Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: hoi_ls trong 30 Tháng Sáu, 2020, 09:40:03 am



Tiêu đề: Tướng lĩnh Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ
Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Sáu, 2020, 09:40:03 am
Tướng lĩnh Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ


Sưu tầm, tuyển chọn: SÔNG LAM - DŨNG QUYẾT
NXB Văn Học 2014

Nguồn: sưu tầm.



(https://i.imgur.com/PxPWPou.jpg)



Lời giới thiệu


Nhiều học giả quân sự cho rằng, Điện Biên Phủ là một trong những trận đánh vĩ  đại nhất của thế kỷ 20. Và cho đến nay, sự kiện đó vẫn dược đề cập đến trong hầu hết các tài liệu lịch sử. Để làm nên một trận Điện Biên “chấn động địa cầu” là công sức của cả dân tộc, của toàn quân, toàn dân dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, của Bác Hồ. Tuy nhiên, có thể nói rằng các tướng lĩnh Việt Nam mà đứng đầu là Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng Bộ chỉ huy và Đảng ủy Mặt trận cũng như sĩ quan các cấp từ đại đoàn trở xuống đã trực tiếp đóng góp tài trí, công sức rất to lớn cho chiến thắng vang dội này...

Các tướng lĩnh Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ phần nhiều chưa kinh qua các trường đào tạo sĩ quan quân sự. Xuất phát điểm của họ là một thầy giáo dạy sử, một sinh viên trường luật hay chỉ là một người thanh niên nông thôn nhưng trên chiến trường đã thể hiện một tư duy chiến lược, chiến thuật tuyệt vời.

Ngoài các tướng lĩnh cao cấp thuộc Bộ chỉ huy Mặt trận Điện Biên Phủ do Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ủy viên Bộ Chính trị trung ương Đảng trực tiếp làm bí thư đảng ủy và Chỉ huy trưởng mặt trận thì các tướng lĩnh, sĩ quan chỉ huy từ đại đoàn xuống tiểu đoàn đã thể hiện trí tuệ, bản lĩnh trong từng trận đánh. Họ là các tướng lĩnh trực tiếp chỉ huy chiến đấu trên chiến trường như: Lê Trọng Tấn, Vương Thừa Vũ, Song Hào, Lê Quảng Ba, Chu Huy Mân, Vũ Lập, Phạm Ngọc Mậu... hay Phạm Hồng Sơn, Hoàng Cầm, Nguyễn Hữu An, Vũ Lăng...

Trong quá trình sưu tầm tư liệu để thực hiện cuốn sách “Tướng lĩnh Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ “ này, mặc dù đã cố gắng hết sức tuy nhiên có những vị chúng tôi không thể tìm được thông tin, tư liệu, bởi vậy rất mong bạn đọc lượng thứ và chỉ dẫn hướng khắc phục thiếu sót này để trong lần tái bản sau cuốn sách sẽ hoàn thiện hơn!

Trân trọng cảm ơn và giới thiệu!

NHÓM BIÊN SOẠN


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ
Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Sáu, 2020, 09:47:56 am
VÕ NGUYÊN GIÁP
TƯ LỆNH KIÊM BÍ THƯ ĐẢNG ỦY MẶT TRẬN


Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ngày 25/8/1911, là đại tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam, người chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ. Ông được nhiều người xem như một huyền thoại quân sự thế giới khi chỉ huy một đội quân non trẻ đánh bại một cường quốc quân sự thế giới.

Phần thưởng được Đảng, Nhà nước trao tặng:

- Huân chương Sao vàng.
- Hai Huân chương Hồ chí Minh.
- Hai Huân chương Quân công hạng Nhất.
- Huân chương Chiến thắng hạng Nhất.
- Huân chương Chiến công hạng Nhất.
- Huân chương Kháng chiến hạng Nhất.
- Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất.
- Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã được Nhà nước Lào tặng Huân chương Vàng quốc gia Lào, Nhà nước Campuchia tặng Huân chương Ăng Co. Đồng chí được Đảng, Chính phủ các nước tặng nhiều Huân chương cao quý.

Năm phong quân hàm cấp tướng:

Ngày 20/1/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 110/SL: Phong đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Đại tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ở làng An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình trong một gia đình nhà nho nghèo, con của ông Võ Quang Nghiêm (Võ Nguyên Thân). Ông thân sinh Võ Quang Nghiêm là một nho sinh lận đận đường khoa cử, đi thi mãi không đậu, về làm hương sư và thầy thuốc Đông y, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, bị Pháp bắt, đưa về giam ở Huế và mất trong tù.
Năm 1925, Võ Nguyên Giáp rời trường Tiểu học Đồng Hới ở quê nhà Quảng Bình để vào Huế ôn thi vào trường Quốc học Huế và đỗ thứ hai sau Nguyễn Thúc Hào. Hai năm sau, ông bị đuổi học cùng với Nguyễn Chí Diểu, Nguyễn Khoa Văn (tức Hải Triều), Phan Bôi sau khi tổ chức một cuộc bãi khóa. Ông bèn về quê và được Nguyễn Chí Diểu giới thiệu tham gia Tân Việt Cách mạng đảng, một đảng theo chủ nghĩa dân tộc nhưng có màu sắc cộng sản thành lập năm 1924 ở miền Trung. Nguyễn Chí Diểu đã giới thiệu Võ Nguyên Giáp vào làm việc ở Huế, tại Nhà xuất bản Quan hải tùng thư do Đào Duy Anh sáng lập và ở báo Tiếng dân của Huỳnh Thúc Kháng. Tại đây, Võ Nguyên Giáp bắt đầu học nghề làm báo, chuẩn bị cho giai đoạn hoạt động báo chí sôi nổi trong thời Mặt trận Bình dân Pháp.

Khoảng đầu tháng 10 năm 1930, trong sự kiện Xô Viết - Nghệ Tĩnh, Võ Nguyên Giáp bị bắt và bị giam ở Nhà lao Thừa Phủ (Huế), cùng với người yêu là Nguyễn Thị Quang Thái, em trai là Võ Thuần Nho và các thầy giáo Đặng Thai Mai, Lê Viết Lượng... Cuối năm 1931, nhờ sự can thiệp của Hội Cứu tế đỏ của Pháp, Võ Nguyên Giáp được trả tự do nhưng lại bị Công sứ Pháp tại Huế ngăn cấm không cho ở lại Huế tiếp tục làm báo Tiếng dân.

Sau đó ông ra Hà Nội, học trường Albert Sarraut và đỗ tú tài. Ông tốt nghiệp đại học ngành Luật và Kinh tế chính trị năm 1937.

Năm 1934, ông lấy bà Nguyễn Thị Quang Thái (1915-1943), bạn học tại Quốc học Huế và là một đồng chí của ông (bà cũng là em ruột của nhà cách mạng Nguyễn Thị Minh Khai). Năm 1943, bà Thái mất trong nhà giam Hỏa Lò, Hà Nội.

Tháng 5/1939, ông nhận dạy môn sử ở trường tư thục Thăng Long, Hà Nội do Hoàng Minh Giám làm Giám đốc nhà trường (tức Hiệu trưởng).

Từ 1936 đến 1939, ông tham gia phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương, là sáng lập viên của mặt trận và là Chủ tịch Uỷ ban Báo chí Bắc Kỳ trong phong trào Đông Dương đại hội. Ông tham gia thành lập và làm báo tiếng Pháp Notre voix (Tiếng nói của chúng ta), Le Travail (Lao động), biên tập các báo Tin tức, Dân chúng. Ngày 3/5/1940, Võ Nguyên Giáp với bí danh là Dương Hoài Nam cùng Phạm Văn Đồng lên Cao Bằng rồi sang Trung Quốc để gặp Hồ Chí Minh. Ông vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm này và bắt đầu các hoạt động của mình dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Hồ Chí Minh trong một tổ chức chống phát-xít và đấu tranh cho độc lập của Việt Nam có tên là Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội gọi tắt là Việt Minh. Ông tham gia gây dựng cơ sở cách mạng, mở lớp huấn luyện quân sự cho Việt Minh ở Cao Bằng.

Ngày 22 tháng 12 năm 1944, theo chỉ thị của Hồ Chí Minh, ông thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân tại chiến khu Trần Hưng Đạo với 34 người, được trang bị 2 súng thập (một loại súng ngắn), 17 súng trường, 14 súng kíp và 1 súng máy. Ngày 25/12/1944, đội quân này đã tiến công thắng lợi hai đồn Phai Khắt và Nà Ngần. Ngày 14/8/1945, ông được bổ sung vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, sau đó là ủy viên Thường vụ Trung ương, tham gia ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc.

Sau Cách mạng tháng Tám, Võ Nguyên Giáp được cử làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Phó Bộ trưởng (nay gọi là Thứ trưởng) Bộ Quốc phòng trong Chính phủ lâm thời (từ ngày 28/8 đến hết năm 1945) và là Tổng chỉ huy Quân đội Quốc gia và Dân quân tự vệ. Trong Chính phủ Liên hiệp thành lập ngày 3/11/1946, ông là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (cho đến tháng 7/1947 và từ tháng 7/1948 trở đi). Cũng trong năm 1946, ông lập gia đình với bà Đặng Bích Hà (con gái giáo sư Đặng Thai Mai).

Ngày 19/12/1946, chiến tranh Đông Dương chính thức bùng nổ. Dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản, ông bắt đầu lãnh đạo cuộc đấu tranh vũ trang kéo dài 9 năm chống lại sự trở lại của thực dân Pháp (1945-1954) với cương vị Tổng chỉ huy và Tổng Chính ủy, từ năm 1949 đổi tên gọi là Tổng tư lệnh quân đội kiêm Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương (gọi tắt là Quân ủy Trung ương), ông được phong Đại tướng ngày 25/1/1948 theo sắc lệnh 110/SL ký ngày 20/1/1948, cùng đợt có Nguyễn Bình được phong Trung tướng; Nguyễn Sơn, Lê Thiết Hùng, Chu Văn Tấn, Hoàng Sâm, Hoàng Văn Thái, Lê Hiến Mai, Văn Tiến Dũng, Trần Đại Nghĩa, Trần Tử Bình được phong Thiếu tướng. Tháng 8 năm 1948, ông là ủy viên Hội đồng Quốc phòng Tối cao vừa mới được thành lập.

Ông là một nhà quân sự đã vận dụng tài giỏi chiến thuật chiến tranh du kích. Ông cũng là người lập kế hoạch và trực tiếp chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Chiến dịch đó đã giành thắng lợi vang dội, “chấn động địa cầu”.

Các chiến dịch ông đã tham gia với tư cách là Tư lệnh chiến dịch - Bí thư Đảng ủy trong kháng chiến chống Pháp:

Chiến dịch Việt Bắc (thu đông 1947)
Chiến dịch Đông Bắc (1948 - 1949)
Chiến dịch Biên Giới (tháng 6/1950)
Chiến dịch Trung Du (tháng 12/1950) Chiến dịch Đồng Bằng (tháng 5/1951) Chiến dịch Hòa Bình (tháng 12/1951) Chiến dịch Tây Bắc (tháng 9/1952)
Chiến dịch Thượng Lào (tháng 4/1953) Chiến dịch Điện Biên Phủ (tháng 1/1954)

Cuối năm 1953, đầu năm 1954, kế hoạch đánh tập đoàn cứ điểm lịch sử Điện Biên Phủ được ta ráo riết chuẩn bị theo phương thức “đánh nhanh thắng nhanh”. Đây là trận đánh đầu tiên Quân đội ta sử dụng đại bác 105 li và pháo cao xạ, nên tinh thần bộ đội rất phấn chấn. Hầu hết các đồng chí trong Đảng ủy mặt trận, Bộ Chỉ huy chiến dịch và các chuyên gia nước ngoài đều có chung ý kiến: Cần đánh ngay trong lúc địch chưa tăng cường thêm quân và củng cố công sự. Nếu không đánh sớm, địch tăng cường lực lượng, tập đoàn cứ điểm sẽ trở nên quá mạnh và nếu không đánh nhanh sẽ khó giải quyết vấn đề tiếp tế, vì tuyến đường từ hậu phương ra tiền tuyến quá xa. Tuy nhiên, với con mắt của một thiên tài quân sự, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nhận ra những khó khăn, sự mạo hiểm của phương thức đánh này: “Nhiều người cho rằng sự xuất hiện lần đầu của lựu pháo và cao xạ sẽ làm quân địch choáng váng, Nhưng chúng ta chỉ có vài ngàn viên đạn. Đặc biệt mọi người đều tin vào khí thế của bộ đội khi xuất quân, tin vào sức mạnh tinh thần. Nhưng sức mạnh tinh thần cũng có những giới hạn. Không phải chỉ với sức mạnh tinh thần cao mà lúc nào cũng chiến thắng quân địch! Chúng ta cũng không thể giành chiến thắng với bất kể giá nào, vì phải giữ gìn vốn liếng cho cuộc chiến đấu lâu dài”. Bám sát trận địa và theo dõi sát sao mọi diễn biến của chiến trường, Đại tướng đã nhận ra ba khó khăn lớn mà chúng ta đang phải đối mặt:

“Thứ nhất, bộ đội chủ lực ta đến nay chỉ tiêu diệt cao nhất là tiểu đoàn địch tăng cường, có công sự vững chắc ở Nghĩa Lộ. Ở Nà Sản, chúng ta mới đánh vào vị trí tiểu đoàn, dưới tiểu đoàn, công sự dã chiến nằm trong tập đoàn cứ điểm, vẫn có những trận không thành công, bộ đội thương vong nhiều.

Thứ hai, trận này, tuy ta không có máy bay, xe tăng, nhưng đánh hiệp đồng binh chủng bộ binh, pháo binh với quy mô lớn lần đầu, mà lại chưa qua diễn tập. Vừa qua có trung đoàn xin trả lại pháo vì không biết phối hợp thế nào.

Thứ ba, bộ đội ta từ trước tới nay chỉ quen tác chiến ban đêm, ở những địa hình dễ ẩn náu. Chủ lực ta chưa có kinh nghiệm công kiên ban ngày trên trận địa bằng phẳng, với một kẻ địch có ưu thế về máy bay, pháo binh và xe tăng. Trận đánh sẽ diễn ra trên một cánh đồng dài 15 km và rộng 6-7 km...

Tất cả mọi khó khăn đó đều chưa được bàn bạc kỹ và tìm cách khắc phục.

Nhưng giải quyết ra sao? Pháo binh đã vào vị trí, các đại đoàn đều có mặt ở tuyến xuất phát xung phong. Quyết định hoãn trận đánh một lần nữa sẽ tác động tới tinh thần bộ đội như thế nào...?

Tôi nhận thấy phải cho các đơn vị rút khỏi trận địa để nghiên cứu một cách đánh khác, dù bộ đội có thắc mắc. Phải chuyển từ phương án “đánh nhanh thắng nhanh” sang “đánh chắc tiến chắc.” (trích “Điện Biên Phủ điểm hẹn lịch sử”).

Thông thường trước mỗi trận đánh, Đại tướng thường khuyến khích cán bộ nói hết những khó khăn để cùng bàn cách khắc phục, nhưng lần này bộ đội ta đang hừng hực khí thế, các đơn vị đều hăng hái nhận nhiệm vụ, không một ai thắc mắc gì.

Trước đó, khi quân ta đang chuẩn bị kéo pháo vào trận địa, Đại tướng đã hết sức băn khoăn trước phương án “đánh nhanh thắng nhanh”, nhưng chưa có đủ cơ sở thực tế để bác bỏ phương án này. Ông cũng đã tranh thủ ý kiến của các đồng chí trong Bộ chỉ huy chiến dịch và chuyên gia quân sự nước bạn, nhưng không nhận được sự đồng thuận. Lần này, khi đã có những luận cứ thực tế, Đại tướng đã quyết định tổ chức cuộc họp Đảng ủy mặt trận để trưng cầu ý kiến và quyết định phương thức đánh. Trong cuộc họp này, sau khi ghi nhận tất cả các ý kiến, Đại tướng đã nêu ra tất cả những khó khăn và nhắc lại lời căn dặn của Bác trước khi lên đường đi chiến dịch: “Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh. Vì nếu thua thì hết vốn”. Với sự phân tích thấu đáo của Đại tướng, Đảng ủy đã đi tới nhất trí, nếu thực hiện phương thức “đánh nhanh thắng nhanh” trận đánh có thể gặp nhiều khó khăn mà ta chưa có biện pháp cụ thể để khắc phục và Đại tướng đi đến kết luận: “Để đảm bảo nguyên tắc cao nhất là “đánh chắc thắng” cần chuyển phương châm tiêu diệt địch từ “đánh nhanh thắng nhanh” sang “đánh chắc tiến chắc”. Nay quyết định hoãn cuộc tiến công. Ra lệnh cho bộ đội trên toàn tuyến lui về địa điểm tập kết và kéo pháo ra”.

Quyết định này thực sự là một đòn cân não đối với Đại tướng. Bao nhiêu mồ hôi xương máu của bộ đội, bao nhiêu tiền của của nhân dân đã đổ ra để mở 82 km đường và kéo pháo vào trận địa, nay lại nhận được lệnh kéo pháo ra, làm sao không tác động mạnh tới tinh thần anh em binh sĩ? Trước đó, trận đánh đã phải lui lại 5 ngày (từ ngày 20 lùi lại ngày 25/1/1954) do việc kéo pháo vào trận địa gặp khó khăn, nay lại tiếp tục hoãn mà chưa ấn định được thời gian mở màn chiến dịch, tư tưởng bộ đội sẽ ra sao? Việc thay đổi cách đánh có thể ảnh hưởng đến sinh mệnh chính trị của người cầm quân, nhưng vì mục tiêu cuối cùng là chắc thắng, vì nếu mạo hiểm có thể “nướng” hàng ngàn binh sĩ trên chảo lửa chiến trường một cách vô ích, nên Đại tướng đã đi đến quyết định cuối cùng kéo pháo ra trận địa sau 11 ngày đêm trăn trở suy nghĩ.

Thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ mang đậm dấu ấn của ông trong việc tạo thế, tổ chức hậu cần, thay đổi chiến thuật. Sau chiến dịch này, Hiệp định Genève về Đông Dương được ký kết, đặt dấu chấm hết cho sự có mặt của người Pháp ở Việt Nam sau hơn 80 năm.

Từ tháng 8/1945, ông là một trong 5 ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương và trở thành ủy viên Bộ Chính trị (thay thế Ban Thường vụ Trung ương) Đảng Lao động Việt Nam từ năm 1951.

Từ năm 1954 đến năm 1976, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp tục giữ cương vị Ủy viên Bộ Chính trị - Bí thư Quân ủy Trung ương, Tổng Tư lệnh quân đội, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Ông còn là Phó Thủ tướng Chính phủ, sau là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (từ năm 1955 đến năm 1991). Trong 21 năm (1954-1975) của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ông thực hiện nhiệm vụ xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam, tham gia xây dựng chiến lược chiến tranh của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trực tiếp tổ chức và chỉ đạo các hoạt động của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Trong một thời gian ngắn từ tháng 7/1960 đến tháng 1/1963, ông kiêm thêm chức vụ chủ nhiệm ủy ban Khoa học Nhà nước.

Năm 1980, ông thôi giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nhưng vẫn tiếp tục là Ủy viên Bộ Chính trị (đến năm 1982) và phó Thủ tướng phụ trách Khoa học - Kỹ thuật. Người thay thế ông ở Bộ Quốc phòng là Đại tướng Văn Tiến Dũng - Tổng Tham mưu trưởng Quân đội, một trong những cộng sự lâu năm nhất của ông. Năm 1983, ông được Hội đồng Bộ trưởng phân công kiêm nhiệm vai trò Chủ tịch Ủy ban Quốc gia dân số và sinh đẻ có kế hoạch.

Năm 1991, ông nghỉ hưu ở tuổi 80.

Là một người có tài tổ chức và kiên nhẫn, Võ Nguyên Giáp đã từng bước xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam từ 34 người vào tháng 12/1944 thành một đội quân với hơn một triệu người năm 1975. Là một nhà chiến lược - chiến thuật bậc thầy, ông đã lãnh đạo quân đội giành thắng lợi trong cả hai cuộc chiến tranh. Tên tuổi của Võ Nguyên Giáp gắn liền với một chiến thắng có ý nghĩa quốc tế của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong trận Điện Biên Phủ - lần đầu tiên quân đội của một nước thuộc địa châu Á đánh bại trên chiến trường quân đội của một cường quốc châu Âu. Với hơn 50 năm tham gia hoạt động chính trị ở cấp cao nhất, trong đó có 30 năm là Tổng tư lệnh quân đội, ông có uy tín lớn trong Đảng Cộng sản Việt Nam, trong quân đội và trong nhân dân, được coi là một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và là Người anh cả của Quân đội Nhân dân.

Ông được cả thế giới biết đến như một trong những danh tướng của thế kỷ 20 - người đã đánh bại nhiều viên tướng quân đội Pháp trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và lần lượt đọ sức với 7 danh tướng của quân đội Hoa Kỳ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Kỷ niệm 60 năm ngày phát hành số đầu tiên. Thời báo châu Á (Times Asia) đã ra số đặc biệt giới thiệu các “Anh hùng châu Á”, tôn vinh các nhân vật nổi tiếng làm thay đổi cục diện châu lục trong những thập kỷ gần đây. Những nhân vật được giới thiệu gồm Mahatma Gandhi, Jawaharlal Nehru, Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Việt Nam )...

Không chỉ là một vị Đại tướng trong quân đội, ông còn là tác giả của nhiều tác phẩm có giá trị:

Vấn đề dân cày (đồng tác giả với Trường Chinh), 1938
Đội quân giải phóng, 1947
Từ nhân dân mà ra, 1964
Điện Biên Phủ, 1964
Mấy vấn đề đường lối quân sự của Đảng, 1970
Những năm tháng không thể nào quên, 1972
Vũ trang quần chúng cách mạng, xây dựng quân đội nhân dân, 1972
Những chặng đường lịch sử (gồm 2 tác phẩm đã in trước đó là Từ nhân dân mà raNhững năm tháng không thể nào quên), 1977
Chiến đấu trong vòng vây, 1995
Chiến tranh giải phóng dân tộc và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, 1979
Đường tới Điện Biên Phủ
Điện Biên Phủ điểm hẹn lịch sử
Tổng hành dinh trong mùa xuân đại thắng
, 2000.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ
Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Sáu, 2020, 09:55:07 am
HOÀNG VĂN THÁI
THAM MƯU TRƯỞNG



Hoàng Văn Thái sinh năm 1915, mất ngày 2/7/1986, nguyên Tổng tham mưu trưởng Quân đội Quốc gia Việt Nam (nay là Quân đội Nhân dân Việt Nam) (1945-1953), nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Quân huấn (1958-1965), nguyên Tư lệnh kiêm Chính ủy Liên khu 5 (1966-1967), nguyên Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam (1967-1973), nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng (1974-1986), Nguyên ủy viên thường vụ Quân ủy Trung ương. Ngoài ra, ông còn từng giữ các chức vụ khác như: Chủ nhiệm Uỷ ban Thể dục Thể thao Nhà nước (1960-1965), ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ khóa III đến khóa V, Đại biểu Quốc hội khóa VII.

Hoàng Văn Thái được phong quân hàm Thiếu tướng ngay trong đợt phong tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam (1/1948), Trung tướng ngày 31/8/1959; Thượng tướng tháng 4/1974; Đại tướng tháng 1/1980.

Ông từng tham gia chỉ huy nhiều chiến dịch, là Đảng ủy viên Chiến dịch Hoàng Hoa Thám (23/3 -7/4/1951); Đảng ủy viên Chiến dịch Hà Nam Ninh (28/5 - 20/6/1951); Tham mưu trưởng Chiến dịch Hòa Bình (10/12/1951 - 25/2/1952); Tham mưu trưởng Chiến dịch Tây Bắc (14/10 - 10/12/1952); Tham mưu trưởng Chiến dịch Thượng Lào (13/4 -14/5/1953); Tham mưu trưởng Chiến dịch Điện Biên Phủ (13/3 - 7/5/1954); Tư lệnh Chiến dịch Lộc Ninh (27/10 - 10/12/1967); Tư lệnh chiến dịch Tây Ninh (17/8 - 28/9/1968).

Phần thưởng được Đảng, Nhà nước trao tặng:

- Huân chương Sao vàng (truy tặng)
- Huân chương Hồ Chí Minh.
- Huân chương Quân công hạng Nhất, hạng Nhì.
- Huân chương Kháng chiến hạng Nhất.
- Huân chương Chiến thắng hạng Nhất.
- Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất.
- Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng Nhất.
- Huy chương Quân kỳ Quyết thắng.

Đại tướng Hoàng Văn Thái (tên thật là Hoàng Văn Xiêm) quê tại xã Tây An, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình trong một gia đình nông dân nghèo. Quê ông vốn là một vùng quê giàu truyền thống yêu nước. Thân phụ ông là cụ Hoàng Thiện Thuật, dạy chữ Nho đến cấp hàng tổng, từng tham gia Hội văn thân yêu nước ở địa phương những năm đầu thập kỷ 30, thế kỷ trước.

Trong từng giai đoạn lịch sử, huyện Tiền Hải luôn luôn xuất hiện những nhân vật nổi tiếng đã đi vào lịch sử dân tộc. Đó là tướng Vũ Đức Cát, triều đại Tây Sơn, sau là một trong những tướng giỏi của cuộc khởi nghĩa Phan Bá Vành. Đó là nhà cải cách Bùi Viện, đề xướng duy tân đất nước dưới triều Nguyễn. Trong phong trào cần vương cuối thế kỷ XIX, Nguyễn Quang Bích nổi lên là một tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước căm thù giặc. Đặc biệt là cuộc biểu tình của những người nông dân Tiền Hải ngày 14/10/1930 đã ghi đậm dấu son trong lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc. Tiếp đó là các ông: Vũ Trọng, Vũ Nhu, Ngô Duy Phớn... những người truyền bá Chủ nghĩa Mác -Lênin và thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở địa phương.

Tất cả những tấm gương và các hoạt động ấy đã có tác động rất lớn đến tư tưởng và lòng yêu nước của ông. Hơn nữa, Hoàng Văn Xiêm là một học sinh chăm học, ham hiểu biết, nhanh nhẹn giàu nghị lực nên được thầy giáo và các bạn quý mến kết quả là ông đỗ bằng tiểu học Pháp - Việt loại ưu.

Năm 13 tuổi, ông đã phải bỏ học đi làm thuê rồi đi cắt tóc. Năm 18 tuổi, ông là thợ mỏ Hòn Gai (Quảng Ninh) rồi sau đó lên làm thợ tại mỏ thiếc Tĩnh Túc (Cao Bằng) và giác ngộ cách mạng. Trở về làng, ông cùng với số đông anh em khác tích cực tham gia tổ chức các hội ở địa phương như: Hội hiếu, hội tương tế, hội đá bóng, hội âm nhạc, hội đọc báo...  Ông Nguyễn Trung Khuyến, cán bộ lãnh đạo do huyện cử xuống trực tiếp chỉ dẫn hoạt động. Chỉ sau vài tháng, số học viên trong làng phát triển nhanh. Hội tương tế lên tới 170 hội viên do ông Lương Thúy làm hội trưởng, Hoàng Văn Xiêm làm thư ký.

Ngoài việc tham gia hoạt động, ông còn cùng với thanh niên trong làng thành lập Đoàn Thanh niên Dân chủ, tổ chức ra các hội đá bóng, hội nhạc âm. Khắp các địa phương trong tỉnh, trong huyện, phát triển đội nhạc âm, thu hút thanh niên, học sinh tham gia. Ông thổi kèn rất giỏi, tranh thủ các tối hòa nhạc chuẩn bị cho những buổi tế lễ, ông cùng các anh em địa phương bí mật rải truyền đơn, vận động nhân dân đấu tranh đòi quyền tự do dân chủ, hát đồng ca bài hát cách mạng.

Do hăng say, nhiệt tình, sáng tạo và dũng cảm hoạt động ở địa phương nên năm 1938, ông được kết nạp vào Đảng, trở thành đảng viên trung kiên của chi bộ An Khang.

Cuối năm 1939, địch liên tiếp mở các đợt khủng bố rất dã man, nhiều đảng viên và quần chúng cách mạng bị bắt. Các tổ chức Đảng chuyển vào hoạt động bí mật. Ông gây dựng lại phong trào đấu tranh của quần chúng An Khang, giác ngộ và đưa vào tổ chức nhiều thanh niên yêu nước như: Nguyễn Hữu Tước, Nguyễn Thế Long, Tô Đình Khảm, Nguyễn Đình Khiêm, Tô Chinh... Sau này đều trở thành cán bộ trung cao cấp của Nhà nước và Quân đội.

Giữa năm 1940, sau nhiều năm săn lùng, mật thám Pháp và tay sai bắt được ông Ngô Duy Phớn một trong những người lãnh đạo chủ chốt của phong trào cách mạng ở Tiền Hải và tuyên bố nếu ai khai báo chỗ ở của đảng viên cộng sản sẽ được thưởng thóc và huân chương của chính phủ Pháp. Do chỉ điểm, ông bị bắt giải về phủ Kiến Xương giam giữ. Một lính lệ quen biết bảo lãnh cho ông tại ngoại, chờ ngày xét xử. Chớp thời cơ, tổ chức bí mật đưa ông thoát li khỏi địa phương, tiếp tục hoạt động ở nơi khác.

Sau đó, ông lên nhận nhiệm vụ mới ở Hiệp Hòa, Bắc Giang và dự lớp huấn luyện quân sự ngắn ngày. Ở lớp đó ông được nghe các ông Hoàng Quốc Việt, Trần Đăng Ninh giảng về chính trị. Tháng 4/1941, ông có mặt ở Bắc Sơn. Cuộc khởi nghĩa vừa nổ ra tại đây và đồng bào các dân tộc đang trải qua cuộc đấu tranh quyết liệt, chống khủng bố của địch.

Mùa thu 1941, ông được cử đi học trường Quân sự Liễu Châu, Trung Quốc.

Trong thời gian học ở đây, ông làm trưởng đoàn Việt Nam và luôn có nhận thức, lý luận cách mạng vững mạnh, phẩm chất đạo đức tốt, đoàn kết được mọi người giữ vững quan điểm của mặt trận Việt Minh đồng thời kiên quyết dấu tranh với những quan điểm sai trái của hai nhóm Việt Quốc và Việt Cách.

Cuối năm 1943, khi lãnh tụ Hồ Chí Minh thoát khỏi nhà tù Tưởng Giới Thạch, ông đã trực tiếp được gặp lãnh tụ.

Cuối năm 1944, ông được tuyển chọn vào hàng ngũ 34 đội viên Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Ông được cử phụ trách tuyên truyền và binh vận.

Sau chiến thắng Phai Khắt, Nà Ngần, đội phát triển thành đại đội, ông được giao công tác trinh sát và lập kế hoạch tác chiến khi đơn vị chuẩn bị đánh đồn Đồng Mu. Khi đó, theo lời gợi ý của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông đã thức trắng đêm sáng tác bài “Phất cờ Nam tiến” - đây là bài hành khúc đầu tiên của quân đội nhân dân Việt Nam.

Tháng 3/1945, ông chỉ huy cánh quân giành chính quyền ở Chợ Đồn. Trong khi đang tổ chức huấn luyện quân sự ở đây, ông nhận được lệnh của ông Võ Nguyên Giáp bàn giao mọi việc cho những người lãnh đạo địa phương và chuyển quân xuống Chợ Chu (Định Hóa, Thái Nguyên) tổ chức chính quyền xã, huyện của vùng giải phóng đồng thời huấn luyện quân sự cho lực lượng tự vệ chiến đấu và các cán bộ đoàn thể. Tháng 4/1945, hội nghị Quân sự Bắc Kỳ quyết định sáp nhập Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Cứu quốc quân và các lực lượng vũ trang khác thành Việt Nam giải phóng quân (15/5/1945) và quyết định thành lập Trường Quân chính kháng Nhật tại Tân Trào do ông phụ trách.

Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông tham gia giành chính quyền ở Lục An Châu rồi sau đó đưa quân về phối hợp với quần chúng và lực lượng vũ trang địa phương giành chính quyền ở Tuyên Quang.

Cách mạng tháng Tám thành công, tháng 9 năm 1945, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao cho nhiệm vụ thành lập Bộ Tổng tham mưu của Quân đội Quốc gia (sau là Quân đội Nhân dân Việt Nam) còn non trẻ và giữ chức Tổng tham mưu trưởng đầu tiên.

Từ 20 đến 27/11/1946, ông trực tiếp chỉ đạo mặt trận Hải Phòng. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ tại Hà Nội, ông cùng với ông Võ Nguyên Giáp là những người phê duyệt kế hoạch tác chiến của ông Vương Thừa Vũ (sau này là Trung tướng - Phó Tổng tham mưu trưởng), chỉ huy trưởng mặt trận Hà Nội. Trên cơ sở những kinh nghiệm ở Hải Phòng, ông đã xây dựng thế trận liên hoàn và khu vực tác chiến nhằm kìm giữ, tiêu hao quân Pháp trong lòng thành phố Hà Nội.

Ngày 26/8/1947, chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ký quyết định bổ nhiệm Hoàng Văn Thái là Tổng tham mưu trưởng Quân đội Quốc gia Việt Nam kiêm chức Đại đoàn trưởng Đại đoàn Độc Lập. Tháng 1/1948, trong đợt phong quân hàm cấp tướng đầu tiên của Quân dội, ông được phong Thiếu tướng.

Chiến dịch Biên Giới (16/9-14/10/1950), ông là Tổng tham mưu trưởng kiêm Tham mưu trưởng chiến dịch. Trong chiến dịch này, đích thân ông chỉ huy trận đánh then chốt Đông Khê. Trong trận đánh Đông Khê, lúc đầu diễn ra không thuận lợi, ông đã ra tận chiến hào chỉ đạo, động viên bộ đội giữ chốt. Khi quân Pháp đánh chốt, ông ở lại giữ chốt cùng bộ đội.

Sau đó, ông tiếp tục làm Tham mưu trưởng các chiến dịch quan trọng khác như Trung Du, Hoàng Hoa Thám (1951).

Trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, ông là Tham mưu trưởng chiến dịch.

Ngày 26/11/1953, ông dẫn đầu đoàn cán bộ của Bộ Tư lệnh tiền phương đường đi Tây Bắc nghiên cứu thực địa.

Ngày 30/11, đoàn đến Nà Sản, ông chủ trương cho đoàn dừng lại một ngày để nghiên cứu tập đoàn cứ điểm mà người Pháp vừa rút bỏ vào tháng 8 dù trận công kích của Quân đội Nhân dân Việt Nam đã không đạt mục đích. Chính những nghiên cứu thực địa ban đầu này đã giúp chuẩn bị kinh nghiệm rất nhiều cho trận đánh sau này. Ngày 6/12, đoàn đến Chỉ huy sở đầu tiên tại hang Thẩm Púa và bắt tay vào việc nghiên cứu đề ra cách đánh. Sáng ngày 12/1, đoàn Bộ Tư lệnh chiến dịch của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng đến nơi.

Như hầu hết các chỉ huy Việt Nam và cố vấn Trung Quốc khi đó, Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái cũng ủng hộ phương châm “đánh nhanh thắng nhanh”, dù ông đã băn khoăn: “Làm thế nào để đưa pháo vào trận địa khi ta chủ trương đánh sớm, đánh nhanh mà chưa kịp làm đường cho xe kéo pháo? Làm thế nào để hạn chế tác dụng của máy bay, pháo binh, giảm bớt thương vong khi ta đánh liên tục cả ban ngày?”. Tuy nhiên, là một người lính, ông đã ra lệnh cho các đơn vị rút về vị trí tập kết theo đúng chỉ thị của Tổng tư lệnh, một quyết định mà lịch sử chứng minh sự đúng đắn của nó khi tạo nên một chiến thắng chấn động thế giới.

Sau này, ông đã viết về thời khắc lịch sử này: “Nắm vững chức năng, nhiệm vụ, kiên quyết phát huy tinh thần cách mạng tiến công trong những điều kiện khó khăn, phức tạp và khẩn trương nhất, luôn luôn vì thắng lợi của toàn quân mà ra sức vươn lên trong thực tế chiến đấu và xây dựng, đáp ứng yêu cầu chỉ đạo chỉ huy của trên... đó là những yếu tố chủ quan quyết định thành công của Bộ Tổng tham mưu trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 và nói riêng trong chiến dịch lịch sử Điên Biên Phủ”...

Ngày 10/4/1958, ông là Tổng tham mưu phó Quân đội Nhân dân Việt Nam kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Quân huấn theo sắc lệnh 61/SL ngày 10/4 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Năm 1960, ông là Chủ nhiệm Tổng cục Quân huấn kiêm Chủ nhiệm Uỷ ban Thể dục thể thao Nhà nước. Từ năm 1961 đến năm 1963, ông đi học ở Học viện quân sự cấp cao Bắc Kinh, Trung Quốc.

Trong kháng chiến chống Mỹ, ông Nam tiến ngay những ngày đầu tiên quân Mỹ thực hiện Chiến tranh cục bộ. Năm 1966, ông là Tư lệnh kiêm Chính uỷ Liên khu 5. Từ năm 1967 đến năm 1973, ông là Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam, Phó Bí thư Trung ương cục và Phó Bí thư Quân ủy Quân Giải phóng miền Nam. Đây là thời kì cuộc kháng chiến chống Mỹ diễn ra ác liệt nhất, ông đã chỉ đạo chỉ huy nhiều chiến dịch lớn ở chiến trường miền Nam.

Cuối tháng 1/1974, ông ra Bắc nhận chức vụ Phó Tổng tham mưu trưởng thứ nhất, trực tiếp chỉ đạo công tác chi viện chiến trường và chỉ đạo tác chiến.

Qua tám năm làm Tư lệnh 2 chiến trường lớn đánh Mỹ ở miền Nam, B2 và khu V, ông có nhiều kinh nghiệm chỉ đạo tác chiến. Ông được Đại tướng Võ Nguyên Giáp giao làm kế hoạch chiến lược 2 năm 1975-1976.

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giữ trách nhiệm Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng chi viện, Hoàng Văn Thái đã tập trung chỉ đạo chi viện kịp thời cho các chiến trường, góp phần quan trọng đưa cuộc tiến công và nổi dậy đến toàn thắng.

Từ năm 1974 đến năm 1986, ông là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Từ năm 1974 đến năm 1981, ông là Uỷ viên thường vụ Quân uỷ Trung ương, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá III đến khoá V, đại biểu Quốc hội khoá VII.

Đại tướng Hoàng Văn Thái là một vị tướng hiền hậu, giản dị và hết mực khiêm tốn, được cán bộ và chiến sĩ ta rất yêu quý. Đặc biệt, cán bộ và chiến sĩ Quân khu V thường gọi ông trìu mến bằng ông cụ...

Cũng chính Hoàng Văn Thái là người nghĩ ra cách kí hiệu các cấp của các đơn vị Quân đội bằng các chữ cái (ví dụ: A-Tiểu đội, B-Trung đội, C-Đại đội, D-Tiểu đoàn, E-Trung đoàn, F-Sư đoàn) để cho dễ gọi hơn, Việt hơn và đặc biệt thể hiện sự độc lập đối với những quy định do người Pháp để lại.

Đại tướng Hoàng Văn Thái không chỉ đơn thuần làm công tác chỉ huy và tham mưu, ông còn tham gia viết và biên tập nhiều tác phẩm, tài liệu tổng kết, nghiên cứu về lịch sử và học thuyết quân sự Việt Nam như:

Đội tuyên truyền Việt Nam giải phóng quân, Cục Chính trị phát hành, 1948.
Chiến tranh cách mạng Việt Nam, Nhà xuất bản Quân chính, 1949.
Đẩy mạnh vận động tiến tới, Nhà xuất bản Quân chính, 1950.
Báo cáo và kết luận tổng kết huấn luyện, Tổng cục quân huấn xuất bản, 1958.
Nhớ lại ngày thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Hồi ký - in chung trong tập sách: “Anh bộ đội”, Nhà xuất bản quân đội nhân dân, Hà Nội - 1959.
Quan điểm thể dục thể thao của chúng ta, Nhà xuất bản quân đội nhân dân, Hà Nội - 1959.
Xây dựng Quân dội tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chính quy, hiện đại, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội - 1961.
Liên minh đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Lào - Campuchia, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội - 1983.
Mấy vấn đề về chỉ huy và tham mưu, Nhà xuất bản quân đội nhân dân, 1983.
Cuộc tấn công chiến lược Đông Xuân 1953 -1954, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội - 1984.
Những năm tháng quyết định, Nhà xuất bản quân đội nhân dân, Hà Nội - 1985
Mấy vấn đề về tổng kết chiến tranh và viết lịch sử quân sự, Viện lịch sử quân sự Việt Nam, 1987.
Điện Biên Phủ - Chiến dịch lịch sử (viết năm 1984), Nhà xuất bản quân đội nhân dân, Hà Nội -1990
How South Vietnam was liberated Gen. Hoang Van Thai, The Gioi Publishers 1992 (dịch: Miền Nam Việt Nam được giải phóng như thế nào, chuyển thể từ: Những năm tháng quyết định - 1985).
Tổng tập Đại tướng Hoàng Văn Thái (tổng hợp các bài viết của Đại tướng Hoàng Văn Thái), Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, 2007...

Đại tướng Hoàng Văn Thái qua đời ngày 2/7/1986 tại Bệnh viện Quân y 108, thọ 71 tuổi.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ
Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Sáu, 2020, 09:57:58 am
NGUYỄN BẰNG GIANG
CHỦ NHIỆM CUNG CẤP



Nguyễn Bằng Giang tên thật Nguyễn Văn Cơ, sinh năm 1915. Ông đã từng giữ các chức vụ quan trọng như: Phó Tổng Thanh tra Quân đội (1976 -1978); Đại biểu Quốc hội khoá III, IV, V, VI...

Phần thưởng được Đảng, Nhà nước trao tặng:

- Huân chương Hồ Chí Minh.
- Huân chương Quân công hạng Nhất, Nhì, Ba.
- Huân chương Chiến thắng hạng Nhất.
- Huân chương Kháng chiến chống Mĩ hạng Nhất...

Năm phong quân hàm cấp tướng:

Thiếu tướng năm 1959; Trung tướng 1974.

Trung tướng Nguyễn Bằng Giang là người dân tộc Tày, quê tỉnh Cao Bằng. Tham gia cách mạng từ 1932, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam (1935), nhiều lần bị Pháp bắt giam. Tỉnh uỷ viên Cao Bằng, tổ chức đội trừ gian, phụ trách binh vận, ủy viên thường vụ Liên Tỉnh uỷ Cao - Bắc - Lạng (1941 -1943), tỉnh uỷ viên Cao Bằng phụ trách quân sự, chỉ huy diệt phỉ và tước khí giới tàn quân Pháp (1944 - 45).
Khu phó, khu trưởng Khu I, Khu X (1946 - 1947), tư lệnh Liên khu X, Khu Tây Bắc (1948 - 1954), tham gia các Chiến dịch Biên giới, Tây Bắc, Điện Biên Phủ... (1950 - 1954).   

Tư lệnh Quân khu Tây Bắc (1958 - 1964), hiệu hưởng Trường Sĩ quan Lục quân (1965 - 1966), tư lệnh Quân khu Việt Bắc, kiêm chủ tịch Uỷ ban Hành chính Khu Tự trị Việt Bắc (1967 - 1975). Đại biểu Quốc hội khoá III, IV, V, VI.

Ông mất năm 1990.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ
Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Sáu, 2020, 09:59:47 am
LÊ LIÊM
CHỦ NHIỆM CHÍNH TRỊ



Lê Liêm sinh năm 1922, tên thật là Trịnh Đình Huấn, người huyện Thường Tín, Hà Đông (nay là Hà Nội). Trước năm 1945, ông hoạt động ở tỉnh Phúc Yên, từng bị tù ở Sơn La, được cử làm ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ. Năm 1945, cùng với các đồng chí Nguyễn Văn Kha, Nguyễn Đức Quỳ, ông tham gia lãnh đạo khởi nghĩa ở Hải Dương.

Ông từng đảm nhận các trọng trách: ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, đã giữ các chức vụ: Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam thời kỳ mới thành lập, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Chủ nhiệm Văn phòng Văn giáo Phủ Thủ tướng, Thứ trưởng Bộ Giáo dục Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, ông chủ yếu hoạt động công tác chính trị trong quân đội. Ông làm Chính trị uỷ viên trong uỷ ban Kháng chiến chiến Khu 1.

Năm 1947, ông làm Phó phòng dân quân (sau là Cục phó Cục Dân quân) Bộ tổng chỉ huy. Năm 1948, ông được bổ nhiệm Cục trưởng Cục Dân quân thay ông Khuất Duy Tiến. Ngày 18/10/1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 116, cử ông Lê Liêm, Cục trưởng Cục Dân quân kiêm chức Cục trưởng Cục Chính trị thay Thiếu tướng Văn Tiến Dũng cũ giữ chức vụ khác.

Ông cũng là Chủ nhiệm đầu tiên của Báo Quân đội Nhân dân. ủy viên Bộ chỉ huy chiến dịch Biên giới năm 1950.

Năm 1950, khi Cục Chính trị được nâng lên thành Tổng cục Chính trị trực thuộc Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội Quốc gia và dân quân Việt Nam, ông được cử làm Cục trưởng Cục Tuyên huấn, sau đó là Phó Chủ nhiệm Tổng cục. Chủ nhiệm là ông Nguyễn Chí Thanh.

Năm 1954, ông là Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Chủ nhiệm Chính trị Mặt trận Điện Biên Phủ. Tại Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ ở Mường Phăng, lán - hầm của đồng chí Lê Liêm nằm ngay sau lán - hầm của Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc. Ngày nay, căn lán đơn sơ giữa những thân cây cao lớn, tỏa bóng mát đã được phục dựng gần như nguyên trạng. Chiếc giường đơn, bàn làm việc bằng tre như vẫn ẩn hiện bóng dáng đồng chí trong những ngày tháng ác liệt nhất của chiến dịch Điện Biên Phủ. Ngay bên cạnh lán là hầm tránh trú bom đạn, sâu hơn 10m, cuối hầm đặt một chiếc bàn nhỏ.

Trước khi đến Mường Phăng, sở chỉ huy chiến dịch đã đặt ở nhiều điểm, trong đó có hang Huổi He, nơi do chính ông đề nghị và được lựa chọn. Hang Huổi He theo tiếng địa phương là Huổi Hẹ, nghĩa là dòng suối hai bên có nhiều tre, nứa.

Sau năm 1954, ông chuyển sang lĩnh vực dân sự trước khi có đợt phong quân hàm năm 1958. Ông được bổ nhiệm Thứ trưởng Bộ Văn hóa phụ trách điện ảnh, Bí thư Đảng đoàn Bộ dưới thời Bộ trưởng Hoàng Minh Giám. Ông kiêm chức Hiệu trưởng Trường Lý luận nghiệp vụ (thuộc Bộ Văn hóa, nay là Trường Đại học Văn hóa) trong thời gian 1959 -1960.

Năm 1960, tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam III, ông được bầu làm ủy viên Dự khuyết Ban chấp hành Trung ương.

Tháng 1/1963 ông giữ chức Chủ nhiệm Văn phòng Văn giáo Phủ Thủ tướng thay ông Tố Hữu, đến tháng 10/1965 thì ông Trần Quang Huy kế nhiệm.

Năm 1965, ông làm Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam, Bí thư đảng đoàn Bộ, Chánh Thư ký Công đoàn Giáo dục Việt Nam kiêm Hiệu trưởng Trường Chính trị Bộ Giáo dục.

Năm 1964 khi đồng chí Nguyễn Vãn Trỗi hy sinh, ông làm bài ca Nguyễn Văn Trỗi:

Bài ca anh Nguyễn Văn Trỗi

Anh Nguyễn Văn Trỗi anh hùng chiến đấu miền Nam.
Sớm nay anh nằm dưới nệm cỏ dáng yên lành.
Hoa lá bay trên trời cao lộng gió.
Anh nghỉ ở nơi dây hương phấn bay quyện với mây trời.
Sáng soi đời sau.
Với đất nước, dân thương yêu, sống muôn đời trong hoa tươi thắm.
Với đất nước, dân thương yêu, hiến thân mình cho dân cho nước.
Sống mãi mãi, trong muôn dân, sống trong muôn lòng, thắm tình, toàn dân thương nhớ: anh Nguyễn Vãn Trỗi.
Gió vẫn rít, mưa tuôn rơi.
Với dân mình tham gia chiến đấu, súng nắm chắc, vai chen vai, thấm tươi anh em tương thân tương ái, chống đế quốc bên dân ta, có bao nhiêu người dốc lòng:
Vê-nê-duy-ê-la, đang dấu tranh bên nhau.
Anh Nguyễn Văn Trỗi hoa hồng tươi thắm Việt Nam.
Tiếc thay không ngờ anh chịu phải lưới quân thù.
Anh hiến dâng thân mình cho Tổ quốc.
Gắng chịu dựng gian lao nêu tấm gương bừng sáng trong đấu tranh cho dân mình.
Ánh dương bừng lên!
Với tiếng thét, anh hiên ngang, khiến quân thù hoang mang đau đớn.
Với tiếng thét, anh hô vang: “Nhớ đây Việt nam ta đang chiến thắng.”
Tiến với trước, chân kiêu hãnh, mắt anh căm thù, oán hờn, đời anh thêm tươi sáng, trong đấu tranh gian lao.



Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ
Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Sáu, 2020, 10:03:34 am
HOÀNG MINH THẢO
TƯ LỆNH ĐẠI ĐOÀN BỘ BINH 304



Hoàng Minh Thảo (sinh năm 1921) là một nhà lý luận quân sự xuất sắc của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Tuy có nhiều năm trực tiếp chỉ huy quân đội, nhưng người ta thường biết đến ông như một nhà nghiên cứu khoa học quân sự.

Phần thưởng được Đảng, Nhà nước trao tặng:

- Huân chương Hồ Chí Minh.
- Huân chương Độc lập hạng Nhất.
- Huân chương Quân công hạng Nhất.
- Huân chương Chiến công hạng Nhất.
- Huân chương Chiến thắng hạng Nhất.
- Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất.
- Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba.
- Huân chương Chiến sỹ giải phóng hạng Nhất, Nhì, Ba.
- Huy chương Quân kỳ Quyết thắng.
- Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Năm phong quân hàm cấp tướng:

Thiếu tướng năm 1959; Trung tướng năm 1974; Thượng tướng năm 1984.

Ông tên thật là Tạ Thái An, sinh ngày 25/10/1921 tại xã Bảo Khê, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.

Năm 1937, ông tham gia hoạt động cách mạng ở Lạng Sơn. Từ năm 1941, ông tham gia Việt Minh và được cử đi học Trường Quân sự ở Liễu Châu (Trung Quốc) đến năm 1944. Sau khi về nước, ngày 7/1/1945, tham gia Ban phụ trách công tác biên giới của Tổng bộ Việt Minh, ủy viên dự khuyết Tỉnh ủy lâm thời Lạng Sơn. Ngày 3/3/1945, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương và tham gia giành chính quyền ở Lạng Sơn.

Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, từ tháng 8/1945 đến năm 1949, ông là phái viên của Bộ Quốc phòng ở các tỉnh duyên hải tả ngạn sông Hồng, Khu trưởng Chiến khu III, Phó tư lệnh Liên khu III. Năm 1948, ông được phong quân hàm Đại tá Quân đội Quốc gia Việt Nam trong đợt phong hàm đầu tiên.

Từ 1949-1950, ông làm Tư lệnh Liên khu 4.

Sau Chiến dịch Biên giới 1950, các đại đoàn quân chính quy được thành lập. Ông được bổ nhiệm làm Đại đoàn trưởng đầu tiên của Đại đoàn 304 (1950-1954).

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Đại đoàn 304 do ông chỉ huy là một trong năm Đại đoàn chủ lực tham gia chiến dịch lịch sử này.
Lúc này kế hoạch tác chiến của ta là bao vây Hồng Cúm, tiêu diệt Mường Thanh. Trung đoàn 57 thuộc Đại đoàn 304 của Tư lệnh Hoàng Minh Thảo được tăng cường một tiểu đoàn của Đại đoàn 316, có nhiệm vụ xây dựng một trận địa hình cánh cung, chạy từ đông sang tây, cắt rời phân khu Hồng Cúm khỏi khu trung tâm Mường Thanh...

Sau năm 1954, ông được phân công công tác đào tạo cán bộ quân sự, xây dựng Học viện Quân sự. Ông giữ chức vụ Hiệu hưởng Học viện Quân sự liên tục từ 1954 đến 1966 (nay là Học viện Lục quân Đà Lạt).

Từ tháng 11/1966, ông được điều vào Nam giữ chức Phó tư lệnh Mặt hận Tây Nguyên. Chính qua trận đụng độ giữa Quân giải phóng Miền Nam và quân Mỹ tại Iađrăng mà ông đã ghi nhận lại được những nguyên tắc quan trọng giúp Quân giải phóng Miền Nam giành được một số lợi thế khi giao chiến với một đối phương có ưu thế tuyệt đối về hỏa lực và cơ động.

Năm 1968, ông là Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên. Tháng 8/1974, ông giữ chức Phó tư lệnh Quân khu V; tháng 3/1975, là Tư lệnh Chiến dịch giải phóng Tây Nguyên.

Sau 1975, từ tháng 5/1976 đến 1989, ông trở lại giữ chức Viện trưởng Học viện Lục quân Đà Lạt (1976-1977), Viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao (1977-1989, nay là Học viện Quốc phòng Việt Nam), năm 1987, kiêm Phó chủ tịch Hội đồng Khoa học Quân sự Bộ quốc phòng.
Từ năm 1990, ông là Viện trưởng Viện Chiến lược Quân sự, Bộ Quốc phòng Việt Nam và giữ chức vụ này cho đến khi nghỉ hưu (1995).

Ông được phong Giáo sư ngành Khoa học quân sự năm 1986, Nhà giáo Nhân dân năm 1988.

Nếu Hoàng Minh Thảo được đánh giá cao trong tư cách một chỉ huy quân sự tài năng thì ông cũng hoàn toàn xứng đáng được đánh giá như vậy trong tư cách một nhà sư phạm quân sự, một nhà nghiên cứu khoa học và nghệ thuật quân sự khi trong hơn ba mươi năm được chỉ định đứng đầu những cơ sở đào tạo cao nhất của quân đội ta: Trường trung, cao quân sự, Học viện Quân sự, Học viện Quốc phòng, ngay từ những năm tháng đầu tiên các cơ sở này được thành lập.

Hàng vạn cán bộ trung, cao cấp quân đội - nhiều người trong đó giữ các cương vị lãnh đạo quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng, đi qua môi trường này vẫn ghi nhớ cách làm việc khoa học cũng như các bài giảng trực tiếp sinh động, có sức thuyết phục cao của ông. Đặc trưng công tác đào tạo và nghiên cứu của ông là gắn chặt với thực tiễn. Lĩnh vực mà ông hứng thú và dồn nhiều tâm huyết nhất là nghệ thuật quân sự - công nghệ tiến hành chiến tranh.

Hoàng Minh Thảo đã viết hơn 10 tác phẩm, đặc biệt trong đó những tác phẩm như Tổ tiên ta đánh giặc, Sự thất bại của một cuộc chiến tranh phi nghĩa, Về cách dùng binh, Những vấn đề về nghệ thuật quân sự... Các tác phẩm của ông là những kinh nghiệm được ông rút ra sau mỗi trận đánh. Đây là những tác phẩm làm cơ sở để cho đến bây giờ, ông là nhà lý luận quân sự duy nhất đoạt Giải thưởng Hồ Chí Minh. Và có lẽ ít ai biết rằng hai tác phẩm Tổ tiên ta đánh giặc (1971) và Sự thất bại của một cuộc chiến tranh phi nghĩa (1972 - 1974) đều được ông viết ở chiến trường Tây Nguyên, ngay dưới mưa bom bão đạn và khoảng cách giữa hai chiến dịch.

Ông còn là ủy viên Hội đồng Quốc gia Chỉ đạo Biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam.

Ông nghỉ hưu vào năm 1995, nhưng vẫn tham gia công tác nghiên cứu về khoa học quân sự.

Do công lao của ông, Nhà nước đã tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh, huân chương Quân công hạng Nhất, huân chương Chiến công hạng Nhất và nhiều huân chương cao quý khác.

Năm 2005, ông được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh cho Cụm công trình về nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Vị tướng tài năng, đức độ và liêm khiết, giáo sư, nhà giáo nhân dân Hoàng Minh Thảo đã qua đời tại Bệnh viện Quân y 108 (Hà Nội) vào ngày 8/9/2008.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ
Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Sáu, 2020, 10:05:42 am
LÊ CHƯỞNG
CHÍNH ỦY ĐẠI ĐOÀN BỘ BINH 304



Thiếu tướng Lê Chưởng (1914-1973), nguyên Chính ủy Quân khu Trị Thiên, Chính ủy Học viên Quân chính, Cục trưởng Cục tuyên huấn, Chính ủy Liên khu 4.

Ngoài ra ông là Đại biểu Quốc hội khóa III, Thứ trưởng Bộ Giáo dục.

Phần thưởng được Đảng, Nhà nước trao tặng:

- Huân chương Hồ Chí Minh.
- Huân chương Chiến công hạng Nhất.
- Huân chương Chiến thắng hạng Nhất...

Năm phong quân hàm cấp tướng:

Thiếu tướng năm 1959.

Thiếu tướng Lê Chưởng quê xã Triệu Thành, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Ông tham gia hoạt động cách mạng từ rất sớm, năm 1931 ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương nay là Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ năm 1940 đến 1945, ông bị thực dân Pháp bắt giam 5 lần, có lần bị kết án 20 năm tù và đày đi Buôn Mê Thuật. Tháng 5/1945, ông được trả tự do, về xây dựng cơ sở cách mạng và lãnh đạo giành chính quyền ở tỉnh Bình Thuận, chủ bút báo Quyết thắng của Việt Minh Trung bộ.

Tháng 3/1946, ông làm Chủ nhiệm Việt Minh Thuận Hóa, Bí thư Thị ủy. Từ năm 1947 đến 1948, ông nhập ngũ, làm Chính ủy: Mặt trận Đường 9, Trung đoàn 95; tham gia Khu ủy Khu 4, trực tiếp làm Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị. Năm 1949, ông làm Chính ủy, Thường vụ Liên khu ủy Liên khu 4. Năm 1951, ông làm Chính ủy Đại đoàn 304.

Trong hồi ký “Điện Biên Phủ - Điểm hẹn lịch sử”, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng đã nhiều lần nhắc đến Chính ủy Lê Chưởng trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, trong đó có đoạn: “24g (ngày 7-5-1954), anh Lê Chưởng (Chính ủy Đại đoàn 304) gọi điện thoại báo cáo đã bắt được toàn bộ quân địch ở Hồng Cúm, trong đó có cả Lalăng, chỉ huy phó của tập đoàn cứ điểm, đặc trách phân khu Hồng Cúm...”.

Năm 1955, ông làm Cục trưởng Cục Tuyên huấn trực thuộc Tổng cục Chính trị. Từ năm 1959 đến 1961, ông làm Chính ủy: Đoàn 959, Học viện Quân chính. Từ năm 1966 đến 1971, ông làm Chính ủy, Phó Bí thư Quân khu ủy Quân khu Trị - Thiên. Năm 1971, ông chuyển ngành làm Thứ trưởng Bộ Giáo dục.

Có một điều rất đặc biệt và tự hào là vợ chồng Thiếu tướng Lê Chưởng đều là Bí thư tỉnh ủy, đều là Thứ trưởng (Bà Lê Diệu Muội, nguyên Thứ trưởng Bộ Nội thương) và cùng được tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh. Hai con trai của ông bà là Lê Chí Hương, Lê Chí Hòa đều là Đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam. Còn người con trai nữa, Lê Tường Long cũng là nhà báo Quân đội Nhân dân Việt Nam với quân hàm Đại úy.

Thiếu tướng Lê Chưởng qua đời vào năm 1973.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ
Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Sáu, 2020, 10:07:24 am
NAM LONG
THAM MƯU TRƯỞNG ĐẠI ĐOÀN BỘ BINH 304



Tham mưu trưởng Nam Long tên thật Đoàn Văn Ưu, dân tộc Tày, sinh ngày 8/10/1921, tại xã Đề Thám, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Ông là một trong số các thanh niên yêu nước được chọn đi học tại Trường quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc) năm 1941. Trong bức ảnh kỷ niệm ngày thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân ông là người đứng bên phải người cầm cờ, người đeo ruột tượng đựng gạo chính là chàng thanh niên 23 tuổi Đoàn Văn Ưu (Nam Long), người cầm cờ là Hoàng Văn Thái sau này là Đại tướng Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam. Tháng 1/1945, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.

Tháng 8/1945, ông là Đại đội trưởng đơn vị bảo vệ Bác Hồ. Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, ông đề nghị với Đại tướng Võ Nguyên Giáp xung phong Nam tiến chiến đấu ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ với chức vụ là Chi đội trưởng. Chi đội 3 Nam tiến của ông đã lập được nhiều chiến công, đi vào lịch sử, là đội Nam Tiến đầu tiên được nhân dân Nam Bộ yêu mến đặt tên là “Chi đội Nam Long” và cái tên tướng Nam Long cũng bắt đầu từ đó.

Tháng 4/1946, ông đảm nhiệm các chức vụ: Trung đoàn trưởng Trung đoàn Hải Dương, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 59, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 36, ủy viên Khu 12; Trung đoàn trưởng Trung đoàn 141 - Sư đoàn 312. Dưới sự chỉ huy của ông, Trung đoàn đã tiến đánh thắng lợi một số trận nổi tiếng như Ba Huyên (chiến dịch Trung du), Ba Vì (chiến dịch Hoà Bình), Ba Lay (chiến dịch Tây Bắc). Trải qua rèn luyện, Trung đoàn 141 trở thành một trong những Trung đoàn giỏi đánh công sự vững chắc và đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chủ công trong trận đánh Him Lam lịch sử. Ông là Chỉ huy phó Mặt trận Lạng Sơn, Đảng ủy viên Mặt trận.

Năm 1953-1955, ông được bổ nhiệm các chức vụ: Tham mưu trưởng Sư đoàn 304, Đảng ủy viên Sư đoàn; Sư đoàn trưởng Sư đoàn 304. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, trên cương vị Tham mưu trưởng, ông đã cùng Ban Chỉ huy Đại đoàn 304 chỉ huy bộ đội bao vây kiềm chế và tiêu hao quân Pháp ở Phân khu Hồng Cúm, không cho quân Pháp chi viện cho khu Mường Thanh, chặn đường tiếp tế và không cho quân Pháp trốn sang Lào. Đồng thời tiêu diệt và bắt sống toàn bộ 2.000 quân Pháp ở Hồng Cúm định tháo chạy về Thượng Lào. Chiến công đó đã góp phần vào sự toàn thắng của trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ - một trong những trận tiêu diệt lớn và gọn nhất trong lịch sử chiến đấu của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Năm 1956, ông được cử đi học tại Học viện Bộ Tổng tham mưu quân đội Xô Viết.

Năm 1958, ông về nước, được bổ nhiệm làm Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Pháo binh. Sau đó là Tư lệnh pháo binh.

Năm 1961-1973, ông được bổ nhiệm các chức vụ: Phó tư lệnh Quân khu Tả Ngạn; Phó tư lệnh, sau đó làm Tư lệnh Quân khu 4; Phó tư lệnh Quân khu Trị - Thiên. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, ông chỉ huy cánh quân đánh vào thành phố Huế.

Năm 1974, được bổ nhiệm làm Phó Giám đốc Học viện quân sự (nay là Học viện lục quân).

Tháng 4/1975, ông là đặc phái viên của Bộ Quốc phòng, tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh. Ông cùng các Quân đoàn chủ lực tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh và có mặt ở Dinh Độc Lập vào những giờ phút đầu tiên tiếp nhận sự đầu hàng của Dương Văn Minh.

Năm 1977, ông được bổ nhiệm làm Phó Giám đốc Học viện quân sự cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng).

Ông nghỉ hưu năm 1988. Tham gia Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Cựu chiến binh Việt Nam lần thứ nhất năm 1990, ông là một thành viên tích cực, góp phần vào thành công của Đại hội. Từ năm 1994, ông là Trưởng Ban liên lạc truyền thống Cựu chiến binh Sư đoàn 304 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Ông được phong quân hàm Đại tá năm 1958, Thiếu tướng năm 1974, Trung tướng năm 1981.

Ông được tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh và nhiều Huân chương cao quý khác. Ông mất ngày 01/7/1999 an táng tại nghĩa trang thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 17/5/2007, tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam đã diễn ra Lễ trao tặng tượng đồng cố Trung tướng Nam Long của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam. Đây là bức tượng thứ 9, Hội Khoa học Lịch sử trao cho Bảo tàng.

Lần trao tặng này, Bảo tàng nhận 3 bức tượng, trong đó một bức sẽ được trưng bày tại bảo tàng, một bức được gửi tặng thân nhân gia đình cố trung tướng Nam Long và một bức gửi tặng bảo tàng tỉnh Cao Bằng. Các bức tượng này được tạc bán thân, hoàn toàn bằng đồng. Đây là kết quả của cuộc vận động “Mỗi người một giọt đồng đúc tượng danh nhân”.

Cũng trong lễ trao giải, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam đã tiếp nhận nhiều kỷ vật của đồng chí Nam Long do thân nhân gia đình đồng chí trao tặng.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ
Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Sáu, 2020, 10:10:08 am
VƯƠNG THỪA VŨ
TƯ LỆNH ĐẠI ĐOÀN BỘ BINH 308



Vương Thừa Vũ (24/12/1910-1980), Nguyên Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Tư lệnh Quân khu Hữu Ngạn, nguyên Tư lệnh Quân khu 4, nguyên Giám đốc Học viện Quân chính. Ông là Chỉ huy trưởng mặt trận Hà Nội mùa Đông 1946 và cũng là Đại đoàn trưởng đầu tiên của Đại đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam - Đại đoàn Quân tiên phong (F308). Tên ông được đặt tên cho một đường phố tại Hà Nội - phố Vương Thừa Vũ.

Phần thưởng được Đảng Nhà nước trao tặng:

- Huân chương Hồ Chí Minh.
- Huân chương Quân công hạng Nhất, hạng Ba.
- Huân chương Chiến thắng hạng Nhất.
- Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất.
- Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba.
-  Huy chương Quân kỳ Quyết thắng.

Năm phong quân hàm cấp tướng:

Thiếu tướng năm 1954; Trung tướng năm 1974.

Vương Thừa Vũ (tên thật là Nguyễn Văn Đồi), sinh năm 1910 trong một gia đình nghèo tại làng Vĩnh Quỳnh (nay là xã Đại Hưng), huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.

Năm 1937, ông học ở Trường Quân sự Hoàng Phố, Trung Quốc. Cuối năm 1941, ông về nước và bị thực dân Pháp bắt giam tại Bá Vân, Thái Nguyên.

Trong thời gian bị tù đầy, ông giác ngộ và bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng. Ông tham gia công tác binh vận và huấn luyện quân sự trong nhà tù thực dân.

Năm 1943, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Tháng 3/1945, ông tham gia bạo động giành chính quyền tại Nghĩa Lộ nhưng không thành. Ông trốn thoát khỏi nhà tù Nghĩa Lộ và lạc vào một bản người dân tộc. Tưởng ông là người làm việc cho Pháp, họ định đem xử bắn ông. Nhưng nhờ ông biết tiếng dân tộc giải thích cho họ hiểu. Khi họ hỏi mang họ gì ông khai là họ Vương, từ đó ông lấy tên là Vương Thừa Vũ và cái tên này gắn liền với ông suốt cuộc đời. Sau đó, ông về Bắc Ninh gây dựng cơ sở cách mạng và tham gia huấn luyện quân sự ở chiến khu 2.

Cách mạng tháng Tám thành công, ông được giao nhiệm vụ tổ chức và chỉ huy Bảo an binh Hà Nội rồi khu trưởng khu XI Hà Nội.

Năm 1946, Trường võ bị Trần Quốc Tuấn mở khóa 1, ông là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn học viên tham gia giảng dạy.

Toàn quốc kháng chiến tháng 12/1946, ông được giao nhiệm vụ Chỉ huy trưởng mặt trận Hà Nội nhằm kìm chân quân Pháp tạo điều kiện cho Trung ương rút lui về an toàn khu và đồng bào đi tản cư an toàn. Chính ông là người đề xuất việc chia khu vực tác chiến đồng thời căn cứ vào địa hình, đặc điểm đường phố của Hà Nội, ông đề xuất chiến thuật “độc trùng chiến” hay “thuật cang chiến”. Do vậy, quân và dân Hà Nội thay vì giữ được thành phố 1 tháng đã giữ được 2 tháng làm thất bại kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của quân Pháp.

Trong thời gian từ năm 1947 đến năm 1948, ông giữ chức vụ Khu phó Khu 4 rồi Phân khu trưởng Phân khu Bình Trị Thiên.

Ngày 28/8/1949, Đại đoàn Quân tiên phong - Đại đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam, được thành lập tại Phố Đu, Thái Nguyên. Ông được giao nhiệm vụ tổ chức đồng thời là Đại đoàn trưởng đầu tiên rồi trong thời gian đầu tiên thành lập từ năm 1949 đến năm 1951, ông kiêm luôn vai trò Chính ủy Đại đoàn.

Ông là chỉ huy các chiến dịch: Sông Lô (5/1949), Đường số 4 (10/1949). Đồng thời trên cương vị Đại đoàn trưởng Đại đoàn Quân tiên phong, ông chỉ huy Đại đoàn tham gia các chiến dịch: Biên giới (10/1950), Trung du (12/1950), Đông Bắc (2/1951), Hà Nam Ninh (5/1951), Hoà Bình (10/1951), Tây Bắc (10/1952). Chỉ huy tiến công Bắc Giang, Phả Lại (7/1954).

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ở trận đánh cứ điểm Độc Lập, Bộ chỉ huy chiến dịch phân công cho Đại đoàn trưởng 308 Vương Thừa Vũ. Trung đoàn 88 mới từ Lào về, chỉ có 3 ngày vừa trinh sát, vừa tổ chức chiến đấu, vừa đào hào giao thông. Kế đó, ta bức hàng Bản Kéo. Sau Him Lam, Độc Lập, Bản Kéo, quân Pháp mất một phần năm lực lượng.

Tiếp đó đại đoàn, trong giai đoạn 2, để đánh chắc, tiến chắc, thực hiện yêu cầu tiếp cận và tiến công liên tục cả ngày lẫn đêm, đã xây dựng hào giao thông từ năm vị trí Độc Lập đến sông Nậm Rốm ở hướng Tây Mường Thanh, chuẩn bị công kích vị trí 106.

Đợt 2 chiến dịch bắt đầu ngày 30/3/1954, phần Đại đoàn 308 có nhiệm vụ tiêu diệt khu vực trung tâm của địch gồm: một tiểu đoàn số 2 và vị trí pháo binh địch ở đó, phối hợp đơn vị bạn tiêu diệt tiểu đoàn dù thuộc địa số 6, kiềm chế pháo binh địch ở Tây Mường Thanh...

Trận đồi A1 diễn ra gay go, quyết liệt, lực lượng ta gồm Trung đoàn 174, Đại đoàn 316 và Trung đoàn 102, Đại đoàn 308.

Tiếp theo, các đại đoàn tiến hành xây dựng trận địa bao vây, nhằm thắt chặt vòng vây hơn, đánh chiếm sân bay. Bộ chỉ huy Mặt trận giao cho đồng chí Vương Thừa Vũ nhiệm vụ chỉ huy chung hỏa lực và đánh phản kích, lực lượng gồm 5 đại đội lựu pháo, tất cả hỏa lực cối của hai Đại đoàn 308, 312 và hai trung đoàn bộ binh. Những đòn tiến công của quân ta đã dồn quân Pháp vào thế đường cùng...

Các Trung đoàn 36, 88, 102 của Đại đoàn, khi độc lập tác chiến hay phối hợp cùng đơn vị bộ binh, pháo binh bạn, đã trưởng thành vượt bậc. Người chỉ huy Đại đoàn Vương Thừa Vũ, cùng Chính ủy Song Hào đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của mình.

Sau 9 năm kháng chiến trường kì gian khổ, Đại đoàn của ông được Trung ương và Quân ủy giao cho nhiệm vụ trở về tiếp quản Thủ đô. Chính ông, ở cầu Long Biên, thay mặt Quân đội Việt Nam nhận sự bàn giao Hà Nội của quân đội Pháp.

Ngày 10/10/1954, ông, trên cương vị Chủ tịch Ủy ban Quân chính Hà Nội chỉ huy bộ đội Việt Nam tiến vào tiếp quản Thủ đô và lễ chào cờ tại Sân vận động Cột Cờ Hà Nội cùng bác sĩ Trần Duy Hưng.

Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông được giao nhiệm vụ chỉ huy chiến đấu và huấn luyện chiến đấu.

Từ năm 1955 đến năm 1963, ông là Tư lệnh Quân khu Hữu Ngạn.

Từ năm 1964 đến năm 1980, ông là Phó Tổng tham mưu trưởng kiêm Giám đốc Học viện Quân chính phụ trách huấn luyện bộ đội.

Từ năm 1964 đến năm 1971, đây là thơi kì ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Ông được cử vào kiêm chức Tư lệnh Quân khu 4.
Đây cũng là thời kì địa bàn Quân khu 4 bị bắn phá ác liệt nhất bằng đường không và đường biển nhằm ngăn chặn sự chi viện của hậu phương miền Bắc cho tiền tuyến miền Nam. Ông được quân và dân khu 4 hết sức yêu quý và gọi trìu mến là “ông Cụ”.

Vương Thừa Vũ là một vị tướng võ theo đúng nghĩa của nó. Ông rất giỏi võ và đặc biệt là võ Tàu. Trong lễ thành lập Đại đoàn Quân tiên phong, ông đã làm bất ngờ những người có mặt bằng một động tác chào kiếm tuyệt vời.

Tướng Vương Thừa Vũ là một nhà chiến thuật và tổng kết chiến thuật xuất sắc. Chính ông là người đã sáng tạo ra cách đánh hợp lí trong mùa Đông năm 46 tại Hà Nội đồng thời cũng là người đã tổng kết nghệ thuật quân sự trong chiến dịch Điện Biên Phủ bằng câu “Vây, Lấn, Tấn, Phá, Triệt, Diệt”. Ông còn là một người hết sức hâm mộ bóng đá. Trong thời gian ông giữ chức vụ Phó tổng tham mưu trưởng phụ trách huấn luyện, ông thường xuyên xem đội Thể Công đá và chỉ đạo đội. Ông có một số tổng kết chiến thuật bóng đá rất thú vị thể hiện dưới hình thức thơ và vè.

Trung tướng Vương Thừa Vũ có 2 người con trai là sĩ quan Quân đội đã hy sinh: Vương Thiết Căng là sĩ quan pháo binh hy sinh năm 1972 tại Quảng Trị và Vương Thiết Bình là sĩ quan không quân hy sinh năm 1992 khi đang làm công tác huấn luyện. Vợ của ông, bà Lê Thị Hợp, đã được Chủ tịch nước kí quyết định phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng và được chính quyền Hà Nội xây tặng một căn nhà tình nghĩa.

Trung tướng Vương Thừa Vũ mất ngày 23/04/1980, hưởng thọ 70 tuổi, an táng tại Nghĩa trang Mai Dịch, thành phố Hà Nội.

Trong lễ tưởng niệm 18 năm ngày Trung tướng Vương Thừa Vũ qua đời, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã dành cho ông những lời trang trọng nhất: “Vương Thừa Vũ, một người con của Hà Nội xứng đáng với quê hương anh hùng, xứng đáng là một người con ưu tú của Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội... Bao trùm lên trên hết, Vương Thừa Vũ là một người cộng sản có đạo đức cách mạng, một vị tướng trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy”.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ
Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Sáu, 2020, 10:12:06 am
SONG HÀO
CHÍNH ỦY ĐẠI ĐOÀN BỘ BINH 308



Song Hào (1917-2004) là một Thượng tướng của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông từng giữ các chức vụ Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Thương binh và Xã hội, Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Chủ tịch lâm thời Hội Cựu chiến binh Việt Nam.

Phần thưởng được Đảng, Nhà nước trao tặng:

- Huân chương Hồ Chí Minh.
- Huân chương Quân công hạng Nhất.
- Huân chương Kháng chiến hạng Nhất.
- Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất.
- Huân chương Chiến công hạng Nhất.
- Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba.
- Huân chương Sao vàng.
- Huy chương Quân kỳ Quyết thắng.
- Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.

Năm phong quân hàm cấp tướng:

Trung tướng năm 1959; Thượng tướng năm 1974.

Thượng tướng Song Hào tên thật là Nguyễn Văn Khương, sinh ngày 20/8/1917 tại xã Hào Kiệt (nay là xã Liên Minh), huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Ông tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1936 trong Phong trào Mặt trận bình dân. Năm 1937, ông phụ trách tổ chức Ái hữu thợ thêu, Thanh niên dân chủ (sau này là Mặt trận phản đế) tại quê hương.

Tháng 4/1939, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương và được cử làm Thư ký Ban Thường trực Liên đoàn Lao động Hà Nội và tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố Hà Nội.

Đầu năm 1940, ông bị thực dân Pháp bắt giam và kết án 7 năm tù, lưu đày qua các nhà tù Nam Định, Hà Nội, Sơn La, Hòa Bình, Chợ Chu. Năm 1943, ông được chỉ định làm Bí thư chi bộ tại nhà tù Chợ Chu. Tháng 8/1944, ông vượt ngục khỏi nhà tù Chợ Chu về vùng Tuyên Quang, Thái Nguyên hoạt động, được chỉ định làm Chính trị viên Đội tuyên truyền Cứu quốc quân hoạt động ở các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang và Thái Nguyên.

Tháng 12/1944, ông được chỉ định làm Bí thư Khu căn cứ Nguyễn Huệ. Tháng 8/1945, ông được cử làm đại biểu đi dự Đại hội quốc dân tại Tân Trào. Sau đó ông phụ trách Cứu quốc quân cướp chính quyền tại hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang.

Sau Cách mạng tháng Tám, ông là Xứ ủy viên Bắc Kỳ của Kỳ bộ Việt Minh, phụ trách liên tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang và Thái Nguyên... Tháng 12/1947, ông là Chính ủy Liên khu 10, Khu ủy viên, Bí thư Quân khu ủy. Đến năm 1950, ông là Chính ủy khu Tây Bắc, Bí thư Ban cán sự bộ đội tình nguyện vùng Thượng Lào. Năm 1951, ông là Chính ủy Đại đoàn 308, Bí thư Đại đoàn ủy.

Tháng 5/1955, ông được giao công tác xây dựng quân đội chính quy và được cử làm Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Tổng Quân ủy viên. Năm 1959, ông được phong quân hàm Trung tướng.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần III (năm 1960), lần IV (năm 1976) và lần V (tháng 3/1982) của Đảng, ông được bầu làm Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng. Ông được cử giữ chức Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng, trưởng Ban kiểm tra Quân ủy Trung ương (khóa III). Được Ban chấp hành Trung ương cử vào Ban Bí thư (khóa IV), phân công làm Chủ nhiệm ủy ban Kiểm tra trung ương.

Tháng 3/1961, ông được cử giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị (thay cho tướng Nguyễn Chí Thanh vào miền Nam), kiêm thứ trưởng Bộ Quốc phòng, phó bí thư Quân ủy Trung ương.

Sau 1975, ông vẫn tiếp tục công tác trong quân đội cho đến tháng 4/1982, ông được phân công giữ chức Bộ trưởng Bộ Thương binh và Xã hội đến tháng 2/1987.

Từ tháng 2/1990 đến tháng 12/1992, ông được chỉ định làm Chủ tịch lâm thời Hội Cựu chiến binh Việt Nam.

Ông đã được bầu làm đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa IV và khóa VI.

Ông qua đời lúc 1 giờ 22 phút ngày 9/1/2004 tại Bệnh viên Trung ương quân đội 108, Hà Nội, hưởng thọ 87 tuổi.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ
Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Sáu, 2020, 10:15:42 am
LÊ TRỌNG TẤN
TƯ LỆNH ĐẠI ĐOÀN BỘ BINH 312



Đại tướng Lê Trọng Tấn (1/10/1914 -5/12/1986), nguyên Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, nguyên Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Sao Vàng (2007), Huân chương Quân công hạng Nhất hạng Ba, Huân chương kháng chiến hạng Nhất, Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất Nhì Ba, Huy chương Quân kỳ quyết thắng. Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng nhận xét về ông là “Người chỉ huy kiên cường, lỗi lạc, người bạn chiến đấu chí thiết”.

“Đây có phải là tướng đánh trận giỏi nhất ở Việt Nam không” (Chủ tịch Phidel, khi gặp Tướng Lê Trọng Tấn trong lần Chủ tịch ra thăm chiến trường Quảng Trị) “Trí - Dũng - Nhân - Chính - Liêm - Trung”, “Rộng lượng và Hào hiệp”, “Tài năng, Cương trực”, “Đức độ, Tài ba”, “Quyết đoán, Nhân nghĩa”, “Người chỉ huy ưu tú, kiên cường, người thủ trưởng có tình thương chân thành, chăm sóc anh em với tình cảm của người anh, người mẹ” (Đây là tất cả những lời tốt đẹp nhất mà các sĩ quan cao cấp dành cho ông).

Đại tướng Lê Trọng Tấn, tên thận là Lê Trọng Tố, bí danh Ba Long, sinh tại làng Nghĩa Lộ, xã Yên Nghĩa, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây trong một gia đình trí thức có 7 người con (5 trai, 2 gái). Cha ông là một thầy đồ nghèo mất khi ông mới lên 7 tuổi, ông trưởng thành nhờ sự tần tảo của người mẹ. Xã Yên Nghĩa là một xã có truyền thống yêu nước cũng như có truyền thống cách mạng, thời kì trước cách mạng, nhân dân xã đã nuôi giấu nhiều nhà cách mạng, mà sau này họ trở thành những lãnh đạo cao cấp của Việt Nam như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Trần Đăng Ninh, Trần Quốc Hoàn...Đây chính là An toàn khu của Xứ ủy Bắc Kỳ thời tiền khởi nghĩa.

Ham mê bóng đá và võ nghệ từ nhỏ, khi là học sinh của trường Bưởi (nay là trường Chu Văn An ở Hà Nội) ông đã được tuyển vào Câu lạc bộ bóng đá Không quân của Pháp. Sau đó, có một thời gian ông là lính khố đỏ.

Lê Trọng Tấn tham gia Việt Minh từ năm 1944. Lúc đầu ông được phân công làm công tác địch vận tại khu vực Hoàng Mai, Hà Nội. Tháng 3/1945, ông là thành viên trong Ủy ban chuẩn bị khởi nghĩa tỉnh Hà Đông (nay thuộc thành phố Hà Nội) được cử về tuyên truyền, tổ chức và xây dựng Lực lượng vũ trang tại Ứng Hòa, La Khê, La Cả (Hà Đông).

Quê ông có 4.593 nhân khẩu, nạn đói năm 1945 làm chết đói gần một nửa. Ông đã tổ chức phá kho thóc, chia gạo cho nhân dân Do Lộ vượt qua nạn đói khủng khiếp.

Tháng 8/1945, ông tham gia vào Ủy ban khởi nghĩa Hà Đông phụ trách Quân sự - bởi những hiểu biết về quân sự có được trong thời gian ông làm lính khố đỏ, ông nhập ngũ từ thời điểm này. Cách mạng tháng Tám thành công, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trong những ngày toàn quốc kháng chiến mùa Đông năm 1946, ông chỉ huy một tiểu đoàn chiến đấu tại mặt trận Hà Đông - một cửa ngõ quan trọng phía Tây Thủ đô. Ông tổ chức diệt bốt Đồng Quan và giành thắng lợi trận đầu tiên. Tháng 12-1945, ông được kết nạp vào Đảng. Những trận đánh hay, thắng lợi giòn giã của Hà Đông đều có ông, tổ chức cho từng trận đánh vừa củng cố, vừa xây dựng lực lượng ngày càng vững mạnh.

Sau Tết Đinh Hợi 1947, Bộ Tổng Tham mưu điều một số đơn vị Vệ quốc đoàn ở các tỉnh Hà Đông, Sơn Tây, Nam Định, Hải Phòng... cùng một lực lượng khác thuộc Chiến khu 2 gấp rút lên miền Tây, tăng cường cho khu vực biên giới Việt - Lào để giữ vững hướng chiến lược này. Ngày 27-2-1947, Trung đoàn Tây Tiến (E52) được thành lập gồm 4 tiểu đoàn và ông là một trong những chỉ huy tiểu đoàn cùng với các ông Phùng Thế Tài, Nam Hải, Hoàng Mười... Tiếp theo đó ông lần lượt giữ chức vụ Trung đoàn phó rồi Trung đoàn trưởng các Trung đoàn Sơn La (E148) rồi Trung đoàn Sơn Tây (E37).

Ngày 23/8/1947, ông được bổ nhiệm giữ chức Khu trưởng Khu XIII khi đang giữ chức Trung đoàn trưởng Trung đoàn Sơn Tây. Ngày 25/1/1948, ông được bổ nhiệm giữ chức Khu phó Khu X.

Ngày 16/4/1949, ông tham gia dự buổi lễ thành lập Đội vũ trang đầu tiên của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào tại Liên khu X cùng với ông Cay-xỏn Phôm-vi-hản (Sau này là Chủ tịch Đảng Nhân dân Cách mạng Lào). Đâv cũng là ngày truyền thống của Bộ đội Pathét Lào. Ông là Chỉ huy trưởng Liên quân Việt - Lào tổ chức đánh các trận ở Thượng Lào, Hạ Lào, Sầm Nưa, Xiêng Khoảng, cánh đồng Chum, giải phóng và xây dựng chính quyền cách mạng nhân dân Lào.

Năm 1949, theo quyết định của Bộ Tổng chỉ huy, trung đoàn 209, chủ lực của Liên khu 10 chuyển thành trung đoàn mạnh, trực thuộc Bộ, mang danh hiệu trung đoàn Sông Lô. Lê Trọng Tấn khi đó là Phó tư lệnh Liên khu 10 được bổ nhiệm là Trung đoàn trưởng kiêm Chính ủy.
Từ ngày 19/5 đến ngày 18/7 năm 1949, ông tham gia chi huy Chiến dịch Sông Thao. Chiến dịch tiến công của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam vào phòng tuyến sông Thao của Pháp ở khu vực Yên Bái, Lào Cai, nhằm diệt sinh lực địch, phát động chiến tranh du kích, mở rộng khu căn cứ Tây Bắc. Chiến dịch Sông Thao gồm ba đợt kết thúc thắng lợi đã làm tiêu diệt và bức rút 25 cứ điểm, loại khỏi chiến đấu gần 500 địch, thu hơn 300 súng, phá vỡ một mảng lớn phòng tuyến Sông Thao từ Ba Khe đến Bảo Hà (khoảng 70km), tạo thế liên hoàn nối liền vùng tự do của ba tỉnh Sơn La, Lào Cai, Yên Bái.

Tháng 11/1949, để mở thông đường liên lạc, vận chuyển từ Việt Bắc xuống Liên khu 3, 4 đồng thời thu hút lực lượng địch đang tập trung càn quét vùng đồng bằng Bắc Bộ, Trung ương Đảng và Bộ Tổng chỉ huy quyết định mở chiến dịch Lê Lợi trên chiến trường tỉnh Hòa Bình. Lê Trọng Tấn được cử làm Phó Tư lệnh chiến dịch đảm nhiệm từ chợ Bờ lên Suối Rút (ông Hoàng Sâm là Tư lệnh chỉ huy từ Hồi Xuân lên Mai Hạ và ông Lê Quang Hòa là Chính ủy). Kết quả Bức tường quân Pháp ngăn chặn giữa Việt Bắc và Liên khu 3, 4 bị đập tan, toàn huyện Mai Châu được giải phóng. Âm mưu lập xứ Mường tự trị bị phá sản.

Năm 1950, Đại đoàn 312 được thành lập, ông là Đại đoàn trưởng đầu tiên khi mới 36 tuổi.

Tháng 9/1950, Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định mở Chiến dịch Biên Giới nhằm khai thông đường liên lạc giữa Việt Nam với hệ thống xã hội chủ nghĩa, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc, thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch, tiến tới giành quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính. Lê Trọng Tấn được cử làm Phó tư lệnh chiến dịch đồng thời ông là chỉ huy của trận đánh tiêu diệt Binh đoàn cơ động Sác-tông của Pháp.

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, Đại đoàn 312 do ông chỉ huy là Đại đoàn đánh trận mở đầu thắng lợi vào cứ điểm Him Lam (Béatrice) (ngày 13/3/1954) khiến cho thiếu tá Pégrot bị tử thương cùng với toàn bộ sĩ quan trong hầm. Ngày 7/5/1954, trong đợt tiến công cuối cùng, một đơn vị của Trung đoàn 209 thuộc Đại đoàn của ông cùng với một đơn vị thuộc Trung đoàn 174 đã bắt sống tướng Đờ Cát và ban chỉ huy tập đoàn cứ điểm.

Từ tháng 12/1954 đến năm 1960 ông là Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân. Đầy là thời kì hết sức quan trọng nhằm đào tạo nguồn cán bộ quân sự chi viện cho miền Nam chuẩn bị cho Kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Từ tháng 3/1961 đến năm 1962 ông giữ cương vị Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Tháng 9/1964, để chuẩn bị đánh Mỹ, cùng với Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, ông được cử vào Nam nhận nhiệm vụ Phó tư lệnh, ủy viên Quân ủy Quân giải phóng miền Nam cho đến năm 1969. Ông là một trong các vị tướng tham gia tổ chức Chiến dịch Tết Mậu Thân 1968.
Từ năm 1970 đến năm 1971, ông là Đặc phái viên Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam bên cạch Bộ chỉ huy Quân Giải phóng nhân dân Lào, tham gia chỉ đạo cánh đồng Chum.

Ngày 30/1/1971, Quân đội Mỹ kết hợp với Quân đội Việt Nam Cộng hòa mở cuộc hành quân Lam Sơn 719, tiến ra đường số 9 và Nam Lào, nhằm đánh chiếm Sê Pôn và chặn phá đường mòn Hồ Chí Minh. Đối phương huy động tới hơn 3 vạn quân chủ lực, 450 xe tăng, 250 khẩu pháo, 700 máy bay, chia làm 3 hướng: cánh quân chủ yếu vượt qua Lao Bảo đến Bản Đông: hai cánh còn lại dùng trực thăng đổ bộ xuống các điểm cao bên đường 9, đồng thời tuyên bố: “Sẽ đón các nhà báo quốc tế tại Sê Pôn”... Quân ủy Trung ương đã chủ động mở Chiến dịch Đường 9, Nam Lào (Mật danh 720) để dối phó, khiến cho quân đội Mỹ và Việt Nam Cộng hòa từ thế chủ động sang thế bị động phải rút lui. Ngày 7/3/1971, khi nghe báo cáo “Việt Nam Thông tấn xã báo cho Cục Tuyên huấn là ngụy Sài Gòn hủy bỏ kế hoạch đưa phóng viên báo chí phương Tây đến Sê Pôn...”. ông đã nói ngay: “Địch sắp rút”... Và ngay hôm sau, lời kêu gọi của Đảng ủy và Bộ chỉ huy mặt trận đã được truyền xuống các đơn vị: “Thời cơ chuyển sang tiến công trên toàn mặt trận đã đến! Diệt và bắt sống thật nhiều địch! Phá hủy thật nhiều phương tiện chiến tranh của chúng! Đập tan cuộc hành quân Lam Sơn 719! Bảo vệ vững chắc con đường mang tên Bác, giành toàn thắng cho chiến dịch”...Mười ngày tiếp đó, từ các mũi, hướng, bộ đội dồn dập tấn công. 18-3-1971, đối phương phải bỏ Bản Đông tháo chạy, và cuộc hành quân Lam Sơn 719 dã bị đập tan!

Năm 1972, ông được cử làm Tư lệnh chiến dịch Quảng Trị với mật danh anh Trọng, giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị 1/5/1972.

Năm 1973, ông là Phó Tổng Tham mưu trưởng kiêm Tư lệnh Quân đoàn 1, là Quân đoàn bảo vệ miền Bắc.

Tháng 3/1975, ông làm Tư lệnh chiến dịch giải phóng Huế - Đà Nẵng. Đánh tan Quân đoàn I, Quân khu I Việt Nam Cộng hòa khi mà tại căn cứ Liên hợp Quân sự Đà Nẵng họ còn tới gần 10 vạn quân cộng với vũ khí hiện đại.

Tháng 4/1975, ông được cử làm Phó Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh kiêm Tư lệnh cánh quân phía Đông (gồm quân đoàn 2, quân đoàn 4, sư đoàn 3) tấn công vào Sài Gòn. Chính trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử bằng óc phán đoán và đầu óc phân tích chiến lược, ông đã đề nghị Quân ủy cho cánh quân của mình nổ súng trước giờ G để cho đối phương không kịp co cụm hay phá hủy cầu. Chính Lữ đoàn xe tăng 203, quân đoàn 2 thuộc cánh quân của ông đã tiến vào dinh Độc Lập đầu tiên.

Từ năm 1976 đến tháng 2/1977, ông là Phó Tổng Tham mưu trưởng kiêm Viện trưởng Học viện quân sự cao cấp.

Từ tháng 6/1978 đến năm 1986 ông là Tổng Tham mưu trưởng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

Từ tháng 12/1978 đến tháng 2/1979 ông chỉ huy các lực lượng vũ trang trong chiến tranh biên giới Tây Nam và đánh quân Khmer Đỏ của Pol Pot ở Campuchia.

Ngày 1/7/1983, 70 tuổi, ông vẫn chỉ huy trận đánh bảo vệ Biên giới phía Bắc.

Ông là ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa 4 và 5 (từ 1976 đến 1986), đại biểu Quốc hội khóa VII.

Ông được mệnh danh là tướng trận, tướng tấn công và thường ví ông như nguyên soái Giucov của quân đội Liên Xô. Các nhà khoa học quân sự và quân đội anh em kính nể, học tập ông về tài năng, đức độ và tầm chiến lược, chiến thuật, kiệt xuất của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông đánh giá đúng tình hình, biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng thể hiện tài năng của người chỉ huy trận mạc. Ông là hình mẫu của quân lệnh như sơn, thẳng thắn, nghiêm túc, bao dung, biết đánh, nhưng cũng biết dừng để bảo toàn lực lượng.

Ông đi đến đâu, chỉ huy chiến dịch nào, mũi tiến công vào đâu, tướng lĩnh, cán bộ, chiến sĩ của các quân đoàn do ông chỉ huy đều đoàn kết một lòng một dạ tin tưởng, vững tâm vào tài năng, thông minh, sáng tạo, nhanh nhạy, quyết đoán cho từng trận đánh. Kẻ thù nghe tin tướng Ba Long chỉ huy chiến dịch nào đều sợ hãi, hoảng loạn, co cụm, bạc nhược và tê liệt sức chiến đấu, đó là uy quyền của một dũng tướng. Thắng lợi trong những trận đánh, tất yếu có sự hy sinh đổ máu. Ông không bao giờ chấp nhận câu nói: “Trận này ta thiệt hại không đáng kể”. Vì đây là sự hy sinh xương máu của các chiến sĩ.

Cuộc đời ông đã có mặt hầu hết ở các chiến trường nóng bỏng và đã chỉ huy hàng trăm trận đánh trên cả 2 miền Nam - Bắc. Dấu ấn 2 mốc son lịch sử của ông năm 1954, ông là Đại đoàn trưởng F312 đã chỉ huy tham gia chiến dịch Điện Biên lịch sử, đánh phía Đông vào Mường Thanh, bắt sống tướng Đờ Cát. Năm 1975, ông là Tư lệnh trưởng, chỉ huy các binh đoàn đánh phía Đông vào Dinh độc lập, cơ quan đầu não của ngụy quyền Sài Gòn, bắt sống tướng Dương Văn Minh, phải đầu hàng vô điều kiện.

Hai trận đánh, hai mốc son lịch sử đã kết thúc hai cuộc chiến tranh với quân đội viễn chinh Pháp, đế quốc Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn. Mở ra kỷ nguyên mới, hòa bình, thống nhất độc lập và tự do của dân tộc. Như Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói: Hai trận đánh xứng đáng hai lần anh hùng.

Lê Trọng Tấn, một vị tướng tài năng có kinh nghiệm và kiến thức khoa học quân sự. Chiến dịch giải phóng miền Nam, ông đã chỉ huy vài vạn quân với hàng nghìn xe các loại, hợp đồng ba thứ quân và các binh chủng, vượt qua hàng nghìn cây số, vượt 500 con sông, đến đúng giờ quy định của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, góp phần quyết định thắng lợi ngày 30/4/1975. Với chiến thuật đánh chắc thắng chắc, bao vây giỏi, chiếm từng phần, đánh nhỏ, đánh vừa, đánh lớn, trong đánh ra ngoài đánh vào, khống chế điểm mạnh, đánh điểm yếu của địch, diệt từng phần, chớp thời cơ, tiêu diệt toàn bộ sinh lực của địch. Đã đúc kết được 6 nội dung là: Vây lấn, tấn, phá, triệt, diệt có giá trị cho lịch sử khoa học quân sự Việt Nam.

Không thể kể hết công trạng quá dài của ông, người ta chỉ có thể ghi nhận điều cốt yếu: ông luôn được tin cậy để giao nhiệm vụ gây dựng nền móng ban đầu cho những công việc hệ trọng và mới mẻ. Không chiến trường nào không lưu dấu chân ông từ Bắc-Nam-Trung, không cuộc chiến tranh nào dù chống Pháp, chống Mỹ, chống bọn diệt chủng Pôn Pốt hay bảo vệ biên giới phía Bắc, lại không cần đến tài năng quân sự của ông. Từ vai trò Hiệu trưởng Trường Sĩ quan lục quân cho đến Viện trưởng Viện Khoa học quân sự, Giám đốc Học viện chính trị cao cấp Bộ Quốc phòng, ông là người thầy xứng đáng cho những sĩ quan thế hệ sau. Nhưng đáng nói hơn, ông là tướng tư lệnh của tất cả những chiến dịch lớn nhất, quan trọng nhất trên các chiến trường quyết định: Bình Giã, Đồng Xoài, Bàu Bàng-Dầu Tiếng...; chiến dịch Đường 9 Nam Lào, mặt trận Trị Thiên mùa hè 1972; tư lệnh cánh quân duyên hải, khai sinh sau khi Đà Nẵng giải phóng, đến Sài Gòn sớm nhất vào mùa xuân 1975... 70 tuổi Đại tướng Lê Trọng Tấn vẫn khoác áo lính ra trận.

Mưu trí nhưng thận trọng, ông luôn tìm ra cách đánh ít tổn thất nhất cho binh sĩ. Với sĩ quan thuộc cấp, ông chân thành thương yêu nhưng không cho phép sai sót. Ông là vị tướng “biết dùng quân, luyện quân, nuôi quân, chỉ huy quân”. Là một vị tướng chiến trường nổi tiếng nhưng ông cũng là một người có đầu óc chiến lược. Một vị tướng chiến lược mà vóc người thanh mảnh, nói năng nhỏ nhẹ như thầy giáo làng quê mà ta thường gặp, rất dễ gần gũi.

Ông được phong quân hàm Thiếu tướng năm 1961, Trung tướng năm 1974, Thượng tướng năm 1980 và Đại tướng năm 1984. Ông mất ngày 5/12/1986 tại Hà Nội.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ
Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Sáu, 2020, 10:16:59 am
TRẦN ĐỘ
CHÍNH ỦY ĐẠI ĐOÀN BỘ BINH 312



Ông Trần Độ tên khai sinh là Tạ Ngọc Phách sinh ngày 23/9/1923, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Phó Chính ủy kiêm Phó Bí thư Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, Chính ủy Quân khu Tả Ngạn, Chính ủy Mặt trận Hà Nội (1946).

Thiếu tướng (1958), Trung tướng (1974).

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất...

Ông quê ở huyện Tiền Hải, tính Thái Bình trong một gia đình công chức thời Pháp. Năm 1939, ông tham gia làm báo Người Mới ở Hà Nội. Cùng năm này ông bị thực dân Pháp bắt nhưng không có đủ chứng cứ nên ông được thả. Năm 1940, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Cuối năm 1941, ông lại bị bắt và bị kết án 15 năm tù giam lần lượt tại Hỏa Lò (Hà Nội) rồi Sơn La. Năm 1943, ông trốn thoát thành công trên đường giải ra Côn Đảo và tiếp tục hoạt động cách mạng. Trong Cách mạng tháng Tám, ông lãnh đạo giành chính quyền ở huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ (12/1946), ông là Chính ủy Mặt trận Hà Nội. Năm 1950, ông làm chính ủy Trung đoàn Sông Lô, rồi Chính ủy Đại đoàn 312. Năm 1954, tại chiến dịch Điện Biên Phủ, ông là chính uỷ Đại đoàn 312. Năm 1955, ông là Chính ủy Quân khu Tả ngạn. Năm 1958 ông được phong quân hàm Thiếu tướng.

Bước vào thời kì kháng chiến chống Mỹ, cuối năm 1964, với bí danh Chín Vinh ông vào Nam chiến đấu và giữ chức Phó Chính ủy và Phó Bí thư Quân ủy Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Tháng 3/1974, ông được phong hàm Trung tướng.

Đất nước hoàn toàn thống nhất, từ năm 1974 đến năm 1976, ông giữ chức vụ Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Sau đó chuyển ngành giữ chức vụ Thứ trưởng Bộ Văn hóa kiêm Phó Ban Tuyên huấn Trung ương phụ trách văn hóa văn nghệ. Khi Ban Văn hóa văn nghệ Trung ương được thành lập (1981), ông giữ chức Trưởng Ban kiêm Thứ trưởng Bộ Văn hóa.

Ông còn làm Phó Chủ tịch Quốc hội khóa 7, Chủ nhiệm ủy ban văn hóa và giáo dục của Quốc hội, ủy viên Hội đồng Nhà nước (1989-1992). Ông cũng là ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khóa 3 (dự khuyết từ năm 1960 đến năm 1972), 4, 5, 6 (1960-1991)..
Ông mất ngày 09/8/2002 tại Hà Nội.

Tháng 10/2007, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân phát hành cuốn Chuyện tướng Độ của nhà văn Võ Bá Cường.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ
Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Sáu, 2020, 10:18:18 am
HOÀNG KIỆN
THAM MƯU TRƯỞNG ĐẠI ĐOÀN BỘ BINH 312



Tên đúng của ông là Hoàng Văn Kiện, người xã Đông Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Ngày sinh của ông không được xác định rõ, vào khoảng tháng 3/1921. Theo gia phả họ Hoàng ở Đô Lương thì thủy tổ của ông vốn thuộc dòng dõi hoàng tộc nhà Mạc. Khi vua nhà Mạc bị nhà Lê đuổi lên Cao Bằng, gia tộc ông đổi sang họ Hoàng, sau dời đến khai khẩn lập ấp ở Đô Lương.

Thời thanh niên, nhà nghèo, để sinh kế, ông tham gia lực lượng lính khố đỏ của chính quyền thực dân Pháp. Khi Nhật đảo chính Pháp, ông bỏ ngũ về quê, tham gia huấn luyện quân sự trong phong trào Việt Minh. Cách mạng tháng Tám năm 1945 nổ ra, ông tham gia cướp chính quyền và phong trào Nam tiến, trở thành Tiểu đội trưởng Giải phóng quân ở Huế. Sau đó, tháng 11/1945, ông trở lại Nghệ An, làm Trung đội trưởng Giải phóng quân ở Vinh, sau đó được cử tham gia hoạt động cách mạng ở Mường Xén (Lào). Tháng 4/1946, ông là Đại đội trưởng rồi Tiểu đoàn phó Tiếp phòng quân. Ông được kết nạp vào Đảng tháng 7/1946 (chính thức tháng 11/1946).

Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, tháng 12/1946, khi đó ông là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 77 (Tiểu đoàn Đống Đa) trực thuộc Trung đoàn 48 (Trung đoàn Thăng Long). Tháng 5/1947, ông là Trung đoàn phó Trung đoàn 48 trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn 316. Từ tháng 10/1948, ông lần lượt giữ các chức vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn 48, Trung đoàn 64 rồi Trung đoàn 66. Năm 1953, ông là Tham mưu trưởng Đại đoàn 312 (Đại đoàn Chiến Thắng), tham gia trận Điện Biên Phủ, công kích đồi Him Lam.

Tháng 9/1954, ông được cử giữ chức vụ Đại đoàn trưởng đầu tiên của Đại đoàn pháo cao xạ 367 trực thuộc Bộ Tư lệnh Pháo binh. Sau khi cùng đơn vị tiếp quản miền Bắc, năm 1955 ông được cử đi học pháo binh ở Trung Quốc, trở về nước ông tiếp tục giữ chức vụ Đại đoàn trưởng Đại đoàn pháo cao xạ 367. Tháng 5/1958, ông là Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Phòng không. Từ tháng 11/1958, ông lần lượt giữ quyền Tư lệnh rồi Tư lệnh (tháng 11 năm 1960) Bộ Tư lệnh Phòng không với cấp bậc Đại tá.

Năm 1962, ông được biệt phái về Cục Phòng không Nhân dân trực thuộc Phủ thủ tướng.

Tháng 8/1965, ông được cử giữ chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 304 vào chiến đấu tại mặt trận Tây Nguyên (B3) cho đến năm 1966 là Tham mưu trưởng mặt trận. Tháng 1/1967, ông ra Bắc giữ chức vụ Phó Tư lệnh Quân khu 4 kiêm Tư lệnh Phòng không Quân khu. Tháng 5/1970, ông vào làm Phó Tư lệnh Mặt trận 968. Tháng 10/1970, ông trở lại chức vụ Phó Tư lệnh Quân khu 4, đến năm 1972, chuyển sang làm Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh 559. Tháng 8/1974, ông giữ chức vụ Viện trưởng Học viện Hậu cần.

Đầu năm 1975, ông được cử đi học bổ túc tại Học viện Hậu cần Lê-nin-grát của Liên Xô cho đến tháng 8 năm 1975. Sau khi về nước, ông tiếp tục giữ chức Viện trưởng Học viện Hậu cần. Năm 1977, ông được nhà nước Việt Nam phong hàm Thiếu tướng.

Tháng 2/1981, ông là Phó Viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao, Ủy viên Hội đồng khoa học của Viện cho đến khi nghỉ hưu vào tháng 3/1986.

Tướng Hoàng Kiện nổi tiếng về tính liêm khiết, được Chủ tịch Hồ Chí Minh biểu dương trước toàn quân bằng câu nói “Tướng Thanh, tá Kiện”.
Thiếu tướng Hoàng Kiện là một con hổ đã vẫy vùng qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, đã nhiều lần làm cho quân thù khiếp vía, run sợ. Nhưng giữa đời thường, ông luôn thực hiện nếp sống giản dị, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Với bạn bè, ông sẵn sàng thành tâm giúp đỡ. Một nhà báo từng viết: “Ông không thích bàn chuyện dựng vợ gả chồng, nhưng khi cậu cần vụ của ông cưới vợ, ông rút tiền ở sổ tiết kiệm ra cho để sắm sửa. Mẹ đồng chí trợ lí bị ốm, ông cho hẳn một nửa tháng lương để lo thuốc thang”. Chiến tranh đã lùi xa, ông dốc lòng vì sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ cho quân đội, về già ông vẫn sống một mình, không vợ, không con.

Trở về quê hương, Thiếu tướng Hoàng Kiện không nhận tiền trợ cấp của Nhà nước. Hai người cần vụ được ông cho về đơn vị. Ông tự trồng rau, nuôi gà và nấu ăn. Ông không thích làm phiền người khác. Lúc khỏe mạnh, lúc nào rau cũng đầy vườn, gà cũng đầy sân. Ông làm việc rất nguyên tắc và khoa học. Ông thường đọc báo vào sáng sớm, lúc đó có ai đến chơi ông đưa báo cho họ đọc luôn. Buổi chiều, ông làm vườn, có người đến ông vẫn cứ tưới nước, vun gốc cho cây, vừa làm vừa nói chuyện mà không nghỉ tay. Ông dành khoảng thời gian riêng cho bạn bè, làng xóm, lúc đó ông nói chuyện rất vui vẻ, thoải mái, ai có việc khó khăn ông sẵn sàng giúp đỡ.

Hơn 10 năm nghỉ hưu, sống ở quê, ông không vắng mặt một buổi sinh hoạt Đảng hay họp Hội CCB. Ông thẳng thắn chỉ ra những sai trái của cán bộ, đảng viên từ xã đến huyện, giáo dục truyền thống cách mạng, về CNXH để họ thấm nhuần lý tưởng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân. Nhiều xã trong huyện đã mời ông đến nói chuyện thời sự chính trị cho các cán bộ xã, góp phần giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ.

Ông được Nhà nước tặng thưởng:

Huân chương Quân công hạng Nhất
Huân chương Chiến công hạng Nhì
Huân chương Chiến thắng chống Pháp hạng Nhất
Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất
Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba)
Huy chương Quân kỳ quyết thắng
Huy hiệu 40 và 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng Hoàng Kiện là niềm tự hào của bao thế hệ người con Đô Lương. Ông mất ngày 21/4/2000. Ngôi mộ ông nằm bên cạnh con sông Đào. Từng con nước trên sông ngày ngày vẫn mang nặng phù sa bồi đắp nên những cánh đồng trù phú. Con nước ấy, cứ mãi chảy về xuôi, cũng như công lao ông dành cho quê hương, đời sau còn mãi khắc ghi!


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ
Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Sáu, 2020, 10:22:44 am
LÊ QUẢNG BA
TƯ LỆNH ĐẠI ĐOÀN BỘ BINH 316



Lê Quảng Ba sinh năm 1914, tên thật là Đàm Văn Mông; dân tộc Tày; quê xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Ông tham gia cách mạng năm 1935, gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1936. Lê Quảng Ba cùng với đồng chí Hoàng Sâm (sau này là Thiếu tướng Hoàng Sâm) và Lê Thiết Hùng (Thiếu tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam) có nhiệm vụ đi tuyên truyền, giác ngộ cách mạng cho đồng bào dân tộc Tày ở tỉnh Cao Bằng.

Năm 1941, ông cùng Lê Thiết Hùng tổ chức lớp học quân sự đầu tiên ở Cao Bằng để thành lập đội du kích tập trung đầu tiên và phụ trách đội, trong đội có Nông Thị Trưng.

Năm 1941, Lê Quảng Ba cũng là người đã bảo vệ lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về Pác Bó. Ngày 28/1/1941, Tết Tân Tỵ, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã vượt cột mốc 108 biên giới Trung Quốc - Việt Nam địa phận thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng để về nước lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Người bảo vệ và dẫn đường lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cùng đoàn cán bộ cách mạng gồm các đồng chí Phùng Chí Kiên, Hoàng Văn Lộc, Thế An, Đặng Văn Cáp về nước ngày ấy là đồng chí Lê Quảng Ba. Ngoài nhiệm vụ được đoàn thể cách mạng giao cho là đưa lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ Trung Quốc về nước đầu năm 1941, Lê Quảng Ba còn là người chịu trách nhiệm nơi ăn, chốn ở, nơi họp và bảo vệ Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ VIII do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì tại Khuổi Nặm (Pác Bó - Cao Bằng).
Từ cuối năm 1944 đến năm 1945, ông làm ủy viên quân sự và Phái viên kỳ bộ Việt Minh ở Cao-Bắc-Lạng.

Từ tháng 11/1945 đến năm 1947, ông làm Khu phó Khu 1, Khu trưởng Khu Hà Nội rồi Khu trưởng Khu 12.

Từ năm 1948 đến năm 1949, ông làm Chỉ huy phó Mặt trận 2 (Đông Bắc) rồi Chỉ huy trưởng Mặt trận Duyên hải Đông Bắc và Thập Vạn Đại Sơn.

Tháng 12/1949, ông làm Tư lệnh Liên khu Việt Bắc.

Tháng 5/1951, ông làm Đại đoàn trưởng đầu tiên Đại đoàn 316.

Từ năm 1957 đến năm 1959, ông làm Tư lệnh Quân khu Việt Bắc.

Năm 1958, ông được thụ phong quân hàm Thiếu tướng.

Lê Quảng Ba là một tướng lĩnh người Tày đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Tư lệnh đầu tiên Quân khu Việt Bắc.

Năm 1960, ông chuyển ngành, làm Trưởng ban Ban Dân tộc Trung ương, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc của Chính phủ, rồi Phó Chủ nhiệm Ủy ban Nông nghiệp Trung ương.

Ông là ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa III, đại biểu Quốc hội từ khóa II đến khóa VI, ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Ông đã được Nhà nước Việt Nam tặng thưởng:

Huân chương Hồ Chí Minh.
Huân chương Chiến thắng hạng Nhất
Huân chương Quân công hạng Nhất.
Huân chương Kháng chiến hạng Nhất.
Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất.
Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba.
Huy chương Quân kỳ quyết thắng.
Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng và nhiều danh hiệu cao quý khác...


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ
Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Sáu, 2020, 10:24:40 am
CHU HUY MÂN
CHÍNH ỦY ĐẠI ĐOÀN BỘ BINH 316



Chu Huy Mân (tên khai sinh là Chu Văn Điều) sinh ngày 17/3/1913, trong một gia đình nông dân nghèo có 8 người con tại xã Yên Lưu, tổng Yên Trường, phủ Hưng Nguyên (nay thuộc xã Hưng Hòa, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An). Sinh ra trong một gia đình, dòng họ có truyền thống yêu nước; lớn lên trên mảnh đất có bề dày lịch sử, văn hóa đã góp phần hun đúc nên tinh thần, nghị lực và bản lĩnh kiên cường của người chiến sỹ cách mạng - Đại tướng Chu Huy Mân.

Ông tham gia cách mạng năm 1929, vào Đảng năm 1930. Trong cao trào Xô viết Nghệ - Tĩnh, ông tham gia đội Tự vệ đỏ và là đội phó đội tự vệ xã, sau đó làm Bí thư chi bộ xã (năm 1933), Bí thư phân Huyện ủy huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An (năm 1936).

Tháng 5/1935, ông đổi tên là Chu Huy Mân.

Từ 1937 - 1940, ông bị thực dân Pháp bắt giam nhiều lần ở Nhà lao Vinh. Năm 1940, ông bị đưa đi giam ở Đắc Lay rồi Đắc Tô, Kon Tum. Trong nhà lao, bọn địch dùng đủ mọi thủ đoạn vừa dụ dỗ vừa đánh đập dã man nhưng không thể nào khuất phục được ý chí sắt thép của người chiến sĩ cộng sản.

Năm 1943, ông vượt ngục thành công, sau một thời gian bắt liên lạc được với tổ chức Đảng tỉnh Quảng Nam. Trong thời gian ở Quảng Nam, đ/c Chu Huy Mân tham gia tích cực trong Ban Mặt trận Việt Minh tỉnh và được phân công làm Phó Bí thư Tỉnh uỷ tỉnh Quảng Nam. Tháng 8/1945, đồng chí Chu Huy Mân cùng với các đồng chí nòng cốt trong Mặt trận Việt Minh tỉnh và Ban Chấp hành Tỉnh uỷ Quảng Nam lãnh đạo nhân dân toàn tỉnh khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi.

Sau khi giành được chính quyền năm 1945, ông vào quân đội và lần lượt giữ các chức vụ: Chính trị viên Tỉnh đội Quảng Nam; sau đó làm Chủ tịch Ủy ban Quân chính 4 tỉnh Trung Bộ, Trưởng ban Kiểm tra Đảng, Quân khu ủy viên Khu Việt Bắc.

Từ năm 1947 đến năm 1949, ông là Trung đoàn trưởng, Bí thư Trung đoàn ủy các Trung đoàn 72, Trung đoàn 74 Cao Bằng và Trung đoàn 174 Cao -Bắc - Lạng. Đồng chí Chu Huy Mân được giao nhiệm vụ làm Chính uỷ, Bí thư Đảng ủy Trung đoàn. Dưới sự chỉ huy của đồng chí Chu Huy Mân, trung đoàn 174 đã tổ chức ra quân đánh phục kích lớn trên đường số 4 làm tê liệt, cắt đứt con đường vận chuyển chiến lược của địch từ xuôi lên Việt Bắc, tiêu diệt gần 500 tên địch, bắt sống 60 tên, làm bị thương 300 tên, phá huỷ 53 xe tăng. Ngày 30/1/1950, đồng chí Chu Huy Mân lại chỉ huy Trung đoàn 174 tổ chức đánh trận lớn tiêu diệt gần 5.000 tàn quân Tưởng, bắt đầu hàng khoảng 4.000 tên.

Tháng 8/1950, Trung ương Đảng và Bác Hồ quyết định mở chiến dịch Biên giới. Các lực lượng tham gia chiến dịch bao gồm Trung đoàn 174 của đồng chí Chu Huy Mân, đại đoàn 308, các tiểu đoàn 209, 426, 428, 888 và một số bộ đội địa phương tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn cùng 10 vạn dân công. Sau chiến dịch Biên giới thắng lợi, trung đoàn 174 về đóng quân gần thị xã Lạng Sơn. Đồng chí Chính uỷ Chu Huy Mân nhận được lệnh lên cơ quan Bộ để nhận nhiệm vụ mới. Khi đến cơ quan Bộ đóng ở Hòa An, Cao Bằng, đồng chí Chu Huy Mân đã đến làm việc và báo cáo với Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Sau khi nắm rõ tình hình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp bảo với đồng chí Chu Huy Mân cùng sang gặp Bác. Đó là lần đầu tiên Đại tướng Chu Huy Mân được gặp trực tiếp Bác Hồ...

Tháng 5/1951, đại đoàn 316 được thành lập. Đồng chí Chu Huy Mân được cử làm phó chính uỷ, sau đó là Chính uỷ, Bí thư đảng ủy đại đoàn 316. Đại đoàn 316 do đồng chí Chu Huy Mân chỉ huy, với niềm kiêu hãnh chiến công của Trung đoàn 174 làm trụ cột trong chiến dịch Biên giới đã tự tin, hùng dũng tham gia chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ và được giao nhiệm vụ đánh những vị trí then chốt như đồi Cl, C2 và đồi A1, góp phần quyết định đập tan tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, làm nên chiến thắng chấn động địa cầu.

Tháng 7/1954 Trung ương Đảng và Bác Hồ tin tưởng giao đồng chí làm Tổng cố vấn quân sự sang giúp nước bạn Lào cùng với 100 cán bộ quân sự Việt Nam.

Trước khi đồng chí Mân sang Lào, Bác Hồ gọi đến gặp và căn dặn: “Chú Mân và anh em Đoàn 100 có quyết tâm rất cao. Chú đã chịu khó học tập, rèn luyện, biết cả chính trị, quân sự và công tác tổ chức, có kinh nghiệm chỉ huy chiến đấu thế là rất tốt. Tình hình bạn Lào là rất khó khăn, mục tiêu giúp bạn: xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội trưởng thành cả phẩm chất chính trị, năng lực, đảm đương được nhiệm vụ, làm chủ lấy công việc, phải kết hợp chặt chẽ giữa giúp công việc với giúp bồi dưỡng con người; Ba điều cần nhớ cốt yếu của cách mạng Lào là: lâu dài, gian khổ, tự lực cánh sinh là chính và nhất định thắng lợi”; Cuối cùng Bác căn dặn “Giúp bạn là tự giúp mình”.

Lời dạy của Bác đã trở thành phương châm hành động của đồng chí Chu Huy Mân trong suốt thời gian làm tổng cố vấn - chuyên gia ở Lào, xây dựng sự đoàn kết, thống nhất, trách nhiệm cao cả cùng Đảng uỷ, cán bộ Đoàn 100 nghiên cứu, xác định là phương châm, nguyên tắc, phương pháp giúp bạn có hiệu quả cao.

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ tổng cố vấn, trước khi chia tay lãnh đạo, nhân dân Lào về nước, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Tổng chỉ huy quân đội Pathét Lào Cayxỏn Phôm Vi Hẳn phát biểu: Chưa đầy 3 năm, được sự giúp đỡ của Tổng cố vấn, Chuyên gia và cán bộ Đoàn 100 đã xây dựng thành công các đơn vị bộ đội chủ lực trung trực thuộc Bộ Quốc phòng, xây dựng, bảo vệ trọn vẹn Hài Lỉnh Hủa Phăn và Phông Xà Lỳ, tạo dựng lực lượng khá vững chắc để phát triển cách mạng Lào... giúp bồi dưỡng phát triển đội ngũ cán bộ, đảng viên, tổ chức cơ sở Đảng trong lực lượng vũ trang cả số lượng, chất lượng tăng lên gấp bội là lực lượng nòng cốt, vững chắc cho Đảng và cách mạng Lào; chân thành cảm ơn Bác Hồ, Bộ Chính trị Trung ương và Quân ủy Trung ương Việt Nam đã cử đồng chí Chu Huy Mân và 100 cán bộ sang giúp Lào một cách vô tư, tận tình, chân thành có hiệu quả và tin cậy.

Năm 1957, ông giữ chức Chính ủy Quân khu IV; năm 1958, là Chính ủy Quân khu Tây Bắc kiêm Bí thư Khu ủy Tây Bắc.

Tháng 5/1961, đồng chí giữ chức vụ Tư lệnh kiêm Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Quân khu IV.

Năm 1964, đồng chí Chu Huy Mân vào chiến trường khu V, lần lượt giữ các chức vụ Phó Bí thư Khu uỷ, Bí thư khu uỷ Quân khu V. Đó là những năm tháng rất ác liệt, bằng tài năng và trí tuệ của mình, với quyết tâm cao, đồng chí Chu Huy Mân cùng tập thể lãnh đạo Khu uỷ chỉ huy quân và dân làm nên nhiều chiến công giòn giã như trận Ba Gia, Núi Thành, Vạn Tường.

Tháng 7/1976, đồng chí Chu Huy Mân làm Tư lệnh kiêm Chính uỷ - Bí thư Đảng uỷ Mặt trận Tây Nguyên. Chiến thắng Plâyme do Tướng Chu Huy Mân chỉ huy đã đi vào lịch sử như một mốc son của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Tháng 8/1965, làm Tư lệnh kiêm Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Mặt trận B3 - Tây Nguyên.

Trong hơn 10 năm chỉ huy bộ đội Quân khu 5 từ năm 1964 cho đến Tổng tiến công và nổi dậy năm 1975, đồng chí Chu Huy Mân là chỗ dựa tin cậy của quân và dân khu 5 trong những năm tháng chiến tranh ác liệt nhất nhưng cũng vẻ vang nhất. Trong thời gian công tác ở Quân khu 5, đồng chí Chu Huy Mân được mọi người gọi với cái tên thân thương là anh “Hai Mạnh”.

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng năm 1976, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Trung ương bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị và được cử giữ chức Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, Trưởng ban Kiểm tra Đảng ủy Quân sự Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị (1977-1986), phụ trách công tác giúp Cách mạng Lào, Giám đốc Trường Nguyễn Ái Quốc (năm 1980).

Ông là Đại biểu Quốc hội khóa II, VI, VII, được Quốc hội bầu làm Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước khóa VII (1981-1986), là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa III, IV, V, Ủy viên Bộ Chính trị khóa IV, V.

Với những thành tích đã đạt được qua hai cuộc kháng chiến của dân tộc, đồng chí Chu Huy Mân được Chủ tịch Hồ Chí Minh phong quân hàm Thiếu tướng năm 1958, vượt cấp lên Thượng tướng năm 1974, được Chủ tịch Tôn Đức Thắng phong hàm Đại tướng năm 1980.

Hơn 75 năm đứng trong hàng ngũ của đảng, hơn 50 năm hoạt động trong Nhà nước và trong quân đội, Đại tướng Chu Huy Mân đã đảm nhận nhiều nhiệm vụ và cương vị quan trọng trên lĩnh vực quân sự cũng như dân sự. Nhiệm vụ nào, cương vị nào Đại tướng cũng hoàn thành xuất sắc, được Đảng, Nhà nước và quân dân tin yêu, cảm phục. Với công lao to lớn đó, Đảng và Nhà nước đã trao tặng Đại tướng: Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất và nhiều huân chương cao quý khác. Đặc biệt ông là một trong số ít những vị Đại tướng được tặng huy hiệu 70 năm tuổi Đảng.

Đại tướng nghỉ hưu tháng 12/1986. Ông mất ngày 1/7/2006 tại Hà Nội trong niềm tiếc thương vô hạn của gia đình và quê hương cùng nhân dân cả nước...


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ
Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Sáu, 2020, 10:25:45 am
VŨ LẬP
THAM MƯU TRƯỞNG ĐẠI ĐOÀN BỘ BINH 316



Thượng tướng Vũ Lập sinh năm 1924, tên thật là Nông Văn Phách người dân tộc Tày quê tại xã Vĩnh Quang, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Ông tham gia cách mạng năm 1941, được kết nạp Đảng năm 1945. Tháng 12/1944, ông là chiến sĩ Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Tháng 8/1945, ông là Ủy viên Quân sự tỉnh Thái Nguyên.

Thượng tướng Vũ Lập từng giữ các chức vụ: Tư lệnh Quân khu Tây Bắc, Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Lào, Tư lệnh - Chính ủy Quân khu 2. Ông là một trong 34 chiến sĩ thuộc Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Ngoài ra ông còn từng là: Trưởng Ban dân tộc Trung ương và Chủ nhiệm ủy ban dân tộc Chính phủ. Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ khóa IV đến khóa VI, đại biểu Quốc hội Việt Nam từ khóa VI đến khóa VIII.

Từ năm 1946 đến năm 1954, ông làm Trung đoàn phó rồi Trung đoàn trưởng, Tham mưu trưởng Đại đoàn 316. Từ năm 1955 đến năm 1964, ông làm Khu phó Khu Tây Bắc, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng rồi Tư lệnh Quân khu Tây Bắc. Tháng 4/1970, ông làm Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam ở Lào. Từ năm 1970 đến năm 1974, ông làm Tư lệnh các mặt trận: 316 và 31 (Thượng Lào).

Năm 1974, ông được phong Thiếu tướng. Từ tháng 6/1974 đến năm 1976, ông làm Tư lệnh Quân khu Tây Bắc. Năm 1977, ông làm Trưởng ban Ban Dân tộc Trung ương và Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Chính phủ. Từ năm 1978 đến năm 1987, ông làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 2 (thôi kiêm nhiệm năm 1978). Thượng tướng Vũ Lập liên tục là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt từ khoá IV đến khoá VI, đại biểu Quốc hội từ khoá VI đến khoá VIII.

Năm 1980, ông được phong quân hàm Trung tướng và đến năm 1984 được phong Thượng tướng.

Ông đã được Nhà nước trao tặng: Huân chương Hồ Chí Minh, 2 Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất. Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.

Ông qua đời năm 1987.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ
Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Sáu, 2020, 10:26:53 am
ĐÀO VĂN TRƯỜNG
QUYỀN TƯ LỆNH ĐẠI ĐOÀN CÔNG PHÁO 351



Ông Đào Văn Trường sinh năm 1918, tại phường Bạch Mai, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, tham gia hoạt động cách mạng từ khi còn trẻ và được kết nạp Đảng từ năm 1938. Quá trình công tác, ông từng giữ nhiều chức vụ quan trọng như Bí thư Thành ủy Hải Phòng, Bí thư Liên tỉnh B, Bí thư Chi bộ nhà tù Hỏa Lò, Tổng tham mưu phó Quân đội nhân dân Việt Nam, Quyền Tư lệnh đại đoàn công pháo 351 tại mặt trận Điện Biên Phủ...

Xuất thân từ một gia đình quan lại gốc Hà Nội, năm 1936, người thanh niên Đào Văn Trường tham gia cách mạng vô tư như một trách nhiệm của người công dân làm việc có ích cho đất nước. Thế hệ của ông với nhiệt huyết của tuổi trẻ, sẵn sàng từ bỏ phú quý sang giàu, dấn thân vào cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc chỉ là sự tự nhiên...

Với ông, ký ức về Điện Biên chính là sự kiện hào hùng nhất. Ngày đó, ông đã trực tiếp chỉ huy pháo binh 105 li và pháo binh 75 li ở tiền tuyến bằng vốn kiến thức tự học.

Nhằm chuẩn bị cho trận đánh lớn, “bảo bối” giúp ông chỉ huy cả trận địa là tấm bản đồ tỷ lệ 1/25.000 và một số ảnh chụp cứ điểm Điện Biên Phủ từ trên cao mà tổ trinh sát của trung đoàn 148 lấy được tại trung tâm Mường Thanh. Chính nhờ tấm bản đồ này pháo binh Điện Biên đã triển khai nhuần nhuyễn trận địa pháo “đẩy ra kéo vào” từ các đường hầm trong sườn núi, giúp độ biến ảo của thế trận tăng lên mà thương vong lại giảm đáng kể. Ông kể: “Những ngày đầu, khi đưa pháo lên Điện Biên Phủ, pháo binh chúng tôi chỉ có trong tay tấm bản đồ 1:100.000m thiếu rất nhiều chi tiết. Chúng tôi đành phải quan sát địa hình bằng chiếc ống nhòm, ước tính độ dốc, bổ sung những ngọn núi, con suối không có tên trong bản đồ”.

Cách làm mang tính thủ công ấy khiến cho tầm nhìn của pháo binh bị hạn chế nhiều. Đúng lúc chiến dịch sắp mở màn, Đại đoàn trưởng Đại đoàn pháo binh nhận được tấm bản đồ Điện Biên Phủ của thực dân Pháp vẽ. Cùng với những tấm ảnh chụp trên máy bay 49 cứ điểm của địch, chiến trường Điện Biên Phủ trở nên rõ ràng như lòng bàn tay.

Nhờ nó, ông và các cộng sự đã vẽ được các vị trí của địch và chọn địa điểm đặt pháo của ta, hiệu chỉnh đường bắn pháo. Tấm bản đồ khiến cho những quả đạn pháo 105 ly như có mắt, bắn rất chính xác vào các cứ điểm của Pháp.

Hỏa lực của Đại đoàn Công pháo 351 đã trút những quả đạn xuống lô cốt của Pháp, gây ra sức nóng trên 1.000 độ. Mức tản xạ của hỏa tiễn và pháo 105 ly rất lớn trong khi khoảng cách giữa ta và địch lại gần nhưng bộ đội vẫn không bị ảnh hưởng nhờ đôi mắt mà tấm bản đồ đã gắn cho các nòng pháo.

Tấm bản đồ đã theo ông đi khắp các trận địa pháo trong những ngày ác liệt nhất. Đó là con mắt để những người lính pháo binh hiệu chỉnh nòng pháo và chọn vị trí đặt pháo. Pháo binh và cao xạ di chuyển theo bước tiến của bộ binh, tạo thành gọng kìm bóp chặt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Sau này, từ một gợi ý của đại tướng Võ Nguyên Giáp, tấm bản đồ đã được ông Đào Văn Trường trao tặng cho Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam.

Sau này, khi viết về chiến dịch Điện Biên Phủ, Bernard B.Fall - nhà báo, nhà sử học, tác giả của cuốn sách nổi tiếng “Điện Biên Phủ - Một góc địa ngục” - nhắc đến tấm bản đồ 1:25.000: “Nhờ có tấm bản đồ này, Việt Minh có điều kiện hiệu chỉnh đường bắn của pháo binh với độ chính xác cao nhất”.

Tháng 3/2013, ông đã được trao tặng Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ
Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Sáu, 2020, 10:28:36 am
PHẠM NGỌC MẬU
CHÍNH ỦY ĐẠI ĐOÀN CÔNG PHÁO 351



Phạm Ngọc Mậu tên thật là Phạm Ngọc Quyết, sinh năm 1919, quê ở xã Thượng Hiền, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

Đầu năm 1938, ông tham gia tổ “Tương tế” nông dân và Đoàn thanh niên Dân chủ, từ đó chịu ảnh hưởng của phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương. Tháng 11/1939, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và được chỉ định vào Ban Chấp hành Thanh niên Phản đế huyện Kiến Xương, phụ trách Trung đội trưởng tự vệ huyện Kiến Xương, Thái Bình. Năm 1940, ông bị thực dân Pháp bắt kết án 10 năm tù khổ sai và 10 năm quản thúc, giam tại các nhà lao: Thái Bình, Hỏa Lò, Sơn La, Hoà Bình, Chợ Chu. Sau đó, thực dân Pháp lại đưa ông về nhà tù Sơn La. Tháng 3/1945, Nhật đảo chính Pháp, lợi dụng thời cơ ông và một số đồng chí trốn thoát về Sơn Tây thì bắt liên lạc với Tính ủy Sơn Tây và được Xứ ủy Bắc kỳ quyết định bổ sung vào Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Sơn Tây, phụ trách công tác ở thị xã Sơn Tây, huyện Tùng Thiện, Bất Bạt, Quảng Oai. Tháng 12/1946, ông là chính uỷ Khu I. Tại Chiến dịch Điện Biên Phủ, ông là chính uỷ Đại đoàn công pháo 351.

Sau này trong hồi ký Kéo pháo vào, kéo pháo ra, ông đã hồi tưởng lại: “Chúng tôi cũng không bao giờ quên được những gương dũng cảm quên mình của các đồng chí bộ binh trong nhiều trường hợp gian nguy kéo pháo.

Có lần giữa lúc bom rơi, đạn rú, một khẩu pháo bị đứt dây lao xuống, nhưng có đồng chí bộ binh đã buộc dây pháo vào mình rồi ôm chặt lấy gốc cây, miệng hát vang bài “Quốc tế ca” như át cả tiếng bom đạn. Một lần mấy khẩu cao xạ pháo trú quân ở giữa rừng tranh bị bom na-pan. Các chiến sĩ xung kích của tiểu đoàn 130 đã anh dũng lao vào cứu pháo như lúc lao vào đồn giặc. Khói lửa trùm lên người nhưng họ vẫn cứu được toàn vẹn tất cả các khẩu cao xạ ở khu vực đó.

Nhưng hầu hết những chiến sĩ kéo pháo chúng tôi luôn luôn khắc sâu vào trí óc gương hy sinh quên mình cứu pháo của đồng chí Tô Vĩnh Diện, pháo thủ đại đội cao xạ 827 thuộc đại đoàn chúng tôi. Đồng chí đã lấy thân mình chèn pháo ở Dốc Chuối trong một trường hợp pháo sắp lao xuống vực thẳm. Đồng chí đã được truy tặng liệt sĩ và tuyên dương Anh hùng quân đội. Ngày nay, sử sách và nhiều nhà văn vẫn ca ngợi sự hy sinh cao cả của đồng chí.

Lần kéo pháo ra, chúng tôi đã có nhiều kinh nghiệm về tổ chức và chỉ huy. Ngoài việc phân công nhau thường xuyên đi kiểm tra trên đường kéo pháo, chúng tô đã có sở chỉ huy, có điện thoại tới các đại đội để nắm tình hình từng giờ, từng phút. Các cán bộ tham mưu, chính trị của pháo binh, bộ binh kéo pháo thường xuyên thay nhau có mặt trên các đoạn đường khó. Thời kỳ này, sáng nào chúng tôi cũng phải đi kiểm tra hết sức nghiêm ngặt công việc ngụy trang đường kéo pháo...”.

Sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, tháng 7/1954, ông là chính uỷ, bí thư Đảng uỷ Đại đoàn 305. Năm 1955 chủ nhiệm chính trị, phó chính ủy Bộ tư lệnh pháo binh. Sau đó còn giữ nhiều chức vụ quan trọng trong quân đội như Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị (1961-1988), Tổng cục trưởng Tổng cục cán bộ Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông cũng là Đại biểu Quốc hội các khoá III và V. Cấp bậc cao nhất là Thượng tướng.

Ông được phong quân hàm Thiếu tướng năm 1961, Trung tướng năm 1974, Thượng tướng năm 1986.

Ông qua đời ngày 23/11/1993 tại Hà Nội.

Ông được Nhà nước và Đảng Cộng sản Việt Nam trao tặng: Huân chương Hồ Chí Minh; Huân chương Quân công (2 hạng Nhất, 1 hạng Ba); Huân chương Chiến thắng hạng Nhất; Huân chương Kháng chiến hạng Nhất; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất; Huân chương Chiến công hạng Nhất; Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba; Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ
Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Sáu, 2020, 10:29:43 am
PHẠM HỒNG SƠN
CHỈ HUY TRUNG ĐOÀN BỘ BINH 36



Phạm Hồng Sơn tên thật là Phạm Thành Chính, sinh 1923, ở xã Hưng Nhân, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An; trong một gia đình có truyền thống yêu nước. Phạm Hồng Sơn tham gia hoạt động cách mạng khi đang là sinh viên trường Luật. Ông là cháu ruột của liệt sĩ Phạm Hồng Thái - người chiến sĩ nổi tiếng trong vụ ám sát hụt tên Toàn quyền Méc Lanh ở Quảng Châu (Trung Quốc). Sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống yêu nước, ngay từ khi còn là sinh viên của trường Đại học Luật, Phạm Hồng Sơn đã bắt đầu tham gia cách mạng.
Trung tướng Phạm Hồng Sơn vốn là cán bộ tiền khởi nghĩa, nguyên Tham mưu trưởng Quân khu Hữu Ngạn (nay là Quân khu 3); Phó viện trưởng Viện Khoa học Quân sự; Phó giám đốc Học viện Quân sự cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng); Phó viện trưởng Viện Chiến lược Quân sự (nay là Viện Chiến lược Quốc phòng - Bộ Quốc phòng).

Trong Kháng chiến chống Pháp, ông nắm giữ những vị trí quan trọng, là chỉ huy Trung đoàn 36 - Trung đoàn Quyết chiến Quyết thắng, thuộc Đại đoàn 308 - Đại đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ngay từ thời ấy, Phạm Hồng Sơn đã là một người chỉ huy trẻ nổi tiếng. Đến mức mà sau này, khi biết Phạm Hồng Sơn chính là vị hôn phu của em gái vợ mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nói: “Hồng Sơn chỉ huy dũng cảm lắm, cậu ấy đánh trận khôn lắm” - Đó là cái khôn và sự dày dạn kinh nghiệm của một người chỉ huy trưởng thành từ một người lính, từng có nhiều phen giáp lá cà sống chết với địch.

Ông cũng chính là người chỉ huy áp dụng cách đánh “nở hoa trong lòng địch” tại chiến trường Điện Biên Phủ. Đó là cho chiến sĩ “độn thổ” dùng phương pháp “xuyên sơn giáp” qua hàng rào thép gai, lọt vào tung thâm địch mà bung lên, quả cảm. Cách đánh lấn này, nhanh chóng được phổ biến khắp mặt trận Điện Biên Phủ, khi đào đường hầm đặt bộc phá, ta lấy đốm sáng ở đầu que hương phía sau làm chuẩn, moi đất đào vào giữa mục tiêu, bảo vệ được bộ đội, mặc cho đạn địch bên trên cày xốp mặt đất. Quân địch kinh hãi, ngày đêm nghe xung quanh có tiếng cào đất như đào mồ chôn chúng... Những chiến binh Trung đoàn Bắc - Bắc (E-36, thuộc Đại đoàn 308) lừng danh, từ lòng đất bật ra, đánh đâu thắng đó...

Ông đã được tặng thưởng Huân chương Độc Lập hạng Ba; Huân chương Quân công hạng Nhất, hạng Ba; Huân chương Chiến công hạng Nhất; Huân chương Chiến thắng hạng Nhất; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất,... và Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.

Ông cũng là tác giả của một số tác phẩm về nghệ thuật quân sự như Lịch sử nghệ thuật chiến dịch Việt Nam (2 tập), Nghệ thuật chiến dịch Việt Nam, Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh...

Trung tướng Phạm Hồng Sơn mất hồi 15 giờ 40 phút, ngày 27/8/2013 tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ
Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Sáu, 2020, 10:31:30 am
NAM HÀ
CHỈ HUY TRUNG ĐOÀN BỘ BINH 88



Tên đầy đủ của ông là Bùi Nam Hà, quê ở phường Hồng Châu, thị xã Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên. Ông tham gia cách mạng từ tháng 12/1944. Từ tháng 12/1944 đến tháng 3/1945, ông là liên đội trưởng hoạt động Việt Minh bí mật trong Đoàn Thanh niên Tuyên truyền xung phong thuộc Đoàn thanh niên Cứu Quốc Hà Nội. Tháng 3/1945, ông gia nhập quân đội.

Từ ngày 19/8/1945 đến tháng 12/1949, ông lần lượt giữ các chức vụ: Tiểu đội trưởng, Trung đội trưởng giải phóng quân Chi đội Vĩnh Phúc năm 1946; Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 55 Bắc Ninh, Tiểu đoàn 56 Bắc Giang, Trung đoàn Bắc Bắc, năm 1946; Tiểu đoàn 517 Độc lập Khu 12 Vệ quốc đoàn năm 1948; Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 322, Trung đoàn 88, Sư đoàn 308, Phó bí thư Liên chi năm 1949. Từ tháng 1/950 đến tháng 9/1955, ông lần lượt giữ các chức vụ: Trung đoàn phó, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 88, Sư đoàn 308, Phó bí thư Đảng uỷ Trung đoàn, Phó Chủ tịch Ủy ban tiếp quản Thủ đô Hà Nội năm 1954.

Tại mặt trận Điện Biên Phủ, Bùi Nam Hà đã chỉ huy trung đoàn 88 phối hợp với Trung đoàn 165 của Lê Thùy tiến công đồi Độc lập. Cụ thể, Trung đoàn 88 Đại đoàn 308 đánh vào hướng Đông Bắc là hướng thứ yếu. 6 giờ 30 phút sáng ngày 15/3/1954, Trung đoàn 88 và Trung đoàn 165 đã xóa sổ tiểu đoàn Bắc Phi, diệt 483 lính, bắt 200 tù binh.

Từ tháng 10/1955 đến tháng 10/1964, ông là Phó Tham mưu trưởng Quân khu Tả Ngạn, Phó Cục trưởng Cục Quân huấn, Bộ Tổng tham mưu, năm 1958. Từ tháng 11/1964 đến tháng 11/1972, ông vào chiến trường B1, B3 Quân khu 5, giữ các chức vụ: Tham mưu phó Quân khu 5, Phó Tư lệnh Tham mưu trưởng Tây Nguyên, Thường vụ Đảng uỷ B3, Phó Tư lệnh Đoàn 959 Quân tình nguyện Việt Nam tại Lào, Thường vụ Đảng uỷ Đoàn 959.

Từ tháng 12/1972 đến tháng 9/1982, ông là Cục trưởng Cục Nhà trường Bộ Tổng Tham mưu, ủy viên Ban chấp hành Đảng uỷ Bộ Tổng Tham mưu, Khoa trưởng Khoa Nghệ thuật Quân sự Viện Khoa học Quân sự - Bộ Quốc phòng, Phó Giám đốc Học viện Quân sự cấp cao, Viện trưởng Học viện Hậu cần, Đảng uỷ viên Ban chấp hành Đảng uỷ Tổng cục Hậu cần. Từ tháng 10/1982 đến năm 1981, ông là Phó Tổng Thanh tra Quân đội, Ủy viên thường trực Hội đồng thi đua Bộ Quốc phòng, Phó Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Nam - Ni-ca-ra-goa. Năm 1992 ông được Nhà nước cho nghỉ hưu.

Ông đã được Nhà nước tặng thưởng: Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến Chông Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Hai, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất, 2 Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương Chiến sĩ giải phóng (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba).


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ
Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Sáu, 2020, 10:32:46 am
LÊ THÙY
CHỈ HUY TRUNG ĐOÀN BỘ BINH 165



Lê Thùy tên thật là Lê Văn Lộc, người dân tộc Tày, sinh năm 1922 ở xã Dân Chủ, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Ông tham gia Cách mạng từ rất sớm (1940), được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam (1941). Từ năm 1940 đến năm 1944, ông hoạt động tổ chức xây dựng cơ sở Cách mạng ở các tỉnh Bắc Kạn, Tuyên Quang, Yên Bái. Năm 1945, là Chính trị viên Giải phóng quân ở huyện Chiêm Hóa.

Từ năm 1946 đến năm 1954, giữ chức vụ trung đoàn trưởng ở nhiều đơn vị. Từ năm 1955 đến năm 1966, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 335 rồi 316, Tham mưu trưởng Quân khu Tây Bắc. 1967-1974, Phó Tư lệnh rồi Tư lệnh Quân khu Tây Bắc. Từ 6/1974 đến 1978, Phó Tư lệnh Quân khu Việt Bắc. Năm 1976, Phó Tư lệnh Quân khu 1. Năm 1978, Phó Tư lệnh Quân khu 2.

Lê Thùy là Trung đoàn trưởng đầu tiên của Trung đoàn bộ binh 165. Ngày 16/5/1948, tại đồi cọ thôn Tông Áng, xã Khánh Thiện, huyện Lục Yên, Trung đoàn 165 đã ra đời. Đồng chí Lê Thùy, Trung đoàn trưởng đã đọc quyết định của Bộ tổng tư lệnh thành lập Trung đoàn 165. Và cũng từ nơi này các cán bộ, chiến sỹ của Trung đoàn đã xuất quân ra đi tiêu diệt quân thù ở khắp các chiến trường.

Trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, Lê Thùy và Trung đoàn 165 của ông cùng với trung đoàn 88 của Bùi Nam Hà có nhiệm vụ tiến công đồi Độc Lập. Cụ thể, Trung đoàn 88 Đại đoàn 308 đánh vào hướng Đông Bắc là hướng thứ yếu, Trung đoàn 165 Đại đoàn 312 đánh vào hướng chủ yếu là hướng Đông Nam cứ điểm. Lê Thùy đã chỉ huy Trung đoàn 165 phối hợp với Trung đoàn 88 cùng tiêu diệt địch. Binh lính tiểu đoàn Angiêri số 5 cố gắng chống cự. Pháo binh Pháp ở Mường Thanh bắn dữ dội vào ngay trong đồn hòng sát thương bộ đội, cứu vãn tình hình. Bộ đội ta giành giật với đối phương từng ụ súng, từng căn hầm, từng đoạn chiến hào. Đến 6 giờ 30 phút sáng ngày 15-3-1954, Trung đoàn 165 và trung đoàn 88 đã xóa sổ tiểu đoàn Bắc Phi, diệt 483 lính, bắt 200 tù binh.

Năm 1974, ông được phong Thiếu tướng, đến năm 1986 được phong Trung tướng.

Ông đã được trao tặng nhiều phần thưởng cao quý của Nhà nước: Huân chương Độc Lập hạng Nhất, Huân chương Quân công (1 hạng Nhất, 1 hạng Ba), Huân chương chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng...

Ông mất năm 1999.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ
Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Sáu, 2020, 10:34:22 am
HOÀNG CẦM
CHỈ HUY TRUNG ĐOÀN BỘ BINH 209



Hoàng Cầm (tên khai sinh Đỗ Văn Cầm, bí danh Năm Thạch), sinh năm 1920, tại xã Sơn Công, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội); Ông nguyên là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IV, V, VI; Đại biểu Quốc hội khóa VII; nguyên Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân đoàn 4, Tư lệnh Quân khu 4, Tổng Thanh tra Quân đội.

Ông tham gia cách mạng năm 1945, là chiến sĩ Giải phóng quân Hà Nội; tháng 8/1945, ông nhập ngũ và tháng 2/1947 được kết nạp vào Đảng Cộng sần Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam).

Từ tháng 10/1945 đến tháng 11/1946, ông là Tiểu đội trưởng; Trung đội phó, Trung đội trưởng, Đại đội phó thuộc Trung đoàn 97. Tháng 12/1946 đến tháng 2/1947, ông là Đại đội trưởng kiêm Chính trị viên Đại đội 120 Sơn La.

Tháng 3/1947 đến tháng 8/1954, ông là Chính trị viên Đại đội 590, Tiểu đoàn 18, Biên giới Lào - Việt; Đại đội trưởng Đại đội 250, Trung đoàn 97; Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 90 Xây dựng cơ sở ở Đà Bắc; Tiểu đoàn phó, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 130, Trung đoàn 209, Sư đoàn 312; Trung đoàn phó, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 209, Sư đoàn 312.

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, đêm mồng 6/5/1954, Trung đoàn của Hoàng Cầm đánh cứ điểm 507 không thành công. Ông cùng Chính uỷ Trần Quân Lập củng cố lại lực lượng, trực tiếp đề nghị Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho Trung đoàn đánh 507 vào ban ngày. Được pháo chi viện, Trung đoàn đã tiêu diệt 507, thừa thắng đánh chiếm các cứ điểm 508, 509. Nắm thời cơ quân địch hoang mang cực độ, Trung đoàn trưởng Hoàng Cầm ra lệnh cho Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật chỉ huy Đại hội 360 đánh thẳng vào Sở chỉ huy địch ở trung tâm Mường Thanh bắt sống tướng Đờ-cát-tơ-ri và Bộ tham mưu quân Pháp kết thúc thắng lợi chiến dịch.

Tháng 9/1954 đến tháng 8/1972, ông giữ các cương vị: Tham mưu trưởng, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 312; Học viên Học viện quân sự Bắc Kinh; Phái viên Tác chiến Bộ chỉ huy quân sự Miền; Sư đoàn trưởng Sư đoàn 9; Phái viên Bộ Tổng tư lệnh Miền; Tham mưu phó, Tham mưu trưởng Bộ tư lệnh Miền.

Tháng 9/1972 đến tháng 12/1974, ông là Chỉ huy phó Bộ chỉ huy quân sự Miền phụ trách Chỉ huy trưởng Đoàn 301, B2; Chỉ huy trưởng Đoàn 301, B2; từ tháng 1/1975 đến tháng 2/1977 là Tư lệnh Quân đoàn 4; tháng 3/1977 đến tháng 1/1981 là Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân đoàn 4; từ tháng 2/1981 đến tháng 3/1982 là Phó Tư lệnh Bộ đội Việt Nam tại Campuchia; từ tháng 4/1982 đến tháng 8/1987 là Tư lệnh Quân khu 4. Đồng chí là ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IV, V, VI. Đại biểu Quốc hội khóa VII.
Tháng 9/1987, ông được điều động về Tổng Thanh tra Quân đội và được Chính phủ bổ nhiệm Tổng Thanh tra Quân đội (nay là Chánh Thanh tra Bộ Quốc phòng).

Ông được phong quân hàm cấp Thượng tá vào tháng 8/1958; thăng quân hàm Đại tá năm 1960, Thiếu tướng năm 1974, Trung tướng năm 1980, Thượng tướng năm 1984. Tháng 11/1992, ông được Nhà nước cho nghỉ hưu.

Từ một chiến sĩ chiến đấu và trưởng thành lên đến cấp Thượng tướng, ông đã lập nhiều chiến công đặc biệt xuất sắc trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, được Nhà nước tặng thưởng nhiều huân chương cao quý: Huân chương Hồ Chí Minh, 4 Huân chương Quân công và nhiều huân, huy chương khác. Huân chương Hồ Chí Minh là huân chương bậc cao dành cho những người có công lao to lớn với Tổ quốc.

Ông mất hồi 14 giờ 30 phút ngày 19/8/2013, tại Bệnh viện Quân y 175.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ
Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Sáu, 2020, 10:35:36 am
VŨ LĂNG
CHỈ HUY TRUNG ĐOÀN BỘ BINH 98



Vũ Lăng tên thật là Đỗ Đức Liêm, sinh năm 1921 tại xã Ngũ Hiệp, Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội. Ông là một trong những vị tướng lập được nhiều chiến công lớn trong những trận đánh quan trọng của Quân đội Nhân dân Việt Nam, ông là người đã có công lao to lớn trong chiến thắng của chiến dịch Tây Nguyên mà trận Buôn Ma Thuột là điển hình. Ông còn là Giáo sư Khoa học Quân sự, nguyên Viện trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy Học viện Lục quân Đà Lạt, Nguyên Tư lệnh Binh đoàn Tây Nguyên và Phó Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên, nguyên Cục trưởng Cục tác chiến Bộ tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, ông là một trong những chiến sĩ Nam tiến đầu tiên chiến đấu ở mặt trận Nha Trang - Ninh Hòa. Sau đó ông ra Bắc, vào ngày toàn quốc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, Vũ Lăng là quyết tử quân của trung đoàn Thủ Đô, tham gia chiến đấu bảo vệ Bắc Bộ Phủ.

Qua 60 ngày đêm cảm tử, Vũ Lăng lúc này là tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 103, đã trực tiếp chỉ huy một trung đội đánh vào nhà Sô-va làm hơn 40 địch chết, bị thương, được Tổng chỉ huy điện khen.

Trong chiến dịch Thu - Đông 1947, Tiểu đoàn 103 đã tham chiến chặn địch rất hiệu quả: đánh binh đoàn Bô-phrê 7 trận trong 12 ngày trời, dưới hình thức vận động tiêu diệt.

Chiến dịch Đông Xuân 1948-1949, Vũ Lăng chỉ huy Tiểu đoàn 54, đánh thắng các trận Đại Bạc, Bồng Lai...

Sau những ngày ở Trung đoàn 102 - Trung đoàn Thủ đô, một thành viên của Đại đoàn 308 - Đại đoàn Quân Tiên phong, ông được điều sang chỉ huy Trung đoàn 98, Đại đoàn 316 sau này.

Trung đoàn 98 lúc ông sang chỉ huy, vừa chịu tổn thất ở Bắc Ninh. Ông cùng cán bộ, chiến sĩ củng cố đơn vị, đánh thắng giòn giã ở Bản Mo trong chiến dịch Tây Bắc.

Trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, Đại đoàn 316 ở phía Đông của tập đoàn cứ điểm. Trung đoàn 98 do Vũ Lăng chỉ huy đánh cứ điểm C1. Cuộc chiến đấu giành giật chiếm giữ đồi C1 diễn ra trong 31 ngày đêm ác liệt trên từng tấc đất. Trung đoàn 98 có một đại đội súng cối và DKZ yểm trợ và... 30 trái pháo.

Trận đồi C1 từ 30/3 đến 1/51954 là trận tiến công, đối phương lúc đầu có 1 đại đội và 1 trung đội. Vào lúc 18h ngày 30/3, trung đoàn 98 tiến công, sau 45 phút chiếm được cứ điểm, diệt toàn bộ quân địch.

Sáng 1/4 , Pháp đưa 1 tiểu đoàn tới phản kích, kết hợp dùng pháo bắn ác liệt gây thương vong cho ta. Hai bên giành giật nhau từng vị trí đến 17h cùng ngày, địch bị đẩy lùi.

Ngày 9/4, quân Pháp được tăng cường 1 tiểu đoàn dù tiếp tục phản kích và sau 4 ngày đêm chiến đấu, chiếm được phía Tây. Vũ Lăng cùng tập thể Ban chỉ huy và toàn thể cán bộ chiến sĩ tổ chức phòng ngự giữ vững nửa phía Đông, đến đêm 1/5 chuyển sang phản công giành lại toàn bộ C1. Thắng lợi này tao điều kiên cho lưc lượng trên toàn bộ chiến dịch, khép chặt vòng vây, uy hiếp Mường Thanh và chuyển sang tổng công kích giành thắng lợi.

Có được chiến thắng ở cứ điểm C1, ông đã tích lũy kinh nghiệm và giàu sáng tạo từ nhiều trận trước. Đó là những ngày chỉ huy trung đoàn 98 sang Thượng Lào, Luông Pha-băng, Sầm Nưa.

Chiến thắng C1 là bước trưởng thành vượt bậc của Trung đoàn 98 (được Tư lệnh Mặt trận tặng Huân chương Quân công hạng Ba) còn Vũ Lăng nhanh chóng tổng kết bắn cối (12 khẩu của toàn trung đoàn) để phá hàng rào, lô cốt giúp trên phổ biến kinh nghiệm cho đơn vị bạn.
Trong kháng chiến chống Mỹ, Vũ Lăng đã giữ những chức vụ quan trọng trong quân đội như Tham mưu trưởng Sư đoàn 316 rồi Cục phó Cục khoa học Quân sự Bộ tổng Tham mưu, phó Tư lệnh quân khu 4, Cục phó rồi Cục trưởng Cục tác chiến, Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên, Phó Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên rồi tư lệnh quân đoàn 3.

Trên cương vị là Cục trưởng Cục tác chiến bộ tổng tham mưu, rồi là Tư lệnh mặt trận Tây nguyên và Phó Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên, Vũ Lăng đã xây dựng phương án tác chiến, tham mưu chỉ huy và đã giành được thắng lợi trong trận Buôn Ma Thuột giải phóng Tây Nguyên, tạo ra bước đột phá quan trọng trong việc thống nhất Việt Nam. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, mùa xuân năm 1975, ông là tư lệnh Quân đoàn 3 (Binh đoàn Tây Nguyên) đảm nhiệm hướng Tây Bắc, là tấn công chủ yếu của chiến dịch, tiêu diệt Sư đoàn 25 của Quân lực Việt Nam Cộng hoà, sau đó tiếp tục đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng tham mưu ngụy. Quân đoàn 3 dưới sự chỉ huy của ông đã nhanh chóng bao vây chia cắt, đập tan mọi sự kháng cự của Sư đoàn 25 quân đội Việt Nam Cộng hòa, là quân đoàn đầu tiên đặt chân đến cửa ngõ Sài Gòn và vào ngày 30/4/1975 đã giương cao lá cờ của quân đoàn trên nóc tòa nhà bộ tư lệnh không quân và Bộ Tổng tham mưu của quân đội Sài Gòn.

Do những công lao trong 2 cuộc kháng chiến, Thượng tướng Vũ Lăng đà được thưởng nhiều huân chương cao quý: Huân chương Độc lập hạng Nhất; Ba huân chương Quân công (2 hạng Nhất, 1 hạng Ba); Huân chương Chiến thắng hạng Nhất; Huân chương Kháng chiến hạng Nhất; Ba huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba); Huy chương Quân kỳ Quyết thắng.

Ông mất năm 1988.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ
Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Sáu, 2020, 10:36:54 am
NGUYỄN HỮU AN
CHỈ HUY TRUNG ĐOÀN BỘ BINH 174



Nguyễn Hữu An sinh ngày 9-10-1926 tại xã Trường Yên, huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình trong một gia đình có truyền thống yêu nước và cách mạng.

Cách mạng tháng Tám 1945 dâng lên niềm tự hào vô biên cho thế hệ trẻ, Nguyễn Hữu An cùng bạn bè hiến dâng tất cả cho đất nước. Ngay từ lúc niên thiếu, năm 1941, anh đã xa quê hương, lên tận miền núi để sinh sống rồi gia nhập Giải phóng quân Yên Bái tháng 8/1945.
Trong kháng chiến chống Pháp, ông đã từng qua các cương vị chỉ huy cấp đại đội, tiểu đoàn thuộc trung đoàn 115 Phúc Yên, Trung đoàn 74 Cao Bằng và Trung đoàn 174 Cao - Bắc - Lạng. Ông đã tham gia hầu hết các chiến dịch như Chiến dịch Thu Đông 1947, Chiến dịch Biên Giới 1950...

Đến chiến dịch Điện Biên Phủ ông là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 174, Sư đoàn 316. Ông đã chỉ huy Trung đoàn anh hùng của mình 3 lần tấn công đồi A1 và đặt quả bộc phá một tấn thuốc nổ phá tung hầm ngầm, diệt gọn một tiểu đoàn Âu -Phi. Cứ điểm đồi A1 là một trong các cứ điểm quan trọng nhất trong tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Đến 21h ngày 6/5/1954, trung đoàn 174 tổ chức tiến công từ 3 hướng tiến vào các vị trí còn lại của địch và 4h30 ngày 7/5/1954, chiếm toàn bộ cứ điểm A1 góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lừng.
Sau giải phóng Điện Biên Phủ 1954, trung đoàn trưởng Nguyễn Hữu An công tác liên tục ở Tây Bắc từ 1955-1964, tham mưu phó sư đoàn 316, tham mưu phó Quân khu Tây Bắc.

Sau đó đơn vị ông vào Tây Nguyên (B3). Tại chiến trường Tây Nguyên, ông đã chỉ huy đơn vị chiến đấu và chiến thắng giòn giã, tiêu biểu như những chiến thắng Plây-Me, I-a-Đrăng, chiến thắng sông Sa Thầy, chiến thắng Đắc - Tô I... Sau Tết Mậu Thân (1968), ông về nhận chức tham mưu trưởng B3.

Tháng 8/1968 ông lại được lệnh ra Bắc nhận chức tham mưu trưởng Quân khu Hữu Ngạn. Chưa được bao lâu, tháng 1/1969, ông lại dược lệnh về làm sư đoàn trưởng Sư đoàn 308.

Tháng 10/1969 Sư đoàn 308 được lệnh vào Nghệ An cùng lực lượng địa phương phòng thủ chuẩn bị đánh địch đổ bộ ra khu 4. Tháng 3/1970 đơn vị ông lại được lệnh vào chiến đấu ở Đường 9 - Nam Lào mà Sư đoàn 308 ở hướng chủ yếu. Tại mặt trận Khe Sanh, Dường 9, Quảng Trị đơn vị ông dã lập được nhiều chiến công vang dội...

Tháng 5/1974, ông được đi học ở Liên Xô. Dịp Tết 1975, trở về, ông lại tiếp tục nhận nhiệm vụ đi chiến đấu. Ông được nhận nhiệm vụ thay thiếu tướng Hoàng Văn Thái làm Quân đoàn trưởng Quân đoàn 2.

Đơn vị ông nhanh chóng vào chiến đấu tại mặt trận Trị - Thiên - Huế và đã mở màn chiến dịch giải phóng Trị - Thiên - Huế, kịp phối hợp với mặt trận Buôn Ma Thuật. Trong chiến dịch mùa xuân 1975 ông đề xuất phương án “Chiến đấu trong hành tiến” và đã được Quân uỷ Trung ương đồng ý.

Thực hiện phương án “Chiến đấu trong hành tiến”, Quân đoàn của ông đã hành quân thần tốc, vừa đi vừa chiến đâu tiến về Sài Gòn, góp phần giải phóng hàng loạt tỉnh miền Trung. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Quân đoàn 2 của ông lại vinh dự được “Nổ súng mở màn chiến dịch”, đánh thẳng vào hướng Đông Bắc Sài Gòn...

Ngày 24/4/1975, Quân đoàn 2 kết thúc cuộc hành quân thần tốc, từ Huế vào Sài Gòn... chuẩn bị tiến vào hang ổ cuối cùng của địch.
Quân đoàn ông đã vượt qua ba quân khu địch, gồm 11 tỉnh, 18 thị trấn, thị xã, mỗi ngày tiến hàng trăm cây số, trải 5 trận hiệp đồng chiến đấu cùng các địa phương bằng bộ binh, 3 trận hiệp đồng binh chủng cấp sư đoàn, 3 trận đánh tàu biển, 9 trận đánh máy bay, diệt tan sư đoàn bộ binh 2, lữ đoàn dù 2, 2 liên đoàn biệt động quân 24 và 31, 8 tiểu đoàn bảo an, 500 tên cảnh sút dã chiến, bắt sống 2.162 tên (có 2 cấp tướng), đánh chìm 4 tàu, làm thất bai chiến thuật “co cụm” của địch, mở thông đường số 1 từ Huế vào đến cửa ngõ Sài Gòn, sau đó phát triển vào nội thành cùng Quân đoàn 4 đánh chiếm dinh Độc Lập...

Ông cũng là người cùng Đại tá Sáu Trí (Sĩ quan Bộ tham mưu B2), Tô Văn Cang (Cụm tình báo A24) và Ba Lễ (H3 - điệp viên) soạn thảo bản “Thông báo số 1” của Bộ Tư lệnh Quân giải phóng Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định phát trên đài phát thanh vài giờ sau lời tuyên bố đầu hàng của Dương Vãn Minh...

Hoàn thành nhiệm vụ, Quân đoàn 2 bàn giao dinh Độc Lập và những phố xá vừa giải phóng cho Quân đoàn 4 rồi lui về Thủ Đức. Quân đoàn 2 do ông làm tư lệnh chỉ huy là đơn vị được nổ súng mở màn chiến dịch, cũng là đơn vị tiến vào Sài Gòn sớm nhất. Quân đoàn 2 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Từ 1988-1991, ông là giám đốc Học viện Lục quân và từ 1991-1995 là giám đốc Học viện cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng).

Kinh nghiệm tích lũy trong chiến tranh và trong thời bình bảo vệ biên giới dã được ông tổng kết, giảng dạy, truyền cho thế hệ sau.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng từng đánh giá cao đạo đức của ông: “Con người Nguyễn Hữu An là con người trung thực, chỉ huy rất kiên quyết nhưng rất mực dân chủ, yêu thương cán bộ, yêu thương đồng chí, được cấp trên, cấp dưới, đồng cấp, được cán bộ, chiến sỹ yêu mến và tin tưởng....”.

Năm 1974, ông được phong quân hàm Thiếu tướng; 1980 là Trung tướng và đến năm 1986 là Thượng tướng.

Thượng tướng Nguyễn Hữu An đã được thưởng nhiều huân chương cao quý: Huân chương Độc lập hạng Nhất; 2 Huân chương Quân công hạng Nhất; Huân chương Quân công hạng Ba; Huân chương Quân công Giải phóng hạng Ba; 2 huân chương Chiến công hạng Nhất, hạng Nhì; Huân chương Chiến thắng hạng Nhì.

Ông mất ngày 9/4/1995, thọ 69 tuổi.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ
Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Sáu, 2020, 10:37:58 am
DOÃN TUẾ
CHỈ HUY TRUNG ĐOÀN PHÁO BINH 675



Doãn Tuế tên thật là Nguyễn Trung, sinh năm 1917 tại xã Văn Tư, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội). Ông còn có biệt danh là “Voi Gầm” gắn liền với chiến thắng đầu tiên của bộ đội pháo binh Việt Nam trên sông Lô do ông chỉ huy. Doãn Tuế từng giữ các chức vụ: Tư lệnh Pháo binh B5, Tư lệnh Binh chủng Pháo binh, Phó Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Nam Lào, Phó Tổng Tham mưu trưởng.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ (12-1946), ông tham gia chiến đấu ở mặt trận Hà Nội rồi sông Lô với các chức vụ: Chỉ huy đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn. Tháng 4/1949, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Từ năm 1952 đến năm 1954, ông là Trung đoàn trưởng, Tham mưu trưởng Sư đoàn pháo binh 351, Đảng uỷ viên Sư đoàn, tham gia nhiều chiến dịch lớn như chiến dịch sông Lô năm 1947, Điện Biên Phủ năm 1954.

Tháng 3/1955, ông là Phó sư đoàn trưởng Sư đoàn 675 Pháo binh. Từ tháng 4/1955 đến năm 1957, ông là Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Pháo binh. Năm 1958, ông được cử đi học ở Học viện Pháo binh Trung Quốc.

Từ năm 1963 đến năm 1964, ông là Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Pháo binh, Uỷ viên Thường vụ Đảng uỷ Bộ tư lệnh Pháo binh. Tháng 9/1964, đồng chí là Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Pháo binh. Năm 1967, ông vào chiến trường B5 làm Tư lệnh Pháo binh Miền. Từ tháng 9 năm 1968 đến năm 1977, ông là Tư lệnh Binh chủng Pháo binh. Năm 1971, ông là Phó Tư lệnh Mặt trận đường 9 Nam Lào.

Qua nhiều cương vị, trọng trách ông đã tham gia chỉ đạo, chỉ huy bộ đội pháo binh, tham gia nhiều chiến dịch lớn, đặc biệt là chiến dịch Hồ Chí Minh trong đoàn cán bộ A75 của Bộ Tổng Tư lệnh tăng cường cho Bộ Tư lệnh Chiến dịch. Từ năm 1978 đến năm 1988, ông được bổ nhiệm và giữ chức Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.

Doãn Tuế được phong Thiếu tướng năm 1974 và Trung tướng năm 1984.

Ông được Nhà nước trao tặng: Huân chương Độc lập hạng Nhất, 02 Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương Chiến sỹ vẻ vang nhất Nhì, Ba, Huân chương Chiến sỹ giải phóng Nhất, Nhì, Ba, Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng. Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào tặng ông Huân chương It-xa-la hạng Nhất.

Trung tướng Doãn Tuế mất 1995.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ
Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Sáu, 2020, 10:39:26 am
LÊ VĂN TRI
CHỈ HUY TRUNG ĐOÀN CAO XẠ 367



Lê Văn Tri tên thật là Lê Văn Nghi, sinh năm 1921, ở xã Hà Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Ông nguyên là Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật - Bí thư Đảng ủy Tổng cục Kỹ thuật, Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân, Ủy viên thường vụ Đảng ủy Quân chủng. Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không diễn ra trong thời gian ông là Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân. Ông từng là: Đại biểu Quốc hội khóa 7, ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa 4.

Tháng 6/1945, ông gia nhập Thanh niên Tiền phong ở Biên Hòa, mà thủ lĩnh là ông Huỳnh Văn Nghệ. Tháng 8/1945, cùng lực lượng của Thanh niên Tiền phong ông tham gia giành chính quyền ở Sài Gòn. Khi cuộc kháng chiến ở Nam Bộ bùng nổ, ông quay về Quảng Bình, tham gia Giải phóng quân thuộc Chi đội Lê Trực của tỉnh (15/9/1945).

Từ chiến sĩ trưởng thành lên, ông lần lượt giữ các chức vụ: Tiểu đội trưởng, Trung đội trưởng, Đại đội phó, Đại đội trưởng Đại đội 12 Phú Quý thuộc Giải phóng quân Quảng Bình.

Năm 1946, ông là Đại đội trưởng, Chi ủy viên Đại đội 6 Ba-na Lào (Mặt trận đường 12). Năm 1948, ông lần lượt giữ các chức vụ: Tiểu đoàn phó, Tỉnh đội phó Tỉnh đội Quảng Bình rồi Chỉ huy trưởng Mặt trận đường 12 trực thuộc Liên khu 4.

Năm 1949, ông là Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Quảng Bình kiêm Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 274 trực thuộc Trung đoàn 18. Năm 1950, ông là Trung đoàn phó Trung đoàn 161 kiêm Tham mưu phó Phân khu Trị Thiên.

Đến năm 1952, ông giữ chức vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn 95 thuộc Đại đoàn 325 Trị Thiên, Trung đoàn 101 Trần Cao Vân. Đảng ủy viên, Bí thư Đảng ủy Trung đoàn 95.

Tháng 3/1953, ông được điều rời chiến trường Bình Trị Thiên về tổ chức xây dựng Trung đoàn pháo cao xạ 367 (Pháo phòng không 37mm, đây là Trung đoàn Pháo cao xạ đầu tiên của Quân đội ta), tham gia chiến đấu trong Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ (Đông Xuân 1953-1954).

Đầu tháng 3/1954, Trung đoàn pháo cao xạ phòng không 367 được cấp trên quyết định đưa đi trực tiếp tham gia chiến dịch Đông Xuân 1953 - 1954. Thực hiện lệnh hành quân lên Tây Bắc, sau bao ngày vất vả, gian khổ, Trung đoàn 367 đã kịp thời chuẩn bị xong trận địa pháo để đúng ngày 13/3/1954, mở màn chiến dịch. Liên tiếp những trận đánh diễn ra, quân Pháp không ngờ là ta lại có pháo cao xạ phòng không và càng không ngờ là mới lần đầu tham gia chiến trường, các đơn vị pháo phòng không của ta lại vững vàng làm chủ kỹ thuật, phát huy mạnh mẽ hỏa lực xung quanh trận địa chiếm đồ tiếp tế của Pháp từ trên không thả dù xuống. Đồ tiếp tế không rơi trúng mục tiêu và đã bị bộ đội ta tịch thu rất nhiều, càng đẩy quân Pháp vào tình thế hoang mang dao động, khốn cùng và tuyệt vọng. Tổng cộng 55 ngày đêm chiến dịch, Trung đoàn bắn rơi 52 máy bay trong tổng số 62 máy bay bị bắn rơi trong Chiến dịch.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Trung đoàn 367 do ông làm Trung đoàn trưởng được nâng thành Đại đoàn 367 trực thuộc Bộ Tư lệnh Binh chủng pháo binh, sau trực thuộc Bộ Quốc phòng, do ông Hoàng Kiện (Trung tướng) làm Đại đoàn trưởng, Đoàn Phùng làm Chính ủy, ông làm Đại đoàn phó - Đảng ủy viên (9/1954).

Tháng 8/1956, ông được lệnh về Hà Nội chuẩn bị sang Liên Xô học tập ở Học viện Pháo binh Leningrad.

Năm 1961, sau khi học tập ở Liên Xô trở về, ông làm Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Pháo binh phụ trách về pháo phòng không (12/1961) cho đến tháng 12/1963 ông được cử giữ chức Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân - Ủy viên thường vụ Đảng ủy Quân chủng.
Tháng 9/1964, ông được để bạt lên làm Cục phó Cục tác chiên rồi Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân.

Năm 1972, quân Mỹ đã dùng đến lực lượng máy bay chiến lược B52 ném bom trải thảm vùng giải phóng miền Nam rồi miền Bắc hòng ngăn chặn sự chi viện của hậu phương đối với tiền tuyến. Bộ Tư lệnh Quân chủng Không quân khi đó đã đề xuất kế hoạch kiên quyết đánh trả B52 trước Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, kế hoạch này đã được hoàn thành vào tháng 9/1972 và được Quân ủy Trung ương chính thức phê chuẩn. Trên cương vị là Tư lệnh, ông là người trực tiếp chỉ huy thực thi bản kế hoạch công phu này, bản kế hoạch sáng tạo, biết kế thừa những kinh nghiệm đụng độ B52 trước đó cũng như áp dụng của khoa học kĩ thuật. Kết quả, sau 10 ngày đêm, có 81 máy bay các loại trong đó có 31 máy bay B52 và 5 chiếc F111 bị bắn rơi.

Tháng 4/1974, ông được phong quân hàm Thiếu tướng.

Năm 1975, trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, ông trực tiếp nhận lệnh của Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Ngyên Giáp vào Phan Rang trực tiếp chỉ huy trận không kích sân bay Tân Sơn Nhất bằng phi đội máy bay A37 thu được của quân Ngụy, phát tín hiệu tổng tiến công giải phóng Sài Gòn.

Năm 1977, ông được cử giữ chức vụ Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật kiêm Bí thư Đảng ủy Tổng cục cho đến khi về hưu (1988).

Tháng 12/1982, ông được phong Trung tướng.

Ông đã vinh dự được nhận nhiều phần thưởng cao quý của Nhà nước: Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng.


Tiêu đề: Re: Tướng lĩnh Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ
Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Sáu, 2020, 10:41:04 am
PHẠM HOÀNG
TRUNG ĐOÀN CÔNG BINH 151



Phạm Hoàng tên thật là Phạm Khắc Hệ sinh năm 1911, tại xã Hoàng Diệu, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương trong một gia đình trí thức. Ông nội ông đỗ đại khoa Tiến sĩ Đệ nhị giáp, bố ông đỗ Hậu bổ (đào tạo viên chức hành chính) nhưng không ra làm quan mà ở nhà dạy học.
Ông từng giữ các chức vụ: Cục phó Cục Quân nhu (tiền thân của Tổng cục Cung cấp tức Tổng cục Hậu cần ngày nay), Trung đoàn trưởng (đầu tiên) Trung đoàn Công binh (đầu tiên) 151, Cục trưởng Cục Công binh, Hiệu trưởng Trường Đại học Kỹ thuật Quân sự (tức Học viện Kỹ thuật Quân sự ngày nay).

Năm 1937, ông tốt nghiệp Trường Mỹ thuật Đông Dương khóa 8 (1932-1937). Sau khi tốt nghiệp, ông là trưởng Phòng Nhà cửa của Hãng Hàng không Đông Dương, cố vấn doanh trại Quân đội Pháp. Là viên chức cao cấp được hưởng mọi chế độ đãi ngộ như một viên chức mang quốc tịch Pháp. Thời bấy giờ, gia đình ông ở tại số nhà 113 Hàng Bạc ngày nay.

Cùng với lớp thanh niên trí thức tiến bộ ngày đó, ông tham gia Cách mạng trong những ngày Tổng khởi nghĩa rồi được cử làm ủy viên Ủy ban Kháng chiến Hành chính tỉnh Hải Dương. Ngày 22/9/1947, ông được kết nạp vào Đảng, rồi được cử đi học tại Trường Ngoại ngữ do Bộ Giáo dục mở tại Việt Bắc. Ngày 3/10/1947, mở đầu cho cuộc tấn công của thực dân Pháp lên Việt Bắc trong Chiến cuộc Thu Đông 1947, Trường bị máy bay oanh tạc, 45 học viên được phái về cơ quan Trung ương, riêng ông, Phạm Hoàng - trưởng lớp, được điều lên Văn phòng Trung ương Đảng giúp việc cho tổng bí thư Trường Chinh.

Năm 1948, do yêu cầu của cuộc kháng chiến, ông được điều sang công tác bên Quân đội, giữ cương vị Cục phó Cục Quân nhu. Tháng 5/1949, ông chuyển sang công tác tại Cục Công binh, là phó cục trưởng. Tháng 1/1951, chuyển thể Cục Công binh thành Trung đoàn Công binh 151, đơn vị công binh đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam, ông là trung đoàn trưởng, trực tiếp chỉ huy bộ đội công binh tham gia các chiến dịch lớn từ Biên giới phía Bắc đến Đồng bằng Bắc Bộ rồi tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử. Năm 1953, Trung đoàn do ông chỉ huy được Chủ tịch Hồ Chí Minh kí tặng Huân chương chiến sĩ hạng Nhì (tức Huân chương Chiến công).

Trong cuốn sách Điện Biên Phủ - Chiến dịch lịch sử, Đại tướng Hoàng Văn Thái viết: Ngày 8/5/1954, khi thất bại và đầu hàng, từng đoàn tù binh đi trên các trục đường kéo pháo về trại tập trung đã hết sức ngạc nhiên, không hiểu vì sao ta đã làm được những công trình to lớn như vậy sát tập đoàn cứ điểm, họ phải thốt lên: Chỉ với việc làm được những trục đường này, các ông đã thắng chúng tôi rồi... Trung đoàn trưởng Trung đoàn 151 Công binh là đồng chí Phạm Hoàng, một kiến trúc sư tham gia Cách mạng từ những ngày đầu Tổng Khởi nghĩa, là một cán bộ có quyết tâm và trách nhiệm cao, có tính kế hoạch chu đáo trong việc làm.

Tháng 8/1954, ông được giao giữ trọng trách chủ nhiệm Cục Công binh. Từ năm 1955 đến 1965, là tham mưu trưởng rồi cục trưởng Cục Công binh. Trong thời gian này, ông là người trực tiếp chỉ đạo, thiết kế hệ thống sân bay quân sự từ Vĩnh Linh đến Yên Bái, từ Kiến An đến Hòa Lạc, Cẩm Thủy, Gát, Thọ Xuân..., các hệ thống sơ tán máy bay, các công trình phòng tránh, kể cả những công trình đào sâu vào trong lòng núi để cất giấu máy bay. Với Đường mòn Hồ Chí Minh trên biển, chính ông cũng là người chỉ đạo, thiết kế bến cảng, cầu tàu, căn cứ xuất phát của những con tàu không số. Rồi các trận địa Ra-đa trên dãy núi Tam Đảo...

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh khi còn sống đã từng nói: Rất hoan nghênh và cảm ơn Bộ tư lệnh Công binh và đồng chí Tư lệnh Phạm Hoàng đã làm được công trình quan trọng này (cầu tàu bến cảng ở Đồ Sơn). Chúng ta có được những công trình như thế này, có được những con người như thế này làm gì mà không đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Bên cạnh các công trình quân sự, Đại tá Phạm Hoàng còn hết sức chú ý đến vấn đề nhà ở cho các đồng bào dân tộc, quy hoạch đường sá, giếng nước, khu nuôi trâu bò, gia súc, khu vệ sinh..., cũng như vấn đề nhà cửa, sinh hoạt, đi lại của người dân Đồng bằng sông Cửu Long.
Từ năm 1965 đến năm 1974, ông là hiệu trưởng Trường Đại học Kỹ thuật Quân sự. Năm 1974, ông được phong quân hàm đại tá và là ủy viên Hội đồng Quốc gia giám sát xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong 2/1977 đến 1979, ông làm chuyên viên phụ trách thiết kế xây dựng Tổng cục Hàng không Dân dụng, Bộ Quốc phòng.

Ông mất ngày 17/9/1979.





Hết