Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 18 Tháng Bảy, 2020, 11:39:35 am



Tiêu đề: Thử lửa
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Bảy, 2020, 11:39:35 am
     
        - Tên sách : Thử lửa

        - Tác giả : Thiếu Tướng Nghiêm Sỹ Chúng

        - Nhà xuất bản Quân đội nhân dân

        - Năm xuất bản : 2012

        - Số hóa : Giangtvx


Tiêu đề: Re: Thử lửa
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Bảy, 2020, 07:49:26 pm

       
LỜI GIỚI THIỆU

        "Thử lửa" là một quyển hồi ký ngắn, kể về những câu chuyện mà người viết đã trải qua, sau khi mới tốt nghiệp Trường Đại học Kỹ thuật quân sự và được phân công đi thực tế chiến trường. Không gian chính của những mẩu chuyện trong thời kỳ này là vùng đất thuộc Đặc khu Vinh Linh và huyện Do Linh, ở hai bên bờ sông Bến Hải, thời gian từ cuối năm 1971 đến cuối năm 1972.

        Trong những ngày này, chiến sự đang diễn ra vô cùng ác liệt trên chiến trường Quảng Trị. Trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ ở Việt Nam có lẽ không có chiến dịch nào kéo dài như chiến dịch Trị - Thiên, nó bắt đầu từ ngày 30 tháng 3 và kết thúc vào ngày 27 tháng 6 năm 1972. Tiếp đó là chiến dịch phòng ngự Quảng Trị (28.6.1972 -  31.1.1973). Mức độ ác liệt của nó củng chưa từng có, đỉnh điếm là cuộc chiến trong 81 ngày đêm tại Thành cổ Quảng Trị. Nơi đó củng là nơi quân và dân ta thể hiện ý chí chiến đâu kiên cường, lòng dũng cảm tuyệt vời và tinh thần hy sinh vô bờ bến vì độc lập tự do của Tổ quốc.

        Chúng ta đã tập trung một lực lượng lớn, đập tan tuyến phòng thủ phía bắc Quảng Trị của địch, giải phóng căn cứ Đông Hà, thị xã Quảng Trị, trực tiếp uy hiếp Huế và Đà Nẩng. Trước nguy cơ Huế có thể thất thủ và sự tan vỡ của các lực lượng ngụy quân tại Quân khu 1, có thể sẽ dẫn tới những hậu quả không thể lường trước được đối với chế độ Sài Gòn, Mỹ đã quay trở lại đánh phá miền Bắc với quy mô và mức độ ác liệt chưa từng có.

        Được sự chi viện hoả lực tối đa của không quân và hải quân Mỹ, quân ngụy đã tập trung những lực lượng mạnh nhất và tinh nhuệ nhất, tổ chức phản kích hòng chiếm lại những vùng đất đã mất, trong đó có Thành cổ Quảng Trị. Cuộc chiến đấu giữa ta và địch trở nên vô cùng quyết liệt. Quảng Trị trở thành nơi tập trung sức mạnh và ý chí của cả hai bên trong cuộc chiến. Mỗi ngày Mỹ huy động tối đa máy bay, pháo hạm tiến hành từ 40 đến 60 phi vụ máy bay cường kích, 60 đến 70 phi vụ B-52 bắn từ 8.000 đến 15.000 quả đạn pháo, ngày cao điểm có thể lên tới 30.000 viên. Cả chiến trường Quảng Trị rền vang tiếng bom đạn và ngập chìm trong khói lửa.

        Cuộc chiến đấu kiên cường của quân và dân ta bảo vệ vùng giải phóng và Thành cổ Quảng Trị đã làm cho chính quyền Mỹ càng nhận thấy không thê dùng sức mạnh quân sự đè bẹp được ý chí độc lập tự do của dân tộc ta. Cùng với việc đánh bại cuộc tập kích chiến lược bằng không quân của Mỹ trên bầu trời Hà Nội, ta đã giáng một đòn mạnh vào ý chí xàm lược của Mỹ, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri, cam kết rút toàn bộ lực lượng của Mỹ và đồng minh khỏi Việt Nam.

        Tuy nhiên trong cuộc chiến đấu với một kẻ thù có tiềm lực quân sự hàng đầu thế giới, những hy sinh mất mát của chúng ta là điều không thê tránh khỏi. Bên cạnh những trận thắng giòn giã ở nơi này hoặc nơi khác, ở thời điểm này hoặc thời điểm khác chúng ta củng đã có những tôn thất không nhỏ. Đó là quy luật nghiệt ngã của chiến tranh. Với cương vị là trợ lý vũ khí của trung đoàn, được tăng cường cho tiểu đoàn bộ binh cơ giới, trong cuộc hành quân vào chiến trường Quảng Trị, người viết đã tái hiện lại những câu chuyện mà qua đó giúp cho người đọc có thêm những kinh nghiệm quý báu về công tác tổ chức hành quân trong chiến đấu, đặc biệt là đối với các đơn vị cơ giới trong điều kiện địch hoàn toàn làm chủ bầu trời, trình độ tổ chức chỉ huy và thông tin liên lạc của ta còn hạn chế.

        Người viết đã tái hiện rất chân thực một phần công tác tổ chức, chỉ huy bảo đảm hậu cần kỹ thuật tại Sở chỉ huy hậu phương của một trung đoàn bộ binh cơ giới trong chiến dịch. Những công việc phải tiến hành, những tình huống cần phải xử lý và hành động của người chỉ huy của cơ quan, của các phân đội nhỏ trong thời gian diễn ra chiến dịch.

        Hồi ký cũng cho chúng ta thấy hình ảnh của một sĩ quan mới ra trường qua từng thời gian, qua từng sự kiện đã từng bước thích ứng với công việc và hoàn cảnh trên chiến trường để hoàn thành tốt chức trách của mình; hình ảnh của các chiến sĩ hậu cần kỹ thuật, từ người lái xe đến các chiến sĩ giữ kho, áp tải hàng, tuổi đời còn rất trẻ đã không quản gian khổ hy sinh ngày đêm lăn lộn trên chiến trường, dưới đạn bom của địch thi hành nhiệm vụ của mình; hình ảnh của những người dân trên tuyến lửa Vĩnh Linh sát cánh cùng bộ đội chiến đấu và chia sẻ những tháng ngày gian khổ hy sinh.

        Tác giả của tập hồi ký - đồng chí Nghiêm Sỹ Chúng là người đồng chí, đồng đội lâu năm của tôi, từ buổi ban đầu ở Trường Đại học kỹ thuật quân sự (nay là Học viện Kỹ thuật quân sự) tiếp đó là công tác ở Quân khu 1 đến Tổng cục Kỹ thuật.

        Tôi rất xúc động khi đọc những trang hồi ký giản dị và chân thành của anh và xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc, đặc biệt là các bạn trẻ của Học viện Kỹ thuật quân sự thân yêu của chúng ta.

Trung tướng, GS, TSKH NGUYỄN HOA THỊNH       

        Nguyên Giám đốc Học viện Kỹ thuật quân sự, nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật - Bộ Quốc phòng, nguyên Giám đốc Trung tâm khoa học công nghệ - Bộ Quốc phòng

Kiểm tra vũ khí trước khi bắn đạn thật tại Quân đoàn 1, năm 2003. Trong ảnh, từ trái qua phải: Trung tướng Phạm Hồng Lợi - Phó Tổng tham mưu trưởng, Thiếu tướng Nghiêm Sỹ Chúng, Đại tá Nguyễn Quốc Khánh - Phó Tư lệnh Quân đoàn 1 (hiện nay là Trung tướng - Phó Tổng tham mưu trưởng).


Tiêu đề: Re: Thử lửa
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Bảy, 2020, 07:51:25 pm
       
LỜI CỦA TÁC GIẢ

        Sau khi về hưu, mỗi một người lính đều có mong muốn sẽ viết được một cái gì đó kể lại những kỷ niệm không thể nào quên trong cuộc đời quân ngũ. Ở tổ dân phố, tôi và các cựu chiến binh sinh hoạt trong một câu lạc bộ bóng bàn. Người già thường sống bằng kỷ niệm và quá khứ là một kho tàng rất phong phú và quý giá của họ. Chúng tôi thường kể cho nhau nghe những câu chuyện mình đã trải qua.

        Trong số chúng tôi, có người là lính bộ binh đã có mặt ở chiến trường từ đầu những năm 60 của thế kỷ XX cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Có người là lính cao xạ chiến đấu ở Hàm Rồng rồi vào đường Trường Sơn, sau lại chuyển thành lính bộ binh chiến đấu ở Campuchia, có người là sĩ quan ra đa, người là sĩ quan điều khiển tên lửa. Trong đó có những người là anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Những câu chuyên về chiến tranh luôn sôi nổi và rất hay, tuy nhiên để ghi lại "bài bản" những câu chuyện này thì thật là không dễ. Vì trong số chúng tôi ít ai có thể tin rằng mình có thể có đủ trình độ và sự kiên nhẫn để làm công việc này. Thời gian thì không chờ đợi ai nhất là những người lính đã có một thời đi qua chiến tranh và rồi những câu chuyện của chúng ta sẽ bị thời gian quên lãng nếu không viết lại. Nghĩ vậy, tôi cũng đã thử ngồi vào bàn để viết nhưng nhiều lần mà chưa thành. Quả thực là vạn sự khởi đầu nan! Thế rồi, một ngày tôi nhận được điện thoại của thầy và củng là thủ trưởng cũ của tôi: Thầy Lê Phương Cảo, nguyên là Phó Giám đốc Học viện Kỹ thuật quân sự, người đã thường xuyên chú ý đến tôi khi tôi mới vào trường, cho đến khi tôi tốt nghiệp và những chặng đường sau này trong cuộc đời binh nghiệp của tôi. Thầy động viên tôi rằng: Nhà trường đang phát động viết Hồi ký nhân dịp kỷ niệm 45 năm thành lập nhà trường. Cậu là học viên khóa 1 của trường, sau tốt nghiệp đã có thời gian giảng dạy, rồi đi đơn vị và đã phấn đấu lên được cấp tướng. Cậu cố gắng tham gia viết hồi ký đóng góp với nhà trường. Được thầy cổ vũ, tôi đã ngồi vào bàn, y như những ngày còn công tác, tôi viết hồi ký: "Từ nhà trường ra chiến trường" và gửi đến phòng tuyên huấn nhà trường. Không lâu sau đó, tôi được thông báo bài viết của tôi được giải Nhất cuộc thi viết Hồi ký của nhà trường và được tặng giấy khen. Sau khi nhận được giải thưởng, tôi gọi điện thông báo và gửi bài viết cho thầy xem. Thầy khen hay và khuyên tôi viết tiếp. Được thầy khích lệ tôi tiếp tục viết và sau gần một năm tôi đã viết xong quyển hồi ký đầu tiên trong đời, mặc dù nó rất ngắn, tôi đặt tên cho nó là "Thử lửa". Đúng là hãy cứ đặt bước chân đầu tiên rồi củng có ngày đến đích.

        Tôi viết hồi ký này với mong muốn các thê hệ sau sẽ còn biết tới những tháng ngày không thể nào quên của tôi và đồng đội.

        Tôi cũng rất hy vọng rằng; một ngày nào đó hồi kỷ "Thử lửa" sẽ đến tay những người đồng đội của tôi ở Trung đoàn 202. Họ sẽ nhận ra minh trong đó và chúng tôi có thể có dịp được gặp lại nhau.

        Qua những câu chuyện nhỏ trong hồi ký, tôi hy vọng nó có thể sẽ trở thành tài liệu tham khảo có ích đối với các học viên nhà trường.

        Tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với thầy Lê Phương Cảo, người đã tiếp cho tôi lòng tự tin và sự kiên nhẫn để bắt đầu viết cho đến khi hoàn thành cuốn hồi ký.

        Cảm ơn Nhà xuất bản Quân đội nhân dân đã giúp đỡ để cuốn sách nhỏ này được đến với bạn đọc.

NGHIÊM SỸ CHÚNG        

Thiếu Tướng Nghiêm Sỹ Chúng


Tiêu đề: Re: Thử lửa
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Bảy, 2020, 05:55:15 pm
           
       
TỪ NHÀ TRƯỜNG RA CHIẾN TRƯỜNG

        Tháng 11 năm 1971, khoá đào tạo 1 của trường Đại học Kỹ thuật quân sự làm lễ tốt nghiệp ra trường. Sau khi nhận bằng tốt nghiệp, tôi về nhận công tác tại Khoa Cơ bản, mặc dù tốt nghiệp ngành Vũ khí, nhưng biết tôi có năng khiếu giảng dạy các môn khoa học cơ bản và kỹ thuật cơ sở, thầy Lê Phương Cảo, lúc đó là Hiệu phó phụ trách công tác huấn luyện đã quyết định điều tôi về Khoa Cơ bản. Trước khi về khoa nhận nhiệm vụ thầy Lê Phương cảo hỏi tôi:

        - Đồng chí có đồng ý về Khoa Cơ bản không?

        Tôi trả lời: Tôi đồng ý!

        Thật ra vào khoảng thời gian đó, nếu cấp trên đã có quyết định thì hầu như cấp dưới sẽ chấp hành ngay, ít ai có ý kiến ngược lại.

        Thầy hỏi tiếp:

        - Nếu về Khoa Cơ bản, đồng chí muốn dạy môn học nào?

        Do đã có chuẩn bị từ trước, tôi trả lòi luôn:

        - Tôi muốn dạy môn nguyên lý máy.

        Nguyện vọng của tôi được chấp nhận, thế là tôi khoác ba lô về Khoa Cơ bản, bộ môn Cơ kỹ thuật, môn học Nguyên lý máy.

        Tổ bộ môn Nguyên lý máy lúc bấy giờ đã có các anh: Nguyễn Chấn, Phan Văn Chạy, Ngô Quyết, Trần Văn Định và bây giờ thêm tôi nữa, thành ra có 5 giáo viên. Tôi là người mới về, còn phải có thời gian đọc và soạn giáo trình trước khi chính thức lên lớp.

        Tuy nhiên, về bộ môn chưa được bao lâu, tôi lại được lệnh tập trung để đi thực tế chiến trường, vì năm ấy nhà trường có chủ trương đưa giáo viên đi thực tế. Do mới về bộ môn, chưa bắt tay vào soạn giáo trình và cũng chưa lên lớp ngày nào nên việc cử tôi đi thực tế chiến trường là không ảnh hưởng gì tới công tác giảng dạy của bộ môn. Về chuyện riêng tư, tôi cũng không có gì phải vương vấn. Đã 27 tuổi tôi chưa có vợ và cũng chưa có người yêu. Những năm tháng còn học ở trường, tôi cũng theo đuổi một bóng hồng. Đó là mối tình đầu, một mốì tình lãng mạn, nhưng nó chỉ diễn ra trong trí tưởng tượng và trên thư từ. Mối tình của một chàng trai, mói rời khỏi ghế nhà trường phổ thông, không có một chút thực tế nào về tình yêu và cũng như nhiều mối tình đầu nó cũng đã đi đến cái kết cục như trong lời bài hát "Vĩnh biệt mùa hè" của Nhạc sĩ Thanh Tùng. Đó là "Vĩnh biệt tình đầu, tình đầu là cơn giông chợt qua mau, qua mau! Vĩnh biệt tình đầu. Tình đầu làm con tim ta đớn đau!".

        Trong bộ môn cùng được cử đi thực tế chiến trường với tôi lần này còn có anh Khoa, giáo viên hình họa. Anh Khoa ra trường và đã làm giáo viên được hai năm, chưa có vợ, chưa có người yêu và trong quá khứ cũng chưa có mối tình nào vắt vai, mặc dù là một người khá hóm hỉnh và có năng khiếu kể chuyện tiếu lâm.

        Nhà trường tổ chức nhiều đoàn đi về các đơn vị, trong đó tôi và anh Khoa được vào đoàn sẽ về Bộ Tư lệnh Thiết giáp. Đoàn gồm có: Anh Lê Xuân Đình, Trung úy, Phó Tiến sĩ ô tô - xe máy - Trưởng đoàn, anh Phong, Trung úy, trợ lý Phòng Tuyên huấn, Chính trị viên kiêm Bí thư chi bộ, anh Phạm Văn Trợ, Trung úy, Phó Tiến sĩ động cơ, anh Khải, Trung úy, giáo viên công binh, anh Đông, Thiếu úy, giáo viên toán, anh Hoàng Hải, Chuẩn úy, trợ giáo pháo mặt đất, anh Đình Thắng, Chuẩn úy, kỹ sư ô tô, anh Khoa và tôi.

        Trước khi chúng tôi về đoàn tập trung, bộ môn đã tổ chức liên hoan. Thời ấy những buổi liên hoan thường rất đạm bạc, chỉ có vài cái bánh, cái kẹo, nước chè, thuốc lá. Mọi người hy vọng chúng tôi ra đi hoàn thành tốt nhiệm vụ và sẽ có ngày trở về để tiếp tục con đường cống hiến cho sự nghiệp khoa học. Chị Hảo, giáo viên cơ học lý thuyết và cô Doan, nhân viên phòng thí nghiệm đã bỏ công sức để thêu tặng chúng tôi mỗi người một chiếc khăn tay có bông hoa hồng và dòng chữ "Hẹn ngày chiến thắng".

        Khoảng cuối tháng 12 năm 1971, Đoàn chúng tôi được xe ô tô của Nhà trường đưa về Bộ Tư lệnh Thiết giáp, lúc bấy giờ đang đóng ở Cam Lâm, cách nhà trường chỉ khoảng 15km. Sau khi về Bộ Tư lệnh Thiết giáp đoàn chúng tôi được điều về Trung đoàn 202.

        Về đến trung đoàn, anh Phong Chính trị viên của đoàn được điều về Ban Chính trị Trung đoàn, còn tất cả chúng tôi thì được điều về Ban Hậu cần.

        Lúc này trung đoàn đang ráo riết làm công tác chuẩn bị để đi chiến trường. Mới từ nhà trường ra đơn vị, chúng tôi còn rất bỡ ngỡ. Riêng tôi là sĩ quan mới tốt nghiệp không hề có kinh nghiệm gì trong công tác bảo quản sửa chữa vũ khí thì công việc chắc sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Trong thòi gian học ở trường 5 năm thì 3 năm đầu chúng tôi học các môn khoa học cơ bản, kỹ thuật cơ sở. Đến năm thứ 4 chúng tôi bắt đầu học, về vũ khí. Nhưng tất cả các giáo trình về vũ khí đều nặng về lý thuyết như: Thiết kế pháo mặt đất, thiết kế vũ khí bộ binh, thiết kế súng cối, thiết kế bệ phóng tên lửa... Nguyên lý hoạt động của hệ thống điều khiển tự động pháo trên tăng...


Tiêu đề: Re: Thử lửa
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Bảy, 2020, 05:55:43 pm

        Hiểu biết về nguyên lý các loại vũ khí, các loại đạn, ngòi đạn thì rất rộng, nhưng khả năng thực hành của chúng tôi lại còn rất yếu. Trong 5 năm học, chúng tôi chỉ có một học kỳ học về trang bị điển hình, chủ yếu là các loại vũ khí bộ binh và hai loại pháo mặt đất là pháo lựu 122mm và pháo nòng dài 85mm. Việc học tập chủ yếu là giới thiệu nguyên lý hoạt động của vũ khí qua tranh vẽ. Việc thực hành tháo lắp, nghiên cứu các loại hỏng hóc và phương pháp sửa chữa còn rất hạn chế. Ngoài ra chúng tôi còn có một học kỳ được đi thực tập ở xưởng sửa chữa vũ khí. Nhưng khi về thực tập ở xưởng chúng tôi xem nhiều hơn là làm. Vì vậy tuy đã có bằng kỹ sư vũ khí nhưng khi có việc phải sờ vào vũ khí, chúng tôi chẳng khác gì xẩm sờ voi.

        Trong thời gian đang chuẩn bị đi chiến dịch, một lần tôi nhận được lệnh xuống Đại đội hoả lực sửa chữa bộ phận giảm xóc cho một khẩu côi 82mm. Việc này đối với một người thợ vũ khí bậc 3 thì là một việc quá đơn giản. Vì vậy khi điều một kỹ sư vũ khí xuống để giải quyết thì ai cũng nghĩ rằng không có gì phải quan tâm. Tuy nhiên đối với tôi thì không phải thế, khi bắt đầu tiếp xúc với khẩu súng cối, tôi phải cố gắng nhớ lại các vấn đề vế nguyên lý cấu tạo, hoạt động của bộ phận giảm xóc. Tôi loay hoay suốt buổi sáng, mồ hôi toát ra đầm đìa. Quá trưa, may quá, tôi cũng giải quyết được vấn đề. Nếu không thì mang tiếng là kỹ sư mà không sửa được một hư hỏng thông thường của bộ phận giảm xóc của khẩu cối 82mm. Tôi biết mình còn rất thiếu kinh nghiệm và kiến thức của việc sửa chữa vũ khí, đây là một khó khăn rất lớn đôi với một kỹ sư vũ khí chuẩn bị đi chiến trường. Rất may, đây chỉ là một hư hỏng nhỏ và tôi lại có thời gian tĩnh tại để suy nghĩ, phân tích nên mới khắc phục được. Còn nếu là một hư hỏng phức tạp hơn, lại xảy ra ngay trên chiến trường, giữa tiếng đạn nổ bom rơi và yêu cầu khẩn cấp của công việc thì liệu tôi có giải quyết được không? Công tác thực tiễn ở đơn vị và trên chiến trường đòi hỏi người kỹ sư vũ khí phải có khả năng thực hành. Không có khả năng thực hành, người kỹ sư mới ra trường không khác gì một người sắp được thả xuống nước mà chưa biết bơi.

        5 năm ở trường chúng tôi học quá nhiều thứ. Nhưng chúng tôi lại chưa kịp chuẩn bị kỹ cho công việc chính của mình là phải thành thạo và có khả năng huấn luyện cho người khác việc sử dụng, tháo lắp, sửa chữa và hiệu chỉnh các loại vũ khí trong phạm vi chuyên ngành của mình. Cũng trong thời gian chuẩn bị đi chiến trường tôi còn nhớ mãi một kỷ niệm. Đó là vào khoảng cuối tháng 1 năm 1972, tôi và anh Khoa, giáo viên hình họa nhận nhiệm vụ theo anh Lê Xuân Tấu, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 198 đi nhận pháo cao xạ 37-2 tự hành tại Nhà máy Z153 ở Đông Anh. Loại cao xạ tự hành này do ta cải tiến bằng cách lắp nguyên khẩu pháo cao xạ 37-2 lên xe tăng T-34 đã được dỡ bỏ tháp pháo. Tôi không biết gì về quá trình thiết kế và bắn thử nhưng khi đến nhìn khẩu pháo tự hành thì tôi có cảm giác rằng nó chỉ được chở trên một chiếc xe tăng T-34 còn khả năng che chắn cho các pháo thủ khi chiến đấu thì rất hạn chế vì toàn bộ khẩu pháo và các pháo thủ khi thao tác đều nằm phía trên thân xe tăng, hầu như không có gì che chắn cả và khi lắp pháo kiểu này thì pháo không thể bắn được khi xe tăng đang hành tiến.

        Tuy nhiên việc tiếp nhận pháo cũng được đồng chí Lê Xuân Tấu (tuyên dương anh hùng quân đội, tháng 5-1972), Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 198 tiến hành rất cẩn thận và tỷ mỷ bởi vì 4 khẩu pháo cao xạ tự hành này sẽ thuộc biên chế của Tiểu đoàn 198 khi hành quân vào chiến trường. Đồng chí Lê Xuân Tấu sau này là Tư lệnh Binh chủng Thiết giáp và cùng về hưu với tôi một lượt.

        Sau gần một buổi sáng, chủ yếu là kiểm tra tình trạng kỹ thuật của xe xem có đủ khả năng vào chiến trường được hay không. Rồi đồng chí Lê Xuân Tấu cũng quyết định nhận xe đưa về đơn vị. Bây giờ nghĩ lại mới thấy việc lắp khẩu pháo cao xạ 37-2 lên xe tăng T-34 đã dỡ tháp pháo là một việc làm xuất phát từ một suy nghĩ quá đơn giản. Việc lắp pháo phòng không lên xe tăng phức tạp không khác gì lắp pháo trên tàu thuỷ, nhất thiết phải có hệ thống tự động điều chỉnh khi con tàu chòng chành trên sóng nước cũng như khi xe tăng cơ động trên địa hình không bằng phẳng thì mới có thể bắn được khi hành tiến. Đặc biệt đối với pháo cao xạ khi tự hành chiến đấu với máy bay thì việc che chắn bảo đảm an toàn cho pháo thủ khi bị máy bay địch oanh tạc là điều rất quan trọng, cả hai điều kiện đó đều không có đối với khẩu cao xạ 37-2 lắp trên chiếc xe tăng T-34 này. Nhưng lúc đó với tinh thần có gì dùng nấy chúng tôi vẫn cứ nhận và hành quân về đơn vị.


Tiêu đề: Re: Thử lửa
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Bảy, 2020, 06:13:54 am

        Trên đường hành quân về đơn vị, chúng tôi phải đi trên những con đường xuyên qua những cánh rừng bạch đàn. Tôi và anh Khoa đi một xe. Tôi thì ngồi ở ghế lái phụ bên trong xe, anh Khoa thì lại thích ngồi ở vị trí pháo thủ của khẩu pháo cao xạ để quan sát khả năng ổn định của khẩu pháo trong quá trình hành quân. Xe đang đi với tốc độ khoảng trên 30km/h thì trước mặt bỗng hiện ra một cái rãnh sâu khoảng lm, rộng khoảng 5m cắt ngang con đường. Đối với xe tăng thì vượt qua một cái rãnh như vậy chẳng có gì là khó khăn. Chỉ cần giảm ga cho xe giảm tốc độ, từ từ bò xuống rãnh và cứ thế vượt qua.

        Tuy nhiên sự việc lại không diễn ra như thế. Khi xe tăng đến gần mép rãnh tôi bỗng thấy xe rú ga lao xuống rãnh, trượt nghiêng theo sườn đồi và lao ầm ầm xuống dưới, làm đổ rạp khoảng 20m cây bạch đàn rồi dừng lại. Hoá ra, thay vì giảm ga, đạp phanh để xe từ từ đi xuống rãnh thì lái xe lại tăng ga nên mới có kết cục như thế. Sở dĩ như vậy là vì thòi gian huấn luyện lái xe tăng trước khi ra chiến trường là rất ít, có lẽ chưa đầy 3 tháng. Khi xe lao xuống rãnh, ngồi ở ghế lái phụ, tôi bị tung người lên, đầu đập vào thành xe tăng đau điếng. Sau khi xe tăng dừng lại, tôi bỗng nhớ phía trên xe còn có anh Khoa. Tôi gọi lái xe bước ra khỏi xe để xem tình hình anh Khoa như thế nào. Rất may anh Khoa không bị bay khỏi xe tăng, nhưng đầu gối thì va vào cái kẹp đạn của khẩu pháo cao xạ 37-2 rách một đoạn dài. Chúng tôi lấy cái ruột tượng (tức là cái vỏ bao đựng gạo) băng bó lại cho anh Khoa, sau đó xe tiếp tục hành quân về đơn vị. Với sự cố này anh Khoa phải vào bệnh xá điều trị gần 20 ngày.

        Ngày 13 tháng 3 năm 1972, Tiểu đoàn 66 thuộc Trung đoàn bộ binh cơ giới 202 bắt đầu ra ga Vĩnh Yên để hành quân vào chiến trường. Tôi được đồng chí chủ nhiệm hậu cần trung đoàn phân công hành quân cùng với Tiểu đoàn 66. Khoảng 7 giờ sáng, đội hình của Tiểu đoàn 66 gồm 31 chiếc xe tăng và thiết giáp đã tập kết đầy đủ ở ga Vĩnh Yên để chuẩn bị lên tàu. Lần đầu tiên tôi được chứng kiến các sĩ quan chỉ huy từng chiếc xe leo lên bệ xi măng rồi bò vào từng toa xe. Những toa xe này chỉ có sàn xe. Đang đứng ở ga Vĩnh Yên quan sát xe lên tàu thì tôi gặp một đoàn cán bộ, chiến sĩ của Trường Đại học Kỹ thuật quân sự đi từ phía thị xã Vĩnh Yên về trường. Thế là không hẹn mà gặp, tình cờ tôi lại có người đưa tiễn lên đường, mọi người đều chúc tôi gặp nhiều may mắn và sẽ bình yên trở về. Trong đoàn có một học viên người Lào là con của Hoàng thân Xuphanuvông rất quen biết tôi vì hầu như chiều nào cũng gặp nhau ở sân bóng rổ. Anh có tên Việt Nam là Nguyễn Quang Đại. Khi cả đoàn về rồi, Đại vẫn ở lại ga với tôi cho đến tận trưa và anh nói với tôi rằng: Hôm nay là ngày 13 mà đơn vị xuất hành thì rất có thể sẽ gặp nhiều điều không may. Tôi thì không tin nhưng cứ gật gù cho phải lẽ.

        Khoảng 11 giờ trưa việc đưa xe thiết giáp lên tàu và cố định chặt đã được hoàn tất. Chúng tôi lên tàu và bắt đầu hành quân. Xin chào thị xã Vĩnh Yên, chào Trường Đại học Kỹ thuật quân sự, từ trong toa tàu nhìn ra cửa sổ tôi thấy những ngôi nhà 5 tầng chưa trát vách của Trường Đại học Kỹ thuật quân sự khuất xa dần rồi mất hắn. Đoàn tàu lao về phía Nam, khoảng 8 giờ tối, chúng tôi đến ga Vinh. Trong nhà ga, đèn điện sáng trưng, những chiếc xe được tháo cáp cố định, lại từ các toa tàu, leo qua các bệ xi măng và bò xuống đất. Từ Vinh chúng tôi bắt đầu hành quân đường bộ dọc tuyến đường Trường Sơn để vào Vĩnh Linh. Đêm hôm đó chúng tôi tạm dừng chân ở một cánh rừng, ở đó có rất nhiều thanh niên xung phong và dân công hỏa tuyến toàn là con gái. Họ ùa ra, vây lấy những chiếc xe tăng của chúng tôi, tay bắt, mặt mừng, cả cánh rừng náo nhiệt hẳn lên. Nhưng những giờ phút hân hoan ngắn ngủi ấy cũng nhanh chóng qua đi. Chúng tôi chia tay. Đoàn xe lại xuyên vào đêm tôi tiếp tục cuộc hành trình của mình. Khoảng 2 giờ sáng chúng tôi dừng lại để ngủ, cả ngày hôm sau chúng tôi nghỉ ngơi và bảo quản xe tăng và đến 7 giờ tôi, khi mặt trời tắt hẳn chúng tôi lại tiếp tục cuộc hành trình của mình cho đến 2 giờ sáng ngày hôm sau.

        Một đêm, khi đến địa điểm tập kết là một cánh rừng, trời bắt đầu mưa tầm tã, chưa bao giờ tôi được chứng kiến một trận mưa to và dai dẳng đến như thế. Đúng là mưa rừng, mưa như xối nước kéo dài hàng tiếng đồng hồ. Trời tôi đen nhưng nhờ những ánh chớp, chúng tôi cũng lần mò mắc võng và che tăng để nằm ngủ. Mặc dù mưa như xối, chúng tôi vẫn ngủ một giấc ngon lành cho đến sáng. Sáng ra, tôi mới thấy xung quanh toàn đất mới đào lên. Ngay chỗ chúng tôi nằm là một ngôi mộ vừa mới đắp xong, đòn khiêng, dây thừng còn vương vãi khắp nơi.


Tiêu đề: Re: Thử lửa
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Bảy, 2020, 06:14:32 am

        Một đêm khác, khi đến vị trí tạm dừng là một cánh rừng thưa, không có cây to để mắc võng. Trời rất lạnh vì mới giữa tháng ba. Tôi phát hiện ra ánh lửa bập bùng trong đêm từ phía xa. Qua mấy ngày chịu lạnh nhất là khi trải qua cái đêm mưa rừng, tôi rất thèm được nằm bên ánh lửa bập bùng trong ngôi nhà của người dân tộc. Sau khi đã báo cáo chỉ huy đơn vị, tôi rủ đồng chí Bạch lái phụ, chiếu theo ánh lửa để đi tìm chỗ ngủ. Tưởng là gần, thế mà chúng tôi phải lần mò trong đêm gần một tiếng mới có thể đến nơi. Đó là một túp lều tranh, bên trong có 3 người dân tộc, họ đều là những ông cụ đang ngồi nói chuyện. Họ nói gì chúng tôi không hiểu. Thấy hai anh bộ đội vào, họ niềm nở bắt tay chúng tôi. Chúng tôi ngỏ ý muốn nằm ngủ ở đó, các ông cụ liền dành chỗ cho chúng tôi, không nói được nhiều, chỉ vài phút sau, chúng tôi ngủ thiếp đi. Sáng hôm sau thức dậy, không còn ai ở trong lều, lửa đã tắt chúng tôi lại quay về vị trí tạm dừng của đơn vị.

        Có một đêm không thể nào quên được. Lúc ấy vào khoảng 1 giờ sáng, đoàn xe của chúng tôi đi xuống một thung lũng. Trời mưa, mưa mỗi lúc một lớn hơn. Bỗng dưng tôi phát hiện phía sau chiếc xe đi trước tôi, khói bốc lên nghi ngút. Tôi hỏi đồng chí Dũng lái xe:

        - Tại sao phía trước khói bốc lên như thế?

        Dũng trả lời luôn:

        - Chắc là bấm nhầm công tắc hoả mù.

        - Thế là tôi yên trí ngồi đợi.

        Một lúc sau, tôi thấy một người chạy ra đứng trước mũi xe và ra hiệu cho xe tôi tắt máy. Dũng tắt khoá điện nhưng máy vẫn cứ nổ, không khí nồng nặc mùi xăng. Tôi bỗng thấy trong người nôn nao, không thể nào chịu được nữa. Lính tráng đang ngủ trong xe thức cả dậy. Mọi người đều cảm thấy không thể chịu nổi. Tôi ra lệnh: Tất cả đeo mặt nạ phòng độc vào! Tôi cũng làm như thế, tuy nhiên sau khi đeo mặt nạ phòng độc vào, tôi vẫn cứ hít đầy mùi xăng vào phổi. Xe vẫn nổ máy. Không thế cứ đứng tại chỗ mà chịu trận, tôi ra lệnh cho đồng chí Dũng lái cho xe ra khỏi thung lũng ngay. Dũng nhả phanh, nhả ly hợp, tăng ga, chiếc xe lao trong màn sương mù leo lên sườn đồi rồi bò lên đỉnh đồi, chúng tôi thoát khỏi màn sương xăng. Dũng bước ra khỏi buồng lái đi loạng choạng mấy bước rồi ngã xuống, ngất xỉu. Lúc này tôi mới thấy có lẽ vì chưa quen và còn để quan sát khi lái xe, Dũng đã không đeo mặt nạ phòng độc. Ra khỏi màn sương xăng, coi như đã thoát nạn, mọi người tháo mặt nạ, nhìn xuống thung lũng còn dày đặc màn sương xăng, nhưng vẫn chưa kịp hiểu việc gì đã xảy ra. Bởi vì chứng kiến sự việc xảy ra từ đầu chỉ có tôi và đồng chí Dũng, còn mọi người lúc đó đều đang ngủ. Để mừng tai qua nạn khỏi, đồng chí Dĩ, Thượng sĩ Trung đội trưởng, mang lương khô và thuốc lá Tam Đảo cho toàn xe ăn mừng. Trời vẫn còn mưa, nhưng không còn nặng hạt. Trên đồi không có cây cối gì, chỉ toàn là các bụi sim nên không thể mắc võng được. Sau một hồi chuyện trò cười nói huyên thuyên, chúng tôi rải các tấm tăng ni lông lên các bụi sim, lăn ra ngủ.

        Sáng hôm sau thức dậy, chúng tôi nhìn thấy tất cả cây cỏ trong thung lũng đều cháy xém. Nhớ lại sự việc ngày hôm qua, nguyên nhân của sự việc là do chiếc xe đi trước chúng tôi khi xuống thung lũng đã chẹt phải đường ống xăng của Đoàn 559 khi xăng đang được bơm với áp lực cao. Khi vỡ đường ống, với áp lực rất lớn, xăng phun ra như một màn sương. Chúng tôi đã nằm trong màn sương xăng và lần đầu tiên tôi đã biết cảm giác nhiễm độc xăng là như thế nào. Những phút đầu tiên thì chưa thấy gì, nhưng khi đã có tác dụng thì diễn biến rất nhanh. Tay chân bủn rủn, sông lưng ớn lạnh và người ta sẽ cảm thấy ngay rằng nếu kéo dài thêm dù chỉ một thời gian ngắn nữa là người ta sẽ hoàn toàn mất khả năng chống đỡ. Vì vậy tôi đã ra lệnh cho Dũng phải nhanh chóng thoát ra khỏi thung lũng, thoát ra khỏi màn sương xăng. Khi xe tăng chạy trong màn sương xăng ống xả vẫn phụt khói và vẫn có những tàn lửa nhỏ phụt ra rất dễ làm cho màn sương xăng bắt lửa cháy và nổ. Ngay sau đó, các chiến sĩ đường ống cho chúng tôi biết: Các anh may đấy. Lần trước một xe ô tô cũng chẹt phải đường ống. Màn sương xăng bắt lửa cháy và nổ tung. Những người nào đang trong màn sương xăng đều bị chết cháy.

        Sở dĩ chúng tôi không bị cháy là do hôm đó trời mưa to. Tôi vẫn cứ thắc mắc, tại sao hôm đó tôi đã đeo mặt nạ phòng độc vào mà vẫn hít đầy hơi xăng? Hay là bầu lọc của mặt nạ phòng độc không có khả năng lọc được hơi xăng? Tôi hỏi các chiến sĩ sau khi đeo mặt nạ phòng độc vào có hít phải hơi xăng không. Mọi người đều trả lời là không hít phải hơi xăng nữa. Hoá ra là do tôi đeo mặt nạ phòng độc không đúng cỡ. Tôi đeo phải cái mặt nạ cỡ lớn, không ôm chặt vào mặt, có nhiều khe hở, nên khi thở hơi xăng vẫn lọt vào. Còn một vấn đề nữa phải hỏi các kỹ sư động cơ: Vì sao trong màn sương xăng, khi đã tắt khoá điện, động cơ diezel vẫn cứ tiếp tục nổ? Đó là đêm đáng ghi nhớ nhất trong cuộc hành quân từ Vinh vào Vĩnh Linh của chúng tôi.

        Đêm cuối cùng trên đường hành quân vào Vĩnh Linh, tròi vẫn mưa tầm tã. Chúng tôi nhìn thấy những đoàn xe kéo pháo với những chiếc xe xích ATC-59, những khẩu pháo nòng dài 130mm, nối đuôi nhau đi trên đường. Tôi mơ hồ nhận thây rằng chúng tối sắp bước vào một chiến dịch lớn, nhưng quy mô và độ ác liệt của nó thì chưa ai hình dung được. Những người lính của đại đội hoả lực vẫn ngồi lắc lư trên xe thiết giáp, lim dim ngủ và trong giấc ngủ chập chờn có khi họ còn mơ thấy những miền quê yên bình và hình bóng của một ai đó trong cuộc đời của họ. Chúng tôi cũng nhìn thấy những đoàn chiến sĩ bộ binh, trên vai là ba lô và súng đạn, lầm lũi đi dưới trời mưa. Cùng đi vào chiến trường, nhưng chúng tôi vẫn còn sướng vì được ngồi trên xe tăng, đôi chân không mỏi rã rời, đôi vai không đau ê ẩm và thân mình không ngấm nước mưa như những người lính bộ binh.

        Sau khi chúng tôi đến Vĩnh Linh một ngày, tôi tạm xa Tiểu đoàn 66 lên nông trường Quyết Thắng, nơi đó sẽ là hậu cứ của Trung đoàn 202.

        Chúng tôi đã đến sát với chiến trường...


Tiêu đề: Re: Thử lửa
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Bảy, 2020, 05:52:23 am

       
KHÚC  DẠO  ĐẦU BI  TRÁNG

        Đêm ngày 1 tháng 4 năm 1972, Tiểu đoàn bộ binh cơ giới 66, Trung đoàn 202 của chúng tôi đã tập kết ở Cửa Tùng chuẩn bị vượt sông Bến Hải. Chúng tôi từng nghe tới Cửa Tùng qua bài hát "Sóng Cửa Tùng". Giờ đây chúng tôi đã có mặt tại Cửa Tùng, nơi sông Bến Hải đổ ra biển Đông. Cửa sông rộng mênh mông, sóng vỗ dạt dào. Màn đêm đã buông xuống. Trên trời những chiếc OV-10 quần lượn, nhòm ngó dọc hai bờ sông nhờ ánh sáng của những chiếc pháo sáng cứ lơ lửng suốt đêm trên bầu trời.

        Đoàn xe gồm 23 chiếc vừa xe tăng vừa xe thiết giáp nối đuôi nhau vượt sông. Bên kia là bờ Nam, là chiến trường. Chúng tôi đang vượt sông để tiến vào Quảng Trị, nơi đang chờ đợi chúng tôi một cuộc chiến đấu mà, mức độ ác liệt của nó hầu hết chúng lôi chưa hình dung được.

        Tôi là trợ lý quân khí thuộc Ban Hậu cần trung đoàn nên được biên chế lên xe chỉ huy. Khi được giao nhiệm vụ đi theo tiểu đoàn vượt sông, tôi không hề biết mình sẽ đi tới đâu, nhiệm vụ chiến đấu của tiểu đoàn như thế nào, chỉ biết có lệnh là mang ba lô lên xe.

        Xe chỉ huy là một chiếc xe thiết giáp, loại xe BTR-50PK giống như các xe chở bộ binh. Trên xe có đồng chí tiểu đoàn phó, các phái viên của Bộ Tư lệnh Thiết giáp, các sĩ quan của các ban Tham mưu, Chính trị, Hậu cần trung đoàn. Vì về Tiểu đoàn chưa được bao lâu nên khi lên xe hầu như tôi chưa quen biết các đồng chí trên xe.

        Ra đến Cửa Tùng, đội hình của tiểu đoàn xếp bàng dọc, 23 chiếc xe nôi đuôi nhau. Từng chiếc một lần lượt vượt qua sông. Trong khi chờ đợi, tôi xuống xe đi ngược đội hình của tiểu đoàn và bắt gặp đội hình xe của đại đội hoả lực. Tôi quen hầu hết anh em trong đại đội vì trong thời gian ở Ban Hậu cần trung đoàn ở Cam Lâm, tôi đã nhiều lần xuống đơn vị để kiểm tra vũ khí và tôi cũng đã cùng đi trên xe của đại đội hành quân suốt từ Vinh vào tối Vĩnh Linh. Hơn một tuần hành quân cùng nhau trên xe, chúng tôi đã gắn bó với nhau khi vượt qua bao nhiêu khó khăn trong cuộc hành trình đó.

        Đồng chí Dĩ, Thượng sĩ Trung đội trưởng, đồng chí Dũng lái chính, đồng chí Bạch lái phụ gặp tôi mừng lắm. Anh em hỏi tôi:

        - Anh đi kiểm tra chúng em vượt sông đấy à?

        - Không, anh cùng đi đợt này với các chú đấy.

        - Thế anh đi xe nào?

        - Anh đi xe chỉ huy.

        - Trên ấy thế nào hả anh?

        - Đông lắm, anh chưa biết ai cả.

        - Thế thì anh ở trên đấy làm gì, xuống đây với chúng em cho vui.

        - Ừ, để anh về hỏi chỉ huy đã.

        Tôi quay lại xe chỉ huy gặp đồng chí Thăng, Tiểu đoàn phó trình bày ý kiến muốn trực tiếp đi cùng xe với đại đội hỏa lực để theo dõi tình hình vũ khí của đơn vị. Trên xe chỉ huy lúc đó rất đông người, lại thấy đề xuất của tôi khá hợp lý nên đồng chí Thăng đồng ý ngay.

        Thế là tôi vác ba lô rời xe chỉ huy, trở về xe đại đội hỏa lực. Đại đội hỏa lực do đồng chí Đán, Thiếu úy làm Đại đội trưởng. Đồng chí Bảo, Thiếu úy Chính trị viên. Tôi lên xe đồng chí Dĩ, Thượng sĩ, Trung đội trưởng kiêm trưởng xe. Đi theo xe còn có đồng chí Bảo, Chính trị viên. Lái xe chính đồng chí Dũng, lái xe phụ đồng chí Bạch, trên xe còn có đồng chí y tá đại đội và một khẩu đội cối 82mm. Khẩu đội trưởng là đồng chí Thơm. Thơm là Thượng sĩ người Thanh Hóa trước khi về trung đoàn là lính bộ binh đã từng qua chiến đấu. Chúng tôi lại tiếp tục chờ đến lượt vượt sông. Phía trước chúng tôi còn hàng chục chiếc xe cũng đang đứng đợi. Trời về khuya càng lạnh, trên trời vẫn hàng dãy pháo sáng dọc theo sông, tắt rồi lại sáng. Tiếng máy hay OV-I0 vẫn vo ve trên bầu trời. Nhưng có vẻ chúng không phát hiện ra đoàn xe chúng tôi đang vượt sông. Trên xe có người lim dim ngủ, nhiều người rì rầm tâm sự, có nhiều xe còn hát rất sôi nổi. Những người lính trẻ còn rất vô tư. Họ không hề biết phía trước điều gì đang chở đợi họ. Chỉ biết có lệnh là đi.

        Đợi đến gần 12 giờ đêm, vẫn thấy các xe đứng im, tôi sốt ruột đi lên phía trước. Khi đến chiếc xe trên cùng đứng gần bò sông thì phát hiện ra các thành viên trên xe đều ngủ hết. Đội hình phía trước đã vượt qua sông. Xe chỉ huy cũng đã vượt qua sông. Đằng sau chiếc xe này là đội hình còn lại của tiểu đoàn cũng đứng yên chờ đợi vì thấy xe phía trước mình không di chuyển. Như vậy là ca đội hình hành quân của tiểu đoàn vượt sông không có một người nào đứng dưới chỉ huy chung. Tất cả mọi người đều ngồi trên xe. Các xe cứ nối đuôi nhau mà đi, khi xe phía trước dừng lại thì xe phía sau cũng dừng lại. Và trong khi chờ đợi đến lượt mình vượt sông, một lái xe vô tình ngủ quên, chiếc xe không di chuyển thế là những xe phía sau đó đều dừng lại mà không hiểu vì lý do gì.


Tiêu đề: Re: Thử lửa
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Bảy, 2020, 05:52:46 am

        Người lái xe ngủ quên vô tình đã làm chậm cuộc vượt sông. Bộ phận còn lại khoảng hơn 10 chiếc và cứ thế đứng yên khoảng 2 giờ. Tôi đánh thức các thành viên trên xe dậy, xe nổ máy và cuộc vượt sông lại tiếp tục. Nhưng khi chiếc xe này bơi ra khoảng 1/3 sông thì bị mắc cạn và không thể tiếp tục bơi qua sông được do lúc này nước thuỷ triều xuống, mực nước sông cạn, xe thì đang để ở chế độ bơi nước nên không thể bơi và cũng không thể đi được. Tiếp theo còn 3 chiếc nữa bơi qua sông cũng bị mắc cạn giữa dòng. Toàn bộ các xe còn lại trên bờ dừng lại và mọi người đã biết được tình hình đang diễn ra. Trong số cán bộ tiểu đoàn còn lại, phía sau có đồng chí trung úy chính trị viên phó tiểu đoàn, lúc này trở thành người chỉ huy của đội hình quyết định dừng cuộc vượt sông. Chúng tôi lại cho xe nấp vào các bờ bụi và ngủ cho đến sáng hôm sau.

        Khi trời sáng, ba chiếc xe mắc cạn vẫn nằm giữa dòng sông. Tôi quan sát thấy 4 chiếc xe đã được ngụy trang bằng rất nhiều cành cây. Tuy nhiên giữa dòng sông rộng mênh mông lại tự nhiên xuất hiện 4 đám cành cây bập bềnh là một điều hơi lạ. Không biết những thằng lái máy bay OV-10 suốt ngày bay dọc sông Bến Hải quan sát có phát hiện ra không? Nhưng có lẽ không có cách đối phó nào tốt hơn nên chúng tôi vẫn cứ phải để nguyên tình hình như vậy.

        Quá 12 giờ trưa, nước thủy triều lại bắt đầu lên, máy bay trinh sát của địch vẫn bay dọc dòng sông nhưng chúng tôi vẫn được lệnh tiếp tục cuộc vượt sông. Những ngày hôm trước và suốt dọc đường hành quân, chúng tôi chỉ đi vào ban đêm. Nhưng hôm nay, giữa trưa, một đoàn xe tăng cắm cờ giải phóng cứ thế bơi qua sông. Tôi không biết là đội hình phía sau có nhận được lệnh chỉ huy từ đội hình phía trước hay không mà quyết định vượt sông vào ban ngày, hay lúc này chiến dịch đã bắt đầu nên việc giữ bí mật được xem là không còn quan trọng nữa. Sau khi toàn bộ đội hình phía sau của chúng tôi đã vượt qua sông, đồng chí chính trị viên phó tiểu đoàn ra lệnh tạm thời tấp vào bãi phi lao nhỏ cạnh bờ sông. Tại đây, đồng chí chính trị viên phó tiểu đoàn triệu tập một cuộc họp đột xuất tất cả các sĩ quan có mặt trong đội hình phía sau, tôi cũng có mặt trong buổi họp đó.

        Đến lúc này, tôi mới biết rằng tất cả các sĩ quan trong đội hình này không một ai biết cụ thể về kế hoạch hành quân của tiểu đoàn. Vì đã vượt qua sông và phải nhanh chóng đuổi theo đội hình phía trước, đồng chí chính trị viên phó tiểu đoàn quyết định là chúng tôi cứ đi theo vết xích của đội hình đi trước. Thế là đoàn xe của chúng tôi ra khỏi rừng phi lao, đi dọc theo bờ biển về phía Nam. Quang cảnh lúc này thật là hoành tráng. Khoảng hơn 10 chiếc xe thiết giáp cắm cờ giải phóng đi dọc theo bờ biển. Bộ đội, dân công đi nườm nượp hai bên. Đi hành quân vào trận mà cứ như đi duyệt binh. Trên trời máy bay trinh sát của địch vẫn bay lượn. Nhưng không hề có máy bay cường kích đánh vào đội hình của tiểu đoàn xe thiết giáp. Anh em trên xe mặt mày rạng rỡ. Những người lạc quan tếu có lẽ tưởng rằng ngày giải phóng miền Nam đã đến nơi rồi.

        Cứ thế chúng tôi đi dọc bờ biển. Dọc đường, chúng tôi nghe tiếng pháo 175mm từ các tàu chiến của Mỹ bắn vào. Từ bờ biển, pháo 130mm của ta bắn ra. Chúng tôi đang đi giữa 2 làn đạn nhưng không thấy quả pháo nào trúng đội hình.

        Đi được khoảng hơn 1 giờ thì có một người từ trong cồn cát chạy ra chặn đoàn xe lại, đó là đồng chí Bền, Đại úy, chính trị viên tiểu đoàn. Đồng chí Bền đã đi vào từ trước bởi vì lúc ngồi trên xe chỉ huy vượt sông tôi không thấy đồng chí Bền. Có lẽ khi biết được khoảng một nửa đội hình của tiểu đoàn vẫn chưa vượt qua sông từ đêm hôm trước, đồng chí Bền đã quay lại để đón đoàn xe, thế là chúng tôi không còn lo cứ phải mò mẫm đi theo vết xích xe tăng nữa. Lúc này chiếc xe của tôi dẫn đầu đoàn quân và đồng chí Bền lên xe trực tiếp chỉ huy. Cứ thế chúng tôi tiếp tục đi dọc theo bờ biển cho đến khi trời tối. Vào lúc sắp tối, trên đường xe đang hành quân, có một đồng chí du kích cũng lên xe và dẫn dường cho đoàn xe.

        Sau đó chúng tôi rẽ phải để đi về phía tây hướng vào nội địa. Chúng tôi đi qua các cồn cát, những rừng phi lao thưa thớt. Tôi nghe nói đoàn xe đã vượt qua căn cứ Quán Ngang của địch và đang tiến về phía căn cứ Đông Hà. Vì mới vào chiến trường lần đầu, nên tôi không biết địa hình, lại không hề biết tí gì về nhiệm vụ tác chiến, đường hành quân và vị trí chiếm lĩnh trận địa.


Tiêu đề: Re: Thử lửa
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2020, 06:19:05 am

        Xe BTR-50PK là xe thiết giáp chở quân, xe có vỏ thép mỏng, 2 cánh cửa phía trên nóc xe như hai cánh cửa tủ mở ra hai phía nên ngồi trên xe có thể quan sát rõ mọi vật xung quanh và bầu trời. Đoàn xe đi trong đêm, len lỏi giữa các cồn cát và rừng phi lao. Nhưng có một điều lạ là đoàn xe chúng tôi đi đến đâu thì máy bay trinh sát của địch vẫn bám theo đến đấy. Pháo sáng cứ thả dọc theo đường đi. Chúng tôi ngồi trên xe nhìn rõ những chiếc dù pháo sáng rơi xuống cách xe không đầy 10m. Tôi thắc mắc hỏi đồng chí Bền:

        - Anh Bền này, tại sao xe mình đi đến đâu, máy bay trinh sát của nó cứ bay theo và thả pháo sáng nhỉ?

        Biết tôi là sĩ quan mới ra trường và được điều về Trung đoàn đi thực tế, đồng chí Bền giải thích:

        - Cậu mới vào nên chưa biết, trong này ở đâu chả có pháo sáng của địch.

        Việc coi đó là một hiện tượng bình thường mà không hề đặt câu hỏi tại sao lại có hiện tượng như vậy có thể dẫn đến những hậu quả khôn lường không ngờ tới. Thực ra trong khi đoàn xe chúng tôi cắm cờ giải phóng bơi qua sông, rồi tiếp tục hành quân hàng chục cây số dọc bờ biển, trên xe phấp phối cờ giải phóng, máy bay trinh sát của địch đã phát hiện ra và chúng đã luôn luôn theo dõi đoàn xe trên suốt dọc đường hành quân từ Cửa Tùng vào đây. Địch không tấn công ngay vào đội hình của đoàn xe mà chúng cứ bám theo. Khi trời tôi để không bị mất mục tiêu. Chúng tiếp tục bay theo đoàn xe và thả pháo sáng quan sát. Cứ chiếc này hay lên, bám theo đoàn xe thả hết pháo sáng là lại có chiếc khác lên thay.

        Ra khỏi các cồn cát và các rặng phi lao, chúng tôi lại đi cắt qua những cánh đồng. Dưới ánh đèn dù của địch chúng tôi quan sát thấy rải rác trên cánh đồng có những ụ đất to như chiếc xe tăng. Sau này chúng tôi biết đó là những ngôi mộ. Đi tiếp một đoạn nữa chúng tôi nhìn thấy một con đường. Trên đường có những ánh đèn pha ô tô. Đoàn xe của chúng tôi tiếp tục vượt qua đường. Trong khi vượt qua đường có một xe bị sự cố kỹ thuật. Chúng tôi phải dừng lại, tổ chức cứu kéo. Lúc này có một cứ điểm của địch phát hiện ra đoàn xe chúng tôi đang hành quân, chúng bắn đạn cối 81mm vào đội hình. Nhưng chúng tôi hầu như không để ý vì mục tiêu của chúng tôi lúc này là phải nhanh chóng đến vị trí tập kết. Sau khi tổ chức cứu kéo xong đoàn xe lại tiếp tục hành quân. Không thấy địch nã đạn côi 81mm vào đoàn xe nữa, có lẽ địch quan sát thấy đoàn xe thiết giáp khá đông nên nằm im để không bị tấn công.

        Đi thêm một đoạn nữa, chúng tôi bắt đầu nhìn thấy một vùng sáng rực trong đêm. Đó là căn cứ Đông Hà đang bị ta bao vây, đạn từ trong căn cứ bắn ra như pháo hoa. Trong đòi tôi chưa bao giờ được thấy đạn bắn nhiều như thế. Những tia lửa đạn xuyên màn đêm sáng rực từ trong căn cứ bay về mọi phía. Hình như quân địch cứ liên tục bắn để trấn an tinh thần và uy hiếp đối phương chứ không nhằm vào một mục tiêu nào bị phát hiện.

        Gần sáng đoàn xe dừng lại trên một bãi đất hoang. Có lẽ đây là đất bỏ hoang lâu ngày nên có những cây dại cao hơn tháp pháo xe tăng chút ít. Vì đêm tối, lại vừa đến nơi nên tôi không biết nó rộng bao nhiêu. Nhưng tất cả đoàn xe của chúng tôi đều vào đó. Xung quanh cái bãi hoang này vẫn là đồng ruộng, xa xa về phía đông nam chúng tôi thấy những cồn cát trắng, về phía tây bắc là những rặng tre um tùm, có thể phía đó là làng mạc.

        Trong khi chúng tôi đang đưa xe vào giấu trong bãi thì trên bầu trời một chiếc L19 vẫn thả pháo sáng để quan sát. Vì pháo sáng địch vẫn thả trên suốt đường hành quân nên bây giờ pháo sáng lơ lửng trên trời cũng không làm cho ai quan tâm cả và đó là một sai lầm nghiêm trọng. Đến hơn 5 giờ sáng, vẫn còn một vài chiếc xe tiến vào, lùi ra để giấu xe, chiếc L19 đảo vài vòng, thả vài quả pháo sáng cuối cùng rồi biến mất.


Tiêu đề: Re: Thử lửa
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2020, 06:19:21 am

        Sau khi các xe đã vào hết vị trí, chúng tôi đi chặt lá ngụy trang xe rồi trải chiếu chui xuống gầm xe nằm nghỉ. Như thế là chúng tôi đã trải qua 2 đêm gần như thức trắng. Một đêm chờ vượt sông ở Cửa Tùng và một đêm hành quân liên tục từ Cửa Tùng vào đến vị trí tập kết. Sau này tôi biết nơi này là Mai Xá Thị một vị trí rất gần căn cứ Đông Hà. Từ lúc lên đường hành quân, chúng tôi không còn ăn cơm nữa, tất cả đều ăn lương khô vì ở mọi địa điểm đều không thể triển khai nấu cơm để giữ bí mật. Nước uống cũng không phải là nước đun sôi nữa, chúng tôi dự trữ nước ngọt vào các can chứa nước rồi cho vào bi đông, sau đó cho một viên thuốc gọi là viên lọc nước vào, xóc lên và cứ thế là uống. Vào đến vị trí tập kết, tôi biết rằng chiếc xe chỉ huy, trong đó chở cán bộ chỉ huy tiểu đoàn, các trợ lý của trung đoàn và hai đồng chí trợ lý của Bộ Tư lệnh Thiết giáp bị trúng đạn pháo 175mm từ tàu biển của địch bắn vào và tất cả những thành viên trên xe đều đã hy sinh. Tin tức này đã được báo về sở chỉ huy trung đoàn vẫn đang còn ở nông trường Quyết Thắng. Vì tôi cũng nằm trong danh sách xe chỉ huy nên tôi cũng đã được báo là đã hy sinh. Như vậy là chỉ sau 1 ngày Tiểu đoàn 66 vượt sông Bến Hải vào phía Nam, gần hết Ban Chỉ huy tiểu đoàn và số trợ lý của Trung đoàn và của Bộ Tư lệnh Thiết giáp đã hy sinh. Nằm dưới gầm xe cùng với tôi có khoảng 10 người, trong đó có đồng chí Bảo, Thiếu úy Chính trị viên Đại đội, đồng chí Dũng lái chính, đồng chí Bạch lái phụ, đồng chí Thơm thượng sĩ Khẩu đội trưởng cối. Một đồng chí y tá và tất cả khẩu đội cối trên xe.

        Khoảng 6 giờ sáng, trên bầu trời cùng lúc 2 chiếc OV-10 và 1 chiếc L19 xuất hiện trên khu vực trú quân của chúng tôi. Hiện tượng địch tập trung một lúc 3 chiếc máy bay trinh sát trên một khu vực hẹp là một hiện tượng lạ. Một lát sau chúng tôi nghe tiếng bom nổ. Tiếng bom nổ rất gần, chúng tôi nghĩ là địch đã ném bom vào đoàn xe. Trên trời có nhiều chiếc máy bay: 3 chiếc AD6 và 2 chiếc B.57, bay thành một vòng tròn, 2 chiếc OV-10 và 1 chiếc L19 bay lượn quan sát. Khi chúng phát hiện ra mục tiêu chúng bắn một quả pháo khói xuống để chỉ thị mục tiêu và các máy bay ném bom lần lượt bổ nhào xuống ném bom. Mỗi lần AD6 bổ nhào ném 2 quả, còn B.57 to hơn thì ném 5 quả. Tiếng bom rung chuyển cả khu vực trú quân. Nhưng bom không ném vào vị trí của đoàn xe đang ẩn nấp. Chúng tôi nghe thấy tiếng pháo cao xạ 37mm bắn lên từ mặt đất. Như vậy là cạnh vị trí tập kết của chúng tôi đã bố trí sẵn các trận địa pháo cao xạ bảo vệ. Biết là máy bay ném bom không ném vào vị trí tập kết của đoàn xe, tất cả chúng tôi chui ra khỏi gầm xe để quan sát trận đánh giữa máy bay và pháo cao xạ.

        Mặc dù trên các xe đều có súng máy phòng không, nhưng không một xe nào được lệnh nổ súng. Vào lúc này có lẽ Ban chỉ huy tiểu đoàn vẫn chưa biết rằng vị trí tập kết của Tiểu đoàn bộ binh cơ giới 66 đã bị lộ. Ngay trong tình huống đó, chúng tôi cũng không nhận được một chỉ thị nào từ tiểu đoàn về các phương án xử lý tình huống. Trong Ban chỉ huy tiểu đoàn lúc này có lẽ chỉ còn đồng chí Bền, Chính trị viên và một đồng chí chính trị viên phó mà tôi chưa kịp biết tên. Tôi là sĩ quan từ Ban Hậu cần xuống và đi theo tiểu đoàn, khi tiểu đoàn đã triển khai đội hình hành quân nên không được biết về nhiệm vụ của tiểu đoàn, đường hành quân và các phương án xử lý tình huống. Cuộc chiến đấu giữa pháo cao xạ và máy bay ném bom của địch kéo dài khoảng 2 giờ. Trong hai tiếng đó tôi nghe nói lực lượng cao xạ đã bắn rơi 1 máy bay.

        Anh em của Tiểu đoàn bộ binh cơ giới của chúng tôi còn rất trẻ, phần đông là lính tân binh chỉ khoảng 18, 19 tuổi cứ vô tư nấp trong các bụi cây quan sát mà không hê biết sẽ còn xảy ra cái gì nữa.

        Trong 2 tiếng đồng hồ, từng đợt máy bay lên trút hết bom quay về thì lại có đợt khác lên thay thế. Tiếng pháo cao xạ thưa dần và sau đó im hẳn. Chắc là pháo cao xạ đã hết đạn, hoặc địch đã đánh trúng trận địa.

        Khoảng 8 giờ sáng lại một đợt máy bay nữa đến, vẫn theo đội hình 3 chiêc AD6 và 2 chiếc B.57. Phía trên cao vẫn có hai chiếc OV-10 và một chiếc L19 bay lượn, không ngừng quan sát xuống mặt đất. Khác với mọi lần trước, lần này sau khi chiếc L19 bắn một quả đạn khói, 5 chiếc máy bay lần lượt bổ nhào và ném bom vào đội hình của chúng tôi.


Tiêu đề: Re: Thử lửa
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Bảy, 2020, 07:01:49 am

        Lần đầu tiên trong đời tôi thấy bom rơi ngay bên cạnh mình. Tiếng nổ rung chuyển cả không gian, đất cát bay mù mịt. Chỉ sau một loạt bom, tất cả lá ngụy trang trên các xe đều bay hết. Tôi không kịp quan sát xung quanh mình có bao nhiêu chiếc xe nhưng trước mặt, cách tôi khoảng 15m, một chiêc xe tăng lội nước PT-85 không còn một cành lá ngụy trang, đứng phơi mình giữa bãi trống và nó đã trở thành mục tiêu để từng chiếc máy bay bổ nhào xuống cắt bom. Vì ở rất gần chiếc PT-85, chiêc xe của tôi cũng nằm trong vòng rất nguy hiếm. Ngay sau loạt ném bom đầu tiên, đồng chí Bảo, Thiếu úy, Chính trị viên đại đội đã một mình chạy vọt ra khỏi gầm xe. Bộ phận còn lại, mặt mày ngơ ngác hoảng hhots. Ngay cả đồng chí Thơm, Thượng sĩ, có tuổi luân nhiều nhất trong số chiến sĩ, trên đường hành quân tỏ ra là người từng trải thì lúc này lại còn tỏ ra mất bình tĩnh hơn cả các tân binh. Anh em nhớn nhác, mới lần đầu ra trận đã ăn một trận bom thế này thì quả là khủng khiếp, nhất là đối với những cậu con trai chưa đầy 20 tuổi.

        Trong gầm xe lúc này tôi là sĩ quan duy nhất. Lúc bấy giờ tôi mới ra trường được phong chuẩn úy. Về tuổi đời, tôi là người lớn tuổi nhất, năm đó tôi đã 27 tuổi.

        Tuy nằm trong gầm xe tôi vẫn thò đầu ra ngoài quan sát máy bay bổ nhào ném bom vào đội hình mà tâm điểm là chiếc PT-85. Máy bay địch vẫn bay thành một vòng tròn, đi đầu là 3 chiếc AD6 và tiếp theo là 2 chiếc B.57. Khi đến vị trí đoàn xe, từng chiếc một bổ nhào ném bom. Những quả bom khi cắt khỏi máy bay lao xuống mặt đất theo một đường thẳng về phía chúng tôi, tốc độ của chúng còn nhanh hơn tốc độ máy bay và khi bay trên không trung chúng xé không khí và rít lên những tiếng rít ghê rợn.

        Tôi có cảm giác như chúng được phóng ra chứ không phải thả ra từ máy bay. Nằm dưới mặt đất chúng tôi thấy rõ máy bay bổ nhào, bom lao xuống hình tròn xoe, nghĩa là chúng đang hướng thẳng về phía chúng tôi, tiếng rít của những quả bom khi lao xuống đất, tiếng nổ chát chúa, tiêng mảnh bom bay vèo vèo và đất đá bắn tung tóe, khói bụi mịt mù có tác dụng uy hiếp tinh thần một cách khủng khiếp. Cái chết đang ở ngay bên cạnh từng giây, từng phút. Nhiều người không thể nào giấu được nét mặt hoảng hốt và khiếp sợ của mình. Nhưng có một điều rất lạ ngay trong những giờ phút nguy hiểm như thế, tôi vẫn có một cảm giác là mình sẽ không chết và cũng sẽ không bị thương. Có thể tôi có quý nhân phù trợ và quý nhân đó chắc là người mẹ của tôi đã mất ở chiến khu khi bà 29 tuổi và lúc đó tôi mới có 6 tuổi. Sau này trong suốt chiến dịch và trong đường đời, tôi đã nhiều lần lâm vào những tình thế nguy hiểm nhưng tôi đều thoát hiểm một cách dễ dàng.

        Lúc này tiểu đoàn không còn khả năng chỉ huy nữa, anh em từ trong các xe thiết giáp hoặc đang nằm dưới gầm xe, vọt ra ngoài, cố gắng thoát khỏi vị trí nguy hiểm. Nhưng vì quá hốt hoảng và chưa có kinh nghiệm, nhiều người vừa vọt ra thì đúng lúc bom rơi xuống đất và bị thương vong.

        Tất cả thành viên trên xe của tôi vẫn còn nằm dưới gầm xe, trừ đồng chí Bảo đã vọt ra ngay lúc đầu. Nhưng tất nhiên phải thoát ra khỏi đây vì không trước thì sau, bom sẽ rơi trúng xe chúng tôi, và tất cả sẽ bị thương vong. Lúc này trước mặt tôi là chiếc PT-85 đang đứng yên hứng chịu hết loạt bom này đến loạt bom khác. Trên xe có một khẩu súng máy phòng không 12,7mm nhưng không thấy một người nào, với lại lúc này có liều mạng cũng khó lòng trèo lên xe mà bắn được, khả năng sẽ chết vì mảnh bom là điều không thể trách khỏi. Còn đối với tôi, nếu tôi có đủ can đảm để trèo lên xe và không chết vì mảnh bom thì tôi lại không biêt bắn súng máy phòng không 12,7mm. Ở trường, chúng tôi chỉ tập bắn có 2 loại súng một là súng tiểu liên AK trong chương trình học quân sự năm thứ nhất và bắn súng ngắn trong chương trình quân sự năm thứ 3. Là kỹ sư vũ khí, chuyên ngành súng bộ binh và pháo mặt đất, nhưng tôi chưa hề tự tay tháo lắp và sử dụng các loại súng đại liên, trung liên, súng máy phòng không 12,7mm, các loại súng cối và DKZ, kiến thức về sử dụng, sửa chữa và hiệu chỉnh các loại vũ khí này hầu như chưa có gì. Trong trường hợp cụ thể này một kho kiến thức đồ sộ mà tôi học được trong 5 năm ở trường đã không giúp gì dược tôi. Điều cần nhất bây giờ là phải biết bắn súng 12,7mm, nhưng điều đó là không thể.

        Tôi quyết định phải nhanh chóng cho bộ đội rời khỏi nơi này. Với cương vị là người sĩ quan duy nhất còn lại trong tất cả các thành viên của xe, tôi ra lệnh: Tất cả bình tĩnh, nằm nguyên tại vị trí, khi nào tôi lệnh cho ai ra thì người đó ra!


Tiêu đề: Re: Thử lửa
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Bảy, 2020, 07:02:13 am

        Sau khi phát lệnh, tôi thấy mọi người có vẻ như được trấn tĩnh lại, không ai nói một câu nào nhưng nhìn nét mặt của họ tôi biết rằng họ đang đặt lòng tin vào tôi và sẵn sàng chấp hành mệnh lệnh.

        Vì đã quan sát địch ném bom ngay từ đầu, tôi biết được thòi điểm an toàn nhất có thể thoát ra ngoài là sau khi một loạt bom vừa nổ. Khi đó chiếc máy bay vừa ném bom sẽ bay lướt qua đầu chúng tôi và chiếc tiếp theo đang trên đường bay tới, khoảng 30 giây sau là nó sẽ bổ nhào và ném loạt bom tiếp theo. Chỉ có khoảng 30 giây cho người lính vọt ra ngoài và để họ vận động khỏi khu vực bị ném bom. Chính vì vậy thời khắc an toàn nhất là lúc bom vừa nổ. Nhưng đó cũng là lúc mà người ta khiếp sợ nhất. Nắm được điều này, cứ sau một tiếng nổ rung chuyển tôi lại lệnh cho hai đồng chí ra khỏi xe. Tôi lệnh cho đồng chí Dũng lái chính và đồng chí Bạch lái phụ ra đầu tiên, sau đó đến các thành viên trong khẩu đội cối. Cuối cùng là đồng chi y tá đại đội. Tôi nhắc đồng chí y tá mang túi thuốc, túi thuốc đó sẽ rất cần thiết sau cuộc ném bom. Nó là túi thuốc cứu thương duy nhất của đại đội, chắc là có rất nhiều thuốc vì nó to bằng một cái túi du lịch.

        Thoát ra khỏi xe, tôi khoác một cái xà cột và đeo bên người một khẩu súng ngắn. Lúc này từ bãi xe đang bị ném bom bộ đội cũng đang bò ra. Nhiều người có lẽ đã dính mảnh bom, quần áo bê bết máu. Vì mục tiêu chính là phá huỷ xe tăng, nên địch chỉ ném bom phá, tôi nghĩ lúc này nếu địch rải bom bi thì thương vong của ta chắc còn nhiều hơn nữa.

        Ra khỏi xe một khoảng khá an toàn, tôi dừng lại nấp sau một bờ ruộng và quan sát chiếc PT-85 và chiếc BTR-50PK của tôi cạnh đó đang hứng chịu từng đợt bom từ máy bay địch ném xuống. Đây là khoảng cách khá an toàn, mặc dù không có hầm hố gì. Sau hàng chục loạt bom, chiếc PT-85 vẫn đứng trơ trơ giữa bãi trống, trên mình không còn một cành lá ngụy trang. Hôm ấy trời trong xanh không một gợn mây, từ mọi phía và từ trên cao nhìn rất rõ chiếc xe tăng đang đứng đó như một mục tiêu để dịch tha hồ ném bom. Vì pháo cao xạ cũng không còn nổ súng nữa địch hạ thấp độ cao cắt bom nhằm phá hủy bằng được chiếc PT-85. Chúng tôi nhìn rõ cả khoang lái và phi công ngồi bên trong. Bom rơi xung quanh chiếc xe tăng. Nhưng sau mỗi loạt bom nổ rung chuyển, khói bụi vừa tan, chúng tôi lại thấy chiếc xe vẫn đứng nguyên chỗ cũ không hề hấn gì.

        Tuy nhiên chỉ sau mấy loạt bom, chiếc BTR-50PK của chúng tôi đã bốc cháy. Trên xe chứa đạn cối 82mm và tất cả quân tư trang của chúng tôi. Chiếc xe bắt lửa rất nhanh vì trên xe có gần 600 lít diezel. Một lát sau có tiếng đạn cối nổ trong xe. Như vậy ngọn lửa đã lan sang đống đạn cối, nhưng đạn cối không nổ cùng một lúc. Nó nổ từng quả một, sau mỗi tiếng nổ, chiếc xe thiết giáp lại sụn xuống, vì đã ngồi trên xe hành quân suốt dọc đường từ ga Vinh vào đến Quảng Trị, chiếc xe đã trở nên rất gần gũi và thân thiết với chúng tôi. Nhìn chiếc xe của mình bốc cháy và sau mỗi tiếng nổ lại sụn lưng xuống, tôi có cảm giác mình như người nông dân nhìn thấy con trâu thân thuộc đang bị kẻ ác nện nhũng đòn trời giáng vào lưng mà không làm gì được.

        Tại đây tôi gặp đồng chí Uy, Trung úy, Trợ lý kỹ thuật và cũng thuộc Ban Hậu cần. Đồng chí Uy là lái xe tăng được đào tạo chính quy ở Trung Quốc, ngươi cao to vạm vỡ và có khuôn mặt khá đẹp trai. Trên đường hành quân đồng chí Uy là người vui vẻ và lạc quan. Đồng chí thường kể về cô người yêu của mình tên là Núi, vẫn đang công tác ở Bộ Tư lệnh Thiết giáp. Đến bây giờ tôi vẫn nhớ câu hát mà đồng chí hay hát trên đường hành quân: "Trăng lên vờn mây trắng. Hò lên Bạn đời ơi! Ta mang tình đất nặng. Lên ôm ấp mây trời. Núi ơi, cao mấy chặng sao bằng tình đời ta. Súng ơi vai vác nặng, sao bằng tình quê nhà". Đời lính là thế trên đường xông vào nơi chiến trận, không biết sống chết ra sao, vẫn cứ mơ mộng, vẫn cứ tràn đầy hy vọng và vẫn mang hình ảnh của người mình yêu bên mình.


Tiêu đề: Re: Thử lửa
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Bảy, 2020, 05:44:43 pm

        Gặp nhau chúng tôi rất mừng vì biết đồng chí mình còn sống. Nhưng ngay vào lúc này đây, trong tình hình vô cùng khó khăn, vị trí đóng quân bị lộ, địch tập trung sức mạnh đánh hủy diệt vào đội hình xe. Bom đang nổ, xe đang cháy. Bộ đội tản ra bốn phía, không có một sự chỉ huy thống nhất nào và không biết đã có bao nhiêu người hy sinh, bao nhiêu người bị thương. Chúng tôi trên người chỉ có chiếc xà cột, một khẩu súng ngắn, nên chỉ có cách duy nhất là ẩn nấp, chờ cho đợt ném bom của địch chấm dứt. Bộ đội tản ra bốn phía nhưng vẫn ở trong một cánh đồng hẹp. Không một ai đi quá xa. Chúng tôi chỉ ở cách vị trí địch ném bom vài trăm mét. Nên có thể quan sát rất rõ từng chiếc máy bay của địch bổ nhào, từng quả bom bay ra khỏi máy bay lao xuống bãi giấu xe. Sau khi tất cả năm chiếc dã ném hết bom, chúng bay về căn cứ. Trong khi 3 chiếc máy bay trinh sát vẫn tiếp tục bay lượn trên trời. Khoảng 5 đến 10 phút sau lại có tốp khác lên thay thế. Như thế là giữa 2 đợt bom là một khoảng lặng. Nhưng ngay cả trong cái khoảng lặng đó, cũng không có một mệnh lệnh nào được ban ra. Bộ đội nằm đâu vẫn nằm yên đấy. Họ cũng không dám di chuyển nhiều vì trên trời vẫn còn 2 chiếc OV-10 và 1 chiếc L19. Chúng bay thấp và khi phát hiện mục tiêu là chúng bắn xuống ngay.

        Trong khi ngồi với đồng chí Uy, tôi quan sát thấy cách chỗ tôi đang nằm khoảng 500m là một cồn cát. Trên cồn cát có khoảng vài chục người dân ăn mặc quần áo đủ màu, có người che ô, có người đội nón lá, đứng túm tụm vào nhau. Đó là dân của các làng xung quanh, họ phải rời khỏi nhà và tập trung trên các cồn cát. Máy bay địch không ném bom vào chỗ họ. Đây là vùng ta chưa giải phóng nên tôi đoán là chính quyền của địch quy định như thế khi có chiến sự để tách dân ra khỏi bộ đội ta. Nhận thấy chỗ đó là vị trí không hề bị địch ném bom, tôi bàn với đồng chí Uy là đợi lúc địch thay ca giữa hai đợt ném bom, ta đi lên ngồi giữa đám đông cho an toàn. Đồng chí Uy tỏ ý e ngại vì trong đám đông đứng trên các cồn cát có đủ các thành phần. Địch có, ta có, người tốt có, người xấu có, ta không nên lên đó làm gì. Sau khi thuyết phục đồng chí Uy không được, tôi gọi một chiến sĩ, cũng đang ẩn nấp gÀn đấy, đợi lúc địch thay ca giữa 2 đợt ném bom, cluing tôi đi thẳng lên cồn cát và vào ngồi ngay giữa đám dân có đủ các thành phần, đủ các lứa tuổi. Thấy chúng tôi đến không ai tỏ thái độ gì, không xa lánh, cũng không niềm nở săn đón. Có lẽ trong số đó có cả người tốt, kẻ xấu nên không ai tỏ rõ thái độ của mình. Tuy nhiên, cũng có người đưa cho chúng tôi mỗi người một cái nón lá (hình giống như nón lá nhưng làm bằng nhựa) và một cái áo khoác họ nói:

        - Hai anh bộ đội giải phóng khoác áo và đội nón ni vô không máy bay hắn phát hiện ra hắn ném hom vô đây đó.

        Thế là tôi và cậu chiến sĩ khoác áo vào, đội nón lên đầu, yên trí ngồi giữa đám đông, những người dân hoàn toàn chưa quen biết. Ở vị trí này, chúng tôi quan sát rất rõ khu vực giấu xe đang bị đánh phá. Mục tiêu tập trung sự chú ý của địch vẫn là chiếc PT-85. Xung quanh đó là các xe thiết giáp chở bộ binh BTR-50PK. Trong số các xe thiết giáp, có the nhìn rất rõ chiếc xe của tôi đang bốc cháy và đạn cối trong xe vẫn tiếp tục nổ.

        Trưa hôm ấy chúng tôi không ăn gì, thức ăn chỉ có lương khô, nhưng lương khô thì đã để hết trên xe rồi. Bây giờ xe đã cháy, không những lương thực, thực phẩm, đạn dược mà quân tư trang của chúng tôi cũng không còn gì nữa. Trước khi ròi khỏi hậu cứ ở nông trường Quyết Thắng miền Tây Vĩnh Linh, đồng chí Cung - Trợ lý hành chính của Ban Hậu cần có nhắc tôi là chỉ đem theo những thứ thật cần thiết, còn tất cả quân tư trang thì gửi lại hậu cứ. Nhưng vì tôi hoàn toàn không được biết là mình đi đâu, đi làm nhiệm vụ gì nên tôi cứ mang theo tất cả. Người đâu của đấy là yên tâm, bây giờ chỉ có những thứ gì mang trên người là còn. Lúc này tôi chỉ mặc một cái áo cộc tay, một quần dài, một bộ đồ lót trên người. Trong xà cột có một chiếc võng dù, một tăng ni lông, một chiếc màn tuyn và một quyển sổ công tác chưa ghi chữ gì. Đeo quanh thắt lưng to bản là một khẩu súng ngắn, một túi thuốc cá nhân, một bi đông nước và một dao găm. Đó là những vật bất ly thân. Bộ quần áo giờ đây đã đầy bùn đất, nhưng có lẽ còn lâu tôi mới có quần áo để thay. Tuy nhiên, tất cả những điều đó chỉ là chuyện nhỏ, rất nhỏ so với cái mà tôi còn, đó là cái "gáo". Thòi ấy chúng tôi thường dùng hình tượng cái gáo dừa để chỉ cái đầu, tức là mạng sống của mình.


Tiêu đề: Re: Thử lửa
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Bảy, 2020, 05:45:24 pm

        Ngồi giữa đám đông, không nghe thấy họ nói gì, cũng không hiểu họ nghĩ gì. Việc xuất hiện giữa đám đông lúc này thì chẳng có gì đáng tự hào cả vì lúc này chúng tôi đang bị địch đánh phủ đầu và hoàn toàn mất khả năng kháng cự.

        Ngồi trên cồn cát đến khoảng 2 giờ chiều, tôi lại dẫn người chiến sĩ đi theo tôi trở lại cánh đồng nơi quân ta ẩn nấp. Tôi đến nấp sau một ụ đất rất to. Những ụ đất hình tròn, chiều cao bằng một chiếc xe lăng, đó là những cái mộ của dân ở đây. Tại đây tôi gặp một đồng chí cán bộ có tuổi, thấy tôi đeo súng ngắn bên hông đồng chí hỏi:

        - Đồng chí là sĩ quan phải không?

        Tôi trả lời:

        - Vâng!

        - Đồng chí ở bộ phận nào?

        - Báo cáo tôi ỏ Ban Hậu cần

        - Đồng chí tên là gì?

        - Tôi tên là Chúng.

        - Cấp bậc?

        - Chuẩn úy.

        Đồng chí nói:

        - Tôi là Trung đoàn phó, từ giờ phút này đồng chí đi theo tôi và chấp hành mệnh lệnh của tôi.

        Tôi trả lời:

        - Rõ!

        Người tôi vừa gặp là đồng chí Bạn, Thiếu tá Trung đoàn phó, đồng chí xuất thân là sĩ quan bộ binh. Khi thành lập Trung đoàn bộ binh cơ giới 66, đồng chí được điều về trung đoàn chắc là để chỉ huy phần tác chiến bộ binh của trung đoàn. Đồng chí đã vào đây từ trước và đang đi trinh sát để đưa tiểu đoàn đánh thẳng vào Đông Hà khi có lệnh của trên.

        Gặp được tôi, đồng chí Bạn rất mừng vì đã có người hỗ trợ. Còn đối với tôi, kể từ khi lên xe cùng tiểu đoàn vượt sông, bây giờ tôi mới được làm việc trực tiếp cùng cấp trên.

        Giờ đây tôi biết nhiệm vụ chính của tiểu đoàn là sử dụng khả năng cơ động, thọc sâu vào Đông Hà nhanh chóng đánh vào sở chỉ huy của địch. Đó là kế hoạch A2 và người trực tiếp chỉ huy là đồng chí Bạn. Nhưng thật đáng tiếc là kế hoạch chưa được thực hiện thì tiểu đoàn đã bị địch đánh tại vị trí tập kết. Hậu quả này có thể do một loạt các sơ suất và chủ quan từ người lính lái xe đến người chỉ huy trong suốt quá trình hành quân.

        Quay trở lại đội hình, trong tình thế này, đồng chí Bạn cũng không thể làm được gì ngoài việc quan sát, nắm lại tình hình và chờ đến lúc địch dừng ném bom.

        Trời nhập nhoạng tối, lúc này từ trên cao bằng mắt thường, địch không nhìn rõ mục tiêu dưới mặt đất nữa. Trận ném bom kết thúc và nó đã kéo dài suốt từ 8 giờ sáng cho đến 6 giờ chiều. Có lẽ địch nghĩ rằng chúng đã phá huỷ được gần hết số xe của ta.

        Bây giờ là lúc tiểu đoàn có thể kiểm tra lại quân số, phương tiện, để đánh giá thiệt hại do trận bom gây ra, đồng thời giải quyết hậu quả. Dưới ánh đèn dù lờ mờ (lúc này vẫn còn một chiếc L19 bay lượn trên không và lâu lâu lại thả một quả pháo sáng), các đại đội kiểm tra lại quân số, tiến hành thu dọn chiến trường, làm công tác thương binh liệt sĩ. Khoảng trên 30 người đã bị thương vong.

        Trong số cán bộ đã hy sinh có đồng chí Đán, Thiếu úy, Đại đội trưởng và đồng chí Dỹ, Thượng sĩ trung đội trưởng của đại đội hoả lực chúng tôi, đồng chí Dỹ là người đi cùng xe với tôi suốt chặng dường từ ga Vinh vào đến Vĩnh Linh. Dỹ là một người lính đã qua chiến đấu, tính tình rất vui vẻ. Tôi vẫn còn nhớ, trên những chặng đường hành quân, mặc dù đang đi về phía Nam, đồng chí vẫn cứ nghêu ngao đọc mấy câu thơ:

        "Nàng về nuôi cái cùng con.
        Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng
        Cao Bằng xa lắm em ạ!".


        Chiếc PT-85 mục tiêu bị tấn công nhiều nhất, cho đến khi trận ném bom kết thúc vẫn còn nguyên hình dạng. Không một quả bom nào đánh trúng xe. Lúc này địch chưa sử dụng bom lade nên xác suất trúng đích của bom rất thấp. Cả ngày không biết bao nhiêu đợt bom giội xuống chiếc PT-85, nhưng không một quả bom nào rơi trúng vào tháp pháo hoặc buồng động cơ phía sau. Tuy nhiên mảnh bom đã phá hỏng hệ thống dầu bôi trơn. Nên khi lái xe cho xe nổ máy và chạy được một đoạn thì xe bị cháy máy.

        Mới trên đường hành quân chưa vào trận mà đã bị đánh phủ đầu là một tổn thất lớn, nó đánh vào tinh thần người lính khi ra trận.

        Đánh thắng trận đầu có vai trò quan trọng trong việc cổ vũ tinh thần của bộ đội vậy mà trận đầu lại ra quân như thế này... Nguyên nhân một phần là do sự chủ quan mất cảnh giác của ta. Trên chiến trường cái giá phải trả là xương máu.

        Đêm đã xuống, những xe bị hư hỏng không thể cơ động được kéo đi cất giấu. Thương binh trong đêm được chuyển ra Vĩnh Linh. Còn tử sĩ thì được chôn cất trong một khu vực gần đó. Vì không có quan tài, chúng tôi phải dùng võng dù và tăng ni lông để mai táng. Cái tăng ni lông và chiếc võng của tôi cũng được sử dụng vào việc đó. Vậy là bây giờ tôi chỉ còn một bộ quần áo và một chiếc màn tuyn. Cuối tháng 3 nhưng trời vẫn lạnh. Tôi dùng chiếc màn tuyn quấn quanh cổ cho ấm.


Tiêu đề: Re: Thử lửa
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Bảy, 2020, 06:03:09 am

        Trong khi đang giải quyết hậu quả, đồng chí Bạn cho gọi tôi và nói:

        - Bây giờ tôi giao cho đồng chí một nhiệm vụ rất quan trọng, đồng chí nghe cho kỹ nhé!

        Tôi trả lời:

        - Vâng!

        Đồng chí Bạn nói tiếp:

        - Tình hình là thế này, đêm hôm qua khi hành quân đến đây, Đại đội 5 đã bơi qua bên kia sông để giấu quân, nhưng phía bên kia sông bây giờ toàn là địch. Như vậy Đại đội 5 đã lọt vào giữa đội hình của địch. Bây giờ tôi điều cho đồng chí một trinh sát dẫn đường. Các đồng chí phải vượt qua bên kia sông, lần theo vết xích làm sao bắt được liên lạc với Đại đội 5 và đưa đồng chí Đại đội trưởng về đây gặp tôi. Đồng chí hiểu nhiệm vụ chưa?

        Tôi trả lời:

        - Rõ!

        Đồng chí lại nói tiếp:

        - Đồng chí chú ý bên kia sông hiện nay là vùng dịch, phải cảnh giác cao độ không để địch bắt sống và bằng bất cứ giá nào, đồng chí nhấn mạnh, bằng bất cứ giá nào đúng 8 giờ tối hôm nay đồng chí phải đưa được cán bộ chỉ huy Đại đội 5 về đây, về đúng vị trí này gặp tôi. Còn đây là đồng chí trinh sát sẽ đi với đồng chí. Đồng chí này biết chỗ vượt sông của Đại đội 5, đồng chí có cần hỏi gì không?

        Tôi trả lời :

        - Không!

        - Vậy các đồng chí đi đi. Nhớ rõ địa điểm này nhé. Bằng bất cứ giá nào đúng 8 giờ tối gặp tôi ở đây.

        Thế là tôi và đồng chí trinh sát lên đường. Cậu trinh sát người cao nhưng hơi gầy, mói ngoài 20 tuổi nhưng trông có vẻ dày dạn hơn nhiều so với những tân binh ở đại đội hoả lực với tôi, đồng chí trinh sát dẫn đường cho tôi ra chỗ Đại đội 5 vượt sông đêm hôm trước. Chúng tôi đi trên cánh đồng bằng phẳng dưới ánh đèn dù lờ mờ của chiếc L19. Nghĩ rằng không ai quan sát thấy mình, chúng tôi cứ đi thản nhiên, không đề phòng gì hết vì chúng tôi vẫn còn ở phía bên này bờ sông. Bỗng nhiên tôi nghe tiếng đạn rít trên không trung. Tuy mới lần đầu gặp phải trường hợp này nhưng tôi dễ dàng phân biệt tiếng rít của nó khi đang bay và khi sắp rơi xuống đất. Khi tiếng rít đã sát sạt bên tai, tôi lệnh cho đồng chí trinh sát nằm xuống, thế là những tiếng nổ chát chúa vang lên, tiếng mảnh đạn bay vèo vèo, đất đá văng tung toé, mùi thuốc nổ khét lẹt. Đây là đạn côi 81mm của địch, rơi rất gần chỗ chúng tôi.

        Sau khi đạn nổ. Chúng tôi lại đứng dậy chạy ra phía bờ sông. Được một đoạn lại nghe tiếng đạn rít trên không trung, rồi tiếng rít xèn xẹt khi sắp rơi xuống đất. Chúng tôi lại nằm xuống, đạn lại nổ. Tôi nói với đồng chí trinh sát: "Địch phát hiện ra mình rồi! Chúng nó bắn theo mình đấy".

        Đồng chí trinh sát nói:

        - Nó bắn vu vơ đấy anh ạ! Đêm tối thế này làm sao nó trông thấy mình được.

        Không tranh luận, tôi nói:

        - Bây giờ thế này: Không đứng dậy chạy nữa, đồng chí và tôi sẽ bò khoảng 100m rồi sẽ đứng dậy đi tiếp.

        Thế là tôi và đồng chí trinh sát bò tiếp khoảng 100 m không thấy địch bắn nữa.

        Tôi ra lệnh:

        - Đứng dậy đi tiếp!

        Chúng tôi đứng dậy, vừa đi được khoảng l0m thì lại nghe tiếng đạn rít trên không rồi lao xuống chỗ chúng tôi, chúng lôi lại nằm xuống, đạn nổ. Lần này thì rõ rồi, khi chúng tôi đứng dậy trên cánh đồng bằng phăng, mặc dù trời tối, nhưng vẫn có ánh đèn dù lờ mờ của chiếc L19, địch vẫn phát hiện ra chúng tôi. Tôi nói với đồng chí trinh sát: Đồng chí đã thấy nó phát hiện ra mình chưa?

        Đồng chí trinh sát nói:

        - Đi đâu nó cũng bắn theo thế này thì làm sao đi được, hay là ta quay về báo cáo với thủ trưởng đi anh.

        Tôi nói:

        - Không được, đồng chí không nghe Trung đoàn phó nói: Bằng bất cứ giá nào cũng phải đưa được đại đội trưởng Đại đội 5 về gặp Thủ trưởng lúc 8 giờ tối à?

        Câu nói: "bằng bất cứ giá nào" mà đồng chí Bạn nhắc đi nhắc lại 3 lần đã làm cho tôi tin chắc rằng nhiệm vụ mà tôi đang thi hành là vô cùng quan trọng, không thể thoái lui được. Tôi nói tiếp: "Bây giờ ta phải bò một đoạn thật xa, phải làm cho địch mất mục tiêu và không thể bám theo ta nữa.

        Thế là chúng tôi bò một mạch ra tối gần bờ sông. Địch bị mất mục tiêu, chúng tôi không bị chúng nã đạn cối theo nữa. Qua trận bom địch đánh vào chỗ giấu xe ngày hôm nay và qua lần bị đạn cối của địch bắn đuổi, tôi rút ra một kết luận là: khi bị pháo bắn hoặc bị bom, để tránh bị sát thương cách tốt nhất là nằm sát xuống mặt đất. Nhiều người bị sát thương nhất là tân binh khi thấy bom nổ, hoảng hốt bỏ chạy là trúng mảnh bom. Vì khi bom nổ, mảnh bom văng ra bốn phía theo hình phễu, nếu ta đang đứng, hoặc đang chạy, thân mình cao trên mặt đất thì dù ở phía nào cũng dễ bị trúng mảnh bom.


Tiêu đề: Re: Thử lửa
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Bảy, 2020, 06:03:37 am

        Ra đến bờ sông thấy rất rõ vết xích xe thiết giáp tại bến vượt. Bây giờ chúng tôi phải bơi qua bên kia sông, sau đó lần theo vết xích xe thiết giáp để tìm đến chỗ Đại đội 5 đang trú quân. Gọi là sông nhưng có lẽ đó chỉ là một nhánh sông, rộng khoảng 20 m. Nhưng không thể mặc quần áo để bơi qua sông được. Chúng tôi quyết định phải cởi quần áo, giấu vào một bụi cây, chỉ mặc quần đùi bơi qua sông và phải nhớ kỹ chỗ giấu quần áo để còn mặc vào khi quay trở về. Trời mới cuối tháng 3, vẫn còn lạnh. Nhưng điều mà tôi ngại nhất lúc này không phải là lạnh mà là tôi cảm thấy người mình trắng quá, rất dễ trở thành mục tiêu bị phát hiện. Lúc bình thường thì thấy mình đen vậy mà lúc này lại thấy mình trắng thế! Giấu xong quần áo chúng tôi bơi qua sông. Đồng chí trinh sát cầm một khẩu AK báng gập, còn tôi chỉ có một khẩu súng ngắn. Qua bên kia bờ sông, dưới ánh sáng lờ mờ của ánh đèn dù chúng tôi cứ lần theo vết xích mà đi. Rất may, lúc này địch không bắn nữa. Tôi dặn đồng chí trinh sát khi nào phát hiện ra xe thiết giáp không được làm kinh động vì quân ta có thể nhầm tưởng chúng ta là bọn thám báo thì ta chỉ có chết oan. Như thế là bây giờ không những chỉ sợ địch bắn mà còn sợ bị ta bắn nhầm nữa. Vì vậy khi phát hiện ra vật gì phía trước giống như cái xe thiết giáp là chúng tôi lại nằm bẹp xuống từ từ bò đến nơi. Một vài lần chúng tôi làm như thế, nhưng khi đến gần mục tiêu thì không phải là xe thiết giáp mà là những cái mộ của dân như tôi đã kể ở trên.

        Cuối cùng chúng tôi cũng tìm ra được vị trí đóng quân của Đại đội 5. Đó là một cái gò thấp có rất nhiều cây dứa dại, không có nhiều cây cối um tùm như chỗ giấu xe của chúng tôi. Nhưng Đại đội 5 không bị máy bay phát hiện. Điều quan trọng nhất là nó không bị lộ khi hành quân như chúng tôi. Bí mật vào đến tận nơi, chúng tôi phát hiện ra cả đơn vị hầu như mọi người đã ngủ. Mặc dù lúc đó chưa dên 8 giờ tối. Phần lớn rải chiếu nằm ngủ dưới gầm xe. Có lẽ những cuộc hành quân liên miên hết đêm này qua đêm khác đã làm cho cả đơn vị mệt mỏi và thiếu ngủ, nên bất cứ ở đâu và lúc nào cũng có thể ngủ được. Chỉ cần một lực lượng nhỏ tập kích vào vị trí đóng quân của Đại đội 5 thì tổn thất có thế sẽ rất lớn. Nhưng rất may là lúc này, trên toàn chiến trường quân ta đang tấn công dữ dội. Các căn cứ của địch, trong đó lớn nhất là căn cứ Đông Hà đang bị bao vây chặt nên địch đang co cụm lại, không dám hoạt động gì.

        Tôi đến một xe, đánh thức mọi người đang ngủ dưới gầm xe dậy và hỏi:

        - Ban chỉ huy đại đội của các anh ở đâu? Những người lính đang ngủ bị đánh thức dậy, ngơ ngác chưa biết gì. Sau một lúc mới định thần lại (không biết họ có để ý tôi và cậu lính trinh sát chỉ mặc mỗi cái quần đùi hay không). Tuy nhiên khi thấy cậu trinh sát mang khẩu AK thì họ yên trí là quân ta, một người hỏi:

        - Các anh ở đâu đến?

        Tôi trả lời: Chúng tôi từ tiểu đoàn đến truyền lệnh cho các đồng chí, đưa tôi đi gặp Đại đội trưởng.

        Một người lính đưa chúng tôi đi một đoạn đến chỗ có một cái rãnh sâu, nhưng bên dưới không có nước. Đại đội trưởng đang mắc võng nằm dưới đó. Tôi đánh thức Đại đội trưởng dậy và nói:

        - Đồng chí Bạn, Trung đoàn phó cử tôi đến, đồng chí theo tôi về bên kia sông trực tiếp nhận nhiệm vụ.

        Đại đội trưởng lệnh cho đơn vị thức dậy, sẵn sàng đợi lệnh hành quân và khẩn trương đi theo tôi về vị trí đã hẹn gặp đồng chí Trung đoàn phó. Đồng chí Đại đội trưởng đưa theo một vài người nữa cùng đi. Sau khi bơi qua sông, tôi và đồng chí trinh sát lại lấy quần áo mặc vào. Trong khi mặc quần áo, tôi nói với đồng chí Đại đội trưởng và những đồng chí cùng đi:

        - Từ đây đến chỗ gặp Trung đoàn phó các đồng chí phải chú ý địch có thể quan sát thấy ta. Lúc nãy ở đoạn này, tôi đã bị chúng bắn súng cối đuổi theo đấy, nhưng rất may lúc này không thấy địch bắn nữa. Chúng tôi cứ đi đến vị trí đã hẹn. Vẫn chưa đến 8 giờ tôi nhưng không thấy đồng chí Trung đoàn phó đâu cả.

        Tôi nói với đồng chí Đại đội trưởng chờ và lệnh cho đồng chí trinh sát đi tìm đồng chí Trung đoàn phó.

        Một lát sau đồng chí trinh sát dẫn đồng chí Bạn ra điểm hẹn, tôi hỏi:

        - Thủ trưởng nói với tôi là bằng bất cứ giá nào cũng phải đưa được chỉ huy Đại đội 5 về đây mà sao đúng giờ không thấy thủ trưởng vậy?

        - Lúc nãy ngồi đây nó bắn ghê quá, tớ phải tạm lui vào làng.

        - Bây giờ tôi có phải làm gì nữa không ạ?

        - Thôi thế được rồi, đồng chí đã hoàn thành nhiệm vụ, bây giờ quay về đơn vị đi.


Tiêu đề: Re: Thử lửa
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Bảy, 2020, 05:43:06 am

        Tôi chào đồng chí Trung đoàn phó và quay về bãi xe để tìm đại đội hỏa lực. Bây giờ việc giải quyết thương binh, tử sĩ đã tạm ổn. Các xe hư hỏng đã được cất giấu. Tôi gặp lại các thành viên trên xe khẩu đội cối. Họ rất mừng và ngạc nhiên khi thấy tôi còn sống. Anh em nói với tôi là: sau khi ra khỏi bãi xe, họ chú ý quan sát nhưng không thấy tôi ở đâu, lại nhìn thấy xe bốc cháy, nghe thấy tiếng súng trung liên trên xe nổ. Họ đoán là tôi leo lên xe bắn máy bay. Một lát sau thì xe nổ và họ nghĩ rằng tôi đã hy sinh. Sau khi địch ngừng ném bom, anh em có đi tìm tôi, nhưng không gặp, họ càng tin chắc là tôi đã hy sinh, anh em đã báo tin cho đội tải thương về phía sau. Thế là chỉ trong hai ngày đầu tôi đã hai lần được báo tử. Nhưng lúc đó thì tôi đã được đồng chí Trung đoàn phó giao nhiệm vụ đi tìm Đại đội 5 để truyền lệnh.

        Sau khi việc giải quyết hậu quả đã tạm ổn. Tiểu đoàn lại tập hợp đội hình để chuẩn bị di chuyển. Tất cả các xe không bị hư hỏng tập hợp thành một hàng dài chuẩn bị hành quân. Sau một ngày địch đánh phá ác liệt, tôi cứ tưởng là số thiệt hại sẽ rất lớn, nhưng tổng số xe bị đánh hỏng không thể cơ động được chỉ có 8 chiếc. Có lẽ là do ngay đợt đầu địch ném bom vào bãi giấu xe, chiếc PT-85 đã bay hết lá ngụy trang, đứng trần trụi giữa bãi trông và trở thành mục tiêu quá hấp dẫn nên địch đã tập trung tất cả sự chú ý để hủy diệt chiếc xe này và những chiếc xe bên cạnh mà không chú ý đến những vị trí khác. Toàn bộ đội hình vượt sông từ đêm hôm trước cách đó không xa không hề bị lộ. Như vậy là chiếc PT-85 và những xe lân cận đã chịu trận cho cả tiểu đoàn. Và sau một ngày chịu trận chiếc PT-85 vẫn lì lợm đứng nguyên tại chỗ.

        Từ trong các bờ bụi, các lũy tre, những chiếc xe tăng, xe thiết giáp lại bò ra xếp thành một hàng dài, trong đó có cả những chiếc xe mang khí tài FR dùng để phá vật cản, được cải tiến từ xe PT-85, ở bên sườn phía sau mỗi xe là hai thùng bộc phá cây. May mà địch không phát hiện được những xe này. Nếu chúng phát hiện ra và ném trúng thì những thùng bộc phá kia sẽ nổ rất dữ dội.
               
        Sau khi kiểm tra lại quân số và trang bị, tiểu đoàn đã nắm được toàn bộ thiệt hại. Một bộ phận được cử ở lại để tiếp tục giải quyết hậu quả và tiểu đoàn lại tiếp tục hành quân. Vì vị trí tập kết coi như đã bị lộ.

        Lúc này đồng chí Dũng đã được phân công lái một chiếc xe khác, đồng chí lái chiếc xe này chắc đã bị thương hay đã hy sinh trong trận ném bom vừa qua. Tôi lên xe đồng chí Dũng thì lại gặp đồng chí Bền, Chính trị viên.

        Thế là tôi lại leo lên xe và tiếp tục cuộc hành trình với đồng chí Bền.

        Đồng chí Bền tiếp tục chỉ huy cuộc hành quân. Tôi không thấy đồng chí Bạn trong đoàn xe. Có lẽ đồng chí Bạn vẫn tiếp tục ở lại trinh sát địa hình. Lần này hành quân chúng tôi không bị máy bay L19 bám theo. Có lẽ địch nghĩ rằng sau một ngày ném bom ác liệt vào đội hình, xe tăng và xe thiết giáp của chúng ta phải cháy gần hết.

        Đến khoảng 2 giờ sáng, đoàn xe dừng lại, địa điểm giấu xe là một cồn cát. Để đội hình đứng tại chỗ, đồng chí Bền dẫn xe của chúng tôi đi giấu xe. Ở trên cồn cát này ngoài những cây phi lao mọc thưa thớt, không hề có bụi cây nào. Vì vậy để giấu xe cách tốt nhất là phải đào hố, sau đó cho xe đi xuống hố, phủ bạt rồi lấp cát lên. Để làm được điều đó các thành viên trên xe phải đào một cái hố chiều dài khoảng 6m, chiều sâu khoảng 2m và chiều rộng khoảng 3m. Sau khi đào được hố đưa xe xuống phủ bạt rồi lấp cát lên ngụy trang thì đã gần 4 giờ sáng. Đồng chí Bền theo dõi toàn bộ sự việc. Sau khi giấu được một xe, đồng chí Bền tiếp tục quay lại điều xe thứ hai đến vị trí giấu xe và cả đoàn xe tiếp tục đứng đợi. Thấy không ổn, tôi nói với đồng chí Bền:

        - Bây giờ anh nên xác định tất cả các vị trí giấu xe của các đại đội, sau đó các đại đội phải chỉ huy việc giấu xe của đơn vị mình. Tất cả các xe phải triển khai cùng một lúc. Nếu làm từng chiếc thì không thể kịp vì bây giờ đã là 4 giờ sáng rồi.

        Thấy có lý, đồng chí Bền lệnh cho các đại đội chiếm lĩnh vị trí giấu xe và triển khai cùng một lúc việc đào hố giấu xe cho toàn tiểu đoàn. Vì thế (lên khoảng hơn 5 giờ sáng, tất cả các xe của tiểu đoàn đã được giấu xong và nằm im dưới cồn cát. Còn bộ đội thì tản ra xung quanh đào hố cá nhân ẩn nấp.

        Trời sáng, trên bầu trời, máy bay OV-10 lại xuất hiện, từ khi vượt sông cho đến bây giờ hễ trời sáng là trên đầu chúng tôi bao giờ cũng có một chiếc OV-10 bay lượn dù chúng tôi đang ở vị trí nào.


Tiêu đề: Re: Thử lửa
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Bảy, 2020, 05:43:36 am

        Tôi và mấy anh em khẩu đội cối cùng hai lái xe là Dũng và Bạch tìm một chỗ khá kín đáo trên cồn cát đào hầm ẩn nấp. Chiếc OV-10 vẫn bay lượn trên đầu chúng tôi. Không có dấu hiệu gì tỏ ra nó phát hiện thấy chúng tôi cả.

        Chúng tôi sẽ phải nằm đây ít nhất cho đến khi trời tối. Trong khoảng thời gian yên tĩnh tạm thời đó chúng tôi có dịp trò chuyện với nhau. Lúc này anh em mới hỏi tôi:

        - Anh Chúng này! Anh vào đây đã lâu chưa?

        - Anh mới vào lần đầu tiên.

        - Không phải thế, anh phải vào đây hàng chục năm rồi anh mói có thể dày dạn và bình tĩnh như thế chứ.

        Tôi trả lời:

        - Không phải đâu, anh vừa tốt nghiệp Trường Đại học Kỹ thuật quân sự ở Vĩnh Yên. Chỗ mấy cái nhà 5 tầng xây rồi mà chưa trát, khi chúng ta hành quân ra ga thì trông thấy đấy.

        Tôi giải thích rất thật nhưng anh em không tin. Sau lần chỉ huy anh em ra khỏi khu vực bị ném bom hôm trước, anh em nghĩ rằng tôi là người rất dày dạn trên chiến trường. Họ nói bây giờ anh cứ đi đâu là chúng em đi theo đấy.

        Chuyện trò một lúc, anh em bắt đầu lăn ra ngủ. Đêm nào cũng hành quân, ngồi trên xe chỉ ngủ gà ngủ gật, ban ngày thì bom đạn. Đêm qua hai giờ sáng đã phải hì hục đào hố giấu xe nên bộ đội thiếu ngủ triền miên chỉ chờ có dịp là ngủ. Đặc biệt là lính trẻ, lúc bị địch ném bom thì rất khiếp nhưng sau đó lại ngủ được ngay. Những ngày qua tôi rất ít ngủ, khi hành quân, khi chờ vượt sông, những lúc tạm dừng, rồi những lúc bị địch ném bom hầu như tôi không lúc nào có thể ngủ được. Và ngay lúc này trong những giờ phút yên tĩnh hiếm hoi tôi vẫn cứ tỉnh như sáo. Có lẽ tôi đã không còn vô tư như những anh lính trẻ mói chỉ tròn 20 tuổi.

        Từ trên cồn cát, nhìn xuống dưới chúng tôi thấy một dòng sông nhỏ, bao quanh một cái làng có những bụi tre, cách chúng tôi khoảng 2km. Khoảng 9 giờ sáng, một chiếc máy bay OV-10 nghiêng ngó nhìn vào cái làng nhỏ này và bắn mấy quả pháo khói, lập tức không biết từ đâu những chiếc AD-6 lao tới cắt bom vào làng. Cuộc ném bom kéo dài khoảng 10 phút thì tạm dừng. Lúc đó từ trên sông xuất hiện những chiếc xuồng máy chở đầy lính lao về phía cái làng nhỏ bé vừa bị ném bom. Từ trong làng vang lên tiếng súng AK. Đạn B40, B41 từ trong làng bắn về phía những chiếc xuồng máy. Những chiếc xuồng máy không thể tiến gần vào làng được và quay đầu tháo lui.

        Những chiếc AD-6 lại xuất hiện và một đợt ném bom mới lại bắt đầu. Tiếng bom nổ rung chuyển, khói bụi mù mịt. Chúng tôi có cảm tưởng như không một sinh vật nào trong cái làng bé nhỏ kia có thể tồn tại được dưới những trận bom hủy diệt kia. Bom ngừng thả, xuồng máy lại xuất hiện trên sông và tiến về phía làng. Khi xuồng máy tiến gần đến làng thì trong làng lại vang lên tiêng súng AK đanh gọn.

        Những quả đạn B40, B41 lại từ trong làng phóng về phía những chiếc xuồng máy và cũng như lần trước, những chiếc xuồng máy lại không tiếp cận được vào bờ và quay đầu tháo lui.

        Chúng tôi từ trên cồn cát nhìn cái điệp khúc đó lặp đi lặp lại nhiều lần, bò ra khỏi hố ẩn nấp để quan sát trận đánh như xem một bộ phim. Nhưng máy bay địch không hề để ý đến chúng tôi. Chúng đang tập trung mọi sự chú ý vào cái làng nhỏ đó.

        Trận đánh kéo dài đến trưa thì kết thúc. Địch từ bỏ ý định đổ bộ đánh chiếm cái làng bé nhỏ ven sông. Không hiểu trong cái làng ấy là đơn vị nào của ta? Họ có đông không? Tại sao họ có thể tồn tại được dưới những trận bom ác liệt đến như thế để bám trụ được ở chỗ đó. Chúng tôi thật sự khâm phục những người lính ở đó. Chắc họ phải là một đơn vị rất từng trải trong chiến tranh và rất thiện chiến.

        Trời tối, chúng tôi được lệnh quay về xe, mở bạt và cho xe lên khỏi hố. Đoàn xe lại tập hợp thành đội hình một hàng dọc. Chúng tôi tiếp tục hành quân. Đi về phía Tây, rời khỏi những cánh đồng, những cồn cát trắng, chúng tôi đến những vùng đồi núi phía Tây Quảng Trị và rẽ phải đi về phía Bắc. Chúng tôi đang trở lại miền Tây Vĩnh Linh, trở về hậu phương của chúng ta. Sau này chúng tôi mới biết rằng lúc đó thời cơ dùng Tiểu đoàn 66 thọc sâu vào Đông Hà chưa thể thực hiện được và tiểu đoàn chúng tôi được lệnh rút về hậu phương để củng cố lực lượng.

        Đến khoảng 12 giờ đêm, chúng tôi đến một cái ngầm, tôi nghe nói cái ngầm đó là ngầm Lăng Cô.

        Tại ngầm Lăng Cô, chúng tôi gặp một đoàn xe đi ngược lại. Chúng tôi từ phía nam đi ra bắc. Còn đoàn xe kia đang từ phía bắc vào phía nam. Đoàn xe có những chiếc xe KRAZ rất to.


Tiêu đề: Re: Thử lửa
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Bảy, 2020, 06:39:17 am

        Hai đoàn xe đi ngược chiều nhau qua một cái ngầm rất hẹp và con đường cũng rất hẹp. Nhưng hai bên không bên nào chịu nhường bên nào, khi chúng tôi có một xe đi xuống ngầm thì bên kia cũng cho một chiếc xe KRAZ xuống ngầm. Giữa ngầm tắc cứng không bên nào đi được. Tròi tối, giữa rừng sâu không có người điều độ và chỉ huy, hai bên hình như cũng chẳng gặp nhau để thương lượng nên hai đoàn xe đều không thể nhúc nhích. Cứ như là "hai con dê" đi qua một cái cầu mà không con nào nhường con nào cả. về sau tôi biết được trong những trường hợp như thế nếu bắn ba phát súng thì sẽ có bộ đội công binh hoặc thanh niên xung phong ra để khắc phục. Việc này tôi đã gặp sau này trên đường hành quân ra Bắc. Nhưng lúc này trên cả hai đoàn xe có lẽ đều là những người đầu tiên rơi vào hoàn cảnh này nên không có ai hành động gì cả và đồng chí Bền người chỉ huy cao nhất của đoàn xe chúng tôi cũng không làm gì.

        Có một điều rất nguy hại, nơi đây là trọng điểm thường xuyên bị địch ném bom. Nếu hai đoàn xe không thương lượng với nhau để thoát ra khỏi nơi này thì thế nào cũng cùng ăn bom. Trong khi chờ đợi tôi xuống xe quan sát nhưng trời tối quá chẳng nhìn thấy gì chỉ thấy phía ngược lại là những chiếc xe KRAZ đang đứng nối đuôi nhau. Một lúc sau tôi lên xe ngồi chờ. Khoảng 2 giờ sáng, ba loạt bom B-52 nổ rung chuyển cả vùng ngầm Lăng Cô. Chúng tôi ngồi trên xe thiết giáp nên không bị gì. Sau 3 loạt bom, chúng tôi thấy đoàn xe KRAZ bắt đầu ép sát ta luy phía Tây nhường đường cho chúng tôi. Đoàn xe chúng tôi lần lượt bò lên ngầm. Những chiếc xe KRAZ nép hẳn về một bên. Như vậy là chỉ sau 3 loạt bom B-52 người ta đã có những hành động khác hẳn. Đoàn xe chúng tôi thoát ra và ngầm Lăng Cô được giải toả không phải do một ai đó điều khiển mà là do 3 loạt bom B-52.

        Thoát ra khỏi ngầm đi được hơn chục cây số thì trời gần sáng. Chúng tôi dừng xe trên một khoảng rừng thưa xen lẫn với những đồi tranh. Nơi đây có những con đường do xe chạy lâu ngày mà hình thành, có lẽ đó là những đường nhánh của đường Hồ Chí Minh. Giấu xe vào các bụi cây ngụy trang xong, chúng tôi lại phân tán vào các khoảng rừng thưa để nghỉ ngơi và chờ trời tối để tiếp tục hành quân. Tôi và khẩu đội cối chọn một vị trí trên đồi có những tán cây lúp xúp để nghỉ ngơi. Chỗ đó chúng tôi có thể nhìn rõ con đường ô tô chạy từ Nam ra Bắc và từ Bắc vào Nam. Tròi sáng rõ từ trên cao nhìn xuống con đường, chúng tôi nhìn thấy một đoàn xe vận tải đang chạy từ phía Nam ra Bắc. Trên ca bin có những người bị thương, đầu quấn băng đỏ. Còn trên các thùng xe, mỗi thùng xe có vài ba người bất động nằm lắc lư máu chay rất nhiều.

        Như vậy có thể đoàn xe này đi ngay sau đoàn xe của chúng tôi. Khi ngầm bị tắc cũng phải nằm đợi và khi địch ném 3 loạt bom B-52 thì bom lại không rơi xuống ngầm mà lại chụp vào đoàn xe này. Đây là đoàn xe vận tải dân sự chở hàng vào Nam và sau khi đã trả hàng xong trên đường quay ra Bắc thì bị địch tấn công tại ngầm Lăng Cô do hai đoàn xe ở phía trước làm tắc ngầm vì không chịu nhường nhau. Trong chiến tranh cái chết có thể đến với con người bất cứ lúc nào và vì những lý do khác nhau.

        Đến 6 giờ chiều chúng tôi tiếp tục hành quân. Đây là chặng đường cuối cùng của chúng tôi trên đường trở về hậu cứ. Sau một tuần hành quân căng thẳng mệt mỏi, tổn thất nặng nề mà chẳng làm nên cơm cháo gì. Mới khởi hành được một đoạn, chúng tôi nghe một tiếng nổ rung chuyển. Tưởng là địch phát hiện thấy và đánh vào đội hình, nhưng không phải. Một chiếc xe thiết giáp đi ngay phía trước đè phải mìn chống tăng, chắc là mìn chống tăng của ta. Một chiếc bánh chịu nặng bay mất. Xe bị đứt xích. Dưới gầm xe có một lỗ thủng to bằng cái mũ cối. Nhưng không ai bị thương, chiếc xe phải nằm lại sửa chữa và sau này cũng bò về được hậu cứ.

        Đi đến khoảng 12 giờ đêm thì về đến hậu cứ. Tôi trở lại vị trí của Ban Hậu cần. Chui vào lán tôi thấy một người đang nằm ngủ trên võng. Tôi đánh thức người đó dậy. Đó là đồng chí Khải giáo viên Khoa công trình của Trường Đại học Kỹ thuật quân sự. Người cùng đoàn với tôi đi thực tế ở Trung đoàn 202. Đồng chí Khải thức giấc, trông thấy tôi đồng chí giật mình hoảng hốt và nói:

        - Cậu chết rồi cơ mà, sao lại về được...

        Tin tôi chết đã về đến hậu cứ gần một tuần rồi.

        Tôi trả lời:

        - Ai cho chết mà chết.

        Sau đó tôi lăn ra ngủ. Gần một tuần không ngủ giờ đây giấc ngủ đến rất nhanh. Sáng hôm sau tôi bị đánh thức bởi những loạt bom của máy bay Mỹ đánh vào ngã ba từ đường 15 đi vào một đội sản xuất của nông trường Quyết Thắng nơi Ban Hậu cần chúng tôi đóng quân. Địch bắt đầu đánh ra phía Bắc.

        Tôi dậy và đi đánh răng, đánh răng 3 lần mới ra bọt bởi suốt một tuần chỉ ăn lương khô và uống nước lã không đánh răng lần nào.

        Đánh răng xong tôi được ăn cơm với thịt hộp. Sau một tuần tôi mới được ăn cơm.

        Ăn xong tôi lại lăn ra ngủ, ngủ bù cho một tuần gần như thức trắng.

        Đó là "Khúc dạo đầu bi tráng" của chúng tôi ở Quảng Trị.


Tiêu đề: Re: Thử lửa
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Bảy, 2020, 06:39:58 am

       
NHỮNG CÂU CHUYỆN CỦA SĨ QUAN MỚI RA TRƯỜNG

        1. GẶP NHAU Ở CHIẾN TRƯỜNG.

        Sau một thòi gian tạm nghỉ ở hậu cứ, tôi được lệnh gọi về Sở chỉ huy hậu phương của trung đoàn đóng tại Vĩnh Thạch - Vĩnh Linh. Lúc này Sở chỉ huy cơ bản của trung đoàn, Tiểu đoàn 66 và Tiểu đoàn 198 đã chuyển vào phía nam. Đoàn cán bộ của Trường Đại học Kỹ thuật quân sự đi thực tế ở Trung đoàn 202 cũng đã đi theo sở chỉ huy cơ bản vào hết phía Nam.

        Người đứng đầu Sở chỉ huy hậu phương là đồng chí Quỳnh, Đại úy, Chủ nhiệm Hậu cần trung đoàn. Năm ấy đồng chí Quỳnh cũng đã ngoài 40 tuổi. Tính tình trầm lặng, ít nói. Trong Sở chỉ huy hậu phương còn có đồng chí Dự, Thượng úy, Trợ lý tác chiến, đồng chí Ngưỡng, Trung úy, Trợ lý quân lực, đồng chí Nên, Trung úy, Trợ lý đạn, đồng chí Dung, Trung úy, Trợ lý xăng dầu, đồng chí Thơ, Thiếu úy, Trợ lý tài vụ và tôi, Trợ lý quân khí.

        Sở chỉ huy hậu phương của trung đoàn, lúc đầu đóng ở nhà dân. Trong nhà chỉ có hai anh em. Người anh khoảng 24, 25 tuổi, cô em khoảng 20 tuổi. Cả hai anh em đều cao to, khỏe mạnh. Ở đây rất gần với giới tuyến và là túi bom trong chiến tranh phá hoại vì vậy có lẽ người già đã đi sơ tán hết. Những người trẻ ở lại không đi bộ đội mà họ phải bám đất vừa làm nhiệm vụ sản xuất vừa là dân quân. Ngoài công việc nhà, tôi còn thấy họ thường xuyên đi làm dân công hoả tuyến, có khi đi vài ngày qua bên kia sông Bến Hải rồi lại trở về. Họ là những người dày dạn, từng trải trong chiến đấu vì họ là những người sinh ra tại đây và đã có mặt ngay từ những ngày đầu giặc Mỹ đánh ra miền Bắc. Gọi là dân quân nhưng công việc của họ nặng nề căng thẳng không kém gì những người lính nơi chiến trận.

        Về sau, khi phát hiện được một số hầm để hàng hoá từ cuộc chiến tranh phá hoại lần trước chúng tôi chuyển sở chỉ huy ra đó. Đó là những căn hầm xây bằng gạch có mái vòm, chiều sâu khoảng 4 đến 5m, chiều rộng 3m, chiều dài khoảng 6m. Những hầm này không kiên cố lắm, nếu bom hoặc đạn pháo rơi vào nóc hầm thì hầm sẽ sập ngay. Nhưng lúc này tìm được những chỗ như thế cũng đã là lý tưởng.

        Tôi được bố trí ở chung một hầm với đồng chí Quỳnh, đồng chí Ngưỡng và đồng chí Dự. Đó là hầm chỉ huy của Sở chỉ huy hậu phương Trung đoàn 202.

        Mới về Sở chỉ huy hậu phương, với chức danh là Trợ lý quân khí tôi được đồng chí Quỳnh phân công đi nắm tình hình lắp ráp tên lửa chống tăng B72 lên xe thiết giáp. Công việc này do Viện Thiết kế vũ khí chủ trì. Nơi triển khai là Tiểu đoàn 44 đóng trong rừng cao su.

        Xuống đến hiện trường, tôi gặp ngay đồng chí Hồ Chí Thức là học viên khoá 1 cùng lớp với tôi, sau khi tốt nghiệp được phân công về Viện Vũ khí công tác và giờ đây cũng đã có mặt tại Vĩnh Linh, phục vụ cho chiến trường Quảng Trị. Gặp tôi, tại nơi này đồng chí Thức vô cùng ngạc nhiên và mừng rỡ. Sau lễ tốt nghiệp ở trường, mỗi người đi một ngả, ai cũng nghĩ rằng tôi đã ở lại trường làm công tác giảng dạy. Nhưng chẳng bao lâu thì lại nghe tôi đi chiến trường. Và khi đồng chí Thức vào đến Vĩnh Linh, không biết do nghe tin tức từ đâu, đồng chí nghĩ tôi đã hy sinh. Chiến tranh! Cuộc sống diễn biến thật nhanh chóng, sống chết không biết ngày nào. Trong tâm khảm của đồng chí Thức, tôi đã hy sinh rồi. 5 năm miệt mài đèn sách nhưng chỉ được một ngày trên chiến trường. Nhưng giờ đây, đồng chí bỗng gặp lại tôi, bằng xương bằng thịt, thật quá bất ngờ. Đồng chí nói:

        "Tôi nghe ông đã hy sinh rồi! Tin này rất nhiều người đã biết. Chúng tôi rất buồn và ai cũng tiếc. Một con người tài hoa và đoản mệnh. Vậy mà ông vẫn sống. Số ông còn cao lắm. Xin chúc mừng ông đã từ cõi chết trở về".

        Có lẽ tôi được đồng chí Thức gọi là một tài hoa vì đó là lời người ta thường dùng để an ủi cho một số phận không may. Nhưng cũng có lý vì trong thời gian đi học ở trường, tôi vừa là tổng cán sự của lớp, vừa là chủ bút tờ báo tường, vừa là diễn viên kịch nói và diễn viên đơn ca của đại đội. Về thể thao, tôi chơi được xà đơn, xà kép, tôi đánh bóng bàn và đôi khi còn là cầu thủ bóng đá của đại đội. Thứ gì tôi cũng biết một tý và như ông bố tôi nói: "Cái gì cũng biết, tức là chả biết cái gì cả!". Tuy nhiên, tôi cũng được anh em trong đại đội coi là người có tài, theo đúng cái nghĩa của nó là tài vặt. Một người có lắm tài vặt như thế mà chết sớm thì cũng đáng để người ta thương tiếc lắm chứ. Nhưng chiến tranh thì chẳng từ ai và tôi nghĩ rằng đã có rất nhiều người có tài thật sự, chứ không phải chỉ là tài vặt nhưng đã phải chết trước tuổi 20 trong chiến tranh.


Tiêu đề: Re: Thử lửa
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Bảy, 2020, 06:37:00 am
     
        Thời hạn công tác của đoàn cán bộ thuộc Viện Vũ khí không lâu. Nhưng chúng tôi cũng có nhiều thời gian để hàn huyên. Tôi kể cho đồng chí Thức nghe về cuộc hành quân vào Đông Hà, trận bị máy bay Mỹ tập kích ở Mai Xá Thị. Những câu chuyện mà sau này nó được kể đi kể lại rất nhiều lần. Nó trở thành một loại chuyện cổ tích hiện đại mà người ta nói là: "Biết rồi, khổ lắm nói mãi". Rồi lý do vì sao lại có cái tin là tôi đã hy sinh, đồng chí Thức cũng cho tôi biết tình hình các chiến hữu cùng khoá. Ngay sau khi tốt nghiệp, khoá 1 đã có 37 người được cử vào Đoàn 559. Đoàn đã xuất phát từ ga Vĩnh Yên vào ngày 8 tháng 11 năm 1971 và giờ đây có lẽ đã có mặt trên khắp các nẻo đường của cuộc chiến tranh vô cùng ác liệt này.

        Trong đoàn sĩ quan mới ra trường và đi thẳng vào chiến trường năm ấy có rất nhiều con cháu một số cán bộ cao cấp: mà tôi biết. Đó là:

        - Tạ Xuân Hiền lớp ô tô có bố là Thiếu tướng Tạ Xuân Thu, Tư lệnh pháo binh.

        - Nguyễn Thanh Sơn, lớp ô tô có bố là ông Nguyễn Tạo, Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp.

        - Nguyễn Quý Quyết, lớp cao xạ có bố là Thứ trưởng.

        - Nguyễn Ánh Sáng, lớp Trạm nguồn - Bố là Tham mưu phó Quân khu 4.

        Trong đó có một vài người khác cũng là con cháu các "Cụ", tuy không có danh sách trong đoàn đi thẳng vào chiến trường, nhưng giờ đây cũng đã có mặt ở Quảng Bình. Ngày ấy ra trường và nhận quyết định đi chiến trường là điều rất đơn giản. Không một ai chạy chọt để xin ở lại phía sau và các "Cụ" cũng không bao giờ viết thư tay cho cơ quan cán bộ nhờ bố trí cho con cái mình một vị trí có thể gọi là an toàn. Đúng là thời buổi mà "mọi ngả đường đều hướng ra tiền phương".

        Sau một tuần, tôi và đồng chí Thức chia tay nhau, đồng chí Thức lại tiếp tục rong ruổi đến các đơn vị để làm công việc của mình. Còn tôi lại trở về Sở chỉ huy hậu phương của Trung đoàn 202.

        Lúc này tại Sở chỉ huy của trung đoàn sau một thời gian vận hành, công việc được phân công đại thể như sau:

        Đồng chí Quỳnh chỉ huy sở chỉ huy hậu phương phụ trách chung.

        Đồng chí Nên, Trợ lý đạn làm kế hoạch và phụ trách việc tiếp nhận đạn từ các kho của mặt trận về kho trung đoàn.

        Đồng chí Dung, Trợ lý xăng dầu làm kẽ hoạch và phụ trách công tác tiếp nhận xăng dầu từ các kho của mặt trận về kho trung đoàn.

        Các đồng chí trợ lý quân nhu, quân trang, quân y phụ trách việc tiếp nhận hàng hoá của mình từ kho mặt trận về trung đoàn. Còn tôi phụ trách vế việc vận chuyển hàng hoá từ kho trung đoàn đến các đoàn vận tải của Cụm 4 Cục Hậu cần mặt trận, kể cả xăng dầu, đạn dược và quân trang quân lương. Ngoài ra, tôi còn là đại diện của Ban Hậu cần Trung đoàn 202 thường xuyên làm việc với Cụm 4 (là cơ quan của Cục Hậu cần mặt trận, bảo đảm cho các đơn vị cánh Đông của Mặt trận Quảng Trị).

        Chỉ huy Cụm 4 là thủ trưởng Lệ, Trung tá, nguyên là Chủ nhiệm Hậu cần Binh chủng Đặc công. Vào thời gian này, bố tôi đang là Tư lệnh binh chủng Đặc công và cũng đang có mặt tại Bộ chỉ huy mặt trận. Khi liên hệ công tác với Cụm 4, tôi vẫn gọi Thủ trưởng Lệ là chú Lệ.

        Hồi ở ngoài Bắc, thỉnh thoảng có dịp đến Bộ Tư lệnh Đặc công, tôi đã được gặp chú Lệ và chú cũng đã quen biết tôi. Trong lần đầu tiên đến liên hệ công tác với Cụm 4 với tư cách là trợ lý của Ban Hậu cần Trung đoàn 202, chú Lệ đã nhận ngay ra tôi là con trai ông Điềm, Tư lệnh binh chủng. Điều đó phần nào đã tạo cho tôi rất nhiều thuận lợi trong công việc. Mọi đề xuất về bảo đảm hậu cần cho trung đoàn với Cụm 4, bao giờ cũng được chú Lệ giải quyết rất kịp thời. Những đề xuất này thông thường đồng chí Quỳnh đã suy nghĩ kỹ và trao đổi với tôi rất cụ thể mỗi lần giao nhiệm vụ cho tôi lên Cụm 4 làm việc. Trong thời gian đầu của chiến dịch, một mặt hàng ít được quan tâm là chè và thuốc lá trở nên rất khan hiếm, vì nó không phải là hàng được ưu tiên trong vận chuyển. Ở Sở chỉ huy hậu phương của trung đoàn, tìm được một bao thuốc lá, một gói chè là rất khó khăn. Thấy vậy, tôi đề nghị chú Lệ cấp chè và thuốc lá cho sở chỉ huy hậu phương của trung đoàn và chú giải quyết luôn. Sau một thời gian thấy tôi làm việc với Cụm 4 khá thuận lợi, đồng chí Quỳnh phân công tôi đại diện cho Ban Hậu cần trung đoàn trực tiếp làm việc với Cụm 4.

        Để dễ dàng thực hiện mọi công việc, đồng chí Quỳnh công bố trong Sở chỉ huy hậu phương chỉ định tôi là Trợ lý kế hoạch Ban Hậu cần trung đoàn. Với nhiệm vụ đó, tôi thường xuyên đi lại giữa Sở chỉ huy hậu phương trung đoàn và Cụm 4.

        Trong những ngày làm việc với Cụm 4, thỉnh thoảng chú Lệ lại thông báo cho tôi những tin quan trọng. Trong đó có tin là hai ông chú của tôi cũng đã có mặt ở Quảng Trị. Người thứ nhất là chú Nghiêm Kình, Trung tá, Phó Chủ nhiệm chính trị Sư đoàn 320B. Chú Kình sinh năm 1927, chú tham gia cách mạng năm 1945 khi mới 18 tuổi, chú Kình vốn là người rất gần gũi và quan tâm đến tôi. Từ năm 1958 đến 1961, tôi đang học ở trường miền Nam, khi đó bố tôi đang đi học ở Trung Quốc, chú Kình là người thay mặt bố tôi, là phụ huynh của tôi, cứ sau mỗi học kỳ chú lại đến trường thăm tôi, đồng thời nghe nhà trường thông báo kết quả học tập của tôi. Ngày ấy, tôi học ở Hà Đông, còn chú đang là Trưởng ban Tuyên huấn Sư đoàn 325 đóng quân ở Quân khu 4. Đường sá xa xôi cách trở, nhưng để hoàn thành nhiệm vụ là phụ huynh của tôi do bố tôi giao phó, mỗi lần có dịp đi công tác ở Hà Nội chú đều vào trường thăm tôi và căn dặn tôi phải cố gắng học tập và tu dưỡng đạo đức để xứng đáng với truyền thống gia đình và sau này trở thành người có ích cho xã hội và đất nước. Đến năm 1961 bố tôi về nước, chú Kình không còn phải giữ vai trò là phụ huynh học sinh của tôi nữa. Chú được chuyển về Hà Nội công tác. Cả gia đình ở khu tập thể 3B, Ông Ích Khiêm, Hà Nội. Đó là khoảng thời gian hạnh phúc, ngắn ngủi chú được sống bên gia đình trong khung cảnh bình yên. Đến khoảng đầu năm 1964 chú lại lên đường. Chú đã qua nhiều chức vụ và giờ đây chú là Phó Chủ nhiệm chính trị Sư đoàn 320B và đang có mặt tại chiến trường này.


Tiêu đề: Re: Thử lửa
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2020, 06:18:02 am

        Chú Kình là hình mẫu của một người lính, người cán bộ chính trị, người chỉ huy sau này đã được nhà văn Nguyễn Minh Châu khắc họa trong tác phẩm "Dấu chân người lính". Chú lao vào hai cuộc kháng chiến trường kỳ với tinh thần của người chiến sĩ xả thân vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Chú đi khắp các chiến trường không hề biết chán nản, mệt mỏi, mặc dầu phải trải qua biết bao nhiêu gian khổ, hy sinh.

        Chú truyền nhiệt huyết của mình cho thế hệ trẻ. cho những người lính dưới quyền và con cháu của mình. Trong người chú hầu như lúc nào cũng có một ngọn lửa không bao giờ tắt. Năm 1964, tôi thi đỗ vào Trường Đại học Tổng hợp, cũng là năm giặc Mỹ bắt đầu mở rộng chiến tranh, dùng không quân đánh phá ra miền Bắc. Cuộc chiến tranh chống Mỹ ngày càng ác liệt và còn kéo dài. Từ đơn vị chiến đấu, lâu lâu có dịp về Hà Nội công tác, chú lại đến gặp tôi, động viên tôi lên đường nhập ngũ. Mặc dù lúc đó tôi vẫn đang còn nuôi khát vọng sẽ học để trở thành một nhà khoa học, một giáo sư ở trường đại học vì tôi rất thích làm nghề giáo viên.

        Chú nói với tôi rằng: "Giờ đây không có khát vọng nào lớn hơn khát vọng giải phóng đất nước, chú mong rằng cháu sẽ xếp bút nghiên và có mặt trong cuộc chiến đấu này. Đó không những chỉ là một cuộc chiến đấu mà còn là một bản anh hùng ca, cháu hãy lên đường, sống, chiến đấu và ghi lại những gì cháu đã trải qua trong cuộc chiến tranh ! thần thánh, vĩ đại này!". Đúng là một cán bộ chính trị, một cán bộ tuyên huấn có lời nói đầy sức truyền cảm.

        Trong chiến tranh, có những người luôn tìm cách lẩn tránh mọi nguy hiểm, gian khổ, có những người luôn suy tính để tìm được một chỗ yên thân, nhưng có nhiều người không hề tính toán, bất chấp mọi gian nguy, sẵn sàng tiến về phía trước. Rất nhiều người trong số họ đã ngã xuống. Chú Kình là một người như thế! Quảng Trị là chiến dịch cuối cùng trong cuộc đời binh nghiệp của chú. Tháng 8 năm 1972 chú hy sinh khi mới 45 tuổi. Chú đã có mặt trong cuộc chiến đấu vĩ đại trong bản anh hùng ca của dân tộc. Nhưng chú đã không thực hiện được ước mơ ghi lại những gì mà chú đã trải qua sau 27 năm, với một trái tim đầy nhiệt huyết, đầy khát vọng và đôi chân không hể mệt mỏi trên những nẻo đường chiến tranh.

        Người chú thứ hai của tôi cũng đang có mặt trên chiến trường Quảng Trị là chú Nghiêm Trình. Chú Trình sinh năm 1934, trong chiến dịch Điện Biên Phủ, khi mới 20 tuổi, chú đã là Khẩu đội trưởng. Hoà bình lập lại chú được Quân đội cho đi học và trở thành kỹ sư xe tăng. Sau khi tốt nghiệp, chú về nhận công tác tại Nhà máy Z153. Chú là một người rất hăng hái, rất nhiệt tình và sẵn sàng nhận bất cứ nhiệm vụ gì được phân công. Và giờ đây chú đang là chỉ huy của một đơn vị đặc biệt của Tổng cục Hậu cần có nhiệm vụ bám sát các đơn vị chiến đấu, để khi có thòi cơ thì tìm mọi cách bắt sống được xe tăng và xe thiết giáp của địch. Sau khi vào đến Vĩnh Linh, chú và đội công tác của mình đã đi thẳng vào căn cứ Ái Tử, nơi đang xảy ra những cuộc chiến đấu ác liệt.

        Ngoài hai ông chú mới từ ngoài Bắc hành quân vào, tôi còn một ông chú ruột đã có mặt ở chiến trường Trị Thiên từ năm 1966. Đó là chú Nghiêm Sỹ Thái, chú Thái sinh năm 1940, chỉ hơn tôi 5 tuổi. Chú tốt nghiệp khoa Văn, Đại học Tổng hợp năm 1965. Sau khi tốt nghiệp chú vào thẳng chiến trường Trị Thiên và có mặt ở đó cho tới ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam. Như vậy ông nội tôi đã có tới 4 người con trai và cháu đích tôn có mặt trên chiến trường Trị Thiên năm 1972, trong đó có người đã vĩnh viễn nằm lại chiến trường.

        Trong một lần đến làm việc với Cụm 4, tôi được chú Lệ chuyển cho một bức thư. Đó là thư của bố tôi, gọi là một bức thư, nhưng thật ra nó giống như lời động viên của một người chỉ huy với cấp dưới. Ông viết chỉ có vài dòng: "Cuộc chiến đấu trên chiến trường đang diễn ra rất ác liệt. Con hãy giữ vững tinh thần, không sợ gian khổ hy sinh, anh dũng tiến lên, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được cấp trên giao phó. Hẹn gặp lại sau ngày chiến thắng".

        Tôi chưa hề đọc một bức thư nào như thế! Không hề hỏi han tình hình sức khoẻ, tâm tư nguyện vọng, chỉ có những lời động viên tinh thần rất ngắn ngủi, mạnh mẽ và khô khan. Trên chiến trường, trong khung cảnh bom rơi, đạn lạc, cái chết gần kề, người ta không kể lể dài dòng, "dây cà ra dây muống" mà chỉ nói thật ngắn gọn. Tôi đoán được ý ông, điều ông muôn nói với tôi lúc này là: "Chiến tranh rất ác liệt, nhưng đã có mặt trên chiến trường thì phải xứng đáng là một người lính con trai ạ!". Hàng ngày đối mặt với cái chết, nhưng không được dao động và khiếp sợ. Đã dao động và khiếp sợ thì không thể làm được gì.

        Ai cũng biết rằng: "Cái quý nhất của con người là cuộc sống. Đời người chỉ sống có một lần...". Vì vậy không ai muốn chết cả. Nó như một bản năng đối với mọi cơ thể sống, nó tồn tại trong từng tế bào thần kinh, nhưng trên chiến trường, rất nhiều người vẫn bình thản nhận những mệnh lệnh mà người ta biết chắc rằng để thực thi được những mệnh lệnh đó thì chỉ có một đi không trở về! Người ta không từ chối, không trốn chạy vì ngoài cái nghĩa vụ là phải tuyệt đối chấp hành mệnh lệnh cấp trên như trong lời thề thứ hai của Quân đội nhân dân Việt Nam, vì kỷ luật chiến trường, vì ý nghĩa quan trọng của nhiệm vụ đối với sự sống còn của đồng đội, của đơn vị, vì chiến thắng của đại cuộc còn có một lý do rất quan trọng và rất riêng tư. Đó là: Những người biết coi trọng danh dự thì không thể từ chối nhiệm vụ của mình, mặc dù phải đương đầu với cái chết, họ không thể sống mà mất đi danh dự của mình. Bức thư của bố tôi tuy rất ngắn ngủi, không dạt dào tình cảm nhưng nó đang nhắc nhở tôi một điều rất quan trọng rằng tôi đang là một người lính trên chiến trường!


Tiêu đề: Re: Thử lửa
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2020, 06:20:28 am

        2. ĐI LẤY ĐẠN.

        Vào một ngày khoảng giữa tháng 4, tôi được đồng chí Quỳnh giao nhiệm vụ đi lấy đạn. Khoảng 2 giờ chiều, tôi nhận phiếu đi lấy đạn tại kho G ở miền Tây Vĩnh Linh, thời gian phải có mặt tại kho G là 3 giờ chiều. Việc đi nhận đạn mà phải hẹn giờ là để giữ bí mật vị trí của kho đạn. Theo giờ hẹn kho sẽ cử một bộ phận gặp đơn vị đi nhận đạn tại một vị trí bí mật trong kế hoạch. Ở đó chúng tôi sẽ giao xe và đứng đợi, nhân viên kho đạn sẽ đánh xe đến kho để lấy đạn theo phiếu xuất cho đơn vị và sau đó sẽ quay lại điểm hẹn và giao hàng cho chúng tôi.

        Tôi sẽ chỉ huy 2 chiếc Zil-157 và 4 chiến sĩ đi theo áp tải. Trong số chiến sĩ đi áp tải có đồng chí Nghĩa, chiến sĩ của đội bảo quản kho đạn. Đó là một thanh niên người tầm thước, đẹp trai, làm việc khá tận tuỵ và có trách nhiệm.

        Từ vị trí Sở chỉ huy hậu phương của trung đoàn, muốn đến kho G chúng tôi bắt buộc phải vượt qua một cái ngầm. Thời gian này máy bay Mỹ đã bay ra đánh phá miền Bắc. Mục tiêu đầu tiên mà chúng đánh phá là hệ thống đường giao thông. Trong đó có các cầu, phà, các ngã ba, ngã tư, các ngầm... để gây khó khăn cho đường vận chuyển của ta. Chúng chưa đánh các xe chạy trên đường.

        Lúc này ngầm đang bị máy bay địch oanh tạc, dù trên ngầm, có xe hay không có xe, máy bay liên tục ném các loại bom xuống ngầm, trong đó có bom phá, bom nổ chậm, bom bi nổ ngay và nổ chậm... Cứ từng đợt một, mỗi đợt kéo dài khoảng nửa tiếng, 5 đến 6 chiếc máy bay phản lực, quần đảo trên ngầm. Từ vị trí chúng tôi chuẩn bị xuất phát có thể nghe rõ tiếng bom nổ rung chuyển và nhũng cột khói bốc lên từ phía ngầm.

        Đã đến giờ, chúng tôi phải lên xe xuất phát để có thể đến kho G đúng hẹn. Trời nắng, bầu trời trong xanh không một gợn mây. Trên đường 15, khi trời nắng, mặt đường khô và có một lớp bụi dày, khi xe ôtô chạy, phía sau xe lớp bụi cuộn lên, từ trên cao nhìn xuống lớp bụi như một cái đuôi dài hình phễu. Vì vậy có thể xác định rằng, khi xe đã chạy ra đường, thì từ trên cao máy bay rất dễ dàng phát hiện ra mục tiêu.

        Tôi và đồng chí Nghĩa lên xe thứ nhất, chúng tôi ngồi trong ca bin, 3 chiến sĩ còn lại đi xe thứ 2. Tôi quy định xe sau đi cách xe trước khoảng 200m để khỏi phải hít bụi và để đội hình thưa ra đề phòng địch đánh phá. Vừa đi trên xe, tôi vừa nghĩ cách làm sao có thể vượt qua ngầm một cách an toàn trong khi địch đang đánh phá dữ dội như thế.

        Tuy nhiên mới đi được một đoạn khoảng 2 km thì bị tắc đường. Phía trước chúng tôi là một đoàn xe vận tải đang đứng trên đường, chiều rộng con đường chỉ vừa đủ hai xe tránh nhau. Phía ngược lại cung có một đoàn xe đang đứng đợi. Trên trời máy hay Mỹ hết đợt này đến đợt khác bay qua trên đầu đoàn xe. Nhưng chúng không đánh vào đoàn xe, chắc là chúng đã có những mục tiêu khác. Tuy vậy trong khi máy bay địch đang bay trên trời, giữa ban ngày mà để hai đoàn xe tắc đường như thế này thì rất nguy hiểm. Tôi xuống xe đi lên phía trước để tìm hiểu nguyên nhân vì sao lại tắc đường. Khi lên đến đầu đoàn xe thì tôi phát hiện ra nguyên nhân tắc đường thật là đơn giản: Hai anh lái xe quen biết nhau, có lẽ là ở cùng đơn vị, đi ngược chiều, gặp nhau và dừng xe, rồi thò đầu qua cửa sổ ca bin nói chuyện với nhau. Mỗi xe chiếm một nửa mặt đường không cần biết là những xe đang lưu thông trên đường đến đấy đều phải dừng lại, tạo thành một điểm tắc đường, trong khi máy bay Mỹ đang bay ầm ầm trên đầu. Rất may lúc này mục tiêu của chúng chưa phải là các xe chạy trên đường. Các lái xe khi đến điểm tắc đường là tự động dừng xe để chờ đợi mà không tìm hiểu nguyên nhân vì sao. Tôi vô cùng ngạc nhiên và tức giận vì hành động của hai anh lái xe kia. Nếu lúc này mà địch đánh vào đoàn xe đang bị tắc trên đường thì sẽ có hàng chục xe cháy và nhiều người chết, hậu quả và thiệt hại sẽ rất lớn, trong khi đó hai anh lái xe cứ thản nhiên ngồi tán gẫu với nhau.

        Tôi không phải là người dễ nổi nóng, nhưng lúc đó để nhanh chóng giải phóng đường, tôi rút súng và quát hai anh lái xe: "Chuyện trò gì? Tắc đường hàng cây số rồi kia kìa, cho xe đi ngay, không ăn bom bây giờ!".

        Lời nói của tôi đã ngay lập tức có tác dụng. Hai anh chàng lái xe chấm dứt câu chuyện và cho xe chuyển bánh, điểm ùn tắc được giải toả. Chúng tôi tiếp tục tiến về phía ngầm, chướng ngại vật quan trọng trên con đường đi đến kho G.


Tiêu đề: Re: Thử lửa
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Bảy, 2020, 05:15:50 pm

        Khi đến cách ngầm khoảng gần l km tôi cho xe dừng lại để quan sát quy luật đánh phá của địch và quyết định phương án vượt qua. Tôi thấy sau mỗi đợt oanh tạc, các máy bay sẽ bay về căn cứ và khoảng 10 phút sau thì có một tốp mới bay đến và tiếp tục oanh tạc. Như vậy là chúng tôi sẽ có thời gian khoảng 10 phút giữa hai đợt ném bom của địch để vượt qua ngầm.

        Chờ cho một đợt ném bom của địch vừa kết thúc, tôi ra lệnh cho 2 chiếc xe Zil-57 tiến nhanh về phía ngầm. Chỉ sau hơn 1 phút chúng tôi đã đến bên này ngầm và chuẩn bị cho xe vượt qua. Nhưng nhìn xuống dưới chúng tôi thấy một chiếc xe, giống như xe công trình đang đứng dưới ngầm. Những bánh xe phía bên trái đã trệch khỏi mặt ngầm. Chiếc xe không thể đi được nữa và nó cũng trở thành vật cản không cho xe nào vượt qua ngầm được. Thì ra trong khi chúng tôi ở phía bên này ngầm, chờ lúc địch lạm dừng để tranh thủ vượt qua thì phía bên kia ngầm cũng có một xe chờ thời cơ đó để vượt qua. Nhưng không may khi xe lao xuống ngầm thì bánh xe trệch khỏi đường ngầm và không thể di chuyển được nữa. Trong khi chưa biết xử lý thế nào? Tiến hay lùi thì tôi thấy từ trên ca bin của chiếc xe đang nằm dưới ngầm, có hai cô gái nhảy xuống. Nếu trong khoảng 10 phút nữa chiếc xe không được kéo lên thì máy bay sẽ đến và chiếc xe sẽ trở thành mục tiêu của trận ném bom. Hai cô gái nhảy xuống khỏi ca bin, nhưng loay hoay không biết làm gì. Thấy thế, tôi ra lệnh cho lái xe quay đầu xe, lùi xuống ngầm kéo chiếc xe kia lên. Chỉ chưa đầy 1 phút, xe chúng tôi đã quay đầu và từ từ lùi xuống ngầm. Hai cô gái thấy xe chúng tôi lùi xuống ngầm thì họ mừng như người chết đuôi vớ được cọc. Khi còn cách chiếc xe mắc kẹt dưới ngầm khoảng 3m, chúng tôi cho dừng xe và móc cáp vào hai xe. Mọi việc diễn ra rất nhanh. Tôi cũng không có thời gian để nhìn rõ mặt của hai cô bộ đội lái xe nữa. Chúng tôi không hề nói với nhau một câu nào. Sau khi móc cáp xong, hai cô gái nhảy lên ca bin. Chúng tôi nổ máy và từ từ kéo chiếc xe kia lên khỏi ngầm. Chúng tôi thu cáp tiếp tục vượt qua ngầm và chiếc xe kia sau khi được kéo lên khỏi ngầm thì tiếp tục cuộc hành trình của họ. Chúng tôi không kịp làm quen, không có lời tạm biệt và cũng không biết chiếc xe và hai cô gái kia ở đơn vị nào.

        Khi xe lao xuống ngầm, lúc này tôi mới thấy rất nhiều bom chưa nổ còn nằm dưới ngầm. Chúng tôi thận trọng bò qua ngầm vì đã có bài học của chiếc xe vừa rồi, những quả bom bi nổ chậm vẫn nổ lốp đổp. Những quả bom xuyên phá nổ chậm cắm đầu xuống đất. Một phần thân và cái đuôi vẫn còn phía trên. Đồng chí Nghĩa ngồi cạnh tôi khiếp quá không dám mở mắt ra. Có lẽ đồng chí đang cầu trời khấn Phật để nó không nổ trong khi chúng tôi đang còn ở dưới ngầm.

        Vừa lên khỏi ngầm, chúng tôi thấy nhiều bò nằm chết la liệt trên đường. Đàn bò bị trúng bom khi máy bay oanh tạc. Lúc này đồng chí Nghĩa nói với tôi: "Anh cho xe dừng lại đưa mấy con lên xe, tối về liên hoan".

        Tôi nói: "không được, máy bay nó quay lại bây giờ. Đừng có chết vì thịt bò!".

        Chúng tôi tiếp tục đến điểm hẹn. Đến nơi chúng tôi xuống xe. Người của kho G lái xe đi, chúng tôi ngồi đợi bên lề đường. Sau gần một giờ chúng tôi nhận lại xe và lên đường trở về trung đoàn. Khi gần đến ngầm trời đã nhá nhem tôi. Những con bò bị bom chết trên đường đã được thu dọn sạch.

        Về đến kho trung đoàn đồng chí Nghĩa nói đùa với tôi: "Anh nhát bỏ mẹ, nếu không tối nay đã có một bữa liên hoan ra trò".

        Tôi nói lại: "Tao nhát nhưng khi đi qua ngầm còn mở mắt chứ không nhắm tịt mắt như mày". Đó lá chuyến đi lấy đạn không thể quên được dù nó đã cách đây gần 40 năm.

        Những chuyến đi lấy đạn sau này ở kho của mặt trận tôi không phải đi nữa vì đã có đồng chí Nên, Trung úy, Trợ lý đạn của trung đoàn phụ trách. Hôm ấy tôi làm thay việc cho đồng chí Nên vì đồng chí đang được phân công làm nhiệm vụ khác.


Tiêu đề: Re: Thử lửa
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Bảy, 2020, 05:16:21 pm

        3. CHUYỆN Ở KHO ĐẠN VÀ KHO XĂNG DẦU.

        Kho đạn của trung đoàn ở cách sở chỉ huy hậu phương chừng l km, thời gian này ở Vĩnh Linh dân rư thưa thớt, chắc là do người già và trẻ em đã sơ tán nhiều ra các tỉnh phía sau. Có rất nhiều bãi trống, bỏ hoang, cây dại mọc lúp xúp, vì thế có thể tìm vị trí đặt kho đạn rất dễ dàng. Gọi là kho đạn, nhưng không có nhà cất chứa, cũng không được che phủ bằng tăng bạt gì hết. Các hòm đạn được xếp thành từng đống nhỏ ngoài trời theo từng chủng loại, sau đó chúng tôi chặt cành cây phủ lên để ngụy trang.

        Phụ trách kho đạn là đồng chí Hoạt, Binh nhất, Tiểu đội trưởng, ngoài ra còn có một số chiến sĩ, trong đó tôi còn nhớ có đồng chí Chỉnh cũng là Binh nhất.

        Hôm ấy, chỉ vài ngày sau khi kho đạn dã chiến của trung đoàn hình thành thì máy bay Mỹ bay qua khu vực đóng quân và rải bom bi. Khu vực của sở chỉ huy thì không có bom. Nhưng khu vực kho đạn thì bom bi trùm lên hết. Nhưng có lẽ do máy bay rải bom ỏ độ cao quá thấp nên hầu hết bom bi đều không nổ. Được tin, đồng chí Quỳnh lệnh cho tôi xuống kho đạn và tìm cách giải quyết.

        Khi xuống đến nơi tôi nhìn thấy rất nhiều bom bi, cứ vài bước là một quả, chúng nằm trên mặt đất nằm trên các hòm đạn, tổng số phải đến vài trăm quả.

        Tôi chưa biết nhiều về bom mìn và cũng từng nghe nói bom bi rơi xuống đất mà chưa nổ cũng rất nguy hiểm. Có khi chạm vào hoặc cầm lên là nó nổ ngay. Tôi gọi đồng chí Hoạt và đồng chí Chỉnh đến hội ý để tìm cách giải quyết. Tôi nêu ý định là phải tìm cách dọn sạch số bom bi này. Nếu nó còn nằm trong kho đạn, dù chỉ một quả cũng vô cùng nguy hiểm. Chỉ cần một quả bom bi nổ, nó có thể gây nổ cả cái kho đạn gần 200 tấn của trung đoàn và lúc ấy thiệt hại là vô cùng to lớn. Vì nghĩ rằng anh em ở kho cũng chưa bao giờ gặp trường hợp này và chắc là khó có thể tự mình giải quyết được, tôi nói sẽ về báo cáo với đồng chí Quỳnh xin công binh đến giải quyết.

        Nghe đến đây, đồng chí Chỉnh nói:

        - Không phải thế đâu anh ạ. Chúng em sẽ giải quyết được.

        Tôi hỏi:

        - Giải quyết như thế nào?

        Đồng chí Chỉnh nói: Khi còn ở quê, em là dân quân có lần địch rải bom bi vào làng. Nhiều quả chưa nổ chúng em đi nhặt cho vào mũ, rồi tập trung lại đưa xuống hố bom, dùng lựu đạn gây nổ. Điều quan trọng là khi nhặt bom bi động tác phải thật nhẹ nhàng. Anh cứ để em làm cho xem.

        Nói xong đồng chí Chỉnh, một tay cắp chiếc mũ cối vào sườn, từ từ tiến đến, nhặt từng quả bom bi cho vào mũ côi, đến khi mũ cối đã đầy bom bi, đồng chí đi ra xa kho đạn và xếp vào một hố bom.

        Thấy không có gì nguy hiểm, tôi, đồng chí Hoạt và các anh em khác đều làm theo. Buổi sáng hôm ấy, chúng tôi đã dọn sạch bom bi trong kho đạn, xếp thành mấy đống dưới các hố bom. Đồng chí Chỉnh dùng lựu đạn gây nổ được hết số bom bi. Mọi việc diễn ra một cách thuận lợi và an toàn.

        Từ đó tôi nhìn những người lính bảo quản kho đạn với một con mắt khác. Mình là người chỉ huy của họ, nhưng cũng có lúc mình là học trò của họ.

        Ngoài kho đạn, trung đoàn còn có một kho xăng dầu. Kho xăng dầu cũng là kho dã chiến. Trong kho có các thùng dầu diezel, mỡ chịu nóng, mỡ chịu nước. Những thứ này tôi không thạo lắm. Nhưng nói chung có lẽ mọi thứ nhiên liệu và dầu mỡ bảo quản cho xe tăng và xe bọc thép đều có đủ hết. Người quản lý kho xăng dầu là đồng chí Tý. Một hôm kho xăng dầu cũng bị rải bom bi. Một số thùng dầu và mỡ bảo quản bị thủng, nhưng kho không bị cháy. Được tin, tôi lại xuống kho xăng dầu để giải quyết. Đồng chí Tý đưa tôi đi xem toàn cảnh kho xăng dầu, nói chung thiệt hại không có gì đáng kể. Một số thùng bị bom bi xuyên thủng, dầu diezel tràn ra ngoài, nhưng số lượng không đáng là bao.

        Trong khi đang đi kiểm tra kho xăng dầu thì máy bay bay tới, chúng ném bom, không hiểu vào mục tiêu nào, tiếng nổ vang rền rất gần kho xăng dầu của chúng tôi. Tất cả chúng tôi, mỗi người chui xuống một cái hầm trú ẩn đã làm từ trước trong khu vực kho. Những cái hầm này rất đơn giản. Nó là những cái hố hình chữ nhật sâu khoảng l,5m. Phía trên gác những khúc gỗ đường kính khoảng 15cm, rồi phủ lên trên một lớp đất dày khoảng 10 cm. Khi đã xuống hầm tôi vẫn nghe rõ tiếng bom nổ ầm ầm. Nhưng tôi nghĩ không có gì nguy hiểm. Địch đang đánh vào một mục tiêu nào đó ỏ gần chúng tôi chứ không phải đánh vào chúng tôi.

        Ngồi dưới hầm, sau khi đã yên vị, tôi ngước mắt nhìn lên nóc hầm thì ôi thôi, tôi phát hiện, bên dưới các thanh gỗ lát nóc hầm có một khe hở rộng. Một con rắn hổ mang rất to đang nằm ở đó. Nó cuộn tròn như đang ngủ, mặc dù tiếng bom nổ như rung chuyển mặt đất, tôi vội vàng bò ra khỏi hầm, đề phòng con rắn tỉnh dậy mà mổ cho tôi một cái thì vô phương cứu chữa. Vì địch vẫn oanh tạc một mục tiêu gần đó nên tôi vẫn nằm bẹp dưới đất. Khoảng 15 phút sau, máy bay địch ngừng ném bom. Tất cả anh em lại ra khỏi hầm, tôi nói với đồng chí Tý: "ơ dưới hầm này có một con rắn rất to. Đồng chí đưa súng tiểu liên AK cho tôi".

        Đồng chí Tý đưa súng cho tôi, tôi nhằm vào vị trí con rắn đang nằm bắn ba phát. Con rắn bò ra khỏi hầm. Nó phải dài gần 2m, thân hình to bằng bắp tay của một người trưởng thành. Con rắn bò ngoằn nghèo trên mặt đất. Tôi chĩa súng bắn ba phát nữa. Một viên xuyên đúng lưng. Tối hôm đó bộ phận kho xăng dầu được một bữa liên hoan ra trò. Tôi không tham dự vì không biết ăn thịt rắn. Nhưng tôi vẫn nhớ mãi cái ngày hôm đó, một tình huống thật sự bất ngờ mà chưa bao giờ tôi nghĩ tới.


Tiêu đề: Re: Thử lửa
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tám, 2020, 05:39:14 am
     
       4. ĐI TRONG VÒNG PHÁO SÁNG.

        Khoảng cuối tháng 4 năm 1972, từ sở chỉ huy cơ bản ở phía nam có điện về Sở chỉ huy hậu phương, yêu cầu cử người lên đón một cán bộ của Tiểu đoàn 66 hiện vẫn còn ở hậu cứ tức là nông trường Quyết Thắng ở miên Tây Vĩnh Linh. Đồng chí này được phép của trung đoàn ở lại hậu cứ sau đợt hành quân lần thứ nhất vào Mai Xá Thị, có lẽ do bị thương nhẹ hoặc ốm gì đó. Trong khi tiểu đoàn lại tiến vào phía nam. Trung đoàn đang rất cần sự có mặt của đồng chí.

        Từ Sở chỉ huy hậu phương ở Vĩnh Thạch lên đến hậu cứ ở nông trường Quyết Thắng khoảng 50km. Vào thời gian này, sau đợt đánh phá cầu, đường các ngã ba, ngã tư và những nơi đường giao thông đi qua những địa hình hiểm trở để gây ách tắc giao thông cho ta, địch bắt đầu đánh từng chiếc xe chạy trên đường.

        Ban ngày xe không thể chạy ra đường, địch sẽ phát hiện được ngay vì như tôi đã nói trên đường 15 khi trời nắng có một lớp bụi, khi xe chạy lớp bụi cuộn lên tạo thành một cái đuôi dài hình phễu sau xe.

        Từ 6 giờ chiều, máy bay địch bắt đầu thả pháo sáng trên đường 15, mặc dù trời còn sáng hay đã nhá nhem tối để khống chế con đường. Tôi nhận được lệnh phải lên hậu cứ để đón đồng chí cán bộ của Tiểu đoàn 66. Lúc này là 7 giờ tối. Máy bay địch dang bay dọc theo đường 15, pháo sáng lơ lửng trên dường. Tôi đi một chiếc xe GAZ-69, lái xe là đồng chí Tiến một chiến sĩ lái xe người Tày còn trẻ măng mới 20 tuổi. Từ Sở chỉ huy ở Vĩnh Thạch chúng tôi đi lên đường 15 để về hậu cứ.

        Trên đường không có một chiếc xe nào. Vào giờ này khi địch thả pháo sáng để săn xe trên đường thì không một lái xe nào dại gì cho xe chạy trên đường. Lên đến đường 15 chúng tôi cho xe chạy với tốc độ trung bình khoảng 30km một giờ. Xe không thể chạy nhanh hơn vì chúng tôi không bật đèn pha và chỉ chạy bằng đèn gầm. Mới đi được một đoạn chưa đầy 5km, thì trên đầu chúng tôi có một vòng pháo sáng, bầu trời và mặt đất sáng trưng. Như vậy là máy bay địch đã phát hiện ra xe của chúng tôi. Đây là lần đầu tiên tôi rơi vào tình trạng này. Tôi nghĩ mình đang ở trong một tình thế rất nguy hiểm, nhưng chưa biết xử trí thế nào. Đồng chí Tiến quay sang hỏi tôi: "Bây giờ làm thế nào hở anh".

        Tôi trả lời luôn "Tăng tốc độ, vượt ra khỏi cái vòng pháo sáng này".

        Đồng chí Tiến tăng hết tốc độ, xe chạy băng băng như lướt trên đường, mặc dù trên mặt đường có rất nhiều ổ gà, ổ trâu. Chạy khoảng 3 phút chúng tôi ra khỏi vòng pháo sáng và vẫn đang chạy hết tốc độ thì vào lúc đó một quả pháo khói nổ ngay trước mặt chúng tôi và ngay sau đó là tiếng nổ của hai quả bom. Chúng tôi phát hiện hai chiếc máy bay đang trên đầu chúng tôi. Đèn trên khoang lái máy bay sáng trưng. Như vậy là trong hai chiếc máy bay có một chiếc máy bay trinh sát, chiếc này thả pháo sáng và khi phát hiện mục tiêu thì bắn pháo khói chỉ điểm và chiếc còn lại là máy bay cường kích sẽ lao xuống ném bom vào xe chúng tôi.

        Hai quả bom đầu tiên không trúng đích, chúng tôi vẫn tiếp tục chạy băng băng trên đường. Chạy được một đoạn thì một vòng pháo sáng khác lại quây tròn xung quanh xe chúng tôi.

        Chưa biết xử lý thê nào, chúng tôi lại tăng hết tốc độ cố gắng chui ra khỏi cái vòng pháo sáng đang quây quanh xe chúng tôi và cũng y như lần trước, khi xe vừa ra khỏi vòng pháo sáng thì pháo khói nổ ngay trước mũi xe chúng tôi và chiếc máy bay thứ hai lại lao xuống ném hai quả bom. Bom không trúng đích, xe chúng tôi vẫn chạy băng băng trên dường. Chúng tôi đang chơi trò "mèo vòn chuột" và chiếc xe GAZ-69 của hai anh em chúng tôi chính là con chuột đang chạy trên đường và pháo sáng lại quây lấy xe chúng tôi, đây là lần thứ ba không hiểu chúng tôi sẽ thoát được mấy lần. Đang chạy băng băng giữa vòng pháo sáng thì trước mặt chúng tôi hiện ra một cái ngầm. Gay rồi! Xuống ngầm thì phải giảm tốc độ, bò chậm như rùa, chúng tôi sẽ trở thành mồi ngon cho hai chiếc máy bay kia. Ra khỏi vòng pháo sáng thì cũng gần đến đầu ngầm. Pháo khói nổ trước mặt. Chúng tôi lại sắp ăn bom thì ngay vào lúc đó, một trận địa pháo cao xạ bảo vệ ngầm đồng loạt nổ súng về phía hai chiếc máy bay. Máy bay đang bay thấp, đèn trên khoang lái sáng trưng đã trở thành mục tiêu cho pháo cao xạ. Chúng không thể bám theo chúng tôi được nữa. Như thế là chúng tôi đã có quý nhân phù trợ. Chúng tôi bò qua ngầm. Máy bay quay lại thả pháo sáng và đánh vào trận địa cao xạ, pháo bắn lên dữ dội. Hai chiếc máy bay tắt đèn trong khoang lái rồi chuồn thẳng.

        Qua bên kia ngầm rồi, dưới ánh sáng của những quả pháo sáng còn lơ lửng trên không, chúng tôi nhìn thấy nhiều xe vận tải đang đứng nép bên đường dưới những bụi cây. Thì ra chúng chỉ phát hiện được xe chạy trên đường. Lần sau nếu gặp tình huống như thẽ này, chúng tôi sẽ tấp vào ven đường, chứ không chạy lông nhông trên đường nữa, quả là hai thầy trò đều còn quá thiếu kinh nghiệm.

        Sau khi hai chiếc máy bay đã bay đi, chúng tôi lại tiếp tục lên đường. Bầu trời và mặt đất không còn có ánh đèn pháo sáng, chúng tôi chạy một mạch về nông trường Quyết Thắng và đón đồng chí cán bộ của Tiểu đoàn 66 về Sở chỉ huy hậu phương. Trên đường về chúng tôi không bị máy bay săn đuổi nữa.

        Khi đã về đến Sở chỉ huy hậu phương tôi mới đặt câu hỏi: Tại sao khi xe của chúng tôi còn nằm trong vòng pháo sáng thì không bị ném bom nhưng vừa ra khỏi vòng pháo sáng thì lại bị địch bắn pháo khói và ném bom luôn? Và tôi giải thích: Khi còn chạy trong vòng pháo sáng, thằng lái máy bay cường kích không nhìn thấy chúng tôi vì bị chói mắt. Còn khi chạy ra khỏi vòng pháo sáng thì nó sẽ nhìn thấy xe chúng tôi nhờ ánh sáng của những quả pháo sáng mà không bị chói mắt. Giống như một vật nằm dưới chân đèn thì khó nhìn thấy do chói mắt còn ra khỏi chân đèn thì dễ dàng nhìn thấy. Vào thời gian này địch vẫn chưa sử dụng bom lade đánh xe chúng tôi vì thế xác suất ném bom trúng đích còn rất thấp và điều quan trọng nhất để chúng tôi sống sót là nhờ trận địa cao xạ bảo vệ ngầm. Chúng tôi biết ơn những người lính ở trận địa cao xạ đó, mặc dù không biết họ thuộc đơn vị nào.


Tiêu đề: Re: Thử lửa
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Tám, 2020, 07:04:05 am
 
        5. KHO TRUNG CHUYỂN VĨNH THÁI VÀ NGƯỜI CON GÁI VĨNH LINH.

        Đầu tháng 5, song song với việc tổ chức vận chuyển trên đường Trường Sơn, mặt trận tổ chức một tuyến vận chuyển theo đường biển chủ yếu cho các đơn vị cánh Đông Mặt trận Quảng Trị, trong đó có lực lượng của Trung đoàn 202, cụ thể là Sở chỉ huy cơ bản và Tiểu đoàn bộ binh cơ giới 66. Vị trí tập kết hàng là một bãi biển thuộc xã Vĩnh Thái. Tại đây các đơn vị có nhu cầu vận chuyển hàng vào phía Nam sẽ chở hàng đến. Hậu cần của mặt trận sẽ tổ chức quản lý và dùng thuyền máy vận chuyển dọc theo bờ biển vào đến Gia Đẳng. Tại Gia Đẳng các đơn vị có hàng sẽ cử người đến nhận và đưa về đơn vị.

        Vào thời gian này ta đã giải phóng căn cứ Đông Hà và thị xã Quảng Trị, quân ta đã tiến đến sông Thạch Hãn. Địch băt đầu phản kích dữ dội. Ở phía nam sông Bến Hải địch thường xuyên sử dụng B-52 đánh phá vào các vị trí đóng quân của ta. Ở phía Bắc B-52 cũng đã đánh vào nông trường Quyết Thắng. Trong các khu rừng cao su của nông trường là điểm đóng quân hoặc hậu cứ của nhiều đơn vị trong đó có hậu cứ của Trung đoàn 202.

        Ngoài ra khi còn ở nông trường Quyết Thắng tôi còn nhìn thấy nhiều bãi lắp ráp tên lửa. Đó là những mục tiêu đánh phá dữ dội của địch khi chúng phát hiện thấy.

        Qua đài phát thanh chúng tôi biết được cứ mỗi ngày đêm, địch sử dụng khoảng 60 phi vụ B-52 trên chiến trường Quảng Trị. Hàng đêm ở Sở chỉ huy chúng tôi nghe thấy tiếng bom rền từ miền Tây Vĩnh Linh, từ phía Nam sông Bến Hải và những ánh chớp liên hồi suốt từ đầu hôm cho đến sáng. Ban ngày trên đường đi công tác, nếu dừng chân trên một ngọn đồi ở Vĩnh Linh nhìn về phía Nam, ta có thể thấy những đụn khói của bom B-52 cuồn cuộn, hết nổi lên ở nơi này lại đến nơi khác. Kèm theo là tiếng nổ vang rền của những loạt bom B-52, tất cả các làng mạc đều trở thành mục tiêu của B-52. Bởi vì hầu như tất cả các làng mạc cũng đều là chỗ trú quân của bộ đội ta. cả mảnh đất Quảng Trị dài và hẹp ngập chìm trong bom đạn. Nhiều đêm từ Sở chỉ huy nhìn lên phía đường Trường Sơn, những con đường ở lưng chừng núi, chúng tôi có thể nhìn thấy ánh đèn gầm của những chiếc xe vận tải chạy qua những đoạn đường đang bị máy bay oanh tạc, những cánh rừng đang cháy.

        Việc vận chuyển trong thời gian này là rất căng thẳng, đặc biệt là trên tuyến đường Trường Sơn. Vì vậy, thiết lập tuyến vận chuyển bằng thuyền máy dọc theo bờ biển là một sáng kiến của hậu cần mặt trận.

        Trong gần 1 tháng, đêm đêm chúng tôi chở hàng từ kho trung đoàn ra Vĩnh Thái. Hàng gồm có đạn, xăng dầu, quân trang, quân lương, nhu yếu phẩm và thuốc quân y. Tôi đi một vài chuyến đầu sau đó công việc chở và áp tải hàng hóa từ kho trung đoàn ra Vĩnh Thái và từ Vĩnh Thái vào Gia Đẳng bằng thuyền máy đều do đồng chí Hoạt, binh nhất tiểu đội trưởng bảo quản kho đạn đảm nhiệm. Đồng chí Hoạt mới ngoài 20 tuổi nhưng có vẻ già dặn. Đó là một người lính rất dũng cảm và có bản lĩnh. Một người lính mà sau khi rời khỏi trung đoàn về trường tôi vẫn còn nhớ mãi. Nhưng cho đến nay chúng tôi vẫn chưa có dịp gặp lại nhau. Giờ đây không biết đồng chí ở nơi đâu?

        Đường vận chuyển từ kho trung đoàn ra Vĩnh Thái thì không có gì nguy hiểm, vì địch chưa phát hiện ra con đường này. Nhưng đoạn vận chuyển từ Vĩnh Thái dọc theo bờ biển vào đến Gia Đẳng là đoạn rất nguy hiểm. Ngoài khơi từ bờ biển Vĩnh Linh vào đến hết tỉnh Quảng Trị hơn một chục chiếc tàu chiến Mỹ án ngữ. Pháo 175mm trên các tàu chiến Mỹ liên tục bắn vào đất liền. Những nơi chúng nghi là nơi giấu quân của quân ta. Các máy bay trinh sát bay lượn ngày đêm trên bầu trời chỉ thị mục tiêu cho các máy bay cường kích và các tàu chiến ngoài khơi.

        Dọc theo bờ biển, máy bay OV-l0 thả pháo sáng và quan sát đường vận chuyển của ta. Tiểu đội bảo quản kho của đồng chí Hoạt đóng quân hẳn ở Vĩnh Thái. Đêm đêm vận chuyển hàng từ kho trung đoàn đến Vĩnh Thái và cứ vài ngày một lần lại đưa hàng xuống thuyền máy đi dọc bờ biển vào đến Gia Đẳng và giao cho bộ phận hậu cần trung đoàn ở phía nam.

        Vài ngày một lần, tôi lại ra Vĩnh Thái để kiểm tra việc tập kết hàng và việc vận chuyển hàng hoá bằng đường biển. Mỗi lần đi kiểm tra, tôi phải ngủ lại Vĩnh Thái vì khi xếp xong hàng xuống thuyền thì trời đã khuya. Là điểm tập kết hàng, ban đêm hoạt động ở Vĩnh Thái rất nhộn nhịp, xe chở hàng vào, bộ đội, dân công hỏa tuyến, thanh niên xung phong, đưa hàng vào vị trí. Đạn dược và xăng dầu được vùi xuống các cồn cát. Các loại quân lương, quân trang và nhu yếu phẩm thì được để trong các nhà kho tạm giống như nhà ở của dân. Hàng của đơn vị nào, đơn vị đó quản lý.

        Từ 2 giờ sáng các hoạt động thưa dần và đến sáng thì nơi đây trở nên rất yên tĩnh. Bộ đội, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến vào nhà dân hoặc lán nghỉ ngơi sau một đêm làm việc. Còn dân chài thì lại ra khơi đánh cá. Máy bay trinh sát vẫn bay lượn trên trời nhưng có vẻ như chúng chưa phát hiện ra điều gì ở nơi đây.

        Tiểu đội của đồng chí Hoạt ở nhờ trong một nhà dân, chủ nhà là ông trưởng công an xã. Ban ngày ông thường đi vắng, nhưng buổi chiều nào về nhà ông cũng đem theo một xâu cá khoảng 5, 6 cân. Có lẽ ông làm công an xã nhưng vẫn ra khơi đánh cá. Ông có một cô con gái là giáo viên tiểu học tên là Khuê. Chúng tôi vẫn gọi là o Khuê, dạo này o Khuê không đi dạy học mà ở nhà. Tôi nghĩ chắc từ khi ta mở chiến dịch, địch quay lại đánh phá nên các trường đã nghỉ học. O Khuê ở nhà và nghiễm nhiên trở thành người lo cơm nước cho tiểu đội của Hoạt. Ở Sở chỉ huy hậu phương chúng tôi có cơm với thịt hộp, lương khô và bột trứng. Ăn mãi cũng ngán, ra đây bộ đội ngày nào cũng được ăn cá biển, thỉnh thoảng rủ nhau ra tắm biển cứ như đi nghỉ mát. Nhưng ban đêm thì vất vả, nhất là nhưng đêm phải áp tải thuyền vào Gia Đẳng.

        Ở đây, tôi cũng được anh em đưa đi tắm biển. Trưa về ăn cơm với canh cá do o Khuê nấu. Quả là nhũng giờ phút thanh bình hiếm thấy trong thời buổi bom rơi đạn lạc này.

        Trong cái làng chài nhỏ bé ở xã Vĩnh Thái, có lẽ o Khuê là người con gái xinh đẹp nhất. O có một thân hình cân đối, đầy đặn, nước da trắng trẻo và một khuôn mặt rất ưa nhìn. O Khuê rất thích hát. Vào những khi rỗi rãi, tôi vẫn dạy cho o hát bài "Người con gái sông La". Đó là một bài hát rất hay. Nhưng không phải ai cũng hát được. O Khuê cứ say sưa hát và tôi thì có dịp được ngắm nhìn o.

        Khoảng cuối tháng 6, địch phản kích chiếm Gia Đẳng. Con đường vận chuyển trên biển từ Vĩnh Thái vào Gia Đẳng không hoạt động nữa, chúng tôi ít có dịp ra Vĩnh Thái và cũng ít gặp lại o Khuê, nhưng nhiều năm đã trôi qua, tôi vẫn còn nhớ những ngày ở Vĩnh Thái, những khoảnh khắc bình yên ngắn ngủi và hình bóng của o Khuê, một bông hoa trong những ngày lửa đạn.

        Sau này khi đã trở về trường, tôi đã gặp gỡ và quen biết nhiều người con gái nhưng không ai để lại ấn tượng trong tôi như o Khuê và tôi tự nghĩ: Trong những ngày ở Vĩnh Thái, mình đã bỏ qua một cơ hội không dễ gì tìm thấy lại trong đời.


Tiêu đề: Re: Thử lửa
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Tám, 2020, 07:05:00 am

        6. NHẢY QUA VÒNG LỬA.

        Một đêm vào khoảng giữa tháng 5, tại sở chỉ huy hậu phương của trung đoàn, từ 9 giờ tôi, chúng tôi đã nghe thấy tiếng máy bay gầm rú, tiếng bom nổ rung chuyển từ phía Cửa Tùng vọng về. Khoảng cách từ Sở chỉ huy hậu phương Trung đoàn 202 ra đến Cửa Tùng vào khoảng 5km theo đường chim bay. Nhưng bầu trời và mặt đất từ Cửa Tùng cho đến Sở chỉ huy hậu phương của trung đoàn tại Vĩnh Thạch sáng trưng như ban ngày do ánh sáng của những ngọn đèn dù. Pháo sáng quây thành một vòng tròn lớn, mà tâm điểm là một điểm nào đó ở Cửa Tùng chắc là bến vượt sông của ta ỏ bờ Bắc. Phải có từ 2 đến 3 chiếc máy bay trinh sát thả pháo sáng, để cho 4 đến 5 chiếc máy bay cường kích liên tục ném bom. Chúng đã phát hiện ra một mục tiêu nào đó rất quan trọng và đang tập trung lực lượng quyết tâm hủy diệt bằng được.

        Nằm phía ngoài vòng pháo sáng và cách mục tiêu ném bom của địch 5 km, nhưng chúng tôi vẫn hình dung được bến vượt bờ Bắc cửa Tùng đang trở thành một túi bom. Trong hầm chỉ huy lúc này có đồng chí Quỳnh, đồng chí Dự, đồng chí Ngưỡng và tôi. Mọi người đều đang tập trung theo dõi diễn biến của trận ném bom. Hơn 1 giờ trôi qua, tiếng bom vẫn nổ vang rền và pháo sáng vẫn sáng trưng trên bầu trời. Mức độ ác liệt của trận ném bom không hề suy giảm và chưa có một dấu hiệu gì chứng tỏ sẽ sớm kết thúc. Vào lúc này, tiếng chuông điện thoại trong hầm chỉ huy vang lên. Sau khi nghe điện, đồng chí Quỳnh thông báo:

        Sở chỉ huy mặt trận nhận được báo cáo từ lực lượng trực chiến tại địa đạo Vĩnh Giang là: Tại bến vượt bờ Bắc Cửa Tùng hiện có một chiếc xe tăng và ba chiếc xe thiết giáp, chuẩn bị vượt sông thì bị máy bay địch phát hiện. Địch đang tập trung lực lượng đánh hủy diệt chiếc xe tăng và ba chiếc xe thiết giáp nói trên. Sở chỉ huy mặt trận chỉ thị cho Trung đoàn 202 cử người ra bến vượt nắm tình hình giải quyết và báo cáo về sở chỉ huy.

        Như vậy là đã rõ rồi. Số xe nói trẽn là của Bộ Tư lệnh Thiết giáp đang trên đường hành quân vào chiến trường bổ sung cho Trung đoàn 202. Thông thường, những đợt bổ sung như vậy bao giờ cũng có một sĩ quan tham mưu của trung đoàn dẫn đường đồng thời chỉ huy luôn đội hình hành quân. Đây là lần đầu tiên kể từ đợt vượt sông của trung đoàn vào ngày 1 tháng 4 địch phát hiện được xe tăng và xe thiết giáp của ta ngay tại bến vượt bờ Bắc Cửa Tùng.

        Mà đã phát hiện được xe tăng và xe thiết giáp của ta ở đâu là địch tập trung lực lượng để đánh hủy diệt. Ở trong này, địch hoàn toàn làm chủ bầu trời. Suốt ngày đêm máy bay trinh sát của chúng bay lượn, nhòm ngó vào mọi ngõ ngách trên mọi con đường. Vì vậy một trong những điều quan trọng bậc nhất của xe tăng và xe thiết giáp khi hành quân là phải giữ được bí mật. Không giữ được bí mật khi hành quân thì hậu quả thật khôn lường. Mà cái giá phải trả là xương máu là thiệt hại về người và trang bị. Điều đó đòi hỏi người chỉ huy phải có kinh nghiệm và phải duy trì kỷ luật nghiêm trên đường hành quân.

        Tuy nhiên bây giờ không phải là lúc tìm nguyên nhân vì sao xe tăng và xe thiết giáp bị địch phát hiện mà phải cử người ra bến vượt nắm tình hình và giải quyết theo yêu cầu của sở chỉ huy mặt trận.

        Sau một phút suy nghĩ, đồng chí Quỳnh đã giao nhiệm vụ đó cho tôi. Theo đó tôi sẽ đi chiếc xe GAZ-69 của sở chỉ huy ra bến vượt và người lái xe cho tôi vẫn là đồng chí Tiến, cậu lái xe trẻ măng mới 20 tuổi người dân tộc Tày, hôm trước đã lái xe đi lên hậu cứ cùng với tôi và chúng tôi đã bị hai chiếc máy bay của địch chơi trò "mèo vờn chuột" trên suốt một chặng đường dài. Khi giao nhiệm vụ cho tôi, đồng chí Quỳnh cũng nghĩ rằng việc ra đến bến vượt, tiếp cận được mấy chiếc xe tăng và xe thiết giáp của ta vào lúc này là rất khó khăn. Cả bầu trời và mặt đất sáng rực như ban ngày, bom nổ rền vang. Máy bay đã phát hiện được mục tiêu và chúng đang điên cuồng ném bom như trong cơn say. Vượt qua vòng pháo sáng, rồi tìm đến chỗ địch đang giội bom không khác gì như một con thiêu thân lao vào ngọn lửa. Nhưng mệnh lệnh đã phát ra từ sở chỉ huy mặt trận, không thể chần chừ và phải tổ chức  thực hiện ngay. Đồng chí Tiến được lệnh đánh chiếc xe GAZ-69 lên hầm chỉ huy và sẵn sàng đợi lệnh. Trước khi đi đồng chí Quỳnh dặn tôi: "Khi đến gần mục tiêu (tức là các xe tăng và xe thiết giáp của ta đang bị địch đánh phá) phải để xe phía bên ngoài, quan sát quy luật đánh phá của địch rồi tìm cách tiếp cận, không nên đánh xe vào, địch sẽ phát hiện thấy và sẽ gây thương vong cho ta. Sau khi nắm được tình hình, đồng chí đi xuống bờ sông vào địa đạo Vĩnh Giang ở đó có tổ điện đài của trung đoàn, đồng chí báo cáo về sở chỉ huy cho tôi". Sau đó, đồng chí nói với tôi: "Đây là một nhiệm vụ rất khó khăn và nguy hiểm. Nhưng là nhiệm vụ mà Sở chỉ huy mặt trận đã giao cho trung đoàn, đồng chí hãy cố gắng hoàn thành, chúng tôi tin tưởng ở đồng chí".


Tiêu đề: Re: Thử lửa
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2020, 11:18:32 am
 
        Tôi trả lời: "Thủ trưởng yên tâm, tôi sẽ cố gắng hết sức để hoàn thành nhiệm vụ".

        Tôi bước lên xe, chúng tôi không phải bật đèn. Bầu trời vẫn sáng trưng như ban ngày nhờ ánh sáng của những ngọn đèn dù, tiếng bom vẫn nổ vang rền. Tiếng máy bay phản lực vẫn gầm rú như điên. Đồng chí Quỳnh, đồng chí Dụ và đồng chí Ngưỡng ra tận xe tiễn tôi như tiễn một người sắp đi xa và chưa chắc đã trở về. Tôi hiểu được tâm trạng của các đồng chí, tôi nhìn vào khuôn mặt căng thẳng của đồng chí Quỳnh và nói: "Thủ trưởng có dặn gì nữa không? Tôi đi nhé!".

        Rồi quay sang phía đồng chí Tiến lái xe, tôi ra lệnh: "Nổ máy".

        Đồng chí Tiến khởi động xe, chưa kịp cài số thì đồng chí Quỳnh ngăn lại: "Khoan đã, đợi thêm một lát nữa xem sao".

        Tôi lại quay sang phía đồng chí Tiến ra lệnh: "Tắt máy".

        Năm phút trôi qua, tình hình vẫn không có gì thay đổi. Bầu trời vẫn sáng rực, bom vẫn nổ và tiếng máy bay phản lực vẫn gầm rú. Lúc này trong hầm chỉ huy tiếng điện thoại lại vang lên. Đồng chí Quỳnh quay vào hầm nghe điện thoại. Một phút sau đồng chí quay lại và nói: "Sở chỉ huy mặt trận hỏi ta đã cử người đi chưa. Thôi đồng chí xuất phát đi".

        Tôi trả lời: "Vâng! Chào thủ trương, chào các đồng chí tôi đi đây!". Một lần nữa tôi quay sang phía đồng chí Tiến lái xe ra lệnh: "Nổ máy".

        Xe nổ máy và từ từ lăn bánh tiến về phía Cửa Tùng. Chúng tôi sẽ phải chui vào cái vòng pháo sáng đang làm sáng rực cả một vùng trời, đến tâm điểm của nó là bến vượt sông. Nơi những chiếc máy bay phản lực đang gầm rú và tiếng bom đang nổ vang rền.

        Tôi nhận thấy trên nét mặt của đồng chí Tiến không có gì lộ vẻ căng thẳng và lo lắng, tôi có cảm giác là đồng chí vẫn lái xe với một vẻ mặt thản nhiên như mọi lần đi công tác với tôi. Chưa đầy hai tháng trên chiến trường, một thanh niên mới ròi ghế nhà trường phổ thông chưa được bao lâu đã trở nên dày dạn. Khoảng cách từ sở chỉ huy hậu phương ra đến Cửa Tùng là 5km theo đường chim bay. Nhưng trên mặt đất con đường từ Vĩnh Thạch ra Cửa Tùng chạy ngoằn nghèo phải đến gần 10km. Chúng tôi còn có nhiều thời gian để suy tính phương án tiếp cận mục tiêu. Cũng như tất cả các trận ném bom khác, sau một đợt trút bom sẽ có một khoảng lặng để chúng thay ca. Và cũng như lần tìm cách vượt qua ngầm khi đi lấy đạn ở kho G. Tôi dự tính sẽ đánh xe vào cách mục tiêu khoảng 500m rồi dừng lại, đợi đến thòi điểm địch tạm dừng thay ca sẽ nhanh chóng vận động tiếp cận mục tiêu.

        Chúng tôi cứ từ từ chui vào vòng pháo sáng và tiến về phía cửa Tùng. Bầu trời và mặt đất sáng trưng, nhưng không có một chiếc máy bay nào để ý đến chúng tôi. Có lẽ mọi sự tập trung của chúng đều dồn hết về phía bến vượt sông, nơi đang có 4 chiếc xe tăng và xe thiết giáp của ta.

        Chạy được khoảng nửa đường bỗng nhiên tôi thấy bom ngừng nổ, tôi nghĩ chắc đã đến lúc chúng thay ca. Chúng tôi vẫn tiếp tục tiến đến Cửa Tùng như dự tính đã vạch ra. Trên trời vẫn còn pháo sáng. Thông thường trong những lúc thay ca, máy bay trinh sát vẫn còn ở lại thả pháo sáng để tiếp tục quan sát mục tiêu, chúng tôi vẫn tiếp tục tiến đến bến vượt Cửa Tùng, được một lúc cả pháo sáng cũng tắt luôn. Bầu trời tối om, không gian trở nên hoàn toàn yên tĩnh. Như vậy là có khả năng địch ngừng ném bom. Vì nếu địch còn tiếp tục ném bom, máy bay trinh sát sẽ vẫn còn thả pháo sáng để bám mục tiêu.

        Chúng tôi bật đèn gầm, tôi cho xe đi thẳng đến bến vượt. Vì không có máy bay, không còn pháo sáng, bom cũng ngừng nổ, chúng tôi cứ đi cho đến tận nơi đỗ của những chiếc xe tăng và xe thiết giáp. Xe dừng lại. Tôi đã đứng ngay cạnh một chiếc xe thiết giáp. Trong xe không có một ai. Xung quanh là những hố bom. Mùi thuốc bom vẫn còn khét lẹt. Tôi leo lên xe gọi to: Có ai ở đây không? Không có tiếng ai đáp lại. Tôi lại gọi tiếp: "Có ai ở đây không", vẫn không có tiếng trả lòi. Không gian vẫn hoàn toàn yên tĩnh, lúc này, tôi rút súng ngắn ra, lên đạn và bắn chỉ thiên 3 phát. Sau ba phát súng, tôi lại gọi: "Các thành viên xe tăng ở đâu? Ra đây ngay".

        Lúc này tôi mới nghe thấy tiếng đáp trả: "Có chúng tôi ra ngay". Từ phía xa tôi trông thấy mấy bóng người đang đứng dậy và đi về phía tôi, khi đã đến nơi tôi hỏi: Trong số các đồng chí ai là chỉ huy?

        Một đồng chí bước lên trả lời: "Báo cáo em là chỉ huy".

        Tôi hỏi tiếp: "Đồng chí là sĩ quan của Ban tham mưu trung đoàn à?".

        Đồng chí đó trả lời: "Không em là lái xe".

        - Thẽ cả đoàn không có ai là sĩ quan chỉ huy và dẫn đường à?

        - Dạ lần trước có anh Tới, Tham mưu phó trung đoàn chỉ huy. Nhưng lần này anh Tới được lệnh vào gấp Sở chỉ huy nên giao lại cho em.

        Không còn thời gian để hỏi loanh quanh nữa, vì biết đâu địch có thể lại quay lại ném bom. Tôi ra lệnh: "Đồng chí cho anh em lên xe, kiểm tra tình hình xe xem có hư hỏng gì không rồi báo cáo cho tôi".

        Các lái xe leo lên xe, cả 4 chiếc xe lần lượt nổ máy, tiến rồi lùi. Một lát sau các xe tắt máy. Tôi cho đồng chí phụ trách đoàn xe đi nắm tình hình xe rồi báo cáo. Sau khi nắm được tình hình đồng chí báo cáo không có hư hỏng gì lớn. Có một xe hỏng bầu lọc không khí. Đúng là một điều lạ, trận ném bom dữ dội suốt 2 giờ liền, làm rung chuyển cả bờ Bắc Cửa Tùng nhằm hủy diệt bằng được 4 chiếc xe tăng và xe thiết giáp, cuối cùng lại không gây ra được hư hỏng gì đáng kể.

        Tôi ra lệnh cho các lái xe chờ lệnh. Tôi đi xuống bờ sông, vào địa đạo, tìm tới tố thông tin của trung đoàn và báo cáo tình hình về sở chỉ huy hậu phương. Ở đầu dây bên kia là đồng chí Quỳnh tỏ ra rất vui mừng vì tôi đã đến tận nơi, nắm được tình hình và báo cáo về sở chỉ huy. Đồng chí nói: "Đồng chí đã hoàn thành tốt nhiệm vụ. Tôi thay mặt sở chỉ huy biểu dương tinh thần của đồng chí. Bây giờ đồng chí lệnh cho các xe quay đầu, lùi về phía sau khoảng 2 km, tìm địa điểm thích hợp cho giấu xe và chờ lệnh. Đêm nay ta sẽ hoãn cuộc vượt sông".

        Tôi hỏi lại: "Thế còn 1 xe hỏng bầu lọc không khí thì sao?".

        Đồng chí trả lời: "Xe hỏng bầu lọc không khí vẫn cơ động được. Đồng chí cứ lệnh cho các xe lùi về phía sau giấu xe. Xong việc đồng chí trở về sở chỉ huy".

        Từ địa đạo tôi quay lại đoàn xe. Đêm hôm đó chúng tôi giấu xe cách bến vượt khoảng 2 km. Tôi chào tạm biệt anh em rồi quay về sở chỉ huy hậu phương. Ngày mai các đồng chí lại tiếp tục vượt sông, tiếp tục cuộc hành trình vào nơi lửa đạn và sẽ có thêm một bài học trong quá trình hành quân.

        Tôi trở về Sở chỉ huy hậu phương trung đoàn thì dã hơn 12 giờ đêm, mọi người vẫn thức để chò tôi trở về. Mọi người bắt tay tôi và đồng chí Tiến. Họ nhìn chúng tôi như những diễn viên xiếc vừa nhảy qua vòng lửa. Riêng tôi, tôi nghĩ rằng mình gặp may, mình có quý nhân phù trợ. Đến bây giờ, tôi vẫn không hiểu vì sao khi tôi lên xe đi được nửa đường thì máy bay ngừng ném bom và ngừng luôn cho đến sáng.

        Điều đó có lẽ chỉ là sự ngẫu nhiên, nhưng với tôi thật là may mắn!


Tiêu đề: Re: Thử lửa
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2020, 11:20:05 am

        7. NHỮNG CHUYẾN DẦU RA BẾN SÔNG.

        Sau khi việc vận chuyển bằng đường biển từ Vĩnh Thái vào Gia Đẳng không thực hiện được nữa, Cụm 4 thuộc Cục Hậu cần mặt trận tổ chức vận chuyển bằng đường sông từ bò Bắc sông Bến Hải vào đến gần sông Thạch Hãn. Đường vận chuyển là con sông Đào nối liền sông Bến Hải với sông Thạch Hãn. Phương tiện vận chuyển vẫn là thuyền máy. Nhiệm vụ của chúng tôi lúc này là: đêm đêm áp tải hàng từ kho trung đoàn ra đến bến sông, nơi tập kết các thuyền máy của Cụm 4. Bến sông này nằm khoảng giữa Cửa Tùng và cầu Hiền Lương.

        Phụ trách bến sông là một sĩ quan của Cụm 4. Sau khi chúng tôi giao hàng tại bến sông, thuyền máy của Cụm 4 sẽ vận chuyển vào phía Nam nhưng chúng tôi phải cử người đi áp tải. Trong số các hàng hóa phải vận chuyển thì mặt hàng đáng ngại nhất là xăng dầu. Xăng dầu được đựng trong các thùng phuy 200 lít, sau khi được chúng tôi vận chuyển bằng ô tô sẽ được vần xuống thuyền. Khi vần các thùng phuy dầu xuống thuyền phải thật cẩn thận để các thùng phuy không va đập mạnh vào mạn thuyền. Những cú va đập này có thể làm vỡ thuyền. Ngoài ra khi vận chuyển bằng đường sông phải tăng bo hàng hoá qua một khúc sông bị cạn. Các thùng dầu lại phải lăn từ thuyền lên bờ rồi vần qua khúc sông cạn hơn l km. Hết khúc sông cạn, các thùng dầu lại được vần xuống thuyền máy. Đoạn sông cạn này được gọi là bến Lại An. Đây là đoạn bị địch thường xuyên thả pháo sáng và đánh phá nhằm ngăn chặn đường vận chuyển của ta.

        Từ cuối tháng 6 đến hết tháng 7, đêm đêm cứ 7 giờ tối, tôi lại dẫn 2 chiếc xe Zil-157 chở hàng hoá ra bến sông để giao hàng cho đội vận tải bằng thuyền máy của Cụm 4. Cùng đi áp tải với tôi còn có đồng chí Chỉnh, binh nhất, chiến sĩ bảo quản kho, người đã khởi xướng việc nhặt bom bi ở kho đạn và nhờ đó đã giải quyết được vụ kho đạn bị rải bom bi mấy tháng trước đây. Sau khi giao hàng cho đội vận tải của Cụm 4, đồng chí Chỉnh có trách nhiệm áp tải hàng để giao cho bộ phận hậu cần của trung đoàn ở phía nam sông Bến Hải. Thường xuyên lái xe chở hàng ra bến sông là đồng chí Mạnh, lái xe của đại đội vận tải. Đại đội vận tải lúc đó do đồng chí Tĩnh, Trung úy chỉ huy đóng ở Rú Lĩnh. Những chuyến chở hàng ra bến sông là những chuyến đi nguy hiểm. Giờ chúng tôi xuất phát cũng là lúc địch bắt đầu thả pháo sáng trên các con đường và dọc sông Bến Hải để quan sát các hoạt động của ta. Máy bay trinh sát của địch hoạt động suốt đêm. Pháo sáng lơ lửng trên bầu trời từ 6 giờ chiều đến 6 giờ sáng hôm sau. Khi phát hiện thấy ô tô chạy trên đường hoặc thuyền máy chạy trên sông, máy bay trinh sát sẽ bắn pháo khói chỉ điểm và lập tức có máy bay cường kích đến bắn phá để tiêu diệt mục tiêu.

        Chuyến đi đầu tiên do chưa có kinh nghiệm, chúng tôi đã gặp phải một sự cố. Sự thể là trên con đường từ kho trung đoàn ra bến sông, chúng tôi phải đi qua một cái dốc. Dốc không cao lắm, chỉ khoảng 10 độ. Xe chúng tôi vẫn bật đèn gầm và đi trong đêm với tốc độ chậm. Khi xe leo lên dốc, mới được một đoạn ngắn thì bỗng nhiên pháo khói của địch đã nổ trước đầu xe. Máy bay cường kích xuất hiện và ném hai quả bom. Bom không trúng đích. Đồng chí Mạnh tắt đèn gầm, tăng ga, nhanh chóng vượt qua dốc. Chạy trong đêm với tốc độ cao lại không có đèn, vừa xuống khỏi dốc, xe chúng tôi lao thắng xuống hố bom cạnh đường và dừng lại. Đầu xe chúi xuống đáy hố bom. Đuôi xe chổng lên miệng hố bom. Xe nằm trên miệng phễu hố bom, nghiêng so với phương thẳng đứng một góc gần 40 độ. Ngồi trên ca bin tôi có cảm giác xe sắp lật đến nơi. Trên xe toàn thùng dầu diezel, nếu xe lật lúc này, thì việc khắc phục sẽ rất khó khăn, chưa nói tới khả năng có thể cháy nổ. Tôi thận trọng mở cửa ca bin và bước xuống miệng hố bom, có cảm giác là nêu mình hành động mạnh, chiếc xe có thê bị mất cân bằng và bị lật ngay.


Tiêu đề: Re: Thử lửa
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2020, 08:01:40 pm
       
        Khi đã bước lên miệng hố bom rồi, nhìn chiếc xe đang đứng nghiêng phía dưới, tôi cũng lấy làm lạ tại sao như thế mà chiếc xe vẫn không bị lật. Bây giờ là lúc phải nghĩ cách kéo chiếc xe lên khỏi hố bom. Vừa lúc chiếc xe thứ hai đến nơi, chúng tôi quyết định cho xe quay đầu, móc cáp để kéo xe đồng chí Mạnh lên. Điều chúng tôi lo nhất lúc này là khi xe đồng chí Mạnh chuyển động, bánh xe có thể bị lún và xe có thể bị lật. Nhưng trong hoàn cảnh này, không có nhiều thời gian suy nghĩ và cũng không có phương án nào tốt hơn. Chúng tôi quyết định cứ thế mà làm, đồng chí Mạnh lại leo lên ca bin, cài số lùi, hai xe cùng nổ máy. Chúng tôi nín thở theo dõi. Xe đồng chí Mạnh từ từ chuyển động trong tư thế nằm nghiêng một góc 40 độ và cuối cùng nó cũng bò lên khỏi hố bom. Chúng tôi thở phào nhẹ nhõm. Thoát khỏi hố bom, đêm hôm đó hai chiếc xe của chúng tôi chở dầu ra bên sông an toàn và giao cho đội vận tải thuyền máy của Cụm 4. Sau khi nhận hàng, đồng chí chỉ huy bến sông đề nghị chúng tôi nán lại đến 12 giờ đêm hãy trở về vì thời điểm đó sẽ có thuyền máy chở thương binh từ phía nam ra và chúng tôi sẽ giúp Cụm 4 chở thương binh về các đội điều trị phía sau. Để thắt chặt mối quan hệ giữa hai đơn vị, tôi đã đồng ý. Tuy nhiên đêm hôm đó, sau khi thuyền máy từ phía nam ra lại không có thương binh. Mặc dù vậy, việc chúng tôi nhận lời nán lại bến sông đến 12 giờ đêm, một địa điểm có thế bị địch phát hiện và oanh tạc bất cứ lúc nào đã làm cho đồng chí chỉ huy đội vận tải rất có cảm tình với chúng tôi.

        Sau chuyến đi này, về nhà suy nghĩ: Tại sao khi xe vừa lên dốc lại bị máy bay địch phát hiện được ngay? Và chúng tôi cũng nhanh chóng có câu trả lời, đó là: Khi lên dốc, mặc dù xe chỉ bật đèn gầm, nhưng ánh sáng sẽ chiếu từ dưới mặt đất lên không với một góc bằng độ dốc của con đường và trong đêm, máy bay sẽ dễ dàng phát hiện được. Rút kinh nghiệm, những lần sau khi chở hàng ra bến sông, đến gần dốc là chúng tôi tắt đèn gầm, vì thế chúng tôi đã đi trót lọt được một số chuyến. Nhưng trên con đường này, không chỉ có xe của chúng tôi mà còn có xe của nhiều đơn vị khác. Những chiếc xe đến đây khi lên dốc còn để đèn gầm đều bị máy bay địch phát hiện và bị đánh. Lâu dần cái dốc trở thành một trọng điểm để máy bay địch đánh phá. Tuy nhiên bom đánh trúng xe thì ít mà bom lạc vào một cái làng gần đó thì nhiều. Có lẽ vì thế mà dân làng đã đào một cái hào cắt ngang qua đường trước dốc nhằm ngăn không cho xe lên dốc đê địch phát hiện ném bom và rồi bom lại lạc vào làng gây thương vong cho họ. Cái hào đó đã để lại cho tôi thêm một kỷ niệm trong một chuyên chở dầu ra bến sông. Lần này, cũng như mọi lần, chúng tôi lên xe chở dầu ra bến, tôi và đồng chí Mạnh đi xe trước, xe sau có đồng chí Chỉnh. Khi đến gần dốc, tôi cho xe tắt đèn gầm, tôi leo lên thùng xe để quan sát máy bay. Trong quá trình vận chuyến, những thùng dầu cứ dịch chuyên từ phía sau ra phía trước. Vì thế trên thùng xe phía gần ca bin, các thùng dầu đã lèn chặt, không còn chỗ đứng. Tôi phải đứng ở phía sau thùng xe. Vì không bật đèn gầm, con đường chỉ hiện ra mờ mờ trước mắt. Xe bắt đầu lên dốc với tốc độ trung bình. Trên thùng xe, tôi căng mắt nhìn lên bầu trời và cố gắng lắng nghe tiếng động cơ máy bay. Bỗng nhiên: Ầm! Tôi nghe thấy một tiếng động mạnh. Xe như đâm phải một vật cản và đứng khựng lại. Đầu xe chúi xuống phía trước, tất cả các thùng dầu trên thùng xe, theo quán tính dồn về phía ca bin. Tôi đang đứng phía sau thùng xe bay người nằm gọn trên các thùng dầu, người đau điếng. Một phút bàng hoàng đã qua, tôi nhận ra là hai bánh trước của chiếc xe Zil-57, đã nằm gọn dưới hào. May mà tôi đứng phía sau xe, chứ đứng phía dầu thùng xe thì hoặc là bay ra phía trước xe, nếu không cũng bị các thùng dầu phía sau ép lên chết bẹp. Đêm hôm đó, trên đường ra bến chúng tôi lại có thêm việc để làm. Bốn anh em hì hục, đào đào, bới bới đến hơn 1 giờ chúng tôi mới cho được hai xe dầu vượt qua cái hào đó.


Tiêu đề: Re: Thử lửa
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2020, 08:01:58 pm

        Khoảng giữa tháng 7, tôi nhận được lệnh vận chuyển 30 tấn dầu diezel giao cho đội vận tải bằng thuyền máy của Cụm 4, Cục Hậu cần Mặt trận B5 để chuyển vào phía nam. Đợt vận chuyển dầu này nhằm phục vụ cho kế hoạch đánh địch phản kích chiếm lại thị xã Quảng Trị. Tuy nhiên, trước đó vài ngày, vào một buổi tối tại Sở chỉ huy hậu phương thông qua buổi làm việc của đồng chí Quỳnh với Sở chỉ huy cơ bản của trung đoàn ở phía nam, tôi được biết số lượng xe còn hoạt động được của Tiểu đoàn 66 ở phía nam không đầy 10 chiếc. Điều đó không có gì lạ. Ở cánh đông mặt trận Quảng Trị, xe tăng và xe thiết giáp của ta sau khi vượt qua sông Bến Hải, phần lớn được giấu trong các làng mạc thuộc hai huyện Gio Linh và Triệu Hải. Đó là các huyện đồng bằng ven biển. Dân chúng trong các làng mạc ở hai huyện này hầu hết đã đi tản cư. Một phần chạy ra Bắc, vượt sông Bến Hải sang Vĩnh Linh. Phần còn lại chạy về phía nam vào Huế. Gio Linh và Triệu Hải trở thành bãi chiến trường. Bom đạn địch giội xuống suốt ngày đêm. B-52 ném bom rải thảm, chà đi xát lại. Nơi nào còn một bụi cây thì B-52 còn tiếp tục rải thảm.

        Dưới những trận bom hủy diệt đó, xe tăng và xe thiết giáp của ta, mỗi ngày lại có một vài chiếc trúng mảnh bom, không hỏng chỗ này cũng hỏng chỗ khác. Có thể việc báo cáo tổn thất, hư hỏng của xe tăng lên cấp trên chưa kịp thời vì thế mới có kế hoạch vận chuyển 30 tấn dầu cho kế hoạch đánh địch chiếm lại thị xã Quảng Trị. Kế hoạch bổ sung dầu này không phải do yêu cầu từ sở chỉ huy ở phía nam của trung đoàn, mà từ sở chỉ huy mặt trận đưa xuống. Có thể các phái viên của Bộ Tư lệnh Thiết giáp tại mặt trận một phần chưa có báo cáo hư hỏng, tổn thất, một phần do còn tính đến các kẽ hoạch tiếp theo.

        Vận chuyển 30 tấn dầu bổ sung, trong khi tiểu đoàn chỉ còn chưa đầy 10 chiếc xe hoạt động thì là quá nhiều. Bởi vì trước đó chúng tôi đã vận chuyển rất nhiều chuyến dầu vào phía nam. Sau khi nhận nhiệm vụ này, chúng tôi vẫn thực hiện vận chuyển 30 tấn dầu ra bến sông. Khi giao hàng tại bến, tôi nói với đồng chí sĩ quan chỉ huy đội vận tải thuyền máy của Cụm 4 là: tôi giao cho anh 30 tấn dầu diezel. Nhưng anh chỉ vận chuyển vào phía nam 2 tấn thôi. Số còn lại, anh cứ giữ tại đây cho tôi, khi nào cần tôi sẽ cho xe đến lấy.

        Đang nhận kế hoạch phải vận chuyển 30 tấn dầu, bây giờ nghe tôi nói chỉ phải vận chuyển 2 tấn còn lại 28 tấn để tại bến, đồng chí chỉ huy đội vận tải rất phấn khởi vì họ rất ngại phải vần các thùng dầu xuống thuyền máy. Tuy nhiên do trách nhiệm, đồng chí cũng hỏi tôi là vì sao kế hoạch là 30 tấn mà anh chỉ cho vận chuyển có 2 tấn. Tôi trả lời là: anh cứ yên trí, nếu thiếu dầu các đơn vị sẽ điện ngay ra cho tôi và chúng ta sẽ tiếp tục thực hiện. Thực ra lúc đó tôi nghĩ rằng với hành trình từ sông Bến Hải vào sông Thạch Hãn và mức độ hoạt động như thời gian qua, Tiểu đoàn 66 chưa thể tiêu thụ hết số dầu mà chúng tôi đã đưa vào. Giờ đây chỉ còn 10 xe hoạt động thì bổ sung cho mỗi xe 200 lít là đủ.

        Đúng như dự tính của tôi, sau khi kết thúc kế hoạch vận chuyến, mặc dù chỉ đưa vào phía nam có 2 tấn dầu diezel, đồng chí Quỳnh điện vào sở chỉ huy phía nam hỏi đã nhận đủ dầu chưa thì Sở chỉ huy phía nam trả lòi: Đã nhận đủ dầu và như vậy là chúng tôi còn 28 tấn dầu dự trữ tại bến sông của Cụm 4. Sau này khi kho xăng Khe Lương của mặt trận bị đánh cháy, số dầu này đã trở thành một phần dự trữ rất quan trọng của trung đoàn.

        Những chuyên chở dầu từ bờ Bắc sông Bến Hải rồi áp tải vào phía nam là một hành trình rất gian khổ và nguy hiểm, đặc biệt là đoạn phải vần các thùng dầu trên khúc sông cạn tại bến Lại An, dài hơn l km dưới pháo sáng và đạn bom của địch. Tuy nhiên đối với phần công việc này tôi lại không phải lo lắng lắm. Có một người bất cứ lúc nào cũng sẵn sàng xung phong đi làm công việc đó. Đó là đồng chí Chỉnh. Ngoài cái lý do là nhiệm vụ, là trách nhiệm còn có một lý do nữa mà mãi sau này tôi mới biết, có một cô thanh niên xung phong, lúc nào cũng chờ đợi chàng binh nhất của Trung đoàn 202 và nơi hẹn hò của họ là bến Lại An.

        Thế mới biết là không phải chỉ có rạp chiếu phim, không phải chỉ có công viên, mà điểm hẹn của tình yêu còn có thể ở những nơi đầy hiểm nguy trong chiến tranh. Phải chăng tình yêu đã vượt trên cái chết?


Tiêu đề: Re: Thử lửa
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Tám, 2020, 09:02:11 am

        8. NHỮNG NGƯỜI BIẾT LO XA.

        Từ cuối tháng 6 những cuộc oanh tạc của máy bay Mỹ vào phía tây Vĩnh Linh ngày càng ác liệt. Nơi đây không những chỉ là nơi đóng quân, là hậu cứ của nhiều đơn vị, nó còn có con đường 15 chạy qua và nhiều kho tàng cấp chiến dịch và chiến lược của ta. Kho đạn, kho xăng dầu, kho gạo, kho quân trang, quân lương của mặt trận và của Bộ đều ở phía tây Vĩnh Linh.

        Một ngày, khoảng đầu tháng 7, máy bay địch dánh phá dữ dội ở miền tây Vĩnh Linh. Từ Vĩnh Thạch, tại Sở chỉ huy hậu phương của trung đoàn, chúng tôi nhìn thấy những cột khói bốc cao ở miền tây Vĩnh Linh. Những cột khói đen hình nấm giống như những cột khói tôi đã nhìn thấy khi địch đánh kho xăng Đức Giang ở Hà Nội vào năm 1966. Sau đó vài ngày tôi được biết địch đã đánh vào kho xăng Khe Lương của mặt trận. Nơi dự trữ phần lớn xăng dầu cho chiến dịch Quảng Trị. Như vậy, từ đây việc cung cấp xăng dầu cho các đơn vị sẽ gặp nhiều khó khăn. Đối với xe tăng và xe thiết giáp, nếu không có xăng dầu thì không còn có khả năng cơ động và không có khả năng cơ động thì không thể tác chiến được.

        Tình hình trên chiến trường đang diễn ra ngày càng ác liệt. Địch đang tập trung mọi lực lượng, chiếm lại thị xã Quảng Trị. Để ngăn chặn sự tiếp tế của ta từ hậu phương ra tiền tuyến, hàng ngày, máy bay B-52, máy bay phản lực cường kích, pháo 175mm trên các hạm tàu không những chỉ ném bom, bắn phá trên dọc tuyến đường Trường Sơn. Chúng còn tăng cường đánh phá vào hậu phương nhằm phá hoại các kho tàng cấp chiến lược và chiến dịch của ta. Ngoài kho xăng dầu, nhiều kho đạn, kho gạo, kho quân lương, quân trang, quân y của ta nằm ở phía Tây Vĩnh Linh cũng thường xuyên bị địch đánh phá. Công tác bảo đảm hậu cần kỹ thuật từ mặt trận xuống các đơn vị gặp nhiều khó khăn. Trước tình hình đó, để bảo đảm cho trung đoàn có đủ dự trữ đạn dược, xăng dầu và các mặt bảo đảm khác chuẩn bị cho cuộc chiến đấu có thể còn kéo dài và đề phòng tình huống địch mạo hiếm tấn công ra phía bắc sông Bến Hải, đồng chí Quỳnh, Chủ nhiệm Hậu cần trung đoàn, Chỉ huy trưởng Sở chỉ huy hậu phương chủ trương phải quản lý chặt lượng dự trữ hậu cần, kỹ thuật hiện có tại kho trung đoàn. Đặc biệt là đạn dược và xăng dầu.

        Là người trực tiếp thực hiện các kế hoạch vận chuyển xăng dầu, đạn dược và các mặt hàng bảo đảm khác cho trung đoàn, trực tiếp làm việc với Cụm 4 và các đơn vị của Cụm 4, hàng ngày, hàng đêm tôi đi qua rất nhiều địa điểm ở Vĩnh Linh, và vì vậy, tôi biết được một điều rất quan trọng là có thể thu gom một lượng xăng dầu và đạn dược hiện vẫn đang còn nằm rải rác ở các bến bãi và nhiều vị trí tạm dừng của các đơn vị trên đường hành quân. Đã có lần, trên đường đi công tác, tôi đã đi qua một đoạn đường, đoạn đường này dài khoảng 200m, chiều rộng của nó đủ để hai chiếc xe vận tải cỡ lớn tránh nhau được. Hai bên đường trồng toàn tre. Những bụi tre vươn cao, che khuất hoàn toàn con đường bên dưới. Đây đúng là một vị trí giấu xe lý tưởng. Và đã có một đơn vị cơ giới nào đã từng chọn nơi đây làm vị trí tạm dừng trên đường hành quân. Hai bên con đường còn nhiều thùng dầu diezel. Nhưng không hề thấy bóng một anh bộ đội nào. Tôi đi vào làng hỏi những người dân ở gần đó xem họ có biết số dầu diezel này là của đơn vị nào và có ai trông coi không? Thì tất cả mọi người đều nói số dầu này là của một đơn vị bộ đội, nhưng đã hành quân đi rồi, không để lại một người nào trông.

        Sau khi kho xăng Khe Lương bị địch đánh cháy, chúng tôi đi tìm lại tất cả các vị trí có dầu do các đơn vị để lại trên đường hành quân mà không có người nào trông coi và cho xe chở về kho trung đoàn. Chúng tôi đã thu gom được gần 10 tấn.

        Nhưng một địa điểm mà chúng tôi không thể bỏ qua được đó là kho trung chuyển Vĩnh Thái. Vĩnh Thái từng là nơi tập kết hàng của tất cả các đơn vị cánh Đông mặt trận Quảng Trị, trong đó có Trung đoàn 202. Chúng tôi đã từng chở ra đây đạn dược, xăng dầu và tất cả các mặt hàng quân lương, quân trang, quân y... Sau khi con đường vận chuyển bằng thuyền máy trên biển từ Vĩnh Thái vào Gia Đẳng ngừng hoạt động, một lượng lớn hàng hoá của nhiều đơn vị vẫn còn ứ đọng ở Vĩnh Thái, trong đó có cả hàng hoá của Trung đoàn 202.

        Trung tuần tháng 7, tôi và đồng chí Hoạt Tiểu đội trưởng bảo quản của kho đạn lại ra Vĩnh Thái. Địa điểm đóng quân của chúng tôi vẫn là nhà o Khuê. Nếu không có những chiếc máy bay F-4 ngày nào cũng bay lượn trên đầu, nghiêng nghiêng, ngó ngó, nếu không có tiếng gầm rú của máy bay phản lực và tiếng bom vẫn nổ vang rền từ mọi nơi vọng về, và hàng đêm không có ánh chớp liên hồi của những loạt bom B-52 thì những ngày ở Vĩnh Thái cũng không khác mấy so với những ngày nghỉ hè trên bờ biển.


Tiêu đề: Re: Thử lửa
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Tám, 2020, 09:02:36 am

        Nhưng mục đích của chúng tôi lần này ra Vĩnh Thái là kiểm kê lại số lượng xăng dầu còn tồn đọng tại kho chứ không phải là đi nghỉ mát. Phần lớn số thùng dầu tồn đọng còn được vùi dưới các cồn cát.

        Đồng chí Hoạt trước đây là người tổ chức thực hiện nhiệm vụ vận chuyển hàng từ kho trung đoàn ra Vĩnh Thái rồi từ Vĩnh Thái vào Gia Đẳng nên nhớ rất rõ những vị trí cất giấu xăng dầu. Có nhiều thùng dầu đã vần ra đến bãi biển nhưng chưa kịp đưa lên thuyền vẫn còn nằm lăn lóc dưới các rặng phi lao. Tuy nhiên biết đây là xăng dầu của bộ đội nên không một ai đụng đến. Sau khi kiêm kê xong số xăng dầu còn tồn đọng, tôi và đồng chí Hoạt đến gặp đồng chí Chủ nhiệm kho Vĩnh Thái, tôi thông báo cho đồng chí Chủ nhiệm kho là chúng tôi sẽ tổ chức thu gom số xăng dầu còn tồn đọng tại Vĩnh Thái. Đồng chí Chủ nhiệm kho nói: "Từ khi con đường vận chuyến trên biển từ Vĩnh Thái vào Gia Đẳng không hoạt động nữa, kho Vĩnh Thái trở thành kho chỉ chứa hàng quân lương, quân trang của mặt trận nhưng trong kho còn một lượng lớn xăng dầu và đạn dược mà các đơn vị trước đây vận chuyên đến vẫn còn tồn đọng, chúng tôi vẫn phải quản lý. Hôm nay được biết các anh đến thu gom xăng dầu, chúng tôi rất mừng, thế còn số đạn dược thì sao?". Tôi trả lời: "Tất cả số đạn dược còn tồn đọng ỏ đây cũng là của chúng tôi và chúng tôi cũng sẽ tổ chức thu hồi".

        Nghe đến đây, đồng chí Chủ nhiệm kho Vĩnh Thái rất phấn khỏi vì nếu chúng tôi thu hồi hết số đạn dược và xăng dầu ở đây thì kho Vĩnh Thái sẽ an toàn hơn nhiều, đặc biệt là trong trường hợp kho bị địch đánh phá sẽ không xảy ra cháy nổ dữ dội. Tôi đề nghị đồng chí Chủ nhiệm kho Vĩnh Thái cung cấp số lượng đạn dược còn tồn đọng ở kho, đồng chí đưa cho tôi một bản danh sách, trong đó có đạn pháo trên tăng và tất cả các loại đạn có trong biên chế của sư đoàn bộ binh. Tổng số đạn dược còn tại kho Vĩnh Thái khoảng 200 tấn. Như vậy số đạn này không chỉ riêng của Trung đoàn 202 mà còn của nhiều đơn vị. Giờ đây nó là của Trung đoàn 202 và chúng tôi sẽ có trách nhiệm thu hồi. Tôi giới thiệu với đồng chí Chủ nhiệm kho Vĩnh Thái là: đồng chí Hoạt, Binh nhất Tiểu đội trưởng sẽ trực tiếp chỉ huy công tác thu gom xăng dầu và đạn dược của trung đoàn tại kho Vĩnh Thái. Đồng chí Chủ nhiệm kho Vĩnh Thái vui vẻ nói: "Các anh chỉ cần đưa xe ra đây, việc bốc vác hàng lên xe chúng tôi sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm, mong các anh hoàn thành càng sớm càng tốt".

        Như vậy là chúng tôi đã có trong tay gần 20 tấn dầu và 200 tấn đạn bổ sung cho lượng dự trữ của trung đoàn. Tôi và đồng chí Hoạt phấn khởi ra về sau mấy ngày đi kiểm kê xăng dầu và đạn dược ở Vĩnh Thái.

        Vừa về tới Sở chỉ huy hậu phương, đồng chí Quỳnh thông báo với tôi: "Ở nhà có một việc rất quan trọng: đồng chí Nên, Trợ lý đạn đi nhận 200 viên đạn pháo 100mm trên tăng từ kho mặt trận chở về tập kết ở hậu cứ của trung đoàn tại nông trường Quyết Thắng bị máy bay Mỹ đuổi theo đánh. Đồng chí Nên bị thương nhẹ, nhưng vẫn đưa được số đạn đó về xếp vào vị trí đã chuẩn bị sẵn để cấp cho số xe tăng của Bộ mới đưa vào chiến trường. Nhưng đêm hôm qua, toàn bộ số đạn pháo trên tăng nói trên đã trúng bom B-52. Bây giờ không còn viên đạn nào để cấp cho xe tăng nữa. Tôi đã lệnh cho đồng chí Nên liên hệ với Cục Hậu cần mặt trận xin cấp tiếp 200 viên đạn pháo trên tăng. Nhưng nếu làm xong thủ tục và xuất xe đi lấy được đạn về đến đây cũng phải mất hàng tuần. Thời gian thì không cho phép. Xe tăng đã được lệnh phải gấp rút hành quân vào chiến trường. Nếu không bảo đảm được đạn cho xe tăng, trách nhiệm sẽ thuộc về chúng ta. Đồng chí có cách gì giải quyết không?".

        Vì vừa mới ở Vĩnh Thái vể và trong tay đã có danh sách số lượng đạn dược ở kho Vĩnh Thái và đã hợp đồng với đồng chí Chủ nhiệm kho, tôi trả lời với đồng chí Quỳnh: "Báo cáo thủ trưởng, việc này hoàn toàn có thể giải quyết được".

        Đối với đồng chí Quỳnh, đây là một mối lo, một vấn đề gay cấn đã làm cho đồng chí không tài nào ngủ được suốt đêm hôm qua. Vì đồng chí đã theo dõi và đã biết hết sự gian nan của đồng chí Nên trong quá trình đi nhận đạn từ kho mặt trận về hậu cứ của trung đoàn. Thấy tôi trả lời một cách quá dễ dàng và chắc chắn như đinh đóng cột, đồng chí rất ngạc nhiên nhưng cũng không giấu nổi vui mừng, đồng chí hỏi lại: "Đồng chí hoàn toàn có thể giải quyết được là giải quyết như thế nào?".


Tiêu đề: Re: Thử lửa
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Tám, 2020, 06:02:40 pm

        Tôi trình bày tóm tắt kết quả của việc đi khảo sát số xăng dầu và đạn dược còn tồn đọng ỏ kho Vĩnh Thái, trình bày việc hợp đồng với đồng chí Chủ nhiệm kho Vĩnh Thái về việc thu hồi đạn dược và xăng dầu về trung đoàn. Sau đó tôi đưa cho đồng chí Quỳnh bản thống kê số lượng đạn dược còn tại kho Vĩnh Thái, trong đó có một số lượng lớn đạn pháo 100mm trên tăng. Nghe tôi trình bày xong, đồng chí Quỳnh rất phấn khởi, đồng chí nói: "Thế thì tốt quá rồi, đồng chí đã cứu cho tôi một bàn thua trông thấy!".

        Sau đó theo ý kiến của tôi, đồng chí cho gọi đồng chí Nên và đồng chí Hoạt lên nhận nhiệm vụ.

        Vài phút sau, đồng chí Nên lên hầm chỉ huy gặp đồng chí Quỳnh vẻ mặt bơ phờ, mệt mỏi với tâm trạng đang chuẩn bị phải đón nhận một nhiệm vụ rất khó khăn. Sau đó đồng chí Hoạt cũng có mặt. Đồng chí Quỳnh mời các đồng chí ngồi vào vị trí và nói: "Như các đồng chí đã biết, đồng chí Nên đã rất cố gắng để hoàn thành nhiệm vụ đưa được 200 viên đạn pháo 100mm trên tăng về hậu cứ, nhưng không may số đạn này đã trúng bom B-52 của địch. Xe tăng đã có lệnh hành quân, tôi rất lo sẽ không bảo đảm được đạn cho xe tăng trước khi hành quân. Nhưng bây giờ đã có giải pháp. Đồng chí Chúng sẽ phổ biến cho đồng chí Nên công việc đi nhận đạn pháo 100mm trên tăng tại kho Vĩnh Thái".

        Sau khi đồng chí Quỳnh nói xong, tôi nói:

        - Báo cáo thủ trưởng, tôi và đồng chí Hoạt đã hợp đồng với đồng chí Chủ nhiệm kho Vĩnh Thái về việc thu hồi số đạn dược còn tồn đọng ỏ kho Vĩnh Thái. Ngay tôi nay đồng chí Hoạt sẽ đưa đồng chí Nên ra kho Vĩnh Thái để lấy đạn 100mm trên tăng.

        Sau đó tôi đưa cho đồng chí Nên một bức thư viết tay. Nội dung như sau:

        "Kính gửi đồng chí Chủ nhiệm kho Vĩnh Thái. Thực hiện hợp đồng với đồng chí, tối nay đồng chí Nên, Trung úy, Trợ lý đạn của Trung đoàn 202 và đồng chí Hoạt sẽ đến nhận 200 viên đạn pháo 100mm trên tăng. Đề nghị đồng chí tạo điều kiện giúp đỡ.

Ký tên                       
Chuẩn úy NGHIÊM SỸ CHÚNG".       

        Đọc xong bức thư, đồng chí Nên nửa tin, nửa ngờ, đồng chí hỏi tôi: "Chỉ có vài dòng thế này, chả có dấu má gì cả thì làm sao lấy được đạn. Lần vừa rồi để lấy được 200 viên đạn pháo trên tăng tôi phải có lệnh của Bộ Tham mưu và Phiếu xuất kho của Cục Hậu cần mặt trận đấy!".

        Tôi nói với đồng chí Nên: "Tôi và đồng chí Hoạt đã hợp đồng với đồng chí Chủ nhiệm kho Vĩnh Thái. Đồng chí Hoạt đã nắm được công việc rồi. Tối nay đồng chí Hoạt sẽ đưa anh ra Vĩnh Thái lấy đạn. Ta không những chỉ có đạn pháo 100mm trên tăng mà còn có nhiều loại đạn khác nữa. Ở ngoài đó người ta đang mong ta ra lấy đạn cho họ đấy".

        Đến đây đồng chí Quỳnh kết luận:

        "Thôi nhé, các đồng chí cứ thế về triển khai thực hiện".

        Ngay tối hôm đó, đồng chí Hoạt cùng đồng chí Nên đưa 2 xe Zil-157 từ kho trung đoàn ra Vĩnh Thái lấy đạn.

        Sáng hôm sau, tôi gặp đồng chí Nên tại hầm chỉ huy của sở chỉ huy hậu phương. Tôi hỏi:

        - Tối qua đồng chí Hoạt đưa anh ra Vĩnh Thái công việc thế nào rồi?

        Đồng chí Nên tươi tỉnh trả lời: "Xong rồi, chúng tôi đã đưa đạn về kho trung đoàn, mà tại sao chỉ có cái giấy viết tay của ông mà người ta cũng xuất đạn cho mình nhỉ, lại còn cho cả người bốc vác đạn lên xe nữa chứ!".

        Tôi trả lời: "Việc đó rất đơn giản, ở đó còn khoảng 200 tấn đạn và người ta đang cần ta đến lấy. Thôi, anh đi báo cáo tình hình cho thủ trưởng Quỳnh biết để thủ trưởng yên tâm".

        Việc giải quyết đạn cho xe tăng như vậy là đã xong. Đồng chí Hoạt tiếp tục thực hiện việc thu gom xăng dầu và đạn dược tại kho Vĩnh Thái. Tôi sẽ đến Cụm 4 để nắm lại tình hình về số lượng 28 tấn dầu còn gửi tại bến sông.

        Bây giờ chỉ huy Cụm 4 không phải là chú Lệ nữa. Chú Lệ đã chuyển công tác khác, tôi không biết chú chuyển về đâu, vì trước khi đi chú cũng không kịp cho tôi biết. Trên chiến trường việc đó là bình thường. Người thay thế chú Lệ là đồng chí Tâm, Thiếu tá, người cao dong dỏng, chưa đầy 40 tuổi. Tuy nhiên, do đã có thời gian dài làm việc với Cụm 4, mối quan hệ giữa Cụm 4 đối với tôi là rất thân tình.


Tiêu đề: Re: Thử lửa
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Tám, 2020, 06:03:13 pm

        Đồng chí Tâm nhiều hơn tôi khoảng 10 tuổi, lại là Thiếu tá, Cụm trưởng một cụm hậu cần của mặt trận, tôi chỉ là một sĩ quan mới ra trường, cấp bậc chỉ có chuẩn úy. Nhưng trong quan hệ công tác, đồng chí Tâm và các sĩ quan ở Cụm 4 đều gọi tôi là anh Chúng và xưng tôi, chứ không cậu cậu, tớ tớ. Mặc dù họ đều lớn tuổi hơn tôi và cấp bậc cao hơn tôi. Trong mắt họ, tôi là người đại diện chính thức của Ban Hậu cần Trung đoàn 202. Trong quan hệ với Cụm 4 là cơ quan cấp trên, khi có những vấn đề liên quan đến trung đoàn, tôi là người thay mặt cho Chủ nhiệm Hậu cần trung đoàn phát biểu ý kiến chính thức của trung đoàn với Cụm 4. Thời gian đầu, khi xuất hiện ở Cụm 4, tôi chỉ mới là một sĩ quan liên lạc. Nhưng với sự giúp đỡ của chú Lệ, với ý thức trách nhiệm của một sĩ quan mới ra trường, tôi ngày càng được đồng chí Quỳnh tin tưởng. Ban đầu, mỗi lần trước khi tôi lên Cụm 4 làm việc, đồng chí Quỳnh đều nhắc nhở và kiểm tra xem tôi có ghi chép đầy đủ ý kiến của đồng chí để truyền đạt cho Cụm 4 hay không, về sau thấy mọi việc đều trôi chảy, đồng chí thôi không kiểm tra nữa.

        Nhiều cuộc họp quan trọng ở Cụm 4, triệu tập Chủ nhiệm Hậu cần các đơn vị đến họp, đồng chí Quỳnh cũng cử tôi đi. Tôi thắc mắc: "Tôi là một sĩ quan mới ra trường, cấp bậc thấp, không thể thay mặt thủ trưởng trong những cuộc họp như thế được". Đồng chí Quỳnh nói với tôi rằng: "Tôi đã công bố đồng chí là trợ lý kế hoạch của Ban Hậu cần trung đoàn. Với chức danh đó, đồng chí hoàn toàn có thể thay mặt tôi dự các cuộc họp và khi cần thiết đồng chí phải thay tôi ra quyết định và xử lý các tình huống. Đồng chí nên nhớ rằng đây là chiến trường và trên chiến trường thì người chỉ huy cũng có thể hy sinh bất cứ lúc nào. Còn đồng chí, đồng chí đã có mặt trên chiến trường bốn tháng rồi, đồng chí không còn là sĩ quan mới ra trường nữa!". Để cho tôi nhận thức được vai trò và trách nhiệm của trợ lý kế hoạch, đồng chí Quỳnh thông báo cho Đại đội vận tải, ngoài đồng chí Quỳnh ra, tôi là người có quyền trực tiếp ra lệnh cho đại đội vận tải. Mặc dù chỉ huy đại đội vận tải là đồng chí Tĩnh cấp bậc trung úy, còn tôi mới chỉ là chuẩn úy. Tuy vậy từ đó về sau, mỗi khi tôi ra lệnh cho đại đội vận tải dù là trực tiếp hay trên điện thoại đồng chí Tĩnh đều chấp hành nhanh chóng và chính xác. Trở lại với công việc ở Cụm 4, lần này khi thấy tôi xuất hiện, đồng chí Tâm, Cụm trưởng bắt tay tôi niềm nở:

        - Chào anh Chúng, chúng tôi đang rất mong anh thì anh xuất hiện, thiêng thật!

        Tôi nói:

        - Làm sao mà các anh lại mong tôi được. Tôi đến thì chỉ có việc đề nghị và xin xỏ các anh chứ có việc gì khác đâu.

        - Lần này thì khác đấy, bây giờ có việc mà chúng tôi phải xin anh đây.

        Thấy anh Tâm nói vậy, tôi hỏi lại:

        - Làm sao lại có việc ngược đời là cấp trên lại đi xin cấp dưới.

        - Có đấy! - Anh Tâm đáp và nói tiếp: "Sự thể là thế này, như anh đã biết, anh hiện vẫn gửi ở bến sông của chúng tôi 28 tấn dầu diezel. Số dầu đó chúng tôi vẫn giữ gìn cẩn thận và còn nguyên vẹn. Tôi biết đối với đơn vị xe tăng dầu là rất quan trọng. Không có dầu thì không thể chiến đấu được. Nhưng hiện nay chúng tôi cũng rất cần dầu để vận chuyển hàng hóa cho các đơn vị bằng thuyền máy. Nếu một ngày ngừng vận chuyển, các đơn vị ở phía nam sông Bến Hải sẽ không có đạn dược và tất cả mọi thứ để đánh trả quân địch đang phản kích. Từ sau khi kho xăng Khe Lương bị địch đánh cháy, việc cung cấp dầu cho vận tải rất khó khăn. Vì vậy, tôi đề nghị anh báo cáo với chỉ huy trung đoàn để lại cho chúng tôi một vài tấn dầu, phục vụ cho công tác vận chuyển".

        Lời đề nghị của đồng chí Tâm đối với tôi là lời đề nghị không thể từ chối được. Cụm 4 vừa là cấp trên, vừa là đơn vị bảo đảm trực tiếp cho trung đoàn suốt trong chiến dịch. Sau khi đồng chí Tâm dứt lời tôi nói luôn:

        "Nhiệm vụ của Cụm 4 là rất quan trọng, liên quan tới sự sống còn của tất cả các đơn vị cánh Đông mặt trận Quảng Trị. Vì vậy theo ý kiến của anh, tôi đồng ý để lại cho Cụm 4 mười tấn dầu diezel, số còn lại đề nghị anh tiếp tục cất giữ cho chúng tôi. Khi nào cần, tôi sẽ báo cáo các anh".

        Thấy tôi trả lời nhanh quá. Anh Tâm hỏi lại:

        - Thế anh có phải báo cáo về trung đoàn không?

        Tôi trả lòi: Không sao anh ạ. Chúng ta cứ thỏa thuận như thế.


Tiêu đề: Re: Thử lửa
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Tám, 2020, 11:19:22 am

        Tôi không muốn tiết lộ với anh Tâm là số dầu đó thực tế đã không còn trong sổ sách nữa. Đồng chí Tâm hứa sẽ cất giữ số dầu còn lại của trung đoàn là 18 tấn. Khi nào trung đoàn yêu cầu, xe của Cụm 4 sẽ chở về tận nơi. Như vậy, đã có chuyện ngược đời là cấp trên xin cấp dưới và cấp dưới giải quyết.

        Làm việc xong với Cụm 4, tôi trở về Sở chỉ huy hậu phương của trung đoàn. Trong hầm, đồng chí Quỳnh đang ngồi tiếp một người khách lạ. cả hai người đều im lặng, đồng chí Quỳnh ngồi hút thuốc vẻ mặt đăm chiêu, hình như đang có một việc gì đó. Thấy tôi bước vào hầm đồng chí Quỳnh nói:

        "Đồng chí Chúng về đây rồi, may quá. Có việc thế này: Đồng chí này là Đại úy hải quân, Thuyền trưởng tàu chở hàng tuyến Bắc - Nam. Mọi lần vẫn cập bến gần đây nhận dầu. Bây giờ kho xăng Khe Lương bị đánh cháy. Không có dầu cấp, mặt trận viết giấy giới thiệu và đề nghị trung đoàn nghiên cứu nếu còn dự trữ thì cấp cho tàu hải quân 9 tấn diezel. Đồng chí xem ta có thể giải quyết được không?

        Tôi báo cáo sơ bộ với đồng chí Quỳnh về số lượng dầu thu gom ở các bến bãi, ở Vĩnh Thái và số lượng còn tại Cụm 4. Nghe xong đồng chí Quỳnh kết luận:

        "Các đồng chí hải quân đã có giấy giới thiệu của mặt trận. Công việc của các đồng chí chúng tôi không được biết, nhưng chúng ta đều đang thực hiện những nhiệm vụ quan trọng vì sự nghiệp chung. Bây giờ đồng chí Chúng cho gọi đồng chí Tý thủ kho xăng dầu lên viết phiếu cấp cho hải quân 9 tấn dầu diezel. Tôi sẽ ký".

        Cầm được tờ phiếu xuất 9 tấn dầu diezel, đồng chí Đại úy hải quân rất phấn khởi. Đồng chí cảm ơn Trung đoàn 202 đã tạo điều kiện cho đồng chí hoàn thành nhiệm vụ. Nếu không có dầu, đồng chí Đại úy hải quân và con tàu sẽ có lý do để dừng cuộc hành trình đầy nguy hiểm của mình. Nhưng các đồng chí đã không dừng lại, các đồng chí phải tìm mọi cách để có dầu, để tiếp tục cuộc hành trình gian khổ và nguy hiểm vì đó là nhiệm vụ thiêng liêng và cao cả mà đất nước đã đặt lên vai các đồng chí.

        Còn chúng tôi, những người đã có công thu gom xăng dầu để hôm nay có thể yên tâm giải quyết cho đồng chí Đại úy Hải quân 9 tấn dầu diezel mà không phải lo đến lượng dự trữ sẵn sàng chiến đấu của đơn vị. Nhưng chúng tôi rất cảm phục các đồng chí. Những người trong khó khăn, gian khổ không từ bỏ nhiệm vụ của mình, một nhiệm vụ vô cùng nguy hiểm.

        Trước khi bước ra khỏi hầm chỉ huy, đồng chí bắt tay và cảm ơn đồng chí Quỳnh. Sau đó đồng chí đến bắt tay và cảm ơn tôi. Đồng chí nhìn vào mắt tôi và nói: "Rất cảm ơn thủ trưởng!".

        Đồng chí Đại úy hải quân không biết rằng người đồng chí gọi là thủ trưởng chỉ là chuẩn úy và là một học viên của Trường Đại học Kỹ thuật quân sự mới ra trường!


Tiêu đề: Re: Thử lửa
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Tám, 2020, 11:19:57 am

       
TRỞ LẠI NHÀ TRƯỜNG

        Tháng 8 năm 1972, các đơn vị của Trung đoàn 202 được lệnh rút khỏi bờ Nam sông Bến Hải và ra phía bắc. Tôi gặp lại các đồng chí của Học viện Kỹ thuật quân sự đã đi vào phía nam. Không thể biết họ đã trải qua những gì, nhưng tôi nghĩ rằng họ cũng phải trải qua những thử thách gian lao còn hơn cả tôi. Người tôi gặp và rất có cảm tình là anh Phạm Văn Trợ. Anh Phạm Văn Trợ bấy giờ là Trung úy, kỹ sư động cơ ô tô. Tôi rủ anh Trợ đi với tôi ra Vĩnh Thái, để kiểm tra tình hình thu hồi xăng dầu và đạn dược mà người phụ trách là đồng chí Hoạt, Tiểu đội trưởng bảo quản kho. Tôi đưa đồng chí Trợ ra Vĩnh Thái và vào nhà o Khuê chơi, đi tắm biển và hàng ngày ăn cơm với canh cá do o Khuê nấu.

        Từ nơi bom đạn ác liệt, tự nhiên lại đến được một bãi biển, được sông trong một khung cảnh như giữa thời bình, đồng chí Trợ nói với tôi: Tôi không thể hình dung được rằng, trong cuộc chiến tranh ác liệt thế này mà ông vẫn tìm ra một vùng bình yên như thế.

        Sau khi đi kiểm tra việc thu hồi xăng dầu và đạn dược ở kho Vĩnh Thái, tôi lại trên đường trở về trung đoàn. Tôi vào đến đại đội vận tải ở Rú Lĩnh và gặp đồng chí Tỉnh, Đại đội trưởng Đại đội vận tải. Đồng chí Tỉnh nói với tôi: Trong tuần qua chúng tôi phải nhận lệnh lên miền Tây Vĩnh Linh để nhận gạo, số lượng là 80 tấn. Nhưng kho đang bị B-52 đánh phá. Không một chiếc xe nào có thể vào được kho. Đêm nay đại đội phải tiếp tục cho 2 xe lên đường. Nhưng tôi nghĩ rằng sẽ không vào được vị trí quy định. Anh em trong Đại đội vận tải nghĩ rằng có lẽ anh là người tổ chức kế hoạch này. Tôi không hề biết kế hoạch đi lấy 80 tấn gạo ở miền Tây Vĩnh Linh. Tôi nói với đồng chí Tỉnh: "Đêm nay đồng chí không cho xe đi lấy gạo nữa, tôi sẽ gọi điện về Sở chỉ huy hậu phương trung đoàn". Tôi cầm máy gọi về sở chỉ huy hậu phương trung đoàn, đầu dây bên kia là đồng chí Quỳnh. Tôi đề nghị với đồng chí Quỳnh không thực hiện kế hoạch đi lấy 80 tấn gạo ở miền Tây Vĩnh Linh nữa. Đồng chí Quỳnh hỏi tôi: "Anh có cách giải quyết gì không?". Tôi trả lời: "Ngày mai tôi sẽ tới Cụm 4 và sẽ giải quyết vấn đề này". Sau khi nghe tôi nói, đồng chí Quỳnh lệnh cho Đại đội vận tải không xuất xe đi nữa. Đồng chí Tỉnh lúc đó mới biết rằng tôi không phải là người vạch ra kế hoạch đó. Đêm hôm đó, tôi về tới sở chỉ huy hậu phương của trung đoàn. Và ngay sáng hôm sau, tôi cùng đồng chí Hậu, Phó Chủ nhiệm Hậu cần đi tới Cụm 4. Khi đến Cụm 4, đơn vị đang tổ chức ăn tươi. Ăn tươi, tức là một bữa ăn trên mức bình thường vào thời bấy giờ. Khi thấy tôi bước vào, anh Tâm, Chỉ huy trưởng Cụm 4 và mọi người đều dừng bữa ăn và hỏi tôi: "Hôm nay anh Chúng đến có việc gì đấy? Nhưng ta sẽ nói sau, bây giờ mời anh vào bàn và chúng ta vừa ăn vừa nói chuyện". Tôi và đồng chí Hậu, Phó Chủ nhiệm Hậu cần ngồi vào bàn ăn. Sau đó tôi nói: "Vừa rồi chúng tôi nhận được phiếu xuất 80 tấn gạo lấy ở miền Tây Vĩnh Linh. Nhưng đã 1 tuần xe đi không thể nào tiếp cận được kho. Nay đến để đề nghị các anh có biện pháp gì giải quyết cho trung đoàn". Sau khi nghe tôi nói, anh Tâm, Chỉ huy trưởng Cụm 4 nói rằng: "Theo quy định của cấp trên, tất cả các đơn vị đóng quân ở phía bắc sông Bến Hải đều phải lấy gạo ở các kho miền Tây Vĩnh Linh, dù kho đang bị đánh phá. Vừa rồi một đồng chí trợ lý quân nhu, đem giấy giới thiệu của Đoàn 202 đến nhận gạo. Chúng tôi nghĩ rằng đây là đoàn An dưỡng 202 ở Quảng Bình vì vậy chúng tôi vẫn viết phiếu xuất lên lấy gạo ở miền Tây Vĩnh Linh. Hôm nay anh đến chúng tôi mới biết. Đối với Trung đoàn 202 các anh là đơn vị chiến đấu ở bờ Nam sông Bến Hải vì vậy chúng tôi sẽ ưu tiên giải quyết cho trung đoàn. Anh đưa lại phiếu xuất kho và chúng tôi sẽ làm lại cho anh". Tôi trả lại phiếu xuất kho và sau khi ăn cơm xong chúng tôi có một phiếu xuất kho khác. Trung đoàn sẽ đi lấy gạo ở dốc 6 độ, chỉ cách trung đoàn chưa đầy 10km. Cụm 4 giao cả số lượng gạo và nhà kho cho chúng tôi. Kết thúc bữa ăn ra về, cầm trong tay phiếu xuất kho 80 tấn gạo và toàn bộ nhà kho, đồng chí Hậu nói với tôi rằng: Ông là một "nhà ngoại giao". Tôi biết đồng chí Hậu nói động viên, nhưng với tất cả những việc tôi đã làm với Cụm 4 suốt từ đầu chiến dịch, tôi đã trở thành một người mà Cụm 4 đặt lòng tin và tôi nghĩ rằng lòng tin là thứ quyết định chứ không phải là ngoại giao.

        Tháng 9 năm 1972 chúng tôi nhận được quyết định trở về nhà trường. Đồng chí Hải, Chính ủy Trung đoàn và đồng chí Quỳnh Chủ nhiệm Hậu cần gọi tôi lên phổ biến quyết định của cấp trên. Tuy nhiên theo ý kiến của trung đoàn, trung đoàn muốn giữ tôi lại vì tôi đã biết rất nhiều việc của trung đoàn, bây giờ bàn giao lại sẽ mất rất nhiều thời gian. Đồng chí Hải gợi ý: Trung đoàn đang rất cần cán bộ, nếu tôi đồng ý ở lại với trung đoàn, tôi sẽ được bố trí làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 44 vì cả ban chỉ huy tiểu đoàn đã hy sinh trong một trận bom B-52. Tôi không hề được đào tạo để chỉ huy tiểu đoàn xe tăng trong chiến đấu. Vì vậy tôi trả lòi, tôi làm sao có thể đảm nhiệm được chức vụ này. Đồng chí Quỳnh nói: "Anh không học nhưng anh sẽ làm được". Tôi nói quân hàm tôi chỉ có chuẩn úy, làm sao tôi làm được Tiểu đoàn trưởng xe tăng. Đồng chí Quỳnh nói: "Anh cứ nhận đi rồi anh sẽ có quân hàm". Tôi đồng ý ở lại với trung đoàn nhận bất cứ nhiệm vụ gì vì tôi đã gắn bó với trung đoàn trong những ngày rất gian khổ. Chỉ có một điều tôi vẫn muốn trở về trường để tiếp tục sự nghiệp khoa học của mình. Nhưng đến tháng 9 quyết định từ Bộ Quốc phòng vẫn đưa xuống, chúng tôi phải rời khỏi trung đoàn và trở về trường. Không một ai được ở lại. Tôi được đồng chí Hải và đồng chí Quỳnh gọi lên sở chỉ huy và thông báo quyết định phải trở về trường. Tôi sẽ phải chia tay trung đoàn, nơi tôi đã gắn bó trong những ngày rất khó khăn. Đồng chí Quỳnh nói với tôi: "Thôi cuộc đời là như thế... Tôi muốn đồng chí ở lại trung đoàn, nhưng cấp trên đã quyết định đồng chí phải trở lại trường. Chúng ta phải chia tay nhau. Nhưng chúng ta sẽ còn giữ lại những kỷ niệm tốt đẹp về nhau". Ra khỏi hầm chỉ huy tôi gặp đồng chí Hoạt, đồng chí Hoạt nói với tôi rằng: "Thôi anh hãy về trường đi, chúng em rất cần có anh. Mỗi khi có việc gì anh đều suy nghĩ, đều ra các mệnh lệnh để chúng em hoàn thành nhiệm vụ một cách nhanh chóng và hiệu quả. Nhưng cho đến bây giờ em vẫn không hiểu được vì sao anh vẫn còn sống". Sau khi biết rằng không thể giữ tôi ở lại trung đoàn, đồng chí Quỳnh đề nghị tôi làm những việc mà tôi phải giải quyết. Trước mắt là việc đưa 18 tấn dầu về trung đoàn. Tôi gọi điện cho đồng chí Tâm, Cụm trưởng Cụm 4 đề nghị đưa 18 tấn dầu về trung đoàn. Vị trí là kho xăng dầu của trung đoàn. Đồng chí Tâm đồng ý ngay. Để bảo đảm an toàn, đồng chí Quỳnh điều Đại đội công binh lên đào hào để cất chứa 18 tấn dầu. Ngay tối hôm đó, Cụm 4 cho xe chở về cho trung đoàn 18 tấn dầu. Đồng chí Quỳnh còn muốn tôi đưa về trung đoàn một vài téc xăng 2.500 lít. Nhưng tôi nói điều đó là không thể thực hiện được.


Tiêu đề: Re: Thử lửa
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Tám, 2020, 05:09:54 pm

        Chúng tôi chia tay trung đoàn và lên đường trở về Học viện Kỹ thuật quân sự. Tôi được thông báo tôi có quyết định được nhận Bằng khen của Trung đoàn 202. Chúng tôi rời khỏi trung đoàn và hành quân ra Bắc. Chúng tôi hành quân bộ và đi qua các trạm giao liên. Chúng tôi đến Cự Nẫm, Lệ Thủy và Đồng Hới. Đồng Hới lúc đó đã bị bom Mỹ san bằng, chỉ còn một cái nhà thờ. Những người dân vẫn ra đồng làm ruộng. Chúng tôi đến một nơi gọi là Phú Lộc. Làng Phú Lộc nằm cách Ba Dốc khoảng 2km. Ba Dốc là trọng điểm ném bom của máy bay Mỹ. Ba Dốc chỉ đơn thuần là ba cái dốc trên đường quốc lộ số 1. Nhưng để ngăn xe vận tải của ta, đêm nào Mỹ cũng ném bom vào Ba Dốc. Bom Mỹ ném vào Ba Dốc lại lạc vào làng Phú Lộc. Gần 2 phần 3 làng Phú Lộc đã bị hủy diệt. Dân làng không dám ở trên nhà. Họ dỡ nhà làm hầm. Những ngôi nhà cột gỗ lim đều bị dỡ bỏ để làm hầm. Những căn hầm thật kiên cố. Khi đến gần Phú Lộc, tôi nói với đồng chí Đình, trưởng đoàn của Học viện Kỹ thuật quân sự rằng ta không nên vào Phú Lộc, máy bay Mỹ thường xuyên ném bom và 2 phần 3 làng đã bị hủy diệt. Ta phải đi vào một nơi cách xa đường số 1 và trú quân. Đồng chí Đình nói với tôi: Dân sống được thì ta cũng sống được. Tôi không nói gì nữa. Chúng tôi đến làng Phú Lộc. Dân làng tiếp đón chúng tôi rất trọng thể. Vì vào thòi buổi chiến tranh ác liệt như thế lại có một đơn vị bộ đội vào làng và họ có cảm giác được chia sẻ những gian khổ nguy hiểm trong những ngày chiến tranh. Sau khi ăn chiều xong, các gia đình xuống các hầm để ngủ. Tôi và đồng chí Trợ, được bố trí ngủ trên một cái bệ thờ cao khoảng l,5m. Nửa đêm khi đang ngủ, đồng chí Trợ đánh thức tôi dậy và nói rằng: "Máy bay B-52 đang bay ra phía Bắc". Tôi nghe tiếng máy bay B-52 đang bay trên đầu. Nhưng bỗng dưng tôi nghe tiếng nổ ngay sau ánh chớp. Như vậy bom đã ở rất gần. Từ trên bệ thờ, tôi lăn xuống đất. Khi tôi lăn xuống đất, tôi cũng thấy đồng chí Trợ lăn xuống cạnh tôi. Từ trên cao gần l,5m mà lăn xuống đất là một việc khá nguy hiểm. Nhưng đó là phản xạ bình thường trong hoàn cảnh đó. Sau 3 loạt bom B-52, từ trong hầm, cả gia đình thức dậy và gọi chúng tôi: Các anh bộ đội ơi, các anh có còn sống không? Tôi trả lòi: Chúng tôi vẫn còn sống!

        Cả gia đình đưa chúng tôi xuống hầm ngủ. Trong nhà có cả bà già, con gái và trẻ thơ, nhưng có lẽ không có gì hơn sự sống, họ đưa chúng tôi xuống hầm cho đến ngày hôm sau, chúng tôi lại tiếp tục lên đường.

        Đến Hà Tĩnh, đó là quê hương tôi, nhưng tôi lại không thuộc địa hình, vì tôi sinh ra và lớn lên ở Đà Lạt, tập kết ra miền Bắc, tôi lại học ở trường học sinh miền Nam, không mấy khi được sông ở quê. Tôi đi trên con đường đê, tôi mường tượng hầu như có lần về thăm quê, tôi đã đi qua nơi này nhưng tôi không thể nhớ. Cuối cùng chúng tôi đến trạm giao liên xã Đức Trường, huyện Đức Thọ. Chúng tôi đã ở khá xa chiến trường, nhưng nơi đây cũng không hề bình yên. Trên trời vẫn một chiếc máy bay F-4 bay lượn, nhòm ngó. Hai chiếc máy bay cường kích đang ném bom vào một mục tiêu nào đó rất gần trạm giao liên. Có lần đang bay, nó làm động tác bổ nhào làm chúng tôi có cảm giác là nó sắp ném bom vào trạm giao liên. Đây là hậu phương nhưng trong cuộc chiến tranh này, hậu phương và chiến trường đều ác liệt cả. Qua một đêm ngủ, tôi nhận ra rằng đây là một trọng điểm mà bất cứ lúc nào máy bay Mỹ cũng có thể tập kích. Bên trong Đức Trường là một trạm giao liên, dưới sông là bến đò giao liên, cạnh đó là một cây cầu đang làm dở, tôi nói với đồng chí Đình. Sau khi ăn sáng xong chúng ta phải rời khỏi đây.

        Anh Đình nói với tôi: Hôm nay ông làm sao thế?

        Tôi nói không làm sao cả, hôm nay ăn sớm xong các anh phải ròi khỏi nơi đây. Bằng thái độ rất gay gắt, tôi đã làm cho các anh phải rời Đức Trường. Ra khỏi làng khoảng 200m. Máy bay Mỹ đến và bất ngờ ném bom. Đó là 2 chiếc máy bay rất lớn. Mỗi lần chúng có thể ném 12 quả bom. Máy bay bổ nhào xuống làng.

        Toàn bộ đoàn cán bộ kỹ thuật, nằm sát xuống mặt ruộng. Chỉ sau 4 lượt bổ nhào, mỗi chiếc ném 24 quả bom: Khói bụi trong làng bôc lên nghi ngút. Chúng tôi còn nhìn thấy những cột nước từ dưới sông bốc lên. Kết thúc đợt ném bom, chúng tôi tiếp tục hành quân. Đến Nam Đàn chúng tôi nhận được tin cuộc ném bom vừa rồi của máy bay Mỹ vào Đức Trường đã làm 110 người chết. Đồng chí Đình nói với tôi tại sao ông lại biết việc này, có lẽ ông phải là gián điệp Mỹ. Tôi không là gián điệp, nhưng không hiểu vì sao tôi có cảm giác rằng Đức Trường sẽ bị đánh. Chúng tôi đã thoát khỏi trận bom nhò một thứ gì đó người ta gọi là linh cảm.

        Chặng hành trình của chúng tôi ra Bắc không có gì khó khăn, chúng tôi đi qua Thanh Hóa rồi đến ga Nam Định. Chúng tôi lên tàu và lại gặp một trận ném bom nữa của địch nhưng chúng tôi vẫn bình an. Về đến ga Hà Nội, địa chỉ đầu tiên mà tôi đến là nhà dì Minh. Dì Minh là em ruột mẹ tôi, nhà dì ở số 77A đường Trần Hưng Đạo. Đến nhà dì Minh, tôi đeo một khẩu súng AR15 và một khẩu súng ngắn. Khẩu AR15 là tặng phẩm của Trung đoàn 202 gửi cho nhà trường làm kỷ niệm. Tôi được dì và các em tiếp đón rất nồng nhiệt vì là một người lính mới từ chiến trường Quảng Trị trở về. Tôi đã ở giữa lòng Hà Nội, lại được đi trên những đường phố thân thuộc của Thủ đô, nhưng Hà Nội cũng đã không còn bình yên nữa. Tháng 12 năm 1972, trời đã bắt đầu lạnh, những đường phố thưa vắng bóng người vì rất nhiều người đã được lệnh sơ tán. Mỹ đã quay lại đánh phá miền Bắc rất ác liệt, cảng Hải Phòng đã bị phong tỏa. Nhiều thành phố lớn, nhiều nhà ga, bến cảng, cầu đường sắt, đường bộ và cả những khu dân cư trên khắp miền Bắc bị đánh phá. Hà Nội vẫn đang sẵn sàng chuẩn bị cho những trận chiến đấu một mất một còn với không quân Mỹ. Tôi được ở Hà Nội một tuần và sau đó sẽ lên đường trở lại trường. Tròn một năm đã trôi qua, một cuộc hành trình khá dài, gian khổ đã kết thúc. Đó là thử thách đầu tiên của một sĩ quan mới ra trường.


Tiêu đề: Re: Thử lửa
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Tám, 2020, 05:11:37 pm
   
ĐÔI ĐỀU VỀ TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM

        Tôi thật sự vinh dự và cảm ơn tác giả cuốn  sách này cùng Thiếu tướng Nguyễn Quỳ, nguyên là Giám đốc Học viện Kỹ thuật quân sự đã gợi ý tôi viết "Đôi điều về tác giả và tác phẩm".

        Đầu năm 2011, để chuẩn bị cho lễ kỷ niệm 45 năm thành lập Học viện, theo lời đề nghị của Học viện, tôi viết hồi ký, mặt khác tôi liên hệ qua điện thoại tới những cán bộ, giáo viên, học viên đã từng gắn bó với tôi nhiều năm ở Khoa Cơ điện mà tôi là Chủ nhiệm khoa..., động viên, khuyên khích anh em viết hồi ký. Tôi tin tưởng rằng những kỷ niệm sâu sắc của họ sẽ là những viên gạch quý giá, xây đắp truyền thông của Học viện.

        Trong số anh em mà tôi gửi gắm lòng tin có anh Nghiêm Sỹ Chúng, một học viên khoá 1 đào tạo mà ngay buổi gặp đầu tiên tôi đã có ấn tượng tốt. Đó là khoảng tháng 10 năm 1966, trong buổi họp mặt các học viên mới tựu trường, chúng tôi gồm anh Lê Văn Chiểu, lúc đó là Hiệu phó phân hiệu và tôi giới thiệu với học viên nhiệm vụ nhà trường và những nét chính về quá trình học tập đào tạo. Sau mấy ngày tiếp xúc với học viên, tôi đã ít nhiều nắm được tâm tư anh em, nói chung anh em phấn khởi nhưng cũng ít người thích học ngành vũ khí, một ngành học rất đặc trưng và rất quan trọng của Trường Đại học Kỹ thuật quân sự. Vì vậy, tôi có đặt câu hỏi "Ai tình nguyện học ngành vũ khí?". Trong khoảnh khắc im lặng, anh Chúng giơ tay và nói: "Thưa Thủ trưởng, tôi xin tình nguyện". Rất mừng trước thái độ của anh Chúng, tôi biểu dương tinh thần đó và tất nhiên, sau này tôi quan tâm đến thành viên này trong quá trình đào tạo. Đúng như dự đoán, anh Chúng là một học viên học giỏi và là một trong những người tích cực trong các hoạt động khác, cuối khoá đã tốt nghiệp loại "giỏi" và được giữ lại làm giáo viên. Sau một số năm công tác tại trường, anh được điều động về đơn vị và rất mừng là anh đã tỏ rõ bản lĩnh của mình, nên nhanh chóng được đề bạt từ cán bộ cơ sở, sau này là Cục trưởng Cục Kỹ thuật Quân khu 1 rồi Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật với quân hàm Thiếu tướng. Khi khuyên khích anh viết hồi ký, tôi cũng chưa được biết tường tận về những thành tích cụ thể, mà chỉ biết cả quá trình anh là một người tiêu biểu trong hàng ngũ các cán bộ giỏi.

        Đến khi nhận được bản thảo hồi ký lần đầu, tôi thật mừng là anh đã được Ban Tuyên huấn Học viện chấm giải nhất. Tôi gọi điện chúc mừng anh và nói "Sẽ thật vô cùng tiếc nếu anh không viết hồi ký này" và động viên anh nên viết bổ sung thêm những dấu ấn của mình trong cả sự nghiệp. Kết quả tác phẩm của anh đã được Nhà xuất bản Quân đội nhân dân xét duyệt, in thành sách. Chúc mừng anh, tôi có nói: Anh xứng đáng là một vị tướng. Trong sự nghiệp của mình anh không có nhiều cơ may, nhưng anh đã có những thành công.

        Cuốn hồi ký không chỉ là một "viên gạch" mà là một viên ngọc quý tô điểm cho truyền thống của Học viện. Những hình ảnh được kể lại trong cuốn sách đã nói lên bản lĩnh, đạo đức của một thanh niên xuất thân từ một gia đình có truyền thống cách mạng, bố mẹ đều thoát ly đi tham gia cứu nước, được nuôi dưỡng bởi một người mẹ miền Nam có lòng yêu nước điển hình cho xã hội Việt Nam thòi kỳ đó, và từ nhà trường ra chiến trường đã lớn lên, dũng cảm vượt qua những thử thách của chiến tranh,v.v. Vì vậy tôi nghĩ, cuốn sách không chỉ hữu ích với các học viện, các thành viên tình nguyện vào học các trường quân đội, mà cũng rất xứng đáng được xếp vào những tác phẩm, những hồi ký về cuộc chiến tranh yêu nước vĩ đại của dân tộc ta.

        Nó cũng không chỉ hữu ích trong việc giáo dục thanh niên các thế hệ sau mà còn hữu ích đối với những người lãnh đạo, những cán bộ, giáo viên làm công tác đào tạo trong quân đội cũng như ngoài nhà nước. Vói riêng tôi, một mặt tự hào là Học viện đã đào tạo được những cán bộ tốt, nhưng mặt khác cũng thấy có trách nhiệm nhìn nhận những thiếu sót mà tôi nghĩ là thiếu sót chung của ngành giáo dục nước ta hiện nay là chương trình đào tạo còn nặng về lý thuyết, nhẹ về thực hành đã dẫn đến cho người học viên khi ra trường gặp những tình huống rất trớ trêu. Chương trình học còn quá nặng về học sách, học chữ. Trong khi ta luôn yêu cầu đào tạo "con người toàn diện" thì những điều kiện cụ thể trong sinh hoạt, rèn luyện, việc bố trí thời gian hợp lý, xen kẽ, kết hợp với những phương pháp đúng đắn, sát với thực tế cuộc sống đế rèn luyện ý thức tổ chức, kỷ luật, bản lĩnh điều hành, chỉ huy và đặc biệt là tác phong quân sự đối với người học viên sĩ quan, tác phong công nghiệp đối với người kỹ sư dân dụng... lại còn rất chung chung.

        Với những ý nghĩ trên, tôi nghĩ cuốn sách này đáng được trân trọng và hy vọng mọi người sẽ có cùng những cảm nghĩ như thế.

Đại tá LÊ PHƯƠNG CẢO                        
Nguyên Phó Giám đốcHọc viện Kỹ thuật Quân sự        

MỤC LỤC

        -   Lời giới thiệu.
        -   Lời của tác giả.
        -   Từ nhà trường ra chiến trường.
        -   Khúc dạo đầu bi tráng.
        -   Những câu chuyện của sĩ quan mới ra trường.
        -   Trở lại nhà trường.
        -   Đôi điều về tác giả và tác phẩm.

HẾT