đúc đồng Phước Kiều... Điện Bàn còn là vùng đất được mệnh danh là “địa linh nhân kiệt”, “đất học”, “đất khoa bảng”, v.v. Trong lịch sử đã có những vinh danh “Tứ hổ đăng khoa” gắn liền với tên tuổi các nhà khoa bảng, danh nhân, chí sĩ nổi tiếng như: Hoàng Diệu, Phạm Phú Thứ, Trần Quý Cáp, Trần Cao Vân, Nguyễn Hiển Dĩnh, Nguyễn Thành Ý, Phạm Như Xương, Phan Thành Tài, Lê Đình Dương, Phan Thúc Duyện, Lê Đình Thám, Phan Thanh, Phan Bôi... Đến thời đại Hồ Chí Minh, Điện Bàn tiếp tục được biết đến là vùng đất giàu truyền thống yêu nước và cách mạng. Đây là quê hương của nhiều anh hùng liệt sĩ, bà mẹ Việt Nam anh hùng tiêu biểu của cả nước như: Nguyễn Văn Trỗi, Trần Thị Lý, Nguyễn Phan Vinh, Võ Như Hưng; bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thứ có 9 con trai, 1 con rể và 2 cháu ngoại liệt sĩ, được Đảng và Nhà nước chọn nguyên mẫu chân dung để xây dựng quần thể tượng đài mẹ Việt Nam anh hùng quốc gia, v.v. Điện Bàn là huyện lớn, có thời kỳ là thủ phủ của tỉnh Quảng Nam, là vùng đất địa linh nhân kiệt tiêu biểu của xứ Quảng. Đây cũng là vùng đất hiếu học, học giỏi, con người yêu văn thơ, chuộng hò, vè, bài chòi.

Hòn Tàu, Hòn Kẽm, Hòn Vung
Ba hòn xúm lại đỡ vùng Quảng Nam
Non sông ai dựng, ai làm
Dòng Sài Giang uốn khúc, Cù lao Chàm xanh um


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Mười Hai, 2020, 06:08:15 am
Vùng Quảng Nam được “ba hòn xúm lại đỡ” đó là một tỉnh có vị trí địa lý nằm ở giữa miền Trung Việt Nam, phía bắc giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế và thành phố Đà Nẵng, phía tây giáp nước Lào, phía nam giáp Quảng Ngãi, phía đông giáp Biển Đông.

Quảng Nam có nhiều đồi và núi, chiếm gần ba phần tư diện tích toàn tỉnh, với nhiều ngọn núi cao nổi tiếng như Lum Heo cao 2.045m, Tion cao 2.032m, núi Gole - Lang cao 1.855m... Vùng đất thấp ven biển là đồng bằng châu thổ, chiếm gần 25% diện tích đất của tỉnh tập trung ở phía đông, trải dài hai bên quốc lộ 1. Quảng Nam còn được biết đến bởi các con sông đã đi vào thơ ca, truyền thuyết như Vu Gia, Thu Bồn, Tam Kỳ, v.v. Chúng đều được bắt nguồn từ dãy Trường Sơn hùng vĩ, sau nhiều quanh co uốn khúc vì chở nặng phù sa bồi đắp cho đất Quảng Nam mới chịu dùng dằng đổ Biển Đông. Đặc biệt, hai con sông Thu Bồn và Tam Kỳ vừa tô điểm cho Quảng Nam về cảnh sắc thiên nhiên, cũng vừa là đường giao thông rất tiện lợi cho những cư dân sông nước. Về điều kiện thời tiết, tỉnh Quảng Nam có hai loại khí hậu khá rõ rệt. Đó là, khí hậu của vùng nhiệt đới ven biển và khí hậu ôn đới vùng cao. Thông thường, hằng năm, tiết trời nóng và khô từ tháng 2 đến tháng 4, nhiều mưa từ tháng 9 đến tháng 12.

Nghiên cứu về lịch sử, vùng đất Quảng Nam và Đà Nẵng được tạo lập trên con đường phát triển về phía nam của nhiều thế hệ người Việt. Trong những năm gần đây, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy dấu tích văn hoá thời đại kim khí ở thế kỷ thứ nhất trước công nguyên trên địa bàn Quảng Nam, đó là nền văn hoá Sa Huỳnh. Về sau, người Chămpa đã kế thừa và sáng tạo ra nền văn hoá Chămpa.

Trong những năm từ 1570 đến 1606, chúa Nguyễn Hoàng khi nhận nhiệm vụ làm lãnh trấn Quảng Nam đã coi Đà Nẵng là cửa ngõ yết hầu miền Thuận Quảng, biến nó thành đất dung nạp những người từ phía Bắc vào khai canh, lập ấp, mở mang sản xuất và dùng thương cảng Hội An khai thông giao lưu với bên ngoài. Quảng Nam là một tỉnh nông nghiệp với nhiều đặc sản nổi tiếng như chè Phú Thượng, quế Trà My, cói Hội An, đường mía Điện Bàn, v.v. về Quảng Nam, chúng ta có thể thả hồn mình vào thế giới cổ xưa với các đền, tháp ở Mỹ Sơn, Trà Kiệu, Bằng An, Chiên Đàn, Khương Mỹ; những công trình rêu phong ở phố cổ Hội An, trước đây là cảng Đại Chiêm, là một trong những đô thị cổ nhất Đông Nam Á.

Được sinh trên vùng đất “địa linh nhân kiệt”, người Quảng Nam nói chung, Điện Bàn nói riêng có truyền thống lao động cần cù, sẵn sàng đương đầu với khó khăn thử thách của thiên nhiên và sáng tạo trong tiếp thu cái mới, đặc biệt là hiếu học, coi trọng tranh luận để tìm ra cái đúng, coi trọng thực học để giúp nước giúp đời. Trong đêm dài nô lệ trước khi có Đảng, các bậc chí sĩ, những người dân yêu nước đất Quảng Điện Bàn đã dũng cảm đương đầu với giặc Pháp xâm lược, nhiều chiến sĩ của phong trào Nghĩa hội thà chết chứ không đầu hàng như: Trần Văn Dư, Trần Cao Vân, Trần Quý Cáp... Phong trào Duy Tân do cụ Phan Châu Trinh khởi xướng cũng là một thử nghiệm con đường cứu nước, cứu dân với tinh thần “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” góp phần hun đúc thêm truyền thống yêu nước, cổ vũ và khơi dậy tinh thần tự lực, tự cường, canh tân đổi mới trong điều kiện thực dân Pháp xâm lược đã đặt xong ách thống trị trên đất nước ta đầu thế kỷ XX.

Truyền thống yêu nước, yêu quê hương, ý chí quật cường, lòng quả cảm của người dân Quảng Nam Điện Bàn được ghi nhận trong suốt cuộc chiến đấu trường kỳ chống xâm lược, vì độc lập, tự do, vì quyền sống con người. Vùng đất Quảng Nam đã từng phải đứng nơi đầu sóng ngọn gió trong nhiều chặng đường dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Đến thế kỷ XX, Quảng Nam nổi tiếng với các địa danh lịch sử mà mới chỉ nghe đến tên đã có thể hình dung được sự hy sinh to lớn của quân và dân nơi đây như chiến tích Núi Thành, địa đạo Kỳ Anh, đường mòn Hồ Chí Minh, chiến khu Trà My, chiến khu Hòn Tàu, Đồng Dương, Thăng Bình, v.v. Quảng Nam có phố cổ Hội An và khu di tích Mỹ Sơn được công nhận là di sản văn hóa thế giới từ tháng 12 năm 1999.

Mỗi khi nghe bài hát về quê hương, tôi không khỏi bồi hồi xao xuyến, lòng càng tự hào vì được sinh ra trên vùng:

Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Chứ rượu hồng đào chưa nhấm đã say
Bạn về nằm nghĩ gác tay
Chớ ai mô nghĩa trọng ơn dày cho bằng ta

Ca từ thôi thúc tôi nhớ về tuổi thơ gian khó của mình. Nơi đó, tôi cũng được mẹ ru trong tiếng đưa nôi để rồi khi đi chiến đấu, xa nhà tôi vẫn không thể nào quên âm hưởng ấu thơ.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Mười Hai, 2020, 06:08:45 am
Tôi được sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo. Cha mẹ tôi âm thầm “sáng bán mặt cho đất, chiều bán lưng cho trời”, tảo tần nuôi đàn con khôn lớn. Ký ức tuổi thơ của tôi luôn hằn sâu những ngày cực khổ. Thời bấy giờ, cũng không phải riêng tôi, bạn bè cùng trang lứa cũng không có mấy người được “cơm ăn đủ no, áo mặc đủ ấm”. Ngay từ trong nôi, tôi đã được mẹ ru bằng những câu ca dao mang âm hưởng riêng xứ Quảng. Kể cả sau này lớn lên, mẹ vẫn thường hát cho tôi nghe những điệu lý, bài chòi ca ngợi quê hương đất nước. Như cha ông ta đã từng nói: “Mưa dầm thấm đất”, các câu ca, tục ngữ dần dần thấm sâu vào tâm hồn thơ dại của tôi. Bây giờ, tuy tuổi đã trên bảy lăm, nhưng tôi vẫn thuộc lòng. Mỗi câu ca, mỗi điệu hò, lời hát, v.v. đối với tôi như một bài học về sự làm người, về tình yêu quê hương, đất nước, lòng tự hào dân tộc.

Ai về Cầu Mống, Câu Lâu
Cho anh về với quảy bầu theo em

Ai qua Đại Lộc, Điện Bàn
Có nghe mát rượi lúa vàng trĩu bông
Bảo An, Gò Nổi ai về
Cồn dâu xanh biếc miền quê tơ vàng

Trong cuộc đời mình, mẹ tôi là người thầy đầu tiên dạy cho tôi về đạo làm người. Cuộc sống rất cực khổ, nhưng bà không hề than thở. Mỗi câu hát ru con là một lời răn dạy, ngữ nghĩa câu ca luôn hàm chứa sự tin tưởng vào một tương lai tươi sáng. Mẹ tôi là người cùng làng Giáng La, về nhà chồng làm dâu từ những năm đầu của thế kỷ XX, một người phụ nữ hiền hậu, hết lòng vì chồng con. Bà yêu người, yêu đất nên biết rất nhiều chuyện về vùng đất lịch sử Giáng La. Khi tôi lớn lên được nghe mẹ tôi kể năm 1935, tức là năm tôi sinh, phong trào cách mạng ở Điện Bàn có nhiều khởi sắc. Sau đó, từ năm 1936 đến năm 1939, Đảng ta phát động phong trào đấu tranh dân chủ công khai, vi bên Pháp chính quyền bình dân lên nắm quyền đã hứa sẽ giải quyết một số vấn đề về thuộc địa. Những người nông dân như mẹ tôi được cán bộ về tuyên truyền nên cũng ít nhiều hiểu biết những biến cố cách mạng đang xảy ra trên quê hương.

Lúc tôi lớn lên biết đọc, biết viết, cha mẹ tôi bắt đầu kể về truyền thống gia đình. Đúng ra không riêng gì tôi, cả bảy anh chị em chúng tôi đều được hưởng trọn cách giáo dục như vậy. Do đó, tuy không được học hành đến nơi đến chốn, cơm ăn không đủ no, áo mặc mùa đông không ấm, mùa hè nắng cháy da, nhưng chuyện về đất nước, truyền thống gia đình, chúng tôi cứ thuộc lòng. Kho tàng kiến thức đó, hồi chưa tham gia cách mạng, anh chị em tôi chỉ được truyền tải bởi câu chuyện truyền miệng của cha mẹ, người thân. Đến tuổi trưởng thành, chúng, tôi lần lượt theo cách mạng đã chịu ảnh hưởng rất lớn bởi sự nuôi nấng của một gia đình giàu truyền thống yêu nước.

Người đầu tiên tác động đến tâm tư tình cảm của tôi đối với quê hương, đất nước là ông nội tôi, ông Lê Văn Tập. Như đã nói ở phần trước, nguồn gốc dân cư quê tôi chủ yếu từ xứ Thanh, xứ Nghệ theo chúa Nguyễn Hoàng vào Nam đi mở cõi. Mỗi làng, mỗi họ đều có nhà thờ, đình làng để ghi nhớ công ơn của tổ tiên, tiền nhân đã có công khai phá. Thuở ấy, quê tôi vẫn truyền tụng câu nói “nhất Lê, nhất Phan, nhất Nguyễn” để nhắc nhở cháu con về những ngày đầu khai sinh ra vùng đất Giáng La của tiền hiền. Mặt khác, Giáng La cũng là một trong những làng đầu tiên của xã Điện Thọ có xã hiệu. Trong quá trình mở mang bờ cõi, khẳng định lãnh thổ, đánh đuổi thú dữ, chống thù trong giặc ngoài, v.v. con em Giáng La đã không ít người không tiếc máu xương sẵn sàng xả thân vì nghĩa khí. Do đó, quê tôi được các triều đại phong kiến ban chiếu chỉ, sắc phong. Để quản lý, giữ gìn báu vật của làng được tốt, chính quyền làng xã cử một người chuyên giữ các sắc phong đó. Và ông nội tôi là người được giao trọng trách giữ hồn cho làng một thời. Bởi vậy, dân làng thường gọi ông nội tôi là ông Thủ Sắc, tức là người giữ sắc phong của triều đình cho làng. “Thuyền theo lái, gái theo chồng”, như một lẽ dĩ nhiên, bà nội tôi cũng được mọi người gọi là bà Thủ Tập. Dù không phải là quan tước hưởng bổng lộc của triều đình, chỉ là một người giữ sắc phong có địa vị xã hội nhỉnh hơn hạng cùng đinh một chút, nhưng ông nội tôi đã dạy cha tôi cùng các con theo quan niệm: “Lòng yêu nước không phải chỉ dành cho kẻ sang, nó làm cho mọi người dân có lòng nhân ái vị tha, đùm bọc thương yêu nhau. Vì thế, tự hào về truyền thống dân tộc là quyền lợi của tất cả mọi người”. Ông tôi cũng là người am hiểu lễ giáo gia phong, thường răn dạy các con theo gia pháp, hiểu và làm điều chính, tránh điều tà. Trong cuộc sống, ông luôn được dân làng quý trọng, kính nể. Chính những sắc phong là bài học sinh động để ông nội tôi thổi vào tâm hồn các con luồng tư tưởng:

Anh hùng thước lụa trao tay
Nước non một gánh vơi đầy ai hay


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Mười Hai, 2020, 06:09:25 am
Những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, sau 26 năm kể từ khi nổ tiếng súng xâm lược đầu tiên lên bán đảo Sơn Trà, năm 1884, thực dân Pháp chính thức xâm lược toàn bộ nước ta. Chúng bắt triều đình nhà Nguyễn ký Hiệp ước Pa-tơ-nốt để hợp lý hóa sự xâm lược của chúng dưới danh nghĩa “Nhà nước bảo hộ”. Thực dân Pháp đã không ngần ngại áp đặt những chính sách cai trị hà khắc lên đầu người dân Việt Nam. Chính những chính sách tàn bạo, tham lam đó đã bộc lộ bản chất của nhà nước bảo hộ, lộ rõ sự dối trá của cán cân công lý mà chúng thường rêu rao. Do đó, nhiều tầng lớp nhân dân ta đã đứng lên chống lại ách đô hộ của chúng. Tuy nhiên, trong bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ, phong trào yêu nước theo tư tưởng phong kiến không còn phù hợp nên thực dân Pháp đã lần lượt nhấn chìm các cuộc khởi nghĩa của các sĩ phu yêu nước, hoặc phong trào Cần Vương trong biển máu. Chỉ đến khi Đảng Cộng sản Việt Nam, do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập và lãnh đạo, ra đời mới thực sự mang lại thắng lợi cho nhân dân ta. Ông nội tôi tuy là người giữ sắc triều đình, nhưng là người cấp tiến. Với bản tính độ lượng, vị tha, giàu lòng nhân ái, ông đã khuyên răn các con, cháu hãy noi gương ông để học cách làm người. Thực tế đã chứng minh, gia đình ông nội tôi đã được Đảng, Nhà nước phong tặng bốn bà mẹ Việt Nam anh hùng. Trong đó, có hai người con dâu là Lê Thị Én và Mai Thị Hường, hai người còn lại là bà Lê Thị Để và Lê Thị Kề, còn gọi là Mười Kề, các cháu nội của ông.

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, cũng như các anh em, ba tôi là ông Lê Văn Lạc đã vào Hội Nông dân cứu quốc, tham gia các hoạt động xã hội ở địa phương, đi dân công ở Hạ Lào, Phú Túc, v.v. đào hầm bí mật nuôi giấu thương binh trong nhà. Sinh ra ở vùng đồng bằng trù phú, khí hậu ôn hòa, ấm nóng quanh năm nên khi xẻ núi nằm sương, ông đã bị sốt rét rừng đánh gục. Không kịp đi hết cuộc trường chinh vĩ đại của dân tộc, cha tôi trở về quê hương tiếp tục tham gia công tác tại địa phương, đi dân công tải đạn. Chiến tranh đã không giết cha tôi bằng hòn tên mũi đạn mà đã giết ông bằng những cơn sốt rét rừng quái ác. Cha tôi là người hiền hậu, thật thà, chịu thương chịu khó, luôn hết lòng vì vợ con. Trong mối quan hệ với mọi người, ông không làm mất lòng ai. Vì thế, cha tôi được bà con trong làng ai cũng thương mến, nể trọng.

Lúc bấy giờ, hoàn cảnh gia đình tôi lâm vào cảnh khó khăn triền miên. Cha tôi bị sốt rét rừng trở về không có tiền mua thuốc uống, một thời gian sau thì mất. Cha tôi mất đi, mẹ con chúng tôi mất một chỗ dựa về tinh thần vững chắc. Cũng giống cha tôi về lòng yêu nước, mẹ tôi là bà Phan Thị Liễu, sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 cũng vào hội phụ nữ, nuôi dưỡng thương binh trong nhà và nuôi dưỡng cán bộ, chiến sĩ như các anh Kỷ, Hùng, Long, v.v. Kế tục truyền thống của nhà chồng, mẹ tôi tần tảo kiếm bữa rau bữa cháo nuôi anh chị em chúng tôi. Dù khó khăn khổ cực và biết rằng nếu định hướng các con theo cách mạng thì có thể bà sẽ là người đội khăn tang khóc tiễn biệt một đứa, thậm chí nhiều hơn về bên kia thế giới, nhưng mẹ tôi vẫn động viên chúng tôi thực hiện nguyện vọng của cha tôi. Bảy anh chị em chúng tôi luôn thương yêu đùm bọc lẫn nhau, cùng dìu dắt nhau đi theo con đường mà cha mẹ tôi từng mong ước.

Để cuộc sống gia đình bớt khổ, người anh thứ hai của tôi phải dứt áo ra đi rời bỏ quê hương vào Đà Lạt tìm kế sinh nhai, dành dụm tiền gửi về cùng với cha mẹ nuôi anh em tôi ăn học. Chúng tôi lớn lên trong vòng tay cha mẹ, không hề biết đến sự nhọc nhằn của người anh trai nơi đất khách quê người. Biết hoàn cảnh gia đình cha mẹ nghèo, nhà đông con, các em hiếu học, nên đã không ít lần anh tôi nhặt nhạnh, thu lượm từng mảnh giấy bao xi măng đem về giặt sạch phơi khô, sau đó ép thẳng để gửi về quê cho các em làm giấy vở đi học. Khi lớn lên, qua lời kể của mẹ và tiếng thở dài của cha khi ông còn sống đã giúp chúng tôi hiểu ra những gì đến với anh tôi nơi thành phố mù sương. Kỷ niệm về người anh trong tôi cứ chập chờn trong lời ru của mẹ, vì anh đi từ khi tôi còn rất bé. Nhưng có một câu chuyện đã theo tôi đi suốt cuộc đời, tác động trực tiếp đến tâm hồn non trẻ của tôi trong việc chọn hướng đi cho cuộc đời mình. Sau này, mỗi khi nghĩ lại, tôi vẫn tự hào mình đã có một người anh như vậy. Trước đây, cha tôi đi dân công cứu quốc, đến lượt anh tôi cũng tham gia cách mạng, nhưng làm gì thì tôi không rõ. Những năm ấy, sau cao trào Xô-viết Nghệ Tĩnh, thực dân Pháp điên cuồng đàn áp phong trào cách mạng của nhân dân ta trên khắp đất nước. Có lẽ chúng sợ nếu sơ suất sẽ xảy ra Nghệ Tĩnh thứ hai. Anh tôi tham gia hoạt động cách mạng ở Đà Lạt, vì thế cũng không thoát khỏi sự truy lùng gắt gao của địch. Ở nhà, chúng tôi chỉ biết anh đi làm thuê để góp tiền về nuôi các em. Chỉ đến khi anh về, chúng tôi mới biết anh đã tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1930. Trước sự khủng bố gắt gao, truy lùng ráo riết của thực dân Pháp và bọn tay sai, anh tôi buộc phải rời Đà Lạt trở về quê hương. Dù chỉ là một đứa trẻ chập chững bước vào tuổi vỡ lòng, nhưng tôi vẫn cứ ngồi “mắt chữ A, mồm chữ O” mỗi khi anh tôi kể chuyện tham gia cách mạng trên đó. Lúc bấy giờ, anh tôi có đem về quê cuốn sách “Người cày có ruộng” (đây là sách tuyên truyền của Đảng Cộng sản Đông Dương), bí mật cất giấu trong đống rơm ở sau nhà. Gia đình tôi không ai hay biết việc ấy. Một thời gian sau, khi tình hình đã yên, nhất là thời gian 1936 đến 1939 khi Mặt trận Bình dân lên nắm quyền bên nước Pháp, anh tôi về tìm lại cuốn sách thì nó đã bị mục nát vì mưa gió. Gia đình tôi rất tiếc nhưng cũng không làm gì hơn được. Anh tôi tiếp tục vào lại Đà Lạt sinh sống và tham gia hoạt động cách mạng.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Mười Hai, 2020, 06:10:12 am
Người thân tiếp theo có ảnh hưởng rất mạnh đến tâm tư, suy nghĩ, tình cảm cách mạng của tôi lúc bấy giờ là người chị thứ ba. Chị tên là Lê Thị Để, có chồng tham gia Vệ quốc đoàn, sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, chị tham gia hội phụ nữ cứu quốc, tham gia công tác ở địa phương. Chồng chị, anh Nguyễn Xá là người làng La Thọ, đã hy sinh trong kháng chiến chống Pháp, để lại cho chị tôi người con trai duy nhất. Cháu Nguyễn Thanh Phương, ở nhà chúng tôi thường gọi là cháu Hùng, được mẹ nuôi dạy theo di nguyện của cha, nghĩa là chỉ có con đường duy nhất đem lại cuộc sống ấm no cho quê hương, gia đình là đi theo cách mạng, đi theo tiếng gọi của Đảng, Bác Hồ. Được sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống, hưởng trọn sự giáo dục của người mẹ giàu lòng yêu nước, cháu Phương lớn lên trong sự dìu dắt của đồng đội, của cha mẹ đã sớm hiểu ra những gì Tổ quốc cần. Tuy chưa đến tuổi trưởng thành, nhưng Phương đã xung phong đi bộ đội. Chị tôi lặng lẽ tiễn giọt máu của mình lên đường đánh giặc. Cho con đi bộ đội, chị vẫn hiểu rằng có thể đó là lần cuối cùng mẹ con gặp nhau. Chiến tranh là như vậy, đánh giặc để giành độc lập, tự do cho dân tộc là bổn phận của mọi người, không riêng gì nhà đông con hay ít con. Hơn nữa, cha của cháu đã ngã xuống vì nền độc lập của Tổ quốc. Con trai chị phải có nghĩa vụ bước tiếp bước đi của cha mình.

Cháu Hùng đã không phụ lòng mong mỏi của gia đình, luôn xứng đáng với truyền thống quê hương “Quảng Nam trung dũng kiên cường đi đầu diệt Mỹ”.

Trong công tác, Nguyễn Thanh Phương (tức Hùng), luôn thể hiện là một người lính kiên cường, gan dạ. Phương đã được giao nhiệm vụ làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Đặc công, thuộc Sư đoàn 2 của Quân khu 5. Trong một lần trực tiếp chỉ huy đơn vị tập kích đồn địch, trước sự kháng cự quyết liệt của chúng, Phương đã xả súng kéo hỏa lực địch về phía mình để đồng đội xung phong tiêu diệt sở chỉ huy của chúng. Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Thanh Phương ngã xuống trước khi ổ đề kháng cuối cùng của địch bị tiêu diệt.

Còn chị tôi, bất chấp sự trả thù tàn bạo những gia đình có người thân đi theo cách mạng của chính quyền Ngô Đình Diệm, chị vẫn kiên cường bám trụ để nuôi mẹ già và che giấu bộ đội. Cay đắng, điên cuồng bởi những thất bại của các loại hình chiến tranh “chiến tranh đơn phương”, “chiến tranh cục bộ”, “Việt Nam hóa chiến tranh”, kẻ thù quay lại tàn sát đồng bào yêu nước. Điện Bàn quê tôi lúc bấy giờ đâu đâu cũng tràn ngập máu đào của đồng bào vô tội, cán bộ đảng viên, cán bộ, chiến sĩ quân giải phóng. Nhất là vụ lính Đại Hàn giết người mổ bụng con nít xé làm đôi ở thôn Thủy Bồ, xã Điện Thọ, v.v. Chúng bắn giết không ghê tay. Ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định Pa-ri được ký kết, nhưng chúng càng thả sức bắn giết nhân dân, điên cuồng chống trả phong trào cách mạng đang lan nhanh trên khắp miền Nam. Đối với gia đình tôi, năm 1973 tiếp tục chịu thêm một sự đau thương. Chị tôi đã bị pháo Mỹ giết hại trước ngày ký Hiệp định Pa-ri trong sự tiếc thương vô hạn của gia đình, người thân, quê hương, Năm 1994, khi Đảng, Nhà nước xét phong tặng danh hiệu bà mẹ Việt Nam anh hùng đợt đầu, chị Để vinh dự là một trong những bà mẹ đầu tiên ấy.

Anh thứ sáu là Lê Văn Cảnh, được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam, tham gia công tác ở địa phương, có giấy chứng nhận bị địch bắt tù đày, Chị thứ năm là Lê Thị Thuận cùng được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam, tham gia công tác ở địa phương, cả hai người đều được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Kháng chiến, Anh thứ bảy là Lê Văn Tình tham gia du kích địa phương, là thương binh, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến.

Chị thứ tư là Lê Thị Hòa là người chị rất hiền hậu. Chị là người nòng cốt trong gia đình đông anh chị em đã từng kéo sợi dệt vải góp phần quan trọng nuôi dưỡng các em của chị. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, chị tham gia vào hội phụ nữ, tham gia kháng chiến, đi dân công tải đạn, tải thương binh vào Bệnh viện Cây Sanh của tỉnh ở Tam Dân, tức Kỳ Long cũ, huyện Tam Kỳ, tải đạn ở Phú Túc, Hòa Vang... Chị lấy chồng về làng La Thọ, xã Điện Hòa. Chồng chị là anh Nguyễn Văn Túc. Hai vợ chồng đều tham gia công tác đi dân công tải đạn phục vụ trong hai cuộc kháng chiến của dân tộc.

Ngoài anh hai, chị Để thì người chị thứ năm, các anh thứ sáu (Cảnh) thứ bảy (Tình) đều tham gia hoạt động du kích tại địa phương trong kháng chiến chống Pháp. Trong lúc chiến đấu, người anh thứ bảy bị thương gãy một phần ba cánh tay phải. Năm 1954, chính quyền Ngô Đình Diệm chống phá Hiệp định Giơ-ne-vơ. Chúng đã bắt các anh, các chị tôi đem nhốt ở nhà tù Hội An. Một thời gian sau, không có lý do gì để giam giữ, chúng buộc phải thả họ ra, nhưng cho tay chân rình mò, giám sát chặt chẽ từng động tĩnh. Để có điều kiện tiếp tục tham gia hoạt động cách mạng, các anh chị tôi đã đi vào Đà Lạt để lánh nạn và tìm bắt mối cơ sở mới. Tại đây, được sự dìu dắt của anh hai tôi (Lê Văn Tăng), hai anh thứ sáu và thứ bảy tiếp tục tham gia hoạt cách mạng tại Lâm Đồng. Kết thúc chiến tranh, các anh đều được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba; anh Bảy được công nhận là thương binh.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Mười Hai, 2020, 06:10:49 am
Sống trong gia đình có hai bên nội ngoại đều tham gia cách mạng, chống giặc ngoại xâm. Gia đình cậu tôi là Phan Ngạc, có anh Phan Ngọc Chất tham gia cách mạng trước năm 1945, sau năm 1930, là lão thành cách mạng, nguyên Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định, sau chuyển về làm việc tại Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, sau đó nghỉ hưu. Gia đình cậu tôi có hai bà mẹ Việt Nam anh hùng, 8 liệt sĩ trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước là một điển hình thứ hai sau mẹ Nguyễn Thị Thứ trên đất Quảng. Tôi càng thấm thía lòng tự hào dân tộc, truyền thống quê hương. Lọt lòng, tôi được nghe những câu ca, điệu hò trong lời ru của mẹ ca ngợi quê hương đất nước, ca ngợi truyền thống bất khuất của dân tộc, chất hào sảng của người xứ Quảng như:

Quảng Nam là đất quê mình
Núi, đồng, sông, biển rành rành từ lâu
Thương yêu đùm bọc trước sau
Cùng trong Đại Việt chung nhau cơ đồ

Nước dưới sông khi trong khi đục
Vận người đời lúc nhục vinh
Ở sao cho vẹn cho toàn
Giao ngôn chớ phụ, nghĩa vàng chớ vong

Lớn lên đến tuổi tới trường tôi được cha mẹ cho đi học trường làng. Đất nước có chiến tranh nên tuổi học trò của tôi không dài như bao đứa trẻ khác nhưng những người thầy đầu tiên đã thổi vào tâm hồn tôi lòng yêu nước, thương nòi giống tổ tiên. Trên sáu thập kỷ trôi qua, tôi vẫn không thể nào quên hình ảnh thầy Tám Công và thầy Năm Chánh. Sau này, khi có điều kiện đọc thơ Tố Hữu, tôi rất tâm đắc hai câu thơ:

Tâm hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim


Tâm hồn tôi lúc ấy cũng như lạc vào giữa một vườn hoa lá của miền quê thôn dã. Hoa lá là những câu ca trong lời ru của mẹ, tiếng chim là bài giảng của thầy. Ngày ấy, với trí nhớ non nớt của một đứa bé mới lên chín, lên mười như tôi thì tinh thần yêu nước của các bậc cha ông luôn là thứ ánh sáng để phấn đấu học tập.

Tiếng rằng Điện Bàn là vùng đồng bằng trù phú, đất đai phì nhiêu, nơi có dòng sông Thu Bồn mải mê hồi đắp phù sa, nhưng gặp buổi đất nước bị thực dân Pháp xâm lược nên cảnh ấm no, an bình cho mọi người vẫn chỉ là viển vông nếu như không có làn sóng cách mạng tràn về. Tôi nhớ hồi ấy, để phản kháng sự bảo hộ giả tạo của thực dân Pháp, không hiểu do ai sáng tác mà hài thơ “Vè Tây xâm lược” len lỏi đến mọi ngõ ngách. Từ người lớn đến trẻ con đều thuộc. Tôi đi giữ trâu, thường lợi dụng lúc trên đồng vắng người, tụm mấy đứa lại đọc nghe chơi. Đã hơn nửa thế kỷ, tôi vẫn thuộc lòng câu vè:

Giặc Tây xâm chiếm nước ta
Bắt người, cướp của, đốt nhà, hiếp dâm.

Năm 1945, tuy mới 10 tuổi nhưng tôi tưởng mình đã thành người lớn. Sau này nghĩ lại, đôi lúc tôi vẫn cười thầm vì sự trẻ con của mình. Tôi rất thích làm những việc người lớn đã làm. Đặc biệt, sau Cách mạng tháng Tám, được các anh chị bày vẽ cho cách đi làm cách mạng, đánh đuổi giặc Pháp, tôi càng thấy mình lớn thật. Tháng 9 năm 1945, tôi vào đội thiếu nhi địa phương.

Năm 1947, khi đã 13 tuổi, tôi làm liên lạc cho đội du kích địa phương. Qua nhiều lần chạy đi, chạy lại đưa thư, dẫn đường cho bộ đội, tôi để ý quan sát thấy trong bộ đội cũng có nhiều người nhỏ như tôi mà đi đánh giặc. Một lần, ý nghĩ “người lớn trẻ con” đã xui tôi đứng cạnh khẩu súng trường để đo chiều cao. Mái tóc cháy nắng vàng hoe của tôi đã nhỉnh hơn nòng súng vài phân. Tôi lại càng tự đắc mình đã thành người lớn, phải xin đi bộ đội để đánh giặc thôi. Từ đó, không lúc nào tôi nguôi ý nghĩ mình phải đi theo bộ đội để đánh giặc giành lại độc lập cho quê hương đất nước.

Cuối năm 1949, khi ngắm chừng tuổi mình cũng đã kha khá, có thể được các anh cho đi theo đánh giặc, tôi xin cha mẹ cho đi bộ đội. Nghe tôi trình bày nguyện vọng, song thân tôi phì cười. Cha xoa đầu tôi, vuốt nhẹ mớ tóc cứng queo, vàng hoe nói:

- Mi còn con nít mà đánh giặc chi!

- Không! Con thấy mấy anh bộ đội còn nhỏ hơn con mà họ vẫn đi được mấy năm đó thôi.

Biết đây là ý định nghiêm túc của con, cha mẹ tôi lắc đầu. Không phải không muốn cho tôi đi bộ đội mà ý ông bà muốn để tôi lớn chút nữa hãy đi. Vì bây giờ tuổi tôi còn nhỏ quá, sợ không đánh được giặc lại còn làm khổ các anh. Tôi cứ theo cha mẹ năn nỉ, rốt cuộc rồi ông bà cũng để tôi đi bộ đội. Sau đó, tôi được tham gia vào bộ đội huyện Điện Bàn, làm liên lạc cho huyện đến năm 1952.

Tình hình chiến sự lúc bây giờ đang có lợi cho ta. Ở miền Bắc, quân ta thắng lớn. Cũng năm đó, tôi được điều động về Đại đội trợ chiến Tỉnh đội Quảng Nam, tham gia chiến dịch Đông Xuân 1952 - 1953, đánh đồn Non Trượt trên đường 104. Ngày 19 tháng 7 năm 1954, đơn vị tôi được phối hợp với bộ đội tỉnh Quảng Nam, tổ chức tấn công cứ điểm “quả đồi Đức Ký - Bồ Bồ”, tiêu diệt chiến đoàn lê dương của Pháp. Kết quả, ta đã tiêu diệt và bắt 800 tên địch, trong đó có 293 lính Âu - Phi đánh thuê, có viên đại tá quân viễn chinh Pháp là Cam-mi-lét-ti-phê-lít. Đồng chí Võ Thứ, Tỉnh đội trưởng Quảng Nam, là người trực tiếp chỉ huy trận chiến đấu này. Vinh dự được tham gia trận đánh, nhưng không may cho tôi vì đã bị một viên đạn địch bắn vào lưng trong khi đang chiến đấu. Sau đó, tôi được cô Lý, du kích xã, cùng một người nữa không nhớ tên đã khiêng tôi về hậu phương chữa trị với thời gian hơn một tháng tại bệnh viện dã chiến Phú Gia, đóng trên địa bàn huyện Quế Sơn, Tuy nhiên, do trình độ y học lúc đó còn hạn chế nên các đồng chí cán bộ y tế đã không mổ lấy ra được mảnh đạn đang nằm sâu trong người tôi. Đến năm 1956, tôi tập kết ra miền Bắc, một hôm tự nhiên tôi có cảm giác đau buốt cánh tay phải. Nghĩ rằng chắc là do mình tập nặng quá nên tôi cố gắng kiêng cữ vài hôm, nhưng cảm giác đau ngày càng lan tỏa đành phải xuống quân y khám. Không ngờ các y, bác sĩ đã phát hiện viên đạn năm trước đã chạy lên cánh tay phải nên vội giới thiệu tôi lên Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 mổ lại để gắp mảnh đạn ra, Trong thời gian nằm điều trị tại đây, tôi được các đồng chí y, bác sĩ tận tình chăm sóc nên vết thương sớm bình phục, sau đó tôi trở về công tác tại đơn vị cũ.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Mười Hai, 2020, 07:29:37 am
Chương hai

CÙNG ĐOÀN QUÂN TẬP KẾT


Ngày 20 tháng 7 năm 1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, hai bên có lệnh ngừng bắn. Bản thân tôi sau hơn một tháng chữa trị, trở về đơn vị và đi theo đoàn quân vào Quảng Ngãi. Lúc ấy, tôi có cảm tưởng không có ngôn từ nào nói hết niềm vui của cán bộ, nhân dân, bộ đội, đặc biệt là những người trực tiếp cầm súng đánh giặc. Bầu không khí vui tươi ngập tràn trên khắp các chiến trường. Nhưng theo điều khoản của hiệp định thì đến năm 1956, ta mới tổ chức Tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Vì vậy, đơn vị chúng tôi được lệnh hành quân vào tỉnh Quảng Ngãi để tham gia thành lập Sư đoàn 305 và tập kết ra miền Bắc. Trên người tôi lúc đó, vết thương trong trận chiến đấu tại điểm cao Bồ Bồ vẫn còn đau, thỉnh thoảng lại nhói lên trong quá trình hành quân. Song được đi trong đoàn quân chiến thắng, tuổi 18, lòng ngập tràn niềm vui đất nước hòa bình nên tôi không cảm thấy đó là điều khó khăn. Chúng tôi hành quân đến Quảng Ngãi ở lại một thời gian rồi lên tàu ra miền Bắc.

Khi con tàu rú hồi còi tạm biệt miền Nam yêu thương với lời hẹn ước hai năm sau quay về, tôi vội đứng lên boong vẫy chào nhân dân. Kẻ ra đi, người ở lại, tất cả đều giơ hai ngón tay chếch hình chữ V, nghĩa là hai năm, hay cũng là hiểu tượng của chiến thắng. Lòng tôi xốn xang nhìn mũi tàu đè sóng ra khơi, mong sao sớm đến ngày trở về xây dựng quê hương. Vậy là hơn tám mươi năm nô lệ, biết bao xương máu đã đổ xuống để đất nước có ngày hôm nay. Theo thỏa thuận, ta sẽ trao cho Pháp cảng Quy Nhơn. Ngược lại, Pháp cũng sẽ trả cho ta cảng Hải Phòng trong thời gian 300 ngày, kể từ ngày đình chiến. Tuy nhiên, mặc dù đã ở trên tàu lớn đường tập kết ra miền Bắc nhưng chúng tôi vẫn có lệnh sẵn sàng chiến đấu, vì lúc ấy có nguồn tin do tình báo ta cung cấp là có thể địch sẽ tập kích tàu của ta trên khu vực biển Đà Nẵng, sau đó sẽ thông báo cho Hà Nội biết tàu ta gặp nạn. Đi cùng đoàn với tôi, nhiều anh chưa quen đi biển nên đã bị say sóng, nôn ra cả mật xanh, mật vàng.

Sau mấy ngày đêm lênh đênh trên sóng nước, chúng tôi cập bến Cửa Lò, tỉnh Nghệ An. Miền Bắc không còn là trong ước mơ, như tôi đã từng mong khi hết giặc sẽ đi thăm một lần. Thoạt tiên, nghe giọng nói Nghệ An, tôi thấy ngồ ngộ thế nào ấy. Thậm chí, có lúc tôi đã suýt bật cười trước cách phát âm của cô gái dân quân xinh đẹp. Nhưng rồi cảm giác xa lạ ban đầu nhanh chóng qua đi để nhường chỗ cho sự thân thương trìu mến. Tạm biệt quê hương Bác Hồ kính yêu, chúng tôi lên đường hành quân ra phía Bắc. Cung đường từ Cửa Hội đi qua các huyện Nghi Lộc, Diễn Châu, Quỳnh Lưu của tỉnh Nghệ An đến huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa, đối với những đứa con miền Nam ra tập kết dường như ngắn lại khi những người dân chúng tôi gặp hai bên đường đều giơ tay vẫy chào như đón đứa con đi xa nay trở về. Mọi người nhìn chúng tôi như những người anh hùng đi ra từ cuộc chiến. Lúc ấy, dù xa quê hương nhưng lòng tôi cũng thấy ấm áp lạ thường.

Ban chỉ huy Trung đoàn đóng quân ở thị trấn Tĩnh Gia, các đơn vị trực thuộc đóng lân cận trên địa bàn gần đó. Tiểu đoàn chúng tôi trú quân tại xã Hải Lĩnh, huyện Tĩnh Gia, gần nhà thờ Ba Làng. Những tưởng ra miền Bắc chỉ việc huấn luyện, làm công tác dân vận, chờ hai năm sau trở về tổng tuyển cử thống nhất đất nước nên cánh lính trẻ chúng tôi gặp khá nhiều bất ngờ. Đối với tôi, những ngày tháng ấy đã hằn sâu vào tâm thức như những kỷ niệm trên chiến trường, vì ở đây cũng có sự hy sinh của đồng đội, thậm chí còn khắc nghiệt hơn chiến tranh. Bởi vì, đây là những chiến công thầm lặng chưa được tôn vinh của không ít cán bộ, chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng. Hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, thực dân Pháp cấu kết với đế quốc Mỹ, tổ chức tuyên truyền lôi kéo đồng bào Công giáo vào miền Nam. Trước tình hình đó, cấp trên giao cho đơn vị chúng tôi có nhiệm vụ tuyên truyền vận động, giải thích cho nhân dân thấu hiểu chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta; nhất là chính sách về tôn giáo để đồng bào có đạo không nghe lời kích động, xuyên tạc của địch. Đại bộ phận nhân dân đã hiểu, yên tâm ở lại quê hương làm ăn sinh sống. Tuy nhiên, một số giáo dân bị bọn xấu kích động không bộ đội tuyên truyền, giải thích, còn tỏ ra chống đối quyết liệt. Trước tình hình như vậy, không ít người lừng chừng, chưa ngã ngũ bên nào đã tin theo lời bọn chúng. Họ tập trung vào nhà thờ Ba Làng với nhiều vũ khí các loại để đánh lại bộ đội. Tình hình căng thẳng lên đến đỉnh điểm khi Ban Liên hiệp đình chiến bốn bên vào địa phương. Đồng bào nghe lời bọn xấu xuyên tạc chế độ, nghe chúng tuyên truyền Chúa đã vào Nam nên đấu tranh đòi đi miền Nam. Trong thời gian này, miền Bắc vào mùa mưa, rét dữ dội. Gió mùa Đông Bắc gầm rú suốt ngày đêm. Xen lẫn với nó là những cơn mưa rắc hạt lất phất, nhưng hạt nước rơi đến đâu thì da thịt tím tái đến đó. Một số chim muông bay về phương nam tránh rét không kịp đã bị chết cóng. Đối với tôi cũng như số anh em từ miền Nam ra, đó là mùa đông khủng khiếp nhất trong đời. Bởi đây là lần đầu tiên chúng tôi đặt chân lên miền Bắc. Nhưng điều đó không quan trọng bằng việc một vài gia đình cương quyết không cho bộ đội ta vào trú quân trong nhà, phải nằm ngoài vỉa hè. Mưa. Rét. Quần áo không đủ mặc. Chăn đắp không đủ ấm. Tiểu đội tôi nằm ngoài hiên nhà dân, nghe gió thổi ù ù mà không ai có thể chợp mắt được. Anh em có sáng kiến ôm nhau ngồi tựa lưng vào tường, trùm chăn phía ngoài để che bớt gió. Khoảng gần nửa đêm, khi hơi ấm của người này truyền sang người kia làm chúng tôi hơi dễ chịu, thậm chí anh nào sức khỏe tốt là có thể ngủ một giấc ngắn thì bất ngờ cả tấm chăn bị ai hắt nước vào ướt sũng. Cả tiểu đội giật mình choàng dậy. Mùi hôi thối bốc lên nồng nặc, xộc thẳng lên mũi chúng tôi. Tôi đưa tay sờ lên mảnh chăn mình vừa đắp cảm thấy có vẻ nhầy nhụa, nhớp nhúa, đưa lên mũi ngửi có mùi phân người. Trong đêm tối, không ai bảo ai, chúng tôi lặng lẽ mở ba lô, thay quần áo. Lúc đó, chăn chiếu đã bị ướt hết, anh em đành nép vào nhau chịu lạnh, ngồi chờ trời sáng. Chúng tôi biết, chủ nhà đã đại tiện, tiểu tiện vào xô, sau đó đổ nước khuấy lên và hắt vào bộ đội đang ngủ ngoài hiên. Trong đời, tôi đã tham gia nhiều trận đánh lớn nhỏ, nhưng chưa bao giờ (kể cả sau này) tôi có cảm giác cay đắng và gian khổ như cái đêm hôm ấy. Còn lúc đó, chúng tôi phải cắn răng chịu đựng vì yêu cầu nhiệm vụ, không ai được phép nản lòng, phải kiên trì bám trụ.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Mười Hai, 2020, 07:30:00 am
Tuy nhiên, số đối tượng xấu đó không nhiều. Vì vậy, sau hơn mười ngày cố gắng thuyết phục vận động, bà con giáo dân tốt đã cùng bộ đội chúng tôi đột nhập vào nhà thờ Ba Làng. Là một trận chiến đấu thầm lặng, nhưng cũng có tiếng súng nổ, có sự hy sinh và chết chóc. Nhưng, điều đau đớn nhất đối với chúng tôi là phải chống lại chính đồng bào mình khi họ nghe kẻ thù xúi giục, kích động, xuyên tạc. Trong khi đột nhập vào nhà thờ, bộ đội phải cải trang thành dân thường để đấu tranh với phái đoàn quốc tế đến từ một số nước như Ấn Độ, Ba Lan, Ca-na-đa, v.v. đến kiểm tra tình hình thực hiện hiệp định. Bọn đầu sỏ phản động ngoan cố chống trả. Chúng bỏ qua lời kêu gọi, tuyên truyền của chúng tôi cũng như đồng bào giáo dân tốt, bọn xấu đã có hành động bạo lực thô bạo với một số đồng chí của ta, vì vậy buộc lòng chúng tôi phải xử lý nghiêm minh. Được lệnh của cấp trên, chúng tôi nhanh chóng thu dọn chiến trường. Trong lần đó, ta đã bắt được một số tên đầu sỏ phản động, giải phóng con chiên, thu nhiều súng các loại, trong đó có cả đại liên, súng cối và súng trường.

Vụ việc ở nhà thờ Ba Làng được dẹp yên, đơn vị chúng tôi trở về huyện Tĩnh Gia; Thanh Hóa để vừa làm công tác huấn luyện chiến đấu, vừa tham gia giúp dân chống nạn đói. Năm ấy, thiên tai đã làm cho nhân dân nơi đây rơi vào nạn đói ghê gớm. Mùa màng thất bát nên không mấy gia đình có đủ cái ăn. Trên các cánh đồng, dù ban quản lý các hợp tác xã nông nghiệp đã tổ chức cho nông dân cày ải nhưng ruộng vẫn khô vì không có nước. Trên bờ, hoa cỏ may mọc ken dày lối đi. Chỉ nhìn vào những hình ảnh ấy người ta cũng có thể biết được nhân dân vùng này đang thiếu lương thực. Chính quyền địa phương đã phối hợp với chỉ huy đơn vị bàn cách chống đói cho nhân dân. Đơn vị tổ chức động viên cán bộ, chiến sĩ trồng khoai lang trên từng ụ đất. Những ụ này anh em dùng tre đan cao độ một mét hai, đường kính một mét đặt quanh trên mặt đất. Sau đó, chúng tôi gom rơm rác và phân đắp lên mặt ụ khoảng một mét rưỡi để trồng khoai cho chóng có rau và củ giúp dân ăn đỡ đói. Thực tế, những ụ khoai của chúng tôi đã phần nào hỗ trợ đồng bào qua cơn đói kém năm đó. Hiện nay, khi có điều kiện về lại vùng này, tôi vẫn nghe mọi người nhắc: “Chú này là bộ đội trồng khoai hồi năm 1954”.

Trong thời gian công tác tại Tĩnh Gia, tôi có nhiều kỷ niệm khó quên, nhưng ấn tượng sâu đậm nhất có lẽ là hình ảnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp về thăm đơn vị. Trước đây, khi mới đi bộ đội, tôi đã được nghe anh Văn là Tổng chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ, được nghe cán bộ phân tích cách đánh “vây, lấn, tấn, phá, triệt diệt”. Vì vậy, tôi cứ hình dung người anh Cả của lực lượng vũ trang nhân dân là một người phương phi, quắc thước, có tướng mạo như một ông quan võ ngày xưa. Khác với những tưởng tượng “trên trời” của tôi, anh Văn thật giản dị, gần gũi. Anh đi xuống nhà bếp kiểm tra bữa ăn của đơn vị; bằng chất giọng Quảng Bình thân thương, anh ân cần nhắc nhở các đồng chí cấp dưỡng phải chăm lo sức khỏe cho anh em. Sau khi thăm một vòng nơi ăn chốn ở của chúng tôi, Đại tướng vui vẻ gật đầu. Trở lại hội trường đơn vị, người anh Cả bắt tay từng chiến sĩ, chia sẻ với chúng tôi những tình cảm thiết tha của nhân dân miền Bắc nói chung, cá nhân anh nói riêng, dành cho đồng bào ruột thịt. Lúc ấy, tôi xúc động không nói nên lời. Tôi không ngờ có ngày mình được gặp vị Tổng chỉ huy Quân đội nhân dân Việt Nam. Khoảng cách giữa một vị tướng và chiến sĩ được rút ngắn bằng những câu hỏi thân thương như:

- Chú quê ở tỉnh nào? Bố mẹ, có mấy anh chị em?

- Mới ra miền Bắc lần đầu, chú nhớ mặc đủ ấm nhé!

Lúc ấy, không chỉ riêng tôi mà nhiều anh em khác cũng lúng túng vì hạnh phúc bất ngờ. Nói về công việc chung, Đại tướng Võ Nguyên Giáp căn dặn:

- Các chú miền Nam ra phải làm tốt nhiệm vụ vừa huấn luyện, vừa học tập và cả công tác vận động quần chúng.

Cả hội trường im lặng như nuốt lấy từng lời của anh Văn. Chờ cho những tiếng “Vâng ạ” lắng xuống, anh nói tiếp:

- Hai năm buộc địch phải thực hiện Hiệp định Giơ-ne-vơ. Nếu không thì các đồng chí cùng tôi vào miền Nam chiến đấu.

Câu nói này đã khắc sâu trong trái tim chúng tôi, những đứa con của miền Nam thành đồng Tổ quốc đã lên đường tập kết ra miền Bắc theo điều khoản của Hiệp định Giơ-ne-vơ. Tôi có cảm tưởng Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã thay mặt toàn dân, toàn quân miền Bắc khẳng định với chúng tôi tình cảm dành cho miền Nam. Chúng tôi cùng hiểu rằng: “Miền Bắc đang sát cánh với miền Nam trong cuộc đấu tranh chống quân xâm lược”.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Mười Hai, 2020, 07:30:36 am
Một thời gian sau, niềm hạnh phúc lại bất ngờ đến với chúng tôi: Bác Hồ về thăm con em miền Nam ra tập kết. Đây cũng là lần đầu tiên tôi được gặp người Cha già vô cùng kính yêu của dân tộc. Hôm ấy, đơn vị chuẩn bị lễ đón Bác rất chu đáo như tổ chức hàng rào danh dự, cắm cờ, kết hoa trông thật trang nghiêm. Song chúng tôi chờ mãi vẫn không thấy Bác đến. Ai cũng hướng về cổng chính trông ngóng vị lãnh tụ vĩ đại cho thỏa bấy lâu chờ mong. Nhưng chúng tôi càng trông càng không thấy Bác đâu. Bất ngờ, một đồng chí phát hiện Bác đến bằng cổng sau. Chúng tôi ngỡ ngàng quay lại. Mọi con mắt hướng về Bác mà tưởng như Người từ trên trời xuống. Các đồng chí cảnh vệ cho biết, trước khi đến nơi đón tiếp, Bác Hồ đã đi thăm nhà ăn, nhà bếp của sư đoàn. Người bước đi chậm rãi, nhưng trông rất oai phong trong trang phục bộ đồ ka ki, đôi dép cao su bình dị. Chúng tôi ngồi quây quần bên Bác, kể cho Người nghe chuyện chiến đấu ở miền Nam. Bác ôn tồn thăm hỏi đời sống của nhân dân, bộ đội trong đó ra sao. Không khí buổi gặp gỡ hôm ấy thật thân mật, gần gũi. Tôi có cảm giác đây là cuộc gặp của người cha với các con sau nhiều năm xa cách, chứ không phải là một vị Chủ tịch nước với cán bộ, chiến sĩ của đơn vị bộ đội. Đứng quanh tôi, nhiều anh em thì thào: “Bác như tiên từ trên trời hạ xuống, từ bước đi, lời nói của Bác thật thân mật biết bao!”. Đối với tôi, lần gặp Bác đầu tiên ấy đã trở thành kỷ niệm tôi mang theo suốt cuộc đời, cũng là bài học quý giá trong quá trình công tác trên mọi cương vị.

Theo yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, năm 1955, Sư đoàn 305 được lệnh hành quân ra tỉnh Nam Định và đóng quân tại đây. Trên địa bàn công tác mới, chúng tôi được cấp trên quán triệt nhiệm vụ của đơn vị là vừa huấn luyện, vừa tuyên truyền vận động giáo dân chống di cư. Bây giờ có thời gian nhớ lại những năm tháng ấy, tôi vẫn không thể hình dung nổi sự thâm độc, xảo quyệt của bọn phản động đội lốt tôn giáo. Chúng không những tuyên truyền xuyên tạc, bôi nhọ chế độ mà còn dùng những thủ đoạn mị dân hết sức bịp bợm. Còn tình hình lúc đó, bà con giáo dân xôn xao, bàn tán trước những chiêu bài kích động, dụ dỗ của bọn phản động. Chúng đi ngược giáo lý “Chúa ở trong tim mọi người”, tuyên truyền Chúa đã vào Nam. Thậm chí, tại một nhà thờ, bọn phản động còn đổ hai bình nước ở trên cao, phía sau tượng Đức Mẹ, cho kín, đứng dưới ngó lên không thấy, mở vòi cho nước chảy nhỏ giọt vào hai mắt của Đức Mẹ. Giáo dân đứng dưới nhìn lên chỉ thấy nước mắt Đức Mẹ chảy xuống. Chúng tuyên truyền rằng vì con chiên không đi vào miền Nam nên Đức Mẹ khóc. Quả thật, với trình độ dân trí lúc ấy còn chưa cao nên đã không ít người tin theo lời bọn phản động.

Đơn vị chúng tôi được lệnh đóng quân gần một nhà thờ để làm công tác dân vận. Chỉ huy đơn vị xác định đây là cuộc chiến đấu cam go trên mặt trận tư tưởng. Chỉ cần một lời nói, hay hành động thiếu chuẩn xác có thể dẫn đến hậu quả khôn lường. Đó là, hàng chục, thậm chí hàng trăm gia đình giáo dân sẽ bỏ miền Bắc di cư vào Nam theo lời tuyên truyền lừa bịp của bọn phản động đội lốt tôn giáo, điều đó cũng đồng nghĩa với việc thất bại của ta trước “trận chiến” này. Vì vậy, mỗi cán bộ, chiến sĩ phải thực sự là mũi nhọn xung kích trong tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân, làm cho nhân dân hiểu rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về vấn đề tôn giáo là: “Tốt đời, đẹp đạo, sống Phúc âm trong lòng dân tộc”.

Trên cơ sở nhiệm vụ cấp trên giao cho, tôi cùng các anh em trong đơn vị tích cực gần gũi giải thích cho giáo dân nắm được chủ trương của ta, giúp họ thấy được âm mưu của bọn phản động. Tuy nhiên, chúng cũng rất quỷ quyệt, đã bày ra nhiều mưu kế để lừa dụ bộ đội ta. Ví dụ như kích động giáo dân không cho bộ đội vào nhà, đổ các thứ bẩn thỉu lên chỗ đóng quân, thậm chí ép buộc các cô gái có hành vi trái thuần phong mỹ tục để dụ bộ đội ta. Nếu bộ đội mắc bẫy thì lập tức bọn chúng sẽ la làng vu cáo bộ đội miền Nam làm nhục con gái giáo dân. Tuy nhiên, chúng tôi đã được giáo dục phẩm chất đạo đức của người quân nhân cách mạng, được nhận thức về những thủ đoạn của bọn phản động có thể sử dụng. Sau này gặp lại đồng đội, chúng tôi thường nói vui đó là “liều thuốc kháng sinh” trong công tác dân vận lúc bấy giờ. Vì thế, toàn đơn vị không một ai vi phạm, thậm chí còn tuyên truyền ngược lại cho giáo dân biết đấy là trò bịp bợm của bọn phản động.

Chúng tôi đã không ngại khó khăn, xua đi mọi sự khác biệt về giọng nói vùng miền để tiếp cận, gần gũi nhân dân, tạo cơ hội để tuyên truyền cho giáo dân hiểu về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về đồng bào Công giáo. Ban đầu, mặc dù không được sự ủng hộ của một số giáo dân, bộ đội vẫn xắn tay vào làm các việc của địa phương như vệ sinh đường sá, khai thông cống rãnh, mương máng, v.v. Những lúc như vậy, bọn phản động đã xui khiến thanh niên địa phương đi trên bờ kích động, khiêu khích. Chúng tôi bảo nhau tuyệt đối không mắc mưu chúng, việc mình mình làm, rồi đồng bào sẽ hiểu. Chứng kiến hình ảnh những người lính từ miền Nam ra cần cù, chịu thương chịu khó, kiên trì nhẫn nhịn, nhiều giáo dân đã có cảm tình. Họ bắt đầu nhờ chúng tôi giúp việc gia đình. Những lúc giải lao, chúng tôi tranh thủ gần gũi chuyện trò, hỏi han tâm sự về cuộc sống gia đình, đồng thời tranh thủ tuyên truyền giáo dục quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về tôn giáo cho đồng bào hiểu. Ngoài ra, chỉ huy đơn vị còn phối hợp với chính quyền, tổ chức Đoàn thanh niên địa phương tổ chức giao lưu văn nghệ, dạy cho trẻ em những bài hát ca ngợi cách mạng, giúp các cháu học tập, v.v. Tình cảm chân thành của bộ đội thông qua các hoạt động như vậy đã làm cho giáo dân dần dần hiểu được tấm lòng của chúng tôi. Từ đấy, bà con đã quý mến những đứa con của miền Nam, đồng thời cũng không nghe lời bọn xấu bày trò chống đối chính quyền nữa.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Mười Hai, 2020, 07:31:46 am
Cũng cần phải nói thêm rằng, lúc bấy giờ, tình hình các vùng đồng bào công giáo trên miền Bắc bị bọn phản động kích động, lôi kéo giáo dân di cư vào miền Nam có xu hướng ngày càng phức tạp. Vì thế, các đơn vị bộ đội bên cạnh nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu thường xuyên còn phải tăng cường các hoạt động công tác dân vận, nhất là ở địa phương có đồng bào giáo dân sinh sống. Đơn vị chúng tôi cũng không nằm ngoại lệ. Là một chiến sĩ trưởng thành trong chiến đấu, tôi nhận thức được rằng để đất nước đến ngày thống nhất, hai miền hòa hợp là chặng đường dài cam go, phức tạp trên tất cả các lĩnh vực. Vì thế, việc rèn luyện đôi chân không mỏi, ý chí không sờn đối với người lính lúc bấy giờ thật ý nghĩa biết bao. Những bài học quý báu đó đã được tôi đúc rút trên suốt chặng đường hành quân, chiến đấu. Mỗi khi nhớ lại lý do xin đi bộ đội của mình tôi vẫn thấy buồn cười, vẫn còn có cảm giác trẻ con trong đó. Nhưng tất nhiên có một điều không hề trẻ con chút nào là lòng yêu nước, quyết tâm chiến đấu để giành độc lập, tự do cho dân tộc.

Đầu năm 1956, Sư đoàn 305 chuyển về đóng quân tại tỉnh Thái Bình. Trung đoàn chúng tôi được bố trí ở huyện Tiền Hải để vừa tổ chức huấn luyện chiến đấu ở Đồng Châu, vừa vận động tuyên truyền nhân dân chống di cư. Trong thời gian này, địch thỉnh thoảng vẫn gây hấn ngoài biển và lăm le đổ bộ lên đất liền. Vì vậy, đơn vị chúng tôi còn có nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu chống quân địch đổ bộ từ biển vào. Song, do yêu cầu nhiệm vụ nên đến cuối năm 1956, sư đoàn lại được lệnh hành quân về tỉnh Phú Thọ. Đơn vị tôi đóng quân ở huyện Phù Ninh, ngay ngã ba Thậm Thình. Tại đây, chúng tôi cũng thực hiện nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu, kết hợp làm công tác dân vận. Đối với bản thân tôi, thời gian công tác ở Phú Thọ đã cho tôi ăn hai cái tết trên quê hương đất tổ Hùng Vương. Trước đây, tôi thường nghe nói quê hương Phú Thọ có bưởi Đoan Hùng ngon nổi tiếng, bấy giờ mới được thưởng thức. Quả bưởi không to lắm, chỉ nhỉnh hơn quả cam một chút, vỏ vàng. Nhưng đặc biệt ở chỗ hương vị của nó. Khác với bưởi trong Nam, bưởi Đoan Hùng có vị ngọt thanh đậm đà. Tuy nhiên, giá trị tinh thần, không riêng gì bản thân tôi mà tất cả những đứa con từ miền Nam ra tập kết, đều cảm nhận được là tình cảm nồng ấm của nhân dân nơi đây và đặc biệt là giá trị của độc lập, tự do.

Giữa năm 1957, tôi được đơn vị cử đi học văn hóa ở Lạng Sơn để tạo nguồn chuẩn bị cho lớp sĩ quan dự kiến sẽ đào tạo tại Liên Xô. Tiếc rằng khi kiểm tra sức khỏe, tôi không đạt tiêu chuẩn nên trở về tiểu đoàn tiếp tục công tác. Tôi cũng không lấy đó làm buồn. Vì khi đi bộ đội, tôi chỉ nghĩ đơn giản được chiến đấu để đánh đuổi kẻ thù, giành độc lập, tự do cho đất nước. Do đó, đi cũng tốt, không được thì tôi cũng không ngừng phấn đấu, miễn rằng được cống hiến theo đúng lý tưởng của mình đã chọn. Lúc ấy, tôi nhớ câu chuyện Bác Hồ kể về chiếc đồng hồ quả quýt sao mà thấm thía với mình đến thế Nếu tất cả cùng đi học thì lấy ai ở lại trực tiếp xây dựng đơn vị, tham gia công tác đoàn thể. Với suy nghĩ như vậy, tôi càng không bận tâm về chuyện đi học văn hóa.

Tiếp tục công tác một thời gian, tôi được phong quân hàm chuẩn úy, đó cũng là năm đầu tiên quân đội ta tổ chức phong quân hàm, và được đề bạt làm cán bộ trung đội, kiêm Bí thư chi đoàn thanh niên. Không ngờ những năm công tác trên đất Tổ, tôi lại được gặp Bác Hồ lần thứ hai. Giống như hồi ở Thanh Hóa, Bác lên thăm đơn vị vẫn ân cần dặn dò: “Các chú bộ đội miền Nam cố gắng học tập rèn luyện”. Chúng tôi nhớ lời Bác dạy, hăng say học tập để chờ ngày trở về xây dựng quê hương miền Nam yêu dấu. Nhưng thực tế đã bước sang năm thứ ba kể từ sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, nước nhà vẫn chưa thực hiện được Tổng tuyển cử để thống nhất hai miền. Trong khi đó, theo một số thông tin tình báo cũng như truyền miệng của nhân dân, ở miền Nam chính quyền Ngô Đình Diệm vẫn đang thực hiện các âm mưu chống phá hiệp định. Chúng đã sử dụng các thủ đoạn dã man, hèn hạ để trả thù các gia đình có người thân đi tập kết hoặc tham gia kháng chiến. Những chuyện trên đã ít nhiều tác động đến tâm tư suy nghĩ của chúng tôi. Song tất cả đều tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo tài tình của Đảng, Bác Hồ, tin chắc ngày cách mạng thắng lợi đã cận kề.

Trong thời gian này, miền Bắc xã hội chủ nghĩa đang tiến hành thực hiện cải cách ruộng đất, nghĩa là lấy ruộng của địa chủ chia cho dân nghèo. Công việc này không chỉ có chính quyền và nhân dân địa phương tham gia, mà có sự góp sức của toàn xã hội. Đối với bộ đội, đơn vị cũng lựa chọn một số đồng chí tham gia, trong đó có tôi. Chúng tôi nhận nhiệm vụ về làm công tác sửa sai cải cách ruộng đất tại huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ. Sau 5 tháng, bộ phận đi công tác hoàn thành tốt nhiệm vụ, trở lại đơn vị tiếp tục huấn luyện, chiến đấu.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Mười Hai, 2020, 07:32:05 am
Không lâu sau đó, năm 1958, tôi tiếp tục được cử đi lao động xã hội chủ nghĩa tại công trình đại thủy nông Bắc Hưng Hải. Có thể nói, đây là một công trình thủy lợi lớn nhất miền Bắc nước ta lúc bấy giờ. Vì vậy, nó đòi hỏi một nguồn nhân lực rất lớn và có tinh thần trách nhiệm cao. Để duy trì tốt tiến độ, phong trào thi đua luôn được chú trọng, phát huy. Thực tế, phong trào thi đua lao động xã hội chủ nghĩa luôn diễn ra rất sôi nổi. Vì vậy, anh em chúng tôi lao động không biết mệt mỏi. Lúc đầu chưa quen, mỗi người chỉ gánh nổi 2 trạc (đơn vị đo của một số địa phương miền Bắc ngày xưa, có trọng lượng khoảng 20 cân), về sau quen dần với công việc, chúng tôi lại gánh lên 4 trạc, rồi 8 trạc một lần. Thậm chí, có nhiều đồng chí gánh tích cực đến nỗi bị sút lưng gãy xương sống phải nằm tại chỗ.

Cuộc đời binh nghiệp của tôi chính thức chuyển sang trang mới khi đầu năm 1959, tôi được đơn vị cử đi học Trường sĩ quan Lục quân Việt Nam tại Sơn Tây. Năm đó, trường đã tổ chức đến khóa 11, do đồng chí Lê Trọng Tấn làm Hiệu trưởng. Trước đây, tham gia chiến đấu một số trận trong kháng chiến chống Pháp với vai trò là một chiến sĩ, hiểu biết của tôi về mặt quân sự thật đơn giản. Lúc đó, tôi nghĩ rằng chỉ cần dũng cảm, nhanh nhẹn là có thể thắng giặc. Bây giờ, có bước vào học tập tôi mới hiểu ra rằng, quân sự cũng là một ngành khoa học được nghiên cứu, tổng hợp từ thực tế chiến đấu, kết tinh thành lý luận và đem  kiểm chứng tại thực tiễn. Vì vậy, tôi càng học càng khám phá ra nhiều điều mới mẻ nên càng hăng say. Bên cạnh học tập quân sự, chúng tôi được nghiên cứu Chủ nghĩa Mác Lê-nin, toán học, v.v. và cáo môn thuộc lĩnh vực khoa học xã hội. Kết quả kiểm tra kết thúc các môn học, tôi đều đạt điểm khá cao. Do đó, vừa nhập trường năm trước thì đến đầu năm sau, tức năm 1960, tôi được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam. Trong thời gian học tập tại trường, tôi tiếp tục được nhiều lần gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp, khi Đại tướng đến thăm nhà trường. Bám sát chương trình học tập, huấn luyện chiến đấu của chúng tôi, bên cạnh các thầy, giảng viên, còn có các đồng chí cố vấn Liên Xô theo dõi, giúp đỡ.

Những năm tháng miệt mài trên giảng đường, thao trường rồi cũng qua đi. Kỷ niệm đọng lại trong tôi là tình thầy trò, tình quân dân và hành trang tôi mang theo là những kiến thức, tư duy quân sự mới mẻ. Trong đó, ấn tượng sâu đậm nhất đối với tôi là hôm nhà trường tổ chức thi tốt nghiệp dã ngoại tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình. Hôm ấy, bàn thi của tôi có 4 đồng chí làm giám khảo là: cố vấn Liên Xô, đại biểu Quốc hội, cán bộ nhà trường và một giáo viên. Câu hỏi được các giám khảo đưa ra khá hóc búa, nhưng sát với điều kiện chiến tranh ở Việt Nam lúc bấy giờ. Nghe anh em trả bài xong ra kể lại, người làm tốt, có người lại lắc đầu khiến tôi cũng thấy lo lắng không biết mình có trả lời tốt không. Trong 3 năm học, tôi không thuộc diện học viên giỏi hay xuất sắc, nhưng chí ít tôi cũng được các thầy giáo quan tâm, tin tưởng. Tất nhiên đây là buổi thi đánh giá kết quả học tập toàn khóa, có đại biểu Quốc hội tham gia chấm điểm nên không phải mình tôi mà các anh em khác cũng hồi hộp không kém. Để lấy lại sự bình tĩnh, tôi đi lại xung quanh khu vực chuẩn bị và tranh thủ nhẩm lại những kiến thức cơ bản đã được học. Tôi chờ mãi cũng đến lúc được ban giám khảo gọi lên. Sau khi chào báo cáo theo đúng nghi thức, tôi bốc thăm được câu hỏi có nội dung sau: “Đứng trên cương vị tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn bộ binh cơ giới đang nằm trong công sự ngụy trang trước tiền duyên, vũ khí A đã nổ, đồng chí hãy xử trí tình huống?”. Lúc đó, tôi hơi ngỡ ngàng vì tình huống này quả thực trong quá trình học các đồng chí giảng viên cũng nói sơ qua, vì thực tế cũng không có trong kháng chiến chống Pháp. Tuy nhiên, do đã qua chiến đấu trực tiếp nên tôi hiểu được phần nào sự khẩn trương, vai trò quyết đoán của người chỉ huy trong việc giành chiến thắng. Với suy nghĩ như vậy nên tôi trả lời ngắn gọn: “Lên xe nổ máy, tiến!”. Ba đồng chí giám thị Việt Nam nhìn tôi xúc động. Khi chưa kịp định thần xem câu trả lời của mình có đúng không thì đồng chí chuyên gia Liên Xô đã đứng dậy ôm chặt lấy tôi và luôn miệng nói câu gì đó bằng tiếng Nga làm tôi không hiểu. Các đồng chí giám khảo còn lại nhìn tôi cười mãn nguyện. Sau đó, thầy giáo của tôi dịch lại:

- Chuyên gia Liên Xô nói: “Khơ-ra-sô! Khơ-ra-sô!”, nghĩa là tốt, tốt. Đồng chí ấy khen đồng chí rất giỏi cho 5 điểm.

Không biết nói gì hơn, tôi chỉ lí nhí cảm ơn, vì điểm 5 là điểm cao nhất trong thang điểm của Liên Xô. Như vậy, sau gần 3 năm học tập, rèn luyện, đến cuối năm 1961, tôi chính thức trở thành sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Mười Hai, 2020, 07:33:05 am
Chương ba

TRỞ VỀ CHIẾN ĐẤU TRÊN QUÊ HƯƠNG


Tình hình cách mạng nước ta lúc bấy giờ gặp khá nhiều khó khăn, phức tạp. Ở miền Bắc, trong ba năm từ 1958 đến 1960, nhờ những cố gắng về mọi mặt trong thực hiện thắng lợi kế hoạch cải tạo xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế văn hoá, nền sản xuất xã hội đã phát triển mạnh, đời sống của nhân dân được nâng cao. Tuy nhiên, việc Tổng tuyển cử thống nhất đất nước như Hiệp định Giơ-ne-vơ vẫn chưa được thực hiện. Vì vậy, nước nhà tạm thời còn bị chia làm hai miền. Quá trình đấu tranh cách mạng ở Việt Nam được chuyển sang một hình thế mới. Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đã chấp hành nghiêm túc hiệp định đã được ký kết, ra sức củng cố miền Bắc, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội và tiếp tục đấu tranh để hoà bình thống nhất nước nhà, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước. Trên thực tế, cuộc sống của nhân dân ở miền Bắc đã có nhiều khởi sắc. Trong lúc đó, ở miền Nam, đế quốc Mỹ và bọn tay sai đàn áp dã man phong trào yêu nước của nhân dân ta. Chúng lê máy chém đi khắp miền Nam để tàn sát đồng bào ta, trả thù những người đi theo kháng chiến. Mặt khác, để thực hiện âm mưu biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa và căn cứ quân sự chuẩn bị chiến tranh của đế quốc Mỹ, địch tăng cường bổ sung quân số, mở rộng các căn cứ quân sự. Bằng thủ đoạn “chiến tranh đơn phương”, địch công khai chống phá Hiệp định Giơ-ne-vơ, cự tuyệt hiệp thương tổng tuyển cử, phá hoại nền hoà bình, phá hoại sự nghiệp thống nhất đất nước của nhân dân ta, đàn áp đẫm máu những người cộng sản, cán bộ kháng chiến và người dân yêu nước sử dụng đấu tranh chính trị, đòi dân sinh, dân chủ, hòa bình. Tuy nhiên, mặc dù bị kìm kẹp, dàn áp dã man nhưng đồng bào miền Nam vẫn luôn luôn anh dũng đấu tranh, không chịu khuất phục, quyết tâm cùng với nhân dân cả nước đoàn kết một lòng, giương cao ngọn cờ hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, kiên quyết tiến lên giành lấy thắng lợi cuối cùng. Thực hiện sự lãnh đạo của Đảng, cán bộ, đảng viên, quần chúng yêu nước ở miền Nam cơ bản vẫn nghiêm túc chấp hành chủ trương đấu tranh và sự chỉ đạo của Đảng, không manh động. Tình hình này diễn ra trong một thời gian dài làm cho phong trào đấu tranh cách mạng bị tổn thất nặng nề.

Trước yêu cầu của cách mạng miền Nam, tháng 1 năm 1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp Hội nghị mở rộng lần thứ 15, xác định con đường phát triển của cách mạng miền Nam, vạch rõ mục tiêu và phương pháp cách mạng ở miền Nam; xác định mối quan hệ giữa hai chiến lược cách mạng ở miền Nam và miền Bắc, giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới, nhằm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất nước nhà. Nghị quyết 15 khẳng định: “Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là giải phóng miền Nam; nhiệm vụ trước mắt là đánh đổ tập đoàn thống trị Ngô Đình Diệm, tay sai của đế quốc Mỹ; phương pháp cách mạng và phương thức đấu tranh là dùng bạo lực cách mạng, từ đấu tranh chính trị tiến lên kết hợp đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang; dự kiến xu hướng phát triển từ khởi nghĩa của nhân dân tiến lên cuộc đấu tranh vũ trang trường kỳ”. Nghị quyết 15 ra đời đã đáp ứng đúng đòi hỏi của tình hình và nguyện vọng của đông đảo cán bộ, đảng viên, nhân dân, giải quyết kịp thời yêu cầu phát triển đi lên của cách mạng miền Nam là phải dùng bạo lực cách mạng, phải chuyển hướng sang đấu tranh vũ trang, để đưa phong trào vượt thoát khỏi tình thế hiểm nghèo, là ngọn đuốc soi sáng con đường phát triển của cách mạng Việt Nam ở miền Nam. Cụ thể, phong trào Đồng khởi nổ ra ở Bến Tre năm 1960 và nhanh chóng lan rộng ra toàn miền Nam đã giành thắng lợi to lớn, đẩy Mỹ và chính quyền, quân đội Sài Gòn vào thế bị động chống đỡ và thất bại, buộc đế quốc Mỹ phải thay đổi chiến lược chiến tranh, chuyển sang tiến hành “chiến tranh đặc biệt” với sự dính líu và sa lầy ngày càng tăng ở Việt Nam.

Ở chiến trường Quảng Nam, sau thất bại của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ liền nhảy vào chiếm đóng và Quảng Nam là địa bàn chịu sự đàn áp vô cùng dã man của bọn tay sai, phản động, những vụ tàn sát tập thể người kháng chiến cũ và quần chúng nhân dân diễn ra ở Sơn - Cẩm - Hà, Cây Cốc, Chợ Được, Chiên Đàn, Vĩnh Trinh... Hàng vạn đảng viên, quần chúng cách mạng bị Mỹ - Diệm sát hại và tù đày. Trong kháng chiến chống Pháp năm 1950, Đảng bộ Quảng Nam có trên 53 nghìn đảng viên, nhưng đến năm 1960 chỉ còn lại trên 100 đồng chí bám trụ hoạt động trên địa bàn tỉnh, tình hình cách mạng vô cùng khó khăn. Lòng đất Quảng Nam trở thành nơi nuôi giấu cán bộ, đảng viên, rừng núi Quảng Nam trở thành căn cứ địa không chỉ cho lực lượng địa phương Quảng Nam mà còn là đại bản doanh của Liên khu 5 và Khu 5 sau này, nhất là sau khi có Nghị quyết 15 của Đảng soi sáng. Đảng bộ từng bước lãnh đạo nhân dân đấu tranh chính trị, kết hợp đấu tranh vũ trang đến cuộc đồng khởi; cuối năm 1964, đầu năm 1965 làm chủ đại bộ phận nông thôn đồng bằng của tỉnh. Tiêu biểu là phong trào đấu tranh nổi dậy của đồng bào dân tộc làng Ông Tía, xã Phước Nham, huyện Phước Sơn vào ngày 13 tháng 3 năm 1960 đã dùng giáo mác diệt gọn một tiểu đội địch, chiến công của 7 dũng sĩ Điện Ngọc huyện Điện Bàn diệt trên 100 tên giặc... cùng phong trào diệt ác phá kềm ở Tứ Mỹ, Xuân Bình, Phú Thọ huyện Tam Kỳ (hiện nay là huyện Núi Thành), Phương Đông, Dương Yên huyện Tiên Phước (hiện nay là huyện Bắc Trà My) và nhiều nơi trong tỉnh đã mở đầu phong trào đồng khởi những năm đầu thập niên 60 thế kỷ XX, tạo điều kiện giải phóng hầu hết nông thôn đồng bằng của tỉnh Quảng Nam lúc bấy giờ.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Mười Hai, 2020, 07:33:33 am
Nếu như năm 1954, chúng tôi từ miền Nam theo tiếng gọi của Đảng, Bác Hồ ra miền Bắc tập kết để đợi ngày tổng tuyển cử thống nhất nước nhà thì hơn 3 năm sau, kể từ khi có Nghị quyết 15, đoàn quân ấy cùng với nhiều đồng chí con em miền Bắc lại theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc trở về miền Nam chiến đấu vì kẻ thù phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ. Mỗi bước quân đi rạo rực khí thế:

Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước
Mà lòng phơi phới dậy tương lai.


Trước tình hình cách mạng nước nhà, tôi cũng như nhiều anh em khác luôn mong ngóng được trở về chiến đấu, góp phần giành lại độc lập, tự do cho quê hương. Vì vậy, cuối năm 1961, tôi được nhận nhiệm vụ đi chiến trường B. Hồi ấy, đi B đồng nghĩa với gian khổ, ác liệt, hy sinh, v.v. nhưng không một đồng chí nào từ nan. Thực ra không phải đến khi tốt nghiệp mà ngay từ hồi còn học, được nghe thông tin về tình hình cách mạng miền Nam, tôi đã có nguyện vọng này. Hình ảnh quê hương Quảng Nam bị giặc giày xéo, biết bao người thân yêu bị kẻ thù tàn sát dã man luôn đi theo tôi trong từng giấc ngủ.

Chúng tôi được chuyển về thị trấn Xuân Mai, thuộc huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội) để tổ chức huấn luyện đặc biệt trong thời gian gần một tháng. Nội dung huấn luyện chủ yếu là mang ba lô nặng, đi đêm, chân mang dép cao su. Hôm đầu, mỗi người chỉ mang ba lô khoảng 25 cân, sau tăng dần. Đường đi cũng tương tự. Đối với tôi, mấy đêm đầu cũng khá vất vả vì học tập ở trường còn có thời gian lên giảng đường, ra thao trường quan sát tập luyện, còn bây giờ hành quân thì phải bền bỉ, dẻo dai. Hai bàn chân đi dép cao su chịu sức nặng chưa quen cứ phồng rộp lên, đau nhức, nhất là sau hôm hành quân đầu tiên ở dưới lòng bàn chân tôi có những nốt phồng to bằng bốn ngón tay căng mọng nước, xung quanh chỗ lằn quai dép sưng tấy đỏ. Hôm sau, nghe anh em truyền kinh nghiệm để chân bớt phồng nên đem theo một ít muối; khi giải lao, hòa ít nước muối xoa lên bàn chân, tôi cũng làm theo và thấy hiệu quả ngay. Nhờ sáng kiến này, tôi đã nhanh chóng thích ứng với điều kiện hành quân gian khổ. Trong thời gian ở đây, chúng tôi được đồng chí Đại tướng Võ Nguyên Giáp lên thăm, động viên lần cuối trước khi lên đường vượt Trường Sơn trở về miền Nam chiến đấu.

Kết thúc đợt huấn luyện đặc biệt, cũng có thể gọi là huấn luyện bổ sung để nâng cao thể lực, số cán bộ, chiến sĩ nhận nhiệm vụ đi B chúng tôi nhận được lệnh của Bác Hồ gọi về Hà Nội. Anh em xúc động đón Bác đến thăm. Khác với lần gặp trước, bây giờ tóc Bác đã bạc hơn, da có nơi đã trổ đồi mồi. Bác thăm hỏi từng người, bắt tay vui vẻ từng đồng chí một. Người ân cần căn dặn chúng tôi như một người cha trước lúc tiễn các con đi xa phải giữ gìn sức khỏe để đi đường vào miền Nam công tác cho tốt. Bác hẹn ngày thống nhất gặp lại. Trước lúc ra về, Người còn động viên:

- Thời gian này còn đang bí mật và gian khổ, các cháu phải cố gắng, phải giữ gìn sức khỏe. Các cháu vào cùng với đồng bào miền Nam chiến đấu.

Nhìn bóng người Cha già của dân tộc khuất dần, lòng chúng tôi thương Bác khôn nguôi. Chỉ mới mấy năm, vì lo việc nước mà Bác già đi nhiều quá, sức khỏe của Người cũng có phần giảm sút. Cũng trong buổi chia tay hôm ấy, tôi cũng được gặp lại Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đồng chí cũng dặn dò chúng tôi tỉ mỉ về việc giữ gìn sức khỏe, đảm bảo bí mật trong hành quân cũng như trong chiến đấu, bắt tay thân mật từng cán bộ, chiến sĩ như người anh chia tay em trước khi đi xa. Tất cả chúng tôi đều hứa với Bác và Đại tướng Võ Nguyên Giáp sẽ luôn làm đúng những lời căn dặn để xứng đáng với niềm tin của Đảng, Bác Hồ, quân đội và nhân dân.

Một ngày cuối năm 1961, chúng tôi được tập trung lên chiếc xe Gát 66 che kín bịt bùng để lên đường vào miền Nam chiến đấu. Thế là sau hơn 5 năm công tác trên miền Bắc thân yêu, chúng tôi lại về quê hương của mình để trực tiếp chiến đấu đánh đuổi quân thù. Dù không nói ra, nhưng trong trái tim mọi người đều chất chứa bao kỷ niệm. Đó là tình cảm quân dân, là tình cảm của nhân dân miền Bắc dành cho đồng bào miền Nam ruột thịt đang ngày đêm phải chống lại ách thống trị tàn bạo của kẻ thù. Rồi đây, trong số chúng tôi ai là người sẽ nằm lại mãi mãi trên chiến trường, ai là người có điều kiện ra thăm miền Bắc, v.v. Đường đi nhấp nhô, xe đung đưa như lắc võng. Nhiều câu hỏi dập dồn chứa đầy tình nghĩa của nhân dân miền Bắc lần lượt hiện về. Tình cảm của Bác Hồ, của Đại tướng Võ Nguyên Giáp thật thiết tha, ân tình. Chúng tôi mang theo hình ảnh người Cha già của dân tộc và người anh Cả của quân đội. Tôi suy nghĩ miên man trong tiếng ầm ì của động cơ. Ngoài kia, bóng đêm đang bao trùm lấy không gian. Không biết nơi quê nhà, mẹ tôi, các anh các chị có ai còn ai mất. Nay mai nước nhà thống nhất, tôi phải đưa mẹ ra thăm đất Tổ vua Hùng một chuyến. Nghĩ thì nghĩ vậy chứ tôi biết cuộc chiến tranh còn dài, đời binh nghiệp chưa biết đoán định như thế nào. Lúc ấy, tôi ra trường được phong quân hàm thiếu úy. Đi theo cuộc trường chinh của dân tộc, tôi chỉ mong sao đất nước sớm được thống nhất để trở về vui thú với điền viên, ngoài ra không mong gì hơn nữa.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Mười Hai, 2020, 07:34:12 am
Nhịp xe lắc lư giúp tôi trở về với thực tế. Lúc đó, trên đường hành quân, chúng tôi không được mang theo bất cứ một thứ gì có dấu vết của miền Bắc. Các loại thuốc bổ đều được tán thành bột, dầu cù là phải tháo ra bỏ vào hộp khác, chanh được vắt nước phơi khô mang theo uống dọc đường, v.v. sở dĩ phải làm như vậy để tránh địch phát hiện có lực lượng từ miền Bắc tăng cường vào. Chúng tôi đến Quảng Bình, bí mật xuống xe và tiếp tục đi lên làng Ho, qua đèo 1001, hành quân dọc theo biên giới Việt - Lào. Cả đoàn quân đi lặng lẽ, thực hiện đúng khẩu hiệu “ba không” là: “đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng” để đảm bảo bí mật. Có những đoạn đường cây cối rậm rạp, chưa có bước chân người, chúng tôi phải ngụy trang không để lại dấu vết. Đặc biệt, khi đi qua đất Lào, đến đoạn sân bay Thà Khống, chúng tôi đụng phỉ Lào, phải chiến đấu để mở đường đi tiếp.

Đầu năm 1962, chúng tôi vào đến đất Quảng Nam. Thế là sau gần 8 năm rời xa quê mẹ, tôi lại được về với xứ Quảng yêu thương. Sự khác nhau là ngày trước chúng tôi lên tàu trong đoàn quân chiến thắng với lời hẹn ước hai năm sau quay về tổng tuyển cử thống nhất nước nhà, còn bây giờ phải bí mật hành quân về tiếp tục chiến đấu để giải phóng quê hương vì kẻ thù bội ước. Nhưng dẫu trong hoàn cảnh nào đi nữa thì tình cảm của người con xa quê nhiều năm luôn chất đầy ăm ắp trong trái tim mỗi chúng tôi. Năm đó, tôi được đón Tết cổ truyền đầu tiên sau bao năm xa cách ở Dì Hai, tại Trao (Dì Hai là mật danh của cơ quan tỉnh Quảng Nam đóng tại Trao, thuộc huyện Hiên). Khi tôi về nhận nhiệm vụ mới ít lâu thì được Quân khu 5 tiếp tục điều động về Công trường 1, kiêm Tỉnh đội Quảng Nam nhận công tác. Lúc đó để ngụy trang che mắt địch nên ta gọi là công trường, tôi về Trường Huấn luyện cán bộ. Trường đóng tại xã Nú, Ấp Trắng thuộc vùng rừng núi huyện Trà My; do đồng chí Nguyễn Tiến, quê ở Thừa Thiên - Huế, phụ trách. Tôi được phân công làm giáo viên huấn luyện các lớp trung đội trưởng bộ binh. Cuộc sống của bộ đội giai đoạn này rất gian khổ. Thầy trò chúng tôi phải đi mua gạo của dân ở các xã Phương Đông và Dương Yên, nhưng không phải hôm nào cũng có. Vì vậy, bộ đội phải ăn sắn của đồng bào dân tộc là chủ yếu. Gạo thiếu đã đành, đến muối cũng không đủ ăn. Mỗi ngày, đồng chí quản lý đơn vị chia cho mỗi người một mắt cây nứa muối để chấm với sắn luộc. Anh nào ăn nhạt thì còn đủ, chứ đồng chí nào ăn mặn chấm quá tay thì chỉ có nửa củ sắn là hết muối chấm, đành phải ăn nhạt. Tuy cuộc sống gian khổ là vậy, nhưng chương trình huấn luyện của trường vẫn thường xuyên hoàn thành. Nhiều đồng chí đã chững chạc trong chỉ huy đơn vị xử trí tình huống do giáo viên đề ra. Về sau, khi ta tiến công giải phóng được các xã Phương Đông và Dương Yên thì đời sống của bộ đội có nhỉnh hơn chút ít.

Tôi tiếp tục công tác ở Công trường 1 đến đầu năm 1964, được cấp trên điều động về làm trợ lý tác chiến của Trung đoàn 1, trực tiếp tham gia các trận đánh trên chiến trường Quảng Nam; đồng thời, đi cùng với các tiểu đoàn phá ấp chiến lược, giành dân từ Phước Lâm, Tiên Phước đến Thăng Bình, Bắc Tam Kỳ, Nam Tam Kỳ, Quế Sơn, v.v. Song những trận đánh trên đã cơ bản giải phóng các ấp chiến lược, nhưng chưa thực sự làm thay đổi cục diện chiến trường Quảng Nam. Chỉ đến cuối năm 1964, Tiểu đoàn 60 của Trung đoàn 1 mới tổ chức đánh trận tập trung đầu tiên tiêu diệt được đại đội cơ giới của địch ở Đèo Dài, còn gọi là đèo Tứ Yên, ở phía tây thị xã Tam Kỳ. Lúc bấy giờ, quân đội ta đã thực hiện chiến thuật “đánh điểm diệt viện”. Vì thế, sau trận thắng ở Đèo Dài, tôi tiếp tục đi cùng Trung đoàn 1 chuyển ra đánh điểm đồn Câu Lâu, nhằm mục đích câu viện binh của địch ở tây Thăng Bình ra ứng cứu để tiêu diệt gọn một tiểu đoàn lính cộng hòa, tại các xã Bình Lãnh và Bình Trị, huyện Thăng Bình.

Sau đó, Quân khu 5 điều động Trung đoàn 1 vào Quảng Ngãi. Sau một thời gian chuẩn bị chiến trường, trung đoàn chọn cứ điểm ở Chóp Nón tiêu diệt để chốt giữ câu viện. Đúng như nhận định của ta, sau khi cứ điểm Chóp Nón bị tiêu diệt thì liên đoàn quân ngụy đến giải tỏa, rơi vào thế trận mà Trung đoàn 1 đã bày sẵn. Không bỏ lỡ thời cơ diệt địch, ngay lập tức Trung đoàn 1 vận động bao vây tấn công tiêu diệt gọn liên đoàn quân ngụy, làm chủ chiến trường, bắt tù binh, thu vũ khí... Từ đây, Trung đoàn 1 mang tên Trung đoàn Ba Gia. Sau đó, Trung đoàn 1 về đứng ở thôn Vạn Tường, xã Bình Sơn, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Ngày 18 tháng 8 năm 1965, quân Mỹ đổ bộ hành quân đánh phá vào khu vực Vạn Tường, đúng vào thế trận bày sẵn của Trung đoàn 1, đơn vị chiến đấu quyết liệt suốt cả ngày, tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của Mỹ, đánh tan cuộc hành quân của lính thủy đánh bộ Mỹ, là một, trong những trận đánh lớn diệt nhiều sinh lực Mỹ nhất của miền Nam lúc bấy giờ... Từ đây có phong trào “nắm thắt lưng Mỹ mà đánh, tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt”.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Mười Hai, 2020, 08:48:19 am
Chương bốn

TIỂU ĐOÀN 70 VÀ NHỮNG ÂN TÌNH


Tiểu đoàn 70 hình thành từ Tiểu đoàn 79 Trung đoàn 96 Sư đoàn 305 từ miền Bắc về năm 1959 là con em của Quảng Nam - Đà Nẵng tập kết trở về chỉ có một khung của tiểu đoàn và Đại đội 2 (H30), đến Trao của huyện Hiên (Quảng Nam); đầu năm 1960, H30 diệt gọn một đại đội bảo an của cứ điểm Ga Lâu ở Trao, sau đó vũ trang xuống các huyện Hòa Vang, Đại Lộc, Điện Bàn diệt ác, phá kìm và lấy thanh niên nhập ngũ.

Ngày 3 tháng 2 năm 1962, chính thức thành lập Tiểu đoàn 70 tại thôn Tám xã Tiên Lãnh, huyện Tiên Phước; sau thành lập tiểu đoàn vượt sông Tranh giải phóng hai xã Phước Lãnh, Phước Ngọc, từ đó làm bàn đạp vượt sông Tiên giải phóng ba xã Sơn - Cẩm - Hà huyện Tiên Phước rồi đánh bại cuộc hành quân phản kích của địch giữ vững vùng giải phóng. Từ bàn đạp Sơn - Cẩm - Hà Tiểu đoàn 70 cùng các lực lượng khác giải phóng hầu hết các xã tây quốc lộ 1 của các huyện Tam Kỳ, Tiên Phước, Thăng Bình, Quế Sơn...

Đầu năm 1964, Tiểu đoàn 70 dưới sự chỉ huy trực tiếp của đồng chí Đỗ Sa và trực tiếp chỉ đạo của đồng chí Hoàng Minh Thắng - Chính trị viên tỉnh đội, thọc sâu xuống đông đường số 1 vượt Trường Giang giải phóng các xã vùng đông huyện Thăng Bình, đông Tam Kỳ, đông Quế Sơn.

Đầu năm 1964, Tiểu đoàn 70 phục kích vận động bao vây tiêu diệt gọn một tiểu đoàn cộng hòa tại Mộc Bài ở huyện Quế Sơn, làm chủ chiến trường thu hàng trăm vũ khí các loại.

Đầu năm 1965, chiến trường Quảng Nam cơ bản nông thôn được giải phóng, chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ - ngụy bị phá sản, Mỹ chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ” đổ quân Mỹ vào Đà Nẵng, Chu Lai - Quảng Nam. Lịch sử lại giao cho quân và dân Quảng Nam trận đầu đánh Mỹ, Đảng bộ và nhân dân Quảng Nam giao cho Tiểu đoàn 70 trận đầu đánh Mỹ và thắng Mỹ, Tiểu đoàn 70 lấy Đại đội 2 làm chủ công dưới sự chỉ huy của đồng chí Đại đội trưởng Vũ Thành Năm và đồng chí Tiểu đoàn trưởng Đỗ Sa, đêm 25 rạng ngày 26 tháng 5 năm 1965 đã tập kích diệt gọn một đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ tại cao điểm 49-50 Núi Thành, diệt 139 tên, làm chủ chiến trường thu vũ khí. Với trận đầu diệt gọn đơn vị chiến đấu Mỹ, đã giải quyết tư tưởng: Dám đánh Mỹ và biết đánh Mỹ, từ đó mà có khẩu hiệu “Nắm thắt lưng Mỹ mà đánh”, “Tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt”...

Hơn một năm gắn bó với cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 1, tháng 9 năm 1965, tôi có quyết định của quân khu điều động về Tiểu đoàn 70 nhận nhiệm vụ làm Đại đội trưởng Đại đội 2, dưới sự chỉ huy trực tiếp của đồng chí Đỗ Sa - Tiểu đoàn trưởng. Địa bàn hoạt động của tiểu đoàn được trải rộng trên khắp chiến trường Quảng Nam. Những ngày đầu trên cương vị công tác mới, hiệu quả công việc trực tiếp ảnh hưởng đến tính mạng của nhiều đồng chí, đồng đội, tôi không tránh khỏi băn khoăn, lo lắng về trách nhiệm của mình. Nhưng được các anh đi trước động viên cũng như sự ủng hộ, tin tưởng của anh em cấp dưới, tôi đã liên tục hoàn thành tốt nhiệm vụ của người chỉ huy đại đội. Cùng với đội hình của tiểu đoàn, cán bộ, chiến sĩ Đại đội 2 đã rong ruổi suốt vùng đất Quảng Nam và lập được nhiều chiến công vang dội. Nhiều trận đánh điển hình đã khắc sâu trong trái tim tôi như để tri ân đồng đội đã ngã xuống cũng là bài học trong chỉ huy chiến đấu của người cán bộ. Trong số đó, tôi có thể kể đến trận đánh ngày 8 tháng 11 năm 1965. Ở trận này, Tiểu đoàn 70 được phối thuộc trong đội hình của Trung đoàn 1, Sư đoàn 2, Quân khu 5 đã tiêu diệt chiến đoàn ngụy tại Đồng Dương, thuộc huyện Thăng Bình. Trong đó, riêng Tiểu đoàn 70 đã diệt gọn Tiểu đoàn biệt động 37 ngụy Sài Gòn. Sau khi làm chủ chiến trường, thu vũ khí, giải quyết thương binh, liệt sĩ, đơn vị chúng tôi tổ chức lui quân về xã Phước Sơn, nay là xã Tiên Sơn, huyện Tiên Phước, bất ngờ bị máy bay B-52 rải thảm từ Phước Sơn xuống Bình Lâm, Bình Lãnh, huyện Thăng Bình, khiến đồng chí Lê Công Minh, Đại đội trưởng Đại đội 2 hy sinh. Ngoài ra, tiểu đoàn còn phối hợp với lực lượng của Trung đoàn 1, Sư đoàn 2 tiến công một tiểu đoàn lính Mỹ ở Cẩm Khê, thuộc bắc Tam Kỳ, diệt trên 450 tên, bắn rơi 3 máy bay trực thăng, buộc địch phải dùng 85 lần chiếc máy bay trực thăng để chuyên chở số lính tử trận.

Bước sang năm 1966, mức độ ác liệt của chiến tranh được tăng lên theo tỷ lệ thuận với quân số lính Mỹ đổ xuống miền Nam. Chúng dùng chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận” để tổ chức càn quét, tấn công lên căn cứ của ta. Theo đánh giá của một số chuyên gia quân sự, chiến trường Quảng Nam lúc bấy giờ là một trong những nơi ác liệt nhất. Cũng trong năm 1966, quân khu điều động Tiểu đoàn 70 của Tỉnh đội Quảng Nam về đứng trong đội hình của Sư đoàn bộ binh 2 của Quân khu 5. Lúc đó, sư đoàn đã hành quân vào tỉnh Quảng Ngãi theo quyết định của quân khu để chuẩn bị đánh cụm cứ điểm Hà Thành. Sau khi nhận nhiệm vụ. Tiểu đoàn 70 cơ động về trú quân ở suối Rin, thuộc địa phận Sơn Hà, Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi làm công tác chuẩn bị phối hợp với Sư đoàn 2 đánh cụm cứ điểm Hà Thành và quận lỵ Trà Bồng. Trong điều kiện địch tăng cường càn quét, địa bàn lạ nên việc đảm bảo lương thực, thuốc men cho đơn vị gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, anh em trong tiểu đoàn có nhiều người bị đói, sốt rét rừng hành hạ. Thậm chí, có đồng chí lên cơn sốt rét ác tính đã hy sinh khi chưa kịp chiến đấu. Bản thân tôi lúc ấy cũng bị bệnh thương hàn. Tình trạng ăn uống thiếu thốn, thuốc men không có đã khiến tôi không thể gượng dậy được. May mắn thay có người quen thông báo cho chị Ba tôi tới chăm sóc, lo lắng thuốc thang, nên tôi mới khỏi bệnh.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Mười Hai, 2020, 08:48:37 am
Bây giờ nhớ lại những ngày ăn trong bom, ngủ trong đạn ấy, tôi vẫn không thể nào tả nổi sự ác liệt của chiến tranh. Suốt tuần lễ, đơn vị không có một hạt gạo nấu cháo. Chúng tôi phải mót sắn của đồng bào dân tộc để ăn qua ngày. Lúc đó, quân Mỹ lại dùng B-52 rải thảm, đánh bom tọa độ suốt ngày đêm. Máy bay Mỹ ầm ì, lượn như chuồn chuồn trên đầu chúng tôi liên tục. Không cứ lúc nào, hễ ở đâu chúng nghi có dấu hiệu đối phương ẩn náu thì chỉ vài phút sau đã có tiếng bom rơi, đạn nổ. Trên không đã vậy, còn dưới đất, lính Mỹ đi lùng soát khắp nơi, sục sạo mọi ngõ ngách. Tình hình chung, địa bàn Quảng Ngãi lúc bấy giờ cực kỳ căng thẳng.

Ngày 27 tháng 9 năm 1966, ta chính thức nổ súng đánh cụm cứ điểm Hà Thành. Trong lúc chỉ huy đơn vị xung phong tiêu diệt mục tiêu độc lập, tôi đã bị thương phải nằm bệnh viện dã chiến của sư đoàn để chữa trị. Thật chán nản biết bao khi mình nằm trong hầm trú ẩn an toàn, còn ngoài kia anh em đồng chí đang chiến đấu trên trận tuyến với quân thù. Mấy ngày nằm điều trị tại bệnh viện, tôi không có ý nghĩ nào khác là mong sớm được trở lại đơn vị. Không hiểu do vết thương nhẹ, hay vì ý nghĩ đó nên tôi rất chóng bình phục. Mới nằm bệnh viện khoảng nửa tháng, thấy vết thương có vẻ đã kéo da non, tôi nằng nặc đòi về đơn vị. Các bác sĩ chần chừ mài đến ngày 14 tháng 10 mới cho tôi ra viện. Lúc này, đơn vị đã chuyển về đứng chân ở Sơn Lộc, Sơn Nam, thuộc huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, để chờ nhận nhiệm vụ mới. Trong thời gian chúng tôi ở đây, có một trận đánh bất ngờ diễn ra. Hôm ấy là ngày 20 tháng 11 năm 1966, vào khoảng 4 giờ sáng, bất thần có 8 chiếc máy bay địch từ đâu bay tới trút bom đánh phá khu vực tiểu đoàn đóng quân. Tuy có sự chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, nhưng tình huống diễn ra quá bất ngờ và mau chóng nên tôi và một số đồng chí khác bị thương nhẹ. Đúng như dự đoán của chúng tôi, khi tiếng bom vừa dứt thì bộ binh và xe tăng địch ào ạt tấn công vào khu vực trú quân của tiểu đoàn nói chung và Đại đội 2 nói riêng. Nhờ đã được trui rèn dạn dày kinh nghiệm trong chiến đấu, chúng tôi bình tĩnh chờ địch vào thật gần mới đánh trả quyết liệt. Mấy tên đi đầu hung hăng tưởng quân ta đã bị bom dập, đạn vùi nên có phần xem thường đối phương. Sự chủ quan đó của chúng nhanh chóng phải trả giá. Những quả lựu đạn chày của ta đã xé nát đội hình địch. Một số tên sống sót chưa kịp la ó đã bị chúng tôi tiêu diệt bằng súng tiểu liên. Kết quả trận đánh hôm ấy, mặc dù chủ động tấn công trước nhưng sinh lực địch đã tổn thất lớn.

Sau đó, để đảm bảo bí mật địa bàn tác chiến cũng như để bảo toàn lực lượng, đơn vị chúng tôi được lệnh hành quân vào huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi. Tại đây, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 2 đã giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 70 phải tiêu diệt gọn cứ điểm Yên Sơn, để câu viện binh cho đơn vị diệt viện. Trong quá trình triển khai nhiệm vụ tác chiến, chỉ huy tiểu đoàn phân công Đại đội 2, do tôi làm Đại đội trưởng, làm lực lượng chủ công trong chiến đấu tiêu diệt cứ điểm Yên Sơn.

Cứ điểm này thuộc xã Hành Dũng, huyện Nghĩa Hành, nằm trên một mỏm đồi thoai thoải. Nó khống chế con đường từ Quảng Ngãi đi Suối Bùn - Ba Tơ. Về địa hình, phía đông, phía bắc và phía tây của cứ điểm là ruộng lúa của dân, còn phía nam giáp tuyến đường Quảng Ngãi - Ba Tơ. Ở phía nam, có một số hộ dân sinh sống trong ấp chiến lược. Địch bố trí lực lượng chiếm giữ cứ điểm là một đại đội người dân tộc Nùng với quân số hơn 100 tên. Bọn này thường để tóc dài búi cao nên dân trong vùng còn gọi là “địch đầu tóc bối”. Hỏa lực của chúng gồm có 2 khẩu cối 81mm và 4 đại liên. Xung quanh cứ điểm, địch tổ chức sáu lớp rào. Ngoài cùng là ba lớp rào bằng cây tre dựng đứng, chôn sâu, buộc dây thép gai. Bên trong, chúng bố trí các hàng rào theo kiểu “hai sông, ba núi”, tức là hai hào sâu cắm chông và trên bờ là ba hàng rào bằng dây thép gai. Do đó, nhiều đơn vị bộ đội địa phương của tỉnh Quảng Ngãi đã đánh mà chưa được. Được thể, bọn ngụy ở Quảng Ngãi huênh hoang thách thức: “Nước sông Trà Khúc chảy ngược thì Việt cộng mới đánh được Yên Sơn”.

Nắm được tình hình như vậy đã giúp chúng tôi sớm phác thảo ra cách đánh phù hợp. Cũng như các trận đánh khác, tôi cùng với đồng chí Tiểu đoàn trưởng Đỗ Sa tổ chức lực lượng đi trinh sát, chuẩn bị chiến trường. Ban ngày, chúng tôi cải trang thành người nông dân làm ruộng, mon men đi gần sát bờ rào để quan sát cụ thể. Qua mấy lần quan sát, tôi hội ý với đồng chí Sa và thống nhất nhận định chỉ có thể đột nhập vào bên trong bằng phương pháp độn thổ. Từ đó, chúng tôi mới nghĩ ra cách ban đêm bí mật ngụy trang kín đáo, chỉ mặc độc chiếc xà lỏn, bôi nhọ lên cơ thể giống như màu đất rồi tiến sát vào bờ rào tre, tiến hành đào hang như hang dế để chui vào, thực hiện quan sát và lên phương án chiến đấu sơ bộ. Phương pháp là như vậy, nhưng khó nhất là giữ bí mật như thế nào. Việc đào hang bí mật qua ba lớp rào tre để đưa trinh sát vào bên trong trong điều kiện địch thường xuyên canh phòng cẩn mật không phải là chuyện dễ, thậm chí còn khó hơn việc nhân dân đào hầm bí mật trong thành phố. Chúng tôi chỉ để một sơ suất nhỏ, hoặc không may bị địch phát hiện thì sự hy sinh là không tránh khỏi và tổn thất không dừng lại ở đó mà ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ kế hoạch chiến đấu của sư đoàn. Do đó, đội trinh sát đã thảo luận thật kỹ về phương pháp đào hầm, cách giữ bí mật như thế nào. Chúng tôi quyết định đem bao để đựng đất khi đào và dụng cụ phải thật sắc, nhọn. Mỗi đêm khoét một ít, tuy khẩn trương nhưng không nôn nóng, tuyệt đối không để xảy ra một sơ suất nhỏ kể từ việc đánh rơi vụn đất đến ngụy trang lối vào, kiên trì trong suốt sáu đêm như vậy thì đội hình trinh sát đã chui qua khỏi được mấy lớp rào tre. Công việc chuẩn bị chiến trường đến đây cũng coi như hoàn tất. Chúng tôi về báo cáo tình hình, kết quá trinh sát với lãnh đạo chỉ huy sư đoàn lúc đó là đồng chí Thạch, Tư lệnh sư đoàn và đồng chí Đạo, Chính ủy sư đoàn. Sau khi nhận báo cáo, hai đồng chí đã cùng chúng tôi trực tiếp đi kiểm tra trong đêm. Khi trở về, lãnh đạo chỉ huy Sư đoàn 2 đã hạ quyết tâm cho đánh và tăng cường cho Tiểu đoàn 70 một đội đặc công của sư đoàn.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Mười Hai, 2020, 08:49:07 am
Nhận nhiệm vụ lập kế hoạch chiến đấu cụ thể của đơn vị, tôi quyết định tổ chức lực lượng thành 3 mũi. Trong đó, 2 mũi có nhiệm vụ đột phá và mũi còn lại bao vây. Về phương pháp tiến công, dùng hình thức mật tập, khoét hầm chui qua ba lớp rào tre, đưa bộc phá liên kết từ ngoài vào trong, sử dụng loại bộc phá lớn; kết hợp với bộc phá thổi dùng máy phát điện cho nổ (loại máy phát điện cầm tay quay), sau đó sử dụng hỏa lực cối 81 mm đánh vào bên trong trận địa. Tôi báo cáo kế hoạch tác chiến cụ thể với lãnh đạo chỉ huy sư đoàn, đồng chí Thạch và đồng chí Đạo đã đồng ý hạ quyết tâm đánh.

Đêm mùng 4 rạng ngày 5 tháng 3 năm 1967, chúng tôi bí mật hành quân tiếp cận mục tiêu. Đến vị trí tạm dừng, tôi phổ biến nhiệm vụ lần cuối và thống nhất tín hiệu hiệp đồng chiến đấu. Sau đó, các hướng mũi chủ động hành quân chiếm lĩnh trận địa theo vị trí đã phân công. Đúng một giờ ngày mùng 5, sau khi kiểm tra một lượt công tác chuẩn bị của các bộ phận và động viên anh em, tôi phát lệnh điểm hỏa, thực hành nổ bộc phá tấn công. Trong phút chốc, hai đường nổ như hai con rồng lửa bừng sáng trong màn đêm, xé tan hàng rào tre của địch. Theo kế hoạch hiệp đồng, các chiến sĩ nhanh chóng vận động đặt mìn thổi tung ba lớp rào kẽm gai bên trong. Không để địch kịp phản ứng, ta lập tức sử dụng thang mê giá thiếc bắc qua hào bộ binh cho xung phong. Mọi hành động của anh em diễn ra mau lẹ như trong chớp mắt. Lính địch trong đồn sau phút hoàn hồn bắt đầu chống trả điên cuồng. Nhưng hàng rào của chúng đã bị quân ta chọc thủng, lực lượng hai bên đang nằm vào thế cài răng lược nên hỏa lực của chúng không phát huy được tác dụng. Chúng tôi triệt để lợi dụng địa hình, địa vật, thực hành tiến công tiêu diệt địch từng phần, đập tan các ổ đề kháng của chúng, Nhiều đồng chí đá áp sát tường nhà lính, dùng lựu đạn tung vào diệt luôn bọn cố thủ trong đỏ, Cứ như vậy, mũi này phối hợp chặt chẽ với mũi kia, lúc thì thu hút nghi binh, khi thì tiến công mãnh liệt không cho chúng kịp trở tay. Với cách đánh táo bạo, mưu trí dũng cảm như vậy nên chỉ sau hơn 40 phút chiến đấu, ta đã diệt gọn đại đội địch, diệt tại chỗ 85 tên, số thoát chạy ra phía ấp chiến lược cùng bị bộ phận đón lõng diệt gọn, thu 50 súng các loại, trong đó có hai khẩu cối 81 mm, 4 đại liên. Cứ điểm Yên Sơn bị xóa sổ bất ngờ khiến bọn lính ngụy run sợ không biết có phải Việt cộng từ trên trời rơi xuống hay độn thổ từ dưới đất chui lên, không còn dám huênh hoang khoác lác và lo sợ không biết đến lúc nào thì đến lượt chúng bị đánh. Chiến công trên đã ghi dấu ấn những người con Quảng Nam trên vùng quê “núi Ấn, sông Trà”. Tuy nhiên, sau trận đánh này, một số đồng chí thân yêu của tôi đã nằm lại vĩnh viễn trên đất Quảng Ngãi để chúng tôi bước tiếp trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc. Trong trái tim tôi lại khắc khoải nỗi nhớ về các anh Thám, Bình, Giang.

Đánh giá kết quả trận chiến đấu tiêu diệt cứ điểm Yên Sơn, đơn vị chúng tôi được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất. Hòa trong chiến công chung đó, tôi cũng được cấp trên khen tặng và bổ nhiệm làm Tiểu đoàn phó, trực tiếp sát cánh cùng đồng chí Đỗ Sa chỉ huy đơn vị chốt giữ cứ điểm Yên Sơn để diệt viện binh của địch. Sau khi đại đội lính Nùng thất thủ, ngày đầu tiên, địch điều một đại đội lính bảo an lên tấn công hòng chiếm lại cứ điểm. Chúng tôi đã nhận định trước tình hình nên bố trí lực lượng mai phục phía trước tiền duyên. Bên trong cứ điểm, ta vẫn giữ bí mật, im lặng, mặc kệ cho chúng đến thật gần. Khi đội hình địch lọt vào trận địa, ngay lập tức lựu đạn, thủ pháo, mìn các loại đã đồng loạt nổ tung. Cả đại đội lính bảo an với vũ khí trang bị đầy mình bỗng chốc không còn một tên sống sót. Biết chắc chắn địch còn tiếp tục tấn công, giải tỏa cứ điểm Yên Sơn để giành lấy vị trí khống chế con đường Quảng Ngãi đi Ba Tơ, nên cấp trên giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 70 tiếp tục chốt giữ Yên Sơn và sẵn sàng chiến đấu chống địch giải tỏa.

Ngày 18 tháng 3 năm 1967, địch tiếp tục điều Tiểu đoàn 39 biệt động Sài Gòn tấn công lên Yên Sơn. Đây là một đội quân thiện chiến của quân đội ngụy với trang bị vũ khí tối tân hiện đại, chuyên nghiệp. Vì vậy, nếu để chúng vào gần cứ điểm thì khả năng tổn thất của ta là không nhỏ. Ban chỉ huy Tiểu đoàn 70 hội ý, quyết định bố trí trận địa mai phục kéo dài từ Kiêm Thành Hạ, xóm Rầy đến thôn Trúc Lâm và tổ chức đánh chặn đầu ở suối Bùn, buộc địch phải dàn mỏng lực lượng ra để đối phó. Quân ta sẽ thực hành vận động, bao vây, chia cắt và tấn công tiêu diệt dứt điểm từng bộ phận, không cho chúng kịp ứng cứu lẫn nhau. Đúng như kế hoạch dự kiến, sau khi cho hỏa lực bắn dọn đường, bọn lính biệt động vừa đì vừa quan sát. Phía ta cũng nhanh chóng vận động ra trận địa mai phục. Lúc bộ phận chặn đầu nổ súng, ngay lập tức các bộ phận khác cũng đồng loạt tiến công không cho địch co cụm, dựa vào hỏa lực mạnh để chống trả. Tuy nhiên, đây là bọn lính thiện chiến, tham gia đánh nhau đã nhiều trận nên khả năng lợi dụng địa hình, địa vật của chúng hơn hẳn bọn lính bảo an trước đó. Mặt khác, lực lượng địch tấn công lần này cũng đông hơn nên ta cũng gặp một số khó khăn trong quá trình chiến đấu. Mặc dù đã chủ động, lên phương án tác chiến cụ thể, dự kiến các tình huống và cách xử trí tỉ mỉ nhưng ta phải chiến đấu suốt sáu tiếng đồng hồ, từ 10 giờ sáng đến 4 giờ chiều, mới xóa sổ được toàn bộ lực lượng địch. Nhưng chiến công cũng thật vang dội. Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 70 đã loại khỏi vòng chiến đấu trên 240 tên, bắt sống 30 tên, thu 250 súng các loại, trong đó có 4 khẩu cối 81mm, 8 khẩu đại liên. Có thể nói, đây là một trận đánh quyết liệt, giòn giã, tiêu diệt nhiều địch, thu được một số lượng lớn vũ khí phục vụ cho công tác sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Mười Hai, 2020, 08:49:38 am
Sau trận đánh xóa sổ Tiểu đoàn 39 biệt động Sài Gòn một thời gian, đơn vị chúng tôi được rút về đứng trong đội hình của Sư đoàn 2, đang đóng quân ở huyện Sơn Tịnh, làm lực lượng dự bị cho Trung đoàn 1 tiến công Đồi Tranh - Quang Thạnh, đánh thiệt hại nặng lữ đoàn lính Đại Hàn từng được mệnh danh “Rồng xanh”, “Mãnh hổ”. Bọn lính này rất gian ác và cực kỳ man rợ. Hễ gặp người dân nào của ta là chúng giết ngay tức thì. Thậm chí, đối với trẻ em mới sinh, bọn chúng còn cầm hai chân xé làm đôi ném vào lửa. Tội ác của địch gây ra cho nhân dân ta chất cao như núi. Nhắc đến bọn lính Đại Hàn, ai cũng căm hờn muốn tiêu diệt hết bọn chúng.

Được sự ủng hộ, giúp đỡ tận tình của nhân dân cộng với tinh thần quyết đánh thắng bọn xâm lược và phải diệt bằng được quân Pắc Chung Hy tàn bạo, gian manh này, Trung đoàn 1 của Sư đoàn 2 đã cùng với Tiểu đoàn 70 làm lực lượng dự bị, chiến đấu quyết liệt suốt đêm, tiêu diệt gần hết Lữ đoàn “Rồng xanh”. Nhận được tin chiến thắng, nhân dân mừng vui khôn xiết.

Chúng tôi tham gia chiến đấu trên chiến trường Quảng Ngãi đến ngày 23 tháng 5 năm 1967 thì nhận được lệnh của quân khu chuyển Tiểu đoàn 70 về Quảng Nam. Lúc này, Ban chỉ huy tiểu đoàn cũng có sự thay đổi về nhân sự. Đồng chí Đỗ Sa được quân khu điều về công tác tại cơ quan quân khu, đồng chí Vũ Thành Năm thay đồng chí Sa làm Tiểu đoàn trưởng. Còn tôi quân khu quyết định từ Tiểu đoàn phó lên đảm nhiệm chức vụ Chính trị viên trưởng tiểu đoàn. Quân số, vũ khí của đơn vị cũng được bổ sung thêm. Cấp trên đã tăng cường cho chúng tôi 100 đồng chí từ miền Bắc vào cùng với các loại vũ khí đi kèm như B40, B41 và AK.

Đơn vị cơ động về trú quân tại thôn Ngũ Xã, thuộc xã Bình Phú, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Dọc đường hành quân, chúng tôi phải đi vòng để tránh địch tuần tra, phục kích. Khoảng quá nửa đêm, tiểu đoàn đến vị trí tập kết, chúng tôi khẩn trương bố trí đội hình vừa đảm bảo bí mật, vừa sẵn sàng chiến đấu. Anh em nhanh chóng đào công sự trú ẩn. Khi trời mờ sáng, mọi công tác trú quân mới ổn định. Đó là ngày 25 tháng 6 năm 1967.

Tình hình địch ở Quảng Nam lúc bấy giờ cực kỳ căng thẳng. Chúng hành quân xuôi ngược khắp nơi; nay phục kích chỗ này, mai càn quét chỗ khác. Trên trời, nhất là khu vực các huyện Thăng Bình, Quế Sơn, Tam Kỳ... thường xuyên có vài ba chiếc máy bay trực thăng quần lượn trinh sát. Chỉ cần phát hiện dấu hiệu nghi ngờ có đối phương ẩn náu là chúng bắn rốc két hoặc xả súng trọng liên, súng phóng lựu xuống ngay; cũng có trường hợp bọn trên máy bay ném đạn khói xuống để báo hiệu cho đồng bọn đổ quân đánh chiếm hoặc gọi máy bay chiến đấu đến giội bom. Dưới mặt đất, Sư đoàn 3 ngụy đóng quân từ hướng Quế Sơn trở ra, Sư đoàn 2 ngụy đóng từ Tuần Dưỡng kéo vào. Lính Mỹ chốt giữ núi Quế - Cấm Dơi. Tuần Dưỡng. Ở phía nam, quân Mỹ đóng ở Chu Lai, Tam Kỳ. Bầu trời Quảng Nam lúc bấy giờ luôn mù mịt bởi khói xe tăng và pháo của địch. Dọc ven tuyến núi từ Răng Cưa qua Kỳ Trà, Kỳ Yên ra đến Đại Lộc, đoạn dốc Ông Thủ, máy bay B-52 rải thảm bom tọa độ suốt ngày đêm. Ngoài ra, địch còn giội bom hóa học suốt từ Phương Đông, Dương Yên xuống Kỳ Yên, Kỳ Trà, Kỳ Quế ra Sơn - Cẩm - Hà, Hiệp Đức, Đèo Le, v.v. Chúng không những gây tội ác với con người mà còn hủy hoại cả thiên nhiên nơi đây. Không biết bao nhiêu cánh rừng nguyên sinh bị chất độc của địch tàn phá, cây cối chết khô chìa cành trụi lá lên không trung như những cánh tay kêu cứu.

Xác định sớm muộn gì địch cũng sẽ tấn công vào nơi trú quân của đơn vị nên chúng tôi sớm xây dựng phương án chiến đấu sát với điều kiện địa hình, phân công lực lượng phục kích suốt ngày đêm, sẵn sàng tiêu diệt địch trước tiền duyên. Trên cương vị công tác mới, tôi chú trọng động viên anh em, nhất là số đồng chí mới được bổ sung từ miền Bắc vào. Mấy hôm đầu, nhiều anh em đã không nghe rõ tiếng Quảng Nam nên thỉnh thoảng lại có những câu chuyện vui được kể lại. Ví dụ ở quê tôi, cái muôi được gọi bằng cái vá. Khi đóng quân trong nhà dân, chủ nhà bảo lấy cái vá ra xới cơm, anh em mình cứ đi loanh quanh mà không tìm thấy cái vá ở đâu chỉ đến khi bà mẹ vào lấy mới giật mình: “Ờ nhỉ! Cái này ở ngoài quê con gọi là cái muôi”. Những câu chuyện như vậy nghe tưởng chừng đơn giản, nhưng nó mang theo suốt đời người lính đi ra khỏi cuộc chiến như một kỷ niệm đẹp.

Hôm đó là ngày 25 tháng 6 năm 1967, hai cánh quân lính thủy đánh bộ của Mỹ đã tổ chức lực lượng như gọng kìm đánh thẳng vào đội hình của Tiểu đoàn 70. Không biết nắm được nguồn tin từ đâu, quân số của ta bao nhiêu và trong suy nghĩ của chúng chắc có lẽ là mấy ông du kích địa phương với trang bị vũ khí thô sơ, cách đánh giản đơn nên chúng có phần chủ quan khinh địch. Vì thế, bọn lính Mỹ đi lại rất ngông nghênh. Chúng đi thành hàng bốn, hàng năm; thậm chí có tên còn phì phèo hút thuốc. Chúng tôi bình tĩnh quan sát và biết chắc bọn này sẽ phải trả giá cho sự coi thường đối phương, sớm phải đền tội bởi những tội ác do chúng gây ra đối với nhân dân Quảng Nam. Đội hình đi đầu của chúng đi thẳng vào trận địa phục kích của Đại đội 2. Anh em vẫn bình tĩnh quan sát, sẵn sàng chiến đấu. Khi những tên lính đi đầu cách vị trí phục kích của ta khoảng 10 mét, tôi ra lệnh nổ súng. Khẩu lệnh nhỏ, đanh gọn thể hiện sự quyết đoán của người chỉ huy vừa dứt thì ngay lập tức những tiếng súng AK điểm xạ chắc nịch đã quật ngã những tên vừa mới xì là, xì lồ ngay trước đội hình chiến đấu của tiểu đoàn. Bọn địch ở phía sau chạy tán loạn, mạnh đứa nào thì đứa ấy chạy, đội hình hàng bốn lúc đầu trở thành một mớ hỗn độn. Vô phúc cho chủng, chạy đến đâu cũng chạm phải các cánh quân khác của tiểu đoàn. Các loại hỏa lực của ta kết hợp với xung lực phát huy tốt hiệu quả đã tiêu diệt phần lớn lính Mỹ trước tiền duyên phòng ngự. Bị đánh bất ngờ không kịp chống đỡ, bọn lính thủy đánh bộ không còn khả năng chiến đấu, buộc địch phải đổ quân tăng cường ở phía trước, phía sau đội hình tiểu đoàn. Mặc dù trong điều kiện bốn phía xung quanh đều có địch, nhưng chúng tôi vẫn quyết tâm bám trụ, chiến đấu quyết liệt với chúng. Do địa bàn chiến đấu hẹp, phân tuyến hai bên quá gần nên máy bay địch đến ném bom đã không đánh được vào mục tiêu. Dường như nhận biết được khi màn đêm buông xuống sẽ là điều bất lợi cho chúng, trong khi đó xác lính chết ngày càng nhiều. Vì thế, trời càng về chiều, chúng tăng quân số để giữ xác lính Mỹ chết và hòng đánh bại lòng quả cảm của cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 70, quyết tâm tiêu diệt và bắt sống đơn vị Việt cộng dám nằm sâu trong sào huyệt của chúng. Tiếc rằng, mọi mong muốn đó của địch đều trở thành ảo vọng, hay nói đúng hơn là ác mộng, Chúng đã gặp một bức tường thành kiên cố được xây dựng từ lòng yêu nước và sự đùm bọc của nhân dân.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Mười Hai, 2020, 08:50:03 am
Quần nhau với địch suốt cả ngày, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 70 đã đánh thiệt hại nặng hai đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ, làm chết tại chỗ 165 tên. Biết trận địa đã bị lộ, sớm muộn gì địch cũng điều máy bay đến ném bom đánh phá nên ngay đêm hôm đó chúng tôi bí mật di chuyển đội hình về đóng quân ở thôn Vinh Huy, xã Bình Lãnh, huyện Thăng Bình. Lúc này, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 2, Quân khu 5, đã chuyển về đứng chân ở các huyện Hiệp Đức và Quế Sơn. Biết Tiểu đoàn 70 chiến đấu cả ngày với hàng trăm máy bay địch, sợ có thương vong lớn xảy ra nên ngay tối hôm ấy đồng chí Thạch - Tư lệnh sư đoàn và đồng chí Đạo, Chính ủy Sư đoàn, đã điều một đại đội vận tải và một đội phẫu chi viện cho đơn vị để giải quyết công tác thương binh, liệt sĩ. Tuy nhiên, bằng cách đánh: “Đánh sát địch, bám thắt lưng địch mà đánh” nên quân số của tiểu đoàn thương vong rất ít. Nghe tin này, các đồng chí không kìm nén được niềm vui, đã ôm nhau cười hỉ hả và cùng đưa quân trở về.

Chúng tôi được lệnh hành quân lên Quế Sơn để củng cố đơn vị. Sau trận chiến đấu trên, đồng chí Tiểu đoàn trưởng bị thương phải đi nằm bệnh viện để điều trị. Vì thế, tôi đã kiêm luôn chức Tiểu đoàn trưởng, chỉ huy mọi hoạt động của đơn vị tại xã Sơn Long. Lúc này, một số vị trí nhỏ trong tiểu đoàn được thay đổi do các đồng chí đã bị thương hoặc hy sinh trong chiến đấu, chúng tôi phải điều chỉnh để đảm bảo chỉ huy, hỏa lực, xung lực trong thực hành chiến đấu.

Sáng ngày 23 tháng 7 năm 1967, đúng ngay rằm tháng 7, một đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ từ Cấm Dơi lên Sơn Thắng. Buổi tối, chúng co cụm lại ở khu vực máy gạo. Chúng tôi hội ý chỉ huy nhận định đây là cơ hội diệt địch rất tốt. Ngay sau đó, cán bộ tiểu đoàn đi chuẩn bị chiến trường luôn. Đồng thời, các đồng chí ở lại phân công chỉ huy, hướng dẫn anh em làm công tác chuẩn bị chiến đấu trong đêm, Khi bộ phận đi trinh sát chuẩn bị chiến trường về, chúng tôi hội ý khẩn trương và xác định cách đánh, phân công lực lượng các hướng, mũi. Tôi động viên anh em và trực tiếp chỉ huy xuất kích. Đoàn quân bí mật lẫn vào bóng đêm với trái tim rực cháy quyết tâm chiến đấu và niềm tin chiến thắng. Đúng 2 giờ 30 phút ngày 24 tháng 7 năm 1967, các mũi áp sát nơi trú quân của địch, mũi chủ yếu đã cắm hẳn vào trung tâm. Không gian vẫn im như tờ. Bọn lính Mỹ vẫn say sưa giấc nồng, chỉ có tên lính gác đang gật gà, gật gù trông có vẻ như nửa thức, nửa ngủ. Chúng không hề biết phút báo tử của mình sắp đến. Các mũi của ta vẫn giữ được bí mật. Khi tất cả đã sẵn sàng, tôi ra lệnh nổ súng. Tức thi đồng loạt, lựu đạn, thủ pháo gầm lên xé nát sự tĩnh mịch của bóng đêm. Những quầng lửa hốc cao thiêu rụi doanh trại dã chiến của địch, Lính Mỹ bị bất ngờ, không kịp trở tay. Với quyết tâm không để địch hồi phục, phát huy hỏa lực, chúng tôi nhanh chóng nổ súng xung phong. Những đường bắn găm, bắn gần của bộ đội liên tiếp quật ngã những tên lính ngoan cố chống trả. Kết quả. sau hơn một giờ ba mươi phút chiến đấu, ta đã tiêu diệt gọn đại đội lính thủy đánh bộ của Mỹ, loại khỏi vòng chiến đấu 85 tên, thu 50 súng. Trong trận này, cá nhân tôi đã sử dụng 3 quả lựu đạn đánh vào 3 hầm của lính Mỹ diệt 15 tên. Có thể nói, đây là một trận đánh thật chớp nhoáng, nhưng cũng rất hiệu quả, hiệu suất chiến đấu gần như tuyệt đối.

Sau đó, đơn vị cơ động về xã Sơn Thạch, huyện Quế Sơn để củng cố, sắp xếp lại lực lượng. Bất ngờ, ngày 2 tháng 8 năm 1967, một đại đội lính Mỹ từ Cấm Dơi hành quân lên Sơn Long. Gặp trời tối, chúng dừng lại đóng quân ở vườn dâu phía bắc đèo Rập Cu. Nhận được nguồn tin từ cơ sở, chúng tôi không ngờ cơ hội diệt địch đến nhanh như vậy. Không bỏ lỡ thời cơ, chỉ huy tiểu đoàn nhanh chóng hội ý phân công nhiệm vụ. Tôi trực tiếp cùng một số đồng chí cán bộ và chiến sĩ liên lạc đi trinh sát, chuẩn bị chiến trường. Với kinh nghiệm trận đánh trước, các đồng chí ở lại cũng triển khai tốt công tác chuẩn bị chiến đấu để đưa cả đội hình đi theo. Lợi dụng sơ hở của địch khi mới đứng chân, chúng tôi vừa quan sát vừa lên phương án chiến đấu. Ngay tại vị trí trinh sát, tôi phân công từng hướng mũi cho các chỉ huy bộ phận để các đồng chí chủ động lựa chọn hình thức tiếp cận mục tiêu của bộ phận mình. Chúng tôi làm công tác chuẩn bị đến 20 giờ thì hoàn thành. Tôi nhắc lại nhiệm vụ của từng đơn vị cụ thể, vị trí tạm dừng, tín hiệu hiệp đồng trong chiến đấu, v.v. để các đồng chí cán bộ chỉ huy nắm chắc và phổ biến cho bộ phận của mình. Đơn vị nhanh chóng cơ động áp sát mục tiêu. Các hướng mũi theo sự phân công từ trước đã chủ động cơ động tiếp cận mục tiêu được giao, nằm đợi lệnh nổ súng. Nhận được báo cáo của các đơn vị đã sẵn sàng, tôi ra lệnh cho đồng chí xạ thủ B41 nằm bên cạnh bắn tiêu diệt ngay ổ đại liên của địch bố trí ngay trước mặt làm hiệu lệnh trận đánh. Ngay lập tức các khẩu B40, B41 còn lại đồng thời phát hỏa thiêu rụi ngay mục tiêu đã được xác định phần tử bắn từ trước. Đồng thời, bộ binh tung lựu đạn, thủ pháo vào các nhà bạt được chúng quây tạm thời và đánh thẳng vào bên trong. Lựu đạn, thủ pháo nổ riết róng, súng AK bắn từ bốn phía khiến quân địch bị bất ngờ không biết đối phương từ hướng nào đến mà chống trả. Vì thế chúng bắn tứ tung, thậm chí bắn cả vào đồng bọn. Kết quả sau hơn một giờ chiến đấu, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 70 đã loại khỏi vòng chiến đấu 65 tên lính Mỹ, làm chủ trận địa, thu 12 khẩu súng AR15, 4 khẩu M79. Nghe tiếng súng nổ, quân địch ở Cấm Dơi biết bọn đi càn lên Sơn Long đã bị tập kích nên tổ chức phản ứng quyết liệt. Chúng dùng cả pháo binh, máy bay trực thăng và pháo sáng đánh thẳng vào đội hình đơn vị nên chúng tôi phải nhanh chóng lui quân.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Mười Hai, 2020, 08:50:30 am
Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, có một điểm đặc biệt là các đơn vị trên chiến trường Quảng Nam ít khi đóng quân tại chỗ. Hễ gặp địch ở đâu là đánh đấy, sau đó lại cơ động đến địa bàn khác để đảm bảo an toàn và giữ vững yếu tố bất ngờ. Vì vậy, Tiểu đoàn 70 đánh xong trận này lại hành quân về xã Bình Phú, huyện Thăng Bình, đóng quân ở khu vực Đức An, An Lý. Đến bất cứ địa điểm đóng quân mới nào, chỉ huy đơn vị cũng phải kịp thời xác định tốt phương án chiến đấu cho mọi loại hình tiến công, phòng ngự sát với tình hình thực tế. Lần đó, chúng tôi đứng chân được hai ngày thì một tiểu đoàn lính Mỹ từ Cấm Dơi hành quân qua Vinh Huy, kéo xuống Đức An, An Lý... Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 70 lại thêm một cơ hội lập công lớn. Chúng tôi nhanh chóng triển khai lực lượng theo phương án sẵn sàng chiến đấu tại chỗ. Khoảng 10 giờ ngày 17 tháng 8 năm 1967, đội hình đi đầu của địch đã lọt vào khu vực tập trung tiêu diệt địch của Đại đội 2, Đại đội 1 và Đại đội 4. Chỉ huy tiểu đoàn lập tức ra lệnh nổ súng tiêu diệt gọn bộ phận đi đầu của địch. Trong chớp nhoáng, gần 100 tên lính Mỹ bị loại khỏi vòng chiến đấu. Số còn lại phía sau vội vàng tháo chạy. Chúng co cụm lại ở dãy đồi 59-62. Do bị ta đánh quá gần, xác chết của lính Mỹ chỉ cách trận địa của Tiểu đoàn 70 từ 15 đến 20 mét, nên pháo binh và máy bay địch đều bắn vào phía sau đội hình của ta. Do đó, mặc dù chúng tôi chiến đấu cả ngày với địch, nhưng quân số thương vong rất ít.

Quyết tâm không bỏ lỡ thời cơ tiêu diệt nốt số quân địch còn lại, tối hôm ấy, tức tối ngày 17 tháng 8 năm 1967, tôi trực tiếp cùng đồng chí Lạng - Đại đội trưởng Đại đội 3, chỉ huy đại đội tập kích địch trên đồi 62. Lúc này, lực lượng Đại đội 3 còn nguyên vẹn, chúng tôi tổ chức thành ba mũi tập kích vào đồi 62. Ban chiều, khi chúng rút chạy, chúng tôi quan sát thấy quân địch ở đồi 62 đang làm công sự. Chúng dùng bao đổ đầy đất, cát rồi đắp dựng lên để xây thành công sự. Buổi tối, tôi chỉ huy bộ phận trinh sát bò vào đến giữa đồi thì không thấy tên lính Mỹ nào. Lúc đó, tôi nghĩ chắc bọn này có tài độn thổ như trong phim thần thoại. Tuy nhiên, khi quan sát kỹ, chúng tôi phát hiện thấy chúng đang ở triền đồi. Sở dĩ địch chuyển địa điểm như vậy vì sợ bị ta pháo kích nên đã triển khai đội hình ở lưng chừng đồi 62. Sau khi nắm chắc cách bố trí của địch, tôi bí mật đưa anh em lên giữa đỉnh đồi và tổ chức thành 3 mũi từ trên đánh sả xuống, xé nát đội hình của địch. Bọn lính trên đồi 62 hoàn toàn bị bất ngờ, không kịp chống trả. Cụ thể, sau hơn một giờ chiến đấu, ta đã diệt gọn một đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ, làm chủ đồi 62, thu 40 khẩu súng AR15 và AR16. Như vậy, tính cả ngày hôm đó, chúng tôi đã thu được 60 vũ khí các loại. Do điểm cao 59 cách điểm cao 62 không xa nên địch phản ứng rất quyết liệt. Chúng dùng trực thăng quần đảo bắn phá liên tục, thả pháo sáng suốt đêm làm sáng cả khu vực xã Bình Phú. Mặc cho địch điên cuồng bắn súng, ném bom xuống đồi 62, sau khi tiêu diệt gọn đại đội lính Mỹ, chúng tôi vẫn tổ chức lui quân an toàn. Kết quả chung tính cả ngày và đêm hôm đó, Tiểu đoàn 70 đã loại khỏi vòng chiến đấu gần hết 2 đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ. Về phía ta cũng có thương vong, nhưng rất ít.

Sau trận đánh, đồng chí Thạch - Tư lệnh sư đoàn và đồng chí Đạo - Chính ủy Sư đoàn 2 đi kiểm tra thực địa đã tấm tắc khen ngợi cách đánh của chỉ huy Tiểu đoàn 70 đúng là: “Nắm thắt lưng Mỹ mà đánh”, “Tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt”, trận đánh đồi 62 là cách đánh “nở hoa trong lòng địch”. Thực ra, các đồng chí đi kiểm tra cùng vì tình nghĩa bạn chiến đấu của Tiểu đoàn 70 vừa tách khỏi đội hình sư đoàn về lại Quảng Nam. Hành động của đồng chí Thạch và đồng chí Đạo đối với tôi như một ân tình của người cán bộ chỉ huy dành cho cấp dưới trong chiến đấu. Đó cũng là bài học thực tế trong hoạt động công tác đảng, công tác chính trị của tôi trong quá trình công tác.

Vị trí trú quân ở Thăng Bình không còn yếu tố bí mật, chúng tôi được lệnh hành quân về huyện Bắc Tam Kỷ và đứng chân ở các xã Kỳ Phước, Kỳ An. Khi đơn vị vừa ổn định nơi ăn ở, tôi cùng đồng chí Tiểu đoàn trưởng Vũ Thành Năm đi nhận nhiệm vụ ở trên. Cụ thể, Tiểu đoàn 70 có nhiệm vụ đánh sâu vào thị xã Tam Kỳ để rút kinh nghiệm cho chiến dịch lớn sau này và cũng nhằm mục đích kéo lực lượng địch càn quét ở phía tây Tam Kỳ về lại thị xã. Nhận thức đây là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng, có ý nghĩa to lớn trong xây dựng quyết tâm chiến đấu của cấp trên, chỉ huy đơn vị chúng tôi đã hội ý khẩn trương, Đảng ủy Tiểu đoàn kịp thời ra nghị quyết lãnh đạo nhiệm vụ chiến đấu, phân công cán bộ phụ trách từng mặt công tác cụ thể, tỉ mỉ gắn với trách nhiệm từng đồng chí. Sau đó, bố trí cán bộ tiểu đoàn, đại đội cùng một số đồng chí chiến sĩ đi trinh sát, chuẩn bị chiến trường từ phía tây hướng Kỳ Thịnh, kiểm tra toàn bộ khu vực từ nhà lao vào đến cơ quan Sư đoàn bộ Sư đoàn 2 ngụy đóng ở gần sát phía đông Tam Kỳ. Do phạm vi chiến đấu rộng, quân số địch đông, đồn bốt được xây dựng kiên cố, vũ khí trang bị hiện đại, có máy bay, xe tăng và pháo binh chi viện trực tiếp nên tiểu đoàn được tăng cường thêm Đại đội 16 đặc công của tỉnh. Sau khi nghiên cứu mục tiêu, chúng tôi xác định hình thức tác chiến là hình thức mật tập, từ bên trong đánh ra. Sau khi được cấp trên thông qua cách đánh, đơn vị đắp sa bàn và tổ chức huấn luyện, thực hành hiệp đồng chiến đấu.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Mười Hai, 2020, 08:50:59 am
Đêm mùng 5 tháng 9 năm 1967, đơn vị bắt đầu hành quân chiếm lĩnh trận địa. Ngoài tên lính gác ôm súng đi lại, trước mắt chúng tôi thị xã Tam Kỳ im lìm như một thiếu nữ đang say giấc ngủ. Tôi bình tĩnh chỉ huy đơn vị bố trí đội hình chiến đấu theo phương án. Đúng một giờ ngày mùng 6, tất cả các mũi đã áp sát mục tiêu. Đến giờ G theo hiệp đồng, tôi ra lệnh nổ súng. Ngay lập tức, lựu đạn, thủ pháo của ta dồn dập tấn công làm tê liệt hoàn toàn tiểu đoàn lính bảo an và tiêu diệt gần hết quân số cùng ban chỉ huy tiểu đoàn địch. Nghe tiếng súng rộ lên bất ngờ, địch từ các hướng phản ứng quyết liệt. Chúng dùng 8 chiếc xe tăng của Sư đoàn 2 ngụy từ dưới ga Tam Kỳ cùng với bộ binh địch ngồi trên xe cơ động lên bịt cửa mở phía tây của tiểu đoàn. So về tương quan lực lượng, ưu thế thuộc về phía địch. Vì vậy, từ đó trận đánh diễn ra rất quyết liệt. Trước tình hình như vậy, tôi hội ý với đồng chí Năm và quyết định lập tức mở đường ra phía bắc, tức hướng Phương Hòa, tổ chức cho đơn vị lui quân an toàn. Tuy nhiên, sau hơn hai giờ chiến đấu, Tiểu đoàn 70 cùng với Đại đội 16 đã tiêu diệt gần hết một tiểu đoàn lính bảo an, làm náo động cả Tỉnh đường Quảng Tín. Vì thế, các đơn vị của địch càn quét phía tây buộc phải kéo về đối phó với tình hình thị xã Tam Kỳ, đúng như ý định chiến đấu của ta. Trong trận này, tôi vừa chỉ huy đơn vị vừa nổ súng tiêu diệt được 14 tên lính ngụy. Cấp trên đánh giá đây là một trận tập kích táo bạo ở sâu trong hậu phương địch của Tiểu đoàn 70 và Đại đội 16 đạt hiệu suất chiến đấu cao.

Bây giờ, mặc dù chiến tranh đã trôi qua hàng thập kỷ, nhưng tôi vẫn không thể nào quên những ngày tháng hào hùng của dân tộc, tôi đã cùng đồng đội rong ruổi trên khắp chiến trường để “tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt”. Trong số đó, nhiều đồng chí không được may mắn như tôi đã đi hết cuộc chiến mà vĩnh viễn nằm lại nơi chiến địa. Có không ít lần tôi hứa trước anh linh của các anh nếu có điều kiện trở về sau cuộc chiến thì tôi sẽ viết về những năm tháng gian lao và anh dũng mà thế hệ chúng tôi đã trải qua để lớp con cháu sau này hiểu được giá trị của độc lập, tự do mà bao lớp cha ông đã không tiếc máu xương mới giành được. Trở lại thời kỳ cuối những năm sáu mươi của thế kỷ XX, Tiểu đoàn 70 chúng tôi vẫn tiếp tục hành quân “tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt”. Sau một thời gian chuẩn bị và tổ chức huấn luyện chiến đấu, đơn vị chúng tôi được phân công đánh cứ điểm Mộc Bài ở xã Quế Xuân, huyện Quế Sơn. Ở đây, địch bố trí một đại đội bộ binh nằm trong công sự, xung quanh cứ điểm được bao bọc bởi 5 lớp rào kẽm gai. Lúc này, đồng chí Năm vẫn làm Tiểu đoàn trưởng, còn tôi là Chính trị viên kiêm Bí thư Đảng ủy Tiểu đoàn. Sau khi đi trinh sát thực địa, nghiên cứu kỹ địa hình và cách bố phòng của địch, chúng tôi quyết định sử dụng phương pháp dùng bộc phá nổ liên tục phá vỡ các hàng rào, đưa lực lượng đột kích vào bên trong tiêu diệt địch. Tương tự những trận đánh trước, anh em đã có kinh nghiệm trong hành quân chiến đấu và thực hành chiến đấu. Vì vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, chúng tôi đã phá tung 5 hàng rào kẽm gai của địch. Tôi dẫn đầu mũi chủ yếu, cũng là dẫn đầu đội hình xung phong đánh chiếm cứ điểm Mộc Bài. Khi vượt qua khỏi cửa mở, tôi trúng đạn của địch, bị thương nặng ngất đi, không còn biết gì. Anh em phải đưa về trạm phẫu. Năm ngày sau, tôi mới tỉnh dậy. Giật mình nhìn xung quanh, tôi biết mình vẫn còn sống và đang nằm trong hầm. Bất chợt, tôi nghe một tiếng reo khe khẽ:

- Anh ấy tỉnh rồi mẹ ơi!

- Ừ! Con đứng đây trông chừng để mẹ xuống hầm coi sao nhé!

Trước mắt tôi, một người mẹ già có gương mặt phúc hậu, đang cúi xuống nhìn tôi và mẹ lặng lẽ sờ trán tôi, thì thầm:

- Con tỉnh rồi, mẹ mừng lắm. Mấy hôm trước anh em khiêng đến, thấy con nằm mê man, mẹ sợ không qua khỏi.

Lúc này, tôi chưa nói được nhiều nên chỉ gật đầu, đưa ánh mắt ra hiệu cảm ơn người mẹ cơ sở. Vài hôm sau, khi sức khỏe của tôi dần hồi phục, người mẹ ấy mới tâm sự về gia đình. Từ đó, tôi mới biết đây là nhà bác Quế, tên thật là Nguyễn Thị Đài, nhưng chồng bà tên là Quế nên dân làng thường gọi là bà Hai Quế ở thôn Hà Bình, xã Hình Đào, nay là xã Bình Minh, huyện Thăng Bình. Khi viết những dòng này, dù đã nhiều năm trôi qua, song tôi vẫn nhớ như in về gia đình ân nhân của mình. Hồi ấy, mẹ Quế có hai người con gái còn nhỏ tên là Hoa và Huệ. Chồng mẹ, tức ông Hai Quế, là cán bộ tập kết. Ngoài ra, mẹ Quế còn có hai người con trai đi bộ đội, đã hy sinh. Ngày ấy, đội phẫu của Tỉnh đội Quảng Nam đóng tại thôn Hà Bình để cứu chữa thương binh. Tuy nhiên, sau đó ít ngày, Mỹ đã đổ quân càn quét khu vực này. Vì vậy, ta chưa kịp đưa thương binh đi nơi khác mà phải chuyển xuống hầm bí mật. Mẹ Quế là một trong những người đầu tiên tham gia đào hầm bí mật để nuôi giấu thương binh. Trạm phẫu đã bố trí cho tôi và 3 đồng chí thương binh khác ở tại nhà mẹ. Khi lính Mỹ đi càn, chúng dùng cây gậy hoặc những cái thuốn sắt nhọn xăm tìm hầm bí mật trong nhà, ngoài vườn. Trước tình hình này, mẹ Quế và hai cô con gái đã giả vờ đại tiện, tiểu tiện quanh hầm và nằm lăn ra để đánh lừa bọn lính Mỹ. Mặc cho chúng nói hay hỏi gì, ba mẹ con mẹ Quế đều trả lời: “No! No!”. Bởi vì trước đó, các đồng chí cán bộ binh vận đã dạy nhân dân đôi ba từ tiếng Anh như: “No! No!” (đọc là nâu, nâu), nghĩa là không, hoặc “OK” (đọc là ô kê), nghĩa là có. Do đó, khi lính Mỹ càn lên, bà con ta cứ thế “nâu, nâu”. Nhớ lại những năm tháng ấy, tôi mới thấm sâu ý nghĩa lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác dân vận: “Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”. Chúng tôi đã được nhân dân đùm bọc chở che khi lâm trận, được nhân dân nuôi dưỡng lúc ốm đau, thương tật. Đối với tôi, thời gian được ở với gia đình mẹ Quế đã trở thành một kỷ niệm sâu sắc không thể nào quên. Mẹ đã che giấu, nuôi dưỡng chúng tôi gần hai tháng. Mẹ rất thương yêu và coi tôi như con ruột của mình. Dường như mẹ muốn bù đắp cho tôi những thiếu hụt tình cảm khi chiến đấu xa nhà. Quần áo của tôi, mẹ tự tay giặt giũ chứ không để cho con gái giặt. Hàng ngày, đến bữa ăn, mẹ đều dành cho tôi phần cơm có nhiều thức ăn ngon bảo em Hoa hoặc Huệ mang lên. Vì lúc đó, tôi ở nhà trên, gần bàn thờ gia tiên, chân đang bị gãy chưa đi lại được. Mỗi lần thấy các em đưa cơm lên, tôi phát hiện khi đi xuống họ cứ bước giật lùi. Tôi cứ thắc mắc mãi về chuyện này. Khi có điều kiện, mẹ Quế mới giải thích rằng, quan niệm của mẹ là con gái không được lên nhà trên và không quay lưng về phía bàn thờ. Nghe lời của mẹ, tôi càng thấy tình cảm của mẹ Quế dành cho tôi thật lớn lao. Vì tôi, mẹ đã chấp nhận để con gái đi qua chốn linh thiêng, mặc dù lúc đó bàn thờ nhà mẹ chỉ có một bát nhang bằng vỏ chai thủy tinh được cắt làm đôi. Nhắc đến mẹ Quế, tôi lại liên tưởng đến thói quen nhai trầu của mẹ. Kể cả những lúc người mẹ mảnh mai, hiền hậu, nhưng đầy mưu trí ấy dũng cảm đối mặt với kẻ thù, miệng mẹ vẫn bỏm bẻm miếng trầu cay như thể nó làm cho mẹ thêm phần sáng suốt để đấu trí với địch, nhằm bảo vệ đàn con chiến sĩ thương binh đang nằm dưới hầm bí mật. Để có được cuộc sống hôm nay, tôi luôn ghi lòng tạc dạ công ơn của gia đình mẹ Quế cũng như bà con lối xóm Hà Bình đã cưu mang, đùm bọc tôi và đồng đội vượt qua những ngày đen tối của chiến tranh. Bài học về cuộc chiến tranh nhân dân, toàn diện, có dân thì có tất cả lại thêm phần tỏa sáng trong mỗi trái tim cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 70 ngày ấy. Tôi cũng như các đồng chí khác đều có chung nhận xét, đối với anh em thương binh năm đó, mẹ Quế luôn là người mẹ anh hùng. Sau này, khi đất nước giải phóng được hơn ba mươi năm, để tưởng nhớ công ơn của mẹ Quế và gia đình, nhân dịp con cháu mẹ tổ chức trùng tu lại phần mộ của mẹ cùng những người con đã khuất, tôi đã làm 4 bộ bia đá về tặng gia đình để phần mộ mẹ được khang trang.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Mười Hai, 2020, 08:51:30 am
Những ngày cuối năm 1967, sau hơn một tháng rưỡi nằm điều trị vết thương tại đội phẫu ở vùng đông Thăng Bình, tôi trở về đơn vị. Sở dĩ tôi phải nằm lại nhà mẹ Quế lâu như vậy vì lúc này ta không thể chuyển thương binh đi được. Nguyên nhân do lính Mỹ lập các chốt chặn, kiểm soát gắt gao, ngăn giữ quốc lộ 1. Đồng thời, chúng tổ chức đánh phá ác liệt phía tây huyện Thăng Bình. Lúc đó, Tiểu đoàn 70 được lệnh về đóng quân ở xã Bình Triều. Gần hai tháng xa đơn vị, xa anh em, đồng chí, đồng đội, tôi không biết những con người vào sinh ra tử với tôi ai còn ai mất. Trong điều kiện địch bủa vây tứ phía nên tin tức về tiểu đoàn không dễ gì lọt đến chỗ chúng tôi. Vì vậy, mặc dù đường đi ẩn chứa nhiều nguy hiểm, nhưng tôi vẫn cố đi cho chóng để về sớm gặp được anh em. Khi vào đến khu vực đóng quân của đơn vị, một số đồng chí đã ùa ra ôm chầm lấy tôi, hỏi tíu tít:

- Thủ trưởng khỏi hẳn chưa? Trận đánh tiếp theo thủ trưởng có tham gia được không?

- Các đồng chí cứ yên tâm! Tuy vết thương chưa lành hẳn, nhưng tôi đã có thể sát cánh cùng anh em trong mọi trận đánh.

Tôi trả lời và bắt tay từng chiến sĩ, sau đó đi kiểm tra một số nơi về điều kiện ăn ở của bộ đội. Phát hiện thấy một số vị trí thiếu vắng, tôi biết anh em đã hy sinh hay bị thương đang điều trị, cổ tôi như nghẹn lại. Mỗi lần như vậy, tôi lại đứng nghiêm và thẩm hứa: “Các đồng chí hãy yên nghỉ. Chúng tôi sẽ thay các anh tiếp tục chiến đấu với quân thù để giành độc lập cho Tổ quốc”.

Tôi vừa về đến đơn vị được hai hôm, mới nắm lại tình hình tổ chức biên chế thì có một bộ phận sư đoàn không vận Mỹ đổ quân ngay tại khu vực đóng quân của chúng tôi. Lúc đó, các đồng chí cán bộ, chỉ huy tiểu đoàn về quân sự và cán bộ đại đội quân sự đều đi chuẩn bị chiến trường. Vì thế, chỉ có một mình tôi chỉ huy mọi hoạt động của đơn vị. Tôi phân công anh em theo dõi, nắm chắc tình hình địch, bám sát từng động tĩnh của chúng. Đồng thời, ta bố trí lực lượng sẵn sàng đón địch và đưa cổ chúng vào tròng. Khi địch vừa đổ quân bằng trực thăng xuống với lực lượng hơn hai đại đội và đoàn xe tăng từ Tuần Dưỡng, núi Quế đánh vào đội hình của Tiểu đoàn 70. Tuy nhiên, chúng tôi đã chủ động bố trí sẵn các loại hỏa lực, xung lực từ cổng 24 và 25, xã Bình Triều. Chờ cho đội hình địch lọt hẳn vào trận địa phục kích, chỉ cách quân ta từ 20 đến 30 mét, tôi ra lệnh nổ súng. Ngay lập tức, súng AK, lựu đạn đua nhau nổ. Số lính bộ binh Mỹ đi đầu rơi vào đúng vị trí tập trung diệt địch của ta nên nhanh chóng bị tiêu diệt. Xe tăng Mỹ lúc đó không còn bộ binh hộ tống đã liều lĩnh vượt lên, lao vào cổng 24. Các xạ thủ B40, B41 của Đại đội 2 ở cổng 24 đã xác định phần tử bắn, chỉ chờ có vậy để lập công. Kết quả, ba chiếc xe tăng địch bị thiêu rụi ngay tại chỗ, số còn lại phải tháo chạy ra ngoài xa. Trong khi đó, ở hướng cổng 25, xe tăng địch tiến vào sát cổng khoảng 30 đến 40 mét. Địch cũng không ngờ ở hướng này, các xạ thủ B40, B41 của Việt cộng đã chờ sẵn để khai tử cho chúng. Cụ thể, hướng cổng 25, ta bắn cháy hai xe, số còn lại tháo chạy về hướng núi Rướng, xã Bình Phục. Trong khi phía trước trận địa số lính Mỹ chết ngổn ngang, xe tăng còn cháy rần rật thì địch điều không quân lên tiếp ứng. Hàng chục chiếc máy bay, chia thành từng tốp liên tục bắn phá vào đội hình của Tiểu đoàn 70. Dù vậy nhưng địch vẫn không dám tiếp tục tấn công bằng bộ binh mà dùng pháo binh và xe tăng bắn phá vào đội hình của ta. Chớp thời cơ, Đại đội 4 là đại đội hỏa lực của tiểu đoàn được trang bị gồm súng máy phòng không 12,7mm và cối 81mm đã cùng hỏa lực của các đại đội bắn trả quyết liệt, làm cháy tại chỗ 5 chiếc máy bay trực thăng của địch.

Trận chiến đấu ác liệt trong thế giằng co giữa ta và địch suốt từ 10 giờ đến 18 giờ ngày 14 tháng 12 năm 1967. Mặc dù cán bộ quân sự đi vắng, quân số chênh lệch, kém ưu thế về vũ khí khí tài trang bị, v.v. nhưng cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 70 đã thể hiện sự kiên cường, dũng cảm của người chiến sĩ cách mạng trong chiến đấu. Ta đã tiêu diệt tại chỗ trên 80 tên lính Mỹ. Nhiều đồng chí thực sự là tấm gương tiêu biểu để mọi người học tập. Trong đó, đặc biệt có đồng chí Trương - Đại đội trưởng Đại đội 2, tuy bị thương nhưng vẫn không rời trận địa. Ép mình sát thành công sự, đồng chí sử dụng súng AK bắn điểm xạ chính xác từng tên lính Mỹ. Khi pháo binh và xe tăng bắn dữ dội vào trận địa, một quả đạn rơi ngay xuống chiến hào nơi đồng chí Trương ẩn náu. Anh đã anh dũng hy sinh khi tuổi đời chưa tròn ba mươi. Đêm hôm ấy, tiểu đoàn thu dọn chiến trường đưa liệt sĩ về thôn Phước Châu xã Bình Triều để an táng. Còn các đồng chí thương binh được chuyển về xã Bình Đào huyện Thăng Bình điều trị. Như vậy, sau nhiều trận chiến đấu với lính Mỹ, đây là lần đầu tiên Tiểu đoàn 70 chạm trán một bộ phận của lực lượng Sư đoàn không vận Mỹ.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Mười Hai, 2020, 06:05:09 am
Bước sang năm 1968, Tiểu đoàn 70 hành quân về các xã Phước Tân, Phước Tiên, huyện Tiên Phước, để củng cố, bổ sung quân số, tổ chức huấn luyện chiến đấu để chuẩn bị cho chiến dịch lịch sử mùa Xuân năm 1968. Lúc này, cấp trên chỉ phổ biến một số tình hình và nét lớn của nhiệm vụ trong thời gian tới. Tuy nhiên, chúng tôi nhận thức được rằng chiến dịch này là chiến dịch tổng tiến công nổi dậy để giải phóng hoàn toàn miền Nam, ai cũng nhập tâm lời thề: “Thề quyết tử để Tổ quốc quyết sinh, giờ lịch sử đã đến”. Tuy nhiên, sau chiến dịch, khi tổng kết ta mới nói đó là trận tập kích chiến lược.

Theo yêu cầu nhiệm vụ của cấp trên, Tiểu đoàn 70 đảm nhiệm vai trò chủ công của lực lượng vũ trang tỉnh Quảng Nam có nhiệm vụ tấn công vào thị xã Tam Kỳ. Nhiệm vụ cụ thể của tiểu đoàn là đánh chiếm vào Tỉnh đường Quảng Tín, tòa hành chánh tỉnh trưởng và giải phóng nhà lao. Trong quá trình chiến đấu, nếu bộ đội “bị thương thì bò vào bệnh viện Tam Kỳ để cứu chữa”. Chúng tôi nhận nhiệm vụ về cũng tiến hành quán triệt cho anh em yêu cầu nhiệm vụ như vậy, đồng thời nhấn mạnh về công tác thương binh, liệt sĩ mà cấp trên đã lưu ý. Đến thời điểm này, Ban chỉ huy tiểu đoàn vẫn chưa có gì thay đổi. Tiểu đoàn trưởng là đồng chí Vũ Thành Năm. Tôi làm Chính trị viên tiểu đoàn kiêm Bí thư Đảng ủy. Trong cuộc đời binh nghiệp của mình đã trải qua nhiều cương vị công tác khác nhau, từ cán bộ quân sự đến cán bộ chính trị, tôi rút ra được rằng bất cứ tình huống nào yếu tố đoàn kết cũng luôn đóng vai trò then chốt trong việc giành chiến thắng. Để làm được điều đó, trước hết, phải bắt đầu từ mối quan hệ của những người chỉ huy. Quan hệ của tôi và đồng chí Năm có thể nói là một ví dụ điển hình. Trong quá trình công tác, chúng tôi luôn tôn trọng ý kiến của nhau, dù đó là vấn đề quân sự hay chính trị. Vì vậy, những năm tháng ấy, Tiểu đoàn 70 luôn hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Tham gia Chiến dịch Xuân Mậu Thân 1968, vết thương của tôi vẫn chưa lành hẳn, chân còn đi khập khiễng, muốn đi đâu phải chống gậy. Biết được tình trạng sức khỏe của tôi, cấp trên có ý định khuyên tôi nên đi chữa bệnh, lúc nào lành hẳn hãy trở về chiến đấu. Tôi hiểu đó là sự quan tâm, ưu ái của các anh dành cho mình. Lúc đó, tôi cũng phân vân. Song không phải phân vân chuyện tham gia chiến đấu hay đi chữa bệnh mà chưa biết lựa chọn cách giải thích như thế nào để cấp trên hiểu được tâm tư suy nghĩ của tôi. Bởi vì trong tình trạng vết thương chưa lành hẳn, tôi đi lại khó khăn sẽ ảnh hưởng ít nhiều đến quá trình vận động chiến đấu của đơn vị. Qua cân nhắc, tôi báo cáo trung thực suy nghĩ của mình với cấp trên. Đó là, tôi tự thấy mình là cán bộ chính trị nên trong giờ phút lịch sử này phải có trách nhiệm đóng góp một phần công sức, trí tuệ, thậm chí cả tính mạng của mình vào chiến dịch, góp phần giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc. Hơn nữa, tôi cũng nghĩ rằng trong suốt những năm qua đã có biết bao đồng chí, đồng đội của mình vĩnh viễn nằm xuống mới có thể đi đến chiến dịch trọng đại này. Vì vậy, tôi đề nghị được ở lại chiến đấu để làm tròn nhiệm vụ của một chính trị viên tiểu đoàn, đồng thời cũng là chỉ huy mũi xung kích trong trận chiến lịch sử này. Nghe tôi trình bày, các anh đã nhất trí để tôi tiếp tục công tác cùng anh em.

Theo dự kiến ban đầu, Tiểu đoàn 70 sẽ tấn công từ phía tây, tức từ hướng Kỳ Thịnh xuống Tam Kỳ. Song do xác định thời gian có sự sai lệch về lịch âm, dương nên có nơi đã tuyên bố tổng tiến công và nổi dậy. Vì vậy, chúng tôi không thể thực hành tiến công vào hướng phía tây theo kế hoạch. Trước tình hình đó, tôi cùng với đồng chí tiểu đoàn trưởng đề nghị với tỉnh đội xin chuyển hướng tấn công từ phía tây sang phía bắc. Đồng chí Hoàng Minh Thắng lúc bấy giờ là Chính trị viên Tỉnh đội Quảng Nam và đồng chí Trần Kim Anh - Tỉnh đội trưởng, người trực tiếp nhận báo cáo, đã nhất trí với phương án chiến đấu bổ sung của chỉ huy Tiểu đoàn 70. Ngay trong ngày hôm ấy, đội hình tiểu đoàn vận động chuyển sang hướng bắc, phải đi vòng qua nhiều khu vực địch chốt giữ. Khi đơn vị hành quân xuống đến Phương Hòa, tôi gặp đồng chí Trần Chí Thành - Thị ủy viên, Đội trưởng Đội công tác cánh bắc Tam Kỳ, để bàn bạc trao đổi tình hình, xác định quyết tâm chiến đấu, lựa chọn cách đánh, v.v. Do đổi hướng đánh, lựa chọn lại mục tiêu nên chúng tôi xác định sẽ gặp một số khó khăn trong quá trình thực hành tiến công vào Tỉnh đường Quảng Tín. Tôi đem những băn khoăn này trao đổi với đồng chí Thành. Anh bảo: “Các đồng chí yên tâm! Chúng tôi sẽ phối hợp chặt chẽ trong suốt quá trình chuẩn bị chiến đấu và thực hành chiến đấu”. Sau đó, anh bố trí một lực lượng cơ sở mật, du kích mật, kể cả một số cơ sở trong trung đội nghĩa quân dẫn đường cho đội hình chúng tôi tiếp cận mục tiêu. Ở đây, cần nói thêm rằng trung đội nghĩa quân do đồng chí Thành tổ chức, đã có chi bộ mật hoạt động ở bên trong tỉnh đường và trực tiếp đồng chí Thành nắm giữ hoàn toàn; Tiểu đoàn 70 đánh chiếm được Tỉnh đường Quảng Tín là nhờ vào lực lượng này. Được sự nội ứng của anh em nghĩa quân dẫn đường, chúng tôi lách qua vị trí đóng quân của hai tiểu đoàn lính ngụy ở phía tây và tiểu đoàn lính bảo an đoạn nhà lao, phía đông là nơi chốt chặn của tiểu đoàn lính cộng hòa và chi đoàn xe tăng Mỹ, từng bước áp sát mục tiêu. Bộ phận Đại đội 2, do đồng chí Nguyễn Kỉnh làm đại đội trưởng, trong đó có trung đội của đồng chí Trung đội trưởng Trần Kim Chước làm mũi thọc sâu có nhiệm vụ đánh chiếm tòa thị chính và nhà tỉnh trưởng đã bí mật vượt qua sáu lớp rào thép gai, áp sát nhà tỉnh đường. Đồng thời, Đại đội 3 cũng áp sát bờ rào của nhà lao. Lực lượng của Đại đội 1 được chia thành hai bộ phận, trong đó hai trung đội làm dự bị cho Tiểu đoàn 70 và bộ phận còn lại tăng cường cho Đại đội 2.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Mười Hai, 2020, 06:05:36 am
Khi các mũi báo cáo đã sẵn sàng, khoảng 24 giờ ngày 31 tháng 1 năm 1968, tôi và đồng chí tiểu đoàn trưởng đi kiểm tra toàn bộ đội hình của tiểu đoàn, động viên anh em quyết tâm chiến đấu giành thắng lợi, sau đó về vị trí chỉ huy xin ý kiến tỉnh đội cho nổ súng. Đúng 1 giờ 30 phút ngày 1 tháng 2 năm 1968, lệnh nổ súng tấn công Tỉnh đường Quảng Tín được phát đi. Lập tức, trung đội của đồng chí Trần Kim Chước đánh thẳng vào nhà chỉ huy tỉnh đường, chiếm ngay nhà đại tá tỉnh trưởng Đào Mộng Xuân, cắm cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng trên nóc nhà tỉnh trưởng, phía dưới lá cờ có thêu dòng chữ “Núi Thành oanh liệt, quyết chiến lập công”. Lực lượng còn lại của Đại đội 2 tiếp tục nổ súng, sử dụng bộc phá bốc dỡ chướng ngại vật tiến vào tỉnh đường. Cùng lúc, hỏa lực và xung lực của Đại đội 3 tấn công dồn dập tiểu đoàn lính bảo an, sau đó hỏa lực chuyển làn bắn vào bên trong trận địa. Sau hơn một giờ chiến đấu, đồng chí Chước điện báo về Ban chỉ huy tiểu đoàn đã chiếm được tỉnh đường và tòa nhà tỉnh trưởng, các bộ phận còn lại tiếp tục chiến đấu, đồng chí Chước đã cắm cờ giải phóng lên nóc nhà tỉnh trưởng. Trận chiến đấu với lực lượng địch phía trong tỉnh đường của Tiểu đoàn 70 kéo dài đến khoảng 6 đến 7 giờ sáng.

Khoảng 6 đến 7 giờ sáng ngày 1 tháng 2, ở phía đông, lính cộng hòa và xe tăng Mỹ bắt đầu phản kích quyết liệt. Chúng tập trung hỏa lực đánh thẳng vào bên sườn của ta, cắt đứt đội hình Tiểu đoàn 70 thành hai bộ phận. Lúc này, Ban chỉ huy tiểu đoàn chỉ còn một mình tôi, vì đêm hôm đó đồng chí tiểu đoàn trưởng bị thương đã đưa ra trạm phẫu, đồng chí Tiến, Tiểu đoàn phó hy sinh. Địch phản ứng quyết liệt khiến lực lượng còn lại của ta không vào được bên trong. Tôi phải liên lạc với đồng chí Chước bằng máy thông tin 2 Oát - PRC25, để chỉ huy và động viên anh em giữ vững tinh thần chiến đấu. Cuộc chiến đấu diễn ra ngày càng ác liệt. Nhờ có sự yểm trợ của hỏa lực mạnh, bộ binh địch đã từng bước chiếm lại được một số vị trí. Về phía ta, nhiều đồng chí đã chiến đấu dũng cảm và anh dũng hy sinh. Trước tình thế đó, tôi vừa trực tiếp chỉ huy điều động lực lượng dự bị tăng sức chiến đấu cho các bộ phận, vừa phải động viên anh em kiên quyết ngăn chặn, tập trung đánh bộ binh địch để bảo vệ thương binh, liệt sĩ. Trời càng về trưa, địch càng tăng thêm lực lượng với quyết tâm chiếm lại tỉnh đường. Một bộ phận quân cộng hòa và lính Mỹ đã áp sát sở chỉ huy của tiểu đoàn. Tình thế lúc này khá nguy nan. Tôi phải sử dụng khẩu súng AK của một đồng chí đã hy sinh để vừa nổ súng ngăn chặn, tiêu diệt những tên lính ngụy đi đầu để sở chỉ huy cơ động ra phía ngoài vừa bao quát toàn bộ trận đánh. Quân địch bị ta đánh trả quyết liệt đã lùi về phía sau để hỏa lực của xe tăng, pháo binh bắn mạnh vào đội hình đối phương, sau đó tổ chức tiến công tiếp. Lúc này, một đồng chí xạ thủ trung liên của Đại đội 2 bị trúng đạn hy sinh. Tôi vội bỏ khẩu AK xuống, nằm rạp bên cạnh khẩu trung liên tiếp tục thay vị trí người chiến sĩ đã anh dũng hy sình, bắn kìm chân, thu hút hỏa lực của địch để các đơn vị đưa anh em thương binh, thi thể các đồng chí hy sinh ra ngoài. Tôi vừa chỉ huy đơn vị, vừa bắn chặn địch và bám sát đội hình. Bôn cạnh tôi, chiến sĩ thông tin vẫn đảm bảo tín hiệu thông suốt và chiến đấu dũng cảm. Ta vừa đánh, vừa lui quân. Dần dần, đơn vị chúng tôi đã di chuyển đến Phương Hòa, thuộc thôn 1, xã Kỳ Thịnh, huyện Bắc Tam Kỳ. Đây cũng là một sự sáng tạo của Tiểu đoàn 70 trong quá trình thực hành chiến đấu, vì lúc hạ mệnh lệnh chiến đấu tỉnh đội đã không xác định hướng lui quân.

Trong lúc đó, mũi thọc sâu của đồng chí Chước vẫn giữ vững mục tiêu đã chiếm và chiến đấu kiên cường, đánh trả quyết liệt các đợt tiến công của địch, sử dụng hỏa lực mạnh không hiệu quả, gọi hàng bị đáp trả bằng những loạt đạn AK chính xác, cuối cùng địch phải dùng chất độc hóa học thần kinh CS, là loại chất độc hơi cay, đánh vào nhà tỉnh trưởng. Khoảng 10 giờ hôm ấy, tôi không còn bắt được liên lạc với đồng chí Chước. Tôi hiểu các đồng chí của tôi không còn nữa. Các anh đã chiến đấu và hy sinh anh dũng, giữ trọn lời thề: “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Cuộc chiến đấu vẫn tiếp diễn, song ưu thế về lực lượng, hỏa lực của địch đã gây cho chúng tôi nhiều khó khăn. Tiểu đoàn 70 đã đánh chiếm và giữ Tỉnh đường Quảng Tín trong suốt nhiều giờ. Địch tập trung các loại vũ khí hạng nặng, giở mọi thủ đoạn chiến tranh nhằm khuất phục quân ta. Nhưng những người lính của Tiểu đoàn 70 năm ấy vẫn kiên cường bám trụ với quyết tâm giữ vững mục tiêu đã chiếm được. Tuy nhiên, trước quân thù mạnh hơn ta gấp nhiều lần, được tăng viện thường xuyên lại có thời gian nghỉ ngơi giữa các đợt tiến công; trong khi đó chúng ta đã chiến đấu liên tục trong thời gian dài, một số đồng chí đã bị thương, hy sinh nên khả năng chiến đấu phòng ngự của ta có phần giảm sút. Vì vậy, chỉ huy tiểu đoàn quyết định vừa đánh, vừa lui để bảo toàn lực lượng còn lại. Sau khoảng 36 tiếng đồng hồ chiến đấu, đội hình của ta dần lùi ra khỏi khu vực chiến sự, là thời gian đồng chí cuối cùng rút khỏi tỉnh đường từ bò rào do cơ sở của đồng chí Thành đưa ra.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Mười Hai, 2020, 06:05:58 am
Trận đánh vào Tỉnh đường Quảng Tín đã để lại trong tôi nhiều kỷ niệm sâu sắc. Đó là một cuộc chiến đấu cực kỳ ác liệt, thể hiện sự quyết tâm cao độ của cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 70. Đây cũng là trận đánh mà đồng chí, đồng đội của tôi bị thương, hy sinh nhiều nhất từ trước đến nay. Bản thân tôi cũng bị mấy vết thương. Vết này chưa lành hẳn thì vết khác lại chồng lên. Tôi đặc biệt xúc động trước, sự hy sinh của đồng chí Hiểu trên đường cơ động, vì đồng chí đã bị thương nặng trong chiến đấu. Tôi vừa quan sát chỉ huy đội hình hành quân để đảm bảo bí mật và sẵn sàng chiến đấu, vừa đi cạnh anh em bị thương nặng để động viên các đồng chí khiêng cáng và những người bị thương. Dường như anh em cũng hiểu tâm trạng của người chỉ huy, tình hình đơn vị nên dù đau đớn vẫn không một lời rên la. Nhiều đồng chí toàn thân quấn băng trắng toát nhưng thấy tôi đến lại nhoẻn cười để tôi yên tâm lo công việc đơn vị. Lúc ấy, tôi đang đi chợt có tiếng gọi khẽ: “Anh Lý! Anh Lý cúi xuống”. Nhưng tôi vừa quay lại, chưa kịp cúi thì đồng chí Hiểu ngã xuống. Anh thều thào: “Em ra đi! Em đã hoàn thành nhiệm vụ”. Nói xong, đôi mắt Hiểu nhắm nghiền và im lặng mãi mãi. Tôi nghẹn ngào trước sự ra đi của người đồng chí, người bạn, người em thân thiết. Có lẽ không một ngòi bút nào có thể diễn tả nổi tâm trạng của tôi lúc ấy. Đó là sự pha trộn của tình thương, lòng kính phục và trách nhiệm của người chỉ huy. Để yên lòng anh em và giữ nghiêm tinh thần sẵn sàng chiến đấu, tôi đã bặm môi không dám khóc người chiến sĩ của mình trước lúc về với đất mẹ vẫn còn nhớ nhiệm vụ của người lính. Tôi ngậm ngùi bồng Hiểu đặt lên bờ ruộng, sửa lại tư thế để em nằm thẳng người rồi cởi hai chéo dù của mình đắp lên người đồng chí vừa hy sinh và đánh dấu để nhân dân đến chôn cất. Nhiệm vụ phía trước vẫn còn, tôi không thể chậm trễ nên vội ôm hôn người chiến sĩ lần cuối cùng với lòng xót thương ngậm ngùi. Sự hy sinh của Hiểu cũng như các đồng chí khác càng khắc sâu trong tôi lòng căm thù giặc sâu sắc. Nếu không có chiến tranh, không có sự xâm lược của đế quốc Mỹ thì những con người trẻ trung đâu phải ngã xuống khi mái tóc hãy còn xanh. Họ chính là lực lượng hùng hậu xây dựng đất nước phồn vinh, đưa nước nhà sánh vai cùng các cường quốc năm châu như Bác Hồ hằng mong. Tôi vừa miên man suy nghĩ vừa tiếp tục hành quân. Đi được một đoạn khoảng 100 mét, tôi lại gặp một đồng chí thương binh không bước nổi mà phải vừa đi vừa bò. Lúc đó, tôi cũng đang đi khập khiễng nên không thể cõng anh được, đành phải một tay chống cây gậy tre, còn tay kia đỡ anh ấy dậy, xốc nách và dìu nhau bước. Chúng tôi ra đến gần đường sắt thì gặp du kích xã Kỳ Thịnh. Tôi nhờ các đồng chí đưa về đội phẫu để chữa trị vết thương. Có thể nhận định rằng, đây là một cuộc chiến không cân sức, nên ta tổn thất khá nhiều. Tuy nhiên, bước đầu quân ta đã đánh bại được ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ. Từ đó, buộc chúng phải ngồi vào bàn đàm phán bốn bên tại Pa-ri và ký hiệp định vào tháng 1 năm 1973. Đồng thời, chiến thắng Mậu Thân 1968 đã góp phần làm nên ngày toàn thắng 30 tháng 4 năm 1975. Đối với bản thân, sau trận này, tôi được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhì.

Dẫu thành công hay không thành công thì sau mỗi trận đánh, đêm về nằm ngủ, tôi vẫn không sao chợp mắt được. Tâm trạng tôi chứa biết bao trăn trở vì thương xót đồng chí, đồng đội mình đã hy sinh, ngã xuống nơi chiến trường khi tuổi đời còn rất trẻ. Những tiếng nói nụ cười vẫn đượm nét vô tư của lứa tuổi cắp sách đến trường cứ chập chờn trước mắt tôi. Chỉ mới ít phút trước đó có cậu quê miền Bắc còn nhại tiếng Quảng Nam để đùa mấy anh em trong này. Có người mang tấm ảnh người yêu ra khoe: “Em này mình tia suốt mấy năm, mãi đến hôm lên đường mới nhận lời”, v.v. Thế mà trong chớp mắt, những con người ấy đã ra đi mãi mãi. Đành rằng chiến tranh thì không thể tránh khỏi sự hy sinh, mất mát, các anh ngã xuống để đất nước được thống nhất, Tổ quốc sẽ không quên công lao của các anh hùng, liệt sĩ... nhưng tôi vẫn cảm thấy xót xa, tiếc thương đồng đội. Tất nhiên, có thể ngày mai, tôi cũng có thể là một trong số đó. Song trước mắt, bao nhiêu hình bóng đồng chí, đồng đội vừa mất đi đã thôi thúc tôi nung nấu ý chí căm thù, nhắc nhở tôi phải làm gì để các anh tin rằng đồng đội của họ đang bước tiếp trong cuộc trường chinh vĩ đại của dân tộc. Tôi thầm hứa: “Các đồng chí hãy yên lòng! Chúng tôi sẽ tiếp tục thực hiện ước mơ, hoài bão của thế hệ chúng ta”. Với suy nghĩ như vậy nên khi cấp trên gợi ý cho đi dưỡng bệnh, tôi đã xin ở lại chiến trường để tiếp tục chiến đấu cùng anh em.

Kết quả trận đánh vào Tỉnh đường Quảng Tín, Xuân Mậu Thân 1968 cũng gợi cho tôi nhiều suy ngẫm. Tôi thầm nhủ: “Ước gì đừng lộ, ước gì lúc ấy ta tổ chức tập kích chiến lược, v.v. thì hẳn rằng xương máu các đồng chí, đồng đội bớt đổ xuống. Nhưng nghĩ cho cùng mình chỉ là cấp cán bộ tiểu đoàn cũng không sao nói được”. Hơn nữa, trong chiến tranh, sự sống cái chết là lẽ thường tình. Biết vậy, nhưng lòng tôi không thể nào nguôi ngoai vì những kỷ niệm về tình đồng chí, đồng đội hạt muối cắn đôi, bát cơm sẻ nửa, điếu thuốc chuyền tay nhau hút. Nay bỗng chốc người còn người mất, dĩ nhiên, sự mất mát đó để cho Tổ quốc sinh tồn cũng là một điều vinh quang. Trước nấm mồ đồng đội, tôi cầu mong linh hồn các đồng chí nơi chín suối hãy yên lòng, việc còn lại để cho chúng mình còn đây tiếp tục hoàn thành như mong ước của Bác Hồ và triệu triệu người dân Việt Nam.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Mười Hai, 2020, 06:06:20 am
Sau mùa Xuân năm 1968, cấp trên điều đồng chí Năm - Tiểu đoàn trưởng về tỉnh đội. Tôi được giao nhiệm vụ kiêm luôn vị trí của đồng chí Năm. Sau những thất bại vì bất ngờ, Mỹ-ngụy tăng cường càn quét ra vùng giải phóng. Chúng liên tục ép buộc nhân dân tập trung vào ấp chiến lược. Để đối phó với tình hình trên, Tỉnh đội Quảng Nam có chủ trương đánh sâu vào hậu phương của địch, diệt gọn từng đơn vị để chúng quay về đối phó. Lúc đó, Tiểu đoàn 70 đang đứng chân ở Kỳ Quý, Bắc Tam Kỳ. Qua trinh sát nắm địch, chúng tôi biết được một đại đội lính cộng hòa và ban chỉ huy tiểu đoàn địch đi càn về, tổ chức đồn trú ở chân phía bắc ngọn núi Chóp Chài. Nhận định đây là thời cơ diệt địch thuận lợi, chỉ huy tiểu đoàn nhanh chóng phân công lực lượng đi trinh sát, chuẩn bị chiến trường. Trong quá trình trinh sát vị trí đóng quân của địch, khi dừng lại để quan sát, tôi đều phổ biến ý định chiến đấu và phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng bộ phận để các đồng chí cán bộ chỉ huy chủ động xác định phương án chiến đấu, bố trí lực lượng, lựa chọn đường cơ động cho bộ phận mình. Sau khi trinh sát xong, ngay trong đêm đó, tức đêm 25 tháng 2 năm 1968, chúng tôi tổ chức hành quân, bí mật tập kích diệt gọn ban chỉ huy tiểu đoàn địch và đại đội lính cộng hòa; thu 60 khẩu súng các loại, trong đó có 2 cối 60mm, 6 súng col. Tuy nhiên, trong trận đánh này đồng chí Ngọc, Chính trị viên Đại đội 2 đã hy sinh. Toàn đơn vị vô cùng tiếc thương người đồng chí, người anh đến từ quê hương Quảng Ngãi, có bản tính hiền hậu, ít nói, nhưng trong chiến đấu rất gan dạ, dũng cảm. Anh Ngọc hy sinh, Tiểu đoàn 70 mất đi một cán bộ mẫu mực, anh em chúng tôi mất đi một chỗ dựa tinh thần vững chắc. Nhưng quy luật của chiến tranh là như vậy.

Sau khi diệt gọn quân địch làm chủ trận đánh, chúng tôi tổ chức lui quân an toàn. Lực lượng địch đang càn quét ở khu vực Phước Tân, Phước Tiên, thuộc huyện Tiên Phước buộc phải kéo về để đối phó. Tỉnh đội Quảng Nam tiếp tục giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 70 bằng mọi giá phải đánh bằng được xe tăng và máy bay trực thăng của Mỹ. Vì lúc này trên chiến trường Quảng Nam, xe tăng Mỹ đi rất nghênh ngang, chỗ nào cũng có xe tăng. Còn máy bay trực thăng thì bay thấp, bay cao, muốn hạ chỗ nào thì hạ, muốn bắn vào đâu cứ mặc sức. Mỗi buổi sáng, chúng tôi vừa ngủ dậy đã thấy xe tăng từ Tuần Dưỡng kéo lên, trực thăng bay vù vù trên đầu từ lúc nào. Xe tăng dẫn đường bộ binh, bộ binh đi sau bảo vệ xe tăng; cứ như thế, địch tổ chức lùng sục khắp nơi. Đây là một nhiệm vụ không hề dễ dàng trong điều kiện vũ khí trang bị hiện có đối với cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 70. Vì vậy, để đánh được lính bộ binh Mỹ, xe tăng, trực thăng địch, tôi phải cùng với các đồng chí cán bộ tiểu đoàn đi nghiên cứu thực địa, chọn chiến trường làm sao có thể đánh đồng thời ba thứ quân trên. Qua nghiên cứu, chúng tôi xác định trận địa phục kích ở Long Sơn 1 thuộc xã Kỳ Long huyện Bắc Tam Kỳ. Vì nơi này xe tăng, bộ binh địch thường xuyên qua lại, có địa hình đồi thấp xen kẽ với ruộng. Mặt khác, đồi có nhiều cây ăn trái tỏa hóng mát, thuận tiện cho việc bố trí lực lượng và che giấu, địch khó phát hiện. Hơn nữa, đây cũng là nơi ta có thể phục kích đánh lực lượng hỗn hợp của Mỹ gồm: bộ binh, xe tăng và máy bay trực thăng.

Chúng tôi xây dựng quyết tâm chiến đấu cho anh em, xác định dây là trận đánh có ý nghĩa quan trọng trong việc đập tan chiến thuật “trực thăng vận, thiết xa vận” của địch. Sau đó, đơn vị tổ chức hành quân, bố trí triển khai đội hình, đào công sự chiến đấu đảm bảo vừa đánh được máy bay, vừa đánh được xe tăng và bộ binh địch. Trong khi tiểu đoàn làm công tác chuẩn bị chiến đấu, chúng tôi được sự giúp đỡ tận tình của nhân dân địa phương. Ngoài số người già, trẻ em đi sơ tán, những người dân khỏe mạnh còn lại và du kích đã tích cực tham gia cùng bộ đội đào công sự, ngụy trang. Các mẹ, các chị đảm bảo cơm nóng, canh ngon cho bộ đội. Vì vậy, chỉ sau một thời gian ngắn, chúng tôi đã đào xong các hầm trú ẩn, hố chiến đấu cá nhân, hệ thống hào giao thông nối liền tiền duyên với vị trí chỉ huy, v.v. Tranh thủ thời gian địch chưa đến, tôi cho anh em huấn luyện chiến đấu ngay trên thực địa, tổ chức xử trí các tình huống có thể xảy ra trong quá trình chiến đấu một cách thuần thục, linh hoạt, phát huy tính sáng tạo của bộ đội.

Sáng ngày 25 tháng 3 năm 1968, nghĩa là sau 2 ngày chúng tôi hoàn thành công tác chuẩn bị và đang chờ đợi địch đến, khoảng 8 giờ, xe tăng, bộ binh Mỹ và trực thăng đã lọt vào khu vực mai phục của tiểu đoàn. Tôi động viên anh em bình tĩnh chờ địch đến thật gần mới nổ súng; đồng thời ra lệnh cho các đồng chí xạ thủ B40 B41, đại liên, trung liên xác định phần tử bắn để kịp thời nổ súng diệt địch một cách chính xác, hiệu quả. Xe tăng nghênh ngang đi vào trận địa phục kích của chúng tôi. Bộ binh địch được sự dẫn dắt của xe tăng, đi sau la ó om sòm. Chờ xe tăng, xe bọc thép địch đi cách đội hình của ta khoảng từ 30 đến 40 mét, máy bay trực thăng bay sát ngọn cây mít, tôi lập tức lệnh cho B40, B41 tiêu diệt tốp xe tăng đi đầu; bộ binh nổ súng chia cắt, tiêu diệt bộ binh Mỹ; hỏa lực 12,7mm bắn tốp máy bay bay thấp. Ngay từ loạt đạn đầu, quân ta đã bắn cháy 4 xe bọc thép, bắn rơi tại chỗ 5 máy bay trực thăng. 80 lính Mỹ còn lại tháo chạy ra ngoài, trực thăng vội bay vọt lên cao, xe tăng lùi lại bắn vào trận địa của tiểu đoàn. Chúng tôi phân công bộ phận cảnh giới, lực lượng còn lại vào hầm trú ẩn an toàn. Trận chiến đấu diễn ra trong thế giằng co từng tấc đất, từng mét chiến hào. Tuy nhiên, sau hơn hai giờ chiến đấu, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 70 đã loại khỏi vòng chiến đấu gần một đại đội lính Mỹ và một số máy bay, xe tăng bị thiêu hủy trước tiền duyên. Địch phải đổ quân để lấy xác, kéo xe tăng về căn cứ. Nhận định chúng sẽ tập trung hỏa lực tiến công vào trận địa sau khi thu dọn xong chiến trường, chúng tôi đã nghi binh và tổ chức lui quân an toàn. Cùng sau trận đánh này, lính Mỹ không còn đi lại ngông nghênh như trước. Mỗi lần chuẩn bị càn quét, trước khi hành quân, chúng đều tổ chức bắn phá dọn đường rồi mới xua quân đi. Đối với tôi, qua trận đánh này cũng rút ra được bài học kinh nghiệm trong công tác chỉ huy là: “Có công sự tốt kết hợp với cách đánh gần, nghĩa là nắm thắt lưng Mỹ mà đánh, nên đã diệt được xe tăng, bắn rơi trực thăng Mỹ và thương vong của tiểu đoàn rất ít”.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Mười Hai, 2020, 06:06:42 am
Tiếp tục thực hiện phương châm “tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt”, sau chiến thắng ở Kỳ Long, chúng tôi được lệnh cơ động đội hình về củng cố lực lượng tại đồng Trăm trên và đồng Trăm dưới, thuộc xã Kỳ Phước, huyện Bắc Tam Kỳ. Bất ngờ, ngày 12 tháng 4 năm 1968, một đại đội lính Mỹ đi từ xã Bình Phú, huyện Thăng Bình càn qua khu vực Phước Sơn, Phước Cẩm của huyện Tiên Phước. Tối hôm ấy, chúng dừng lại ở khu vực Hố Sanh, thuộc thôn 1, xã Phước Cẩm, huyện Tiên Phước. Đây là nơi trước kia Tiểu đoàn 70 thường đóng quân. Nghe cơ sở quần chúng báo tin, tôi nhanh chóng tổ chức đi trinh sát nắm địch. Trong quá trình trinh sát, tôi cũng giao nhiệm vụ luôn cho các đại đội tại trận địa. Cụ thể, Đại đội 1 và Đại đội 2 chia thành hai mũi, bí mật áp sát mục tiêu, dùng lựu đạn, thủ pháo đánh phủ đầu quân địch. Hỏa lực B40, B41 tập trung đánh vào từng công sự của địch. Sau khi quán triệt nhiệm vụ đến mọi cán bộ, chiến sĩ, tôi ra lệnh xuất quân. Dọc đường hành quân khoảng một cây số, đơn vị luôn giữ vững đội hình và đảm bảo bí mật. Thực hiện nhiệm vụ được phân công theo kế hoạch, các mũi bí mật tiếp cận mục tiêu. Không gian vẫn yên ắng, thi thoảng vọng lại đâu đó tiếng côn trùng kêu nỉ non. Bọn lính Mỹ sau một ngày đi càn, gây tội ác với nhân dân đã mệt mỏi nên ngủ rất say sưa. Khoảng ba giờ, sau khi nhận được báo cáo của các bộ phận đã sẵn sàng, tôi phát lệnh nổ súng. Tức thì, hai đồng chí xạ thủ B40, B41 nằm bên cạnh phát hỏa thiêu rụi luôn hai công sự của địch phía trước mặt làm hiệu lệnh cho toàn trận đánh. Lúc này, cả trận địa, lựu đạn, thủ pháo thi nhau nổ xen lẫn tiếng súng AK điểm xạ hai phát một “tằng, tằng” nghe chắc nịch. Bọn địch bị tập kích chớp nhoáng nên không kịp có bất cứ một phản xạ nào. Do đó, chỉ sau hơn một giờ chiến đấu, Tiểu đoàn 70 đã diệt gọn đại đội lính Mỹ, bắt sống 3 tên. Tôi giao nhiệm vụ cho đồng chí Phan Văn Nghĩa, Trung đội trưởng của Đại đội 2, đưa xuống hầm giam giữ. Quân địch ở Chu Lai nhận được tin đồng bọn bị đánh úp đã tổ chức phản kích quyết liệt. Chúng dùng hàng trăm lần chiếc máy bay trực thăng vũ trang, loại bộ đội ta thường gọi là máy bay cá mập, với đội hình từng tốp 10 chiếc bắn rốc-két vào trận địa và những nơi chúng nghi ngờ ta trú ẩn. Thật không may cho cả ta và địch, một quá tên lửa rốc-két đã đánh trúng hầm của đồng chí Nghĩa đang giữ 3 tên tù binh Mỹ. Quả đạn địch đã khiến đồng chí Nghĩa hy sinh, đồng thời giết luôn 3 tên đồng bọn của chúng. Trước đó, khi bắt được 3 tên lính Mỹ, tôi đã báo cáo về tỉnh qua máy thông tin liên lạc 15W, được trang bị cho Tiểu đoàn 70. Tỉnh đội ra lệnh cho chúng tôi phải giữ tù binh để đưa vô căn cứ. Không ngờ 3 tên lính bị chính rốc-két của chúng bắn chết. Vì thế, ta không thể đưa chúng về tỉnh đội được. Lúc hỏa lực địch tạm ngưng đánh phá, đơn vị chuẩn bị lui quân, các anh ở tỉnh hỏi về mấy tên tù binh tôi báo cáo chúng đã bị chết bởi rốc-két của Mỹ, Sau đó, tôi cử một bộ phận ở lại để tìm các đồng chí đã hy sinh đưa về an táng vả chỉ huy đơn vị lui quân an toàn. Sau trận tập kích diệt gọn đại đội lính Mỹ này, cùng với thành tích của toàn đơn vị, tôi được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhì.

Chấp hành chỉ thị của Ban chỉ huy Tỉnh đội Quảng Nam, Tiểu đoàn 70 chuyển hướng hoạt động lên khu vực Phước Lâm, quận Hậu Đức để diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng một số ấp chiến lược, đưa nhân dân về làng cũ. Quận lỵ Hậu Đức nằm trên một ngọn đồi thấp, sườn thoai thoải kéo dài khoảng 300 mét. Ở phía nam, cách đó khoảng 200 mét là cứ điểm do một tiểu đoàn bảo an chiếm giữ. Xung quanh quận lỵ Hậu Đức là các ấp chiến lược, mỗi ấp có một lớp rào tre và một lớp rào kẽm gai bao quanh. Bên ngoài ấp chiến lược là đồng ruộng, tiếp đến là rừng thưa và những vườn cây ăn quả của nhân dân. Nhìn toàn cảnh, quận lỵ Hậu Đức nằm lọt thỏm trong một thung lũng. Nhiệm vụ của Tinh đội giao cho Tiểu đoàn 70 tiêu diệt cơ quan quận lỵ Hậu Đức, các mâm tề và lực lượng dân vệ, gồm 12 trung đội dân vệ của các xã: Phương Đông, Dương Yên, Phước Lâm, Phước Hiệp, thuộc quận Hậu Đức. Nhận định đây là mục tiêu khó tiếp cận, địch dễ báo động và chi viện cho nhau chúng tôi tổ chức đi trinh sát chuẩn bị chiến trường tuyệt đối cẩn mật. Ban ngày, chúng tôi cải trang thành người dân đi lấy củi để quan sát bên trong quận lỵ. Khi màn đêm buông xuống, mỗi người mặc độc chiếc quần đùi, ngụy trang thân thể hòa màu cây cỏ, bò vào ấp chiến lược để kiểm tra. Sau đó, đoàn cán bộ trinh sát trở về đơn vị, tổ chức phổ biến kế hoạch chiến đấu dự kiến trên sa bàn. Trong quá trình đi trinh sát cũng như phổ biến nhiệm vụ, tôi đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu giữ bí mật. Vì ở đây, có một số dân có dính dáng quan hệ với địch khi phát hiện có hoạt động của ta là lập tức báo ngay cho địch. Do đó, việc giữ bí mật là rất quan trọng, một yếu tố góp phần làm nên chiến thắng. Khi hoàn thành mọi công tác chuẩn bị chiến trường, tôi và Ban chỉ huy tiểu đoàn tổ chức giao nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị như sau: Đại đội 1 và Đại đội 2 có nhiệm vụ luồn sâu đánh vào cơ quan quận lỵ, khi ta làm chủ trận đánh nhanh chóng triển khai lực lượng đánh quân tiếp viện; Đại đội 3 bạo vây bên ngoài đánh sâu vào ấp chiến lược, diệt 12 mâm tề và 12 trung đội dân vệ, bố trí mai phục sẵn ở các đường ra núi để diệt bọn địch bên trong tháo chạy ra rừng, sau đó đánh chiếm và chốt giữ đèo Liêu, đường đèo này nằm giữa hai quận lỵ Tiên Phước và Hậu Đức; Đại đội 4 dùng hỏa lực kiềm chế cứ điểm chính ở Hậu Đức. Trước lúc lên đường, tất cả cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 70 đều xác định quyết tâm chiến đấu thắng lợi để giành lại cuộc sống tự do cho nhân dân bị chúng nhốt trong các ấp chiến lược.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Mười Hai, 2020, 06:07:16 am
Trời vừa sẩm tối, lợi dụng bóng đêm của miền sơn cước, chúng tôi bắt đầu hành quân. Từng bộ phận lặng lẽ hòa mình vào bầu không khí âm u tĩnh mịch của núi rừng, sau đó tách ra cơ động theo kế hoạch chiến đấu. Dù không nói ra nhưng cứ mỗi lần chuẩn bị bước vào cuộc chiến đấu mới trong trái tim anh em chúng tôi đều có tâm trạng hồi hộp, chộn rộn. Không biết sau đêm hôm nay, ai sẽ là người hy sinh cho đất nước, ai tiếp tục bước đi trên con đường đấu tranh giành độc lập cho Tổ quốc. Đối với tôi, mỗi người lính, mỗi người đồng chí mình hy sinh đều đau như bị đứt một cánh tay. Chúng tôi đều hiểu rằng khi đất nước chưa giành được độc lập, quân thù còn ở phía trước thì những người lính còn tiếp tục cầm súng chiến đấu. Địa bàn này du kích của ta hoạt động mạnh nên địch cũng ít khi dám đổ biệt kích đi phục kích. Vì vậy, suốt chặng đường hành quân từ Phước Hiệp lên Hậu Đức, chúng tôi không phải vòng tránh lần nào.

Đến vị trí tập kết, tôi nhắc lại nhiệm vụ và ký, tín, ám hiệu trong quá trình chiến đấu và sau chiến đấu để anh em nắm chắc. Sau đó, các đồng chí cán bộ đại đội tự dẫn quân của mình cơ động chiếm lĩnh. Bọn địch trong cứ điểm vẫn để đèn sáng trưng, có nhóm cãi nhau inh ỏi. Chúng không hề biết rằng các chiến sĩ quân giải phóng của Tiểu đoàn 70 đang từng phút gút dần cái thòng lọng vào cổ để kết liễu cuộc đời lũ phản dân, hại nước. Lúc này, những chiếc kim đồng hồ trong tay tôi nhích chậm chạp. Mọi vật vẫn yên bình sau một ngày chịu cái nắng gay gắt của vùng rừng núi Quảng Nam, khiến tôi có cảm tưởng tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ như to hơn. Cũng như những trận đánh trước, tôi tuyệt đối tin tưởng vào anh em mình nên bình tĩnh chờ đợi các mũi báo cáo. Lâu lâu, tôi lại quay sang nhắc mấy đồng chí xạ thủ B40, B41 nằm bên cạnh chú ý xác định phần tử bắn phải thật chính xác, đảm bảo khi tôi ra lệnh nổ súng thì có thể diệt mục tiêu được ngay từ phát đạn đầu. Đèn điện trong cứ điểm ở một vài vị trí đã tắt. Tôi đoán chừng bọn lính sau khi ăn uống no say đã bắt đầu đi ngủ. Khi ta nổ súng, chắc chắn trong số đó sẽ có rất nhiều tên không bao giờ tỉnh lại.

Khoảng nửa đêm 27 tháng 5 năm 1968, khi các mũi báo cáo đã sẵn sàng chiến đấu, đồng thời cũng đã đến giờ G, tôi ra lệnh cho đồng chí xạ thủ B41 khai hỏa tiêu diệt ngay lô cốt bên trong cứ điểm để làm hiệu lệnh cho trận đánh. Ngay lập tức, quân ta từ các hướng nhanh chóng nổ súng tiến công đánh chiếm cơ quan quận lỵ. Tôi liên tục bám sát đội hình Đại đội 1 và Đại đội 2, kịp thời “chia lửa” và động viên anh em chiến đấu. Khi cơ quan quận lỵ Hậu Đức bị tê liệt hoàn toàn, bọn địch không còn sức kháng cự, các mũi từ quận lỵ nhanh chóng tỏa xuống các hướng đánh chiếm ấp chiến lược, giải phóng nhân dân khỏi sự kìm kẹp của địch. Kết quả sau hơn hai tiếng đồng hồ chiến đấu, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 70 đã tiêu diệt và làm chủ hoàn toàn cơ quan quận lỵ Hậu Đức, xóa sổ 12 mâm tề và 12 trung đội dân vệ, thây địch chết ngổn ngang. Địch không ngờ quân ta đã bày trận địa mai phục sẵn chỉ đợi chúng đến để nổ súng tiêu diệt. Cụ thể, trong trận này, chúng tôi đã thu hơn 150 khẩu súng các loại, phần lớn là súng calip, súng calip 2 nòng, tiêu diệt trên 200 tên tề, ngụy ác ôn.

Nhiệm vụ diệt ác, phá kềm đã hoàn thành, chúng tôi tổ chức đưa đồng bào bị lính ngụy dồn vào ấp chiến lược ra khỏi ấp, về lại làng cũ. Tôi không thể nói hết được tình cảm quân dân lúc đó. Nhiều bà mẹ đã ôm lấy bộ đội Giải phóng khóc như gặp lại đứa con đã đi xa lâu ngày. Đối với bà con còn khỏe mạnh, chúng tôi hướng dẫn để họ tự đi về. Còn các mẹ già, em nhỏ đi lại khó khăn, anh em chúng tôi thay nhau dìu dắt, bồng bế. Đồng bào được trở về ngôi nhà của mình tỏ ra mừng vui khôn xiết, miệng luôn nói: “Cảm ơn, cảm ơn bộ đội Giải phóng”.

Đầu năm 1969, ta tiến hành mở chiến dịch Xuân 1969, còn gọi là Z1, Z2. Hưởng ứng chiến dịch này, Ban chỉ huy Tỉnh đội Quảng Nam cho gọi tôi và đồng chí Tiểu đoàn trưởng Huỳnh Kim Sơn thay mặt cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 70 lên nhận nhiệm vụ tại xã Tiên Lãnh, huyện Tiên Phước, nơi Ban chỉ huy Tỉnh đội đóng quân. Tham dự chiến dịch Xuân 1969, Tiểu đoàn 70 có nhiệm vụ mở hướng tấn công theo hướng tây nam của thị xã Tam Kỳ, đánh sâu vào thị xã nhằm diệt một bộ phận sinh lực địch, kéo địch về đối phó ở thị xã, đồng thời cũng góp phần đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ. Nắm chắc yêu cầu nhiệm vụ cấp trên giao, chúng tôi về triển khai kịp thời cho các bộ phận. Sau đó, tôi và các đồng chí cán bộ tiểu đoàn, đại đội tổ chức đi chuẩn bị chiến trường. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, chúng tôi được cơ sở và các đội công tác của thị xã Tam Kỳ dẫn đường nên công tác chuẩn bị đạt kết quả tốt.

Tối ngày 22 tháng 2 năm 1969, đơn vị bắt đầu hành quân chiếm lĩnh, xây dựng công sự chiến đấu. Đội hình của tiểu đoàn nằm rải theo các mục tiêu như: Phương Hòa, chốt gác ghi ngã ba Trường Xuân, đồi Thanh Phong... Các hướng mũi chủ động khắc phục vật cản, bí mật lót đội hình vào các mục tiêu. Sau thất bại Tết Mậu Thân 1968, địch có phần cảnh giác hơn. Bên cạnh việc bố trí hàng rào dây thép gai xen lẫn các bãi mìn rải không theo quy luật, chúng còn tăng cường thêm một số vọng gác ở các vị trí quan trọng, những nơi khả năng đối phương có thể đột nhập. Tuy nhiên, trong quá trình trinh sát chuẩn bị chiến trường, chúng tôi kiểm tra cẩn thận kết hợp với thông tin cơ sở cung cấp nên khi thực hành chiến đấu đơn vị không gặp những khó khăn, trở ngại bất ngờ. Đúng 24 giờ, các bộ phận đã sẵn sàng, đồng thời cũng đến giờ G theo hiệp đồng, tôi ra lệnh nổ súng. Có lẽ địch tin rằng chúng đã nằm sâu trong nội thị nên ta không thể dễ dàng đánh tới. Vì vậy, lực lượng địch trong các mục tiêu dường như lơ là mất cảnh giác. Chỉ đến khi nghe tiếng lựu đạn nổ, tiếng súng AK đanh gọn bên tai mới quáng quàng vơ vũ khí. Thị xã Tam Kỳ rền vang tiếng súng. Trong đêm, bị bất ngờ, địch không biết ta đánh từ hướng nào đến nên bắn loạn xạ theo mọi phía. Quân ta theo kế hoạch hiệp đồng, mục tiêu đã phân công nên trong một thời gian ngắn đã tiêu diệt phần lớn lực lượng địch mà không gặp phải sự kháng cự đáng kể nào. Sau 30 phút chiến đấu, các bộ phận đã chiếm được mục tiêu. Kể như nhiệm vụ thứ nhất của Tiểu đoàn 70 đã hoàn thành.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Mười Hai, 2020, 06:07:39 am
Nhiệm vụ thứ hai của chúng tôi là đánh bại lực lượng địch kéo về đối phó tại thị xã Tam Kỳ. Để chuyển từ chiến đấu tiến công sang hình thức đánh địch trong thế trận phòng ngự, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 70 phải khẩn trương tiến hành đào công sự chốt giữ chờ địch phản kích. Đúng như dự đoán của chúng tôi, sáng ngày 23 tháng 2 năm 1969, địch bắt đầu sử dụng một tiểu đoàn lính bảo an đánh chiếm lại mục tiêu đã mất, Ta chủ động triển khai lực lượng phía trước đội hình, xác định vị trí hỏa lực tập trung diệt địch. So với quan thầy quân đội Mỹ thì khả năng chiến đấu của lính bảo an còn non kém hơn rất nhiều. Vì vậy, cả tiểu đoàn địch nhanh chóng rơi vào bẫy nghi binh của chúng ta. Tốp địch đi đầu bị đánh bất ngờ co cụm lại, lập tức cả đội hình phía sau dồn ứ như mắc cửi. Đúng lúc đó, tất cả các loại pháo, lựu đạn, súng máy, súng bộ binh của ta thi nhau nhả đạn. Bị tập kích hỏa lực bất ngờ, địch không kịp chống đỡ. Những tên sống sót vội vàng chạy lùi về phía sau. Nhiều tên đã trở thành mục tiêu di động của các thiện xạ dày dạn kinh nghiệm trận mạc của chúng tôi. Chẳng mấy chốc, Tiểu đoàn 70 đã đánh lùi nhiều lần phản công của địch, diệt gần hết tiểu đoàn bảo an, đặc biệt tiêu diệt được tên Luật ác ôn khét tiếng của thị xã Tam Kỳ, nhất là bắt được một tên lính Mỹ bị thương gãy chân phải, tôi đã cho băng bó và phóng thích tại chỗ (tại Bình Hòa). Chỉ huy đơn vị xác định địch sẽ tăng cường quân số, hỏa lực, điều động máy bay yểm trợ để tiếp tục đánh chiếm các mục tiêu đã mất, đẩy quân ta ra khỏi thị xã Tam Kỳ. Do đó, tối ngày 23 tháng 2 năm 1969, chỉ huy Tiểu đoàn 70 đã quyết định chuyển đội hình một bộ phận sang bố trí ở Phú Ninh, Bình Hòa, đồi Ông Chí, phía tây thị xã Tam Kỳ.

Sáng ngày 24 tháng 2 năm 1969, một tiểu đoàn lính Mỹ cùng với xe tăng, máy bay trực thăng từ Tuần Dưỡng tổ chức đánh vào đội hình của ta ở Thanh Phong và Phú Ninh. Cùng lúc đó, một tiểu đoàn lính cộng hòa từ Tam Kỳ đánh lên hướng sân bay Ngọc Bích, đồi Ông Chí; một liên đội bảo an từ đường sắt cơ động dọc theo sông Tam Kỳ đánh lên. Chúng tập trung hỏa lực bắn dọn đường, sau đó xe tăng dẫn dắt bộ binh tiến công ồ ạt vào trận địa của ta. Đội hình của Tiểu đoàn 70 đã bí mật triển khai sẵn sàng chiến đấu. Lúc này, đồng chí Sơn, Tiểu đoàn trưởng, bị thương đã lùi về sau, tại vị trí chỉ huy chỉ còn một mình tôi. Chờ địch cách trận địa của ta khoảng 50 mét, tôi phát lệnh nổ súng. Anh em nhanh chóng diệt ngay tốp lính đầu tiên. Địch vội vàng lùi lại, tập trung hỏa lực đánh phá. Khi hỏa lực địch ngừng bắn để bộ binh xông lên, các cán bộ, chiến sĩ tiếp tục chiến đấu. Cứ như vậy, Tiểu đoàn 70 lần lượt bẻ gãy các đợt tiến công của địch. Xác lính chết nằm chồng lên nhau trước tiền duyên phòng ngự hết lớp này đến lớp khác. Biết không thể đánh bại thế trận phòng thủ của chúng tôi, địch bèn đổi hướng tiến công.

Trưa ngày 24 tháng 2 năm 1969, xe tăng dẫn dắt bộ binh Mỹ cơ động vòng lên sườn Tiểu đoàn 70 hình thành thế bao vây. Trước tình hình này, tôi bình tĩnh động viên anh em quyết tâm chiến đấu. Đồng thời, tôi tổ chức một trung đội của Đại đội 2 do tôi trực tiếp chỉ huy đánh thẳng vào đội hình địch. Quân ta tập trung đánh hướng khác để nghi binh thu hút hỏa lực và bộ binh địch. Trung đội chúng tôi thề quyết tử mở đường máu cho đơn vị lui quân an toàn. Khi xạ thủ B40 vừa bắn cháy chiếc xe tăng đi đầu, tôi nhanh chóng chỉ huy trung đội xung phong. Khẩu súng AK trong tay tôi và đồng đội nổ liên thanh. Không biết bao nhiêu tên địch đã gục ngã trước mũi súng của trung đội cảm tử, trong đó mình tôi tiêu diệt khoảng 15 tên. Trong chốc lát, chúng tôi đã xé nát đội hình lính Mỹ dày đặc mở toang một hành lang cho tiểu đoàn lui quân an toàn. Lúc đó, khoảng 16 giờ chiều, trong khi tôi chỉ huy trung đội cảm tử đánh vào đội hình lính Mỹ thì tiểu đoàn lính Mỹ và ngụy không hiểu nhau. Quân Mỹ tưởng rằng lính ngụy Sài Gòn đánh chúng nên hai bên đã đáp trả nhau bằng tiếng súng. Đồng thời, máy bay của Mỹ thả bom vào giữa đội hình lính cộng hòa và lính Mỹ làm bọn chúng chết la liệt. Đây cũng là thời cơ để chúng tôi tổ chức lui quân an toàn. Như vậy, tính tổng số kết quả chiến đấu trong ngày 24 tháng 2 năm 1969, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 70 đã diệt gọn một đại đội lính Mỹ, một đại đội lính cộng hòa, đánh thiệt hại một tiểu đoàn lính bảo an, một tiểu đoàn lính Mỹ, bắn cháy 12 xe tăng M18, M13, M41, bắn rơi 8 trực thăng, số lính Mỹ-ngụy bị loại khỏi vòng chiến đấu hơn 200 tên. Ngày hôm sau, địch phải dùng nhiều lần chiếc máy bay để lấy xác.

Khi đánh giá kết quả, rút kinh nghiệm trận đánh này, Tiểu đoàn 70 đã thực hiện đúng phương châm: “Nắm thắt lưng địch mà đánh”. Do đó, mặc dù lực lượng quân địch đông gấp 3 lần, được hỏa lực của xe tăng, pháo binh, máy bay chi viện tích cực, nhưng chúng cũng không thắng được ta với vũ khí trang bị hạn chế. Tuy nhiên, yếu tố quyết định làm nên chiến thắng là tinh thần chiến đấu quả cảm, tuyệt vời và khả năng vận dụng linh hoạt, sáng tạo cách đánh gần, đánh táo bạo hạn chế được phi pháo địch của cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 70. Bản thân tôi cũng rất phấn khởi vì ta đã tiêu diệt được nhiều địch, thương vong của đơn vị thấp.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Mười Hai, 2020, 06:07:59 am
Sau đợt 1 của chiến dịch, đợt 2 Tiểu đoàn 70 được lệnh hành quân về đánh địch ở các xã Kỳ Thịnh, Kỳ Mỹ và Quán Rường. Đặc biệt, việc đơn vị đánh cho lính Mỹ chạy tán loạn giữa ban ngày ở Quán Rường đã trở thành kỷ niệm đẹp trong lòng mỗi cán bộ, chiến sĩ của Tiểu đoàn 70 ngày ấy. Mỗi lần gặp nhau, chúng tôi lại nhắc đến như một phần máu thịt của đời binh nghiệp.

Đợt hoạt động thứ 3, chúng tôi chuyển xuống vùng đông Thăng Bình, đánh địch lấn chiếm ở chợ Được, thuộc xã Bình Triều. Tại đây, đơn vị đã tiêu diệt một đại đội lính bảo an, sau đó cơ động đến trú quân tại hai xã Bình Giang, Bình Triều. Trong thời gian này, có một đại đội lính Mỹ từ núi Quế hành quân xuống càn quét vùng đông Thăng Bình. Tiểu đoàn 70 chặn đánh lực lượng địch, kiên quyết không để chúng gây tội ác với nhân dân. Chúng tôi đã chọn vị trí xây dựng trận địa phục kích và thực hiện chiến thuật vận động tiến công để thực hành chiến đấu. Khi hỏa lực bắn dọn đường của chúng vừa dứt, biết bọn lính bộ binh sắp hành quân qua, chúng tôi cũng vận động ra đến khu vực đã bày trận. Các bộ phận chặn đầu, khóa đuôi đã nhốt trọn lực lượng địch trong khu vực sát thương của ta. Kết quả trận đánh, ngoài số lính bộ binh bị tiêu diệt, hỏa lực của ta còn bắn cháy 6 xe tăng, bắn rơi tại chỗ 5 máy hay. Sau đợt hoạt động này, Tiểu đoàn 70 lại chuyển lên xã Bình Phú để củng cố. Đây cũng là nơi diễn ra cuộc chia tay đầy lưu luyến của tôi với các đồng chí, đồng đội đã một thời cùng nhau ăn trong bom, ngủ trong đạn.

Ngày 15 tháng 8 năm 1969, tôi nhận quyết định của Tỉnh đội Quảng Nam điều về làm Thị đội trưởng kiêm Chính trị viên Thị đội Tam Kỳ. Bao nhiêu năm công tác ở Tiểu đoàn 70, chia ngọt sẻ bùi cùng anh em, bây giờ phải ra đi, chia tay đồng đội từng gắn bó máu xương, tâm trạng của tôi lúc bấy giờ chứa chan, lòng bùi ngùi luyến tiếc. Không riêng kẻ ra đi, lòng người ở lại cũng luyến lưu không kém. Nhiều đồng chí xúc động nói không nên lời. Chúng tôi bắt tay nhau mà nước mắt chảy dài. Ai cũng thương, cũng nhớ, đều mong sao sớm có ngày gặp lại. Trong trái tim tôi không thể nào quên những đồng chí, đồng đội đã trở thành một phần máu thịt của đời mình như: Khôi, Tiến, Phường, Xuyến (y sĩ), v.v. Đặc. biệt, hình ảnh người chiến sĩ trinh sát dũng cảm, gan dạ Trần Ngọc Ảnh, Nguyễn Hữu Chỉnh đã trở nên quá đỗi thân thương. Trong cuộc sống hằng ngày, cũng như trong chiến đấu, tôi luôn xem Chỉnh như em ruột của mình.

Hôm tôi lên đường, tiểu đoàn đã tổ chức một đoàn tiễn đưa ra tận vùng giải phóng. Họ là những người từng sát cánh bên tôi trong những đêm trinh sát chuẩn bị chiến trường, cùng tôi xây dựng phương án chiến đấu cho từng trận đánh, hoặc cùng nhau chia lửa vượt vòng vây quân thù. Dù đã hơn bốn thập kỷ trôi qua, nhưng tôi không thể quên những con người hôm ấy. Đó là đồng chí Tiểu đoàn trưởng Huỳnh Kim Sơn, đồng chí Châu - Tiểu đoàn phó, đồng chí Hội - tác chiến, đồng chí Quân - Chính trị viên Đại đội 2 và đại diện của bốn đại đội trực thuộc, v.v. Cả đoàn gần hai chục đồng chí, do đồng chí Sơn dẫn đầu, tiễn chân tôi từ thôn An Lý, xã Bình Phú, huyện Thăng Bình đến thôn Long Sơn 2, xã Kỳ Long, huyện Bắc Tam Kỳ (đây là vùng giải phóng) rồi mới tạm chia tay. Chúng tôi đã đi hết cả đêm 18 tháng 6 năm 1969. Bởi vì trong thời gian đó, tàu rọ, máy bay cán gáo của địch, quần lượn liên tục suốt cả ngày. Đồng thời, chúng còn đổ quân biệt kích xuống chỗ này, nhưng tổ chức đi phục kích chỗ khác, khi phát hiện quân ta lập tức gọi điện đổ quân chi viện ngay. Bọn này chúng tôi thường gọi là Mỹ lết.

Nhiều lần tôi đứng lại bảo anh em quay về, nhưng không ai muốn dừng bước. Một số đồng chí đã thốt lên:

- Xa anh cả rồi.

- Anh Tám ơi! Có dịp về lại 70 anh nhé! (Tôi thứ tám nên anh em gọi vậy).

Những tiếng nói thân thương ấy hàm chứa biết bao nhiêu tình cảm chân thành của nhiều năm gắn bó sống chết có nhau trên khắp các chiến trường Quảng Nam, Quảng Ngãi; nhất là chiến trường Quảng Nam từ Tiên Phước xuống Bắc Tam Kỳ, từ thị xã Tam Kỳ đến huyện Núi Thành, từ vùng tây đến vùng đông các huyện Thăng Bình, Quế Sơn. Ở bất cứ địa danh nào cũng có dấu chân của Tiểu đoàn 70 chúng tôi in dấu, khắc ghi những chiến công. Dẫu sau này trải qua nhiều cương vị công tác, gắn bó với không ít thế hệ cán bộ, chiến sĩ mới, nhưng tình cảm của tôi đối với Tiểu đoàn 70 mãi mãi in sâu không bao giờ phai.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Mười Hai, 2020, 08:38:08 am
Chương năm

TAM KỲ MỘT THỜI KHÓI LỬA


Ngày 20 tháng 8 năm 1969, tôi về Thị đội Tam Kỳ nhận nhiệm vụ mới. Tình hình cách mạng thị xã Tam Kỳ lúc bây giờ vô vàn khó khăn. Vì sau mùa xuân năm 1968, nhiều cơ sở trên địa bàn thị xã bị lộ. Một số bị bắt, số còn lại không dám hoạt động. Địch điên cuồng tàn sát dã man những cán bộ, đảng viên, gia đình cách mạng không may bị rơi vào tay chúng. Các đường dây liên lạc bị chúng phục kích liên tục nên đội công tác của ta không sao vào được nội ô. Ở vùng ngoại vi thị xã, bọn Mỹ lết hoạt động thường xuyên, nhất là khu vực các xã Kỳ Trà, Kỳ Thạnh, Kỳ Yên và Kỳ Quế. Trên bầu trời, máy bay trực thăng vũ trang, loại cá mập, quần đảo suốt ngày đêm, hễ phát hiện bất cứ một vật gì lạ là chúng phóng tên lửa rốc-két ngay tức thì. Tôi gặp đồng chí Nguyễn Đức Bốn - Bí thư Thị ủy Tam Kỳ và một số đồng chí trong Thị ủy để trực tiếp nắm tình hình và bàn bạc tổ chức lại lực lượng. Để hạn chế tác hại của địch, xây dựng niềm tin chiến thắng cho bộ đội, khôi phục lại cơ sở cách mạng, tôi đề nghị trước hết phải củng cố lại tinh thần, ý chí cho cán bộ, chiến sĩ, tiến hành rà soát nắm lại tình hình các cơ sở trên phạm vi toàn thị xã, nắm chắc số lượng, thủ đoạn hoạt động của địch trên địa bàn và các khu vực lân cận. Đồng thời, ta phải tổ chức một vài trận đánh vào sào huyệt của địch ngay tại nội ô để thị uy, răn đe chúng. Được sự đồng ý của Thị ủy Tam Kỳ, tôi trực tiếp đi chuẩn bị tổ chức lại chiến trường, quyết tâm đánh sâu vào nội ô thuộc khu vực Vườn Lài, Tứ Hiệp, đánh vào quận lỵ Tam Kỳ. Tình hình đã được cải thiện sau hơn một tháng hoạt động, địch bắt đầu co cụm, không dám đi phục kích, hành lang được mở.

Tạm yên tâm với kết quả bước đầu, chúng tôi về củng cố lại lực lượng để tiếp tục thực hiện các trận đánh lớn. Không ngờ niềm vui chiến thắng của cán bộ, chiến sĩ Thị đội Tam Kỳ đang lên thì nỗi đau to lớn đã ập đến. Chúng tôi nhận được tin Bác Hồ ốm nặng và Người đã ra đi khi chưa thực hiện được mong ước về thăm miền Nam ruột thịt. Bầu không khí tang tóc bao trùm lên thị đội. Cả đơn vị nín lặng, qua chiếc rađiô lắng nghe đồng chí Bí thư thứ nhất Lê Duẩn đọc điếu văn vĩnh biệt lãnh tụ thiên tài vô cùng kính yêu của dân tộc Việt Nam về cõi vĩnh hằng. Chúng tôi khóc nức nở và hứa với Bác sẽ tiếp tục chiến đấu, đưa lá cờ quyết chiến quyết thắng đến đích cuối cùng. Riêng tôi ngậm ngùi đau xót và tự thề với lòng mình phải làm tròn nhiệm vụ theo lời Bác dặn trước lúc vào miền Nam chiến đấu.

Một thời gian sau, tức ngày 22 tháng 12 năm 1969, tôi được Quân khu quyết định thăng cấp quân hàm từ thượng úy lên đại úy, do anh Trình (tức Đoàn Khuê) ký.

Cuối năm 1969, tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Thị xã Tam Kỳ tôi được giới thiệu và bầu vào cấp ủy, làm Phó Bí thư Thị ủy Tam Kỳ. Nhiệm vụ mới đối với tôi tuy có nhiều vinh quang nhưng cũng rất nặng nề. Vì tôi vừa đảm đương trách nhiệm của Phó Bí thư Thị ủy, vừa làm Thị đội trưởng kiêm Chính trị viên và Bí thư Ban Cán sự Thị đội Tam Kỳ. Cùng một lúc gánh vác nhiều chức trách trong điều kiện chiến tranh là một thử thách to lớn đối với tôi. Vì chỉ cần một sơ suất nhỏ, tôi có thể làm tổn hại đến phong trào cách mạng tỉnh Quảng Nam nói chung, thị xã Tam Kỳ nói riêng, là sự hy sinh xương máu của đồng chí, đồng đội. Do đó, trong thời gian đầu, tôi không khỏi mất ăn, mất ngủ vì lo lắng đến khả năng hoàn thành nhiệm vụ của mình. Tuy nhiên, trong đại hội tôi được mọi người tín nhiệm và quá trình công tác cũng được các đồng chí, đồng đội ủng hộ nên tôi cũng sớm bắt nhịp với yêu cầu nhiệm vụ mới.

Sau nhiều năm rong ruổi trên khắp các chiến trường Quảng Nam, Quảng Ngãi, tôi đã được đón cái Tết đầu tiên ở thị xã Tam Kỳ vui vẻ và ấm cúng. Vật chất chẳng có gì ngoài vài ống mì ông Phật. Tiếng là đón năm mới Canh Tuất nhưng đêm giao thừa của chúng tôi không rượu cũng chẳng bia, thịt cá cũng không, thậm chí gạo cũng thiếu. Song có một thứ luôn đầy ăm ắp, đó là tình cảm đồng chí, đồng đội. Mọi người vui vẻ chúc nhau sức khỏe, bình an, nhiều điều đều tốt đẹp hơn năm cũ. Một số anh em đã nói vui với nhau đây là “cái Tết chay”, chờ giải phóng rồi chúng ta sẽ đón “Tết mặn”. Tuy vậy, nhưng “cái Tết chay” đã đi vào lòng chúng tôi như một kỷ niệm đẹp thời quân ngũ và cũng là lời nhắc nhở về tinh thần chiến đấu của mỗi cán bộ, chiến sĩ Thị đội Tam Kỳ ngày ấy.

Ăn Tết xong, tôi cùng các đồng chí cán bộ Đại đội 18 đi trinh sát khu vực đóng quân của trung đội thám báo ở tại vườn nhãn cận sân vận động đông đường 1. Sở dĩ chúng tôi chọn đây là mục tiêu đầu tiên của năm mới vì cơ sở trong nội ô thông báo bọn này rất ác ôn, chỉ cần nghe tin ở đâu nghi có Việt cộng là chúng lập tức xua quân đi lùng sục, ta cần phải tiêu diệt ngay. Khi đã hoàn tất công tác trinh sát chuẩn bị chiến trường, dự kiến phương án chiến đấu, tôi trực tiếp phổ biến trên sơ đồ cho Đại đội 18. Sau đó, đơn vị tổ chức hành quân tiếp cận mục tiêu, chia lực lượng thành 3 mũi. Bằng phương pháp tiến công bí mật tập kích, chỉ hơn một giờ chiến đấu, Đại đội 18 đã diệt gọn ban chỉ huy đại đội và một trung đội thám báo của địch, thu 12 khẩu súng các loại. Trận này, tôi và đồng chí Kinh - Đại đội trưởng, trực tiếp chỉ huy. Tuy nhiên, điều đáng nói là sau khi hoàn thành nhiệm vụ chủ yếu, trên đường lui quân Đại đội 18 phải đánh địch truy kích cũng gay go ác liệt không kém trận chính thức. Địch đã dùng xe thiết giáp và bộ binh bịt quốc lộ 1, là hướng đơn vị tổ chức lui quân. Chúng tôi đánh trả quyết liệt, bằng mọi giá phải vượt đường 1 để trở về căn cứ. Lực lượng địch ngày một đông, đạn chúng bắn như vãi trấu. Trong khi đó, quân ta vừa chiến đấu xong, vũ khí đạn dược đã vơi đi nhiều. Vì vậy, chúng tôi gặp không ít khó khăn khi bị địch truy kích với quyết tâm cắt đứt đường lui của ta. Có nhiều anh em bị thương và hai đồng chí đã hy sinh. Đơn vị phân công lực lượng thay nhau khiêng thương binh, liệt sĩ, còn lại tập trung đánh địch mở đường lui quân. Tôi vừa chỉ huy chiến đấu, vừa khiêng đồng chí Phường bị thương nặng về căn cứ.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Mười Hai, 2020, 08:38:56 am
Đánh giá chung, trận đánh tuy nhỏ, nhưng đã diệt được một ban chỉ huy đại đội và một trung đội địch. Song nó có ý nghĩa lớn ở chỗ: Đây là bọn ác ôn, nhân dân rất căm thù. Vị trí đóng quân của chúng nằm sâu trong nội ô nên tiếng vang rất lớn, làm náo động cả thị xã Tam Kỳ. Sau đó, địch phải co cụm lại thành các điểm chốt kiên cố, có rào dây thép gai. Tình hình trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho các đội công tác hoạt động xây dựng cơ sở ở nội ô.

Về cá nhân, trong thời gian công tác ở Thị đội Tam Kỳ, tôi đã hai lần đụng địch phục kích, nhưng đều may mắn thoát hiểm trong gang tấc. Trong đó, có một lần tôi đi chuẩn bị chiến trường cùng với đồng chí Ánh trinh sát. Hai anh em bất ngờ lọt vào ổ phục kích của địch. Trước tình thế nguy nan, tôi vẫn bình tĩnh ném liên tục hai quả lựu đạn vào chỗ bọn địch. Không để chúng kịp phản ứng, tôi hô to: “Xung phong”. Lũ biệt kích tưởng bị Việt cộng tấn công nên vội vàng tháo chạy. Lần đó, chúng tôi vừa thoát hiểm lại vừa đánh được giặc ở cận sân bay Ngọc Bích. Đồng chí Ánh khi ấy mới gần 17 tuổi, da trắng, môi hồng như môi con gái. Song trong chiến đấu, anh rất bình tĩnh, dũng cảm và một lòng theo quân giải phóng. Tiếc rằng, ở một trận đánh sau đó, đồng chí Ánh đã hy sinh. Tâm trí tôi không thể nào quên hình ảnh người chiến sĩ trinh sát đã cùng tôi thoát hiểm năm ấy.

Những năm đầu thập niên bảy mươi của thế kỷ XX, tình hình chiến sự trên địa bàn tỉnh Quảng Nam nói chung, thị xã Tam Kỳ nói riêng đã có sự thay đổi. Ở phía tây và nam thị xã Tam Kỳ, hành lang đã dần dần được khôi phục, cơ sở ta cũng nắm lại được. Để hỗ trợ phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng nhân dân, Thị ủy bàn phương án mở rộng phạm vi đánh địch ra phía bắc thị xã. Tôi nhận nhiệm vụ ra Kỳ Thịnh gặp đồng chí Trần Chí Thành, là Thị ủy viên, Đội trưởng đội công tác phía bắc. Ở đây, tôi được cơ sở và đồng chí Trần Chí Thành thông báo, có một đại đội thám báo của địch đang hoạt động ở phía nam Phương Hòa, sát với Tỉnh đường Quảng Tín. Bọn này rất gian ác, thường xuyên tổ chức lùng sục tìm cơ sở, hễ gặp ai nghi ngờ là chúng bắn ngay. Với nhận định nếu để bọn này tồn tại lâu ngày thì chúng có thể phá vỡ một số cơ sở của ta mới khôi phục, tôi báo cáo với thị ủy và tổ chức cho cán bộ V18 cùng tôi đi chuẩn bị chiến trường. Sau đó, chúng tôi về phổ biến trên sơ đồ cho đơn vị tại thôn 5, xã Kỳ Thịnh. Tối 26 tháng 1 năm 1970, đơn vị tiến hành cơ động chiếm lĩnh trận địa chiến đấu. Khoảng 12 giờ đêm, các mũi tiến công đã áp sát mục tiêu. Ngay lập tức, tôi phát lệnh tấn công. Các loại súng, lựu đạn, thủ pháo đồng loạt nổ vang. Quân ta tiến công nhanh như chớp khiến địch trở tay không kịp. Chỉ sau 30 phút chiến đấu, V18 đã diệt gọn đại đội thám báo của địch, thu 35 khẩu súng R15, 4 súng col. Trong trận đánh này, tôi không thể quên tấm gương hy sinh anh dũng của đồng chí Hiền - Trung đội trưởng của Đại đội 18. Anh có vóc người nhỏ con, đặc biệt nhanh nhẹn, đánh giặc rất gan lì. Trận đó, tuy bị thương nặng, nhưng đồng chí Hiền vẫn hô vang: “Anh em tiến lên diệt hết quân thù”. Thi hài của anh đã được đồng đội đưa về thôn 5, xã Kỳ Thịnh an táng. Sự hy sinh của Trung đội trưởng Hiền, tôi luôn ghi mãi trong lòng và làm bài học giáo dục cho anh em sau này.

Đầu năm 1972, đế quốc Mỹ tăng cường đánh phá leo thang ra miền Bắc, nhất là các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng. Trên chiến trường Quảng Nam lúc đó, Tỉnh ủy có chủ trương phải đánh sâu vào hậu phương của địch để chi viện cho miền Bắc. Nhằm mở màn cho đợt hoạt động mới, cũng là để gây tiếng vang trong nội ô, Thị đội Tam Kỳ được giao nhiệm vụ cùng với đội công tác và cơ sở mật tổ chức đưa một khẩu đội cối 60mm và 10 viên đạn, do đồng chí Đi làm khẩu đội trưởng, tổ chức tập kích vào Tỉnh đường Quảng Tín. Đội công tác và cơ sở mật đã dẫn đường cho bộ đội vòng qua nhiều chốt điểm của địch, đưa đội hình vào sát bờ rào của tỉnh đường. Đây là một cơ hội tốt để các đồng chí pháo thủ của quân giải phóng thể hiện khả năng pháo kích của mình. Khẩu đội quyết định lựa chọn mục tiêu tập kích là kho xăng của địch. Bằng kinh nghiệm tham gia chiến đấu và trực tiếp chi viện cho bộ binh tiến công, các anh đã xác định phần tử bắn đặc biệt chuẩn xác. Chỉ sau vài quả “cối lủi”, anh em chúng tôi thường gọi cối 60mm như vậy, kho xăng địch đã bốc cháy sáng rực cả thị xã Tam Kỳ, kèm theo những tiếng ùng oàng. Địch vội vàng báo động hoảng loạn cả tỉnh đường. Nhân lúc chúng chưa xác định được đối phương tấn công từ hướng nào, anh em mình nhanh chóng lui quân an toàn. Sáng hôm sau, đài BBC đưa tin tối hôm qua Việt cộng đã tấn công thị xã Tam Kỳ. Còn Đài tiếng nói Việt Nam tại Hà Nội và một số báo chí hân hoan đưa dòng tít lớn: “Hà Nội gọi Tam Kỳ - Quảng Nam trả lời”.

Tuy nhiên, thời gian này là thời điểm chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn. Bữa ăn hằng ngày của cán bộ, chiến sĩ chỉ có sắn và bột bắp. Cây sắn bị chất độc hóa học của địch thiêu cháy rụi hết lá, bộ đội phải đi nhổ lấy củ để ăn. Còn bột bắp là thức ăn của lợn, anh em vào nhà cơ sở xin về. Trong điều kiện lúc ấy, chúng tôi phải ăn để có sức mà chiến đấu. Những tưởng bột bắp, sắn củ có thể êm đềm nuôi chúng tôi qua cơn đói kém, nhưng không ngờ có một sự kiện xảy ra khiến tôi không sao quên được chuỗi ngày khó khăn ấy. Đó là hôm họp Thị ủy Tam Kỳ, anh Nguyễn Đức Bốn giao cho Thị đội đảm bảo một bữa cơm trưa cho gần 20 đồng chí trong điều kiện gạo, thịt đều không có. Bí quá, tôi đành phải vận động anh em đi nhổ sắn về nấu cho hội nghị ăn. Mọi người vẫn vui vẻ ngồi vào bàn như dự đại tiệc do Thị đội chiêu đãi. Trông các đồng chí đại biểu ăn ngon miệng, tôi cũng yên tâm phần nào. Thực tế lúc đó, ở nhiều cơ quan, anh em vẫn ăn uống như vậy. Không ngờ, khoảng 12 giờ trưa hôm ấy, lúc mọi người mới ăn xong thì đa số đại biểu nôn mửa và kêu đau bụng. Đồng chí y tá gọi tôi, nói:

- Chắc họ bị say sắn rồi thủ trưởng ơi!

- Không sao đâu! Đồng chí theo dõi chặt chẽ rồi kịp thời báo cáo tôi ngay nhé.

Tôi đáp để trấn an, nhưng trong bụng cũng rất lo. Nhỡ xảy ra chuyện gì thì tôi trở thành kẻ có tội với cách mạng. Đang suy nghĩ miên man để tìm cách xử trí, bất chợt tôi nhớ lại hồi còn nhỏ ở nhà đã từng bị say sắn. Mẹ tôi giã rau má và rau muống, lấy nước cho tôi uống một lúc thì hết. Vừa kịp nghĩ đến đấy, tôi liền cử một tổ trinh sát đi cùng với đồng chí Phú Ninh, là chiến sĩ liên lạc của tôi, đi nhổ rau má và rau muống về giã nát lấy nước cho anh em uống mỗi người một bát. Thật là kỳ diệu, chỉ hơn một tiếng đồng hồ sau, các đại biểu đã hết đau bụng và không còn nôn mửa. Chuyện này tuy nhỏ, nhưng khiến tôi nhớ mãi. Bởi vì, trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, người chiến sĩ phải chịu bao nhiêu gian lao, ác liệt bởi xe tăng, pháo tầm xa, máy bay B-52, v.v. Song để lo được cái ăn, cái mặc, họ cũng không kém phần gay go, gian khổ. Đại biểu dự hội nghị Thị ủy ăn sắn bị say là một câu chuyện tưởng như hoang đường, không thể nào tin được, nhưng đó là sự thật một trăm phần trăm.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Mười Hai, 2020, 08:39:17 am
Gần ba năm tôi công tác ở thị xã Tam Kỳ có biết bao kỷ niệm buồn vui. Nhớ làm sao hết được những khó khăn chồng chất buổi ban đầu đổ lên đôi vai người cán bộ trẻ chỉ kinh qua lửa đạn chiến tranh, chưa quen công việc lãnh đạo phong trào cách mạng của một thị xã nằm trong vòng vây quân thù. Khi viết những dòng này, tôi không thể kìm nén nổi xúc động khi nghĩ về các đồng chí, đồng đội của tôi thuở ấy. Nhiệm vụ được giao mới mẻ, khó khăn là thế, song các đồng chí trong Thị ủy, Thị đội và đội công tác luôn dũng cảm, tận tụy trong công tác, chẳng ngại gian khổ hy sinh đã ghé vai cùng tôi gánh vác đưa phong trào đấu tranh vũ trang cách mạng thị xã Tam Kỳ đi lên theo kịp trào lưu của dân tộc. Tôi không thể nào quên hình ảnh anh Đỗ Thế Chấp (còn gọi là Mười Chấp), một con người dũng cảm, mưu trí, có tác phong quần chúng khiến ai cũng mến thương. Sau giải phóng, anh Chấp đã được Đảng, Nhà nước tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Có thể nói, Mười Chấp là người anh cả của Đảng bộ Tam Kỳ trong thời gian kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, người Chính trị viên Tỉnh đội Quảng Nam từ năm 1973 đến năm 1976. Cũng như anh Đỗ Thế Chấp, anh Trần Chí Thành đã khắc ghi vào tâm hồn tôi hình ảnh người cán bộ mẫu mực. Trực tiếp làm việc với anh nhiều lần, tôi luôn ấn tượng bởi tác phong tận tụy trong công tác, dũng cảm trong chiến đấu, thường xuyên đi sâu đi sát cơ sở của người cán bộ phong trào. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, anh Thành đã giác ngộ, tổ chức kết nạp được nhiều đảng viên trong hàng ngũ địch, thậm chí có cả chi bộ trong nghĩa quân. Tết Mậu Thân 1968, Tiểu đoàn 70 đánh được vào Tỉnh đường Quảng Tín chính là nhờ anh em nghĩa quân này. Trần Chí Thành còn là tấm gương tiêu biểu của sự phấn đấu trong công tác. Từ Đội trưởng Đội công tác cánh bắc thị xã đến trước năm 1975, anh được bầu làm Bí thư Thị ủy Tam Kỳ. Ở bất cứ cương vị nào, anh cũng hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ do tổ chức giao phó.

Thời gian 3 năm đối với cuộc đời một con người không phải là dài. Nhưng sống trong thời khắc lịch sử mong manh giữa cái sống và cái chết với một bên là phồn hoa phú quý và bên kia là gian khổ ác liệt, ta mới có thể cảm nhận được tình cảm của những người con một lòng cống hiến cho cách mạng, cho dân tộc. Đối với tôi, những năm công tác tại thị xã Tam Kỳ là một trong những phần đời vinh quang nhất. Tôi không thể nào quên những cái tên thân thuộc như: Hoàng Xuân Thọ, Trường Sơn, Nguyễn Quang Hiệp (cả 3 đều là Phó Bí thư Thị ủy), Châu Râu (Ủy viên Ban Thường vụ), Việt Dũng (Bí thư Thị ủy), Thanh Xuân (cán bộ đội công tác, hiện nay là Bí thư Huyện ủy Huyện Phú Ninh), Phan Thanh Đề, Bùi Huy Châu (Chính trị viên phó Thị đội Tam Kỳ), Tâm (cán bộ chính trị thị đội), chiến sĩ Trần Phú Ninh, v.v. Họ là những con người đã sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp cách mạng, trong chiến đấu dũng cảm, gian khổ hy sinh không sờn lòng, điều kiện chiến tranh ác liệt không nản chí... Các anh chính là những dấu son trong lịch sử vũ trang cách mạng thị xã Tam Kỳ, nay là thành phố Tam Kỳ, là những bông hoa trong thời đại Hồ Chí Minh. Tên của các anh mãi mãi lưu danh trong lịch sử đấu tranh cách mạng hào hùng của quê hương Tam Kỳ xứ Quảng. Đồng thời, cũng chính họ đã tiếp sức cho tôi luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ cấp trên giao. Bây giờ, chiến tranh đã lùi xa hàng thập kỷ, nhưng những năm tháng đó vẫn đọng lại trong tôi biết bao nhiêu kỷ niệm khó quên, gợi cho tôi nhớ đến tình cảm mến thương của các đồng chí trong Thị ủy cũng như Thị đội Tam Kỳ ngày ấy.

Một thời gian sau, sức khỏe của tôi bị giảm sút. Mỗi khi trái gió trở trời, các vết thương lại sưng tấy và gây đau đớn. Do đó, cấp trên đã yêu cầu tôi đi điều trị ở Bệnh viện Quân y 17 của quân khu. Nhờ sự chăm sóc tận tình của các y, bác sĩ nên sau gần một tháng điều trị, sức khỏe của tôi đã có phần hồi phục. Những ngày xa môi trường thân thuộc, xa đồng đội “đêm rét chung chăn”, tôi lại nhớ đến lời Bác căn dặn trước khi lên đường trở về miền Nam chiến đấu: “Vào Nam chiến đấu gian khổ lắm. Ăn uống cũng cực khổ lắm. Các chú cố gắng chiến đấu và công tác để sớm đến ngày Bác vào Nam thăm đồng bào và các chú”. Hết nghĩ đến Bác, tôi lại quay sang hồi tưởng về các đồng chí đã hy sinh trong khi cuộc chiến đấu giành độc lập tự do cho dân tộc vẫn chưa đi đến hồi kết. Sau gần một tháng nằm viện, tình trạng sức khỏe của tôi chỉ được cải thiện đôi chút. Vì vậy, Ban chỉ huy Tỉnh đội Quảng Nam có ý định cho tôi đi điều dưỡng ở miền Bắc. Trước sự quan tâm của cấp trên, tôi đã cảm ơn các đồng chí và xin về đơn vị để chiến đấu chứ không đi điều dưỡng. Khi về đến xã Phước Cẩm, huyện Tiên Phước, tôi bất ngờ gặp anh Hoàng Minh Thắng đang làm Chính trị viên Tỉnh đội và anh Đỗ Thế Chấp là Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Nam. Trong hai người, anh Chấp đã gần gũi với tôi, nhất là trên chiến trường Bắc Tam Kỳ và thị xã. Trước đây, chính anh đã xin tôi về công tác tại thị xã Tam Kỳ. Anh Thắng và anh Chấp trực tiếp giao nhiệm vụ cho tôi làm Tỉnh đội phó Tỉnh đội Quảng Nam. Nhận quyết định này, quả thực tôi rất bất ngờ. Vì trước khi rời thị xã Tam Kỳ, tôi chỉ xác định đi chữa bệnh chứ đâu có biết mình chuyển công tác nên không bàn giao công việc cho ai. Bây giờ, tổ chức điều về tỉnh, tôi phải xin phép về trao đổi với anh em. Tôi báo cáo với hai anh suy nghĩ, dự định của mình như vậy. Anh Chấp nói ngay:

- Có chi mà bàn giao. Để đó tôi báo lại cho thị đội, thị ủy, cứ ở đây nghỉ vài hôm rồi bắt tay vào công việc.

Từ đó, tôi chính thức nhận nhiệm vụ làm Tỉnh đội phó Tỉnh đội Quảng Nam.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Mười Hai, 2020, 08:40:19 am
Chương sáu

MỘT THỜI TRỌNG ĐẠI


Cuối năm 1971, Tỉnh ủy và Ban Chỉ huy Tỉnh đội giao nhiệm vụ cho tôi làm chỉ huy trưởng tiền phương, mở chiến dịch phía tây Tam Kỳ, đánh một số chốt điểm của địch, giữ vùng đã giải phóng, đưa dân từ ấp chiến lược trở về. Lực lượng bộ đội của tỉnh lúc này gồm các đơn vị chủ yếu sau: Tiểu đoàn 70, do đồng chí Nhí - Tiểu đoàn trưởng, đồng chí Chu - Chính trị viên; Tiểu đoàn 72, đồng chí Thạc - Tiểu đoàn trưởng, đồng chí Vân - Chính trị viên; Tiểu đoàn 11, đồng chí Oánh - Tiểu đoàn trưởng. Tiểu đoàn 74, do đồng chí Dương Mong - Tiểu đoàn trưởng. Quán triệt tinh thần lãnh đạo của tỉnh ủy, các tiểu đoàn vừa chiến đấu, vừa xây dựng lực lượng, sẵn sàng tham gia chiến dịch lớn. Thời gian này, hội nghị bốn bên ở Pa-ri vẫn là những cuộc đấu trí căng thẳng. Trên mặt trận ngoại giao tuy ta đã giành được một số thắng lợi, được bạn bè quốc tế ủng hộ, nhưng để đế quốc Mỹ ký hiệp định thì lực lượng vũ trang trong nước phải tiếp tục chiến đấu nhằm tạo sức ép lên bàn đàm phán.

 Sau một thời gian chuẩn bị, đến ngày 20 tháng 8 năm 1971, lực lượng vũ trang tỉnh Quảng Nam bắt đầu mở màn chiến dịch đánh điểm Chà Vu, Đá Nẻ câu viện. Tiểu đoàn 70 và Tiểu đoàn 72 đã tiêu diệt gọn tiểu đoàn lính bảo an ở Cẩm Khê, Kỳ An. Trên đà thắng lợi ta tiếp tục mở rộng phạm vi chiến đấu, tổ chức đánh chiếm lại Quán Rường, đánh địch phản kích tại khu vực Kỳ Thịnh, buộc chúng phải co cụm lại. Cùng với các hoạt động trên, công tác dân vận cũng được các đơn vị thường xuyên chú trọng. Thực hiện sự chỉ đạo của tỉnh bộ đội đã đưa một số dân trở về lại xã Kỳ Phước. Đồng thời, các đơn vị vẫn tiếp tục đánh địch đi càn để giữ vùng giải phóng.

Rút kinh nghiệm cho cách đánh cứ điểm, tức là sử dụng hỏa lực kết hợp xung lực, hay nói cách khác là sử dụng hỏa lực chế áp, phá hoại công sự kết hợp với dùng sức mạnh đột phá của bộ binh như đánh bộc phá liên tục hoặc sử dụng mìn thổi mở đường; để áp dụng rộng rãi trong chiến đấu trên khắp các chiến trường của tỉnh, Ban Chỉ huy Tỉnh đội phân công nhiệm vụ cho tôi đi chuẩn bị chiến trường ở Hố Rổi, nơi tiếp giáp giữa xã Phú Thọ huyện Quế Sơn và xã Bình Định, huyện Thăng Bình. Bằng kinh nghiệm nhiều năm kinh qua trận mạc, tôi cùng với anh em trinh sát dễ dàng đột nhập vào cứ điểm của địch, kiểm tra cụ thể kết cấu từng lớp rào để chuẩn bị trận địa. Tuy nhiên, sử dụng phương pháp tiến công mới, chúng tôi phải xác định chính xác vị trí bố trí các loại hỏa lực như cối 120mm, cối 81mm, ĐKZ75, hướng bộc phá mở đường, v.v. để đảm bảo khi phát hỏa có thể nhanh chóng thổi tung hàng rào của địch, mở thông cửa mở cho hộ binh nhanh chóng đột kích xung phong tiêu diệt địch bên trong trận địa. Đồng thời, những người đi chuẩn bị cũng phải dự kiến được các vị trí cơ động của hỏa lực khi phát triển chiến đấu đến giai đoạn tiếp theo sau khi cửa mở thông, v.v. Sau khi lập kế hoạch, xây dựng quyết tâm chiến đấu, tôi báo cáo với Ban Chỉ huy Tỉnh đội. Các đồng chí đã nhất trí với phương án và quyết tâm đánh cứ điểm Hố Rổi để làm kinh nghiệm cho những trận đánh tiếp theo. Trên thực tế, trong thời điểm này quân lính của Mỹ trên khắp các chiến trường vẫn còn đông. Hễ ta đánh ở đâu là xe tăng Mỹ đến đó, đặc biệt là máy bay trực thăng vũ trang. Khi khói súng của ta chưa tan đầu nòng đã thấy tên lửa rốc-két của chúng bắn dồn dập xuống trận địa. Do đó, đối với người chỉ huy, khi trinh sát chuẩn bị chiến trường, lập kế hoạch chiến đấu, bên cạnh mục tiêu chủ yếu đánh địch bên trong cứ điểm, cần phải xác định tốt vị trí bố trí trận địa hỏa lực đánh địch trên không khi ta thực hành đột phá cũng như quá trình phát triển chiến đấu.

Được lệnh của Ban Chỉ huy Tỉnh đội, các đơn vị nhanh chóng tổ chức hành quân. Vì đây là trận đánh có ý nghĩa quan trọng trong việc áp dụng hình thức chiến đấu tiến công có sử dụng hỏa lực mạnh nên đích thân đồng chí Tỉnh đội trưởng Huỳnh Bá Thừa cùng đi và tham gia chỉ huy trận đánh để kịp thời rút kinh nghiệm cho chiến dịch sau. Lúc đó, tôi là Tỉnh đội phó kiêm Tham mưu trưởng Tỉnh đội. Lực lượng tham gia chiến đấu tại Hố Rổi gồm có Tiểu đoàn 70, Tiểu đoàn 74 và lực lượng của các Huyện đội Quế Sơn, Thăng Bình; mỗi huyện có 2 đại đội bộ binh, 1 đại đội đặc công, 1 đại đội trợ chiến. Sau khi hành quân đến xã Sơn Trung, thuộc huyện Quế Sơn, dưới sự chủ trì của đồng chí Huỳnh Bá Thừa, tôi tiến hành triệu tập chỉ huy các đơn vị để tổ chức hạ đạt mệnh lệnh chiến đấu trên sa bàn.

Dọc đường hành quân, tuy bộ đội luôn giữ nghiêm kỷ luật, thực hiện đúng quy định “đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng”, nhưng chúng tôi vẫn bị phục kích. Cụ thể, tối 20 tháng 2 năm 1972, khi đội hình hành quân trên đường qua thôn 2, xã Phú Thọ thì gặp địch phục kích ở đường 105. Chỉ huy Tiểu đoàn 70 đã kịp thời tổ chức lực lượng đánh trả, song do địch nổ súng trước buộc ta phải tiêu diệt một số tên. Số lính địch sống sót vội bỏ chạy về căn cứ. Cũng trong đôm hôm đó, Tiểu đoàn 70, dưới sự chỉ huy của đồng chí Nhí, đồng chí Chu cùng với Tiểu đoàn 74, do đồng chí Dương Mong chỉ huy và lực lượng tiền phương của tỉnh, đã hành quân về tập kết tại thôn 2, xã Phú Thọ để chuẩn bị đánh cứ điểm Hố Rổi. Trong thời điểm này, đối với tôi có một chuyện bất ngờ xảy ra và để lại trong trí nhớ một kỷ niệm đẹp về tình đồng đội. Đó là, tối 20 tháng 12, khi nhận được báo cáo của các đơn vị về việc tập kết quân số, bố trí đội hình chiến đấu, tôi bèn xem đồng hồ để kiểm tra đối chiếu với thời gian hiệp đồng chiến đấu đã quy định. Nhưng đồng hồ của tôi không có li-mi-nơ (dạ quang) nên không xem được giờ. Đang loay hoay tìm nguồn sáng để soi, bất chợt tôi phát hiện thấy chiếc đồng hồ trên tay đồng chí Đội trưởng Đội công tác Phú Thọ có vệt sáng lân tinh. Tôi vội quay sang hỏi giờ để kịp thời chỉ đạo các nhiệm vụ tiếp theo. Không ngờ đồng chí đội trưởng đã tặng luôn cho tôi chiếc đồng hồ để dễ xem giờ đánh trận Hố Rổi. Chiếc đồng hồ kỷ vật đã đi theo suốt cuộc đời binh nghiệp. Đến bây giờ, dù đã hơn bốn mươi năm trôi qua, nhưng tôi vẫn còn sử dụng và nó còn chạy tốt.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Mười Hai, 2020, 08:41:00 am
Khi các lực lượng tham gia trận đánh cứ điểm Hố Rổi đã cơ bản về vị trí tập kết, sẵn sàng cơ động chiếm lĩnh trận địa, xây dựng công sự chiến đấu thì có một biến cố bất lợi đã xảy ra. Sáng ngày 21 tháng 2, bất ngờ có hai chiếc máy bay trinh sát, loại máy bay bà già và 5 chiếc trực thăng, cũng loại máy bay trinh sát nhưng kiểu tàu rọ, quần lượn trên bầu trời thôn 1 và thôn 2, xã Phú Thọ, huyện Quế Sơn. Chúng bay thấp đến mức cánh quạt vè vè thổi bạt cả lá cây, thậm chí có nơi có nguy cơ bị lộ vì cây cối ngụy trang bị gió thổi nghiêng ngả. Trong khi đó, đội hình của tỉnh đội đã triển khai trên các địa bàn như sau:

Tiểu đoàn 70 và Tiểu đoàn 74 đứng ở thôn 2 và một phần thôn 1, xã Phú Thọ.

Sở chỉ huy tiền phương của tỉnh đội đứng ở phía đông của núi Ông Lặng, thuộc thôn 1, xã Phú Thọ.

Lực lượng của Huyện đội Quế Sơn đứng ở đông xã Phú Thọ, dưới đường sắt.

Lực lượng của Huyện đội Thăng Bình đứng ở đông cầu Ông Triệu.

Trong khi máy bay địch đang quần lượn trên bầu trời thì đồng chí Tỉnh đội trưởng vì lý do sức khỏe, phải về tuyến sau, giao quyền chỉ huy cho tôi. Vì thế, tại vị trí chỉ huy tiền phương của tỉnh đội lúc đó, tôi là người quyết định cao nhất. Tình huống bất ngờ xảy ra khiến tôi phải thường xuyên căng mắt để quan sát và kịp thời đề ra biện pháp xử trí. Vì qua động thái của địch, tôi xác định quân ta đã bị chúng phát hiện. Cùng lúc đó, pháo binh từ Tuần Dưỡng, núi Quế bắt đầu đánh cấp tập vào núi Ông Lặng và thôn 2. Khi anh Năm ra phía sau, tôi cử 2 đồng chí vệ binh đi cùng.

Tình hình ngày càng trở nên phức tạp, có phần bất lợi cho ta. Trên không, 5 chiếc máy bay trực thăng vũ trang vẫn vè vè quần lượn, có 4 chiếc đã hạ thấp độ cao để quan sát. Chúng bay rà sát ngọn tre và phát hiện được hầm của sở chỉ huy tỉnh đội. Ngay lập tức, bọn giặc lái điều khiển để máy bay treo đứng yên một chỗ cho những tên lính ngồi trong khoang ném lựu đạn và bắn xối xả xuống khu vực sở chỉ huy. Sau đó, địch tiếp tục ném hỏa mù để hạ xuống bắt sống cán bộ ta. Lúc này, nhiệm vụ cơ bản của chúng tôi là đánh cứ điểm Hố Rổi trong công sự vững chắc để rút kinh nghiệm nên các lực lượng vẫn còn giữ bí mật. Nhưng tình hình chiến sự diễn ra quá bất ngờ và chuyển biến mau lẹ. Một đồng chí chiến sĩ vệ binh đã bị thương ngay hầm chỉ huy. Đường dây thông tin hữu tuyến điện bị rốc-két và pháo binh địch bắn đứt nhiều đoạn, vì thế thông tin liên lạc bị tắc nghẽn. Để giữ bí mật, máy thông tin vô tuyến 2 oát chưa được phép phát tín hiệu. Trong khi đó, tốp máy bay thứ hai gồm 2 chiếc tiếp tục lao xuống trước hầm chỉ huy. Tôi nhanh chóng chộp lấy khẩu súng AK của đồng chí vệ binh bị thương, nhằm vào đầu chiếc máy bay đầu tiên siết cò. Tên ác quỷ vừa mới dùng lựu đạn đánh tung cửa hầm chúng tôi bị trúng đạn, bốc cháy và rơi xuống trước hầm chỉ huy của tôi khoảng 20 mét. Không hiểu do chủ quan hay vì bay quá gần nên khi chiếc thứ nhất bị cháy, chiếc máy bay thứ hai vẫn chưa kịp bay lên. Tôi nghiến răng dồn hết căm thù xả trọn băng đạn vào đầu chiếc thứ hai. Nó bay lảo đảo rồi bốc cháy và rơi xuống đồi Ông Lặng, phía sau sở chỉ huy. Không để chậm trễ, vì sớm muộn gì chúng cũng sử dụng hỏa lực mạnh tập kích vào trận địa, tôi ra lệnh cho sở chỉ huy tiền phương cơ động về trực tiếp chỉ huy các Tiểu đoàn 70 và 74, đồng thời lệnh mở máy 2 oát liên lạc nối lại đường dây hữu tuyến, về phía địch, sau khi hai chiếc trực thăng bị bắn cháy, toàn bộ số máy bay còn lại vội bay lên cao. Đúng như nhận định của ta, địch sử dụng 4 chiếc máy bay phản lực bay vào ném bom ở núi Ông Lặng và thôn 2. Tiếp đến, chúng bắt đầu đổ quân bằng trực thăng xuống khu. vực chiến sự vừa xảy ra. Cứ 10 chiếc thành một tốp, địch đổ liền 10 đợt xuống cánh đồng của thôn 2, xã Phú Thọ. Quan sát trên chiến trường, tôi thấy chúng đổ quân xong và bộ binh đã đánh vào làng. Trong chiến tranh, có những tình huống tưởng như hoàn toàn bị động, nhưng chỉ cần bình tĩnh một chút thì ta có thể tận dụng được sơ hở của địch để xoay chuyển được tình hình. Trận đánh ở thôn 2, Phú Thọ có thể được coi là một minh chứng. Thực tế, địch không thể ngờ ta đã tập trung một lực lượng lớn như vậy tại đây. Chờ cho địch thu gọn đội hình, tôi ra lệnh nổ súng và chỉ huy Tiểu đoàn 70 xuất kích bao vây toàn bộ lực lượng địch; đồng thời, truyền lệnh cho Huyện đội Quế Sơn từ đường sắt đánh lên, Huyện đội Thăng Bình từ cầu ông Triệu đánh qua; chỉ đạo Tiểu đoàn 74 dùng hỏa lực 12,7mm bắn máy bay, cối 81mm đánh vào đội hình bộ binh của địch, chi viện cho Tiểu đoàn 70 xung phong tiêu diệt gọn đại đội trinh sát của địch. Sau hai giờ chiến đấu quyết liệt, ba mũi tiến công của ta đã hợp lại trước cánh đồng thôn 2, xã Phú Thọ, diệt gọn đại đội trinh sát của Sư đoàn 2 ngụy. Lực lượng địch chết tại chỗ 85 tên. Ta bắt sống 15 tên và bắn cháy 5 máy bay trực thăng. Đêm hôm ấy, địch tiếp tục bắn pháo sáng và sử dụng pháo binh bắn vào Phú Thọ, nhưng quân ta đã về nơi trú ẩn an toàn.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Mười Hai, 2020, 08:41:33 am
Sau trận đánh, tôi tổ chức đi tìm anh Năm Cảnh. Song tìm mãi không được, buộc lòng tôi phải quyết định chuyển đội hình về căn cứ để bảo toàn lực lượng. Còn tôi và 2 chiến sĩ thông tin 2 oát là Tiến và Triển cùng với du kích địa phương ở lại tiếp tục tìm anh Năm. Sau một ngày, chúng tôi vẫn không thấy tăm hơi của người Tỉnh đội trưởng. Tôi điện về sở chỉ huy cơ bản của Tỉnh đội đề nghị tiếp tục tìm kiếm. Hết ngày thứ 2, đến ngày thứ 3 vẫn chưa có tín hiệu khả quan. Bất ngờ, đến tối ngày thứ 3, khi chúng tôi đang lần mò đến từng bụi cây, ngọn cỏ thì có mùi hôi bốc lên. Tôi đoán là có đồng chí nào hy sinh hoặc bị thương ở gần đây, liền bảo hai chiến sĩ bò thêm một đoạn. Ngay ở giữa cánh đồng, chúng tôi đã gặp một đồng chí y tá tiền phương bị thương ở đầu gối, vết thương đã có dòi. Ba anh em chúng tôi thay nhau vừa khiêng đồng chí, vừa vác súng vừa mang máy về hang đá Quế Sơn. Lúc này, đồng chí Tiến còn hai lon gạo, tôi còn một củ sâm. Chúng tôi gom cả gạo và sâm đưa cho đồng chí bị thương; đồng thời gửi lại cho du kích để chăm sóc. Không ngờ, đồng chí y tá khóc và nói: “Thủ trưởng và các anh đi thì em sẽ chết. Cho em đi theo với”. Ba anh em đành phải thay phiên nhau khiêng đồng chí ấy về căn cứ, chấp nhận bỏ dở cuộc tìm kiếm. Sáng hôm sau, chúng tôi mới về đến căn cứ Hòn Tàu. Cũng trong thời điểm này, Mỹ tiếp tục đổ quân xuống Sơn Thượng, Sơn Trung để truy kích ta, nhưng các đơn vị đã lui về căn cứ an toàn.

Một tuần sau đó, chúng tôi mới nghe tin anh Năm đã hy sinh. Địch bắn anh ngay tại chân cứ điểm Hố Rổi. Chúng biết anh là Tỉnh đội trưởng, vì trong túi còn có quyết định bổ nhiệm Tỉnh đội trưởng của quân khu nên tổ chức an táng rất trọng thể. Chúng còn cho một trung đội lính bồng súng chào theo nghi lễ. Những thông tin này, chúng tôi có được do cơ sở báo lên và theo đài quân sự của địch loan tin. Về cá nhân, sau trận đánh này, tôi cũng được cấp trên khen thưởng. Ngoài ra, lúc lên đến căn cứ, tôi cũng có tin vui nho nhỏ là quân khu đã có quyết định chính thức tôi làm Tỉnh đội phó kiêm Tham mưu trưởng và thăng quân hàm từ đại úy lên thiếu tá. Quyết định này do anh Hai Mạnh (tức đồng chí Chu Huy Mân) ký.

Sau đợt hoạt động đầu năm 1972, Quân khu 5 họp tổng kết, rút kinh nghiệm. Tham dự hội nghị này, tôi được đồng chí Tư lệnh Quân khu Chu Huy Mân khen ngợi. Đặc biệt, anh Chu Huy Mân đã trực tiếp tặng tôi khẩu súng ngắn K59 mà anh đang sử dụng. Tôi vô cùng xúc động, lắp bắp cảm ơn vị Tư lệnh Quân khu. Từ đó, khẩu K59 trở thành báu vật của đời tôi, được tôi nâng niu gìn giữ suốt chặng đường dài binh nghiệp. Ngày 10 tháng 10 năm 2007, tôi đã bàn giao khẩu súng K59 số hiệu 6H-3189 cho Phòng Truyền thống Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Nam với mục đích góp phần giáo dục truyền thống đấu tranh cách mạng của quê hương Quảng Nam.

Sau trận đánh hụt ở Hố Rổi, cơ quan tiền phương tỉnh đội về lại địa điểm cơ bản ở Sơn - Cẩm - Hà, huyện Tiên Phước. Đầu tháng 3 năm 1972, Ban Chỉ huy Tỉnh đội lại tiếp tục giao nhiệm vụ cho tôi làm chỉ huy tiền phương ở hướng Bắc Tam Kỳ. Tình hình địch trên chiến trường Quảng Nam lúc này đang có lợi cho ta. Những thất bại liên tiếp của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” đã khiến địch bị động đối phó và suy yếu thêm. Tuy nhiên, vẫn còn một số lượng lớn cố vấn và không quân Mỹ trực tiếp chi viện cho quân ngụy. Do đó, cuộc kháng chiến giành độc lập, thống nhất đất nước của quân và dân ta nói chung còn nhiều khó khăn.

Trước tình hình đó, chúng tôi lại tiếp tục chuẩn bị chiến trường theo hướng được phân công. Anh em đã có kinh nghiệm trong chiến đấu và thông thuộc địa hình nên công việc chuẩn bị không mấy khó khăn. Ngày 15 tháng 4 năm 1972, các đơn vị tổ chức chiếm lĩnh, xây dựng xong hệ thống công sự trận địa, sẵn sàng chiến đấu. Tôi ra lệnh nổ súng. Tiểu đoàn 70 lập tức tiến công lên các cao điểm Trà Vu, Dương Con và núi Thị. Do giữ vững yếu tố bí mật, đảm bảo tập kích bất ngờ, hiệp đồng chặt chẽ nên chỉ với hơn 30 phút chiến đấu, đơn vị đã làm chủ hoàn toàn trận địa. Quân địch còn lại vội vàng tháo chạy bị Tiểu đoàn 72 tổ chức đón lõng tiêu diệt gọn một tiểu đoàn lính bảo an. Kết quả, trong 20 ngày chiến đấu liên tục, quân ta đã giải phóng lại các xã Kỳ Phước, Kỳ An, Kỳ Thịnh và Kỳ Quý của huyện Bắc Tam Kỳ, đồng thời tiếp tục chốt giữ và đánh địch phản kích hòng tái chiếm.

Để mở rộng vùng giải phóng, quân ta chuyển hướng tiến công sang các cứ điểm khác trên địa bàn huyện Bắc Tam Kỳ. Đêm 22 rạng ngày 23 tháng 4 năm 1972, mục tiêu tiến công của ta là chốt điểm đồi Ông Cẩm, Ao Lầy, thuộc xã Kỳ Thịnh. Trận này, tôi trực tiếp chỉ huy. Khi chúng tôi vừa vào đến bờ rào ngoài cùng của địch thì đồng chí trinh sát vấp mìn, hy sinh tại chỗ. Tôi đi sát bên cạnh nên cũng bị thương nặng. Tuy nhiên, đội hình của ta lúc đó đã triển khai xong. Mặc dù bị thương, nhưng tôi vẫn tiếp tục chỉ huy đơn vị chiến đấu. Tôi ra lệnh cho tiểu đoàn nổ súng tấn công theo mệnh lệnh đã được hiệp đồng trên sa bàn. Anh em biết tôi bị thương nên ai nấy đều quyết tâm tiêu diệt bằng được cứ điểm Ao Lầy để trả thù cho tôi. Kết thúc trận đánh, tôi được đồng đội đưa về CK 140 điều trị, tức Bệnh xá 140. Hơn một tháng nằm viện, tình cảm của anh em đồng chí, đồng đội dành cho tôi thật mặn nồng. Các đơn vị cử người thay nhau đến thăm hỏi. Trước sự ân tình đó, lòng tôi như ấm áp hẳn lên. Vết thương vì thế càng chóng lành để tôi sớm trở về đơn vị tham gia chiến đấu.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Mười Hai, 2020, 08:42:12 am
Tháng 10 năm 1972, ta tiến hành bước 3 của chiến dịch. Tôi tiếp tục được Ban Chỉ huy Tỉnh đội giao nhiệm vụ làm chỉ huy trưởng tiền phương của tỉnh đội, đưa quân xuống vùng đông Thăng Bình tiêu diệt một số sinh lực địch, giành lại vùng giải phóng cũ, đưa dân bị dồn ở ấp chiến lược về làng. Sau hơn mười ngày chiến đấu, các tiểu đoàn 70, 72 và 74 đã đánh được 10 cứ điểm, diệt hơn 200 tên địch, mở rộng vùng giải phóng ra các xã Bình Dương, Bình Đào, Bình Hải, Bình Sa, Bình Triều, Bình Giang của huyện Thăng Bình. Cuộc sống của quân và dân ta thời điểm này cực kỳ gian khổ. Bởi vì vùng đông năm nay khác nhiều so với những năm trước. Cây cối, làng mạc bị địch cày ủi trơ gốc rễ. Nhà cửa thì chúng đốt phá, san bằng. Tuy được trở về làng cũ, nhưng đời sống của người dân nơi đây thật khốn đốn. Đồng bào phải gác tạm bợ từng tấm tôn để che mưa, che nắng, ở được ngày nào hay ngày đó. Chỗ ở đã khó khăn, cái ăn cái mặc càng khó khăn hơn. Nhân dân phải đào mót những củ khoai còn sót lại trên những mảnh ruộng bị bom đạn giặc cày đi xới lại để ăn cho qua ngày chờ mùa màng vụ tới. Tôi vô cùng cảm phục lòng dân nơi đây dành cho cách mạng. Mặc dù gian khổ như vậy, nhưng đồng bào vẫn một lòng bám trụ. Du kích ở trong lòng dân, có dân là có Đảng, có du kích là có lực lượng.

Cuối năm 1972, đơn vị hành quân về phía tây huyện Thăng Bình. Cũng trong thời gian này, chúng tôi nhận được tin Hiệp định Pa-ri sắp được ký kết. Song địch vẫn ngoan cố, chúng dây dưa kéo dài tới ngày 27 tháng 1 năm 1973 mới ký. Ngay sau đó, cấp trên có chỉ thị mở chiến dịch đánh địch giữ đất, giành dân, giữ các điểm chốt cắm cờ. Một lần nữa, tôi lại nhận nhiệm vụ trực tiếp chỉ huy các đơn vị tiền phương: Tiểu đoàn 70, Tiểu đoàn 72, Tiểu đoàn 74 và Tiểu đoàn 11 đánh chiếm một số chốt điểm, giành lại vùng giải phóng của huyện Bắc Tam Kỳ như các xã: Kỳ Thịnh, Kỳ Quý, Kỳ An và các xã Phước Tân, Phước Tiên thuộc huyện Tiên Phước. Riêng Tiểu đoàn 11 tổ chức tiến công địch và chốt giữ lại các xã Bình Phú và Bình Trị của huyện Thăng Bình.

Sau Hiệp định Pa-ri, tôi nghĩ rằng: về cấp chiến lược, Mỹ rút quân khỏi miền Nam là thắng lợi, nhưng bọn ngụy Sài Gòn đâu dễ buông xuôi. Bằng chứng là sau khi lính Mỹ về nước, chúng đã tổ chức tuyển quân, bắt lính ráo riết trên khắp địa bàn miền Nam. Đồng thời, chính quyền của tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu cũng tăng cường quân số cho các tỉnh miền Trung, những nơi xung yếu dễ bị ta tấn công, v.v. Liên hệ với cuộc kháng chiến chống Pháp, tôi cũng suy ngẫm: “Bài học tập kết năm 1954 vẫn còn nguyên giá trị. Trên thực tế, kẻ thù không bao giờ tự mình đầu hàng”. Tuy nhiên, lúc đó cũng có người nói “xanh đồng, đông chợ”, đề nghị rút lực lượng của ta trong vùng địch ra. Vấn đề này đã được đưa ra hội nghị tỉnh ủy, tỉnh đội bàn bạc nhiều lần. Dưới sự chủ trì của đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Hoàng Minh Thắng, tôi đã bảo vệ quan điểm của mình về việc không rút quân ra khỏi vùng địch tạm chiếm.

Lý giải cho quan điểm trên, tôi cho rằng: Trên chiến trường Quảng Nam, quân ngụy còn mạnh; hơn nữa bản chất của chúng rất ngoan cố, khi đã rút ra, quân ta không dễ gì vào lại. Bằng cách liên hệ với bài học tập kết năm 1954 và Xuân Mâu Thân năm 1968, tôi đã thuyết phục được một số đại biểu tham dự hội nghị thống nhất quan điểm với tôi. Cuối cùng, đồng chí Hoàng Minh Thắng đã kết luận tất các các lực lượng của ta vẫn đứng nguyên vị trí. Do đó, lúc ấy, có tỉnh rút du kích cơ sở ra vùng giải phóng, nhưng Quảng Nam thì không làm việc đó. Ta vẫn cắm cờ, chốt giữ và lực lượng du kích vẫn giữ nguyên trong lòng địch. Vì vậy, khi địch phản kích, ta đã sử dụng ngay các lực lượng vũ trang đang ở trong vùng bị tạm chiếm tiếp tục chiến đấu.

Đầu năm 1974, tôi được quân khu triệu tập về để nghe phổ biến nhiệm vụ phản công đánh địch lấn chiếm giữ vùng giải phóng. Trong thời gian này, có một câu chuyện vui được anh em chúng tôi nhắc lại như một kỷ niệm về nghệ thuật quân sự lúc bấy giờ. Đó là, sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Quảng Đà - Trần Thận cùng đi từ làng Hồi về Hiệp Đức với Phó Tư lệnh Quân khu 5 Nguyễn Bình. Anh Thận hỏi:

- Làm thật hay búa tạ trong kim?

- Đánh thu hồi và tiếp tục đánh. Anh Bình cười trả lời.

Về đến cơ quan tỉnh đội đóng tại Suối Cát, xã Bình Lâm, huyện Thăng Bình, tôi báo cáo lại tình hình, yêu cầu nhiệm vụ mới của tỉnh đội với ban chỉ huy. Các đồng chí lại cử tôi làm chỉ huy trưởng tiền phương cánh thị xã Tam Kỳ, có nhiệm vụ phối hợp với Sư đoàn bộ binh 2 của Quân khu 5 đánh địch phản kích mở ra vùng giải phóng. Cụ thể, Sư đoàn bộ binh 2 đánh đồn Đức Phú, chốt lại câu viện để diệt ngụy, vì lúc này trên chiến trường chủ yếu còn lại quân ngụy. Nhiệm vụ của lực lượng vũ trang tỉnh đội, do tôi phụ trách, là tiêu diệt cụm cứ điểm Dương Huê, Dương Cháy và Dãy Thám xã Kỳ Long, huyện Bắc Tam Kỳ; đồng thời đánh địch giải phóng lại các xã Kỳ Long, Kỳ Quế.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Mười Hai, 2020, 08:42:43 am
Nhận nhiệm vụ xong, tôi cùng các đồng chí cán bộ tiểu đoàn tổ chức đi trinh sát, nghiên cứu chiến trường. Qua trinh sát thực tế hệ thống công sự, tình trạng vũ khí của địch, tôi đề ra cách đánh: Đối với cao điểm Dương Huê, Dương Cháy do một tiểu đoàn lính bảo an chiếm giữ, ta dùng hỏa lực do đồng chí Dương Mong - Tiểu đoàn trưởng chỉ huy, dùng ĐKB, H12 bắn thẳng vào cứ điểm, cối 120mm đồng thời bắn vào cứ điểm Dương Huê. Ở chân núi Dương Huê làm một con lăn bằng lá cây có đường kính khoảng 2 mét, dài từ 8 đến 10 mét, sử dụng một trung đội bộ binh của Tiểu đoàn 11 lăn lên nghi binh làm cho địch ở cứ điểm hoảng loạn”. Khi các đơn vị đã hoàn tất công tác chuẩn bị, đêm mùng 1 tháng 6 năm 1974, tôi trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn 11 đánh chiếm các cứ điểm Dương Huê, Dương Cháy và Dãy Thám. Có một điều thuận lợi khi ta tổ chức tiến công địch lúc này là các đơn vị đã được trang bị vũ khí khá đầy đủ. Diễn biến trận đánh đúng như dự kiến của ta. Khi hỏa lực tập trung bắn phá chuẩn bị, địch trong cứ điểm đã hoảng loạn không dám chống cự. Nhìn thấy con lăn khổng lồ của ta, binh lính vội vàng tháo chạy về phía đông, hướng Long Sơn 1 và Long Sơn 2 của xã Kỳ Long. Chúng không ngờ bị rơi đúng vào trận địa phục kích của Tiểu đoàn 72 đã bị ta diệt gọn. Như vậy, sau một ngày chiến đấu quyết liệt bằng chiến thuật dùng hỏa lực áp chế nghi binh, tổ chức đón lõng, quân ta đã xóa sổ hoàn toàn một liên đội bảo an (tương đương một tiểu đoàn), giải phóng lại các xã Kỳ Long, Kỳ Quế. Sau đó, Tiểu đoàn 11 ở lại chốt giữ và đánh địch phản kích, phối hợp với Sư đoàn 2 diệt gọn cứ điểm Đức Phú, mở ra một vùng giải phóng rộng lớn từ Kỳ Yên đến Kỳ Trà, Kỳ Quế, Kỳ Long, Phước Tân, Phước Tiên, Kỳ Quý, Kỳ Thịnh.

Cũng bằng cách đánh trên, tôi tiếp tục chỉ huy Tiểu đoàn 72 và Tiểu đoàn 74 dùng ĐKB, H12 bắn thẳng, sử dụng cối 120mm đánh thẳng vào cứ điểm Chà Vu, Núi Nẻ của xã Kỳ Phước, buộc địch tháo chạy. Đồng thời, Tiểu đoàn 72 cũng đã bố trí lực lượng phục sẵn diệt gọn một liên đội bảo an. Quân ta tiếp tục thu hồi hai xã Kỳ An, Kỳ Phước và một phần Kỳ Mỹ. Tổng kết đợt hoạt động phản công thu hồi lại vùng giải phóng, lực lượng vũ trang của tỉnh đã chiến đấu mưu trí, dũng cảm, không những thu lại được những vùng giải phóng trước kia mà còn mở rộng thêm địa bàn quản lý của ta trên khắp giải đất Tam Kỳ. Sau chiến dịch, các đơn vị trở về tiếp tục củng cố để sẵn sàng chiến đấu các trận tiếp theo.

Cuối năm 1974, tôi được quân khu triệu tập chuẩn bị chiến dịch mùa xuân năm 1975. Lúc này, tình hình trên chiến trường đã khác trước rất nhiều. Thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, đế quốc Mỹ đã tăng cường trang bị vũ khí cho ngụy quân. Vì thế, máy bay, xe tăng của địch vẫn còn nhiều, về phần ta cũng có nhiều thay đổi. Chúng ta đã có đường xe ô tô từ miền Bắc vào đến các huyện Hiệp Đức, Trà My. Cuộc sống của bộ đội được cải thiện rõ rệt. Anh em đã bắt đầu đi lên căn cứ để nhận gạo và các loại thực phẩm khô như: rau muống, bột trứng, lương khô, v.v. Tuy nhiên, khi nói đến thời cơ miền Nam sắp giải phóng hoàn toàn thì không phải ai cũng tin. Tỉnh ủy Quảng Nam có chủ trương đánh vùng đông vu hồi, đông Tam Kỳ. Một vài đại biểu tham dự tỏ ý chần chừ chưa muốn đánh vì thời cơ giải phóng miền Nam chưa tới. Bất luận các ý kiến này, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Hoàng Minh Thắng khẳng định: “Hy sinh một phần ba tỉnh ủy cũng phải đánh”. Trực tiếp tham dự hội nghị, tôi hoàn toàn nhất trí với ý kiến trên của đồng chí Bí thư.

Khoảng tháng 10 năm 1974, Khu ủy Khu 5 và Tư lệnh Quân khu 5 giao nhiệm vụ cho tôi làm Tỉnh đội trưởng tỉnh Quảng Nam. Lúc lên nhận nhiệm vụ, tôi chỉ được các anh giao bằng miệng. Sau này, khi có quyết định bằng giấy tờ chính thức do Tư lệnh Quân khu Chu Huy Mân ký ngày 15 tháng 10 năm 1974 (Quyết định số QĐ/50TL) có thêm chữ Q, tức là Quyền Tỉnh đội trưởng. Còn lúc ấy, tôi cũng không quan tâm có chữ Q hay không, vì mục tiêu chiến đấu của mình là giải phóng quê hương, chứ không phải là để thăng quan tiến chức, làm ông này ông nọ. Do đó, mãi đến sau giải phóng Quảng Nam, tôi để ý xem lại quyết định mới thấy chữ Q.

Trở lại thời điểm cuối năm 1974, tôi được đồng chí Võ Chí Công, còn gọi là Năm Công, là Bí thư kiêm Chính ủy Quân khu 5 và đồng chí Chu Huy Mân - Tư lệnh Quân khu 5 kiêm Phó Bí thư Khu ủy Khu 5 giao nhiệm vụ chỉ huy chiến dịch tổng hợp địa phương giải phóng Quảng Nam. Nghĩa là, sử dụng toàn bộ lực lượng của tỉnh từ phía tây Thăng Bình xuống phía đông vu hồi và phía đông thị xã Tam Kỳ để tiêu diệt địch, giải phóng nhân dân. Đồng thời, kéo giữ Sư đoàn 3 ngụy từ Thăng Bình trở ra để cho bộ đội chủ lực của quân khu tập trung tiêu diệt quân địch từ Phước Lâm, Tiên Phước đến Tam Kỳ, tiêu diệt Sư đoàn 2 ngụy và liên đoàn biệt động ngụy. Nhận nhiệm vụ trên giao thật vinh dự nhưng cũng rất nặng nề, gian khó. Bởi vì tình hình phía đông lúc bấy giờ, cứ mỗi xã có từ 5 đến 6 chốt điểm của địch. Với quân số và trang bị hiện có của tỉnh đội không dễ dàng giải phóng ngay được. Tuy nhiên, bản thân tôi tin tưởng là chiến dịch này khác với chiến dịch khác. Sự khác nhau đó được thể hiện ở chỗ thành phần tham gia gồm có quân chủ lực, quân địa phương, có pháo của quân khu chi viện. Đặc biệt, trên chiến trường đã xuất hiện xe tăng của quân giải phóng, thực sự là mũi đột kích mạnh của ta. Cơ cấu của Ban Chỉ huy Tỉnh đội lúc bấy giờ cơ bản đảm bảo về quân số, đủ mạnh để chỉ huy chiến dịch. Ngoài tôi là Quyền Tỉnh đội trưởng còn có các đồng chí: Tham mưu trưởng Vũ Thành Năm, Trưởng ban tác chiến Hà Đức Y cùng với các đồng chí Tham mưu phó: Lịch, Nghĩa, Trịnh; trong đó, đồng chí Trịnh là Tham mưu phó phụ trách dân quân; đồng chí Đặng Vân - Chủ nhiệm thông tin. Phần lớn các đồng chí là cán bộ tập kết. Sau năm 1959 trở về quê hương chiến đấu và rèn luyện nhiều năm nên có nhiều kinh nghiệm trong chiến đấu. Được làm việc trong một tập thể như vậy, tôi tin chắc mình sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2020, 07:23:30 am
Khoảng tháng 10 năm 1974, Khu ủy Khu 5 và Tư lệnh Quân khu 5 giao nhiệm vụ cho tôi làm Tỉnh đội trưởng tỉnh Quảng Nam. Lúc lên nhận nhiệm vụ, tôi chỉ được các anh giao bằng miệng. Sau này, khi có quyết định bằng giấy tờ chính thức do Tư lệnh Quân khu Chu Huy Mân ký ngày 15 tháng 10 năm 1974 (Quyết định số QĐ/50TL) có thêm chữ Q, tức là Quyền Tỉnh đội trưởng. Còn lúc ấy, tôi cũng không quan tâm có chữ Q hay không, vì mục tiêu chiến đấu của mình là giải phóng quê hương, chứ không phải là để thăng quan tiến chức, làm ông này ông nọ. Do đó, mãi đến sau giải phóng Quảng Nam, tôi để ý xem lại quyết định mới thấy chữ Q.

Trở lại thời điểm cuối năm 1974, tôi được đồng chí Võ Chí Công, còn gọi là Năm Công, là Bí thư kiêm Chính ủy Quân khu 5 và đồng chí Chu Huy Mân - Tư lệnh Quân khu 5 kiêm Phó Bí thư Khu ủy Khu 5 giao nhiệm vụ chỉ huy chiến dịch tổng hợp địa phương giải phóng Quảng Nam. Nghĩa là, sử dụng toàn bộ lực lượng của tỉnh từ phía tây Thăng Bình xuống phía đông vu hồi và phía đông thị xã Tam Kỳ để tiêu diệt địch, giải phóng nhân dân. Đồng thời, kéo giữ Sư đoàn 3 ngụy từ Thăng Bình trở ra để cho bộ đội chủ lực của quân khu tập trung tiêu diệt quân địch từ Phước Lâm, Tiên Phước đến Tam Kỳ, tiêu diệt Sư đoàn 2 ngụy và liên đoàn biệt động ngụy. Nhận nhiệm vụ trên giao thật vinh dự nhưng cũng rất nặng nề, gian khó. Bởi vì tình hình phía đông lúc bấy giờ, cứ mỗi xã có từ 5 đến 6 chốt điểm của địch. Với quân số và trang bị hiện có của tỉnh đội không dễ dàng giải phóng ngay được. Tuy nhiên, bản thân tôi tin tưởng là chiến dịch này khác với chiến dịch khác. Sự khác nhau đó được thể hiện ở chỗ thành phần tham gia gồm có quân chủ lực, quân địa phương, có pháo của quân khu chi viện. Đặc biệt, trên chiến trường đã xuất hiện xe tăng của quân giải phóng, thực sự là mũi đột kích mạnh của ta. Cơ cấu của Ban Chỉ huy Tỉnh đội lúc bấy giờ cơ bản đảm bảo về quân số, đủ mạnh để chỉ huy chiến dịch. Ngoài tôi là Quyền Tỉnh đội trưởng còn có các đồng chí: Tham mưu trưởng Vũ Thành Năm, Trưởng ban tác chiến Hà Đức Y cùng với các đồng chí Tham mưu phó: Lịch, Nghĩa, Trịnh; trong đó, đồng chí Trịnh là Tham mưu phó phụ trách dân quân; đồng chí Đặng Vân - Chủ nhiệm thông tin. Phần lớn các đồng chí là cán bộ tập kết. Sau năm 1959 trở về quê hương chiến đấu và rèn luyện nhiều năm nên có nhiều kinh nghiệm trong chiến đấu. Được làm việc trong một tập thể như vậy, tôi tin chắc mình sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Trực tiếp phục vụ Ban Chỉ huy Tỉnh đội về thông tin liên lạc là một đại đội thông tin hoàn chỉnh với quân số đảm bảo, được trang bị đầy đủ cả 3 phương tiện gồm: vô tuyến điện: 2 oát, 15 oát; hữu tuyến điện và thông tin vận động. Trong công tác nắm địch có một đại đội trinh sát đầy đủ quân số, khí tài, phương tiện thông tin liên lạc, v.v. Mọi hoạt động công tác đảng, công tác chính trị do đồng chí Trần Anh Vũ - Chính trị viên phó Tỉnh đội, phụ trách. Một thời gian sau, cấp trên điều động đồng chí Đỗ Thế Chấp về làm Chính trị viên Tỉnh đội, người trực tiếp chịu trách nhiệm chính về công tác này. Ngoài ra, hoạt động trên lĩnh vực chính trị còn có đồng chí Võ Ngọc Khuê làm Chủ nhiệm Chính trị, đồng chí Phú là Phó Chủ nhiệm, người kế cận đồng Khuê. Bên cạnh đội ngủ cán bộ quân sự, chính trị, các đồng chí làm công tác đảm bảo hậu cần, tài chính cho đơn vị cũng thường xuyên cố gắng phát huy tốt tinh thần trách nhiệm, đảm bảo thường xuyên “nuôi quân giỏi”. Có thể kể đến một vài tấm gương điển hình như: Chủ nhiệm Hậu cần Lê Văn Thí, Phó Chủ nhiệm Hậu cần Đoàn Hạnh, v.v. Tuy nhiên, để Tỉnh đội hoàn thành tốt nhiệm vụ thì không thể thiếu đội ngũ cán bộ trợ lý. Đối với các anh em này, tôi đặc biệt ấn tượng với đồng chí Phan Thanh Tuấn - trợ lý tác chiến tổng hợp, về tinh thần cần cù tận tụy vì sự nghiệp cách mạng của anh. Các đồng chí, đồng đội của tôi đã đảm nhận những vai trò khác nhau trong từng thời khắc lịch sử. Song bên cạnh những con người tham gia cách mạng với tấm lòng kiên trung, trong đội hình cán bộ tỉnh đội lúc bấy giờ vẫn còn một vài đồng chí thiếu lòng tin chiến thắng, do dự trong chiến đấu. Số đồng chí này đã được quân khu điều động sang vị trí công tác khác.

Sau khi nhận nhiệm vụ, thủ trưởng quân khu đã đồng ý cho tôi được phép về quê thăm mẹ và các anh chị em vài hôm. Tiếc rằng các anh chị tôi phần lớn đều đi vào Đà Lạt. Ở nhà chỉ còn một mình mẹ già và chị thứ ba, tức chị Để. Hồi năm 1950, tôi đi bộ đội, mẹ tôi là người phụ nữ mạnh khỏe, đảm đang. Không ngờ sau hai mươi bốn năm gặp lại, mẹ tôi quá già và yếu đi nhiều. Mẹ tôi bây giờ khác hẳn với người mẹ trong hoài niệm của tôi khi mới lên đường đánh giặc. Đúng dịp tôi đi tranh thủ, tình cờ chị Thuận và anh Tình cũng từ Đà Lạt về thăm quê. Cuộc gặp gỡ tình cờ chứa chan bao xúc động. Mặc dù đã trải qua nhiều trận đánh, chứng kiến nhiều đau thương tang tóc trong chiến tranh, nhưng khi gặp lại người thân nước mắt tôi vẫn chảy tràn trên gò má. Tình cảm mẹ con, anh chị em sau hơn hai mươi năm xa cách, tưởng chừng không có ngày gặp lại khiến chúng tôi nghẹn ngào không nói nên lời. Niềm vui này thực sự nằm ngoài sự mong đợi của gia đình tôi.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2020, 07:23:58 am
Gia đình tôi đang hân hoan niềm vui ngày hội ngộ thì một chuyện bất ngờ xảy ra. Hai ngày sau đó, anh Lê Công Thạnh ở Ban Chỉ huy Tỉnh đội Quảng Đà điện báo cho tôi biết: “Địch đã phát hiện anh về Điện Thọ”. Quả thực, địch biết tôi về để chuẩn bị chiến trường nên đã đưa Trung đoàn 51 ngụy vào bao vây xã Điện Thọ. Quân lính rải suốt dọc đường 100 và đường Cẩm Lý; đồng thời, chúng tổ chức một lực lượng đánh từ cầu Cẩm Lý xuống Điện Thọ. Bọn này bất ngờ bắt gặp lực lượng vũ trang Quảng Đà, liền bị ta đánh trả quyết liệt nhằm ngăn chặn hướng tiến của địch. Mặt khác, địch ở cánh Phong Thử ra Ái Mỹ, thôn Tây cũng bị lực lượng của ta đánh chặn. Trong khi bộ binh địch đánh ra Điện Thọ thì hai chiếc máy bay trinh sát, loại máy bay bà già, quần đảo trên vùng trời. Chúng bắc loa kêu gọi: “Lê Hải Lý ra đầu hàng. Lực lượng Việt Nam cộng hòa đã siết chặt vòng vây”. Tình hình lúc này khá khó khăn. Quê tôi đã vào mùa mưa lụt nên nhiều vùng trũng nước. Đường 100 thì không qua lại được vì địch đã chốt giữ. Trong khi đó, số anh em thương binh của ta chưa chuyển vào hậu cứ. Với kinh nghiệm chiến đấu nhiều năm ở chiến trường Quảng Nam, tôi bàn với các đồng chí trong ban chỉ huy tiểu đoàn về phương cách đối phó. Theo tôi, địch sẽ căng quân số ra để mai phục, chốt giữ bên ngoài. Vì thế bất ngờ ta đi sát vào đồn địch, chúng sẽ không biết. Anh em nhất trí với phương án thoát hiểm đã nêu. Cụ thể, đơn vị đã dùng một ghe thuyền chở thương binh đi dọc sông Ái Mỹ, sát đồn Phong Thử vào bến Hục. Tôi cũng đi cùng với đoàn thương binh, khi sang đến Gò Nổi thì gặp ngay đồng chí Phùng Thành, lúc này là Bí thư Huyện ủy Điện Bàn. Đồng chí Thành đã bố trí lực lượng tổ chức đưa thương binh về hậu cứ và chuyển đạn trở ra Điện Thọ tăng cường cho anh em chiến đấu.

Sau chuyến về quê lịch sử, tôi tiếp tục trở lại đơn vị công tác. Theo kế hoạch ban đầu, quân ta sẽ đánh vào các mục tiêu ở Bắc Tam Kỳ. Vì vậy, tôi đã tổ chức lực lượng đi nghiên cứu chuẩn bị chiến trường trên hướng này. Nhưng sau đó anh Hoàng Minh Thắng - Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam, đi họp về bổ sung chuyển hướng tấn công ra phía tây của vùng tây và vùng đông Thăng Bình, bởi tình hình lại phức tạp. Do đó, chúng tôi phải đi chuẩn bị lại chiến trường từ đầu.

Cuối năm 1974, đầu năm 1975 Bộ Chính trị đã họp, quyết định giải phóng hoàn toàn miền Nam trong hai năm 1975 và 1976. Trong khi Bộ Chính trị đang họp thi ngày mùng 6 tháng 1 năm 1975 quân dân miền Nam đã giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long, địch không có khả năng tái chiếm. Động thái trên đã khẳng định địch đã suy yếu đi nhiều.

Trên chiến trường Khu 5, trong khuôn khổ các hoạt động quân sự phối hợp với Mặt trận Trị Thiên - Huế và Mặt trận Tây Nguyên, đầu tháng 3 năm 1975, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 quyết định mở chiến dịch Nam - Ngãi với mục tiêu chia cắt Quân khu 1 và Quân khu 2 của địch trên bộ; phối hợp với Quân đoàn 2 và Quân khu Trị Thiên bao vây cô lập Quân đoàn 1 của địch tại Huế và Đà Nẵng. Hướng tiến công chủ yếu là vùng tây nam Quảng Nam và tây bắc Quảng Ngãi trên tuyến Tiên Phước - Tam Kỳ - Núi Thành và Trà Bồng - Bình Sơn. Đây là tuyến phòng thủ yếu nhất của địch tại nam Quân khu 1, xa trung tâm Đà Nẵng, bị chia cắt bởi nhiều sông ngòi. Do đó, địch phải rải quân ra 77 điểm để chốt giữ.

Trong lúc đó, lính chiến đấu của Mỹ ở chiến trường Quảng Nam không còn. Tuy nhiên, đội ngũ cố vấn quân sự Mỹ vẫn đứng sau quân đội ngụy. Chỉ huy chung là tướng Trần Văn Nhựt - Tư lệnh Sư đoàn 2 bộ binh ngụy. Lực lượng của địch trên địa bàn Quảng Nam tương đối mỏng so với hai địa bàn còn lại của Quân khu 1. Tất cả chỉ có hai sư đoàn bộ binh là Sư đoàn 2 và Sư đoàn 3, Liên đoàn 12 biệt động quân, Liên đoàn 916 bảo an, Thiết đoàn 11, 3 tiểu đoàn pháo binh, 1 hải đội tuần duyên và 1 giang đội. Đội hình của chúng được bố trí cụ thể như sau: Sư đoàn 2 đóng quân từ Tuần Dưỡng vào đến căn cứ sân bay Chu Lai; trong đó có một trung đoàn chốt giữ ở Tuần Dưỡng, chỉ huy tiền phương Sư đoàn 2 ngụy và một trận địa pháo 105, 155mm đứng ở thị xã Tam Kỳ, 1 tiểu đoàn đóng tại cao điểm 211, thuộc quận lỵ Tiên Phước. Sư đoàn 3 ngụy đứng chân ở Hòn Chiêng, Chóp Chài, huyện Quế Sơn, Cấm Dơi, Động Mông, Đá Hàm, núi Quế; chỉ huy tiền phương của Sư đoàn 3 nằm ở núi Quế cùng với trận địa pháo 105mm và 155mm; đồng thời, tại Chu Lai còn có trận địa pháo 105mm. Ngoài ra, địch còn có hai chiến đoàn xe tăng và xe thiết giáp M113 đóng ở thị xã Tam Kỷ và căn cứ Chu Lai.

Khi chiến trường được mở ra, địch điều động liên chiến đoàn biệt động vào đứng ở tây sân bay Ngọc Bích, dọc tuyến Tam Kỳ, Tiên Phước. Bên cạnh đó, lực lượng địa phương ngụy ở tỉnh Quảng Nam lúc bấy giờ có hầu như trên khắp các địa phương. Tại huyện Quế Sơn, có hai liên đội lính bảo an, mỗi liên đội tương đương một tiểu đoàn, chia thành hai bộ phận: Một liên đội ở quận lỵ Quế Sơn và một liên đội ở trung và đông Quế Sơn. Đồng thời, ở mỗi xã, địch đóng từ 4 đến 5 trung đội dân vệ, nghĩa quân.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2020, 07:24:23 am
Ở huyện Thăng Bình cũng có hai liên đội. Trong đó, một liên đội đóng ở Bình Phú, Bình Trị, Bình Lãnh và một đứng ở vùng đông Thăng Bình và thị trấn Hà Lam. Ở mỗi xã bị địch chiếm, chúng tổ chức từ 4 đến 5 trung đội dân vệ, nghĩa quân.

Riêng huyện Bắc Tam Kỳ có một liên đội bảo an đứng chân ở khu vực cứ điểm Trà Gó, Dương Huê, Dãy Thám và một đại đội biệt lập ở cứ điểm Kỳ An; mỗi xã địch chiếm cũng có 4 đến 5 trung đội dân vệ nghĩa quân. Còn ở thị xã Tam Kỳ, địch bố trí một liên đội chốt giữ và một liên đội đóng ở xung quanh thị xã. Bên cạnh đó, chính quyền ngụy còn tổ chức một lực lượng biệt lập gồm hơn 10 đại đội và trung đội đứng ở thị xã Tam Kỳ và huyện Bắc Tam Kỳ. Cứ điểm chính của bọn này được bố trí tại nhà mụ Đợi ở thôn 1, xã Kỳ Phú, huyện Bắc Tam Kỳ (nay là xã Tam Tiến, thuộc thành phố Tam Kỳ. Lực lượng biệt lập nổi tiếng ác ôn, do tên thiếu tá Liệu con của mụ Đợi chỉ huy. Vì vậy, ở Quảng Nam, người dân thường gọi đội quân ác ôn này là quân mụ Đợi. Trên địa bàn huyện Nam Tam Kỳ, địch sử dụng một liên đội bảo an đứng ở quận lỵ Lý Tín và căn cứ sân bay Chu Lai, có cơ quan sư đoàn bộ Sư đoàn 2 ngụy và một trung đoàn bộ binh chiếm đóng. Đồng thời, cứ mỗi xã địch chiếm, chúng củng thành lập từ 4 đến 5 trung đội dân vệ, nghĩa quân.

Ở huyện Tiên Phước, Phước Lâm chúng cũng tổ chức một liên đội chốt giữ xung quanh quận lỵ và một tiểu đoàn lính cộng hòa đóng ở điểm cao 211 quận lỵ Tiên Phước. Đồng thời, xã nào cũng có từ 3 đến 4 trung đội dân vệ, nghĩa quân. Ngoài ra, ở thị xã Tam Kỳ còn có cơ quan tỉnh lỵ tỉnh Quảng Tín ngụy Sài Gòn và các lực lượng quân dã chiến và một số thành phần phản động khác.

Tính tổng số lực lượng địch trên địa bàn toàn tỉnh Quảng Nam lúc bấy giờ gồm có 2 sư đoàn ngụy; 1 liên đoàn biệt động cộng với pháo và xe tăng; 10 liên đội bảo an, tương đương 10 tiểu đoàn; hơn 100 đại đội và trung đội dân vệ nghĩa quân cùng với các lực lượng khác. Địch tổ chức thành hàng trăm căn cứ, cứ điểm, chốt điểm, đóng rải rác từ thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi đến miền ngược.

Về lực lượng của ta trên chiến trường Quảng Nam trong thời điểm mùa xuân năm 1975, trước khi mở chiến dịch Nam - Ngãi (Tam Kỳ - Tiên Phước), gồm có: 1 sư đoàn bộ binh chủ lực của Quân khu 5; Lữ đoàn bộ binh 52; các trung đoàn pháo binh 368 và 572 gồm pháo mặt đất và cao xạ, trong đó có cả pháo tầm xa bắn trên 20 cây số và một đơn vị xe tăng.

Với vai trò là lực lượng chủ yếu của Quân khu 5 trên hướng Tiên Phước - Tam Kỳ, lực lượng vũ trang Tỉnh đội Quảng Nam gồm có 3 tiểu đoàn bộ binh là Tiểu đoàn 70, Tiểu đoàn 72, Tiểu đoàn 11. Ngoài các đơn vị trên, lực lượng của Tỉnh đội còn có Tiểu đoàn 74, là tiểu đoàn hỏa lực được trang bị các loại vũ khí như: cối 120mm, cối 82mm, súng 12,7mm, H12; 2 đại đội đặc công, trong đó có 1 đại đội đặc công nước; 1 đại đội công binh; 1 đại đội thông tin; 1 đại đội trinh sát; 3 cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần quân số đủ và ổn định. Trong công tác cứu chữa thương binh, bệnh binh, tỉnh đội đã tổ chức 3 bệnh xá và 2 đội phẫu thuật. Đội ngũ cán bộ chỉ huy cấp tiểu đoàn là những đồng chí dũng cảm, sáng tạo. quyết đoán và dày dạn kinh nghiệm trong chiến đấu. Cụ thể, Tiểu đoàn 70 do đồng chí Nguyễn Hữu Đãi - Tiểu đoàn trưởng, Chính trị viên là đồng chí Chu; Tiểu đoàn 72 đồng chí Thạc - Tiểu đoàn trưởng, đồng chí Vân - Chính trị viên; Tiểu đoàn 11 đồng chí Oánh - Tiểu đoàn trưởng; Tiểu đoàn 74 đồng chí Dương Mong - Tiểu đoàn trưởng. Trên địa bàn 9 huyện thì thì đa số các huyện đều có một đại đội bộ binh, một đội đặc công và một trung đội hỏa lực. Huyện nào ít cũng tổ chức một đại đội bộ binh. Riêng lực lượng du kích của hai huyện miền núi Trà My và Phước Sơn cũng khá hùng hậu, mỗi xã có từ ba đến bốn trung đội, trong đó các xã vùng giải phóng cũng được tổ chức từ một đến hai trung đội, nâng tổng số du kích trong vùng địch lên 388 đồng chí. Có thể đánh giá chung lực lượng vũ trang tỉnh Quảng Nam đầu năm 1975 đã được củng cố, bổ sung quân số, trang bị và huấn luyện chiến đấu cơ bản.

Tham dự chiến dịch Nam - Ngãi, Quân khu 5 giao nhiệm vụ cho lực lượng vũ trang Quảng Nam đảm nhận một hướng chiến dịch của quân khu, phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng tỉnh Quảng Nam, tấn công và nổi dậy tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, diệt ác, phá kìm... giải phóng nông thôn đồng bằng của tỉnh Quảng Nam tạo điều kiện và thời cơ cùng lực lượng quân khu phát triển.

Mở đầu chiến dịch, bộ đội tỉnh mở mặt trận ở phía tây huyện Thăng Bình, tạo điều kiện nhanh chóng thọc sâu xuống vùng đông Thăng Bình tiêu diệt một số cứ điểm và tiêu hao sinh lực địch, đồng thời hỗ trợ quần chúng nổi dậy giải phóng đông Thăng Bình, đông Quế Sơn, đông thị xã Tam Kỳ. Khi chiến dịch bắt đầu được bốn ngày thì quân khu giao nhiệm vụ bổ sung cho lực lượng vũ trang tỉnh Quảng Nam là ngăn chặn và tiêu diệt một bộ phận lực lượng Sư đoàn 3 ngụy ở khu vực Gò Thong, Hà Lam, tây núi Rướn của xã Bình Phục, huyện Thăng Bình để tạo điều kiện cho chủ lực Quân khu 5 tiêu diệt chủ lực quân ngụy ở tây sân bay Ngọc Bích, Tam Kỳ, Suối Đá, Tiên Phước. Sau đó, lực lượng vũ trang của tỉnh Quảng Nam vu hồi chiến dịch vào đông thị xã Tam Kỳ, để chặn đứng quân địch tháo chạy và tiêu diệt, cùng lực lượng quân khu tiêu diệt và làm rã toàn bộ quân ngụy và chính quyền Sài Gòn tại thị xã Tam Kỳ và toàn tỉnh Quảng Nam. Đúng giờ G, lực lượng vũ trang toàn tỉnh đồng loạt tấn công các mục tiêu được giao theo mệnh lệnh.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2020, 07:26:44 am
Quán triệt tinh thần của trên, tôi và các đồng chí cơ quan tham mưu khẩn trương tổ chức đi kiểm tra chiến trường tây Thăng Bình, đồng thời tối hôm ấy bí mật luồn sâu xuống vùng đông Thăng Bình để chuẩn bi chiến trường ở Bình Sa, Bình Hải, Bình Triều. Nhằm đảm bảo độ tin cậy về tình hình địch, chúng tôi đã cài đồng chí Vũ Thành Năm, Tham mưu trưởng Tỉnh đội ở lại hai đêm để nắm chắc tình hình mọi mặt ở vùng đông Thăng Bình. Cùng với các hoạt động vũ trang, Tỉnh ủy Quảng Nam cũng phân công đồng chí Sơn, là tỉnh ủy viên, thọc sâu vào Bình Hải nắm lại lực lượng để chuẩn bị phát động quần chúng nổi dậy giành chính quyền.

Hoàn thành mọi công tác chuẩn bị chiến trường, tôi trực tiếp báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh ủy xin thông qua quyết tâm chiến đấu. Tại hội nghị, các đồng chí trong Ban Thường vụ đã nhất trí cao với quyết tâm chiến đấu của tỉnh đội do tôi chuẩn bị. Đặc biệt, khi kết luận hội nghị, đồng chí Hoàng Minh Thắng đã nhấn mạnh nội dung tán thành cách đánh và hướng thọc sâu của lực lượng vũ trang tỉnh. Được sự đồng ý của tỉnh ủy cũng như tỉnh đội, tôi tiến hành điều động lực lượng bổ sung. Cụ thể, điều đồng chí Yếu, Huyện đội trưởng Phước Sơn và một đại đội bộ binh cơ động lên tăng cường cho Quế Sơn; điều một đại đội của Trà My tăng cường cho Tiên Phước.

Ngày mùng 9 tháng 3 năm 1975, tôi tiến hành hạ đạt mệnh lệnh chiến đấu trên sa bàn ở tại Suối Cát, xã Bình Lâm, huyện Quế Tiên (nay là huyện Hiệp Đức). Sau đó, tôi giao nhiệm vụ cụ thể cho từng bộ phận, Nam Tam Kỳ, thị xã Bắc Tam Kỳ, Thăng Bình, Quế Sơn và các huyện, các tiểu đoàn chủ lực của tỉnh. Đồng thời, yêu cầu các đồng chí cán bộ về tổ chức phổ biến nhiệm vụ kịp thời, khẩn trương triển khai làm công tác chuẩn bị, sẵn sàng hành quân khi có lệnh. Hướng trọng điểm của tỉnh lực lượng gồm 3 tiểu đoàn bộ binh và một tiểu đoàn hỏa lực, do tôi trực tiếp chỉ huy. Còn lại các hướng của các huyện, trên cơ sở đã giao nhiệm vụ tại sa bàn.

Đúng 4 giờ 30 phút ngày 10 tháng 3, Tiểu đoàn 5 của Trung đoàn 38 nổ súng tiến công đánh chiếm các chốt núi Vú, núi Ngọc, Dương Côn, Suối Đá, núi Vỹ. Đồng thời, Trung đoàn 36 tiêu diệt các chốt Trung Liên, đồi Đá, đồi Không Tên, Hố Bạch và điểm cao 215; Trung đoàn Ba Gia chiếm giữ các điểm cao 269 và 310, hình thành trận địa đánh chặn địch phản kích từ hướng Tuần Dưỡng. Lữ đoàn 52 đánh chiếm các cứ điểm Gò Hàn, Phước Tiên, Dương Ông Lựu, Dương Huê, núi Mỹ, Hòn Nhọn, cửa Rừng, Đèo Liêu và đồi Đất Đỏ. Chỉ sau 4 giờ tiến công, quân ta đã chiếm giữ 23 chốt quan trọng của biệt động quân địch. Đến 9 giờ sáng ngày mùng 10 tháng 3, Trung đoàn pháo binh 368 đã kéo 12 khẩu pháo 85mm, 105mm và 122mm lên núi Vú và Hàn Thôn, hạ nòng bắn thẳng vào cứ điểm 211 và quận lỵ Tiên Phước, trực tiếp chi viện cho Trung đoàn 31 thực hành tiến công hai vị trí này. Địch hốt hoảng điều động xe tăng và bộ binh ra bịt lấp cửa mở. Nhưng sau hai lần phản kích không thành công, lúc 13 giờ 30 phút, lực lượng địch tại quận lỵ Phước Lâm vội vàng rút chạy. Tên quận trưởng Tiên Phước điện về Chu Lai xin chi viện, song chỉ có hai chiếc máy bay A-37 đến ném bom yểm trợ. Tuy nhiên hành động trên của địch cũng không cản được đội hình tiến quân của Sư đoàn 2 chủ lực Quân khu 5. Đến 16 giờ cùng ngày, quận lỵ Tiên Phước thuộc về Quân giải phóng. Mất Tiên Phước và Phước Lâm, Liên đoàn bảo an 916 của địch phải rút lui khỏi căn cứ 211 khiến Tiểu khu quân sự Tam Kỳ trực tiếp bị uy hiếp. Ngày 11 tháng 3, tướng ngụy Ngô Quang Trưởng ra lệnh cho chuẩn tướng Trần Văn Nhựt điều động Sư đoàn 2 (thiếu), Liên đoàn 12 biệt động quân, 1 tiểu đoàn lính bảo an và Chi đoàn 1, thuộc Thiết đoàn 11, tổ chức phản kích từ Tuần Dưỡng ra Cẩm Khê và Dương Côn. Đồng thời, chúng đưa Trung đoàn 5, thuộc Sư đoàn 2 bộ binh ngụy cùng 2 tiểu đoàn lính bảo an và Chi đoàn 4 của Thiết đoàn 11 đánh lên Dương Leo, núi Thám. Trung đoàn 2 của Sư đoàn 3 bộ binh ngụy từ Đà Nẵng và Trung đoàn 4 từ Chu Lai được bổ sung cho chuẩn tướng Nhựt để giữ Tam Kỳ.

Thực hiện nhiệm vụ phối hợp chiến đấu với hướng trọng điểm chủ lực quân khu trên địa bàn ở hướng Tiên Phước, Phước Lâm, đúng 0 giờ ngày 14 tháng 3 năm 1975, Tiểu đoàn 72 đã nổ súng tiến công cứ điểm Gia Hội, Tiểu đoàn 11 tấn công cứ điểm Gò Dài, Đại đội 16 đặc công đánh điểm cao 59 ở xã Bình Phú, huyện Thăng Bình. Sau hơn một giờ chiến đấu, các đơn vị đã tiêu diệt hết cứ điểm, làm chủ trận địa. Sau đó, đêm 15 tháng 3 năm 1975, Tiểu đoàn 70 và Đại đội 16 đặc công cùng Đại đội 12 và lực lượng Bắc Tam Kỳ, do đồng chí Vũ Thành Năm chỉ huy, tiếp tục thọc sâu xuống vùng đông, đánh chiếm hàng loạt các chốt ở xã Bình Sa, một phần Bình Đào và thọc sâu vào Bình Hải, cùng với cơ sở của Bình Hải nổi dậy giành chính quyền ở xã Bình Hải.

Trước tình hình các mảng cứ điểm bị vỡ do ta tấn công, Trung đoàn 2 thuộc Sư đoàn 3 ngụy đang chuyển quân vào thị xã Tam Kỳ phải quay lại đối phó. Mặt khác, ở hướng nam, Trung đoàn 94 của Tỉnh đội Quảng Ngãi cũng đã thực hành tiến công quận lỵ Bình Sơn, cắt đường 1 ở Châu Ồ, giam chân Trung đoàn 4 Sư đoàn 2 ngụy tại đây. Vì vậy, lực lượng phản kích của địch trên hướng này bị căng ra. Quân địch càng thêm khốn khó khi Ngô Quang Trưởng rút Liên đoàn 14 biệt động quân ra Quảng Trị để thay cho hai lữ đoàn dù vừa bị tổng thống Thiệu điều về Sài Gòn. Biết lực lượng trong tay không đủ khả năng tái chiếm, chuẩn tướng Nhựt buộc phải bỏ dở cuộc phản kích, chuyển quân về giữ Tam Kỳ, Chu Lai và các chốt dọc đường số 1. Do đó, tuyến phòng thủ của Sư đoàn 2 ngụy và Liên đoàn 12 biệt động quân bị kéo dài từ Quảng Ngãi đến Hội An nên lực lượng bị dàn mỏng. Trong đó, đoạn trọng yếu trước mặt thị xã Tam Kỳ, địch chỉ bố trí Trung đoàn 5 và một tiểu đoàn của Trung đoàn 4 Sư đoàn 2 ngụy đóng giữ. Phát hiện được mắt xích của địch, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 quyết định đột phá vào đây.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2020, 07:27:10 am
Trên hướng của tỉnh Quảng Nam, đến 16 tháng 3 năm 1975, phần lớn lực lượng của tỉnh gồm Tiểu đoàn 72 và Tiểu đoàn 74, cơ quan chỉ huy của tỉnh đội cơ động xuống luôn vùng đông. Sau đó, Tiểu đoàn 70 đánh chiếm khu vực chợ Được, đánh phản kích địch trên hướng cổng 24, 25, núi Rướng, nổng Bà Mun. Trong các ngày 18, 19 và 20, quân ta đánh lực lượng phản kích của Sư đoàn 3 ngụy từ Hà Lam xuống đã bắn cháy 4 xe tăng, tiêu hao nhiều sinh lực địch. Lực lượng của tỉnh đã căng kéo, giữ địch ở Gò Thăng và núi Quế. Cũng trong những ngày trên, Tiểu đoàn 72 thực hành đánh địch trên hướng nam Hương Mỹ, Tất Viên; Tiểu đoàn 11 bám sát trục đường 16, áp sát Bình Nguyên, thị trấn Thăng Bình để căng kéo, giữ chân địch tại khu vực này. Bởi vì, lúc này lực lượng của tỉnh phải thực hiện nhiệm vụ kìm chân Sư đoàn 3 ngụy, tạo điều kiện để Sư đoàn 2 Quân khu 5 tiêu diệt lữ đoàn biệt động và Sư đoàn 2 ngụy ở hướng Suối Đá, phía tây Tam Kỳ.

Cuộc chiến đấu lúc bấy giờ rất ác liệt, vì sở chỉ huy tiền phương Sư đoàn 3 ngụy đã vào đứng ở núi Quế, một bộ phận của nó đã cơ động về Gò Thăng, Thăng Bình. Hơn nữa, trận địa pháo núi Quế của địch đánh liên tục vào đội hình của tỉnh đội. Thậm chí, chúng còn bắn như mưa vào các làng gần đấy và nhà thờ phía nam chợ Được, nơi đặt sở chỉ huy của Tỉnh đội Quảng Nam. Bom đạn địch đã làm cho đường dây thông tin liên lạc hữu tuyến điện bị đứt. Không quản hiểm nguy, đồng chí Bút, người chiến sĩ thông tin, nhanh chóng rời khỏi công sự, dùng miệng ngậm nối hai đầu dây để liên lạc, vì dây đứt không đủ dài để nối lại với nhau. Bất ngờ, một mảnh đạn pháo của địch đã khiến người chiến sĩ ấy bỏ dở ước mơ khi cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc đã sắp đi đến ngày toàn thắng. Đồng chí Bút hy sinh, nhưng chúng tôi không bao giờ quên hình ảnh người lính dầm mình trong bom đạn để đảm bảo thông tin liên lạc trong thời khắc đầy hiểm nguy. Trước tình thế như vậy, tôi phải sử dụng phương tiện thông tin truyền thống, hay còn gọi là thông tin vận động. Tiếc thay, khi đồng chí Phiên vừa ra khỏi miệng hầm chạy đi liên lạc thì bị ngay một quả pháo trước hầm chỉ huy. Đồng chí Phiên được anh em băng bó tại miệng hầm, nhưng vì bị thương quá nặng nên đã hi sinh.

Trong các ngày 19 và 20, địch vẫn sử dụng hỏa lực tấn công quyết liệt vào khu vực sở chỉ huy tỉnh đội. Tôi điện lên Tư lệnh Quân khu đề nghị pháo binh chi viện. Ngay lập tức, pháo tầm xa của quân khu từ ngã ba Đồng Tranh đánh xuống Gò Thăng, Hà Lam, núi Quế chi viện cho lực lượng của tỉnh. Cuộc chiến xảy ra rất ác liệt, hai bên luôn giằng co trong trạng thái “một mất một còn”. Với niềm tin sắp đến ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, các đơn vị của tỉnh đều hăng say chiến đấu.

Chiều ngày 20 tháng 3 năm 1975, tôi nhận được bức điện tối khẩn của đồng chí Văn, tức Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, từ Hà Nội gửi trực tiếp cho tôi với nội dung: “Điện tối khẩn:

- Điện cho đồng chí Lê Hải Lý - Tỉnh đội trưởng Quảng Nam chuẩn bị tấn công thần tốc, chỉ đồng chí và đồng chí Bí thư Tỉnh ủy biết. Ký tên Văn”
. Đây là bức điện quan trọng đích thân đồng chí Đặng Vân - Chủ nhiệm thông tin, đưa cho tôi. cầm bức điện trong tay mà lòng tôi sung sướng vô cùng, nước mắt tự dâng trào. Người anh Cả của Quân đội nhân dân Việt Nam đã điện trực tiếp cho mình. Nghĩa là cuộc chiến đấu của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã sắp đến ngày toàn thắng thật rồi. Sau đó, tôi cho sở chỉ huy tỉnh đội chuyển về xã Bình Sa, huyện Thăng Bình để thuận lợi cho việc chỉ huy thần tốc.

Lúc này trên mặt trận của quân khu cũng chuyển biến mau lẹ. 5 giờ 30 phút sáng ngày 21 tháng 3, Sư đoàn 2 Quân khu 5 tấn công tuyến phòng thủ Suối Đá. Trước sự tấn công như vũ bão của quân ta, địch chống trả yếu dần. Đến 12 giờ trưa cùng ngày, tuyến phòng thủ che chở cho thị xã Tam Kỳ bị vỡ một mảng lớn. Chuẩn tướng Nhựt vội rút Trung đoàn 4 từ Quảng Ngãi ra lấp lỗ hổng. Do đó, cánh quân phòng thủ Quảng Ngãi đã suy yếu càng yếu thêm. Nắm chắc thời cơ, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 ngay lập tức điều Lữ đoàn 52 (do đồng chí Đỗ Sa, tức Châu Sa làm Lữ đoàn trưởng) vào phối hợp với Trung đoàn 94 tấn công Quảng Ngãi. 7 giờ sáng ngày 24 tháng 3, cả Tam Kỳ và Quảng Ngãi cùng lúc bị tấn công. Trên hướng thị xã Tam Kỳ, Trung đoàn 4 và phần còn lại của Trung đoàn 5 của Sư đoàn 2 ngụy đã bị thất bại sau hơn hai giờ giao chiến. Ớ hướng thứ yếu tại Cẩm Khê, Khánh Thọ và Đức Tân, hai tiểu đoàn 37 và 39 của Liên đoàn 12 biệt động cũng vội vàng tháo chạy.

Trưa ngày 23 tháng 3 năm 1975, tôi giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 72 và công binh, ngay trong đêm phải phải đánh sập cầu Kỳ Phú, đánh chiếm trận địa pháo Vu Hồi ở đông thị xã Tam Kỳ, địa bàn các xã Bình Nam, Kỳ Phú và Kỳ Anh. Ở mỗi xã, địch bố trí từ 5 đến 6 chốt điểm. Do đó, quân ta phải vừa đi, vừa đánh địch để trong đêm 23 rạng 24 phải đánh sập cầu Kỳ Phú, đông thị xã Tam Kỳ. Theo đúng kế hoạch, Tiểu đoàn 72, do đồng chí Thạc - Tiểu đoàn trưởng, đồng chí Vân - Chính trị viên, đã đánh sập cầu Kỳ Phú, chiếm trận địa pháo, thu 3 khẩu 155mm, 4 khẩu 105mm của địch và bắt hàng trăm tù binh. Như vậy, ta đã cắt đứt liên lạc và khóa chặt phía đông thị xã Tam Kỳ, làm cho quân địch ở thị xã Tam Kỳ rối loạn.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2020, 07:27:38 am
Cùng thời điểm, Tiểu đoàn 70, do đồng chí Ngô Hữu Đãi - Tiểu đoàn trưởng, đồng chí Chu - Chính trị viên, vừa đánh, vừa tiến thọc sâu xuống Tam Tiến, đánh chiếm cứ điểm Mụ Đợi, thu 2 khẩu ĐKZ 105mm và bắt sống hàng trăm tù binh. Trên hướng tây, Tiểu đoàn 11 tiếp tục đánh xuống quận lỵ Thăng Bình. Khí thế tiến công dồn dập trên địa bàn toàn tỉnh. Nếu ai đã được sống trong thời khắc lịch sử đó thì mới có thể cảm nhận được không khí nô nức sắp đến ngày toàn thắng. Tiếng súng của quân ta nghe đanh và vui lạ lùng. Tại huyện Nam Tam Kỳ, các lực lượng đã thọc sâu xuống đông đường 1, đánh xuống cửa Lơ, tấn công cảng Kỳ Hà, cùng với chủ lực quân khu đánh chiếm sân bay Chu Lai. Các đơn vị của Huyện đội Quế Sơn cũng bám đánh xung quanh quận lỵ, cắt đường 105, sau đó chuyển hướng tiến công xuống Hương An, Bà Rén. Trên hướng tây, sáng 24 tháng 3 năm 1975, xe tăng và bộ binh của chủ lực quân khu đã tiêu diệt chiến đoàn biệt động tây sân bay Ngọc Bích. Ngay sáng ngày 24 tháng 3 năm 1975, Tỉnh trưởng ngụy Đào Mộng Xuân đã cởi bỏ trang phục tỉnh trưởng, bận áo thường dân tháo chạy. Quân địch ở thị xã Tam Kỳ rối loạn.

Sáng ngày 24 tháng 3, Sư đoàn 2, Trung đoàn 1 (Trung đoàn Ba Gia) do đồng chí Xưởng làm Trung đoàn trưởng và đồng chí Lê Lung (còn gọi là Vấn) làm Chính ủy tổ chức đội hình Trung đoàn 1 cùng xe tăng thành 3 cánh: Cánh thứ nhất qua Kỳ Bích, Kỳ Hưng đánh chiếm đầu cầu Tam Kỳ, đánh ra quốc lộ; cánh thứ hai đánh qua sân bay Ngọc Bích đánh xuống trung tâm thị xã; cánh thứ ba đánh dọc đường Tam Kỳ, Tiên Phước qua ga đường sắt xuống trung tâm thị xã. Còn Trung đoàn 31 đánh qua Kỳ Lý, Quán Rường ra Tuần Dưỡng. Chưa đầy một giờ chiến đấu, ta đã làm chủ toàn bộ thị xã Tam Kỳ. Đúng 10 giờ 30 phút ngày 24 tháng 3 năm 1975 thị xã Tam Kỳ hoàn toàn giải phóng, một thời khắc lịch sử hào hùng oanh liệt là niềm hãnh diện của Đảng bộ và quân dân Quảng Nam.

Theo số liệu của Quân khu 5 cung cấp, trong chiến dịch Nam - Ngãi, tính trên địa bàn hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi, toàn bộ hơn 4.000 quân của Trung đoàn 6 thuộc Sư đoàn 2 ngụy, Liên đoàn biệt động quân 12 và Thiết đoàn 4 hoàn toàn tan rã, số bị chết chỉ khoảng 600 tên, số bị bắt lên đến khoảng 3.500 tên. Chỉ một số ít chạy được về Chu Lai vội cùng với Bộ tư lệnh Sư đoàn 2 ngụy trốn thoát ra tàu biển. Đến 23 giờ 30 phút cùng ngày, Lữ đoàn 52 của ta đánh chiếm thị xã Quảng - Ngãi đồng nghĩa với việc kết thúc Chiến dịch Nam - Ngãi sau hai tuần chiến đấu. Sự kiện các tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi bị Quân giải phóng đánh chiếm đã góp phần chia cắt quân địch trên chiến trường miền Nam Việt Nam, trực tiếp giúp cho việc giải phóng hoàn toàn miền Nam trong thời gian ngắn nhất. Như vậy, chỉ trong hai ngày 24 và 25 tháng 3, hai hướng phòng thủ chiến lược của quân địch tại Trị Thiên - Huế và Quảng Nam, Quảng Ngãi đã bị tan vỡ. Thành phố Đà Nẵng được chúng xây dựng thành khu căn cứ liên hợp bỗng chốc bị trơ trọi như một ốc đảo, chỉ có thể liên lạc được với các vùng còn lại bằng đường biển và đường không. Tính đến những ngày cuối tháng ba lịch sử năm 1975, ta đã kiểm soát được 10 trong số 44 tỉnh của miền Nam Việt Nam, xóa sổ 3 trong số 11 sư đoàn bộ binh của địch. Mặt khác, trong đội hình sư đoàn thủy quân lục chiến của địch, Lữ đoàn 147 cũng không còn đóng vai trò là một đơn vị chiến đấu tinh nhuệ như chúng từng tuyên bố.

Giải phóng xong thị xã Tam Kỳ, Quân khu lệnh cho lực lượng của tỉnh Quảng Nam vận động ra đông đường 1 đánh cắt cầu Bà Rén. Tôi điều ngay các tiểu đoàn 70, 72 và 74 từ phía đông Quế Xuân đánh lên đường 1 và cắt cầu Bà Rén. Đồng thời, Tiểu đoàn 11 đánh xuống núi Quế tiêu diệt một bộ phận quân địch, số còn lại vội vàng bỏ cứ điểm tháo chạy. Lúc bấy giờ, trái ngược với tinh thần hăng say chiến đấu của bộ đội ta, quân địch rất hoảng loạn, hầu như không còn dám chống cự khi bị ta tấn công.

Kết quả sau 14 ngày chiến đấu liên tục, dũng cảm ngoan cường, bắt đầu từ ngày 10 tháng 3 đến ngày 24 tháng 3 năm 1975, lực lượng vũ trang tỉnh Quảng Nam trong đội hình của lực lượng Quân khu 5 đã tiêu diệt bắt sống, làm tan rã toàn bộ quân ngụy và chính quyền Sài Gòn của tỉnh Quảng Tín (Quảng Nam), thu hàng vạn vũ khí các loại và phương tiện chiến tranh. 14 ngày chiến đấu quyết liệt, quân ta vừa hành tiến, vừa chiến đấu đạp bằng gian khó giành thắng lợi trọn vẹn của 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đây cũng là kết quả chiến đấu của quân và dân Quảng Nam trong 30 năm chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.

Để có một Quảng Nam sạch bóng quân thù, góp phần giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, bên cạnh sự cố gắng, quyết tâm chiến đấu của quân và dân tỉnh nhà, sự lãnh đạo đúng đắn tài tình của Đảng ta, của Bác Hồ vĩ đại luôn đóng vai trò tiên quyết. Trong chiến thắng chung đó, luôn có hình ảnh của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, người anh Cả của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Vinh dự là người lính được đi qua hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, tôi không thể nào quên những con người đã sống chiến đấu hết mình vì hạnh phúc của nhân dân, vì nền độc lập tự do của Tổ quốc. Trong vô vàn kỷ niệm tôi mang theo kể từ khi kết thúc chiến tranh, có một con người nếu xét về tổ chức thì anh là cấp dưới, nhưng trong tâm trí tôi, anh luôn là người bạn tri kỷ. Chúng tôi đã gặp nhau ở điểm chung nhất là sự tận lực vì sự nghiệp đấu tranh cách mạng giải phóng quê hương. Người chiến sĩ tôi muốn nhắc tới đó là đồng chí Ngọc Anh, Nguyễn Hữu Long, quê ở thôn 2, xã Bình Dương, huyện Thăng Bình. Anh ở bên cạnh tôi suốt những năm 70 của thế kỷ XX, luôn thể hiện là người chiến sĩ giải phóng tận tụy, gan dạ. Vì vậy, dẫu chiến tranh đã lùi xa hàng thập kỷ, nhưng hình ảnh của Long và Anh vẫn đọng mãi trong tôi.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2020, 07:29:15 am
Chương bảy

TRĂN TRỞ SAU GIẢI PHÓNG


Ngày 26 tháng 3 năm 1975, Quảng Nam hoàn toàn sạch bóng quân thù. Sau đó, ngày 29 tháng 3 năm 1975, thành phố Đà Nẵng cũng hoàn toàn giải phóng. Đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hơn hai mươi năm đã được đánh dấu bằng thời khắc lịch sử ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày Sài Gòn giải phóng; đồng thời cũng chấm dứt chế độ thuộc địa kiểu mới của đế quốc Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Lúc ấy, lòng tôi sung sướng tự hào không thể nào tả nổi. Thế là sau bao nhiêu năm chiến đấu gian lao nay đến ngày độc lập. Trong phút giây hạnh phúc trào dâng, tôi lại nhớ đến lời hứa với Bác Hồ trước lúc vào miền Nam chiến đấu: “Chúng cháu sẽ hoàn thành nhiệm vụ Bác giao”. Bây giờ, miền Nam đã hoàn toàn giải phóng thì Người đã đi xa. Tôi càng sung sướng bao nhiêu, càng thương nhớ Bác bấy nhiêu. Lòng tôi cũng se sắt khi nghĩ về những đồng chí, đồng đội đã ngã xuống trước ngày toàn thắng vì nền độc lập của nước nhà. Trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, không ít bà mẹ đã lần lượt tiễn đưa các con đi chiến đấu mà hiếm có đứa nào quay về với mẹ; có không biết bao nhiêu người gửi một phần thân thể nằm lại nơi chiến trường, v.v. Để có ngày toàn thắng, quân và dân ta đã phải đánh đổi rất nhiều máu xương. Bản thân tôi cũng 5 lần bị thương nặng. Nhiều mảnh đạn còn găm trong thân thể khiến tôi phải sống chung với nó suốt đời. Nhưng lúc đó, trên tất cả là niềm hân hoan sung sướng, đó cũng là tâm lý chung của tất cả mọi người. Chúng tôi may mắn hơn nhiều đồng chí, vì đã đi hết cuộc chiến tranh vệ quốc để hưởng niềm vui thắng lợi. Tôi càng vinh dự hơn khi được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, việc giành độc lập thống nhất nước nhà đã hoàn tất. Trong thời gian tiếp theo, chúng tôi rất nhiều việc phải làm. Trước mắt, quân đội và chính quyền các cấp phải vừa lo tảo trừ tàn quân, vừa tổ chức đưa dân ở các thị xã, thị trấn về lại làng cũ; đồng thời, kịp thời khắc phục hậu quả chiến tranh còn sót lại như phá, gỡ bom mìn, khử độc môi trường, v.v. Biết bao công việc chất chồng lên đôi vai người lính vừa đi qua cuộc chiến.

Hòa bình lập lại. Mọi quân nhân đều khao khát được hưởng cuộc sống hòa bình, tha thiết về lại quê nhà vui thú ruộng đồng, chứ ít người nghĩ về tương lai sẽ như thế nào. Cùng lúc đó, nhiều chỉ thị của cấp trên gửi xuống, nội dung chủ yếu là đôn đốc cho ra quân. Chấp hành mệnh lệnh của trên, chúng tôi lần lượt làm thủ tục để anh em ra quân theo nguyện vọng. Tuy nhiên, tôi rất trăn trở suy nghĩ trước vấn đề này. Tại sao không cho anh em đi học một nghề nào đó để khi ra quân họ về quê sẽ có cuộc sống ổn định hơn? Chiến thắng rồi, những người lính một thời “ăn trong bom, ngủ trong đạn” phải được học tập để nâng cao hiểu biết về chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật. Hơn chục năm trời sống, chiến đấu nơi rừng xanh núi đỏ, liệu những người lính chúng tôi trở về cuộc sống đời thường sẽ bắt nhịp như thế nào?.v.v. Những câu hỏi như vậy cứ bám riết lấy tâm trí tôi, nhưng đó cũng chỉ là suy nghĩ của cá nhân, không thể nào vượt ra khỏi khuôn khổ quy định từ trên xuống. Tôi xót lòng khi trông thấy đồng chí, đồng đội ra về với mảnh giấy pô-luy-a in dòng chữ “xuất ngũ”. Thậm chí, nhiều đồng chí bị thương trong chiến đấu cũng chưa được khám thương tật. Do đó, khi trở lại địa phương, nhiều đồng chí xin việc làm rất khó khăn.

Một đội quân chiến đấu bách chiến, bách thắng. Song khi hết chiến tranh về lại đời thường, các chiến binh kiêu hùng chỉ có chiếc ba lô lép kẹp và nỗi lo vật lộn với cuộc sống mưu sinh. Mặc dầu biết là như vậy, nhưng khả năng của tôi cũng chỉ có những lời động viên, an ủi anh em phải cố gắng vượt qua khỏi hoàn cảnh hiện tại như đã từng vượt qua trong chiến đấu ở chiến trường. Đồng thời, trong phạm vi quản lý của mình, tôi cũng đã mạnh dạn bố trí cho một số anh em đi đào tạo một số ngành nghề để giúp họ khi trở về quê hương có chút vốn liếng kiến thức nghề nghiệp đảm bảo nuôi sống gia đình.

Khi tình hình công việc cơ quan cơ bản ổn định, đến tháng 6 và tháng 7 năm 1975, tôi đã đưa đoàn cán bộ của Tỉnh đội đi thăm một số gia đình có công nuôi dưỡng cán bộ, thương binh trong thời kỳ chiến đấu. Gặp lại đồng bào, chúng tôi như được về với gia đình, về với những người thân yêu nhất. Có bà mẹ đã không cầm nổi nước mắt. Có bà mẹ không tin chúng tôi bằng xương bằng thịt trở về nên cứ sờ nắn chân tay, mặt mũi. Vì hồi còn chiến tranh, các đơn vị được nhân dân nuôi dưỡng, khi lên đường không ai dám tin chắc sẽ có một ngày về thăm lại chốn xưa. Bây giờ gặp lại, mẹ con cứ ôm nhau khóc hoài. Tôi đặc biệt ấn tượng với một bà mẹ đã vuốt đi, vuốt lại vết chỉ khâu trên áo đồng chí đi cùng đoàn. Câu chuyện của hai người không chỉ gây xúc động cho riêng tôi mà còn làm nao lòng các đồng chí cùng đi hôm ấy.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2020, 07:29:54 am
- Chiếc áo này con vẫn còn giữ à?

- Dạ! Con đã xem chiếc áo của mẹ như lá bùa hộ mệnh. Mỗi lần mặc, con lại thấy cảm giác bình yên mẹ à.

Sau đó, chúng tôi được anh ấy cho hay về “lý lịch” chiếc áo. Hồi năm 1968, đơn vị anh trú quân ở vùng này. Trong một trận đánh vào cứ điểm của địch, anh bị thương phải bò về hầm bí mật. Chiếc áo duy nhất của anh bị rách bươm, không thể nào khâu lại được. Người mẹ chủ nhà đã run run đưa cho anh chiếc áo đã rách một bên vai và bảo anh ướm thử. Thấy chiếc áo anh mặc vừa vặn, bà mẹ bèn đem kim chỉ khâu lại và trao cho anh. Mẹ nói:

- Đây là chiếc áo duy nhất của con trai mẹ để lại. Nó đã hy sinh trong chiến dịch Xuân Mậu Thân. Con hãy mặc đi.

- Mẹ! Con xin đội ơn mẹ. Mẹ hãy cho con là con trai của mẹ.

Bà mẹ không nói gì, chỉ ôm chầm lấy người chiến sĩ. Lòng mẹ lúc ấy chỉ mong sao đứa con từ miền Bắc vào đi được hết cuộc chiến.

Nghe câu chuyện của anh, chúng tôi cũng cảm thấy thổn thức nỗi lòng.

Sau đó, tôi đã về thăm lại gia đình mẹ Quế và dân làng ở xã Bình Đào, huyện Thăng Bình. Tình cảm của gia đình dành cho tôi như đón đứa con xa trở về. Các em Hoa, Huệ vội ôm chầm lấy tôi không chút thẹn thùng. Chuyện của chiến tranh, hòa bình cứ nổ như pháo rang. Ai cũng bảo bây giờ quê hương không còn giặc, anh phải thường xuyên về thăm gia đình nhé. Tôi chỉ dám hứa luôn xem gia đình mẹ Quế như nhà mình, khi có điều kiện sẽ về, vì lúc ấy công việc cơ quan vẫn bộn bề. Đồng thời, kết hợp với đi công tác, tôi đến các huyện từ miền núi đến đồng bằng vừa để thăm bà con, vừa ổn định lại chỗ đóng quân cho các huyện đội. Trong thời gian này, có một vinh dự lớn đã đến với tôi. Nhân dịp khánh thành Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh vào ngày mùng 1 tháng 9 năm 1975 và kỷ niệm lần thứ 30 Quốc khánh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (2.9.1945 - 2.9.1975), tôi đã được Đảng và Nhà nước mời dự những ngày hội lớn của Tổ quốc. Đón nhận niềm vui càng vinh dự tự hào bao nhiêu, tôi lại càng bùi ngùi thương xót đồng chí, đồng đội đã nằm lại ở chiến trường không có ngày về lại bấy nhiêu. Ra dự ngày hội lớn, nhìn thấy Bác nằm trong lăng, tôi chợt nghe văng vẳng đâu đây lời Người dặn đàn con trước khi lên đường vào miền Nam chiến đấu.

Cũng trong dịp này, tôi đã lên thăm lại Đền Hùng, thăm thành phố Việt Trì, huyện Phù Ninh, v.v. Đây là những nơi tôi đã đóng quân năm 1958. Được Đảng, Nhà nước tạo điều kiện, tôi cũng tranh thủ tìm lại những đồng đội một thời trận mạc như anh Trần Đình Cọng ở Hà Bắc, nhưng quê tận Khánh Hòa, cùng đơn vị với tôi trước lúc vào Nam. Hoặc các gia đình nuôi tôi hồi đi tập kết như gia đình anh Hài, nơi tôi đóng quân năm 1956, gia đình bác Xuân ở xã Hải Lĩnh. Đối với gia đình bác Xuân, tôi chẳng có gì ngoài xấp vải xin gửi lại bác gọi là chút tình. Bác Xuân có một người con độc nhất đã hy sinh ở mặt trận Điện Biên Phủ năm 1954. Khi tôi tập kết ra miền Bắc, được bác tạo điều kiện cho ăn ở như con cái trong nhà. Lần đó gặp lại, trông bác đã quá già, tôi thương bác vô cùng. Hồi tôi ăn ở trong nhà, bác Xuân đã dành hết tình cảm của “người con” của bác cho tôi. Ngày tôi từ giã bác ra Thái Bình, Phú Thọ, Sơn Tây, bác ôm tôi mà nước mắt lưng tròng, không khí chia tay thật lưu luyến bùi ngùi. Thậm chí, khi tôi ở Sơn Tây, bác Xuân còn viết thư ra thăm hỏi, động viên tôi học tập, công tác tốt. Đặc biệt, lá thư này không phải tự tay bác viết mà nhờ cô Thu hàng xóm của bác viết hộ. Cuối thư, bác nhắn nhủ: “Khi nào con cưới vợ, về đây bác cưới cô Thu cho con”. Lúc đó, tôi thầm cảm ơn bác và cảm ơn Thu, người hàng xóm tốt bụng. Nhưng tôi không thể nghe theo lời dặn của bác Xuân, có thể ẩn sau đó là tình cảm của Thu, vì tôi còn mải mê công tác. Trong chuyên đi trên, khi trở về từ Thủ đô Hà Nội, tôi đã dừng lại thăm cố đô Huế với biết bao niềm thương mến, trước khi trở về Quảng Nam công tác.

Khoảng tháng 9 năm 1976, theo quyết định của trên, khi hai tỉnh Quảng Nam và Đà Nẵng được sáp nhập lại thành tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (2-1976); hai Ban Chỉ huy quân sự Quảng Nam, Đà Nẵng cũng được gộp lại thành Bộ Chỉ huy quân sự Quảng Nam - Đà Nẵng. Lúc đó, đồng chí Phan Hoan làm Tỉnh đội trưởng, tôi Tỉnh đội phó với quân hàm trung tá, đồng chí Lê Công Thạnh và đồng chí Trịnh Ngoạn - Phó Chính ủy.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2020, 07:30:14 am
Đến đầu năm 1977, tôi được cấp trên cho đi học tại Học viện Quân sự, nay là Học viện Lục quân ở Đà Lạt. Tuy nhiên, mới nhập học được 2 tháng thì tôi bị đau liên tục do vết thương trên đầu tái phát. Tôi được gửi đi giám định với tỷ lệ thương tật là 76%. Do đó, bác sĩ và Ban Giám hiệu nhà trường khuyên tôi thôi học. Đành gác lại việc học, tôi trở về đơn vị tiếp tục công tác. Trên cương vị Phó Chỉ huy trưởng kiêm Tham mưu trưởng Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, tôi phải giải quyết cùng lúc nhiều công việc đang bộn bề sau giải phóng. Đặc biệt, đây là giai đoạn trọng yếu, chúng tôi đã tập trung làm tốt công tác chính sách hậu phương quân đội. Tôi phải làm việc cả ngày lẫn đêm, chủ yếu là xem xét ký giấy báo tử gửi về cho từng gia đình các đồng chí đã hi sinh. Bởi vì thời điểm này, đồng chí Phan Hoan và đồng chí Thạnh đi học ở Học viện Chính trị, đồng chí Ngoạn chuyển về sở Lao động thương binh xã hội. Thủ trưởng Bộ Chỉ huy quân sự chỉ còn một mình tôi ở nhà nên tất cả mọi việc đều đến tay. Từng trải qua cuộc chiến tranh, đã trở về thăm nhân dân một thời nuôi dưỡng nên tôi hiểu được nỗi đau to lớn của bao nhiêu gia đình đang ngóng tin con. Do đó, mặc dù công việc bộn bề, nhưng tôi vẫn không thấy mệt mỏi, chỉ mong sao sớm đem lại niềm an ủi cho thân nhân liệt sĩ.

Tuy đất nước đã giải phóng được hơn 2 năm, nhưng cuộc sống của bộ đội vẫn còn rất nhiều khó khăn. Lương thực chủ yếu là bo bo. Nhắc lại thời kỳ đó, dẫu không sâu sắc như trong chiến tranh, song cũng nhiều kỷ niệm đáng nhớ. Lúc ấy, anh chị em hậu cần chưa biết chế biến bo bo hạt. Mỗi bữa cơm, cấp dưỡng phải nấu một phần ba gạo, còn lại hai phần ba là hạt bo bo. Vì chưa có kinh nghiệm nên anh chị em nấu mãi vẫn không sao mềm được hạt bo bo. Chúng tôi nhai trệu trạo mãi mà không nát được, đành phải nhắm mắt nuốt luôn. Cứ như vậy, hết bữa này qua nữa khác. Tình trạng trên kéo dài đến khi Nhà nước cấp gạo nhiều hơn và hạt bo bo cũng được thay thế dần đến lúc hết hẳn. Cuộc sống khó khăn là vậy, nhưng công việc của chúng tôi vẫn trôi đều. Tất cả luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Ngày 15 tháng 3 năm 1983, tôi được đi học tại Học viện Quân sự cấp cao tại Hà Nội. Đây cũng là dịp để tôi gặp lại bao đồng chí thân quen đã cùng tôi chiến đấu trên mọi chiến trường. May mắn hơn, tôi bất ngờ gặp lại đồng chí Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tôi không ngờ trí nhớ của người anh Cả của Quân đội nhân dân Việt Nam vẫn còn dành cho tôi. Đại tướng ôm chặt tôi và nhắc lại:

- Tôi điện cho đồng chí, đồng chí nhớ không, đồng chí Lý? Cái điện thần tốc ấy?

- Dạ có! Dạ có!

Tôi lắp bắp trả lời anh mà lòng xúc động, nghẹn ngào. Không ngờ bận trăm công nghìn việc, vị Tổng Tư lệnh vẫn nhớ đến bức điện gửi cho tôi ngày ấy. Sau đó, đồng chí Đại tướng Hoàng Văn Thái cũng đến thăm hỏi tôi với bao tình cảm chân thành thắm thiết.

Thời gian học tại đây, tôi cũng học hỏi được nhiều điều quý báu như tình cảm, tinh thần, tri thức... Dầu rằng khóa học không dài, nhưng đã cung cấp cho tôi khá nhiều kiến thức về chính trị, quân sự, văn hóa, xã hội, v.v.

Kết thúc khóa học, tôi tiếp tục trở về công tác. Tuy nhiên, sau hàng chục năm tham gia chiến đấu trên khắp chiến trường Quảng Nam, Quảng Ngãi, bị nhiều vết thương cùng lúc nên sức khỏe của tôi đã có phần giảm sút. Mỗi khi trời trở gió, người đau ê ẩm, đầu cứ ong ong như búa bổ. Đến cuối năm 1989, tôi được đi chữa bệnh tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 ở Hà Nội. Khi tôi vừa về lại đơn vị thì Bộ Tư lệnh quân khu gọi lên trao quyết định nghỉ hưu. Lúc đó, tôi là đại tá, Phó Chỉ huy trưởng Tham mưu trưởng Bộ Chỉ huy quân sự, ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quân sự tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Vì vậy, tôi không hiểu tại sao mình có quyết định nghỉ một cách đột ngột như vậy. Tôi nằm suy nghĩ suốt đêm mà không sao chợp mắt được. Trong 40 năm chiến đấu trên mọi chiến trường, 20 năm Tỉnh đội phó, Tỉnh đội trưởng, 10 năm đại tá mà sao có quyết định nghỉ hưu bất ngờ vậy? Câu hỏi ấy cứ luẩn quẩn trong đầu tôi, không tài nào lý giải nổi. Sau đó, tôi đoán rằng chắc mình thường bị ốm đau, thương tật nặng nên tổ chức tạo điều kiện cho về hưu sớm để dưỡng bệnh. Quả đúng như nhận định của tôi, Hội đồng giám định y khoa Trung ương đã khám và giám định lại cho tôi với tỷ lệ thương tật là 81%. Hiện nay, trong người tôi còn một mảnh đạn trong não, một mảnh ở phổi và 30 vết thương, vết sẹo đều “chung sống hòa bình” với tôi, kể cả những lúc trái nắng trở trời.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2020, 04:01:48 pm
Chương tám

HẠNH PHÚC BÌNH DỊ


Tham gia cách mạng từ thuở niên thiếu, suốt hơn ba thập kỷ đi theo cuộc trường chinh vĩ đại của dân tộc với nhiều cương vị khác nhau như liên lạc của du kích xã, chính trị viên tiểu đoàn, cán bộ lãnh đạo Tỉnh đội, v.v. và cũng bởi mê say cống hiến, yêu thích công việc nên tôi chưa có điều kiện nghĩ đến tình riêng. Trong chiến tranh, tôi quan niệm phải tổ chức trận đánh như thế nào để hiệu suất chiến đấu cao, ít tổn thương cho ta nhất. Vì chỉ cần một sơ suất nhỏ hay sự thiếu tỉ mỉ của người chỉ huy thì hậu quả của nó là xương máu đồng đội. Khi đất nước ca khúc khải hoàn, tôi lại trở trăn với những hy sinh mất mát của đồng đội. Trước mỗi trái tim vĩnh viễn nằm lại nơi chiến địa, hay nhìn đồng chí mình đi lại khó khăn hoặc đau đớn khi trái gió trở trời, v.v. lòng tôi lại thấy không yên. Một lần, đến thăm Trại điều dưỡng thương binh nặng Hội An, tôi bất ngờ nghe tiếng hô:

- Xung phong! Pằng! Pằng!

- Giơ tay lên! Một đồng chí khác đầu quấn băng trắng phụ họa.

- Các đồng chí đánh ở chiến trường nào? Tôi hỏi.

Đáp lại câu hỏi của tôi là những nụ cười ngô nghê, vô hồn. Hình ảnh của đồng đội khiến tôi xúc động mạnh. Có lẽ vì thế nên dù hòa bình đã gần bốn năm, tôi chỉ mải lo công tác, cố gắng tham gia làm tốt công tác chính sách cho anh em. Vì hơn ai hết, những người lính từng trải qua chiến đấu trên chiến trường mới thấu hết sự đau thương, hy sinh, mất mát của anh em mình.

Năm 1979, khi tuổi đời đã bước sang năm thứ 44, tôi mới tính chuyện lập gia đình. Thực ra, trước đó anh em trong đơn vị, người thân trong gia đình, bè bạn đã nhắc khéo. Nhưng họ thấy tôi tham công việc, nên chưa tìm được cách nào hữu hiệu. Lúc ấy, tôi nghĩ mình sống được như thế này là hạnh phúc rồi. Bao nhiêu đồng đội tôi đã hy sinh khi tuổi đời mới đôi mươi. Họ vĩnh viễn nằm xuống khi chưa biết một nụ hôn, có người chưa hề được cầm bàn tay con gái. Vì vậy, tôi phải làm thật nhiều việc để nối tiếp nguyện ước của người đã khuất. Nghĩ thì nghĩ vậy, nhưng ban ngày, ăn cơm tập thể làm việc nhà binh nên tôi cũng không có mấy thời gian để mà lo đến tương lai. Song buổi tối nằm một mình trên chiếc giường cá nhân, đôi lúc tôi cũng tự hỏi: “Chẳng lẽ mình thế này suốt đời ư? Đương chức đã vậy, chứ đến lúc về hưu thì sẽ như thế nào?”. Thỉnh thoảng trong giấc mơ, tôi vẫn chập chờn thấy cảnh mình đi làm về nhà cửa vắng tanh, lủi thủi nấu cơm ăn và trông trời mau sáng. Tuy nhiên, đến sáng hôm sau thì mọi chuyện lại đâu vào đấy, nghĩa là chỉ có công việc và công việc. Dĩ nhiên tôi sẽ an tâm như thế nếu như không có một hôm. Đó là hôm tôi bị đau váng đầu, đồng chí y tá đơn vị vừa bấm huyệt cho tôi vừa hỏi:

- Thủ trưởng Lý có con gái không?

- Có chứ! Tôi đùa.

- Tóc thủ trưởng bạc như thế này chắc con gái lớn rồi nhỉ?

- Cậu này lém nhỉ? Có muốn làm con rể của ta không? Năm nay cháu mấy tuổi?

- Dạ! Báo cáo thủ trưởng, em hai mươi tuổi.

Thấy vẻ gần gũi, giản dị, chân thành của tôi, chiến sĩ y tá khoe gia đình có ba anh em, cậu là con cả. Cha cậu sinh năm 1940, đất nước hết chiến tranh, ông ấy đã trở về với cuộc sống vui thú ruộng vườn. Phải thừa nhận câu chuyện của người chiến sĩ quân y đã tạo nên một cú hích trong tư duy của tôi về chuyện lập gia đình. Hơn bốn mươi tuổi đời, gần ba thập kỷ tuổi quân, tôi chưa một lần day dứt với tình yêu. Nhắc lại chuyện này với lớp trẻ bây giờ chắc mọi người sẽ cho rằng tôi nói xạo. Nhưng những ai từng trải qua chiến tranh sẽ thấy đó là một điều bình thường như hết nắng lại mưa. Trước đây, khi tổ chức một trận đánh, tôi thường nghĩ đến tính mạng của anh em đồng đội. Bây giờ tính chuyện lập gia đình, tôi không biết bắt đầu từ đâu. Tình yêu mộng mơ thì đã quá tuổi, cuộc sống hàng ngày có đơn vị lo. May mắn thay đồng đội luôn bên tôi. Khi nắm được ý định của tôi, nhiều người đã mừng vui ra mặt như đó là chuyện của chính họ. Một “chiến dịch” mai mối tìm nội tướng cho tôi ngấm ngầm được thực hiện. Anh em gợi ý cho tôi một vài người trông ngoại hình cũng được. Tuy nhiên, độ tuổi ngoại tứ tuần chọn người lập gia đình sao khó thế. Tôi không hề có ý chọn lựa, chê bai, nhưng sao gặp họ vẫn thấy lòng dửng dưng. Nhiều bận tôi đã tặc lưỡi thôi thì ở vậy cũng được, sau này về hưu sẽ trở lại với quê hương. Anh em biết tôi không phải người khó tính, song giới thiệu mãi không được ai nên họ cũng nản. Thực tình, đôi lúc tôi cũng thấy hụt hẫng, khó hiểu chính mình. Những tưởng hạnh phúc của người làm chồng, làm cha sẽ không bao giờ đến với tôi nếu như không có một ngày tôi về thăm gia đình người chị gái tại xã Điện Hòa. Ở đây, tôi đã bất ngờ gặp cô cán bộ ngành y tế Trần Thị Hòa. Tuy không phải là tiếng sét ái tình, nhưng trái tim tôi đã cảm nhận được người phụ nữ bấy lâu đợi chờ. Lúc này tôi mới được hưởng vị ngọt của tình yêu. Hóa ra tình yêu của lứa tuổi bốn mươi tuy không sôi nổi, hào hứng như độ tuổi đôi mươi, nhưng vẫn chứa đầy cảm xúc của các cung bậc yêu thương, nghĩa là vẫn nhớ mong, lo lắng, thậm chí cả mộng mơ. Dĩ nhiên sự khác nhau chính là độ chín chắn và tinh thần trách nhiệm. Tôi cũng lý giải được phần nào những người ở độ tuổi như mình khó lập gia đình chính là lý do trách nhiệm. Họ sợ rằng sau khi cưới nhau, liệu với vai trò trụ cột gia đình mình sẽ làm gì để duy trì sự tồn tại của tổ ấm và đảm bảo luôn hạnh phúc, sở dĩ tôi muốn nói như vậy vì chính bản thân tôi đã trải qua cảm giác đó. Khi đem tâm sự này trao đổi với vợ tôi bây giờ, cô ấy đã gạt phăng đi và bảo: “Xây dựng gia đình, chăm sóc con cái là trách nhiệm của hai người, đâu phải chỉ mình anh gánh chịu”. Câu nói đó như tiếp thêm sức mạnh cho tôi tiến tới cuộc hôn nhân. Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn mang ơn vợ tôi câu nói ấy. Nó không phải là lời thề nguyền sống với nhau đến đầu bạc răng long như nhiều đôi từng hẹn ước. Song đối với tôi đó là một bức tường thành vững chắc, là biểu tượng tình yêu, chất keo kết dính hai con người với nhau mà hàng chục năm qua vẫn không hề tì vết.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2020, 04:02:16 pm
Lúc bấy giờ, việc xét duyệt lý lịch của bạn gái để tiến tới hôn nhân cũng khá phức tạp, nhất là các đồng chí còn công tác trong quân đội. Tuy nhiên, khi cầm bản lý lịch tự khai của người yêu, tôi đã yên tâm 100% chắc thắng. Vì gia đình cô ấy có nhiều người trực tiếp tham gia cách mạng, hoặc tổ chức nuôi giấu cán bộ trong nhà. Chẳng hạn như cha vợ tôi là ông Trần Nhi, mọi người thường gọi là ông Sáu, có tính tình thẳng thắn cương trực, chịu thương chịu khó hết mực. Dân trong làng ai cũng mến thương. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông vào hội nông dân cứu quốc, tham gia giành chính quyền năm 1945 rồi đi dân công tải đạn. Khi thực dân Pháp núp bóng quân đồng minh trở lại hòng tái chiếm nước ta, chúng đánh vào Đà Nẵng thì nhạc phụ tôi theo chủ trương của cách mạng “vườn không nhà trống”, đi tản cư vào Tam Kỳ, dệt vải xi ta Bà Tân (người chị thứ nhất của nhạc phụ tôi) để may quần áo cho Vệ quốc đoàn. Sau năm 1954, ông về quê hương đem tiền bạc, thuốc men, gạo vải về giúp đỡ cách mạng. Năm 1975, khi đất nước trọn niềm vui, gia đình vợ tôi cũng hồi hương về xã Điện Hòa, huyện Điện Bàn để sinh sống và tham gia các hoạt động xã hội ở địa phương. Cha vợ tôi lâm bệnh và qua đời năm ông ngoại bát tuần. Người thứ hai tạo nên điểm nhấn trong lý lịch vợ tôi là người mẹ. Bà là Nguyễn Thị Cúc, thường gọi là bà Tám, một người phụ nữ hiền hậu, chịu thương, chịu khó lo cho chồng cho con. Mẹ vợ tôi tham gia cách mạng trước năm 1945, đã được Đảng, Nhà nước công nhận là người có công với nước. Gia đình vợ tôi có 6 người con, nhưng đã qua đời 3 người lúc còn nhỏ. Ngoài vợ tôi là Trần Thị Hòa, còn các em Trần Thị Lợi và Trần Thị Lộc. cả hai đều tích cực tham gia công tác xã hội, có đóng góp ít nhiều cho cách mạng.

Khi tôi trình bày nguyện vọng và nộp bản lí lịch tự khai người vợ tương lai, các anh trong Ban Thường vụ xem xong liền gật đầu với hàm ý rất tốt. Tuy nhiên, theo nguyên tắc, đơn vị vẫn cử người về địa phương xác minh cụ thể. Sau đó, được sự đồng ý của tổ chức và hai bên gia đình, ngày 27 tháng 7 năm 1979, nhằm ngày mùng 6 tháng 6 năm Kỷ Mùi, chúng tôi chính thức làm lễ kết hôn. Đám cưới tổ chức ở gia đình vợ ở xã Điện Hòa, huyện Điện Bàn. Tiếng là đám cưới nghe nó to tát, nhưng tiệc cưới lúc đó của vợ chồng tôi chỉ có bánh kẹo nuga Hà Nội và nước ngọt. Mặc dù đơn sơ là vậy song cũng thật đượm nghĩa, thắm tình anh em, đồng đội. Dường như hạnh phúc của vợ chồng tôi cũng chính là hạnh phúc chung của mọi người. Trong tiệc cưới râm ran, ai cũng mừng cho tôi. Thậm chí, có người còn nói vui: “Thế là từ nay thủ trưởng biết khổ rồi nhé!”. Hôm ấy, đồng chí Phan Hoan đã đứng ra làm chủ hôn. Khỏi phải nói niềm vui của hai bên gia đình nội ngoại, bà con thân tộc đã đến mừng hạnh phúc cho tôi với niềm tự hào xen lẫn cái thở phào nhẹ nhõm vì trút được nỗi lo... tôi ở vậy đến già. Các đồng chí ở các cơ quan Tham mưu, Chính trị, Hậu cần không ngớt lời chúc mừng tân lang. Đặc biệt, các anh tôi ở Đà Lạt đều về dự đông vui. Sự có mặt của mọi người trong lễ cưới đã giúp tôi nhận ra tình cảm của họ dành cho mình thật to lớn biết bao. Trước đây, khi chỉ huy trận đánh, hay quản lý đơn vị hàng ngày, tôi được tiếng là thẳng tính, nói năng rành mạch, nhưng hôm cưới tôi đã ấp úng không nói hết ý, hết lời để cảm ơn sự quan tâm, chia sẻ của anh em, đồng đội, bà con cô bác gần xa, v.v.

Mặc dù đất nước đã hòa bình, song vì đặc thù công tác, vợ chồng tôi đã tình nguyện không hưởng tuần trăng mật. Sau lễ cưới, chúng tôi lại ai về việc nấy. Vợ tôi tiếp tục đi ngược lên bệnh xá huyện Phước Sơn làm việc. Còn tôi, ngày 15 tháng 8 năm 1979, cũng lên đường ra miền Bắc đi học lớp chính trị cao cấp tại Học viện Chính trị Quân sự ở thị xã Hà Đông. Tròn một năm sau, tức ngày 15 tháng 8 năm 1980, tôi tốt nghiệp ra trường. Quả thực, một năm học tập rèn luyện đã đem lại cho tôi nhiều điều bổ ích. Trước đây, trong các kỳ tập huấn, hay các buổi nói chuyện, tôi chỉ được nghe và hiểu chưa hệ thống về Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, lý luận mác-xít, phương pháp luận, thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng, v.v. Song bây giờ, sau khi ra trường, tôi đã nắm chắc những điều lâu nay mình chưa hiểu hoặc có biết nhưng chưa sâu. Trên cơ sở lý luận được các thầy trang bị, tôi có thể luận giải được các vấn đề của cách mạng Việt Nam. Tôi cũng như các bạn đồng học lúc bấy giờ đều thừa nhận triết học đã đem đến cho chúng tôi một phương pháp tư duy khoa học, một cái nhìn vừa toàn cánh, vừa cụ thể trong việc giải quyết các vấn đề do thực tiễn đặt ra.

Cầm quyết định trong tay, tôi trở về công tác tại Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Đây cũng là lúc tôi đón nhận đứa con đầu lòng, đứa con mà vợ tôi đã phải vượt cạn một mình, tự lo liệu mọi chuyện trong thời gian tôi đi học xa. Với mong muốn cuộc sống của gia đình lúc nào cũng đầy ắp tiếng cười, mọi thành viên đều hiền hòa vui vẻ nên khi con được hơn một tháng tuổi, vợ chồng tôi đặt tên cho cháu là Lê Trần Minh Hiền. Một thời gian sau, vợ tôi được tổ chức tạo điều kiện cho chuyển công tác về Bệnh viện Quận 1, nay là Bệnh viện Đa khoa Hải Châu, thành phố Đà Nẵng và đến năm 2006 về nghỉ hưu tại phường Hòa Cường Bắc, quận Hải Châu.

May mắn hơn nhiều đồng chí, đồng đội được trở về sau cuộc chiến, nhưng những người lính như tôi phải đối mặt với cuộc sống gia đình cũng không kém phần khốc liệt. Nhớ lại giai đoạn nuôi con thời kỳ bao cấp, mọi thứ nhu yếu phẩm đều được cấp theo tem phiếu, tôi vẫn không thể hình dung nổi những khó khăn mình đã vượt qua. Xét cho cùng, thời kỳ đó không chỉ gia đình tôi mà toàn xã hội đều như vậy, bởi vì hậu quả chiến tranh chống Mỹ để lại còn nặng nề, đất nước lại phải bước vào cuộc chiến đấu mới ở biên giới Tây Nam. Lúc đó, đồng lương y tế ít ỏi không đủ khả năng nuôi con nhỏ nên vợ tôi phải chăn nuôi heo để có thêm đồng ra đồng vào. Để nuôi được heo thì phải có cám, nhưng cám cũng phải mua theo tiêu chuẩn phân phối. Cha ông ta dạy chẳng có sai: “Cái khó ló cái khôn”. Trước việc công ty lương thực bán cám phân phối cho công nhân viên, vợ tôi xin tên các đồng nghiệp ở bệnh viện không nuôi heo để đứng tên được mua số lượng cám nhiều hơn. Hằng ngày, vào các buổi tối khoảng từ 7 đến 8 giờ, cô ấy bỏ cám vào thùng, sau đó chất lên xe đạp hai bên hai thùng, chở đến nhà làm bún ở dưới dốc cầu vồng đường Thống Nhất (nay là đường Lê Duẩn), gửi ở đó để nhờ các chú thợ làm bún đổ nước luộc bún đang sôi vào thùng cho chín cám. Sáng hôm sau, khoảng từ 4 đến 5 giờ, vợ tôi tranh thủ lên chở về để cho heo ăn thay vì nấu cám trộn vào rau. Đặc biệt, thời gian vợ tôi mang thai đứa con thứ hai thì khó khăn càng chồng chất. Vì tôi lớn tuổi mới lập gia đình nên phải tranh thủ sinh ba năm hai đứa nên rất cực. Trong lúc đó, cha mẹ tôi không còn, cha mẹ vợ già yếu lại ở trong quê nên vợ chồng tôi không có ai phụ giúp.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2020, 04:02:35 pm
Thương vợ một mình lặn lội thân cò nuôi hai đứa con nhỏ dại, tôi xin đất ao ở gần đơn vị để trồng rau muống. Tranh thủ thời gian nghỉ, tôi cũng cởi quần áo dài nhảy xuống ao nhổ cỏ, bón phân. Còn vợ tôi, hằng ngày khi đi làm buổi chiều về lại ghé qua đám rau cắt một vài bó, ngọn để dành cho người, gốc và cọng cứng thì cho heo. Ngoài ra, vợ tôi còn phải mua thêm bèo về chẻ ra để trộn chung với rau muống làm thức ăn cho heo. Một nách hai đứa con thơ, lại chăm sóc thêm đàn heo nên không thấy lúc nào vợ tôi rảnh rỗi. Tôi rất thương cô ấy, nhưng do việc nhà binh nên đành phó mặc mọi chuyện cho người vợ hiền. Biết được tâm trạng của chồng, vợ tôi đã động viên ngược: “Anh yên tâm công tác. Chăm sóc gia đình là thiên chức của người phụ nữ. Anh đừng bận tâm”. Tôi không bận tâm làm sao được khi trông thấy hình dáng của người vợ yêu quý ngày càng gầy đi. Không những nuôi heo thịt, vợ tôi còn nuôi cả heo nái. Nuôi con và nuôi heo. Vợ tôi quay như chong chóng trong cơn bão cuộc đời. Bây giờ nhớ lại, tôi vẫn không thể nào lý giải nổi sức mạnh nào đã giúp cho vợ tôi ngày ấy vừa làm tốt công tác cơ quan, vừa thu vén chuyện gia đình đâu vào đấy. Tôi đem thắc mắc này hỏi cô ấy. Vợ tôi chỉ cười và bảo: “Đó là tình yêu chồng và lòng thương con”. Ngày ngày, cứ đúng 7 giờ, vợ tôi phải có mặt tại cơ quan để giao ban bệnh viện, sau đó phục vụ bệnh nhân đến 11 giờ 30 phút. Tiếng kẻng báo hết giờ vừa dứt, vợ tôi đã chân thấp chân cao vội vàng đạp xe về nhà lo cho bầy heo và cơm nước cho gia đình. Hầu như cô ấy không có giờ nghỉ trưa, vì đến 13 giờ đã phải có mặt tại cơ quan để tham gia đọc báo đầu giờ. 16 giờ 30 phút tan tầm buổi chiều, vợ tôi cùng chiếc xe đạp cà tàng, chạy vội ra khung hội nghị cắt rau chở về nhà, để kịp đón con tại nhà mẫu giáo Tuổi Thơ. Đứa lớn ngồi sau, đứa nhỏ ngồi trước, chị em chúng ôm nhau để mẹ đẩy về. Nấu cơm, nấu cám heo, v.v đều được chụm bằng mùn cưa. Vì vậy, trong căn nhà nhỏ của tôi hễ có vợ ở nhà là khói lại bốc lên cay xè, chảy cả nước mắt, nước mũi. Giải quyết khó khăn là một chuyện, nhưng vợ tôi cũng là người tham công tiếc việc. Vì thế trong chuồng heo nhà tôi lúc nào cũng có từ 3 đến 4 con heo thịt và một bầy heo con. Để chia sẻ những khó khăn vất vả của người vợ, tôi cũng tranh thủ đi bỏ thùng và chở nước bún vào 4 giờ sáng hằng ngày. Sở dĩ, tôi phải đi sớm như vậy để những người lính hoặc bà con quanh xóm không biết mình đi chở nước bún. Sau khi cho heo ăn, đến đánh vật với bữa ăn sáng của các con xong, vợ chồng tôi mỗi người lại một ngả về với công việc ở cơ quan. Nhờ sự chuyên cần của vợ nên hằng năm, gia đình tôi xuất chuồng từ 2 đến 3 tạ heo hơi, trừ chi phí rồi cũng đủ tiền lo liệu thêm cho gia đình, con cái.

Nuôi heo được một thời gian, vợ tôi xoay sang bán đá cây, vì sau này heo thường bị dịch chết giữa chừng nên mất cả vốn lẫn lời. Hằng ngày, cứ khoảng 4 giờ, cô ấy dậy chuẩn bị bữa sáng cho các con xong rồi đạp xe lên mấy lò làm đá ở phường Bình Hiên, đường Trưng Nữ Vương, hoặc đường Yên Bái chở từng cây đá về bán lấy lãi. Hôm nào trời nắng, mỗi sáng chở chừng hai cây bán lại cho mấy quán quanh nhà là vợ tôi có thêm từ 10 đến 20.000 để chi tiêu trong gia đình. Nói chung trong thời bao cấp, ai cũng gặp nhiều khó khăn. Sau này, khi Đảng, Nhà nước ta có chủ trương xóa đi chế độ tem phiếu thì không riêng gia đình tôi mà ai cũng mừng, khỏi mất thời gian xếp hàng chờ đợi từ 3 đến 4 giờ sáng để mua thực phẩm theo phân phối.

Kỷ niệm thời bao cấp không phải là những gì hào hùng, vẻ vang như lúc còn chiến tranh. Nhưng chính nó cũng góp phần phản ánh một giai đoạn phát triển của xã hội. Ngày ấy, khoảng thời gian rảnh rỗi của cán bộ công nhân viên quả là hiếm hoi. Cả tuần chỉ được nghỉ một ngày chủ nhật thì phải tranh thủ xếp hàng chờ mua lương thực, thực phẩm. Thông thường, chúng tôi phải chờ từ 2 đến 3 tiếng đồng hồ mới nghe gọi đến tên mình vào mua. Vì thế mới có chuyện các cô thương nghiệp hay làm mình làm mẩy, hay người mua lách luật ưu tiên, tìm mối quen biết để được về sớm, v.v.

Dẫu cuộc sống gia đình khó khăn, một mình phải bươn chải để duy trì tiếng cười trong tổ ấm, nhưng khi nói về chồng, vợ tôi rất tự hào. Đã không ít lần, tôi nghe bạn bè truyền lại lời cô ấy rằng: “Chồng tôi thật sự là anh lính Cụ Hồ, luôn xứng danh Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Còn nhiều lắm những gì cô ấy nói về tôi. Chẳng hạn như, anh Lý là một người chồng, người cha mẫu mực, bản lĩnh, chịu thương chịu khó. Đối với ông bà cha mẹ, anh là người con hiếu thảo, có trách nhiệm, sẵn sàng gánh vác mọi việc dù có khó đến đâu đi nữa cũng quyết làm cho được, không chỉ với gia đình mà đối với bà con cô bác cũng vậy. Đối với anh ấy, chữ hiếu chữ tình đều trọn vẹn.

Tình cảm của vợ dành cho tôi thật lớn lao. Vì vậy, tôi càng thấy mình phải có trách nhiệm hơn đối với gia đình. Tôi thường bảo các con: “Gắng học đi con. Cố gắng học thật giỏi, trau dồi đạo đức, thi đỗ có tấm bằng đại học, ra trường rủi mà không xin được việc làm, cùng lắm bán rau hành cũng không ai khinh rẻ mình được”. Đáp lại lòng yêu thương chăm sóc của vợ chồng tôi, cả 3 cháu đều tốt nghiệp đại học. Cháu đầu Lê Trần Minh Hiền tốt nghiệp trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng, đi làm từ năm 2002. Cháu thứ hai là Lê Trần Minh Thảo tốt nghiệp Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, đi làm năm 2006 và cháu thứ ba Lê Thị Minh Thanh tốt nghiệp Đại học Kinh tế Đà Nẵng năm 2008, hiện nay đang theo học thạc sĩ tại Ôxtrâylia.

Cuộc sống bình dị của gia đình và sự trưởng thành của 3 đứa con là niềm vui của vợ chồng tôi. Bây giờ đã bước qua phân nửa ngưỡng “thất thập cổ lai hy”, mỗi khi trái gió trở trời những vết thương lại đau nhức nhối, nhưng tôi luôn cảm thấy có sức sống hơn so với thời gian còn làm việc. Được như vậy, tôi thầm nghĩ có lẽ nhờ ơn trên độ trì, ông bà cha mẹ phù hộ. Đồng thời, không thể thiếu vai trò của vợ tôi, một người phụ nữ hiền lành, chịu thương chịu khó, tính tình thẳng thắn trung thực, hết lòng vì mọi người nói chung, chồng con nói riêng. Có thể nói, trong suốt hơn 30 năm phục vụ trong ngành y tế, vợ tôi đã thực hiện đúng như lời Bác Hồ dạy: “Lương y như từ mẫu”. Trong các mối quan hệ gia đình, cô ấy là người con hiếu thảo với cha mẹ, hết lòng yêu thương các em. Ngoài xã hội, vợ tôi luôn thủy chung trọn vẹn với bạn bè, tận tụy trong công việc, v.v. Vì vậy nên khi nghỉ hưu, vợ tôi lòng đầy thanh thản bởi đã làm tròn trách nhiệm của một người công dân. Về với chồng con, vợ tôi là người thầy thuốc mà tôi tin tưởng nhất, người đã lo cho tôi từng viên thuốc, mũi kim... đến chén cơm, bát cháo hằng ngày. Tôi và các con luôn cảm thấy hạnh phúc xen lẫn tự hào vì đã có được người vợ, người mẹ đảm đang mẫu mực.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2020, 04:03:24 pm
Đến nay, tôi đã bước qua tuổi 75 với 60 năm tham gia cách mạng, tròn 50 năm tuổi Đảng, trong đó có hơn 40 năm đi bộ đội, bị thương nhiều lần. Vì vậy, sức khỏe cũng đã cạn kiệt, vết thương ở đầu luôn làm tôi đau nhức khó chịu. Năm 2010, sau 35 năm ngày đất nước thống nhất, tôi được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Đây là một vinh dự cho tôi và gia đình. Bạn bè, đồng chí, đồng đội vui vẻ đến chúc mừng khiến tôi vô cùng cảm động. Các đồng chí, đồng đội ở Huyện ủy Phú Ninh, Thành ủy thành phố Tam Kỳ, anh Hoàng Minh Thắng, anh Đoàn Khuê, anh Trịnh Ngoạn... và anh Nguyễn Chơn đã đề cử giới thiệu tuyên dương tôi. Sau đó, tôi được Ban Thường vụ Tỉnh ủy tỉnh Quảng Nam, Hội đồng Thi đua khen thưởng tỉnh; Đảng ủy, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Nam xét và đề nghị Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý này.

Tôi không thể nào quên khoảnh khắc được đồng chí Huỳnh Ngọc Sơn - Phó Chủ tịch Quốc hội, thay mặt Đảng, Nhà nước trao danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Tôi chợt rưng rưng nhớ về các đồng chí, đồng đội đã nằm xuống nơi chiến trường. Không biết trong phút giây trang nghiêm ấy, các anh có về chung vui với tôi không? Sau đó, các đồng chí: Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam Nguyễn Đức Hải, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lê Minh Ánh, Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam - Đà Nẵng - Hoàng Minh Thắng đã ôm hôn tôi thắm thiết chúc mừng. Càng vui bao nhiêu, tôi càng thương nhớ Bác Hồ bấy nhiêu. Lời hứa với Bác trước ngày vào miền Nam chiến đấu vẫn vang vọng mãi trong tôi đến tận hôm nay và cả mai sau.

Có một câu chuyện nhỏ hôm tôi đi nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân tại Quảng Nam. Hôm ấy, tôi đưa vợ đi cùng. Lúc ban tổ chức gọi đến tên tôi lên nhận, vợ tôi ngồi dưới nghe các anh em đồng chí đồng đội của tôi nói chuyện: “Răng bữa ni ông Lý mới được phong? Xứng đáng quá chứ! Bắn máy bay giỏi lắm! Đánh Mỹ rất hăng, không biết sợ là gì”. Nghe mọi người nói như vậy, vợ tôi không khỏi tự hào về người chồng bao năm gắn bó. Trong mắt vợ tôi ánh lên một niềm kiêu hãnh. Cô ấy chia sẻ: “Nghe các anh nói, em càng hiểu và tự hào về anh, nay còn sống đúng là hạt gạo trên sàng. Nhìn anh em, đồng chí đồng đội của anh chúc mừng trong tình cảm nồng ấm thân mật tình đồng chí đồng đội em cũng thấy xúc động và nghẹn ngào”.

Gần cả cuộc đời tôi chiến đấu, công tác chủ yếu trên chiến trường Quảng Nam thân yêu. Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, tôi đã đem hết sức lực, tài năng và một phần xương máu cống hiến cho quê hương, cho Tổ quốc. Tuy nhiên, so với sự hy sinh của các đồng chí, đồng đội và nhân dân cả nước nói chung, Quảng Nam nói riêng thì sự hy sinh cống hiến của tôi chẳng đáng là bao. Từ đáy lòng mình, tôi xin tri ân các đồng chí đồng đội, các cha, các mẹ, các anh, các chị đã cùng tôi chiến đấu, hy sinh cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc suốt 60 năm ấy biết bao nghĩa tình.

Những năm gần đây, tôi đã nhiều lần đi thăm lại chiến trường xưa, thăm các cha, các mẹ, các anh, các chị, các em cùng những gia đình đã cưu mang đùm bọc và giúp đỡ cho tôi và đồng đội trong những năm tháng chiến tranh ác liệt nhất. Đồng thời, tôi cũng đến nghĩa trang liệt sĩ ở các huyện và tỉnh, nghĩa trang Trường Sơn. Đường 9, thắp nén hương thơm cầu mong linh hồn các đồng chí, đồng đội và đồng bào được siêu thoát, yên nghỉ nơi suối vàng. Cũng là lời kết cho cuốn sách, tôi xin gửi tới các vị cao niên gần xa, các đồng chí bạn bè thân hữu lời tri ân nhớ thương sâu sắc nhất mà tôi không có dịp hàn huyên tâm sự ân tình.

Nhớ lại cuộc đời và sự nghiệp với bao nỗi thăng trầm, tôi vẫn một lòng tận trung với nước, tận hiếu với dân, thủy chung cùng đồng chí, đồng đội, hiếu thảo với gia đình. Khi về hưu, sống cuộc sống giản dị, trong sạch, không làm gì trái với lương tâm, pháp luật, đó là lời tâm sự cùng bạn bè, sẻ chia cùng đồng đội khi tôi có điều kiện chiêm nghiệm đời mình. Đây cũng là ước nguyện mong tuổi trẻ gìn giữ đến mai sau. Mong rằng các thế hệ trẻ ngày nay có điều kiện học tập rèn luyện, cần phát huy tài năng trí tuệ xây dựng đất nước nói chung, quê hương Quảng Nam nói riêng ngang tầm lịch sử, xứng đáng với truyền thống “Quảng Nam trung dũng kiên cường đi đầu diệt Mỹ”.

Hồi ký này tôi ghi theo nhật kí và trí nhớ của tôi... song thời gian chiến tranh đã lùi xa, sức khỏe đã giảm sút, trí nhớ bây giờ không minh mẫn như cách đây ba mươi đến bốn mươi năm về trước nên không thể tránh khỏi thiếu sót. Vì vậy, kính mong các đồng chí, đồng đội cũng như bạn đọc gần xa lượng thứ.

Đà Nẵng, Xuân Tân Mão 2011


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2020, 04:04:18 pm
Phụ lục

TRONG TRÁI TIM ĐỒNG ĐỘI

MỘT SỐ PHẦN THƯỞNG TRONG ĐỜI BINH NGHIỆP CỦA ĐẠI TÁ
ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN LÊ HẢI LÝ

- 1 Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

- 1 Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

- 1 Huân chương Độc lập hạng Nhì.

- 1 Huân chương Quân công hạng Nhì.

- 1 Huân chương Kháng chiến hạng Nhất.

- 1 Huân chương Chiến thắng hạng Ba.

- 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất.

- 3 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhì.

- 3 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba.

- 1 Huân chương Quân kỳ Quyết thắng.

- 3 Huân chương Giải phóng hạng Nhất, Nhì, Ba.

- 3 Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba.

- 7 Bằng khen Dũng sĩ diệt Mỹ - ngụy, cùng với 7 huy hiệu.

- 4 năm là Chiến sĩ thi đua cấp tỉnh và nhiều bằng khen của các cấp.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2020, 04:05:57 pm
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Tôi tên: Hoàng Minh Thắng (tức Nguyễn Tấn Vịnh).

Sinh ngày: 20-10-1927.

Quê quán: Thôn Tiên Đỏa - xã Bình Sa - Thăng Bình - Quảng Nam.

Trú quán: Nhà N1 ngõ 40 phố Vạn Bảo - Ba Đình - Hà Nội.

Nhập ngũ: 1-5-1947 chuyển ngành tháng 5-1976.

Ngày vào Đảng: 20-10-1946 chính thức ngày 20-12-1946.

Vào Nam năm 1960 Chính ủy Trường Quân chính Quân khu 5.

- Năm 1963 đến năm 1968 Phó Bí thư - Chính trị viên Tỉnh đội Quảng Nam.

- Năm 1968 - 1970, Phó Chính ủy Sư đoàn bộ binh 3 (Đoàn Sao Vàng).

- Năm 1970 - 1975 Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam.

Tôi xin tham gia góp ý kiến về đồng chí Lê Hải Lý như sau:

Đồng chí vào Nam chiến đấu năm 1962 đã làm chỉ huy từ đại đội lên Tỉnh đội trưởng. Chiến đấu và chỉ huy chiến đấu 120 trận, từ diệt đại đội Mỹ đến tiểu đoàn ngụy, tôi xin nêu lên một số trận tiêu biểu mà tôi theo dõi đồng chí Lý đánh giặc, chỉ huy gan dạ, dũng cảm, linh hoạt, sáng tạo, độc đáo.

- Xuân năm 1968 Tết Mậu Thân, còn vết thương ở bàn chân đang đi khập khễnh trên cho nghỉ an dưỡng, song bản thân đồng chí Lý xin đi chiến đấu với cương vị lúc này là Chính trị viên Tiểu đoàn 70 chủ lực của Tỉnh đội, động viên anh em cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn chiếm Tỉnh đường Quảng Tín (thành phố Tam Kỳ ngày nay) trong 1 đêm 1 ngày cắm lá cờ Tổ quốc lên dinh Tỉnh trưởng. Giữ vững trận địa đến trưa hôm sau, đơn vị đã diệt được nhiều địch và đồng chí là người chỉ huy bình tĩnh, gan dạ, động viên tiểu đoàn giữ vững trận địa, đơn vị được khen thưởng. Bản thân đồng chí được cấp trên tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhì.

- Chiến dịch X1, tiểu đoàn tác chiến phía tây thị xã Tam Kỳ (Tỉnh đường Quảng Tín) đã chỉ huy tiểu đoàn đánh quyết liệt với 1 tiểu đoàn Mỹ, 1 tiểu đoàn cộng hòa, 1 tiểu đoàn bảo an, 30 xe tăng, trong tình hình thế địch hình thành thế bao vây Tiểu đoàn 70, đồng chí Lý nắm 1 trung đội trực tiếp đánh thẳng vào đại đội quân địch, bản thân đồng chí dùng súng AK của chiến sĩ diệt 15 tên lính Mỹ, kéo địch về hướng tấn công bất ngờ của người chỉ huy. Hành động, ý chí chiến đấu đó rất anh hùng, tạo cơ hội cho toàn tiểu đoàn mở hướng vượt ra ngoài, đánh trở lại quân Mỹ - ngụy, làm cho địch bất ngờ, hoang mang, bắn lộn lẫn nhau, Tiểu đoàn 70 đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn cộng hòa, tiểu đoàn bảo an, diệt gọn 1 đại đội Mỹ, bắn cháy 8 xe tăng Mỹ - ngụy. Trận này đồng chí được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhì.

- Đến năm 1969, được điều về làm Thị đội trưởng Thị xã Tam Kỳ, được bầu vào Phó Bí thư Thị ủy, thời kỳ này sau xuân Mậu Thân địch thực hiện “Việt Nam hóa chiến tranh”, rải chất độc hóa học, lực lượng vũ trang có người dao động, chạy đầu hàng địch, khai báo nơi đóng quân của Thị đội. Trước tình hình đó, đồng chí Lý cùng tập thể củng cố 2 đại đội đặc công V18 và V14, đội công tác xây dựng cơ sở và du kích mật, sau một thời gian ngắn vừa xây dựng, vừa củng cố lực lượng, vừa chuẩn bị chiến trường nắm chặt tình hình địch, tổ chức Đại đội 18 tập kích vào Hội đồng Kỳ Nghĩa diệt Hội đồng tề ngụy và một trung đội dân vệ thu toàn bộ vũ khí, sau đó chỉ huy Đại đội 14 đánh vào Hội đồng Kỳ Bích diệt mâm tề và một trung đội dân vệ thu vũ khí. Từ đó, hoạt động du kích mật ở nội ô thị xã hoạt động trở lại, đồng chí chỉ huy Đại đội 18 và 14 tập kích đại đội thám bảo ở vườn nhãn Tam Kỳ diệt gọn thu vũ khí, khi lui quân nhiều đồng chí bị thương, đồng chí Lý trực tiếp khiêng thương binh về căn cứ, chỉ huy V14 đánh thọc sâu xuống Kỳ Hưng diệt một trung đội dân vệ ở cây đa Dù sát thị xã. Được cơ sở giúp đỡ, đồng chí Lý trực tiếp đi chuẩn bị chiến trường diệt gọn một đại đội thám báo ở bắc tỉnh đường, qua chiến đấu buộc địch co cụm lại, ta tổ chức lại đường dây hành lang ra vào thị xã được khắc phục, các đội công tác hoạt động trở lại ra vào thị xã hành lang được an toàn.

Thời kỳ công tác ở Thị đội, đồng chí Lý có công cùng tập thể khắc phục lại phong trào sau Tết Mậu Thân cùng Thị đội chỉ huy diệt gọn 2 đại đội thám báo, 15 trung đội dân vệ, hàng trăm tên ác ôn tề ngụy phản động góp phần cùng Thị ủy, Thị đội giành thắng lợi, bản thân đồng chí Lý được cử đi báo cáo điển hình tại Hội nghị Du kích chiến tranh của Quân khu, được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba và Chiến sĩ thi đua của tỉnh.

- Năm 1972, được đề bạt Tỉnh đội phó, đồng chí Lý được tín nhiệm cử đi chỉ huy trưởng tiền phương, sử dụng chiến thuật kết hợp binh hỏa lực bao vây đánh lấn buộc địch ra ngoài công sự để diệt như chiến dịch chống lấn chiếm tây thị xã Tam Kỳ, buộc địch đồn Chà Vu, Đá Nẻ thoát ly công sự để tiểu đoàn 70, 72, 74 diệt gọn tiểu đoàn bảo an ngụy; cùng sử dụng chiến thuật này buộc địch đồn Dương Huê, Dương Cháy tháo chạy, Tiểu đoàn 11 phục lót diệt gọn tiểu đoàn bảo an.

- Cùng chiến thuật kết hợp xung hỏa lực Tỉnh đội sử dụng Tiểu đoàn 70 và Tiểu đoàn 74 hỏa lực với bộ đội địa phương Quế Sơn, Thăng Bình tập kết bộ phận tiền phương thôn 2 Phú Thọ, Quế Sơn chuẩn bị đánh đồn Hố Rổi bị lộ. Địch dùng máy bay lên thẳng và pháo binh đánh ác liệt, chúng địch dùng máy bay hạ xuống bắt sống bộ phận tiền phương, nhóm trực thăng 4 chiếc đi đầu bay sát ngọn tre ném lựu đạn, đồng chí Lý dùng súng AK của đồng chí Hiệu nhằm vào nhóm trực thăng bắn một loạt vào đầu chiếc máy bay đi đầu bốc cháy tại chỗ, chiếc thứ 2 chưa kịp bay lên đồng chí đã bắn hết băng đạn thì chiếc máy bay lảo đảo rồi bốc cháy. Trận này có đồng chí Năm Cảnh (Tỉnh đội trưởng) cùng đi vì bị sốt rét nên vệ binh đưa về phía sau, đồng chí cảnh bị trực thăng bắn hy sinh. Sau đó, toàn bộ máy bay trực thăng bay cao, đồng chí Lý di chuyển sở chỉ huy, tổ chức lại lực lượng bao vây diệt gọn đại đội trinh sát của Sư đoàn 2 ngụy, bắt sống 15 tên thu toàn bộ vũ khí, qua trận này đồng chí được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhì. Ý chí đó thể hiện tinh thần dũng cảm, phẩm chất anh hùng.

- Xuân 1975, tôi được anh Năm Công gọi đi họp Bộ Chính trị mở rộng ở Hà Nội về, ở nhà lực lượng Quân khu 5, Sư đoàn 2, Lữ đoàn 52 đánh giải phóng 2 chi khu quận lỵ Phước Lâm, chi khu quận lỵ Tiên Phước, 4 tiểu đoàn của tỉnh bố trí đánh phía tây thị xã Tam Kỳ. Tôi về đầu tháng 2 năm 1975, thay đổi phương án đưa 4 tiểu đoàn của tỉnh mở hành lang xuống phía đông Thăng Bình, Tam Kỳ. Quân khu điều động đồng chí Tỉnh đội trưởng đi về quân khu, quyết định đồng chí Lê Hải Lý lên Tỉnh đội trưởng. Tôi, Hoàng Minh Thắng, đi lãnh đạo, chỉ đạo tiền phương ở đồi Tròn, Đức An; lúc này vùng đông địch chiếm lại, đóng chốt dày đặc, một xã có 4 đến 5 đồn bót nền mở hành lang xuống vùng đông rất khó khăn, Tỉnh ủy lập Đảng ủy Ban chỉ huy vùng đông lấy hành lang thôn Tư Bình Chánh thọc xuống vùng đông, đồng chí Lý, Chỉ huy trưởng. Đêm 15 tháng 3 năm 1975 đưa 2 tiểu đoàn của tỉnh và bộ đội địa phương, đội công tác xuống trước, đồng chí Lý chỉ huy đánh chốt điểm giải phóng Bình Hải; sau đêm 18 tháng 3 đưa hết 4 tiểu đoàn xuống vùng đông thực hiện vu hồi chiến dịch đông thị xã Tam Kỳ, giải phóng Bình Đào, Bình Dương, Bình Giang, Bình Sa. Ngày 23 tháng 3 năm 1975, Tiền phương tỉnh điện cho Ban chỉ huy vùng đông vượt qua vùng địch 3 xã chưa giải phóng, đồng chí Lý chấp hành mệnh lệnh dùng 2 tiểu đoàn 70 và 72, đồng chí vượt qua vùng địch đêm 23 tháng 3 năm 1975 đánh đồn Núi Cấm, trận địa pháo 105 ly ở Núi Cấm diệt gọn địch tháo chạy, đánh sập cầu Kỳ Phú. Sáng ngày 24 tháng 3 năm 1975, xe tăng, bộ binh Sư đoàn 2 xuất hiện đầu cầu Tam Kỳ, ngã ba Trường Xuân, địch ở thị xã Tam Kỳ và Tỉnh trưởng Đào Mộng Xuân ở trần, đốt tài liệu, lên xe tháo chạy ra Đà Nẵng. Ta vào giải phóng thị xã Tam Kỳ là tỉnh đầu tiên ở đồng bằng được giải phóng lúc 10 giờ 30 phút ngày 24 tháng 3 năm 1975.

Tôi tự thấy có trách nhiệm đề nghị đồng chí Lê Hải Lý xứng đáng được phong tặng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vì từ đại đội, tiểu đoàn trưởng, Thị đội, Tỉnh đội trưởng trên cương vị chỉ huy gan dạ - dũng cảm - sáng tạo, ý chí đó còn được thể hiện cụ thể: 5 lần bị thương, 3 lần được tổ chức cho ra miền Bắc đồng chí Lý vẫn xin ở lại bám trụ chiến trường tiếp tục chiến đấu.

                                                                                                                                                                 
Đà Nẵng, ngày 19 tháng 6 năm 2009
HOÀNG MINII THẮNG
Nguyên Chính trị viên Tỉnh đội
và Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2020, 04:08:07 pm
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Kính gửi: - Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương Bộ Quốc Phòng

- Hội đồng thi đua khen thưởng Trung ương

- Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam

- Thường vụ Đảng ủy Quân khu 5

- Thường vụ Tỉnh ủy tỉnh Quảng Nam

- Thường vụ Đảng ủy và Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Nam

Tôi Thượng tướng: Nguyễn Chơn, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

Đồng chí: Lê Hải Lý - Đại tá, Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Quảng Nam.

Đồng chí Lý sinh ra và lớn lên ở huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam địa phương giàu truyền thống cách mạng chống giặc xâm lược.

Từ năm 1962 đến năm 1975 phụ trách nhiều cương vị khác nhau, chủ yếu lãnh đạo và chỉ huy chiến đấu.

“Chiến tranh đặc biệt”, “chiến tranh cục bộ”, “Việt Nam hóa chiến tranh”, đồng chí Lý là chỉ huy trưởng tỉnh Quảng Nam chỉ huy lực lượng tỉnh luôn luôn bám trụ địa bàn, chỉ huy liên tục nhiều trận đánh xuất sắc như đồng chí Lý đã trình bày. Luôn có ý thức phối hợp với chủ lực quân khu về mở rộng chiến dịch ở địa bàn tỉnh.

Như trận ngày 9 tháng 12 năm 1966 phối hợp với Trung đoàn 1 Sư đoàn 2 tiêu diệt 1 tiểu đoàn Mỹ ở Cẩm Khê trên 450 tên xâm lược Mỹ, bắn rơi 3 máy bay trực thăng, ta chủ động phục kích đoạn đường nguy hiểm địch lọt vào ổ phục kích đi hàng dọc, đi sát nhau, tinh thần uể oải mất cảnh giác.

Sáng ngày 13 tháng 12 năm 1966, địch sử dụng 85 trực thăng đến chở cả số bị thương và chết. Trận này bộ đội địa phương Quảng Nam phối hợp cùng chủ lực đánh tốt.

Trận đầu năm 1967, ta đã nắm chắc quy luật của Thiết đoàn 32 ngụy buổi sáng lên thôn 5 Kỳ Thịnh - Tam Kỳ đánh với lực lượng địa phương và du kích, trưa dồn lại một khu vực không dám vô làng, ở bên rìa làng dừng xe để nghỉ trưa. Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 1 bộ binh trang bị vũ khí chủ yếu là B40, B41 và ĐKZ, cụ thể là 16 khẩu ĐKZ loại ĐKZ75 và ĐKZ82 và 4 khẩu cối 82mm tổ chức lại một đơn vị có bộ binh và hỏa lực.

Ta phục kích giấu quân ngụy trang kín nơi Chiến đoàn 32 ngụy thường dừng xe lại để nghỉ trưa, ta tiêu diệt 27/32 xe số còn lại địch tháo chạy. Trận này dân quân tự vệ, bộ đội địa phương của huyện tham gia phối hợp chiến đấu tốt với quân chủ lực.

1. Đồng chí Lý trong chiến tranh là cán bộ quân sự chỉ huy của tỉnh Quảng Nam.

Bản lĩnh chính trị luôn vững vàng thể hiện các bước ngoặt của cách mạng, như tháng 8 năm 1965 quân Mỹ ào ạt đổ quân vào Đà Nẵng - Chu Lai là bước ngoặt, trước khi ký Hiệp định Pa-ri và sau khi ký Hiệp định Pa-ri là bước ngoặt. Quảng Nam cùng cả nước chiến đấu để phối hợp với chiến trường Quảng Trị năm 1972 và sau khi ký Hiệp định Pa-ri năm 1973 lúc này địch cắm cờ lấn chiếm đất, quân dân Quảng Nam thề một tấc không đi, một li không rời, lực lượng địa phương liên tục tấn công, phản công địch nhằm giữ dân, giữ đất. Anh Lý xác định mặt trận ngoại giao, mặt trận quân sự thì mặt trận quân sự quyết định trên chiến trường.

2. Tinh thần chiến đấu của anh Lý luôn dũng cảm sâu sát cơ sở các đại đội, các tiểu đoàn của tỉnh.

Khi còn chiến tranh, Quảng Nam là ngọn cờ đầu tiêu diệt Mỹ - ngụy của Quân khu 5.

Đồng chí Lý hiện nay là thương binh 2/4.

3. Ý thức tổ chức kỷ luật luôn gương mẫu cho cấp dưới và nghiêm chỉnh với cấp trên.

Thể hiện việc chấp hành chỉ thị, nghị quyết, mệnh lệnh của cấp trên nghiêm túc.

Thể hiện Mậu Thân 1968 tổ chức lực lượng đánh vào thị xã Tam Kỳ, Tỉnh đường Quảng Tín v.v... Cán bộ, chiến sĩ, nhân dân thương vong lớn vẫn chấp hành mệnh lệnh nghiêm chỉnh hết đợt 1 đến đợt 2 v.v...

4. Tôi và một số ít cán bộ ở miền Bắc về lại chiến trường công tác, chiến đấu, thời kỳ này chưa có Mặt trận dân tộc giải phóng. Cán bộ ở Bắc chiến trường Khu 5 hầu như tôi biết hết cán bộ Đảng, cán bộ quân sự, cán bộ chính trị nhất là cán bộ tỉnh đội, do thông qua lãnh đạo chỉ huy chiến đấu.

Đồng chí Lê Hải Lý có nhiều nguyên nhân khác nhau trước đây chưa đề cập phong anh hùng. Nay cấp trên có chủ trương, tôi đề nghị cấp trên xem xét, bản thân tôi thấy phong anh hùng cho đồng chí Lý là xứng đáng. Tôi đề xuất còn xem xét quyết định là do cấp trên.

Kính thư
                                                                                                                                                                       
Thượng tướng NGUYỄN CHƠN


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2020, 04:10:01 pm
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ý KIẾN NHẬN XÉT CỦA ĐỒNG ĐỘI

Chúng tôi gồm:

Trịnh Ngoạn - nguyên Chính trị viên phó Tỉnh đội Quảng Nam, nguyên Phó Chính ủy Bộ Chỉ huy quân sự Đà Nẵng, nguyên Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Nam - Đà Nẵng, nguyên Bí thư Thị ủy Tam Kỳ nghỉ hưu. Hiện thường trú tại tổ 40 phường Hòa Thuận Tây - quận Hải Châu - thành phố Đà Nẵng.

Võ Ngọc Khuê - nguyên Chủ nhiệm Chính trị Tỉnh đội Quảng Nam, nguyên Tỉnh ủy viên, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Quảng Nam - Đà Nẵng nghỉ hưu. Hiện thường trú tại tổ 47 phường Vĩnh Trung - quận Thanh Khê - thành phố Đà Nẵng.

Là bạn gần gũi của đồng chí Lê Hải Lý gần như suốt cả cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cho đến ngày toàn thắng, xin có mấy ý kiến về bản báo cáo thành tích của đồng chí Lê Hải Lý đề nghị tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân như sau:
 
1. Chúng tôi hoàn toàn xác định bản báo cáo thành tích của đồng chí Lê Hải Lý là hoàn toàn đúng sự thật vì thành tích chiến đấu của đồng chí Lê Hải Lý chẳng những chúng tôi xác định mà trong suốt cuộc chiến tranh đều được cán bộ, chiến sĩ các đơn vị trực thuộc Tỉnh đội Quảng Nam xác định là một cán bộ chỉ huy có bản lĩnh và có nhiều thành tích xuất sắc trong chỉ huy tác chiến cũng như xây dựng lực lượng trong hoàn cảnh hết sức khó khăn.

2. Một số ý kiến cụ thể về quá trình chiến đấu của đồng chí Lê Hải Lý: Trong gần 15 năm chiến đấu trên chiến trường Quảng Nam (1961 - 1975) với cương vị là Tiểu đoàn trưởng, Tham mưu trưởng Tỉnh đội, Tỉnh đội phó và Quyền Tỉnh đội trưởng, trong chiến dịch Tổng tiến công mùa Xuân năm 1975, đồng chí Lê Hải Lý là một cán bộ chỉ huy, luôn luôn có tinh thần quyết tâm và ý chí chiến đấu tấn công địch quyết liệt, thể hiện trong chỉ huy tác chiến bình tĩnh, gan dạ, mưu trí trong đánh địch, là chỗ dựa vững chắc về tinh thần cho các đơn vị trực tiếp tham gia chiến đấu mà nổi bật là các trận:

- Trận đánh chiếm Tỉnh đường Quảng Tín (Quảng Nam) trong chiến dịch Tổng tiến công Mậu Thân Xuân 1968, đồng chí trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn 70 đánh chiếm tỉnh đường, địch phản công quyết liệt vẫn kiên cường chiến đấu giữ vững trận địa, tiêu diệt nhiều sinh lực địch và bình tĩnh tổ chức đơn vị rút lui an toàn.

- Trận Phú Ninh - thị xã Tam Kỳ trong chiến dịch tiến công X1, với một tiểu đoàn trong thế trận bị 3 tiểu đoàn địch (trong đó có 1 tiểu đoàn Mỹ) bao vây, đồng chí vừa trực tiếp cầm súng chiến đấu, vừa chỉ huy Tiểu đoàn chiến đấu tiêu diệt nhiều sinh lực địch, phá vòng vây, tổ chức đơn vị rút lui an toàn.

- Trận đánh quân đổ bộ đường không (Quế Sơn) trong thế trận hiểm nghèo, địch đã dùng bom, pháo với cường độ lớn và trực thăng đổ quân hòng tiêu diệt sở chỉ huy và Tiểu đoàn 70.

Với cương vị là Tham mưu trưởng Tỉnh đội (trong khi Tỉnh đội trưởng vắng mặt) đồng chí đã bình tĩnh chỉ huy tiểu đoàn đánh trả quyết liệt, tiêu diệt toàn đại đội trinh sát thám báo Sư đoàn 2 ngụy. Bản thân đồng chí, Lý vừa cõng thương binh, vừa tổ chức chỉ huy đơn vị lui về căn cứ.

Đặc biệt là trong chiến dịch Tổng tiến công mùa Xuân 1975, với cương vị Quyền Tỉnh đội trưởng, đồng chí đã chỉ huy các tiểu đoàn 70, 72, 74 đánh thọc sâu từ vùng tây đến vùng đông Thăng Bình, đông Tam Kỳ, đánh thẳng lên thị xã Tam Kỳ phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang Quân khu 5 tiêu diệt và làm tan rã hoàn toàn quân địch, giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Nam vào ngày 24 tháng 3 năm 1975.

Trong các trận đánh kể trên đồng chí Lê Hải Lý được tặng thưởng nhiều Huân chương Chiến công.

Với thành tích chiến đấu xuất sắc của đồng chí Lê Hải Lý, chúng tôi đã nhiều lần đề xuất đề nghị tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Nhưng do sau giải phóng Tỉnh đội Quảng Nam sáp nhập với Quảng Đà thành Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng nên đề xuất trên chưa được giải quyết. Vì vậy lần này chung tôi tiếp tục đề nghị cấp trên xem xét phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho đồng chí Lê Hải Lý.

                                                                                                                                                                 
Đà Nẵng, ngày 19 tháng 6 năm 2009
TRỊNH NGOẠN - VÕ NGỌC KHUÊ


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2020, 04:12:22 pm
NGƯỜI CHỈ HUY CAN TRƯỜNG

VÕ NGỌC KHUÊ
Tổ 49 - phường Vĩnh Trung,
                                                                                                                                                               
quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng

Tôi rất may mắn được cùng đồng chí Lê Hải Lý tham gia một số trận đánh trong các chiến dịch lớn trên cùng chiến trường Quảng Nam.

Qua các trận đánh đó điều cảm nhận lớn nhất của tôi với đồng chí Hải Lý là: Dù trong tình huống nào đồng chí vẫn bình tĩnh và quyết đoán nhanh chóng tổ chức chỉ huy và động viên bộ đội kịp thời đánh trả quyết hệt, tiêu diệt gọn hoặc tiêu hao phần lớn sinh lực địch, bảo toàn lực lượng ta. Tiêu biểu là các trận Phú Ninh (thị xã Tam Kỳ) 1969, Phú Thọ (Quế Sơn) 1972 và chiến dịch tấn công giải phóng vùng Đông Thăng Bình - Tam Kỳ, tiến lên phối hợp chủ lực Quân khu 5 giải phóng thị xã Tam Kỳ - tỉnh lỵ Quảng Nam.

Chính bản lĩnh và ý chí chiến đấu của đồng chí được thể hiện bằng lời nói và cả hành động là: “Địch phục thì đánh địch mà đi; địch tấn công, ta phản công quyết liệt” thì chiến thắng bao giờ cũng thuộc về ta, rõ nét nhất là năm 1972 trên đường hành quân đến xã Phú Thọ, Quế Sơn thì bị địch phát hiện, chúng sử dụng ngay đại đội trinh sát của Sư đoàn 2 ngụy đổ bộ bằng trực thăng đánh thẳng vào đội hình bộ đội ta hòng đánh đòn phủ đầu tiêu diệt lực lượng ta. Tuy rất bị động và bất ngờ nhưng đồng chí đã bình tĩnh động viên bộ đội lập tức đánh trả, tiêu diệt toàn bộ quân địch, đưa bộ đội về căn cứ an toàn.

Trên đường lui quân về vùng giải phóng, đồng chí còn tự mình cõng một thương binh mặc dù bản thân đồng chí cũng là một thương binh.

Bây giờ chiến tranh đã lùi xa, nhưng trong ký ức của tôi về Đại tá, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Lê Hải Lý vẫn là người anh, người đồng đội thân thiết, người chỉ huy can trường năm nào. Nhắc đến anh, tôi lại nhớ đến những câu ca dao truyền miệng của người Quảng Nam:

“Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm,
Rượu hồng đào chưa nhấm đã say.
Bạn về nằm nghĩ gác tay,
Chớ ai mô trọng nghĩa ơn dày cho bằng ta.
Dù xa chỗ ngõ cũng xa,
Dù gần Vĩnh Điện La Qua cũng gần”.

Chúng tôi đã bước sang nửa bên kia của cuộc đời, song cùng sinh sống trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nên thỉnh thoảng anh em lại gặp nhau và ôn lại một thời hào hùng đã qua. Mỗi lần như vậy, tôi lại thấy anh như trẻ lại. Anh sôi nổi nhắc đến đồng chí này, bà mẹ kia, v.v. Tôi thầm nhủ: Có lẽ trong trái tim người anh hùng ấy còn rất nhiều phần cho đồng chí, đồng đội, cho những bà mẹ một thời chong đèn, đào hầm bí mật nuôi dưỡng bộ đội trong những năm kháng chiến thần thánh của dân tộc.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2020, 04:14:49 pm
TỈNH ĐƯỜNG QUẢNG TÍN
XUÂN MẬU THÂN 1968

NGUYỄN LONG KHÁNH

Hằng năm, khi mùa xuân đến mang theo niềm hạnh phúc cho đất và người. Đối với Đại tá, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Lê Hải Lý, mùa xuân đối với ông còn là kỷ niệm một thời cùng đồng đội tham gia đánh chiếm Tỉnh đường Quảng Tín trong chiến dịch Xuân Mậu Thân 1968.

Tham gia chiến dịch Xuân Mậu Thân 1968, Tiểu đoàn 70 đảm nhiệm vai trò chủ công của lực lượng vũ trang tỉnh Quảng Nam có nhiệm vụ tấn công vào thị xã Tam Kỳ. Mục tiêu cụ thể là Tỉnh đường Quảng Tín, tòa hành chánh tỉnh trưởng và giải phóng nhà lao.

Theo dự kiến ban đầu, đơn vị sẽ tiến công từ phía tây, tức từ hướng Kỳ Thịnh xuống Tam Kỳ. Song do xác định thời gian có sự sai lệch về lịch âm, dương nên có nơi đã tuyên bố tổng tiến công và nổi dậy. Vì vậy, tiểu đoàn không thể thực hành tiến công theo kế hoạch. Trước tình hình đó, Chính trị viên tiểu đoàn Lê Hải Lý đã cùng với Tiểu đoàn trưởng Vũ Thành Năm đề nghị Tỉnh đội chuyển hướng tiến công từ phía tây sang phía bắc. Được sự nhất trí của cấp trên, ngay trong ngày hôm ấy, đội hình tiểu đoàn vận động chuyển sang hướng bắc. Đại tá Lê Hải Lý nhớ lại: “Khi chuyển hướng tiến công, chúng tôi phải đi vòng qua nhiều khu vực địch chốt giữ. Lúc hành quân xuống đến Phương Hòa, tội gặp đồng chí Trần Chí Thành, Thị ủy viên, Đội trưởng Đội công tác cánh bắc Tam Kỳ, để bàn bạc trao đổi tình hình, xác định quyết tâm chiến đấu, lựa chọn cách đánh”. Cũng theo đánh giá của Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Lê Hải Lý, do đổi hướng đánh, lựa chọn lại mục tiêu nên đơn vị xác định sẽ gặp một số khó khăn trong quá trình thực hành tiến công vào Tỉnh đường Quảng Tín. Biết được những băn khoăn của ban chỉ huy Tiểu đoàn 70, Đội trưởng Đội công tác Trần Chí Thành khẳng định: “Các đồng chí yên tâm! Chúng tôi sẽ phối hợp chặt chẽ trong suốt quá trình chuẩn bị chiến đấu và thực hành chiến đấu”. Sau đó, anh bố trí lực lượng cơ sở mật, du kích mật, kể cả một số cơ sở trong trung đội lính nghĩa quân dẫn đường cho đội hình tiểu đoàn tiếp cận mục tiêu. Nhờ đó, đơn vị đã lách qua vị trí đóng quân của hai tiểu đoàn lính ngụy ở phía tây và tiểu đoàn lính bảo an đoạn nhà lao, phía đông là nơi chốt chặn của tiểu đoàn lính cộng hòa và chi đoàn xe tăng Mỹ, từng bước áp sát mục tiêu an toàn. Đại đội 2, do đồng chí Nguyễn Kinh làm Đại đội trưởng, trong đó có trung đội của Trung đội trưởng Trần Kim Chước làm mũi thọc sâu có nhiệm vụ đánh chiếm tòa thị chính và nhà tỉnh trưởng đã bí mật vượt qua sáu lớp rào thép gai, áp sát nhà tỉnh đường. Đồng thời, Đại đội 3 cũng áp sát bờ rào của nhà lao. Lực lượng của Đại đội 1 được chia thành hai bộ phận, trong đó hai trung đội làm dự bị cho Tiểu đoàn 70 và bộ phận còn lại tăng cường cho Đại đội 2.

Khoảng 24 giờ ngày 31 tháng 1 năm 1968, chính trị viên và tiểu đoàn trưởng đi kiểm tra toàn bộ đội hình của tiểu đoàn, động viên anh em quyết tâm chiến đấu giành thắng lợi, sau đó về vị trí chỉ huy xin ý kiến tỉnh đội cho nổ súng. Đúng 1 giờ 30 phút ngày 1 tháng 2 năm 1968, lệnh nổ súng tấn công Tỉnh đường Quảng Tín được phát đi. Lập tức, trung đội của đồng chí Trần Kim Chước đánh thẳng vào nhà chỉ huy tỉnh đường, chiếm ngay nhà đại tá tỉnh trưởng Đào Mộng Xuân. Lực lượng còn lại của Đại đội 2 tiếp tục nổ súng, sử dụng bộc phá bốc dỡ chướng ngại vật tiến vào tỉnh đường. Cùng lúc, hỏa lực và xung lực của Đại đội 3 tấn công dồn dập tiểu đoàn lính bảo an, sau đó hỏa lực chuyển làn bắn vào bên trong trận địa. Sau hơn một giờ chiến đấu, Trung đội trưởng Trần Kim Chước điện báo về ban chỉ huy tiểu đoàn đã chiếm được tỉnh đường và cắm cờ giải phóng lên nóc tòa nhà tỉnh trưởng, các bộ phận còn lại tiếp tục chiến đấu với lực lượng địch phía trong tỉnh đường.

Khoảng 6 đến 7 giờ sáng ngày 1 tháng 2, ở phía đông, lính cộng hòa và xe tăng Mỹ bắt đầu phản kích quyết liệt. Chúng tập trung hỏa lực đánh thẳng vào bên sườn của ta, cắt đứt đội hình Tiểu đoàn 70 thành hai bộ phận. Đại tá Lê Hải Lý cho biết: “Lúc này, ban chỉ huy tiểu đoàn chỉ còn một mình tôi. Vì đêm hôm ấy, đồng chí tiểu đoàn trưởng bị thương đã đưa ra trạm phẫu, đồng chí Tiến, Tiểu đoàn phó hy sinh”. Địch phản ứng quyết liệt khiến lực lượng còn lại của ta không vào được bên trong. Chính trị viên Lê Hải Lý phải liên lạc với Trần Kim Chước bằng máy thông tin PRC25, để chỉ huy và động viên anh em giữ vững tinh thần chiến đấu. Cuộc chiến đấu diễn ra ngày càng ác liệt. Nhờ có sự yểm trợ của hỏa lực mạnh, bộ binh địch đã từng bước chiếm lại được một số vị trí. Về phía ta, nhiều đồng chí đã chiến đấu dũng cảm và anh dũng hy sinh. Chính trị viên Lý vừa trực tiếp chỉ huy điều động lực lượng dự bị tăng sức chiến đấu cho các bộ phận, vừa động viên anh em kiên quyết ngăn chặn, tập trung đánh bộ binh địch để bảo vệ thương binh liệt sĩ. Trời càng về trưa, địch càng tăng thêm lực lượng với quyết tâm chiếm lại tỉnh đường. Một bộ phận quân cộng hòa và lính Mỹ đã áp sát sở chỉ huy của tiểu đoàn. Tình thế lúc này khá nguy nan. Chính trị viên Lê Hải Lý phải sử dụng khẩu súng AK của một chiến sĩ đã hy sinh vừa nổ súng ngăn chặn, tiêu diệt những tên lính ngụy đi đầu để sở chỉ huy cơ động ra phía ngoài, vừa bao quát toàn bộ trận đánh. Kể đến đây, gương mặt người cựu chiến binh chợt đanh lại. Chờ qua cơn xúc động, ông tiếp tục: “Quân địch bị ta đánh trả quyết liệt đã lùi về phía sau để hỏa lực của xe tăng, pháo binh bắn mạnh vào đội hình đối phương, sau đó tổ chức tiến công tiếp. Lúc này, một đồng chí xạ thủ trung liên của Đại đội 2 bị trúng đạn hy sinh. Tôi vội bỏ khẩu AK xuống, nằm rạp bên cạnh khẩu trung liên tiếp tục thay vị trí người chiến sĩ đã anh dũng hy sinh, bắn kìm chân, thu hút hỏa lực của địch để các đơn vị đưa anh em thương binh, liệt sĩ ra ngoài. Tôi vừa chỉ huy đơn vị, vừa bắn chặn địch và bám sát đội hình”. Theo dòng hồi tưởng của người chỉ huy, lúc này Tiểu đoàn 70 phải vừa chiến đấu, vừa lui quân chuyển đến Phương Hòa, thuộc thôn 1, xã Kỳ Thịnh, huyện Bấc Tam Kỳ (Quảng Nam).

Trong lúc đó, mũi thọc sâu của Trần Kim Chước vẫn giữ vững mục tiêu đã chiếm và chiến đấu kiên cường, đánh trả quyết liệt các đợt tiến công của địch. Sử dụng hỏa lực mạnh không hiệu quả, gọi hàng bị đáp trả bằng những loạt đạn AK chính xác, cuối cùng địch phải dùng chất độc thần kinh CS, đánh vào nhà tỉnh trưởng. Cơn xúc động lại đến trong trái tim người anh hùng suốt một đời trận mạc. Ông nói giọng chùng xuống: “Khoảng 10 giờ hôm ấy, tôi không còn bắt được liên lạc với đồng chí Chước. Tôi hiểu các đồng chí của tôi không còn nữa. Các anh đã chiến đấu và hy sinh anh dũng, giữ trọn lời thề: “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Cuộc chiến đấu vẫn tiếp diễn, song ưu thế về lực lượng, hỏa lực của địch đã gây cho chúng tôi nhiều khó khăn”. Tiểu đoàn 70 đã đánh chiếm và giữ Tỉnh đường Quảng Tín trong suốt nhiều giờ. Địch tập trung các loại vũ khí hạng nặng, giở mọi thủ đoạn chiến tranh nhằm khuất phục quân ta. Nhưng những người lính của Tiểu đoàn 70 năm ấy vẫn kiên cường bám trụ với quyết tâm giữ vững mục tiêu đã chiếm được. Tuy nhiên, trước quân thù mạnh hơn ta gấp nhiều lần, được tăng viện thường xuyên lại có thời gian nghỉ ngơi giữa các đợt tiến công; trong khi đó chúng ta đã chiến đấu liên tục trong thời gian dài, một số đồng chí đã bị thương, hy sinh nên khả năng chiến đấu phòng ngự của ta có phần giảm sút. Vì vậy, chỉ huy tiểu đoàn quyết định vừa đánh, vừa lui để bảo toàn lực lượng còn lại. Sau khoảng 36 tiếng đồng hồ chiến đấu, đội hình của ta dần lùi ra khỏi khu vực chiến sự, là thời gian đồng chí cuối cùng rút khỏi tỉnh đường từ bờ rào do cơ sở của đồng chí Thành đưa ra.

Đại tá, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Lê Hải Lý trầm ngâm: “Trận đánh vào Tỉnh đường Quảng Tín đã để lại trong tôi nhiều kỉ niệm sâu sắc. Đó là một cuộc chiến đấu cực kỳ ác liệt, thể hiện sự quyết tâm cao độ của cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 70. Đây cũng là trận đánh mà đồng chí, đồng đội của tôi bị thương, hy sinh, nhiều nhất từ trước đến nay. Bản thân tôi cũng bị mấy vết thương liên tục. Vết này chưa lành hẳn thì vết khác lại chồng lên”. Bằng giọng nói nghẹn ngào, ông cũng nhắc lại trường hợp đồng chí Hiểu bị thương nặng trong chiến đấu đã hy sinh trên đường cơ động. Lúc ấy, Chính trị viên Lê Hải Lý vừa quan sát chỉ huy đội hình hành quân, vừa đi cạnh anh em thương binh để động viên các đồng chí khiêng cáng và những người bị thương. Dường như anh em cũng hiểu tâm trạng của người chỉ huy, tình hình đơn vị nên dù đau đớn vẫn không một lời rên la. Nhiều đồng chí toàn thân quấn băng trắng toát nhưng thấy anh đến lại nhoẻn cười để yên tâm lo công việc đơn vị. Bất chợt, có tiếng gọi khẽ cất lên: “Anh Lý! Anh Lý cúi xuống”. Nhưng người chính trị viên vừa quay lại, chưa kịp cúi thì đồng chí Hiểu đã ngã xuống, nói thều thào: “Em ra đi! Em đã hoàn thành nhiệm vụ”. Đôi mắt người chiến sĩ từ từ nhắm lại với nét mãn nguyện trên gương mặt và anh im lặng mãi mãi. Đại tá Lý cố kìm nén xúc động nói: “Có lẽ không một ngòi bút nào có thể diễn tả nỗi tâm trạng của tôi lúc ấy. Đó là sự pha trộn của tình thương, lòng kính phục và trách nhiệm của người chỉ huy. Để yên lòng anh em và giữ nghiêm tinh thần sẵn sàng chiến đấu, tôi đã bặm môi không dám khóc người chiến sĩ của mình trước lúc về với đất mẹ vẫn còn nhớ nhiệm vụ của người lính”. Người chỉ huy ngậm ngùi bồng Hiểu đặt lên bờ ruộng, sửa lại tư thế để anh nằm thẳng người, rồi cởi hai chéo dù của mình đắp lên người đồng chí vừa hy sinh và đánh giấu để nhân dân đến chôn cất. Nhiệm vụ phía trước vẫn còn, không thể chậm trễ, Lê Hải Lý vội ôm hôn người chiến sĩ lần cuối cùng với lòng xót thương vô hạn. Đi được một đoạn khoảng 100 mét, Chính trị viên Lý lại gặp một đồng chí thương binh không bước nổi mà phải vừa đi vừa bò. Lúc đó, Lê Hải Lý cũng đang đi khập khiễng nên không thể cõng người thương binh được, đành phải một tay chống cây gậy tre, còn tay kia đỡ anh ấy dậy, xốc nách và dìu nhau bước về nơi an toàn.

Cuộc chiến đấu vào Tỉnh đường Quảng Tín năm xưa đã trải qua hơn bốn thập kỷ. Tuy nhiên, trong trái tim người cựu Chính trị viên Tiểu đoàn 70 dường như vừa mới xảy ra hôm qua. Hằng năm, khi nhìn những cánh mai vàng khoe sắc, ông lại nhớ đến đồng đội đã ngã xuống trong chiến dịch Mậu Thân 1968.

Đối với Đại tá, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Lê Hải Lý: “Đồng đội là một phần máu thịt của đời mình”. Và trong mỗi cánh hoa xuân, ông đều thấy đồng chí mình chập chờn ẩn hiện.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2020, 04:15:40 pm
KÝ ỨC HỐ RỔI

LONG AN

Một lần tháp tùng Đại tá, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Lê Hải Lý và đoàn cựu chiến binh về thăm chiến trường xưa trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, khi đến xã Phú Thọ, huyện Quế Sơn, tôi phát hiện ông thỉnh thoảng lại đưa tay lên xem đồng hồ. Thấy người cựu chiến binh nhìn đồng hồ nhưng có vẻ không quan tâm đến thời gian, tôi bất giác đặt câu hỏi: “Chiếc đồng hồ này có liên quan đến kỷ niệm xưa phải không bác?”. Đại tá Lê Hải Lý gật đầu xác nhận: “Đây là chiếc đồng hồ tôi được đồng chí Đội trưởng Đội công tác Phú Thọ tặng để xem giờ chỉ huy hiệp đồng chiến đấu trong trận Hố Rổi”.

Theo dòng ký ức của các cựu chiến binh, đầu năm 1972, nhằm rút kinh nghiệm cho cách đánh cứ điểm, Ban chỉ huy Tỉnh đội Quảng Nam giao nhiệm vụ cho Tỉnh đội phó kiêm Tham mưu trưởng Tỉnh đội đi chuẩn bị chiến trường ở Hố Rổi, nơi tiếp giáp giữa xã Phú Thọ huyện Quế Sơn và xã Bình Định huyện Thăng Bình. Đại tá Lý nhớ lại: “Sau khi lập kế hoạch, xây dựng quyết tâm chiến đấu, tôi báo cáo với Ban chỉ huy Tỉnh đội và được các đồng chí nhất trí với phương án và quyết tâm đánh cứ điểm Hố Rổi để làm kinh nghiệm cho những trận đánh tiếp theo”. Lúc này, lính Mỹ trên khắp các chiến trường vẫn còn đông. Hễ ta đánh ở đâu là xe tăng Mỹ đến đó, đặc biệt là máy bay trực thăng vũ trang. Khi khói súng của ta chưa tan đầu nòng đã thấy tên lửa rốc-két của chúng bắn dồn dập xuống trận địa. Do đó, đối với người chỉ huy, khi trinh sát chuẩn bị chiến trường, lập kế hoạch chiến đấu, bên cạnh mục tiêu chủ yếu đánh địch bên trong cứ điểm, cần phải xác định tốt vị trí bố trí trận địa hỏa lực đánh địch trên không khi ta thực hành đột phá cũng như quá trình phát triển chiến đấu.

Được lệnh của Ban chỉ huy Tỉnh đội Quảng Nam, các đơn vị nhanh chóng tổ chức hành quân. Thành phần tham gia chiến đấu gồm có Tiểu đoàn 70, Tiểu đoàn 74 và lực lượng của các huyện đội Quế Sơn, Thăng Bình. Tối 20 tháng 2, khi nhận được báo cáo của các đơn vị về việc tập kết quân số, bố trí đội hình chiến đấu, Tỉnh đội phó Lê Hải Lý đưa tay xem đồng hồ để đối chiếu với thời gian hiệp đồng chiến đấu đã quy định. Nhưng đồng hồ của anh không có dạ quang nên phải loay hoay tìm nguồn sáng. Đúng lúc ấy, anh phát hiện thấy chiếc đồng hồ trên tay đồng chí Đội trưởng Đội công tác Phú Thọ có vệt sáng lân tinh. Lê Hải Lý vội quay sang hỏi giờ để kịp thời chỉ đạo các nhiệm vụ tiếp theo. Anh không ngờ người đội trưởng đã tặng luôn cho anh chiếc đồng hồ để tiện chỉ huy hiệp đồng đánh trận Hố Rổi.

Khi các lực lượng đã cơ bản về vị trí tập kết sẵn sàng cơ động chiếm lĩnh xây dựng công sự trận địa tiến công thì có một biến cố bất lợi đã xảy ra. Sáng 21 tháng 2 bất ngờ có hai chiếc máy bay trinh sát, loại máy bay bà già và 5 chiếc trực thăng, cũng loại là máy bay trinh sát nhưng kiểu tàu rọ, quần lượn trên bầu trời thôn 1 và thôn 2, xã Phú Thọ, huyện Quế Sơn. Chúng bay thấp đến mức cánh quạt vè vè thổi bạt cả lá cây, thậm chí có nơi có nguy cơ bị lộ vì cây cối ngụy trang bị gió thổi nghiêng ngả. Tình huống bất ngờ xảy ra khiến người chỉ huy phải thường xuyên căng mắt để quan sát và kịp thời đề ra biện pháp xử trí. Bằng kinh nghiệm đã qua nhiều năm trận mạc, căn cứ động thái của địch, anh xác định quân ta đã bị chúng phát hiện. Cùng lúc đó, pháo binh từ Tuần Dưỡng, núi Quế bắt đầu đánh cấp tập vào núi Ông Lặng và thôn 2.

Trên không, 5 chiếc máy bay trực thăng vũ trang vẫn vè vè quần lượn, có 4 chiếc đã hạ thấp độ cao để quan sát. Chúng bay rà sát ngọn tre và phát hiện được hầm của sở chỉ huy tỉnh đội. Ngay lập tức, bọn giặc lái điều khiển để máy bay treo đứng yên một chỗ cho những tên lính ngồi trong khoang ném lựu đạn và bắn xối xả xuống khu vực sở chỉ huy. Sau đó, địch tiếp tục ném hỏa mù để hạ xuống bắt sống cán bộ ta. Đại tá Lý hồi tưởng: “Lúc này, nhiệm vụ cơ bản của chúng tội là đánh cứ điểm Hố Rổi trong công sự vững chắc để rút kinh nghiệm nên các lực lượng vân còn giữ bí mật”. Tuy nhiên, tình hình chiến sự diễn ra quá bất ngờ và chuyên biến mau lẹ. Một đồng chí chiến sĩ vệ binh đã bị thương ngay hầm chỉ huy. Đường dây thông tin hữu tuyến điện bị rốc-két và pháo binh địch bắn đứt nhiều đoạn, vì thế thông tin liên lạc bị tắc nghẽn. Trong lúc đó, tốp máy bay thứ hai gồm 2 chiếc tiếp tục lao xuống trước hầm chỉ huy. Lê Hải Lý nhanh chóng chộp lấy khẩu súng AK của chiến sĩ bị thương, nhằm vào đầu chiếc máy bay đầu tiên siết cò. Bị trúng đạn, chiếc máy bay trực thăng bốc cháy và rơi xuống trước hầm chỉ huy khoảng 20 mét. Không hiểu do chủ quan hay vì bay quá gần nên khi chiếc thứ nhất bị cháy, chiếc thứ hai vẫn chưa kịp bay lên. Anh nghiến răng căm thù xả hết băng đạn vào đầu chiếc thứ hai. Nó bay lảo đảo rồi bốc cháy và rơi xuống đồi Ông Lặng, phía sau sở chỉ huy.

Sau đó, Tỉnh đội phó Lê Hải Lý ra lệnh cho sở chỉ huy tiền phương cơ động về trực tiếp chỉ huy các tiểu đoàn 70 và 74, đồng thời cho mở máy thông tin vô tuyến để liên lạc nối lại đường dây hữu tuyến. Đúng như nhận định của ta, địch sử dụng 4 chiếc máy bay phản lực bay vào ném bom ở núi Ông Lặng, thôn 2 và bắt đầu đổ quân bằng trực thăng xuống khu vực chiến sự vừa xảy ra. Cứ 10 chiếc thành một tốp, địch đổ liền 10 đợt xuống cánh đồng của thôn 2, xã Phú Thọ. Quan sát trên chiến trường, phát hiện địch đã dừng đổ quân, bộ binh bắt đầu đánh vào làng, anh chỉ huy Tiểu đoàn 70 xuất kích bao vây toàn bộ lực lượng địch, đồng thời, truyền lệnh cho huyện đội Quế Sơn từ đường sắt đánh lên, huyện đội Thăng Bình từ cầu Ông Triệu đánh qua; chỉ đạo Tiểu đoàn 74 dùng hỏa lực 12,7mm bắn máy bay, cối 81mm đánh vào đội hình bộ binh của địch, chi viện cho Tiểu đoàn 70 xung phong tiêu diệt gọn đại đội trinh sát của địch. Sau hai giờ chiến đấu quyết liệt, ba mũi tiến công của ta đã hợp lại trước cánh đồng thôn 2, xã Phú Thọ, diệt gọn đại đội trinh sát của Sư đoàn 2 ngụy. Lực lượng địch chết tại chỗ 85 tên. Ta bắt sống 15 tên và bắn cháy 5 máy bay trực thăng. Đêm hôm ấy, địch tiếp tục bắn pháo sáng và sử dụng pháo binh bắn vào Phú Thọ, nhưng quân ta đã về nơi trú ẩn an toàn.

Kết thúc chiến tranh, cựu chiến binh Lê Hải Lý đã cố tìm lại người đội trưởng năm xưa để trả đồng hồ. Song không ai biết anh ấy ở đâu, nên chiếc đồng hồ tiếp tục gắn bó với ông đến bây giờ, dù đã hơn bốn mươi năm trôi qua, nhưng nó còn chạy tốt. Qua trò chuyện, Đại tá, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Lê Hải Lý tâm sự: “Tôi muốn hiến tặng kỷ vật này cho Bảo tàng Lịch sử quân sự để góp phần giáo dục truyền thống đấu tranh cách mạng của dân tộc”. Qua tìm hiểu, tôi được biết, trước đây Đại tá Lê Hải Lý cũng từng hiến tặng khẩu súng K59 số hiệu 6H-3189 do Tư lệnh Quân khu 5 Chu Huy Mân tặng ông tại hội nghị mừng công năm 1972, cho Phòng truyền thống Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Nam.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2020, 04:17:06 pm
MỘT CHUYẾN VỀ QUÊ
CỦA NGƯỜI ANH HÙNG ĐẤT QUẢNG

Ký của LÊ ANH DŨNG

Hẹn hò mãi, cuối cùng Đại tá, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Lê Hải Lý, nguyên Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Nam cũng đưa chúng tôi cán bộ, biên tập viên Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Tạp chí Văn hóa quân sự - cơ quan đại diện tại Đà Nẵng về thăm quê anh thôn Giáng La, xã Điện Thọ, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

Phương tiện đã có ô tô anh Lý mượn của đại diện Chi nhánh Viettel tại thành phố Đà Nẵng. Nước uống, quà cáp cho đồng đội bà con quê anh kể cả quà cho những gia đình đã từng đùm bọc, che chở anh trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cũng được chị vợ anh chuẩn bị chu đáo, ân tình. Thấy anh cho xe đến đón, mặc quần áo dân sự, tôi phàn nàn: “ông anh ơi. hôm nay là ngày trọng đại, thăm quê, thăm tượng đài, thăm đồng đội và vào phim ảnh, xin anh về mặc ngay bộ quân phục, nhớ đeo huân, huy chương và huy hiệu anh hùng cho đẹp. Nể lời, chứ anh rất ngại, không khéo người ta bảo mình nghỉ hưu lâu rồi, mới được phong tặng danh hiệu anh hùng mà khoe mẽ thì phiền hà. Được sự động viên của vợ và con cái trong nhà anh chấp thuận mang theo lễ phục trang, nhưng không mặc mà treo trên xe, để khi cần chụp ảnh thì khoác vào.

Gần nửa giờ đồng hồ từ Đà Nẵng kể cả ăn sáng, xe chúng tôi đã về lại chiến trường xưa Bồ Bồ. Một ngọn đồi thông xanh gợi cho cảm giác thanh bình và yên ả cho môi trường du lịch. Tôi liếc nhìn qua. Trong mắt anh thoáng hiện nỗi đăm chiêu, tư lự. Tượng đài chiến thắng Bồ Bồ - 19 tháng 7 năm 1954 cao sừng sững nhìn xuông những cánh đồng, những ngôi nhà như còn mơ màng trong sương sớm như bức tranh thủy mặc. Anh trầm ngâm: Bồ Bồ là cứ điểm quân sự quan trọng của quân Pháp và sau này là quân Mỹ xâm lược.

Tại đây, bọn lính Pháp đặt đài quan sát từ xa, bố trí binh lực, hỏa lực rất mạnh nhằm khống chế 3 huyện đồng bằng phụ cận để bảo vộ từ xa cơ sở đầu não ở thành phố Đà Nẵng và thị xã Hội An. Chúng huênh hoang tuyên bố: “Bồ Bồ là cứ điểm bất khả xâm phạm, nếu Việt Minh chiếm được thì nước sông Yên chảy ngược”. Sau thất bại nhục nhã trên khắp chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng, Bộ Chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương vội vã huy động các lực lượng khắp nơi về Đà Nẵng, thành lập Chiến đoàn 10 hỗn hợp, quân số hơn 1.000 tên do đại tá Can Phelit chỉ huy và mở ngay cuộc hành quân với mật danh “con báo” đánh chiếm lại cứ điềm Bồ Bồ. Tỉnh ủy Quảng Nam - Đà Nẵng quyết định đập tan cuộc hành quân của địch giành thế chủ động trên toàn chiến trường ngay khi chúng mới dàn quân trên đỉnh Bồ Bồ. Tỉnh đội phó Đào Bá Phúc nhận nhiệm vụ chỉ huy trận đụng đầu lịch sử này. Bên ta có Đại đội trinh sát đặc công 15, Tiểu đoàn bộ binh 20, bộ đội địa phương huyện Điện Bàn. 19 giờ ngày 18 tháng 7 năm 1954, quân Pháp, tuy lực lượng đông gấp ba lần quân ta, hỏa lực mạnh, nhưng tinh thần bạc nhược, nên sau 5 giờ đọ sức với bộ đội đặc công địa phương đã chịu thua nhục nhã. Trong trận này ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 400 tên Pháp, bắt sống tại trận 343 tên, trong đó có tên đại tá chỉ huy Chiến đoàn 10. Đây là trận đánh lớn nhất và chiến thắng oanh liệt nhất của quân và dân Quảng Nam - Đà Nẵng trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, được gọi là “Điện Biên Phủ trên đất Quảng Nam”.

“Trong chiến công chung của xứ Quảng thấm máu của nhiều đồng đội. Hồi đó, ông ở vai trò vị trí gì trong đội hình đánh giặc?”, tôi buột miệng. Đại tá, anh hùng Lê Hải Lý: “Tôi ở Đại đội 22 trợ chiến Quảng Nam, có 4 trung đội (cối 81mm, 12,7mm, phóng bom và đại liên) bố trí hướng phía bắc, dưới đồng 5 sào ở nhà thầy Tài. Lúc đầu ở ngoài đình Tứ Sơn, sau đó chuyển sát chân núi Bồ Bồ. Địch rất đông, xe tăng, xe bọc thép lên hàng trăm chiếc. Quyết tâm đánh chiếm đỉnh Bồ Bồ, đại đội tôi phân công nhau vác đạn cối 81mm chiến lợi phẩm đánh xuống Ba Truông. Quân ta đánh chiếm điểm chính hết đạn, liền phân công nhau lấy đạn pháo cối. Tôi vác đạn bị thương ở phía sau lưng, nhưng viên đạn ga-răng lại chạy ra cánh tay phải, may mắn gặp cô Lý du kích Tứ Sơn khiêng ra. Hồi ấy chúng tôi còn rất trẻ, tuổi chỉ 18, 20. Tôi nhớ trước khi đi đánh trận này, Tỉnh đội trưởng Võ Thứ chuẩn bị công tác hậu cần rất kỹ, xác định việc chết sống rất rõ, giao cho anh em đào sẵn 2 hào để sẵn sàng chôn cất các liệt sĩ hy sinh. Tôi lên vác đạn gặp xác địch ngổn ngang, máu chảy tràn hơn 50 mét... Chiến tranh mà! Chết chóc, mất mát nhiều quá. Mỗi lần về Bồ Bồ, tôi lại nhớ thương đồng đội đã ngã xuống và nhớ ơn cô Lý du kích đã cứu sống mình. Trong hương khói bảng lảng, tôi để ý thấy những tàn nhang cúi đầu, một làn gió mát đi qua. Hình như các anh linh đồng chí đồng đội đã về chứng nhận tình cảm vợ chồng Đại tá Lê Hải Lý dành cho những người hiến dâng xương máu cho Tổ quốc.

Xe chúng tôi qua Cẩm Lý - ngã ba Trùm Giao, nơi xưa là đồn Trùm Giao của địch, nay là một trường tiểu học có kênh mương chảy qua. Anh Lý nhớ lại với vẻ mặt không vui: “Ở Trường Giảng, Cẩm Lý, tôi đánh trận không thắng, do có kẻ nội ứng cho địch. Lúc đó, tôi là chiến sĩ của tỉnh đội tham gia đánh cùng Đại đội 61. Ở đoạn cống Chánh Hồ, hồi năm 1974, tôi về phép thăm nhà, có 1 tiểu đội bảo vệ. Nhưng có 2 tên điệp chỉ điểm đưa trung đoàn ngụy vây tôi. Hai máy bay trực thăng ra rả gọi Lê Hải Lý, Tỉnh đội trưởng Quảng Nam về xã đầu hàng. Anh Lê Công Thạnh - Phó Chính ủy Quảng Đà điện báo với Tiểu đoàn 3 của ta đóng ở Cồn Phủ (La Trung bây giờ) hỗ trợ cho tôi. Lúc đó trời mưa nặng hạt, tháng 10 nước băng đồng. Bộ đội ta bị thương 4 người, lại hết đạn. Anh em bảo vệ lo: Bây giờ không có đường đi, địch vây khắp nơi. Tôi bảo: Ta băng đồng thôi, đi sát bờ rào địch ở Phong Thử. Anh em lại lo: Thương binh làm sao đây?. Tôi bảo: Kiếm thuyền chở thương binh chở đạn về. Vậy là tôi qua bến Hục, qua luôn sông gặp đồng chí Phùng Thành, Bí thư Huyện ủy Điện Bàn đón ở Gò Nổi. Thoát chết.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2020, 04:17:29 pm
Xe chúng tôi về Điện Thọ, ghé nhà thờ ông nội của anh Lý - thủ sắc Lê Văn Tập. Vợ chồng Đại tá Lê Hải Lý thành kính dâng hương trên bàn thờ, tặng quà cho gia đình anh Lê Văn Ái, cháu kêu ông thủ sắc bằng cố. Bà Phan Thị Hải, chị dâu anh Lý kể: Chú Lý hồi nhỏ giỏi lắm, siêng bắt cá, bắt lươn. Sau đó tham gia du kích thôn, làm liên lạc chạy loanh quanh, năm 1950 xung phong đi bộ đội. Anh Lê Văn Tâm, bà con với anh Lý, từng là chiến sĩ đặc công đơn vị H29 Quảng Nam - Đà Nẵng kể: Nhà ông nội anh Lý có 4 người là Bà mẹ Việt Nam anh hùng (Lê Thị Để, chị ruột; Lê Thị Én, bác dâu; Mai Thị Hường, thím ruột; Lê Thị Kề, chị con bác ruột). Đặc biệt ông cố tôi đẻ ra 9 người con trai, 2 người con gái đều hy sinh. Kháng chiến chống thực dân Pháp có Lê Văn Đinh, Lê Văn Bàn; kháng chiến chống Mỹ, cứu nước có: Lê Văn Nhạn, Lê Văn Giá, Lê Văn Cổ, Lê Văn Nhỏ, Lê Văn Chính, Lê Văn Cần, Lê Văn Mười, Lê Thị Lẫm. Nhà đang ở thuộc thôn Trung, làng La Huân. Quê chính của anh Lý ở làng Giáng La. Năm 1975 sáp nhập thôn Trung và làng Giáng La thành La Trung. Trong kháng chiến chống Pháp, anh em bộ đội về xứ ni làm ruộng nhiều, được dân thương mến, đùm bọc, giúp đỡ như con trong nhà. Làng Giáng La là chiếc nôi của cách mạng, nơi có Đảng sớm, thành lập chi bộ đầu tiên tên là Phan Vàng (người bí thư đầu tiên của làng Giáng La). Trong kháng chiến chống Pháp, đây là nơi hoạt động cách mạng đầu tiên, có nhà thờ họ Phan được công nhận là di tích lịch sử cách mạng. Trong kháng chiến chống Mỹ, Giáng La là “đất thánh của cộng sản”, nổi tiếng có nhiều gia đình trụ bám. Làng hồi đó có 140ha, nhưng có 3 đồn địch đóng là Bà Đá, Bà Lý, Ông Liệu. Bà Phan Thị Hải là đảng viên kiên cường bám trụ, Làng chúng tôi tự hào có truyền thống cách mạng, có nhiều gia đình liệt sĩ, thương binh và nhiều Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

Nghe anh Tân và bà Hải nói, tôi chợt nhớ tới rất nhiều những đóng góp, hy sinh thầm lặng của bà Bác Sâm trong hai cuộc kháng chiến, từng là cơ sở tích cực nuôi giấu cán bộ; trong những năm đen tối, trực tiếp che chở cán bộ, du kích, nắm tình hình địch cung cấp cho du kích, bộ đội diệt ác phá kềm, từng là bí thư chi bộ Thạc Gián (Đà Nẵng) - chi bộ 2 của Điện Thọ, từng tự cắt cổ để phản ứng địch trong tù; những thành tích khó ai làm được của anh hùng lực lượng vũ trang Trần Thị Chính - một trong những người cướp súng Mỹ đầu tiên, chặn xe tăng Mỹ đầu tiên, bắt sống Mỹ đầu tiên của chiến trường Quảng Đà...; những hoạt động chỉ đạo, chỉ huy phong trào học sinh sinh viên trong đô thị miền Nam của người trí thức cách mạng yêu nước của Lê Công Cơ; những chiến công vang dội trên chiến trường Quảng Đà, Quảng Trị của Thiếu tướng, Anh hùng lực lượng vũ trang Nguyễn Văn Trí... đều cùng quê xã Điện Thọ với Anh hùng lực lượng vũ trang Lê Hải Lý. Lê Hải Lý sinh ra và lớn lên trên cội nguồn truyền thống ấy và anh thoát ly tham gia kháng chiến với tư cách người chỉ huy, hoặc trực tiếp đánh nhiều trận nổi tiếng ở các vùng quê khác trên quê hương Quảng Đà, Quảng Nam “trung đũng kiên cường đi đầu diệt Mỹ”.

Chia tay bịn rịn với gia đình, với vùng quê giàu truyền thống, xe chúng tôi trực chỉ thành phố Tam Kỳ - tỉnh lỵ Quảng Nam. Anh Lý bồi hồi xúc động vì Tam Kỳ, Núi Thành là quê hương thứ hai của mình, vì cán bộ và nhân dân ở đây nuôi dưỡng, đùm bọc và che chở anh trong quá trình bám nắm, đánh địch; vì ở nơi đây, tên tuổi của anh và đồng đội gắn liền với những chiến công chung của các chiến trường làm cho Mỹ cút, ngụy nhào. Anh đưa chúng tôi thăm trung tâm trụ sở của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam. Anh xin anh em công an bảo vệ được chụp ảnh kỷ niệm trước cổng chính có hai cây trụ rất đẹp của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh, trước đây là Tỉnh đường Quảng Tín. Nơi đây, trong mùa xuân Mậu Thân năm 1968, anh là Chính trị viên Tiểu đoàn 70 chỉ huy bộ đội đánh vào đầu não của quân địch. Anh kể: Ban đầu, chúng tôi chuẩn bị đánh vào phía tây, nhung không được, nên đánh hướng phía bắc. Nhờ đội công tác của anh Trần Chí Thành dẫn đường thuận lợi, nên Tiểu đoàn 70 chủ công đánh chiếm nhà Tỉnh đường trong 36 giờ. Do chưa tính toán kỹ, hai múi giờ Hà Nội và Sài Gòn khác nhau, nên kế hoạch của ta bị lộ, địch tăng cường chiến đoàn xe tăng và 1 tiểu đoàn cộng hòa, 1 tiểu đoàn bảo an. Đội công tác của anh Thành dẫn đội hình của Tiểu đoàn 70, chủ công đánh chiếm nhà Tỉnh đường (Tỉnh đội trưởng Trần Kim Anh phụ trách). Xe tăng địch lên cắt đội hình, anh Vũ Thành Năm, Tiểu đoàn trưởng bị thương tại bờ rào phải đưa ra. Tôi là Chính trị viên lúc này kiêm luôn Tiểu đoàn trưởng đánh chiếm Tỉnh đường 2 ngày 3 đêm...

Biết bao nhiêu kỷ niệm và ký ức đan xen, anh đưa chúng tôi đến chụp ảnh bên lô cốt địch ngày xưa nay cỏ, rêu đã phủ xanh như một chiến tích, chứng tích. Anh bảo: “Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968, nên nhận thức là quân ta đã đánh bại ý chí xâm lược Mỹ”. Xe đưa chúng tôi ra khỏi cổng, anh bần thần nói: “Phía sau trụ sở Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh có 2 lô cốt cổng sau, trong đó có một lô cốt quân ta hy sinh 4 đồng chí và lô cốt còn lại hy sinh 2 đồng chí.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2020, 04:17:50 pm
Anh Lý đưa chúng tôi vào khu tập thể quân đội đối diện Nhà khách nội bộ của Ủy ban nhân dân tỉnh gặp anh Phan Thanh Tuấn, nguyên là trợ lý tác chiến Tỉnh đội Quảng Nam. Anh làm trợ lý rất thâm niên, từ năm 1967 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, sau đó qua viết Tổng kết chiến tranh. Tay bắt mặt mừng, anh Lý và anh Tuấn, hai người “ăn cơm mới nói chuyện cũ”. Chuyện kể như bắp rang. Anh Tuấn bộc hạch: Hồi đó, tôi có nhiệm vụ chuyên tổng hợp tình hình tác chiến của tỉnh hằng ngày, điện báo cáo cho Quân khu, Tỉnh ủy và tổng kết chiến tranh. Quảng Nam qua nhiều đời Tỉnh đội trưởng. Quách Tự Hấp đầu tiên, đến Trần Kim Anh, anh Kim Anh đi Bắc đến anh Huỳnh Bá Thừa (anh Năm) hy sinh. Anh Thừa hy sinh đến anh Nguyễn Hoán. Anh Lê Hải Lý cuộc đời dài, nguyên Chính trị viên Tiểu đoàn 70, anh Vũ Thành Năm, Tiểu đoàn trưởng. Tôi ở trên cơ quan Tham mưu của tỉnh, còn anh Lý là Chính trị viên tiểu đoàn nhưng rất thân nhau. Trận Mậu Thân năm 1968, ngoài hai vị chỉ huy Năm, Lý còn có anh Bùi Thanh Cao, Tham mưu trưởng Tiểu đoàn 70 đi cùng. Trận đó, khi phía bắc đánh vào cánh quân chủ yếu, Tiểu đoàn 70 chủ công đánh tập kích giỏi. Anh Lý và anh Năm chỉ huy. Anh Năm bị thương được đưa ra, anh Lý kiêm luôn Tiểu đoàn trưởng đánh Tỉnh đường. Tiểu đoàn 70, một mũi đánh sâu Tỉnh đường tầng 2, ở lại đến ngày hôm sau. Năm 1968 đánh không có lệnh rút, không đưa thương ra, quyết giải phóng xong để đưa anh em thương binh đi bệnh xá, bệnh viện. Anh Lý thấy “thế sự” không thực hiện được - do trận địa pháo của địch ở Tuần Dưỡng khống chế - nên giao nhiệm vụ cho anh Phan Đình Kỉnh - Chủ nhiệm pháo binh khống chế lại trận địa pháo của địch, nhưng không thực hiện được. Trận tiến công năm Mậu Thân bị lộ, Mỹ chặn quân. Vai trò anh Lý lúc đó là chỉ huy tiểu đoàn, thấy tình thế không làm chủ thực hiện ý định quân khu đánh giải phóng tỉnh, nên cho giãn đội hình ra đường tre Phương Hòa (Kỳ Hương) đánh tiểu đoàn bảo an, trụ lại trong làng (khoảng 1 cây số) 1 ngày rồi rút ra, nên tiểu đoàn ít bị tổn thất. Phía Tiểu đoàn 16 đặc công, do anh Trần Kim Anh phụ trách (có đồng chí Hoàng Minh Thắng đi theo) bị tổn thất. Đơn vị đặc công đánh vào cơ quan sư đoàn bộ Sư đoàn 2 ngụy bị tổn thất nặng, chỉ còn 8 đồng chí, phần lớn hy sinh hết. Tiểu đoàn này còn anh Đoàn Ngọc Danh Chính trị viên Tiểu đoàn. Tiểu đoàn 74, anh Phạm Văn Anh hành quân bị thương, nên cấp trên điều anh Đích, trợ lý ban tác chiến làm Tiểu đoàn trưởng. Anh Đích hy sinh, tiểu đoàn bị thiệt hại nặng. Tiểu đoàn 70 hy sinh gần hết Đại đội 2. Tiểu đoàn 70 lui quân ra, chỉ huy cấp trên khen xử lý tình huống giỏi. Khi địch đưa xe tăng lên, bộ binh đánh lên ép vô, cắt đứt đội hình của ta, mặc dù chưa có lệnh lui quân, anh Lý giãn đội hình ra, vừa đánh vừa lui vừa giữ đưa được thương binh ra.

Nói về người đồng đội vừa là cấp trên thân thiết của mình, anh Tuấn cởi mở: “Anh em sợ anh Lý lắm, vì anh rất nghiêm, nói chắc như đinh đóng cột. Khi tập huấn chiến thuật xung, hỏa lực kết hợp, dùng hỏa lực mạnh mở rào để đánh. Anh Lý đi đường, anh Hiền, chủ nhiệm công binh mang thủ pháo, chất nổ định đánh cá, nhưng không dám ho he. Thực tế đánh xung hỏa lực kết hợp, hoặc đánh theo binh chủng hợp thành thì chỉ huy bài bản, nhưng thường là thương vong cao. Đánh mật tập, chỉ huy cực hơn, bảo đảm bí mật, thương vong ít; nếu lộ, thương vong cao. Binh chủng hợp thành đánh là thắng, còn mật tập đánh xong phải lui. Chỉ huy hợp thành nhẹ hơn, nhưng phức tạp hơn, phải suy nghĩ về bài binh bố trận, phải tính toán. Ở Hố Rổi, quân ta chưa kịp đánh địch ban tối, thì ban ngày chúng phát hiện sở chỉ huy của ta, để đại đội trinh sát vây bắt. Lúc đó anh Lý cùng đi với vệ binh, anh Lý lấy khẩu AK trên tay chiến sì vệ binh vừa hy sinh bắn rơi và cháy hai máy bay, chỉ huy đơn vị diệt đại đội trinh sát của Sư đoàn 2 ngụy đổ xuống”. Anh Lý bổ sung: “Đánh mật tập nên ta giấu lực lượng. Địch phát hiện sở chỉ huy Tỉnh đội, chúng bắn rốc-két xuống. Vì lý do sức khỏe, anh Năm giao nhiệm vụ chỉ huy cho tôi, tôi cử 3 vệ binh đi theo, nhưng trực thăng rà sát ngọn tre, cắt đội hình, bắn như vãi đạn, anh Năm hy sinh. Tôi lấy AK của chiến sĩ vệ binh Hiệu bắn loạt thứ nhất cháy ngay máy bay trước hầm chỉ huy. Chiếc thứ hai cháy trên đồi Đá Mọc khoảng 500m. Tôi hạ lệnh tất cả sở chỉ huy chuyển sang nắm đội hình tiểu đoàn 70, 74, lệnh cho Huyện đội Quế Sơn vận động từ đường sắt lên 2 đại đội vây diệt toàn bộ đại đội trinh sát ngụy, bắt 15 tên dẫn về phía sau. Tôi gặp cô Lệ Thi y tá bị thương ở trận đó nằm ngoài đồng. Ba anh em 2 khẩu AK, 1 máy PRC25 cõng, khiêng cô đưa về hang đá Quế Sơn. Anh em thay nhau khiêng về căn cứ Hòn Tàu. Sau trận đánh diệt đại đội trinh sát, 2 máy bay, cả quân khu, cả nước đều biết tên. Năm 1972, đánh ở Chà Vu, Đá Nẻ, bắc Tam Kỳ, Tiểu đoàn 74 dùng H12, H66 bắn trực tiếp tiểu đoàn bảo an. Chúng tháo chạy, Tiểu đoàn 72 lót diệt”.

Anh Tuấn say sưa bổ sung: “Năm 1972, Lê Hải Lý đưa lực lượng Quảng Nam xuống vùng đông Thăng Bình, Tam Kỳ xuống đánh vu hồi giải phóng Tam Kỳ, đưa lực lượng địa phương tỉnh xuống đánh mở ra vu hồi chiến dịch không để địch chạy vào Chu Lai. Anh Lý chỉ huy 4 tiểu đoàn 70, 72, 74, 16 và 2 đại đội huyện Thăng Bình, Tam Kỳ”.

Chúng tôi về ngã tư Hà Lam (Thăng Bình), rẽ đường xuống xã Bình Đào, gần chợ Trà Đỏa. Anh Lý thỏ thẻ với vợ: “Em à, mẹ Quế ở thôn Hà Bình từng nuôi anh trong hầm năm 1967. Đánh trận Mộc Bài, anh bị thương trên đầu, anh em chiến sĩ khiêng xuống xã Bình Dương nằm tại đội phẫu thôn 2 Bình Dương. Tưởng anh chết, anh em đưa anh giấu ở vườn thông và định “xin” hai chéo dù hoa. Nhưng có sự kỳ diệu, thấy anh cụ cựa người sống lại, anh em mừng gửi lại hai chéo dù hoa quàng trên cổ anh như một vòng hoa chiến thắng cái chết. Anh được cáng về đội phẫu của Tỉnh đội ở Hà Bình cùng với anh Học, Đại đội trưởng Đại đội 1, Tiểu đoàn 70 cũng bị thương ở chung, lúc ấy anh là Chính trị viên tiểu đoàn. Nơi đây có bữa quân Mỹ càn nhà có hầm nấp pháo mở cửa sang hầm bí mật. Dân ở đây bảo vệ thương binh, ngụy trang làm cho bẩn thỉu để địch nghe hôi thối tránh xăm hầm”. “Mẹ Quế và gia đình nuôi dưỡng anh như thế nào?”, tôi hỏi. Anh Lý: “Dân nuôi, tôi biết ơn cả đời. Mẹ Quế ăn khoai, còn nấu riêng cơm cho tôi ăn. Mẹ có hai cô con gái Hoa và Huệ cũng xinh gái, thường bưng bê cơm cho tôi. Mẹ còn có một con trai ở Tiểu đoàn 70 hy sinh năm 1966, sau này tôi về làm bia mộ cho cả hai ông bà Quế và con trai mẹ”.


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2020, 04:18:51 pm
Đường quê Bình Đào toàn cát là cát và phi lao. Đã gần 3 giờ chiều chúng tôi bước vào nhà mẹ Quế khi trưa nay cả nhà làm giỗ mẹ. Anh Lý ân hận vì quá bận bịu quên mất. Anh và vợ mang bánh trái lên thắp nhang cho mẹ Quế, rồi đưa chúng tôi ra thăm thắp nhang tiếp trên mộ. Khu nghĩa địa của dân hoang vắng, vi vu gió thông reo. Dưới cát cằn, tôi thấy rất nhiều hoa ké bông vàng nhỏ li ti. Chị Hòa, vợ anh Lý kể: “Khi mẹ Quế mất, anh Lý về mấy ngày để tang và lo hậu sự chu đáo cho mẹ. Anh đặt bia đá Non Nước chở về làm bia mộ cho hai vợ chồng mẹ Quế và hai người con của mẹ. Trước mắt tôi là mộ bia của liệt sĩ Nguyễn Tấn Tám, nhập ngũ năm 1965, bị thương ở Đại đội 15 Huyện đội Thăng Bình và hy sinh vào năm 1970 trong trận không vận. Anh Lý bùi ngùi: “Tám là chiến sĩ đơn vị tôi, đánh giặc rất chì, hy sinh anh dũng”. Anh Hải, cháu nội mẹ Quế xúc động: “Dân Quảng Nam từ vùng đông đến vùng tây đều quý và thương bác Lý. Bác sống chí tình chí nghĩa không chỉ với gia đình tôi mà tất cả mọi người. Kỷ niệm ngày thành lập Tiểu đoàn 70, những năm sức khỏe còn tốt, bác Lý còn vận động các chú, các bác trong đơn vị khăn đùm, khăn gói đến thăm tặng quà hầu hết các nhà từng cưu mang bộ đội.

Chập choạng hoàng hôn, chúng tôi về lại Đà Nẵng. Anh Lý nhắc lái xe đưa về thăm nhà anh Võ Ngọc Khuê - nguyên Chủ nhiệm chính trị Tỉnh đội Quảng Nam năm 1974-1975, về nghỉ hưu năm 1993. Hai vợ chồng anh Khuê ân cần đón tiếp người đồng đội, đồng thời là cấp trên của mình như người trong nhà thân thiết. Anh Khuê xởi lởi: “Bữa anh Lý làm hồ sơ đề nghị tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang, tôi viết nhận xét rất ngắn gọn, nhưng đầy đủ. Anh Lý là thương binh nặng loại 1, nhưng nhiều lần cấp trên cho ra Bắc chữa bệnh, nhưng vẫn kiên quyết ở lại bám dân, bám chiến trường. Trong một trận đánh lớn, quân ta chỉ một tiểu đoàn, do anh Lý chỉ huy đánh Hố Rổi ở xã Phú Thọ. Khi hành quân giáp vùng Quế Sơn, thì một đại đội trực thăng Sư đoàn 2 ngụy đánh phủ đầu. Trong khi vì lý do sức khỏe Tỉnh đội trưởng Huỳnh Bá Năm không chỉ huy được, thì anh Lý chỉ huy ra lệnh cấp thiết chiến đấu, cuối cùng diệt gọn đại đội trinh sát của địch, bắn rơi 2 máy bay. Trên đường về, cõng một thương binh đến vùng căn cứ. Anh Lý gan lỳ thực sự, cả tỉnh thừa nhận là dũng cảm, thông minh, rất quyết đoán, chỉ huy quyết liệt. Ngay trận Phú Ninh năm 1969, mặc dù địch có 1 tiểu đoàn Mỹ, 1 tiểu đoàn ngụy, mình thực lực ít, nhưng cuối cùng vẫn đánh và tiêu diệt được sinh lực địch. Trận này, thắng giòn giã, cả tỉnh Quảng Nam đều khâm phục, về tính nết, anh nóng, phê phán gay gắt là do một vài anh em ta nhát gan, hoặc sợ địch. Trong chiến đấu, anh em nào do dự là gay với anh Lý”.

Chị Trần Thị Bạn, vợ của anh Khuê - trong kháng chiến chống Mỹ, làm công tác binh địch vận, sau qua tuyên huấn, Phó ban Tuyên huấn Thị ủy Tam Kỳ thời anh Lý làm Thị đội trưởng, Phó Bí thư Thị ủy - bổ sung: Anh Lý có những cái tôi nhớ miết đến bây giờ. Tôi nhớ có lần, 3 giờ chiều cơm nước xong, tôi ra điểm tập kết, có loa pin để làm công tác địch vận. Hồi trước, tôi làm công tác Đoàn, ủy viên Ban chấp hành Huyện đoàn Bắc Tam Kỳ. Tôi gọi loa, hát cho binh lính địch nghe. Anh Lý tính nghiêm khắc, không chỉ với lính ta, mà lính địch nghe tiếng đều nể sợ. Một đồng chí ở V18 kể: Đi với anh Lý xuống cơ sở, địch phục kích, rúc kẽm gai ấp chiến lược, nổ lựu đạn. Có anh em ta sợ chạy thì anh Lý túm chân kéo lại. Anh bảo: Bắn nó, chứ chạy hả!”. Anh Lý nghe chị Bạn nói, cười ha hả: “Hồi tôi bị địch phục đầu sân bay Ngọc Bích năm 1969-1970. Tôi bình tĩnh đánh địch, nổ súng, ném lựu đạn. Trong lưng tôi lúc nào cũng lận từ 2 đến 3 quả lựu đạn US. Tôi hô xung phong, địch chạy, tôi cũng chạy”. Chị Bạn kể tiếp: “Có một kỷ niệm hồi đánh ở Trường Cửu - Kỳ Bích năm 1969-1970, địch pháo kích vào chỗ tôi quá trời, tôi lo hỏi sao không thấy anh Lý xuống hầm. Anh Lý cười: “Nó trúng thì đã trúng rồi, chứ nấp chi, tau mệt quá”. Anh Khuê tiếp lời: “Tỉnh đội Quảng Nam thường hành quân xuống vùng đông Thăng Bình, Tam Kỳ. Có nhiều trận không tháo gỡ vì tăng vào, trận địa tổn thất. Năm 1972, trận đó tôi cùng đi với anh Lý. Anh Lý bảo: Mình ở đây, địch gì cũng đánh được, nhưng lính hơi ngại xe tăng địch, tôi quyết tâm trận này diệt cho bằng được xe tăng. Đầu tiên tập trung hỏa lực đánh phủ đầu một trận trong đêm để lấy khí thế, trong khí đó phương án tác chiến phải xây dựng trận địa liên hoàn. Lực lượng xe tăng đông, mình gỡ công sự đầu, lại lui công sự sau đánh. Trận đầu tiên, ta diệt 4 xe tăng, 3 máy bay trực thăng; trận sau không vận, ta diệt 5 xe tăng, 6 trực thăng của sư đoàn không vận A-mê-ri-cơn”.

Chuyện về người anh hùng Lê Hải Lý như không muốn dứt ra với hai vợ chồng anh Khuê. Tôi nghĩ còn biết bao điều mà những người làm sách chúng tôi còn phải tiếp tục gặp nhiều đồng chí, đồng đội, đồng bào kể tiếp. Phải viết lại nhiều hơn nữa khi các anh chị đang còn sống, chứ không khéo, sau này lớp con cháu nghĩ đó như là chuyện cổ tích, hoặc huyền thoại mà thôi.

                                                                                                                                                               
Đà Nẵng, ngày 20 tháng 1 năm 2011
L.A.D


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2020, 04:27:58 pm
(https://i.imgur.com/0KmqcFB.jpg)

Đồng chí Võ Chí Công - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Khu ủy, Chính ủy Quân khu 5
chụp ảnh lưu niệm sau khi giao nhiệm vụ Tỉnh đội trưởng Quảng Nam cho đồng chí Lê Hải Lý tại Làng Hồi, năm 1974

(https://i.imgur.com/IQIUVPb.jpg?1)

Đồng chí Nguyễn Chánh - Phó Tư lệnh Quân khu 5 chụp ảnh lưu niệm với đồng chí Lê Hải Lý
sau khi giao nhiệm vụ chống địch lấn chiếm, tháng 1 năm 1974

(https://i.imgur.com/63u5sDH.jpg)

Đồng chí Lê Hải Lý trình bày kế hoạch tác chiến Xuân 1975 trước Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Nam

(https://i.imgur.com/J8WCViq.jpg)

Đồng chí Lê Duẩn - Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
thăm Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, năm 1976


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2020, 04:32:11 pm
(https://i.imgur.com/X3XyT0a.jpg?1)

Vị trí cổng tỉnh đường Quảng Ngãi của địch, nay là cổng của trụ sở Hội đồng nhân dân
và Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam

(https://i.imgur.com/tbQnpUN.jpg)

Đồng chí Lê Hải Lý và đồng chí Đỗ Sa đặt vòng hoa tại tượng đài Chiến thắng Núi Thành

(https://i.imgur.com/Lcn0FBQ.jpg)

Cùng đồng đội viếng nghĩa trang Trường Sơn, trong dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội


Tiêu đề: Người con đất Quảng kiên trung - Đại tá, anh hùng LLVTND Lê Hải Lý
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2020, 04:38:52 pm
(https://i.imgur.com/P72J2EL.jpg)

Cùng đồng đội viếng thăm, thắp nhang tại tượng đài Chiến thắng Bồ Bồ

(https://i.imgur.com/brhQJeM.jpg)

Đồng chí, đồng đội chúc mừng Đại tá Lê Hải Lý được tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, năm 2010

(https://i.imgur.com/SmdYFsb.jpg)

Đồng chí Lê Hải Lý nhận Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, ngày 31 tháng 8 năm 2010

(https://i.imgur.com/HhNd7i9.jpg?1)

Gia đình Đại tá Lê Hải Lý