Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Văn học chiến tranh => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 01 Tháng Chín, 2020, 11:11:25 am



Tiêu đề: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Chín, 2020, 11:11:25 am
     
        - Tên sách : Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại

        - Tác giả : Dương Hảo

        - Nhà xuất bản Công an nhân dân

        - Số hóa : Giangtvx


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Chín, 2020, 06:29:29 am

       
LỜI GIỚI THIÊU

        Tác giả Dương Hảo, tên thường gọi trong quân ngũ là Hoàng Linh, sinh năm 1928, nguyên quán Nam Định. Ông là sĩ quan chuyên ngành tình báo quân sự, đã công tác trên 30 năm ở cơ quan nghiên cứu chiến lược - Bộ Tổng tham mưu, Bộ Quốc phòng với nhiệm vụ theo dõi, nghiên cứu địch ớ chiến trường miền Nam. Năm 1990, ông nghỉ hưu với quân hàm đại tá.

        Dương Hảo đã viết và xuất bản nhiều đầu sách như Một chương bi thám; Chúng đông nhưng không mạnh... và đặc biệt là bộ tiểu thuyết tình báo đồ sộ gồm 6 tập: Biệt thự Bạch Dương; Tiệm Ánh sao đêm; Ánh sao đêm snack bar; Sóng ngầm; Rung chuyển; Không thể quên.

        Ông đã lấy tư liệu từ những người thật, việc thật để dựng lại những thời điểm, những sự kiện có ý nghĩa lịch sử, khắc họa những thất bại nặng nề của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và chế độ tay sai ngụy quyền Sài Gòn, thắng lợi vang dội của quân và dân Việt Nam với những số liệu, tư liệu chính xác trong cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa xuân năm 1975.

        Nhân dịp kỷ niệm 54 năm chiến thắng Điện Biện Phủ (7/5/1954 - 7/5/2008), 33 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2008), Nhà xuất bản Công an nhân dân xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc cuốn sách tư liệu Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại của tác giá Dương Hảo, xuyên suốt 2 chiến dịch lớn trong lịch sử đấu tranh giải phóng của dân tộc.

NHÀ XUẤT BẢN CÔNG AN NHÂN DÂN       


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Chín, 2020, 06:31:59 am

ĐIỆN BIÊN PHỦ CHẤN ĐỘNG ĐỊA CẦU

I. THAM VỌNG NGÔNG CUỒNG

        Ngay những tháng đầu xuân 1953, Cục 2 (Cục Quân báo) đã nhận được nhiều tin, chỉ dấu giới cầm quyền Pháp đang nhộn nhịp thăm dò, tìm người chỉ huy cuộc chiến Đông Dương để thay thế tướng Raoul Salan -  người mà báo chí Pháp lớn tiếng chỉ trích, chê trách: “Người thiếu năng lực, không biết sử dụng hiệu quả những công trình có ý nghĩa chiến lược của những người chỉ huy tiền nhiệm để lại như hệ thống tháp canh, đồn bốt bê-tông cốt sắt trên hệ thống sông Hồng, sồng Đáy(1) nhằm chia cắt đối phương, chia cắt đồng bằng Bắc bộ ra thành nhiều mảnh nhỏ giúp cho các cuộc hành binh “cất vó” để đến nay quân Vẹm (Việt Minh) ngày càng lớn mạnh không còn là những đơn vị nhỏ, lẻ mà đã thành những đại đoàn hùng mạnh.” Có báo còn giễu cợt gọi ông ta là “tướng thích dạo chơi hồ Gươm để ngắm bạn tâm giao Rùa Vàng...”

        Người mà dư luận để tâm theo dõi đã xuất hiện với tên tuổi ít người biết: tướng Henri Navarre. Ông ta cùng bậu sậu đã bay sang Sài Gòn tháng 5/1953 để khảo sát thực tế. Sau nhiều buổi làm việc với tướng Salan, nghe báo cáo của Bộ Tham mưu, ông ta cùng tùy tùng đã đến thẩm định trực tiếp một số khu phòng ngự trọng yếu rồi bay khảo sát nhiều vùng không tiện đường giao thông - Một nghiên cứu, tìm hiểu thực tế khá công phu, bài bản để hơn một tháng sau - ngày 3/7 trở lại Paris với một loạt phác thảo trong đầu.

        Navarre là vị Tổng chỉ huy thứ tám cầm đầu Bộ Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương, kể từ khi gây hấn ở Nam bộ (9/1945) - mở chiến tranh xâm lược lần thứ hai - cuộc chiến tranh cũng đã kéo dài 8 năm làm nước Pháp vốn đã bị kiệt quệ sau nhiều năm phát-xít Đức chiếm đóng, nay càng suy sụp hơn. Gà trống Gaulois oai hùng biết mấy mỗi khi cất tiếng gáy là làm nhiều người kính nể thì nay chỉ là con gà sã cánh, què cẳng đi khập khiễng mất hết oai phong.

        Báo chí Pháp rầm rộ đưa tin, bình luận về vị tướng mới này. Mới 55 tuổi, ông ta đã trải qua nhiều cương vị chỉ huy: Tư lệnh thiết giáp, hoạt động nhiều năm ở ngành tình báo, phản gián; Tham mưu trưởng lục quân của quân Pháp ở khối Bắc Đại Tây dương... Một vị tướng năng nổ, xông xáo không chỉ giỏi chiến thuật, chiến dịch mà còn có tầm nhìn chiến lược nên rất thích hợp với yêu cầu của nước Pháp hiện nay là phải có nhưng sự kiện lớn, nôi bật để tạo nên những thay đổi cục diện chiến tranh đưa nước Pháp ra khỏi cảnh bế tắc hiện nay.

        Để tô đậm thêm tài “an bang, trị quốc" của vị tướng này, báo Time - một tờ báo được xếp loại là hàng đầu nước Mỹ - đã ca ngợi hết lời: “Navarre là người can đảm, kiên quyết và giầu tưởng tượng. Ông ta biết nghề nghiệp của ông ta, có bản lĩnh quân sự và chính trị hạng nhất... Ông ta đứng đầu một ê-kíp mới có vẻ xuất sắc."

        Bước vào mùa khô 1953 - 1954, lực lượng địch, ta trên chiến trường được phác thảo trên biểu đồ thống kê để cùng nhau cân nhắc đánh giá.

        Tồng quân số địch: 447.000 gồm 146.000 quân Âu Phi (chiếm 33%), còn lại là lính ngụy.

        Về ta chỉ có: 252.000 - như vậy riêng quân ngụy cũng nhiều hơn ta: 47.000, chưa kể lính Âu Phi vóc dáng to lớn, sức khỏe gấp đôi người Việt Nam.

        Tính theo đơn vị tiểu đoàn ta chỉ có 127 so với 267 tiểu đoàn địch. Địch nhiều hơn ta 2 lần chưa kể biên chế đơn vị địch thường từ 800 đến 1.000 người, còn ta chỉ có trên dưới 600 quân2.

        Trang bị của ta đã được cải thiện nhiều nhất là sau chiến dịch mở cửa biên giới 1950 thông với bạn nhưng về tổng thể lực lượng vũ trang, ta chỉ đơn thuần bộ binh yếu hơn địch. Hỏa lực yểm trợ cho bộ binh chiến đấu chỉ có số pháo lấy được của địch đếm được trên đầu ngón tay ngoại trừ 2 trung đoàn lựu pháo 105 bạn sẽ trang bị cho ta vào cuối năm 1953 và 1 trung đoàn pháo cao xạ phòng không 37 ly. Các binh, quân chủng khác địch khá dồi dào còn ta chỉ là con số không. Ta yếu hơn địch cả về số lượng lẫn trang bị. Đây là vấn đề hầu như trở thành quy luật trong chiến tranh chống xâm lược của nhân dân ta trong chiến tranh chống xâm lược Pháp hiện nay cũng như chống xâm lược Mỹ những năm 1960 của thế kỷ 20 mà còn thể hiện khá rõ trong tất cả các cuộc chiến chống xâm lược phương Bắc dưới các triều đại phong kiến xa xưa. Từ thực tế trên đòi hỏi lãnh đạo quốc gia cần có đối sách chiến lược đúng đắn và biện pháp thích hợp để thắng thù. Đảng ta đã làm được những điều kỳ diệu trên, đã chuyển hóa từ quân đội uchân đất, mũ nan" thành các binh đoàn chủ lực khiến quân thù phải kính nể, đã dồn ép quân thù vào thế trận chiến tranh nhân dân, buộc chúng phải đánh theo cách đánh của ta, luôn bị động, phân tán lực lượng ứng phó mọi bề. Ngày 2/8/1953, Navarre trở lại Việt Nam với chiếc cặp đầy ắp tài liệu cùng kế hoạch được soạn thảo công phu để bình định, giành thắng lợi, nếu không chí ít cũng tạo nên tình thế có lợi trong đàm phán để giải quyết chiến cuộc trong vòng 18 tháng đến 2 năm. Kế hoạch đầy tham vọng của Navarre có thể khái quát trên nhưng nét lớn:

        - Đẩy mạnh càn quét, đánh phá trong vùng kiểm soát để bình định, ổn định tình hình tạo điều kiện thuận lợi động viên, bắt lính với dự định tổ chức cho dược 80 tiểu đoàn trong năm 1953, làm đà cho việc tăng gấp đôi trong năm 1954 để có thể xây dựng lực lượng cơ động lên tới 27 binh đoàn cơ động chiến lược - một lực lượng mạnh đủ sức đè bẹp khối chủ lực đối phương.

        - Tập trung quân đủ mạnh để càn quét, chiếm đóng cho được 3 tỉnh đông dân, trù phủ vốn là vùng tự do của đối phương ở Trung bộ - nối liền với tuvến phòng thủ Tây Nguyên, hình thành tuyến chia đôi Việt Nam thành 2 mảnh Bắc - Nam.

        - Giữ thế phòng ngự chiến lược ở đồng bằng sông Hồng - nơi có nhiều đại đoàn quân chủ lực đối phương -  kết hợp tổ chức một số cuộc hành quân thọc sâu vào vùng đối phương để thăm dò, nghi binh. Nếu chủ lực Việt Minh chấp nhận giao chiến, có điều kiện thuận lợi sẽ tập trung bom đạn tiêu diệt, tiêu hao.

---------------
        1. Tướng De Lattre de Tassigni nhận chức Tổng chi huy ngày 6/12/1950 đã lập phòng tuyến bunker gồm 1.300 lô cốt với 113 cứ điểm bắt đầu từ Hòn Gai qua Vĩnh Phú - Sơn Tây - Hà Đông - Hà Nam - Ninh Bình. Giao cho 20 tiểu đoàn Ầu Phi chia ra canh giữ.

        2. Tài liệu của Ban Tổng kết chiến tranh - Bộ Tổng tham mưu.



Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Chín, 2020, 08:55:07 pm
        
II. SỤP ĐỔ MAU CHÓNG

        Đòn thử sức đầu tiên:

        Cục 2 được lệnh theo dõi, bám sát các hoạt động nhất là các chỉ đạo chuẩn bị chiên trườne của chúng.

        Những ngày cuối tháng 9 tin tức gửi về khá nhiều, nổi lên ở Bắc Quân khu 4 và vùng Nam Định... nói lên địch ráo riết chuẩn bị hành binh lớn ở vùng này.

        Phòng Nhì (Oème Bureau) - tổ chức mật vụ của Pháp - phái nhiều điệp viên kể cả gián điệp đôi (gián điệp địch được ta giáo dục, cải tạo nhận làm việc cho ta), nhân viên Sở liêm phóng Bắc bộ cũng lần mò ra nhưng nơi trên dò la tin tức... Đầu tháng 10/1953 xuất hiện nhiều lính Âu Phi. quân dù ở thị xã Nam Định, ở Hoàng Đan (Ý Yên - Nam Định), ở Ghềnh (Yên Mô - Ninh Bình). Máy bay địch quần đảo nhiều ở Bắc khu 4, tập trung nhiều ở Thanh Hóa, rải truyền đơn kêu gọi dân chúng về với quốc gia, gửi giấy thông hành để tiện qua đồn, bốt địch. Phát loa liên tục báo quân đội Liên hiệp sẽ mở hành binh lớn để nới rộng vùng kiểm soát quốc gia...

        Tất cả chỉ dấu trên được tổng hợp, báo cáo kịp thời giúp Bộ Tổng tham mưu sớm xác định: Có thể địch đánh lớn vùng giáp ranh khu 4 và khu 3, nhiều khả năng ở Bắc Thanh Hóa - Ninh Bình - Nam Định với mục đích thăm dò, phá chuẩn bị hoạt động Đông Xuân của ta. Nếu có hoạt động sâu ở Thanh Hóa cũng chỉ là hoạt động nghi binh, chiến tranh tâm lý, hỗ trợ cho hướng chính của chúng. Cuộc hành binh chỉ mang tính biệt kích trong thời gian ngắn nên Bộ đã lệnh cho các đơn vị chủ lực tiếp tục thực hiện kế hoạch huấn luyện, đẩy mạnh phong trào luyện quân lập công, riêng Đại đoàn 320 phải sắp xếp lại đội hình, phối hợp chặt chẽ với bộ đội địa phương tỉnh, huyện đề ra các phương án tác chiến thích hợp để cùng với du kích bám sát địch trên các trục đường mà địch có hành quân qua, nhất là các đường Kim Tân - Rịa (đường do quân Nhật làm dọc theo bìa rừng Cúc Phương để tiện cơ động lực lượng, tránh đi theo quốc lộ I dễ bị quân Đồng Minh phát hiện oanh tạc). Đường Rịa - thị trấn Nho Quan là những nơi rất thuận tiện tổ chức giấu quân, phục kích đánh địch.

        Ngày 15/10 địch đã huy động hơn 20 tiểu đoàn mở cuộc hành quân Hải Âu (Mouette) xuất phát từ Ghềnh chia làm 2 cánh:

        - Một do đại tá De Castrie - sau này được chỉ định chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

        - Một do đại tá Vanuxem - nguyên Tư lệnh biệt kích chỉ huy đánh ra vùng tự do Nam Thanh Hóa và Ninh Bình gần sát, đúng như ta dự kiến.

        Sau đó 1 ngày, địch hành quân đổ bộ lên bờ biển Thanh Hóa sau đó dùng biệt kích tiến sâu đến Khoa Trường cướp phá chớp nhoáng rồi rút quân. Cuộc hành binh chỉ diễn ra không đầy 2 ngày. Đài phát thanh cùng các phương tiện thông tin, báo chí của quân viễn chinh dồng loạt tuyên truyền rầm rộ, ca ngợi: “Đây là cuộc hành binh lớn nhất kể từ thời tướng Le Clec đến nay nhằm đánh sâu vào căn cứ đối phương - nơi có Đại đoàn 320 đóng để tìm diệt cho được phần lớn đơn vị từng được đối phương ca ngợi hết lời - đồng thời ngăn cản không cho 1 đại đoàn khác: Đại đoàn 304 thâm nhập đồng bằng quấy rối...”

        Cuộc hành binh Hải Âu mở rộng càn quét khá chậm chạp. Chúng luôn luôn bị du kích, bộ đội địa phương bám đánh liên tục, bị tiêu hao, tổn thất đáng kể. Cả 1 tuần lễ sau địch mới hợp điểm với nhau ở thị trấn Nho Quan - nơi đây chỉ còn “vườn không nhà trống”. Quân địch buộc phải chia nhau lùng sục vào làng, xóm gần đó đế tìm kiếm kho tàng. Chúng đã vấp phải mìn, lựu đạn gài, những phát súng bắn tỉa làm chúng vô cùng hoảng sợ, “mắt trước, mắt sau” vãi đạn như mưa rào ra xung quanh mong đẩy lùi, xua đối phương ra xa. Những ngày sau đó, 1 đại đội của Trung đoàn 48 đã phục kích diệt 7 xe tăng, xe bọc thép cùng hơn 200 địch khi chúng càn vào Trại Ngọc.

        Những ngày cuối tháng 10, địch lui quân về Bỉm Sơn có ý định chuẩn bị chấm dứt hành quân. Thấy rõ ý đồ địch, một tiểu đoàn cũng của Trung đoàn 48 đã nhận lệnh bám sát, tranh thủ địch có nhiều sơ hở, tổ chức tập kích đuổi đánh địch, phải tháo chạy vê Sông Cạn - Giốc Giang (trên dườns Kim Tân - Rịa). Đến Giốc Giang chúng gặp trận địa bố trí sẵn của 1 đại đội của Trung đoàn 64 chặn đánh. Cả tiểu đoàn địch bị tiêu diệt và bị bắt làm tù binh mặc dầu chúng đã điều quân tăng viện có xe tăng, máy bay yểm trợ hỏa lực.

        Cuộc hành quân đã phải kết thúc sau hơn 20 ngày đầy tốn kém về người và của.

        Sau này nhà báo Pierre Rocolle đã đánh giá, nhận xét cuộc hành quân trong cuốn “Vì sao Điện Biên Phủ'’ (Pourquoi Dien Bien Phu) xuất bản ở Paris năm 1968. Rocolle đã vạch rõ ưu tư, tâm trạng của Navarre sau cuộc hành quân: Tướng Navarre đã phải rút ra kết luận sau cuộc hành binh Mouette là: “Quân viễn chinh Pháp kém khả năng chiến đấu khi phải chiến đấu trên địa hình phức tạp và phải đương đầu với những trận “tao ngộ chiến”. Binh đoàn cơ động số 4 đã mất đứt 1 tiểu đoàn trong ngày 27/10.”

        Nhưng tướng Navarre cố bào chữa, lớn tiếng bênh vực, giảm nhẹ thất bại đầu tiên của ông ta trên chiến trường: "...Cuộc hành binh Hải Âu là đòn đánh đầu tiên trong những đòn tôi có ý định đánh vào đối phương. Trong cuộc hành binh đó, chúng ta đã đạt được mục đích lợi thời gian, buộc Bộ Tư lệnh Việt Minh phải xét lại kế hoạch tiến công của họ. Chúng ta đã nắm quyền chủ động và chúng ta muốn giữ quyền chủ động đó."

        Vị tướng được ca ngợi tài ba, năng động, xông xáo đã nói đúng nhưng là đúng theo tưởng tượng của ông ta.

        Thực tế kế hoạch Đông Xuân của ta, Bộ Tổng tham mưu đã soạn thảo, được Quân ủy thông qua và Bộ Chính trị chấp thuận - một kế hoạch toàn diện trên toàn chiến trường Đông Dương với sự tham gia của bạn Lào, với tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt:

        - Nắm vững, triệt để phát huy thế chủ động, phát triển chiến tranh du kích rộng khắp vùng địch tạm chiếm, phá thế kìm kẹp và kế hoạch dồn dân bắt lính của địch.

        - Chủ động mở các đợt tấn công vào chỗ yếu hoặc tương đối yếu của địch mà chúng không thể bỏ, buộc chúng phải tăng viện, tạo thời cơ diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, đẩy chúng đã phân tán phải càng phân tán hơn lực lượng cơ động chiến lược. Cụ thể:

        + Hướng Tây Bắc nhằm vào địch ở thị xã Lai Châu.

        + Phá vỡ tuyến phòng thủ Bắc Tây Nguyên để hút kéo quân địch, không cho chúng rảnh tay tổ chức hành quân lấn chiếm 3 tỉnh tự do ở miền Trung - phá mưu đồ chia cắt Việt Nam thành 2 mảnh.

        + Diệt các khu phòng thù của địch ở Trung - Hạ Lào...


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Chín, 2020, 08:55:39 pm
         
        Tan vỡ từng mảng:

        Cùng với chuyển quân lên Tây Bắc. các đơn vị nhận nhiệm vụ sang, Lào khẩn trương lên đường.

        Tiến sang Trung Hạ Lào ngoài các đơn vị bộ đội địa phương Khu 3 và 4 đã sang giúp bạn từ trước, lần này có thêm các đơn vị Trung đoàn 66 của Đại đoàn 304 và 2 trung đoàn của Đại đoàn 325. Đây là chiến dịch hoạt động có quy mô tương đối lớn nên đã thỏa thuận với bạn thành lập Bộ chỉ huy chiến dịch chung gồm các anh Trần Quý Hai - Tư lệnh Đại đoàn 325, anh Hoàng Sâm -  Tư lệnh Đại đoàn 304 tham gia chỉ huv mọi mặt.

        Chuyển quân lớn lại có hàng vạn dân công thồ gánh lương thực, đạn dược tấp nập từ các tỉnh Bắc khu 4 sang Lào, đã không qua con mắt luôn dòm ngó, theo dõi mọi động tĩnh của ta trên chiến trường xung yếu của dịch. Chúng đã phát hiện ra sự chuẩn bị của ta muốn dội lửa đạn xuống đầu chúng nên vội điều Binh đoàn cơ động 12 (GM12) từ đồng bằng Bắc bộ đến tăng cường cho Khăm Muộn, Savanakhét để chốt chặn các đường số 8, đường số 9 và đường 12 là những con đường sinh tử chạy từ Việt Nam sang. Địch phát hiện sớm, đưa thêm quân tăng viện cũng gây cho ta khó khăn khi nổ súng vì mất yếu tố bất ngờ. Nhưng ngay từ lúc này địch buộc phải phân tán lực lượng cơ động là điều ta mong đợi, có lợi cho ta.

        Tướng Bourgund - Tư lệnh vùng Trung bộ - vội sắp xếp bố trí quân hình thành 3 cụm tập trung binh lực lớn:

        - Cụm Banaphào - Nhomarát (trên đường 12) 2 tiểu đoàn Marốc, 1 tiểu đoàn quân Algéric và 1 tiểu đoàn pháo 105 ly.

        - Cụm Napê - Cămcút - Lạc Sao (trên đường 8) có Tiểu đoàn Tabor số 9 và một đại đội pháo 105 ly.

        - Cụm ở Nậm Theun có 1 tiểu đoàn cơ giới làm lực lượng dự bị.

        Bộ chỉ huy chiến dịch dự định đánh địch chia ra làm 2 đợt. Đợt 1 bắt đầu nổ súng từ ngày 23/12 tiêu diệt địch ở Banaphào - Mụ Giạ cùng phục kích diệt viện giữa đường từ Thàkhét - Banaphào. Kế hoạch tiếp theo, quân ta sẽ theo đường 12 tiến xuống giải phóng Khăm Muộn.

        - Một đơn vị đánh Napê - Lạc Sao - Căm Cớt, tiến theo đường 8 xuống đường 12.

        Cùng thời gian trên 1 bộ phận cỡ tiểu đoàn thọc sâu xuống Hạ Lào tạo dựng bàn đạp đứng chân cho lực lượng xuống sau.

        Một sự việc bất ngờ xảy ra, có lợi cho ta. Ta phải thay đổi lại kế hoạch.

        Ngày 20/12, Trần Văn Bình - Trung đoàn trưởng Trung đoàn 101 dẫn cán bộ trong trung đoàn đi khảo sát thực địa, chọn địa thế tổ chức phục kích thì chạm trán 1 toán địch đang bì bõm lội qua suôi. Trận "tao ngộ chiến" nổ ra và cũns kết thúc nhanh chóng. Ta bắt được 1 đại úy và 4 lính Âu Phi. Qua khai thác được biết tiểu đoàn Algérie và 1 đại đội pháo mới kéo đến lập căn cứ ở cầu Khăm He cùng với BM số 2 đến đặt P.C (Sở chỉ huy) ở cầu Kha Ma trên đường 12.

        Thời cơ xuất hiện, trung đoàn điện xin Bộ chỉ huy cho chuyển từ phục kích sang tập kích tiêu diệt ngay địch trong lúc địch đứng chân chưa vững. Đề nghị được chấp thuận. Cán bộ trung đoàn phấn khởi náo nức hành quân, vừa đi vừa trao đổi kế hoạch tác chiến.

        Toán trinh sát cùng 1 đại đội đi trước mở đường, đơn vị xuống đến đèo Phuắc thì gặp địch đã chốt trên 1 quả đồi thấp ven đường. Đại đội tổ chức tấn công ngay và cho 1 bộ phận nhỏ đánh bọc phía sau. chặn đường rút chạy vào rừng.

        Địch ở Khăm He nghe tàn binh chạy về báo xuất hiện nhiều quân Việt Minh với súng to, súng nhỡ đang tiến về cứ điểm. Bọn chỉ huy hoảng sợ ra lệnh báo động, thúc quân sĩ đào công sự, dồn ra tuyến ngoài phòng ngự.

        Khoảng nửa đêm, trung đoàn mới có 1 bộ phận tiếp cận mục tiêu. Mặc dầu số quân còn ít, lại bôn tập đường dài đã thấm mệt nhưng tất cả đều quyết tâm xông lên đánh địch, thực hiện kế hoạch, các mũi thọc sâu, đột kích liên tục, đã vượt qua hỏa lực cản đường của địch, thực hành chiến thuật "hoa nở" xuất sắc. Các tổ thọc sâu chiếm các chốt chống cự địch ở trung tâm rồi đánh tỏa ra xung quanh, phối hợp với các mùi đánh từ ngoài vào tạo thế vây diệt rất hiệu quả... Chỉ sau gần nửa giờ chiến đấu, toàn bộ tiểu đoàn Algérie bị tiêu diệt. Ta thu được khá nhiều vũ khí đạn, quân trang quân dụng và cả 4 khẩu pháo 105 ly nguvên vẹn cùng hàng ngàn đạn pháo. Sau này số pháo, đạn đã giúp đánh Điện Biên rất hiệu quả, kịp thời trong lúc mặt trận đang gặp rất nhiều khó khăn về đạn, về pháo.

        Tảng sáng, 1 đại đội Âu Phi từ Banaphào lò dò xuống cứu viện đã lọt vào trận địa phục kích của ta nên dã bị diệt gọn. Thừa thắng đơn vị đã chuyển sang tấn công Khu Ma, cũng chỉ ít phút sau cả đơn vị đóng giữ nơi dây đã bị tiêu diệt, số lớn sống sót tản chạy vào rừng. Tàn binh chạy vào rừng sau nhiều ngày đói ăn, một số phải tìm đến bản làng trong vùng đầu hàng, xin ăn.

        Cuộc chiến dấu ở khu vực này được coi như thắng lợi trọn vẹn. Chỉ với thời gian nửa ngày, 1 đêm đã tiêu diệt, tan rã 2 tiểu đoàn địch. Quân địch đóng giữ ở đèo Mụ Giạ - Banaphào - khu phòng thủ then chốt của cả vùng Trung Lào - thấy tàn binh chạy về với những tin tức khủng khiếp về lực lượng, về vũ khí đối phương đã làm bọn chỉ huy cũng như binh sĩ hết sức hoang mang, run sợ. Tuy chưa thấy mặt, chỉ mới nghe tiếng súng nổ liên hồi ở xa chúng đã bảo nhau kéo chạy. Đơn vị chuẩn bị công đồn, hành quân đến nơi thấy địch bỏ chạy nên chuyển sang truy kích. Một cuộc rượt bắt khá sôi động làm náo động cả vùng rừng già vốn xưa nay vẫn là nơi yên tĩnh, bình yên.

        Trong các ngày 23 - 24/12 quân ta cùng bạn tấn công vào một loạt vị trí địch ở Lạc Sao - Căm Cớt, ở dọc theo đường 12. Các trận đánh diễn ra khá gọn, địch chống cự yếu ớt rồi đầu hàng hoặc bỏ chạy vào rừng. Ta tiến vào giải phóng Nhomarát - Thàkhét.

        Như vậy toàn bộ tỉnh Khăm Muộn với diện tích khoảng trên 40 nghìn kilômét vuông đã được giải phóng hoàn toàn cùng hàng chục vạn dân thoát khỏi kìm kẹp của địch. Thắng lợi ròn rã vượt xa tính toán của ta.

        Phòng tuyến Trung Lào tan vỡ làm Bộ chỉ huy địch vô cùng hoảng sợ, phải điều thêm quân cho những điểm còn lại ở Lào.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Chín, 2020, 08:58:42 pm

        Cồng chiêng Tây Nguyên rung chuyển núi, rừng:

        Đứng trên cao nguyên hướng về Bắc, phía Đông là các tỉnh đồng bằng ven biển miền Trung, phía Tây nối giáp với Lào - Campuchia - một vị trí chiến lược lý tưởng cho mọi đạo quân xâm lược. Thực dân Pháp cũng như đế quốc Mỹ sau này đều đánh chiếm Tây Nguyên ngay từ ngày đầu xâm lược.

        Ở Tây Nguyên có nhiều sắc tộc ít người nên các thế lực phản động đều cố gắng tập hợp các dân tộc thiểu số vào tổ chức của chúng để hỗ trợ bộ máy thống trị trên miền rừng núi hiểm trở. Pháp đã lập ra tổ chức FULRO - Phong trào đoàn kết giải phóng các sắc tộc bị áp bức (Front Unifié Liberation Des Race Opprimees) phát triển khá rộng ở nhiều tỉnh. Với chính sách dân tộc đúng đắn của Đảng đã khiến tổ chức phản động trên ngày càng bị thu hẹp, mất dần tác dụng bảo vệ các cứ điểm địch đóng giữ trên cao nguyên.

        Hệ thống phòng thủ Tây Nguyên gồm một loạt cứ điểm xây dựng kiên cố, ở phía Bắc lấy Kon Turn - Gia Lai làm trung tâm. Bắc Kon Turn có các cứ điểm Măng Bút - Măng Đen - Công Brây. Lui về phía Nam là căn cứ An Khê cùng loạt đồn xây dựng dọc theo đường 19 nối liền với Quy Nhơn - Bình Định, phía Tây chạy sang ngã ba biên giới.

        Trong kế hoạch Đông Xuân, Liên khu 5 được giao nhiệm vụ phải đập vỡ tuyến phòng thủ Tây Nguyên, diệt một bộ phận sinh lực quan trọng của địch đồng thời cũng là đòn phá bỏ âm mưu đánh chiếm mấy tỉnh đồng bằng đông dân, giàu tài nguyên của Liên khu trong kế hoạch đầy tham vọng của Navarre.

        Bộ đội địa phương của Liên khu chỉ có 3 trung đoàn chủ lực cùng mấy tiểu đoàn độc lập đã hoàn thành nhiêm vu rất khó khăn trên.

        Đêm 26/1, bộ đội nổ súng mở đầu chiến dịch đã thu được kết quả rất phấn khởi. Chỉ hơn một tiếng đã tiêu diệt một loạt 4 vị trí trên đường 19 - An Khê. Trận đánh chớp nhoáng như tiếng sét bất ngờ giáng xuống đầu địch ở cả vùng. Địch hoang mang, giao động chưa hiểu tình hình, ý đồ của đối phương ra sao thì ngay đêm sau cứ điểm Măng Đen - Măng Bút - Công Brây đồng loạt bị tấn công dữ dội. Đặc công đã bí mật đột nhập, luồn sâu chiếm các vị trí quan trọng ở trung tâm cứ điểm rồi mới nổ súng phối hợp tấn công từ ngoài vào, tạo yếu tố bất ngờ khiến địch không kịp trở tay. Cứ điểm Măng Bút, Công Brây mỗi nơi quân đóng giữ 1 tiểu đoàn đã bị tiêu diệt gọn. Riêng Măng Đen, trận đánh phải kéo dài đến sáng mới kết thúc.

        Cứ điểm Măng Đen ở 2 quả đồi gần nhau giữa hình yên ngựa có sân bay nhỏ, công sự bê-tông cốt sắt kiên cố, hàng rào dây thép gai bao quanh dầy trên dưới 100 mét, dưới có hào sâu, lấp đất từng đoạn có thể di chuyển chiến đấu đánh trả đối phương rất hiệu quả nên trận chiến phải kéo đến hơn 6 tiếng mới kết thúc.

        Như vậy, chiến dịch Tây Nguyên chỉ diễn ra trong mấy ngày đã kết thúc thành công rực rỡ. Cả hệ thống phòng ngự của Pháp ở đây chao đảo, rung chuyển. Tiếng cồng Tây Nguyên đã rung lên đúng lúc, hòa nhịp với tiếng súng đánh địch ở các nơi xung yếu khác. Cồng, chiêng Tây Nguyên còn đang ngân vang, tiếng súng phối hợp ở Hạ Lào cùng bát đầu lên tiếng.

        Lực lượng địch ở đây khoảng 1.000 tên, bố trí làm 2 nơi cách xa nhau chừng 20 kilômét: Một ở Attôpơ - một ở Pui. Đêm 29/1, Tiểu đoàn 436 nổ súng, đánh Pui cũng chỉ hơn nửa giờ sau là hốt gọn cứ điểm. Địch ở Attôpơ tưởng chừng “đại quân Cộng sản" kéo về nên vội bỏ chạy về Pakxế. Tác động dây chuyền, quân ở Pakxế hoảng hốt vội phá bỏ kho tàng, vũ khí cùng nhau bỏ chạy về Saravang.

        Chiến dịch đánh địch ở Trung Lào, ở Tây Nguyên và Hạ Lào đã làm đảo lộn tình thế địch. Kế hoạch đầy tham vọng của Navarre mới thực thi được nửa năm đã trở thành bong bóng xà phòng, đổ sụp thảm bại.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Chín, 2020, 09:23:35 pm
        
III. ĐỐI ĐẦU LỊCH SỬ

        Sớm ngày 20/11 sau nhiều giờ quân đảo ném bom, bắn phá dọn đường, quân Pháp đã nhảy dù xuống cánh đồng Mường Thanh - Điện Biên, 6 tiểu đoàn với trên 4.000 quân. Tuy bị lực lượng vũ trang địa phương đang tập luyện ở đây đánh trả nhưng thương vong thiệt hại không lớn.

        Cuộc hành binh lấy tên là "Con chuột biển" (Hải ly - Castor) do tướng Gille chỉ huy. Hơn 10 ngày sau quân Pháp đóng ở thị xã Lai Châu được lệnh rút về Điện Biên để tạo dựng cụm phòng ngự lớn, đông quân phòng giữ, nhưng số quân rút về đã bị tiêu diệt gần hết như ta đã biết.

        Dưới mắt những nhà chiến lược quân sự, Lai Châu luôn được coi là vùng chiến lược không chỉ ở Tây Bắc mà ở cả chiến trường Đông Dương. Vị thế Bắc giáp Trung Quốc, phía Tây có nhiều đường chạy sang Lào xuôi cho đến miền Trung, Hạ Lào, liền kề với vùng đất Tây Nguyên Việt Nam, đi xa hơn có thể với tới Thái Lan - Miến Điện1.

        Xâm chiếm Việt Nam, sau khi ổn định được vùng đông dân ở đồng bằng, năm 1888 đại tá Ternot đưa quân lên chiếm Lai Châu và vùng Tây Bắc, móc với lang đạo Đèo Văn Trì lập ra Vương quốc tự trị Thái.

        Trong Thế chiến 2. Nhật đảo chính lật đổ Pháp, số quân Pháp chạy trốn đã qua đây sang Trung Quốc. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Pháp đề nghị ta cho quân Pháp vào de thay thế Tàu Tưởng rồi sau đó chiếm luôn, phục hồi lại xứ Thái, đưa Đèo Văn Long lên cai trị.

        Ngày 7/12 đại tá De Castries được chỉ định chỉ huy Điện Biên thay tướng dù Gille. Những ngày tiếp sau căn cứ được mở rộng, tăng thêm quân trở thành tập đoàn cứ điểm mạnh, lớn nhất Đông Dương từ trước đến nay. Chính vì vậy nên khi chỉ định De Castries, nhiều tướng lĩnh Pháp đã chất vấn Navarre: với vị trí lớn lao như vậy tại sao không cử một viên tướng cầm quân. Navarre khẳng định: “Tôi cũng như tướng Cogny không nhìn sao để giao nhiệm vụ". Qua phát biểu trên rõ ràng De Castries được đánh giá rất cao.

        Ông ta vốn dòng dõi hoàng tộc quyền quý. Cha, ông cùng nhiều người trong họ giữ chức vị cao, cấp tướng trong chính giới cao cấp Pháp.

        Tên đầy đủ của ông ta là: Charlies Eugeng Gabriel de la Croix De Castries, đã từng chiến đấu chống chiếm đóng của Đức trong Đại chiến Thế giới 2. Tuy chỉ mới là sĩ quan cấp úy đã cùng đồng đội cầm cự với cả tiểu đoàn Đức suốt mấy ngày đêm, chỉ chịu bị bắt làm tù binh khi đã bị thương, hết đạn. Dòng họ này có dinh thự lớn tọa lạc ở đường Varenné - Paris đã được nhà nước Pháp mua làm di tích lịch sử quốc gia. Tòa dinh thự trên đã được sửa sang với hàng rào, song sắt trên có chóp hình lưỡi giáo mạ vàng, trên tường gắn biển đồng to với hàng chữ Hotel De Castries (Dinh De Castries), liền gần đó là cung điện Matignon - nơi đặt trụ sở làm việc của Thủ tướng Pháp1.

        Còn Mỹ cũng không tiếc lời ca ngợi De Castries. Tờ báo New York Times số ra ngày 25/3/1954 đã viết: "... De Castries là vị anh hùng Đông Dương, là nhà quý tộc và người chiến binh hăng hái..."

        Cho đến cuối tháng 12/1953 căn cứ Điện Biên đã được củng cố vững chắc mọi mặt. Hiện Điện Biên có 12 tiểu đoàn, tổng quân số lên trên 12.000 quân. Hàng ngày có hàng trăm máy bay lên xuống chở quân, chở lương thực, súng đạn, nguyên vật liệu xây dựng công sự.

        Ngày 24/12 Navarre cùng tùy tùng bay lên Điện Biên để dự lễ Giáng sinh cùng binh sĩ. Sau khi đi thanh sát các cụm chiến đấu đã hết lời khen ngợi, rất hài lòng với những gì đã làm được ở đây.

Cogny, De Castries và Navarre họp bàn tại Điện Biên
-------------------------
        1. Myanmar

        2. Tướng De Castries được ta trao trả ở Việt Trì từ ngày 3/9/1954. Nghỉ hưu tháng 12/1954 sau khi từ chối được bổ nhiệm Tư lệnh một Sư đoàn đang tiến hành xâm lược ở Algerie. De Castries chết ngày 30/7/1991.



Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Chín, 2020, 04:43:11 pm

        Đài phát thanh, báo chí Pháp đưa tin, tường thuật rùm beng buổi lễ được coi rất long trọng với sự ưu ái của vị Tổng chỉ huy. Trong bài phát biểu, Navarre nhấn mạnh: “... Tình hình địa hình, những đặc điểm về khí hậu của lòng chảo Điện Biên Phủ làm cho nó trở thành một vị trí phòng ngự, một trong những sân bay tốt nhất Đông Nam Á. một cầu hàng không tuyệt hảo. Trận đánh có thể chúng ta tiếp nhận ở đây trong những điều kiện hết sức thuận lợi". Sau khi vạch những khó khăn của đối phương về di chuyển lực lượng, tiếp tế lương thực bằng chân chậm chạp trên những khoảng cách quá xa, quá dài không có đường giao thông... Ông ta khẳng định: "... Một chiến dịch khởi đầu trong những điều kiện như vậy chỉ có thể chuyển sang hướng có lợi cho ta. Khả năng tập trung nhanh chóng trên những điểm bị uy hiếp, ưu thế về lực lượng so với đối phương, sự góp phần về biệt kích, không quân nhất là những đơn vị nhảy dù chắc chắn mang lại cho chúng ta thắng lợi. Những điều kiện chiến thắng đã hội tụ đủ. Tôi tin chắc chắn những điều kiện chính trị cũng sắp tới.”

        Tướng Navarre đã nói đúng nhưng chưa đủ về những chỗ mạnh của quân phòng thủ trong điều kiện tính toán theo chủ quan của ông ta, ông ta không tính được đối phương đâu có để cho những chỗ mạnh của bên phòng thủ phát huy. Còn những khó khăn trở ngại của quân ta, ông ta có nêu lên nhưng còn quá ít. Ta đã phải vượt qua vô vàn khó khăn nếu chỉ tính sức người thì không sao có thể vượt qua được nhưng chính nhờ vào sự chỉ đạo đầy sáng tạo cùng với ý chí cách mạng kiên cường của mọi tầng lớp nhân dân mà mọi việc đều được vượt qua suôn sẻ, để lập nên chiến công lừng lẫy địa cầu.

        Ở đây cần kể thêm nội tình các tướng lĩnh Pháp trong quyết định chọn Điện Biên làm điểm đối đầu với ta.

        Khởi đầu tướng Cogny cũng đồng tình việc mở thêm điểm chiếm đóng ở Lai Châu nhưng sau lại là người tích cực phản đối nhất vì thấy rõ lực lượng cơ động của ông ta dùng làm dự trữ đối phó với tấn công của ta ở đồng bằng sớm muộn cũng bị Navarre cấu véo để tăng cường cho nơi đây, chưa kể sắp tới sẽ bị rút một số tiểu đoàn để mở hành quân chiếm các tỉnh đồng bằng miền Trung như trong kế hoạch của Tổng chỉ huy. Sĩ quan tham mưu dưới quyền hùa theo liên tiếp đưa kiến nghị với nhiều lý do để phản đối đưa quân lên vùng núi rừng có nhiều thuận lợi cho đối phương hoạt động.

        Đại tá Batiani - Tham mưu trưởng Bộ chỉ huy Bắc bộ công khai phản bác: “Ở nước này (Việt Nam) không thể ngăn chặn một hướng đi. Đó chỉ là khái niệm ở châu Âu, không có giá trị ở đây”. Tướng Dechauw - Tư lệnh Không quân lại lưu ý tình hình thời tiết ở đây thất thường nhất là ở Tây Bắc trong những tháng mùa đông nên việc tiếp tế sẽ rất khó khăn..." Sự việc nổ ra tranh cãi trong một thời gian, kết quả cuối cùng mọi việc diễn ra theo ý Navarre1.

        Đầu tháng 12/1953, Bộ Chính trị họp nghe Bí thư Quân ủy Trung ương báo cáo tình hình diễn biến trên khắp các chiến trường đặc biệt quân địch ở Lai Châu cùng mưu đồ của chúng. Bộ Chính trị tán thành nhận định của Quân ủy và chấp nhận đề nghị, quyết định lấy Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến lược không chỉ trong Đông Xuân mà còn cho toàn bộ cuộc kháng chiến của dân tộc trong cuộc kháng chiến trường kỳ đã kéo dài hơn 8 năm.

        Quyết định lịch sử đã diễn ra đúng ngày 6/12/1953. Cùng với quyết định trên, Bộ Chính trị đã chỉ định Đảng ủy mặt trận gồm các anh: Hoàng Văn Thái - Tham mưu trưởng, Lê Liêm - Chủ nhiệm chính trị, Đặng Kim Giang - Chủ nhiệm cung cấp. Anh Văn (đồng chí Võ Nguyên Giáp) làm Bí thư. Anh Đỗ Đức Kiên, nguyên Cục phó Cục Tác chiến cũng được chỉ định tham gia Đảng ủy mặt trận.

        Lúc này anh Văn Tiến Dũng cũng được điều về Bộ tổng tham mưu chuyên trách chỉ huy mọi mặt chiến trường đồng bằng Bắc bộ trong khi Bộ tổng tư lệnh dã ngoại đảm nhiệm chỉ huy chung cùng trọng điểm Điện Biên.

        Đến lúc này trận đối đầu lịch sử đã được cả 2 bên công khai thừa nhận. Thắng, bại chỉ còn tùy thuộc vào mưu trí, tài điều khiển chiến trận. Một cuộc đấu trí, đấu lực vô cùng quyết liệt giữa ta và địch đã băt đầu.

----------------------
        1. Cuốn Đông Dương hấp hối (Agonie de rindoching) của tướng Henri Navarre - Plow - 1958.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Chín, 2020, 04:46:55 pm

*

*      *

        Trước ngày lên đường đi chiến dịch, anh Văn đến chào Bác Hồ ở Tỉn Keo trong rừng vầu Khuổi Tát. Đồi Tỉn Keo thuộc xã Phú Đình, Định Hóa, Thái Nguvên. Dưới chân đồi là cánh đồng Nà Nọn, có suối nước chảy quanh năm kể cả mùa khô. Ngược lên là thác Khuồi Tát, tiếp tục trèo lên cao đi một quãng xa sẽ đến đèo Gie gần chân núi Hồng, qua đó không xa là đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào, lán Nà Lừa - nơi ghi bao dấu ấn thời trước Cách mạng Tháng Tám.
       
        Đến nơi này với cảnh trí thiên nhiên thật đẹp, rất hợp ý Bác:

                                   Trên có núi,dưới có sông
                                   Có đất ta trồng, có bãi ta chơi.
                                   Thuận đường sang Bộ tổng
                                   Tiện lối tới Trung ương
                                   Nhà thường rào kín mái
                                   Gần dân không gần đường


        Có thể nói hầu hết thời gian kháng chiến chống Pháp, nơi đây được chọn làm ATK (an toàn khu), tập trung hầu hết cơ quan đầu não của Đảng, của Nhà nước và cũng là nơi Bác và Trung ương họp bàn, quyết định những vấn đề hệ trọng, quan hệ đến vận mệnh quốc gia, sống còn của đất nước.

        Hiện nay, nơi đây đã xây hàng rào bảo vệ, dựng bia có chân dung Bác trên đá hoa cương và ghi lại nhừng sự kiện lịch sử của Đảng, của nhân dân. Trên đồi Tỉn Keo còn cây dâm bụt Bác trồng năm xưa, nay đã cao lớn, cành lá, hoa che rợp cả nửa đồi.

        Đối với anh Văn thì Tỉn Keo còn ghi dấu ấn khởi đầu được Trung ương chính thức giao nhiệm vụ làm Tổng tư lệnh quân dội. Ngày 20/1/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 110/SL phong quân hàm đại tướng cho dồng chí Võ Nguyên Giáp, trung tướng cho đồng chí Nguyễn Bình, các thiếu tướng Trần Tử Bình, Văn Tiến Dũng...

        Sau phiên họp Hội đồng Chính phủ, chiều ngày 28/5/1948 buổi lễ phong quân hàm đầu tiên của quân đội ta đã được tổ chức trọng thể. Buổi lễ giản dị, không quân hiệu, quân hàm nhưng thắm đậm tình cảm cách mạng, gây xúc động khó quên cho tất cả mọi người được may mẳn tham dự.

        Mọi người quây quần xung quanh Bác, uống nước chuyện trò rôm rả. Vẫn phong cách ung dung, thư thái, điếu thuốc kẹp giữa 2 ngón tay duỗi thẳng. Bác ra vế đối. yêu cầu mọi người cùng họa:

                                   Giáp phải giải Pháp

        Vế đối khó, mang nhiều ẩn ý sâu xa. Mọi người nhìn nhau loay hoay, lúng túng chưa biết chọn câu đối lại cho xứng. Anh Lê Văn Hiến (khi đó là Bộ trưởng Tài chính) lên tiếng:

                                   Hiến tài hái tiền

        Một câu họa lại thật hay, cũng chứa đựng nhiều ý, nói lái như vế đố, cũng vẫn mang đầy đủ ý. Mọi người trầm trồ, Bác khen, thưởng cho tác giá 3 quả cam.

        Những sự việc nho nhỏ trên nói lên tình cảm thân thiết ghi dấu ấn tình cảm cách mạng, tình đồng chí chỉ có thể có ở những người cùng chung chí hướng. Hình ảnh trên sẽ sống mãi với thời gian.

        Bác tiếp chuyện vui vẻ, hỏi thăm tình hình đã chuẩn bị được đến đâu rồi, còn khó khăn trở ngại gì... Anh Văn thưa lại với Bác tóm tắt những việc đã làm, nêu băn khoăn lo lắng của anh là ở xa khi có vấn đề quan trọng, cấp thiết khó xin ý của Bác, của Trung ương. Bác cho ý kiến: ‘Tổng tư lệnh ra trận - tướng quân tại ngoại. Trao cho chú toàn quyền. Có khó khăn, bàn thống nhất trong Đảng ủy, thống nhất với cố vấn rồi làm, thỉnh thị sau". Lúc chia tay Bác còn dặn: “Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc không đánh.”

        Anh Văn nhận thức đây là mệnh lệnh của Đảng. của đất nước phải chấp hành bằng được, anh thấy trách nhiệm vô cùng nặng nề.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp báo cáo tình hình và nhận chỉ thị của Bác Hồ.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Chín, 2020, 04:48:22 pm
         
IV. KHÚC DẠO ĐẦU HÙNG TRÁNG

        Ngày 19/11/1953, hội nghị quân chính toàn quân khai mạc ở Định Hóa, Thái Nguyên. Tuy gọi là hội nghị toàn quân nhưng thực tế chỉ có cán bộ từ miền Trung, Tây Nguyên ra họp còn cán bộ ở xa không ra dự được.

        Chiến trường rộng, kéo dài từ Bắc vào Nam đi lại rất khó khăn, phải vượt qua nhiều vùng tạm chiếm của địch nên mất rất nhiều thời gian rải trên đường đi. Thời đó chỉ có đi bộ, địa phương nào “sang” lắm mới lo được cho cán bộ chiếc xe dạp để lăn bánh trên đường đất, đường mương máng gồ ghề đất, đá nên Bộ tổng tư lệnh rất hạn chế tổ chức họp đông như trên.

        Từ lâu mới có cuộc gặp mặt tương đối đông đủ như lúc này. Mọi người gặp nhau mừng vui khôn tả, kể cho nhau nghe những khó khăn vất vả đã trải qua, những tin vui thắng địch cùng với những chiến công của đồng bào, đồng chí. Anh em vui mừng với những kết quả đạt được, cùng đau xót những mất mát hy sinh của đồng đội, của nhân dân. Tối đến, ngoài những buổi họp chung, các lán đều đỏ đèn. Cán bộ chụm đầu nhau chuyện trò râm ran, tâm sự quanh chiếc đèn dầu đỏ quạch.
       
        Cuộc họp sang ngày thứ 2 thì nhận được điện báo: Pháp đã nhảy dù xuống Điện Biên Phủ. Một sự kiện mở đầu những trận đánh hết sức ác liệt trên chiến trường này và cũng là những trận then chốt góp phần kết thúc chiến tranh chống Pháp.

        Có thể địch phát hiện quân ta di chuyển lên Tây Bắc nên vội vã tăng cường lực lượng đối phó. Hành động trên không ngoài dự đoán khi Bộ chọn Tây Bắc là một trong nơi ta tập trung đánh địch. Bộ điện gấp cho Sư đoàn 316 đang trên đường hành quân và cho Bộ chỉ huy tiền phương do anh Hoàng Vãn Thái chỉ huy. Bức điện nêu, chỉ rõ: “Địch nhảy dù xuống Điện Biên là để che chở cho quân dịch ở Lai Châu và Thượng Lào bị uy hiếp. Như vậy địch, đã bị động đối phó, phân tán lực lượng. Tình hình có lợi cho ta. Nắm cơ hội, tạo cơ hội tiêu diệt dịch. Đơn vị phải tổ chức thành các tiểu đoàn để hành quân cho nhanh..."

        Hội nghị vẫn tiếp tục thực hiện theo kế hoạch. Anh Văn thay mặt Quân ủy đã báo cáo tổng quát tình hình, phân tích nêu bật mặt mạnh, yếu của ta và địch, chỉ rõ đường hướng phát triển đầy triển vọng sáng sủa của ta với những minh chứng cụ thể, khoa học biện chứng càng làm cho mọi người dự họp tin tưởng, phấn khởi và cũng nhận thức được khó khăn cần phải khắc phục, vượt qua.

        Trước lúc hội nghị bế mạc. Bác đến. Người khen ngợi mọi người đã tập trung thảo luận sôi nổi, có nhiều ý hay. nhất trí với phương hướng của Trung ương. Kết thúc bài nói. Bác nhấn mạnh: Phương châm chỉ đạo tác chiến hiện nay gói gọn trong 8 chữ: TÍCH CỰC - CHỦ ĐỘNG - CƠ ĐỘNG - LINH HOẠT và động viên các đại biểu vượt mọi khó khăn, gian khổ góp phần giành thắng lớn trong Đông Xuân.

        Trong những ngày họp, anh Văn tranh thủ gặp. làm việc với chỉ huy các chiến trường, nêu rõ nhiệm vụ cho từng nơi, từng đơn vị nên khi kết thúc hội nghị mọi việc cũng đã được gói gọn, sắp xếp suôn sẻ. Anh em chỉ còn hân hoan bắt tay nhau, chia tay, hẹn ngày gặp lại cùng mừng vui chiến thắng.

        Anh Hoàng Văn Thái ở bộ phận tiền phương nhận được điện của hậu cứ báo tin địch ở thị xã Lai Châu đang co chạy về Điện Biện nên vội triệu tập cán bộ Sư đoàn 316 về họp, giao nhiệm vụ đánh địch, truy quét địch đến cùng để bảo đảm an ninh cho hậu phương trực tiếp của chiến dịch nay mai nổ súng.

        Sau hơn 20 ngày hành quân, các trung đoàn của Sư đoàn 316 vẫn còn ở Tuần Giáo, bên này đèo Pha Đin.

        Trung đoàn 98 được phân công tách 1 tiểu đoàn vượt đi trước, vào giải phóng thị xã Lai Châu, để lại 1 tiểu đoàn ở ngay Tuần Giáo để đề phòng địch nhảy dù đánh vào sau đội hình của ta.

        Tiểu đoàn 439 - tiểu đoàn được giao nhiệm vụ tiếp quản Lai Châu được ô tô chuyển đến tận Nậm Mức (cách Lai Châu chừng 45 kilômét) thì phải chuyển sang chạy bộ vì đường xấu không đi được.

        Tối 10/12, đơn vị đến gần Pa Han (1 đồn nhỏ cách thị xã hơn 30 kilômét) phát hiện có nhiều quân lính địch bu bám xung quanh đồn, đông có cả ngàn tên. Chắc chấn dây là lũ tàn binh các nơi đổ về nên tiểu đoàn quyết định nổ súng tấn công ngay trong đêm. Địch chống cự yếu ớt rồi bỏ chạy. Đơn vị truy đuổi theo, đến gần Clavo đã thấy đồn binh địch dựng trên đèo - dốc đèo hết sức cheo leo, hiểm trở, chỉ cần 1 phân đội nhỏ đã có thể chống, cản dược cả trung đoàn đối phương. Cán bộ tiểu đoàn trao đổi để tìm cách vượt qua ít thương vong nhất. Anh em thấy nên lợi dụng tình hình quân địch đang run sợ, nên phát loa kêu gọi, kết hợp hù dọa có thể địch bỏ chạy. Đúng như dự đoán, đơn vị cho một số anh em công khai đi trên đường đèo, bắc loa kêu gọi đầu hàng. Không thấy địch bắn trả mà chỉ thấy số đông địch tản chạy ra sau đèo. Cán bộ yên tâm, hối thúc quân vượt nhanh đèo, đuổi theo địch. Thực tế địch ở đây vô cùng hoảng sợ, mất hết tinh thần nên đã có ý định rút chạy từ lâu nên khi thấy xuất hiện quân ta là chúng bỏ đồn chạy ngay.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Chín, 2020, 04:49:19 pm

        Ngày 12/12 quân ta tiến vào thị xã Lai Châu - một thị xã hoang tàn, đầy xác xe cộ, kho tàng bị phá hủy trước khi rút chạy. Quân địch đã tháo chạy băng đường không từ mấy ngày trước. Chủ yếu quân địch tháo chạy là lính Âu Phi cùng quân trang, quân dụng quan trọng và toàn bộ gia đình vua xứ Thái Đèo Văn Long. Quốc vương xứ Thái do Pháp dựng lên ngay khi chiếm đóng Tây Bắc. Các đơn vị người lính địa phương vẫn còn tản trong rừng. Ở đây, Pháp đã tổ chức lực lượng chính quy được coi như quân dội của xứ Thái tự trị với tên gọi theo tổ chức của Pháp: Lực lượng tác chiến Tây Bắc (ZONO: zong opérationngl nord ouest) dưới sự chỉ huy của trung tá Trancart. Khi rút khỏi Lai Châu, y đã nhận lệnh mở cuộc hành quân Pollux để tập hợp quân lính chờ lệnh đón về Điện Biên bằng máy bay. Nhưng rồi cuộc chạy hỗn loạn khiến Trancart không sao tập hợp dược 3 tiểu đoàn dưới quyền. ZONO tan rã từ dó. Đại bộ phận quân của Trancart là người Thái nên lúc này họ chạy vào rừng cùng với gia đình họ hàng, người trong bản. Quân của Sư đoàn 316 chia nhau sục vào rừng kêu gọi binh sĩ địch ra hàng. Tiếng loa gọi hàng lại là của chính người địa phương nên rất có kết quả. Lính cùng gia đình hàng mỗi lúc một đông. Cán bộ Sư đoàn 316 nảy ra sáng kiến: tập hợp tìmg nhóm, tuyên bố thả hết số binh sĩ người Thái với yêu cầu vợ con, những người thân của số binh sĩ này hứa không để chồng con họ theo địch. Chủ trương trên được mọi người hoan nghênh. Họ đều hứa không để chồng con, người thân cầm súng giết hại lại người mình.

        Thời gian sau đã chứng minh lời hứa trên họ đã thực hiện đúng, không một người nào trong số người được phóng thích hồi đó cầm súng theo giặc.

        Sư đoàn 316 đã thành công lớn trong công tác binh vận. dân vận trong tình thế khó khăn, nan giải nảy sinh trong chiến đấu. Đơn vị dã làm tan rã và tiêu diệt 25 đại đội địch, thu nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng, lừa. ngựa mà những đơn vị biệt kích quen sử dụng.

        Chúng ta cùng lược đọc lại 1 đoạn viết của nhà báo Bernard B. Fall viết trong cuốn: "Điện Biên Phủ - một góc địa ngực" (Dien Bien Phu, un coin d’enfer) xuất bản năm 1968: "... Bây giờ chỉ còn công việc tính sổ những thiệt hại trong tuần lễ cuối cùng của cuộc đánh vận động. Khi lực lượng hành quân Pollux rời Lai Châu ngày 9/12, họ gồm 2.101 người trong đó có 3 trung úy và 34 hạ sĩ quan Pháp. Khi những người sống sót của đại đội lừa, ngựa Thái và đại đội nhẹ 428 tới Điện Biên ngày 22/12 chỉ còn 10 người Pháp, 175 lính Thái, số còn lại hoàn toàn vắng mặt khi điểm đến tên. Hơn thế nữa Việt Minh đã thu được vũ khí để có thể trang bị cho cả một trung đoàn.”

        Lúc này Trung đoàn 147 đã có mặt trên trục đường Lai Châu - Điện Biên, triển khai quân trong vùng Mường Pồn - Mường Muộn đón đánh địch từ Lai Châu chạy về. Một tiểu đoàn của Trung đoàn 98 đứng chân ở Pu San chặn đánh địch ở Điện Biên xông ra đi cứu viện.

        Cùng ngày quân của Sư đoàn 316 vào thị xã, 1 đơn vị của Trung đoàn 174 sục vào Mường Pồn phát hiện nhiều địch trụ bám ở trong bàn nên triển khai tấn công ngay, không chờ quân phía sau lên. Địch thấy ta ít nên tổ chức chống trả quyết liệt, gọi máy bay yểm trợ. Cuộc chiến đấu giằng co quyết liệt. Nhiều gương chiến đấu dũng cảm, hy sinh xuất hiện. Cán bộ chiến sĩ Đại đội 674 quyết không rời trận địa, đã cản phá thành công nhiều đợt xung phong của địch. Chiến sĩ liên lạc Bế Văn Dàn xuống truyền lệnh đại đội cho tiểu đội Chu Văn Pù đúng lúc cả tiểu đội chỉ còn 4 người, tiểu đội trưởng cầm trung liên còn đang lúng túng tìm chỗ cao đặt súng thì Đàn chạy tới cầm càng súng đặt lên vai cho Pù xiết cò, quật ngã gục hầu hết số địch hung hãn đang hò hét xung phong. Đàn đã hy sinh nhưng dã góp phần đáng kể cho trận đánh không cân sức giữa ta và địch.

        Ở Điện Biên, De Castries giao cho Langlais chỉ huy trưởng Binh đoàn Không vận số 2 (GAP 2) gồm 3 tiểu đoàn với sự hỗ trợ của máy bay kéo lên Mường Pồn đón quân rút chạy từ Lai Châu về.

        Đến trưa 11/12, binh đoàn mới rời khỏi Mường Thanh khoảng trên 20 kilômét thì vấp phải trận địa bố trí của Tiểu đoàn 888 ở Bả Tấn. Đơn vị nổ súng cản địch không cho chúng vượt qua. Trận đánh diễn ra khá ác liệt. Ta và địch giành giật nhau từng mỏm đồi, từng gốc cây. Cuộc chiến dấu kéo dài đến ngày 13/12, một bộ phận địch lọt qua, tiến đên đèo Pu San lại gặp phái trận địa Tiểu đoàn 215 cua trung đoàn chặn đánh. Địch bị chặn đánh quyết liệt không ứng cứu cho quân chúng ở Mường Pồn dang gào thét xin viện binh. Địch ở Mường Pồn cùng chỉ chống đỡ được đến cuối ngày thì bị tiêu diệt, làm cho quân viện chăng còn đối tượng để cứu nên cùng vội vã lui quân với áp lực mỗi lúc càng đè nặng lên toàn trận tuyến quân địch.

        Trận cứu viện bị đánh tả tơi cùng chung số phận như quân rút chạy. Sau này cùng chính nhà báo Bernard Fall tầm cỡ có nhiều cuốn sách viết về chiến tranh Việt Nam chống Pháp và cả trong chống Mỹ xâm lược đã tả lại: "Mặc dầu Binh đoàn Không vận số 2 đã không thực hiện được cứu nguy cho quân đồn trú ở Mường Pồn, nhưng những trận đánh đối với họ còn xa mới kết thúc. Bộ phận đi đầu do thiếu tá Le Clec và đại úy Torret vừa mới rút về hướng Đông Nam lúc 16h50 thì một hỏa lực dữ dội của quân địch (quân đội ta) bắn sâu chuỗi. Theo tường trình của GAP thì Việt Minh chẳng có máy bay quan sát cũng như đơn vị tuần tiễu điều chỉnh đường bắn mà vẫn thành công trong việc bố trí trọng pháo cách nơi những lính dù vừa hạ trại 500 mét mà giội đạn xuống họ một cách cực kỳ chính xác. Chỉ trong ít phút họ đã phải chịu tổn thất nghiêm trọng. Họ gọi máy bay đến yểm trợ, cứu nguy. Máy bay đã cứu họ khỏi bị tiêu diệt nhưng cũng bị tổn thất nặng nề... Chưa hết, đối phương (Việt Minh) không bị nút chặn Mường Pồn chặn lại nên đã đuổi bắt kịp cả GAP 2. Trưa ngày 14/12, pháo binh địch (quân ta) đã bắn vào đội hình bảo vệ phía sau chiến đoàn, đây là đơn vị của Tiều đoàn lê dương số 1. Giống như buổi sáng, Việt Minh đã tiếp cận mục tiêu thật nhanh để tránh bom, đạn của không quân oanh kích yểm hộ. Không quân tiếp tục tham chiến, nhưng lần này đã xuất hiện dấu hiệu chẳng lành. Nhiều máy bay đã trúng đạn đối phương. Đây là tóm tắt kết quả cứu viện.

        Khúc dạo đầu hùng tráng thật đẹp. Sử thi Tây Bắc có thêm trang viết mới.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Chín, 2020, 04:52:09 pm

V. TRÁCH NHIỆM NẶNG NỀ

        Thời tiết cuối đông, giá rét Tây Bắc vẫn còn lạnh buốt xương. Sương, mù dày đặc. có ngày phủ kín núi rừng một màu trắng đục, gần trưa mới lấp ló mặt trời.

        Sở chỉ huy chiến địch đặt trên một quả đồi ở bản Mường Phăng - phía Đông Mường Thanh - thổ ngữ có nghĩa là bản lạnh.

        Nơi đặt Sở chi huy ở giữa rừng dẻ với cả ngàn cây to, cao vút, cành lá sum sê. Chỉ cần đứng xa một chút là không thể nhận thấy nơi đây có nhiều lán, hầm với hàng trăm cán bộ chiến sĩ đang ngày đêm cặm cụi vận hành bộ máy chỉ đạo chiến địch, khẩn trương hoàn thành những công việc cuối cùng để giáng cho quân thù đòn chí tử.

        Hầm, lán làm việc, nghỉ ngơi của Tư lệnh chiến dịch ở lưng chừng đồi được thiết kế giản đơn nhưng đảm bảo kỹ thuật, phòng tránh được bom, đạn nổ gần. Từ hầm Tư lệnh, công binh đã đào 3 đường hào đồng tâm theo hình rẻ quạt chạy ra hầm, lán làm việc của tham mưu, của cố vấn. Vật dụng lán trại gần như thống nhất kiểu dáng, vật liệu xây dựng toàn bằng vầu chôn xuống đất làm chân bàn, chân ghế, giường, còn mặt bàn, giường cũng là vầu chẻ nan ghép thành mặt phẳng.

        Cũng từ căn hầm của Tư lệnh chỉ cần leo lên cao vài chục mét, với ống nhòm có bội số khuyếch đại lớn là có thể nhìn thấy toàn cảnh tập đoàn cứ điềm Điện Biên Phủ gần như đã được xây dựng, củng cố hoàn chỉnh sau hơn 2 tháng đổ quân xuống đây.

        Đến lúc này, các đại đoàn chủ lực đã vào địa điểm tập kết, hoàn thành cuộc hành quân đường dài vài trăm kilômét - Một hành trình có thể nói trọn vẹn, quân số đầy đủ, sức khỏe không giảm mà còn có chiều hướng tăng hơn.

        Sau nhiều chiến địch, các cấp chỉ huy đã rút được nhiều kinh nghiệm nên hành quân lần này được sắp xếp, quy định chặt chẽ từ những việc nhỏ như xếp ba-lô trên dưới ra sao để khi cần những thứ gì có thể lấy được ngay, không mất thì giờ tìm kiếm, đến nơi trú quân cần làm việc gì trước việc gì sau nên anh em có nhiều thì giờ nghỉ ngơi. Bộ phận anh nuôi hành quân theo kiểu sâu đo nên luôn đảm bảo: ăn no đủ chất, ăn nóng đã trở thành khẩu hiệu thi đua của các bếp ăn. Nhờ đó sức khỏe tăng, không cần phải tổ chức trạm thu dung để thu nạp lính ốm rơi rớt dọc đường.

        Cuộc sống tinh thần cũng được chăm lo, cải tiến. Câu hò, bài hát luôn vang lên trong lúc hành quân. Những buổi dạy hát trên đường đi được tổ chức đều dặn nên phần nào giúp anh em quên bớt mệt nhọc. Tất cả các đơn vị đều thuộc những bài hát quân hành bắt buộc. Lời ca hào hùng, thấm đậm tình nghĩa càng làm chiến sĩ ta phấn chấn rảo bước:

        Qua miền Tây Bắc, núi ngút ngàn trùng xa.
        Suối sâu, đèo cao, bao khó khăn vượt qua.
        Bộ đội ta vâng lệnh CHA GIÀ
        Vẽ đây giải phỏng quê nhà
        Đất nước miền Tây Bắc
        Đau thương từ bao lâu
        Dưới ách loài giặc tàn ác
        Quân với dân một lòng,
        Không phân biệt xuôi ngược
        Cùng về đây tiêu diệt hết quân thù ...


Tổng quân ủy họp tác chiến tại Điện Biên dưới sự chủ trì của Đại tướng Võ Nguyên Giáp


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Chín, 2020, 04:54:32 pm

        Cùng trên đường đi còn có hàng vạn, hàng vạn dân công nối bước nhau lên Tây Bắc. Một binh chủng mới xuất hiện: Đoàn quân xe thồ. Sau chiến địch, trong tổng kết đoàn vận tải này được đánh giá rất cao, hiệu quá vận chuyền chỉ đứng sau ô tô. Một xe trung bình thồ được trên 2 tạ - gấp hơn 10 lần gồng gánh trên vai. Đi dân công không chỉ là nhiệm vụ mà còn là niềm vui của bao cô gái, chàng trai. Nhiều làng, xã phai tổ chức họp bình chọn những ai được đi phục vụ. Nhiều anh chị em đã nên vợ nôn chồng sau đợt dân công1.

        Đêm đêm những ánh đuốc bập bùng soi đường kéo dài tưởng chừng vô tận. Trên bầu trời đen kịt, tiếng máy bay gầm rú gần, xa, thỉnh thoảng những chiếc đèn dù bật sáng tỏa ánh nhạt nhòa ma quái. Tiếng bom nồ gần, xa xa, đôi lúc máy bay xẹt vụt qua đầu ý như nhắc nhở mọi người cảnh giác phòng tránh quân thù bất cứ lúc nào cũng có thể trút bom, dạn xuống đầu những người ra trận.

----------------------       
        l. Đã có 300.000 dân công di phục vụ với 10 triệu ngày công. Đã vận chuyển được 26.000 tấn lương thực. Riêng Tây Bắc đã có 32.000 dân phục vụ chiến địch, đã ùng hộ 7.130 tấn gạo và 381 tấn thịt.

Đoàn xe thô trên đường vào chiến dịch


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Chín, 2020, 08:52:39 am

*

*      *

        Ngay khi lên tới Sở chỉ huy, anh Văn bắt tay ngay làm việc với các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần đề nắm tình hình thật cụ thể, chi tiết.

        Tất cả tỏ rõ quyết tâm đi vào trận đánh với tư tưởng càng đánh sớm càng tốt, có phần nôn nóng với lý lẽ địch mới đến đứng chân chưa vững, công sự sơ sài, ta có điều kiện đánh nhanh, thắng nhanh trong vài ba ngày đêm, để lâu khó đánh, thời gian kéo dài càng khó khăn cho việc cung cấp hậu cần đạn được, lương thực cho hàng mấy chục nghìn người.

        Bên cạnh lý lẽ cần phải đánh nhanh, thắng nhanh, trên còn phân tích, lập luận về khả năng đối phó địch khi chiến dịch nổ ra dựa trên phân tích chiến dịch Nà Sản không thành công năm 1952. Tất cả cho rằng ta chỉ đánh một vài vị trí riêng lẻ nên địch có điều kiện huy động lực lượng ở quanh đó ứng cứu và tập trung hỏa lực phi pháo đối phó, ngăn chặn tấn công của ta có hiệu quả. Nay ta thay đổi cách đánh: huy dộng toàn lực ồ ạt tấn công đồng loạt tất cả các vị trí địch buộc chúng không thể dứt điểm theo yêu cầu đặt ra.

        Qua báo cáo của anh Thái thể hiện rõ Tham mưu trưởng rất đồng tình chủ trương đồng nhất giữa bộ phận chuẩn bị chiến trường có cố vấn đi cùng với bộ chỉ huy tiền phương. Tư lệnh các đại đoàn cũng tán thành chủ trương trôn. Anh Thái chỉ đề nghị cần bổ sung thêm lực lượng cho pháo binh, đưa pháo vào trận địa là có thể nổ súng vào ngày 20/1/1954 (thực tế phải lùi lại đến 25/1/1954 do pháo vẫn chưa vào được vị trí đã định). Mặc dầu thấy kế hoạch có nhiều điều không ổn nhưng thấy đây là quyết định tập thể nên anh vẫn đồng ý cho tiến hành theo dự kiến. Anh chấp nhận cử anh Lê Trọng Tấn cùng anh Phạm Ngọc Mậu xuống tăng cường chỉ huy, điều khiển công việc vô cùng khó khăn này. Anh Đỗ Đức Kiên - Trường phòng tác chiến cùng một số cán bộ tham mưu cùng được điều xuống tăng cường kiểm tra, đôn đốc.

        Qua nhiều ngày tìm hiểu, tiếp xúc với cán bộ, với nhiều câu hỏi đặt ra, anh em đều không lý giải được mà chỉ loanh quanh nhừng lý lê dã nêu ở trên. Riêng anh Tấn nêu nhiệm vụ của đơn vị đánh vào khu trung tâm phải phơi mình đột phá liên tục 3 đợt hay anh Phạm Kiệt - phụ trách bảo vệ - nêu ý nhận xét: "Pháo ta đặt trên địa hình trống trải nếu bị phản pháo hoặc phi cơ oanh tạc khó tránh khỏi thương vong, tồn thất lớn".

        Tình hình trên làm anh suy nghĩ, trăn trở ngày đêm vẫn chưa tìm ra lời giải thỏa đáng, giải quyết những nhược yếu của ta, chống chỗ mạnh của địch. Anh rất dồng tình về đánh giá tinh thần, tư tưởng của bộ đội rất cao, ý chí quyết đánh, quyết thắng rất tốt. Có yếu tố rất quan trọng trên cũng chưa đủ, để giành thắng lợi cần phải có chủ trương đúng, biện pháp hay mới đảm bảo thành công.

        Anh đã nhiều lần leo lên quan sát nơi đóng quân của địch thấy vị trí địch đóng dày đặc, xen cài lẫn nhau, có công sự bao cát nổi lên quanh nơi đóng quân cùng với nhiều lớp rào dây thép gai chi chít đâu có sơ sài như nhiều đồng chí đánh giá. Tình hình trên cho thấy cảm nhận của anh khi mới nghe báo cáo có cơ sở thực tế, anh thấy phải thay đổi tư tưởng, chỉ đạo tác chiến cũng như phương châm chiến đấu nên cần tranh thủ đồng tình của đồng chí Vi Quốc Thanh - Trưởng đoàn cố vấn - rồi quyết định triệu tập họp đảng ủy.

        Ngày 26/1/1954, đông đủ đảng ủy viên dự, anh báo cáo tóm tắt tình hình và suy nghĩ của anh về những yếu nhược điềm của bộ đội ta và chỗ mạnh của địch, nhấn mạnh:

        - Đến lúc này bộ đội ta mới có khả năng đánh công kiên diệt được 1 tiểu đoàn tăng cường như đã thắng ở Nghĩa Lộ, nhưng loại như thế không nhiều. Ngay trận công kiên đánh cụm phòng ngự Nà Sản hồi đầu năm 1952, ta cũng chỉ đánh thắng được vị trí có trên dưới 1 tiểu đoàn địch. Thực tế có trận thắng, trận không. Thương vong, thiệt hại của ta lớn hơn địch.

        - Hiện quân ta chưa quen tác chiến hợp đồng binh chủng quy mô lớn và cũng chưa diễn tập bao giờ nên nhiều cấp còn rất bỡ ngờ chưa biết hợp đồng ra sao vì vậy có hiện tượng chỉ huy trung đoàn xin trả lại pháo phối thuộc.

        - Nhìn chung bộ đội ta chỉ quen tác chiến ban đêm rất ít đánh ban ngày nay phải tác chiến hoàn toàn ban ngày, phơi đội hình chiến đấu trên địa hình bằng phẳng rộng cả trên 100 kilômét vuông nên chưa biết ước tính số thương vong của ta sẽ là bao nhiêu...

        Sau khi nhắc lại ý Bác: Phải đánh cho thắng, - Chắc thắng mới đánh, không chắc không đánh, anh Văn đặt vấn đề: Các đồng chí có đảm bảo trận đánh sẽ thắng 100%? Không đồng chí nào dám khẳng định, chỉ thống nhất trận đánh gặp nhiều khó khăn mà ta chưa tìm được biện pháp khắc phục.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Chín, 2020, 08:54:08 am

        Cuối cùng anh kết luận: Chúng ta không, thể giành thẳng lợi với bất cứ giá nào vì phải giữ gìn vốn liếng cho cuộc chiến đấu lâu dài đồng thời đảm bảo nguyên tắc cao nhất đánh chắc thắng cần chuyển phương châm tác chiến từ "Đánh nhanh thắng nhanh” sang “Đánh chắc tiến chắc”. Nay quyết định hoãn cuộc tấn công, lệnh cho bộ đội lui về khu vực tập kết, kéo pháo ra. Công tác tư tưởng phải đảm bảo triệt để chấp hành lệnh trên. Anh Thái đảm nhiệm truyền lệnh trên cho các đơn vị bộ binh, còn anh trực tiếp giao nhiệm vụ cho pháo binh, đồng thời gọi Sư đoàn 308 lên nhiệm vụ đánh địch ở Thượng Lào, cắt đứt mọi con đường nối cụm cứ điểm Điện Biên với kinh đô Luangprabang của vương quốc Lào - nơi quân Pháp đang có cuộc hành quân xung quanh vùng Nậm Hu - do trung tá Vaudrey chỉ huy với yêu cầu lập đồn, bốt tạo thành hành lang Lào - Việt (cuộc hành binh đã được triển khai ngay sau ít ngày Pháp đổ quân xuống cứ điểm ở Điện Biên).

        Đại đoàn 308 chấp hành nghiêm chỉnh, lệnh các đơn vị trực thuộc khẩn trương hành quân. Đến sốp Nạo đã phát hiện địch ở Mường Khoa bỏ chạy về phía Mường Sại - Luangprabang. Đơn vị chia làm 2 cánh quân: 1 cánh do anh Vũ trực tiếp chỉ huy, 1 cánh giao anh Khánh đảm nhiệm. Cả 2 cánh bôn tập đuổi địch. Một cuộc dượt đuổi kỳ lạ mà sau này nhiều báo chí Pháp đã thuật lại với những nhận xét mỉa mai, châm biếm ngộ nghĩnh: “Cuộc săn đuổi chưa từng có ở bán đảo chữ s, những thợ săn xua đàn thú tán loạn..."

        Tin sư đoàn thép xuất hiện đã làm địch hoảng sợ, một số đồn bỏ chạy, một số bị đánh chỉ chống cự qua loa rồi tháo chạy thục mạng. Chỉ hơn 10 ngày, Đại đoàn 308 đã tiêu diệt làm tan rã hơn 17 đại đội, giải phóng toàn bộ vùng Nậm Hu.

        Đại đoàn không chỉ lập công xuất sắc mà còn thực hiện trọn vẹn mưu lược nghi binh của Bộ chỉ huy chiến địch đồng thời thu hút hỏa lực phi pháo giúp cho pháo binh ta thực hiện bố trí lại trận địa theo kế hoạch mới.

        Sự xuất hiện của Đại đoàn 308 ở Thượng Lào cùng với những bức điện ở nhiều hướng phát trên không đã làm cho nhiều tướng lĩnh Pháp hoảng sợ, không hiểu mưu đồ đối phương định làm gì đây? Đánh, chiếm kinh đô Lào, hay chuyển quân về đồng bằng... Cùng thời gian này các hướng tấn công của ta ở Trung Hạ Lào, ở Tây Nguyên cũng đã nổ súng, nhiều nơi thắng lợi lớn, đang phát triển thuận lợi khiến địch càng hoang mang, không xác định được ý đồ thật của ta lúc này là gì? Điện Biên có còn là mục tiêu tấn công chính nữa không?

        Đại đoàn 308 tiến đến cách Luangprabang khoảng hơn 20 kilômet thì nhận được lệnh Bộ chỉ huy dừng tiến quân, bí mật quay trỏ lại Điện Biên.

        Một màn hợp xướng, đồng ca thật hoàn hảo.
Chuyển pháo vào trận địa với khối sát thép hơn 2 tấn trên đường rừng làm gấp, gồ ghề đất, đá, rồi vượt qua suối sâu, đèo cao thật vô cùng vất vả không chỉ đổ mồ hôi, công sức mà cả máu xương không ít đồng đội ngã xuống để đảm bảo an toàn cho pháo. Đưa pháo vào đã khó. kéo pháo ra còn khó khăn hơn nhiều. Nhưng tất cả đều phải khuất phục trước ý chí quyết tâm của con người, của anh lính cụ Hồ.

        Lập trận địa pháo mới lần này pháo binh ta có thuận lợi rất lớn, đã được cấp bản đồ địa hình tỷ lệ 1/25.000 -  một bản đồ lý tưởng cho mọi cán bộ quân sự trong tác chiến.

        Có được tấm bản đồ này là công của lính trinh sát. Sau nhiều ngày đêm luồn, bám xung quanh vị trí địch, phân đội trinh sát do anh Trần Văn Phận phụ trách gồm 6 người quyết định chuyển sang phía Đông Mường Thanh - nơi có nhiều cây um tùm, dễ ẩn nấp để tiện tiềm nhập điều tra sân bay và phục kích bất tù binh trên xe Jeep thường chạy từ Mường Thanh xuống Hồng Cúm, chiều tối mới trở về theo lệnh của tiểu đoàn.

Quân ta kéo pháo vào trận địa


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Chín, 2020, 08:54:45 am

        Ngày 24/12, như thường lệ, nhiều máy bay vận tải bay lượn thả dù tiếp tế, đặc biệt hôm nay lại có chiếc dù đỏ dưới buộc lủng lảng mấy hòm to. Phận nhắc anh em chú ý nhớ nơi dù rơi để đêm bò ra nhặt về. Lính Pháp ào ra thu dù, có lẽ không để ý tới chiếc dù đỏ nên chúng chỉ thu nhặt những dù gần đường đi. Tối đến Phận cùng anh em bò ra thu về một hòm gỗ rất nặng và 1 hòm sắt.

        Mở hòm gỗ ra chỉ thấy toàn thức ăn, còn mở hòm săt trong có 25 tấm bản đồ tỷ lệ 1/25.000 cả vùng lòng chào Điện Biên và 32 tấm khung ảnh. Cả phân đội mừng quá nên cử người mang về ngay trong đêm. Kẻ địch cũng đã tính toán, lo xa sợ dù bay ra vùng Việt Minh nên đã buộc thêm hòm hàng nặng, nhưng rồi vẫn rơi vào tay lính cụ Hồ.

        Anh Cao Pha - Trưởng phòng trinh sát mặt trận, anh Thái nhận được của quý trên rất mừng, cho sĩ quan tham mưu lấy xe mang về hậu cứ cho in ấn nhiều bản để cấp phát cho đơn vị. Có bản đồ trên, pháo binh đỡ rất nhiều công sức tìm địa thế mặt trận, chỉ còn lo kéo pháo vào và cấu trúc trận địa.

        Được sự giúp đỡ của các Đại đoàn 312, 316 và một số đơn vị bộ binh, chi trong 20 ngày đã làm được 6 trục đường cho pháo, tổng cộng dài trên 70 kilômét vượt qua bao đèo, dốc hiểm trở, nối liền từ Đông lên phía Bắc Mường Thanh - nơi đặt pháo có thể bắn đến vị trí xa nhất của địch: Hồng Cúm.

        Xây dựng hầm pháo rất tốn nhiều công sức. Hầm nằm sâu trong lòng núi, có công sự bắn, công sự ẩn nấp. Nắp hầm dày trên 3 mét gồm nhiều lớp gỗ, đất đủ sức chịu đạn 105 ly. Cứ 4 khẩu đội lại có hầm chỉ huy, hầm chứa đạn. Ngoài ra có hầm họp và cũng là nơi vui chơi, xả hơi của pháo thủ. Các hầm có giao thông hào nối liền với nhau. Nhưng trận địa giả cùng được chú ý kiến tạo đảm bảo an toàn cho các pháo thủ làm nhiệm vụ nghi binh, lừa địch.

        Việc xây dựng hầm hào tạo dựng lên trận địa bao vây địch cùng được tiến hành khẩn trương cùng với xây dựng trận địa pháo. Các đơn vị đều được phân công cụ thể đào những chiến hào cần thiết phục vụ trực tiếp cho nhiệm vụ tấn công của đơn vị sau này. Bộ tham mưu đã tiến hành đào thí điểm rồi rút kinh nghiệm phổ biến cho các đơn vị. Tất cả phải đạt yêu cầu phục vụ thiết thực cho chiến đấu khi tiếp cận địch, cho bộ đội nghỉ ngơi, đảm bào sinh hoạt bình thường và lâu dài của mọi người, cho cả việc cơ động sơn pháo, di chuyển thương binh... Tất cả hầm, hào các đơn vị xây dựng xong gộp lại hình thành một hệ thống hào, hầm lớn, nhỏ vừa mang tính tấn công, vừa mang tính phòng ngự với chiều dài ước lượng hàng mấy trăm kilômét. Trong quá trình chiến dấu, hầm, hào được củng cố mở rộng thêm như hàng ngàn vòi bạch tuộc bám chặt quân thù, không cho chúng ngọ nguậy, tìm đường tháo chạy.

        Chỉ còn ít ngày nữa là bước sang năm mới, mở đầu năm mới sẽ là trận đánh quyết liệt, kết thúc số phận kẻ thù. Về ta chắc sẽ thương vong, mất mát không nhỏ. Nghĩ đến những điều trên, anh Văn thấy lòng mình se lại, buồn vui lẫn lộn. Đã nhiều giờ ngồi lặng yên, ngắm nhìn bản đồ tình huống trên bàn, anh thấy xót xa nghĩ đến sắp tới sẽ không còn thấy những nét mặt thân thương đã cùng anh chia sè ngọt, bùi, cay đắng trên con đường dài đấu tranh giải phóng đất nước.

        Người Anh Cả quân đội thấy xót xa, đau buồn khi nghĩ đến sự mất mát của đồng đội, đồng chí của mình. Một sự đau buồn thật đáng kính biết bao.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Chín, 2020, 08:55:59 am

       
VI. KẾT THÚC HUY HOÀNG

        Sau nhiều ngày chuẩn bị. Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định lấy ngày 13/3/1954 là ngày mở màn chiến dịch. Mục tiêu đợt đầu diệt toàn bộ khu phòng thủ phía Bắc gồm 3 cụm cứ điểm: Him Lam, đồi Độc Lập và bản Kéo với lực lượng phòng giữ gần 1 trung đoàn.

        Trước giờ khai hỏa. bộ binh và xe tăng địch từ Mường Thanh kéo lên đánh vào trận địa xuất phát xung phong của ta. Sợ địch phá mất hào đứng chân của đơn vị nổ súng nên Bộ chỉ huy lệnh cho pháo tập kích 20 quả vào ngay Him Lam. Đạn rơi trúng đích, phá hoại nhiều công sự địch, khói bụi mù mịt trùm lên toàn bộ đồn địch khiến địch vừa kéo lên hoảng sợ quay tháo chạy về Mường Thanh.

        17 giờ ngày 13/3, pháo cối của ta đồng loạt dội bão lửa vào tập đoàn cứ điểm địch.

        Ngay những loạt đạn đầu tiên đã tiêu diệt toàn bộ Bộ chỉ huy cứ điểm Him Lam, phá hủy điện đài, cắt đứt mọi liên lạc với bên ngoài. Những loạt đạn tiếp theo dồn dập rơi trúng đích làm toàn bộ quân địch hoảng sợ chúi đầu trong công sự. Hạ sĩ quan Kubiak1 - người còn sống sót sau đợt pháo của ta - đã viết bài đăng trong báo “Kêpi trắng" số ra tháng 10/1962 dưới tiêu dề: "Cuộc hành binh Castor... Verdum 1954": “Vào lúc đó, dập một cái ngày tận thế đã đến... Him Lam bay đi tan thành bụi. Quanh tôi đất đá tung lên, những người lính lê dương gục xuống, bị thương và chết nằm la liệt. Tất cả đều kinh ngạc và tự hỏi không biết Việt Minh lấy đâu ra mà nhiều pháo thế, có thể bắn mạnh đến thế. Đạn đại bác trút xuống không ngừng như một trận mưa đá bất thần buổi chiều thu, lô cốt, đường hào nối tiếp nhau đổ bẹp, chôn vùi người và vũ khí..."

        Cụm Him Lam có 3 cứ điểm đánh số 1,2,3. số 1 là mạnh nhất. Trong khi pháo ta cấp tập, sơn pháo đã kéo sát cứ điểm 3 nhả đạn trực tiếp vào lô cốt, phối hợp với đánh bộc phá mở quét hàng rào cho xung kích ào vào cứ điểm, chia nhau diệt quân phòng giữ. Trận đánh kết thúc chớp nhoáng chỉ sau 1 giờ, Đại đội lê dương 2 bị tiêu diệt.

        Cứ điểm số 2, ta vừa mở xong cửa mở, địch trút đạn xuống ngăn chặn xung kích ta. Cuộc chiến đấu giằng co đến mươi phút, nhiều gương chiến đấu dũng cảm xuất hiện, ta vẫn chưa dập tắt được hỏa điểm địch để cho xung kích xung phong. Tiểu đội trưởng Phan Đình Giót

        trườn lên tiếp cận lô cốt địch cùng là lúc hết đạn, hết lựu đạn nên lao người bịt lỗ châu mai, bịt luôn cả họng súng địch, tạo điều kiện cho đồng đội xung phong vào trong cứ điểm diệt địch. Chiến sự chấm dứt sau gần 5 tiếng.

        Trận đánh ở cứ điểm 1 gay go hơn cả, phải kéo dài đến 23 giờ 30 phút mới kết thúc. Một số lính chạy thoát vào rừng. Như vậy toàn cụm Him Lam bị tiêu diệt ngay trong đêm 13/3.

        Được Bộ chỉ huy mặt trận cho phép, Đại đoàn 312 đã cho viên trung úy Turkin mang thư cho De Castries cho phép y cử người ra thu lượm xác, thương binh. 9 giờ 30 phút sáng 14/3, viên đại úy - bác sĩ Le Demany dẫn theo một số binh sĩ đến xin nhận thương binh. Quân lính tận mắt thấv cảnh Him Lam tan hoang, tất cả chỉ còn là đống đất đá đồ nát với hàng trăm xác chết. Tất cả lầm lũi nhặt tìm xác đồng đội với nét mặt hoảng sợ, lo âu.

        Cụm cứ điểm Độc Lập nằm trên đồi dài, rộng 500x200 mét, trơ trọi không một bóng cây chỉ thấy dầy đặc hào, dây thép gai. Trời mưa, đường lầy lội nên sơn pháo đến chậm lại bị bom đánh trúng trên đường di chuyển, một số pháo thủ hy sinh, phải tổ chức lại đội hình nên mãi 3 giờ 00 sáng hôm sau mới nổ súng đánh địch. Pháo ta đánh trúng hầm chỉ huy, cả 2 tiểu đoàn trưởng, phó của địch bị thương. Cuộc chiến đấu kéo dài tới 6 giờ 00 mới hốt gọn 483 lính địch, bắt trên 200 tù binh. Tiểu đoàn lê dương Bắc Phi bị xóa sổ.

        Phía Bắc chỉ còn lại Bản Kéo do 1 tiểu đoàn Thái đóng giữ. Cứ điểm có 4 vị trí, trong đợt này ta chủ trương chỉ đánh 2 vị trí ở ngoài cùng.

        Trung đoàn 36 được giao nhiệm vụ diệt cứ điểm này thấy binh sĩ Thái có nhiều biểu hiện mất tinh thần khi tận mắt thấy 2 cụm cứ điểm do các đơn vị lê dương sừng sỏ đóng giữ mà còn bị đối phương đánh tan nát, nên chủ trương đẩy mạnh binh vận kêu gọi binh lính Thái đầu hàng, rồi sẽ cho về như đối với lính Thái ở thị xã Lai Châu trước đây. Để tăng thêm hiệu lực, đơn vị cho 1 lính người Algérie bị thương mang thư gửi cho chỉ huy cứ điểm cho phép đưa người ra thu nhận thương binh.

---------------------
        1. Sau giải ngũ, ông ta là nhà báo đã viết bài thuật lại trận đánh trên.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Chín, 2020, 08:56:26 am

        Sáng 16/3, đúng giờ hẹn một số lính ra nhận thương binh được ta băng bó cẩn thận. Thương binh Âu Phi cảm động, giơ tay vẫy chào, hô khẩu hiệu: “Hồ Chí Minh muôn năm... Cảm ơn nhiều..." ầm vang cả khu đồi. Hình ảnh trên tác động lớn đến binh sĩ người Thái.

        Sáng 17/3, binh lính địch kéo lên gặp chỉ huy đòi giải tán làm tên đại úy Clarchambre hoảng sợ phải cho mở cửa đồn với ý định kéo quân về trung tâm, nhưng lính vừa ra khỏi đồn đã bảo nhau chạy ùa vào rừng làm bọn chỉ huy không còn cách ngăn cản nào khác là gọi pháo bắn đuổi theo.

        Như vậy thực tế đợt 1 chỉ diễn ra trong 5 ngày, ta đã diệt được toàn bộ các cụm cứ điểm phía Bắc mặc dầu địch đã dội trên 6.000 đạn pháo, cối để yểm trợ cho quân phòng giữ. Thất bại thảm hại khiến viên đại tá Piroth - chỉ huy trường pháo binh đã tự sát bằng 1 trái lựu đạn.

        Báo cáo dự thảo nội dung đợt 2 của anh Văn đã được Đảng ủy mặt trận thông qua với xác định giai đoạn 2 có ý nghĩa quyết định nên thời gian kéo dài để hoàn thành một số nhiệm vụ cấp thiết.

        Xây dựng trận địa tấn công, vây hãm địch kết hợp tiêu diệt một số cứ điểm để tạo chỗ đứng chân cho đợt tiếp theo.

        Khống chế sân bay, không cho hạ cánh. Bố trí trận địa phòng không để thu hẹp vùng trời, buộc địch phải bay cao thả dù, độ tản mát rất lớn, hạn chế tiếp tế của địch đồng thời tăng thêm khả năng thu đồ địch tiếp tế để cho ta.

        Các đại đoàn được phân công xây dựng hào trục nối liền với nhau hình thành vòng vây khép kín khu trung tâm và chia cắt, cô lập luôn khu Nam Hồng Cúm. Từ các đường hào trục, các đơn vị đào các hào nhánh vào sát các cứ điểm được phân công tiêu diệt. Các hào che giấu quân, giảm bớt thương vong đối với hỏa lực bắn thẳng của đối phương đồng thời chuẩn bị giáng cho địch những đòn đánh hết sức bất ngờ.

        Các trục hào chính sâu, rộng đảm bảo di chuyển thương binh, cơ động vũ khí nặng như sơn pháo, DKZ, triển khai binh lực lớn... Các đơn vị khẩn trương thực hiện nên chỉ sau mươi ngày đã hoàn thành về cơ bản. Cuộc chiến không ồn ào tiếng súng nhưng vô cùng gian khổ, có lúc phải trả bằng xương, máu. Lính ta phải lao động hơn 10 tiếng trong ngày. Địa hình phức tạp, lúc hào chạy qua đồi toàn đá, sỏi, lúc lại băng qua ruộng lầy, bùn nhão. Mùa mưa đến sớm càng làm chiến sĩ ta thêm gian nan, vất vả. Có chỗ bùn nước ngang thắt lưng phải lấy mũ sắt xúc đất bùn đổ đi rồi đan phên che chắn sụt lở. Hào vào gần cứ điểm địch là lúc không còn giữ được bí mật. Địch phản ứng điên cuồng. Ngoài dùng hỏa lực cầu vồng phá hủy còn dùng bộ binh đánh ra phá hào với quy mô từ vài tiểu đội đến cả tiểu đoàn cùng với xe tăng, xe ủi đất. Tất cả phản ứng của địch trước nguy cơ thòng lọng thít cổ chỉ làm cho bộ đội ta thêm vất vả nhưng càng khẳng định thêm tác dụng hào che chắn cho lính ta giảm bớt thương vong ở mức độ không nhỏ.

        Dựa vào địa hình, tầm quan trọng các cứ điểm có thể chia khu trung tâm của tập đoàn cứ điểm làm 2 khu vực:

        Cụm cứ điểm phía Đông có tới 11 cứ điểm hầu hết ở trên đồi cao có khả năng khống chế một vùng rộng lớn xung quanh trong đó A1 là quan trọng nhất chỉ cách Sở chi huy của De Castries trên 500 mét. Địch cũng thấy được ý nghĩa sống còn của cụm này nên tổ chức phòng thủ rất mạnh.

        Cụm phía Tây có 10 cứ điểm, địa thế ít hiểm trở hơn.

        Sau mấy ngày chuẩn bị, ta đồng loạt tấn công một loạt cứ điểm, Trung đoàn 98 của anh Vũ Lăng đã diệt 140 lính Ma-rốc ở C1 đúng như lời hứa với Bộ chỉ huy. Đồi E cũng bị Trung đoàn anh Quang Tuyến diệt trong 1 giờ 45 phút. Cứ điểm D1 có chật vật hơn, mũi chính thọc sâu tốt, đã chia cắt địch thành tìmg mảnh để diệt, nhưng hướng phụ. giao thông hào bị pháo phá hủy một đoạn gần 50 mét nên tiến quân lên bị hỏa lực địch bắn cản, loay hoay cả giờ sau mới đột nhập vào sâu trong cứ điểm, kết thúc trận đánh trong 2 tiếng đồng hồ.

        Riêng A1 rất khó khăn. Địa hình hiểm trở, địch đã chia tuyến phòng thủ ra làm 3 tuyến: tuyến ngoài cùng lại là tuyến chống cự chủ yếu, rồi tới tuyến 2 đặt hỏa lực cầu vồng, cuối cùng mới là đỉnh đồi đặt Sở chỉ huy cứ điểm. Tất cả hào, hầm đều có nắp đậy, chịu được hỏa lực pháo.

        Gần đến giờ nổ súng đường điện thoại bị đứt, Trung đoàn trường Nguyễn Hữu An tìm mọi cách nối lại liên lạc nhưng không được nên cả giờ sau mới cho nổ súng. Phải mất thêm cả nửa giờ mới dọn xong cửa mở cho các mũi xung phong. Lúc này địch đã hoàn hồn, chống cự quyết liệt. Nhiều lần ta đánh xẹp được hỏa lực địch, khi tiến lên gần đỉnh đồi thì lại xuất hiện hàng loạt ổ đề kháng xả đạn như mưa rào. Ta thương vong nhiều mà không sao tiếp cận đỉnh đồi. Ta, địch giằng co từng mỏm đất, từng hố, hào. Gần sáng ta. địch mỗi bên chiếm nửa đồi. Địch ở cửa cao có lợi thế hơn ta.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Chín, 2020, 03:57:47 pm

        Trung đoàn 98 sau khi chiếm được Cl, phát triển xuống C2 gặp khó khăn không làm chủ được cứ điểm. Nhìn chung thương vong nặng nề, đại đoàn phải thay quân đưa Trung đoàn 102 vào chiến đấu thay, Trung đoàn 174 và Trung đoàn 98 lui về phía sau củng cố.

        Trung đoàn 102 cũng không đánh chiếm được đỉnh đồi, lại rơi vào tình trạng như Trung đoàn 174. Cứ dồn địch đến gần đỉnh đồi thì chúng lủi mất tăm nhưng ta tiến lên gần chúng lại xuất hiện trong công sự bắn cản có hiệu lực mọi mũi tấn công của ta. Trận đánh kéo dài không có lợi cho quân ta. Trung đoàn 174 xin trở lại đánh chiếm A1 nhưng chuyển sang phòng ngự, kiên quyết giữ bằng được những nơi đã chiếm được chờ thực hiện kế hoạch tìm hiểu kỹ hơn cái gọi là hầm ngầm trên đỉnh A1 và thực hiện đào hào ngầm đánh bộc phá như đã được Bộ chỉ huy mặt trận chấp thuận.

        Sau nhiều lần xuống thăm các đơn vị cùng với phản ảnh của tham mưu, chính trị, anh Văn quyết định triệu tập bí thư Đảng ủy từ cấp trung đoàn trở lên về họp. Trong hội nghị anh Văn nêu bật hiện tình ta, địch. Địch đã bị dồn vào thế khó khăn nhưng ta cùng không ít trở ngại. Bộ đội đã trải qua hơn 5 tháng hành quân, chiến đấu, sức khỏe có phần sút kém, trong khi đó một số chỉ huy xem nhẹ đời sống tinh thần, vật chất cho bộ đội, thiếu sự chăm sóc cần thiết. Một số biểu hiện xấu đã xuất hiện như ngại chiến đấu, ngại hy sinh, sợ ác liệt, muốn nghỉ ngơi... cần nhanh chóng khác phục. Một loạt chủ trương, biện pháp khắc phục đã được đề ra, mọi người đều tỏ quyết tâm khẩn trương thực hiện. Đợt chỉnh huấn ngắn, gọn đã được triển khai rộng khắp cùng với thư kêu gọi của anh Văn gửi toàn thể cán bộ chiến sĩ.

        Cùng chỉnh huấn, phong trào thực hiện 3 tốt cũng được triển khai: Ăn tốt, ngủ tốt, đánh tốt đã gây không khí hào hứng, phấn khởi toàn mặt trận. Phong trào thi đua diệt giặc được đẩy mạnh, đều khắp.

        Để nâng cao chất lượng bữa ăn cho lính, hậu cần các cấp cũng chia nhau đi tìm kiếm nguồn hàng thực phẩm: sữa, đường, thịt muối... Các phân đội nhắc nhở lính ta tự tìm thêm rau xanh để tăng thêm chất tươi cho lính. Các cánh rừng xung quanh đúng là nguồn rau vô tận, lính ta tìm, phát hiện rất nhiều cây, con ăn được, đặc biệt củ mài. Đã có danh hiệu tự phong đùa với nhau như ‘‘Vua củ mài” đã đào được nhiều củ để làm nhiều món ăn. Hầm hào cũng được sửa sang tươm tất hơn trước rất nhiều. Tổ 3 người đã có hốc nằm ngồi duỗi chân thoải mái, xung quanh có dù che, rải làm đệm. Bếp ngầm Hoàng cầm cũng ra đời để anh nuôi đun cơm, nấu nước cho bộ đội ăn nóng, uống nóng đều đều ngày 2 bừa. Về tinh thần các phân đội đều có báo, bản tin, truyện từ hậu phương gửi lên. Đọc sách, xem báo, chơi tulơkhơ đã thành thói quen sinh hoạt hàng ngày của các tổ. Mấy ngày 1 lần lính ta thay phiên nhau về phía sau tắm giặt, nghỉ ngơi.

        Các đội điều trị cũng được tăng cường các bác sĩ giỏi nhất để săn sóc thương tật cho thương binh. Nơi điều trị có vải trắng, dù hoa căng kín chỗ trông rất “sang", như bệnh viện dưới xuôi. Tất cả đã góp phần bình thường hóa đời sống của lính ta ngoài mặt trận. Phong trào thơ ca cũng nở rộ như hoa ban Tây Bắc. Xuất hiện những bài thơ hay, dí dỏm:

        Lính Tây lận đận reo neo
        Đồn Tây ảm đạm cờ treo rủ buồn
        Ngoài này anh Vệ thật tươm
        Có thức ăn lại có cơm nóng đều
        Trong khi lính địch tiêu điều
        Một ngày 2 lạng trôi vèo hết ngay
        Anh có nước uống đủ đầy
        Lính địch chi cỏ một ngày một ca.

        Lời kêu gọi của Tư lệnh mặt trận đã được thực hiện nghiêm túc. Các đường hào bám sát các cứ điểm địch, có mùi hào xuyên ngầm dưới hàng rào dây thép gai của địch chỉ đến lúc quân ta nhô lên địch mới phát hiệnđược thì đã muộn. Các cứ điềm 105 (H6), 106 (H7) lần lượt bị tiêu diệt khá gọn. Ở phía Bắc còn trơ lại 206 (H1). Cùng như những đêm trước, đêm 22/4, bộ đội ta dùng các phân đội nhỏ đánh cứ điểm 206. Ba mũi nhọn đột nhiên dưới đất nhô lên. giật đổ 3 lô cốt đầu cầu rồi xông thẳng vào khu trung tâm cứ điểm đánh, diệt địch... Ngay sau đó được tiếp thêm 2 trung đội nên chỉ khoảng gần một tiếng ta đã tiêu diệt bắt sống gần 180 lính lê dương. Thương vong của ta không đáng kể. Những trận đánh diệt toàn bộ cứ điểm phía Bắc, thọc sâu chia cắt sân bay Mường Thanh càng nói lên hiệu quả chủ trương, biện pháp đánh lấn. Các đơn vị đã sáng tạo nhiều kiểu đào hào, nhiều cách đánh lấn càng phong phú thêm chủ trương đào hào đánh lấn.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Chín, 2020, 03:59:30 pm

        Sớm 23/4, mấy tàn binh trốn về báo cho De Castries biết cứ điểm 206 bị thất thủ làm De Castries bàng hoàng, quyết định huy động 4 tiểu đoàn cùng phi, pháo yểm trợ phản kích giành lại H1 - vị trí có ý nghĩa sinh tử với trung tâm. Bom đạn dội xuống như mưa, sau đó bộ binh có xe tăng đi cùng xông lên với hy vọng chiếm lại được, nhưng tất cả bị quân ta đẩy lùi. Có đợt xung kích địch đã đẩy lùi được ta về phía sau, Tiểu đoàn trường tiểu đoàn 23 phải gọi pháo cấp tập ngay xuống nơi ta vừa bị đẩy lùi.

        Toàn bộ Mường Thanh run lên bần bật dưới hỏa lực của cả ta lẫn địch. Phòng không ta bắn rơi tại chỗ 1 máy bay ném bom, chúng bốc cháy đâm dầu xuống đất bốc lên một cột khói đen mù mịt.

        Cuộc phản kích đã bị đại bại với con số thương vong hơn 2 tiểu đoàn. Bom đạn được sử dụng ác liệt nhất kể từ đầu chiến dịch. Đây cũng là nỗ lực lớn nhất cuối cùng. Sau này sách báo Pháp đã gọi đây là trận đánh “Cuộc chiến Huguette" (La bataille des Huguette) đã cướp đi lực lượng ứng chiến cuối cùng của tập đoàn cứ điểm Điện Biên

        Ở đây cần nói thêm: trước tình hình tập đoàn cứ điểm hấp hối các quan chức cao cấp Pháp - Mỹ liên tiếp họp bàn biện pháp cứu nguy kể cả tính đến chuyện dùng bom nguyên tử cỡ nhỏ. Nội bộ chính giới Mỹ bị phân hóa, nhiều nhân vật chủ chốt không tán thành dùng biện pháp “cứng rắn” vì sợ bị sa lầy như cuộc chiến tranh Triều Tiên. Cuối cùng Tổng thống Mỹ cũng chỉ làm được việc gửi điện ca ngợi, cổ vũ tướng Đe Castries cố thủ và giúp Pháp ít máy bay ném bom, cường kích cho cuộc đấu ở Điện Biên với hy vọng mong manh cứu tập đoàn cứ điểm khỏi thảm họa bị tiêu diệt.

        Bắn tỉa đã phát huy tích cực trong bao vây, đánh lấn. Một phân đội giữ một đoạn hào sát cứ điểm địch đã bắn tia diệt cả trăm địch trong thời gian 10 ngày tương đương với số địch bị tiêu diệt trong 1 trận cồng đồn. Cụm Hồng Cúm ở phía Nam cùng bị vây ép chặt. Sân bay bị ép, khoảng không bị thu hẹp theo đúng chỉ đạo của trên, máy bay thà dù tiếp tế phải bay cao nên dù rơi tản ra xung quanh rất lớn, Trung đoàn 57 được giao nhiệm vụ vây lấn Hồng Cúm đã thu được 776 dù hàng trong 1 tuần, số hàng cần phải có trên dưới 30 máy bay vận tải.

        Ngay những đêm đầu nổ súng đợt 3 ta đã tiêu diệt 4 cứ điểm trong đó có 3 cứ điểm ở phía Đông, 1 ở phía Tây.

        Chiều tối 4/5, pháo ta đồng loạt cấp tập vào nhiều khu phòng thủ địch. Một kho đạn trên 3.000 quả nổ tung1, 1 kho lương thực bốc cháy. Pháo ta ngừng bắn, tất cả các đơn vị bộ binh đồng loạt tấn công.

        Đơn vị phòng giừ cứ điểm C1 đánh chiếm nốt phần địch còn giữ được trong đợt 2. Địch cho 1 đại đội phản kích nhưng bị chặn đánh. Đến nửa đêm cả quân phản kích lẫn đóng giữ hoàn toàn bị tiêu diệt.

        Ngày 5/5, Trung đoàn 174 báo cáo đường hầm đặt bộc phá đánh hầm ngầm AI đã hoàn thành, chờ lệnh. Đây là một công trình vô cùng vất và của lính Trung đoàn 174 và công binh của mặt trận xuống tăng cường. Chỉ mở cửa hầm đường kính dưới 1 mét mà cũng phải mất 3 đêm. Đất, đá rắn, đào vào sâu càng khó khăn gấp bội. Thiếu không khí, đào mò, phải dùng quạt liên tục để tránh cho người đào khỏi bị ngạt thở. Tất cả mọi cản trở, khó khăn gian khổ đều bị đẩy lùi trước tinh thần quyết chiến của lính ta.

        20h30’ điểm hỏa nổ bộc phá. Một tiếng nồ trầm rồi một cột khói, cùng đất đá bốc cao, bốc luôn cả lô cốt có cả trăm địch chốt giữ.

        Tiểu đoàn 249 do Tiểu đoàn trưởng Vũ Đình Hòe làm mũi chủ công chia làm 2 cánh đánh thốc lên đỉnh đồi. Tiểu đoàn 251 của anh Dũng Chi đã nổ súng phối hợp, đánh vòng phía sau tìm cắt đường tiếp ứng của địch từ Mường Thanh lên A1.

        Đại đội dù số 3 cùng đại úy Pouget đóng trên đỉnh đồi đă hoàn hồn sau tiếng nổ bộc phá, chúng chia ra chống cự quyết liệt với ta. Cả 2 cánh quân ta đều bị tổn thất, thương vong nhiều nên nửa đêm phải đưa đội dự bị của Tiểu đoàn 249 vào chiến đấu. Tiểu đoàn anh Dũng Chi đã tìm được đường tiến sang chặt đứt tiếp viện từ Mường Thanh lên, chốt chặn đường đồng thời cho một bộ phận lên tăng cường cho Tiểu đoàn 249 diệt nốt địch. Một cánh đánh xuống A3 (E3).

---------------------
        1. Sách báo phương Tây đưa ra số liệu: Đạn pháo Pháp và ta sử dụng ở Điện Bicn - Pháp: 132.000 viên - Ta: 350.000 viên. Về ta địch đưa hoàn toàn sai. Thực tế chỉ có khoảng 20.000 viên gồm: 11.000 viên chiến lợi phẩm ở chiến dịch Biên Giới. 36.000 viên của Trung Quốc viện trợ cùng 2 trung đoàn pháo 105. 460 viên thu được ở Hạ Lào cùng khoảng hơn 5000 viên thu được của địch thả dù lạc sang trận địa ta. (sao số liệu vênh nhau thế - Giangtvx ?)


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Chín, 2020, 04:01:26 pm

        Sớm ngày 7/5, cứ điểm A1 bị tiêu diệt hoàn toàn. Trung đoàn 174 đã trả xong món nợ, nỗi đau day dứt cả tháng trời nav.

        Riêng C2, cuộc chiến đấu còn giằng co đến 9h30' mới kết thúc. Như vậy toàn bộ cứ điểm trên đồi cao ở phía Dông đã bị xóa sổ.

        Trong đêm ta tấn công một số vị trí địch đóng trên đường 41 ngăn chặn không cho ta vượt sông đánh vào khu trung tâm vẫn chưa dứt điểm được. Các Trung đoàn 165 và 209 phải điều chỉnh lại đội hình để diệt nốt các cứ điểm trên.

        Lúc này đã xuất hiện hiện tượng địch rã đám. Trinh sát kỹ thuật thu được tin phi công lái máy bay địch lên tiếp tế đã gửi lời chào vĩnh biệt với quân đồn trú. Nhiều đám bọt trăng nổi lên trên sông Nậm Rom, có thể địch ném vứt vũ khí, quân dụng xuống sông.

        Trước những hiện tượng trên Bộ chỉ huy Mặt trận quyết định tổng công kích ngay không chờ đến tối như dự định. Tiểu đoàn 130 do Tiểu đoàn phó cùng chính trị viên Trần Quài trao đổi thống nhất cho Đại đội 360 do Tạ Quang Luật đánh thốc vào khu trung tâm. Địch không chống cự, nên hạ lệnh cho đơn vị dời khởi chiến hào tiến quân. Nhờ bắt được 1 hàng binh, ta bắt y dẫn đường đến hầm Sở chỉ huy De Castries.

        17h30‘ ngày 7/5, Tư lệnh Sư đoàn 312 báo cáo: “Toàn bộ quân địch khu trung tâm đã đầu hàng. Đã bắt được De Castries".

        Anh Văn được báo cáo đã lệnh ngay cho các đơn vị: “Tất cả phải ở vị trí chiến đấu, không được để một tên địch nào chạy thoát", đồng, thời lệnh cho địch vận phát loa kêu gọi quân địch đầu hàng. Sau đó hỏi lại anh Tấn, nhắc chú ý đề phòng địch đánh tráo tên chỉ huy và cho người mang ảnh De Castries để anh Tấn đối chiếu.

        Chỉ mươi phút sau, anh Tấn trực tiếp báo cáo: Tướng De Castries cùng bộ tham mưu của ông ta đang đứng trước mặt anh Tấn.

De Castries cùng toàn bộ Bộ tham mưu cứ điểm Điện Biên Phủ bị bắt


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Chín, 2020, 04:03:04 pm

        Chúng ta đã kết thúc chiến dịch tiêu diệt Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ sau 55 ngày đêm chiến đấu.

        Kết thúc huy hoàng chiến dịch lịch sử của nhân dân ta.

        Dù muốn hay không Điện Biên Phủ đã trở thành điểm đối đầu lịch sử giữa 2 quân đội: Đội quân cách mạng non trẻ với quân đội nhà nghề của một đế quốc thực dân già cỗi.

        Điện Biên còn là cuộc thử sức giữa 2 chế độ: Chế độ xã hội chủ nghĩa với chủ nghĩa đế quốc.

        Kết quả đối đầu, thử sức đã rõ ràng. Chúng ta đã thắng. Thắng to, thắng oanh liệt mà không kẻ thù nào có thể phủ nhận được. Điện Biên Phủ đã là CÂY CỘT MỐC BẰNG VÀNG.

Cắm cờ quyết chiến quyết thắng trên nóc hầm tướng De Castries


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Chín, 2020, 04:04:53 pm

        Có được thăng lợi vẻ vang trên là do có sự lãnh đạo của Đảng, của Bác, sự đồng tâm nhất trí của toàn quân, toàn dân đã góp mọi thứ cần thiết để chiến thắng.

        Có được vinh quang trên phải nói đến người trực tiếp chỉ huy chiến dịch: Tổng tư lệnh Đại tướng VÕ NGUYÊN GIÁP - người đã chấp hành nghiêm chỉnh chỉ thị của Trung ương, của Bác, đã đánh giá đúng ta, địch, đề ra chủ trương, biện pháp đúng đắn, sáng tạo để giành thắng lợi trọn vẹn với tổn thất ít nhất.

        Tên tuổi Đại tướng Võ Nguvên Giáp gắn liền với chiến thắng Điện Biên đã và đang có ảnh hưởng rộng lớn trên thế giới đặc biệt đối với các dân tộc nhược tiểu, các nước châu Phi.       

        Nhân dịp Hội thảo: “Việt Nam - châu Phi những cơ hội hợp tác và phát triển trong thế kỷ 21” kết thúc, sáng 30/5/2003, Đại tướng đã tiếp thân mật các vị trưởng đoàn, đại sứ... các nước, Đại tướng đã chào mừng hội nghị thành công tốt đẹp, mong sự hợp tác giữa các bên ngày càng tốt đẹp để mang lại hạnh phúc cho nhân dân các nước, gửi lời thăm hỏi tới các vị lãnh đạo các nước...

        Thay mặt các đại biểu dự hội nghị, ông Helmut K. Angula - Bộ trưởng Nông nghiệp nước Nam-mi-bi-a đã bày tò niềm vinh dự được gặp Đại tướng - nhà chính trị, quân sự lỗi lạc của Việt Nam và thế giới, ca ngợi chiến thắng của nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và những ấn tượng của các nhà lãnh đạo và nhân dân châu Phi đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, những tên tuổi đem lại nguồn cổ vũ to lớn đối với các nước châu Phi trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do và mang lại hòa bình cho các dân tộc...1

-----------------------
        1. Báo Hà Nội mới ngày 31/5/2003.

Tù binh Pháp tại Điện Biên


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Chín, 2020, 08:01:54 am

       
VII.NGƯỜI ANH CẢ THÂN THƯƠNG.

        Quyết định thay đổi phương châm tác chiến từ “đánh nhanh, thắng nhanh" sang “đánh chắc, tiến chắc" là một quyết định có ý nghĩa thắng bại, sống còn của chiến dịch Điện Biên Phủ đã được kiểm chứng: ngày 7/5/1954 toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bị tiêu diệt. Mười năm sau, kỷ niệm chiến thắng Điện Biên, cán bộ chủ chốt từ cấp trung đoàn trở lên đã tham gia chiến dịch gần như có mặt đông đủ. Mọi người có dịp thổ lộ nhiều điều sâu kín trong tâm tư mà thời đó vì nhiều lý do không tiện bộc bạch.

        Đại đoàn trường 312 Lê Trọng Tấn nói: “Nếu không có quyết định chuyển phương châm ngày đó thì phần lớn chúng tôi không có mặt trong kháng chiến chống Mỹ.” Với anh Tấn có một sự trùng hợp ngẫu nhiên nhưng lại mang tính lịch sử độc đáo có một không hai trong cuộc đời cầm quân của một vị tướng. Ngày 7/5/1954 đơn vị anh đã thọc vào chỉ huy sở bắt sống tướng De Castrie cùng bộ tham mưu của y. Anh là người đầu tiên tiếp nhận đầu hàng của Bộ chỉ huy Pháp ở nơi đây. Mùa xuân 1975, tướng Lê Trọng Tấn - Tư lệnh cánh quân phía Đông - dẫn đại quân vào giải phóng Sài Gòn và cùng là người đầu tiên tiếp nhận đầu hàng của toàn bộ Nội các Dương Văn Minh, kết thúc chính sách thực dân kiểu mới của chủ nghĩa đế quốc Mỹ ở Việt Nam. Sau năm 1975, anh là Đại tướng, Tổng tham mưu trưởng Ọưân đội nhân dân Việt Nam.

        Anh Vương Thừa Vũ nói rõ suy nghĩ của mình hôm họp ở Thẩm Púa (14/1/1954 họp phổ biến kế hoạch tác chiến và giao nhiệm vụ cho các đơn vị): "... khi nghe phổ biến pháo ta sẽ bắn 2.000 quả 105 ly, hầu như mọi người đều phấn khởi, trầm trồ cho rằng địch sẽ tan nát. Với tôi, tôi không tin như vậy. Trận đánh Tu Vũ, địch đã bắn hơn 5.000 đạn đại bác - có nghĩa là hơn 2 lần số đạn ta bắn mở màn chiến dịch nhưng rồi kết quả căn cứ địch vẫn bị tiêu diệt. Hai ngàn đạn pháo vào tập đoàn cứ điểm rộng nhiều cây số vuông như Điện Biên có là bao? Tôi nghĩ nếu lần đó cứ đánh nhanh, giải quyết nhanh thì cuộc kháng chiến của chúng ta có thể phải lui lại 10 năm.” Anh Vũ Lăng - Trung đoàn trưởng Trung đoàn 98, anh Nguyễn Hữu An - Trung đoàn trưởng 174 cùng đánh cụm cứ điểm D1, D2, A1... trong Đại thắng mùa xuân 1975 đều là Tư lệnh quân đoàn tham gia chiến dịch  Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn. Hòa bình cả 2 đều là thượng tướng. Anh Vũ Lăng sau này về Cục Tác chiến đã có lần "ôn cố tri tân” nhắc chuyện Điện Biên đã nói ràng: "Quyết định của anh Văn đã cứu cả ngàn sinh mệnh. Lui trận mở màn cả 2 tháng trời, ta có thời gian chuẩn bị kỹ hơn, tìm hiêu địch cặn kẽ hơn thế mà trận đánh trầy trật không dứt điểm nổi, phải kéo dài đến cuối đợt 2 mới thanh toán được. Cậu Hòe của các cậu -

        Tiểu đoàn trường Tiểu đoàn chủ công của Trung đoàn 174 bị phơi áo trở thành tiểu đoàn “chổng cu" đấy thôi." (Sau dó anh Hòe đã được điều về là Trường phòng Trinh sát mặt đất. Năm 1975 được đề bạt Phó Cục trưởng Cục 2 - Bộ Tổng tham mưu, sau này là Tổng cục 2, Bộ Quốc phòng).

        Bí thư, Tư lệnh chiến dịch đã có quyết định quả cảm. với tinh thần trách nhiệm cao, tiếp sau là một loạt biện pháp sáng tạo, mưu lược vây ép, vừa đánh địch lại bảo vệ được ta đã mang lại hiệu quả vô cùng to lớn nhiều mặt, đã làm cho hàng chục nghìn gia đình không phải mang khăn tang thương tiếc người thân nằm lại chiến trường và cũng với số lượng như vậy hoặc hơn nữa tránh khỏi đau xót nhìn chồng con, anh em mất tay, què chân mang thương tật suốt đời.

        Chiến thắng Điện Biên, chấn động địa cầu là dấu ấn kết thúc chiến tranh xâm lược của Pháp ở Việt Nam và cũng góp phần kết thúc chủ nghĩa thực dân cũ trên toàn thế giới đồng thời cổ vũ các nước nhược tiểu đứng lên đấu tranh giành tự do, dân chủ.

        Thắng lợi Điện Biên dã làm đổ nhào Nội các của ông Laniel để ông Mandes France lên nắm quyền ngày 12/5/1954. Như vậy chiến tranh Đông dương đã làm Nội các Pháp dựng lên, đổ xuống 20 lần. phải thay 7 Cao ủy, 8 Tổng chỉ huy1.

        Trong bộ sách trứ danh của Mỹ: “Những trận đánh lớn của thế giới ngày nay" đã xếp Điện Biên Phủ vào hàng các trận đánh tầm cở trên2. Còn trong bộ sách Đại bách khoa toàn thư thế giới thế kỷ 20 gồm 10 tập phát hành năm 1960 của nhà ngôn ngữ học nổi tiếng người Pháp Pierre Larousse đã để 286 từ giải thích từ Điện Biên Phủ với ảnh kèm theo.

        Kết thúc chiến dịch, địch bị diệt, bị bắt làm tù binh 16.200 tên. trong đó có 1 tướng, 16 đại tá. 353 sĩ quan cấp tá và úy, 62 máy bay bị bắn rơi, phá hủy. Ta thu 28 đại bác, 64 xe các loại và toàn bộ quân trang, quân dụng.

--------------------
        1. Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam - những văn kiện từ 1954 - 1979.

        2. Bernard Fall - Điện Biên Phủ, một góc địa ngục.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Chín, 2020, 08:02:27 am

*

*      *

        Năm 2000 tôi (tác giả) được người bạn ở Thành phố Hồ Chí Minh ra chơi, cho tôi bài báo của nhà báo, nhà nghiên cứu sử Nhật Hoa Khanh đăng trả lời phỏng vấn của thượng tướng Trần Văn Trà nói về Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Bài viết khá dài, xin phép nhà sử học được lược ghi lại những ý chính:

        Điều đầu tiên thượng tướng khẳng định: Dù muốn hay không Võ Nguyên Giáp đã trở thành nhân vật lỗi lạc trên lĩnh vực quân sự trong phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam và phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới suốt thế kỷ 20 chống thực dân cũ và mới, đồng thời là 1 trong những gương mặt sáng ngời của nền văn hóa Việt Nam. Nên gọi Đại tướng như thế nào cho đúng? - ông tự đặt câu hỏi, tự trả lời - Theo ông gọi Võ Nguyên Giáp là Đại tướng không sai nhưng không thể hiện được vai trò đứng đầu toàn quân của Đại tướng. Đại tướng dã được Đảng, Nhà nước cử làm Bí thư Quân ủy Trung ương, Tổng tư lệnh từ kháng chiến chống Pháp và cả kháng chiến chống Mỹ. Vì vậy nếu gọi trang trọng nên gọi là Tổng tư lệnh, còn gọi thân mật: anh Văn.

        Thực tế anh Văn là người giữ được uy tín gần như tuyệt đối từ ngày thành lập quân đội cho đến kết thúc 2 cuộc chiến tranh, không chỉ trong quân đội mà cả trong giới trí thức.

        Một con người có tầm nhìn xa trông rộng về chiến lược, chiến thuật quân sự trong suốt 2 cuộc chống Pháp, chống Mỹ. Thượng tướng minh định: ông chưa hề thấy anh Văn mắc một sai lầm nào mà chỉ thấy anh đi những nước cờ bậc thầy vây hãm và tấn công địch.

        Anh Văn luôn thể hiện là vị Tổng tư lệnh biết đau với từng vết thương của mỗi người lính, biết tiếc từng giọt máu của mỗi chiến binh, vì vậy anh kiên trì thực hiện quan điểm trong chiến tranh là phải giành bằng được chiến thắng với kết quả cao nhất nhưng phải đi đôi với hạn chế cao nhất hy sinh mất mát của tướng, sĩ.

        Trong chiến tranh chống Mỹ vừa qua cũng đã có một số bài học đau sót về vấn đề bảo toàn xương máu của chiến sĩ. Có những chiến thắng lớn hoặc rất lớn nhưng xương máu bộ đội bị mất mát quá nhiều. Những trường hợp này nếu thực hiện cách đánh thận trọng theo quan điểm của anh Văn thì chắc chắn số thương binh, liệt sĩ sẽ ít hơn, chiến thắng sẽ càng lớn hơn.

        Anh Văn là một con người bao dung, độ lượng luôn nói cái đúng, cái tốt của đồng đội ngay cả với những người hiểu lầm anh, anh vẫn cư xử nhã nhặn, bình thản, không hề thanh minh những vấn đề thuộc bản thân... Về anh Văn còn hàng chục vấn đề cơ bản, sâu sắc liên quan đến sự phát triển quân đội cần phải nghiên cứu. Thượng tướng tự nhận năng lực có hạn chế nên chỉ xin đề cập tới 1 số vấn đề đã nêu. Cuối cùng, anh Trà đề xuất với sử học nên coi trọng hơn nữa đề tài quân đội trong cách mạng giải phóng dân tộc trong đó cần nghiên cứu thật công phu, thật công tâm và thật công bằng về đức, tài của các chính ủy, các Tư lệnh và các tướng, đặc biệt là tài đức hiếm có của Bí thư Quân ủy Trung ương kiêm Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp:

        Chính ủy của các chính ủy. Tư lệnh của các tư lệnh, tướng của các tướng.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Chín, 2020, 08:03:02 am
   
*

*      *

        Tôi được điều về công tác ở Phòng Nghiên cứu, Cục Tình báo, Bộ Tổng tham mưu từ cuối năm 1956 và công tác ở đây cho đến khi nghỉ hưu năm 1988.

        Khu A nơi làm việc của các cơ quan Bộ Tổng tham mưu và Tổng tư lệnh, có bộ sân rồng dùng làm nơi dừng chân của vua, chúa, các đại thần triều đình Huế ra kinh lý Bắc hà. Khi về nhận công tác ở đây, mấy người bạn thân bảo tôi: “Nơi đây thuộc “cấm cung", "thâm cung bí sử" mà cậu vừa được "Mẫu quốc ưu ái", tóm cổ đút vào Hỏa lò ngồi bóc lịch thế mà lại được vào đây - nơi nổi tiếng phải kiểm tra lý lịch 3 đời - cậu cũng là loại cứng cựa." Tôi chỉ cười, thấy anh em nói có phần đúng nhưng hơi quá lời, cường điệu. Đúng ở đây không chỉ có nhiều vấn đề bí mật quân đội mà cả của quốc gia và cũng có nhiều điều làm nhiều người phải chú ý về tác phong cũng như quan hệ riêng tư của các “sếp”.

        Về cồng tác ở cơ quan Bộ hơn 30 năm nên có nhiều điều kiện được tiếp xúc, báo cáo với anh Văn. Tôi chuyên theo dõi chiến sự ở miền Nam nên mỗi khi có chiến dịch lớn của ta hay địch càn quét lớn, dài ngày tôi thường được cử sang báo cáo với anh những tin tức trong đêm để anh họp với các anh ở trên.
         
        Là cán bộ cấp thấp, các buổi gặp anh chỉ là báo cáo tin nhưng cũng để trong tôi nhiều kỷ niệm nho nhỏ không quên.

        Có lần sang báo cáo, anh ngồi nghe nhưng có cái nhìn khang khác, tôi giật mình chưa hiểu nguyên nhân. Xong việc tôi đứng lên xin về lúc đó anh mới bảo: “Chắc đồng chí vội lắm phải không?" Tôi chợt hiểu vội nhìn xuống ngực áo cài lộn khuy, cắp hiệu trên ve xô xệch khó coi. Tôi lúng túng chưa biết xoay sở ra sao, anh đã nói tiếp: “Sớm ra chắc người đi lại cũng ít nhưng cũng phải rút kinh nghiệm, ăn mặc nghiêm túc." Tôi sượng sùng đỏ mặt ra về với bao suy nghĩ về những lời nhắc nhở của anh.

        Một buổi làm việc đêm vào khoảng 2-3 giờ sáng, tôi ngồi ở bàn kê sát cửa ra vào, bất chợt thấy anh và đồng chí công vụ đã đứng trước cửa, tôi vội đứng lên định hô chào thì anh đã xua tay. Thấy anh Lân đang gục ngủ trên bàn ngáy khò khò, tôi ra hiệu cho anh Man gọi cậu ta dậy. Anh lại xua tay, nhỏ nhẹ: “Để đồng chí ấy ngủ" rồi kéo tôi ra cửa hỏi tình hình. Khi về anh bảo: “Vừa đi Trung Quốc về có mấy quả táo tặng cho các đồng chí.”

        Có thời gian đến 5-7 tháng, anh chỉ thị: bộ phận theo dõi báo chí công khai lưu ý thấy có vấn đề gì hay báo với anh, khi nào cần nghe anh sẽ báo sau. Cục phân công tôi và Nguyễn Phong. Phong được anh gọi sang báo cáo mấy lần tôi không nhớ, riêng tôi được gọi sang 2 lần. Lần đầu tôi báo cáo phóng sự đăng trên báo Ngôn luận nhiều kỳ dưới tiêu đề: “Bà lớn chịu chơi, ông lớn chơi chịu”. Nội dung tả lại đời sống đàng điếm của vợ một trung tá ngụy, lợi dụng sĩ quan Mỹ mua đồ rẻ ở PX (hàng căng tin của sĩ quan, được miễn thuế) sau đó bị tên đại úy Mỹ lừa mất mấy nghìn đô la, nhẫn, hột xoàn. Mụ ta cay cú vừa mất tình lại mất tiền nên kiện ở tòa án quân sự Mỹ. Chánh án là một trung tá cũng lại tàng tịu với mụ, thường cho đô la sau mỗi lần đi lại với nhau. Mấy tháng sau mụ ta thúc trung tá chánh án giải quyết vụ kiện của mụ ta. Tên chánh án ỡm ở rồi một hôm cho mụ ta xem băng ghi hình mụ ta lõa thể đang làm tình, rồi ép mụ ta phải trả lại tiền mà hẳn đã cho mụ, mới chịu cho băng hình, nếu không sẽ cho in phát rộng rãi bêu xấu mụ ta... Tôi trình bày suy nghĩ của cá nhân về bài phóng sự trên đã nêu lên thực chất đạo lý, công lý, quan hệ thân hữu Mỹ - ngụy đang được tuyên truyền rất mạnh ở miền Nam... Anh ngồi nghe rất chăm chú rồi anh nhắc cần theo dõi chặt chuyển động tư tưởng không chỉ của trí thức mà cả các tầng lớp khác... Câu chuyện thứ 2 tôi kể là chuyện “Đánh cờ" cũng đăng trên báo xuất bản ở Sài Gòn. Nội dung phê phán người chơi cờ không chịu nghe người ngoài mách nước nên đã bị thua, bị phơi áo trước đôi thủ cao tay hơn người cầm quân cả một đầu. một với.

        Tôi - người lính già cũng như đồng đội cùng lứa tuổi rất tâm đắc những gì anh Trà đã trả lời phong vấn về anh Văn. Hồi nhớ lại vị thế quyết định của anh Văn trong chiến dịch Điện Biên càng thấy thấm thìa tài năng, đức độ của anh. Ý chí, quyết tâm thực hiện lời dặn của Bác, chỉ thị của Trung ương được hòa quyện với lòng yêu thương đồng dội, quý trọng từng giọt máu chiến sĩ nên anh ngày đêm suy nghĩ, tìm tòi chủ trương đúng, cách đánh hay để đánh thắng địch mà lại bảo vệ được ta, giảm thương vong đến mức thấp nhất. Chúng tôi luôn coi anh là Thầy, là Anh lớn thân thương, là người anh Cả quân dội, coi anh là tấm gương để phấn đấu vượt qua những gì không được như ý, va vấp trong cuộc đời công tác cũng như trong cuộc sống đời thường.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Chín, 2020, 08:03:51 am

KHÁNG CHIẾN CHỐNG ĐẾ QUỐC MỸ
(1954 - 1975)

       
MỞ ĐẦU

        Trước khi bắt đầu 30 năm chiến tranh ở Việt Nam, tổng thống Mỹ Franklin Delano Roosevelt đã tìm cách thay đồi chiều hướng lịch sử ở Dông Dương. Tổng thống Roosevelt lập luận ràng không được để cho Pháp trở lại Đông Dương sau Chiến tranh Thế giới thứ hai và lập lại ách thống trị thuộc địa của họ. Tổng thống Roosevelt nói rằng Pháp đã bóp nặn vơ vét của cải vùng này và sau một thế kỷ thống trị của Pháp, bán đảo Đỏng Nam Á còn khổ cực hơn trước. Ông Roosevelt nói rằng nhân dân Đông Dương có quyền hưởng một cái gì tốt đẹp hơn thế. Có lúc ông ta đem Đông Dương cho Tưởng Giới Thạch, song Tưởng từ chối nói rằng Việt Nam, Lào và Campuchia không thế hòa nhập vào với Trung Quốc được. Roosevelt và 6 đời tổng thống Mỹ sau ông ta cho đến ông Gerald Ford đều đã cố tìm cách điều khiển lịch sử Đông Dương nhưng chích sách của người nào cũng không đạt được mục tiêu của nó.

        Mỹ đã bị kéo vào cuộc chiến tranh dài nhất trong lịch sử nước Mỹ, một cuộc chiến tranh tưởng chừng như không bao giờ chấm dứt, đầy thất vọng, gây ra những rối ren xã hội và làm cho nhiều người Mỹ hoài nghi đối với chính phủ. Khi tổng thống Roosevelt chết thì chính sách chống Pháp của ông ta ở Đông Dương cũng sụp đổ. Nhưng các đội công tác của Cục Công tác chiến lược (OSS) tức Cục Tình báo của Mỹ đã ủng hộ chủ tịch Hồ Chí Minh và lực lượng du kích Việt Minh trong cuộc chiến đấu chống ách chiếm đóng của phát xít Nhật. Và năm 1945, những đội viên oss đã đi cùng với những chiến sĩ Việt Minh chiến thắng tiến vào Hà Nội. Lá cờ của những chiến sĩ cách mạng Việt Minh - lá cờ đỏ sao vàng - chẳng bao lâu trở thành quốc kỳ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, do chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập. Đối với Mỹ, tuyên ngôn độc lập của chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945 khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa lẽ ra chỉ là một chi tiết nhỏ trong lịch sử thế giới nếu như tổng thống Harry s. Truman không quyết định giúp đỡ Pháp. Vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ hai, Pháp thiếu tàu bè, máy bay và vũ khí để quay trở lại Đông Dương lập lại chính phù thực dân của họ. Chính quyền Truman đã cung cấp các phương tiện vận tải, vũ khí và chuyên gia cho Pháp. Cuộc chiến đấu chống Pháp và rồi chống Mỹ của nhân dân Việt Nam kéo dài gần 30 năm và cũng có những ảnh hưởng tương tự tại Lào và Campuchia. Hơn 2 triệu người dân Việt Nam đã hy sinh. Phía Mỹ có 56.000 người chết, hơn 100.000 người bị thương và 1.300 người bị coi là mất tích. Từ năm 1960 đên 1973, chính phủ Mỹ đà tiêu tốn 140 tỷ đô la tại Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh mất năm 1969, một thời gian dài trước khi chiến tranh kết thúc nhưng chính là phong trào của Người đã chiến thẳng, lần đầu chiến thắng người Pháp năm 1954, rồi sau chiến thắng các lực lượng quân sự của đế quốc Mỹ và quân đội miền Nam Việt Nam.

        Trong những năm đầu của cuộc chiến tranh giữa quân, dân ta và thực dân Pháp. Mỹ không tìm cách giữ một vai trò lớn. Những vấn đề to lớn lúc đó là châu Âu bị què quặt và cuộc Chiến tranh Lạnh với Liên Xô đã làm bận tâm Washington dưới thời tổng thống Truman. Nhiều người cho rằng Mỹ đã đi một bước tai hại khác ở Việt Nam khi ngày 7/2/1950 tổng thống Truman công nhận chính phủ Việt Nam độc lập do Pháp lập nên trong vùng họ kiểm soát. Sự công nhận của Mỹ diễn ra đúng 7 ngày sau khi Liên Xô công nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa do chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Mỹ lại có một hành động quan trọng khác vào tháng 7/1950, sau ngày nổ ra cuộc chiến tranh Triều Tiên vài tuần. Vào tháng đó, Mỹ đưa sang Việt Nam một đoàn cố vấn viện trợ quân sự Mỹ (MAAG) - mở đầu cho một lực lượng quân Mỹ lên tới 550.000 người trong những năm 1960. Cuộc chiến tranh Đông Dương chia làm 2 giai đoạn lớn: Giai đoạn chiến tranh với Pháp bắt đầu năm 1946 và chấm dứt bằng chiến thẳng lịch sử của quân và dân Việt Nam đối với thực dân Pháp thông qua trận đánh cuối cùng ở Điện Biên Phủ; và giai đoạn chiến tranh với đế quốc Mỹ bắt đầu năm 1960. Tuy nhiên, việc phân chia này không tính đến sự việc là Mỹ đã dính líu sâu vào cố gắng chiến tranh của Pháp. Trong năm cuối cùng trước ngày Pháp thất bại, chính phủ Mỹ đã cung cấp 80% ngân sách quân sự của Pháp. Tổng thống Mỹ Dwight Eisenhower nói rằng Đông Dương có tính chất sống còn đối với lợi ích của Mỹ. Cuối cùng, Eisenhower quyết định là Mỹ chỉ tham chiến nếu các đồng minh của Washington tán thành nhưng những nước này không tán thành. Hội nghị Gengve năm 1954 về Đông Dương chia cắt đất nước Việt Nam ở vĩ tuyến 17. Miền Bắc dưới sự lãnh đạo của chủ tịch Hồ Chí Minh tiến lên chủ nghĩa xã hội. Miền Nam tạm thời do Hoàng đế Bảo Đại đứng đầu.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Chín, 2020, 08:04:39 am

       
I. TÌNH HÌNH VIỆT NAM, SAU HIỆP ĐỊNHGENEVE

        1. CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở MIỀN BẮC

        Sau Hiệp định Geneve, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, bắt đầu chuyển sang giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa. Miền Bắc gặp một số khó khăn nhưng đồng thời cũng có những thuận lợi cơ bản. Khó khăn lớn nhất là nền kinh tế lạc hậu, lại bị tàn phá nặng nề sau gần trăm năm lệ thuộc và 15 năm chiến tranh. Thuận lợi là tài nguyên đất nước vẫn còn phong phú, có nhà nước dân chủ nhân dân và Đảng lãnh đạo cùng các nước bạn bè giúp đỡ.

        Tháng 9/1954, Hội nghị Bộ chính trị Trung ương Đảng đề ra nhiệm vụ cụ thể như sau: Đảng lãnh đạo nhân dân đấu tranh thực hiện hiệp định đình chiến; ra sức hoàn thành cải cách ruộng đất, phục hồi và nâng cao sản xuất; giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân miền Nam, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong toàn quốc.

        Cuộc vận động cải cách ruộng đất được phát động rộng rãi và khẩn trương. Đến mùa hè 1956 việc cải cách ruộng đất đã hoàn thành ở đồng băng và trung du và đạt được kết quả đáng kể: đánh đổ toàn bộ giai cấp địa chủ phong kiến, xóa bỏ quyền phong kiến chiếm hữu ruộng đất, thực hiện khẩu hiệu người cày cỏ ruộng, hoàn toàn giải phóng nông dân khỏi ách phong kiến có từ hàng nghìn năm, đưa giai cấp nông dân miền Bắc lên làm chủ nhân nông thôn.

        Song song với việc cải cách ruộng đất là việc phục hồi kinh tế quốc dân. Thành phần kinh tế quốc doanh được củng cố. Sản lượng lương thực đạt trên 4.000.000 tấn, vượt xa mức trước chiến tranh.

        Trên nền tảng kết quả đạt được trong cải cách ruộng đất và phục hồi kinh tế, miền Bắc tiến lên thực hiện kế hoạch ba năm về việc hợp tác hóa nông nghiệp và cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, ở nông thôn, từ năm 1959, cuộc vận động hợp tác hóa nông nghiệp đã trở thành một cao trào. Đến cuối năm 1960, việc cải tạo nông nghiệp theo hình thức hợp tác xã bậc thấp đã căn bản hoàn thành. Hơn 85% số nông hộ đã vào hợp tác xã với 68,06% diện tích ruộng đất. Ở thành thị, một số hộ tư sản lớn được cải tạo theo xã hội chủ nghĩa. Công nhân được giải phóng khỏi ách bóc lột của giai cấp tư sản. Hơn 26 vạn thủ công đã gia nhập các hình thức hợp tác xã.

        Kế hoạch ba năm cải tạo xã hội chủ nghĩa đã đạt kết quả khả quan về kinh tế và xã hội, xác lập được quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ được về cơ bản chế độ người bóc lột người trên miền Bắc. Ngày 1/1/1960, bản Hiến pháp xã hội chủ nghĩa đầu tiên của Việt Nam được công bố (sau Hiến pháp năm 1946), khẳng định con đường tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.

        2. MIỀN NAM GIỮ GÌN LỰC LƯỢNG CÁCH MẠNG, TIẾN TỚI CUỘC ĐỒNG KHỞI (1954-1960)

        Sau khi quân Pháp thất bại tại Điện Biên Phủ, Hiệp định Gengve được ký kết về Đông Dương chia cắt nước Việt Nam ở vĩ tuyến 17, miền Bắc xã hội chủ nghĩa do chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, miền Nam do Bảo Đại dứng đầu... Mỹ là nước tham gia Hiệp định Gengve nhưng không phải là bên ký kết. Tuy nhiên, Mỹ cạnh tranh ảnh hưởng với Pháp ở miền Nam Việt Nam một chế độ không cộng sản. Đế quốc Mỹ gạt hẳn thực dân Pháp ra khỏi miền Nam Việt Nam, trực tiếp thực hành ý đồ xâm lược của mình. Tháng 6/1954 đế quốc Mỹ ráo riết tiến hành việc hất cẳng thực dân Pháp, lật đổ Bảo Đại, đưa Ngô Đình Diệm - một người theo đạo Thiên Chúa từ Mỹ về thành lập chính phủ bù nhìn, triển khai kế hoạch phá hoại việc thi hành Hiệp định Geneve. Năm 1956, Diệm không chịu tiến hành tổng tuyển cử ở cả 2 miền Bấc và Nam Việt Nam như Hiệp định Geneve đã quy định. Trong cuốn sách “Lửa trong lòng hồ" (Fire in the Lake) của Frances Fitzgerald có viết: “... Các quan chức Mỹ thuộc cả hai đảng đã đi đến chỗ coi Việt Nam là điều sống còn đối với lợi ích của Mỹ. Kể từ ngày chủ tịch Mao Trạch Đông chiến thắng trước đó 5 năm. các quan chức Mỹ nhận định rằng Trung Quốc liên minh với Liên Xô là mối đe dọa chủ yếu đối với lợi ích toàn cầu của Mỹ... Mỹ bắt đầu xây dựng xung quanh Trung Quốc một bức tường gồm nhưng nước chống cộng phụ thuộc vào Mỹ. Theo con mắt của các quan chức này thì Việt Nam là bộ phận hết sức trọng yếu ở phía Nam bức tường này. Nếu Việt Nam rơi vào ách thống trị của cộng sản thì toàn bộ Đông Nam Á sẽ rơi theo". Lập trường ấy về sau được gọi là thuyết domino cơ sở của sự dính líu của Mỹ ở Việt Nam. Trong những năm 1950, trong khi chính quyền Ngô Đình Diệm ra sức cùng cố quyền lực của mình thì các cố vấn Mỹ huấn luyện quân đội miền Nam Việt Nam chiến đấu chống Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam mà bọn chúng thường gọi là Việt cộng.

        Đế quốc Mỹ không đặt bộ máy cai trị trực tiếp như thực dân Pháp trước đây mà với một hệ thống cố vấn Mỹ, dùng quyền lực viện trợ quân sự và kinh tế để điều khiển chính quyền tay sai. Về quân sự, đế quốc Mỹ trực tiếp xây dựng, huấn luyện, trang bị và chỉ huy quân ngụy, về kinh tế, miền Nam dần dần biến thành thị trường tiêu thụ của Mỹ.

        Một chế độ dộc tài, tàn bạo được thành lập tại miền Nam. Mỹ - Diệm ra sức đàn áp các cuộc đấu tranh yêu nước bằng nhiều đợt "tố cộng, diệt cộng”. Tháng 5/1959 chúng ra luật 10/59 để công khai chặt đầu những người yêu nước với những hình thức man rợ thời trung cồ. Từ 1954 đến 1959 ở miền Nam có đến 466.000 người yêu nước bị bắt, 68.000 người bị giết.

        Nhiệm vụ trước mắt của miền Nam lúc ấy là giữ gìn lực lượng cách mạng. Các tổ chức yêu nước rút vào bí mật. Những căn cứ cách mang được duy trì. Những hình thức hợp pháp, bán hợp pháp làm bình phong cho hoạt động cách mạng được phát triển. Đồng thời, Đảng lãnh đạo nhân dân tiến hành những cuộc đấu tranh đòi hiệp thương tổng tuyển cử để thống nhất nước nhà.

        Đấu tranh tự vệ, trừ gian, diệt ác cũng được phát động. Đến cuối năm 1957, tại chiến khu D, đơn vị vũ trang đầu tiên được thành lập làm nòng cốt cho bộ đội chủ lực Nam Bộ.

        Cuối năm 1959 cuộc đấu tranh của miền Nam chuyển hướng thành cuộc đấu tranh vũ trang. Tại nhiều nơi, quần chúng vũ trang nổi dậy diệt ác, phá kìm. Bến Tre phát động một tuần lễ toàn dân đồng khởi nhằm dùng bạo lực cách mạng của quần chúng để chống lại ách kềm kẹp của địch, xây dựng chính quyền cách mạng (1960). Dân chúng nhất tề đứng dậy diệt ác ôn, đánh đồn bốt, cướp súng địch, phá vỡ từng mảng lớn bộ máy cai trị của địch ở thôn xã. Từ Bến Tre, làn sóng Đồng Khởi lan ra các tinh khác ở Nam Bộ, Tây Nguyên và một số tỉnh ở miền Trung.

        Trong cao trào nổi dậy của quần chúng miền Nam. Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập nhằm đánh đổ, chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, xây dựng miền Nam độc lập, dân chủ, hòa bình và trung lập để tiến tới việc thống nhất nước nhà.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Chín, 2020, 06:51:16 am

        3. MIỀN BẮC THỰC HIỆN KẾ HOẠCH NĂM NĂM LẦN THỨ NHẤT, MIỀN NAM CHỐNG “CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT”

        Cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc thành công, đưa đất nước vào một bước tiến tới. Trước yêu cầu của tình hình mới, Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng họp tại Hà Nội vạch ra con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và con đường đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.

        Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc tiến hành trên ba lĩnh vực: cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hóa, đồng thời xác định khoa học kỹ thuật là then chốt. Thực hiện kế hoạch 5 năm cho đến năm 1964 miền Bắc đã bảo đảm được lương thực cơ bản và tự giải quyết được 90% hàng tiêu dùng, đồng thời bắt đầu có tích lũy từ trong nước.

        Trong khi ấy ở miền Nam, trước sự phát triển của cuộc cách mạng nhân dân, Mỹ-Diệm gây ra cuộc “Chiến tranh đặc biệt". Đó là thứ chiến tranh ‘"dùng người Việt đánh người Việt" kết hợp vũ khí, kỹ thuật hiện đại cùng những biện pháp khủng bố, đàn áp.

        Để tiến hành ‘‘Chiến tranh đặc biệt", Mỹ-Diệm đề ra kế hoạch Staley-Taylor với ba biện pháp chiến lược: Một là, tăng cường quân ngụy do cố vấn Mỹ chỉ huy, sử dụng nhiều máy bay, xe tăng để nhanh chóng tiêu diệt các lực lượng vũ trang cách mạng. Hai là, giữ vững thành thị, đồng thời dập tắt cách mạng ở nông thôn bằng “bình định" và lập “ấp chiến lược". Ba là, ra sức ngăn chặn biên giới, kiểm soát ven biển, cắt đứt nguồn chi viện từ miền Bắc vào, cô lập cách mạng miền Nam.

        Mỹ-Diệm xem “quốc sách ấp chiến lược" là xương sống của “Chiến tranh đặc biệt". Vì vậy, chúng huy động mọi lực lượng để càn quét, cốt thực hiện cho được quốc sách đó, dự tính trong một thời gian ngắn có thể lập xong 17.000 ấp chiến lược, biến miền Nam thành một trại tập trung khổng lồ. Đến năm 1960, có 685 cố vấn Mỹ ở Việt Nam, con số ấy tăng vọt lên thành 3.200 trong năm 1961 là năm tổng thống Mỹ John F. Kenngdy lần đầu tiên đưa vào Việt Nam các lực lượng đặc biệt tức lính mũ nồi xanh. Lực lượng này được huấn luyện lối đánh chống nổi loạn mà Kennedy nghĩ là có thể sẽ đánh bại được Việt cộng. Chế độ Ngô Đình Diệm với chính sách đàn áp ngày càng mạnh mẽ trở thành một vấn đề đối với Washington, và các quan chức Mỹ bắt đầu hết hy vọng ở con người ấy mà Lyndon Johngon đã có lần ví với Wington Churchill.

        Việc đối phó với cuộc khủng hoảng lãnh đạo của Diệm rơi đúng vào tổng thống Kenngdy. Và sự bất bình của giới Phật giáo đối với chính phủ Diệm dã tạo ra bối cảnh cho cuộc đảo chính cuối cùng diễn ra trong năm 1963.

        Hết nhà sư này đến nhà sư khác ngồi xếp bằng dội xăng vào người rồi tự thiêu trong lúc cầu kinh. Sau cùng Diệm không chịu được kiểu phản đối này nữa và ra lệnh cho quân lính tiến công vào các đền chùa. Nhưng việc đó chỉ làm tăng thêm sự bất mãn của quần chúng nhân dân. Việc dồn dân của Mỹ-ngụy cũng đã gặp phải sự chống đối. Quân giải phóng cùng nhân dân đẩy mạnh đấu tranh, nổi dậy tiến công bằng cả ba mũi chính trị, quân và binh vận. Một số “ấp chiến lược" bị phá hủy, có số biến thành làng chiến đấu của nhân dân.

        Chiến thắng oanh liệt của quân dân ở Ấp Bắc (Cai Lậy, Mỹ Tho) vào ngày 2/1/1963 chứng minh khả năng chiến thắng của lực lượng cách mạng. Lần đầu tiên với số quân ít hơn địch 10 lần, quân và dân miền Nam đã đánh thắng trận càn quét của trên 2.000 tên địch trang bị hiện đại, sử dụng hàng chục máy bay lên thẳng và xe bọc thép. Quân dân loại khỏi vòng chiến đấu hơn 450 địch (trong đó có 19 xe cố vấn Mỹ), bắn rơi 8 máy bay, bắn cháy 3 xe bọc thép M.l13. Mặt trận Dân Tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam phát động phong trào “thi đua Ấp Bắc, diệt giặc lập công. Nhân dân phá hoàn toàn 2.895 “ấp chiến lược” trong số 6.164 ấp do địch lập ra, số còn lại bị phá đi phá lại cả 5.000 lần, vùng giải phóng lan rộng, làm phá sản chiến thuật “trực thăng vận” và “thiết xa vận” của chúng.

        Song song với đấu tranh quân sự, các cuộc đấu tranh chính trị nổ ra ở các thành thị. Tháng 5/1963, tăng ni, phật tử Huế biểu tình phản đối lệnh cấm treo cờ Phật, gặp sự đàn áp của chính quyền Diệm, đã lan đến Đà Nẵng, Sài Gòn mà đỉnh cao là cuộc biểu tình vào ngày 16/6/1963 tại Sài Gòn với sự tham gia của 70 vạn quần chúng.

        Tổng thống Kenngdy nhận được những lời khuyên trái ngược nhau. Nhiều chuyên gia nói là nên hất cẳng Diệm rồi tìm kiếm và ủng hộ một chế độ có tính đại diện nhiều hơn, có khả năng được dân chúng ủng hộ. Những người khác lại khuyên Kennedy nên rút quân Mỹ về, để mặc người Việt Nam giải quyết những bất đồng của họ với nhau. Trước khí thế đấu tranh của nhân dân, đế quốc Mỹ buộc phải làm đảo chính, lật đổ Ngô Đình Diệm. Những tướng lĩnh ngụy li khai được lặng lẽ báo cho biết rằng Mỹ không còn ủng hộ Diệm, Nhu -  người em tàn bạo của Diệm và cả vợ Nhu nữa. Với sự mau lẹ có thể đoán trước, các tướng tá ngụy nổi dậy ngày 1/11/1963 và hai anh em Diệm. Nhu bị giết chết. Nhìn lại những năm dưới thời Diệm, chính các nhà vạch chính sách của Mỹ cùng phải gọi đó là một cơn ác mộng. Đây là một cơn ác mộng không chấm dứt. Mỹ đưa trung tướng ngụy Dương Văn Minh, tức Minh “lớn” lên thay nhưng chỉ được 3 tháng rồi lại bị tướng Nguyễn Khánh lật đổ. Nhân lúc Diệm đổ, nhân dân ở vùng nông thôn còn bị kềm kẹp đã vùng dậy phá hàng loạt “ấp chiến lược”.

        Đầu năm 1964, đế quốc Mỹ thực hiện kế hoạch mới, đó là kế hoạch Johnson - Mac Namara nhằm bình định miền Nam trong vòng hai năm (1964-1965). Chúng lập ra bộ chỉ huy liên hợp Việt Mỹ, tăng thêm 6.000 cố vấn Mỹ và đưa quân Mỹ vào miền Nam lên đen hai vạn rưởi vào cuối năm 1964.

        Kế hoạch Johngon - Mac Namara gặp phải sức chống cự mãnh liệt của quân dân mà điển hình là chiến thắng Bình Giã (12/1964). Nơi đây, lần đầu tiên chủ lực quân giải phóng (đã được thành lập từ 15/2/1961) chủ động tiến công quân chủ lực ngụy liên tục sáu ngày đêm, diệt gọn hai tiểu đoàn cơ động và một chi đoàn xe bọc thép M.113, bắn rơi và bắn hỏng 37 máy bay. Chiến dịch Bình Giã là một thắng lợi có ý nghĩa chiến lược quan trọng làm phá sản "Chiến tranh đặc biệt" ở miền Nam.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Chín, 2020, 06:52:19 am

       
II. CẢ NƯỚC CHIẾN ĐẤU CHỐNG ĐẾ QUỐC MỸ XÂM LƯỢC

        1. MIỀN NAM CHỐNG “CHIẾN TRANH CỤC BỘ”. MIỀN BẮC ĐÁNH THẮNG CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI LẦN THỨ I (1965-1968)

        Sau khi thất bại trong “Chiến tranh đặc biệt", đế quốc Mỹ chuyển sang “Chiến tranh cục bộ" ở miền Nam và đồng thời gây ra chiến tranh phá hoại ở miền Bắc.

        Thời gian cầm quyền của Nguyễn Khánh kéo dài đến ngày 16/6/1965 thì một cuộc đảo chính quân sự khác đưa thống chế không quân ngụy Nguyễn Cao Kỳ lên cầm quyền. Cuối năm 1965 số quân Mỹ và chư hầu đưa vào miền Nam lên đến hơn 20 vạn cùng với vũ khí, phương tiện chiến tranh tối tân. “Chiến tranh cục bộ’' bắt đầu từ giữa năm 1965, được tiến hành bằng lực lượng của quân viễn chinh Mỹ, quân chư hầu và quân ngụy, trong đó quân Mỹ giữ vai trò chủ động. Tại Vạn Tường (Bắc Quảng Ngãi), ngày 18/8/1965, cuộc ra quân đầu tiên của 8.000 quân Mỹ có xe tăng, thiết giáp, không quân, hải quân hỗ trợ đã bị lực lượng cách mạng phản công quyết liệt, loại 900 quân Mỹ, 22 xe tăng và xe bọc thép, 13 máy bay. Chiến thắng Vạn Tường mở đầu cao trào diệt quân xâm lược Mỹ. Hàng vạn chiến sĩ dũng sĩ diệt Mỹ lập chiến công. Khắp nơi dâng cao làn sóng tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt.

        Mỹ mở cuộc phản công mùa khô. bát đầu từ tháng 1/1966 kéo dài trong 4 tháng với tất cả 450 cuộc hành quân lớn nhỏ, chủ yếu nhằm đánh vào miền Đông Nam Bộ và đồng bằng khu V, thực hiện ý đồ "bẻ gãy xương sống Việt cộng". Với thế trận chiến tranh nhân dân, quân dân ta đã chặn đánh địch trên mọi hướng. Sau thất bại, Mỹ-Ngụy lại mở cuộc phản công chiến lược mùa khô thứ hai vào tháng 10/1966 đến tháng 4/1967, tập trung lực lượng đánh vào miền Đông Nam Bộ, nhằm tiêu diệt bộ đội chủ lực và cơ quan đầu não của cách mạng. Lần này, cuộc phản công cũng bị thất bại. Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ đã cùng toàn dân tiêu hao và tiêu diệt địch trên khắp chiến trường. Kết quả là qua hai mùa khô, nhân dân miền Nam đã loại ra ngoài vòng chiến 190.000 địch quân trong đó có 128.000 quân Mỹ và chư hầu, làm thất bại một phần “Chiến tranh cục bộ'* của đế quốc Mỹ.

        Tổng thống Mỹ Johngon đã không bao giờ thành công trong việc đi tìm kiếm một nhân vật mà được mong là người hùng có uy tín, có khả năng tranh thủ được sự ủng hộ của người dân miền Nam Việt Nam. Chính quyền của Kỳ tồn tại đến mùa hè năm 1967 rồi bằng lòng ra tranh cử phó tổng thống đứng cùng liên minh với Nguyễn Văn Thiệu. Ngày 3/9/1967, Thiệu và Kỳ trúng cử và Thiệu giữ mãi chức tổng, thống ngụy quyền Sài Gòn với sự ủng hộ của Mỹ cho đến những ngày cuối cùng của cuộc chiến. Thiệu đổ lỗi cho Mỹ không giữ đúng lời hứa ủng hộ chính phủ Việt Nam cộng hòa chống cộng ở Sài Gòn, ngay dù Mỹ có lại phải can thiệp bằng quân sự nếu cần thiết. Mỹ lần đầu tiên chạm trán bằng quân sự với quân giải phóng vào ngày 5/8/1964. Hai tàu khu trục Mỹ giao chiến với các tàu phóng ngư lôi của ta trong vịnh Bắc bộ, và tổng thống Mỹ Johnson viện cớ cho rằng Bắc Việt Nam đã “tiến công trước". Do vậy lấy cớ để trả đũa, Johnson ra lệnh oanh tạc các cơ sở hải quân của ta. Ta đã bắt được tên tù binh Mỹ đầu tiên trong những trận oanh tạc này. Số tù binh Mỹ tăng lên theo năm tháng lên đến gần 600 người, và chỉ được thả ít lâu sau ngày ký kết ngừng bắn, 27/1/1973.

        Sau trận thủy chiến đầu tiên, quốc hội Mỹ đã thông qua nghị quyết vịnh Bắc bộ vào ngày 7/8/1964. Chỉ có 2 Thượng nghị sĩ bỏ phiếu chống. Nghị quyết này cho phép Johnson được tự do tiến hành các hoạt động quân sự để “bảo vệ” Đông Nam Á. Đến tháng 10, số quân Mỹ ở Việt Nam lên tới 19.500 người. Ngày 7/2/1962, tướng Mỹ Paul D. Harking lần đầu tiên thiết lập Bộ chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ tại Sài Gòn, số quân Mỹ mới có 4.000 người.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Chín, 2020, 06:52:36 am

        Mùa đông 1964 - 1965. quân ta mở một cuộc tiến công lớn. Cuộc tiến công này đã có lúc chia cắt Nam Việt Nam làm hai. Lần đầu tiên các cơ sở quân sự của Mỹ bị hư hại nặng nề. và Johngon ra lệnh thường xuyên oanh tạc miền Bắc Việt Nam. Việc ném bom miền Bắc và miền Nam kéo dài mãi đến tận năm 1973. Trong khi dó ở miền Nam, cuộc tiến công của quân ta giành được hết thấng lợi này đến thắng lợi khác. Kết quả khiến chỉ huy quân lính Mỹ ở Việt Nam là tướng William C. Westmoreland đã phải khẩn cấp xin đưa bộ binh chiến đấu của Mỹ sang miền Nam Việt Nam. Westmoreland đã nói rằng những hoạt động hỗ trợ của Mỹ đối với quân dội Nam Việt Nam nay không đủ nữa và bây giờ phải dùng quân Mỹ giao chiến trực tiếp với quân Việt cộng và Bắc Việt. Phái bộ Mỹ đã ước lượng là chỉ cần 2 sư đoàn quân Mỹ mà thôi. Họ tuyên bố: cộng sản sẽ không leo thang chiến tranh một khi quân chiến đấu Mỹ tham chiến. Tuy nhiên, Mỹ hoàn toàn sai lầm. Những tên lính thủy đánh bộ Mỹ đầu tiên đặt chân lên bờ biển Việt Nam là Đà Nang vào tháng 3/1965, và tiếp theo sau là các đơn vị quân nhảy dù, bộ binh, thiết giáp, pháo binh và ngày một thêm nhiều máy bay lên thẳng. Miền Bấc đối phó với sự tăng cường binh lực này và giao chiến lẻ tẻ với các đơn vị quân Mỹ cho đến tháng 11 thì quân ta phục kích các đơn vị thuộc Sư đoàn kỵ binh bay số 1 của Mỹ tại thung lũng Ia Drang và làm cho quân Mỹ bị thương vong nặng nề. Đây là một trong những trận giao chiến riêng lẻ thiệt hại nhất đối với quân Mỹ trong cuộc chiến. Quân Mỹ chết hơn 250 quân.

        Sự phản đối của Phật giáo đối với thủ tướng ngụy Nguyễn Cao Kỳ đã góp phần tạo ra một cuộc khủng hoảng chính trị khác và đến tháng 9/1967 thì Kỳ phải nhường chỗ cho Nguyễn Văn Thiệu vì Thiệu là người có được lòng trung thành các viên chi huy quân sự chính. Cuộc chiến tranh trên bộ xem ra giảm nhẹ vào cuối năm 1967 nhưng thực ra một cuộc tăng cường binh lực lớn của ta đang diễn ra gần Sài Gòn và các thành phố khác.

        Tết Mậu Thân, vào ngày 30 và 31/1/1968 quân và dân miền Nam đồng loạt tiến công và nổi dậy ở 64 thành phố và thị xã. Hầu hết các cơ sở lớn của Mỹ đều bị tấn công. Đây là cuộc tiến công lớn nhất của ta kể từ chiến dịch Điện Biên Phủ và nó đã làm cho dư luận Mỹ phải thay đổi. Quân ta đã đưa được 3 trung đoàn vào Sài Gòn và chỉ một chút nữa thì đánh chiếm được Sứ quán Mỹ. Tư thất của tướng Westmoreland cũng bị uy hiếp. Một viên tướng trong Ban tham mưu của Westmoreland hồi bấy giờ nói rằng: “Washington kinh hoàng. Chúng ta có thể chứng minh và thuyết phục được là cuối cùng thì kẻ địch sẽ thua nhưng chẳng ích gì. Tổng thống Johnson cuối cùng quyết định rút ra và rời khỏi chức vụ. Khi ấy, tất cả chúng ta đều đã biết rằng thế là thua rồi, từ nay đến khi quân Mỹ rút ra chỉ là một vấn đề thời gian và thêm một chút thời gian nữa là Sài Gòn sẽ đổ thôi.” Như ta đã thấy, thời gian ấy là 7 năm.

        Chính quyền cách mạng được thành lập ở Huế và nhiều vùng nông thôn mới được giải phóng. Ngày 20/4/1968 “Liên Minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam" được thành lập, mặt trận thống nhất dân tộc Mỹ được mở rộng. Nhưng lực lượng của địch còn đông với hơn nửa triệu lính Mỹ và gần một triệu lính ngụy. Chúng tổ chức phản công tại các thành thị và nông thôn. Lực lượng cách mạng bị tổn thất lớn. Tuy thế, cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân làm lung lay ý chí xâm lược của Mỹ, làm phá sản chiến lược “Chiến tranh cục bộ" buộc chúng phải nhận đàm phán với lực lượng cách mạng.

        Song song với việc tiến hành “Chiến tranh cục bộ" tại miền Nam, đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại tại miền Bắc. Từ tháng 2/1965, đế quốc Mỹ liên tục dùng không quân và hải quân tăng cường đánh phá ác liệt miền Bắc, nhằm ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam ruột thịt. Với mục tiêu “đẩy lùi Bắc Việt Nam về thời đồ đá”, không quân và hải quân Mỹ tập trung đánh vào các thành phố lớn Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Thái Nguyên, Việt Trì, Vinh đều bị đánh đi đánh lại nhiều lần. Không loại trừ các thủ đoạn man rợ, đế quốc Mỹ còn cho đánh bom các đê điều, các công trình thủy lợi, bắn phá các trường học, bệnh viện, nhà thờ, đền chùa... Nêu cao quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, Hồ Chủ Tịch ra lời kêu gọi: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn".

        Để chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, việc quân sự hóa toàn dân được thực hiện, phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân. Miền Bắc dấy lên cao trào chống Mỹ cứu nước, vừa sản xuất vừa chiến đấu.

        Sau bốn năm chiến đấu, nhân dân miền Bắc đã giành thắng lợi. Tính đến ngày 1/11/1968 có 3.243 máy bay Mỹ bị bắn rơi, trong đó có sáu “pháo đài bay" B.52, hàng ngàn giặc lái bị diệt và bắt sống. Mỹ phải tuyên bố ném bom hạn chế miền Bắc và phải nói chuyện với Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị bốn bên ở Paris.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Chín, 2020, 06:53:17 am

        2. MIỀN NAM CHỐNG CHÍNH SÁCH “VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH”, MIỀN BẮC ĐÁNH THẮNG CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI LÀN THỨ II (1969-1973)

        Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, đế quốc Mỹ bị tấn công từ nhiều phía, ngay cả trong nội bộ nước Mỹ. Phong trào chống chiến tranh xâm lược Việt Nam dấy lên khắp nước Mỹ. Hạ nghị viện Mỹ đòi phải rút tất cả quân Mv ở Việt Nam về nước trong thời gian ngắn nhất. Tháng 6/1969, Tổng thống Mỹ Richard Nixon phải hứa sẽ chấm dứt chiến tranh trong vòng sáu tháng, cho ra đời cái gọi là “Học thuyết Nixon" và chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Theo chiến lược này, lúc đầu quân Mỹ và quân ngụy vẫn là hai lực lượng chiến lược rồi sau dó Mỹ rút dần quân viễn chinh và chư hầu, tăng thêm quân ngụy để thực hiện việc thay đồi màu da trên xác chết. Trong không đầy một năm, quân Mỹ ở Việt Nam từ con số cao nhất là 550.000 người đã giảm xuống còn không đến 250.000 người. Mỹ tăng viện trợ quân sự và kinh tế và đồng thời tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc thêm một lần nữa.

        Ngày 1/1/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Hưởng ứng lời kêu gọi, quân dân ở miền Nam mở mấy đợt tiến công, tiêu diệt hàng chục vạn quân Mỹ-ngụy. Đầu năm 1971, sau 43 ngày chiến đấu, quân và dân ở miền Nam lập chiến thắng đường 9 - Nam Lào, dập tan ý đồ cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh của Mỹ để cô lập cách mạng miền Nam, diệt trên 25.000 địch, bắn rơi và phá hủy gần 500 máy bay các loại. Đến năm 1972, cuộc tiến công chiến lược của quân dân miền Nam bắt đầu từ Quảng Trị và sau đó lan ra khắp miền, cùng với trận "Điện Biên Phủ trên không" của quân dân miền Bắc (bắn rơi 735 máy bay Mỹ) buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh. Hiệp định Paris được ký vào ngày 27/1/1973 công, nhận chủ quyền và toàn vẹn lành thổ của Việt nam. Mỹ phải rút hết quân và chư hầu ra khỏi miền Nam. Riêng thủ đô Hà Nội, trong trận "Điện Biên Phủ trên khỏng" 12 ngày dèm dã lập nên một kỳ tích huyền thoại: Rồng lửa Thăng Long đánh sập thần tượng không lực Hoa Kỳ.

        Ngày 24/11/1972, Đại tướng, Tổng tham mưu trưởng quân đội nhân dân Việt Nam Văn Tiến Dũng xuống Bộ Tư lệnh Phòng không - Không quân kiểm tra tình hình chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, duyệt phương án đánh B52 của lực lượng phòng không Hà Nội và ra lệnh chậm nhất ngày 3/12 phải hoàn tất mọi công tác chuẩn bị.

        Các trận địa phòng không được sắp xếp lại, tạo nên lưới lửa dày đặc, đủ mọi độ cao thấp, hỗ trợ cho nhau hạ gục máy bay khi chúng xâm nhập thủ đô. Đặc biệt các trận địa tên lửa được điều chỉnh, hoán đổi cùng một loạt trận địa nghi binh, tạo yếu tố bí mật, bất ngờ để vít cổ không quân chiến lược của Mỹ ngay trên bầu trời Thăng Long lịch sử. Ngày 4/12, Hà Nội ra lệnh triệt để sơ tán. Các cơ quan, công sở, nhân dân dã nhanh chóng rời khỏi thủ đô. Chỉ vài ngày sau phố phường vắng lặng, thưa thớt người qua lại. Người dân Kinh kỳ bước vào trận chiến khốc liệt với tâm trạng bình thản, tự tin, không một chút lo âu, sợ hãi khiến người ngoại quốc có mặt ở đây hết sức kinh ngạc, thán phục.

        Ngay những ngày đầu tháng 12, bản đồ tình hình của ta đã thể hiện khá đầy đủ ngày càng rõ hoạt động chuẩn bị tập kích chiến lược của địch. Chúng đã tập kết ở các sân bav Okinawa (Nhật Bản), Guam (biển Thái Bình Dương), Utapao (Thái Lan) gần 200 máy bay B52 (chiếm gần 50% tổng số máy bay B52 Mỹ có), đưa thêm máy bay KC.135 chuyên tiếp dầu trên không cho B52 đến Phillipings. Hàng không mẫu hạm tăng từ 2 lên 5 chiếc đang lởn vờn ở Đông đèo Ngang, Ba Đồn - nơi tập trung tầu chở máy bay mỗi khi có đánh lớn ở miền Bắc. Căn cứ tác chiến tiền tiêu chuyên hướng dẫn đường cho máy bay Mỹ đánh phá Bắc giới tuyến ở Đà Nang hoạt động nhộn nhịp hẳn lên, có thêm các loại máy bay khác yểm trợ.

        Ngày 18/12/1972, mọi hoạt động không quân địch ở miền Bắc đột ngột giảm hẳn ngoại trừ một số máy bay trinh sát tầm cao trên dưới 20 km EC66 bay lượn nhiều từ Bắc Thanh Hóa trở ra, đặc biệt quần đảo nhiều trên không phận Hà Nội trong khi đó các mạng thông tin hoạt động tăng lên gấp nhiều lần. Ngay từ 5 giờ sáng bộ phận trinh sát kỹ thuật của ta đã thu bắt được điện thông báo, trao đổi giữa chủng với nhau về địa điểm trực thăng, đến cấp cứu, tới trưa lại bắt được điện báo thời tiết xung quanh Hà Nội hoạt động tốt... Tất cả tin tức trên đã giúp ta khẳng định địch sẽ đánh Hà Nội ngay trong đêm. Kết luận trên được báo cáo về và được tổng hành dinh chấp nhận kế hoạch tác chiến. Tất cả các đơn vị được lệnh sẵn sàng chiến đẩu.

        Khoảng 16 giờ ngày 18. chuyên cơ BH195 chở cố vấn Lê Đức Thọ hạ cánh xuống sân bay Gia Lâm (máy bay của Đảng Cộng sản Liên Xô tặng Bác làm chuyên cơ nên lấy bí danh Bác Hồ và ngày sinh của Người). Cùng thời gian này Nixon gửi công hàm như một tối hậu thư buộc ta phải trở lại đàm phán theo yêu cầu, điều kiện của chúng.

        Hơn 20 giờ, B52 cùng không quân chiến thuật của Mỹ đánh Hà Nội và vùng phụ cận mở đầu chiến dịch tập kích đường không chiến lược 12 ngày đêm. Trong đêm 18 rạng ngày 19 địch đã huy động tới 84 lần chiếc B52 đánh 3 đợt vào Hà Nội, Hải Phòng. Chúng đã bị thiệt hại nặng nề trong đó có 2 chiếc B52 bị bắn hạ rơi tại chỗ. Thần tượng không lực Mỹ bị phơi xác ở cánh đồng xã Phủ Lỗ (huyện Đông Anh), xã Tân Hưng (Thanh Oai, Hà Tây).

        Chiều ngày 19, trong cuộc họp báo ở Câu lạc bộ Quốc tế, 6 tù binh là phi công Mỹ vừa bị bắt trong đêm đã được “ra mắt” trước đông đảo nhà báo trong nước và ngoài nước. Một sự trùng hợp lịch sử vào ngày này hơn 25 năm trước đây: ngày 19/12/1946 Hà Nội nổ phát súng đầu tiên mở đầu cuộc kháng chiến 9 năm để có chiến thắng Điện Biên Phủ 1954 chấn động địa cầu. Nhiều báo nước ngoài đã gọi trận tập kích thảm bại của Mỹ là: trận Điện Biên Phủ trên không, một hình tượng minh họa chính xác.

        Những đêm sau, lực lượng phòng không ta đánh trúng, đánh rất hay, hạ nhiều máy bay địch như đêm 20, bắn rơi 19 máy bay, bắt sống 12 giặc lái. Trong đêm 26, đế quốc Mỹ ném bom hủy diệt phố Khâm Thiên (Hà Nội), chúng bị quân ta bắn hạ 18 chiếc, trong đó có tới 8 chiếc máy bay B52...

        Địch bị thiệt hại quá lớn, chỉ riêng giặc lái đã có 43 tên, trong dó có tới 33 giặc lái B52 phải vào ngồi bóc lịch ở trại giam của ta. Hãng thông tấn Mỹ UPI này 31/12/1972 đã phải cay đắng thú nhận: “12 ngày đêm ném bom Hà Nội, Hải Phòng được coi là cuộc ném bom dữ dội nhất trong chiến tranh đã làm Mỹ thiệt hại nặng nề nhất về người và trang bị”.

        Thăng Long - Hà Nội đã ghi thêm vào truyền thống một trang vàng chói lọi chiến công, là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam trong thời đại hiện nay và cho mai sau.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Chín, 2020, 06:53:53 am

       
III.    CUỘC THẮNG LỢI CUỐI CÙNG

        Dù đã ký Hiệp định Paris và đã thực hiện việc rút quân, nhưng đế quốc Mỹ vẫn bám lấy Việt Nam, tiếp tục dùng, ngụy quyền Sài Gòn làm công cụ để đưa miền Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ. Chúng ra sức xây dựng quân đội ngụy thành một đội quân “mạnh nhất Đông Nam Ả“ với số quân trên một triệu mười vạn người. Mỹ đã cút nhưng ngụy chưa nhào, quân dân Việt Nam lại tiến hành chiến dịch mùa xuân 1975 bắt đầu từ Tây Nguyên (10/3 đến 24/3/1945). Sau chiến dịch Tây Nguyên là chiến dịch Huế - Đà Nằng. Các tỉnh miền Trung lần lượt được giải phóng. Cuối cùng là chiến dịch Hồ Chí Minh. Ngày 30/4/1975 với sự hiệp đồng chiến đấu của các lực lượng tinh nhuệ, biệt động, tự vệ vùng ven và nội đô, cùng với sự nổi dậy đều khắp của quần chúng, các cánh quân cách mạng thần tốc thọc sâu vào chiếm các mục tiêu quan trọng của thành phố Sài Gòn như Dinh Độc Lập, Bộ Tổng Tham mưu ngụy, sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Quốc phòng ngụy... Đại sứ Mỹ chuồn lên máy bay trốn khỏi Sài Gòn, Tổng thống ngụy là Dương Văn Minh đầu hàng. Chiến địch Hồ Chí Minh toàn thắng.

        Đất nước Việt Nam thoát khỏi vòng bị lệ thuộc với bao nhiều hy sinh của thế hệ anh hùng đã qua. Thế hệ mai sau mãi mãi noi gương những người đi trước để tiến tới xây dựng một xã hội tốt đẹp, công bằng, phát triển và hạnh phúc.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Chín, 2020, 12:59:54 pm
       
CUỘC CHIẾN THẮNG ĐẦY HUYỀN THOẠI

I. GIẢI PHÓNG PHƯỚC LONG - NẮN GÂN, THỬ SỨC MỸ - NGỤY

        Ngày 6/1/1975, quân ta tiêu diệt nốt các vị trí còn lại, giải phóng toàn bộ tỉnh Phước Long - một trong hai tỉnh nằm trong vành đai bảo vệ phía Bắc Sài Gòn. Mở thông đường Trường Sơn tới các tỉnh miền Đông Nam bộ, tạo thế đứng, bàn đạp cho các hoạt dộng quân sự tiếp sau. Chiến dịch ngắn ngày đã thu được nhiều thắng lợi lớn nhiều mặt. Trận chiến Phước Long thật sự nắn gân, thử sức cả tớ ngụy, thầy Mỹ giúp chúng tôi kiểm tra lại nhận định đánh giá trong báo cáo cuối năm.

        Ngay sau khi thất thủ Phước Long, ngày 10/1 Thiệu lên đài phát thanh kêu gọi: “Kiên quyết lấy lại nơi đã mất”, còn chính giới Mỹ lập lờ de dọa: “Một lực lượng gồm tàu sân bay nguyên tử In-te-prai, khu trục tuần dương đã rời Subic (Philippings) đi vào biển Dông” hay “Sư đoàn 3 thủy quân lục chiến ở Okinawa đã được báo động, đang chuẩn bị di chuyển".

        Sau 30/4/1975, trong đống tài liệu thu được ở Văn phòng Bộ Tổng tham mưu ngụy có báo cáo của viên Đại tướng Cao Văn Viên xin tăng viện cho Phước Long với bút phê bên cạnh của Thiệu: “Báo Trung tướng (chỉ Dư Quốc Đống - Tư lệnh Quân khu 3 - Quân đoàn 3) điều nghiên, tùy nghi quyết định, cần chú ý động viên các chiến hữu tử thủ”.

        Trong buổi nói chuyện, viên Đại tá Phạm Bá Hoa - Tham mưu trưởng Tổng cục tiếp vận (giống như Tổng cục hậu cần của ta) đã thuật lại tâm trạng sĩ quan Bộ Tổng tham mưu hồi đó: "... Tất cả chúng tôi đều bàng hoàng khi Phước Long thất thủ, không khí lo ngại bao trùm, ưu tư đè nặng mọi người. Ưu tư không phải do mất một tỉnh ở ngay cửa ngõ Sài Gòn, có trên dưới 7.000 binh sĩ bị tiêu diệt, tan rã mà chính thất bại này đã nói lên thế và lực của quân lực Cộng hòa. Chỉ mới bị đánh một điểm mà không còn lực đối phó, bị đánh mạnh nhiều hơn thì sẽ ra sao? Mất cả một tỉnh mà Mỹ vẫn làm ngơ, mặc dù nhiều lần ông Thiệu đã gặp Đại sứ yêu cầu Mỹ can thiệp. Bộ Ngoại giao cũng chính thức gửi công hàm, nhưng rồi tất cả chỉ là con số không. Có thể nói Phước Long là đòn thử sức đôi bên. Kết quả đã rõ ràng”.
        
        Ngày 9-10-1974, Quân ủy trung ương họp bàn mở chiến dịch  Tây Nguyên

        Đầu tháng 2/1975, chúng tôi nhận được tài liệu nguyên bản của ủy ban nghiên cứu chiến lược trực thuộc Bộ Tổng tham mưu Sài Gòn và tờ trình của Phòng Tình báo, cũng của Bộ Tham mưu, do cán bộ điệp báo của ta đi sâu, nằm ở cơ quan đầu não của ngụy gửi ra. Cả hai tài liệu đều đề cập, đánh giá tương quan lực lượng của ta và quân địch như tổng quân số: địch 971.000 tên, ta chỉ có 387.000 người; cơ giới địch 1.448 xe các loại, ta chỉ có 655 chiếc; không quân 1.666 máy bay, tàu chiến 1.496 chiếc, ta không có chiếc nào... Địch chiếm ưu thế tuyệt đối với nhận định, kết luận: quân số ta, địch trên chiến trường tỷ lệ 1 trên 2,5 (địch gấp 2 lần rưỡi ta) nhưng lực lượng phải phân tán giữ đất, bảo vệ các vùng trọng yếu nên số chênh lệch trên không biểu thị ưu thế của chúng. Ngược lại, ta tuy ít nhưng không phải phòng giữ những điểm yếu cụ thể nên có thể cơ động dễ dàng, chọn lựa chiến trường để dứt điểm.

Ngày 9-10-1974, Quân ủy trung ương họp bàn mở chiến dịch  Tây Nguyên


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Chín, 2020, 01:00:27 pm
   
        Cả hai tài liệu trên 10 trang dã phản ánh khá chính xác lực lượng của ta và địch trên chiến trường, so sánh đánh giá đúng thực chất.

        Nhận được tài liệu, chúng tôi vừa mừng, vừa lo. Mừng vì thấy nhận xét, đánh giá của chúng tôi trùng hợp với kết luận của địch, phản ánh đúng thực tế khách quan. Lo vì qua tài liệu địch nói lên chúng nắm, hiểu ta khá rõ, chúng đã tổ chức được mạng lưới điều nghiên có hiệu quả. Chúng tôi càng lo hơn vào thời điểm ta đang chuẩn bị chiến dịch đánh địch ở Tây Nguyên.

        Tuy không được phổ biến chính thức, nhưng qua làm việc với Cục tác chiến, các chỉ thị của Bộ, chúng tôi ngầm hiểu chiến dịch Xuân Hè sẽ mở ra ở Tây Nguyên, nhất là khi anh Vũ Lăng - Cục trưởng Cục tác chiến (sau chiến tranh là Thượng tướng, Hiệu trưởng trường Lục quân Dà Lạt) sang chia tay trước khi đi chiến trường đã gọi anh Lân và tôi ra hành lang và dặn dò thêm: “Các cậu nhớ giúp mình hoàn thành nhiệm vụ. Bất cứ tin gì ngay cả khi tham khảo cùng nhớ điện cho mình để rộng đường nghiên cứu, cần thiết ghi thêm ý các cậu, nhất là cậu - anh vỗ vai tôi - đừng vì định kiến với vài cậu bên mình rồi thận trọng quá mức cần thiết”. Tôi hiểu anh muốn nhắc vụ tôi nồi máu nghề nghiệp đốp chát với một vị cao cấp khi bị giễu: tin vịt tình báo.

        Anh rất thẳng, nóng tính, hay bốp chát nhưng lại được anh em quý trọng, nhất là đám trinh sát chúng tôi. Một con người giản dị, dễ gần, chả thế có anh em đã chọc anh khá thô bạo như Lăng là hoa Di lăng mà vợ là Hoa, cả hai loài hoa chồng chéo lên nhau thì thơm rung cả nhà. Nhớ hồi đi chiến dịch đường 9 - Khe Sanh năm 1968, chúng tôi bị địch tập kích B.52 trúng nơi trú quân, tuy không bị thương vong nhưng bị một phen hoảng hồn, hú vía. Bộ tư lệnh đã ra một loạt quy định nghiêm ngặt bảo mật, trong đó cấm săn bắn. Vừa tới địa điểm được mấy hôm, một buổi sáng trước giờ giao ban, anh gọi tôi ra bảo nhỏ: “Các cậu phải kiểm tra chặt chẽ quân các cậu, bọn này ẩu, vô kỷ luật bị địch nện cho tơi bời mà không chừa. Mình vừa đi kiểm tra về bắt gặp quân cậu đang làm thịt nai ở suối, nói bừa là nhặt được trong rừng. Xem kỹ còn cả vết đạn phá nát bên đùi. Mình chưa nói với các anh Hai Hải, đề phòng việc này đến tai các anh ấy, các anh có hỏi liệu mà trả lời. Kỷ luật nặng đấy”. Tôi hoảng quá, ngồi giao ban mà bồn chồn lo lắng. Rất may không thấy các anh đả động tới (Trần Quý Hai - Tư lệnh, Lê Quang Đạo -  Chính ủy mặt trận).

        Những ngày cuối tháng 2, đầu tháng 3/1975, tin tức dồn dập gửi về. Nhiều tin vui nhưng cùng không ít tin “thót” tim như cả bầy voi rừng lao vào gần nơi ta chuẩn bị trận địa nhưng may chúng lại rẽ sang hướng khác hay khi ta bắt đầu đánh địch cài thế trên đường 19 (4/3 đường Pleiku - Quy Nhơn) diệt đoàn xe trên dường 14 (5/3 Buôn Mê Thuột - Pleiku)... thì trinh sát kỹ thuật bắt được điện chúng trao dổi với nhau vừa bắt được một trinh sát pháo binh của ta có cả sổ tay ghi các mục tiêu điều tra. Tù binh bị trọng thương, đang hôn mê. Chúng đã đưa về cứu chữa để khai thác thêm...

        Tình hình trên làm chúng tôi hồi hộp, lo lắng chỉ mong chóng đến giờ G - giờ nổ súng mở màn chiến dịch có mật danh 275.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Chín, 2020, 01:01:08 pm
 
II. LỜI THÚ NHẬN MUỘN MÀNG

        2 giờ sáng ngày 10/3/1975. quân ta đồng loạt tấn công Buôn Mê Thuột mở đầu chiến dịch Tây Nguyên?, để chỉ sau 50 ngày đêm đã trở thành tiếng súng khai tử chế độ ngụy quyền Sài Gòn.

        Chiều 11/3 chúng tôi nhận được điện báo đã đập tan sự kháng cự địch, hoàn toàn làm chủ thị xã, đang truy quét tàn quân. Tin vui dồn dập gửi về nhất là điện báo đã bắt được 2 đại tá chỉ huy mặt trận phía Nam: Nguyễn Trọng Luật - Tiểu khu trưởng, tỉnh trưởng, Vũ Thế Quang - Tư lệnh phó Sư đoàn 23 - sư đoàn nòng cốt phòng thủ Tây Nguyên. Đây là hai cái “lưỡi” có giá, có thể tìm hiểu được nhiều tin tức không chỉ phục vụ chiến dịch  mà cho cả tình hình chung, có thể giúp chúng tôi xừ lý các thông tin khi báo cáo lên cấp trên tránh được sai sót và nhận định tình hình quân địch.

        Để chuẩn bị tiếp chuyện “các vị khách bất đắc dĩ" này, tôi đã tìm đọc hồ sơ về họ ở phòng lưu trữ. Cả 2 đều là sĩ quan chuyên nghiệp, được đào tạo cơ bản ở các trường quân sự Mỹ, Nguyễn Trọng Luật đã tốt nghiệp 2 trường chỉ huy tham mưu cao cấp (Fort Lea - Venworth) và chỉ huy thiết giáp, đầu năm 1971, Tư lệnh thiết đoàn 17 trong hành quân hỗn hợp Mỹ - ngụy đánh sang Lào (Lam Sơn 719 - 2/1971); còn Vũ Thế Quang, người xã Nhân Chính (Thanh trì - Hà Nội) di cư vào Nam năm 1954, tay chân thân tín của Kỳ, từng chỉ huy Liên binh phòng vệ Dinh Độc Lập khi Kỳ làm Chủ tịch ủy ban hành pháp (Thủ tướng)...

        Mặc dầu đã đọc kỹ hồ sơ, nhưng gặp ông ta, tôi vẫn bị bất ngờ thấy Luật rất trẻ, phải nói điển trai so với tuổi 50, nhưng vóc dáng thật thiểu não. Ông ta suy sụp cả tinh thần lẫn thể xác, không chỉ vì thân cá chậu chim lồng, sự giàu sang, quyền uy của một sĩ quan cao cấp đã thành tro bụi mà còn vì gia đình tan nát, con chết vì dính bom của chính quân đội ngụy, là chiến hữu của Luật dội vào tư dinh ngay ngày đầu chiến sự. Qua hỏi chuyện càng chứng minh nhận xét về Luật của phòng hồ sơ là đúng, nhưng có điều đáng chú ý là ông ta bị ‘‘nhiễm độc” nặng nề, nhìn nhận và hiểu về cách mạng đến mức thô thiển. Sau này qua tiếp xúc với tướng lĩnh Sài Gòn mới càng rõ Luật là đại diện của lớp người được xem là “có học” nhưng có cả quá trình gắn bó với chính thể Sài Gòn, với Mỹ lại bị chính các quan thầy đó lòe bịp các thông tin về đối phương.

        Về trận chiến Buôn Mê Thuột, Luật thú nhận, những thú nhận muộn màng, diễn tả khá đầy đủ ngọn ngành thất bại của họ với nhiều nhận xét xác đáng. Lược ghi mấy điều chủ yếu mà Tiểu khu trưởng - tỉnh trưởng Nguyễn Trọng Luật đã thú nhận: "... cuối tháng 2 đã nhận được nhiều tin cách mạng sẽ đánh Buôn Mê Thuột. Phân cục trướng CIA ở miền Trung Howoit Archer đã trực tiếp thông báo tin, nhưng qua trao đổi ông ta cũng thừa nhận đây là đòn nghi binh, đánh lạc hưởng của đối phương. Ngay thông báo, chỉ lệnh của Bộ Tổng tham mưa Sài Gòn cũng chỉ nhắc phải theo dõi chặt mọi di chuyển chủ lực quân giải phóng, nhấn mạnh việc phòng thủ “điểm " Kontum - Pleiku còn Buôn Mê Thuột có thể bị đánh nhưng chỉ là "diện". Tất cả phù hợp với suy nghĩ của chúng. Qua thực tế nhiều năm, ngay trong cuộc Tổng tấn công Mậu Thân 1968, quân giải phóng chỉ sử dụng đặc công lẻn thọc vào rút nhanh. Địa hình ở đây rất khó giữ bí mật khi triển khai binh lực lớn, xung quanh xã toàn đồn điền, địa hình trống trải dễ bị oanh tạc, thương vong lớn... Những ngày đầu tháng 3, cách mạng đánh một loạt trận tiêu diệt, cắt đứt đường 19 từ Pleiku đi Bình Định, đường 14 Buôn Mê Thuột - Pleiku, chia cắt chiến trường ra làm nhiều khúc, cô lập từng khu vực. Chúng tôi cũng như Bộ Tổng tham mưu (quân đội ngụy Sài Gòn) đều cho rằng quân giải phóng đánh cài thế, hút chú ý vào các tỉnh phía Nam để tập trung dứt điểm ở các tỉnh phía Bắc. Chúng tôi (quân ngụy) đã mắc sai lầm chết người, đã rơi vào bẫy của cách mạng nên bị thất bại thảm hại.

        Bất ngờ lớn thứ 2 là cách đánh của quân giải phóng. Đánh mạnh,thọc sâu ngay khi nổ súng, hoàn toàn khác với thông lệ là đánh bóc vỏ từ ngoài vào như trận Phước Long. Với cách đánh như vậy chúng tôi thừa thời gian đối phó. Lần này tập trung binh lớn có pháo binh, thiết giáp hỗ trợ thọc thẳng vào trung tâm thị xã khác nào bị đánh bung trong ruột ra nên chúng tôi không thể nào đối phó nổi, chịu thất bại mặc dầu lực lượng của chúng tôi còn rất mạnh.

        Cách mạng đã chọn, đánh trúng điểm yếu nhưng vô cùng hiểm yếu. Buôn Mê Thuật không chỉ giữ vị trí như một thủ đô Tây Nguyên mà còn là nơi tập trung kho tàng đạn dược, lương thực cung cấp cho cả các tỉnh trong quân khu. Hầu hết hậu cứ, khu gia binh của quân chủ lực đều đặt ở đây nên mất Buôn Mê Thuật khác nào bị chọc thủng dạ dày, đồng thời đánh một đòn chỉ mạng vào tinh thần, ý chỉ của toàn bộ binh sĩ. Họ hoang mang, lo sợ cho số phận vợ con, gia đình, còn lo kiếm thân nhân còn đâu tinh thần chiến đấu. Một đòn đánh trúng tỉm óc thật hiểm độc... Chủng tôi (quân đội ngụy quyền Sài Gòn) thảm bại là điều không sao tránh được”...


        Buổi làm việc hôm đó kéo dài tới khuya, trước khi Nguyễn Trọng Luật nghỉ, tôi hỏi về khả năng diễn biến chiến sự theo ý ông ta. Ông ta gần như khẳng định yếu tố bất ngờ không còn, nên cách mạng khó phát triển thắng lợi nhanh chóng như vừa qua. Thời gian kéo dài, Sài Gòn có thời gian sắp xếp lại lực lượng phản kích, lấy lại những nơi đã mất với ưu thế tuyệt đối về không quân, cơ giới. Tôi chỉ nói sơ qua tình hình Tây Nguyên cho ông ta hay: Quân giải phóng đã giải phóng toàn bộ các tỉnh miền núi, tiêu diệt, làm tan rã toàn bộ lực lượng Sài Gòn rút chạy theo đường 7 vào ngày 25/3, bắt sống tướng Trần Văn Cẩm - Tư lệnh phó Quân đoàn 2 ở Phú Yên.

        Chỉ nghe mấy tin trên, sắc mặt ông ta lộ rõ sự lo sợ choáng váng, mặt đờ dẫn, người run lẩy bẩy. Có thể những tin trên đâ xóa nốt hy vọng mỏng manh nào đó có thể cứu vãn tình thế đen tối của ông ta cũng như của chế độ ngụy quyền Sài Gòn.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Chín, 2020, 01:04:22 pm
        
III. SAI LẦM CHIẾN LƯỢC - TUỲ NGHI DI TẢN

        Khoảng 3 giờ sáng ngày 12/3 chúng tôi nhận được điện của một điệp viên báo Thiệu đang thúc Phú (Phạm Văn Phú - Tư lệnh quân khu 2 - Quân đoàn 2) phản kích lấy lại Ban Mê Thuột, đã điều Liên đoàn 7 biệt động quân ở Sài Gòn ra tăng cường cho Tây Nguyên và bàn tính điều chỉnh dự bị (Sư đoàn dù và thủy quân lục chiến) ở Quân khu 1 để rút bớt một số đơn vị về Sài Gòn làm lực lượng ứng cứu những nơi bị đánh mạnh. Ý đồ trên còn đang tranh cãi vì sợ chủ lực ở Bắc vĩ tuyến luồn vào đánh Trị Thiên thì không kịp trở tay... Tiếp sau lại nhận được diện chiến trường báo đã vây đánh thiệt hại nặng Liên đoàn 21, diệt hậu cứ Trung đoàn 45, vây ép mạnh căn cứ B.50 (nguyên là Trại lực lượng dặc biệt của Mỹ giao lại cho ngụy làm hậu cứ Trung đoàn 53 - nơi phòng thủ rất kiên cố, có nhiều hầm ngầm, ta đánh rất trầy trật, thương vong nhiều). Địch đã huy động trcn 200 lần trực thăng đổ quân với ý đồ dựa vào lực lượng còn tại chỗ để phản kích.

        Trước tình hình trên, bộ phận theo dõi chiến trường đã họp nghiên cứu, phân tích đi đến nhận định: phản kích đích sẽ bị đánh bại vì sa vào thế bố trí sẵn của ta, hơn nữa chỗ đứng của địch gần như bị xóa sổ nên sẽ xảy ra 2 tình huống:

        - Co cụm giữ Pleiku - Kontum.

        - Bỏ đất, rút chạy để tập trung phòng thủ những khu vục trọng yếu của địch. Đường rút sẽ là đường 19 (Pleiku - Bình Định). Nơi đây địch có nhiều khả năng đột phá, đánh dạt chốt chặn của ta với ưu thế hỏa lực, không quân. Đường tốt, cơ động nhanh lại thuận tiện sử dụng cơ giới nhưng một số đồng chí phân vân cho đây chỉ là khả năng tham khảo, thiếu hiện thực nên trong suốt buổi điểm tin với tác chiến chỉ nhấn mạnh khả năng co cụm.

        Thời gian chiến dịch, chúng tôi cũng như tác chiến trực 24/24 giờ, được phép ăn, ngủ nơi làm việc. Buổi chiều hàng ngày, 2 Cục điểm tin để sáng hôm sau giao ban Bộ Tổng tham mưu, thường anh Hoàng Văn Thái hoặc Cao Văn Khánh - Thủ trưởng Bộ chủ trì - sau đó lên báo cáo Bộ Chính trị... Suốt thời gian chiến dịch hầu như hàng ngày các đồng chí trong Bộ Chính trị đều có mặt ở Sân Rồng nắm tình hình để khi cần có thể họp, quyết định được ngay.

        Trong buổi giao ban sáng 13/3, Bộ đã dự kiến 2 tình huống như chúng tôi đã bàn nhưng nhấn mạnh khả năng rút chạy chiến lược. Chính kết luận này đã giúp chúng tôi cảnh giác, sớm phát hiện động thái rút chạy qua tin đài BBC, AFP... Các hãng hàng không tăng chuyến bay lên Pleiku, hành khách đông, giá vé chợ đen tăng vọt. Sớm 15/3 tin cơ sở báo quân địch ở Kontum kéo về Pleiku rất đông. Tình hình thị xã lộn xộn, nhiều xe tải chở hàng hóa ra vào sân bay tấp nập... Hiện tượng rút chạy đã rõ. Chúng tôi khẩn cấp báo cáo Bộ, đồng thời điện cho chiến trường.

Dân chúng hoảng loạn rút chạy khỏi Tây Nguyên


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Chín, 2020, 01:05:10 pm
       
        Sau này tướng lĩnh tù binh đã khai rõ cuộc tùy nghi di tản trên bắt đầu từ chiều ngày 15/3 và cũng là giờ cáo chung toàn bộ quân ngụy ở Tây Nguyên.

        Đại tá Phạm Bá Hoa - Tham mưu trưởng Tổng cục Tiếp vận kể lại thực trạng bộ máy đầu não ngụy hồi đó. Hoa và Tổng cục phó Phạm Kỳ Loan được cử xử lý thường trực thay Trung tướng Đồng Văn Khuyến - Tham mưu trưởng Bộ rồng tham mưu kiêm Tổng cục trưởng tiếp vận được Thiệu cho phép nghỉ để đưa bố sang chữa bệnh ở Nhật từ 7/3.

        Khoảng 9 giờ ngày 13/3, Văn phòng Cao Văn Viên điện gọi Hoa lên nhận lệnh gấp. Hoa lên đã thấy trong phòng có Viên, Hoàng Ngọc Lung - Đại tá, Trưởng phòng Tình báo, Trần Đình Thọ - Chuẩn tướng, Trưởng phòng Tác chiến. Viên chỉ ghế cho Hoa ngồi rồi nói ngay:

        - Đại tá phải giữ bí mật mệnh lệnh tôi giao cho ông. Đại tá lệnh cho đơn vị tiếp vận ở Pleiku chuyển ngay các hàng quý về Sài Gòn hoặc nơi nào đó cũng được, miễn là đưa ra khỏi Pleiku. Tôi nhắc lại: Lệnh này phải được thi hành ngay tức khác. Rõ rồi thì về làm ngay.

        Tôi báo lại cho Loan biết, rồi lệnh ngay cho Bộ chỉ huy tiếp vận 2 ở Quy Nhơn, đồng thời điện cho Trưởng liên đoàn 322 là đơn vị trực tiếp vận chuyển cho Quân đoàn 2 ngay trong ngày để chờ máy bay lên chở về Quy Nhơn. Mặc dầu thi hành lệnh nhưng chứng tôi rất thắc mắc không hiểu tại sao lại có lệnh kỳ quặc như vậy. Nếu đánh lớn phải lo đạn được, lương thực chứ lại thu xếp vật dụng chiến tranh đi nơi khác, chúng tôi không lý giải được. Đến chiều lại nhận được điện của tướng Thọ: Quân đoàn 2 sẽ xin phi cơ vận tải, ông cấp cho họ đầy đủ. Đây là mệnh lệnh của “sếp”.

        Sáng 17/3 cũng khoảng 9 giờ, không quân báo: ở Pleiku không còn hoạt động nên C.130 phải quay về Nha Trang. Sớm 18/3, vừa tới nơi làm việc thì nhận được điện báo của Bộ chỉ huy tiếp vận 2: đoàn vận tải trên 50 xe tiếp tế cho Pleiku bị kẹt vì đường 19 tắc, phải quay về. Phát hiện có hàng ngàn xe đủ loại đang trên đường 7 đi về Củng Sơn. Đến lúc này tôi mới hiểu Tây Nguyên đang rút chạy. Khoảng 21 giờ cùng ngày, Quy Nhơn lại báo cáo: Toàn bộ xe bị tắc, xe, người tràn cả ra rừng hỗn loạn, tan nát trên đường rút chạy.

        Tối 23/3, tướng Khuyên về. Tôi báo cáo tình hình, phàn nàn với thái đội bịt tai, che mắt của Bộ Tổng tham mưu đối với tiếp vận khi có quyết định rút bỏ Tây Nguyên.

        Sáng 21/3 sau khi lên gặp Thiệu, Viên về, Khuyên gọi tôi:

        - Hỏng hết rồi. Tổng thống và Đại tướng định rút quân về, bảo toàn lực lượng để có lực giữ phần đất còn lại thì nay tan hoang hết cả rồi. Cầm chắc thất bại, không có cách gì cứu vãn nổi. Tôi đã nói ý đó với Tổng thống, Tổng thống im lặng một lúc rồi gật đầu.

        Sau đó Khuyên đưa tôi 2 bức khung ảnh lớn, thở dài:

        - Anh xem còn gì đâu mà bảo toàn lực lượng?

        Trên ảnh, chuyên viên đã chí dẫn, ghi chú tỉ mỉ từng đám xe bị đốt cháy, bị phá hủy nằm ngổn ngang ở Cheo Reo rải cả một đoạn đường, ước tính sơ bộ khoảng nghìn chiếc xe. Trông thật thảm hại.

        Tôi nói với tướng Khuyên:

        - Không hiểu điều nghiên thế nào mà để xảy ra bi thảm quá như thế này?

        Ông ta liền nói ngay:

        - Tham mưu, điều nghiên gì. Có lệnh, tướng Phú đã lên máy bay cùng tay chân chạy trước rồi còn chỉ huy gì nữa.

        Những ngày tiếp theo, tôi còn được xem khung cảnh từng ngày về tắc nghèn, tan nát cả một vùng chiến lược quan trọng. Thảm bại đã quá rõ.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Chín, 2020, 01:20:15 pm

IV. CON ĐƯỜNG THẦN CHẾT

        Viên Đại tá Phạm Bá Hoa mới chỉ nói lên sự hoảng loạn, lúng túng của Bộ Tổng tham mưu Sài Gòn trong điều động, thực hiện quyết định rút chạy và khái quát tình trạng hỗn loạn, thực tế còn tồi tệ, bi đát hơn nhiều mà sau này nhiều viên tướng ngụy đã gọi đường 7 là con đường tử thần.

        Theo điện báo của cơ sở ở Pleiku: ngay tối 14/3 đã xuất hiện nhiều chỉ dấu khác thường khiến người dân thị xã hoang mang, lo sợ. Khi vào chở đầy hòm xiểng, khi ra xe không, máy bay gầm rú suốt đêm. Từng tốp 2-3 chiếc cất cánh bay ra hướng biển.

        Sáng 15/3, tình cảnh càng náo loạn. Những gia đình giàu có, công chức rồi cả vợ con binh sĩ tay xách nách mang, bồng bế dắt díu, lũ lượt kéo qua các phố ra hướng sân bay. Trong, ngoài sân bay đông nghịt người chen lấn nhau giành chỗ di tản. Cảnh sát, quân cảnh chịu bó tay đứng nhìn làn sóng người ùa vào sân bay. Đến trưa, từng đoàn xe chở đầy lính từ Kontum kéo qua thị xã đi về xuôi càng làm tình hình thêm rối loạn. Nhân dân công khai bàn tán: quân chính phủ thua chạy. Bọn cầm quyền địa phương hoảng hốt, bất lực không sao duy trì được an ninh trật tự, bọn tội phạm, nhiều lính ngụy lợi dụng cướp của, gây án ngay trong thị xã. Chuẩn tướng Trần Văn Cẩm - Tư lệnh phó quân khu - quân đoàn, phụ trách hành quân bị bắt ở bãi biển Phú Yên sau cuộc “quan sát” hành quân lui binh đã khai: "Sau khi nhận lệnh trực tiếp của Thiệu - Viên ở Cam Ranh về, tướng Phú đã gặp tôi, Đại tá Lê Khắc Lý - Tham mưu trưởng quân khu để phổ biến quyết định của Tổng thống và bàn cách thực hiện, sau đó họp với tư lệnh các binh chủng. Cuộc lui binh đưa vào mấy quy định sau: tuyệt đối bí mật, chỉ ra khẩu lệnh cho các đơn vị trưởng chủ lực. Không tiết lộ cho Tiểu khu, các đơn vi địa phương. Rút nhanh gọn, theo phương sách “cuốn chiếu” xa rút trước, gần rút sau, chỉ mang theo vũ khí, đạn đủ dùng cho một trận đánh. Để lại một bộ phận nhỏ để phá huỷ kho tàng, tiêu huỷ tài liệu khi đơn vị rút hết. Lữ đoàn 2 thiết giáp cùng 1 Liên đoàn biệt động xung kích mở đường, dọn vật cản.

        Chuẩn tướng Phạm Duy Tất chỉ huy hành quân còn tôi làm nhiệm vụ giám sát, đôn đốc thực hiện kế hoạch. Sau buổi họp, tướng Phú lo tổ chức Bộ tư lệnh tiền phương để sớm ngày mai rút về Nha Trang. Cũng theo Cẩm, cuộc rút chạy theo đường 7 có nhiều cơ may thoát hiểm dựa vào tình hình bố trí của đối phương. Phần lớn lực lượng kể cả cơ giới đều tập trung xung quanh Buôn Mê Thuột đang đánh phản kích. Ở quanh Pleiku chỉ có Sư đoàn 968, nên có phát hiện được cuộc rút chạy cũng không sao điều quân chặn đánh, cố gắng chạy bộ cũng chỉ có thể đánh vuốt đuôi, thương vong, thiệt hại không đáng kể. Ở phía Nam có cơ giới nhưng không có đường vận động ngoài đường 14 nên ít nhất cũng phải 3 - 4 ngày mới lên đến nơi, chúng tôi có đủ thời gian về tới Phú Yên an toàn.

        Chiều ngày 15/3, đoàn quân rút chạy dài hàng ngàn xe đủ loại: xe quân sự, xe khách, du lịch tư nhân rồi xe lam, xe máy... nối đuôi nhau kéo dài mấy cây số, chậm chạp bò dần trên đường. Trên xe tăng, thiết giáp không chỉ có quân lính mà còn có cả vợ, con binh sĩ cùng đồ đạc đủ thức, chất đầy ba lô, túi vải, va-li, hòm xiểng treo buộc trên xe, trên nòng súng không còn là cuộc hành quân mà đã trở thành cuộc di chuyển tạp nham, hỗn tạp, nhưng rồi cuộc hành quân cũng về tới Cheo Reo trót lọt vào đêm 15/3. Sáng 16/3, cánh quân đi đầu tiếp tục mở đường xuống Củng Sơn để giao tiếp với quân địa phương lên đón. Tất cả yên tĩnh. Ngoài máy bay bắn phá dọc theo 2 bên đường, tiếng pháo bắn vu vơ vào các cánh rừng, rất ít tiếng súng đối phương, thỉnh thoảng lẻ tẻ vài tràng tiểu liên AK. Tất cả đã bớt lo sợ, bắt đầu thấy phấn khởi. Tướng Phú và tôi liên tục điện đàm với Tất, Đồng - Tư lệnh Lữ đoàn 2 thiết giáp, động viên họ.

Giải phóng Buôn Mê Thuột


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Chín, 2020, 01:21:07 pm

        Ngày 17, Liên đoàn 7 (mới được tăng cường ở Sài Gòn ra), Thiết đoàn 21 chiến xa từ thị xã Phú Bổn lao nhanh ra khỏi thị xã, định chiếm đoạn đường phía Đông để bảo vệ cho các đơn vị phía sau di chuyển theo. Thế nhưng, đến gần đèo Tu Ma thì cuộc hành quân bị chặn đánh. Toàn đội hình bị ùn tắc, thế là thời điểm tan rã bắt đầu.

        Chiến sự mỗi lúc một ác liệt, tất cả các đợt đột kích đều bị đẩy lùi mặc dầu được không quân bắn phá, dội bom yểm trợ hết sức mãnh liệt. Đã sử dụng nhiều mũi đánh vòng qua rừng, bọc hậu để mở đường hoặc bí mật xuyên rừng tẩu thoát nhưng tất cả đều bị đánh bật trở lại, quân số thương vong nặng nề.

        Sáng 18/3 tiếp tục đột phá nhưng vấn không qua được. Đã phải dùng Liên đoàn 25 bảo vệ phía sau đưa vào chiến đấu mở đường nhưng vô hiệu. Đến lúc này pháo cách mạng bắt đầu dội xuống toàn bộ các vị trí trú quân: trong thị xã, sân bay và cả trên đường. Tình hình trở nên hỗn loạn, các chỉ huy không còn nắm được đơn vị nên đến 17 giờ tướng Tất và Đồng được lệnh phá hủy chiến cụ nặng để dễ rút chạy. Bộ chỉ huy hành quân chỉ còn nắm được một số đơn vị đi cùng còn các đơn vị khác không bắt được liên lạc. Nhiều đơn vị tự động bỏ xe, pháo, kéo nhau chạy bộ từng tốp vài ba trăm lẫn cả dân, gia đình đi theo cứ nhằm hướng ít tiếng súng là xô về hướng đó, bị chặn đánh lại ào ào chạy dạt trở lại, chẳng khác đàn kiến bò trên miệng chén, quanh quẩn mãi mà không tìm được lối ra”.

        Viên đại tá Đặng Đình Siêu - Tư lệnh phó Lữ đoàn kỵ binh số 2 - lực lượng nòng cốt mở đường rút chạy -  đã tả lại tình hình trong 2 ngày 17 và 18:

        "... Quân cách mạng đến nhanh quá, chúng tôi không kịp trở tay. Trong lúc cách mạng tổ chức chặt chẽ, chỉ huy thống nhất, thông suốt, hợp đồng tốt thì chúng tôi dao động, quân đông, phương tiện chiến tranh nhiều nhưng không chỉ huy được nên không có sức mạnh chống trả.

        Chủng tôi khâm phục tuyến bịt đường trên đèo Tu Ma. Có thể nói đây là chốt thép quyết định tan của đoàn quân rút chạy. Tôi ước đoán quân giữ chốt khoảng 1 tiểu đoàn, công sự phòng không có gì ngoài một số ụ chiến đấu, một số đoạn hào ngắn với ụ đắp sơ nhưng giải phóng đã tận dụng địa hình tạo dựng được một chốt thép với người giữ chốt cũng là những con người thép đã cản phá, đẩy được mọi đột kích, phản kích của hàng chục xe tăng hạng nặng có hỗ trợ của bom đạn không quân yểm trợ hết sức ác liệt. Nếu không vấp phải chốt này thì phần lớn chúng đã chạy thoát được. Cỏ thương vong, thiệt hại gì chăng nữa cũng không đến nỗi bị tiêu diệt, tan rã thảm hại như hiện nay.

        Đi không thoát, dồn ùn lại thì bị pháo bắn, bộ binh áp sát đánh liên tục nên đêm 17, triệu chứng rã đám đã xuất hiện. Toàn bộ lui về phòng thủ ở Đông Nam Phú Bổn (Cheo Reo) theo lệnh tướng Tất. Tới địa điểm quy định, Tư lệnh và Tham mưu trưởng đã bỏ xe đi đâu không biết. Sáng 18, tôi cùng đoàn trưởng, đoàn phó Đoàn 21 chiến xa và một hạ sĩ truyền cũng rời xe đi tìm đường lủi trốn. Xuyên rừng đền 13 giờ, chủng tôi gặp một bộ phận Thiết đoàn kỵ binh 3 và quân của Liên đoàn 4 biệt động. Tất cả nhập bọn cũng nhau băng rừng về phía Phú Yên."


        Đêm 18, địch trong lòng thị xã đã bị tiêu diệt phần lớn. đến sáng 19 số còn lại kéo cờ trắng ra hàng. trên đoạn đường Đông Tu Ma đến Sơn Hòa (Củng Sơn) quân bảo an cũng bỏ trốn nên số quân vượt qua được chốt đă bị đánh liên tục. Nhiều nơi chỉ có 1-2 trung đội của ta xông lên chặn đường cũng làm cho cả ngàn quân địch có đủ xe, pháo chúi đầu bỏ chạy. Chỉ riêng số quân vượt được ngày 16 và 17 là chạy được đến Củng Sơn ít bị thương vong. Đến Củng Sơn, bến phà lầy không sang được lại phải chờ máy bay lên thẳng thả vỉ sắt lót sắt đường. Cẩm phải đích thân chỉ huy mất gần một tuần mới xong bãi vượt cũng vừa lúc quân giải phóng truy kích tới vây đánh, chúng lại phải tổ chức phá vây mở đường chạy về Phú Yên vào ngày 25/3 cũng là ngày kết thúc cuộc rút chạy của quân ngụy ở Tây Nguyên và cũng là ngày Tây Nguyên sạch bóng quân ngụy Sài Gòn.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Chín, 2020, 01:21:58 pm
        
V. BIẾN ĐỘNG KHÔN LƯỜNG

        Chỉ mới mươi ngày, tình hình biến động vượt quá xa tầm suy nghĩ của chúng tôi, ngay cả những anh em giàu tưởng tượng, lạc quan nhất cũng không hình dung nổi. Chúng tôi công tác ở Bộ Tổng tham mưu nhiều năm, tham gia nhiều chiến dịch, có kinh nghiệm phục vụ theo chỉ đạo của trên mà vẫn bị hẫng trước yêu cầu cấp thiết nảy sinh. Có thể nói tình hình thay đổi không còn hàng ngày mà là hàng giờ, xoay trần làm suốt ngày đêm không hết việc. Tin chiến thắng dồn dập gửi về làm chúng tôi phấn khởi, quên hết mệt nhọc nhưng cũng nảy sinh nhiều khó khăn mới trong điều nghiên địch. Địch điều động quân lộn nhào làm các đồng chí theo dõi địch hậu cũng bị đảo lộn theo. Cảnh sát, mật vụ của địch hoạt động ráo riết, kiểm soát gay gắt không chỉ trong nội đô mà cả vành đai giáp ranh. Các cuộc vây ráp diễn ra với mật độ dầy đặc, thọc sâu vào các ấp, xã ven đô làm các trạm liên lạc, hộp thư điện đài của ta phải thay đổi địa điểm liên tục khiến việc liên lạc rất khó khăn, chậm, có nơi bị gián đoạn.

        Ngày 13/3/1975, Thiệu họp khẩn cấp hội nghị tướng lĩnh để cứu xét tình hình, quyết định nhiều vấn đề quan trọng mà hơn 10 ngày sau chúng tôi mới nhận được điện báo cáo. Tin chậm mất tác dụng. Nguồn tin tình báo ngày càng khó khăn, thu hẹp theo tỷ lệ nghịch với thắng lợi của ta trên chiến trường. Chúng tôi phải tận dụng khai thác tù, hàng binh ngày càng đông để lấp lỗ hổng trên. Tù binh ít, còn giam giữ ở Hỏa Lò, sau đông Cục địch vận phải mượn trại giam ở Thạch Thất - Sơn Tây để giam giữ. Chúng tôi phải đi xa, việc khai thác cũng gặp trở ngại, mất thời gian nhiều nên phải tranh thủ làm việc ban đêm để kịp có tài liệu báo cáo trên theo yêu cầu tình hình.

        Nhớ lại hồi đó, miền Bắc đã có hòa bình hơn 2 năm nhưng đời sống nhân dân vẫn còn nhiều khó khăn, gian khổ, phải thắt lưng buộc bụng để xây dựng lại đường sá, đê điều, các xí nghiệp bị tàn phá và để thực hiện: Tất cả vì miền Nam ruột thịt, tất cả cho tiền tuyến. Dân số hồi đó chỉ trên dưới 20 triệu mà vẫn phải nhập ngô, tấm, bo bo. Lương thực được coi là tiêu chí hàng đầu để tính toán các mặt khác. Cán bộ, công nhân, viên chức chỉ được cấp 13 kilôgam lương thực/người/tháng còn bộ đội được 18 kilôgam. Từ mớ rau, bìa đậu đến bao thuốc lá, bánh xà phòng cũng phân phối theo tem phiếu. Bộ đội được ưu tiên, vậy mà bừa ăn hàng ngày vẫn "canh toàn quốc, nước chấm đại dương" (canh chỉ toàn nước, lèo tèo vài ngọn rau, nước chấm chủ yếu muối pha loãng). Tuy cuộc sống còn nhiều gian nan, vất vả, nhưng tất cả đều phấn khởi, hồ hởi. Chúng tôi bị lôi cuốn vào khí thế chung, không một ai kêu ca, phàn nàn, chỉ có mối lo duy nhất là làm sao hoàn thành tốt công việc. Nhớ lại chuyện cũ để thấy những gì đã đạt được trong những năm qua là vô cùng lớn lao mặc dầu còn nhiều điều chưa được như mong muốn.

        Khu A - nơi làm việc của Bộ Tổng tham mưu, Bộ Tổng tư lệnh và cả văn phòng Quân ủy Trung ương mà anh em thường gọi là Sân Rồng. Thực chất chỉ có ít nhà cao tầng, vây quanh thềm bãi rộng, cao mươi bậc có mấy con rồng đá uốn khúc từ trên thềm xuống đường. Xưa kia, nơi đây làm nơi trú chân của vua, chúa phong kiến mỗi khi kinh lý Bắc Hà. Ngoài ra có lầu Công chúa trên thềm cao trông ra sân vận động Cột Cờ. Thời bảo hộ cũng như trong cuộc xâm lược lần thứ 2 (1946 - 1954), thực dân Pháp dùng làm nơi đặt Bộ chỉ huy Bắc bộ. Trong chiến tranh phá hoại, ta xây thêm một số nhà, để làm việc, chỉ huy liên tục kể cả khi địch oanh tạc cũng không bị gián đoạn. Bộ Chính trị thường họp ở đây để đảm bảo an toàn và cũng để tránh đứt quãng khi có báo động.

        Ngày bắt đầu chiến dịch, các thủ trưởng Bộ trực tiếp phụ trách tác chiến gần như có mặt ngày đêm ở phòng làm việc của anh Văn - tên gọi thân mật Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ hồi ở an toàn khu Việt Bắc, anh cũng có mặt hàng ngày (hiện mang bí danh Chiến, anh Văn Tiến Dũng được Bộ Chính trị cử vào Nam trực tiếp chỉ đạo từ tháng 2/1975 mang bí danh Tuấn). Thường buổi chiều anh đi bộ từ nhà riêng qua cổng Tây (phố Hoàng Diệu) vào làm việc đến 1-2 giờ sáng, nhiều đêm ngủ lại nơi làm việc. Có đêm thèm thuốc lá, chúng tôi bảo nhau kiếm cớ lên báo cáo để “nhón” thuốc ở bàn tiếp khách về chia nhau... Các đồng chí trong Bộ Chính trị trực tiếp chỉ dạo, hàng ngày vào rất sớm để nắm tình hình, nghe Bộ Tổng tham mưu báo cáo hoặc họp bàn công việc. Có thể nói tất cả những buổi họp quyết định chiến lược giải phóng miền Nam đều được tổ chức ở đây. Chúng tôi chỉ biết Bộ Chính trị họp khi thấy có nhiều ô tô vào khu A, còn nội dung hoàn toàn không biết, chỉ sau này được phổ biến lại mới rõ. Ngày 18/3, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương họp hạ quyết tâm giải phóng miền Nam trong năm 1975 thay vì 2 năm 1975 - 1976 với quyết định phương hướng tấn công chiến lược chủ yếu là Sài Gòn, trước mắt diệt toàn bộ quân địch ở Quân khu 1 và Quân đoàn 1 (5 tỉnh từ Quảng Ngãi trở ra giáp vĩ tuyến 17), không cho địch co cụm, rút chạy. Cử anh Lê Trọng Tấn cùng đoàn cán bộ giúp việc vào thực hiện ý đồ trên, sau đó ít ngày hình thành cánh quân phía Đông tiến đánh Sài Gòn, chiếm Dinh Độc Lập.

        Thực tế cho thấy Đảng ta không chỉ nhanh nhạy nắm bắt thời cơ mà còn có chủ trương táo bạo thể hiện chỉ đạo chiến lược sắc bén, tài tình, nhanh chóng chuyển từ tấn công khu vực thành tổng tấn công chiến lược, kết thúc chiến tranh trong thời gian ngắn nhất. Cuộc họp này được xem như bước ngoặt chiến tranh, quyết định số phận của ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn.

        Cùng với đánh chiếm ở Tây Nguyên, lực lượng ta ở Trị Thiên đẩy mạnh phối hợp, đánh địch ở vùng giáp ranh, đồng bằng. Các đơn vị địa phương cùng với các đội vũ trang công tác hoạt động đều khắp các quận, tiêu diệt bức rút nhiều đồn bốt, đánh phá kho tàng, chia cắt đường giao thông đẩy địch vào thế đối phó trên toàn diện rộng, càng bộc lộ rõ thế yếu, lúng túng trong lúc chủ lực ta luồn sâu vào phía trong bao vây diệt các vị trí địch ở ngay tuyến phòng thủ sát nội đô Huế tạo thành tuyến ngăn chặn phía Nam không cho chúng rút chạy về Đà Nẵng.

        Bộ Chính trị còn đang họp, chúng tôi nhận được điện báo cáo việc trung tá Đỗ Kỳ - Tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng Quảng Trị - đã bỏ chạy về Huế với lý do:   "...vì áp lực Việt cộng quá lớn, có nguy cơ bị cắt đường nên phải cho quân rút trước", còn tướng Lâm Quang Thi - Tư lệnh tiền phương Quân khu, Quân đoàn 1 đóng ở Hương Điền báo cho Ngô Quang Trưởng: “Cộng sản đã tràn ngập La Vang, thành cổ Quảng Trị. Lực lượng phòng thủ tại chỗ tan rã, không còn liên lạc được với các đơn vị. Tất cả tự động rời vị trí, kéo theo gia đình di tản vào phía trong. Đường sá tắc nghẽn, tràn ngập người, xe”.

        Theo báo cáo của cơ sở ở nội thành Huế, tình hình còn bi đát hơn nhiều: thành phố Huế đã mất hết vẻ êm đềm, cổ kính của cố đô xưa. Phố sá chỗ nào cũng ngập người từ Quảng Trị, từ những vùng quê quanh thành phố chạy vào. Dâu cũng nhan nhản lính tráng, đầu không mũ, tay không vũ khí, dìu dắt vợ con chạy ngược, chạy xuôi, mặt mày nhớn nhác đầy lo âu, sợ hãi, tụ tập ở chùa, nhà thờ, bến xe đông nghịt. Cảnh sát, quân cảnh ngụy chỉ còn khoanh tay đứng nhìn, không sao vãn hồi được trật tự, an ninh. Binh lính ngụy đóng ở Mang Cá và nhiều nơi khác trong thành phố bỏ trốn.

        Tình hình rối loạn giống như ở Tây Nguyên mở đầu cuộc tháo chạy, tan rã không gì cứu vãn nổi.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Chín, 2020, 01:24:15 pm
  
VI. HUẾ - QUÂN NGỤY HOANG LOẠN, THÁO CHẠY THỤC MẠNG

        Điện báo của cơ sở ta ở Huế - Đà Nang đã giúp chúng tôi nắm khá chắc tình hình ở 2 nơi trên.

        Dân, lính ở phía Bắc Huế ùn ùn kéo vào thành phố. Xe cộ đủ loại vất bỏ ngổn ngang trên đường. Chợ Đông Ba ngập đầy dân di tản. Bọn lưu manh cùng lính trốn chạy đã đốt chợ cướp của. Phía Nam thành phố Huế càng hỗn loạn hơn. Dọc đường 1 qua Phú Bài - Truồi đến đèo Phú Gia chỗ nào cũng đông nghịt người. Nhiều đám cháy rộ lên ở trung tâm huấn luyện Đống Đa, trong sân bay Phú Bài, khói bốc mù mịt cả một vùng trời.

        Tình hình Đà Nẵng - nơi Bộ tư lệnh Quân khu -  Quân đoàn 1 ngụy đóng càng tồi tệ hơn. Dân, lính chạy vào thành phố ước tính hơn nửa triệu người. Từng tốp mươi tên đến vài ba chục lính đào ngũ lăm lăm súng trong tay, mặt sát khí đàng đàng, chứa đựng chán chường, căm giận sẵn sàng nhả đạn vào bất cứ ai làm trái ý chúng. Chúng đánh, bắn lộn nhau. Thỉnh thoảng lại rộ lên vài tràng súng. Không một ai dám dây với chúng. Ngay tiểu đoàn quân cảnh mới lập ra để duy trì an ninh cũng phải tránh mặt, chạy dạt. Tình hình trên làm viên Trung tướng Ngô Quang Trưởng rối bời, vội chạy về Sài Gòn trình bày với Thiệu (18/3) xin duyệt kế hoạch co cụm, phòng thủ gồm 3 chốt lớn: Huế - Đà Nằng - Chu Lai và xin trung ương chi viện, giải tỏa bớt dân ở 2 thành phố trên. Tất cả đã vượt xa khả năng của Quân khu.

        Sáng 20/3 ở Sài Gòn về, Trưởng ra ngay Hương Điền họp với chỉ huy trưởng các đơn vị đóng giữ Trị Thiên để bàn phương sách cứu vãn tình thế. Đến trưa, Trưởng vào thị sát Huế và lên đài truyền thanh hô hào dân chúng, binh lính bình tĩnh, củng cố tinh thần binh sĩ: “Sẽ chết trên đường phố Huế. Việt cộng phải bước qua xác tôi mới vô được đây”.

        Viên Đại tá Nguyễn Thành Trí - Tư lệnh phó Sư đoàn Thủy quân lục chiến còn trẻ, hoạt bát, hỏi chuyện ông ta dễ dàng. Chỉ cần nêu yêu cầu, ông ta trả lời rành mạch, tỉ mỉ, tỏ rõ năng lực nắm tình hình chung cũng như đơn vị khá chắc. Trong bản cung, đã nêu lên những nguyên nhân thất bại trong đó nhấn mạnh đến nỗi hoảng sợ, kinh hoàng của binh sĩ khi phải đối đầu với quân chủ lực miền Bắc. Cuộc tấn công 1972 đã đuổi quân ngụy chạy dài đến Mỹ Chánh, bao vây bức Trung tá Phạm Văn Đính, Vĩnh Phong phải đưa cả Trung đoàn 56 ra hàng, trận chiến đấu bảo vệ thành cổ Quảng Trị kéo dài hơn 2 tháng dưới mưa bom, bão đạn và B.52. Những hình ảnh trên làm cho binh sĩ khiếp sợ, rất ngán giao chiến với quân Bắc Việt. Trong tình hình trên lại phải rút 2 lữ đoàn vào thay quân Dù rút về Sài Gòn. Lực lượng đã thế càng yếu, mỏng hơn, chạm súng là hốt hoảng bỏ chạy nên chỉ trong mấy ngày đã phải bỏ thị xã Quảng Trị - La Vang - Hải Lăng... lui về An Lỗ.

        “Hôm họp với chúng tôi, tướng Trưởng kêu gọi phải cố giữ đất nhưng chúng tôi đều thấy không thể giữ được nên vẫn im lặng. Thực tế đúng như vậy, chỉ trong mấy ngày sau, tất cả các tuyến phòng thủ đều bị phá vỡ. Các Đại tá Võ Ân, Nguyễn Văn Bính, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 và 54 là những trung đoàn mạnh của Sư đoàn 1 đều kéo quân chạy về Huế. Tướng Thi phải đề nghị xin rút toàn bộ về Đà Nẵng. Trưởng chấp nhận, chỉ nhắc phải cố rút an toàn để có lực lượng tử thủ Đà Nẵng.

Quân giải phóng đánh chiếm đại nội Huế


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Chín, 2020, 01:25:53 pm

        Hai phương án rút quân được mang ra bàn:

        - Phương án 1: Tập trung khoảng 20.000 quân còn lại với gần 100 xe tăng, thiết giáp, khoảng 100 pháo các loại đột phá qua Truồi về Hải Vân.

        - Phương án 2: Chia làm 2 cánh. Một cánh gồm thủy quân lục chiến và 2 liên đoàn biệt động quân, địa phương, Thiết đoàn 17 và hỏa lực theo đường bộ qua Thuận An. Một cánh gồm toàn bộ Sư 1 qua Vĩnh Lộc ra cửa Tư Hiền. Sau đó cùng theo đường ven biển vào Hải Vân.

        Hầu hết đều tán thành phương án 2 hy vọng rút êm, tránh đụng độ lớn với quân giải phóng. Sáng 24 bắt đầu rút và kết cục ra sao cách mạng đã thấy”.

        Theo kế hoạch, Trí sắp xếp khá bài bản, đơn vị đi trước, đi sau, có vẻ trật tự rõ ràng, thế nhưng mới rời khôi nơi trú quân đã không còn hàng lối, thứ tự gì hết. Các đơn vị tranh nhau chạy trước, mạnh ai nấy chạy, chen nhau vượt lên trước, không đi được vứt lại trang bị, xe pháo để trốn chạy cho nhanh... Trí bắt liên lạc với cánh quân Sư 1 để phối hợp, bảo vệ cho nhau, nhưng mất liên lạc, gọi cho Bộ tư lệnh tiền phương cũng không có ai trả lời vì ngay sau khi ra lệnh rút, tướng Thi đã cùng Bộ tham mưu bay ra tầu Hải quân HQ.05 về Đà Nẵng.

        Rạng sáng 25/3, quân của Trí cũng lếch thếch kéo ra đến bờ biển Thuận An nhưng đã tan rã quá nửa mặc dầu chưa có đụng độ. Thực ra lúc này thấy dân đông, xen lẫn với quân lính ngụy nên ta không đánh để tránh thương vong cho dân thường, chỉ thỉnh thoảng bắn vài loạt đạn, bắn pháo vu vơ để uy hiếp tinh thần, đẩy địch hỗn loạn thêm. Hầu hết lực lượng biệt động, bảo an, dân vệ đã tan rã. Bộ máy chỉ huy của Trí mất hết tác dụng, không còn nắm được đơn vị nào dưới quyền. Đúng lúc này hướng Phú Gia ta nổ súng chặn địch, đẩy chúng vào thế tiến thoái lưỡng nan. Tiến lên, đường bị tắc không vượt qua được, ở lại không biết đi đằng nào cho thoát. Trí phải gọi điện xin Đà Nang cứu trợ. Đến trưa mới nhận được điện báo sẽ có 3 tàu LCU đón, rút chạy theo đường biển. Toàn bộ Lữ thủy quân lục chiến lúc này đã tan tác nhiều. Trí chỉ còn nắm được mấy tiểu đoàn với số quân vài ba đại đội.

        Cho đến sáng 26/3 mới thấy 3 tàu ra, nhưng chỉ có một chiếc cập được bờ, một chiếc bị pháo bắn chìm, một chiếc mắc cạn. Không cần lệnh chỉ huy, quân lính ào xuống tàu như đàn ong vỡ tổ. Tàu chòng chành có nguy cơ đắm nên vội vang lùi ra xa. Số quân chưa lên được tức giận nổ súng bẳn bọn trên tàu. Số trên tàu bắn lại, chúng bắn nhau không kém phần ác liệt cùng lúc đạn pháo của ta dồn dập đổ xuống ngăn chặn, bộ binh của ta vừa kịp tới đánh mạnh không cho chúng tháo chạy. Kết quả cánh quân của Trí đã tan rã tại chỗ. Ngoài số chết, số bị thương và chạy tản trong dân chỉ còn khoáng gần 1.000 tên xuống được tàu và một số nhỏ cướp thuyền dân chạy về được Đà Nẵng.

        Số phận cánh quân Sư đoàn 1 còn thảm bại hơn. Cả sư đoàn bị đánh tan rã ngay trên đường ra cửa Tư Hiền.

        Trên bãi biển Tư Hiền, Thuận An tràn ngập lính, dân, xe, pháo, súng ống trang bị. Số lính còn lại như đàn kiến bò trên miệng chảo rang. Chạy ngược chạy xuôi không tìm đâu lối ra - đành vứt bỏ súng, lột bỏ quân trang để dễ trà trộn, trốn lủi trong dân, tản vào các ấp quanh vùng. Toàn bộ Trị Thiên sạch bóng quân ngụy.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Chín, 2020, 05:23:10 pm

       
VII.  ĐÀ NẴNG THẤT THỦ - MƯU SÂU KẾ HIỂM SỤP ĐỔ

        Đà Nẵng là thành phố lớn thứ 2 sau Sài Gòn. Khi còn trực tiếp xâm lược, Mỹ đã đổ tiền của xây dựng nơi đây thành căn cứ liên hợp gồm nhiều sân bay, bến cảng như quân cảng Sơn Trà với đầy nhà kho, bãi chứa được hàng chục vạn tấn vũ khí, lương thực, đạn được để cung cấp cho mấy trăm ngàn quân Mỹ - ngụy ở Quân khu 1. Mỹ đặt ở đây nhiều bộ máy chỉ huy như Bộ tư lệnh dã chiến thủy bộ số 3 (3rd MAF), Căn cứ tác chiến tiền tiêu (Forward operating locationg) để hướng dẫn đường bay cho không quân đánh phá Bắc miền Nam và miền Bắc trong chiến tranh phá hoại...

        Trong tình thế nguy ngập hiện nay, ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu chủ trương cố thủ hòng tạo thế mạnh trong vùng giải phóng của ta để chờ thời cơ xử lý tiếp sau như làm bàn đạp phản kích chiếm lại vùng đất bị mất hay tạo thế để mặc cả nếu có “giải pháp chính trị.”

        Đi đôi với co cụm chiến lược, ý định của chúng còn dùng Đà Nẵng là nơi tập trung dân trong kế hoạch dồn ép khoảng trên dưới triệu dân đưa về vùng chúng kiểm soát để có nhân, tài lực tiếp tục chiến tranh và cũng để biến vùng giải phóng của ta chỉ còn là những mảnh đất khô cằn, hoang hóa.

        Theo viên Đại tá Vĩnh Biểu - Giám đốc trung tâm Bình Định và phát triển Quân khu 1 của chính quyền Thiệu cho hay thì vấn đề di dân đã được đặt ra từ trung tuần tháng 3/1975. Ngày 18/3, Thủ tướng Trần Thiện Khiêm đã ra chủ tọa cuộc họp gồm các tỉnh trưởng để bàn di dân. Khiêm đã lệnh cho các tỉnh: “Để di dân, trung ương sẽ cung cấp tối đa phưong tiện di chuyển dân vào Nam để khai hoang, lập ấp”.

        Trong tình hình xấu đi quá nhanh nên ngày 24/3, Khiêm lại ra Đà Nẵng để xét duyệt kế hoạch di tản nhanh với phương tiện Mỹ cung cấp. Đường không có 6 máy bay vận tải cỡ lớn Boeing 727 - mỗi chiếc bỏ hết trang bị có thể nhét được 1.600 người, bay được 6 chuyến từ Đà Nang vào Cam Ranh, như vậy riêng máy bay cũng có thể chuyển được trên dưới 60.000 người/ngày. Đường biển, Mỹ cung cấp khoảng 20 tàu của Mỹ và thuê thêm tàu của nước ngoài.

        Kể ra mưu chúng sâu, kế hiểm nhưng đến ngày 26/3 toàn bộ chỉ còn trên giấy, Ngô Quang Trưởng, Bộ chỉ huy tham mưu của ông ta kể cả cố vấn Mỹ còn đang nháo nhào lo đối phó với quân giải phóng còn đang ào ạt đến gần thành phố, quân ngụy tan rã quá nhanh ở Trị Thiên, Quảng Nam. Trên bản đồ chiên sự ở trung tâm hành quân, Quân khu 1, những mũi tên đỏ chỉ đường tiến của Quân giải phóng ngày càng nhiều, những ấp chiến lược đã tốn bao công sức, tiền của xây dựng để kết hợp với đồn bốt tạo thế liên hoàn bảo vệ căn cứ, bến cảng nay đã bị phá vỡ. Cờ đỏ gắn đầy bản đồ, cả vùng rộng lớn chỉ còn một màu đỏ, hỏi Trưởng còn đâu tâm trí để lo di dân nữa.

        Ở phía Bắc, tin pháo binh, xe tăng Quân giải phóng đã xuất hiện ngay dưới chân đèo Hải Vân. Đạn pháo rót tới Liên Chiểu - Nam Ô. Khoảng 11 giờ ngày 28/3 các đơn vị thủy quân lục chiến đã tháo chạy khỏi khu vực phòng ngự. Lữ đoàn 258 chạy vào thành phố. Lữ 369 kéo về Non Nước, chỉ còn Lữ 468 ở Nam Liên Chiểu.

        Thành phố đã hỗn độn đến cực độ. Bộ máy ngụy quyền hoàn toàn bất lực, không sao giữ được trật tự, không ngăn cản được tàn binh kéo nhau đi cướp phá mặc dầu đã huy động hơn 200 quân, 20 xe bọc thép chia thành từng tốp đi dẹp tàn binh, tịch thu vũ khí, đã bắn chết 2 lính để cảnh cáo nhưng tình hình cũng không ổn định được bao nhiều. Đến 20 giờ, tình hình càng hỗn loạn gấp bội. Tàn quân Trung đoàn 53 Sư đoàn 3 giữ Đại Lộc chạy vào đưa tin toàn tuyến phòng thủ Nam Đà Nang đã bị đập vỡ, xe tăng Quân giải phóng đang tiến về thành phố. Tin lan nhanh như điện, toàn Đà Nẵng náo động, xe đủ loại rú rít chạy rầm rầm, kẻ xuôi, người ngược. Phần lớn binh sĩ ngụy đổ dồn ra phía biển hòng tìm đường tháo chạy. Đạn pháo Quân giải phóng réo rít qua thành phố nổ ầm ầm xuống phi trường, vào các tàu đang đậu ở bến cảng để bốc đám tàn quân thất trận làm tình hình càng rối loạn vô cùng.

Quân giải phóng đánh chiếm sân bay Đà Nẵng


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Chín, 2020, 05:23:37 pm

        Chỉ cách đây mấy ngày, Trưởng và Bộ tham mưu của y còn vạch kế hoạch thu hẹp phòng thủ vào sát Đà Nẵng với lực lượng 4 sư đoàn chủ lực: Sư đoàn 3, Sư thủy quân lục chiến và Sư 1,2 cùng với biệt động quân, bảo an với quân số tương đương. Nay Sư đoàn 1 tan rã, Sư thủy quân lục chiến còn non nửa, Sư 2 và 3 xộc xệch, tâm thần hoảng loạn đang trong tình trạng rã đám thì còn làm sao trụ giữ được. Hơn 300 sĩ quan, cố vấn Mỹ cũng đã chuồn về Sài Gòn từ chiều tối 26/3. Tất cả chỉ còn là bức tranh ảm đạm, tan hoang.

        Khoảng 21 giờ ngày 28/3, Trưởng tập hợp tướng lĩnh để cứu xét xem còn phương sách nào rút chạy giảm thương vong, tan rã nhưng vừa ngồi vào bàn, chưa bàn bạc gì, đạn pháo đã rót phá hủy 2 trực thăng, trong đó có chiếc của Trưởng làm cả bọn hốt hoảng bỏ họp, ra máy bay lên thẳng trốn ra tàu. Trưởng, Phran-xít - Tổng lãnh sự và là cố vấn trưởng - xuống tàu H.Q 404, ở đến sáng 29/3 thì chuồn về Sài Gòn để lại đám tàn quân hoảng loạn đang cuống cuồng tìm đường sống.

        Sớm 29/3, một số tàu đã lẻn vào bốc được khoảng 2.000 người, còn một số rình rập ngoài khơi chờ đến lượt cập bến. Trên bờ hàng vạn lính, dân chen chúc mong được xuống tàu nhưng đạn pháo nổ xuống ven biển ngày càng dày, tạo thành bức tường ngăn cách không cho tàu cập bến. Đám tàn quân ùa chạy quay trở lại, chỉ có mấy trăm tên táo tợn vứt bỏ súng ống, cởi quần áo nhảy ào xuống biển định bơi ra tàu. Gió to, sóng lớn lại bị đạn pháo nổ xung quanh nên nhiều tên hốt hoảng, bị sóng lớn đánh chìm khá nhiều.

        Trưa ngày 29/3, thành phố Đà Nẵng hoàn toàn giải phóng. Cờ chiến thắng ngập đường phố.

        Một số quan chức quyền uy Mỹ ở miền Nam đánh giá cao Trưởng, coi Trưởng có tài thao lược, nhiều kinh nghiệm trận mạc nên chỉ trong vòng mấy năm từ cấp đầu úy cuối tá đã vọt lên trung tướng. Năm 1972 quân ngụy ở Quân khu 1 bị đánh thua liểng xiểng, Trưởng đang ở Quân khu 4 (các tỉnh miền Tây Nam bộ) được điều ra làm Tư lệnh 5 tỉnh địa đầu, trực diện với miền Bắc - được coi là xương xẩu, khó khăn nhất, thay tướng Hoàng Xuân Lãm thua trận bị đưa về Sài Gòn ngồi chơi xơi nước, ông ta đã làm được nhiều việc, củng cố lại thế bố trí, xây dựng tuyến phòng thủ nhiều tầng, nhiều lớp. trấn an được tinh thần đông đảo binh sĩ đang hoang mang dao động.

        Cùng thời gian này nhiều tin đồn tướng Trưởng là lá bài dự trữ đang được Mỹ đào tạo để thay Thiệu khi cần. Một số tướng lĩnh Sài Gòn cũng thừa nhận là Trưởng xông xáo, thường trực tiếp chỉ huy những trận đánh khó khăn nên được một số người dưới quyền thán phục. Trước ngày ký Hiệp định Paris 1973, Trưởng định lập chiến công, gây tiếng vang lớn bằng cách đem quân lấn chiếm Cửa Việt với lực lượng khá lớn gồm cả xe tăng, pháo để thực hiện cái gọi là chiến dịch “cắm cờ lấn đất trước ngày Hiệp định có hiệu lực. Nhưng Trưởng bị thất bại lớn, quân sĩ phải bỏ cả xe, pháo chạy dài. Nỗi đau thành cổ Quảng Trị cùng Cửa Việt để đời, trở thành dấu ấn in đậm cuộc đời binh nghiệp của Trưởng, có thể đã ám ảnh sâu sắc Trưởng khi phải đối đầu với tấn công Mùa Xuân 1975 của ta.

        Đồng chí ta nằm trong Bộ tham mưu quân đoàn ngụy đã thuật lại tâm trạng bất an của Trưởng trong những ngày cuối tháng 3/1975: “Ông ta gầy xọp. Lúc ủ rũ, âu sầu, ngồi im lặng, thẫn thờ khá lâu, lúc nổi khùng như điên đại, quát tháo ầm ĩ, đi lại trong phòng tư lệnh rồi bất thần chọc nát bản đồ chiến sự trên tường. Những lúc này mọi sĩ quan tham mưu đều tìm cách tránh xa, sợ vạ lây.”

        Sau 30/4, trong đống tài liệu thu được ở Bộ Tổng tham mưu ngụy, chúng tôi đã tìm thấy điện xin từ chức của Trưởng khi chiến sự đang diễn ra ác liệt và bản phúc trình tình hình quân khu - Trưởng đã nêu lên mấy nguyên nhân mà theo ông ta đã ảnh hưởng sâu sắc đến thất bại như: “Ảnh hưởng rút vội Pleiku - Kontum, rút gấp Sư đoàn dù trong lúc áp lực đối phương ngày một nặng nề đã làm cho binh sĩ hoang mang, nhân tâm phân tán...” với kết luận: “Quân nhân mọi cấp tại Quân khu 1 đều đau buồn, nhớ tiếc công xây dựng trong suốt bao năm, nay bị đổ vỡ trong một thời gian ngắn. Với thế không thể làm khác được, đường hướng chiến lược mới được áp dụng vội vã trong hoàn cảnh chiến lược mới không thuận lợi...”.

        Đây cùng là nhận định, kết luận cuối cùng của Trưởng - viên tướng tài ba của chế độ ngụy quyền Sài Gòn, chấm dứt cuộc đời binh nghiệp chuyên làm lính đánh thuê cho ngoại bang.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Chín, 2020, 05:25:10 pm

VIII. BỨC TRANH ẢM ĐẠM - NHÀ TRẮNG RA TAY

        Bộ phận trinh sát kỹ thuật của ta cũng được mùa làm ăn thu được nhiều tin giá trị. Trong tình thế rối ren khẩn cấp, các đơn vị địch liên lạc với nhau bằng điện đài bất chấp các quy tắc bảo mật. Chúng phát lên không trung đủ mọi tin gần như công khai không qua mã dịch.

        Các hãng thông tấn, báo nước ngoài đổ dồn đến Sài Gòn để săn tin. Nguồn tin qua báo, đài rất phong phú giúp chúng tôi tìm hiểu thêm tình hình để phác thảo được diện mạo Sài Gòn lúc này.

        Những ngày đầu tháng 4/1975, các toán tàn binh thất trận, dân di tản khắp nơi đổ về Sài Gòn mang theo bao tin, hình ảnh thua trận thảm hại của quân ngụy. Lữ đoàn 3 dù giữ đèo Phượng Hoàng trên đường 21 tháo chạy một lèo về Phan Rang, quân ngụy rút khỏi Nha Trang, Cam Ranh, Đà Lạt... Suốt dọc đường 1 từ Phan Rang đến Hàm Tân (Vùng Tàu) lính ngụy bơ phờ, quần áo đủ kiểu, lôi thôi lếch thếch kéo nhau đi ngập đường. Thị xã Vũng Tàu đã thành chiếc túi khổng lồ chứa đựng đủ mọi sắc lính ngụy.

        Bộ Tổng tham mưu ngụy đã lập đoàn vận tải chặn đón ở Nam Bình Thuận để thu gom lính chở về trại huấn luyện tái lập đơn vị. Bộ tư lệnh Quân khu 3 ngụy đã điều mấy tiểu đoàn quân cảnh tuần tra bắt lính đào ngũ, lập các trạm kiểm soát ở các ngả đường để chặn dòng tàn binh kéo về Sài Gòn, nhưng kết quả chẳng được là bao. Từng toán lính vài ba chục đến hàng trăm ào qua các trạm gác, quân cảnh bất lực. Dòng lính thất trận cuồn cuộn theo đường 15 đổ về Biên Hòa - Thủ Đức mỗi lúc một đông. Đám lính hỗn loạn, cướp của, giết người, hiếp dâm trắng trợn ngay giữa ban ngày, giữa chỗ đông người mà không ai can thiệp.

        Nội đô cũng không kém phần hỗn độn. Ngày 8/4 Nguyễn Thành Trung - một sĩ quan ngụy là cán bộ của ta cài vào lái máy bay phản lực ném bom Dinh Độc Lập làm Sài Gòn nhốn nháo, hoang mang.

        Giới thượng lưu lên cơn sốt ác tính. Giá vàng, đô la tăng vùn vụt. Sân bay Tân Sơn Nhất đông nghịt người chờ xuất cảnh. Nhiều nhà tư sản thu xếp tiền của, đưa vợ con ra nước ngoài. Nhiều nhân vật tai to mặt lớn trong chính phủ, trong quân đội ngụy bí mật cho vợ con chuồn. Huỳnh Văn Cao - đệ nhất phó chủ tịch thượng viện - đã thu xếp cho vợ con đi Mỹ ngay ngày đầu tháng. Trần Văn Đôn nhân chuyến đi công cán ở Pháp đã mang theo 20 va-li đồ còn Tổng thống Thiệu cho vợ Nguyễn Thị Mai Anh cùng đàn con đi chuyên cơ "du lịch” và tìm sắm ít đồ cổ?

        Sứ quán, Bộ chỉ huy Mỹ lặng lẽ giảm bớt người. Ngày 1/4 tướng Smith - chỉ huy DAO (Cơ quan tùy viên quân sự thay cho Bộ chỉ huy Mỹ trước đây) đã mở đường không vận Tân Sơn Nhất - Clack (ở Philippings) để chở nhân viên, gia đình di tản. Ngày 3/4 phó đại sứ Leman cồng khai tuyên bố cho một số nhân viên, gia đình về Mỹ...

        Phe cánh đối lập nhân cơ hội cũng nổi lên tập hợp lực lượng, công khai chống Thiệu. Nguyễn Cao Kỳ liên kết với Phật giáo Thích Trí Quang, với linh mục Trần Hữu Thanh họp báo đòi Thiệu từ chức (26/3). Đã nổ ra 2 vụ mưu sát Thiệu nhưng thất bại.

        Báo cáo của Tổng nha cảnh sát và Thiếu tướng đặc ủy trưởng tình báo Nguyễn Khắc Bình đều thừa nhận Việt cộng đã lập được nhiều ‘lõm" chính trị ở rải rác nhiều nơi trong nội đô, kiểm soát bí mật dân chúng, cảnh cáo tề, điệp, che chở cho binh sĩ đào rã ngũ về gia đình, tạo nguy cơ, hiểm họa tiềm tàng trong dân. Tất cả hình thành bức tranh rối mù của ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Chín, 2020, 05:26:57 pm

        Ngày 28/3 phái đoàn Weyand - Tham mưu trưởng lục quân (nguyên tư lệnh quân Mỹ ở miền Nam trước đây) - đại diện cho Tổng thống Ford đến Sài Gòn theo như điện của Ford đã gửi cho Thiệu ngày 25/3, trong điện có đoạn động viên, hứa hẹn nhiều điều như: “Chúng tôi vẫn giữ ý định giúp đỡ để đảm bảo sức sống kinh tế và khả năng của Việt Nam Cộng hòa bảo vệ nền tự do và các thể chế của mình. Ông có thể tin ràng tôi vẫn ủng hộ kiên quyết và quyết tâm làm mọi việc có thể làm được để giúp đỡ Việt Nam Cộng hòa. Một lần nữa tôi cho ràng những cố gắng của chúng ta sẽ thành công.

        Phái đoàn đến Sài Gòn để thị sát tại chỗ, góp ý phương sách cần thiết cứu nguy cho Thiệu và có cơ sở đề xuất những giải pháp với Nhà Trắng. Phái đoàn đã chia nhau đi thanh sát các đơn vị ngụy, những phần đất còn lại, họp nhiều buổi với những nhân vật chủ chốt Mỹ - ngụy để nghiên cứu tình hình, phương sách cứu vãn tình thế.

        Để chuẩn bị gặp Weyand, Thiệu đã họp Hội đồng tướng lĩnh ngày 1/4 bàn nhiều vấn đề, trọng tâm xin Mỹ cứu nguy và phương án giữ đất còn lại. Hai phương án phòng thủ được đưa ra cứu xét: co cụm xung quanh Sài Gòn hoặc phòng thủ từ xa.

        Một số tướng, nhất là Thiệu, tán thành phòng thủ từ xa với mấy lý do sau:

        - Cộng quân đã chiếm được nhiều đất, vượt quá dự kiến nên phải rải quân chiếm đóng. Càng đi sâu xuống phía Nam lực lượng càng mỏng, sức đột phá không mạnh, lại phải tấn công, đột kích nhiều tầng, nhiều lớp nên khó có đủ sức cầm chân đối phương đến mùa mưa (mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 trở đi).

        - Tiếp vận đường dài rất nhiều khó khăn để cung cấp cho lực lượng lớn nhất là tác chiến hợp đồng nhiều binh chủng hợp thành, cần có nhiều thời gian chuẩn bị. Cũng thời gian này quân đội Việt Nam Cộng hòa có điều kiện chỉnh đốn lại đội hình, thu gom lính để lập thêm nhiều đơn vị mới có lợi cho phòng giữ.
       
        Ngày 3/4, Weyand, Martin họp với Thiệu, Cao Văn Viên và bậu sậu. Weyand tán thành nhận định, đánh giá của tướng lĩnh ngụy, chỉ nhấn mạnh cần nhanh chóng thu gom tàn quân, tổ chức đơn vị mới để giảm bớt khoảng cách giữa hai bên, củng cố giữ bằng được tuyến phòng thủ từ xa lấy Xuân Lộc - Phan Rang làm 2 khu phòng thủ then chốt, nhưng bác bỏ đề nghị không lực Hoa Kỳ trực tiếp hỗ trợ nhất là B.52. Weyand hứa sẽ tích cực đề nghị xin viện trợ khẩn cấp, đột xuất với quy mô lớn cho Thiệu.

        Ngày 4/4, Weyand cùng tùy tùng bay thẳng đến Pamprin (California) để tường trình với Tổng thống những gì tai nghe mắt thấy qua chuyến thanh sát tại chỗ.
 
Weyand báo cáo tình hình với Tổng thống Mỹ Ford và ngoại trưởng Kissinger sau khi đi kiểm tra tình hình miền Nam


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Chín, 2020, 05:31:03 pm

IX. LÁ CHẮN PHAN RANG VỚI HY VỌNG HÃO HUYỀN

        Chỉ trong 20 ngày, ta đã xóa sổ 2 quân đoàn, 2 quân khu với gần 40% lực lượng địch bị tiêu diệt, tan rã và khoảng 40% binh chủng kỹ thuật hiện đại, giải phóng hoàn toàn 12 tỉnh. Một thắng lợi cực kỳ to lớn. Trước tình hình trên, Bộ Chính trị Đảng ta họp ngày 1/4/1975, quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam với kết luận: “ Cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam không những đã bước vào giai đoạn phát triển nhảy vọt mà thời cơ chiến lược để tiến hành cuộc tổng công kích, tồng khởi nghĩa đã chín mùi... ” (Những sự kiện quân sự - Viện lịch sử quân sự).

        Ngày 7/4 Đại tướng Tổng tư lệnh - Bí thư Quân ủy Trung ương Võ Nguyên Giáp đã ra mệnh lệnh gửi tất cả các đơn vị: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ, từng phút xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng - truyền đạt tức khắc đến đảng viên, chiến sĩ”.

        Cùng thời gian này, địch cũng đang tích cực triển khai kế hoạch đối phó với ta. Ngày 8/4 Thiệu phê chuẩn: “Những công tác ưu tiên của Bộ Tổng tham mưu" do Tổng tham mưu trưởng Đại tướng Cao Văn Viên đệ trình. Nội dung khá dài, tập trung vào mấy vấn đề chủ yếu sau: Tận dụng ưu thế không quân đẩy mạnh đánh phá, tiêu hao, ngăn chặn đối phương trên đường cơ động về phía Nam, dồn sức hoàn chỉnh gấp Sư đoàn 2 (sư đoàn bị ta đánh tan ở Dà Nang chạy về) để đưa ra phòng thủ Phan Rang - lá chắn Phan Rang - tổ chức Bộ tư lệnh tiền phương Quân đoàn 3 đặt ở đây để chặn bước tiến về Sài Gòn của đối phương, cử Trung tướng Vĩnh Nghi làm Tư lệnh...

        Tôi tìm gặp anh Hà Mai - Đại tá, Trưởng phòng tư liệu, hỏi mượn hồ sơ Nghi để chuẩn bị giao ban. Anh Hà Mai đưa cho tôi tập hồ sơ khá dày, còn nói đùa: “Dưới con mắt chiến dịch, chiến thuật cậu xem hắn có đáng giá không, chứ mình cho cậu sẽ học được nhiều cách chạy áp phe để làm lưng vốn, sau này giải ngũ có kinh nghiệm làm ăn đấy”.

        Đọc lý lịch của tướng ngụy Vĩnh Nghi thấy đúng là tay “tổ đánh quả”, lợi dụng được mọi hoàn cảnh để vơ của. Nghi là cận thần của Thiệu, nói cho đúng là y nằm trong đường dây làm ăn của chị Sáu (vợ Thiệu), đường dây áp phe với nhiều kẻ tai to, mặt lớn, với Tổng cục tiếp vận chuyên đấu thầu cho quân đội, quan hệ mật thiết với Lý Long Thân - một Hoa kiều cỡ bự ở Chợ Lớn - nắm giữ mạch máu kinh tế ở miền Nam, ông ta đã từng làm Tư lệnh Quân khu 4 (các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long) và cũng thời gian này y nổi lên “tiếng tăm lừng lẫy” về tham nhũng. Sau mỗi vụ lúa, Nghi cho quân càn quét, gom lúa dưới nhiều hình thức tinh vi, xảo quyệt, lệnh cho tỉnh trưởng thu mua lúa với giá rẻ mạt để bán cho các chủ vựa lúa ở Sài Gòn. Nắm giữ toàn bộ ngành sản xuất, buôn bán than đước - một nhu cầu quan trọng cho đời sống nhân dân các tỉnh miền Đồng thời đó. Nổi lên hơn cả là áp phe “lính ma, lính kiểng”. Lính ma là loại lính có tên trong danh sách quân ngũ, còn lính kiểng là lính có tên, có người nhưng ở nhà, thỉnh thoảng tạt qua đơn vị trình diện. Hàng tháng chỉ huy các đơn vị phải nộp cho y một số tiền. Một phái đoàn nghị sĩ Mỹ đến thanh sát tình hình đã phát hiện ra, không chỉ tố cáo trong quốc hội Mỹ mà còn cung cấp cho báo chí đưa ra công khai buộc Nhà Trắng phải chính thức mở cuộc điều tra, gây xôn xao dư luận không chỉ ở miền Nam mà công luận quốc tế. Nhưng tất cả lùi vào im lặng với quyết định cách chức Tư lệnh đưa về trường sĩ quan và nay lại ra làm Tư lệnh phó Quân đoàn 3 kiêm Tư lệnh tiền phương quân khu.

        Căn cứ Phan Rang bao gồm cả sân bay Thành Sơn nằm sâu trong vùng địch kiểm soát. Địch cho rằng nơi đây khó xảy ra đánh lớn, nên cấu trúc phòng thủ chỉ ở mức tương đối kiên cố, nhưng địa hình trống trải rất thuận lợi phát huy hiệu lực của pháo binh, không quân. Chỉ có đường 1 chạy qua, việc triển khai hỏa lực nhất là cơ giới rât nhiều khó khăn. Thiệu quyết định lấy đây làm lá chắn chặn đường tấn công của ta vào Sài Gòn nhưng thời gian quá gấp chỉ được mấy ngày nên công sự chưa được củng cố nhiều lại bị Quân giải phóng đánh áp đảo. Địch đã dồn lực lượng tương đương 2 sư đoàn bộ binh, hỏa lực pháo binh mạnh với bao hy vọng đủ sức ngăn chặn ta tiến về trung tâm đầu não của chúng.

        Ngày 14/4/1975 Bộ Chính trị quyết định lấy tên Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt tên cho chiến dịch giải phóng Sài Gòn, cùng ngày ta nổ súng đập nát lá chắn Phan Rang của địch.

Bộ chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Chín, 2020, 11:26:38 am
       
        Quân sô đông, hỏa lực mạnh nhất là không quân yểm trợ, bắn phá liên tục ngày đêm nên trận chiến diễn ra giằng co quyết liệt nhưng quân ngụy cũng chỉ chống trả được đến trưa 16/4. Toàn bộ quân địch bị tiêu diệt, bỏ chạy, quân ta bắt sống Bộ chỉ huy mặt trận: Trung tướng Vĩnh Nghi, Phạm Ngọc Sang - Tư lệnh Sư 6 không quân kiêm Tư lệnh phó miền Trung và Lew James - phái viên đốc chiến của Mỹ.
       
        Được Bộ Quốc phòng cho phép: Mấy ngày đầu tập trung hỏi những tin tức, tình hình liên quan đến chiến dịch , có ghi âm và truyền sang nhà bên để các anh trong Tổ trung tâm nghe trực tiếp (Tổ trung tâm lập từ tháng 3/1974 để soạn thảo các phương án tác chiến chiến lược giúp Bộ gồm một số tướng lĩnh như Trung tướng Phạm Hồng Sơn, Thiếu tướng Cao Pha... và một số cán bộ tác chiến, tình báo, khoa học quân sự... do anh Cao Văn Khánh, Tổng tham mưu phó phụ trách).

        Kết quả tốt, được các anh lãnh đạo Bộ hài lòng, đã cho tóm kết những phần chủ yếu điện ngay cho chiến trường và sau đó mang băng ghi âm vào để các anh ở trong đó tham khảo.

        Theo viên tướng Vĩnh Nghi, Bộ Tổng tham mưu ngụy dự kiến ta có thể đánh vào nội đô theo 2 hướng: hướng đường 1 từ phía Bắc, Đông thọc vào, hướng thứ 2 theo đường 13, nên ngoài tuyến phòng thủ từ xa Phan Rang - Xuân Lộc còn lập vòng cung từ Gò Dầu Hạ - Lai Khê - Biên Hòa, mỗi nơi bố trí 1 sư đoàn. Trường hợp bị đánh mạnh sẽ rút 3 sư đoàn ở miền Tây lập tuyến phòng thủ án ngữ dọc đường 4 từ Vĩnh Long đến Cai Lậy..., chúng cho rằng có giữ được đoạn đường này mới bảo vệ được Sài Gòn và ngược lại.

        ‘Trong nội đô trừ một số yếu điểm còn lại không tổ chức phòng thủ, lực lượng chủ yếu chỉ có mấy tiểu đoàn cảnh sát dã chiến chuyên dùng vây, ráp, chống biểu tình và lực lượng phòng vệ dân sự. Chỉ nên tập trung vào mấy mục tiêu quan trọng như Bộ Tổng tham mưu, trại quân dù Hoàng Hoa Thám, sân bay Tân Sơn Nhất, Biên Hòa.

        Từ trước đến nay sức chiến đấu của quân ngụy chủ yếu dựa vào hỏa lực phi cơ và pháo binh. Hiện nay tinh thần chiến đấu sa sút, hoang mang, giao động lại đang cần đến yểm trợ hỏa lực, đặc biệt của không quân, không chỉ chi viện cho chiến đấu mà là bùa linh nghiệm giúp nâng cao tinh thần chiến đấu nên các sân bay bị đánh tê liệt thì coi như quân ngụy tan rã. Trong 3 sân bay Tân Sơn Nhất, Biên Hòa và cần Thơ thì sân bay Biên Hòa trọng yếu hơn cả. Đây là nơi sửa chữa các loại máy bay F5 và A37, tập trung hầu hết các loại trên. Đánh liệt sân bay Biên Hòa sẽ làm sức chiến đấu của không quân ngụy giảm đi quá nửa”.

        Tướng Nghi cũng như đồng bọn đã nói lên được những hiểu biết suy nghĩ của họ, nhưng họ hiểu sao được sự chỉ đạo biến hóa của Đảng ta, tài chỉ huy thao lược của những người cầm quân cách mạng. Tuy nhiên họ cũng khai được nhiều điều giúp ta tham khảo để có thêm cách đánh hay nhất, linh hoạt nhất đi tới chiến thắng toàn vẹn ngày 30/4/1975.

Quân ngụy đổ quân cứu Xuân Lộc, Giải phóng Biên Hòa


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Chín, 2020, 11:29:27 am
        
X.NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG

        Cuối tháng 4/1975, nội đô Sài Gòn càng nhốn nháo. Mọi người đều phập phồng lo âu, sợ hãi với nhiều nỗi suy nghĩ riêng tư. Giới quân sự cuống cuồng lo tìm phương sách cứu nguy cơ đổ vỡ hoàn toàn. Giới chức cầm đầu ngụy quyền lo chạy vạy kiếm chân trong cái gọi là chính phủ mà Mỹ đang sắp xếp.

        Ngài Đại sứ Martin cũng đã phải từ bỏ chủ trương giữ Thiệu, đốc thúc nhân viên dưới quyền tìm lo nhân sự, dựng lên bộ mặt mới với hy vọng được phía bên kia chấp nhận đi vào thương lượng, may ra cứu vớt được chút đỉnh gì chăng.

        Phù thủy Mỹ đã dựng xong kịch bản với lớp lang khá bài bản.

        20/4/1975 Martin trực tiếp thuyết phục Thiệu, vừa đe dọa vừa hứa hẹn đảm bảo cho Thiệu ra đi an toàn nếu Thiệu chịu từ chức. Ông chủ Mỹ đã quyết, sức mấy chống lại, Thiệu chấp nhận. Thế là các màn kịch tiếp theo diễn ra đúng như kịch bản.

        21/4/1975 Thiệu đọc tuyên cáo từ chức, giao quyền cho Phó tổng thống Trần Văn Hương. Hương liền cử Phan Hòa Hiệp - Bộ trưởng Thông tin - tới gặp đoàn ta ở trong sân bay Tân Sơn Nhất xin cử một người thuộc trung gian ra Hà Nội để tìm hiểu..., đã bị đoàn ta gạt ngay (24/4). Hương tiu nghỉu đành phải thực hiện giao quyền cho Dương Văn Minh ngày 28/4, người được Mỹ coi là có thể được cách mạng chấp nhận đi vào thương lượng. Minh lập nội các mới với một số gương mặt không lạ lẫm gì với nhân dân miền Nam như Nguyễn Văn Huyền, Vũ Văn Mẫu... Các “diễn viên” còn đang ra trò thì quân ta đã hoàn thành tập kết vào các hướng chuẩn bị nổ súng quét nốt ngụy quân, ngụy quyền, giải phóng Sài Gòn.

        26/4/1975 các cánh quân của ta đồng loạt nổ súng. Lần đầu tiên trong lịch sử cận đại chống ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc, ta tổ chức đánh trận với binh chủng hợp thành quy mô lớn gần 300 ngàn quân gồm 4 quân đoàn cùng các binh chủng pháo, tăng, thiết giáp, công binh...

        Bọn sĩ quan ngoan cố, ác ôn ngụy thấy đây là trận cuối cùng, không chống giữ được sẽ bị tiêu diệt hoặc tan rã, xóa nốt quyền uy còn lại nên đốc thúc binh sĩ chống cự điên cuồng, thúc ép tử thủ nên đã gây cho ta không ít thưorng vong. Nhiều đồng chí đã ngã xuống trước ngày toàn thắng, trước cửa ngõ Sài Gòn.

        Viên Trung tướng Nguyễn Hữu Có - sĩ quan chuyên nghiệp trong quân đội Pháp trước đây, sau đảo chính lật Diệm (1963) đã giữ nhiều chức vụ quan trọng trong quân đội Cộng hòa: Tổng tham mưu trưởng (1964), Bộ trưởng Quốc phòng rồi Phó Thủ tướng (1965 - 1967), sau đó nghỉ hưu - ngày 29/4/1975 được Minh cử làm phụ tá Tổng tham mưu trưởng Vĩnh Lộc, ông ta đã thuật lại cụ thể những ngày cuối cùng của chế độ Sài Gòn: “... Trưa 29 tôi nhận được điện thoại gọi vào gặp tướng Minh ngay, nhưng vì bận thu xếp việc riêng nên mãi 16 giờ mới đến nhà Minh đúng lúc đang ăn cơm, có cả Lý Quý Chung - Bộ trưởng Thông tin. Sau một hồi bàn chuyện tình hình, ông ta bảo tôi:

        - Anh đến trễ, tôi đã chỉ định Vĩnh Lộc làm Tổng tham mưu trưởng mất rồi. Anh hãy tới đó xem có giúp gì được không?

        Tôi quay về nhà mặc quân phục rồi đến ngay Tổng hành dinh, ở đây ngoài Vĩnh Lộc còn có Trung tướng Tổng cục trưởng chiến tranh chính trị Trần Văn Trung, Thiếu tướng Văn Thành Cao - Tổng cục phó và các tướng Vũ Ngọc Hoàn - quân y, Nguyễn Hữu Hạnh - phụ tá cho tướng Minh và một số đại tá.

        Vĩnh Lộc đang soạn thảo nhật lệnh nên bảo tôi chủ tọa họp, soát lại toàn bộ tình hình. Sĩ quan Bộ Tổng tham mưu ngụy đã bỏ chạy gần hết, chỉ nắm được danh sách hơn 100 người kể cả binh sĩ. Đến lúc này không còn tổ chức gì hết; sau họp, tôi tới trung tâm hành quân để nắm tình hình các đơn vị. Gọi điện đến Quân đoàn 3 gặp Lê Trung Tường - Chuẩn tướng tham mưu trưởng -  báo cáo rằng Trung tướng Nguyễn Văn Toàn - Tư lệnh - đã chạy xuống Vũng Tàu bằng trực thăng từ trưa. Hiện quân đoàn không nắm, chỉ huy được các đơn vị trực thuộc.

Dân chúng Sài Gòn chen chúc trèo vào Sứ quán Mỹ để xin di tản


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến thắng đầy huyền thoại
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Chín, 2020, 11:48:28 am
 
        Khoảng 19 giờ, liên lạc được với Lê Minh Đảo -  Chuẩn tướng, Tư lệnh Sư 18 (sư đoàn phòng giữ Xuân Lộc bị đánh ta mới chạy về), ông ta cho biết chỉ còn nắm được 2 tiểu đoàn giữ ngã tư xa lộ đi Long Khánh, quân số còn ít, nhiên liệu đạn được thiếu, khó giữ được đến 30/4”.

        Nguyễn Hữu Có cho biết: - Tôi chuyển bắt liên lạc với Chuẩn tướng Trần Quang Khôi - Tư lệnh Lữ đoàn thiết giáp, đóng ở Biên Hòa - tình hình cũng chẳng sáng sủa gì hơn. Khôi cho biết đơn vị đã nao núng lắm rồi. Xăng, đạn đã cạn, không thể kéo dài chiến đấu được nữa. Thế là chấm dứt hy vọng dùng lữ này trám vào những nơi bị chọc thủng. 21 giờ tìm bắt liên lạc với Sư 5 ở Lai Khê, Sư 25 ở Đồng Dù nhưng không liên lạc được. Mươi phút sau gọi lại nhưng vẫn không gặp được nên quay sang gọi cho trung tâm huấn luyện Quang Trung gặp được Đại tá Nguyễn Văn Huấn. Ông ta vừa nói vừa run: “Chuẩn tướng Lê Bá Hỷ - Giám đốc - đã đào nhiệm. Lái Thiêu đã tràn ngập quân đối phương. Chiến xa, xe vận tải đi sát hàng rào trung tâm”. Tôi hỏi lại sợ có nhầm lẫn gì không? Viên đại tá vẫn giọng lập bập: “Đúng quân giải phóng, họ đang lướt qua cổng nhưng không vào trong. Trung tâm toàn lính mới nên bỏ trốn cả rồi!”. Tôi cũng hoảng, đánh thức Lộc dậy, bảo cho Lộc biết tình hình trên và nhận định: “Quân giải phóng đang tiến vào Sài Gòn theo 3 hướng: một cánh từ Tây Ninh xuống ngã tư Bẩy Hiền, một cánh từ Bình Dương - Lái Thiêu tiến xuống cầu Bình Triệu, cánh thứ 3 từ Biên Hòa dọc theo xa lộ”.

        Tướng Vĩnh Lộc tái mặt khi nghe tôi nói nhưng vẫn ra vẻ cứng, bảo tôi điều thiết giáp chặn đối phương ở Gò Vấp, động viên quân dù cố giữ ngã tư Bẩy Hiền và cho không quân đánh phá mạnh, chặn đánh ở trung tâm Quang Trung. Tôi vừa quay ra lệnh cho các nơi thực hiện ý ông ta, khi quay lại ông ta đã chạy mất tăm. Sau đó mấy sĩ quan cho biết tướng Vĩnh Lộc đã cùng bồ là ca sĩ Minh Hiếu chuồn xuống Vũng Tàu di tản bằng đường biển.

        Không còn cách nào khác, tôi cùng tướng Hạnh kéo nhau đến gặp Minh ở biệt thư Hoa Lan - 3 Trần Quý Cáp. Tôi trình bày tình hình với kết luận: ‘Tình hình đã trông thấy thất bại, chẳng còn gì mà chống cự được nữa”. Ông ta còn động viên chúng tôi bình tĩnh rồi tất cả kéo nhau vào Dinh Độc Lập, quyết định triệu tập nội các để tìm phương sách cứu vãn tình thế. Trên đường qua Sứ quán Mỹ thấy đám đông đang xông vào Sứ quán đập phá, hôi của, mấy xe Mỹ bị đốt cháy phả khói đen mù mịt, Dương Văn Minh lắc đầu nói với chúng tôi bằng tiếng Pháp: “Thế là hết, thành phố chẳng còn kỷ luật gì cả!”.

        Khoảng 8 giờ 30, những người trong nội các lục tục kéo đến gần như đủ mặt: Nguyễn Văn Huyền - Phó Tổng thống, Vũ Văn Mẫu - Thủ tướng, Bùi Tường Huân - Bộ trưởng Quốc phòng... Tôi được ủy nhiệm báo cáo tình hình, còn Minh liên lạc với Thích Trí Quang. Cuộc nói chuyện của 2 người cộc lốc, ngắn ngủi, đại ý Tổng thống nhờ thầy chùa tìm dàn xếp, thương lượng với cách mạng nhưng không thành.

        Đúng lúc đó Vũ Văn Mẫu điện đàm với Đại sứ Pháp Mérilon. Nội dung tôi không được nghe, chỉ biết sau đó ông Mẫu buồn thiu nói với chúng tôi: “Họ hứa giúp nhưng chẳng kết quả gì”.

        Chúng tôi trao đổi với nhau nên làm gì trong lúc này. Tổng thống Minh nêu lên tuyên bố ngừng bắn, xin gặp cách mạng để giao chính quyền.

        Tuyên bố chưa thảo xong, xe tăng đã húc đổ cánh cửa sắt tiến thẳng vào thềm nhà Dinh Độc Lập. Chế độ ngụy quyền Sài Gòn sụp đổ hoàn toàn.

        Sau buổi gặp hôm đó, tôi còn gặp ông ta - Nguyễn Hữu Có mấy lần để hướng dẫn, yêu cầu viết tài liệu. Ông ta có trí nhớ thật tốt. Trong tay không có tài liệu tham khảo mà ông ta viết khá chuẩn những sự kiện đã xảy ra ngay cả thời ông ta còn ở trong quân ngũ Pháp, thậm chí nhớ cả ngày tháng mặc dầu thời gian đã qua mấy chục năm rồi. Tình cờ đôi lần nhắc đến sự kiện 30/4, nét mặt ông ta thay đổi hẳn. Có thể tôi đã chạm đến nỗi đau của ông ta, nhắc đến sai lầm cuối đời vì tham vọng hão huyền nhảy ra tham chính trong lúc con thuyền bán nước buôn dân đang sắp sửa chìm để rồi cùng chìm với nó.

HẾT