Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 06 Tháng Mười, 2020, 09:21:39 pm



Tiêu đề: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Mười, 2020, 09:21:39 pm

        - Tên sách : Điệp viên mang bí số T31

        - Tác giả : Vũ Thanh Sơn

        - Nhà xuất bản Công an nhân dân


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Mười, 2020, 09:25:06 pm
 
I - NHỮNG NĂM THÁNG CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ QUÊ HƯƠNG

        Đỗ Văn Kha sinh năm Bính Dần (1926) trong một gia đình nông dân khá giả ở thông Ông Tố, xã Hồng Bàng, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên1 Cha là Đỗ Thiện Ca, mẹ là Vũ Thị Nghiêm.

        Lớn lên Kha theo học trường tiểu học Yên Mỹ, cùng lớp với anh Thái, người thôn Tráng Võ, xã Dân Chủ, huyện Yên Mỹ. Sau khi thi đỗ sectifica, Kha ra học trường thành trung ở Hà Nội. Tại thành phố này Kha có rất nhiều người trong họ nội, ngoại như ông cả Ỳ ở nhà 11 phố Lý Quốc Sư, gia đình ông bà Đức Long và người anh bên ngoại là Đặng Duy Tá ở 54C phố Hàng Đào.

        Niên học 1944-1945, Kha đang theo học thành trung năm thứ ba ở trường Thăng Long thì máy bay Mỹ thuộc phe Đồng Minh ném bom xuống Hà Nội để đánh quân Nhật, trường sơ tán về tỉnh Hà Đông. Ngày 9 tháng 3 năm 1945 Nhật đảo chính Pháp, trường đóng cửa. Kha phải đi tắt mấy cánh đồng xuống huyện Thanh Trì rồi đi đò qua Văn Giang sau đó đi bộ về huyện Yên Mỹ.

        Vào thời gian này, phong trào Việt Minh đã phát triển mạnh ở các thôn Trai Trang, Đỗ Xá, Ông Tố, Nghĩa Trang, Thụy Trang thuộc tổng Sài Trang, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên, trên trục đường 39 Hà Nội - Hưng Yên. Riêng ở thôn ông Tố (xã Sài Trang là tên chung của hai thôn Ông Tố và Đỗ Xá) đã có tổ chức Việt Minh do các ông Đặng Ngọc Luyện, Đặng Văn Tá... phụ trách. Ông Đỗ Thiện Ca giác ngộ cách mạng, lợi dụng chức lý trưởng đưa cán bộ cấp trên về rải truyền đơn tuyên truyền cho Mặt trận Việt Minh, hô hào nhân dân đứng lên đánh Pháp, đuổi Nhật, phá kho thóc của Liên đoàn thóc gạo của Nhật ở làng Giai Phậm, Lực Điền cứu đói cho dân.

        Ngày 19 tháng 8 năm 1945, Kha đã được chứng kiến nhân dân các xã thuộc tổng Sài Trang giương cao cờ đỏ sao vàng, vũ trang bằng giáo mác, gậy gộc kéo đi cướp huyện Yên Mỹ, bắt tri huyện Lại Tư. Cách mạng tuyên bố xóa bỏ chính quyền địch ở thôn Ông Tố, ông Đỗ Thiện Ca được Mặt trận Việt Minh và nhân dân tín nhiệm bầu làm ủy nhiệm thôn2. Thực hiện lời Kêu gọi của Hồ Chủ tịch: "giặc đói, giặc dốt là đồng minh của giặc ngoại xâm" và "người biết chữ dạy người chưa biết chữ, ai biết chữ thì dạy, ai chưa biết chữ thì học, anh dạy em, con dạy cha, vợ dạy chồng". Đỗ Văn Kha đã nhiệt tình tham gia phong trào Bình dân học vụ cho đến tháng 8-1946. Đến niên học 1946-1974 các trường học ở Hà Nội mở cửa, Đỗ Văn Kha ra học tiếp thành trung năm thứ tư ở trường tư thục Văn Lang.

        Học chưa được bao lâu thì theo tinh thần Hiệp định Sơ bộ mùng 6 tháng 3 năm 1946, lính Pháp thay thế quân Tưởng ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam để giải giáp quân đội Nhật. Với dã tâm xâm lược Việt Nam, quân Pháp đã gây ra nhiều vụ khiêu khích đẫm máu ở phố Hàng Bún, phố Quán Thánh... âm mưu lật đổ Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Ngày 19-12-1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến, các trường học đóng cửa, Kha bỏ học về quê.

        Tỉnh Hưng Yên tổ chức trận địa phòng ngự tại cầu Ghênh (xã Như Quỳnh, Văn Lâm), cầu này nằm trên đường số 5, đoạn Phú Thụy - Bần Yên Nhân, gọi là Mặt trận Bắc Hưng Yên. Lực lượng tham gia chiến đấu gồm có đại đội Văn Phụng thuộc trung đoàn Nam Long (e 44) của chiến khu 3, trung đội Cảnh vệ huyện Văn Lâm, trung đội Cảm tử quân huyện Yên Mỹ, trung đội Tự vệ chiến đấu huyện Mỹ Hào cùng tự vệ các xã Kinh Xuyên, Minh Khai (xã Như Quỳnh), Trung Ngọc, Thọ Bình (xã Tân Quang).

        Ngày 4-1-1947 địch sử dụng một tiểu đoàn có xe tăng dẫn đường từ Phú Thụy tiến xuống Như Quỳnh. 17 giờ chiều quân Pháp lọt vào trận địa của ta, quân ta nổ súng tiêu diệt gần 100 địch, thu 7 súng, 35 lựu đạn, quân Pháp phải rút về Dương Xá, Gia Lâm.

        Sau trận này bộ đội khu 3, tự vệ các huyện rút, ngày 5-1-1947 địch tăng quân chiếm được cầu Ghênh đánh xuống Bần Yên Nhân, Dị Sử. Ngày 16-1-1947 địch thọc xuống Yên Mỹ. Ngày 27-1- 1947 quân Pháp từ Bần Yên Nhân càn tới cầu Cheo, đơn vị Cảnh vệ tỉnh và tự vệ Thư Thị phục kích giết chết 25 tên địch. Xã Hồng Bàng và các xã dọc đường 39 nhận được mệnh lệnh triệt để tản cư. Cũng trong thời gian này ông Đỗ Thiện Ca trúng cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, được bầu làm Chủ tịch Mặt trận Liên Việt xã Hồng Bàng.

-------------
        1. Nay là thôn Ông Tố, thị trấn Yên Mỹ, huyện Yên Mỹ, Hưng Yên

        2. Chức như trưởng thôn ngày nay



Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Mười, 2020, 09:25:48 pm

        Tháng 4-1947 quân Pháp đánh chiếm rộng ra toàn huyện Yên Mỹ, lập nhiều đồn bốt của quân đội Liên hiệp Pháp, lập bốt quận Hành chính Yên Mỹ có lính Bảo Chính đoàn bảo vệ, bốt hương dũng ở thôn Đỗ Xá. Toàn bộ cư dân trong xã tản cư sang huyện Ân Thi và huyện Khoái Châu, Ủy ban kháng chiến, hành chính xã đóng ở thôn Trúc Đình, xã Quang Trung, huyện Ân Thi, Gia đình Kha cũng tản cư theo Ủy ban. Kha muốn đóng góp phần công sức của mình vào cuộc kháng chiến nên tham gia ban chấp hành Nông Dân, Thanh niên xã.

        Từ khi tham gia công tác, Kha thường đến các xã trong huyện Ân Thi có người xã Hồng Bàng tản cư, thăm hỏi đồng bào, giúp các chủ gia đình ổn định cuộc sống ở nơi tản cư để ban đêm trở về xã cày cấy, xung phong vào Vệ quốc đoàn, đi dân công hỏa tuyến. Ban đêm, khoảng 9-10 giờ, Kha cùng các cán bộ xã trở về điều tra các hoạt động của địch và bọn tay sai, những tên đầu hàng, cảnh cáo những kẻ tấp tểnh ra lập tề. Chừng, ba, bốn giờ sáng các anh lại rút khỏi xã về vùng tự do để tránh các cuộc càn quét, lùng sục của giặc.

        Tháng 9-1947, Đỗ Văn Kha được đồng chí Đặng Ngọc Luyện khi đó là chi Ủy viên giới thiệu đi học lớp cảm tình đảng Cộng sản Đông Dương. Kha được học chính cương, điều lệ của Đảng, anh hiểu rõ đứng trong hàng ngũ của đảng Cộng sản Đông Dương là phải công hiến trọn đời mình cho sự nghiệp đánh đuổi giặc Pháp, giành độc lập dân tộc, đánh đổ chế độ phong kiến đưa lại ruộng đất cho nông dân. Anh hiểu rõ cuộc chiến đấu chống đế quốc, phong kiến không còn là khẩu hiệu chung chung mà là cuộc chiến đấu thực sự, có thể bị giết, bị tù đầy, bị quân địch tra tấn bằng những cực hình tàn khốc. Trên thực tế đã có nhiều đồng chí trong xã, trong huyện, người bị giặc giết, người hy sinh trong ngục tù đế quốc. Song Đỗ Văn Kha vẫn quyết tâm theo đuổi lý tưởng của mình. Trải qua gần một năm tôi luyện trong vùng địch tạm chiếm, tháng 1-1948 ban Chấp hành chi ủy lúc đó do đồng chí Đặng Ngọc Luyện, người thôn Ông Tố, đồng chí Vũ Văn Thanh người thôn Nghĩa Trang là thường vụ chi ủy đã tổ chức lễ kết nạp Đỗ Văn Kha vào đảng Cộng sản Đông Dương.

        Từ khi trở thành đảng viên đảng cộng sản Đông Dương, Chi ủy giao cho Đỗ Văn Kha làm trưởng ban Tuyên huấn kiêm trưởng ban thông tin xã Hồng Bàng.

        Công tác tuyên truyền trong khi cả xã nằm trong vùng tạm chiếm bị giặc o ép, trong xã có đồn của quân Liên hiệp Pháp, quận hành chính, có lính Bảo chính đoàn bảo vệ và có bốt hương dũng. Chỉ huy các bốt bảo chính đoàn, hương dũng đêu là người trong xã, có kẻ từng là đảng viên đảng cộng sản Đông Dương, trung đội trưởng, tiểu đội trưởng du kích. Ngày đêm bọn lính và những tên mật vụ, chỉ điểm rình mò trong các thôn xóm, chỉ cần nhà nào, xóm nào có cán bộ kháng chiến là lập tức các sắc lính kéo tới vây kín sục sạo khắp các ngõ ngách tìm bắt cán bộ. Trở về xã dù đêm hay ngày cũng dễ dàng bị sa vào tay kẻ địch, nhưng Đỗ Văn Kha cũng như các cán bộ xã vẫn đêm đêm về các thôn Thụy Trang, Nghĩa Trang Trai Trang, Đỗ xá, Đồng La ông Tớ để rải truyền đơn, gây dựng cơ sở, cảnh cáo những kẻ làm tay sai cho Pháp, bắt một số người cộng tác với giặc, làm hại kháng chiến đưa ra vùng tự do giáo dục. Chi ủy, ủy ban kháng chiến, hành chính xã nhận thấy đi về giữa vùng tạm chiếm và vùng tự do dễ bị giặc phục kích, nên đã đào hầm bí mật ở nhà các cơ sở và ở ngay nhà mình để trú ẩn mỗi khi địch đi càn quét. Việc cán bộ xã bám trụ ngay ở xã mình, làng mình, nhà mình đã kịp thời, chỉ đạo nhân dân đấu tranh với địch và truyền đạt chỉ thị của Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh và huyện kịp thời.

        Ngày 4 tháng 3 âm lịch (4-1949) ông Đỗ Thiện Ca triệu tập cuộc họp du kích, thanh niên trong xã Hồng Bàng tản cư ở các xã miền Nam huyện Ân Thi để phổ biến lệnh phá hoại đoạn đường 39 qua địa phận của xã, chặn xe tiếp viện của quân Pháp từ các đồn Bần Yên Nhân, Thứa, Nho Lâm để bộ đội đánh đồn Lực Điền quân Pháp mới thiết lập, thì máy bay Pháp tới ném bom vào xã Xuân Trúc, ông Đỗ Thiện Ca bị trọng thương, trên đường cáng đến nhà thương Vân thì hy sinh.

        Đau xót trưốc sự ra đi vĩnh viễn của người cha, Kha càng căm thù giặc, càng tích cực công tác trả thù cho cha và biết bao đồng chí, đồng bào bị chúng giết hại.

        Từ tháng 4-1949, quân Pháp xây dựng bốt Lực Điền, trực tiếp khống chế khu Bắc Khoái Châu, Bắc Ân Thi. Cùng trong thời gian này Đội Mưu từng làm Huyện đội phó huyện Yên Mỹ làm phản cấu kết Đinh Văn Lực từng làm huyện đội phó huyện Văn Giang cùng Đội Tự, Đội Hảo, Đội Câu hợp thành nhóm phản động khét tiếng trong vùng, liên tiếp đánh phá các cơ sở kháng chiến ở các huyện phía Bắc tỉnh Hưng Yên.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Mười, 2020, 09:26:24 pm

        Tháng 5-1949, địch đóng bốt cảnh Lâm một làng phần lớn là dân Thiên Chúa giáo bị địch không chế, mua chuộc thành một trung tâm phản động, tiếp đó quân Pháp đóng bốt Tổ Hỏa biến đê 199 thành tuyến phòng thủ từ xa bảo vệ hành lang đường 5, chia cắt địa bàn phía Bắc, phía Nam tỉnh Hưng Yên. Các tên phản động trong các đảng Đại Việt, Việt Nam Quốc Dân đảng, Việt Nam Phục Quốc đứa công khai làm cho Pháp, đứa ngấm ngầm chỉ điểm, điên cuồng đánh phá cơ sở bí mật trong xã Hồng Bàng và toàn huyện Yên Mỹ. Hầu hết các bộ hoạt động trong vùng tạm chiếm một số bị giết, bị bắt số còn lại bị bật khỏi các xã. Có những đảng viên phụ trách một ban, một ngành chạy tới Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hóa, Bắc Giang, Thái Nguyên và định cư luôn ở đó.

        Trước tình hình đó, tháng 8-1949, Tỉnh ủy Hưng Yên phát động "Một tháng tiền tuyến" cán bộ cấp huyện, xã ở vùng tạm chiếm trở về địa phương mình bám dân, bám đất. Các đồng chí Tỉnh ủy viên cũng được phái về các huyện trọng điểm giúp Huyện ủy tuyên truyền thắng lợi của cách mạng, cảnh cáo bọn tay sai phản động, kêu gọi đồng bào mua "Đảm phụ quốc phòng" ủng hộ kháng chiến.

        Chấp hành chỉ thị của Tỉnh ủy, đồng chí Nguyễn Văn Trọng, Tỉnh ủy viên, bí thư Huyện ủy Yên Mỹ dẫn đoàn của bộ huyện và cán bộ các xã trong huyện từ tỉnh Hà Nam vượt qua đường số 1 và sông Hồng vào đất Kim Động, Khoái Châu rồi trở về Yên Mỹ. Huyện ủy chỉ thị cán bộ xã nào về xã đó, nếu xã mất cơ sở thì ở xã bên cạnh, ban đêm trở về gây dựng cơ sở, phát động quần chúng ủng hộ kháng chiến đấu tranh với địch. Trong chuyến đi này cán bộ xã Hồng Bàng có đồng chí Đặng Ngọc Luyện bí thư chi bộ kiêm chủ tịch xã, cán sự Huyện ủy và Đỗ Văn Kha, thường vụ chi ủy, thư ký kháng chiến trở về xã, Xã Hồng Bàng khi đó bị địch o ép, các cơ sở trong xã các anh xây dựng trước đây đều bị địch phá nát, số chưa bị lộ thì nằm yên nghe ngóng động tĩnh. Vì thế Luyện và Kha quyết định về thông Đông Xá (tên Nôm là làng Đội) xã Thanh Long chỉ cách xã Hồng Bàng con sông Nghĩa Trụ. Đồng chí Hỏa người thôn Đông Xá, bí thư chi bộ xã Thanh Long bố trí cho hai anh ở nhà ông Đợi. Ban ngày các anh ở trong buồng, có động thì xuống hầm bí mật, ban đêm vượt sông Nghĩa Trụ về xã gặp dân, xây dựng cơ sở, cảnh cáo bọn tề thân Pháp. Gần sáng các anh lại vượt sông về thôn Đông Xá. Hai anh được nhân dân bảo vệ, che chở nên vẫn an toàn.

        Ngày 11-12-1949, quân Pháp mở chiến dịch Adibolo (con quay) với lực lượng hai binh đoàn thiện chiến 4000 quân có máy bay, tầu chiến, đại bác yểm trợ càn quét vào vùng du kích của tỉnh. Tiếp đó là các trận càn Trái quýt, Trái chanh càn quét Nam Hưng Yên, Nam Hải Dương và Thái Bình.

        Lợi dụng lúc địch tập trung quân càn quét ở phía Nam, theo sự chỉ đạo của Tỉnh Ủy, bộ đội tỉnh phối hợp với bộ đội huyện Yên Mỹ và du kích tập trung các xã, nhiều lần tấn công đồn Bần Yên Nhân, đồn Thứa, đồn Nho Lâm (Giâm), bốt quận Yên Mỹ, bốt hương dũng Đỗ Xá, đốt chợ tề Lưu Trung, giải tán nhiều ban hội tề thân Pháp, bắt những người chống đối cách mạng đưa ra vùng tự do học tập, thôn Ông Tố cũng bắt chánh tổng tề thân Pháp ra vùng tự do học tập.

        Trước những hoạt động mạnh mẽ của lực lượng kháng chiến, bọn địch ở bốt quận, bốt Liên Hiệp Pháp, bốt Hương dũng đóng trên địa bàn xã Hồng Bàng co lại, tạo điều kiện cho các cán bộ xã về các thôn thuận lợi, an toàn hơn trước. Sau chiến thắng Cao-Bắc-Lạng Kha cùng đồng chí Luyện, đưa đồng chí Kỳ chủ tịch huyện về họp ở nhà cụ Đỗ Thuật Chức để tuyên truyền chiến thắng biên giới Cao-Bắc-Lạng. Sau cuộc nói chuyện của đồng chí chủ tịch huyện, đồng bào càng tăng thêm lòng tin tưởng vào cuộc kháng chiến nhất định thắng lợi, nhiều cụ trong xã đã cho con em đi tòng quân.

        Đầu năm 1950 Đội Tự là đảng viên Việt Nam Quốc dân đảng theo Pháp về làm đồn trưởng đồn Từ Hồ đã nhiều lần đưa quân về càn quét thôn Đông Xá là quê hương hắn, gây biết bao tội ác với cách mạng, với nhân dân. Trên địa bàn toàn tỉnh quân Pháp cũng điên cuồng khủng bố, chém giết, các đồng chí bí thư Huyện Ủy các huyện Khoái Châu, Kim Động, Tiên Lữ, thị xã Hưng Yên lần lượt hy sinh. Sau cái chết của đồng chí bí thư Huyện ủy Văn Giang không lâu thì đồng chí Nguyễn Văn Trọng bí thư Huyện Ủy Yên Mỹ cũng bị giặc cuốc hầm bắn chết. Nhiều cán bộ xã, thôn, đảng viên, quần chúng cách mạng bị chém giết, tù đầy, nhiều đồng chí phải bật khỏi địa phương.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Mười, 2020, 09:28:04 pm

        Trước tình hình giặc điên cuồng khủng bố phong trào, bắn giết cán bộ, quần chúng cách mạng, đồng chí Luyện và đồng chí Kha quyết định không thoát ly cơ sở để chạy ra vùng tự do mà đưa đồng chí Hỏa, người thôn Đông Xá, bí thư chi bộ xã Thanh Long về ở ngay cái hầm nổi trong gian dĩ nhà Kha. Cái hầm đó vốn có từ trước cách mạng tháng 8 năm 1945 không phải để trú ẩn mà để giấu mấy gánh vải nhà buôn vào những tháng củ mật... Căn hầm kín đáo, bất ngờ đến nỗi bọn lính sục sạo vào nhà thuôn hầm, tìm hầm mà không thấy. Căn hầm đó được giữ bí mật cho tới khi cải cách ruộng đất, khi đó Kha đang công tác ở Hà Nội, chỉ có mẹ và vợ Kha ở nhà đã bị qui là địa chủ, nhà bị tịch thu chia cho ba, bốn hộ nông dân, khi họ ngăn nhà mới phát hiện ra cái hầm nổi này. Nhà Kha còn một cái hầm bí mật nữa ở trong buồng thường bọn lính, mật thám đi xăm hầm chỉ xăm ở chung quanh giáp tường và ở bờ bụi, vườn cây, bò ao, Kha được mẹ và vợ giúp sức đã đào hầm bí mật ngay ở ngưỡng cửa khi bước vào trong buồng. Có động Kha và các đồng chí xuống hầm thì bà Vũ Thị Nghiêm, mẹ anh hoặc chị Nguyễn Thị Phượng,vợ anh đậy nắm hầm, nghi trang rồi ra sân ngồi khâu vá hay dỗ con, cháu ngủ. Cũng như căn hầm nổi ở gian dĩ, căn hầm ở ngưỡng cửa buồng đó tồn tại cho tới hòa bình lập lại và cải cách ruộng đất.

        Ngày 25 tháng 12 năm 1950, Kha cùng các đồng chí Luyện, Hỏa ẩn trong căn hầm nổi đó. Vào khoảng 9 giờ tối, Luyện ở lại nhà, còn Kha và Hỏa đi dến nhà một cơ sở ở ngõ trên. Hai người chủ quan cho rằng đã 9 giờ tối, lính không đi tuần nên không cử người của cơ sở đi trinh sát trước. Kha đi trước, Hỏa đi sau, đi qua điếm xóm Giữa, vượt tường mấy nhà rồi Kha để Hỏa ở lại nhà bà Quản Thành là nhà cơ sở có hầm bí mật, còn mình tiếp tục vượt tường sang nhà ông Thắng. Kha tới nhà ông Thắng thì cổng đóng, anh chưa kịp gọi thì chó sủa ầm ĩ. Bà Thắng ra mở cổng, cánh cổng chưa kịp mở thì không may lúc đó có một toán lính bốt quận Yên Mỹ đi ba tui ngoài đường 39 chỉ cách nhà bà Thắng khoảng 100 mét nghe tiếng chó sủa, liền xộc vào bấm đèn pin sáng trắng cả ngõ hẹp.

        Sự việc trên diễn ra quá bất ngà. Kha không kịp chạy lên cái hầm nổi trên hiên nhà Bà Thắng, đành đứng nép sau cánh cổng Bà Thắng nhanh tay khép cánh cổng lại để Kha có thời gian chạy vào trong nhà. Bọn lính xông vào co kéo, cánh cổng bật ra, chúng nhìn thấy Kha đứng nấp sau cánh cổng. Lập tức chúng bắn súng thị uy rồi xông vào bắt Kha, chúng đốt cháy một đống rơm báo cho bọn lính trên bốt quận biết. Nghe tiếng súng nổ lại thấy khói lửa bốc lên, chỉ trong chốc lát, bọn lính Bảo chính đoàn ở bốt quận hành chính, lính hương dũng kéo xuống bao vây kín làng. Chúng bắt vợ chồng ông Thắng trói lại vì tội chứa chấp Việt Minh. Bọn lính sang nhà bên thấy ông Phó Nhoẻn do ta đưa ra làm lý trưởng tề đang đánh tài bàn ở đó trói lại vì chúng cho là ông đưa Việt Minh về.

        Bắt được Đỗ Văn Kha, bọn lính mừng lắm, vì chúng đã rình rập cả năm nay không bắt được anh và các cán bộ khác. Mấy tên cai đội người cùng xã, từng cùng họp hành với anh đã bỏ kháng chiến dinh tê đi lính cho Pháp biết quá rõ anh là đảng viên là thư ký ủy ban kháng chiến hành chính xã .

        Tuy bị bắt nhưng Kha rất tự tin vì trong người anh không có tài liệu, không có vũ khí nên anh không nhận là cán bộ, đảng viên, mặc cho bọn lính nhao nhao nói anh là đảng viên, là cán bộ xã. Mặc cho chúng buộc tội, trước sau anh chỉ khai: "Tôi là học sinh đi học ở Thanh Hóa, nghe tin quản Pháp sắp tấn công Thanh Hóa, tôi sợ nên về nhà chứ không phải là cán bộ, đảng viên".

        Bọn lính bốt quận, bốt hương dũng còn lạ gì anh là đảng viên, là thư ký kháng chiến, nhưng anh một mực không nhận. Trước khi bọn lính giải Kha lên bốt quận, anh đã kịp đưa mắt cho ông Phó Nhoẻn là ông yên tâm anh không khai báo gì khác ngoài câu đã khai báo.

        Vừa giải Kha về đến bốt quận hành chính Yên Mỹ, bọn lính ác ôn, chúng không phải ai khác mà phần lớn là người trong xã - những kẻ khi thấy cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi đã vội vàng từ bỏ các tổ chức thân Nhật, thân Pháp mà chúng từng đeo đuổi lao vào các hoạt động cách mạng. Khi cách mạng gặp khó khăn chúng không ngần ngại trở giáo theo giặc điên cuồng chống phá cách mạng. Bọn chúng lôi anh ra bể nước, lột trần anh ra vật anh nằm ngửa xuống rồi đứa đè đầu, đứa đè chân, đặt que ngáng vào miệng anh đổ nước đầy bụng khiến anh sặc sụa, ú ớ kêu. Sau đó hai thằng đi giầy xăng đá dẫm lên bụng anh, cho nước phọt ra đằng mồm, cả đằng tai, đằng mũi. Cứ mỗi lần giận chân xuống chúng lại hỏi: “Chi bộ đảng cộng sản có những ai, đang ở đâu, Bí thư kiêm chủ tịch xã Đặng Ngọc Luyện ở đâu, những nhà nào ở thôn nào trong xã là cơ sở của cách mạng, mày về liên lạc với ai, gặp gỡ ở đâu, giao nhiệm vụ gì?"


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Mười, 2020, 09:30:37 pm

        Mặc cho chúng tra hỏi, hành hạ, trước sau Kha vẫn trả lời: "Tôi là học sinh đi học ở Thanh Hóa, tôi sợ nên về, tôi không phải là cán bộ, tôi không phải là đảng viên, những điều các ông hỏi đối với tôi xa lạ lắm!"

        Cứ mỗi lần anh trả lời như vậy chúng lại thượng cẳng chân, hạ cẳng tay, hai đôi giầy xăng đá dày xéo lên bụng anh, Chúng đánh cho đến khi anh chết ngất chúng mới dội nước vào người anh tuy vậy anh vẫn mê man, mãi tới tò mờ sáng anh mới hồi tỉnh.

        Không để anh kịp hoàn hồn, những kẻ trước đây đã từng gọi anh là anh em, là đồng chí lại lật anh nằm sấp xuống, bẻ quặt hai tay ra đằng sau, lấy sợi dây dù buộc hai ngón tay cái, hai ngón chân cái lại rồi luồn dây ra cái ròng rọc ở xà nhà kéo lên. Chúng chia làm hai bọn, mỗi bọn đứng một bên, đứa đá, đứa đấm cho anh bật sang bên kia, lại bị bọn bên kia đánh, chúng đánh cho đến khi máu mồm, máu mũi anh đổ ra. Cứ mỗi lần hạ tay xuống đánh vào cái thân thể đã mềm nhũn của anh chúng lại hỏi: “Mày bảo ở Thanh Hóa về sao không về nhà ngay lại tới xóm trên?" Kha trả lời: "Tôi không về nhà ngay vì tới cổng đình thấy có lính, nên phải vòng lên ngõ trên để về nhà, chưa kịp về đã bị các ông bắt!"

        Cho đi "tầu thủy" chán rồi lại đi "tàu bay" cũng không khai thác được gì hơn lời anh đã khai. Bọn chúng đem hòm điện ra tra nhưng anh vẫn trơ như đá, vững như đồng. Cuối cùng bọn lính quận bất lực, chúng áp giải anh lên bốt “sú séc tơ” của quân đội Liên hiệp Pháp ở Bần Yên nhân.

        Tên quan hai Lơ boong nhận được tin bốt quận Yên Mỹ bắt được một cán bộ Việt Minh quan trọng ở xã Hồng Bàng nằm ngay trên đất quận lỵ liền quyết định tự mình hỏi cung. Nhưng vốn là một sĩ quan phòng nhì dày dặn, hắn hiểu rõ phải uy hiếp tinh thần và cả thể xác đối phương trước khi đối mặt liền lệnh cho bọn tay chân “chăm sóc” anh cẩn thận.

        Thế là ròng rã suốt một ngày, một đêm, những trận đòn của bọn đầu trâu, mặt ngựa, không còn nhân tính đã tới tấp giáng vào cái thân hình thư sinh của Kha. Nhưng trước sau anh vẫn trả lời là "học sinh đi học ở Thanh Hóa nghe tin quân Pháp sắp tấn công nên bỏ về quê".

        Khi bọn chúng giải anh đến phòng nhì của sú séc tơ Bần Yên Nhân thì anh không bước nổi, hai tên phải xốc nách kéo anh đi. Lo boong chánh phòng nhì sú séc tơ Bần Yên Nhân làm bộ nhân đức quát bọn tay chân:

        - Người này phạm tội gì mà chúng bay hành hạ đến như vậy?

        Bọn tay chân trả lời:

        - Bẩm xếp, nó là Việt Minh gan cóc tía, đánh thế nào nó cũng không khai.

        Nghe tên tay chân trả lời như vậy, Kha cãi:

        - Không đúng, tôi chỉ là học sinh ban Tú tài học ở Thanh Hóa nghe tin quân Pháp sắp tấn công, tôi trở về quê.

        Lơ boong nghe nói anh là học sinh ban tú tài liền hỏi cung anh bằng tiếng Pháp. Kha trả lời rất thông thạo, cử chỉ đường hoàng, đĩnh đạc. Hôm đó Lơ boong chỉ hỏi cung chứ không đánh anh, nhưng không vì thế mà anh bớt đau đớn vì hai trận đòn ở bốt quận Yên Mỹ, và trận đòn ngày và đêm qua ở sú séc tơ này vẫn làm cho anh vô cùng đau đớn. Khi bọn lính giải anh về phòng giam anh thoáng thấy Giáo người anh em bên họ mẹ là nhân viên Phòng nhì ở sú séc tơ này thì anh lo hơn là mừng vì nếu người đó quên tình nghĩa anh em họ hàng tố cáo anh là đảng viên cộng sản, cán bộ kháng chiến thì chúng kết tội anh nặng, có thể bị chúng xử bắn, nhưng nếu anh ta xác nhận lời khai của anh là đúng thì chúng buộc tội anh nhẹ hơn.

        Buổi chiều hôm đó anh đang nằm trên nền buồng giam lạnh lẽo thì tên lính gác vào nói: "Phạm nhân Đỗ Văn Kha ra gặp người nhà": Anh biết nếu bị bắt dù chỉ là tình nghi cộng sản hay có quan hệ với kháng chiến gia đình cũng không được tới tiếp tế, đây chắc hẳn có sự dàn xếp của người anh em bên họ mẹ, nên theo tên lính gác bước ra. Anh tới phòng chờ thì người đến tiếp tế cho anh không phải ai khác mà là Nguyễn Thị Phượng người vợ chịu thương, chịu khó tần tảo của anh. Vừa nhìn thấy mặt mày anh sưng húp, thân hình tiều tụy, quần áo rách nát, máu và bùn đất cóc cách, chị đã òa lên khóc nức nở. Anh muốn để vợ yên tâm và để tên phòng nhì ngồi canh chừng ở đó không thể xem thường mình, anh an ủi VỢ: "Mình yên tâm không việc gì phải khóc lóc cả, tôi là học sinh ở Thanh Hóa tìm đường về quê chứ có phải là cán hộ đâu mà mình lo!" Chờ lúc tên phòng nhì không để ý, Kha hỏi "Ở nhà mọi người khỏe mạnh, bình yên cả chứ?"


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Mười, 2020, 09:32:04 pm

        Phượng biết ý chồng mình muôn nhắc tới ai liền trả lời: “Mọi người đều bình yên vô sự, ai ở đâu vẫn ở đấy!". Nghe vợ nói, Kha hiểu cơ quan và các đồng chí khác vẫn an toàn, đồng chí Luyện và đồng chí Hoả vẫn ở trong nhà anh. Vợ anh lấy trong làn ra một gói thuốc lá Phi líp và tò giấy một trăm đồng Đông Dương đến giúi vào tay tên phòng nhì, hắn bình thản bỏ các thứ vào túi áo rồi đi ra cửa đứng. Tranh thủ thời gian quý báu đó Phượng nói nhanh: “Các anh củng bằng lòng với mẹ đưa cho anh Giáo 5000 đồng Đông Dương để đút lót cho Lơ boong, nó chấp nhận lời khai của anh thì có khả năng được tha.” Kha thương mẹ và vợ đã phải chạy vạy số tiền lớn như vậy để lo lót cho anh song anh chỉ lo tiền mất tật mang, thì Phượng nói : “Anh Giáo nhờ tôi nói với mình dù có đánh đau đến đâu cũng phải cắn răng chịu đựng, giữ vững lời khai như cũ, anh ấy sẽ cố chạy chọt may ra có thể thoát.”

        Tuy không tin vào khả năng này lắm nhưng anh cũng nói để Phượng và mẹ yên tâm: “Mình đừng lo, trước sau tôi chỉ khai đúng sự thực như vậy thôi!". Kha vừa nói dứt lời thì tên phòng nhì bước vào, lạnh lùng nói: “Hết giờ thăm! đến lúc đó Phượng mới như sực nhớ ra liền đưa cho anh bộ quần áo, cả quần đùi, may ô, khăn mặt mới cùng cân đường hộp sữa. Tên phòng nhì kiểm tra thật kĩ áo quần rồi mới cho anh nhận.

        Chị Phượng bước ra khỏi cửa vẫn quay lại nhìn anh, nước mắt chảy chan hoà trên đôi gò má xạm đen. Tên lính gác dẫn anh trở lại phòng giam và trong hai ngày liền, anh không bị đưa đi tra tấn cũng không bị hỏi cung. Vào đầu giờ làm việc buổi chiều ngày thứ ba, Lơ boong sai tên lính gác đưa anh tới phòng mấy ngày trước đã hỏi cung anh, Anh quan sát thấy cặp mắt cú mèo của hắn không vằn những tia máu như lần trước, anh biết Giáo đã lót tay cho hắn 5000 đồng Đông Dương mới có được xử sự này. Lơ boong hỏi cung một lần nữa, anh trả lời như trước hắn bảo anh kí vào tờ cung. Thấy tờ cung có lợi cho mình anh anh liền kí sát vào dòng chữ cuối cùng, đề phòng hắn viết thêm những điều không có lợi cho mình. Lơ boong nhận lại bản cung rồi nói: “Đi học không làm Việt Minh là tốt, ăn tết xong phải lên làm việc cho quan lớn!" Kha biết rõ “làm việc cho quan lớn’’ tức là làm “phòng nhì” là chỉ điểm bắt cán bộ, đảng viên - những đồng chí của mình như Đặng Ngọc Luyện, như đồng chí Hỏa, như đồng chí Kỳ chủ tịch huyện và đánh phá cơ sở - những người đã đào hầm cho mình ở, quên cả tính mạng mình và gia đình để bảo vệ mình như bố con ông Đợi, vợ chồng ông Thắng, vợ chồng ông Quản Thành, ông Phó Nhoẻn... Kha biết Lơ boong không dễ dàng gì tin vào lời khai của anh, cũng không phải vì hắn tham 5000 đồng mà tha cho anh, mà hắn tha để các đồng chí của anh nghi ngờ anh đã đầu thú và sẽ buộc anh làm nhân viên phòng nhì. Điều đó dù có chết anh cũng quyết không làm, nhưng trước mắt Lơ boong - một con cáo già tình báo anh vẫn làm bộ vui vẻ nhận lời. Lơ boong viết cho anh tò giấy phóng thích nhưng lại kèm theo điều kiện “cứ ba ngày phải đi cùng Lý trưởng trình diện một lần và không được đi khỏi thôn". Hắn lại làm bộ nhân đạo nói: “Anh về phòng thu xếp tư trang một tiếng đồng hồ nữa lý trưởng sẽ tới bảo lãnh cho anh về.”

        Đúng một giờ sau sau tên lính gác dẫn anh ra phòng chờ, tới nơi anh đã thấy ông Pho Nhoẻn “lý trưởng tề ấm ố” ngồi chờ ở đó. Kha nhanh nhảu cất tiếng chào trước, ông Phó Nhoẻn mừng rỡ nói: “Sáng nay tôi nhận được giấy báo của quận lập tức lên đón anh ngay.”

        Vừa ra khỏi đồn Bần Yên Nhân, Kha thấy người nhẹ nhõm, anh như con chim sổ lồng, vươn vai hít khí trời đầy lồng ngực, ông Nhoẻn đưa anh vào hàng nước bên đường, anh đã nhìn thấy hai du kích mật dắt xe đạp từ trong quán ra lai hai người về.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Mười, 2020, 09:33:05 pm

II- GIA NHẬP ĐỘI TRINH SÁT NỘI THÀNH - MANG BÍ SỐ T31

        Trở về quê hương, Kha biết mình bị lộ, Lơ boong chắc chắn đã sai phái bọn tay chân bí mật theo dõi từng bước đi của anh, tất cả những người anh gặp đều bị chúng vào sổ đen, những nơi anh đến đều bị giám sát. Vì thế anh không thể hoạt động ở địa phương được liền báo cáo với đồng chí Đặng Ngọc Luyện xin chuyển địa bàn ra Hà Nội.

        Đặng Ngọc Luyện cũng thấy rõ Kha không thể ở lại địa phương được, nên chấp nhận đề nghị của anh. Luyện bố trí cho Kha đi chuyến ô tô vét Yên Mỹ - Long Biên vào 4 giờ 30 chiều, đi chuyến này an toàn vì bọn tuần cảnh và cảnh sát giao thông đến giờ này đã mệt mỏi nên chúng chỉ khám xét chiếu lệ.

        Tám giờ tối, khi biết Kha đã an toàn ở Hà Nội, Đặng Ngọc Luyện báo cho ông Tổng Tu và ông Phó Nhoẻn là Đỗ Văn Kha đã ra vùng kháng chiến, khoảng 10 giờ đêm hai ông nổi trông, mõ, tù và báo động và cho tuần đinh đốt đuốc chạy trên đường làng, sáng sớm lên báo với bốt quận Hành chính Yên Mỹ là đêm qua Việt Minh về bắt Đỗ Văn Kha.

        Mọi việc diễn ra đúng như dự kiến, bốt quận Yên Mỹ báo lên phòng nhì sú séc tơ Bần Yên Nhân là Việt Minh về bắt Đỗ Văn Kha. Lơ boong nhận được tin, hắn không buồn cũng không vui vì hắn không thực hiện được ý đồ mua chuộc Kha làm việc cho phòng nhì, nhưng cũng làm cho Việt Minh nghi ngờ Kha nên đã bắt đưa đi.

        Đến Hà Nội, Kha ở nhà ông bác là ông Cả Ỳ ở số nhà 11 phố Lý Quốc Sư, làm lý lịch mối với tên là Nguyễn Văn Sơn xin căn cước (tít).

        Sau khi có thẻ căn cước, bảo đảm cho sự đi lại được dễ dàng Kha bắt đầu đi tìm mấy người bạn cũ trước cũng học ở trường Thăng Long và trường Văn Lang và những người ở quê cùng hoạt động với anh mà anh biết là đang làm công tác nội thành để tìm đến tổ chức cách mạng. Xã Hồng Bàng có hàng trăm người ra cư trú ở Hà Nội để tránh bắt lính, đi buôn, người buôn chuyến ra Hà Nội cất hàng cũng nhiều, nên Kha phải tính toán làm sao tìm được người mình cần gặp và tránh gặp những người khác. Vì thế có nhiều lần gặp người cùng làng anh phải quay mặt đi. Nhưng nguy hiểm nhất là có lần anh đang ngồi ở ghế đá trên đường Cổ Ngư đọc báo Tia Sáng thì thoáng thấv Lơ boong chánh phòng nhì sú séc tơ Bần Yên Nhân đi với Giáo đang tiến tới chỗ anh ngồi, Kha vội vàng nâng cao tờ báo che kín mặt. Không rõ Giáo có nhìn thấy anh không nhưng lại dẫn Lơ boong rẽ theo lối khác. Từ đó Kha thấy việc mình ra đường rất dễ gặp nguy hiểm, nhưng không đi thì không thể tìm được người mình cần gặp, nên Kha vẫn phải mạo hiểm ra đường phố, có điều anh phải nhìn trước trông sau để tránh gặp những người ở quê từng biết mình nhất là đối với những kẻ đang làm việc cho địch.

        Mãi đến tháng 3-1951, Kha mới tình cờ gặp được anh anh Thái người thôn Tráng Võ cùng học trường Tiểu học Yên Mỹ và là bạn thân của anh. Khi Kha là chi ủy, phụ trách Tuyên huấn và là Thư ký ủy ban kháng chiến hành chính xã Hồng Bàng thì Thái công tác ở Văn phòng huyện ủy Yên Mỹ. Thái vốn nổi tiếng viết chữ đẹp và rõ ràng, nên Huyện ủy phân công anh viết chữ ngược trên đá và in li tô. Sau đó mấy lần anh đến Huyện ủy báo cáo thì được biết do yêu cầu của Thành ủy Hà Nội tuyển chọn một số thanh niên trí thức có gia đình hoặc thông thuộc địa hình Hà Nội ra làm công tác nội thành nên Huyện ủy điều Thái đi còn Thái công tác gì ở Hà Nội thì Kha không biết. Hai người bạn cũ gặp nhau đều mừng rỡ, Kha nói rõ trường hợp mình bị bắt, bị giam ở phòng nhì sú séc tơ Bần Yên Nhân, việc mình ra tù và hiện nay đang có hộ tịch ở Hà Nội với cái tên giả là Nguyễn Văn Sơn và nguyện vọng là được nhận công tác ở Hà Nội.

        Thái chăm chú nghe anh nói nhưng không cho biết nơi mình ở và mình đang làm gì mà chỉ trả lời chung chung là khi có dịp sẽ đến nhà số 11 phố Lý Quốc Sư thăm anh.

        Kha trở về nhà với biết bao hy vọng là đã chắp nối được với tổ chức. Nhưng phải một nửa tháng sau, anh vừa ở phố về thì ông Cả Ỳ cho anh biết tin là có người bạn học cũ ở trường Tiểu học Yên Mỹ đến đây không gặp cháu, anh ấy hẹn 6 giờ chiều nay cháu đến gặp anh ấy ở địa điểm cũ.

        Nhận được tin trên Kha rất mừng vì anh biết người đó chính là Thái, có lẽ trong nửa tháng qua Thái đã báo cáo với cấp trên về nguyện vọng của Kha và tổ chức đã thẩm tra xong việc anh bị bắt, việc anh thoát khỏi sú séc tơ Bần Yên Nhân nên đã quyết định thu nhận anh vào tổ chức.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Mười, 2020, 09:33:35 pm
 
        Sáu giờ kém hai mươi phút, Kha mặc bộ quần áo như lần gặp trước, dắt xe đạp đi vòng vèo qua phố Nhà thờ, qua Hàng Trông tới ngồi ở quán Thủy Tạ ăn kem cốc rồi tới tháp Nghênh phong trên bờ hồ Hoàn Kiếm trước cửa nhà Bưu điện thành phố Hà Nội. Anh đến đó trước hai phút đã thấy Thái ngồi trên ghế đá tay cầm tờ nhật trình liền bước lại gần chân tháp. Thái đứng lên dắt xe lững thững đi về phía hiệu Bôđêga, Kha cũng dắt xe làm như người thư nhàn đi ngắm cảnh theo sau. Qua khỏi ngã tư Hai Bà Trưng, Hàng Bài, Thái lên xe đạp về phố Bạch Mai, Kha cũng lững thững đạp theo sau giữ một khoảng cách chừng hai chục mét. Qua khỏi Ngõ Quỳnh, trời đã tối thì Thái rẽ vào một ngõ nhỏ tới một ngôi chùa rêu phong cổ kính, tới đây Thái xuống xe, nói với Kha: “Việc của anh đề nghị, tôi đã báo cáo với cấp trên, hôm nay ông Lê Toàn sẽ gặp anh giao nhiệm vụ". Nói rồi Thái dẫn Kha vào một ngôi nhà nhỏ ở sát chùa, một ngưòi đàn ông sấp sỉ 30 tuổi ra gặp anh. Kha suýt nữa kêu lên vì mừng rỡ, vì Lê Toàn chính là Phạm Văn Chang quê cũng ở huyện Yên Mỹ, là trưởng ban Tịch thu của huyện sau khi cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, cả hai người đều mừng rỡ gặp lại nhau sau 5 năm xa cách với bao biến động của đất nước.

        Về nguyên tắc bí mật, Đỗ Văn Kha tức Nguyễn Văn Sơn không được phép hỏi nhiều sự hoạt động của đồng chí lãnh đạo mình, anh chỉ biết Phạm Văn Chang hiện nay có tên mới là Lê Toàn đang là giáo sư Hán Văn trường Đại học Y-Dược Hà Nội. Ông có uy tín với giới trí thức và một số viên chức cao cấp ở Hà Nội. Mãi sau này Kha mới rõ ông Chang là đội trưởng công an, khu Hoàn Kiếm mang bí số T35 dưới quyền chỉ huy của quận Nội thành do đồng chí Kim Tuấn làm quận trưởng và đồng chí Vũ Tá Ngọc làm quận phó. Phạm Văn Chang biết Kha từ tháng 10-1945 khi anh tham gia dạy Bình Dân học vụ và biết rõ anh là Thường vụ chi Ủy xã, thư ký Ủy ban Kháng chiến hành chính xã. Sau nghe nghe Thái báo cáo về anh, ông đã cho người về Yên Mỹ thẩm tra thì sự việc hoàn toàn đúng như lời kể của Kha nên đã tiếp nhận vào công tác ở đội của mình và đặt bí số là T31.

        Ông giao cho Đỗ Văn Kha tức Nguyễn Văn Sơn, bí số T31 thu thập tin tức về âm mưu, tố chức, các chỉ thị mệnh lệnh của bộ Tư lệnh quân viễn chinh Pháp, các cuộc hành quân cản quét, hoạt động chính trị của các đảng phái phản động ở Hà Nội và ở các tỉnh khác.

        Thời gian đó cán bộ đi làm không có lương, đối với cán bộ hoạt động trong lòng địch thì chẳng những phải có lương ăn, còn phải mặc tươm tất, không những chỉ áo, quần mà còn giầy mũ sao cho hợp thời trang, lại còn phải có tiền để đãi bia, rượu, xem xi nê đối với từng đối tượng để khai thác tài liệu. Vì vậy T35 đã giới thiệu Nguyễn Văn Sơn đến dạy học cho con trai ông Sơn Thành ở số nhà 40 phố Hàng Bồ là cơ sở của mình. Ông Sơn Thành có cửa hiệu lớn bán đồ nhôm, đồ sứ , đồ pha lê nhập từ Pháp, Hồng Kông. Cửa hàng không những có uy tín lớn trong lớp người Việt giàu có mà các viên chức, sĩ quan người Pháp cũng thường đến mua hàng, Nguyễn Văn Sơn nhận thấy nếu mình tận dụng cơ hội để làm quen với giới thượng lưu và các sĩ quan Pháp sẽ có lợi trong công tác. Vì thế Sơn thường làm nhanh, gọn công việc của mình rồi xuống bán hàng giúp ông bà Sơn Thành. Các viên chức, sĩ quan Pháp rất thích được Sơn bán hàng vì anh nói tiếng Pháp thành thạo, cử chỉ lịch lãm. Anh còn tuỳ theo nghề nghiệp của khách cũng như sở thích của những người Pháp đến mua hàng để trò chuyện. Nếu khách là nhà binh thì anh kể chuyện Napônêông từ một đại úy pháo binh trở thành vị tướng chỉ huy pháo binh rồi trở thành Hoàng đế nước Pháp. Chuyện ông bị đày ra đảo khơi rồi lại trở về kinh đô khôi phục ngôi Hoàng đế của mình như thế nào. Đối với khách du lịch, anh lại ca ngợi dòng sông Sen thơ mộng. Đối với khách là phụ nữ anh lại ca ngợi Zane một nữ anh hùng nước Pháp. Nghe một người Việt Nam chỉ là người bán hàng lại hiểu biết nước cả về lịch sử địa lý cùng những thắng cảnh của nước mình, những người nghe chuyện đều vui. Nhưng phần cuối những câu chuyện của nước Pháp trên bờ Địa Trung Hải xa xôi đó bao giờ Sơn cũng kể về đất nước Việt Nam như khi nói đến Zanda thì anh nói từ năm 40 ở Việt Nam đã có Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa đánh đuổi ngoại xâm, lên làm vua, nói đến Napônêông ở thế kỷ XVIII thì anh lại nói ở Việt Nam trong thế kỷ XIII có Quốc công tiết chế Trần Quốc Tuấn ba lần đại phá quân Nguyên-Mông một đế chế đã gây kinh hoàng cho cả châu Âu. Khi ca ngợi vẻ đẹp của sông Sen anh lại nói về sông Hồng, sông Bạch Đằng, sông Cầu của Việt Nam.

        Sơn chỉ kể chuyện chứ không bình luận, so sánh, nhưng anh biết những trí thức Pháp, những người Pháp có lương tri sẽ thấy từ năm 40 tính theo Dương lịch, Việt Nam đã có người phụ nữ phất cờ khởi nghĩa, lên làm vua, khi đó nước Pháp còn là những bộ lạc riêng rẽ, mông muội. Người Pháp ca ngợi Napônêông là anh hùng nước Pháp nhưng đã bị bại trận ở nước Nga, bị người Anh đưa đi đày, còn Trần Quốc Tuấn đã ba lần chặn đứng các đạo quân hùng mạnh muốn từ Việt Nam làm đầu cầu đánh chiếm các nước ở Đông Nam châu Á. Còn sông Sen của nước Pháp chỉ thơ mộng nhưng các sông Hồng, sông Bạch Đằng, sông Cầu của Việt Nam thì vừa thơ mộng vừa là mồ chôn quân xâm lược.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười, 2020, 07:54:37 am

        Từ những cuộc tiếp xúc đó Sơn đã biết được sự bổ nhiệm một số quan chức Pháp trong guồng máy chiến tranh ở Việt Nam, biết được một số quan chức Pháp được điều từ Pháp sang hoặc từ Sài Gòn ra Hà Nội hay từ Hà Nội đi các tỉnh khác. Anh còn biết được số lượng máy bay từ Hà Nội đi các tỉnh khác. Anh còn biết được số lượng máy bay mới sắp được đưa sang chiến trường Bắc Kỳ sẽ được đưa tới phi trường Gia Lâm...

        Tháng 5-1952, Sơn thuyết phục Vũ Văn Kế là con ông bác họ bên mẹ là trung sĩ đánh máy bộ Tư lệnh Đệ tam quân khu Pháp ở Hà Nội cung cấp tài liệu mật của Bộ Chỉ huy quân sự Pháp cho cách mạng. Kế còn ngần ngại thì Sơn nói: “Việc anh làm là mỗi khi đánh máy những chỉ thị, mệnh lệnh gửi cho cấp dưới hoặc báo cáo của Đệ tam quân khu lên bộ chỉ huy quân đội Viễn chinh Pháp ở Đông Dương thi anh lấy một bản từ giấy than in sang, đừng lấy bản do con chữ đập vào từ băng in sang. Loại tài liệu thứ hai là lấy từ tủ bảo mật do tên đại úy giữ".

        Kế nhận lời và đã lấy được nhiều tài liệu do anh đánh máy và tài liệu để trong tủ bảo mật do viên đại úy người Việt tin cậy của tên quan Năm Pháp giao cho gửi tới hộp thư cho đồng chí T35. Trong số này có nhiều tài liệu quan trọng như "Chương trình hoạt động 2 năm của quân đội Liên Hiệp Pháp và quân đội của Chính phủ Quốc gia”. Tài liệu này được hoàn chỉnh sau cuộc họp của bộ Tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp và thủ tướng chính quyền Bảo Đại ngày 5-6-1952, thì tháng 11- 1952, đồng chí T35 nhận được tài liệu “Kế hoạch Nava 12 tháng” có liên quan đến chiến dịch Hà- Nam-Ninh. Các tài liệu trên thuộc lĩnh vực quân sự, nên sau khi T35 gửi ra vùng tự do lãnh đạo bộ Công an chuyển sang bộ Tổng Tham mưu quân đội để nghiên cứu và có kế hoạch đối phó.

        Theo nguyên tắc hoạt động bí mật thì Kế phải chuyển những tài liệu thu thập được đến hộp thư cho T35, nhưng có lần do tài liệu có tính khẩn cấp, phải báo cáo ra ngoài gấp, Kế đã đem tài liệu đó đến nhà số 11 phố Lý Quốc Sư giao trực tiếp cho T31.

        Việc Sơn chuyển tài liệu cho đồng chí T35 cũng nhiều phen nguy hiểm trong đó có lần sát đến giờ hẹn Sơn mới đạp xe đi. Vì vội vàng, phanh không ăn, xe của Sơn va vào xe của hiến binh Pháp. Anh hốt hoảng nhưng đã kịp thời trấn tĩnh, xin lỗi bằng tiếng Pháp vì gia đình anh có người ốm nặng đang nằm viện nên vội vàng. Tên đội trưởng đội hiến binh thấy Sơn nói thạo tiếng Pháp, cử chỉ lịch lãm nên bỏ qua.

        Thật hú vía vì nếu chúng khám cặp sẽ thấy tài liệu mật anh để trong đó. Chắc chắn anh sẽ bị chúng bắt và chúng dễ dàng tìm ra nơi cung cấp tài liệu và khủng bố các gia đình anh từng ở và quan hệ.

        Mỗi khi nhận được tài liệu do T31, Kế hoặc của cơ sở khác gửi đến, đồng chí T35 đều chuyển cho giao thông chuyến do công an Hà Nội tổ chức một đường dây từ vùng tự do vào cứ 15 ngày một chuyến. Nhưng khi có tài liệu quan trọng, khẩn cấp thì T35 giao cho người cộng sự, người đồng chí tin cậy cũng là vợ mình là chị Nguyễn Thị Uẩn bí danh Nguyễn Thị Phương chuyển ra vùng tự do.

        Trong những năm kháng chiến chống Pháp, công an Hà Nội đóng ở gần rừng Thông, Thanh Hóa đặt trạm liên lạc tiền phương ở Cốc Thôn tỉnh Ninh Bình.

        Từ Hà Nội muốn vào được trạm liên lạc Cốc Thôn thì phải qua huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Huyện Kim Bảng là vùng tạm chiếm nên địch đóng rất nhiều đồn bốt, kiểm soát gắt gao trong đó phải kể đến bốt Quế ở cạnh đường. Nhưng do bốt Quế có một điểm yếu là đặt ở chỗ đường gấp khúc, nên cán bộ ta đi công khai qua đây trà trộn vào dân qua khỏi lối rẽ vào đường gấp khúc là bọn lính gác ở bốt Quế không kiểm soát được. Từ đây trở vào là rừng thưa, đi vài cây số nữa là đến bến đò. Bên kia sông là Cốc Thôn thuộc tỉnh Ninh Bình nơi đặt trạm liên lạc tiền phương của công an Hà Nội. Mỗi lần đem tài liệu ra vùng tự do, chị Phương đều phải đi qua bốt Quế. Chị Phương tuy ở Hà Nội nhưng trang phục nửa tỉnh, nửa quê, áo tứ thân, khăn vấn trần. Mỗi khi nhận dem tài liệu ra trạm liên lạc Cốc Thôn, chị thường đi cùng với những người buôn bán từ nội thành ra vùng tự do. Tài liệu được giấu trong cái gối nhồi bông cùng cái màn và bộ quần áo bỏ trong tay nải khoác trên vai.

        Việc lấy tài liệu do Kế đánh máy như báo cáo của Bộ Tư lệnh Đệ tam quân khu gửi lên Bộ Tư lệnh quân viễn chinh Pháp hay chỉ thị của bộ Tư lệnh cho các đơn vị trực thuộc, các thống kê vũ khí, cùng các khí tài trang bị cho các đơn vị thì Kế lấy không khó khăn lắm còn các tài liệu để trong tủ bảo mật do một đại úy người Việt quản lý lấy khó khăn hơn và có lần do sơ suất để tên đại úy nghi tài liệu đó đã bị lấy đi một thời gian mới được trả lại chỗ cũ. Do chỉ nghi ngờ và không dám làm to chuyện, sợ bọn chỉ huy Pháp khiển trách, nên tên đại úy xử lý bằng cách chuyển cả sáu nhân viên dưới quyền mình ra mặt trận. Kế viết thư xin gặp đồng chí T35 để báo cáo trực tiếp. Đúng hạn, Kế đến điểm hẹn đã thấy đồng chí T35 chờ mình ở đó. Sau khi nghe Kế báo cáo diễn biến sự việc, đồng chí T35 nói với Kế:

        - Nếu anh có tinh thần cách mạng, thì dù đi đâu cũng có người liên lạc. Nếu anh không muốn đổi đi thì ta dùng tình cảm và tiền để mua chuộc tên đại úy đó bằng cách là anh viết sẵn đơn kêu với nó là nhà có mẹ già, vợ dại và hai con thơ đi xa sẽ gặp khó khăn. Khi tới nhà hắn nhớ đem cả bà cụ, vợ con. Trong khi nói anh phải để vào đĩa 4.000 đồng Đông Dương để biếu nó.

        Kê nghe lời làm đúng như vậy quả nhiên tên đại úy tham tiền và cũng thông cảm với khó khăn của gia đình anh khi anh phải đi xa, nên đã để anh ở lại, chỉ chuyển năm người kia đi.

        Từ đó Kế lấy tài liệu mật ở tủ bảo mật của Bộ Tư lệnh đệ tam quân khu rất thận trọng, khi biết chắc không có kẻ theo dõi, không bị gài bẫy mới lấy và không để lại dấu vết khả nghi. Theo lời đồng chí T35 dặn đối với những tài liệu nó bảo vệ nghiêm mật thì chỉ cần đọc rồi tóm tắt nội dung chính, sau đó để trả lại chỗ cũ.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười, 2020, 07:57:18 am

III- PHÁI KHIỂN T31 VÀO ĐẢNG ĐẠI VIỆT - QUỐC DÂN ĐẢNG

        Anh Nguyễn Văn Sự chiến sĩ an ninh hoạt động nội thành mang bí số T15 ngụy trang dưới cái vỏ bọc thợ đánh vécni và quét vôi ve, nhà ở khu Lương Yên. Phạm Văn Chang thường đến nhà Sự nghe anh báo cáo việc điều tra các hoạt động của quân Pháp.

        Nơi Sự ở gần khu nhà Viện trợ Mỹ có nhiều sĩ quan ngụy quân ở. Tháng 10-1952, T15 đến nhà Sự thấy một sĩ quan Địa phương quân ở đó. Sự giới thiệu với anh đó là Trần Khắc và giới thiệu ông Chang là ông giáo quen biết từ lâu. Vì phép lịch sự Chang cũng chào hỏi xã giao rồi anh khéo léo gợi chuyện để viên sĩ quan Địa phương quân đó nói về mình. Còn khi Trần Khắc hỏi lại anh chỉ ừ ào cho qua chuyện. Khi Trần Khắc ra về, T15 báo cáo với chỉ huy của mình là Trần Khắc đang rủ rê mình vào lính. Điều đáng lưu ý là Trần Khắc và vài người nữa mặc quần áo lính nhưng không thấy đến doanh trại, không phải ra trận họ thường chê bai Pháp, ca ngợi Mỹ và có những cuộc họp kín.

        Qua báo cáo của T15, Phạm Văn Chang phán đoán đây là một đảng phái phản động thân Mỹ liền viết báo cáo về cơ quan cấp trên. Song anhnhận được chỉ thị của lã nh đạo công an Hà Nội là nhóm “4T” phải điều tra rõ ràng nó là đảng phái gì, xu hướng thân Pháp hay thân Mỹ, lấy được điều lệ, chương trình hoạt động của chúng gửi ra thì càng tốt.

        Thực hiện mệnh lệnh của cấp trên, T35 đồng ý cho T15 vào Địa phương quân của Trần Khắc để điều tra về tổ chức mà anh nghi vẫn là đảng phái chính trị thân Mỹ này. Trần Khắc làm sổ lính, phát quân trang, lương tháng cho Sự. Tuy anh không phải tập luyện quân sự, không phải ra trận như những người khác, nhưng chúng cũng không cho anh dự các cuộc họp kín của tổ chức này.

        Một tháng sau, T15 báo cáo với T35 là “Trần Khắc bảo anh tìm người tin cậy tuyển vào lính để từ đó chọn người có tài có lòng trung thành với lý tưởng cách mạng quốc gia vào tổ chức nhưng anh củng không rõ đó là tổ chức gì".

        T35 thấy đây là cơ hội thuận lợi để đưa thêm người của mình vào tổ chức của chúng, để điều tra rõ rằng cái tổ chức bí mật đó Chang liền trả lời: “Được, tôi sẽ cho người!"

        Mấy ngày sau T15 cho Thái, một chiến sĩ an ninh trong đội của mình đến cùng đi làm với Sự để có cơ hội thì Sự giới thiệu Thái với Trần Khắc. T15 cũng đến nhà chơi, lần này anh gặp Trần Khắc và một người nữa, mà Khắc giới thiệu là Trần Cập người anh em ở quê mới lên chơi. T15 nghi ngờ về thái độ chính trị của tên này liền giao cho Sự và Thái điều tra lai lịch của hắn. Nửa tháng sau hai anh báo cáo với T35 là Trần Cập không phải là anh em với Trần Khắc mà lại là một cán bộ kháng chiến cấp huyện ở tỉnh Nam Định bị quân Pháp bắt được trong một trận càn. Khi bị địch tra hỏi, Cập run sợ đã khai một số điều về tổ chức kháng chiến. Bọn tình báo nhận thấy có thể chiêu hàng Trần Cập nên đã giao hắn cho đảng Đại Việt -  Quốc Dân đảng nghiên cứu, sử dụng về sau. Bác sĩ Đặng Văn Sung cầm đầu đảng giao tên tù đang giao động đó cho Trần Khắc thực hiện mưu đồ trên. Từ đó Trần Cập sống ở nhà Trần Khắc như một tù nhân bị giam lỏng, còn Trần Khắc thì cứ nay một ít, mai một ít đưa con người đã từng tham gia kháng chiến đó vào các cuộc ăn chơi trác táng va dần dần chịu sự sai phái của Trần Khắc.

        Do Sự nói tốt về Thái, Trần Khắc đã tuyển mộ Thái vào Địa phương quân, nhưng cũng như Sự, anh cũng chưa được chúng kết nạp vào tổ chức chính trị của chúng.

        Đồng chí T35 đến nhà Sự chơi gặp Trần Khắc, Khắc mời anh đến nhà chơi và anh đã nhận lời.

        Cuối năm 1953 Sự báo cho anh biết tin, là bố Trần Khắc chết, Chang thấy đây là thời cơ để chiếm được lòng tin của hắn liền sửa một cái lễ viếng rất hậu gồm một bức trướng to, đẹp, tám chai rượu vang cùng trà thuốc, hương hoa.

        Hai người đem đồ lễ đến phúng viếng. Trần Khắc mặc đồ đại tang đứng đáp lễ khách tới viếng cha mình. Thấy vị giáo sư đáng kính cùng đi với Sự với cái lễ hậu hĩnh, làm cho Trần Khắc rất xúc động, hắn giới thiệu với khách tới viếng đây là vị giáo sư đáng kính ở Hà Nội. Phạm Văn Chang đáp lễ mọi người rồi tiến tới bàn thờ người đã khuất, trong khi Trần Khắc trân trọng đón từ tay Sự thì Phạm Văn Chang thắp hương vái vong linh người quá cố nói mấy lời chia buồn với tang chủ rồi theo chủ nhân ra bàn ngồi uống nước.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười, 2020, 08:01:45 am

        Vì không muốn ở lâu để nhiều người biết mình có mặt trong đám tang này, Chang đứng lên chào tang chủ rồi cùng Sự ra về. Trên đường đi, Chang dặn Sự:

        - Anh nhớ là phải tránh không ăn uống, ở đám nhà hắn, hôm nay ta biện lễ hậu như vậy, chắc chắn ngày mai cúng ba ngay thế nào Khắc cũng mời mình đến “ăn đoán” (tức ăn ba ngày), anh hãy dặn chị ấy nói là anh bị ốm phải đi cấp cứu tối hôm qua, hôm nay hãy còn mệt phải kiêng gió máy, còn về tôi, anh nói là tôi phải đến lớp dạy học.

        Nghe Chang nói như vậy, hôm sau anh nằm ở nhà không đi làm để có cớ nói với gia đình Trần Khắc là mình bị ốm và dặn vợ trả lời đúng như Phạm Văn Chang đã dặn. Quả đúng như phán đoán của Chang, tám giờ sáng, Trần Khắc cho mời vợ chồng Sự và nhờ Sự mời giúp giáo sư Phạm Văn Chang đến “ăn đoán”. Vợ anh trả lời đúng như lời chồng đã dặn.

        Đúng bảy ngày sau đám tang ấy, Trần Khắc đã cho ngươi tìm ra nhà ở của Phạm Văn Chang hắn đã dụng tâm gặp Chang, liền đi xe đạp ngược chiều vào giờ anh đi làm về. Vừa nhìn thấy anh, Trần Khắc làm như vô tình gặp anh, dừng xe lại móc túi đưa cho anh một cuốn sách nhỏ, bìa mầu xanh, không đề tên sách, nói:

        - Tôi theo dõi anh gần một năm nay, nhưng chỉ nói chuyện bình thường, chưa lúc nào nói chuyện chính trị. Tôi có cái này cho anh xem, nếu anh thích thì thứ năm đến trả tôi, đổi lấy tài liệu khác.

        Nói xong Khắc đạp xe đi. Chang linh cảm đây là một tài liệu quan trọng có liên quan đến tổ chức phản động mà cấp trên giao cho nhóm “4 T” của anh phải điều tra. Nghĩ thế Chang về tới nhà, đóng kín cửa lại đọc thì trang đầu là dòng chữ lớn: “Điều lệ đảng Đại Việt - Quốc Dân đảng". Chang mừng lắm, vì anh đã biết tên cái tổ chức đảng phái phản động này và còn có tài liệu để báo cáo với cấp trên. Chang càng đọc càng thấy rõ xu hướng của đảng Đại Việt - Quốc Dân đảng một cái tổ chức chính trị rút nội dung từ đảng Đại Việt thân Nhật và Việt Nam Quốc dân đảng thân Tàu sau bỏ Tàu theo Pháp thành một cái đảng mới không thân Nhật cũng chẳng thân Tàu mà lệ thuộc hoàn toàn vào Mỹ. Tên đảng, tôn chỉ mục đích, điều lệ của cái đảng mới này khác hai đảng cũ nhưng nó lại giống hai đảng cũ là cam tâm làm tay sai cho ngoại bang, bán rẻ Tổ quốc, bán rẻ dân tộc cho kẻ xâm lược để đổi lấy vinh hoa, phú qúy. Chang thấy cần phải báo cáo gấp tài liệu này ra ngoài liền đem cuốn sách đến cho T31, nói:

        - Anh đến ngay 40 phố Hàng Bồ đánh máy, chậm nhất là thứ tư phải xong, đưa cho tôi.

        Sơn lướt mắt nhìn tên cuốn sách, anh cũng nhận ra đây là một tài liệu quan trọng mà nhóm của anh đã phải mất công điều tra nhiều tháng vẫn chưa tìm ra, liền đến ngay nhà ông Sơn Thành đánh máy - vì cửa hàng ông buôn máy chữ và có máy chữ để đánh thư từ giao dịch. Anh biết đây là tài liệu lãnh đạo đang cần nên đánh gấp, đến 18 giờ ngày thứ ba đã giao cho đồng chí T35.

        Vì đây là tài liệu quan trọng phải khẩn trương báo cáo cấp trên không thể chờ giao thông tuyến mà anh giao ngay cho liên lạc viên Nguyễn Thị Phương đưa ra trạm liên lạc Cốc Thôn ngay sáng hôm sau. Đúng sáng thứ năm, Chang đem cuốn "Điều lệ Đại Việt - Quốc Dân đảng" đến nhà Trần Khắc, anh không nói nhiều nhưng tỏ thái độ hài lòng. Chủ nhà vui vẻ nhận lại cuốn Điều lệ và đưa cho anh cuốn "Chủ nghĩa sinh tồn" và nói:

        - Anh cứ nghiên cứu kỹ, có gì chưa rõ ràng thì trao đổi với tôi vào thứ năm hàng tuần.

        Chang đem cuốn sách ra về, đọc xong anh càng thấy rõ xu hướng của đảng Đại Việt - Quốc Dân đảng là thân Mỹ, muốn dựa vào Mỹ hất cẳng Pháp, tranh giành ảnh hưởng với phe cánh Ngô Đình Diệm và các đảng phái chính trị khác để độc quyền làm tôi tớ cho Mỹ. Xem xong anh lại giao cho T31 đánh máy rồi đưa cho Nguyễn Thị Phương chuyển ra vùng tự do. Cứ như vậy bằng cách lấp lửng, Chang đã năm lần được tài liệu tối mật của đảng phản động này, đưa ra vùng tự do để các đồng chí lãnh đạo lập án. Lãnh đạo Công an Hà Nội nhận được các tài liệu trên đã chỉ đạo T35 rất cụ thể: "Không được vào tổ chức của địch, không được nhận nhiệm vụ của địch; tiếp tục giao thiệp gây tín nhiệm để sau này đưa thêm người vào tổ chức của chúng".

--------------
        1. Phạm Văn Chang ở nhà số 47 phố Lò Sũ đâv là nhà của bác sĩ Đặng Vũ Hỷ đi kháng chiến ở Việt Bắc, giao nhà cho em gái có chồng tên là Nguyễn Đức Thu. Trong chuyến ra Việt Bắc công tác, Chang đã gặp bác sĩ Hỷ, ông Hỷ nhò Chang cầm lá thư của ông gửi cho em gái, trong thư có nói thu xếp cho ông Chang thuê một phòng nhỏ ở tầng dưới. Vợ chồng người em bác sỹ Hỷ đã nghé lời anh cho Chang thuê một căn phòng rộng 12 mét vuông, vì thế Chang dọn đến ở nhưng vợ anh là Nguyễn Thị Uẩn bí danh là Nguyễn Thị Phương vẫn chưa đến.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười, 2020, 08:04:08 am

        Sau khi đã đưa hết những tài liệu cơ bản của đảng Đại Việt - Quốc Dân đảng cho Phạm Văn Chang nghiên cứu, Trần Khắc hỏi:

        - Anh đã đọc Điều lệ, chính cương cùng các tài liệu khác của đảng, chúng tôi mời anh gia nhập đảng, anh thấy thê nào?

        T35 đã được chỉ thị của cấp trên, nên tìm cách thoái thác:

        - Mình cũng thích hoạt động chính trị lắm, nhưng mình ốm, bác sĩ nghi mình lao phổi, để chạy chữa xong mình sẽ vào.

        Nghe Chang nói thế, Trần Khắc sốt sắng:

        - Tôi nay anh ở nhà, tôi lái xe đến đón anh đi bệnh viện Võ Tánh điều trị.

        Chang thấy nếu để chúng đưa mình vào bệnh viện thì lộ là mình nói dối, lại mang ơn chúng nên trả lời:

        - Tôi dạy học có lương, để nhường suất đó cho anh em khác.

        Bộ mặt Trần Khắc có vẻ quan trọng nói:

        - Anh là người có uy tín trong giới trí thức, có năng lực, nếu anh vào đảng này sẽ trở thành cán bộ cao cấp của đảng và có thể là bộ trưởng một bộ trong chính phủ mới.

        Đó là việc bất ngờ với T35, anh chưa thể trả lời ngay được mà phải báo cáo cấp trên xin chỉ thị, song anh biết gần một tháng nay đảng này đang khuyếch trương thế lực với các đảng thân đế quốc khác nên đã kết nạp nhiều đảng viên mới trong đó có T15 và T20, nhưng chúng muốn trong đảng có nhiều trí thức nên cố lôi kéo anh. Anh đã nhận được chỉ thị của cấp trên là không được tham gia vào tổ chức của địch, mà từ chối mãi thì chúng sinh nghi, anh nghĩ ngay T31 là người thông thạo tiếng Pháp, biết tiếng Anh có thể thay thế mình được, liền làm bộ vui vẻ nói:

        - Để đáp lại lòng tốt của các anh, tôi xin giới thiệu một ông giáo khác, còn tôi điều trị khỏi bệnh sẽ vào sau.

        Trần Khắc thấy mình tuyên truyền một giáo sư mà những hai giáo sư nên bằng lòng ngay:

        - Thế cũng được, vậy thứ năm tới anh cho tôi gặp mặt vị giáo sư đó được không?

        Chang trả lời:

        - Tôi sẽ bố trí cho anh gặp.

        Ngay đêm đó Chang viết báo cáo về sự việc trên để sáng hôm sau Nguyễn Thị Phương đem ra trạm liên lạc Cốc Thôn. Ba ngày sau chị Phương mang chỉ thị của cấp trên về Hà Nội với nôi dung "T35 tiếp tục quan hệ với tổ chức chính trị này nhưng không được vào tổ chức đó mà tìm cách đưa người vào".

        T35 nhận thấy mình đã làm đúng như chỉ thị của cấp trên, liền đến gặp T31 để phát triển anh vào đảng Đại Việt - Quốc Dân đảng. Song T31 còn phân vân chưa trả lời dứt khoát mình có vào đảng đó hay không. Hiểu được tâm tư của T31 là không muốn vào đảng phản động mà mình đang chiến đấu để tiêu diệt nó, nên T35 không thúc ép mà để anh tự suy nghĩ, tự nhận nhiệm vụ. Lần thứ hai Chang đến hỏi, Sơn cũng vẫn từ chối, cũng không nhận lời chỉ xin có thời gian suy nghĩ. Thời gian Chang phải trả lời Trần Khắc rất gấp, nên lần thứ ba, anh đến nhà Sơn đúng vào sáng thứ năm

        - Hôm nay anh đi với tôi...

        Sơn lưỡng lự:

        - Anh đưa em đi đâu?

        Chang trả lời:

        - Ta đến chỗ bàn với anh hôm nọ.

        Sơn đành lấy xe đạp cùng Chang đi xuống Lương Yên. Tới cống nhà Trần Khắc, Sơn ngần ngại:

        - Anh vào một mình, em về đã !

        Chang động viên:

        - Ta mang tiếng là giáo sư, có mới quan hệ rộng, nay đã đến nhà nó, ta cứ vào chơi để mở rộng tầm ngoại giao.

        Sơn đành theo Chang vào trong nhà. Trần Khắc mặc áo quần tươm tất đang đi đi lại lại trên hè có vẻ nóng ruột lắm, vừa thấy Chang cùng đi với một thanh niên điển trai, lịch lãm thì đoán ngay đây là vị giáo sư mà Chang nói đến trong cuộc gặp mặt lần trước, liền vui vẻ bước ra tận cổng đón rất nhiệt tình, Trần Cập đang ở trong nhà cũng chạy ra. Chang nói với cả hai:

        - Giữ đúng lời giao ước, hôm nay tôi đưa vị giáo sư đến gặp các anh.

        Trần Khắc mời hai người vào ghế ngồi rồi nói:

        - Tôi rất mừng được gặp hai vị, mong rằng chúng ta sẽ mãi mãi ở bên nhau.

        Giọng Trần Cập hớn hở:

        - Hay quá, tổ chức rất mừng được ông giáo tham gia - rồi hắn hướng vê phía Chang, nói tiếp: -  Vâng, xin mời cả hai giáo sư cùng vào cho vui.

        Chang thấy mấy lần trước anh đến, Khắc còn sai Cập đun nước, nay nó lại cùng ngồi với Khắc tiếp mình tự nhiên thì anh biết Trần Cập từ chỗ giao động, ngả nghiêng nay đã hoàn toàn bán mình cho địch, trở thành người tin cậy của cái đảng phản động này, nhưng vẫn làm bộ nhã nhặn đáp:

        - Tôi hãy giới thiệu với các anh vị giáo sư này đã, còn tôi khi nào chữa khỏi bệnh sẽ tham gia.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười, 2020, 08:04:50 am

        Vừa cạn một tuần trà thì Trần Khắc đứng lên xin phép vắng mặt vì có cuộc họp đột suất, giao cho Trần Cập tiếp. Nghe Khắc nói, Chang thấy nhận định của mình về tên đầu hàng này là hoàn toàn chính xác. Trong khi trò chuyện, Trần Cập không hề nhắc đến cái đảng mà hắn mới vào và đang tận tâm phục vụ và cố lôi kéo hai vị khách này mà chỉ hỏi thân thế, quê quán, công việc làm ăn của Sơn và hỏi kĩ cả sở thích cá nhân, Sơn hiểu rằng đây là một cách điều tra lý kịch của bọn gián điệp nên trả lời đúng như bản lý lịch ghi trong khi làm căn cước, anh rất thận trọng không để một sơ hở nào khiến hắn nghi ngờ. Phạm Văn Chang thấy Trần Cập đang dùng mánh khoé truyện trò thân mật để điều tra lai lịch Sơn, thì cũng tương kế, tựu kê làm ra vẻ thân tình hỏi thăm gia đình Cập cùng anh em hắn ở Nam Định để xác minh lý lịch của hắn mà T15 và T20 đã cung cấp. Sơn hiểu điều đó nên cũng hòa vào câu chuyện một cách tự nhiên. Qua những lời truyện trò, cả Chang và Sơn đều cảm thấy hắn tin tưởng hoàn toàn ở hai anh, không dấu diếm điều gì. Cuối cùng Trần Cập tâm sự: "Tôi trước kia theo Việt Minh thì có Liên Xô, Tầu giúp, nay tôi theo đảng mới thì có Mỹ và Pháp là hai cường quốc giúp đỡ tận tình". Điều thổ lộ của Trần Cập ngoài mong muốn của hai chiến sĩ an ninh. Chang thấy hắn nói thật lòng, anh tiến thêm một bước nữa hỏi:

        - Vậy chức vụ trong đảng mới của anh có hơn gì hồi theo Việt Minh không?

        Trần Cập nhoẻn cười rồi khoe:

        - Hơn chứ, hồi theo Việt Minh tôi tuy là cán bộ huyện nhưng chẳng có tên tuổi gì, họ sai gì tôi làm việc đó, còn nay tôi phụ trách công tác tuyên truyền của đảng bộ Hà Nội.

        Ba người trò chuyện thân tình như những tri kỉ lâu ngày mới gặp lại nhau kéo dài suốt ba tiếng đồng hồ. Khi ra về, Chang hỏi Sơn:

        - Anh thấy buổi tiếp súc này có ích không?

        Sơn phấn khởi trả lời:

        - Giá trị lắm, chỉ riêng việc bắt Trần Cập khai lý lịch, nếu ta đi điều tra ít nhất cũng phải mất 6 tháng trời.

        Chang nói:

        - Tôi truyền đạt chỉ thị của cấp trên giao nhiệm vụ cho anh luồn vào hàng ngũ địch cũng là tạo thời cơ để anh khai thác được nhiều tài liệu bí mật của chúng để phục vụ việc đánh chúng có hiệu quả lớn hơn.

        Qua buổi tiếp xúc với Trần Cập, Sơn thấy hiệu quả công việc rất cao mặc dù nó vô cùng nguy hiểm, đòi hỏi mình phải luôn luôn tỉnh táo, tránh được tất cả các cạm bẫy của chúng giương lên thì mình sẽ giành được thắng lợi, nên tâm sự:

        - Tôi thực lòng không muốn vào đảng phái phản động này, nhưng vì ý thức của một đảng viên cộng sản, tôi xin chấp hành sự phân công của tổ chức.

        Chang vui mừng nói:

        - Vậy anh hay chuẩn bị tinh thần đi, chậm nhất là mươi ngày nữa chúng sẽ kết nạp anh.

        Chia tay với Sơn Chang, về ngay nhà mình ở số 47 phố Lò Sũ đóng kín cửa viết báo cáo lý lịch của Trần Cập để gửi ra ban lãnh đạo công an Hà Nội ở vùng tự do. Ít lâu sau anh nhận được công văn trả lời với nội dung: “Trần Cập nói về thân phận của hắn đúng như công an Nam Định đã thẩm tra hắn trước theo cách mạng, bị giặc bắt, không chịu được tra tấn của giặc đã khai báo một số cơ sở làm hại cho kháng chiến, sau đó quân Pháp đưa hắn đi Hà Nội để huấn luyện nghề gián điệp"

        Sau cuộc gặp gỡ ở Lương Yên dăm ngày thì Trần Cập đón Sơn đến căn nhà một tầng ở khu Lương Yên gặp đại úy Cao Xuân Tuyên và giới thiệu là cấp trên. Tuyên nắm chặt bàn tay Sơn hồi lâu rồi nói:

        Tôi đã được nghe anh Khắc và anh Cập giới thiệu rất nhiều về anh, tôi rất vui lòng kết nạp anh vào đảng. Với năng lực và uy tín của anh tôi tin rằng anh sẽ sớm trở thành nhân vật chủ chốt của đảng bộ Đại Việt - Quốc Dân đảng Hà Nội.

        Sơn đã thấy rõ lợi ích của công tác tình báo khi anh ở trong cái ổ phản động này, song anh muốn tỏ cho Cao Xuân Tuyên biết anh vào đảng này là vì lý tưởng chứ không phải vì tham quyền, cố vị nên trả lời:

        - Cảm ơn ông có lời động viên, tôi chỉ mong làm tròn nhiệm vụ của người đảng viên chứ không muốn ở địa vị cao.

        Cao Xuân Tuyên thấy anh khiêm tốn như vậy thì rất hài lòng liền nói:

        - Xin chúc mừng sự gặp gỡ ban đầu và mong rằng chúng ta sẽ mãi mãi ở bên nhau.

        Trần Cập từ nãy vẫn yên lặng bây giờ mới nói:

        - Trong tuần tới anh đừng đi đâu xa, chúng tôi sẽ mời anh đến dự một cuộc họp quan trọng.

        Sơn biết cuộc tiếp xúc đến đây đã kết thúc liền chào Tuyên và Cập ra về. Qua buổi tiếp xúc này, Sơn tập hợp những thông tin mình nắm được thì nhận thấy tham vọng của đế quốc Mỹ không chỉ dừng lại ở mức cung cấp vũ khí, tiền bạc cho Pháp xâm lược Việt Nam mà đang ra sức tập hợp các lực lượng thân Mỹ, lập ra các đảng phái mới để lập chính phủ bài Pháp, thân Mỹ. về phía những người cầm đầu đảng như bác sĩ Đặng Văn Sung, đại úy Cao Xuân Tuyên nắm được ý đồ của Mỹ nên rất coi trọng việc phát triển đảng vào tầng lớp trí thức, tư sản để cho Mỹ biết là đảng mình rất mạnh.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười, 2020, 08:05:15 am

        Ba ngày sau cuộc gặp gỡ với Cao Xuân Tuyên, Sơn vừa đi làm về thì Trần Khắc lái chiếc xe Zép đến số nhà 11 phố Lý Quốc Sư gặp anh rồi dẫn anh đến căn hộ ở một ngõ nhỏ sau phố Huế. Vừa bước vào một căn phòng rộng chừng 16 m2, Sơn thấy trên tường treo lá cờ vàng ba lá sọc đỏ, trong phòng kê hai chiếc bàn đều phủ khăn mầu hoa đào, phía dưới là hai hàng ghế tựa, nhưng mỗi hàng chỉ có ba chiếc. Cao Xuân Tuyên, Trần Khắc, Trần Cập đều có mặt. Sơn chưa biết ngồi vào hàng ghê nào thì Khắc đã đưa anh đến ngồi ở hàng ghế đầu. Như vậy rõ ràng Sơn là nhân vật trung tâm của buổi lễ này, vì vậy anh cố tạo cho mình một vẻ mặt nghiêm trang. Sơn thấy Trần Khắc đem một khẩu súng lục đặt trên mặt bàn đối diện với mình. Ngoài các tên có mặt trong phòng. Sơn để ý ở phòng bên còn có hai người đàn ông, tuổi cũng trạc như anh. Sơn vừa ngồi yên chỗ thì từ Cao Xuân Tuyên, Trần Khắc đến Trần Cập đều lần lượt đến bắt tay chúc mừng. Anh cũng tỏ ra rất lịch thiệp bắt tay từng tên một. Lễ kết nạp được tiến hành nhanh chóng, mở đầu Trần Cập tuyên bố lý do:

        - Hôm nay đảng bộ Đại Việt - Quốc Dân đảng Hà Nội long trọng tổ chức lễ kết nạp đảng viên mới là Nguyễn Văn Sơn một trí thức yêu nước, có tinh thần cách mạng quốc gia vào đảng.

        Mọi người vỗ tay nhưng vì quá ít người nên nó chỉ lẹt dẹt như đập mẹt. Tiếp đó Trần Cập giới thiệu các đại biểu rồi giới thiệu Cao Xuân Tuyên lên công nhận đảng viên mới.

        Tuyên nói:

        - Trong lúc đất nước đang bị Việt Minh Cộng sản thống trị, người Pháp và chính phủ Bảo Đại bất lực bị thua nhiều trận lớn làm phương hại đến an ninh quốc gia. Đã đến lúc những người yêu nước chân chính phải tập hợp dưới ngọn cờ Đại Việt - Quốc dân đảng được Hợp chủng quốc Hoa Kỳ làm hậu thuẫn để cứu dân, cứu nước. Đại Việt -  Quốc dân đảng hiện nay là đảng mạnh có nhiều đảng viên, nay việc kết nạp anh Nguyễn Văn Sơn vào đảng là một chứng minh đó. Kể từ giờ phút này anh Sơn đã là người của đảng, anh phải cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp của đảng là làm cách mạng quốc gia dân tộc tới cùng.

        Khi Trần Cập giới thiệu Sơn ra tuyên thệ, theo lời dặn của Trần Khắc, anh bước tới trước bàn cầm khẩu súng lục giơ cao trước mặt, dõng dạc đọc mấy dòng Khắc viết sẵn trên giấy cho anh:

        - Tôi xin trung thành với đảng, nếu phản bội sẽ bị đảng trừng trị.

        Sau lễ kết nạp, bọn Cao Xuân Tuyên dẫn Sơn tới phố Huế vào một gian phòng nhỏ trên gác một khách sạn loại 3. Giữa phòng bày sẵn một bàn tiệc sang trọng, có rượu sâm banh, rượu uýt ski. Trong bữa việc này ngoài Cao Xuân Tuyên, Trần Cập, Trần Khắc còn có hai người nữa mà Sơn đoán đây là hai đứa ngồi giấu mặt ở phòng bên cạnh. Chủ tiệc là Trần Cập, hắn gọi bồi bàn rót rượu ra các li rồi trịnh trọng tuyên bố:

        - Xin mời các vị cạn li mừng cho đảng bộ Hà Nội có thêm đảng viên mới.

        Sau tuần rượu đó tất cả những tên có mặt đều đến cụng li, tay bắt, mặt mừng với Sơn, anh để ý thấy trong suốt bữa tiệc hai đứa giấu mặt ngồi sát nhau chỉ thì thầm chuyện riêng không tham gia vào cái không khí ồn ã của bữa tiệc. Muốn dò hỏi xem họ tên, chưc vụ, địa chỉ của bọn hắn nhưng không tiện, nên chỉ cố nhận dạng và giọng nói của chúng.

        Một tuần sau Trần Cập cho người báo với Sơn đến họp ở Lương Yên vào các buổi chiều thứ hai, thứ ba, thứ tư. Sơn đến mới rõ chúng gọi anh đến để học khoá chính trị ngắn hạn. Cùng học với anh có hai người mà anh nhìn thấy trong lễ kết nạp và cùng dự tiệc với anh, giảng viên là Trần Cập, trưởng ban tuyên truyền của đảng bộ Đại Việt - Quốc Dân đảng Hà Nội.

        Trước khi giảng bài, Trần Cập phổ biến nội quy là các học viên không được nói chuyện, trao đổi thư từ cho nhau và mỗi người ngồi cách nhau một bàn. Bài giảng đơn giản có mấy tài liệu Điều lệ đảng, Chủ nghĩa sinh tồn, cương lĩnh, chương trình hành động của đảng. Cập để hẳn một ngày giới thiệu về tiềm năng kinh tế, uy tín chính trị, sức mạnh quân sự vô địch của Hợp chủng quôc Hoa Kỳ. Cuối củng là nghe hắn lải nhải nói: “Việt Minh, Cộng sản không yêu nước, phá hoại hòa bình, Bảo Đại theo Pháp đưa đất nước lệ thuộc vào Pháp quốc...”

        Sơn nghe mà chán ngấy cái thứ chính trị táp nham đó nhưng anh vẫn phải làm bộ chăm chú nghe. Cứ sau mỗi buổi kết thúc một bài, Cập lại hỏi anh có hiểu không, chỗ nào không hiểu thì hỏi lại, Sơn đều trả lời là hiểu và trả lời trơn tru những câu hắn hỏi có liên quan đến bài học.

        Mặc dù lớp học chỉ có ba học viên, Trần Cập cũng tổ chức lễ mãn khoá. Trong buổi gặp mặt đó có cả Cao Xuân Tuyên, Trần Khắc, Trần Cập, lại có một số đảng viên có mặt ở Hà Nội như Tùng, Thái, Sự, Cuối buổi tổng kết, Cao Xuân Tuyên nhìn Sơn nói:

        - Ông giáo nay ở trong đảng chúng ta, nhưng người giới thiệu ông giáo là vị giáo sư đáng kính lại ở ngoài.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười, 2020, 08:05:46 am

        Từ khi vào đảng Đại Việt - Quốc Dân đảng Sơn đã tận dụng mọi cơ hội để biết được nhiều tên trong cái đảng phản động, xưa làm tay sai cho Nhật, Nhật bại, đứa theo Pháp, đứa theo quân Tưởng Giới Thạch rồi lại quay về theo Pháp, nay thấy Pháp thất bại lại thay thầy đổi chủ làm tôi đòi cho Mỹ để mưu đồ vinh hoa phú qúy. Tuy vậyđể chiếm được cảm tình của chúng, Sơn đã dùng đồng lương gia sư và thù lao bán hàng ít ỏi của mình vào các bữa chiêu đãi Cao Xuân Tuyên, Trần Khắc, Trần Cập để chúng cho anh dự các cuộc họp vào theo chúng tới các cơ sở, các địa chỉ liên lạc. Vả lại sự ăn tiêu hào phóng của anh cũng chứng tỏ anh là một trí thức có danh vọng và phong lưu. Anh được bọn Tuyên, Cập tin cậy giao cho chức Chánh văn phòng đảng bộ Đại Việt - Quốc Dân đảng Hà Nội được lưu giữ công văn của trung ương Đại Việt - Quốc Dân đảng gửi xuống và của đảng bộ Hà Nội gửi đi, hơn thế nữa còn quản lý lý lịch bọn đảng viên ở đảng bộ Hà Nội. Với cương vị chánh văn phòng được dự nhiều cuộc họp ở Lương Yên, Quảng Bá cạnh hồ Tây thuộc huyện Từ Liêm ngoại thành Hà Nội. Vài ngày sau anh điều tra ra đây là nơi hội họp của trung ương Đại Việt - Quốc Dân đảng. Nhờ có các cuộc họp này mà Sơn nhận ra hai kẻ dấu tung tích trong lễ kết nạp và chiêu đãi anh là Nguyễn Ninh Hợi và Trần Văn Thọ và một phụ nữ tên là Nguyễn Thị Nghĩa. Anh cũng đã phát hiện ra tên Tùng ở nhà số 9 phố Hàng Mành là chủ hiệu cắt tóc và là cơ sở tin cậy của Cao Xuân Tuyên, Trần Cập và còn thêm các tên Long, Xuyên thỉnh thoảng tiếp xúc với Trần Cập nhưng có lẽ chúng từ tỉnh khác đến chứ không phải người Hà Nội. Sơn nhiều lần báo cáo rõ Trần Cập thường đến nhà Phạm Đăng Hào ở số nhà 25 phố Quán Thánh.

        Qua các lần tiếp xúc với chúng, luận điệu của chúng đều giống nhau là chê Việt Minh, cộng sản, chê Pháp và Bảo Đại. Có lần Đặng Văn Sung đã lớn tiếng trong một cuộc họp: "Cộng sản theo Nga bán nước, Pháp là kẻ xâm lược, Bảo Đại theo đuôi Pháp, chỉ có Đại Việt Quốc Dân đảng là tổ chức theo chủ nghĩa quốc gia chân chính lại được Mỹ quốc ủng hộ mới đủ sức, đủ tài dẫn dắt nước Việt Nam đến con đường độc lập trong thế giới tự do"

        Một hôm Cao Xuân Tuyên nói với Sơn:

        - Hiện nay người của Bảo Đại thân Pháp nắm được nhiều chức vụ trong chính phủ và ở Hà Nội, đảng Đại Việt - Quốc Dân đảng muốn có thực quyền, có uy tín đối với Mỹ cũng phải nắm lấy một số chức vụ quan trọng, đảng xét năng lực, uy tín của anh nên bố trí anh vào chức trưỏng công an Gia Lâm.

        Sơn thấy rõ nếu nắm được cương vị này sẽ phát huy được vai trò của một chiến sĩ tình báo có điều kiện leo cao, luồn sâu vào tổ chức của chúng. Việc tuy có lợi cho cách mạng nhưng phải có chỉ thị của cấp trên, vì vậy Sơn trì hoãn trả lời:

        - Việc này tôi chưa quen, các anh cho tôi suy nghĩ đã

        Trần Cập khuyến khích:

        - Anh đừng ngại, ta cứ làm rồi khắc quen, vả lại còn có người của đảng ta giúp sức.

        Sơn thấy đây là vấn đề quan trọng, nếu không có chỉ thị của cấp trên thì anh không dám nhận, mà trả lời không nhận thì tiếc, anh liền đến hộp thư báo cáo với đồng chí T35. Phạm Văn Chang nhận được tin trên thấy không thể chờ liên lạc chuyến được liền phái Nguyễn Thị Phương hỏa tốc ra vùng tự do báo cáo. Hai ngày sau chị Phương về truyền đạt chỉ thị của cấp trên là: "Cho phép T31 nhận việc đó" Chang đem chỉ thị đó đến cho Sơn thì anh trả lời: "Chúng không thấy mình trả lời nên đã bổ nhiệm người khác từ hôm trước".

        Vào tháng 5-1954 sau chiến thắng lẫy lừng của quân ta ở Điện Biên Phủ, trung ương Đại Việt -  Quốc Dân đảng mời thủ hiến Bắc Việt Nguyễn Hữu Trí trước kia từng là một trong những người cầm đầu đảng Đại Việt thân Nhật. Khi Nhật bại trận đầu hàng Đồng Minh thì đảng này phân liệt, một số li khai để theo Pháp, trong số đó có Nguyễn Hữu Trí rồi dần dần trở thành thủ hiến Bắc Việt. Số còn lại vẫn trung thành với đường lối của Đại Việt là chống Cộng sản nhưng chương trình hành động khác nhau nên phân hóa thành nhiều đảng như Đại Việt - Duy Dân, Đại Việt-Quốc Dân đảng, số đảng viên bảo thủ vẫn giữ tên cũ là Đại Việt nhưng thế lực yếu, hoạt động mờ nhạt.

        Nay cục diện chiến tranh khác, quân Pháp hoàn toàn bị bại trận ở Đông Dương. Các thế lực hiếu chiến Mỹ đang tập hợp các con bài của mình như Đa lét (Alel Dalet) đưa Ngô Đình Diệm được nuôi dưỡng ở Mỹ từ nhiều năm nay về tranh giành quyền lực với Bửu Lộc. Tình báo Thủy quân lục chiến Mỹ lại dựng con bài Đại Việt - Quốc Dân đảng của bác sĩ Đặng Văn Sung.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười, 2020, 08:06:11 am

        Tất cả các đảng phái phản động ở Việt Nam thi nhau múa may quay cuồng trên vũ đài chính trị, chúng đả kích nhau, tranh giành ảnh hưởng của nhau, thậm chí mạt sát, giết hại lẫn nhau. Nhưng tất cả bọn chúng đều giống nhau một điểm là thân Mỹ, muốn chiếm độc quyền làm tay sai cho Mỹ. Vì lẽ đó Đặng Văn Sung cố níu kéo Nguyễn Hữu Trí trở về với đảng Đại Việt - Quốc Dân Đảng, nên đã mời hắn đến dự cuộc họp thân mật với trung ương Đại Việt - Quốc Dân đảng ở Hà Nội. Hầu hết các đảng viên đảng này có mặt ở Hà Nội đều đến dự, riêng Phạm Văn Chang chưa phải là đảng viên nhưng được coi là khách mời danh dự.

        Để chuẩn bị cho cuộc họp này, Cao Xuân Tuyên nhờ giáo sư Phạm Văn Chang viết giúp bài diễn văn chào mừng Nguyễn Hữu Trí. Chang yên lặng để nghe Tuyên nói ý tứ bài diễn văn: "Nội dung bài diễn văn phải nêu lên được Việt Nam đang bị hai nguy cơ xâm lược là Pháp và Việt Minh cộng sản, nhưng Pháp đang bị bại trận, nên nguy cơ hiện nay chủ yếu là cộng sản. Vì vậy các đảng viên Đại Việt nay không kể xu hướng, phe phái nào đều phải đoàn kết lại hợp sức chống Pháp, chống những tổ chức thân Pháp, chống Việt Minh Cộng sản để giữ vững độc lập cho nước Việt Nam. Chúng ta yên tâm vì Đại Việt - Quốc Dân đảng không đơn độc mà có cường quốc Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đứng ở đằng sau, là chiến hữu hoàn toàn tin cậy của chúng ta..."

        Để cho hắn ba hoa chán, Chang mới khéo léo từ chối là mình chỉ là nhà giáo quen giảng bài trên bục chứ viết diễn văn thì có vẻ dạy đời, không thích hợp, mà người đó lại đương chức là thủ hiến.

        Không nhờ được giáo sư Phạm Văn Chang, Cao Xuân Tuyên liền bảo Sơn là giáo sư, chánh văn phòng đảng bộ Hà Nội viết bài "đít cua" chào mừng thủ hiến Bắc Việt Nguyễn Hữu Trí. Nghe Tuyên nói, anh nhớ đến phương châm của đảng Lao động Việt Nam đối với các đảng viên được phân công hoạt động trong các tổ chức của địch không được tự mình phát ngôn, viết báo, viết bài cho kẻ khác đọc nhằm chống lại đường lối chủ trương của Đảng, ca ngợi địch nên đã tìm cách thoái thác.

        Cao Xuân Tuyên giao cho hai vị giáo sư không được bực bội nói:

        - Các anh mang tiếng là giáo sư mà từ chối cả thì thôi để cho cánh nhà binh này viết vậy!

        Kết quả là trong cuộc gặp mặt giữa Nguyễn Hữu Trí với đảng Đại Việt - Quốc Dân đảng, tự Cao Xuân Tuyên đọc diễn văn chào mừng nguyên thủ lĩnh đảng Đại Việt, đương chức Thủ hiến Bắc Việt. Nhưng chỉ có điều khi hắn đọc "đít cua" thì ngúc nga ngúc ngắc chứ không hùng hồn như khi hướng dẫn nội dung cho Chang viết. Tuy vậy khi Cao Xuân Tuyên vừa dứt lời thì cả hội trường vỗ tay hoan hô hồi lâu làm cho mặt mày Cao Xuân Tuyên rạng rỡ.

        Hiệp định Genève kí kết, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quản lý từ vĩ tuyến 17 trở ra, quân Liên hiệp Pháp quản lý từ vĩ tuyến 17 trở vào lấy sông Bến Hải làm giới tuyến quân sự tạm thời. Toàn bộ quân Pháp phải rút khỏi Hà Nội vào ngày 10-10-1954 và Hải Phòng nơi tập kết 300 ngày sẽ rút vào ngày 13 tháng 5-1955, miền Bắc hoàn toàn giải phóng. Đất nước tạm thời chia cắt trong 2 năm đến tháng 7 năm 1956 thì tổ chức Tổng tuyển cử thống nhất đất nước.

        Đến lúc này Mỹ không úp mở nữa mà công khai đưa Ngô Đình Diệm con bài số một của Mỹ về làm thủ tướng thay thế Bửu Lộc. Tuy vậy Mỹ không hoàn toàn tin vào anh em Ngô Đình Diệm vẫn nắm trong tay nhiều con bài dự trữ khác như Phan Khắc Sửu, Phan Quang Đán, Phan Huy Quát và một số tên cầm đầu các đảng phái khác để khi cần thì thay ngựa giữa dòng.

        Khi rút khỏi miền Bắc thì một trong những việc làm được coi là quốc sách của cả Pháp và Mỹ cùng bè lũ tay sai là cài cắm các toán gián điệp nằm vùng tại miền Bắc.

        Cũng như những đảng phái phản động khác do Mỹ và Pháp chỉ huy, chi tiền, trang bị vũ khí, đảng Đại Việt -Quốc Dân đảng do bác sĩ Đặng Văn Sung, Cao Xuân Tuyên cầm đầu cũng sắp xếp một số người ở lại. Tiêu chuẩn hàng đầu của những kẻ được giao phó ở lại là: "Một lòng trung thành với chủ nghĩa cách mạng quốc gia; căm thù cộng sản, Việt Minh; có cơ sở vững chắc ở miền Bắc".

        Về nội dung theo tinh thần Hiệp định Genève và các Hiệp định tiếp theo như Hiệp định Trung Giã cũng mới được đồng chí T35, bí thư chi bộ đảng Lao động Việt Nam phổ biến. Cuộc họp đưọc tổ chức ở một gian phòng rộng trong một gia đình cơ sở, phòng được ngăn hàm 5 ô bằng vải dầy trong phòng ánh đèn chỉ đủ sáng, các đảng viên đến vào thời điểm khác nhau, mỗi người ngồi trong một ô. Đồng chí T35 đọc tài liệu, các đảng viên nghe, không được phát biểu, có điều gì cần hỏi thì viết giấy để lại, đồng chí T35 sẽ bố trí gặp trực tiếp. Học xong các đảng viên lần lượt ra về. Vì thế Sơn đã nắm được nội dung tinh thần hiệp định và cách đốỉ phó của ta, nếu kẻ địch vi phạm hiệp định.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười, 2020, 08:06:46 am

        Khi quân Liên hiệp Pháp rút vào Nam, Cao Xuân Tuyên, Trần Cập đều hô hào các đảng viên Đại Việt - Quốc Dân đảng cùng đi với chúng. Khi đó Sự (T15) trốn vào Hà Đông, Thái (T20), trốn về quê để bọn Cao Xuân Tuyên khỏi nài ép mình di cư vào Nam, chỉ còn lại một mình Sơn ở lại Hà Nội và vẫn tiếp xúc với chúng. Cao Xuân Tuyên nói với Sơn.

        - Hiện nay các đảng viên Đại Việt - Quốc Dân đảng đã di cư vào Nam để phụng sự lý tưởng của quốc gia được lâu dài.

        Sơn chưa nhận được chỉ thị của cấp trên do đồng chí T35 truyền đạt nên trả lời lấp lửng:

        - Anh để tôi về thăm mẹ, vợ con rồi thu xếp đi sau.

        Cao Xuân Tuyên biết Sơn còn lưỡng lự nên nói:

        - Ta vào Nam chỉ là hoạt động tạm thời trong thời gian không quá 2 năm rồi được cường quốc Hoa Kỳ giúp đỡ cả về chính trị, quân sự, kinh tế, ta lại trở ra đánh chiếm miền Bắc. Cộng sản lấy đâu ra vũ khí tối tân để chống lại nước Mỹ hùng mạnh có bom nguyên tử?

        Sau các cuộc tiếp xúc với Cao Xuân Tuyên và Trần Cập, Sơn báo cáo nội dung cuộc tiếp xúc đó với đồng chí T35. Hai ngày sau T35 trả lời qua hộp thư ý kiến chỉ đạo của đồng chí Lại Tuệ trưởng phòng, Chu Thức phó phòng Bảo vệ chính trị Công an Hà Nội là : "T31 ở lại Hà Nội để nắm bọn Đại Việt - Quốc Dân đảng và các bọn phản động khác do địch cài lại ở Hà Nội và các tỉnh khác ở miền Bắc và đón lõng bọn ở Hải Phòng nơi tập kết 300 ngày và ở Sài Gòn ra."

        Nhận được chỉ thị trên cũng vừa lúc Cao Xuân Tuyên đến thúc giục, Sơn trả lời:

        - Các ông thông cảm, gia đình tôi khó khăn, nhà còn mẹ già, con nhỏ, tôi xin tình nguyện ở lại giữ vững các cơ sở ở Hà Nội để khi các anh ở miền Nam ra thì tôi đón và chu cấp mọi yêu cầu của anh em.

        Cao Xuân Tuyên, Trần Cập cũng đang rất cần những người ở lại mà xét trong ba tiêu chuẩn là trung thành với lý tưởng, lanh lợi và mưu trí, có gia đình và có nghề nghiệp ở Hà Nội thì Sơn có đầy đủ nên Cao Xuân Tuyên bằng lòng cho anh ở lại. Hắn đưa Sơn đi chụp ảnh, lấy hai cái đánh dấu giống nhau đưa cho một chiếc và nói:

        - Anh ở lại miền Bắc cũng được nhưng khi nào có người ở trong kia ra nói đúng mật khẩu, đưa tấm ảnh này ra, anh cũng lấy ảnh ra so lại, nếu đúng khớp thì là người của tổ chức phái ra liên lạc.

        Sơn chưa kịp trả lời thì Cao Xuân Tuyên lại nói tiếp:
     
        - Anh không phải chờ anh em ở Sài Gòn ra đâu, mà anh em ở Hải Phòng (khu tập kết 300 ngày) cũng sẽ lên gặp anh bàn công việc...

        Ngày mùng 9 tháng 10 năm 1954 tất cả bọn Đặng Văn Sung, Cao Xuân Tuyên, Trần Cập, Nguyễn Ninh Hợi, Trần Khắc đều cuốn gói xuống Hải Phòng. Ngày 10-10-1954 bộ đội, cán bộ ta vào tiếp quản thủ đô, Nguyễn Văn Sơn không được ra công khai mà cũng như một số thường dân đi đón bộ đội. Đồng chí Chang đến gặp Sơn nói:

        - Nay Hà Nội đã giải phóng, miền Bắc đã được hưởng hòa bình nhưng anh vẫn làm công tác như trước, không đến cơ quan, không mặc sắc phuc, không được về quê, không được tiếp xúc với người quen. Nhiệm vụ cơ quan giao cho anh là làm việc cho Đại Việt - Quốc dân đảng, anh nhớ xem anh còn thấy tên nào được chúng cài lại Hà Nội không?

        Sơn trả lời:

        - Tôi có gặp thằng Tùng hôm họp ở trụ sở trung ương Đại Việt - Quốc Dân đảng ở làng Quảng Bá, tôi biết nó làm nghề cắt tóc ở số 9 phố Hàng Mành.

        Chang gợi ý:

        - Vậy anh cố nhớ xem hôm họp ở Quảng Bá thằng Tùng mặc quần áo gì, mầu gì, đội mũ gì, ngồi cạnh ai. Từ nay trở đi cứ bẩy ngày một lần anh đến hiệu cắt tóc của nó cạo mặt, 15 ngày một lần đến cắt tóc đê gợi chuyện và nói đã từng gặp nó ở cuộc họp tại Quảng Bá, từ đó mà điều tra các việc quan trọng khác.

        Để thích nghi với hoàn cảnh mới là đảng viên Đại Việt - Quốc dân đảng đều xuất thân từ tầng lớp trí thức, tư sản, Sơn muốn tạo cho mình một vỏ bọc có gia thế liền dời khỏi nhà ông cả Ỳ ở số 11 phố Lý Quốc Sư là hiệu may mà chuyển đến nhà anh Đặng Duy Tá là chủ cửa hiệu vải vóc tơ lụa lớn ở 54C phố Hàng Đào , Hà Nội.

        Từ khi Hà Nội giải phóng, đồng chí Phạm Văn Chang được cử sang phụ trách "Đội vô hình" không trực tiếp chỉ huy công việc vụ án Đại Việt -  Quôc Dân đảng nữa, người trực tiếp phụ trách công việc này là đồng chí Tạ Văn Minh1 cán bộ công an khu V tập kết được bổ sung làm cán bộ Bảo vệ chính trị Công an Hà Nội.

-----------
        1. Đồng chí Tạ Văn Minh là cán bộ công an miền Nam tập kết, năm 1959-1960 là phó phòng Bảo vệ chính trị, năm 1961 là trưởng phòng Bảo vệ chính trị C.A Hà Nội, sau đó vào Nam chiến đấu, nay là đại tá an ninh về hưu ở 27 phố Hoàng Việt, phường 40 quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười, 2020, 08:07:11 am

        Chấp hành chỉ thị của đồng chí T35, Sơn đi dò tìm bọn đảng viên Đại Việt - Quôc Dân đảng được cài lại ở Hà Nội trong đó có tên Tùng. Vào khoảng đầu tháng 12-1954, Sơn đến nhà số 9 phố Hàng Mành xem Tùng còn ở đó không để gợi chuyện làm quen, vì khi anh gặp ở cuộc họp tại Quảng Bá cũng chỉ thoáng qua, hai người chưa tiếp xúc tới nhau. Anh tới nhà số 9 phố Hàng Mành thì thấy cửa hiệu được tân trang sáng sủa đẹp đẽ. Nhìn vào bên trong thấy từ gương treo, ghế khảch ngồi, tủ đựng đồ dùng được sắm mới vào loại hiện đại, đắt tiền. Thấy trong hiệu có người cắt tóc, Sơn ngồi uống nước ở quán đối diện bên kia đường, đợi đến khi khách vừa bước ra khỏi cửa mới đi vào, lớn tiếng:

        - Ông chủ cắt cho tôi cái tóc nào!

        Tùng quay ra, Sơn kín đáo quan sát thấy thái độ của hắn không bình thường, nửa như ngỡ ngàng, nửa như lạ lùng, nhưng rồi hắn tảng lờ, cất giọng đon đả:

        - Vâng, xin mời ông vào!

        Khi Sơn đã ngồi vào ghế trước cái gương tầu, Tùng choàng tấm vải khoác trắng tinh, sực nức mùi nước hoa lên người anh, song vẫn như còn suy nghĩ điều gì chưa cầm kéo và lược. Sợ có khách vào không chuyện trò được, Sơn bắt chuyện:

        - Trông anh có vẻ quen quen, không nhớ đã gặp anh ở đâu?

        Tùng cũng nói:

        - Anh vừa bước chân vào cửa hiệu tôi cũng nhận ra khuôn mặt quen thuộc nhưng không rõ đã gặp ở đâu!

        Sơn thấy hắn cũng đã nhận ra mình, không nên vòng vo Tam quốc mãi lỡ khách vào lại gián đoạn câu chuyện liền khẽ reo lên:

        - À tôi nhớ ra rồi - nói tới đây anh hạ giọng như thầm thì: - Ta gặp nhau tại cuộc họp ở nhà một cơ sở ở lảng Quảng Bá vào khoảng tháng giêng năm nay, đúng rồi vì khi đó vừa tết xong, con đường Cổ Ngư từ Quán Thánh đến chùa Trấn Quốc người đi chơi xuân đông nghìn nghịt, hôm đó trời giá rét, anh mặc cái áo vét mầu xanh nhạt nhưng lại mặc cái quần mầu đen, đội mũ bê rê có đúng không?

        Tùng cũng nhớ ra người trai trẻ có vóc dáng thư sinh mới đến dự họp ở đây lần đầu cái gì cũng thấy lạ, hết chăm chú nhìn mọi người lại quan sát cảnh vật chung quanh liền nói:

        - Còn anh, hôm đó mặc cáo áo buy-giông mầu ghi sáng đội mũ phớt cùng mầu nhưng lại mặc quần mầu xám lông chuột.

        Sơn không thể ngờ mình cũng bị hắn quan sát chẳng những chỉ nhớ anh mặc quần áo gì mà còn biết cả hành động của mình trong cuộc họp đó nên công nhận ngay:

        - Đúng là hôm ấy mình mặc quần áo đó, vậy là chúng ta chẳng những quen nhau mà còn... - Sơn nói đến đây thì Tùng suỵt khẽ một tiếng và chỉ một ngón tay lên ngang miệng ra hiệu không nên nói tiếp - Sơn nhìn lên tấm gương lón treo trên tường thì thấy ngoài đường có hai người đi ngang qua.

        Tùng bắt đầu cầm kéo lên tỉa tót rồi khẽ hỏi:

        - Anh cũng được lệnh ở lại à?

        Sơn trả lời:

        - Mình cũng như anh thôi, chẳng biết chờ đợi đến bao giờ mới có người ra liên lạc.

        Tùng nghe Sơn nói như thế thì thở dài tỏ ý sốt ruột. Lần khác Sơn lại tới cắt tóc, đợi lúc không có khách, Tùng tâm sự:

        - Tôi được ông Tuyên, ông Cập bảo ở lại chờ các ông ấy ra, lại cho tôi tiền sửa sang cái hiệu cắt tóc này làm địa điểm liên lạc.

        Sơn nhấm nháp ngụm trà rồi cũng làm bộ than thở:

        - Không gì khổ bằng chờ đợi, hễ tôi bắt được liên lạc trước thì tôi báo cho anh ngay, còn anh hễ bắt được liên lạc cũng báo cho tôi.

        Tùng nói:

        - Tôi cũng định giao ước với anh như vậy.

        ' Anh ta còn muốn nói nữa thì có khách vào cắt tóc, Sơn ra bồn rửa mặt, trả tiền Tùng rồi bước thong thả trên đường phố trở về 54 c phố Hàng Đào.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười, 2020, 10:18:35 pm

IV- SỰ HÌNH THÀNH TOÁN GIÁN ĐIỆP C 301

        Ngay từ ngày 7-5-1954 khi mặt trận Điện Biên Phủ kết thúc với sự đầu hàng của tướng De Catri, quân đội, nhân dân ta phấn khởi, náo nức thì bọn can thiệp Mỹ đã thực hiện âm mưu được nhen nhóm từ mấy năm trước là hất cẳng Quốc trưởng bù nhìn Bảo Đại để Mỹ trực tiếp nắm Việt Nam thông qua Ngô Đình Diệm. Nhưng Mỹ - tên sen đầm quôc tế không hoàn toàn tin tưởng vào Ngô Đình Diệm một kẻ vốn là quan lại triều đình Huế đã ngấm ngầm theo Pháp làm đến chức Thượng thư. Khi bị Phạm Quỳnh hất cẳng hắn lại theo Nhật. Cách mạng Tháng 8-1945 lật đổ ách thống trị Nhật, Pháp và triều đình Huế, đã tha cho hắn tội chết thì hắn lại bỏ theo Mỹ. Tuy anh em Ngô Đình Diệm thể hiện sự trung thành với Mỹ, nhưng CIA Mỹ vẫn không hoàn toàn tin vào loại người luôn thay thày đổi chủ nên tuy đưa Ngô Đình Diệm về tranh ghế thủ tướng để rồi leo lên cái ghế tổng thống, CIA Mỹ vẫn dự trữ nhiều con bài khác. Bác sỹ Đặng Văn Sung và đảng Đại Việt - Quốc Dân đảng của ông ta là một trong số con bài dự trữ tin cậy của CIA.

        Đế quốc Mỹ không những chỉ muốn nô dịch Miền Nam từ nam vĩ tuyến 17 trở vào mà còn muốn thống trị cả Miền Bắc nên đã vạch sẵn kế hoạch "Bắc Tiến!". Muốn đưa đại quân ra "Bắc tiến" thành công thì chiến tranh gián điệp giữ một vị trí quan trọng và phải tiến hành từ đầu.

        Về việc tung các toán gián điệp vào Miền Bắc Việt Nam, Mỹ chia làm hai giai đoạn. Giai đoạn đầu là lợi dụng thời gian quân đội Pháp còn tập kết 300 ngày ở Hải Phòng để tung gián điệp vào các mục tiêu. Giai đoạn này rất quan trọng vì nó đặt nền móng cho các toán xâm nhập tiếp vào giai đoạn hai. Giai đoạn hai là Miền Bắc hoàn toàn giải phóng, các toán gián điệp được tung từ Miền Nam ra.

        Toán gián điệp C30 là toán đi đầu của giai đoạn một được hình thành ngay từ tháng 5-1954. Đặc điểm của toán gián điệp C30 không phải do Tình báo CIA Mỹ chỉ đạo thông qua cơ quan tình báo chiến lược của chính quyền Ngô Đình Diệm, mà CIA lại giao cho cơ quan tình báo thuỷ quân lục chiến Mỹ phối hợp với lãnh sự quán Mỹ tại Hà Nội tuyển dụng, huấn luyện , trang bị, chỉ huy. Kẻ trực tiếp chỉ huy vụ này là Lucium Conein dựa vào tổ chức Đại Việt - Quôc Dân đảng do Đặng Văn Sung cầm đầu làm nòng cốt và một số tên trong đảng Đại Việt, Việt Nam Quốc dân đảng cũ đã có thời là sĩ quan, mật thám cho Pháp nay đã đoạn tuyệt Pháp theo Mỹ và một vài tên từng là cán bộ kháng chiến đầu hàng tự nguyện làm tay sai cho Pháp nay cũng quay sang theo Mỹ. Các cố vấn Mỹ không thông báo cho cơ quan Tình báo Chiến lược của chính quyền Sài Gòn do Trần Kim Tuyến cầm đầu biết về tổ chức gián điệp này mà chỉ biết có một số đảng viên Đại Việt - Quốc Dân đảng đang bí mật hoạt động ở Miền Bắc phục vụ cho kế hoạch hậu chiến của Mỹ.

        Qua nhiều lần tuyển chọn kỹ càng bọn cố vấn tình báo CIA và bọn cầm đầu đảng Đại Việt - Quốc Dân đảng đã tuyển chọn được 16 tên, điểm mặt một số tên quan trọng như Cao Xuân Tuyên, đại uý chỉ huy Địa phương quân, Trần Cập trước là cán bộ kháng chiến ở tỉnh Nam Định đầu hàng, làm mật thám cho quân Pháp, phụ trách công tác tuyên truyền của đảng bộ Đại Việt - Quốc Dân đảng Hà Nội; Bùi Mạnh Hà, tức Tiềm trước là mật thám Pháp, đảng viên Việt Nam Quốc Dân đảng cũ, làm mật thám cho Pháp nay đã bỏ Pháp thề trung thành với Mỹ; Vũ Đình Đích tức Hải, đảng viên Đại Việt cũ, tay sai của Nhật, khi Nhật bại trận đầu hàng Đồng Minh, Nhật phải rút khỏi Việt Nam thì Đích theo Pháp làm quan mật vụ, nay tự nguyện theo Mỹ. Người được CIA và Đặng Văn Sung, Cao Xuân Tuyên đặc biệt quan tâm chỉ đứng sau Trần Cập là Phạm Đăng Hào.

-------------
        1. C30 là bí số vụ án do Công an Hà Nội đặt tên cho vụ án gián điệp này.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười, 2020, 10:19:39 pm

        Phạm Đăng Hào sinh năm Quý Hợi (1923) ở thôn Khê Tang, xã Cự Khê, tỉnh Hà Đông, Hào có bẩy anh anh chị em, Hào là trưởng1. Tổng khởi nghĩa Tháng 8-1945, Hào tham gia tự vệ thành Hà Nội, được đứng trong đội danh dự dưới chân lễ đài trong lễ Tuyên ngôn Độc lập của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2-9-1945 ở quảng trường Ba Đình Hà Nội, nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ (19-12-1946) Phạm Đăng Hào gia nhập Vệ Quốc đoàn ở trung đoàn 66. Sau đó vì yếu sức khỏe, hồi cư về Hà Nội do Pháp tạm chiếm. Do mới quan hệ họ hàng một người anh em trong họ giới thiệu anh làm quen với Trần Khắc. Khắc lôi kéo anh vào Đại Việt - Quốc Dân đảng. Trước khi vào tổ chức này, Phạm Đăng Hào có đến hỏi ông Hai Thạch, thường gọi là "Ông Hai già” là cán bộ nội thành mà anh biết từ trước, ông Hai Thạch khuyên anh: "Làm gì thì làm nhưng phải có lợi cho cách mạng và đừng hại nước, hại dân là được. Nếu có điều kiện chui vào hàng ngũ của chúng để hoạt động càng tốt".

        Theo lời khuyên của ông Hai Thạch, Phạm Đăng Hào vào đảng Đại Việt - Quốc Dân đảng nhưng không đi lính, không làm chỉ điểm mà chỉ vào tổ chức này để yên thân làm ăn vì anh vẫn luôn luôn nhớ lời ông Hai Thạch: "Làm gì thi làm nhưng phải có lợi cho cách mạng và đứng hại nước, hại dân".

        Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Tình báo Thủy quân lục chiến Mỹ cùng Lãnh sự quán Mỹ ở Hà Nội chọn một số người tin cậy trong đảng Đại Việt - Quốc Dân đảng trong đó có Phạm Đăng Hào đưa đi huấn luyện gián điệp. Việc tuyển chọn này rất nhanh và bí mật, ngay những người được chọn cũng không biết vì thế Phạm Đăng Hào không kịp báo cáo với ông Hai Thạch, nhưng anh nhớ lời ông dặn: “Nếu có điều kiện chui vào hàng ngũ của chúng để hoạt động thì càng tốt” Hào nghĩ thôi cứ đi rồi về báo cáo với ông Hai già cũng được!"

        Các tên còn lại trong số 16 tên cũng đều là ngụy quân, ngụy quyền, đảng phái phản động có tội với cách mạng, có nợ máu với nhân dân.

        Ngày 2-8-1954 tất cả 16 tên trong toán gián điệp được triệu tập đến một địa điểm để họp, rồi cả bọn bị đưa lên xe ô tô bịt bạt kín mít, có một nửa tiểu đội cầm súng gác. Bọn chúng đứa nọ đưa mắt nhìn đứa kia không hiểu rõ chuyện gì đã xảy ra với chúng. Chúng hỏi nhau nhưng mấy tên lính cấm họ không được trò chuyện, không được vạch bạt nhìn ra ngoài. Xe đưa chúng xuống Hải Phòng, nhưng không dừng bánh ở đây mà xuống phà Bính qua Thủy Nguyên, Quảng Yên đến Hòn Gai rồi xuống một chiếc tàu há mồm đưa chúng ra vịnh Hạ Long nằm trong vịnh Bắc Bộ. Tới hải phận quốc tế cả bọn được chuyển lên một chiến hạm có số hiệu 125 của quân đội Mỹ rồi đi tiếp. Cho đến khi cả toán 16 tên đã lênh đênh trên biển Thái Bình Dương kể cả Cao Xuân Tuyên cũng không được phổ biến là mình đi đâu. Còn người lái xe ô tô chở chúng đi đã chịu một số phận bi thương là vĩnh viên, không ở trên cõi đời để bảo đảm bí mật của chuyến đi, sáu tên lĩnh hộ vệ đám 16 người này cũng không rõ đi đâu.

        Tàu chạy trên biển khơi ròng rã một tuần, nhiều tên trong bọn không quen sóng gió bị say sóng nôn thốc, nôn tháo trên sàn tàu. Tới cuối ngày di trên biển thứ bảy, tầu cập căn cứ quân sự của Mỹ ở đảo Ô ki na oa, Nhật Bản. Tại trung tâm tình báo quân sự của Mỹ ở đảo này, các cố vấn tình báo Mỹ bắt buộc bọn này khai lý lịch, kiểm tra sức khỏe và trải qua nhiều lần thẩm vấn kỹ càng theo đúng tiêu chuẩn khắt khe của tình báo Mỹ. Tất cả bọn chúng phải thay tên Việt cúng cơm mà đặt tên theo lối Pháp, Mỹ như Trần Cập mang tên Letsti, cũng tại đây, Trần Cập còn đổi tên là Trần Minh Châu, nhưng vì tên mới nên bao giờ cũng gọi kèm tên cũ là "Trần Minh Châu, tức Cập", Bùi Mạnh Hà tức Tiềm đổi tên là Bôtscô; Vũ Đình Đích, tức Hải đổi tên là Philip, Phạm Đăng Hào mang tên mới là Sác lơ ma nhơ...

        Qua việc thẩm vấn, khai lý lịch trên, các cố vấn Mỹ loại bỏ ba tên không phải vì lý do sức khỏe và lý lịch không rõ ràng mà vì họ vẫn chưa dứt bỏ được ông chủ cũ "Đại Pháp" của họ, các cố vấn tình báo Mỹ nói cho họ trở lại Việt Nam, nhưng điều đó làm sao mà chứng minh được, vả lại trong bọn họ cũng chẳng ai nghĩ đến người khác ngoài bản thân mình.

----------
        1. Các em của Phạm Đăng Hào như Phạm Đăng Mão là một trong số 36 chiến sĩ đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, sau hi sinh ở Mặt trận Phú Thọ; Phạm Thị Đường tham gia hoạt động từ kháng chiến chống Pháp, năm 1954 nhận lệnh di cư vào Nam hoạt động trong một đơn vị nội thành; Phạm Thị Bẩy cũng hoạt động từ rất sớm, sau trở thành con dâu đồng chí Phan Đăng Lưu nguyên bí thư Xứ ủy Nam Kỳ; Phạm Đăng Sỹ, thành ủy viên Hà Nội, Cục phó cục Tài sản công bộ Tài chính.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười, 2020, 10:19:59 pm

        Tháng 10-1954, mười ba tên còn lại được đưa lên máy bay tiếp tục cuộc hành trình mà bọn chúng cũng không rõ là đến xứ sở nào. Máy bay bay ròng rã một đêm thì hạ cánh xuống một sân bay dã chiến, ở trên máy bay bước xuống, bọn chúng ngồi túm tụm lại vì trời chưa sáng rõ chỉ nghe thấy tiếng sóng biển gầm gào hung dữ. Đến khi mặt trời xua tan lớp mây mù, bọn chúng mới giật mình vì chúng dừng chân ở đảo Guy am.

        Đảo Guy am nằm trong quần đảo Marianne nằm giữa Thái Bình Dương. Đây là căn cứ lớn của đế quốc Mỹ có nơi chuyên đào tạo gián điệp để tung vào phá hoại các nước Đông Nam châu Á.

        Bọn chúng chưa kịp hoàn hồn sau chặng đường dài hết tầu chiến lại máy bay thì cả bọn lại được đưa lên một chiếc xe quân sự che bạt kín mít rồi dừng lại ở một doanh trại trên bờ biển.

        Bọn chúng xuống xe mới có dịp quan sát một phần nhỏ của hòn đảo Guy am này. Trại lính nằm trên một vùng đất rất rộng nhưng hoang vắng, ngoài cây cối cằn cỗi, tiếng chim hải âu cùng tiếng sóng biển gầm, tiếng gió rít thì hầu như phần lớn hòn đảo này không có sự sống của con người. Cái gọi là doanh trại chỉ là khu nhà một tầng, nhưng mái hình tròn, kiểu nhà Viện trợ Mỹ. Có lẽ chỉ có kiểu nhà, cả mái đều bằng tôn hình tròn mới phù hợp với khí hậu có gió mạnh và bão tố quanh năm này. Quanh khu nhà đó là những dẫy nhà đổ nát không rõ do nạn động đất hay bão biển, sóng thần gây ra cách khu nhà khoảng vài ba kilômét có màu xanh của những cây dừa và mía, có lẽ đấy là khu dân cư của thổ dân, những người chủ đích thực của hòn đảo này. Tại đây bọn chúng được phát quần áo, giầy mũ giống như lính Nhật và không được phép ra khỏi doanh trại. Thực ra chúng có muốn đi cũng không được vì chung quanh trại có lính Mỹ gác súng tiểu liên lúc nào cũng lăm lăm trên tay.

        Toán tình báo 13 tên được tổ chức thành một lớp học do các chuyên gia tình báo Mỹ giảng, thông ngôn cũng là người Mỹ nói tiếng Việt.

        Các bài học đều là những môn cơ bản của nghề do thám như điều tra, quan sát, chụp ảnh các căn cứ quân sự, kinh tế, các đầu mối giao thông quan trọng, các bến tầu, bến xe. Chúng cũng học cách sử dụng mật mã, máy thông tin liên lạc, học cách sử dụng địa bàn và sửa chữa những hư hỏng nhỏ của các máy móc đó. Chúng cũng học cách làm quen, gợi chuyện, dùng tiền hủ hóa cán bộ, nhân viên Nhà nước, đưa họ vào con đường ăn chơi, trụy lạc rồi bắt bí, không chế làm nội gián, tuyên truyền xuyên tạc đường lối của Đảng, Chính phủ. Chúng cũng học cách mắc máy điện thoại để nghe trộm các cuộc đàm thoại của quân đội, công an và các đoàn thể Nhà nước cũng như cách trèo tường, vượt rào, mở khóa. Các cố vấn Mỹ đặc biệt chú trọng giảng dạy cách phản tuyên truyền bằng những luận điệu lừa bịp xuyên tạc chủ nghĩa Mác- Lênin, chống đối chủ trương của Đảng, Nhà nước. Bọn cố vấn Mỹ không quên dạy chúng phương pháp diễn thuyết, sử dụng truyền đơn, khẩu hiệu, thơ ca, hò vè, sách báo, tranh ảnh, thư nặc danh, phao tin đồn nhảm. Bọn chúng cũng tận dụng một bộ phận cư dân còn mê tín để sử dụng sấm trạng, xóc thể, bói toán, đồng cốt gây chia rẽ cán bộ với dân, bộ đội với dân nơi đóng quân...

        Những việc làm của chúng đều nhằm mục đích kích động một bộ phận nhân dân gây ra các vụ rối loạn chính trị như ở Quỳnh Lưu (Nghệ An), Ba Làng An (Thanh Hóa).

        Bọn chúng tuy đều là sĩ quan, mật thám đã quen sử dụng vũ khí nhưng các cố vấn tình báo Mỹ vẫn dạy chúng cách sử dụng súng trường, súng tiểu liên, súng lục giảm thanh, các loại súng ám sát giống như bật lửa, tuýp đánh răng cho tới các loại súng lớn như ba-dô-ca, đại bác không giật, cối 61 li. Chúng còn học sử dụng thành thạo các loại mìn như mìn nổ, mìn điện, mìn cháy, mìn làm chảy sắt thép, mìn giống như hòn than kíp lê do Mỹ chế tạo, chông ba cạnh để bẫy thủng lốp ô tô.

        Đại úy Cao Xuân Tuyên trưởng toán còn được học một lớp riêng về phương pháp tổ chức một toán, một nhóm gián điệp, cách xây dựng màng lưới tình báo, cách mở rộng địa bàn hoạt động và không ghê tay khi phải thủ tiêu cấp dưới có nguy cơ bị lộ để bảo đảm bí mật của tổ chức gián điệp.

        Về chiến thuật, chúng được học kỹ thuật chiến đấu cá nhân, cách phục kích, cách phá vây, học lái xe ô tô, mô tô, xuồng máy và học võ thuật.

        Việc xác minh lí lịch, ý thức chính trị của học viên được các cố vấn Mỹ coi trọng ngay trong khi đang tiến hành khoá học. Đã có hai tên có xu hướng thân Pháp bị loại bỏ và vĩnh viễn không bao giờ trở lại đất nước đã sinh thành ra chúng mà chúng phản bội.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười, 2020, 10:20:42 pm

        Ban đầu Lucium Conein và bọn giảng viên Mỹ định chương trình học sáu tháng, nhưng sau thấy công việc cấp bách là phải tung toán gián điệp biệt kích tới ba mục tiêu đã định trước khi quân Pháp rút khỏi Hải Phòng ba tháng để chúng còn kịp thời ổn định cho hai nhóm Hà Nội, Nam Định nên lớp học rút xuống còn bốn tháng. Sau khi học xong lý thuyết, bọn chúng được thực tập đánh phá một số mục tiêu như phá hoại một chiếc cầu, một đoạn đường sắt, một tháp nước, một căn nhà bỏ hoang trên đảo do bọn Mỹ phòng thủ và bảo vệ.

        Lớp học kết thúc ngày 8-2-1955 cả bọn 11 tên được đưa lên máy bay của nước Niu Gilân bay thẳng về Sài Gòn. Vừa đặt chân tới thành phố, bọn du học về được các cố vấn Mỹ như Lucium Conein, Paul cùng bọn trùm Đại Việt - Quốc Dân đảng như Đặng Văn Sung, Nguyễn Văn Thọ, Trần Ninh Hợi, Trần Khắc đón tiếp, khích lệ là “các chiến sĩ tiền phong chống Cộng", "chiến binh mở đầu Bắc tiến” và phong cho chúng hàm thiếu úy, trung uý.

        Trong những ngày đó bọn chúng được tiệc tùng linh đình, ăn chơi xả láng trong các nhà hàng, quán ba. Trước khi bọn chúng rời Sài Gòn, Đặng Văn Sung giao cho Cao Xuân Tuyên mở tiếp lớp học về tình hình thực tế ở miền Bắc , dạy chúng cách ăn mặc nói năng cho tới cử chỉ cho phù hợp với cán bộ, bộ đội, nhân dân miền Bắc vừa được giải phóng.

        Trước ngày bọn chúng lên máy bay ra Hải Phòng, thiếu tá tình báo Lucium Conein bắt tay từng tên một, động viên; “Tôi rất hy vọng rằng sẽ gặp lại các anh ngay trên đất miền Bắc”.

        Thượng tuần tháng 3-1955 Cao Xuân Tuyên ở lại miền Nam, 10 tên còn lại được đưa bằng máy bay quân sự ra sân bay Cát Bi, Hải Phòng, khu tập kết 300 ngày của quân Liên hiệp Pháp. Lucium Conein đã có mặt ở đó từ trước xác định một lần nữa nhiệm vụ của bọn chúng là:

        - Điều tra lấy tin tức bí mật quân sự chính trị, kinh tế của ba thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, có điều kiện thì phát triển sang các tỉnh khác, chuẩn bị cho chiến dịch, "Bắc Tiến" của đế quổc Mỹ và chính quyền tay sai ở miền Nam, lôi kéo những kẻ chống Chính phủ gây bạo động chính trị.

        - Móc nối với những người bất mãn như Thụy An, Phan Khôi trong nhóm Nhân Văn - Giai phẩm Mùa xuân, Mùa thu, tạp chí Đất Mới đả kích Đảng, Nhà nước Việt Nam, đấu tranh đòi tự do dân chủ theo kiểu tư sản như các báo Nhân Văn. Giai Phẩm đòi hỏi.

        - Tạo mọi cơ hội gây tiếng nổ phá hoại các công trình quân sự, giao thông, công nghiệp.

        - Tìm mọi cách ám sát cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước và các nhà khoa học có tên tuổi.

        Trần Minh Châu tức Cập được Lucium Conein chỉ định là toán trưởng chỉ huy cả ba nhóm. Phạm Đăng Hào được chỉ định là toán phó được quyền giải quyết toàn bộ công việc của toán khi Trần Minh Châu đi vắng.

        Sau khi nhận nhiệm vụ của Lucium Conein, Trần Minh Châu tức Cập bàn với Phạm Đăng Hào:

        - Đặc vụ của "đội quân tiên phong Bắc Tiến" anh đã rõ, bây giờ tôi phân chia làm ba nhóm như sau: nhóm Hà Nội có tôi, Phạm Văn Lan tức Tùng, Nguyễn Sỹ Hoằng, Nguyễn Thị Nghĩa do tôi trực tiếp làm nhóm trưởng; nhóm Hải Phòng có Bùi Mạnh Hà (tức Tiềm) và Xuyên, do Bùi Mạnh Hà làm nhóm trưởng; nhóm Nam Định có Vũ Đình Đích do Đích làm nhóm trưởng.

        Từ hôm ở Sài Gòn ra Hải Phòng. Phạm Đăng Hào nóng lòng muổn gặp ông Hai Thạch để báo cáo tường tận về toán gián điệp biệt kích có nguy hại đến nền an ninh quốc gia, cơ quan công an cần phải biết sớm để có kế hoạch đối phó nhưng phải khôn khéo tìm cách về Hà Nội trước bọn chúng. Vì vậy khi Trần Minh Châu bàn về tổ chức các nhóm, anh muốn biết rõ hơn nhiệm vụ của từng tên trong ba nhóm liền nói:

        - Chúng ta có 10 người đi dự học ở Guy am về lại còn một số người nằm vùng như Nguyễn Văn Sơn, Nguyễn Văn Tùng (tức Lan) Nguyễn Sĩ Hoằng, Nguyễn Thị Nghĩa hãy chia cho đủ, nhóm Hà Nội, Hải Phòng tạm được; còn nhóm Nam Định có một mình Vũ Đình Đích làm sao xoay xỏa nổi?

        Trần Minh Châu trả lời:

        - Điều đó không lo, tôi có một số cơ sở tin cậy ở Nam Định, Ninh Bình tôi sẽ cùng đi với Đích để phát triển. Bùi Mạnh Hà, cũng có cơ sở ở Hải Phòng, ta không lo thiếu người. Còn vũ khí, điện đài, tôi chia đều cho ba nhóm, riêng nhóm Hải Phòng được trang bị mìn than để phá tầu hỏa. Sau này sẽ bổ sung vì Nguyễn Thị Nghĩa đang còn giữ một kho vũ khí, điện đài ở Hà Nội, còn ở Hải Phòng, ta cũng có vài kho dự trữ nữa...

        Phạm Đăng Hào nói:

        - Ta phải đặt mật danh cho ba nhóm để bảo đảm bí mật.

        Trần Minh Châu trả lời ngay:

        - Tôi đã dự kiến, anh nghe xem có được không, nhóm Hà Nội lấy mật danh là An Trạch, nhóm Hải Phòng lấy mật danh là Hải An còn nhóm Nam Định lấy tên là Đồng Văn.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười, 2020, 10:21:02 pm

        Hào hỏi:

        - Sao không lấy một địa danh cũ ở tỉnh, thành đó như Nam Định thì lấy tên là Sơn Nam, Hà Nội lấy tên là Long Biên, tại sao Đồng Văn làđịa danh của Hà Nam mà anh lại lấy đặt cho Nam Định?

        Trần Minh Châu cười:

        - Không nhất thiết phải như vậy, thí dụ ta đặt mật danh nhóm Nam Định là Đồng Văn, nếu có sơ suất lộ ra điều gì thì công an sẽ đổ xô về Hà Nam tìm kiếm, thì nhóm ở Nam Định đã cao chạy, xa bay rồi.

        Phạm Đăng Hào thấy rõ thủ đoạn nham hiểm của Trần Minh Châu từ việc đặt tên cho các nhóm thì mình không thể khinh suất được liền nói:

        - Anh nghĩ xa như vậy thật là chu đáo, nhưng bây giờ chúng ta phải làm gì?

        Trần Minh Châu trả lời:

        - Ông Lucium Coine nhắc ta ém quân xong càng sớm càng tốt, cho nên tôi định đi Hà Nội sau đó đi Nam Định, anh ở lại cai quản tụi nó.

        Vối lòng mong muôn phải sớm báo cáo vụ gián điệp ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh Tổ quốc tối cơ quan Công an càng sớm càng tốt, Phạm Đăng Hào nói:

        - Đây là vùng tập kết 300 ngày, ta lo gì, tôi với anh cùng đi Hà Nội gặp Tùng, Sơn, Nghĩa, Hoằng và chuẩn bị nơi “lót ổ” cho cả hai nhóm ở Hà Nội và Nam Định.

        Trần Minh Châu tỏ vẻ băn khoăn:

        - Cơ sở ở Hà Nội có nhiều nhưng chọn được nơi an toàn đâu có dễ dàng gì?

        Biết Trần Minh Châu đang lo lắng địa điểm tập kết ở Hà Nội, Phạm Đăng Hào tỏ ra sốt sắng:

        - Nhà tôi, đó là căn nhà ở 25 phố Quán Thánh là an toàn hơn cả, cả hai nhóm ở đó cho đến khi tìm được chỗ đứng chân chắc chắn mới chuyển đi

        Trần Minh Châu sung sướng:

        - Vậy mà tôi không nghĩ ra, được địa điểm nhà anh thật quá lý tưởng. Vậy anh lo việc này, cần thêm địa điểm dự trữ, còn tôi lo móc nối với anh em ở Hà Nội.

        Sau khi đã nắm vững "nhân sự" các nhóm, Phạm Đăng Hào hỏi tiếp:

        - Vậy ngày mai lên đường, ta đi ô tô hay tầu hỏa?

        Trần Minh Châu trả lời:

        - Đi tầu hỏa đông người dễ trà trộn hơn, nhưng mỗi người đi một toa.

        Phạm Đăng Hào muốn đến Hà Nội trước liền nói:

        - Đi cùng một chuyến không ổn, tôi đi chuyến sáu giờ sáng, còn anh đi chuyến tầu 12 giờ trưa.

        Trần Minh Châu trả lời:

        - Thế cũng được, nhưng sớm tối ngày thứ năm phải có mặt ở Hải Phòng, để sáng thứ sáu báo cáo với ông Lucium Coine.

        Phạm Đăng Hào cười:

        - Ô kê...

        Sáng đó Phạm Đăng Hào đi chuyến tầu sáu giờ sáng lên Hà Nội. Thông thường anh đến ga Đầu cầu Long Biên thì xuống để về nhà nhưng chuyến này anh xuống ga Hàng cỏ rồi về phố Khâm Thiên đến ngõ Thổ Quan vào một căn nhà nhỏ một mái ở bên số lẻ, trước cổng có cây dâu da xoan là địa điểm liên lạc với ông Hai Thạch. Người chủ nhà cho biết ông Hai Thạch đi họp phải ba ngày nữa mới tới, Phạm Đăng Hào nghĩ: "Nêu chờ ba ngày nữa thì bọn Trần Minh Châu đã đưa cả hai nhóm Hà Nội, Nam Định vào nơi an toàn, phải tìm mọi cách để ông Hai Già, hay đến ngay đồn công an trình diện và kể rõ mọi việc về toán gián điệp này, nhưng anh lại sợ Trần Minh Châu cho người theo dõi phát hiện anh có liên hệ với công an nên lại bỏ ý định đó".

        Cuối cùng Hào nhớ ra một thủ tục đơn giản là những người sống ở Hải Phòng - vùng tập kết 300 ngày của quân đội Liên hiệp Pháp tới Hà Nội đều phải đến trình giấy thông hành ở đồn công an ga Hàng Cỏ. Nghĩ thế Phạm Đăng Hào quay lại ga, tới nơi anh thấy người đứng xếp hàng chờ trình giấy rất đông, anh liền vào cuối hàng, không lâu, sau lưng anh đã có vài chục người. Đến lượt mình trình giấy, khai báo xong, anh viết vào mảnh giấy trắng dòng chữ: "Cho tôi gặp Đồn trưởng báo cáo một việc quan trọng". Trực ban liếc nhìn mấy dòng chữ liền nói to để mọi người khỏi nghi ngờ:

        - Giấy thông hành của anh đã quá hạn 20 ngày, anh vào phòng trong giải quyết.

        Nói rồi trực ban dẫn anh vào gặp Đồn trưởng. Vừa vào tới nơi Hào đã nói:

        - Tôi được ông Hai Thạch cán bộ công an Hà Nội cử đi làm nhiệm vụ ở Hải Phòng, tôi đến trạm liên lạc thì ông đi họp, nhờ anh nói giúp với ông Hai Thạch tôi báo cáo một việc khẩn cấp.

        Đồn trưởng đoán việc này chắc chắn có quan hệ đến an ninh quốc gia liền gọi điện về công an thành phố. Anh nói chuyện trong máy một lúc rồi quay ra nói với Hào:

        - Anh cứ về nơi anh vừa đến, sẽ có người đến gặp anh.

        Hào cảm ơn viên đồn trưởng, ra gọi xích lô đi đến đầu ngõ Thổ Quan thì xuống xe, anh vừa bước vào trong nhà đã thấy ông Hai Thạch ngồi chờ ở đó. Anh báo cáo ngay việc mình được CIA và Đặng Văn Sung đưa đi cùng một toán sang đảo Guy am huấn luyện gián điệp rồi tung ra phá hoại miền Bắc. Trưa hôm nay Trần Minh Châu tức Cập sẽ đi từ Hải Phòng lên Hà Nội để gặp bọn Nguyễn Văn Sơn, Tùng cắt tóc, Hoằng sinh viên sau đó đi Nam Định móc nối với bọn nằm vùng ở đó đón Vũ Đình Đích.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười, 2020, 10:21:19 pm

        Ông Hai Thạch nghe xong khen ngợi:

        - Đây là vụ án gián điệp nguy hiểm, anh báo cáo sớm như vậy cơ quan an ninh rất hoan nghênh, chúng tôi sẽ triển khai ngay kế hoạch bao vây, giám sát ngay từ khi tên Châu đặt chân tới Hà Nội. Từ nay tôi sẽ có mặt ở trạm liên lạc từ 17 giờ đến 19 giờ các ngày thứ ba, thứ năm, thứ bảy, từ nay anh mang bí số HG và nhớ tường trình chi tiết về toán gián điệp này vào buổi gặp sau.

        Sau khi báo cáo với ông Hai Thạch về toán gián điệp trên, Hào mới yên tâm trở về nhà ở nhà ở 25 phố Quán Thánh.

        Nguyễn Văn Sơn tuy là "chánh văn phòng" đảng Đại Việt - Quốc Dân đảng khu vực Hà Nội, nhưng kể từ tháng 7-1954 khi hình thành toán gián điệp C30 từ khi tuyển chọn người đi học ở đảo Guyam đến khi bọn này trở về Hải Phòng thì Nguyễn Văn Sơn vẫn như người đứng ngoài cuộc. Anh chỉ được Cao Xuân Tuyên, giao cho ở lại Hà Nội "chờ đợi người của thế giới tự do Bắc tiến"

        Cho mãi tới hạ tuần tháng 5-1955 Trần Minh Châu tức Cập ở Hải Phòng đi tầu hỏa tới ga Hà Nội vào hồi 16 giờ 30, hắn đến nhà số 9 phố Hàng Mành gặp Phạm Văn Lan tức Tùng bàn bạc công việc. Đến 20 giờ, Châu sai Tùng đến nhà số 54C phố Hàng Đào báo cho Sơn đến nhà mình gặp Trần Minh Châu tức Cập, anh mới chắp mối liên lạc được với bọn này.

        Nhận được tin này, đúng giờ hẹn, Sơn đến ngay nhà tên Tùng để gặp Trần Minh Châu, Anh tỏ ra mừng rỡ vì "gặp người của ta" ra bắt liên lạc. Châu bảo Tùng đóng cửa hàng sớm rồi cả ba vào trong gian phòng sép ở phía trong trò chuyện. Trong câu chuyện, Châu không hề nhắc đến toán gián điệp biệt biệt kích vừa đi học ở đảo Guy am về đã có mặt ở Hải Phòng mà chỉ nói "người của ta" sắp lên Hà Nội và Nam Định, các anh có nhiệm vụ bố trí nơi ăn nghỉ và tạo việc làm hợp pháp cho họ và tìm nơi cất dấu vũ khí, điện đài... Sơn hứa tích cực chuẩn bị địa điểm nhưng thực ra anh biết mọi việc đã được Đặng Văn Sung, Cao Xuân Tuyên sắp xếp đâu vào đấy từ khi Hà Nội còn nằm trong sự kiểm soát của quân Pháp, ví như việc bố trí cho Phạm Văn Lan (Tùng) mở hiệu cắt tóc, đào hầm chứa vũ khí ở nhà Nguyễn Thị Nghĩa, chi tiền cho Phạm Đăng Hào mua xe ô tô chạy tuyến Hà Nội -  Nam Định để chở khách và hàng hóa nhưng thực ra là để chở vũ khí, tài liệu phản động.

        Trong buổi gặp gỡ lần này cũng chẳng có gì mới mẻ, chỉ có việc đón bọn ở Hải Phòng lên "lót ổ" ở Hà Nội , Nam Định. Còn phương thức hoạt động vẫn là phao tin thất thiệt, phản tuyên truyền, lôi kéo những người trước kia đã cộng tác với Pháp, những cán bộ, nhân viên Nhà nước biến chất, bất mãn với chế độ vào tổ chức gián điệp.

        Sơn tỏ ra hăng hái, làm tất cả những việc mà Trần Minh Châu nêu ra. Anh thấy tên Tùng mặt mày rạng rỡ, gật đầu lia lịa, đôi lúc còn phụ họa những điều mà Châu nêu ra. Sơn ở nhà tên Tùng tới 10 giờ khuya, tuy đã muộn nhưng anh vẫn đến nhà Đoàn Vy ở số nhà 26 phố Hàng Gai. Đoàn Vy là chủ hiệu may lớn, đồng thời là cơ sở tin cậy của công an nội thành từ những năm kháng chiến 9 năm để hẹn gặp đồng chí Tạ Văn Minh báo cáo.

        Đúng ngày giờ hẹn, đồng chí Tạ Văn Minh đến số nhà 26 phố Hàng Gai, nghe Nguyễn Văn Sơn báo cáo về sự xuất hiện Trần Minh Châu tức Cập ở Hà Nội và những công việc hắn giao cho anh và tên Tùng trong đó việc trọng tâm là chuẩn bị đón bọn gián điệp lên Hà Nội và Nam Định.

        Đồng chí Tạ Văn Minh chăm chú nghe, hỏi lại một số việc Sơn báo cáo tóm tắt rồi chỉ thị cho anh tiếp tục bám sát các hoạt động của bọn chúng, trong đó có tên Tùng là cơ sở tin cậy của hắn báo cáo kịp thời.

        Sau khi ở nhà Đoàn Vy về, Tạ Văn Minh đến ngay nhà đồng chí Lê Quốc Thân giám đốc công an Hà Nội kiêm trưởng ban chuyên án C30 để báo cáo, xin chỉ thị.

        Sau cuộc gặp gỡ tay ba Trần Minh Châu -  Phạm Văn Lan tức Tùng - Nguyễn Văn Sơn, Trần Minh Châu đáp tầu hỏa về Hải Phòng vào chuyến 3 giờ sáng hôm sau. Chừng một tuần sau Trần Minh Châu cho Nguyễn Sĩ Hoằng tức Nguyễn Văn Sinh là sinh viên năm thứ ba trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Nội dung cuộc gặp cũng không khác gì hồi anh gặp Châu ở nhà tên Tùng mà chỉ là thúc giục họ nhanh chóng tìm nơi cư trú, tìm một nghề thích hợp cho Châu và bọn đàn em khi đến Hà Nội. Tên Hoằng còn chuyển lời của Châu là anh phải hoạt động mạnh hơn nữa trong giới trí thức, tư sản để kích động họ chống Đảng và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, gia nhập tổ chức của chúng. Sơn lập tức báo cáo về hộp thư về tên Hoằng - một tên mới xuất hiện trong toán gián điệp C30 để lực lượng an ninh khống chế, giám sát.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười, 2020, 10:21:37 pm
 
        Để tạo cho mình có "vẻ mặt trí thức sáng giá" hơn thân phận gia sư, Nguyễn Văn Sơn được Đặng Duy Tá tức Lê Hưng giới thiệu vào ban Giám hiệu trường tư thục dạy nghề do một kỹ sư cơ khí quen biết Tá làm hiệu trưởng, Sơn làm ủy viên ban giám hiệu phụ trách thư ký kiêm thu ngân. Vào hồi đó đấy là một trường lớn ở Hà Nội vừa dạy chữ vừa dạy nghề phay, bào thu hút khá nhiều người tới học.

        Từ khi giữ chân ủy viên ban giám hiệu, Sơn mở rộng được mối quan hệ trong giới tư sản, trí thức.

        Sau cuộc gặp gỡ với Tùng và Sơn ở Hà Nội, Trần Minh Châu ổn định nhóm gián điệp ở Hải Phòng do Bùi Mạnh Hà tức Tiềm làm nhóm trưởng. Để có vỏ bọc hợp lý Bùi Văn Hà đã đóng vai một nhà tư sản giầu có, sẵn tiền - thực ra tiền đó là do Trần Minh Châu giao cho, rủ rê, lôi kéo Nguyễn Văn Hồng - một nhà tư sản trước kia thân Pháp có nhiều hành động làm hại kháng chiến chung vốn mở nhà in để chủ động in ấn truyền đơn phản động chống Đảng, Nhà nước ta, ca ngợi bè lũ đế quốc Mỹ và tay sai, kích động số phần tử quá khích, bất mãn trong nhân dân bạo loạn chính trị.

        Tuy làm chủ nhà in nhưng Bùi Mạnh Hà ít khi có mặt ở xưởng, mọi công việc đều giao cho Lê Văn Hồng quản lý, còn hắn thì la cà ở bến tầu, bến xe, chợ búa để tung tin thất thiệt như hạm đội Mỹ đang tiến vào vịnh Bắc Bộ có thể nổ súng vào đất liền bất kì lúc nào, tung tin lũ lụt ở Bắc Giang, Bắc Ninh tàn phá 5-6 huyện, hơn 1000 người bị nước lũ cuốn trôi. Hắn còn trắng trợn tung tin Chính phủ Kháng chiến vào tiếp quản Hải Phòng sẽ đưa tất cả những người cộng tác, buôn bán với Pháp lên giam giữ ở trên rừng cho tới chết..

        Ổn định xong nhóm ở Hải Phòng, Trần Minh Châu khẩn trương đưa người của các nhóm Hà Nội, Nam Định vào vị trí. Khi mới đặt chân tới Hà Nội, Trần Minh Châu và Phạm Đăng Hào để cả hai nhóm ở nhà Hào số nhà 25 phố Quán Thánh, Hà Nội.

        Nhờ có tên Tùng và mụ Nghĩa quen biết nhiều ở Hà Nội, đã thuê cho Trần Minh Châu một gian nhà mặt đường để mở cửa hàng sửa chữa xe đạp. Cập quen ăn chơi trác táng không quen lao động tay chân nên vẫn chứng nào tật ấy dân phố xì xào bàn tán. Để Cập ở lâu phố Hàng Rươi sẽ bị lộ, Tùng liền cho thuê một gian nhà nhỏ ở trong ngõ phố Quán Thánh cho Cập ở, hàng ngày Cập đẩy xe nước mía ra bán ở vườn hoa Hàng Đậu. Cập thấy mình đã đứng tuổi mà độc thân, nay nhà thổ này, mai quán ba khác, dân phố sẽ sinh nghi liền lấy một gái làng chơi đã từng là tình nhân của hắn mấy năm trước làm vợ hờ.

        Trong khi đó thì Phạm Đăng Hào đã cùng Vũ Đình Đích đi thành phố Nam Định. Cập giao cho Đích tiền mua một chiếc xe tắc xi chạy đường Nam Định - Hà Nội để che mắt mọi người và chủ động chuyên chở vũ khí, tài liệu. Đích thuê một ngôi nhà hoang vắng ở ngoại thành Nam Định để ở và cũng là nơi tụ tập tay chân cho kín đáo.

        Như vậy là chỉ trong hai tháng cả toán đã có nơi cư trú ổn định, có nghề nghiệp để che mắt công an và những người láng giềng tò mò. Trần Minh Châu bàn với Phạm Đăng Hào gọi điện vào Nam báo cho Cao Xuân Tuyên là kẻ được các cố vấn tình báo Mỹ và thủ lĩnh đảng Đại Việt - Quốc Dân 94 đảng Đặng Văn Sung giao cho giữ đầu mới liên lạc với toán gián điệp đang hoạt động ở miền Bắc. Bọn chúng nhận được mệnh lệnh là phải tiến hành ngay việc tuyên truyền chống Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ám sát một số cán bộ lãnh đạo Đảng và Nhà nước và các nhà khoa học có tên tuổi.

        Nhận được mệnh lệnh trên, lập tức Trần Minh Châu, Phạm Đăng Hào thúc ép các nhóm khẩn trương hoạt động. Bùi Mạnh Hà tức Tiềm vốn là tên chống Cộng khét tiếng từ thời theo Pháp nên nhận được lệnh của Trần Minh Châu là hắn vào cuộc ngay. Điều Hà quan tâm vẫn là tuyên truyền xuyên tạc, tung tin thất thiệt, gây chiến tranh tâm lý. Hắn phản tuyên truyền kín đáo cứ như nghe sao nói vậy, mà thường chỉ là câu chuyện làm quà, nên không mấy người nghĩ rằng mình bị tuyên truyền kích động. Cùng trong khi phản tuyên truyền, Bùi Mạnh Hà đã lôi kéo được Bùi Văn Lưu, nhân viên một cơ quan thoái hóa tham ô tiền của Nhà nước bị kỉ luật, sinh ra bất mãn, nói xấu chế độ. Bùi Mạnh Hà đã cung cấp tiền cho hắn ăn chơi rồi mua chuộc, khống chế buộc phải làm những việc mình sai khiến. Sau mấy lần thử thách Hà thấy Lưu thực sự trung thành với mình mới giao cho hắn giữ điện đài.

        Bùi Mạnh Hà không những chỉ tung tin phản tuyên truyền mà còn đi do thám các vị trí quân sự, bến cảng, nhà ga, kho xăng dầu. Để nắm được các hoạt động ở cảng Hải Phòng, hắn đóng vai người câu cá ở gần bến tầu để theo dõi số tầu ra vào cảng, lượng hàng hóa chứa trong các kho. Để điều tra các hoạt động của sân bay Cát Bi hắn đã cải trang như dân nghèo, áo nâu rách, quần cộc, ngang lưng đeo giỏ đi bắt cáy ở đầm lầy sát sân bay để điều tra số máy bay lên xuống, loại máy bay... Do nhóm của Hà được Mỹ trang bị loại "mìn than" để phá đầu máy xe lửa và các nhà máy có lò cao chạy bằng than, hắn thường xuyên "để mắt" đến nhà ga Hải Phòng để tìm cơ hội lọt được vào khu cấp than đặt "mìn than" lẫn vào trong đống than cấp cho đầu máy xe lửa.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười, 2020, 10:22:33 pm

        Nhóm ở Hà Nội hoạt động cũng không kém phần kết quả. Trần Minh Châu bán nước mía ở vườn hoa Hàng Đậu một thời gian, thấy dân phố nhìn mình với ánh mắt nghi ngờ, hắn liền bỏ nghề đó, dọn đi nơi khác hùn vốn với một công ty tư nhân để kinh doanh. Sau hắn thấy làm chung gò bó không có thời gian hành nghề gián điệp liền rút vốn ra đi làm thư ký cho một hãng buôn tư nhân. Nhưng hoạt động có hiệu quả hơn ở cả nhóm Hà Nội phải kể đến Nguyễn Sỹ Hoằng tức Nguyễn Văn Sinh. Hắn là con một gia đình địa chủ và là em ruột Nguyễn Sỹ Thuyên một gián điệp nhà nghề của Mỹ trước khi di cư vào Sài Gòn đã dặn em: "nhà ta đã 4 đời cộng tác với Pháp, Nhật và Mỹ có thâm thù với cộng sản, em ở lại khi có người của "thế giới tự do đến liên lạc thì ra hoạt động". Hoằng có lợi thế là sinh viên năm thứ ba trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, tuy chưa qua khóa đào tạo chính qui nào, nhưng hắn lại có nhiều thủ đoạn phản tuyên truyền tinh vi. Hắn đã thu thập có kết quả các hoạt động của nhóm Nhân Văn - Giai Phẩm, Đất Mới, tuyên truyền các bài báo kích động mọi người chống Đảng và Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Trong đó có bức tranh biếm họa "Ông Cảnh giác soi gương kêu địch đây rồi!" đăng trên báo Nhân Văn để chế riễu lực lượng an ninh, chế riễu tinh thần cảnh giác cách mạng của nhân dân ta.

        Việc tên Hoằng đưa bức tranh châm biếm trên ra chế riễu lực lượng an ninh và tinh thần cảnh giác của nhân dân nó có thâm ý sâu xa là chống lại nghị quyết Trung ương lần thứ 14 phần nói về "bảo vệ an ninh Tổ quốc" như sau: "Bọn tay sai của chủ nghĩa đế quốc và Ngô Đình Diệm bao gồm bọn gián điệp, bọn phá hoại, bọn thổ phỉ, biệt kích, bọn phản động đội lốt tôn giáo, những phần tử địa chủ ngoan cố chống chế độ vẫn ngấm ngầm hoạt động phá hoại miền Bắc. Đối với bọn chúng, ta cần phải luôn luôn cảnh giác và trấn áp kịp thời"

        Nguyễn Sỹ Hoằng đã tận dụng tất cả những bài báo trên các báo Nhân văn, Giai phẩm Mùa xuân, Giai phẩm Mùa thu, Đất mới của sinh viên có xu hướng đòi tự do dân chủ tư sản để đầu độc, kích động sinh viên chống chủ trương xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất đất nước, làm tê liệt tinh thần cảnh giác cách mạng trong sinh viên, học sinh, dần dần đi tới đồng loã với các hành động phá hoại an ninh chính trị, trật tự xã hội của bọn phản động.

        Nguyễn Sỹ Hoằng còn tận dụng các chuyến "sinh viên đi thực tế" để điều tra các hoạt động kinh tế, trình độ quản lý khoa học của cán bộ các nhà máy, lôi kéo các phần tử bất mãn ở các nhà máy chông đối chủ trương công nghiệp hóa. Hoằng còn gieo rắc sự hoài nghi trong đám công nhân mới được tuyển dụng vào các nhà máy là "chủ trương của Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa khôi phục kinh tế trong 2 năm 1955-1956 là điều không thể thực hiện được"

        Hoằng còn được Trần Minh Châu giao cho giữ đầu mối liên lạc giữa các tên hoạt động ở Hà Nội, để báo cho Phạm Văn Lan (tức Tùng) tổng hợp báo cho Trần Minh Châu và truyền đạt mệnh lệnh của Trần Minh Châu đến các tên trong nhóm ở Hà Nội.

        Trước những hoạt động có kết quả của Nguyễn Sĩ Hoằng, Trần Minh Châu điện vào Sài Gòn là sẽ tạo mọi điều kiện, cho Hoằng thi đỗ khoa Chế tạo máy trường Đại học bách khoa để được bố trí vào làm việc tại một cơ quan khoa học ở Trung ương như ủy ban Khoa học Nhà nước hay Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước để luồn sâu, leo cao phục vụ cho kế hoạch xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ. Phạm Văn Lan (tức Tùng) trong vai thợ cắt tóc, nhờ có cửa hàng khang trang sạch sẽ, và tài kể chuyện vui, khéo léo gợi chuyện với từng loại khách nên khách hàng ai cũng muốn tỏ ra mình là người hiểu biết chuyện trên trời, dưới biển, nên hết kể chuyện giá cả thị trường đến chuyện đường phố rồi chuyện cơ quan. Để giữ chân khách và để khách dốc hết bầu tâm sự, khoe khoang sự hiểu biết của mình, Lan đã sắm một bàn cờ tướng, lại pha sẵn cả chè tươi đãi khách. Thế là "cờ ngoài, bài trong" người đánh thì ít, người xúm vào xem, mách nước thì nhiều. Với tài khéo gợi chuyện của mình, một số cán bộ ở các cơ quan Nhà nước đến đó "không khảo mà xưng" đã nói ra hết những điều chỉ được phép nói trong các cuộc họp ở cơ quan. Nhờ các cuộc trò chuyện đó Phạm Văn Lan đã lựa chọn, chắt lọc được một lượng thông tin quan trọng để đưa vào bản báo cáo cho toán trưởng Trần Minh Châu.

        Nhóm Nam Định của Vũ Đình Đích cũng tỏ ra không thua kém. Đích đã mua chuộc được Trần Ngọc Giao tức Diu làm giao thông liên lạc giữa Hà Nội - Nam Định. Đích còn dụ dỗ được Bùi Công Kỳ là con một địa chủ, cường hào ở tỉnh Ninh Bình. Hồi Pháp chiếm đóng, Kỳ làm mật thám, chỉ điểm cho Pháp bắt cán bộ vào hoạt động ở vùng địch hậu, đánh phá cơ sở cách mạng ở vùng địch hậu và vùng giáp ranh. Hòa bình, hắn đã được học tập cải tạo, nhưng vẫn "ngựa quen đường cũ". Không hoạt động chính trị được thì buôn lậu, chỉ từ đầu năm đến cuối năm 1955 hắn đã bốn lần bị bắt về tội buôn lậu. Kỳ được Đích giao cho hoạt động gián điệp ở tỉnh Ninh Bình.

        Trong khi bọn Trần Minh Châu tức Cập ráo riết hoạt động thì các chiến sĩ tình báo của ta lọt được vào tổ chức này như Sơn (T31), Sự (T15), Thái (T20), Trang (T35) Hào (HG) đã theo dõi, giám sát chặt chẽ nắm được phần lớn hoạt động của từng tên. Vì vậy tất cả các hoạt động của toán gián điệp này đều bị giám sát, khống chế, nên chúng không gây được vụ nổ nào, kể cả việc chúng dùng "mìn than" xếp lẫn vào than chạy đầu máy xe lửa, chúng cũng không gây một vụ mất an ninh chính trị nào như biểu tình, bãi khóa, bãi thị dù là rất nhỏ.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười, 2020, 10:23:04 pm
 
V- T31 VÀO SÀI GÒN LẦN THỨ NHẤT

        Kể từ khi toán gián điệp C30 đặt chân tới Hải Phòng rồi phát triển lên Hà Nội và Nam Định thì Trần Minh Châu tức Cập vẫn không sắp xếp Nguyễn Văn Sơn vào hoạt động cho nhóm nào và cũng không giao nhiệm vụ cụ thể nào cho anh. Kể từ khi quân đội Liên Hiệp Pháp rút khỏi Hà Nội thì tổ chức Đại Việt - Quốc Dân đảng ở Hà Nội hầu như cũng không có hoạt động nào, nên Nguyễn Văn Sơn hầu như là người đứng ngoài cuộc vụ gián điệp C30 này.

        Tới tháng 5-1956 bọn cầm đầu tình báo CIA ở Sài Gòn muốn nắm thật chắc toán gián điệp do Tình báo Thủy quân lục chiến Mỹ và Lãnh sự quán Mỹ ở Hà Nội tuyển lựa người của đảng Đại Việt - Quốc Dân đảng do Trần Minh Châu tức Cập đang hoạt động ở miền Bắc liền điện cho Trần Minh Châu cử người vào Nam báo cáo trực tiếp. Nhận được mệnh lệnh trên, Cập rất mừng vì chúng đã hết tiền tiêu đang muốn xin CIA tiếp tế.

        Trần Minh Châu nhận thấy cho người vượt biển hoặc vượt núi Trường Sơn vào Nam rất nguy hiểm vì khó lòng qua được sự kiểm soát gắt gao của các lực lượng bộ đội, công an, dân quân và sự cảnh giác của người dân, chỉ có cách đi theo đường "quan hệ Bắc Nam" qua cầu Hiền Lương một cách công khai là an toàn nhất. Trần Minh Châu biết rõ Nguyễn Văn Sơn có người bác họ là ông bà Đức Long di cư vào Sài Gòn từ năm 1954, mở cửa hiệu tơ lụa , vải vóc ở đường Lê Lợi, thành phố Sài Gòn, vì thế Châu nói với Sơn:

        - Theo điện từ Sài Gòn yêu cầu ta phái người vào báo cáo với người Mỹ và trung ương Đại Việt -  Quốc Dân đảng về các hoạt động của toán và nhận mệnh lệnh từ các cố vấn Mỹ về các hoạt động sắp tới và cũng xin viện trợ tiền, hàng. Nguyễn Văn Sơn chưa biết nhận hay từ chối vì chưa nhận được chỉ thị của ban chuyên án, nên trả lời:

        - Được các anh tin tưởng giao cho đi công cán ở miền Nam tôi lo không đảm đương nổi, anh cho tôi suy nghĩ đến sáu giờ chiều mai tôi trả lời.

        Trần Minh Châu khích lệ:

        - Với tài của anh tôi tin là anh hoàn thành xuất sắc công vụ này, anh cứ suy nghĩ đi, đến 18 giờ mai gặp tôi.

        Sau khi tiễn Trần Minh Châu ra về, Nguyễn Văn Sơn lập tức đến hộp thư xin gặp khẩn cấp đồng chí Tạ Văn Minh để báo cáo xin ý kiến trưởng ban chuyên án Lê Quốc Thân.

        Ngay sau khi nghe Nguyễn Văn Sơn trình bày cuộc nói chuyện giữa Sơn và Trần Minh Châu, Minh báo cáo ngay với đồng chí Lê Quốc Thân giám đốc Công an Hà Nội, trưởng ban chuyên án C30. Đồng chí Thân nhận thấy việc "đánh" người vào Nam rất quan trọng liền làm ngay đề án rồi báo cáo với bộ trưởng Trần Quốc Hoàn. Đồng chí Bộ trưởng rất quan tâm đến vụ án gián điệp lớn này vẫn thường xuyên nghe đồng chí Thân báo cáo và chỉ đạo cụ thể từng bước. Nay đọc đề án và nghe đồng chí Thân báo cáo trực tiếp về vụ này, đồng chí Bộ trưởng đã nhất trí vởi chủ trương của ban chuyên án "đánh" T31 vào Sài Gòn tiếp cận tình báo CIA và trung ương Đại Việt - Quốc Dân đảng nhằm tìm hiểu thêm âm mưu của chúng đối với miền Bắc, đồng thời thăm dò tình hình đồng chí T20 do Trần Minh Châu phái vào từ trước và ban chuyên án cũng giao nhiệm vụ, nhưng không nhận được tin tức gì.

        Được ban chuyên án giao nhiệm vụ, đích thân đồng chí Lê Quốc Thân mời cơm thân mật, dặn dò Sơn cách đối phó với tình báo CIA và bọn trùm Đại Việt - Quốc Dân đảng và khai thác những bí mật mà đến nay chúng ta chưa nắm được, Nguyễn Văn Sơn biết là chuyến đi này nguy hiểm nhưng vẫn chấp hành mệnh lệnh của cấp trên một cách nghiêm túc. Sơn trở về nhà đem tấm ảnh anh chụp với người vợ yêu qúy, tấm ảnh của mẹ, ảnh của bé Khôi ra ngắm nghía, anh muốn đem tất cả ba tấm ảnh này đi trong chuyến công tác này. Song anh giữ đúng nguyên tắc hoạt động bí mật khi đi vào đất địch không được đem bất cứ thứ gì liên quan đến gia đình, quê hương, cơ quan, anh chỉ đem tấm ảnh bé Khôi còn hai tấm ảnh kia gửi lại Đặng Duy Tá1.

----------
        1. Khi vụ gián điệp C30 bị phác giác, ông Đặng Duy Tá đã  giao hai tấm ảnh trên cho em gái ruột mình là bà Đặng Thị Hoài, vợ ông giáo Vũ Văn Quýnh ở thôn Nghĩa Trang gọi cụ Vũ Thị Nghiêm là cô ruột giữ cho đến tháng 10-1975, ông Đỗ Văn Kha về nhà, bà Hoài mới trao lại.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười, 2020, 10:23:44 pm

        Đúng giờ hẹn, Nguyễn Văn Sơn đến báo tin cho Trần Minh Châu biết mình sẵn sàng vào Sài Gòn theo sự phân công của hắn. Trần Minh Châu mừng rỡ liền bỏ phần lớn số tiền của toán hiện có để mua các đặc sản như tinh dầu cà cuống Thanh Trì, chè Bắc Ba, hạt sen Phố Hiến để Sơn đem vào biếu Đặng Văn Sung, Cao Xuân Tuyên.

        Cùng đi chuyến "quan hệ Bắc-Nam" lần này với Nguyễn Văn Sơn còn có hơn một chục người họ đều là người Hà Nội, Hải Phòng có người thân di cư vào Nam từ năm 1954-1955. Phương tiện đi lại lúc đó rất khó khăn, ba ngày mới có một chuyến ô tô Hà Nội - Quảng Bình - Vĩnh Linh, trên đường đi lại có rất nhiều trạm kiểm soát.

        Biết rõ khó khăn đó, đồng chí Lê Quốc Thân đã cử đồng chí Tạ Văn Minh đóng vai người cùng đi chuyến xe bí mật giúp đỡ Nguyễn Văn Sơn từ Hà Nội đến Bến Hải. Mỗi lần đến trạm kiểm soát, Minh dùng công lệnh đặc biệt của Bộ cấp để can thiệp, nên lần nào Sơn cũng gặp may mắn. Từ khi lấy vé ô tô, qua phà Minh đều đứng ra lo liệu, anh xuất trình công lệnh đặc biệt cho phụ trách bến xe, bến phà trước, rồi cũng ra xếp hàng, còn Sơn thì gửi tiền nhờ mua hộ. Tuy vậy trong cái cảnh hỗn loạn trước cửa bán vé nhiều lần Minh phải chen ngang mới lấy được hai cái vé loại ưu tiên. Lần nào cũng vậy hễ cầm được vé trong tay là Sơn lại khoe với mọi người về sự may mắn của mình.

        Đề phòng bọn mật vụ cho người trà trộn vào đám “quan hệ Bắc-Nam” theo dõi, Minh chỉ mua vé xe đến thị xã Đồng Hới. Tới nơi anh xuống xe, trên xe chỉ còn lại Sơn và những người đi “quan hệ Bắc-Nam” vào Vĩnh Linh.

        Tới thị xã Đồng Hối, Tạ Văn Minh đã đến công an Quảng Bình điện trước cho công an Vĩnh Linh về việc T31 sẽ đến đó vào chuyến xe khách buổi chiều để qua sông Bến Hải vào Nam làm nhiệm vụ đặc biệt. Ngay sau khi điện cho công an Vĩnh Linh, Tạ Văn Minh đã được công an Quảng Bình bố trí một chiếc xe com măng ca bí mật đưa Minh vào Vĩnh Linh trước khi xe ca tới, Công an Vĩnh Linh đã dành cho Minh và Sơn một phòng riêng biệt trong nhà trọ công cộng và bố trí thuyền cho Sơn vượt sông Bến Hải sang bờ Nam cách cầu Hiền Lương một kilômét về phía hạ lưu.

        Xuống xe ô tô ở Vĩnh Linh, Nguyễn Văn Sơn cũng vào nhà trọ như mọi người đi "quan hệ Bắc- Nam" như lời anh Tạ Văn Minh dặn trước khi xuống xe ở thị xã Đồng Hới. Nhưng khi anh xuất trình giấy tờ để đăng ký tạm trú thì một cô nhân viên nhà trọ dẫn anh đến một phòng riêng ở cuối dẫy, cách phòng của những người đi "quan hệ Bắc- Nam" tối 5 phòng bỏ trống, lại có cái bàn trực đêm của nhân viên nhà trọ thay nhau thức suốt đêm kê choán gần hết lối đi. Khi bước qua ngưỡng cửa vào phòng, Sơn đã thấy Tạ Văn Minh có mặt ở đó thì rất mừng vì mình luôn luôn được đồng chí săn sóc và giúp đỡ nhiệt tình. Minh báo cho Sơn biết tối ngày mai, đoàn người "quan hệ Bắc-Nam" sẽ tới bờ Bắc sông Bến Hải, họ xuất trình giấy tờ cho Hải quan nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở bờ Bắc rồi qua cầu sang bờ Nam còn Sơn sẽ được công an Vĩnh Linh bố trí vượt sông Bến Hải bằng thuyền cách cầu Hiền Lương về phía hạ lưu khoảng một kilômét. Anh cũng báo cho Sơn biết là anh đã nhận được điện cho biết Trần Minh Châu đã điện vào Sài Gòn để Cao Xuân Tuyên cho người ra đón anh ở bờ Nam sông Bến Hải.

        Ngày mai khoảng nhá nhem tối sẽ có người dẫn anh tới nơi thuyền chờ đưa anh sang bờ Nam. Đồng chí Tạ Văn Minh nhắc lại nhiệm vụ mà Bộ và công an Hà Nội giao cho anh khi tiếp xúc với CIA và bọn trùm Đại Việt - Quốc Dân đảng và nhắc anh bằng mọi cách phải dò tìm được tung tích đồng chí T20.

        Dặn dò Sơn xong thì nhân viên nhà trọ bên lên một mâm cơm đậy lồng bàn đặt trên chiếc bàn gỗ mộc kê ở trong phòng. Minh mở ra xem thấy mâm cơm có thịt gà luộc, cá thu rim, cua luộc, tôm hùm hấp cách thủy toàn những món hải sản và một chai rượu chanh. Mâm cơm to như vậy nhưng vẫn có đĩa thịt nướng là món ăn Sơn rất thích. Đó cũng là món ăn mà đồng chí Lê Quốc Thân giám đốc công an Hà Nội, trưởng ban chuyên án C30 đã  mời anh cùng với mẹ anh là bà Vũ Thị Nghiêm vào một ngày giáp tết năm 1955 tại nhà một cơ sở ở Hà Nội.

        Trong suốt bữa ăn, Minh ăn rất ít, mà chủ yếu là gắp thức ăn tiếp anh. Biết Sơn nhớ đến mẹ già, vợ trẻ lại vừa sinh con trai bị buộc rời khỏi nhà vì bị qui là địa chủ, Minh động viên, hoàn thành nhiệm vụ, cơ quan sẽ có cách can thiệp với địa phương và hỗ trợ gia đình tới mức cao nhất trong điều kiện cho phép. Sơn hiểu rõ mình nhận nhiệm vụ này chẳng những bản thân phải hi sinh mà mẹ, vợ, các con cũng chịu thiệt thòi cả về vật chất lẫn tinh thần. Nhưng để giành thắng lợi trọn vẹn cho dân tộc thì mặt trận tình báo góp phần quan trọng nên anh sẵn sàng chịu đựng hi sinh nên anh trả lời là mình rất yên tâm đi chuyến này cho đồng chí Minh yên tâm.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười, 2020, 07:09:54 am

        Cơm nước xong đồng chí Tạ Văn Minh khuyên Sơn nên đi nghỉ sớm cho tinh thần sảng khoái, minh mẫn trước khi bước vào cuộc chiến đấu trực tiếp với bọn trùm CIA và đám thủ lĩnh Đại Việt - Quốc Dân đảng.

        Khoảng 5 giờ chiều hôm sau, Sơn cũng như những người đi "quan hệ Bắc Nam" được Hải quan Vĩnh Linh đưa lên xe ô tô chở vào bờ bắc sông Bến Hải gần đầu cầu Hiền Lương, vĩ tuyến 17, ngước nhìn lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên cột cờ bờ bắc cầu Hiền Lương, anh thầm chào lá cờ của Tổ quốc mà vì mầu cờ đỏ thắm có ngôi sao vàng năm cánh ở giữa mà cả dân tộc Việt Nam đã đoàn kết trăm người như một dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng sản Việt Nam, tuân theo "Lời kêu gọi Toàn Quốc kháng chiến" ngày 19-2-1946 là: "Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta đã nhân nhượng, nhưng chúng ta càng nhân nhượng thực dân Pháp càng lấn tới vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa" và Người đã kêu gọi: "Không, chúng ta thề hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ".

        Anh đang miên man suy nghĩ như vậy thì có một người quẩy gánh lưới đi ngang qua nói nhỏ với anh: "Anh đi theo tôi cách đây khoảng một cây số sẽ có thuyền chở anh sang bờ Nam". Ngẩng lên chưa kịp cảm ơn thì người đó đã đi vượt lên một quãng xa. Khi đó trời trạng vạng tối, anh đành xuôi theo bờ Bắc đi về phía cửa Tùng.

        Đúng như người dân chài nói, Sơn đi bộ cách cầu Hiền Lương chừng một kilômét thì thấy một chiếc thuyền gỗ nhỏ đậu áp sát vào bờ liền xách cặp rảo bước tới. Gần tới nơi, người lái đò vẫy ta ra hiệu cho anh xuống thuyền đoạn đưa mắt nhìn trước, trông sau rồi chống sào đẩy thuyền ra xa. Sơn định lên tiếng hỏi, nhưng người lái khẽ lắc đầu ra hiệu cho anh không nên nói chuyện. Sông Bến Hải ở đoạn giáp Cửa Tùng rộng, Sơn nhìn sang bờ Bắc lưu luyến chia tay, thầm hẹn ngày chiến thắng trở về. Anh muốn nhìn những rặng phi lao chạy tít tắp tới Cửa Tùng với các làng chài của Vĩnh Linh anh hùng tuyến đầu của miền Bắc đang hàn gắn vết thương chiến tranh và ngọn cờ đỏ thắm trên đỉnh cột cờ ở bờ Bắc cầu Hiền Lương nhưng lúc này trời đã chạng vạng tối, mây mù đã  buông xuống, anh nhìn không rõ. Vả lại anh biết từ bờ Nam có hàng chục cặp mắt xoi mới đang căng ra dõi theo từng hành động nhỏ của mình nên vội quay về bờ Nam. Con thuyền cưỡi sóng cắt ngang dòng sông tiến về phía Nam, còn cách bờ khoảng hơn một chục mét thì thuyền chạm đất không thể đi được. Người lái đò nói nhỏ vừa đủ để anh nghe tiếng: "Thuyền không vào được, ông vui lòng lội một đoạn, chúc ông thượng lộ hình an" Sơn cũng đáp lại: "Xin chúc ông vạn sự như ý" Nói rồi cúi xuống cởi giầy tất, xắn quần xách cặp lội vào. Lên tới bờ, Sơn lấy từ túi áo ra chiếc khăn mù xoa trắng đó là ám hiệu do Trần Minh Châu qui định khi sang tới bờ Nam sông Bến Hải.

        Đúng như dự đoán của Sơn, anh vừa bước lên bờ thì đã có hai thanh niên mặc thường phục đến đón, một trong hai người đó cũng giơ chiếc khăn tay trắng lên nói: "Xin chào người anh em, bá và dì có được mạnh giỏi không?". Sơn đáp lại câu trả lời mà anh đã học thuộc lòng: "Cảm ơn hai cậu, bà và dì vẫn bình yên vô sự". Nhận ra đúng ám hiệu và mật khẩu hai tên ra đón Sơn ra hiệu cho anh theo chúng đi đến đầu cầu Hiền Lương ở bờ Nam sông Bến Hải do chính quyền Ngộ Đình Diệm quản lý. Đúng lúc đó những người đi "quan hệ Bắc-Nam" đã từng ngồi chung với anh một xe, từng chịu bao nỗi vất vả trên dọc đường cũng đứng túm tụm cả ở đầu cầu bờ Nam. Một trong hai tên đi đón Sơn nói lớn với mọi người:

        - Các ông các bà đi làm thủ tục, còn cái ông này bị tình nghi phải đưa về ty công an Quảng Trị thẩm vấn...

        Bọn chúng đưa Nguyễn Văn Sơn lên trên gác cho ăn cơm, uổng rượu rất thịnh soạn. Sáng hôm sau bọn chúng đưa ô tô ra đón Sơn đến dinh Tỉnh trưởng Quảng Trị, trưởng ty công an Quảng Trị cũng ra tận ô tô đón Sơn.

        Sáng hôm sau, trung úy Ninh, người của giám đốc An ninh tình báo Trần Kim Tuyến từ Sài Gòn đến dinh tỉnh trưởng Quảng Trị đón Sơn. Tên này người miền Bắc, cao khoảng lm68, mặt hơi to, mũi dọc dừa, nặng khoảng 60 kilôgam, hắn mặc thường phục. Ninh cảm ơn Tỉnh trưởng, trưởng ty công an Quảng Trị rồi đưa Sơn vào Huế tới phi trường Phú Bài lấy vé máy bay bay vào Sài Gòn.

        Máy bay hạ cánh ở phi trường Tân Sơn Nhất, Sài Gòn tại đây có một chiếc xe con đón Sơn và trung úy Ninh. Người đón là trung tá Liễu. Tên này tướng ngũ đoản, mặt tròn, đeo kính trắng, nặng chỉ khoảng gần 50 kilôgam, nói tiếng miền Trung nhưng hơi nhẹ, có lẽ vì đã ở thành phố nhiều năm. Ninh giao Sơn cho trung tá Liễu rồi lái xe đi. Trung tá Liễu tỏ vẻ lịch sự mời anh lên xe của hắn. Liễu phóng xe rất nhanh vòng vèo qua một số đường phố vắng ở thành phố Sài Gòn rồi bất chợt dừng lại bên lề một ngã tư đường. Liễu giao anh cho một người Âu hay Mỹ không rõ, mặc thường phục, dáng cao, to, tự lái xe. Sau này Sơn tìm hiểu mới biết đó là Paul, thiếu tá tình báo CIA.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười, 2020, 07:10:38 am

        Paul đưa Sơn đến một village nhỏ ở phố Calnette, quận 2 Sài Gòn - nay thuộc quận nhất thành phố Hồ Chí Minh -Tại đây đã có các tên Nguyễn Văn Thọ, Trần Ninh Hợi mà anh đã biết mặt ở Hà Nội chờ sẵn ở đó. Qua tìm hiểu anh mới rõ căn nhà này là bất động sản của đảng Đại Việt -  Quốc Dân đảng nhưng không công khai mà do kĩ sư Cẩn người miền Bắc đứng chủ gia. Người của Đại Việt - Quốc Dân đảng đón anh chỉ có Nguyễn Văn Thọ, còn Trần Ninh Hợi khi đó nằm dưỡng bệnh ở đó.

        Qua thái độ chẳng ra nồng nhiệt cũng không thờ ơ của bọn Đại Việt - Quốc Dân đảng trong cái biệt thự này Sơn thấy rõ anh đang bước vào một cuộc chiến đấu không cân sức vì một phía là bọn trùm CIA cùng bọn cầm đầu Đại Việt - Quốc Dân đảng, lại còn bọn an ninh của Tổng nha cảnh sát Sài Gòn do tên cáo già Trần Kim Tuyến cầm đầu, lại ở ngay Sài Gòn hang ổ của chúng. Tình thế của anh lúc này chẳng khác nào cưỡi trên lưng hổ, không thể xuống được chỉ có cách diệt chết hổ thì mới tồn tại. Anh tự nhủ mình là phải luôn luôn tỉnh táo, cảnh giác để chiến thắng tất cả cạm bẫy và có thể cả sự tra tấn của quân thù để giữ trọn vẹn bí mật của Đảng, của cơ quan an ninh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Chẳng những thế, anh còn phải vượt lên tận dụng mọi sơ hở của chúng để khai thác các bí mật của đế quốc Mỹ, Ngô Đình Diệm và các đảng phái phản động khác để phục vụ cho việc đánh địch của cơ quan an ninh mà đồng chí trưởng ban chuyên án giao phó cho và không phụ lòng giúp đỡ tận tình của đồng chí Tạ Văn Minh.

        Sơn không phải chờ đợi lâu, ngay chiều hôm đó Đặng Văn Sung rồi Cao Xuân Tuyên lần lượt đến hỏi thăm sức khỏe nhưng đều bắt anh phải viết báo cáo tường tận lý lịch mình và tình hình chính trị, kinh tế, quân sư, an ninh ở miền Bắc. Về lý lịch anh khai đúng như trước kia anh đã  khai sau khi vào đảng Đại Việt - Quốc Dân đảng, còn các tình hình chung của miền Bắc anh không hề đả động tới, vì Trần Minh Châu chỉ giao cho anh nhiệm vụ tuyên truyền trong giới trí thức và tư sản Hà Nội, nhưng thời gian tính từ ngày 10- 10-1954 đến nay quá ngắn ngủi nên anh thu thập được chưa nhiều. Chúng cũng bắt anh phải báo cáo cả các hoạt động của các nhóm ở Hải Phòng, Nam Định. Cao Xuân Tuyên cũng gợi ý cho Sơn phải tường trình rõ ràng chuyến vào Nam từ Hà Nội qua các tỉnh đến khi đặt chân tới Vĩnh Linh, qua sông Bến Hải. Khi Đặng Văn Sung và Cao Xuân Tuyên đi khỏi thì có bốn tên lực lưỡng canh gác ngôi nhà này và buộc Sơn không được rời biệt thự, không được tiếp xúc với ai và thậm chí anh muốn tới phòng ăn hay đi nhà vệ sinh cũng do một tên dẫn đi. Sơn biết là mình đang bị giam lỏng và cuộc chiến đấu thực sự trong hang ổ quân thù đã bắt đầu.

        Suốt một tuần Sơn phải viết báo cáo theo gợi ý của Cao Xuân Tuyên. Khi anh viết xong thì những đứa quen mặt như Cao Xuân Tuyên, Trần Ninh Hợi, Nguyễn Văn Thọ không hề lai vãng mà có tới ba, bốn tên lạ mặt, mặt lạnh như tiền thay nhau thẩm vấn, kiểm tra. Chúng hỏi anh rất nhiều chuyện, có những câu chẳng đâu vào đâu chuyện chúng hỏi chủ yếu là miền Bắc, quê quán, thuở nhỏ học ở đâu, làm gì, về sở thích, về cuộc sống riêng tư về bạn chơi thuở nhỏ, bạn học, bạn chơi bời. Thỉnh thoảng chúng mới xen vào một câu chính trị về hoạt động của bộ đội, công an miền Bắc, về trang bị của bộ đội, các đồn công an đóng ở Hà Nội, cả vị trí đóng quân của các sư đoàn 308, 320... Thời gian thẩm vấn chúng không phân biệt, mấy ngày đầu chúng hỏi vào ban ngày theo giờ hành chính, rồi chúng thẩm tra cả ban đêm, có ngày chúng thay nhau quần anh đến hai, ba giờ sáng, khiến cho đầu óc anh căng thẳng mụ mẫm, toàn thân rã rời mệt mỏi, vào những giây phút đó người bị thẩm vấn dễ trả lời ào ào cho qua chuyện, sa vào bẫy chúng. Nhưng anh vẫn hết sức bình tĩnh không hề nóng nảy, cũng không trả lời ào ào cho qua chuyện mà đều có cân nhắc hẳn hoi và đặc biệt là trong cùng một câu hỏi thì lần trả lời thứ hai cho đến các lần tiếp theo đều trả lời giống nhau.

        Suốt một tuần liền anh phải đối phó với những câu hiểm hóc, những cái bẫy tưởng như vô tình nhưng thực ra nó được dầy công sắp đặt của bọn mật vụ nhà nghề. Có lẽ không khai thác được gì ở anh, nên bọn chúng đã phải buông tha anh, bắt anh ký vào bản cung không phải là một tờ cuối mà anh phải ký tới hơn ba chục tờ. Anh ký vào các tò cung vào cuối giờ buổi sáng thì vào đầu buổi chiều anh nghe có tiếng chân nhiều người bước về phía phòng mình, anh chuẩn bị tinh thần đối phó thì người đẩy cửa vào phòng anh không phải là họn người có khuôn mặt lạnh lùng mà là Cao Xuân Tuyên tay cầm bó hoa tươi cười bước vào. Sự xuất hiện của Cao Xuân Tuyên chứng tỏ những buổi hỏi cung khó chịu đã chấm dứt và anh đã là người chiến thắng. Sơn nhìn Cao Xuân Tuyên trách:

        - Tôi một lòng với chủ nghĩa quốc gia, vậy mà các ông không tin vẫn tra hỏi tôi như đối với kẻ thù.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười, 2020, 07:11:02 am

        Cao Xuân Tuyên nhẹ nhàng nói:

        - Đó là nguyên tắc của tổ chức, bất cứ ai dù là trung ương ủy viên cũng phải tuân thủ,

        Sơn nhận thấy đây là thời cơ để hỏi tin tức về T20 mà Trần Minh Châu đã phái vào trước anh hai tháng nhưng không nhận được tin tức gì. Bọn  Trần Minh Châu thì đoán anh bị lực lượng cách mạng đón bắt và xử lý, còn ban chuyên án lại cho rằng do anh sơ hở nên chúng nghi ngờ anh là người của cách mạng nên đã thủ tiêu. Vì thế trong chuyến đi này anh được các đồng chí trong ban chuyên án giao cho nhiệm vụ tìm hiểu rõ ràng trường hợp đồng chí T20, liền hỏi Cao Xuân Tuyên:

        - Hai tháng trước ông Trần Minh Châu phái anh Thái vào nhận chỉ thị và xin tiếp viện sao đến nay vẫn không nhận được tin tức gì?

        Cao Xuân Tuyên trả lời:

        - Đúng, Thái có vào trong này nhưng về ngoài đó khó nên chúng tôi đã bố trí cho anh ta ở lại Sài Gòn làm ăn.

        Sơn vẫn nghi ngờ về chuyện này liền nói:

        - Vậy các ông bố trí cho tôi thăm ông Thái.

        Cao Xuân Tuyên ngẫm nghĩ một lát rồi nói:

        - Nếu anh muốn đến gặp Thái, chúng tôi sẽ đưa đến.

        Sơn biết rằng Cao Xuân Tuyên đã nhận lời, mình không thể nài ép thêm được, nên không nói gì nữa. Anh tưởng rằng việc thử thách đến đây là hết thì Cao Xuân Tuyên lại nói:

        - Người Mỹ đến giúp mình nhưng họ không tin vào lời khai và các báo cáo mà họ tin vào khoa học kỹ thuật, vì vậy anh còn phải qua "máy chống nói dối" của người Mỹ.

        Sơn cũng đã từng nghe kể về "máy chống nói dối" của Mỹ, nhưng không rõ nó tối tân hiện đại đến mức nào, kì diệu đến mức nào, liệu nó có thật sự phát hiện được những điều mình nói không thực không?. Vì thế khi nghe Cao Xuân Tuyên nói, Sơn cũng phát hoảng, vì nếu mình chỉ thiếu bình tĩnh lúng túng, không nhất quán trong khi trả lời khẩu cung của chúng, sẽ bị chúng phát hiện. Nhằm đối phó có kết quả với loại máy "đánh vào tâm lý" này cần phải biết cách chống nó, làm vô hiệu hóa các tần số chỉ nhịp đập của tim trên màn huỳnh quang, Sơn liền làm bộ tức giận quát tháo ầm ĩ là mình đã chịu đựng biết bao nguy hiểm mới vào tối đây vậy mà hết bị bắt viết tường trình, lại hỏi cung nay lại bị kiểm tra bằng "máy chống nói dối" anh khăng khăng không hoạt động nữa mà ở lại Sài Gòn làm ăn buôn bán.

        Không rõ Trần Ninh Thọ đến từ lúc nào thấy anh to tiếng với Cao Xuân Tuyên cũng chạy vào, hắn nói lời lẽ cũng hệt như Cao Xuân Tuyên:

        - Mỹ là nước văn minh, tụi cố vấn tin vào khoa học kĩ thuật, mình cây ngay không sợ chết đứng, chả có vấn đề gì đâu, tụi Mỹ chỉ hỏi, bốn năm câu bình thường tưởng ra vô thưởng vô phạt rồi đột nhiên nó hỏi một câu có liên quan đến công việc...

        Cao Xuân Tuyên ra vẻ đã từng qua "máy kiểm tra chống nói dối" này mách nước:

        - Anh đừng lo, máy đó chẳng có gì là tôi tân hiện đại đâu, nhưng anh nên nhớ, khi trả lời, tốt nhất là đừng nói dài, đừng giải thích lôi thôi, dài dòng dễ bị sơ hở, nó dựa vào đó mà truy hỏi, mà chỉ cần trả lời một trong hai từ hai từ “yes” (phải), hoặc “no” (không) là đủ.

        Sau khi nhận được một lượng thông tin ít ỏi để đối phó với "máy chống nói dối". Sơn cố tìm cách đối phó sao cho có kết quả mà không bị lộ liễu. Tối hôm đó một chiếc xe con chở một sĩ quan chở một sĩ quan CIA và một tên là bác sĩ cũng là người Mỹ chở "máy chống nói dối" đến. Cao Xuân Tuyên khoe với hai tên Mỹ là Sơn biết tiếng Anh, nhưng Sơn muốn có thêm thời gian suy nghĩ để trả lời các câu hỏi nên nói: "Tôi chỉ biết một ít tiếng Anh thông thường trong giao tiếp mà cần phải có thông ngôn". Bọn Mỹ buộc phải cho xe đi tìm thông ngôn vì thế thời gian kiểm tra phải kéo dài thêm.

        Chừng hai mươi giờ hai tên Mỹ sai mấy tên vệ sĩ làm nhiệm vụ canh gác, giám sát Sơn khiêng đến một chiếc bàn gỗ rộng một mét, dài 1,5 mét đặt ở giữa phòng để đặt máy. Anh để ý thấy "máy chống nói dối" chẳng khác gì máy điện tâm đồ ở khoa tim mạch bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội, nên anh có phần yên tâm hơn. Nhưng có thể bọn Mỹ giở trò chiến tranh tâm lý dùng máy này uy hiếp tinh thần anh nên chúng lừng khừng mãi chưa vào cuộc. Mãi tới 22 giờ khi Sơn đã mệt nhoài sau một ngày bị chúng hỏi cung và suy tính tìm cách đối phó với máy chông nói dối và thấy buồn ngủ thì tên bác sĩ người Mỹ mới bắt đầu buộc hai dây mạch vào ngực và hai cánh tay anh. Sau đó tên bác sĩ chỉ huy cuộc thẩm vấn, tên Mỹ còn lại đọc trên màn huỳnh quang và quan sát thái độ của anh, còn tên thông ngôn thì thông dịch. Anh nghĩ cách đối phó là khi chúng hỏi những câu bình thường thì lấy hơi sức thở mạnh. Tiếng nói của anh được máy tự động thể hiện và ghi lại bằng hai chiếc kim màu xanh, màu đỏ kẻ trên băng giấy trắng. Mạch đập của tim và nhịp thở của phổi cũng có đồng hồ riêng theo rõi ghi rất chi tiết. Tên CIA hỏi:

        - Tên anh có phải là Sơn không?


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười, 2020, 07:11:32 am

        Sơn trả lời:

        - Yes

        Tên CIA hỏi dồn dập:

        - Anh ở nhà số 54C phố Hàng Đào Hà Nội phải không?

        Sơn trả lời:

        - Yes

        - Anh vào đây có xin giấy Hải quan Cộng sản phải không?

        Sơn trả lời:

        - Yes

        Đột nhiên tên CIA hỏi:

        - Trước khi vào đây anh nhận những nhiệm vụ gì của cộng sản?

        Trong khi chờ đợi thông ngôn dịch Sơn biết đây chính là câu hỏi chính của chúng nên anh trả lời một cách rất bình thường:

        - No

        Kết quả là trên màn huỳnh quang mạch đập của tim cũng như nhịp thở không có biểu hiện cao thấp tỏ ra rối loạn. Tên CIA lại hỏi:

        - Đến Quảng Trị anh có ở nhà Tỉnh trưởng không?

        Sơn trả lời:

        - Yes

        Sơn vừa dứt lời thì tên Mỹ hỏi ngay:

        - Điểm tâm có hợp khẩu vị không?

        Sơn trả lời:

        - No

        Tên tình báo CIA hỏi ngay:

        - Ai là cộng sản chỉ đạo anh vào trong này làm gì?

        Sơn trả lời ngay sau khi thông ngôn dịch:

        - No

        Hai tên cố vấn Mỹ kéo dài cuộc thẩm vấn bằng máy đến một giờ sáng hôm sau. Tên bác sĩ nói với tên CIA:

        - Quái, chỗ nào mình nghi ngờ thì máy bình thường, còn chỗ không nghi ngờ thì máy lại tụt xuống.

        Cuối cùng chúng phải kết thúc cuộc thẩm vấn. Khi bọn Mỹ đã lên xe đi khỏi và Cao Xuân Tuyên, Trần Ninh Thọ cũng trở về phòng riêng, chỉ còn lại mình Sơn ở trong phòng. Đến lúc này anh mới hiểu rõ vì sao đồng chí T20 vào mà không trở ra, rất có thể vì anh đã lúng túng, mất bình tĩnh để máy phát hiện ra một điều nghi ngờ nào đó về lòng trung thành của anh với chúng, nhưng vì chúng chỉ nghi ngờ nên không giết anh mà chỉ để anh ở lại Sài Gòn.

        Máy "chống nói dối" đưa lại kết quả không đúng như ý muốn của CIA, nên chúng đã quyết định "làm lại". Việc đó được thực hiện vào 0 giờ 30 phút ngày hôm sau. Nhưng lần này Nguyễn Văn Sơn đã có kinh nghiệm đối phó với "máy chống nói dối" mà anh hiểu rõ nó cũng chẳng có gì ghê gớm chỉ là đánh vào tâm lý của người bị thẩm vấn, những người vững vàng, kiên định thì chiến thắng, những người lúng túng, bị động thì nói năng sơ hở từ đó chúng xoáy vào mà truy bức. Tên CIA và tên bác sĩ Mỹ lại lặp lại những câu hỏi như đêm hôm trước, nhưng chúng không phát hiện được gì, đến hai giờ sáng hôm sau chúng phải kết thúc cái trò chiến tranh tâm lý này.

        Sau cuộc thẩm vấn bằng máy "chống nói dối" lần thứ hai, Sơn trở về phòng ngủ một giấc say sưa cho tới chín giờ sáng hôm sau mới thức giấc.

        Suốt ngày hôm đó Sơn được yên ổn không có một tên nào quấy rầy. Từ đó anh khẳng định lần này thì mình đã vượt qua được các cuộc thẩm vấn bằng cách hỏi cung thông thường, và hỏi cung bằng máy. Như vậy là bằng ý chí và nghị lực anh đã  chiến thắng bọn CIA Mỹ cùng bọn tay sai đắc lực của chúng về thẩm vấn tù nhân.

        Sáng hôm sau Sơn giật mình thức giấc vì sự ồn ào náo nhiệt của bọn chúng. Anh nhìn đồng hồ kim đã chỉ chín giờ ba mươi phút liền đi đánh răng rửa mặt. Anh thấy mấy tên mặt lầm lì giám sát anh không còn nữa và thấy bọn người lạ mặt lăng xăng đi lại. Lát sau, Cao Xuân Tuyên cùng Trần Ninh Hợi vào gặp Sơn, Tuyên vui vẻ báo tin:

        - Hôm nay chúng tôi mở tiệc chiêu đãi anh ...

        Sơn chưa kịp trả lời thì Trần Ninh Hợi nói tiếp:

        - Bữa tiệc này có cả bác sỹ Đặng Văn Sung, cố vấn Lucium Conein, Paul và nhiều nhân vật quan trọng của Đại Việt - Quốc Dân đảng đến dự. Như vậy là từ nay các thủ đoạn thẩm vấn đã chấm dứt, anh đã vượt qua được cả ải nghi ngờ của bọn chúng nhưng vẫn làm ra vẻ thờ ơ:

        - Tiệc tùng hay không là tùy các ông, tôi chỉ mong được sống yên ổn thôi!

        Cao Xuân Tuyên làm như không nghe thấy câu trả lời của Sơn , mà nói:

        - Anh thông cảm, chúng tôi mở bữa tiệc can méc tại gia, vì đi ra ngoài dễ bị lộ, các thứ nấu đã  mua, thợ nấu cũng đã thuê từ Chợ Lớn đến.

        Lát sau Đặng Văn Sung, Cao Xuân Tuyên, Trần Ninh Thọ, Lucium Conein, Paul trung tá tình báo Mỹ đón anh ở dọc đường do trung tá Liễu giao và những tên khác lần lượt đến bắt tay, coi anh là nhân vật số một trong bữa tiệc Lucium Conein vừa bắt tay anh vừa nói như ra lệnh:

        - Trở về miền Bắc các anh phải khẩn trương phá hoại nếu chưa làm nổi chuyện lớn thì hãy cứ làm sao có được vài tiếng nổ bất cứ ở đâu để gây ảnh hưởng.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười, 2020, 07:11:49 am

        Sơn làm bộ như chăm chú nghe nhưng trong lòng trào lên sự căm thù bọn xâm lược từ bờ bên kia Thái Bình Dương đã đem quân lính cùng các loại vũ khí tối tân, các chất độc hóa học sang xâm lược Việt Nam.

        Tiệc của chúng là tiệc lớn, có những thức ăn chưa từng thấy bao giờ, rượu Pháp, rượu Anh, rượu Tàu có tới bẩy loại. Trong bữa tiệc lần lượt Đặng Văn Sung, Cao Xuân Tuyên, Trần Ninh Thọ cùng các cố vấn Mỹ và tất cả những tên có mặt trong đám tiệc đều đến chúc rượu tâng bốc Sơn là: Anh "người dũng cảm liều mình vì Người mang trọng trách cao cả", "Người sống trong vùng cộng sản mà không bị nhuộm đỏ"...

        Sơn không muốn chúng nghi ngò, nên đáp lại tất cả thịnh tình của chúng. Bữa tiệc kéo dài chừng một tiếng đồng hồ, mấy tên Mỹ làm ra bộ lịch sự bắt tay chúc mừng và chủ tiệc Đặng Văn Sung rồi ra về. Đám Đại Việt - Quốc Dân đảng ở lại tiếp tục ăn uống, cuối cùng nhiều đứa say khướt phải nằm lại biệt thự.

        Hai ngày sau Cao Xuân Tuyên đưa cho anh một tờ giấy trắng bảo ký vào, anh biết chúng sẽ dùng tờ giấy đó để moi tiền bọn Mỹ, nhưng anh không bận tâm. Hôm sau Cao Xuân Tuyên đưa anh lên ô tô chở đến nhà ông bà Đức Long ở đường Lê Lợi. Đến nơi thì bà đi lễ chùa chỉ có ông và con gái ở nhà. Vì có mặt Tuyên ở đó, nên anh chỉ hỏi thăm ông về sức khỏe và việc làm ăn buôn bán, không dám nói lên điều tâm sự. Ông Đức Long mời anh ở lại chờ bà nhưng Cao Xuân Tuyên đưa mắt ra hiệu, anh đành phải chào ông để ra về. Bọn Đại Việt - Quốc Dân đảng để Sơn ăn chơi ở Sài Gòn hơn một tháng, tuy nói vậy nhưng chỉ có ăn uống là thoải mái, bữa nào cũng như tiệc, còn chơi thì không được tự do, vì anh chỉ được phép ở trong vi la không được ra ngoài, muốn đi đâu phải xin phép, chúng có chấp nhận mới được đi và chúng đều có người đi kèm.

        Mặc dù bị chúng bưng bít như vậy nhưng qua những lần tiếp xúc với Đặng Văn Sung, Cao Xuân Tuyên, Sơn cũng nắm được tin bọn chúng đang ráo riết tuyển lựa số ngụy quân, ngụy quyền là người dân tộc Thái, Thổ, Nùng ở Lai Châu và Hải Ninh di cư vào Nam từ năm 1954-1955 rồi tung ra miền Bắc. Sơn cũng biết rõ bọn Đặng Văn Sung chọn hai con đường xâm nhập vào miền Bắc là từ biển Đông đổ bộ lên các đảo ở vịnh Hạ Long, Bái Tử Long rồi đổ bộ vào các huyện vùng ven biển khu Hồng Gai Quảng Yên và tỉnh Hải Ninh, mà mục tiêu chính là các huyện Tiên Yên, Đầm Hà, Hà Cối, Móng Cái vốn là vùng “Xứ Nùng tự trị” của Voòng A Sáng trước kia đến nay chúng vẫn còn cài cắm được nhiều tay chân tin cậy. Con đường thứ hai mà bọn Đặng Văn Sung lựa chọn để xâm nhập vào miền Bắc Việt Nam là tỉnh Lai Châu, tỉnh Sơn La của vùng Tây bắc mà hai tỉnh trên là “đất thánh” của "Xứ Thái tự trị" ở đây bọn chúng có rất nhiều cơ sở là thân nhân của binh lính di cư vào Nam như ở Hải Ninh. Con đường này đối với chúng có phần thuận lợi hơn vì chúng đổ bộ bọn gián điệp biệt kích xuống Thượng Lào rồi từ đó xâm nhập vào Việt Nam qua các đường mòn vào hai tỉnh Lai Châu, Sơn La. Chúng xây dựng bàn đạp ở đây rồi xâm nhập qua Hòa Bình về Hà Đông, Sơn Tây. Qua tiếp xúc với Đặng Văn Sung, Cao Xuân Tuyên, Sơn còn biết ý đồ của bọn Tình báo Thủy quân Lục chiến Mỹ và CIA, mở một đường dây liên lạc Hà Nội - Hải Phòng - Hồng Kông để làm nhiệm vụ thông tin, tiếp tế vũ khí trực tiếp với CIA thay cho đường điện tín Hà Nội - Hải Phòng - Sài Gòn và đường bộ qua cầu Hiền Lương ở Vĩnh Linh vì các nơi đang bị công an của Trần Kim Tuyến phá. Sơn cố công khai thác tin tức quan trọng này, nhưng có lẽ đó mới chỉ là dự kiến đang được CIA và tình báo thủy quân lục chiến Mỹ chứ chưa có kế hoạch cụ thể nên anh không nắm được các tình tiết.

        Trước khi Sơn trở lại miền Bắc, Cao Xuân Tuyên, Trần Khắc bắt buộc anh phải học thuộc lòng một số câu để khai báo với Hải quan, Công an miền Bắc là từ giới tuyến quân sự ở cầu Hiền Lương đi bằng phương tiện gì vào Sài Gòn và dừng lại ở đâu, vào Sài Gòn ở nhà ai, ai cho những gì để làm quà cho người thân ở miền Bắc, để khai báo cho hợp lý và nhất quán. Việc này chúng thực hiện rất cẩn thận và có kiểm tra.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười, 2020, 07:12:18 am

        Về yêu cầu tiếp tế của Trần Minh Châu tức Cập đang hoạt động ở miền Bắc, Cao Xuân Tuyên không gửi vàng và tiền Tài chính lưu hành ở miền Bắc mặc dù chúng không thiếu, mà chúng mua một số hàng quí, hiếm ở miền Bắc như ti phô, u rê, moóc phin nguyên chất để chế biến thuốc Tây chữa các bệnh hiểm nghèo, đồng hồ Ô-mê-ga, bút máy Packer 51. Số hàng hoá trên nhiều đến nỗi chất đầy một va li lớn.

        Sơn thấy bọn Cao Xuân Tuyên khẩn trương chuẩn bị đưa mình trở về Bắc, anh gợi ý cho mình gặp Thái được Trần Minh Châu, phái vào Sài Gòn xin viện trợ. Thái cũng được ban chuyên án C30 đồng ý cho đi và giao nhiệm vụ tiếp xúc với CIA và trung ương Đại Việt - Quốc Dân đảng để khai thác âm mưu của bọn chúng với miền Bắc. Nhưng rồi không thấy anh ra, và cũng không có tin tức gì. Bọn Trần Minh Châu thì cho rằng anh đã bị lực lượng an ninh của cộng sản hoạt động bí mật ở miền Nam thủ tiêu. Ban chuyên án thì cho rằng có thể trong khi tiếp xúc với CIA anh đã sơ xuất để lộ tung tích, nên bị chúng bí mật thủ tiêu. Nay anh nhắc lại yêu cầu được gặp Thái với Cao Xuân Tuyên. Tuyên bằng lòng nhưng không cho anh đến gặp Thái mà đưa Thái đến vi la gặp anh. Hai người gặp nhau với tư cách là đảng viên đảng Đại Việt -  Quốc Dân đảng nhưng thực ra đó là hai đảng viên đảng Lao động Việt Nam, hai chiến sĩ an ninh của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa gặp nhau trong hoàn cảnh này thật vô cùng xúc động, nhưng họ không nói với nhau được điều gì vì Cao Xuân Tuyên lúc nào cũng kè kè bên cạnh, nên đành bằng lòng là anh chưa rõ Thái ở lại Sài Gòn vì lý do gì nhưng hiện anh còn sống và an toàn, khỏe mạnh và điều chắc chắn là anh chưa bị lộ là người của ta cài vào tổ chức của chúng, nhưng còn anh sống ra sao, có bị chúng ràng buộc gì không thì anh hoàn toàn không được biết.

        Trước hôm lên đường bọn Cao Xuân Tuyên đưa Sơn đến Chợ Lớn dự bữa tiệc chia tay. Thức ăn cũng rất nhiều, toàn là sơn hào hải vị, chỉ riêng bát yến ăn tráng miệng đã giá tới 100 đồng, trong khi một chỉ vàng chỉ có 280 đồng.

        Hôm Sơn trở ra Bắc bọn Cao Xuân Tuyên lại giao Sơn cho tên Mỹ lần trước, đó chính là trung tá tình báo Paul. Trung tá Paul lại giao anh cho trung úy Ninh lấy vé máy bay ở phi trường Tân Sơn Nhất, đưa Sơn ra Huế rồi từ Huế đi ô tô ra Quảng Trị giao Sơn cho trưởng ty công an Quảng Trị. Hôm sau công an Quảng Trị cho xe đưa tới đồn Cảnh sát bờ Nam sông Bến Hải. Đến 11 giờ đêm Sơn không còn nhớ ngày nhưng nhớ rõ là vào tháng 9-1956, bọn cảnh sát ở đồn cảnh sát bờ Nam dẫn ra giữa cầu từ đó anh trở về miền Bắc.

        Khi đó Sơn mừng rỡ, sung sướng chỉ muốn reo to đế báo tin cho mảnh đất Vĩnh Linh địa đầu của Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là anh đã hoàn thành trọn vẹn nhiệm vụ Tổ Quốc giao phó cho, nhưng vẫn phải cố nén lại vì anh biết từ bờ Nam quân thù vẫn dõi những cặp mắt theo anh.

        Vừa bước chân khỏi cầu Sơn đã vô cùng mừng rỡ vì đồng chí Tạ Văn Minh đã đón ở đó. Đồng chí Minh cho biết khi anh Tá nhận được tin do Trần Minh Châu báo anh sắp ra Bắc, lãnh đạo ban chuyên án đã phái anh vào đón. Đêm hôm đó đã báo cáo tường tận chuyến vào Nam của mình để đồng chí Minh rõ. Đồng chí Minh chuyển lời khen ngợi của Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn, đồng chí Lê Quốc Thân.

        Hôm sau đồng chí Minh cho chiếc xe commăngca chở mình vào về trước, còn anh lại cùng Sơn lấy vé ô tô xe khách về Hà Nội. Anh không về 54C phố Hàng Đào mà về một nhà cơ sở Minh đã hẹn từ trước. Tói nơi anh đã thấy đồng chí Lê Quốc Thân chờ ở đó. Sơn đã báo cáo lại toàn bộ diễn biến trong chuyến đi Nam vừa rồi.

        Báo cáo xong anh mở va li kiểm kê toàn bộ số hàng do bọn Cao Xuân Tuyên từ Sài Gòn gửi ra. Đồng chí Lê Quốc Thân quyết định giao toàn bộ sô hàng trên cho bọn chúng và viết báo cáo về chuyến đi với ban chuyên án.

        Chấp hành chỉ thị trên, Sơn giao lại toàn bộ số hàng trên cho Trần Minh Châu và Phạm Đăng Hào. Trần Minh Châu mừng rỡ nói:

        - Tôi nhận được điện của Cao Xuân Tuyên là đã giao cho cho anh mang hàng tiếp tế qua đường cầu Hiền Lương. Chúng tôi chỉ lo trên đường về anh bị Hải quan, Công an, Thuế vụ gây khó khăn...

        Qua lời Trần Minh Châu, Nguyễn Văn Sơn nhận thấy quyết định của đồng chí giám đốc công an thành phố Hà Nội kiêm trưởng ban chuyên án Lê Quốc Thân là sáng suốt, vì thực ra bọn Cao Xuân Tuyên đã điện báo cho Trần Minh Châu số lượng từng loại hàng trên. Nay bọn chúng thấy số hàng trên không hề bị thất thoát đã tạo được điều kiện cho bọn chúng hoàn toàn tin cậy anh.

        Trần Minh Châu, Phạm Đăng Hào đem số hàng trên bán được sáu mươi triệu đồng tiền miền Bắc. Cả toán được chia đều tiền. Riêng Sơn được ưu tiên thêm một đồng hồ Oméga, một bút máy Parker 51. Sơn còn có phần thưởng lớn hơn là trong tháng 9-1956 anh được Ủy ban hành chính thành phố Hà Nội khen thưởng về thành tích công tác.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười, 2020, 07:13:20 am

VI- THIẾT LẬP ĐƯỜNG DÂY LIÊN LẠC HÀ NỘI - HẢI PHÒNG - HỒNG KÔNG

        Sau khi Trần Minh Châu, nhận được điện của Lucium Conein và Đặng Văn Sung chỉ định Hào vào Sài Gòn thì Châu nói với Hào:

        - Trong đó lại yêu cầu anh vào, chuyến này có thế anh đi ngoại quốc ít lâu.

        Phạm Đăng Hào báo cáo sự việc trên cho ông Hai Thạch tại hộp thư thì đích thân ông Hai gặp Hào giao nhiệm vụ cho anh vào Sài Gòn để điều tra âm mưu mới của địch.

        Phạm Đăng Hào vào Nam từ cuối năm 1956 đến đầu năm 1957 thì ra Hà Nội đem theo mệnh lệnh mới của CIA và của trung ương Đại Việt -  Quốc Dân đảng trong đó có việc quan trọng và cấp bách là thành lập đường dây liên lạc mới qua con đường Hồng Kông - Hải Phòng- Hà Nội không qua con đường Sài Gòn phải nhờ vả vào chính quyền Ngô Đình Diệm nữa. Đường dây này sẽ ngụy trang dưới hình thức Công ty thương mại Hải Phòng có chi nhánh ở Hồng Kông "Nhiệm vụ của công ty này là làm liên lạc, nhận viện trợ trực tiếp với Mỹ, làm kinh tế để cung cấp một phần kinh phí cho toán gián điệp hoạt động ở miền Bắc". Bọn chúng biết việc này chỉ có Đặng Duy Tá đang làm chủ hiệu tơ lụa, vải vóc ở 54C phố Hàng Đào đã có quan hệ bạn hàng với Hồng Kông mới làm được nên Trần Minh Châu đã gặp riêng Sơn nói:

        - Hiện nay từ Nam vĩ tuyến 17 trở vào đang có mâu thuẫn giữa đảng Đại Việt - Quốc Dân đảng với Tổng nha cảnh sát của Trần Kim Tuyến1, đường liên lạc qua Sài Gòn có thể bị tắc, tổ chức của ta hoạt động ở miền Bắc không thể thiếu tiếp tế được, cho nên phải thiết lập một đường dây mới qua nước thứ ba, anh có thể giới thiệu cho tôi một người có đủ khả năng thành lập được một công ty Thương mại ở thành phố Hải Phòng có chi nhánh ở Hồng Kông được không?

        Nghe Trần Minh Châu nói Sơn nghĩ ngay đến Đặng Duy Tá người đã nhiệt tình giúp đỡ anh từ đầu năm 1951 đến nay cũng chính nhờ cơ sở nhà Tá mà anh đã che dấu được tung tích, hoạt động có hiệu quả. Tại căn nhà này anh đã gặp gỡ các đồng chí lãnh dạo công an Hà Nội, các đồng nghiệp để nhận chỉ thị và bàn kế hoạch đánh địch. Đây cũng là nơi hẹn gặp với nhiều tên trong toán gián điệp C30 như Trần Minh Châu, Tùng, Nguyễn Sĩ Hoằng ở nhóm Hà Nội. Nhiều lần Vũ Đình Đích, Trần Ngọc Giao từ Nam Định lên Hà Nội cũng ngủ lại đây. Sự giúp đỡ của Đặng Duy Tá đối với nhóm tình báo “4T” rất có hiệu quả. Tháng 11-1954 giám đốc Lê Quốc Thân đã cùng đồng chí Trần Vĩ mời cơm thân mật Tá và T35 tại nhà một cơ sở ở số 12 phố Tăng Bạt Hổ, thành phố Hà Nội. Chỉ có anh mới có khả năng, điều kiện đảm nhận được công việc mà Trần Minh Châu tức Cập nêu ra, nhưng trước hết phải báo cáo với đồng chí Tạ Văn Minh để xin chỉ thị của bộ trưởng Trần Quốc Hoàn và giám đốc công an thành phố Lê Quôc Thân nên trả lời:

        - Việc anh giao tôi phải tìm được người giỏi buôn bán có vốn, lại là người tin cậy hoàn toàn...

        Trần Minh Châu gợi ý:

        - Tôi nghĩ anh phải tìm đâu xa, ông Tá có đủ khả năng làm việc này, anh nói với ông Tá giúp tôi.

        Thấy Châu tìm đúng người như mình nghĩ, nhưng vẫn nói:

        - Đúng là ông Tá làm được việc này, nhưng còn phải thuyết phục thế nào để ông ấy đồng ý giúp ta...

        Châu nói:

        - Việc khẩn thiết lắm rồi, anh cố giúp cho.

        Sơn thấy đây là việc quan trọng phải báo cáo lên cấp trên và phải bàn bạc với Đặng Duy Tá liền nói với Trần Minh Châu:

        - Anh yên tâm, tôi sẽ hết sức cố gắng...

        Ngay sau khi Trần Minh Châu trở về, Nguyễn Văn Sơn đến ngay hộp thư ở nhà anh Đoàn Vy để hẹn gặp đồng chí Tạ Văn Minh báo cáo một việc khẩn cấp. Đúng ngày giờ hẹn, Sơn đến nơi đã thấy đồng chí Tạ Văn Minh ngồi chờ ở đó. Sau khi nghe anh báo cáo, đồng chí Minh nhận định:

        - Như vậy là sau khi Ngô Đình Diệm đánh bại lực lượng vũ trang thân Pháp trong các tổ chức Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên, giờ chúng bắt đầu thanh toán các tổ chức chính trị thân Mỹ nhưng đối lập vởi hắn như Đại Việt - Quốc Dân đảng, Đại Việt - Duy Dân, Việt Nam Quốc Dân đảng, Việt Nam Phục quốc đảng để giữ độc quyền làm tay sai cho Mỹ. Chúng ta sẽ đáp ứng yêu cầu đó của bọn chúng.

---------------
        1. Trần Kim Tuyến là thày dòng ở khu Bùi Chu, Phát Diệm tỉnh Ninh Bình di cư vào Nam rồi trở thành giám đốc Tổng nha cảnh sát Sài Gòn chỉ huy toàn bộ công an, cảnh sát mật vụ của chính quyền Ngô Đình Diệm, hắn là kẻ được Ngô Đình Diệm hoàn toàn tin cậy đã giao cho công việc an ninh, thanh trừng Cộng sản, phe đối lập.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười, 2020, 07:14:38 am

        Sơn hỏi:

        - Vậy là cấp trên thỏa mãn yêu cầu của bọn Trần Minh Châu?

        Tạ Văn Minh trả lời:

        - Đây là con đường gần nhất để ta nắm bắt được âm mưu xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹtrong giai đoạn sắp tới, tôi sẽ báo cáo ngay với cấp trên sau đó bàn bạc với anh Đặng Duy Tá rồi trả lời anh trước khi Trần Minh Châu gặp anh ít nhất là ba tiếng đồng hồ.

        Ròi khỏi nhà Đoàn Vy, Nguyễn Văn Sơn trở về trường dạy nghề của mình tới khuya mới trở về 54C phố Hàng Đào. Đúng ngày giờ hẹn, Sơn đến nhà ông Đoàn Vy thì được đồng chí Tạ Văn Minh cho biết đồng chí giám đốc công an Hà Nội Lê Quốc Thân đã duyệt phương án của ban chuyên án để Đặng Duy Tá thành lập công ty Thương mại Hải Phòng, có chi nhánh ở Hồng Kông và sẽ trực tiếp gặp anh Tá để giao nhiệm vụ này, nhờ anh báo cho anh Tá đúng một giờ chiều ngày mai tới cơ sở 3 gặp mình.

        Nghe đồng chí Tạ Văn Minh nói, Sơn rất mừng vì việc này trót lọt sẽ tăng thêm uy tín của anh đối với Trần Minh Châu, chúng sẽ bàn bạc với anh nhiều việc quan trọng hơn, điều đó rất có lợi cho việc đánh địch, liền nói:

        - Tôi tin rằng anh Đặng Duy Tá nhất định sẽ làm được việc này, tôi sẽ báo cho anh Tá đến gặp anh đúng ngày giờ hẹn trên.

        Một giờ chiều ngày hôm sau Đặng Duy Tá đến nhà cơ sở số 3 ở phố Hàng Chuối thì gặp đồng chí Tạ Văn Minh. Anh ngồi vừa chỗ thì đồng chí Lê Quốc Thân cũng đẩy cửa bước vào. Tá đoán buổi gặp này hẳn rất quan trọng nên đồng chí giám đốc mới tới. Đồng chí Tạ Văn Minh rót nước mời Đặng Duy Tá rồi nói:

        - Hôm nay đồng chí Thân gặp anh để giao một nhiệm vụ quan trọng, tôi mong rằng anh cố gắng hoàn thành nhiệm vụ...

        Nghe đồng chí Minh nói, Tá chưa hiểu nhiệm vụ gì nên trả lời ngập ngừng:

        - Được các anh tin tưởng giao nhiệm vụ, tôi xin cố gắng, nhưng việc đó phải hợp với sức của mình...

        Đồng chí Lê Quốc Thân trả lời:

        - Trước khi giao việc, tổ chức đã cân nhắc biết rằng anh có đầy đủ điều kiện và quyết tâm thực hiện nên mới mòi anh bàn việc...

        Nghe đồng chí giám đốc nói như vậy, Tá thấy yên tâm liền trả lời:

        - Vâng, các anh định giao việc gì xin cho biết để tôi lưọng sức mình.

        Đồng chí Lê Quốc Thân nói thong thả rõ ràng:

        - Tổ chức giao cho anh thành lập công ty Thương mại Hải Phòng - Hồng Kông. Đây là một công ty buôn bán, lại có nhiệm vụ phục vụ cho việc đánh địch. Yêu cầu này không phải do chúng ta đặt ra mà sau chuyến đi của Phạm Đăng Hào trở ra Bắc vào tháng giêng năm 1957 đã nhận nhiệm vụ của Tình báo thủy quân lục chiến Mỹvà CIA là toán gián điệp do Trần Minh Châu chỉ huy đang hoạt động ở miền Bắc phải thiết lập một đường dây liên lạc mới Hà Nội - Hải Phòng -  Hồng Kông để tiếp nhận viện trợ, nhận chỉ thị trực tiếp của Mỹ và trang trải một phần cho các hoạt động của toán gián điệp. Ta cũng tương kế tựu dùng ngay đường dây của chúng để giám sát các hoạt động tội lỗi của chúng, có kế hoạch đối phó kịp thời.

        Đồng chí Tạ Văn Minh nói thêm:

        - Chính tên cầm đầu Trần Minh Châu tức Cập đã giao cho anh Sơn thuyết phục anh đứng chủ cái công ty đó. Tôi tin rằng chỉ ngày một, ngày hai, Châu hoặc Hào sẽ đến gặp anh để bàn kĩ việc này. Nhiệm vụ của công ty này là phải kinh doanh hợp pháp có lãi nhưng lại phải làm nhiệm vụ nặng nề hơn là làm cầu nối giữa CIA với toán gián điệp C30 để nhận viện trợ của Mỹ nhưng lại phải điều tra các hoạt động của chúng.

        Đặng Duy Tá trả lời:

        - Nếu đúng là việc buôn bán thì tôi đảm đương được nhưng tôi lấy đâu ra vốn để mở một công ty lớn ở Hải Phòng lại có chi nhánh ở Hồng Kông?

        Đồng chí Lê Quốc Thân nói:

        - Ban chuyên án giao cho anh thành lập công ty với phương châm sử dụng tiền của tư sản, chọn người tốt để thành lập công ty, tất nhiên họ chỉ biết nhiệm vụ của là kinh doanh, nhưng nhất thiết anh phải là giám đốc, chủ tài khoản...

        Đây là một việc rất khó khăn vì cửa hàng 54C phố Hàng Đào là của bà đức Đức Long để lại cho, vốn kinh doanh phần lớn là của chủ hàng, bán đến đâu thanh toán đến đấy.

        Tạ Văn Minh nói:

        - Nhiệm vụ của công ty, đồng chí giám đốc đã  nói rồi anh về làm đề án thành lập công ty càng sớm càng tốt, còn việc lấy giấy phép kinh doanh, đặt trụ sở công ty ở Hải Phòng, hộ chiếu cho đoàn của anh đi Hồng Kông tôi sẽ lo liệu. Anh cũng chuẩn bị đi chỉ hôm nay hoặc ngày mai Trần Minh Châu hoặc Phạm Đăng Hào thế nào cũng đến gặp anh bàn việc này.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười, 2020, 07:15:05 am

        Đặng Duy Tá trở về nhà thì Nguyễn Văn Sơn cùng vừa ở trường về, Tá báo tin:

        - Các đồng chí Lê Quốc Thân và Tạ Văn Minh vừa gọi tôi lên giao nhiệm vụ thành lập công ty thương mại ở Hải Phòng có chi nhánh ở Hồng Kông. Tuy cũng là việc buôn bán, nhưng tôi thấy khó khăn không ít, vì đây là một công ty lớn, có nhiều người góp vốn kinh doanh, mà trụ sở lại đặt ở Hải Phòng, có chi nhánh ở Hồng Kông, còn vốn thì đâu có phải ít. Công ty này đâu phải chỉ kinh doanh có lãi mà có nhiệm vụ quan trọng là giám sát, điều tra những hoạt động tình báo, tiếp tế vũ khí, khí tài của Mĩ cho toán gián điệp C30. Việc này rất nguy hiểm vì mình sơ hở để chúng nghi ngờ biết mình điều tra chúng thì cái mạng mình khó toàn. Song cách mạng đã giao nhiệm vụ thì tôi xin nhận.

        Nguyễn Văn Sơn động viên:

        - Ngoài nhiệm vụ cách mạng ra, anh tham gia vụ này cũng để tận mắt nhìn xem thế giới tư bản họ kinh doanh ra sao để rút kinh nghiệm đóng góp vào sự phát triển thương nghiệp ở nước ta. Hơn nữa việc anh đặt chi nhánh ở Hồng Kông không khó, vì anh đã có nhiều bạn hàng ở Hồng Kông từng cung cấp cho anh trong mấy năm qua.

        Đặng Duy Tá nói:

        - Tôi đã nhận lời với đồng chí Lê Quốc Thân và đồng chí Tạ Văn Minh đứng ra thành lập công ty, tôi sẽ bắt tay vào xây dựng đề án, chú giúp tôi một tay.

        Nguyễn Văn Sơn hứa:

        - Việc gì làm được em sẽ hết sức hỗ trợ anh, anh cứ xây dựng đề án từ quy mô kinh doanh, các thành viên tham gia công ty, giám đốc công ty, trụ sở công ty ở Hải Phòng và đại diện công ty ở Hồng Kông cũng như tên gọi của nó để bàn chuyện án duyệt.

        Đặng Duy Tá hỏi:

        - Hôm Trần Minh Châu nói việc này với anh có nói khi nào hắn đến gặp tôi không?

        Sơn trả lời:

        - Nó còn nhờ em ướm hỏi anh có nhận lời đứng ra thành lập công ty không mới đến bàn bạc cụ thể với anh.

        Đặng Duy Tá cười:

        - Chú cứ bảo nó đến đây, mình cũng phải tìm cách moi tiền của chúng nó để đưa vào kinh doanh.

        Sơn cũng cười đáp lại:

        - Nó đang đỏ mắt chờ quyết định của anh, bây giờ em chỉ cần nói anh đồng ý là nó lập tức đến. Còn một điều quan trọng nữa em chưa hỏi anh là anh định đặt tên công ty là gì?

        Tá ngẫm nghĩ trong giây lát rồi trả lời:

        - Tôi muốn đặt tên là Bình Minh công ty, gọi tắt là Bimiti, chú xem có được không?

        Nghe tên đó cũng hay nó bao hàm rất nhiều ý nghĩa là doanh nghiệp tư nhân Việt Nam đầu tiên có mới quan hệ buôn bán với nước ngoài lại là nước theo chủ nghĩa tư bản từ khi giải phóng Hà Nội. Bình minh còn có ý nghĩa là công ty này phục vụ ý đồ đen tối của đế quốc Mỹ, nhưng vẫn trong sáng như ánh bình minh, liền nói:

        - Hay lắm, anh khẩn trương chuẩn bị đi, tối mai tôi đưa Trần Minh Châu đến gặp anh. Khi bàn bạc anh nhớ nêu điều kiện số một là bọn chúng phải đầu tư một phần vốn.

        Đặng Duy Tá cười:

        - Điều đó thì anh yên tâm, tôi đã tiếp xúc với Trần Minh Châu nhiều lần, tôi hiểu về sở trường, sở đoản của nó...

        Trần Minh Châu đã giữ đúng lời hẹn, đúng tám giờ tối hôm đó, hắn đóng vai người đến trường xin học cho em trai để gặp Sơn. Anh đã báo tin ông Đặng Duy Tá bằng lòng đứng ra thành lập công ty và hẹn hắn 8 giờ sáng mai đến 54C phố Hàng Đào để bàn bạc cụ thể. Trần Minh Châu mừng lắm mặc dù chưa biết kết quả cuộc nói chuyện với Đặng Duy Tá vào sáng ngày mai, hắn đã hào phóng đưa Sơn đến một hiệu ăn Hoa Kiều sang trọng ở phố Tạ Hiền đãi anh một bữa đặc sản thịt thú rừng ăn đến phát ngán.

        Hôm sau đúng giờ hẹn, Trần Minh Châu đến 54C phố Hàng Đào gặp Đặng Duy Tá. Chủ nhà chưa kịp mời ngồi, Trần Minh Châu đã lên tiếng:

        - Chiều qua tôi được ông Sơn cho biết ông đã  chấp nhận đề nghị của tôi đứng ra thành lập công ty thương mại Hải Phòng - Hồng Kông.

        Đặng Duy Tá mời Châu ngồi xuống chiếc tràng kỉ ở gian trong cửa hàng rồi trả lời:

        - Tôi cũng mới được ông Sơn cho biết ý định của các ông thiết lập đường liên lạc mới để quan hệ với Mỹ qua nước thứ ba không qua chính quyền Sài Gòn, tôi sẵn sàng giúp các ông thực hiện ý đồ đó.

        Trần Minh Châu sung sướng nói ngay:

        - Thế thì hay quá, nếu công việc hoàn tất, chúng tôi phải ghi công ông hàng đầu.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười, 2020, 07:15:31 am

        Đặng Duy Tá hạ thấp giọng nói:

        - Nếu chỉ đơn thuần là kinh doanh thì đối với tôi không khó, nhưng mục đích chính không phải như vậy, vì thế phải cần có thời gian chọn được những người hùn vốn thành lập công ty, sao cho mình hoàn thành nhiệm vụ chính, mà kinh doanh không bị thua lỗ lại vẫn giữ được bí mật. Lại còn một khó khăn không nhỏ là vốn, vì vốn liếng của tôi chỉ đủ kinh doanh một cửa hàng nhỏ như thế này, mà Ngân hàng của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chưa có chính sách cho tư nhân vay tiền kinh doanh, cho nên xoay ra tiền để kinh doanh không phải dễ, chỉ tính riêng tiền thuê địa điểm làm trụ sở ở Hải Phòng và Hồng Kông cũng là một khoản lớn rồi!

        Nghe Đặng Duy Tá nói thế, Trần Minh Châu hứa:

        - Ông cứ đứng ra thành lập công ty đi, chúng tôi không can thiệp vào việc kinh doanh của các ông. Ngay đêm nay tôi điện vào Nam báo cáo về tiến độ công việc.

        Đặng Duy Tá nói:

        - Như vậy coi như ta đã thoả thuận với nhau về việc thành lập công ty, tôi lo việc tổ chức, thủ tục xin phép vận động các cổ đông tham gia và huy động từ hai phần ba đến ba phần tư vốn còn lại bao nhiêu các ông đầu tư.

        Trần Minh Châu cũng nhất trí như vậy, hắn bắt tay tạm biệt chủ nhà rất nhiệt tình.

        Đặng Duy Tá phải lập danh sách các cổ đông tới lần thứ ba mới được ban chuyên án duyệt, đó là các nhà tư sản Phạm Sỹ Lung ở 20 phố Hàng Ngang, Lê Đình Lợi ở 40 phố Hàng Ngang Hà Nội, Vũ Đình Thung ở thành phố Nam Định, cả ba ông đều là đảng viên đảng Dân Chủ.

        Vốn đăng kí kinh doanh ban đầu là 50 triệu đồng, tương đương với 250 cây vàng. Số vốn bốn người bỏ ra bằng nhau nhưng cũng chưa đủ, Đặng Duy Tá phải đi vay mượn thêm mới đủ 50 triệu đồng cho đủ vốn kinh doanh ban đầu, đưa công ty vào hoạt động.

        Sau khi thành lập trụ sở và cửa hàng công ty ở phố Trung Quốc thành phố Hải Phòng, Tá để vợ con lại Hà Nội còn mình sống ở đó. Anh báo cáo với đồng chí Tạ Văn Minh xin hộ chiếu cho mình và Phạm Sỹ Lung đi Hồng Kông khảo sát thị trường và thành lập chi nhánh.

        Công ty đó có quan hệ làm ăn với nước ngoài lại là nước tư bản nên phải có trụ sở đàng hoàng. Mặc dù tiền kinh doanh còn eo hẹp, giám đốc vẫn phải bỏ tiền ra mua xe du lịch, đặt điện thoại. Công ty cần người biết tiếng Hoa và tiếng Anh để giao dịch, nên phải thuê, thuê ngoài thì sợ lộ, Đặng Duy Tá đề nghị công an cho người. Đồng chí Tạ Văn Minh giới thiệu anh Trần Việt tức Nguyễn Đình Thi một cơ sở bí mật tốt của công an nội thành Hà Nội trong thời kì tạm chiến làm phiên dịch tiếng Quảng Đông, tiếng Anh, kiêm lái xe đồng thời chịu trách nhiệm giám sát các thương nhân Hồng Kông sang Việt Nam. Sau đó Tá giao cho Thi làm trợ lí giám đốc công ty để tạo uy thế và điều kiện cho hoạt động. Thi chỉ biêt lãnh đạo sở công an điều đến công ty Bình Minh với chức danh là phiên dịch tiếng Trung Quốc cho giám đốc đồng thời có trách nhiệm giám sát các thương nhân Hồng Kông sang Hải Phòng giao dịch buôn bán, Thi không biết gì về kê hoạch C30 cả.

        Công ty thương mại Bình Minh đi vào kinh doanh được một tháng thì Tá nhận được tin của Tạ Văn Minh từ Hà Nội báo về là nộp ảnh của anh và ảnh của ông Phạm Sỹ Lung để làm hộ chiếu đi Hồng Kông. Khi đó nước ta chưa có quan hệ ngoại giao với nước Anh, nên Tá phải đến đại diện của Anh quốc tại Hà Nội để họ cấp giấy thông hành (Lét-sê-pát-sê) để sang Hồng Kông.

        Đặng Duy Tá cùng Phạm Sỹ Lung đi bằng tầu hoả lên Bằng Tường đến tỉnh Quảng Đông rồi từ đó đi qua Sám Trân là ranh giới giữa Hồng Kông để qua Cửu Long đến Hồng Kông. Trước khi sang Hồng Kông, Đặng Duy Tá điện cho hãng Pác Wô Hồng đã có quan hệ buôn bán từ mấy năm trước ra đón ở cửa khẩu, khi đến tỉnh Quảng Đông, anh lại điện một lần nữa.

        Chuyến đi Hồng Kông do giám đốc công ty Bình Minh Đặng Duy Tá dẫn đầu đã đạt được kêt quả khả quan. Trước hết hãng Pác Wô Hồng đã  thoả thuận bán một số lượng hàng lớn cho công ty theo phương thức trả chậm. Hãng cũng sẵn sàng thuê giúp địa điểm để công ty đặt trụ sở chi nhánh của mình.

        Sau khi Nguyễn Văn Sơn vào Sài Gòn lần thứ hai để báo cáo với các cố vấn CIA và trung ương Đảng Đại Việt - Quốc Dân Đảng về đường dây liên lạc Hà Nội - Hải Phòng - Hồng Kông và xin viện trợ, Trần Minh Châu đã nhiều lần điện vào hỏi tin tức thì Cao Xuân Tuyên đều trả lời là chưa vào.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười, 2020, 06:17:08 am

        Vì thế Trần Minh Châu và Phạm Đăng Hào hễ được tin Tá từ Hải Phòng về Hà Nội là cả hai lại đến 54C phố Hàng Đào gặp anh. Có lần Trần Minh Châu gợi ý kết nạp Tá vào Đại Việt - Quốc Dân đảng, anh đã khéo léo từ chối:

        - Tôi không thích làm chính trị chỉ thích kinh doanh kiếm lời nhưng tôi sẽ giúp các anh với khả năng có thể được, vì Sơn là em họ tôi cũng ở trong tổ chức của các anh.

        Việc đó làm cho Trần Minh Châu và cả toán gián điệp c30 đều quý trọng và tin tưởng anh nhiều hơn. Một hôm Trần Minh Châu và Phạm Đăng Hào đến nhà anh biếu anh một chiếc đồng hồ Senkô một chiếc bút máy Parker 51 nhưng Tá cảm ơn, từ chối không nhận.

        Chiều 30 tết năm 1958, Châu và Hào đem biếu anh một con cá trắm rất lớn nói là mới mua ở trợ Đồng Xuân, lần này thì Tá nhận.

        Trong một cuộc gặp gõ, khác Đặng Duy Tá có nhắc Trần Minh Châu hỗ trợ vốn cho công ty như đã hứa. Châu trả lời:

        - Công ty của ông sau này sẽ giúp đỡ chúng tôi rất nhiều trong việc thông tin và nhận hàng viện trợ, nhưng phải chờ anh Sơn ra chúng tôi mới có tiền để bổ sung cho công ty và có phương hướng cho đường dây này hoạt động.

        Nhớ nhiệm vụ mà Tạ Văn Minh giao cho là dò hỏi tin tức của T31, Tá đã nhiều lần hỏi Trần Minh Châu nhưng hắn trả lời là ngay cả cố vấn Lucium Conein và trung ương Đại Việt - Quốc Dân Đảng cũng không biết vì sao mà Nguyễn Văn Sơn mất tích sau khi đã vượt qua vĩ tuyến 17 an toàn1.

----------------
        1. Do Đỗ Văn Kha vào tới Thừa Thiên đã bị công an của Trần Kim Tuyến bí mật đưa về Sài Gòn rồi lưu đầy ở Đà Lạt 3 năm liền nên việc thiết lập đường dây Hải Phòng - Hồng Kông không chắp nối được, toán gián điệp C30 cũng không có tiền bổ sung cho công ty. Cuối năm 1958 chúng ta vẫn không nhận được tin tức của T31, mà bọn chúng lại có âm mưu gây tiếng nổ ở nhiều nơi tại Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Bộ Công an đã chỉ đạo cho sở Công an Hà Nội và ban chuyên án C30 phá vụ án. Thực hiện mệnh lệnh trên, Thượng tuần 11-1958 lực lượng Công an ta đã bắt toàn bộ bọn chúng, ngày 4-4-1959 đưa ra xét sử công khai tại Toà án Nhân dân thành phố Hà Nội. Tại Toà, có gần một vạn nhân dân Hà Nội đã nghe rõ Trần Minh Châu tức Cập và đồng bọn khai chúng thường xuyên được sự giúp đỡ của Đặng Duy Tá và Nguyễn Văn Sơn ở 54C phố Hàng Đào, (cũng như chúng khai Phạm Đăng Hào là toán phó) vì vậy ba người chung vốn rút hết vốn vì sợ liên quan, các chủ nợ đến đòi nợ, Đặng Duy Tá phải bán cả nhà ở nhà quê cùng nhiều tài sản khác để trả nợ. Còn vợ con ở Hàng Đào cũng phải dọn đi nơi khác vì bị dân phố xỉ vả là vợ con Việt gian, phản động. Song công ty vẫn hoạt động đến năm 1960 thì vào Công tự hợp doanh, Tá về công tác ở bộ Thương Mại (Đồng chí Lê quốc Thân về làm thứ trưởng bộ Công an, đồng chí Chu Thực chết, đồng chí Tạ Văn Minh vào Nam). Đặng Duy Tá công tác ở bộ Thương Mại đến khi nghỉ hưu, chưa được xét khen thưởng về thời gian là cơ sở tin cậy của công an Hà Nội từ năm 1951 đến năm 1960.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười, 2020, 06:17:52 am
   
V. T31 VÀO SÀI GÒN LẦN THỨ HAI

        Tháng 4-1957 công ty Thương mại Bình Minh do Đặng Duy Tá làm giám đốc đã hoạt động thương mại có hiệu quả, Trần Minh Châu tức Cập nhận thấy cần phải báo cáo trực tiếp với các cố vấn tình báo Mỹ như trung tá Paul, thiếu tá Lucium Conein và trung ương Đại Việt - Quốc Dân đảng để thiết lập đường liên lạc tiếp tế mới không qua chính quyền Sài Gòn, mặt khác do ăn tiêu phung phí, bọn chúng đã cạn tiền tiêu xài nên lại phái Nguyễn Văn Sơn vào Sài Gòn.

        Sơn báo cáo với đồng chí Tạ Văn Minh, đồng chí Minh báo cáo ngay với đồng chí Lê Quốc Thân giám đốc công an Hà Nội trưởng ban chuyên án C30. Các đồng chí nhận thấy ta cũng phải nắm được kế hoạch mới này của CIA và bè lũ tay sai để có kế hoạch đốì phó hiệu quả hơn, Đồng thời tìm hiểu thêm về các đường xâm nhập của các toán gián điệp biệt kích Mỹ-Diệm vào miền Bắc Việt Nam qua đường Thượng Lào vào Tây Bắc hay qua biển Đông xâm nhập vào cùng ven biển Đông Bắc mà T31 đã phát hiện trong chuyến vào Nam lần thứ nhất đường nào là chính. Cũng có thể bọn chúng liều lĩnh vượt qua sông Bến Hải ở phía Tây hoặc nhẩy dù bằng máy bay nên đã quyết định để T31 vào Nam.

        Trước khi lên đường, đồng chí Lê Quốc Thân đặt tiệc chiêu đãi tiễn đưa T31 ở nhà một cơ sở phố Tăng Bạt Hổ. Cùng dự bữa cơm thân mật còn có đồng chí Tạ Văn Minh phó phòng Bảo vệ chính trị công an Hà Nội. Nhìn bữa tiệc thịnh soạn, Sơn không khỏi nhớ đến một ngày tháng chạp giáp tết năm 1957, đồng chí Lê Quốc Thân, Tạ Văn Minh đã mời cụ Vũ Thị Nghiêm, mẹ của anh dự bữa cơm chúc tết ở gia đình một cơ sở phố Hàng Chuối. Trong bữa cơm thân mật, đồng chí Lê Quốc Thân nói một câu ngắn nhưng nặng ân tình là: "Vì hoàn cảnh đặc biệt, cơ quan và anh Kha không về chúc tết gia đình được nên mời cụ ra xơi bữa cơm đón xuân". Anh đang suy nghĩ như vậy thì đồng chí Lê Quốc Thân thân tình nói với Sơn:

        - Trong chuyến đi lần này ngoài việc điều tra đường dây liên lạc mới Hà Nội - Hải Phòng - Hồng Kông của chúng, về hướng xâm nhập chính của các toán gián điệp vào miền Bắc trong thời gian tới, đồng chí còn phải tìm hiểu mâu thuẫn giữa Mỹ và Ngô Đình Diệm, giữa Ngô Đình Diệm với các đảng phái thân Mỹ khác. Chuyến này đồng chí có thuận lợi là không bị chúng thẩm vấn về lòng trung thành nhưng lại phải đối phó với Ngô Đình Diệm thanh toán các đảng phái khác, mà Đại Việt -  Quổc Dân đảng là một đối tượng.

        Sơn cũng có linh tính là chuyên đi này "lành ít, dữ nhiều" nên anh muốn được gặp cụ Nghiêm mẹ mình - người mẹ yêu quý luôn luôn dõi theo từng bước đi của anh và Nguyễn Thị Phượng người vợ rất mực thương chồng, thủy chung, không bộc lộ tình yêu một cách lộ liễu như gái thành thị, nhưng lại có tấm lòng yêu thiết tha đằm thắm theo sự giáo dục gia đình truyền thống của người Việt. Anh cũng thương các con, nhưng đứa mà anh thương nhất là bé Đỗ Văn Khôi nay chưa tròn một tuổi, mới sinh hôm trước thì nhà bị qui là địa chủ, nhà cửa bị thịch thu, bị đuổi ra ở trong túp lều dưới bụi tre ở đầu làng, may sao Hồ Chủ tịch đã  kịp phát hiện ra sai lầm trong cải cách ruộng đất, sửa sai, hạ thành phần gia đình anh xuống trung nông, trả lại nhà cửa nên anh cũng yên tâm.

        Anh gặp những người thân thiết đó không phải để kể việc anh sắp phải đi xa, vì nhiệm vụ của anh càng ít người biết càng tốt mà anh chỉ cần nhìn thấy gương mặt của những người thương yêu ấy cho đỡ nhớ nhung. Nhưng cuối cùng anh cũng không đề xuất với đồng chí Thân khi đồng chí hỏi ''anh có yêu cầu gì không?"

        Sau buổi gặp mặt, các đồng chí lãnh đạo sở Công an và ban Chuyên án, anh đến gặp Trần Minh Châu để nghe hắn dặn dò thêm các yêu cầu của toán với Đặng Văn Sung, Cao Xuân Tuyên và Trần Khắc.

        Chuyến đi này đồng chí Tạ Văn Minh có việc đột xuất, nên giao cho đồng chí Bảo cán bộ phòng Chính trị, cùng đi với anh vào Vĩnh Linh. Bảo bí mật lo cho anh các công việc trên, đường đi như anh Minh đã làm đối với anh lần trước. Việc Bảo làm rất khéo nên ba người cùng đi xe đi "quan hệ Bắc Nam" không hay biết gì.

        Vì có ba người đi “quan hệ Bắc Nam” đi qua cầu Hiền Lương nên đồng chí Bảo bàn với Công an Vĩnh Linh để anh cùng qua cầu với ba người kia. Để cho bọn ở bờ Nam nhận rõ ám hiệu liên lạc, trước khi qua cầu Sơn đã ” sơ vin” lại cho lộ rõ khoá thắt lưng mạ kền có hình ngôi sao đỏ. Vừa qua khỏi cầu, đến đồn cảnh sát ngụy quyền bên bờ Nam, Sơn đã nhận ra mấy tên ra đón mình cũng vẫn là những tên đón lần trước. Một tên bước ra giữa đường giữ Sơn lại, nói với mấy người “đi quan hệ Bắc-Nam" "Người này là Việt Cộng trà trộn vào phải đưa về công an Quảng Trị thẩm vấn". Nói xong bọn này đưa Sơn lên ô tô vào ty công an nằm trong khu vực dinh tỉnh trưởng Quảng Trị. Bọn công an ở đây đối xử với anh cũng bình thường như lần trước, cho ở phòng riêng sang trọng bữa ăn có nhiều món ngon, chỉ khác là không có người tiếp.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười, 2020, 06:19:12 am

        Chiều hôm đó một người cao, da ngăm đen, mặt bầu bĩnh, mắt to, nói tiếng Bắc, mặc thường phục, Sơn để ý thấy tên này có súng lục để trong xách tay bằng da. Tên này tự giới thiệu tên và chức vụ - nay Sơn quên không nhớ tên, chỉ nhớ chức vụ là trung úy, hắn đóng vai là người của đảng Đại Việt - Quốc Dân đảng vào đón. Nói rồi hắn giục Sơn lên xe đưa vào Huế. Hắn đưa Sơn vào một gian phòng có một chiếc giường con ở trong Nha Cảnh sát Trung phần. Hắn nói với Sơn bằng một giọng lạnh lùng: "Ông ở đây không được đi đâu để tôi đi liên lạc phương tiện"

        Sơn nhận thấy cách đối xử với mình khác lần trước thì sinh nghi. Chiều hôm đó có người đem cơm vào cho chứ không cho anh ra ngoài, bữa ăn bình thường chỉ có mấy miếng thịt kho, một quả trứng luộc và một bát canh rau cải lõng bõng nước.

        Tên tự xưng là trung úy, mặc thường phục, người của đáng Đại Việt - Quốc Dân đảng bỏ mặc Sơn nằm trong phòng đó cho đến sáng hôm sau hắn mới đưa một chiếc xe con đến đưa hắn và anh ra sân bay Phú Bài để vào Sài Gòn.

        Tới sân bay Tân Sơn Nhất vừa ra tới cửa Sơn đã giật mình vì trên chiếc xe con chờ sẵn không phải là trung tá Liễu ra đón như lần trước, mà là hai tên lực lưỡng, vẻ mặt lầm lì, Sơn vừa bước lên xe thì hai đứa ngồi kẹp hai bên. Chiếc xe đi vòng vèo tới một phố vắng thì tên trung úy cho dừng xe, nói gì đó với chủ nhà nhưng hắn nói nhỏ mà Sơn thì ở xa nên không nghe thấy gì. Khi trở ra hắn sai hai tên lực lưỡng đi kèm Sơn vào một gian phòng không có cửa sổ chỉ có một cửa ra vào nói: "Chính quyền ở trong này đối xử với đảng Đại Việt - Quốc Dân đảng khó khăn lắm, chưa thể đến gặp ông Tuyên ngay được, anh cứ ở trong này đừng đi đâu, để tôi đi tìm ông Tuyên báo cáo".

        Qua cách đối xử của tên trung úy từ ty cảnh sát Quảng Trị vào đây khác hẳn với lần trước, Sơn thấy rõ "lành ít, dữ nhiều", không rõ chúng có âm mưu gì với mình lại hỏi cung, lại “kiểm tra bằng máy chống nói dối như chuyến trước hay còn trò gì khác nữa". Tên trung úy này nhốt Sơn trong phòng kín đáo và bỏ đói anh tới tận mười chín giờ mới tới, đưa anh ra một chiếc xe tắc xi chở khách, hắn nói:

        - Tôi đưa anh đi gặp ông Cao Xuân Tuyên.

        Tới ngã tư An Đông tên trung úy đỗ xe lại bảo anh cùng vào ăn tối vì hắn bảo hắn cũng chưa ăn gì. Trong khi đang ngồi ở bàn ngoài cùng chờ đợi thức ăn thì tên trung uý nói nhỏ: "Anh chờ tôi một lát tôi vào trong này nhà sau...". Sơn rót nước ở trong bình vừa đưa lên miệng định uống thì hai tên lực lưỡng hùng hổ bước vào quán gọi: "Đỗ Văn Kha" giật mình không hiểu vì sao hắn biết được tên cúng cơm không hề khai trong lý lịch này. Tuy vậy, Sơn lờ đi như không nghe tiếng, không trả lời, lập tức hai tên này xông tới gí súng vào sườn, xốc nách Sơn kéo đi rồi đẩy anh vào chiếc xe con chúng để gần cửa. Hai tên này chẳng nói năng gì, nhét giẻ vào mồm Sơn, còng hai tay anh lại, đè anh nằm sấp xuống sàn xe, một tên đè chân lên đầu còn tên nữa đè chân lên lưng Sơn. Bọn này chở anh đến một nơi chuyên giam giữ, tra tấn người ở Sài Gòn. Chúng thu cái cặp đựng quần áo, đồ dùng của anh, trên người anh chỉ còn độc một bộ quần áo. Lần này chúng giam anh vào một gian phòng chật chội, không cửa sổ thậm chí không một lỗ thông hơi rồi bật một bóng điện 500 kilowat cực sáng, đoạn khóa trái cửa lại. Cuộc tra tấn bằng đèn điện này kéo dài suốt hai ngày, hai đêm. Đến bữa chúng cho ăn cơm sạn với cá khô mục mặn chát và không cho ăn canh, cũng không cho uống nước. Phần vì ánh đèn điện làm chói mắt, đau đầu, da khô, miệng khát, khắp người lúc nào cũng nóng bừng, suốt đêm, suốt ngày không sao ngủ được. Nước bốc hơi bay đi lại không được bù đắp lại, nên người nóng như phát điên, đầu như bốc lửa. So với cách tra tấn bằng đòn bộ, tra điện, tra nước, đi tầu bay, bỏ đói, phơi nắng thì cách tra tấn bằng đèn điện này cực kỳ dã man, tàn bạo của nền "văn minh Mỹ". Đến đêm thứ ba, bọn chúng khoá hai tay, bịt mắt Sơn dẫn đến phòng thẩm vấn cũng ở trong cái sở đó. Hắn hỏi về lý lịch, quê quán ở ngoài Bắc làm gì, đi vào trong Nam như thế nào, hành trình từ Hà Nội vào đây và vào Sài Gòn liên lạc với ai?


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười, 2020, 06:19:34 am

        Qua những lời thẩm vấn của chúng chẳng khác gì trong chuyến thứ nhất, Sơn khẳng định là mình chưa hề bị lộ là cán bộ an ninh của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mà anh khẳng định đây là mâu thuẫn giữa Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm nhưng chính là mâu thuẫn giữa chính quyền Ngô Đình Diệm với các đảng phái thân Mỹ khác nhưng đối lập với đảng cần Lao Nhân vị của anh em Ngô Đình Diệm như Đại Việt - Quốc Dân đảng, Đại Việt - Duy Dân, Việt Nam Quốc Dân đảng để giữ độc quyền làm tay sai cho Mỹ.

        Vì xác định được như vậy nên trước sau anh chỉ khai mình là người của đảng Đại Việt - Quốc Dân đảng y như lần trước. Đặc biệt lần này chúng truy hỏi, vặn vẹo anh vào Sài Gòn gặp ai, tổ chức nào, Sơn đều khai Trần Minh Châu tức Cập chỉ huy toán tình báo ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định cử anh vào xin viện trợ như lần trước, và chỉ có gặp Đặng Văn Sung, Cao Xuân Tuyên, có người đưa đến nơi, còn địa chỉ không biết.

        Qua gần ba tiếng vặn hỏi, bọn chúng lại bịt mắt dẫn Sơn vào cái phòng giam chật chội, không một chút ánh sáng và lại bật ngọn đèn 500 wat suốt ngày đêm, ngày vẫn hai bữa cơm sạn với cá khô mục, giòi bò lúc nhúc và cũng không cho một thìa canh, một giọt nước nào.

        Sơn được yên ổn trong hai ngày chỉ phải chịu đựng sự bức bối đến phát điên vì ngọn đèn 500 wat và cơn khát đến cháy cổ, cháy họng, đầu muốn nổ tung ra.

        Hai ngày sau cũng vào khoảng 9 giờ tối, bọn đao phủ lại bịt mắt dẫn Sơn đến phòng hỏi cung. Những lời chúng hỏi cũng không khác gì những câu hỏi mấy ngày qua. Sau khi Sơn trả lời, bọn chúng nói:

        - Mày là Việt Cộng đêm nay chúng tao sẽ đem đi bắn!

        Sơn làm ra vẻ trung thành với lý tưởng cách mạng quốc gia, tỏ vẻ bực tức, giật tung cúc áo, chỉ vào ngực hét lên :

        - Đây các anh bắn đi, bắn ngay đi, thằng này đã có gan hoạt động ngay trong lòng Cộng sản, lại lặn lội vào tận đây thì có xá gì !

        Tên hỏi cung thấy Sơn làm già thì cười nhạt:

        - Được, mày muốn chết, đến mai tao sẽ cho chết, nhưng chết cũng chưa yên đâu !

        Lại hai ngày nữa qua đi, cũng vào khoảng hơn 21 giờ, bọn chúng lại bịt mắt Sơn dẫn lên phòng hỏi cung như mấy lần trước. Chúng thay nhau hỏi, lúc nhát gừng, khi dồn dập, chưa trả lời xong câu này chúng đã hỏi sang câu khác nhưng Sơn đã rút được kinh nghiệm nên rất bình tĩnh trả lời, không hề sa vào bẫy của chúng. Cuối cùng đến ba giờ sáng, tên cầm đầu hỏi cung nói:

        - Thôi được, đến tối mai chúng tôi sẽ thả anh.

        Sơn lo chúng thả anh vào ban đêm thì dễ dàng cho người đi theo thủ tiêu mình. Tại Sài Gòn anh có biết nhà ông bà Đức Long, nhưng không muốn đến đế họ liên lụy liên nói:

        - Xin cảm ơn các ông, nhưng các ông có thả tôi thì thả vào ban ngày, chứ thả ban đêm tối biết đường nào mà đi.

        Tên cầm đầu hỏi cung cười nhạt:

        - Anh là người Việt Nam mà không biết tha với thả nó khác nhau thế nào. Tha là tha bổng, còn đây là chúng tôi thả anh, tức là cho anh vào bao tải buộc túm lại thả anh xuống sông. Anh có trối trăng gì với gia đình thì cứ nói, chúng tôi sẽ chuyển cho.

        Sơn thừa biết đây là đòn khủng bố tinh thần nhằm lừa anh nói ra những điều bí mật mà chúng không khai thác được khi hỏi cung liền tỏ ra bực tức nói bốp chát:

        - Tôi theo Quốc gia chính nghĩa, có gì mà phải trối trăng, các anh muốn làm gì thì làm.

        Tên cầm đầu hỏi cung thấy anh nổi nóng, hắn thay đổi chiến thuật hạ thấp giọng:

        - Tôi là Thành Ủy Sài Gòn được lệnh trừng trị tội phản dân, hại nước của anh...

        Luận điệu xảo trá trên làm sao đánh lừa được anh, nên anh trả lời một cách lạnh lùng:

        - Các ông muốn nhận là ai đó là quyền của các ông, còn tôi chỉ biết có chính phủ Quốc gia thôi.

        Không lừa được Sơn vào cái thòng lọng chúng bày ra, tên cầm đầu hỏi cung liền sai bọn đàn em bịt mắt, còng tay đưa anh trở lại phòng giam. Mãi tới hôm sau chúng mới mở cửa phòng giam và không bịt mắt, không khoá tay đưa anh ra cái nhà ở làm vọng gác ở gần cổng. Tới nơi, anh thấy tên trung uý mặc thường phục đã ra Quảng Trị đón anh vào, đưa anh đến quán thịt bò bảy món rồi đề mặc anh cho bọn tay chân côn đồ đưa anh đi đày đọa. hỏi cung cả tuần, nay vừa nhìn thấy Sơn nó vờ vĩnh hốt hoảng kêu lên:

        - Chết cha tôi rồi, hôm ở quán ăn, tôi chỉ nhãng đi một tý để đến nỗi bọn lưu manh bắc cóc anh, tôi phải chạy đi nhờ người can thiệp mãi mới biết anh ở đây nên vội vàng đến đón.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười, 2020, 06:19:56 am

        Sơn biết tỏng là do sự sắp đặt của chúng, song anh yên lặng tên trung uý làm bộ hách dịch, quát bọn gác cổng:

        - Chúng bay còn trơ mắt ếch ra đấy à, không đem đồ đạc của ngài đây trả cho ngài.

        Bọn kia không dám cãi nửa lời, vội vàng quay vào trong nhà đem cái cặp của Sơn ra trao lại, Sơn không khỏi ngỡ ngàng đón lấy cái cặp, tên trung uý hạ giọng ngọt ngào:

        - Anh kiểm tra đồ đạc xem có thiếu gì không, nếu thiếu anh cứ nói, tôi bắt chúng nó đền.

        Sơn kiểm tra thấy từ quần áo đến chiếc thắt lưng có cái khoá mạ kền có hình ngôi sao đỏ và cả tấm ảnh bé Khôi ngồi trên mặt bàn phủ vải hoa đưa tay với quả bóng nhựa. Anh nâng tấm ảnh lên ngắm nghía hồi lâu, bé Khôi không những chỉ là hình ảnh đứa con trai bé bỏng của anh mà qua Khôi, anh thấy người vợ thân thương, thấy hai con gái lớn đang ngồi quây quanh bà nghe bà kể chuyện về người cha kính yêu của mình. Nghĩ đến mẹ một người mẹ rất mực thương yêu anh, nhưng không hề ngăn cản anh dấn thân vào nơi nguy hiểm, bom đạn của giặc và rất có thể anh lại bị bắt một lần nữa và lần này thì ngoài tầm tay của bà, bà khó lòng cứu được anh, nhưng bà vẫn không hề nói một lời làm nhụt ý chí của anh. Nghĩ về mẹ, về vợ, con như vậy nhưng Sơn không hề bộc lộ ra ngoài tình cảm sâu kín của mình trước mặt kẻ thù liền trả lời:

        - Đồ đạc của tôi chẳng nhiều nhặn gì, vẫn còn nguyên vẹn cả.

        Tên trung uý giở giọng nhân nghĩa:

        - Vậy mời anh lên xe...

        Sơn leo lên chiếc xe zep, xe chạy nhanh, gió ùa vào khiến anh mát lạnh cả người. Hắn cho xe chạy vòng vèo qua phố Lê Lợi rồi bảo tài xế dừng lại mua một chiếc áo len. Sơn hỏi:

        - Ở Sài Gòn nóng thế này anh mua áo len làm gì?

        Hắn đóng vai người của đảng Đại Việt - Quốc Dân đảng trả lời:

        - Ở Sài Gòn chính quyền khủng bố đảng ta gắt lắm không ở được

        Mua áo len xong, hắn không dừng lại ăn uống mà cho xe chạy suốt đêm. Xe dời thành Sài Gòn ngược ra miền Trung đến Nha Trang rồi ngược lên phía Tây, đường càng đi càng leo dốc, Sơn cảm thấy ớn lạnh phải mặc áo len. Sáng sớm thì xe đến thành phố Đà Lạt, chưa công sở nào mở cửa, hắn đưa Sơn vào hiệu phở, và giới thiệu đây là phở ngon nhất thành phố nghỉ mát này không kém gì phở Hà Nội. Vốn là người Hà Nội, Sơn đã từng ăn phở ở nhiều cửa hàng có tiếng, lại từng ăn phở ở Huế, ở Sài Gòn nay lại nếm phở ở thành phố cao nguyên này nhưng anh thấy rõ chẳng ở đâu phở ngon hơn ở Hà Nội, riêng phở ở đây còn kém rất xa phở gánh rong trên đường phố. Có lẽ vẫn chưa đến giờ các công sở làm việc nên hắn bảo lái xe đi chơi ở hồ Than Thở, hồ Xuân Hương, ngắm phong cảnh rừng thông Đà Lạt.

        Lần đầu tiên Sơn được đến thành phố nghỉ mát nổi tiếng ở Đông Dương này, nhưng tiếc thay anh không phải là người tự do, tuy vậy anh vẫnphải công nhận khí hậu ở đây trong lành, dễ chịu. Đến 9 giờ sáng hắn cho xe lên đèo Prem tới một biệt thự của người Pháp đã bỏ đi từ lâu chỉ có một người trông coi ở đó, nhưng lại có tới nửa tiểu đội lính gác. Người coi biệt thự này mặt lạnh như tiền giống hệt như bọn vệ sĩ ở cái biệt thự Sài Gòn trong chuyến anh vào lần trước, hắn đẩy Sơn vào một gian phòng rộng chừng 20 m2, chỉ thấy kê có một chiếc giường con. Tên trung uý dẫn Sơn lên đây nói:

        - Bây giờ ở Sài Gòn chính phủ khủng bố gắt quá, anh chịu khó chờ đợi ở đây để tôi đi bắt liên lạc rồi giải quyết sau.

        Sau đó hắn bỏ đi, tên trông coi nhà khoá cửa lại. Đến lúc này thì Sơn đã rõ không còn nghi ngờ là mình bị bắt, nhưng không phải vì chúng phát hiện ra anh là cán bộ an ninh miền Bắc mà là do Trần Kim Tuyến, giám đốc cơ quan an ninh tình báo của Ngô Đình Diệm triệt phá các đảng phái thân Mỹ khác để giữ độc quyền làm tay sai cho Mỹ, mình chính là nạn nhân trong cuộc tranh chấp đó.

        Nghĩ vậy Sơn đặt cái cặp xuống chiếc giường một trống trơn. Đến trưa, tên coi nhà mở khóa cửa đem vào một suất ăn của lính rồi lặng lẽ đi ra khóa cửa lại. Đến chiều, mặt trời đã lặn cũng không thấy tên trung úy đưa anh từ Sài Gòn lên đây trở lại, mà có một tên người Bắc, nhỏ người, má bên trái có cái nốt ruồi mọc mấy sợi râu lưa thưa, mặc thường phục mà sau này Sơn mới biết nó là tên trung úy ở Tỉnh đoàn Bảo an Đà Lạt, hắn nói:

        - Ông trung úy đưa anh từ Sài Gòn lên đây có việc bận phải đi ngay tôi đến đây đưa ông đi ở nơi khác.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười, 2020, 06:20:15 am

        Tên trung úy Tỉnh đoàn Bảo an đưa Sơn đến giam trong một phòng nhỏ hơn ở khu Cư xá Ngự lâm quân trên đèo Prem. Không rõ chúng đánh giá Sơn có tầm quan trọng như thế nào trong đảng Đại Việt - Quốc Dân đảng ảnh hưởng đến sự an nguy của chính quyền Ngô Đình Diệm đến mức độ nào mà chúng cho tới bốn tên hạ sĩ quan và lính canh gác. Sơn bị giam trong phòng kín hoàn toàn cách biệt với bên ngoài, đến bữa, bọn lính đem vào cho anh một suất cơm lính.

        Sơn bị nhốt trong phòng giam này tới hơn 5 tháng thì tên trung tá Liễu - mà bọn hạ sĩ và binh lính ở đây đều gọi là bác sĩ vào phòng giam nói với giọng của bọn Đại Việt - Quốc Dân đảng, hắn nói giọng ngọt xớt sẽ tìm cách đưa Sơn về Hà Nội theo con đường Nam Vang chứ ở trong này không thể được.

        Sơn cũng đành vờ tin nào nó, khi nó bảo anh ký tên vào hai tò giấy trắng để nó làm thủ tục anh cũng ký mặc dù anh biết nó lợi dụng mình để xoay xỏa tiền của Trần Kim Tuyến. Vài ngày sau Liễuđưa Sơn đến một gian phòng lớn hơn ở trung tâm huấn luyện hạ sĩ quan Bảo an ở một quả đồi khác.

        Nằm mãi trong phòng giam cũng chán lại sinh ra nỗi nhớ nhà, nhớ mẹ, nhớ vợ con, không biết sinh sống ra sao, có khỏe mạnh không. Lại lo các đồng chí của mình không nhận được tin tức gì của mình. Để tránh nỗi buồn day dứt nếu kéo dài nó sẽ làm nhụt ý chí đấu tranh cách mạng Sơn yêu cầu chúng phải thuê truyện, sách báo cho anh đọc. Đòi hỏi này của anh được chúng chấp nhận ngay, thế là chúng đưa vào đủ thứ truyện như Chinh Đông, Chinh Tây, Bồng Lai hiệp khách, Tây Du ký, rồi cả kinh phật kinh của Cơ đốc giáo. Anh ngốn hết đủ loại sách, nhưng đọc sách mãi cũng chán anh muốn đọc báo để qua đó có thể phần nào hiểu về thời sự trong nước và thế giới tất nhiên đã  bị chúng bóp méo, xuyên tạc, nhưng chúng không cho anh đọc báo chữ Anh, chữ Pháp, báo của phe đối lập, báo của phong trào sinh viên, Phật giáo mà chỉ có báo Sài Gòn. Trên tờ báo này có mục làm cho anh thích thú là phá cờ thế, một mình anh đánh cả hai bên đỏ, đen. Anh còn bỏ công sức ra làm một bộ quân cờ vào loại có một không hai ở Việt Nam và ở cả thế giới. Đó là anh dùng dao cạo manh xơ lam cắt vỏ bao diêm bằng gỗ bồ đề, nghiền cơm nát dán chồng lên rồi ép, dán lớp nào ép lớp đó, dần dần mỗi quân cờ dầy 20 lớp, dán chắc, bền đẹp như bộ quân cờ tiện bằng sừng. Trên mặt quân cờ anh cũng khảm đủ loại quân tướng, sĩ, tượng xe, pháo, mã tốt, mười sáu quân khảm chữ màu đỏ, mười sáu quân khảm chữ mầu đen.

        Sơn cứ sống một mình lặng lẽ trong gian phòng nhỏ tới bữa ăn một tên lĩnh đem cơm vào, đặt trên nền nhà không nói một tiếng, lẳng lặng lui ra. Sáng ra khoảng tám giờ sáng chúng mở cửa cho anh đi tắm rửa và đổ bô.

        Khoảng sáu tháng sau bọn công an của Trần Kim Tuyến lại đưa Sơn đến một phòng giam rộng khoảng 10 mét vuông ở trong Tỉnh đoàn Bảo an Tuyên Đức, cạnh nhà lao Đà Lạt. Sơn thấy mình không chống Mỹ - Diệm, không bị xét xử, không đưa ra toà nhưng lại bị đầy ải cơ cực bởi chế độ giam cầm khắc nghiệt còn hơn ca tù khổ sai chung thân, nên anh la hét phản đối đòi trả lại tự do, đòi được tắm nắng, được chơi thể thao. Mấy ngày đầu bọn chúng làm ngơ, nhưng rồi ngày nào Sơn cũng la hét, còn nhịn ăn để đòi chúng thỏa mãn yêu sách. Cuối cùng chúng phải khất là sẽ báo cáo về Sài Gòn xin chủ trương. Hai tuần sau chúng nói là có lệnh từ Sài Gòn cứ mỗi buổi sáng chúng cho anh ra tắm nắng mười lăm phút và là lúc chúng mở cửa cho anh đi đổ bô, tắm giặt.

        Nơi tắm nắng ở ngay trước cửa phòng giam, có lối đi rộng chừng hai mét, rào dây thép gai. Ngaycạnh phòng giam Sơn là một phòng nhỏ, chúng giam hai người, một người tướng ngũ đoản, da ngăm đen, trán hói, tóc chải ngược. Người kia gầy, cao hơn, da trắng, tóc điểm hoa râm. Hai người này cũng lần lượt mỗi sáng ra phơi nắng mười lăm phút. Nơi giam giữ này nằm ở cuối trại lính nên vắng vẻ, cả ngày chỉ có vài bóng lính qua lại. Tại đây bọn chúng cũng cho tù ăn suất ăn của lính.

        Khi tắm nắng cũng có lính canh, nên Sơn không nói chuyện được với hai người kia, cứ mỗi lần đi dạo qua lỗ thông hơi, anh lại dùng ngón tay viết một chữ cái lên lòng bàn tay, mỗi lần như thế viết được hai, ba chữ cái qua vài ngày sau thì Sơn biết được người tù tướng ngũ đoản tên là Trần Quốc Khánh, người này thuộc cấp lãnh đạo trung ương đảng Dân Xã, còn người kia Sơn cũng biết tên nhưng nay lâu ngày quên mất.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười, 2020, 06:20:30 am

        Sơn bị giam giữ như vậy gần ba năm, không một tên nào hỏi han gì tưởng như chúng đã quên anh.

        Không, chúng không quên, vào một buổi sáng đầu tháng 12-1959, có một chiếc xe dép đỗ ở sân trại giam, từ trên xe bước xuống là một người béo mập, trắng trẻo, đeo kính trắng, mặc thường phục, Sơn phải nhìn một lúc lâu mới nhận ra đó là trung uý Ninh, kẻ đã đưa đón anh trong chuyến anh vào Sài Gòn lần thứ nhất, nhưng nay hắn béo, đẫy đà và trắng hơn nên khó nhận ra. Ninh vồn vã bắt tay chào hỏi Sơn với giọng của đảng Đại Việt - Quốc Dân đảng hắn đưa cho Sơn xem tờ báo Nhân Dân xuất bản ở Hà Nội ngày 5-4-1959 đăng vụ án C30 do Trần Minh Châu tức Cập cầm đầu, đầu bài báo là: "Một tổ chức gián điệp của Mỹ- Diệm bị đưa ra trước pháp luật". Ở trang 1 và bài xã luận, "Thắng lợi của tinh thần cảnh giác", cả hai bài này chúng đều gạch chân mấy dòng tít và đóng khung bằng bút chì mầu đỏ. Sơn xem chưa hết bài báo thì trung úy Ninh nói:

        - Ở miền Bắc bây giờ đen tối lắm, công an Bắc Việt đánh phá hết các cơ sở trung kiên của đảng Đại Việt - Quốc Dân đảng, anh về Hà Nội không được nữa, mà ở Sài Gòn không có gia đình cũng nguy hiểm lắm, nên chúng tôi tính gửi anh đến một nơi xa, ít người quen, có việc làm đủ sống, rồi sau này sẽ tính.

        Sơn không khỏi nghi ngờ hỏi:

        - Vậy nơi ấy là ở đâu?

        Ninh yên lặng một lát rồi trả lời:

         - Nơi đó chúng tôi còn tìm, anh cứ yên tâm ở đây chờ đợi và không được đi ra ngoài, sẽ rất nguy hiểm cho tính mạng anh.

        Nói xong Ninh chào anh một cách chiếu lệ rồi cầm tờ báo đi ra. Anh tiếc là không có mặt ở Hà Nội để cùng đồng đội tham gia phá vụ án này, và không hiểu vì sao ban chuyên án lại bỏ sót Phạm Đăng Hào là nhân vật sô hai của toán gián điệp này.

        Đầu tháng 3-1960, cảnh sát của Trần Kim Tuyến đưa Sơn từ Đà Lạt về giam kín ở một nhà giam ở Sài Gòn, sau này anh mới biết đó là sở thú. Dẫn anh về Sài Gòn lần này vẫn là tên trung úy mặc thường phục đưa anh từ Huế vào Sài Gòn rồi lên Đà Lạt từ ba năm trước. Trại giam này có lính gác nhưng không có phòng làm việc, chứng tỏ đó là nơi tạm giam. Độ gần một tuần, đó là vào ngày 19 tháng 3-1960, một tên mặc thường phục, người gầy, dong dỏng cao, tự giới thiệu tên là Lữ đem đến một cái túi vải kiểu sắc du lịch và hai bộ quần áo may sẵn đưa cho anh và nói:

        - Chúng tôi đã tìm được người quen bảo đảm để gửi anh, giấy tờ của anh chúng tôi cũng làm rồi, từ nay anh lại mang tên là Nguyễn Văn Sơn.

        Nghe tên Lữ nói như vậy Sơn cầm chắc là Trần Kim Tuyên chưa chịu trả tự do cho mình mà còn tiếp tục đầy ải mình, nhưng chưa rõ chúng đưa đi giam ở đâu.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười, 2020, 06:21:07 am

VIII. T31 BỊ ĐẦY RA CÔN ĐẢO

        Tên Lữ giao cho anh cái túi, ra chỗ chiếc xe zép chở hắn tới nói gì đó với tên lái xe rồi quay vào giục Sơn:

        - Bây giờ anh theo tôi đưa anh đến nơi ở mới...

        Sơn cũng chẳng có đồ đạc gì nhiều chỉ có cái cặp và chiếc túi xách tên Lữ mới đưa cho liền xách theo hắn ra xe. Tên Lữ cho xe đi qua mấy phố đông dân cư, qua một phố vắng đến bến cảng sông Sài Gòn thì ô tô đỗ lại, tên Lữ dẫn Sơn ra cầu tầu đưa xuống chiếc tầu Hải quân, trên sàn tầu có khoảng 200 tù chính trị bị xích vào nhau. Lữ không cho Sơn có thì giờ nói chuyện với tù chính trị mà đưa anh vào hẳn trong khoang thuyền trưởng. Đến đây Sơn đã rõ nơi chúng bảo anh ở đó yên tĩnh, không có người quen là nhà tù Côn Đảo địa ngục trần gian. Tầu rời sông Sài Gòn ra Vũng Tầu rồi ra khơi để tới Côn Đảo. Sơn ngước mắt nhìn lên bầu trời màu xám bạc, nhìn biển nước mênh mông, không hề thấy một cánh buồm, một chiếc tầu, chỉ có vài cánh hải âu uể oải bay giữa khoảng cách bầu trời và mặt nước tưởng như gần chạm vào nhau. Nhìn bầu trời mênh mông vô tận, lòng Sơn rộn lên nỗi niềm nhớ quê hương có xóm làng san sát nhà cửacó mái đình, giếng nước, có cây đa ở đầu ngõ và cái cổng làng cao, to nhất trong tổng. Ra khỏi cổng, đồng của làng là đồng lúa xanh ngăn ngắt rộng thẳng cánh cò bay. Vậy mà từ nay anh bị chúng đưa đi đầy ở Côn Đảo mịt mù sóng gió giữa biển khơi hoàn toàn cách biệt với đất liền mà mẹ già, vợ con, các đồng chí, đồng nghiệp không hề biết tin tức kể từ khi anh qua khỏi cầu Hiền Lương.

        Côn Đảo còn gọi là quần đảo Côn Lôn, có mười bốn hòn đảò rộng trên 60 kilomét vuông, nằm ở vị trí 136°, 36° kinh Đông và và 8°40 vĩ Bắc, cách Vũng Tầu 90 hải lý. Tháng 6-1783, Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn truy kích phải đem theo người vợ thứ ba được sủng ái là Đặng Thị Yến, con trai là hoàng tử Cải cùng 100 gia đình vượt biển chạy ra Côn Đảo, Nguyễn Ánh cầu viện quân Xiêm bị quân Tây Sơn đánh cho đại bại ở Rạch Gầm, Soài Mút. Hắn lại cầu viện nước Pháp, giao hoàng tử Cải cho cố đạo Bê hen (Pigneau de Behaine) làm con tin. Bà Đặng Phi Yến can ngăn không nên đưa quân nước ngoài về tàn phá đất nước như quân Xiêm vừa rồi. Nguyễn Ánh tức giận giam bà vào hang đá xếp đá bịt cửa hang và bắt hoàng tử Cải đi, Hoàng tử Cải bị bắt lên thuyền gào khóc đòi mẹ liền bị Nguyễn Ánh đạp xuống biển, xác hoàng tử cải giạt vào bãi Cỏ Ống. Sau khi giết hoàng tử Cải, Nguyễn Ánh giao hoàng tử Cảnh cho cố đạo Bê hen đưa sang Pháp làm con tin. Ngày 28-1-1787 cố đạo Bê hen đại diện cho Nguyễn Ánh ký với Pháp Hiệp ước: Pháp viện trợ cho Nguyễn Anh, bốn tầu chiến, 2000 lính Phi. Để đổi lại; Nguyễn Ánh "phải nhường vĩnh viễn cho Pháp cửa biển Đà Nẵng và quần đảo Côn Lòn" Năm 1802, Nguyễn Ánh được quân Pháp viện trợ quân sự, đánh bại nhà Tây Sơn lập nên vương triều Nguyễn, Nguyễn Ánh lấy hiệu là Gia Long. Từ Gia Long đến Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức đều đưa những người chống đối ra giam giữ ở Côn Đảo.

        Năm 1862 thực dân Pháp đánh chiếm được ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, chúng dời dân vào đất liền, biến quần đảo này thành nhà tù. Có biết bao quan lại, tướng lĩnh trong phe chủ chiến, các thủ lĩnh nông dân khởi nghĩa, phong trào Cần Vương, chỉ riêng gia đình Nguyễn Thiện Thuật có tới ba người là Nguyễn Thiện Kế, Nguyễn Tuyển Chi, Nguyễn Thạc Chi và các phong trào yêu nước khác đã bị đế quốc Pháp đầy ải cho đến chết. Từ năm 1930 cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quốc Dân đảng thất bại, Xô Viết Nghệ - Tĩnh bị dìm trong biển máu, đế quốc Pháp đã đưa hàng nghìn chiến sĩ cách mạng rà đầy ải ở đây. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954) Pháp đã xây dựng thêm nhiều trại, banh, khu biệt giam chuồng cọp, chuồng bò để đầy ải, giết dần giết mòn hàng ngàn tù chính trị, biến Côn Đảo thực sự là "địa ngục trần gian".

        Từ năm 1954 đế quốc Mỹ thế chân Pháp xâm lược Việt Nam, dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm thống trị nhân dân miền Nam âm mưu vượt sông Bến Hải đánh phá miền Bắc thì nhà tù Côn Đảo trở thành một trại giam khổng lồ giam giữ hành hạ các chiến sĩ cách mạng, nhân dân yêu nước và cả những người trong các đảng phái thân Mỹ khác, cùng bọn quân phạm, tù kinh tế, hình sự đều đầy ra đó. Bọn cố vấn Mỹ còn dạy cho bọn đao phủ giết hại cả thể xác và tinh thần các chiến sĩ cách mạng với những thủ đoạn tàn bạo, tinh vi.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười, 2020, 06:21:28 am

        Vào tháng 3-1960 khi Nguyễn Văn Sơn bị đầy ra Côn Đảo cũng là thời kì các chiến sĩ cách mạng đấu tranh chống li khai kiên cường nhất. Tất cả các tù nhân kiên cường bất khuất trong các nhà lao Chín Hầm, Thủ Đức, Chí Hòa đều bị chúng lưu đầy ra Côn Đảo và đã chịu đựng đủ mọi hình thức tra tấn man rợ nhất của chủ nghĩa thực dân mới. Trong cuộc đấu tranh kiên cường bất khất đó, các tù chính trị lao I ở Chuồng Cọp đã nêu cao dũng khí cộng sản kiên trinh. Cuộc đấu tranh giành được thắng lợi nhưng phải trả giá bằng gần 1000 anh hùng, chiến sĩ hy sinh và hàng ngàn người khác bị tàn phế, thương tật suốt đời.

        Chiếc tàu Hải quân chở các chiến sĩ bị lưu đầy ra đến Côn Đảo chúng lùa hết các chiến sĩ cách mạng lên trước, rồi tên Lữ mới đưa anh lên và dẫn anh đến trình diện trung tá Bạch Văn Bôn tỉnh trưởng kiêm quản đốc trại giam Côn Sơn. Lữ để Sơn ngồi ở phòng ngoài rồi vào phòng tỉnh trưởng trước. Không rõ Lữ nói với Bạch Văn Bốn những gì về anh, nhưng khi hắn cho gọi anh vào, thì thái độ của tỉnh trưởng không ra thân thiện cũng chẳng thù địch, hắn còn động viên:

        - Anh đã ra đây, hãy yên tâm làm ăn, đừng nghĩ gì đến chuyện về đất liền, nay tôi giao cho anh làm quản lý câu lạc bộ cho chúng tôi. Tôi nói trước, anh không được ra bờ biển khi có tầu ở đất liền ra, còn lương của anh mỗi tháng tôi trả 2.000 đồng. Nếu anh không làm tốt, chẳng những không được nhận lương mà còn bị đuôi việc lúc đó hậu quả sẽ ra sao, hẳn anh cũng đoán được.

        Sơn thấy việc đó thích hợp với mình vả lại anh từ chối việc này, chắc chắn chúng sẽ tống anh vào trại giam nên nhận lời.

        Qua tìm hiểu, Sơn thấy câu lạc bộ Côn Đảo ở trưng tâm thị xã là nơi bán điểm tâm, giải khát cho các nhân viên nguy quân, ngụy quyền đóng ở đảo. Câu lạc bộ còn nấu cơm tháng cho nhân viên ở đất liền ra đảo không đem theo gia đình. Đối với các đoàn thanh tra hay khách hạng thường Tỉnh trưởng cũng đều đãi cơm ở Câu lạc bộ.

        Sơn ở đảo được hơn một tháng thì tỉnh trưởng Bạch Văn Bốn cho người mời anh lên phòng làm việc của hắn, hắn sai lính hầu mở bia mời anh và tỏ ra rất thân tình niềm nở hỏi thăm sức khỏe và anh cần gì trong cuộc sống cứ bảo hắn. Đoạn Bạch Văn Bôn lấy từ trong tủ ra một chiếc phong bì dầy cộm trao cho anh nói:

        - Đây là 2500 đồng lương tháng của anh từ đất liền gửi ra...

        Sự ưu ái của Trần Kim Tuyến, tên trùm mật vụ khét tiếng thâm hiểm và gian ác và tên đao phủ tỉnh trưởng Bạch Văn Bốn khiến Sơn không khỏi ngỡ ngàng, mặc dù anh đã được Nguyễn Đức Tăng thông báo trước, vì vào thời gian đó 5000 đồng đã  mua được 1 lạng vàng.

        Với số tiền lương hậu hĩ đó, Sơn đâu có tiêu đến, vì ăn đã không mất tiền, câu lạc bộ trả lương lại có nhiều bổng lộc, đó là một công việc mà nhiều viên chức trong chính quyền ở đảo hằng mong ước. Sơn đã dùng số tiền thừa của mình mua đường sữa, thuổc men bí mật gửi cho anh em tù chính trị, giúp đỡ các gia đình cơ sở mà anh đang tuyên truyền vận động. Tuy vậy, anh cũng bị bọn cảnh sát ở đảo "để ý tới". Có tên nói thẳng với anh: "Anh có phải là Việt Cộng không mà lại có cảm tình vơi tù chính trị như vậy?" Nghe tên đó hỏi, Sơn bình tĩnh trả lời: "Tôi chỉ là người Việt Nam thấy bất cứ ai đau khổ, hoạn nạn thì giúp đỡ chút ít gọi là hiểu lộ tấm lòng thường người của mình"

        Tuy Sơn không có cương vị gì ở Đảo, nhưng do công chức ở Đảo từ Tỉnh trưởng đến các trưởng ty đều cho rằng anh là người tin cẩn của Trần Kim Tuyến phái ra Đảo giám sát chúng nên chúng đều vị nể, hễ gặp anh là chúng chào trước. Nhiều bữa tiệc do Tỉnh trưởng hay các trưởng ty tổ chức cũng đều có giấy mời anh. Tất cả những bữa tiệc đó, Sơn đều sắp xếp thời gian đi dự để mở rộng sự quan hệ cá nhân và nắm được một số âm mưu của ngụy quyền ở Sài Gòn và bọn ở Đảo đối với tù chính trị.

        Ở cương vị quản lý Câu lạc bộ, Sơn cố tìm mọi cách giúp đỡ tù chính trị, Câu lạc bộ cần một số người phục dịch như tiếp phẩm, nấu ăn, chạy bàn, rửa bát đĩa, quét dọn và làm giấy tờ sổ sách, trước kia người quản lý cũ thuê người ngoài vào làm nay Sơn đã để ý chọn đích danh mười sáu anh em tù chính trị đều là những chiến sĩ đấu tranh trong tù kiên cường như Nguyễn Tấn Chẩm, Trịnh Minh Sao, Thái Văn Hiến, Nguyễn Văn Mười... lập danh sách trình bày với Tỉnh trưởng kiêm quản đốc nhà lao Côn Sơn xin cho họ ra làm việc và ở tại Câu lạc bộ cho tiện sự sai phái. Bạch Vàn Bốn thấy có lý nên chấp nhận đề nghị của Sơn và đã kí duyệt vào bản danh sách đó.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười, 2020, 06:22:20 am

        Khi anh em tù chính trị đến nhận việc Sơn nói rõ công việc của từng người và yêu cầu anh em làm thật tốt, hàng tháng Câu lạc bộ nuôi cơm, mỗi anh em còn nhận được tiền bồi dưỡng hàng tháng từ 250 đồng đến 300 đồng. Đề phòng có kẻ xấu xoi mới việc làm trên, Sơn đều làm dự toán để Tỉnh trưởng ký duyệt, giao cho kế toán cấp phát.

        Do anh em tù chính trị làm tốt công việc, Sơn chỉ làm nhiệm vụ quản lý cơ sở, cuối ngày nộp tiền cho ty Ngân khố và cuối tháng làm sổ sách, tính lại giao cho Tỉnh trưởng lấy tại Ngân khố.

        Trong khi làm tại Câu lạc bộ, Sơn sẵn có sản phẩm của cơ sở đã chiêu đãi một số viên chức có thế lực trong bộ máy cầm quyền ở Đảo. Nguyễn Đức Tăng là bí thư của Tỉnh trưởng Bạch Văn Bốn, một người chức không cao nhưng lại rất có quyền thế ở đảo, Sơn đã kết thân với anh vì anh là người tốt, không chèn ép người khác, không tham gia mà còn tìm cách hạn chế bọn ác ôn đàn áp tù chính trị. Hai người trở nên thân thiết. Khoảng ba tháng sau, Tăng cho Sơn biết bức thư của Trần Kim Tuyến gửi tỉnh trưởng Bạch Văn Bốn có đoạn như sau; "Tôi gửi ông một người nhà là Nguyễn Văn Sơn. Ở Sài Gòn ông ấy quậy phá quá trời, không sao chịu nổi. Nay tôi gửi Sơn ra ngoài đó nhờ ông giúp đỡ, tìm một việc làm gì đó để giữ chân ông ấy lại. Điều quan trọng là không để ông Sơn buồn và chán và quay về đất liền"1. Đó là một thông tin quí giá để Sơn đối phó với bọn chúa đảo.

        Ý tứ của Trần Kim Tuyến như vậy nhưng Tỉnh trưởng Bạch Văn Bôn lại cho rằng Trần Kim Tuyến đặc phái anh ra đảo là để giám sát bọn hắn, nên bọn hắn đối xử với Sơn hết sức tử tế và khiêm nhường. Cứ thế các viên chức ở đảo nói nhỏ với nhau về nhận xét của tỉnh trưởng, nên bọn cầm đầu ở đảo không dám đụng chạm, thậm chí làm mất lòng Sơn, có tên còn cho vợ con đến cầu cạnh mong Sơn nói với Trần Kim Tuyến cho chồng con thăng quan tiến chức.

        Sơn làm ở Câu lạc bộ được hơn một năm, tỉnh trưởng mới Lê Văn Thể, thấy Sơn biết làm sổ sách, tính toán giỏi lại có lãi hơn những người làm trước liền cho anh sang quản lý kế toán Hợp tác xã.

        Hợp tác xã tiêu thụ Côn Sơn là một tổ chức thuộc Nha Hợp tác xã trung ương tại Sài Gòn. Hợp tác xã do các nhân viên ngụy quân, ngụy quyền đóng cổ phần đê ưu tiên mua lương thực, thực phẩm, hàng bách hóa, thuốc men chở từ Sài Gòn ra. Hàng năm xã viên được hưởng lại suất theo cổ phần đã đóng.

        Mỗi năm hợp tác xã họp đại hội xã viên một lần để tính lỗ lãi và bầu ban quản trị, ban kiểm soát mới. Hàng tháng và cuối năm phải báo cáo kế toán về Nha hợp tác xã ở Sài Gòn.

        Thường thì những người cầm đầu nguỵ quyền, nguỵ quân được bầu vào các ban còn chủ tịch luôn luôn là tỉnh trưởng hay phó tỉnh trưởng. Riêng Sơn là ban quản lý do tỉnh trưởng chỉ định không phải bầu.

        Quản lý thay mặt cho ban quản trị lo việc mua, bán hàng hóa của một nhà thầu ở Sài Gòn chuyển hàng ra đảo cho hợp tác xã. Thường mỗi tháng có một chuyến tầu chở hàng từ Sài Gòn ra đảo. Vào mùa gió chướng thường từ tháng 11 năm trước đến tháng 2 năm sau gió thổi mạnh vào đất liền nên tầu ra bị sóng to, ngược gió không ra đảo được, phải chậm lại vài tuần, có khi hàng tháng nên hàng lúc đó khan hiếm phải phân phối theo nhu cầu. Xã viên nào mua hàng khan hiếm phải ghi phiếu có chữ kí của quản lý thì thư kí mới viết phiếu bán. Do điều kiện đó nên quản lý dễ lợi dụng để thiên vị tạo điều kiện thuận lợi cho công tác cách mạng. Khi hàng khan hiếm thì nhu yếu phẩm phân phối theo hộ gia đình, phiếu do anh nhớ lại phiếu ở miền Bắc để làm. Tuy vậy tỉnh trưởng, phó tỉnh trưởng và người trong bản quản trị ban kiểm soát luôn luôn giành được ưu tiên.

        Nguyễn Văn Sơn đã khéo léo lợi dụng lời huênh hoang của bọn chúa đảo là chúng đã có lòng nhân đạo đối với tù nhân để đề nghị tỉnh trưởng cho phép tù nhân (cả tù chính trị, quân phạm, thường phạm) có bưu phiếu tiếp tế từ đất liền gửi ra đảo, nếu muốn mua đường sữa, thuổc tẩm bổ hay các chữa bệnh thì lập danh sách các thứ hàng cần mua, giám thị sẽ chuyển mỗi tuần một lần tới cửa hàng hợp tác xã rồi đưa về trại bán theo đúng giá. Đề nghị của Sơn được tỉnh trưởng duyệt. Đấy là một thắng lợi quan trọng, có ý nghĩa chính trị và kinh tế mà tù nhân đã kiên trì đấu tranh từ thời Pháp qua thời Mỹ vẫn không được giải quyết.

--------------
        1. Tuy Kha thân thiết với nguyễn Đức Tăng như vậy, nhưng sau này Tăng chuyển sang ngạch ngoại giao, làm Bí thư thứ hai sứ quán Diệm ở Algéri, Kha muốn báo cáo về cơ quan và thông tin vổi gia đình là mình đang bị giam giữ ở Côn Đảo đã  nhờ Nguyễn Đức Tăng qua đường thư tín Paris (Pháp) gửi cho anh một bức thư cho gia đình ở Hà Nội, nhưng Tăng sợ liên luỵ đã khéo léo từ chối.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười, 2020, 09:52:45 am
     
        Ban quản trị và ban kiểm soát mỗi tháng họp một lần vào đầu tháng để duyệt báo cáo kê toán, lỗ lãi của tháng trước và quyết định những việc liên quan do quản lý đề suất. Cuộc họp nào cũng có giải khát đầy đủ, khi về lại có phong bì với số tiền không nhỏ nên đại biểu nào cũng vui vẻ.

        Giúp việc cho quản lý có một thủ kho, một thư ký ghi phiếu bán hàng và một thu ngân, những người này đều là vợ con nhân viên ngụyquyền ở đảo được tuyển vào làm, có lương tháng. Ngoài ra còn văn phòng, kê toán sổ sách v.v... đều do tù chính trị Sơn lấy trong trại ra giúp việc đảm nhận làm đâu vào đấy, không một sai sót nhỏ, đã  báo cáo việc làm đó với quan quản trị và ban kiểm soát, và được tất cả mọi người đồng tình. Dựa vào sự tín nhiệm đó, Sơn tiếp tục lập danh sách mười tù chính trị mà anh đã hiểu về tư cách, phẩm chất, xin họ ra làm các công việc cân, đong, đo, đếm khuân vác, quét dọn gửi lên tỉnh trưởng kiêm quản đốc trại, được Tỉnh trưởng ký duyệt. Những anh em trên được ăn, ngủ tại hợp tác xã , không phải vào trại, được hưởng thù lao mỗi tháng từ 300 đến 500 đồng một người, được bồi dưỡng gạo, thức ăn, chè, thuốc trong khi dọn hàng tầu Sài Gòn chở hàng ra vào ban đêm và khi đau yếu. Đề phòng bọn xấu bới móc, gây khó dễ, Sơn đề ra tiêu chuẩn trên rồi trình bày tại cuộc họp ban quản trị và được sự đồng tình của cả ban, và chủ tịch là thiếu tá ký duyệt rồi giao cho quản lý đại diện ban quản lý kí các phiếu xuất và vào sổ sách đàng hoàng.

        Trong thời gian ở đảo, bằng kinh nghiệm hoạt động tình báo của mình, Sơn đã điều tra lý lịch, phân hóa bọn ngụy quyền, gây mâu thuẫn giữa các bộ phận của ngụy quyền, tỉnh Côn Sơn làm cho chúng luôn luôn đề phòng, giữ miếng nhau, tìm cách hạ thấp uy tín của nhau tiến tới hất cẳng nhau. Sơn còn tìm cách mua chuộc nắm những người làm văn thư, đánh máy, lưu trữ tài liệu để tìm hiểu các âm mưu, thủ đoạn của chúng đối với tù chính trị để báo cho anh em biết mà đối phó. Để giữ bí mật, Sơn không nói trực tiếp với người nào trong số tù chính trị làm việc ở hợp tác xã mà chỉ làm như vô tình nói lộ ra cho anh em biết để anh em báo tin về trại. Nhờ đó anh em tù chính trị đã  có kế hoạch đối phó kịp thời nhiều vụ đàn áp của địch. Sơn còn ngầm tuyên truyền cách mạng, vạch mặt một cách khéo léo Mỹ và tay sai. Ngoài ra nhờ gây uy tín cá nhân, thuyết phục những nhân viên ngụy quyền trong ban quản trị hợp tác xã giúp đỡ nhiều đồng chí ta trong các trại ra các văn phòng giúp việc chúng, để bằng con đường này đưa tin tức từ trong ra ngoài, từ ngoài vào trong được dễ dàng:

        Sơn thấy bọn chúa ngục xây mộ cho Nguyễn An Ninh, một nhà yêu nước chống Pháp, anh cũng tác động cho chúng xây mộ cho chị Võ Thị Sáu, vì anh nói chị cũng chỉ là một học sinh nhỏ tuổi chống Pháp đâu phải là cộng sản. Chúng chấp nhận đề nghị của anh và đã xây mộ chị Võ Thị Sáu. Mặc dù các hoạt động của Sơn kín đáo lại được tỉnh trưởng bảo vệ và các ủy viên ban quản trị, ban kiểm soát là nhân viên ngụy quyền cao cấp ở đảo bênh vực, nhưng bọn cầm đầu công an1 ở đảo luôn luôn cho mật vụ theo dõi và đã nhiều lần gọi Sơn về ty công an thẩm vấn. Nhưng do không có chứng cớ, vả lại tên nào cũng được Sơn thết đãi, gửi phong bì, ưu tiên hàng hóa khi khan hiếm nên tên nào cũng vị nể không dám thẳng tay với Sơn. Hơn nữa ngay ở bộ chỉ huy cảnh sát Côn Sơn, anh cũng gây được cơ sở nên anh biết rõ tên nào đang theo dõi anh và chúng gọi anh lên để hỏi về việc gì nên lần nào anh cũng an toàn trở về.

        Cứ mỗi lần có tỉnh trưởng ra đảo2 hay trưởng ty cảnh sát mới đổi ra đảo là mỗi giai đoạn chúng lại tăng cường giám sát theo dõi Sơn và có nhiều cuộc thẩm vấn, khống chế hơn, vì qua việc Sơn tiếp xúc với tù chính trị không có lợi đối với chúng cho nên công an Côn Đảo nghi ngờ anh là người của cách mạng. Tuy chúng nghi ngờ, nhưng do Sơn hoạt động khéo léo, mọi việc lấy tù chính trị ra phục vụ ở câu lạc bộ, hợp tác xã cho đến việc trả lương, bồi dưỡng cho anh em đều do tỉnh trưởng kiêm quản đốc trại giam, chủ tịch hội đồng quản trị ký, Sơn chỉ là người đề xuất và thừa hành. Tất cả các chi phí đó đều ghi chép công khai trong sổ kế toán, hàng tháng, hàng năm đều có chữ ký duyệt y của chủ tịch Hội đồng quản trị. Mặc dù không có chứng cớ cụ thể, bọn cảnh sát ở Côn Sơn vẫn không ngừng theo dõi, giám sát anh. Khoảng đầu tháng 3-1975, một người tên là Hiển ở thành phố Cần Thơ làm ở văn phòng tỉnh trưởng Côn Sơn báo cho anh biết là tên Tức chỉ huy trưởng cảnh sát Côn Sơn làm tờ trình lên trung tá Lâm Hữu Phương đề nghị bắt Sơn tống vào trại giam, nhưng Lâm Hữu Phương ra lệnh "tạm để lại để theo dõi thêm" Khi được Hiển báo cho tin này Sơn hiểu rằng trung tá Lâm Hữu Phương chẳng phải có cảm tình gì với mình mà từ khi Phương ra làm chúa đảo Sơn đã kiếm cho hắn khá nhiều tiền từ cái hợp tác xã tiêu thụ cùng những thùng lớn hàng hóa khan hiếm ở đảo. Tuy vậy sự kiện trên cũng nhắc nhở Sơn hoạt động phải khôn khéo hơn, sao cho đạt được hiệu quả mà mình vẫn an toàn để tiếp tục hoạt động cho cách mạng chờ ngày miền Nam được giải phóng, anh thoát được cảnh giam cầm này và không phải đau lòng khi nhìn thấy các đồng chí của mình bị giặc đày đoạ trong các xà lim, các trại biệt giam, các chuồng bò, chuồng cọp mà không giúp được.

--------------
        1. Từ nàm 1954 đến tháng 5-1960 gọi là chi công an.
        Từ tháng 6-1960 gọi là công an
        Từ năm 1971 là bộ chỉ huy cảnh sát Côn Sơn. Trưởng ty gọi là chỉ huy trưởng. Dưới có các phòng: cảnh sát đặc biệt; quản trị; tư pháp; kỹ thuật; an ninh cảnh lực; tâm lý chiến; cuộc cảnh sát Bến Đầm; cuộc cảnh sát Cỏ Ống.

        2. Tính từ tháng 3-1960 khi Sơn bị đầy ra đảo đến ngày 30-4- 1975 có các tên tỉnh trưởng kiêm quản đốc trại giam như sau:
        1- Thiếu tá Bạch Văn Bôn (1957-1960)
        2- Thiếu tá Lê Văn Thể (1960-1963)
        3- Trung tá Tăng tự Tư Sao (1963-1964)
        4- Thiếu tá Nguyễn Văn Sáu (1964-1965)
        5- Thiếu tá Nguyễn Thế Ty (1965 )
        6- Thiếu tá Nguyễn Phát Đạt (1965 )
        7- Thiếu tá Nguyễn Văn Vệ (1965-1971)
        8- Thiếu tá Nguyễn Văn Tiếp (1971-1972)
        9- Trung tá Đào Văn Phô (1972-1973)
        10- Trung tá Nguyễn Văn Vệ (1973-1974)
        11- Trung tá Lâm Hữu Phương (1974-4/1975)
        (Theo Côn Đạo ký sự và tư liệu - sách đã dẫn)



Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười, 2020, 09:55:02 am

IX- THAM GIA GIẢI PHÓNG CÔN ĐẢO

        Từ năm 1974 các cuộc đấu tranh của tù chính trị càng trở nên quyết liệt đến nỗi công văn số 449/TTCH/CS/AN/TK ngày 27-6-1974 về tình hình an ninh Trung tâm Cải huấn cho biết, năm 1973 có 127 vụ vi phạm nội qui, 84 vụ gây rối, trong khi đó, chỉ tính từ 1-1-1974 đến 26-6-1974 đã có 112 vụ vi phạm nội quy và 57 vụ gây rối.

        Tiếp đó công văn số 449/TTCH/CS/CM/M/K ngày 29-7-1974 của ban Chuyên môn đã khẩn cấp phúc trình quản đốc nhà tù về tình hình an ninh như sau: "Liên tiếp trong 2 ngày 17 và 18-7-1974, số can cứu chống đối trại VI đã tuần tự từng phòng hô la. Số can cứu Trại VII khu D đồng thanh hưởng ứng Trại VI hô la các khẩu hiệu".

        Trước tình hình đấu tranh liên tục và ngày càng mạnh mẽ của tù chính trị, tỉnh trưởng Côn Sơn kiêm quản đốc nhà tù Côn Sơn Lâm Hữu Phương đã triệu tập khẩn cấp nhiều cuộc họp bàn giải pháp đàn áp tù chính trị, bảo đảm an ninh cho khu trung tâm. Ngày 14-8-1974, Bộ Chỉ huy cảnh sát Quốc gia Côn Sơn đã ban hành lệnh cấm trại 100% nhân số và gửi công điện số 1506/CSQG/CS/HQ thông báo cho các phòng ban trực thuộc, cho Bộ chỉ huy cảnh sát Yếu khu Cỏ Ống, Bến Đầm và tiểu đoàn cảnh sát dã chiến từ Sài Gòn ra tăng phái để thực hiện.

        Đầu năm 1975 nhà tù Côn Đảo giam giữ tới 7448 người tù, trong đó có 4334 tù chính trị, trong số tù chính trị này có 2488 người đang chịu chê độ cấm cố ở Trại I, Trại V, Trại VI, Trại VII, những người này đã chống chào cờ ngụy, chống học tố Cộng, chống nội quy nhà tù từ nhiều năm trước, 1746 người còn lại chịu làm khổ sai chung thân với tù thường phạm ở trại II, trại III.

        Tháng 3-1975 chiến dịch Tây Nguyên mở màn, khi quân ta giải phóng Phước Long rồi giải phóng cả ba tỉnh Tây Nguyên tiến xuống giải phóng miền Trung thì chúng đưa hết tù chính trị trại VIB đem giam ở Trại VII biệt lập.

        Sự thay đổi chỗ giam giữ tù nhân đã làm xáo trộn các tổ chức bí mật của tù chính trị khiến cho sự lãnh đạo của Đảo Ủy gặp khó khăn, radio phải chôn giấu, chúng còn giam chặt tù nhân trong các trại không cho đi làm, khiến cho tin tức không thông, đường dây liên lạc giữa các trại bị cắt đứt, thậm chí phòng giam nào chỉ biết phòng giam đó.

        Đề phòng tù nổi dậy cướp đảo, địch tăng cường đàn áp đến đầu năm 1975 bên trong các trại có khoảng 60 tên giám thị ác ôn, ngày nào không nhìn thấy máu người là chúng ăn không ngon. Một đại đội cảnh sát khoảng 100 tên, gần 1000 tên trật tự, bọn này được Chúa đảo chọn từ đám quân phạm lưu manh, tàn bạo nhất, chúng được trang bị roi mây, roi điện, gậy song bịt sắt, cặc bò, bình xịt hơi cay để đàn áp tù chính trị. Bên ngoài các trại giam, địch tăng cường một tiểu đoàn Bảo an có khoảng 500 tên gồm 3 đại đội, 2 đại đội đóng ở trung tâm Côn Đảo, 1 đại đội đóng ở sân bay Cỏ Ống, chi khu quân sự Bến Đầm. Bộ chỉ huy cảnh sát Côn Sơn có dăm chục cảnh sát và màng lưới mật vụ, chỉ điểm ở khắp nơi, khắp chốn. Tính chung lực lượng đàn áp ở đảo có tới 2.000 tên, như vậy là cứ hai người tù ốm yếu, bị gông xiềng, bị giam cấm cố trong các trại biệt giam, các khu chuồng bò, chuồng cọp thì có một tên địch hung bao, vũ trang đến tận răng không chế, kìm kẹp:

        Từ khi bọn chúa đảo phát hiện ở trại VIB thành lập đảng bộ mang tên Lưu Chí Hiếu một đảng viên cộng sản kiên cường bất khuất thì chúng càng tăng cường kiểm soát đột xuất các trại, tách những người mà chúng nghi là cán bộ lãnh đạo đem đi biệt giam, cấm cố. Một thủ đoạnkhác của chúng là bất ngờ đồn trại để tìm tài liệu radiô, vũ khí.

        Một tài liệu khác, "Biên bản ghi nhận các cuộc xách động, gây rối, chống đối của các can phạm thụ huấn tại Côn Sơn" ngày 7-2-1975 trung tá Lâm hữu Phương đã phải ghi nhận: "... Riêng trong tháng 1-1975 có 11 vụ hô la, chống đối, xách động với các hình thức tương tự như trên (....) "Đặc biệt đã có 12 vụ khám phá các nơi chôn dấu, tịch thu một số tài liệu, bài ca cộng sản, cờ Mặt trận Giải phóng miền Nam và một số vật dụng khác như: 1 radio hai băng, 1 đồng hồ chạy nước, 23 cây sắt nhọn, 50 con dao lớn nhọn, một số dao găm làm bằng cây, một số đồ kịch nghệ, 9 súng AK, 8 súng M16, 15 súng lục, 3 máy điện thoại có ống liên hợp, cần ăng ten, lựu đạn, bêta, mã tâu kềm cắt tất cả đều bằng gỗ dây điện và một số vật dụng linh tinh tại Phú Tường, Phú Phong, Phú An, Phú Bình và Phú Hưng" (tức Trại I, Trại V, Trại VI và Trại VII.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười, 2020, 09:55:48 am

        Trung tá quản đốc Lâm Hữu Phương ráo riết đốc thúc việc tăng cường phòng thủ, truy tìm tài liệu, sắp đặt phương án chống bạo động, vũ khí và tiếp tục thanh lọc số tù chính trị thuộc đối tượng nguy hiểm đưa biệt giam ở chuồng cọp Mỹ (Trại VII).

        Từ khi ta đánh Buôn Ma Thuột, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đưa rất nhiều tù chính trị ở đất liền ra Côn Đảo. Khi quân ta đánh tới Khánh Hòa, Bình Thuận, Thiệu kêu gào tử thủ Sài Gòn. Nếu Sài Gòn mất, hắn sẽ chiếm giữ các tỉnh miền Tây và Côn Đảo làm bàn đạp đánh chiếm lại cả miền Nam.

        Tại Côn Đảo, trung tá Lâm Hữu Phương nhận mệnh lệnh của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phòng thủ Côn Đảo. Biện pháp chính của chúng là ngăn chặn, nhanh chóng đàn áp tù chính trị nổi dậy vũ trang khởi nghĩa giải phóng đảo. Tất cả tù chính trị được Sơn đưa ra làm ở Câu lạc bộ, Hợp tác xã và một số anh em làm ở công sở khác đều bị bắt trở lại vào trại giam. Lâm Hữu Phương giao cho bọn giám thị trật tự khống chế các trại nhất là trại VII, tiểu đoàn Bảo an rải quân ra giữ con đường từ thị trấn lên Sở Tiêu. Bọn chúng còn gấp rút mở thêm con đường nhánh vào các trại I, IV, V và một đường nhánh vào các trại VI, VII, VIII, để ngăn chặn đường rút của tù chính trị vào cố thủ trong dẫy núi đá vôi mà hất họ xuống bờ biển để tiêu diệt. Thâm độc hơn, tại các trại II, III, bọn chúng giam một nửa tù thường phạm được chúng trang bị vũ khí thô sơ, đề phòng khi tù chính trị nổi dậy thì đàn áp. Sơn còn được cơ sở báo tin bọn chúa đảo đã trang bị cho cai ngục cứ mỗi phòng giam từ hai đến ba quả lựu đạn, riêng trại VII có 496 xà lim bọn chúng đem về tới 50 thùng lựu đạn để sát hại tù chính trị, khi quân Giải phóng tấn công đảo, hoặc khi tù chính trị nổi dậy cướp đảo.

        Do sự đàn áp khốc liệt của kẻ thù và bưng bít tin tức không cho tù chính trị ra khỏi trại giam với bất cứ lý do nào kể cả đổ thùng nên anh em không hề biết tin tức gì ở bên ngoài. Riêng trại VIB có 500 chị em phụ nữ bị giam trong đó có chị mới bị đưa từ đất liền ra giấu được radio, biết được tin quân ta đã giải phóng Tây Nguyên đang tiến như vũ bão xuống miền Trung nhưng không làm sao báo ra ngoài được.

        Vì không nắm được tình hình chiến dịch Hồ Chí Minh thần tốc của quân ta, nên hầu hết các trại giam tù chính trị vẫn gấp rút tổ chức lễ kỉ niệm ngày Quốc tế Lao động 1-5 một cách rầm rộ, trọng thể, lập phương án chống địch khủng bố khi lễ kỉ niệm diễn ra vào lúc địch đánh kẻng tan nghiêm (6 giờ sáng).

        Trong khi đó các cố vấn Mỹ ở đài Radar, ở hãng dầu sân bay Cỏ Ống chuẩn bị rút chạy. Tin quân Thiệu thất bại dồn dập khiến cho bọn cố vấn Mỹ và ngụy quyền, ngụy quân ở Côn Đảo vô cùng hoảng sợ. Trong các ngày 27-28 tháng 4-1975, không quân ngụy ở sân bay Tân Sơn Nhất bị không quân ta tấn công vội vàng lái máy bay ra sân bay Cỏ Ống suốt ngày đêm để bay di tản sang Thái Lan. Chúng hốt hoảng vội vàng đến nỗi bỏ lại sân bay Cỏ Ống tới 26 máy bay còn nguyên vẹn và nhiều súng ống, đạn dược, quân trang, quân dụng. Tình hình càng hỗn loạn hơn vào ngày 29 tháng 4-1975, bọn Mỹ ở Radar Loran Côn Đảo, bọn đại diện hãng dầu Mỹ phá huỷ một số máy móc một cách vội vàng rồi lên trực thăng bay ra hạm đội Mỹ đậu ở Thái Bình Dương. Đêm 29-4-1975 trung tá tỉnh trưởng Lâm hữu Phương lén chạy xuống một chiếc tầu tuần tiễu bỏ lại chiếc xe zép ở cuối mũi Cá Mập.

        Sáng ngày 30-4-1975 tên Sỹ phụ tá hành chính cùng đại úy chỉ huy phó đặc khu Phạm Huỳnh Trung họp bọn cầm đầu các ty, các tên chỉ huy từ đại đội trở lên, các giám thị trưởng, các đội trưởng trật tự, quyết định sử dụng hết cả phương tiện sẵn có ở đảo để đi di tản, chúng đóng hết các cửa kể cả cửa sổ các trại giam, không cho tù nhân tắm nắng, đổ thùng như mọi ngày. Chúng bỏ đói tù nhân cả ngày 30-4-1975. Chúng còn lệnh cho Bảo an, cảnh sát bao vây các trại giam sẵn sàng xả súng, ném lựu đạn vào trong các trại để thủ tiêu tù chính trị như kế hoạch của trung tá tỉnh trưởng.

        Mười một giờ ngày 30-4-1975 sau khi nghe Dương Văn Minh đọc lời Tuyên bố đầu hàng vô điều kiện quân Giải phóng trên đài Phát thanh Sài Gòn, tụi ngụy ở Côn Đảo càng hoang mang, mạnh đứa nào đứa nấy rối rít thu xếp hành lý chuẩn bị di tản.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười, 2020, 09:57:35 am
   
        Hầu hết ngụy quân, ngụy quyền ở Đảo đều hoảng sợ mất tinh thần, Nguyễn Văn Sơn nhận thấy đã đến lúc hành động làm sao giải phóng đảo một cách hòa bình không có đổ máu1.

        Việc to lớn hệ trọng cần phải có quần chúng cách mạng Sơn nghĩ ngay đến linh mục Phạm Gia Thụy, ông quê ở tỉnh Bắc Ninh cai quản nhà thờ Côn Đảo, người mà anh đã từng tiếp xúc mấy năm, biết ông là người có tinh thần dân tộc có cảm tình với những người yêu nước, ông chẳng những có uy tín lớn trong giáo dân mà cả một số viên chức, sĩ quan ngụy cũng vị nể2.

        Nay trước biến động lớn lao này Sơn thấy cần phải bàn thẳng với linh mục để cùng hành động, Sơn lên nhà thờ gặp linh mục. Hai người trao đổi cách giải phóng đảo hòa bình không đổ máu đi tới nhất trí các phương án sau:

        1- Sơn báo ngay cho các cơ sở như Nguyễn Văn Đồng, trưởng ty Thanh niên, Bùi Tấn Phát hiệu trưởng trường trung học, Nguyễn Văn Hiến, trưởng ty Nông Lâm, Nguyễn Đình San, Nguyễn Đình Giốc ty Kiến thiết v.v. và những gia đình giáo dân, ngụy quân, ngụy quyền tốt lên tập trung ở nhà thờ và lấy nhà thờ làm trụ sở chỉ huy các hành động.

        2- Nếu không thấy tụi ngụy có ý đồ xấu với tù chính trị thì phải trực tiếp can thiệp bằng cách giải thích chính sách của Chính phủ cách mạng đối với những người tham gia quân đội và chính quyền theo Mỹ, kêu gọi họ giúp đỡ cách mạng để được hưởng lượng khoan hồng.

        3- Nếu họ tranh cướp nhau tầu bè đi di tản thì phải làm nhiệm vụ giữ an ninh trật tự cho số người ở lại bằng súng của nhân dân tự vệ. Đợi đến lúc thuận tiện sẽ vào trại mời anh em tù chính trị ra giải phóng đảo và khống chế tụi trật tự và quân phạm ở trại II.

        Khi các gia đình cơ sở và giáo dân tốt đã tập trung ở nhà thờ. Sơn và linh mục Thụy bảo họ cứ ở nhà thờ chờ giao việc rồi hai người đến cơ sở truyền tin thuyết phục họ không di tản. Toàn bộ nhân viên cơ sở này đã ở lại và giữ gìn an toàn máy móc, thiết bị.

        Thuyết phục xong cơ sở truyền tin, linh mục Thụy vê nhà thờ để thường trực giải quyết các việc, còn Sơn lại đến gặp đại úy Kiều Văn Dậu trưởng ban 3 đặc khu để thuyết phục vì Sơn từng gặp và biết ông ôn hòa, đã có lần ông nói cho Sơn biết trước cuộc đàn áp tù chính trị, do biết trước nên anh em đã kịp thời tránh né.

        Khi nghe Sơn thông báo kế hoạch của Linh mục và Sơn, Đại úy Dậu tập hợp được thượng sĩ Nông và hơn hai chục binh lính không di tản sẵn sàng hành động theo lệnh của linh mục và Sơn.

        Sau đó Sơn và đại úy Dậu cùng số binh lính nói trên lần lượt về nhà thờ gặp linh mục để nhận định tình hình.

----------------
        1. Truyện ký này chúng tôi không có tham vọng giởi thiệu toàn bộ cuộc giải phóng Côn Đảo (30-4) mà chỉ viết riêng phần điệp viên Đỗ Văn Kha tức Nguyễn Văn Sơn, bí số T31 tham gia giải phóng Côn Đảo. Muốn biết rõ cuộc giải phóng toàn diện Côn Đảo mời bạn đọc hồi kí của các đồng chí Trần Trọng Tân “Những ngày chấm dứt địa ngục trần gian” (trang 736, “Ngày giải phóng” của giáo sư Lê Quang Vịnh (trang 745) “Côn Đảo Giải phóng” của Mai Nguyễn đều in trong cuốn” Côn Đảo ký sự và tư liệu” do Ban Liên lạc tù chính trị- sở Văn hóa -  Thông tin - Nhà xuất bản Trẻ thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 1996; “Đêm cuối cùng ở địa ngục trần gian” của Nguyễn Văn Thành in trong Tạp chí Lịch sử Đảng tháng 5- 1992; “Ngày nổi dậy giải phóng địa ngục trần gian Côn Đảo, Tạp chí “Côn Đảo ngày nay" tháng 6-1998 và các cuốn sách: “Giải phóng Côn Đảo - Vũng Tầu" của Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo "Nhà tù Côn Đảo" của ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu...

        2. Theo đồng chí Nguyễn Văn Thành (tức Tư Thành, Tư Còm) tù chính trị Trại VII, Côn Đảo viết trong bài: “Ngày nổi dậy giải phóng địa ngục trần gian Côn Đảo” trên Tạp chí Côn Đảo và bài “Đêm cuối cùng ở địa ngục trần gian Côn Đảo đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng số 5-1992 viết như sau: “Linh mục Phạm Gia Thụy là người cai quản nhà thờ Côn Đảo. Do được tiếp xúc nhiều với con chiên là cai tù và người tù. Ổng đã nhận thấy phần nào tội ác của địch và những nỗi đau khổ của người tù phải chịu đựng. Trong những người tiếp xúc với ông có đồng chí Vũ Ngọc Nhạ (Ông cố vấn) là một cán bộ tình báo của ta cài vào hàng ngũ công chức của địch: Ông đã được giới thiệu gặp Mặt trận Giải phóng miền Nam và đã nhờ ông liên lạc với tù chính trị khi có biến động gì ở Côn Đảo...”


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười, 2020, 09:58:55 am

        Lúc này ở đảo, không khí hoảng loạn vẫn gia tăng. Sơn trao đổi với linh mục và xung phong đến Bộ Chỉ huy Đặc khu thuyết phục đại uý Phạm Huỳnh Trung hãy hạ súng trở về với nhân dân Sơn nói với đại úy Phạm Huỳnh Trung và một số sĩ quan Bảo an:

        - Tôi không phải là Việt Cộng, cũng không phải là người của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, mà là một người Việt Nam yêu nước, yêu hòa bình, tôi tham gia ban chỉ đạo Giải phóng do linh mục Phạm Gia Thụy đứng đầu, linh mục cử tôi đến đây nói với anh em sĩ quan và binh lính là lúc này tình hình ở đảo đang rối loạn. Muôn cứu mình, cứu vợ con và đồng bào thoát khỏi cảnh diệt vong chỉ còn cách hòa hợp dân tộc, ủng hộ chính quyền và quân đội cách mạng, giải phóng tù chính trị. Chỉ có anh em tù chính trị mới có đủ khả năng và tư cách giải phóng toàn diện và ổn định tình hình chính trị, an ninh, trật tự xã hội, lo cho cuộc sống của đồng bào và anh em binh sĩ đã  góp phần giải phóng đảo.

        Phạm Huỳnh Trung còn chưa trả lời thì sĩ quan tâm lý chiến trung úy Nguyễn Thanh Bình hỏi:

        - Nhưng liệu giải phóng rồi, quân Giải phóng có thực hiện cái gọi là: "tắm máu" đế trả thù những người đối địch với mình không?

        Sơn biết số sĩ quan theo Phạm Huỳnh Trang đều thuộc phái hiếu chiến, thực hiện một cách mù quáng mệnh lệnh "tử thủ đến cùng!" của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, những nay cơ đồ đã sụp đổ, chính quyền trung ương đã đầu hàng vô điều kiện quân Giải phóng, còn đi di tản sang Mỹ, sang Thái Lan, thì chưa biết số phận của những kẻ “lang thang xứ người” sẽ ra sao nên cũng muốn hạ vũ khí ra trình diện chính quyền cách mạng, nhưng họ còn sợ và chưa chịu hiểu chính sách nhân đạo, hòa hợp dân tộc của ta, nghĩ thế, Sơn trả lời:

        - Điều băn khoăn của anh em thì đài Giải phóng đã nói rõ: "Chính phủ cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam thực hiện chính sách hòa hợp dân tộc, không có sự trả thù đối với những người đã cộng tác với Mỹ, chính quyền thân Mỹ, thì làm gì có chuyện "tắm máu"?

        Trước những lời giải thích ngắn gọn nhưng lại rất đầy đủ của Sơn, Phạm Huỳnh Trung và một số sĩ quan mặc dù hiếu chiến nhưng nay đã cùng đường cũng muốn hạ vũ khí để được hưởng lượng khoan hồng của cách mạng, nên chỉ sau vài phút trao đổi ý kiến với nhau, Phạm Huỳnh Quang đã khất:

        - Đến 18 giờ hôm nay, ngày 30-4-1975, tôi sẽ để cho ông và các bạn của ông vào các trại giam thông báo cho các đồng chí của mình biết sự đầu hàng của chính quyền trung ương Việt Nam Cộng hòa do tổng thông Dương Văn Minh đã đọc Tuyên bố trên Đài phát thanh Sài Gòn.

        Nguyễn Văn Sơn ưng thuận và quay về trụ sở ở nhà thờ vì như vậy anh đã phân hóa được kẻ thù, tránh được cuộc tàn sát đẫm máu tù chính trị.

        Một sự kiện bất ngờ xảy ra đó là vào hồi 17 giờ 20 phút, ngày 30 tháng 4-1975 có một máy bay bay ra đảo thả một tấm kim loại cỡ 30x40 cm với dòng chữ: "Nhân viên quân lính di tản sang Hòn Cau để tránh bị huỷ diệt và sẽ có tầu đón ra hạm đội 7 cả Mỹ đậu ở Thái Bình Dương" xuống sân vận động Côn Đảo. Do đó đám ngụy quân, ngụy quyền sợ máy bay đến ném bom huỷ diệt nên mạnh tên nào tên nấy chạy ra cầu tầu tranh cướp thuyền bè, xà lan ra biển. Thấy thế, gia đình quân nhân, viên chức trên đảo cũng hoảng loạn chạy theo, làm cho thị xã Côn Sơn náo loạn. Ban chỉ đạo giải phóng ra lệnh cho lực lượng thanh niên của Nguyễn Văn Đồng, Bùi Tấn Phát mới tập hợp ra sức cản họ lại, giữ lại được khoảng trên 30 gia đình1.

        Lực lượng thanh niên đưa tất cả số người trên đến nhà thờ trung tâm thị xã , phân công người bảo vệ chống bọn lưu manh đến cướp của cải, bắt cóc con gái, đồng thời phân công một số thanh niên được vũ trang đi tuần tra các phố để bảo đảm trật tự an ninh.

        Tối ngày 30-4-1975 ban chỉ đạo tập hợp thêm được trên 20 tay súng, họ đều là cơ sở bí mật do Sơn xây dựng từ mấy năm nay, các thanh niên công giáo yêu nước, nhiệt tình của linh mục Phạm Gia Thụy và số thanh niên, giáo viên của các anh Nguyễn Văn Đồng, Bùi Tấn Phát và các nhân viên cơ sở truyền tin. Sơn sử dụng lực lượng vũ trang này để duy trì trật tự trên đảo.

        Ban chỉ đạo nhận được tin tù quân phạm và thường phạm ở các Trại II III, đang phá trại. Nếu để bọn này ra khỏi trại, đảo sẽ mất an ninh, tính mạng tù chính trị bị đe doạ. Sơn lập tức đưa lực lượng vũ trang do đại úy Kiều Văn Dậu chỉ huy và lực lượng tự vệ đến không chế, dồn chúng vào trong các trại. Việc này rất khó khăn, mãi đến 23 giờ ngày 30-4-1975, mới dẹp yên được bọn này. Cũng vào thời điểm đó, bọn ngụy quân, ngụy quyền cũng rút chạy khỏi Đảo.

------------------
        1. Sau này thông kê ở Đảo còn 442 gia đình ngụy quân, ngụy quyền.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười, 2020, 10:00:19 am

        Sau khi dẹp yên bọn quân phạm vào hồi 24 giờ ngày 30-4-1975, ban Chỉ đạo quyết định cử một nhóm đi mở cửa các trại giam gồm Nguyễn Văn Sơn, Đại uý Kiều Văn Dậu, Nguyễn Văn Đồng... Nguyễn Văn Sơn bàn với Kiều Văn Dậu và Nguyễn Văn Đồng mở cửa Trại VII là trại lớn nơi địch giam giữ nhiều tù nhân quan trọng, phần lớn là cán bộ tình báo như trung tá tình báo quân Giải phóng Lê Câu1, Nguyễn Văn Thành (tức Tư Thành, tư Còm)2, Trần Minh Hà, Trần Ngọc Tự, Lê Quang Đức, Trần Quang Tín, Trần Ngọc Hiến (tức Nguyễn Văn Đoàn), Phạm Chi, Nguyễn Văn Hay, Nguyễn Văn Tùng và giáo sư Lê Quang Vịnh... Nguyễn Văn Sơn đã từng tiếp xúc với Trần Quang Tín, Nguyễn Văn Đoàn; trong mấy tháng gần đây Trại VII cũng là trại đấu tranh quyết liệt nhất.

        Đường từ Nhà thờ tới trại giam dài bốn kilômét, đi ô tô chỉ mất vài phút, Đại úy Kiều Văn Dậu cho gọi trưởng trại VII Hai Rồng đến rồi anh em bất ngờ bắt hắn dẫn anh em vào khu H là nơi bọn Chúa đảo coi là nguy hiểm nhất trong 8 khu ở Trại VII, mở cửa phòng 24, khu H gọi ông Lê Câu. Nghe hỏi Lê Câu, lập tức gần 100 người ở 48 xà lim chuẩn bị hô la phản đối. Nguyễn Văn Sơn, Đại úy Kiều Văn Dậu, Nguyễn Văn Đồng báo tin với anh em: "Thành phố Sài Gòn đã giải phóng, chính quyền do Dương Văn Minh làm Tổng thống đã đọc Tuyên bố đầu hàng vô điều kiện quân Giải phóng trên đài phát thanh Sài Gòn, bọn cố vấn Mỹ, ngụy quân, ngụy quyền đã rút chạy, các doanh trại, công sở bỏ trống, mời anh ra khỏi nhà lao giải phóng Đảo, khống chế tù quân phạm, giữ gìn trật tự, an ninh trên Đảo"

        Do các đồng chí bị giam giữ quá lâu trong trại, hoàn toàn cách biệt với bên ngoài, lại không có radio theo dõi tình hình chiến sự Toàn miền Nam, ngay biến động lớn lao ở Đảo các đồng chí cũng không biết, nên các đồng chí nghi ngờ không tin. Sở dĩ có tình trạng đó là năm 1973 bọn chúa ngục chở một số tù chính trị lên máy bay nói là đi trao trả, theo Hiệp định Paris, nhưng rồi chúng trút hết xuống biển thủ tiêu nên mọi người không chịu ra. Khi nghe anh em Sơn nhắc lại mọi lần nữa là Sài Gòn đã được giải phóng từ trưa ngày 30-4- 1975, các đồng chí tù chính trị vẫn không tin, yêu cầu được nghe radio trực tiếp. Nguyễn Văn Sơn và đại úy Kiều Văn Dậu mời anh em tù ra lấy radio, anh em cử đồng chí Trần Quang Tín đi, đồng thời mời anh em tù chính trị ra ngoài quan sát, anh em tù chính trị đã cử đồng chí Nguyễn Văn Thành đi. Khi Tín mang radio về mở to mọi người đều nghe rõ thông báo đọc từ Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam và đài Phát thanh Giải phóng báo tin Chiến dịch lịch sử Hồ Chí Minh đã kết thúc, miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổng thống Dương Văn Minh đã đọc Tuyên bố đầu hàng vô điều kiện quân Giải phóng. Đến lúc đó đồng chí Lê Câu, Nguyễn Văn Thành và những anh em tù chính trị khác mới tin, lập tức mọi người reo hò vang dậy, vui mừng khôn xiết. Không đợi chìa khoá mở cửa các phòng giam, anh em giúp nhau đập phá khóa mở cửa các trại giam, mở còng tay, còng chân cho nhau.

        Phải vất vả lắm Nguyễn Văn Sơn mới gỡ được những bàn tay gày guộc nhưng vô cùng thân thiết, yêu thương đang nắm chặt lấy bàn tay mình, nói:

        - Đề nghị các đồng chí lập tức đi mở khóa giải phóng cho các trại khác và đưa lực lượng vũ trang đến trấn áp tù quân phạm đang cố phá trại ra ngoài gây rối và giữ gìn trật tự, bảo vệ nhân dân và các công trình trên đảo,

---------------
        1. Đồng chí Lê Câu quê ở bên sông Thu Bồn thuộc huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam. Trước đi lính thợ trong quân đội Pháp, giác ngộ cách mạng trước tháng 8-1945. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp đồng chí là trưởng ban Quân báo khu V với quân hàm trung tá. Sau Hiệp định Genève ở lại miền Nam và bị chúng bắt năm 1961 khi đồng chí đi Sài Gòn làm việc với một cơ sở là viên chức cao cấp trong chính quyền Ngô Đình Diệm.

        2. Đồng chí Nguyễn Văn Thành tức Tư Thành, Tư Còm sinh năm 1928, quê ở Niềm Xá, thị xã Bắc Ninh, tham gia cướp chính quyền ở thị xã Bắc Ninh. Kháng chiến toàn quốc, lên công tác ở chiến khu Việt Bắc. Năm 1953 đồng chí được điều sang ngành tình báo làm thư kí riêng cho đồng chí Trần Hiệu phụ trách tình báo chiến lược Trung ương. Đồng chí được phân công vào Sài Gòn lần thứ nhất năm 1960, hoàn thành nhiệm vụ trở ra. Khi Ngô Đình Diệm bị lật đổ, đồng chí lại được phái vào Nam lần thứ hai và bị địch bắt ngày 10-9- 1964. Năm 1968 chúng đầy đồng chí ra Côn Đảo, tháng 8- 1969 chúng đưa đồng chí về Phủ Đặc ủy Trung ương tình báo ở số 3 phố Bạch Đằng. Không khai thác gì được ở đồng chí, năm 1973 chúng lại đưa đồng chí ra Côn đảo, giam ở trại VII, trong khu H. Đồng chí là một chiến sĩ kiên cường bất khuất đấu tranh với địch trong nhà tù.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười, 2020, 10:02:30 am

        Cả Trại VII bừng bừng khí thế phá ngục tù, tiếng reo hò, tiếng hô Hồ Chủ tịch muôn năm, Đảng Cộng sản Việt Nam muôn năm, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam muôn năm, Hoan hô quân Giải phóng vang lên không dứt. Khi anh em tù chính trị tỏa đi mở khoá các khu trong trại VII, thì Nguyễn Văn Sơn, đại uý Kiều Văn Dậu, Nguyễn Văn Đồng, Bùi Tấn Phát lại đến khu Chuồng Bò nơi tù chính trị bị tra tấn dã man hơn ở cả Chuồng Cọp. Khi Sơn và Dậu dẫn anh em vào bắt bọn giám thị, tước chìa khóa mở cửa trại giam, báo tin Toàn miền Nam và thành phố Sài Gòn đã giải phóng, anh em hãy ra ngoài tham gia giải phóng Đảo. Nhưng cũng như ở Trại VII, anh em không tin nên không chịu ra. Sơn đành cử Bùi Tấn Phát về Trại VII báo cho đồng chí Lê Câu cử người đến để anh em ở Trại VI tin. Cũng lúc đó đồng chí Nguyễn Văn Thành, tù chính trị Trại VII dẫn một số anh em tù chính trị tới nơi, báo tin Sài Gòn đã được giải phóng là đúng, khi đó anh em Trại VI mới tin, lập tức reo hò dùng mọi thứ gạch đá, gậy gộc phá khóa các phòng giam. Đại uý Kiểu Văn Dậu đã bắt các giám thị phải đi mở khoá các trại giam, những anh em bị yếu quá thì các đồng chí, đồng đội dìu ra.

        Mở khoá cho anh em ở Trại VI xong, nhóm của Sơn, Dậu, Đồng, Phát đại diện Ban chỉ đạo giải phóng Côn Đảo và nhóm tù chính trị Trại VII do đồng chí Nguyễn Văn Thành chỉ huy tiếp tục đi mở khóa Trại VIII, các khu biệt giam, trại cấm cố, giải thoát cho các đồng chí.

        Khoảng 3 giờ sáng ngày 1 tháng 5-1975 Sơn nhận được tin toàn bộ 496 xà lim của 8 khu Trại VII đã được hoàn toàn giải phóng.

        Tại Trại VIB là nơi bọn chúa ngục giam giữ trên 500 tù chính trị nữ, có chị địch mới đưa ra đảo cách đây 20 ngày dấu được radio biết tin trưa ngày 30-4-1975 Sài Gòn đã được giải phóng nhưng không báo được ra ngoài, chị em đã đồng thanh reo hò, hô khẩu hiệu đòi bọn giám thị phải mở khoá, đúng lúc đó thì nhóm của Dậu, Đồng, và của Nguyễn Văn Thành đến bắt bọn giám thị đưa chìa khoá mở cửa các phòng giam giải phóng cho chị em chỉ sau Trại VII khoảng 45 phút.

        Ba giờ sáng ngày 1-5-1975, các đồng chí lãnh đạò Trại VII triệu tập cuộc họp thành lập Đảo ủy lâm thời. Ban châp hành có mười đồng chí do đồng chí Trịnh Văn Lâu (tức Tư cẩn) làm bí thư1, đồng chí Phan Huy Vân (tức Hai Tân)2 làm phó bí thư, đồng chí Mai Xuân cống (tức Hai Công) ủy viên thường trực, đồng chí Lê Minh Triết, Nguyễn Nam ủy viên. Sau đó Đảo ủy bổ sung thêm hai chị nữa ở Trại VIB là chị Hai Nhân và chị Tư Cúc.

        Ngay sau khi thành lập Đảo ủy, khoảng 4 giờ sáng cùng ngày các đồng chí trong ban Chấp hành Đảng ủy như Trịnh Văn Lâu, Phan Huy Vân, Trần Trọng Tân, Mai Xuân Cống đã họp với Linh mục Phạm Gia Thụy và các anh Nguyễn Văn Sơn, Đại úy Kiều Văn Dậu, Nguyễn Văn Đồng... tại nhà anh Nguyễn Văn Đồng để thành lập chính quyền ở Đảo. Do chưa nắm được tình thế cách mạng nên Hội nghị quyết định đặt tên ủy ban là "Uỷ ban Hòa hợp, hoà giải dân tộc Côn Sơn". Hội nghị nhất trí bầu các vị sau đây vào các chức vụ:

        - Chủ tịch: Linh mục Phạm Gia Thụy

        - Đệ nhất Phó chủ tịch: Cựu trung tá quân Giải phóng Lê Câu

        - Đệ nhị Phó chủ tịch: Đại uý Kiều Văn Dậu

        - Tổng thư ký: ông Nguyễn Văn Thành (Tư Thành).

        - Phó thư ký: Trần Quý Thu

        - Uỷ viên An ninh: Thiếu uý Đặng Lâm Sơn, ông Nguyễn Văn Ba

        - Ủy viên Chính trị và Thông tin: ông Nguyễn Văn Sơn, ông Nguyễn Văn Nam (Trần Minh Hà), ông Nguyễn Văn Đồng.

        - Ủy viên Kinh tê và xã hội: ông Nguyễn Văn Mốt, ông Nguyễn Hiền, bà Phạm Thị Đào 3.

        Ngay sau khi thành lập Uỷ ban Hòa hợp, Hòa giải dân tộc Côn Sơn, Ủy ban đã ra thông báo số 1 cho toàn Đảo biết Ủy ban lãnh trách nhiệm nặng nề trước Mặt trận Dân tộc giải phóng, Chính phủ cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam, trước nhân dân giải quyết toàn bộ công việc ở Đảo. Trước mắt Uỷ ban đề ra Chương trình hành động 4 điểm như sau:

        1- Tiếp tục cử người đi mở các lao còn lại và tìm các lao biệt giam bí mật tù chính trị để không bỏ sót một đồng chí nào.

        2- Tổ chức lực lượng vũ trang chiếm đóng các vị trí xung yếu, bảo vệ Đảo, trừng trị bọn quân phạm, thường phạm trốn trại ra gây rối, bọn ngụy quân, ngụy quyền lưu manh hóa, đảm bảo trật tự trị an ở Đảo.

        3- Không chế bọn quân hạm ở trong trại đang tìm cách phá trại, kêu gọi những quân nhân, cảnh sát, nhân viên chính quyền cũ ra trình diện, nộp vũ khí, khí tài, tài liệu.

        4- Ổn định đời sống, cung cấp đủ gạo, thực phẩm, điện nước nhu yếu phẩm cho các chính trị phạm vừa được giải phóng, nhân dân và những người cộng tác với Mỹ-Thiệu ở lại Đảo, cắt cử người quản lý, nấu cơm nước cho tù quân phạm và tù thường phạm đang ở trong trại.

-----------------------
        1. Đồng chí Lâu sau là ủy viên Trung ương Đảng, bí thư Tỉnh ủy Tây Ninh, Vinh Long.

        2. Đồng chí Tân sau là ủy viên Trung ương Đảng, trưởng ban tư tưởng Văn hóa Trung ương , sau là Phó bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh.

        3. “Côn Đảo và ký sự” Uỷ ban Liên lạc tù chính trị - sở Văn hóa - Thông tin - Nhà xuất bản Trẻ, thành phố’ Hồ Chí Minh xuất bản năm 1996.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười, 2020, 10:02:53 am

        Thời điểm này anh em tù chính trị đã tập hợp được 2 trung đội phân công đi chiếm đóng trại lính Bắc Bình vương, Lò Vôi, Chi Khu Bến Đầm, Chi khu và sân bay Cỏ Ống và ty cảnh sát ngụy.

        Do bị giam giữ lâu ngày không nắm vững tình hình trong nước, toàn miền Nam và thế của ta đã  hoàn toàn áp đảo địch, nên chiều ngày 1-5-1975 đồng chí Lê Câu vội vàng cho đốt hồ sơ chính trị phạm trong các phong trào chống Pháp từ cuối thế kỷ XIX và của các chiến sĩ cộng sản như Lê Hồng Phong, Tôn Đức Thắng, Phạm Văn Đồng... Nơi này gần cổng Trại giam giữ quân phạm và thường phạm, bọn này đã phá cổng Trại II, đốt hết hồ sơ của tụi chúng. Do nhận định sai về địch, hành động vội vàng đã gây khó khăn cho ta khi tìm hiểu về lịch sử đấu tranh của các chiến sĩ cách mạng tiền bối và khó khăn trong việc truy xét bọn quân phạm, thường phạm.

        Cho tối ngày 2-5-1975 chưa kể lực lượng tự vệ, số quân nhân cách mạng do Linh mục Nguyễn Gia Thụy và Nguyễn Văn Sơn tổ chức từ trước, Đảo ủy đã tổ chức được ba trung đội tự vệ chủ yếu là anh em tù chính trẻ, khỏe.

        Theo lệnh của Uỷ ban, trạm Thông tin vô tuyến liên tục điện về Sài Gòn bắt liên lạc, cho mãi đến chiều ngày 3-5-1975, trạm mới bắt được hên lạc với đất liền báo tin Côn Đảo đã hoàn toàn được giải phóng. Thành ủy Sài Gòn nhận được điện hẹn sẽ cho tầu ra đón. Trong khi đó Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương cũng có phương án giải phóng Côn Đảo bằng một trận hợp đồng Hải-Lục-Không quân.

        Chiều ngày 3-5-1975 sau khi Bộ Chỉ huy Sài Gòn điện đàm với Ủy ban Hòa hợp, Hòa giải Dân tộc Côn Sơn biết chắc đảo đã được giải phóng nên đêm mùng 3 rạng ngày mùng 4 tháng 5-1975, tầu Hải quân chở bộ đội Giải phóng do đồng chí Lê Minh Hà đại diện Khu ủy Miền Đông làm Chính ủy ra tiếp quản Côn Đảo.

        Lực lượng vũ trang tiếp thu những vị trí do tự vệ và binh lính phản chiến chiếm giữ. Quân đội đã  tiến hành truy quét, tàn quân ngụy còn lén lút trong các khu rừng núi đá các đảo nhỏ như Hòn Cau.

        Sáng ngày 5 tháng 5 năm 1975 khi quân Giải phóng ra tiếp quản Đảo, Uỷ ban cách mạng tỉnh Côn Sơn đã làm tròn sứ mạng lịch sử của mình tuyên bố tự giải tán; Ủy ban Quân quản Côn Sơn được thành lập làm nhiệm vụ quản lý đảo cả về chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa, giáo dục. Ủy ban Quân quản điện về Sài Gòn đưa tầu ra đón các đồng chí bị địch giam giữ về đất liền.

        Đồng chí Tư Tòng, Bí thư Tỉnh ủy (hồi đó Côn Sơn là một tỉnh chính trị của chính quyền Sài Gòn; vận động Nguyễn Văn Sơn phải ở lại làm quân quản giúp ủy ban vì anh là người am hiểu địa hình biết rõ các hoạt động của địch trong 15 năm qua ở đảo. Ủy ban Quân quản phân công Nguyễn Văn Sơn ở trong ban Tuyên - Văn Giáo phụ trách về giáo dục làm công tác cải tạo, tập huấn giáo viên dưới chính quyền ngụy, tiến tới khai giảng trường Võ Thị Sáu vào năm học mới, có 542 học sinh, sau đó Sơn mở lớp Bổ túc văn hóa cho các chiến sĩ trên Đảo.

        Nguyễn Văn Sơn vào Nam chuyến hai từ tháng 4 năm 1957 đến nay đã 18 năm, riêng ở Đảo là 15 năm, không hề biết tin tức của mẹ, vợ cùng các con và anh em bạn bè, đồng chí. Còn nếu tính xa nhà thì từ tháng giêng năm 1951 khi xã Hồng Bàng còn nằm trong vùng giặc tạm chiếm cho đến tháng 10-1954 anh đâu dám về. Đến khi quê hương được giải phóng thì anh lại đang làm nhiệm vụ đặc biệt, không được phép về quê hương. Nhưng kể từ khi vào Sài Gòn lần thứ hai, bị công an của Trần Kim Tuyến bắt đày đọa trong các trại biệt giam ở Sài Gòn, Đà Lạt rồi đưa ra lưu đầy ở Đảo thì anh hoàn toàn bị cắt đứt liên lạc với quê hương, nỗi lòng thương mẹ, nhớ vợ con, nhớ từ cái cổng làng to và đẹp vào loại nhất hàng tổng, nhớ tảng đá to bằng cả gian nhà mà anh vẫn cùng bạn bè chơi đùa hồi còn thơ, nhớ dòng sông Nghĩa Trụ chảy qua làng cho anh vùng vẫy vào những trưa hè nóng nực. Những nỗi nhớ nhung đó luôn luôn day dứt trong lòng anh, người con xa quê ngót 20 năm trời.

        Đảo được giải phóng, anh em tù chính trị được đón về đất liền, trở về quê hương đoàn tụ với gia đình, còn anh theo yêu cầu của Ủy ban Quân quản, phải ở lại giúp ban làm công tác cải tạo giáo dục, đưa trường Võ Thị Sáu vào khai giảng đúng niên khóa. Anh cũng giúp Ban an ninh nhận mặt một số tên nhân viên, công an ngụy quyền cũ trôn trình diện và xác minh người tốt, kẻ xấu trên Đảo.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười, 2020, 10:03:18 am

        Sau nhiều lần viết thư về cơ quan và gia đình không nhận được thư trả lời, anh càng nóng lòng sốt ruột. Anh cũng không có hành động gì kể cả bộc lộ thân phận của mình khi chưa nhận được thư trả lời của Công an Hà Nội là cơ quan trực tiếp chỉ đạo anh, phái anh vào Nam công tác từ tháng 4-1957.

        Thấy Đảo đã giải phóng mấy tháng mà Nguyễn Văn Sơn vẫn ở lại Đảo những anh em đã  từng nhiều lần mối lái anh lấy vợ, đoán anh có chuyện trắc trở gì về chuyện vợ con nên giục anh lấy vợ rồi ở lại xây dựng Đảo, có bạn còn dẫn cả người mình định mai mối đến cho anh xem mặt. Cũng như những lần trước, anh đều cảm ơn và khéo léo từ chối.

        Điều anh mong mỏi đã tới đó là vào tháng 8- 1975 nhận được thư nhà do con trai là Đỗ Văn Khôi gửi vào. Khi anh vào Nam chuyến thứ hai (tháng 4-1957), Khôi mới bẩy tháng tuổi, anh còn đem theo tấm ảnh bé Khôi ngồi trên mặt bàn phủ khăn hoa đang vươn tay ra với quả bóng nhựa. Tấm ảnh ấy anh giữ đến ngày nay, nó là sợi dây vô hình nối anh với gia đình, quê hương. Vậy mà giờ đây Khôi đã vào tuổi 19 viết thư cho bố lần đầu tiên kể chuyện gia đình trong ngót 20 năm anh vắng nhà. Trong thư Khôi chỉ kể bà vẫn khỏe mạnh luôn luôn nhắc đến anh nhất là những ngày giỗ, tết, những khi gia đình có việc vui, nỗi buồn. Khôi cũng kể về mẹ của mình, chị Nguyễn Thị Phượng người vợ đã phải chịu nhiều nỗi gian truân khi anh vắng nhà. Khôi viết rõ bà, mẹ, bà con cùng các chú, bác, cô, dì đều nóng lòng chờ anh trở về.

        Còn một điều trong thư Khôi không viết ra những chắc chắn là nỗi day dứt đối với mẹ anh, vợ anh, các con anh là gia đình phải chịu nỗi oan ức là trong nhà có người theo giặc Mỹ chắc trốn vào Nam theo Mỹ-Diệm.

        Sơn đâu có biết rằng nỗi oan ức của mẹ, vợ, các con anh phải gánh chịu từ tháng 10-1954 khi huyện Yên Mỹ được giải phóng cán bộ, bộ đội trừ những người hy sinh đều lần lượt trở về quê vậy mà anh cũng không. Có nhiều người gặp anh ở nhà ông Cả Ỳ ở phố Lý Quốc Sư lại gặp anh ở nhà Đặng Duy Tá ở phố Hàng Đào, vậy tại sao anh không về. Đến khi Cải cách ruộng đất, gia đình bà Vũ Thị Nghiêm bị qui là địa chủ, nhà cửa bị tịch thu, đội Cải cách mấy lần cho người ra Hà Nội bắt anh về đấu tố, nhưng anh đều được các đồng chí Công an Hà Nội khéo léo bảo vệ. Đến sửa sai, gia đình được hạ thành phần xuống trung nông, được trả nhà cửa, anh cũng không về. Nhưng vào thời đó chỉ có một số cán bộ huyện, xã và một số người ở Ông Tố thích truyền bá những chuyện giật gân biết một cách lơ mơ "Đỗ Văn Kha có vấn đề chính trị" còn sự việc cụ thể ra sao thì cũng không rõ. Nhưng việc xin giấy tờ chứng nhận cho các con anh và thậm chí cả các em anh đi làm đi học thì vô cùng khó khăn, xã đổ cho huyện, huyện bảo xã  không xác nhận thì huyện đâu dám ký nhận. Nhưng đến tháng 4-1959, Tòa án nhân dân Hà Nội đưa toán gián điệp C30 ra xét xử công khai, có hàng vạn người ở Hà Nội và các tỉnh lân cận tới dự trong đó có nhiều người ở xã Hồng Bàng đã  nghe rõ tên toán trưởng Trần Minh Châu tức Cập khai trước Tòa: "Tôi thường đến nhà Đặng Duy Táở số nhà 54 c phô Hàng Đào và được Đặng Duy Tá giúp đỡ, tiếp tế cho tôi và cho những người ở nhóm Nam Định như Vụ Đình Đích ngủ lại. Em họ Đặng Duy Tá là Nguyễn Văn Sơn cũng là đảng viên đảng Đại Việt - Quốc Dân đảng từ hồi Hà Nội tạm chiếm. Chính tôi đã cử Nguyễn Văn Sơn vào Sài Gòn chuyến thứ nhất vào tháng 5-1956 để báo cáo với CIA về các hoạt động ở ngoài Bắc và xin tiếp tế. Đến tháng 4-1957 tôi lại cử Nguyễn Văn Sơn vào Sài Gòn lần thứ hai, nhưng không thấy trở ra". Dân Hồng Bàng chỉ biết từ đầu năm 1955 Đỗ Văn Kha đến ở nhà Đặng Duy Tá, bây giờ họ mới vỡ lẽ là Đỗ Văn Kha đổi tên là Nguyễn Văn Sơn để làm gián điệp. Đặng Duy Tá (mặc dù được Giám đốc Công an Hà Nội bảo vệ một cách khéo léo để khỏi bị Công an quận Hoàn Kiếm bắt) nhưng không chịu nổi sự khinh miệt của dân phố, phải dọn nhà đi ở nơi khác. Trong khi đó ở Hải Phòng công ty Bình Minh của Đặng Duy Tá cũng bị phá sản vì những người góp cổ phần nghe tin Đặng Duy Tá dính dáng vào vụ án gián điệp C30 đều đến rút tiền. Công ty chỉ còn lại một mình, Tá phải bán hết hàng hóa, tài sản để trả nợ. Bán hàng hóa không đủ, anh phải bán cả nhà để trả nợ, gia tài khánh kiệt.


Tiêu đề: Re: Điệp viên mang bí số T31
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười, 2020, 09:25:01 pm

        Tin Tòa án Hà Nội xử vụ án gián điệp kế đó báo đăng, đài nói tuy báo đăng, đài nói không nhắc lại lời khai của Trần Minh Châu tức Cập ở trước toà, các bài báo cũng không nhắc gì đến Nguyễn Văn Sơn có liên quan đến vụ án này, nhưng cả xã, cả huyện đều tin là Đỗ Văn Kha đã phản Đảng, phản dân tộc, làm gián điệp, trốn vào Nam theo Mỹ - Diệm. Sự việc càng ầm ĩ khi Ty Văn hóa -  Thông tin Hưng Yên đưa các tranh ảnh cùng hiện vật vụ án C30 triển lãm ở Công ty Lâm sản ngay cổng làng Ông Tố, tuy không mảy may nhắc đến Nguyễn Văn Sơn nhưng dân Hồng Bàng và dân cả huyện Yên Mỹ đều khẳng định Đỗ Văn Kha liên quan đến vụ án gián điệp này.

        Từ đó gia đình Kha vắng vẻ ngay những bạn chiến đấu cũ của Đỗ Văn Kha cũng ít khi qua lại vì sợ liên quan; Con gái lớn của Kha là Đỗ Thị Khá chỉ có đơn xin vào làm công nhân nhà máy xay Yên Mỹ mà xã, huyện đều không duyệt lý lịch và không đóng dấu xác nhận vào đơn xin việc của Khá. Cụ Vũ Thị Nghiêm liền ra Hà Nội gặp đồng chí Lê Quốc Thân, Giám đốc Công an Hà Nội thổ lộ nỗi khổ tâm của gia đình về việc cháu Khá không được đi làm. Đồng chí Thân động viên cụ và hứa giúp đỡ. Bằng con đường riêng đồng chí đã liên hệ với đồng chí Xuyên khi đó là bí thư Huyện ủy Yên Mỹ can thiệp, đến lúc đó Khá mới được đi làm.

        Tin Nguyễn Văn Sơn nhận được thư của con trai từ Bắc gửi vào truyền nhanh trong ban Quânquản rồi tới bạn bè anh. Mọi người kéo đến chia vui với anh, kể từ lúc nhận được thư của con trai trong lòng Kha vui náo nức thế là sau 18 năm xa cách, anh đã chắp mới được liên lạc với gia đình thân yêu của mình.

        Đến lúc này Sơn không dấu tung tích mình nữa, anh báo cáo với tổ chức Đảng Côn Sơn về quá trình tham gia cách mạng, gia nhập đảng Cộng sản Đông Dương, việc anh gia nhập lực lượng an ninh Hà Nội, được cấp trên phái khiển vào Đại Việt - Quốc Dân đảng, hoạt động trong toán gián điệp C30, hai lần được kẻ địch và công an Hà Nội phái vào Sài Gòn công tác, nhưng đến lần thứ hai thì bị công an của Trần Kim Tuyến bắt, bí mật giam ở Sài Gòn, Đà Lạt, rồi đưa ra quản thúc ở Côn Đảo từ tháng 3-1960 đến nay.

        Qua hơn bốn tháng làm nhiệm vụ quân quản, Đỗ Văn Kha đã hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc. Tỉnh ủy Côn Sơn xét thấy anh đã xa quê hương, xa cơ quan 15 năm nên quyết định giới thiệu anh về khu X theo đường tổ chức về Trung ương cục và Ủy ban thống nhất Trung ương.

        Tháng 10-1975 Đỗ Văn Kha về đến Hà Nội, đến gặp đồng chí Phạm Văn Chang thủ trưởng trực tiếp của mình trong những năm 1951-1955, rồi về sở Công an Hà Nội báo cáo sự việc từ tháng 4-1957 đến tháng 10-1975, Đỗ Văn Kha đã được đón tiếp thân tình và trang trọng. Biết bao chuyện hàn huyên phải dồn nén trong mười tám năm trường nay mới có dịp thổ lệ với anh em, đồng chí. Trong mấy ngày ở cơ quan, Kha đã viết báo cáo tường tận các hoạt động của mình chủ yếu là đối phó với tình báo do giám đốc an ninh tình báo Trần Kim Tuyến một kẻ luôn luôn ở bên tổng thống Ngô Đình Diệm trực tiếp chỉ huy ở các nhà lao Sài Gòn, Đà Lạt lại quay về Sài Gòn rồi bị đưa ra lưu đầy ở Côn Đảo và việc anh tham gia giải phóng Côn Đảo.

        Ít ngày sau Đỗ Văn Kha trở về quê hương trong sự vui mừng vô cùng lớn lao của mẹ, các con, họ hàng nội ngoại anh em đồng chí. Cán bộ đảng, chính quyền xã Trai Trang cùng làng xóm vô cùng ngạc nhiên, vì nay mới rõ anh là chiến sĩ tình báo được tổ chức phái khiển vào hoạt động trong đảng Đại Việt -  Quốc Dân đảng, đã hai lần vào Sài Gòn nhưng lần thứ hai vừa vào đến nơi thì bị cảnh sát của chính quyền Ngô Đình Diệm bắt giam đưa đi giam ở các nhà lao bí mật ở Sài Gòn, Đà Lạt, đến năm 1960 thì đày ra Côn Đảo và đã chiến thắng trở về.

        Năm 1982 Đỗ Văn Kha đến tuổi nghỉ hưu với quân hàm đại úy an ninh. Năm 1999 Bộ chủ quản xét khen thưởng về chiến công của Đỗ Văn Kha.

VŨ THANH SƠN           

HẾT