Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: macbupda trong 26 Tháng Sáu, 2020, 09:31:34 am



Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Sáu, 2020, 09:31:34 am
Tên sách: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Trị
Năm xuất bản: 1994
Số hóa: macbupda

● Chỉ đạo nội dung:

   THƯỜNG VỤ ĐẢNG ỦY VÀ BCHQS TỈNH QUẢNG TRỊ

● Chủ biên:

   Trung tá TRẦN BIÊN

● Biên soạn:
   
   Thiếu tá NGUYỄN VĂN HÓA

   Trung tá TRẦN BIÊN

● Với sự tham gia chính ủy của đồng chí THANH SƠN, Phó ban Tuyên giáo Tỉnh ủy

(https://i.imgur.com/Cn1ak0G.jpg)


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Sáu, 2020, 09:33:48 am
LỜI NÓI ĐẦU

Quảng Trị vùng đất để lại dấu ấn không phai mờ trong ký ức của nhiều người trên chiến trường “Bình Trị Thiên khói lửa” trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Cuộc chiến đã kết thúc cách đây vừa tròn 4 thập kỷ nhưng do nhiều khó khăn mãi đến nay cuốn sơ thảo “Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) mới hoàn thành, Đây là một cuốn sử chiến tranh, một công trình khoa học lịch sử cố gắng tái hiện lại cuộc chiến tranh nhân dân thần thánh của Đảng bộ, quân và dân Quảng Trị trong chín năm trường kỳ chống Pháp vô cùng cam go quyết liệt và anh dũng.

Chấp hành Nghị quyết của Bộ Chính trị về việc tổ chức kỷ niệm những ngày lễ lớn trong hai năm 1994-1995, nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày thành lập quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng (22-12-1944 - 22-12-1994), chấp hành chủ trương của Thường vụ Tỉnh ủy, BCHQS tỉnh Quảng Trị xuất bản cuốn sử nói trên phổ biến rộng rãi trong lực lượng vũ trang và nhân dân, nhằm góp phần giáo dục truyền thống, nâng cao lập trường tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, đẩy mạnh việc hoàn thành tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời cũng qua lần xuất bản này chúng tôi tập hợp thêm các ý kiến đóng góp, chỉnh lý, sửa chữa của bạn đọc để nâng cao chất lượng công trình.

Trong quá trình biên soạn lịch sử, BCHQS tỉnh nhận được nhiều sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của TVTU, UBND tỉnh, sự động viên giúp đỡ của phòng lịch sử quân sự QK4, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh, các bậc lão thành cách mạng, các tướng lĩnh, sĩ quan trung cao cấp đã nghỉ hưu, các nhà khoa học lịch sử trong, ngoài tỉnh và nhiều đồng chí đồng bào khác.

Nhân dịp này BCHQS tỉnh chân thành cám ơn sự giúp đỡ đầy nhiệt tình và quý báu đó.

Tuy nhiên do nhiều khó khăn và trình độ nghiên cứu, biên soạn có hạn nên cuốn sử này không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót. Chúng tôi kính mong bạn đọc, đồng bào và chiến sĩ sẵn sàng phê bình, đóng góp ý kiến, tư liệu để lần tái bản sau hoàn thiện hơn.


THƯỜNG VỤ ĐẢNG ỦY
                                                                                                                                                     
VÀ BCHQS TỈNH QUẢNG TRỊ


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Sáu, 2020, 09:36:55 am
Chương mở đầu

QUÊ HƯƠNG VÀ TRUYỀN THỐNG ĐẤU TRANH BẤT KHUẤT
CỦA NHÂN DÂN QUẢNG TRỊ

I- ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ, KINH TẾ, XÃ HỘI QUẢNG TRỊ

Quảng Trị từ ngàn xưa là một bộ phận của Tổ quốc Việt Nam, suốt quá trình thăng trầm của lịch sử từng là nơi đọ sức quyết liệt với nhiều kẻ thù xâm lược. Từ Thuận Châu, Tân Bình, Thuận Hóa tên đất dù có thay đổi theo triều đại nhưng luôn luôn là một bộ phận của đất nước Đại Việt bất khuất.

Đến năm 1801, Gia Long chia Thuận Hóa thành ba doanh trực hệ (Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức) thì tên Quảng Trị xuất hiện từ đó. Mãi đến năm Minh Mạng thứ 12 (1832) mới lập thành tỉnh Quảng Trị như ngày nay.

Năm 1976, sau khi hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, Quảng Trị cùng với Quảng Bình và Thừa Thiên sáp nhập thành tỉnh Bình Trị Thiên. Tháng 7 năm l989, thể theo nguyện vọng của nhân dân, Quảng Trị được thành lập lại.

Quảng Trị ở tọa độ 16o18’ - 17o10’ vĩ độ bắc, 106o28’55” đến 107o23’58” kinh đông, là một tỉnh nhỏ ở miền Trung, bắc giáp tỉnh Quảng Bình, nam giáp Thừa Thiên - Huế, đông giáp biển Đông, tây giáp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Diện tích 4.702km2. Biên giới phía Tây giúp Lào dài 208 km, bờ biển phía đông dài 75km, nơi hẹp nhất 52 km.

Quảng trị có 4 vùng địa hình rõ rệt: Núi cao, gò đồi, đồng bằng, cồn và cồn cát. Vùng núi chiếm 30% diện tích có độ cao từ 500-700 mét trở lên, nằm trong dãy Trường Sơn chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Núi Tá Linh có độ cao nhất tỉnh, thuyền di ngoài khơi xa vẫn nhìn thấy. Vùng này địa hình hiểm trở, trước chiến tranh chống Mỹ đây là vùng rừng sum suê, trù phú có đầy đủ các loại lâm thổ sản và thú quý. Trong chiến tranh vùng này bị chất độc hóa học và bom đạn Mỹ tàn phá nặng nề, ảnh hưởng rất lớn đến sinh thái, môi trường đến nay vẫn chưa phục hồi lại được.

Vùng gò đồi chiếm 52% diện tích, có dạng đồi bát úp, đất ít dốc nhưng bị tàn phá gần hết chỉ còn cỏ tranh, cây dại, đồi hoang. Chỉ có các vùng đất bazan như Cùa, Tân Lâm tây Gio Linh, Vĩnh Linh và các thung lũng ven khe suối gần đồng bằng mới có dân cư sinh sống, còn phần lớn chỉ là những đồi đất sỏi cằn cỗi.

Vùng đồng bằng hẹp chỉ chiếm 11% diện tích, do phù sa sông suối bồi thành, gọi là đồng bằng nhưng chẳng mấy nơi bằng phẳng, với trên 50 ngàn ha canh tác, đồng bằng Quảng Trị là nơi sản xuất cây lương thực chủ yếu của tỉnh.

Vùng cồn và bãi cát thường ở ven biển, nhưng có nhiều nơi xen giữa đồng bằng chiếm 7% diện tích. Cát là tai họa cho vùng đồng bằng vì gió xô, nước cuốn làm cát lấp dần đất sản xuất.

Quảng Trị có hệ thống sông ngòi chằng chịt, phần lớn bắt nguồn từ dãy Trường Sơn. Sông Bến Hải dài 59 km bắt nguồn từ Động Vang chảy ra biển Cửa Tùng. Sông Thạch Hãn dài 150 km với các phụ lưu như Rào Quán, Đắkrông, sông Hiếu, Lai Phước, Ái Tử, sông Nhùng, Vĩnh Định... dòng chính đổ ra biển tại Cửa Việt. Hai con sông Bến Hải và Thạch Hãn đã đi vào lịch sử và được, nhiều người biết đến bởi lẽ hai con sông này đã in đậm một thời lịch sử hào hùng của dân tộc.

Quảng Trị còn có hai con sông chảy về phía Tây nước bạn Lào là sông Sê Pôn và Sê Băng Hiêng.

Cũng như cả nước Quảng Trị có khí hậu nhiệt đới gió mùa. Nhưng do vị trí và cấu trúc địa hình nên còn có đặc điểm khí hậu riêng. Miền đông Trường Sơn (chiếm phần lớn diện tích) có mùa đông lạnh và mưa. Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 và thường tập trung trong tháng 10, tháng 11. Lượng mưa trung bình hàng năm trên dưới 2.000milimét. Còn ở miền tây Trường Sơn (gồm các xã từ Khe Sanh đến Lao Bảo, các xã vùng Lìa...) có mùa đông lạnh và khô. Mùa hè ở vùng này thường mưa, nhưng vùng đông Trường Sơn lại khô và có gió nóng.

Hành lang Lao Bảo - Khe Sanh hút gió rất mạnh, vì vậy Đông Hà là nơi khô nóng nhất trong tỉnh. Trong mùa gió tây nam (từ tháng 4 đến tháng 8) nhiệt độ có ngày lên đến 40°C, độ ẩm giảm 30% nên mùa hè Quảng Trị thường bị thiếu nước. Cuối mùa hạ nhiệt độ thường xuống thấp đột ngột, lượng mưa tăng lên do áp thấp nhiệt đới xuất hiện, giông bão kèm theo. Sự phức tạp của địa hình kết hợp với sự khắc nghiệt của khí hậu đã gây ra cho Quảng Trị hầu hết các loại thiên tai như bão, lụt, úng, hạn, xói mòn, sụt lỡ, cát bay, sóng thần... Vì vậy đấu tranh với thiên nhiên để bảo vệ cuộc sống là yêu cầu đặt ra thường xuyên đối với mỗi người dân Quảng Trị.

Mạng lưới giao thông trong tỉnh tuy chất lượng chưa cao nhưng đa dạng, có giá trị về kinh tế và quốc phòng.

Đường quốc lộ 1A chạy dọc trung tâm tỉnh qua nhiều vùng đông dân với cầu Hiền Lương, Đông Hà, Thạch Hãn, Mỹ Chánh... đã đi vào lịch sử, đường 9 anh hùng đã một thời rạng rỡ chiến công. Đường Hồ Chí Minh, con đường chiến lược thời chống Mỹ. Dọc ngang trong tỉnh có nhiều con đường đã một thời oanh liệt mà mỗi cây số đều ghi đậm chiến công.

Đường sắt Bắc Nam đi qua Quảng Trị với chiều dài 64 km, có 7 ga lớn nhỏ, phần nhiều chạy qua vùng dân cư và song song với đường quốc lộ 1A.

Cùng với hệ thống đường thủy, trên các sông ngòi lớn nhỏ, tàu thuyền cỡ vừa có thể ra vào cảng Cửa Việt theo đường giao thông trên biển để đi tới mọi miền trong nước và thế giới.

Hê thống đường sắt, đường bộ, đường thủy ở Quảng Trị mở rộng đến khắp các vùng thuận lợi cho việc giao lưu hàng hóa phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng, đặc biệt là đường số 9, cảng Cửa Việt... còn nhiều tiềm năng chưa được khai thác.


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Sáu, 2020, 09:38:10 am
Quảng Trị là tỉnh nghèo về tài nguyên thiên nhiên. Vùng đồi núi có 365 ngàn ha, nhưng rừng chỉ chiếm 42 ngàn ha. Trong số 27 ngàn ha rừng tự nhiên chỉ có 15 ngàn ha đủ tiêu chuẩn khai thác. Khi rừng đã bị thu hẹp thì các nguồn lợi khác cũng ít đi. Do bị chiến tranh tàn phá nặng nề nên lâm sản quý và muông thú hiếm hầu như cạn kiệt.

Đất đai là tài nguyên có giá trị nhất của Quảng Trị. Toàn tỉnh có khoảng 2,2 vạn ha đất bazan thích hợp với nhiều loại cây trồng công nghiệp như cao su, cà phê, chè, tiêu. Ngoài ra còn có một số tài nguyên khác như đá vôi, đất sét, cát sạn, than bùn, nước khoáng.

Ngoài đất và rừng còn có biển rộng, hàng năm cung cấp một khối lượng lớn hải sản cho tiêu dùng và xuất khẩu.

Quảng Trị với 4 vùng địa hình và nhiều sông ngòi, đường sá, là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế kết hợp với quốc phòng.

Ngay từ buổi đầu thực dân Pháp xâm lược cho đến những năm đánh Mỹ, những người yêu nước và cách mạng đã dựa vào rừng núi để làm căn cứ kháng chiến. Rừng là lá chắn che chở chúng ta nhưng cũng là mạng lưới khổng lồ bao vây kẻ thù mỗi khi chúng đến. Trong những năm chiến tranh ác liệt, vùng rừng núi là căn cứ hậu phương giữa lòng tiền tuyến. Kẻ thù thâm độc và xảo quyệt đã dùng hàng vạn tấn bom đạn, hàng ngàn tấn chất độc hóa học để hủy hoại núi rừng hòng tiêu diệt lực lượng kháng chiến nhưng chúng đều thất bại.

Vùng gò đồi là vùng giáp ranh giữa rừng núi và nông thôn đồng bằng, thành thị, địa hình tương đối bằng phẳng, ít dốc, nhiều khe suối chia cắt. Đây là vùng căn cứ du kích tiền chiến khu. Trong thời kỳ chiến tranh đây là vùng tranh chấp quyết liệt nên bị bom đạn tàn phá nặng nề. Ngày nay với chủ trương trồng cây gây rừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc để cải tạo mội sinh, phát triển kinh tế.

Vùng đồng bằng là nơi dân cư đông đúc, đất đai màu mỡ. Các hệ thống thôn quê, làng xã và đô thị được xây dựng từ lâu đời là trung tâm kinh tế chính trị, văn hóa, là nơi tập trung nhân tài vật lực để xây dựng và bảo vệ quê hương qua các thời kỳ. Đồng thời cũng là nơi thế trận chiến tranh nhân dân được hình thành và phát triển mạnh mẽ khi quân thù xâm phạm tới.

Vùng cồn và bãi cát nói chung không thuận lợi về phát triển kinh tế đồng thời cũng rất hạn chế về hoạt động quân sự. Song với kẻ địch từ xa tới thì vùng này cũng là vật chướng ngại đáng kể làm chậm bước tiến của quân thù. Nhân dân ta đang từng bước khắc phục hậu quả cát bay, cát lấn bằng cách đắp đê, trồng cây gây rừng, kết hợp kinh tế với tuyến phòng thủ bảo vệ quê hương.

Đảo Cồn Cỏ nằm ở phía Đông - Bắc tỉnh, cách bờ khoảng 16 hải lý và là vị trí tiền tiêu có giá trị chiến dịch, chiến thuật quan trọng trong tác chiến chống địch đổ bộ đường biển, đồng thời cùng với hệ thống làng xã ven biển tạo nên tuyến phòng thủ vững chắc ở phía đông.

Do cấu tạo địa hình mang tính đặc thù và phức tạp như trên nên Quảng Trị có vị trí chiến lược rất quan trọng. Mặt khác cũng có rất nhiều khó khăn trong việc xây dựng thế trận phòng thủ đất nước cũng như trong hoạt động quân sự.

Dân số Quảng Trị có trên 50 vạn người chung sống trên mảnh đất này có các dân tộc Kinh, Vân Kiều, Tà Ôi, Pahi và một số ít người Hoa, trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số. Mật độ dân số trung bình 96 người/km2, 87% số dân sống ở nông thôn.

Về địa giới hành chính, Quảng Trị chia làm 6 huyện, 2 thị xã, 6 thị trấn và 125 phường, xã. Có 16 xã biên giới giáp nước bạn Lào và 10 xã ven biển.

Nhân dân Quảng Trị đa số không theo tôn giáo nào, chỉ có một số thờ đạo Phật, một số ít theo đạo Thiên Chúa và Tin Lành. Dù theo đạo hay không đồng bào trong tỉnh đều có chung truyền thống yêu nước, thương nòi, đồng cam cộng khổ đã góp phần tích cực trong việc dựng nước và giữ nước.

Do ảnh hưởng của khí hậu và thời tiết, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, nhân dân Quảng Trị phải chịu nhiều tổn thất đau thương. Cho đến nay hậu quả chiến tranh về nhiều mặt vẫn chưa khắc phục được. Cơ sở vật chất kỹ thuật còn nghèo nàn, lạc hậu. Đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn.

Quảng Trị có 2 thị xã: Đông Hà và Quảng Trị. Thị xã Đông Hà được xây dựng từ năm 1949 nằm hai bên trục đường số 1 và số 9 có dòng sông Hiếu chảy qua. Sau khi tỉnh được thành lập lại, Đông Hà trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh nhà.

Thị xã Quảng Trị ra đời từ 1906 là tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Trị trước đây. Cùng với Thành cổ, thị xã Quảng Trị là nơi bị chiến tranh tàn phá hết sức nặng nề, nhất là trong 81 ngày đêm lịch sử năm 1972.

Quảng Trị là tỉnh đất không rộng, người không đông nhưng lại có vị trí chiến lược quan trọng, nên từ xưa tới nay mọi kẻ thù xâm lược đều tìm cách chiếm đóng, chia cắt khu vực này. Vì vậy suốt chặng đường dài của lịch sử, nhân dân trong tỉnh không chỉ có đổ mồ hôi để xây dựng quê hương mà còn phải đổ máu để chống ngoại xâm, góp phần cùng đồng bào cả nước bảo vệ Tổ quốc.

Trong quá trình vật lộn với thiên nhiên và đấu tranh với kẻ thù để tồn tại và phát triển, người dân Quảng Trị đã được tôi luyện và trưởng thành. Từ trong khó khăn gian khổ ác liệt, con người ở đây đã vươn lên, vững vàng trong mọi gian nan thử thách, luôn lạc quan yêu đời, cần cù chất phác, giản dị, bộc trực và thẳng thắn, giàu lòng tương thân tương ái, nhưng không bao giờ khuất phục trước kẻ thù hung bạo.


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Sáu, 2020, 09:40:10 am
II - TRUYỀN THỐNG ĐẤU TRANH BẤT KHUẤT
CỦA NHÂN DÂN QUẢNG TRỊ

Lịch sử Việt nam nói chung, lịch sử Quảng Trị nói riêng trong quá trình dựng nước và giữ nước hầu như là lịch sử nối tiếp nhau của các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm giành độc lập; Từ những cuộc kháng chiến chống bọn phong kiến phương bắc xâm lược trong suốt nghìn năm bắc thuộc đến hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp và Mỹ, nhân dân các dân tộc Quảng Trị đã đóng góp sức người, sức của cùng cả nước giành độc lập tự do.

Năm 1858, thực dân Pháp tiến hành chiến tranh xâm lược nước ta. Dân tộc ta từ đây phải đương đầu với một kẻ thù độc ác, tàn bạo hơn. Trước nguy cơ nước mất, nhà tan, đời nô lệ, một lần nữa khát vọng độc lập, tự do và truyền thống yêu nước của nhân dân lại bừng lên mạnh mẽ. Ngay từ những ngày đầu, cùng với nhân dân cả nước, hưởng ứng hịch “bình tây” của các sĩ phu Nghệ An nhân dân các dân tộc Quảng Trị đã đứng lên đấu tranh chống thái độ thỏa hiệp đầu hàng của triều đình nhà Nguyễn.

Sau khi triều đình nhà nguyễn ký hiệp ước phản bội dâng nước ta cho pháp (6-6-1884), Tôn Thất Thuyết khởi chiến không thành đã phải đưa vua Hàm Nghi lánh ra Quảng Trị và chọn Tân Sở làm căn cứ kháng chiến.

Ngày 10-7-1885, từ Tân Sở, vua Hàm Nghi hạ chiếu “Cần Vương” vạch tội ác thực dân, kêu gọi văn thân yêu nước và nhân dân nổi dậy chống quân xâm lược. Hưởng ứng phong trào “Cần Vương”, các cuộc khởi nghĩa liên tiếp nổ ra khắp nơi trong tỉnh. Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa của nhân dân do các ông Trương Đình Hội, Nguyễn Tự Như (1885) và Hoàng Văn Phúc (1886) lãnh đạo. Song do nổ ra lẻ tẻ và thiếu sự chỉ huy thống nhất chung trong cả nước nên đều thất bại.

Phong trào “Cần Vương” không thành công, nhưng đã thức tỉnh tinh thần độc lập dân tộc và nêu cao truyền thống yêu nước, ý chí kiên cường bất khuất chống ngoại xâm của nhân dân ta.

*
*   *

Sau khi hoàn thành công cuộc chinh phục nước ta, thực dân Pháp bắt đầu khai thác thuộc địa trên quy mô lớn. Đối với Quảng Trị là nơi có vị trí chiến lược quan trọng nên tư bản Pháp càng đặc biệt chú ý.

Để tăng cường vơ vét của cải ở Việt Nam và Lào, thực dân Pháp xây dựng các tuyến đường sắt và đường bộ Quảng Trị - Huế; Quảng Trị - Đông Hà - Đồng Hới và đường số 9. Đồng thời bọn tư bản Pháp cũng mở một số nhà máy, xí nghiệp nhỏ, một số đồn điền trồng trọt và chăn nuôi trên vùng đất bazan để vơ vét sức người sức của dân ta. Cũng từ đây giai cấp công nhân Quảng Trị ra đời và ngày càng phát triển, ở nông thôn, bọn phong kiến, địa chủ, tay sai của thực dân Pháp được thời cơ hoành hành làm cho đời sống nhân dân vô cùng cực khổ.

Thực trạng trên đây đã làm cho mâu thuẫn cơ bản giữa nhân dân ta với thực dân Pháp và bọn phong kiến địa chủ ngày càng gay gắt, quyết liệt. Các phong trào yêu nước, phong trào đấu tranh đòi tự do dân chủ liên tiếp nổ ra. “Nét nổi bật của phong trào yêu nước ở Quảng Trị trong những năm cuối thế XIX là khởi nghĩa công khai và đấu tranh vũ trang. Và lúc này nét tiêu biểu của phong trào yêu nước trong những năm đầu thế kỷ XX là lập “Hội kín” hoạt động bí mật và đấu tranh chính trị”(1).

Đặc biệt các. phong trào “Việt Nam Duy Tân Hội” (1906) do ông Trần Cửu Oai người ở Triệu Phong xây dựng và lãnh đạo, phong trào “Việt Nam Quang phục hội” do cụ Phan Bội Châu khởi xướng được các sĩ phu yêu nước như Nguyễn Hữu Bảo (tức Khóa Bảo) ở Cam Lộ, Lê Thế Vĩ và Lê Mậu Bảo ở Triệu Phong lãnh đạo đã lôi cuốn đông đảo nhân dân và binh lính tham gia. Tiêu biểu cho phong trào là cuộc khởi nghĩa của 35 tù chính trị ở nhà tù Lao Bảo ngày 23-9-1915. Sau khi phá ngục cướp được 29 khẩu súng và 6.000 viên đạn, những người nổi dậy đã kéo vào rừng vận động đồng bào dân tộc cùng tham gia đánh giặc. Sau nhiều ngày chống cự quyết liệt, thực dân Pháp phải điều thêm viện binh mới đàn áp được cuộc khởi nghĩa. Vì anh em mới thoát ngục, thế cô, lực kiệt, cuộc khởi nghĩa bị dập tắt nhưng tấm gương bất khuất trung kiên vẫn muôn đời tỏa sáng.


(1) Quảng Trị 60 năm những chặng đường - Sở VHTT Quảng Trị xuất bàn năm 1990


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Sáu, 2020, 09:41:24 am
Từ năm 1916 trở đi, sau khi vua Duy Tân và các sĩ phu yêu nước bị bắt, phong trào đấu tranh của nhân dân ta chống thực dân Pháp và tay sai tạm thời đi vào thoái trào. Nhìn chung các cuộc khởi nghĩa và các phong trào yêu nước ở Việt Nam nói chung và ở Quảng Trị nói riêng trước những năm 30 của thế kỷ XX đều thất bại. Nguyên nhân chủ yếu là do thiếu người lãnh đạo sáng suốt, tài giỏi và thiếu một đường lối đúng đắn cho cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ. Song tinh thần yêu nước của nhân dân ta vẫn như than hồng được vùi trong tro nóng, chỉ chờ luồng gió mới thổi tới là lại bùng lên thành ngọn lửa thiêu đốt kẻ thù.

Vào những năm đầu thế kỷ XX, khi cách mạng Việt Nam đang trong “tình hình đen tối như không có đường ra” thì Nguyễn Ái Quốc - Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này - vượt qua tầm nhìn thời đại, với lòng nồng nàn yêu nước đã bôn ba khắp bốn biển, năm châu, tìm đường cứu nước, cứu dân. Người đã gặp chủ nghĩa Mác-Lênin, gia nhập Đảng cộng sản Pháp năm 1920. Cuối năm 1924, Người về Quảng Châu (Trung Quốc) thành lập tổ chức “Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội”, truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào cách mạng Việt Nam và Đông Dương. Một số thanh niên yêu nước được Người giáo dục rèn luyện đã trở thành những chiến sĩ cộng sản kiên trung, bất khuất. Ở Quảng Trị người đầu tiên được vinh dự vào tổ chức này là Nguyễn Đình Từ.

Cuối năm 1926, sau khi dự lớp huấn luyện ở Quảng Châu xong, Nguyễn Đình Từ về đến Quảng Trị. Với tư cách là đại diện của Tổng bộ Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội, Nguyễn Đình Từ cải tổ nhóm “Việt Nam độc lập Đảng” thành chi bộ “Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội” do Nguyễn Đình Cương làm Bí thư. Năm 1927 Lê Thế Hiếu lập ra một chi bộ nữa. Cuối năm 1927, hai chi bộ này hợp nhất thành “Tỉnh bộ Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội”. Năm 1928; Lê Thế Tiết thành lập tổ chức “Tân Việt cách mạng đảng”.

Trước sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của cách mạng đòi hỏi phải có một chính đảng duy nhất lãnh đạo phong trào. Đáp ứng yêu cầu khách quan đó, ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, sau đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương. Đây là một sự kiện có ý nghĩa trọng đại, một bước ngoặt lịch sử của phong trào cách mạng Việt Nam.

Ngày 25-5-1930, đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Quảng Trị được thành lập.

Tỉnh ủy lâm thời gồm   3 đồng chí: Lê Thế Tiết, Nguyễn Hữu Mão, Trần Hữu Dực, do đồng chí Lê Thế Tiết làm Bí thư. Từ đây phong trào cách mạng của quần chúng bắt đầu có bước phát triển mới. Cao trào cách mạng 1930-1931 ở Quảng Trị được mở đầu bằng các cuộc mít tinh, biểu tình kỷ niệm ngày Quốc tế lao động 1-5, mà đỉnh cao là tổ chức những hoạt động “Đấu tranh chống khủng bố Nghệ - Tĩnh đỏ”.

Lo sợ trước sức đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng, giặc Pháp tăng cường đàn áp, lùng bắt cán bộ. Tháng 10 năm 1930, Tỉnh ủy lâm thời bị vỡ, đồng chí Lê Thế Tiết và Nguyễn Hữu Mão bị bắt.

Tháng 11-1930 dưới sự chỉ đạo của xứ ủy Trung Kỳ, hội nghị đại biểu đảng bộ tỉnh họp tại Tân Tường (Cam Lộ) bầu ra Tỉnh uỷ chính thức gồm 5 đồng chí do đồng chí Trần Hữu Dực làm Bí thư. Sau hội nghị, các ban Huyện ủy chính thức của các phủ, huyện được thành lập, hệ thống tổ chức Đảng từ tỉnh đến cơ sở được củng cố, xây dựng.

Để bảo vệ chính quyền, bảo vệ Đảng, công tác xây dựng và phát triển lực lượng “Tự vệ đỏ” được chú ý. Các tổ chức quần chúng cách mạng như Công hội đỏ, Nông hội đỏ, Cứu tế đỏ, Phụ nữ liên hiệp hội, Thanh niên cộng sản đoàn... không ngừng phát triển và hoạt động có hiệu quả.

Từ tháng 6-1931 trở đi, địch tăng cường đàn áp khủng bố nên phong trào cách mạng tạm lắng xuống. Tháng 8-1931 đảng bộ Quảng Trị mất liên lạc với Xứ ủy Trung Kỳ và Trung ương. Mặc dù vậy, hầu hết các đảng viên cộng sản vẫn giữ vững ý chí chiến đấu, bất. khuất, trung kiên bám trụ xây dựng phong trào. Từ năm 1936 trở đi các tổ chức Đảng từ Trung ương đến cơ sở mới dần dần được khôi phục và phong trào cách mạng của quần chúng mới được củng cố và phát triển.

Để củng cố vai trò lãnh đạo của đảng, ngày 26-8-1937 đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ nhất khai mạc. Đại hội đã bầu ra Ban chấp hành Tỉnh ủy gồm 7 ủy viên và cử đồng chí Trần Mạnh Quỳ làm Bí thư.

Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, phong trào cách mạng ngày càng phát triển. Nhiều cuộc mít tinh, biểu tình, đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ của công nhân và quần chúng ở một số đồn điền và nông thôn làm cho địch phải lúng túng, bị động đối phó. Địch càng khủng bố gắt gao. Nhiều cán bộ bị bắt. Số còn lại phải rút vào bí mật hoặc lánh đi nơi khác. Một lần nữa đường dây liên lạc giữa Xứ ủy và Trung ương bị gián đoạn.


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Sáu, 2020, 09:42:16 am
Đầu tháng 4 năm 1945, Tỉnh ủy lâm thời mở hội nghị lần thứ hai và quyết định đổi tên thành “Ban thống nhất đảng bộ Quảng Trị”. Sau hội nghị tổ chức Việt Minh phát triển mạnh khắp nơi. Tháng 7-1945, khu giải phóng Triệu Phong được thành lập do “Ủy ban dân tộc giải phóng” điều hành. Noi gương Triệu Phong các nơi khác đều lần lượt thành lập “Ủy ban dân tộc giải phóng” của phủ, huyện mình. Phong trào cách mạng đang bước vào thời kỳ khẩn trương sôi nổi.

Ngày 15-8-1945, Nhật đầu hàng đồng minh không điều kiện. Bọn Nhật ở Đông Dương hoang mang dao động cực độ. Thời cơ ngàn năm có một đã đến.

Hưởng ứng lời kêu gọi “Toàn quốc tổng khởi nghĩa” của Hồ Chủ tịch và quân lệnh số một của Ủy ban tổng khởi nghĩa toàn quốc, ngày 18-8-1945, Ban thống nhất đảng bộ Quảng Trị triệu tập hội nghị đại biểu toàn tỉnh và quyết định: Thành lập Ủy ban khởi nghĩa gồm 5 đồng chí do đồng chí Trần Hữu Dực làm Chủ tịch, ra lời kêu gọi toàn dân trong tỉnh không phân biệt tôn giáo, đảng phái quyết đem hết tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải đứng lên khởi nghĩa lật đổ chính quyền bù nhìn Trần Trọng Kim, giành chính quyền về tay nhân dân. Cùng ngày, thay mặt Ủy ban khởi nghĩa, đồng chí Trần Hữu Dực về Dương Xuân giao cho đồng chí Trương Linh làm Tổng chỉ huy khởi nghĩa. Đồng chí Trương Linh đã tuyên thệ nhận nhiệm vụ. Ở các huyện cũng thành lập Ủy ban khởi nghĩa và cử những người tín nhiệm giữ chức chỉ huy.

Để biểu dương lực lượng và thị uy, ngày 22-8-1945, ba đại đội tự vệ vũ trang được nhân dân hưởng ứng đã tiến vào thị xã Quảng Trị tuần hành qua các phố hô vang khẩu hiệu: “Đánh đổ chính quyền bù nhìn”, “Ủng hộ Việt Minh”, “Thành lập chính quyền cách mạng”.

Ngày 23-8-1945, theo lệnh của Ủy ban khởi nghĩa, lực lượng vũ trang và nhân dân toàn tỉnh nổi dậy giành chính quyền. 9 giờ ngày 23-8-1945, thay mặt Ủy ban khởi nghĩa, đồng chí Trần Hữu Dực trịnh trọng tuyên bố: “Xóa bỏ chính quyền cũ, thành lập chính quyền cách mạng”.

Cùng với cả nước, nhân dân và lực lượng vũ trang Quảng Trị đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi vĩ đại của cách mạng Tháng 8.

Lịch sử nước nhà đã sang trang! Kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội đã bắt đầu trên đất nước Việt Nam.

Ngày 2-9-1945, tại vườn hoa Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng đọc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Lần đầu tiên trong lịch sử nhân dân ta từ Bắc chí Nam đứng lên làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. Nhưng thực dân Pháp với bản chất xâm lược và hiếu chiến đã trở lại xâm lược nước ta. Một lần nữa, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chủ tịch, nhân dân và lực lượng vũ trang Quảng Trị cùng cả nước tiếp tục vượt lên viết tiếp trang sử vẻ vang trong thời kỳ mới.

*
*   *

Từ rất xa xưa Quảng Trị đã là mảnh đất của Tổ quốc Việt Nam. Qua những bước thăng trầm của lịch sử, dù có bị kẻ thù nhiều lần chia cắt, nhưng ngày nay giang sơn thu về một mối, Quảng Trị vẫn là một phần máu thịt của đất nước Việt Nam.

Nằm ở phần hẹp nhất của đất nước, Quảng Trị có vị trí quan trọng về nhiều mặt, trong đó nổi bật nhất là vị trí chiến lược quân sự. Mọi kẻ thù xâm lược, mọi thế lực cát cứ luôn chia cắt vùng này để mưu đồ khống chế Đông Dương. Bởi vậy trong lịch sử thường xảy ra ở đây hai loại hình chiến tranh. Chiến tranh chia cắt của địch và chiến tranh chống chia cắt của nhân dân ta. Với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập tự do” và “Dân tộc Việt Nam là một”, chiến tranh chia cắt của kẻ thù bao giờ cũng bị đánh bại.

Từ sự hình thành dân tộc buổi đầu đến cả quá trình phát triển, trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt, chiến tranh tàn khốc... người dân Quảng Trị luôn dựa vào nhau để sống, chiến đấu, xây dựng và trưởng thành. Truyền thống đó đã tạo thành tính cộng đồng cư dân vững chắc, đoàn kết mọi dân tộc, mỗi con người trên mảnh đất đau thương mà anh dũng này. Chính vì vậy ở đây tinh thần trung kiên, bất khuất, xả thân vì nghĩa lớn, chiến đấu ngoan cường trong mọi tình huống, tinh thần khắc phục khó khăn, vươn lên trong thiên tai địch họa, đoàn kết thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, dựa vào nhau để sống và chiến đấu là những phẩm chất cao quý để người Quảng Trị cùng cả nước chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược.


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Sáu, 2020, 09:45:10 am
Chương I

VƯỢT QUA THỬ THÁCH BAN ĐẦU
(9-1945 - 9-1947)

Sau hơn 80 năm nô lệ, nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã vùng lên làm cuộc cách mạng tháng Tám thắng lợi, lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp, phát xít Nhật và triều đình nhà Nguyễn tay sai, mở ra một kỷ nguyên mới cho lịch sử nước nhà.

Nhưng với bản chất hiếu chiến và phản động, thực dân Pháp vốn chưa chịu từ bỏ âm mưu xâm lược mà bằng nhiều thủ đoạn đã trở lại xâm lược nước ta một lần nữa.

Cùng với nhân dân cả nước, nhân dân các dân tộc tỉnh Quảng Trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng lại vùng lên vượt qua những thử thách buổi đầu, tiến hành cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp xâm lược, bảo vệ và giữ vững chính quyền cách mạng, đưa cuộc kháng chiến từng bước phát triển.

I - XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ CHÍNH QUYỀN,
KHẨN TRƯƠNG CHUẨN BỊ KHÁNG CHIẾN

Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa ra đời, chính quyền cách mạng từ Trung ương đến cơ sở đã được thành lập. Giành chính quyền đã khó, song việc giữ vững chính quyền cách mạng trong thời kỳ non trẻ còn khó hơn nhiều. Vừa mới ra đời, Nhà nước dân chủ nhân dân đã phải đương đầu với những khó khăn thử thách cực kỳ nghiêm trọng.

Ở miền Bắc hơn 20 vạn quân Tưởng lấy danh nghĩa quân đồng minh kéo sang tước khí giới quân Nhật, lợi dụng thời cơ đó, bọn phản động “Việt quốc”, “Việt cách” phối hợp với đạo quân này ráo riết hoạt động điên cuồng chống phá cách mạng, âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân, thành lập chính quyền phản động.

Ở miền Nam, cũng dưới danh nghĩa quân Đồng Minh, quân Anh kéo vào giải giáp quân Nhật. Núp bóng quân Anh, bọn thực dân Pháp đã trở lại gây chiến Nam bộ.

Ở phía tây biên giới Việt - Lào, tàn quân Pháp đã co cụm lại và chiếm giữ những vị trí quan trọng, cho quân nhảy dù, móc nối cơ sở phản động nội địa chuẩn bị trở lại xâm lược nước ta.

Ở Quảng Trị phát xít Nhật tuy đã đầu hàng đồng minh nhưng lực lượng của chúng chiếm đóng còn khá đông với đầy đủ trang bị vũ khí hiện đại.

Chưa bao giờ trên đất nước ta lại có nhiều kẻ thù hung bạo đến như vậy. Bọn đế quốc thực dân tuy có nhiều mâu thuẫn về quyền lợi kinh tế nhưng đều có chung bản chất xâm lược, hiếu chiến, tàn bạo, đều nhằm phá hoại cách mạng Việt Nam và tạo điều kiện cho thực dân Pháp trở lại xâm lược Đông Dương.

Vận mệnh đất nước như ngàn cân treo sợi tóc. Bọn đế quốc thực dân và bè lũ tay sai bán nước lợi dụng cơ hội ráo riết hoạt động chống phá cách mạng. Trong khi đó, nước Cộng hòa non trẻ vừa mới ra đời. Nền kinh tế, tài chính bị kiệt quệ. Nạn đói khủng khiếp để lại hậu quả rất nặng nề, hơn 2 triệu người chết đói, xóm làng xơ xác, tiêu điều. Tiếp theo đó lại bị lụt bão, hạn hán dồn dập làm cho nhiều nơi ruộng đất bị bỏ hoang, sản xuất bị đình trệ. Hàng triệu người không có công ăn việc làm. Sau bão lụt, các loại bệnh tật, dịch tả, đậu mùa, dịch gia súc hoành hành khắp nơi. Ngân quỹ từ Trung ương đến các tỉnh hầu như trống rỗng. Di sản văn hóa xã hội lạc hậu do chế độ cũ để lại còn khá nặng nề. Hơn 95% nhân dân bị mù chữ. Các tệ nạn xã hội như rượu chè, cờ bạc hút xách, cầu cúng, bói toán, ma chay... vẫn còn phổ biến. Hệ thống tổ chức Đảng ở nhiều nơi chưa được củng cố. Lực lượng vũ trang còn quá non yếu, thiếu cán bộ, thiếu vũ khí.

Trong hoàn cảnh khó khăn chung của đất nước, riêng Quảng Trị còn có mặt khó khăn phức tạp hơn.

Do địa hình nhỏ hẹp lại có vị trí quan trọng về mặt chiến lược của khu vực Bình Trị - Thiên nên kẻ thù xâm lược đã đưa một lực lượng lớn vào vùng này nhằm “Quyết tâm chiếm giữ chặt cái hành lang Thái Phiên - Thuận Hóa - Đông Hà - Lao Bảo - Savằnnakhệt, bám chặt con đường số 9 với âm mưu chia cắt Việt Nam ra làm đôi, dùng nơi đây làm địa bàn cho bọn bù nhìn toàn quốc dựng lại ngai vàng mục nát đã bị nhân dân ta đạp đổ. Chúng quyết bẻ gãy đoạn nhỏ hẹp, mỏng yếu nhất của chiếc đòn gánh đánh rơi hai thúng thóc Bắc - Nam(1)".


(1) Quảng Trị 60 năm những chặng đường - Sở VHTT Quảng Trị xuất bản năm 1990


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Sáu, 2020, 09:46:18 am
Trước tình hình trên, nhiệm vụ xây dựng củng cố chính quyền cách mạng vượt qua thời kỳ trứng nước để tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng đi lên là vô cùng quan trọng và cấp thiết.

Ngày 10 tháng 9 năm 1945, hội nghị cán bộ tỉnh Quảng Trị họp bàn việc củng cố xây dựng chính quyền các cấp, xây dựng lực lượng vũ trang và bầu Tỉnh ủy lâm thời. Đồng chí Đặng Thí được cử làm Bí thư Tỉnh ủy.

Sau hội nghị này các cấp bộ Đảng từ tỉnh đến cơ sở được củng cố, xây dựng và kiện toàn. Các “Ủy ban khởi nghĩa” các cấp được chuyển thành “Ủy ban nhân dân cách mạng” lần lượt ra đời.

Cùng với công tác xây dựng Đảng, củng cố bộ máy chính quyền các cấp, công tác xây dựng, củng cố Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể cứu quốc được coi trọng.

Các hội “Công nhân cứu quốc”, “Nông dân cứu quốc”, “Phụ nữ, thanh niên cứu quốc”... phát triển mạnh mẽ đã thu hút rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân vào đội ngũ, động viên được mọi công dân phát huy tinh thần làm chủ đất nước, hãng hái tham gia vào công việc bảo vệ chính quyền cách mạng và xây dựng chế độ mới.

Một nhiệm vụ quan trọng, cấp bách được đặt lên hàng đầu là khắc phục nạn đói và ổn định đời sống nhân dân. Chính quyền các cấp đã thi hành một loạt biện pháp quan trọng như hủy bỏ và miễn giảm các loại thuế vô lý do thực dân phong kiến trước đây đặt ra, tịch thu ruộng đất của thực dân Pháp và bọn Việt gian phản động chia cho dân cầy nghèo; thành lập cơ quan cứu tế xã hội của tỉnh, huyện; áp dụng luật lao động ngày làm 8 giờ và thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội cho công nhân.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Chính phủ, noi theo gương sáng của Hồ Chủ tịch “Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, một tháng nhịn 3 bữa, đem gạo đó để cứu dân nghèo”, cả Quảng Trị đã tổ chức phong trào “nhường cơm sẻ áo”, “hũ gạo tiết kiệm”, “ngày đồng tâm” bữa đồng tâm nhịn ăn... góp hơn 10 tấn gạo giúp đồng bào vùng bị lụt và đói.

Từ ngày 17 đến ngày 24-9-1945, hưởng ứng “Tuần lễ vàng” do Chính phủ chủ trương để xây dựng “Quỹ độc lập”. nhân dân toàn tỉnh đã dấy lên phong trào đóng góp tiền của, vàng bạc... ủng hộ Chính phủ, trong đó có nhiều bà mẹ, nhiều chị em phụ nữ ủng hộ cả những tư trang và vật kỷ niệm của mình. Là một tỉnh nhỏ, nghèo nhưng sau một tuần phát động cũng quyên góp khoảng 4kg vàng mười cho “quỹ độc lập” của Chính phủ.

Thực hiện khẩu hiệu: “Tiền tuyến diệt xâm lăng, hậu phương trừ giặc dốt”, cuộc vận động cải cách văn hóa xã hội xây dựng, nếp sống mới cũng được coi trọng thu hút mọi tầng lớp nhân dân trong tỉnh. Chương trình giáo dục nô dịch của thực dân phong kiến bị bãi bỏ và thay thế bằng chương trình giáo dục cách mạng. Hệ thống nhà trường từ tỉnh đến huyện, xã được thành lập. Các lớp bình dân học vụ được tổ chức khắp mọi nơi. Già, trẻ, gái, trai đều nô nức thi đua đi học với tinh thần “Thêm một người đi học là thêm một viên đạn bắn vào quân thù”, “thêm một viên gạch xây đài độc lập của nước nhà”.

Cuộc vận động bài trừ giặc dốt ở tỉnh ta đã trở thành phong trào cải cách xã hội, xây dựng nếp sống mới cũng được đẩy mạnh. Những tục lệ mê tín dị đoan, ma chay, cưới hỏi... tốn kém giảm dần. Các tệ nạn xã hội như: Cờ bạc, rượu chè bê tha, cầu cúng, bói toán... được bài trừ. Phong trào xây dựng làng xã kiểu mới, phong trào thể dục thể thao, văn hóa văn nghệ... được thanh thiếu niên tham gia tích cực.

Đẩy lùi được giặc đói, giặc dốt là một trong những thắng lợi bước đầu của nhân dân ta dưới chính quyền cách mạng non trẻ. Thắng lợi đó là nguồn động viên, cổ vũ, tạo ra sức mạnh mới cho toàn Đảng, toàn dân ta vững bước tiến lên.

Ngày 6 tháng 1 năm 1946, lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân ta tổ chức phổ thông đầu phiếu bầu ra Quốc hội của mình. Trong toàn tỉnh Quảng Trị từ thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi đến miền ngược, không phân biệt già, trẻ, gái, trai từ 18 tuổi trở lên tưng bừng, phấn khởi thực hiện nghĩa vụ công dân của một đất nước độc lập, tự do, tham gia tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tiếp theo thắng lợi bầu Quốc hội, đến cuối tháng 2, nhân dân ta lại nô nức đi bỏ phiếu bầu Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp. Chính quyền cách mạng do nhân dân bầu ra, đã động viên mọi tầng lớp nhân dân phát huy tinh thần làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình, hăng hái tham gia vào công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước.


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Sáu, 2020, 09:48:29 am
Nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò đấu tranh võ trang cách mạng, ngay từ năm 1941 trở đi, một số nơi ở Quảng Trị đã hình thành các đội tự vệ đỏ. Đến năm 1945, hầu khắp các xã đều có những đội tự vệ với mọi thứ vũ khí tự tạo lần lượt ra đời. Hàng ngàn nông dân, thợ thủ công, học sinh yêu nước là những người tiền thân cho lực lượng võ trang cách mạng. Nhờ vậy khi cướp chính quyền xong, Tỉnh ủy đã bắt tay ngay vào việc củng cố, tổ chức lực lượng vũ trang nhân dân. Từ đây ngoài lực lượng tự vệ làm nòng cốt, một số sĩ quan, hạ sĩ quan, binh lính yêu nước trong chính quyền cũ gia nhập vào lực lượng vũ trang có sẵn này tạo thành những đơn vị chủ lực đầu tiên của tỉnh.

Cùng với các nhiệm vụ xây dựng chính quyền mới, phục hồi kinh tế, cải cách xã hội v.v... Tỉnh ủy đã ra các nghị quyết, chỉ thị xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang.

Thực hiện nghị quyết đó, ngày 19 tháng 9 năm 1945, trên cơ sở các đội tự vệ, chi đội Thiện Thuật - chi đội Giải phóng quân đầu tiên của lực lượng vũ trang tỉnh được thành lập tại thị xã Quảng Trị. Quân số ban đầu có khoảng 1.500 đội viên do ông Quản Xuyên làm Chi đội trưởng. Ba ngày sau, Tỉnh ủy điều đồng chí Nguyễn Đăng Trình từ Gio Linh vào thay ông Quản Xuyên làm Chi đội trưởng(1). Hầu hết cán bộ chiến sĩ đều được lựa chọn từ các đơn vị cơ sở. Một số cựu binh sĩ khố xanh của Pháp có tinh thần yêu nước cũng tình nguyện tham gia. Buổi đầu một số quản, cai, đội lính khố xanh đó là một trong số những cán bộ chỉ huy quân sự đầu tiên của Chi đội. Việc nuôi dưỡng và trang bị do tỉnh đài thọ, phần lớn dựa vào sự đóng góp của nhân dân và một phần do đơn vị tự túc. Đây là đơn vị chủ lực đầu tiên của tỉnh. Tất cả mọi hoạt động của đơn vị đều đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh ủy và chỉ đạo của Ủy ban hành chính tỉnh.

Bên cạnh đơn vị chủ lực, tỉnh còn thành lập Ban tự vệ chiến đấu. Đồng chí Hồ Tri Tân (Hồ Tỵ) được cử làm trưởng ban tự vệ tỉnh. Đồng chí Trần Hữu Viện (Lê Kim Quế) được cử làm phó ban, đồng chí Trương Công Huỳnh làm chính trị ủy viên. Ở huyện cũng thành lập Ban tự vệ cấp huyện. Các ban tự vệ này có nhiệm vụ điều hành các hoạt động và chỉ huy chiến đấu các lực lượng dân quân tự vệ của địa phương mình và đây cũng là tiền thân của các Ban chỉ huy tỉnh đội, huyện đội sau này. Các huyện đều tổ chức một trung đội dân quân thường trực do địa phương nuôi dưỡng.

Để tăng cường công tác lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang, Tỉnh ủy đã cử một số cán bộ có khả năng công tác quân sự sang làm cán bộ chỉ huy và cán bộ chính trị ở các đơn vị bộ đội. Từ cấp trung đội trở lên đều có chính trị viên.

Xứ ủy đã cấp tốc mở lớp đào tạo cán bộ đại đội, trung đội trong vòng 2 tháng nhằm nâng cao trình độ năng lực về công tác lãnh đạo và chỉ huy quân sự. Tỉnh cũng mở trường quân sự đặt ở Nhan Biều (Triệu Phong) đào tạo cán bộ tiểu đội trưởng để bổ sung cho các đơn vị. Chương trình học tập ngoài các bài chính trị còn được học về kỹ thuật, chiến thuật phân đội nhỏ, võ thuật... Ngoài trường của tỉnh, ở một số huyện, xã cũng tổ chức trường của địa phương mình như Cam Thanh, Cam Tuyền (Cam Lộ) Gio Linh, Hải Lăng, Triệu Phong, mời võ sư về dạy cho lực lượng tự vệ. Nhờ vậy chỉ sau một thời gian ngắn từ những người nông dân quen cầm cày cuốc nay đã biết sử dụng một số vũ khí thông thường và tổ chức chỉ huy đánh địch. Các khóa học ngắn hạn này có cả một số cán bộ Đảng, chính quyền cấp tỉnh, huyện tham gia học tập nhằm vận dụng những tri thức quân sự cho lãnh đạo, chỉ đạo. Đây là nguồn cán bộ đầu tiên của lực lượng vũ trang tỉnh mà sau này đã phát huy tác dụng tốt làm nòng cốt cho phong trào toàn dân đánh giặc suốt 9 năm trường kỳ kháng chiến.

Việc huấn luyện quân sự cho bộ đội và dân quân tự vệ trong toàn tỉnh được coi trọng. Phong trào quân sự hóa toàn dân được mọi người tham gia sôi nổi. Ngay từ những ngày đầu mới thành lập, việc trang bị vũ khí cho lực lượng vũ trang cũng là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn phức tạp. Tỉnh ủy và Ủy ban hành chính tỉnh đã phát động cuộc thi đua “cướp súng giặc giết giặc”, thu góp vũ khí và quyên tiền mua súng đạn cung cấp cho lực lượng vũ trang, mở xưởng sản xuất vũ khí của tỉnh ở Như Lệ, đồng thời duy trì các lò rèn có ở khắp nơi trong tỉnh để sửa chữa rèn đúc các loại vũ khí thô sơ.

Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng và Chính phủ, trực tiếp là Tỉnh ủy Quảng Trị sau một thời gian ngắn, quân và dân Quảng Trị đã vượt qua mọi thử thách buổi đầu, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ diệt giặc đói, giặc dốt, ổn định đời sống nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang bảo vệ chính quyền, đưa cách mạng tiến lên. Thắng lợi đó là nguồn động viên cổ vũ mọi tầng lớp nhân dân và lực lượng vũ trang tỉnh vững bước tiến lên, tạo điều kiện đối phó với mọi âm mưu hành động phá hoại, xâm lược của kẻ thù.


(1) Theo biên chế chi đội lúc này tương đương Trung đoàn, đại đội tương đương tiểu đoàn, trung đội tương tương đại đội phân đội tương đương trung đội


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Sáu, 2020, 02:46:51 pm
II - VƯỢT QUA THỬ THÁCH BAN ĐẦU

Ngày 23 tháng 9 năm 1945 được sự giúp đỡ của quân Anh, thực dân Pháp nổ súng trở lại xâm lược Nam bộ. Nhân dân Nam bộ một lần nữa đứng lên cầm súng chiến đấu. Trước tình hình đó, Chính phủ ta đã ra lời kêu gọi nhân dân cả nước ủng hộ đồng bào Nam bộ kháng chiến chống thực dân Pháp.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Chính phủ, nhân dân Quảng Trị rầm rộ xuống đường mít tinh, biểu tình phản đối hành động xâm lược của thực dân Pháp. Cao hơn nữa hàng ngàn nam nữ thanh niên Quảng Trị tình nguyện xung phong, sát cánh cùng, nhân dân Nam bộ kháng chiến.

Ngày 26 tháng 9 năm 1945, nhân dân Quảng Trị lưu luyến đưa tiễn 115 người con yêu quý của mình bổ sung vào đoàn quân “Nam tiến”. Đội quân tình nguyên của tỉnh nhà được vinh dự vào chiến đấu ở chiến trường cực nam Trung bộ, góp phần chia lửa cùng đồng bào và chiến sĩ Nam bộ ruột thịt.

Trên địa bàn tỉnh nhà, sau khi Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945), một số tàn binh Pháp chạy khỏi tỉnh lỵ và các đồn binh lên ẩn náu ở vùng rừng núi biên giới Việt-Lào, bám các trục đường giao thông quan trọng. Đặc hiệt, ở đường số 9 có khoảng một tiểu đoàn bộ binh cơ giới thuộc lữ đoàn bộ binh thuộc địa trung Đông Dương do tên đại tá Tuốc Canh (Tourquin) chỉ huy, chiếm đóng vùng ngoại vi Sêpôn, Mường Phìn, Phà Lan và kéo dài tới Căm Cớt, Lạc Xao. Với ý đồ trở lại xâm lược nước ta, cuối tháng 10 năm 1945, bọn tàn binh này được sự chi viện của quân dù đã đánh vào miền tây Quảng Trị theo trục đường số 9 chiếm Lao Bảo, Khe Sanh, nhằm hiến nơi đây làm bàn đạp để tấn công đánh chiếm miền xuôi.

Để kịp thời ngăn chặn từ xa âm mưu của địch, Bộ chỉ huy chiến khu 4 và Tỉnh ủy Quảng Trị đã gấp rút tổ chức một lực lượng của Chi đội Thiện Thuật (cùng với một bộ phận của chi đội Lê Trực (Quảng Bình) lên phía tây đường 9 chiến đấu. Cùng sát cánh chiến đấu với quân ta còn có lực lượng yêu nước Lào tỉnh Savằnnakhệt do các đồng chí Thao Ô, Nu Hắc chỉ huy, hợp thành liên quân Việt-Lào. Kể từ đây nền móng tình đoàn kết chiến đấu, hữu nghị đặc biệt của lực lượng vũ trang và nhân dân hai tỉnh Quảng Trị - Savằnnakhệt đã được xác lập.

Trong những ngày tham gia chiến đấu ở mặt trận phía tây đường 9, bộ đội ta luôn luôn được các đoàn đại biểu thay mặt chính quyền, đoàn thể từ hậu phương lên thăm hỏi, động viên cán bộ chiến sĩ. Đoàn đại biểu Phụ nữ Trung bộ do bà Lê Thị Quế làm trưởng đoàn, đoàn đại biểu phụ nữ tỉnh Quảng Trị do bà Lê Thị Diệu Muội làm trưởng đoàn mang nhiều quà bánh của nhân dân Trị-Thiên-Huế ra tận chiến hào trao tận tay chiến sĩ.

Đầu tháng 12 năm 1945, quân và dân ta đã anh dũng đánh bật địch ra khỏi Khe Sanh, Lao Bảo. Tiếp đó, bộ đội ta phối hợp với lực lượng vũ trang yêu nước của tỉnh Savằnnakhệt tập kích thị trấn Sê Pôn, diệt và bắt 53 tên Pháp, thu toàn bộ vũ khí và phương tiện chiến tranh của chúng. Trên đà chiến thắng, lực lượng liên quân Việt-Lào liên tiếp tiến công địch ở Mường Phin, Huội Cay, Thà Khống (trên trục đường 9) gây cho địch nhiều thiệt hại.

Chiến thắng Sê Pôn và một số vị trí ở phía tây đường 9 là chiến công đầu xuất sắc của các lực lượng vũ trang Quảng Trị phối hợp chiến đấu với lực lượng yêu nước Lào, tiêu diệt được một bộ phận sinh lực địch, đánh bại một bước âm mưu của thực dân Pháp chiếm đóng miền tây đường 9 làm bàn đạp tiến công đánh chiếm Đông Hà, Quảng Trị, hòng chia cắt đất nước ta.

Cùng với những hoạt động quân sự, bộ đội ta đã phối hợp chặt chẽ với các bạn Lào đẩy mạnh công tác vũ trang tuyên truyền xây dựng lực lượng, xây dựng cơ sở và chính quyền cách mạng ở một số nơi trong tỉnh Savằnakhệt thành những căn cứ kháng chiến tạo điều kiện cho cách mạng Lào phát triển thuận lợi.

Bên cạnh những nhiệm vụ nặng nề và cấp bách như xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân, liên minh chiến đấu với quân và dân Trung Lào chống Pháp ở miền tây, quân và dân Quảng Trị còn phải lo đối phó với một bộ phận quân Tưởng vào giải giáp quân Nhật đóng ở Đông Hà và thị xã Quảng Trị. Đội quân ô hợp và đói rách này rất ngang ngược đã gây ra biết bao tội ác đối với đồng bào ta. Chúng đòi những yêu sách phi lý, ức hiếp nhân dân cướp giật, phá phách, vơ vét bất kể thứ gì. Bọn tay sai “Việt Quốc”, “Việt Cách” núp dưới bóng quân Tưởng ráo riết, hoạt động nhằm lật, đổ chính quyền cách mạng. Lợi dụng cơ hội này bọn tay sai quân Tưởng đã tổ chức được một số “chi bộ” ở huyện và tỉnh nhưng không dám hoạt động công khai và chưa có ảnh hưởng gì trong nhân dân.


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Sáu, 2020, 02:48:37 pm
Để đối phó với âm mưu và hành động của quân Tưởng và bè lũ tay sai của chúng, ta tổ chức thành lập “Ban Hoa-Việt thân thiện”, giúp đỡ chúng về lương thực, thực phẩm, đồng thời tổ chức những cuộc mít tinh, biểu tình, biểu dương sức mạnh của quần chúng, gây thanh thế chính trị ở những nơi có quân Tưởng đóng, hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại do chúng gây ra.

Do tình hình Trung Quốc gặp nhiều khó khăn, nội bộ mâu thuẫn sâu sắc, nội chiến lan rộng, mặt khác sau hơn 6 tháng, quân Tưởng sang Việt Nam kéo theo cả bọn tay sai “Việt Quốc”, “Việt Cách” nhưng không làm được trò trống gì, ngày 28-2-1946 Tưởng Giới Thạch buộc phải ký với Chính phủ Pháp hiệp ước Trùng Khánh, bàn giao miền Bắc Việt Nam cho Pháp.

Cuối tháng 4 năm 1946, toàn bộ quân Tưởng đã rút hết khỏi các địa phương khu 4. Như vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, cùng với quân và dân khu 4, quân và dân Quảng Trị đã bình tĩnh, kiên quyết, khôn khéo đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao loại trừ được kẻ thù rất nguy hiểm là quân Tưởng và bọn tay sai phản động, bảo vệ được chính quyền cách mạng non trẻ.

Ở miền Nam được Mỹ bật đèn xanh, tháng 1 năm 1946, Chính phủ Anh bàn giao miền Nam Đông Dương cho Pháp. Trong tình hình đất nước một lúc có nhiều kẻ thù xâm lược, để có thêm thì giờ chuẩn bị lực lượng đối phó với thực dân Pháp và loại bớt những kẻ thù nguy hiểm khác, ngày 6-3-1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ ta đã ký với Xanh-tơ-ni, đại diện Chính phủ Pháp bản hiệp định sơ bộ. Với hiệp định này, Chính phủ Pháp phải công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do nằm trong khối liên hiệp Pháp, có chính phủ, quân đội và tài chính riêng.

Ngày 9-3-1946, Ban Thường vụ Trung ương ra chỉ thị lịch sử: “Hòa để tiến”. Bản chỉ thị vạch rõ hòa với Pháp là nhằm “Bảo toàn thực lực giành lấy giây phút nghỉ ngơi và củng cố vị trí đã chiếm được, chấn chỉnh đội ngũ cách mạng, bổ sung cán bộ, bồi dưỡng và củng cố phong trào... chuẩn bị đầy đủ nhằm cơ hội tốt tiến lên giai đoạn cách mạng mới(1).

Tháng 6-1946, Đại hội đại biểu tỉnh Quảng Trị họp, tập trung thảo luận chỉ thị “Hòa để tiến” của Ban thường vụ Trung ương Đảng, quán triệt 4 nhiệm vụ của bản chỉ thị và đi sâu bàn biện pháp duy trì và phát triển lực lượng quân sự. Đại hội đã bầu ra Ban chấp hành đảng bộ tỉnh gồm có 11 Ủy viên chính thức. Đồng chí Đặng Thí được cử Bí thư Tỉnh ủy.

Thực hiện nghị quyết của đại hội, Ủy ban phòng thủ các cấp được thành lập chuyên lo việc tổ chức dân quân tự vệ chiến đấu và bố phòng kháng chiến. Chi đội Thiện Thuật được xây dựng tương đối hoàn chỉnh và đổi tên thành Trung đoàn Thiện Thuật. Ở mỗi huyện cũng xây dựng được từ một đại đội đến một tiểu đoàn lực lượng vũ trang, ở các xã đều có một đại đội hoặc trung đội dân quân tự vệ trực chiến.

Thi hành hiệp định sơ bộ, ở Quảng Trị thành lập Ban liên kiểm Việt-Pháp và tổ chức lực lượng tiếp phòng lấy quân của tiểu đoàn 15 gồm những chiến sĩ đã được lựa chọn kỹ, có sức khỏe tốt và trình độ khá do đồng chí Đoàn La chỉ huy, đóng ở Đông Hà và thị xã Quảng Trị. Nhiệm vụ của Ban liên kiểm Việt-Pháp Quảng Trị và đơn vị quân tiếp phòng là bảo vệ trật tự trị an, bảo vệ đường sắt và cung cấp lương thực, thực phẩm cho quân Tưởng đồng thời giám sát chúng. Thực hiện nhiệm vụ đó ta bố trí một đại đội đóng ở chợ Đông Hà, một đại đội ở nhà ga, một đại đội ở thị xã Quảng Trị và một đại đội cơ động trên tuyến đường sắt. Quân số các đại đội đông nhưng vũ khí rất ít, một đại đội chỉ có vài khẩu súng. Quân ta phải lập mẹo đẽo súng gỗ sơn đen y như thật trang bị cho chiến sĩ, thường chờ đến chập tối mới hành quân làm nhiệm vụ.

Ta nghiêm chỉnh thi hành hiệp định sơ bộ đồng thời cũng tranh thủ thời gian hòa hoãn để củng cố, xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân. Trái lại thực dân Pháp với bản chất hiếu chiến và xâm lược, ngày càng vi phạm trắng trợn việc thi hành Hiệp định trên phạm vi cả nước. Ở miền Nam chúng vẫn tiếp tục các cuộc hành quân lấn chiếm, ở miền Bắc chúng liên tục hoạt động khiêu khích, lấn ra nhiều vùng không thuộc phạm vi qui định.

Ở phía Tây Quảng Trị, thực dân Pháp đã đem quân áp sát biên giới và tăng cường lực lượng chốt giữ những vị trí quan trọng hai bên trục đường 9. Ở phía đông chúng cho tàu thủy, ca nô xâm nhập một số cửa sông để thăm dò và quấy rối khiêu khích. Trong nội bộ bọn gián điệp tay sai Pháp tăng cường hoạt động trên nhiều lĩnh vực, với những hình thức rất thâm độc và xảo quyệt. Chúng tuyên truyền xuyên tạc nội dung bản Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 để chia rẽ giữa Đảng, Chính phủ và nhân dân. Chúng phá hoại về kinh tế, tài chính, làm cho tình hình trật tự trị an mất ổn định...


(1) Văn kiện quân sự Đảng - nhà xuất bản quân đội nhân dân H.1976. Trang 39


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Sáu, 2020, 02:49:20 pm
Trên mặt trận ngoại giao thực dân Pháp cố tình phá hoại hội nghị Phông-ten-nơ-bờ-lô (Fontaineblcau) (6-7-1946) làm cho hội nghị đi đến bế tắc.

Trước tình hình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với Chính phủ Pháp bản “Tạm ước 14 tháng 9 năm 1946” nhằm kéo dài thời gian hòa hoãn để có thêm điều kiện xây dựng lực lượng, chủ động chuẩn bị kháng chiến lâu dài.

Những hành động khiêu khích, lấn chiếm của bọn thực dân Pháp làm cho tình hình cả nước cũng như Quảng Trị hết sức căng thẳng. Nhân dân khắp nơi sôi sục căm thù, tổ chức biểu tình phản đối thực dân Pháp phá hoại Hiệp định sơ bộ và Tạm ước Việt-Pháp; yêu cầu chúng phải chấp hành nghiêm chỉnh những điều khoản đã được ký kết.

Để chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến lâu dài, các địa phương trong tỉnh tiếp tục đẩy mạnh phong trào tăng gia sản xuất, khai hoang phục hóa mở rộng diện tích canh tác, phát triển các ngành nghề, quyết tâm diệt giặc đói và giặc dốt. Phong trào xóa nạn mù chữ tiếp tục được phát triển rộng rãi, thu hút nhiều đối tượng nhân dân tham gia tích cực. Các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao diễn ra sôi nổi có tác dụng động viên cổ vũ kịp thời khí thế cách mạng quần chúng.

Chính quyền dân chủ nhân dân được củng cố, khối đoàn kết toàn dân được mở rộng. Các đoàn thể quần chúng hoạt động mạnh mẽ và có hiệu quả trên tất cả các mặt công tác.

Theo sáng kiến của bà Lê Thị Quế, Ủy viên Ban chấp hành hội phụ nữ cứu quốc Trung bộ, tháng 6 năm 1946 “Hội mẹ chiến sĩ” (gồm những phụ nữ từ 40 tuổi trở lên) được thành lập. Đây là tổ chức của những người mẹ, người chị có tấm lòng cưu mang, giúp đỡ bộ đội trong mọi hoàn cảnh. Tỉnh Quảng Trị là nơi tổ chức ra Chi hội đầu tiên của cả nước.

Cùng với các mặt công tác khác, công tác an ninh bảo vệ, chống địch nội địa, làm trong sạch địa bàn, trong sạch tổ chức cũng được cấp ủy và chính quyền các cấp đặc biệt chú trọng. Lực lượng công an của tỉnh được tăng cường và mở rộng phạm vi hoạt động về tận các cơ sở, kịp thời ngăn chặn các hành động chống phá cách mạng của bọn phản động tay sai thực dân Pháp.

Thi hành sắc lệnh số 71 ngày 22 tháng 5 năm 1946 của Chính phủ về ấn định quy tắc Quân đội quốc gia Việt Nam, lực lượng vũ trang của tỉnh được kiện toàn về tổ chức.

Trung đoàn Thiện Thuật theo tổ chức mới biên chế thành 3 tiểu đoàn: 13, 14, 15 và có các đại đội hoặc trung đội trực thuộc như công binh, thông tin, trinh sát... do đồng chí Tùng Lâm (Nguyễn Đăng Trình) làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Trần Sâm làm chính trị ủy viên.

Lực lượng dân quân tự vệ và du kích do tỉnh đội, huyện đội xã đội tổ chức và chỉ huy.

Trước yêu cầu nhiệm vụ quân sự, thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, ngày 1 tháng 5 năm 1946, đại đội Lê Hồng Phong - Đơn vị dân quân tự vệ tập trung của tỉnh được thành lập tại làng Tân Phổ, xã Phong An, huyện Triệu Phong do đồng chí Phạm Thiệu làm Đại đội trưởng, đồng chí Nguyễn Vức làm Chính trị ủy viên.

Đại đội Lê Hồng Phong là tiền thân của bộ đội địa phương Quảng Trị. Lực lượng ban đầu có 80 đội viên được lựa chọn từ các đội du kích tập trung của hai huyện Hải Lăng và Triệu Phong gồm những người có sức khỏe tốt, có tinh thần yêu nước, chiến đấu dũng cảm.

Lúc này cuộc chiến đấu giữa ta và địch ở biên giới Việt-Lào tạm ngừng. Theo Hiệp định sơ bộ ta cho phép một tiểu đoàn quân Pháp từ biên giới Việt-Lào qua Đông Hà vào Huế. Do đó nhiệm vụ chính của Đại đội Lê Hồng Phong là vừa xây dựng lực lượng, vừa hướng dẫn dìu dắt dân quân tự vệ các huyện và xã vừa sản xuất tự túc, đồng thời luôn luôn sẵn sàng chiến đấu khi quân Pháp phản bội Hiệp định, gây chiến tranh.

Để tăng cường trang bị vũ khí cho bộ đội và dân quân tự vệ, xưởng quân giới “Đội Quyên” của tỉnh được củng cố và xây dựng lớn hơn. Lúc đầu xưởng luôn chuyên lo rèn giáo, mác, mã tấu... chế tạo được lựu đạn, mìn đơn giản (mảnh chai, kim khí trộn với thuốc nổ lèn chặt trong loong sữa bò, gắn kíp) dùng để diệt bộ binh địch. Về sau làm được lựu đạn thổ, mìn muỗi, sửa chữa được các loại súng thông thường, mìn dứa (hình quả dứa) bom ba càng... Các hoạt động tích cực và khẩn trương của xưởng quân giới đáp ứng một phần yêu cầu cho chiến đấu của các lực lượng vũ trang tỉnh. Đến cuối tháng 9 năm 1946, mỗi tháng xưởng quân giới đã sản xuất được hàng trăm quả lựu đạn, giáo mác, dao găm, kiếm, sửa chữa hàng trăm vũ khí thông thường. Nhiều công nhân làm việc tận tụy thầm lặng, dũng cảm quên mình vì nhiệm vụ, tiêu biểu là đồng chí Trần Hòa bị thương cụt tay trong khi thử lựu đạn, sau khi điều trị lành vẫn không rời vị trí công tác.


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Sáu, 2020, 02:51:23 pm
Mặc dù điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn, thiếu thốn nhưng đảng bộ các cấp và nhân dân trong tỉnh vẫn giành cho lực lượng vũ trang sự quan tâm đặc biệt cả vật chất lẫn tinh thần. Hưởng ứng phong trào “Mùa đông binh sĩ” nhân dân các địa phương trong tỉnh, đặc biệt là “hội mẹ chiến sĩ” đã hăng hái nhiệt tình đóng góp tiền bạc, cải cải giúp đỡ cán bộ, chiến sĩ và gia đình quân nhân neo đơn túng thiếu, trước hết là những chiến sĩ ở tiền tuyến, biên giới miên tây. Nhiều “Quán quân nhân” được tổ chức để giúp đỡ bộ đội ăn nghỉ trên đường đi công tác...

Những hành động thiết thực đó là nguồn động viên, cổ vũ lớn lao đối với lực lượng vũ trang trong hoàn cảnh thiếu thốn trăm bề của những ngày đầu kháng chiến.

Càng vào những tháng cuối năm 1946, tình hình trong nước càng hết sức căng thẳng. Thực dân Pháp ngày càng lộ rõ bản chất xâm lược, trắng trợn vi phạm các điều khoản đã được ký kết, tiếp tục mở rộng chiến tranh ở Việt Nam. Quân đội Pháp lấn chiếm nhiều nơi ở miền Bắc, tăng cường khiêu khích ở Hà Nội, đổ quân trái phép lên Đà Nẵng, điều quân từ Lào tăng cường các vị trí của chúng ở miền tây khu 4, nhất là ở vùng đường 9, đưa thêm quân từ Pháp qua Đông Dương.

Ngày 19 tháng 10 năm 1946, hội nghị quân sự toàn quốc dưới sự chủ tọa của đồng chí Trường Chinh đã nhận định: “Nhất định không sớm thì muộn, Pháp sẽ đánh mình, và mình nhất định cũng phải đánh Pháp” đồng thời hội nghị cũng quyết định những biện pháp khẩn cấp chuẩn bị kháng chiến.

Hội nghị đã quyết định giải thể Ủy ban phòng thủ các cấp và lập Ủy ban kháng chiến từ xã đến tỉnh; gấp rút xây dựng chiến khu, củng cố lực lượng vũ trang, rèn đúc và sửa chữa các loại vũ khí thông thường trang bị cho dân quân tự vệ, thực hiện chủ trương quân sự hóa toàn dân, tăng cường phòng thủ ở vùng biên giới và bờ biển, nghiêm trị bọn phản động tay sai giặc Pháp.

Sau những hành động lấn chiếm ở Hải Phòng và Lạng Sơn liên tiếp trong các ngày từ 15 đến 19 tháng 12 năm 1946, thực dân Pháp liên tục nổ súng, ném lựu đạn tàn sát đồng bào ta ở Thủ đô. Đặc biệt nghiêm trọng là chúng cho quân đánh chiếm Bộ Tài chính và Bộ Giao thông công chính, gây ra vụ thảm sát ở Hàng Bún... Láo xược hơn nữa chúng còn gửi “tối hậu thư” đòi tước khí giới của bộ đội, dân quân tự vệ và công an, đồng thời đe dọa: “Đến sáng 20 tháng 12 năm 1946, những điều đó không được chấp nhận thì quân Pháp sẽ chuyển sang hành động"(3).

Trước tình hình nghiêm trọng đó, hai ngày 18 và 19 tháng 12 năm 1946, Thường vụ Trung ương Đảng họp mở rộng tại làng Vạn Phúc (Hà Đông) dưới sự chủ tọa của Hồ Chủ tịch. Sau khi đánh giá tình hình mọi mặt, Thường vụ Trung ương Đảng nhận định: Âm mưu của Pháp mở rộng chiến tranh nay đã chuyển sang một bước mới, thời kỳ hòa hoãn đã qua, khả năng hòa bình không còn nữa. Hội nghị quyết định phát động nhân dân cả nước kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Trưa 19 tháng 12 năm 1946, Thường vụ Trung ương Đảng điện cho các chiến khu và Tỉnh ủy: “Giặc Pháp đã hạ “tối hậu thư” đòi tước khí giới của quân đội, tự vệ, công an ta. Chính phủ đã bác bỏ “tối hậu thư” ấy. Như vậy chỉ trong vòng 24 giờ là cùng chắc chắn giặc Pháp sẽ nổ súng”(2).

Trung ương chỉ thị “Tất cả hãy sẵn sàng!”. Đúng 20 giờ ngày 19 tháng 12 năm 1946, Đài tiếng nói Việt Nam phát tín hiệu tiến công. Tiếp đó Bộ trưởng Quốc phòng - Tổng chỉ huy ra mệnh lệnh chiến đấu:

“Tổ quốc lâm nguy!
Giờ chiến đấu đã đến!...
Hy sinh chiến đấu đến giọt máu cuối cùng!
Tiêu diệt bọn thực dân Pháp!
Quyết chiến!”
(3)

Tại Quảng Trị, chiều ngày 19 tháng 12 năm 1946, Ủy ban kháng chiến triệu tập đại biểu các huyện và đơn vị họp bàn về quân sự. Đang họp đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Bí thư xứ ủy Trung kỳ đến thông báo tình hình khẩn cấp, phổ biến nhiệm vụ. Nghe xong cuộc họp giải tán ngay, các đại biểu vội vả tỏa về các địa phương triển khai chiến đấu.


(1) Lịch sử QĐNDVN - NXB QĐND tr72 Hà Nội 1984
(2), (3) Tài liệu chỉ đạo cuộc đấu tranh vũ trang của Trung ương Đảng và Tổng quân ủy - Bộ Tổng tham mưu XB 1963; tr.121. 123


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Sáu, 2020, 02:53:43 pm
Đến 19 giờ cùng ngày Quảng Trị đã nhân được mệnh lệnh chiến đấu của Bộ chỉ huy chiến khu 4 và đến 22 giờ tất cả các đơn vị đã ở vị trí chiến đấu.

Ngày 20 tháng 12 năm 1946, Hồ Chủ tịch phát lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến “... Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa, Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!

Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên!...”


Hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch và chấp hành mệnh lệnh chiến đấu của tổng chỉ huy, cùng với cả nước, quân và dân Quảng Trị nhất tề đứng dậy, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Các chiến sĩ bộ đội cùng anh em tự vệ và các tầng lớp nhân dân khẩn trương đào công sự, làm chiến lũy, dựng vật chướng ngại, đánh sập cầu cống... trên các tuyến đường giao thông quan trọng để ngăn chặn bước tiến của quân thù. Hàng ngàn hàng vạn thanh niên nam nữ xung phong tòng quân ra mặt trận. Hàng trăm anh chị em công nhân lao động ở thị xã Quảng Trị, Đông Hà tháo dỡ máy móc sơ tán lên vùng rừng núi Ba Lòng cất dấu, nhân dân đóng góp hàng vạn ngày công đào hầm hố, làm vật cản, phá hoại đường giao thông... sẵn sàng đón đánh địch.

Tiểu đoàn 13 thuộc Trung đoàn Thiện Thuật dưới sự chỉ huy của đồng chí Hùng Việt cùng đại đội Lê Hồng Phong phối hợp với dân quân tự vệ các địa phương tổ chức, bố phòng ở phía tây đường 9 đón đánh khoảng 1000 quân Pháp có máy bay, thiết giáp yểm hộ đang từ Lào rục rịch kéo sang(1). Tất cả đã sẵn sàng.

Ngày 10 tháng 1 năm 1947, hơn 500 tên Pháp định vượt sông Xê-băng-phai đánh vào làng Tổng Thuật. Với tinh thần chiến đấu dũng cảm, một trung đội bộ đội ta chặn đánh địch suốt ngày làm cho chúng không thực hiện được kế hoạch vượt sông.

Ngày 11 tháng 1 địch dùng trọng pháo, máy bay bắn phá dữ dội rồi lại thúc quân tràn qua sông. Trận chiến đấu không cân sức diễn ra vô cùng ác liệt. Bộ đội ta tuy lực lượng ít, vũ khí thô sơ nhưng vẫn ngoan cường bám trụ từng ụ đá, bờ cây đánh địch gây cho chúng nhiều thiệt hại, diệt 30 tên và bắn bị thương nhiều tên khác. Song do tương quan lực lượng khá chênh lệch, quân ta phải rút lui để bảo toàn lực lượng. Địch tràn được qua sông.

Sau khi vượt sông, bọn địch vòng ra phía sau, bất ngờ đánh chiếm Khe Sanh. Trung đội tự vệ Hướng Hóa cùng với Trạm điều dưỡng tại bệnh xá đã anh dũng chặn đánh địch để đồng bào có đủ thời gian sơ tán và thực hiện “vườn không nhà trống”. Do thế địch đang mạnh nên ta phải vừa chặn đánh vừa rút lui về Rào Quán để bảo toàn lực lượng. Các đơn vị kéo nhau về bám trụ ở đây tạo thành một phòng tuyến vững chắc. Trung đoàn trưởng Hùng Việt tổ chức hệ thống vật cản dày đặc chắn ngang đường tiến quân của Pháp làm cho cuộc hành quân của chúng bị chặn lại nhiều ngày.

Ngày 12 tháng 1, một cánh quân khác của địch từ Lào vượt qua biên giới, đánh chiếm Lao Bảo. Các chiến sĩ tiểu đoàn 13 và dân quân tự vệ đã anh dũng xông lên, với súng, mìn, lựu đạn, bom ba càng, giáo mác, dao găm... tiêu diệt 60 tên địch, làm chậm bước tiến của chúng.

Đồng thời với hai cánh quân đánh vào Khe Sanh, Lao Bảo, một canh quân khác của địch khoảng 200 tên, vượt qua biên giới Việt-Lào theo đường Tà Rụt tiến đánh vùng Ba Lòng.

Ngày 15 tháng 1, hai cánh quân của địch ở Khe Sanh, Lao Bảo nhập làm một cùng với cánh quân hướng Ba Lòng hình thành thế gọng kìm tiến đánh Rào Quán.

Lực lượng ta ở đây gồm có Tiểu đoàn 14 thuộc Trung đoàn Thiện Thuật, Đại đội Lê Hồng Phong và các lực lượng dân quân tự vệ địa phương do đồng chí Hùng Việt trực tiếp chỉ huy chung.

Đồng chí Trần Hữu Dực, Chủ tịch Ủy ban hành chính Trung bộ lên kiểm tra, trực tiếp góp ý và động viên cán bộ chiến sĩ phát huy truyền thống quyết chiến quyết thắng, tiêu diệt địch, bảo vệ nhân dân, bảo vệ nền độc lập tự do của Tổ quốc. Nhân dân các dân tộc huyện Hướng Hóa vừa thực hiện phá hoại tản cư, vừa giúp đỡ tiếp tế cho bộ đội và các lực lượng bám trụ chiến đấu.


(1) Sau khi mặt trận tây Nguyên vỡ, TW điều đồng chí Hùng Việt nguyên chỉ huy trưởng Mặt trận Tây Nguyên ra thay đồng chí Tùng Lâm làm trung đoàn trưởng Trung đoàn Thiện Thuật, Đồng chí Hùng Việt kiêm luôn chỉ huy trưởng Mặt trận đường 9 (Ban chỉ huy có 9 đồng chí) kháng chiến toàn Quốc bùng nổ Ban chỉ huy Mặt trận đường 9 giải thể. Trung đoàn Thiện Thuật đảm nhận luôn việc chỉ huy Mặt trận này


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Sáu, 2020, 02:54:38 pm
Lợi dụng địa hình rừng núi hiểm trở, quân ta bí mật phục kích hai bên đường. Khi quân Pháp đã lọt vào trận địa mai phục, các loại súng của ta thi nhau nhả đạn. Bị phục kích bất ngờ, giặc pháp rối loạn đội hình. Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt. Nhiều chiến sĩ xông lên đánh giáp lá cà với địch. Có chiến sĩ luồn lách trong rừng từ chỗ này sang chỗ khác sử dụng bẫy đá làm cho bọn địch kinh hoàng tháo chạy không kịp. Bằng các loại vũ khí thô sơ như bom, mìn tự tạo, cạm bẫy... và tinh thần chiến đấu dũng cảm, quân và dân ta đã tiêu diệt trên 100 tên địch, làm bị thương nhiều tên khác, đồng thời phá hủy một số phương tiện chiến tranh của chúng. Nhưng quan trọng hơn là đã kìm chân và làm chậm bước tiến của quân Pháp phá vỡ một bước âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của chúng. Sau thất bại này thực dân Pháp đã dừng lại 5 ngày để củng cố và tổ chức lại lực lượng. Đề phòng địch bỏ đường 9, tiến quân bằng đường tắt, xuôi theo tả ngạn sông Thạch Hãn về chiếm thị xã Quảng Trị, ta đã điều một đại đội của Tiểu đoàn 14 lên Trừ tiếp viện cho cánh quân của ta ở Ba Lòng. Tình hình mặt trận biến chuyển từng giờ từng phút. Ngày 20-1-1947 giặc Pháp tập trung lực lượng đánh chiếm vùng Cùa. Ta buộc phải điều 2 đại đội của Tiểu đoàn 14 đang làm nhiệm vụ ở thị xã Quảng Trị lên bố trí trận địa, đánh địch ở Cùa. Tiểu đoàn 15 đứng chân ở Đông Hà, phụ trách Cửa Tùng, bắc Quảng Trị, được lệnh điều ra vùng Gio Linh phụ trách mặt trận Bắc đường 9.

Sau khi đã lấy lại được tinh thần, quân Pháp tiến ra Cùa theo dốc làng Hạ-Xoa. Đại Hội Lê Hồng Phong phối hợp với một trung đội bộ đội chủ lực của Tiểu đoàn 14 cùng dân quân du kích địa phương tổ chức lực lượng chiến đấu.

Lợi dụng rừng núi và khe suối, lực lượng ta đánh địch bằng chiến thuật du kích vận động chiến kết hợp phục kích tiêu diệt hàng chục tên địch. Tiêu biểu là trận Dốc Đỏ ngày 21 tháng 1 năm 1947, ta đào hầm cá nhân (có nắp che), hai bên vệ đường rải lá, cỏ ngụy trang trên nắp rồi xuống hầm ngồi chờ địch. Hơn một đại đội lính Pháp lọt vào trận địa. Quân ta đồng loạt đội nắp hầm xông lên dùng mã tấu, kiếm (có một ít súng trường) đánh giáp lá cà với địch. Đại đội trưởng Hòe nêu gương chiến đấu dũng cảm, vừa chém, vừa bắn và có lúc vật nhau với địch, đồng chí đã anh dũng hy sinh trong trận này. Mặc dầu quân ta chiến đấu rất dũng cảm nhưng lực lượng quá ít, vũ khí thô sơ trong khi địch đông gấp nhiều lần lại được trang bị vũ khí và phương tiện hiện đại nên quân ta vừa phải chặn đánh tiêu diệt, tiêu hao sinh lực địch vừa rút lui để bảo toàn lực lượng.

Ngày 23 tháng 1 năm 1947, quân Pháp chiếm được Cùa, chúng để lại một trung đội chốt giữ, số còn lại vòng lên Mai Lĩnh tiến đánh Đầu Mầu.

Ngày 27 tháng 1 ta nổ súng đánh địch ở Đầu Mầu diệt 30 tên. Tiếp đến ngày 3 tháng 2 quân ta vận động tắt đường rừng tập kích vị trí Mai Lĩnh diệt thêm hàng chục tên khác. Sau hai trận đòn phủ đầu trên, địch buộc phải dừng lại ở vị trí Đầu Mầu củng cố binh lực, mãi đến 16 tháng 2 mới đánh Cam Lộ rồi ngày hôm sau (17 tháng 2) mới chiếm được Đông Hà.

Trong thời gian quân giặc tiến đánh Cam Lộ, Đông Hà, bộ đội ta thực hiện chiến thuật du kích chiến, vận động chiến, phân tán đơn vị về từng khu vực cùng dân quân tự vệ tập kích chiến đấu đánh địch khắp nơi từ Lao Bảo, Khe Sanh đến Đầu mầu, Cam Lộ. Đi đến đâu giặc Pháp cũng gặp phải sức chặn đánh quyết liệt của quân và dân ta nên chúng tiến rất chậm. Đại đội 12 thuộc Tiểu đoàn 13 đã giật bom diệt gọn 2 trung đội địch tại cầu Rào Quán (Hướng Hóa). Đây là một trận đánh phục kích đạt hiệu suất cao trong những ngày đầu chiến tranh.

Tuy không giữ được trận địa, nhưng quân và dân ta ở mặt trận đường số 9 đã nêu cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng, chiến đấu anh dũng, tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, làm cho chúng phải để lại 300 xác chết và mất. 40 ngày đêm mới tiến được một đoạn đường 84km.

Rõ ràng là trong cuộc chiến tranh này khí thế địch mạnh, lực lượng ta còn yếu; để thắng chúng chiến thuật của ta phải là du kích vận động chiến. Bộ đội phải biết vận động nhanh chóng mới có thể áp dụng được triệt để chiến thuật du kích.

Cùng với việc chỉ đạo đánh địch trên đường số 9, Tỉnh ủy Quảng Trị chủ trương đẩy mạnh giáo dục, tuyên truyền vận động nhân dân về đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện. Hưởng ứng lời kêu gọi “tiêu thổ” để kháng chiến của Hồ Chủ tịch, cán bộ, đảng viên thường xuyên bám sát cơ sở, hướng dẫn nhân dân thực hiện “vườn không nhà trống” cất dấu của cải, tích cực tham gia chống địch càn quét. Để chặn bước tiến của quân thù, hàng chục cầu cống trên các đường giao thông quan trọng bị phá hủy. Hàng trăm vật chướng ngại được dựng lên. Dân quân tự vệ hăng hái rèn luyện kỹ thuật, chiến thuật đánh du kích, phối hợp với bộ đội ứng chiến cầm cự với địch, tiêu diệt, tiêu hao, quấy rối làm chậm bước tiến của chúng, tạo điều kiện cho nhân dân có đủ thời gian phá hoại, thiêu hủy nhà cửa của mình, di chuyển lương thực và của cải sơ tán đi nơi khác để tiếp tục tham gia kháng chiến và phục vụ kháng chiến lâu dài.


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Sáu, 2020, 02:55:47 pm
*
*   *

Ở hướng nam Quảng Trị. Sau khi chiếm được Thừa Thiên, ngày 12 tháng 2 năm 1947 một cánh quân Pháp trên 1.500 tên có máy bay và đại bác yểm trợ tiến công đánh chiếm Mỹ Chánh.

Để bảo toàn lực lượng quân và dân ta vừa chặn đánh, vừa phá hoại, sơ tán rút lui. Quân ta đã đánh sập cầu Mỹ Chánh làm cho tốc độ hành quân của chúng phải chậm lại mất một ngày không qua sông được. Ngày 13 tháng 2 sau khi bắc lại cầu Mỹ Chánh, địch tiếp tục hành quân đánh chiếm Diên Sanh (phủ lỵ Hải Lăng).

Trong khi lực lượng địch còn mạnh hơn ta gấp nhiều lần cả về quân số lẫn trang bị vũ khí, quân ta buộc phải lui về phòng thủ thị xã Quảng Trị.

Thực hiện lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch “Tiêu thổ để kháng chiến”, với tinh thần “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, nhân dân trong nội thị cũng như ngoại ô và các thị trấn, dọc hai bên đường quốc lộ đã tự tay phá đi tất cả những gì mà kẻ thù có thể sử dụng rồi tiếp tục lên đường kháng chiến.

Đi đôi với công tác phá hoại, thực hiện “vườn không nhà trống” là nhiệm vụ di chuyển sơ tán toàn bộ máy móc, vật tư thiết bị phụ tùng của các nhà máy, xí nghiệp, công sở lên vùng căn cứ phía Tây của tỉnh để tiếp tục sản xuất phục vụ kháng chiến.

Ngày 15 tháng 2 năm 1947, địch tiến đến cầu Nhùng, cách tỉnh lỵ Quảng Trị 5 km về phía nam. Một đại đội của Tiểu đoàn 14 phối hợp với lực lượng dân quân tự vệ xã Hải Long chặn đánh quyết liệt làm cho tốc độ tiến quân của địch ra thị xã bị chậm lại, tạo điều kiện cho Ủy ban kháng chiến các cấp từ tỉnh đến cơ sở cùng 5-6 vạn dân kịp sơ tán hết lên vùng giáp ranh và rác khu căn cứ Phong An, Hải Đạo...

Thị xã Quảng Trị bị uy hiếp nghiêm trọng. Để bảo vệ thị xã bằng lực lượng hiện có gồm Tiểu đoàn 14, đại đội vệ binh của Bộ Chỉ huy khu 4 tăng cường và tự vệ thị xã, ta bố trí như sau: Tiểu đoàn 14 gồm 3 đại đội, một đại đội bố trí gần nhà ga chặn đánh địch từ cầu Thạch Hãn về phía vườn hoa. Một đại đội bố trí ở làng Tri Bưu chặn đánh địch từ hướng đông nam tới. Một đại đội bố trí trên mặt thành nhìn ra sân vận động và đường số 1. Đại đội vệ binh của Bộ Chỉ huy khu 4 tăng cường bố trí ở làng Thạch Hãn. Tự vệ thị xã phối hợp với các cánh quân của bộ đội cùng chiến đấu. Đồng chí Hùng Việt Trung đoàn trưởng Trung đoàn Thiện thuật chỉ huy toàn bộ trận chiến đấu này.

Các loại vũ khí tự tạo như bom giật, bom treo, mìn, địa lôi, hầm chông, cạm bẫy... đã được bố trí ở những nơi dự kiến quân địch sẽ đến.

Đúng 3 giờ. 30 ngày 16-2, quân Pháp được pháo binh và cơ giới yểm hộ, bắt đầu tiến công thị xã Quảng Trị. Mở đầu bằng các loạt đạn pháo bắn dồn dập vào thành Quảng Trị. Cả thị xã chìm ngập trong lửa khói chiến tranh. Pháo địch vừa dứt, lập tức các đơn vị bộ binh được xe cơ giới yểm hộ ào ạt xông lên, nhưng chúng đã vấp phải bức tường lửa của lực lượng ta. Từ các vị trí phòng thủ, các chiến sĩ và dân quân tự vệ thị xã “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” đã bình tĩnh chặn đánh địch. Hàng chục tên giặc bị chết hoặc bị thương ngay từ loạt đạn đầu. Bọn địch cậy thế quân đông, tướng mạnh, vũ khí đạn dược dồi dào, hung hãn, liều lĩnh định chiếm một xóm nhỏ trước làng Thạch Hãn để làm bàn đạp tấn công vào nội thị. Nhưng từ các giao thông hào, ụ chiến đấu cá nhân, các chiến sĩ vệ binh, kiên cường dũng cảm bám trụ chiến đấu gây cho địch nhiều thiệt hại. Địch bị động lúng túng giạt sang bên kia đường, vòng qua sân vận động để chiếm những lùm cây và mô đất ở nghĩa địa. Một trung đội của ta bố trí sẵn ở đây lập tức nổ súng. Bị đánh bất ngờ và thiệt hại nặng, bọn giặc phải lùi lại chạy tạt về phía Tri Bưu, lập tức súng liên thanh của bộ đội ta bố trí trên mặt thành và ngã tư Xuân Tịnh đồng loạt bắn tới, cùng lúc đạn súng cối từ trong thành “rót” trúng giữa đội hình địch làm cho chúng bị tổn thất đáng kể. Ở trường Quảng Đức, ngã tư Xuân Tịnh và quanh khu Tòa Xứ, giữa lửa khói mù mịt, bộ đội và tự vệ ta bám sát địch đánh quần lộn với chúng. Xác giặc bị diệt nằm ngổn ngang, những tên bị thương kêu la thảm thiết.

Sau khi dùng bộ binh tiến công bị quân ta chặn đứng, giặc Pháp liền cho xe cơ giới tiến lên bắn mãnh liệt vào đội hình quân ta gây thế áp đảo, yểm hộ cho bộ binh công kênh nhau vượt tường nhảy vào nội thành. Ngay lập tức quân địch phải khựng lại dưới lưới lửa dày đặc của ta. Các loại súng thi nhau nhả đạn. Mìn, địa lôi chớp sáng đất đá và thịt xương xác giặc bay rào rào mù mịt. Nhiều loại bom mìn từ trên cây chụp xuống, từ dưới đất tung lên dồn bọn địch vào chân tường thành, gần 100 tên bị diệt hàng chục tên khác bị thương. Cuộc chiến đấu càng về sau càng gay go quyết liệt. Cuối cùng do tương quan lực lượng nghiêng hẳn về phía địch cả quân số và phương tiên cũng như trang bị vũ khí nên các chiến sĩ ta phải vừa chiến đấu, vừa rút lui để bảo toàn lực lượng, chuẩn bị cho cuộc chiến đấu tiếp theo. Dưới sự yểm hộ của 2 khẩu đại liên đặt ở chùa Phật học, bộ đội ta vừa đánh địch vừa rút ra khỏi thị xã. Đại đội ở Tri Bưu chống cự với địch suốt cả ngày, mãi đến 16 giờ mới rút về An Tiêm. Với tinh thần “Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh” 20 chiến sĩ của Tiểu đoàn 14 thuộc Trung đoàn Thiện Thuật cùng tự vệ thị xã xung phong ở lại yểm trợ cho đại quân rút lui đã chiến đấu anh dũng diệt thêm nhiều giặc, bẻ gãy nhiều đợt xung phong của chúng. Cuối cùng cả 20 đồng chí đều hy sinh oanh liệt.

Tinh thần chiến đấu và gương hy sinh anh dũng của các chiến sĩ cảm tử Tiểu đoàn 14 mãi mãi là tấm gương sáng ngời và là niềm tự hào của lực lượng vũ trang và nhân dân Quảng Trị.

Ngoài đội cảm tử Tiểu đoàn 14, các đội cảm tử khác và tự vệ thị xã vẫn tiếp tục cố thủ; bám trụ trong các hầm bí mật chiến đấu với địch nhiều ngày gây cho địch nhiều thiệt hại.

Trong trận chiến đấu này, Tiểu đoàn 14 của tỉnh và tự vệ thị xã đã được tôi luyện và trưởng thành cả về trình độ tổ chức chỉ huy và kỹ, chiến thuật đánh địch. Nó thể hiện tinh thần quyết đánh và biết đánh, quyết thắng và biết thắng. Nó cũng thể hiện ý chí chiến đấu dũng cảm, ngoan cường với cách đánh sáng tạo, sử dụng các loại vũ khí thô sơ rất linh hoạt của bộ đội và dân quân tự vệ. Trận đánh địch tiến công thị xã Quảng Trị là trận đánh đạt hiệu suất chiến đấu cao. Với lực lượng một tiểu đoàn tăng cường và trang bị vũ khí thô sơ, ta đã chặn đứng nhiều đợt tiến công của trên 1.500 tên địch được trang bị vũ khí hiện đại có pháo binh, cơ giới yểm trợ. Sau một ngày chiến đấu ác liệt ta đã tiêu diệt, hơn 200 tên địch và làm bị thương hàng trăm tên khác. Địch phải huy động 15 xe ô tô chở xác chết và lính bị thương đưa về Huế.

Những thắng lợi bước đầu khi giặc Pháp trở lại đánh chiếm Quảng Trị ở mặt trận đường 9 và thị xã đã góp phần động viên, khích lệ tinh thần chiến đấu của quân và dân ta, đồng thời củng cố lòng tin của nhân dân các dân tộc trong tỉnh đối với bộ đội và lực lượng vũ trang dân quân tự vệ.


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Sáu, 2020, 02:57:10 pm
*
*   *

Để kịp thời chỉ đạo cuộc chiến đấu, sau chiến công xuất sắc của lực lượng vũ trang Quảng Trị ở đường số 9 và thị xã, Thường vụ Tỉnh ủy họp mở rộng ở Lại An, thống nhất nhận định: Sau những trận thất bại vừa qua, quân Pháp còn phải dừng lại một thời gian để củng cố lực lượng và vùng mới chiếm đóng, rồi mới tiến hành đánh chiếm Gio Linh, Vĩnh Linh. Từ nhận định đó Tỉnh ủy chủ trương: Để lại một bộ phận bộ đội bám trụ địa bàn đồng bằng chiến đấu tiêu hao, tiêu diệt địch hỗ trợ cho nhân dân trở lại sản xuất, thu hoạch mùa màng. Còn các đơn vị khác được bố trí phân tán trên địa bàn toàn tỉnh để phối hợp cùng dân quân tự vệ tiến hành chiến tranh du kích. Tiểu đoàn 13 hoạt động ở vùng Gio Linh, Vĩnh Linh. Tiểu đoàn 14, sau khi rút khỏi thị xã, theo đường Sãi - Cửa Việt về Vệ Nghĩa và được lệnh đi vòng trở lại hoạt động ở vùng đồng bằng Hải Lăng, Triệu Phong, lập căn cứ kháng chiến ở Chợ Cạn. Tiểu đoàn 15 phòng giữ tuyến Hà Trung, Hà Thanh (Gio Linh) có nhiệm vụ phối hợp với một đại đội dân quân du kích chặn đánh địch trên đường số 1. Đại đội biệt động của Trung đoàn Thiện Thuật chuyển lên hoạt động ở đường số 9 huyện Hướng Hóa. Đại đội Lê Hồng Phong xây dựng cơ sở ở Ba Lòng.

Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, trong những vùng bị địch tạm chiếm, bộ đội và dân quân tự vệ vẫn tiến hành các hoạt động nhỏ lẻ, tiêu hao, quấy rối gây cho địch lúng túng nơm nớp lo sợ. Đêm 20 tháng 2 năm 1947 bộ đội địa phương phối hợp với lực lượng dân quân du kích đột nhập phủ Triệu Phong ném lựu đạn diệt 5 tên địch. Cũng ngay đêm đó ta tấn công Nha Thương Chính, chợ Sãi lam cho địch mất ăn mất ngủ. Ngày 21 tháng 2 một tổ dân quân xã Hải Long đã bí mật phục kích diệt 3 tên địch ở La Vang (Hải Lăng). Ngày 2 tháng 3, đội biệt động đường 9 giật mìn phá hủy một xe vận tải, diệt 3 tên Pháp...

Trong thời gian này một việc rủi ro đáng tiếc xảy ra. Đồng chí Hùng Việt, Trung đoàn trưởng Trung đoàn Thiện Thuật người chỉ huy dũng cảm và mưu trí, người cán bộ được bộ đội và nhân dân tin tưởng, yêu mến và là nỗi khiếp sợ của kẻ thù đã anh dũng hy sinh trong khi đang trực tiếp hướng dẫn 3 chiến sĩ tiểu đoàn 14 làm mìn tự tạo diệt địch, Để kịp thời ổn định tổ chức, Khu ủy đã chỉ định đồng chí Trần Sâm làm trung đoàn trưởng (thay đồng chí Hùng Việt) và đồng chí Lê Chưởng làm Chính ủy Trung đoàn.

Như vậy đến ngày 17 tháng 2 năm 1947, về cơ bản giặc Pháp đã đánh chiếm được các vị trí xung yếu ở 4 huyện trong tỉnh gồm Hướng Hóa, Cam Lộ, Hải Lăng, Triệu Phong và thị xã Quảng Trị. Chỉ còn lại Vĩnh Linh, Gio Linh và một phần phía Bắc Cam Lộ là vùng tự do của ta.

Đúng như nhận định của Thường vụ Tỉnh ủy ở hội nghị Lại An sau khi chiếm được các vị trí quan trọng ở các huyện phía nam Quảng Trị, giặc Pháp một mặt lo củng cố vị trí vừa chiếm được mặt khác tăng cường càn quét khủng bố nhân dân, đàn áp phong trào kháng chiến, đồng thời cho quân lấn chiếm ra phía Bắc tả ngạn sông Cam Lộ từ Tân Định, Cam Vũ đến Cam Lộ Hạ, chiếm đường tỉnh lộ 71 để bảo vệ cho binh lính chúng trên đường số 9 và làm bàn đạp tấn công ra Gio Linh, Vĩnh Linh. Kiên quyết không cho địch thực hiện âm mưu của chúng, bộ đội địa phương và dân quân du kích phối hợp chiến đấu cầm cự với địch rất oanh liệt gây cho chúng nhiều thiệt hại.

Ngày 12 tháng 3 năm 1947, dân quân du kích xã Hải Long phối hợp với 2 tiểu đoàn bộ đội địa phương huyện, tổ chức mai phục đánh địch trên đường quốc lộ 1 ở thôn An Thái. Trận đánh diễn ra tại quán Quýt. Lực lượng ta bí mật đào hầm cách đường 10 mét mai phục rồi dùng 2 chiếc vò bằng sành giả làm mìn. Một xe địch đi tới, du kích giật giây cho vò lăn ra đường. Bọn Pháp ngồi trên xe tưởng là mìn thật hoảng hốt nhảy xuống tìm nơi ẩn nấp, Chỉ chờ có thế, lực lượng ta liền xông ra dùng giáo mác đâm chém diệt gọn 6 tên địch, đốt cháy xe, thu một súng tiểu liên, 5 súng trường và một số đồ dùng quân sự...

Trong những ngày cuối tháng 3. năm 1947, bộ đội địa phương và dân quân du kích các xã phối hợp tổ chức các trận địa lôi chiến rộng lớn, chôn bom rải rác khắp các ngã đường thôn xóm Bích La, Thượng Trạch, Long Quang, Bồ Bản... và chặn đánh khắp nơi khi quân địch kéo về càn quét Triệu phong, tiêu diệt 80 tên, làm bị thương 20 tên khác cả Pháp và tay sai.

Ngày 28 tháng 3, các chiến sĩ “Biệt động đội” ở Khe Sanh phục kích bằng mìn phá một xe vận tải diệt 3 tên Pháp. Đặc biệt trận đánh tập kích của lực lượng dân quân du kích diệt gọn một trung đội địch tại nhà Cửu Câu (Cam Lộ) khi chúng tập trung chuẩn bị đi càn quét, đã gây một tiếng vang trong tỉnh.

Những hoạt động liên tục của lực lượng vũ trang và dân quân du kích các địa phương đã tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, làm cho chúng không thể rảnh tay thực hiện chiến lược đánh nhanh thắng nhanh.


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Sáu, 2020, 02:58:11 pm
Sau hơn một tháng củng cố lại lực lượng, ngày 27 tháng 3 năm 1947, quân Pháp tiếp tục mở cuộc tiến công đánh chiếm các huyện phía Bắc Quảng Trị. Cùng với việc cho quân đổ bộ lên Đồng Hới (Quảng Bình), bộ binh Pháp tiến công đánh chiếm hai huyện Gio Linh, Vĩnh Linh.

Theo kế hoạch các lực lượng bộ đội của tiểu đoàn 13, 15 và dân quân tự vệ địa phương phối hợp triển khai chiến đấu. Tiểu đoàn 13 do tiểu đoàn trưởng Lê Bá Vận và Chính trị viên Vũ Hồng Thanh chỉ huy chặn đánh địch quyết liệt trên đường 76, giật mìn phá tan một xe tăng địch ở An Nha, diệt 20 tên. Đêm 28 tháng 3 lợi dụng lúc địch tiến ra phía Bắc, đằng sau sơ hở, tiểu đoàn 13 mưu trí tập kích vào chợ Phiên (Cam Lộ) diệt và làm bị thương một số tên địch, trong đó có tên quan tư Pháp bị thương nặng chở về đến Đông Hà thì chết.

Ngày 30 tháng 3, được sự yểm trợ của 4 chiếc máy bay và hàng chục xc thiết giáp dội bom và bắn phá dọn đường, địch chia làm hai cánh quân tiến ra Vĩnh Linh.

Một cánh quân tiến theo đường sắt vượt cầu Tiên An, tràn qua sông Hiền Lương sang Thủy Ba, Phúc Lâm. Một cánh quân khác ở phía bờ biển vòng xuống Võ Xá, Hải Chữ ra Thủy Khê, Cường Gián tràn qua Tân Trại chiếm Cửa Tùng rồi đánh lên phủ lỵ Vĩnh Linh.

Ngày 31 tháng 3, địch đánh chiếm Hồ Xá (phủ Vĩnh Linh). Trên đường tiến quân của chúng, ở đâu cũng vấp phải sự kháng cự quyết liệt của lực lượng bộ đội tiểu đoàn 15 và dân quân du kích, gây cho chúng một số thiệt hại và làm chậm bước tiến của chúng. Cánh quân địch ở phía Tây bị tiểu đoàn 15 chặn đánh ở cầu Tiên An và bến đò Hiền Lương. Ta diệt 30 tên địch và làm bị thương một số tên khác. Cánh quân địch ở hướng đông, bị dân quân du kích chặn đánh ở Cường Gián, Tân Trại và một số nơi khác. Nhưng do tương quan lực lượng quá chênh lệch, ta chưa đủ sức ngăn địch.

Như vậy là kê từ khi thực dân Pháp nổ súng tiến công đánh chiếm ở Phía Tây đường 9 (10 tháng 1) đến ngày 31 tháng 3 năm 1947, sau gần 3 tháng, về cơ bản giặc Pháp đã chiếm xong Quảng Trị.

*
*   *

Cuối tháng 2 năm 1947, trước tình hình cuộc kháng chiến đang ngày càng gay go quyết liệt, Thường vụ Tỉnh ủy họp mở rộng dưới sự chủ trì của đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, hội nghị chủ trương: Quyết không để mất dân; địch có thể chiếm đất; chiếm được đồng bằng nhưng ta phải giữ vững vùng rừng núi mà giành giật vùng đồng bằng đông dân với địch. Địch sẽ ra sức tiêu diệt cơ sở kháng chiến, đánh bật bộ đội, cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang ta quyết không rời quần chúng, giữ vững các vùng căn cứ đồng bằng, nhất định sẽ bảo toàn lực lượng. Đảng ủy các cấp một mặt phải nhanh chóng chuyển sang chỉ đạo đấu tranh võ trang, bám đất, bám dân, giữ vững cơ sở, khôi phục lực lượng kháng chiến, lãnh đạo chiến tranh du kích ở địa phương, mặt khác phải kiên quyết đập tan kế hoạch lập ngụy quyền của địch.

Nhờ những chủ trương đúng đắn, kịp thời đó mà khi mặt trận Huế vỡ, tuy quân Pháp về cơ bản đã chiếm được Quảng Trị nhưng phong trào kháng chiến ở Quảng Trị không vỡ mà vẫn được duy trì và phát triển; cơ sở quần chúng cơ bản vẫn được giữ vững, lực lượng vũ trang hoạt động phân tán trong dân, bám trụ trong dân tiếp tục xây dựng và củng cố làm tròn vai trò nòng cốt phong trào toàn dân kháng chiến.

*
*   *

Với một đội quân hùng mạnh, thiện chiến lại có đầy đủ máy bay, thiết giáp, xe tăng và pháo binh yểm trợ, thực dân Pháp hy vọng rằng sẽ “nuốt gọn” Quảng Trị trong một thời gian ngắn, nhưng đó là ý muốn chủ quan của kẻ xâm lược, còn thực tế khách quan lại hoàn toàn khác.

Quân và dân Quảng Trị vốn mang trong mình truyền thống kiên cường và bất khuất, ý chí quyết chiến quyết thắng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt và đứng đắn của Tỉnh ủy đã từ trong khói lửa vùng lên với mọi loại vũ khí thô sơ và lòng căm thù giặc cao độ, ngoan cường chiến đấu, anh dũng hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, ngăn chặn bước tiến của quân thù và gây cho chúng nhiều thiệt hại.

Đặc biệt Trung đoàn Thiện Thuật, các đại đội du kích tập trung và lực lượng dân quân tự vệ toàn tỉnh đã hiệp đồng chiến đẩu chặt chẽ, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau, tích cực tiêu hao, tiêu diệt địch, đã dự kiến đúng các tình huống và có biện pháp đối phó kịp thời, xây dựng củng cố và phát triển cơ sở, phát động chiến tranh du kích mọi lúc mọi nơi nên đã ngăn chặn có hiệu quả và làm chậm bước tiến của giặc Pháp, bảo toàn được lực lượng của ta để tiếp tục kháng chiến lâu dài, tạo điều kiện cho phong trào cách mạng từng bước tiến lên giành những thắng lợi mới.


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Sáu, 2020, 08:42:45 am
*
*   *
Sau khi thực dân Pháp chiếm được Quảng Trị, đêm 31 tháng 3 năm 1947, Tỉnh ủy, Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh chuyển lên miền Tây Vĩnh Linh rồi xuyên rừng bí mật luồn qua vùng địch trở lại vùng núi Cam Lộ - Hải Lăng, lấy vùng Ba Lòng làm căn cứ kháng chiến của tỉnh, Ba Lòng là một thung lũng dài và khá rộng nằm về phía tây gần nguồn sông Thạch Hãn, ruộng đất tương đối phì nhiêu, dân cư thưa thớt. Hai bên sông là núi rừng bát ngát. Xuôi theo dòng sông về đến Trấm, xóm làng có phần đông hơn. Từ Trấm có thể theo các ngã đường đi về đồng bằng, ra Đông Hà hoặc vào Quảng Trị. Ngược dòng sông sẽ đến các nương đồi của bà con dân tộc Pa Kô. Qua Ba Lòng vượt dốc làng Hạ sẽ gặp Cùa, đến đường 9 thẳng hướng tây sang tới Trung Lào. Đường vào Ba Lòng rất gian nan vất vả. Đi theo dòng sông lắm thác ghềnh bằng những con thuyền độc mộc thì tương đối dễ. Còn những con đường xuyên theo rừng núi lắm dốc, nhiều đèo rất hiểm trở khó đi. Chiến khu Ba Lòng là một địa thế rất lợi hại. Vì nơi đây quân và dân ta tiến có thể đánh lui có thể giữ. Ba Lòng kể từ đây đã trở thành căn cứ địa cách mạng của tỉnh nhà. Hàng ngày hàng giờ tấm lòng người dân kháng chiến luôn hướng về chiến khu, nơi trung tâm lãnh đạo kháng chiến.

Thời gian này, Trung đoàn bộ Trung đoàn Thiện Thuật và Tiểu đoàn 15 rút lên Khe Bò, rồi chuyển vào Khe Tăm theo đường rừng cũng trở lại Ba Lòng. Các Tiểu đoàn 13 và 14 được lệnh tiếp tục bám trụ, sát cánh với lực lượng địa phương và nhân dân chiến đấu với địch ở vùng đồng bằng Gio linh, Triệu Hải.

Thực hiện chủ trương của Hội nghị Thường vụ Tỉnh ủy cuối tháng 2 năm 1947, lực lượng dân quân tự vệ ngày càng được củng cố và phát triển. Cuối tháng 4 năm 1947, sau hội nghị Trung ương họp ở Việt Bắc, Bộ chỉ huy khu 4 tổ chức hội nghị quân sự kiểm điểm tình hình sau 4 tháng kể từ ngày kháng chiến toàn quốc đồng thời rút kinh nghiệm việc chỉ đạo tác chiến trên địa bàn khu và các tỉnh.

Tháng 5 năm 1947, hội nghị dân quân toàn quốc lần thứ nhất họp nhằm thống nhất việc tổ chức dân quân tự vệ trên cả nước. Hồ Chủ tịch đã gửi thư cho nam nữ dân quân tự vệ và du kích. Người khẳng định:

“... Dân quân tự vệ và du kích là lực lượng của toàn dân tộc, là một lực lượng vô địch, là bức tường sắt của Tổ quốc. Vô luận kẻ địch hung bạo thế nào hễ đụng vào lực lượng đó, bức tường đó thì địch nào cũng phải tan rã”(1).

Nhận thức đúng tầm quan trọng của lực lượng dân quân tự vệ và du kích, thực hiện nghị quyết đại biểu đảng bộ tỉnh tháng 11 năm 1947, cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp từ tỉnh đến xã đều chăm lo xây dựng lực lượng dân quân tự vệ thực sự làm nòng cốt cho phong trào toàn dân đánh giặc. Giờ đây dân quân tự vệ không những được xây dựng ở vùng tự do, vùng du kích mà ngay cả những vùng địch kềm kẹp gắt gao những tổ du kích bí mật vẫn được thành lập và tích cực hoạt động. Lúc này các ban tự vệ tỉnh, huyện đổi tên thành Ban chỉ huy tỉnh đội và Ban chỉ huy huyện đội. Đồng chí Nguyễn Văn Long được bổ nhiệm chức Tỉnh đội trưởng Quảng Trị. Ở các huyện chức danh Trưởng ban tự vệ thành Huyện đội trưởng.

Đến tháng 10 năm 1947, lực lượng vũ trang của tỉnh cả chủ lực và địa phương đã phát triển lên 1.800 chiến sĩ, được trang bị 544 súng trường và 31 tiểu liên. Đầu năm 1948, lực lượng dân quân thường trực có 572 người và 2.500 dân quân hoạt động tại chỗ. Bộ đội, cán bộ, dân quân tự vệ phối hợp với các lực lượng cách mạng ở cơ sở, đẩy mạnh mọi hoạt động đánh địch, chống càn, củng cố chính quyền, bảo vệ thôn xã, hỗ trợ cho nhân dân bám trụ sản xuất, thu hoạch mùa màng, vận chuyển cất dấu lượng thực, thực phẩm quyết không để rơi vào tay giặc. Những tội ác đốt nhà, cướp của, bắn giết nhân dân, hãm hiếp phụ nữ, bắt lính... của quân giặc đều bị trừng trị đích đáng.

Phong trào “cướp súng giặc giết giặc” được phát động rầm rộ và rộng rãi. Nhiều cách đánh mưu trí, sáng tạo trong dân quân du kích được áp dụng điển hình là một tổ dân quân đường 9 dùng vỏ chai giả làm mìn chôn giữa đường rồi bí mật mai phục. Một chiếc xe Zeép chở 3 tên Pháp đi qua thấy hiện tượng khả nghi liền dừng lại. Tên sỹ quan và lính xuống kiểm tra. Lập tức cả tổ dân quân xông ra dùng giáo mác diệt gọn, đốt xe, thu một súng ngắn, 2 súng trường. Các tổ “Biệt động đội” và dân quân du kích ngày đêm bám trụ địa bàn, vừa phối hợp chiến đấu nhỏ lẻ quấy rối bọn địch, vừa tuyên truyền vận động, hướng dẫn giúp đỡ nhân dân phòng tránh bom đạn, tăng gia sản xuất, cất dấu của cải và tiếp tế lương thực, thực phẩm cho bộ đội. Với tình nghĩa anh em ruột thịt, lúc này nhân dân Thanh-Nghệ-Tĩnh đã khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, ác liệt để cung cấp nhân lực, vật lực cho kháng chiến. Khi việc tiếp tế tuyến đường bộ gặp nhiều khó khăn thì Khu ủy và Bộ chỉ huy khu 4 tổ chức vận chuyển bằng đường biển. Mặc dù bị phong tỏa gắt gao, các đội vận tải thuyền buồm của Thanh-Nghệ-Tĩnh vẫn cập bến Cường Gián, Thái Lai, Mạch Nước (Vĩnh Linh) và Gia Đẳng (Triệu Phong), chỉ trong 3 tháng cuối năm 1947 đã chuyển vào chiến trường Bình-Trị-Thiên trên 100 tấn gạo, 21.000 mét vải, 10.000 viên thuốc kinin, 300 súng trường, 35.000 quả lựu đạn, 200 đạn bazôka. Đồng thời ba tỉnh còn ủng hộ Bình- Trị-Thiên 3,2 triệu đồng (tiền tài chính Việt Nam). Đây là nguồn động viên cổ vũ nhiệt tình đối với nhân dân Quảng Trị nói chung và lực lượng vũ trang tỉnh nói riêng.

Các chiến sĩ của Trung đoàn Thiện Thuật bám trụ ở đồng bằng xứng đáng là vai trò nòng cốt trong việc xây dựng cơ sở xây dựng đội quân “chân đất áo nâu”. Những đội tự vệ chiến đấu trải qua thử thách bước đầu dần dần đã rút ra được những kinh nghiệm trong phòng tránh và đánh địch. Phong trào cướp súng giặc đánh giặc, bước đầu đạt kết quả tốt. Lực lượng dân quân tự vệ trong tỉnh ở hầu hết khắp các xã qua phong trào này trình độ tác chiến được nâng lên, nhất là khả năng độc lập tác chiến bảo vệ làng. Đồng thời trang bị cũng được bổ sung thêm kể cả súng trường, lựu đạn và tiểu liên.

Chấp hành quyết định của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 28 tháng 7 năm 1947, Ủy ban hành chính cấp khu, tỉnh, huyện, xã được đổi thành Ủy ban kháng chiến hành chính. Đồng chí Nguyễn Xuân Luyện được Trung ương chỉ định làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Quảng Trị, đồng chí Trần Sâm làm ủy viên quân sự. Ít lâu sau vào tháng 8 năm 1947, tỉnh thành lập Ban chỉ huy tác chiến chung do đồng chí Trần Sâm làm chỉ huy trưởng, đồng chí Nguyễn Xuân Luyện làm chính trị viền đồng chí Nguyễn Văn Long làm phó chỉ huy(2).

Sự thống nhất Ủy ban kháng chiến hành chính các cấp và sự chỉ huy thống nhất của Ban tác chiến chung đã tăng cường hiệu lực lãnh đạo, chỉ huy, tạo điều kiện cho cuộc kháng chiến của nhân dân Quảng Trị có bước phát triển mới, ngày càng giành nhiều thắng lợi.

Để phù hợp với tình hình và nhiệm vụ mới, cuối năm 1947, Trung đoàn Thiện Thuật được đổi tên thành Trung đoàn 95, Tiểu đoàn 13 thành Tiểu đoàn 301, Tiểu đoàn 14 thành tiểu đoàn 302 và Tiểu đoàn 15 thành tiểu đoàn 310.

Đầu năm 1948, Trung ương Đảng ra chỉ thị thành lập phân khu Bình Trị Thiên trực thuộc Khu 4. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh Ủy viên Trung ương Đảng được cử làm Bí thư Phân khu ủy. Trong hoàn cảnh kháng chiến vô cùng gay go, gian khổ, Bình-Trị-Thiên là một chiến trường xa Trung ương và Bộ chỉ huy Liên khu 4(3) nên việc thành lập Phân khu là một chủ trương đúng đắn, kịp thời và sáng suốt.

Sau khi thành lập Phân khu Bình Trị Thiên, Bộ chỉ huy Phân khu cũng được thành lập. Kể từ đây Trung đoàn 95 và các lực lượng vũ trang Quảng Trị, đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của Bộ chỉ huy Phân khu Bình Trị Thiên.


(1) Hồ Chí Minh - về đấu tranh vũ trang và lực lượng vũ trang nhân dân. NXB QĐND - 1970. Tr. 174
(2) Đồng chí Trần Sâm là Trung đoàn trưởng Trung đoàn Thiện Thuật. Đồng chí Nguyễn Văn Long là Tỉnh đội trưởng
(3) Sắc lệnh 120/SL. ngày 25/1/1948, đổi tên Khu 4 thành Liên khu 4


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Sáu, 2020, 08:47:09 am
*
*   *

Ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến, mặc dù thực dân Pháp sau khi chiếm được Quảng Trị đã tăng cường đàn áp, càn quét, khủng bố khắp nơi hòng tiêu diệt bộ đội chủ lực và các lực lượng kháng chiến của tỉnh, nhưng mọi cố gắng của chúng đều thất bại.

Lực lượng vũ trang của tỉnh, đặc biệt là Trung đoàn Thiện Thuật đã phân tán về các cơ sở bám đất, bám dân, phối hợp cùng dân quân tự vệ xây dựng cơ sở, liên tục quấy rối tiêu hao, tiêu diệt địch gây cho chúng nhiều thiệt hại.

Trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến, chủ trương đưa bộ đội chủ lực về cơ sở bám đất, bám dân, bám trụ chiến đấu là một chủ trương rất đúng đắn và sáng suốt. Nhờ có chủ trương này mà tuy bị giặc Pháp đàn áp, khủng bố khốc liệt, chiếm đóng đến đâu chúng lập hội tề khống chế nhân dân đến đó, nhưng cơ sở của ta vẫn không bị vỡ, bộ đội vẫn bám chắc trong dân, niềm tin của nhân dân vào kháng chiến dần dần được củng cố, phong trào kháng chiến vẫn được duy trì và phát triển. Mặt khác cũng nhờ chủ trương này mà khi 2 tỉnh Quảng Bình và Thừa Thiên có chủ trương “về đồng bằng” và “hạ sơn” thì lực lượng vũ trang Quảng Trị ngay từ khi thế địch còn mạnh ồ ạt tiến quân trong những ngày đầu kháng chiến, vẫn bám trụ được trong dân, được nhân dân che chở, nuôi dưỡng; nay trước tình thế mới đã bước sang thế chủ động tấn công kẻ thù ở khắp mọi nơi trong tỉnh. Đến tháng 5 năm 1948, khi Trung ương Đảng có chủ trương “đại đội độc lập”, “tiểu đoàn tập trung” nhằm phân tán lực lượng đưa các đại đội về hoạt động ở các huyện thì bộ đội chủ lực tỉnh đã có cơ sở hình thành và củng cố thế trận chiến tranh nhân dân đã được thiết lập từ trước. Tiểu đoàn bộ đội tỉnh phân chia các đại đội hoạt động như sau:

Một đại đội hoạt động ở Hướng Hóa - Biên giới Việt-Lào

Một đại đội hoạt động ở Cam Lộ, Gio Linh, Vĩnh Linh

Một đại đội hoạt động ở Triệu Phong, Hải Lăng.

Các đại đội độc lập này ngay từ lúc phân tán đã phối hợp chặt chẽ với dân quân các địa phương hoạt động có hiệu quả. Thực hiện chỉ thị “Luyện quân luyện công” của Liên khu ủy, sau khi nghiên cứu kỹ quy luật hoạt động của lính công binh Pháp vào buổi sáng thường cho quân đến sửa chữa cầu Độc Mạch trên đường số 9 thuộc địa phận Cam Lộ mà đêm đến bị dân quân phá hoại, một đại đội của Trung đoàn 95 đã phục kích từ 4 giờ sáng chờ địch đến là đánh. Khoảng 7 giờ ngày 23 tháng 6/1948 một chiếc xe chở lính vừa dừng lại ở mố cầu, bộ đội ta bất ngờ nổ súng xung phong lao ra mặt đường. Mười ba lính công binh Pháp không kịp kháng cự, chỉ còn biết giơ tay hàng. Ta thu toàn bộ vũ khí, bắt tên lái xe chở hàng binh về vị trí quy định.

Vừa đẩy mạnh tác chiến, các lực lượng vũ trang vừa tuyên truyền, vận động, giúp đỡ nhân dân lập làng chiến đấu. Khắp các địa phương trong tỉnh đều tổ chức rào làng chiến đấu. Nhiều hàng rào bằng tre, gỗ, hào giao thông, và các loại hầm hố chiến đấu mọc lên để ngăn chặn bước tiến của quân thù. Làng chiến đấu xã Vĩnh Hoàng (Vĩnh Linh) là một trong những điển hình tiêu biểu của phong trào lập làng chiến đấu ở Quảng Trị.

Cũng trong thời gian này, căn cứ du kích Chợ Cạn (Triệu Phong) được thành lập. Đây là một bước phát triển mới của cuộc kháng chiến, là nét độc đáo trong cuộc chiến tranh nhân dân chống thực dân Pháp ở Quảng Trị. Căn cứ du kích chợ Cạn được hình thành và tồn tại giữa vùng đồng bằng đông dân, nhiều của ở hai huyện Triệu Phong và Hải Lăng có ý nghĩa, tác dụng to lớn trong những năm đầu kháng chiến. Căn cứ Chợ Cạn là hành lang đầu tiên chống càn quét. Cơ quan lãnh đạo các cấp có một bộ phận đóng ở đây để tổ chức xây dựng cơ sở, xây dựng lực lượng dân quân tự vệ tổ chức chỉ đạo, chỉ huy kháng chiến. Cùng với chiến khu Ba Lòng và các căn cứ lõm khác ở khắp nơi trong tỉnh, căn cứ chợ Cạn đã gây được niềm tin tưởng của nhân dân đối với cuộc kháng chiến. Căn cứ du kích chợ Cạn cũng là nguồn cung cấp tiếp tế một phần đáng kể lương thực, thực phẩm cho chiến khu Ba Lòng trong những ngày gian khổ. Con đường chợ Cạn - Phong An - Trấm - Ba Lòng là con đường huyết mạch của tỉnh ta trong buổi đầu kháng chiến.

Căn cứ địa chợ Cạn đã phản ảnh khá đậm nét việc tổ chức, thực hiện đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng ta trong thời kỳ đầu chống Pháp. Đặc biệt về tổ chức và hoạt động chiến đấu, căn cứ kháng chiến chợ Cạn đã để lại những bài học quý về mô hình làng bản chiến đấu ở vùng đồng bằng.


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Sáu, 2020, 09:02:44 am
*
*   *

Nhằm thực hiện âm mưu bình định, thực dân Pháp một mặt ra sức đàn áp, khủng bố mở rộng vùng chiếm đóng, mặt khác chúng xúc tiến xây dựng và củng cố ngụy quân ngụy quyền. Gót giày xâm lược của chúng đi đến đâu là hội tề mọc lên đến đó. Bọn Việt gian phản động, bọn đội lốt tôn giáo, bọn địa chủ cường hào... có nợ máu với nhân dân có dịp tâng công với quan thầy, ra sức kềm kẹp, áp bức nhân dân, chỉ điểm lùng bắt cán bộ, đảng viên và cơ sở kháng chiến. Chúng dùng hội tề để gây cơ sở chính trị và thanh thế cho chính quyền bù nhìn, động viên tinh thần ngụy quân, lừa bịp dân chúng, chia rẽ lương giáo, chia rẽ nhân dân với bộ đội, với chính quyền cách mạng; tổ chức các đảng phái phản động, tuyển mộ, ngụy binh; làm tai mắt dò xét cơ sở và các hoạt động của ta; làm công cụ để thu thuế, vơ vét của cải và phá hoại kinh tế kháng chiến.

Trước tình hình đó, hội nghị cán bộ Liên khu 4 ngày 28 tháng 7 năm 1947 chủ trương phát động chiến dịch phá tề, trừ gian trong toàn Liên khu và chỉ rõ: “Chính sách phá tề trừ gian không phải chỉ có xử phạt mà còn phải cảm hóa, lôi kéo họ về với dân tộc(1).

Thực hiện chủ trương đó của Khu ủy và Bộ Chỉ huy Liên khu 4, Tỉnh ủy đã phát động phong trào phá tề trừ gian trong toàn tỉnh. Phát huy sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân, bộ đội và dân quân du kích phối hợp chặt chẽ với lực lượng công an nhân dân, dựa vào cơ sở quần chúng chống phá âm mưu lập chính quyền bù nhìn của địch. Dưới sự chỉ đạo của cấp ủy Đảng các đội “Công an xung phong” của lực lượng công an, một mặt trừng trị những tên việt gian bán nước đầu sỏ, mặt khác tuyên truyền giáo dục, vận động bọn tề ngụy, Việt gian thấy rõ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta là chính nghĩa, đồng thời làm cho chúng hiểu rõ chính sách khoan hồng của Chính phủ và Hồ Chủ tịch với những kẻ lầm đường lạc lối trở về với dân tộc để họ tự nguyện từ bỏ con cường làm tay sai cho giặc trở về với nhân dân.

Chỉ trong một thời gian ngắn, phong trào phá tề trừ gian trong tỉnh đã phát triển khá cao tạo điều kiện cho phong trào xây dựng cơ sở của ta phát triển mạnh mẽ và vững chắc. Ta chủ trương cùng lúc tất cả các địa phương trong tỉnh đều phá tề làm cho địch phải phân tán lực lượng đối phó, khó có điều kiện tập trung để khủng bố nhân dân.

Tháng 12 năm 1948, Trung ương Đảng lại ra lệnh tổng phá tề trong cả nước, tiếp thêm sức mạnh cho nhân dân và lực lượng vũ trang tỉnh.

Được sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang và công an nhân dân, quần chúng cách mạng đã nhất tề nổi dậy phá kìm, diệt ác trừ gian giành quyền làm chủ. Chính quyền nhân dân được thành lập và củng cố, hoạt động ngày càng có uy tín đối với nhân dân. Nếu như cuối năm 1947 trong toàn tỉnh chỉ có 600 hương, lý, tề đầu thú hoặc bỏ trốn thì đến cuối năm 1948 qua việc thực hiện các chỉ thị tổng phá tề nói trên, tỉnh ta đã phá được 183 ban tề. Phối hợp với lực lượng công an, ta đã 6 lần giải tán hội tề huyện, bắt 16 ban hội tề xã, 24 hội tề thôn, tóm gọn 1 tổ gián điệp, bắt 20 tên Việt gian, 39 tên gián điệp... góp phần làm suy yếu hệ thống chính quyền ngụy từ tỉnh đến xã.

Cuộc vận động phá tề diệt gian là cái mốc để chuyển từ tình trạng đau thương của Bình - Trị - Thiên sang bước khôi phục kháng chiến ở Bình - Trị - Thiên nói chung và Quảng Trị nói riêng. Cuộc vận động phá tề trừ gian và “Đại đội độc lập” là yếu tố thứ nhất để thúc đẩy cuộc chiến tranh ở Bình - Trị - Thiên thành cuộc chiến tranh nhân dân thực sự.

Thực dân Pháp vô cùng bối rối và cay cú trước những thắng lợi ta giành được trong cuộc vận động phá tề trừ gian, chúng điên cuồng, lồng lộn tìm mọi thủ đoạn tăng cường khủng bố, đàn áp, lùng bắt cán bộ, bộ đội để trấn an bọn tay sai. Cuộc đấu tranh giữa ta và địch trên mặt trận này dai dẳng và hết sức quyết liệt. Chúng cố gắng lập tề, ta quyết tâm phá bỏ. Nhiều thôn xã ta vừa phá xong địch liền quay trở lại đàn áp khủng bố nhân dân, cán bộ phá nát cơ sở, lập lại ngụy quyền tay sai. Có nơi ta phá đi, địch lập lại ba, bốn lần. Xảo quyệt và thâm độc hơn, chúng còn lập hội tề “hai mặt”, “tề bí mật”, “tề cơ động” để đối phó với ta. Nhiều tên tề gian ác chỉ dám hoạt động ban ngày, còn ban đêm lẻn vào ngủ trong đồn địch để bảo toàn tính mạng.

Đi đôi với nhiệm vụ phá kìm, diệt ác, trừ gian, phong trào binh vận cũng ngày càng phát triển. Dựa vào lực lượng quần chúng, ta đã vận động được hàng chục binh lính địch trở về với cách mạng. Hầu hết các đồn bốt địch đều có cơ sở của ta. Nhiều binh sĩ địch do bị bắt buộc phải đi lính cho Pháp nhưng lòng vẫn hướng về kháng chiến. Tình cảm của những người mẹ, người chị luôn luôn là chỗ dựa tinh thần cho những ai lầm đường lạc lối. Ngày 15 tháng 5 năm 1949, các mẹ, các chị và dân quân du kích xã Cam Mỹ (Cam Lộ) đã tuyên truyền vận động 5 ngụy binh mang theo 5 súng trường Mỹ và 25 viên đạn trở về với nhân dân. Cũng trong thời gian trên, một nhân viên địch vận thuộc xã đội bộ dân quân Phong La (Triệu Phong) đã vận động 4 người lính Việt thuộc đội Kommandos ở thị xã Quảng Trị mang theo 1 thomson và 3 súng trường Mỹ trở về với cách mạng. Chị Trần Thị Huyền (Gio Linh) đã vận động 32 lính ngụy phần lớn là ngụy (Lào và Campuchia) trở về với ta.


(1) Hội nghị cán bộ Liên khu 4. Ngày 28/7/1947 - QK4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Tr.124, 125


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Sáu, 2020, 09:03:38 am
Phối hợp với việc phá tề, trừ gian, binh địch vận, nhiều cuộc mít tinh, biểu tình của quần chúng nhân dân cũng được tổ chức nhằm đấu tranh chống lại việc địch bắt lính chống khủng bố đàn áp nhân dân, chống thu thuế, đòi tự do, dân chủ...

Kết hợp với việc tấn công địch bằng quân sự, chính trị, binh vận, ta còn chủ trương bao vây kinh tế địch, đẩy mạnh công tác bảo vệ và thu hoạch mùa và lưu hành bạc tài chính Việt Nam.

Ở các vùng trọng điểm lúa như Triệu Phong, Hải Lăng lực lượng vũ trang chủ động tổ chức một bộ phận canh gác bảo vệ, chống địch đi càn quét, cướp phá lúa gạo, mặt khác tập trung lực lượng tay liềm tay súng cùng thu hoạch mùa với nhân dân. Do đó đã hạn chế nhiều thiệt hại do địch gây ra.

Việc bao vây kinh tế địch được nhân dân nhiệt liệt hưởng ứng. Khắp nơi ở các ngã đường đi vào thị xã và vùng địch chiếm đóng, đều bố trí các vọng gác của công an, dân quân tự vệ để kiểm soát. Chợ kháng chiến được tổ chức khắp nơi và lưu hành rộng rãi bạc Việt Nam. Các chợ do địch kiểm soát bạc Tài chính Việt Nam phải thu dấu và trao đổi giữa những người thật đáng tin cậy. Nhưng một thực tế rõ ràng là càng ngày đồng bạc Tài chính Việt Nam càng chiếm ưu thế trên thị trường buôn bán của nhân dân so với đông Đông Dương của Pháp.

Chỉ sau vài tuần phát động, việc bao vây kinh tế địch đã đem lại hiệu quả rõ rệt: Trong toàn tỉnh có 10 chợ do địch kiểm soát, thực phẩm trở nên khan hiếm trầm trọng, giá cả tăng vọt, thậm chí có lúc không có để mua, gây cho địch nhiều khó khăn lúng túng.

Về phía ta, nhờ bao vây kinh tế địch mà giải quyết được vấn đề thiếu lương thực, thực phẩm, tránh được nạn đói đầu năm 1949, đồng thời bảo vệ được giá trị đồng bạc Việt Nam. Mặt khác cũng nhờ kết hợp hài hòa giữa đấu tranh quân sự, chính trị, binh vận và bao vây kinh tế địch mà cuộc chiến đấu của nhân dân ta ngày càng thu được nhiều thắng lợi.

Về phía địch tuy thế đang mạnh nhưng vẫn bộc lộ hai điểm yếu nhất lúc này là tiếp tế lương thực và ngụy binh. Ta khoét sâu vào hai chỗ yếu đó bằng cách nêu lên các khẩu hiệu: “Đứng đi lính cho giặc, ngụy binh trở về với Tổ quốc”, “Bao vây kinh tế địch và địch vận”. Các khẩu hiệu này đưa ra đã được nhân dân khắp nơi hưởng ứng nhiệt liệt, nhất là từ đầu năm 1949 trở đi. Kết quả bước đầu của cuộc vận động bao vây kinh tế địch và địch vận cộng với kế hoạch đại đội độc lập, trừ tề diệt gian trong mấy tháng cuối năm 1948 và đầu năm 1949 thu thắng lợi khá, đánh dấu bước tiến mới của phong trào kháng chiến trong tỉnh, góp phần đưa cuộc kháng chiến ở chiến trường Bình - Trị - Thiên từ giai đoạn phòng ngự lên giai đoạn cầm cự.

Thế và lực của ta ngày càng được xây dựng, củng cố và phát triển. Tháng 3 năm 1949 Hội đồng nhân dân tỉnh họp hội nghị đề ra các chủ trương biện pháp bổ sung kịp thời cho tình hình và nhiệm vụ mới, trong đó nhấn mạnh:

- Kiện toàn bộ máy chính quyền ta, ra sức phá tan bộ máy ngụy quyền của địch.

- Tích cực phát triển dân quân, xây dựng bộ đội địa phương huyện và tỉnh.

- Đặc biệt cải thiện dân sinh và vận động thực hiện đời sống mới trong nhân dân.

- Đối phó với chủ trương của địch đưa Bảo Đại về nước.

- Tiếp tục bao vây kinh tế địch.

Thực hiện những chủ trương quan trọng đó, phong trào chống địch tập trung, chống lập hội tề, tăng gia sản xuất cải thiện đời sống... ngày càng được đông đảo nhân dân tự nguyện hưởng ứng.

Ngày 14 tháng 7 năm 1949, Chính phủ ta ra sắc lệnh về giảm tô, giảm tức, về tịch thu ruộng đất của Việt gian và tạm giao ruộng đất vắng chủ cho nông dân chưa có ruộng cày. Riêng ở Quảng Trị còn có phong trào vận động người nhiều ruộng hiến ruộng, hiến đất cho chính quyền cách mạng để tạm cấp cho nông dân. Đối với người nông dân làm thuê cuốc mướn, đây là cuộc đổi đời thực sự. Ước mơ ngàn đời của họ chỉ có dưới chính quyền cách mạng mới trở thành hiện thực. Đời sống nông dân được cải thiện. Phong trào tăng gia sản xuất phát triển mạnh mẽ và đều khắp, niềm tin của nhân dân đối với chính quyền cách mạng được củng cố.

Cùng với những bước phát triển về kinh tế, các mặt văn hóa xã hội, giáo dục, y tế... dù trong điều kiện chiến tranh ác liệt vẫn có những mặt tiến bộ đáng kể. Phong trào “diệt giặc dốt” vẫn được duy trì, các trường phổ thông cấp I, II được xây dựng. Phong trào xây dựng nếp sống mới đã trở thành phổ biến trong nhân dân. Tỉnh và huyện đều có bệnh viện, bệnh xá. Phong trào văn hóa văn nghệ được các tầng lớp thanh thiếu nhi tham gia sôi nổi. Tháng 9 năm 1948, Ban vận động văn hóa văn nghệ Bình - Trị - Thiên được thành lập tại chiến khu Ba Lòng nhằm động viên lực lượng văn hóa văn nghệ kháng chiến và địch hậu tăng cường hoạt động phụng sự công cuộc kháng chiến. Ban vận động văn hóa văn nghệ gồm một số nhà hoạt động văn hóa: Phan Văn Hy, Hoàng Đức Trạch, Lưu Trọng Lư, Vĩnh Mai, Võ Thuần Nho. Từ đây phong trào văn hóa văn nghệ ở Quảng Trị khởi sắc. Ở chiến khu các hoạt động báo chí, thông tin, triển lãm nở rộ. Ở nông thôn nhiều nơi trở thành các tụ điểm lôi kéo những lực lượng văn hóa tiến bộ trong vùng địch tham gia. Nhiều bài thơ hay ca ngợi cuộc chiến đấu của nhân dân ta, biểu dương những chiến sĩ dũng cảm ra đời được bộ đội và nhân dân yêu mến. Phong trào văn hóa văn nghệ đã góp phần động viên quân dân trong tỉnh hăng hái kháng chiến, lạc quan tin tưởng ngày chiến thắng.

Các tổ chức Đảng và đoàn thể quần chúng như Thanh niên, Phụ nữ, Nông dân, Công đoàn... được chú trọng xây dựng và củng cố ngày càng vững mạnh.


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Sáu, 2020, 09:04:07 am
*
*   *

Ngay từ những ngày đầu giặc pháp chiếm đóng Quảng Trị, quân và dân ta vừa kháng chiến chống lại mọi âm mưu bình định của địch, vừa xây dựng củng cố bảo vệ cơ sở. Nhận rõ âm mưu thâm độc của thực dân Pháp nhằm càn quét, khủng bố tiêu diệt lực lượng kháng chiến để thiết lập hệ thống chính quyền từ miền ngược đến miền xuôi, ngay từ buổi đầu, Tỉnh ủy đã có chủ trương đúng đắn là phân tán lực lượng vũ trang và cán bộ chủ chốt về các địa phương bám đất, bám dân, bám trụ chiến đấu, củng cố và xây dựng cơ sở, xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, công an, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân. Vì vậy mà sớm hình thành được căn cứ du kích Chợ Cạn ngay giữa vùng đồng bằng đông dân nhiều của, đồng thời cũng tạo được thế cài răng lược giữa ta và địch trên nhiều địa bàn khác.

Cơ sở của địch càng bị phá vỡ, cơ sở của ta càng được củng cố và phát triển, đó là điều kiện quan trọng để đảng bộ và quân dân Quảng Trị giành nhiều thắng lợi trên tất cả các mặt công tác. Dù khó khăn ác kiệt đến mấy, do biết dựa vào dân, lấy dân làm gốc, bám dân, tin dân, phát động được tinh thần yêu nước của toàn dân, xây dựng lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chủ tịch, làm cho quần chúng nhân dân ý thức được mục đích của cuộc kháng chiến trường kỳ là đánh thắng thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập hoàn toàn cho đất nước, nhất định quân và dân Quảng Trị sẽ vượt qua mọi khó khăn đưa cuộc kháng chiến từng bước tiến lên.


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Sáu, 2020, 10:20:13 am
II - RA SỨC XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN,
PHÁT TRIỂN CHIẾN TRANH DU KÍCH, ĐẨY MẠNH KHÁNG CHIẾN

Thu - Đông năm 1947, ta thắng lớn ở Việt Bắc buộc địch phải thay đổi chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh” sang “đánh kéo dài” thực hiện âm mưu “dùng người Việt đánh người Việt”.

Ở Bình - Trị - Thiên nói chung và ở Quảng Trị nói riêng địch ra sức tăng cường càn quét vùng đồng bằng, đánh phá chiến khu, xây dựng công sự, củng cố vùng chiếm đóng, bao vây kinh tế của ta, ra sức bắt lính, phát triển ngụy quân, củng cố ngụy quyền.

Đối phó với âm mưu chiến lược mới của địch, Tỉnh ủy chủ trương tăng cường xây dựng và củng cố lực lượng vũ trang cả về số lượng lẫn chất lượng, phát triển chiến tranh du kích, đưa phong trào kháng chiến ở địa phương lên một bước. Đồng thời tiếp tục phát động phong trào toàn dân tham gia đánh giặc.

Thực hiện chủ trương trên, Trung đoàn 95 được biên chế đủ quân số cho 3 Tiểu đoàn 13, 14, 15 với 1.745 người. Đại đội Lê Hồng Phong được bổ sung thêm quân số từ du kích ở các huyện. Mỗi huyện được biên chế 1 trung đội dân quân thường trực, ở hầu hết các xã có từ 1 tiểu đội đến 1 trung đội dân quân tập trung. Tất cả các lực lượng trên vượt qua mọi khó khăn thiếu thốn, thực hiện nhiệm vụ lúc này là bám đất, bám dân xây dựng cơ sở, xây dựng dân quân du kích, bảo vệ và giúp đỡ nhân dân tăng gia sản xuất, thu hoạch mùa màng, cất dấu của cải, phối hợp với các lực lượng công an và nhân dân phá tề trừ gian, chống địch càn quét, bình định, tuyên truyền vận động giúp đỡ nhân dân rào làng chiến đấu, quấy rối, tiêu hao tiêu diệt sinh lực địch.

Trong mấy năm đầu cuộc kháng chiến, quân và dân Quảng Trị phải chịu đựng một cuộc sống vô cùng gian khổ: Đói rét, bệnh tật, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, thuốc không có uống. Tại bệnh viện K42 không ít lần bác sĩ buộc phải dùng cưa thợ mộc cưa xương thương binh trong các ca phẫu. Nhất là Thu - Đông năm 1947, bộ đội và nhân dân ta phải chịu đựng cái đói và rét cực kỳ ghê gớm. Ở chiến khu Ba Lòng, anh em bộ đội mỗi ngày được ăn một vắt cơm bằng quả trứng, có ngày chỉ vài khúc sắn nhỏ.

Có khi một tuần lễ liền cả đại đội không còn một hạt gạo, bộ đội phải hái rau tàu bay luộc ăn thay cơm. Không ít đơn vị bộ đội hoạt động ở vùng Gio Linh, Hải Lăng, Vĩnh Linh phải ăn thân cây xương rồng luộc chín, ở đại đội Lê Hồng Phong một viên quynin hay quinacrin phải đem hòa ra lọc lấy nước tiêm cho người sốt nặng, còn bã cho người sốt nhẹ uống, một viên thuốc như vậy điều trị cho vài ba người. Nhiều ngày đói đến run tay, nhiều đêm lạnh đến tê người. Mặc dù vậy, cán bộ chiến sĩ vẫn lạc quan tin tưởng vẫn trọn nghĩa vẹn tình với kháng chiến.

Đời sống thì đã vậy, đi hoạt động còn gian khổ gấp bội. Cán bộ, chiến sĩ ta phải lần mò trong đêm trèo đèo, lội suối, băng rừng, giày dép không có phải đi chân đất. Gai góc, đá nhọn, rắn rết, vắt sên và kẻ thù rình rập, luôn luôn là những trở ngại, đáng sợ đối với mỗi người. Từ trong gian khổ, khó khăn, cán bộ chiến sĩ ta luôn luôn mưu trí, sáng tạo tìm mọi cách khắc phục hoàn cảnh để vượt lên. Trước hết là phải bảo vệ đôi chân “trường kỳ kháng chiến”. Vì thế đôi dép cao su đã ra đời. Chiến sĩ Lê Ngộ đã có sáng kiến lấy lốp xe Zeep của giặc bị ta phá hỏng cắt thành dép để đi. Từ đôi dép cao su đầu tiên của Lê Ngô dần dần được cải tiến thành dép cao su Bình - Trị - Thiên có bốn quai. Sáng kiến tuy nhỏ bé và đơn giản nhưng lúc bấy giờ có tác dụng rất lớn bảo vệ đôi chân người chiến sĩ. Chính từ sáng kiến này mà phong trào tìm diệt xe giặc để lấy lốp làm dép được phát triển khắp nơi. Cuối năm 1947, đồng chí Trần Quý Hai, Phân khu trưởng Phân khu Bình - Trị - Thiên có dịp ra Việt Bắc đã mang theo một đôi dép cao su Bình - Trị - Thiên tặng Bác Hồ. Từ đó đôi dép cao su - đôi dép Bác Hồ đã theo chân người chiến sĩ đi suốt chặng đường dài của hai cuộc kháng chiến và kỳ diệu thay trở thành huyền thoại của thế kỷ 20.


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Sáu, 2020, 10:21:07 am
*
*   *

Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh ủy và Ủy ban kháng chiến hành chính các cấp, phong trào chiến tranh du kích, phong trào toàn dân đánh giặc ngày càng phát triển. Thực dân Pháp điên cuồng tổ chức nhiều cuộc càn quét quy mô lớn chà đi xát lại nhiều lần vào căn cứ du kích ở đồng bằng Triệu Hải và chiến khu Ba Lòng hòng tiêu diệt cơ quan đầu não của tỉnh, tiêu diệt bộ đội, cán bộ, đảng viên, dập tắt phong trào kháng chiến, gây ra nhiều vụ thảm sát rùng rợn, đe dọa và uy hiếp tinh thần kháng chiến của nhân dân ta. Nhưng chúng đã lầm. Bình - Trị - Thiên nói chung và Quảng Trị nói riêng từ trong khói lửa ngày nào giờ đây đã thành “Bình - Trị - Thiên quật khởi”.

Cùng với sự lớn mạnh của cơ sở, phong trào chiến tranh du kích phát triển ngày càng đều khắp ở Quảng Trị. Các trận đánh nhỏ, lẻ nhiều vụ quấy rối ban đêm diễn ra liên tiếp làm cho giặc Pháp và bọn tay sai mất ăn mất ngủ, hoang mang, lúng túng và bị động đối phó. Sự hợp đồng chiến đấu giữa bộ đội chủ lực và dân quân du kích ngày càng gắn bó chặt chẽ. Cách đánh du kích của bộ đội và dân quân ngày càng linh hoạt, mưu trí, sáng tạo. Trung đoàn 95, bộ đội chủ lực của tỉnh luôn luôn cơ động, liên tục tập kích, phục kích, nghi binh, bao vây quấy rối làm cho quân giặc nơm nớp lo sợ. Giữa vòng vây của quân thù, bị càn đi quét lại liên miên, bọn Việt gian, mật thám, chỉ điểm lùng sục khắp mọi lúc mọi nơi, nhưng được nhân dân tin yêu đùm bọc, che chở cán bộ chiến sĩ ta vẫn vững vàng trên trận tuyến đấu tranh.

Từ tháng 4 năm 1947 trở đi, công tác chuẩn bị kháng chiến lâu dài được tiến hành khẩn trương, tích cực. Kế hoạch bố phòng, xây dựng và tác chiến của bộ đội chủ lực và dân quân tự vệ được chuẩn bị đầy đủ hơn.

Trên cơ sở nắm vững quan điểm bạo lực cách mạng, quan điểm quần chúng, tư tưởng cách mạng tiến công của Đảng, quân và dân Quảng Trị phối hợp chặt chẽ với nhau đưa phong trào toàn dân tham gia đánh giặc lên một bước phát triển mới, đúng như đánh giá của Phân khu ủy Phân khu Bình - Trị - Thiên: “Bộ đội Quảng Trị đã lập được nhiều chiến công đáng kể, thu được nhiều vũ khí và bắt được tù binh. Mùa hè và Thu - Đông năm 1948 chỉ tính trong một tuần 11 phối hợp với Quảng Bình đã phá hủy được trên 30 xe và giết trên 100 tên giặc (trong đó có một đại tá) chủ yếu bằng địa lôi chiến. Trong trận tấn công Quảng Trị của giặc Pháp du kích thường trực và du kích xã đã đánh địch một cách có hiệu quả, du kích đã đóng một vai trò quan trọng trong việc tiêu hao, tiêu diệt địch”.

Thực dân Pháp từ chỗ chủ động tiến công đã phải chuyển sang thế bị động đối phó. Các trận đánh nhỏ, lẻ bằng chiến thuật du kích vận động chiến của các đội biệt động và dân quân du kích diễn ra liên tiếp và ngày càng nâng cao hiệu suất chiến đấu. Giặc Pháp càng điên cuồng, lồng lộn càn quét, cướp phá; quân và dân ta càng chủ động trong việc chống càn. Khắp các làng xá, trên mọi nẻo đường vật chướng ngại được dựng khắp nơi. Hàng rào tre, gỗ, các ụ chướng ngại bằng đất đá, các đường hầm hào xuyên ngang xẻ dọc, tạo thêm điều kiện cho ta chiến đấu và chiến thắng trong phong trào toàn dân đánh giặc.

Lực lượng kháng chiến ngày một trưởng thành, chiến tranh du kích ngày càng phát triển. Thực dân Pháp không những phải đương đầu với sức mạnh của bộ đội chủ lực và dân quân du kích mà còn với sức mạnh tổng hợp của phong trào toàn dân đánh giặc. Cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện ngày càng rõ nét, tạo cho ta lớn dần lên nhiều mặt.

Cuộc kháng chiến anh dũng của quân và dân Quảng Trị trong năm 1947 đã thu được thắng lợi về nhiều mặt: Gây dựng được cơ sở kháng chiến, củng cố và xây dựng lực lượng vũ trang ngày càng vững mạnh về cả số lượng và chất lượng, đồng thời vừa xây dựng vừa chiến đấu đã tổ chức đánh địch trên 80 trận lớn nhỏ, trong đó có 18 trận tấn công, 25 trận đột kích, 21 trận phục kích, 1 trận tập kích... Tiêu diệt 2.397 tên địch và làm bị thương 268 tên khác, góp phần giam chân Pháp ở Bình - Trị - Thiên không cho chúng tấn công ra vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh.


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Sáu, 2020, 10:22:35 am
*
*   *

Đối phó với sức mạnh của chiến tranh nhân dân, sang năm 1948 giặc Pháp điên cuồng tổ chức nhiều đợt, càn quét, cướp phá qui mô lớn kéo dài hàng tuần lễ. Chúng cho rằng nguồn gốc tai họa đối với chúng chính là những căn cứ Việt Minh trên rừng núi, vì vậy phải quyết tâm triệt hạ các chiến khu của ta. Thực hiện âm mưu thâm độc đó, chúng đã huy động một lực lượng lớn kể cả thủy lục, không quân, thiết giáp và đại bác tổ chức nhiều đợt càn quét, khủng bố dã man vào các vùng căn cứ và chiến khu của ta trên rừng núi như Thủy Ba, Cẩm Phổ, Cùa, Ba Lòng, Hòn Linh, Bợc Lở, Khe Mương...

Ngày 2 tháng 1 năm 1948, địch tấn công vào chiến khu Quảng Trị.

Ngày 7 tháng 3 năm 1948 địch càn vào chiến khu Hòn Linh, Bợc Lở.

Ngày 11 tháng 3, địch nhảy dù xuống chiến khu Quảng Trị. Các trận càn trên có quy mô lớn nhỏ và thời gian dài ngắn khác nhau nhưng kết quả đều thất bại, đậm nhất là trận càn vào chiến khu Hòn Linh, Bợc Lở nằm ở phía tây nam huyện Hải Lăng, là tiền chiến khu của chiến khu Ba Lòng. Thực hiện âm mưu thâm độc hòng tiêu diệt cơ quan lãnh đạo của tỉnh thời gian này đang đóng ở Hòn Linh, đêm 6-3-1948, địch dùng pháo bắn phá dữ dội lên Hòn Linh rồi sáng hôm sau huy động trên 1.500 quân chia làm ba cánh tấn công lên chiến khu. Kết hợp với bộ binh, địch cho 5 chiếc máy bay Đa-cô-ta thả quân dù xuống xóm Dạ Gỗ, nơi Phân khu ủy và Bộ chỉ huy Phân khu đặt sở chỉ huy.

Ta biết được âm mưu của địch từ khi chúng chuẩn bị hành binh đã lập kế hoạch chủ động đối phó nên lực lượng kháng chiến được bảo toàn. Một mặt cơ quan đầu não khẩn trương sơ tán rút lên chiến khu Ba Lòng, mặt khác chỉ đạo các đơn vị chủ lực ở đồng bằng và dân quân du kích vùng tiền chiến khu chủ động tiến công trước lúc địch càn.

Trong trận chống càn này, đại đội Lê Hồng Phong phối hợp chặt chẽ với tiểu đoàn 302 bộ đội chủ lực của Phân khu và dân quân du kích địa phương đã lập công xuất sắc, gây cho địch nhiều thiệt hại. Với chiến thuật du kích vận động chiến, biết lợi dụng địa hình rừng núi hiểm trở, mưu trí linh hoạt trong chiến đấu, quân và dân ta đã làm thất bại âm mưu của địch. Hàng trăm tên địch phải bỏ mạng, hàng chục tên khác bị thương. Trận càn thất bại làm cho quân Pháp phải chua chát thừa nhận: “Các chiến thuật cổ điển áp dụng từ trước đến nay, chiến thuật gọng kìm chớp nhoáng, ồ ạt không có hiệu quả với rừng núi hiểm trở, với chiến thuật du kích vận động, với tinh thần cảm tử của đối phương(1)”.

Bị thua đau ở chiến trường rừng núi, thực dân Pháp đành quay về bình định ở vùng đồng bằng, tàn sát dân thường hòng cứu vớt danh dự và phục thù cho thất bại ở chiến trường rừng núi. Ngày 17 tháng 3 năm 1948, chúng gây tiếp vụ thảm sát rùng rợn ở chợ Cạn (Triệu Phong). Hơn một tiểu đoàn quân Pháp với trang bị vũ khí hiện đại, có máy bay, pháo binh, xe tăng yểm hộ đã dồn dân vào ngôi đình rộng khóa cửa lại rồi xả súng liên thanh giết hại trên 600 người phần lớn là ông bà già, phụ nữ và trẻ em. Chúng còn dốt phá trên 400 nóc nhà, bắn đắm 16 thuyền và giết chết 70 trâu, bò. Đây là vụ thảm sát tàn bạo và rùng rợn nhất của thực dân Pháp đối với nhân dân Quảng Trị nói chung và Triệu Phong nói riêng. Ngày 17 tháng 3 đã trở thành ngày căm thù của nhân dân Quảng Trị đối với giặc Pháp. Tiếp đến đầu tháng 4 năm 1948, trong “Tuần lễ Hải Lăng” giặc Pháp lại gây các vụ thảm sát dã man ở các xã Hải Châu, Hải Trình và nhất là ở Mỹ Thủy. Tính chung cả đợt này địch đã giết và làm bị thương trên 1000 đồng bào, bắt 150 người, 23 phụ nữ bị hãm hiếp, 1734 ngôi nhà bị đốt, 2264 thúng lúa và 465 lợn, bò bị cướp. Cần lưu ý rằng: Đây cũng là hành động hèn hạ nhất của giặc Pháp thường sử dụng trong chiến tranh cướp nước mỗi khi bại trận. Hơn 6 tháng sau, sau khi đồn Nhĩ Hạ (Gio Linh) bị diệt, vào ngày 15 tháng 10 năm 1948 chúng cũng huy động một tiểu đoàn quân Pháp bao vây thôn Tân Minh (cách Nhĩ Hạ 1km) xả súng bắn bừa bãi vào dân thường giết chết 131/171 người phần đông là người già, phụ nữ, trẻ em. 41 gia đình thôn này có người bị giết, trong đó có 3 gia đình bị giết sạch. Gia đình ông Nguyễn Quang Xưởng có 26 người bị giết hết.

Hai ngày sau vụ thảm sát chợ Cạn, thực dân Pháp liền vội vã kết hợp cả thủy, lục, không quân tấn công vào Triệu Phong, Hải Lăng để tìm diệt căn cứ du kích và tiểu đoàn 302 đang hoạt động ở vùng này. Nhưng được sự che chở của nhân dân, lực lượng ta vẫn ngoan cường chống cự, gây cho chúng nhiều thiệt hại. Các cuộc càn quét của địch dù tàn bạo đến mấy cũng không thể nào đè bẹp được ý chí quyết đánh và quyết thắng của người dân Quảng Trị và ngược lại càng nung nấu thêm lòng căm thù và tinh thần kiên trung bất khuất của nhân dân ta.

Để chi viện cho chiến trường và thực hiện chủ trương đánh mạnh ở Bình - Trị Thiên, Bộ chỉ huy Liên khu 4 đã điều Đại đội 87 Tiểu đoàn 400 thuộc Trung đoàn 9 cùng một số cán bộ tham mưu từ Thanh-Nghệ-Tĩnh vào phối hợp chiến đấu với quân và dân Quảng Trị.

Ngày 7 tháng 4 năm 1948, Đại đội 87 phối hợp với Đại đội 140 của Trung đoàn 95 và dân quân du kích địa phương vận động phục kích đánh địch càn quét ở làng Đồng Dương (Hải Lăng). Làng này ở phía đông nam huyện Hải Lăng có khe Chùa Diên Khánh đi qua, khe bọc như khuỷu tay, địa thế rất lợi hại cho quân ta phục kích. Bên này khe là bãi cát, bên kia khe là ruộng lầy. Giặc Pháp mở trận càn Đồng Dương nhằm mục đích tiêu diệt lực lượng kháng chiến của ta ở căn cứ chợ Cạn, uy hiếp tinh thần nhân dân đồng thời phá hoại mùa lúa đang thời kỳ trổ bông.

Sáng ngày 7 tháng 4, địch tập trung hơn một đại đội trong đó có một trung đội Pháp và 2 trung đội ngụy tập kết tại đình Đồng Dương để mở cuộc càn quét.

Đại đội 149 được tăng cường một trung đội của đại đội 87 bí mật phục kích dọc đường 8 đồng thời để một bộ phận phối hợp với dân quân du kích địa phương bố trí trong làng Đồng Dương hình thành thế trận bao vây.

Khoảng 7 giờ 30’, bọn địch bắt đầu hành quân càn quét. Đi đâu là 2 trung đội ngụy, đi sau là trung đội Pháp. Chúng vừa đi vừa bắn phá lung tung. Chờ cho địch lọt vào vị trí phục kích 15 đến 20 mét, ta đồng loạt nổ súng. Bị đánh bất ngờ số ngụy quân hoảng hốt vứt cả súng chạy tạt vào làng. Bọn Pháp hoảng loạn liều mạng qua khe tháo chạy nhưng gặp phải ruộng lầy bị thụt chân không leo lên được; ta bắt sống 12 tên, 3 tên khác ngoan cố chống cự bị tiêu diệt chỉ một tên chạy thoát. Số quân ngụy chạy vào làng cũng bị ta diệt gọn hoặc bắt sống. Kết quả trong trận này ta diệt gọn 2 trung đội địch, trong đó có tên đồn trưởng đồn Thế Chí Đông, bắt 12 tù binh Pháp và một số lính ngụy, thu 1 súng cối 60 ly, 1 trung liên, và 20 súng trường.

Cùng với chiến thắng của quân dân Quảng Bình, Thừa Thiên trong thời điểm này, chiến thắng Đồng Dương thể hiện sinh động tình đoàn kết hiệp đồng chiến đấu tiêu diệt kẻ thù chung của Quảng Trị với lực lượng vũ trang và nhân dân vùng tự do Thanh-Nghệ-Tĩnh. Nó chứng tỏ khi quân địch có ưu thế về binh lực, nếu nắm vững quy luật hoạt động của chúng và có cách đánh mưu trí thích hợp với từng loại địa hình; bộ đội và dân quân du kích vẫn thực hành những trận chiến đấu hiệu suất cao. Quan trọng hơn, chiến thắng Đồng Dương củng cố thêm niềm tin của nhân dân trong vùng địch tạm chiếm đối với kháng chiến và cách mạng.


(1) QK4 kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. NXB QĐND Tr.137


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Sáu, 2020, 10:23:47 am
*
*   *

Từ tháng 5 năm 1948 trở đi, để phát huy những thắng lợi đã đạt được đồng thời phối hợp với mặt trận bắc Quảng Bình nhằm phá hoại âm mưu của thực dân Pháp dùng Quảng Bình làm bàn đạp tấn công vào vùng tự do Thanh-Nghệ-Tĩnh, quân và dân Quảng Trị mở một đợt tác chiến ở khắp các địa phương. Trung đoàn 95, đơn vị chủ lực của Phân khu, dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Lê Nam Thắng và Chính ủy Lê Chưởng, phối hợp chặt chẽ với đại đội Lê Hồng Phong và dân quân du kích các địa phương đã liên tục tập kích, phục kích đánh phá, gây rối khắp nơi.

Ngày 6 tháng 6 năm 1948, Bộ trưởng Quốc phòng ra chỉ thị về “cuộc vận động luyện quân lập công mùa hè”. Thực hiện chỉ thị đó, các lực lượng vũ trang và nhân dân trong tỉnh tích cực quấy rối địch, tiêu diệt các cứ điểm, tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu làm cho quân địch phải phân tán lực lượng chống đỡ.

Vào thời gian này tỉnh Quảng Trị nhận được sự chi viện và giúp đỡ chí tình của nhân dân Thanh-Nghệ-Tĩnh về súng đạn, thuốc men, quần áo, lương thực, thực phẩm... quân và dân Quảng Trị càng hăng hái thi đua lập công.

Mở đầu đợt tác chiến mùa hè, quân và dân Hướng Hóa liên tục đánh phá đường số 9, phá hủy và phá hỏng gần chục xe quân sự của địch tiếp tế vũ khí, lương thực, thực phẩm cho mặt trận Trung Lào, góp phần chia lửa với quân và dân Lào anh em.

Ngày 24 tháng 6, một tiểu đội dân quân Hải Lăng đánh đồn Chập Chạ diệt 8 tên Pháp và làm bị thương một số tên khác.

Ngày 7 tháng 7 tại An Đôn (Triệu Phong) tiểu đoàn 302 phối hợp với lực lượng dân quân tự vệ thị xã Quảng Trị và xã Triệu Thượng vận động phục kích đánh địch đi càn, diệt 4 tiểu đội địch, bắt 20 tù binh, thu hàng chục súng, chặn đứng cuộc càn quét của chúng.

Ngày 14 tháng 7 lực lượng vũ trang ta tổ chức đánh đồn Đập Huyện (Gio Linh). Đây là một trận đánh mưu mẹo kết hợp chặt chẽ giữa bộ đội chủ lực và dân quân địa phương, kết hợp giữa tập kích và địch vận đạt hiệu quả cao.

Đồn Đập Huyện đóng gần quận lỵ Gio Linh có 6 tên Pháp (1 cai 5 lính) và 50 lính ngụy canh giữ. Nhân ngày Quốc khánh nước Pháp (14-7) bọn địch mải vui chơi, sơ hở, ta tổ chức dùng mẹo diệt đồn. Một đại đội của tiểu đoàn 302 dưới sự chỉ huy trực tiếp của Chính ủy Lê Chưởng và Trung đoàn phó Phùng Thế Bằng phối hợp với dân quân du kích bí mật phục kích quanh đồn. Lực lượng dân quân bố trí 2 có gái đẹp do Nguyễn Thị Gái phụ trách gánh rượu thịt vào chúc mừng quan Tây và quân lính. Được 2 cô gái đẹp ân cần mới mọc, cả quan lẫn lính đều say sưa nhậu nhẹt và chọc ghẹo, tán tỉnh. Khi chúng đã say mèm, 2 cô gái ung dung ra mở cổng đồn cả đại đội ập vào bắt sống toàn bộ quân địch đang trong trạng thái say rượu, thu tất cả vũ khí và đồ dùng quân sự. Trận đánh lấy đồn Đập Huyện diễn ra không mất một viên đạn, hiệu suất lớn.

Mở đầu đợt hoạt động Thu-Đông năm 1948, ngày 9 tháng 8 tại km 16 đường số 9, đại đội Lê Hồng Phong phối hợp với một bộ phận Trung đoàn 95 phục kích đoàn xe của địch chở súng đạn và lương thực, thực phẩm sang Lào. Nắm vững quy luật hoạt động của chúng, ta bí mật mai phục nơi hiểm yếu. Khi đoàn xe địch đã lọt vào trận địa, quân ta đồng loạt nổ súng xung phong. Cùng lúc nhiều tảng đá, gốc cây lớn ở hai bên đường đã chuẩn bị sẵn được lăn xuống chặn đứng lối đi của địch. Bị đánh bất ngờ, bọn Pháp hoảng sợ, một số tên vứt cả xe cộ, súng ống chạy trốn vào rừng. Sau 30 phút chiến đấu, đại đội Lê Hồng Phong hoàn toàn làm chủ trận địa, diệt 25 tên địch, thu 30 súng các loại. Cùng với nhiều chiến công vang dội trước đây, qua trận này đại đội Lê Hồng Phong lại ghi thêm một chiến tích mới vào trang sử vẻ vang của mình xứng đáng được Hồ Chủ tịch trao tặng danh hiệu cao quý: “Đơn vị kiểu mẫu” của Liên khu 4.

Trước tình thế bị uy hiếp khắp nơi, địch càng đẩy mạnh hoạt động và tăng cường bố phòng. Một mặt chúng điều quân từ Huế, Đông Hà ra Quảng Bình, tăng nhịp độ vận chuyển vũ khí, đạn dược và lương thực, thực phẩm cho quân lính ở Trung Lào, mặt khác chúng kiểm soát rất chặt chẽ Cửa Việt, Cửa Tùng, các thị xã, thị trấn, đồng thời cho trọng pháo, máy bay oanh tạc bừa bãi vào các chiến khu Ba Lòng, Trấm, Hải Đạo, Chợ Cạn...


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Sáu, 2020, 10:25:57 am
Góp phần chia lửa với chiến trường Trung Lào, Trung đoàn 95 chủ trương đánh mạnh trên đường số 9. Ngày 20 tháng 9 tại đèo Tân Lâm, Trung đoàn phối hợp với dân quân du kích địa phương vận động phục kích đánh một đoàn xe vận tải của địch, tiếp tế cho chiến trường Trung Lào, phá hủy 16 xe, diệt và bắt 30 tên Pháp, thu nhiều vũ khí và quân trang quân dụng. Cũng trong trận phục kích quy trung đoàn này, Ban chỉ huy đã cử đại đội phó Hồng Vân chỉ huy một trung đội, phối hợp với bộ đội địa phương tỉnh, bí mật đưa 2 khẩu trung liên áp sát sân bay Đông Hà bất ngờ bắn rơi tại chỗ 1 máy bay trinh sát khi nó đang chạy trên đường băng chuẩn bị cất cánh yểm trợ cho đoàn xe vận tải, góp phần chi viện và cổ vũ các lực lượng tham gia chiến đấu. Đây là trận vận động phục kích giao thông quy mô trung đoàn, có sự hiệp đồng chiến đấu của các lực lượng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân đu kích dưới sự chỉ huy tập trung, thống nhất của Trung đoàn trưởng Lê Nam Thắng và Trung đoàn phó Lê Bá Vận. Sau trận này bọn Pháp buộc phải ngừng hoạt động tiếp tế trên trục đường 9 một thời gian để đối phó với chiến thuật phục kích giao thông của ta.

Các hoạt động liên tục và có hiệu quả của bộ đội chủ lực phân khu, đại đội Lê Hồng Phong, của các lực lượng vũ trang, bán vũ trang và công an trong tỉnh đã góp phần làm suy yếu lực lượng quân Pháp trên địa bàn Bình -   Trị - Thiên và cả Trung Lào, tạo điều kiện để quân và dân Quảng Trị cùng quân dân các tỉnh bạn đẩy mạnh chiến tranh du kích, chặn đứng âm mưu của địch dùng Trung Lào làm bàn đạp tấn công Bình - Trị - Thiên.

Tên thiếu tá Nguyễn Ngọc Lễ, tổng chỉ huy “Bảo vệ quân” ở Trung phần Việt Nam, trong báo cáo gửi Bộ chỉ huy Pháp và Thủ hiến Trung phần đã cay đắng thú nhận: “Hai tháng nay tình hình 4 tỉnh (Bình - Trị -Thiên và Quảng Nam) rất nghiêm trọng. Việt Minh hoạt động ráo riết, lấy hết đồn này đến đồn khác và hoạt động cả ban ngày giữa tỉnh lỵ mà quân ta không đủ quân số và vũ khí để đối phó...”. Y hốt hoảng kêu cứu: “Cho 1.000 súng tay và súng máy, đóng thêm đồn ở tỉnh để giữ đất đai đã chiếm được và để “Bảo vệ quân” khỏi thất bại. Nếu không giải quyết thì an ninh và trật tự không giữ nổi, nhiều làng mạc sẽ rơi vào tay Việt Minh...”(1)

Sau các đợt tiến công quân sự và cuộc tổng phá tề của ta, thực dân Pháp điên cuồng mở nhiều cuộc càn quét quy mô lớn vào căn cứ cửa phân khu và tỉnh, nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não cuộc kháng chiến, tiêu diệt chủ lực và các đơn vị vũ trang, khôi phục lại ngụy quyền ở những vùng vừa bị ta xóa sổ, đồng thời trấn an tinh thần hoang mang dao động đang lan rộng trong hàng ngũ địch.

Ngày 17 tháng 3 năm 1948, giặc Pháp huy động 4 tiểu đoàn với hơn 1.200 quân cùng 10 máy bay, 100 xe quân sự, 5 ca-nô, 100 thuyền từ Đà Nẵng, Thừa Thiên, Quảng Bình chia thành nhiều cánh theo đường bộ và đường sông Thạch Hãn tập trung mở cuộc càn quét quy mô lớn vào chiến khu Ba Lòng. Nắm được âm mưu xảo quyệt của giặc, Ủy ban kháng chiến Phân khu và Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh một mặt khẩn trương chỉ đạo, lãnh đạo các cơ quan của tỉnh và Phân khu đóng ở Ba Lòng bình tĩnh khẩn trương sơ tán tài liệu, chuyển thương bệnh binh và cơ sở vật chất vào sâu trong rừng, đồng thời tổ chức chiến đấu chặn đánh địch. Mặt khác kịp thời chỉ đạo các lực lượng vũ trang và nhân dân trong tỉnh và toàn Phân khu phối hợp chặt chẽ mở một đợt tác chiến khắp nơi nhằm kìm chân, phân tán lực lượng địch, tạo điều kiện thuận lợi cho các lực lượng ở chiến khu tập trung chống phá cuộc càn quét của địch, bảo vệ chiến khu.

Nếu so sánh tương quan lực lượng thì trong trận này giặc Pháp mạnh hơn ta gấp nhiều lần cả về quân số và vũ khí. Lực lượng ta chỉ có đại đội Lê Hồng Phong phối hợp với đại đội 127 trợ chiến của trung đoàn 95 và trung đội bảo vệ cơ quan Tỉnh ủy dưới sự chỉ huy của trung đoàn phó Phùng Thế Bằng đã dũng cảm cầm cự chống trả địch.

Mặc dù quân đông, tướng mạnh, trang bị vũ khí có thừa, nhưng khi lọt vào vùng “thiên la địa võng” của núi rừng Quảng Trị, đi đến đâu quân giặc cũng vấp phải sức chống trả quyết liệt của quân và dân ta. Hàng trăm tên địch phải bỏ mạng trước tiền chiến khu vì mìn địa lôi, lựu đạn, bẫy đá, hầm chông... Nhờ vậy ta đã kềm chân quân địch, làm giảm cường độ và tốc độ tiến công của chúng, góp phần bẻ gãy cuộc hành quân càn quét quy mô lớn của kẻ thù, bảo vệ an toàn cơ quan tỉnh và phân khu.


(1) Quân khu 4 - lịch sử kháng chiến chống Pháp trang 163 Nhà xuất bản Quân đội nhân dân 1990


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Sáu, 2020, 10:27:46 am
Sau gần 10 ngày hành quân càn quét không có kết quả, ngày 25 tháng 3, địch buộc phải rút lui. Nắm được cơ hội binh lính địch đang mệt mỏi và có phần chủ quan, lực lượng vũ trang ta đã kịp thời truy kích, chặn đánh trên đoạn sông từ Bỏng đến Chủ Cá, Bãi Dài, Khe Trái, bắn chìm 40 đò, 1 ca nô, diệt và làm bị thương hàng trăm tên, xác địch nổi lềnh bềnh trên sông.

Cuộc càn quét quy mô lớn của giặc Pháp vào chiến khu Quảng Trị mặc dầu đã được chuẩn bị rất công phu, kế hoạch tác chiến được vạch ra từ tổng hành dinh Huế, lại được tập dược trước khi hành binh nhưng cuối cùng vẫn chịu thất bại thảm hại. Thắng lợi của trận chống càn một lần nữa chứng tỏ rằng tuy tương quan lực lượng giữa ta và địch quá chênh lệch nhưng nếu ta biết dựa vào rừng núi hiểm trở, bám được cơ sở, phát động được thế trận chiến tranh nhân dân đều khắp, biết tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu và có sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời thì thắng lợi nhất định thuộc về chúng ta. “Thắng lợi của chúng ta trong việc đánh trả có hiệu quả cuộc càn quét quy mô lớn của địch càng khẳng định vai trò hết sức quan trọng của bộ đội địa phương và dân quân du kích. Đồng thời cũng chứng tỏ rằng nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Phân khu và trình độ phối hợp tác chiến của các lực lượng vũ trang trên địa bàn ba tỉnh Bình-Trị-Thiên đã có bước tiến mới”.(1)

Phối hợp chia lửa với nhân dân và các lực lượng vũ trang ở chiến khu, bộ đội chủ lực và dân quân du kích khắp các địa phương trong tỉnh ráo riết hoạt động, uy hiếp địch khắp nơi, tiêu diệt nhiều toán địch đi càn quét, phục kích giao thông, phá hủy và phá hỏng nhiều xe vận tải, bao vây, quấy rối và giải tỏa nhiều đồn bốt, vị trí quan trọng, đẩy mạnh vũ trang tuyên truyền, hỗ trợ nhân dân phá tề trừ gian...

Ở Gio Linh nhân dân và dân quân du kích diệt đồn Lạc Sơn.

Ở Vĩnh Linh diệt hội tề có nhiều nợ máu với Vĩnh Sơn. Tại Hải Lăng, một tiểu đội dân quân dùng mìn tự tạo diệt 4 tên Pháp (có 1 quan hai) ở Bến Lội và Chòi Mây...

Kết quả trong năm 1948, quân và dân tỉnh ta đã đánh 64 trận. Trong đó có 37 trận phục kích, 27 trận công đồn và vận động chiến, diệt 668 tên địch, làm bị thương 196 tên khác, bắt sống và đầu hàng 37 tên, thu 2 súng ngắn, 83 súng trường, 17 tiểu liên, 13 trung liên, 2 đại liên, 1 phóng lựu, 18 lựu đạn... phá hủy 30 xe vận tải, 40 thuyền, 1 ca nô, 1 xe bọc thép...

Phong trào du kích chiến tranh phát triển, đã phối hợp với bộ đội đánh địch 12 trận, độc lập tác chiến 77 trận. Ngoài ra còn có 134 trận đánh lẻ, diệt 774 tên, làm bị thương 251 tên khác, bắt sống 4 bảo vệ quân, thu 42 súng cá nhân, phá 15 súng các loại. Lực lượng dân quân tổ chức phá hoại 4 km quốc lộ I và tỉnh lộ, 10 cầu, đắp 4km vật chướng ngại trên quốc lộ I đốt hàng trăm mét rào xung quanh vị trí địch, đốt 4 nhà, 3 kho cắt 31 km dây điện thoại... Phối hợp với lực lượng công an 6 lần giải tán hội tề huyện, bắt 16 ban hội tề xã, 24 hội tề thôn, 1 tổ gián điệp, 39 tên gián điệp và 20 tên Việt gian...”(2)

Trong những năm 1947 - 1948, chủ trương đưa cán bộ, bộ đội về bám đất, bám dân, xây dựng cơ sở và sau đó là chủ trương “Đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung” cùng các cuộc vận động phá tề, trừ gian, bao vây kinh tế địch... là những chủ trương đúng đắn, sáng suốt đưa phong trào kháng chiến của tỉnh nhà từng bước đi lên(3)

Dưới ánh sáng nghị quyết đại hội Đảng bộ Liên khu lần thứ nhất (tháng 5-1948) và sự chỉ đạo, lãnh đạo sáng suốt của Phân khu và Tỉnh ủy, lại được nhân dân Thanh - Nghệ - Tĩnh tích cực chi viện, quân và dân Quảng Trị đã dũng cảm vượt qua mọi khó khăn gian khổ, chú trọng xây dựng cơ sở, xây dựng lực lượng vũ trang, đẩy mạnh tiến công địch cả về quân sự, chính trị, kinh tế, từng bước đánh bại mọi âm mưu thủ đoạn của địch, đưa phong trào kháng chiến phát triển, tiến bộ không ngừng.

Thắng lợi trong năm, 1948 là nhân tố quan trọng để quân và dân Quảng Trị tiếp tục tiến lên giành nhiều thắng lợi mới to lớn hơn nữa trong năm 1949, đồng thời góp phần cùng quân dân hai tỉnh Quảng Bình - Thừa Thiên và quân dân Lào anh em chặn đứng âm mưu của địch dùng Trung Lào làm bàn đạp để tấn công Bình - Trị - Thiên và Liên khu 4


(1) Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Pháp. Tr.172
(2) Quảng Trị 60 năm những chặng đường, tr.77
(3) Trung đoàn 95 dùng các đại đội của d301 và d302 làm đại đội độc lập, d310 hoạt động tập trung


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Sáu, 2020, 10:30:15 am
*
*   *

Sang năm 1949, tình hình thế giới và Đông Dương phát triển theo chiều hướng thuận lợi cho ta, bất lợi cho địch. Cuộc kháng chiến của nhân dân ta trên cả nước nói chung và Quảng Trị nói riêng đang trên đà thắng lợi. Thế trận chiến tranh nhân dân ngày càng phát triển mạnh mẽ, phong trào chiến tranh du kích ngày một dâng cao.

Trước sự phát triển mạnh mẽ và toàn diện của phong trào kháng chiến, Pháp tìm mọi cách củng cố ngụy quân, ngụy quyền, vây ráp lùng bắt cán bộ, tích cực càn quét, đánh phá để ngăn chặn sự phát triển của phong trào kháng chiến. Sau khi Phan Văn Giáo lên làm “Tổng trấn Trung phần Việt Nam”, chúng đưa tiếp tên Nguyễn Hoài (Phủ trưởng Hải Lâng) tay sai đắc lực và rất xảo quyệt lên làm Tỉnh trưởng Quảng Trị. Tháng 3 năm 1949, thực dân Pháp và Bảo Đại ký hiệp ước E-ly-đê (Elysé). Chính quyền bù nhìn Trung ương được thành lập do Bảo Đại làm Quốc trưởng kiêm Tổng tư lệnh quân đội, Nguyễn Văn Xuân làm Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ quốc phòng. Với hiệp ước này. Pháp tiến thêm một bước trong âm mưu “dùng người Việt trị người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh", đồng thời đế quốc Mỹ cũng từng bước, can thiệp vào Đông Dương.

Cũng trong thời gian này, trước đà tiến công dồn dập của quân và dân ta, Bộ chỉ huy Pháp ở Trung phần Việt Nam ra lệnh tăng cường các biện pháp kiểm soát và phòng thủ các thành phố, thị xã, thị trấn, rút bớt các đồn lẻ và điều động quân các nơi khác về tăng cường cho các thị xã và những vị trí xung yếu. Rõ ràng hệ thống ngụy quân ngụy quyền của địch được củng cố nhưng thế và lực của chúng đang giảm sút.

Ở Quảng Trị, từ chỗ quân Pháp đóng trên 80 vị trí, đến đầu năm 1949 chỉ còn lại 56 vị trí với 2.047 lính các loại (261 Pháp, 337 khố đỏ, 804 Việt binh đoàn, 370 Lào và Đức, 275 Ma Rốc). Đến tháng 5 năm 1949 chỉ còn lại 52 vị trí nhưng quân số của chúng lại tăng thêm 1.113 tên (đưa tổng số lên 3.160 lính các loại) được trang bị đầy đủ vũ khí.

Tháng 5 năm 1949, Đại tướng Rơ-ve, Tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp cầm đầu một phái đoàn quân sự sang Đông Dương nghiên cứu tình hình chiến trường, vạch kế hoạch đẩy mạnh cuộc chiến tranh xâm lược. Rơ-ve cùng các cộng sự vạch kế hoạch mang tên y với nội dung cơ bản là: Nhanh chóng phát triển quân ngụy, làm nhiệm vụ chiếm đóng, tập trung quân Âu Phi xây dựng lực lượng cơ động càn quét, đánh phá phong trào chiến tranh du kích và mở rộng các cuộc tiến công lớn nhằm tiêu diệt chủ lực của ta, hòng đảo ngược tình thế có lợi cho chúng. Rơ-ve tổ chức củng cố ngụy quyền làm công cụ thực hiện chính sách “Dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”.

Thực hiện kế hoạch đó, ở Quảng Trị và một số tỉnh khác chúng thành lập mỗi tỉnh một tiểu đoàn ngụy đồng thời ra sức khủng bố, đàn áp lùng bắt cán bộ, tiêu diệt bộ đội và dân quân du kích, đốt nhà giết người, cướp của, khủng bố gia đình cách mạng... Chúng còn uy hiếp tinh thần nhân dân bằng cách cứ có một quả bom hoặc mìn của ta nổ ở đâu thì chúng bắt 5 thường dân đến đó giết, không cho chôn cất. Nhiều nơi ở Quảng Trị đặc biệt vùng dọc đường 1 và giáp ranh, hàng ngày hàng chục đầu người dân thường bị địch treo trên cành cây hoặc cắm trên các cọc gỗ. Hành động tàn bạo này của giặc Pháp càng nung nấu thêm lòng căm thù cháy bỏng trong nhân dân và lực lượng vũ trang ta.

Trước âm mưu thủ đoạn mới của địch, hội nghị Trung ương lần thứ 6 chủ trương: “Động viên mọi lực lượng kháng chiến, kiến quốc, giành cho được độc lập và dân chủ thực sự”(1). Khẩu hiệu hành động là: “Tất cả để chiến thắng”(2). Phát biểu với hội nghị Hồ Chủ tịch nhấn mạnh: “Kháng chiến trên hết, quân sự trên hết, mọi việc phải nhằm vào điều làm cho kháng chiến thắng lợi”(3). Về nhiệm vụ quân sự hội nghị chỉ rõ: “Lấy du kích chiến là căn bản, vận động chiến là phụ trợ. Việc xây dựng bộ đội chủ lực là trọng tâm công tác lúc này. Muốn xây dựng một đội quân chủ lực mạnh mẽ cần phải có sự phát triển rộng rãi của phong trào dân quân và những bộ đội địa phương đã trưởng thành”(4).

Thực hiện những chủ trương lớn của Đảng, Hội nghị quân chính Liên khu (tháng 2 năm 1949) quyết nghị: “Tăng cường sức chiến đấu của bộ đội, mở rộng chiến tranh du kích, tăng cường huấn luyện, tăng gia sản xuất để tiến tới tự cung, tự cấp”(5).

Sau đại hội Đảng, cuộc họp Hội đồng, nhân dân tỉnh đã cụ thể hóa nghị quyết Đại Hội và đề ra các chủ trương cấp thiết:

- Kiện toàn bộ máy chính quyền ta, ra sức phá bộ máy ngụy quyền địch.

- Tích cực phát triển dân quân, xây dựng bộ đội địa phương huyện, tỉnh.

- Đối phó với chủ trương của địch đưa Vĩnh Thụy (Bảo Đại) về nước.

- Đối phó việc tuyển lính và tập trung lúa của địch.

- Tích cực bao vây kinh tế địch.

- Đặc biệt cải thiện về dân sinh và vận động thực hiện đời sống mới trong nhân dân.


(1), (2), (3) Nghị quyết Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ 6 (1-1949)
(4) Nghị quyết hội nghị Trung ương lần thứ 6 tháng 1 năm 1949
(5) Nghị quyết Hội nghị quân chính Liên khu tháng 2-1949


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Sáu, 2020, 10:31:38 am
Nhằm củng cố tổ chức thêm một bước, đầu năm 1949, đồng chí Trần Văn Quang được cử làm Chỉ huy trưởng Phân khu Bình-Trị-Thiên, đồng chí Hà Văn Lâu làm chỉ huy phó. Hệ thống chỉ huy tỉnh đội huyện đội, xã đội cũng được củng cố và tăng cường cả về số lượng và chất lượng. Từ tỉnh đội đến huyện đội và xã đội dân quân được biên chế 2 cán bộ chỉ huy (1 quân sự, 1 chính trị). Tỉnh đội Quảng Trị được biên chế 50 đồng chí. Tỉnh đội có 3 cơ quan giúp việc gồm: Ban chính trị, Ban tham mưu yà Ban cung cấp. Ban huyện đội dân quân được biên chế 15 đồng chí. Các xã, phường đều có cán bộ trực tiếp chỉ huy lực lượng dân quân du kích.

Những tháng đầu năm 1949, thực dân Pháp tổ chức nhiều đợt, vận chuyển lớn tiếp tế vũ khí, lương thực cho Quảng Trị, Quảng Bình và Trung Lào. Bộ chỉ huy Phân khu chủ trương tổ chức những trận đánh giao thông nhằm vào các đoàn tàu chở vũ khí của địch phá kế hoạch chuẩn bị của chúng, lấy vũ khí trang bị cho bộ đội, cổ vũ các đại đội độc lập và lực lượng vũ trang địa phương đẩy mạnh tác chiến, tạo bước phát triển mới trong phong trào chiến tranh du kích.

Trước sự lớn mạnh toàn diện của phong trào kháng chiến và cay cú trước những thất bại liên tiếp trong những ngày đầu năm, giặc Pháp liên tục mở những cuộc càn quét quy mô lớn vào những vùng của Triệu Phong, Hải Lăng và bắc Thừa Thiên. Nhưng cũng như bao lần trước bọn chúng dù điên cuồng liều lĩnh bao nhiêu cũng không tránh khỏi thất bại.

Để đẩy mạnh chiến tranh du kích ở thành phố, thị xã, biến hậu phương an toàn của chúng thành chiến trường diệt địch của ta, Bộ chỉ huy Phân khu quyết định tập kích vào thị xã Đông Hà nơi căn cứ hậu cần quan trọng của địch tiếp tế cho cả Quảng Trị Trung Lào và Quảng Bình.

Lực lượng tham gia trận kỳ tập này gồm hai tiểu đoàn 302 và 310 của Trung đoàn 95, Đại đội Lê Hồng Phong và một số dân quân du kích tự vệ Triệu Phong, Cam Lộ và thị xã Đông Hà. Đặc biệt trong trận này ta tiếp tục sử dụng Trung đội hàng binh Đức do Ke-men chỉ huy thực hiện phương án sau:

Tiểu đoàn 302 và 310 bí mật cơ động áp sát thị xã. Đồng thời cho Trung đội hàng binh Kê-men cải trang thành lính lê dương đi tuần lọt vào doanh trại cướp xe bọc thép, sau đó dùng xe bọc thép yểm hộ cho Tiểu đoàn 302 đánh địch và chốt giữ thị xã. Đại đội Lê Hồng Phong phối hợp với du kích Triệu Phong cắt đứt cầu Lai Phước và Ái Tử ngăn chặn xe địch từ Quảng Trị ra ứng cứu. Ở hướng bắc, dân quân du kích Gio Linh, Vĩnh Linh hoạt động ráo riết để phân tán lực lượng địch và sẵn sàng chặn viện từ ngoài vào. Ở phía tây dân quân du kích Cam Lộ và Hướng Hóa phối hợp hành động nhằm cô lập quân địch trong thị xã.

Nếu tình hình phát triển thuận lợi, ta chớp thời cơ giải phóng và làm chủ hai huyện Cam Lộ, Gio Linh một thời gian.

Đêm 20 tháng 3, Tiểu đoàn 302 và 310 bí mật triển khai đội hình chiến đấu theo kế hoạch trên. Trên đường 9 Trung đội hàng binh Đức trong tư thế của đội lính lê dương đi tuần ung dung tiến vào thị xã Đông Hà rồi bất ngờ đánh úp trại lính. Bọn địch bị động trở tay không kịp, một số bị tiêu diệt, số còn lại lợi dụng bóng đêm chạy trốn. Kê-men và đồng đội chiếm được 2 xe bọc thép trực chiến của địch, khẩn trương cơ động ra khỏi trại lính đón được một đại đội của Tiểu đoàn 302. Lợi dụng yếu tố bất ngờ, ta tiếp tục tiến công một số vị trí trong thị xã. Sau khi hoàn hồn, bọn chỉ huy địch ra lệnh cắt điện và báo động chiến đấu toàn thị xã. Biết được lực lượng ta không mạnh và chỉ tiến công trên một hướng, địch liều điều động quân ra phản kích. Đại đội vào trước của ta và Trung đội của Kê-men rơi vào tình thế khó khăn vừa phải đánh trả vừa phải rút lui vì 2 đại đội khác của Tiểu đoàn 302 bị lạc đường không vào kịp. Kê-men nhanh chóng cho cơ động 2 xe bọc thép lên đường số 9 tiến công vị trí địch ở cây số 7, nhưng bọn địch ở đây đã được báo động, tập trung hỏa lực chống trả quyết liệt. Biết không còn yếu tố bất ngờ nữa, Trung đội hàng binh chủ động phá hủy xe và rút lui ở các hướng khác Tiểu đoàn 310 và các lực lượng tham gia trận đánh được tin đều rút lui theo kế hoạch.

Kết quả trận tập kích này ta tiêu diệt được 54 tên địch, phá hủy 2 xe bọc thép AM và 1 đại bác 40 ly, gây ảnh hưởng chính trị lớn trong nhân dân thị xã. Trận tập kích thị xã Đông Hà thắng lợi không giòn giã: “Do tư tưởng chủ quan, giản đơn, đánh giá sai lực lượng địch, và non kém về trình độ tác chiến, hiệp đồng chiến đấu không chặt chẽ nên không thực hiện được mục tiêu đề ra. Nhưng hành động táo bạo và dũng cảm của quân ta đã có sức cổ vũ mạnh mẽ phong trào kháng chiến tại các thành phố, thị xã, làm náo động hậu phương của địch và làm khủng hoảng thêm tinh thần vốn đã sa sút của bọn ngụy quân, ngụy quyền”(1)


(1) Báo cáo bán nguyệt san Quảng Trị chiến sự 1949. Hồ sơ của Ban nghiên cúu lịch sử Đảng Bình Trị Thiên


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Sáu, 2020, 10:33:21 am
*
*   *

Ngày 27 tháng 3, Trung ương Đảng ra chỉ thị phát động phong trào thi đua ái quốc, nhằm động viên nhiệt tình cách mạng và trí sáng tạo của quân và dân ta đẩy mạnh công cuộc kháng chiến kiến quốc. Để cổ vũ phong trào thi đua trong cả nước, Hồ Chủ tịch kêu gọi:

“Người người thi đua
Ngành ngành thi dua
Ta nhất định thắng
Địch nhất định thua”.


Hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, quân và dân khắp nơi trong tỉnh dấy lên một phong trào thi đua sôi nổi trên tất cả các lĩnh vực: Quân sự, chính trị, binh vận, kinh tế, văn hóa, xã hội...

Về quân sự, các lực lượng, vũ trang tỉnh luôn luôn bám đất, bám dân, xây dựng lực lượng xây dựng thế trận phòng thủ, liên tục bao vây quấy rối, bức rút, tiêu hao tiêu diệt địch ở các vị trí nhỏ lẻ, đánh phá giao thông, chống địch càn quét... làm cho chúng luôn bị căng thẳng, suy yếu lực lượng.

Về chính trị, Dưới sự chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, quân đội, công an, dân quân du kích và quần chúng nhân dân phối hợp chặt chẽ đẩy mạnh công tác phá tề, diệt ác trừ gian, tăng cường vận động binh lính địch, xây dựng và củng cố chính quyền các cấp.

Về kinh tế, đẩy mạnh việc bao vây phá hoại kinh tế địch, xúc tiến cuộc vận động giảm tô giảm tức cho nhân dân, phát động phong trào thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, đấu tranh giữ vững giá trị đồng bạc Việt Nam.

Về văn hóa xã hội, tích cực tham gia phong trào xóa nạn mù chữ, xây dựng nếp sống văn hóa mới, bài trừ mê tín dị đoan tẩy chay văn hóa đồi trụy của thực dân Pháp.

Phong trào thi đua kháng chiến đã đem lại nhiều hiệu quả thiết thực. Lực lượng vũ trang tỉnh ngày càng được phát triển và củng cố, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện, niềm tin của nhân dân đối với kháng chiến được nâng cao. Khẩu hiệu “Kháng chiến còn thì nhân dân còn” của nhân dân Triệu Phong đã khẳng định niềm tin vững chắc của đồng bào đối với cách mạng. Khẩu hiệu đó đã trở thành lời tâm niệm của nhân dân toàn tỉnh trong suốt thời kỳ kháng chiến.

Tháng 4 năm 1949, Hồ Chủ tịch ra sắc lệnh thành lập bộ đội địa phương, lực lượng dân quân du kích qua chiến đấu và xây dựng ngày càng lớn mạnh có khả năng bảo vệ được địa phương mình. Trước tình hình đó tháng 5 năm 1949 Bộ chỉ huy Liên khu quyết định tập trung các đại đội độc lập về xây dựng tiểu đoàn, trung đoàn tập trung đồng thời giao nhiệm vụ bảo vệ địa phương cho dân quân tập trung tỉnh, huyện đảm nhiệm. Từ nay, các đơn vị dân quân tập trung của tỉnh và huyện được chuyển thành đơn vị bộ đội địa phương. Các huyện Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ, Triệu Phong và Hải Lăng mỗi huyện thành lập một đại đội, Huyện Hướng Hóa, thị xã Quảng Trị và Đông Hà mỗi nơi thành lập một trung đội. Quân số mỗi đại đội lúc đầu có 2 trung đội, sau tăng lên 3. Riêng đại đội 340 Cam Lộ cõ 4 trung đội - Trong đó có 1 trung đội “đạo lộ” chuyên làm nhiệm vụ bảo vệ đường giao liên từ Trung ương vào Nam bộ đi qua địa phận của huyện. Đại hội dân quân Lê Hồng Phong trở thành tiểu đoàn bộ đội địa phương của tỉnh lấy phiên hiệu là tiểu đoàn 230 do đồng chí Vân Hùng làm tiểu đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Trọng Kháng làm Chính trị viên, đồng, chí Bửu Phủ giữ chức Tiểu đoàn phó và đồng chí Dương Diên giữ chức Chính trị viên phó. Sự phát triển của bộ đội địa phương và dân quân du kích là yếu tố cơ bản để giúp các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương xây dựng cơ sở kháng chiến, bám trụ chiến đấu tại chỗ và cơ động tác chiến trên địa bàn mỗi huyện cũng như trong tỉnh tạo điều kiện cho bộ đội chủ lực tập trung làm nhiệm vụ cơ động của Phân khu. Bộ đội địa phương luôn luôn là lực lượng tạo thế cho cuộc chiến đấu và là nguồn bổ sung to lớn cho các đơn vị chủ lực.

Đây là một bước chuyển biến mới thể hiện sự lớn mạnh của các lực lượng vũ trang tỉnh. Sự phát triển của thế và lực của phong trào kháng chiến làm cho thực dân Pháp bất ngờ và bị động. Chúng điên cuồng tìm mọi cách để đánh phá ngăn chặn và tiêu diệt lực lượng ta. Bởi vậy từ tháng 6 năm 1949 chúng khẩn trương triển khai kế hoạch Rơ-ve.


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Sáu, 2020, 10:34:09 am
Trong khi tổ chức lực lượng vũ trang ta có bước phát triển mới thì tại Phân khu Bình-Trị-Thiên, nhà cầm quyền Pháp đưa tướng Lô-ri-ôt (Lorillot) thay tướng Lơ-brít (LeBria) chỉ huy trung phần Việt Nam, đồng thời thay đổi một số thủ đoạn chiến thuật:

- Rút bớt các đồn miền núi, tập trung lực lượng phòng thủ thị xã, vùng đồng bằng đông dân và các trục giao thông chính.

- Ráo riết thực hiện chiến thuật lô cốt, tháp canh kết hợp với đội ứng chiến mạnh.

- Tăng cường lực lượng “bảo vệ quân” Tổ chức lực lượng đặc biệt ác ôn do tên phản bội Quản Hậu cầm đầu làm nhiệm vụ càn quét, tàn sát, cướp phá.

- Chú trọng củng cố đề cao ngụy quyền, tích cực tuyên truyền cho chính phủ bù nhìn Bảo Đại, tăng cường các thủ đoạn chính trị nhằm gây ảnh hưởng và chuẩn bị một khu vực an toàn để đón tên vua bù nhìn Bảo Đại về Huế.

Đây là một kế hoạch quân sự và chính trị rất thâm độc xảo quyệt mà thực dân pháp đặt nhiều hy vọng.

Thực hiện chỉ thị của ban Thường vụ Trung ương Đảng “Vạch mặt bọn bán nước Bảo Đại” và chủ trương của Liên khu ủy: “Triệt để phá tề, vạch mặt bọn bán nước, phá ảnh hưởng của bù nhìn Bảo Đại”, quân và dân Quảng Trị đã đồng loạt mở một đợt tiến công rộng khắp ở cả miền núi, đồng bằng và đô thị góp phần phá ý đồ chính trị của địch.

Ngày 6 tháng 6 năm 1949, tại Hải Lăng bọn tay sai thực dân Pháp tổ chức một cuộc biểu tình nhằm ủng hộ và gây uy tín cho Bảo Đại. Địch cho 2 trung đội ngụy quân đi theo bảo vệ đoàn biểu tình. Nắm được âm mưu của địch, dân quân du kích huyện Hải Lăng phối hợp với một bộ phận của tiểu đoàn 230 bộ đội địa phương tỉnh, cải trang trà trộn vào trong đoàn biểu tình. Khi đến trận địa ta phục kích, đột nhiên trong đoàn đi biểu tình xảy ra vụ gây rối (do bộ đội ta cải trang cố tình gây ra) làm cho đội hình bị ùn tắc, lộn xộn. Hai trung đội địch chưa hiểu sự thể ra sao thì đã bị lực lượng quần chúng và bộ đội bao vây tiêu diệt. Được tin 2 trung đội hộ tống đoàn biểu tình bị diệt gọn, địch liền cho một tiểu đoàn đến ứng cứu. Lúc này tiểu đoàn 230 và dân quân du kích Hải Lăng có sự hỗ trợ đắc lực của Tiểu đoàn 227 (Trung đoàn 95) tổ chức mai phục chờ sẵn tại Xóm Bàu. Khi chiếc xe cuối cùng chở địch lọt vào trận địa bị ta giật mìn phá hủy, thì đồng thời quân ta đồng loạt nổ súng xung phong. Bọn địch rất bị động, hầu như không phản ứng kịp. Một số lớn bị tiêu diệt, số còn lại bỏ đồng bọn chạy tháo thân. Kết quả trận này ta tiêu diệt gọn 2 đại đội địch (150 tên) thu toàn bộ vũ khí, phá hủy 1 xe vận tải. Riêng dân quân xã Hải Thiện thu được 1 tiểu liên, 7 súng trường. Cuộc biểu tình ủng hộ Bảo Đại do bọn tay sai thực dân Pháp tổ chức đã bị tẩy chay và ta biến cuộc biểu tình ủng hộ thành cuộc biểu tình đả đảo Bảo Đại. Đây là một biểu hiện thái độ chính trị mới của nhân dân ta kiên quyết phản đối chính quyền bù nhìn Bảo Đại, tay sai bán nước, tuyệt đối tin tưởng ở cách mạng và kháng chiến.

Thực hiện tư tưởng chỉ đạo tác chiến của Bộ Tổng tư lệnh và nghị quyết của Liên khu ủy “Tranh thủ chủ động từng trận đánh, mạnh bạo đẩy mạnh vận động chiến tiến tới”, Phân khu ủy và Bộ chỉ huy Phân khu Bình-Trị-Thiên mở hai đợt tác chiến tập trung nhằm đánh bại kế hoạch Rơ-ve của địch.

Giữa tháng 7 năm 1949, Phân khu mở đợt tác chiến thứ nhất (gọi tắt là kế hoạch ABC) tại khu vực đường số 9 và tây Hướng Hóa, nhằm gây dựng cơ sở, tạo bàn đạp cho tiểu đoàn 364 phát triển lên bắc đường số 9 - Trung Lào. Lực lượng tham gia gồm tiểu đoàn 364, 302, 227, bộ đội địa phương huyện Hướng Hóa và dân quân du kích trong huyện.

Ngày 18 tháng 7 năm 1949, tại làng Miệt, tiểu đoàn 302 phối hợp với dân quân du kích địa phương đánh trận mở đầu diệt 1 trung đội địch từ Khe Sanh đi tiếp tế cho đồn Nguồn Rào, phục kích đánh địch tiếp viện tại km 46 diệt gần hai trung đội địch, phá hủy 3 xe vận tải, thu nhiều vũ khí nhưng không diệt được đồn. Cuối tháng 8 ta vây Khe Sanh, Lao Bảo và phục kích tiêu diệt gọn bọn địch ở Nguồn Rào. Kể từ đây khu vực bắc huyện Hướng Hóa được hoàn toàn giải phóng.

Sau khi kế hoạch ABC kết thúc thắng lợi, Tiểu đoàn 227 và 364 bí mật cơ động về đồng bằng Triệu Phong - Hải Lăng và bắc Thừa Thiên phối hợp với Tiểu đoàn 310 và tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh, bộ đội địa phương các huyện và dân quân du kích mở đợt tác chiến thứ 2 (gọi tắt là kế hoạch GMC) nhằm tiêu diệt đội ứng chiến của địch đi càn quét đồng thời rèn luyện khả năng tác chiến của bộ đội.


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Sáu, 2020, 10:35:21 am
Để giải tỏa cho bọn lính ở đồn Ưu Điềm bị ta bao vây đã lâu, ngày 18 tháng 8 năm 1949 địch huy động một lực lượng lớn từ Huế ra và Quảng Trị vào gồm một tiểu đoàn ứng chiến Bắc Phi và 2 đại đội ngụy binh, 6 xe bọc thép lội nước, mỗi xe có 1 khẩu 12,7 ly đồng thời có máy bay yểm trợ, mở cuộc càn quét quy mô lớn từ Mỹ Chánh xuống Ưu Điềm. Nhờ công tác trinh sát chặt chẽ, trước trận đánh ta bắt được một em bé ở thôn Cô Nhi Hòa rất khả nghi liền khám người và thu được một lá thư của Pháp hẹn ngày đem quân đến ứng cứu cho đồn Ưu Điềm. Do đó quân ta biết trước được âm mưu địch, chủ động triển khai lực lượng đối phó. Lúc này tiếp tục vây hãm đồn Ưu Điềm đồng thời triển khai lực lượng chuẩn bị đánh viện. Lực lượng ta gồm có Tiểu đoàn 227, phối hợp với Tiểu đoàn 310, 364 và tiểu đoàn 120 của Thừa Thiên cùng tiểu đoàn 230 bộ đội tỉnh, đại đội bộ đội địa phương Hải Lăng và dân quân du kích nơi xảy ra chiến sự.

Đội hình chiến đấu được bố trí như sau:

Chính diện khai hỏa tại đồn Nhi Hòa (Hải Tân) do 2 đại đội của tiểu đoàn 310 đảm nhiệm, còn một đại đội chặn viện tại Trạch Phổ. Tiểu đoàn 227 bố trí ở Phương Tích có nhiệm vụ khóa đuôi. Tiểu đoàn 364 có nhiệm vụ đánh giữa đội hình địch. Một đại đội chặn quân địch từ Ưu Điềm lên. Dân quân du kích phong tỏa ở hướng Phong Điền. Các bộ phận còn lại vận động phục kích chặn đánh các cánh quân khác. Khi quân địch lọt vào trận địa phục kích tại Mỹ Xuyên ta đồng loạt nổ súng xung phong chiếm xe bọc thép lội nước, quay súng 12 ly 7 nã đạn vào đội hình địch. Bị hỏa lực của ta kiềm chế, địch bỏ chạy toán loạn. Thiếu tá chỉ huy cuộc càn quét (Đờ-quăng-tê) (Decointé) cụt một tay trong chiến tranh thế giới thứ II) và một số tùy tùng ôm đầu chạy đến giữa ruộng bị Trung đội 1 của tiểu đoàn Lê Hồng Phong truy kích. Tiểu đội trưởng Nguyễn Văn Bột đang dẫn bộ đội xông lên bị y bắn bị thương vẫn anh dũng lao vào vật nhau với Đờ-quăng-tê. Anh ghí chặt người nó lăn tròn trên đất kịp cho đồng đội lao tới bắt sống. Số tàn quân còn lại liều mạng co cụm cố thủ ở đình làng Nhi Hòa. Quân ta tiếp tục bám sát tập kích. Bọn địch cùng đường tháo chạy tán loạn. Một số chạy ra giữa sông chui vào chuôm nuôi cá của đồng bào ta ẩn nấp cũng bị ta lôi cổ lên.

Kết quả trong trận này sau hơn 1 giờ chiến đấu, quân ta đã diệt gọn 1 đại đội địch, đánh tan 2 đại đội khác, tiêu diệt và bắt sống toàn bộ Ban chỉ huy cuộc càn quét của địch. Trên 50 tên địch bị bắt sống trong đó có tên Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng kiêm Phân khu trưởng Phân khu bắc Thừa Thiên; phá hủy 3 xe lội nước, thu 3 xe và một bộ máy bộ đàm. 1 súng cối, 6 trọng liên 12 ly 7 và trung liên cùng rất nhiều súng trường. Riêng Tiểu đoàn Lê Hồng Phong và dân quân Hải Tân sau trận này vũ khí được trang bị đầy đủ.
Với thắng lợi này chúng ta đã đập tan cuộc càn quét quy mô lớn của địch ở vùng đồng bằng 4 huyện Triệu - Hải - Phong - Quảng.

Đây là lần đầu tiên trên chiến trường Quảng Trị ta tiêu diệt xe bọc thép lội nước, một loại phương tiện chiến tranh hiện đại mà địch vừa mới đưa vào Bình - Trị - Thiên để cơ động càn quét trên địa hình đồng bằng có nhiều sông rạch, đầm phá.

Thắng lợi của trận chống càn này thể hiện bước trưởng thành về năng lực tổ chức chỉ huy chiến đấu, trình độ hiệp đồng tác chiến của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích, đồng thời mở ra triển vọng mới về hình thức chiến thuật “Công đồn đả viện” kết hợp vận động chiến trên quy mô tương đối lớn của quân và dân Bình-Trị-Thiên.

Tháng 11 năm 1949 Trung ương Đảng và Bộ Tổng tư lệnh chủ trương mở chiến dịch Lê Lợi ở đồng bằng Bắc bộ. Phối hợp với chiến dịch Lê Lợi, Đảng ủy Mặt trận Bình-Trị-Thiên quyết định mở chiến dịch Lê Lai. Trong những tuần lễ cuối năm 1949, bộ đội, dân quân tự vệ, cán bộ và nhân dân toàn tỉnh khẩn trương làm công tác chuẩn bị: Tăng cường công tác trinh sát nắm địch, chuẩn bị chiến trường, huấn luyện bộ đội và dân quân du kích, đẩy mạnh đánh phá giao thông, chuẩn bị lực lượng, vũ khí, xúc tiến công tác địch vận, triệt để phá tề trừ gian, bao vây kinh tế địch, xây dựng căn cứ đồng bằng...

Trước khi mở màn chiến dịch, quân và dân Vĩnh Linh tích cực chống càn, quấy rối đồn lẻ, phá hoại giao thông, cắt đứt vận chuyển tiếp tế của địch nhiều ngày. Dân quân Thủy Cần (Vĩnh Kim) vừa bao vây đồn vừa kết hợp địch vận trong suốt hai tháng liền buộc địch phải rút khỏi đồn. Dân quân Hải Dương bao vây, quấy rối buộc địch phải tháo chạy bỏ đồn Diên Khánh... Trên trục đường 9, bộ đội địa phương Cam Lộ, Hướng Hóa phối hợp với dân quân du kích liên tục đánh phá giao thông, bao vây quấy rối các đồn lẻ ở cây số 7, 41, 47, Đầu Mầu, Đèo Đá, Tân Lâm... Làm cho địch luôn luôn ở trong tình trạng đối phó căng thẳng.

Những hoạt động trên tạo ra thế trận có lợi cho ta và giữ được yếu tố bất ngờ trước khi bắt đầu chiến dịch.


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Sáu, 2020, 10:36:14 am
*
*   *

Phát huy đà thắng lợi của năm 1948, sang năm 1949, Quảng Trị đã có bước chuyển biến mới về xây dựng cơ sở, xây dựng lực lượng vũ trang và đẩy mạnh các mặt hoạt động, lực lượng bộ đội địa phương tỉnh, huyện từ chỗ chỉ có 3 đại đội nay đã xây dựng được 7 đại đội, 42 trung đội du kích ở các xã với số lượng 16.000 chiến sĩ.

Về quân sự các lực lượng vũ trang đã tổ chức được 4 lần tổng quấy rối các vị trí của địch trên toàn tỉnh, 6 lần tổng quấy rối trên toàn huyện, 2 lần đột kích vào thị xã Quảng Trị và Đông Hà, đánh tiêu diệt vị trí Đầu Mầu.

Trong năm 1949, riêng lực lượng dân quân du kích đã diệt 622 tên địch, làm bị thương 252 tên khác, bắt 5 bảo vệ, phá 64 xe các loại và 26 súng, thu 54 súng các loại, phá hoại 17 cầu, 21 cống, cắt 10.465 mét dây điện thoại, phá hoại 21 thanh đường ray, đốt 518 chòi gác, 24 nhà trong các vị trí địch, đắp 1.169 ụ và đóng 1.186 cọc tre (vật chướng ngại) trên quốc lộ I và đường 9, phối hợp với công an bắt 10 tên Việt gian, 161 gián điệp, giải tán 150 hội tề, hương vệ.

Về chính trị chúng ta đã đẩy mạnh công tác phá tề trừ gian, đặc biệt sau chiến dịch Phạm Hồng Thái của công an kết hợp với chiến dịch Lê Lai của bộ đội chủ lực đã quét sạch hầu hết các hội tề cầu an làm cho hội tề ly khai không hoạt động được, bộ máy ngụy quyền uể oải, hoang mang, phá được ảnh hưởng của bù nhìn Bảo Đại, thành lập và củng cố được các ban trật tự xã, củng cố lại nội bộ, nhân dân đoàn kết, tiến bộ hơn trước. Trong năm đã có hơn 2 vạn lượt người tham gia biểu tình chống địch càn quét, tẩy chay ảnh hưởng của bè lũ tay sai.

Về kinh tế, phong trào tăng gia tự túc phát triển mạnh mẽ, chỉ tính riêng bộ đội địa phương và dân quân du kích đã làm lúa, màu trên 630 mẫu, thu hoạch 2.699 thúng thóc, ngô, chăn nuôi 32 trâu bò, 107 lợn gà. Phong trào chống địch càn quét bảo vệ mùa màng, bao vây kinh tế địch... đã thu nhiều thắng lợi làm cho nhân dân phấn khởi, tin tưởng ở cách mạng.

Về binh vận, phong trào vận động ngụy quân phát triển, hầu hết ở các đồn bốt địch đều có cơ sở ta.

Về văn hóa xã hội có nhiều tiến bộ đáng kể: Trường học được mở mang, nếp sống văn hóa lành mạnh được nhân dân ủng hộ, phong trào xóa nạn mù chữ và y tế có bước phát triển tốt.

*
*   *

Dưới sự lãnh đạo sáng suốt và tài tình của Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch, của Liên khu ủy, Phân khu ủy mà trực tiếp là sự lãnh đạo nhạy bén và linh hoạt của Tỉnh ủy trong 3 năm 1947, 1948, 1949, quân và dân Quảng Trị đã vượt qua muôn ngàn gian lao thử thách, bám đất bám dân, xây dựng cơ sở, xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc, liên tục chống càn, quấy rối, tiêu hao, tiêu diệt địch, phá tề trừ gian... góp phần đánh bại âm mưu: “dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” và “Kế hoạch Rơ-ve” của thực dân Pháp trên địa bàn Quảng Trị.

Đáng chú ý trong giai đoạn này chiến tranh du kích đã phát triển cả bề rộng và bề sâu từ đồng bằng tiến sâu vào hậu địch, ngay cả ở các thị xã, lực lượng dân quân du kích phối hợp cùng bộ đội địa phương vẫn tổ chức được các trận đánh quấy rối tiêu hao, làm cho chúng hoang mang, dao động, bị động đối phó.

Các chiến dịch phá tề, tổng phá tề đã diễn ra liên tục ở khắp nơi làm cho tương quan so sánh lực lượng có lợi cho phong trào toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến.

Vượt qua những thử thách buổi đầu, sau ba năm kháng chiến bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương đã trưởng thành nhanh chóng cả về lượng và chất. Trong hoàn cảnh vô cùng gian khổ bộ đội vẫn bám chắc trong dân như cá với nước, được nhân dân cưu mang, đùm bọc, đồng cam cộng khổ với nhân dân chống kẻ thù của dân tộc.


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Sáu, 2020, 08:40:58 am
Chương III

KIÊN CƯỜNG BÁM TRỤ RA SỨC TIẾN CÔNG ĐỊCH
GIÀNH QUYỀN CHỦ ĐỘNG CHIẾN TRƯỜNG
(1/1950 - 12/1952)

Từ đây cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của quân và dân ta đã chuyển qua giai đoạn mới. Ở chiến trường Quảng Trị phong trào chiến tranh du kích đã phát triển mạnh, rộng khắp. Hình thái ba vùng chiến lược đã hình thành rõ nét, buộc địch phải thu hẹp dần phạm vi chiếm đóng. Chiến lược Rơ-ve của thực dân Pháp hòng cứu vãn nguy cơ thất bại cho quân viễn chinh Pháp ở Việt Nam đã bị phá sản, đẩy chúng vào thế ngày càng bị động, lúng túng.

Quân và dân Quảng Trị sau 4 năm kháng chiến đã giành được nhiều thắng lợi, trưởng thành hơn, dạn dày kinh nghiêm, giờ đây càng phấn khởi bước vào quán triệt và thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng: “Gấp rút chuẩn bị để bước vào tổng phản công”.

Lại một thời kỳ mới, với những thử thách mới đến với Đảng bộ, nhân dân và lực lượng vũ trang Quảng Trị.

*
*   *

I. ĐẨY MẠNH CHIẾN TRANH DU KÍCH
NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ TÁC CHIẾN CỦA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG

Mùa Đông năm 1949 trên chiến trường chính quân và dân ta mở chiến dịch Lê Lợi, chủ động tiến công địch ở Hòa Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang... Để chia lửa và đảm bảo giành thắng lợi cho chiến dịch lớn ấy, Bộ Tổng Tư lệnh chỉ thị cho các địa phương đẩy mạnh hoạt động, tích cực tiêu diệt địch, giam chân chúng, không cho địch tập trung lực lượng đối phó ở đồng bằng Bắc Bộ - Chiến trường chính của cả nước.

Vào đầu năm 1950, Bộ Tổng Tư lệnh ra quyết định thành lập Bộ chỉ huy Mặt trận Bình - Trị - Thiên dưới sự chỉ huy trực tiếp của Bộ Tổng Tư lệnh và cử đồng chí Hà Văn Lâu giữ chức Tư lệnh, đồng chí Trần Quý Hai giữ chức Chính ủy(1).

Việc tổ chức chỉ huy mới này là một đòi hỏi khách quan của cuộc kháng chiến ở một chiến trường sau lưng địch như Bình - Trị - Thiên, đáp ứng với nguyện vọng của cán bộ, chiến sĩ đồng bào ba tỉnh trong thời kỳ mới.

Buổi lễ ra mắt Bộ chỉ huy Bình - Trị - Thiên tổ chức trọng thể tại chiến khu Ba Lòng có đông đủ các cán bộ chủ trì, đại biểu Liên khu 4, đại biểu quân, dân, chính đảng ba tỉnh.

Ngày ra mắt của Bộ chỉ huy cũng là ngày hội nghị quân, dân, chính, đảng ba tỉnh - một hội nghị có vị trí và tầm quan trọng to lớn. Tại Hội nghị này đã đề cập và thảo luận những vấn đề cấp bách về việc xây dựng lực lượng vũ trang, đặc biệt nhấn mạnh việc xây dựng bộ đội chủ lực phải đáp ứng đòi hỏi cấp bách của cuộc chiến tranh. Hội nghị cũng hạ quyết tâm và bàn biện pháp kịp thời xây dựng và kiện toàn lực lượng vũ trang địa phương, trước hết là các trung đoàn chủ lực, các tiểu đoàn tỉnh và các đại đội huyện. Đồng thời hội nghị cũng đề ra chủ trương xây dựng làng xã trở thành những căn cứ địa kháng chiến.

Trong thời gian này quân và dân Quảng Trị cùng với Quảng Bình, Thừa Thiên bắt đầu thực hiện nhiệm vụ của chiến dịch Lê Lai. Đây là chiến dịch đầu tiên mở ra trên chiến trường Bình - Trị - Thiên. Yêu cầu của chiến dịch rất cao: Tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giam chân chúng lại, quyết không cho rút quân tăng viện cho chiến trường chính. Đây là những nhiệm vụ khá nặng nề, mới mẻ đối với quân dân ba tỉnh trong thời kỳ mới.

Chiến dịch Lê Lai chia làm 2 đợt. Thời gian chiến dịch dài 1 tháng từ cuối tháng 12/1949 đến tháng 1/1950.

Đợt 1 của chiến dịch diễn ra ở nam Quảng Bình. Trung đoàn 95 Quảng Trị được điều ra phối thuộc chiến đấu với Trung đoàn 18 Quảng Bình tại Lệ Thủy và Quảng Ninh (Quảng Bình).

Đợt 2 của chiến dịch, Trung đoàn 95 chuyển hướng rút về phối thuộc với Trung đoàn 101 của Thừa Thiên hoạt động ở Hương Trà (Thừa Thiên).


(1) Quyết định số 226/ND - Bộ trưởng Bộ quốc phòng Võ Nguyên Giáp ký


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Sáu, 2020, 08:41:58 am
Lúc này ở Quảng Trị vắng bóng quân chủ lực, tận dụng thời cơ hiếm đó ngày 17/1/1950 Tướng Lơ-Brit chỉ huy chiến trường Bình-Trị-Thiên vội vàng tung hơn 3 tiểu đoàn mở một trận càn vào vùng đất trù phú nơi tiếp giáp Quảng Trị - Thừa Thiên nhưng ngay từ phút đầu chúng đã bị bộ đội địa phương và du kích của Hải Lăng (Quảng Trị) và Phong Điền (Thừa Thiên) chặn đánh quyết liệt, ghìm bước tiến của quân địch.

Cùng lúc Bộ Chỉ huy mặt trận kịp thời điều động Trung đoàn 95 và 101 về Hải Lãng và Phong Điền phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương đánh trả địch.

Vượt chặng đường gần 20 km nhưng vừa tới nơi các chiến sĩ Trung đoàn 95 và 101 đã xông thẳng vào trận địa quần nhau với địch giành giật với chúng từng thước đất. Trước đòn đánh trả của quân ta, các mũi tiến quân của địch quằn lại, chúng buộc phải rút dần vào các lũy tre ẩn sau các gốc cây, mô đất đối phó với quân chủ lực, không dám hung hăng tiến quân như lúc đầu. Đồng thời địch gọi máy bay tới yểm trợ. Bốn chiếc Hen-cát từ sân bay Phú Bài (Huế) hùng hổ lao tới quần lộn trên bầu trời, ném bom và bắn đạn 20 ly vào những nơi chúng nghi ta dấu quân.

Mặc dầu địch đã cố gắng cải thiện tình hình, nhưng cán cân so sánh lực lượng nghiêng hẳn về phía ta, tạo khí thế và thúc đẩy quân ta kiên quyết xông lên tiêu diệt địch. Tại Hải Lăng bộ đội Tiểu đoàn 227 đã phối hợp với bộ đội địa phương và du kích dưới sự chỉ huy của đồng chí Lê Thuyết đã mưu trí dũng cảm tổ chức lực lượng liên tiếp xung phong vào các điểm đóng quân của địch, chiếm dần từng vị trí, rồi từ trong lòng đội hình địch phản kích ra. Suốt từ sáng sớm đến chiều nhân dân gánh cơm, nước ra tận trận địa phục vụ bộ đội và vận chuyển thương binh về tuyến sau.

Sau 9 giờ chiến đấu liên tục quân ta đã bẻ gãy trận càn Lơ-Brit vào vùng đồng bằng Hải Lăng, Phong Điền, diệt và bắt 350 tên, thu 50 súng các loại. Trận chống càn kết thúc thắng lợi. Ngay từ đầu năm mới quân và dân Quảng Trị lại ghi thêm một chiến công mới góp phần kết thúc chiến dịch Lê Lai.

Phối hợp và hỗ trợ đắc lực cho chiến dịch Lê Lai là các hoạt động phong phú và đa dạng của bộ đội địa phương, du kích, công an và nhân dân trong tỉnh. Tỉnh đã phát động “Tuần lễ phá hoại” trong nhân dân, đồng thời tổ chức lực lượng dân công vận tải, cứu thương, liên hiệp hỏa tốc... phục vụ nhu cầu rộng lớn của chiến dịch. Chỉ trong một thời gian ngắn sau phát động, lực lượng dân quân du kích đã đào phá 10.720 m2 đường đất, 8217m2 đường đá. 1320m2 đường nhựa, phá hỏng 10 cống, 21 cầu, 9820 mét đường sắt, cắt 7200 mét dây điện thoại, đắp 200 ụ đất. Một số gia đình ở Hướng Hóa đã tình nguyện đưa voi và 50 con trâu cho bộ đội dùng vào việc vận tải. Lực lượng dân quân du kích Hướng Hóa hoạt động rất tích cực. Chặt hàng ngàn cây tre gỗ, khiêng vác hàng trăm tấn đá, rào lấp 50 km trục đường 9; dân quân các nơi khác trong tỉnh còn góp 40.000 ngày công rào lấp 4 thôn, bao vây 8 vị trí địch. Bộ đội địa phương Triệu Phong, Vĩnh Linh, Gio Linh phối hợp với bộ đội chủ lực tiến công vị trí Thanh Lê, Như Ý, Dốc Miếu, Cửa Tùng, Nhan Biều, An Lộc. Dân quân du kích Hướng Hóa phục kích giao thông đường 9 phá hỏng 4 xe camion.

Từ đầu năm 1950 địch ráo riết lập lại hội tề đã bị ta phá banh từ những năm trước. Lần này chúng chỉ dám lập tề ở những nơi sát đồn, bót của chúng. Tuy vậy ta kiên quyết không để yên. Lực lượng công an ta lập tức triển khai chiến dịch Phạm Hồng Thái quét sạch hội tề cầu an, làm hoang mang tê liệt mọi hoạt động của bộ máy ngụy quyền.

Những kết quả đạt được của lực lượng vũ trang Quảng Trị trong chiến dịch đầu tiên có ý nghĩa to lớn, đánh dấu sự trưởng thành nhanh chóng của 3 thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích), Thắng lợi đó còn chứng minh sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Phân khu và Tỉnh ủy trong quyết tâm, mở rộng và cùng cố cơ sở ở đồng bằng, đưa phong trào chiến tranh du kích phát triển đồng đều.


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Sáu, 2020, 08:43:57 am
*
*   *

Sau khi bị thiệt hại nặng trong chiến dịch Lê Lai, tướng Lơ-Brit được quan thầy tăng cường cho binh đoàn Xpahi số 6 hòng cứu vãn tình thế ngày càng nguy ngập ở chiến trường Bình - Trị - Thiên. Binh đoàn Xpahi số 6 là một đơn vị Âu Phi vào loại tinh nhuệ, thiện chiến của quân viễn chinh Pháp.

Được tăng cường lực lượng, Lơ-Brít hăm hở tổ chức một chiến dịch có tên là: “Batai lle de riz” (Chiến tranh lúa gạo)(1) với ý đồ thâm hiểm là bóp nát cái “dạ dày của Việt Minh”. Mục tiêu của chiến dịch này là đánh vào các vùng trọng điểm lúa ở ba tỉnh Triệu Phong, Hải Lăng (Quảng Trị), Lệ Thủy, Quảng Ninh (Quảng Bình), Phong Điền, Quảng Điền (Thừa Thiên).

Tháng 5 năm 1950, trong hội nghị cán bộ quân, dân, chính đảng toàn tỉnh đã dự kiến trước tình hình này, vạch rõ âm mưu thủ đoạn địch và bàn biện pháp đối phó. Khẩu hiệu hành động là: “Ai giành được mùa thì kẻ ấy thắng”, “Quyết không để một hạt thóc rơi vào tay giặc” được cán bộ, chiến sĩ và nhân dân toàn tỉnh ráo riết chuẩn bị thực hiện.

Chấp hành nghị quyết đại hội đảng bộ tỉnh lần thứ IV (4/1950) và hưởng ứng lời hiệu triệu của đại hội, Tỉnh ủy cử các cán bộ về ém sẵn ở các xã thuộc huyện Triệu Phong, Hải Lăng, phối hợp chặt chẽ với toàn bộ lực lượng bộ đội Trung đoàn 95, bộ đội địa phương, dân quân du kích ở đây vừa tổ chức lực lượng chống càn bảo vệ mùa, vừa tranh thủ lúa chín khẩn trương gặt. Cúng lúc này bọn địch tranh chấp thời gian với ta, chúng liều mạng tổ chức những đợt càn quét, cướp bóc. Trên những cánh đồng lúa ở Bích Khê, Hà Mi, Tri Bưu, Ưu Điềm... tiếng súng kịch chiến của kẻ cướp thóc và người giữ thóc chốc chốc lại rộ lên.

Không thể bóp nát “cái dạ dày của Việt Minh” Lơ-Brit buộc phải lui quân sau khi bỏ lại 200 xác lính Pháp và 3 xe bọc thép lội nước ở Quảng Trị. Đồng thời ở Quảng Bình và Thừa Thiên chúng thất bại còn nặng nề hơn khi đánh vào các vựa lúa ở đó.

Chiến dịch bảo vệ mùa thắng lợi dòn giã. Những cánh đồng lúa ở Triệu Hải và các huyện khác trong tỉnh đã cho sản lượng 15.300 tấn thóc được phơi khô, cất kỹ, giành một phần chuyển lên chiến khu nuôi cán bộ, bộ đội kháng chiến.

Chiến dịch bảo vệ mùa thắng lợi, một lần nữa chứng tỏ chủ trương đúng đắn của Tỉnh ủy trong việc nắm vững và vận dụng linh hoạt quan điểm toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến của Trung ương, thể hiện rõ quyết tâm tiêu diệt địch của ba thứ quân và sự hoạt động tích cực, có hiệu quả của lực lượng dân quân du kích trong đánh giặc bảo vệ làng xã, bảo vệ sản xuất.

Chiến dịch bảo vệ mùa thắng lợi góp phần tích cực đảm bảo hậu cần vững chắc cho cuộc kháng chiến ở Quảng Trị tiếp tục giành những thắng lợi lớn hơn.

Tiếng súng thắng trận ở Hải Lăng, Triệu Phong vừa dứt được ít ngày, quân dân Quảng Trị lại náo nức chuẩn bị cho một chiến dịch mới. Đó là chiến dịch Phan Đình Phùng nhằm phối hợp với chiến trường Bắc bộ. Thời gian chiến dịch: Dự kiến lúc đầu từ 15-5 đến 15-7. Địa bàn chiến dịch: nam tỉnh Quảng Bình (Hòa Luật Nam) đến Bắc Quảng Trị (Vĩnh Chấp) là chiến trường chính.

Chiến dịch này nhằm thực hiện ba mục tiêu:

- Tiêu diệt một bộ phận quân ứng chiến của Pháp từ Bắc tỉnh Quảng Bình kéo vào.

- Tiêu diệt một bộ phận quân ứng chiến liên tỉnh Bình - Trị - Thiên (mục đích chính) từ phía Nam ra.

- Đánh diệt một cứ điểm bằng lối đánh công kiên.

Bộ chỉ huy Mặt trận ra lệnh cho tất cả các đơn vị chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích đẩy mạnh các hoạt động phối hợp. Chấp hành mệnh lệnh, bộ đội địa phương Cam Lộ, Triệu Phong, Tiểu đoàn 230 (Lê Hồng Phong), thị xã Quảng Trị, Đông Hà, Vĩnh Linh... mở nhiều đợt tập kích nhỏ và vừa vào các vị trí đồn bốt địch với mục đích quấy rối, tiêu hao, nghi binh. Các trục đường quốc lộ số I, 9, ban ngày địch sửa, ban đêm ta phá, hoặc sửa được đoạn này ta phá đoạn kia làm cho giao thông trên hai trục đường này luôn bị ùn tắc.


1) Chủ trương “chiến tranh lúa gạo” của địch là: “cướp lúa hột, phá lúa non, không cho cày cấy”.


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Sáu, 2020, 08:45:31 am
Mở màn chiến dịch, một đại đội của tiểu đoàn 436 và một đại đội của Tiểu đoàn 230 bao vây uy hiếp đồn Sen Hạ (Lệ Thủy Quảng Bình) và Ba Bình (Vĩnh Linh) suốt mấy ngày đêm làm cho địch rất lo sợ, phải liên tục gọi điện cầu cứu quan thầy giật vây. Từ thị xã Đồng Hới địch cho một cánh quân cấp tốc xuôi phía Nam ứng cứu cho Sen Hạ, Ba Bình. Dự kiến tình huống này ta phục kích ở Sen Động, Phú Thiết diệt hơn 100 tên.

Thắng lợi trận đầu càng cổ vũ quân ta bao nhiêu thì càng làm cho địch lồng lộn điên cuồng bấy nhiêu.

Bộ chỉ huy Pháp từ Bình-Trị-Thiên quyết định mở một cuộc hành binh lớn với sự tham gia của 2000 quân và 200 xe bọc thép, xe vận tải từ Đồng Hới vào Huế để diệt bộ đội chủ lực ta(1).

Quân ta bố trí trận địa phục kích suốt chiều dài 7 km hai bên đường quốc lộ số 1 từ Sen Thủy đến ngã ba Sa Lung (Vĩnh Linh) dưới quyền chỉ huy của đồng chí Lê Bá Vận. Trên suốt tiền duyên trận địa, dưới nắng hè rát bỏng, bộ đội ta “độn thổ”, ngồi ém dưới hầm mang theo cơm nắm, nước uống kiên trì chờ địch.

Sáng ngày 26 tháng 7 một đoàn xe bọc thép từ Đồng Hới chở đầy lính Âu Phi hùng hổ chạy vào Huế, vừa đến Hạ Cờ (Chấp Lễ, Vĩnh Linh); chiếc đi đầu bị mìn nổ tung, cả đoàn xe ùn lại lập tức bộ đội ta bật nắp hầm xông lên bắn xối xả vào đội hình địch. Nhiều tên chết ngay trong xe, số sống sót nhảy xuống đường núp dưới gầm xe vào các mô đất hai bên đường bắn trả dữ dội. Một máy bay Moran bay rất thấp nghiêng ngó chỉ điểm liền bị quân ta hạ ngay tại chỗ.

Cay cú trước thất bại địch vội vàng điều thêm quân từ Đồng Hới và tiếp viện, cuộc chiến đấu trở nên ác liệt hơn. Quân địch co cụm lại từng tốp, kết hợp với hỏa lực chi viện cản phá các mũi xung phong của quân ta tràn ra mặt đường. Về phía ta một mặt tích cực tiêu diệt địch ở trận địa, ghìm chúng xuống mặt đường, không cho hợp quân với toán tăng viện từ Đồng Hới đang trên đường vào, mặt khác dàn sẵn lực lượng đánh cánh quân tăng viện, nhưng do yếu tố bất ngờ không còn nên quân địch củng cố được thế trận rút về Huế.

Sau 5 giờ chiến đấu căng thẳng quân ta đã diệt hơn 300 tên địch, bắn rơi 1 máy bay.

Kết thúc giai đoạn đầu của chiến dịch Phan Đình Phùng, bộ đội ta đã diệt và bắn bị thương hơn 400 tên, phá hủy và phá hỏng 7 xe bọc thép, làm nổ một kho đạn, bắn rơi một máy bay. Lực lượng ta hy sinh 62, bị thương 191.

Chiến thắng Hạ Cờ - Chấp Lễ là thắng lợi mở đầu của lực lượng vũ trang Quảng Trị trong một chiến dịch lớn, dùng chiến thuật “độn thổ” giữa ban ngày trên địa hình trống trải, nhưng nhờ mưu trí, gan dạ và ý chí quyết thắng cao nên đã lừa được địch vào tròng và chiến thắng vẻ vang, làm tổn thất nặng nề đội quân ứng chiến tinh nhuệ có máy bay, pháo binh yểm trợ. Tuy nhiên do tương quan lực lượng do tổ chức chỉ huy chưa tốt nên chưa diệt gọn được địch như kế hoạch, còn để phần đông quân địch thoát chết rút chạy khỏi trận địa.

Phát huy thắng lợi giành được, ngày 13-7-1950 bộ đội ta tiếp tục cường tập vị trí Sen Hạ lần thứ hai. Sau hai ngày đêm quân ta vây ép chặt đồn, sắp đến giờ nổ súng thì thì một tình huống bất ngờ xảy ra là quân Pháp cho quân nhảy dù tiếp viện Sen Hạ chứ không dám dùng đường bộ như trước. Trước tình huống đó quân ta trở tay không kịp, không hạ được đồn, không diệt được viện mà chỉ diệt được 45 tên, làm bị thương 25 tên khác phá hủy 1 khẩu 12 ly 7 rồi rút quân.

Theo kế hoạch ban đầu đến đây là kết thúc chiến dịch nhưng Bộ Tổng tư lệnh chỉ thị Mặt trận kéo dài thêm một tháng (đến 15-8) để phối hợp với chiến trường chính. Song do hoàn cảnh chiến trường chi phối, suốt một tháng sau quân ta cũng chỉ tổ chức được một số trận đánh nhỏ có tính chất quấy rối tiêu hao địch ở Vĩnh Linh, Hải Lăng, Quảng Trị chứ không tổ chức được trận đánh lớn nào.

Cùng với những hoạt động quân sự, chủ trương “bao vây kinh tế địch” được nhân dân hưởng ứng và chấp hành tích cực. Toàn tỉnh có 10 chợ do địch kiểm soát, nhưng bà con ta đến họp chợ rất thưa thớt. Chợ Đông Hà, Quảng Trị trước đây thường đông trên 1000 người nay chỉ còn 200-300 người đến mua bán. Thực phẩm của ta không để lọt vào tay địch. Hàng ngoại do địch tung ra bán trên thị trường bị ế ẩm. Khẩu hiệu “Dùng hàng nội hóa là yêu nước” được nhân dân toàn tỉnh hưởng ứng sôi nổi. Trong lúc đó chợ kháng chiến đã phát triển lên đến 26 chợ, ngày càng có nhiều người tới mua bán, có chợ đông trên 1000 người.


(1) Trong chiến dịch này, Trung đoàn 95 (Quảng Trị) và Trung đoàn 18 (Quảng Bình) đều tham chiến


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Sáu, 2020, 08:47:54 am
Ở nông thôn ngoài việc thực hiện sắc lệnh ngày 14-7-1947 của Chính phủ ta về giảm tô giảm tức, về tịch thu ruộng đất của Việt gian và tạm giao ruộng đất vắng chủ cho nông dân thiếu ruộng còn có phong trào người nhiều ruộng hiến ruộng đất cho Chính phủ để cấp cho nông dân. Những việc làm này đã giúp cho nông dân ổn định và cải thiện đời sống thêm một bước. Nhờ đó phong trào tăng gia sản xuất được đẩy mạnh hơn và phong trào kháng chiến dù khó khăn gian khổ vẫn được đẩy mạnh. Phong trào chống “giặc dốt” được duy trì đều và đạt được một số thành tựu khả quan: Về cơ bản đã xóa được nạn mù chữ cho thanh niên và một phần nhân dân trong độ tuổi dưới 45, xây dựng được 28 trường phổ thông tiểu học, 4 trường trung học (có đến lớp 7/9), thu hút 6345 con em đi học.

Toàn tỉnh lập được 2 bệnh viện quân y và dân y. Các huyện có bệnh viện và trạm xá hoạt động hiệu quả. Bệnh xá K42 đặt ở chiến khu Ba Lòng là một điển hình về tinh thần khắc phục khó khăn, tự lực cánh sinh, phục vụ tận tình, cứu chữa hàng ngàn thương bệnh binh trả họ về trận tuyến chiến đấu.

Các đoàn thể quần chúng được chú trọng xây dựng, củng cố vững mạnh làm nòng cốt xung kích cho các phong trào cách mạng. Thực hiện sắc lệnh tổng động viên của Chính phủ, chỉ tính riêng từ ngày 19-5 đến 2-9-1950, toàn tỉnh có 6.524 thanh niên ghi tên tòng quân, trong đó có trên 1500 được tuyển vào quân đội. Ngoài ra còn có 14.857 lượt người đi dân công phục vụ chiến đấu ở chiến trường Bình - Trị - Thiên và Lào.

Chiến dịch Phan Đình Phùng kết thúc thắng lợi, biểu hiện sinh động bước trưởng thành nhanh chóng của lực lượng vũ trang Quảng Trị. Từ chiến dịch Lê Lai, chiến dịch bảo vệ mùa đến chiến dịch Phan Đình Phùng; đảng bộ, nhân dân và lực lượng vũ trang tỉnh đã vượt qua nhiều khó khăn gian khổ phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, giữ vững phong trào kháng chiến. Thực tiễn chiến đấu ở 3 chiến dịch này chỉ ra rằng: Từ một chiến trường sau lưng địch, từ chỗ bị động, ta đã tạo được thế chủ động tiến công địch, tiến tới làm chủ chiến trường. Kẻ địch đang từ thế chủ động rơi vào thế bị động đối phó. Tình thế ấy có lợi cho ta, bất lợi cho địch.

Tuy nhiên trong chiến dịch còn nhiều hạn chế. Một chiến dịch diễn ra trong suốt 3 tháng trên một địa bàn rộng lớn nhưng kết quả diệt địch chưa cao; điều đó chỉ ra rằng với một chiến trường như Bình - Trị - Thiên hoạt động quân sự phải khéo léo vận dụng kết hợp chặt chẽ giữa du kích chiến và vận động chiến, bộ đội chủ lực gắn với bộ đội địa phương và dân quân du kích trong một thể thống nhất, mặt khác phải thường xuyên chú trọng xây dựng cơ sở vững mạnh, thực sự trở thành chỗ dựa vững chắc cho lực lượng vũ trang xây dựng chiến đấu và chiến thắng.

Để giải quyết khó khăn về vũ khí công đồn, rèn luyện trình độ kỹ thuật, chiến thuật cho bộ đội, sau một thời gian được huấn luyện cách đánh tàu bọc thép, Bộ chỉ huy Mặt trận quyết định dùng một bộ phận của trung đoàn 95 và 101 đánh đoàn tàu bọc thép trên đoạn đường sắt Mỹ Chánh - Diên Sanh mà bọn Pháp mới đưa vào từ giữa năm 1950.

Tiểu đoàn 227 (Trung đoàn 95) được giao nhiệm vụ chủ công trong trận đánh này. Ngoài ba đại đội trong biên chế tiểu đoàn còn được tăng cường và phối hợp chiến đấu với 1 tiểu đoàn và 6 đại đội của Trung đoàn 101; bộ đội địa phương Hải Lăng, Phong Điền và Mặt trận ngoài ra còn có 200 dân quân phối hợp chiến đấu và vận tải tiếp tế.

Được sự chi viện đắc lực của đại đội trợ chiến và các đơn vị bạn, ngày 24-10 Tiểu đoàn 227 do Tiểu đoàn trưởng Trần Văn Trân chỉ huy hợp đồng chặt chẽ với 2 tiểu đoàn công binh đánh bom tiến công đoàn tàu bọc thép của địch dài 16 toa có 2 khẩu pháo 40mm bố trí ở đầu và cuối tàu. Trận đánh diễn ra quyết liệt kéo dài 2 giờ liền. Ta phá hỏng 1 đầu máy 10 toa tàu, thu 1 khẩu pháo 40 milimét và hàng trăm súng bộ binh; diệt và làm bị thương hơn 160 tên, bắt 9 tên (có 1 tên quan hai chỉ huy, tên Ty trưởng an ninh Quảng Trị, tên Chi khu trưởng an ninh Hải lăng và 6 lính Âu Phi).

Đây là lần đầu tiên ta sử dụng lực lượng tương đối lớn (12 đại đội, có nhiều đơn vị kỹ thuật), phục kích ban ngày, đánh đoàn tàu bọc thép của địch, một phương tiện vận tải được trang bị hỏa lực mạnh. Là một trận đánh đạt kỷ lục cao nhất từ trước tới nay về thu vũ khí, đáp ứng yêu cầu bức thiết của chiến trường.


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Sáu, 2020, 08:50:03 am
Trong 1 năm mở 3 chiến dịch, lực lượng vũ trang Quảng Trị đã lớn mạnh nhanh chóng. Từ chỗ bộ đội chỉ biết đánh du kích, giao thông lẻ tẻ, nay có khả năng đánh lớn đánh tập trung, đánh dài ngày, đánh công đồn, góp phần tích cực cùng quân dân cả nước đánh bại chiến lược Rơ-ve của địch.

Sau những thất bại liên tiếp ở chiến trường chính cũng như ở Bình - Trị - Thiên, thực dân Pháp cố gắng gượng dậy để giành quyền làm chủ trên thế mạnh. Đặc biệt ở vùng sau lưng địch, những cuộc hành binh đánh phá khốc liệt, liên tiếp xảy ra. Lực lượng vũ trang tỉnh vừa qua phải cố gắng lớn để vượt qua một giai đoạn đầy khó khăn, thử thách mới, giờ đây lại đứng trước một khó khăn lớn đặc biệt. Đó là trận lụt ngày 30-10-1950 một trận lụt lớn chưa từng có ở Quảng Trị trong vòng 100 năm. Phạm vi tàn phá của trận lụt này khá rộng, chiếm gần hết địa bàn Liên khu 4 nhưng nặng nhất là 3 tỉnh Bình Trị Thiên. Toàn Liên khu có 224 người và 1.388 trâu bò chết, 757 ngôi nhà bị trôi, 60-80% lúa mùa bị mất trắng, 1596 tấn lúa bị trôi và 1000 tấn muối tan ra nước.

Trước tình hình đó Ủy Ban kháng chiến hành chính Liên khu ra lời kêu gọi:

- Tiết kiệm lương thực cho tiền tuyến.

- Tiết kiệm thì giờ để sản xuất.

- Tiết kiệm chi tiêu để giữ giá bạc Việt Nam.

- Ai vào Bình - Trị - Thiên mang theo 1 kg gạo và 1/2 kg giống.

Rõ ràng lúc này quân dân Quảng Trị đang đứng trước hai nguy cơ đe dọa: Địch điên cuồng đánh phá phong trào kháng chiến và nạn đói trầm trọng.

Nhằm ổn định tình hình, đầu tháng 11 năm 1950 Tỉnh ủy Quảng Trị và Bộ chỉ huy Mặt trận đề ra nhiệm vụ cấp bách lúc này cần tập trung giải quyết là: Xây dựng cơ sở, chống đói, chống giặc.

Thực hiện chủ trương của hội nghị, khắp nơi các lực lượng đơn vị vũ trang dấy lên phong trào tăng gia sản xuất sôi nổi. Cán bộ chiến sĩ luân phiên nhau vừa chiến đấu vừa tăng gia sản xuất, ở hầu khắp các đơn vị đều có khu tăng gia tập trung. Tại chiến khu Ba Lòng, Thủy Ba và các tiền chiến khu các nương sắn, khoai ngô của bộ đội ta bạt ngàn xanh tốt. Một bộ phận ngược đèo Ngang (Quảng Bình) ra Hà Tĩnh vận chuyển vũ khí, lương thực của Trung ương và Liên khu cứu trợ cho đồng bào Bình - Trị - Thiên (1) Nhờ các biện pháp kịp thời đó, nạn đói dần dần bị đẩy lùi; phong trào kháng chiến vẫn được duy trì khá.

Tuy vụ mùa bị mất trắng nhưng nhờ vụ chiêm bù lại(2) nên Quảng Trị vẫn đảm bảo sự đóng góp cho Chính phủ kháng chiến: Nộp quỹ công lương 311 tấn thóc, tài lực 5 triệu đồng và 4513 thúng thóc.

Địch ra sức lợi dụng những khó khăn của ta, đánh phá cơ sở kháng chiến, nống ra vùng du kích ở Vĩnh Linh, Triệu Phong, Hải Lăng. Mặt khác ở vùng tạm bị chiếm, chúng tăng cường bắt lính, dụ dỗ, lừa bịp quần chúng, lập hội tề bí mật. Táo bạo và thâm độc hơn chúng rải truyền đơn xuyên tạc cuộc kháng chiến của ta, nói xấu Chính phủ ta, kêu gọi bộ đội đầu hàng. Ở các đoạn đường giao liên heo hút từ Thủy Ba đi Ba Lòng, chúng lén lút phục kích bắt cóc cán bộ, bộ đội đi lẻ, gây hoang mang dao động trong cán bộ, bộ đội và nhân dân.

Những hành động đó tuy gây cho ta một ít khó khăn mới nhưng quân dân Quảng Trị càng xiết chặt đội ngũ tổ chức nhiều tràn đánh tập kích, phục kích, hầm chông, địa lôi... phá tan âm mưu của giặc.

Kết hợp chặt chẽ với các trận tiến công địch, công tác địch vận cũng được các cấp quan tâm đúng mức. Tổ chức công tác địch vận được hình thành từ xã lên tỉnh và ở tất cả các đơn vị bộ đội. Toàn tỉnh có gần 100 cán bộ, nhân viên chuyên trách công tác địch vận.

Trong năm 1950 tổ chức 4 vụ binh biến ở Mỹ Chánh, Ái Tử, Đông Hà, Triệu An (Triệu Phong), thu 60 súng trường, 4 Brem 70 hàng binh bỏ hàng ngũ địch theo kháng chiến. Ban địch vận Vĩnh Linh nổ súng thị uy, gọi hàng 8 đồn hương vệ ở Di Loan, An Ninh, Chợ Do, An Bằng, An Nghĩa, Cửa Tùng, An Lẽ, An Trĩ, nhiều lính ngụy nhận rõ chính sách khoan hồng của ta bỏ hàng ngũ địch, bầu hết được về bản quán, một số theo ta đi kháng chiến.


(1) Trung ương trợ cấp cho Bình Trị Thiên 11,5 triệu đồng tài chính. Liên khu 4 tiếp tế vào Bình Trị Thiên 905 tấn gạo, 45 tấn muối
(2) Vụ chíêm thu 15.300 tấn lúa


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Sáu, 2020, 08:52:28 am
Nhân dân cả nước cũng như nhân dân Quảng Trị vui mừng phấn khởi trước thắng lợi của quân và dân ta vừa giành được ở chiến dịch biên giới Thu-Đông 1950 thì một tin vui mới lại đến: Đại hội toàn quốc lần thứ 2 của Đảng thành công rực rỡ(1). Đại hội đã quyết định đường lối cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, đẩy mạnh cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn. Đặc biệt Đại hội đã quyết định Đảng ta ra hoạt động công khai sau một thời gian rút vào hoạt động bí một: Đồng thời đổi tên Đảng thành “Đảng Lao động Việt Nam” và bầu Hồ Chủ tịch làm Chủ tịch Đảng.

Thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ II, Ban chấp hành đảng bộ tỉnh đã cụ thể hóa bằng các chủ trương, chỉ thị kịp thời. Ngày 20-2-1951 ra chỉ thị: “Kế hoạch tác chiến mùa xuân”, nhấn mạnh “Chuyển hướng sự lãnh đạo của các cấp, các ngành là tập trung thực hiện kế hoạch quân sự. Nhiệm vụ của bộ đội địa phương phải nghiên cứu đánh tiêu diệt cho kỳ được bọn đi lùng lẻ tẻ, phục kích địch trên các đường giao thông, giúp đỡ dân quân ve việc đánh du kích trong thôn xóm, gây cơ sở bí mật và tổ chức quần chúng cơ sở. Phân tán lực lượng dân quân tập trung của xã và dìu dắt dân quân các thôn canh gác, hướng dẫn dân quân cách giật bom, gài mìn đánh địch, phối hợp với công tác phá tề, trừ gian, bao vây kinh tế địch cung cấp địch tình, liên lạc, vận tải, tiếp tế, xúc tiến việc bao vây đồn, phá hoại đường sắt, quốc lộ I số 9”.

Quyết tâm của Ban chấp hành đảng bộ đã trở thành ý chí chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ, nhân dân toàn tình. Các phong trào “Hũ gạo nuôi quân”, “Sào ruộng nuôi quân”, “Quỹ nuôi quân” lúa “Cụ Hồ khao quân”... được nhân dân các huyện Hải Lăng, Triệu Phong, Cam Lộ, Vĩnh Linh... hưởng ứng sôi nổi. Nhờ các phong trào phong phú, đa dạng đó mà các đội du kích xã, đại đội bộ đội địa phương huyện vẫn đẩy mạnh các hoạt động quấy rối tiêu hao không cho địch yên; vào sâu vùng địch hậu xây dựng cơ sở kháng chiến, củng cố mở rộng chiến khu Ba Lòng, Thủy Ba, Cùa, Cam Lộ, Hòn Linh thực sự trở thành những bàn đạp vững chắc cho các chiến dịch và các trận chiến đấu mới.

Ngày 20-1-1951 dân quân Vĩnh Hoàng (Vĩnh Linh) bắt 1 ghe tàu ô thu 4 súng trường, 2 súng lục, 1 tôm xơn.

Ngày 21-1 dân quân Triệu Sơn (Triệu Phong) phá đường sắt làm đổ 6 toa tàu của Pháp từ Huế đi Đông Hà.

Ngày 8-4 dân quân Hải Thủy (Hải Lăng) phục kích bọn về binh đoàn đi tuần, dùng tre lồ ô vót nhọn, đâm chết 2 tên. Ba tên đồng bọn quá khiếp sợ, không dám chống cự vứt súng chạy thoát mạng. Dân quân thu 5 súng trường, 4 dao găm và 100 viên đạn.

Ngày 15-4 dân quân Hải Trường và bộ đội địa phương Hải Lăng giật bom bắc cầu Mỹ Chánh lật đổ 7 toa tàu. Bọn địch trên tàu nhảy xuống khắc phục sự cố bị diệt 7 tên.

Từ ngày 14 đến 21-5-1951 đại hội đại biểu đảng bộ Liên khu Tân thứ ba họp tại làng Hoa Quân, huyện Thanh Chương (Nghệ An).

Đại hội đề ra 2 nhiệm vụ của Liên khu là:

- “Tiếp tục xây dựng lực lượng quân sự, tiêu diệt sinh lực địch đồng thời bảo toàn và xây dựng lực lượng ta.

- Đẩy mạnh sản xuất, đặc biệt là sản xuất lương thực bảo đảm cung cấp nhu cầu tiền tuyến và cải thiện dân sinh(2)”.

Về nhiệm vụ của Mặt trận Bình - Trị - Thiên, Nghị quyết đại hội nêu rõ: “Củng cố và phát triển lực lượng, đủ sức chiến đấu tiêu diệt sinh lực địch, phối hợp với các chiến trường chính, phát triển chiến tranh du kích khắp các địa phương. Tranh thủ thời cơ đẩy mạnh tăng gia sản xuất và tiết kiệm để bồi dưỡng sức dân, duy trì cuộc kháng chiến lâu dài. Kiên nhẫn bền bỉ xây dựng và phát triển cơ sở quần chúng ở các vùng địch hậu và cơ sở bí mật trong các thị xã”.(3)

Đối với nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang, đại hội nhấn mạnh: “Trong điều kiện và hoàn cảnh chiến trường Bình - Trị - Thiên, bộ đội chủ lực không thể tăng thêm nhiều vì cơ động khó khăn. Vì vậy, bộ đội địa phương sẽ là thành phần vũ trang quan trọng của chiến tranh nhân dân địa phương, nên cần được tăng cường và củng cố mọi mặt. Dân quân du kích là công cụ bạo lực chủ yếu ở cơ sở và là lực lượng trực tiếp làm nòng cốt để thực hiện “vũ trang toàn dân và toàn dân đánh giặc” phải được đặc biệt quan tâm xây dựng. Trên cơ sở đó mà tiếp tục củng cố bộ đội chủ lực hiện có, tiến tới xây dựng thành đại đoàn.(4)


(1) Đại hội Đảng toàn quốc lần 2 họp từ 11 đến 19-2-1951
(2), (3), (4) Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. NXB Quân đội nhân dân năm 1990, TR.261.


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Sáu, 2020, 08:53:22 am
Tại đại hội này đồng chí Hoàng Anh được bầu làm bí thư Liên khu ủy, đồng chí Lê Viết Lượng được cử làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu. Đồng chí Lê Nam Thắng được cử làm Tư lệnh và đồng chí Võ Thúc Đồng làm Chính ủy Liên khu. Đồng chí Chu Văn Biên được bầu làm Bí thư Liên khu ủy trực tiếp làm Bí thư Đảng ủy Mặt trận Bình - Trị - Thiên. Đồng chí Trần Quý Hai được cử làm Tư lệnh và đồng chí Lê Tự Đồng làm Phó chính ủy Mặt trận.

Tiếp theo những thắng lợi của dân quân du kích trong 5 tháng đầu năm, sau một thời gian nghiên cứu và chuẩn bị chu đáo, Bộ chỉ huy Mặt trận quyết định dùng một bộ phận bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương cường tập vị trí Ba Dốc.

Ba Dốc nằm sát đường quốc lộ số I thuộc địa phận huyện Gio Linh. Tại đồn này địch bố trí một trung đội thuộc đại đội 8 tiểu đoàn Trần Hưng Đạo ngụy binh và 15 hương vệ. (Trong đó có 2 lính Pháp phụ trách điện đài). Vũ khí phương tiện có 1 đại bác 75mm, 3 trung liên, 1 đại liên, 3 tiểu liên, 2 xe hơi và một số súng trường... Tại đây địch xây dựng một hệ thống lô cốt kiên cố nối với nhau bằng giao thông hào, bảy lớp rào kẽm gai bao bọc quanh đồn. Để bảo vệ đồn, địch thường xuyên lùng sục ra xung quanh cướp bóc uy hiếp nhân dân. Dã man hơn chúng còn san bằng 2 thôn Lệ Môn và Gia Môn lập “vành đai trắng” ngăn chặn các cuộc tấn công của ta.

Trước trận đánh 4 ngày, dân quân Cam Lộ và Tiểu đoàn 310 (Trung đoàn 95) đã phá hoại triệt để đoạn đường từ Đập Huyện đi Đông Hà, đắp nhiều ụ đất đá, ngăn không cho xe địch từ Đông Hà ra. Dân quân Vĩnh Linh và Tiểu đoàn 302 (trung đoàn 95) phá hoại đoạn đường từ Hiền Lương ra Hồ Xá đắp nhiều vật cản trên đoạn đường ấy ngăn không cho xe từ Hồ Xá vào. Dân quân Gio Linh và một bộ phận của Tiểu đoàn 302 phá hoại đoạn đường từ Đập Huyện ra Hà Thanh.

Như vậy là vị trí Ba Dốc nam ở giữa, bị cô lập không liên lạc được với Đông Hà và Hồ Xá nếu bị ta tấn công.

Đêm 12-6-1951, ba Tiểu đoàn 227, 302, 310, các đại đội trợ chiến thuộc Trung đoàn 95 và ba đại đội bộ đội địa phương Cam Lộ, Gio Linh, Vĩnh Linh hiệp đồng tiến công vị trí Ba Dốc.

Mở đầu trận đánh, đại đội 95 trợ chiến sử dụng 9 khẩu súng phóng bom đồng loạt bắn vào Ba Dốc. Sau khi hỏa lực ngừng bắn, Tiểu đoàn 227 nhanh chóng vượt rào, dùng ĐKZ bắn sập các lô cốt, tiêu diệt các ổ đề kháng của địch xung phong đánh chiếm từng khu nhà.

Sau hơn 1 giờ chiến đấu quân ta đã làm chủ trận địa tiêu diệt và bắt sống 81 tên địch, thu 1 đại bác 75mm, 2 trung liên, 328 viên đạn đại bác, 80 súng trường, 20 tấn gạo, thóc và nhiều quân trang, quân dụng. Đáng chú ý trong trận này ta đã giải thoát được một số cán bộ và đồng bào ta bị địch giam ở đây.

Trận cường tập vị trí Ba Dốc là một trận đánh hiệu suất cao, trong vòng 1 giờ đồng hồ ta đã tiêu diệt gọn đồn, bắt tù binh, thu vũ khí, chứng minh chủ trương đánh Ba Dốc là chính xác, nhất là trận đầu tiên ở chiến trường Bình - Trị - Thiên ta dùng chiến thuật công kiên thắng lợi giòn giã. Trước đó 1 năm Trung đoàn 95 đã tổ chức một trận công đồn ở Sen Hạ nhưng không thành công. Phải đến trận này nhờ công tác chuẩn bị chiến trường chu đáo, quyết tâm cao, hiệp đồng chiến đấu ba thứ quân nhịp nhàng, đồng bộ, cán bộ chiến sĩ phát huy tinh thần chiến đấu dũng cảm mưu trí mới tiêu diệt được một vị trí địch kiên cố. Từ trận đầu đánh công kiên thắng lợi bộ đội và dân quân du kích rút ra kinh nghiệm bổ ích cho việc đánh những vị trí địch được xây dựng kiên cố, hỏa lực mạnh, phòng thủ vững chắc.

Sau chiến thắng Ba Dốc, quân ta liên tiếp tiêu diệt một số lô cốt khác của địch ở Hà Thanh, Quy Thiện, Thôn Dõng, Cù Hoan. Những lô cốt này đều được xây dựng bằng bê tông cốt thép, dày khoảng 50 phân, có lỗ châu mai, đã một thời được địch hết sức tin tưởng ở khả năng “bất khả xâm phạm” thế nhưng nay đều bị diệt.

Quá hoảng sợ, địch cho rút một loạt vị trí, đồn lính tăng cường cho thị xã Đông Hà và Quảng Trị. Ngày 24 tháng 6 đến 5-7 địch buộc phải rút 7 vị trí ở Triệu Phong, Cam Lộ, Vĩnh Linh, Hải Lăng, do đó vùng kiểm soát của du kích càng được mở rộng.


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Sáu, 2020, 08:56:06 am
Sau một thời gian hoạt động tập trung, cuối tháng 6-1951 Đảng ủy Mặt trận quyết định phân tán Trung đoàn 95 về phối hợp với các địa phương đẩy mạnh chiến tranh du kích.

Vào thời điểm này, địch ngấm đòn thất bại trong các trận càn ở Thanh Hương - Mỹ Xuyên(1) nên càng lồng lộn điên cuồng hơn, liên tiếp tổ chức nhiều trận càn vào các huyện Triệu Phong, Hải Lăng, mỗi trận trung bình từ 5-7 ngày với lực lượng từ 1000 - 1500 tên, có phi cơ, pháo binh yểm trợ. Bên cạnh những trận càn dài ngày, thỉnh thoảng chúng cùng tổ chức một vài trận chớp nhoáng càn quét trên một phạm vi hẹp với lực lượng 500 đến 700 tên.

Song song với những hoạt động quân sự, địch tăng cường các hoạt động chiến tranh tâm lý, gián điệp. Tại thị xã Quảng Trị chúng tổ chức rùm beng tuần lễ “giết cán lập công” nhằm khuyến khích binh sĩ ngụy, nhân dân vùng tạm bị chiếm chỉ điểm, tìm bắt và diệt cán bộ kháng chiến.

Nắm vững âm mưu, thủ đoạn của địch, Tỉnh đội Quảng Trị phát động trong lực lượng vũ trang đợt thi đua mới với chủ đề: “Một tháng phát động chiến tranh du kích” được toàn thể lực lượng vũ trang và nhân dân hưởng ứng sôi nổi.

Những trận càn quét của địch ngoài mục đích là tiêu diệt lực lượng kháng chiến còn chủ trương đánh vào hai vựa lúa của tỉnh là Hải Lăng và Triệu Phong. Suốt trong mấy năm qua địch tìm mọi cách để cướp thóc, phá lúa của ta, cho nên hễ cứ đến mùa gặt bộ đội và dân quân du kích lại được lệnh sẵn sàng chiến đấu cao nhất, triển khai đội hình, bố trí sẵn thế trận đối phó với giặc, kiên quyết bảo vệ mùa, một vấn đề có tính chất sống còn của cuộc kháng chiến.

Trong tháng 7-1951, bộ đội địa phương và dân quân du kích Hải Lăng, Triệu Phong, Cam Lộ, Gio Linh và tiểu đoàn 230 của tỉnh phối hợp với Trung đoàn 95 đánh 8 trận càn diệt 59 tên địch thu 12 súng các loại, bẻ gãy các cuộc càn vào đồng bằng Triệu - Hải và chiến khu Thủy Ba. Đoạn đường quốc lộ từ Đông Hà ra Hồ Xá đã bị quân ta phá hoại trong trận cường tập Ba Dốc trước đây nay tuy được địch sửa chữa lại nhưng tiểu đoàn 230 liên tục phá hoại quấy rối diệt các toán địch đi sửa đường.

Được bộ đội và quân dân du kích bảo vệ, nhân dân phấn khởi tin tưởng, dồn sức gặt nhanh thu gọn thóc lúa và kịp thời cất dấu. Số thóc địch liều mạng cướp được không quá 3% tổng thu nhập của ta. Đây là một mùa bội thu trong kháng chiến của quân dân Quảng Trị.

Cùng với những hoạt động của du kích, nhân dân vùng tạm bị chiếm và đô thị tích cực đấu tranh chống địch đi càn, bắt lính, đôn dân. Ở huyện Hải Lăng địch bắt gần 60 thanh niên ta dẫn đến quận lỵ, chở đi quân trường. Bà con biết liền kéo nhau đến quận la hét đòi chồng, con về. Địch bất lực, thanh niên ta lợi dụng lộn xộn trốn về. Ta còn vận động một số gia đình ngụy binh vào tận đồn Mang Cá (Huế) đòi chồng con về. Đồng bào thị xã Đông Hà và Quảng Trị đòi được tự do đi lại buôn bán. Công nhân nhà đèn, Bưu điện đấu tranh chống tập quân sự, đòi tăng lương. Chị em tiểu thương thị xã Quảng Trị lập hội tương tế, quyên góp tiền mua thuốc men gửi lên chiến khu Ba Lòng giúp cán bộ, bộ đội. Các đội cơ sở của công an hoạt động ngay trong lòng địch tích cực quấy rối, phục kích, ám sát làm rối loạn trật tự an ninh, buộc địch phải phân tán lực lượng đối phó. Những thắng lợi đó càng làm cho tinh thần binh lính địch vốn đã hoang mang dao động nay càng sa sút. Các vụ binh biến xuất hiện ngày càng nhiều. Binh lính đồn An Tuyền, Hà Thanh và 21 lính Âu Phi đồn Đông Hà đòi hồi hương.

Sự kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, giữa ba vùng, ba thứ quân tạo điều kiện thuận lợi để ta hoàn thành thắng lợi kế hoạch bảo vệ mùa và phối hợp với chiến trường chính Bắc bộ.

Với những thắng lợi toàn diện trên, ngày 19-8-1951 nhân kỷ niệm lần thứ 6 ngày cách mạng Tháng 8 và Quốc khánh 2-9, Bình - Trị - Thiên vinh dự được Chính phủ và Hồ Chủ tịch tặng thưởng Huân chương Quân công hạng nhì. Bản tuyên dương công trạng khẳng định:

“Trong quá trình đấu tranh gian khổ, nhân dân Bình - Trị - Thiên đã củng cố, xây dựng được lực lượng vũ trang, từ đội du kích tiến lên quân chủ lực mạnh mẽ, chiến thắng địch một cách anh dũng.

Đã thực hiện được quân dân nhất trí, bộ đội yêu mến nhân dân, nhân dân giúp đỡ yêu mến thương yêu bộ đã xây dựng được nhiều cơ sở vững chắc trong lòng phát triển du kích chiến tranh mạnh mẽ, bộ đội địa phương phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực, đã chiến thắng oanh liệt và liên tiếp trong các trận vừa qua, đã kìm chế được lực lượng địch và phối hợp với chiến trường chính”.


Phần thưởng cao quý mà Chính phủ và Hồ Chủ tịch tặng thưởng đả tiếp thêm sức mạnh cho quân và dân Quảng Trị tiếp tục. tiến lên đánh bại mọi âm mưu thủ đoạn xảo trá, tàn bạo của địch, giữ vững và phát triển phong trào kháng chiến.

Năm 1951, năm đáng tự hào, đánh dấu bước trưởng thành mọi mặt của lực lượng vũ trang, đảng bộ và nhân dân Quảng Trị. Bằng sức mạnh quân sự, chính trị, binh vận và xây dựng cơ sở quân và dân Quảng Trị đã phối hợp nhịp nhàng với chiến trường chính góp phần làm thất bại một loạt chiến lược chiến thuật của địch: “Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”, “Chiến tranh tổng lực”, “Bao vây hợp kích”... của kẻ thù. Sau một năm tranh chấp quyết liệt với địch ta vẫn giữ vững 10 vùng du kích gồm 66 thôn với diện tích 288 km2, 3 vùng căn cứ gồm 26 thôn, với diện tích 116 km2.

Thực tế đó chỉ ra rằng lực lượng ta ngày một phát triển cả về lượng và chất. Ba thứ quân không ngừng được xây dựng và trưởng thành. Cuộc chiến tranh nhân dân ở Quảng Trị đã tiến lên đỉnh cao mới. Trình độ tổ chức, chỉ huy, tác chiến của bộ đội đã trưởng thành nhanh. Ngoài các kiểu đánh sở trường từ ngày đầu kháng chiến như du kích chiến, phục kích, tập kích, vận động chiến đã tiến lên đánh hiệp đồng lớn và công kiên thắng lợi.

Tất cả những yếu tố trên là cơ sở vững chắc để quân dân Quảng Trị tiến lên giành những thắng lợi mới cùng quân và dân cả nước đẩy mạnh cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn.

Tuy nhiên do thiên tai mất mùa, đói kém nghiêm trọng, trong khi địch đánh phá cơ sở của ta hết sức quyết liệt đã ảnh hưởng đến tinh thần nhân dân và bộ đội, gây không ít khó khăn cho ta nên một bộ phận nhân dân và bộ đội hoang mang kém phấn khởi dẫn đến hoạt động kém hiệu quả. Tư tưởng “ăn to đánh lớn” vẫn còn ảnh hưởng nhiều đến một số cán bộ, bộ đội, chưa quán triệt sâu sắc phương châm ở chiến trường Bình - Trị - Thiên lấy du kích chiến làm chính. Những khuyết điểm, nhược điểm ấy làm hạn chế đến phong trào kháng chiến Quảng Trị.


(1) Ngày 10-3-1950 Pháp huy động 2200 quân ứng chiến tinh nhuệ, có pháo binh, công binh, cơ giới, máy bay chi viện càn vào Thanh Hương - Mỹ Xuyên (Thừa Thiên) nhằm tiêu diệt chủ lực ta nhưng đã bị thảm bại


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Sáu, 2020, 08:58:54 am
II - PHỐI HỢP BA THỨ QUÂN, KIÊN QUYẾT TIẾN CÔNG ĐỊCH
GIÀNH THẾ CHỦ ĐỘNG CHIẾN TRƯỜNG

Bước vào Thu - Đông 1951-1952 địch đã bổ sung lực lượng ở chiến trường bắc Trung - Việt lên tới 31.445 tên (trong đó có 15.502 lính Âu Phi và 15.943 ngụy quân)! Được tăng viện, địch đẩy mạnh xây dựng thêm lực lượng ứng chiến tại chỗ, đồng thời thay đổi kế hoạch bố trí, dùng chiến thuật quân ứng chiến Âu Phi kết hợp với quân ứng chiến ngụy để đối phó với ta, hòng cứu vãn tình thế ngày càng nguy ngập ở khắp các chiến trường. Mặt khác địch củng gấp rút xây dựng thêm nhiều đơn vị quân ứng chiến ngụy để rút bớt quân ứng chiến Âu Phi bổ sung cho chiến trường chính(1). Âm mưu của địch là vừa nghi binh ta vừa củng cố được quân ngụy đủ mạnh để cùng với quân ứng chiến Âu Phi đánh phá cơ sở kháng chiến của ta. Bên cạnh đó địch ra sức củng cố và chiếm đóng, thực hiện bình định, cướp của, bắt người nhằm xây dựng ngụy quyền vững chắc, ngụy quân mạnh, dập tắt phong trào kháng chiến.

Ở chiến trường chính Bộ Tổng tư lệnh mở chiến dịch Hòa Bình nhằm phá kế hoạch bình định của địch và phát triển chiến tranh du kích ở đồng bằng Bắc bộ.

Chủ trương của Bộ chỉ huy Mặt trận Bình - Trị - Thiên thời kỳ này là đẩy mạnh hoạt động của các lực lượng vũ trang, tiêu diệt sinh lực địch, quyết không cho chúng rút quân ứng chiến tăng viện cho chiến trường chính. Tỉnh ủy kịp thời phát động cuộc thi đua “Đẩy mạnh du kích chiến tranh, tích cực tiêu diệt địch, kìm chân địch lại, quyết không để chúng rút ra Bắc bộ, ra sức xây dựng cơ sở và tăng cường đấu tranh ở vùng sau lưng địch”.

Ngày 23 tháng 1 năm 1952, địch huy động 3 tiểu đoàn gồm tiểu đoàn 27 Bắc Phi, tiểu đoàn 6 Spahis và tiểu đoàn 7 ngụy có máy bay, tàu chiến yểm trợ chia làm 3 mũi càn vào xã Vĩnh Hoàng (Vĩnh Linh).

Được lệnh của Ban chỉ huy tỉnh, tiểu đoàn 230 và trung đội du kích xã Vĩnh Hoàng nhanh chóng triển khai đội hình chống càn.

Trong 2 ngày 21 và 22 tháng 1, địch cho nhiều tốp lính hành quân thăm dò nhưng bộ đội, du kích ta vẫn bí mật lực lượng, không cho nổ súng. Thấy ta không có 1 hành động gì chống cự, sáng ngày 23 tháng 1, địch ồ ạt chia làm 3 mũi tiến vào Vĩnh Hoàng. Khi cánh quân của chúng mới từ Hồ Xá đến đầu xã đã vấp phải mìn, hai xe chở đầy quân nổ tung. Dân quân các thôn Đông, Tây, Xuân Hòa và tiểu đoàn 230... vận dụng chiến thuật phục kích, phân tán từng trung đội, sau thành từng bộ phận nhỏ dựa vào hệ thống “làng xã chiến đấu” quần nhau với địch, dũng cảm đánh trả các cuộc tấn công của chúng.

Sau hơn 2 ngày đêm liên tiếp bị phục kích, tập kích, tiêu hao, chiều ngày 25 tháng 1 bọn địch buộc phải rút khỏi Vĩnh Hoàng. Trong trận này ta đã tiêu diệt gần 50 tên địch, phá hỏng 2 xe quân sự.

Chỉ với một tiểu đoàn bộ đội địa phương (thực tế chỉ có 2 đại đội) và dân quân du kích một xã, ta đã bẻ gãy trận càn lớn của 3 tiểu đoàn địch có máy bay, pháo binh yểm hộ, bảo vệ được nhân dân và vùng du kích. Với chiến công chống càn xuất sắc ấy xã Vĩnh Hoàng được thưởng Huân chương Chiến công hạng nhất.

Chiến dịch Hòa Bình ở Bắc bộ đã mở. Tiếng súng thắng trận ở Vĩnh Hoàng phối hợp rất nhịp nhàng với chiến trường chính làm nức lòng nhân dân vĩnh Lính và Quảng Trị.

Sang tháng 2 năm 1952, địch thay đổi thủ đoạn hoạt động: Rút các đơn vị lẻ và cô lập để tập trung quân cho các đơn vị ứng chiến, phối hợp với lực lượng chiếm đóng mở các cuộc càn quét trên một diện hẹp và dài ngày, nhằm vào vùng du kích và vùng thường đứng chân của chủ lực ta. Hoạt động của bộ đội chủ lực trở nên lúng túng, bế tắc, chưa tìm ra cách đánh mới thích hợp, do đó không hoàn thành được nhiệm vụ phối hợp với chiến trường chính, để địch rút được tiểu đoàn ứng chiến 28/BTA ra tiếp viện cho mặt trận Hòa Bình.

Đảng ủy mặt trận đã kịp thời rút kinh nghiêm, tổ chức hội nghị quân, dân chính, đảng ba tỉnh tại chiến khu Ba Lòng tìm phương thức tác chiến thích hợp trước thủ đoạn hoạt động mới của địch. Hội nghị đề ra những nhiệm vụ cơ bản: Trước hết sử dụng toàn bộ lực lượng 3 thứ quân đẩy mạnh hoạt động, tập trung đánh giao thông và quấy rối đô thị nhằm phân tán lực lượng cơ động của địch, đồng thời sử dụng một trung đoàn chủ lực đánh vào một cứ điểm trọng yếu của địch, nhằm tiêu hao sinh lực địch và tiếp tục phối hợp với chiến trường chính có hiệu quả. Phải tổ chức lại chiến trường, phân công lại nhiệm vụ. Đối với tỉnh Quảng Trị, Bộ chỉ huy Phân khu giao nhiệm vụ cụ thể là:

- Trung đoàn 95 cùng tiểu đoàn 230 và đại đội bộ đội địa phương Gio Linh đánh ở Nam Đông.

- Trung đoàn 101 và đại đội bộ đội địa phương Cam Lộ, Triệu Phong đánh địch ở ngay tại khu vực đứng chân.


(1) Tháng 1/1952 địch rút tiểu đoàn ứng chiến Âu Phi số 28/BTA tăng viện cho chiến trường Hòa Bình (Bắc bộ).


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Sáu, 2020, 08:59:34 am
Thực hiện mệnh lệnh chiến đấu trên, ta chọn Nam Đông (Gio Linh) làm hướng hoạt động chủ yếu. Nam Đông là một vị trí lớn của địch nằm án ngữ trên con đường giao thông liên tỉnh (đường 76). Từ quốc lộ số I rẽ sang đường 74 theo hướng tây đi 8 km sẽ tới vị trí Nam Đông. Từ Nam Đông xuôi theo đường 76 về hướng Tây Nam khoảng 3 km thì gặp đường 9. Là một vị trí khá lợi hại nên được địch xây dựng hệ thống đồn bốt rất kiên cố, hàng năm lại được gia cố thêm về công sự, hầm hào. Xung quanh đồn chính (Nam Đông) địch còn xây thêm 4 tiền đồn cách đồn chính từ 1 đến 2 km để bảo vệ vòng ngoài. Địch chốt ở đây gồm 1 tiểu đoàn quân ngụy, lực lượng chính đóng ở Nam Đông.

Sau khi nghiên cứu kỹ tình hình, Bộ chỉ huy Mặt trận chọn Trung đoàn 95 và Tiểu đoàn 230 bộ đội địa phương phối hợp với dân quân du kích Gio Linh tổ chức đánh.

Phương án tác chiến là “vây đồn diệt viện”. Đồng chí Phùng Duy Phiên, Tham mưu trưởng Mặt trận được cử xuống chỉ đạo chiến đấu.

Sau một thời gian gấp rút chuẩn bị, đêm 3 tháng 3 năm 1952, Trung đoàn trưởng Lê Văn Tri và Chính ủy Nguyễn Hữu Cầu chỉ huy bộ đội Tiểu đoàn 310, 227 của trung đoàn 95 và du kích bộ đội địa phương Gio Linh đồng loạt tấn công các đồn Vạn Kim, Nam Tây (là những đồn bảo vệ vòng ngoài cho đồn chính Nam Đông), diệt 39 tên. Trước uy lực của quân ta một số đồn hương vệ ở khu vực này hoang mang cực độ, bỏ đồn chạy cứu mạng.

Tiếp đó đêm 17 tháng 3 năm 1952, Tiểu đoàn 230 thực hành báo vây vị trí Nam Đông. Dân quân du kích và nhân dân bao vây các đồn lẻ, quấy rối, tiêu hao địch. Huyện đội Gio Linh huy động dân quân phá hoại cầu cống trên đường 75 và 76, để buộc địch muốn tăng viện chỉ còn đường 74 là duy nhất.

Đoán trước ý đồ sớm muộn địch sẽ tăng viện cho Nam Đông, đại quân ta gồm Trung đoàn 95, đại đội 348 Gio Linh và dân quân các xã Linh Châu, Linh An, Linh Bình (Gio Linh) kiến thiết trận địa phục kích trên đường 74 cách vị trí Nam Đông khoảng 3 km về phía đông.

Trước khi vây hãm đồn Nam Đông một ngày, ngày 16 tháng 3 trinh sát của mặt trận đã phát hiện địch đang vội vã tập kết một lực lượng bộ binh, xe cơ giới rất lớn về thị xã Đông Hà. Theo tin đáng tin cậy, địch có hơn 1000 quân và gần 100 xe cơ giới, lực lượng nòng cốt là tiểu đoàn Âu Phi 27/BTA (trước đó tiểu đoàn 27/BTA đóng tại Sen Hạ, Quảng Bình. Khi vị trí Nam Đông bị uy hiếp mạnh địch liền điều động vào Quảng Trị). Ngày 14 tháng 3, tiểu đoàn 27/BTA hành quân vào đến Ba Dốc liên chốt lại đây 3 ngày để bảo vệ đoạn đường này, mãi đến 16 tháng 3 mới vào đến Đông Hà, được lệnh phải quay ngược ra cứu viên cho Nam Đông. Ngoài ra còn tiểu đoàn 7 ngụy, một đại đội pháo 75 mm và một đại đội công binh.

Những tin tức về địch rục rịch hành binh lập tức được chuyền về Ban chỉ huy Trung đoàn 95 càng củng cố thêm quyết tâm của bộ đội. Khắp các trận địa dấy lên không khí náo nức lập công động viên bộ đội, dân quân du kích kiên trì chờ địch.

8 giờ 25 phút ngày 18 tháng 3, 80 xe cơ giới chở 1.200 lính từ Đông Hà ra bắt đầu rẽ vào đường 74 lên Nam Đông, tốc độ tiến quân rất chậm. Mới đi được 3 km chúng đã đụng độ với dân quân và vấp phải mìn, 8 tên chết tại chỗ, một số tên khác bị thương. Trên trời 2 máy bay L19 bay dọc theo trục đường 74 nghiêng ngó chỉ điểm cho bọn dưới đất, cùng lúc 4 máy bay Hen-cát lồng lộn ném bom phá đập Cồn Tiên và bắn đạn 20 mi-li-mét vào những nơi nghi ta dấu quân. Bốn khẩu ca nông đặt tại cống Phổ Lại bắn quanh vị trí Nam Đông và hai ven đường 74 dọn đường cho bộ binh tiến quân và bảo vệ đồn Nam Đông.

Tuy được yểm trợ khá chu đáo như vậy nhưng thiếu tá Bô-nắc chỉ huy cuộc hành binh vẫn thận trọng cho quân dò dẫm từng bước. Bọn công binh dò mìn đi trước, tiếp đến 1 đại đội lùng sục hai vệ đường rồi mới đến đội hình chính. Từ quốc lộ số 1 đến Nam Đông chỉ có 8 km, địch bắt đầu từ ngã ba Hà Thanh vào đường 74 bằng xe cơ giới lúc gần 8 giờ rưỡi nhưng mãi đến gần trưa cũng chỉ mới đi được 5 km thì cũng là lúc lọt vào trận địa phục kích của quân ta. Từ sở chỉ huy hai phát pháo hiệu xanh, đỏ vút lên, hỏa lực 12,7 ly, phóng bom, ĐKZ, cối 82 bất thần chụp xuống giữa đội hình địch. Dứt đợt hỏa lực, từ khu vực chặn đầu và hai bên sườn bộ đội ta xông ra mặt đường chia cắt đội hình địch ra từng toán nhỏ để tiêu diệt. Một đại đội của Tiểu đoàn 230 và bộ đội địa phương cùng dân quân du kích Gio Linh nhanh chóng “khóa đuôi” bịt kín đường rút của chúng về Hà Thanh.


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Sáu, 2020, 09:00:11 am
Từ trên xe bọn địch nhảy xuống mặt đường, nấp sau các gò đất, gốc cây bắn về phía quân ta quyết liệt nhưng không cải thiện được thế trận. Thừa thắng, quân ta ào ra mặt đường đánh giáp lá cà, địch hoảng hốt bỏ chạy tán loạn vào rừng. Một bộ phận địch thoát chết co cụm ở Bàu Dưng.

Kiên quyết không để chúng chạy thoát, cán bộ, chiến sĩ ta phát huy thắng lợi, truy kích ráo riết, bao vây khu vực Bàu Dưng. Bị mất tinh thần, địch chống cự yếu ớt, đến 15 giờ cùng ngày toán địch co cụm ở Bàu Dưng bị diệt gọn.

Hoàn thành nhiệm vụ chặn viện, ngay trong đêm 18 tháng 3 quân ta quay lại diệt đồn Nam Đông lúc này ở đây suốt một ngày địch vô cùng hoảng sợ phải chứng kiến cảnh bại trận của đồng bọn nay vừa nghe tiếng súng tiến công, không dám nghĩ đến chống cự, vội vàng mang vũ khí ra hàng. Một số ít ngoan cố, liều lĩnh chống cự, bị diệt gọn sau 30 phút.

Như vậy là gần 1 ngày quân ta vừa đánh viện vừa công đồn đã thắng lớn, diệt gần 800 tên địch, bắt sống 24 tên, phá hủy 15 xe cơ giới, thu phần lớn vũ khí, đạn dược. Tiểu đoàn 27/BTA Âu Phi bị thiệt hại nặng (hơn 200 tên chết tại trận) Tiểu đoàn 7 ngụy quân bị xóa sổ.

Chiến thắng Nam Đông - Đường 74 là kết quả của sự phối hợp chặt chẽ giữa 3 thứ quân, là kết quả của nghệ thuật nắm địch và trình độ chỉ huy tác chiến của cán bộ, chiến sĩ ta trên chiến trường Quảng Trị.

Chiến thắng Nam Đông - Đường 74 kéo theo sự sụp đổ hàng loạt hệ thống kìm kẹp của địch ở Gio Linh. Hơn 5000 đồng bào ta bị địch dồn vào trại tập trung đã được giải phóng, căn cứ du kích được mở rộng, tinh thần nhân dân, bộ đội phấn khởi, tin tưởng, địch lún sâu vào thế thất bại.

Sau chiến thắng ít ngày một vinh dự lớn đến với lực lượng vũ trang Quảng Trị: Trung đoàn 95, huyện đội Vĩnh Linh, Gio Linh được Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh quân đội nhân dân Việt Nam gửi thư khen. Đồng thời Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu 4 tặng cờ danh dự cho Trung đoàn 95.

Thi đua với mặt trận Nam Đông - đường 74, khắp các địa phương và đơn vị liên tục tiến công địch trên các hướng.

Ngày 21 tháng 3 diệt 2 tháp canh ở Cam Lộ, lật nhào 3 toa tàu trên đoạn đường sắt Mỹ Chánh - Đông Hà, loại khỏi vòng chiến đấu 150 tên địch, bắt sống 45 tên. Cùng ngày bộ đội địa phương Hải Lăng tập kích đồn Hải Thái diệt gần 40 tên.

Ngày 25 tháng 3 dân quân xã Hải Thái phối hợp với dân quân Phong Nhiên (Phong Điền) cài mìn diệt 7 tên Âu Phi. Cùng ngày dân quân xã Triệu Sơn (Triệu Phong) phá đường sắt làm đổ 6 toa xe lửa của địch.

Bị một đòn choáng váng ở Nam Đông - đường 74, Bộ chỉ huy Pháp cực chẳng đã phải rút bớt quân chiếm đóng ở Bắc Bộ gom góp được 4 tiểu đoàn ứng chiến và 1000 quân Bắc Phi vào cứu nguy cho Bình - Trị - Thiên. Như vậy là vào thời điểm này lực lượng địch ở đây khá mạnh: 9 tiểu đoàn ứng chiến, 15 tiểu đoàn chiếm đóng, 18 đại đội phụ binh, ngoài ra địch còn xây dựng thêm 2 đại đội pháo binh. Cùng lúc địch thực hiện lệnh “tổng động binh” với nhiều thủ đoạn dụ dỗ, cưỡng bức, mua chuộc... chúng đã bắt hơn 600 thanh niên Quảng Trị vào lính. Nhưng phong trào đấu tranh đòi thả chồng con không đi làm bia đỡ đạn cho địch, buộc chúng phải thả hơn 200 thanh niên hồi hương. Địch thành lập tổ chức “Nghĩa dũng đoàn”, một tổ chức bán quân sự, là công cụ đắc lực để củng cố ngụy quyền. Chúng bắt nhân dân đóng góp tiền của, xây dựng thêm 5 đồn Thượng Xá, Trà Trì, Quy Thiện (Hải Lăng) Thị Sòng (Cam Lộ) và Tân Trại Hạ (Vĩnh Linh).

Cùng với những cố gắng quân sự, địch cũng nỗ lực củng cố bộ máy ngụy quyền nhằm xoa dịu sự tranh chấp đấu đá giành quyền lực trong đám tay sai vốn đã mâu thuẫn, lục đục nhiều năm. Tướng Lơ-Blăng (LeBlane) đưa Lê Quang Thiết lên thay Trần Quang Lý làm thủ hiến Trung Việt. Nguyễn Đôn Duyên nguyên Tỉnh trưởng Quảng Trị vào làm Tỉnh trưởng Thừa Thiên thay cho tên Tôn Thất Đàn bị cách chức. Nguyễn Hữu Hiệp nguyên Tỉnh trưởng Quảng Nam ra giữ chức tỉnh trưởng Quảng Trị. Bộ máy ngụy quân ngụy quyền được củng cố một bước, địch cho rằng đã có thể tập trung chống phá kháng chiến ở cả 3 tỉnh. Chúng tập trung lực lượng càn quét cướp thóc, phá hoại nông nghiệp bằng nhiều thủ đoạn đồng bộ như: Đốt nhà, đốt lúa hột, phá hoa màu, bắn giết trâu bò... Ở những vùng trọng điểm lúa của tỉnh như Triệu Phong, Hải Lăng chúng cho hương vệ lập mỗi thôn một kho thóc ở cạnh đồn, hàng ngày đồng bào ta gặt được bao nhiêu chúng cho lính ép bắt nộp vào kho, ai chống cự bị bắt giam tra tấn dã man. Có lúc chúng bắt hàng trăm đồng bào ta đang gặt lúa, được bao nhiêu bắt chở hết vào đồn. Hung hăng hơn địch còn liều lĩnh mở các trận càn ra vùng du kích cướp lúa của ta.


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Sáu, 2020, 09:01:47 am
Giữ vững quyền chủ động chiến trường, và trừng trị tội ác mới của địch, Đảng ủy và Bộ Chỉ huy Mật trận đã kịp thời chỉ đạo: “Tích cực tiêu diệt địch, bảo vệ mùa, không ngừng phát triển chiến tranh du kích”.

Thực hiện chủ trương trên, Trung đoàn 95 tập trung quân ứng phó tạo điều kiện cho bộ đội địa phương và dân quân du kích rảnh tay đối phó với quân chiếm đóng, hỗ trợ cho nhân dân gặt nhanh, cất kỹ. Với khẩu hiệu: “Không để một hạt thóc rơi vào tay giặc, bộ đội, du kích cùng bà con bám sát từng thửa ruộng, tranh thủ gặt ngày, gặt đêm, gặt đến đâu chuyển dấu đến đấy. Đồng thời lực lượng vũ trang tổ chức các trận đánh địa lôi, phục kích, đánh giao thông:., buộc địch phải phân tán lực lượng đối phó. Chỗ dựa của địch là bọn tề, hương vệ nhưng trước sự khống chế của ta địch cũng co lại không dám hoạt động trắng trợn như trước, trong một tháng ta bắt 41 tên gián điệp, chì điểm (hầu hết bọn này ở trong tổ chức tề, dõng, thường chỉ điểm hoặc dẫn lính đi cướp phá lúa).

Ngày 1 tháng 5 năm 1952, địch mở một cuộc càn lớn vào Ngô Xá với gần 400 quân nhằm tiêu diệt Tiểu đoàn 230 và một đại đội của trung đoàn 95 đang giúp dân thu hoạch mùa ở đây. Đã dự kiến trước tình hình này, nên bộ đội tiểu đoàn 230 và dân quân du kích địa phương đã dàn sẵn thế trận đợi giặc. Vấp phải trận địa phục kích lợi hại của ta, địch từ thế chủ động rơi vào thế bị động đối phó, không những không tìm diệt được bộ đội ta mà còn chết và bị thương 155 tên.

Cùng thời gian này đại đội 350 triệu Phong diệt lô cốt Phong Ngạn.

Trước những thắng lợi liên tiếp của ta, để cứu vãn nguy cơ thất bại và trấn an tinh thần binh sĩ, Bộ Chỉ huy Pháp ở chiến trường bắc Trung Việt đề ra một loạt kế hoạch, nào là cải tổ bộ máy ngụy quyền, tổng động binh hô hào dân chúng đóng quỹ “Đảm phụ quốc phòng”(1), “hiến máu cho binh sĩ”; Xây dựng các tổ chức “Liên tôn chống cộng”, “Tự do công giáo”, “Liên gia bảo”. Cùng với những thủ đoạn trên, địch tiếp tục tăng viện cho chiến trường Bình - Trị - Thiên thêm 2 tiểu đoàn. Được tăng viện địch đẩy mạnh chương trình bình định, ở địa bàn Quảng Trị chúng chia ra nhiều ô nhỏ để dễ kiểm soát; phong tỏa miền biển, củng cố hệ thống phòng ngự dọc đường quốc lộ số 1 và số 9, lập vành đai trắng chung quanh căn cứ chiếm đóng.

Đi đôi với bình định chúng còn ra sức phá hoại ta về kinh tế. Ngoài thủ đoạn thường xuyên là cướp thóc, phá lúa, lần này chúng cho tay sai vung tiền mua vét thóc gạo ở vùng tự do. Tại vùng chiếm đóng, chúng nâng giá gạo lên cao ba, bốn giá để thu hút đồng bào vùng tự do giác ngộ kém, hám lợi đem vào bán cho địch. Ngoài ra chúng còn đặt ra các thứ thuế, tiếp tục tăng thuế chợ, cưỡng bức đồng bào mua vé xổ số... Những hành động đó bộc lộ dã tâm của địch, không từ một thủ đoạn nào kiên quyết phá ta về kinh tế.

Với tất cả những cố gắng trên, cuối tháng 8 năm 1952, địch tổ chức một trận càn lớn mang tên “Chiến dịch châu chấu” (Operation Santerele) với lực lượng 7 tiểu đoàn ứng chiến Âu Phi và ngụy, 1 tiểu đoàn nhảy dù, 70 xe bọc thép, 300 xe tải, 21 máy bay và 17 đại bác do tướng Lơ-Blăng trực tiếp chỉ huy nhằm mục đích “cất vó” Trung đoàn 101 đang đứng chân ở vùng giáp giới Quảng Trị và Thừa Thiên.

Để bảo toàn lực lượng, Trung đoàn 101 vừa đánh phá vây, vừa rút về Linh Chiểu (Triệu Phong). Trận càn kết thúc ngày 29 tháng 8, địch không thực hiện được ý định tiêu diệt Trung đoàn 101. Trong trận này tuy diệt được 800 tên địch, phá 2 xe bọc thép nhưng Trung đoàn 101 tổn thất nặng, thương vong trên 1000 cán bộ, chiến sĩ (Trung đoàn trưởng Lê Thuyết hy sinh) 600 đồng bào và 300 thanh niên bị bắt, gần 100 cán bộ địa phương và dân quân du kích hy sinh, hơn 120 tấn lúa bị đốt phá.

Tiếp tục tìm diệt Trung đoàn 101, ngày 4 tháng 9 năm 1952 địch mở tiếp cuộc càn lớn thứ 2 mang tên “Chiến dịch cá sấu” (Operation Caiman) vẫn do tướng Lơ-Blăng trực tiếp chỉ huy dưới quyền giám sát của tướng Đờ-li-na-rét (De Linnares) quyền chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương.

Lực lượng địch tham chiếm khá mạnh: 8 tiểu đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn dù, 6 tàu chiến, 65 lần chiếc máy bay, 100 xe bọc thép và vận tải, 16 khẩu đại bác. Địa bàn trận càn ở Bắc Thừa Thiên và nam huyện Hải Lăng.


(1) Quỹ “Đảm phụ quốc phòng“ địch quy định mỗi người dân phải góp 500 đồng (báo cáo sổ 269 của BTL Liên khu 4) Lưu trữ BT QK4


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Sáu, 2020, 09:03:39 am
Ở hướng Cù Hoan bộ đội địa phương và dân quân du kích Hải Lăng tích cực chăn đánh, hỗ trợ đắc lực cho các cánh quân chủ lực Trung đoàn 101 đang bị địch vây ở Vĩnh Xương (Thừa Thiên). Ta đã tiêu hao một bộ phận sinh lực địch, kìm chân chúng lại không cho hợp quân ở Thanh Hương. Đồng thời quân ta cũng khẩn trương tổ chức đưa đồng bào sơ tán lên chiến khu. Sau bốn ngày ta chống càn quyết liệt, địch buộc phải rút quân. Quân và dân Hải Lăng góp phần tích cực cùng quân và dân Phong Điền, Quảng Điền (Thừa Thiên) diệt hơn 500 tên địch, 2 xe cơ giới. Ý định đánh úp diệt gọn Trung đoàn 101 không thực hiện được. Tuy vậy địch cũng đạt được một số mục tiêu: Bắt hơn 1000 dân, cướp và giết 200 trâu bò và nhiều thóc lúa.

Sau 3 trận càn lớn liên tiếp trong hai tháng 8 và 9, địch chuyển giao Bình - Trị - Thiên cho quân ngụy đảm nhận và rút quân cơ động Âu Phi đi chiến trường khác. Đồng thời chúng ra sức đôn quân bắt lính, tăng cường các hệ thống phòng thủ và đánh phá ác liệt vùng du kích và chiến khu ta.

Giữa lúc tình hình Quảng Trị đang có nhiều khó khăn do địch gây ra thì ngày 25 tháng 10 năm 1952 lại một trận lụt lớn tàn phá khủng khiếp: Hàng trăm héc ta lúa chưa gặt bị nhấn chìm trong biển nước, hàng trăm héc ta khác đã gặt xong chưa kịp phơi khô bị lũ cuốn trôi. Thuế nông nghiệp vụ mùa năm ấy chỉ thu được 30 đến 35%. Lương thực và muối thiếu nghiêm trọng. Mức ăn của cán bộ, bộ đội chỉ còn 250gam/ngày. “Thiên tai địch họa càng gây khó khăn cho ta không kém gì cuối năm 1950”

Nhằm khắc phục khó khăn và đối phó với âm mưu, thủ đoạn địch, Đảng ủy và Bộ chỉ huy Mặt trận chủ trương: “Tích cực chống càn quét, phát triển du kích chiến tranh, giữ vững và đẩy mạnh đấu tranh trong lòng địch và sát địch, tranh thủ chỉnh huấn(1)”.

Thực hiện chủ trương trên các đơn vị chủ lực huy động 2/3 quân số, các đơn vị bộ đội địa phương 1/3 quân số lên chiến khu dự các lớp chỉnh huấn. Lực lượng còn lại phối hợp với dân quân du kích và nhân dân đánh địch. Nhưng do khó khăn về việc cung cấp nên bộ đội chủ lực Trung đoàn 95 chỉ tổ chức được một số trận nhỏ. Trung đoàn 95 tập kích lô cốt Hà Mỹ và lò gạch thị xã Quảng Trị. Đại đội 220 thuộc Tiểu đoàn 230 chống càn ở Văn Quỷ diệt 2 trung đội địch. Du kích Gio Linh, Hải Lăng, Cam Lộ quấy rối, đánh tiêu hao các đồn bốt trên địa phương làm cho những hoạt động của địch bị hạn chế.

Ở vùng địch hậu và đồng bằng, cán bộ, chiến sĩ ngày đêm bám chác cơ sở, gây dựng củng cố phong trào. Vùng chiến khu và du kích thường xuyên được củng cố. Từ cơ quan Tỉnh ủy đến Tỉnh đội, Huyện đội... đều có các trại tăng gia sản xuất, mỗi trại có từ năm đến bảy chục người chuyên lo gieo trồng, chăm bón và thu hoạch sắn, ngô, cung cấp một phần đáng kể cho bộ đội. Các căn cứ Ngô Xá, Ba Lòng, Trừ, Lấu, Bực Lở, Thủy Ba... thường xuyên được quan tâm xây dựng củng cố, mở rộng luôn luôn là căn cứ đầu não cuộc kháng chiến của nhân dân.

Để đảm bảo cho bộ đội chiến đấu liên tục ở một chiến trường xa Trung ương, ngay từ những ngày đầu cuộc kháng chiến trong hàng loạt thiếu thốn vật chất thì vũ khí được quan tâm đặc biệt. Bởi vậy xưởng quân giới Đội Quyên ra đời và luôn luôn được củng cố đáp ứng một phần khó khăn trước mắt, đến nay đã phát triển cao hơn đổi tên là xưởng “Hùng Việt” để luôn tưởng nhớ đến chiến công của người Trung đoàn trưởng đã anh dũng hy sinh trong lúc hướng dẫn cách sử dụng mìn. Xưởng Hùng Việt bấy giờ đã có biên chế 45 cán bộ, công nhân, hàng tháng sản xuất hàng trăm mìn, lựu đạn, ngoài ra còn sửa chữa vừa và nhỏ hàng trăm vũ khí bộ binh khác. Các loại mìn đánh bộ binh, đánh xe của xưởng chế tạo đến nay tiến bộ hơn, tính năng úy lực cao hơn. Để động viên và đảm bảo cho xưởng làm việt tốt, Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Quảng Trị quyết định tăng mức ăn cho công nhân một tháng được hưởng 21 kg gạo, 0,7 kg muối, 1,2 kg ruốc...

Trước sự lớn mạnh không ngừng của lực lượng vũ trang ở Bình-Trị-Thiên đồng thời để phù hợp với đặc điểm ở một chiến trường nhỏ hẹp, chiến trường phối hợp cũng để giải quyết một phần khó khăn về lương thực Thường vụ Liên khu ủy trong phiên họp ngày 5 tháng 12 năm 1952 đã quyết nghị: “Rút các trung đoàn chủ lực ra khỏi chiến trường để xây dựng thành những đại đoàn chủ lực”. Từ đây các Trung đoàn 18, 101, cùng với Mặt trận bộ Bình-Trị-Thiên - Trung Lào chuyển ra vùng tự do Thanh-Nghệ-Tĩnh để xây dựng thành đại đoàn 325 quân chủ lực của Bộ Tổng Tư lệnh, ở địa bàn Bình-Trị-Thiên chỉ còn lại Trung đoàn 95, đại đội 95 công binh, đại đội 264, 265 vận tải, bệnh viện K42, xưởng bào chế, ban Quân khí, Quân lương Mặt trận ở lại làm nhiệm vụ chiến đấu và thiết bị chiến trường.

*
*   *

Ba năm từ năm 1950 đến 1952 là thời kỳ thiên tai địch họa liên miên gây ra không ít khó khăn cho quân và dân Quảng Trị là thời kỳ thử thách rất gian khổ, quyết liệt đối với mỗi người dân, cán bộ, chiến sĩ Quảng Trị. Vượt lên tất cả quân dân Quảng Trị đoàn kết thương yêu, đùm bọc nhau chiến đấu ngoan cường dũng cảm. Cả ba thứ quân bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích đều không ngừng được xây dựng củng cố có bước trưởng thành lớn. Từ các trận đánh sử dụng chiến thuật sở trường: du kích chiến, vận động chiến, cường tập, phục kích, đến thời kỳ này nâng lên hình thức cao hơn đó là công đồn và giành được thắng lợi. Đáng chú ý trong thời kỳ này là bộ đội địa phương và dân quân du kích đã trưởng thành nhanh chóng tổ chức nhiều trận đánh hiệu suất cao, đủ sức đảm nhận vai trò nòng cốt trong chiến tranh nhân dân ở địa phương. Trước sự trưởng thành đó, lực lượng vũ trang tỉnh và nhân dân có rất nhiều cố gắng, tranh chấp với kẻ thù giành thế chủ động chiến trường. Thực tiễn chiến tranh ở chiến trường nhỏ hẹp như Bình-Trị-Thiên đã khẳng định ai làm chủ chiến trường, chủ động trong tiến công sẽ thắng đối phương.

Những chiến công của quân và dân Quảng Trị trong thời kỳ này đã củng cố, giữ vững niềm tin của bộ đội và nhân dân, sẵn sàng chấp nhận và khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, ác liệt để chiến đấu và chiến thắng. Đồng thời những chiến công đó cũng góp phần đắc lực làm nên những chiến công vang dội của quân dân hai tỉnh Quảng Bình, Thừa Thiên anh em và các chiến dịch Biên giới, Hòa Bình, Lê Lợi, Tây Bắc ở chiến trường chính.


(1) Báo cáo kết quả và phương hướng của BĐĐP và DQDK 6 tháng đầu năm 1952 của mặt trận Bình Trị Thiên (Lưu văn phòng Bộ Quốc phòng).


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Bảy, 2020, 02:06:29 pm
Chương IV

PHỐI HỢP VỚI CHIẾN TRƯỜNG CHÍNH
GÓP PHẦN CÙNG CẢ NƯỚC KẾT THÚC VẺ VANG CUỘC KHÁNG CHIẾN
(1953-1954)

Năm 1953 cuộc kháng chiến toàn quốc đã bước sang năm thứ 8. Cùng với cả nước, lực lượng vũ trang và nhân dân Quảng Trị đã trải qua một thời kỳ thử thách vô cùng quyết liệt, đưa phong trào kháng chiến tiến lên bước phát triển mới. Chúng ta đã thắng cả địch họa và thiên tai, đánh thắng cả giặc ngoại xâm và giặc lũ lụt, tiếp tục xây dựng cả lực lượng và thế trận ngày càng vững mạnh. Cùng với sự trưởng thành của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích trong thời kỳ này cũng lớn mạnh vượt bậc, đáp ứng được yêu cầu phát triển của chiến tranh, vừa bảo vệ địa phương vừa phối hợp có hiệu quả với hoạt động của bộ đội chủ lực, đảm đương được nhiệm vụ nòng cốt cho cuộc chiến tranh nhân dân ở địa phương, tạo điều kiện thuận lợi cho toàn dân đẩy mạnh cuộc kháng chiến và kiến quốc.

Sau chiến thắng Tây Bắc và Thượng Lào, tình hình thuận lợi cho ta và bất lợi cho thực dân Pháp. Quân và dân ta càng chiến đấu càng trưởng thành và ngày càng nắm quyền chủ động trên chiến trường toàn quốc, thực dân Pháp bị thua đau, nguy cơ thất bại càng đến gân làm cho chúng càng thêm bị động, lúng túng.

I- XÂY DỰNG, CỦNG CỐ, KIỆN TOÀN LỰC LƯỢNG VŨ TRANG ĐỊA PHƯƠNG
LIÊN TỤC TIẾN CÔNG TIÊU DIỆT ĐỊCH GIỮ VỮNG VÀ MỞ RỘNG VÙNG GIẢI PHÓNG

Trong Đông - Xuân 1953-1954 hệ thống chiếm đóng của địch trên chiến, trường Bình-Trị-Thiên gồm 185 vị trí, 232 lô cốt tháp canh với lực lượng 4 tiểu đoàn ứng chiến, 15 tiểu đoàn chiếm đóng, 6 đại đội binh chủng và 18 đại đội phục kích.

Về phía ta, sau khi phần lớn bộ đội chủ lực ra Nghệ -Tĩnh để củng cố, xây dựng; lực lượng ở lại chiến trường đã ít, lương thực vũ khí lại rất thiếu thốn, thời tiết cũng không thuận tiện cho sản xuất. Trước tình hình đó, hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng ra nghị quyết chỉ rõ phương châm chiến lược: “tạm thời tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu để phân tán lực lượng địch và tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng tự do... Quân đội phải đánh địch ở những nơi địch sơ hở, đồng thời phải hoạt động mạnh sau lưng địch...”(1).

Quán triệt phương châm chiến lược đó, từ ngày 5 đến ngày 10 tháng 3 năm 1953, Liên khu ủy họp bàn về vấn đề tác chiến và xây dựng ở chiến trường Bình-Trị-Thiên. Hội nghị chủ trương: “Chủ động chống càn quét, phá mọi âm mưu của địch, đấu tranh vũ trang làm nòng cốt cho phong trào đấu tranh chính trị của toàn dân, chấn chỉnh các ban dân quân huyện, ban xã đội, phân tán bộ đội địa phương vào từng thôn xã, nếu cần phân tán cả Trung đoàn 95, thực hiện 3 bám: bám địch, bám đồng bằng, bám dân...”(2), Hội nghị đề ra phương châm hoạt động lúc này là: “Du kích chiến là chính, chống càn quét là chủ yếu. Trong điều kiện thuận lợi đánh công kiên vận động và đánh nhỏ nhằm phát triển du kích chiến tranh, luồn sâu vào địch hậu xây dựng cơ sở”(3)

Với tinh thần tiến công tiêu, diệt địch, trong 3 tháng đầu năm 1953, ta đã anh dũng chống trả và làm thất bại hàng chục cuộc càn quét của địch, tiêu diệt, bao vây, bức rút nhiều vị trí địch chiếm đóng, phá sập một số cầu cống trên các trục đường giao thông quan trọng, phá hoại hàng chục mét đường ray và đánh lật nhào một số đoàn tàu chở lương thực, đạn dược của địch.

Đại đội 340 bộ đội địa phương Cam Lộ phối hợp với dân quân du kích xã Cam Giang, Cam Thanh anh dũng chống trả cuộc càn quét của địch gây cho chúng nhiều thiệt hại.


(1) Nghị quyết hội nghị lần thứ 4, Ban chấp hành Trung ương Đảng họp từ ngày 25 đến 30 tháng 1 năm 1953
(2) Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. NXB Quân đội nhân dân, Tr.287.
(3) Sách đã dẫn


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Bảy, 2020, 02:08:05 pm
Cùng thời gian trên trung đội bao lộ đường 9 phối hợp với lực lượng địa phương bao vây lô cốt An Lạc và phục kích tại cây số 7 trên đường 9, chặn đánh quân cứu viện từ Cam Lộ về làm cho chúng không ứng cứu nhau được.

Ở Vĩnh Linh đại đội 354 cùng dân quân du kích bao vây quấy phá đồn Đập Huyện, đại đội 348 Gio Linh phục kích giao thông trên đoạn đường Ba Dốc, Quán Ngang, bộ đội địa phương và dân quân Hải Lăng phá đường ray đánh một số đoàn tàu trên đoạn đường Diên Sanh - Mỹ Chánh. Quân và dân Triệu Phong phá lô cốt Bích La, tập kích vị trí Bồ Bản, tự vệ Đông Hà và một tổ biệt động đột kích phá kho vũ khí Đông Hà.

Tiểu đoàn chủ lực tỉnh tiến công vị trí Linh Châu tiêu diệt 15 tên địch. Phát huy thắng lợi, tiểu đoàn tiếp tục vận động đánh địch ở Bích Khê, truy kích bọn này đến gần cầu Chợ Sãi làm cho quân địch ở thị xã Quảng Trị phải báo động.

Chỉ tính riêng từ 20 tháng 1 đến 20/2/1953, bộ đội địa phương và du kích trong tỉnh đã đánh địch 29 trận, tiêu diệt 91 tên, thu và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của chúng.

Trong những ngày cuối tháng 2 và 3 năm 1953, lực lượng vũ trang và nhân dân trong tỉnh, tiếp tục phát huy thắng lợi đưa phong trào chiến tranh du kích lên cao với phương châm đánh nhỏ, đánh liên tục và chiến thắng. Tiêu biểu là quân và dân Gio Linh đánh tan một tiểu đoàn quân địch đi lùng ở Tân Lịch, Tân Hạ, diệt 17 tên. bắt sống 1 tên lính Ma-rốc. Quân và dân Vĩnh Linh chặn đánh, diệt gọn 1 đại đội địch đi càn quét cách Hồ Xá 1 km.

Những hoạt động liên tiếp và đều khắp của lực lượng vũ trang và nhân dân Quảng Trị đã làm cho địch luôn luôn bị động, lúng túng mất ăn mất ngủ, một bộ phận sinh lực địch bị tiêu hao, tiêu diệt, hạn chế được rất nhiều cuộc đi lùng sục lẻ tẻ của chúng.

Trong khi lực lượng vũ trang bao vây quấy rối, phục kích, tập kích, tiêu hao, tiêu diệt địch thì phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân cũng diễn ra sôi nổi với nhiều hình thức phong phú. Các cuộc mít tinh, biểu tình đòi chấm dứt chiến tranh, chống đôn quân bắt lính, đòi trả chồng con, anh em bị bắt đi làm bia đỡ đạn, chống bầu cử quốc hội bù nhìn... ngày càng nhiều, hình thức và quy mô lớn hơn. Từ chỗ bước đầu chỉ nổi dậy ở thôn xã dần dần lên đến phủ huyện từ chỗ lẻ tẻ vài ba thôn xã dần dần liên kết với nhiều xã, nhiều huyện nhân dân vừa kết hợp đấu tranh vừa tuyên truyền vận động, dần dần có cả binh lính địch tham gia. Đồng bào hai huyện Vĩnh Linh và Gio Linh đã đấu tranh trực diện với địch bằng nhiều lý lẽ thuyết phục buộc chúng phải thả 177 thanh niên bị bắt lính. Nhân dân Hải Lăng vừa đấu tranh vừa tuyên truyền vận động 12 binh sĩ ở đồn Diên Khánh mang theo súng trở về với cách mạng. Hàng ngàn người ở làng Gia Độ (Triệu Phong) kéo lên huyện đường đấu tranh buộc địch phải trả tự do cho 300 thanh niên bị bắt lính.

Cùng với phong trào đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng, chính quyền cách mạng cũng mở lượng khoan hồng, phóng thích một số tù binh Âu Phí để họ được trở về đoàn tụ với gia đình. Việc làm nhân đạo đó đã thức tỉnh một số binh sĩ địch. Vì vậy phong trào đấu tranh chống càn quét, đòi hồi hương trong hàng ngũ địch công được phát triển hơn.

Đi đôi với việc lãnh đạo nhân dân chống địch trên mặt trận quân sự, chính trị, binh vận, cấp ủy và chính quyền các cấp đặc biệt quan tâm lãnh đạo nhân dân tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, giảm tô giảm tức, xây dựng đời sống văn hóa, tinh thần văn minh và lành mạnh. Phong trào chống giặc đói, diệt giặc dốt tiếp tục phát triển đều khắp đem lại hiệu quả thiết thực.

Chính vì vậy mặc dù bị địch họa, thiên tai tàn phá nặng nề, đời sống nhân dân được cải thiện từng bước. Nhân dân phấn khởi tin tưởng càng hăng hái tham gia kháng chiến.

Sau trận lụt tháng 10 năm trước bị thiệt hại nặng, nhân dân các huyện tập trung sức chăm bón vụ mùa để tăng nhanh lương thực. Nhờ được chăm sóc tốt, các cánh đồng của những huyện trọng điểm lúa đều hứa hẹn một vụ mùa bội thu. Quân Pháp rất cay cú liền tập trung lực lượng chuẩn bị càn quét phá lúa và bắn giết trâu bò của nhân dân. Thâm độc hơn, Bộ chỉ huy Pháp ở Trung phần còn đề ra chỉ tiêu và giao cho bọn ngụy binh đi cướp phá thóc gạo, phá hoại mùa màng. Nếu tên nào cướp thóc đạt chỉ tiêu thì được miễn điều đi chiến đấu ở chiến trường Bắc bộ. Mưu kế này đã kích thích lính ngụy lao vào cướp phá mùa màng một cách điên cuồng, liều lĩnh. Chỉ trong vòng một tháng từ 20-1 đến 20-2 địch đã nhổ 17 mẫu lúa non ở Dốc Miếu và Phương Ngân. Cũng trong thời điểm ấy máy bay quân Pháp đã bắn chết 580 trâu bò (riêng Cam Lộ 416 con)(1). Sự tàn bạo và dã man đó làm cho cuộc kháng chiến của nhân dân Quảng Trị thêm khó khăn gay gắt.


(1) Giặc Pháp xác định giết 1 trâu, bò bằng 3 Việt Minh.


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Bảy, 2020, 02:09:30 pm
Sau đại hội anh hùng và chiến sĩ thi đua toàn Liên khu lần thứ nhất (14-7-1953), Bộ Tư lệnh Liên khu phát động chiến dịch Hè - Thu nhằm tiêu diệt sinh lực địch, bảo vệ mùa và phối hợp với chiến dịch Thượng Lào.

Tỉnh ủy và các cấp ủy Đảng cơ sở đã kịp thời chỉ đạo các địa phương: “Chủ động chống càn để bảo vệ mùa, lấy đấu tranh quân sự làm trung tâm, kiên quyết bẻ gảy các trận càn của địch không để một hạt thóc lọt vào tay kẻ thù”.

Thực hiện chủ trương của tỉnh, bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương tỉnh, huyện và dân quân du kích phối hợp chặt chẽ, đẩy mạnh các hoạt động phục kích, tập kích, đánh phá giao thông, bao vây quấy phá đồn bốt, mai phục, bắn tỉa kìm chân địch tại chỗ để nhân dân thu hoạch mùa. Lực lượng vũ trang ở các huyện Cam Lộ, Gio Linh, Vĩnh Linh (nơi mùa màng ít hơn) tập trung đánh mạnh nhằm lôi kéo lực lượng địch ở Triệu Phong (vùng trọng điểm lúa của tỉnh) ra để cho nhân dân thu hoạch và cất dấu.

Ngày 19 tháng 4 năm 1953, một đơn vị của trung đoàn 95 cùng bộ đội địa phương Triệu Phong tập kích tiêu diệt vị trí Bích La. Một đại đội khác cùng dân quân Hải Lăng giật mìn phá đường ray đánh lật nhào một đoàn tàu chở lương thực và vũ khí của địch ở Bến Đá, diệt một đại đội Âu Phi. Đại đội 340 Cam Lộ cùng tự vệ thị xã Đông Hà phá hoại giao thông, đánh sập cầu Đông Hà. Bộ đội và dân quân Hướng Hóa đánh sập cầu Rào Quán làm tê liệt giao thông địch hàng tháng. Sau những thất bại liên tiếp ở khắp nơi trên chiến trường Đông Dương, thực dân Pháp càng lâm vào thế bị động lúng túng và sa lầy.

Để cứu vãn tình thế, Chính phủ Pháp một mặt cầu cứu Mỹ viện trợ, mặt khác triệu hồi Xa-Lăng (Salan) về nước và cử tướng Na-va (Henri Navarre) sang thay làm tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Với thái độ kiêu căng, chủ quan, hiếu thắng của kẻ đi xâm lược và tầm nhìn thiển cận, Na-va đề ra kế hoạch: “Bình định Việt Nam trong vòng 18 tháng!”. Y huênh hoang khoác loác: “Không chấp nhận một sự rút lui nào hết. Điều kiện quân sự cho một giải pháp chính trị vinh dự là giữ vững các trận địa và cải thiện các trận địa ấy”(1).

Đây là một kế hoạch chiến lược lớn, một âm mưu chính trị rất thâm độc và xảo quyệt, một ảo vọng điên cuồng nhằm chống lại phong trào cách mạng ba nước Đông Dương. Đây cũng là sự nỗ lực cao nhất và là cố gắng cuối cùng của thực dân Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa này.

Đối với chiến trường Bình-Trị-Thiên, Na-va coi là hậu phương an toàn của chúng. Vì vậy, chúng chủ trương củng cố các vị trí chiếm đóng, tăng cường đôn quân bắt lính xây dựng ngụy quân để thay thế các tiểu đoàn Âu Phi dự kiến sẽ điều ra chiến trường phía Bắc.

Thực hiện kế hoạch Na-va, địch tập trung phần lớn lực lượng dự bị về chiến trường Bình-Trị-Thiên, tăng cường càn quét, cướp phá, bình định các vùng tạm bị chiếm, vùng du kích non yếu và vùng đông dân, nhiều của nhằm làm suy yếu lực lượng kháng chiến và vơ vét sức người, sức của của ta. Cùng với các cuộc hành binh càn quét vùng đồng bằng Triệu Phong, Hải Lăng, Gio Linh, Vĩnh Linh, giặc Pháp còn tập trung máy bay, đại bác đánh phá ác liệt vùng chiến khu và cơ sở của ta.

Kế hoạch Na-va ở Bình-Trị-Thiên được mở đầu bằng trận càn quy mô lớn mang tên: “Cuộc hành binh Các-mác-gơ” (Operation Caemarge) vào địa bàn 4 huyện Triệu Phong, Hải Lăng của Quảng Trị và Phong Điền, Quảng Điền của Thừa Thiên. Mục tiêu của trận càn này nhằm tiêu diệt Trung đoàn 95 đang hoạt động ở vùng này, tiêu diệt lực lượng bộ đội địa phương và dân quân du kích để giải tỏa đoạn đường sắt Diên Sanh - Phò Trạch luôn bị cắt đứt, đồng thời thu hẹp căn cứ du kích của ta, vơ vét sức người sức của tiến tới bình định vùng nông thôn, đồng bằng đông dân, nhiều của. Địch đã huy động một lực lượng khổng lồ gồm 13 tiểu đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn dù, 400 xe cơ giới. 160 xe lội nước, 4 tàu thủy, 14 ca nô, 48 máy bay, 2 trung đoàn pháo binh do tướng Lơ-Blăng - Tư lệnh quân Pháp ở Trung bộ chỉ huy và vài ngày sau đích thân tướng Na-va đến trực tiếp đốc chiến.


(1) Hăngri Nava: “Đông Dương hấp hối”. Bản tiếng Pháp - NXB Plông - Paris 1958. Tr73.


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Bảy, 2020, 02:10:25 pm
Ngày 28-7 địch hình thành thế bao vây và tiến quân theo bốn hướng:

Hướng Đông-Bắc, một cánh quân thủy theo đường biển đổ bộ lên Mỹ Thủy, Tân An.

Hướng Đông-Nam, một cánh quân khác đổ bộ lên Lai Hà (Quảng Điền - Thừa Thiên)

Hướng Tây Nam, một cánh quân đổ bộ từ Mỹ Chánh tràn xuống.

Hướng Tây Bắc, một cánh quân khác theo sườn đông đường quốc lộ 1A thọc vào:

Mục tiêu của chúng là khép chặt vòng vây và tiêu diệt lực lượng ta tại làng Đôn Quế - Đồng Dương.

Yểm trợ cho cuộc hành binh và ngăn chặn lực lượng ta ở các nơi khác đến chi viện, địch tăng cường máy bay, pháo binh oanh kích dữ dội các vùng lân cận như Cùa, Trấm, Hòn Linh, Hòa Mỹ, Phong Thái... và cho bộ binh chốt chặn các ngã đường.

Nắm được âm mưu và thủ đoạn của địch, các cấp ủy địa phương một mặt cử cán bộ và dân quân tổ chức hướng dẫn nhân dân khẩn trương cất dấu tài sản và tản cư lên chiến khu mặt khác cùng với Trung đoàn 95, bộ đội địa phương tỉnh, huyện và dân quân du kích lập kế hoạch phối hợp đánh địch.

Theo kế hoạch đã hiệp đồng, Trung đoàn 95 để Tiểu đoàn 310 ở lại phối hợp với bộ đội địa phương tỉnh, huyện và dân quân du kích bám đánh địch ở từng thôn xã làm chậm bước tiến của chúng. Các đơn vị còn lại của trung đoàn vừa chặn đánh địch vừa lợi dụng địa hình địa vật và đêm tối vượt ra ngoài vòng vây rồi bí mật quay lại tập kích sau lưng địch để tiêu hao, tiêu diệt chúng.

Với phương châm chỉ đạo tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, chỗ sơ hở của địch; lực lượng dân quân các thôn, xã chuẩn bị sẵn sàng mỗi người một ruột tượng 5kg gạo để cơ động bám đánh địch.

Sau khi cho máy bay, đại bác ném bom, bắn phá dọn đường, cơ giới và bộ binh địch bắt đầu tấn công, ở hướng biển quân giặc vừa đặt chân lên đất liền đã bị dân quân các xã Hải An, Hải Dương, Triệu An, Triệu Lăng... chặn đánh. Dựa vào cồn cát và bụi rậm, bờ tre và hầm hào công sự, lại quen thuộc đường ngang ngõ tắt, dân quân du kích các xã trên đã mưu trí, linh hoạt, khi ẩn, khi hiện lúc đầu xóm, lúc cuối làng, bám sát và chống cự quyết liệt với địch bằng tất cả mọi thứ vũ khí có trong tay như bom mìn, cạm bẫy, hầm chông, dáo mác... và đặc biệt là phát huy chiến thuật phục kích bắn tỉa, gây cho địch nhiều tổn thất.

Trên hướng đường số I, bộ đội địa phương tỉnh, huyện và dân quân du kích các xã phối hợp với Tiểu đoàn 310 bám sát và chặn đánh địch ở những nơi chúng đặt chân tới.

Ở hướng Tây Nam, bộ đội địa phương và dân quân du kích Hải Chánh, Hải Sơn, Hải Tân... phối hợp với tiểu đoàn 227 và lực lượng vũ trang Thừa Thiên phục kích chặn đánh địch không cho chúng đến sông Vân Trình để hợp vây.

Cánh quân phía Đông Nam của địch gặp phải sức kháng cự mạnh mẽ của quân và dân Quảng Điền, Phong Điền nên tốc độ tiến quân của chúng cũng chậm chạp.

Kế hoạch của địch đánh nhanh thắng nhanh nhằm hốt gọn Trung đoàn 95 không thực hiện được. Sau gần một ngày tiến công nhưng không khép kín được vòng vây, tướng Lơ-Blăng chỉ huy cuộc càn quét điên cuồng, lồng lộn hối thúc cánh quân thủy tiến lên theo bờ sông Vân Trình và điều thêm quân dù đổ xuống để hợp vây. Cố gắng này của địch cũng không đem lại kết quả. Các hướng tiến công của chúng đều bị chặn đứng. Trời cũng vừa tối địch buộc tạm ngừng cuộc tiến công. Còn Trung đoàn 95 cùng các cơ quan dân, chính, đảng, sau khi bố trí bom mìn, cạm bẫy và nghi trang cẩn thận đã bí mật thoát khỏi vòng vây trở ra căn cứ.

Sáng hôm sau, Bộ chỉ huy Pháp dốc toàn bộ lực lượng tiến công mạnh mẽ, hòng vây chặt Trung đoàn 95 và lực lượng vũ trang địa phương để tiêu diệt. Bom đạn của địch lại tới tấp trút xuống những nơi chúng nghi có lực lượng ta bố trí. Thấy không còn vấp phải sức kháng cự nào lớn, giặc Pháp hí hửng tưởng rằng lực lượng ta đã bị tê liệt, vội vàng thúc quân khép chặt vòng vây tiến công các làng Đơn Quế - Đồng Dương. Nhưng khi các cánh quân của chung giáp mặt nhau thì mới biết được lực lượng kháng chiến đã rút ra hết khỏi vòng vây tự lúc nào.


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Bảy, 2020, 02:11:53 pm
Cay cú trước thất bại vì không tiêu diệt được Trung đoàn 95 và lực lượng vũ trang địa phương, bọn chỉ huy Pháp điên cuồng tiếp tục thúc quân đi càn quét, chà đi xát lại nhiều lần tàn sát cơ sở kháng chiến, lập lại hội tề để khống chế ta.

Ngày 5-8-1953, sau khi đã bình định được một số nơi Bộ chỉ huy Pháp ra lệnh lui binh, kết thúc cuộc càn quét.

Đây là trận càn quét quy mô, lớn nhất, thời gian dài nhất từ trước đến nay ở chiến trường Bình Trị Thiên(1).

Với một lực lượng hùng hậu, quân đông, tướng mạnh, đầy đủ các binh chủng được trang bị vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại, giặc Pháp hy vọng rằng có thể tiêu diệt Trung đoàn 95 và đè bẹp được ý chí kháng chiến của quân và dân ta. Nhưng những mưu toan của chúng đã sai lầm. Kế hoạch Na-va bước đầu ở Bình-Trị-Thiên đã bị phá sản. Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích đã anh dũng chiến đấu tiêu diệt hơn 450 tên địch, bắt 27 tên và bắn bị thương nhiều tên khác, phá 2 xe vận tải và nhiều phương tiện chiến tranh của chúng. Tuy vậy trong trận chiến đấu này ta cũng bị tổn thất lớn về người và của. Cơ sở kháng chiến nhiều nơi bị đánh bật ra ngoài, một số cán bộ và dân quân hoảng sợ, hoang mang chạy trốn làm cho phong trào kháng chiến ở địa phương gặp nhiều khó khăn. Âm mưu bình định của địch, ta chưa phá được.

Cũng qua trận chống càn này, một lần nữa khẳng định chủ trương: “Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu” với chiến thuật du kích vận động chiến, đánh quần lộn với địch là đúng đắn, và thích hợp ở địa hình đồng bằng xen kẽ cồn cát.

Với tinh thần liên tục tiến công, tiêu hao, tiêu diệt địch, bảo vệ cơ sở kháng chiến và bảo vệ mùa màng; trong 8 tháng đầu năm 1953, quân và dân Quảng Trị phối hợp chặt chẽ với công an, bộ đội chủ lực Phân khu, và lực lượng vũ trang tỉnh bạn, đã liên tục chiến đấu hàng trăm trận lớn nhỏ, bao vây, quấy rối và bức rút hàng chục đồn bốt, tháp canh, đòi trả tự do cho hàng trăm thanh niên bị bắt lính và vận động được hàng chục binh sĩ địch mang súng trở về với nhân dân, phá và giải tán hàng chục hội tề, trừng trị một số tên Việt gian bán nước có nhiều nợ máu với nhân dân. Đồng thời với tinh thần lá rách ít đùm lá rách nhiều, mặc dầu ở một địa bàn luôn bị nạn đói đe dọa do bão lụt triền miên nhưng khi nghe tin đồng bào và bộ đội Thừa Thiên gặp khó khăn về lương thực do hậu quả của trận lụt năm trước, Quảng Trị đã kịp thời gửi vào giúp Thừa Thiên khắc phục hậu quả lũ lụt: 63.440 kg gạo, 903kg giống ngô, đậu, thóc, bầu, bí... và 1,8 triệu đồng tài chính Việt Nam.

Từ tháng 9 năm 1953 trở đi, sau khi Trung đoàn 95 rút khỏi chiến trường Bình Trị Thiên trở về trong đội hình Đại đoàn 325 thì lực lượng vũ trang Quảng Trị chủ động, độc lập tác chiến trên địa bàn của tỉnh.

Lợi dụng tình hình đó giặc Pháp liên tiếp mở các cuộc càn quét nhỏ vào hai huyện Triệu Phong và Hải Lăng, mở rộng vùng chiếm đóng của chúng và lập vành đai trắng dọc đường sắt, đường số 1 từ Hồ Xá vào đến Mỹ Chánh, khôi phục lại hệ thống ngụy quyền những nơi chúng mới chiếm được.

Mặc dù bị địch họa và thiên tai liên tiếp, nhưng quân và dân Quảng Trị với tinh thần “Kháng chiến còn thì nhân dân còn” đã phát huy truyền thống đoàn kết thương yêu giúp đỡ nhau tự lực, tự cường, anh dũng vượt qua mọi khó khăn, thử thách, giữ vững và phát triển vùng giải phóng phát triển phong trào chiến tranh du kích giành nhiều thắng lợi trên tất cả mọi mặt quân sự, chính trị, binh vận, kinh tế, văn hóa xã hội...

Những thắng lợi quan trọng đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho quân và dân Quảng Trị phát huy kết quả đã đạt được để vững bước đi lên cùng quân dân cả nước đưa cuộc kháng chiến đến thành công.


(1) Béc-na-phôn ký giả người Pháp, tác giả sách “Con đường không vui”: viết “Là một trong những cuộc hành binh lớn nhất Đông Dương và cũng tương đương với lực lượng dùng trong các cuộc đổ bộ trên các chiến trường Thái Bình Dương và Địa Trung Hải trong chiến tranh thế giới thứ II, rõ ràng E95 và DQDK ít có hy vọng thoát khỏi cuộc bao vây này”.


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Bảy, 2020, 02:18:23 pm
II - ĐẨY MẠNH TÁC CHIẾN TÍCH CỰC PHỐI HỢP
VỚI CHIẾN TRƯỜNG CHÍNH, GÓP PHẦN CÙNG QUÂN VÀ DÂN CẢ NƯỚC
GIÀNH THẮNG LỢI QUYẾT ĐỊNH

Bước vào Đông - Xuân năm 1953-1954, cục diện chiến trường ở Bình-Trị-Thiên có nhiều thay đổi. Thực dân Pháp được Mỹ hà hơi tiếp sức, ráo riết thực hiện kế hoạch Na-va để cứu vãn tình thế đang ngày càng khốn đốn và có nguy cơ thất bại.

Ở vùng tạm bị chiếm Quảng Trị, giặc Pháp tăng cường càn quét ác liệt và ra sức bắt lính ở các vùng đồng bằng đông dân nhiều của. Mặt khác chúng ra sức bắt dân tập trung, lập vành đai trắng dọc đường sắt và số I, đồng thời dùng máy bay trọng pháo ném bom, bắn phá vùng giáp ranh và các chiến khu, cấm nhân dân vùng tạm chiếm ra vùng kháng chiến mua bán, trao đổi hàng hóa. Cho bọn chiến tranh tâm Ịý mở đợt tuyên truyền xuyên tạc: “Tháng hữu nghị Việt - Trung - Xô” cho máy bay rải truyền đơn đề cao sự viện trợ của Mỹ đối với Pháp.

Bằng mọi hình thức cưỡng ép dụ dỗ, mua chuộc... đến cuối năm 1953, ở Bình Trị Thiên địch đã xây dựng thêm được 6 tiểu đoàn ngụy, đưa tổng số quân lên trên 30.000 tên và tổ chức thành 5 tiểu đoàn cơ động, 16 tiểu đoàn chiếm đóng 3 tiểu đoàn pháo. Ở Quảng Trị chúng bố trí đến 5 tiểu đoàn chiếm đóng.

Với lực lượng đó địch đã củng cố được các tuyến phòng ngự ven đường số 1, số 9 và vùng Cửa Việt.

Cuối năm 1953, sau khi Trung đoàn 95 chuyển ra Hà Tĩnh, lực lượng tác chiến của ta chỉ còn bộ đội địa phương và dân quân du kích. Một số cơ sở Đảng, cơ sở kháng chiến và dân quân du kích được phục hồi trong điều kiện vô cùng khó khăn gian khổ. Địch họa và thiên tai liên tiếp xảy ra làm cho đời sống nhân dân và các lực lượng vũ trang rất thiếu thốn.

Tuy khó khăn chồng chất nhưng lòng tin của nhân dân đối với kháng chiến vẫn không hề lay chuyển, tinh thần quật khởi của cán bộ, bộ đội và nhân dân ngày một nâng cao, khối đoàn kết toàn dân “tất cả cho chiến thắng” vẫn được giữ vững.

Trên cơ sở phân tích tình hình, so sánh lực lượng địch, ta, nắm chắc âm mưu thủ đoạn của địch, quyết tâm làm phá sản kế hoạch Na-va, tháng 9 năm 1953, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp bàn về chủ trương tác chiến Đông Xuân 1953 - 1954.
 
Nội dung quan trọng trong kế hoạch này là: “khắc phục mọi khó khăn, sử dụng mọi biện pháp giữ vững quyền chủ động kiên quyết buộc địch phải phân tán, phá vỡ khối cơ động tập trung của chúng, đánh địch trên cả hai mặt trận chính diện và sau lưng, phối hợp trên phạm vi cả nước và trên toàn chiến trường Đông Dương”.

Quán triệt sâu sắc chủ trương lớn của Bộ Chính trị, hội nghị cán bộ địch hậu Bình - Trị - Thiên ra Nghị quyết chỉ rõ nhiệm vụ, phương hướng công tác vùng tạm bị chiếm: “Đẩy mạnh đấu tranh mọi mặt, nhất là đấu tranh vũ trang ở vùng sau lưng địch, phối hợp với chiến trường toàn quốc phá âm mưu mới của địch ở Bình-Trị-Thiên. Trước mắt là đẩy mạnh đấu tranh, chống càn quét, tăng cường lực lượng, đoàn kết đông đảo nhân dân chống giặc, phát triển và bảo vệ sản xuất, tích cực củng cố và phát triển công tác vùng tạm chiếm, đẩy mạnh công tác địch, ngụy vận”(1).

Cũng trong thời gian này dưới sự chỉ đạo của Liên khu, và Tỉnh ủy cơ quan Tỉnh đội được kiện toàn, củng cố thêm một bước. Đồng chí Hồ Sĩ Thản được giao trọng trách làm Tỉnh đội trưởng Quảng Trị.

Về phía giặc Pháp, lúc này tổ chức nhiều đợt càn quét, ở hầu khắp các địa phương trong tỉnh nhằm đẩy mạnh kế hoạch bình định mà chúng đang thực thi.

Tháng 10 năm 1953, địch huy động 2 đại đội càn vào Linh Quang (Gio Linh), dân quân du kích các thôn Tân Lộc, Xuân Bách đã phối hợp chặt chẽ với một tổ bộ đội địa phương dựa vào địa hình làng xóm đánh quần lộn với địch suốt một ngày liền, đẩy lùi 7 đợt tấn công, làm cho chúng không vào được thôn.


(1) Nghị quyết hội nghị cán bộ địch hậu BTT. Hồ sơ lưu trữ tại phòng lịch sử quân sự Quân khu 4.


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Bảy, 2020, 02:19:35 pm
Ở các nơi khác như Cam Giang, Cam Thanh, Phú Thạnh, An Tiêm, Phú Thượng, Hải Lê... khi giặc Pháp càn vào đều bị dân quân du kích chống trả quyết liệt, đánh bật ra ngoài, giữ vững được cơ sở bảo vệ được cán bộ và nhân dân, ngăn chặn sự phát triển, mở rộng vùng chiếm đóng của địch.

Bị thất bại liên tiếp và bị thiệt hại nghiêm trọng ở các chiến trường Bắc bộ, Trung Lào, quân Pháp bắt buộc phải rút tiểu đoàn ứng chiến 27/BTA ở Quảng Trị ra Bắc và một tiểu đoàn ứng chiến khác sang Hạ Lào. Vì vậy ở Quảng Trị ít nhiều địch có những sơ hở. Số quân còn lại của chúng chủ yếu là tổ chức những trận càn nhỏ, lẻ tẻ, đơn điệu, yểm trợ cho việc bình định ở đồng bằng. Trước tình hình đó, ta chủ trương đẩy mạnh các hoạt động chống càn, quấy rối, bao vây đồn bốt, tiêu hao, tiêu diệt địch. Đồng thời phát động phong trào đấu tranh của quần chúng chống địch bắt lính, thu thuế, chống lập hội tề và tuyên truyền vận động ngụy binh bỏ hàng ngũ địch trở về với cách mạng.

Ngày 22 tháng 12 năm 1953, chiến dịch Trung Lào bắt đầu. Phối hợp nhịp nhàng với tiếng súng tấn công ở mặt trận trung Lào, tại Quảng Trị bộ đội địa phương và dân quân du kích hiệp đồng chặt chẽ với Trung đoàn 18 đồng loạt nổ súng tiến công địch ở Vĩnh Linh, Gio Linh. Chỉ sau vài giờ chiến đấu, với tinh thần kiên quyết tấn công mưu trí, dũng cảm, lực lượng ta đã tiêu diệt 5 vị trí địch ở Sen Hạ, Chợ Do, Hà Tây, Đằng Đằng, và Dốc Miếu.

Ngày 28 tháng 12 du kích Vĩnh Liêm (Vĩnh Linh) phục kích bắn chìm 4 ca nô địch. Bộ đội địa phương và dân quân du kích Vĩnh An (Vĩnh Linh) đã anh dũng chống cự đánh tan trận càn quét của địch vào Liêm Hóa, Quang Hóa trong các ngày 28 đến 30-12, thu thắng lợi lớn, diệt trên 150 tên, phá hủy 4 ca nô thu nhiều súng đạn.

Bộ đội và dân quân du kích Cam Lộ, Hướng Hóa liên tục phục kích, tập kích địch trên đường số 9, đánh sập nhiều cầu cống làm cho giao thông bị ùn tắc nhiều ngày, khiến cho địch không chi viện kịp chiến trường Trung Lào.

Sự phối hợp tác chiến kịp thời của lực lượng vũ trang Quảng Trị với mặt trận Trung Lào đã phá tan âm mưu của địch nối giao thông đường số với chiến trường nước bạn, cô lập quân địch ở mặt trận Trung Lào, tạo điều kiện cho Liên quân Việt - Lào giành thắng lợi to lớn trong đợt mở đầu chiến dịch.

Trong khi liên quân Việt - Lào tiến công địch và giải phóng miền Đông Savẳnàkhệt thì lực lượng vũ trang tỉnh đã phối hợp với Trung đoàn 18 hoạt động mạnh trên mặt trận đường số 9 và vùng sau lưng địch. Chỉ tính trong 20 ngày đầu tháng 1-1954, ta đã phá sập 17 cầu từ Đông Hà đến Rào Quán, đánh lật nhào nhiều xe quân sự, làm tắc nghẽn giao thông địch hàng tháng.

Trước tình hình đó, Bộ chỉ huy Pháp vội vàng điều 4 tiểu đoàn cơ động ứng chiến, lập nhiều vị trí mới, cố bám lấy đường số 1, số 9 và đường xe lửa. Có thêm lực lượng; vào trung tuần tháng 1 năm 1954, giặc Pháp dùng 1 tiểu đoàn ứng chiến cơ động càn quét vào vùng Cùa, Mai Lĩnh ngăn chặn lực lượng ta hoạt động ở đường 9, uy hiếp chiến khu của ta. Một lần nữa bộ đội địa phương và dân quân du kích Cam Lộ, Hướng Hóa. Phối hợp chặt chẽ với Trung đoàn 18 lập công xuất sắc, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn này, diệt hàng trăm tên địch, bẻ gãy trận càn của chúng. Thừa thắng xốc tới, quân và dân ta tiếp tục tấn công uy hiếp toàn bộ các vị trí thuộc hệ thống phòng thủ của địch ở miền tây Quảng Trị.

Không chịu nổi sức tiến công mạnh mẽ của quân và dân ta bọn địch ở các vị trí Đầu Mầu, Tân Lâm. Mai Lĩnh, Vụng Kho, Rào Quán, Khe Sanh, Tà Cơn đều tháo chạy về co cụm ở Lao Bảo. Không để cho quân địch kịp hoàn hồn, Trung đoàn 18 và lực lượng vũ trang địa phương lập tức bao vây tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Số sống sót tìm đường thoát thân sang đất Lào.

Ngày 20-2-1954, ta giải phóng hoàn toàn huyện Hướng Hóa và một phần huyện Cam Lộ. Hệ thống cứ điểm của địch trên đường số 9 hoàn toàn bị tan rã. Trên 80 ngàn dân được giải phóng. Ta hoàn toàn làm chủ đường số 9 dài hơn 50 km từ tây Cam Lộ đến Lao Bảo.

Chiến thắng đường số 9 đánh dấu sự trưởng thành của bộ đội địa phương và dân quân du kích Quảng Trị, đồng thời thể hiện sự đoàn kết hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ giữa bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích.

Sau khi giải phóng huyện Hướng Hóa và một phần huyện Cam Lộ, Trung đoàn 18 được lệnh chuyển sang Trung Lào chiến đấu trong đội hình Đại đoàn 325.


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Bảy, 2020, 02:20:29 pm
Trong lúc địch đang lo tập trung lực lượng để đối phó với ta trên mặt trận đường 9 thì ở vùng nông thôn, đồng bằng, bộ đội và dân quân du kích cũng đẩy mạnh hoạt động chống càn, bao vây, quấy phá đồn bốt địch, tiêu hao, tiêu diệt chúng.

Ngày 28 tháng 1 năm 1954, ở đồng bằng Triệu Phong, địch huy động 2 tiểu đoàn có xe tăng yểm trợ càn vào căn cứ Chợ Cạn, đại đội 245 cùng với dân quân du kích trong vùng đã dũng cảm, mưu trí, phục kích, tập kích, quần lộn đánh trả địch, bẻ gãy các mũi tiến quân của chúng tiêu diệt hàng trăm tên địch. Tại Gia Đẳng, 3 du kích cùng lực lượng quần chúng anh dũng chống lại một đại đội địch đi càn quét, gây cho chúng nhiều thiệt hại, thu được súng.

Quân và dân các huyện Triệu Phong, Hải Lăng, Cửa Việt, Cửa Tùng đã anh dũng chống trả địch bằng nhiều hình thức phục kích, tập kích, quần lộn, công đồn, đả viện, diệt ác trừ gian... phá tan âm mưu bình định có trọng điểm của chung. Bộ đội địa phương và dân quân du kích các xã Hải Trường, Hải Sơn, Hải Chánh phục kích giao thông, dùng mìn đánh lật nhào đoàn tàu quân sự của địch trên đoạn đường sắt Mỹ Chánh - Phò Trạch diệt 200 tên, thu 2 đại bác và nhiều súng đạn. Cùng thời gian trên, xã đội trưởng cùng 2 du kích xã Hải Phong phối hợp với 1 tiểu đội của Đại đội 327 đánh tan một trung đội địch đi càn quét và hai lần đánh thắng quân tiếp viện của chúng.

Ở Gio Linh bộ đội địa phương và dân quân du kích Linh Quang, Linh Hoa hiệp đồng chặt chẽ chiến đấu đánh thiệt hại nặng 2 đại đội địch đi càn quét có cơ giới yểm hộ, bắn chìm 3 ca nô, địch không vào được làng nên buộc phải rút lui.

Chỉ tính sơ bộ trong 15 ngày đầu tháng 1 năm 1954 quân và dân toàn tỉnh đã đánh địch hàng chục trận lớn nhỏ, trong đó có 17 trận giành thắng lợi lớn, diệt 417 tên, bắn bị thương 146 tên khác, bắt sống 142 tên (trong đó có 100 lính Âu Phi và 4 quan tư) thu 87 súng, trên 2 vạn viên đạn, phá 15 xe cam-nhông và 10 cầu, cống.

Cùng với việc đẩy mạnh tiến công địch về quân sự, phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng nhân dân cũng phát triển rầm rộ. Bằng nhiều hình thức mít tinh, biểu tình, hội họp đưa yêu sách kiến nghị, bãi công, bãi khóa, bãi thị, rải truyền đơn... nhân dân chủ động đấu tranh chống sưu cao, thuế nặng, chống áp bức bóc lột, chống bắt lính, vận động quân sĩ bỏ ngũ... Tháng 12 năm 1953 nhân dân Vĩnh Linh đấu tranh buộc địch phải thả 458 trong số 559 người bị chúng bắt đi lính. Đội trinh sát công an Vĩnh Linh phối hợp với du kích diệt 13 tên tề điệp gian ác ở các xã và quản chế một số tên khác. Phong trào đấu tranh của quần chúng đã tác động mạnh mẽ đến hàng ngũ binh sĩ địch, khiến cho nhiều binh lính ngụy chống lệnh điều động đi các chiến trường Lào, Bắc bộ, Tây Nguyên.

Trong những tháng cuối năm 1953, đầu năm 1954 đã có 230 ngụy binh đào ngũ bỏ trốn về nhà và 118 binh sĩ khác mang súng trở về với nhân dân. Nhiều tên tề ngụy tự giác ra đầu thú được hưởng lượng khoan hồng.

Trong Đông - Xuân 1953-1954, phong trào đấu tranh chính trị đã giành được một số thắng lợi. Nhưng một mặt do địch khủng bố đàn áp gắt gao, mặt khác các cấp bộ Đảng chưa chú trọng đặt vấn đề chỉ đạo, lãnh đạo đúng mức, nên phong trào còn mang tính chất tự phát, cục bộ, chưa phát triển rộng rãi và đồng đều, chưa huy động được đông đảo lực lượng quần chúng nhân dân.

Hòa nhịp với hoạt động quân sự trên chiến trường và phong trào đấu tranh chính trị trong vùng địch tạm chiếm, hoạt động phục vụ tiền tuyến về phong trào tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm: “Tất cả cho chiến thắng” của nhân dân cũng phát triển mạnh mẽ. Để phục vụ chiến dịch Trung Lào, chính quyền các cấp trong tỉnh đã huy động hàng ngàn lượt người đi dân công phục vụ tiền tuyến. Đặc biệt khi Tiểu đoàn 436 thuộc Trung đoàn 101 được Bộ tăng cường quân số và hỏa lực làm nhiệm vụ thọc sâu của chiến dịch xuống vùng Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia đi qua địa phận Quảng Trị; đơn vị đã được các đồng chí lãnh đạo tỉnh và đồng chí Bí thư Huyện ủy Hướng Hóa gặp gỡ, thăm hỏi động viên, đồng thời trực tiếp giải quyết các khó khăn về lương thực, thực phẩm và giao liên. Chỉ trong một thời gian ngắn, chính quyền các cấp đã huy động hàng ngàn người đi dân công tiếp lương tải đạn, làm liên lạc dẫn đường giúp Tiểu đoàn 436 vượt qua địa hình hiểm trở tiến nhanh tới đích. Nhiều chàng trai, cô gái Vân Kiều, Tà Ôi xung phong tình nguyện đi dân công hỏa tuyến dài ngày phục vụ bộ đội đánh thắng. Bộ đội địa phương và dân quân du kích phối hợp chặt chẽ với công an tỉnh và các huyện đã tổ chức một lực lượng cơ động bảo vệ các đoàn dân công vận tải dọc đường hành lang chiến lược, căn cứ lõm xuyên tỉnh, tiền chiến khu và các chiến khu. ở những nơi trọng điểm như Làng Hạ, Đá Nổi, Trấm... công an còn lập thêm các trạm bảo vệ nhằm đảm bảo an toàn cho các đoàn dân công vận chuyển và bộ đội hành quân.

Trên mặt trận sản xuất, mặc dù gặp nhiều khó khăn gian khổ do địch họa, thiên tai, nhưng nhân dân ta vẫn đoàn kết một lòng tương thân tương ái, khắc phục khó khăn giúp đỡ nhau đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm. Vụ Đông Xuân 1953-1954 toàn tỉnh đã gieo trồng được 23.000 mẫu lúa, 9596 mẫu ngô, khoai, sắn, đã thu hoạch được 2.393 tấn lúa, 3.000 tấn màu. Nhờ vậy đã vượt qua được nạn đói do trận lụt tháng 10-1953 gây ra.


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Bảy, 2020, 03:24:32 pm
*
*   *

Thực hiện chủ trương căng địch ra mà đánh, nhằm phân tán lực lượng, buộc chúng phải bị động đối phó, từ cuối tháng 2 năm 1954 trở đi, ta đẩy mạnh hoạt động trên tất cả các chiến trường từ Bắc bộ đến Tây Nguyên, từ Hạ Lào đến Đông Bắc Campuchia.

Bị bất ngờ trước những đòn tiến công chiến lược của ta, Na-va vội rút ở Bình - Trị - Thiên 3 tiểu đoàn ứng chiến, 3 tiểu đoàn địa phương, 800 nghĩa dũng đoàn và nhân viên ngụy quyền vào nam Trung bộ để đối phó với ta. Để bù vào số quân bị hao hụt nhằm giữ thế cân bằng, địch tăng cường càn quét, đôn quân, bắt lính, tích cực xây dựng ngụy quân, chủ yếu là xây dựng các tiểu đoàn khinh quân, chuyển quân chiếm đóng lên cơ động.

Đi đôi với những hoạt động càn quét, đánh phá, địch tăng cường hoạt động chính trị, đẩy mạnh chiến tranh tâm lý, dụ dỗ, mua chuộc bằng kinh tế để xoa dịu làn sóng đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân.

Về phía ta, sau thời gian hoạt động phối hợp với chiến dịch Trung Lào, bộ đội địa phương và dân quân du kích trong tỉnh trưởng thành lên một bước. Lực lượng vũ trang càng đánh càng mạnh, càng đánh càng trưởng thành, từ chỗ tiêu hao, tiêu diệt địch từng tốp, từng bộ phận nhỏ lẻ, nay đã đánh thắng từng trung đội, đại đội tập trung của địch. Trình độ kỹ thuật, chiến thuật ngày càng được nâng lên. Các hình thức tác chiến ngày càng phong phú, mưu trí, linh hoạt và có hiệu quả hơn. Mặt khác được sự chi viện hết lòng “Tất cả cho tiền tuyến” của hậu phương Thanh-Nghệ-Tĩnh về lương thực, thực phẩm, vũ khí, súng đạn, thuốc men... nên sức chiến đấu của lực lượng vũ trang ta được tăng thêm. Do đó mặc dù từ cuối tháng 2-1954 trở đi, khi Trung đoàn 18 chuyển sang làm nhiệm vụ quốc tế trên chiến trường Lào, bộ đội và dân quân du kích tỉnh vẫn đảm nhận được nhiệm vụ tác chiến trên quê hương của mình.

Ngày 22 tháng 2 năm 1954, địch huy động 5 tiểu đoàn càn quét 2 huyện Triệu Phong, Hải Lăng, bộ đội địa phương và dân quân du kích bằng nhiều hình thức tác chiến linh hoạt, đã anh dũng chặn đánh quyết liệt, quần lộn, giành giật với địch từng bờ cây góc xóm, từng ruộng lúa, nương khoai làm cho chúng bị thiệt hại nặng.

Kết quả trong trận chống càn này, bộ đội và dân quân du kích hai huyện Triệu - Hải đã loại khỏi vòng chiến đấu 150 tên địch, thu nhiều vũ khí, giải thoát cho 50 cán bộ và hơn 200 thanh niên bị địch bắt.

Trong phong trào du kích chiến tranh, các hình thức tác chiến như hầm chông, cạm bẫy, bom mìn, địa lôi... ngày càng phát triển.. Nhiều sáng kiến đánh giặc mới đã được áp dụng có hiệu quả. Tiêu biểu như trận chống càn ngày 28-2-1954 của du kích Vĩnh Liêm. Nắm được âm mưu của giặc đi càn quét bằng cả hai đường thủy, bộ; dân quân du kích một mặt tổ chức lực lượng chặn đánh địch trên bộ không cho chúng vào làng, mặt khác bố trí một bộ phận đóng cọc giăng ngang sông gài mìn, đánh chìm 4 ca nô chặn đứng cuộc càn quét.

Lúc này ở chiến trường chính Bắc Bộ, hòng cứu vãn tình thế ngày càng lún sâu vào thất bại, ngày 20-11-1953, giặc Pháp vội vã cho 6 tiểu đoàn nhảy dù xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ mạnh nhất Đông Dương được chúng đặt nhiều hy vọng.

Trước thử thách mới này, sau khi phân tích một cách khoa học tình hình địch, ta, Trung ương Đảng, Chính phủ, và Hồ Chủ tịch hạ quyết tâm tiêu diệt tập đoàn cứ điểm này. Ngày 13-3-1954, tiếng súng tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bắt đầu.

Ngày 15-3-1954, Bộ Tư lệnh Liên khu 4 chỉ thị cho Bình - Trị - Thiên đẩy mạnh hoạt động phối hợp chiến dịch Điện Biên Phủ, tập trung đánh mạnh vào các tuyến đường giao thông, tích cực củng cố và phát triển cơ sở, mở rộng khu du kích và khôi phục căn cứ 4 huyện Triệu - Hải - Phong - Quảng.

Càng bị thua đau trên các chiến trường Điện Biên Phủ, đồng bằng Bắc bộ, Trung Hạ Lào và Bình - Trị - Thiên, thực dân Pháp càng bị động trong việc điều binh khiển tướng. Mâu thuẫn giữa phân tán và tập trung diễn ra gay gắt, bởi vì quân số thiếu hụt, nếu đóng rải ra để giữ chốt thì lực lượng bị dàn mỏng dễ bị tiêu diệt; nếu tập trung trọng điểm sẽ hở sườn dễ bị bao vây và thu hẹp khu vực chiếm đóng, điều kiện tiếp tế gặp nhiều khó khăn. Khắc phục sự thiếu hụt về quân số, thực dân Pháp và ngụy quyền tay sai bày trò tổng động viên nhằm vơ vét sức người sức của phục vụ cho chiến tranh. Bọn phản động lợi dụng đạo Thiên Chúa và đạo Phật mưu đồ vũ trang hóa giáo dân để cố thủ bảo vệ các nhà thờ, chùa chiền và biến những nơi tôn nghiêm ấy thành vị trí của địch. Tuy phải rút 6 tiểu đoàn (cả quân ứng chiến và chiếm đóng) ở Bình - Trị - Thiên để tiếp viện cho chiến trường khác, nhưng do chúng tích cực bắt lính, xây dựng thêm được 2 tiểu đoàn quân ngụy, 3 đại đội pháo, và bổ sung thêm 1 tiểu đoàn Tabo nên vẫn giữ được lực lượng 20 tiểu đoàn để tạo thế bình định đồng bằng và đối phó với ta.


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Bảy, 2020, 03:25:27 pm
Thực hiện chủ trương đẩy mạnh tác chiến phối hợp đợt 2 chiến dịch Điện Biên Phủ của Liên khu và Tỉnh ủy, quân và dân Quảng Trị phát huy thắng lợi đã giành được, liên tục tấn công, liên tục chống phá các cuộc càn quét và bao vây, bức rút một số đồn bốt và vị trí của chúng, bảo vệ và phát triển cơ sở, khu du kích, thu hẹp vùng chiếm đóng của địch.

Bằng chiến thuật tập kích, bộ đội địa phương của tỉnh phối hợp chặt chẽ với bộ đội huyện và dân quân du kích các xã bí mật luồn sâu vào các tuyến chiếm đóng của địch tiêu diệt. 7 vị trí và một số lô cốt trên trục đường số 1 Nam Đông, La Vang, Vĩnh Chấp, Cai Ngạc... Bộ đội huyện Hải Lăng và dân quân xã Hải Dương bao vây cô lập đồn Kim Giao hàng tuần lễ liền làm cho bọn địch ở đây không còn nguồn tiếp tế phải rút bỏ. Một số lô cốt tháp canh ở Triệu Phong cũng bị lực lượng vũ trang ta tập kích tiêu diệt và bức rút. Khu căn cứ Hải Lăng và Triệu Phong dần dần được mở rộng.

Được sự giúp đỡ của bộ đội địa phương tỉnh và huyện, dân quân du kích các xã đã tiến bộ vượt bậc, độc lập chống càn thu nhiều thắng lợi và phát triển phong phú các hình thức tác chiến tiêu diệt địch: Từ chỗ sử dụng các cách đánh thông thường như bom mìn, địa lôi, cạm bẫy, quần lộn... đã tiến lên tập kích, công kích, liên tục bao vây tiêu diệt lô cốt, tháp canh của địch, buộc chúng phải dùng máy bay rút chạy như ở Vĩnh Hoàng (Vĩnh Linh), Diên Khánh (Hải Lăng).

Trên mặt trận giao thông lực lượng vũ trang Quảng Trị phối hợp với quân dân Thừa Thiên liên tục phục kích đánh tàu xe trên tuyến đường sắt, đường số 1 làm lật nhào 3 đoàn tàu, phá hủy 76 xe quân sự, phá sập 10 cầu cống, trong đó có cầu Đông Hà, tiêu diệt trên 3 đại đội địch.

Song song với các hoạt động quân sự, công tác đấu tranh chính trị, vận động chống địch bắt lính cũng ngày càng phát triển rộng rãi. Không có cuộc bắt lính nào của địch lại không vấp phải sức đấu tranh của nhân dân. Đặc biệt các cuộc đấu tranh này dần dần đã lôi kéo được đông đảo gia đình ngụy binh tham gia. Điển hình là cuộc đấu tranh kiên trì và anh dũng của hàng nghìn quần chúng ở Đông Hà ngày 8-5-1954 buộc địch phải thả hết 80 thanh niên bị bắt đi lính.

Tiểu đoàn 230 chủ lực của tỉnh trưởng thành rõ rệt đã cùng với bộ đội địa phương các huyện và dân quân du kích các xã bẻ gãy nhiều cuộc càn quét, bao vây tập kích bức rút nhiều đồn bốt, lô cốt, tháp canh, tiêu diệt nhiều vị trí, loại khỏi vòng chiến đấu hàng ngàn tên địch; khôi phục, giữ vững và mở rộng được nhiều vùng du kích ở đồng bằng, phát triển được cơ sở, hỗ trợ đắc lực cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng trong vùng địch tạm chiếm, động viên được đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia kháng chiến.

Với những thắng lợi đã giành được, quân và dân Quảng Trị phối hợp chặt chẽ với quân và dân Thừa Thiên phá tan âm mưu của địch phong tỏa giao thông, bình định có trọng điểm 4 huyện Triệu - Hải - Phong - Quảng, mở rộng vùng căn cứ du kích. Từ chỗ chỉ tập trung tác chiến ở vùng nông thôn, đồng bằng, đã tiến lên đưa lực lượng áp sát thị xã, thị trấn đánh địch, uy hiếp và thu hẹp vùng chiếm đóng của chúng.

Ngày 7-5-1954, ta giành toàn thắng ở Điện Biên Phủ. Chiến thắng vĩ đại này đã làm cho hình thái chiến trường thay đổi hoàn toàn có lợi cho ta, đẩy địch vào thế bất lợi và đứng trước nguy cơ thất bại hoàn toàn. Sự kiện trọng đợi đó tác động sâu sắc đến hình thái chiến trường Bình Trị - Thiên

Bị thất bại nặng nề ở Điện Biên Phủ nhưng thực dân Pháp vẫn chưa từ bỏ âm mưu kéo dài chiến tranh. Để cứu vãn tình thế đang ngày càng nguy ngập, Chính phủ Pháp tiếp tục đưa quân bổ sung sang Việt Nam, tăng cường bắt lính, xây dựng ngụy quân, tập trung quân cơ động và cầu cứu thêm viện trợ Mỹ.

Ngày 25-5, chúng đưa đến Bình - Trị - Thiên 2 binh đoàn cơ động số 10 và số 21. Trong 2 ngày 28 và 30-5 chúng lại đưa thêm 400 xe, 2000 lính Âu Phi, 2 đại đội cơ giới và 10 khẩu pháo 105 milimét từ Đà Nẵng ra Huế, sau đó phần lớn hành quân ra Đông Hà gồm 250 xe, 2 đại đội cơ giới, đồng thời đưa thêm 1000 quân từ thị xã Quảng Trị ra nâng tổng số quân ở Đông Hà lên hơn 3000 tên. Như vậy địch đã tập trung 17 tiểu đoàn cơ động để chuẩn bị cho các cuộc càn quét lớn ở Quảng Trị và 2 huyện bắc Thừa Thiên.


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Bảy, 2020, 03:26:19 pm
Với lực lượng cơ động mạnh, địch liên tiếp mở nhiều đợt càn quét lớn nhằm bình định 4 huyện Triệu Phong, Hải Lăng (Quảng Trị) và Phong Điền, Quảng Điền (Thừa Thiên), chiếm lại đường số 9 và biệt kích ra vùng tự do của ta. Nhưng tất cả các cuộc càn quét của chúng đều bị lực lượng vũ trang địa phương 3 tỉnh Bình - Trị - Thiên phối hợp chặt chẽ trong thế trận chiến tranh nhân dân rộng lớn, kết hợp tác chiến với ngụy vận, liên tục chặn đánh, gây cho địch nhiều thiệt hại.

Ngày 31-5-1954, địch tập trung lực lượng trên 4 tiểu đoàn càn vào 3 huyện Cam Lộ, Gio Linh và Vĩnh Linh. Bộ đội địa phương tỉnh, huyện và dân quân du kích đã anh dũng chiến đấu chống trả quyết liệt bẻ gãy trận càn của chúng.

Ngày 6-6-1954, giặc Pháp lại dùng một lực lượng tương đương như trước tiếp tục càn quét vào 3 huyện trên hòng giành một thắng lợi danh dự, nhưng chúng cũng bị quân và dân 3 huyện kiên cường đánh trả. Cả 2 trận càn đều bị thất bại, hơn 350 tên bị tiêu diệt, nhiều tên khác bị thương, âm mưu chiếm lại đường 9 của địch bị phá sản.

Trong 2 ngày 16 và 19-6, giặc Pháp điên cuồng tập trung 6 tiểu đoàn và 200 xe cơ giới tiếp tục hành quân càn quét lớn vào 2 huyện Triệu Phong, Hải Lăng. Với tinh thần kiên cường bám trụ chiến đấu dũng cảm, bộ đội địa phương hai huyện và dân quân du kích các xã đã chiến đấu cực kỳ anh dũng, chống trả quyết liệt, vừa chiến đấu, vừa tuyên truyền địch vận, liên tiếp bẻ gãy các đợt tiến công của địch, tiêu diệt trên 500 tên, làm bị thương nhiều tên khác, phá hủy hàng chục xe quân sự, bọn địch bị tổn thất nặng nề cuối cùng phải rút chạy.

Cùng phối hợp chặt chẽ với các lực lượng vũ trang chiến đấu, nhân dân Triệu Phong, Bích Trung, Bích Nam, Hải Lăng nổi dậy đấu tranh bắt địch bồi thường nhà cửa, của cải bị thiệt hại trong các trận càn. Nhiều] cụ già, chị em phụ nữ dũng cảm nằm chắn giữa đường cản xe địch, đòi hỏi thả chồng, con, anh em bị bắt đi lính.

Thắng lợi liên tiếp của quân và dân ta trong các cuộc chống càn đã phá tan âm mưu của địch chiếm lại đường số 9 và bình định 2 huyện Triệu Phong và Hải Lăng. Thắng lợi đó đánh dấu sự trưởng thành vững chắc của lực lượng vũ trang tỉnh và phong trào toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến.

Thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng về: “Đẩy mạnh công tác vùng tạm chiếm” và “Phát động phong trào đấu tranh chính trị rộng rãi” làm hậu thuẫn cho đấu tranh quân sự và ngoại giao, phong trào đấu tranh chính trị ở Quảng Trị diễn ra sôi nổi trên cả 3 vùng: Vùng căn cứ du kích, vùng du kích, và vùng tạm bị chiếm. Được thắng lợi của cuộc biểu tình ở Huế cổ vũ, nhân dân khắp nơi trong tỉnh Quảng Trị đứng lên đấu tranh đòi hòa bình, đòi Chính phủ Pháp phải thương lượng với Chính phủ Hồ Chí Minh, đòi trả chồng, con, đòi trả lúa gạo bị tập trung, vạch trần âm mưu kéo dài chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp, Mỹ và tay sai.

Phối hợp với cuộc đấu tranh ngoại giao trên bàn hội nghị Giơ-ne-vơ và gây sức ép với địch, đồng thời cũng nhằm biểu dương sức mạnh của quần chúng cách mạng, Tỉnh ủy chủ trương cho các huyện và thị xã Quảng Trị tổ chức huy động lực lượng quần chúng mít tinh, biểu tình đòi lập lại hòa bình. Nhân dân khắp nơi nhiệt liệt hưởng ứng. Hàng ngàn người kéo về thị xã Quảng Trị để tham gia cuộc biểu tình đòi thực dân Pháp và Chính phủ bù nhìn Bảo Đại phải ký hiệp định Giơ-ne-vơ. Nhưng cuộc biểu tình đang chuẩn bị thì tin vui từ bàn hội nghị đã bay về: Ngày 20-7-1954, hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương đã được ký kết. Do vậy, cuộc biểu tình nói trên được chuyển thành cuộc mít tinh chào mừng “Hòa bình đã được lập lại trên toàn cõi Đông Dương”.

Thắng lợi có ý nghĩa trọng đại này là nguồn động viên cổ vũ to lớn đối với quân và dân ta, đồng thời là đòn cân não làm cho hàng ngũ địch lung lay tan rã nhanh chóng.

Song với bản chất hiếu chiến “Chết nết vẫn không chừa” trong lúc lệnh ngừng bắn chưa có hiệu lực, từ ngày 20 đến 31-7, chiến sự ở Quảng Trị vẫn tiếp diễn. Để giữ vững tinh thần đang rệu rã của bọn ngụy quân, ngụy quyền, giặc Pháp cố sức mở 2 trận càn nhỏ vào Bích La (Triệu Phong) nhưng cả 2 trận càn đều bị bộ đội địa phương và dân quân du kích cảnh giác cao, kịp thời chặn đánh, buộc chúng phải rút lui. Cùng thời gian này lực lượng vũ trang tỉnh phối hợp với quân và dân Thừa Thiên tiếp tục đánh lật nhào 6 toa tàu quân sự của địch.

Bị thất bại liên tiếp trong những cố gắng cuối cùng của những ngày cuối tháng 7, giặc Pháp và bè lũ tay sai buộc phải ngừng bắn vào ngày 1-8-1954.

Cùng với các chiến trường Đông Dương và cả nước, quân và dân Quảng Trị đã hoàn thành thắng lợi cuộc chiến tranh trường kỳ gian khổ, đánh thắng hoàn toàn tên thực dân cũ, giải phóng một nửa nước thân yêu.


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Bảy, 2020, 03:27:43 pm
*
*   *

III - QUÂN VÀ DÂN QUẢNG TRỊ THỰC HIỆN
NHIỆM VỤ SAU CHIẾN THẮNG

Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, hòa bình được lập lại trên toàn cõi Đông Dương, ở nước ta miền Bắc được hoàn toàn giải phóng. Nhưng với hiệp định này, vĩ tuyến 17 (sông Hiền Lương) trên địa phận tỉnh Quảng Trị đã trở thành giới tuyến quân sự tạm thời ngăn cách hai miền đất nước. Việc thi hành các điều khoản của hiệp định làm cho tình hình Quảng Trị có sự thay đổi lớn. Phía bắc sông Hiền Lương gồm hầu hết huyện Vĩnh Linh được hoàn toàn giải phóng, các huyện, thị trấn phía nam sông còn nằm trong vùng địch tạm đóng quân. Theo hiệp định thực dân Pháp phải rút hết quân khỏi huyện Vĩnh Linh, còn lực lượng ta ở các huyện thị thuộc bờ nam sông Bến Hải phải tập kết ra miền Bắc.

Tình hình phức tạp đó ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu sắc đến các mặt hoạt động của các cấp ủy Đảng, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân Quảng Trị.

Với bản chất hiếu chiến và xâm lược, thực dân Pháp được bọn can thiệp Mỹ “bật đèn xanh” không ngừng phá hoại hiệp định Giơ-ne-vơ, ráo riết thực hiện âm mưu biến vùng tạm đóng quân ở Quảng Trị nói riêng và ở miền Nam Việt Nam nói chung thành căn cứ quân sự.
 
Thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ cấu kết với nhau một mặt tăng cường hoạt động quân sự, mặt khác xúc tiến hoạt động chính trị và nhiều hình thức phá hoại khác...

Về quân sự, giặc Pháp chuyển lính Âu Phi ra Quảng Trị, đóng dọc giới tuyến và các cứ điểm quan trọng khác như Dốc Miếu, Đông Hà, thị xã Quảng Trị, đồng thời chúng đưa quân ngụy vào các tỉnh phía nam chỉ để lại một số tiểu đoàn chiếm đóng dọc bờ biển .

Cùng với các hoạt động chuyển quân, địch ráo riết bắt thanh niên đi lính để lập Bảo chính quân là lực lượng trợ lực cho cơ quan ngụy quyền. Đến tháng 11 năm 1954, Bảo chính quân ở Quảng Trị có 10 đại đội, mỗi đại đội có từ 100 đến 120 tên.

Song song với các hoạt động quân sự, địch tăng cường hoạt động chính trị, ráo riết thực hiện âm mưu cưỡng ép đồng bào theo đạo Thiên Chúa di cư vào Nam, chuẩn bị cơ sở chính trị cho Ngô Đình Diệm - trực tiếp là Ngô Đình Cẩn lập ngụy quyền tay sai, xúc tiến khủng bố phong trào đấu tranh của quần chúng để nhanh chóng ổn định tình hình chính trị của chúng ở Quảng Trị, Thừa Thiên.

Tất cả các hoạt động chính trị, quân sự của địch đều nhằm mục đích phá cơ sở chính trị của ta, phá hiệp định Giơ-ne-vơ, tiến tới phá tổng tuyển cử tự do thống nhất nước nhà và thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta.

Ngày 21 tháng 7 năm 1954 sau khi hội nghị Giơ-ne-vơ vừa kết thúc, tại chiến khu Ba Lòng, Thường vụ Tỉnh ủy đã tổ chức hội nghị cán bộ toàn tỉnh tập trung thảo luận, phân tích đặc điểm vị trí của Quảng Trị sau khi thực hiện xong việc chuyển quân tập kết. Hội nghị nhấn mạnh công tác tư tưởng là: “Cán bộ đảng viên không vì hòa bình mà lơ là mất cảnh giác đối với mọi âm mưu thủ đoạn mới của địch” . Cán bộ, đảng viên phải tích cực cùng với quần chúng bảo vệ và phát huy mọi thành quả của cách mạng đã giành được. Về tổ chức, hội nghị nhất trí quyết định: “Từ nay chuyển chi bộ từ đơn vị xã thành các đơn vị theo đơn vị thôn. Tổ chức cơ sở Đảng ở vùng địch tạm đóng quân phải gọn và bí mật”3. Sau khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực, để kịp thời lãnh đạo quân và dân trong tỉnh thực hiện nhiệm vụ mới, Tỉnh ủy Quảng Trị khẩn trương sắp xếp tổ chức Đảng, chính quyền, và bố trí cán bộ, đảng viên ở lại hoạt động gây cơ sở lâu dài lãnh đạo nhân dân đấu tranh buộc địch thi hành hiệp định đồng thời tuyên truyền rộng rãi chủ trương chính sách của Đảng và thắng lợi của hiệp định Giơ-ne-vơ, ra sức vận động nhân dân giúp đỡ nhau nhanh chóng ổn định đời sống và sinh hoạt, đẩy mạnh tăng gia sản xuất.

Đối với huyện Vĩnh Linh hoàn toàn giải phóng, sau khi địch rút khỏi ta đã nhanh chóng vào tiếp quản, thành lập chính quyền cách mạng và ổn định mọi mặt sinh hoạt bình thường cho nhân dân.

Phát huy ảnh hưởng thắng lợi to lớn của hiệp định Giơ-ne-vơ, đồng thời biểu dương lực lượng quần chúng, ngày 18-8-1954, Tỉnh ủy Quảng Trị tổ chức lễ kỷ niệm cách mạng tháng Tám rất rầm rộ và trọng thể tại Phước Môn (Hải Lăng). Gần một vạn người đại diện đủ các thành phần, ăn mặc chỉnh tề từ khắp các nơi trong tỉnh kéo về dự lễ, bất chấp mọi sự đe dọa, ngăn cấm, kiểm soát của bọn lính lê dương, cảnh sát và mật vụ.

Sau buổi lễ đồng bào đã ở lại cùng cán bộ, bộ đội dự cuộc liên hoan văn nghệ tiễn đưa những người con của quê hương đi tập kết miền Bắc.

Ngày 23 tháng 8 năm 1954, sau khi hoàn thành mọi công việc chuẩn bị, cán bộ và nhân dân Quảng Trị - Những người ở lại - đã lưu luyến tiễn đưa hơn 1.543 bộ đội địa phương, 617 du kích, 1437 cán bộ và nhân dân, 200 hàng binh lên đường ra Bắc tập kết.


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Bảy, 2020, 03:28:30 pm
Ngày 2-9-1954, tại sân vận động Trạng Cù (Vĩnh Nam) Huyện ủy Vĩnh Linh tổ chức cuộc mít tinh kỷ niệm ngày Quốc khánh 2-9 và chào mừng quê hương giải phóng. Gần 30.000 người từ khắp các nơi trong huyện kéo về mừng ngày hội lớn. Tại buổi lễ trọng thể này, sau khi biểu dương những thành tích to lớn mà quân và dân Vĩnh Linh cùng quân và dân tỉnh nhà và cả nước đã giành được, đồng chí Chủ tịch Vĩnh Linh công bố một số chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đối với vùng mới giải phóng, đồng thời kêu gọi quân và dân toàn khu vực tăng cường đoàn kết, hăng hái tăng gia thi đua sản xuất khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng lại quê hương, từng bước ổn định cuộc sống.

Để nhân dân Vĩnh Linh nhanh chóng ổn định mọi mặt sinh hoạt, đồng thời làm nhiệm vụ bảo vệ giới tuyến quân sự tạm thời, sau khi ngừng bắn Bộ tư lệnh Liên khu 4 đã điều Trung đoàn 270 vào Vĩnh Linh đồng thời thành lập đại đội công an vũ trang thứ nhất (8-1954) và đại đội thứ hai (11-1954).

Các đơn vị bộ đội, công an vũ trang cùng với bộ đội địa phương, dân quân du kích và nhân dân các dân tộc Vĩnh Linh vừa khắc phục hậu quả chiến tranh, đẩy mạnh tăng gia sản xuất ổn định đời sống, vừa luôn đề cao cảnh giác, ngăn chặn kịp thời mọi âm mưu, hành động phá hoại của địch, bảo vệ an toàn khu phi quân sự, góp phần thực hiện đấu tranh thống nhất nước nhà.

Các huyện thị của Quảng Trị ở bờ Nam sông Bến Hải, theo quy định của hiệp định Giơ-ne-vơ trở thành vùng tạm đóng quân của địch.

Với mưu đồ chia cắt lâu dài đất nước ta, địch ngày càng trắng trợn phá hoại hiệp định nên sau khi Pháp thất bại, tháng 9-1954, Mỹ lôi kéo Anh, Pháp và một số nước khác lập ra khối quân sự xâm lược Đông Nam Á và láo xược tuyên bố: Việt Nam, Lào, Campuchia nằm trong phạm vi “bảo vệ” của khối đó. Thế là chỉ một thời gian rất ngắn sau khi thực dân Pháp bị đại bại ở chiến trường Đông Dương, đế quốc Mỹ đã vội vã nhảy vào thay chân Pháp. Giờ đây nhân dân Quảng Trị ở bờ nam sông Bến Hải nói riêng và đồng bào miền Nam nói chung chưa được hưởng một ngày hòa bình trọn vẹn lại phải đương đầu với một thế lực thù địch mới.

*
*   *

Trong hai năm cuối của cuộc kháng chiến, mà đặc biệt từ khi bộ đội chủ lực được điều đi phục vụ chiến trường chính là thời kỳ thử thách ác liệt nhất, nỗ lực cao nhất của quân và dân Quảng Trị. Các lực lượng vũ trang và nhân dân đã tự lực tự cường đảm đương nhiệm vụ bảo vệ mùa màng, bảo vệ khu du kích và căn cứ địa kháng chiến. Với tinh thần và quyết tâm: “Tất cả cho chiến thắng”, quân dân toàn tỉnh đã kiên cường bám trụ, một tấc không đi một li không rời, giành đất, giành dân, giành quyền làm chủ, liên tục tiến công, tiêu hao tiêu diệt địch, mở rộng vùng giải phóng làm tròn trách nhiệm của một chiến trường phối hợp, tạo điều kiện cho chiến trường chính giành thắng lợi quyết định; Đặc biệt đã góp phần tích cực tiêu hao, tiêu diệt, kìm chân các binh đoàn cơ động của Pháp không cho chúng tăng viện cho chiến trường Điện Biên Phủ. Tạo điều kiện để quân ta giành thắng lợi quyết định làm nên một Điện Biên Phủ “Lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu” kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Cùng với nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ quê hương quân dân ta còn dốc sức người, sức của chi viện đắc lực cho chiến trường Trung, Hạ Lào, đặc biệt tạo mọi điều kiện giúp đỡ cho Tiểu đoàn 436 hoàn thành nhiệm vụ trên chiến trường miền tây nước bạn, góp phần xây đắp tình đoàn kết chiến đấu đặc biệt của nhân dân và lực lượng vũ trang 2 nước Việt - Lào.

Thắng lợi toàn diện về cả quân sự, chính trị kinh tế binh vận trong những năm 1953-1954 của quân và dân Quảng Trị là thắng lợi của lòng yêu nước nồng nàn, kết tinh sức mạnh tổng hợp của thế trận chiến tranh nhân dân, của ý chí tự lực, tự cường, chiến đấu hy sinh anh dũng vì độc lập tự do của đất nước, quê hương. Thắng lợi đó vừa thể hiện sự tiến bộ trưởng thành càng đánh càng mạnh của lực lượng vũ trang tỉnh, vừa khẳng định vai trò lãnh đạo chỉ huy của cấp ủy, chính quyền các cấp trong toàn tỉnh.

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, hòa bình đã được lập lại trên toàn cõi Đông Dương, nhưng nhân dân và lực lượng vũ trang Quảng Trị lại bước vào một cuộc chiến đấu mới ròng rã suốt 21 năm tiếp theo với một kẻ thù mới tàn bạo hơn, giàu mạnh hơn.


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Bảy, 2020, 03:30:26 pm
KẾT LUẬN

Dưới sự lãnh đạo tài tình và sáng suốt của Đảng, cùng với cả nước quân và dân Quảng Trị đã đồng sức đồng lòng vùng lên làm nên thắng lợi huy hoàng trong cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 vĩ đại: Lật đổ ách thống trị của đế quốc và phong kiến lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Châu Á, mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội.

Sau thắng lợi của cách mạng tháng Tám, các đảng bộ, chi bộ ở tỉnh Quảng Trị còn rất non trẻ, thực hiện chức năng lãnh đạo công cuộc xây dựng một chế độ mới trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nhưng tình hình trong nước, địa bàn Liên khu 4, tỉnh Quảng Trị lúc bấy giờ, đặt ra cho đảng bộ, quân và dân Quảng Trị một tình thế hết sức hiểm nghèo. Ngoài giặc đói, giặc dốt là những hậu quả tai hại của chế độ cũ để lại, bọn đế quốc, thực dân các loại từ nhiều phía lăm le xâm lược nước ta. Âm mưu cơ bản của chúng là cấu kết với các thế lực phản động trong nước nhằm lật đổ chính quyền cách mạng đang còn trong trứng nước, đặt lại ách đô hộ trên đầu nhân dân ta một lần nữa.

Và rồi cuộc kháng chiến toàn quốc đã nổ ra đêm 19 tháng 12 năm 1946 sau hơn một năm Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ ra đời.

Hưởng ứng lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu; chấp hành mệnh lệnh của Bộ tổng chỉ huy, lực lượng vũ trang Quảng Trị đã chủ động, đối phó, xây dựng các tuyến phòng thủ từ tỉnh đến xã sẵn sàng đánh địch.

Từ đó suốt 9 năm trường kỳ kháng chiến, đảng bộ, nhân dân và lực lượng vũ trang Quảng Trị trong những hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, gian khổ của một chiến trường đã bị chia cắt, một chiến trường phối hợp mà 4 mặt đều có kẻ thù bao vây, quân và dân Quảng Trị với tinh thần quyết chiến, quyết thắng, tự lực tự cường, vừa kháng chiến vừa kiến quốc, vừa chiến đấu vừa sản xuất, đã phát động chiến tranh toàn dân, toàn diện, lâu dài và gian khổ, từng bước đánh bại âm mưu “bình định” và thủ đoạn “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh dùng người Việt đánh người Việt” của địch.

Giải đất hẹp Quảng Trị sớm bị thực dân đánh chiếm ngay từ đầu cuộc chiến tranh khi lực lượng ta còn non yếu về mọi mặt; đây cũng là nơi địch tập trung nhiều lực lượng, áp dụng nhiều thủ đoạn đánh phá hết sức tàn bạo và thâm độc.

Vượt qua mọi khó khăn gian khổ và hy sinh xương máu, quân và dân Quảng Trị đoàn kết keo sơn, vững chí bền gan, ra sức khôi phục lại thế và lực, càng đánh càng mạnh, càng đánh càng trưởng thành. Từ những đội du kích tự vệ nhỏ bé, trong cách mạng tháng Tám hỗ trợ cho quần chúng cướp chính quyền đã tiến lên xây dựng, được ba thứ quân, xây dựng được thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp cả rừng núi, đồng bằng và đô thị. Ba thứ quân ấy, (Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích) không ngừng được củng cố, xây dựng, ngày càng phát triển cả về chất lượng và số lượng, đảm đương được những trận đánh du kích nhỏ lẻ, tiến lên những trận đánh tập trung quy mô cấp tiểu đoàn, trung đoàn; kết hợp được tác chiến du kích với tác chiến tập trung đạt hiệu suất chiến đấu ngày càng cao; vừa chủ động đánh địch trong chiến trường địa phương của mình, vừa tích cực phối hợp đánh địch có hiệu quả trong kế hoạch tác chiến chung của cả nước và chiến trường bạn Lào.

Cùng với sự trưởng thành nhanh chóng của bộ đội chủ lực, lực lượng bộ đội địa phương tỉnh, huyện và dân quân du kích cũng có những tiến bộ vượt bậc. Trong suốt cuộc kháng chiến, ba lực lượng này đã hiệp đồng tác chiến chặt chẽ với nhau trong hầu hết các trận chiến đấu và chiến dịch quy mô nhỏ, vừa, đến lớn trong tất cả các loại hình chiến thuật: mật tập, phục kích, vận động chiến, công đồn đều giành được thắng lợi. Phát triển cao hơn một bước khi bộ đội chủ lực phải tác chiến ở chiến trường xa, thì bộ đội địa phương của tỉnh và huyện cùng lực lượng dân quân du kích hùng hậu vẫn đảm đương được nhiệm vụ bảo vệ quê hương, Nhiều trận tác chiến độc lập của bộ đội địa phương và dân quân du kích của tất cả các huyện, thị trong 3 năm cuối của cuộc kháng chiến đã thu được thắng lợi rực rỡ làm cho quân địch vô cùng khiếp sợ.

Trong quá trình chỉ đạo chiến tranh và thực hành chiến đấu, quân và dân Quảng Trị đã tập trung lực lượng chống phá thắng lợi hàng trăm trận càn quét của địch quy mô lớn nhỏ khác nhau vào bất kỳ thời điểm nào. Ngoài việc bẻ gãy các cuộc càn quét của địch tiêu diệt được một bộ phận sinh lực địch và phương tiện chiến tranh của chúng, quân và dân Quảng Trị đã bảo vệ được an toàn các chiến khu và tiền chiến khu, các căn cứ địa kháng chiến, các căn cứ du kích và đại đa số nhân dân mở rộng vùng giải phóng và khu du kích. Đặc biệt bẻ gãy các cuộc càn quét của địch, lực lượng vũ trang Quảng Trị đã bảo vệ được mùa, bảo vệ được thóc gạo không để cho địch cướp phá - là một kỳ công của quân dân ta trong kháng chiến. Trong lúc quân thù không từ một thủ đoạn dã man tàn bạo nào để cướp phá thóc gạo bắn giết trâu bò, tàn phá mùa màng nhưng ta đã mưu trí và anh dũng bảo vệ mùa màng thắng lợi một vấn đề sống còn của kháng chiến ở một chiến trường xa sự chi viện của Trung ương, có thể nói đây là một đặc thù của chiến trường Quảng Trị. Nhờ nhận rõ đặc thù này mà ta có những dối sách thích hợp bảo đảm thắng lợi trong nhiều hoàn cảnh hiểm nghèo.

Một vấn đề xuyên suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược là quân và dân Quảng Trị đã khéo kết hợp nhuần nhuyễn giữa đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, kinh tế, binh địch vận bằng tất cả các hình thức linh hoạt phong phú, thực hiện tốt khẩu hiệu: “Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến”, do đó đã tạo thành sức mạnh tổng hợp trong thế trận chiến tranh nhân dân đánh thắng một kẻ thù mạnh hơn nhiều lần.

Thấm nhuần tinh thần quốc tế vô sản cao cả, quân và dân Quảng Trị không từ một gian khổ hy sinh nào đã giúp đỡ và phối hợp chặt chẽ với quân và dân tỉnh Savằnakhệt - Người bạn láng giềng tin cậy, tổ chức và xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, phát triển chiến tranh du kích trên cơ sở liên minh chiến đấu, liên hoàn thế trận, liên kết hậu phương, góp phần tích cực xây đắp tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt Việt - Lào.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lâu dài và gian khổ đã kết thúc thắng lợi vẻ vang. Bằng ý chí quyết tâm nghị lực và xương máu của mình, quân và dân Quảng Trị đã góp phần xứng đáng làm nên thắng lợi kỳ diệu đó.

Thắng lợi đó bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn sáng suốt và tài tình của Đảng, của Bác Hồ, sự chỉ đạo, chỉ huy của Bộ quốc phòng, Bộ Chỉ huy Liên khu 4, Bộ Chỉ huy Phân khu Bình-Trị-Thiên; sự động viên cổ vũ và giúp đỡ chí tình của quân và dân các tỉnh Thừa Thiên, Quảng Bình, Thanh-Nghệ-Tĩnh. Là thắng lợi của tình đoàn kết chiến đấu với quân và dân tỉnh Savằnnakhệt (Lào) cùng chống kẻ thù chung.

Thắng lợi đó cũng bắt nguồn từ sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Quảng Trị đã quán triệt sâu sắc đường lối kháng chiến của Đảng, vận dụng đúng đắn phương châm công tác trong từng giai đoạn, từng thời kỳ trên từng địa phương. Tỉnh ủy cùng các cấp ủy địa phương nắm vững quan điểm chiến tranh nhân dân của Đảng, không ngừng chăm lo xây dựng, củng cố và mở rộng mặt trận đoàn kết thống nhất toàn dân, kiên trì giáo dục và tổ chức quần chúng, lấy việc giác ngộ tập hợp quần chúng, xây dựng thực lực cách mạng làm trung tâm. Trên cơ sở đó mà tổ chức xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, khéo léo kết hợp giữa đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, giữa hai nhiệm vụ “phản đế và phản phong”, giữa “kháng chiến và kiến quốc” bằng nhiều hình thức và quy mô thích hợp. Do đó đã xây dựng được cơ sở vững chắc trong nông dân, công nhân lao động thành phố, thị xã, trong vùng tạm bị chiếm cũng như trong vùng tự do, tập hợp rộng rãi mọi lực lượng yêu nước tiến bộ trong thanh niên, phụ nữ, phụ lão, học sinh... tự nguyện tham gia kháng chiến kiến quốc.

Nhân dân Quảng Trị vốn có truyền thống yêu nước, và đấu tranh kiên cường bất khuất dưới sự lãnh đạo của Đảng, với ý thức giác ngộ sâu sắc, đã chấp nhận mọi gian khổ hy sinh, kiên quyết đứng lên bảo vệ nền độc lập tự do, kiên quyết kháng chiến. Suốt 9 năm trường gian khổ và ác liệt, nhân dân Quảng Trị đã làm hết sức mình cùng đánh giặc với lực lượng vũ trang, cưu mang, đùm bọc lực lượng vũ trang trong tình “cá nước”. Đây là một nhân tố quan trọng tạo nên thắng lợi vẻ vang của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến.

Từ nhân dân mà ra, được nhân dân nuôi dưỡng, đùm bọc, lực lượng vũ trang đã không ngừng được xây dựng và trưởng thành làm tròn nhiệm vụ nòng cốt trong chiến tranh nhân dân ở địa phương.

Trải qua 9 năm kháng chiến biết bao gian lao thử thách có lúc rất gay go, quyết liệt, tưởng chừng như không vượt qua được, song cán bộ chiến sĩ lực lượng vũ trang vẫn giữ vững bản lĩnh chính trị, bản lĩnh chiến đấu, gương mẫu chịu đựng mọi gian khổ, khó khăn, kiên trì bám đất, bám dân ngày đêm lăn lộn xây dựng và chiến đấu, củng cố cơ sở chính trị và lực lượng vũ trang, tổ chức chính quyền, tiến hành chiến tranh du kích, giết giặc phá tề, trừ gian, đánh phá âm mưu bình định của địch, bảo vệ nhân dân, bảo vệ sản xuất, tham gia xây dựng kinh tế, củng cố hậu phương, sẵn sàng đi chiến đấu trên mọi chiến trường, tô đậm thêm trang sử đấu tranh oanh liệt của quân và dân Quảng Trị.

Trong cuộc chiến đấu gian khổ đó, có nhiều cán bộ, chiến sĩ ưu tú của lực lượng vũ trang đã hy sinh anh dũng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng quê hương, để lại cho hậu thế những tấm gương sáng về tinh thần xả thân vì nước.

Ý chí chiến đấu kiên cường, tinh thần chiến đấu dũng cảm mưu trí, hy sinh cao cả của lực lượng vũ trang là một trong những nhân tố quyết định làm nên thắng lợi.


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Bảy, 2020, 03:31:33 pm
*
*   *

Qua chín năm trường kỳ kháng chiến, đáp lời kêu gọi cứu nước thiêng liêng của Hồ Chủ tịch: “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, quân và dân Quảng Trị đã đoàn kết một lòng chung quanh Ban chấp hành Tỉnh ủy phát huy cao độ tinh thần yêu nước, dám chấp nhận mọi hy sinh gian khổ, dốc sức người, sức của cho cuộc kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng.

Từ trong thực tiễn sinh động và phong phú của cuộc chiến tranh nhân dân ở Quảng Trị có thế rút ra một số bài học sau đây:
 
1. Thực sự phát động được cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, tạo thành sức mạnh tổng hợp to lớn nhất để chiến thắng quân thù:

Quảng Trị vốn là một chiến trường nhỏ, hẹp lại có vị trí chiến lược quan trọng, có đường số 1 xuyên Bắc Nam, có hành lang nối liền ba nước Đông Dương. Vì vậy, suốt 9 năm kháng chiến, nơi đây diễn ra cuộc đụng độ gay gắt giữa âm mưu, thủ đoạn nham hiểm, tàn bạo của thực dân Pháp với ý chí quyết tâm kháng chiến của đảng bộ và nhân dân Quảng Trị.

Do những thủ đoạn tàn bạo và xảo quyệt của thực dân Pháp, phong trào kháng chiến có nơi, có lúc gặp những khó khăn lớn và những tổn thất nặng nề, nhưng cũng chính từ trong gian khổ ác liệt đó, đảng bộ, nhân dân và các lực lượng vũ trang tỉnh thể hiện đầy đủ bản chất cách mạng kiên cường, trí tuệ và mưu lược dày dạn hơn. Đội ngũ cán bộ đảng viên và chiến sĩ trong các lực lượng vũ trang đã trưởng thành trong gian khổ, khắc phục khó khăn, luôn luôn lạc quan, tin tưởng vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Bác Hồ kính yêu, luôn giữ vững và nêu cao khí tiết của người cộng sản, giữ vững và phát huy phẩm chất anh bộ đội Cụ Hồ.

Đứng trước một đối thủ mạnh hơn mình gấp bội, trong lúc lực lượng vũ trang ta còn non trẻ, trang bị thiếu thốn nhưng ta đã biết phát động các tầng lớp nhân dân trong tỉnh già, trẻ, gái, trai, người Kinh, người dân tộc đoàn kết một lòng cùng thi đua đánh giặc giữ bản làng. Những đơn vị lão dân quân ở Vĩnh Linh, tiểu đoàn bộ đội nữ của Trung đoàn 95, những cụ già, thiếu niên, phụ nữ các huyện Triệu Phong, Hải Lăng, Cam Lộ, các thợ thủ công, công nhân ở thị xã Quảng Trị, Đông Hà, các dân tộc Vân Kiều, Tà Ôi huyện Hướng Hóa đã tích cực tham gia đánh giặc bằng nhiều hình thức sáng tạo và phong phú. Càng trong những năm cuối cuộc chiến tranh, phong trào toàn dân đánh giặc càng được các cấp ủy địa phương quan tâm đặc biệt, đã được nhân lên phát triển rộng rãi khắp tỉnh khiến cho kẻ địch đi đến đâu cũng vấp phải sự kháng cự. Vào hai năm cuối của cuộc chiến tranh, giặc Pháp lợi dụng các đơn vị chủ lực của ta rút khỏi địa bàn Quảng Trị đi làm nhiệm vụ ở chiến trường khác liền hùng hổ mở các trận càn tiến công vào các căn cứ du kích, nhưng nhờ có phong trào toàn dân đánh giặc khá nên tất cả các trận càn đó đều bị bộ đội địa phương và dân quân du kích và nhân dân hiệp đồng chặt chẽ, thành một thế trận vững chắc, bẻ gảy, bảo vệ được vùng căn cứ, khu dụ kích, bảo vệ được nhân dân.

Quán triệt và vận dụng đường lối kháng chiến của Đảng, Quảng Trị đã thành công không những trong phát động được phong trào “Toàn dân kháng chiến” mà cả trong “Toàn diện kháng chiến”.

Ở một chiến trường địch hậu phải tranh chấp với địch từng người dân, từng thôn xóm, nhưng bất cứ lúc nào, ở địa phương nào quân và dân Quảng Trị cũng coi trọng việc đánh địch trên tất cả các mặt trận quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, tư tưởng...

Tuy liên tục bị thất bại nhưng thực dân Pháp kiên trì đeo đuổi thủ đoạn cướp phá mùa màng của nhân dân các huyện trọng điểm lúa. Mỗi năm hai vụ, cứ đến mùa thu hoạch, khắp nơi trong tỉnh, quân và dân lại khẩn trương chuẩn bị tư tưởng, lực lượng, dàn sẵn đội hình chiến đấu, kiên quyết bảo vệ bằng được nguồn lương thực sống còn cho kháng chiến. Do đó tuy giặc điên cuồng đánh phá nhưng trước sự đánh trả kiên cường của quân và dân Quảng Trị đã hạn chế đến mức thấp nhất về thiệt hại, làm phá sản mọi âm mưu, thủ đoạn cướp phá mùa của địch, Cũng trên mặt trận kinh tế ta đã dùng nhiều biện pháp để vô hiệu hóa đồng bạc Đông Dương mà địch sử dụng ở vùng chúng kiểm soát, phát hành rộng rãi bạc tài chính Việt Nam ở vùng ta kiểm soát, giặc Pháp tung hàng ngoại xa xỉ phẩm ta mở chiến dịch bài trừ hàng ngoại, nêu khẩu hiệu “Dùng hàng nội hóa là yêu nước”. Tại những vùng ta kiểm soát mở nhiều chợ để nhân dân mua bán thuận tiện. Tại những chợ trong vùng địch ta vận động bãi thị làm cho địch không mua được thóc gạo, thực phẩm...

Trên mặt trận đấu tranh chính trị, văn hóa, tư tưởng... quân và dân Quảng Trị cũng có nhiều cố gắng trong việc vạch trần bản chất phi nghĩa, phi nhân đạo của quân đội thực dân Pháp, làm thức tỉnh nhiều binh sĩ Pháp và ngụy phần chiến và bỏ hàng ngũ trở về với cách mạng. Nhiều hàng binh Pháp và chư hầu đã sát cánh chiến đấu cùng với bộ đội ta, góp phần tích cực trong kháng chiến. Để nâng cao dân trí trong hoàn cảnh thiếu thốn trăm bề ta vẫn mở được các trường tiểu học, trung học, bổ túc văn hóa, thu hút hàng ngàn con em và nhân dân lao động đi học. Hàng chục cuộc biểu tình của quần chúng tẩy chay chính quyền bù nhìn, hàng chục tấn sách báo của địch bị ta đốt phá... Tất cả những việc làm đỏ đã góp phần cùng với đấu tranh quân sự làm nên thắng lợi.

Phát động được phong trào toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến, giữ vững và phát huy phong trào đó trong suốt cuộc kháng chiến, quân và dân Quảng Trị đã tạo nên được sức mạnh tổng hợp to lớn chiến đấu và chiến thắng quân thù.


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Bảy, 2020, 03:32:51 pm
2. Kiên cường bám đất, bám dân, bám cơ sở, xây dựng gìn giữ và phát triển phong trào kháng chiến:

Trong những ngày đầu cuộc chiến tranh, trước sức tấn công ồ ạt của địch tưởng chừng lực lượng ta bị đánh bật lên núi hết, toàn bộ khu vực đồng bằng, thị xã giặc sẽ bình định một cách dễ dàng. Nhưng thực tế chiến trường lại diễn ra khác hẳn. Sau khi tạm thời rút lên miền rừng núi tránh chỗ mạnh của giặc, Quảng Trị chỉ để lại một lực lượng cần thiết để xây dựng chiến khu trở thành cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến còn đại bộ phận khẩn trương về đồng bằng phân tán trong dân vừa để đánh địch vừa để bảo vệ dân, bảo vệ đất. Chính nhờ chủ trương đúng đắn này mà trước thế mạnh của địch ở vùng đồng bằng đông dân ta vẫn xây dựng được các căn cứ Chợ Cạn, căn cứ du kích Vĩnh Hoàng, Thủy Ba, Hải Đạo và một loạt căn cứ tiền chiến khu tồn tại suốt cuộc kháng chiến, địch nhiều lần đánh phá nhưng không làm gì được. Và từ những căn cứ có tính điển hình đó dần dần được phát triển ra chung quanh, có nơi vào sát đồn bốt địch. Vì vậy, thế giặc tuy mạnh nhưng chủ yếu chúng cũng chỉ chiếm được 2 thị xã và các trục đường giao thông quan trọng, còn hầu hết vùng đồng bằng đông người nhiều của thuộc về ta.

Giành được đất là giữ được dân, giữ được dân là giữ được phong trào kháng chiến. Âm mưu cơ bản của địch muốn dập tắt phong trào kháng chiến là chiếm đất, tiêu diệt cơ sở, đánh bật cán bộ, đảng viên, bộ đội lên núi để lập hội tề nhưng quân và dân Quảng Trị kiên cường bám đất, bám dân nên không những, không bật lên núi mà lúc nào cũng kề sát nách địch, sẵn sàng đối phó nhanh nhất mọi âm mưu thủ đoạn của chúng.

Trong loại hình chiến tranh giải phóng, vấn đề giữ đất giành dân rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định, vận dụng đúng đắn và sáng tạo đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng, quân và dân Quảng Trị sớm nhận thức được vấn đề này nên đã tập trung sự lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy từng bước khắc phục những sai lầm, liên tục chiến đấu giành giật với địch bám đất, bám dân, bám cơ sở, bám phong trào nên trong trường hợp nào cũng chủ động đánh địch. Vào lúc tình hình tương đối thuận lợi, Bộ chỉ huy Phân khu chỉ thị cho lực lượng vũ trang toàn Phân khu “hạ sơn” thì lúc này lực lượng vũ trang Quảng Trị vốn đã bám trong dân từ trước nên không phải mất thời gian di chuyển đội hình đã chủ động đánh địch được ngay trong lúc lực lượng vũ trang các tỉnh bạn đang triển khai chấp hành chỉ thị.

Vấn đề bám đất, bám dân là một nét nổi, một bài học quý mà quân và dân Quảng Trị đã thu hoạch được trong kháng chiến chống Pháp và sẽ còn nguyên giá trị trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.

3. Tập trung sự lãnh đạo của các cấp không ngừng chăm lo xây dựng, củng cố, kiện toàn và phát triển lực lượng vũ trang nhân dân địa phương, đáp ứng từng bước sự phát triển của cuộc kháng chiến.

Trong quá trình lãnh đạo và chỉ đạo kháng chiến, đảng bộ Quảng Trị đã đầu tư thích đáng việc xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang, công cụ bạo lực của Đảng, nòng cốt của chiến tranh nhân dân địa phương.

Ra đời từ trong cao trào cách mạng tháng Tám năm 1945, lúc đầu lực lượng vũ trang cách mạng của tỉnh còn rất non trẻ, vũ khí thô sơ đã phải đương đầu với một đội quân nhà nghề thiện chiến, trang bị hiện đại, tưởng chừng đội quân nhà nghề ấy dễ dàng đè bẹp lực lượng vũ trang non trẻ của ta nhưng ngược lại, lực lượng vũ trang cách mạng vẫn tồn tại, ngày càng phát triển và đã chiến thắng đội quân nhà nghề. Dĩ nhiên lực lượng vũ trang ta tuy yếu nhưng có chính nghĩa, còn quân xâm lược Pháp tuy mạnh nhưng phi nghĩa. Đó là yếu tố quyết định làm nên sức mạnh, song nếu các cấp ủy không thường xuyên chăm lo, giáo dục, bồi dưỡng, xây dựng lực lượng vũ trang về mọi mặt thì đội quân ấy dù có chính nghĩa vẫn không thể mạnh được. Quy luật “Mạnh thắng, yếu thua” sẽ quyết định thành bại của mọi loại hình chiến tranh.

Trong những ngày đầu kháng chiến, giặc ở thế áp đảo, hùng hổ tiến quân chiếm hết vùng này đến vùng khác; lực lượng vũ trang tỉnh bị tổn thất lớn.

Trước tình hình đó, chấp hành chỉ thị của Liên khu ủy, tỉnh đã chuyển phương thức hoạt động tác chiến đối với bộ đội chủ lực “Đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung”, thực hiện được việc cài cắm các đơn vị nhỏ bộ đội chủ lực trong dân làm chỗ dựa và dìu dắt bộ đội địa phương và dân quân du kích, hỗ trợ cho toàn dân đánh giặc. Hình thức hoạt động mới này phù hợp với tình hình đặc điểm của chiến trường Quảng Trị và tương quan lực lượng địch, ta lúc bấy giờ. Do đó ta tránh được chỗ mạnh của địch, chọn chỗ sơ hở, chỗ yếu của địch để đánh, hạn chế được tổn thất, bảo toàn được lực lượng. Trong khi đó chú trọng đúng mức củng cố, phát triển các đơn vị bộ đội địa phương tỉnh, huyện và dân quân du kích thôn, xã. Ngoài trung đoàn 95 Quảng Trị đã xây dựng được một tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh. Các huyện, thị xã, mỗi nơi đều xây dựng được một đại đội hoặc trung đội. Ở các xã thôn có lực lượng dân quân du kích đông đảo hoạt động rộng khắp cả ở tiền tuyến, trong lòng địch, cả ở hậu phương và căn cứ mà nòng cốt là các đơn vị du kích chiến đấu.

Có được lực lượng, chọn cho lực lượng đó một phương thức tác chiến thích hợp là cả một vấn đề của nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh vừa chiến thắng được địch, vừa phát triển được lực lượng. Đối với chiến trường Quảng Trị trong giai đoạn 1947-1950 chọn phương thức tác chiến “Du kích chiến là chính” là thích hợp với trình độ tác chiến của lực lượng vũ trang lúc bấy giờ; Sau này khi lực lượng và trình độ tác chiến đã tiến bộ một bước phát triển lên “vận động chiến” quy mô từ cấp đại đội lên tiểu đoàn, trung đoàn trong một chiến dịch dài ngày, tiêu diệt từng bộ phận đơn vị quân địch, là phương thức khả thi, hiệu quả lớn.

Trong xây dựng lực lượng vũ trang các cấp ủy tỉnh, huyện rất quan tâm xây dựng cơ quan tỉnh đội, huyện đội, xã đội trở thành những cơ quan tham mưu đắc lực cho các cấp ủy và chính quyền địa phương về chỉ đạo chiến tranh và chỉ huy tác chiến. Các cơ quan này được tuyển chọn những cán bộ, đảng viên kiên trung nhất, có năng lực khá về công tác tổ chức và chỉ huy tác chiến, thường xuyên được bồi dưỡng về trình độ quân sự, chính trị, nghiệp vụ thực sự là chỗ dựa tin cậy của các cấp ủy.

Với sức mạnh tổng hợp của ba thứ quân làm nòng cốt trong chiến tranh nhân dân, Quảng Trị đã tổ chức được cuộc kháng chiến trên địa bàn mình phát triển từ thấp lên cao, giành thắng lợi từ nhỏ đến lớn. Quân và dân Quảng Trị đã thực hiện thắng lợi nhiệm vụ từ một chiến trường chiến tranh du kích với vận động chiến và là một chiến trường phối hợp với chiến trường chính Bắc bộ và chiến cuộc cả nước. Và khi các đơn vị chủ lực rút đi xây dựng các đại đoàn trở thành quân chủ lực cơ động của Bộ Tổng tham mưu thì bộ đội địa phương và dân quân du kích vẫn độc lập, đảm đương được nhiệm vụ. Đó là kết quả của một quá trình ra sức chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang của các cấp ủy, là sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo đường lối, quan điểm xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng của Đảng ta.

*
*   *

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lâu dài, gian khổ ác liệt đã kết thúc thắng lợi vẻ vang. Quân và dân Quảng Trị đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc.

Từ thực tiễn phong phú và sinh động của cuộc kháng chiến quân và dân Quảng Trị đã đúc kết được những kinh nghiệm quý báu, những bài học bổ ích được vận dụng vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước tiếp tục giành thắng lợi to lớn hơn, góp phần cùng quân và dân cả nước “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào” giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Bảy, 2020, 03:36:04 pm
(https://i.imgur.com/ajT8k83.jpg)

DIỄN BIẾN TRẬN PHỤC KÍCH NHƯ SƠN - BẾN ĐÁ CỦA dBB27 (NGÀY 24/10/1950)

(https://i.imgur.com/jsHL7RD.jpg)

SƠ ĐỒ DIỄN BIẾN TRẬN NAM ĐÔNG - ĐƯỜNG 74


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Bảy, 2020, 03:40:15 pm
(https://i.imgur.com/guMcmVY.jpg)

Thung lũng Ba Lòng căn cứ địa kháng chiến của tỉnh Quảng Trị và phân khu Bình Trị Thiên

(https://i.imgur.com/bHsY3ay.jpg)

Hội nghị quân dân chính Đảng tại chiến khu Ba Lòng bàn về chuyển giai đoạn kháng chiến

(https://i.imgur.com/DfflE9j.jpg)

Bộ đội hành quân chiến đấu trên rừng núi
(Tà Ôi, Bạc) tháng 8-1948

(https://i.imgur.com/eQIskRv.jpg)

Hội nghị địch vận năm 1950


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Bảy, 2020, 03:45:15 pm
(https://i.imgur.com/KWNjAD8.jpg)

Họp mặt cán bộ, chiến sĩ Quảng Trị tại thành phố Vinh (1954) để đấu tranh
đòi thống nhất nước nhà theo Hiệp định Giơnevơ

(https://i.imgur.com/Izn2cZJ.jpg)

Đội phẫu thuật lưu động của quân y E95
tận tình cứu chữa cho hàng ngàn thương bệnh binh

(https://i.imgur.com/9w8JSU5.jpg)

Bộ đội Quảng Trị đánh chiếm xe địch trên đường số 9 (1949)

(https://i.imgur.com/dWrZFVX.jpg)

Đôi bạn con cháu 2 cụ voi bộ đội Quảng Trị được Huân chương chống Pháp


Tiêu đề: Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Bảy, 2020, 03:50:12 pm
(https://i.imgur.com/zkMCXum.jpg)

Các cựu chiến binh tỉnh đội Quảng Trị trong kháng chiến chống Pháp
hiện nghỉ hưu tại thành phố Hồ Chí Minh

(https://i.imgur.com/cquHY3C.jpg)

Thường vụ Tỉnh ủy thông qua lần cuối bản thảo "Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược"

(https://i.imgur.com/dFLz4gi.jpg)

Hội thảo về lịch sử kháng chiến chống Pháp của bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Trị

(https://i.imgur.com/N999Lb3.jpg)

Các đồng chí tham gia hội thảo lịch sử kháng chiến chống Pháp của BCH quân sự tỉnh Quảng Trị