Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Văn học chiến tranh => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 07 Tháng Bảy, 2020, 10:52:54 am



Tiêu đề: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Bảy, 2020, 10:52:54 am
        
        - Tên sách : Đường hầm Ôđetxa Tập 1+2

        - Tác giả : Valentin Kataep
                        Trần Lê Huy, Thương Thục, Hoài Dân dịch

        - Nhà xuất bản Văn học

        - Năm xuất bản : 1968

        Dịch theo bản dịch Pháp văn LES CATACOMBES D'ODESSA của Esfir Berstein và Olga Wormsber — (Nhà xuất bản Ngoại văn Mạc-tư-khoa — Nhà xuất Editeurs Franẹaís Réunis — Paris)


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Bảy, 2020, 08:05:14 am

       
LỜI GIỚI THIỆU

        Đường hầm Ôđetxa của Valentin Kataep1 cho, ta một khái niệm về chiến tranh nhân dân ở Liên-xô và chứng minh qui luật chiến tranh nhân dân nhất định thắng lợi.

        Ôđetxa là một thành phố cảng lớn của Liên-xô, nằm trên bờ Hắc-hảỉ, có truyền thống lâu đời chống ngoại xâm, đã từng chứng kiến cuộc thất trận thảm hại của quân Thổ-nhĩ-kỳ, cũng như đã từng đập vỡ cuộc can thiệp của mười bốn nước đế quốc vào nước Nga Xô-viết sau Cách mạng thảng Mười.

        Trong lòng đất dưới thành phố và miền phụ cận, có một hệ thống hầm, hào chằng chịt, có từ lâu đời, tạo nên cả một thành phố ngầm với hàng trăm ngàn đường, ngõ ngoắt ngoéo, được mệnh danh là những hầm mộ ở Ôđetxa. Hệ thống hầm ngầm ấy đã từng được sử dụng trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, đã từng là cơ sở bí mật của các chiến sĩ bônsêvich hồi Cách mạng tháng Mười. Đến chiến tranh thế giới lần thứ hai, trước khi đội thiết giáp Đức tiến vào thành phố, những hầm mộ ấy lại trở thành những căn cứ vững chắc của các đội du kích, các đội công tác bí mật, các cơ quan kháng chiến nằm trong lòng địch để bám đất, bám dân.

        Bọn phát-xít chiếm đóng có biết điều ấy không? Biết. Nhưng không phải bất kỳ lúc nào chúng cũng dám sục xuống cái mê hồn trận ấy. Những tên liều mạng đã phải trả bằng một giá rất đắt vì nhưng quả mìn tự động, vì những tràng đạn rất chính xác từ các ngóc ngách tối om bắn ra. Những vòm hầm đổ ụp xuống làm hàng đơn vị địch bị tan xác, thậm chí những đống xác chết chồng chất của chính bọn chúng cũng tạo nên những vật chưởng ngại vít hẳn đường vào. Bọn phát xít dùng đủ mọi cách, đại bác, bom, mìn, hơi độc, chẹn kín các cửa lên, xuống... Nhưng kết quả không hoàn toàn như ý đồ đen tối của chúng. Trong suốt thời kỳ phát-xít chiếm đóng, đội công tác bí mật của Secnôivanenkô, cũng như bao nhiêu đội khác, vẫn tồn tại và phát triền, vẫn phá hoại có kết quả trong lòng địch, vẫn đánh cho địch những đòn ác liệt làm cho chúng điên cuồng lồng lộn, ăn không ngon ngủ không yên. Họ vẫn nắm được nhân dân và gắn bó với nhân dân, vẫn đem được luồng sinh khí của Đảng đến thối cao ngọn lửa căm thù, chiến đấu trong lòng nhân dân.

        Những ai đã nhảy vào cuộc vật lộn gay go, dai dẳng trong lòng dịch như vậy ?

        Đó là Secnôivanenkô, một cản bộ Đảng lãnh đạo trực tiếp đội công tác bí mật, người chỉ huy rất sảng suốt, kiên quyết, không khoan nhượng với địch, đồng thời yêu thương đồng đội một cách sâu sắc.

        Đó là bác công nhân già Xiniskin Jêleznư, con người « bằng sắt », tuy mắc bệnh lao phổi nhưng có một ý chí chiến đấu không gì lay chuyển nổi.

        Đó là Kôletnisuc, một cán bộ ngoài Đảng, sẵn sàng chiến đấu hy sinh dưới ngọn cờ của Đảng, cùng vợ là Raitxa Lvôpna, một phụ nữ gốc Do-thái, muốn ở bên chồng để chia sẽ nỗi gian nguy.

        Đó là bà Matriôna Têrenchiepna, vợ người chủ tịch một ngư trang tập thể ở vùng phụ cận thành phố, một phụ nữ rất kiên cường, sôi nổi.

        Đó là đại úy Hồng quân Drujinin với những hoạt động táo bạo và tinh thần bất khuất đáng kính.

        Đó là anh thanh niên dũng cảm và rất yêu đời Xviatôxlap.

        Đó là Batsây trầm tĩnh, từ Mạc-tư-khoa xuống, ngẫu nhiên tham gia và tham gia kiên trì vào cuộc chiến đấu trong mấy năm ròng rã.

        Đó là nhà tri thức Xêrêđôpxki khảng khái nhất định không chịu cộng tác với quân thù.

        Đó là các em thiếu niên tiền phong Pêchya và Valentin. Các em đã góp phần không nhỏ vào việc tết vòng hoa chiến thắng cho thành phố Ôdetxa thân yêu.

        Tinh chất nhân dân trong cuộc chiến tranh giữ nước của Liên-xô là như vậy. Nhiều người đã hy sinh. Những «hầm mộ» từ bao đời đã trở thành hầm mộ thực sự của những người con bỏ mình vì sự nghiệp vinh quang bảo vệ đất nước xô-viết. Khó khăn gian khổ, nhưng họ vẫn giữ vững một niềm tin tưởng lạ lùng ở chiến thắng. Những ngày cuối cùng ở dưới hầm mộ, nhóm của Secnôivanenkô bị lạc trong cái mê hồn cung trăm ngàn ngõ ngách ấy, họ không tìm được lối lên mặt đất trong khi bi-dông của họ chỉ còn một giọt dầu cuối cùng. Họ đã kiệt sức, hấp hối trong cơn khát, nhưng vẫn tin là «không thể chết được». Chúng ta hãy nghe Secnôivanenkô truyền niềm tin tưởng say sưa đó cho người bạn chiến đấu Batsây trong hoàn cảnh nguy nan: « Chúng ta sẽ tiêu diệt được bọn chúng, vì chúng ta làm một cuộc chiến tranh chính nghĩa, một cuộc chiến tranh nhân dân, một cuộc chiến tranh kiều mới. Một cuộc chiến tranh vì tương lai của tất cả nhân loại cần lao, một cuộc chiến tranh vì chủ nghĩa cộng sản!».

        Cuộc chiến tranh nhân dân đã tôi luyện cho họ một nhân sinh quan cách mạng chân chính, một tình đoàn kết sâu sắc, một tinh thần dũng cảm đầy sáng tạo và một lòng tin tưởng vô bờ bến. Đó là những nền tảng không thể thiếu được của chiến thắng.

-------------------------
        1. Valentin Kataep, sinh ngày 28-2-1897 ở Ôđetxa. Xem tiểu sử tác giả trong Lời giới thiệu cuốn Cảnh buồm trắng — Nhà xuất bản Văn học — 1967. Cuốn Đường hầm Ôđetxa xuất bản ở Liên-xô năm 1948, và năm 1951 đã được sửa chữa thêm.

Valentin Kataep


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Bảy, 2020, 03:56:20 am

       
*

        Valentin Kataep có một phong cách nghệ thuật độc đáo khi thể hiện chủ đề của mình. Trước hết là vấn đề nhân vật. Trong các tác phẩm của ông, các em thiếu niên thường đóng một vai trò quan trọng. Một nhà phê bình văn học viết: «Trong tâm hồn nhà văn Kataep, vẫn còn một thằng bé ẩn náu ở đâu đó !» Đúng. Lần này, «thằng bé» đáng yêu đó lại xuất hiện và hoạt động dưới hình dạng của chú thiếu niên tiền phong Pêchya Batsây với nhiệm vụ mở đầu và kết thúc cuốn sách. Trong suốt câu chuyện chú bé không phải chỉ là người chứng kiến thời đại mà còn là một thủy thủ trên con tàu thời đại. Hành động tham gia chiến đấu đầu tiên của chú bẻ là nhận lá cờ đẫm máu của một chiến hạm Liên-xô từ tay anh thủy binh hấp hối Lavrôp. Tác giả đã miêu tả một cách lý thú sự diễn biến tâm lý của chú bé, từ trạng thái rụt rè sự hãi chuyển sang thái độ can đảm, hăng say. Tâm hồn lãng mạn cách mạng của tuổi thiếu niên được miêu tả rất đúng qua cử chỉ giơ tay tuyên thệ trước xác anh thủy thủ Hồng quân. Lá cờ thiêng liêng được cất giấu giữa đêm đoàn xe tăng phát-xít tiến vào chiếm đóng Ôđetxa. Từ đó Pêchya đi vào cuộc chiến đấu, cùng chia nỗi vui, buồn, gian khổ với các bạn đồng đội vào tuổi cha, chú. Cuốn truyện chấm dứt bằng cuộc « khải hoàn » của chú bé từ thành phố Ôđetxa giải phóng trở về Mạc-tư-khoa, với tấm huân chương chiến công chói lòa trên ngực bộ quân phục nhỏ bẻ. Chú đã giữ đúng lời thề của thiếu niên tiền phong hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu cuối cùng khi tìm ra và trao lá cờ nói trên cho bộ tư lệnh Hồng quân.

        Tác giả gắn vào hình tượng thiếu niên tất cả tấm lòng ưu ái và tin tưởng, quí trọng lớp măng non tương lai của đất nước. Trong truyện, chúng ta gặp lại nhiều nhân vật trong các tác phẩm trước của ông. Hai chú bé Pêchya và Gavrick trong Cành buồm trắng tham gia sôi nổi vào làn sóng Cách mạng từ đầu thế kỷ đã trở nên bác Batsây rất trung thành và đồng chí Secnôivanenkô giàu nghị lực. Thế là lớp trước trưởng thành, lớp sau bước tiếp. Niềm hy vọng nồng nhiệt, thiết tha của thế hệ trước gửi lại thế hệ sau được gói ghém trong bức thư của Đrujinin trước giờ bị hành quyết, ghi trên bức tường của ngục tối gửi cho con gái yêu quí của minh. Sức sống của chủ nghĩa xã hội, của Tổ quốc xô-viết thực là bất diệt.

        Tuy cấu trúc và nội dung tác phẩm dành cho tuổi trẻ một địa vị quan trọng, nhưng tác phẩm của ông không phải chỉ viết riêng cho thiếu niên. Pêchya cũng như Valentin đều không phải là nhân vật chính. Nhân vật chính là cả một tập thể chiến đấu. Tâm hồn, ý chí, cảm nghĩ của mỗi người được ngòi bút sắc sảo của Kataep phân tích tỉ mỉ, đúc thành những dạng điển hình.

        Tác phẩm ông không phải chỉ có con người bàng bạc trong thời gian và không gian rộng rãi, ta luôn thấy hình ảnh thành phố quê hương thân yêu của ông, với đường phố, lâu đài, bến cảng, cầu tàu, cần trục, bờ dốc đứng, thảo nguyên... khi ẩn khi hiện, với tất cả buồn, vui, thương, giận. Không phải chỉ có con người xô-viết đánh giặc mà cả thiên nhiên xô-viết cũng vùng lên, tiêu diệt bọn cướp nước hung tàn.

        Phong cách sáng sủa, cách bố cục chặt chẽ, chia chương ngắn gọn, khiến câu chuyện tuy dài mà vẫn dễ theo dõi, tiếp thu

       
*

        Đường hầm Ôđetxa đến với chúng ta giữa lúc cả nước ta đang quyết liệt tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân chống Mỹ, cứu nước.

        Những hầm ngầm chiến đấu nổi tiếng của thành phố Ôdetxa khiến chúng ta liên tưởng đến hệ thống địa đạo vô cùng vĩ đại của đồng bào miền Nam đánh giặc. Tất nhiên hoàn cảnh lịch sử, địa lý mỗi nơi mỗi khác, phương thức chiến đấu cũng không hẳn giống nhau, nhưng có một cạnh khía có thể cung cấp cho chúng ta nhiều suy nghĩ bổ ích. Ấy là vấn đề con người trong chiến tranh nhân dân.

        Con người được giác ngộ sâu sắc, được lãnh đạo tốt, được tổ chức tốt, nhất định sẽ làm nên những sự nghiệp thần kỳ.

        Với ý nghĩ ấy, chúng tôi trân trọng giới thiệu với bạn đọc Đường hầm Ôđetxa.

Hà-nội, 16-3-1967       
LÊ HUY               


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Bảy, 2020, 03:58:59 am
     

TẬP I


PHẦN THỨ NHẤT

1

        Đó là giấc mơ thầm kín từ lâu lắm của Pêchya: đi du lịch tav đôi một chuyến. Phải, đúng thế, đi tay đôi, không có mẹ, không có bọn con gái. Chỉ chú và bố chú thôi, không ai khác nữa. Thế mới thật là tuyệt. Vào một ngày hè đẹp trời, hai con người can tràng và không lệ thuộc vào ai, một bố một con, sẽ khoác ba-lô, tay cầm gậy, giang hồ bốn phương một chujến. Đi đường, họ chỉ đem theo những thứ tối cần thiết: cái nồi phải có để bắc lên đống lửa củi thổi bữa ăn xoàng, một túi con bột lúa mạch, một ít muối, đường, cái ấm, bao diêm, kim chỉ, có thể là hai bánh sô-cô-la, hay ba bốn bánh càng tốt, tất nhiên không phải vì sô-cô-la ngon, mà vì có giá trị ở chỗ có nhiều ca-lo. Thế là đủ. Hai nhà du lịch dày dạn, quen với một cuộc sống gian khổ, màn trời chiếu đất, đầy nguy hiểm và thiếu thốn, thì còn cần gì hơn thế nữa? Không cần chăn, không cần gối. Đêm ngủ đắp áo mưa của bố, đầu gối lên ba-lô. Thế đã là tốt lắm rồi, nhất là lại còn phải thay phiên nhau mà ngủ : một người ngủ, trong khi người kia đứng gác ở cửa hang. Tất nhiên phải đem theo khẩu súng và đồ lề câu cá. Về đồ câu thì dễ, nhưng về khoản vũ khí — và đây là điểm xuất phát của những sự bất đồng nghiêm trọng — thì bố chú bảo chỉ cần một con dao xếp thật tốt là đủ. Pêchya cứ nằng nặc đòi phải mang theo một khẩu súng trường, ít nhất cũng một khẩu súng lục.

        — Không, — bố chú nói — súng chỉ tổ nặng vô ích. Không mang súng.

        — Thì súng lục vậy — Pêchya nói.

        — Súng lục để làm gì?

        — Nhưng súng lục không có thì rồi ra sao ? — Pêchya gần như kêu lên, giọng nói oang oang xúc động của chú làm cả nhà váng tai. — Chúng bò đến tận chỗ ta, và lúc đó ta sẽ giơ súng... pằng, pằng, pằng, pằng!

        — Khoan đã, ông tướng, khoan đã..., — ông bố ngắt lời chú, và thấy Pêchya kêu ầm lên như thế, ông cau mày — Nhưng cái gì sẽ bò tới chỗ ta mới được chứ ?

        Câu hỏi ấy, mỗi năm Pêchya lại đáp lại một khác. Năm lên sáu, chú trả lời, nét mặt sầm xuống :

        — Thú dữ!

        Năm tám chín tuổi thì chú thốt lên :

        — Địch!

        Và lần nào cũng thế, bố chú cũng mỉm một nụ cười hoài nghi, trả lời:

        — Con thử ngẫm mà xem, có địch nào hay thú dữ nào ở cái vùng Ôđetxa được? Không có bóng đáng một con thú dữ nào ở đó đâu.

        — Được, — Pêchya nói — nhưng ngộ nhỡ nó xuất hiện thì sao?

        —Nó sẽ không xuất hiện.

        —Thế nhỡ nó cứ xuất hiện? — chú khăng khăng nhắc lại, say sưa nhấn vào tiếng « cứ ».

        Những buổi chuyện trò kiêu như vậy diễn ra vào mùa đông, trong những buổi tối hiếm hoi có bố chú ở nhà. Cả nhà nghe mãi đã quen, và khi nó diễn ra vào lúc ngồi uống trà thì Jênva, em gái của Pêchya, bé hơn chú hai tuổi, lại khinh bỉ nhún vai, bắt chước mẹ nói hệt như người lớn:

        — Đấy, mấy ông tướng nhà ta lại sắp đi du lịch rồi đấy ! — Và cái chót mũi đầy nốt tàn hương của nó nhăn lại với một vẻ bỉ báng.

        — Im mồm đi, ranh! — Pêchya cau cảu nói, và tỳ hẳn ngực lên bàn, chú tiếp tực ghi bằng bút chì lên một tờ giấy xẻ ở cuốn vở số học bản kê những thứ càn phài mang đi: «Dao săn, 1, bàn chải răng, 2, ấm đun nước, 1...».

        Trong khi đó, bà mẹ hết nhìn bố lại nhìn con, rồi cắn môi mỉm một nụ cười chế giễu và buồn buồn.

        Chỉ mới nghĩ đến chuyện con trai bà rồi ra có thể ngủ đêm ở một nơi nào đó cách xa bà hàng nghìn cây số, bên đống lửa, trên thảo nguyên, nằm dưới đất, đầu gối ba-lô, là bà đã thấy ruột gan rối bời. Vậy mà tất cả những cái đó chỉ là chuyện nói chơi và thằng con nhỏ của bà sẽ chẳng đi đâu cả. Tuy vậy, nhờ cải bản năng làm mẹ không bao giờ nhầm, trong thâm tâm bà biết những chuyên đó sẽ có ngày xảy ra. Và bà bồi hồi lo sợ, muốn khóc. Nhưng bà đã kìm lại được và chỉ cắn môi nửa khóc nửa cười, nhắc lại :

        — Được, được, càng hay! Cứ đi đi, tôi đã có thể hình dung thấy trước bộ dạng của hai bố con khi trở về...

        — Dễ mình tưởng hai bố con tôi nói đùa đấy hẳn, —  bố chú làm ra vẻ rầu rầu, nói — này, mình cứ yên trí là hai bố con tôi không nói đùa đâu. Pêchya, có đúng thế không, con ?

        — Đúng thế đấy, không nói đùa đâu — Pêchya nói.

        — Được, tốt lắm, — mẹ chú nói — Cứ đi đi! Ai giữ. Nhưng Pêchya ạ, con hãy nhớ rằng con mà đi thì sẽ không còn là con của mẹ nữa. Mẹ không cần gì có một đứa con bỏ mẹ đi lang thang.

        — Không, con vẫn cứ là con của mẹ! — Pêchya cãi, đôi mày mỗi lúc một cau lại — Con sẽ đi du lịch với bố, những con vẫn là con mẹ.

        — Dứt khoát rồi đấy! — Bố chú thốt lên — Hè này bố sẽ nghĩ phép và hai bố con ta sẽ đi về hướng Ôđetxa!

        Mẹ chú mỉm cười, và cười ra tiếng nữa là khác, bà cố xoay tất cả mọi chuyện ra thành trò đùa.

        Hè tới, và người ta quên bẵng chuyện du lịch đi. Pêchya buồn rười rượi, cùng với mẹ, bà và mấy đứa em gái về quê nghỉ mát, ở đó cứ chủ nhật là bố chú lại rời Mạc-tư-khoa về thăm. Nhưng, thực ra mà nói, vùng nông thôn gần Mạc-tư-khoa cũng tuyệt lắm. Trại hè thiếu nhi năm ngoái chú được đi cũng không phải xoàng. Nó cũng có đôi chút giống như cuộc du lịch mà Pêchya vẫn cùng với bố mơ ước một cách say sưa. Đám thiếu nhi cũng ngủ đêm trong lều, cũng quấy bánh đúc ngỏ trên lửa trại, cũng lấy lá thuốc, cũng trông sao tìm hướng và, một lần, còn bắt được cả một chú sóc nữa. Nhưng dầu sao, như thế vẫn chưa phải, chưa phải một tý nào là « cái ấy» cả...

        Cuộc du lịch chỉ có trong tưởng tượng đã hoàn toàn xâm chiếm tâm hồn chú bé. Như tất cả những mơ ước dai dẳng kéo dài hết năm này sang năm khác, giấc mơ ấy đối với chú đã trở thành một cuộc sống thứ hai. Trong cuộc sống thứ hai này chỉ có hai người: Pêchya và bố chú. Hai người cứ cuốc bộ đi, đi mãi, ba-lô trên vai, con thì bé nhỏ, bố thì cao lớn, lực lưỡng khỏe mạnh, cả hai đều là những con người kiêu hãnh, đơn độc, sống giữa thiên nhiên tuyệt diệu ! Đẳng xa kia là biển cả, là thảo nguyên mà Pêchya chưa bao giờ được thực mắt trông thấy, nhưng đã từng bao lần nhìn thấy trong mơ. Trong các giấc mơ ấy, biển cả là một cái hồ rất xanh, không to lắm, hình dáng rất đặc biệt, với những bờ khúc khuỷu, màu xanh nhạt, với hai chữ « Hắc-hải » in thành hình cánh cung trên mặt nước bỏng như đảnh si của nó. Còn thảo nguyên là một bãi sa mạc màu vàng, lác đác có những bụi cỏ cứng đờ, những tảng núi đá xếp thành tầng thành lớp. Chú bé cùng với người cha cao lớn, nhanh nhẹn tiến bước, không sợ hãi, trên cái biển Hắc-hải xanh lè kia, trên những núi đá màu vàng kia có những con sư tử đang phủ phục nẳm nghỉ ở trong, và gắn liền một cách thần diệu vào tất cả những cái đó là chữ « Ôdetxa ».

        Từ lâu lắm, Pêchya thấy đâu như từ ngày xửa ngày xưa, bố chú đã rời Ôđetxa về ở Mạc-tư-khoa. Ông là một dân Mạc-tư-khoa « kỳ cựu ». Nhưng lòng ông vẫn ôm giấc mộng được về sống một thời gian ở quê nhà. Thường thường giấc mơ đó chỉ âm ỉ. Tuy vậy, đôi lúc nó bất thấn dấy lên, bùng bùng mãnh liệt khác thường. Thông thường, chuyện đó xảy ra khi bác Kôletnisuc, một người bạn thuở nhỏ của bố, xuất hiện — lần nào cũng xuất hiện bất ngờ — đến ở chơi nhà vài ba hôm.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Bảy, 2020, 04:00:50 am

       
2

        Kòletnisuc là kế toán trưởng chi nhánh Ôđetxa của công ty Glapsai1. Với bộ mặt nhăn nheo và đôi mi mắt hùm hụp, trông bác không còn trẻ trung gì nữa. Bộ quần ảo mới bác vừa sắm tại cửa hàng may mặc chẳng lấy gì làm vừa lắm; một chiếc cà-vạt Ukren hẹp khổ, đôi giày « dôn » mới tinh, một cái cặp to tướng đã tàng tàng mà Pêchya biết là chứa đầy những « thống kê » bí hiểm và những bản báo cáo hàng năm, những cử chỉ đột ngột, ngập ngừng của bác, một chiếc áo mưa mới tinh nhưng loại xoàng làm cả nhà sực một mùi cao-su : tất cả những cái đó vẽ nên bức chân dung của Kôletnisuc, một đồng chí tỉnh nhỏ « đi công tác ». Bác ở Mạc-tư-khoa cả thảy chỉ năm ngày rồi lại trở về Ôđetxa. Nhưng cuộc ghé thăm của bác đã đem đến cho cuộc sống gia đình Batsây biết bao nhiêu lủng củng.

        Do tính ngại phiền, bác nhất định không chịu nằm ngủ trên tắm đi-văng bố chú nhường cho bác. Thế là phải thu xếp cho bác một chỗ nằm ở ngay sàn cái buồng ăn chật chội. Vẫn do tinh ngại phiền, bác từ chối không mượn chăn, và chỉ đắp áo mưa. Bác lấy cái cặp làm gối. Bác tìm mọi cách tránh bữa ăn. Cả nhà cứ chờ. Còn vắng mặt bác thì gia đình còn chưa ăn. Mọi người cứ đi vơ vơ vẩn vẩn trong nhà, bụng đói meo. Còn bác thì, bất thình lình, hai giờ sau mới dẫn thân về, hai tay ngập ngừng xoa xoa vào nhau, và tuyên bố là đã ăn qua quýt cho xong ở trên cơ quan rồi, điều đó ai cũng thừa biết là bác nói dối.

        Bác có tật hút thuốc lá đêm. Ấy thế là trong cái tịch mịch đêm khuya, nghe có tiếng giày vải rón rén. Trong bóng tối, có ai va vào đồ đạc, ghế đổ loảng xoảng, mặc dầu  người đó đã hết sức thận trọng. Đó là bác Kôletnisuc ngại phiền, sợ làm rày gia đình Batsây vì khói thuốc lá của mình, đã mò mẫm vào nhà tắm làm một điếu. Rồi nghe thấy tiếng ho khe khẽ, cố nén của con người nghiện ngập, tiếng bàn chải đánh răng và hộp xà-phòng va rơi lạch cạch, và một mùi kỳ quặc của len chảy tỏa ra : số là ông khách hút một loại thuốc lá đặc biệt, mua tại một chi nhánh của cửa hàng ở ngoại ô Ôđetxa, thuốc ấy bác tự tay thái lấy và lấy làm hãnh diện lắm. Đôi khi Kôlelnisuc mang từ Ôđetxa đến làm quà nào cá nướng, nào phó-mát cừu đựng trong một cái bình và độ chục quả cà tím mà bác âu yếm gọi là « thỉ xa cúc » theo lối gọi của miền Nam. Bố chú sướng mê, bảo đó là món ăn ngon nhất trần đời, là thức ăn của thần tiên! Quả thực, món cả nướng thì cả nhà ai cũng thích. Không phải bàn gì nữa, loại cả này là loại hảo hạng. Thực ra, mang đi đường cả cũng hơi bị ôi và có mùi thum thủm. Nhưng khi đã bóc cái lằn da mỏng như vàng lá ra và để lộ làn thịt nướng mềm, thơm phức, thì ai cũng phải nhỏ nước miếng... Còn cài khoản phó-mát cừu và «thỉ xa cúc », trừ bố ra không kể, không ai thú vị nó cả. Món phó-mát hơi sặc mùi thịt cừu, phải đem cất xuống bếp. Còn món «thỉ xa cúc », nấu nướng như thế nào thì cũng trừ bố ra, không ai biết. Mẹ và bà người làm cứ mân mê cái loại rau bí hiểm kia với một nụ cười dè bĩu. Loại rau ấy, màu xanh tím, nói đúng hơn màu hoa cà sẫm, gần như đen sì, lạnh cứng như da thuộc.

        — Lạy Chúa! Của gì mà quái gở thế này, — bà người làm nhăn mặt nói — Của này mà lại ăn được ư? Khéo không lại ngộ độc.

        Bố chú thì cứ khăng khăng, bắt phải đem chỗ « thỉ xa cúc » kia ra làm ngay món cà nghiền. Không phải cái thử lèo nhèo vàng vàng, nhạt thếch bán ở các cửa hàng đồ hộp, mà là món cà nghiền chính cống, nghiền lấy ở nhà, thứ cà nghiền của Ôđetxa, xanh xanh, có gia thêm nhiều hành, dấm và tỏi, kinh khủng, ăn vào đến rộp cả môi. Để làm món cà nghiền ấy, nhất định không được luộc cà, không được bỏ vào nồi nấu, cũng không được rán bằng chảo, mà phải xếp cà lên than củi nướng. Nướng xong vỏ ngoài sẽ chảy thành than. Lúc ấy, người ta bóc vỏ, lấy cái ruột xanh màu lá cây, chín dở dang, nóng bỏng, với những hột trắng nho nhỏ ra băm vụn. Có điều là chớ có băm bằng dao hay nghiền bằng máy xay mà chết! Gặp sắt, ruột cà sẽ mất cái màu xanh tự nhiên, và món cà nghiền kia chỉ còn đáng đổ đi. Chỉ có độc một cách, băm cà bằng dao gỗ. Băm như thế xong là được món cà nghiền chính cống Ôđetxa. Còn gì dễ cho bằng! Nhưng mẹ và Tania cứ ương một cách vô lý: hai người nhún vai và đưa mắt giễu cợt nhìn nhau. « Được, — bố chú nói với một vẻ kiên quyết, —  nếu thế thì Jorka và tôi, chúng tôi sẽ tự tay làm lấy món cà nghiền ».

---------------------
        1. Glapsai :mậu dịch quốc doanh chè.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Bảy, 2020, 04:01:57 am
         
        Ai nấy đều kinh ngạc khi thấy bố và cái bác Kôletnisuc hay ngại phiền kia cởi phăng áo ngoài ra và bắt tay vào việc. Cái bếp Mạc-tư-khoa nhỏ bé với cái lò hơi đốt của nó rõ ràng không thích hợp với việc làm món cà nghiền. Những quả « thỉ xa cúc » không chịu cháy đen lại. Thế là bố thử liều một chuyến. Ông dứt khoát nhấc mấy cái soong trong đó món thức ăn tầm thường của Mạc-tư-khoa đang sôi lục sục sang một bên, và đặt cà trực tiếp lên bếp hơi. Cà không chịu cháy thành than, chỉ phủ kín một lớp muội dày. Rốt cuộc chúng vỡ bục và chảy nước ra. Rõ ràng là sẽ không làm gì có món cà nghiền.

        Các bà nhịn cười không được, nhưng hai ông vẫn không chịu thua. Các ông đòi một con dao gỗ. Tất nhiên là chẳng có rồi. Họ bảo cho xin một cái thước kẻ. Thước kẻ không có, Pêchya thấy thế, đi lấy một cái ê-ke ngập ngừng đưa ra : hai ông bắt đầu đánh vật với «thỉ xa cúc » chín dở, bằng cái ê-ke nhọ nhem những vết mực láng biếc. Mấy quả cà cứng cưỡng lại, không chịu vụn ra. Bố và bác Kôletnisuc đứng phân vân một lát. Rồi bố đành phải thỏa hiệp trên một mức độ nhất định: ông đòi « xoay » cho ông một cái máy xay thịt. Mặc đầu máy xay thịt bằng sắt và nhất định sẽ gây phản ứng hóa học tai hại, bố vẫn cử đòi. Vừa ngoảnh mặt đi, bố vừa nói là có một số các bà nội trợ Ôđetxa, trong những trường hợp đặc biệt, vẫn dùng máy nghiền thịt để nghiền «thỉ xa cúc ». Pêchya trông thấy một đống nâu nâu ký quặc tuôn qua những lỗ thõng máy xay, thành từng dây dài như sợi bún và rơi xuống đĩa. Bố và bác Kôletnisuc cầm thìa nếm. Rành rành là hai ông phải cố để khỏi nhăn nhó: trên nét mặt hoang mang của mình, hai ông còn cố tỏ ra mê ly nữa.

        — Gớm này thôi đi! - Sao lại có thể liều lĩnh mà đi nuốt cái của nợ ấy vào bụng thế được ! — mẹ chú nói.

        Pêchva buồn cười lắm, nhưng đồng thời chú cũng khó chịu thấy bố và bác Kôletnisuc làm ra vẻ ngon lành ăn cái đống đen đen sượng sượng kia (cái phản ứng hóa học tai hại kia đã xảy ra rồi!) mà chỉ nhìn thôi chú cũng đã thấy lợm giọng.

        Vả lại, bố và bác Kôletnisuc cũng không ngoan cố lâu, hai ông không phải thiếu đầu óc hóm hỉnh.

        — Thành công thế này mới là thành công chứ! — bố mặc lại áo ngoài vào, nói.

        Rồi hai người bắt đầu cười. Bố có cái cười từng tràng giòn tan. Bác Kôletnisuc thì cười hì hì bẽn lẽn, vừa cười vừa ho. Nhưng Pêchya thấy thương hại hai ông. Chú cảm thấy đây không phải một thất bại bình thường về tài nấu nướng, mà về một phương diện nào đó, là sự sụp đổ của một thế giới quan. Chỉ có điều, chú không thể diễn đạt được nó ra bằng lời lẽ, bởi vì chú chưa biết thế giới quan là thế nào. Cả nhà thở phào nhẹ nhõm khi thấy món cà nghiền trứ danh bị đem đổ vào thùng rác. Chỗ «thỉ xa cúc » còn lại cứ lay lứt mãi trên bàn làm việc của bố, phản chiếu rất rõ cái hình cửa sổ buồng làm việc. Rồi lũ em gái chú lấy để lên xe búp-bê kéo chơi. Thế là chấm hết những thí nghiệm về nấu nướng của bố và bác Kôletnisuc.

        Nhưng tai hại nhất không phải là cái ấy. Chuyện này, mẹ chú sẵn lòng bỏ qua, không trách. Nó không đe dọa gì cảnh yên vui của gia đình cả. Cái tai hại nhất thường thường bắt đầu xảy ra buổi chiều, vào giờ uống trà, khi bố và bác Kôletnisuc ngồi gợi lại những kỷ niệm. Pêchya buồn ngủ rũ : mẹ bắt chú đi nằm nhưng chú nhất định không chịu rời khỏi buồng ăn. Chú cứ ngồi ỳ ra đấy mà ngủ, má áp xuống miếng vải sơn dinh dính, tiếng thốt, tiếng cười ồn ào của bố và bác Kôletnisuc như ru chú. Hai người ngắt lời nhau luôn và hút liên hồi kỳ trận : buông đặc những khói thuốc lá; mẹ chú ngán ngẩm luôn tay mở cửa thông hơi, tìm cách cho có gió lùa. Bà giục bác Kôletnisuc và bố chú đi ngủ. Nhưng hai ông không rứt ra nổi khỏi những kỷ niệm xưa và cứ nói, nói mãi...

        Trong giấc ngủ, Pêchya loáng thoáng nghe thấy tiếng hai ông.

        — Anh là một kẻ hoài nghi chủ nghĩa — bác Kôletnisuc nói.

        — Tôi mà hoài nghi chủ nghĩa ư? — bố chủ kêu lên —  Ừ thì tôi thích thế đấy!

        — Phải, đúng thế, hoài nghi. Tôi nhắc lại là một lão hoài nghi chủ nghĩa đã chán chường.

        — Còn anh thì lúc nào cũng nhiệt tình.

        — Tôi rất hãnh diện về điều đó. Tôi muốn biết anh nghĩ gì khi được nhìn những công trình xây dựng hải cảng của chúng tôi.

        — Nó làm sao?

        — Phải trông tận mắt mới thấy được!

        — Thế cơ ?

        — Nhất định rồi. Đẹp không tả được! Nhưng những công trình hải cảng có nghĩa lý gì so với nhà máy Xtalin? Một trong những công trình sản xuất máy bơm và máy nén tiên tiến nhất Liên-bang xô-viết! Ghê lắm. Tóm lại là một thành phố tuyệt diệu ! Trung tâm công nghiệp lớn nhất, hòn ngọc của Hắc-hải! Anh tưởng đùa đấy hẳn ?

        — Xin chịu anh rồi! — bố vui vẻ kêu lên.

        — Đã hết đâu. Còn cái sàn vận động mới nữa. Anh có mường tượng được cải sân vận động ấy nó thế nào không? Không, anh không thể tưởng tượng được đâu.

        — Thôi anh đừng có tuyên truyền tôi!

        — Tuyên truyền anh hẳn đi chứ! Một sân vận động hai vạn người ngồi ở ngay bờ bể! Đây là bể, đây là sân vận động. Anh hình dung thấy chưa, hả ?

        — Xin chịu anh, chịu anh rồi! — bố cười, kêu lên.

        — Chưa hết! — bác Kôletnisuc ngắt lời.

        Và vừa ngủ, Pêchya vừa nghe thấy: « Nhà máy sửa chữa tàu bể »,« Nhà máy gai»,« Nhà máy công cụ »,« Viện sư phạm», «Viện nghiên cứu đồ hộp», «Filatôp», «Lixenkô »...

        Câu chuyện thông thường kết thúc bằng việc bố chú vừa cười vang vừa nhảy chồm lên một cái và, bất ngờ vỗ vào vai chú bé đang ngủ, kêu lên :

        — Được rồi! Thế nào, Pêchya, con có muốn đi du lịch không?

        Pêchya khó nhọc mở mắt ra và thì thầm bằng cải giọng ngái ngủ, lè nhè và mơ màng:

        — Có, con thích lắm!

        Một lúc sau, chủ tỉnh lại, thoáng nhìn thấy cải không khí gian phòng xanh lè khói thuốc, thấy bộ mặt lo âu của mẹ, rồi lại nhẹ nhàng thiếp đi.

        Trong hai ba ngày tiếp theo hôm bác Kôletnisuc ra đi, bố ở trong một trạng thái phấn khởi hơn hớn. Pêchya và ông sửa soạn đi du lịch. Rồi sau đó, tất cá tự nó hình như lại rơi vào quên lãng.

        Nhưng một lần, vào mùa xuân, việc mà mẹ chú rất sợ đã xảy ra. Bác Kôletnisuc đến và, sau khi bác đi, bố chú quyết định dứt khoát hai bố con sẽ lên đường. Ông ra cửa hàng bán dụng cụ thể thao «Đynamô» mua ba-lô và một cái phích nước.

        Mọi việc rất ăn khớp với nhau : vừa vặn lúc đó, bố chú có việc phải dàn xếp ở Ôđetxa. Một việc không đâu, nhưng cứ kéo lằng nhằng, và dầu sao cũng phải xuống đấy giải quyết. Thế là vừa được việc vừa được đi chơi. Trong lòng Pêchva lâng lâng phấn khởi. Bà mẹ bực bõ cảm thấy thằng con nhỏ của bà không thuộc về bà nữa. Từ nay, mười phần nó thuộc về bố nó cả mười.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Bảy, 2020, 04:51:38 am

       
3

        Đêm trước buổi ra đi, — họ phải đáp máy bay, —  Pêchya hầu như không ngủ. Lát chú lại dậy và nhìn ra cửa sổ xem đã sáng chưa. Hồi ấy đang vào đầu tháng sáu. Mẹ, bọn em gái và bà chú đã về nông thôn. Còn mình bố và Pêchya nằm ngủ trong căn nhà vắng vẻ, bụi bậm và tĩnh mịch như lệ thường vào mùa hè. Trong buồng tắm, nước ở hoa sen rơi tí tách giọt một; trong bếp, nước cũng chảy, nhưng đường hoàng, đĩnh đạc hơn và cái máy ướp lạnh thỉnh thoảng lại lách cách. Bên cửa, cái công-tơ điện kêu xè xè. Tất cả những tiếng động kín đáo cứ như rót vào tai ấy của những căn nhà thành phố chứng tỏ trong nhà còn tối om. Nhưng ở ngoài, bên trên những mái nhà màu hồng gỉ sắt của khu phố Damôxvôretsiê đã sáng trắng. Những cây dương liễu vàng ánh nom rất yêu kiều, những đám mây nhỏ mịn màng sáng rực bay trên không trung, bầu trời phía sau tháp chuông cổ kính hình kim tự tháp tràn ngập ánh nước màu xanh lá cây của buổi rạng đồng, thơm ngát, tưởng như có ngâm một cành phúc bồn. Bên dưới, trên hè đường, trong cảnh thanh vắng, tiếng chân hối hả của người qua đường sớm vang lên nghe càng rộn rã.

        Bố ngủ say, trùm chăn kín mít. Cậu con trai thất vọng nằm nghe tiếng ngày bình thản, nhịp nhàng của bố, nhưng không dám gọi bố dậy: vì tối hôm qua, lúc đi ngủ, bố chú đã nghiêm khắc ra lệnh không được mới tờ mờ sáng đã mò dậy và không được đánh thức ông.

        — Bố biết tính con, thế nào con cũng không ngủ thẳng giấc, rồi lại quấy bố, không cho bố ngủ. Cứ nho nhoe đánh thức bố rồi mà xem! Bố sẽ lên máy bay và để con ở lại đây. Nhớ lấy đấy!

        — Vâng ạ.

        — « Vâng ạ »... Cứ liệu cái thần hồn !

        — Thế nhỡ ta ngủ quên mất thì sao?

        — Ngủ quên thế nào được!

        — Được, thế ngộ nhỡ tự nhiên ta cứ ngủ quên?

        — Đã bảo là không ngủ quên mà lại! Bốn rưỡi sẽ dậy. Điện thoại sẽ gọi. Bố đã nhờ người ta rồi.

        — Được rồi, thế nhỡ điện thoại hỏng thì sao?

        — Điện thoại không thể hỏng được.

        — Vâng, nhưng ngộ nó cứ hỏng.

        — Con cứ quấy rầy bố mãi! Lên giường, ngủ đi. Mọi việc đâu sẽ vào đó, nhưng nếu con cứ quấy rày, bố sẽ không cho con đi theo nữa, thế là xong.

        Chú bé còn biết làm sao nữa? Chú đã đem ba-lô lèn chặt để lên cái ghế bên đầu giường. Chú đã kiểm tra lại cái phích lúc chiều đổ đầy nước chè đường nóng. Chú đã đi nằm và cố hết sức ngủ. Nhưng tất nhiên không tài nào ngủ được! Chú đã lò mò dậy, lặng lẽ mặc vào người bộ quân áo mới tinh, may cốt để đi du lịch, áo vé-tông mới, quần cộc thể thao, xỏ bít-tất, xỏ đôi giày mới đế to, và rón rén đi vào bếp để ngó qua cửa sổ nhìn về phía điện Kremlanh.

        Điện Kremlanh đang ngủ, chìm trong bóng đêm mờ sương lam, và trên loạt tháp đẹp, những ngôi sao đó nhỏ lấp lánh, le lói, nhưng trông rất rõ. Ở nhiều cửa sổ của Cung lớn, thấy rõ ánh sáng vàng rực như gấm và bóng chiếc chụp xanh của cây đèn bàn.

        Đồng hồ tháp Xpaxkaia điểm mười lăm phút, ngân nga trong trẻo khác thường. Tiếng chuông thanh trong tựa pha-lê, từng tiếng một theo nhau cuồn cuộn, như lần xuống một chiếc cầu thang không gian vô hình, rồi lan ra xa và ngưng tắt. Nhưng không trung trên điện Kremlanh còn ngân vang một hồi lâu. Và bỗng dưng Pêchya cảm thấy trong lòng nao nao. Lần đầu tiên, chú vừa mới hiểu được rõ ràng, sâu sắc, là chú sắp bay khỏi Mạc-tư-khoa, khỏi thành phố quê hương của chú. Nghĩ đến đấy, chú lại thấy nóng ruột: chà, sao cho mau mau hơn lên ! Cố bước cho giày mới khỏi kêu cót két, cho khỏi vấp, chú đi ra phía cửa, nhấc máy nói và quay hỏi giờ.

        — Ba giờ bốn mươi bảy phút, — một giọng đàn ông lạnh lùng, từ tốn đáp lại.

        Pêchya đợi một lát, rồi nín thở, lại quay hỏi giờ.

        — Ba giờ năm mươi hai phút, — cái giọng lạnh lùng kia thản nhiên trả lời.

        Pêchya lắng tai. Bố chú vẫn ngủ. Vươn vai ngáp, chú lê về giường, để ngả lưng một lát, và định khi nào tiếng chuông điện thoại như xé tai, thình lình cất lên, vang cả căn nhà vẳng tanh, chú mới tỉnh dậy.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Bảy, 2020, 04:53:55 am
       
        Nhìn lên tường, phía trên giường, đã thấy khung cửa sổ rực màu đỏ mềm mại của mặt trời sớm thảng sáu đang nhìn vào phòng, qua những mải nhà khu phố Damòxvôretsiê. Bố chú, tóc rối bù, đang đứng hên giường chú, hấp tấp thắt ca-vát và vui vẻ kêu lên:

        — Thế nào, nhà du lịch! Vùng lên, hỡi các nô lệ ở thế gian! Rửa mặt đi, sửa soạn mau lên !

        Và trong mười phút, hai bố con đã uống xong ấm nước chè đun trên bếp hơi, tắt hơi đốt, khóa buồng lại, rồi giao chìa cho bà thường trực ở cầu thang máy, Pêchya và bố đã bước ra tới ngoài đường, ba-lô trên vai. Họ đợi chiếc xe khách đến đưa họ ra sân bay. Chú bé sốt ruột nhìn đăm đăm về cuối phố vẳng tanh, trong sạch của buổi mai, và cũng được ánh mặt trời sớm đỏ rực chiếu suốt dọc phố, là là mặt đất. Ngộ nhỡ người ta quên, ngộ nhỡ người ta không đến đưa mình đi thì sao? Nói thực ra, có đôi lúc, chú thực lòng mong xe đừng đến nữa. Chú đang khắc khoải với cái cảm giác lo ngại, mơ hồ, rất quen thuộc của con người lần đầu tiên phải xa nhà. Một mặt, người ta muốn mau mau ra đi, rứt khỏi cuộc sống quen thuộc, cắt đứt với mọi thứ ; mặt khác, cuộc du lịch đang chờ đợi anh làm cho anh sờ sợ, anh thấy nó vô ích quá, thiếu tự nhiên quá. Tại sao lại ra đi, dù là đi đâu, khi ở nhà mọi thứ đều thật yên ấm, thân mật?

        Cả đời Pêchya chưa bao giờ đi máy bay. Nói thực ra, chú thấy hơi sợ. Nhưng chú không bao giờ thú nhận điều đó, ngay cả thú nhận với chính minh.

        — Sao không thấy người ta đến, hả bố? — Pêchya làm bộ sốt ruột, nói. — Con cam đoan chúng ta đến bị muộn mất.

        — Không ! Không muộn đâu! — bố chú trả lời với một nụ cười tươi tỉnh, dễ dãi.

        Ổng thừa hiểu cái gì đang diễn ra trong tâm hồn đứa con trai, nhưng cứ thích trêu nó một tý.

        — Này cậu cả, bổ thấy hình như con hơi... sợ, có phải không?

        — Con thề danh dự là không! — chú bé sôi nối thốt Ịên.

        Mặt mũi chú rửa nước lạnh rạng rỡ như một bông hồng. Quả thật lúc này, chú cảm thấy hình như chẳng sợ gì cả. Có cái gì đặc biệt có thể làm chú sợ được ? Thiên hạ đều đi tàu bay. Vậy thì chú, chú cũng sẽ đi. Nhưng đến khi bất thình lình, ở đầu phố xuất hiện một chiếc ô-tô khách son màu xanh lam đặc biệt, với hai chiếc đèn bí hiểm, màu xanh hồng, như ở nhà những người mắc bệnh phổi, thì hai bàn tay chú bé giá ngắt đi. Thin thít như một người chịu tội, chú theo bố chui vào trong xe. Vài hành khách ngủ gà ngủ vịt mang cặp da và va-li nhỏ, thờ ơ nhìn Pêchya đang phân vân quay ngang quay ngửa, va ba-lô vào ghế. Pêchya cảm thấy vẻ thờ ơ ấy như một điều gì hết sức gở.

        Để khỏi lộ nỗi lo âu của mình, Pêchya đi ra đầu xe, ngồi xuống gần người tài xế, dán mặt vào tấm kính đằng trước, làm ra bộ chăm chú. Chiếc xe khách lăn bánh chạy và những đường phố đẹp đẽ hồng ánh nắng mai chạy ngược lại phía chú bé, như trong giấc mộng. Trên chiếc cầu mới rộng rãi, đèn điện còn sáng và lơ lửng thành hai đường song song, gù gù như những chiếc đòn gánh. Pêchya chưa bao giờ được thấy Mạc- tư-khoa buồn và đẹp như trong cái giờ thanh bình, mát rượi và vắng vẻ của một buổi sớm tinh sương tháng sáu này. Mạc-tư-khoa đi ngược lại phía chú, quen thuộc quá, gần gũi và thân mật quá... Chiếc xe khách qua trước cửa nhà thờ Baxin Người diễm phúc; bao giờ nó cũng gợi cho Pêchya hình ảnh một cái mâm khổng lồ chạm trổ trong Một nghìn một đêm lẻ chất đầy hoa quả tiên: dưa, nho, lê, dứa, thanh yên, cao lên đến tận mây xanh. Rồi Baxin Người diễm phúc biến đi như một ký ức. Trên Hồng trường rộng lớn, vẫn còn những vạch hồng và trắng của cuộc diễu hành ngày Mồng một tháng Năm.

        Một lần bố đã dẫn Pêchya đi dự cuộc diễu hành ấy. Và mãi đến bây giờ, trước mắt chú bé, xe tăng vẫn diễu qua như những quân cờ trên bàn cờ dam, cho đến bây giờ, trước mắt chú, bầu trời vẫn vươn thẳng, dày đặc máy bay đen, từng tốp ba chiếc, bảy chiếc, chín chiếc, bay cao mãi, thẳng giữa hai cái tháp của Viện bảo tàng lịch sử...

        Tháp Xpaxkaia với chiếc đồng hồ khổng lồ viền vàng, bức tường hồng, bờ răng cưa của điện Kremlanh và những cây tùng xanh mọc trước tường, những dẫy lan can trắng của các khán đài bằng đá, lăng Lênin, tất cả, xe đã chạy vượt qua.

        Hôm nay xung quanh lăng vắng ngắt và, phía sau bãi cỏ xanh rờn và luống đất ẩm, hai học sinh trường Võ Bị đang đứng gác trước cái cửa đồng đen để ngỏ. Bên trong cánh cửa ẩy, rung rinh những màn tối âm u và bí hiểm... Pêchya đã đến thăm lăng nhiều lần. Lần đầu, bố đã nắm lấy khuỷu tay Pêchya, nhấc bổng chú lên tới tận cái lan can đá. Pêchya đã thình lình được thấy dưới tấm quan tài kính, Lênin mặc áo khoác dài hung hung với tấm Huân chương Cờ đỏ, một bàn tay đưa thẳng và nắm chặt lại như đang cầm một cây bút chì, bàn tay kia đưa lên ngực, tự nhiên, nhẹ nhàng, như người sống vậy. Và vẻ mặt của người nằm ngủ trông giản dị quá, đồng thời vĩ đại quá, làm cho Pêchya cứ ngây người ra trong tay bố, nhìn mãi không thôi...

        In bóng loang loáng lên những mặt đá hoa cương đỏ và đen, chiếc xe buýt chạy qua Hồng trường; và Hồng trường, lăng Lênin, tượng Minin và Pôjarxki, hàng tùng xanh mọc trước bức tường hồng hình răng cưa của điện Kremlanh, lá cờ đỏ rực trên vòm mái của tòa nhà Xô-viết tối cao, tất cả những cái đó đã diễn qua trước mắt Pêchya và tan đi như một giấc mộng buổi sớm.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Bảy, 2020, 04:56:00 am
        
4

        Giờ đây, chiếc xe buýt đang leo qua phố Gorki. Tòa nhà nhiều tầng của khách sạn Mạc-tư-khoa mới, với tất cả những khung cửa sổ, những ban-công, những hàng rào sắt, những cổng tò vò của nó, hồng lên phơn phớt dưới ánh nắng. Bên cái cổng đi xuống đường xe điện ngầm đóng kín, đã tụ tập những hành khách sớm sủa đầu tiên, và giữa họ, một người công an mặc áo xanh, đeo gang trắng, đang vừa đi bách bộ, vừa hút thuốc. Nhũng người gác cổng đeo huy hiệu kim khí lấp lánh dưới ánh mặt trời, đang quét hè. Người thiếu nữ bằng thạch cao với tà áo xòe cố định, đang như bay bổng, nhẹ nhàng, trên tháp cửa hàng bánh mứt kẹo ở dãy nhà. Pêchya biết tất cả những cái đó từ thuở bé, tất cả những cái đó không thể nào lại xa rời chú! Kể cả cái mẩu giấy bạc bị bánh xe ô-tô gắn chặt xuống nhựa đường kia, và lấp lánh hay hay dưới ánh mặt trời, ở đâu đó, xa, xa lắm, gần như mãi tận Quảng trường Maiakôpxki.

        Người bố vẫn ngồi thản nhiên, dựa vào lưng ghế. Cái mũ phớt mới hất ngược ra đằng sau nom rất nhộn. Vầng trán nhăn rám nắng, trông sáng sủa, thanh thản, và trong đôi mắt không còn trẻ gì nữa của ông đang lim dim mơ màng, có những ánh nâu nâu trẻ trung. Pêchya đặc biệt yêu bố khi ông đang ở trong trạng thái bình thản và vui vẻ ấy. Bố chẳng lo lắng gì cả. Vậy cũng không có lý do gì để cho Pêchya lo ngại. Và chú bé cũng thấy yên tâm. Chỉ có điều là chú rất muốn biết bố chú đang nghĩ gì. Chú quay đầu lại một lần nữa và tò mò nhìn vào mắt bố. Nhưng chú chẳng đọc thấy gì trong đôi mắt ấy cả, ngoài cái vẻ yên tâm và hạnh phúc.

        Quả vậy, trong buổi sáng tuyệt diệu này, Piôt Vaxiliê- vich Batsây là một người hạnh phúc. Bản chất ông không ngồi yên được một chỗ. Ông mê du lịch và thường nói rằng suốt đời ông, ông vẫn nghe văng vẳng «tiếng gọi của nàng tiên viễn du». Thế nghĩa là thế nào, Pêchya không hiểu lắm, nhưng ngược lại, chú hoàn toàn cảm giác được. Lúc đi du lịch là lúc đầu óc ông suy nghĩ thoải mải hơn lúc nào hết. Vừa lên đường, òng đã chìm đắm vào trong mơ màng và ký ức. Ông lơ đãng nhìn qua cửa chiếc xe buýt. Hai bố con đều nhìn thấy như nhau : điện Kremlanh, lăng Lênin, đường xe điện ngầm, những tòa nhà dài và nhiều tầng của phố Gorki. Nhưng ông nhìn những cái đó bằng con mắt khác hẳn. Cái thế giới bao quanh chú bé Pêchya thì già cỗi, bởi vì hầu như mọi thứ trong cái thế giới ấy đều nhiều tuổi hơn chú. Cái thế giới bao quanh người bố thì lại trẻ, bởi vì hầu như mọi thứ quanh ông đều ít tuổi hơn ông. Những cây tùng xanh của điện Kremlanh, xe điện ngầm, khách sạn Mạc-tư-khoa, phố Gorki..., những cái đó ít tuổi hơn ông thật.

        Chìm đắm trong ký ức, Piôt Batsây trông thấy rõ, nơi bây giờ là khách sạn Mạc-tư-khoa, cửa hàng cũ Ôkhôtnưi Biat với những quán nhỏ chất đầy gà vịt, cá và nấm ngâm dầu dấm. Ông trông thấy nhà thờ Paraxevơ- Thứ Sáu nay không còn nữa, và cây cột đá Ai-cập lớn dựng trước mặt tòa nhà hai màu trắng, đó của Xô-viết Mạc-tư-khoa. Hình ảnh Mạc-tư-khoa cổ xưa với tất cả cảnh buôn bán nhộn nhịp, đông đúc của nó, với tất cả những nhà thờ, những tháp chuông, những lâu đài, những ngõ cụt cứ thoáng hiện xen kẽ với những đường phố lớn mới thẳng tắp, những ngôi nhà mới đò sộ. Và Batsây vừa lim dim nhìn qua cửa sổ xe buýt vừa nghĩ, không phải không có một chút buồn thầm kín, đến biết bao nhiêu cái ở trên đời này đã đổi thay trước mắt ông. Dĩ nhiên, tất cả những gì đổi thay ở nước Nga, ở Mạc- tư-khoa, là đổi thay theo chiều hướng tốt hơn, nhưng dầu sao ông vẫn nao nao thấy thời gian đã trôi qua và ông đã già đi, rồi chẳng mấy lúc nữa chính bản thân ông, cũng như ngôi nhà thờ Paraxevơ-Thứ Sáu kia chẳng hạn, cũng chỉ còn là một ký ức mờ nhạt.

        Tuy nhiên những ý nghĩ u buồn ấy chẳng làm giảm cái hồ hởi của ông đi tí nào. Trái hẳn lại, nó còn cho ông thêm nghị lực. Mặc đầu đã bốn mươi nhăm tuổi, ông vẫn cảm thấy mình khỏe mạnh, gần như trẻ trung. Và cái sức cường tráng đang rừng rực bốc lên trong ông vào buổi sáng tuyệt diệu này, còn có nhiều hứa hẹn mới mẻ, bất ngờ và tuyệt diệu.

        Trong khi đó, xe buýt đã tới sân bay. Và chỉ một lúc sau, bố con Pêchya đã đứng trên thảm cỏ đường băng, bên chiếc máy bay du lịch.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Bảy, 2020, 04:57:19 am

        Pêchya chưa bao giờ được thấy gần một chiếc máy bay to như thế. Bên cái máy bay khổng lồ nhưng lịch sự, có đôi cánh mênh mông dang thẳng trên đầu, Pêchya cảm thấy mình bé lũn cũn, lố bịch. Pêchya đứng dưới đôi cảnh thon dần ấy, như đứng dưới một mái nhà. Động cơ nổ. Cánh quạt thổi thốc một cơn lốc bụi chạy trên cỏ, lay động và đè bẹp những bông hoa xuống đất. Bàng hoàng vì tiếng ầm ầm, Pêchya đứng bên bố, nắm chặt lấy tay bố qua túi áo mưa. Mắt đăm đăm mở to, đôi môi hơi run run. Chú không rời được mắt khỏi cửa máy bay và chiếc thang nhôm nhỏ lắp vào cái cửa ghê gớm, bí hiểm kia. Hành khách chưa được lên. Người ta đang bốc xếp những bao da của bưu chính và những tấm vải bạt che động cơ. Một phi công mặc bợ áo liền quân lững thững bước trên cảnh và chui tọt vào trong máy bay bằng một cái cửa tròn nào đó.

        Động cơ quạt gió mạnh thêm lên. Pêchya càng bíu chặt vào túi áo bố; chiếc mũ cát-két dạ mới cầm trong bàn tay lạnh giá, chú ngước mắt nhìn bố. Bố chú mỉm cười. Chà ! Ông hiểu tâm trạng của thằng con ông lắm! Ông âu yếm đặt tay lên vai nó :

        — Làm sao thế con, con sợ à?

        Pêchya nghe không rõ, nhưng cảm biết bố định nói gì và cười gượng.

        Trong khi đó, người phi trưởng mặc áo va-rơ da và đội mũ cát-két màu lơ nhạt có phù hiệu hàng không dân dụng thêu kim tuyến, rảo bước đi tới chỗ máy bay. Tay ông cầm bản danh sách hành khách. Mọi việc đều xong. Pêchya chưa kịp định thần, bố chú đã túm lấy hai khuỷu tay đẩy chú lên cái thang nhôm rung rinh, ấn vào trong máy bay.

        Từ phía đuôi lên tới đầu máy, chiếc sàn dài dốc khá ngược, đi thật khó. Nhưng Pêchya cứ bước như trong chiêm bao, trên vai cảm thấy chiếc ba-lô nặng trĩu đang kéo mình về đằng sau. Khó khăn lắm mới giữ được thăng bằng, chú cứ bám vào lưng những chiếc ghế bành sâu, cho đến lúc lăn kềnh vào một trong những ghế đó. Chú lấy lại hơi và đưa mắt nhìn quanh. Cũng chẳng có gì ghê gớm lắm: trong máy bay cũng giống như trong ô-tô-buýt. Cửa sổ có nhỏ hơn và trông chênh chếch. Các hành khách đều cầm cặp và va-li nhỏ xách tay như thường lệ khi người ta đáp máy bay, và ngồi vào chỗ thản nhiên như không. Bố chú cũng thế, bình tĩnh lắm. Ông từ tốn đặt cái cặp đựng giấy tờ xuống chân, đội lại mũ cho ngay ngắn, và hiền hậu nháy mắt với con. Pêchya cũng cố gắng để nháy mắt một cái với bố, nhưng trông không ra thế nào cả. Chú chỉ gượng rướn được đôi lông mày lên một tý thôi.

        Mãi vẫn không hết sợ. Trái lại, nghe tiếng động cơ rú càng thấy sợ. Lúc này động cơ gầm thét như một thác nước. Nhìn qua cửa sổ, cỏ dưới cánh máy bay đảo điên quay cuồng tứ phía.

        — Nào! — Có ai quát thật to.

        Pêchya quay lại và trông thấy người phi công mặc bộ áo liền quân kéo thang vào trong buồng lái và đóng chặt cánh cửa nhôm lại. Trong máy bay tối và tĩnh hơn một chút. Nhưng cái tĩnh tương đối đó, Pêchya thấy như một điểm đặc biệt gở. Với nụ cười rất dễ thương của một người vui tính, người phi trưởng bước vào lối đi giữa hai dãy ghế. Trông ông có vẻ một vị chủ nhà hào hiệp đang tiếp những khách thân.

        — Xin mời các đồng chí ngồi vào chỗ ! Đẳng trước, có hai giường nằm rất êm. Đồng chí nào muốn nghỉ ngơi, hoặc muốn ngủ thì xin mời... Đồng bào trẻ tuổi này chắc hẳn mới hay lần đầu ? — Ồng vừa nói vừa dừng lại hên Pêchya, và âu yếm nhìn vào mắt chú — Tôi không lầm chứ?

        Pêchya cố lắm mới gật được một cái: cổ chú cứ cứng đơ.

        — Vậy xin chúc mừng đồng bào về lần cất cánh đầu tiên này.

        Pêchya mỉm cười gượng gạo.

        — Can đảm lên, anh bạn trẻ ! Bay trên trời, chỉ mười lăm vạn cây số đầu tiên là vất vả thôi. Về sau thì cũng chóng quen...

        Và người phi trưởng, hóm hỉnh nhăn cái mũi tẹt lại, khoái trí vuốt vuốt bộ râu nhỏ màu hạt dẻ hơi chẽ ra làm hai chòm.

        Hành khách đã cười vui vẻ trước câu pha trò của người phi trưởng. Phần lớn họ là nhũng hành khách đã có kinh nghiệm và biết rất rõ ông Kôrôpkôp nổi tiếng đã từng bay hơn một triệu cây số an toàn. Pêchya cảm thấy trong lòng có phần nhẹ nhõm. Chú cố hết sức, mở được miệng và đột ngột nói, giọng the thé :

        — Ta có bay là là mặt đất không bác?

        — Từ đây đến Khackôp, nếu đồng bào cho phép thì ta sẽ bay ở trên mây, — phi trưởng ngọt ngào đáp lại —  sau đó, nếu đồng bào thấy không có điều gì trở ngại, ta sẽ thử bay là là một tý.

        Hành khách một lần nữa lại hưởng ứng vui vẻ câu pha trò. Điều đó làm chú bé càng thêm mạnh dạn.

        — Bác ạ, cháu thích bay là là lắm, một tý thôi cũng được, — chú vừa nói vừa nhìn người phi trưởng bằng đôi mắt đen long lanh.

        — Đâu sẽ có đó, — phi trưởng vừa trả lời vừa đeo đôi găng tay đen to có cổ, rồi biến mất hút vào trong buồng máy.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2020, 10:51:03 pm

        Máy bay chuyển bánh chạy. Lòng hơi bồi hồi thú vị và có phần nào sợ hãi một cách khoan khoái, Pêchya nhìn qua cửa số, thấy mặt đất mấp mô đang chạy ngược lại. Chú bám thật chặt vào hai tay ghế, và ngả toàn thân về phía sau, như muốn bảo : « Đỗ lại! ».

        — Bay rồi à? — chú cất tiếng nói, giọng lạc đi.

        — Còn đang chạy; — người phi công mặc bộ y phục bay vui vẻ đáp lại và bỗng dưng trịnh trọng nói to —  Đề nghị các đồng chí hành khách cho đến lúc cất cánh không nên đổi chỗ và không dồn về phía đuôi !

        Trong "hai phút đồng hò mà Pêchya thấy dài đằng đằng, máy bay chạy trên bãi cỏ, không nhanh lắm, ngật ngưỡng, vụng về. Ra đến đường băng bằng bê-tông, nó rẽ ngoặt, và động cơ gầm lên dữ dội đến nỗi Pêchya thấy người nổi hết gai ốc. Đường băng bị bỏ lại phía sau, giờ đây chỉ như một vết. xám mờ mờ. Pêchya nhắm tịt mắt một lúc. Máy bay vẫn chạy mỗi lúc một nhanh và thỉnh thoảng gặp chỗ đường gồ ghề lại nhảy chồm lên. Cái đuôi cất lên, sàn máy bay bỗng thăng bằng và cửa sổ trông cũng như hết chếch. Pêchya nhìn thấy ở phía dưới có một cái ô-tô bé tí, rồi một người đang vẫy lá cờ đỏ. Một tiếng ầm ì đều đều tràn ngập tất cả. Pêchya hiểu ở máy bay đã có một cái gì khác. Nó vẫn chạy nhanh như thế, nhanh hơn là khác, nhưng người ta cảm thấy mặt đất không gồ ghề nữa, không xóc nữa. Pêchya nép người vào cửa sổ và rất ngạc nhiên thấy ở phía dưới có một con suối nhỏ ngoằn ngoèo to bằng cái ống cao-su, một bãi cát và hai con ngựa bé tẹo giữa một bãi cỏ mờ sương. Lúc bấy giờ chú mới hiểu rằng mình đang sống cái giờ phút thần kỳ mà con người thích ứng được sao mà khó thế. Chú rụng rời nhận thấy mình đang bay trên trời, rồi bỗng dưng, chú lại hoàn toàn bình tĩnh. Không những cái sợ đã biến mất, chứ còn bắt đầu thấy phần nào vững tâm nữa. Chú còn táo bạo đến mức dám đứng dậy, lấy chân giẫm khe khẽ để có thể yên trí là cái sàn chắc chắn. Và nó chắc thật. Quả cũng kỳ lạ và cũng khá đáng kinh là dưới cái sàn vững chắc này, không có gì cả, không có gì đỡ nó cả. Bên trên cái trống không đó, Pêchya đang lơ lửng. Chú đang lơ lửng và cử động, ngồi trên ghế, hoặc đứng, hoặc nằm, tùy thích. Pêchya thường chiêm bao thấy mình bay. Chú biết cái cảm giác vừa kỳ diệu vừa khắc khoải của người đang lơ lửng trên không lắm, nhưng trong chiêm bao, đó là cái bay lặng lẽ và thoải mái của con chim. Trong chiêm bao, Pêchya cứ bơi ở trên trời, hai tay sải rộng. Chú bay bổng lên được là nhờ sức mạnh huyền bí của ham muốn, của ý chí.

        Nhưng giờ đây, chú bay «thật», một ý chí mạnh mẽ, xa lạ, nâng chú lên khỏi mặt đất và đưa chú, đưa bố chú, đưa những cái ghế, những hành khách khác, những, cửa sổ, đôi cánh, đưa tất cả cái máy bay đi. Sức mạnh đó là gì vậy? Đó là sức mạnh của hai động cơ khổng lồ, với tiếng gầm rú liên tục đầy tin tưởng, làm quay những cánh quạt ba cánh, tạo nên xung quanh máy bay một cơn lốc vô hình. Tất cả phụ thuộc vào mấy cái động cơ. Chúng mà dừng lại là rơi, không thoát được.

        Giờ đây, vô tình Pêchya đã lắng tai nghe tiếng động cơ nổ. Một điệu nhạc hùng mạnh, đều đều, hợp xướng của nhiều giọng. Sống hay chết là phụ thuộc vào điệu nhạc ấy. Nó có những lúc trầm bổng nghe thật tinh mới thấy. Lúc ấy chú bé bắt đầu lo và nghi ngại nhìn qua cửa sổ xem động cơ có làm sao không. Nhưng cái động cơ bên phải mà Pêchya nép vào cửa sổ thì thấy, vẫn đó, nặng nề và không nhúc nhích, gắn chặt vào cánh, loang vết dầu đen đen. Và không trông thấy cánh quạt, cũng chẳng trông thấy cái quầng trong trong, loang loáng đâu cả. Nó quay nhanh quá, tưởng như đã biến mất. Mỗi làn tiếng nhạc động cơ đổi giọng, Pêchya thấy thế gian có những đổi thay bí hiểm. Chẳng hạn, khu rừng lúc nãy xê dịch từ từ ở bên dưới, giống như một tấm lông cừu xanh hoa lý ảnh bạc, thì bây giờ như xù lên giống một chiếc khăn lông cừu quăn quăn. Thở thấy dễ hơn. Trong lòng cũng nhẹ nhõm hơn.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2020, 10:51:37 pm

       
6

        Bỗng nhiên, bố chú phấn khởi hẳn lên, cựa quậy trong chiếc ghế, và kêu to :

        — Pêtrusa, lại đây con ! Nhanh lên, nhanh lên ! — Ông túm lấy vai con và kéo ra phía cửa sổ — Trông, trông kìa!

        Pêchya nhìn xuống dưới cánh, và không thấy gì đặc biệt. Đường sắt như một sợi dây chạy dài chênh chếch, và bên trên một đoàn tàu đang bò như một con giun nhiều đốt. Một cái ao hình chữ nhật gắn vào giữa đám cây cỏ xanh.

        — Thế nào? hiểu chưa? — bố chú hét vào tai chú.

        Pêchya lắc đầu:

        — Con chả hiểu gì cả!

        — Đấy là Nemsinôpka!

        — Nemsinôpka đâu?

        — Kia, nó kia kìa! không nhận ra ư ?

        Pêchya chưa bao giờ được thấy Nemsinôpka từ trên xuống.

        Vô lý. Cái đảm nhà bé bé kia, cái ao như cái gương con con kia, cái nhà ga duyên dáng và xinh xinh như một cái đồ chơi kia, mà lại là Nemsinôpka! Tuy nhiên trông cũng có vẻ quen thuộc. Pêchya nép vào cửa sổ, suy nghĩ, và bỗng dưng hiểu rằng đúng đó là Nemsinốpka, cái làng mà nhà chú đã ở bao nhiêu mùa nghỉ mát, nơi mà ngay lúc này mẹ, bà và các em gái chú đang sống. Kỳ khôi thật, Pêchya chẳng nghĩ tý gì đến Nemsinôpka cả, ấy thế mà nó kia, có lạ không?

        — Nemsinôpka ! Đúng rồi! Nemsinôpka! — Pêchya bồi hồi nói — Bố ơi, nhà ta đâu hả bố ?

        — Kia thôi!

        — Đâu, đâu?

        — Thộn quả! Có trông thấy cái máy bơm không?

        — Có

        — Trông kìa. Ở bên trái máy bơm, đằng sau cái ao, thấy chưa?

        — Con không thấy.

        — Kia thôi! Cái mái xanh xanh ấy!

        — Đâu, cái mái xanh đâu?

        — Khổ quá, kia kìa ! Đằng sau đám cây ấy ! Đằng sau những cây liễu bạc ấy!

        — Con nhìn chẳng thấy.

        — Thôi, bây giờ thì không thấy nữa. Đi quá rồi.

        Pêchya giương mắt nhìn xuống phía dưới, nhưng không còn đâu là ao, là máy bơm, là đoàn tàu nữa. Phía dưới thấy tiến lại một nhà máy lạ lạ, trông màu ngói đủ biết là mới xây dựng xong, to, nhưng nhìn trên xuống thì như rất bé, với một ống khói cao, mới. Pêchya nhìn xuống như thế là thừa, vì Nemsinôpka đã xa rồi, chú không thể thấy được nữa.

        — Vượt quá rồi, — chú bé nhắc lại, chán ngắt, và trong lòng tự nhiên buồn muốn khóc.

        Chú mường tượng thấy rất rõ cái nhà nghỉ mát của gia đình, cái hàng hiên với những viên đá hoa nhiều màu, cây tùng xanh, cái võng, vườn cây, giếng nước, cái thùng hứng nước máng... và mẹ chú mặc tạp-dề hoa đang đứng ở ban-công, giơ tay lên che nắng nhìn theo bóng chiếc máy bay màu xanh bạc vừa bay qua trên đầu trong màn sương mai xuyên nắng. Có lẽ bà đang bế bé Luxya và thì thào vào tai nó: « Trông kìa, con, bố với anh Pêchya đang bay ở trên trời kia kìa! ». Có lẽ bà đang cầm mùi-xoa vẫy chú, và có những con ong vằn đen vằn vàng đang bay lượn trên mái đầu óng ánh của ba như quanh một bông hoa. Và hai giọt nước mắt long lanh trên đôi mắt mẹ chú.

        — Con khỉ con ! — ông bố vừa nói vừa ôm lấy thằng bé đang buồn tênh...

        Nhưng, nói thực ra, chú bé buồn không lâu. Cái ý thức mình đang đi máy bay, mình chẳng thấy sợ gì nữa, và mình đang hành động như một đứa bé dũng cảm, đã xua tan những ý nghĩ buồn rầu. Chú đã quên ngay cả Nemsinôpka, cả mẹ, và tất thảy những cái mà chú bay vượt qua, bỏ hết lại phía sau và có lẽ mãi mãi.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2020, 10:52:09 pm

       
7

        Pêchya đã vững dạ lắm rồi, chú đã dám đi lại trong máy bay một cách thận trọng. Chú bắt đầu tha thẩn một tý ở khoảng giữa hai dãy ghế, hết tới lại lui, rất dè dặt, ba bốn bước thôi; chẳng có gì ghê gớm xảy ra cả. Rồi chú đi về phía đuôi máy bay, nơi để va-li và các túi bưu chính. Chú dừng lại một lát trước cánh cửa nhôm khóa chặt. Chú sờ vào cái thang nhôm dựa ở vách, chỗ treo hàn thử biểu. Chủ nhìn vào hàn thử biểu, một cái hàn thử biẻu rất bình thướng, nó chỉ mười chín độ.

        Xa hơn tý nữa là một cánh cửa nhỏ lót bông. Pêchya do dự một hồi lâu trước khi đưa tay ra mở. Chắc chắn đằng sau nó có một cái gì quan trọng lắm, bí mật lắm: những máy móc phức tạp! Có lẽ là cái người phi công máy mà Pêchya đã được biết, nhờ đọc một bài của báo Sự thật Thiếu niên. Không phải vô cớ mà người phi trưởng vào trong đó. Pêchya nhìn quanh. Không ai để ý đến chú. Sợ và tò mò đến tái người, chú đưa lay vặn quả nắm nhôm nhỏ và mở cánh cửa bí mật ra... Một chuồng xí với một bồn rửa mặt treo, một tấm gương và hai bàn chải — một vàng để chải áo, và một đen để chải giày. Chú nhòm vào lỗ chuồng tiêu. Xa tít phía dưới, một mẫu rừng như một tấm lông cừu. Chú thử giật nước, Nước chảy. Chú đậy sập cái nắp xuống và xấu hổ rời khỏi nơi bí hiểm.
Pêchya thất vọng: không, máy hay không có gì ghê gớm cả. Nó bay, đúng; nhưng trừ điều thần kỳ ấy ra không kể, thì chẳng có gì nữa.

        Còn buồng máy. Ở đó có những người phi công ngồi lái máy bay. Thỉnh thoảng cánh cửa ở đó mở ra, và tiếng động cơ ầm ầm lọt vào buồng hành khách, nghe to gấp bội. Hai cái lưng mặc áo da, với hai cái mũ phi công và những bàn tay đeo gang da to tướng đang làm gì đó, đưa đẩy cái gì đó. Pêchya không dám mơ tưởng đến hạnh phúc được bước vào chỗ cung cấm ấy của máy bay. Chú tha thiết muốn được nhìn tận nơi, ít nhất cũng bằng một mắt, xem có gì trong đó.

        Hai tay chắp sau lưng giống bố, rồi làm ra vẻ như đi dạo, chú bé tiến lên và dừng chân bên buồng phi công đóng kín. Chú quyết định đợi hễ có người mở cửa là nhòm vào. Pêchya sẵn sàng để đợi lâu. Nhưng hầu như ngay lúc đó cánh cửa kẹt mở, và người phi trưởng hiện ra, đứng vươn vai ở ngưỡng cửa. Tiếng gầm dồn dập của động cơ thốc vào tai, và cánh cửa khép lại nhanh quá đến nỗi Pêchya không kịp nhìn thấy gì cả.

        — Thế nào, chàng trai? Ta đang bay chứ? — phi trưởng vừa xoa tay vừa vui vẻ nói. Ông quả thật là vui tính. — Chú không sợ chứ ?

        — Cháu sợ cái gì mới được chứ? — Pêchya cắn đôi môi mòng mọng, thản nhiên trả lời.

        — Ấy bác cũng nghĩ thế đấy: có cái gì mà sợ? — ông vuốt râu đáp.

        Bỗng dưng — chính chủ cũng thấy sửng sốt — Pêchya đứng nghiêm trước mặt người phi trưởng đáng yêu, đưa tay lên vành mũ cát-két dạ như anh bộ đội, và nghe thấy miệng minh nói bằng một giọng báo cáo chính quy rất kỳ khôi:

        — Báo cáo đồng chí chỉ huy, thay mặt đội thiếu niên tiền phong trường số 12, Mạc-tư-khoa, em tha thiết xin phép vào buồng hoa tiêu trong khi họ lái máy bay. —  Rồi chú nói tiếp với một giọng nhỏ nhẹ và van nài: —  Bác ơi, cho cháu xem một tý!

        Chú ngước đòi mắt dịu dàng có đôi lông mày tơ trông như mắt con gái, e dè nhìn lên khuôn mặt có cái mũi tẹt của người phi trưởng. Chú thừa hiểu trên đời này làm gì có chuyên thần kỳ. Chú chưa hề gặp một thằng bé nào dám khoe khoang đã được ở trong buồng hoa tiêu khi đang bay cả.

        Nhưng chuyện thần kỳ đã xảy ra. Quả thật cái ngày huyên diệu này là ngày của những chuyện thần kỳ. Người phi trưởng kiêu kỳ nhìn chú từ đầu đến chân, làm ra mặt dữ tợn và đưa ngón tay trỏ ấn vào mũi Pêchya :

        — Nhưng chú phải nhớ tuyệt đối không được sờ mó vào cái gì cả, — ông nghiêm khắc nói — Thiếu nhi các chú, tôi biết lắm... Chú mà sờ vào cái gì là tôi quẳng chú ra ngoài, cho rơi xuống đất, không có dù, hiểu chưa?

        Nói xong, người phi trưởng mở cửa ra, và Pêchya không ngờ được cái diễm phúc bước theo hành lang nhỏ dẫn vào buồng lái.

        Chú bước vào và một điều thần kỳ mới khiến chú vội túm lấy áo da người phi trưởng. Buồng lái không có người. Dưới cái vòm chất dẻo trong suốt, trước mặt, dãy đồng hồ, hai cái ghế bành da nhỏ bỏ trống. Trước ghế, hai tay lái không ai cầm vẫn đồng thời quay đi quay lại. Và cũng đồng thời như thế, bốn cái bàn đạp không có chân ai dận vẫn chuyển động. Tưởng đâu như hai phi còng đã trở thành vô hình. Nhưng có phải thế đâu. Một người, là ông phi trưởng, đang đứng bên Pêchya: còn người kia, lúc đó đang lom khom bước từ trong một cái buồng xép ra, nhét vào mồm nửa chiếc bánh mì con với xúc-xích; thật may mắn cho Pêchya, đó đúng là phút thần diệu mà máy bay bay một minh, không cần người điều khiển. Và chú bé cứ đứng ngây ra, mê hoặc trước cái phép màu mới kia.

        Tay vẫn hám vào áo ca-pốt người phi trưởng, Pêchya nhìn những mặt đồng hồ đang chạy như đồng hồ thường, nhìn bầu trời bên trên cái vòm trong suốt của buồng lái, cái bầu trời mờ đục với nhũng mảng sương lớn màu xám mà dưới đất nhìn lên hẳn là thấy ra màu trắng và nhẹ như bông, đang hay ngược lại phía máy bay.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2020, 10:52:37 pm

       
8

        Trong khi đứa con đang đi từ chuyện thần kỳ nọ đến chuyện thần kỳ kia thì Piôt Batsây vẫn ngồi thụt sâu trong ghế hành, chân duỗi thẳng, tận hưởng cái nhàn rỗi bắt buộc của cuộc du hành. Lúc đầu, ông có nghĩ đến công việc vì, mặc dầu có tinh mơ mộng, ông là người bản chất cương nghị không chịu được cái cảnh vô công rồi nghề. Ông đã rút tất cả tập hồ sơ trong cặp ra và chăm chú nghiên cứu tài liệu quanh vụ ông sắp phải làm trọng tài. Việc nhạt hoét, hồ sơ đã được chuẩn bị và nghiên cứu kỹ lưỡng cả rồi. Không có tỷ hứng nào làm việc cả.

        Piôt Vaxiliêvich lại xếp tài liệu vào cặp, nhưng không chịu ngả theo cái lười mơ mộng đang xâm chiếm mình, ông lấy quyển sổ có ghi những ý nghĩ và dụng ngữ cho bản luận án tiến sĩ luật học sau này của ông. Bản luận án đầu đề là «Vấn đề bồi thường trong luật pháp xô-viết». Batsây thấy nó có một tầm rộng lớn. Ông thích đầu đề luận án ấy vì phạm vi rộng rãi và tính chất mới mẻ về nguyên tắc của những vấn đề ông định đưa vào đó, và giải quyết trong phạm vi « cá nhân, xã hội và nhà nước », bằng cách quy ba khái niệm ấy lại trong một thể thống nhất xã hội chủ nghĩa. Là một luật gia tên tuổi chuyên về các vấn đề trọng tài, ông thường phải đi xuống tận địa phương và thích nghiên cứu bản luận án của mình dọc đường... Nhưng hôm nay đầu óc ông rất xa với quan niệm bồi thường trong luật pháp xô-viết. Có lẽ vì đó là lần đầu tiên ông không đi du lịch một mình, mà đi với đứa con trai. Xúc động của thằng bé không thể không truyền sang bố. Cũng có thể ông đã đặc biệt bị xúc động được trở lại thành phố quê hương sau bao năm xa cách. Dù thế nào thì lần này ông cũng chẳng còn tý tâm thần nào để tập trung vào công việc.

        Ông khẽ thở dài và bắt đầu lim dim ngủ, thỉnh thoảng lại đưa mắt nhìn theo thằng con. Sau khi được vào thăm buồng lái, thằng bé đã quen với máy bay và chạy khắp, hỏi han căn vặn hết hành khách lại đến các nhân viên phục vụ. Có thể là bốn mươi năm nữa, — bố chú nghĩ — vẫn cái thằng Pêchya này sẽ âu yếm và bùi ngùi nhớ lại buổi hôm nay, cũng như bố nó giờ đây đang nhớ tới cuộc du lịch đầu tiên của mình bằng xe ngựa, rồi bằng tàu thủy Tuôcghêniep. Hồi ây, ông coi cái tàu bé nhỏ có bảnh xe và lắp thêm buòm khi xuôi V gió như một bước tiến mạnh về kỹ thuật, và giờ đây nhở đến cái máy hơi nước cục mịch, đến những bảnh xe sơn đó và đến đội nhạc của nó, ông khòng thê không mỉm cười. Rất có thể là trong bổn mươi năm nữa, đi du lịch trên một con tàu vũ trụ nào đó, Pêchya của ông — lúc bấy giờ đã là một thành viên tên tuổi của xã hội cộng sản — sẽ nhớ lại ngày xưa, nhớ đến chiếc xe buýt, chiếc máy bay du lịch kiểu cổ, và sẽ mỉm cười cũng với một niềm âu yếm bùi ngùi như lúc này Piôt Vaxiliêvich Batsây đang mỉm cười.

        Máy bay vẫn bay mãi với một điệu nhạc không dứt, mạnh mẽ, hòa tấu của nhiều dây, nhưng cùng một âm điệu. Nó bay ở một độ cao trên dưới hai nghìn mét. Giữa hai tầng mây hè cao, một tầng ở trên, một tầng ở dưới. Tiếng động cơ đã lại đỗi giọng. Máy bay lên cao và bắt đầu xuyên thủng tầng mây thứ ba. Khí trời lạnh hơn và thở thấy nhẹ hơn. Tai vo vo. Phía ngoài cửa sổ, mọi thứ đều phủ một lớp sương mù xám bị thổi bạt đi ngay. Máy bay thoát ra khỏi tầng mây thứ ba. Giờ đây, phía trên nó là bầu trời lạnh, trong, xanh ngắt. Mặt trời phóng ra những tia lửa rực, nhưng đồng thời khí trời lại lạnh như ở trên núi.

        Cái bóng lớn của máy bay vẫn nhảy nhót không ngừng. Nó leo lên tầng mây trên cùng, rồi bất thình lình tách ra và lao xuống, nhỏ hẳn đi, lướt trên tầng mây thứ hai, đâm bổ xuống tầng mây dưới cùng, lại leo lên và to ra, thụt hồi lâu xuống một túi không khí sâu kinh khủng, bay ngang qua một cánh đồng cỏ, nhỏ như một cái kim, nhảy lên những tầng mây mới như những bậc thang khồng lồ.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Bảy, 2020, 05:23:42 am
        
9

        Tiếng động cơ bắt đầu đổi giọng nhanh chóng. Thoạt đầu, nó to lên, rồi nhỏ lại, chuyển sang lắp bắp và bất thình lình lịm hẳn. Trên trời, máy bay đã đảo đi. Pêchya kinh hãi bám lấy lưng ghế và nhìn qua cửa sổ tối sầm lại. Cửa tối vì cái cánh máy bay chếch lên rất kỳ lạ đã che kín tất cả bề mặt cửa. Chú bé lao sang cửa sổ đối diện. Cửa sỗ này, trống rỗng đáng sợ, đang rực ánh mặt trời. Pêchya không trông thấy cánh đầu cả. Nó đã biến mất, Pèchya nhìn qua cửa sổ như nhìn vào giếng. Đâu đó, thăm thẳm dưới kia, mặt đất đang quay tròn, chậm chạp và nhịp nhàng.

        — Tàu bay rơi ! — Pêchya nói.

        — Cứ yên trí, Khackôp đấy, — bố chú vừa cười vừa nói. Ông ôm vai con. — Tàu bay tạm dừng ở đây.

        Pêchya nhìn xuống phía dưới, thấy những ô vuông đều đặn của một thành phố, một quảng trường, một tòa nhà nhỏ, nhưng chắc hẳn là phải đồ sộ, và nhiều dãy nhà quần tụ lại trông như những tinh thể lưu huỳnh.

        — Đấy là Phòng công nghiệp Khackôp, — bố chú nói.

        Rồi ở phía dưới, xuất hiện và lướt qua một nhà máy, rộng mênh mông, trông như cắm ở lưng chừng sườn đồi, với những ống khói nghiêng nghiêng và một cái hố rộng màu hồng nước độc mà trông từ trên cao tưởng như bé nhỏ.

        — Đấy là nhà máy hóa chất, — bố chú nói.

        Mặt đất bằng phẳng ra và tiến lại gần. Pêchya nhìn nó như nhìn qua kính lúp ; chú cảm thấy trong toàn cơ thể có một sức mạnh đang hút chú về phía mặt đất. Đôi lúc, chú có cảm giác như đang lơ lửng trong không trung, bên trên ghế bành. Tim chú thắt lại và ngừng đập. Những cột dây thép và những đường sá có ô-tô chạy, lướt qua nhanh đến nỗi Pêchya vội ngửa ra sau. Rồi chú nhìn thấy ngay gần mình những đám có đầy bụi chạy ngược chiều máy bay. Trong có, chú phân biệt được các bông cúc dại và những thứ hoa lạ khác, lông lá, màu hồng tím trông như những cái đuôi con con có vẩy. Máy bay chạm sát với mặt đất, nhưng nó không bay nữa. Nó chạy. Cái đuôi từ từ hạ xuống và nảy lên nhiều lần. Máy bay nặng nề chạy trên mặt đất chẳng khác gì một chiếc ô-tô thường. Pêchya cảm thấy bị xúc phạm nặng nề vì không được hay nữa, đồng thời lại có một cảm giác nhẹ nhõm khó tả được thấy mình đã đứng trên mặt đất chắc nịch.

        Tai bị yên tĩnh làm cho ù đặc, chú bé lần theo chiếc thang nhóm, bước xuống cỏ ấm. Chú loạng choạng, chóng mặt, nhức tai, ánh nắng gắt của miền Nam làm chú chói mắt. Gió lộng đón tiếp chú với những mùi vị cay cay của những loài có lạ thảo nguyên. Buồi sớm Ukren mới bắt đầu ấm nắng. Thật hết sức kỳ lạ và ấm lòng khi nhận thấy đây cũng vẫn là cái buổi sáng vừa bắt đầu mới đây thôi ở Mạc-tư-khoa. Rất có thể là giờ này mẹ còn đang ngủ, thế mà chú đã ở Khackôp, và quanh chú, tất cả mọi thứ đều khác quá... có cây, khi trời và ánh nắng...

        — Thế nào, nhà phi hành trẻ tuổi cảm thấy thế nào? —  Người phi trưởng vui tính vừa nói vừa duỗi hai cái cẳng dài cho đỡ mỏi.

        Pêchya thản nhiên nhún vai.

        — Cừ lắm, cháu ạ!

        Toàn thân như ớn lạnh, Pêchya thú vị ngả người nằm xuống cỏ ấm. Giờ đây, nằm duỗi dài trên mặt đất chắc nịch và bất động, mà nhìn trời, nhìn mây, nhưng trời mây đối với chú không còn xa lạ như xưa nữa. Chú vừa ở trên ấy với chúng và trong mười lăm phút nữa, chú sẽ lại gặp lại chúng. Chú nhìn chim, kiêu hãnh như nhìn những đứa em nhỏ. Bay mệt chú nghĩ: không những thể xác nghỉ, mà để cho cả tinh thần vừa chịu đựng một sự căng thẳng đến như thế trong ba tiếng đồng hồ ở trên trời cũng được nghỉ ngơi.

        Pêchya đã vạch trước một chương trình hoạt động trong thời gian du lịch. Theo chương trình đó, trong lúc đang bay chú phải luôn luôn quan sát tất cả các hiện tượng thiên nhiên và ghi ngay lập tức những nhận xét của mình vào một cuốn sổ đặc biệt. Không kể những điều ghi chép đó có thể có một ý nghĩa quan trọng đối với câu lạc bộ của những nhà tự nhiên học trẻ tuổi mà Pêchya là phó chú tịch, còn phải thấy rằng thật là thú vị được đặt bút ghi lên trên đầu mỗi đoạn ghi chép: « vào hồi mấy giờ... mấy phút... mấy giây, theo giờ Trung Âu, nhiệt độ bao nhiêu, ghi chép trên máy bay số mấy... » Giá trị biết chừng nào, cuốn sổ « hàng không » lời lẽ vắn tắt này! Ngoài việc báo cáo mà Pêchya định tổ chức sau khi du lịch về, cũng không nên loại trừ khả năng in những số liệu khoa học quỹ báu đó trên báo Sự thật Thiếu niên. Pêchya khoái trá nghiền ngẫm cái câu tuyệt diệu « viết trên máy bay ».


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Bảy, 2020, 05:24:17 am

        Chú đã mang theo nhiều phong bì và giấy để viết thư cho gia đình và bạn bè. Pêchya định viết những lá thư đầu tiên ngay trên máy bay. Có thể tưởng tượng thấy những tiếng rú của mấy đứa em gái, thấy sự bồi hồi của bà, và niềm kiêu hãnh của mẹ chú khi người đưa thư đưa tấm bưu thiếp do tay đứa con trai uyên bác của bà viết ở trên máy bay, từ trên trời gửi xuống. Và đám bạn trai, bạn gái nữa! Cô Ôlia Netsaêva nào đó chắc sẽ tiếc đứt ruột vì đã cự tuyệt cái tình cảm sâu sắc của một cậu con trai đứng đắn, nhũn nhặn, lại dũng cảm, là Pêchya, để nhận cái tình bạn hời hợt, phất phơ của Victo Xađôpnikôp, một đứa đẹp trai thật, nhưng ngốc nghếch, dốt đặc, không có gì đặc sắc ngoài cái xe đạp và một bộ tóc húi theo kiểu người lớn. Pêchya sẽ không trách Ôlia Netsaêva. Lời lẽ chú viết sẽ lễ độ lạnh lùng và đường hoàng nghiêm chỉnh. Tóm lại là vừa vặn đúng mức: «6 giờ 45 phút, giờ Mạc-tư-khoa... trên máy bay số... nhiệt độ : 19 độ. Chào Ônga. Mình giữ lời hứa và viết cho Ônga mấy dòng này trên máy bay. Lúc này mình đang bay, ở độ cao 1400 mét so với mặt biển. Trời sương mù, tầm nhìn xa từ 800 đến 900 mét, gió nhẹ. Cho tới lúc này, không có sương giá. Mình vừa vào thăm buồng lái và làm quen với tổ hoa tiêu. Tốc độ bay 250 cây số; máy ăn dầu đều đặn. Ônga ạ, thật đáng tiếc chủ nhật vừa rồi, Ônga không đi Ivliazma đến nhà Tania Biriukôva với chúng mình được, hôm ấy vui lắm (phải gạch đít ba lần chữ «lắm »). Ônga, xin lỗi Ônga là đã viết ngắn thế này, nhưng thật mình không có thời giờ, mình phải luôn luôn theo dõi và ghi kết quả những nhận xét khoa học. Đáng tiếc là Ônga đã không muốn đi Kliazma. Mình đã kết bạn rất thân với Tatiana Biriukôva (gạch đít ba lần « rất thân »). Chúng mình đã phát hiện ra rằng giữa chúng mình có rất nhiều điểm hợp nhau. Pêchya Batsây, người bạn cũ của Ônga (gạch đít hai lần « cũ »). Gửi lời chào Victo ».

        Pêchya đã dự định viết cho tất cả các bạn, đại loại đều bằng những lời lẽ như thế. Bởi dự định ghi một cuốn nhật ký khoa học, v.v... Nhưng chú chưa thực hiện được điều gì cả. Chú đang quá mải với việc bay. Thời gian cũng chưa có gì là bỏ phí. Bây giờ sực nhớ lại, chú quyết tâm hành động. Chú rút ở trong túi ra tập bưu thiếp đã ghi sẵn địa chỉ, cây bút chì « Thiếu niên » vót nhọn và cục tẩy. Nằm dài thoải mái lên cỏ xong, Pêchya bắt đầu, cố hết sức để viết cho có vẻ cầu thả, đúng kiểu một bức thư gửi từ máy bay. Chú đã viết lên tấm bưu thiếp đầu: « Viết trên máy bay số 2897 ». Nhưng ngay lúc đó chú cảm thấy ngường ngượng. Vì Pêchya tính thật thà; chỉ hơi nói dối một tý chú cũng đã thấy nó thế nào ấy. Mười phút trước, chú còn ngồi trên máy bay, nhưng bây giờ chú đang nằm sấp bụng dưới đất. Máy bay có đậu bên cạnh chú thực và đang lấy thêm xăng từ một chiếc ô-tô chở xăng to tướng sang, và trong mười lăm phút nữa nó sẽ lại bay tiếp. Nhưng tất cả những cái đó không làm thay đổi được sự thực là: Pêchya đang không ngồi trên máy bay. Nhưng thư chú gửi đi mà không có những chữ : « viết từ trên máy bay » thì nó nhạt thếch. Chú không thể viết: « nằm dài dưới đất bên cạnh máy hay số 2897». Thế thì ngây ngô quá!

        Pêchya rất muốn bỏ bưu thiếp vào thùng thư Khackôp để nó đến Mạc-tư-khoa được càng sớm càng tốt. Nhưng chú không thể nói dối được. Khó xử quá! Chú đã định đành tiếc rẻ mà xóa những chữ thần diệu : « viết trên máy hay » đi. Nhưng bất thình lình chú nảy ra một sáng kiến tuyệt vời, nó lóe lên như một ánh chớp : chú sẽ lên ngồi trên máy bay và như vậy là có thể viết được câu « viết trên máy bay». Thế cũng như thật. Còn những « trời sương mù », « tầm nhìn xa » và « độ cao » thì, ôi chào, cũng không phải là dối trá gì nghiêm trọng lắm. Có chuyện trời sương mù không? Có. Tầm nhìn xa có không? Có. Về độ cao thì tạm cho là 1400 mét. Mới lúc nãy, trước khi tới sân bay Khackôp, họ đã chẳng bay trên cao 1400 mét là gì? Như vậy không thật hoàn toàn đúng, nhưng độ cao có không? Có đứt đi rồi. Cái lập luận lô-gích đó làm lương tâm Pêchya hết cắn rứt; chú thu các giấy tờ mang đi đường lại và với tay nắm lấy thang để trèo lên ngồi « viết trên máy bay ». Nhưng vừa lúc đó một tốp hành khách mới đến thu hút hết sự chú ý của chú.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Bảy, 2020, 05:25:55 am
        
10

         Họ tiến đến gần máy bay. Người phi trưởng bước những bước dài, cõng trên vai một cô bé mặc áo màu sặc sỡ. Một bà lão loắt choắt lon ton chạy bên cạnh, theo khướt mới kịp ông. Một tay bà lão cầm cái giỏ đan đựng đầy hành lý, còn tay kia cố túm lấy chân em bé. Bám chặt vào cổ người phi trưởng, em bé cứ kêu rú lên, cười giòn tan và giãy giụa hai chân.
 
        Đến gần sát máy bay, người phi trưởng thận trọng đặt cô bé xuống bãi cỏ đầy những bông hoa cúc tím. Bà lão sửa lại váy cho em bé đăng ngồi giận dỗi ra mặt. Không phút nào đứng yên chỗ, nó luôn luôn ngó ngoáy, đưa đảo mắt rất nhanh tò mò nhìn Pêchya.

        Dễ nó phải lên tám, nhưng trông khổ người thì có vẻ bé hơn. Pêchya tò mò nhìn em bé vui lính và nhanh nhẹn. Chú chưa bao giờ gặp một em bé dễ thương như thế. Nó không đẹp, theo nghĩa một cậu con trai Mạc- tư-khoa thường hiểu. Nó có cái duyên đáng miền Nam của một cô gái Ukren. Tất cả ở em làm cho người ta ngạc nhiên vì những màu sắc lạ mắt, rực rỡ đồng thời lại êm dịu : chân đi đôi giày cao cổ màu đỏ, mình mặc váy cộc xinh xinh, áo sơ-mi thêu tay rộng, tóc tết đuôi sam với những dải băng xanh đỏ. Một chuỗi hạt pha-lê đung đưa trên cái cổ mảnh khảnh sạm nắng. Trên mái đầu bé xinh xinh tóc đen bóng, chênh chếch một vòng hoa cúc tím mà em đã kịp tết trong khi chờ đợi máy bay. Nhưng duyên đáng nhất ở em là nước da rám nắng đến nỗi đôi má hồng tươi khó khăn lắm mới lọt qua được lần da sạm. Cặp mắt hạnh nhân màu nâu với lòng trắng bóng nhẫy long lanh dưới hàng mi đen trông như những cảnh chè khô. Ở chỗ khác, trên miền Bắc em có vẻ lòe loẹt quá đây, nhưng ở đây, trên sân bay miền Nam này, giữa những đóa hoa cúc tím, những hoa anh túc dại, em lại rất đúng chỗ như bông cẩm quỳ hay đóa hướng dương mọc trước một ngôi nhà nhỏ quét vôi trắng.

        — Thế nào? — người phi trưởng nói với Pêchya, —  chú có ưa cô bé Ukren này không? Chú có thể làm quen được đấy. Galòska, bắt tay chú bé này đi.

        Cô bé giơ cho chú một bàn tay đen sạm mà lòng bàn tay lại trắng hồng và nhìn thẳng vào mắt chú, rồi từ chân lên đầu. Pêchya thẹn quá đưa tay ra bắt và mỉm cười ra vẻ kẻ cả.

        — Galina, — cô bé nói.

        — Pêchya, — chú bé trả lời.

        — Làm quen thế là xong, — người phi trưởng nói.

        Hành khách lại một lần nữa cười ồ.

        Mọi người trèo lên máy hay. Pêchya để ý thấy bà lão bé nhỏ vẫn đứng dưới đất: em bé đi một mình.

        Vừa bước vào buồng lái, phi trưởng vừa nói với Pêchya :

        — Đừng có trêu chọc em nhá! tôi giao nó cho chú trông đấy!

        — Vâng! — Pêchya làu bàu đáp.

        Chú liếc nhìn em bé mặc dầu hơi loạng choạng vẫn cứ đứng ở trên sàn trong khi máy bay đang tăng tốc độ. Pêchya ngồi vào ghế, đặt giấy tờ lên đùi, định viết.

        Chú bảo cô bé:

        — Em đừng sợ. Trông anh đây, anh có sợ đâu. Cứ bám vào ghế ấy, hay tốt hơn là ngồi vào.

        — Em không thích ngồi, — cô bé nói.

        — Thì đứng, nhưng đừng đứng trước mặt anh, và đừng có quấy rầy anh, anh đang muốn viết thư.

        — Không đâu !

        Pêchya thật không ngờ nó lại trả lời thế. Chú đứng dậy sửng sốt.

        — Cái gì, thế nào là không đâu? — Chú nghiêm  khắc hỏi.

        — Không đâu ! — cô bé nhắc lại. — Em không thích đứng. Em thích chạy. Ta cùng chạy nào!

        — Đi tàu bay thì phải ngồi ngay ngắn, — Pêchya nghiêm nghị phê bình, — và nhất là không được chạy.

        Đứng đây mả nhìn ra cửa sổ. Giúp anh ghi những nhận xét về khí tượng — chú nắm lấy vai cô bé và dí đầu nó vào cửa kính. — Nhìn đi, quan sát đi. Khi nào máy bay cất cánh, thì báo hiệu cho anh ngay. Lúc ấy là lúc quan trọng lắm đấy. Anh sẽ ghi ngay vào cuốn nhật ký bay của anh.

        — Không đúng ! — cô bé vừa lắc lắc cái đầu tết băng vừa ương ngạnh nói.

        — Thế nào, không đúng là thế nào ?

        — Không đúng. Máy bay đã bay từ nãy rồi.

        Pêchya mím một nụ cười kẻ cả.

        — Chưa bay đầu, đang chạy đấy thôi.

        Phía dưới chiếc cánh lớn, cây có dưới sân bay như ướt sướt mướt, chạy ngược về phía sau. Trông gần quá, tưởng như có thể giơ tay sờ được. Bất thình lình, từ phía dưới, một cái cây khổng lồ đột ngột hiện ra. Nó khua cá cái khối tối sầm của nó vào thẳng giữa mặt Pêchya và mặt trời như lấp lánh trên muôn vàn cánh lá của nó. Chú bé lùi xa ra khỏi cửa sồ và kêu thốt lên :

        — Ối!

        Chú co dúm người lại, nhắm mắt chờ đợi cái va chạm khủng khiếp, tan tành ra từng mảnh. Nhưng chẳng thấy gì cả, chỉ nghe thấy tiếng cười khiêu khích và giòn tan của cô bé đang reo lên :

        — Thế mà không biết xấu hổ, anh sợ à? Lêu lêu ! Tái mặt lại kìa!

        Pêchya rụt rè mở mắt nhìn ra cửa sổ. Phía dưới cánh, một mái ngói lướt tới vùn vụt. Sát quá, tưởng như máy bay sắp quệt vào loạt ngói đen đen và hất đổ cột ống khói có con mèo đang thản nhiên sưởi nắng bên cạnh. Chú bé lại lùi lại vả nhắm mắt.

        Lần này cô bé nhìn Pêchya tái mặt bằng con mắt tò mò.

        — Thấy chưa, thế mà anh cứ cãi mãi, cứ bảo là tàu hay đang chạy chứ không phải bay. Em nhất định không phải nó đang chạy mà nó đang bay đấy. Em nói mới đúng. — Rồi tiếp bằng giọng kẻ cả — Chưa gì đã hoảng lên như thế là không nên. Đội viên ai lại thế!

        — Anh thấy hình như..., — Pêchya xấu hổ lắp bắp.

        — Hình như, hình như, — cô bé chua ngoa nhại lại, tay giơ lên sửa vòng hoa trên đầu, tất nhiên là bắt chước cử chỉ của một người nào đó, của bà nỏ, chắc thế.

        Cô bé mắng thêm Pêchya một hai câu nữa, rồi xoa:

        — Không sao, dần dần rồi quen thôi. Chắc anh đi máy bay lần đầu? Phải không?

        — Làn đầu tiên, — Pêchya thừa nhận.

        — À, thảo nào.

        — Sao lại « thảo nào »?

        — Thảo nào. Anh thấy bay là là thì sợ đấy thôi! Phải không? — cô bé nhún vai.

        Pêehva bứt rứt ngọ ngoạy trên ghế.

        — Sao, bay là là à ? — chú quay ngang quay ngửa nhìn tứ phía, hỏi.

        Cô bé mỉm cười ra dáng kẻ cả:

        — Cái anh chàng này buồn cười thật! Chúng mình bay như thế từ bao lâu rồi. Đừng sợ! Chả có gì đâu.

        Nó kéo chú bé ra cửa sổ. Dưới cảnh máy bay, những con đường diễu qua với những cột dây thép, những luống có, những giếng nước. Cái bóng lớn máy bay với đôi cánh nhọn trải ra trên những vườn cây, gẫy gập lại trên những dẫy hàng rào, nhảy lên những cây cao, rồi lại tụt xuống, hùng dũng lao trên những cánh đồng lúa mì rộng của nông trường, rậm rạp và lởm chởm như một tấm lông thú. Động tác mạnh mẽ của máy bay làm ngợp đến đứt hơi. Trêu ngươi sức hút của trái đất, nó chẳng thèm bay cao trên các tầng mây, cứ là là mặt đất, gầm thét nạt nộ những con cừu làm chúng kinh hãi chạy trốn tán loạn, khua lên những đám mây bụi trắng.

        Pêchya không sợ nữa, tâm hồn chú rạo rực một cảm xúc đặc biệt, khác hẳn với cái thích thú khi bay trên độ cao hai nghìn mét, chậm dè dè và hầu như không nhận thấy, giữa những tầng mây lớn mây nhỏ lững lờ trôi như đang ngủ trên núi đồi của thế giới. Ở trên ấy, mặc dầu  tai nghe ù ù và mặc dầu có bản đồng ca hùng tráng của các động cơ, vẫn chỉ là một sự chiêm ngưỡng bình thản. Còn đây là cơn mê loạn của động tác nhanh ngợp kinh hồn, của cuộc chiến đấu đầy nguy hiểm với không gian và thời gian. Ở đây, máy bay không còn là một cánh chim nữa. Nó cắm đầu lao thục mạng, như một chiếc ô-tô bay, gần như sạt mặt đất, nhảy chồm chồm qua bao nhiêu cây cối và những đống rơm rạ. Pêchya có cảm giác như chính tay mình, nằm vào lưng ghế đằng trước, đã ra sức đẩy chiếc máy bay tới trước, tới trước mãi, về hướng nam, đi tìm một hạnh phúc mới lạ.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Bảy, 2020, 05:27:59 am

       
11

        Máy bay bay nhanh quá, thiên nhiên đổi thay nhịp nhàng quá đến nỗi Pêchya mất hẳn khái niệm về thời gian. Chú mải mê với màu sắc của đất trời miền Nam đang bao quanh chú. Đã từ lâu không còn trông thầy những cánh rừng thông nữa. Những cây bạch dương đã biến mất. Khắp bốn bề thảo nguyên trơ trụi và vẳng lặng lạ thường trải ra mãi đến tận chân trời. Những cối xay gió mà Pêchya chưa từng thấy, xuất hiện. Dọc các khe nổi lên những ngôi nhà nhỏ trắng của những thôn xóm lớn. Quanh các ao nhỏ, trông cứ tưởng như nước ấm lắm, có những lùm cây bụi bậm hắt lên những ánh mờ bàng bạc dưới nắng. Tất cả đều mới, đều lạ. Nhưng mới lạ nhất là cái ánh nắng chói chang. Không khi đỏ rực và thấm đầy không phải chỉ nhũng tia có thể  thấy được, mà cả những tia cực tím bí hiểm bên ngoài, chúng lướt trên mặt da với một sức mạnh hầu như sờ thấy được và gần như đốt cháy da.

        Trong máy bay mỗi lúc một thêm nóng. Nhưng đó là một hoi nóng nhẹ nhõm, tốt lành. Pêchya toát mồ hôi. Chú buồn ngủ. Bỗng, chú nhớ rằng mình còn phải ghi những nhận xét về hiện tượng thiên nhiên, phải chuẩn bị tài liệu khoa học cho báo Sự thật Thiếu niên, viết những tấm bưu thiếp gửi từ trên máy bay đi cho bạn bè thân thuộc. Lúc này, các tấm bưu thiếp ấy mới thật là giá trị. Không những nó sẽ có câu chú thích hấp dẫn lòng người « Viết từ trên máy bay », mà còn có thể ghi thêm bằng một nét viết tháu gần như đọc không rõ: « trong khi bay là là mặt đất». Để rồi xem Ôlia Netsaêva sẽ phản ứng như thế nào, và cái thằng Victo Xađôpnikôp chúa ba hoa tự đắc kia sẽ ngẩn tò te như thế nào. Không phải là chuyện đùa nữa đâu. Không, các bạn ạ, người ta không thể bỏ lỡ một cơ hội như vậy ở trên đời. Một dịp như thế này chỉ xảy ra một lần thôi. Pêchya cựa mình và lục tìm ở túi áo trong những thứ để viết. Chúng đã biến đâu mất cả. Chú bé giật mình ngồi thẳng dậy và cảm thấy có cái gì đang tụt xuống trán. Chiếc mũ lưỡi trai đã biến mất và thay vào chỗ nó là một vòng hoa cúc tím. Galia đang ngồi trên đống va-li ở đuôi máy bay, đầu đội chiếc mũ lưỡi trai của Pêchya, chân đung đưa, và đang cầm bút chì hí hoáy vẽ lên các tấm bưu thiếp của chú.

        — Đích con bé này rồi! — chú đỏ mặt thốt lên.

        Điều mà Pêchya sợ nhất trên đời là sự lố bịch! Ấy thế mà bây giờ, đúng vào lúc trang nghiêm đang bay là là mặt đất một cách hào hùng này, trước mặt đông đủ hành khách chú lại đóng vai một thằng ngốc mồ hôi mồ kê nhễ nhại, đầu tóc bờm sờm, mặt đỏ bừng và bối rối, thậm chí trên đầu lại đội một vòng hoa chứ không phải chiếc mũ lưỡi trai bị đánh cắp. Rõ thật là đẹp trai! Chú tức giận và nhục đến phát khóc lên được.

        — Trả ngay các thứ cho tao, — Pêchya nói, đôi mắt đen nhánh long lên sòng sọc — Hiểu chưa? Ngay lập tức!

        Nhưng câu nói của chú không gây một tác động gì cho em bé cả. Nó nhìn Pêchya đang giận dữ, xua xua tay, và bỗng dưng cười như nắc nẻ ; tiếng cười của nó trong trẻo và thơ ngây đến nỗi người ta có cảm giác như trong máy bay có một cái chuông nhỏ xíu bằng pha-lê đang rung.

        — Liệu hồn, đừng có mà làm bẩn bưu thiếp của tao, — Pêchya tuyên bố, nghiêm nghị dằn từng tiếng — Đừng có mà vẽ vào giấy của tao. Giấy tao để nghiên cứu khoa học đấy. Hiểu chưa?

        Nhưng chú thấy rõ là con ranh không cần hiểu gì cả. Nó xun mũi lại và thè lưỡi ra với chú. Chú bé mất hết bình tĩnh. Chú quên phắt cả địa vị quan trọng của một nhà hoạt động chính trị, phó chú tịch câu lạc bộ những nhà khoa học tự nhiên trẻ tuổi thủ đô, và xông lên chiến đấu với những tiếng hò thét hùng hổ.

        — Trả bưu thiếp tao đây! Trả mũ tao đây! Mày mà không trả thì...

        Nhưng tóm được con bé chẳng phải dễ gì. Nó nhảy thoăn thoắt từ chiếc va-li nọ sang chiếc va-li kia như một con vượn. Nó lánh, ngã, cười sằng sặc. Những hạt trai nhảy lên, những dải băng bay phất phới. Vị phó chủ tịch vất vả lắm mà vẫn không làm gì được con bé ranh ma và mau lẹ như một quả cầu bằng bạc long lanh kia.

        — Bố ơi! Bố ơi! — Pêchya sụt sịt khóc — Bố bảo nó trả ngay cho con những thứ của con đi!

        Nhưng ông bố hình như không muốn bênh thằng con vụng về của mình. Tất cả cảm tình của ông hướng về phía em bé khôn khéo và nhanh nhẹn.

        — Thiếu niên với lại phó chủ tịch gì mà lại chịu thua một em bé tí xiu thế kia! — ông vừa nói vừa thú vị ngắm nhìn bé Galina mặt đó như gấc; lợi dụng cơ hội ấy nó vớ lấy vòng hoa trên đầu chú thiếu niên, cuộn tròn lại trong tay và tung lên trời.

        Pêchya đưa mắt thảm hại nhìn đám hành khách, nhưng chẳng tìm thấy ở họ một chút thông cảm nào cả. Họ cười trước cuộc đọ sức ngộ nghĩnh, trước cái trò tiêu khiển nhỏ này. Chú bé hiểu là họ chê chú vụng, đồng thời về hùa với con bé. « À ra thế! — chú nghĩ bụng — rồi sẽ biết tay ». Và nhảy thoắt lên đống va-li, chú túm được vai em bé.

        — Trả đây! — chú rít lên.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2020, 07:20:18 am

        Nhưng ngay lúc đó, con bé đã co người lại và luồn xuống phía dưới như rơi tuột khỏi tay chú. Trong chớp mắt nó đã rời khỏi đống va-li và lách như một con trạch xuống dưới đống vải bạt che động cơ. Pêchya lao bổ sấp xuống. Nhưng em bé đã kịp chui từ dưới đống bạt ra phía đầu đàng kia. Nó đứng phắt dậy trên đôi chân nhỏ, thanh, rắn chắc và chạy về phía buồng lái. Pêchya xoa cái đầu gối đau, đâm bổ theo, nhưng nó đã kịp chui vào trong buồng, thè lưỡi ra với Pêchya và đóng sập cánh cửa nhỏ bằng nhôm vào mũi chú. Pêchya đẩy mạnh cửa và vừa đập vừa kêu :

        — À, à! Hèn lắm! À, à! mày sợ ư? Trả ngay bưu thiếp của tao đây.

        Cánh cửa mở ra và ngay trước mũi Pêchya xuất hiện cái thân hình cao lớn của ông phi trưởng.

        — Thôi, bầy chim non của tôi, thế là đủ rồi, — ông nói với vẻ không bằng lòng — Định phá máy bay thì bảo. Đùa thế đủ rồi, không tòi ném cả ra ngoài trời đấy. Thôi!

        — Nhưng nó phải trả bưu thiếp và mũ của cháu đã, —  Pèchya nói, nét mặt sa sầm, và cố lách vào bên ông phi trưởng để chui váo buồng lái.

        — Bác Vaxya ơi, đừng cho anh ấy vào, — em bé từ đằng sau người phi còng ngó ra, kêu nheo nhéo và thè lưỡi ra với Pêchya.

        — Bác bảo nó đừng trêu cháu nữa. Làm sao lúc nào nó cũng thè lưỡi ra với cháu ?

        — Thôi, lũ nhỏ này! Bác không nhịn được nữa đâu! —  và làm ra vẻ giận dừ ghê gớm, một lay túm chặt lấy cổ Pêchya và tay kia túm cổ Galôska, ông kéo hai đứa trẻ đến gần nhau — Dàn hòa di!

        — Nó phải trả các thứ của cháu đã.

        — Nhưng anh ấy không được đuổi cháu cơ.

        — Dàn hòa đi! — người chỉ huy gầm lên.

        — Lỗi tại nó. Nó phải dàn hòa trước !

        — Không, không. Tại anh ấy gây sự trước !

        — Ganka, đừng nói dối, —người chỉ huy nghiêm nghị nói — Bác thừa biết tính cháu rồi. Chắc chắn là cháu đã gây sự trước cũng như mọi lần. Dàn hòa đi! Cháu nghe rõ không?

        Bé Galina ngước đòi mắt màu nâu sáng nhìn ông từ dưới lên trên, hơi nhíu mắt và như có phép lạ, trở ngay thành một em bé ngoan ngoãn dịu dàng. Em nhũn nhặn nhìn xuống, sửa lại cái váy xinh xinh và, mắt không thèm nhìn Pêchya, từ sau lưng người phi trưởng

        chìa ra cho chú cả bưu thiếp và mũ, Pêchya cầm lấy và ngạc nhiên thấy bưu thiếp và giấy của chú chẳng bị vẽ bẩn tí nào.

        — Em chỉ giả vờ thôi. Em có vẽ đâu — Galina lễ phép nói, mắt vẫn không nhìn vào Pêchya.

        — Cảm ơn, — Pêchya lầu bầu, hơi xấu hổ nhưng vẫn tức.

        — Thế nào? — Phi trưởng hỏi.

        Em bé, vẫn nấp sau lưng phi trưởng, chìa ra cho Pêchya một bàn tay với ngón tay út sạm nắng cong cong.

        — Thế nào? — Phi trưởng nhìn Pêchya, nhắc lại.

        Pêchya, vẫn xấu hồ, nhìn phi trưởng và ngón tay út cong cong, không hiểu người ta muốn gì mình.

        — Thế nào, — phi trưởng nhắc lại và đẩy Pêchya về phía em bé, — chú không biết phải làm thế nào hay sao?

        — Cháu không biết.

        — Cái anh chàng này buồn cười thật! Thế chưa rõ hay sao?

        — Rõ cái gì cơ ạ?

        — Em nó muốn dàn hòa với chú.

        — Có lẽ ở Mạc-tư-khoa người ta dàn hòa không giống như ở đây, — cô bé nhận xét.

        — Thế ở Ukren bạn, người ta dàn hòa như thế nào? — Pêchya hỏi, trong bụng rất tò mò.

        — Tùy từng nơi. Ở chỗ em, Khackôp chẳng hạn, thì dàn hòa như thế này. — Và có bé thích thú trình bày cách dàn hòa ở Khackôp. Em móc hai ngón tay út vào với nhau, lắc lắc mấy cái rồi lại bỏ ra. — Anh có muốn làm thế không?

        Pêchya nhún vai ra đáng kẻ cả.

        — Làm thì làm.

        Chú giơ cho em ngón tay út gập cong lại như cái quai chén. Hai đứa trẻ móc những ngón tay bé tí vào với nhau và thẹn thùng như thường tình sau một cuộc dàn hòa, chúng lắc lắc tay rồi rụt lại.

        — Hòa chứ? — cô bé vui mừng hỏi.

        — Hòa, — Pêchya thản nhiên đáp lại, mặc dầu trong thâm tâm chú cảm thấy nhẹ nhõm vui vui, và có phần phấn khởi nữa là khác.

        — Cuộc tranh chấp kết thúc, — phi trưởng tuyên bố, và vị thần hòa bình bệ vệ rút lui vào trong buồng lải.

        Hai đứa trẻ liếc trộm nhau một lát. Chúng không biết sau khi đã chính thức ký kết hòa bình thì nên có thái độ như thế nào. Cô bé phá tan băng giá trước.

        — Này, em bảo cái này, — em nói với Pêchya bằng một giọng bí mật làm như vừa khám phá ra được một cái gì vô cùng nghiêm trọng.

        — Cái gì?

        — Chúng mình đi chơi trong máy bay đi!

        — Đễ làm gì? — Pêchya giữ vững cương vị một đội viên thiếu niên vững vàng và chín chắn, phó chủ tịch câu lạc bộ những nhà khoa học tự nhiên trẻ tuổi, hỏi.

        — Để chơi! — cô bé lắc lắc những dải băng và hạt trai, nhởn nhơ trả lời.

        — Ừ thì đi, — bị cái vẻ nhởn nhơ duyên đáng của em bé lôi cuốn, Pêchya hiên ngang đáp lại một cách đột ngột.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2020, 07:20:34 am

        Giờ cuối cùng của cuộc du lịch bằng máy bay trôi qua mà hai đứa trẻ không hề hay biết. Thoạt đầu, chúng diễu đi diễu lại trên lối đi nhỏ hẹp giữa hai dãy ghế. Chúng không đi bên nhau, mà đứa trước đứa sau, thân mật, đẩy lưng nhau, lúc thì Pêchya đẩy lưng Galia, lúc thì Galia đẩy lưng Pêchya. Rồi Galia xin được phép bác Vaxya cho vào chơi một lát trong buồng lái, ngồi ở cái góc chật chội bí hiểm, nơi mà người báo vụ viên làm lì ngồi cúi bên mát vô tuyến điện khẽ dập dập cái cần và luôn luôn nói chuyện với sân bay Ôđetxa. Rồi chúng lại nối đuôi nhau đi dạo trong máy bay, trịnh trọng ngồi xuống đống vải bạt che máy. Cô bé nói huyên thuyên và Pêchya được biết khối điều lý thú về em.

        Em sống ở Khackôp với bà nội, và bây giờ em đi Ôđetxa thăm bố là chiến sĩ biên phòng; bác Vaxya, ông phi trưởng, là một bạn cũ của bố, và mỗi lần em đi thăm bố, bác Vaxya lại đưa em đi bằng máy bay. Em còn kể rằng mình có đi học, lớp một, và hiện nay đã lên lớp hai; em tham gia câu lạc bộ múa dân gian, đã hai lần múa ở sân khấu câu lạc bộ đường sắt. Pêchya cũng biết thêm rằng mẹ của Galia chết từ lâu và bố bà ta tức ông ngoại Rôđiôn Ivanôvich Jukôp, trước là lính thủy của hạm đội Hắc-hải, một người đã tham gia cuộc khởi nghĩa của chiến hạm Pôtemkin nổi tiếng. Ông ngoại hiện đang ở thành phố Nikôlaiep.

        Thế đấy! Ra đây không phải là một em bé tầm thường tỷ nào. Trí tưởng tượng của Pêchya đặc biệt bị kích động vì người ông ngoại kia ở chiến hạm Pôtemkin, chiếc chiến hạm lịch sử mà Pêchya đã từng được đọc chuyện ở trong sách, được thấy trong phim ảnh và được bố thỉnh thoảng kể cho nghe. Thật không ai ngờ, và cũng hơi đáng kinh sợ khi tưởng tượng rằng ở một thành phố xa lạ tên là Nikôlaiep, hiện nay đang có một người đã từng tham gia cuộc khởi nghĩa cách mạng đầu tiên trên hạm đội Nga hoàng.

        Đối với Pêchya thì ngay cả Tháng Mười vĩ đại cũng hình như xa xôi lắm, bên ngoài giới hạn của cuộc sống. Và cuộc cách mạng đầu tiên năm một nghìn chín trăm linh năm, đối với chú hoàn toàn là lịch sử cổ đại chỉ được biết qua sách vở và phim ảnh, với những chiến lũy đường phố của nó, với những đội kỵ binh Cô-dắc, những sinh viên, công nhân, những lá cờ đỏ, với trận cháy phố Prexnya, với những người cảnh binh và những đường dây điện thoại bị cắt đứt rơi lằng nhằng buông thõng nặng nề xuống tận đất. Và có biển Hắc-hải mù mịt làn khói ghê rợn của hạm đội, và bóng đen của chiếc chiến hạm ba ống khói, như một bóng ma, xuất hiện từ trong đêm tối bão táp bên bờ biển cao cao với một lá cờ nhỏ cắm trên tháp súng. Bão táp lồng lộn trong cổ áo các lính thủy, những dải băng thánh Jorjơ màu đen và da cam với chiếc mỏ neo bằng vàng, những con chim hải âu vừa kêu vừa sà xuống thánh từng hàng trăng trắng từ mặt sóng màu xanh đồng lại bay vọt lên; một thủy thủ trẻ tuổi, chắc, mập, Rôđiôn Jukôp, đang ưỡn ngực đứng trên ngọn cột buồm, tay cầm mũ vẫy vẫy. Và Pêchya thấy khó tưởng tượng được rằng anh ấy chính là ông Rôđiôn Jukôp đang sống ở trên đời, tại Liên-xô, trong thành phố Nikôlaiep, và chính anh là người mà em bé ranh mãnh kia gọi một cách rất bình thường là ông ngoại Rôđiôn Ivanôvich.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2020, 07:21:16 am

       
12

        — Ồ, cái gì thế kia? — Pêchya bỗng kêu lên — Bố ơi, trông kia, xe tăng!

        Bốn chiếc xe tăng đang khua bụi, bò trên đồng có, dàn thành đội hình chiến đấu. Bỗng một chiếc dừng lại, quay tháp bắn. Cùng lúc đó, chú bé để ý thấy ở trên thảo nguyên có những đơn vị bộ đội khác, nữa, chứ không phải chỉ có xe tăng. Một hàng dài bộ binh nằm phủ phục dưới đất. Đúng lúc ấy, họ bắt đầu thay đồi vị trí. Một chiến sĩ đứng bật dậy, cúi lom khom, lao lên phía trước, nằm xuống, rồi người thứ hai, thứ ba. Họ nối tiếp nhau chạy và nằm xoài xuống bãi có bụi. Trên đường cái, một xe bọc sắt nhỏ mở hết tốc độ lao lên. Một máy kéo, thở khói xanh, kẻo một chiếc xe vận tải khổng lồ nhảy chòm chòm trên ổ gà.

        Hai chiến sĩ nhỏ tí xíu vác sào và những cuộn dây đang rải dây điện thoại. Xa xa, mãi gần chân trời, xuất hiện những đảm lửa và những cột khói đen phụt tung lên trời.

        Pêchya thoảng nhìn thấy tất cả những cái đó cùng một lủc.

        — Chiến tranh ! — chú kêu lên, với một niềm xúc động bất ngờ, má không hiểu gì về mối đe dọa và sự kinh khủng chứa đựng trong hai tiếng đó.

        — Không phải chiến tranh đâu, diễn tập đấy, — em bé nói — Hiện lúc này ở quân khu Ôđetxa đang diễn tập quân sự.

        Em bé đã nói lên những tiếng « quân khu Ôđetxa » với một vẻ hiểu biết và một giọng bình thường quá, khiến Pêchya phải vì nể, ganh tị liếc nhìn về phía có bé gì cũng biết kia.

        Trong buồng lái, không khí mỗi lúc một thêm nóng. Cảnh đất nước lại đổi thay một lần nữa. Giờ đây là vùng thảo nguyên thực sự của Hắc-hải, đôi chỗ có một vẻ hoang vu cổ xưa, khô cằn và vàng ệch, mặc dầu đang độ tháng sáu. Vài cái hồ lớn bằng phẳng xuất hiện trên đồng có. Hành khách xôn xao và bắt đầu nhìn qua cửa sổ. Bóng máy bay lướt trên các vịnh nước thấp có những vệt lăn tăn đang chạy. Nhiều dải cát xanh xám hiện qua lần nước sánh màu hoa mua, sâu đến nỗi đôi chỗ nó ánh hồng, thậm chí đỏ tía.

        — Đầm nước mặn Tiligun ! Đầm nước mặn Tiligun !— em bé kêu lên và mừng quýnh vỗ tay — sắp tới Ôđetxa rồi, em sắp được nói chuyện với bố rồi.

        Em bé xúc động quá đến nỗi bắt đầu chuyển sang nói tiếng Ukren, và vừa liếc trộm Pêchya, em vừa đỏ mặt thẹn.

        — Chúng mình sắp qua Đôlinôpka, em xem xét địa thế rồi nói.

        Nghe những tiếng kỳ dị: đầm nước mặn Tiligun, Đôtinôpka, Pêchya cảm thấy tim hơi lạnh thót lại. Vì thế chú cũng đỡ ngó ngoáy. Chú tiến lại gần bố — ông vẫn không rời mắt khỏi cửa sổ và hau háu nhìn ra ngoài — rồi nép mình vào bố như muốn yêu cầu ông chia sẻ nỗi bồi hồi của đứa con trai. Piôt Batsây hiểu tâm trạng của con. Ông lột cái mũ lưỡi trai trên đầu con và, vò rối mớ tóc nóng ẩm của nó, ông âu yếm nói:

        — Thế nào, Pêchya, đi tàu bay có thích không?

        — Thích lắm, — chú bé dịu dàng đáp lại.

        Ông bố bồi hồi chẳng kém gì con, có phần hơn nữa. Cả hai chen chúc bên khung cửa sổ hẹp, cố nhìn lên phía trước, bên trên cảnh, nơi không khí ban mai long lanh ánh bạc.

        Một cái gì trông khô khô, hồng hồng chạy ngược tới phía hai bố con.

        — Đôfinôpka, — ông bố tỳ trán lên khung kính không vỡ, nói.

        Pêchya cố nhìn, nhưng chẳng thấy gì cả ngoài vật hồng hồng, khô khô kia.

        Lối bay đã thay đổi rõ. Máy bay bắt đầu bay lên mỗi lúc một cao hơn, nhịp nhàng và nhanh, nhưng mắt hầu như không nhận thấy được. Chỉ thấy trong tai ù ù. Máy bay lên cao, cao dần, tưởng chừng như leo từng bậc một trên những dải không gian rộng lớn.

        — Biển! — người phi trưởng hiện ra ở bực cửa buồng lái, vui vẻ nói.

        — Biển ! — bé Galina kêu lên — Biển !

        — Hắc-hải! — Piôt Vaxiliêvich ôm chặt con trai vào người, dịu dàng nói. Nhưng Pèchya vẫn không trông thấy gì cả, Đôfinôpka cũng không, mà biển cũng không.

        — Đâu? Biển đâu? —chú bối rối thốt lên, trố mắt nhìn để thấy được biển, nhưng vẫn chẳng thấy gì cả, ngoài cái ánh sáng bạc lấp lánh phía chân trời.

        — Biến kia thôi! Ơ đây này, bên dưới. Bên dưới chúng ta. Sao, con không thấy à?

        Pêchya cố giương mắt nhìn xuống phía dưới, và bỗng dưng chú nhìn thấy, thăm thẳm ở phía dưới, một mầu bản đồ địa dư màu. Chú thấy rất rõ nét một đường ngoằn ngoèo ngăn cách đất liền màu gỉ sắt với nước biển xanh thẫm. Lượn về phía nam, máy bay vượt qua bờ biển. Nhiều nếp nhăn xanh dài xếp thành hàng dọc chạy theo bờ biển, vẽ lại rất chính xác đường cong của bờ.

        — Cái gì đấy hả bố? — Pêchya không hiểu gì cả, hỏi.

        — Biển đấy, sóng đấy.

        Đây đó trên bờ biển không biết có những hình quả trám nho nhỏ gì đen bóng, trông tưởng như in bằng thạch bản.

        Đó là những thuyền đánh cả và tàu đáy bằng. Chúng nằm chổng đáy lên trời. Đáy sơn bằng hắc in.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2020, 07:22:51 am

        Pêchya chăm chú nhìn. Đúng, hoàn toàn đúng. Đó là những chiếc thuyền đáy sơn hắc ín nằm sấp. Chú còn trông thấy nhiều vật nhỏ xíu rất lạ. Chú không kịp nghĩ xem đó là những cái gì vì trong nháy mắt chú đã hiểu được ngay. Đó là những mái chèo để bắt chéo nhau và những tấm lưới phơi lên trên. Chú trông thấy một đàn ngựa bóng loáng như những tấm gương để ngoái nắng, có lẽ vừa được tắm xong và người ta đang dẫn trở về thảo nguyên. Pêchya để ý thấy những hàng nếp nhăn xanh dài kia di chuyển và vào đến gần bờ thì gộp lại với nhau, biến thành những dải bọt trắng như tuyết. Nhưng còn chính bản thân biển thì đâu ? Pêchya đã chuẩn bị tinh thần để được thấy biển Hắc-hải rất to, rất dữ tợn. Nếu nó không đen kịt — chú nghĩ thế — thì ít nhất màu nó cũng phải tối sẫm với một đường chân trời hằn rõ. Thế mà chú chí thấy những chi tiết lặt vặt. Còn tất cả khoảng mênh mông của biển cả thì hòa lẫn vào trong cái ánh bạc chói chang của không khí, khiến lúc hướng về phía mặt trời gay gắt ban mai, người ta không thể trông thấy nó, mà chỉ đoán thấy nó. Nhưng cứ nghĩ rằng biển đã gần ngay đây kia, với tay là thấy, lòng chú bé cũng đã tràn ngập hân hoan. Bỗng trong cái ảo ảnh sáng lòa của ánh nắng, chú nhận ra một con tàu. Không phải một con tàu trên sông, mà là một con tàu thực sự, với một vành sơn đỏ trên chiếc ống khói đen và một dải khói nâu tỏa trên cái mặt nước sáng rực không trông thấy. Cử tưởng như con tàu đậu yên, không nhúc nhích. Nhưng chú bé biết là nó đang chạy. Nỏ chạy cùng một chiều với máy bay, về phía Ôđetxa.

        Máy bay lại lượn vòng một lần nữa. Con tàu đã khuất. Lại bay trên đất liền. Máy bay vòng theo một thành phố lớn. Thành phố dường như gần lắm, với những làn khói nhà máy, với bóng đáng những xí nghiệp, những bến tàu, những tháp nước có rào sắt, những máy trục, những nhà ga, những cầu chui. Pêchya nhìn thấy rõ những mái nhà chen chúc, những khu phố hình ô vuông, cái vịnh với con đê cảng1 ngoằn ngoèo và ngọn tháp hải đăng nhỏ, trắng như tuyết.

        Tất cả những thứ đó không gợi lên một cảm xúc gì đặc biệt hết, trừ cái thú được từ trên cao nhìn xuống thành phố, trông nó giống một bát chữ in, như những bát chữ mà gần đây Pêchya đã được xem ở Mạc-tư-khoa, lần đội thiếu niên đến tham quan nhà in baso Sự thật thiếu niên. Nhưng Piôt Vaxiliêvich thì phấn khởi lạ lùng, trông trẻ ra nữa. Pêchya chưa bao giờ được thấy bố bồi hồi như thế. Ông nhảy từ cửa sổ nọ sang cửa sổ kia, cô không bỏ sót một tý gì. Cái mà Pêchya coi rất bình thường là một cây đèn pha, một cái đê cảng, một cái vịnh, thì đối với bố chú đó là cây đèn pha Ôđetxa nổi tiếng, là cái đê cảng Ôđetxa nổi tiếng, là hải cảng Ổđetxa nổi tiếng, với vô số những công trình bê-tông mới nhiều tầng, những cần trục rất khỏe, những máy ướp lạnh, những đê gỗ2, vô vàn những phương tiện máy móc bốc dỡ khác nhau. Tất cả những cái ấy hợp thành một thành phố riêng biệt. Ông bố lẩm bẩm nhắc tên những phố, ngoại ô, quảng trường. Chốc chốc ông lại kẻo thằng con đến bên cửa sổ, bắt nó nhìn xuống phía dưới.

        — Trông, trông mau lên kìa! Thấy không, đây là cái mái tròn Nhà hát thành phố nổi tiếng của Ôđetxa đấy.

        Ông giơ ngón tay chỉ qua cửa sổ và âu yếm mỉm cười với cái mái tròn nổi tiếng. Chú bé vất vả lắm mới phát hiện ra cái mái nổi tiếng trông như cái vỏ ốc xanh; nó không gợi cho chú một chút say sưa nào cả.

        — Trông, trông kìa! Kia là Tsumka, kia là Xakhalinsic, kia là Cối xay Gần... Nhanh lên ! Sắp bay khuất rồi!

        — Đâu, cối xay đâu? — chú bé rối tinh lên, hỏi, không thấy bóng dáng một cái cối xay nào cả, và cũng chẳng hiểu Tsumka, Xakhalinsic là cái gì và có gì là ghê gớm.

        — Khỉ ơi, nói ít chứ, để mà nhìn! Làm gì có cối xay nào, tên gọi như thế thôi.

        — Nhưng đâu, nó đâu ?

        — Bay qua rồi, — ông bố rầu rầu đáp lại, — con thật là thộn quá! Đã để qua mất chỗ Cối xay rồi. Trông kia !Kia là cái máy trục. Thấy không ? Cái máy trục nổi tiếng của Ôđetxa.

        — Đâu? Cái máy trục nỗi tiếng đâu? — Pêchya quýnh lên hỏi.

        — Đây kia thôi! Con không trông thấy gì cả sao ? Kia kìa, chỗ màu xám ấy. Hai ngôi nhà cạnh nhau. Và kia là trường bắn.

        Pêchya cố nhìn kỹ xuống bên dưới. Nhưng máy bay lại lượn, và chú bé lại thấy thảo nguyên quen thuộc, khô cằn và xám xám.

---------------------
        1. Đê cụt bằng bê-tông để bảo vệ cảng chống sóng biển.

        2. Đê cụt bằng cọc gỗ đóng cách nhau để bảo vệ các tàu bè neo trong bến.



Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Bảy, 2020, 05:42:10 am
        
13

        Ở Ôđetxa, miền Nam độc quyền thống trị. Buổi sớm oi bức chói lòa trên cảnh lặng ngắt của đồng cỏ. Người ta cảm thấy nó nồng nặc mùi ngải non, mùi chĩa ba, mùi cúc tím và hương cây cỏ. Không khí phía chân trời nóng như lửa. Những bụi cây tua tủa và những ngôi nhà trắng của sân bay, rải rác trên những khu đất đã trở lại tình trạng hoang dại, động đậy, tỏa ra xa những lần sóng như những ảnh phản chiếu trên một dòng nước chảy.

        Pèchỵa được bố giúp đeo ba-lô lên vai và hai người đi ra cửa sân bay. Đám người ra đón bà con đi ngược lại phía họ.

        — Bố yêu ! — Bỗng Galia chạy lao tới, kêu nheo nhéo.

        Với đôi chân bé nhỏ, sạm nắng, trên người lấp lánh hạt trai và dải băng, bé chạy thật nhanh về phía một người đàn ông đang ngồi xổm giơ hai tay ra trước mặt em... Em nhào vào giữa, hai cánh tay dang thẳng ôm ngay lấy em tung hê lên trời.

        — Bố yêu ! Bố yêu của con ! — em vừa kêu vừa cười như nắc nẻ, vui không để đâu hết.

        Còn người kia thì tung hè em lên rất cao, đỡ lấy, vần em như vần củ khoai. Cái mũ lưỡi trai chiến sĩ biên phòng rơi xuống bãi cỏ trẳng hụi. Vòng hoa bay tung lên. Mái tóc đen của em bé nhảy múa trên vầng trán sạm nắng và đẫm mồ hôi.

        — Thôi, bố ! Bố ơi, đừng làm nữa!

        Em bé không kêu nữa, nó rên rỉ, gù gù như một con bồ câu, vui sướng đến mệt lả. Cuối cùng, ông đặt nó ngồi cưỡi lên trên cái cổ sạm đen của mình, nhặt mũ lưỡi trai lên phủi phủi.

        — Anh Pêchya ơi, lại đây, trông này! Bố yêu của em đấy, — em líu tiu nói rất cảm động.

        — Này, bố yêu ơi, anh ấy là Pêchya đấy. Anh ấy là một đội viên ở Mạc-tư-khoa. Chúng con cùng đi với nhau. Ở trên máy bay, con đã lấy hết bưu thiếp của anh ấy. Chúng con đã dàn hòa với nhau rồi. Bác Vaxya đã đứng ra dàn hòa cho chúng con. Mẹ anh ấy vẫn ở lại Mạc-tư-khoa. Anh ấy đi công tác với bố về Ôđetxa. Họ dang đi công tác đấy.

        Em bé riu rít mãi không thôi. Em vui sướng một cách thơ ngây thấy rằng mọi sự ở trên đời đã được xếp đặt khéo như thế. Em có một người bố và Pêchya cũng có ; hai đứa cùng đáp máy bay đi du lịch; hai đứa đã giận nhau tí ti và rồi, nhờ trời, đã dàn hòa được và mọi việc đều yên lành. Nhìn chung, cuộc đời đẹp quá.

        — Tốt lắm, — người bố yêu, xem chừng cũng cùng một tính tình với con gái, nói. — Chú này là chàng hiệp sĩ mắt xanh mới của con chứ gì. Có bạn mà đánh quen thì thích đấy.

        Và bố Galina chìa ra cho Pêchya bàn tay to, rắn, đen sạm với những móng tay trắng rất to bản.

        — Cháu không phải là hiệp sĩ — Pêchya vừa lầm bầm vừa chào rất ngượng nghịu.

        — Cháu là phó chủ tịch đấy, — bố Pêchya nói — đùa dai với ông phó chủ tịch là không xong với ông ấy đâu.

        — Bố cứ...! — Pêcliya nói hằng một giọng đau khổ và trách móc.

        — Càng tốt — người chiến sĩ biên phòng thốt lên. —  Chúng tôi thích các ông phó chủ tịch lắm. Phải không, Galina?

        Pêchya sắp tự ái đến nơi, nhưng ông bố Galina có một vẻ mặt ân cần cởi mở quá, với đôi mắt xanh lam, cái miệng rộng gió thổi se khô lại, và những giọt mồ hôi long lanh trên mũi; trông ông rắn rỏi quá, thoải mái quá trong đôi bốt dày bụi, trong chiếc áo va-rơi vải hạc màu, cô bé gập xuống, viền thêm một cái cổ khác khâu rất cẩn thận. Ông đậm đà mùi đồng cỏ quá làm cho Pêchya bỏ qua không nỡ giận, và cảm thấy tự hào được một vị chỉ huy biên phòng thực sự nói đùa mình. Nhân cơ hội gặp người am hiểu, chú định tranh luận về chuyện biên phòng, chuyện bọn khiêu khích, chuyên chó săn ; nhưng vừa lúc đó, một chiếc xe tải xuất hiện.

        — Thôi, Galina, con từ biệt chàng hiệp sĩ của con đi. Bắt tay ông phó chủ tịch đi.

        — Chào anh Pêchya. Khỏe nhé. Chúng tôi đi đây, — cô bé nói.

        — Galina về đâu ? — Pêchya hỏi, giọng luyến tiếc.

        Chú cảm thấy cuộc gặp gỡ đẹp đẽ này sắp đứt quãng đến nơi rồi. Chú sẽ không bao giờ còn được thấy cô bé vui tính và ăn mặc sặc sỡ này nữa.

        — Em đi Betxarabi, — Galina vui vẻ nói, rõ ràng là em không có một chút luyến tiếc gì phải xa rời Pêchya mãi mãi.

        Điều đó đã chạm lòng tự ái của chứ bé.

        — Thế mà anh cứ tưởng Galina về Ôđetxa ở?

        — Không mà.

        — Thế chúng mình sẽ không gặp nhau nữa ư?

        — Không, sẽ không gặp nhau nữa!

        — Thôi, con ơi, từ biệt thế đủ rồi. Ta lên xe thôi, bố chỉ được phép đến ba giờ. Chào ông phó chủ tịch!

        Người chiến sĩ biên phòng đặt em bé ngồi bên người lái xe. Rồi ông tự giới thiệu với bố Pêchỵa:

        — Trung úy Paplôp.

        — Batsây, — ông này đáp lại.

        — Tôi có biết đồng chí, — Paplôp nói, đôi mắt tươi cười — Hai năm trước, đồng chí đã đến nói chuyện ở một câu lạc bộ về lịch sử luật pháp xô-viết. Đồng chi có nhớ không? Tôi nhận ra ngay đồng chí. Đồng chi ở Ôđetxa có lâu không?

        — Hai ba tuần. Tùy tình hình công việc. Tôi có việc phải trọng tài ở đây.

        — Đồng chí có định đi thăm Betxarabi chủng tôi không?

        — Muốn lắm. Đó là cái mộng từ lâu của tôi. Có thể nói Betxarabi là quê hương thời thơ ấu của tôi. Bugadơ, Sabô, Akecman, Buđaki...

        Đôi mắt Piôt Vaxiliêvich long lanh khi ông nhắc đến những tiếng đó, nó đối với Pêchya cứ như những câu thần chú.

        — Vậy thế nào ?

        — Có cần giấy phép không?

        — Cần.

        — Cứ coi như là tôi xin được giấy phép, thì đi như thể nào? Tàu Tuôcghêniep không còn chạy nữa.

        -Tàu Tuôcghêniep ư? — Trung úv Paplôp tò mò nhìn Batsây, cho là ông nói đùa.

        — Thời tôi ở đấy, có chiếc tàu thủy nối tiếng tên như thế. Tàu đóng giữa thế kỷ thứ 19, có hai ống khói.

        — À, vâng! Tôi hiểu. Không, tàu Tuôcghêniep không chạy nữa. Nhưng đồng chí có thể tìm ô-tô mà đi, và...

        — Được, được, tôi sẽ hỏi thăm.

        — Vậy, xin mời đồng chí! Đồng chí nên đi thăm Betxarabi giải phóng. Có thể đồng chí sẽ có dịp bàn bạc với anh em sĩ quan chúng tôi về các vấn đề luật pháp. Anh em sẽ hoan nghênh lắm. Và, đôi với lũ trẻ thì mê lắm: biển, cát, đằm nước mặn... Này, ông phó chủ tịch, —  người sĩ quan nói với Pêchỵa, — ông có muốn du lịch bằng tàu thủy trên Hắc-hải một chuyến không?

        — Muốn thì có được không ạ? — chú ngập ngừng hỏi.

        — Muốn là được tất. Tôi chắc ông phó chủ tịch sẽ không phản đối. Vậy, xin mời đồng chí. Đồng chí sẽ không phải tiếc đâu. Đồng ý chứ?

        — Đồng ý! — Piôt Vaxiliêvich thốt lên vui vẻ — Đồng chí gửi cho tôi xin một giấy phép.

        — Chủng tôi sẽ gửi. Địa chỉ như thế nào ?

        — Khách sạn đó.

        — Đồng chỉ nói thực đấy chứ?

        — Thực trăm phàn trăm.

        — Vậy chúng tôi sẽ chờ.

        Trung úy bắt tay Batsây thật chặt rồi nhảy tót lên chiếc xe tải; nó lôi xốc trung úy Paplôp và đưa con gái của ông đi trong một đám mày bụi, — cái thứ bụi đặc biệt của bờ biền Hắc-hải với tất cả những dải băng, hạt trai, những bím tóc xinh xinh, cái làn của bà nó, vòng hoa cúc tím của Khackôp đặt lệch xuống bên tai.

        Còn lại một mình hai bố con Pêchya, và trong giây lát Piôt Vaxiliêvich cảm thấy trong lòng một nỗi lo âu khó tả, một tâm trạng nặng nè kỳ lạ, chẳng hiểu cái bóng râm kia đã bỗng dưng từ đâu tới, phủ lên mặt đất khô bóng ánh nắng tháng sáu.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Bảy, 2020, 05:43:25 am

       
14

        Không ai đến đón họ cả. Quả thực là ít lâu trước khi đi, Batsây có gửi cho Kôletnisuc một bưu thiếp, và cả một bức điện nữa, trước hôm lên đường. Nhưng không nên tin tưởng vào ông ta. Batsây biết tính Kôletnitsuc lắm.

        — Chậc — ông nhìn sân bay vắng vẻ, nói — thành phố cũng chẳng xa lắm, năm sáu cây số thôi. Đối với những nhà du lịch dày dạn thì ăn thua gì, phải không Pêchya?

        — Đúng thế, bố ạ — chú bé hòa theo thái độ vui vẻ của bố, mau mắn đáp lại.

        Piôt Vaxiliêvich cầm lấy tay Pêchya và hai bố con cất bước đi, dũng cảm như trong những giấc mơ của Pêchya: ông bố lớn tướng như thế và chàng con trai bé tẹo như thế, vai đeo ba-lô, hãnh diện, kiên cường, đơn độc.

        Thoạt đầu, họ bước trên có Via sân bay, rồi trên con đường bụi bậm của thảo nguyên, đi về phía thành phố. Pêchya thú vị ngắm nhìn bố mình trẻ lại, vui vẻ và can trường. Batsây bỏ mũ ra, vừa khua khua vừa thôi sáo bài hành khúc vui nhộn trong phim: chiền sĩ vui tính: «Ai suốt đời ca hát sẽ không bao giờ chết». Ông nới cà-vạt, cởi khuy cổ áo ra. Mải tóc sẫm màu hơi hoa râm của ông rẽ đường ngôi giữa, trên đỉnh dựng ngược cái chỏm bướng bỉnh như chỏm tóc trẻ con, đòi mắt ông long lanh như mắt con nít hau háu nhìn mọi vật quanh mình.

        — Thích không, hả Pêchya?

        — Thích lắm.

        Chú bé đã nói thật. Chú thích được đi tay khoác tay với người bố cao lớn và vui tinh, chú cảm thấy mình không những là đứa con yêu, mà còn là người đồng chí trẻ tuổi được quyền tự do và cái quyền độc lập đặc biệt đến mức nào đó, rất hiên ngang. Nhưng về cảnh vật miền Nam thì chú mong chờ nhiều hơn thế. Nó đã làm chú vỡ mộng. Nó khô cằn quá, tẻ ngắt quả. Hai bên đường, có những con trạch trên mọc dạ hợp. Đây là lần đầu tiên chú bé được thấy loại cây vô duyên ấy: đó là một thứ bụi rậm, thân rất mảnh và dài, lằng nhằng, vào nhau, phủ lên bờ đất những lùm lá bụi bám đen, lác đác ít hoa cánh sao xinh xinh hầu như trông không thấy, và màu tử đinh hương bạc bạc, có thể gọi là những bòng hoa « mồ côi». Đôi chỗ, phía sau con trạch lại trông thấy một cái mái lợp bằng đá đen, hoặc bằng lau sậy của một ngôi nhà dài trát đất sét trắng, cái cần giếng nghiêng nghiêng, những lùm lá xanh của một loại cây lạ, lăn tăn màu lạp phách biêng biếc, bụi trắng, giống như cây hồ ngươi. Bố chú kiêu hãnh nói đó là cây dạ hợp trắng nổi tiếng của Ôđetxa. Nó nặng trìu những chùm hoa trắng, đã khô nên hóa ra vàng vàng. Hoa rụng. Những ổ gà sâu trên đường đầy ắp nhũng cánh hoa. Một làn gió nóng thỉnh thoảng thổi qua, nhẹ bốc cánh hoa rắc lên mặt đường, nghe lao xao như tiếng lụa và trông như những con bướm chết đã để lại đó những đôi cánh khô.

        Chú bé thấy oi bức khó chịu. Chú bắt đầu kéo lê chân. Nhưng Piôt Vaxiliêvich thì hình như không biết cả đến cái nóng nực nữa. Bỗng, ông cất bước chạy, nhảy qua con trạch, rồi trở lại, người trắng những bụi, tai gài một cành nhỏ dạ hợp trắng.

        Vừa vặn lúc ấy, từ sau một quãng đường ngoặt xuất hiện một chiếc ô-tô. Đó là một chiếc xe cỗ lỗ sĩ mui bằng vải bạt. Trên ghế đằng sau, hai tay bám chặt vào mép mui, Kôletnisuc đang nhảy cẫng lên. Mặt ông toát lên một vẻ phấn khởi.

        — Đỗ lại, Xviatôxlap ! — Kôletnisuc trông thấy Piôt Vaxiliêvich và Pêchya, ra lệnh.

        Nhưng không phải dễ gì dừng được cái xe rõ ràng là đúng đến lúc này mới chịu bằng lòng chạy tử tế. Xe chưa đỗ, Kôletnisuc đã lựa lúc nhảy xuống, chạy tới chỗ Batsây. Chà, trông ông ta khác hẳn cái bác Kôletnisuc nhút nhát, vụng về đã đem đến Mạc-tư-khoa những bản báo cảo hàng năm và món «thỉ xa cúc»! Thật là một con người hoàn toàn khác. Mặc toàn vải, chẳng lúng túng ngượng nghịu tỷ nào, chân để trần, đã sạm nắng sớm, xỏ trong đôi dép, vẻ mạnh bạo, trông ra vẻ một vị đại úy hơn là một kế toán viên.

        — Sao anh không ra sân bay đón chúng tôi, hả đồ súc sinh? — Piôt Vaxiliêvich đôi mắt long lanh, ôm chặt lấy ông ta và vỗ vỗ vào lưng, hỏi.

        — Ấy, tại cái xe nó giở quẻ. À mà anh xem cái xe của tôi chưa? ... Xviatôxlap, cho xe lại đây, mau lên !

        Và thế là Pêchya đã ngồi bên anh tài xế Xviatôxlap, một chàng thanh niên kiêu kỳ đi giày thể thao, mặc áo may-ô đá bóng màu hoa li-la, gắn đặc những huy hiệu địa phương và những thứ linh tinh gì không biết. Bố chú và bác Kôletnisuc ngồi đằng sau. Xe ô-tô chạy nhong nhong về thành phố. Nó gầm gừ, đánh rắm phành phạch, lắp bắp và xoay xở mọi cách để hất những người cưỡi nó xuống đất bụi. Đôi lúc Pêchya thấy hình như nó lồng lên nữa. Nhưng không phải vô cớ mà Kôletnisuc đã đánh giá anh chàng Xviatôxlap kiêu kỳ kia là một tay lái cự phách, người tài xế kiêm thợ máy giỏi nhất vùng Ôđetxa. Với một vẻ kiên nghị không gì lay chuyển nổi và một vẻ lạnh như tiền, Xviatôxlap nắm vững tay lái chiếc xe bất kham, không cho phép nó chuệnh choạng tí nào. Nghiêm nghị, với cái mũi La-mã, với mái tóc bóng hất ngược ra sau và chụp trong một cái lưới, Xviatôxlap luôn tay luôn chân, đầy, đạp những cần và những bàn đạp ít ra cũng phải nhiều gấp đôi so với những ô-tô bình thường. Đôi lúc, người ta có cảm tưởng xe chạy được không phải nhờ đốt cháy khí nén trong động cơ, mà nhờ người lái nó đã đạp một cách không mệt mỏi lên những bàn đạp, như một người đi xe đạp vậy.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Bảy, 2020, 05:44:11 am

       
15

        Dầu sao, trước sự ngạc nhiên của Pêchya, xe ô-tô chạy cũng khá nhanh. Thoạt tiên là những bờ tường đá dài màu cát chạy ngược tới phía họ. Rồi bắt đầu đi ngang qua những ngôi nhà một tầng và đôi chỗ hai tầng cũng xây bằng thứ đá ấy, với mái tôn và những cái cửa vòm tròn ở giữa mặt nhà. Trong bóng tối thăm thẳm của một lò rèn, bên cạnh có những bánh xe mới làm nằm lỏng chỏng dưới đất, một ngọn lửa da cam đang phun phì phì, và một thanh sắt đó rực đang ánh lên những ánh âm thầm.

        Giờ đây, đường thành phố cũng như con đường lúc nãy, lắc rắc hoa dạ hợp. Bắt đầu vào thành phố. Một phố rộng và thẳng kéo dài mãi. Nếu không có dạ hợp trông suốt dọc đường thì nhìn nó có thể thấy tẻ ngắt. Nhưng như thế này nó lại duyên đáng, với cái vẻ hài hòa giữa ánh nắng và bóng râm. Qua lớp lá cành yếu ớt và trong xanh như màu nho, ánh lên những mặt nhà màu vàng cát của những ngôi nhà lớn nhỏ trong thành phố, với nhũng cổng tròn và những lan can sắt, có nhũng cây cảnh được đưa ra đặt ở đó để chờ mưa. Khắp nơi, cửa sổ đều để ngỏ. Trên hè phố lát đá xanh ánh các ô kính rung rinh chỗ tỏ chỗ mờ.

        Pêchya tò mò nhìn dân phố kéo cả gia đình ra ngồi ngoài hè trước cửa nhà để hưởng phút nghỉ ngơi ngày chủ nhật. Có cái gì đặc biệt miền Nam, hay hay và hơi quê mùa trong cảnh ngay ở đây, ngoài đường, dưới bóng dạ hợp trồ hoa cuối mùa, có những bếp cồn đang reo trên ghế đẩu.

        Các bà nội trợ đang nấu bữa ăn chiều ; mùi cá bể rán khen khét nhưng thơm ngon hòa vào mùi dạ hợp trắng dìu dịu. Trước cửa một nhà, còn có cả cái giường gối đỏ, khiêng ở trong nhà ra, trên có một thằng cu con tóc quăn nằm ngủ. Những chú bé đi đất, quân xắn móng lợn, vác những chiếc cần câu tre dài ghê gớm (« Đi câu bể đấy!» Pêchya phục lăn nghĩ thế), đầu rất cong, rất mảnh, khua hoa hẻo ở trên cây rơi xuống rào rào. Vài ba đứa đeo lủng lẳng ở cổ tay những chùm cả con dính đầy cát trông như tẩm bột bánh.

        Xe đi một lát lâu dọc theo những công xưởng và nhà máy cũ, mới. Pêchya để ý thấy các công xưởng cũ từ trước cách mạng thì trông âm u như trại lính bằng gạch và cửa sổ mở toang ra đường. Từ trong vang ra tiếng máy dệt và tiếng vù vù của dây truyền lực. Các xưởng bằng bê-tông và kính của những nhà máy mới, do chính quyền xô-viết xây dựng trong những kế hoạch năm năm đầu, thấp và rộng rãi, thì nằm giữa những vườn cây non xanh tốt. Trên con đường rải nhựa, một chiếc xe nhỏ chạy điện đang lăn hành, kẻo theo một toa « moóc» hòm lớn. Giữa một lùm cây khẽ rung rinh tia nước nhỏ và óng ánh của một vòi phun nước. Trên những cảnh cửa sắt của nhà máy, dưới bóng dạ hợp, có treo những tấm bảng gỗ to tướng đính chân dung các chiến sĩ Xtakhanôvich; bóng cây trụi hoa hắt lên những phân số thập phân ghi mức vượt kế hoạch ba tháng, lên những biểu đồ ghi mức tăng của sản xuất hàng ngày, nom như một tấm đăng-ten.

        Cuối cùng, hết khu nhà máy. Bắt đầu xuất hiện những cửa hiệu với những tấm hảng đề bằng chữ Ukren và chữ Nga. Theo tiếng Ukren thì hiệu thợ cạo gọi là « pêru- kacnia » ; kem gọi là « môrôxivô » ; hòm thư « pôxtôva srinka » ; hiệu sách « knigacnia »; bến tàu điện «dupinka».

        Pêchya kính cẩn đọc những chữ có âm điệu hay hay ấy, mặc dầu đối với tai người Mạc-tư-khoa của chú, những tiếng Ukren ấy có hơi kỳ dị một chút; chú thích nhất tiếng « môrôxivô », nghĩa là kem, nghe như lởm chởm những gai đá lạnh nho nhỏ và gợi cho người ta thèm muốn được đặt lên cái lưỡi khô bỏng một thìa kem nhỏ trông tựa kim cương.

        Xa xa, trong tiếng ầm ầm như vỡ chợ, một toa xe điện nhỏ chạy, chở đầy ních; từ các cửa sổ và chỗ đứng tua tủa ra cả một rừng cần câu dài màu vàng ánh.

        Một chiếc xe hai ngựa, thành buông thõng, chở đầy nước đá. Những tảng đá dài, hai đầu đã chảy lõm vào, nhảy lộc xộc trên ván xe. Một chùm ánh sáng khô khan, phản chiếu lại từ đâu trong lòng một tảng nước đá, vỗ vào mắt. Pêchya hấp háy mắt, và bỗng cảm thấy sâu sắc đặc biệt tất cả cái mới mẻ của buổi trưa miền Nam oi ả tại một thành phố xa lạ, ở một nơi cùng trời cuối đất, bên một biển cả chưa trông thấy đâu. Chú bỗng thấy khát nước ghê gớm, thèm một ty « môrôxivô ».

        Piôt Vaxiliêvich nửa biết nửa không thành phố này.

        — Này, — ông bồi hồi nói, — mình nhớ như, ở ngay chỗ này, xưa là chợ giời.

        — Bây giờ còn làm gì ra « chợ giời» — Kôletnisuc hãnh diện cười, đáp lại — Nói chuyện chợ giời thì anh hãy thử nhìn kia, xem bày giờ là một vườn hoa như thế nào. Thật là một công viên!


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Bảy, 2020, 05:44:53 am

        Và Piôt Batsây ngạc nhiên thấy ở ngay chỗ xưa kia là chợ giời với tất cả cái bẩn thỉu, nghèo khổ và ô hợp của nó, nay là một vườn hoa râm mát, tắm trong ánh nắng, rực rỡ hoa hè trong những lùm cây giữa những bãi có xanh màu ngọc bích. Từ vườn hoa đó, tỏa ra khắp các hướng, những lối đi thẳng tắp, râm mát, và rất xa thấp thoáng những ngói nhà mới nhiều tầng, có hoa nở trên các bao lơn bê-tông.

        Trước khi tới trung tâm thành phố, xe ô-tô lượn qua các phố hẹp.

        — Ê, này, anh đưa chúng tòi đi đâu vậy ? — Piốt Vaxilièvich kêu lên.

        — Đưa đến chỗ cần đưa, — Kôletnisuc trả ỉời.

        — Đưa chúng tôi đến Khách sạn Đỏ!

        — Không có đỏ điếc gì cả! Tôi chỉ huy hành quân. Ở Mạc-tư-khoa, tôi đã quấy anh nhiều rồi. Bây giờ đến lượt anh phải quấy lại tôi.

        — Điên à, đỗ lại, — Batsây tiên sinh vừa cười vừa kêu lên — Mình đã hẹn một đồng chí...

        — Mặc!... Xviatôxlap, bảo này: về nhà nghỉ mát.

        — Anh có nhà nghỉ mát ư? —Piôt Vaxiliêvich sửng sốt kêu lên.

        — Còn phải nói!

        — Lâu chưa?

        — Năm nay là hai năm. Mình đã tự tay xây lấy. Hỏi Xviatôxlap mà xem... Phải không, Xviatôxlap?... Tóm lại, đó là một biệt thự hách ra phết. Từ Luxdof đến Ludanôpka, không đâu có cái biệt thự như vậy!

        — Đùa đấy chứ ?

        — Mình không có tính đùa.

        — Tôi không tin.

        — Rồi xem.

        — Dầu sao, tôi thấy ở Khách sạn Đỏ vẫn hơn...

        Nhưng Kôletnisuc nhất định không nghe. Ông vẽ cho

        Piôt Vaxiliêvich những bức tranh mê ly quả về cái biệt thự nổi tiếng, ở đó « bà lão » nhà ông đang đợi họ và hứa chuẩn bị cho các vị khách Mạc-tư-khoa cái món cà Ukren và món cả Hy-lạp, đến nỗi Batsây tiên sinh đã sổ toẹt lên cả Khách sạn Đỏ, lẫn Betxarabi và công tác, và nói với một giọng lâng lâng :

        — Cũng được! Không sao! Không quan trọng lắm. Đưa bố con tôi về biệt thự của anh!

        Pêchya nhận thấy từ lúc nhảy ở trên cái thang nhôm xuống sân có trường bay Ôđetxa, bố chú như đã thay đổi hẳn : ông trở nên nhanh nhẹn, vui vẻ và dễ tính khác thường. Hình như ông rất thú vị được nhanh nhẩu không chút phàn nàn, phục tùng hoàn cảnh. Đi bộ ư? ừ’ thì đi hộ. Đi ô-tô ư? Thì đi ô-tô. Về biệt thự ư? Thì về. Số phận ném đi đâu, không quan trọng, đâu cũng tốt cả, không cần gì hơn, bởi vì quanh ông đều là Tổ quốc, là thanh xuân, là hạnh phúc của ông cả.

        Và, hệt như bố, Pêchya thấy trong lòng lâng lâng cái say sưa phảng phất và vô tư lự của sự phục tùng. Thực ra cũng hơi đáng tiếc là không được xem ngay từ hôm nay cái Nhà hát thành phố nổi tiếng của Ôđetxa, cái cầu thang nổi tiếng, khẩu đại hác đặt ở đại lộ, pho tượng công tước Risơliơ với quả trái phá của chiếc thuyền Anh-cát-lợi cắm ngập trong bệ, phố Ribat, và một lô những cảnh lạ khác của thành phố mà chú bé đã từng bao lần được nghe bố kể. Nhưng bù lại, Pêchya đã sung sướng biết bao, tâm hồn chú đã rung động lên biết mấy khi ở Đại lộ Vô sản vòng ra, giữa những dãy nhà an dưỡng lộng lẫy, giữa lùm lá xanh phủ bụi của những vườn hoa có vòi phun nước, giữa những pho tượng trắng và những bộ áo ngủ kẻ sọc của những người nghỉ an dưỡng, chú bỗng trông thấy biển cả. Biển trông gần quá, tưởng có thể ném hòn đá tới như bỡn. Biển xanh biếc đột ngột ở cuối cái ngõ kẹp giữa hai hàng tường đá xám có cắm mảnh chai. Lùm lá nho dại trắng bụi ở trong vườn xòa qua bờ tường, buông trĩu xuống đất cái đầu tóc bù xù và những tay leo dài loăn xoăn của những lá răng cưa. Đó là một ngõ hình thường thôi. Biển cắt ngang ngõ với cái vòm xanh lam của nó và tạo thành một ngõ cụt.

        Ô-tô xóc lên một cái cuối cùng rồi đứng sững lại như chết.

        — Tới rồi! Đi xuống !

        — Nào, xem nào, xem cái biệt thự của anh nó thế nào nào!

        Họ xuống xe và đi thọc vào trong ngõ. Họ càng đi tới, biển càng rộng ra, lùi lại. Chú bé trông thấy bờ biển ở phía dưới. Giữa bờ dốc họ vừa tới và mép nước là một bãi thoai thoải nhăn nhúm, đất đen, đầy gai góc và những bụi li-la dại. Dấu vết của những lớp đất lở liên tiếp, cả cũ và mới vẫn còn nguyên. Bờ bể bị nước ngầm ăn ruỗng, lở xuống thành từng bậc từng bậc ra tới biển.

        Đối với Pêchya, cảnh đó, tuy đẹp thật, cũng chỉ là một hình ảnh khá tẻ nhạt của một lớp đất lở. Nhưng Piôt Vaxiliêvich bỗng đứng sững lại, ngây người trước hình bóng của một kỷ ức xa xôi nào đó, nó hiện ra trước mắt ông với tất cả cái vẻ mới mẻ và trong sáng của nó: đây là chú bé Gayrick, đây là cô bé Môehya đã sẽ sàng đặt tay lên vai Piôt Vaxiliêvich — hồi ấy cũng là một chú Pêchya — đây, chiếc xà-lan của ông nội đã chở người thủy thủ đi ra nước ngoài, và đây, biển rộng trong không gian xanh biếc mờ sương che khuất cánh buồm nhỏ, nhẹ, phấp phới như một cánh hải âu.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2020, 05:18:56 pm

       
16

        — Tỉnh lại thôi, ông bạn ! —Kôletnisuc chạm vào lay áo ông, nói — Rồi sẽ tha hồ ngắm.

        Piôt Vaxiliêvich giật mình hồi tỉnh lại.

        — Nào, ta đi xuống — Kôleínisuc nói — Anh còn biết chạy không?

        Rồi cả hai người, Piôt Vaxiliêvich và Kôletnisuc, nhảy từ cái bờ thấp xuống khá vụng về, chạy thẳng một mạch xuống phía dưới, qua cái bãi bể mấp mô, khua lên những đám bụi đen. Tay bám vào các bụi li-la dại và những sợi rễ giòn của cỏ gai, Pêchya theo khướt mới kịp hai ông.

        — Cái anh chàng Gayrila Xêmlônôvich, anh có gặp anh ta luôn không? — Batsây hỏi.

        — Ai? Secnôivanenkô ấy ư? Còn phải nói! Sáng nay, mình đã chú tâm qua nhà anh ấy để rủ lên ôtô ra sàn bay với mình. Nhưng anh ta bận một công tác khẩn cấp ở trong vùng, đi vắng mười ngày. Tiếc quá.

        — Giá được gặp anh ta thì thú quá.

        — Được thôi, rồi tha hồ mà hú hí. Anh gặp anh ta lần cuối hồi nào?

        — Ờ..., chưa gặp từ hồi...

        — Anh ta có đến Mạc-lư-khoa bao giờ không?

        — Có, cách đây mười năm. Lủng củng chán kinh... Anh ta gọi dây nói cho mình, mình không có nhà. Anh ta dặn số dây nói khách sạn anh ta ở. Mình gọi đến, anh ta đi vắng. Mình đến khách sạn, viết lại mấy chữ. Nhưng anh ta bị gọi cấp tốc đi Kiep. Cứ hụt nhau như vậy. Bây giờ anh ta làm gì?

        — Vẫn như cũ, công tác Đảng ở Đảng ủy miền.

        — Nói chung, anh ta có khỏe không?

        — Vẫn như thường. Làm như trâu. Chả biết anh ta ngủ lúc nào.

        — Có già đi nhiều không?

        — Ông anh ơi, cái tuổi của chúng ta, không trẻ lại được nữa — Kôletnisuc thở dài, nhộn xét.

        Cả hai im lặng.

        — Nhưng, cái biệt thự của anh đâu? — Piôt Vaxiliêvich không muốn để cái buồn lấn chiếm, sốt sắng hỏi — Anh bạn ơi, cái biệt thự thần kỳ của anh, tôi chả thấy nó đâu cả.

         — Thế kia là cái gì?

        Kôletnisuc đã đứng dừng lại và, bằng một cử chỉ đường bệ, giơ tay lên phía trước. Như người ta có thể dự đoán, cái « biệt thự » nổi tiếng kia chỉ là một ngôi nhà khá dơ dáng do một bàn tay nghiệp dư xây dựng, không có tý hơi hướng kế hoạch nào, với những nguyên liệu chắp vả. Tường thì xây nửa bằng gạch cũ, nửa bằng thứ đá màu vàng nhạt mà Pêchya đã để ý thấy người ta dùng để xây phần lớn những nhà và hàng rào ở Ôđetxa. Những tảng đá của ngôi nhà Kôletnisuc đều xây ghép bằng đất sét, thay cho vôi vữa. Còn mái thì dùng những tấm sắt cũ cong cong, ngói, lá tôn, gỗ dán. Để cho chắc, phải xây đá dăm đè lên trên. Một bên nhà, nhô ra một thứ đại loại như cái sân trời, dưới bóng một cây bìm bìm um tùm leo tít lên cao, lác đác điểm những hoa kèn xanh nho nhỏ nhụy tím biếc. Gần tường, Pêchya thấy những chiếc bơi chèo son đỏ và cái bánh lái tháo rời của một chiếc thuyền. Cách nhà không xa, giữa đám gai góc, cái mâm đất của một bếp lò mùa hè đang bốc khói, trên có đặt một cái nồi gang nho nhỏ mất đáy cho ống khói cao thêm. Trên mâm đất, cá nướng xèo xèo. Một bà, tóc đen xanh, cứng, xoăn và vấn cao, mép lún phún râu, mặc sơ-mi Ukren thêu, to béo, mặt đó bừng bừng, đang líu tíu quanh bếp, chịu đựng cả hai cái nóng: nóng mặt trời và nóng lửa phân khô. Những con gà mái béo, trông cũng có cảm tưởng như mặc sơ-mi thêu, đang dạo bước trong các bụi gai: bên trên chúng, những cánh hoa thì là xinh xinh khẽ xao động. Và tất cả những cái đó, nhìn gộp lại, trên một nền sóng biển bọt trắng, cuồn cuộn và réo ầm ầm —  những làn sóng lớn, màu vàng đục, trông như một thứ canh chua me có gia một ít kem trắng — tất cả những cái đó có một vẻ hồn nhiên quá, đầm ấm quá và nhất là mến khách quá, làm cho Piôt Vaxiliẽvich vô tình đã phải thốt lên :

        — Chà, quỷ bắt anh đi! Nhà anh quả thật là thiên đường trần gian !

        — À, vậy là cả đến anh cũng phải kết nốt! — Kôletnisuc đắc chỉ nói với vẻ huênh hoang hai tay chống nạnh — Tôi đã bảo với anh là một biệt thự hách lắm mà. Xin mời các bạn vào chơi!

        Vừa lúc đó, người đàn bà mặc áo thêu, như người ta có thể đoán trước là bà chủ « biệt thự », vợ của Kôletnisuc vừa chùi hai bàn tay đỏ nhẫy vào tạp-dề, vừa chạy le te từ chỗ bếp lò ra đón khách.

        Như phần đông các bà chủ nhà ở Ôđetxa, Raitxa Lvôpna rất thích làm các món ăn miền Nam và tiếp khách. Bộ mặt của bà, đó bừng hơi nóng mặt trời và bếp lửa, hứng khởi trong cái hoạt động bà ưa thích nhất, rạng rỡ một nụ cười hoàn toàn mãn nguyện, ân cần, có vẻ gì uể oải và hơi châm biếm một tí.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2020, 05:19:21 pm

        ... Và một cuộc sống bên bờ Hắc-hải bắt đầu, khác hẳn với cuộc sống mà Pêclrya thiếu sinh tưởng tượng ở Mạc-tư-khoa mỗi khi chú nghĩ đến cuộc du lịch Ôđetxa. Trong cuộc sống đó, chẳng có gian nan, nguy hiểm gì cả. Trái lại, bên trên ngôi nhà nhỏ của gia đình Kôletnisuc, một ngôi nhà thật nhố nhăng và thật ấm cúng, luôn luôn rạng rỡ bóng dáng thăm thẳm và vàng ánh của mùa hè rực nắng miền Hắc-hải. Theo khoảng cách đều đều, những làn sóng dài xô đến đập vào bờ, không biết mệt, và không bao giờ hết. Biển cả thở dài tha thiết, bốc lên cái mùi tanh tanh của sò, ốc và bùn. Trong căn phòng quét vôi trắng, nơi dành cho Pêchya tiên sinh và Pêchya thiếu sinh ngủ trên hai giường vải, đêm đêm có một con bướm to, cánh tam giác, đến đậu, bao giờ cũng ở một góc trần ; thỉnh thoảng nó lại run rẫy vỗ cánh, đập phành phạch một cách huyền bí và đáng sợ. Một màn trời đen ngòm, lốm đốm những vì sao hè trắng đục, treo lơ lửng bên cửa sổ. Ánh sáng cây đèn pha hòa lẫn với ánh sao. Và biển cả cứ thở dài mãi mỗi lúc một não nuột...

        Tất cả đều rối rắm, lẫn lộn, khiến Pêchya mất hẳn cảm giác về thời gian. Trong hai tháng rưỡi vừa trôi qua kể từ hôm chủ nhật buồn thảm kia, biết bao sự việc đã xảy ra, đến nỗi chú bé không còn nhớ nữa và phải cố lắm mới xếp đặt lại được theo thứ tự thời gian. Piôt Vaxiliêvich và Pêehya đã bị đứt liên lạc với Mạc- tư-khoa. Họ bị tắc lại ở Ôđetxa. Các chuyến máy bay thư đã ngừng. Các chuyến xe lửa chở khách đã bãi bỏ. Người ta chỉ nhận những bức điện quân sự và công điện. Trong thành phố, công việc tổng động viên đang tiếp diễn với tất cả những gì liên quan với nó. Batsây đã chạy chọt tìm cách rời Ôđetxa bằng đường bể. Nhưng tất cả những tàu thủy chở khách, đã sơn lại màu xám chì và sửa thành tàu vận tải, đều dùng để chở bộ đội và đạn được. Họ đã phải rời bỏ biệt thự, dọn vào trong thành phố  ở, vì toàn bộ bờ biển đã được tuyên bố là khu cấm. Nhưng lúc này chẳng còn gì là cái thành phố mà Pêchya đã được nhìn dọc đường khi đi từ sân bay về cái biệt thự nổi tiếng nữa. Sau lần bị máy bay đột kích đêm, phố xá sáng rực một cách nguy hiểm dưới một ánh mặt trời hầm hập, trắng đặc biệt và không hồn, nhưng chói gắt, trồng dại lạ thường và hoang vắng. Trên tường, những tờ lệnh động viên trắng và giống nhau một loạt, đang ngả sang màu vàng...

        Và thế là một hôm, Pêcbya thấy bố mặc quần phục, tóc cắt ngắn hơn thường lệ...

        Piôt Vaxiliêvich vì lý do tuổi tác và công tác quan trọng, có thể được hoãn động viên, và khi trở về Mạc- tư-khoa, có thể được miễn. Nhưng ông lại muốn ra mặt trận. Ông quyết định rất nhanh, không do dự một chút nào. Ông không tưởng tượng rằng mình lại có thể hành động khác. Kôletnisuc đã được chỉ định làm quản lý cấp ba và phụ trách một đơn vị hậu cần, còn Batsây thi từ chối không nhận công tác hành chính hoặc kinh tế, và đề nghị được vào một đơn vị chiến đấu. Là pháo thủ cũ, ông được đưa vào một trung đoàn pháo binh đúng lúc ấy đang được xây dựng ở thành phố.

        Trong khi chờ đợi nhận ngựa và ổn định các vấn đề về trang bị, Batsây cố chạy chọt một lần nữa để đưa Pêchya về Mạc-tư-khoa. Lúc ấy, giao thông đường sắt đã khá hơn được đôi chút, và Piôt Vaxiliêvich đã đưa được Pêchya lên một đoàn tàu hỗn họp đầy lèn. Chú bé phải đi một mình. Nhưng, xét cho cùng, chú cũng chẳng còn bé bỏng gì nữa, và sớm muộn chú cũng phải bắt đầu sống một cuộc sống tự lập chứ! Piôt Vaxiliêvich, mặc quân phục, ấn chú bé vào một toa, giao chú cho một nữ nhân viên phục vụ mệt phờ, nhờ trông nom hộ, đưa cho chú một trăm rúp làm tiền ăn đường và một lá thư cho vợ, xoa tóc chú, rồi hai bố con chia tay nhau.

        Pêchya đã ra đi. Nhưng đoàn tàu không đi quá ga Kôtôp. Trước mặt họ, cầu đã bị bom phá sập. Tàu nằm lại ba ngày ba đêm rồi phải quay trở về Ôđetxa. Nhưng khi Pêcliya từ ga quay trở về nhà bác Kôletnisuc, qua những phố hầu như không nhận ra được nữa vì nhà cửa đã ngụy trang hết, thì chỉ là để nhận được tin bố chú đã ra mặt trận, bác Kôletnisuc đã đi công tác, và thấy một bác RaitxaLvôpna đầm đìa nước mắt đang thu xếp hành lý, vì trong mấy ngày ấy, tình hình mặt trận đã gay go lên nhiều và nhân dân đã bắt đầu tản cư.

        Kể từ ngày thành phố bị bao vây, với những trận máy bay bắn phá liên miên, với những loạt đại bác như sấm rền ở ngoại vi thành phố, với khói lửa, hơi nóng rừng rực, ít ra đã một tháng rưỡi. Thế rồi, mãi vào đầu tháng chín, bà Raitxa Lvôpna cùng với Pêchya và hành lý mới ra đứng trên bến tàu nóng hàm hập, bị tàn phả gần hết, giữa đám đông những người dân phố định xuống chiếc tàu thủy sắp rời khỏi Ôđetxa bị bao vây để đi Nôvôrôxich. Ở bến, Raitxa Lvôpna cùng với tất cả va-li, tay nải bị xô vào hàng rào sắt của một nhà kho, và bà trông thấy Pêchya bị cuốn theo đảm đông, ép vào cầu tàu và được những bàn tay từ thiện kéo lên boong tàu. Raitxa Lvôpna lọt lại trên bến. Giờ đây chỉ có Pêchya một mình giữa đám người xa lạ. Đến đêm, trong tiếng còi báo động rú, trong cái rung chuyến do cao xạ pháo bắn đồng loạt, dưới ánh lửa đó rực của những đám cháy bốc lên trong thành phố, chiếc tàu rời khỏi bến. Tàu vừa tới Đôfinôpka thì bị máy bay phát-xít tấn công.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2020, 05:20:08 pm

       
18

        Ba giờ sáng, khi Pêchya trèo lên boong thì tàu đã cháy nhiều chỗ. Ngay gần mình, chú bé trông thây một quả bom cháy cỡ nhỏ vừa rơi xuống và bắt đầu bốc lửa. Pêchya sợ lắm, nhưng vẫn không thể rời được mắt khỏi cái vật bằng nhôm ấy. Nó đang xì xì và chảy nước, vãi ra xung quanh những giọt nhỏ chói rực.

        Một thủy thủ mang bốt cao su tiến qua gần Pêehya, tay đeo bao vải thò hất quả bom đi. Xung quanh tíu tít những người. Né mình tránh các tia lửa, người thủy thủ tóm lấy đuôi «củ chuối» nhưng lại lập tức buông ra: « củ chuối » đã đốt chảy bao tay anh. Anh giơ chân giận dữ đả vào « củ chuối». Nó lăn lông lốc văng đi, để lại phía sau những luồng lửa. Người thủy thủ ngật ngưỡng bước theo sau, và đá thật mạnh một cái nữa vào phía dưới quả bom như đá bóng. Quả bom va vào các tay vịn và dây cáp, lăn qua mạn tàu và, vẫn tóe lửa, vừa rít vừa rơi tòm xuống nước đen ngòm bọt sóng.

        Một thủy thủ khác, đeo mặt nạ bảo vệ bằng a-mi-ăng trắng có đôi mắt kính hình chữ nhật trông thật khiếp, cầm thùng cát đổ lên chỗ boong tàu bị cháy xém. Pêchya nhận thấy cái thùng sơn bằng một thứ sơn dầu màu ngụy trang xỉn xỉn, và ở trong cát có lẫn nhiều vỏ trai vỏ ốc vằn. Cái mặt nạ bảo vệ trông cũng tựa như một cái thùng úp lên đầu.

        Rồi, trên nền trời tối, cùng một lúc hai quả pháo sáng bừng lên, do một chiếc máy bay không ai trông thấy ném xuống. Chúng lập lờ phía trên cột buồm, chao đi một lát, rồi khắp bốn bề sáng rực lên như giữa trưa nắng. Một ánh sáng gay gắt, có một vẻ gì nhân tạo, hóa học, từ trên cao tàn nhẫn rọi xuống mọi ngóc ngách của chiếc tàu đang cháy, xóa mất hẳn bóng các cột buồm và dây cáp, khiến bà con trên tàu kinh hoảng mất một lúc. Rồi tất cả xô về phía hầm tàu. Nhưng bỗng họ lại kinh hãi đứng sững lại. Lần này, cái làm cho họ như chết đứng tại chỗ là tiếng rú của một quả bom vô hình vừa từ một máy bay vô hình rơi xuống. Lúc đầu, tiếng đó nghe rất nhỏ, gần như lẫn hẳn trong những tiếng động khác của cái đêm thê thảm này: tiếng người kêu, tiếng hơi nước xì, tiếng tạch tè của máy điện báo, tiếng thuyền trưởng gào trong máy phóng thanh ra lệnh, tiếng máy đi-ê-den chạy ầm ầm thỉnh thoảng lại làm cho thân tàu rung lên, tiếng chuông báo động liên hòi, tiếng liên thanh nổ từng tràng, tiếng bốt cao su dận thình thịch, tiếng lửa cháy nghe như vò giấy, tiếng nước từ trong vòi cứu hỏa phun ra. Nhưng tiếng rú của quả hom đang bay cứ mỗi lúc một mạnh lên, lan ra, và mau chóng át hết tất cả mọi tiếng động khác. Từ trên cao, quả bom rít lên khủng khiếp, lao gần xuống tàu.

        — Nằm xuống! — Không biết tiếng ai kêu that thanh.

        Pêchya bủn rủn hai chân và tối tăm mặt mũi. Tai chú rền lên những tiếng chuông đau xót. Chú lao người nằm sấp xuống boong tàu, chúi mũi vào giữa những tấm ván ướt, hai tay ôm lấy đầu, tưởng làm như thế thì có thể tránh được tai họa. Chắc chắn chú đã ngất đi nếu toàn bộ sức mạnh tinh thần và thể xác của chú không mải mê tập trung vào một mục đích duy nhất: muốn gì thì gì, phải chú ý, nghe, nghe, nghe tiếng quả bom rít. Và bất thình lình, một sức mạnh khủng khiếp, nóng ran, vồ lấy Pêchya, hất chú qua mạn tàu và quăng xuống biển, đầu chúc ngược.

        Pêchya hầu như không biết bơi. Chú cảm thấy bị khối nước đen sì từ bốn bề ôm lấy mình mỗi lúc một chặt. Mặc cho chìm như một vật nặng và mềm nhũn, chú biết mình thế là tuyệt đường hy vọng. Nhưng cái sức sống không gì khuất phục được, từ nãy chỉ leo lét trong người chú, bỗng bừng tỉnh dậy và bắt đầu hoạt động. Không nghĩ gì cả, cũng không hiểu gì cả, mà chỉ nhắm mắt tuân theo sức mạnh to lớn ấy, Pêchya dốc toàn lực chân đạp tay sải, để cố thoát khỏi cái mồ nước này.

        Đầu nhô lên mặt nước, cổ vươn dài, chú đớp vội được một ít không khí mát qua những dòng nước chảy trên tóc, trên mắt xuống, Pêchya thoảng thấy cái thành cao của mạn tàu đang bị hơi nước đỏ rực phủ kín ở ba chỗ, thấy một kiểu ca-nô là lạ và một làn sóng đen ngòm úp chụp lên đầu chú cái ngọn đục ngầu, khum khum của nó. Pêchya vùng vẫy như muốn bám vào ngọn sóng trắng bọt ấy. Lúc đó, chân chú thôi không đạp nước nữa và đầu lại chìm nghỉm. Bỗng, có một vật gì từ trên lướt xuống, như một cái gậy nặng và bẹt, đập vào đầu chú. Chú bám chặt vào cái gậy trơn nhẫy ấy. Tức thì một bàn tay túm lấy tay chú và kéo chú ra khỏi mặt nước. Trước khi ngất, Pêchya còn kịp cảm thay đau lúc bị kéo qua mạn ca-nô cao. Mạn ca-nô xé toạc ngực áo chú ra. Đầu gối chú va vào cọc chèo gỗ đau quá.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2020, 05:20:36 pm

        Chú hồi tỉnh và thấy mình nằm dài trong lòng một con thuyền. Đầu gối lên chiếc áo vét rách và ướt sũng. Pêchya nghe có tiếng mái chèo cót két. Hai người đàn bà ngồi ở ghế phía trên, trước mặt chú, đang chèo, nghển lên rồi lại cúi xuống theo nhịp những mải chèo to bản. Sóng vỗ vào đáy thuyền bằng và rì rào nhịp nhàng lướt dọc theo mạn thuyền. Chú bé không nhìn rõ hai người đàn bà. Chú chỉ thoảng thấy bóng đáng đen đen của họ. Một người cao to, một người nhỏ nhắn. Đầu, vai họ nhô lên, cúi xuống nhịp nhàng trên nền trời đêm nhợt nhạt có những ngồi sao sớm to mờ đang đung đưa. Pêchya muốn chống tay ngồi dậy, nhưng chú yếu quá, không cựa được nữa. Chú rên lên để lưu ý hai người đàn bà kia. Nhưng họ không nghe thấy. Pêcliva rùng mình. Ruột gan chú ngấm phải nước biên nuốt vào, rát bỏng. Đó là một thứ khát cồn cào không thể lấy gì so sánh được. Chú vẫn nằm sóng soài, mặt nhìn trời, chân tay dang thẳng, bất lực, áo sơ-mi rách toạc, cái nút khăn quàng đỏ ướt sũng trên cổ, một đầu gối sưng, tóc bết gió biển lạnh đã hơi se. Chú nằm sóng soài trong một tư thế rất khó chịu, nhức nhối, nhưng không còn sức để trở mình. Cả đời, chú chưa bao giờ đau đớn như thế. Nhiều lần chú ngất đi. Và mỗi lần hồi tỉnh, chú lại thấy cái cảnh cũ : hai người đàn bà, một lớn một nhỏ — và giữa hai người, một mảnh trời mờ nhạt, với một chòm sao đang tắt. Sóng vẫn làm chú khó chịu, nước ở lòng thuyền, dưới cái phên gỗ, vần lăn đi lăn lại nhưng hòn sỏi tròn nhỏ với một điệu đều đều như thế. Và từ một phía xa xôi nào đó, gió tây lồng lộn vẫn lúc ngừng lúc thổi thốc tới tiếng gầm rú nạt nộ của bão táp.

        Pêchya cố mãi mới hiểu được những việc đã xảy ra. Nhưng bây giờ người ta mang chú đi đâu, hai người đàn bà kia là ai, chiếc tàu thủy đã biến đâu rồi, chú hoàn toàn không biết và cũng chẳng muốn biết. Một cơn bàng hoàng nặng trĩu mê man đã xâm chiếm lấy chú. Chú chỉ thấy xót xa, mòn mỏi, thương thân mình. Chú lại rên. Lần này, người ta nghe thấy. Người đàn bà nhỏ ngừng chèo, đưa chèo cho người kia rồi vén váy bước qua ghế và ngồi xồm xuống bên chú. Dưới ánh sao mai bàng bạc trong vắt, chú thấy rõ một khuôn mặt rộng có cái mũi ngắn, cái cằm nhỏ và đôi mắt to mà trong bóng sương mai, trông tưởng là đen nhưng thực ra có lẽ xanh hoặc xám nhạt. Chú hiểu ngay đó không phải một bà nhỏ nhắn, mà là một cô bé lớn vóc.

        — Thế nào? Cậu muốn gì? Lại khó chịu trong người à? — Cô gái hỏi, giọng nhỏ nhẹ, dịu dàng, vẻ như không bằng lòng.

        Pêchya lặng ngắt.

        — Cậu muốn uống nước, phải không?

        Pêchya vẫn im.

        — Mẹ ơi, đưa con cái bình.

        Cô cầm cái bình dèn dẹt bằng gỗ sồi bà mẹ đưa cho, và lấy răng cắn nút mở ra. Thuyền quay ngang ngọn sóng và gió thổi sóng vỗ vào mạn thuyền. Con thuyền tròng trành, Pêchya bị bọt sóng hắt vào người như có ai cầm thùng nước té;

        — Ô hay, thế nào đấy, mẹ ! — cô gái kêu lên — Cậy đi, đừng bát nua!

        — Mày không phải ra lệnh cho tao ! — bà mẹ nói cũng bằng cái giọng miền Nam nhỏ nhẹ, thánh thót, và cũng với một vẻ hờn dỗi như cô con gái.

        Bà quay đôi vai vạm vỡ, vớ lấy đôi dầm bị buông lỏng một lát, và vung tay ngoáy mạnh một cái, sửa lại hướng đi của thuyền.

        Cô gái ghé cái bình vào miệng Pêchya :

        — Uống tý nước nhé !

        Nước trong bình không lọt qua được hai hàm răng cắn chặt của Pêchya, chảy ròng ròng trên má và thấm xuống dưới khăn quàng. Chú khát cháy ruột chảy gan, nhưng thấy nước chú lại lờm lợm. Pêchya muốn mửa. Chú lắc đầu, đưa hai tay yếu ớt gạt cái bình ra.

        — Không, không — chú kinh tởm thều thào, cố nén những đợt cuồn cuộn trong họng.

        — Mẹ oi, cậu ấy không uống được! — cô gái nói to bằng một giọng thất vọng.

        — Thế thì đừng ép ! Đừng quấy nó nữa. Để cho nó nằm yên !

        Pêchya rên lên một tiếng. Cô gái cúi xuống, nhìn sát vào mặt chú, cố hiểu xem chú muốn gì. Cuối cùng, cô hiểu : chú muốn trở mình. Cô luồn tay xuống dưới lưng ướt, nóng hầm hập và thận trọng trở cái thân mình, mềm nhũn, nặng trình trịch của chú bé. Chú cố quay được sang bên. Cô nâng đầu chú lên, sửa lại cái áo gập làm gối. Pêchya co hai chân run lẩy bẩy và kê hai tay xuống dưới má nóng bỏng. Chú cảm thấy dễ chịu hơn được một lát. Nhưng rồi cái buồn nôn và cái rét run lại dằn vặt chú. Cô gái ngồi bó gối, bên cạnh; không biết làm thế nào để giảm đau cho chú, cô vuốt ve vai chú mà qua lớp sơ-mi ướt cô cảm thấy nóng hầm hập.

        — Thế nào? Đỡ rồi chứ? Ngủ đi!


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2020, 11:17:05 am

        Pêchya nhìn cô bằng đòi mắt đăm đăm buồn.

        — Tên cậu là gì?

        — Pêchya, — chú rên khẽ, chiếc áo vét phủ gần kín mặt.

        — Mẹ ơi, cậu ấy tên là Pêchya ! — cô gái kêu lên..

        — Valentin, — bà mẹ nghiêm nghị nói — con cứ léo nhéo quầy nó mãi. Để cho nó nằm yên, tới rồi đây.

        Và buông dầm ra một lát, bà đưa hai bàn tay mệt mỏi vấn lại tóc.

        — Trời ơi, trời ơi, — bà thở dài lầm bầm — Trời đất sao mà lắm chuyện...

        Valentin xắn váy, bước hai bàn chân đất quá ghế và ngồi xuống bên mẹ :

        — Mẹ đưa con cái dầm ! — cô nói bằng giọng hờn dỗi. Cô sửa lại hai bím tóc cuộn sau gáy và bắt chước mẹ, thở dài nói tiếp — Đau khổ thật!... Ngủ đi em, sắp đến nhà rồi!

        Chắc Pêchya không nhớ là một ngọn sóng dài đã dâng thuyên lên và nhẹ nhàng đặt chú lên bãi cát như thế nào. Sau này, không bao giờ chú có thể hiểu được tại sao mình bỗng nằm dài trên một tấm phản thường thấy ở nông thôn, sau một cái bếp lò, trong một căn lều thuyền chài.

        Khi được nghe kể lại nhưng chuyện ấy đã xảy ra như thế nào, chú không thể tin được rằng chính mình đã vịn vai Valentin bước ra khỏi thuyền và trèo lên một con đường mòn hẹp và một đường bậc thang đất sét. Tất cả những việc ấy, chú đã làm không có chút ý thức nào, như một cái máy. Pêchya được biết là quả bom đã rơi gần tàu nhưng không làm hư hại đến tàu.

        Sức nổ của nó đã hất xuống biển một số hành khách trong đó có chú.

        Hai người, bị choáng, chết ngay. Người thứ ba, bơi giỏi, được người ta ném cho một đầu dây thừng và kéo lên. Pêchya được một trong những thuyền của ngư trang «Pêtren » cử đi cấp cứu — khi ở trên bờ trông thấy con tàu bị bốc cháy — vớt được. Người ta đã dập được đám cháy và con tàu đã tiếp tục cuộc hành trình.

        Và thế là bây giờ Pêchya cứ nằm dài, đầu óc nặng trĩu, mất hết ý thức về thời gian, mê man, chỉ còn nhận thức được một cách khó nhọc là mình có lúc mê lúc tỉnh và có những người, những vật, những mùi vị xa lạ hiện ra rồi lại biến mất. Hiện ra nhiều nhất trước mắt chú là một quả cầu nhỏ ở ngăn trên cùng của một cái giá tre, với cái khung gỗ có khảm xà cừ. Quả cầu và cái giá kia mâu thuẫn kỳ lạ với cái bếp lò nông thôn bằng đất nung, với những lỗ tò vò thông hơi trên mái, cũng như với những nắm cỏ và hoa khô treo trên những bức tường nông thôn quét vôi trắng. Nhà có hai lỗ tò vò nằm chênh chếch ở phía trên chú, ngày đêm phản ảnh lại cái sáng tối kế tiếp nhau đều đặn, chán ngắt. Những buổi chiều tà đỏ rực của đồng cỏ nhường chỗ cho những đêm sao tang tóc. Có lần, một vành trăng thu muộn mằn xuất hiện và trôi qua. Lúc đầu trăng nhìn qua một lỗ tò vò, rồi liếc qua lỗ kia, mãi tận phía dưới. Có một vẻ gì láu cá, ranh ma trong đôi sừng mờ ảo của nó. Theo với trăng là tiếng sủa xa xăm, hay đúng hơn là tiếng rú lo âu của đàn chó thảo nguyên. Chú bé buồn bã mường tượng đến những con chó đang đứng sủa trăng trước cửa những ngôi nhà nông dân xa xa, mõm dài như mõm sói.

        Đôi lúc, chú nghe thấy ngay bên chú, trong một góc, có tiếng có khô sột soạt rờn rợn. Người ta ôm một ôm vào trong căn nhà nhỏ, vứt xuống sàn ngay bên bếp lò, và chỉ một thoảng sau, ảnh một ngọn lửa lớn đã múa nhảy chiếm lấy các mặt tường. Những làn sóng trong suốt của ánh sáng hồng lặng lẽ liếm lên giá sách nhỏ và quả cầu. Dưới ánh lửa, quả cầu lấp lánh như một hành tinh thật. Đó là trái đất đang bơi trong muôn ngàn lớp sóng của ánh sáng mặt trời. Có tiếng chân không bước trên nền đất sét. Bóng một cái đầu quen thuộc tiến ra giũa nhà. Có lúc nó to ra kinh khủng, nuốt chửng tất, có lúc nó bỗng bé lại và in lên bức tường hòng một bóng người rất rõ nét. Trên cái bóng, chú bé thấy nét mặt nhìn nghiêng của một cô gái trẻ măng, hầu như còn trẻ con, trán và mũi rất thẳng, cằm tròn, cổ nhỏ và thanh, trông vừa khỏe vừa dịu dàng. Chú để ý đến cả bóng hàng mi thanh cong. Bóng đôi tay thon thon xếp dọn soong nồi nhảy múa trên tường hoặc hoa lên nhanh như chớp dê vẩy vâey cái nhiệt kế.

        Pêchya biết cô ta tên là Valentin. Cái tên đó cứ được nhắc đi nhắc lại luôn. Đối với chú bé ốm, đó không phải, chỉ đơn thuần một tên người. Nó bao gồm vô số vật và khái niệm.

        Cột thủy ngân lên tới điểm bốn mươi, cái đường thẳng sâm sẫm và de dọa trong chốc lát đã dâng lên đầy ống nhiệt kế, đó là Valentin. Bàn tay ram ráp và mát rợi đặt dưới cái gáy nóng bỏng của chú để nâng đầu chú lên và bón nước cho chú, cái vị nước mằn mặn, cái mép sứt mẻ của bình nước cũ kỹ, đó cũng là Valentin. Ngôi sao rung rinh trên khung kính thô, tiếng sủa lo âu của đàn chó thảo nguyên trong đêm khuya, tiếng gầm lồng lộn của chiến tranh đang mỗi lúc một tiến lại gần, và làm rung rinh những khung khảm xà cừ cùng quả cầu trên giá, tất cả những cái đó cũng đều là Valentin cả.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2020, 11:18:31 am

        Ngoài Valentin, còn có bà mẹ cô nữa. Bà ít xuất hiện hơn. Trong trí tưởng tượng của chú bé ốm, bà ít nhiều gắn liền với tiếng rì rầm không dứt của biển cả. Đó là cái tiếng thu chậm lại của một lưỡi hái khổng lồ bằng thép đang lia trên hàng bao nhiêu cây số. Với một tiếng rào rào mỗi lúc một mạnh hơn, lưỡi hái ngày đêm lia đi lia lại không lúc nào dứt, dồn lên bờ từng lớp từng lớp sóng. Sóng vừa reo vừa nằm dài trên bãi cát, ở đâu đó, ngay gần đầu giường tối om, sau bức tường mỏng.

        Thỉnh thoảng mẹ Valentin đi chân đất bước vào, mặc áo khoác ngắn đàn ông, tay cầm một giỏ mây tròn đựng đầy tôm con. Pêchya được biết những con tôm đó, người ta gọi là « khuyết ». Chúng nhảy trong cái giỏ ướt, tanh tách như nhưng lò xo thép nhỏ, làm nước và cát bắn tí tách ra tứ phía. Bà mẹ nhấc cái cần câu trên tường, ngồi xuống sàn và bắt đầu móc những con tôm nhỏ vào, gọi là « mồi ». Ngón tay bà thoăn thoắt, chính xác lạ thường, nhanh như mây, như người đan áo kinh nghiệm. Nhưng đầu óc của bà lúc ấy chắc đang ở tận đâu xa. Trên khuôn mặt lặng ngắt hơi nhăn nhó của bà, dưới hai hàng lông mày nhíu lại, long lanh đôi mắt sắc sảo, như luôn luôn cảnh giác.

        Bằng đôi mắt ấy, không phải bà chỉ có vẻ trông thấy một cái gì mênh mông, đáng sợ mà chú bé không trông thấy được, bà còn « lắng nghe » được tiếng nói huyền bí của đau thương. Lưỡi hái soàn soạt kia cứ liên tiếp rải ra những đợt sóng dài ghê gớm, và giữa mỗi đợt sóng, thế gian bỗng lặng ngắt như tờ, đến nỗi tim người ta bị đè xuống tưởng như sắp ngừng đập. Rồi lại bắt đầu mê man bất tỉnh.

        Nhưng một hôm, tất cả những cái đó bỗng hết hẳn. Pêchya thức dậy. Chính ra không phải là chú hồi tỉnh, mà thức dậy. Và chú hiểu rằng mình đã khỏi. Chú cảm thấy thế trong toàn thân. Chú chưa khỏe, nhưng bệnh đã dứt hẳn.

        Với một cảm giác bàng hoàng, mát rợi và yếu đuối, Pêchya còn phải vất vả mới lật được cái chăn bông nặng ra và giơ chân tay lên nhìn. Chân tay chú gày và xanh đi nhiều. Chú nhìn những ngón tay gày tóp, móng trắng bệch mà mủi lòng. Chú co tay lại, cố làm cho bắp thịt nồi lên, nhưng không đi đến kết quả. Bắp thịt nhẽo nhoẹt. Thế là chú nẩy ra ý kiến thử ngồi dậy và, đi lại trong phòng. Lúc ấy có độc mình chú. Cố lắm chú mới thò chân xuống được dưới sàn và đứng lên, tựa lưng vào giường. Bây giờ chú mới để ý thấy mình mặc một chiếc sơ-mi dài không có tay, viền ren ở trước ngực. Chú hiểu đó là áo của Valentin. Chú đỏ mặt xấu hổ, và hơi bực mình nữa. Loạn thật! Diện áo mượn mà đi lượn ! Nhưng cũng đành chứ biết làm thế nào. Chú bước vài bước, thú vị thấy mình cao cao. Chú cảm thấy hình như mình lớn lên, gần thành người lớn rồi. Ngửng lên, chú trông thấy ngay trên đầu chú cái sà trần dán phủ bằng một tờ bảo Công xã Hắc-hải đã vàng. Mọi vật quanh chú, giá sách với quả cầu, cái ghế dài, ghế dựa, chú đều thấy bé quá, thấp quả. Giữa những vật đó, chú cảm như mình là một người khổng lồ. Đầu chú choáng váng dễ chịu. Hai chân chú lỏng lẻo, run run. Pêchya phải vất vả lắm mới trở về được giường và nằm úp sấp mặt xuống gối. Một thoáng sau, chú ngất đi. Nhưng đó là cái ngất thoang thoảng, dìu dịu của người bệnh đang hồi phục. Và Pêchya lại tỉnh lại ngay, trán đẫm mồ hôi. Mồ hôi ấy là mồ hôi lành, cũng dễ chịu lạ thường. Chú lại thấy buồn ngủ và thiếp đi, má áp nhẹ nhàng lên hai bàn tay. Đó là một giấc ngủ say làm chân tay chú đờ ra trong cái bàng hoàng của người bệnh hồi phục.

        Chú thức dậy thì đã chiều. Trong bếp lò, lá ngô nổ lép bép. Hơi lạnh của biển cả thấm vào qua cánh cửa mở hé. Sương mù tràn qua cửa, và chưa lọt vào tới buồng đã bị ngọn lửa bếp lò nóng rực xua tan. Tiếng súng ầm ầm của trận chiến đấu diễn ra gần đó làm rung chuyển ngôi nhà. Bà mẹ Valentin, quay mặt tránh ngọn khói phì phì, cầm cặp sắt kéo cái nồi muội đen ra khỏi bếp lò. Valentin đứng bên giường đăm đăm nhìn Pêchya không chớp.

        — Tôi khỏi rồi, — chú ngước nhìn Valentin, nhắc lại.

        Chú đã trông thấy cô bao nhiêu lần rồi. Nhưng những lần đó chú còn ốm, và cô hiện ra trước mắt chú trong cái màn sương huyền ảo của cơn sốt khiến cô có một vẻ đẹp thần tiên, trong vắt, âu sầu, lặng lẽ. Giờ đây, chú thấy trước mặt mình một cô gái nửa ra người lớn, nửa ra trẻ con, một thiếu nữ hoàn toàn bình thường, dong dỏng cao, mặc áo đàn ông, cái mũi thanh ngắn, cái cằm nhỏ nhưng khỏe, và đôi mắt sáng màu xanh xám, sắc sảo, như một ánh phản chiếu trong gương.

        — Như thế mào mà cậu bảo là khỏi? — cô nhún vai đáp lại — khỏi ở chỗ nào ? Tôi thì tôi chả thấy khỏi gì cả.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2020, 11:18:58 am
 
        Rõ ràng cô đã quen nhìn chú bệnh nhân với một thái độ có phần kẻ cả, coi chú như một đứa con nít. Thấy thế Pêtchya đâm ra tự ái.

        — Tòi biết chứ, — chú nói, — vì nhiệt độ không lên nữa, vả lại, tôi muốn ăn.

        — Mẹ ơi! Mẹ nghe thấy không? — Valentin vui vẻ reo lên, giọng trong vắt — Cậu ấy đòi ăn !

        — Làm gì mà kêu như con hóa dại ấy! Tao cũng có tai. Có lẽ cậu ấy ăn được món canh bột lọc của ta đấy nhỉ ?

        — Pêchya. — Valentin mím môi lại nói trịnh trọng —  Pêchya có thích ăn món canh bột lọc của chúng tôi không ?

        — Thích lắm. Cảm ơn — Pêchya nói.

        Nghĩ đến ăn mà thèm quá, Pêchya cứ hấp háy mắt mãi. Valentin kéo đến bên giường một chiếc ghế đẩu và lấy một tấm khăn trải lên. Rồi tíu tít bên bếp lò, cô đặt lên ghế một cái đĩa in hình những bông hồng nhỏ, đựng đầy thứ canh bột đặc sắc kia. Món canh bột lọc, không hiểu sao bao giờ cũng hơi bị khê. Nó bốc lên một mùi khói đồng quê nồng nồng ngon tuyệt. Có những mẩu hành phi vàng và mỡ rán lều bều, và những củ khoai tây to, bở, bổ tư, nổi trên bát canh bột lọc vừa chín tới.

        Với nụ cười khiêm tốn nhũn nhặn, Valentin đưa cho chú bé một cái thìa gỗ.

        — Ăn thử xem. Để xem câu ăn có thấy ngon không. Ở Mạc-tư-khoa chỗ cậu, chắc hẳn không ai làm món canh bột lọc này.

        — Tốt quá — Pêchya vừa nói vừa rên, và bắt đầu ăn.

        Tất nhiên là chú đã từng nghe bố nói chuyện về món canh bột lọc Ukren nổi tiếng này. Nhưng thực tình, chú không bao giờ ngờ được rằng món canh bột lọc lại có thể ngon như thế. Pêchya thổi phù phù vào thìa canh, liếm, ngửi. Valentin nhìn chú, khoanh hai tay như bà lão, và gật gật đầu tỏ ý hài lòng.

        Bà mẹ Valentin ngồi xuống mép ghế và buông thõng hai bàn tay lao động thô kệch. Pêchya cảm thấy bà nhìn chòng chọc, mơ màng vào người chú. Chú không hiểu, không thể hiểu hết ý nghĩa của cái nhìn ấy: nó buồn bã, và có một cái gì rực rỡ. Chú không biết rằng chính lúc này tâm hồn bà đang bị cái bàng hoàng kỳ lạ, đôi lúc đột ngột xâm chiếm lấy con người ta, làm cho dòng thời gian ngừng chảy và kẻo lùi nó trở về đằng sau. Trong những lúc như vậy, tâm trí bỗng trở nên tinh lường lạ thường, người ta có cái cảm giác vừa nặng trĩu vừa êm ái rằng tất cả những cảnh kia đã từng xảy ra. Bà mẹ Valentin nhìn chú bé thổi những miếng khoai nóng, và đang có cái cảm giác của một thời xa xưa nào đó. Bà cảm thấy rằng tất cả những cái kia đã từng diễn ra, đã từng xảy ra xưa kia trong đời bà. Nhưng ở đâu, và bao giờ thì bà chịu, không nhớ ra : cũng canh bột lọc, cũng khoai tây hơi oi khói, nóng bỏng, phải thổi mới ăn được; cũng một thằng bé ngăm ngăm, tóc bù xù, đi đôi giày da hoẵng mới tinh và nhìn bà với một vẻ vui vui ngượng ngập, và chính bản thân bà, lúc ấy chỉ là một cô bé tí tị ở xóm Cối xay Gần, tên là Môchya, cứ đứng ngây ra thích thú, và cũng cái giọng nói rất nhỏ nhẻ, líu lo như một con chim bé tí xíu: «Anh có thích món canh bột lọc của nhà em không ?».

        Và bỗng bà nhớ lại rõ mồn một tất cả, dường như không phải là chuyện xảy ra xưa kia, mà vào đúng ngay cái phút này.

        — Ngày xưa chúng tôi có biết một chú bé, — bà ngập ngừng vừa nói vừa cười — Hồi ấy chúng tôi ở xóm Cối xay Gần. Chú bé ấy đến chơi nhà chúng tôi, và cũng thích ăn món canh bột lọc này lắm. Chủ ấy là con một ông giáo ở Ôđetxa, và tên là Pêchya Batsây.

        Pêchya buông thìa xuống và kinh ngạc nhìn bà.

        — Cháu cũng họ Balsây, — chú nói, trong bụng chưa hiểu ra sao cả.

        — Họ cháu là Batsây ư? Valentin, con nghe thấy không? Họ chú này là Batsây đấy. Chả có nhẽ, cháu họ là Batsây thật sao?

        Pêchya thấy hơi chạm tự ái, như thể bị nghi là một đứa ăn cắp vậy.

        — Vâng, Batsây thật mà. Có gì là lạ bác?

        — Có phải ở phố Kanatnaia, góc phố Kulikôvô Pôliê không?

        — Mẹ ơi, mẹ làm con buồn cười quá. Cậu này là đội viên thiếu niên ở Mạc-tư-khoa, mới đến Ôđetxa lần này là lần đầu tiên.

        Bà mẹ Valentin ngẫm nghĩ một lát, rồi hỏi chú bé:

        — Thế bố cháu, có phải là người Ôđetxa không?

        — Bố cháu là người Ôđetxa.

        — Có phải ở phố Kanatnaia, góc phố Kulikôvô Pôliê không?

        — Cháu không biết.

        — Có phải là con một ông giáo không?

        Pêchya bối rối quả, nhìn Valentin. Chú đã có lần nghe bố nói là ông nội dạy học ở các trường Ôđetxa. Nhưng chú thấy khó trả lời ngay câu hỏi kia, khó mà hiểu được ngay rằng người con ông giáo kia chính là bố chú. Nhưng ông chú có đi dạy học, vậy đúng là ông giáo chứ gì nữa.

        — Vâng, đúng, con một ông giáo, — cuối cùng Pêchya nói.

        — Con ông giáo Ôđetxa?

        — Vâng, ông giáo Ôđetxa.

        Bà mẹ Valentin đứng dậy, lấy tạp-dề lau trán và đi đi lại lại trong phòng. Một câu hỏi nữa thôi là sẽ rõ tất. Câu hỏi đó, bà thấy khó nói ra quá. Cuối cùng, bà dứt khoát:

        — Này cháu, thế bố cháu tên là gì nhỉ ?

        — Piôt Vaxiliêvich.

        Bà nhìn quanh, dường như muốn tìm người làm chứng cho câu chuyện có một không hai này. Nhưng cả Valentin lẫn Pêchya đều không hiểu gì cả.

        — Bố cháu tên là Piôt Vaxiliêvich ư? — bà mẹ Valentin dịu dàng nói.

        — Vâng, Piôt Vaxiliêvich. Sao bác biết bố cháu?

        — Sao biết ư? Trời! — và bà mẹ Valentin chắp hai bàn tay lại — Chúng tôi vẫn nô đùa với nhau hồi bé!

        Bà liếc nhìn chú bé, cố tìm xem có nét gì giống với chú bé hồi nhỏ đã từng chơi với bà. Chắc bà đã tìm thấy. Mặt bà nhăn lại trong những nếp tươi vui. Bà đưa ngón tay giữa lên quệt giọt nước mắt trào ra ở khóe mắt, và bất thình lình ôm chầm lấy hai vai Pêchya, ghì chú thật chặt vào lòng. Pêchya xấu hố gỡ ra.

        — Không sao đâu cháu Pêteska, đừng ngại. Bây giờ, cháu như con cái trong nhà, — bà thì thào âu yếm. —  Cháu có thể xem tôi như cô bác vậy. Tội nghiệp cháu tôi !

        Và bà cười qua hàng nước mắt.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2020, 11:20:03 am

       
22

        Dù không có chuyện ấy, hai mẹ con bà cũng đã đối xử rất tốt với chú bé. Nhưng bây giờ thì chú thành như người trong gia đình rồi. Chú kể cho họ nghe những chuyện đã xảy ra với chú và ngược lại, được biết tình hình bên ngoài. Thành phố đang lâm vào tình thế gay go, gần như tuyệt vọng. Ngoài cảng, người ta bốc xếp hàng lên tàu vận tải. Trên thành phố và nhất là trên cảng, lúc nào cũng chờn vờn những đám mây đen trắng khói bom đạn. Đạn cao xạ, như sao băng, hớt hải lao vun vút trên bầu trời. Ánh những đám cháy và những đợt pháo kích ngời lên trong đêm tối, trên các bờ mây răng cưa. Nó run rẩy quần quại, vươn ra rồi thu tròn lại, vươn ra, rách ra, nhấp nhảy. Tiếng động rít lên ken két và lướt trên mặt biển như những hòn gang lăn trên mặt đá hoa. Âm vang nặng nề chuyền dọc theo vách biển, rào rào tràn ngập cả những hang hốc xa bờ nhất. Trong bóng tối của biển đêm, những tàu vận tải di động, không một ánh đèn. Máy bay oanh tạc của địch bay lượn bên trên. Các tàu đánh trả lại. Những ngọn lửa đó rực phản chiếu vào lần nước đen ngòm.

        Bây giờ thì chú bé đã có thể đi ra ngoài; chú nhận thấy ngôi nhà nằm ngay ở địa đầu thảo nguyên, phía trên vách hiên, chỗ bắt đầu một khe nứt chạy xuống tận ven biển. Quanh đấy còn có vài ngôi nhà nhỏ nữa, đã bỏ không, cửa sổ bị vít lại. Những con gà mái vô chủ đi lang thang trong những đám đất hoang xạm đen. Ban đầu Pêchya ngạc nhiên vì mọi người đều bỏ đi, đều rục rịch, đều chạy trốn, đều hối hả, chỉ trừ có bọn chú là vẫn ở lì. Nhưng chẳng mấy lúc chú hiểu rõ sự tình.

        Bà Matriôna Têrenchiepna, mẹ Valentin, là chủ tịch ngư trang tập thể « Pêtren ». Nói đúng hơn, bà thế chân chồng, cha của Valentin, bác ngư dân lão luyện Pêrêpêlitxki, nguyên kỵ binh sư đoàn Kôtôpxki nổi tiếng, đã ra tiền tuyến cùng hai con trai, ngay từ những ngày đầu chiến tranh.

        Phần đông ngư dân đều nhập ngũ. Chỉ còn lại trẻ con và người già. Nhưng cả những người này cũng từ lâu, mỗi người tản đi một nơi, người thì ra thành phố với bà con, người thì đáp thuyền nhỏ đi theo bờ biển về phía Ôtsakôp, Nikôlaiep, thậm chí đến cả Ôpatôria nữa; lại có những người đến các làng mạc hoặc trang trại quanh vùng, với hy vọng sẽ có những người tốt bụng tiếp đón họ.

        Nhưng bà Matriôna Têrenchiepna với con gái thì vẫn ở lỳ nhà. Bà đảm nhiệm những tài sản quý báu của tập thể, ba tấm lưới, trong số có hai tấm mới tinh, mấy cái thuyền còn tốt nguyên, bao nhiêu là cần câu cặm, một số buồm và dụng cụ đánh cá, rồi sổ sách kế toán của ngư trang, số lượng, giấy tờ ngân hàng, quyển ngân phiếu của ngư trang, một ít tiền mặt, những hợp đồng ký với một số cơ quan hoặc tổ chức mà ngư trang chưa kịp thu được tiền vì lệnh đình chỉ trả nợ ban hành lúc bắt đầu chiến tranh. Người ta không thể bỏ phóng sinh những của cải ấy được. Bà mẹ Valentin không thể nào tưởng tượng được là quân địch có thể đến đây. Bà vẫn hy vọng. Nhiều lần bà vẫy tay đi nhờ xe bộ đội, ra thành phố  xem binh tình ra sao, rồi lại từ thành phố trở về, phờ phạc cả người. Nhiều khi, bà vượt qua thảo nguyên, trên đường đi Nikôlaiep, chờ một đơn vị bộ đội nào đó. Bà ra gần đến tận hỏa tuyến là nơi bất kỳ người thường dân nào hỏi han về cách bố trí của bộ đội, nhất là một người đàn bà lạ mặt, đều có thể bị nghi là gián điệp. Thế mà lạ thay, bà không bị ai nghi kỵ hết; bộ mặt bà với những nét nhăn khắc khổ, phiền não hẳn quanh cái miệng nhỏ mím chặt, thật quả xúc động, quả thật thà, chất phác. Bà nhìn mặt anh em bộ đội với biết bao hy vọng, như chờ đợi từ những nét mặt ấy một lời giải đáp. Và lần nào cũng thế, người ta vẫn chỉ nói với bà cái điều trước sau như một:

        — Chúng tôi không nộp thành phố cho giặc đâu!

        Bà lại trở về nhà với niềm hy vọng dù trong thâm tâm, bà vẫn cảm thấy nặng trĩu lo âu. Bà hiểu rằng một chiến sĩ hoặc một sĩ quan xô-viết không thế nào nói cho bà biết là họ chuẩn bị bỏ thành phố được.

         Có lần, bà ra đường như thường lệ, và ngạc nhiên vì những thay đổi xảy ra quanh mình. Thoạt đầu, bà không hiểu những thay đổi ấy gồm có những gì. Tất cả hình như không có gì khác trước.

        Vậy mà có sự gì chẳng lành, không phải chỉ ở trong những khoảng nhấp nhô của thảo nguyên ngày càng xạm đen lại, không phải chỉ trong những đám mây mọng nước bay nhanh vùn vụt, lớp lớp từ biển trôi vào, chỉ còn thiến mức quệt xuống những bắp ngô khẳng khiu của đảm ruộng ngô bỏ hoang. Cả đến không gian cũng chứa đầy đe dọa, cả đến trong không gian cũng có sự chẳng lành.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2020, 04:03:30 pm

        Bà Matriôna Têrenchiepna nhìn và hiểu: bốn bề, phóng tầm mắt xa đến đâu, đến tận chân trời, cũng tuyệt nhiên không thấy lấy một bóng người. Một chiếc máy khâu nằm kềnh giữa đường và cạnh bà, một cái bao thủng đựng lúa kiều mạch như tô đậm thêm cảnh hoang vu lạ lùng, cảnh yên tĩnh ngột ngạt này. Một đàn quạ đen, nặng nề, lông óng ánh một màu xanh sắt thép rủng rợn, âm thầm, sà xuống cái bao lúa rồi lại âm thầm bay lên. Bà đi mấy bước ra khỏi lòng đường và bất chọt trông thấy ở giữa ruộng ngô, ngay cạnh chân bà, một cái hố tròn mới đào ; một tốp binh sĩ đội mũ nồi đen đính dải thủy quân ngồi trong đó. Họ đang đặt một tấm bệ giống như một cái đĩa bằng thép cho khẩu súng cối cỡ lớn của trung đoàn. Bà MatriônaTêrenchiepna bật lên một tiếng kêu kinh ngạc. Đám chiến sĩ liền ngoảnh về phía bà, bộ mặt họ trẻ măng và trầm lặng với những cặp mắt và hàm răng trắng lóe lên vẻ hăm hở lạ kỳ sôi sục. Bà đứng thẳng đờ ở trên đầu họ, im lặng, không hiểu gì về những chuyện xảy ra quanh mình.

        — Này bác, đứng làm gì đấy? Đây là tiền tuyến rồi. Đánh nhau ngay bây giờ đấy. Chạy đi!

        Mãi đến lúc ấy, bà Matriôna mới nhận thấy thảo nguyên thoạt đầu có vẻ như hoang vu, lại chứa đầy những hoạt động bí mật. Đây đó, trong ruộng ngô, những anh bộ đội, những anh thủy quân di động kín đáo. Nhìn bộ mặt hừng hực của họ, từ lâu chẳng được cạo rửa, nhìn những tấm áo lót nhem nhuốc đẫm mồ hôi, dưới chiếc áo va-rơ và áo tơi thủy thủ phanh cúc, qua hơi thở hổn hển và khò khè của họ, người ta có thể đoán biết rằng đã nhiều ngày họ chưa rời trận địa, và họ đang ở trong cái trạng thái căng thẳng cao độ vô vọng xâm chiếm tâm hồn người lính trong những lúc cực kỳ nguy khốn và tạo ra những chuyện thần kỳ. Bà Matriôna cảm thấy là trong giờ phút này, ngay nơi đây, sắp xảy ra một cái gì thật khủng khiếp.

        — Chạy đi, chạy đi mẹ ơi ! — một anh lính thủy mặc quân phục bộ binh, băng đạn đeo chéo người, một quả lựu đạn gài thắt lưng, một khẩu súng cầm tay, đầu không mũ nồi, bộ mặt đáng sợ quấn băng chằng chịt hét lên với bà.

        — Nằm xuống mẹ! — bà nghe thấy có tiếng ai từ một chỗ khác kêu lên.

        Bà ngã lăn xuống theo bản năng, áp má vào mặt đất rắn lạnh. Đúng lúc ấy, kèm theo một tiếng gầm rít xé trời ngay cạnh bà hay từ lòng đất không biết nữa, một cột khói đen và hung, mang trong lòng một ánh chớp, nổ lên vang dội, và khắp bốn phía như có những tràng mảnh vụn phóng ra, phạt đứt cả một đám ngô cao. Choáng váng vì tiếng nổ, bà chồm dậy, chạy bổ đi, cảm thấy đất từ tóc, từ áo, từ cổ mình rơi xuống. Bà chạy thục mạng, mắt nhắm nghiền, răng nghiến chặt. Bà chạy, chẳng nghĩ gì khác ngoài việc phía sau lưng bà kia kìa, nơi bà vừa bỏ chạy, trận đánh đang diễn ra ác liệt, những tiếng thét vang lên, những tràng súng máy rên rĩ, những quả thủ pháo nổ tung...

        Đang chạy, bà vấp phải một đống đá sói ở giữa đường; đầu gối bị dập mạnh, bà trượt ngã và lăn ra, xước cả lòng bàn tay. Vất vả lắm bà mới lấy lại được hơi; quên cả đau, bà toan vùng dậy và chạy xa hơn nữa thì chọt lúc ấy bà thấy một chiếc xe vận tải nhỏ chở những người mặc quân phục bộ binh, đội mũ nồi đính dải thủy quân. Chiếc xe chạy qua cạnh bà. Nó chồm lên những ổ gà, chỉ một li nữa là đổ kềnh ở chỗ ngoặt, mở hết tốc lực lao vào khói lửa của trận đánh. Bà Matriôna thay rõ một khẩu đại liên long lên sòng sọc trên nắp xe. Một anh thương binh, người quấn đầy băng đạn, nằm dài bên cạnh, áp mặt vào cái thước ngắm. Bà còn thấy nhiều thủy binh khác cũng quấn chéo những băng đạn súng máy quanh người, đội mũ nồi với những chiếc dải bay lồng lộn trên đầu họ. Một người trong toán cầm lá cờ của hạm đội. Lá cờ bay lượn trên đầu họ, vất vả mới theo kịp đà xe như một con lốc lụa — lúc xanh, lúc trắng, lúc đỏ — phành phạch như một khẩu súng máy, thành thử như không phải có một mà là hai khẩu súng máy đang từ chiếc xe bắn ra.

        Rồi tất cả xóa nhòa đi trong màn khói ngột ngạt của trận đánh.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2020, 04:04:17 pm

       
23

        Trong lúc bà mẹ Valentin chạy về đến nhà, giày rách tung, chân rớm máu, thì một chiến hạm phun ra một màn khói. Hình như nó lơ lửng trong đám mây mù ảm đạm của biển cả lúc hoàng hôn, phía trên cái mái bằng của ngôi nhà đã có cỏ mọc. Bốn lưỡi lửa, bốn ngọn bút lông lóa mắt với những đầu nhọn hoắt, phụt ra khỏi nòng đại bác, tóe ra, bay vút và tan đi trong những cơn lốc khói ảm đạm. Một tiếng nổ rung cả vùng vách biển. Trong thâm tâm, bà Matriôna hiểu đó là điều rất hay, có một chiến hạm đã đến giúp sức anh em thủy binh và đã dọt xuống đầu quân địch bằng những đại bác « cỡ kếch xù ». Đúng nguyên văn bà nghĩ như vậy: những đại bác « cỡ kẽch xù ». Bốn viên đạn gầm rống bay qua đầu bà về phía thảo nguyên, và mấy giây sau, bốn tiếng nổ dậy đất, mạnh đến nỗi làm đất cát đổ ào ào từ trên vách biển xuống phía dưới.

        Bà dừng lại trước cửa, thở một hơi dài và qua quyết bước vào nhà.

        Pêchya và Valentin yên lặng đứng trước bà.

        — Thế là hết — bà nói một cách gay gắt, có phần sống sượng nữa, và lấy tay đập vào không khí một cách quả quyết — Valentin, chuẩn bị cho thằng bé đi, còn mẹ, mẹ đi xuống dưới kia.

        Valentin gật đầu. Không cần thiết phải giải thích gì cho cô bé. Cô đã trở nên rất đứng đắn, âm thầm.

        — Mẹ làm một mình có nổi không?

        — Để mẹ cố xem, — bà mẹ nói qua kẽ răng. Pêchya rụt rè nhìn bà mẹ rồi lại nhìn cô con gái, ngơ ngác. Cái tiếng « cố » mà bà mẹ nói ra bằng một giọng gay gắt đặc biệt lạ lùng làm cho lòng chú bé càng rạo rực lo sợ. Trong lúc bà mẹ lục đục ở lối cửa vào, xô loảng xoảng những bi-đông sắt tây, thì Valentin vội vàng nhưng không hấp tấp, sắp xếp đồ lề và bảo chú bé mặc quần áo.

        Pêchya vừa mặc quân áo, vừa giật nẩy người trước mỗi loạt đại bác hạng nặng và trước mỗi tiếng nổ ngoài thảo nguyên. Bộ quần áo Mạc-tư-khoa của chú, sau thời gian bị ngâm nước mặn đã co dúm lại, nhầu nát, bạc phếch. Nhiều chỗ đã rách, nhưng Pêchya thấy có người đã vá và mạng lại cẩn thận cho chú. Nhiều chiếc khuy áo đứt đã được thay thế. Đôi dép của Pêchya trôi mất khi chú rời khỏi tàu. Valentin đã thay cho chú một đôi giày tuy cữ nhưng còn lành lặn. Đôi giày rộng quá, Pêchya phải độn báo cũ vào. Chẳng có bit-tất. Pêchya cứ cho chân không vào giày. Dù có báo cũ, đôi giày vẫn quá rộng đối với cỡ chân chú. Hai bàn chân chú cứ lúc lắc bơi trong giày.

        — Đôi giày của anh Têrenti mình đấy. Nó gần như còn mới toanh, — Valentin nói ngay như muốn chặn đứng bất cứ lời phàn nàn nào đối với đôi giày bất tiện —  Anh Têrcnti hây giờ đang ở hộ đội. Còn một anh nữa của mình là Vaxili cũng đi bộ đội.

        Nhưng cô mất công vô ích. Pêchya không máy may tỏ ra bất mãn. Chú hiểu không còn đôi giày nào khác nữa, vả lại đào đâu ra? Hơn nữa, cũng không thể đi chân đất được! Thế mà việc là phải đi rồi, chú bé không còn ngờ gì nữa. Sau đó cô bé đưa cho chú một chiếc áo khoác ngắn đã cũ xông lên mùi da cừu chua hoắc. Chú bé mặc vào, chẳng nói chẳng rằng. Cái áo khoác ấy cũng rộng quá, dài quá đầu gối nhiều. Phải xắn tay áo lên vì nó trùm cả bàn tay. Cái mũ cát-két Mạc-tư- khoa mới đã nằm dưới đáy biển. Valentin cho Pêchya một cái khác. Chú đội lên. Kể ra chú cũng lấy làm khó chịu : từ thuở lọt lòng, chú chưa từng mặc quần áo thừa của ai bao giờ. Nhưng chú chẳng hề hé răng.

        Bất giác chú nhớ đến cái ba-lô của chú, trong đó có đủ thứ của cải: xà-phòng, sơ-mi, bàn chải đánh răng, một trăm rúp, giấy bút, bức ảnh mẹ. Chả còn ba-lô nữa ! Ba-lô để lại trên con tàu bốc cháy rồi. Bây giờ Pêchya hoàn toàn tay trắng.

        Trong khi chú bé được Valentin giúp đỡ thay quân áo thì bà Matriôna Têrenchiepna cứ chạy ra chạy vào. Một lần để gói ghém giấy tờ, sổ sách và những tấm bìa cứng đã sắp đặt từ trước vào một tấm khăn trải giường. Bà buộc chặt cái gói lại bằng một chiếc khăn mặt dài và để nó vào một góc nhà, trên một cái ghế đầu, thật dễ nhìn thấy, để bất kỳ lúc nào cũng vơ lấy được dễ dàng. Một lần nữa, bà bước vào, thở hổn hển (bà vừa phải chạy ngược lên bờ biển dốc), mắt trừng trừng và miệng mím lại nghiêm nghị, lục lọi mọi xó xỉnh, tìm được một cái rìu, va cái rìu vào thềm cửa, rối vẫn thở hổn hển, bà chạy ra ngoài. Vài phút sau, từ xa ở phía dưới, tiếng bà kêu vọng lên, át cả tiếng sóng và tiếng súng. Bà gọi Valentin.

        — Mình đã bảo là bà cụ không làm một mình được đâu mà ! — Valentin vừa lẩm bẩm vừa nhìn chú bé bằng đôi mắt dò xét nhưng thực ra không trông thấy gì. — Ở đây nhé. Đừng đi đâu. Chờ đấy, chúng tôi trở lại ngay. Hai chúng tôi làm thật gấp, rồi sẽ trở lại.

        Lúc ấy, từ mặt hiển, loạt đạn tiếp theo của pháo cỡ lớn vừa bắn đi. Một ánh sáng đó rực nhấp nháy ở những cửa thông hơi trên mái. Kính rung lanh canh. Chú bé dúm người lại. Chú run lên bần bật. Chú cố để răng khỏi va vào nhau.

        — Đừng sợ — cô bé nói — Họ còn bắn súng to thì vẫn còn chưa sao. Nhưng nếu họ ngừng bắn súng to thì...

        — Thì sao ?

        — Thì... lại là chuyện khác. Cũng phiền đấy. Ngồi xuống và đợi nhé.

        Valentin, hệt như mẹ, đi lục lọi các xó xỉnh, nhưng không tìm được rìu. Cô vớ lấy con dao phay làm bếp, treo ở cái đinh gần cửa, rồi với dáng quả quyết, cúi xuống, bước qua thềm cửa trong bóng chiều đang xuống nhanh. Chú bé còn lại một mình.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2020, 04:05:15 pm

       
24

        Chú ngồi trên cái ghế đầu giữa căn phòng; ở đây thấy có vẻ an toàn hơn, chú vừa ngồi vừa run rẩy, ôm chặt lấy ngực bằng hai bàn tay đút vào trong cánh tay áo khoác quá dài. Giờ đây chú bé chăm chú dỏng tai nghe tiếng súng. Trong khoảng cách giữa các loạt đạn, chú nhìn xoáy vào các góc nhà, ở đó bóng tối mỗi lúc một thêm dày đặc với tốc độ đáng sợ. Chú sợ, sợ đến nỗi giá vào trường hợp khác chú đã nhảy bổ ra ngoài và kêu váng lên. Nhưng lúc này, ngoài sợ ra, còn có một tình cảm khác hẳn, hoàn toàn mới mẻ, dần dần xâm chiếm tâm hồn chú, một tinh thần trách nhiệm về hành vi của chú đứng trước sự đe dọa của nỗi nguy hiếm chết người, của cái không thể nào tránh khỏi đang vây học lấy chú tứ phía và đòi hỏi chú phải vững, phải kiên nghị, phải dũng cảm, phải hành động. Nhưng chú lại không biết nên làm gì. Chú phải ngồi yên tại chỗ và đợi. Ngồi khoanh tay thế này càng làm tăng nỗi khủng khiếp của chú. Chú bé tưởng như mình bị những tai họa vô hình tấn công. Mỗi bóng đen, mỗi lần ảnh sáng thay đổi sau cửa sổ đều làm chú cảm thấy nguy hiểm tột độ.

        Bất chợt cái cửa sổ phía ngoài bị một vật gì bịt lại, và ngay lập tức vật to lớn ấy trượt xuống phía dưới: một vật gì đó ở bên ngoài vấp nhẹ vào bức tường đất sét. Pêchya ngồi đờ người ra, nhìn qua cửa sổ một lúc, nhưng chú chỉ thấy những ánh phản chiếu hồng hồng của một đám chảy xa xa trên thảo nguyên. Pêchya nín thở, không dám cựa. Cảnh vật yên tĩnh lạ lùng. Trong mấy phút, chú dò xét cái yên tĩnh nặng trĩu đe dọa ấy, tinh thần căng thẳng đến nỗi mắt chú hoa lên. Thoạt đầu, chú không hiểu tại sao cái yên tĩnh ấy lại làm chú sợ đến thế. Nhưng bất thình lình chú hiểu ra, người ta không bắn súng to nữa.

        Những ánh lửa phản chiếu ngoài cửa sổ mỗi lúc một gay gắt hơn, đáng sợ hơn. Cháy rất gần đâu đây, phía sau nhà, hơi chếch về một hên, hình như ở phía dưới, trên bờ biển. Cháy bùng lên từng đợt. Bất thình lình, một lần nữa, ở bên ngoài, một vật gì lại khẽ đụng vào bức tường và trên tấm kính phía dưới cửa sổ, có bàn tay của một người nào gõ vào, yếu ớt nhưng rõ mồn một. Một bàn tay, không còn ngờ gì nữa, một bàn tay người yếu ớt. Dưới ánh sáng rừng rực, không hề dịu đi của đám cháy, Pêchya nhận thấy bóng những ngón tay co lại, cử động trên tấm kính. Rồi ngay tức thì, bàn tay rơi xuống, biến mất.

        Chú bé lùi về phía giường, hai bàn tay lạnh toát nắm lấy thành giường xù xì. Nhưng ngay lập tức, một sức mạnh, chính cái sức mãnh liệt vẫn thúc đẩy con người xông vào chỗ nguy hiểm mà không gì ngăn cản được, đã xâm chiếm lấy chú, đẩy chú lại phía cửa sổ. Mặt đờ ra, Pêchya bước gần lại và áp người vào tấm kính, nhưng chú không nhận thấy gì, ngoài cái bếp lò đun mùa hè bằng đất sét đặt trước ngôi nhà, bức tường, những đám có rối, đám ngải cứu, đám rau thì là già cỗi và cái thuyền có thùng nuôi cá — một cái xuồng nhỏ xíu có mui với những lỗ tròn — vứt lăn lóc ở đấy.

        Thế rồi bước rón rén với đôi giày to tướng, nặng nề, ngón tay run run giữ lấy cổ áo khoác, Pêchya đi ra phía cửa, mở nhìn ra ngoài. Thoạt tiên chú trông thấy dưới ánh lửa chập chờn một người nằm sóng sượt ngay sát thềm, dưới cửa sổ. Người ấy nằm ngửa, đầu dựa vào tường gượng gạo. Ngón tay hơi co lại, gõ thong thả, đều đều vào lớp cửa sàn sùi ngoài bức tường đất sét như gõ trên phím đàn. Đó là một thủy binh với chiếc dải đen đính vào vầng trán đẫm máu. Dưới áo va-rơi rách bươm, bộ ngực với tấm áo lót kẻ sọc, đen sì mồ hôi và máu, phồng lên, hạ xuống mệt nhọc. Thần chết đã bắt đầu phủ cái bóng đen sâu thẳm, tàn bạo lên bộ mặt xám ngoét, đờ đẫn, y như nặn bằng mát-tit xám.

        Khó mà đoán được tuổi bộ mặt đờ đẫn, căng thẳng với trông mắt lộn ngược, lạnh lùng như mặt nạ ấy. Có thể là của một ông già mà cũng có thể của một người trẻ tuổi. Chỉ riêng đôi môi hãy còn sức sống, đôi môi rộng, giãn ra, màu xanh tro, gần như trắng, nhợt nhạt hơn da mặt nhiều. Đôi môi cử động khó khăn, ở khóe mép, sùi lên những đám bọt hồng.

        Pêchya lạnh cứng cả người, không còn sức quay mặt đi để khỏi nhìn cái cảnh tượng khủng khiếp chấm dứt đời một con người mà chú chưa từng thấy bao giờ.

        Người thủy binh rên rỉ.

        — Chú ơi, chú làm sao thế? — chú bé bất giác kêu lên — Chú đau lắm à?

        Thế là lúc ấy, đôi mắt trợn ngược của người hấp hối từ từ trở về chỗ cũ và nhìn chú bé ; đôi mắt nhìn chú bình thường, tỉnh táo, lộ một vẻ đau đớn đồng thời với một nỗi lo âu ghê gớm át cả cái đau đớn kia. Người lính thủy nhìn Pêchya như muốn tìm hiểu chú bé là người thế nào, từ đâu mà ra, có thể tin cậy được không. Còn tâm trạng của Pêchya thì cũng giống hệt như tâm trạng bà mẹ Valentin mới đây khi bà được chứng kiến đợt tấn công của anh em thủy binh Hạm đội đó. Bất chợt đối với Pêchya, mọi chuyện đều trở nên sáng tỏ lạ thường. Không cần cố gắng động não gì cả, do một tác động thầm kín và huyền bí của trái tim, chú bé hiểu tất cả và có thể giải thích được tất cả. Chú hiểu đôi mắt của anh thủy thủ hấp hối muốn nói gì. Đôi mắt ấy nói với Pêchya : « Cháu có biết rằng chú sắp chết và cháu là người cuối cùng mà chú nhìn thấy trên cõi đời này không ? Chú có thể tin cậy ở cháu được không ? Cháu là ai, bạn hay thù ? ». Để trả lời điều đó, Pêchya chạy vào trong nhà và mang ra một ca nước. Chú bé ngồi xồm xuống cạnh anh thủy binh và đưa ca nước vào cặp môi cứng đờ của anh. « Chú uống nước đi, cháu là bạn đây », đôi mắt Pêchya nói như vậy.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2020, 04:05:32 pm

        Trán người thủy binh nhăn lại đau đớn như chiếc đàn phong cầm và anh cố sức lắc đầu từ chối; đồng thời đôi mắt anh như sốt ruột nói: « Ồ, không, không cần nước đâu! Muộn quả rồi, thể xác chú không cần thiết một thứ gì nữa. Này cháu ơi, cháu có biết quân thù đang tấn công và cháu cần phải chạy cho mau, phải trốn đi không? Nhưng hãy chờ một chút, chú có chuyện này rất quan trọng cần nói với cháu».

        — Gì? Chú cần gì? — Pêchya cúi xuống thì thào vào bên tai cứng đờ, trắng bệch của anh thủy binh.

        Trong ngực anh thủy binh đó sôi quặn lèn. Với một cố gắng phi thường, anh xoay cả tấm thân đang lạnh dần, rồi bàn tay vụng về của anh bắt đầu lôi một vật gì trong người ra. Đôi mắt anh nói với chú bé như cầu khẩn : « Hãy giúp chú nào! Cháu không hiểu sao ? ». Pêchya hiểu và khắc phục nỗi sợ hãi trước cái chết đang diễn ra, chú cố sức đỡ tấm thân lạnh cứng của anh thủy binh lên và lôi ra một mảnh vải nhầu nát, đẫm máu. Chú bé thấy hình như đó là một tấm khăn trải giường với đường viền lạ lùng màu xanh. Nhưng liền sau đó, chú nhận thấy ngoài cái sọc xanh, còn có một ngôi sao đó, cái liềm và cái búa, và chú hiểu ngay đó là lá cờ của Hạm đội.

        — Cờ à? — chú bé hỏi.

        — Ừ, đó là lá cờ chiến đấu của các chú, lá cờ của chiến hạm — đôi mắt anh lính thủy nói vậy — Cầm lấy cháu. Chú tin cậy ở cháu.

        Pêchỵa hai tay đỡ lấy mảnh vải. Chú hiểu những gì đã xảy ra. Chú hiểu là có một trận đánh cuối cùng, ác liệt, quanh thành phố, các chú thủy quân đã cầm cự đến người cuối cùng, chú thủy quân này bị thương nặng và, để cứu lấy lá cờ chiến hạm, chú đã lết bụng bò trên thảo nguyên cho đến tận ngôi nhà. Thu hết tàn lực, chú đã gõ vào cửa, bây giờ chú sắp chết, và lúc hấp hối, chú trao lá cờ chiến hạm cho Pêchya để Pêchya bảo vệ lấy nó. Cùng lúc ấy, Pêchya bắt gặp một ánh ngờ vực thoáng qua trong đôi mắt anh thủy binh. Máu bốc lên mặt Pèchya, những giọt nước mắt hổ thẹn ướt đẫm hàng mi chú bé.

        — Cháu... — Pêchya cố sức nói, cảm thấy họng mình thắt lại — cháu xin... — giọng chú bé nức nở như giọng con nít, và đột nhiên vỡ ra — cháu xin thề với chú..., lời hứa danh dự của thiếu niên tiền phong, đó là lời thề...

        Pêcliya giơ chếch bàn tay run run của mình lên trên đầu. Một mùi thuốc súng cháy, mùi sò nướng, mùi mồ hôi, và một cái gì ngạt thở, có chất sắt, xông lên từ lá cờ nhầu nát, bị mảnh đạn đại bác xé rách bươm. Nước mắt chú bé trào ra. Chú khóc òa lên, nức nở, nhưng không xấu hổ vì những giọt nước mắt của mình, rồi chú cầm lá cờ lau bộ mặt ướt đẫm khiến đôi môi chú cảm thấy vị mằn mặn, có chất sắt, chú bé hiểu đó là mùi máu đã khô. Qua màn lệ, chú bé thấy anh thủy binh phác một cử chỉ với cả một cố gắng phi thường. Ngay lập tức, Pêchya hiểu anh thủy binh đang rướn mặt về phía lá cờ. Chú bé hai tay nâng lá cờ về phía anh và anh gắn đôi môi lên đó. Ngực anh phòng thật cao và không hạ xuống nữa. Bộ ngực ấy cứ vĩnh viễn như thế, với tấm áo lót bó sát người, dưới chiếc áo va-rơ rách bươm có một túi ngực nhỏ cài khuy. Đôi mắt đăm đăm của anh thủy binh, nửa nhắm nửa mở hình như hơi nhìn nghiêng xuống cái túi nhỏ ấy.

        Pêchya hiểu cái nhìn lờ đờ ấy có ý nghĩa gì. Chú lóng ngóng cởi chiếc khuy đồng có ngôi sao năm cánh, bằng những ngón tay lạnh toát, và rút từ túi ảo ra một quyển sổ nhỏ đóng bìa cứng, đẫm mồ hôi — một tấm thẻ đoàn viên Thanh niên Cộng sản trong đó có một mẩu giấy thò ra. Pêchya rút mẩu giấy và dò đọc dưới ánh sáng phản chiếu của đám cháy kỳ quái, những chữ viết nguệch ngoạc vội vàng bằng bút chì mực: «Tôi chết vì danh dự và quang vinh của Tổ quốc. Tôi tiếc không kịp gia nhập Đảng. Tôi yêu cầu được coi là đảng viên của Đảng Cộng sản vĩ đại. Bọn xâm lược pbát-xít phải chết! Chủ nghĩa cộng sản muôn năm! Đoàn viên thanh niên Cộng sản Layrôp Nikôlai ».

        Pêchya nhìn anh thủy binh đó Nikôlai Layrôp và hiểu rằng anh đã chết. Nhưng chú bé không sợ. Khẩn trương, nhưng không bối rối, với một vẻ bình tĩnh lạ lùng, chú bé  bỏ tấm thẻ đoàn viên và mầu giấy vào túi áo của mình, tháo cái huy hiệu đoàn viên Thanh niên Cộng sản trên áo va-rơ của anh thủy binh đó, rồi giấu cả vào túi, sau đó chú phanh chiếc áo khoác ngắn của mình, cởi cúc áo vét-tông, lùa lá cờ chiến hạm vào trong, quấn lá cờ cẩn thận quanh người. Pêchya cài chặt cúc lại, tự sờ nắn trước sau, rồi với đáng quả quyết, chú lau bộ mặt ướt đẫm bằng tay áo của chiếc áo khoác cũ kỹ.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Bảy, 2020, 11:27:38 am

       
25

        Mãi đến lúc bây giờ Pêchya mới để ý đến cái ánh phản chiếu kỳ quái của đám cháy. Ngọn lửa lúc lụi xuống, lúc bùng lên, phản chiếu ảm đạm lên những đám mây đêm bay thấp. Có cái gì đang bốc cháy ở dọc bờ, dưới chân vách biển. Pêchya đi ra chỗ mỏm cao và nhìn xuống dưới. Chú thấy mấy đống củi xếp liền nhau, đỏ rực, khói nghi ngút, cháy nối tiếp nhau rất nhanh và rất mạnh. Giữa những đống đó, xác những chiếc thuyền bốc lửa đỏ rực. Những đám tàn lửa lách tách, bay vượt lên trên luồng khói đen sì đang vật lộn với cơn lốc mù mịt của ngọn lửa đó như ớt. Có lúc, luồng khói thắng thế, có lúc ngọn lửa một mình vươn lên, có lúc cả hai quấn quít lấy nhau. Pêchya tưởng tượng chúng như hai kẻ thù đang vật lộn, một bên đỏ, một bên đen. Cuối cùng bên đỏ thắng. Lửa nhận chìm khói và bốc lên trời. Lửa chiếu sáng vào cát biển, vào sóng bạc đầu, vào vách đất nhìn nghiêng của biển với tất cả mọi chi tiết, vào những dấu vết đen sì của những đống củi cũ của ngư dân, vào những hang hốc, và những tổ chim biển. Pêchya thấy bóng Valentin và bà mẹ chạy quanh lò than hồng ấy, hai tay giơ lên che khói và lửa. Có một cái gì ảo não thảm thê trong hai bóng dáng nhỏ xíu ấy, giữa đêm tối, đang hoàn thành khẩn trương nhưng không bối rối, một nhiệm vụ mà chú không biết khó khăn đến chừng nào. Rồi bất chợt, chú hiểu công việc họ làm. Họ phá hủy những tài sản của ngư trang « Pêtren ». Họ phá thuyền, chặt cột buồm, bơi chèo, tưới dầu hỏa lên đốt.

        Pêchya chạy xuống với họ. Hai người cũng đã làm xong việc và chạy lên phía chú; họ nhảy trên những bậc long lở, khoét vào bờ đất sét dốc đứng.

        — Thế nào, sẵn sàng chưa? — Valentin hỏi, giọng khàn khàn.

        — Sẵn sàng!

        — Thế việc gì mà cứ phải đến làm quẩn chân người ta thế? Quay trở lại, mang đồ lề đi thôi.

        Cô bé nói với chú như nói với trẻ con, nghĩa là bằng giọng sai khiến. Nhưng Pêchya coi như một điều tất nhiên, chẳng lấy thế làm bực mình. Valentin và bà mẹ thở dốc. Mồ hôi bóng nhẫy trên bộ mặt đầy bồ hóng của họ. Người sặc mùi dầu hỏa, ảo bị xém vì tàn lửa. Những giọt nước mắt hòa lẫn mồ hôi chảy trên bộ mặt đen nhẻm của bà mẹ. Bộ mặt biểu lộ nỗi thất vọng, phiền muộn sâu sắc đến nỗi chú bé thấy cổ họng mình thắt lại.

        — Đau đớn chưa... Đau đớn chưa... — bà vừa lẩm bẩm một mình vừa lấy tay áo lau đôi má nhăn nheo và xì mũi — Lạy Chúa tôi, thế là bao nhiêu của cải của ngư trang đi đời nhà ma! Bà con đã đổ mồ hôi, sôi nước mắt, vừa đến lúc có thể nói là có máu mặt một tí thì thế đấy! Sạch sành sanh... Kiếm củi ba năm thiêu một giờ.

        Bà xòe hai bàn tay, nhìn chúng với một vẻ kinh ngạc buồn bã, dường như bà không đủ sức hiểu nổi rằng chính bà với hai bàn tay này đã phá hủy những của cái vô giá của ngư trang, niềm kiêu hãnh của chồng bà, niềm kiêu hãnh của tất cả bà con đánh cá, niềm kiêu hãnh của tất cả vùng này. Hai cánh tay rã rời của bà nặng nề buông phịch xuống bên người. Bà ngồi xuống bậc đất sét trên con đường dốc, gục đầu khóc.

        — Mẹ, con cấm mẹ khóc đấy! —Valentin kêu lên với nỗi tuyệt vọng — mẹ ngẫm xem. Còn bé bỏng lắm hay sao ? Thôi mẹ đừng mua sầu chuốc não làm gì nữa. Giờ không phải lúc.

        — Cô im bặt để lấy hơi, mặt nhợt nhạt, đôi mắt mở to, cảnh mũi nở phòng.

        — Mẹ ơi, mẹ có nghe không, — đột nhiên cô nói dịu dàng và quàng lấy đôi vai còng của mẹ — mẹ có nghe con nói gì không? Đứng dậy mẹ. Ta phải đi thôi.

        Bà Matriôna Têrenchiepna không ngẩng đầu lên. Rõ ràng là bà đang tập trung sức lực. Rồi bà đứng dậy với dáng mỏi mệt, rũ váy, xua tay, và không quay đầu lại, bà rảo bước về phía ngôi nhà; Pêchya và Valentin phải theo khướt mới kịp.

        Anh thủy binh hồng quân Layrôp Nikôlai, ngực phồng cao, vẫn nằm sóng sượt dọc chân tường, giữa khoảng thềm cửa và cửa sổ. Một vũng lớn đen ngòm lênh láng dưới người anh. Bà mẹ hoảng hốt nhìn Pêchya và Valentin.

        Chú bé kể lại tất cả, nhưng không hé răng về chuyện lá cờ hạm. Chú cảm thấy mình bị ràng buộc bởi lời thề thầm lặng, ghê gớm, và phản bội lời thề ấy chẳng khác gì phản bội Tổ Quốc. Đó là một lời thề của thiếu niên tiền phong, thiêng liêng, không thể vi phạm được. Bảo rằng Pêchya không tin cậy Valentin và bà mẹ cô thì cũng không phải và lố bịch. Chú rất tin cậy họ ; đối với chú, trong lúc này họ là những người thân thiết nhất. Thế nhưng cái sức mạnh ghê gớm của lời hứa quân sự dưới nghi thức lời thề trước mặt anh chiến sĩ và đoàn viên Nikolai Layrôp, đã kiên quyết ra lệnh cho chú phải im lặng.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Bảy, 2020, 11:28:00 am

        Bà Matriôna Têrenchiepna quỳ xuống trước người lính và áp tai vào bộ ngực phòng cao của anh. Bà nghe ngóng thật lâu, hy vọng nhận thấy ít ra một tiếng tim đập yếu ớt, bà chạy vào nhà mang ra một tấm gương nhỏ. Bà đặt gương kề sát đôi môi xanh nhợt của người chiến sĩ. Bà nhìn chòng chọc vào mặt gương ; liệu nó có mờ đi không, liệu có hiện ra dấu vết gì, một dấu vết nhỏ nhất của hơi thở không? Nhưng mặt gương vẫn lạnh vẫn sáng. Thế là bà khẽ miết hai ngón tay cái, thận trọng vuốt hàng mi anh thủy binh, rồi hôn lên trán anh. Tính chất định mệnh của động tác hai ngón tay và tấm gương nhỏ, nhẵn bóng, lạnh lùng phản chiếu ảnh lửa vẫn không ngừng in lên tầng mây, đột nhiên tác động đến chú bé với một sức mạnh lạ thường. Chỉ đến bây giờ, và cũng là lần đầu tiên, chú mới hiểu cái đó không phải bằng lý trí, và toàn thân chú mới bị xâu xé tàn nhẫn bởi cảm giác thực sự về cái chết và bởi sự đơn giản kinh hồn của nó.

        Sau đó, chú chỉ nhớ thêm vài chi tiết tiếp diễn. Chú nhớ lại ba người đã chôn cất anh thủy binh ngay tại chỗ, không xa ngôi nhà mấy tí, họ đào huyệt bằng những cái xẻng không hiểu sao lại dắt ở trên mái nhà và cả Pêchya cũng đào, việc này thì chú nhớ như in. Chôn cất anh thủy binh xong, Valentin và chú còn phải đợi bà Matriôna Têrenchiepna đi thu thập một lúc ở trong phòng một số giấy tờ cần thiết của ngư trang. Sau cùng bà bước ra khỏi nhà, cắp một bó giấy má to tướng. Pêchya còn nhận thấy bó giấy cuộn trong những tờ báo « Công xã Hắc-hải» cũ rách. Tất cả ngư trang « Pêtren » chỉ còn lại có thế. Khi họ ra khỏi nhà được vài chục bước, bà mẹ chợt nhớ còn để quên một thứ rất quan trọng. Bà đặt bó giấy xuống cỏ, chạy về nhà rồi quay trở lại ngay, mang theo một tấm ảnh chụp chơi, nhỏ, cũ, lồng trong một khung gỗ cũng khảm xà cừ. Rồi cả ha người đi vào thảo nguyên, trong bóng tối dày đặc mà họ chưa quen mắt.

        Sau lưng, ngôi nhà nhỏ đã bốc cháy thế nào, Pêchya không nhớ. Chú chỉ nhớ nó cháy như một đống củi và, một lần nữa, trong khói lửa lại có hai kẻ vật nhau, một bên đỏ, một bên đen.

        Họ băng qua thảo nguyên. Pêchya không hiểu là sẽ về đâu. Họ đi rất lâu, vội vã; chú bé xước cả chân với đôi giày quá khổ, nhưng chú im lặng và tiếp tục khập khiễng bước. Rồi họ nhìn thấy mấy đám cháy đằng xa. Đó là vùng ngoại vi Ôđetxa đang bốc cháy: những kho dầu hỏa, xưởng sơn Vôrôsilôp, những kho nông sản. Họ đi về phía những đám cháy dọc theo một con lạch nhỏ ; dòng nước lạch phản chiếu ánh sáng các đám cháy và những tàn lửa đang điên cuồng bay lên.

        Một quả bom đã rơi xuống tòa nhà của khu ủy. Hồi nhà bên trái sụp đổ. Nhưng bản thân tòa nhà — một tòa nhà cổ, đẹp, công trình của kiến trúc sư Bôpfô — vẫn đứng vững mặc dù có nhiều chỗ giạn nứt. Phòng làm việc của bí thư khu ủy cũng bị thiệt hại. Nó đã phải dời sang một căn phòng khác, cửa sổ trông ra quảng trường Công xã.

        Không cởi áo ngoài, Secnôivanenkô bước xồng xộc vào căn phòng làm việc mới.

        Trong căn phòng ngổn ngang, ngoài người bí thư mà Secnôivanenkô rất quen biết, còn có một người khác. Người này ngồi lánh sang một bên, cạnh chiếc bàn nhỏ, đang biên chép gì vào sổ tay. Cái cặp để cạnh người, dựa vào chân ghế. Trên bàn, cạnh bình thủy tinh không và cái cốc kim loại đầy đầu mầu thuốc lá và giấy vụn, có chiếc mũ lông cừu kiểu nông thôn, đính băng đỏ du kích.

        Secnôivanenkô nhận ra cái gáy lực lưỡng với bộ tóc cắt ngắn, và trước khi người bí thư giới thiệu, ông biết đó chính là Xêrafim Ivanovich Tulvakôp nổi tiếng, chỉ huy một đội du kích, nguyên chủ tịch ban chấp hành Ôviđiôpôn, chính người cách đây không lâu, với một toán anh em, đã băng qua hỏa tuyến, giải về bộ tham mưu của quân đoàn Duyên hải, một tên đại úy tù binh Đức. Vào hồi này, người ta cho rằng Xerafim Ivanôvich Tulvakôp rất có thể làm phó cho Secnôivanenkô trong việc lãnh đạo quân sự bí mật.

        Tulyakôp đứng dậy, lấy chân chận cái cặp để nó khỏi đổ, bắt tay Secnôivanenkô. Hai người vội nhìn nhau, cùng giấu vẻ tò mò. Secnôivanenkô có con mắt sắc sảo, lão luyện, một chiến sĩ lâu năm của Đảng, quen nhận xét người. Tulyakôp gây cho ông một ấn lượng tốt: đó là một con người bình tĩnh, vững vàng, trung kiên, chắc chắn, tích cực.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Bảy, 2020, 11:28:22 am

        Với chiếc áo khoác da dài tận gối, với cái cặp căng phồng mà anh vẫn lấy chân chận, nom Xêratim Ivanôvich khá bình thản, có phần hơi giả tạo nữa. Nhưng khi anh chào Secnôivanenkô và bắt chặt bàn tay của ông, những tà áo khoác bằng da bé đen, trắng của anh phanh ra và Secnôivanenkô trông thấy một tấm thân khỏe đẹp, cân đối, hoàn toàn khít khao với chiếc áo va-rơ bộ đội, gọn gàng trong chiếc that lưng cấp chỉ huy — hai hàng may chần với những đường viền, những vòng nhỏ và cái bao thanh thanh đựng khẩu Môde nhỏ tước của địch. Có một cái gì vừa khiêm tốn vừa dũng cảm, một tư thế của người chỉ huy, trong bộ ria cứng, ngắn của anh, trong cặp lông mày thẳng nét của con người có ý tứ, nhiều khả năng, trong cái cổ còn sạch sẽ dưới lần cổ áo va-rơ dạ, trong bộ tóc sẫm cắt ngắn, phía trước hơi dài, phía sau húi cao, và trong mớ tóc mai cạo nhẵn hình tam giác sáng sủa. Những cử chỉ chính xác, nhanh nhẹn của anh, cùng toàn bộ tư thế mang dấu vết một sự dày công rèn luyện quân sự và để lộ rõ con người bộ đội. Đúng thế, trước đây anh đã ở bộ đội. Secnôivanenkô đã để thì giờ nghiên cứu lý lịch của anh. Cách đây mười lăm năm, trước khi sang công tác ở các Xô- viết, Tulyakôp đã theo lớp đào tạo sĩ quan. Nguồn gốc thì anh là người Nga thuần túy, chính cống, một người Nga quê quán Mạc-tư-khoa, nhưng đã cư trú lâu năm ở miền Nam, ở Nôvôrôxit, ở Pôti, ở Ôđetxa. Anh đã làm việc ở cảng, thoạt đầu làm công nhân khuân vác, rồi hết nghĩa vụ quân sự, vào ban lãnh đạo thương cảng, sau đó ở trong nhiều ban chấp hành quận thuộc khu Ôđetxa. Thành thử, nói cho cùng, anh có thể được coi như quê quán miền bờ biển Hắc-hải, đó là điều làm cho Secnôivanenkô đặc biệt thích thú.

        Đến lượt minh, Tulvakôp cũng đã có một ý nghĩ nào đó về con người sẽ lãnh đạo mình trong hoạt động bí mật. Thoạt đầu, anh biết trước mặt mình là một con người kiên nghị, bướng bỉnh. Thực vậy, có một cái gì bướng bỉnh, ít thỏa hiệp ở mái đầu tròn với bộ trán hói, ở cái đáng nhô về phía trước một cách hiếu chiến, ở cặp môi mím lại, ở tầm vóc nhỏ bé, ở những nét nhăn quanh đôi mắt viễn thị, ở đường gân nhăn nheo và khô hai bên thái dương, ở cả đường hằn sâu trên sống mũi chứng tỏ ông phải dùng kính để đọc và viết. Secnôivanenkỏ mặc áo khoác len gai, đeo mặt nạ phòng hơi độc, đi đôi ủng lính, đội chiếc mũ cát-két dạ mà khi bước vào ông đã lột ra, gập lại và nhét vào túi. Tất cả những đồ vật ấy đều mới, chưa dùng qua, rõ ràng là vừa lấy ở kho ra. Nhưng Tulyakôp không thể không nhận thấy sợi dây da Secnôivanenkô thắt ngoài áo khoác và khẩu súng lục (kiểu Nagan) để trong bao với chiếc que thông nòng bằng đồng, đều đã cũ, đã dùng nhiều, nhưng rất sít sao. Rõ là một tay giang hồ tứ xứ.

        — Đọc đi, — bí thư khu ủy nói, và bằng một cử chỉ gọn, chìa cho Secnôivanenkô một tờ giấy còn ướt mực nhà in, với cái đầu đè đậm nét: « Cùng toàn thể đồng bào thành phố Ôđetxa và khu Ôđetxa ». — Đồng chí Tulyakốp đã đọc rồi.

        Secnôivanenkô cầm lấy tờ giấy và đưa ra xa mắt bằng cử chỉ quen thuộc của người viễn thị: « Các bạn thân mến!» ông đọc, và ngay phút giây ấy, một niềm xúc động nóng bỏng xâm chiếm lấy ông. Ông cảm thấy mọi người đã đi đến giây phút quyết định mà ông sẵn sàng chờ đón, nhưng khi giây phút ấy đến thì lại thật khó tin, hầu như không thể nào tin được, ông đưa mắt lướt qua tờ giấy. Những chữ nhảy múa, xô đẩy nhau và ngã lộn nhào tưởng như rời khỏi tầm mắt và để lại những khoảng trống thăm thẳm. « ... chúng muốn tách xứ Ukren quê hương của chúng ta ra khỏi Liên-xô vĩ đại, ra khỏi nhân dân Nga anh em, những người đã chung sức với chúng ta xây dựng một cuộc đời mới tươi đẹp... ».

        Vấn đề là thế đấy! Thật chẳng khác gì bất thinh lình có một vật quật trúng tim ông. Vấn đề là thế đấy, đó là cái chính, cái chủ yếu... Ông cố bình tâm lại và gắng đọc thật thong thả: « Nhưng hiện nay, trước sự phải triển của tình thế, trong điều kiện một cuộc vây hãm kéo dài, Ôđetxa ở quá xa những căn cứ tiếp tế và đã mất ý nghĩa chiến lược trước đây của nó. Do đó, chinh phủ Xô-viết và bộ Tổng tư lệnh đã quyết định rời khỏi thành phố Ôđetxa và điều động quân đội đến những khu vực khác của mặt trận... ».

        Secnôivanenkô cảm thấy yên tâm lạ lùng. Không vội vàng, ông đọc đến hết tờ truyền đơn.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Bảy, 2020, 11:29:26 am

       
27

        — Thế nào, các đồng chí, thảo luận đi! — Bí thư khu ủy nói nhanh như đang tiếp tực cuộc thảo luận bị ngắt quãng và nhìn cả hai người — Tất nhiên là nếu không có ý kiến phản đối.

        — Rõ !—Tulyakôp khẽ cúi đầu trả lời theo lối quân sự.

        — Còn đồng chi, đồng chí nghĩ sao, đồng chí Secnôivanenkô ?

        — Rõ ! — Secnôivanenkô trả lời cũng bằng cái vẻ kiên quyết đó, rồi ông hỏi Tulyakòp: «Quân đồng chí có đông không ? »

        — Không đông lắm, một bộ phận ở trong thành phố với tôi, còn những bộ phận khác thì ở địa phương sau lưng địch — Tulyakôp lục cặp. Secnôivanenkô hiểu là anh muốn đưa ông xem danh sách, khẽ giơ tay ngăn lại.

        — Không cần thiết. Tôi biết. Đồng chí cứ giữ lấy.

        — Các đồng chi ấy đều đã được khu ủy thẩm tra, —  bí thư vừa nói vừa nhìn đồng hồ — Chúng ta không nên mất thì giờ vô ích.

        Họ đến trước tấm bản đồ lớn thành phố Ôđelxa và vùng phụ cận.

        — Các đồng chí đã có quyết định cụ thể rồi chứ? —  bí thư hỏi — Các đồng chí sẵn sàng rồi chứ?

        — Vâng — Secnôivanenkô đáp.

        — Vậy ta bắt đầu.

        Secnôivanenkô lùi xa tấm bản đồ một chút, nghiêng ngó bên này bên kia, và tìm thấy cái kính. Ổng dùng bao kính thay cho chiếc que khoanh một vòng quanh làng Uxatôvô.

        — Chúng tôi đã thảo luận với anh em là quyết định kéo đến tận đây.

        — Được. Cụ thể là đâu?

        — Cách bức tường công viên Hatji-Bây một cây số rưỡi, ở địa giới phía tây làng Uxatôvô. Chính chỗ này đây.

        — Phải, tôi biết. Chỗ đó có một cái khe nhỏ.

        — Hoàn toàn đúng. Lối vào hầm đá ngày xưa.

        — Hiện giờ ở đó còn có sở chỉ huy của một đơn vị chúng ta — bí thư nhận xét. — Thế tại sao đồng chi lại kết cái chỗ đó.

        — Một mặt, nó không xa thành phố Pêrexip và những cơ sở công nghiệp lớn; mặt khác, nó là quãng ngắn nhất đi đến đường xe lửa Ôđetxa - Razđenaia và xa hơn một chút là nhánh đường Ôđetxa - Voznexen. —  Với một vẻ đầy ý nghĩa, Secnôivanenkô qua mắt kính nhìn đồng chí bí thư trước, rồi đến Tulyakốp, ngừng lại một lát, tay ve vẩy bao kính. — Và ta có thể đặt liên lạc dễ dàng với nhân dân các làng Khôlôtnaia, Banka, Niliakôvô. Nêrubaixkôiê, Đannit, cả với trạm máy kéo ở Prôtôpôpôvô nữa, đường nào cũng tiện.

        — Cũng có thể... — Tulyakôp gật đầu tản thành nói.

        Secnôivanenkô nhìn ra đường. Trời mới tảng sáng. Còn tối đất. Gió cuốn từng đống lá phong từ đại lộ xuống lòng đường rộng và đến những luống hoa quanh viện bảo tàng khảo cổ. Hoa « Canna » nở rộ, đỏ rực như bốc lửa, trong sương sớm. Trước mặt, trong Câu lạc bộ Quốc tế, sau những cửa sổ vỡ tung, một ngọn đèn xanh nhỏ le lói. Trên mái Nhà hát thành phố, những đàn chim sắp sửa bay đi, nổi bật trên ánh phản chiếu xa xôi của những đám cháy. Trên nền trời mờ tối, chưa được mặt trời chiếu sáng, đạn cao xạ bay vùn vụt như sao băng nhỏ. Đạn đại bác từ những chiến hạm chạy ngoài cảng bắn vun vút qua thành phố. Nền trời trên những mái nhà thành phố bị cắt nát ngang dọc bởi những tia chớp đại bác. Đâu đấy từ xa, những tiếng nổ rung chuyển hàng cây ngô đồng đã rụng hết lá vàng. Không quân địch đang ném bom cảng. Ở góc những phố Puskin và Latôskin, một đoàn dài bộ đội dừng lại, lẫn trong bóng tối: bộ binh, pháo binh, xe vận tải. Xa hơn một chút, mấy trăm tên tù binh im lìm và tả tơi — đó là bọn Đức và Rumani bị bắt mới đây ở gần thành phố. Gần cái chắn, chỗ xe lửa đi ngang đường, đèn điều chỉnh nhấp nháy những tia điện nhỏ. Secnôivanenkô hiểu là đoàn quân đứng đợi chấm dứt trận oanh tạc ngoài cảng, nơi đang xếp quân lên tàu. Đó là một quang cảnh quen thuộc của những ngày cuối cùng, Secnôivanenkô đặt lên khung cửa một tờ báo đã gấp lại và đóng thật mạnh cửa sổ.

        — Nào, bắt đầu hành động! — Bí thư khu ủy nói, vẻ dứt khoát.

        Nện đôi ủng bộ đội mới kêu cồm cộp, ông tiễn hai đồng chí ra tận cửa, bắt chặt tay họ và nhắc lại:

        — Hành động đi!

        Secnôivanenkô đưa nhanh mắt chú ý nhìn anh; anh đằng hắng, giấu một nụ cười. Đồng chí bí thư nhìn tấm bản đồ, nheo mắt lại suy nghĩ, ông rút trong túi ra một cái thước chia phân và áp lên bản đò.

        — Hiểu. Cách xưởng chữa tàu bảy kilômet, và từ đấy đến cảng Pratich chỉ có mấy bước.

        — Đó chính là cái chúng tôi nhắm, — Secnôivanenkô nói — Thành thử chúng tôi có bốn mục tiêu: Pêrexip, cảng, đường sắt và các làng. Và tất cả đều trong tầm tay.

        — Một trung tâm tác chiến, — Tulvakôp nhận xét.

        Một lần nữa, Secnôivanenkô lại lấy bao kinh khoanh lên phía trên làng Uxatôvô bang một động tác chinh xác. Rõ ràng là vấn đề đã được nghiên cứu triệt để và địa điểm được chọn rất đúng. Từ khi khu ủy ra lệnh cho ông cũng như cho một loạt cán bộ khác của Đảng chuẩn bị rút vào bí mật, Secnôivanenkô đã làm việc suốt ngày đêm. Ông đã tập hợp những người cộng tác được thẩm tra và đáng tin cậy lại, đã chỉ định những địa điểm họp bí mật và từng bước một, để khỏi gây tò mò cho mọi người, thu thập những vật liệu cần thiết, vũ khí và lương thực. Ông làm việc thận trọng, không để ai hay biết. Ông chăm lo chú yếu vấn đề địa điểm. Hầm mộ là nơi thích hợp nhất, nhưng nằm rải khắp dưới thành phố và có rất nhiều lối thông xuống. Cần phải chọn lấy một lối để đi xuống lòng đất và đặt ban chỉ huy. Sau khi suy nghĩ kỹ, ông đã quyết định đến làng Uxatôvô. Bí thư khu ủy đích thân chỉ đạo việc rút các đảng ủy địa phương và các đội du kích vào bí mật, nên nắm được mọi ý đồ, hành động và cử chỉ của Secnôivanenkô. Nhiều lần, hai người đã thảo luận riêng với nhau những vấn để đó. Nhưng giờ là lần cuối cùng họ gặp nhau. Cần phải đi đến một quyết định dứt khoát.

        — Kể thì cũng hợp lý đấy, — bí thư nói sau một cố gắng suy xét cuối cùng—Đồng chí thấy thế nào? — Ông quay về phía Tulyakôp nói thêm.

        — Hoàn toàn hợp lý.

        — Vần đề thế là giải quyết xong. Tôi sẽ báo cho bộ đội biết để họ khỏi gây khó khăn khi các đồng chí rút xuống hầm đá ở Uxatôvô. Các đồng chí cần hỏi gì nữa không?

        — Không, — Secnôivanenkô vừa nói vừa bỏ kính ra bằng một cử chỉ kiên quyết và cất kính vào bao.

        — Tôi cũng không, — Tulyakôp nói.

        Một lúc yên lặng! Trong lúc đó, những loạt đại bác gần xa vẫn không ngừng làm rung bần bật những miếng kính cuối cùng sót lại và những tấm gỗ ghép. Thỉnh thoảng những mệnh lệnh sang sảng của anh em bộ đội cao xạ dưới đường phố lại vọng lên. Sau đó những khẩu đại bác phòng không bắt đầu liên tiếp nổ rền.

        Một tiếng rít nhè nhẹ, mỗi lúc một to hon. Rồi căn phòng rung lên vì một chuỗi bom. Sức ép không khí bất thình lình làm bật tung cảnh cửa sổ cao lắp gỗ dán. Gió ùa vào căn phòng làm giấy má bay tới tấp. Đồng chí bí thư cau mặt ra khép cửa sổ, nhưng nó vẫn bật ra.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Bảy, 2020, 07:34:15 pm
        
28

        Tulyakôp ra trước. Secnôivanenkô còn nấn ná ở cửa một lát để sửa lại cái mặt nạ phòng độc. Đồng chí bí thư Đảng ủy nắm lấy cánh tay ông, chỗ gần khuỷu tay và kéo lại. Đối với người cán bộ này, đồng chí thấy quý mến quá, thương yêu quá đến nỗi không thể dằn lòng được, và đã hôn một cái thật mạnh lên thái dương ông. Đồng chí bí thư là một chiến sĩ lớp mới, vừa đến khu này trước khi xảy ra chiến tranh ít lâu. Nói chung, đồng chí cũng không hiểu biết Secnôivanenkô hơn những khu ủy viên khác. Nhưng đồng chí đã có dịp hiểu rõ ông trong những tháng gần đây, thời gian hai người phải gặp nhau luôn để chuẩn bị cho bộ phận rút vào bí mật. Đến lúc này, lúc quyết định, đối với đồng chí, Secnôivanenkô trở nên thân thiết và gần gũi lạ lùng, như một người cha hay một người anh cả. Bí thư khu ủy nhìn thật sát bộ mặt bơ phờ mệt mỏi của ông sau một đêm không ngủ nhưng vẫn giữ cái nét quen thuộc đầy kiên nghị, nhìn thật sát đôi mắt viễn thị của ông với những nếp nhăn khô nhỏ viền quanh, như muốn ngả xuống tâm hồn ông một lần cuối, thăm dò chiều sâu của nó, đọc những ý nghĩ thầm kín nhất của nó. Rồi đồng chi nói :

        — Đồng chí Gayrin Xêmiônôvich, không phải những người như tôi có thể lên lớp cho đồng chí, một chiến sĩ bônsêvich lão thành từ thời bí mật. Đồng chí hãy nhớ rằng Đảng và nhân dân yêu cầu tất cả mọi người trung thực một điều... — Đồng chi bí thư suy nghĩ, tìm danh từ cho sát... — Hãy chiến đấu ! Hãy chiến đấu cho đến khi quân thù bị tiêu diệt, sạch sành sanh, không còn tăm hơi trên mặt trái đất này!

        Đồng chí bí thư co bàn tay to, đẹp của mình lại, rồi siết mạnh cái nắm tay khớp trắng ra vì lên gân vào lòng bàn tay to lớn kia đang mở rộng. Bộ mặt trắng trẻo sáng sủa của đồng chí với một nốt ruồi duyên dáng trên má ửng đó. Mớ tóc vàng xõa xuống mắt. Đồng chí hất nó ra phía sau. Secnôivanenkô ôm lấy vai đồng chí bí thư, nhấp nháy đôi mắt rồi lại nhìn thẳng vào mặt nói:

        — Những chỉ thị của Đảng: tạo ra cho kẻ thù và bè lũ tay sai một cuộc sống không thể chịu đựng nổi, bám riết chúng, tiêu diệt chúng trên mỗi bước đi, làm thất bại tất cả mọi mưu đồ của chúng, những chỉ thị ấy, tôi sẽ tuân theo không sợ hy sinh. — Rồi ông bước ra khỏi cơ quan không hề ngoái nhìn lại.

        Trong phòng khách, ngoài những chiến sĩ bảo vệ và anh em cán bộ của khu ủy đang đóng đanh và vần những cái hòm lớn, còn có những người do đồng chí bí thư triệu tập đến. Họ chiếm tất cả những ghế và đi-văng để ngổn ngang, kê dồn về một phía trong căn phòng, Những người chưa có chỗ, đi đi lại lại, giữa các hòm hoặc ngồi lên thành cửa sổ. Những cửa sổ bị vít vội bằng ván càng làm tăng thêm cảm giác bề bộn khó chịu. Một tia nắng mai yếu ớt chập chờn lọt vào căn phòng, qua những khe cửa sổ và những tấm kính còn nguyên vẹn, nom xám xịt và khó chịu. Một ngọn đèn xanh nhỏ, ở một chỗ nào đó của dẫy hành lang sâu rộng, xuyên qua một loạt cửa lớn mở toang, phản chiếu vào một tấm gương đã giạn nứt treo trên tường, nặng nề gợi lại những đêm bị vây hãm phải thức suốt, và tô lên mỗi đồ vật, mỗi khuôn mặt người, một ánh sáng nhân tạo, thứ ánh sáng của phòng bào chế. Người nào cũng hút thuốc liên miên. Bật lửa bật soành soạch nhưng lại tắt ngấm tức thì vì luồng gió lạnh tháng mười lùa qua khe cửa sổ.

        Gió thổi rung cả những mớ lúa mì mẫu loại mới Lixenkô và những bắp ngô kép, kết quả của thụ phấn bổ sung, xếp đống trong một góc nhà, dập nát và đầy bụi bặm. Gần dó, trên mặt sàn, chồng chất những mẫu vũ khí sản xuất ở các nhà máy địa phương trong những tháng cuối cùng của thời kỳ bị vây hãm: súng cối, lựu đạn, pháo sáng, kíp nổ... Không thể bỏ qua không nhìn những đồ hộp nhãn hiệu sặc sỡ, những hộp một cân, hai lạng, đủ các cỡ. Nhưng không phải là thức ăn đóng hộp. Đó là những quả mìn chống xe tăng và chống bộ binh. Anh em công binh đà thu lượm các vỏ hộp ở khắp các nhà máy và tọng đầy thuốc nổ vào. Lại có cả một tấm thép nặng trịch dựa vào tường — loại thép thường phủ lên nóc nhưng toa Punman và những đầu máy tàu bọc sắt, xuất phát thẳng từ nhà máy ra mặt trận. Theo lời thiên hạ thì đó là những tấm thép của chiến hạm Pôtemkin, tháo ra hồi trước Cách mạng, có người nói đoàn tàu bọc sắt nổi tiếng của anh thủy binh Jelezniac năm 1918 được bọc bằng những tấm thép này. Chắc hẳn đó là truyền thuyết. Secnôivanenkô biết đó chỉ là một tầm thép luyện của bất cứ chiến hạm xô viết nào. Vậy mà đi qua tấm thiết giáp ấy, ông cũng vẫn xúc động. Ông hồi tưởng cuộc khởi nghĩa của chiến hạm Potemkin, ông có biết anh thủy binh Jêlezniăc. Chiến hạm Pôtemkin thuộc về thời thơ ấu của ông, Jelezniac thuộc về tuổi thanh xuân của ông. ông cảm thấy người gai lên vì luồng gió cách mạng, và một ý chí đấu tranh quyết liệt không gì so sánh nổi, xâm chiếm lấy tâm hồn ông.

        Secnôivanenkô quen biết hầu hết những người ngồi trong phòng đợi. Tulyakôp và ông đã ngồi khoảng một giờ trong phòng làm việc của bí thư. Khi Secnôivanenkô từ phòng làm việc đi ra, mọi người nhìn ông ra vẻ lo lắng. Ông hiểu là tất cả những người đó đều được bí thư triệu tập đến, cùng một lý do như ông và Tulyakôp. Giá lúc khác ông đã đứng lại chuyện trò với người này người kia. Bây giờ, ông cảm thấy mình bị tách khỏi tất cả những gì quen thuộc, ông đã chuyển sang một cuộc sống khác, phải tuân theo những quy tắc hoạt động bí mật. Ông không được phép quen biết bất cứ người nào cũng như không ai được phép quen biết ông. Không ai quen ai nữa.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Bảy, 2020, 07:34:41 pm

        Ông đi qua, bước vội và yên lặng, đầu cúi xuống kiên quyết với dáng đi nặng nề của người dân vùng Hắc-hải. Ông đi suốt qua căn phòng, không chạm chiếc mặt nạ chống độc vào một cái hòm nào rồi ra cầu thang, đuổi kịp Tulyakôp ở bậc thứ hai. Tulyakôp cầm mũ trong tay và dùng con dao díp tháo dải băng đỏ. Anh bỏ dải băng ra rồi cất cẩn thận vào túi áo trong.

        — Phải đấy, — Secnôivanenkô nói.

        Len lỏi giữa những xe vận tải mà người ta đang chất hòm xiểng lên, ông rẽ ra phố Biển rồi dừng lại trước pho tượng Puskin có những con cá heo bằng đồng đen quanh cái bệ đá hoa cương.

        Secnôivanenkô và Tulyakôp định nhìn xem tình hình ngoài cảng ra sao, nhưng đứng đó không nhìn thấy gì cả ; họ bèn lại gần một khẩu súng cổ bằng gang đặt trên bờ biển dốc, trên một cái giá có bậc gỗ. Phía chân dốc, họ nhìn thấy những nòng thon nhỏ của súng cao xạ. Secnôivanenkô và Tulyakôp trèo lên cái bệ đá hoa cương của khẩu súng cổ.

        Bình thường, đứng chỗ này, có thể nhìn rõ mồn một tất cả bề mặt mênh mông của cảng. Nhưng lúc này nó bị một màn khói bao phủ. Họ lờ mờ nhận ra đường nét viền quanh những tòa nhà bê-tông cốt sắt nhiều tầng, những cầu quay và những cần trục, những ống khói và những cột cao của tàu vận tải, dải đập chắn sóng, tháp đèn pha đã bị đánh gục. Qua màn khói, họ thấp thoảng nhận ra một làn sóng người chuyển động chậm chạp: những đơn vị bộ đội cuối cùng đang lên tàu. Thỉnh thoảng, qua những chỗ rách của màn sương xám, họ có thể nhìn thấy những cỗ pháo mắc ở đầu cần trục con tàu.

        Mặt trời đỏ thẫm vừa nhô khỏi chân trời, tỏa ra một ánh sáng ảm đạm trên cái dải hẹp ngăn cách mây và mặt bể còn tối hơn mây. Thỉnh thoảng, một luồng gió lạnh buốt thổi từ chân trời lại. Vài chiến hạm được màn khỏi bao phủ, bắn từ khu cảng phía ngoài ngọn núi

        Jevakhova lên những chiến hào địch. Những dải lửa hay vọt khỏi nòng súng, tách ra và biến mất trong màn khói. Những tiếng vọng nặng nề vỗ xuống mặt nước rung rinh những đợt pháo kích. Không khí luôn luôn chuyển động. Thật khó mà dứt khỏi bức tranh đầy đe dọa, u ám nhưng lại tuyệt đẹp này.

        Secnôivanenkô hồi tưởng lại từ khu cảng này, chiếc thiết giáp hạm Pôtemkin màu xám, với ba ống khói và lá cờ đỏ kéo lên cột cờ phát lệnh khởi nghĩa, đã bắn vào thành phố như thế nào. Cũng trong cảng này, Secnôivanenkô đã thấy một chiến hạm khác, chiếc Prôtê của Pháp, cũng treo lá cờ đỏ khởi nghĩa. Đó là niềm vinh quang cách mạng của thành phố này.

        Nhưng còn một niềm vinh quang nữa của thời xưa. Trong chiến dịch Xêvaxtôpôn năm 1854, hạm đội Anh —  Pháp vào Hắc-hải, 350 khẩu đại bác của chúng đã nhả đạn vào thành phố. Chỉ huy đội pháo binh Nga số 5 trên bờ là trung úy hải quân Sêgôlep. ông ta đã bố trí pháo binh ở chân dải đập chắn sóng của cảng Pratich —  gồm bốn khẩu pháo và tất cả chỉ có thế. Hạm đội tập trung tất cả hỏa lực vào đội pháo binh của Sêgôlep. Hai khẩu pháo bị diệt. Vậy mà các pháo thủ Nga cùng với người chỉ huy của họ vẫn tiếp tục bắn. Nhân dân Ôđetxa, những người đánh cá, những thợ thủ công, những công nhân ngoại ô, đến tiếp tế thức ăn, thức uống cho đội quân nhỏ bé của Sêgôlep, và chuyên chở thương binh dưới lửa đạn quân thù. Họ bảo vệ thành phố quê hương, vũ khí trong tay. Họ phòng thủ bờ biển suốt đêm để ngăn chặn những tàu đỗ bộ của hạm đội địch. Họ đã cứu được Ôđetxa. Hạm đội Anh — Pháp lại cút ra khơi.

        Lúc đi, hạm đội để lại ba chiến hạm tuần tiễu quanh vùng Ôđetxa. Một trong số đó, chiếc khinh hạm Con Hổ của Anh, mắc cạn gần khu Suối Nhỏ và đã bị hỏa lực pháo binh Nga đánh đắm. Toàn đội thủy thủ bắt buộc phải đầu hàng. Sau đó thợ lặn đã kéo từ đáy biển lên được mười một khẩu đại bác Anh. Một trong những khẩu đó đã được đặt ở đại lộ Biển để kỷ niệm sự nghiệp bảo vệ thành phố một cách anh dũng chống bọn can thiệp Anh - Pháp.

        Lúc này, đứng bên khẩu pháo ấy, nhìn những tàu vận tải đang xa dần, Secnôivanenkô cảm thấy mỗi lúc một mạnh mẽ, tâm hồn sôi sục lòng tranh đấu.

        Mặt trời gay gắt như một cục than hồng, từ từ đến nấp vào sau một đám mây xanh thấp, và biển lại đen như than đá. Gió càng lạnh, càng mạnh hơn. Một bóng đen màu tro phủ lên bờ đối diện của vịnh : Krijanôpka, Dofinôpka, ngọn núi Jevakhôva. Dải đất hẹp Pêrexip chỉ hơi cao hơn mặt biển một chút bị khói dầu hỏa nóng bỏng che khuất. Qua màn khói mờ mờ nhận thấy những nét viền quanh của các nhà máy, của những xưở ng chữa tàu có mái, của những kho hàng, và phía sau, xa trong thảo nguyên, quá các đầm nước mặn, trên tuyến phòng thủ thứ nhất, những đám đạn nổ trông như những chùm lông đen sì.

        Secnôivanenkô và Tulyakôp lặng lẽ nhìn về phía đó. Ở đó có làng Uxatôvô và lối vào hầm mộ mà họ sẽ đưa bộ phận của họ xuống.

        — Thật là một bức tranh tuyệt đẹp! — Tulyakôp vừa nói vừa thở dài.

        Rồi hai người so đồng hồ với nhau.

        — Anh định thế nào? — Secnôivanenkô hỏi — Tôi có xe đây. Ta đến sở chỉ huy đi. Tỏi sẽ giới thiệu anh với anh em.

        — Thôi, anh em cũng đang đợi tôi. Tôi phải thông báo nghị quyết của khu ủy cho họ đã, — Tulyakôp nói.

        — Được. Tùy anh. Chúng mình sẽ lại gặp nhau lúc chập tối ở tường công viên Hatji-Bây. Cho một liên lạc viên đến chỗ tôi nhé.

        — Rõ, — Tulyakôp nói và chào kiểu quân sự.

        — Ta còn gặp nhau — Secnôivanenkô nói, rồi đột ngột đi lộn trở lại, qua đại lộ, đến ngõ Nhà hát, nơi ông để xe trong một cái sân, không xa khu ủy mấy.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Bảy, 2020, 07:36:25 pm

       
29

        Một luồng gió quái ác thổi những mẩu giấy cháy trên đường phố lát đá hoa cương, và trên hè phố lát những phiến phún thạch màu xanh đã mòn nhẵn. Những tàn tro xanh nhạt bay phấp phới trong không khí. Tro và lá chảy dở hòa lẫn với đám lá dạ hợp rụng, với những hạt phong có cánh, với những quả ngô đồng tròn xốp. Những rác rưởi ấy chất đống trong rãnh nước gần song sắt miệng cống. Thỉnh thoảng, từ một góc nào đó trong thành phố lại đột nhiên vang lên một tiếng nổ. Nhưng khó mà biết được đó là một viên đạn trái phá của pháo binh địch, hay một quả bom của không quân, hay là bên ta phá hoại một kho hàng, không để cho quân địch sử dụng.

        Chiếc xe hơi đỗ trong một góc kín của một cái sàn có vòi nước trang trí. Một mảng tường nhà bên cạnh đổ xuống sân. Không khí còn ngập ngụa bụi vôi li ti. Đá rơi trúng chiếc ô-tô. Một hòn làm sây sát cái chắn bùn. Trên mũ ca-lô và vai anh lái xe, có một lớp dày bụi vàng đá vôi nát vụn. Chiếc ô-tô này chính là chiếc xe Kôletnisuc đã chở hai bố con Batsây từ trường bay về «biệt thự» của bác, Cũng không khó hiểu lắm tại sao chiếc ô-tô lại rơi vào tay Secnôivanenkô. Chiếc ô-tô và người lái kiêm thợ máy của nó là Xviatôxlap được quân đội trưng dụng, đã qua hết nơi này đến nơi khác, cuối cùng đến nhà xe của khu ủy và Secnôivanenkô đã xin được.

        Tất nhiên ông có thể chọn một cái xe tươm hơn. Nhưng ông lại chọn đúng xe ấy. Vai trò quyết định không phải cái xe mà là con người đã tác động đến sự lựa chọn độc đảo của Secnôivanenkô: đó là lòng tin vững chắc vào giá trị hơn hẳn của người so với vật, dù cái vật ấy thông minh như một chiếc ô-tô. Chỉ thoáng nhìn lần đầu ông đã thú Xviatôxlap. Secnôivanenkô cảm thấy tin cậy anh thanh niên có nét mặt trẻ thơ, với vẻ phớt đời, kiêu kỳ nữa là khác. Ngay phút đầu, ông đã cảm thấy có một cái gì thân thuộc khó tả đối với Xviatôxlap, gần như tình cảm cha con. Ông coi anh gần như một phản ánh của chính ông trong tấm gương thời gian, nhưng không phải của Secnôivanenkô hiện giờ, mà của một Secnôivanenkô khác, một con người trẻ tuổi không còn trên đời này nữa mà chí lưu lại cho ông cái tâm hồn thanh niên trong trắng. Tâm hồn ấy hòa lẫn với tâm hồn thanh thản của thành phố Hắc-hải trẻ trung này đã quá nhiều phen chịu đựng những cơn bão táp của lịch sử. Mối thiện cảm của ông đối với Xviatôxlap dĩ nhiên ông không hề bộc lộ. Bề ngoài, ông vẫn lạnh lùng, thản nhiên, đúng như tính người dân bờ biển Hắc- hải. Ông chỉ nêu vài nhận xét dí dỏm về cái xe, thế rồi cả xe và anh chàng Xviatôxlap lái xe đều hoàn toàn được đặt dưới quyền sử dụng của ông là người đã không chọn nhầm. Chiếc xe trong đôi bàn tay thông minh Xviatôxlap đã làm việc xuất sắc trong thời kỳ gay go này. Và chính Xviatôxlap cũng không phải chỉ làm lái xe kiêm thợ máy xuất sắc mà điều quan trọng hơn, anh còn là người giúp việc tận tụy không mỏi mệt của Secnôivanenkô.

        Thời gian này, tất cả công nhân viên chức đều sống theo chế độ doanh trại, nghĩa là ở luôn trong cơ quan xí nghiệp của mình, ai cũng thường trực tại vị trí hai mươi bốn giờ một ngày. Xviatôxlap ở luôn trên xe. Lúc nào anh cũng lặng lẽ, thu mình lại, có phần hơi khô khan, thế mà lạ thật, mặt mũi anh chàng lúc nào cùng rất sạch sẽ, cạo bằng « nước thơm » và đầu chải rất chững chạc. Anh chàng diện quân phục, khoác chiếc mặt nạ phòng độc; khẩu súng trường gài chắc vào lần trong mui xe. Lúc nào anh cũng đội chiếc mũ ca-lô mùa hè giặt sạch, bạc gần trắng, chiếc mũ đội rất chỉnh, hơi lệch về bên phải một chút, nhưng không kiểu cách mà chỉ trong phạm vi qui định của điều lệnh. Ngực anh, lúc này được trang điểm giản dị bằng chiếc huy hiệu đoàn viên. Tóm lại anh chàng có tất cả bộ dạng của một anh lính trẻ cần cù, ăn mặc chững chạc, mà sự thực anh cũng thế.

        Vè phần cái xe, nó có vẻ đặc biệt quân sự. Nó được ngụy trang nghĩa là sơn theo màu cảnh vật chung quanh. Chính Xvialôxlap đã sơn lấy, và qua việc này, anh tỏ ra là một họa sĩ phong cảnh có tài ba đáng kể. Lần đầu, vào mùa hè, anh vẽ những cành dạ hợp rậm rạp và bóng đáng tươi tắn của những ngôi nhà. Trên mui xe bằng vải, anh vẽ thu nhỏ những quãng phố xá, những quảng trường lát như vẩy cá, lâu đài Vôrônxôp, những mái ngói, những khoảng biển xanh. Mùa thu anh thể hiện vào đó sự thay đổi thời tiết, quét màu vàng son của cảnh lá rụng. Xviatôxlap đã chuẩn bị cho mùa đông, thu thập màu bạch diên, màu lam ngọc và màu đen để tô vẽ những cây trụi lá, nhưng việc đó không cần thiết nữa rồi.

        Khi Secnôivanenkô đi vào sân thì Xviatôxlap đang ngồi trong ô-tô đọc một quyển sách đặt trên tay lái. Bằng một cử chỉ đột ngột, Secnôivanenkô vén măng-tô, ngồi xuống cạnh Xviatôxlap và đóng sầm cửa lại. Ông lặng im mấy giây, trầm ngâm tính toán, ông xếp đặt theo thứ tự trong óc, tùy theo tầm quan trọng, tất cả những vấn đề và kế hoạch phải giải quyết và thực hiện ngay tức khắc. Rồi ông trở lại hiện tại và nói:

        — Đi thôi.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Bảy, 2020, 07:37:02 pm

        Xviatôxlap khoan thai gấp sách lại sau khi gài một lá phong vàng đánh dấu, rồi đặt sách dưới bảng xe. Anh bắt đầu cho xe đi thận trọng, chiếc xe nẩy trên những tảng đả rải rác. Anh không hỏi đi đâu. Anh đánh xe thẳng ra đường phố. Secnôivanenkô im lặng. Chiếc xe dường như sắp lao thẳng lên hè phố đối diện và húc vào bức tường nhà hát.

        Nhưng đến phút cuối cùng, Secnôivanenkô nói:

        — Rẽ trái!

        Xviatôxlap nhanh nhẹn ngoặt sang trái. Xe chạy đến phố Puskin.

        — Đại lộ Vô sản, — Secnôivanenkô nói, rồi ông gục đầu lên thành cửa, thiu thiu ngủ.

        Xviatôxlap cho xe lượm rất khéo rồi bắt đầu ngoằn ngoèo hết phố này sang phố khác, xuyên qua những sân trông ra đường, đi vòng những u chắn, những đống đá của những ngôi nhà đổ nát.

        Thành phố vắng tanh.

        Trong thời gian mươi, mười lăm phút dùng để đi đến đại lộ Vô sản Secnôivanenkô đã ngủ thiếp được một giấc. Giấc ngủ nhanh chóng ấy làm cho ông thư thái và tư tưởng thêm sáng suốt. Ngoặt vào cái đại lộ vắng ngắt này, Xviatôxlap nhìn thủ trưởng với vẻ dò hỏi. Lệnh đến đại lộ Vô sản có thể có hai ý hoặc trở về nhà của Secnôivanenkô, hoặc đến một trong những biệt thự của khu ủy là nơi từ một tháng nay có những người chuẩn bị rút vào bí mật đang sống như trong doanh trại, đợi quyết định dứt khoát của khu ủy. Secnôivanenbô lệnh cho anh đến biệt thự trước.

        Ông bước vào lối đi trồng toàn tử đinh hương Ba-tư sít nhau, còn xanh tốt, rồi dừng lại trước một ngôi nhà nhỏ quét vôi trắng, ngoài hiên chất đầy thùng gỗ dán và bao buộc chặt. Secnôivanenkô nhìn qua chiếc cửa sổ mở rộng. Đó là một căn phòng quét vôi trắng, bỏ không, có một lò sưởi lát gạch men. Trong một góc, có ba khẩu súng, ngoài ra không còn gì nữa. Ông đằng hắng mấy lượt thật to, nhưng không ai đáp lại. Ông đi vòng quanh ngôi nhà và thấy một chiếc xe tải trên một cái kích ; một anh lái xe quỳ cạnh một bánh xe tháo rời đang cầm lắc-lê thay lốp. Khắp chung quanh cũng như trên hàng hiên, đều có những thùng, bao, và một chiếc ra-đi-ô bọc trong chăn. Một làn khói nhỏ bốc từ ống khói cái bếp mùa hạ ra. Ngoài cửa, xuất hiện một người đàn bà trẻ tuổi mũm mĩm, đi bốt, mặt nạ khoác chéo, tay cầm cái thìa gỗ. Nét mặt tươi tắn đáng yêu của chị đột nhiên trở nên rất nghiêm trang. Chị há mồm, nhìn Secnôivanenkô bằng cặp mắt to xao xuyến. Chị chưa kịp nói được tiếng nào vì sau lưng chị vừa ló ra ba người. Một người vừa đi vừa xốc lại áo va-rơ, bước nhanh lại bên Secnôivanenkô.

        — Báo cáo đồng chí bí thư! — Anh ta bắt đầu nói như muốn báo cáo theo đúng thủ tục.

        — Thôi, thôi, không phải lúc báo cáo. Anh em có mặt cả chứ ?

        — Đủ cả ạ. Trừ Xviriđôp. Tôi đã cử anh ta đánh xe ra ga hàng hóa để nhận lương thực và dụng cụ đào đất, theo lệnh cấp phát.

        — Tốt.

        — Thưa đồng chí bí thư, cái xe thứ ba thì thế nào ạ?

        — Cái thứ ba chở vũ khi và chất nổ sẽ tới nơi đã định, không qua đây. Đồng chí đã nhận được két sắt đựng tài liệu chưa?... Không to lắm chứ? Tốt lắm. Ở đấy không tài nào nhét cái to vào được. Văn phòng phẩm và giấy sẽ do xe thứ ba mang đến cùng với vũ khí. Đồng chí đã kiểm tra máy thu thanh chưa? Đã xoay được bóng đèn dự trữ rồi chứ?

        Vừa hỏi han và ra những lệnh ngắn gọn, Secnôivanenkô vừa đi xem xét lại toàn bộ khu vực. Thỉnh thoảng ông ghi chú bằng bút chì vào sổ tay. Cuối cùng ông nói:

        — Mời tất cả các đồng chí lên chỗ tôi.

        Ông vào nhà bằng lối sau. Ở một căn phòng, có cái giường gấp để ông nằm ngủ, hai cái ghế vườn hoa và một bàn làm việc. Trước khi bắt đầu nói, Secnôivanenkô theo thói quen, đi đi lại lại một chút trong phòng để tập trung tư tưởng, đầu cúi gằm. Rồi ông ngồi xuống, đột ngột đặt khuỷu tay lên bàn.

        — Các đồng chí, tôi sẽ trình bày với các đồng chí tình hình của chúng ta. Hiện giờ trong điều kiện bị vây hãm kéo dài, Ôđetxa ở xa những căn cứ tiếp tế nên đã mất tầm quan trọng chiến lược trước đây của nó. Vì lẽ đó, chính phủ Xô-viết và bộ Tổng tư lệnh đã quyết định rời khỏi thành phố. — Ông nhấn mạnh vào chữ « rời khỏi» và nhìn các đồng chí của mình — Đúng, Chính phủ và bộ Tổng tư lệnh đã quyết định rời khỏi thành phố và điều những lực lượng vũ trang của quân khu Ôđetxa đến những khu vực khác của mặt trận. Bộ đội đã sắp chuyển hết xuống tàu. Ngày mai, vào giờ này, sẽ không còn lại một người lính nào ở đây —  Secnôivanenkô trở nên tư lự và nhắc lại — Phải, sẽ không còn lại một người lính nào...

        Bất thình lình, ông đứng phắt dậy, đi ra trước bàn, nhưng lại ngồi xuống.

        - Quân đội đi, nhưng nhân dân vẫn còn, — ông nói và nhắc lại với mội vẻ kiên quyết: nhưng nhân dân vẫn còn.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Bảy, 2020, 05:48:39 pm

        Cả phòng im phăng phắc. Tiếng sóng trào vẫn ầm ầm đều đặn. Bên ngoài cửa sổ mở rộng, vườn cây trụi lá, lối đi trông đào kim nhưỡng xanh thẫm. Cuối lối, sau đống hơi chèo cũ, vải bạt và chậu hoa, phía ngoài bờ biển dốc, là mặt biển tối tăm, u ám, tiếp với một khối mây đen, thấp và nặng ở phía trên. Secnôivanenkô im bặt. Các đồng chí của ông cũng ngồi yên ; lúc này họ thấy dạt dào xúc động và thản nhiên lạ thường, như Secnôivanenkô cảm thấy khi đồng chí bí thư truyền đạt mệnh lệnh của khu ủy cho ông. Với sự sáng suốt hoàn toàn và tàn nhẫn nữa, họ hiểu rằng thế là giờ phút quyết định và không thể khác được đã tới, cái giờ phút bao lâu chờ đợi nhưng thật khó tin là nó đã tới.

        Họ có bốn người, không kể Secnôivanenkò, người thứ năm vắng mặt.

        Secnôivanenkô im lặng. Mọi người cũng im lặng. Trong giây phút yên lặng ấy, tâm hồn họ đã xích lại gần nhau. Trước đây, họ cũng đã gần gũi nhau như những người đồng chí, những người cộng sản. Nhưng bây giờ, trên ngưỡng cửa một cuộc sống mới, của hoạt động bí mật trong địch hậu, lúc nào cũng giáp mặt với cái chết, họ cảm thấy gắn bó với nhau như cùng một dòng máu. Trừ Secnôivanenkò, tất cả mới rút vào bí mật lần đầu trong đời. Secnôivanenkò hiểu rất rõ những gì đang diễn ra trong lòng họ. Lời nói quả là kém bất cứ phương tiện biểu hiện tình cảm nào khác, để có thể  diễn đạt được tâm trạng trang nghiêm, trong sáng và kiên định của họ. Vì vậy họ im lặng và Secnôivanenkô không muốn khuấy động cái im lặng sâu sắc  đầy ý nghĩ ấy. Sau đó, ông không nhắc lại tình hình quân sự đã khá rõ ràng mà đi thẳng vào công tác của họ.

        Trong số những vần đề lớn nhỏ Secnôivanenkô phải nghiên cứu từ giờ cho đến tối, có hai việc rất quan trọng đã ghi trong số tay của ông : một ghi tên Xiniskin và một ghi tên Kôletnisuc. Ngồi trong xe, bên cạnh Xviatôxlap ông tự hỏi nên bắt đầu bằng việc nào.

        Xiniskin hay đúng hơn Xiniskin Jêleznư là một công nhân già ở Ôđetxa, hiện nay làm đốc công, đã làm việc trên bốn mươi năm ở nhà máy chữa tàu. Bác được tuyển vào nhà máy trước Cách mạng khá lâu. Hồi ấy nhà máy mới chỉ là một xưởng có mái che, thuộc Công ty hàng hải và thương mại Nga. Từ sau Cách mạng, xưởng nhỏ ấy đã trở thành một cơ sở sửa chữa và đóng những tàu biển lớn ở Hắc-hải: một nhà máy rộng mênh mông với hơn ba nghìn rưởi công nhân, không phải chỉ sửa chữa tàu biển Hắc-hải mà cả một số tàu thuộc hạm đội Bantich và Thái-bình-dương nữa.

        Là người cộng sản lâu năm, vào Đảng từ 1905, đã tham dự Nội chiến, Xiniskin Jêleznư tuyên bố bác sẽ là một trong số người đầu tiên tình nguyện rút vào bí mật, khi cần thiết. Khu ủy đã xếp bác vào đội của Secnôivanenkô. ông coi bác là người rất quí, không ai thay thế được. Bác có rất nhiều kinh nghiệm cách mạng ; bác sinh tại một khu công nhân lâu đời ở Pêrexip, ở phố Mạc-tư-khoa và đã suốt đời sống ở đấy. Không ai hiểu biết cặn kẽ về công nhân Pêrexip bằng bác, về đời sống của họ, về quyền lợi của họ; bác quen biết từng người, từng gia đình, từng nhà ở Pêrexip và từng ngõ của khu ngoại ô thợ thuyền lớn này. Bây giờ Secnôivanenkô phải giải quyết vấn đề : nên đưa bác xuống hầm hay giữ bác trên mặt đất để liên lạc với nhân dân trong vùng? Secnôivanenkô không thể trì hoãn chuyện này được nữa. Còn vấn đề kia, là chuyện Kôlctnisuc. Theo kế hoạch của ông, Kôletnisuc phải tổ chức ở trung tâm thành phố một địa điểm hội họp bí mật bề ngoài là « hãng bán đồ cũ ». Secnôivanenkô thảo kế hoạch này đã lâu, được khu ủy tán thành và duyệt y. Mấy ngày gần đây, ông đã gặp Kôletnisuc; nói chung ông ta đã đồng ý. Nhưng tình hình lại phức tạp vì việc vợ Kôletnisuc chưa tản cư, mà có mặt bà ta thì chẳng làm được gì cả. Công tác phải giữ bí mật, cả với vợ Kôletnisuc. Secnôivanenkô đã lấy cho bà ta một giấy thông hành đi tàu vận tải quân sự. Lúc này, theo dự tính của ông, thì bà đã lên đường rồi. Phải lập tức đến gặp Kôletnisuc để bàn bạc dứt khoát việc thực hiện kế hoạch đó.

        Secnôivanenkô lệnh cho Xviaiôxlap đến nhà riêng Xiniskin Jelezmr, nhưng cứ đi cầu may qua phố Kôrôlenkô, trước nhà máy Chữa tàu, nếu bác còn đây thì đón luôn thể.

        Trở lại thành phố bằng đại lộ Vô sản, Secnôivanenkô lại nhìn thấy ngôi nhà có căn phòng của ông không được ngỏ ngàng tới từ nửa tháng nay. Cần tạt về nhà, lấy vài đồ vật, hủy một số tài liệu, nhưng đến phút cuối cùng, ông lại đổi ý kiến. Việc đó có thể làm sau, trên đường về. Lại một lần nữa, ông đi qua nhà không dừng lại, nhận thấy trên bao lơn phòng mình, vẫn còn những bông hoa kim liên nở muộn trong chậu, một cửa sổ bị phá, bật tung ra, cảnh cửa gẫy lủng lẳng trên độc một chiếc bản lề, và phía ngoài gió thổi phần phật cái màn cửa bằng vải.

        Không khí không ngừng bị rung chuyển vì những đợt pháo kích như trước. Trên trời, mây đen thấp lớp lớp trôi đi; lá vàng bay; ở các ngã tư có bộ đội đứng gác. Nhưng có một cái gì mới mẻ, đáng sợ thêm vào đó.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Bảy, 2020, 05:48:54 pm

        Secnôivanenkô chưa hiểu ngay chuyện gì đã xảy ra. Một không khí khó tả, đáng ngại, như dự cảm một tai họa sắp tới. Rồi đột nhiên, ông hiểu ra. Đó là những truyền đơn trắng, vừa dán ở thành phố mang lời kêu gọi nhân dân cuối cùng của khu ủy.

        Khắp chung quanh đều mang dấu vết của cuộc phòng thủ: nhà cửa bị phá hoại, dầm nhà cháy đen, cột xe điện bị bom đạn đánh gục, công viên, vườn hoa, có mọc đầy, cuối cùng là những ụ chắn các phố, dựng bằng bao đất, đá lát đường bóc lên, toa xe điện bị lật đổ. Cái ụ ở phố Ribat làm bằng đồ đạc, bàn giấy chất đống: những cái bàn nặng trịch, những đi-văng, những tủ sách tọng đầy cát, những ghế bành bọc da đồ sộ. Người ta vội vã xếp gạch vào những tủ kính các cửa hàng ở góc phố, đồng thời bố trí những lỗ châu mai hẹp cho súng máy. Ở vài nơi, trên bờ các ụ đất cao, cỏ đã mọc và trên nóc ụ, chân người qua lại đã vạch nên những lối di nhỏ. Phải tài lắm mới qua được thành phố bằng ô-tô. Vì vậy Xviatôxlap phải đi vòng các chiến hào, chồm lên những ổ gà của đường phố nham nhở, lái xe xuyên qua những cái sân vòi nước cạn khô, có những hành lang đổ nát, có những chậu vả và trúc đào với những đóa hoa phớt hồng, có những dẫy thùng rỗng, bình, chậu, chai, lọ mà bà con xếp dưới ống máng ráo hoảnh để hứng nước mưa, vì nhà máy nước Bêliaêvô đã bị địch chiếm từ lâu. Và tất cả quang cảnh này lại gắn liền với một luồng gió dữ, với một bầu trời tối, thấp, hầu như gắn liền vào những nóc nhà đen sì, gắn liền với trận pháo kích liên miên, mệt người, làm rung chuyển những ô kính còn sót lại của các nhà; tất cả những cái đó đối với Secnôivanenkô đã có một ý nghĩa mới mẻ, khác hẳn.

        Cùng một lúc, ông có hai cảm giác gay gắt, không thể so sảnh được với bất kỳ cái gì ông đã trải qua, một là mối nguy hiềm ngay trước mắt — và cũng đã xảy ra rồi — hai là lòng kiên quyết chống chọi với mối nguy hiểm ấy đến cùng, ông cảm thấy sức mạnh to lớn của nhiệm vụ, nó bắt tất cả hành vi và tư tưởng của ông phải phục tùng, nó thu hút toàn bộ con người ông, không chừa lại chút gì. Bây giờ giữa ông và cái thành phố đang đi qua này hình như có một nét gạch rõ rệt đã được vạch ra. Những ngôi nhà quen thuộc từ thời thơ ấu, những cây dạ họp, đường phố lát đá hoa cương, đường trải nhựa, hè đường lát phún thạch mòn nhẵn, những lâu đài, nhà hát, thư viện, đường tàu điện uốn lượn ở những chỗ ngoặt, sáng loáng như lưỡi gươm, tất cả nhưng cái đó ngày mai sẽ bị quân thù chiếm mất. Bị chiếm nhưng hồn của nó vẫn không hề bị đoạt.

        Secnôivanenkô biết là giữa lúc này, trong những giờ phút cuối cùng này, trong tất cả mọi khu của thành phố, có không biết bao nhiêu nhóm người đang lặng lẽ tiến hành việc rút vào bí mật, và theo đúng nguyên tắc bí mật, họ sẽ không biết gì và không được phép biết gì về nhau, nhưng đều sẵn sảng hoạt động cho cùng một sự nghiệp tốt đẹp và duy nhất.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Bảy, 2020, 05:49:26 pm

       
31

        Chiếc xe đi vào sân ; một cái sân rộng mông mênh, vắng ngắt, ngổn ngang những đống sắt gỉ của nhà máy, những mảnh vụn kim loại và những máy móc cũ người ta không chở đi lúc tản cư. Secnôivanenkô lên chỗ ban giám đốc nhà máy bằng cầu thang sau, rồi đi qua những căn phòng bỏ trống của ban giám đốc, của Đảng ủy, của văn phòng và kế toán.

        Từ những cửa sổ của « góc đỏ », người ta có thể nhìn bao quát hầu hết khu vực nhà máy. Trên khoảng đất giữa các xưởng, những xe tăng bẹp dúm nằm chờ chữa. Người ta còn nhìn thấy một cái bục lát ván và góc một lễ đài tạm thời.

        Secnôivanenkô sắp sửa lộn ra xe và tiếp lục đi thì bất thình lình từ một ngóc ngách xa nhất trên sân, sau xưởng dụng cụ, dội lên một tiếng nổ nhỏ, và một đám khói trắng phớt vàng bay lên. Từ phía sau góc xưởng, có mấy người chạy ra, trong số đó, Secnôivanenkô nhận ra cái dáng vụng về và những cánh tay dài nghêu của Xiniskin Jêleznư. Sau cái bắt tay ngắn ngủi, họ cùng ngồi lên bờ tường. Xiniskin thở khó nhọc, mặt đen bồ hóng, một cánh tay của chiếc áo ba-đờ-xuy đen cũ đã sứt chỉ, cái mũ cát-két vải láng với chiếc khuy nhỏ, bám đầy bụi gạch. Đôi mắt đó ngầu và hùm hụp của bác ánh lên lạnh lùng.

        — Thật ẩu không thể tả được! — bác nói, giọng ồm ồm như thùng tô-nô. Bác ho ra đáng mệt nhọc rồi lại tiếp tục với giọng bất bình — Thiết bị thì họ đem đi, nhưng tất cả dây điện và đường ống, máy ép thì họ bỏ lại. Đã hai ngày nay chúng tôi phải đi cắt dây điện trong các xưởng và cho nổ lựu đạn phá vỡ hệ thống dẫn khí nén... Đồng chí cần hỏi tôi à?

        — Vâng, hồi đêm khu ủy đã có quyết định. Nhóm chúng ta đã được dứt khoát chỉ định là đảng ủy bí mật của khu vực. Là bí thư thứ nhất của đảng ủy, tôi phải lập tức quyết định xem có thể sử dụng bác cách nào cho có lợi nhất. Tôi muốn hỏi ý kiến bác.

        — Để xem ! — Xiniskin nhăn mặt, có vẻ nghi ngờ —  Đồng chí hãy nói rõ.

        — Có hai khả năng: hoặc bác đi với chúng tôi xuống hầm ở Uxatôvô ; hoặc bác ở lại đây một thời gian để đảm bảo việc liên lạc với nhân dàn và việc thông báo tin tức. Cả hai đằng đều có cái nguy hiểm của nó. Ý kiến bác thế nào?

        Xiniskin lại càng nhăn nhó hơn, nhìn Secnôivanenkô bằng con mắt thăm dò và hỏi:

        — Thế ý kiến đồng chí ?

        — Tôi sẽ nói hết sức thật thà với bác, — ông nói giọng quả quyết.

        — Những người cộng sản trong tình thế hiện nay, theo tôi nghĩ, không thể nói khác được, — Xiniskin nói rất nhanh.

        Secnôivanenkô thật ra cũng đã biết cái tính thẳng thắn của Xiniskin không chịu được bất kỳ lối quanh co bóng gió nào trong quan hệ giữa con người với nhau. Xiniskin cảm thầy có cái gì không được minh bạch lắm trong những lời vào đầu của Secnôivanenkô, nên bác đã giữ miếng.

        — Tôi sẽ nói rất thật thà, — Secnòivanenkô nhắc lại — Bác đều cần thiết đối với cả hai nơi, nhưng có lẽ đối với hầm mộ thì cần hơn.

        — Vậy sao?

        — Chúng ta phải — Secnôivanenkô nói thật dè dặt, cố tỏ ra vừa khéo léo lại vừa kiên quyết,— tính đến chuyện bác không còn trẻ lắm, không còn khỏe lắm nữa.

        — Nghĩa là?... — Xiniskin dằn giọng, gò má giần giật và lông mày cau lại. Nhưng Seenôivanenkô vẫn tiếp tục :

        — Để tôi nói hết đã. Tôi muốn nói rằng bác là người ốm. Bác yếu phối, ở lâu ngày trong những hầm tối, ẩm có thể gây ra những hậu quả tai hại cho bác. — Tôi đã nói hết.

        Xiniskin yên lặng một lúc, ho với vẻ bực bội, bộ mặt càng thêm cau có.

        — Này đồng chí Secnôivanenkô thân mến, — bác vừa nói vừa quay đi, nhìn xuống đất — Thứ nhất, cảm ơn lòng thành thực của đồng chí. Thứ hai, đồng chi nói vô lý, hoàn toàn vô lý, và tôi sẽ không cho phép, — đột nhiên bác hét lên, nhưng lại cố kìm lại, — tôi không mảy may có ý định nhờ đến ban cứu tế xã hội đâu. Đồng chi biết là tôi vẫn còn làm việc và người ta bảo là tôi làm việc không tồi. Đúng, không tồi đâu! Bộ chỉ huy đã ngỏ lời cảm ơn tôi về việc sửa chữa xe tăng và việc làm cho đoàn tàu bọc sắt chạy được. Điều đồng chí nói về sức khỏe của tôi thật quá đáng. — Yếu phôi! —  bác kêu lên — Thế thì có hề gì ! Phôi tuy yếu nhưng gần đây nó khỏe lên rồi. Chính Măcxim Gorki cũng yếu phổi. Những người thợ già chúng tôi ở Ôđetxa đều rất nhớ Măcxim Gorki, ông ấy đến với chúng tôi và ở cảng, tại xưởng chữa tàu của công ty hàng hải và thương thuyền Nga, ông ấy đọc sách cho chúng tôi nghe, nói chuyện với chúng tôi. Hồi đó, ông ấy cũng ho, nhưng vẫn sống cho đến già. Mà sống như thế nào, làm việc như thế nào! Thật là sôi nổi! Alêcxây Măcximôvich Peskôp, thật mới đáng gọi là người! Thế mà đồng chí lại nói chuyện phổi! Không, về phần đồng chí, xin làm ơn xếp chuyện ấy lại cho !


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Bảy, 2020, 05:50:09 pm

        Secnôivanenkô say sưa nhìn bác. Đứng cạnh ông, quả là một con người không ai khuất phục nổi, một con người mãnh liệt, thuộc dòng dõi Gorki. Ai có thể ngăn cản một con người như thế, có thể làm nguội nhiệt tình một con người như thế, có thể bắt buộc một con người như thế ngừng công tác và đấu tranh? Bác thợ hàn già trở nên đốc công Xtakhanôvich, đã tham gia cuộc đấu tranh cách mạng năm 1905 lúc còn rất ít tuổi. Hồi đó bác thường lại nhà người anh của Secnôivanenkô, tên là Têrenti, ở xóm Cối xay Gần. Secnôivanenkô hồi ấy là một chú bé với cái tên Gayrick, vẫn còn ghi trong ký ức cái hình ảnh của anh thợ trẻ Xiniskin, cao lớn và nghiêm nghị, mặc chiếc sơ-rni xa-tanh đen có hàng khuy thủy tinh xanh nhỏ cài bên sườn; lúc nào anh cũng ngồi lánh ra một chỗ, chăm chú nhưng lì xì, đôi mắt sáng nhìn đăm đăm. Xiniskin không nhớ Gayrick. Rất lâu sau ngày Cách mạng tháng Mười, bác có gặp Gayrick đã thành người chiến sĩ trẻ của Đảng, nhưng bác không nhận ra. Bác khẽ liếc nhìn chú và nói: « mình không nhớ ». Nhưng về sau, bác cũng nhớ ra.

        Tất cả cuộc đời của Xiniskin Jêleznư gắn liền với Cách mạng. Bác đã nhiều lần vào tù, vượt ngục và từng bị đi đày. Bác đã bị bọn chúng đánh đập ở những đồn cảnh sát trên các chặng đường đi đầy. Cách mạng tháng Mười đã đổi bác thành ủy viên tòa án Cách mạng và đã thêm vào tên bác cái biệt hiệu «Jêleznư» nghĩa là «bằng sắt». Hồi bấy giờ người ta gọi bác trần bằng cái tên Jêleznư, chứ không thêm Xiniskin. Đó là thời đại của những tên cứng rắn và có ý nghĩa : « Cương quyết », « Cảnh giác », « Sắc bén ». Còn bác thì « Bằng sắt». Cái tên thật hợp với người, cả đến bề ngoài của bác cũng rất giống sắt: người thì dài ngoẵng, gày gò, bộ mặt thì thẫm y như phủ một lớp gỉ xanh xám. Màu đó bệnh lao lộ qua lớp gỉ ấy như miếng sắt móng ngựa nguội trong lò. Cả đến bộ tóc của bác, dày cứng, chải như tóc Gorki hồi trẻ — rẽ lật hai bên — cũng màu xanh xám như sắt vậy. Toàn thể con người bác đúc bẵng sắt. Nó xông ra cái mùi than đá hăng hắc của lò cao. Bên trong lúc nào cũng « nung đó ». Có lẽ ai vô ý chạm phải là bỏng tay liền. Khi bác tức giận, người ta có cảm giác từ hai bàn tay sắt nắm lại của bác nảy ra những tia lửa. Xiniskin Jêleznư là như thế. Không phải dễ mà gây chuyện với một con người như vậy!

        Đột nhiên, một nụ cười nhẹ nhàng hóm hỉnh nở dưới hàng ria của bác. Bác khẽ đưa mắt nhìn Secnôivanenkô và nói:

        — Mấy lại, đấy không phải là cái chủ yếu của công việc. Có thể là khí hậu dưới hầm Uxatôvô không lợi cho sức khỏe của tỏi. Nhưng thưa đồng chí bí thư rất đáng quí, đồng chi vin vào lẽ gì mà bảo rằng đời sống của tôi trên mặt đất sẽ được an toàn hơn, trong những điều

        kiện « khí hậu » của bọn phát-xít chiếm đóng. Chả ai có thể biết ở đâu mình mất, ở đâu mình được. Nhưng tôi mong rằng hai chúng ta sẽ không thảo luận về cách tránh mối nguy cơ chết kiểu này hay kiểu khác; mà trái lại, chúng ta sẽ quyết định làm thế nào để quân thù phải chết nhiều nhất. Đó chính là điều Đảng yêu cầu chúng ta. Vậy đồng chí biết đấy, cho phép tôi được giải đáp câu hỏi, không phải theo quan điểm cá nhân mà theo quan điểm của Nhà nước, của toàn thể nhân dân. Đồng chí hãy nói đi: ở đâu tôi sẽ có lợi cho công tác hơn ?

        Secnôivanenkô cảm thấy dạt dào xúc động và âu yếm đòi với con người cao lớn, già nua, bướng bỉnh này; ông ghì lấy vai bác và nói với bác những lời gần giống như bí thư Khu ủy nói với ông lúc chia tay.

        — Không phải những người như tôi có thể lên lớp cho bác đâu, bác Nikolai Vaxiliêvich ạ, bác là một người bônsêvich già, bác có rất nhiều kinh nghiệm hoạt động bí mật. Bác hãy tự quyết định lấy thôi.

        — Chỉnh đồng chí sẽ quyết định — Xiniskin nói rất nghiêm trang, có vẻ hơi nghiêm khắc nữa. — Nhưng nếu đồng chí muốn có ý kiến của tôi thì tôi xin nói. Hướng dẫn cán bộ ư? Phải. Vì phần đông cán bộ tương lai của chúng ta sẽ ở ngay đây, ở Pêrexip, ở Mônđayanka, ở Cảng ; tôi nghĩ rang thời kỳ đầu, tôi cần ở trên mặt đất. Ở đó, tôi sẽ có lợi cho công tác hơn. Có thể nói rằng tôi sẽ là người đại diện toàn quyền cho đồng chí. Tôi sẽ là tai mắt của đồng chí... và nếu cần sẽ là bàn tay của đồng chí nữa, — bác nói thêm với nụ cười nghiêm trang và chìa hai bàn tay ra trước mặt, làm bộ nắm lại một cách cương quyết. — Rồi sau này, sẽ tùy theo tình hình, tôi không biết thế nào mà nói trước. Tôi sẽ báo cáo cho đồng chi thật hệ thống về tình hình thành phố, nhất là tình hình Pêrexip và khu vực cảng. Được chứ?

        Secnôivanenkô nghĩ một lúc và nói có tính chất quyết định:

        — Đồng ý. Cứ thế!

        — Đấy, đồng chí xem, — Xiniskin nhẹ nhàng kết luận — Thế mà đồng chí lại cứ nói chuyện « cái phổi».

        Secnôivanenkô đứng dậy, chìa tay cho bác:

        — Chập tối hôm nay, mời bác đến cạnh tường phía bắc công viên Hatji-Bây. Ở đó, ta sẽ qui định cụ thể những trạm thường trực bí mật và tôi sẽ chỉ cho bác lối vào cơ sở của tôi. Chào bác.

        Secnôivanenkô trở ra xe. Đến cửa xe, ông quay người lại và nhìn cái bóng to lớn của Xiniskin đi ngược gió qua sân về phía xưởng lắp ráp mà đằng sau đó là mặt biển mỗi lúc một tối sầm. Vài người — có lẽ là những « cán bộ » của bác ta — đang làm gì đó cạnh bức tường của xưởng.

        Cuộc gặp gỡ Xiniskin Jêleznư đã có một tác dụng kích thích đối với Secnôivanenkô, ông hăm hở, vui vẻ quát lên với Xviatôxlap:

        — Đến nhà Kôletnisuc!


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Bảy, 2020, 06:07:36 am

       
32

        Ngôi nhà gia đình Kôletnisuc ở còn nguyên vẹn, nhưng có một quả bom nổ gần đấy nên những miếng kính và cánh cửa sổ nhiều chỗ phải thay vội bằng gỗ dán hay bìa cứng. Những đường gờ kiểu mới, với những đầu quái vật mà tóc là rắn và lá sen tròn, bị hơi nổ đánh bật ra khỏi mặt trước ngôi nhà màu xanh nước đục, đã phủ đầy lên mặt đường những mảnh thạch cao sặc sỡ. Những vết chân trắng lốp kéo từ ngoài phố đến cầu thang ở cửa chính, chỗ này có một luồng gió hun hút rít lên làm những đống bụi khô bay lên cuồn cuộn. Cửa ra vào nhà Kôletnisuc mở toang: rõ ràng là không thê đóng cái cửa ấy lại được nữa vì nó đã bị phá tung và đánh bật ra khỏi bản lề trên. Mấy dấu chân trắng và lộn xộn kéo từ đầu cầu thang trang trí kiêu Pông- pêi lên đến phòng ở. Nơi này hầu như bỏ hoang. Đó là một căn phòng lớn kiểu nông thôn nằm trong một ngôi nhà to, cổ, từ thời trước cách mạng, loại nhà hồi cuối thế kỷ mười chín ta thường gọi là « nhà sinh lợi», xây dựng cho những người thuê nhà giàu có, trang trí có đôi chút lòe loẹt.

        Mấy cái cửa đóng bằng khóa lớn khóa nhỏ châu vào một phòng đợi rộng vắng tanh với giấy dán tường kẻ sọc cũ kỹ, sờn rách đến ngang tầm vai người. Mắc áo trống không. Rõ ràng những người thuê nhà đã bỏ di. Một luồng gió lùa thổi tung rác rưởi, giấy lộn, vỏ đậu trên sàn nhà ván không ai lau quét, nhem nhuốc vết chân. Bước chân đi vang lên giữa những bức tường cao trống rỗng.

        — Có ai đấy không? — Secnôivanenkô cất cao tiếng hỏi. Không ai đáp. Ông nện ủng cồm cộp, tiến sâu vào một hành lang tối om, vắng ngắt, có một chiếc xe đạp cũ dựa vào tường, ở lối ngoặt cạnh buồng tắm và nhà bếp là chỗ có hai buồng kề nhau của gia đình Kôletnisuc. Không có khóa móc ngoài cửa. Secnôivanenkô mở toang cửa với cử chỉ như mình là chú nhà. Nhìn chung, những động tác của ông có một vẻ tự tin cao độ và ' đàng hoàng của một ông chú nhà.

        Người ông trông thấy đầu tiên, dưới ánh đèn ngủ, trong bóng tối căn buồng bừa bộn ngồn ngang, với những cửa sổ dán giấy đen, chinh là Kôletnisuc. ông ta mặc áo choàng, đội cảt-két, ngồi trước cái bàn không trải khăn, ăn vội vàng món xúp đựng trong cà-mèn.

        Trên chiếc ghế gồ sồi chạm trổ với lưng dựa cao bện mây, vắt lủng lẳng một chiếc mặt nạ phòng độc, một khẩu súng lục và một túi dết. Kôletnisuc ngồi ăn lặng lễ, nét mặt đăm chiêu và căng thẳng vì phải mặc áo choàng mà ăn. Nhìn thấy căn phòng quen thuộc, bao giờ cũng rất ngăn nắp, đầy đủ tiện nghi, mà nay thảm hại, lộn xộn, trong đó đồ đạc và vật trang trí, tài sản của Raitxa Lvôpna, bị quẳng lung tung, hư hỏng, gẫy vỡ, bàn ăn chẳng trải khăn, đầu mầu thuốc lá và giấy lộn ngập ngụa, chiếc đèn ngủ leo lét với ngọn lửa nhỏ khói um, và mỗi khi có tiếng nổ hơi mạnh một chút vôi trên trần lại lả tả rơi xuống, trải tim của Secnôivanenkô thắt lại ngay từ lúc thoạt thấy cái cảnh tượng này, với một cảm giác tai họa sâu sắc.

        — Chào Jôra! — Secnôivanenkô nói nhanh, không chìa tay cho Kôletnisuc mà chỉ vỗ vào vai để ông khỏi phải đứng dậy.

        — Chào anh, — Kôletnisuc vừa nói vừa nhìn bạn với một vẻ lãnh đạm không được tự nhiên lắm — Ngồi chơi,

        Secnôivanenkô gạt cái gói trên ghế xuống, rồi ngồi xuống, để mũ lên bàn, trước mặt mình.

        — Ăn xúp nhé? — Kooletnisuc nói giọng đều đều.

        Secnôivanenkô ngạc nhiên nhìn ông:

        — Ô hay, anh bạn, xúp xiếc gi! Tôi đến đây để bàn bạc với anh cho dứt khoát. Anh chưa thay đổi ý kiến chứ? Việc đề cử anh đã được lãnh đạo chuẩn y. Chị ấy đi rồi chứ?

        — Khẽ chứ! — Kôletnisuc thì thào, đôi mắt hoảng hốt, rồi hất đầu về phía cửa phòng bên — Cái gay là ở đấy Raitxa vẫn chưa đi.

        — Xảy ra chuyện gì thế ? — Secnôivanenkô hạ giọng hỏi.

        — Chẳng xảy ra chuyện gì cả. Anh không biết tính nết đàn bà sao ? — Kôletnisuc không lên giọng, chỉ mấp máy đôi môi — Không có tôi, bà ấy không chịu đi, chỉ riêng cái khoản...

        — Phải thuyết phục chị ấy chứ ? — Seenôivanenkô cáu kỉnh nói, ông cảm thấy công việc có chiều hỏng bét.

        — Anh đi mà thuyết phục.

        — Thật không thể tưởng tượng được.

        — Khẽ chứ.

        — Jorjơ, mình nói chuyện với ai thế? — tiếng Raitxa Lvôpna cất lên ở phòng bên rồi sau đó, đích thân bà xuất hiện ở cửa ra vào.

        Đầu bà quấn chiếc khăn quàng dày. Chỉ nhìn thấy một bên mặt bà nhợt nhạt, rầu rĩ với một con mắt đen. Một tay bà đỡ lấy thái duơng, một tay bà ôm ngực. Trông thấy Secnôivanenkô, bà vội chạy bổ lại, giơ lòng bàn tay lên trần nhà với vẻ thất vọng rồi khóc :

        — Anh trông thấy chưa, Gayrin Xêmiônôvich? — bà chẳng chào hỏi gỉ cả, vừa nói vừa nhăn nhó lấy hơi.

        — Ba hôm nay, tôi cho phá hủv những kho hàng, —  Kôleinisuc vẫn nói đều đều như đang nói nốt câu chuyện — Sáng nay mới xong. Chẳng còn lại tí gì. Sạch sành sanh. Đêm nay chúng tôi sẽ xếp tất cả mọi thứ lên tàu.

        — Ờ... — Secnôivanenkô lơ đẵng nói.

        — Xin lỗi anh, tôi quên cả chào anh, — Raitxa Lvôpna vừa nói vừa tiếp tục nhìn Secnôivanenkô bằng con mắt đăm chiêu rầu rĩ — Anh có thấu cho không? anh có thấu cho không?

        — Tôi biết chứ, — Secnôivanenkô cúi đầu dịu dàng trả lời.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Bảy, 2020, 06:08:09 am

        Người ta có thể biết tất cả, ngay khi chẳng nói nửa lời. Ông biết rằng đây là bữa ăn cuối cùng của gia đình Kôletnisuc trong nhà họ. ông hiểu tâm trạng họ. Ông hiểu nỗi đau khổ lớn lao, nỗi buồn phiền day dứt mà họ cảm thấy khi phải tuân theo sự cần thiết cực chẳng đã là bỏ mặc cho số phận tất cả những cái thân thiết đối với họ, khi phải từ giã một thành phố chôn nhau cắt rốn, noi họ đã yêu thương, nơi có mồ mả cha mẹ con cái. Ông rất hiểu cái tình cảm rất người ấy, kể ra thì nhỏ nhặt, nhưng thật mãnh liệt và chính đáng, ông hiểu cái vết thương mà họ cảm thấy, nhất là Raitxa Lvôpna, vì cap thiết phải từ bỏ những tài sản thu thập được do sức lao động lương thiện trong cuộc sống chung lâu dài của hai người.

        — Tôi cứ tưởng chị đã đi lâu rồi cơ đấy, — Secnôivanenkô nói sau một lúc im lặng nặng nề.

        Raitxa Lvôpna đến bên Kôletnisuc, gục đầu lên vai ông rồi đột nhiên lo ngại nhìn chằm chằm Secnôivanenkô với con mắt ngờ vực.

        Secnôivanenkô biết là sự thể thêm rắc rối đây.

        — Chị Raitxa thân mến, — ông cố nói thật ngọt ngào đồng thời thật kiên quyết — chị ra khỏi phòng một lát nhé. Chúng tói có một chuyện quan trọng.

        Trước bộ mặt nghiêm trang của chồng và nét mặt cương quyết của Secnôivanenkô, đột nhiên Raitxa Lvôpna cảm thấy bằng tất cả tâm hồn mình là một tai họa mới, to lớn, đang giáng xuống, tuy chưa hiếu nó ra sao nhưng bà biết chắc tai họa ấy đang đe dọa cả Jorjơ của bà, cả bản thân bà và cả những gì thuộc về đời sống của hai người.

        — Không đời nào, — bà nói nhanh. Bà đã hiểu rõ Secnôivanenkô từ lâu. Bà không thể không hiểu rằng sự xuất hiện đột ngột của ông ở nhà mình trong lúc quyết định này chỉ cớ thể nói lên một cái gì cực kỳ nghiêm trọng, cực kỳ đe dọa. — Không — bà nói, mắt nhìn thẳng vào mắt Secnôivanenkô như thách thức. — Tôi không bằng lòng các anh bí mật với tôi. Anh cứ việc nói trước mặt tôi, tôi là vợ anh ấy.

        Bà càng đứng sát vào Kôletnisuc và ôm lấy vai chồng. Secnôivanenkô biết lúc này định thuyết phục bà thì thật uổng công. Việc đó đòi hỏi quá nhiều thì giờ, mà lúc này mỗi phút lại vô cùng quí giá. Nhưng tính ông lại không dễ thỏa hiệp. Ông đi đi lại lại trong phòng, đứng sững trước mặt Raitxa Lvôpna và nói cương quyết :

        — Được thôi! Chị là vợ anh ấy, chị có quyền chia bùi sẻ ngọt với anh ấy cho đến cùng. Chị đòi hỏi như thế, còn tôi, nếu chị muốn biết thì tôi rất quý chị về điểm đó và rất mến chị. Nhưng chị Raitxa ạ, có những hoàn cảnh...

        — Khoan đã, — bà vội vã ngắt lời, — anh đừng nói gì nữa. Tôi đòi hỏi, đúng, tôi đòi hỏi! Đó là quyền của tôi. Và không đời nào tôi ra khỏi đây đâu. Anh quyết định đi. Hay có lẽ anh không tin tôi? — bà hỏi, mắt vẫn nhìn thẳng vào mặt Secnôivanenkô.

        Bảo rằng không tin thì có khác gì sỉ nhục bà. Và sỉ nhục tàn tệ, nhất là bà lại không đáng thế. Secnôivanenkô quen bà từ lâu, biết cả cuộc đời bà, biết bà là một người tốt và chân thật, không có lý do gì để không tin bà.

        — Không, tôi tin chị, — ông nói chậm rãi như cân nhắc từng chữ một — Tôi tin chị. Tôi mong chị hiểu tôi nói như thế nghĩa là gì.

        Raitxa nhìn ông và một linh cảm khiến bà gai người lên.

        — Tói hiểu, — bà dịu dàng nói — Anh đòi hỏi chúng tôi những gì nào? Anh định bắt nhà tôi làm gì nào?

        — Anh ấy phải ở lại thành phố, — Secnôivanenkô nói một cách kiên quyết.

        Secnôivanenkô lại bên cửa sổ, giật tấm rèm giấy đen ngụy trang đã cũ rách mắc vào hai cái đinh. Tấm rèm bật ra, rơi từ cửa sổ xuống sàn nhà, để lộ ra những miếng kính vỡ và những mãnh gỗ nứt. Gió lùa vào phòng, thổi tắt ngọn đèn ngủ.

        Dưới ánh sảng trắng ban ngày, căn phòng này với chiếc đàn pi-a-nô cũ kê xa tường, cái xích-đông trống rỗng, những bình nhỏ, tượng nhỏ và sách vở vứt bừa bãi, ngổn ngang trên sàn nhà bẩn, bày ra một cảnh tượng đáng chán, hơn nữa có thể nói là não lòng. Giữa cảnh bừa bãi và yên lặng lạ lùng này, tiếng đại bác nổ buồn bã vang lên thật rùng rợn, và đâu đó trên bầu trời, những máy bay khu trục rền rĩ nhiều giọng khác nhau từ những giọng cao nhất, rít nhất không chịu nồi, đến những giọng thấp nhất, những giọng trầm đáng ghét nhất, nghe phát rùng mình ghê tởm, y như có người suốt ngày cứ vẽ trên một tấm kính ướt chữ O hoa lớn một cách ngu xuẩn.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Bảy, 2020, 06:08:44 am

        Lúc này, câu nói của Secnôivanenkô lại có một ý nghĩa mới, đặc biệt sâu sắc, bao quát và đáng sợ hơn trước đây một phút, dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn ngủ, trong bóng tối của căn nhà trống rỗng mà những người thuê khác đã bỏ đi. Raitxa Lvôpna hoàn toàn hiểu rõ cái ý nghĩa ấy. Bà hiểu có một thay đổi đột ngột xảy ra trong đời sống của vợ chồng bà; rằng họ đang ở ngưỡng cửa một cuộc đời hoàn toàn mới lạ, chẳng có gì liên quan đến căn nhà này, đến những đồ vật thân yêu này, cũng chẳng có gì liên quan đến những ý niệm mà người ta thường có về mình, tóm lại chẳng có tí gì liên quan với tất cả quá khứ. Bà hiểu rõ rằng, sâu sắc rằng không phải chỉ đơn giản là Gayrick Secnôivanenkô, bạn cũ của họ, mà chính là Đảng đã đến nhà họ, chính là Tổ quốc đã nói với Kôletnisuc như đã nói với hàng nghìn hàng triệu người trong những ngày đáng sợ này: «Ta cần đến anh, ta đưa anh đi ». Và không phải chỉ nói có thế, mà còn có ý nói: « Ta đưa anh đi vì anh là một người bạn cũ trung thành, vì ta tin anh, vì người ta có thể trông cậy ở anh».

        — Đúng như thế ư, Jorjơ ? — bà lắp bắp hỏi.

        — Thì mình cũng nghe rõ đấy, — Kôletnisuc nói gọn lỏn.

        Bà đứng cạnh chồng, mặt tái nhợt, ngón tay lạnh cóng vò những tua của chiếc khăn quàng rơi xuống ghế. Chao ôi, lúc này bà chẳng còn gì giống bác Raitxa Lvôpna nhanh nhẩu, mặt mũi hồng hào, tóc đen nhánh, niềm nở, rất thích nấu những món ăn Ôđetxa ngon tuyệt cho chồng và bạn bè, rất thích tiếp ăn uống, đính khuy, giặt sơ-mi, đi chợ, ngồi bên pi-a-nô chơi những bản nhạc Ukren, bấm nhưng phím đàn rún rẩy hoặc hát bài « Gió thổi » bằng cái giọng ngực rất khỏe và rất ấm, đôi khi lại nhảy cả những điệu Nga nữa, tay vẫy chiếc mùi-xoa nhỏ, đôi mắt long lanh, màu xanh đen như quả nho Izaben!

        Kôletnisuc nhìn bà và thấy một Raitxa Lvôpna khác, lâu lắm rồi, cô bé Raitxa thuở thanh niên của họ, nữ sinh trường trung học tư thục Do-thái, với nét mặt gày, tai tái, với những ngón tay dài và lạnh, những ngón tay nhạc công như người ta thường nói, với cặp lông mi cụp xuống in bóng rung rinh trên đôi má.

        Raitxa đứng sát bên ông, nhưng ông không còn thuộc về bà nữa rồi.

        — Nhưng anh ấy là người ngoài Đảng cơ mà, —  Raitxa Lvôpna thì thào một cách rụt rè.

        — Đó chính là điều chúng tôi cần — Secnôivanenkô nói — một người ngoài Đảng, càng tốt. Kế toán, ngoài Đảng, dân Nga — ông đếm từng tiếng trên đầu ngón tay — không trẻ, học hết trung học trước Cách mạng tháng Mười, cựu trung úy, theo quan điểm bọn chúng thì không có một cái gì có thể gọi là khuyết điểm...

        Secnôivanenkô đột nhiên ngừng lại, xúc động vì vẻ mặt của Raitxa Lvôpna. Bộ mặt của bà cứ đờ ra. Đôi mắt mở to, mặc dù đen, vẫn có vẻ trong suốt, và hình như nhìn xuyên thấu mọi vật, đến một chốn xa xôi huyền bí mênh mông nào. Một nét nhăn khô khan, chua chát, nhưng kiên quyết chạy quanh đôi môi mọng lên của hà. . .

        — Còn tôi? — bà nói, giọng rất bình tĩnh hầu như đều đều, không thay đổi vẻ mặt im lìm — Còn tôi, anh để đâu?

        — Còn chị, chị sẽ lên tàu vận tải của quân đội.

        Luồng mắt nhìn thẳng, cũng như nét mặt bà không hề thay đối... Bà vẫn đứng nguyên như trước, không nhúc nhích, như hóa đá.

        — Vậy ra Jorjơ sẽ ở lại đây, còn tôi thì sẽ đi bằng tàu vận tải phải không? — Bà nói giọng vẫn đều đều, đáng sợ vì cái đều đều của nó.

        — Mình tự hiểu lấy thôi — Kôletnisuc lắp bắp ngượng nghịu và đỏ mặt lên.

        Phải, bà đã hiểu. Bà hiểu quá rõ là ở lại với chồng trong thành phố bị bọn phát-xít chiếm đóng là điều không thể được đối với hà. Dù bà mang tên Kôletnisuc nhưng bà vẫn không kém phần Do-thái, mà cái này thì không thể giấu được. Bà gắng gượng nén nỗi tê tái rồi nhìn chằm chằm vào mắt chồng.

        — Làm thế nào khác được? — Kôletnisuc vừa nói vừa cầm lấy tay bà. Làm thế nào khác được, hả Raitxa ?

        Bà giật mạnh tay, lùi lại một bước, rồi đột nhiên lao về phía trước, nắm lấy và tuyệt vọng ôm chặt lấy đầu chồng.

        — Các anh không được phép... anh không thể... không ai được phép thế! — bà kêu lèn. — Anh ấy ở đâu, tôi ở đấy. Tôi không đi đâu. Tôi cũng chẳng nghĩ đến chuyện đi đâu. Các anh muốn làm gì tôi thì làm. Các anh cứ giết tôi đi!

        Bà nói lắp bắp, lung tung, kêu lên những tiếng chẳng đầu đuôi, mạch lạc gì. Chiếc mũ cát-két quân nhu của Kôletnisuc rơi lăn lóc trên sàn. Raitxa Lvôpna hôn như mưa lên cái đầu bù và mớ tóc thưa của chồng.

        Secnôivanenkô hiểu rất rõ tính nết bà nên vẫn tính đến một sự phản kháng, nhưng ông không ngờ trong người đàn bà trung thực này lại có thể có một tình cảm mãnh liệt đến thế, một sự bướng bỉnh điên cuồng đến thế. Đột nhiên ông vỡ nhẽ là trước mặt ông có một chướng ngại vật không thể vượt qua được, của tình yêu và lòng chung thủy phụ nữ. Nhưng ngay trước cả cái đó nữa, ông cũng chưa chịu thua.

        — Bình tĩnh lại nào, chị Raitxa, — ông nói với vẻ nhẫn nại gần như âu yếm — Chúng ta sẽ tính cho hết nước. Ngồi xuống đi, bình tĩnh nào.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Bảy, 2020, 06:09:36 am

        Ông kéo Raitxa ra xa Kôletnisuc và gần như ấn bà ngồi xuống.

        Xét cho cùng thì bà, cũng như Kôletnisue, là bạn thân cũ của ông. Ông nhớ lại hồi bà còn là cô nữ sinh trung học, rồi học sinh tự do của những lớp cao đẳng phụ nữ. Hồi đó không phải lúc nào bà cũng như bây giờ: một người vợ trong gia đình, khiêm tốn, không có gì đáng chú ý, một người nội trợ mến khách, một người đàn bà đảm đang, không trẻ lắm, tận tụy với gia đình. Secnôivanenkô nhớ rất rõ về bà, hồi là nữ sinh viên mười bảy tuổi, một cái nơ đó trên ngực, mặc chiếc áo khoác mùa thu màu đen, ngồi xe cam-nhông phóng trên các phố Ôdetxa, giữa những chiến sĩ và thủy thủ đeo huy hiệu Rumsêrốt1, cánh mũi phồng lên, và một màu hồng đến là tươi trẻ ánh lên trên đôi má nhỏ bụ bẫm của cô. Gió thổi phấp phới những dải băng Thánh Jorjơ trên mũ nồi lính thủy, thổi rung rinh chiếc nơ xa-tanh trên đầu cô với mái tóc xoăn cắt ngắn, và cô hát chẳng chút ngượng nghịu trên đường phố bằng cái giọng nữ trong khỏe bài « Cô gái thành Vacxôvi » và bài « Chúng ta đều từ nhân dân mà ra ». Nói cho đúng, cái nhiệt tình thiếu nữ của cô cũng mau nguội. Cô đã lấy một anh chàng Kôletnisuc khiêm tốn, chắc chắn và chẳng có gì là kiểu cách. Họ rất yêu nhau. Họ đã sống rất tốt một cuộc đời giản dị, bình thường, có lẽ hơi chán nữa. Nhưng họ không phải là những người tiểu tư sản. Họ đọc báo, mua tạp chí, lui tới nhà hát, nghe nhưng buổi hòa nhạc của Nhạc viện. Trong chuyên môn của mình Kôletoisuc là một người lao động xuất sắc, còn Raitxa Lvôpna bao giờ cũng được bầu vào nhiêu tổ chức xã hội, và Hội đồng vợ công nhân viên của quốc doanh Glapsai hoặc vào ban đại biểu các hộ trong ngôi nhà, lo việc trồng cây trong sân và tổ chức vườn trẻ. Có đủ nỗi vui buồn trong cuộc sống của họ. Secnôivanenkô quí bà cũng như qui chồng bà vậy. Ông tin cậy bà. Ông biết cụ thân sinh ra bà là thày thuốc và nhà hoạt động xã hội đã bị bọn phản gián của tên tướng Đênikin giết bằng nhục hình.

        Ông biết bà đơn giản và thuần túy là « một người đàn bà xô-viết đảm đang ». Mà đối với Secnôivanenkô thì đấy là đức tính đáng quí nhất. Mặt khác, bà chẳng có con cái cũng chẳng còn cha mẹ. Trong cuộc sống bà có rất ít người thân. Thực tế, bà chỉ có một người thân

        thực sự: chồng bà. Điều này cũng có một ý nghĩa lớn. Sau khi suy nghĩ một lát, Secnôivanenkô đi đến một quyết định táo bạo :

        — Chị nghe đây, — ông vừa nói vừa nhăn trán một cách tư lự, — nếu chị muốn, tôi sẽ thu xếp ổn cho chị. Nhưng chúng tôi sẽ không để chị trên mặt đất, chị sẽ đến một nơi khác.

        Ông lật bàn tay nhỏ nhắn của mình với dáng cương quyết, chìa ngón tay cái ra, chống nó lên như cái cò súng rồi chỉ ngón tay xuống sàn nhà.

        — Dưới đó, — ông nhấn mạnh — hiểu chứ ? Đồng ý chứ ?

        Bà không trả lời, đôi mi mắt hồng hồng có gân xanh nhắm lại và trên hàng lông mi cụp xuống người ta còn nhìn thấy những giọt nước nhỏ.

        Trong những ngày khẩn trương gay go này, những ngày cuối cùng trước khi tản cư, những con người ưu tú đều tập hiểu nhau qua lời nói bóng gió, qua con mắt. Bằng trái tim hoặc bằng trí tuệ, Raitxa đã hiểu không những điều Secnôivanenkô nói mà cả điều ông không nói, điều ông không có quyền nói thẳng ra. Ông chỉ nói bóng thôi. Có lẽ bà còn hiểu hơn cả Kôletnisuc nữa. Bà hiểu rằng lúc này đời bà bước vào một bước ngoặt không cưỡng được, không thể nào lùi về quá khứ. Bây giờ, khi mọi sự đã rõ ràng và đã quyết định, tâm hồn bà vươn lên, khỏe khoắn hơn. Raitxa sẵn sàng làm bất cứ điều gì người ta đòi hỏi ở bà, dù bà chưa hiểu mình sẽ phải làm gì. Bà vui sướng và sẵn lòng bắt ý chí của mình phục tùng ý chí của Secnôivanenkô. Bà nhìn căn phòng như muốn nói lời vĩnh biệt với cuộc đời đã qua, với cái lò sưởi lát gạch men có bức phù điêu bằng cẩm thạch xanh xám, với những đồ vật cũ, với những thứ lặt vặt, với những bàn ghế, với tất cả những vật này chẳng còn ý nghĩa gì đối với bà, không còn khiến bà mảy may luyến tiếc.

        Secnôivanenkô ra ga hàng hóa, ở đấy dưới sự giảm sát của Xviriđôp, người ta đang xếp đồ quân nhu lên tàu ; sau đó ông đến kho quân đội, đích thân giảm sát việc giao vũ khí, chất nổ và dụng cụ công binh, ông nhận bản thông cáo tình hình của bộ tham mưu quân đoàn Duyên hải, đặt cán sự ba quân nhu Kôletnisuc và chiến sĩ hồng quân Xviatôxlap Macsenkô dưới quyền sử dụng của mình, điện lên Bí thư khu ủy báo cáo việc Raitxa Lvôpna Kôletnisuc xuống hầm đá ; và còn một lô công việc ít quan trọng hơn. Khoảng năm giờ, ông về đến nhà và lên gác ba, nơi có căn phòng của ông.

------------------------
        1. Ramsêrôt: Ban chấp hành Trung ương các xô-viết của mặt trận Rumani của Hạm đội Hắc-hải và quân khu Ôđetxa. Cơ quan này thành lập ở Ôđetxa tháng 5-1917 tại Đại hội thứ nhất các đại biểu mặt trận và quân khu.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Bảy, 2020, 05:46:16 am

        Đó lả một ngôi nhà to, mới, xây dựng cho chuyên viên trên địa điểm vườn bách thảo cũ. Trong mảnh vườn nhỏ, những đám cúc vàng trở thành bụi rậm thực sự đã tàn hết hoa, loại cây này đã tự nó sinh sôi nẩy nở bừa bãi trong chiến tranh. Ngôi nhà không bị những trận bom làm hư hại mấy. Tuy vậy ở một chỗ mái nhà đã bén lửa, những tấm tôn cong vêu và những ống máng nằm ngổn ngang trong bụi rậm, những bức tường đã rạn nứt, thạch cao vỡ từng mảng lớn, và toàn bộ ngôi nhà, trước đây quét một màu vàng nhạt sáng sủa vui mắt, hồi trước chiến tranh trông ra vẻ lịch sự, nay đâm ra hoàn toàn đổi lập với lịch sự, nhem nhuốc những vệt ngụy trang đen đỏ, không ra hồn cái nhà nữa. Trong buồng cầu thang tối, ở những bậc nghỉ, có những thùng đầy cát và trên tường quét sơn dầu giả đá hoa xanh, lủng lẳng những kẹp sắt to tướng dùng để chống bom cháy, những ống cứu hỏa và những thùng không. Phần lớn các cửa phòng đều móc khóa. Một số mở toang mặc sức cho những luồng gió lùa ngao du trong các căn phòng trống, thổi những mẫu giấy cháy dở và rác rưởi đủ loại bay qua các hành lang.
         
Theo thói quen, Secnôivanenkô vẫn để chìa khóa dưới tấm thảm chùi chân. Nhưng bây giờ, ổ khóa đã bị bom phá vỡ. Cánh cửa bị chẻ đôi, bám hờ vào bản lề. Chiếc thùng thư nghiêng về một bên để rơi ra mấy số báo Sự thật, tờ tạp chí Bônsêvich và một mẩu giấy ngả màu vàng, viết bằng bút chì gọt vội. Ông nhận ra ngay nét chữ to nguệch ngoạc của người cháu gái là Matriôna Têrenchiepna Pêrêpêlitxkaia, gọi tắt là Môchya1, đã đến đây trong lúc ông đi vắng. Rõ ràng là mảnh giấy nằm đấy đã khá lâu. ông cầm lên, vừa đọc vừa bước vào phòng. Môchya viết theo kiểu quen thuộc của mình, vắn tắt nói lên vấn đề chính, còn chi tiết thì bỏ qua.

        « Cháu chạy vội lại đây, định thăm chú, nhưng dĩ nhiên không được gặp chú ở nhà. Một cậu bé ở Mạc-tư- khoa tên là Pêchya Batsây, hiện đang ở nhà cháu. Mẹ con cháu đã vớt cậu ta ở dưới nước lên ; hiện giờ cậu ta bị sưng phổi, nhưng mẹ con cháu chắc cậu ta sẽ mau khỏi thôi. Nếu chú nhớ lại, thì cậu ta chính là con Piôt Vaxiliêvich Batsây, bạn thân của chúng ta hồi nhỏ; bác ấy đến Ôđetxa đúng hôm trước chiến tranh, thế là mắc nghẽn luôn ở đây, nhưng hiện giờ bác ấy đã vào bộ đội. Cháu không biết rồi sẽ giải quyết cậu bé ra sao. Hiện giờ mọi thứ đều trong tay cháu cả: thuyền, lưới, nồi, chảo của ngư trang. Thuyền, bơi chèo và buồm thì đồng chỉ chỉ huy quân sự đã trưng dựng và hiện để ở bến thuyền của ngư trang do cháu chịu trách nhiệm. Trong trường hợp phải rút lui, cháu đợi mệnh lệnh phá hủy tất cả, để những vật đó khỏi rơi vào tay bọn phát-xít. Valentin và cháu đang sống những ngày nặng nề; nó gửi lời chào chú, mấy tháng gần đây, nó lớn lên khiếp quả. Nó ra vẻ cô con gái lớn rồi. Chú khó mà nhận ra nó. Cháu chẳng có tin tức gì về Akim Petrovich và mấy thằng bé ; cháu mong rằng mấy bố con nó còn sống và chiến đấu thẳng lợi cho Tổ quốc, nhưng ở mặt trận nào thì cháu không biết.

        Thưa chú, nếu chú thu xếp được một ngày nghỉ thì xin chú tạt qua chỗ cháu một tí, vì nào ai biết được bao giờ chú cháu ta mới lại gặp nhau. Chao ôi! thời buổi mới gay go làm sao ! Chúc chú may mắn, thôi cháu phải vội đi đây.


Môchya của chú».       

        Ông nhét lá thư dĩ nhiên đã cũ ấy vào túi và mỉm cười buồn bã. ông không có gia đình riêng. Vợ ông đã chết từ lâu. Ông là con người chỉ có một lần yêu nên không lấy vợ kế. Gia đình Matriôna Têrenchiepnà Pêrêpôlitxkaia, con gái của anh ông là Têrenti Secnôivanenkô, vừa là cháu gái vừa là một trong những bạn thân thiết nhất của ông, quả là cái gia đình thực sự và duy nhất mà ông gắn bó hết lòng.

        Akim Pêrêpêlitxki, chồng Môchya, nguyên là ngư dân vùng Lanjơrông, thời kỳ chinh quyền xô-viết thì làm chủ tịch ngư trang «Pêtren », được ông có cảm tình sâu sắc và quý mến rất mực, vì ông ta là người bônsêvich lâu năm, nhưng cũng còn vì là người vui tính, thông minh và khỏe mạnh, đã phục vụ trong quân đội một thời gian, dưới quyền chỉ huy của Grigôri Ivanovich Kôlôpxki, sau đó đã chấn chỉnh một cơ sở doanh nghiệp quan trọng và phức tạp là cái ngư trang, một trong số những ngư trang đầu tiên ở một miền duyên hải Ôđetxa. Secnôivanenkô rất yêu mấy đứa con nhà Pêrêpêlitxki: hai cậu con đáng mặt thanh niên, hiện đang cùng bố phục vụ trong Hồng quân và nhất là cô con gái, Valentin — gọi thế để nhớ tới Valia, người vợ đã khuất của ông — mà ông rất sung sướng phần nào kiêu hãnh được thấy ở nó cái dòng máu «Secnôivanenkô », thừa hưởng của cụ cố Têrenti.

-------------------------
        1. Cháu ruột của Secnôivanenkô, gọi Secnôivanenkô bằng chú. Xem Cánh buồm trắng.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Bảy, 2020, 05:46:38 am
         
        Trong một lúc, ông âu yếm hình dung ra Môchya, Valentin và tất cả mấy bố con Pêrêpêlitxki, rồi lại mỉm cười buồn bã. Còn đoạn nói đến tên cậu bé ốm, Pêchya Batsây, con trai của Piôt Vaxiliêvich, bạn thân hồi nhỏ của ông, được vớt ở dưới nước lên, thì tuy ông có chú ý nhưng không làm ông mảy may kinh ngạc.

        Lúc ấy trời đã sắp tối, ông cần phải khẩn trương, ông vào phòng, mở ngăn kéo bàn viết, lục những giầy má cần hủy đi. ông xẻ giấy, ném lên giường để mang vào đốt trong lò nhà bếp. ông làm nhanh, gần như máy, thỉnh thoảng lại đưa mắt nhìn căn phòng: cái giường mạ kền phủ một tấm chăn may chần bụi bám đầy, với tấm khăn trải giường ghim chung quanh, cái tủ sách kiểu Thụy-điển với một mô hình thuyền cổ đặt trên cái giá — tặng phẩm của học sinh trường hàng hải là nơi ông đã làm bí thư đảng ủy trong một thời gian — hai ghế dựa và một ghế bành, một bàn giấy với một cuốn lịch, một đi-văng có lưng dựa cao, thẳng, và chỗ tì tay xê địch được, một cửa sổ lớn mở về phía tây, một bếp điện mạ kền đặt trên thành cửa số, một cái đĩa đựng miếng bánh mì trắng khô và trên bức tường sơn màu xám nhạt, có tấm bản đồ lớn vùng Ôđetxa, với những đầm nước mặn màu xanh. Tấm bản đồ mang nhiều nét ghi chú màu đỏ, đó là kết quả của nhiều chuyến đi của ông trong vùng. Trên bàn đêm, gần cái đồng hồ báo thức, trong chiếc khung đẹp to bản, có một tấm ảnh nhỏ (thường gọi là kiểu ảnh chụp nhanh) chụp một cô gái rất trẻ, gần như một thiếu nữ với chiếc áo da vắt vai, chiếc mũ vải Kubăng trắng đính ngôi sao ; một sắc thái tươi mát và ngây thơ trong đôi mắt vui vẻ, đầy ánh sáng: đó là người vợ quả cố của Secnôivanenkô, một bức ảnh của thời kỳ gặp nhau lần đầu.

        Secnôivanenkô vơ nhanh đống giấy má cần hủy rồi mang cả vào bếp, chất vào lò và châm lửa. Trong lúc nó cháy, Secnôivanenkô trở về buồng, bọc vào một tấm khăn những đồ vật ông không muốn hủy và đã định chôn trong căn phòng có thùng đun nước: mấy cuốn sách, những quyển tự vị, những tài liệu tham khảo và một tập bản thảo khá đồ sộ, chưa hoàn thành mà ông đã dày công làm trong mấy năm gần đây: « Đóng góp vào lịch sử cuộc can thiệp Anh — Pháp năm 1919 — 1920 vào miền Nam ».

        Còn lại một gói nhỏ sách và giấy má, bức ảnh Lê-nin. Những cái này, ông quyết định mang theo xuống hầm đá. Trong số sách có cuốn Tarax Bunba của Gôgôn, cuốn điều lệ Đảng, tài liệu Đại hội Đảng lần thứ 18 và một quyên vở đặc biệt ghi những đoạn trích tác phẩm Lênin về tổ chức hoạt động bí mật của đảng Bônsêvich : cuốn này, Secnôivanenkô đã bắt đầu làm ngay sau ngày ba tháng Bảy để nghiên cứu khả năng rút vào hoạt động bí mật.

        Ông nhét bức ảnh, sách và quyển vở vào túi trong, lột tấm bản đồ khu vực ra khỏi tường rồi nhét vào cái túi mặt nạ phòng độc. Đoạn ông gỡ chiếc ảnh vợ ra khỏi khung và đọc dòng chữ ghi mặt sau : « Tặng anh Gayrick Seenôivanenkô thân mến. Mãi mãi của anh. Valia ». ông hôn tấm ảnh và để vào ví.

        Ông còn đứng ngắm trước cửa sổ mở rộng một lúc lâu nữa. Phía xa, sau những vườn cây trụi lá, dưới những đám mây đen sũng nước, hiện ra cái quầng màu đỏ bẩn của mặt trời lặn, trên đó nổi lên bóng đen thẫm của nhà thờ Bôtanich với một đàn quạ bay lên, bay xuống như một tấm lưới trên cái mái tròn nhà thờ. Không còn nghe thấy tiếng đại bác nữa. Một cảnh yên lặng lạ lùng bao trùm thành phố. Nhưng trong lúc ấy, từ hỏa tuyến thỉnh thoảng vẫn vọng về những loạt súng trường khá rền và tiếng súng máy.

        Secnôivanenkô xuống cầu thang thật nhanh, vào phòng đốt lò bỏ hoang; dưới ánh đèn bấm, ông giấu những cuốn sách và giấy tờ bọc trong tấm khăn vào cạnh tường, rồi đổ than xỉ lên; ông ngồi vào xe và ra lệnh đi thật nhanh đến biệt thự.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Bảy, 2020, 05:47:10 am

       
35

        Đêm xuống dần, đen tối và đầy lo âu, với tất cả tình trạng hỗn loạn, lặng lẽ của một thành phố bị đạo quân rút lui bỏ lại.

        Secnôivanenkô, cùng đi với Kôletnisuc, đã dành được thì giờ đến nhà cầm đồ của thành phố. Ở đây, trên những tấm ván và bàn, trong bóng tối, dưới ánh đèn bấm và ảnh phản chiếu của những đám cháy nhấp nhoáng trên cửa sổ gôtich, những ấm đun nước, máy khâu, kèn hát, bát đĩa, đồng hồ treo tường với quả lắc run rẫy rền rĩ như có một trái tim đập, cùng vô số đồ đạc thông dụng, dường như ở nhà anh thì đẹp lắm và không thể thay thế được, nhưng ở nhà cầm đồ và ở chợ giời thì nom thảm hại như những của tập tàng chằng ích gì cho ai, tất cả những đồ vật ấy lóe sáng và rung lên khi có tiếng nổ; ông đã kịp lọc ra những vật có thể hợp với một cửa hàng đồ cũ ; sau cùng ông kiểm tra lại một lần cuối sự chuẩn bị về mặt vật liệu; ghi vào sổ tay số lượng súng trường, đạn, lựu đạn, súng lục, những dụng cụ linh tinh, thuốc nổ, và trong bóng tối mỗi lúc một dày, ông ra lệnh cho Xviatôxlap đánh xe ra khỏi thành phố, đến công viên Hatji-Bây

        Đúng lúc ấy, tình hình diễn ra như sau. Những lực lượng chính của quân đoàn Duyên hải đã rút toàn bộ trong một đêm, chính cái đêm 15 rạng ngày 16 tháng Mười mà Secnôivanenkô đi đến làng Uxatòvô bẵng con đường Hatji-Bây. Những đơn vị tiền tiêu và cơ quan đoàn bộ đã rút khỏi Ôđetxa vài ngày trước đó bằng tàu vận tải. Cuộc hành quân này do tầm quan trọng và sự thực hiện thắng lọi của nó, sẽ được coi là một trong những mẫu mực của nghệ thuật chiến lược về việc rút những khối quân đội to lớn, về sự tách ra khỏi quân địch giữa lúc ta và địch đang dính nhau và đảnh nhau quyết liệt trong một thời gian dài, và lại đúng vào cái hôm trước của một cuộc tấn công vào Ôđetxa mà quân địch có thể mở đầu vào bất kỳ giờ nào.

        Thế là vào buổi sáng ngày 15 tháng Mười, tất cả những cơ quan đoàn bộ và các đội vận tống đang ở vị trí phòng ngự trên mặt trận đều được điều về địa giới thành phố, thật gần những địa điểm lên tàu và xếp hàng. Bên những đơn vị chiến đấu chỉ còn những bộ phận cấp dưỡng. Buổi trưa, trong khi Secnôivanenkô hoàn thành mọi công tác chuẩn bị cho việc xuống hầm thì tất cả các ban tham mưu trung đoàn và sư đoàn đều được chuyển về cảng cùng toàn bộ hành lý để lên tàu; tại chỗ, chỉ còn lại những bộ phận tác chiến thuộc các ban tham mưu đơn vị cùng những phương tiện liên lạc, và các ban chỉ huy các đơn vị ấy, có đủ những kế hoạch rút lui khỏi mặt trận và lên tàu. Việc rút toàn thể quân đội ra khỏi mặt trận được tiến hành nhất loạt vào lúc chập tối, sau khi ánh hoàng hôn đến sớm của mùa thu vừa tắt, trên toàn bộ phạm vi mặt trận, theo một hiệu lệnh đã qui định.

        Tất cả đã được trù liệu để trong lúc xẩm tối quân địch không thể nhận thấy và theo dõi được việc di chuyển cả cái khối người đồ sộ từ chiến hào về tuyến sau, nhắm rút thật nhanh bộ binh ra khỏi chiến hào và giúp cho việc tách khỏi quân địch được bí mật và đột ngột. Để theo dõi hành động địch sau khi bộ binh rút khỏi chiến hào, để bảo vệ cho cuộc rút lui và thanh toán những toán sục sạo của địch có thể đuổi theo quân ta trong trường hợp chúng phát hiện ra việc bộ binh ta rút, và để báo động cho những đơn vị rút lui biết tất cả mọi nguy cơ, nhiều đội hậu vệ đã được tổ chức, có nhiệm vụ ở lại chiến hào cho đến khi bộ binh lên tàu hết.

        Secnôivanenkô đến công viên Hatji-Bây trước khi những đội quân đổ ra con đường rút lui chinh, đường Hatji-Bây. Do đó, ông còn đủ thì giờ đến thăm ban tác chiến của bộ tham mưu phân khu Tây, nghe ngóng tình hình, rồi đi xen vào cái khối quân đội đang rời khỏi tiền tuyến, đưa Ban lãnh đạo hoạt động bí mật của ông cùng với toàn bộ đồ lề xuống hầm đá Uxatôvô mà không bị ai trông thấy. Secnôivanenkô lệnh cho các xe đỗ dọc bức tường công viên Hatji-Bây và đợi ở đó ; còn ông, ông đi đến làng Uxatôvô.

        Ở thành phố, người ta có cảm giác lo âu bao nhiêu , thì ở đây, nơi tuyến đầu của cuộc phòng thủ, người ta càng có cảm giác yên lặng bấy nhiêu. Một sự yên lặng lạ lùng, một vẻ bình yên giả tạo trong cái giờ âm thầm và chết lịm, trước lúc rút quân bí mật. Đẳng xa, trên hỏa tuyến, thỉnh thoảng những phát pháo sáng bay lên, thưa thớt và như luyến tiếc.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Bảy, 2020, 05:48:06 am

       
36

        Thỉnh thoảng soi ngọn đèn bấm nhỏ về phía trước mặt, Secnôivanenkô thoạt đầu đi nửa cây số trên con đường mặt trận này, rầm rập xe cộ, lỗ chỗ những ổ gà sâu và khô rắn, vượt qua những bức tường đá âm thầm, những ngôi nhà đá nhỏ, tối om, rồi rẽ sang một bên và xuống một khe đá đầy ngưu bàng khô. Gần đâu đấy, có một lối xuống hầm đá. Secnôivanenkô hước dưới lòng khe rất thận trọng và thong thả, chăm chú thăm dò bóng tối.

        Secnôivanenkô đưa đèn soi hên sườn khe. Ánh sáng lướt nhanh như một vệt nắng nhỏ rồi kéo dài ra phía trước, làm nổi bật từ bóng tối những góc đá vôi lởm chỏm, những bụi cây khô um tùm và lốm đốm lớp lông tơ trắng của những quả chín. « Chắc là đây thôi». Sec- nôivanenkô nghĩ bụng. Ổng tắt ngọn đèn nhỏ và dừng lại. Ông thấy hình như ở trước mặt, vồ phía bên, có một tia sáng yếu ớt hắt từ lòng đất ra. Cũng không phải ánh sáng nữa, mà chỉ là một ánh phản chiếu lờ mờ, rất khó nhận ra. Secnôivanenkô tưởng chừng nghe thấy những tiếng nói rất ấm, rất khẽ, những hồi âm từ lòng đất vọng ra. Rồi ngay lúc ấy, một ánh đèn điện sáng quắc chiếu xiên vào người ông, và ông nhìn thấy ngay trước mũi mình một nòng súng tiêu liên.

        — Đứng lại!

        — Đứng rồi.

        — Mật hiệu?

        — Mạc-tư-khoa. — Đáp?

        — Ruồi.

        — Đúng.

        Ánh đèn lướt trên người Secnôivanenkô. Không hạ khẩu tiêu liên đang chĩa thằng vào mặt Secnôivanenkô, người lính gác tiếp tực xem xét với vẻ ngờ vực con người nhỏ nhắn mặc thường phục đang đứng trước mặt, tay đút túi, dáng dấp khả nghi. Dù biết mật hiệu, người kia vẫn không làm cho anh lính gác tin được. Mà lại chọc tức anh bằng cái dáng dấp nghênh ngang và «hết sức thường dân», bằng cái vẻ bình tĩnh và chăm chú của đôi mắt nhấp nháy khó chịu khi ánh sáng của ngọn đèn điện rọi vào.

        — Ô hay, tắt đèn đi chứ, — Secnôivanenkô vừa nói vừa cau lông mày.

        — Bỏ tay ra khỏi túi, — anh lính thô lỗ quát lên.

        Secnôivanenkô mỉm cười và rút hai bàn tay ra khỏi túi. Điều đó càng làm anh lính bực:

        — Anh cần gì ở đây?

        — Ban tác chiến bộ tham mưu phân khu Tây.

        — Có việc gì?

        — Chẳng việc này thì việc khác.

        — Giấy tờ đâu?

        — Được — Secnôivanenkô nói — đừng quát lên thế, dẫn tôi đến chỉ huy sở.

        — Tối hỏi anh giấy tờ đâu?

        — Giấy tờ của tỏi không phải là việc của anh.

        Đến đây anh lính gác mất hết kiên nhẫn. Anh điên tiết, giậm chân, không tìm ra được lời lẽ.

        — Nằm xuống — bất thình lình anh quát lên, giọng nghiêm khắc.

        — Thôi mà, thôi mà, đừng cáu lên thế! —Secnôivanenkô nói hòa nhã, buồn cười vì cái giọng gà sống non choẹt, láu táu của anh ta với kiểu phát âm « ô » như vậy.

        Nhưng hiển nhiên anh lính gác là một anh bạn bất nhã, tai ác.

        — Nằm xuống, không nói nhiều! — anh ta quát lớn, dư tợn hơn nữa — Có nghe tôi nói gì không? Liệu hồn, không lại được nếm mùi tiểu liên.

        Secnôivanenkô biết không phải chuyện đùa. Ông nằm úp mặt xuống đất, vừa bực vừa phục cái anh chàng lỏi cứng cổ cầm tiểu liên này.

        — Được thôi, rồi gì nữa? — ông nói khàn khàn trong lòng đất.

        — Cứ nằm đấy, và nói ít chứ, — giọng nghiêm khắc của anh chàng lỏi cứng cổ cất lên phía trên ông.

        « Quỷ bắt mày đi» Secnôivanenkô nghĩ bụng, rồi ông khoái chả duỗi thẳng hai chân. Đã bốn ngày nay, ông chưa được nằm, và bây giờ ông cảm thấy rất thú vị được nằm duỗi dài, yên tĩnh. Nhưng cái thú ấy không được lâu. Bằng cách nào đó, có lẽ nhờ ve vẩy ngọn đèn, anh lính gác đã gọi được người đến trợ lực, vì Secnôivanenkô nghe thấy những bước chân tới gần và một tiếng nói khác phía trên ông.

        — Cái gì thế?

        — Tôi bắt giữ một tên tại đây. Hắn nói đúng mật hiệu nhưng không xuất trình giấy tờ. Hắn hỏi ban tác chiến.

        — Dẫn đi!

        Anh lính gác ra lệnh cho Secnôivanenkô đứng dậy và tiến bước. Nhưng ông vừa dò dẫm được mươi bước thì anh lính gác ra lệnh cho ông rẽ sang bên phải. Secnôivanenkô không biết rẽ chỗ nào vì chung quanh tối như hũ nút. Nhưng anh lính gác vỗ vào chỗ giữa hai xương bả vai của ông và nói:

        — Đứng lại làm gì? Đi đi!

        Lúc ấy Secnôivanenkô nhìn thấy giữa đảm có khô một kẽ hở lờ mờ trong tảng đá. ông nghiêng người lách vào. Dưới gót chân ông, lạo xạo. Bám vào thành đá để khỏi ngã, Secnôivanenkô nhảy từ mô đá này sang mô đá khác xuống dốc, rồi đột nhiên thấy mình đứng trong một căn phòng dưới đất, có một ngọn đèn điện nhỏ của chỉ huy sở chiếu sáng, ngọn đèn treo phía trên bàn bằng một sợi dây nhựa trong suốt.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2020, 06:02:51 am

37
           

        Trên mặt trần đá thấp dốc nghiêng, thấy có một chữ thập đen, có lẽ do một bác thợ đá ngoan đạo nào đó vẽ bằng ngọn nến cách đây đến tám chục năm chứ không ít. Một lần không khí âm âm và tù hãm như bị ngưng kết vĩnh viễn, một thứ không khí « nghìn xưa » bao quanh Secnôivanenkô. Trong hang, có hai chiếc bàn ghép thô sơ, trên để bản đồ và bút chì, trước bàn có bốn sĩ quan — hai thiếu tá, một đại úy và một chính trị viên tiểu đoàn — ngồi trên thùng gỗ. Viên thiếu tá mặc va-rơ khuyết đó đưa mắt liếc Secnôivanenkô một cái nhanh nhưng có vẻ chú ý, rồi vừa ra lệnh cho ông xuất trình giấy tờ vừa cuộn tấm bản đồ trên bàn lại, Tay phải anh ta đeo thõng trong một dải băng màu ngụy trang cắt ở một tấm vải lều ra và đính vào ngực áo bằng kim băng. Viên thiếu tá kia mặc măng-tô khuyết đen và viên đại úy mặc va-rơ khuyết đó, cả hai đều ngồi ở bàn phía sau; sau khi chăm chú nhìn người mới đến, họ lại tiếp tục nghiên cứu tấm bản đồ trải trên bàn. Nhưng người chính trị viên tiểu đoàn ngồi ở bàn phía trước không ngừng quan sát con người đến quấy rầy họ.

        Secnôivanenkô khoan thai cởi áo ba-đờ-xuy, rút ví ở túi trong, và tìm đưa cho viên thiếu tá một tờ giấy gập tư. Viên thiếu tá chỉ dùng tay trải, đặt tờ giấy xuống bàn đánh đẹt một cái, giở ra, vuốt thẳng, rồi dọc một lần, hai lần, sau đó đưa cặp mắt xanh lồi mỏi mệt nhìn nhanh Secnôivanenkô nhưng có vẻ chú ý. Viên thiếu tá hỏi:

        — Đồng chí Secnôivanenkô? Chính đồng chí à?

        — Chính tôi.

         Một nụ cười kín đáo đượm cả vẻ tò mò nữa thoáng hiện trên bộ mặt gày tọp của viên thiếu tá, với đôi má xanh vừa cạo và bộ ria thẫm hoa râm. Nhưng liền đó, mặt trở lại vẻ lạnh lùng ban đầu, anh nói:

        — Tôi cũng đã được báo tin. Đồng chí chịu khó chờ một phút. Ximônôp, — anh hơi nghiêng người sang cạnh bàn đối diện — Cho mình liên lạc với thủ trưởng.

        Điện thoại viên trẻ măng đội mũ nồi thủy binh, ngoài mặc áo choàng bông, trong mặc áo lót kẻ sọc, ngồi xồm dựa vào tường đá vôi, trên tường lủng lẳng các loại máy điện thoại để trong bao da; anh quay nhanh máy và bắt đầu thì thào vào ống nói:

        — A-lô ! A-lô ! « Cun cút! » « Cun cút » đâu ! Nghe rõ không? « Dim » đây. Tôi hỏi « Rùa »... Cám ơn A-lô. Ai nghe đấy? « Rùa » đấy à? «Dím» đây. Cho chúng tôi ông chú nhất.

        Điện thoại viên áp ống nghe vào tai viên thiếu lá và nói to:

        — Báo cáo đồng chí thiếu tá, lệnh đã chấp hành.

        Viên thiếu tá kẹp ống nghe giũa vai và má, dùng bàn tay lành đặt nó lại đúng chỗ rồi nói:

        — Chỉ huy phó báo cáo. Đồng chí đã ra lệnh báo cáo với đồng chí khi có người đến... — Thiếu tá ngập ngừng một chút để tìm một từ thích hợp... — khi có người có tính cách đặc biệt đến... ông ấy hiện có mặt ở chỗ tôi... vâng, ngay cạnh tôi... T00i đã kiêm tra. Số mười bảy, không, tám, phẩy, mười bốn, — anh vừa nói vừa liếc xuống mảnh giấy nhỏ — Đúng. Xin đồng chí cho chỉ thị... Rõ. Tôi truyền đạt ngay tức khắc.

        Thiếu tá vẫy Secnôivanénkô bằng bàn tay lành và đưa mắt ra hiệu cho ông cầm ống nghe.

        — Đồng chí cầm lấy, ở trên nói chuyện với đồng chí ngay bây giờ.

        Không hiểu ai sắp nói với mình, Secnôivanenkô cam ống nghe, vừa ngạc nhiên vừa hài lòng về trật tự quân sự nghiêm túc chi phối mọi cái ở đây mặc dù đang giữa lúc gay go. Ông thồi vào ống và nói:

        — Tôi nghe đây.

        — Chào đồng chí — giọng nói ống nghe thấy là một giọng không to mà khoan thai, với những nốt trầm ù ù, quen thuộc của các vị tướng, của một người có tuổi và tự tin.

        — Tôi nói chuyên với ai đây? Secnôivanenkô nói.

        — Với ông chú nhất, — ông nghe tiếng đáp.

        — Xin kính chào đồng chí — Secnôivanenkô nói.

        — Đợi nhé, ở đây có một người anh em muốn nói chuyện với đồng chí đấy — Trong tiếng nói xa xăm ấy, hiện lên giọng vui vẻ, âu yếm như của một người cha.

        — Chào Gayrin Xêmiônôvich, một lần nữa chào anh! Công việc đến đâu rồi? Xuống cả rồi chứ?

        — Không, chúng tôi còn ở trên.

        — Vậy mau lên thôi. Xin anh lưu ý đến vấn đề thời gian còn lại hết sức eo hẹp. Anh có hiểu thế nghĩa là gì không ?

        — Tôi hiểu.

        — Một lần nữa chúc anh mọi sự thắng lợi.

        — Mọi sự tuyệt mỹ như người ta thường nói.

        — Đúng thế đấy. Tuyệt mỹ. Hãy duy trì một kỷ luật nghiêm túc trong bộ phận của anh. Đó là điều chủ yếu.

        — Rõ.

        — Vậy xin siết thật chặt tay anh. Tuyệt mỹ nhé. Tôi ôm hôn anh và tất cả những con dím của anh. — Đồng chí bí thư cười. — Không loại trừ khả năng các anh sẽ gặp nhiều khó khăn hơn là chúng tôi dự đoán đấy nhẻ.

        — Chúng tôi sẵn sàng, — Secnôivanenkô nói — Chúc đồng chí lên đường mạnh giỏi. Mong sớm gặp nhau.

        — Tôi không hứa với anh là sẽ sớm đâu.

        Secnôivanenkô còn đứng lặng im một lúc, ông nghe bên tai. Ông vẫn lắng tai, nhưng không nghe thấy gì nữa.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2020, 06:07:31 am

        Cho đến lúc ấy, Secnôivanenkô vẫn khá tự tin, nhưng sau cuộc nói chuyện điện thoại với đồng chí bí thư thứ nhất, ông cảm thấy bừng bừng một nguồn nghị lực, có thể  nói là nguồn vui nữa nếu chữ vui không chối tai trong những ngày nặng nề này. Ông hiểu rằng mối liên hệ trực tiếp và thường xuyên với Đảng không hề bị gián đoạn, nếu không, ông không thể hình dung cuộc sống sẽ ra sao. Trái lại, mối liên hệ ấy lại được tăng cường. Nó bao trùm nhiều viễn cảnh khác. Đảng vô hình, ân cần theo dõi ông từng bước, sẵn sàng giúp đỡ ông, hướng dẫn ông bất kỳ lúc nào.

        Đồng chí bí thư đã nói: « Tôi không hứa với anh là sẽ sớm đâu ». Câu nói có vẻ bi quan. Nhưng trí tuệ sắc sảo và linh hoạt của Secnôivanenkô tìm thấy ở đấy điều chủ yếu : nó như một lời hẹn gặp nhau một ngày xa xôi nhưng chắc chắn. Đồng chí bí thư thứ nhất không điện từ khu ủy mà từ bộ tham mưu của đơn vị phòng thủ. Secnôivanenkô kết luận là khu ủy đã rút, tất cả cán bộ lãnh đạo đã đi theo quân đội. Có lẽ họ đang ở cảng hoặc có thể ở trên một tàu quân sự. Một khu ủy bí mật có thể đã được thành lập và bước vào hoạt động ngay từ lúc này, tổ chức trong một khu vực mới, hệt như việc Secnôivanenkô đang làm. Ông tin chắc như vậy. Và biết bao nhiêu đảng ủy nhỏ của khu phố, những nhóm đặc biệt, những người yêu nước lẻ tẻ, những đội du kích, ngay giờ phút này đang sửa soạn rút vào bí mật? Nhiều biết bao nhiêu trong toàn bộ đất đai bị quân thù chiếm đóng ! Theo đúng qui tắc nghiêm ngặt của hoạt động bí mật, họ không được phép biết gì về nhau. Họ chỉ còn cách phỏng đoán. Các nhóm đều phân tán. Mỗi nhóm được nối liền bằng một sợi dây mỏng manh và những sợi dây ấy đều qui về một mối, ở đó nguồn nghị lực vô tận của một ý chí duy nhất của Đảng tỏa ra tứ phía như một dòng điện.

        Viên thiếu tá cắt đứt dòng suy tưởng của Secnôivanenkô. Anh ta nhìn vội đồng hồ và nói:

        — Tòi được lệnh hết sức giúp đỡ đồng chí. Chúng ta không được chậm trễ. Đống chí thấy đấy, hầu như không còn ai ở sở chỉ huy của tôi nữa. Trong hai giờ rưỡi nữa, ở đây sẽ không còn lại một người lính nào. Chúng tôi là những người cuối cùng. Đồng chi lưu ý cho.

        — Vâng, — Secnôivanenkô nói, nhíu lông mày lại —  Vâng, vậy thì... vậy thì... thành phố...

        Ông thấy rất khó khăn khi phải nói lên những tiếng ấy. Lưỡi ông như ríu lại. Cổ hòng ông khô bỏng. Má ông lạnh toát. Từ lâu, Secnôivanenkô đã sẵn sàng chờ đón chuyện đó. Thế mà bây giờ chuyện đó tới, ông lại thấy rất khó làm chủ được trái tim mình. Trái tim ấy đau khổ, nó rỉ máu, nó không đau theo nghĩa bóng mà đau thực sự, y như một cảnh tay bị thương vậy. Nó co bóp, bốc cháy, rên rỉ. Secnôivanenkô càng nhíu lông mày hơn.

        — Vậy thì...

        Giọng nghẹn lại. Nhưng viên thiếu tá nhìn thẳng vào mắt ông và nhắc lại nghiêm trang, bình tĩnh.

        — Trong hai giờ hai mươi bảy phút nữa, ở đây sẽ không còn lại một chiến sĩ Hòng quân nào. Chúng ta không được chậm trễ. Đồng chí để vật liệu ở đâu? Ở chân tường phía tây bắc công viên Hatji-Bây phải không? Vậy không cần thiết đánh xe đến tận đây. Mang hành lý bằng tay tốt hơn. Đồng chí làm được chứ? Dù sao tôi cũng giúp đồng chí vài chiến sĩ. Một người sẽ đi cùng đồng chí để họ khỏi chốc chốc lại ngăn chặn đồng chí. Bây giờ là lúc thuận tiện nhất, lúc khởi hành của những đơn vị tiền tiêu chiến đấu và bộ phận chuyên môn còn lại. Các đồng chí sẽ lẫn vào cái khối thủy thủ và bộ đội đi lại.

        — Kế hoạch của tôi là như vậy.

        — Đúng như điều tôi nói. Còn về tình hình, quang cảnh hiện thời thì như thế này... — Viên thiếu tá lấy khuỷu tay vuốt tẩm bản đồ cũ đầy những dấu sặc sỡ —  mũi tên, con số, đường gạch, chữ, đường cong nhỏ và tròn — rồi đặt cái địa bàn lấp lánh lên tấm bản đò, anh xoay tấm bản đồ một cách thành thạo theo hướng Bắc Nam.

        — Đồng chí lại đây.

        Secnôivanenkô đến bên bàn. Một lần nữa, viên thiếu tá lại nhìn cái thân hình nhỏ bé, và bộ thường phục của ông; mặc dù có đôi bốt và sợi thắt lưng da đeo khẩu súng lục bên ngoài áo ba-đờxuy hải ly, chúng vẫn tạo cho ông cái vẻ thái bình quá.

        — Xin lỗi... đồng chí đọc được bản đồ chứ?

        — Cũng tàm tạm,—Secnôivanenkô nói vội vã và đeo kính váo.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2020, 06:08:26 am

       
38

        Đúng lúc ấy, nhiều người vác vào khe hầm những thùng gỗ, va-li, thúng, gói lớn, gói nhỏ, thùng tô-nô, vũ khí, một cái hòm v.v..., họ để tạm tất cả những thứ đó dọc các tường của cái hang đầu tiên với ý định sau đó chuyển vào những hang xa hơn... Đúng lúc ấy, những chiến sĩ thuộc sở chỉ huy nhanh gọn khuân ra khỏi hang những dụng cụ của Ban tham mưu, họ cuộn dây, tháo khỏi tường những hộp điện thoại bằng da móc ở những cái cọc. Người đi, kẻ ở. Chẳng khác gì một cuộc đổi gác.

        Sau cùng, toàn bộ đồ lề của Ban tham mưu đã được dọn đi. Chỉ còn lại một bóng điện nhỏ giữa hang, trên chỗ trước đây có cái bàn của viên thiếu tá. Một người liên lạc hiện ra, bắt đầu tháo sợi dây điện trong suốt.

        — Các đồng .chí có thể để lại điện cho chúng tôi được không ? — Secnôivanenkô hỏi.

        — Đồ quân dụng.—Viên thiếu tá nhún vai nhận xét. Anh đã mặc áo choàng, nai nịt đầy đủ, chiếc mũ cát- két lưỡi trai thẳng đứng, in bóng thành một đường thẳng phía trên mặt, cái bóng giống như chiếc mặt nạ đen. Cánh tay bị thương phải khó nhọc lắm mới xỏ vào được tay áo choàng để áp trước ngực và về mặt nào đó, nó tô đậm sự nghiêm túc và tầm quan trọng của cái giờ phút đang bắt đầu.

        — Dù sao các anh cũng có thể để lại cho chúng tôi một chút ánh sáng chứ. Các anh thì thiếu gì, mà chúng tỏi lại rất cần — Secnôivanenkô nói.

        — Chúng tôi được lệnh phải mang đi tất cả, tất cả, cho đến sợi dây cuối cùng — Nói những tiếng ấy viên thiếu tá càng trở nên nghiêm nghị. Một vết nhăn có cái vẻ cương quyết không gì lay chuyển nổi vắt ngang phía trên cặp lông mày.

        — Đồng chí nói đúng — Secnôivanenkô trầm ngâm nói. Ông hiểu rõ đây không phải chuyện cái bình điện hay cái bóng đèn mà là một vấn đề nguyên tắc. Ta rút khỏi thành phố theo lệnh bộ chỉ huy chứ không phải vì quân địch đã đánh thắng. Đối với mỗi cán bộ, mỗi chiến sĩ, việc rút quân hoàn toàn, không thiệt một người, không để lại dù một cái đanh nhỏ của Nhà nước, là một vấn đề danh dự.

        — Nhưng tôi nghĩ thế nào các đồng chí chả có ánh sáng? — Viên thiếu tá vừa hỏi vừa bắt tay Secnôivanenkô bằng bàn tay trái của anh, — đồng chí nhớ cho rằng ở đây mà thiếu ánh sáng là chết đấy.

        — Ở trên kia, người ta soi sáng cho tôi rồi, —Seenô- ivánenkô có pha chút châm biếm. — Chúng tôi có ánh sảng.

        Và như để xác nhận lời ông nói, ở chỗ trước kia là cái bóng điện, nay xuất hiện một chiếc đèn bão đã châm lửa và treo lên, do Liônia Ximban mang đến.

        — Một kỳ công của thế kỷ mười chín, một thành tựu kỹ thuật tuyệt vời gần đến mức quái dị, người bạn trung thành của thủy thủ và những hoạt động bí mật. —  ông vừa nói vừa vặn thấp cái bấc xuống.

        Lúc này, ngoài bộ phận của Secnôivanenkô, trong hang chỉ còn viên thiếu tá.

        — Thôi. Chúng tôi xin từ biệt.

        — Cũng đành vậy — Secnôivanenkô mỉm cười.

        — Thế thì...

        Viên thiếu tá ngần ngừ một chút, không biết phải làm gì bây giờ. Anh nhìn đồng hồ, đi một bước về phía cửa hang rồi bất thình lình quay lại, đến bên Secnôivanenkô và bỏ mũ cát-két ra. Hai người ôm hôn nhau ba lần. Sau đó viên thiếu tá đầu trần ôm hôn những người có mặt, mỗi người ba lần. Đến lượt Raitxa Kôletnisuc và Liđia Anghêliđi thì viên thiếu tá hơi ngượng, định hôn tay họ. Nhưng Raitxa Lvôpna, với vẻ bẽn lẽn hơi quê mùa, giật bàn tay to của mình lại, rồi ôm anh hôn ba lần lên bộ ria nhọn hoắt. Liđia Ivanôpna cũng cương quyết ôm hôn anh ba lần, mặc dù khi đó mặt chị nóng bỏng lên.

        Viên thiếu tá đội mũ và lần cuối cùng, đưa tay lên vành mũ. Thế là anh đi khuất. Ở chỗ khe nứt anh lách ra, một lát sau, những hòn đá nhỏ vẫn còn lăn và những suối bụi khô vẫn chảy xuống. Cuối cùng, hoàn toàn yên lặng. Mọi người cứ ngồi ngây ra ở ngay chỗ viên thiếu tá từ biệt họ.

        Người đầu tiên đứng dậy là Xviatôxlap. Từ lúc nãy, anh đã có vẻ băn khoăn như có điều gì muốn hỏi người chỉ huy của mình, nhưng vì chưa có dịp thuận tiện nên đành yên lặng theo cách xử sự của một chiến sĩ có kỷ luật. Anh đi đi lại lại trước mặt Secnôivanenkô, khi xách cái thùng khi xách cái túi, có lúc anh đã dừng lại và nhìn vào mặt ông để ông chú ý. Nhưng Secnôivanenkô đang mải miết với việc xếp đặt địa điểm và giải những con tính ông ghi với mẩu bút chì nhỏ trên sổ tay nên không đế ý đến anh. Giờ là lúc quyết định phải nắm vững tình hình ngay, không được chậm trễ. Hoặc ở. Hoặc đi. Nếu phải đi, thì càng sớm càng tốt; bộ đội đã lên tàu vận tải cả rồi, và chính lúc này, những đơn vị bộ đội cuối cùng và đội hậu vệ đang bí mật rút khỏi chiến hào.

        — Đồng chí bí thư, — Xviatôxlap nói bằng giọng quả quyết — Cho phép tôi hỏi đồng chí.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2020, 06:08:54 am

        Lúc ấy Secnỏivanenkô mới nhớ đến người lái xe của mình. Xviatôxlap đứng nghiêm trước mặt ông, bụng thót lại, nét mặt căng thẳng, đôi mắt long lanh. Cái bóng mắt cáo của ngọn đèn bão lướt trên tấm thân thon thon của anh. Cả người anh hơi chúi về phía trước như sẵn sàng bay vụt lên theo hiệu lệnh đầu tiên của người chỉ huy. Secnôivanenkô hiểu ngay tâm trạng chàng trai đã trở nên rất đáng mến, và rất thân thiết nữa, đối với ông trong thời gian gần đây. Vấn đề của Xviatôxlap ông coi là đã được giải quyết, ông đã quá quen thuộc với cách giải quyết ấy nên quên cả nói với Xviatôxlap. Ông cho rằng chuyện ấy tất nhiên phải như vậy. Thế mà Xviatôxlap đang đứng kia, đọi ông nói lên quyết định của ông.

        — Tôi chưa nói gì với cậu à? Lạ nhỉ. Tôi quên khuấy mất đi đấy. Thế thì... tôi rút cậu ra khỏi bộ đội đấy. Cậu ở lại với tôi, bằng lòng chứ?

        Xviatôxlap hít mạnh một hơi. Ngực anh phòng lên. Đôi mắt long lanh. Anh định trả lời thật bình tĩnh nhưng lai nói ngắc ngứ như một chú bé.

        — À ra thế! — Anh nói giọng hơi khàn khàn, rồi lấy lại hơi — Đòng chí bí thư, đồng chí hãy tin rằng... tôi sẽ xứng đáng...

        — Thôi được, đừng bốc — Secnôivanenkô mỉm cười nói. — Hãy hành động đi — ông nói thêm, nhấn mạnh một cách vô cùng thích thú vào cái từ quyết liệt, mà gần đây, trong tất cả mọi trường hợp, phần đông người Xô-viết luôn nhắc đến, với tinh thần sẵn sàng chiến đấu chống kè thù đang muốn tấn công đánh chiếm thành phố của họ.

        Nhưng Xviatôxlap vẫn đứng trước Secnôivanenkô.

        — Lại còn chuyện gì nữa ? — ông hỏi.

        — Thưa đồng chí bí thư, — Xviatôxlap trả lời, —Tôi biết rằng... thật khó nói quá, không nên... nhất là khi tình hình thành phố rất nghiêm trọng, nhưng...

        Secnôivanenkô nhăn mặt:

        — Sao?

        — Đồng chi cũng biết là mẹ tôi ở gần đây. Tôi muốn tạt về từ biệt bà cụ một tí.

        Secnôivanenkô càng nhăn tợn :

        — Thế ra bây giờ cậu mới nhớ đến bà cụ à!

        — Nhưng thưa đồng chí bí thư, đồng chí cũng biết là cả một tháng nay tôi sống trên xe như trong trại lính, không rời một bước.

        — Dù sao cũng phải tính đến chuyên ấy sớm hơn chứ. Bây giờ tôi cũng không biết là...

        Xviatôxlap, cúi gằm xuống, nói:

        — Xin đồng chí tha lỗi cho!

        Anh cố gắng như muốn trút một gánh nặng khỏi trải tim nhưng không nổi: anh lại đứng thẳng người và nhìn thẳng vào mắt ogười chỉ hư y:

        — Đồng chí cho phép chứ ạ?

        — Khoan đã...

        Secnôivanenkô suy nghĩ.

        — Bà cụ ở có xa không?

        — Không! — Xviatôxlap kêu lên, quên cả kỷ luật —  gần sát đây thôi. Xe tốt thì cả đi về chỉ mất hai mươi phút.

        — Cụ thể là chỗ nào?

        — Quá Pêrexip. Đúng chỗ bắt đầu con đường Ludanôpka. Đồng chí đồng ý chứ?

        Tình hình chưa ổn định và những quy tắc hoạt động bí mật nghiêm cấm những chuyện nghỉ phép cá nhân, nhưng trước con mắt long lanh và cầu khẩn của Xviatôxlap, Secnôivanenkô không nỡ từ chối việc anh gặp mẹ ; rất có thể đó là cuộc gặp gỡ cuối cùng của họ. Từ đây đến con đường đi Ludanôpka, khoảng cách quả là ngắn. ông biết rõ thế vì về mùa đông cháu gái Môchya Pêrêpêlitxkaia của ông ở đấy.

        Nhân nghĩ đến Matriôna Terenchiepna nên Secnôivanenkỏ nhớ đến bức thư của bà ta.

        Môchya đang làm gì nhỉ? Chắc hẳn đã tản cư gấp trên một chiếc tàu vận tải cùng với Valentin và cái chú bé  Pêchya mà hai mẹ con vớt dưới biển lên. Nếu vậy thì ổn lắm. Nhưng nếu phải trông nom tài sản của ngư trang đến phút cuối cùng mà không ra đến cảng được cùng với lũ trẻ và hành lý thì sao? Có thể như vậy lắm. Secnôivanenkô hiểu rất rõ bà ta, ông biết bà ta cũng như tất cả họ Secnôivanenkô đêu không thực tế lắm trong những việc của bản thân mình,

        Ông hình dung ra bà ta bị lạc, không người giúp đỡ, không kịp thời xoay xở được một giấy thông hành ra cảng, không tim được một chiếc tàu vận tải.

        Nhưng tại sao ông không nghĩ đến chuyện ấy sớm hơn nhỉ ?

        Ông đâm ra lo, lo lắm.

        — Khoan đã — Ông nói. Dưới ánh đèn bão, ông viết mấy chữ vào quyển sổ tay rồi xé tờ giấy ra. — Đi mà từ biệt bà cụ cậu, rồi phóng xe đến Krijanôpka. Chỉ cách đây độ hai ba cây số thôi. Cậu có biết ngư trang « Pêtren » không? Cậu sẽ thấy ngồi nhà của gia đình Pêrêpêlitxki và hỏi bà Matriôna Têrenchiepna.

        — Tôi biết ạ — Xviatôxlap nói — về mùa dông, chúng tôi là hàng xóm với nhau.

        — Càng hay. Cậu hỏi thăm xem sự thể ra sao. Chắc họ đã tản cư rồi. Nhưng nếu chưa thì cậu cho cả lên xe rồi trong thời gian ngắn nhất phóng ra cảng, xếp họ lên một chiếc tàu vận tải. Nếu không có, thì tìm cho họ một cái tàu con hoặc ca-nô gì đó, rồi cậu thương lượng với người chỉ huy, nhân danh tôi mà yêu cầu họ xếp chỗ cho gia đinh Pêrêpêlitxki bằng cách này hoặc cách khác. Quá lắm, thì đi tìm một đồng chí nào đó trong khu ủy, rồi đưa cái giấy này ra, — Sêcnôivanenkô đưa cho anh tờ giấy. — Rõ chưa ?

        — Rõ ! Sẽ hoàn thành, — Xviatôxlap mừng rỡ kêu lên.

        — Đi thôi.

        — Sau đó, sẽ giải quyết cái xe ra sao ạ?

        — Con ngựa xích thố của cậu ấy à? Cho quỷ rước nó đi. Tạm cho bọn phát-xít chúng nó vỡ đầu xé tai vì cái xe ấy!

        — Để tự tay tòi phá tan nó đi còn hơn, — Xviatôxlap nói nghiêm trang.

        — Tùy cậu. — Đôi mắt Secnôivanenkô đột nhiên lóe lên một ánh tinh nghịch — Riêng tôi, thì có lẽ tôi để cho tụi Đức. Nhưng thôi, nói chung, cậu muốn làm gì thì làm!

        Secnôivanenkô dẫn Xviatôxlap đến một góc hầm, ở đó có một hành lang đi sâu xuống hầm đá. Rồi bằng những lời lẽ ngắn gọn nhưng không sót một chi tiết nào, ông ra những chỉ thị cho anh, phòng mọi sự bất trắc khi lên mặt đất. Sau đó ông thu cái thẻ đoàn viên và toàn bộ giấy tờ của Xviatôxlap, nhét tất cả vào túi mình.

        — Bây giờ thì cậu tự chỉ huy lấy mình, — ông nghiêm khắc nói — Nhớ lấy, Đi thôi, chậm nhất là hai giờ phải trở về.

        — Xin chấp hành, — Xviatôxlap trả lời, rồi anh nhanh nhẹn trườn qua cái khe đá.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Bảy, 2020, 06:20:29 am

       
39

        Pêchya đi khập khà khập khiễng với đôi giầy mượn, theo sau Valentin và bà mẹ. Đến khuya rồi mà họ vẫn chưa đến được Pêrexip là nơi có ngôi nhà mùa đông của họ (gọi là nhà thành phố của họ cũng được). Hai người đã lạc đường. Kể cũng lạ. Ở vùng này, họ biết từng cái hang cái hốc, từng cái gò cái đống. Thế mà họ vẫn bị lạc. Hai người nhìn quanh mà không nhận ra vùng bị chiến tranh tàn phá này là đâu nữa. Chỗ nào họ cũng vấp phải những chiến hào bỏ không, những đường giao thông chữ chi, những dây thép gai, những công sự pháo và súng cối bỏ lại. Cỏ thối mùa thu sặc mùi ét-xăng và dầu nhờn bị đốt cháy. Hàng đống vỏ đạn đại bác và vỏ đạn súng trường lăn lóc trên mặt đất. Họ gặp cả những viên đạn đại bác không nổ. Dưới ánh sáng lờ mờ của những đấm cháy xa xa, những khối im lìm, có vẻ dọa nạt, đóng đai đồng, đầu bằng, đôi khi có những lỗ nhỏ ở chỗ mũi đồng và những đường rạch tròn đồng tâm ở đáy, gây cho ta một cảm giác thật rùng rợn.

        Pêchya cẩn thận đi tránh những viên đạn không nổ, trong bụng sợ run lên, thậm chí chú còn thấy nôn nao thực sự khi nghĩ đến cái sức mạnh quái gở giết người ẩn náu bên trong. Nếu sức mạnh ấy nổ tung và bắn tóe ra tứ phía, biến tất cả thành tro bụi, trong đó có cả Pêclrya, thì sẽ ra sao?

        Quang cảnh quanh vùng đều không nhận ra được. Cả đến nước cũng làm thay đổi ý nghĩ về nó: một cái hồ mênh mông đã hiện ra ở chỗ trước đây chưa từng có và cũng không thể nào có một cái hồ như thế được. Rẽ chỗ nào để đi ra Pêrexip, cũng đều vấp phải nước. Họ không biết rằng người ta vừa phá con đê ngăn đầm nước mặn Hatji-Bây với những truông lọc nước cống. Thành thử nước tách họ ra khỏi thành phố, nước lan tràn suốt mấy chục cây số, gây ngập lụt một phần Pêrexip và nối với biển ở kho cảng. Những bể dầu xăng ở Pêrexip bốc cháy, khói đen và lửa đỏ rực phản ánh trong làn nước chảy sát người họ. Họ bắt đầu hiểu là họ đã bị tách không những khỏi thành phố mà còn khỏi quân đội nữa. Nói cho đúng: họ đang ở trong tuyến không người giữa ta và địch.

        Với ta, họ bị cái đầm nước mặn tràn ngập ngăn cách, nhưng giữa họ với địch thỉ không có một chướng ngại nào. Họ đã là tù binh.

        Hiểu như vậy, bà Matriôna Tèrenchiepna bất giác rẽ xuống nước, hy vọng có thể lội được đến Pêrexip. Sau bà, Valentin cũng lội xuống nước và sau Valentin là Pêchya. Họ đi mấy bước trong nước đầm lạnh buốt, nhớp nháp, nhưng bất chợt nước lên đến đầu gối rồi đến thắt lưng. Bà mẹ bước hụt một cái, mất thăng bằng. Giá Valentin không đỡ kịp thì có lẽ đến chết đuối. Vì vậy, cả ba vội quay trở lại. Họ leo lên bờ, ướt cả người, rét run cầm cập. Một luồng gió lạnh buốt thổi từ biển vào. Sương mù mờ đục được những đám cháy chiếu sáng, ngấm vào tận xương tủy.

        Pêchya lên cơn sốt. Chú nghiến thật chặt hai hàm răng lại để mọi người không biết chú đang run.

        — Các con ơi, rồi sẽ ra sao đây, các con ơi? — Bà Matriôna Têrenchiepna vừa lẩm bẩm vừa nhìn tứ phía ! — Đi thôi! Đi thôi! Ta cố đi nhanh lên. Mau lên! Mau lên!

        Đã mệt rã rời, nhưng họ lại bắt đầu men theo bờ nước hòng tìm lối thoát. Nhưng chẳng có lối nào cả. Họ đã phải đi mười lăm cây số chứ không ít. Họ đi như vậy già một nửa đêm, cho đến lúc kiệt sức. Bà mẹ lẩm bẩm luôn mồm :

        — Cảc con, các con ơi... — Những dòng nước mắt chảy trên bộ mặt hốc bác phờ phạc của bà.

        Cuối cùng họ đi ve phía một thành giếng đã đồ nát trên thảo nguyên với cái máng uống bằng đá, và yên lặng ngồi xuống, không biết xoay xở thế nào nữa. Valentin là người đầu tiên lấy lại được bình tĩnh. Cô vùng dậy ôm và lay vai mẹ bằng đôi cánh tay gày gò nhưng cứng cáp.

        — Mẹ, con xin mẹ hãy bình tĩnh. Mẹ tỉnh lại nào! Ngồi thế đủ rồi! Ta đi dấn nữa đi.

        — Đi đâu bây giờ, Valentin, chỗ nào mà chả có nước? — Bà mẹ nói giọng thiểu não — Hãy nghĩ đến Pêchya, nó gần như đứng không vững nữa đấy.

        — Pêcliya, có đi được nữa không?

        — Được, — Pêchya nói, không hé răng về cái gót chân đau của mình.

        Valentin lại bên chú bé, đặt tay lên vai chú và nhìn vào mắt chú. Chú nhìn thấy nét mặt dịu dàng và buồn rầu của cô sát cạnh mình, dưới ánh sáng yếu ớt của những đám cháy xa xa đang tàn. Chú nhìn thấy đôi mắt Valentin sát mắt chú, đôi mắt trong suốt, long lanh, ân cần, âu yếm, đến nỗi chú cảm thấy hình như mình không nhọc mệt gì cả, đôi chân vẫn còn đủ sức đưa chú đi xa hơn, xa đến mấy cũng được, miễn là bên chú vẫn còn cô gái có cái miệng mím chặt ấy với biết bao nghị lực trong đôi lông mày vòng cung.

        — Pêchya có đau không? — Cô bé hỏi.

        Pêchya lắc đầu chối. Nhưng cô bé hiểu ngay là không đúng.

        — Đau đấy, — Valentin quả quyết, rồi suy nghĩ một lát nói thêm — Nhưng làm thế nào được. Phải cố thôi. Ta phải đi.

        — Mình sẽ đi, — Pêchya nói.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Bảy, 2020, 06:21:02 am

        Chú đứng dậy. Nhưng giữa lúc đó, bà Matriôna Têrenchiepna kêu lên:

        — Im! Nghe xem!

        Họ dỏng tai. Có tiếng động cơ trong thảo nguyên. Tiếng đó từ nhiều nơi trong thảo nguyên đưa tới, lúc to lên, lúc nhỏ hẳn lại, tùy theo sức mạnh của những trận gió biển thổi không đều nhau, hỗn độn, dịu đi hoặc mạnh lên. Chắc chắn là tiếng động cơ rồi. Nhưng không phải là động cơ máy bay hoặc ô-tô. Đó là những động cơ nghiến ken két nặng nề với tiếng gầm chói tai hầu như làm mặt đất đen lạnh cứng run lên bần bật.

        — Xe tăng, —Valentin nói thì thào.

        — Xe tăng của ai? — Pêchya hỏi khẽ hơn nữa, chú đột nhiên cảm thấy tim mình lạnh buốt.

        — Của chúng nó, — Valentin nói.

        Bà Matriôna và Pêchya nhìn thấy ánh đèn pha sáng chói của những chiếc xe ở nhiều nơi khác nhau trên thảo nguyên. Chúng tiến theo hàng đôi, đèn lóe sáng hoặc tắt đi tùy theo những chỗ mấp mô của mặt đất. Chúng bốc khói như mắt chó sói. Bị bày chó sói ấy vây bọc, người đàn hà và hai đứa trẻ cứ im thin thít, nín thở, cảm thấy cái tai họa không tránh được đang đến gần. Những bóng đèn pha lập lòe bốc khói như những cái đèn cốc đang đến gần ấy khiến họ sợ quả, đến nỗi thoạt đầu họ không nhận thấy một mối nguy hiểm khác gần hơn nhiều, ngay sát nách... Bất thình lình, cả ba người cùng nhìn thấy một lúc bốn bóng đen tay cầm tiểu liên, cúi lom khom đi thẳng về phía họ.

        Những mũ sắt sâu, kiểu rất đặc biệt, không như của ta, hồng lên dưới ánh lửa đám cháy gần tàn. Chắc hẳn đó là những tên lính trinh sát của địch, đi trước xe tăng. Tụi lính nối đuôi nhau, thành hàng chênh chếch. Thỉnh thoảng chúng rạp xuống. Lúc ấy Pêchya nghe rõ cả hơi thở nặng nề, tiếng khịt mũi của chúng. Rồi chúng lại đứng lên và tiếp tục thận trọng tiến lên phía trước. Thoạt đầu Pêchya tưởng chúng đi thẳng về phía bọn chú. Nhưng không. Tụi linh không nhìn thấy họ. Thằng nọ nối đuôi thằng kia, chúng thong thả đi qua cái giếng mà Pêchya, Valentin và mẹ cô đang nấp. Chúng đi gần và thong thả đến nỗi Pêchya ngửi thấy rõ ràng cái mùi của chúng, một mùi dầu cá xa lạ, có lẽ là dầu cá voi bôi ủng và mùi cao su tổng hợp của áo tơi ngụy trang.

        Lần đầu tiên Pêchya nhìn thấy quân địch, bọn phát- xít, gần đến thế. Sự giáp mặt ấy gây cho chú một cảm tưởng bất ngờ choáng váng. Chú biết mình đang ở trong tay địch. Chỉ một tên lính nhìn thấy là số phận của bọn chú sẽ không do bọn chú định đoạt nữa. Bọn ngoại bang, bọn thù địch, bọn phát-xít ấy có thể muốn làm gì họ thì làm, chửi họ, đánh họ, giết họ. Chúng có thể bắt họ cởi quần áo ra, nằm xuống, đứng lên, đi, đứng lại, giơ tay lên. Thật là nhục nhã đến nỗi Pêchya sẵn sàng nằm úp mặt xuống đất, nhắm mắt lại, lấy tay bịt tai lại để khỏi phải trồng thấy gì nữa, khỏi phải nghe thấy gì nữa, để cho giấc mơ khủng khiếp vô lý ấy, mà lại không phải là một giấc mơ, qua đi thật nhanh.

        Nhưng tụi lính vẫn không nhìn thấy họ. Chúng biến vào bóng tối, trong đó còn nghe thấy tiếng sột soạt kệch cỡm của những đôi bốt và những áo tối ngụy trang, cùng những tiếng xì xồ của một ngôn ngữ nước ngoài, không thể hiểu được. Lúc Pêchya tỉnh lại và nỗi bàng hoàng đầu tiên khi gặp quân địch đã qua, thì nét mặt anh thủy binh hấp hối lại hiện ra trước mắt chú. Tụi lính không nhìn thấy bọn chú, thật là may. Nhưng có thể còn tụi khác và tụi khác nữa chứ. Lúc này có rất nhiều lính địch. Rốt cục, Pêchya cũng đến rơi vào tay chúng thôi. Chúng sẽ khám người chú và tìm ra lá cờ. Nghĩ đến đây, mặt chú tê dại đi. Mau lên thôi! Mau lên thôi! Khéo không muộn mất. Phải làm một cái gì. Nhưng cái gì mới được chứ? Phải lập tức giấu lá cờ đi. Nhưng giấu vào đâu? Đầu óc của chú làm việc dồn dập.

        Pêchya ngồi bệt xuống đất, dựa lưng vào thành giếng đá. Đó là những tảng đá vôi, thứ đá vôi đã xây dựng nên cả thành phố Ôđetxa. Cái giếng cạn khô, sụt lở đến một nửa. Mấy hòn đá lung lay, Pêchya gắng sức nhấc một hòn nằm sát mặt đất. Một cái hốc hiện ra. Pêchya thò tay vào, moi một hòn nữa, đến sứt cả móng tay.

        — Pêchya làm gì đấy? — Valentin hỏi, cô nấp cạnh mẹ ở phía bên kia giếng.

        — Không — Pêchya vừa trả lời vừa vội vàng run rẩy cởi khuy áo và tuồn lá cờ dưới lần áo sơ-mi ra. Chú rút lá cờ đặt nó vào trong hốc.

        — Phải đi thôi, — Valentin nói.

        — Ừ, đi — Pêchya nói và nhét luôn vào hốc tấm thẻ đoàn viên của Layrôp. Vần mấy hòn đá một cách khó nhọc, chú lại đặt chúng vào chỗ cũ.

        Hai hóng đen nhô lên phía trên giếng: Valentin và bà Matriôna Têrenchiepna. Hai mẹ con thận trọng cúi lom khom, bước đi trong thảo nguyên lúc này, trước buổi rạng đông, lại càng có vẻ tối hon.

        — Kia, Pêchya đâu rồi hả?

        — Mình lại đây, mình lại đây!

        Pêchya soát lại lần cuối cùng xem mẩy hòn đá có chặn vững lá cờ và tấm thẻ đoàn viên không, rồi chú đuổi theo bóng hai người đàn bà.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Bảy, 2020, 06:21:48 am

       
40

        Ánh lửa những đám cháy gần tàn, cho đến lúc ấy vẫn chiếu sáng khá rõ mặt đất, dù có phần yếu ớt, nhưng bây giờ gần như hoàn toàn tắt ngấm. Qua kẽ những đám mây trôi nhanh, hiện ra mấy vì sao. Trời trở rét, rét lắm, gần như băng giá. Mặt đất vang vang dưới bước chân, như gang vậy. Không còn xe tăng nữa. Chắc hẳn chúng đã rẽ sang đường khác.

        Nước đầm xót và mặn, ngấm vào đôi giày của Pêchya, cắn hai bàn chân sây sát của chú. Ngón tay chú lạnh cóng. Pêchya lê không nổi, cố theo kịp Valentin. Phía

        trước, bà Matriôna Têrenchiepna bước nhanh. Bà gấn như chạy, chốc chốc lại loạng choạng suýt ngã, ghì chặt cuộn giấy vào ngực.

        — Đợi tý, mẹ ơi ! Sao đi nhanh thế, Pêchya đứng cũng không vững, mẹ không thấy à?

        — Chịu khó một tí, Pêchya ạ, — bà Matriôna vừa nói vừa bước chậm lại, — chịu khó một tí con ơi.

        — Được ạ, — Pêchya nói qua kẽ răng — Ta đi đâu thế này?

        Chú tưởng bọn chú đã đi trong một thời gian vô tận và cũng trong một thời gian vô tận, thảo nguyên ác cảm đen tối đã bao vây bọn chú.

        — Ta đi đâu thế này —chú nhắc lại bằng giọng đều đều, không âm sắc, như người mệt quá đâm mụ đi.

        — Ta đi đến đầm nước mặn Hatji-Bây — cô gái trả lời nhanh.

        — Đễ làm gì?

        — Biết đâu chả tìm được một cái tàu ở đấy và có thể sang được bờ bên kia.

        Bất thình lình, có một việc xảy ra nhanh như chớp làm Pêchya không kịp hiểu. Một vật gì ập đến cùng với tiếng kêu khiếp hãi của Valentin, cô nhảy sang một bên và ngã sóng soài, tiếng phanh ô-tô rít, tiếng va chạm nẩy lên từ mặt đất rắn, tiếng kính vỡ choang thành nghìn mảnh, tiếng « mẹ khỉ » điên tiết văng ra qua kề răng với giọng bực bội có những nốt trầm trẻ trung, cung tiếng cửa xe đập đánh sầm một cái.

        Một ngọn đèn điện nhỏ bật lên như rọi sát vào mặt Pêchya. Chú bé nhấp nháy đôi mắt không hiểu chuyện gì đã xảy ra. Một chiếc ô-tô phóng qua thảo nguyên, đèn đóm tắt ngẫm, lao vào bọn chú. Một li nữa là nó đè phải Valentin đang loạng choạng, và cô bé không giữ được thăng bằng nên đã ngã giúi xuống. Giây chót, người lái xe lái quật sang bên, húc phải một vật chướng ngại và hãm lại đột ngột. Và đây, anh lái xe, tay súng, tay đèn bấm, đang đứng trước họ, nói:

        — Tôi đoán chắc là bác. Chào bác Matriôna Têrenchiepna! Chào Valia!

        — Ô này, Valentin ơi! — bà Matriôna kêu lên — chính anh Xviatôxlap Macsenkô ở Pêrexip đây mà! Anh làm gì ở đây thế, Xviatôxlap?

        — Theo lệnh đồng chí Secnôivanenkô, tôi đánh xe đến Krijanôpka để chở gia đình bác ra cảng và đưa lên tàu vận tải. Tôi đã nhìn thấy cảnh nhà bác bốc cháy, ngổn ngang những soong nồi. Thế là tôi quay lại, nhưng đi đến Pêrexip bằng xe thì lúc ấy không thể được rồi. Tôi hiểu rõ nếu gia đình bác không đến được thành phố trước khi đê vỡ thi chắc chắn bác đang đi trong thảo nguyên và không biết ra khỏi bằng cách nào. Tôi cũng đang trong tình cảnh ấy đây.

        — Làm thế nào bây giờ? — Bà mẹ Valentin vừa hỏi vừa nhìn Xviatôxlap với tia hy vọng.

        — Tôi cũng chưa biết tính sao. Bốn bề nước ngập cả.

        — Ta phải đến đầm nước mặn Hatji-Bây rồi đi tàu sang bờ bên kia, — Valentin vừa nói vừa rũ áo — ở đây, mình bị lạc mất. Đến đấy, thế nào cũng có tàu.

        — Tôi cũng nghĩ thế, —Xviatôxlap nói — Thôi lên xe mau lên. Còn chú nhóc này con nhà ai thế?

        Nhìn chú bé gày gò, lấm láp, đội mũ lưỡi trai, đánh cái áo khoác ngắn to sù không biết của ai, Xviatôxlap không nhận ra chú thiếu niên tiền phong Mạc-tư-khoa diêm dúa mà mấy tháng trước anh đã đưa từ trường bay về « biệt thự » Kôletnisuc. Cả Pêchya cũng không nhận ra Xviatôxlap. Nhưng chú thấy cái xe có mui vải mà chú ngồi cùng với Valentin và mẹ cô, có vẻ quen quen. Chú cũng không chú ý lắm vì còn mải mê với ý muốn bứt khỏi cái thảo nguyên tai ác này cho nhanh để thoát thân.

        — Pêchya đấy, — Valentin nói, — thiếu niên tiền phong Mạc-tư-khoa. Hai mẹ con em vớt cậu ấy dưới biển lên đấy.

        Lúc ấy, Xviatôxlap đã nổ được máy, chiếc xe phủ một làn khói khét lẹt, chồm lên phía trước. Lốp xe bên phải đằng trước và bên trái đằng sau đã bị nổ. Làm gì có thì giờ mà thay nữa!

        — Thôi thì chạy bằng vành! — Xviatôxlap nói vẻ kiên quyết.

        Chiếc xe mở máy, khập khiễng lăn đi, nhảy chồm chòm qua mỗi ổ gà. Nhưng nó khập khiễng cũng khá nhanh. Đôi lúc nó dừng phắt lại. Nhưng ngay sau đó, hình như muốn gỡ lại thời gian bị mất, nó lại chồm lên và lao lên phía trước. Xviatôxlap không mệt mỏi, đẩy kéo những cái cần, vặn ngoặt tay lái. Anh chuyển khẩu súng về đằng sau.

        — Này, ai ngồi đấy? Valentin, cầm lấy khẩu súng. Hãm cò rồi đấy. Nếu bọn mình chạm trán trinh sát địch, em có bắn được không ?

        — Còn phải nói !—Valentin lầu bầu trong hai hàm răng nghiến chặt.

        — Còn chú bé, cầm lựu đạn — Xviatôxlap đưa qua vai một quả lựu đạn. Pêcliya hai tay đỡ lấy, nghĩ bụng không biết làm ăn ra sao đây.

        — Cả chú nữa, ông tướng con ạ, — Xviatôxlap nói,— nếu bọn mình chọi với lũ khốn kiếp ây thì ném lựu đạn nhé! Có biết không đấy?

        — Còn phải nói! — Pêchya nói, mặc dù chú chỉ hiểu lờ mờ cách ném lựu đạn.

        — Pêchya, đưa lựu đạn cho bác, — bà MatriônaTêren- chiepna băn khoăn nói. — Bảc sợ cháu không biết cách ném. Cầm lấy cuộn giấy, để bác giữ lựu đạn cho.

        — Cháu ném được, — chú bé nói với vẻ bướng bỉnh có pha chút cáu kỉnh nữa. Hai tay chú nắm lấy cái mỏ vịt quả lựu đạn.

        Lần đầu tiên trong đời, chú có cái cảm giác không gì so sánh nổi của một người bị đàn áp, bị tước vũ khí, nay lại được cầm vũ khí trong tay. Cái cảm giác lạ lùng về « vũ khí » chạy từ đầu đến chân chú như một luồng chớp và làm sức lực thể chầt và tinh thần của chú tăng lên gấp bội.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Bảy, 2020, 06:22:37 am

       
41

        Pêchya nắm cái chết trong tay với một niềm khoan khoái kỳ lạ, chú hiểu rằng mình có thể tạo ra cái chết bất kỳ lúc nào, chú có thể tùy ý định đoạt nó, vung tay ném nó về phía này hay phía kia, tiêu diệt kẻ thù nào dám cả gan tấn công chú. Chú không thấy mình là tù binh nữa, mà là người chủ của cái chết, đồng thời là người chủ của tự do của mình. Thậm chí, lúc này chú còn ao ước được gặp bọn Rumani hoặc bọn Đức. Rồi chú cứ nhìn trừng trừng vào thảo nguyên đen tối.

        Valentin cũng có cảm giác ấy. Chĩa khẩu súng ra ngoài xe, cô dò xét bóng tối, y như Pêchya, và nghe thấy cả hơi thở của chú bé; chú mím môi lại, thở phì phì y như một con dím phát khùng.

        Họ bị xe xóc tung người trên đường đến đầm nước mặn Hatji-Bây, nhưng họ đã đến đây trót lọt. Thảo nguyên như chết lặng. Chỉ có một lần, một chiếc pháo sáng bay lên. Nó gần quá và ánh sáng tỏa ra đều đặn quá, đến nỗi họ nhìn bờ đầm rõ mồn một, những cái cọc nhô lên khỏi mặt nước, phủ đầy bùn và mấy chiếc thuyền đen bị phá hủy. Một chiếc thuyền ngập nước lưng chừng, nước lấp loáng dưới ánh sáng, thuyền bập bênh nặng nề cạnh bờ. Họ thấy một cái gáo trong có ít nước, lượn lờ trong thuyền như một chiếc xuồng con. Họ xuống đáy khe và bắt đầu tát nước ở thuyền ra. Với cái gáo và cái thùng của Xviatôxlap, họ ra sức tát cho đến khi thuyền nổi được cùng bốn người khách. Thế là họ ngồi vào cái mảng thô sơ làm bằng những tấm ván cũ kỹ ấy, từ lâu không trát nhựa, vỏ sò vỏ hến bám đầy, giống một cái thùng dài hơn là một cái thuyền, rồi họ ra xa bờ.

        Trong thuyền không có bơi chèo. Họ dùng khẩu súng, cái gáo và một cây gậy nhặt được trên bờ để chèo. Đầm nước mặn cũng nông, có thể lội được một quãng khá xa. Nhưng họ vừa đi được ba bốn chục thước thi Xviatôxlap kêu lên:

        — Hãy gượm! —Anh nhảy xuống nước, nước đến thắt lưng— Cứ chèo đi, anh kêu lên — Tôi trở lại ngay.

        Nói xong, anh biến mất, lội bì bõm trong nước và bóng tối. Trên bờ, một que diêm bùng lên rồi tắt. Vài phút sau, nước lõm bõm và bóng Xviatôxlap xuất hiện, ngực rẽ khối nước đầm nặng nề và im lìm. Xviatôxlap trèo lên thuyền, ngồi xuống ghế dài, lấy tay áo chùi trán hồi lâu. Anh lặng im nhưng mọi người cảm thấy anh buồn bã. Cuối cùng, anh nhổ xuống nước và xua tay.

        — Thôi được, —anh nói vẻ kiên quyết, —cho nó biến đi cho rồi! Thế là nó chẳng còn của mình mà cũng chẳng vào tay chúng nó — nhận thấy không ai hé răng mà chỉ quan sát anh, anh phát cáu — Ngủ gật cả đấy à? Ngủ bây giờ thì sớm quá đấy. Tất cả bà con mình, mạnh tay lên nào !

        Giằng lấy khẩu súng từ tay Valenlin, anh thọc xuống nước rồi chống mạnh xuống đáy đầm. Con thuyền vươn lên và lướt nhịp nhàng.

        — Khỏe nữa lên các bạn ơi! Nào ông nhóc, cầm lấy gáo tát nước đi... Cả Valentin nữa. Cầm lấy thùng, làm bạo tay vào... Còn bác, bác Matriôna Têrẹnchiepna, bác cầm cái gậy giúp tòi... Chỗ này không sâu đâu.

        Pêchya thủ quả lựu đạn vào bụng, rồi bắt đầu tát nước. Valentin với lấy cái thùng, cũng làm như chú. Việc ấy không phải thừa vì nước rỉ vào qua các kẽ hở, và con thuyền cũ kỹ lúc nào cũng chỉ rình đắm. Bà Matriôna và Xviatôxlap luôn tay sử dụng cây gậy và khẩu súng, làm con thuyền cứ dậm dật tiến lên. Chỗ đó, đầm không rộng lắm, nên họ có thể hy vọng vượt qua trong khoảng bốn mươi phút.

        Nhưng mực nước bắt đầu lên nhanh trông thấy. Xviatôxlap phải buộc cái gậy vào để nối dài khẩu súng. Nhờ thế họ tiếp tục đi được một lúc nữa.

        Cần phải khẩn trương vì trời sắp sáng. Phần khác, nước không vơi đi mà mỗi lúc một rỉ nhiêu vào thuyên, mặc dù Pêchya và Valentin đã cố gắng phi thường, không một giây nào ngơi tay tát nước ra khỏi thuyền hắt xuống đầm. Nước lên đến mặt ghế và tràn cả mặt ghế. Con thuyên đâm ra nặng kinh khủng. Xviatôxlap khó nhọc lắm mới làm nó nhích lên được. Con thuyền ì ra, bắt đầu xoay tại chỗ. Bà Matriôna Têrenchiepna đem hết sức mình ra giúp Xviatôxlap. Bà chèo bằng hai bàn tay, không ngơi lúc nào, mồ hôi chảy ròng ròng. Thỉnh thoảng, Xviatôxlap lại quay lại nhìn phía bờ xa tít, có vẻ như đợi chờ một cái gì.

        Thình lình, trên bờ, chỗ anh để chiếc ô-tô, có một luồng chớp đó và hai giây sau, một tiếng nồ. Trên đám có lúa, loang loáng những ngọn lửa soi sáng từng cuộn khói đen từ chiếc xe bốc lên. Âm vang của tiếng nổ chạy trên mặt nước đầm run rẩy. Dưới ánh sáng ngọn lửa đỏ rực, những người đi thuyền nhìn thấy cái xác ô tô dúm lại và nổ tung lên.

        — Xin vĩnh biệt anh bạn,—Xviatôxlap vừa kêu lên vừa trật mũ ra. Anh vẫy vẫy chiếc mũ trong không khí như gửi cho người hạn quá cố lời vĩnh hiệt cuối cùng. Đôi mắt anh quay lại phía chân trời tối đen lúc này đang nhạt đi vì trời sắp sáng. Ngoài xa kia, sau những viền xám xịt của ngọn núi Jêvakhôva, sau cái đầm nước mặn xám xịt ngập lụt, sau cái xác đen thui của một nhà máy lớn, hiện lên đường nét lờ mờ ảm đạm của mặt biển với những con tàu vận tải rời hến và cái khối ảm đạm hơn nữa của thành phố bốc cháy, lơ lửng giữa cái sống và cái chết.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Bảy, 2020, 05:34:07 pm

       
42

        Họ lại tiếp tục đi và cuối cùng ra đến giữa đầm. Đó là phần gay go nguy hiểm nhất của quãng đường, qua đó sẽ dễ dàng hon. Nước không ngập quá thắt lưng. Vác tất cả đồ lề trên vai, họ đổ bộ lên cái bờ thoai thoải phủ một lớp bùn dày, mỡ màng và nhơm nhớp như xi đánh giày.

        Đến đây, họ cảm thấy thoát vòng nguy hiểm. Nhưng họ lầm. Mối nguy hiểm gần họ hơn là họ tưởng. Lính trinh sát địch đã đi vòng phía tây thành phố. Không gặp sức đề kháng nào, chúng tiến thong thả và thận trọng đến gần những trang trại Uxatôvô. Ở đó, bọn Đức và Rumani bố trí lại trên những điểm cao sau công viên Hatji-Bây. Thỉnh thoảng theo thói quen, chúng bắn pháo sáng tứ tung. Một chiếc pháo sáng lóe lên trên chỗ Xviatôxlap và các bạn đồng hành đổ bộ. Dưới ánh sáng hoa quì rất mạnh của nó, Pêchya nhìn thấy mặt đất phẳng lì, xám ngắt, rải rác đây đó những đồng muối bóng loáng. Tất cả cái mặt đất xám và lấp lánh ấy hình như bị rạch thành những ô vuông đen, phết nhựa. Xa xa, một loại cỏ đỏ quạch nhàu nát, nhô lên khỏi bùn : « cỏ trên sao Hỏa », Pêchya nghĩ bụng.

        Ngôi nhà tắm đổ nát và những cột bể bơi cháy rui soi mình đến là thảm hại trong lần nước màu hồng, mặn và quánh như nhựa của đầm nước mặn. Pêchya đoán ra con đường xe điện ở phía xa hơn, nó choán tất cả chiều dài của phong cảnh này với những chữ thập gẫy gục của các cột sắt, những máy biến thế và những trụ bê-tông, cái hàng rào sắt gỉ nhìn thấy qua những khe hở.

        Chỉ vừa mới đây thôi, những toa tàu nhỏ bé, xinh xắn của đường sắt chạy điện còn ầm ầm rộn rã ngược xuôi về thành phố. Thế mà bây giờ tất cả đều bị phá hoại tàn nhẫn, một quang cảnh hỗn loạn thê thảm, rầu rĩ đang ngự trị. Bà Matriôna lẩm bẩm, sau một tiếng thở dài não nuột:

        — Lạy Chúa tôi, lạy Chúa tôi, cái quân giặc ấy, nó gây ra cơ sự này đây!

        Trong lúc chiếc pháo sáng còn đang làm quay cuồng trên bầu trời những vòng tròn ánh sáng và bóng mờ của nó, không một ai nhúc nhích. Xviatôxlap nhìn quanh.

        — Hỏng mất, — anh nói, — cái bọn khốn kiếp ấy đã đến đấy rồi.

        Chiếc pháo sáng tắt đi, kéo trở về bóng tối bức tranh ảm đạm của đầm nước mặn IIatji-Bây vừa đột nhiên được chiếu sáng bằng cái ánh sáng hóa học, ánh sáng «sao Hỏa». Họ đứng lặng, im phăng phắc một lúc, Họ chờ cái pháo sáng thứ hai. Nhưng nó không xuất hiện. Bọn chúng không nhìn thấy họ. Thế lá họ bắt đầu đi trên bùn khô về phía đường tàu điện và men theo đường sắt về thành phố. Họ không nói một lời nào, hoàn toàn tin cậy ở Xviatôxlap. Anh cầm khẩu súng lục, bước đi quả quyết. Họ đi men một bức tường đá vôi, sau bức tường là những cây to trụi lá. Đó chính là công viên Hatji-Bây.

        Trời sáng đến nỗi có thể phân biệt được các loại cây. Có những cây sến cỗ thụ hùng vĩ chưa rụng hết đám lá nặng trịch như trổ từ sắt ra và đầy một lớp gỉ, những cây hồ đào, những cây dâu, những cây ngô đồng thân màu sô-cô-la và hồ trăn, với những hoa tự mòng mọng trên lớp vỏ mềm như một lần da, và những viên xôm xốp giống như quả trên cành, và tất nhiên những cây dạ hợp thì như đang trong cơn mê sảng, đung đưa những cành trần trụi như đánh báo hiệu.

        Xviatôxlap dừng lại nghe ngóng. Anh lắng tai thật lâu, quay đầu về tứ phía, và lắng nghe lâu hơn nữa những âm thanh hết sức nhỏ gió đưa từ thành phố lại.

        — Bác nghe thấy gì không ?

        Bà Matriôna Têrencliiepna cũng lắng nghe, dỏng tai ngược chiều gió, về phía thành phố. Bà nghe thấy tiếng súng máy và tiếng động cơ. Bà nhìn Xviatôxlap có vẻ dò hỏi.

        — Bác nghe thấy gì không? — anh ngước lông mày nói vẻ lo lắng.

        — Có, — bà trả lời rất khẽ.

        — Chúng nó đấy, — anh ủ rũ nhận xét.

        — Thế chúng mình không đi được à?

        — Lúc này thì bác không đi được đâu. Đừng hy vọng nữa, Hết cách rồi.

        — Thế chúng ta tính sao bây giờ?

        Quả là không thê nào trả lời được câu hỏi đó. Thực vậy, biết tính sao khi quân địch đang ở khắp nơi. Tình thế thật là bế tắc. Xviatôxlap kéo sụp mũ ca-lô xuống trán và gãi gãi chiếc gáy cạo nhẵn bóng theo như điều lệnh quy định cho những anh lính trẻ. Anh đứng doãi một chân và suy nghĩ. Pêchya và bà Matriôna Têrenchiepna nhìn anh với một niềm hy vọng và một vẻ sợ hãi không giấu nổi. Cả đến Valentin, cho đến lúc ấy vẫn tỏ ra tin tưởng và hăng hái, lúc này cũng đâm ra bi quan. Cô đứng trước mặt Xviatôxlap, môi mím lại, đôi mắt long lanh với con ngươi trong suốt, nhìn anh chằm chằm.

        Xvialôxlap suy nghĩ thật lâu nhưng không tìm ra cách gì. Anh đã thi hành thật đúng mệnh lệnh của Secnôivanenkô — đi đến Krijanôpka — nhưng không xếp được gia đình Pêrêpêtltxki lên tàu vận tải vì những hoàn cảnh không tùy thuộc ở anh chút nào. Giải quyết cho họ ra sao bây giờ? Anh không biết, vì không có lệnh. Chính anh lại phải lập tức trở về hầm đá. Thời gian trôi. Chung quanh sáng dần. Ở chân trời thảo nguyên, phân đội khinh binh đầu tiên của địch đang phi về phía thành phố. Xviatôxlap nhìn đồng hồ. Kim đồng hồ không lóe sáng nữa mà chỉ sáu giờ kém mười.

        — Cha mẹ ôi! — Xviatôxlap hoảng sợ kêu lên. Anh đã mất cả y thức về thời gian. Anh không thể tưởng tượng rằng bảy tiếng đồng hò đã trôi qua từ lúc anh lên khỏi hầm đá. Rồi Xviatôxlap hoảng sự với y nghĩ mới ngày đầu hoạt động bí mật mà mình đã vi phạm mệnh lệnh. Dĩ nhiên, có những trường hợp giảm nhẹ : chẳng ai báo trước cho anh là con đê sắp vỡ và anh có thể  bị cắt đường về Uxatôvô. Nhưng mệnh lệnh quân sự là mệnh lệnh quân sự. Nó phải được thi hành dù có phải vì thế mà hy sinh. Tái đi vì xúc động, Xviatôxlap đội lại mũ ca-lô, thắt lại dây lưng và nói, vẻ cương quyết:

        — Thôi chào các đồng chí. Tôi không thể đưa các đồng chí đi được nữa. Các đồng chí tiếp tục đi một mình vậy và xin tha lỗi cho tôi.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Bảy, 2020, 05:34:24 pm

        Anh đau đớn, ái ngại cho những con người bị bỏ rơi này. Anh rất quen biết Valentin và mẹ cô, họ thường đi tắm với nhau ở Ludanôpka. Lúc này, cô lại đứng trước mặt anh — có bạn thòi thơ ấu của anh — hai tay buông thõng nhìn anh vừa mong chờ, vừa trách móc. Mắt anh không thể rời khỏi cái khuôn mặt thiếu nữ dễ thương ấy, lúc này sao nó thân mến, gần gũi đối với anh thế. Nhưng sự tôn trọng lời thề quân sự, sự tôn trọng mệnh lệnh mà anh không muốn vi phạm, đã át hẳn mọi tình cảm khác.

        Giữa anh và lối xuống hầm đá chỉ cách có cái công viên Hatji-Bay, cái bãi cỏ và khu nghĩa địa. Xviatôxlap ném khẩu súng vào trong công viên, bám lấy mép trên bức tường hoa, đu người lên rồi vắt chân qua. Anh sắp nhảy xuống mặt có úa công viên, chỗ khẩu súng của anh nằm giữa những quả dẻ Ấn-độ, thì đột nhiên anh phát hiện ra điều mà không ai đứng dưới có thể nhìn thấy trên dọc đường tàu điện được: một tốp trinh sát địch đang tiến từ ngôi nhà tắm về phía công viên Hatji- Bảy. Cùng lúc ấy, anh thấy rõ là anh không thể, anh không đủ sức bỏ mặc cho số phân một người đàn bà và hai đứa trẻ, trong lúc họ không ngờ đến mối nguy hiểm, vẫn cứ lặng lẽ ngước nhìn lên với một vẻ bối rối thầm lặng.

        Chỉ có một cách cứu được họ: không để chậm một giây, giúp họ trèo qua bức tường công viên, dẫn họ vào nghĩa địa Uxatôvô, dấu họ gần cửa xuống hầm đá, báo cáo đầu đuôi câu chuyện với Secnôivanenkô, rồi nếu đồng chí ấy cho phép, sẽ đưa họ vào cái trại ngầm dưới đất. Riêng anh, anh không có quyền dẫn những « người lạ mặt », dù là vào cái hang gần nhất. Anh cũng không thể chỉ cho họ lối vào. Vi phạm quy tắc ấy là bị ghép vào tội phản bội ghê gớm nhất, Xviatôxlap biết rõ điều đó. Trong chớp mắt, sau khi cân nhắc mọi nhẽ và đi đến cái quyết định duy nhất, Xviatôxlap nhảy xuống đất:

        — Nhanh lên, sang bên kia với tôi!

        Không để các hạn đồng hành của anh có thời giờ suy nghĩ, anh trèo lên bức tường hoa, chìa tay cho bà Matriôna Têrenchiepna. Anh nghĩ bụng cái bà có tuổi nảy mà vượt qua được thì cũng mệt đây. Nhưng không, thật không ngờ bà tỏ ra khỏe mạnh, nhanh nhẹn đến thế. Bà ném tất cả đồ lề qua tường, rồi không cần nắm bàn tay Xviatôxlap chìa ra, bà nhảy khá vụng về nhưng nhẹ nhàng, tì ngực vào tường, và hất vội mớ tóc xòa trên trán, chồm vào trong công viên. Bà kêu « Hấp! » như một đứa trẻ. Chỉ có Pêchya là vất vả nhất. Thấy chú lúng túng, Valentin định đỡ khuỷu tay chú lên. Chú bực tức gạt đi và loay hoay trèo một mình. Một tay vướng quả lựu đạn, tay kia lại không với tới mép tường thành ra chú không lên nổi. Chú xước câ móng tay, sầy cả đầu gối.

        — Để mình đỡ cho nào... Người đâu mà kỳ quặc! Đã thế lại cử tỏ vẻ ! — Valentin bực tức nói.

        Nhưng Pêchya thà chịu những cực hình ghê gớm nhất còn hơn mất thể diện trước mặt cô gái, mặc dù chẳng có chuyện này cô cũng đã có thói quen chỉ huy chú và coi chú như con nít rồi.

        — Kệ tôi! Tôi lên một mình được! Kệ tôi! — Chú bé vừa bướng bỉnh nhắc lại vừa lấy khuỷu tay gạt Valentin ra, chú cố nhoài lên bức tường tai ác, cái áo bông cộc cọ vào đá vôi sần sùi, rách toạc ra, rồi chú lại rơi tuột xuống đất.

        — Để quả lựu đạn xuống —Valentin kêu lên.

        — Đừng có mà ra lệnh — Pêchya phì phò qua kẽ răng — và lại nhoai lên bức tượng lần nữa.

        — Đã bảo là bỏ lựu đạn xuống mà lị!

        — Đừng... đùa dai... — Pêchya lầu hầu, mím răng mím lợi lại và giữ khư khư lấy quả lựu đạn.

        Tước của chú cái vũ khí mà chú nhận được lần đầu tiên trong đời quả không phải chuyện dễ. Sau cùng Xviatôxlap không nhịn được nữa.

        — Đưa lựu đạn đây, rắc rối lắm. — Anh cúi xuống và khéo léo tước quả lựu đạn ở tay chú bé.

        — Bây giờ thì sang nào!

        Bàn tay rảnh kia của anh nắm lấy cổ áo khoác của chú và kéo về phía mình. Những đường khâu giạn ra nhưng không đứt. Pêchya bị treo lơ lửng trên không.

        — Valentin, hộ nó tí.

        Valentin nhanh nhẹn cúi xuống và một giây sau, hai chân Pêcliya đã tì lên vai cô. Cô nhô mạnh người lên một cái, thế là chú bé chưa kịp kêu đã vọt qua khỏi tường hoa. Hai cánh tay cứng cáp của bà Matriôna nắm lấy chú bé, và chú bé rơi xuống cỏ, chỗ có bọc tài liệu và những hạt dẻ Ấn-độ. Qua bức tường chú nghe thấy tiếng cười thích thú có pha chút ranh mãnh của Valentin. Đúng, cô ta cười! mặc dù tình thế nguy ngập, cô ta cũng không nhịn cười được... Hai tai Pêchya nóng bỏng lên vì xấu hổ. Người ta coi chú như một đứa trẻ yếu ớt. Chú chỉ muốn quát lên qua bức tường với Valentin một câu gì thật chua cay, nhưng chú không có thì giờ cãi nhau. Ngay sau đó, Valentin nhảy trên tường xuống, mặt đó gay, đầu bù tóc rối, sau cô là Xviatôxlap, tay cầm quả lựu đạn. Nhanh chóng vơ lầy vũ khí và đồ lề, họ vội vã di ngang qua công viên. Họ băng qua nnững luống hoa bị tàn phá phủ đầy lá úa; một vài chỗ, những khoảnh lớn hình ngôi sao trồng thược dược đã bị gẫy, thối, trông còn tối om.

        — Này, im đi, — Xviatôxlap vừa nói vừa đưa quả lựu đạn cho chú bé rầu rĩ — Nhưng cầm phải cần thận đấy.

        Họ xuyên qua công viên,lượn ngoắt ngoéo giữa những cây cổ thụ. Cây cối trông to bát ngát, tối sẫm. Họ đi qua một khu vực im lìm, toàn dã tường vi đầy những chùm quả nặng trĩu. Họ luôn luôn phải nhảy qua những giao thông hào đào xuyên ngang những con đường rậm rạp và những luống hoa. Họ vượt qua tòa nhà an dưỡng dài với hai hàng ban công nhỏ thanh tú ở mặt trước mới hôm qua thôi, còn mỹ miều, lịch sự, thế mà bây giờ đã đổ vỡ, hoang tàn. Trên ban-công, lủng lẳng những mảnh vải lều kẻ sọc. Dưới đất, ngồn ngang bát đĩa và ngói vỡ từ mái nhà roi xuống. Những khuỷu ống máng mắc vào những cái đinh móc hoen gỉ. Gió thổi bay tung những tờ giấy cháy xém.

        Một cây sồi cổ thụ bị một viên đạn đại bác nã trúng, vẫn đứng thẳng, vươn những cánh tay già nua đen đủi dài nghêu, y như một nhạc sĩ già chơi đàn banđura, còn mặt đất khắp chung quanh thì phủ đầy lá thu màu đồng.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Bảy, 2020, 05:35:48 pm

       
43

        Sau cùng, họ chui qua một lỗ hổng của bức tường, vào thẳng khu trại Uxatôvô. Ngoan ngoãn theo sau Xviatôxlap là người thuộc đường, họ đi xuyên qua những sân trại vắng lặng, có những bức tường đá vôi cao bao bọc, với những cổng nhà xe đóng kín mít. Hầu hết các cửa đều khóa. Dân cư các trại đã chạy đi hoặc lẩn trốn. Họ đi vòng ngôi nhà thờ lặng lẽ, bị cỏ và gai góc mọc lấn đến tận sân trước giáo đường. Họ vào nghĩa địa, đi giữa những ngôi mộ đá cổ, đầy rêu và ốc sên. Những thập tự xám đen làm bằng đá vôi mài nham nhở trông xôm xổp như bánh lõa mạch nguội.

        Xviatôxlap bảo họ đứng chờ rồi anh tiếp tục đi một mình. Bước vào bãi cỏ phủ sương mù, anh tụt xuống cái khe đá nhỏ bị bụi rậm che lấp, một đàn chim xào xạc bay lên.

        Xviatôxlap men theo khe nhỏ, sắp đến gần cửa vào hầm đá thì có người gọi anh. Xviatôxlap ngẩng đầu và thấy trong bụi cây một khẩu súng và một con mắt long lanh ranh mãnh sau cái thước ngắm. Đó là Lêônit Ximban được phải đi đón Xviatôxlap. Anh phải cảnh giới khu vực mà bọn Rumani và Đức có thể xuất hiện bất kỳ lúc nào.

        — Ơn Chúa. Tình hình trong thành phố ra sao?

        — Mình cũng không vào hẳn thành phố, chỉ đến Pêrexip thôi.

        — Thế tình hình Pêrexip?

        Xviatôxlap đưa tay ra hiệu.

        — Phải, hiểu rồi, — Lêônit Ximban nói — Thế cậu không gặp bọn trinh sát địch à?

        — Sao lại không? Vừa va tụi chúng nó xong. Chúng nó đã ở bờ bên này đầm Hatji-Bây rồi.

        — Cậu nói sao? — Lêônit Ximban kêu lên, nét mặt trở nên vừa nghiêm nghị vừa căng thẳng. — Chủng nó đông không ?

        — Có lẽ sáu tên.

        — Chà...

        Không muốn nấn ná, anh nói cho Lêônit biết là anh đã đưa Valentin, bà Matriôna, đèo thèm một ông nhóc nữa đến, đã để họ nấp trong nghĩa địa, rồi Xviatôxlap vội vã chui vào cái hang gần đó nhất.

        — Nhớ bảo Tulyakôp cho người đổi gác nhé. Mình ỏ đây đã bốn giờ rồi đấy. — Lêônit nói to với anh.

        Từ lúc Xviatôxlap lên mặt đất, đã có nhiều thay đổi xảy ra. Lúc này, trong hang chỉ còn những đồ cồng kềnh: vài cái hòm gỗ và một thùng tôn đựng ga-dô-lin. Mọi thứ vật liệu khác đã được phân phối theo các đường ngầm vào trong cùng hầm đá là chỗ theo kế hoạch sẽ đặt địa điểm chính của đội.

        Cuối một hành lang ngầm, hẹp và tối, le lói một ánh sáng nhỏ màu vàng. Xviatôxlap bước vào hành lang, người lom khom để khỏi đựng đầu vào vòm, khuỵu đầu gối xuống, đi về phía ánh sáng.

        Không khí im lìm ngưng đọng, ẩm ướt và nặng nề. Bóng tối dày đặc của đường hầm bao quanh Xviatôxlap, đè nặng lên anh đến nỗi anh có cảm tưởng mỗi lúc có thể vấp má vào cái bóng tối ấy như vào một tảng than. Ngọn lửa nhỏ trước mặt anh giống như một lỗ đục qua tảng than ấy. Xviatôxlap bật đèn bầm nhưng cả đến cái ánh đèn này, bình thường khá sáng, ở đây cũng có vẻ yếu ớt, mơ hồ. Một vệt do những vòng sáng dòng tâm tạo thành, lướt trên vòm đất xám phủ một lớp bụi khô. Chân anh cũng giẫm lên lớp bụi khô ấy, trên có những vết chân chằng chịt. Nhìn những dấu vết ấy, Xviatôxlap biết là mình đi đúng đường.

        Con đường ngầm bắt đầu hẹp lại. Sau cùng nó chật đến nỗi phải bò bằng tứ chi. Xviatôxlap bò. Phía trước anh ngọn lửa nhỏ vẫn le lói, xa tít, như một con nhện bóng loáng tỏa ra những sợi tơ óng ánh của một tấm mạng rất mỏng mảnh. Được mấy thước, đường hầm lại rộng ra. Xviatôxlap đứng lên đi. Anh lo xa, vẫn cúi lom khom, đầu gối khuỵu xuống. Nhưng đường hầm trở nên khá rộng để anh có thể đi không cần cúi nữa.

        Dần dần, con đường chật hẹp đó biến thành một cái hành lang có vòm khả cao. Tường và trần không phải bằng đất nữa mà bằng đá, cũng phủ một lớp bụi khô. Ngọn lửa nhỏ trông vẫn xa lắc và vẫn như đi không bao giờ tới. Rồi đột nhiên, nó lóe lên ngay sát anh. Đó là một chiếc đèn đêm làm vội bằng một lọ nước thơm Côlônhơ nhỏ, một cái ống và một sợi bấc bằng bông xe. Ngọn lửa bốc khói đứng rất im, chỉ rung rinh khi Xviatôxlap bước đến gần. Chiếc đèn đêm đặt trên một tảng đá vôi, đục trong tường. Xviatôxlap hiểu đó là một ngọn đèn pha đặt để chỉ đường cho khách bộ hành bí mật. Anh đã không nhầm. Trên bức tường bụi bặm được ngọn đèn chiếu sáng, anh nhận thấy một mũi tên, vạch ra để chỉ hướng đi. Anh đi theo hướng đó, không rẽ vào những hành lang kề bên mà thỉnh thoảng anh lại gặp. Hơn nữa, ngay những hành lang này, có những dấu vạch trên đất cho biết là lối đi đã bị vít lại.

        Đường hầm dần dần thắt lại cho đến khi trở thành một lỗ chuột chũi bắt người ta phải bò. Nhưng đúng lúc anh toan bấm đèn thì trước mặt anh lóe lên một ánh lửa mới. Xviatôxlap hiểu đó là ngọn đèn pha tiếp theo. Con đường ngầm càng hẹp. Anh nằm sấp xuống và bắt đầu trườn như một anh thợ mỏ ở đáy lò. Chốc chốc anh lại vập vai vào tường và cảm thấy bụi rơi xuống cái đầu trần, xuống cổ và chui vào trong gáy áo.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Bảy, 2020, 05:36:38 pm

44

        Luôn luôn hướng về cái ánh sáng giống như chiếc đinh ốc nhỏ bằng vàng phía trước, Xviatôxlap kiên nhẫn trườn lên độ mười thước. Anh biết con đường lại sắp rộng ra. Đúng thế, anh dã có thể đi khuỵu đàn gối được rồi. Dù dưới hầm khá lạnh, Xviatôxlap vẫn thấy ngột ngạt, mồ hôi nhễ nhại. Đầu óc anh mệt lử vì bóng tối trong lòng đất.

        Và phía trước, ngọn lửa nhỏ im lìm vẫn chảy yếu ớt, có vẻ xa lắc xa lơ và bé tí, giống như một lỗ khoan qua một tảng than.

        Xviatôxlap cố tưởng tượng xem những gì sẽ xảy ra nếu cái ánh sáng ấy tắt đi mà mình lại không có đèn bấm. Anh thấy lạnh toát cả người. Làm sao đi được trong hóng tối sâu thẳm này, trong cái địa ngục không ánh sáng này? Và nhất là đi đâu mới được? Không có những ngọn đèn pha, không nhìn thấy những mũi tên trên tường và những gạch chéo ở các hành lang hai bên... không ánh sáng, anh sẽ lạc đường, anh sẽ chết mất.

        Xviatôxlap thấy rõ rằng nếu không có ánh sáng thì không thể nào đi được trong cái hầm tối này. Mang theo một ngọn đèn cũng không thể được. Một ánh sáng thù địch trong lãnh thổ của Secnôivanenkô sẽ là một cái bia tuyệt diệu. Trong bóng tối, người ta có thể bắn không chệch phát nào. Và do chỗ chỉ có thể đi hàng một và đi rất chậm, nên không một tên địch nào mang đèn mà có thể thoát được một viên đạn hoặc một quả lựu đạn, dù nó rất khỏe và vũ trang đầy đủ đi nữa. Chúng chỉ tổ chất xác ngập đường hầm mà thôi, chứ không thể nào qua nỗi.

        Có hoặc không có ánh sảng dèu không thể được. Trường hợp nào cũng chết cả. Kẻ nào chiếm lĩnh được hầm đá đầu tiên là kẻ ấy thẳng. Xviatôxlap trước đây còn nghi ngờ khả năng phòng thủ dưới lòng đất, nay đã hiểu cả. Thế là anh cười lên sung sướng.

        Xviatôxlap chưa đến được ngọn đèn « pha» nọ thì anh nhận thấy phía trước một ánh lửa thứ hai rồi một ánh lửa thứ ha. Hai ánh lửa mới đó lớn hơn và di động. Phía trước, một ánh đèn điện tròn lướt tới. Xviatôxlap nhìn thấy hai bóng đen. Những bóng ấy đi tới gần. Lập tức Xviatôxlap bẩm nhấp nháy chiếc đèn của anh. Hai hóng đen trả lời. Cái kiểu đó giống như những tín hiệu của hai chiếc xe gặp nhau ban đêm.

        — Lêônit đấy hả? — Secnôivanenkô hỏi.

        Xviatôxlap trông thấy ông tay xách đèn bão, tay cầm khẩu súng.

        — Không, tôi đây.

        — Tôi là ai? Mình không nhận ra.

        — Chiến sĩ hồng quân Macsenkô.

        — A! Xviatôxlap, cậu đã về đấy à ?

        Trong giọng nói của đồng chí bí thư, không có chút gì tức giận hoặc trách móc. Đồng chí bình tĩnh, chỉ hơi mệt mỏi một chút thôi.

        — Trên ấy tình hình ra sao?

        Xviatôxlap tập trung trí nhớ và bảo cáo rất gọn, rất rõ với đồng chí bí thư thứ nhất tất cả những việc đã xảy ra.

        Xviatôxlap, cũng như những người đứng cạnh, biết bà Matriôna Tèrenchiepna Pêrêpêlitxkaia là bà con với Secnôivanenkô và chính bà cũng là người trong họ Secnôivanenkô.

        — Như thế thì... — Secnôivanenkô hoảng hốt kêu lên, dù bản tính ông không hay bộc lộ tình cảm, nhất là sự sợ hãi. Nhưng cái tin Xviatôxlap mang lại cho ông thật quả đỗi kinh ngạc.

        — Thưa đồng chí bí thư, tôi đã định dẫn thẳng họ vào đây, nhưng tôi lại nghĩ cần phải báo cáo với đồng chí trước đã.

        Hai người cùng yên lặng một lúc.

        — Thế cậu để họ ở đâu ? — Cuối cùng Secnôivanenkô hỏi.

        — Ở nghĩa địa Uxatôvô.

        — Có chỗ nấp không?

        — Ngồi sau những ngôi mộ.

        — Rắc rối thật! — Secnôivanenkô nói, rồi lại lặng im, rõ ràng là ông đang cân nhắc mọi bề trong óc. Sau đó, ông quả quyết đi về phía cửa hang.

        Xviatôxlap và Xtrenbixki yên lặng theo sau. Secnôivanenkô bước nhanh, ông không muốn tỏ vẻ vội vàng, nhưng lại đàm ra hết sức vội vàng.

        — Thế cậu có báo cho Lêônit Ximban là họ ngồi chỗ nào chứ? — Ông hỏi khi ba người đã bò qua quãng đầu tiên, quãng đường hẹp nhất và đi tới ngọn đèn «pha ».

        — Đồng chi Ximban không biết gì cả. Tôi không nói gì với đồng chí ấy. Tòi chỉ báo cáo với đồng chí thôi.

        — Chà !— Secnôivanenkô nói có vẻ tán thành nhưng đồng thời rất lo lắng. Ông bước hết sức gấp. Ông hiểu quả rõ mối nguy hiểm đang đe dọa hai mẹ con Pêrêpêlitxki và Pêchya Batsây.

        Tất nhiên Secnôivanenkô không hề có ý định cho họ xuống hầm. Một mình Môchya còn tạm được. Nhưng bà lại kèm theo hai đứa trẻ. Ông định gặp bà thật mau và giúp đỡ đến mức có thể được, nhưng không cho biết chỗ ông ở, vì đó là điều bất kỳ trường hợp nào ông cũng phải giữ cực kỳ bí mật. Nhưng sự việc lại xoay chuyển hoàn toàn ra cách khác. Họ vừa đi tới cái hang gần đó thì nghe ở phía trên có tiếng súng và tiếng Lêônit Ximban đang hét những câu gì không rõ: hình như anh đang kêu cứu thì phải. Người nọ theo sau người kia, họ vội vàng lao tới cái khe nứt và nhảy lên mặt đất.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Bảy, 2020, 05:55:02 am

45

        Vừa ở trong bóng tối hầm ngầm ra, thoạt đầu, họ bị ánh sáng yếu ớt của buổi sáng tháng mười đầy sương mù, làm chói mắt như bị luồng ánh sáng gắt không thể chịu nỗi của một ngọn đèn pha chiếu thẳng vào giữa mặt. Họ đã mất cái khả năng nhìn rõ bất kỳ vật gì: những vòng tròn xanh nhảy múa trước mắt. Họ nghe thấy những tiếng súng nỗ liên hồi và gần đâu đó, tiếng Ximban đang hét vang :

        — Trốn vào đây! Mau lên ! Chạy vào đây!

        Chưa thật quen mắt với ánh sáng ban ngày, không nhìn rõ các vật mà chỉ thấy những bóng mờ mờ, họ chạy về phía có tiếng Ximban, trèo lên dốc khe, và thấy mình đang ở trên bãi có đối diện với nghĩa địa Uxatôvô. Năp sau một tảng đá vôi xếp thành lớp, Ximban quỳ bắn vào một mục tiêu ở phía nghĩa đĩa. Chung quanh anh, giữa đám phân bò khô và những cây cúc trường sinh, lăn lóc những vỏ đạn rỗng. Sau mỗi phát, Ximban lại nhô lên, vừa tuyệt vọng vẫy vẫy chiếc mũ cát-két vừa hét về chính phía anh nhằm bắn.

        — Nghe này, ở đây kia mà ! Chạy vào đây ! Này ! Này!

        Secnôivanenkô vừa chạy vừa mở cò hãm, và trước khi đến được chỗ Ximban, ông nhận thấy phía trước mặt, cách độ một trăm mét, một chiếc ô-tô nhà binh mũi bằng, loang lồ xanh và nâu, đỗ cạnh cái hàng rào thấp của nghĩa địa, làm bằng những tảng vỏ sò xếp so le nhau. Hai tên lính dị dạng, đội thứ mũ sâu ít thấy, mặc áo tơi xanh nhạt, đẩy vào xe một người đàn bà đang giãy giụa. Tên lính dị dạng thứ ba, có bộ mặt đen sì và bộ râu không cạo, lôi cánh tay một chú bé mặc áo khoác ngắn rách; mũi chú bé chảy máu ròng ròng. Tên lính thứ tư nằm dài sau hàng rào nghĩa địa, đang bắn về phía Ximban. Và một có gái, bím tóc lủng lẳng rối tung, tay vung khẩu súng trường, chạy về phía cái khe sâu. Cô bé bị một tên lính thứ năm đuổi theo, căn cứ vào cái mũ cát-két có lưỡi trai dị dạng, có lễ tên này là một sĩ quan, nó bẳn theo cô bằng súng lục. Một tên lính thứ sáu rõ ràng là tên lái xe chạy quanh chiếc xe sơn loang lồ, xem xét những chiếc lốp bị nổ, thỉnh thoảng lại nằm xoài xuống đất để tránh những viên đạn mà Ximban bẳn tới tấp về phía nó. Trên bãi cỏ, ngổn ngang những đồ vật, rõ ràng là bị vương vãi trong cuộc xô xát; có đủ các thứ tiếng la hét, chửi rủa, rên rỉ, ra lệnh, và những phát súng bao trùm lên tất cả. Và hình như tất cả cái đó hiên nhiên là sự nối tiếp một sự việc đã bắt đầu từ lúc Secnôivanenkô nghe thấy những phát súng đầu tiên.

        Giữa lúc Secnôivanenkô, cuối cùng đã quen mắt với ánh sáng ban ngày, nhìn bao quát được cảnh tượng đó thì Ximban lại bắn nữa. Tên lái xe đang chạy quanh chiếc xe, bất thình lình lảo đảo, quay lông lốc rồi ngã ngửa ra, hai cánh tay bắt chéo. Lập tức một viên đạn bắn trả lại rít trong không khí như một nhát roi da, và những mảnh đá bắn tóe ra ngay cạnh Ximban.

        — Trượt rồi! — Lêônit khoái trá kêu lên — A, thằng khốn kiếp ! Nó bắn mình trượt rồi! — rồi anh lại nhằm bắn.

        Nhưng anh chưa kịp bóp cò thì đằng sau, Xtrenbixki đã nổ súng, thế là tên lính mặc áo tơi xanh dưới chân hàng rào nghĩa địa, kêu lên một tiếng, buông rơi khẩu súng, lằc tay rối rít y như người bị bỏng ngón tay. Có the thấy được những ngón tay của nó đỏ lòm lên. Thế là Secnôivanenkô nhằm thật nhanh và nổ súng.

        Ximhan hoàn toàn bị hút vào cuộc bắn nhau, mãi đến lúc ấy mới nhận thấy cuối cùng dã có người đến tiếp viện.

        — Theo tôi, anh em ơi! — anh thét lên bằng cái giọng dữ dội đúng của vùng Pêrexip, rồi chồm ra khỏi chỗ nấp.

        Nòng súng chĩa thẳng, anh chạy vụt về phía bãi cỏ phủ đầy cúc trường sinh như một lớp mi-ca màu tử đỉnh hương. Noi gương anh, những người khác cũng lao theo. Tất cả cái đó chỉ kẻo dài trong khoảnh khắc. Sự việc tiếp diễn cũng rất nhanh. Những tên lính đang đẩy bà Malriôna Têrenchiepna vào xe và tên lính đang lôi Pêchya, đều buông tù binh của chúng ra, và có bao nhiên tinh thần dũng cảm thì dốc ra hết để làm cái việc tháo chạy về phía đường Uxatôvô, chạy ngoằn ngoèo chữ chi và nhảy vọt qua những chỗ chướng ngại. Cô gái, bím lóc xô tung, bỗng dừng phắt lại như chôn chân tại chỗ, quay ngoắt về phía tên sĩ quan đang lao đâm sầm vào cô. Hai người mặt giáp mặt. Valentin cầm nòng súng giơ lên phang cho nó một cái vào đầu. Tên sĩ quan ngã lăn quay ra. Vừa lúc đó, Xviatôxlap chạy tới. Anh dí nòng súng lục vào tai nó, cau trán, mắm môi, bóp cò rồi lại chạy lên, nhảy thoăn thoắt qua những đống phân bò khô.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Bảy, 2020, 05:57:06 am

        Trong khi bà Matriôna Têrenckiepna mặt hầm hầm đỏ bừng, chạy đi chạy lại trong nghĩa địa và bãi cỏ, nhặt nhạnh các đồ vật vương vãi, và Pêchya khóc rưng rức đưa tay áo quệt máu dưới cằm, thì các người khác bắn thêm vài phát súng nữa vào quân địch đang tháo chạy. Bọn chúng biến mất.
     
        Pêchya ngồi trên một hòm đựng mì ống, mặt ngửa lên trời, tay giơ cao một chiếc mỏ lết của Xviatôxlap đưa cho. Thực ra, muốn cho hết chảy máu mũi thì phải cầm một cái chìa khóa cửa giơ lên. Đó là một lối chữa mẹo dân gian đã lâu đời. Chìa khóa cửa có thể « khóa chặt» mũi lại, làm máu hết chảy. Bà Matriôna Têrenchiepna nhất định bảo thế. Nhưng ở dưới hầm, không ai có lấy một chiếc chìa khóa cửa. Đành phải dùng một chiếc mỏ lết vậy. Nhưng, như ta có thể thấy trước, một chiếc mỏ lết thì chẳng có tác dựng mấy. Máu vẫn cứ chảy và Pêchya chốc chốc lại cau trán, khạc máu xuống đất.

        Bà Matriôna Têrenchiepna đỡ tay Pêchỵa để giữ cho nó càng cao càng tốt, và Raitxa Lvôpna Kôletnisuc thì cầm giẻ lau mũi cho chú.

        — Cố một tý, cháu ạ, sắp khỏi ngay thôi — bà Matriôna vừa nói vừa nâng tay chú bé cao hơn nữa.

        Trong khi đó, Liđia Ivanôpna Anghêliđi chạy vào các hang, tìm hòm thuốc.

        Pechya, mặt lầm lầm, cau mày, tỏ ra bằng toàn bộ tư thế của mình rằng chú có thể lặng lẽ và kiên trì chịu đựng mọi sự đau đớn, đúng như một con người chân chính.

        — Khổ thân cháu tôi, có đau lắm không? — Raitxa Lvôpna nghiêm chỉnh nhìn thẳng vào mặt Pêchya, hỏi.

        Cái câu « khổ thân cháu tôi» nghe nó yếu đuối quá, chẳng có tí gì là hiên ngang, làm chú sôi tiết lên. Chú bé lườm một cái thật dữ tợn, lắc cái đầu đang ngửa ra và rống lên qua đôi môi mím chặt.

        — Con kh...

        — Con chả hiểu cái mỏ lết này thì có tác dụng gì, —  Valentin đi đi lại lại trong hang và nhún vai, rất bực bội, cắn cảu nói — Mẹ, con thấy mẹ quái gở thật. Cứ như thời trung cổ! Bôi canh-ki-dốt cho cậu ấy là xong hết.

        — Đang đi lấy, đang đi lấy rồi... có người đã đi tìm hòm thuốc, và sẽ mang lại đây. Đã kịp thu dọn gì đâu. Nhưng trong khi đợi lấy thuốc, thì cử để cháu Pêchya cầm cái chìa khóa, nó cũng bớt đau chứ... Chị Railxa Lvôpna, chùi cho thằng bé cái cằm.

        Và Raitxa Lvôpna lại lau chỗ máu chảy.

        Pêchya nhìn bà và mãi mới nhận ra được trong người đàn bà nghiêm nghị gày tọp, tóc hoa râm cuốn một chiếc khăn tay thít chặt này, bà Raitxa Lvôpna vui tính, to béo và có ria, mặt đỏ bừng vì hơi bếp, chỉ mới ít lâu đây thôi, ở « biệt thự » của bác Kôletnisuc, đã nhồi cho chú cái món « borsơ » chính cống Ukren và cá rán, và chiều chiều lại đưa đẩy đôi mắt đen to như hai quả mận, cất cái giọng khỏe và say sưa hát những bài Ganxya và Gió thổi... Giờ đây chú nhìn thấy trên nét mặt bà những đường nhăn mới, xa lạ: hai nếp nhăn khô khốc và buồn buồn ở hai hên mép cái miệng có những nốt sần sùi của bệnh sốt.

        Secnôivanenkô đến bên Pêchya, đeo kính vào, sờ cằm chú hẻ và mỉm cười nhìn mũi chú :

        — Thế nào, cái mỏ lết có làm cháu đỡ đau tí nào không ?

        — Có đỡ một phần — bà Matriôna Tèrenchiepna nói.

        — Một thành tựu tuyệt vời của y học — Valentin châm biếm..

        Secnôivanenkô vuốt ve gáy tóc bờm xờm của chú bé. Ánh cây đèn đêm phản chiếu vui vui trên đôi mắt kính ông: trong mỗi mắt kính có một ngọn lửa nhỏ bập bùng cháy.

        — Có lần bố cháu đã đấm cho bác một quả vào mũi.— ông nói — mạnh đến nỗi suốt hai giờ liền bác cứ phải lấy tuyết đắp vào mũi cho hết chảy máu. Nhưng, về phía bác, phải nói là bác cũng đã « thoi» cho bố cháu một quả ra trò! Anh bạn nhỏ ạ, cuộc sống không thể không có xô xát. Chính nhờ thế mà người ta rèn được lòng dũng cảm!

        Trên nét mặt của. Pêchya vô tình thoảng hiện một nụ cười.

        — Đấy, cháu xem, cháu đã cười rồi đây!

        — Lâu chưa hả bác ? — Pêchya hỏi.

        — Cái gì « lâu »?

        — Bác... « thoi» cho bố cháu một quả như thế đã lâu chưa?

        — Chả lâu gì đâu, — Secnôivanenkô nói rất nghiêm chỉnh — mới độ băm nhăm, bốn mươi năm gì đó thôi.

        — Lâu thế rồi cơ ạ? Không phải, bác nói đùa chứ gì ? — Pêchya nhè nhẹ rên rỉ.

        — Thế mà lâu ư? — Secnôivanenkô thốt lên — Mới đầu thế kỷ hai mươi này thôi mà ! Cháu hỏi bácMatriôna Têrenchiepna mà xem.

        Chú bé nghi hoặc hết nhìn Secnôivanenkô lại nhìn sang phía bà Matriôna:

        — Không phải, có thật thế không bác?

        — Đúng đấy, cháu Pêcbya ạ, đúng đấy — bà nói — bố cháu và bác Gayrick hồi ấy còn bé hơn cháu, và tôi thì bé tí ti. Và hồi ấy, ở vùng chúng tôi, thôi thì người ta gọi là «phạng». Cũng như bây giờ người ta gọi là « tống ».


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Bảy, 2020, 05:57:25 am

        Với một vẻ buồn buồn âu sầu, bà Matriôna Têrenchiepna ngồi bên Pêchya, nắm trong bàn tay to lớn của mình bàn tay mềm mại của chú bé đang cầm chiếc mỏ lết. Còn Pêchya thì, mặt vẫn ngửa, kinh cẩn liếc nhìn cái bóng dáng giản dị, hiền lành, mà lại rất hiên ngang, gần như đáng sợ của bác Gayrick với chiếc măng-tô tàng tàng « hải ly », dây lưng giắt một khẩu súng lục « Nagan » có que thông nòng bằng đồng, và túi áo để thò ra một cái mỏ lựu đạn. Pêchya ngắm nhìn ông như một nhân vật thần thoại. Mà thần thoại thật. Ngẫm mà xem, đó chính là ông Secnôivanenkô, người bạn xưa của bố mà khi thả hồn bơi theo ký ức, bố chú và bác Kôletnisuc vẫn hay nhắc đến. Chính ông, cái chú bé tí ngày xưa, bạn thuở nhỏ của bố, cháu một người dân chài, đã đứng trước mặt chú bằng xương bằng thịt, trông không còn trẻ trung gì, một người hoạt động bí mật, được ảnh lửa tù mù của cây đèn đêm làm bằng nguyên liệu nhặt nhạnh, chập chờn trong ngóc ngách đường hầm, le lói soi sáng.

        Pêchya nhìn bác Gayrick và lòng chú rung động lên vì kiêu hãnh. Phải! Chú có quyền kiêu hãnh lắm! Chú đã tham gia, ngay trước mặt bác Gayrick, kề vai sát cánh với anh em du kích, vào một trận chiến đấu chống quân phát-xít. Chú đã hành động dũng cảm đúng như một thiếu niên tiền phong hành động. Chú đã là người đầu tiên phát hiện ra chiếc xe tải chở lính địch và đã là người đầu tiên khai chiến, ném quả lựu đạn về phía xe. Chú đã bị thương và chỉ một ly nữa là bị bắt làm tù binh. Chúng đã túm được chú rồi. Nhưng, chú đã ra sức giãy giụa. Chú đã vung tay đấm, đả, cấu, cắn. Và rốt cuộc chú đã thoát được. Thực tế thì trái lựu đạn chú ra sức ném về phía chiếc xe tải của quân Rumani không nổ, vì chú không biết cần phải mở chốt an toàn. Nhưng bù lại, nó đã lao gần tới sát cái xe. Nói đúng ra không phải chú bị thương. Máu mũi chú trào ra là do chú đã gắng sức quá. Nhưng có hề chi: một trận chiến đấu đã xảy ra, chú đã tham gia, và có thể mạnh dạn coi rằng chú đã bị thương. Nói cho cùng thì chú máu me đầy người. Máu chảy ròng ròng trên mặt chú. Còn tất cả những chuyện khác hoàn toàn đúng như đã xảy ra: một thằng phát-xít đã túm lấy chú, chú ra sức nắm tay nện vào đầu nó, lấy móng tay cào cấu mặt nó, giận dữ hét toáng lên và cuối cùng, đã cắn tay nó mạnh đến nỗi nó phải kêu lên. Chú bé vẫn còn cảm thấy mùi bàn tay thằng lính và răng lợi chú vì cái cắn ấy bây giờ vẫn còn nhức.

        Chú đã sống mấy giây phút ghê gớm làm rung động toàn bộ cơ thể chú. Có thể chú chưa hiểu tất cả những gì xảy ra. Nhưng ngược lại, biết bao vui sướng, biết bao cảm xúc mới và phi thường đã xâm chiếm lấy chú khi mọi việc đã hết và chú thấy mình cùng với Valentin và mẹ cô đã ở dưới đất, trong hầm đá! Raitxa Lvôpna chắp hai tay lại và lao đến ôm chầm lấy chú, nói mãi với một vẻ hoảng hốt:

        — Lạy Chúa ! Pêchya! Cháu ở đâu ra thế ? Cháu ở đâu ra thế này? Cháu làm sao mà lại rơi vào đây?

        Bà cứ đinh ninh là chú đã tới Mạc-tư-khoa từ lâu rồi. Thế mà, thình linh, chú hiện ra ở đây, trước mắt bà, áo quần tả tơi, tóc tai bờm xờm, máu me, mặt bừng bừng như lửa và hai mắt long sòng sọc, trông như than đá.

        Áp tay áo bông ngắn rách vào mũi đang chảy máu, Pêchya bắt đầu kể đầu đuôi câu chuyện của chú bằng một giọng nghẹn ngào, nhưng vừa lúc đó Secnôivanenkô đã tiến đến bên chú.

        Con trai của Piôt Vaxiliêvich ! Đối với Secnôivanenkô, đó là một cái gì hết sức trừu tượng, gần như không thể tưởng tượng được và hơi khôi hài nữa là khác. Ông nhìn cái mặt nhọ nhem, đó bừng bừng với đầu tóc rối bù của thẳng bé, rất ngạc nhiên thấy ở nó những nét của Pêchya Batsây, anh chàng học trò xạm nắng của cái thế giới xa xôi, mờ ảo của thiếu thời ông. Mỗi lần nhìn lại mang tới thêm những bằng chứng mới. Secnôivanenkô cảm động kéo thằng bé về phía mình và ôm nó nép vào cái măng-tô « hải ly » của ông. Ông lấy tay áo lau mặt cho nó, tò mò ngắm nhìn nét mặt ngượng ngập đỏ bừng của nó, và vụng về hôn lên mái tóc khô, bụi bặm của thằng bé, nhưng trong bụng ông lại tự trách minh về sự âu yếm đó.

        — Thôi, đủ rồi đấy — ông đẩy chú bé ra, nói vẻ bực mình — Nhưng bác phải nói cho cháu biết: bố cháu, hồi còn bằng tuổi cháu, giống cháu cứ như đúc. À mà bố cháu bây giờ đâu?

        — Dạ ra mặt trận, — Pêchya nói.

        — Ra mặt trận ! Tốt lắm... Nhưng cũng lạ nhỉ! — Secnôivanenkô thốt lên—Môchya, cháu thấy thế nào? Giống không, nó giống bố nó không?

        — Hệt Pêteska từng nét,—Matriôna Têrenchiepnanói, và thấy máu ở mũi chú bé lại chảy ra, bà chạy lăng xăng, tíu tít...

        Cuộc sống mới của Pêchya dưới đường hầm đã bắt đầu như vậy.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Bảy, 2020, 05:58:28 am

       
46

        Hòm ấy là một ngày cuối thu, ảm đạm và ẩm ướt, một ngày vừa chóng tối lại vừa kẻo dài nặng nề, không mang lại một tia vui nào, cũng như không hứa hẹn một tia hy vọng xa xôi tốt lành nào cả. Những ngày tháng một như thế, làm ta buồn phát điên lên được, thường gặp ở phương Nam, nơi không thể quên được những màu sắc tươi vui và mát mẻ của mùa hạ.

        Từ sáng sớm Piôt Vaxiliêvich đi lang thang trong thành phố, cố tránh không trở lại hai lần một chỗ. Anh đi mãi từ phố này qua phố khác, ngang dọc thành phố, qua tất cả các ngả đường, nhưng vẫn không tìm đâu được một chỗ thích hợp để nghỉ chân. Ở đâu cũng không có lối thoát.

        Gió mang hơi ẩm ở ngoài biển vào. Mưa lạnh lẽo rơi, khi nặng hạt, khi nhẹ nhàng, khi xối xả quất mạnh như đạn bắn, khi nhẹ nhàng bay như màn bụi mỏng. Thành phố hầu như trống rỗng. Chỉ trên các đường phố chính mới thấy những chiếc xe con của bọn Đức đi lại, phủ đầy bụi xám đường trường. Ở các ngã tư, đều có trạm gác của bọn s. s. Trên các quảng trường và các đường lớn, bọn công binh đang vội vàng xây dựng các ổ liên thanh hoặc đổ bê-tông xây công sự cốt sắt. Những chiếc áo choàng vải nhựa lỏng lánh nước mưa, với những chiếc mũ kê-pi rộng cứng thêu phù hiệu vàng của bọn sĩ quan Rumani, hiện lên kỳ dị trong ánh sáng mờ đục.

        Giữa những bức tường đổ nát và những thanh sắt cong queo, lúc nhúc những người mang cáng chất đầy gạch, vữa vụn. Đó là dân chúng bị chính quyền chiếm đóng động viên đến thu dọn thành phố. Nhưng có cách gì thu dọn thành phố cho gọn gàng được? Trên các tường và cột yết thị bằng bê-tông, nòi bật lên những vệt trắng của các bản công bố in bằng hai thứ tiếng của bộ chỉ huy quân sự, lời lẽ hà khắc quái gở. Dọc theo một số ngôi nhà, thấy phản chiếu trên mặt đường nhựa ướt át, những bóng đen im lìm, nối đuôi nhau, của những người đến đăng ký. Trong thời gian đầu, cái «trật tự » này, đè nặng lên lương tri mọi người, đã ngự trị khắp nơi và là niềm kiêu hãnh của bọn chiếm đóng. Dưới các cửa cổng, những người giữ cửa mang tạp-dề trắng đeo những tấm biên kim loại mới toanh.

        Quân đội đã bố trí xung quanh vùng ngoại thành, trong các khu phố ngoại ô. Ở đấy, trên các sàn bãi ngổn ngang những xe cộ Rumani bùn dày cộp, các « bếp lưu động » đang nhả khói; những điệu kèn tập họp không đúng điệu, đột ngột vang lên nghe ghê cả răng; tiếng ồn ào thô lỗ của đám đông, của giày bốt gióng bước đi đều; và của những mệnh lệnh nhát gừng bằng tiếng ngoại quốc, rõ ràng hơn cả những bản tuyên bố, nói lên niềm tai họa hãi hùng của nhân dân thành phố.

        Batsây đi lang thang khắp thành phố, tránh các phố ngoại ô và các phố chính, ông đã chọn các khu phố tiếp giáp, những phố cùng một kiêu vạch theo một đồ án hình học, giao nhau theo góc thẳng, những đường hành lang vẳng vẻ và vô tận, luôn luôn bị che phủ dưới một màn mưa mù không ngớt; ở đây, giữa những hàng dạ hợp trụi lá dài dằng dặc, ông có thể như lẩn vào khoảng không mù sương, tan đi, biến thành ma quái cũng như những cây dạ hợp ma quái ấy. Ông bước đi, thoáng qua như một bóng ma giữa những thân cây đen quét vôi trắng đến lưng chừng. Thị giác và thính giác của ông đã nhạy bén. Ông dựa được vào đâu nữa? Ông có còn kế hoạch gì nữa không? Thực ra ông không có kế hoạch gì nữa và cũng không biết dựa vào đâu nữa. Tự đáy lòng, ông chỉ còn trông mong vào một sự kỳ diệu nào đó. Ông tưởng như được một sức mạnh siêu phàm dẫn dắt. Chân bước mà gần như không biết mục đích và tại sao mình đi nữa. Như một người mộng du trên gờ mái hiên. Nhưng đồng thời ông cũng trông thấy tất cả quanh mình chính xác lạ thường, nhận ra từng vật nhỏ, từng chi tiết, từng biến đổi nhỏ nhặt nhất của cảnh vật xung quanh.

        Ăn mặc như ông, một cái xvitkia kiểu Môndavi dệt tay, nhuộm bằng vỏ hành, ông không còn là ông nữa. Đầu đội mũ không vành bằng da cừu, tay cằm roi da, lưng đeo túi dết đựng bánh mì và mỡ. Gương mặt xạm nắng, đầy lông lá, với bộ râu dày đặc, bộ ria mép đen ngòm, đôi mắt nâu gần như đen hơi giống một anh chàng di-gan, tất cả những cái đó rất phù hợp với bộ y phục ông mặc; cái quần len dệt bó trong đôi tất len với đôi giày pôxtôly mũi nhọn bằng da cừu buộc dây da sống, càng làm ông giống một người Mônđavi có tuổi, ở một làng xa xôi ra chợ bán hàng, rồi từ chợ thẳng lên tỉnh mua sắm. Trong ngực, ông giấu một tấm giấy phép cư trú cũ trước cách mạng, cuộn trong một mảnh giẻ, cấp cho tên Xaya Timôfêiêvich Ulierơ, dân cày làng Buđaki, huyện Akecman, chính phủ Betxarabi, với một con dấu mới toanh của sở hiến binh Rumani. Tài liệu này do bà con dân làng cung cấp cho ông khi ông ẩn trốn ở nhà họ trong làng Buđaki, sau khi đơn vị pháo của ông bị phá hủy và ông bị bao vây. Piôt Vaxiliêvieh đã xuất trình cái tài liệu cổ lỗ sĩ này nhiều lần rồi, và đến tận bây giờ nó vẫn rất trót lọt.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Bảy, 2020, 05:35:47 am

        Cái kế hoạch mà Piôt Vaxiliêvich đã suy nghĩ nhiều, khi ông ẩn trốn ở Buđaki, không hoàn toàn thích hợp nữa. Ổng chỉ còn mỗi một mong muốn : vượt qua trận tuyến thật nhanh để trở về với đồng đội. Nhưng bằng cách nào thì ông chưa biết một tí gì. Ông đã định liều lẻn vào Ôđetxa ; ở đấy ông chắc sẽ tìm được người quen, bất cứ người nào, rồi sau đó tùy hoàn cảnh mà hoạt động. Thế là ông lang thang ở Ôđetxa từ phố này sang phố kliảc, hy vọng tìm thây đâu đó một chỗ trú ẩn, một bộ quần áo thành phố, và một sự giúp đỡ.

        Trước hết, ở chợ, ông đi thẳng một mạch về phía ngôi nhà Kôletnisuc, nơi ông đã để lại đồ đạc. Ông đã đi qua ngôi nhà nhưng do dự không vào. Ngôi nhà như không có người ở, nhưng mặt ngoài lại được sang sửa, mới sơn lại, trên bậc cửa có một người giữ cửa lạ mặt và khả nghi, nên trông nó có một vẻ gì không lành. Người gác cửa mang tạp-dề mới tinh chưa giặt lần nào, trên ngực đính một tấm thẻ mới, nhìn theo ông, nên Piôt Vaxiliêvich cố không rảo bước, vội vã rẽ vào một góc phố.

        Điều mà trước đây ông tưởng rất đơn giản và dễ dàng, nghĩa là tìm thấy bất cứ người quen nào, trú ở nhà họ, bận quần áo thành phố vào, rồi kiếm một công việc gì đó làm, tất cả cái đó, bấy giờ ông thấy hình như hoàn toàn không thể được. Tất cả mọi nhà, mọi cổng, thậm chí cả các phố, các ngõ, tất cả, ông thấy hình như đẩ bị niêm phong kín mít bằng một con dấu vô hình, ông vấp phải những người kỳ lạ, như hoàn toàn khác hẳn những người trước kia. Ở họ, ở những người khách qua đường kỳ lạ đó, có một cái gì vừa hết sức ác cảm lại vừa hoàn toàn lỗi thời. Có một ông già khoác áo ba-đờ-xuy rộng và ngắn bằng da hải ly, đội mũ quả dưa, nách cắp gậy mềm; chiếc cổ cồn cao hồ bột gẫy góc như tấm danh thiếp để lộ cái yết hầu đỏ như mào gà tây. Ở tất cả các ngã tư, loa phóng thanh sủa bằng một thứ tiếng Nga nặng nề, hơi lỗi thời, truyền đi các bản thông cáo Đức. Nghe chỉ muốn bịt lỗ tai lại.

        Đây đó, trong các quán hàng, mấy mụ đàn bà béo quay, vẻ đanh đá, tai đeo vòng to tướng, đội mũ và mang bao tay ren, bán bánh ngọt tự làm, nến tự sản xuất, chanh Ý-đại-lợi và kẹo chua, loại kẹo « mông-păng- xi-ê » rõ ràng là của chế độ cũ, đựng trong những lọ sành, nhưng không phải những lọ sành tròn thường thấy, mà những lọ sành Rumani bốn cạnh, dán nhãn hiệu sặc sỡ. Nhiều nhất là những loại kẹo « mông-păng- xi-ê » đập vào mắt, nom rất khó chịu. Khó chịu vì những màu mực hóa học, một màu hồng lốm đốm tím, xanh lực. Còn nước ngọt đựng trong những chai con, thì có một màu hóa học, không hiên tại sao, rất quái đản, xấu xí, một màu hoa cà như thuốc tím pha loãng.

        Vứt bỏ cả tên họ, mang giấy tờ của một kẻ khác trong túi áo, ông đi như người bị lùng bắt, liếc nhìn vào các cổng ngõ đóng kín, các người gác cửa, các chú hiệu, các toán tuần tra Đức và Rumani, các bản đồ địa lý Rumani và Tranxnixtri bày trong tủ kính các hiệu sách. Lúc nào cũng có thể bị rơi vào tay bọn phản gián địch, ông đi mỗi lúc một nhanh qua các phố sương mù, u ám, qua những hành lang bằng đá như những hành lang trong một ngôi nhà tù khổng lồ. ông tưởng như quanh mình không còn lấy một người nào thân thuộc nữa. Cuối cùng, ông biết kế hoạch của minh không dẫn đến kết quả nào cả. Chỉ còn một cách là trở lại chợ, tìm lại chiếc xe đã chở ông tới, rồi trở về Ruđaki.

        Piôt Vaxiliêvich quay trở lại chợ. Đường đi chạy dọc theo ngôi trường ông học ngày xưa. Ở đằng xa, thoạt nhìn ông đã nhận ra ngay cái bóng đáng quen thuộc của nó. Ông lần theo dẫy hàng rào sắt nho dại bám chằng chịt, cái cổng vào rộng thênh thang. Trên bậc cửa trường, có mấy tên lính Rumani đứng gác. Ông đi sang hè bên kia. Sau chấn song sắt của cánh cửa rất quen thuộc ấy, lấp lánh một cái sân cũng thân thuộc: đã bao lần, thở hổn hển vì sợ trễ, ông đã chạy tới cái cửa ấy, chạy qua cái sân rải sỏi bụi bặm ấy, nghe tiếng chuông rung lần thứ ba và tiếng hộp bút lách cách trong cặp. Bây giờ ông lại sợ mình nhìn quá tha thiết vào mảnh sân đó, hiện có bọn lính ngoại quốc choàng áo ca-pốt xanh không cài khuy, tay cầm bình-toong đang đi lại.

        Hai tên sĩ quan Rumani, có vẻ thuộc các đơn vị hậu cần hay tham mưu gì đó, đang tiến về phía Piôt Vaxiliêvich.  Chúng đội mũ cát-két nhựa to tướng, chân mang bốt sít sao, sáng loáng, có cả đinh thúc ngựa, và tay cầm roi. Căm thù sôi sục nhưng bất lực, Batsây bỏ vỉa hè bước xuống đường, nhường chỗ cho chúng, ông cất mũ và nghiêng mình chào theo kiểu dân cày. Chúng cũng không thèm để ý đến ông, cứ tiếp tục nói chuyện với nhau bằng tiếng Pháp theo giọng địa phương, ưỡn ẹo bước trên những phiến đá phún thạch màu xanh nhạt của đường phố xô-viết, xem như đó là của riêng chúng cùng với nhà cửa, hàng cây dạ hợp, mảnh trời âm u trên các mái nhà ướt át.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Bảy, 2020, 05:37:36 am

47

        Gần đến nhà ga, Piôt Vaxiliêvich biết ngay, từ xa, ở chợ cũng không có gì hay ho. Ở đây, sau những đống đổ nát của tòa án và sở cảnh sát Alêcxanđrôpxki, trong đám đông mà sương mù âm u làm cho có vẻ chen chúc và xanh thẫm, đang diễn ra một cảnh nhốn nháo đáng lo ngại. Người ta bỏ chợ chạy trốn lung tung. Vài phát súng nổ lẹt đẹt, nghe nhỏ đi qua sương mù. Piot Vaxiliêvich biết là đang có cuộc vây ráp. Ông rẽ ngay sang phố gần nhất đó.

        Sương mù dày đặc. Batsây thoát ra đại lộ Prôlêtacxki, nơi có đoàn xe tải ngụy trang đang từ từ tiến lên. Ông vòng theo ngôi trường trung học sổ ba cũ, rồi đi vào ngõ Nha khí tượng, hy vọng qua đấy có thể ra tới bờ biên. Nhưng đến ngay giữa ngõ thì ông thấy một bốt gác Rumani. ông biết khu phố bờ biển đã bị bao vây. ông rẽ lần nữa rồi đi ngược về phố chợ theo hướng vào trung tâm thành phố. Nhưng ở góc phố chợ và phố Maraliepxkaia cũng có một bốt gác khác đang kiểm soát giấy tờ. Rõ ràng là trong tất cả các khu phố, các cuộc vây ráp đã bắt đầu cùng một lúc.

        Batsây lại lộn lui và lại tới gần trường trung học số ba cũ. ông rẽ sang phố Trôitxkaia và chợt thấy một toán đông tù binh tay xách hành lý bị bọn hiến binh thuộc đoàn kỵ binh mang áo khoác lóng lánh nước mưa áp giải, đang bước đi trên đường lát đá hoa cương ướt át. Tiếng ồn ào sợ hãi và âm ỉ của đám đông đi nhốn nháo, tiếng khóc nghẹn ngào của những người vợ, tiếng vó ngựa bọc thép lách cách và tiếng thở hồng hộc của bày ngựa đang lồng, tràn ngập đường phố.. Tất cả những tiếng động đó làm Batsây đau đớn nhớ lại những ngày đen tối của thành phố Ôđetxa năm 1905, và những ngày chống bọn can thiệp năm 1918 dưới thời bè lũ Đênikin... Ông gần như ngạt thở thật sự vì những tiếng vang não nề đang tràn ngập trên đường phố kia. Không nghĩ ngợi gì cả, ông đi thẳng vào cái cổng đầu tiên, quên bằng mình là một người dân cày Betxarabi. May sao, cổng đó không dẫn tới đâu cả. Ngôi nhà đã đổ nát, chí còn cái sườn rỗng, cái cổng với hai cánh mở toang vì hơi bom. Giữa những đống rác bỏ quên, loạng choạng trên những phiến đá đầy vỏ sò vỏ ốc, bám vào các sà bằng sắt, Batsây đi ngang qua một cái sân cũ và đứng trên một bãi đất hoang rộng; chỗ này mùa hè, chắc phải có một vườn rau. Hiện giờ, ở đấy đất bị xới tung lên thành những đường chiến hào và những hố bom. Lúc đầu ông không nhận ra bãi đất hoang đó. Nhưng rồi ông cũng nhận ra được. Ông biết rõ bãi đất hoang này từ hồi nhỏ. Nó ở gần công viên Alecxăng đệ nhị cũ, bây giờ gọi là công viên văn hóa và an dưỡng Sepsenkô.

        Ở đây không thấy một bóng người nào. Batsây thấy chỉ có một lối thoát. Lọt vào trong công viên qua bãi đất hoang, rồi từ đó đi xuống Lanjêrông ; ở đây ông có thể nghỉ lại một lúc trong các núi đá hay trong một ngôi nhà nghỉ mát nào đó của khách mùa hạ hiện đang đóng cửa. Vào mùa này công viên thường vắng khách.

        Lúc Piôt Vaxiliêvich còn đi qua các phố trong bộ quần áo dân cày thì ông chưa có gì khả nghi đặc biệt. Nhưng bây giờ ông đang nhảy trên những chiến hào ngập cỏ và đang chui qua những hàng dây thép gai gỉ trong các vườn cây, tìm đường về phía công viên Sepsenkô, không những ông có vẻ khả nghi, mà trên quan điểm một tên lính hay một tên cảnh sát, ông còn có vẻ một tên tội phạm công khai. Nhưng ông không có lối thoát nào khác nữa.

        Tới giữa bãi đất hoang, Batsây để ý đến một thứ cây, kỳ dị, cong cong, đơn độc. Rành rành là một cây dạ hợp cổ thụ bị bom đánh gẫy. Ở đấy, lủng lẳng một vật dài ngoẵng giống như một người treo cổ, đầu ngoẹo về một bên. Giữa bãi đất hoang bị tàn phá, cái thân cây đơn độc đó đã gây nên một cảm giác nặng nề, làm cho Piôt Vaxiliêvich như vô tình cứ phải quay lại nhìn không thôi, vẫn vô tình, ông đổi hướng đi và lại gần cái cây. Thực tế đó là một người bị treo cổ. Mớ tóc hung hung xõa trên một gương mặt hết sức đày đặn và rất đẹp gục xuống đất. Đôi bàn chân không, đen đủi, ngón co quắp thò ra ngoài chiếc quần ngắn màu xám, đung đưa nhẹ nhàng, lướt trên ngọn có; một mẩu bìa có ghi dòng chữ bằng bút chì bi chảy: « Bônsêvich » ghim trên áo sơ-mi đẫm màu, rách tả tơi.

        Mấy con quạ ở trên cày bay vụt lên rồi lượn là là trên mặt đất về phía công viên Sepsenkô. Batsây có cảm tưởng một con quạ đang ngoái cổ lại, xoi mói nhìn vào mặt mình, ông lau mồ hôi trán và cố không nhìn lại đằng sau, cứ tiếp tục bước tới. Bàn tay nằm chặt đến đau cả ngón. Mấy con quạ đã lượn vòng quanh những gốc cây trụi lả trong công viên và dài giọng kêu quang quác.

        Ôi chao, đối với Piôt Vaxiliêvich, những cây dạ hợp đen và to lớn ấy, sao mà thân thuộc thế, không phải những cây màu trắng mà là những cây dạ hợp thuộc một loại khác, loại mọc ở bên này núi An-pơ, gai dài và nhọn như gai mận dại với những băng đen đính ở quả.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Bảy, 2020, 05:38:05 am

        Ông leo qua bức tường đó công viên. Không một bóng người trong công viên. Giẫm trên những đống lá rụng nhỏ lăn tăn và ẩm ướt, Piôt Vaxiliêvich bước đi không một tiếng động từ cây này sang cây khác và dừng lại nghe ngóng, ở từng gốc cây. Ông nín thở, sợ làm tan mất không khí im lặng đang vây lấy ông như một bức tường. Không một tiếng động. Chỉ ở phía bên trái, nơi công viên kế cận với phố Maraliepxkaia, phía bên kia bức tường có bậc lên xuống, mới nghe có tiếng ồn ào của thành phố đã dịu xuống trong cảnh mùa thu tịch mịch. Ông lắng nghe. Trong những tiếng ồn ào quen thuộc của đường phố, thính giác căng thẳng của ông nhận ra một tiếng động có vẻ khác lạ. Có lẽ ở phố Maraliepxkaia đã xảy ra một việc gì khác thường. Giữa những thân cây đen, có những ngôi nhà lộng lẫy, những cột đèn lồng cao đẹp, những dẫy hàng rào bằng gang một nửa bị lấp dưới những tay leo màu đó thắm của một dàn nho dại đang tàn. Do vị trí đặc biệt ở trên bờ biên, phố Maraliepxkaia được coi như một phố đẹp nhất của thành phố; tuy vậy, ở đó không bao giờ có quang cảnh nhộn nhịp. Nhưng lúc bấy giờ, Batsây nhận thấy cảnh đi lại hết sức nhộn nhịp và giữa những hàng cây, có một đoàn ô tô và xe vận tải chạy không ngớt. Ô-tô đến đậu ở cửa tòa nhà mới đồ sộ của sở N.K.V.D. Xe tải thì vượt qua cửa, giữa tiếng rú dồn dập của động cơ bị đốt nóng quá độ.

        Bên kia tường, lố nhố mũ cát-két và lưỡi lê của bọn lính canh. Có thể xác định là phố Maraliepxkaia đã bị bao vây và Batsây nhận ra ngay ý nghĩa sự việc vừa xảy ra. Các đoàn kiểm tra Đức và Rumani đã vào trong tòa nhà lớn của sở N.K.V.D. Có thể thấy được ngay nguyên nhân những cuộc vây ráp, cũng như thực chất của cái bóng nặng nề đè trĩu lên các đường phố trở nên vẳng vẻ như những hành lang trong nhà tù.

        Căn cứ vào vẻ nhốn nháo và tiếng ồn ào, mà Piôt Vaxiliêvich cảm thấy bằng trực giác hơn là do mắt thấy hoặc tai nghe, ông có thể đoán biết chính lúc ây là lúc bộ chỉ huy tối cao đang dọn đến ngôi nhà. Phải chuồn thật nhanh khỏi đường phố nguy hiểm này. Ông rảo bước và chợt nhìn thấy, giữa những thân cây, xa xa phía trước mặt trong công viên Alêcxăng đệ nhị, các cửa tò vò hình vòng cung, âm u, trần trụi một màu xám ảm đạm. Trên mặt biển màu nâu và cuộn sóng, bốc hơi nghi ngút như một thành phố mới bị bắn phá, đầy những mảnh vụn xiêu vẹo do cơn bão để lại. Thậm chí ở nơi trước đây là một bãi có non màu ngọc bích nằm sưởi dưới ánh mặt trời, với những bụi hồng nở rộ nặng trĩu và nóng hầm hập, bây giờ cũng chỉ thấy bọn lính bận đồ xám, đội mũ cát-két hình ga-men, đang vội vã đào chiến hào, những xe xích sắt mõm vuông với những cỗ đại bác tầm xa màu nâu nhạt đặt trên bảnh cao su đặc, đang đậu giữa đám cây trắc bá như nhưng con hươu cao cổ, đợi công sự đào xong sẽ được đưa xuống. Khắp chung quanh, bọn lính canh đi đi lại lại.

        Piôt Vaxiliêvich nấp sau một thân cây, rồi từ đó ông thận trọng rút lui. Nhưng vừa đi được vài bước, ông lại nhìn thấy qua những thân cây, một toán tuần tra đi tới. Cắn môi đến chảy máu, nin thở, ông rẽ sang một bên, rồi nhón chân chạy. Mặc dù ông chạy hầu như không có một tiếng động, ông vẫn tưởng như mình đã gây nên một tiếng vang ghê gớm. Ông dừng lại và đứng im sau một thân cây đen, nghe rõ từng tiếng tim dập. Rõ ràng công viên đã bị bao vây và sẽ bị «quét sạch». Ngay gần chỗ ông đứng, Batsây nhận ra một cái hầm trú ẩn cũ bằng đất, lấp dưới lá vàng nhạt. Đó là một cái hầm tránh bom có lẽ bị bỏ quên, xây dựng từ đầu chiến tranh cho khách đến thăm công viên. Nhiều chỗ đã sụt lở và ngập cỏ. Những bậc lên xuống bằng, đất hãy còn chắc chắn. Piôt Vaxiliêvich đưa nhanh mắt nhìn quanh rồi, cúi xuống để trán khỏi đung phải mái, chạy xuống theo bậc hầm. Ông mở cánh cửa hầm bằng ván ra và ngay lúc cánh cửa vừa hé mở thì một bàn tay nắm lấy ông, ẩy ông, ấn ông dán vào tường rồi cánh cửa đóng sập lại.

        Tất cả những việc tiếp theo đã diễn ra nhanh như chớp, đến nỗi sau này ông không thể hình dung lại được trong trí nhớ. Dưới ánh sáng lờ mờ và yếu ớt lọt vào trong hầm qua tấm chắn lỗ chỗ, ông thấy ngay trước mặt, một chiếc mũ cát-két đen đính hình đầu lâu của bọn S.S., một gương mặt xám xịt, miệng mím chặt nom rất tàn nhẫn, một bàn tay mang găng da cầm dao Phần- lan chĩa thẳng vào cằm mình.

        — Ruhia — tên s.s. nói khẽ, mặt xán gần hơn nữa vào mặt Piốt Vaxiliêvich. Hắn nhìn ông, đôi mắt lạnh lùng, xanh biếc, nửa bị che khuất dưới bóng chiếc vành mũ to tướng, như dính chặt vào người ông.

        «Thôi, thế là hết... » Batsây tự nhủ. Một luồng máu nóng dâng lên đầu làm ông choáng váng, rồi lại hạ xuống ngay, đến nỗi Piôt Vaxiliêvich cảm thấy óc mình đông buốt và khô đét lại. « Thôi thế là hết ». Tuy thế, gần như bất giác, ông cũng cố tìm cách thoát thân một cách rất ngây ngô.

        — Thưa ngài — ông lí nhí — đây là lỗi của tôi, tôi bị lạc đường. Tôi định đi đến chỗ khác. Xin ngài rộng lượng tha thứ cho tôi...


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Bảy, 2020, 05:38:24 am

        Ông im bặt. Đôi mắt xanh biếc vẫn nhìn ông chằm chặp từ tận cùng bóng tối với một vẻ căng thẳng ghê gớm như cố nhớ lại một điều gì. Lớp da dày ở phía trên chỗ lá mía nhăn lại và phòng lên. Rồi bỗng nhiên, không phải một nụ cười mà là một cái gì xa xăm, thoáng như một nụ cười mỉm. Bóng dáng một nụ cười thoáng nhanh trên đôi môi mím chặt của tên Đức.

        — Tên anh là gì? — hẳn nói bằng tiếng Nga rất sõi.

        — Ulierơ — Piôt Vaxiliêvich nói như rít lên. — Ulierơ ở làng Buđaki, huyện Akecman.

        — Không đúng — tên s.s. nói.

        — Thưa ngài! trăm phần trăm thế ạ. Tôi xin phép trình ngài giấy thông hành...

        — Không đúng. Anh là Piôt Vaxiliêvich Batsây, luật gia ở Mạc-tư-khoa. Đúng không? — Đôi mắt xanh biếc vẫn chòng chọc nhìn ông. Nhưng hây giờ, Batsây nhận thấy trong đó đã ảnh lên một tia vui. Thế là ông nhớ ra đôi mắt ấy. ông nhớ ra cái miệng rộng với đôi môi nứt nẻ, đôi lông mày thẳng và thưa của một con người đôn hậu, cái cồ rám nắng.

        — Trung úy Paplôp! — Piôt Vaxiliêvich reo lên.

        — Ma quĩ nào đã dẫn anh đến đây thế ? — « tên s.s. » hỏi, lông mày nhíu lại.

        — Tôi thoát khỏi một trận bao vây. Tôi ở trong quân đội. Anh cũng tự hiểu... Và... — Batsây bắt đầu kể sôi nổi...

        — Tôi biết — Paplôp ngắt lời ông. — Các chi tiết để sau hẵng hay. Tỏi không có thì giờ. Này... Anh là sĩ quan à?

        Hai người lại nhìn nhau, thẳng vào mặt nhau, hiểu nhau và giây phút ấy đã quyết định số phận của Piôt Vaxiliêvich.

        — Này — Paplôp nói nhanh, không đợi trả lời — và thứ nhất anh nhớ kỹ cho, tôi không còn là trung úy Paplôp nữa, mà là một anh chàng Đrujinin nào đó. Đây là một cái tên Nga bình thường nhưng không kém vẻ nghiêm trang: Đrujinin nghe chưa? « Với bộ đội của mình ở trong pháo đài Sagrat... » Và cứ như thế cho. Anh nhắc lại xem.

        — Đrujinin — Piôt Vaxiliêvich nhắc lại, cảm thấy như tất cả đã xảy ra trong giấc mơ.

        — Lúc này chúng ta không có thì giờ để trao đồi nhiều hơn — Paplôp Đrujinin nói — lúc này, với chúng ta, với anh và với tôi, chỉ có một việc : rút khỏi công viên vô sự. Đi đâu? Ở vào tình thế chúng ta bây giờ, anh cứ dựa hẳn vào tôi. Tôi sẽ tìm cho anh một chỗ tương đối đỡ nguy hiểm. Bằng cách nào? Rất đơn giản. Tôi sẽ áp giải anh như một tù binh. Anh đi trước với đồ đạc và ba-lô, tôi đi sau với một khẩu súng ngắn. Như vậy rất hợp với chúng ta. Anh rõ chưa?

        — Rõ.

        — Thế thì, đồng ý nhé! Anh chuẩn bị đi. Dù có thế nào, tôi vẫn cứ là Đrujinin đấy nhé. Nhưng anh đừng sợ, không việc gì đâu. Còn về quan hệ giữa chúng ta, sau này sẽ xác định rõ hơn.

        Nói xong, Đrujinin chạy lại góc hầm, quỳ xuống và bấm đèn pin lên. Batsây thấy hình như trong góc hàm, ngay giữa đất, dưới một nếp giường ván có một cái máy nhỏ giống như một bình ắc-quy. Nhưng ông không kịp nhìn kỹ vì nó đã bị lưng Đrujinin che khuất; tay anh làm vài động tác, rồi gần như ngay lúc ấy, ở trên cao, về phía bên kia công viên văn hóa và an dưỡng, trong phố Maraliepxkaia, vang lên một tiếng nổ hãi hùng, làm đất dưới chân rung chuyển, hàm trú ẩn lắc lư như một cái buồng con trên tàu thủy, một phần mái che hầm biến mất, đất và lá tung lên, một tiếng vang sắt thép rầm rầm tỏa khắp thành phố thành những làn sóng rộng, một số, làn nọ tiếp làn kia, lan đến chọc vào nhĩ tai.

        Batsây chưa kịp trấn tĩnh và xác định được mối liên hệ giữa những động tác của Đrujinin trong góc hầm trú ẩn với sự việc vừa xảy ra bên ngoài, về phía bên kia công viên Sepsenkô thì đã nghe tiếng chỉ huy ở sau lưng :

        — Bây giờ, chúng ta có thể đi ra. Nhanh lên! Bước! Tôi theo anh!


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Bảy, 2020, 06:32:45 am

       
48

        Piôt Vaxiliêvich, vai mang ba-lô, ngẩn người rảo bước, không ngoái cổ lại, theo sự chỉ huy của Đrujinin; thỉnh thoảng anh này lại giật giọng ra lệnh :

        — Bên phải. Bên trái. Đi thẳng.

        Hoặc bằng tiếng Đức :

        — Rechls, Links, Geradeaus.

        Hoặc nếu hoàn cảnh cho phép, bằng một giọng thân mật, tất nhiên đề khuyến khích Batsây.

        — Đừng hoảng! Tiến lên! Gắng một tí nữa là chúng ta về đến nhà!

        Piôt Vaxiliêvich không được phép ngoảnh lại. Nhưng nhiều lúc, ông không thể đừng được. Cách ông hai thước, một tên s.s. đang nện gót, đầu đội mũ cát-két đen đính hình đầu lâu, tay cầm khẩu « Vante » với đôi mắt xanh vừa thân thuộc vừa xa lạ dưới vành lưỡi trai sơn rộng. Đột nhiên Batsây cảm thấy điều đó kỳ quái quả, khiến chân ông cứ ríu lại và bắt đầu loạng choạng. Thế là sau lưng ông giọng Đrujinin lại dấm dẳng vang lên:

        — Đừng ngoảnh lại. Đã có tôi. Mọi việc đêu ổn cả.

        Thậm chí có lần Đrujinin còn bảo : « Mọi việc đều rất ổn, mỹ mãn ».

        Họ vượt qua suốt công viên không trở ngại gì. Tuy trong công viên có gặp mấy toán tuần tra nhưng cố nhiên không toán nào giữ họ lại. Một toán tuần tra bình thường đời nào dám giữ lại một sĩ quan S.S., tay cầm súng ngắn đang giải vội một tên dân cày bị bắt. Chỉ riêng điều tên dân cày nọ không phải do một tên lính quèn áp giải mà do đích thân một sĩ quan s.s. cũng đã nói lên đó là một trường hợp nghiêm trọng rồi. Đời nào một sĩ quan lại chịu bỏ thì giờ để đi áp giải một tên dân cày bình thường!

        Hẳn tên dân cày là một chính ủy trá hình, một tên gián điệp. Và không kém phần tất nhiên, đó cũng là một sự tính toán đơn giản và chắc chắn của Đrujinin : một sĩ quan s.s. chỉ có thể áp giải một tên « Bônsêvich » trá hình. Ai có thể ngờ, nhất là trong tình thế hỗn loạn chung, giữa lòng thành phố vừa xảy ra vụ nổ dữ dội kia, đó là một người trá hình dẫn một người trá hình khác và cả hai đều là đảng viên bônsêvich.

        Họ ra khỏi công viên và băng qua phố Maraliepxkaia. Đường phố này vẫn bị vây kín nhưng lúc này ở đây đã xảy ra một việc gì khác thường. Tất nhiên Đrujinin có thể  dẫn Piôt Vaxiliêvich đi bất cứ con đường nào khác ít nguy hiểm hơn, tránh phố Maraliepxkaia này ra. Nhưng hình như anh phải đi qua đúng phố Maraliepxkaia. Như có một sức mạnh không cưỡng nỗi thúc anh tiến thẳng về phía có những trở ngại. Răng nghiến chặt nom rất dễ sợ, anh lấy cùi tay gạt một tên lính gác người Rumani ra, thúc mạnh khẩu súc ngắn vào lưng Batsây, hét lên, nhãn vào chữ r một cách dữ lợn: «G-v-r-ra- deaus!» và nhanh gần như chạy, họ băng qua phố Maraliepxkaia, nơi mà những xe cứu thương đang rú ầm ầm mở hết tổc lực đổ tới.

        Piôt Vaxiliêvich có đủ thì giờ nhận xét ở chỗ mới đây còn sừng sững tòa nhà đồ sộ của sở N. K. V. Đ ; hiện giờ trong hầu trời trống không, chỉ còn trơ lại, hoặc đúng hơn còn lơ lửng như một đám mây trắng hòng, những gạch và thạch cao vụn nặng nề, ngột ngạt, qua đó người ta thấy những di tích rùng rợn của ngồi nhà bị mìn phá sụp. Từ những đống đổ nát nhô lên những xà sắt quằn quèo, những song sắt, những đường ống, những lò sưởi trung tâm. Xung quanh ngôi nhà bị mìn, giữa những xác ô tô và xe tải, có những người đứng yên như đóng đinh xuống đất, áo và mũ cát-két phủ đầy hụi thạch cao trắng. Tiếng xe cứu thương rú như từ dưới những đống gạch đổ nát vọng lên. Piôt Vaxiliêvich lại quay lại nhìn Đrujinin. Trong ánh mắt xanh giận dữ của bạn, ông thấy một niềm hân hoan và một vẻ căm thù ghê gớm đến nỗi trong một thoáng ông cũng cảm thấy sờ sợ. Ngay lúc đó Đrujinin hất đầu kín đáo về phía ngôi nhà bị mìn phá, nháy mắt về phía Batsây rồi nghiến răng nói:

        — Sher gai! Đúng không ?

        Piốt Vaxiliêvich bỗng thấy hết sức rõ ràng mối liên quan giữa chiếc máy dưới hầm trú ẩn trong công viên Sepsenkô mà Đrujinin đã cúi xuống điều khiển với những đống gạch rùng rợn này.

        Họ đi nhanh từ phố này sang phố khác. Batsây đi trước, ba-lô trên vai, Đrujinin theo sau với khẩu súng ngắn. Batsây cảm thấy không sợ hãi gì nữa. Cả đến lo lẳng cũng không. Lòng ông tràn đầy một niềm tin tưởng vững chắc lá tất cả sẽ kết thúc tốt đẹp. Đrujinin dẫn ông qua các phố nguy hiểm nhất, băng qua trung tâm thành phố.

        Người ta có thể tưởng cơ hồ như anh muốn đùa với số phận và cố ý xông lên một cách mù quáng. Nhưng bây giờ Piôt Vaxiliêvich đã hiểu trong tình thế của họ, cứ xông thẳng tới là chắc chắn nhất. Càng đông người chung quanh càng tốt. Một tên s.s. mặc ba-đờ-xuy đen với chiếc cát-két khủng khiếp và khẩu Vante trong tay, giải một người dân cày sợ hãi, một đảng viên bônsêvich trá hình, qua đường phố một đô thành mới bị chiếm đóng, là một cảnh tượng quá ư khủng khiếp, cho nên không những dân Ôđetxa mà ngay cả đến những tên lính Rumani và lính Đức cũng vội vàng tránh ra nhường lối cho họ.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Bảy, 2020, 06:33:04 am

        Trời bắt đầu tối. Đường phố vãn đi nhanh chóng. Màn đêm đen như mực mỗi lúc một dày đặc và bay lượn giữa những ngôi nhà im lìm cửa sổ đen ngòm. Trong toàn cảnh phố Risơliơ vắng tanh, và một màu xám ảm đạm, nổi lên hình bóng quen thuộc của Nhà hát thành phố Ôđetxa nổi tiếng. Lúc này cái mái tròn đẹp của nhà hát, bậc tam cấp thanh nhã trang trí bằng những pho tượng, những đường vòng cung với những chiếc đèn lồng bằng gang, những bậc đá hoa cương, tất cả đều như nhuốm một màu xám ươn ướt, đơn điệu, huyền ảo, không có chiều dày, một ảo ảnh.

        — Links! — Đrujinin ra lệnh và vòng theo góc chảy đen một ngôi nhà bị phá hủy, họ rẽ vào phố Ribat.

        Nhưng không, đây không phải phố Ribat mà chỉ là bóng ma của nó. Hai ba đốm lửa leo lét trên con đường vắng tanh. Tất nhiên đều là những ngọn nến hoặc đèn đêm trong mấy cửa hiệu mở theo lệnh chủ mới thành phố. Rồi những đốm lửa ấy lần lượt tắt dần. Các nhà hàng đóng cửa. Chỉ còn một đốm lửa nhỏ yếu ớt, chập chờn, le lói sau một khung cửa số tối om, trong lòng sâu buồn thảm một cửa hiệu buôn.

        Khi họ tới đó, ngọn nến chập chờn cháy bùng lên rồi tắt ngấm. Một người mặc ba-đờ-xuy đen cổ lật lên, đội mũ quả dưa ở trong cửa hiệu bước ra. Lão đặt một chiếc két sắt con lên vỉa hè rồi móc cái ổ khóa to tướng vào cửa. Trong bóng đáng lỗi thời của lão này, có một cái gì vừa hết sức đáng thương lại vừa buồn cười. Lão đặt cái két sắt lên vỉa hè mới cẩn thận, gần như thành kính làm sao ; lão lắc lắc chùm chìa khóa loảng xoảng, khóa cửa mới cẩn thận chu đáo làm sao. Lão vừa giơ chiếc gậy móc lên thì chợt nghe có tiếng chân, lão rùng mình quay người lại.

        Vừa đúng lúc ấy Đrujinin và Piôt Vaxiliêvich tới. Thấy một tên s.s. mang súng ngắn, lão luống cuống nép người vào tường và bỏ chiếc mũ quả dưa xuống, chào gượng gạo theo lối cũ. Nhìn thấy lão, Piôt Vaxiliêvich xuýt kêu lên... Không, ông không nhằm! Không thể nhầm được. Đúng là Kôletnisuc. Anh ấy đứng kia, đồng chí Kôletnisuc, Jorka Kôletnisuc, người bạn học cũ, người bạn thiếu thời của ông, chính Kôletnisuc mà mới ngày nào hai người còn cùng nhau say sưa ôn lại những kỷ niệm cũ. Giờ đây, kẹp cái mũ quả dưa trên ngực, đang cúi rạp người chào tên s.s. áp giải một đảng viên bônsêvich bị bắt. Kôletnisuc nhìn Plôt Vaxilièvich. Tất nhiên là lão không nhận ra ông. Cứ như Batsây hiểu, thì lão chỉ nhìn lướt qua ông, dửng dưng. Kôletnisuc quay người lại, lấy đầu gậy móc vào cái vòng tấm cửa sắt, và tấm cửa từ từ hạ xuống, ken két trong tiếng sắt gỉ. Qua tấm kính giạn mờ của tủ hàng, Piôt Vaxiliêvich nhìn thấy đủ các loại ầm lò, mấy chiếc đồng hồ quả lắc cũ bằng đồng đỏ, mấy cái ô, mấy cái máy hát. Một khung ảnh mạ vàng lố lăng, óng ánh, tựa vào một chiếc máy cũ kỹ của thợ trồng răng có bàn đạp chân và một bánh xe khổ bằng gang. Phía trên cửa hàng, lủng lẳng một tấm biển tạm thời: một tấm băng vải thô, ướt sũng nước mưa, mang dòng chữ trang trí lòe loạt và viết theo lối cũ : « Cửa hàng tầm tầm Jorjơ » «J.N. Kôletnisuc, chủ nhân ».

        Batsây ngỡ mắt mình trông lầm. Thậm chí có lúc ông tưởng mình hóa dại, tất cả đều do ông mê hoảng mà ra : cái mũ quả dưa kia, cái lưng khúm núm kia, lại những chữ viết theo kiểu cũ, với cái két sắt và tiền bán hàng, cùng với cái tên bêu riếu và ngu xuẩn « Jorjơ » kia, giữa đám hoang tàn ma quái của phố Ribat chìm đắm trong cái quầng huyền ảo của những ngọn đèn ngụy trang.

        Nhưng ý niệm về thực tại trở lại với ông ngay. Tất cả đều có thực. Thì ra bộ mặt thực của ông Kôletnisuc là thế đây! Thật là một tâm hồn cao cả! Đường phố vắng tanh. Không ai thấy họ. Ông xuýt nhảy bổ vào Kôletnisuc, nhưng ngay lúc ấy một tiếng nói từ thâm tâm vẳng lên: « Hãy bình tĩnh ». Piôt Vaxiliêvich, chợt trấn tĩnh, cố nén, và cứ đi thẳng qua trước cửa hàng « Jorjơ » của J.N. Kôletnisuc, thậm chí không thèm ngoái cổ lại.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Bảy, 2020, 06:33:47 am

       
49

        Sau nhiều lần rẽ bên phải bên trái, họ đi vào một ngõ hẻm tối om. Cứ xét theo cảnh tượng im lìm, không người, đặc biệt ở đây, thì phần lớn nhà cửa đã bị phá hủy chỉ còn trơ lại xác không.

        — Rechis! — Đrujinin ra lệnh lần cuối cùng ; Piôt Vaxiliêvich quay ngoắt về bên phải, bước vào một lỗ hồng tối om ở một bức tường sừng sững ngay trước mặt.

        Đrujinin đi sau, không kém phần nhanh nhẹn, cũng đã vào trong lỗ hổng. Chắc chắn không có ai theo họ. Nhưng dù có người nào theo thì thoảng đã mất hút họ rồi. Họ vừa mới trên vỉa hè, thế mà họ đã không còn đấy nữa. Họ đã biến mất, tan vào bóng tối.

        Batsây bước vài bước, vấp phải đá và đứng dừng lại. Đrujinin quàng ngay lấy cánh tay ông,

        — Cẩn thận ! — Anh thầm thì. — Coi chừng đụng đầu đấy. Ở đây có một chiếc xà sắt. Đợi một tý, bám lấy tôi.

        Lúc này họ đã đổi chỗ: Đrujinin đi lên trước và Piôt Vaxiliêvick theo sau, tay đặt lên vai bạn. Vì Đrujinin không còn là một tên s.s. mà Batsây cũng không phải là một nông dân tù tội nữa. Bây giờ họ đã trở lại chính họ rồi. Họ cảm thấy hết sức thoải mải, tấn tuồng giả trang đã kết thúc.

        — Ồ ! tôi toát cả mồ hôi! — Đrujinin vừa nói vừa bỏ chiếc mũ cát-két S.S. xuống và lau mò hôi trán.

        Batsây tưởng như sờ thấy được cái nóng ran trên tấm thân nhễ nhại và đôi vai cháy bỏng của bạn. Bản thân ông, mồ hôi cũng toát ra như tắm. Đến bây giờ cả hai người mới cảm thấy hết sự căng thẳng cả về thể xác lẫn tinh thần trong cuộc hành trình quả ư điên rồ táo bạo qua thành phố, với cái chết chắc chắn trên mỗi bước đi, mà lúc đầu tưởng như đơn giản, dễ dàng lắm.

        Họ đi ngang một ngôi nhà bị phá hủy: chắc trước kia là một ngôi nhà vì Batsây có lúc đã đụng phải một bồn tắm dựng đứng, rồi họ tới một cái sân ngổn ngang những đồ đạc gẫy nát. Sau đó họ đi vào cái khoang thang gác sau đã bị phá hủy, và bắt đầu cẩn thận leo lên chiếc cầu thang sắt đung đưa cót két dưới chân. Ở nhiều chỗ tay vịn đã bị tung mất. Vì thế họ phải đi sát vào những mảng tường sót lại và cảm thấy các tảng đá rung rinh. Đến ngang tầng hai, thang gác mất năm, sáu bậc. Đrujinin bíu vào một thứ bàn đạp bằng sắt, tất nhiên đã rất quen thuộc với anh, trườn lên bậc nghỉ cầu thang và kéo Batsây theo. Bằng cách đó họ lên tới tầng ba, hay đúng hơn nơi mà trước kia có một tầng ba. Bây giờ ở đây, không còn tầng ba nữa, và thay vào đấy là một luồng gió ghê rợn thổi hun hút. Tất cả tầng ba chỉ còn một khoảnh đầu cầu thang nhỏ xíu với một mẩu cầu thang của cái gác xép chênh vênh trên mảnh sân thăm thẳm. Họ đứng thở một lát rồi Đrujinin bắt đầu leo lên cái gọi là cầu thang gác xép, xoắn tay cố với ra sau lưng nắm chặt lấy tay Batsây. Cầu thang đưa họ lên cái gác xép lơ lửng như có phép mầu trên tầng ba không còn nữa. Gác xép bắc trên mấy đoạn xà hình chữ H đôi từ bức tường phía trước còn đứng vũng. Nhìn từ dưới lên hình như mẩu gác xép và mẩu mái nhà còn nguyên kia với cái cột ăng-ten và cả cái cửa thông hơi trên mái, là kết quả của một sự ngẫu nhiên kỳ quái nào đó sau vụ nổ. Và tất nhiên không ai lại nghĩ rằng có người ở được trên cái mẩu gác xép nhỏ xíu, chênh vênh ấy. Trừ phi nơi đó là đại bản doanh của Đrujinin.

        — Thế là chúng ta đã về đến nhà rồi. Đrujinin nói khi lách qua cửa gác xép.

        Batsây cảm thấy dưới chân có một cái sàn, tất nhiên là sàn gác xép, một cái sàn đất, rất dốc nhưng khá chắc chắn, khả vững chãi, và trên đầu là một mái sắt.

        — Misa, câu có đấy không? — Đrujinin hỏi.

        — Có tôi đây — từ trong bóng tối một giọng nói rất tự nhiên, rất thân thuộc, hơi ngái ngủ nữa, đáp lại; một giọng nói không ngờ lại phát ra từ những đống vôi gạch đổ nát của một căn gác xép lơ lửng giữa trời, nằm sâu sau lưng một kẻ địch tàn bạo, mà tường như ở đâu đó, một buổi tối, giữa một thành phố xố-viết nhỏ, thanh bình, trong một căn buồng sinh viên đầy đủ tiện nghi.

        — Thế nào cậu có hài lòng không?—Đrujinin hỏi với một vẻ đắc thắng không giấu nôi.

        — Tôi đã tưởng cái gác xép của ta đi tong mất — Misa nói từ trong bóng tối.

        — Nổ mạnh thế à?

        — Còn phải nói! Kinh khủng ! Cách hai cây số, tất cả cửa kinh vỡ hết.

        — Câu biết ngay chứ ?

        — Tất nhiên.

        — Mình cũng tin chắc cậu biết ngay.

        — Một thằng ngu cũng có thể biết nữa là! Có ai đến với anh đấy ?

        — Một nông dân cá thể vô danh người Mônđavi — Đrujinin vui vẻ nói — Piôt Vaxiliêvich ngồi xuống, anh.

        — Cảm ơn. Nhưng ngồi đâu? Tỏi chẳng thấy gì cả.

        — Mísa, đốt đèn lên một tí. Cậu cứ rúc trong tối như chuột chũi ấy.

        — Có thể — anh chàng Misa vô hình vui vẻ nói — Tôi tiết kiệm nến. Để kiểm tra lại ngụy trang rồi tôi đốt đèn.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Bảy, 2020, 06:34:22 am

        Một lát sau, có tiếng bật lửa xành xạch và một ngọn nến cháy bùng lên. Batsây thấy mình ở trong một căn buồng nhỏ, tứ phía căng vải bạt, chăn, áo ca-pốt. Trên sàn gác nghiêng, trải một mảnh dạ cũ, tất nhiên là gỡ ở một tấm cửa ra, và một chiếc ghế ô tô, lò xo chống cả lên trời. Trên đòn tay, treo một bi-đông tướng bọc dạ và một khâu Mô-de đựng trong hộp gỗ. Ở bên dưới, trên sàn nhà, có một cái hòm gỗ dán buộc dày thừng, một chiếc va-li con, loại va-li cổ bằng mây đã sờn hết, loại va-li thanh niên thường mang theo từ các tỉnh đến Mạc- tư-khoa để vào đại học. Một cây nến Rumani màu vàng gắn trong một cái vỏ hộp thịt nhà binh đặt đứng trên sàn nhà và, vì sàn nhà nghiêng, để nến không chảy lệch sang một bên, dưới hộp kè một bao diêm Rumani dán nhãn hiệu xanh đỏ. Misa là một chiến sĩ bé nhỏ, chắc nịch, vận áo bông đen, giày và xà-cạp màu hoe nâu, với đôi lông mày vàng khiến không những gương mặt tròn trĩnh của anh trở nên đặc biệt tươi tắn và hồng hào, mà mắt anh cũng ngả màu hồng.

        — Làm quen nhau đi.

        — Tiểu dội trưởng Vetxêlôpxki, — Misa vừa nói vừa chìa lay cho Piôt Vaxiliêvich.

        — Trung úy Batsây.

        — Rất sung sướng.

        Họ siết chặt tay nhau và Misa ngồi xếp bằng tròn xuống tấm dạ bên chiếc hòm và chiếc va-li. Chắc chắn đó là chỗ và kiểu ngồi ưa thích nhất của anh. Piôt Vaxiliêvich nằm dài trên tấm dạ và duỗi mình khoái chá. Chân ông đau, nóng hổi, giậm giật, ông gối đầu lên chiếc mũ mềm không vành, kiểu Mônđavi và tất cả trước mắt ông cứ nhòa lẫn vào nhau, thú vị lạ thường. Ông nghe như qua làn nước giọng nói òng ọc của Đrujinin : « Anh hãy tháo đôi giày Mônđavi kia ra thì hơn... » và đến đấy ông ngủ thiếp đi.

        ...Mặt trời to, thấp, tỏa ánh rực rỡ trên đồng có. Lá nho trên các cành gẫy, vàng rực như hồ phách. Một cơn gió mạnh tạt vào mặt. Biển cả hoang vắng, tàn nhẫn, quạnh hiu, thờ ơ với tất cả mọi đau thương, mọi cực hình của con người, ánh lên phía chân trời một màu lam chói lọi, một màu lục rực rỡ nhìn đến nhức mắt. Thỉnh thoảng đạn tầm xa bắn tóe nước lên thành những vòi nước trắng xóa. Từ các vườn dưa, vườn nho, đạn tầm gần bắn tung những cột đất đen ngòm, đất sét đỏ hoe, và những đám cát vàng mù mịt. Đạn nổ phủ lên mặt trời một màn tang buồn bã. Sương mù bay lượn chung quanh. Đạn đại bác rơi trúng cụm pháo, tung thật cao những mảnh bánh xe, những yên cương rách nát, những thân người, những vỏ đạn cũ. Đạn đào những hố rộng hoác và lấp lên người các pháo thủ hàng tấn đất đỏ hoe, đen ngòm và đá sỏi nóng bỏng. Anh em đã chết hết và trong bốn khẩu pháo thì ba khẩu đã câm bặt. Chỉ còn một mình Batsây sống sót. Ông không ngờ chỉ còn lại một mình. Ông vẫn chạy trên trận địa pháo, ngã xuống hố, lửa cát làm ông tối sầm mặt mũi, và ông cố hết sức hét, tai không nghe tiếng mình hét.

        — Bắn! Bốn phát một! Bắn !

        Ông còn cố bê được quả đạn cả bao, lắp vào pháo và bắn cầu may vào trong sương mù mờ mịt, trong ánh nắng chói lòa, về phía mà, ông cảm thấy không nhầm, sức ép địch đang dồn đến. Không thể nhìn thấy quân địch chìm lẫn trong ánh mặt trời nóng cháy. Nhưng Piôt Vaxiliêvich cảm thấy trong lòng mình trỗi dậy một ý chí chiến đấu rất đặc biệt sau bao năm sống sung sướng và hòa bình.

        — Bốn phát một! Bẳn ! Bắn !

        Ồng hét đến bỏng cả cổ mà không cảm thấy đau. Quần áo ông rách tả tơi. Nhưng người ông chưa hề bị xây xát. Thật lạ lùng nhưng là sự thực. Không phải không có lý do mà người ta thường nói với ông: « Cậu tốt số ! » Ông đứng sừng sững, đơn độc, trên chiến hào, giữa cụm pháo đã bị phá hủy, lau mồ hôi mặt nóng bỏng và nhớp nháp, tiếp tục chiến đấu, nổ súng trong làn khói mù mịt có vầng mặt trời, thấp như một đồng xu nung đỏ, lơ lửng trên thảo nguyên.

        — Bắn ! — Ông hét với bản thân ông và giật cò.

        Khẩu pháo bị hỏng. Và ngay lúc đó một quả đại bác rơi xuống, rít lên trước mặt, nhưng không nổ, chỉ xới tung cồn đất chỗ Piôt Vaxiliêvich đứng. Đất nứt dưới chân. Ông ngã nhào xuống rãnh, trườn ra một cách khó nhọc; đất lại nẻ và ông giang tay nằm ngửa, tuột theo bờ chiến hào xuống lớp cát, cố với theo chiếc mũ sắt lăn phía trước. Bên trên, một tốp máy bay tiêm kích Đức bay rất thấp, vút qua như gió. Người ông phủ đày cát và đất sét. Qua cơn ngất và nhô được lên khỏi mặt cát, ông nhìn thấy một mảnh trăng màu kim khí trắng, lơ lửng giữa trời, trên bờ chiến hào... và ông sực tỉnh.

        Lâu lắm ông mới nhận ra mình ở đâu, rồi nhớ ra là đang ở trong một gác xép, nhớ lại tất cả những sự việc đã xảy ra ngày hôm đó và đòi uống nước. Nhưng người ta không cho ông uống, nói nước còn rất ít và chốc nữa sẽ có trà.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Bảy, 2020, 06:27:00 am
 
50

        Đrujinin nằm dài trên chiếc ghế ô-tô, chân không đi ủng, mình mặc một chiếc áo choàng s.s. không cài khuy, bên trong nom cũng hay vi thấy thấp thoáng có màu xanh của chiếc áo lót xô-viết. Anh đang ghi chép bằng bút chì vào một cuốn sổ tay để trên đầu gối.

        Misa mang từ góc nhà ra một cái ấm đun nước, bắc lên hai viên gạch, và lấy một thỏi cồn đặc tước được của địch đốt lên đun. Được trà, Misa lấy ra nửa ổ bảnh mì trắng, một khúc xúc-xích khô Mạc-tư-khoa và một gói đường nhỏ. Anh chia bánh ra ba phần bằng nhau, không lớn lắm, ba khoanh xúc-xích và lấy trong gói ra ba miếng đường.

        — Hôm nay nhà chẳng có gì ăn tươi, đồng chi trung úy ạ — anh nói và nhìn Batsây, vẻ nghiêm trang. — Thực phẩm khó khăn lắm.

        Anh đưa cho mỗi người một phần trên một mảnh giấy, pha một dúm trà nhỏ rồi mời mọi người ăn. Ba bạn cùng ăn và uống trà trong những cái chén tạm thời’, cố uống thật từ từ để tận hưởng cái thú uống trà. Còn rất ít nước trong gác xép và mãi hôm sau họ mới có thể lấy được.

        — Anh thử tương tượng xem, thoạt đầu tôi không nhận ra anh. — Batsây nói và nhìn Đrujinin, niềm hoan hỉ lộ trên khóe mắt.

        — Tôi thì dễ nhận ra lắm! Vì nét mặt tôi không thay đổi. Chỉ bộ quân phục và chiếc mũ cát-két... Nhưng anh, Piôt Vaxiliêvich ạ, anh cừ lắm! Một nông dân cá thể Mônđavi chính công! — Đrujinin mỉm cười, cỏi mở. — Một bộ râu, một áo choàng, một cái mũ không vành, đôi giày cà tàng. Tuyệt!

        — Thế tại sao anh nhận ra tôi?

        — Mắt nhà nghề mà lại.

        — Đúng như người ta nói, nếu không phải vận may thì tức là vận rủi đã giúp tôi...

        Plôt Vaxiliêvich nhớ lại, một buổi trưa rất nóng trên đồng cỏ, không khí lấp lánh ở chân trời, Pêchya, thằng con trai, một em bé gái áo quần sặc sỡ, và một quân nhân biên phòng đội mũ cát-két xanh bạc màu; người quân nhân tung em bé gái lên không như một bó hoa, làm em quay tròn xoay tít, và cả hai — ông bố và cô con gái — cười như nắc nẻ. Như đã lâu lắm rồi! Lúc bấy giờ, con người như sống trên một hành tinh khác, hành tinh của hạnh phúc.

        — Này, anh không thể tưởng tượng được là khi gặp anh tôi sung sướng như thế nào, — Batsây thốt lên, giọng ngây thơ.
— Tôi cũng vậy — Đrujinin thành thật đáp. Và bỗng anh mỉm cười buồn bã. — À, anh nói thế nào? Sabô, Akecman, Buđaki ?... Đó là xứ sở thời niên thiếu của anh đấy à?

        — Va của món cá trích sấy nữa — Piôt Vaxiliêvich rầu rầu tiếp.

        — Tôi chả cần món cá trích sấy của anh! — Đrujinin nói.

        — À..., phải... chúng ta đã cùng dạo chơi trên một con tàu. Một cuộc ngao du không đến nỗi buồn tẻ. Này, cháu gái đáng yêu của anh hiện nay ở đâu? Hình như cháu tên là Lizoska phải không?

        — Galôska. Tôi đã gửi cháu đi Kliackôp bằng máy bay khi tất cả những chuyện ấy bắt đầu. Tôi không biết tí gì về chỗ cháu ở hiện nay. Tòi rất lo. Còn cháu Pêchya của anh?

        — Tôi cũng đã gửi được cháu về Mạc-tư-khoa.

        — Một chú bé láu lỉnh! Tóm lại, một ông phó chủ tịch !

        Và bỗng cả hai người im bặt, dáng đăm chiêu... Lần đầu tiên trong những ngày gần đây Piôt Vaxiliêvich cảm thấy thực sự thoải mái, được chuyện trò tự do và giản dị với một người xô viết, không dối trá, không đóng kịch, không phải cân nhắc từng lời.

        — Thôi, bây giờ... — Đrujinin nói, vẻ suy nghĩ —  Piôt Vaxiliêvich này, xin lỗi, nhưng tôi muốn rõ... —  Anh nín lặng, đắn đo. — Tôi muốn làm rõ tính chất mối quan hệ giữa chúng ta. Anh hiểu tôi chứ?

        Vấn đề đặt ra không cần thiết. Đúng thế, Batsây đã hiểu. Ổng gật đầu, nói:

        — Tôi hiểu lắm.

        — Bây giờ chúng ta phải xác định — Đrujinin dịu dàng nói, không vội vã, tiếp tục cân nhắc từng lời. —  Xin lỗi anh, anh là đảng viên ?

        — Không, tôi là người không đảng phái — Batsây đáp và không hiểu sao hơi đỏ mặt. — Nhưng tôi tưởng cái đó không có gì quan trọng?

        — Đúng thế! Đúng thế ! Tôi chỉ muốn tất cả đều minh bạch. Bây giờ tất cả chúng ta đều là người Bônsêvich trong đảng và ngoài đảng. Phải thế không? Nếu tôi không nhầm, anh là một trung úy Hồng quân?

        — Phải, chỉ huy pháo đội. Tôi có một nhiệm vụ đặc biệt nhưng tôi....

        — Tôi hiểu rồi.

        Đrujinin im lặng và im lặng khá lâu, rõ ràng là anh đang suy nghĩ. Cuối cùng anh nói:

        — Piôt Vaxiliêvich, số phận đã tập hợp chúng ta... Anh cũng thấy là trong hoàn cảnh nào rồi. Tôi mong anh hiểu cho là tôi phải phụ trách một nhiệm vụ chiến đấu  nhất định. Không cần phải nói với anh nhiều hơn. Đó là một nhiệm vụ của đảng và của chính phủ. Một nhiệm vụ của quốc gia.

        Batsây gật đầu :

        — Tôi hiểu.

        — Bây giờ... Anh đừng nghĩ là tôi quá khắt khe không cần thiết, nhưng tôi cần biết rõ ý định của anh trong tương lai. Anh lưu ý cho, không phải chỉ nhân danh cả nhân mà tôi đòi hỏi anh, nhưng nhân danh Quốc gia. Vì vậy...

        Batsây phác, một cử chỉ, nhưng Đrujinin ngăn lại, tay ấn nhẹ lên vai ông.

        — Anh không nên vội vã. Anh hãy suy nghĩ kỹ và trả lời cho tôi.

        — Tòi xin hoàn toàn để tùy anh sắp xếp, — Batsây nói giọng cương quyết.

        — Tôi cũng tin như thế.

        Đrujinin chìa tay ra. và họ siết chặt tay nhau.

        Đrujinin nằm dài trên chiếc ghế ô-tô, chân không đi ủng, mình mặc một chiếc áo choàng s.s. không cài khuy, bên trong nom cũng hay vi thấy thấp thoáng có màu xanh của chiếc áo lót xô-viết. Anh đang ghi chép bằng bút chì vào một cuốn sổ tay để trên đầu gối.

        Misa mang từ góc nhà ra một cái ấm đun nước, bắc lên hai viên gạch, và lấy một thỏi cồn đặc tước được của địch đốt lên đun. Được trà, Misa lấy ra nửa ổ bảnh mì trắng, một khúc xúc-xích khô Mạc-tư-khoa và một gói đường nhỏ. Anh chia bánh ra ba phần bằng nhau, không lớn lắm, ba khoanh xúc-xích và lấy trong gói ra ba miếng đường.

        — Hôm nay nhà chẳng có gì ăn tươi, đồng chi trung úy ạ — anh nói và nhìn Batsây, vẻ nghiêm trang. — Thực phẩm khó khăn lắm.

        Anh đưa cho mỗi người một phần trên một mảnh giấy, pha một dúm trà nhỏ rồi mời mọi người ăn. Ba bạn cùng ăn và uống trà trong những cái chén tạm thời’, cố uống thật từ từ để tận hưởng cái thú uống trà. Còn rất ít nước trong gác xép và mãi hôm sau họ mới có thể lấy được.

        — Anh thử tương tượng xem, thoạt đầu tôi không nhận ra anh. — Batsây nói và nhìn Đrujinin, niềm hoan hỉ lộ trên khóe mắt.

        — Tôi thì dễ nhận ra lắm! Vì nét mặt tôi không thay đổi. Chỉ bộ quân phục và chiếc mũ cát-két... Nhưng anh, Piôt Vaxiliêvich ạ, anh cừ lắm! Một nông dân cá thể Mônđavi chính công! — Đrujinin mỉm cười, cỏi mở. — Một bộ râu, một áo choàng, một cái mũ không vành, đôi giày cà tàng. Tuyệt!

        — Thế tại sao anh nhận ra tôi?

        — Mắt nhà nghề mà lại.

        — Đúng như người ta nói, nếu không phải vận may thì tức là vận rủi đã giúp tôi...

        Plôt Vaxiliêvich nhớ lại, một buổi trưa rất nóng trên đồng cỏ, không khí lấp lánh ở chân trời, Pêchya, thằng con trai, một em bé gái áo quần sặc sỡ, và một quân nhân biên phòng đội mũ cát-két xanh bạc màu; người quân nhân tung em bé gái lên không như một bó hoa, làm em quay tròn xoay tít, và cả hai — ông bố và cô con gái — cười như nắc nẻ. Như đã lâu lắm rồi! Lúc bấy giờ, con người như sống trên một hành tinh khác, hành tinh của hạnh phúc.

        — Này, anh không thể tưởng tượng được là khi gặp anh tôi sung sướng như thế nào, — Batsây thốt lên, giọng ngây thơ.
— Tôi cũng vậy — Đrujinin thành thật đáp. Và bỗng anh mỉm cười buồn bã. — À, anh nói thế nào? Sabô, Akecman, Buđaki ?... Đó là xứ sở thời niên thiếu của anh đấy à?

        — Va của món cá trích sấy nữa — Piôt Vaxiliêvich rầu rầu tiếp.

        — Tôi chả cần món cá trích sấy của anh! — Đrujinin nói.

        — À..., phải... chúng ta đã cùng dạo chơi trên một con tàu. Một cuộc ngao du không đến nỗi buồn tẻ. Này, cháu gái đáng yêu của anh hiện nay ở đâu? Hình như cháu tên là Lizoska phải không?

        — Galôska. Tôi đã gửi cháu đi Kliackôp bằng máy bay khi tất cả những chuyện ấy bắt đầu. Tôi không biết tí gì về chỗ cháu ở hiện nay. Tòi rất lo. Còn cháu Pêchya của anh?

        — Tôi cũng đã gửi được cháu về Mạc-tư-khoa.

        — Một chú bé láu lỉnh! Tóm lại, một ông phó chủ tịch !

        Và bỗng cả hai người im bặt, dáng đăm chiêu... Lần đầu tiên trong những ngày gần đây Piôt Vaxiliêvich cảm thấy thực sự thoải mái, được chuyện trò tự do và giản dị với một người xô viết, không dối trá, không đóng kịch, không phải cân nhắc từng lời.

        — Thôi, bây giờ... — Đrujinin nói, vẻ suy nghĩ —  Piôt Vaxiliêvich này, xin lỗi, nhưng tôi muốn rõ... —  Anh nín lặng, đắn đo. — Tôi muốn làm rõ tính chất mối quan hệ giữa chúng ta. Anh hiểu tôi chứ?

        Vấn đề đặt ra không cần thiết. Đúng thế, Batsây đã hiểu. Ổng gật đầu, nói:

        — Tôi hiểu lắm.

        — Bây giờ chúng ta phải xác định — Đrujinin dịu dàng nói, không vội vã, tiếp tục cân nhắc từng lời. —  Xin lỗi anh, anh là đảng viên ?

        — Không, tôi là người không đảng phái — Batsây đáp và không hiểu sao hơi đỏ mặt. — Nhưng tôi tưởng cái đó không có gì quan trọng?

        — Đúng thế! Đúng thế ! Tôi chỉ muốn tất cả đều minh bạch. Bây giờ tất cả chúng ta đều là người Bônsêvich trong đảng và ngoài đảng. Phải thế không? Nếu tôi không nhầm, anh là một trung úy Hồng quân?

        — Phải, chỉ huy pháo đội. Tôi có một nhiệm vụ đặc biệt nhưng tôi....

        — Tôi hiểu rồi.

        Đrujinin im lặng và im lặng khá lâu, rõ ràng là anh đang suy nghĩ. Cuối cùng anh nói:

        — Piôt Vaxiliêvich, số phận đã tập hợp chúng ta... Anh cũng thấy là trong hoàn cảnh nào rồi. Tôi mong anh hiểu cho là tôi phải phụ trách một nhiệm vụ chiến đấu  nhất định. Không cần phải nói với anh nhiều hơn. Đó là một nhiệm vụ của đảng và của chính phủ. Một nhiệm vụ của quốc gia.

        Batsây gật đầu :

        — Tôi hiểu.

        — Bây giờ... Anh đừng nghĩ là tôi quá khắt khe không cần thiết, nhưng tôi cần biết rõ ý định của anh trong tương lai. Anh lưu ý cho, không phải chỉ nhân danh cả nhân mà tôi đòi hỏi anh, nhưng nhân danh Quốc gia. Vì vậy...

        Batsây phác, một cử chỉ, nhưng Đrujinin ngăn lại, tay ấn nhẹ lên vai ông.

        — Anh không nên vội vã. Anh hãy suy nghĩ kỹ và trả lời cho tôi.

        — Tòi xin hoàn toàn để tùy anh sắp xếp, — Batsây nói giọng cương quyết.

        — Tôi cũng tin như thế.

        Đrujinin chìa tay ra. và họ siết chặt tay nhau.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Bảy, 2020, 06:28:57 am

        Trong khi chuyện trò, Đrujinin vẫn tiếp tục ghi chép vào sổ tay.

        — À — Piôt Vaxiliêvich nói — khi lang thang trong công viên, tôi đã đụng phải một cụm pháo nặng. Có lẽ điều đó anh cũng cần biết chứ?

        — Anh đếm được ở đấy mấy khẩu ? — Đrujinin nhanh nhẩu hỏi.

        — Bốn.

        — Cỡ hao nhiêu?

        — 145 thì phải.

        — Tầm xa?

        — Phải, tầm xa.

         — Đã bố trí xong chưa?

        — Đang bố trí. Chúng đang đào công sự bẳn.

        — Về hướng nào? Về phía biển chứ?

        — Phải, về phía biển.

        — Thế ngộ không phải về phía biển?

        Plôt Vaxiliêvich suy nghĩ.

        — Không, theo ý tôi, đúng là về phía biển.

        Đrujinin, cau mặt và đột ngột nói:

        — Sao lại theo ý anh! Điều quan trọng đối với chúng ta là phải xác định sự việc không phải « theo ý anh » mà đúng như trong thực tế của nó kia.

        Đrujinin chợt nghĩ lại là mình đã nhận xét hơi quá gay gắt đối với một người có tuổi, một người trung hậu mà thực tế mình còn biết rất ít. Mặt đó ửng, anh nói:

        — Tôi mong anh thứ lỗi. Tôi quá say mê vì nhiệm vụ. Hơn nữa, đã ba đêm nay tôi không ngủ được. Và cụm pháo tầm xa anh phát hiện là một sự kiện rất có ý nghĩa. Nếu chúng bố trí hướng ra biển, điều đó có nghĩa là chúng sợ có một cuộc đổ bộ và cần thiết phải lưu ý tới điều đó.

        — Chúng bố trí hướng ra biển — Batsây nói cương quyết.

        — Cám ơn.

        Đrujinin ghi nhanh một vài chữ vào sổ tay.

        — Rồi — anh nói rất nhanh — khi đi từ Buđaki đến Ôđetxa anh theo đường nào?

        — Qua Akecman.

        — Và từ đấy?

        — Từ đấy qua lạch sông Đơniexte.

        — Qua Bêliaiepka hay Ôviđiôpôn?

        — Qua Ôviđiôpôn.

        — Anh qua sông thế nào? Bằng đò ngang?

        — Sao lại bang đò ngang? Ở đấy chúng đã làm một cái cầu phao rất tốt. Nông dân mang hàng ra chợ Ôđetxa, chúng cho qua cầu với quân lính của chúng.

        — Tuyệt! Thật là tuyệt! — Đrujinin xoa tay, lẩm bẩm. Một phát đạn chơi hai con thỏ. Hai sự việc hết sức quan trọng. Một, tất nhiên, là nông dân không tự nguyện mang thực phẩm ra chợ, và hai là ở đây có một chiếc cầu phao mới bắc giữa Akecman và Ôviđiôpôn.

        Đrujinin rút bản đồ tham mưu dưới ghế ô-tô ra và chúi đầu vào nghiên cứu. Anh gấp đi gấp lại bản đồ, vô tình ấn bút chì vào chỗ lá mía. Vì là bút chì bi nên mũi anh giày đầy mực tím. Có lúc Đrujinin xem kỹ lại những điểm ghi trong sổ tay. Có lúc anh ngước mắt lên như nhở lại một điều gì và im lặng mấp máy đỏi môi nứt nẻ.

        Anh làm việc. Nhưng mục đích, tầm quan trọng và ý nghĩa của công việc đó Piôt Vaxiliêvich không thể nào hiểu được.

        — Misa — Đrujinin nói, không rời cuốn sổ tay — chưa đến giờ phát tin à? Đồng hồ tôi đã 19 giờ 53 phút.

        — Chưa — Misa ngáp dài, nói — Đồng hò anh nhanh ba phút. Đồng hồ tôi mới 19 giờ 50 đúng. Theo giờ Viện Xtecbec. Không sai một giây.

        — Được, nhưng thử dò xem! Có thể có gì mới đấy.

        — Không chắc. Hôm nay, trong lúc anh thực hiện vụ đó tôi đã sục cả châu Âu. Chỉ nghe Môxkau, Môxkau... trên tất cả các đài. Chúng phát toàn những khúc nhạc hành quân. Chỉ toàn tuyên truyền suông.

        — Nhưng cứ thử dò xem.

        — Để tôi dò.

        Misa mở chiếc va-li con bằng mây, lấy cái chìa khóa truyền động ra, mắc ống nghe vào và bắt đầu quay nụ điều khiển. Chiếc va-li mây cũ chứa điện đài.

        — Nhiễu mạnh lắm, — Misa nói, sau vài phút im lặng. Chắc là thời tiết thay đồi. Sắp băng giá rồi... Tụi Thổ- nhĩ-kỳ ở Ăngkara đang tấu nhạc. Chúng không có việc gì làm khác!... Và đây, hình như Lơ Ke. Có người nói tiếng A-rập. Chẳng hiểu gì cả... Bây giờ là tụi Ý. Lại một khúc nhạc hành quân. Chúng mê nhạc hành quân thế ! Chẳng có việc gì làm mà.

        — Tìm Beclin hơn — Đrujinin lẩm bẩm.

        Misa vặn những cái vít nhỏ.

        — Lại thằng Hitle ba hoa — một lát sau anh nói, mặt nhăn nhó như đau răng. — Lần thứ ba trong tuần rồi. Cứ như chó sủa: U-au, U-au, U-au... «Môxkau... Môxkau... »

        — Cắt mẹ nó đi, ngấy lắm rồi! — Đrujinin nói, tay vung cây bút chì.

        — Để tôi tìm Bucaret. Đấy! Bucaret.

        — Nào, cho biết thằng Antônexkô tuyên bố gì đấy.

        — Suỵt! — Misa nói, tay giơ lên. — Đang nói tiếng Nga.

        Anh áp chặt hai ống nghe để nghe rõ hơn, đầu cúi xuống và im lặng một hồi lâu. Đôi lông mày vàng chăm chú nhíu lại. Đôi lúc một nụ cười thích thú lại lướt trên đôi môi đó, và thỉnh thoảng anh lại đưa một ngón tay lên ra vẻ quan trọng, như muốn nói: « im lặng, im lặng, chú ý! » Thấy rõ là anh cố nén để khỏi cười. Ngay mặt anh cũng đó bừng cả lên vì quả chăm chú. Cuối cùng, anh bỏ ống nghe xuống, nhìn Đrujinin với đôi mắt màu hồng, tươi cười và ươn ướt.

        — Thế nào? — Đrujinin lioi.

        — Chúng gầm thét lồng lộn — Misa đáp.

        — A-ha! Hoàn toàn thành công! Chúng có đưa tin chi tiết không?

        — Không.

        — Không sao, ta sẽ làm cho bọn phát-xít khốn nạn áy phải bật mồ hôi máu ra. — Đrujinin nghiến răng nói và lòng ngón tay vào nhau bé răng rắc. — Chúng sẽ biết, giày xéo lèn đất nước chúng ta thì thế nào.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Bảy, 2020, 06:29:31 am

51
 
        Đôi mắt xanh nghiêm nghị của anh nhìn Piôt Vaxiliêvich hết sức giản dị, nhưng Piôt Vaxiliêvich có cảm giác là vẻ nhìn ấy nhằm rất xa về phía trước, và trong đó có một cái gì vừa rất dễ sợ đồng thời vừa trang nghiêm.

        — Misa, liệu có trễ không? — Bỗng nhiên Đrujinin nói vẻ lo lắng.

        — Còn hai phút nữa.

        — Đến giờ rồi. Đến lượt ta phát đi!

        Misa nhanh nhẹn mắc ống nghe và cúi xuống chiếc va-li mây con, bắt đầu gõ với chiếc chìa khóa, phát đi những chấm gạch theo ký hiệu Morxơ.

        — Ta bắt đầu làm việc nào. — Đrujinin, mắt long lanh, nói.

        Anh lấy quyển sổ, tấm bản đồ, rồi ngồi xuống bên cạnh Misa. Bây giờ cả hai người ngồi xếp bằng tròn, cúi trên chiếc va-li mây con. Misa tiếp tục gõ với chiếc chìa khóa, còn Đrujinin sốt ruột hết nhìn vào tấm bản đồ và quyền sổ, lại nhìn vào mặt Misa.

        Misa gõ như vậy khá lâu, chốc chốc lại ngừng một tí. Anh lặp đi lặp lại chỉ có mỗi một câu ký hiệu Morxơ, bí hiệu của anh. Anh lặp lại một cách chính xác, khẩn khoản, không biết chán.

        Piôt Vaxiliêvich rất buồn ngủ nhưng câu nói đơn điệu bằng những chấm gạch kia cứ vang lên, khẩn khoản, và bí hiểm trong cái gác xép hoàn toàn im ắng không cho ông ngủ. Nó cứ giữ mãi ông trong một trạng thái đợi chờ khó hiểu.

        Bỗng Misa ngừng lại. Im lặng hoàn toàn. Nhưng cảm giác đợi chờ vẫn không dứt. Trái lại, nó càng căng thẳng. Nó còn lồng thêm vào một nỗi lo âu không kém phần khó hiểu.

        Misa khéo léo quay cái tay quay và toàn bộ gương mặt anh vốn dĩ tròn trĩnh, chất phác, hơi ngây ngô một tí, trở nên hết sức tập trung, trầm lặng. Tưởng như mọi giác quan bên ngoài của anh, trứ thính giác ra, đều bị tê liệt. Nhưng tất cả các đường nét trên gương mặt xanh xao, trầm lặng, với đôi môi mím chặt, chứng tỏ thính giác của anh đang hết sức căng thẳng.

        Nếu nét mặt con người có khả năng thể hiện được toàn bộ tình yêu, lòng căm thù, niềm tự hào, nỗi tuyệt vọng, ý khinh ghét, vẻ dửng dưng, thì nét mặt anh là biểu hiện đầy đủ của thính giác đang căng thẳng. Bất kỳ một tiếng động nào, nhỏ nhất, li ti nhất trong muôn ngàn tiếng động rải rác trong không gian, cũng không thể lọt qua tai anh.

        Đrujinin nhìn vào mặt Misa và không dám thở mạnh, sợ làm nhiễu loạn mất sự im lặng...

        « Này, thế nào?» hình như đôi mắt đòi hỏi đản vào mặt người kia đã nói lên như thế. Bỗng gương mặt Misa phấn khởi và hồng hào hẳn lên.

        — Được rồi ! — Misa nói. — Họ đang nghe.

        Anh quay nhanh cái tay quay trên « băng truyền » rồi lại gõ những chấm gạch, mắt dán vào bản mật mã mà Đrujinin đã viết và cứ nhắc lại nho nhỏ như để kiểm tra :

        — « Ôđetxa hai mươi giờ giờ Mạc-tư-khoa Đây Đrujinin Bọn chiếm đóng Đức và Rumani tiếp tục vào thành phố Xtôp Hôm qua đã đến Panhtêa nổi tiếng sẽ nghỉ tại khách sạn đặc biệt Pirôgôpxkaia góc đại lộ Prôlêtacxki Xtôp Nhân dân tiếp tục bị bắt chiến dịch thủ tiêu Do thái hàng loạt bắt đầu Xtôp Xung đột giũa lính Đức với Rumani Xtôp Giá chợ lên cao Xtôp Nông dân miễn cương bán sản phẩm Xtôp Cánh cửa tò vò Công viên Sepsenkô có đặt cụm pháo bốn khẩu trăm bốn nhăm ly chĩa ra biển Xtôp Giữa Akecman Ôviđiôpôn cầu phao mới binh lính xe quân sự đi không ngớt Thông báo quan trọng Betxarabi Xtôp. »

        Tiêu đội trưởng Vetxêlôpxki phấn khởi ra mặt, chốc chốc lại liếc nhìn lên bản mật mã, tựa mình vào cái nắp mở của chiếc va-li mây con, gõ ngón tay cái lên chiếc chìa khóa; và những chăm gạch Morxơ cứ tuôn ra như mưa, nghe rất tài tình, chính xác, dồn dập, đều đặn dưới bàn tay xòe ra. «Hôm nay mười sáu không không chấp hành mệnh lệnh trên đã phá đổ ngôi nhà N. K. V. D. lúc Ghextapô Xiguranxa tới Đã đến thăm hiện trường bản thân nhận thấy kết quả thành phố hoang mang Đài phát thanh Bu caret hò hét Xtôp Ngày mai cũng tại đây sẽ phát tin như thường lệ hai mươi giờ Mạc-tư-khoa cùng một làn sóng. Tất cả cho trước mắt Chúc ngủ ngon Xtôp ».


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Bảy, 2020, 06:30:00 am

        Khi Misa đánh xong những chầm gạch cuối cùng, Đrujinin tập trung những bản mật mã, cuộn lại rồi cẩn thận đưa lên ngọn nến đốt.

        Trong khi đó, tiểu đội trưởng Vetxêlôpxki đã chuyển qua phần nhận, một tay nắm chắc ống nghe áp vào đầu, một tay ghi nhanh lên một tờ giấy nhỏ những nhóm năm con số.

        Cuối cùng có vẻ thích thú ra mặt, anh đóng va-li lại và trao cho Đrujinin một bản con đầy chữ số. Đrujinin ngồi xuống đố địch, chốc chốc lại tra cứu ở trên mặt bàn rồi cùng đọc to :

        — «Cảm ơn Nhận rất tốt Khen ngợi chấp hành nhanh chóng nhiệm vụ Chúc mừng các đồng chí Theo tin chúng tôi nhận được các đồng chỉ đã diệt một trăm bốn mươi bảy tên trong sở Xigurănxa không kể bị thương Đề phòng thời gian tới cảnh sát tăng cường áp lực và phản gián địch trả thù Phải cẩn thận Phải đỗi chỗ ỏ nhiều hơn Cho biết cơ cấu của màng lưới cán bộ Trấn tĩnh tinh thần nhân dân thành phố Đặc biệt hài lòng vì công tác các đồng chí Chào Chúc ngủ ngon.» Xin khen ngợi anh — Đrujinin, không đổi giọng, nói và chìa tay cho Piôt Vaxiliêvich.

        — Về cái gì ?

        — Ve điều cấp trên đặc biệt hài lòng đối với công tác của chúng ta.

        Batsây cười ran.

        — Nhưng tôi có đóng góp được gì vào trong đó đâu?

        — Ấy đấy! Đừng nói thế — Đrujinin vui vẻ nói. — Cụm pháo tầm xa chĩa ra biển với cái cầu phao ở Akecman Ôviđiôpón cũng quan trọng chứ!

        — Anh nói quá — Batsây hết sức thích thú, lẩm bẩm.

        Nhưng Đrujinin lại khẩn khoản nhắc lại quan điểm của mình.

        — Ây, rồi anh xem, những con chim ưng của ta sẽ làm gì đối với cụm pháo và chiếc cầu phao của anh!

        Rồi anh siết thật chặt bàn tay Piôt Vaxiliêvich.

        — Thôi được, nhưng bây giờ khuyên anh hẵng ngủ đi một tí.

        — Như trong quân đội thường nói: «o,o».

        — Đúng thế. Anh hẵng đi o o đi. Ở chỗ chúng tỏi theo lệ thường, người này gác thì người kia ngủ. Hôm nay có hai người ngủ, một người gác. Nằm dài xuống! Bao giờ đến lượt anh, chúng tôi sẽ gọi.

        Piôt Vaxiliêvich đắp lên người chiếc áo ca-pốt của Vetxêlôpxki đưa cho rồi ngủ thiếp đi.

        Trước khi ngủ, lần đầu tiên, kể từ đã lâu, ông nghĩ đến gia đình, đến vợ con. Thực ra, ông luôn luôn nghĩ tới họ. Họ có mặt nhưng không để cho ai thấy và như đã tham gia vào mọi ý nghĩ của ông. Họ tô điểm hết sức dịu dàng và trong suốt cho mọi tình cảm của ông. Nhưng không rõ ràng và chung chung thế nào ấy! Còn lúc này ông để tâm nghĩ tới họ thực sự. Bây giờ họ ở đâu? Ở Mạc-tư-khoa như thế nào? Nhà cửa có bị phá không? Ông đã viết cho họ nhiêu thư nhưng chưa bao giờ nhận được một bức nào của họ cả... Thôi, chắc là ông đã quá mệt ngày hôm đó. Tâm hồn ông không đủ sức chịu đựng những nỗi thống khổ mới nữa. Ông nghĩ tới vợ, tới các em gái, tới Pêchya, tới ngôi nhà, không lo âu tí nào nữa. Không biết tại sao ông cảm thấy hết sức chắc chắn họ đều binh yên vô sự. Không thế, ông không thể nào ngủ được. Một giấc ngủ bình thản, lại sức, đã đến trùm lên ông. Trong thời gian dó, trong gác xép, những người nào đó đã đến thì thầm báo cáo. Có người đến. Có người đi. Họ báo cáo số hiệu của một vài đơn vị bộ đội Rumani và Đức nào đó, các số nhà, các tên phố, các cuộc hành trình từng chặng, hướng xếp chở hàng đi, kế hoạch bố trí và địa điểm đặt pháo phòng không. Đrujinin nói rất nhỏ, đặt những câu hỏi ngắn gọn, đôi khi tỏ vẻ bất bình. Cũng có khi anh cười kín đáo, hạ những mệnh lệnh vắn tắt, triệu tập người này người nọ vào những giờ khác nhau. Và cứ như thế kéo dài suốt đêm.

        Rét quá, Piôt Vaxiliêvich phải thức giấc dậy nhiều lần. Gió rít chung quanh và luồn qua mọi khe hở. Khó nhọc lắm ông mới làm cho người ấm lên được và ngủ lại. Đến bảy giờ sáng Đrujinin gọi ông dậy. Trời đã sáng. Ngụy trang ở chỗ cửa thông hơi đã bỏ ra. Qua cái lỗ tròn, một bầu trời ảm đạm, xanh ngắt và giá lạnh.

        — Nếu thấy hay nghe có gì khả nghi, anh thức tôi dậy ngay — Đrujinin nói. — Có tiếng động gì dù nhỏ nhất ở cầu thang hay tiếng chân bước ngoài sân là phải thức tôi dậy ngay lập tức. Đừng suy nghĩ gì cả mất thì giờ. Tuy vậy chẳng có gì đâu.

        Nói xong Đrujinin rúc đầu vào trong chiếc áo ca-pốt bộ đội, nằm nghiêng lại làm chiếc ghế ô tô kêu răng rắc rồi không động đậy gì nữa.

        — Anh đừng lo. — Tiếng nói ngái ngủ của tiểu đội trưởng Vetxêlòpxki từ chỗ nằm của anh vang lên. —  Tôi, tôi sẽ nghe cho.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2020, 06:10:25 am

        Răng đánh lập cập và ngáp sải cả hàm, Piôp Vaxiliêvich lại gần lỗ thông hơi, nơi không khí buổi sáng và cái rét sớm tháng một tràn vào, không phải chỉ rét suông mà còn lạnh buốt, giá cóng, ảm đạm quá, tiêu điều quá, khiến con người không muốn sống ở thế gian này nữa. Để cho người ấm lên một tí, Piôt Vaxiliêvich đi đi lại lại trong gác xép và làm một vài động tác thể dục buổi sáng. Nhờ vậy ông đã hơi ấm lên và lại đến tựa người vào lỗ thông hơi, ngắm nhìn thành phố lặng lẽ như một ngôi nhà mồ vào cái giờ phút buồn bã trước lúc bình minh này.

        Từ trên đó ông thấy chồng chất nhưng mái nhà, những kính vỡ trên cửa mái hiệu ảnh, những cột xem chiều gió và những vọng tháp, những cửa mắt trâu, một rừng ăng-ten gẫy gục, những chữ hoa to tướng quằn quèo trên các lưới sắt quảng cáo, những súng đại bác phòng không Đức... Giữa những ngôi nhà mới xây dựng sau khi ông ra đi khá lâu, ông nhận ra những ngôi nhà cũ thân thuộc hồi ông còn nhỏ, ông đoán chừng những khe hở của đường phố, những gác chuông nhà thờ và nhưng cái tháp của các sở cảnh sát cũ. Dần dần, nhờ quan sát các mái nhà, ông đã xác định được nơi ông đang ở. Một chỗ nào đấy trong khu phố ngõ Ôpsinnikôpxkaia và ngõ Pôlixêixkaia cũ.

        Ở đây, ngày xưa, trước Cách mạng, là Câu lạc bộ «Hòa âm» nổi tiếng của Ôđetxa. Câu lạc bộ có rạp hát riêng. Ngày xưa ở rạp hát « Hòa âm » trong những ngày lễ Noen, người ta đã tố chức những cuộc vui ban ngày có nhiều trò vui lớn và để kết thúc, người ta đã khiêu vũ. Suốt đời, Plot Vaxiliêvich không bao giờ quên được vở Đánh chiếm Xêvaxtôpôn mà ông đã xem hồi nhỏ. Ông còn nhớ mãi thứ sáp chải tóc sực mùi mơ mà thợ cạo đã bôi vào mớ tóc rễ tre đen lánh của ông, trước khi rẽ đường ngôi, bằng một cái bàn chải cứng không tưởng được ; cái lạnh giá buốt của hai bàn tay, với cái lạnh của chiếc cổ cồn hồ bột dày cộp cà rất đau vào gáy ông chỗ cái khuy hậu; bố ông mặc áo đuôi tôm mới tinh nắm tay dắt ông, một cậu học sinh trung học, đi trên các cầu thang cầm thạch ; rồi những khúc dạo đầu bản nhạc khiêu vũ, những dải nơ của những người dẫn đầu, ánh sáng nguy hiểm của sàn nhảy, trơn như gương, những hoa giấy tròn, nhỏ li ti, sặc sỡ, trên vai làm liên tưởng tới những mồi câu... Và suốt đời, ông cũng sẽ không quên người con gái mặc áo hồng chếp nếp mà cố nén thẹn thùng ông đã dám mời nhảy một điệu Hunggari Sợ không dám ôm vào người cô bé, ông cứ bíu chặt bàn tay đầy mồ hôi vào chiếc áo dài xinh xắn chếp nếp của có ta. Thật ngớ ngấn làm sao khi ông bước chăm chú, bó người trong cái quần hải ly mới và đôi giày « Xkôrôkhốt » mới; ông đã đổ không biết bao nhiêu mồ hôi, và đã đếm thầm rất chăm chỉ những nhịp bước của điệu nhảy Hunggari: « một, hai một hai, một với hai, với ba »... Rồi cuối cùng, sung sướng xiết bao khi cô thiếu nữ, khiếp hãi nhìn vào cái đầu tóc rối bù của ông, đen nhánh như xi đánh giày và không ăn sáp, lẩm bẩm trên đôi môi đó tươi một tiếng « cảm ơn » bẽn lẽn, rút tà áo nhỏ nát nhầu khỏi bàn tay Pêchya, rồi chạy biến trên nền nhà với đôi giày trắng nhỏ xíu và lạnh giá... Nhưng tất cả những cái đó không có gì đáng kể, so với cảm tưởng của chú bé Pêchya trước vở Đánh chiếm Xêvaxtôpôn. Tất cả tâm hồn chú rung động trong một cảm giác say sưa, u uất, khi nghe tiếng đại bác sân khấu nổ ầm ầm... Pháo hoa trên thành phố Xêvaxtôpôn rực cháy, những tiếng khóc của hải quân, những lá cờ mang về, những âm thanh của điệu kèn tang với cỗ áo quan đen của đô đốc Nakhimôp phủ dưới lá hạm kỳ và do những con người đẫm máu bảo vệ thành phố anh hùng khiêng.

        Piôt Vaxiliêvich đứng tựa mãi vào cái cửa thông hơi, rồi bỗng ông trông thấy cái cổng rạp hát, nhờ một phép lạ nào đó vẫn còn nguyên vẹn, đứng sừng sững ở phía dưới, ngay gần đấy, giữa những đống gạch vụn của ngôi nhà đổ nát. Piôt Vaxiliôvich nhận ra nó ngay.

        Nó đứng đấy, sừng sững giữa cảnh hoang tàn như một cái khung bằng đá trống rỗng, trang trí bằng những tượng nữ thần, những cây đàn thất huyền và những cái mặt nạ miệng toang hoác của nền hài kịch và bi kịch Hy-lạp. Những chùm tù và dài, có băng màu lấp lánh quấn quanh, như ném ra tứ phía những tiếng đồng trang nghiêm, tang tóc, và một tượng than Tecpxikorơ chân không, dang tà áo mỏng chếp nếp như đôi cánh, đang bay là là trên cảnh hoang tàn đổ nát.

        Cũng trong lúc đó, hàng trăm cái tù và loại khác, như một dươ ng cầm thật lớn, bỗng cất tiếng trên những mái nhà thành phố. Đó là còi báo động phòng không

        Đứng trên các nóc nhà, Piôt Vaxiliêvich trông thấy cái dải màu chì của biển cả và cái vạch đỏ của con sông Đòfinôpka dưới ánh mặt trời ảm đạm mới nhô khỏi mặt biển. Mặt trời chỉ hiện ra có một lúc rồi biến ngay vào một dải mây thấp đen kịt, đang bị gió đông bắc lạnh buốt cuốn đi. Và phía trên sông Đôfinôpka, giữa những luồng đạn cao xạ nom như sao đôi ngôi, Batsây, với con mắt điêu luyện của một pháo thủ, phát hiện ra một phi đội máy bay phóng pháo xô-viết hạng nặng đang bay thẳng từ Xêvaxtôpôn về phía các cửa tò vò trong công viên Alêcxăng đệ II cũ, trên cụm pháo tầm xa của địch, chính cụm pháo mà trước đây mấy giờ Đrujinin đã báo cáo qua điện đài về cho trung ương, trên cơ sở những tin tức nhận được của ông, Piôt Vaxilièvich.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2020, 06:11:12 am

52

        Lạ lùng thay cuộc sống trong hầm mộ, một cuộc sống không giống một cái gì hết; thòi gian ở đây trôi qua hết sức nặng nề. Đôi khi tưởng như nó ngừng lại. Bao ngày đã trôi qua mà Pêchya vẫn chưa phân hiệt được giờ giấc buổi sáng, ban ngày, buổi tối hay ban đêm. Có thể là đêm vĩnh viễn chăng? Không! Đêm, thậm chí là đêm vĩnh viễn nữa, cũng luôn luôn vẫn có cái chu kỳ đều đặn buổi tối của nó. Ở đây không có chu kỳ. Ở đây tất cả đều bắt động, trừ con người ra. Bất cứ lúc nào Pêchya nhìn ra chung quanh, chú cũng chỉ thấy độc có một thứ: những cái vòm bằng đá hay bằng đất, phủ một lớp bụi ngàn năm im lìm, một làn không khí mờ tối, im lìm, hơi óng ánh, nhờ một hai ngọn lửa đuốc nhỏ đứng im phăng phắc như cái ánh phản chiếu trên một tấm gương đen. Rồi tất cả chìm nghỉm trong một màn đêm dày đặc.

        Nhưng không phải chỉ những ngày đầu ở đây đã làm cho cuộc sống trở nên lạ lùng và nặng nề đối với Pêchya. Chú cảm thấy như bị bỏ quên, côi cút. Có lẽ thực tế chú đã côi cút rồi chăng ? Bố chú còn ở ngoài mặt trận. Có lẽ ông đã bị giết rồi. Có lẽ từ làu, ông không ở trên cõi đời này nữa. Còn mẹ chú, các em gái chú, bà nội chú ra sao? Có lẽ họ đã chết hết, và bị đè nát trong một cái hầm trú ẩn hay trong những đống gạch đổ nát của ngôi nhà to lớn, với tất cả các tầng gác ấy. Có lẽ bọn phát-xít đã lần được đến tận Mạc-tư-khoa. Ý nghĩ này cứ luôn luôn hành hạ chú bé. Ngay trong giác ngủ chú cũng bị nó ám ảnh. Tình yêu mẹ mà trước kia chú không bao giờ nhận ra, khi nó còn thường xuyên, còn là thói quen, thì giờ đây nó đã chiếm đoạt cả tâm hồn chú với một sức mạnh chưa từng thấy. Chú cảm thấy nhớ mẹ quá đỗi vì xa mẹ là một điều quá ư đau đớn! Thường xuyên, bà hiện ra trong các giấc mơ của chú, và nếu chú không thấy trong mơ thì bà lại như có mặt một cách bí hiểm trong mỗi một mơ ước của chú ; bà luôn luôn có mặt nhưng vô hình, không sờ thấy được, đâu đó, ngay gần bên, ấp ủ chú trong hơi ấm, trong mùi thơm âu yếm của mải tóc, nhẹ nhàng vuốt ve mái tóc Pêchya bằng những ngón tay mát rượi.

        Khủng khiếp nhất, nặng nề nhát là trên đầu họ lại có bọn phát-xít ở. Chỉ cần nhô lên mặt đất lá đã chìm nghỉm ngay vào trong thế giới ghê rợn của bọn phát- xít. Trong cái thế giới đó không thể thở được. Bóng tối sẽ đè nặng lên tâm hồn anh. Ý chí tự do và lý trí sáng suốt của con người sẽ bị tê liệt. Con người sẽ biến thành con vật, thành nô lệ. Pêchya không thể không cảm thấy điều đó vì chú phải sống trong cảnh gần gũi ghê tởm với quân thù không đội trời chung. Đôi khi chú còn như nghe thấy cả tiếng chân thình thịch của chúng ở ngay trên đầu mình nữa. Chỉ cần nghe thấy như thế cũng đủ biến cuộc sống của những người ở dưới hầm mộ thành một khổ hình bất diệt rồi. Đó có lẽ là trường hợp của những người chỉ sống ở đấy để ẩn trốn, nhưng Pêchya biết không phải thế. Họ ẩn trốn để mà sống. Họ sống để đấu tranh không ngừng với địch.

        Trong những ngày đầu sống dưới hầm mộ, Pêchya không hiểu đấu tranh bao hàm những gì. Mọi người di chuyên trong bóng tối đường hầm với những ngọn đèn bão, ngủ, thức giấc, nấu nướng, nhận khẩu phần đường và thuốc lá rẻ tiền, mang súng trường đi đâu về phía các vọng gác rồi trở về, tắm rửa, đính lại khuy áo, cọ đánh soong nồi muôi thìa, múc nước ở đâu về không biết. Tất cả những việc đó chỉ hơi giống phần nào hoạt động của một tổ chức bí mật. Pêchya tưởng tượng sự việc hoàn toàn khác hẳn. Nhưng chẳng bao lâu chú cũng bắt đầu hiểu được ý nghĩa thực sự của những công việc đang diễn ra trong hầm mộ Uxatôvô. Mãi đến lúc đặt doanh trại ngầm, người ta mới xếp chất đốt, đạn được và người vào các hang động nối liền nhau bằng những con đường ngầm rải mìn và hầu như không để ý đến Pêchya. Người ta chỉ cấm chú đi chơi rong. Nếu không có việc gì làm, chú có lấy đèn bão lảng vảng đến các đường ngầm, tò mò và hãi hùng nhìn vào các hang hốc, thì lúc nào cũng có ngay một người hét lên :

        — Ê, bé con, trở về đi! Chú sẽ làm phiền cho chúng tôi đấy. Chúng tôi có trách nhiệm không được bỏ quên chú. Tìm việc gì mà làm!

        Dần dần, chú bắt đầu làm việc. Cùng với Valentin, chú giúp sức chuyển thùng, gọt khoai, đổ đầu vào đèn bão, quét dọn các phòng.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2020, 06:13:40 am

        Chẳng bao lâu chú làm quen với mọi người, biết được tình hình, và nhất là hiểu được chức trách từng người, toàn thể doanh trại đang sống làm gì và bản thân chú cũng thâm nhập vào cuộc sống chung của tất cả. Pêchya đã biết được người chỉ huy, người chú, là đồng chí bí thư thứ nhất Ban chấp hành Đảng Bônsêvich khu phố, đồng chí Secnôivanenkô mà bắt chước theo Valentin, chú cũng gọi bằng « bác Gayrick ». Sau Secnôivanenkô, đến Platôn Ivanôvich Xtrenbixki, một con người nghiêm khắc mà tầm vóc dị thường và những cử chỉ dữ tợn đã làm cho Pêchya khiếp sợ khi, người cúi gập làm hai, với khẩu Môde đựng trong bao gỗ sau lưng, anh di chuyển bằng những bước dài trong con đường ngầm trần thấp lè tè để thi hành một mệnh lệnh nào đó của Secnôivanenkô và cái bóng to lớn của lưng anh che kín cả con đường ngầm. Theo con mắt Pêchya, Xêrafim Ivanôvich Tulyakôp, người cùng ở với anh em du kích trong cái hốc cuối cùng, là một người ngang hàng. Tulyakôp thường xuất hiện và luôn gắn liền với công tác chuẩn bị chiến đấu: trước hết anh vào sổ số hiệu các súng ngắn, súng trường, rồi chú ý xem xét kỳ cho đến khi chúng được cắt đặt tử tế mới thôi, tổ chức việc đổi gác, chỉ định người trực ban, và một hôm anh cắt Pêchya và Valentin trực sau khi đã ghi tên chúng vào một quyển sổ. Nhân dịp này, anh đã hỏi Pêchya:

        — Em có biết bắn không?

        — Có biết một tí — Pêchya ngập ngừng đáp ; thực ra đến tận bây giờ, suốt đời chú chỉ mới được bắn có một lần ở Iityazoma bằng khẩu súng hơi của Victo Xađôpnikôp.

        — Em có vũ khí riêng không?

        Biết chú không có, Tulyakôp lắc đầu không tán thành, rồi nói.

        — Chẳng biết em nghĩ thế nào ? Như vậy là không tốt! Chiến tranh thì phải đánh nhau chứ!

        Rồi anh đưa đến cho Pêchya một khẩu Nagan trận, trích trong sổ ra một con số rất dài và đòi cho được một tờ biên lai. Từ đó, chú bé hết sức khâm phục Tulyakôp.

        Các người khác không quan trọng lắm nhưng dù sao Pêchya cũng rất quý trọng họ, thậm chí còn tỏ ra quá lễ phép, như đổi với những người anh hùng bí mật, những ân nhân của nhân dân, thành viên của tổ chức khủng bố, chiến đấu ở hậu địch. Chú thích nhất cô Liđia Ivanôpna Anghêlêđi, dịu dàng, xinh đẹp, trìu mến, giống mẹ chú về một điểm gì rất khó tả. Một người cũng được chú thích nữa, đó là Trôlim Zakharôvich Xviriđôp, kế toán viên trước chiến tranh, đồng nghiệp đồng thời là người giúp việc của Liđia Ivanôpna, cũng trẻ và duyên đáng như bản thân cô; do đó Pêchya có cảm tưởng là trong Chi nhánh Ngân hàng Quốc gia Ôđetxa chỉ toàn những người công chức đặc biệt xinh đẹp và dễ thương. Thậm chí Xviriđôp còn hơi giống Liđia Ivanôpna nữa. Họ tìm mọi cách để luôn luôn được ở bên nhau. Người ta có thể tưởng nhầm đó là hai anh em.

        Đồng chí Xecghêiep càng được Pêchya để ý tới đặc biệt, nổi bật vì là huấn luyện viên thể thao, tinh thông mọi bí quyết của các môn bóng đá, điền kinh và bơi lội. Anh là ủy viên ban trọng tài hội « Đynamô », bạn của tất cả các nhà vô địch, các nhà bơi lội nổi tiếng và các cầu thủ bóng đá. Hơn thế nữa, anh ở trên họ: anh nhận xét họ ! Dưới con mắt của Pêchya, đó là một nhân vật tuyệt đối khác thường, gần như một vị á thánh. Thậm chí Pêchya còn nhìn anh, như nhìn ánh mặt trời, phải lim dim đôi mắt. Chú bé cứ lẽo đẽo theo anh như một cái bóng, kiên nhẫn chờ đợi cơ hội để hỏi anh một vấn đề lý thuyết nào đó về một cú phạt trực tiếp, một trường hợp chơi trái luật, hoặc cả về giá trị hơn hẳn của lối bơi sải đối với lối bơi ếch. Đồng chí Xecgkêiep trả lời rất tử tế nhưng quá vắn tắt. Nói chung anh vốn ít nói: anh lắng nghe nhiều hơn là nói, hút ống píp, nhưng bây giờ không phải nhét đầy nồi điếu thuốc lá thơm hiệu «Mái tóc vàng» nữa, mà bằng thuốc lá rẻ tiền của chiến sĩ. Chỉ có một lần, anh nói chuyện với Pêchya để hỏi chú:

        — Em có chơi thể thao không?

        — Ít thôi — chú bé đáp, ngượng ngùng.

        Đồng chí Xecghêiep nắn bắp tay bắp chân của chú rồi mỉm cười chua chát, nói:

        — Thế mà cũng gọi là thiếu niên tiên phong! Để rồi chú luyện cho...

        Đối với người chỉ huy doanh trại Lêônit Ximban mà hầu hết mọi người đều gọi tắt là Liônya thì Pêchya còn có một tình cảm gấp đôi. Về nguyên tắc, chú thích Liônya. Tâm hồn con người vui vẻ, tinh nghịch đó như luôn luồn tràn đầy ánh nắng miền Nam, the hiện rất ngây thơ trên nét mặt linh hoạt khác thường, có thể thay đôi sắc thái từng giây lừng phút và biểu lộ những nét hết sức khác nhau, hết sức tế nhị của ý nghĩ và tình cảm. Đôi môi tinh nghịch luôn luôn sẵn sàng nở một nụ cười chế giễu, và bất cứ lúc nào anh cũng có ở đầu lưỡi một câu khôi hài hay một lời chàm chọc, nhưng tất cả cái đó đều không có ác ý.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2020, 06:14:03 am

        Anh có một trình độ châm biếm khá cao, đặc tính trời phú riêng cho người Ôđetxa; nó giúp anh chịu đựng được trong những giờ phút khó khăn nhất. Nhưng vì trong lúc này, không ai còn lòng dạ nào nữa để châm biếm, mà Liônya thì không thể không đùa nghịch, nên anh đã trút cả lên đầu Pêchya như một dòng thác những lời nói hóm hỉnh vả những phương ngôn tục ngữ vùng Hắc-hải.

        — Này lại đây, chú bé ! Cái gì thế này? Người ta đã phát cho chú một khẩu súng ngắn, một khẩu Nagan phải không? Thế là chú ra vẻ ta đây lắm. Lấy ai mà gọt vỏ khoai bây giờ nhỉ? Tượng Puskin chắc? À, chú đã gọt rồi ư? Vậy tôi xin lỗi. Thằng bé ngoan thật!

        Pêchya, một mặt hãnh diện được người chỉ huy doanh trại đối xử thân mật với mình, nhưng mặt khác cũng thấy khó chịu với những lời đùa bỡn không ngớt đó, nên chú đã cố tránh để ít phải gặp cái anh chàng Liônya luôn luôn vui vẻ ấy.

        Nhưng cố nhiên những người chú bé cảm thấy gần gũi nhất là Matriôna Têrenchiepna, là Raitxa Lvôpna và Valentin. Họ tượng trưng cho gia đình chú. Trong, một chừng mực có thể, họ thay thế mẹ chú, bố chú, các em gái chú và bà nội chú. Chỉ với họ, Pêchya mới cảm thấy hoàn toàn tự do và vui vẻ.

        Đường hầm nhanh chóng có vẻ đầy đủ tiện nghi với những buồng lớn, buồng nhỏ, nếu có thể gọi như vậy, những cái khám đủ mọi kích thước, những cái hang hốc đục trong đá vôi bằng vỏ hàu. Đó là những đường hầm cũ do thợ đá đào từ lâu lắm, hoặc là những trụ sở mới xây dựng, chuyên để chứa vật liệu và cho những người trong ban chấp hành bí mật. Hầm ngầm này, muốn gọi là gì cũng được: cơ quan tham mưu, trại lính, công binh xưởng, đài chỉ huy. Nhưng cái tên đơn giản nhất, thông thường nhất đã chiếm ưu thế : nhà ở. Thực tế, nó giống một ngôi nhà ở biến thành cơ quan hay đúng hơn một cơ quan quân sự. Những phiến đá to dùng làm bàn. Trên những phiến đá giống nhau hình chữ nhật, trải rạ và áo ca-pốt, người ta ngủ chung với nhau như trên những bộ phản. Đá tảng thay cho ghế. Nói chung, tất cả đồ đạc đều bằng đá hoa cương hay đá vôi.

        Các bà phụ nữ, Raitxa Lvôpna, Matriôna Têrenchiepna, Liđya Ivanôpna và Valentin ở riêng. « Khám » của họ được ngăn cách bằng một tấm màn vải. Họ ngủ cả bốn người cạnh nhau trên một chiếc giường đá. Nhưng ở chỗ họ, ngăn nắp và sạch sẽ vô cùng ! Giường của họ luôn luôn phủ chăn len gọn gàng. Không có gối, thật đấy, nhưng thay vào đó, là những cái áo ba-đờ-xuy, những cái túi xếp rất gọn. Trên cái bàn đêm bằng đá trải một số báo Công xã Hắc-hải thay cho khăn bàn, có để cái gương con của Liđia Ivanôpna, một cái đĩa nhựa đựng cặp tóc, một quả cầu mà Matriôna Têrenchiepna đã vội vã mang theo với các tài liệu, một bức ảnh con lòng trong một cái khung khảm xà cừ và một mẫu nến. Nhưng cả cây đèn nến Valentin chế ra cũng khác những cây nến khác, ở chỗ nó được cắm vào một lọ nước hoa nhỏ khéo chế biến lại, và do cái vẻ trang nhã, có thể nói nó đã tỏ rõ đây là nhà ở của phụ nữ.

        Nam giới, kể cả Pêchya, sống trong ba « buồng » khác.

        Trong hầm, cũng có một « góc đó » dùng làm « buồng giấy» cho đồng chí bí thư thứ nhất. Tất nhiên, đó là một cái hang hơn một cái buồng. Hai chiếc bàn đá dài xếp theo hình chữ T, những khối đá mệnh danh là ghế bao chung quanh. Trong một góc hầm, trên một tảng đá để một cái tủ két nhỏ. Trong một góc khác, cũng trên một tảng đá, để một xô nước với một cái chén vại làm bằng vỏ đồ hộp. Trên một cái ngăn đục vào tường, vài quyền sách. Bên cạnh, có bản đồ Liên bang Xô-viết, bản đồ vùng Ôđetxa và bản đồ thành phố và cả bản sơ đồ chính quyền các vùng lân cận Ôđetxa. Pêchya thấy bác Gayrick với đồng chí Tulyakôp mang đến hai bức chân dung Lênin và Xtalin và hai lá cờ: lá cờ đỏ thắm của ban chấp hành khu Đảng bộ và lá cờ màu dâu tây của Xô-viết khu. Họ treo cờ vào trong góc hầm và đóng các bức chân dung len tường, bên trên cái bàn.

        — Chính quyền ở đây mới là chính quyền thực sự của nhân dân, — Secnôivanenkô nói — chính quyền xô-viết, chính quyền của Đảng Cộng sản ; nó sẽ lãnh đạo các khu ngoại ô thành phố Ôđetxa cho tới khi nào kẻ địch bị đánh đuổi và tiêu diệt đến tên cuối cùng. — Secnôivanenkô nhìn về phía trần đất thấp lè tè và nói thêm —  Chúng còn chưa biết thế nào là cuộc Chiến tranh Ái quốc của cả một dân tộc để cứu nước. Nhưng chẳng bao lâu nữa, chúng sẽ biết.

        Ông dằn lên tiếng « chúng» mạnh đến nỗi răng nghiến ken két.

        Cây đèn bão với cái lưới thép, đặt trên tủ két, chiếu sáng yếu ớt nhưng hùng hồn toàn bộ bức tranh vừa khủng khiếp vừa trang nghiêm, huyền hoặc như trong một giấc mơ.

        Một tia sáng vàng đục di chuyển trên loạt vũ khí, trên sàn đất gồ ghề, trên gương mặt mọi người, trên những bản đồ, và trên các bức chân dung. Gương mặt Lênin và Xtalin như sống, thở và suy nghĩ. Ánh sáng mịn màng trên mặt vải của hai lá cờ có tua vàng nặng trĩu pha thêm vào ánh sáng mờ yếu ớt của cây đèn bão.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Bảy, 2020, 04:58:04 pm
        
53

        Lúc đầu hoạt động của Ban chấp hành bí mật còn yếu, hầu như không có gì. Họ mới xuất kích đi dán truyền đon một vài lần.

        Khi chuyển vào bí mật, Secnôivanenkô đã mang theo mấy trăm truyền đơn của Ban chấp hành quận cũ gửi cho nhân dân. Chúng hoàn toàn thích hợp để phát ra trong những ngày đầu: nhân dân sẽ hiểu rằng việc Hồng quân rút khỏi thành phố không có nghĩa là cuộc đấu tranh chống phát-xít đã kết thúc, mà trái lại nó mới thực sự bắt đầu. Đó là một lời hiệu triệu tiếp tục cuộc chiến đấu vũ trang và mở rộng hơn nữa phong trào du kích. Sự xuất hiện lời kêu gọi ấy trên các tường nhà và hàng rào tự nó chỉ cho nhân dân biết là trong khu đã có một tổ chức Bônsêvich bí mật hoạt động, điều đó có một ý nghĩa về tinh thần và chính trị to lớn.

        Secnôivanenkô có kinh nghiệm biết việc phá hoại các đường vận chuyển sau lưng địch là một công tác quan trọng hàng đầu. Cho nên ngay từ trước, ông đã thảo và in sẵn một số truyền đơn tại nhà in của Ban chấp hành quận và mang theo một loại nhỏ màu hồng rất mỏng để gửi cho công nhân hỏa xa.

        Lại có loại truyền đơn khác, dùng cho nông thôn.

        Những truyền đơn ấy ký tên «Ban chấp hành Đảng bộ Khu và ủy ban hành chính xô-viết khu ngoại ô thành phố  Ôđetxa». Secnôivanenkô quan tâm đặc biệt đến chữ ký song song của hai cơ quan. Nhân dân sẽ tin tưởng chắc chắn rằng ở thành phố, đảng và chính quyền xô-viết vẫn tồn tại và hoạt động.

        Dán các truyền đơn là hành động đầu tiên của Ban chấp hành bí mật — cuộc đọ súng ngẫu nhiên xảy ra ở gần cửa «Con Dím» xem như không đáng kể. Nói đúng ra, đó chỉ là một hành động của trinh sát. Nhưng họ đã chuẩn bị chu đáo biết chừng nào ! Pêchya thấy cách họ nấu hồ dán, trong một cái xoong lớn, trên một ngọn đèn dầu hỏa dưới hầm nhà bếp. Bà Matriôna Têrenchiepna nấu, nhưng có đồng chỉ Secnôivanenkô giúp đỡ và hướng dẫn. Ông rất coi trọng chất lượng của hồ. Truyền đơn không phải dán thế nào cũng xong. Không phải chỉ dính được vào tường là đủ, mà phải làm sao cho không thể bóc xé. Ông thử hồ rất tỉ mỉ trên đầu ngón tay và bằng lưỡi; với một động tác nhanh, ông dùng bút lông lấy một ít hồ, phết lên một tờ giấy, chú ý cho không vón cục. Hồ quấy xong, họ đồ vào vỏ đồ hộp, nhiều đều nhau. Sau đó, tại «góc đỏ», Ban thường vụ họp chớp nhoáng để bàn công tác.

        Pêchya và Valentin, cảm thấy người ta đang quyết định một việc hệ trọng, không ngớt liếc mắt sang «góc đỏ». Xtrenbixki cầm cây đèn bão rọi lên bản đồ Ôđetxa, và bác Gayrick, bằng một mẩu than nhỏ, vẽ những mũi tên hướng về nhiều ngả khác nhau.

        Xviriđôp và Xecghêiep đứng im lặng sau Secnôivanenkô, tập trung cao độ, theo dõi các động tác chính xác và nhanh nhẹn của bảc Gayrick. Tulyakôp ngồi ở bàn đá chia đạn súng ngắn thành bốn phần, mỗi phần mười bốn viên. Đám phụ nữ thì ngồi giữa sàn, xung quanh ngọn đèn, khâu cái gì vào lớp áo ba-đờ-xuy và áo ca-pốt nam, thỉnh thoảng đưa chỉ lên miệng cắn. Valentin và Pêchya hiểu những mũi tên của bác Gayrick là hướng đi của các toán hành động, các phần đạn là dự trữ chiến đấu của mỗi người. Còn đối với công việc của các bà phụ nữ thì Pêehya không hiểu ra sao cả. Chú khẽ huých Valentin và thầm thì:

        — Họ khâu gì vào trong ấy thế ?

        — Những túi nhỏ và những lỗ khuyết — Valentín đáp rất nhanh, thầm thì một cách bí mật.

        — Để làm gì?

        Em nguýt Pêchya rồi nhún vai ra vẻ kẻ cả:

        — Ngẩn ơi là ngẩn !

        — Thật đấy mình không hiểu mà! — Chú năn nỉ.

        — Cứ như trên mặt trăng rơi xuống ấy. Khâu vào lớp lót những cái túi nhỏ và những lỗ khuyết thì còn để làm gì nữa kia chứ, hả?

        — Cậu tự phụ quá! — Pêchya nói, vẻ giận dỗi và nín lặng.

        Chú không chịu được lối đối xử kẻ cả của người khác, nhất là ở bọn con gái. Đã bao nhiêu lần chú tự nhủ không thèm hỏi Valentin, không chịu sỉ nhục! Rồi chú dịch xa ra và thở phì phì đáng bực tức. Nhưng Valentin thân mật đặt tay lên vai chú và nói:

        — Túi là để đựng hộp hồ, còn khuyết là để cắm bút phết hồ vào truyền đơn. Cậu phải hiểu chứ.

        — Tớ cũng nghĩ thế — Pêchya nói cộc lốc.

        — Đi ngủ đi! — Matriôna Têrenchiepna nói; bà đứng dậy, rũ tấm áo tơi ngắn bằng da bê của Tulyakôp mà bà đang cầm trong tay.

        Pêchya và Valentin lặng lẽ trườn vào trong bóng tối, nhưng một lát sau, chúng lại đã ở đẩy, chầu hẫu về phía « góc đỏ». Tulyakôp, Xviriđôp, Xecghêiep, Xtrenbixki đã mặc quần áo, và cho đạn, cho truyền đơn vào túi. Liđya Ivanôpna đứng trước Xviriđôp ; chị nhìn vào mặt anh bằng đôi mắt đẹp, mò mẫm để hộp hồ vào trong cái túi nhỏ và cắm bút lòng vào lỗ khuyết.

        — Có chắc không? — Chị hỏi dịu dàng và vẫn nhìn anh chằm chập,

        — Cảm ơn Lizoska— anh vừa nói vừa nhìn lại và sờ vào cái bút lông và hộp hồ. — Chắc lắm rồi,

        — Nào, đi thử xem.

        Anh bước đi trước mặt chị, trong hầm, vừa đi vừa lắc xem hộp hồ và cái bút lông nằm đã thật chắc chưa.

        — Có chắc không ? — Chị hỏi đáng lo lắng.

        — Tốt lắm rồi — anh đáp, dừng lại trước Liđya Ivanôpna, như định nói một điều gì hết sức quan trọng, nhưng lại chỉ mỉm cười ra vẻ hài lòng.

        — Nên để vũ khí ở túi ngoài bên phải — Tulyakôp nói — Chỉ nổ súng khi không còn cách nào khác thôi.

        — Viên đạn cuối cùng là để dành cho bản thân —  Xtrenbixki nói với giọng không cho ai cãi lại. Anh sờ nhanh vào hộp hồ dưới áo khoác và đội mũ vào một cách kiên quyết.

        — Tổt hơn hết là đừng để phải dùng đến phương sách cuối cùng ấy — Secnôivanenkô căn dặn. — Nào, các đồng chí, bắt tay vào việc...

        — Chúc mọi người may mắn! — Liđya Ivanôpna nói.

        Nín thở và siết chặt bàn tay Valentin, Pêchya nhìn mọi người ở « góc đỏ » đi ra nối tiếp nhau theo lối đường ngầm. Họ có bốn người, Xtrenbixki, Tulyakôp, Xviriđôp và Xecghêiep. Một số chiến sĩ thuộc phân đội Tulyakôp mang súng trường và đèn bão đi theo họ. Đó là toán chận hậu có nhiệm vụ bảo vệ họ đến tận cửa ra, chiếm lĩnh tuyến phòng thủ và đợi họ hành động xong trở về.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Bảy, 2020, 04:59:51 pm

54

        Xtrenbixki và Xviriđôp phải vòng quanh thành phố về phía tây, đến tận đường sắt trong khu vực vọng gác số 2, tới khu Cối xay Gần và Cối xay Xa, dán ở đấy truyền đơn gửi công nhân hỏa xa và lời hiệu triệu nhân dân của Ban chấp hành quận. Đi, về như vậy, mất ít nhất mười sáu cây sổ. Họ dự đoán đường sắt đã được canh gác chặt chẽ, và cần nhất truyền đơn phải được dán vào nhà người gác chắn, vào tháp nước, vào tường các nhà kho. Đó là hoạt động đầu tiên của Ban chấp hành bí mật, chưa có kinh nghiệm, mọi người đều biết là phức tạp và nguy hiểm.

        Còn Tulyakôp và Xecghêiep thì chịu trách nhiệm vòng qua các làng ở phía bắc, Khôlôtnaia Banka, Nêrubaikôiê, Nhiliakòvô và, nếu có thể, đến tận trạm máy kéo Prôtôpôpôvô dán truyền đơn gửi cho nhân dân lên các nhà dân và các hàng rào. Đi về mất hai mươi lăm cây số qua đồng cỏ vắng, nơi mà gặp trường hợp cần thiết họ có thể dễ dàng ẩn nấp.

        Nhiệm vụ của họ dễ dàng hơn của Xtrenbixki và Xviriđôp. Nhưng Xtrenbixki biết rõ ngoại ô và Tulyakôp nắm chắc các làng. Hơn nữa, Tulyakôp còn hy vọng tìm được ở Khôlôtnaia Banka những người của mình còn để ở lại sau lưng địch và sẽ đưa họ về hầm mộ.

        Đèn bão đi khuất, cái trước cái sau, ở chỗ ngoặt đường ngầm. Hai toán chỉ có thể trở về trước năm hoặc sáu giờ sáng. Và thế là bắt đầu một thời gian chờ đợi lặng lẽ, căng thẳng. Đêm ấy, trong trại, không ai ngủ cả. Mọi người đều lặng lẽ ngồi đợi trên giường. Tất cả đèn đóm tắt hết, để tiết kiệm chất đốt. Chỉ ở « góc đỏ » ngọn đèn công tác nhỏ cháy leo lét. Secnôivanenkô ngồi bên cạnh, mắt lim dim, tay để trên bàn đá, đang suy nghĩ. Hiện nay mặt trận ở đâu? Trên thành phố và trong quận, tình hình ra sao? Không biết gì cả và không thể làm gì, nếu không nắm được tình hình. Thiếu hẳn liên hệ với bên ngoài. Điện đài vẫn chưa đặt. Cần phải giăng ăng-ten lên mặt đất, nhưng đó là điều không thể làm trước khi nắm được tình hình ở Uxatôvô. Cho đến lúc đó, vẫn phải kiên nhẫn chờ đợi. Nhưng bản tính của Secnôivanenkô lại không muốn thế.

        Lúc này đã cử người đi dán truyền đơn rồi, ông sốt ruột đợi họ trở về. Có nhiều việc tùy thuộc vào những tin tức họ sắp mang về. Về mặt này ông hy vọng nhiều ở Xtrenbixki và Xviriđôp. Họ biết được gì giữa ban đêm, trong điều kiện giới nghiêm ở lân cận đường sắt chắc chắn đã bị canh gác chặt chẽ? Kinh nghiệm công tác cách mạng bí mật cho biết là trong những điêu kiện như vậy, nhất là trong lần xuất kích đầu tiên, không thể nói chuyện với nhiều người, cũng không thể lượm được ở họ một tin tức gì thiết thực, ông đặt hy vọng nhiều hơn vào Tulyakôp. Có lẽ cùng với Xecghêiep, anh ấy có thể đột nhập vào nhà dân, nói chuyện với họ, nhất là chắc anh sẽ đưa được những người du kích của anh về, và qua họ có thể rút ra được nhiều điều quí báu cho công tác sau này.

        Secnôivanenkô cũng cân nhắc đến những trọng trách của ông trước Đảng và nhân dân, cũng như trước những người cùng xuống hầm mộ với ông. ông không sợ chết. Nhưng ông không được chết, ông phải sống, lãnh đạo cuộc đấu tranh, gây mọi trở ngại cho bọn địch đang chiếm đóng tổ quốc ông, tổ quốc xô-viết thân yêu và thiêng liêng của ông. Ông phải thắng. Đó là yêu cầu của Đảng. Nhưng chiến đấu và chiến thắng, đó là cả một nghệ thuật lớn. Ở đây, sẵn sàng hy sinh không có tác dụng gì lớn. Phải có kinh nghiệm, tính ngoan cường, một bộ óc không nhầm lẫn và sáng suốt, một ý chí sắt đá.

        Secnôivanenkô lấy trong tủ sắt ra một quyển vở chép những đoạn tác phẩm của Lênin, đeo kính và vùi đầu vào đọc. Ông đọc từ từ, cân nhắc từng chữ, suy nghĩ từng câu.

        Khi ông nhìn đồng hồ thì đã mười một giờ mười lăm. Nhưng dù thế nào cho đến sáng, cũng còn cả một thời gian vô tận.

        Ông lại đọc.

        Ở phía trên chỗ lá mía, da trán ông nhăn lại. Trước mặt ông, trên bàn đá, bên cạnh lọ mực, bức ảnh Lênin khi ở Gorki, lồng trong một cái khung lớn màu đỏ.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Bảy, 2020, 05:00:41 pm
        
55

        Đêm đó, Secnôivanenkô đi ra cửa « Con Dím » nhiều lần. Trước cửa, ở bên ngoài, giữa những đám dại khô, có hai chiến sĩ thuộc toán Tulyakôp đang ôm súng nằm quan sát chung quanh.

        — Thế nào, vẫn khỏe chứ, các chú?

        — Dạ không đến nỗi, đồng chí bí thư ạ.

        — Hẳn có gì nên mãi các đồng chi chúng ta vẫn chưa về.

        — Chắc họ chưa làm xong công tác đó thôi.

        — Lẽ ra, họ về rồi mới phải.

        — Còn sớm lắm, đồng chí bí thư ạ. Từ đấy, họ không thể về đến đây trước sáu giờ sáng.

        — Thôi được, nói chung có tình hình gì không ?

        — Không có gì thật đặc biệt, đồng chí bí thư ạ. Cách đây bốn phút, có một chiếc máy bay bay qua. Thế là chúng đã bắn một trận không thể tưởng tượng được, làm tất cả chung quanh đều ngập mảnh đạn. Chúc sức khỏe đồng chí đấy. Chắc chắn đó là máy bay của ta. Chúng có một cụm cao xạ đặt ở đàng kia, sau Uxatôvô. Trời, chúng khiếp sợ bộ đội nhảy dù của ta lắm! Nghe có tiếng động nhỏ là chúng bắn như đổ đạn để chẳng làm quái gì hết.

        — Còn gì nữa?

        — Báo cáo đồng chí bí thư, không còn gì hơn. Cách đây một tiếng rưỡi, văng vẳng có tiếng kèn trận của chúng. Không biết là ở Uxatôvô hay ở Kholôtnaia Banka vì gió quá. Trên đường Hatji-Bây, suốt đêm xe tải chạy rầm rập, xe tăng rú liên hồi. Về phía Nhiliakôvô, thỉnh thoảng nghe có tiếng xe lửa chạy.

        — Các chú không thấy ai trên thảo nguyên à?

        — Dạ tối lắm. Không nhìn thấy gì cả.

        Secnôivanenkô nhìn một lúc vào bóng tối dày đặc của đêm mùa thu ẩm ướt và lạnh lẽo, rồi quay trở về theo những hành lang vô tận của hầm mộ, đi qua ngọn đèn này rồi ngọn đèn khác đến tận « góc đỏ ». Một lần nữa, ông ngồi xuống suy nghĩ, thỉnh thoảng lại xem đồng hồ. Rạng đông, ông xách đèn bão đi quanh ngôi nhà hầm của mình, xem xét các hang động. Không ai ngủ cả. Xviatôxlap và Ximban đang chữa điện đài dưới ánh sáng  tù mù của một ngọn đèn nhỏ.

        — Các đồng chí không ngủ à?

        — Chúng tôi đang cố tìm hiểu tại sao điện đài không chạy.

        — Thế nào, không chạy sao? — Secnôivanenkô kêu lên và lo lắng nhìn Ximban — Tại sao ?

        — Có thể là ắc-quy hết điện hay cháy bóng.

        — Ăc-quy vẫn tốt — Xviatôxlap nói.

        — Thế thì tại đèn.

        — Đèn dự trữ đâu — Secnôivanenkô hỏi.

        — Chúng tôi vừa lắp xong.

        — Nội sáng nay, tất cả phải chữa xong. Đồng chí bí thư nói rất nghiêm khắc. — Tôi cần liên lạc.

        Ông bỏ đi ra, nhưng lại quay lại.

        — Tôi cần liên lạc — ông nhắc lại và nhìn, vẻ lo lắng, qua vai Xviatôxlap, vào chiếc máy thu thanh đang mở. —  Có liên lạc mới nắm được tình hình. Liên lạc, chỉ có thế thôi. Nếu không nắm được tình hình, tôi sẽ như người cụt tay — Các đồng chí hãy nhớ lấy...

        — Xin tuân lệnh đồng chí bí thư. — Ximban nói to. Nhưng nhìn thấy vẻ nghiêm nghị của Secnôivanenkô, anh cắn môi im bặt.

        Rồi Secnôivanenkô đi sang chỗ chị em phụ nữ. Họ đang ngồi nói chuyên rì rầm trong bóng tối.

        Ông chiếu đèn vào chỗ họ.

        — Tại sao các chị không ngủ?

        — Chúng cháu ngủ cả rồi — Pêchya nói; một mình giữa « khu nam giới », chú sợ, nên các cô đã tạm thời đưa chú về chỗ họ.

        Secnôivanenkô xoa tay lên đầu tóc rối bù đầy bụi từ lâu không cắt của chú, ôm lấy chú và xoay mặt chú vào tường, rồi phủ chiếc áo ca-pốt lên.

        — Matriôna — ông nói — cần chú ý cho các em đi ngủ đúng giờ quy định. — ông bước tới gần Liđya Ivanôpna và bình thản nhìn chị qua đôi kính trắng. —  Còn đồng chí Anghêliđi nữa, tại sao đồng chí không ngủ. Cứ nghỉ ngơi khi tình thế còn cho phép chứ. Chúc các đồng chí ngủ ngon.

        Ông định nói: «Chúc các anh các chị ngủ ngon! Chúc các bạn ngủ ngon. » Nhưng ông không nói gì nữa. Họ đã lên nằm trên giường đá, lấy măng-tô và chăn đắp lên người, chân còn mang cả giày co lại, làm bộ như đã ngủ thật cả rồi. Ông đi ra.

        Đến bảy giờ sáng, một vệt ánh sáng mờ mờ xuất hiện trong đường hầm. Toán thứ nhất đã về: Xtrenbixki và Xviriđôp — cả hai người đều phấn khởi và im lặng, mệt lả, người đầy bùn đen dày cộp, áo khoác ướt sũng nước mưa và sương mù.

        Xtrenbixki bảo cáo tóm tắt với Secnôivanenkô. Tất nhiên họ không nắm được gì thiết thực về tình hình trên thành phố. Nhưng họ cũng lượm lặt được một số chi tiết đáng chú ý. Khi dán một tờ truyền đơn lên nhà người gác chắn, trong phạm vi bốt gác số 2, Xtrenbixki thấy có một tờ dán ở đấy rồi. Anh không dám bấm đèn, nhưng cũng nhận ra một hình búa liềm vẽ bằng mực đen trên một tờ giấy học sinh, với những chữ viết hoa: « Đả đảo bọn phát-xít xâm lược!» Từ đó có thể suy ra là đã có những người đứng lên bắt đầu cuộc đấu tranh bí mật. Có thể tờ truyền đơn đó là của một cá nhân không có tổ chức viết ra và dán lên. Secnôivanenkô qua kinh nghiệm biết có nhiều trường hợp như thế. Nhưng điều đó không làm thay đổi ý nghĩa của sự việc. Sự việc ấy dù thế nào cũng có tầm quan trọng của nó, vì nó nói lên tinh thần của nhân dân. Hơn nữa Xtrenbixki còn cho biết ở vùng Cối xay Xa, trong phố Môitxenkô, họ đã nhìn thấy hai chiếc xe tải mui trần chằng xích sắt, lại có nhiều mô-tô gắn súng đi kèm, chắc là chở những người bị bắt: Ngoài ra không còn gì đảng chú ý nữa. Hơn nữa, lúc đó Xtrenbixki và Xviriđôp đang nằm dưới một cái hố và hai chiếc xe tải chạy qua rất nhanh, Secnôivanenkô biết trong khu công nhân, các vụ bắt bớ hàng loạt đã bắt đầu. Ông ghi nhớ điều đó, coi như một hiện tượng nhân dân đứng lên đấu tranh với địch. Không có một bóng người. Cửa sổ các nhà tối om. Đâu đâu cũng gặp những toán tuần tra. Nhiều lắm, đâu đó có cao pháo bắn lên. Secnôivanenkó không nắm được gì thêm. Phải đợi Tulyakôp về.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Bảy, 2020, 05:02:12 pm

        Một giờ sau, Tulyakôp về với Xecghêiep, và hai người báo cáo. Secnôivanenkô đã không nhầm. Những tin tức Xêrafim Ivanôvich cho biết quan trọng đến đỗi Secnôivanenkô tập họp ngay mọi người lại cùng nghe.

        Không kịp cởi chiếc áo bẩn, Tulyakôp rửa mặt qua loa, lau tay, ngồi vào bàn, im lặng tập trung tư tưởng một lúc, roi nói:

        — Hai toán chiến đấu chúng tôi — toán của tôi và toán của Xtrenbixki — như các đồng chí đã biết, cùng đi lên mặt đất ở cửa «con Dím», lúc 19 giờ 10 phút, giờ Mạc-tư-khoa. Tôi nói « giờ Mạc-tư-khoa » vì bọn chiếm đóng đã vặn đồng hồ nhanh lên một tiếng. — Tulyakôp mỉm cười chua chát nhưng thôi ngay, nhăn mặt lại. —  Chúng bắt nhân dân xô-viết phải theo giờ giấc của chúng.

        — Chúng vội mà — Ximban nhận xét.

        — Phải, chúng vội. — Tulyakôp điềm đạm nói. —  Nhưng không phải không nên tính tới sự khác nhau về giờ giấc đó sau này. Trận xuất kích lên mặt đất của chúng tôi, như người ta nói, đã được tiến hành rất bình thường. Toán yểm hộ đã cho chủng tôi biết tình hình khi còn cách địa điểm năm trăm mét. Tất cả đều trôi chảy. Như vậy là chúng tôi đã cùng nhau hành quân đến tận chỗ rẽ của con đường mòn gần làng Nêrubaixkôiê, và từ đấy chúng tôi chia nhau tiến về các ngả. Đây là chỗ ngã ba đó.—Tulỵakôp tiến sát lại bản đồ và lấy bút chì chỉ. — Từ đó Xtrenbixki và Xviriđôp đi thẳng về phía nam, còn Xecghêiep và tôi, chúng tôi vòng về phía Khôlôtnaia Banka và về phía bên kia, theo hành trình đã định, về phía đông bắc. Chúng tôi đi người nọ cách người kia khoảng hai mươi, hai nhăm mét để gặp trường hợp cần thiết có thế nổ súng. Tôi trình bày tất cả những chi tiết này tỉ mỉ như thế là để kinh nghiệm trận xuất kích của chúng tôi có thể sử dụng được cho sau này.

        — Dù sao, có lẽ cũng nên báo cáo gọn gọn hơn một tí. — Secnôivanenkô sốt ruột nói.

        — Hơn nữa chúng tôi không được bắn chi viện cho nhau — Xecghêiep nhanh nhảu nhắc — vì thảo nguyên vắng tanh và tối om, không nhìn thấy gì hết. Nói chung tất cả đều trôi chảy.

        — Tất nhiên, nếu không kể cuộc gặp gỡ với một toán tuần tiễu dân vệ Rumani. — Tulyakôp nói thêm —  Chúng đã nổ súng vào chúng tôi, ở chỗ cửa con mương nhỏ ngay gần bên bờ đầm nước mặn Hatji-Bây, gần gần ở đây — Anh chỉ lên bản đồ. — Nhưng không kết quả, vì chúng tôi đã nấp trước vào những chỗ mấp mô của địa hình. Sau đó chúng tôi bỏ đi xa hơn, không gặp trở ngại gì và không phải nổ súng.

        — Và không biết vì lẽ gì, chúng không quyết tâm đuổi theo chúng tôi — Xecghêiep thêm — hay chắc chắn hơn chúng đã mất hút chúng tôi.

        — Các đồng chí đã dán thư gửi cho nông trang viên và lời kêu gọi của Ban chấp hành quận rồi chứ ?

        — Đã dán đầy đủ.

        — Ở đâu?

        — Trên tường các kho lúa mì, trên các giếng nước, ở các cột dây thẻp.

        — Tốt — Secnôivanenkô ghi vào sổ tay.

        — Bây giờ tôi báo cáo sang phần tình hình mà trong quá trình hành động chúng tôi đã nắm được.

        Tulyakôp lại gần cái xô và uống nước.

        — Nào tình hình, báo cáo đi, tình hình! — Secnôivanenkô sốt ruột thốt lên, tay lật những trang giấy đặt trên bàn. — Chúng tôi đã đun nước chè cho các đồng chí.

        Tulyakôp lấy tay lau ria mép, trở về chỗ và tiếp tục :

        — Gần Khôlôtnaia Banka, trên thảo nguyên, tại một địa điểm định trước, chúng tôi đã gặp một bộ phận những chiến sĩ tôi cài lại ở hậu địch. Họ đã sát nhập vào phân đội của tôi và hiện giờ đã có mặt trong hầm mộ. Nhưng tôi không để họ vào theo cửa « Con Dím », và đã tìm cho họ một lối vào gần Khôlôtnaia Banka hơn, Sau này, tôi sẽ báo cáo với đồng chí tại sao tôi đã quyết định như vậy... Các chiến sĩ của tôi đã kể lại quang cảnh trên đó. Trong báo cáo của tôi, tôi sẽ chỉ nói với đồng chí những điều thật chắc chắn và đã được xác minh. Khu vực mặt trận gần chúng ta nhất là ở Krưm, trước Pêrêkôp ; từ đấy địch rất muốn tiến tới Xèvaxtôpôn. Những trận chiến đấu phòng ngự ác liệt đang diễn ra ở đấy. Do đó chúng ta có thể ước lượng được là chúng ta đang ở rất sâu trong hậu địch, và chúng ta không thể tính tới chuyện liên lạc được với các đơn vị Hồng quân. Đấy, tình hình mặt trận là như vậy. Đó là một điều. Về tình hình và tinh thần của nhân dân các làng ở hậu địch, theo tôi thì đại khái như thế này. Đại bộ phận ở các làng đều có đồn binh Rumani và Đức chiếm đóng. Tuy vậy tôi đã lọt được vào nhiều nhà, nói chuyện với nhân dân và, báo cáo các đồng chí, điểm nổi bật nhất và trước tiên tổ chức chúng ta phải quan tâm đặc biệt... — Tulyakôp ngừng lại và nhìn thẳng vào mặt Secnôivanenkô như đòi hỏi. — Bọn phát-xít ngấm ngầm tuyên truyền trong nhân dân là Mạc-tư-khoa đã thất thủ, Hồng quân đã bị đánh bại và thực tế không còn nữa, ngày một ngày hai, chính quyền xô-viết sẽ bị quét sạch hoàn toàn và vĩnh viễn, cho nên mọi sự chống cự đều vô ích. Đấy, tình hình là thế đấy, các đồng chí! Những người mà tôi gặp được, họ không hiểu ra sao nữa. Chúng ta có trách nhiệm — Tulyakôp nói, — vẫn nhìn thẳng Secnôivanenkô — trong một thời gian ngắn nhất và với biện pháp kiên quyết nhất, phải làm cho nhân dân biết là Đảng và chính quyền xô-viết vẫn tồn tại trên đất nước xô viết tạm thời bị phát-xít xâm chiếm, Trước tiên, chúng ta phải tổ chức phổ biến thường xuyên tin tức của Thông tấn xã xô-viết cho nhân dân nắm được tình hình thực tế. Không thế tình hình sẽ chả ra thế nào nữa.

        — Đúng thế — Secnôivanenkô nói và tiếp tục ghi nhanh vào sổ tay.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tám, 2020, 05:27:25 am

        Tulyakôp cởi khuy cổ áo va-rơ ra rồi lấy mùi-soa lau cổ. Mặt anh bừng bừng, anh thấy nóng ran, anh đứng dậy và đi về phía cái xô định uống nước, nhưng lại không uống. Anh móc trong túi áo ra một mảnh giấy đã nhàu nát và vứt lên bàn.

        — Tòi đề nghị đồng chí cho đọc.

        Secnôivanenkô cầm lấy tờ giấy, mang kính vào rồi đọc to:

        — «Hỡi công dân thành phố Ôđetxa và các vùng lân cận, tôi khuyên các người đừng có những hành động cừu địch đối với quân đội và công chức sẽ cai trị thành phố của các người. Hãy tố giác những kẻ nhận nhiệm vụ khủng bố, bọn gián điệp, bọn phá hoại hoặc những người tàng trữ vũ khí. Hãy chú ý và tuân thủ các mệnh lệnh của cơ quan chỉ huy quân sự và dân sự. Tôi có bổn phận báo để các người đề phòng. Người nào không chấp hành hoặc sẽ không chấp hành những mệnh lệnh nhận được từ trước đến nay hoặc những mệnh lệnh sau này sẽ bị bắn tại chỗ. Chuẩn tướng chỉ huy quân đoàn Uakôbixi, Tư lệnh trưởng N. Takaranu.

        — Để kèm vào biên bản — Secnôivanenkô nói và với tay qua vai đưa tờ giấy cho Liđya Ivanôpna.

        — Tôi tiếp tục — Tulyakôp nói, thít mạnh thắt lưng. —  Qua câu chuyện với mọi người, tôi biết bọn chiếm đóng đã bắt đầu cướp lương thực. Ta đã không phá hết được các kho dự trữ. Ví dụ ở trạm máy kéo Prôtôpôpôvô còn lại hai nghìn pút lúa mì dự trữ, ba mươi hai tấn lúa mì. Các đồng chí thử tưởng tượng — Tulyakôp mặt đỏ bừng và một nếp nhăn hằn trên trán. — Hồng quân thì đang chiến đấu với quân Đức ở Pêrêkôp, đương đầu với cái chết, thế mà trong lúc đó bọn Đức lại cướp lúa mì xô-viết. Đó là một điều hổ thẹn các đồng chí ạ, một điều sỉ nhục, một sự phản bội.

        Tulyakôp bực bội và nói nhanh quá làm cho Liđya lvanôpna, người làm biên bản cuộc họp, phải cố gắng lắm mới viết kịp.

        — Đáng tiếc, trạm Prôtôpôpỏvô lại do một đơn vị khá quan trọng chiếm giữ nên các chiến sĩ của tôi không làm gì được. Nhưng tôi nghĩ chúng ta phải sửa chữa điều đó. Phải, chúng ta phải làm! Tôi yêu cầu Ban chấp hành phải có quyết định ngay lập tức. Sang chuyện khác. Theo một nguồn tin chắc chắn, chính tôi biết tin tên chỉ huy Ôđetxa rất chú ý đến hầm mộ của thành phố này. Có thể không phải đúng là hầm mộ Uxatôvô. Như các đồng chi đã biết, các hầm mộ chiếm hết cả khu vực dưới đất của thành phố Ôđetxa. Nhưng bất cứ trường hợp nào, cũng cần phải cẩn thận và tăng cường canh gác ở các cửa ra vào. Vì thế, tôi đã quyết định dẫn các chiến sĩ của tôi vào cửa Khồlòtnaia Banka để khỏi vô ý làm lộ cửa chính, cửa « Con Dím ». Tôi báo cáo hết. Đề nghị các đồng chi cho ý kiến.

        — Chúng ta sẽ không thảo luận — Secnôivanenkô nói sau một thoáng suy nghĩ. — Chúng ta sang ngay phần nghị quyết. Thứ nhất, viết đi đồng chí Anghêliđi, xem nhiệm vụ Ban chấp hành giao cho các đồng chí Xtrenbixki, Tulyakôp, Xviriđôp và Xecgliêiep như đã được triệt để hoàn thành. Thứ hai, nhất trí với những kiến nghị của đồng chí Tulyakôp. Điểm a) Trong thời gian tới cần phải tổ chức nhận và ghi chép các bản tin của Thông tấn xã xô-viết. Vì mục đích ấy, cần phải chăng ăng-ten lên mặt đất và mắc các bình ắc-quy vào. Phải sao bản tin thành nhiều bản bang máy chữ, chép tay thật dễ đọc và rõ ràng để dán ở các làng dọc theo đường sắt, ít nhát mỗi tuần hai lần. Điểm b) Phải tổ chức ngay một cuộc xuất kích để thanh toán những kho dự trữ lúa mì ở trạm máy kéo Prôtôpôpôvô. Để làm việc đó, một toán chiến đấu sẽ được tổ chức gốm Secnôivanenkô, Tulyakôp và Xtrenbixki. Điểm c) Ngoài bộ phận cảnh giới thường lệ, chúng ta phải đặt ở cửa « Con Dím » một trạm gác thường trực do một trong những ủy viên Thường vụ phụ trách. Người nào, sẽ quyết định sau. Hết. Còn đối với lời cảnh cáo của ngài chỉ huy quân đội chiếm đóng về việc bắn tại chỗ những người xô-viết —  Secnôivanenkô nói, mắt nheo lại — thì không có gì mới đối với chúng ta. Chúng ta không chờ đợi gì hơn ở bọn bẩn thỉu ấy. Đối với những mệnh lệnh như vậy, bắt buộc chỉ có một cách trả lời. Các đồng chí còn nhớ lời Lênin nói về sự xâm lược của bọn can thiệp chứ? Người nói, nếu chúng ta định giác ngộ quân đội chúng, bọn đã được tập hợp lại vì lòng tham lam quốc tế và đã trở nên tàn ác vì chiến tranh, bằng lời nói, bằng giải thích, bằng một phương pháp khác phương pháp đấu tranh vũ trang, thì chúng ta sẽ không thể nào đứng vững được hai tháng, chúng ta sẽ là đồ ngốc. Đấy, Lênin đã dạy chúng ta như vậy. Và chúng ta đã hành động một cách lêninit. Hết. Tôi đề nghị những người hiện nay không có công tác, cũng không phải phiên gác, hãy đi ngủ... Đồng chí Ximban — Secnôlvanenkô hét lên.

        Trong đường hành lang ngầm, như dọc theo một hàng quân trong chiến đấu, tiếng gọi chuyền từ người này sang người khác. « Đồng chi Ximban đến gặp đồng chí bí thư thứ nhất», « Liôna, kìa đồng chí Secnôivanenkô gọi », « Liônya đến « góc đỏ » nhanh lên ».

        Xốc lại áo va-rơ, Ximban đi đến trước bàn đồng chí bí thư thứ nhất.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tám, 2020, 05:29:16 am

       
56

        — Cái đài thế nào rồi? Đã chưa được chưa? Phải cho nó chạy gấp lên chứ. Nhân dân đang đòi hỏi chúng ta phải cung cấp tin tức cho họ. Báo cáo đi !

        Lêônit Ximban im lặng. Secnôivanenkô ngẩng phắt đầu lên nhìn anh. Vẻ mặt anh thường ngày vốn phấn khởi, sảng sủa là thế, mà nay Secnôivanenkô chợt thấy nó sững sờ xám xịt như một cái mặt nạ.

        — Thế nào ?

        Ximban vẫn im lặng. Hai cánh tay dài ngoằng đặt trên nẹp quân run run. Trong óc Secnôivanenkô nẩy ra một mối hoài nghi ghê gớm.

        — Có chuyện gì thế ?

        — Tôi xin phép báo cáo... — Ximban bắt đầu, môi mấp máy một cách khó nhọc.

        Nhưng Secnôivanenkô cắt ngang:

        — Tôi hỏi có chuyện gì ? Không dài dòng ! — ông thét lên.

        — Đài không chạy, đồng chí bí thư ạ — Ximban nói, giọng khản đặc.

        Secnôivanenkô nhảy bổ vào một cái ngách, ở đó, trong một cái khám tự nhiên của vách hầm, trên một phiến đá, có để một máy thu thanh bảy đèn mới tinh không có nắp sau, nhãn hiệu « Kommanđô » sản xuất ở Vinniuyt. Cạnh máy thu thanh, giữa những bình ắc-quy ô-tô và bóng radio để ngay ngắn trên một miếng vải, Xviatôxlap đang ngồi, tay cầm một cái tuôc-nơ-vít. Nhìn thấy đồng chí bí thư thứ nhất, anh đứng phắt dậy và, cố để khỏi đụng đầu vào trần hàm, anh đứng thẳng người lên.

        — Tại sao điện đài không chạy? Có phải tại bình ắc-quy không?

        — Không phải, đồng chí bí thư ạ, các bình ắc-quy đều chạy bình thường. Tôi vừa kiểm tra xong. Bốn bóng đèn không đỏ. Chắc đã bị hỏng dọc đường, khi di chuyển.

        — Còn dự trữ?

        — Dự trữ ? Dạ cũng bị vỡ.

        Secnôivanenkô từ từ quay lại phía Ximban đang lặng lẽ theo dõi ông và thở ra vẻ khó nhọc.

        — Thường vụ Ban chấp hành khu đã giao cho anh trách nhiệm di chuyển máy móc — Secnôivanenkô nói khẽ — và anh phải bảo đảm bằng cái đầu của anh !

        Ximban mặt tái mét:

        — Thưa đồng chí bí thư, xin lỗi, tôi không phủ nhận trách nhiệm của tôi. Nhưng đồng chí biết đấy, chúng ta đã đi trên một con đường như thế nào rồi. Đường thì đầy những khe rãnh, hố bom khắp nơi... mà trời thì tối thế! Chẳng nhìn thầy gì hết. Xe chạy lại không có đèn. Thật chẳng có gì lạ. Đôi lúc xe lắc khủng khiếp đến nỗi tưởng đồ đạc sẽ tan vỡ tất cả thế mà đến nơi còn nguyên vẹn, đó mới là điều kỳ lạ.

        — Tôi sẽ xử bắn anh !

        Thấy mình đang nổi cơn thịnh nộ có thể phạm những sai lầm khó gỡ, và cũng qua kinh nghiệm, biết nếu cố gắng kìm giữ thì có thể tự chủ được, Secnôivanenkô bắt đầu xét tìm tất cả các lý do có thể giảm nhẹ tội cho Ximban. Tai họa cho Ximban, nếu ông không tìm thấy! Nhưng may thay, các lý do đều xác đáng. Bản thân ông cũng thấy chiếc máy thu thanh và các bóng đèn đã được đóng gói cẩn thận trong những tấm chăn, nhưng con đường đầy hố bom và hầm hố, quả là khủng khiếp. Không, Liônya không có lỗi. Đó là một tai nạn, một trường hợp bất ngờ. Nhưng những lý do đó vẫn không làm cho tình hình sáng sủa hơn. Đó là một tai họa ghê gớm đối với hoạt động chủ yếu của Ban chấp hành. Tìm được bóng đèn mới, là một điều khó khăn quá... Máu dâng bừng bừng, ông giận sôi lên, đến đỗi không còn nhìn thấy gì nữa.

        — Phải có bóng đèn — ông hét to và không nhận ra tiếng mình nữa. Nhưng ông lại kìm lại được và quay trở về « góc đỏ ».

        — Sẽ có bóng đèn, thưa đồng chí bí thư, nhất định sẽ có — Ximban nhắc lại, đi theo Secnôivanenkô và cố nhìn thẳng vào ông. — Nếu tôi không tìm được bóng đèn thì xin cứ áp tôi vào tường mà bắn. Cho tôi được đái tội lập công. Tôi sẽ đi khắp thành phố, khắp các chợ, các nhà máy, tôi sẽ đến các tư gia. Sẽ có bóng đèn. Trên tinh thần người cộng sản, tôi xin hứa!

        — Đồng chí đã hiểu tầm quan trọng của những cái bóng đèn khốn nạn ấy trong hoàn cảnh này rồi chứ? — Secnôivanenkô nói, gần như thất vọng.

        Ximban ngồi sụp xuống một phiến đá và gục đầu lên bàn. Thật là lạ lùng, một con người khỏe mạnh, gan dạ, vui vẻ là thể mà khóc được. Anh khóc như một đứa trẻ, nước mắt nén lại cứ chảy xuống ròng ròng; anh lấy lay quệt hai má, nghẹn ngào hổn hển.

        — Ồ, anh ! sao lại mềm như bún thế! — Secnôivanenkô lẩm bẩm, quay mặt đi.

        Ông không chịu được khi thấy ai khóc, ông hay cáu nhưng không giận lâu. Giờ đây, ông đã bình tĩnh lại và ý nghĩ hướng vào việc tìm biện pháp giải quyết: làm sao tìm được bóng đèn. Không có cách nào khác ngoài việc cử người lên thành phố. Ximban hoàn toàn có đầy đủ tư cách để làm việc đó. Bất kể bằng giả nào, nhất thiết cũng phải tìm cho được bóng đèn ! Đó là một điều hết sức mạo hiểm, giữa ban ngày đi lên thành phố trong khi không nắm được tình hình, không có giấy tờ. Nhưng Secnôivanenkô thấy không còn lối thoát nào khác.

        Không biết chắc chắn trên thành phố hiện đang lưu hành thứ tiền gì : đồng mác Đức, đồng lây Rumani, hay là đồng rúp xô-viết. Secnôivanenkô lấy trong két ra năm trăm rúp xô-viết và một đồng vàng năm rúp. Ông đưa cho Ximban, sau khi đã bắt anh ký nhận vào biên lai số tiền đó để mua bóng đèn cho máy thu thanh hiệu « Kommanđô », sản xuất ở Vinniuyt.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tám, 2020, 05:31:33 am

        Ximban được nhận một cái áo ba-đờ-xuy mới toanh, một cái mũ, một đôi ủng cao su lấy ở trong kho dự trữ đặc biệt dành cho những lần xuất kích lên thành phố. Anh bóc lớp bụi bám chặt ở các lỗ chân lông trên da mặt, cạo râu, đánh phấn và sau khi đã biến thành « một thanh niên đàng hoàng như ai », mặc dù đáng dấp hơi có vẻ tiểu tư sản, anh ra đi vào lúc bảy giờ theo cửa « Con Dím». Đến bên kia những vườn rau làng Uxa- tôvô, anh rẽ qua đường Hatji-Bây.

        Ngày hôm sau, mãi tận khuya, Ximban mới về, giữa lúc mọi người đã bắt đầu lo lắng bồn chồn cho số phận của anh. Anh đi vào với chiếc mũ dạ cụp, ướt sũng, đôi mắt đó ngầu quắc lên dữ tợn. Anh nhanh nhẹn mở khuy chiếc áo ba-đờ-xuy mới toanh nhưng đã bị lấm bùn Uxatôvô, và bằng cái vẻ đắc thắng ngầm, anh từ từ móc trong túi áo ra mấy bóng đèn radio. Đồng thời, anh huyên thuyên tả lại quang cảnh ở thành phố. Anh tràn đầy cảm xúc và có vẻ tức giận nữa.

        — Một sự việc khủng khiếp ! Cháy nhà trong một trại điên. Giữa lòng thành phố, ở quảng trường nhà thờ, có một lũ mặc áo da dê khóa rút sáng loáng, mang máy quay phim chạy lăng xăng, quay phim thời sự. Từ những ô-tô đậu ở các ngã tư vẳng ra những âm thanh dồn dập của nhạc jaz Buearet, và một thằng chó chết nào đó phát thanh bằng tiếng Nga những « bản thông cáo» của Đại Bản doanh Quốc trưởng. Nóí qua mà nghe, cũng là một quang cảnh hay hay.

        — Khoan đã — Secnôivanenkô cắt ngang. — Ở phố Ribat có các cửa hàng đồ cũ phải không ?

        Liônya ngạc nhiên nhìn ông.

        — Những cửa hàng đồ cũ à? Xúc không hết! Tại sao?

        — Thế trong toà nhà Vane, anh có thấy cửa hàng nào không?

        — Có chứ, cửa hàng của một anh chàng Jorjơ nào đó. Dạ sao kia chứ?

        — Viết như thế này phải không : « Jorjơ ».

        — Viết như thế đấy «Jorjơ». Cười chết được! Một tên Kôletnisuc nào đó, chú nhân.

        — Viết đúng như thế sao ?

        — Viết toàn bằng chừ hoa « Kôletnisuc, chủ nhân ». Dạ, sao kia chứ?

        Secnôivanenkô mỉm cười:

        — Chẳng sao cả. Tòi hỏi để biết quang cảnh chung thôi.

        — Quang cảnh chung thì thật là khủng khiếp! Tôi có thể liếp tục chứ ạ?

        — Tiếp tục đi, nhưng gọn gọn một tí.

        — Hai chữ thôi. Nhập khẩu ! Thật là một cảnh hết sức nhộn nhịp! Một cái chợ giời cỡ thế giới! Anh có thể  mua và bán đủ thứ trên đời, từ cái đồng hồ đeo tay đến chiếc xe tải quân sự. Không biết đã xuất hiện ỏ đâu ra bọn buôn lậu từ trước nạn hồng thủy. Tiếng om sòm tiếng la hét, tiếng chửi rủa, một bức họa xứng với tài nghệ của Aivazôpxki1 ! Mặc dù bị cấm triệt để, vẫn có một dẫy bán đủ mọi thứ phụ tùng radio. Từng chồng máy thu thanh của tất cả các nhà máy, tất cả các nhãn hiệu. Đầy ắp những máy «Têlêfunken»! Tôi, dĩ nhiên là không hoang mang, tôi đã sục sạo nhặt nhạnh được ở nơi này nơi khác tất cả những thứ cần thiết. Và tất cả, với ba trăm năm mươi rúp bằng tiền xô viết. Tôi nhét tất vào túi áo trong như một người có học, một nhà tri thức, và khi tôi sắp sửa nhô neo thì sau lưng tôi có tiếng hét của một tên cảnh sát, người mình, ăn mặc thường phục. Được, thằng chó, ngày một ngày hai, gặp nó, tôi sẽ cho nó biết! Tôi nghe nó gọi: « Đứng lại! Bắt lấy nó ! Nó vừa mua bóng đèn radio ! » Nhưng dãy tường của nghĩa trang công giáo thứ nhất đã ở ngay bên cạnh. Chắc chắn tôi có thể lại làm vỡ cái bóng đèn một lần nữa, nhưng dù thế nào tòi cũng phải đu lộn người và nhảy vọt qua bức tường xuống bãi tha ma. Và khi đã ở đấy rồi thì xin chào ! Tôi biểu diễn một cuộc chạy đua vượt chướng ngại vật. Trong khi chúng đang leo tường, lúng túng giữa những tấm mộ chí và bao vây bãi tha ma thì tôi đã ở phía bên kia Sumka rồi. Tôi ở lại đấy hai mươi bốn giờ liền trong cái hầm của một gia đình người quen và đêm đến, nhân lúc mát trời, tôi chạy đến Krivaia Banka và từ đấy đến Uxatôvô... Hết.

        — Tóm lại đồng chí Liônya đã nói hết. — Secnôivanenkô nhận xét và dang tay ra ý bình phẩm.

        — Có ai còn vấn đề gì hỏi nữa, xin hỏi.

        — Không còn gì nữa.

        — Thế thì cho phép tôi xem lại bóng đèn.

        Cùng Xviatôxlap, Lêônit Ximban lắp bóng đèn vào máy và nối với ắc-quy. Dòng điện chạy qua. Bây giờ muốn cho máy chạy, chỉ còn việc đưa ăng-ten lên mặt đất. Việc đó không có gì khó khăn về mặt kỹ thuật nếu có dây. Dây thì có, nhưng không đủ dài để kéo từ doanh trại đến tận cửa « Con Dím». Do đó phải quyết định mang máy thu thanh lại thật sát cửa để đủ dây kéo.

        Sau khi thấy cái bóng đèn còn nguyên vẹn và báo cáo với đồng chí bí thư rồi, Ximban dùng giọng công tác bình thường báo cáo cho ông biết những điều chú yếu lượm lặt được trong thời gian lên thành phố.

         Từ những câu chuyện trao đổi với mọi tầng lớp và với gia đình người quen ở Xakhalinsuc, anh đã nắm được phương pháp đăng ký hộ khẩu : chúng để lại cho mỗi người tấm giấy thông hành xô-viết cũ, nhưng chỉ khi có con dấu đặc biệt của sở cảnh sát mới có giá trị. Cảnh sát được phân phối như sau : Xlôbôtka là khu 7, Pêrexip là khu 5, Mônđavanka khu 6 và khu phố vận tải đường thủy là khu 4. Đăng ký hộ khẩu tiến hành như thế này: người ta lập sổ mới cho từng nhà; nhân dân phải trả lời một tràng câu hỏi — năm mươi phân bề rộng — bằng hai thứ tiếng và làm thành hai bản, kèm theo các giấy thông hành hoặc khai sinh của các nhân khẩu trong gia đình, rồi người chủ hộ hay người quản lý mang tất cả những đồ nợ ấy đến nối đuôi nhau để nộp các câu hỏi, giúp sức vào việc lập danh sách nhân khẩu theo tài liệu điều tra ghi trong sổ gia đình và đóng dấu chứng nhận vào các giấy thông hành. Lúc đó, giấy thông hành mới có giá trị.

        Tất cả những điêu đó là những tài liệu quan trọng, Secnôivanenkô vội ghi lia lịa vào sổ tay. Cần phải tô chức riêng trong hầm mộ một cơ quan cấp phát giấy thông hành để trang bị cho những người được phải lên trên làm nhiệm vụ chiến đấu. Nhưng trước khi bắt tay vào việc, phải gặp Xiniskin Jêleznư đã.

        Buổi thu thanh đầu tiên của Thông tấn xã xô-viết được thực hiện khá tốt. Họ đưa máy thu thanh và ắc- quy đến sát cửa « Con Dim ». Trời vừa tối, họ đưa ăng- ten ra bên ngoài: hai mét dây đồng mắc trên một cái gậy do Xviriđôp giữ. Công việc tiến hành dưới sự yểm hộ của một tổ chiến đấu do Tulyakôp bố trí trong cái khe nhỏ. Cách lối vào hầm mộ hai mươi mét, Xviatôxlap điều chỉnh máy thu thanh. Liđya Ivanôpna nhận tin, dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn bão. Bình ắc-quy ô- tô tỏa ra một luồng ánh sáng yếu ớt. Con mắt thần le lói. Tuy thế người ta cũng có thể nghe một cách rõ ràng, thậm chí có thể ngồi hơi xa ra một tí, tiếng nói đều đặn và hơi khó nghe của người phát thanh viên.

        Ngồi trên một phiến đá trước máy, tay chắp trên đầu gối, Secnôivanenkô lắng nghe. Bản tin không vui. Nhưng đó cũng là tiếng nói của Tổ quốc, của Mạc-tư-khoa, của

        Hồng quân. Tuy khắp nơi những trận chiến đấu phòng ngự đang tiếp diễn, và dĩ nhiên toàn bộ Ukren đã lọt vào tay quân địch, Secnôivanenkô vẫn thấy rằng tình hình trên mặt trận không hoàn toàn như thông báo của Đại Bản Doanh Hitle. Mạc-tư-khoa không mất. Lêningrat vẫn đứng vững. Hồng quân vẫn tồn tại và chiến đấu. Chiến tranh du kích đã bắt đầu triển khai. Thế thì, cần phải nhanh chóng phân phát truyền đơn để nâng cao tinh thần nhân dân. Đồng thời cần phải gấp rút giải quyết trạm máy kéo ở Prôtôpôpôvô.

-------------------
        1. Aivazopxki:họa sĩ của hải quân, thế kỷ XIX (Ximban nêu không đúng chỗ).


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tám, 2020, 05:33:03 am
        
58

        Một cái máy chữ to tưởng đã được mang đến « phòng giấy » của đồng chí bí thư thứ nhất. Có quyết định phải đánh máy những tờ truyền đơn mới mà Secnôivanenkô ngồi ở bàn đã thảo ra, căn cứ theo tình hình chính trị đang thay đổi hàng ngày « ở bên trên », tùy vị trí của các mặt trận.

        Liđya Ivanôpna lôi trong bọc quần áo ra đôi tay áo giả, vén tóc lên, ngồi vào bàn máy, rồi những ngón tay thon hồng, trong suốt gõ lên mặt máy chữ, nhẹ nhàng rành rọt, nghe như tiếng chim kim tước hót dưới hầm ngầm.

        Rồi các công tác chuẩn bị để tiến hành nhiệm vụ chiến đấu được bắt đầu. Hình như không cần phải chuẩn bị gì đặc biệt cho một việc tự nó quá ư đơn giản là đang đêm, ra khỏi hầm mộ nổ một loạt súng vào đồn giặc rồi lợi dụng lúc hỗn loạn, tưới ét-xăng lên kho lúa mì, bắn đạn lửa vào và trở về dưới đất cũng bằng con đường ấy... Tất nhiên phải dũng cảm, quả quyết, nhanh nhẹn, sít sao. Thực ra, có gì đặc biệt mà phải chuẩn bị. Nhưng chỉ có người nào không hề ở trong hầm mộ, và không quen với những điều kiện của cuộc sống ngầm dưới đất, mới nghĩ như vậy.

        Trong hầm mộ, không khi lúc nào cũng ẩm ướt khủng khiếp. Những đồ đạc bằng kim khí chóng gỉ lạ thường. Nhất là đạn và băng liên thanh. Cứ hai, ba ngày Pêchya và Valentin lại phải phân loại ra, cạo gỉ, tất cả số đạn súng trường, súng ngắn, hạt nổ, ngòi lựu đạn dự trữ chưa dùng tới. Mỗi viên đạn đều quý như vàng.

        Pêchya và Valentin ngồi trên những cái trụ dùng làm ghế con trước một phiến đá to đẽo qua quít để làm bàn. Trên cái bàn bằng đá vôi ấy, chồng chất một đống lớn đạn gỉ. Chúng nhặt từng viên đạn một và cạo đánh sáng bóng lên mới thôi. Chúng lấy gạch, hay ngay thứ đá vôi ấy, dùng thay đá mài cọ thật mạnh. Khi lớp gỉ đã được cạo sạch, chúng lau đạn bằng một mảnh dạ cắt trong một cái áo ca-pốt cũ ra, và xếp số đạn đã lau sạch vào một cái thùng bằng gỗ dán. Nhưng được hai ngày, đạn lại gỉ và phải làm lại tất cả. Giá ít ra, có mỡ mà bôi vào! Nhưng mỡ cũng quý như vàng. Người ta chỉ bôi mỡ vào cò súng trường. Mất đến tám hay mười giờ để lau chùi cho bóng bẩy và đóng gói tất cả số đạn. Một mặt, công việc đó có thể coi là dễ dàng. Nhưng thực tế, nó khó khăn tí mỉ, mệt mỏi. Nó đòi hỏi rất nhiều sức lực. Bắp thịt ê ẩm. Cổ đau vì cứ phải cúi xuống. Mắt toét ra, mỏi mệt vì ánh sáng yếu ớt của ngọn đèn chong cứ phải chiến đấu với bóng tối chung quanh mà không bao giờ chiến thắng được. Đầu óc váng vất nhức nhối.

        Nhưng không một sức mạnh nào ở thế gian này có thể  làm cho Pêchya và Valentin rời bỏ được công việc ấy mà lòng thấy nhẹ nhõm khi chưa làm xong. Bản thân Secnôivanenkô cũng chịu, không bảo được chúng. Chừng nào viên đạn cuối cùng chưa được lau chùi thì không có gì bắt chúng ngừng tay được.

        Đó không phải chỉ là công việc lao động. Đó là một cuộc đấu tranh không chịu thua kém người lớn, Pêchya và Valentin cố sức đấu tranh, cống hiến tất cả sức lực vào cái công việc hàng ngày mệt nhọc và buồn tẻ ấy. Nhưng khi chúng đã ngồi vào chiếc bàn đá đối diện với nhau, và ra sức kỳ cọ đến hết cả hơi, thì chủng không thấy buồn nữa. Chúng biết một viên đạn gỉ sẽ không thể cho vào nòng súng và không thể bẳn được. Nhưng nhất định nó phải bắn được! Bắn tốt và bắn đúng! Chúng tưởng như mình cũng được tham dự, mỗi lần người lớn bắn vào đầu kẻ địch.

        Valentin khỏe hơn Pêchya. Khi cô nhận thấy chú bé bắt đầu thở mạnh, đó là dấu hiệu chắc chắn chú đã mệt và kiệt sức rồi, cô liền tìm cách trêu ghẹo:

        — Này, em bé, em kể chị nghe, em đã ném lựu đạn vào chiếc xe tải Rumani như thế nào?

        Chỉ một điều gọi chú là « em bé » đã làm cho chú như bị kim châm. Pêchya lồng lộn nhảy dựng lên, nhưng lại tự chủ ngay và hằm hằm nói:

        — Thứ nhất, tôi không phải là một em bé của cô!

        — Thế cậu là gì đối với tớ nào ?

        — Muốn là gì thì muốn, nhưng không phải là một em bé!

        —Thế thì là gì?

        — Không phải là gì cả.

        — Một người lớn chắc !

        — Cũng không phải là một người lớn.

        — Thế thì là gì?

        — Không là gì cả.

        — Được cậu sẽ « không là gì cả ». Nhớ lấy. Còn thứ hai?

        — Cái gì, « thứ hai »?

        — Tớ không biết cái gì là thứ hai cả. Chính cậu phải biết chứ. Cậu đã nói với tớ là «thứ nhất», cậu không phải là một em bé đối với tớ kia mà. Được. Tớ đồng ý. Nó sẽ như thế này. Thứ nhất, cậu không phải là một em bé đối với tớ. Nhưng thứ hai là cái gì?

        — Nhưng điều thứ hai, không quan hệ gì đến cô cả.

        — Cái gì không quan hệ với tớ?

        — Cái điều không quan hệ tới cô là tôi đã ném quả lựu đạn như thế này hay như thế nọ. Tôi đã ném như thế nào mặc tôi, nhưng cò thì chẳng bao giờ ném được như thế. Tôi đã ném đúng kỹ thuật.

        — Nhưng, em bé Pêchya ơi, tại sao với em nó lại không nổ? — Valentin nói rành rọt với một giọng nói vừa êm dịu, ngọt ngào vừa độc địa quá làm chú bé lại lòng lên như bị kim châm.

        Chú không chịu được khi người ta đụng đến câu chuyện đáng buồn ấy.

        — Bởi vì chữ « bởi vì» kết thúc bằng chữ « i » ! —  Pêchya hét lên với một nụ cười gượng gạo, ý muốn bằng tiếng hét ấy lấp liếm vân đề đáng buồn ấy đi.

        — Ồ, người chiến sĩ bị đày đọa. — Valentin vừa nói với một vẻ rất kẻ cả và thương hại làm tổn thương đến người nghe, vừa nhìn vào mũi Pêchya bằng đôi mắt trong suốt với đôi con ngươi nghiêm nghị. — Cậu là một thằng ngốc, cậu bé ạ, tôi nói với cậu thế đấy!

        Thật' quả lắm đối với Pêchya.

        — Valentin! — chú nói thật trang nghiêm, bằng một giọng hăm dọa. — Câm đi!

        — A ha, nhà ném lựu đạn nổi tiếng!

        Rõ ràng Valentin định gây sự. Cô chế nhạo chú ngay vào giữa mặt. Và chú bé không thể nào nhịn được nữa. Gầm lên một tiếng dữ dội, chú nhảy qua cái bàn, lao xô vào Valentin nhưng Valentin đã lấy bàn tay xòe ra vuốt vào mặt Pêchya từ trên xuống dưới, rồi chạy tót vào đường hành lang, cười như nắc nẻ. Nhảy lên đống thùng và va vào vách đá, Pêchya đuổi theo. Valentin chỉ mong có thế, có không có ý định làm nhục chú bé. Cô chỉ cốt làm sao cho chú rời khỏi công việc một lúc, bắt chú nghỉ cho giãn gân cốt một tí thôi. Cô đã thành công, vì cô biết tính chú vốn dễ cáu và hay tự ái.

        Chúng đuổi nhau rầm rầm khắp các ngõ ngách, các buồng dưới hầm ngầm. Rình nhau, chúng nhảy lên bàn, lên ghế, lên giường. Giả đồ đạc không phải bằng đá thì đã gãy hết. Nhưng không có gì bị gãy cả. Tất cả đồ đạc xung quanh chúng: xẻng, cuốc, xà beng, cặp, súng trường, súng ngắn, đều thô lỗ, không gẫy được.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Tám, 2020, 06:58:33 am

       
59

        Lần này, hầu hết mọi người đều lên mặt đất hoạt động, Secnôivanenkô dẫn đầu, thậm chí cả Liđya Ivanôpna cũng lên. Thật lạ lùng khi nhìn thấy chị mặc áo ca-pôt, đội mũ bịt tai lông thú, đeo lựu đạn ở thắt lưng và tay cầm một khẩu súng trường. Dưới hầm ngầm, chỉ còn lại Matriôna Têrenchiepna, Raitxa Lvôpna, Valentin, Pêchya và hai chiến sĩ thuộc tiểu đội Tulyakôp do Xtrenbixki phụ trách ở lại canh gác cửa « Con Dím». Đây là một hành động quan trọng, một trận đánh thực sự, thành công của nó sẽ quyết định cho rất nhiều việc.

        Như lần đầu, lại những giờ phút chờ đợi khắc khoải kéo dài. Nhiều lần trong đêm, Xtrenbixki đã đến kiểm tra vọng gác ở lối vào. Có lần, lúc gần sáng, ở hướng bắc, anh thấy hình như có một đám cháy trên thảo nguyên. Anh lắng tai nghe thấy có nhiều tiếng lựu đạn nổ và súng bắn xa xa. Anh xem la bàn. Cái kim hình lam giác lấp loáng chỉ về hướng bắc. Đúng là từ đấy rực lên đám cháy và vọng lại tiếng súng nổ.

        Pêchya lại đến ở trong buồng phụ nữ. Raitxa Lvôpna đau răng. Chị đã uống pyramidông và nằm ngủ, đầu trùm kin mít, mặt quay vào bức tường đá vôi ẩm ướt. Pêchya và Valentin nằm cạnh nhau, chân co lại và không ngủ được. Không biết sao, lần này Pêchya cảm thấy lo âu đặc biệt. Matriôna Têrenchiepna nhiều lần đến bên bọn trẻ bắt chúng ngủ. Chúng nhắm mắt, giả vờ ngủ. Trên chiếc bàn đá để ngọn đèn chong. Matriôna Têrenchiepna không ngồi bén chỗ. Thỉnh thoảng trong « góc đỏ » có tiếng Xtrenbixki đi lại. Lần này, không biết tại sao, bóng tối và im lặng trong hàm ngầm đè nặng quái gở. Luôn luôn cảm thấy như có người lạ đi lại trong hầm mộ. Thậm chí ngọn đèn con tí thỉnh thoảng cũng lay động không có lý do xác đáng.

        — Mẹ không hiểu tại sao các con lại không ngủ — Matriôna nói.

        — Mẹ cũng có ngủ đâu — Valentin nói.

        Thời gian kẻo dài và nặng nề. Matriôna Têrenchiepna, thỉnh thoảng nằm xuống rồi lại đứng lên. Cuối cùng bà ngồi xuống, hai tay buông thõng, không biết làm việc gì cả; bà nhìn mãi vào bức ảnh lồng khung khảm xà cừ để gần một quả cầu nhỏ, trên trụ đá, bên cạnh ngọn đèn chong. Đây là một tấm ảnh chụp chơi — cỡ bốn sáu, đã phai, gần bạc, treo xộc xệch, màu nâu nâu, đặc điểm của tất cả các ảnh chụp chơi cách đây ba mươi nhăm hay bốn mươi năm.

        — Cháu chưa bao giờ thấy tấm ảnh đó sao? — thấy Pêchya không ngủ, cứ nhìn chòng chọc vào bóng tối với đôi mắt im lặng, long lanh, bà hỏi.

        Chú bé cầm lấy tấm ảnh giơ lên trước mặt. Đó là một nhóm trẻ con ở Ôđetxa, quen thuộc với Pêchya, một trong bao nhiêu tấm ảnh chụp chơi để trong ngăn kéo cái bàn giấy Thụy-điển của bố chú. Hồi còn bé tí xíu, Pêchya rất thích sục sạo vào các ngóc ngách chật hẹp và bí hiểm trong phòng làm việc của bố và ngắm nghía tất cả cái quầy hàng tạp phẩm quyến rũ ấy: nào bót hút thuốc cũ, ống píp, biên lai, giấy mời, nào những cái khuy cổ cồn, những mẩu bút chì, nhưng lưỡi dao cạo, những viên thuốc, những con tem, những đồng tiền nước ngoài, những cục tẩy. — tất cả những thứ ngày xưa đã gắn bó với cuộc đời của bố chú mà bây giờ không ích gì cho ai nữa. Toàn những vật vô giá trị, giữ lại với cái ý quái gở « Có lẽ còn dùng được việc ». Giữa những thứ linh tinh đó, có rất nhiều ảnh đã phai màu, quăn mép. Pêchya thường hay ngắm tấm ảnh nhỏ chụp chung đó. Bố chú thường vừa cười vừa nói đó là đội bóng nổi tiếng ở Ôtratnimô.

        Bọn trẻ con trong ảnh nom bé tí, tóc rối bù và có vẻ rất tự hào. Hàng thứ nhất ngồi giữa có, chân xếp bằng tròn. Hàng thứ hai đứng. Sau hàng thứ hai, trên nền trời xám, là một cây dạ hợp chụp không đúng cự ly nên không rõ nét, trông như một chùm bong bóng trắng. Nhiều đứa mặc đồng phục học sinh. Ở giữa hàng thứ nhất, quả bóng kẹp giữa hai đầu gối, một em tóc chải cần thận, mặc sơ-mi xa-tanh cài khuy, nét mặt ngây thơ kiểu con em dân thường, mũi hếch đầy tàn hương, có vẻ nghiêm trang, oai vệ lắm. Piôt Vaxilièvich, bố Pêchya, hồi đó chỉ giản đơn là Petka Batsây đứng thứ nhất, bên cạnh, ở hàng thứ hai.

        — Đấy là bố cháu — Pêchya nói và chỉ ngón tay vào cậu học sinh bé tí đen thui thủi, đội cái mũ cát-két cứng to tướng, tay để theo kiểu Napôlêông nhìn ra xa, vẻ kiêu kỳ, cố tỏ ra hơn người bằng tất cả cái bề ngoài của mình,

        — Đúng đấy — Matriôna Têrenchiepna nói.

        — Tại sao bác biết? — Pêchya hỏi — Bác lấy cái ảnh đó ở đâu?

        Bằng đôi mắt long lanh, bà nhìn Pêcliva chòng chọc không đáp.

        — Còn người này, đằng ấy có nhận ra không? —  Valentin nói, nghiêng người về phía tấm ảnh và lấy ngón tay út trỏ vào đứa bé kẹp quả bóng giữa hai đầu gối. — Bác Gayrick đấy!

        — Đồng chí Secnôivanenkô à? — Pêchya ngạc nhiên hỏi.

        — Phải, có lạ không?

        — Thật à? Sao nhỏ thế?

        Valentin bật cười. Pêchya nhìn sát vào mặt đứa bé ôm quả bóng và dần dần nhận ra những nét của Secnôivanenkô. Lạ quá, chú cũng phải bật cười.

        — Còn ai đứng đầy, cháu không nhận ra sao? — bà Matriôna Têrenchiepna hỏi, trỏ ngón tay vào mép tấm ảnh.

        Pêchya nhìn và thấy một cô gái nhỏ xíu, đi chân đất, tóc cắt ngắn, bế một em bé lớn tướng, nặng trĩu trên cánh tay. Cô gái chắc tình cờ đứng vào trước ống kính. Hình em rất mờ. Chỉ hơi nhìn thầy những bông hoa trên chiếc áo vải và cái đầu bé tí sáng sủa giữa một vầng ánh sáng đã phai màu. Pêchya đã xem chiếc ảnh nhiều lần rồi, nhưng chú không hề thấy cô gái.

        — Thế nào, cháu có nhận ra không? — bà Matriôna Têrenchiepna hy vọng, hỏi.

        Pêchya im lặng.

        — Bố cháu không bao giờ nói với cháu cô bé ấy là ai à?


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Tám, 2020, 06:58:57 am

        Piôt Vaxiliêvich không bao giờ nói với Pêchya cô bé ấy là ai. Có lẽ bản thân ông cũng không hề nhìn thấy nữa là khác. Hay ông có nói lướt qua, nhưng chú không để vào tai. Lẽ ra, phải nói thế. Nhưng Pêchya thấy trả lời như vậy không thể được. Chú im lặng phân vân. Bà thở dài:

        — Thế cháu không nhận ra à?

        — Cháu không nhận ra.

        — Nhìn kỹ xem.

        Pêchya chăm chú nhìn và chợt nhận thấy hết sức rõ ràng, không phải một sự giống nhau, mà hơn thế, một thứ ánh sáng gì vô cùng quen thuộc, thân thiết, đang bao quanh cô bé, gần như hòa tan vào trong cảnh vật. Chú bé bẽn lẽn nhìn Valentin rồi lại nhìn mẹ cô.

        — Đó là Valentin? Phải không? — Chú ngập ngừng.

        — Valentin ư? Ồ! Chảu làm bác chết mất! —người mẹ rầu rĩ vừa khóc vừa cười và gục đầu lên vai Valentin. — Làm sao có thể là Valentin được, vì tấm ảnh chụp, lạy Chúa, bác còn nhớ, đã ba mươi nhăm năm nay rồi! Hồi đó, chưa đẻ nó. Vậy cháu không thấy cô bé áy là ai?

        — Cháu không biết.

        — Đó là Môchya Secnôivanenkô. Bố không bao giờ nói gì về Môchya Secnôivanenkô sao?

        — Dạ không — Pêchya nói rất thật thà, cảm thấy rõ câu trả lời đó không biết tại sao sẽ làm bà buồn.

        Và bà buồn thật.

        — Biết mà, nó là như thế. Bọn con trai có bao giờ để ý đến bác, — bà vừa nói vừa thở dài chất phác. — Bác. theo chúng khắp nơi, thể mà không bao giờ chúng để ý đến bác. Bây giờ đã bao nhiêu năm trời qua. Hồi đó, bác lại nhỏ quá...

        — Thế ra, đó là bác à? — Pêchya nói có vẻ không tin. Một lần nữa, chú nhìn bà rồi lại nhìn tấm ảnh. Lần này, chú thấy rõ, chú cảm thấy cô bé trong ảnh, mặc chiếc áo bạc màu, với người đàn bà đôn hậu có tuổi kia, chỉ là một và vẫn là người đã gắn bó với chú, Pêchya, bằng một sức mạnh khó hiểu, và bằng ánh sáng của một tình yêu đã có từ rất lâu, một tình yêu không bao giờ phai nhạt.

        Bỗng trong hầm, xuất hiện những ngọn đèn bão, những cái bóng nhảy nhót, người đầy chật hang động. Đó là toán đi chiến đấu trở về. Pêchya nghe tiếng nói khàn khàn của Secnôivanenkô nói với Xtrenbixki:

        — Đáng tiếc, nhưng dù sao ta cũng đã tới nơi hơi muộn. Tôi đã bảo phải đi gấp! Chúng đã chuyển mất năm trăm pút bằng xe tải đến trạm Đasnaia rồi. Số thóc còn lại trong kho, ta đã phá hủy toàn bộ.

        Rồi Pêchya nghe Secnôivanenkô kể lại tỉ mỉ trận chiến đấu cùng với Xtrenbixki. Chú hình dung thấy một cách rõ ràng lạ lùng bức tranh toàn cảnh: thảo nguyên tối om, ghê rợn, kho lúa mì bị đốt cháy bằng đạn lửa, pháo sáng bay lên và trận chiến đấu với đồn binh địch bên đầm nước mặn. Rồi chú nghe tiếng nói mà lúc đầu chú không hề để ý tới.

        — Phải nói trong những điều kiện chiến đấu khó khăn như vậy, tốn thất của ta không lớn lắm — Secnôivanenkô nói. — Có điều đáng tiếc là không thể nào đưa xác về được. Đành phải để lại trên bờ đầm. Ở đấy, công việc phải được giải quyết ngay trong từng phút. Đáng lẽ ta phải thương vong đến một nửa. Chúng đặt cối ở bờ bên kia, bắn tới tấp vào ca-nô của ta khi ta quay về. Anh ấy bị mảnh đạn phạt mất nửa cái đầu.

        Tiếng « xác » đã làm chú bé kinh hoàng. Bây giờ trong bức tranh trận đánh đêm, bỗng lại có thêm một chi tiết khủng khiếp nổi bật : một xác người đầu bẹp nát, nằm dài, mặt úp xuống đất trên bờ đầm, trong ánh sáng đó rực của đảm chảy. Chú bé chợt nhớ lời người thủy binh chết và cảm thấy lòng mình se lại.

        Chú bước xuống giường, tay run run chống vào tường, đi lại gần lối vào « góc đỏ ». Chú trông thấy cảnh quen thuộc ở đấy: mọi người kẻ đứng người ngồi, xúm quanh chiếc bàn đá, ngọn đèn bão để trên cái két nhỏ, với những hộp hồ không, những cái bút lông dính vào nhau, những súng trường, những viên đạn, những quả thủ pháo, còn Secnôivanenkô thì đang đứng vẽ những vòng tròn bằng bút chì đó lên tấm bản đồ ở những chỗ mà đêm qua họ đã dán bản tin của Thông tấn xã xô-viết.

        Pêchya, sợ hãi, để mắt nhìn hết người này sang người khác, cố tìm xem ai vắng mặt. Hình như không ai vắng cả. Vậy thì là một người nào thuộc phân đội Tulyakôp... Pêchya thường đến thăm « gia đình » Tulyakôp, một thế giới thật đặc biệt, thật hấp dẫn, một phân đội nhỏ mà đến bữa ăn dọn riêng, đối với chú cũng có vẻ ngon hơn. Pêchya đã kết bạn với những chiến sĩ đôn hậu mặc thường phục ấy. Hầu hết họ đều trẻ, vui tính và gọi chú là «em thiếu niên tiền phong của chúng ta. Đặc biệt, chú như phải lòng một người trong bọn họ, Tarax Xêrêđa, một con người ngộ nghĩnh, một nhạc sĩ có tài. Anh ta đội mũ thủy quân vải bạt, mang bốt cao su, mặc áo dệt kẻ sọc, tóc xõa xuống tận mũi. Anh chơi măng-đô-lin rất hay những bài hát Ukren và những bài tình ca Ý. Ở anh có một cái gì làm cho Pêchya nhớ tới người thủy binh chết... Và Pêchya chợt nghĩ đó là anh ta, đúng thật anh ta đã chết, nằm dài, cô đơn, trên bờ đầm, đầu bị mìn tiện mất một nửa. Mặt Pêchya tối sầm lại. Và ngay đó, chú nhận thấy trên bàn giữa những hộp hồ và vũ khí, một vật rất quen thuộc. Đó là một tấm huy chương Pêchya thường thấy trên ngực Xecghêiep. Nhưng tại sao tấm huy chương lại nằm một mình quái gở trên bàn như thế, còn bản thân Xecghêiep thì ở đâu. Không có Xecghêiep trong «góc đỏ». Mối ngờ vực lởn vởn trong óc chú bé đã trở thành sự thật. Nhưng điều đó khó hiểu quả, phi lý quá. Pêchya quay lại. Valentin đứng sau lưng chú, người tái xanh, đang cắn môi. Chúng nhìn nhau đờ đẫn.

        — Đi ngủ đi — Secnôivanenkô nói, nhìn qua đôi kính lồi.

        — Bác! —Valentin nói, giọng khàn khàn, lạc hẳn, hai tay ôm chặt lấy ngực. — Bác cho chúng cháu biết, ai đã bị giết thế ?

        — Đồng chí Xecghêiep — Secnôivanenkô đáp, sau một lát im lặng. — Đi ngủ đi!


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Tám, 2020, 06:59:38 am

       
60

        Sáng sáng, mọi người trong hầm mộ, không có công tác, đều phải tập thể dục để được sảng khoái. Pêchya cố lẩn tránh. Nhưng không phải vô cớ mà Valentin được coi là cô bé gái yêu quý của Secnôivanenkô ; cô thừa hưởng của bác cô một bản tính cương nghị và cứng cỏi. Cô không mảy may dễ dãi với Pêchya. Hơn tuổi chú, cô bắt chú tập thể dục hết sức nghiêm túc, bắt chú nằm dài trên sàn nhà, giơ hết chân này đến chân kia, điều mà Pêchya rất ghét. Bây giờ có rất nhiều việc trong buồng giấy của đồng chí bí thư thứ nhát. Không phải chỉ vá quần áo và thảo truyền đơn. Trên bàn hội họp, họ sản xuất giấy than bằng cách phủ lên giấy thường một lớp bột chì lấy ở bút chi ra. Mấy lâu nay, phải làm một công việc mới rất buồn tẻ ; dùng tay quay một máy phát điện nhỏ để khởi động cái bình ắc-quy làm cho máy V.T.Đ. chạy. Muốn phát được mười lăm phút, phải quay mấy giờ liền cái máy phát điện khốn nạn ấy. Hễ người nào được nửa giờ rảnh là phải quay máy.

        Khi còn bé tí, Pêchya đã đọc trong tờ Sự thật thiêu niên chuyện những nhà thám hiểm địa cực nổi tiếng, trên một núi băng trôi giạt, thay nhau quay một máy phát điện hàng giờ liền, để người hiệu thính viên có thể nghe trong bóng tối của đêm địa cực, qua hàng ngàn ki-lô-mét — mặc giá tuyết dông bão — tiếng nói của Tổ quốc chào mừng, tiếng chuông ngân lúc nửa đêm của chiếc đồng hồ trên tháp điện Kremlin và tiếng âm vang mạnh mẽ, mặc dù có nhỏ đi vì khoảng cách của bài Quốc tế ca. Chú hết sức phấn khởi, và cảm phục những người anh hùng ấy đã đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên vì vinh quang của Liên bang xô-viết. Nhưng chú không bao giờ hiểu được giá trị của những cố gắng hàng ngày, những cố gắng giản đơn, mệt nhọc về thể xác, và chắc là rất buồn tẻ mà họ đã phải chịu đựng. Nhưng bây giờ thì Pêchya đã hiểu việc đó khó khăn và mệt nhọc như thế nào rồi.

        Nếu Pêchya không hiểu rõ là không có cái công việc mệt nhọc đó, máy V.T.Đ. sẽ không làm việc được, thì chú đã rời bỏ cái tay quay, vì nó làm bàn tày chú rộp lên và rớm máu. Nhưng Pêchya biết, buổi tối Xviatôxlap nhận tin; chú đã cùng với mọi người chờ đợi suốt ngày bản tin ấy, nên chú mắm môi quay, quay mãi, các bánh xe thiếu dầu cứ kêu kèn kẹt.

        Khi nhận thấy chú đã quá mệt, Valentin liền trên chú và chúng đuổi nhau qua các «buồng ». Lúc đầu, Pêchya giận dỗi thực sự, cố đuối bắt cho kỳ được Valentin, để cho cô một trận đích đáng. Nhưng cơn cáu giận biến mất ngay, và một cuộc chạy đua cuồng loạn bắt đầu.

        Chúng làm ầm ĩ khiếp quá! Bụi vôi cuồn cuộn trong hầm, đèn chong nhấp nháy, cát trên tường đổ xuống rào rào. Chúng nhảy cả lên các giường đá, ghế đá con, thậm chí có khi chúng nhảy cả lên bàn họp. Nhưng không ai nổi nóng với chúng cả. Với chúng, có thể tha thứ. Mọi người đều hiểu rằng không có những trò chơi quái quỉ vô cớ đó, chúng sẽ bị còm cõi vì bị nhốt kín mãi trong thế giới ngầm của hầm mộ.

        Ngoài ra, như vậy chúng cũng nóng người lên. Khí hậu trong hầm mộ không bao giờ thay đổi, không quá thấp nhưng cũng không bao giờ hoàn toàn đủ ấm. Luôn luôn vẫn hơi thiếu nhiệt. Luôn luôn người ta bị một thứ bệnh sốt, kỳ lạ, âm ỉ như không có gì. Thế mà không ai chịu cởi áo ngoài ra cả. Nhưng áo ngoài, ẩm sì sì, cũng không cản nổi rét. Chính vì thế mà trẻ em hay ốm, điều đó không ai để ý tới. Nói một cách đơn giản, chúng thiếu ánh sáng ban ngày. Chúng đói mặt trời. Có lẽ những cuộc đuổi bắt đó đã thay được mặt trời ít nhiều làm cho máu chúng nóng lên và đôi má tái mét của chúng ửng đỏ.

        Cuộc sống dưới đất là như vậy. Nhưng đã đến ngày hẹn gặp Xiniskin Jêleznư. Secnỏivanenkô rất quan tâm đến cuộc gặp gỡ ấy. Ông tin chắc Xiniskin sẽ cung cấp được nhiều tin tức về tình hình, một bản danh sách những người tin cậy ở lại trên thành phố và có thể  lập thành những nhóm chiến đấu bí mật, mỗi nhóm năm người. Dựa theo tình hình, cũng có thể cùng với Xiniskin đặt một kế hoạch công tác cho Ban chấp hành khu. Đi lên thành phố giữa ban ngày, không có những giấy tờ hợp lệ mà Ban chấp hành chưa xoay được, là một chuyện rất nguy hiểm. Nhưng Secnôivanenkô không thể yên tâm phái một nhân viên liên lạc đến trạm thường trực bí mật. ông đã quyết định đích thân lên thành phố. Kinh nghiệm công tác bí mật trước đây đã dạy cho ông là tất cả những tin tức bất kỳ từ đâu đến đều phải được tự mình kiểm tra lại.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Tám, 2020, 07:00:01 am

        Ồng chuẩn bị rất cẩn thận cho cuộc xuất kích. Ông chú ý nhất đến bề ngoài. Ông đóng thử một vài « nhân vật », một nông trang viên có tuổi mang giỏ đi chợ, một hương sư, và một người ăn mày. ông thử nhiều kiểu mũ, giày, quần áo, tất cả những gì sẵn có. Có những nhân vật rất đạt, nhất là ông hương sư già, nhưng không thể đóng được, vì nếu Secnôivanenkô bị bắt, ông sẽ phải khai tên và địa điểm nhà trường và bọn cảnh sát sẽ kiểm tra dễ dàng.

        Cuối cùng, Secnôivanenkô quyết định đóng vai người thợ cả già từ xa đến kiếm việc làm. Áo bộ đội thủng, chân đi giày vải, lưng đeo túi cõng có cái búa thò ra ngoài, đầu đội mũ nông dân da cừu. Giấy tờ, người thợ già lấy cớ đã mất cùng với tay nải trong một trận bom, cứ cho là ở ga Uman đi. Chỉ còn mỗi một giấy chứng nhận do một xô-viết làng nào đó cấp, nơi ông làm việc ngày xưa, cứ nói là làm thợ nguội sửa chữa máy gặt. Loại giấy chứng nhận này, làm lấy được, không có gì khó khăn đặc biệt, vả lại, nó không ràng buộc gì, cũng không lôi thôi đến ai cả. Thách chúng cứ đi mà kiểm tra.

        Chính trong bộ quần áo ấy, rất hợp với ông, Secnôivanenkô, một buổi sáng, đã ra khỏi hầm mộ và sau khi từ giã Xtrenbixki, người đã cùng với toán chặn hậu tiễn chân ông đến tận cửa cái khe nhỏ, ông đi thẳng về phía thành phố.

        Trời ấm ướt và rét. Một trận tuyết mềm rơi trên thảo nguyên vắng. Bà quen với bóng tối trong hầm, mắt Secnôivanenkô lâu mới thích ứng được với ánh sáng ban ngày. Cái ánh sáng này hình như chói lọi nhức nhối, còn những bông tuyết thì lóa cả mắt như những tia lửa máy hàn. Thực ra trời vừa mới sáng.

        Khi đã quen với ánh sáng, Secnôivanenkô nhìn thấy ở đằng xa những đường viền rất quen thuộc của các công trình trên bến cảng và thành phố đang chìm đắm trong sương mù xanh nhạt một buổi xấu trời. Hiện giờ, ở đấy ra sao? Họ sống như thế nào? Họ nghĩ gì? Họ cảm thấy gì? Secnôivanenkô nóng lòng muốn thấy cái thành phố bị đày đọa ấy, thành phố quê hương thân yêu với những người dân khốn khố của nó. ông muốn chạy tới thấy tận mắt tất cả. Nhưng ông cố không rảo bước. Ông đi chậm lại và thậm chỉ còn đứng lại nhiều lần để gạt đất bám vào đôi giày bộ đội cũ bằng một mầu gỗ, y như ông định tìm thêm những màu sắc mới cho bức chân dung người thợ thủ công già, mệt nhọc, đói khát và cuốc bộ hàng chục, hàng trăm ki-lô-mét để tìm việc làm. Ông có cảm tưởng như chính mình là người thợ tưởng tượng ấy thật. Thậm chí dáng đi của ông cũng thay đổi; nó trở nên nặng nề hơn, cứng nhắc hơn như dáng đi của một người khách bộ hành đã quen với những chặng đường khó đi.

        Tới nơi gọi là đồi Kôđôvaia, qua các vườn rau, ông đi xuống con đường Hatji-Bây. Ở đấy, có một chỗ đỗ tàu điện, một mái nhà bằng bê-tông hình bầu dục gác trên hai cái trụ bê-tông đầy vết đạn và mảnh bom. Những bộ phận bằng gỗ của chiếc ghế dài đã bị gẫy. Secnôivanenkô ngồi xuống cái trụ sắt vờ như để nghỉ chân.

        Tất cả chung quanh đều bị tàn phá vì chiến tranh, những cần tàu điện quằn queo, những đường ray mất ốc, khắp nơi là những chiến hào, những hố bom, những cuộn dây thép gai gỉ. Trên những bãi rác, hàng đàn quạ. Secnôivanenkô đặt giả thiết ở lối vào thành phố gần Đầm nước mặn có một đồn kiểm soát, ông có thể đi sang Pêrexip hăng qua những bãi rác, ở đây ông biết từng con đường mòn. Nhưng một bóng đen đơn độc dễ bị phát hiện trên một chỗ bằng phẳng, ông sẽ bị để ý và có vẻ khả nghi. Tốt hơn hết là đợi một chiếc xe của nông dân đi nhờ vào nội thành. Secnôivanenkô biết là bọn chức trách Rumani, bằng mọi cách đang khuyến khích nông dân mang sản phẩm ra chợ. Ông quyết định lợi dụng hoàn cảnh ấy.

        Ông đợi một lúc lâu. Rõ ràng là nông dân không muốn bán sản phẩm tí nào. Cuối cùng ông nhìn thấy một cái xe trên đường. Hai người phụ nữ, một già một trẻ, ngồi dựa lưng vào nhau, đầu trùm bao tải ướt sũng nước mưa và tuyết. Những mũ không vành, trắng, mới tinh, hình tổ ong dưới cái bao tải, chỉ rõ là họ đi chợ. Secnôivanenkô đứng dậy, hai tay cất mũ, cung kính cúi chào. Nghi ngờ, hai người phụ nữ xoi mói nhìn ông.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2020, 11:12:38 am
        
61

        — Làm ơn cho tôi lên xe với! — Secnôivanenkô nói giọng yếu ớt.

        — Ông ở đâu tới đây ? — bà già ngờ vực hỏi.

        —Từ Kirôvôgrat — Secnôivanenkô đáp và níu lấy thành xe bằng gỗ; ông đi cạnh bánh xe sau, bùn đen bóng nhẫy bám như một vòng lốp dày cộp.

        — Bây giờ ông định đi đâu ?

        — Bây giờ tôi đi đến thành phố Ôđetxa.

        — Từ đây đến Ôđetxa, chỉ có hai dặm thôi, không hơn đâu.

        — Tôi mệt lắm rồi—Secnôivanenkô vẫn nói với một giọng yếu ớt, né mặt tránh những tảng bùn to tướng từ bánh xe văng ra. — Làm ơn cho tôi đi nhờ với.

        — Thế ông đến Ôđetxa làm gì — bà già tiếp tục tra hỏi.

        — Tôi đi kiếm việc làm.

        — Việc làm ! — bà già lắc đầu, vẻ nghi ngờ. — Nhưng ông có giấy thông hành đến thảnh phố Ôđetxa không?

        — Ồ, mẹ, lắm điều thế! — người đàn bà trẻ giận dữ kêu lên và dừng ngựa lại, nói với Secnôivanenkô, giọng quả quyết — Ngồi lên bác!

        Ông đặt chân lên đầu trục bảnh xe dính hắc ín đen nhảnh và lấm tấm những hạt mưa óng ánh như thủy ngân. Ồng nhảy tót vào xe, nhanh nhẹn quá so với một người đã kiệt sức. ông ngồi xuống bên cạnh bà già, trên cái gì như cái bao tải; bà liền giãy nảy lên như lờxo và câu nhàu:

        — Khéo chết ngạt con lợn — bà già nói giọng gẳt gỏng.

        — Tôi xin lỗi — Secnôivanenkô nói, lê đít sang một chiếc thùng phủ vải.

        Chiếc thùng kêu cót két, nghe có tiếng đập cảnh.

        — Khéo chết ngạt mấy con gà ! — bà già giận dữ nói. Ngồi ngay xuống rạ ấy.

        — Vâng — Secnôivanenkô nói và chuồi xuống giữa lớp rạ. — Bà đi chợ à ? — ông hỏi khi đã ngồi yên chỗ.

        — Đi chợ — bà già đáp, môi mím lại ra vẻ tử tế. Tất nhiên bà không nghi ngờ gì Secnôivanenkô nữa, và không phản đối một cuộc nói chuyện phiếm với ông bạn đường của mình. — Đi chợ, ông bạn ạ ! Chúng tôi mang đi một con lợn, một chục gà mái với một ít bơ để khỏi bị bọn chiếm đóng cướp mất. Cốt để phân tán đó thôi.

        — Mẹ ! — người đàn bà trẻ nghiêm khắc ngắt lời bà.— Nói thật, mẹ lắm mồm quá!

        — Ai đấy? — Secnôivanenkô hôi.

        — Con gái tôi. Nó không để cho mẹ nó nói lấy một lời!

        — Cô ấy nghiệt thật!

        — Lạy Chúa, đúng thế!

        — Tại sao bà và chị đi chợ một mình, không có đàn ông?

        — Nhà tôi, ông ấy chết đã năm năm nay rồi, còn chồng nó thì đang chiến đấu đâu đó, trong quân đội.

        — Trong quân đội à? Quân đội nào?

        — Quân đội nào nhỉ! —bà già nghiêm mặt nói — À : Hồng quân!

        — Mẹ ! —người con gái cắt ngang.

        — Ra thế đấy — Secnôivanenkô nói, mắt nhấp nhảy ra vẻ chất phác. — Chồng thì đang chiến đấu trong Hồng quân mà vợ yêu với mẹ lại đi buôn bán ở chợ Rumani ?

        Người đàn hà trẻ liếc nhìn Secnôivanenkô.

        — Trong thời chính quyền xô-viết — chị nói rất nhanh —  với một ngày công, người ta không thiếu một thức gì. Ngay từ mùa thu, cửa hàng lưu động đã đi ra đồng, người ta có thể mua tất cả những thức gì người ta thích : vải, dầu, đường, muối, diêm, mỡ máy, kim chỉ, sách vở, báo chí. Nhưng bây giờ thì tìm đâu ra? Chỉ còn cách ra chợ lấy hàng đổi lấy những đồng xu lớn. Mà cũng chưa biết với những đồng xu lớn ấy có mua được gì không?

        — Natalya ! —bà mẹ nghiêm khắc nổi. — Con bạo mồm bạo miệng quả, nếu ở chợ mà con thốt ra một tiếng về chính quyền xô viết, chúng sẽ lôi ngay con về cái sở Xiguranxa khét tiếng nào đó như chúng nói, hay một cái gì vào loại ấy, chúng...

        Bà già muốn nói « cho chúng chết mất đời » nhưng bà ngừng ngay lại và thận trọng nhìn Seenôivanenkô.

        — Xin lỗi, ông đừng chấp nhá — bà khúm núm nói. —  Có lẽ những câu nói lăng nhăng của chúng tôi chỉ dính líu đến chúng tôi thôi, xin ông bỏ ngoài tai cho.

        — Tại sao lại phải xin lỗi bác ấy? — Người đàn bà trẻ nói, tay ghìm cương ngựa. — Bác ấy là người lao động như chúng ta, không phải một tên Rumani, cũng không phải một tên Đức. Mẹ thấy đấy, bác ấy đi kiếm việc làm.

        — Biết ông ấy là người thế nào ? — bà già đáp bâng quơ rồi lại nói với Secnôivanenkô — Xin lỗi ông, ông chuyên môn nghề gì?

        — Tất cả mọi nghề — Secnôivanenkô vui vẻ đáp.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2020, 11:13:18 am

        Ông bắt đầu thấy hài lòng về hai người phụ nữ nông thôn này, họ đã bộc lộ ý nghĩ của họ tự do và quá rõ ràng.

        — Nhưng ông đã có khi nào đào hầm đá chưa ?

        — Tại sao không? Miễn là có đủ vật liệu.

        — Vật liệu có sẵn rồi. Trước chiến tranh, chúng tôi đã chuẩn bị được ít đá hộc quí lắm. Chủng tôi định xây kho lúa, nhưng vì chiến tranh phải dừng lại. Ông có thể xây giúp chúng tôi một cái hầm không ?

        — Có thể lắm—Secnôivanenkô nói, mặt tươi cười.

        — Nhưng chúng tôi cần xây ngay cơ. Thời buổi này không thể không có hầm đá: phải có nơi mà cất giấu các thứ, và nếu cần thì xây bít hẳn lại. Chúng tôi sẽ trả ông bằng hiện vật, không có bọn chiếm đóng cũng cướp hết.

        — Chúng cướp à?

        — Ôi chao! Tại trạm máy kéo ở Prôtôpôpôvô, dọc đường đi chắc ông đã nghe nói tới rồi chứ gì ? Chúng đã chở đi từng xe lúa mì đầy ắp của nông trang. Nhưng du kích đã ngăn chặn. Họ đã đốt hàng nghìn lúa. Suốt đêm trên thảo nguyên, họ đã đánh cho chúng tơi bời. Bây giờ phải xây một cái hầm và cất tất cả lương thực còn lại vào đó.

        — Các bà ở trạm Prôtôpôpôvô à ? — Secnôivanenkô tò mò hỏi.

        — Không, chủng tôi ở Khôlôtnaia Banka. Từ chỗ chúng tỏi sang Prôtôpôpôvô chỉ phải qua có một cái đầm. Đám cháy kéo dài suốt đêm. Thế nào, ông nhận xây cho chúng tôi cái hầm đó chứ ? Ngoài thành phố, không có cách gì kiếm ra việc đâu. Thất nghiệp đầy ra. Đến chỗ chúng tôi, ở Khôlôtnaia Banka, hỏi nhà Secbasenkôp, mọi người sẽ chỉ cho ông. Chúng tôi sẽ trả công hậu cho ông, bằng hiện vật. Ông sẽ không phải phàn nàn đâu. Nhưng cần phải làm ngay trước khi chúng cướp hết.

        — Được. Tôi sẽ đến. Mặc dù, hầm đá hiện nay cũng chẳng ích gì nữa. Theo như đài phát thanh Đức kể thì Mạc-tư-khoa đã bị chiếm, Hòng quân đã tan rã và chính quyền xô-viết không trở lại nữa.

        — Chúng nói láo ! — Người thiếu phụ bực tức nói. — Đừng nghe đài phát thanh của chúng! Bác cứ đọc những bản tin của thông tấn xã xô-viết! Ở chỗ chúng tôi, ban đêm, người ta rải truyền đơn, trong đó nói hoàn toàn ngược lại, và ai còn sống sẽ thấy rõ.

        — Rất có thể — Secnôivanenkô nói vẻ dàn hòa.

        — Natalya, giữ mồm! — bà già kêu lên.

        — Được rồi! Nhưng cũng phải cho bác đây biết chứ!

        Họ đã tới bốt kiểm soát. Secnôivanenkô nhìn hết sức chăm chú bọn lính Rumani đang giữ xe họ lại. Bà già lập cập cắn mở cái nút khăn mùi-soa và lấy ra tờ giấy thông hành. Secnôivanenkô cũng rút trong túi ra tờ giấy chứng nhận, dấu đóng không rõ. Trong khi bọn lính đang lật đi lật lại các giấy tờ trong bàn tay với một vẻ đầy ý nghĩa, bà già kéo ở dưới người lên một súc mỡ bọc trong mảnh vải màu xám và một bao bột nhỏ. Bọn lính Rnmani vỗ mạnh lên con lợn trong bao tải, lên bu gà và rõ ràng chúng rất hài lòng. Ban đầu chúng từ chối không nhận mỡ và hột mì, làm ra vẻ rất lương thiện. Nhưng cuối cùng tin chắc chung quanh không có thượng cấp, chúng chộp ngay lấy mang vào trong chòi canh ghép ván rồi nói bâng « tiếng Nga » để từ hiệt.

        — Tốt. Buôn hán rất tốt. Thành phố không có gì ăn. Phải mang thức ăn ra chợ hán. Thế mọi người mới có ăn. Xô-viết không tốt. Rumani rất tốt. Chúc bố và mẹ khỏe. Đi đi!

        — Buôn bán riêng lẻ ! — người thiếu phụ nói ra vẻ khinh hỉ.

        Vượt khỏi gầm cầu xe lửa, xe bắt đầu lên dốc. Nông dân đi về phía phố Kôrôlenkô. Đến đấy Secnôivanenkô từ giã hai người phụ nữ rối xuống xe.

        — Thế nào, ông sẽ đến Khôlôtnaia Banka xây hầm cho chúng tôi chứ? Đừng quên tên: Secbasenkô. Nhà thứ hai, sau nhà cứu hỏa, cái nhà mái mới, lợp thiếc ấy. Chúng tỏi vừa lợp xong đúng trước chiến tranh.

        — Cám ơn. Nhất định tôi sẽ đến.

        Secnôivanenkô để cho xe đi rồi mới chạy theo nói với:

        — Này, bà! Nếu tôi không đến được, một người khác sẽ thay tôi đến xáy hàm cho bà nhé.

        — Nhưng chúng tôi làm sao biết được người ta.

        — Dễ thôi — Secnôivanenkô nói và suy nghĩ một lát, tiếp thêm — họ sẽ bảo họ đến thay cho bác Gayrick. Chúc bà buôn bán may mắn.

        — Còn ông, chúc ông kiếm được việc làm.

        Mắt người thiếu phụ ngời sáng lên một chốc dưới cái mũ, và Secnôivanenkô cảm thấy tất cả câu chuyện họ nói với nhau trên đường đi có một ý nghĩa thứ hai.

        Ông đi đến gần công trường sửa chữa tàu thủy và nhìn vào trong cổng. Trên mảnh sân quen thuộc của công trường, nơi cách đây không lâu ông đã đứng trao đổi với Xiniskin Jêlêznư, bây giờ giữa một đống sắt vụn ngổn ngang chỉ thấy những xe Ford vận tải cơ lớn và xe quân lương của quân đội sắp thành dẫy dài, chắc là đưa đến đây để sửa chữa. Cũng có vài chiếc xe tăng và pháo Đức bị phá hủy. Bọn lính đội mũ sắt hay mũ nồi ở đấy. Một con gà mái đen không biết từ đâu đến, chạy khập khiễng qua sân, gió thổi lồng vào đuôi làm cho lông xù lên. Secnôivanenkô đi qua không dừng lại.

        Cuộc gặp gỡ với Xiniskin Jêlêznư định vào khoảng giữa hai và năm giờ, cách trung tâm thành phố khá xa, ở ngoại ô, trong công viên Quận công. Còn nhiều thì giờ trước khi gặp, nếu Secnôivanenkô định đảo qua thành phố, để quan sát nghe ngóng, và đặc biệt để tự mình xem cửa hàng Kôletnisuc đã mở cửa thực chưa.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2020, 11:13:42 am

        Tuyết không rơi nữa, khắp nơi có những vũng nước lấp lánh phủ đầy sợi băng, bầu trời từng đám đã quang đãng, nhưng gió bấc vẫn thổi từ ngọn núi Jêvakhôva về, và qua đó có thể cảm thấy rõ ràng hơi thở gay gắt của mùa đông. Thành phố có cảnh tượng ảm đạm vắng vẻ. Trước mắt cũng như sau lưng, những ô-tô ngoại quốc mang nhãn hiệu lạ chạy trên đường phố trong tiếng động cừu địch. Ở các góc phố, cảnh sát đứng gác. Nhiều người có vẻ sợ sệt, lưng đeo túi cõng, đẩy xe cút kít chở đồ đạc nhà bếp trên đường đá. Một vài nơi khác, dưới con mắt của bọn lính, nhân dân đang phá chướng ngại vật và xếp đá trên đường. Một toán tù bị áp giải đi qua.Secnôivanenkô bước chậm chạp, nặng nề, cứng nhắc như một người bộ hành mệt nhọc. Ông cảm thấy đau đớn và căm uất quá đỗi, thỉnh thoảng như ngạt thở. Tuy thế, ông vẫn không lúc nào quên mình là một người thợ đang đi kiếm việc làm và nếu cái búa tụt xuống, ông lại vội vàng kéo đầu nó thò ra ngoài. Không ai để ý đến ông. Vai người bộ hành ông đóng, với cái túi sau lưng, nom như thật. Có rất nhiều người cũng ăn mặc tả tơi, mệt mỏi đói khát như ông, kéo lê trong thành phố mang túi sau lưng.

        Thậm chí Secnôivanenkô dám đi cả vào phố Ribat. Đúng là ông đã đi ngay giữa đường chứ không phải trên vỉa hè. Vỉa hè dành cho bọn sĩ quan Rumani đầu đội mũ cát-két to tướng, mặt đánh phấn, ầm ĩ ra dáng thượng võ. Qua trước ngôi nhà Vane, Secnôivanenkô nhìn thấy tấm biển cửa hàng Kôletnisuc thật. Ông muốn vào quá. Nhưng không thể được với kiêu trá hình này. Dù sao bây giờ ông cũng biết chắc là đã có cửa hàng. Đến ngã tư phố Ribat và phố Katêrin đệ nhị, Secnôivanenkô lại gần một tên cảnh sát, chìa tấm giấy chứng nhận ra, rồi hỏi bằng một giọng mệt mỏi xem sở Lao động ở chỗ nào. Nhưng tên cảnh sát không hiểu, hét lên một câu bằng tiếng Rumani, chắc nó bảo ông không được lang thang vào đường phố chính trong bộ quần áo như vậy.

        Secnôivanenkô tiếp tục đi, rẽ sang phố Nêjinxkaia tới nhà thờ Tin lành. Ở đây, phố xá vắng tanh, im lìm. Chợt ông trông thấy một bọn Đức. Bất ngờ quá, làm ông rùng mình. Chúng đi giữa đường thẳng vào ông: một đại đội lính S.S. Chân dận bốt mới, đánh xi bóng loáng, bước thật đều trên mặt đường trông rất kệch cỡm. Secnôivanenkô tránh sang một bên. Chúng hát một điệu hát chối tai, khô khan, cứng nhắc, đầy những giọng cổ cao, phảng phất điệu Tyrôn, và tất cả giống như một lối phối âm nặng nề giữa tiếng tiêu và trống đồng. Secnôivanenkô thấy như toàn thể bọn s.s. đó đều cùng một gương mặt. Và gương mặt đó làm ông ngạc nhiên vì vẻ nghèo nàn và đồng nhất của nó: da đỏ, mồm toang hoác, cằm nhỏ theo một kiểu gô tích thô lỗ, mũ đội sùm sụp, dây mũ bó chặt, dưới vành mũ lấp lánh những gọng kính vàng. Bên cạnh chúng là ngồi nhà thờ ảm đạm, mái gô-tích đó với cái thập ác bằng đá nom rất thô trên nền trời âm u. Secnôivanenkô chợt tưởng như mình đang ở trong một thành phố Đức nhỏ.

        Đội lính đi qua trước mặt ông, rẽ sang phố Piôt Đại đế. Tên sĩ ơuan ra lệnh:

        — Zug!

        Và, cùng một lúc, như một cái máy vừa được vặn dây cót, tất cả bọn s. s. chuyển sang bước ngỗng, hất mạnh chân ra đằng trước, cao gần đến tận cái cằm nhọn rồi dừng lại như hóa đá.

        Ở đây, những xe tải bịt kín đỗ ghếch lên vỉa hè, đụng cả vào cửa sổ, còn bọn Đức thì chia nhau ra đứng cạnh các xe. Chúng ra sức kéo rầm rầm trên xe xuống những thùng bơ, thùng bánh mì bọc giấy bóng, thùng rượu, thùng cam. Chúng rút dao Phần-lan trong quân phục ra và ngồi ăn ngay tại chỗ, trên các thùng để cạnh xe, rồi lầy acmônica thổi những bài quân hành, vui vẻ nhìn người qua đường với đôi mắt ngờ nghệch. Một lúc sau, Secnôivanenkô lại gặp bọn Đức lần nữa. Nhưng lần này, không phải bọn nhà binh mà là bọn du lịch. Chúng từ đường bờ biển đi tới trong một chiếc xe ca dài màu xám và đỗ cạnh đài kỷ niệm công tước Risơliơ đang giơ tay chỉ, một cách thanh nhã theo kiểu ngày xưa, vào cầu thang Pôtemkin nổi tiếng. Chúng xuống xe và một nhân vật đeo băng vàng cung kính thuyết minh cho chúng nghe về đài kỷ niệm và cái cầu thang. Bọn Đức mỉm cười khoái trá nhìn nhau và gật gật mũ cát-két hình yên ngựa cao. Rồi chúng sắp hàng trước tượng công tước cbụp ảnh, và đi xa hơn nữa chụp tiếp trước cỗ đại bác, cũng cỗ đại bác mà cách đây không lâu Secnôivanenkô đã đứng trước nó theo dõi công việc bốc xếp trên bến cảng...

        Đến ba giờ, sau khi đã đi suốt phố Raxkiđailôpxkaia buồn vắng như tất cả các phố xa trung tâm thành phố. Secnôivanenkô đi vào công viên Quận công bị phá nát, giày xéo, lỗ chỗ chiến hào và hầm hố đầy ắp lá thối. Đây đó, còn sừng sững những mái đình và tượng thạch cao, tay chân gãy nát, đã đen xạm mưa và bụi. « Cô lái đò » ngày xưa trang điểm cho hòn đảo nhỏ giữa hồ, nay chỉ còn mỗi cái bơi chèo lủng lẳng rất lạ lùng ở đầu một sợi dây thép gỉ. Đầu cô gái lăn lóc trong bụi rậm.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2020, 11:14:21 am

        Trời lại xấu đi. Gió hắt những bông tuyết khô vào mặt, rít trên những sợi dây thép đứt, thổi phần phật những tâm gỗ dán mục. Thoạt nhìn không có người nào trong công viên cả. Nhưng khi Secnôivanenkô rẽ vào một lối chính, ông thấy hình như sau sân chơi của trẻ em, trong những lùm cây trụi lá, có một bóng người thấp thoảng rồi biến mất. Secnôivanenkô dừng lại, làm bộ buộc lại dây giày, đợi một lúc. Nếu đó là Xiniskin, bác ta sẽ trở lại và tiến đến gần. Nhưng không có ai đến gần cả. Secnôivanenkô ngoảnh ngay lại nhưng vẫn không thấy ai. Ông cảm thấy khó chịu, ông tự nhủ không ngoảnh lại nữa và tiếp tục đi thong thả, nặng nề, chân bước khập khiễng.

        Vừa vượt qua một cái bực ván thì ông thấy Xiniskin Jêlêznư, một Xiniskin tả tơi, bẩn thỉu, đội mũ nồi rách, ướt sũng, người cúi gập, đang đi bên bục, nhặt vỏ bào bỏ vào bao tải. Không thẳng người lên, và nhìn Secnôivanenkô từ dưới lên trên với đôi mắt tinh nhanh sắc sảo, Xiniskin nói:

        — Cứ đi theo phố Công tước đến tận góc phố Pisônôpxkaia. Tôi sẽ đuổi theo.

        Secnôivanenkô thận trọng hất đầu ra hiệu về phía có tiếng còi.

        — Người của tôi — Xiniskin nói. Đi đi, đừng đứng lại. Tay gác đường tàu thường hay lảng vảng ở dây. Tôi sẽ đuổi kịp đồng chí.

        Secnôivanenkô không đứng lại, băng qua công viên vắng vẻ và rẽ vào phố Công tước. Đến góc phố Pisônôpxkaia, Xiniskin theo kịp ông và, không dừng lại, nói:

        — Đi theo tôi.

        Họ đi qua một cái cửa nhỏ vào một cái sân con, xung quanh có một bức tường đất quét vòi nham nhở. Xiniskin liếc mắt ra phố rồi chận cửa lại bằng một thanh gỗ lớn. Từ trong cũi, một con chó dài xù lông, lồng lộn nhảy ra, chạy ngang qua sân làm cái vòng xích cô kêu loảng xoảng.

        — Suỵt! Rukô! — Xiniskin quát và nắm lấy cái xích gần vòng cổ. — Vào trong nhà đi.

        Đó là một nếp nhà nhỏ, gần giống nhà nông thôn, cửa thông hơi chăng vải xanh, nhưng lại có số nhà kiểu thành phố ở trên tường. Secnôivanenkô ấn vào then cửa rồi đi vào trong nhà.

        — Đừng sợ gì hết. Chúng tôi ở nhà người tốt. Hiện giờ, họ đi vắng — Xiniskin nói, theo gót Secnôivanenkô vào trong một căn phòng rất ngăn nắp với những cây vả, cây trúc đào, những cái giá tre, một tấm thảm vải, một cái tủ chè ọp ẹp và nhiều ảnh lồng trong những khung nhỏ góc lồi màu đen. Trên một bức ảnh, Secnôivanenkô thấy một đầu máy xe lửa, phía trước là một toán công nhân bận đồ xanh, tay cằm đồ nghề, qua đó có thể đoán giữa chú nhân với đường xe lửa có liên quan với nhau.

        Secnôivanenkô và Xiniskin ngồi trước cái bàn phủ khăn len trên có một vỏ sò lớn để đựng tàn thuốc.

        — Tôi đoản chắc đồng chí sẽ đích thân tời chỗ hẹn nên phải bố trí canh gác cẩn thận—Xiniskin vừa nói vừa ho khù khụ.

        — Bác đã bận tâm một cách vô ích đấy.

        Xiniskin nghiêm khắc nhìn Secnôivanenkô:

        — Tôi phải chịu trách nhiệm về tính mạng đồng chí bí thư thứ nhất Ban chấp hành bí mật của Đảng. Thế nào, có thích thành phố Ôđetxa, thủ phủ Tranxnitri nước Rumani không? có thích những ông chủ mới không?

        — Chúng đang say sưa với chiến thắng. Chúng đang ngủ trên cành nguyệt quế. — Và Secnôivanenkô vừa cười vừa kể lại chuyện mình đi vào thành phố.

        Nhưng Xiniskin dĩ nhiên có ý kiến khác hẳn.

        — Đồng chí đừng chủ quan — bác nói nghiêm trang. —  Chúng có nhiêu lý do để huênh hoang, đắc chí, nhưng... Bác giơ ngón tay trỏ xám xịt và đầy chai lên. — Nhưng đó chỉ mới là một mặt của tình hình, tôi nói thậm chí chỉ mới là bề ngoài thôi. Nhưng còn một mặt khác. Đồng chí có nghe nói về vụ nổ ở sở chỉ huy ngày hăm hai tháng mười không?

        — Tòi có nghe — Secnôivanenkô nói. — À này, ai làm việc đó thế ?

        — Theo tôi, chắc là Đrujinin.

        — Đrujinin nào thế?

        — Theo chỗ người ta biết, đó là một người trong nhóm của chúng ta, những người chắc chắn. Hiện giờ tôi không biết gì hơn. Nhưng dù sao, nhân dân đều quy cho Đrujinin đã tổ chức vụ nổ ngày hăm hai tháng mười. Vả lại, trong lúc này mọi việc người ta đều quy cho anh ấy. Mấy hôm nay, một đội du kích lạ đã đốt trạm máy kéo Prôlôpôpôvô mất một nghìn pút lúa mì và giết mười tên chiếm đóng. Người ta cũng quy cho Đrujinin!

        — Về việc xảy ra ở sở chỉ huy thì tôi không nói, nhưng còn trạm Prôtôpôpôvô, theo một số tin tức thì đó là do một người khác làm.

        — Tôi cũng nghĩ đúng như thế — Xiniskin nói, liếc nhanh Secnôivanenkô ra vẻ vô tình. — Thế là sau vụ nổ, sáng ngày hăm ba tháng mười, tôi có đi ngang qua thành phố và thật là một cảnh tượng khủng khiếp. Hàng trăm người bị treo cổ trên cây, trên cột điện. Chỉ trong một ngày khốn nạn ấy, chúng đã bắn và treo cổ khoảng năm nghìn người...—Xiniskin nói, giọng nói bình thản và đều đều nhưng người nghe cảm thấy trong đó chứa đựng một mối căm hờn và một niềm đau đớn ghê gớm làm cho Secnôivanenkô cố gắng lắm mới nén được xúc động. — ít lúc sau, chúng đã tiến hành bắt bớ hàng loạt khắp tất cả các khu phố — Xiniskin nói tiếp — và tôi không chắc có thể lập lại dây liên lạc dễ dàng với các đồng chí đại diện Ban chấp hành quận bí mật không. Hiện nay, những người của tôi đang tìm cách phát hiện đúng ai đã bị bắt. — Xiniskin im lặng rồi với một giọng nói cứng cỏi của một người không sợ nhìn thẳng vào sự thật và không có thói quen sống bằng ảo tưởng. —  Dù sao, đây cũng là cảm tưởng của tôi, lúc này, chúng ta như vậy là không có lãnh đạo.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2020, 07:52:11 pm

        Mặt Secnôivanenkô hơi nhăn lại. Trên sống mũi, vết kính hẳn màu đỏ rõ thêm. Ông đưa lòng bàn tay xoa trán, im lặng một lúc lâu.

        — Đó là một tồn thất nặng — Secnôivanenkô nói, không cất cao giọng, mi mắt nhăn lại như bị chói — một tổn thất rất nặng ! Nhưng biết làm thế nào, không thể tránh được! Chúng ta sẽ nối lại liên lạc với Trung ương. Còn công việc riêng của bác thế nào, bác Nikôlai Vaxiliêvich?

        — Chúng săn tôi — Xiniskin nói ngắn gọn. — Đêm nào tôi cũng phải đổi chỗ ở. Bất tiện vô cùng. Nhưng tuy thế, tôi cũng hoàn thành được nhiệm vụ. Đến nay, tôi đã tìm được bảy người, những người tôi biết là tốt, những đồng chí hoàn toàn chắc chắn, đảng viên và ngoài đảng. Tôi liên lạc trực tiếp, riêng với từng người, và giao nhiệm vu cho họ với lư cách Ban chấp hành bí mật khu.

        — Nhiệm vụ gì?

        — Mỗi người phải tim ra hai hoặc ba đồng chí tin cẩn như bản thân họ, liên lạc trực tiếp với họ và đứng đầu « nhóm ba người ». Không thiếu người muốn công tác. Tôi tin rằng trong một hoặc hai tháng, chúng ta sẽ tổ chức được một màng lưới vững chắc gồm những « nhóm ba người » và cả những « nhóm năm người ». Nhưng hiện nay, mọi người hoạt động không theo một kế hoạch nào cả, còn theo sáng kiến cá nhân mình.

        — Nhưng họ có hoạt động chứ? — Secnôivanenkô vội hỏi với. — Và tóm lại, họ làm gì?

        — Cái đó thì tùy tình hình... Bỏ cát vào trục xe. Phá ghi đường xe lửa. Làm chậm trễ công việc phân phối đầu tàu. Đó là về mặt hỏa xa. Rồi ám sát bọn nhà binh, nhất là bọn sĩ quan hiến binh. Đấy là về mặt thành phố và rải truyền đơn.

        — Thực đấy chứ?

        — Tòi chỉ báo cáo những việc đã được xác minh và kiểm tra chắc chắn.

        — Khi nào, ở đâu? — Secnôivanenkô hỏi vắn tắt.

        Xiniskin sầm mặt lại, tập trung tư tưởng một lúc rồi nói:

        — Đêm hai mươi lăm, ở gần Sumka, đã bắn vào một toán tuần tiễu của Ban chỉ huy Đức, hai tên bị giết, những tên khác bỏ chạy. Cũng trong đêm đó, ở bốt máng, tên lính gác bị đâm chết. Ngày hai mươi bảy, ở ga hàng hóa Ôđetxa bị trệch ghi, một đầu máy đã trật bánh đôe chổng lên trời. Ngày hai mươi tám, trên đoạn đường Vigôđa Batsnaia, những hộp trục của hai toa hàng đoàn tàu chạy Radơđennaia bị cháy, do đó, đoàn tàu đã phải dừng lại dọc đường. Cũng trong khoảng thời gian này, người ta đã phát gần ba trăm bản lời kêu gọi nhàn dân của Ban chấp hành quận. Trên đường Máy nước giữa, anh em mình đã treo cổ một thằng nhân viên sử Xiguranxa lên cây dạ hợp, một thằng Kublixky nào đó người gần đấy, một thằng đê tiện và ác ôn nổi tiếng. Tất cả đều là những sự việc tự tôi đã kiểm tra lại, tôi bao đảm hoàn toàn chính xác trước Ban chap hành khu. Và đó mới chỉ là bước đầu nhỏ bé. Đồng chí hiểu tôi chứ — Xiniskin nói, mắt nhấp nháy tinh nghịch rồi bất ngờ cười rộ lên, vẫn tiếng cười khàn khàn, trầm trầm của bác.

        Secnôivanenkô mặt tối sầm lại.

        — Nhưng đừng làm quả, Nikolai Vaxiliêvich ạ.

        — Đồng chí đừng lo — Xiniskin nói với một nụ cười lặng lẽ.

        Rồi bác thong thả kể, theo trí nhớ, tên những đảng viên cộng sản và những người ngoài đảng mà bác đã đích thân liên lạc, đồng thời nêu qua đặc điểm của mỗi người với lý do ở lại của họ. Toàn là những người mà Secnôivanenkô có quen biết ít nhiều : trong họ có ba công nhân hỏa xa, hai công nhân khuân vác, một kỹ sưvà một lái xe. Tất cả, hiện giờ còn ở trong vòng bất hợp pháp, nghĩa là với những giầy thông hành không đăng ký ở sở cảnh sát, và họ sống ở nhà các bạn mà không ghi sổ hộ tịch : tình thế hết sức khó khăn và nguy hiểm.

        — Họ cần phải hợp pháp hóa sớm đi — Secnôivanenkô nói.

        — Tôi cũng nghĩ đó là một trong những nhiệm vụ chính của chúng tôi. Chúng tôi đã làm được phần nào theo hướng đó rồi. Anh em đã tìm được một nhân vật thích hợp: ông thợ kính Papliuc, một người của chúng ta ở Pêrexip. Một ông già nhỏ bé đôn hậu, nhưng đáng tiếc là nhát như thỏ và quả đỗi rụt rè. Tuy nhiên, tôi hy vọng cuối cùng cũng sẽ thuyết phục được ông ta. Hiện giờ, ông ta đang lắp kính ở buồng số năm sở cảnh sát Pêrexip. Không có gì hay hơn! Các con dấu để trong một cái bàn ở bộ phận giấy thông hành. Hàng ngày ông ta làm việc ngoài giờ hành chính. Ngày kia là ông ta sẽ lắp kính ở buồng giấy thông hành. Đồng chí nghĩ xem, chỉ có việc đóng dấu vào bảy tờ giấy thông hành như thế này, ngay tại chỗ! Nhiều nhất là hai phút thôi. Ấy thế mà ông ta không đảm làm! Tôi chỉ còn hy vọng ông ta sẽ nhận một thanh niên của ta vào làm cùng lắp kính với ông. Và khi đã có trong tay hình con dấu cảnh sát, chúng tôi sẽ tổ chức một bộ phận giấy thông hành thật chu đáo. Nhân thể đồng chí Gayrin Xêmiônôvich này, đồng chi cũng vậy, đồng chí sẽ khỏi phải lo ngại khi lên thành phố mà trong tay không có một cái gì chắc chắn hơn cái giẻ lau của đồng chí. Xin lỗi đồng chí vì tôi đã nhận xét đồng chí như thế.

        — Không có biện pháp nào khác—Secnôivanenkô nói buông thõng.

        — Tôi đồng ý — Xiniskin tán thành — Nhưng đồng chí phải biết, dù sao...

        — Được. Đừng nói ra ngoài đề. Như vậy là tôi chắc cuối cùng bác sẽ thuyết phục được ông già bé nhỏ và rụt rè của bác và dù thế nào chúng ta cũng sẽ có một bộ phận giấy thông hành. Đồng ý chứ?


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2020, 07:53:58 pm

        Xiniskin gật đầu.

        — Bây giờ, còn một vấn đề nữa. Vấn đề thẻ đảng cho các đồng chí đến đâu rồi ?

        — Cho đến nay, thẻ vẫn được cất cẩn thận ở nhà tôi.

        — Ở một nơi chắc chắn chứ?

        — Nói với đồng chí thế nào đày... Cho đến hiện giờ, địa điểm đó có vẻ chắc chắn, nhưng khó mà bảo đảm...

        Nói xong, Xiniskin nhìn qua lỗ thông hơi, rồi bước nhanh lại gần bếp lò, nhấc tấm cửa gang kín mít ra khỏi bản lề, từ dưới tro bới lên một gói nhỏ bọc cẩn thận trong một miếng vải buộc dây chằng chữ thập.

        Secnôivanenkô sa sầm nét mặt.

        — Bản thân tôi cũng biết đó không phải là một chỗ hoàn toàn như ý mình — Xiniskin nói. — Nhưng rất tiếc, tôi không thể tìm được một chỗ nào khác.

        — Được. Tôi sẽ mang theo về hầm mộ. Bây giờ còn một vấn đề nữa, vấn đề cuối cùng. Bác đã làm cho các đồng chí bằng cách này hay cách khác các thủ tục cần thiết rồi chứ ?

        — Xin lỗi!... — Xiniskin nói, đưa bàn tay lên lỗ tai.

        — Tôi hỏi, bằng cách này hay cách khác, bác đã làm các thủ tục cho các đồng chí chưa? — Secnôivanenkô lặp lại.

        — Tôi không hiểu câu hỏi của đồng chí — Xiniskin nói.

        Secnôivanenkô đứng dậy và đi đi lại lại trong gian buồng, đầu cúi gằm. Rồi ông lực túi tìm quyển sổ tay, nhưng nhớ ra là mình đã phải để lại trong hầm mộ, ông lắc lắc bàn tay.

        — Này, ở đây, bác phải có cái gì để viết chứ? Kìa, hình như trên giá, có một lọ mực và một ngồi bút thì phải. Cầm lấy viết đi.

        Xìniskìn để lọ mực lên bàn trước mặt, mở cái nắp nhỏ bằng đồng và chấm ngồi bút vào thứ mực cũ sanh sánh.

        — Viết đi! — Secnôivanenkô nói.

        Xiniskin đưa mắt tìm giấy nhưng không thấy ; bác xé một tờ lịch, chuẩn bị viết:

        — Viết! —Secnôivanenkô nhắc lại, không thôi đi bách bộ mỗi lúc một nhanh hơn. — « Quyết tâm thư. Tôi ký tên dưới đây (họ, chữ đệm, tên) tự nguyên gia nhập tổ chức bí mật Đ. c. s. của L. B. C. H. X. H. X. V., mục đích chú yếu là đánh đuổi bọn can thiệp bằng vũ trang khởi nghĩa, bảo vệ độc lập cho Tổ quốc vĩ đại và danh dự cho dân tộc. Tôi nguyện tiêu diệt bọn phản quốc, đốt phả tài sản của chúng bất ký ở đâu ». Secnôivanenkô đọc nhanh và Xiniskin cố lắm mới theo kịp. — Xong chưa? Tiếp tục : — « Tôi tình nguyện tuân thủ mọi điều lệnh công tác bí mật, tôn trọng kỷ luật »... — Secnôivanenkô dừng lại, suy nghĩ rồi lại đọc : — « hoạt động trong tổ chức, chấp hành mệnh lệnh của các đồng chí lãnh đạo và bắt cứ giờ nào, ngày cũng như đêm...»

        — Khoan đã, đừng đọc nhanh thế!

        — « ... và bất cứ giờ nào, ngày cũng như đêm —  Secnôivanenkô nhắc lại, vẻ dữ tợn — bất cứ giờ nào, ngày cũng như đêm, tôi sẽ có mặt ở địa điểm quy định, vũ khí trong tay, chấp hành tuyệt đối bất cứ nhiệm vụ gì được giao phó, hiến dâng tất cả cuộc đời và xin thề...! »

        Ngay lúc ấy ngoài đường phố đã bắt đầu tối, có tiếng huýt rất quen thuộc. Chỉ hai bước, Xiniskin đã ở ngoài sân. Secnôivanenkô, qua cửa sổ, thấy cái bóng đen dài của bác tựa vào hàng rào. Xiniskin dửng như thể bốn phút rồi trở vào trong phòng.

        — Báo động nhầm ! — Ổng nói, cười trong ria mép

        — Viết tiếp ! — Secnôivanenkô nói! — Chúng ta đến đâu rồi?

        — ... Hiến dâng tất cả cuộc đời và xin thề... — Xiniskin nói.

        — Đúng thế. « hiến dâng tất cả cuộc đời và xin thề ». Viết: « ... để bảo vệ Tố quốc thân yêu, danh dự và tự do. Tôi xin xác nhận việc tình nguyện trang nghiêm này trước Đảng và Chính phủ ». Ký tên. Thế là hết. Gia nhập tổ chức bí mật, mỗi đồng chí đảng viên hay ngoài đảng đều phải tự tay mình viết và kỹ tên vào bản quyết tâm thư này.

        Secnôivanenkô đi một vòng nữa trong phòng rồi đứng lại trước mặt Xiniskin.

        — Bác Nikôlai Vaxiliêvich, rồi bác gửi tất cả những tài liệu này đến hầm mộ cho tôi, bằng liên lạc trực tiếp của tôi.

        — Vàng, tôi sẽ gửi — Xiniskin nói.

        — Liên lạc phải tiến hành ban đêm giữa một giờ và hai giờ. Một ám hiệu bằng đèn điện, bốn đỏ, một trắng. Trả lời: bốn trắng, một xanh. Và chú ý dàn xếp cho xong với ông thợ kính già nhút nhát của bác nhé. Chúc bác may mắn.

        Secnôivanenkô chìa tay cho XiniskinJêlêznư, chợt thấy bóng mình trong tấm gương mờ và bất giác mỉm cười.

        — Nhưng Nikôlai Vaxiliêvich này, dễ bác không có lấy một quả thủ pháo nào chăng? — Secnôivanenkô hỏi và cảm thấy mình lại từ người bí thư thứ nhất Ban chấp hành khu trở thành người thợ đi rong.

        — Có những hai quả — Xiniskin nói và lấy trong lò ra một quả thủ pháo.

        Secnôivanenkô cuộn cẩn thận những tấm thẻ đảng quanh quả thủ pháo rồi để vào trong ngực.

        — Tốt lắm — Xiniskin nói — nhưng bận sau đồng chí đừng đến chỗ tôi nữa, nếu trang bị quả sơ sài như vậy.

        Trước khi để ông qua cửa, Xiniskin thận trọng đi ra phố, thầm thì với một người nào đó rồi, nắm lấy vòng cổ con chó dữ, bác mới nói:

        — Đi thẳng về phía Xlôbôtka, dọc theo nghĩa địa rồi qua đồng cỏ, thẳng một mạch đến tận nhà. Chúc đồng chí may mắn !


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2020, 07:54:54 pm

        Trời đã gần tối. Secnôivanenkô thận trọng đi trên những đường phố ngoại ô, nép người vào các dãy rào và các nhà để khỏi nổi bật quá trên nền trời xám. Mặc dù chung quanh không có một bóng người, ông vẫn cảm thấy mình không cô độc. Khi thì trước mặt, khi thì sau lưng, khi thì đâu đó bên cạnh, trong bóng tối, có tiếng bước chân đi nhè nhẹ. Có lần, ở một góc phố, nổi lên tiếng còi báo hiệu rất quen thuộc. Thế là Sec- nôivanenkô đứng lại và nép mình vào một gốc dạ hợp. Trước mặt ông, một chiếc xe tải chạy qua, nhảy trên những rãnh bánh xe. Khi chiếc xe tải đã biến vào bóng tối, ông nghe một tiếng còi thứ hai. Secnôivanenkô biết là mình lại có thể tiếp tục đi. Đó là người của Xiniskin đi theo để bảo vệ cho đồng chí bí thư của họ. « Hừ, mình đã làm bận cho họ! » ông nghĩ thế và mỉm cười. Thật là yên tâm khi biết quanh mình, có những người trung thành, tận tâm và mình đang được nhân dân che chở.

        Sau khi đi khỏi nghĩa trang, Secnôivanenkô cuối cùng đã vào đến đồng cỏ. Nhưng ở đây cũng vậy, trên thảo nguyên tối tăm vẳng lặng, ông vẫn mơ hồ cảm thấy gần đâu đó có mặt những người vô hình. Ông rảo bước, tay luôn luôn để trên ngực, ghì chặt quả thủ pháo cuộn trong bìa cứng. Ông giữ khư khư trên ngực năm tấm thẻ nhỏ với bao thương yêu và thận trọng như chính đó là những con người thật.

        Khi đến gần làng Uxatôvô thì mặt trăng vừa ló ra giữa những đám mây đêm mờ. Thảo nguyên hơi sáng lên và hình như cựa quậy. Đâu đó, nghe có tiếng chó sủa. Ngay lúc đó, ông nghe đẳng sau lưng có tiếng vó ngựa. Một tiếng nói khàn khàn, thô lỗ, hét lên : « Đứng lại!» Secnôivanenkô, nằm rạp ngay xuống đất ẩm lạnh, mặt úp sấp, nhanh nhẹn rút bàn tay đang nắm quả thủ pháo trong ngực ra. Một vài đốm lửa lấp lánh và ngay gần đấy, trong những lùm có dại, một viên đạn rít lên. Lập tức, một loạt súng ngắn và xa hơn, một quả thủ pháo nổ, rồi một quả khác, Secnỏivanenkô thấy một con ngựa không người cưỡi phi qua dưới ánh trăng. Rồi sau nó, một con ngựa khác với một kỵ sĩ đứng lên bàn đạp, bắn trở lại, đâu đó trong thảo nguyên.

        — Trốn đi! — Secnôivanenkô nghe ở đẳng xa một giọng nói trẻ và thất vọng hét lên — Trốn đi!

        Secnôivanenkô nhảy chồm dậy và lướt trên mặt đất ẩm ướt, chạy về phía cái khe thân thuộc. Ông lăn xuống dưới và vừa may không húc ngã Xêraíim Ivanôvich Tulyakôp khi đó đang chạy tới, súng cầm trong tay. Ba chiến sĩ thuộc phân đội của anh, người gập làm hai, chạy theo sau Tulyakôp.

        Đó là toán bảo vệ Xtrenbixki bố trí sẵn để tiếp đón người bí thư.

        Nói chung, Pêchya và Valenlin sống rất vất vả. Và sẽ nặng nề hơn nếu trong những niềm vui nhỏ bé của chúng không có cái thú rộng lớn của việc đi lấy nước. Nước lấy từ một cái giếng ngầm không xa « nhà ».

        Người ta không những cấm Pêchya và Valentin lên mặt đất, mà đến các lối ra cũng không được đến gần. Lúc bấy giờ đã có hai lối vào. Một lối, như chúng ta đã biết, gọi là « Con Dím » cách nghĩa địa Uxatôvô không xa, và một lối xa hơn, trổ ra gần làng Kuyannich, cách đấy gần ba ki-lô-mét, gọi là « Con Vịt » để biểu dương một con vịt tình cờ chạy vào trong hầm mộ và được Xhnban biến thành một bữa ăn ngon lành.

        Pêchya và Valentin được phép ra giếng.

        Thực ra, không phải chúng cứ cầm xô rồi đi ra giếng. Mỗi lần đi, chúng phải được người trực nhật hay người đầu bếp phụ trách việc nước nôi cho phép.

        Người đầu bếp, hay nói một cách đơn giản hơn, người nấu bếp đó là bà Matriôna Têrenchiepna. Không phàn nàn, bà vùi đầu vào công việc bếp nước, dốc hết tâm sức vào đó một cách say sưa, nhiệt tình. Nhưng khốn thay, người ta lại sớm nhận thấy là bà không có tài. Thiện ý không thể thay thế được tài năng. Không có một tí tài năng nào! Về mặt bảo quản, làm thống kê, chia khẩu phần, hết sức cố gắng thì bà cũng còn có thể  làm được. Thực tế, đó là một việc rất khó khăn. Để cho vật phẩm khỏi mốc, luôn luôn phải đảo, phải phơi, phải làm cho thoáng khí. Hầu hết thì giờ của bà Matriôna Têrenchiepna đều dùng vào việc chống ẩm. Còn khó khăn hơn, tỉ mỉ hơn cả việc chống gỉ. Hàng ngày bà phải sấy lại nào bột, nào đường, nào muối, nào mì. Nhưng hôm sau, ẩm lại hoàn ẩm, và lại phải sấy lại. Bà có một cái khám riêng để làm chạn đựng thức ăn. Nhưng một mùi mốc khó ngửi cứ bốc lên làm bà thất vọng. Rồi thực phẩm lại biến dần, nhanh khủng khiếp. Bà Matriôna hoảng sự thấy bột, bơ, đường bay nhanh quá.

        Hai mắt tròn xoe, bà đến bên chiếc bàn đá của Secnôivanenkô và hơi ấp úng vì xúc động, nói thầm vào tai đồng chí bí thư thứ nhất những điều bí mật buồn bã của công việc bếp nước và giúi cho ông một mảnh báo cáo về tình hình thực phẩm dự trữ. Ông mang kính vào, nhìn Matriôna Têrenchiepna một lúc lâu, có ý khiển trách.

        — Matriôna Têrenchiepna, tôi lạ cho cô thật!


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2020, 07:55:12 pm

        Ông thường gọi bà là Matriôna Têrenchiepna mỗi lần bà làm ông không hài lòng, ông nói điều đó với cái giọng ông đã nói với bà hồi còn nhỏ về đôi giày hỏng :

        — Môteska ! Cô làm tôi rất buồn và rất ngạc nhiên về cô. Cô lại làm rách giày nữa rồi! Rách không chữa được nữa. Chẳng thợ giày nào nhận đâu. Thật tôi chịu không biết dùng cô vào việc gì nữa. Cô sờ vào đâu là hỏng đấy. Sờ vào đâu là hỏng đấy!

        — Chú Gayrick! Có phải lỗi tại tôi đâu! — Cô bé Môchya đáp và thẹn quả, không những mặt, tai, cổ đỏ ửng mà thậm chí bàn tay cũng đỏ và nước mắt cứ trào ra.

        Có lẽ hồi đó bà có lỗi thực. Thực tế bà sờ vào đầu là hỏng đấy. Nhưng bây giờ bà không có lỗi gì cả. Bà đã cố gắng hết sức để quản lý bếp nước thật tiết kiệm. Nhưng có một điều ai cũng biết là thức ăn thường có cái tệ hay « bay », nhất là khi có ít mà lại nhiều miệng ăn. Giống hệt hồi nhỏ, Matriôna áp tay lên ngực thõt lên, giọng rất nhỏ, như tiếng chim con hót trong cổ:

        — Chú Gayrick! — cả đời bà vẫn gọi ông như thế, « Chú Gayrick » — Chú Gayrick, xin Chúa cứ trừng phạt tôi, chính bản thân tôi cũng không thể hiểu được. Tôi đã để dành, nhưng ngày nào thực phẩm cũng cứ hết nhiều. Thực vậy, tôi không biết làm thế nào nữa! Thật là vô lý.

        Rồi bà rưng rưng nước mắt.

        — Cô ấy không biết làm gì nữa! — Secnôivanenkô lẩm bẩm. — Cô ấy không biết nữa ! Thế thì ai biết? Xem lại khẩu phần xem.

        Ông cầm bút chì và cả hai người, cúi trên bàn đá, thì thầm nói chuyện với nhau một lúc về bản phân phối.

        Nhiều ít, việc đó bà Matriôna còn có thể xoay xở được. Nhưng việc bếp nước thì không ổn tí nào. Ba nấu nướng bằng hai cái bếp « dầu hỏa», rất cẩn thận, chăm chú, tuy không phải dở quả nhưng chẳng ngon lành màu mỡ gì cả. Tất nhiên những người hoạt động bí mật không đòi hỏi phải thật ngon lành màu mỡ. Chỉ cần được ăn no là đủ.

        Vậy là muốn ra giếng phải được bà Matriôna Têrenchiepna cho phép. Nhờ đó cũng đơn giản đi nhiều.

        — Mẹ, chúng con đi ra giếng đây — Valentin nói.

        — «Ai ra giếng sẽ không trở về » — Pêchya nghiêm nghị nói, lắp lại câu châm ngôn học được những người du kích của Tutyakôp.

        — À phải, xin lỗi: « đi lấy nước ». Mẹ, Pêchya với con, chúng con đi lấy nước. Mẹ cho phép nhé?

        — Ừ, được, các con đi đi. Các con đi dạo chơi một tí. Các con đi mà thở một tí không khí trong sạch.

        Chúng lấy mấy cái xô treo ở đinh gỗ trong khám bếp, phía trên hai bếp dầu hỏa vo vo suốt ngày đèm, còn bà Matriôna thì lau mặt rồi đưa cho chúng cây đèn bão và một bao diêm. Bà dặn dò chúng lần cuối cùng:

        — Đừng vặn bấc cao quả, phải tiết kiệm dầu. Chỉ cần đỏ một tí vừa để đi thôi. Và hễ tới giếng rồi thì tắt đi, đừng để đỏ vô ích. Khi trở về lại đốt lên. Đừng để đổ nước ra đường, nhớ bước cẩn thận. Diêm chỉ để dùng khi thật cần thiết thôi. Các con có mười sáu que, phải mang về ít nhất mười ba que !

        Bà còn nói nhiều nữa và lầm rầm sau lưng chúng, nhưng chúng đã không nghe gì nữa, đi xa dần vào một đường hành lang rất hẹp, có chỗ còn hẹp hơn hay rộng ra một tí và có nhiều đoạn ngoặt đột ngột.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Tám, 2020, 08:52:41 am

       
65

        Pêchya cầm đèn, Valentin một tay xách hai cái xô không. Còn một tay chúng chống lên những cái nạng nhỏ. Những nạng này là một phát minh đặc biệt, rát hữu ích. Ai đã phát minh ra? Không ai biết. Một hôm chúng đã xuất hiện như tự bản thân chúng. Không có chúng, gần như không thể đi lại trong hầm mộ được. Đi trong những đường ngầm thấp lè tè cứ phải cúi lom khom, thậm chí có khi còn phải cúi gập thước thợ lại nữa. Mà đi với tư thế cúi gập trên bộ giò co lại quả là một cực hình. Vì thế mọi người đều sử dụng những cái nạng con con ấy, làm bằng que thông nòng sủng cũ. Đổi với cuộc sống dưới đất, nó cũng cần thiết như ánh sáng.

        Pêchya và Valentin đi trong đường ngầm tay chống nạng như các cụ già. Giếng nước không xa lắm. Ở bên trên, chắc chúng đã tới nơi nhanh chóng. Dưới hầm ngầm, phải nhiều thời gian hơn mặc dù đường ra giếng được coi là dễ đi: chỉ phải bò có một lần không quá hai mươi mét.

        Thỉnh thoảng chúng dừng lại và trong ánh sáng yếu ớt của ngọn đèn, Valentin khắc lên tường bằng một cái đinh, chủ bụng mang theo, chữ « P » tên của Pêchya, và chừ « V » tên mình, lòng vào nhau, vì tiết kiệm cô đã viết tắt,

        Suốt dọc đường, trên tường chi chít những tự mẫu và hình vẽ khắc vào đá, vẽ bằng than, bằng gạch hay chỉ đơn giản bằng ngón tay vào lớp bụi dày. Như một tấm bảng chỉ đường ngầm. Không có nó, làm thế nào mà đi lại dưới hầm mộ, cho khỏi lạc trong cái mạng nhện những đường ống, những chỗ ngoặt, những ngã tư ấy được ? Không có bản đồ tương đối chính xác của hầm mộ. Lập một bản sơ đồ, dù đơn giản về cái mạng nhện đó, chỉ rõ những chỗ lồi lõm chú yếu cũng đã là một công việc rất công phu rồi. Ở đây, la bàn cũng trở nên vô dụng. Trước hết, dưới đất nó sẽ chỉ sai, mặt khác, không có bản đồ, nó cũng không dùng được việc gì hết. Âm thanh của tiếng nói gần như không chuyền di được. Chỉ còn có cách bảo hiệu bằng những chữ, những tượng hình đó, vừa bí mật vừa khó hiểu đối với người vô tình rơi vào hầm mộ.

        Mỗi thành viên trong tổ chức bí mật đều có dấu hiệu riêng. Di chuyển qua đường mạng nhện, bắt buộc thỉnh thoảng phải để lại trên tường những « tấm danh thiếp », những bức mật mã, những bản tin tượng hình, để chỉ dẫn phương hướng phải theo, phòng trường hợp đèn hỏng, các đồng chí của mình có thể tìm được. Phải nhớ rằng không có diêm hay bật lửa, tắt đèn có nghĩa là chết.

        Khi Valentin khắc những chữ tắt lên tường thì Pêchya nghiên cứu những dấu hiệu khác trên vách đá lấp lánh. Dấu này giống một mũi tên nhưng có hai nét ngang nhỏ xiên qua đuôi; dấu kia là một tự mẫu Nga cũ « iat », một trò hoạt kê của Liônya Ximban, anh đã lấy nó làm dấu hiệu của mình. Dấu thứ ba là một chữ thập với mũi tên, dấu hiệu của Xviatôxlap. Có một hình tròn đặt dưới một hình chữ thập, biểu trưng thần bí cổ của quả đất mà Secnôivanenkô đã chọn trong một cuốn lịch cũ; còn ngôi sao năm cánh là của Xerafim Tulyakôp. Người ta thấy những hình bàn dục, những mũi tên ở mọi hướng đi. Có những chữ số. Con số « 5 » không biết tại sao, là của Matriôna Têrenchiepna; con số « 2 » của Raitxa Lvôpna. Xtrenbixki có một hình thoi. Liđya Ivanôpna, một quả tim; Xviriđôp, một cái mỏ neo. Hầu như tim và mỏ neo luôn luôn ở bên nhau, cũng gần nhau như chừ « P » với chữ «V » của Pêchya và Valentin.

        Với một niềm vui sướng không hiểu được và một mối xúc cảm thầm kín, Pêchya nhìn thấy giữa những dấu hiệu đó, giống y như giữa những người sống, thân thuộc, xuất hiện trên các bức tường lấp lánh, những chữ tắt của Valentin và của mình, quấn lấy nhau chặt chẽ.

        Đến gần giếng, chúng tắt đèn. Ánh sáng ban ngày ló ra ở phía trước. Tự bản thân, nó rất yếu ớt, rất lờ mờ nhưng so với bóng tối vĩnh viễn dưới hầm ngầm được chiếu sáng bằng những ngọn nến nhỏ vàng ệch, nó có vẻ rực rỡ lạ thường và chói mắt. Chúng thích thú được làm quen với ánh sáng ban ngày, xanh nhạt, đều hòa, dán chặt lên những chỗ tường lồi lõm, lên lớp sàn bụi bậm, và tạo thành những vệt sáng từ phía bên kia những khúc ngoặt của con đường ngầm chiếu tới. Con đường ngầm dẫn đến miệng giếng. Ánh sáng ban ngày từ trên rọi xuống. Đó là một cái giếng kiểu nông thôn. Từ miệng giếng đến chỗ đầu con đường hầm ít nhất cũng phải trên mười mét và từ đó đến mặt nước cũng bằng ấy nữa.

        Pêchya và Valentin thận trọng đi tới miệng giếng, rồi ngồi lên thành giếng tròn, sung sướng nhìn thấy ánh sáng ban ngày từ trên rọi xuống. Con mắt chúng lâu nay bị bóng tối vĩnh cửu và ánh đuốc bập bùng làm cho mỏi mệt, bây giờ được nghỉ ngơi. Thỉnh thoảng chúng ném một hòn sỏi và một lúc sau chúng mới nghe tiếng đập vào nước. Tay bám chắc vào thành giếng để khỏi ngã, chúng cúi đầu vào miệng giếng và tì bụng lên thành giếng, nhìn xuống bên dưới rồi lại thử nhìn lên phía trên.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Tám, 2020, 08:53:02 am

        Ở dưới xa, trong bóng tối, một hình tròn sáng ngời lung linh, phản ảnh của bầu trời. Và giữa hai hình tròn sảng nhỏ đó — bàu trời thực và phản ánh của nó —  đúng ngay chõ gặp nhau của giếng và lối đi ngầm bí mật mà ở « trên » không ai biết tới, hai cái đầu đang áp chặt vào nhau, đầu Pêchya và đầu Valentin. Đó là nơi độc nhất chúng có thể trông thấy bầu trời và hít thở không khí trong lành. Đó là khung cửa sổ độc nhất trổ lên thế gian. Gần cửa sổ, chúng đã trồng xuống đất vài củ hành lấy trộm được của bà Matriôna Têrenchiepna. Mỗi lần chúng tới lấy nước, chúng lại tưới cho hành. Nhưng hành không mọc được. Rét quá. Chủng phải lấy một cái chậu thủy tinh cũ, tìm thấy trong đường ngầm, đậy kín lại. Chúng cố giữ cho hành khỏi bị cái rét từ bên trên tỏa xuống. Chúng đã mong mỏi biết bao những mầm hành đầu tiên ! Cuối cùng, chúng xuất hiện, mảnh dẻ, vàng vọt gần như trắng bệch. Nhưng dù sao chúng cũng đã mọc. Đó là điều bí mật nhỏ của Pêchya và Valentin. Chúng đang chuẩn bị một chuyện ngạc nhiên cho những người hoạt động bí mật. Vì những củ hành này không phải là những củ hành tầm thường. Hành tức là chất tươi, và người ta cần biết bao chất tươi. Nhưng cũng phải thừa nhận cho Pêchya, đó là một sáng kiến của chú; không phải không có lý do mà chú là phó chủ tịch của câu lạc bộ những nhà thực vật học trẻ tuổi.

        Pêchya và Valentin nằm chui đầu qua cửa sổ, bên cạnh những mầm hành nhợt nhạt đang yếu ớt vươn lên như muốn trốn khỏi hầm ngầm.

        Người ta sẽ hỏi có thể trông thấy được gì từ một cái cửa sổ như vậy? Nhưng chúng, chúng thấy rất nhiều. Chúng thấy trời, thấy chim, thấy mây. Có lần ban đêm ra giếng, chúng đã trông thấy các vì sao. Và có lẽ đó là điều kỳ thú nhất chúng được thấy trong đời chúng. Nhưng chúng không có may mắn được trông thấy mặt trời một lần nào. Hình như mặt trời đi hơi chếch sang bên cạnh một tí: vả lại hây giờ đã là cuối thu và đông rồi. Trời thường u ám.

        Cuối cùng, chúng đã trông thấy cả người. Chúng đã trông thấy, như một cái bắp cái bọc trong lá, đầu và vai những người phụ nữ từ một làng nào đó ra giếng lấy nước. Chúng trông thấy những cái xô lên xuống gần chúng quả; nếu muốn, chúng có thể lấy tay nắm lẫy được. Những cái xô bình thường của các bà nông dân nom sao cũng lại lạ lùng thế : vì chúng ở thế giới bên kia ! Thật là khó, gần như không thể tưởng tượng được, là cứ như thế rồi người ta đem móc vào đòn gánh và gánh vào đường phố của một làng bị phát-xít chiếm đóng. Có lẽ bọn phát-xít sẽ sờ tay vào và uống cả nước đó...

        Pêchya và Valentin nghe có tiếng ồn ào ở « thế giới bên kia ». Tiếng ồn ào ấy kể với chúng rất nhiều điều. Nó nới rộng và làm sống cái bức tranh đối với chúng hình như đã quá sinh động khi chúng nhìn thấy một khoảng trời đông có một con quạ bay qua. Chúng nghe tiếng chân đi lạo sạo, trên kia, tiếng trẻ con la hét. Một con chó sủa. Chỉ nghe tiếng sủa, cũng biết đó là một con chó con lông xù, đuôi cuộn tròn như cái bánh. Với cái rét từ trên xuống, những thứ đó đã làm hoàn chỉnh thêm hình ảnh một tối mùa đông với những chuyến đi bằng xe trượt tuyết, một buổi mặt trời lặn màu vàng với những con quạ bay lượn trên cái mái nhà nóng thôn hình mũ nồi xanh.

        Trước mặt chúng, mấy cái xô lạnh giá lên xuống, buộc vào một sợi dây xích cũng lạnh giá. Nước đen ngòm bốc hơi trong xô lạnh giá. Tiếng nói của những người phụ nữ hiền lành vang lên rất rõ trên đầu chúng. Và tiếng kèn nhà bính Rumani lanh lảnh vọng tới rõ lạ lùng, Lúc này đang mùa đông. Chà, sao chúng thèm được ở trên kia thế, chỉ nửa giờ thôi, để được chạy nhảy trên tuyết và bốc tuyết ném nhau.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Tám, 2020, 08:53:48 am

       
66

        Một hôm một bỏng tuyết rơi xuống giếng. Valenlin giơ tay hứng lấy bông tuyết vào lòng bàn tay. Đó là một ngôi sao lớn, rất đều, kết bằng những lá thông nhỏ với những chiếc búa con trắng tinh. Pêchya và Valentin cúi nhìn bông tuyết như một vật huyền diệu. Mà huyền diệu thật. Nó vừa có cạnh, lại vừa xơ bông. Nhưng cả xơ cũng có cạnh, đều đặn, chính xác, như đã qua tay một người thợ kim hoàn. Bông tuyết ấy là hiện thân toàn vẹn của mùa đông. Nó chứa đựng tất cả những niềm hạnh phúc tập hợp lại của mùa đông xô-viết sán lạn, với những khối băng ở các ao hồ, những đường hành lang trong suốt của các công trường gỗ tùng, với lớp bông trắng tinh của những cơn bão tuyết, với tiếng pa-tanh lách cách và những con lốc trên sân khúc côn cầu sáng rực ánh đèn con, với dòng sông đóng băng dưới những vòm, những nhịp của một chiếc cầu khổng lồ mới bắc, cũng như những chi tiết của bông tuyết nhưng phóng đại lên hàng triệu lần... Bông tuyết tan dần. Còn chúng thì nằm nhìn giọt nước rung rinh trong lòng bàn tay ấm.

        Pêchya và Valentin lấy xong nước đã lâu. Những xô nước đầy để dựa vào tường. Phải trở về. Nhưng chúng cứ lần lữa để lùi lại mãi giây phút đáng chán ấy. Chúng thèm ở lại, dù chỉ một tí thôi, dưới ánh sáng trời để thở hít không khí trong lành của mùa đông từ trên dội xuống. Chúng im lặng. Nhưng không cảm thầy nặng nề vì yên tĩnh. Chúng đã quen nhau quá rồi, tâm hồn chúng đã quả gần gũi nhau rồi! Chúng biết cả ý nghĩ của nhau. Chúng không nghĩ về chúng, cũng không nghĩ về cuộc sống quái gở của chúng dưới hầm mộ. Cuộc sống ấy đã bắt đầu trở nên tự nhiên đổi với chúng rồi và không có gì quái gở nữa. Chúng sống bình thường và cũng đấu tranh rất bình thường, không nghĩ là mình đấu tranh, là mình đang làm một việc phi thường và càng không phải là một việc anh hùng. Chúng nghĩ đến chiến tranh và đến bố chúng đang ở ngoài mặt trận. Valentin cũng nghĩ đến người anh đang chiến đấu đâu đó với bố, còn Pêehya thì nghĩ đến mẹ và các em, đến Mạc- tư-khoa, đến trường học, đến bạn bè và đến tất cả những gì mà bây giờ chú thấy đã quá xa xôi và không còn trở lại, chìm đắm trong sương mù của thời gian. Valentin đã biết rõ hết các bạn của Pêchya và tất cả công việc của chúng. Cô đã biết tất cả mọi quyền lợi cá nhân và xã hội của Pêchya. Chú đã bao lần kể cho cô nghe tất cả những điều đó! Bây giờ, chúng im lặng. Chúng không cần phải nói với nhau nữa.

        Nhưng có một điều bí mật mà Valentin không biết. Điều bí mật đó cứ giày vò Pêchya. Nó không để cho chú yên. Đôi khi giữa câu chuyện, Pêchya bỗng im bặt giữa một lời nói. Trán nhăn lại, chú cúi mặt xuống và nhìn chằm chằm vào một điểm dưới đất. Chú cắn đôi môi dày rồi ấp úng một điều gì. Tất nhiên điều đó không lọt qua được con mắt sắc sảo của Valentin. Cô cố tìm hiểu, nghĩ bụng là chú bé đã « lại nhớ đến những ký ức rồi » và tìm cách làm cho chú khuây khỏa, hoạt bát lên. Nhưng trong những lúc mơ mộng lạ kỳ, khó hiểu đó, không thể làm cho chú bé khuây khỏa được. Chú mỉm cười thoáng qua, hời hợt và như than vãn, mắt dường như muốn van xin người ta để cho mình yên.

        — Này, Pêchya, có chuyện gì thế?—Valentin lắc vai chú hỏi.

        Chú ngước mắt buôn rầu nhìn Valentin và vẫn im lặng.

        — Tại sao im lặng thế?

        — Mình không im lặng.

        — Có lẽ đằng ấy ốm chăng?

        — Không...

        Pêchya cũng không nói trọn vẹn tiếng « không ». Chú không nói hết. Chú bắt đầu và bỏ đó : «Khôô...»

        Làm gì thì làm, Valentin cũng không thể nào kéo chú ra khỏi tâm trạng thầm kín và trạng thái, mơ mộng ấy được.

        Chú nghĩ gì? Cái gì đã đè nặng lên tâm hồn chú? Chú sẽ không nói ra điều bí mật đó ngay cả với bố chú, người gần gũi nhất trên đời của chú. Chú đã lấy danh dự một thiếu niên tiền phong hứa như vậy rồi. Chú đã thề. Và chú sẽ không phản bội lời thề, dù có phải hy sinh cả đời mình. Trong những giờ phút như vậy, chú thấy trước mắt mình người thủy binh hấp hối... Pêchya thường bị câu hỏi này giày vò: phải chăng mình đã vi phạm lời thề ? Vì sợ bị địch bắt với tấm thẻ Komxômôn của người thủy binh Layrôp, với lá hạm kỳ mà chú hứa cất giữ, Pêchya đã giấu vào lớp gạch của bờ giếng vắng giữa thảo nguyên. Chú cảm thấy chú đã làm đúng. Nhưng bây giờ càng ngày chú càng tự hỏi, sau này tấm thẻ Komxô- môn và lá cờ sẽ ra sao?... Nếu chúng còn ở đấy mãi thì cũng được đi. Cuối cùng nhất định sẽ có ngày..., Pêchya chắc chắn và không bao giờ hoài nghi là ngày đó nhất định phải đến..., cái ngày mà quân địch sẽ bị đánh bại và chú có thể bình tĩnh đến kéo lá cờ, tấm thẻ ra, rồi thay mặt anh Komxômôn Nikôlai Layrôp giao lại cho Hồng quân. Nhưng nếu trước khi đó, có việc gì xảy đến với lá cờ và tấm thẻ thì sẽ thế nào? Nếu bất đồ có ai vô tình bới cái giếng cổ ấy lên và tìm thấy giữa đống đá, lá cờ và tấm thẻ? Nếu vì một lý do nào đó nó rơi vào tay quân địch? Nghĩ tới những bàn tay của bọn phát-xít có thể đụng vào những di vật thiêng liêng ấy, mặt chú nóng bừng lên và chú mất hết bình tĩnh một hồi lâu. Những hình ảnh phát sinh từ trí tưởng tượng mạnh mẽ đã làm khổ chú. Mỗi hình ảnh là một câu trả lời khác nhau cho câu hỏi lá cờ và tấm thẻ có thể rơi vào tay quân địch như thế nào...


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Tám, 2020, 08:54:11 am

        « ... Kìa một đoàn quân địch trên thảo nguyên. Binh lính khát, không có nước uống. Chúng thấy một cái giếng. Chúng mang xô chạy tới. Nhưng trong giếng không có nước. Chúng quay lại và sắp bỏ đi thì chợt một tên trong bọn nhận thấy một mảnh vải và nói: « Cái gì thế này? » rồi nó lôi từ một kẽ hở ra lá cờ và tấm thẻ... Kia là Hồng quân đang tiến về Ôđetxa. Bọn địch bỏ chạy. Chúng chạy tới những chiến hào cũ đã bị phả hủy và định cố thủ ở đó. Chúng kéo một khẩu đại liên đến chỗ cái giếng cổ và nhận thấy một mẩu vải: « Cái gì thế này?» và chúng kéo lá cờ và tấm thẻ ra... Kia, trên thảo nguyên một phân đội quân Đức thu nhặt chiến lợi phẩm, đang thu thập sắt cũ, những vũ khi bỏ lại và đạn không nổ: « Này xem xem có gì trong cái giếng cổ này không? » Một tên trong bọn Đức đầu đội cát-két đen có hình đầu lâu thay quân hiệu, nói. Nó dang tay ra và kéo ở dưới hòn đá lên lá cờ và tấm thẻ... Những hình ảnh cứ diễn qua mắt chú nối tiếp nhau không dứt như trong cơn mê sảng. Và thường bắt Pêchya thức suốt đêm, tận sáng mới ngủ được, mắt khô khốc và thâm quầng.Có lần chú đã định kể hết cho Valentin. Chú đã bắt đầu nhưng rồi vì tự ái không đúng chỗ, chú lại thôi.

        Chú ngồi bên bờ giếng ngầm và im lặng. Nhìn mặt Pêchya qua đôi mắt ngó xuống, qua vầng trán nhăn, qua đôi môi dày run run của chú, có thể thấy chú khó giữ được im lặng.

        — Valentin — Chú chợt nói, vẻ buồn rầu, mắt không ngước lên... — Tớ muốn nói với cậu một điều.

        — Thì nói đi.

        — Nhưng cậu phải thề với tớ là sẽ không để cho ai biết.

        — Tớ xin thề! — Valentin nhanh nhầu nói, mắt long lanh có vẻ suốt ruột. — Nói nhanh lên.

        — Thề chưa đủ. Ai biết cậu lấy gì để đảm bảo cho lời thề.

        — Nhưng lấy gì được.

        — Cậu có thể lấy danh dự người thiếu niên tiền phong mà thề không?

        — Có thể lắm.

        — Lời thề danh dự nhé!

        — Lời thề danh dự...— Cô suy nghĩ. — Cái đó còn tùy ở điều bí mật của cậu định nói với tớ nữa.

        — Tớ có một điều bí mật rất quan trọng.

        — Tớ phải biết tính chất của điều bí mật đó đã.

        — Thề danh dự với tớ đi rồi tớ sẽ nói ngay.

        — Ồ, không được! Nói với tớ trước đi đã rồi tớ sẽ thề danh dự.

        — Ranh thế !

        — Cậu cũng vậy!

        — Thề danh dự với tớ đi rồi tớ sẽ nói ngay.

        — Thế ngộ điều bí mật của cậu là một là điều nhảm nhí thì sao ? Ai lại đi thề danh dự về một điều nhảm nhí ?

        — Điều bí mật của tớ không phải là một điều nhảm nhí.

        — Cậu hãy thề danh dự với tớ đó không phải là một điều nhảm nhí đi.

        — Được. Tớ thề với cậu đó không phải là một điều nhảm nhí nhưng cậu hẵng thề danh dự với tớ là nếu tớ thề danh dự với cậu thì cậu phải thề danh dự với tớ ngay... — Pêchya đâm ra lúng túng.

        — Mày thề, tớ thề, nó thề, chúng nó thề — Valentin nói, cười khi khí và múa chân múa tay.

        — Im đi! — Pêchya nói. — Cậu làm tớ đâm rối ra đấy,

        Chú tập trung tư tưởng rồi cố tiếp tục ý nghĩ của mình.

        — Hẵng thề danh dự với tớ trước là nếu tớ thề danh dự với cậu, cậu phải thề danh dự ngay với tớ là cậu không phản bội điều bí mật của tớ. — Nói thế rồi, chú thấy không thể nhịn cười được.

        Đột nhiên, Valentin nhìn vào trong giếng và nắm lấy ống tay áo Pêchya.

        — Im! khẽ chứ... Em giơ ngón tay ra hiệu.

        Pêchya ngoái nhìn qua vai mình về phía đáy giếng và thấy trong vòng ánh sáng lấp lánh của buổi chiều vàng, bóng đen của hai cái đầu cúi xuống giếng. Chắc chắn đó là hai người phụ nữ nông thôn đến lấy nước. Tì tay lên thành giếng, họ nói chuyện với nhau.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Tám, 2020, 05:54:32 pm

       
67

        Họ sát đầu vào nhau, nói nhỏ, nhưng nghe rõ mồn một, mặc dù tiếng nghe ồm ồm như qua ống loa.

        — Ở bên ấy thế nào? — giọng nói gần như thầm thì tiếp tục câu chuyện đang bỏ dở.

        — Còn tệ hơn cả bên chị nữa kia — giọng kia đáp, một giọng nói sợ hãi, và qua tiếng vang có thể hiểu là hai cái đầu lại sát gần vào nhau hơn.

        — Đêm vừa rồi, chúng đã bắt mười sáu người. Chúng di từng nhà và bắt theo danh sách.

        — Ở chỗ tôi cũng thế. Hai mươi ba người. Chúng lôi một cụ già ra sau kho lúa và bắn chết cụ ngay tại đó.

        — Cự nào thế?

        — Có lẽ chị cũng biết: cụ Lepsenkô Afanatxi,

        — Cự Lepsenkô à?

        — Chính cụ ta.

        — Chúng đã giết cụ Lepsenkô rồi sao ? Chị nói thế nào?

        — Thì chị đã nghe đấy.

        — Nhưng cụ Lepsenkô có lẽ đã tám mươi rồi!

        — Thế mà chúng đã giết cụ. Chúng chẳng đếm xỉa gì cả.

        — Nhưng tại sao lại thế?

        — Vì cự không chịu báo cho chúng biết các cháu cụ trốn ở đâu. Các cháu cụ đi theo du kích và cụ không chịu phản bội.

        — Thế là chúng đã giết cụ?

        — Chúng đã giết cụ bằng một phát súng trường sau kho lúa, sau đó chúng bêu xác cụ chính giữa làng Uxatôvô, cạnh nhà thờ và suốt ba ngày chúng không cho chôn, để làm gương cho những kẻ khác.

        — Hừ, quân dã man! bọn khốn kiếp! Không biết chúng còn làm chủ đất nước ta đến bao giờ nữa? — giọng nói cất cao lên, run run và khản lại. Nằm dưới đáy giếng nghe có tiếng khóc bị nén xuống và một tiếng rì rầm.

        — Tôi van chị, đừng khóc to thế ! Nếu chúng thấy hai người phụ nữ đứng khóc ở cạnh giếng, nhất định chúng sẽ lôi đến sở chỉ huy. Ở chỗ chúng tôi không ai được đứng lại và nói chuyện ngoài phố.

        — Ở chỗ chúng tôi cũng thế.

        —Thôi chúng ta lấy nước đi.

        Im lặng. Từ bên trên, hai cái xô, cái trước, cái sau, thòng xuống và kéo lên đầy nước lạnh giá.

        Trong lúc xô lên xuống, Pêchya và Valentin lặng lẽ nhìn nhau. Nhưng chúng không thấy nhau. Chúng thấy cùng một cảnh tượng khủng khiếp, ông cụ già bị giết, nằm đó, chính giữa làng Uxatôvô và tuyết rơi xuống hai hố mắt sâu hoắm, mở to ; những con quạ, nhảy nhót trên tuyết, là là trên cái xác, bay qua bay lại; nhân dân không ai dám ra khỏi nhà, chỉ nhìn xác cụ già vô thừa nhận qua những lỗ thông hơi lạnh lẽo. Tiếng rì rầm lại tiếp tục:

        — Sảng nay chúng đã điều đến chỗ chúng tôi cả một đại đội.

        — Chỗ chúng tôi cũng vậy. Cả đại bác nữa ; ở chỗ chị, có thế không?

        — Không, ở chỗ tôi, không có đại bác.

        — Ở chỗ tôi, chúng đưa đến hai khẩu. Và bây giờ ở chỗ tôi, ở Uxatôvô, có cơ quan tham mưu của chúng. Đặt trong ngôi trường cũ. Khắp nơi đều có lính canh gác.

        — Bọn vô lại, chúng đến làm gì ở đây thế?

        — Bọn lính nói chúng sắp đuổi du kích ra khỏi hầm mộ Uxatôvô.

        — Cậu có nghe không, — Valentin thầm thì, bóp thật mạnh bàn tay Pêchya.

        — Có — chú bé đáp, chỉ hơi mấp máy môi.

        — Chúng làm thế nào đuổi được du kích ra khỏi hầm mộ nhỉ? — giọng nói thứ nhất hỏi lại.

        — Chủng sẽ bắn đại bác.

        — Chúng tin sẽ đuổi được họ.

        — Chúng không đuổi được họ đâu. Không có gì có thể  đuổi được họ khỏi đấy đâu !

        Pêchya và Valentin liếc nhìn nhau.

        — Họ có phép chống được đạn súng trường và đạn đại bác. Toàn phân đội đều có phép tàng hình.

        — Cậu nghe chưa, Pêchya, cậu và tớ, chúng ta đều có phép — Valentin nói thầm, mắt ngời sáng một cách lạ lùng.

        — Họ có đông không? — Giọng nói thứ hai hỏi.

        — Hơn nghìn rưởi.

        — Ở chỗ chúng tôi, bọn lính nói họ có hai nghìn.

        — Có lẽ đúng là hai nghìn. Họ có cả một thành phố, theo người ta nói, dưới đất. Có cả xe tăng, tàu bay...

        Pêchya và Valentin lại liếc nhìn nhau.

        — Sáng nay, bọn phát-xít đã tiến hành thám thính gần nghĩa địa làng Uxatôvô. Chúng đã tìm được một khe hở nào đó trong núi đá. Nghe đâu là một lối vào hầm mộ. Nhưng chúng không vào, chúng sợ. Chúng chỉ đặt lính gác chung quanh, không cho ai đến gần. Ai đến gần dưới năm mét, chúng bắn ngay không cần báo trước.

        — Hừ! quân vô lại bẩn thỉu !

        — Buổi chiều, công binh của chúng đã mang cả hòm xiểng đến đấy và đặt mìn khắp chung quanh. Bây giờ, chẳng còn lối ra, cũng chẳng còn lối vào nữa.

        Velentin xuýt hét lên. Để khỏi hét to, cô cắn môi đến chảy máu và nắm chặt lấy phía trên khuỷu tay của Pêchya làm chú bé phải rên lên.

        — Khẽ chứ ! — cô rì rầm, mắt láp lánh như lân tinh trong bóng tối lờ mờ. — Cậu có nghe không ?

        — Có.

        — Chúng đã đặt mìn... Cậu có hiểu không?

        Pêchya không cần cô phải giải thích. Đã quả rõ rồi. Hầu như ngày nào cũng thế, những người hoạt động bí mật đều ra vào lối « Con Dím » để làm nhiệm vụ chiến đấu. Bây giờ, lối đó đã bị cài mìn.

        Chúng cầm ngay lấy cái xô rồi, cố xoay xở thật nhanh trong con đường ngầm vừa thấp vừa hẹp, hấp tấp quay trở về doanh trại.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Tám, 2020, 05:55:14 pm

68

        Qua tiếng rít và tiếng hụp bụp của không khí bị nhiễu loạn, giọng nói quen thuộc của người phát thanh viên vang lên xa xôi và khó nghe quá, nên vất vả lắm mới phân biệt được tiếng thì thào đang nhỏ dần. Thật khó hiểu và hoàn toàn xa lạ, như một lời kê lê dài dòng, buồn tẻ : « Sáu trăm bốn mươi tám đại bác, một nghìn hai trăm linh bảy đại liên, mười tám nghìn súng trường, bốn triệu viên đạn, một tàu bọc sắt... » Tiếng nói của người phát thanh viên biến mất. Điện đài im bặt. Một thời gian, mọi người ngồi im, nhìn cái máy thu thanh bọc vải, hy vọng được nghe tiếp. Xviatôxlap thất vọng, vặn cái núm tìm đài, cái kim lướt đi, anh đập nhè nhẹ xuống mặt bàn. Nhưng hoàn toàn vô ích, đài vẫn im bặt. Chỉ còn ngọn lửa nhỏ của bó đuốc phản chiếu le lói trên hộp sơn như một con mắt đang hấp hối. Không ai dám nói lên điều mình đang suy nghĩ. Họ sợ nói lên điều đó. Họ sợ nhầm. Họ không dám cựa quậy, sợ làm tiếng nói xa xăm kia hoảng sợ. Họ đã mong đợi nó quá lâu, quá tha thiết rồi...

        — Chiến lợi phẩm ! — Liônya Ximban nói, giọng nói thận trọng quá, xa xôi quá, dịu dàng và mơn trớn quá, làm mọi người tưởng đó là một đấng thiên thần chứ không phải một con người. — Các đồng chí, tôi cam đoan là chiến lợi phẩm !

        Đột nhiên, Liônya nhảy lên, đồng thời lấy hết sức nện gót chân xuống đất, quẳng chiếc mũ vào tường rồi, không e thẹn và giữ gìn gì nữa, cả tiếng hét:

        — Dù tôi có ba lần bị đày xuống địa ngục đi nữa, nhất định đó cũng là chiến lợi phẩm !

        — Khoan đã — Secnôivanenkô nói và đưa ống tay ảo lên lau mồ hôi trán — Khẽ chứ, các đồng chí!

               Ông im lặng một lúc. ông biết là thời cơ dã đến, là mọi người xô-viết đã nóng lòng chờ đợi với biết bao tha thiết, hy vọng và tin tưởng. Mặt ông nghiêm lại, tái xanh đi và đẹp hẳn lên nữa. Rồi ông nói, thong thả, rành rọt, như những lời nói từ đáy lòng phát lẻn:

        — Các đồng chí, tôi chắc đó là một trận thắng lớn của Hồng quân trước Mạc-tư-lchoa.

        Và như cố ý, đúng ngay lúc đó, bình ắc-quy hỏng và điện đài bị tắt. Thật đáng tiếc. Secnôivanenkô bãi bỏ mọi công việc nặng, giảm nhẹ những nhiệm vụ khác, tuyên bố lệnh chuẩn bị. Mặc dù mọi cố gắng, mãi đến chiều hôm sau điện đài mới lại chạy. Cũng lúc đó, một bộ ăng-ten mới được chuẩn bị và có quyết định đến tối sẽ đem đặt lên một cồn cao không xa lối vào hầm mộ, như vậy sẽ nghe rõ hơn. Bộ ăng-ten này làm bằng những vật liệu ngẫu nhiên rất linh tinh, với mục đích để ngụy trang như một bụi cây gai hay một bụi ngưu bàng.

        Tẩt cả đã sẵn sàng để nghe Mạc-lư-khoa. Chỉ còn chờ đến đêm nữa thôi.

        Secnôivanenkô, Tulyakôp và Xviatôxlap đã sẵn sàng lên mặt đất bất kỳ lúc nào và bí mật đưa ăng-ten ra khỏi hầm mộ. Tulyakôp còn một nhiệm vụ khác nữa, anh phải bí mật tới thăm một vài nhà dân và, như người ta nói, để « ra mắt» với mọi người.

        Anh đã nhiều lần bất ngờ xuất kích như vậy rồi. Thường thường, anh đột nhập vào trong nhà — tất nhiên sau khi đã quan sát tình hình — anh đứng dừng lại lần nữa, rồi cất cao giọng nói vui vẻ.

        — Chào đồng bào ! Đã lâu lắm chúng ta không gặp nhau. Nhân đi qua nhà đồng bào, tôi nhớ lại nhưng công dân xô-viết ở đây, những cử tri của tôi; tôi tự nhủ : phải vào chơi.

        Các gia chủ mời anh ngồi vào bàn, hấp tấp bịt cửa sổ lại rồi cho một đứa trẻ ra gác ở ngoài phố. Tulyakôp bỏ mũ xuống, cởi khuy áo bờ-lu-dông da màu sặc sỡ ra rồi, rút lược thong thả chải lại tóc.

        — Đừng sợ chúng — anh nói và nháy mắt về phía cửa sổ — Chính chúng phải sợ đồng hào ! Chúng không còn được lâu nữa đâu.

        Và anh bắt đầu bình tĩnh trò chuyện, đề cập đến mọi vấn đề đang làm nông dân bận tâm. Anh phổ biến tóm tắt những hoạt động quân sự, giải thích tình hình thế giới, đả kích tất cả các biện pháp của chính quyền chiếm đóng, chế giễu nền kinh tế và sự tuyên truyền của bọn phát-xít, nhận xét qua về cách thức đối phó trong trường hợp này hay trường hợp khác. Anh nói những chuyện đó hết sức tự nhiên và thoải mái, như không phải đang ở trong một làng bị chiếm, nơi lúc nào người ta cũng có thể bắt anh, truy ra lai lịch và giết anh tại chỗ, mà là trong một bầu không khí hết sức yên tĩnh của những đêm đông dài. Không những anh biết nói chuyện mà anh còn biết lẳng nghe. Dần dà anh biết được rất nhiều điều quan trọng đối với công tác sau này của Ban chấp hành khu.

        Thỉnh thoảng giũa một câu chuyện như vậy, lại nghe có tiếng gõ lo lắng ở cửa sổ, một dấu hiệu nguy hiểm. Mặc dù thế, Tulyakôp vẫn không tỏ vẻ vội vã. Anh thong thả đứng dậy, thong thả cài lại khuy áo, đội mũ vào rồi thở dài nói:

        — Tôi đã ngồi, chơi lâu quá, Chắc nhà tôi đang trông. Tôi xin về đây. Chúc đồng bào khỏe mạnh, đừng quên chính quyền xô-viết. Xin hẹn bận sau.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Tám, 2020, 05:55:33 pm

        Anh đi ra và biến mất như một bóng ma sau một góc kho có nào đó trong vườn mây, hay sau một cái hầm hoặc một dãy hàng rào có những vò sữa đề thành hàng.

        Đôi khi anh thuyết phục chú nhà, yêu cầu cho vay một ít bột mì, lúa mạch hay mỡ.

        — Được hao nhiêu tốt bấy nhiêu, miễn không gây khó khăn cho đồng bào là được — anh nói và mỉm cười. — Lũ con tôi ở nhà đang đói.

        Cụ già thông cảm gật đầu. Và sau khi nhận cái túi nhỏ, Tulyakôp ngồi ngay xuống bàn, viết cho chủ nhân một tờ biên lai hợp lệ về những thực phẩm đã nhận được nhân danh Ban chấp hành xô-viết những người lao động khu phố.

        Có khi người ta bí mật gọi anh vào trong sân. Ở đó, có vài thanh niên cổ áo va-rơ bật lên, mũ đội sụp xuống tận mắt, đứng đợi anh trong bóng tối. Anh nói chuyện khe khẽ với họ một lúc, ra chỉ thị rồi để từ biệt, anh nói:

        — Công tác cho tốt, anh em nhé ! Còn tôi, tôi đi đây.

        Như người ta thấy, những thanh niên như vậy ở đâu anh cũng có quen biết một vài người. Tất nhiên không ai hỏi anh ở đâu tới, anh sắp đi đâu. Người ta chỉ có thể phỏng đoán. Một điều rõ ràng là: anh luôn luôn ở gần, như thế có nghĩa là chính quyền xô-viết vẫn luôn luôn tồn tại bên cạnh, và chính cái chính quyền xô-viết ấy, chứ không phải một chính quyền nào khác, vẫn duy nhất chân chính và hợp pháp.

        Từ lâu Tulyakôp không « ra mắt » mọi người, mà Secnôivanenkô lại rất quan tâm đến việc liên hệ với quần chúng, nên ông quyết định đêm ấy, Tutyakôp sẽ « đi dạo » một lúc để nghe ngóng ý kiến đồng hào.

        Pêchya và Valentin về tới lối « Con Dím» đúng lúc Tulyakôp, sau khi đã kiểm tra vũ khí, bỏ thủ pháo vào túi và cử trinh sát đi trước, sắp sửa len qua cửa đầu tiên. Anh đã đặt chân lên bậc thứ nhất.

        — Đồng chí Tulvakôp, đứng lại! — Pêchya thở hổn hển hét to.

        Tulyakôp đứng dừng lại, chân vẫn co lên. Anh sững sờ nhìn Pêcliya và Valentin. Chúng đứng tựa vào tường đá đường hầm, hớt hơ hớt hải không nói được, mặt đỏ bừng, mồ hôi nhễ nhại, thở khó khăn, bụi bặm đầy người từ chân đến đầu, với một cái đèn rung rung trong tay Valentin.

        Chúng biết rất rõ có lệnh cấm chúng tuyệt đối không được lại gần lối ra. Đó là nghiêm lệnh của Secnôivanenkô. Nhưng chúng đã vi phạm! Điều đó vô lý quá khiến Secnôivanenkô mất cả bình tĩnh. Cơn giận làm ông tối tăm mặt mũi. Tính Secnôivanenkô rất nóng mặc dù ông cũng biết kìm giữ.

        — Thế nào ? — Ông nói và tiến đến bên Valentin, nằm lấy vai cô — Chúng mày làm gì thế? Chúng mày không đếm xỉa đến mệnh lệnh của tao à?

        — Bác Gayrick... Pôchya nói khẽ, thu nhỏ người lại dưới cái nhìn của Secnôivanenkô.

        — Im đi! — Secnôivanenkô nghiến răng nhắc lại rành rọt. — Các cháu không đếm xỉa đến mệnh lệnh của bác sao? Phải không? — Không thôi nhìn Pêchya, ông càng nắm chặt lấy vai Valentin. — Các cháu không đếm xỉa đến mệnh lệnh của bác sao? Phải không? Các cháu không đếm xỉa đến mệnh lệnh của bác, phải không ?

        — Chúng cháu không dám đâu — Valentin rền rĩ, trong nháy mắt từ một cô gái đã nhớn, cô trở lại một em bé sợ hãi.

        — Bác hãy nghe chúng cháu nói đã — Pêchya nói. —  Chúng cháu nói mà bác chả nghe... Bác có biết không, chúng đã đặt mìn ở cửa « Con Dím »

        — Ai đặt mìn ở cửa « Con Dim » — Seenôivanenkô hỏi. — Cháu lúng túng gì thế?

        — Bọn chiếm đóng hôm nay đã đặt mìn ở cửa « Con Dím ». Bác hiểu rồi chứ? — Pêchya nói, khoái chá thấy tác dụng của những lời nói đó đối với Secnôivanenkô.

        — Khoan... khoan...

        — Thực đấy — Valentin hét lên.

        — Đúng — Pêchya đệm thêm.

        Và chúng tranh nhau kể, ngắt lời nhau, giọng hổn hển, tất cả những điều chúng nghe được khi ở bên giếng.

        — Thế thì lại là một việc khác. — Secnôivanenkô nói, ông đã bình tĩnh lại. — Thế thì các cháu là những người dũng cảm. Xin lỗi, xuýt nữa bác đã đánh các cháu!

        — Chết, sao bác lại nói thế ! —Pêchya lễ phép, nói.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Tám, 2020, 05:57:12 pm

       
69

        Những điều Pêchya và Valentin nghe được trong giếng nước có lẽ có tầm quan trọng quyết định đối với Ban chấp hành khu. Cuộc chiến đấu chống bọn chiếm đóng của những người hoạt động bí mật hầu như đã bước sang một giai đoạn mới. Cho đến nay, những người hoạt động bí mật mới phải xử trí với bọn hiến binh Rumani riêng lẻ, với bọn cảnh sát địa phương, hãn hữu mới phải đối phó với những toán tuần tiễu. Nhưng bây giờ tên chỉ huy Đức — xét qua những tin báo của các thiếu niên tiền phong — đã huy động cả một đơn vị bộ đội có cả đại bác để đánh lại họ. Hiển nhiên, nhóm nhỏ cán bộ bí mật ấy nấp dưới hầm mộ Uxatôvô đã bắt đầu gây khó khăn nghiêm trọng cho bọn Đức và bọn Rumani bằng những cuộc tấn công không ngớt vào các đường vận chuyên, vào bọn lính và sĩ quan riêng lẻ, bằng những đợt rải truyền đơn, phá đường dây thép. Và bọn phát-xít đã quyết định tiêu diệt phân đội du kích trong một trận lớn.

        Secnôivanenkô không bao giờ đánh giá thấp các hoạt động của Ban chấp hành. Kinh nghiệm hoạt động bí mật trước kia đã dạy cho ông biết là chỉ riêng cái việc có một tổ chức bi mật vô hình tồn tại, chưa nói đến những hành động trực tiếp của nó, cũng đã cổ vũ tinh thần của nhân dân, giúp cho họ tin tưởng vào chính quyền xô-viết bất diệt và làm tan rã tận gốc uy quyền quân sự của địch. Nhưng ông không ngờ xung quanh các chiến sĩ bí mật đã dựng lên một câu chuyện truyền thuyết. Và đối với điều đó, ông tỏ rõ thú vị. Thậm chí ông còn xoa tay rất mạnh và nháy mắt, nói:

        — Đấy, các bạn thấy không, chúng ta bỗng chốc đã trở thành những nhân vật anh hùng. Chúng ta có phép tàng hình và hình như súng đạn đối với chúng ta không có tác dụng gì hết.

        Không phải Secnôivanenkô thích thú vì uy danh, mặc dù uy danh cũng gây thích thú... Ông sung sướng thấy bọn địch đã sợ hãi đến mức phải điếu đến cả một tiểu đoàn bộ binh và một phân đội pháo để quyết tiêu diệt Ban chấp hành bí mật.

        — A ha, chúng ta, chúng ta cũng anh dũng đấy chứ ! —  ông hét lên, thích thú ra mặt và thậm chí còn vỗ tay đôm đốp.

        Tóm lại nỗi vui sướng của ông chỉ biểu hiện đến thế, rồi không để mất thì giờ, ông chuyển sang những hành động mà tình hình mới đòi hỏi một cách cấp thiết.

        Thứ nhất, đối với mìn. Nếu quân địch thực tế đã rải mìn ở cửa « Con Dím» thì phải gỡ, nhưng phải làm thế nào để chúng không nhìn thấy.

        — Nào đi xem thử những quả mìn ấy như thế nào đã. — Secnôivanenkô vừa nói vừa mang kính vào rồi ẩy Tulyakôp ra, đi thẳng về phía cửa hầm, đáng đi khéo léo như mèo.

        — Đồng chí bí thư — Xviatôxlap hoảng hốt hét lên, nhảy xổ ra đằng trước, cản Secnôivanenkô lại.

        — Cái gì thế? — ông nghiêm nghị hỏi.

        — Đồng chí bí thư, đừng đi! Đồng chi giẫm phải mìn đấy... Để tôi đi cho.

        — Chú thật là trẻ con! — Secnôivanenkô mỉm cười nói.

        — Không đâu. Xin lỗi, việc đó đồng chí không được phép làm đâu.

        — Sao?

        — Việc đó đồng chí không được phép làm! — Xviatôxlap nhắc lại cương quyết, lấy lưng mình ngăn lối đi ra và không thôi nhìn Secnôivanenkô.

        — Kìa, hay chửa — Secnôivanenkô ôn tồn nhỏ nhẹ. —  Không được phép? Còn chú thì được à?

        — Đúng thế, tôi thì được.

        — Tại sao vậy, hay nhỉ! Tại sao với chú thì được mà với tôi thì không được ?

        — Bởi vì tôi là một chiến sĩ, đồng chí bí thư ạ, còn đồng chí thì khác.

        — Anh có nghe không, anh Tulyakôp? — Secnôivanenkô nói, nhún vai chỉ Xviatôxlap.

        Mặt ông sầm xuống và đanh lại.

        — Macsenkô ạ, trên thực tế — ông vừa nói vừa quay về phía Xviatôxlap — khi tôi là một chiến sĩ thì bố chú có lẽ còn bò bốn chân dưới gầm bàn đấy. Hiểu chưa? Vậy, để tôi đi!...

        Nói xong Secnôivanenkô gạt nhẹ Xviatôxlap sang bên.

        — Đồng chí sẽ giẫm phải mìn mất ! — Xviatôxlap sợ hãi, hét lên.

        — Ồ, chú làm gì mà hoảng lên thế ! — Secnôivanenkô nói, không ngoảnh lại, cứ bước qua khe cửa. Nhưng một phút sau, ông đã hiện trở lại, tuyết phủ dày từ đầu tới chân. — Các đồng chí xem, bão to quá! — ông gỡ tuyết bám ở mắt kính ra và xoa xoa mắt kính vào phía trong vạt áo ba-đờ-xuy.

        — Cách hai bước, không còn trông thấy gì hết. Mùa đông thực sự rồi. Gió đông bắc!

        Pêchya và Valentin, người như bị còng xuống, nhìn xem tuyết. Đó là tuyết trắng thực sự, mịn như lông tơ nom rất thích, mà Secnôivanenkô mang theo vào. Một hương vị tươi mát, hăng hăng tràn vào đầy trong động, làm người ta say sưa, choáng váng. Tuyết rơi, từng bông to từ chiếc mũ bịt tai, từ ống tay áo của Secnôivanenkô xuống. Nó ngả ra màu vàng dưới ánh sáng lờ mờ ngọn đèn bão và có một cái gì giống hệt như trong một buổi lễ, như cây Nôen với những bông tuyết mềm dịu có rắc bột băng toan. Nó thơm quá, tưởng như mùi quýt. Tóm lại, các em không thể nhịn được. Chúng xô vào bác Gayrick và bốc tuyết bám trên áo ba- đờ-xuy. Chúng nắm chặt tuyết trong ngón tay, vo lại, nặn thành những viên tròn nhỏ xíu. Chúng bỏ vào miệng mút đến nhức cả răng, nhức cả đầu. Rồi, như không thể rời ra được, chúng chơi « ném tuyết», cố ném trúng vào mặt nhau hay nhét những bông tuyết vào trong cổ áo nhau. Chúng làm ồn ào quá, Tulyakôp thường ngày vốn điềm tĩnh và ôn tồn cũng phải hét lên :

        — Ô kìa, lũ trẻ con, vừa vừa với chứ ! Đúng, hôm nay các cháu đã cứu các chú khỏi mìn, nhưng dù sao cũng phải có lễ độ chứ ? Ầm ĩ thế đủ rồi đấy, chú lại đuổi ngay về trại bây giờ.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Tám, 2020, 11:13:28 am

        Rồi Pêchya và Valentin im thin thít như chuột nhắt vì sợ bị đuổi thực về doanh trại. Chúng sợ điều đó hơn tất cả, vì chúng định ở lại bên máy thu thanh để nghe đài Mạc-tư-khoa. Đối với những người hoạt động bí mật, đó là điều sung sướng nhất mà họ có thể mơ tưởng tới.

        — Không được, đeo kính là chẳng làm nên trò trống gì hết — Secnôivanenkô nói, gập kính bỏ vào bao. —  Thử không đeo kính xem... Xviatôxlap, đưa cho tôi cái gì như cái kìm hay tốt hơn, cái cặp.

        Xviatôxlap lục trong túi mặt nạ và đưa cho ông cái cặp.

        — Tốt đây, ta thử xem những quả mìn ghê gớm này ra sao. Có thể là chúng chỉ ở trong óc tưởng tượng của các cháu thôi — ông vừa nói, vừa vui vẻ nhìn Pêchya và Valentin, lúc này để khỏi quá bị chú ý, đã lánh ngồi vào một xó, trên một đống đá.

        Secnôivanenkô giắt cái cặp vào thắt lưng, đội ngay ngắn chiếc mũ vào, rồi lại chui qua cửa hầm. Lần này ông ở lại đến nửa giờ ở bên trên. Xviatôxlap và Xêraíim Tulyalvôp, với tư thế sẵn sàng, đứng ngay ở lối ra, súng lục cầm tay, để bất cứ lúc nào cũng có thể chi viện cho ông, ngay từ phút đầu.

        Không có vẻ gì là nửa giờ hết! Người ta hay nói có những giờ chạy nhanh như những phút, và có những phút kéo dài hàng giờ. Nói chung, có thể là như thế. Nhưng trong trường hợp đặc biệt này, thời gian không kéo dài mà cũng không đi nhanh, thời gian đã mất cả khả năng vận động của nó. Thời gian đã ngưng đọng nặng nề. Nó treo đấy, bất động, trên đầu mọi người như một giọt nước đọng trên vòm hầm ngầm ẩm ướt và thấp lè tè đang sắp sửa rơi xuống bất cứ lúc nào, hay biến thành đá vĩnh viễn lơ lửng ở đấy. Thời gian im lìm và người trong động im lìm, họ đã mất ý niệm về thời gian. Họ chỉ còn là thính giác. Họ lắng nghe, căng thẳng, bất kỳ một tiếng nhỏ nào từ bên ngoài vào. Một con gió nhẹ thổi qua lỗ hổng. Tiếng gió giống như tiếng rít thoang thoảng của một viên đá mài. Gió lùa bụi tuyết vào, phủ lên thành cửa nghe rất khẽ. Chắc chắn, trên kia, bão đã nổi thực sự. Chung quanh, không gian im lìm, dày đặc gần như sờ được, cái im lìm báo hiệu một vụ nổ. Xviatôxlap và Xêrafim Tulyakôp im lặng, không cựa quậy. Họ như những pho tượng tạc trong đá hoa cương. Pêchya và Valentin ngồi sát vào nhau trên đống đá, cảm động, cắn ngón tay. Thỉnh thoảng, không chịu nổi cảnh im lặng, chúng thầm thì trao đổi những câu ngắn :

        — Cậu nghe không?

        — Có. Gió!

        — Gió mạnh ghê thật.

        — Bác Gayrick bảo đó là gió đông bắc.

        — Rất tốt.

        — Cỏ cái gì mà rất tốt?

        — Suỵt. Cậu nghe không?

        — Có. Đó là tiếng tuyết rơi... Giỏ đông bắc thì có gì tốt?

        — Vì ở bên ngoài, không trông thấy gì hết. Một trận bão lớn. Chúng sẽ không nhận thấy. Suỵt!

        — Sao?

        — Hình như... Không, chẳng có gì hết,

        — Không thấy gì hết thì làm thế nào mà gỡ mìn.

        — Bác ấy gỡ mò. Thế càng tốt.

        — Càng tốt sao?

        — Đúng thế, càng tốt. Gỡ mò, không bao giờ nhầm cả. Bằng mắt, còn có thể nhầm.

        — Thế tuyết?

        — « Tuyết » sao?

        — Tuyết không làm cản trở bác ấy sao?

        — Phải, có thể.

        — Im. Cậu nghe gì không?

        — Không.

        — Nhưng tớ, tớ nghe. Bác ấy về. Cam đoan là bác ấy về !

        Qua lối đi, tuyết luồn vào, và ngay lúc đó, trượt ngã, Secnôivanenkô cùng với tuyết rơi vào trong động, to lớn và trắng toát như một người tuyết: thậm chí cái mũi, y như của người tuyết, cũng đỏ như một củ cà-rốt. Trong cánh tay, ông mang một vật giống như một cái áo quan trẻ con.

        — Một này ! — ông nói, vẻ bận rộn, giọng khản dặc. —  Lại đây, chiến sĩ! Cầm lấy, đừng sợ gì hết, tôi đã tháo hạt nổ ra rồi. — ông hất đầu chỉ cái thắt lưng ; bên cạnh cái cặp, có giắt ống hạt nổ nhỏ bằng đồng. — Cầm lấy, tay tôi bị cóng. — Ông đã phải làm việc không có găng tay. — Thế mà cũng đòi là công binh! Không đáng hai xu. Chúng đã đặt cái quan tài trẻ con ở chỗ dễ thấy nhất: với một người mù, nó cũng đập ngay vào mắt!

        — Không đến nỗi tồi lắm. Cái đồ chơi trẻ con này cũng được khoảng hai cân đấy! — Xviatôxlap nói, tay nhấc nhấc cái hòm gỗ đựng mìn. Cho nó nổ dễ chúc mừng sức khỏe của đồng chí!

        Secnôivanenkô mỉm cười.

        — Cất nó đi, chắc nó sẽ có ích cho chúng ta.

        Ông tìm trong góc hang một mảnh ván hòm cũ, lấy trong túi ra một con dao con, rồi nhanh nhẹn gọt từng mẩu, nhỏm lại thành một đống nhỏ, bật bật lửa đốt lên, và hơ hai bàn tay giá cóng vào đống than hồng nhỏ.

        — Ồ, ấm thật! ấm thật! — ông nói, xoa xoa những ngón tay bị cóng, tím bầm lại.

        — Có lẽ tôi phải đi với anh để ngộ nhỡ có gặp phải bọn tuần tiễu của chúng chăng? — Tulyakôp nói.

        Nhưng Secnôivanenkô chỉ cười và khoát tay.

        — Không! đi làm gì? Tôi biết những nhà quân sự đó lắm. Giờ này chúng còn ngủ ấm ở các nhà dân trong làng, chẳng dại gì ló mũi ra ngoài, dù các cả vàng trên thế giới, như người ta nói. Nói chung, chúng không thích đánh nhau ban đêm, nhất là với cái tiết trời chó đẻ này nữa! Gió quay. Gió cuốn! Tuyết bay và lảo đảo từ đất đến tận trời, như một con ma. Mà đối với chúng, chúng lại không thích ma.

        Secnôivanenkô rất phấn khởi, vui vẻ, Gương mặt ông tươi cười, nóng bỏng vì gió đông bắc quất. Hàng trăm nếp nhăn nhỏ bày ra tươi vui, tinh nghịch chung quanh con mắt, dưới hàng lông mi và lòng mày ướt, ông giẫm giẫm đôi bốt lách cách như người sắp nhảy.

        Lần này, ông ở lại trên đó không kém một giờ. Nhưng vì ai nấy đều tin chắc thành công, nên giờ ấy qua rất nhanh, ông trở về nhanh hơn cả mong đợi của mọi người, ông xuất hiện đột ngột. Hệt như lằn đầu tiên, ông giống như một người tuyết và còn hơn thế nữa, vi bầy giờ không phải chỉ có người và tay mà tất cả bộ mặt của ông cũng phủ đầy một lớp tuyết với đôi mắt đó rực. Ông ôm hai quả mìn.

        — Hoàn thành nhiệm vụ ! — ông vừa nói vừa trao cho Xviatôxlap mìn, cặp và hạt nổ. — Thế là được hai gói nữa. Cầm lấy. Chú xem. Chú còn nói tôi không phải là chiến sĩ nữa thôi! Vậy ai là chiến sĩ? — Và đồng chí bí thư thứ nhất, tươi cười, ngồi xổm xuống trước bếp lửa nhỏ.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Tám, 2020, 11:14:44 am

       
70

        — Điều đáng bực là mặc dù bên ngoài gió vẫn thổi như thường, nhưng theo ý tôi gió cũng đã bắt đầu nhẹ dần — Secnôivanenkô nói — Xviatôxlap, công việc của chú thế nào rồi, cái máy đã chữa được chưa?

        — Dạ xong rồi, đồng chí bi thư ạ.

        — Tốt! Nhưng nếu còn hỏng lần nữa, tôi sẽ chặt đầu chú đi đấy!

        Secnôivanenkô xem đồng hồ và nhún vai:

        — Có thể nào bây giờ đã bốn giờ mười lăm rồi nhỉ? Cái gì lạ thế này? Xêfafim, đồng hồ nhà ga của anh mấy giờ?

        — Đồng hồ tôi đứng rồi.

        — Thế của chú, Xviatôxlap?

        — Nó cũng không chạy nữa.

        — Này, các đồng chí, không phải chuyện đùa đâu nhá — Secnôivanenkô nói, giọng trách móc.

        Ông tháo cái dây da đeo ở tay ra, lắc đồng hồ và áp vào tai. Ông nghe một lúc rồi nhún vai.

        — Khó hiểu thật... Nó kêu tích-tắc như bị sốt phát ban ấy.

        Tulyakôp, lấy mỏng tay dày khỏe, cậy nắp chiếc đồng hồ to tướng của mình ra, đưa lại gần đèn xem.

        — Bị gỉ vì ẩm. Chẳng còn giá trị gì nữa. Cái của anh còn chạy đôi tí thì lạ thật...

        — Đúng thế « đôi tí» ! — Secnôivanenkô thở dài buồn rầu.

        Thực tế cái điều đáng phải xảy ra từ lâu, đã xảy ra. Vì không khí trong hầm luôn luôn ẩm ướt, các đồng hồ đã bắt đầu bị phá hỏng. Cho dầu hỏa và lau chùi cũng không ăn thua. Bao nhiêu đồng hồ, cái trước cái sau ngừng chạy. Chiếc của Secnôivanenkô đã cầm cự được lâu hơn các cái khác. Nó đang sống những phút cuối cùng của nó. Với tất cả những khó khăn khác, lại cộng thêm một khó khăn mới nữa: thiếu giờ giấc chính xác. Và điều chú yếu là việc này lại xảy ra đúng lúc rất cần đến đồng hồ. Nếu máy thu thanh chỉ chạy bằng điện thành phố, thì còn khả dĩ có thể  cắm dây vào máy mà chờ. Nhưng máy thu thanh lại chạy bằng điện ắc-quy rất yếu, rất bất thường. Chỉ nửa giờ hoạt động là đã tiêu hết tất cả điện năng dự trữ. Cần phải nối dây vào thật đúng lúc bắt đầu bản tin, để không phí một phút nảo.

        — Đến phải có một con gà để nó báo giờ cho chúng ta mới được — Secnôivanenkô thất vọng nói.

        Ông ngước mắt nhìn lên trần, soát lại trong trí nhớ tất cả những công việc đã làm hôm đó, ước lượng số thời gian đã phải bỏ ra cho mỗi công việc, ông hy vọng, bằng cách đó, ít nhất cũng áng chừng được lúc ấy là vào khoảng mấy giờ rồi.

        — Phải đến tám giờ, tám rưỡi rồi. — Cuối cùng ông nói. — Phải không?

        — Chừng thế thật — Tulvakôp nói. Anh cũng đang tính toán nhưng không nhìn lên mà lại nhìn xuống đất và lặng lẽ mấp máy môi.

        — Này, trong lúc chờ đợi, chúng ta hẵng đi đặt ăng- ten đã.

        Secnôivanenkô giơ đứng bàn tay lên và làm bộ nghe ngóng một lúc tiếng tuyết rơi chất đống lại trên tường cửa hang.

        Trước khi để cho anh em đi ra, Tulyakôp nhắc lại một lần nữa, tóm tắt, những tỉ mỉ, nhiệm vụ phải thi hành và chỉ dẫn lại lần nữa cho từng người trách nhiệm trong công tác. Có thể tưởng đó là một cái gì lớn lao lắm. Nhưng tất cả công việc tóm tắt lại chỉ có mang bộ ăng- ten lên trên, đặt nó vào đâu đó giữa trời, không xa lối vào, nối nó bằng một sợi dây vào máy thu thanh và đảm bảo canh gác ăng-ten trong thời gian nhận tin của Thông tấn xã xô viết. Tất cả chỉ có thế. Tưởng như có thể tránh được những thủ tục vô ích này. Nhưng Tulyakôp đã lặp đi lặp lại nhiều lần thật tỉ mỉ các bước công tác, hết hỏi chung lại hỏi riêng từng người một, xem họ đã thật hiểu chưa. Cuối cùng, như để tự kiểm tra mình, anh lại nói lại một lần cuối cùng nữa:

        — Vậy, thế này nhé: theo mật hiệu của tôi, đồng chí Xviriđôp sẵn có một khẩu súng trường sẽ mang bộ ăng- ten dời lên trên kia (trước hết là phần trên rồi đến cột trụ); anh sẽ lắp ráp lại tại chỗ, rồi nhanh chóng mang toàn bộ ra xa hơn, ở chỗ định đặt. Chỗ đặt, vì tình hình, không được để gần lối ra dưới mười mét mà cũng không được cách xa quả bảy mươi mét. Tiếp sau Xviriđôp, lại theo mật hiệu của tôi, Ximban sẽ đi ra mang một khẩu súng trường, bám sát lấy Xviriđôp, chăng dây và nhanh chóng mắc vào cần ăng-ten, rồi trở về cửa « Con Dím », và ở lại đó quan sát cho đến hết giờ nhận tin của Thông tấn xã xô-viết, nghĩa là cho đến khi có mật hiệu của tôi. Nếu trong thời gian đó, thấy có người lạ mặt đến gần ăng-ten, đặc biệt nếu là một toán tuần tiễu phát-xít, anh cứ nổ súng ngay không cần bảo trước ; đó cũng sẽ là mật hiệu để cho số người dự bị của tôi bước ngay vào chiến đấu và dưới hỏa lực của họ, họ sẽ bảo đảm an toàn tuyệt đối cho buổi nhận tin không bị gián đoạn.

        — Được, hẵng cho là như vậy đi, tuy đêm nay, tôi không tin là địch sẽ hoạt động — Secnôivanenkô nói. —  Chúng đã cài mìn và yên trí chờ chúng ta giẫm phải mìn. Hơn nữa, bên ngoài, trời băng giá mà chúng thì không thể chịu được rét.

        — Cái đó không quan hệ. Chúng ta vẫn phải đề phòng mọi bất trắc.

        — Đồng ý.

        — Chúng tôi đi ra được rồi chứ?


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Tám, 2020, 11:15:09 am

        — Hượm một tí. Xviatôxtap ở lại dưới đất và lo điều chỉnh máy thu thanh theo làn sóng Mạc-tư-khoa. Cử mười phút, mười lăm phút, cậu lại cắm máy kẻo nhỡ mất buổi phát thanh và cũng để khỏi tiêu phí điện vô ích. Lúc bắt đầu phát thanh, phải thử lấy cho thật đúng âm thanh và ghi lấy tất cả. Đã hiểu chưa, cậu chiến sĩ?

        — Hiểu rồi ạ, — Xviatôxlap vui vẻ đáp,

        — Còn các cháu, — Secnôivanenkô nói với Pêchya và Valentin — vì hôm nay các cháu đã giành được quyền ở lại đây, trong khi nghe thông cáo, các cháu cũng ghi lại những điều nghe được, phòng trường hợp Xviatôxlap có nhỡ bỏ sót điều gì chăng. Xong, chúng ta sẽ đối chiếu ba bản với nhau. Rõ cả chứ?

        — Rõ ! — Pêchya và Valentin đồng thanh hét lên

        — Nhưng không được làm ồn. Và phải đứng đắn! Xviatôxlap là anh lớn, các cháu phải tuyệt đối nghe lời anh, không được cãi lại. Đây coi như sát hạch các cháu, xem các cháu đã chín muồi trong công tác bí mật chưa. Các cháu có giấy và bút chì không?

        — Cháu có rồi! — Pêchya nói, chú luôn luôn có giấy và bút chì bên mình.

        — Cháu không có — Valentin luống cuống nói.

        — A, ha! — Pêchya đắc thắng, hét lên.—Thế mới biết thế nào là một cô bé thôn.

        Nhưng Secnôivanenkô đã nghiêm khắc nhìn chú và nói:

        — Chia giấy và bút chì ra! Thôi Xêraỉim Ivanôvich bắt đầu được rồi đấy.

        Tulyakôp đi ra ngoài và vài phút sau, người ta nghe mật hiệu của anh, một tiếng còi thận trọng. Ngay lúc đó, Xviatôxlap chộp lấy bộ ăng-ten lắc la lắc lư, đầu tiên cho phần trên hình bụi cây qua lỗ cửa, rồi đến cái trụ. Theo vết chân anh, Lêônit Ximban đi ra khỏi hang, mang theo một cuộn dây trên vai. Secnôivanenkô đi sau rốt.

        Trong hang, còn lại Pêchya, Valentin và Xviatôxlap. Anh buộc nhanh đầu dây ăng-ten vào máy thu thanh, kiểm tra lại dây đốt, một lưỡi lê cắm xuống đất, ngồi xổm xuống trước cái thùng, trước mặt để một quyển vở và một cây bút chì. Pêchya và Valentin sốt ruột không thể tưởng được, cố đợi đến lúc buổi phát thanh Mạc-tư-khoa bắt đầu. Chúng đã chia nhau giấy từ lâu, và lấy lưỡi dao bào cắt đôi cây bút chì ra. Chúng dã có đủ thì giờ để cãi nhau và làm lành với nhau trong việc chia hai mẩu bút chì. Chúng khuân được hòn đá lớn đến để ngay gần Xviatôxlap và bày dụng cụ văn phòng lên đó. Chúng đã mấy lần quỳ xuống, viết lên giấy: « Thử bút chì » và Pêchya còn vẽ xong một bức biếm họa về Valentin. Hình vẽ cô bé khá thành công, chỉ tiếc cái mũi dài quá và cánh tay hơi dang rộng, nhưng dù sao cũng khả giống ; từ trong miệng, phun ra một dòng chữ: «Hình một con bé thôn». Xviatôxlap đã nhiều lần thử máy, con mắt thần đã bắt đầu ánh lên, nhưng vẫn không nghe thấy một âm thanh nào cả, chỉ có tiếng ùng ục không rõ. Chắc chắn là Xviriđôp chưa đặt được ăng-ten, mà Ximban cũng chưa mắc được dây. Sốt ruột phát điên lên được.

        — Ôi, lạy Chúa! Đúng là một trừng phạt!—Valentin nói đi nói lại nhiều lần, bực bội vuốt tóc xõa trên mặt.

        Cô tì khuỷu tay lên vai Xviatôxlap, nhìn thẳng vào anh và hỏi:

        — Có việc gì xảy ra thế? Anh không biết tại sao nó cứ thế mãi à?

        — Anh không thể nói được — Xviatôxlap trả lời khô khan và ôn tồn.

        Nhưng em cứ chằm chằm khẩn thiết nhìn anh bằng đôi mắt xanh, sáng ngời như muốn đầy thời gian đi nhanh lên.

        — Cứ làm như tự anh ấy không bằng! Pêchya cảm thấy bực dọc lạ lùng. — Cậu cứ quấy rầy anh ấy không cho anh ấy làm việc.

        — Anh ấy chưa làm việc.

        — Phải, nhưng có thể bất thình lình, anh ấy làm việc.

        Valentin bỏ bàn tay đặt trên vai Xviatôxlap xuống, thở dài sốt ruột, rồi lại viết lên giấy: « Thử bút chì» « Thử bút chì» « Thử bút chì» « Mạc-tư-khoa Thông tấn xã xô-viết » « Mạc-tư-khoa Thông tấn xã xô viết... »

        — Ôi chao, lạy Chúa ! Đúng là một trừng phạt!

        Thỉnh thoảng Pêchya và Valentin, không ngồi yên được, lại đứng dậy đi đi lại lại trong động, đứa đi ngược đứa đi xuôi, đụng vào nhau và không chịu nhường nhau. Chúng bắt đầu hích nhau và đã muốn đánh nhau thực sự, nhưng Xviatôxlap hét lên làm ra vẻ nghiêm khắc.

        — Ấy, các em! Tố chức thiếu niên tiền phong! Khe khẽ một tí chứ!

        Thỉnh thoảng chúng thận trọng lại gần lối ra và nghe ngóng một lúc lâu. Một bận, thấy Xviatôxlap không để ý, chúng đã cả gan trườn cả ra khe cửa. Chúng liếc nhìn nhau và hiểu ngầm với nhau. Nín thở và cố không gây nên tiếng động, chúng len qua lỗ hổng. Bám vào tường, chúng định trèo lên lối đi tối tăm. Bỗng một cơn gió lạnh buốt đập vào mặt và quang cảnh đêm đông ma quái diễn ra trước mắt chúng.

        Tất cả đều phủ dưới một lớp tuyết nhấp nhô. Gió thổi làm tuyết nhảy múa cuồn cuộn như những đám khói trắng. Bóng trăng ngũ sắc như đuổi theo những lớp mây chất thành đống, thỉnh thoảng lại biến mất trong một lớp mờ đục để rồi lại nổi lên lềnh bềnh chói lọi như lân tinh. Và những bóng mây, đuổi theo nhau, hòa vào nhau, đùa giỡn trên mặt tuyết lấp lánh như những sinh vật kỳ dị, không hồn.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Tám, 2020, 11:15:33 am

        Ngập trông tuyết đến tận thắt lưng, Pêchya và Valentin trèo lên phía trên cái khe và trông thấy không xa chỗ chúng, ba con quỷ lùn đang làm việc bên một cây Nôen chói lọi, tuyết bám đầy. Chúng biết cây Nôen đó là cái trụ ăng-ten và những con quỷ là Xviriđôp, Ximban và Tulyakôp. Ngay lúc đó, nghe có tiếng còi nhẹ và mấy con quỷ, con trước, con sau, đi về phía cái khe. Pêchya và Valentin nhảy lùi lại đàng sau, ngã nhào, lăn tròn xuống dưới. Một lúc sau, chúng đã ở trong hang, huých nhau cười rúc rích.

        Xviatôxlap không biết chúng vắng mặt. Anh đang để hết cả tâm trí vào buổi phát thanh Mạc-tư-khoa. Ngay lúc ăng-ten vừa đặt xong, anh đã bắt ngay được Mạc- tư-khoa. Đó là bản thông cáo buổi tối. Bình ắc-quy vừa được chuyền điện phát ra một dòng điện rất tốt, và buổi nhận tin, hoàn hảo. Xviatôxlap mở hết cỡ máy và tiếng nói Mạc-tư-khoa vang lên suốt trong động. Người phát thanh viên cố nói từ từ, nhưng quả thật anh không nén được xúc động. Lời anh tuôn ra đòn dập, trang nghiêm : Vôlôkôlamxk!! Mojaitx ! Ixtra ! đường Vôlôkô- lamxk!

        Xviatôxlap cúi sấp trên mặt đất, cố gắng lắm mới ghi chép được. Từ âm thanh đầu tiên, cả doanh trại đã đổ tới, chen lấn nhau trong lối đi chật hẹp, gò người xuống, cố chạy, Xtrenbixki, Matriôna Têrenchiepna, Raitxa Lvôpna, Anghêliđi, những anh em du kích của phân đội Tulyakôp mang súng trường, đèn bão, đèn pin, bụi phủ kín từ đầu đến chân, những gương mặt trang nghiêm, những đôi mắt ngời sảng vì xúc động, những đôi mắt trong dó phản chiếu ảnh lửa nhỏ lung lay của những ngọn đèn « pha ». Những lời nói thần diệu cứ vang lên, vang lên, làm tràn ngập cả hầm tin chiến thắng, báo hiệu sự tan rã của quân Đức trước Mạc-tư-khoa.

        Hôm ấy, không ai ngủ lại trong trại ngầm. Mọi người đều đến quầy quần ở « Góc đỏ ».

        Những ngón tay nhỏ của Liđya Ivanôpna nhẹ nhàng lướt nhanh trên mặt máy, đánh bản thông cáo của Thông tẩn xã xô-viết do Secnôivanenkô thảo ra, dựa theo ba bản ghi chép của Xviatôxlap, Pêchya và Valentin

        Nhưng như thế chưa đủ, Secnôivanenkô còn ra lệnh nhân bản thông cáo ít nhất thành hàng trăm bản và lúc này tất cả mọi người hoạt động bí mật đều ngồi, cả ở chung quanh chiếc bàn đá, sao lại bản thông cáo dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn bão. Ngoài bản thông cáo, còn phải nhân tờ truyền đơn mà Secnôivanenkô đã dày công thảo ra nữa. Mọi người đều hiểu rất rõ là không được bỏ phí thời gian và phải gấp rút đuổi cho kịp những bước đi nóng bỏng của chiến thắng. Không đơn giản, nhưng cũng không dễ dàng gì mà trong một đêm nhân được bản thông cáo và tờ truyền đơn lên mỗi thứ một trăm bản trong ánh sáng nhá nhem, giấy lại xấu với bàn tay tê cóng. Nhưng ai nấy đều quá phấn khỏi, vui sướng, mọi người cảm thấy quá thích thú, được tự tay mình ghi lên giấy những chữ chiến thẳng đã thiết tha mong đợi và cuối cùng đã tới, nên đêm ấy không ai thấy mệt mỏi, ẩm ướt, giá lạnh, cũng như đói khát. Mọi người đều cùng một niềm phẫn khởi và trò chuyện một cách vui vẻ, thảo luận các chi tiết trong bản Thông cáo.

        Nhưng người đắc thắng nhất là Pêchya. Ngoài niềm hân hoan chung, chú còn một lẽ nữa rất cá nhân để cảm thấy như một ngày hội riêng của mình. Vì ở đây, chú là người duy nhất chính cống gốc rễ ở Mạc-tư-khoa. Trận chiến thắng lớn trước Mạc-tư-khoa, thành phố quê hương của chú, dưới con mắt của riêng chú, đã làm chú lớn lên. Chú tự coi mình như kẻ thắng trận. Chú bỗng trở nên trung tâm được mọi người chú ý. Mà cũng không có gì là lạ. Tất cả những tên của miền trung Nga — Vôlôkôlamxk, Môjaitx, Ixtra, Khimki, Vênigôrôt —  tất cả những tên đó đối với chú, không phải chỉ là những khái niệm về địa lý, mà là những noi rất quen biết ở lân cận Mạc-tư-khoa mà chú đã từng ở đấy. Chú bỗng trở nên người duy nhất thành thạo và chuyên gia về vùng Mạc-tư-khoa. Bởi vậy mọi người luôn luôn hỏi chú về những chuyện rất khác nhau và chú đã trình bày lại rất nghiêm trang với một thải độ khiêm tốn, dè dặt của một người anh hùng thực sự.

        — Này, Pêchya—Lêônit Ximban hỏi, bỏ dở bản sao —  Ixtxa ở cách Mạc-tư-khoa bao nhiêu ki-lô-mét?

        — Để xem — Pêchya đáp — làm thế nào giải thích được cho chú đây... Nếu theo đường chim bay, thì cháu không thể nói một cách chính xác được, phải nhìn vào bản đồ. Nếu theo đường Vôlôkôlamxk mà đi bằng ô-tỏ thì phải năm mươi hay năm mươi lăm phút. Cũng có thể  hơn một tí. Cái này còn tùy ở ô-tô. Một hôm, cùng với bố, chúng cháu đã đến Ixtra trong một chiếc M-l và đã phải mất một giờ mười lăm phút. Chú xem. Cháu ước vào khoảng từ bốn mươi lăm đến sâu mươi ki-lô-mét.

        — Thế cháu đã ở đấy rồi à ?

        — Đúng thế, cháu vừa nói với chú rồi.

        — Thế nào ! — Ximban reo lên, mắt sáng ngời. —  Cháu đã ở Ixtra rồi sao ?

        — Đúng thế. Nhiều lần rồi — Pêchya nói, mỉm cười khiêm tốn.

        — Phong cảnh đẹp chứ?

        — Một trong những vùng lân cận Mạc-tư-khoa đẹp nhất. Chú có biết không, một trong những thành phố nhỏ toàn cây xanh. Ở đấy, nhà văn Sêkhôp đã sống một thời gian. Hai bố con cháu đã đến thăm ngôi nhà nhỏ ông ta đã ở.

        — Các đồng chí thử nghĩ xem, bọn bẩn thỉu đã đốt sạch cả một thành phố nhỏ đẹp đẽ như vậyl

        — Bản thông cáo nói bọn phát-xít đã phá đổ cả tu viện Tân Jêrudalem — bà Matriôna Têrenchiepna nói. —  Pêchya, cháu có trông thấy tu viện Tân Jerudalem không ?

        — Tất nhiên. Chứng cháu đã có đến thăm.

        — Chỗ ấy có đẹp không?

        — Cháu không biết. Cái đó còn tùy theo ý thích của mỗi người. Riêng với cá nhân cháu, cháu thấy rất thích.

        — Nó có cổ không?

        — Cháu biết nói thế nào được. Cháu nghĩ có từ thế kỷ mười sáu hay mười bảy gi đó thì phải.

        — Thế mà chúng đã phá đổ mất! — bà Matriòna Tê- renchiepna thở dài. — Chúng không từ cả một công trình đẹp đẽ như vậy !

        Pêchya trố mắt nhìn và trông thấy Ixtra bốc cháy với cảnh tu viện bị tàn phá. Không biết tại sao chú lại hình dung ra một đêm trăng mờ khói, tuyết sáng ngời và ngôi nhà nhỏ của Sêkhổp bị những cột khói và lửa vừa đó vừa đen vây kin tứ phía, giao nhau bên trên mái nhà sụp đổ như hai vị thần linh, thần ác và than thiện. Rồi chú hình dung ra những xác chết xám xịt của bọn phát-xít với những hố mắt chứa đầy băng sáng ngời, đỏ rực vì lửa cháy và những đống tuyết. Có những khẩu đại bác bị phá hủy nhô lên và trên bầu trời, một vành trăng lạnh, ngũ sắc, đang cố chạy trốn, khi ẩn khi hiện, sáng rực như một khối lân tinh chói lọi, và phía trước nó, những lớp mây khuya lướt trôi như một đoàn ky binh ma quái, vừa phi vừa lắc bờm, lắc mũi và tấm áo khoác sương mù.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Tám, 2020, 05:01:27 pm
        
72


        Họ làm việc suốt đêm và gần như đến tận sáng, nghĩa là đến tận giờ giả thiết là sáng, vì tất cả đồng hồ  đã hỏng hoàn toàn và không ai còn biết chính xác là giờ nào nữa. Họ đã chuẩn bị được một trăm bản thông cáo và một trăm tờ truyền đơn. Lần này, để đề phòng bất trắc, họ không đi ra bằng cửa « Con Dím » nữa vì đã quá lộ với địch rồi, mà bằng một cửa thứ hai, xa hom, cửa « Con Vịt », mà chỉ có thánh mới ngờ tới. Để đến đó, qua những lối ít đi nhất của con đường mạng nhện, cũng phải mất không dưới hai tiếng đồng hồ . Họ mang theo ba cái đèn.

        Dẫn đầu là Secnôivanenkô với một cây đèn, sau ông, không mang đèn là Xviatôxlap, rồi sau Xviatôxlap là Ximban, theo sau có Xêrafim Tulyakôp với một cây đèn, và sau Xêrafim Tulyakôp là Xviriđôp. Có hai chiến sĩ của phân đội Tulyakôp đi theo, dẫn họ lới tận cửa « Con Vịt», rồi lấy đá lấp cửa lại và ở đó canh gác đến khi họ trở về.

        Chống nạng ngắn, họ từ từ tiến trong hành lang như những cụ già, rồi lẩn dần vào bóng tối. Người ta còn trông thấy một lúc nữa xa xa ánh sáng của những ngọn đèn. Nhưng những ngọn lửa nhỏ đục ngầu nối tiếp nhau biến mất rất nhanh ở một chỗ ngoặt rồi tất cả bị bóng tối dưới đất nuốt chửng.

        Xtrenbixki ở lại hầm mộ phụ trách chỉ huy. Trước hết, phải phòng thủ doanh trại, đề phòng khả năng một cuộc tấn công qua cửa « Con Dím ». Không có gì phức tạp nhưng nó đòi hỏi nhiều cố gắng về thể lực.

        Xtrenbixki phân phối khí tài công binh cho mọi người, bản thân anh cũng lấy một cái cặp và một cái cuốc, rồi họ đi thẳng về phía cửa « Con Dím». Họ đưa rađiô từ trong động ra và đặt vào chỗ sâu nhất của đường hành lang ngầm, hơi xa cửa một tí. Cũng tại đây, họ để cẩn thận những hòm mìn lấy được của địch. Rồi Xtrenbixki xem xét lại cửa, nhìn ra bên ngoài nhưng không thấy gì khả nghi. Như Secnôivanenkô dự đoán, gió đã dịu xuong. Mặt trời lấp loáng trên những đồng tuyết, trên lớp tuyết nhấp nhô một màu trắng nhức mắt. Những vết chân tối hôm qua từ cửa « Con Dím» đến cột ăng-ten gần như không nhìn thấy nữa, vì đã phủ tuyết mới, nhẹ như lông tơ thiên nga. Nhưng « gần như không nhìn thấy » không có nghĩa là « hoàn toàn không nhìn thấy ». Dù sao, dấu vết vẫn còn nhìn thấy được, và qua lớp tuyết sảng chói dẫn đến tận cửa «Con Dim ». Dựa theo những dấu vết khó nhìn thấy đó, bọn địch có thể kết luận là đã có người từ hàm mộ đi ra và như vậy là mìn của chúng đã bị gỡ.

        Xtrenbixki đứng lại một lúc, thò đầu ra ngoài lỗ hổng, khoái chá thở hít không khí trong lành, hăng hắc như mùi a-mô-ni-ắc.

        Chung quanh cột ăng-ten, gió dồn tuyết lại thành một đống không thể đoán ra cái gì nữa: nếu có ai nhận ra đống tuyết, chắc chắn họ cũng tưởng đó là một bụi cây từ năm trước còn lại. Chung quanh không một bóng người.

        Trên mặt tuyết lặng lẽ như tờ, chỉ xa xa, vọng tới một điệu kèn tập hợp: hình như ở Uxatôvô có một đơn vị đóng.

        — Phải, hôm nay khó mà dán được truyền đơn! Rất khó ! — Xtrenbixki nói, một lần hơi nước dày từ trong miệng bay ra.

        Rồi anh đi xuống, ra lệnh chặn lối đi ngầm lại ở khoảng giữa hang và doanh trại. Anh đã chọn chỗ hẹp nhất, ở chỗ mà chỉ có bò mới đi qua được. Những người hoạt động bí mật cầm cưa xẻ những phiến đá ra rồi bịt kín lối đi lại. Cách phía doanh trại vài chục mét, họ dựng một ụ chướng ngại vật nữa bằng đá, nhưng còn để lại vài lỗ châu mai qua đó có thể ngắm bắn.

        Đó là một công việc rất vất vả, khó nhọc, phải công phu lắpi mới lấy cặp kéo được những tảng đá ra, lấy cưa xẻ thành gạch, rồi mang đến chỗ đã chọn để dựng chướng ngại vật. Họ làm việc trong tư thế cúi gập người, thỉnh thoảng phải nằm hẳn xuống. Cát, bụi và vỏ hàu phủ lên quần áo, lên tóc tai, làm họ không thở được. Ở vào chỗ vòm hầm thấp, bị nước ngầm xói mòn, treo lơ lửng trên đầu họ nhung quả cầu nặng bất cứ lúc nào cũng có thể vỡ tung ra để đè bẹp mọi người. Ai nấy, móng tay bong ra, mò hôi nhễ nhại, gần như mất hết cả tri giác. Pêchya và Valentin không chịu kém người lớn.

        — Từ từ chứ, các đồng chí! Đừng hăng quá thế! Phải để dành sức — Xtrenbixki nói. — Đừng vội. Dừng lại đã. Ngồi xuống, nghỉ đi.

        Nhưng họ làm bộ không nghe thấy, cố tranh thủ chặn ngay lối đi lại. Họ làm việc phấn khởi, vui vẻ. Tinh thần chiến thắng đã thâm nhập vào họ, tăng sức họ lên gấp bội. Xtrenbixki phải dùng đến quyền chỉ huy của mình.

        — Dừng lại! Nghỉ mười phút. Tôi hạ lệnh — Anh nói nghiêm khắc. — Dừng lại!

        Lúc bấy giờ họ mới đành phải miễn cưỡng tuân theo. Ai nấy nằm dài xuống đất, đầu tựa vào bức tường ẩm ướt và nhắm mắt lại. Nhưng ngay trong những phút nghỉ ngơi thoải mái ấy, họ cũng tưởng như đang cùng Hồng quân đánh đuổi, truy kích và tiêu diệt quân địch trước Mạc-tư-khoa. Thể xác họ nghỉ ngơi nhưng tinh thần họ luôn luôn căng thẳng vì chiến thắng, không tài nào nghỉ ngơi được.

        Khi bức tường cuối cùng đã được dựng lên và củng cố, Xtrenbixki ra lệnh mang đến một khẩu liên thanh và đạn. Anh đặt nó vào lỗ cửa, để năm sáu quả thủ pháo xuống đất và tuyên bố mình sẽ ở lại gác ở đấy, ra lệnh cho mọi người đi nghỉ.

        Pêchya lần đến cái giường đá, nơi chú thường ngủ với những người khác, nằm xuống, lấy tấm chăn ẩm và không cả sửa lại cái túi dưới đầu, chú lăn ra ngủ. Nếu trước đây sáu tháng, có ai bảo chú sẽ ngủ một mình trong một cái động ngầm, trong bóng tối, với bọn phát- xit ở trên đầu, thì chú không thể nào tin được. Chỉ vì chú không thể nào ngờ tới chuyện đó. Nhưng bây giờ chú đã nằm dài một mình trên một cái giường đá, mươi, mười lăm mét sâu dưới đất, trong bóng tối tuyệt đối; chú thấy điều đó hoàn toàn tự nhiên và không cảm thấy sợ hãi tí nào. Kiệt sức, sau một đêm không ngủ và làm việc mệt lử, chú không còn đủ sức đi uống nước nữa, mặc dù rất khát. Chú ngủ thiếp đi ngay, hay đúng hơn là chú không ngủ mà đã mất cả tri giác. Chú chìm đắm vào trong những bóng tối dày đặc hơn cả bóng tối đang vây lấy chú trong hầm...


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Tám, 2020, 05:02:37 pm

       
73


        Trong khi đó, nhỏm Secnôivanenkô đã ra khỏi hang với súng trường, túi dết. Người ta có thể cho đó là một sự điên rồ, nhưng Secnôivanenkô rất tin ở công việc mình làm. Có những trường hợp mà tốt hơn hết và chắc chắn hơn hết là phải xông lên. Quân đội Rumani mới đến chiếm đóng nên không thể biết được từng người dân, dù chỉ biết một cách đại khái. Chúng chưa biết hết bọn cảnh sát địa phương. Bất kỳ người nào bận thường phục hay quân áo nhà binh với một khẩu súng trường sau lưng, theo chúng, cũng chỉ có thể là một tên cảnh sát. Secnôivanenkô ra lệnh cho người của mình đeo một mảnh băng trắng vào cánh tay trái.

        Ông dự tính lên tới được mặt đất trong đêm tối, trước lúc trời sáng. Nhưng đã phải tiến quá chậm để ra tới cửa mới « Con Vịt ». Cuối cùng khi họ nhô lên được mặt đất thì mặt trời vừa mọc. Secnôivanenkô quyết định dù sao cũng phải tiến. Dù thế nào, cũng phải ra mắt mọi người, mừng chiến thắng với họ, thông báo cho biết tình hình tan rã của quân Đức gần Mạc-tư-khoa.

        Nhìn chung quanh trên những ngọn đồi, thấy có những vườn cây với tường đá thấp bao bọc, những con khe hẹp dài tuyết, các kiểu nhà kho bằng đá gần đổ nát. Ở bên dưới, con đường Hatji-Bây chạy ngoằn ngoèo, buổi sáng còn vắng tanh, và ở phía bên kia là thảo nguyên bao la, tuyết phủ chói lòa, với những mảnh gương xanh của đầm nước mặn, nom như những quả cây ướp lạnh. Ngay trên đường chân trời, ba vầng mặt trời mờ mờ đó tỏa sảng, một vầng thật và hai bên hai vầng giả. Hiện tượng này bảo hiệu cảnh băng tan bất thường rất đẹp và rất kỳ quái, khiến mọi người bất đắc dĩ phải ngắm xem không biết chán cái cảnh thiên nhiên bí hiểm đó. Mọi người cho đó là một điềm lành. Nhưng chẳng mấy lúc những mặt trời giả đã tan đi, biến mất và trên bầu trời, chỉ còn lại có một mặt trời, mặt trời thật, mặt trời chiến thắng. Cũng vâdng mặt trời ấy lúc này chắc chắn đang lạnh lẽo tỏa sảng trên các khu rừng ở Vôlôkôlamxk, soi rõ xác quân thù với những đại bác, chiến xa, xe tải bọc sắt bỏ lại, tan tành, của bọn phát-xít.

        Nhóm Secnôivanenkô tản ra nhiêu hướng khác nhau theo kế hoạch định trước. Chỉ khoảng ba hay bốn giờ sau, họ mới phải tập kết lại ở cùng một địa điểm sau khi đã tới Kuyannich, Nêrubaixkôiê, Uxatôvô, công viên Hatji-Bây, để dán vào bất cứ chỗ nào có thể dán được, những tờ truyền đơn báo tin chiến thắng lớn trước Mạc-tư-khoa và bản thông cáo của Thông tấn xẵ xô-viết. Người nào cũng biết rất rõ địa phương, nên việc lựa chọn một con đường thuận tiện nhất và những ngõ ngách chắc chắn nhất không có gì khó khăn. Rét đã giúp họ. Nhân dân không ra khỏi nhà, mà bọn tuần tiễu Rumani và cảnh sát địa phương thì thích ở trong sân sưởi than hồng. Ngay giữa đồng, trong các vườn cây, các sân sau của các nhà nghỉ mát, thậm chí cả trên đường phố, hoàn toàn vắng vẻ.

        Secnôivanenkô đảm nhiệm làng Uxatôvô. Người nhỏ bé, băng tuyết phủ kín, khấu súng trường trên vai, một mảnh băng ở ống tay áo, ông bước thong thả trong tuyết sâu, bàn tay thọc trong ống tay áo và thỉnh thoảng lại giậm chân; nom ông có thể tưởng đó là một anh dân vệ khốn khổ nào đó, miễn cưỡng phải đi tuần tra

        Secnôivanenkô hiện ra đây, đó, lang thang trong các vườn cây, vòng quanh các nhà kho, đôi khi còn nhìn cả vào các cửa sổ nhà dân. Và khắp các nơi ông đi qua, trên tường, trên các tru đá khô ráo, hay ngay trên mặt tuyết bên bờ đường, đều có một bản thông cáo hay một tờ truyền đơn.

        ông bước đi hết sức tự nhiên, không chút vội vã, tưởng như cái mũ đội trên đầu đã làm cho ông trở nên vô hình. Nhưng, đếm bước trên khu phố mình sinh đẻ đang bị quân thù chiếm đóng, bề ngoài tuy ông có vẻ vô tư lự như vậy, mà tâm tư ông thật vô cùng căng thẳng!

        Cái chết theo ông từng bước, rình ông ở mỗi chỗ ngoặt, lúc nào cũng sẵn sàng nhảy bổ vào ông và tiêu diệt ông. Nhưng nếu chưa dán xong, và lúc nào cũng cẩn thận như lúc nào, vào một lậm lúa bản thông cáo cuối cùng, thì ông vẫn chưa chịu quay về. Thậm chí khi không còn tờ truyền đơn nào nữa và đã quẳng cái hộp hồ xuống tuyết rồi, ông còn đi qua hai lần đường phố làng Uxatôvô, đứng lại một lúc bên cạnh ngôi nhà thờ, trước cái xác của cụ già bị giết, cất mũ chào cụ trong tư tưởng, đi thẳng đến tận nghĩa địa và nhìn ra thảo nguyên xa xa; ở đó đánh dấu bằng một đống tuyết có cái trụ ăng-ten chênh chếch giống như một bụi cây dại năm trước còn lại.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Tám, 2020, 05:05:04 pm

        Không phải vô cớ mà ông dạo quanh làng Uxatôvô. Dưới con mắt lành nghề, đầy kinh nghiệm, ông nhận ra tất cả những gì có thể bổ ích. Trong một cái sân, ông trông thấy hai khẩu đại bác dã chiến hạng nhẹ giấu dưới lá ngô. Nhìn thấy lá cờ Rumani ở cửa trường học và một tên lính gác khoác áo cầu bằng da cừu Mônđavi, ông biết đấy là bộ tham mưu. Ông biết rất rõ ngôi trường này, một căn nhà một tầng bằng đá thô, ông biết cách bố trí các lớp học và khi đi qua bên cạnh, ông nhìn thoáng vào bên trong. Nhưng ông không trông thấy gì cả qua những tấm kính bị băng giá bám kín. Trong sân trường, một bếp lửa đó rực có bọn lính Rumani ngồi xồm chung quanh. Chúng đang hút thuốc, khạc nhổ vào lửa. Secnôivanenkô mỉm cười, nhớ đến đoạn Đôlôkhôp và Pêchya trong Chiến tranh và Hòa bình rồi đi lại gần bếp lửa, ông nói bằng tiếng Rumani:

        — Chào các ngài1.

        Bọn lính Rumani nhìn Secnôivanenkô, gương mặt ông tái mét vì lạnh, những nếp nhăn lớn in sâu trên trán, trắng bệch như bún nên chúng không tỏ vẻ ngạc nhiên chút nào. Như ông đã dự đoán, chúng cho ông là một tên cảnh sát. Một tên Rumani, đội mũ bịt tai kiểu Nga uể oải lắc đầu, đáp:

        — Chào anh bạn!

        Secnôivanenkô huơ tay, rồi làm bộ ủ rũ, ngọt ngào xin một điếu thuốc.

        — Cho tôi xin điếu thuốc,

        — Anh nói được tiếng Ruma à?

        — Chút ít thôi.

        — Tốt
— tên Rumani nói bằng tiếng Nga và trao cho

        Secnôivanenkô túi thuốc và tập giấy. — không có thuốc điéu chỉ có thuốc sợi

        — Ồ thuốc sợi cũng được. Thử một tí thuốc Rumani xem — Secnôivanenkô nói.

        Bằng những ngón tay rét cóng, ông xẻ một mẫu giấy và cuộn một điếu thuốc lá đen Rumani to sợi. Tên Rumani liếc nhìn thấy Secnôivanenkô cuộn điếu thuốc to quá, vội giằng lại túi thuốc.

        — Cảnh sát à? — Tên Rumani chỉ vào mảnh vải ở ống tay áo Secnôivanenkô.

        — Đúng thế — Secnôivanenkô nói, hút nhanh và khoái chá điếu thuốc rồi nhổ vào bếp lửa trên những lá ngô rụng đang cháy, màu hòng xám dưới một lớp tro xanh.

        Tưởng như Secnôivanenkô đang chỉ lo hút thuốc, nhưng ông đã quan sát cẩn thận cái sân trường thân thuộc và ghi nhớ được rất nhiều điêu quan trọng. Ông đã nhìn thấy cạnh cửa sau, một tên lính Rumani mặc áo gi-lê da thú đang đánh bốt cho sĩ quan. Vậy là, ở trong trường, nhất định có một tên sĩ quan Rumani, chắc là tên chỉ huy đơn vị. Vườn cây ở sau trường có một dãy tường đá thấp bao quanh, không ai canh gác. Dãy tường con đã bị phá ở nhiều chỗ. Ông cũng chú ý đến việc bọn lính Rumani, chắc là nhân viên công tác trong Bộ chỉ huy, rất yên tâm không mảy may cảnh giác, cho là mình ở sâu trong hậu phương. Điều đó nói đúng ra, cũng phù hợp với thực tế.

        Những nhận xét này sẽ đưa đến đâu, Secnôivanenkô tự mình cũng chưa biết được một cách chính xác. Nhưng ông tin chắc là sẽ có ích. Và ông không ngớt nhìn trộm khắp nơi, quan sát mọi chi tiết nhỏ mọn nhất trong tầm mắt mình.

        Lạ lùng thật, nhưng hiện lúc này ông không cảm thấy một tí nào căm thù đối với bọn linh Rumani đang ngồi chung quanh bếp lửa. ông thấy trước mặt mình chỉ là những người dân cày Mônđavi hay Valasi bình thường, mặc quân phục Rumani, bị động viên vào quân đội. Người ta đã đẩy họ ra đất nước ngoài và lúc này, ngồi trong sân một ngôi trường xô-viết, họ đang hút thuốc « sợi» của họ, nhổ xuống tro, và thật là quái gỡ nếu họ biết được cái gì đang xảy ra trên trái đất này. Thực tế họ là những kẻ nô lệ. Thậm chí cũng không phải là những tên lính đánh thuê, hoàn toàn chỉ là những kẻ nô lệ. Bọn địa chủ, tướng soái, hiến binh, sĩ quan Rumani, bọn chúng, đó mới là những kẻ thù không đội trời chung. Secnôivanenkô căm thù chúng tự đáy lòng. Còn đối với những người dân cày Rumani, đó là một việc khác. Họ thật quả đáng thương, với cái mũ bịt tai Nga, với đôi găng đan để chống lại cái rét mà họ không quen chịu. Tại sao đã ném họ tới đây? Tất nhiên, tất cả cái đó sẽ không cản trở Secnôivanenkô, trong trường hợp cần thiết, đốt cháy tai họ, giết tất cả tại chỗ không chút chùn tay. Vì đó là chiến tranh. Và nói cho cùng, nếu họ tuân theo bọn quỹ tộc và bọn tướng soái Đức thì điều đó có phải ông chịu trách nhiệm đâu.

        Không biêu họ đã biết quân Đức bị đành tan rã trước Mạc-tư-khoa chưa? Và nếu họ biết, họ nghĩ thế nào?

        Secnôivanenkô kín đáo quan sát sắc mặt họ nhưng không nhận ra được gì khác thường. Ông đang tìm cách để đi, thì một tên lính Rumani trẻ, dưới chiếc mũ kê-pi đội một cái mũ đan, nom như một bà già gày đét, đã đến giúp anh. Chắc là để chế nhạo tên cảnh sát Nga, hắn vung tay sang một bên, rồi há hoác miệng ra đến tận mang tai, có ý phô trương những hiểu biết về tiếng Nga, hẳn nói:

        — Này, lão cảnh sát, sưởi ẩm rồi bây giờ thì cút đi! Được, được! Cút đi về đằng kia. — Hắn trỏ tay ra thảo nguyên. — Cút đi mà bắt du kích! Không phải sao? À, tao biết mà, mày sợ. Chúng sẽ pip pap! mày — Rồi tên Rumani vui nhộn chọc ngón tay trỏ vào bụng Secnôivanenkô. — Mày không thích chúng pip mày à?

        Trò đùa đã thu được thắng lợi, tất cả bọn Rumani ngồi xung quanh bếp lửa phá ra cười. Tên lính khôi hài nheo mắt về phía bọn bạn và hất đầu về phía Secnôivanenkô, tiếp tục:

        — Nó đã đi ra phía đằng kia — hắn nói, trỏ ra thảo nguyên, đúng về hướng « Con Dím ». — Chúng đã lôi cổ nó xuống dưới đất và đã pip nó rồi! Chú mày không thích thế ư?

------------------------
        1. Trong nguyên bản, các đoạn in ngả ítềubằng tiếng Rumani.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Tám, 2020, 05:06:10 pm

        Nhưng vừa lúc đó, có tiếng nhốn nháo từ ngoài phố, rồi một chiếc xe con xộc ngang vào trong sân — nhìn cũng biết là nó chạy cả đêm ngoài trời, tuyết phủ kín ; một tên sĩ quan Đức bước ra, khoác áo ca-pốt mỏng, cổ bằng da hải ly, và đeo kính một mắt. Tất cả bọn Rumani nhảy dậy và đứng thẳng lên; Secnôivanenkô cũng làm đúng như vậy. Tên sĩ quan Đức ưỡn ngực ra vẻ nghiêm nghị, giơ tay lên và hét bằng một giọng bụng « Hai! » rồi vội vã bước lên tam cấp. Ở đó đã có tên sĩ quan Rumani đi đôi giày bốt vừa mới được đánh kem xong, xun xoe đứng đón. Khi hai tên sĩ quan — tên Đức đi trước, tên Rumani theo sau — đã biến vào trong trường học, bọn lính lại ngồi xổm xuống xung quanh bếp lửa hồng, im lặng một lúc như để lấy lại hơi thở sau khi đã tắm bằng hơi nước, rồi tên khôi hài lại nháy nháy con mắt sáng ngời về phía tam cấp, nheo mắt lại và nói thì thầm:

        — Đức quốc hây giờ đang phải đánh nhau. Ở Mạc- tư-khoa, người ta đang pip ! cho hắn !

        Nói rồi, hắn phùng đôi má hóng nhẫy lên và lấy tay che cái miệng móm lại. Secnôivanenkô liếc nhìn tên lính khôi hài rồi không nói một lời, đi ra khỏi sân ; điều đó hoàn toàn dễ hiểu và tự nhiên : một tên cảnh sát bao giờ cũng sợ tham gia vào những câu chuyện nguy hiểm.

        — Tốt — tên lính khôi hài nói với theo — Cút đi, cút đi, cảnh sát! Đừng sợ!

        Nhưng Secnôivanenkô đã ung dung ở ngoài phố rồi, tự hỏi con đường nào chắc chắn nhất và ngắn nhất để đi về « Con Vịt ». Ông vừa về tới gần lối vào, bỗng nghe có tiếng súng nổ ở phía đường Hatji-Bây. Một chiếc xe tải Đức ở mé dưới đường và mấy tên lính Đức nằm dài sau một còn tuyết đang bắn vào một người chạy trong tuyết lên một ngọn đòi. Từ xa, ông nhận ra ngay đó là Liônya Ximhan. Thỉnh thoảng anh ta đứng lại, ngã xuống tuyết, vội vàng đứng lên, rồi lại bỏ chạy. Đạn Đức xới tung một lớp bụi trắng sáng ngời chung quanh anh ta giữa tuyết cứng.

        Về sau mới biết, khi Liônya Ximban theo con đường Hatji-Bây quay về cửa «Con Vịt» thì một xe tải chởr lính Đức từ phía trước chạy lại. Đến ngang Liônya, chiếc xe tải đỗ lại, rồi một tên trong bọn Hitle hét lên một câu gì đó với Liônya. Có lẽ bọn Đức chỉ muốn hỏi thăm đường tên cảnh sát ngẫu nhiên gặp thôi. Nhưng Lyônya lại không thích thế. Anh làm như không nghe. Chúng gọi anh một lần thứ hai, nhưng Liônya vảo bước, nhảy qua khe, rồi leo nhanh lên ngọn đồi, hy vọng tới được khu vườn cây rồi nhảy qua bức tường đá trước khi bọn Đức hiểu ra. Bọn Đức lại hét bắt anh đứng lần nữa, và sau khi bắn vài phát súng, chúng nhảy xuống xe. Thấy việc không hay, Liônya Ximban nhanh chóng nằm xuống tuyết và quyết định đánh trả. Không còn lối thoát nào khác, anh bắn xả vào bọn Đức nhưng đều không trúng, vì anh bị kích thích quá mạnh. Lúc đó, bọn Đức mới nằm dài xuống sau đống tuyết và tiến hành chiến đấu theo đúng điồu lệnh. Liônya lọi dụng cơ hội, nhảy dậy và ba chân bốn cẳng chạy trốn về phía vườn cây, bắn lẻ tẻ vài phát. Trên nền tuyết chói lọi, người anh là một mục tiêu rất rõ.

        Không biết việc đó sẽ kết thúc như thế nào, nếu phía sau dãy tường đá không có hai tiếng súng nổ cùng một lúc. Đó là Xvlatôxlap và Tulyakôp về sớm hơn, còn ở lại đợi những người khác, như đã hẹn trước, sau cái chắn đường sát ngay lối vào « Con Vịt ». Họ bắn như bắn bia, không hấp tấp, ngắm cẩn thận. Hai tên phát-xít đổ nhào xuống sau đống tuyết, mặt vùi trong tuyết. Ba tên còn lại mất hết tinh thần ngừng bắn mất hai phút dài.

        Liônya Ximban lợi dụng lúc ngớt tiếng súng, tháo chạy, nhảy qua tường và ngã nhào trước mặt các bạn. Đồng thời, Xviriđôp từ phia kia cũng chạy tới, giơ cánh lay lên, đảo tròn đôi mắt dịu dàng, lấy hết sức ném một quả thủ pháo lên chiếc xe tải. Quả thủ pháo nổ cách buồng lái năm mét. Kính vỡ tung. Tên lính Đức lái xe mặc áo khoác ngắn màu da cam có cỗ đen ngồi trong xe ngã nhào xuống cùng với cảnh cửa bị giật tung ra. Hẳn bò trên tuyết, không biết tại sao, hai tay níu lấy bánh xe như muốn đứng dây. Nhưng rồi hắn nằm cứng đờ trong một vũng máu trên mặt tuyết trắng tinh. Hai thằng trong bọn ba tên Đức, đâm nhào về đằng trước, như bị ma ám, hét lên « Đứng lại». Một loạt súng kết liễu đời chúng. Tên thứ ha nhỏm dậy, quẳng sủng rồi loạng choạng như người say rượu, vụng vẽ giơ cánh tay lên. Với một nụ cười ngu xuẩn trên gương mặt đỏ bầm, nứt nẻ vì gió, đôi môi cao su thâm tím hé ra đau đớn, hẳn giẫm chần trong tuyết, quay minh khắp tứ phía, tận đến khi bất thình lình chạm trán với Secnôivanenkô. ông đang thong thả đi tới, rút chân ra khỏi lớp tuyết dày một mét, và cố hết sức lấy khẩu Nagan trong ngực ra.

        Tên Đức rung rung giơ hai chiếc bao tay len sặc sỡ lên, mặt đổi màu rất nhanh: từ đó, lúc đầu, ngả sang hồng, rồi hoa cà, rồi trở thành vàng ệnh, và cuối cùng trắng bệch ra với một ánh tuyết màu xanh.

        Secnôivanenkô bình tĩnh xem xét một lúc và ngạc nhiên thấy tên Đức này vừa giống, lại vừa không giống bọn Đức ông đã trông thấy lần đầu tiên gần nhà thờ Tin lành, khi ông đi đến chỗ hẹn gặp XiniskinJêlêznư. May biết mấy, nếu biết được tên kia bây giờ đang nghĩ gì. Phải, và nói chung, hắn có biết nghĩ gì không? Hắn có biết bọn hắn đã bị đánh tan rã trước Mạc-tư-khoa chưa? Hẳn có hiểu thế là thế nào không? Phải chăng hắn là một tên lính đánh thuê, một kẻ nô lệ như những tên lính Rumani vừa ngồi cùng với ông bên bếp lửa?... Không, hắn không giống chúng. Hắn còn trẻ mà quỷ quyệt. Một tên phát-xít. Một thằng s.s. Tại sao hắn đến đây? Tên ngoại quốc kia đến tìm gì trên đất nước xô-viết này ? Có lẽ hắn nghĩ có thể nô dịch được đất nước xô-viết chăng ?

        Mặt Secnôivanenkô tối sầm xuống nom thật khủng khiếp.

        — Tôi muốn sống1 — tên Đức nói khó nhọc mấp máy đôi môi giá cứng.

        — Chỉ còn thiếu có thế! — Secnôivanenkô có vẻ âm thầm, nói.

        Góc trời nhỏ bé xa lạ và đẹp đẽ kia, mảnh sườn đồi Nga phủ kín tuyết Nga chói lọi, bóng xanh dày đặc của dãy tường con thấp, lần không khi hoàn toàn giá buốt, đầy những tia nắng lạnh lẽo, vàng mặt trời của chiến thắng Mạc-tư-khoa, tất cả những cái đó là điều mà tên Đức vẫn rất thèm sống, còn được nhìn thấy lần cuối cùng trong đời mình.

----------------------
        1. Trong nguyên bắn, bằng tiếng Đức.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Tám, 2020, 09:49:57 pm

       
74


        — Đồng chi Secnôivanenkô, dậy! Bốn đỏ, một trắng.

        Suốt ngày ông ốm, do bệnh tọa cốt thần kinh cũ trở lại, nhất là mấy ngày gần đây, vì phải sống thường xuyên trong không khí ẩm ướt. Buổi tối, ông đã nuốt hai viên atpirin, rồi lấy mấy cái áo ca-pốt trùm lên người, do đó người ấm lên một tí và cuối cùng đã ngủ thiếp đi được. Nhưng kìa phải chăng có ai đang gọi mình dậy... Bên cạnh ông, Tulyakôp tay xách đèn lồng, đang lay vai ông. Anh tiếc đã phải đánh thức ông dậy, nhưng Secnôivanenkô ra lệnh phải gọi ông dậy ngay, khi thấy xuất hiện mật hiệu bốn đỏ tiếp theo sau một trắng. Từ lâu không có tin tức của Xiniskin, Secnôivanenkô sợ có gì không hay xảy ra vì Xiniskin táo bạo quá. Secnôivanenkô ngồi dậy trên chiếc giường đá, vẫn còn ngái ngủ, nhanh nhẹn cài cổ áo va-rơ lại.

        — Có gì thế? — ông hỏi, mắt chói đèn nhấp nháy.

        — Bốn đỏ với một trắng—Tulyakôp lặp lại.

        — Phải, phải. Tốt. Cảm ơn.

        Secnôivanenkô vội vã bận quần áo, kiếm tra lại đạn và cầm lấy đôi nạng con, rồi đi theo Tulyakôp. Bên cạnh cửa hang, Ximban, tay cầm đèn pin đang đứng nhìn chằm chằm vào bóng tối dày đặc của đêm đông. Hai chiến sĩ thuộc phân đội Tulyakôp nằm dài trong tuyết, súng trường nhô lên.

        — Thế nào — Secnôivanenkô sổt ruột, nói. — Liên lạc đâu ?

        — Tôi không hiểu — Ximban lúng búng. — Họ ra hiệu bốn đó một trắng. Tôi trả lời bốn trắng một xanh. Họ im lặng. Sau năm phút, tôi làm lại. vẫn thế : họ im lặng. Lần thứ ba: vẫn không có gì. Bỗng, cách đây mười hai phút, họ lại cho bốn đỏ một trắng. Tôi trả lời. Và về phía họ, không còn gì nữa... Khoan ! — Ximban rùng mình. — Nhìn kìa, họ trở lại!

        Secnôivanenkô cúi người vào lỗ hổng và thấy ở sườn khe, trên nền trời đêm đen nghịt, những ánh đèn pin nhấp nhoáng rất nhanh: bốn đó một trắng và liền sau đó lại: bốn đỏ một trắng! Những tia sáng lờ mờ ánh lên nối tiếp nhau rất nhanh và run rầy, tưởng chừng như người làm mật hiệu đã vô tình để tay lên nút bấm.

        — Ra hiệu cho họ lại gần — Secnôivanenkô nói.

        Ximban ra hiệu ba lần nhưng không có ai lại gần.

        — Có cái gì khả nghi đây — Tulyakôp nói. — Có âm mưu gì chăng?

        — Phải một tổ trinh sát ra xem — Secnôivanenkô ra lệnh.

        — Cho phép tôi bò đi — Tulyakôpnói. — Ồ, đáng tiếc, không có áo khoác ngụy trang.

        Không một tiếng động, như một cái bóng, anh tiến lên, ra hiệu cho các người của mình rồi từ từ bò đi, xa dần. Đứng ở lối «Con Dím» không ai nhìn thấy anh nữa. Hai người theo anh với một cự ly nhất định. Sau mười lăm phút mà Secnôivanenkô xem như cả một thế kỷ, Tulyakôp trở lại và báo cáo có một người lạ mặt nằm sóng sượt bất tỉnh nhân sự trên mặt tuyết.

        — Già hay trẻ ? — Secnôivanenkô hỏi.

        — Không trông rõ. Có vẻ là một ông già. Xin cho mệnh lệnh.

        — Một ông già... Để tôi đi vậy. — Secnôivanenkô nói và, cầm lầy khẩu súng trường trong tay Tulyakôp, nhanh nhẹn len qua lỗ hổng.

        Như Secnôivanenkô phỏng đoán, đó là Xiniskin. Secnôivanenkô nhận ra ngay hình dáng dài ngoằng của bác, nằm sóng sượt, im lìm trên mặt tuyết. Secnôivanenkô quỳ xuống lấy vạt áo ba-đờ-xuy che đèn, rồi cẩn thận rọi vào mặt Xiniskin. Cái mũi nhọn hoắt, xương xẩu, má hóp, râu ria xồm xoàm, cứng, dài và xanh, đôi mắt nhắm nghiền, mi mắt sưng húp. Một tay siết chặt quả thủ pháo trên ngực, tay kia cầm đèn bấm. Miệng há hốc thở khò khè. Trông thật đáng sợ.

        Secnôivanenkô cùng với hai người nữa nâng cái thân thể to lớn, xương xẩu của bác lên và khiêng vào trong hầm mộ. Lúc khiêng qua những chỗ hẻm của con đường ngầm, Xiniskin bắt đầu rên rĩ, bập bẹ trong cơn mê man một điều gì nghe không rõ.

        Cuối cùng, họ khênh được ông vào trong doanh trại và đặt lên giường đá. Trong khi Matriôna Têrenchiepna còn đun nước chè trên bếp đầu hỏa, Secnôivanenkô cố gỡ những quả lựu đạn cài ở thắt lưng, dưới lớp quần áo của Xiniskin ra. Nhưng Xiniskin nhảy xuống giường và không mở mắt, tay vẫn nắm chặt cái đèn, đẩy Secnôivanenkô ra. Khó nhọc lắm mới lại bắt được bác nằm xuống. Bỗng bác mở mắt ra, nhìn khắp tứ phía. Secnôivanenkô cúi sát vào bác, dịu dàng nói :

        — Nikolai Vaxiliêvich ! Tôi, Secnôivanenkô đây, Bác không nhận ra tôi sao? Nhìn xem! — Rồi nâng cái đèn lên rọi vào mặt mình để Xiniskin có thể nhận được.

        Một loáng tri giác lung linh trong mắt Xiniskin. Quay đầu lại có về khó khăn, bác nhìn cái hang, cái đèn bão mà Secnôivanenkô đang cầm ngang mặt, nhìn những bóng người gẫy gập trên tường nước chảy ri rỉ.

        Một nụ cười yếu ớt lướt trên môi. Bác lắc đầu như muốn nói điều gì nhưng lại ngất đi. Người bác giật giật. Secnôivanenkô đặt tay lên trán bác : người bác nóng như lửa.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Tám, 2020, 09:50:16 pm

        Rồi Secnôivanenkô cẩn thận cởi chiếc thắt lưng có cài lựu đạn ra cho bác. Dưới thắt lưng đó, còn một chiếc nữa khâu vụng về, nhưng cẩn thận vào một cái cặp và mang sát người; trong đó có mười tám tấm thẻ Đảng và đoàn Thanh niên cộng sản, và cũng chừng ấy quyết tâm thư do các đồng chí khi gia nhập các tổ chức bí mật ký tên. Ngoài ra, Secnôivanenkô còn rút ở thắt lưng ra một gói nhỏ tiền mác của chính quyền chiếm đóng, bọc trong một tờ giấy có ghi: « tiền nguyệt liễm » và vài hình con dấu đóng thử mà người ta đã dùng để đóng lên các giấy thông hành xô-viết lúc đăng ký hộ khẩu với cảnh sát Rumani. Khi Raitxa Lvôpna và Liđva Ivanôpna cởi quân áo cho Xiniskin để rửa nước nóng và thay quân áo, họ phát hiện thấy bác bị một viên đạn súng ngắn bắn vào ngực, phía dưới xương quai sanh bên phải. Vết thương bên trong được băng qua loa bằng một mẩu vải xé ở một tấm khăn trải giường có thấm iôt và phủ một lớp bông, mủ ra rất nhiều và đã có mùi hôi: chắc nó bị đã đến mấy ngày rồi và Xiniskin tự băng bó lấy.

        Về sau, người ta mới biết sự việc xảy ra : Xiniskin rơi vào một trận vây ráp, bị lộ và bị bắt; bác đã chống cự lại rất dữ, bị thương, rồi giữa đường, nhảy từ xe cảnh sát xuống và trốn trong thành phố suốt bốn ngày liền, đồi chỗ ở từng ngày, cuối cùng, không thấy lối thoát nào khác, đã lấy hết tài liệu để trong cãi lò ở phố Pisônôpxkaia rồi ban đêm, tuy chốc chốc lại bị ngất đi, nhưng cũng cố lết được đến tận Uxatôvô và ra mật hiệu : bốn đó một trắng.

        Không chậm trễ được nữa, Secnôivanenkô chạy tới « Góc đỏ » đào chìa khóa lên và mở tủ két ra. Ở đấy có tất cả giấy tờ và đồ vật giá trị của Ban chấp hành khu và thẻ cá nhân của tất cả mọi người công tác bí mật trong đó có thẻ của Pêchya Batsây và Valentin Pêrêpêlitxkaia, với tất cả thẻ Đảng và Đoàn, các huân chương, các sổ sách khen thưởng và giấy thông hành, tất cả đều được sắp xếp trong hộp các-tông có đánh số, hết sức ngăn nẳp. Trong tủ két, chỉ có ba huân chương: một huân chương Cờ đỏ, huân chương quân sự cũ của Xiniskin đã gửi cho Secnôivanenkô đêm hôm dọn xuống hàm mộ, một huân chương Cờ đỏ Lao động của Xêrafim Tulyakôp và một huy chương Danh dự của Xecgây Xecghêiêvich đã chết, bọc trong một tờ giấy có ghi ngày mất của anh. Còn một huân chương về Dũng cảm lao động của Liônya Ximban nữa. Các huân chương và huy chương chiếm rất ít chỗ, vẻn vẹn trong một cái hộp con màu đỏ. Cùng với các cuốn sổ khen thưởng, có quyển nhật ký hoạt động, trong đó Secnôivanenkô và Xtrenbixki đã ghi lại cẩn thận các lần xuất kích, các biên bản dày đặc các kỳ họp của ban thường vụ, con dấu và tiền qũy của Đảng. Ngoài vài nghìn rúp tiền giấy, còn có năm đồng năm rúp tiền vàng. Chỉ Secnôivanenkô mới có quyền mở tủ két và ngoài ông ra là đồng chí bí thư thứ hai Xtrenbixki. Trong ngăn tủ dưới, thường xuyên có để một gói thuốc nổ một ki-lô và vài hạt nổ để bất kỳ lúc nào cũng có thể kịp thời cho nổ phá hết các thứ đựng trong tủ, trong trường hợp khẩn thiết khi tài liệu và các đồ vật giá trị có cơ rơi vào tay địch.

        Secnôivanenkô cất hết vào tủ các tài liệu tìm thấy trong người Xiniskin, ghi nhanh vào sổ nhật ký trường hợp bác đến doanh trại, rồi lấy trong số dự trữ đặc biệt không được đụng tới một lọ xuynfidin, một trong những thứ quý nhất của ông.

        Trong hơn mười ngày, suy nhược nhưng dù sao cũng còn khỏe, tấm thân già của Xiniskin vật lộn với cái chết. Bên cạnh bác, luôn luôn có các chị thường trực săn sóc. Nhiệt độ của bác luôn luôn ở một mức đáng sợ. Nó lên tới bốn mươi độ và không bao giờ xuống dưới ba mươi tám. Lúc đầu họ sợ bác bị nhiễm trùng. May sao, không việc gì. Vết thương mặc dù cứ chảy mủ nhưng dần dần cũng thành sẹo. Họ tưởng không thể nào lấy được viên đạn ra vì không có bác sĩ giải phẫu cũng như không có bệnh viện. Nguy hiểm nhất là tình trạng chung của người bệnh. Người ta nghĩ chắc đó là giai đoạn đầu của viêm phổi. Hy vọng duy nhất đặt cả vào thuốc xuynfidin. Liđya Ivanôpna, trước có theo học lớp y tá hai tháng, và Raitxa, vốn là con gái thày thuốc nên có biết chút ít thuốc men, không rời khỏi một bước chiếc giường đá của Xiniskin.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Tám, 2020, 09:50:58 pm
        
75


        Xiniskin Jêleznư gần như luôn luôn bất tỉnh nhân sự và mê sảng. Đó là một cơn mê sảng nặng nề, mệt nhọc, lúc nào cũng ú ớ đơn điệu, nghe rất dễ sợ. Thỉnh thoảng bác lại ho và Pêchya tưởng như trong hang có người đang xé vải thành từng băng dài kêu soạc soạc và rít lên, ghê rợn.

        Đôi lúc Xiniskin tính lại, gọi Secnôivanenkô đến rồi, mắt khô khốc, thâm quầng và long lanh, báo cáo tình hình trên thành phố. Bác vật vã dữ dội và nổi giận khi Secnôivanenkô từ chổi không chịu nghe, bắt bác phải nằm im không được nói. Bác thèm khát liếm đôi môi khô lấp dưới bộ ria mép xám. Bằng mấy ngón tay cứng như cặp sắt, Xiniskin nắm lấy vai Secnôivanenkô, bắt đồng chí bí thư phải ghi lấy những tên và địa chỉ mà vất vả lắm bác mới nhớ được. Rồi bác lại ngất đi, Chắc bác sợ chết trước khi truyền đạt lại được cho đồng chí bí thư thứ nhất hết mọi việc trên thành phố. Những câu nói rời rạc, ngắn ngủi ấy, dù sao cũng làm cho Secnôivanenkô có được một ý niệm đúng đắn về tình hình.

        Còng việc nói chung tiến triển tốt. Số đồng chí gia nhập tổ chức bí mật trong khu đã lên tới hai mươi nhăm; họ đã ký quyết tâm thư và gửi lại thẻ Bảng. Không kể mấy chục người chưa làm xong thủ tục. Đó là một cơ sở quan trọng, một lực lượng đáng kể hiện giờ có thể dựa vào. Vậy là phải kiếm cho các đồng chí ấy đủ giấy tờ căn cước chắc chắn, thận trọng đưa họ vào các xí nghiệp, cơ quan, xếp họ vào các nhà máy, bến cảng, các xưởng hỏa xa, cố nhét một vài người vào cảnh sát: sau đó sẽ có thể tổ chức những hoạt động rộng rãi theo một kế hoạch thống nhất.

        Có một điều tai hại là những người cài lại trên thành phố để bắt liên lạc với Ban chấp hành quận đã bị cơ quan Xiguranxa và Ghextapô bắt. Người ta kháo nhiều về chuyện đó ở trên thành phố. Tin này đã được xác minh và đã hai lần, đại diện Ban chấp hành quận không đến trạm thường trực bí mật quy định, mặc dù Secnôivanenkô đã hai lần phái Xtrenbixki đi và lần nào cũng trở về hầm mộ tay không, sau khi đợi mấy giờ liên ở cửa Nghĩa địa công giáo thứ hai. Thật là một đòn nặng nề. Nhưng Secnôivanenkô đã chuẩn bị sẵn để đối phó. Kinh nghiệm trước đây dạy cho ông biết là những tai họa tương tự như vậy sẽ xảy ra, và thậm chí còn rất hay xảy ra. Không thể dự kiến hết được tất cả mọi việc. Vậy là bây giờ phải chuẩn bị cho những hoạt động độc lập, không chờ chỉ thị của cấp trên, đồng thời phải tự mình tìm cách liên lạc với trung ương.

        Xiniskin mãi vẫn ở trong tình trạng bấp bênh, mệt nhọc, dở sống dở chết. Đôi khi tưởng như sắp hấp hối. Hai bàn tay to lớn của Xiniskin cử động lạ lùng như một cái máy, như đang là đi là lại những nếp gấp của mấy cái áo ca-pốt đắp trên người. Mắt nhắm nghiền, mi mắt thâm tím, sưng húp, rất dễ sợ. Những món tóc ướt đẫm dính tịt vào trán, hai thái dương hõm sâu, và trên cái trán nhờn ướt, vàng ệnh như màu xương đó, phản chiếu ánh sáng leo lét của ngọn đèn chong. Hoi thở của người bệnh thoi thóp, giữa hai hơi thở, tưởng như là cả một thời gian vô tận. Lúc bấy giờ, Secnôivanenkô cúi xuống phía cái tay to tướng màu sáp ong và cố nuốt nước mắt, gọi to :

        — Nikôlai Vaxiliêvich! Nikôlai Vaxiliêvich, bác có nghe tiếng tôi nói không?

        Những lúc như vậy, Pêchya cảm thấy rất ghê sợ đến nỗi chú chỉ muốn lăn nhào xuống đất, hai tay bưng lấy đầu và bản thân cũng muốn chết đi, để khỏi phải nghe những tiếng thở rít, bên trong có cái gì kêu òng ọc, hoặc ít ra là để khỏi phải thấy bộ mặt không phải của con người nữa mà của một cái xác không hồn, làm bằng một chất gì trăng trắng như nến. Nhưng tuy nhiên chú không đủ sức rời mắt khỏi Xiniskin, chú cứ nhìn, nhìn mãi, và trong bóng tối của hầm ngầm chú chỉ thấy có bộ mặt ấy với cái chấm sáng le lói của ngọn nến phản chiếu trên trán.

        Cũng có khi Xiniskin đỡ. Bác tỉnh lại, trở nên khó tính, giận dỗi, đuổi hết mọi người, cố sức — nom vừa đáng thương vừa dễ sợ — đứng dậy, mặc quần áo. Những lúc như vậy, không ai dám lại gần bác, trừ Liđya Ivanôpna. Chị là người duy nhất được Xiniskin cho lại gần. Chị thay quần áo, bón cho ăn, cho uống, rửa ráy bằng một cái khăn ướt, thay băng ở vết thương cho bác. Hai tay run lẩy bẩy, bác vịn lấy cổ chị, còn chị thì rắc bột xuynfidin cẩn thận lên vết thương cho bác, rồi mạnh bạo nhưng nhẹ nhàng khéo léo quấn chéo lớp băng hồng xung quanh cái thân hình nóng như lửa

        Trong chiếc áo choàng trắng may vụng về và quá chật, trông chị thật là đẹp. Pêchya nhận thấy tất cả quần áo chị mặc đều dễ coi: cái áo bông bộ đội với đôi bốt da, cái áo choàng tứ thời với đôi ống tay áo giả bằng vải láng đen của các viên chức ngân hàng mà chị mang vào khi đánh máy truyền đơn, cái áo ca-pốt với cái mũ bịt tai của bộ đội. Nhưng chiếc choàng trắng này hợp với chị hơn cả. Vẻ đẹp phụ nữ, tuổi thanh xuân và lòng nhân từ trong sáng, chân thành của chị có một sức quyến rũ mà chính ngay Xiniskin cũng không thể thờ ơ được.

        Khi chị băng cho bác, áp cái đầu xương xẩu của bác vào ngực, XiniskinJêleznư thường cảu rảu ấp úng, thở rất khó khăn :

        — Thắt chặt vào! Đừng sợ, tôi không kêu đâu. Thắt chặt vào! Giá tôi được thở một ít không khí trong lành thôi; ở đây — ma bắt nó đi — không sao thở được, trong cái hầm này! Nhưng chúng ta sẽ thấy ai sẽ là người chiến thẳng.

        Điều lạ lùng là bác không chết. Tấm thân già cỗi nhưng cường tráng của bác đã vật lộn quyết liệt với cái chết, nhưng chính cái tinh thần còn cường tráng hơn của bác đã chiến thắng, cái tinh thần bất khuất ham sống và chiến đấu.

        Một hôm, sau khi đã ngủ mười hai giờ liền, bác thức dậy, lên cơn ho và nhờ Raitxa Lvôpna lúc bấy giờ đang gác bên bác, gọi đồng chí bí thư thứ nhất lại.

        — Chào đồng chí Gayrick Xêmiônôvich—bác nói khi Secnôivanenkô đến bên cạnh. — Hình như tôi có khỏe hơn một tí, đồng chí thấy không. Lần này, thần chết đã phải lùi về các vị trí đã chuẩn bị sẵn từ trước. — Bác cố gắng cười, cái cười ồm ồm của bác, nhưng không được mà chỉ nhăn mặt lại, và ngọ nguậy yếu ớt bàn tay ở đầu cảnh tay to tướng, đen sạm.

        — Im đi, đồng chí không được nói — Secnôivanenkô tỏ vẻ nghiêm khắc.

        — Tôi không nói. Tôi sẽ viết. Cho tôi giấy bút — và Xiniskin ngọ nguậy ngón tay.

        Secnôivanenkô hiểu và mang đến cho bác một tờ giấy, một bút chì và một cái bìa.

        Xiniskin, mệt nhọc đặt tấm bìa lên bộ ngực lép kẹp, cầm bút chì từ từ viết — chốc chốc lại nghỉ — những chữ to tướng, rõ ràng. Secnôivanenkô tò mò nhìn vào tờ giấy. Xiniskin bằng trí nhớ đang thảo quyết tâm thư, không nhầm lẫn một dấu phẩy. Bác viết cho đến hết rồi ký tắt xuống dưới.

        — Đồng chí cầm lấy và điền nốt vào — bác nói, lấy lại hơi thở. — Giờ nào việc nấy. Tha lỗi cho tôi đã không nghĩ tới việc này sớm hơn.

        Và từ hôm đó, Xiniskin dần dần hồi phục trông thấy.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Tám, 2020, 09:52:13 pm
        
76


        Cũng ngày hôm đó, Secnôivanenkô triệu tập Thường vụ ban chấp hành để lập kế hoạch hoạt động sắp tới. Nhưng cuộc thảo luận mới bắt đầu thì nghe có hiệu lệnh báo động. Cuộc họp phải ngừng ngay lại.

        Khi Secnôivanenkô và các đồng chí đi tới chỗ những đống đá, họ thấy một phần đá đã bị dỡ đi và người thường trực, Liônya Ximban thì ở mãi phía trước, trong cái hang gần lối vào nhất. Khẩu liên thanh trước kia đặt trên chướng ngại vật chĩa ra ngoài, bây giờ lại thấy ở ngay lỗ hổng lối vào. Ximban nằm cạnh súng, người ở trong lỗ hỗng, còn hai chân thì lại ở trong hang.

        — Này, cái gì thế? — Secnôivanenkô nói, chống vào đôi nạng ngắn.

        Ximban ngoảnh lại. Gương mặt anh đầy bụi nom nghiêm nghị khác thường, có thể nói là âm thầm nữa.

        — Tất cả chứng tỏ là chúng sắp tấn công chúng ta. Đã thấy xuất hiện bọn S.S.

        Ximban đứng lánh sang bên cạnh. Secnôivanenkô lách người giữa bức tường và khẩu liên thanh, cần thận nhìn ra ngoài. Ở trên mặt đất là ban ngày, điều đó làm cho Gayrick Sêmiônôvichrất ngạc nhiên. Theo ông tính toán, lễ ra đêm mới phải. Vậy ra đã hai ngày hai đêm liền họ không ngủ. Qua lỗ hổng, Secnôivanenkô chỉ nhìn thấy được một khoảng không rất hạn chế: bờ khe tuyết phủ, vài cây ngưu bàng khô nhô ra khỏi đống tuyết và sau bờ khe, phần sau của một chiếc xe tải ngụy trang, xung quanh dó, có bọn Đức bận áo ca-pốt xám xanh và đội mũ sắt sâu, đi lại. Căn cứ vào cường độ giọng nói của bọn lính, cách đi lại của chúng, và tiếng động cơ, có thể đoán là ở đâu đó xa hơn, còn có nhiều chiếc xe tải khác đậu ngoài tầm mắt.

        — Thế nào, cho chúng nó khiêu vũ chứ?—Liônya hỏi,

        áp người vào khẩu liên thanh.  

        — Tí đã ! — Secnôivanenkô vừa nói vừa quan sát các bóng đen bọn Đức đang tiếp tục làm gì đấy và nhốn nháo chung quanh mấy chiếc xe tải.

        Ông nhận thấy cách đó có một đoạn chiến hào nhỏ đắp bờ tuyết hẳn hoi.

        — Chúng đào chiến hào gì lạ thế kia? — ông hỏi.

        — Nom như một đài quan sát thì phải — Ximban đáp, không rời khỏi cái thước ngắm của khẩu liên thanh

        — Phải, trông giống đấy.

        Đúng lúc đó, trên bờ chiến hào, một chiếc mũ sắt sĩ quan Đức nhô lên và đôi mắt kính ống nhòm lấp lánh chĩa thẳng vào lối cửa « Con Dím ». Rồi bàn tay cầm cài mũ sắt giơ lên vung vẩy trên không như muốn lưu ý những người ở trong khe hở nhìn ra.

        — Chúng đã nhìn thấy ta—Secnôivanenkô nói rất khẽ.

        — Chúng đã nhìn thấy ta lâu rồi — Ximban nói, cũng khẽ như vậy, — Chúng đã bắn pháo hiệu, vì thế tôi mới báo động. Chúng muốn ta chú ý đến chúng. Có lễ chúng muốn thương lượng thì phải?

        — Thương lượng — Secnôivanenkô nói với một nụ cười chua chát—Với chúng nó, ta chỉ có một cách thương lượng, Thôi, bắn đi. Liônya, bắn tiếp chúng một loạt đi!

        Nhưng ngay lúc Liônya sắp bắn tiếp chúng thì từ đoạn chiến hào tuyết vọt lên một quả hỏa pháo dài màu xanh, rơi gần trúng vào lỗ hồng, làm cho Secnôivanenkô và cả Ximban phải lùi ngay lại. Quả hỏa pháo cắm xuống cạnh lối vào và cháy mãi, làm lan cả tuyết chung quanh. Chung quanh chiếc xe tải, một cảnh nhốn nháo với những tiếng kêu la và, giữa vòng vây những khẩu tiểu liên Đức, xuất hiện một đoàn người khủng khiếp, ủ rũ, gần như trần truồng. Một số không có giày, lê đôi chân giả cóng bầm tím trong tuyết nom rất khó nhọc. Một số mình trần, bẩn thỉu, quấn độc áo mền rách, hoặc mặc những manh áo ca-pốt xô-viết tả tơi. Trên các khuôn mặt xanh xao, hốc bác, là những hố mắt tối om và sâu hoắm, không còn trông thấy mắt đầu nữa. Không phải con người nữa mà là những bóng ma đã trải qua mọi đau khổ, mọi cực hình của quân thù. Dáng dấp của những người khốn khổ ấy, những người sắp chết ấy, đau đớn đến cực độ, trông quá ư khủng khiếp đến đỗi Secnôivanenkô không thể cầm lòng được phải nhắm mắt một lúc rồi lùi lại. Ông lần tìm bàn tay Ximban và siết thật chặt.

        — Tù binh... — ông nói, giọng khản đặc. — Anh có thấy không?

        — Tôi biết — Liônva thì thầm, cố hết sức để khỏi hét lên, khỏi khóc òa vá khỏi đập đầu vào tường.

        Cũng trong lúc đó, bọn Hitle chạy tới đứng về một phía và, không cần nâng cao những khẩu tiêu liên lúc nào cũng khư khư bên hông, chúng nổ súng bắn vào đám tù binh. Chúng tưới đạn tứ phía vào họ nom như vòi chữa cháy. Tiếng la hét át cả tiếng chấn động của hàng chục khẩu tiêu liên đang nhả đạn ; khối tù binh nhào vào bụi tuyết, nối tiếp nhau ngã xuống và quằn quại trong những vũng máu chỉ một lúc đã phủ kín mặt tuyết và bốc hơi đến ngạt thở trên mặt đất băng giá. Sự việc kẻo dài không quá hai phút, rồi tất cả bỗng im bặt.

        Khi Secnôivanenkô tỉnh lại thì đã không còn gì trước cửa « Con Dím », không còn bọn Đức, cũng không còn chiếc xe tải nữa, nhưng cái bờ khe bị giẫm nát và đẫm máu trước mặt lỗ hống thì đầy những xác chết. Khắp chung quanh, cả không gian là một cảnh im lặng hãi hùng, nặng nề, đến đỗi nghe được cả tiếng lao xao của những bông tuyết rơi thong thả từ trên bầu trời trắng xóa xuống mặt đất trắng xóa.

        Secnôivanenkô im lặng ngồi lại một lúc, tựa cái lưng còng vào thành lỗ hổng, bàn tay thọc sâu trong ống tay áo. Bỗng ông đứng phắt dậy, người cứng đờ, bật mũ lên rồi đi vào trong động.
         
        Anh chị em đã tụ tập cả ở trong động, trừ Tulyakôp hôm đó bận chỉ huy doanh trại, và Pêchya với Valentin phải trông nom Xiniskin.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Tám, 2020, 09:53:07 pm

        Anh chị em đứng bên cạnh lỗ hổng, trong tư thế chiến đấu, súng trường cầm tay. Họ không trông thấy sự việc đã xảy ra, chỉ nghe được lõm bõm những câu trao đỗi giữa Secnôivanenkô và Ximban và tiếng súng tiêu liên bắn lộn xộn. Họ đứng im phăng phắc, mặt tím lại; con mắt đen ngòm dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn bão, có vẻ càng đen thêm. Secnôivanenkô đi vào cuối động, tìm một hòn đá, ngồi lên, lột mũ ra, cúi đầu xuống, rồi vung vầy bàn tay về phía lỗ hổng.

        — Ra mà xem — ông nói, rất mệt mỏi.

        Cho đến lúc, kẻ trước người sau, chen lấn nhau giữa bức tường và khẩu liên thanh, họ xem xong, và im lặng trở về, Secnôivanenkô vẫn tay ôm đầu ngồi yên trên hòn đá.

        Khi mọi người, anh chàng hộ pháp Xtrenbixki, khẩu Môde đựng trong bao gỗ lủng lẳng sau lưng, và sau anh, bà Matriôna Têrenchiepna đôi má đầy nốt tàn hương màu đỏ nhạt, con mắt sưng húp và đỏ ngầu, khi Xviatôxlap, sau bà, xanh xao như thần chết, mặt cau lại với một nếp nhăn nằm ngang trên vầng trán trẻ, khi sau anh, Liđya Ivanôpna nắm chặt lấy bàn tay Xviriđôp và cuối cùng, Raitxa Lvôpna, mắt khô khốc, long lanh vì sốt, buồn thảm, với mái tóc xám lượn sóng lòi ra ngoài chiếc khăn trên trán, khi mọi người, sau lúc coi như đã vĩnh biệt các đồng chí bị tàn sát, trở về trong hang, đồng chí bí thư thứ nhất mới lấy lòng bàn tay lau mắt và hai má, nặng nề đứng dậy khỏi hòn đá, rồi nói:

        — Các đồng chí, tôi tưởng không phải bàn cãi nhiều về sự kiện đó nữa. Ý nghĩa của nó đối với ta đã rõ lắm rồi. Chúng định làm cho ta hoang mang, mất tinh thần... — Ông ngừng bặt, lấy lại hơi. — Được... — ông thấy khó nói nên lời. — Chúng cứ việc — ông nói, gần như thầm thì, rồi lại lau mắt và má —... làm cho ta mất tinh thần.

        Ông tiến lên hai bước rồi lại lùi hai bước, đứng yên, mặt đó bầm rồi bỗng lấy hết sức hét lên, giọng the thẻ — Chúng cử thử đi.

        Ông từ từ bỏ mũ ra, rồi bằng một giọng nói khác hẳn, nặng nề, đều đều, cân nhẳc từng lời, ông nói:

        — Đời đời ghi nhớ các đồng chí bị sát hại bởi bàn tay bọn giết người đê hèn, bọn ác quỷ của nhân loại trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát-xít đáng nguyền rủa ! — Gương mặt ông biến đổi đau đớn — Tiêu diệt bọn chiếm đóng Đức! — ông hét lên, giọng run run, và nói thêm, giọng trầm trầm, giản dị, dịu dàng —  Bây giờ, trong trại, con em chúng ta, các em thiếu niên tiền phong Pêchya và Valentin đang ngủ. Không cần kể cho chúng nghe. Các đồng chí cũng biết tâm hồn trẻ em như thế nào rồi. Tâm hồn chúng dễ bị tổn thương lắm. Như thế này, chúng cũng đã đủ buồn rồi. Và tất cả chúng ta, chúng ta còn rất nhiều việc trước mắt... rất nhiều.

        Ông trầm ngâm nhìn ra trước mặt rồi, rất nhanh, đội mũ vào, sửa lại thắt lưng.

        — Platôn Ivanovich, gọi người của Tulyakôp lại; cho gấp đôi người canh gác lên... Bản thân anh, ở lại đây để tô chức phòng ngự... Cảc người khác trở về doanh trại.

        Nhưng họ vừa đi tới doanh trại thì hiệu lệnh báo động dã vang lên. Họ vội vã quay lại lối « Con Dím ». Bày giờ, trên bờ khe, giữa những xác tù binh bị bắn chết, thấy có cái bếp di động của quân Đức. Dân làng bao quanh bọn lính Rumani và Đức đứng gác. Rõ ràng là chúng đã tập trung tất cả dân làng Uxatôvô lại. Họ khiếp sợ, run rầy đứng cầm muôi, thìa, đĩa, bát, sanh, chảo, ga-men. Từ đoạn chiến hào con, lại vọt lên vài quả pháo hiệu, sau đó chúng bắt đầu phân phát thức ăn cho dân.

        Tên nhà bếp béo ị, đội mũ vải trắng, mõm đó, ria mép quặp đen lánh, múc xúp, xúc những mẩu thịt nóng bỏng và phân phát những ổ bảnh lúa mạch mới. Thỉnh thoảng hắn lại vung cái muôi trên đầu và hét lên.

        — Du kích ! Hàng đi! Có muốn ăn không? Ra hàng thì sẽ có ăn !

        Secnôivanenkô nhìn thấy giữa đám đồng, tên lính Rumani quen biết, tên lính khôi hài vói cái mũ đan leo núi đội dưới mũ kê-pi và cái miệng móm rộng hoác. Thỉnh thoảng hắn lại tiến lên, và phô trương cái vốn tiếng Nga của hắn, đưa tay lên miệng làm loa rồi, để giúp tên nhà bếp, cũng hét lên:

        — Du kích ! Lại đây ! Đừng sợ! chúng tao không « pip » đâu. Chúng tao sẽ cho ăn. Bánh này, thịt này, xúp này ! Tốt! Mày đói, tao biết. Mày không có gì ăn. Đầy đủ các thứ ! Ra đi, đừng sợ. Người Rumani tốt, ra đi!

        Secnôivanenkô gạt Tulyakôp ra, nằm dài xuống sau khẩu liên thanh, để lên cao hơn tàm đám đông một tí, rồi bóp cò. Khẩu liên thanh rung lên, đồn dập trong cánh tay dang thẳng của ông. Mọi người dô xô về một bên, bỏ rơi cả bát. Đám đồng đổ xô về đằng sau. Cái bếp lưu động lật nhào. Tiếng kêu la khủng khiếp ran lên. Trong vài phút, trước cửa «Con Dím», không còn ai nữa ngoài những xác tù binh bị bắn. Nhưng ngay tức khắc ở đằng xa, có tiếng kèn vang lên. Những mệnh lệnh bằng tiếng Đức hét lên và từng loạt pháo nỗ ầm ầm. Đạn đại bác quả trước quả sau bay vèo vèo trên miệng khe và nổ khắp chung quanh cửa « Con Dím », xới tung những đám bụi tuyết và đá vụn. Điên cuồng, hỗn độn, và hoàn toàn vô ích, quân Đức bắn bừa vào mọi lỗ hổng, mọi hốc núi mà chúng nghi ngờ. Một quả đại bác rơi trúng cửa «Con Dỉm», phả hỏng một mảnh tường. Trận pháo kích ngu xuẩn ấy không gây thiệt hại gì cho những người bí mật. Họ đã rút sâu xuống hầm từ lâu, chỉ nghe tiếng nổ và cảm thấy đất rung nhè nhẹ.

        — Cho chúng bắn đến mai — Secnôivanenkô nói —  nếu chúng giàu đến thế. Còn cửa « Con Dím» theo y tôi, bây giờ, chúng ta phải thanh toán nó đi. Chúng ta không cần tới nó.

        Đoạn ông ra lệnh lấp và chôn mìn cửa « Con Dím » lần nữa và cũng là lần cuối cùng.

        Tuy đã mệt lử, và thèm ăn, thèm ngủ, mọi người cũng phải lập tức trở lại với cutíc, cặp và xà-beng.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Tám, 2020, 10:33:59 pm

       
77


        Bỗng Xtrenbixki, qua lỗ hổng thấy một em bé ở trong làng chạy về phía cửa « Con Dím». Em chạy đầu trần, chốc chốc lại vấp ngã. Trông bên ngoài, hình như em sợ phải chạy giữa những xác chết giá cứng, nửa người đã bị tuyết phủ, giữa những cái chân còng quèo và tím ngắt, những bàn tay xòe ra, ngón co quắp. Nhưng cũng trông bên ngoài, em còn sợ phải đứng lại và nhìn về đằng sau hơn. Em chạy, người đầy tuyết, miệng há hốc, mặt nhễ nhại mồ hôi mặc dầu trời rét. Bằng cả hai tay, em nắm chặt một mảnh giấy nhỏ trên ngực. Và ở sau lưng em, từ miệng khe, em nghe tiếng còi, tiếng rú và những tiếng hét hăm dọa. Có lần, khi em vấp ngã, một phát súng từ bên dưới bắn lên, và viên đạn bay sát bên cạnh em làm tung một đám bụi tuyết. Em nhảy phóc dậy, cố hết sức chạy tới lỗ hổng, chỗ Xtrenbixki đang nằm dài.

        — Chú ơi, đừng bắn ! Chú đừng bắn ! — em lấy lại hơi, kêu to rồi trao cho Xtrenbixki cái gì như một bức thư.

        Xtrenbixki hiện ra ở khe hở, nắm lấy ống tay áo em bé và định kẻo em vào trong động, nhưng em bé run lầy bay và khóc nức nở.

        — Không được, không được... cháu không thể vào hầm mộ với chú; nếu cháu vào hầm, chúng sẽ giết mẹ cháu và đốt nhà cháu. Chúng ra lệnh cho cháu chuyển thư xong phải trở về ngay. Chú cầm lấy thư và bỏ tay áo cháu ra.

        Em nhìn Xtrenbixki từ dưới lên trên, mắt đầy lệ và thì thầm nhanh.

        — Chú ơi! chú có biết bọn phát-xít làm tình làm tội chúng cháu thế nào không? Chú có biết đến bao giờ bọn đáng nguyền rủa đó bị đánh tan xác không?

        — Sắp rồi — Xtrenbixki nói — mấy ngày nay ta đã đánh cho chúng tơi bời trước Mạc-tư-khoa, các em có biết không?

        — Thỉnh thoảng! Cháu có được đọc truyền đơn... Thôi Chúa phù hộ cho chú, cháu phải chạy về ngay đây, chú nghe đấy, chúng đang thổi còi!

        Sau cái khe, nghe có tiếng còi. Xtrenbixki cầm lấy bức thư.

        — Của tên chỉ huy đấy — em bé nói, và chợt em thêm, nghe rât thương, rất khẩn khoản. — Chỉ có một điều, chú ơi, là đừng hàng chúng. Cứ giữ cho vững, đồng bào tin ở các chú !

        Rồi em bé, không ngoảnh cổ lại, chạy trở về và nhanh chóng biến mất theo bờ khe.

        Hai tay đầy đất bụi, Secnôivanenkô đặt cái xà-beng xuống, mở chiếc phong bì dài trên có ghi một câu tiếng Nga đúng đắn, nhưng đáng chữ người ngoại quốc:

        « Hầm mộ. Gửi người chỉ huy đội du kích ngầm. »

        Secnôivanenkô lật đi lật lại cái phong bì trong bàn tay như không biết để làm gì. Ông đưa cho người gần nhất đứng bên cạnh Xviatôxlap đọc, rồi đưa cho người xa hơn. Trong khi mọi người nhìn cái phong bì, Secnôivanenkó đã đọc xong bức thư:

        « Các đồng chí du kích !» (chấm than) — Senôivanenkô đọc, ghé sát bức thư vào ngọn đèn. — Bọn chó đêu, chúng gọi ta là « các đồng chí ». Đồ vô lại! « Hồng quân rút lui về phía Đông. Chính quyền xô-viết và Hồng quân không còn nữa (chấm). Quân đội Đức và Rumani chiến thắng đang tiến vố phía Đông. (Đúng thế. Chúng đã tiến đến tận Mạc-tư-khoa để được đánh cho vỡ mõm !) Cuộc chiến đấu của các đồng chí không còn ý nghĩa nữa » (Để rồi xem). « Chúng tôi biết các đồng chí đang khốn khổ và thiếu thốn, bệnh tật và đói khát». (Không cần phải là phù thủy mới đoán ra!) Các đồng chí phải biết là các đồng chí không thể kéo lùi bánh xe lịch sử quân sự lại được ». Bánh xe lịch sử quân sự! Quái đản thật). « Hãy hàng đi. Chúng tôi bảo đảm tính mạng cho các đồng chí trong một trại tập trung với mọi quyền lợi tù binh chiến tranh. Hạn tối hậu thư là hai mươi bốn tiếng đồng hồ. Trường hợp bác bỏ tối hậu thư, chúng tôi sẽ áp dụng mọi biện pháp cần thiết để tiêu diệt các đồng chí trong nháy mắt ». (Phải để muối lên đuôi chúng ta chứ...) « Ngài sĩ quan của chúng tôi ở ngay trước lối vào quả mìn thứ nhất». (Vậy ra là trước cửa « Con Dím ». Ngoài cửa «con Dím» ra, chắc chắn chúng không mảy may ngờ đến các lối ra khác. Cần lưu ý tới điều này!) Ngài sẽ mang găng trắng ».

        Liônya Ximban khẽ nở một nụ cười và anh thay thế chữ «trắng» bẵng một hình dung từ không thê in lên được. Secnôivanenkô nghiêm khắc nhìn anh qua đôi kính và cất cao giọng, nhắc lại:

        «Ngài sẽ mang găng trắng. Cá nhân đồng chí phải đến trình diện với ngài sĩ quan đó, không được mang vũ khí. Chỉ huy quân sự. » Hết, tưởng chúng ta cũng nên ra hàng với ngài mang găng trắng đó — Secnôivanenkô nói. — Các đồng chí nghĩ sao?

        Ông ngoảnh lại và bỗng trông thấy Xiniskin đứng trong hầm. Không ai thấy bác tới. Thật khó tưởng tượng, không có ai giúp đỡ mà bác vẫn đứng dậy, mặc quần áo và đến được tận đấy. Mọi người ngạc nhiên nhìn cái bóng bác dài ngoằng, gầy guộc, mặc chiếc áo ca-pốt như một chiếc áo choàng bệnh viện. Đứng thẳng, nặng nề chống khẩu súng trường, bác thở khó khăn và mỉm cười. Nhưng nụ cười mới rùng rợn làm sao. Nếu tên sĩ quan mang găng trắng có thể trông thấy nụ cười mỉm của Xiniskin, chắc hẳn sẽ lạnh cả người.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Tám, 2020, 10:34:24 pm

        Còn Liônya thì như bị kim châm, nhảy cẫng lên, nhưng đó là vì thích thú quá nên anh mới nhảy cao đến thế.

        — Không, các đồng chí ạ, các đồng chí đã bao giờ nghe những điều như thế chưa? — Anh hét lên và vỗ vào đùi. — Ồ, bọn ngu xuẩn ! Chúng định gọi ai ra hàng mới được? Chúng điên rồi sao? Hình như chúng đã quên hẳn là chúng đang phải đối phó với ai rồi thì phải. Xin phép — anh vừa nói vừa cầm lầy bức thư trong tay Secnôivanenkô. — Ta đi về « góc đỏ » đi. Ta sẽ trả lời chúng. Ta sẽ viết thư cho chúng. — Đôi con mắt màu hạt dẻ của ánh sáng ngời lên tinh nghịch và giận dữ. —  Ta sẽ viết cho chúng bằng những lời lẽ mà các bậc cha ông đáng kính của ta cũng không nghĩ tới khi các ngài viết cho vua Thổ, các đồng chí đã biết đấy, qua bức họa Những người Zapôrôgơ của Rêpin trong Viện bảo tàng Trêchiakôp. Phải thế không, đồng chí Secnôivanenkô ?

        Nhưng Secnôivanenkô lấy lại bức thư trong tay Ximban nói giọng thô bạo :

        — Không !

        — Sao, còn không phải à? — Liônya ngạc nhiên.

        — Không! — Secnôivanenkô nhắc lại và vò nát tờ giấy. Chúng đừng tưởng với bọn chó đẻ như chúng, ta sẽ gửi thư để làm vinh dự cho chúng. Ta không phải là những người Zapôrôgơ. Còn chúng, càng không phải là vua Thổ. Ta không nên đùa với chúng. Ta sẽ trả lòi chúng nhưng bằng một cách khác hẳn. Chúng sẽ thấy, găng trắng như thế nào ! — rồi ông ném bức thư xuống đât.

        — Đúng! — Xiniskin nói. — Tôi đồng ý. Nhưng dù sao cũng phải vào sổ bức tối hậu thư.

        Nói rồi, bác từ từ cúi xuống, rên rỉ, nhặt lấy bức thư thong thả vuốt cho thẳng, rồi nhét vào túi áo.

        — Nikôlai Vaxiliêvich, ai cho phép bác ra khỏi giường? — Secnôivanenkô nói, nghiêm khắc.

        — Tôi khỏe hẳn rồi — Xiniskin đáp, mắt ảnh lên nom thật dễ sợ. — Và tôi yêu cầu đồng chí đừng trở lại vấn đề đó nữa.

        — À, này, các đồng chí — Secnôivanenkô nói. — Ngay bây giờ, chúng ta chưa nên triệt hẳn cửa « Con Dím ». 'Tôi nghĩ chúng ta còn có thể sử dụng nó một lần cuối cùng nữa. Xong, chúng ta sẽ bịt hẳn nó lại và đi lối cửa sau. — Ông rướn cặp lông mày lên, đầy ý nghĩa. —  Chúng ta sẽ đi lối cửa sau. Phải.

        ... Đúng đêm hôm đó, Tulyakôp và Ximban đã xuất kích để lên mặt đất; họ không dùng cửa « Con Dím » bấy giờ đã bị quân Đức và quân Rumani canh gác, cũng không phải cửa « Con Vịt » quá xa làng Uxatôvô, mà dùng cái giếng. Trước hết Liônya Ximban vốn lanh lẹn như một con mèo, khuỳnh hai khuỷu tay tì vào thành giếng, trèo lên và lấy rìu đục chỗ để chân. Anh buộc một sợi thừng dài và chắc chắn vào trụ giếng.

        Gần sáng, khi bọn lính gác cảnh giác nhất cũng đã ngủ say, Tulyakốp và Ximban, mang theo mìn chiến lợi phẩm, ra khỏi giếng lên mặt đất.

        Trời gần như không băng giá nữa. Như thỉnh thoảng vẫn hay gặp ở miền Nam, giữa mùa đông có lúc tuyết tan đột ngột.

        Gió biển man mát thổi và sao lấp lánh theo một nhịp rất đều tưởng như chốc chốc có một bàn tay vô hình mơn trớn, vuốt ve.

        Trên đỉnh đầu, trời xám ngắt, nhưng về phía chân trời thì tối om và trên mặt tuyết mờ đục vắng vẻ, lại đen như nhung.

        Túlvakôp và Ximban đi qua vườn trường không ai canh gác, đến ngay ngôi trường và đặt vào đó ba quả mìn. Hai quả trong trường, ở chỗ cửa sau, và một quả vào đâu đó ở cửa cổng. Họ đã bò rất chậm, qua vườn, họ đã nằm dài rất lâu trong tuyết ướt sũng lắng nghe từng tiếng động khả nghi trước mỗi cây táo bị thỏ rừng nhấm nên công việc đã kéo dài ít nhất mất hai tiếng đồng hồ. Khi họ trở về đến giếng, tất cả gà trong làng Uxatôvô đã gáy ba lần. Họ trèo xuống giếng, tìm cây đèn, đốt lên và cuối cùng về tới doanh trại

        Trong doanh trại, anh em đón họ từ lâu. Mọi người đã tập hợp, mang theo vũ khí và chỉ còn chờ hiệu lệnh để chuyển sang giai đoạn hai của cuộc chiến đấu trá hình. Ngay lập tức toàn phân đội tiến thẳng ra phía cửa « Con Dím ». Đến đấy, họ ra cả bên ngoài và nô một loạt súng chỉ thiên khủng khiếp. Trong hầm mộ còn rất ít đạn nhưng, nhân dịp này, Secnôivanenkô đã ra lệnh cho mỗi người được bắn hết một hộp. Họ bắn từng loạt, từng nhóm và từng đợt theo mệnh lệnh. Xêrafim Tulyakôp bắn liên thanh từng loạt dài. Ximban, thong thả quả một, ném một ít lựu đạn. Khi nổ chủng chiếu sáng cả đất, trời, và xác tù binh bị bắn chết. Đồng thời, họ cố « Hura! » thật to. Họ làm ầm ý đến đỗi từ xa, tưởng như cả một tiểu đoàn đang xung phong.

        Rất nhanh, đây đó, đèn điện bật lên. Nghe có vài phát súng của bọn lính canh hay của bọn tuần tiễu. Pháo hiệu xanh đỏ bay vọt lên không trung xám ngắt, kèn báo động thổi, ở Uxatôvô, một tia chớp vạch ngang trời, một cột khói dựng lên, một tiếng nổ chuyển đất. Có lẽ tên chỉ huy nghe báo động, tỉnh dậy, đã cùng với toàn bộ cơ quan tham mưu nhảy bổ ra ngoài thềm, nơi Tulyakôp và Ximban mới bò qua cách đây không lâu lắm. Rồi khi tiếng nổ thứ nhất chưa hết vang, lại nghe tiếng nổ thứ hai, yếu hơn tiếng thứ nhất một tí, nhưng cũng khá mạnh. Có lẽ chiếc xe xích sắt trực ban khi chạy qua cổng trường đã đâm bổ lên quả mìn kia.

        — Đấy, thư ta gửi cho vua Thổ đấy — Secnôivanenkô nói, sau khi mọi người đã nhanh chóng xuống cả dưới đất, và lối vào « Con Dim», hoàn thành xong nhiệm vụ, đã được cài mìn và bít hẳn lại vĩnh viễn.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Tám, 2020, 10:34:52 pm

       
78


        Và thế là trong hầm mộ lại kéo lê thê những ngày dài vô tận, lạnh lẽo và toi như bưng, ban ngày cũng như ban tối. Chỉ khác ban đêm là không nghe tiếng vo vo của các bếp dầu hỏa. Ngoài việc thể dục bắt buộc, tắm rửa bằng nước lạnh, bảo quản vũ khí đạn được và chuyền điện vào ắc-quy, Secnôivanenkô còn đề ra hàng ngày phải vá quần áo giày dép. Do đó, « Góc đỏ », dưới ánh sáng yếu ớt của ngọn đèn đã thành như một xưởng máy hay xưởng đóng giày.

        Một hôm, Secnôivanenkô lục trên cái giá đá đục vào tường và lấy ra cuốn Tarax Bunba của Gôgôn.

        — Ta phải nghĩ tới văn học một tí — ông nói — ta nên đọc cuốn Tarax Bunba. Đây là một quyển sách tôi rất thích từ hồi còn bé. Nó sẽ cho ta sống lại những trang sử quang vinh. Ta sẽ thấy cha ông ta, những người Zapôrôgơ, đã chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc chống lại quân xâm lược nước ngoài từ phương tây tới như thế nào Nhưng ta muốn người đọc nó phải trẻ hơn một tí. Vậy phải là một đoàn viên Komxômôn, đồng chí Xviatôxlap hay chính ngay các em thiếu niên tiền phong của chúng ta. Thật thú vị khi được nghe một giọng nói trai trẻ kể lại những ngày oanh liệt của thời xưa.

        Và những buổi đọc sách hàng ngày của Ban chấp hành bí mật khu bắt đầu.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Tám, 2020, 10:35:32 pm
        
79


        «Trên lưng cõng mấy bao bột mì, khó khăn lắm Anđri mới cử động được và đi theo cô gái Tatarơ trong con đường hành lang tối tăm chật hẹp », Pêchya đọc, thè lưỡi liếm môi khô và tái nhợt. « Chúng tôi sắp có thể thấy tất cả, chúng tôi tới gần nơi tôi đã cắm bó đuốc...». Hoàn toàn giống như ở chỗ chúng ta, trong hầm mộ —  Pêchya nói.

        — Được rồi. Sau hẵng bình luận — Valentin sốt ruột.— Đọc đi!  

        « Và thực vậy — Pêchya đọc tiếp — những bức tường đất tối tăm bắt đầu sáng lên một tí. Họ đã tới một bãi đất bằng mà có lẽ trước kia có một ngồi nhà thờ. Ít nhất trên tường cũng còn một cái bàn hẹp dùng làm bàn thờ và ở bên trên thây có một bức ảnh Đức Bà Đồng trinh gằn như đã hoàn toàn bị xóa nhòa và phai màu. Một ngọn đèn chong nhỏ bằng bạc treo đẳng trước, lờ mở soi sảng... »

        — Cậu xem, không có gì giống nhau hết —Valentin nói

        — Cái gì «không giống nhau?»

        — Không có gì giống với hầm mộ của chúng ta hết. Tất cả cái đó, hoàn toàn là bịa đặt,

        — Còn bó đuốc? — Pêchya nói.

        — Bó đuốc, ở chỗ chúng ta, là để cho sáng, Còn ở chỗ họ, là một cái gì có tính chất tôn giáo. Thôi đủ rồi, đọc tiếp đi.

        Và Pêchya tiếp tục đọc chuyện người phụ nữ Tataro thần bí nâng bó đuốc đồng dưới đất lên và châm vào ngọn đèn chong.

        «Ánh sáng rõ hơn và họ cùng bước đi, khi thì được soi sáng rất rõ, khi thì bị khuất trong bóng tối đen như mực — Cảnh tượng này làm nhớ tới những bức họa của Jeracdo đenla Nôttê. Gương mặt đẹp đẽ tươi sáng, đầy sức sống và khí sắc thanh xuân của người hiệp sĩ rất trái ngược với gương mặt xanh xao và kiệt quệ của người bạn gái. »

        — Không phải! — Valentin hét lên, lúc lắc hai bím tóc, mắt tức giận long lên sòng sọc. — Không phải, dù sao Anđri cũng là một tên phản quốc thực sự. Bắn chết hẳn là đúng.

        — Người ta đã bắn chết hẳn vì cần thiết — Xiniskin nói, giọng khàn khàn, gõ những ngón tay dài trên bàn đá.

        — Được rồi, cháu Pêchya đọc tiếp đi — Matriôna Têrenchiepna nói. Đừng dừng luôn như thế: — Lối đi mở rộng ra một tí — Pêchya đọc tiếp — nên Anđri đã có thể đứng thẳng người lên. Anh chăm chú nhìn những bức tượng đất ấy, nó gợi cho anh nhớ lại những hang động ở Kiep. Giống y như trong các hang động ở Kiep, ở đây cũng có những hốc nhỏ trong tường và cách từng quãng là những ngôi mộ; thậm chí đôi chỗ, chỉ còn trơ những hài cốt vì ầm ướt đã nhũn ra và biến thành bột. Tất nhiên, ở đây cũng đã có những nhà tu hành, và họ cũng đã trốn tránh những cơn dông tố những buồn thảm, và những sự cám dỗ của cõi đời... »

        — Ngừng lại — Secnôivanenkô bỗng có ý kiến. — Bác chưa hiểu, ai đã tránh trong hâm mộ Kiep khỏi những cơn dỏng tổ, những nỗi buồn thảm, những sự cảm dỗ trên cõi đời này thế?

        — Những nhả tu hành —Pêchya nói.

        — Không đúng ! — Secnôivanenkô hét lên, giận dù.

        — Ở đây, viết như vậy — Pêchya khiêm tốn, nói.

        — Tất cả những điều viết đó đều khồng đúng, khoan một tí.

        Secnôivanenkô khoát tay bảo chú bé đang muốn đọc tiếp ngừng lại, rồi húng hắng ho.

        — Tôi có một nhận xét nhỏ và xin đính chính lại một điểm, Gògôn khẳng định là trong các hang động ở Kiep có những nhà tu hành đã tránh khỏi những cơn dông tố, những nỗi buồn thảm, và những sự cám dỗ ở cõi đời này. Có thể có nhưng nhà tu hành kiểu đó. Thậm chí chắc chắn có như vậy. Nhưng tất cả câu chuyện trong hang động ở Kiep thực tế còn có một ý nghĩa chiến lược và quân sự nữa. Nhân dân Kiep đã trốn vào đó trong thời kỳ bị quân Mông-cổ xâm lược. Trong các hang động ở Kiep, những người thày tu thiện chiến đã cất giấu những kho vũ khí và lương thực. Họ ở trong hang động, xuất kích đánh vào sau lưng địch và đã giáng cho chúng những đòn sấm sét; Họ chiến đấu bảo vệ Tổ quốc chống lại quân xâm lược, và không hề trốn tránh những cơn dòng tố, những nỗi buồn thảm, và những sự cám dỗ. Bởi vậy, đứng về mặt này của câu chuyện, chúng ta phải noi theo họ một phần, nhưng nhất thiết không được tin ở Gôgôn. Ông đã rất khôn khéo, theo cách của ông ta, dẫn bạn đọc đến một lối chống cự thụ động và thậm chí đầu hàng trước những khó khăn. Về phần giá trị văn học, tất nhiên chúng ta không thể có hai quan điểm. Nhất định là hay thật. Thậm chí rất hay. Nhưng đứng về mặt lịch sử mà nói, thì sai —  Secnôivanenkô nói quả quyết. Rồi ông chợt mỉm cười nhìn các đồng chí và nói thêm rất nghiêm trang, nghiêm khắc nữa là khác. — Phải chú ý tới điều đó.

        — Cháu có thể tiếp tục chứ ? — Pêchya hỏi, sau một lát im lặng.

        — Đọc tiểp đi, đọc tiếp đi.

        Nhưng chú bé vừa mới bắt đầu. « Có chỗ rất ẩm ướt dưới chân... » thì Raitxa Lvôpna chợt nói, vẻ mơ mộng

        — Này, các đồng chí có biết mai là Tết đầu năm không?

        Cái tin bất ngờ đó đã đập mạnh vào mọi người. Từ lâu, họ đã quên bẵng mất cái thú của một ngày lễ. Họ không có cái tâm trạng như những hôm trước ngày lễ. Tết đầu năm tới, đối với mọi người, vốn thường gắn liền với bao hy vọng ở tương lai, đã làm họ vô cùng xao xuyến.

        Lập tức, người ta gác quyển Bunba lại và lo chuẩn bị cho ngày Tết đầu năm. Secnôivanenkô đặc biệt vui mừng về ngày lễ này, coi đó như một dịp tốt để làm cho mọi người phấn khởi lên một tí. Ông trở nên rộng rãi và quyết dinh, nhân sự kiện này, cho đốt thêm hai bó đuốc, ngoài ngọn đèn bão công tác. Còn đối với bừa ăn tối long trọng ngày Tết đầu năm, đồng chí bí thư thừ nhất, ngoài món cháo buổi sáng mà mọi người đã quyết định dành lại, chờ bày thêm lên bàn ăn một miếng mỡ với một hộp kẹo caramen con để uống trà.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Tám, 2020, 10:36:04 pm

        Mọi người đều biết Secnôivanenkô còn giữ trong tủ két một số rượu dự trữ rất ngon. Nói thực ra, Liônya Ximban rất chú ý đến số rượu dự trữ đó. Đã mấy lần, rất tế nhị, anh đã xa xôi lái câu chuyện đến vấn đề nóng hổi đó, nhưng Secnôivanenkô hoặc im lặng, hoặc làm ra bộ rất bận rộn. Thực tế, ông cũng rất bận. Ngồi ở bàn đá, đầu đội mũ bịt tai cúi trên tờ giấy, ông cầm mẫu bút chì chậm rãi viết gì đó. Thỉnh thoảng ông dừng lại và ngước mắt lên trời. Nhìn qua, có thể biết ông đang chuẩn bị một bản báo cáo đầy đủ cho ngày tết đầu năm, và sắp đặt chương trình tham luận, vả lại đôi khi trên môi lại thoáng một nụ cười khó hiểu.

        Liônya Ximban cứ lượn quanh đồng chí bí thư thứ nhất mãi. Đôi khi Liônya ngồi vào bàn và, tì lên vai Secnôivanenkô, cố nhìn vào tờ giấy, để xem ông viết sắp xong chưa. Secnôivanenkô lấy bàn tay che phần đã viết lại và ẩy Ximban ra.

        — Liônya, thỏi đừng lượn quanh cái tủ két nữa.

        — Nhưng tôi có lượn quanh đâu? Đồng chí thấy tôi lượn quanh à?

        — Anh lượn quanh.

        — Tôi lượn để làm gì nào ?

        — Không để làm gì cả, chắc chắn là thế. Nhưng thôi dừng mơ ước hão nữa.

        — Tôi mơ ước gì nào?

        — Không có gì quan trọng cả. Nhưng tôi bảo cho anh biết là những mơ ước không có cơ sở đó sẽ vẫn là những mơ ước không có cơ sở.

        — Nhưng tại sao vậy, Gayrin Xêmiônôvich?— Liônya rèn rỉ, giọng than vãn gằn như tha thiết.

        — Bởi vì đó là «dự trữ bất khả xâm phạm ».

        — Thậm chí cho cả một ngày như ngày hôm nay?

        — Thậm chí cho cả một ngày như ngày hôm nay.

        — Thật đồng chí làm tôi ngạc nhiên quá.

        — Thôi đủ rồi. Cuộc thảo luận kết thúc. Để cho tôi làm việc..

        — Tôi không ngờ đồng chí lại quả ư sắt đá như vậy — Liônya nói, thở dài và cử loanh quanh bên tủ, luôn luôn có vẻ như chờ đợi một cái gì. Nhưng thấy vẻ nhìn của Secnôivanenkô, Ximban trố mắt sợ hãi và chuồn thẳng một mạch.

        ... Pêchya và Valentin nằm dài trên chiếc bàn trong phòng họp, đang soạn bài cho số Tết tờ báo tường Người Bônsêvich ngầm. Vì ngày Tết, được hoàn toàn tự do nên chúng bôi gần khắp tờ báo những tranh biếm họa. Có một tranh biếm họa lớn theo kiểu Kukrưnitxư « Thể dục buổi sáng ». Chỗ khác, là tên chỉ huy Rumani cùng với ban tham mưu của hắn bị nổ tung, hay là bà Matriôna Têrenchiepna nước mắt nhỏ ròng ròng, to như những quả nho, đang ngồi cân thức ăn bên một cái cân tiểu ly và bên cạnh cây đèn bão, là Liđya Lvôpna và Xviriđôp đang hôn nhau.

        Nhưng mục chủ yếu của tờ báo là một tranh biếm họa do Liônya Ximban đề xuất và ký tên. Trên bức họa nhỏ đó, chiếm hết một phần tư tờ báo, trình bày cảnh tan rã của quân Đức trước Mạc-tư-khoa, và cảnh ngày Tết đầu năm qua hình ảnh của một chiến sĩ Hồng quân đâm lê xuyên qua người Hitle, Antônexkô, Mutxôlini và tất cả các loại thủ địch của chính quyền xô-viết; những xác chết của bọn Hitle quẳng bỏ vũ khí đi lang thang trên tuyết. Và dưới tất cả cái đó, là một dòng khẩu hiệu. «Tết đến bọn Đức chó đẻ bắt đầu rút lui !».

        Ngoài ra, cũng có nhưng bài đứng đắn. Xviatôxlap đã viết một bải ngắn nói về sự cần thiết, trong dịp đầu năm 1942, phải nghiêm chỉnh chú ý đến trường hợp các em thiếu niên tiền phong Pêchya Batsây và Valentin Pêrêpêlixkaia, vì không có cách nào đến trường được nên có thể bị chậm trễ trong việc học tập. Anh đề nghị phải bắt chúng học mỗi ngày hai giờ và yêu cầu Ban chấp hành khu Đảng bộ, ngay trong dịp này, cung cấp cho các em thiếu niên tiền phong sách giáo khoa và giấy bút. Trong khi chờ đợi có sách giáo khoa, anh khuyên Valentin kèm cho Pêchya và cùng với chú ôn lại toàn bộ chương trình lớp sáu ; còn riêng về phần Valentin thì ôn lại chương trình lớp tám và lớp chín theo hướng dẫn của Xviatôxlap. Ngoài ra, Xviatôxlap còn đề nghị bắt đầu ngay, không chậm trễ, đúng theo điều lệ của thiếu niên tiền phong, cho các em học một nghề nào đó thích họp với công tác bí mặt và giúp được công tác bí mật, ví dụ như vô tuyến điện và ký hiệu Morxơ.

        Pêchya và Valentin tỏ vẻ hoi khó chịu, nhưng dù sao chúng cũng xếp bài của Xviatôxlap nếu không ở chỗ tốt nhất, thì cũng không phải ở chỗ khó thấy nhất. Rồi sau khi suy nghĩ, chúng cũng tự viết một bài cam kết ôn lại toàn bộ chương trình trong thòi gian ở hầm mộ và chuẩn bị thật tốt cho những kỳ thi mùa xuân.

        Xiniskin mang đến một bài đánh máy rất dài và rất chán về lợi ích của kỷ luật, về tinh thần cảnh giác, vế ý thức tiết kiệm đối với vũ khí, đạn được và các tài sản khác củs đơn vị, về những quy tắc ăn ở trong điêu kiện bị bao vây, và về tất cả mọi vấn đề đại loại như vậy. Bài bảo đầy dẫy những câu như «thời gian vừa qua ..» « không chiếu cố đến một loạt khó khăn thường gắn liền với đơn vị khi chuyển sang chiến thuật chống trả tích cực », « do cơ cấu của một môi trường không lành mạnh cho tư tưởng yên tâm, có thể dẫn tới mất cảnh giác vân vân. Đối với bài báo kỹ tên «Người quan sát tích cực », có phần khó khăn. Không xếp hết được. Mà cắt ngắn thì Pêchya và Valentin không dám. Chúng đã tìm ra một lối thoát rất đơn giản: chúng dán bài bảo y nguyên như thế đối với phần có thể xếp gọn vào tờ bảo được, còn cái đuôi không xếp được, chúng cứ để lủng lẳng ở bên ngoài. Nói tóm lại mọi việc đều diễn ra như thường lệ đêm trước lễ trong một xí nghiệp xô-viết nhỏ, như trên đầu họ không có bọn phát-xít đang đi lại, và xung quanh không có một tí gì nguy hiểm. Khung cảnh đó đã toát lên một niềm hứng thú rất đặc biệt.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Tám, 2020, 02:06:30 pm

80

        Khi đã dán tờ báo tường trang nhã của ngày Tết đầu năm còn ướt và nặng hồ, và ngắm chê ngắm chán, Pêchya và Valentin đi ra giếng để nhổ hành. Giò hành xanh mà chúng đã cấy cạnh giếng, ở chỗ có ánh sáng nhợt nhạt ban ngày, phải là một trò bất ngờ của chúng trong ngày Tết đầu năm. Chúng thích thú trước niềm hân hoan và vẻ kinh ngạc của toàn đơn vị khi thấy ở trên bàn, ma nào biết từ đâu, xuất hiện một nắm hành xanh tươi.

        Một là nó đẹp, hai là nó ngon lành, ba là rất bổ ích cho những người thường xuyên thiếu vitamin. Pêchya với tư cách là phó chủ tịch câu lạc bộ các nhà thực vật học trẻ tuổi và là một người tuyệt đối trung thành với khoa học, quan tâm đặc biệt đến chất vitamin.

        Chúng ngồi xồm xuống, nhấc cái bầu kính ra rồi hí hoáy nhổ những mầm hành héo, ngắn ngủn, không đẹp một tí nào như chúng thường xuyên hình dung thấy. Nhưng dù sao, đó Cũng là hành « xanh » ai muốn nói gi thì nói, nó cũng chứa khá nhiều vitamin.

        Chú bé nhổ giò hành hết sức cẩn thận như không phải là một giò hành mà một cây thần kỳ quý giá, và đồng thời chú hình dung thấy rất rõ những điểm có thể viết thành một bài báo giật gân cho tờ Sự thật Thiếu niên, nếu tất nhiên, có thể chuyển được nó từ Uxatôvô về tới Mạc-tư-khoa. Đối với công tác thông tín viên thì đây mới thật là một công tác! Đừng nói với tôi câu này nữa. « Trên máy bay số mấy, số mấy, ở độ cao 1.400 mét trên mặt biển »... Không! Phải là thế này: « ở hậu địch, trong hầm mộ, ở độ sáu mười lăm mét « dưới » mặt biển. Đó sẽ là thắng lợi của việc vận dụng vào thực tế môn thực vật học để phục vụ những nhu cầu của phong trào du kích ở hậu địch. Tất nhiên Pêchya sẽ không nêu bật vai trò đặc biệt của mình trong việc tổ chức hoàn toàn khoa học các cuộc thí nghiệm cách chăm bón hành, che kín trong một cái bầu thủy tinh thông thường ở độ sâu mười lăm mét dưới mặt biển. Chú sẽ hoàn toàn khách quan, đúng như một nhà bác học tiên phong chân chính. Nhất định chú sẽ nêu cả cô nữ thiếu niên tiền phong Ôđetxa, Valentin Pêrêpêlixkaia, đã cộng tác trong việc áp dụng các kiến thức khoa học của chú, mặc dù cô không có một trình độ khoa học đầy đủ và không phải luôn luôn thống nhất quan điểm với chú về ý nghĩa các sinh tố đối với sức khỏe con người. Nhưng dù sao chú cũng sẽ khách quan. Có lẽ chú còn tỏ ra khiêm tốn một cách đáng ca ngợi, và chú sẽ viết « Một nhóm thiếu niên tiền phong gồm có Pêchya và Valentin Pêrêpêlixkaia, dưới sự lãnh đạo của Pêchya Batsây, phó chủ tịch câu lạc bộ các nhà thực vật học trẻ tuổi, đã thu được những kết quả rực rỡ trong vấn đề trồng hành thông thường, có nhiều sinh tố c...»

        — Ô, Pêchya. — Valentin hét lên. — Nhìn kia.

        Pêchya nhìn và thấy một cái gì có lẽ rất bình thường, nhưng đồng thời cũng rất lạ lùng, nên ngay lúc mới thấy, chú đã tưởng mình nhầm lẫn. Ở giữa giếng, đúng ngay lối vào hầm mộ, lơ lửng một cái làn, một cái làn thông thường kích thước trung bình, loại làn mà những bà nội trợ ở Ôđetxa thường dùng để đi chợ. Trong lần có một cái gì gói trong một chiếc khăn bông thêu máu xám. Valentin cúi gập người xuống tận thắt lưng vào trong giếng, tháo cái làn ở sợi thừng từ bén trên dòng xuống và kéo vào trong đường ngầm... Chúng cúi nhìn vào cái làn bí mật, và thoạt tiên thấy một mảnh giấy con cài vào chiếc khăn bông. Trên tờ giấy, hình như xé ở một quyên vờ học sinh ra, viết bằng bút chì bi, chữ viết nắn nót kiều học sinh. « Chúc mừng các đồng chí thân mến ! Ngon miệng và sức khỏe tốt hơn ! Gửi được ít quá, xin lỗi các đồng chí; gần như không còn gì hết ở nhà chủng tôi nữa, vì chúng đã cướp sạch. Gửi cho bản thông cáo của Thông tấn xã xô viết, chúng tôi sốt ruột lắm. »

        Pêchya và Valentin hết sức thận trọng mở cái gói khăn buộc thắt nút ra, liếc nhìn vào trong lần rồi phấn khởi quá, chúng hét ầm cả lên.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Tám, 2020, 02:07:31 pm

        Và trong cái đêm trang trọng của ngày Tết đầu năm đó, trên bàn của những người bí mật, để liên hoan, ngoài món cháo, miếng mỡ và cả một hộp kẹo caramen nhỏ, như có phép thần thông, đã xuất hiện một mét năm mươi xúc xích, một cuộn kalasơ tròn, xoắn hình tròn ốc như một cái lò xo đồng hồ, làm bằng bột lúa mạch màu xám và bốn ca rượu vang đó nhà làm lấy, một màu tím đen, sủi bọt hồng hồng, đựng trong một cái bình sành bọc bằng mảnh vải.

        — Này đồng chí Gayrin Xômiônôvich, đồng chí nghĩ sao — Ximban hét lên đắc thắng, xoa tay khi nhìn thấy bình rượu — ở đời có công lý hay không?

        — Ở đời có công lý đấy — Secnôivanenkô đáp.

        — Trên kia có Chúa Trời không?

        — Không, trên kia không có Chúa Trời.

        — Vậy thì có gì trên ấy.

        — Con người—Secnôivanenkô nói, mắt sáng ngời tự hào, nhấn mạnh vào tiếng « con người» — Con người sống trên đó. Những người xô viết dũng cảm. Tất cả đảng viên của Đảng và những người ngoài Đảng, nhân dân !

        — Đồng chí đã nói trước ý nghĩ của tôi. Tôi cũng định nói như vậy nhưng bằng những lời nói khác, thích hợp hơn với ngày Tết đầu năm. Trên ấy, có nhân dân, đồng ý. Và nhân dân là bất tử. Vậy nhân dân cũng như Chúa Trời. Đồng chí hiểu ý tôi chứ?

        — Con người! —Secnôivanenkô hét lên, vừa hài lòng, vừa giận dữ cùng một lúc.

        — Rất đúng — Ximban vội vã nói — Vi vậy, phải nâng cốc chúc mọi người. — Rồi nhanh nhẩu, anh cầm lấy cái bình.

        Seenôivanenkô, cẩn thận giằng lấy cái bình trong tay anh rồi để sang một bên :

        — Đúng nửa đêm, sẽ bắt đầu nâng cốc — ông nói.

        — Thế mấy giờ rồi?

        — Kém hai mươi.

        — Sao đồng chí biết?

        — Theo đồng hồ nhà ga của tôi.

        Secnỏìvanenkô gí chiếc, đồng hồ ngay vào mũi Ximban. Nó chỉ mười hai giờ kém hai mươi.

        — Đúng — Liônya nói, ngạc nhiên. —Nhưng nó đã ngừng chạy rồi kia mà?

        — Ấy, nó mới chạy đấy.

        — Gớm, ma bắt đồng chí — Liônya nói, cười rộ lên. — Ai đồng chí cũng xoay được. Tôi biết chắc đồng hồ của đồng chí đã không chạy nữa rồi.

        — Nó không chạy nhưng nó chỉ giờ. Thế mới tài tình.

        — Được, đồng chí thì chẳng ai thay đổi nổi — Liônya nói, Vẻ giận dỗi, quay mặt đi, cố ý không nhìn vào bình rượu.

        Thực thế, «thay đổi» được Secnôivanenkô là điều rất khó, kể cả trong cái đêm Tết đầu năm này. Ông vẫn phải trung thành với bản thân, kể cả ở đây. Ông không thể mất trật tự, vô kỷ luật. Tất cả phải theo nguyên tắc một cách nghiêm túc. Ông đã cố ý để chiếc đồng hồ hỏng chỉ mười hai giờ kém hai mươi. Lát nữa, ông sẽ cho nó chỉ nửa đêm để buổi lễ Tết đầu năm được cử hành theo đúng mọi thủ tục. Còn thực tế mấy giờ thì ông không hề biết: có lẽ là ba giờ sáng...

        Khi mọi người đã ngồi vào quanh bàn, ông mới xem đồng hồ và nói:

        — Mười hai giờ kém năm! Chuẩn bị... — có Matriôna Têrenchiepna làm ơn cắt bánh mì và xúc xích cho các đồng chí, rồi rót cho mỗi người nửa chén vại rượu vang. Các cháu cũng thế.

        Mặc dù mọi người đều biết đồng hồ của Secnôivanenkô không chạy, và tất cả cái đó chỉ «để đảm bảo nguyên tắc», nhưng ai nấy cũng đều cảm thấy phấn khỏi trang nghiêm. Lúc này, chung quanh đều có vẻ Tết: hai ngọn đèn đốt thêm, tấm khăn trải giường sạch sẽ phủ trên bàn, tờ giấy trắng mới tinh có vẽ hoa dây mà Matriôna Têrenchiepna đã lấy để che cái «tấm ván» để sách.

        Những con mắt thâm quầng sáng hẳn lẻn. Màu đỏ trở lại trên các khuôn mặt võ vàng. Secnôivanenkô lại xem đồng hồ.

        — Chịu khó đợi một tí nữa — ông nói vẻ đôn hậu. —  Kém một phút. — ông nâng chén — Thế là đúng nửa đêm. Chúc các đồng chí, năm mới!

        Ông nâng chén rượu cao hơn nữa, rồi bỗng, cương quyết, ông lớn tiếng hát bài Quốc tế ca. Mọi người đứng dậy, tay cầm cốc và tất cả cùng cất tiếng hát tiếp bài ca hùng tráng đó, bài ca đã gắn liền với biết bao kỷ niệm vinh quang, bài lễ ca của giai cấp vô sản, bài lễ ca uy nghiêm của chiến đấu và chiến thắng. Họ hát từ đầu chí cuối, không bỏ một đoạn nào, với một niềm phấn hưng luôn luôn đổi mới, một say mê mãnh liệt thêm mãi, đặc biệt đồng thanh hát lại điệp khúc:

                                       Đây là trận cuối cùng!
                                       Đoàn kết lại để ngày mai
                                       L'Internationale
                                       Sẽ là xã hội tương lai...


        Cốc cầm ở tay, họ đi từ người này đến người khác, chạm cốc và hôn nhau.

        Pêchya trông thấy ngay gần mình hai con mắt Valentin đen nhảnh và mở rộng. Cũng trong lúc đó, máu dâng lên đầu và màu đỏ thẹn thùng tràn ngập cả gương mặt chú bé một cách rất mãnh liệt, làm nước mắt chú trào ra và mắt mờ đi. Với bàn tay giá cóng, Valentin ôm lấy đầu chú rồi ghé đôi môi đầy đặn lạnh buốt, hôn chú ba lần vào má. Cốc rượu run run trong bàn tay chú, rượu vang đổ lênh láng trên mặt bàn, và lập tức trở thành màu tím trên tấm khăn trắng tinh.

        Pêchya thấy Xviatôxlap nâng cốc rượu tiến về phía chúng. Qua lớp sương mù, chú nghe tiếng nói vui vẻ của anh :

        — Nào chúc các thiếu niên tiền phong lêninit, một năm mới!


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Tám, 2020, 02:08:14 pm

        Rồi chú thấy hai người hôn nhau. Họ hôn nhau gần giống như Pêchya và Valentin, chỉ khác là Xviatôxlap. mắt sáng ngời vàng rực đã ôm lấy Valentin, tay quàng ra sau mái đầu rất chải chuốt, ở chỗ gáy có bím tóc lủng lẳng, rồi kéo cô vào lòng. Đáng lẽ hôn lại anh, nhưng Valentin bỗng đỏ bừng mặt, rồi nồng nàn mạnh bạo như trong cơn giận dữ, cô nhắm mắt lại, gục đầu lên vai Xviatôxlap. Thế rồi, anh dịu dàng cúi xuống và hôn lên đôi môi tươi cười của Valentin ba lần.

        — Nhưng có diều tôi ngạc nhiên — Liônya Ximban nói to — là thái độ của đồng chí bí thư thứ nhất kính mến chúng ta : các đồng chí cũng đã nhận thấy đấy, đồng chí đã không làm cả báo cáo công tác nữa.

        — Báo cáo công tác của chúng ta đã có đây rồi —  Secnôivanenkô vừa nói vừa thú vị uống từng ngụm nhỏ rượu vang và cứ mỗi lần lại liếm môi như một đứa trẻ — Đây, bản bảo cáo công tác của chúng ta đây.

        Ông lấy ở bàn lên mảnh giấy con đã găm ở cái làn.

        Đây là sự đánh giá của nhân dân đối với công tác của chúng ta. Cứ xét qua xúc xích, bánh mì và rượu vang đó ngon, sự đánh giá nói chung là tốt. Nhưng nó cũng bao gồm một số ý kiến phê bình. Nhân dân ám chỉ đến những thiếu sót trong công tác của chủng ta. Họ yêu cầu chúng ta không được quên mang đến tận tay họ, đúng thời gian, các bản tin của Thông tấn xã xô- viết. Và tôi nghĩ, bắt đầu năm 1942 này, chúng ta phải quan tâm đến điều đó trong công tác của chúng ta. Vì chúng ta không phải chỉ là những người lính mà còn là những cán bộ tuyên truyền nữa. Bởi vậy tôi nhắc lại các đồng chí những lời nói của Vlađimia Ilich Lênin đọc trước các chiến sĩ của Đảng trong thời kỳ Nội chiến mà tôi nhớ mãi đến tận hôm nay : « Các đồng chí phải nhớ rằng các đồng chí không phải chỉ là những người cổ động tuyên truyền mà các đồng chí còn là những người đại diện của chính quyền xô viết, mỗi tuyên truyền viên là một người đại diện toàn quyền của chính quyền xô viết ».

        Tuy ngắn nhưng dù sao đó cũng là một bài diễn văn. Rồi Seenôivanenkô cũng không đọc gì khác nữa. Bữa ăn tối diễn ra vui vẻ nhưng tiếc thay, quá nhanh chóng.

        Ôi chao, thú biết bao, có thể nói là hạnh phúc biết bao khi được bỏ vào miệng những miếng xúc xích rán ngon lành vàng rộm lại thêm hành, hạt tiêu, kèm với món kalasơ bằng bột lúa mạch màu xám và uống một ít rượu vang đỏ chát làm cho môi tím bầm lại!

        Dù sao, đối với hai mươi người ăn, cũng không có gì nhiều lắm. Tất cả mỗi người chỉ được chừng mười phân xúc xích với một mẩu bánh. Riêng rượu thì còn ít hơn nữa, mỗi người được ba phần tư chén. Cho nên họ chuyển ngay sang phần cháo.

        Sau bữa ăn tối, như thường lệ, họ bắt đầu người nào việc nấy.

        Raitxa Lvôpna hát đầu tiên. Vì uống rượu, mắt chị đỏ bừng, vui sướng tràn trề, rồi bỗng trong chốc lát, ở chị thấy sống lại cô Raitxa Lvôpna ngày xưa, nhạc sĩ và dễ thương. Bằng một giọng hát mạnh mẽ, duyên đáng, say sưa, thích thú, chị hát bài Gió thổi và có vẻ hờn dỗi, chị giơ tay ra hiệu để mọi người cùng hát theo mình, nhưng ai nấy vẫn ngồi im, đắm đuối nghe chị hát. Va như vậy là chị hát một mình, Tarax Xêrêda đệm đàn măng-đô-lin. Hát xong, chị gục cái đầu rối bù vào bàn tay, và không ai còn biết chị làm gì nữa, chẳng biết chị đang cười ngượng ngùng hay đang khóc. Nhưng khi chị ngẩng đầu lên thì hai mắt chị lại tối sầm xuống và ráo hoảnh.

        — Bây giờ xin phép các đông chí cho tôi đơn ca một bài và các đồng chí sẽ hưởng ứng tôi, — bỗng Secnôivanenkô nói; ông chưa bao giờ hát đơn ca và thường chỉ hát theo bằng cái giọng trầm trầm của mình.

        Cảm động ra mặt, ông lục lọi trong đám giấy của mình, mang kính vào và nhìn có vẻ tranh thủ mọi người rồi tay gõ nhịp, bất thình lình cất tiếng hát một cách thích thú và rất mãnh liệt theo điệu một bài hát phổ biến hồi thanh niên.

                                       Trong hầm sáu thăm thẳm
                                       Nơi không khi chỉ vừa đủ thở
                                       Mội gia đinh hòa hợp nhất trần gian,
                                       Sống giữa những cơn sụt lở !

        — Vì ở chỗ chúng ta, trong tổ chức, thiếu hẳn một hội viên Hội nhà văn xô-viết, nên tôi phải tự mình... Nhưng thôi hát đi, các em! đồng thanh, chúng ta cùng hát đi! — rồi mắt kính lấp loáng, ông gào lên và vung vẩy mẩu bút chì.

                                       Tin tưởng sẽ cho ta hy vọng,
                                       Tin tưởng sẽ cho ta dũng cảm.
                                       Ai tin tưởng sẽ luôn luôn thắng
                                       Và sẽ không lùi bước bao giờ !


        — Giỏi thật! — Xiniskin nói, giọng khàn khàn và thậm chí bác còn nhắm nghiền mắt lại để nước mắt trào ra. —  Thật là một thanh niên, đồng chí bí thư của chúng ta !

        Rồi mọi người, vô cùng thích thú và đầy ý tứ, cất giọng hát: Ai tin tưởng sẽ luôn luôn chiến thắng Và sẽ không lùi bước bao giờ!

        Pêchya ngồi im, nhìn ra trước mặt. Trong đôi mắt mệt mỏi của chú, những ánh đuốc nhỏ tăng gấp đôi lên. Nó gấp đôi lên, nhân lên, và lan trên khắp không gian tối tăm của hầm mộ vô số những mảnh pha-lê như những ánh lửa nến trên cây Nôen.

       
HỂT TẬP MỘT


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Tám, 2020, 02:09:34 pm

       
TẬP II


I

        Mới đầu, công việc làm ăn của Kôletnisuc khá phát đạt. ông có một tờ chứng chỉ « tốt», chính quyền chiếm đóng không nghi ngờ gì về ông cả. Ông là một kế toán viên, không đảng phái, ở Glapsai, con một gia đình tiểu tư sản ở Ôđetxa, nhân viên chào hàng của hãng tơ lụa Pơtasnikôp nổi tiếng. Nghĩa là ông được coi như có tài buôn bán. Người ta cho phép ông mở ngôi hàng « Jorjơ», J. N. Kôletnisuc, chủ nhân, không gây khó khăn gì.

        Nhiệm vụ Secnôivanenkô giao cho Kôletnisuc, trước hết là dùng hiệu đồ cũ « Jorjơ » làm trạm liên lạc, hai là Kôletnisuc, trưởng trạm, thu lượm cho Secnôivanenkô những tin tức cần thiết, và ba là với tư cách chủ hiệu, nạp toàn bộ lời lãi vào quỹ ban Chấp hành bí mật khu.

        Tất cả những công việc đó rất phức tạp và nguy hiểm. Nhưng Kôletnisuc như không để ý đến những mối nguy hiểm đang luôn luôn đe dọa ông. Ông hoàn thành trung thực nhiệm vụ đối với Tổ quốc cũng đơn giản và khiêm tốn như khi ông làm kế toán trong cơ quan Nhà nước ở Glapsai trước thời kỳ phát-xít chiếm đóng. Thậm chí có lẽ hiện nay, Ông còn có vẻ bình tĩnh hơn, ít ra đó là theo bề ngoài. Công việc của ông, biết đánh giá thế nào nếu không gọi là anh dũng?

        Ông không thể nào quen được với nghề buôn bán « riêng lẻ » bị khinh miệt này. Nhưng ông biết ông phải nhận cái việc nhục nhã đó là vì nghĩa cả. Ông đã hứa với Secnôivanenkô và đưa hết tâm sức mình để kinh doanh thật tốt.

        Nhưng ông không biết buôn bán, mặc dù đã cố hết sức học hỏi cái khoa học không lấy gì làm phức tạp lắm đó. Từ nhỏ, ông vẫn khinh ghét bọn con buôn. Chính việc phải trở thành con buôn đã làm ông luôn luôn bực bội. Không thể nào buôn bán phát đạt và kiếm được lời lãi nếu không lừa đảo, nếu không dùng đến cái tài xoay vặt hàng ngày, mà việc đó thì ông không thể nào làm được, vả lại, tất cả không phải mỗi lúc đã thấy rõ ngay, mà mãi khoảng chừng một năm, sau khi chăng tấm vải xanh lên trước cửa hiệu mang dòng chữ nhục nhã: « Cửa hàng tầm tầm Jorjơ, J. N. Ivôletnisuc, chủ nhân ».

        Mấy tháng đầu, mọi việc đều trôi chảy, nhưng không phải do tài buôn bán của Kôletnisuc. Đó là nhở Secnôivanenkô đã cung cấp cho cửa hàng những hàng hóa thông dụng mà Kôletnisuc đem bán với giá rất rẻ nên cửa hàng sớm trở thành một hiệu đồ cũ đông khách nhất, không những chỉ trong phố Ribát, mà còn ở tất cả tỉnh « Trannixtri» và đến cả bên kia biên giới, ở Akecman, ở Kisinep, và thậm chí, theo người ta nói, ở cả Jatxy nữa.

        Khách hàng thật đuổi đi không hết. Bán chạy nhất là những tấm hàng dệt kim của Lêningrat để may nam phục. Nói thật ra thì tất cả việc buôn bán của Kôletnisuc đều dựa vào thứ hàng Lêningrat đó mà ông đã đem bản đổ bán tháo. Xe đạp Khackôp và máy ảnh « FED » cũng bản chạy không kém. Kôletnisuc đắc chí một cách ngây thơ, nghĩ rằng thắng lợi đó là do tài buôn bán của mình.

        «Ồ kể ra ta cũng có tài buôn bán đấy chứ! » ông nghĩ thầm và không khỏi có phần ngạc nhiên.

        Trong quỹ, những đồng mác chất đống lên và thậm chí còn có cả vài trăm đồng mác quốc xã loại chiếm đóng nữa. Ông xếp cẩn thận tất cả vào két sắt. Ông khoái trá nghĩ tới khi Secnôivanenkô hỏi đến tiền và ông sắp tiền lên mặt quầy hàng ra vẻ đắc thắng. Ông hình dung Secnôivanenkô phải lóa mắt xiết bao trước kết quả buôn bán của ông.

        Thời gian đầu, Secnôivanenkô không xuất đầu lộ diện.

        Người ta chỉ biết được tin ông qua những cột báo nhỏ nói về hoạt động của một nhóm du kích bí mật nấp dưới hầm mộ Uxatôvô. Kôletnisuc thỉnh thoảng đọc thấy trong tờ bảo Ồđetxa xuất bản bằng tiếng Nga.

        Trong thời kỳ phồn vinh ngắn ngủi của cửa hiệu, Kôlet- nisuc đã cố gắng làm ra vẻ một nhà kinh doanh đạo mạo, chững chạc. Từ lúc còn bé cho đến mãi sau này, ông nhớ mãi bộ dạng tay cửa hàng trưởng của hãng Pơtasnikôp đâu tên là Prơjêvenxki, một tên Ba-lan rất đường bệ ăn mặc đỏm đáng lại lịch thiệp, làm chết mệt tất cả các bà khách đứng đắn của nhà hàng. Cái áo jaket, cái quần may đo, chiếc ca-vát cài thêm viên ngọc « mắt công» cái áo ngoài mùa thu gấu xòe, chiếc mũ quả dưa, bộ ria vênh ngược và, cuối cùng, cái giọng trầm tràm ngọt lịm phát âm vô cùng cung kính những tiếng « thưa bà » và « thưa ông », tất cả những cái đó xem như là đỉnh cao của sự thanh lịch nam giới. Hiện nay, để ngụy trang tốt hơn, Kô- letnisuc đang cố tạo cho mình cái bè ngoài của tay Prơjêvenxki. Ông đã kiếm được ở chợ một chiếc áo dạ gấu xòe mùa thu, giống như áo của Projêvenxki (có lẽ chính áo của Prơjêvenxki cũng nên!) rồi cố chọn trong số mũ quả dưa tồn kho một chiếc không cũ quá và cuối cùng ông nuôi râu mép. Râu mép của ông vốn màu xám nhưng không biết tại sao lại ngả thành màu xám nâu. Nó có thể là ria của một ông già Zapôrôgơ hay của một người vận tải muối từ Pêrêkôp đến Pôntaya. Kôletnisuc bèn mua một lọ thuốc nhuộm tóc Đrexđơ chính hiệu và nhuộm bộ râu Zapôrôgơ, thế là nó trở nên đen nhánh. Ông vuốt sáp và xoắn vênh nó lên. Gương mặt ông do đó có một vẻ kỳ quái, gian ác khó tả, nhưng đồng thời lại ngây ngô non choẹt và có vẻ dút dát. Ông không tìm được cái jaket nào và cái quần nào vừa ý cả. Nhưng trong đống đồ tập tàng của cửa hiệu, ông cũng kiếm được mấy tá cổ cồn và yếm sơ-mi, nên cuối cùng Kôletnisuc tuy không giống hẳn được Prơjêvenxki nhưng cũng không khác xa lắm.

        Tuy bận rộn với những công việc bực mình đó, Kôletnisuc vẫn không phút nào quên Raitxa Lvôpna. Đây là lần đầu tiên trong đời, ông phải sống một mình, xa vợ. Không có vợ, ông cảm thấy hết sức cô đơn, buồn bã; ông ngậm ngùi lo lắng cho số phận nhất là những buổi tối, khi chỉ có một mình trong gian buồng bẩn thỉu, vẳng vẻ. Có lúc, ông đã định bỏ mặc tất cả, trốn khỏi cái cửa hàng tầm tầm ghê tởm này, với chiếc áo gấu xòe, cái mũ quả dưa, bộ râu mép lố bịch và cả bản thân ông nữa. Nhưng ông biết là ông đang làm nhiệm vụ chiến đấu nên lại cố hết sức làm việc.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Tám, 2020, 02:11:17 pm

       
2

        Sau những thắng lợi nhất thời đầu tiên, Kôletnisuc nhận thấy thu nhập sụt xuống. Trong một thời gian dài, ông không tìm ra nguyên nhân tại sao việc buôn bán của ông lại sút kém. Tuy lý do thật đơn giản. Ông đã bán hết rất nhanh tất cả những thứ hàng quí, tất cả những tấm vải Lêningrat thực tế có một giá trị lớn. Các hàng hóa khác ít người ham chuộng.

        Mãi vào cuối giêng mới có tin của Secnôivanenkô.

        Một buổi sáng, một thanh niên vào cửa hàng, khoác áo ba-đờ-xuy cổ da cừu, đầu đội mũ lông thú mới toanh, chân đi bốt cao su: người này có vẻ như vừa ở hiệu quần áo may sẵn ra. Tóm lại, là một chàng thanh niên sung sướng, khả giả, may mắn, có điều người ta hơi khó chịu về mấy nếp gấp ở lưng và ống tay áo, trông biết ngay là chiếc áo ba-đờ-xuy để lâu trong hòm và khi lấy ra mặc không là lại. Chiếc mũ mới toanh của anh ta cũng có vẻ như vậy, lớp lông thú bị gí xuống chĩa ra tứ phía.

        Sau khi rũ tuyết ở ngưỡng cửa, người thanh niên tiến đến gần Kôletnisuc. và dịu dàng nhìn ông bằng đôi mắt con gái màu nâu ươn ướt trong đó, đâu từ đáy mắt, hiện lên một quyết tâm lớn:

        — Chào bác Ghêorghi Nikiforovich — người thanh niên nói rành rọt — Chị Xôfya Pêtrôpna cho tôi đến hỏi xem bác có nhận được thư của ông Xênêrinôpxki ở Bucaret không?

        Kôletnisuc mừng quả. Ông toét miệng ra cười rồi thở dốc vì không nén được sung sướng sau bao ngày mong đợi ông đọc lên câu nói đã học thuộc lòng — Anh xem, đã hai tháng nay rồi, ông ấy không viết thư cho tôi. Người đâu mà vô tâm thế!

        Mắt người thanh niên ngời sáng:

        — Này — anh ta thì thầm rất nhanh và liếc nhìn về phía cửa ra vào. Tôi xin chuyển đạt cho bác những ý kiến của Secnôivanenkô. Trước hết, nhiệt liệt chúc bác chiến đấu thẳng lợi và sau đây là một số nhiệm vụ. Chúng tôi cần có gấp giấy than và băng khổ mười ba ly cho máy đánh chữ. Có thể nhờ bác được không?

        — Thưa ông nhất định được ạ — Kôletnisuc cúi gập người trên quầy hàng, nói với giọng nói thường ngày của Prơjêvenxki. Nhưng ông nhớ lại và nói chữa — Tôi sẽ kiếm ra cho anh. Bao nhiêu giấy than, bao nhiêu băng ?

        — Từ hai đến ba trăm tờ giấy than và năm cuộn băng. Càng nhiêu giấy càng hay. Bác biết không, dự trữ của chúng tôi đã cạn mà phải dùng rất nhiều.

        — Tôi hiểu — Kôletnisuc gật gật đầu — Tôi sẽ cung cấp cho anh.

        — Bây giờ cái khác: một đôi ác-quy ô-tô thường, nhưng phải nạp điện đầy đủ.

        — Việc này có khó hơn — Kôletnisuc nói, vẻ nghĩ ngợi.

        — Có phải moi ở dưới đất lên đâu !

        — Tôi sẽ cố gắng hết khả năng.

        — Không phải là «hết khả năng» mà là «đồng ý» — người thanh niên nói và bực tức xoay cái mũ trên đầu. Kôletnisuc ra vẻ bất bình khẽ nhích bộ ria nhuộm nhưng ông không nổi nóng mà lại vỗ nhẹ bàn tay lên quầy hàng rồi nói to:

        — Vâng thì đồng ý! Tôi sẽ chạy được — Rồi ông lại toét miệng ra cười kiêu dân cô-dắc Zapôrôgơ.

        — Được, phải nói như thế chứ ! Yêu cầu bác gói tất cả các thử vào một gói, nếu có thể, và tốt hơn nữa, nếu bác làm được, đóng vào thùng gỗ, giao đến số nhà 18 phố Pisônôpxkaia. Đừng ghi, nhưng nhớ kỹ lấy; Pisônôpxkaia 18, nhà Ôpsarenkô. Bác nhắc lại xem!

        — Pisônôpxkala 18, nhà Ôpsarenkô — Kôletnisuc ngoan ngoãn nhắc lại.

        — Đúng thế. Chỉ có gia đình Ôpsarenkô ở đấy thôi! Không có nhà nào khác nữa. Gõ cửa vườn và trao cái gói cho người ra mở cửa, nói là của Xôfya Pêtrôpna. Họ sẽ gửi tới nơi cần thiết.

        — Sẽ làm đúng như thế.

        — Còn một vấn đề nữa người thanh niên ngập ngừng nói — Tiền ! Đưa cho tôi số quỹ, tất cả số bác có vì ở chỗ chúng tôi, đã hai tuần nay phải nhịn ăn. Buộc phải đi mua thức ăn ở chợ, ở đấy rất không may là chẳng ai cho không một tí gì. Việc này phải làm thật nhanh vì có một đồng chí đang đợi tôi ở gần tiệm cà-phê Rôbina.

        Chốc chốc lại nhìn ra cửa, Kôletnisuc kéo chiếc hòm con ở trong ngăn kẻo ra và nhét vào túi áo người thanh niên tất cả số tiền mặt đựng trong đó.

        — Trời đẹp thật! — anh kia vừa nói vừa chìa cho Kỏletnisuc một bàn tay mà tất cả lỗ chân lòng, tất cả những nếp nhăn đều dinh bụi xám dưới hầm — Rất cảm ơn ! Mong gặp lại bác một ngày gần đây!

        Họ nắm chặt tay nhau và khi người thanh niên đã bước khỏi cửa hàng, Kôletnisuc mới giữ anh ta lại:

        — Này, khoan đẩ. Còn biên lai?

        — Đúng đấy.

        Người thanh niên đếm nhanh tiền, viết biên lai vào mẫu giấy Kôletnisuc đưa cho và biến mất cũng nhanh như khi di vào.

        Tất cả sự việc diễn ra hết sức nhanh chóng và chinh xác làm cho Kôletnisuc không khỏi ngạc nhiên. Một lúc sau ông mới nhớ ra là đã quên không hỏi thăm Raitxa Lvôpna. Cứ thế, không ba-đờ-xuy, không mũ, ông chạv bổ ra phố để gọi người thanh niên. Nhưng người kia đã biến mất hút.


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2020, 10:32:17 pm

3

        Một ngọn gió lạnh buốt đâu từ trên mái nhà thổi xuống quất vào mặt Kôletnisuc. Mây dồn dập đuổi nhau trên phố Ribat. Một trận gió đông bắc lồng lộn rít lên nghe như tiếng đá mài. lùa vào các lỗ hổng những ngôi nhà đổ nát, vào các cửa sổ toang hoác, thổi rạp những cây ngũ sắc xuống và đung đưa những quả lúc lắc đen dài như dây giày. Và giữa cái cảnh hỗn độn màu trắng đang bao trùm thành phố đó, có những bóng người mờ mờ nối nhau lướt qua, chân bước không vững, người cúi gập, đi ngược chiều gió, kéo theo sau những chiếc xe trượt tuyết chất đày quân áo đồ đạc và trẻ con bọc trong chăn bòng. Đó là những người Do thái đi Pêretxy để tới trại tập trung theo lệnh của bộ chỉ huy quân sự. Họ ngoan ngoãn đi một mình không cần phải có người áp giải.

        Tuyết phủ đầy người, lông mi và râu mép lạnh cứng, Kôletnisuc lại trở về với cái cửa hàng tối tăm. Không lau mặt, ông ngồi xuống chiếc ghế cạnh cái lò con bằng sắt đó hồng. Ông chống cùi tay lên đầu gối, gục đầu vào hai bàn tay, đôi mắt nhắm nghiền. Trong bóng tối là ánh lửa của cái cửa lò đỏ rực. Ông muốn khóc quá. Ông vừa gặp một người « ở đó », một người xô-viết chân chính. Thật thích thú biết bao khi được nghe cái tiếng nói thung dung và quả quyết ấy. Ông đã đọc được những ý nghĩ táo bạo trên gương mặt sinh động, đẹp đẽ, thực sự của con người. Ông đã được nắm bàn tay đầy nghị lực mà bụi dưới hầm mộ đã thấm sâu. Người ta đã chuyển từ đó đến cho ông những lời chúc chiến đấu nồng nhiệt. Trong lời chào đó, ông nghe thấy cả tiếng nói của vợ. Và bây giờ, ông lại ngồi đây, cả đêm, trong cái nhà tù tự nguyện, giữa những chiếc ấm ngu ngốc trên đó ánh lửa buồn thảm của bếp lò đang nhảy nhót và chung quanh là phong ba bão tố, là những chiếc máy xúc tuyết như những bóng ma trắng, im lìm đi chênh chếch qua các phố điêu tàn, và biển băng bát ngát đến tận chân trời.

        Như đế kéo dài sự tiếp xúc với những người bạn xa, ông đọc lại tờ biên lai: « Nhận của Ghêorghi Nikifôrôvich Kôletnisuc, bằng tiền mặt đồng mác chiếm đóng. Lêonit Kukharenkô », cất vào cái két nhỏ rồi lại ngồi một mình. Nhưng bày giờ ông không cảm thấy quá lẻ loi nữa. Từ nay, ông đã có một mục tiêu: người ta đã trực tiếp giao cho ông một nhiệm vụ chiến đấu và ông sẽ cố gắng, thận trọng thi hành bằng được.

        Một tháng chưa qua thì bất ngờ lại có một người vào cửa hàng, mặc chiếc ba-đờ-xuy rất dễ nhận, cũng như chiếc mũ lông thú có dây buộc với đôi bốt cao su mới, nhưng lần này không phải phủ đầy tuyết mà lóng lánh một lớp băng sớm như kim cương. Liếc nhanh, có vẻ nghi ngờ, vào căn hàng trống rỗng, người ấy tiến lại phía quày háng, nơi Kôletnisuc đang đứng buồn thỉu, chống cùi tay lèn quầy hàng, rồi chia một bàn tay chưa sạch hết đất ra:

        — Thế nào, ông bạn ? Hình như cửa hàng lớn của anh có vắng khách đi thì phải — ông ta vừa vui vẻ nói vừa bỏ chiếc mũ ra khỏi đầu ướt đẫm mồ hôi và cởi khuy cổ ba-đờ-xuy — Ồ! Mồ hôi đổ ra như tắm! Tôi cứ tưởng ở chỗ các anh, trên này, vẫn còn mùa đông thế mà băng đã tan. Hoàn toàn là mùa xuân rồi!

        Đó là Secnôivanenkô.

        — Anh, anh! — Kôletnisuchớn hở, kêu to lên!— Thế mà tôi cứ tưởng là thằng điên Kukharenkô đã tới đây lần trước. Tôi nhìn mỗi không nhận ra. Cũng cái áo ba-đờ-xuy, chiếc mũ ấy.

        — Áo ba-đờ-xuy và mũ này là để cho những cuộc đi lên thành phố. Chung cho tất cả mọi người. Và « thằng điên Kukharenkô » đấy là Lêonit Ximban của chúng ta... Thế nào, chưa đến giờ đóng cái cửa hàng đưa ma của anh để ăn chiều sao ?

        — Được thôi — Kôletnisuc nói.

        Ông đóng cửa lại và treo một miếng bìa có chữ « Đóng cửa » bằng tiếng Đức. Đoạn họ lui vào trong gian buồng xép sau cửa hàng.

        Secnôivanenkô có vẻ khoái trả cởi bỏ cả ảo ba-đờ-xuy lẫn giày cao su ra. Mặt trời nòng nực trước, xuân làm mồ hôi ông ra như tắm, ướt cả lưng và hai nách áo va-rơ, thậm chí còn bốc hơi nữa. Họ ngồi trên những chiếc thùng gỗ châm thuốc hút và khẽ vỗ lên đầu gối nhau. Đó là một cách biểu lộ nhẹ nhàng lòng sung sướng được thấy nhau bình yên vô sự. Họ ngồi im lặng, vui vẻ và thế là kết thúc phần tình cảm của cuộc gặp gỡ.

        — Này, anh Jôra — Secnôivanenkô nói — trước hết rất cảm ơn về số giấy than, băng, giấy viết và các bình ác-quy. Cả những con chim chìa vôi nữa! Nhưng nhất là các bình ác-quy. Anh đã giúp chúng tỏi rất nhiều. Một lần nữa xin cảm ơn — Ông đứng dậy và với một vẻ mặt nghiêm trang nắm chặt tay Kôletnisuc — Sau đó, anh có một món quà thú vị — Secnôivanenkô sục tay vào trong túi ngực áo va-rơ. Lòng Kôletnisuc rạo rực — Đây, cầm lấy! — Và Secnôivanenkô đưa cho ông một mảnh giấy xấu màu xám, gấp tư.

        Ngón tay Kôletnisuc run run khi mở tờ giấy, vẻn vẹn chỉ có bảy chữ đánh máy, không chấm không phẩy gì hết: « Em yêu anh em nhớ anh Raitxa ».


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2020, 10:32:47 pm

        Nước mắt Kôletnisuc trào ra.

        Secnôivanenkô dạng chân đứng trước mặt ông, tay cầm một que điểm đang cháy. Kôletnisuc hiểu ngay. Ông nhìn Secnôivanenkô bằng đôi mắt năn nỉ. Nhưng Secnôivanenkô lắc đầu không đồng ý. Lúc bấy giờ, Kôletnisuc mới áp tờ giấy còn ướt hơi ẩm dưới hầm vào bộ ria mép đen lánh lần cuối cùng, rồi đưa lại gần ngọn lửa và quay mặt đi. ông đau lòng không muốn nhìn tờ giấy cháy... Tờ giấy cháy hết. Tàn rơi xuống và một lần gió thổi tung trên sàn nhà. Tàn tan ra, biến mất... Kòletnisuc hà hơi vào mấy ngón tay hơi bị bỏng.

        — Đồ điên, có gì mà xúc động dữ thế ? — Secnôivanenkô khẽ vuốt vai Kôtetnisuc — Đừng buồn. Nếu ta còn sống, anh chị sẽ lại gặp nhau — và giữa giây phút thiêng liêng ấy, ông bỗng phì cười, không thế nào nín được, khoa tay — Này, nhìn chung thì tôi không thể thờ ơ với bộ ria mép của anh được. Nó làm tôi mất cả tập trung.

        — Sao, để tiện lắm, phải không?—Kôletnisuc hỏi lại, không vừa ý.

        — Đâu phải! Nó chỉ hơi oách quá thôi! Nhưng, nó làm tôi hơi hoảng một tí. Thật dễ sợ!

        — Thôi đi, ông bạn — Kôletnisuc nói rất thản nhiên —  anh đừng chế bộ râu mép của tôi vội, mà nên xem lại cái áo ba-đờ-xuy của anh thì hơn.

        — Tại sao vậy?— Secnôivanenkô có vẻ lo lắng. —  Cái ba-đờ-xuy của tôi không ổn à? Nom cũng ra vẻ đấy chứ. Một nhân vật đàng hoàng, một người xô-viết cũ, chạy theo bọn chiếm đóng mà người ta sẽ treo cổ ngay tại chỗ vì tội phản bội Tồ quốc. Có phải thế không nào?

        — Rất có thể. Nhưng nó nhàu quả. Ở chỗ các anh không bao giờ là sao ?

        Secnôivanenkô giang hai cảnh tay ra.

        — Có mang bàn là theo đâu. Cho nên mới như thế! Này, trong hiệu buôn lớn của anh, có cái bàn là nào ra hồn không ?

        — Gi chứ bàn là và mũ không vành thì chả thiếu —  Kôletnisuc nói không phải không có vẻ buồn rầu.

        — Thế thì tôi sẽ lấy đi một cái nhỏ, bằng sắt. Nhớ nhắc tôi nhé.

        — Được rồi. Anh có thể lấy tất cũng được. Nhưng tốt hơn hết, tôi sẽ kiếm cho anh một cái áo ba-đờ-xuy với một cái mũ hợp thời hơn; anh cứ bỏ lại đây các thứ của anh để tôi bán. Biết đâu, chẳng có một anh chàng lập dị điên rồ nào đó tới mua.

        — Được. Anh chọn cho tôi một bộ, khi nào tôi đi.

        — Bây giờ thế này — Secnôivanenkô nói, và theo thói quen, đi đi lại lại trong phòng, đầu cúi xuống — Mấy ngày hôm nay chúng tôi được nghe đài truyền đi bản tuyên bố của đồng chí ủy viên nhân dân phụ trách Quốc phòng, số năm mươi nhăm, ngày hai mươi ba tháng hai — Secnôivanenkô đứng dừng lại, nghiêm khắc nhìn Kôletnisuc — Anh đã nghe nói tới bản ấy chưa?

        — Nói thực thì chưa — Kônetnisuc nói, ngượng đó cả mặt — Tôi biết thế nào được?... Anh thử nghĩ xem.

        — Tất cả mọi người xô-viết bất cứ ở đầu, đều có trách nhiệm phải biết.

        Secnôivanenkô cầm mũ lên. lục tìm trong lần lót và trao cho Ivôletnisuc mấy tờ giấy thuốc lá cuộn tròn lại. Kôletnisuc vuốt thẳng những tờ giấy còn ẩm mồ hôi lên trên đầu gối rồi đọc những dòng đầu của bản tuyên bố đánh máy rất sít.

        «Các đồng chí chiến sĩ và thủy binh, sĩ quan và cán bộ chính trị thuộc lục quân, hải quân, và nam nữ du kích!

        Các dân tộc nước ta vừa cử hành lễ kỷ niệm Hồng quân lần thứ hai mươi bốn trong những ngày đen tối của cuộc Chiến tranh Ái quốc chống lại nước Đức phát-xit vô liêm sỉ và hèn nhát đã xâm phạm đến sinh mạng và tự do của Tổ quốc ta...»

        Kôletnisuc xúc động mãnh liệt. Trong giây phút, ông cảm thấy sâu sắc những lời gửi tới nam nữ du kích kia cũng là nói với ông, Kôletnisuc.

        Secnôivanenkô bước lại gàn thêm một tí, cẩn thận cầm lấy những tờ giấy trên tay ông và nói:

        — Bài tuyên bố này định rõ mục đích và tính chất cuộc chiến tranh mà nhân dân xô-viết đang tiến hành, cái sức mạnh tinh thần lớn lao đang làm cho chính quyền xô-viết vững chắc, không gì thắng nổi — Secnôivanenkô đeo kính vào và, bằng cặp mắt viễn thị, nhìn vào những tờ giấy con, đọc: « Sức mạnh của Hồng quân trước hết dựa vào chỗ nó không tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược, một cuộc chiến tranh đế quốc, mà là một cuộc chiến tranh dân tộc, chính nghĩa, giải phóng». Anh hiểu chứ, Ghêorghi: chính nghĩa! — Và Secnôivanenkô chỉ ngón tay lên không — « Nhiệm vụ của Hồng quân là giải phóng đất nước khỏi bọn xâm lược Đức, giải phóng đồng bào nông thôn và thành thị chúng ta, những người vốn sống tự do, nhân đạo và hiện đang bị áp bức, đau khổ, nghèo đói vì bị cướp bóc, tàn phá; giải phóng vợ con chúng ta khỏi vòng tủi hỗ và nhục nhã do bọn quỷ phát-xít Nhật-nhĩ-mãn gây nên. Có gì cao quý và làm nức lòng người hơn một nhiệm vụ như vậy? Không một tên lính Đức nào có thể nói là nó tiến hành một cuộc chiến tranh chính nghĩa và nó không thể không thấy người ta đã bắt nó chiến đấu cho sự cướp bóc và nô địch các dân tộc khác»...

        Với bàn tay chắc, khỏe, Secnôivanenkô nằm chặt lấy vai Kôletnisuc và lắc mạnh — Anh hiểu chứ, Kôletnisuc?


Tiêu đề: Re: Đường hầm Ôđetxa
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2020, 10:33:14 pm

        Kôletnisuc nhìn ông, ngạc nhiên vì chưa bao giờ thấy ông xúc động và phấn khởi đến thế. Lời nói tuôn ra cuồn cuộn, bàn tay nhỏ, chắc vung cao, gương mặt sắc sảo, trẻ trung rạng rỡ! Trước mặt Kôletnisuc, là một người khác hẳn, một người mới gặp lần đầu. Người này hình như cao lớn hơn con người trước đây ông thường gặp. Nhưng đồng thời người ấy lại có vẻ gần gũi và thân thiết hơn như cả hai người chỉ có chung một tâm hồn, tâm hồn của cả một dân tộc.

        — Nhưng chưa hết! Anh hẵng nghe thêm — Secnôivanenkô đọc tiếp: « Sức mạnh của Hồng quân là ở chỗ nó không có và không thể có thù hẳn chủng tộc đối với các dân tộc khác, kể cả dân tộc Đức, ở chỗ Hồng quân đã được giáo dục về tinh thần bình đẳng của tất cả các dân tộc và của tất cả các chủng tộc, về tinh thần tôn trọng chủ quyền các dân tộc khác. Thuyết chủng tộc của bọn Đức và chính sách cừu địch chủng tộc của chúng đã làm cho tất cả các dân tộc yêu chuộng tự do trở thành kẻ thù của nước Đức phát-xít. Thuyết chủng tộc bình đẳng ở Liên bang xô-viết và chính sách tôn trọng chủ quyền các dân tộc đã làm cho tất cả các dân tộc yêu chuộng tự do trở thành những người bạn của Liên- bang xô-viết... »

        Secnôivanenkô ngồi lên một chiếc thùng gỗ và ôm chặt lấy vai Kôletnisuc!

        — Đấy sự việc là thế đấy, đồng chí! Tôn trọng chủ quyền các dân tộc, chính cái đó đã làm nên sức mạnh của chúng ta!... Chúng tôi đã rải trong vùng nông thôn chúng tôi, bốn trăm tờ tuyên bố đó. Nhưng cũng cần phải rải cho cả nhân dân thành phố: trong các khu nhà máy, trong các công xưởng của ngành đường sắt, nhà ga. Đặc biệt quan trọng là phải rải ở nhà ga. Trong lúc nảy, theo tin tức chúng tôi nhận được, có nhiều đơn vị quân Đức đang chuyển tới, trong đó có những đội quân Xlôvac. Nhiều binh lỉnh Xlôvac rất thạo tiếng Nga. Anh thấy vẩn đề rồi chứ ?

        Secnôivanenkô cúi về phía Kôletnisuc và nhìn chằm chằm vào mắt như ra chỉ thị.

        — Anh xem tôi như là một đứa trẻ ấy! — Kôletnisuc mỉm cười nói.

        — Lạy Chúa! Tôi không nghĩ như thế. Nhưng điều quan trọng, đối với tôi là anh phải hiểu rõ nhiệm vụ. Vậy tôi để lại cho anh bản nhật lệnh số năm mươi nhăm này. Anh sao ra làm ba, bốn bản. Sẽ có người tới cửa hàng gặp anh, chủ đích để lấy đem đi. Anh đưa cho mỗi người một bản, bảo họ cũng phải sao ra làm mấy bản rồi phân phối cho các nơi khác. Bằng cách ấy, bản nhật lệnh sẽ nhanh chóng được phân phát đến toàn bộ màng lưới của chúng ta và tiếng nói vĩ đại của Đảng sẽ tới nhân dân. Khẩu lệnh là: « Cửa hàng Jorjơ có nhận gửi bán tủ sắt không? » Trả lời: « Không nhận tủ sắt. » « Đáng tiếc là ông không nhận, vì chúng tôi có một chiếc của hãng Becna hết sức đặc biệt. » « Ấy, nếu của hãng Becna thì mang tới. » Anh nhớ chứ? Nhắc lại xem chiếc tủ của hãng nào nào ?

        — Becna.

        — Lấy bút chi viết vào một chỗ nào trên tường ấy, rồi nhắc lại cho tất cả mọi người. Bảo họ phải chép lại thật đúng — Seenôivanenkô bất thình linh chộp lấy vai Kôletnisuc và hỏi rất nhanh: — Chiếc tủ của hãng nào ?

        — Becna — Kôletnisuc đáp, cũng rất nhanh.

        — Hoan hô! Vậy có thể tin tưởng vào anh chứ? Anh nhận trách nhiệm chứ?

        — Tôi xin nhận :— Kôletnisuc nói quả quyết.

        Khi họ từ giã nhau, Kôletmsuc lấy ở kho ra một chiếc ba-đờ-xuy Áo, màu xanh thẫm, đưa cho Secnôivanenkô mặc, và một chiếc mũ lưỡi trai mềm. Chiếc ba-đờ-xuy mùa đông với chiếc mũ lông thú, ông treo vào tủ kính để bán. Rồi thở dài thườn thượt, ông phàn nàn về tình hình làm ăn.

        — Phải rồi, anh ạ — Secnôivanenkô nói — hiệu buôn của anh đang chảy ra như một cây nến! Và tôi cũng sắp nói cho anh biết tại sao như thế đấy.

        — Tại sao? —Kòletnisuc khẽ hỏi.

        — Vì anh là điển hình trải ngược với anh em Potasnikôp. Bước vào nghề, anh đã bán những tấm hàng Lêningrat của chúng tôi với cái giá chỉ bằng một phần tư giá vốn, tất nhiên rồi đây anh còn ngốn cả quần lót của anh đi nữa kia. Có phải thế là buôn bán không, hở ông bạn trung hậu của tôi ?

        — Thế lẽ ra phải làm thế nào ?

        — Tôi sẽ nói cho anh biết.

        Secnôivanenkô thọc hai tay vào đôi túi sâu chiếc áo ba-đờ-xuy Áo và đi đi lại lại trước mặt Kôletnisuc đang hết sức xấu hồ, đầu cúi xuống dưới cái mũ lưỡi trai có hai khuy phía trước:

        — Trước hết, cần phải điều tra về giá vải Lêningrat đã. Vì thứ vải đó, đối với khách hàng Đức và Rumani, là thứ hàng chúng khao khát nhất. Có thể lấy thứ hàng gai thỏ giả len của Đức so sánh với hàng dệt của Lêningrat không ? Bọn Đức cả đời có bao giờ được nhìn thấy một thứ hàng dệt như vậy! Thế mà anh đã làm như thế nào ? Theo tôi hiểu, anh đã đem bán đồ đi như kiêu phá giá... (Người ta có thể tưởng là Secnôivanenkô đã suốt đời làm nghề buôn.) Thế thì anh còn làm được việc gì nữa? Mà lại là một nhà buôn kia chứ !

        — Tôi không phải là nhà buôn — Kỏỉetnisuc nói.