Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: hoi_ls trong 09 Tháng Năm, 2020, 04:04:19 pm



Tiêu đề: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết định
Gửi bởi: hoi_ls trong 09 Tháng Năm, 2020, 04:04:19 pm
(http://tulieuvankien.dangcongsan.vn/Uploads/2018/9/8/7/bia%20tong%20tien%20cong%2068.jpg)


CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968 - BƯỚC NGOẶT QUYẾT ĐỊNH VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ

Nhà xuất bản: Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm xuất bản: 2017

Nguồn: dangcongsan.vn





BAN CHỈ ĐẠO

Thượng tướng LÊ CHIÊM   Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Trưởng ban

LÂM PHƯƠNG THANH   Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương - Đồng Trưởng ban

TẤT THÀNH CANG   Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh - Đồng Trưởng ban

Thượng tướng NGUYỄN TRỌNG NGHĨA   Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam - Phó Trưởng ban

Trung tướng VÕ MINH LƯƠNG   Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân khu 7 - Phó Trưởng ban

Thiếu tướng NGUYỄN HOÀNG NHIÊN   Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam - Phó Trưởng ban

THÂN THỊ THƯ   Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh - Phó Trưởng ban

NGUYỄN THỊ THU   Thành ủy viên, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh - Ủy viên

Thiếu tướng NGUYỄN VĂN BỔNG   Chánh Văn phòng Bộ Quốc phòng - Ủy viên

Thiếu tướng HỒ BÁ VINH   Phó Cục trưởng Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị - Ủy viên

Thiếu tướng LƯU SỸ QUÝ   Cục trưởng Cục Tài chính, Bộ Quốc phòng - Ủy viên

Thiếu tướng NGUYỄN NGỌC LƯỢNG   Cục trưởng Cục Hậu cần, Bộ Tổng Tham mưu - Ủy viên

Thiếu tướng TRƯƠNG VĂN HAI   Tư lệnh Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh - Ủy viên

NGUYỄN THỊ THU HÀ    Vụ trưởng Vụ Tuyên truyền, Ban Tuyên giáo Trung ương - Ủy viên

THÁI THỊ BÍCH LIÊN   Thành ủy viên, Chánh Văn phòng Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh - Ủy viên

VÕ VĂN HOAN   Thành ủy viên, Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh - Ủy viên

Đại tá TRƯƠNG MAI HƯƠNG   Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam - Ủy viên



BAN TỔ CHỨC

Thiếu tướng NGUYỄN XUÂN NGHỊ   Phó Chánh Văn phòng Bộ Quốc phòng - Trưởng ban

NGUYỄN THỊ THU   Thành ủy viên, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh - Đồng Trưởng ban

Thiếu tướng LÊ BỬU TUẤN   Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân khu 7 - Phó Trưởng ban

DƯƠNG THẾ TRUNG   Phó Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh - Phó Trưởng ban

ĐỖ QUANG LƯU   Phó Chánh Văn phòng Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh - Phó Trưởng ban

NGUYỄN THANH TÙNG   Phó Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh - Phó Trưởng ban

Đại tá DƯƠNG HỒNG ANH   Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam - Phó Trưởng ban

Thiếu tướng DƯƠNG ĐỨC THIỆN   Cục trưởng Cục Bảo vệ, Tổng cục Chính trị - Ủy viên

Đại tá LÂM VĂN YÊN   Phó Cục trưởng Cục Hậu cần, Bộ Tổng Tham mưu - Ủy viên

Đại tá THÂN VĂN LONG   Văn phòng Bộ Quốc phòng - Ủy viên

Đại tá NGUYỄN VĂN LƯỢNG   Trưởng phòng Quản lý khoa học, Viện Lịch sử quân sự Việt  Nam - Ủy viên

Đại tá VŨ NGỌC THẮNG   Chánh Văn phòng Quân khu 7 - Ủy viên

Thượng tá NGUYỄN THANH PHONG   Chánh Văn phòng Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh - Ủy viên

Đại tá LÊ HỒNG ĐIỆP   Trưởng phòng Khoa học quân sự, Quân khu 7 - Ủy viên

Thượng tá PHẠM VĂN NĂM   Trưởng phòng Tài chính, Bộ Tổng Tham mưu - Ủy viên

Trung tá NGUYỄN NGỌC TÙNG   Trưởng phòng Chính trị - Hành chính, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Ủy viên



 

BAN NỘI DUNG

Thiếu tướng, TS. NGUYỄN HOÀNG NHIÊN   Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam - Trưởng ban

Trung tướng, ThS. PHẠM VĂN DỸ   Chính ủy Bộ Tư lệnh Quân khu 7 - Phó Trưởng ban

Thiếu tướng NGUYỄN PHƯƠNG DIỆN   Nguyên Phó Cục trưởng Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị - Phó Trưởng ban

Đại tá, TS. TRƯƠNG MAI HƯƠNG   Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam - Phó Trưởng ban

Đại tá, TS. NGUYỄN VĂN LƯỢNG   Trưởng phòng Quản lý khoa học, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam - Ủy viên

Đại tá, PGS.TS. NGUYỄN HUY THỤC   Nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam - Ủy viên

Đại tá, TS. ĐỖ NGỌC TUYÊN   Nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử Tư tưởng quân sự, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam - Ủy viên

Đại tá, TS. LÊ ĐỨC HẠNH   Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử quân sự thế giới, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam - Ủy viên

ĐINH THỊ MAI   Phó Vụ trưởng Vụ Tuyên truyền, Ban Tuyên giáo Trung ương - Ủy viên

DƯƠNG THẾ TRUNG   Phó Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh - Ủy viên

NGUYỄN VÕ CƯỜNG    Trưởng phòng Nghiên cứu Lịch sử Đảng, Ban Tuyên giáo Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh - Ủy viên

Trung tá LÊ QUANG LẠNG   Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam - Ủy viên



TỔ CHỨC THỰC HIỆN

BAN TUYÊN GIÁO TRUNG ƯƠNG
THÀNH ỦY THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VIỆN LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 09 Tháng Năm, 2020, 04:07:31 pm
LỜI NHÀ XUẤT BẢN


Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là một sự kiện lịch sử trọng đại, một dấu mốc quan trọng, mở ra bước ngoặt căn bản của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc.

Trước nguy cơ phá sản của chiến lược "chiến tranh đặc biệt", cuối năm 1965, đế quốc Mỹ buộc phải chuyển sang chiến lược "chiến tranh cục bộ", ồ ạt đưa quân Mỹ và quân đội các nước đồng minh của Mỹ trực tiếp tham chiến ở miền Nam, đồng thời dùng không quân và hải quân đánh phá ác liệt miền Bắc, hòng ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc đối với cách mạng miền Nam, làm lung lay quyết tâm chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta. Song, sau ba năm trực tiếp tham chiến ở Việt Nam, với hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 và 1966-1967, quân Mỹ và đồng minh vẫn không tiêu diệt được Quân giải phóng và bình định được miền Nam, mà còn làm cho nước Mỹ ngày càng sa lầy vào "đường hầm không có lối thoát".

Để chuyển cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam sang một thời kỳ mới, giành thắng lợi quyết định, làm thay đổi cục diện chiến tranh, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định động viên nỗ lực cao nhất của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ở cả hai miền Nam - Bắc đánh thẳng vào các đô thị, các cơ quan đầu não, trung tâm chính trị, quân sự, hậu cần của địch bằng phương pháp tổng công kích, tổng khởi nghĩa.

Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, đêm 30 rạng ngày 31-12-1968, quân và dân ta đã mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy vào hầu hết các thành phố, thị xã, căn cứ quân sự… trên toàn miền Nam, đặc biệt là Sài Gòn - trung tâm đầu não chính trị, quân sự của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Mặc dù bị tổn thất lớn, nhưng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đã giáng cho địch một đòn chí tử, làm chấn động nước Mỹ, đảo lộn thế chiến lược của địch trên chiến trường. Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã tạo ra bước ngoặt quyết định của cuộc kháng chiến, làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán với ta ở Hội nghị Pari, đơn phương ngừng ném bom không điều kiện miền Bắc, từng bước "phi Mỹ hóa" chiến tranh, rút quân về nước.

Nhân kỷ niệm 50 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, Bộ Quốc phòng phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương, Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo khoa học "Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 - Bước ngoặt quyết định và bài học lịch sử".

Trên cơ sở các bài viết tham gia Hội thảo, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản cuốn sách Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 - Bước ngoặt quyết định và bài học lịch sử. Cuốn sách gồm ba phần:

Phần thứ nhất: Những vấn đề chung.

Phần thứ hai: Tổng tiến công và nổi dậy Xuân  1968 - Ý chí và sức mạnh Việt Nam.

Phần thứ ba: Giá trị lịch sử và hiện thực.

Nội dung cuốn sách phản ánh một cách tương đối toàn diện và có hệ thống quá trình chuẩn bị và tiến hành  cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, khẳng định chủ trương đúng đắn, sáng tạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cũng như ý nghĩa to lớn, những bài học kinh nghiệm quý báu của sự kiện lịch sử trọng đại này.

Tuy các tác giả, Ban Tổ chức Hội thảo và Nhà xuất bản đã rất cố gắng, nhưng cuốn sách khó tránh khỏi thiếu sót. Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của bạn đọc.

Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.

Tháng 12 năm 2017

   NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 09 Tháng Năm, 2020, 04:11:42 pm
PHÁT BIỂU KHAI MẠC HỘI THẢO KHOA HỌC
"CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968
BƯỚC NGOẶT QUYẾT ĐỊNH VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ
"



Thượng tướng LÊ CHIÊM*



- Kính thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Bộ Quốc phòng;
- Kính thưa các đồng chí lão thành cách mạng, tướng lĩnh, sĩ quan;
- Kính thưa các đồng chí lãnh đạo Thành ủy, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân Thành phố
Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành phố;
- Thưa các nhà khoa học cùng toàn thể quý vị đại biểu!


Thực hiện Kết luận của Ban Bí thư Trung ương Đảng và ý kiến chỉ đạo của đồng chí Đại tướng Ngô Xuân Lịch, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về việc tổ chức kỷ niệm một số ngày lễ lớn và sự kiện lịch sử quan trọng trong hai năm (2017-2018); hôm nay, tại Thành phố Hồ Chí Minh - nơi 50 năm trước đây là trọng điểm của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, Bộ Quốc phòng phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương và Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo khoa học cấp Quốc gia với chủ đề: "Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 - Bước ngoặt quyết định và bài học lịch sử".

Thay mặt Ban Chỉ đạo, tôi nhiệt liệt chào mừng các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội, các quý vị đại biểu, khách quý cùng toàn thể các đồng chí về dự Hội thảo khoa học quan trọng này. Chúc các đồng chí mạnh khỏe, hạnh phúc và thành đạt; chúc Hội thảo thành công tốt đẹp.

Thưa các đồng chí!

Cách đây tròn 50 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn dân, toàn quân ta với quyết tâm sắt đá, bằng trí thông minh, sáng tạo, lòng quả cảm, bản lĩnh kiên cường của con người Việt Nam đã anh dũng chiến đấu, giành thắng lợi to lớn trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, tạo ra bước ngoặt chiến lược, có ý nghĩa quyết định trong toàn bộ sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc, để lại những bài học lịch sử quý giá.

Cùng với thời gian, thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 ngày càng được khẳng định, trở thành biểu tượng của ý chí quyết chiến, quyết thắng, khí phách quật cường và khát vọng hòa bình, độc lập của toàn thể dân tộc; thể hiện nghệ thuật chiến tranh cách mạng, sức sáng tạo vượt bậc của chiến tranh nhân dân Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.

 Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã làm đảo lộn về thế bố trí chiến lược trên chiến trường, làm phá sản chiến lược "chiến tranh cục bộ", làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, mở ra điều kiện và thời cơ cho những đòn tiến công tiếp theo mà đỉnh cao là Đại thắng mùa Xuân 1975, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Thông qua cuộc Hội thảo này, cùng với độ lùi của thời gian, với tầm nhìn mới, tư liệu mới, chúng ta tập trung luận giải sâu sắc hơn nữa về sự kiện lịch sử quan trọng này, đúc kết những bài học lịch sử quý báu để tiếp tục nghiên cứu, vận dụng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay và mai sau.

Thưa các đồng chí!

Cuộc Hội thảo khoa học lần này là một trong những hoạt động thiết thực kỷ niệm 50 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968; đồng thời góp phần tuyên truyền, giáo dục cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ phát huy truyền thống cách mạng, hun đúc tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, ý chí độc lập, tự chủ; tinh thần quật khởi, truyền thống đại đoàn kết toàn dân trong công cuộc đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Với tầm vóc và ý nghĩa đó, cuộc Hội thảo lần này nhằm khẳng định và làm sáng tỏ thêm một số vấn đề sau:

- Bối cảnh chung trong nước, quốc tế và khu vực có liên quan đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

- Chủ trương và quyết tâm chiến lược mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Quá trình chuẩn bị mọi mặt của quân và dân ta trên khắp chiến trường miền Nam; sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa đối với cách mạng Việt Nam.

- Diễn biến, kết quả cuộc Tổng tiến công và nổi dậy; hoạt động đối phó của Mỹ và chính quyền Sài Gòn.

- Sự phối hợp của quân và dân cả nước, hậu phương lớn miền Bắc, của các hướng, các mặt trận trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968; tinh thần chiến đấu hy sinh cao cả của quân và dân ta trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

- Những nhận định, đánh giá của quốc tế về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy; sự quan tâm ủng hộ của các chính phủ và nhân dân tiến bộ trên thế giới đối với cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam nói chung, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 nói riêng. Đồng thời, góp phần phản bác những luận điệu xuyên tạc, bóp méo lịch sử, phủ nhận giá trị của sự kiện Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

- Tầm vóc, ý nghĩa, bài học kinh nghiệm từ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, vận dụng vào giai đoạn sau của cuộc kháng chiến cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Trên tất cả tinh thần đó, tôi xin tuyên bố khai mạc Hội thảo khoa học "Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 - Bước ngoặt quyết định và bài học lịch sử".

Xin trân trọng cảm ơn!    



-----------------------------------------------------------------
* Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Trưởng ban Chỉ đạo Hội thảo.


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 09 Tháng Năm, 2020, 04:18:12 pm
BÁO CÁO ĐỀ DẪN HỘI THẢO KHOA HỌC
"CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968
BƯỚC NGOẶT QUYẾT ĐỊNH VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ"


Thượng tướng NGUYỄN TRỌNG NGHĨA*



- Kính thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Bộ Quốc phòng;
- Kính thưa các đồng chí lão thành cách mạng, tướng lĩnh, sĩ quan;
- Kính thưa các đồng chí lãnh đạo Thành ủy, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành phố;
- Thưa các nhà khoa học cùng toàn thể quý vị đại biểu!


Cách đây 50 năm, thực hiện chủ trương của Đảng Lao động Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, các lực lượng vũ trang cách mạng cùng toàn thể quần chúng nhân dân đã mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, đồng loạt đánh vào hầu hết các đô thị, căn cứ quân sự, cơ quan đầu não của Mỹ và chính quyền Sài Gòn trên khắp chiến trường miền Nam. Đòn tiến công bất ngờ của quân và dân ta đã giành được thắng lợi to lớn, toàn diện cả về chính trị, quân sự và ngoại giao, có ý nghĩa chiến lược quan trọng, làm xoay chuyển cục diện chiến tranh, làm phá sản chiến lược "chiến tranh cục bộ", buộc đế quốc Mỹ phải thay đổi chiến lược quân sự, ngừng ném bom đánh phá miền Bắc và chấp nhận đàm phán với ta tại Hội nghị Pari về việc lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là thắng lợi của đường lối đúng đắn và sáng tạo của Đảng; lòng quả cảm, trí thông minh, anh dũng của quân và dân ta trên cả hai miền Nam - Bắc; sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế; sự kế thừa và phát huy lên tầm cao mới truyền thống đánh giặc và nghệ thuật quân sự Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

Kính thưa các đồng chí, các vị đại biểu!

Đầu năm 1965, chiến lược "chiến tranh đặc biệt" bị phá sản, đế quốc Mỹ triển khai chiến lược "chiến tranh cục bộ", ồ ạt đưa quân Mỹ và quân đội các nước đồng minh vào trực tiếp tham chiến trên chiến trường miền Nam; đồng thời, tiến hành chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc; nhằm "đánh gãy xương sống Việt cộng" ở miền Nam, "đẩy lùi miền Bắc về thời kỳ đồ đá", nhanh chóng giành thắng lợi để kết thúc chiến tranh. Nhưng, sau ba năm trực tiếp tham chiến với hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 và 1966-1967, quân Mỹ đã không giành thắng lợi trong việc tìm diệt Quân giải phóng và bình định toàn miền Nam, mà ngược lại, còn làm cho nước Mỹ ngày càng sa lầy vào tình thế "tiến thoái lưỡng nan" về chiến lược. Nhận thấy tình hình bế tắc của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam quyết định chuyển cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam sang một thời kỳ mới, động viên nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ở cả hai miền Nam - Bắc, đưa cuộc chiến tranh phát triển lên bước cao nhất, đó là dùng phương pháp tổng công kích, tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định.

Thực hiện chủ trương của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 14 (1-1968), quân và dân ta ở miền Nam đã mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Từ đêm 30 rạng ngày 31-1-1968 đến ngày 25-2-1968, quân và dân miền Nam đã tiến công vào 4/6 thành phố, 37/44 thị xã, hàng trăm thị trấn, quận lỵ, trong đó có 4 bộ tư lệnh quân đoàn, 8 bộ tư lệnh sư đoàn, 2 bộ tư lệnh biệt khu, 2 bộ tư lệnh dã chiến Mỹ và 30 sân bay cùng hệ thống kho tàng của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, và trên khắp các địa bàn vùng nông thôn bị địch tạm chiếm. Cuộc Tổng tiến công chiến lược của quân và dân ta đã giành được những thắng lợi to lớn. Lần đầu tiên, trên chiến trường miền Nam, quân và dân ta đã tiến công hàng loạt đô thị, đánh thẳng vào những trung tâm đầu não chính trị, quân sự, hậu phương trọng yếu của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, gây cho chúng những tổn thất lớn, làm chấn động nước Mỹ, đảo lộn thế chiến lược của địch trên chiến trường, lung lay ý chí xâm lược của Mỹ.

Thưa các đồng chí, các vị đại biểu!

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là một trong những mốc quan trọng, có ý nghĩa lịch sử và tầm vóc to lớn, đánh dấu bước ngoặt quyết định trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta, và thực sự là cuộc tổng diễn tập cho Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Đánh giá về sự kiện lịch sử trọng đại này, Báo cáo của Bộ Chính trị tại Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (6-1973) đã khẳng định: "Thắng lợi của cuộc tiến công Tết Mậu Thân là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược cực kỳ quan trọng, tạo ra bước ngoặt của cuộc chiến tranh, đánh dấu sự thất bại của chiến lược "chiến tranh cục bộ" của Mỹ, buộc Mỹ phải chuyển sang chiến lược phòng ngự trên toàn chiến trường, phải ngồi vào bàn đàm phán với ta ở Hội nghị Pari, chấm dứt ném bom miền Bắc không điều kiện, chủ trương "phi Mỹ hóa" chiến tranh, mở đầu thời kỳ xuống thang chiến tranh... Sự kiện này chứng minh rực rỡ sức mạnh của phong trào cách mạng của quần chúng và sức mạnh của chiến tranh nhân dân ở miền Nam" .

Tại cuộc Hội thảo này, Ban Tổ chức đã nhận được hơn 100 báo cáo tham luận khoa học của các đồng chí lãnh đạo, nguyên là lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các cơ quan Trung ương, các địa phương, các tướng lĩnh, sĩ quan, các nhà khoa học trong và ngoài quân đội. Trên cơ sở chủ đề cuộc Hội thảo: "Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 - Bước ngoặt quyết định và bài học lịch sử", bằng tư duy khách quan, khoa học và cách tiếp cận mới, Hội thảo tập trung làm rõ những nội dung chủ yếu sau đây:

Một là, phân tích tình hình quốc tế và trong nước; âm mưu, thủ đoạn của Mỹ và chính quyền Sài Gòn trong chiến lược "chiến tranh cục bộ"; khả năng, biện pháp ứng phó của Mỹ và chính quyền Sài Gòn trước đòn tiến công chiến lược bất ngờ của quân và dân ta.

Hai là, khẳng định chủ trương đúng đắn, sáng suốt của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh - nhân tố quyết định thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy; phân tích quá trình chuẩn bị của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trước cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968; sự chi viện của hậu phương miền Bắc cho chiến trường miền Nam, sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân tiến bộ thế giới đối với cách mạng Việt Nam.

Ba là, tái hiện diễn biến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân trên khắp chiến trường miền Nam; nêu bật nét độc đáo, đặc sắc của nghệ thuật quân sự Việt Nam trong cuộc Tổng tiến công, trình độ tổ chức chỉ huy, hiệp đồng, khả năng cơ động và thực hành chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ, sự phối hợp hiệp đồng chiến đấu và phục vụ chiến đấu giữa các lực lượng trên chiến trường; phân tích tác động, ảnh hưởng của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân đến thế và lực của cả ta và Mỹ... Trên cơ sở đó đưa ra những nhận định, đánh giá toàn diện, sâu sắc và khách quan hơn về tầm vóc, ý nghĩa, giá trị lịch sử cũng như những hạn chế, khuyết điểm cả trong chỉ đạo, thực hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

Bốn là, tiếp tục đúc rút bài học lịch sử có giá trị lý luận, thực tiễn về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 để vận dụng, phát huy vào công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay. Những bài học lịch sử và kinh nghiệm thực tiễn về lãnh đạo, chỉ đạo chiến lược của Đảng, về nghệ thuật tập hợp và phát huy sức mạnh của toàn dân tộc, về nghệ thuật quân sự tạo thời cơ, chớp thời cơ, các phương thức tác chiến, về công tác bảo đảm... sẽ góp phần vận dụng vào quá trình xây dựng, huấn luyện lực lượng vũ trang, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân trong tình hình mới.

Ban Chỉ đạo tin tưởng rằng, các tham luận sẽ góp phần làm sáng tỏ, sâu sắc hơn những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra từ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Đó là nền tảng khoa học vững chắc trong cuộc đấu tranh chống mọi âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc lịch sử của các thế lực thù địch, phản động; đồng thời góp phần giáo dục truyền thống cách mạng, bồi đắp tinh thân yêu nước, lòng tự hào dân tộc cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay và mai sau.

Xin trân trọng cảm ơn!



------------------------------------------------------------------
* Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Phó Trưởng ban Chỉ đạo Hội thảo.



Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 09 Tháng Năm, 2020, 04:21:04 pm
PHÁT BIỂU CHÀO MỪNG HỘI THẢO KHOA HỌC
"CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968 -
BƯỚC NGOẶT QUYẾT ĐỊNH VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ"



THÀNH ỦY THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


- Kính thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Bộ Quốc phòng;
- Kính thưa các đồng chí lão thành cách mạng, tướng lĩnh, sĩ quan;
- Kính thưa các đồng chí lãnh đạo Thành ủy, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân Thành phố
Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành phố;
- Thưa các nhà khoa học cùng toàn thể quý vị đại biểu!


Cách đây vừa tròn 50 năm, mùa Xuân năm 1968, nhân dân ta, từ Nam đến Bắc nhộn nhịp bước vào năm mới, đón Tết Mậu Thân, đón thơ chúc Tết của Bác Hồ kính yêu:

"Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua
Thắng trận tin vui khắp nước nhà ...".

Cũng đúng vào thời điểm ấy, bằng tinh thần dũng cảm vô song, mưu lược, tài ba, cùng với các lực lượng cách mạng và các đơn vị chủ lực, lực lượng vũ trang Sài Gòn - Gia Định đã mở đầu xuất sắc cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Dinh Độc Lập, Đại sứ quán Mỹ, Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Tư lệnh hải quân, Đài Phát thanh, những nơi được coi là "bất khả xâm phạm" đều bị tấn công; Nhà Trắng và Lầu Năm Góc "rung chuyển", làn sóng phản đối cuộc chiến tranh Việt Nam được "thổi bùng lên" trên toàn nước Mỹ và cả thế giới.

Hôm nay, Thành phố Hồ Chí Minh trân trọng đón các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đồng chí lão thành cách mạng, lãnh đạo các bộ, ban, ngành Trung ương, các đồng chí đại diện các quân, binh chủng, quân khu, quân đoàn, các đồng chí lãnh đạo các tỉnh, thành phố, các nhà khoa học, đặc biệt là sự hiện diện của các đồng chí Anh hùng lực lượng vũ trang, đại diện các đội biệt động Sài Gòn cùng với các lực lượng đã làm nên chiến thắng vang dội Mậu Thân 1968 và quý đại biểu từ các vùng miền đất nước về dự Hội thảo khoa học cấp quốc gia "Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 - Bước ngoặt quyết định và bài học lịch sử" do Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương và Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức cùng nhiều hoạt động có ý nghĩa sâu sắc, thiết thực kỷ niệm 50 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968-2018). Thay mặt Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Thành phố Hồ Chí Minh, tôi nồng nhiệt chào mừng và trân trọng gửi đến các đồng chí, quý đại biểu và các bạn tình cảm sâu đậm, quý mến nhất của Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Kính thưa các đồng chí!

Sau thất bại của chiến lược "chiến tranh đặc biệt", đứng trước nguy cơ sụp đổ của chính quyền Sài Gòn do Mỹ dựng lên, đế quốc Mỹ thực hiện chiến lược "chiến tranh cục bộ" ồ ạt đưa quân Mỹ và đồng minh vào miền Nam, gây chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc hòng cắt đứt sự chi viện của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam. Tại miền Nam, với sức mạnh kinh tế, quân sự của một quốc gia hùng mạnh, lúc cao nhất hơn 50 vạn quân Mỹ, đồng minh và hơn 1 triệu quân Sài Gòn, đế quốc Mỹ muốn nhanh chóng đánh bại chủ lực cách mạng, giành lại thế chủ động trên chiến trường, bình định toàn miền Nam, kết thúc chiến tranh Việt Nam trong tư thế "kẻ chiến thắng".

Đế quốc Mỹ cho rằng, với những hậu quả tàn khốc của bom đạn, cùng với những hành động tàn sát dã man mà lính Mỹ và tay sai đã gây ra, người dân Việt Nam phải chịu khuất phục! Nhưng chúng đã lầm. Mỹ chưa hiểu hết về dân tộc Việt Nam, về con người và văn hóa Việt Nam - một dân tộc với những con người nhân hậu, hòa hiếu, trọng tình, trọng nghĩa nhưng lại đầy khí phách hiên ngang, bất khuất, sẵn sàng chiến đấu với quyết tâm "thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ"; với một niềm tin mãnh liệt vào chân lý "Không có gì quý hơn độc lập, tự do!".

Quân và dân ta ở miền Nam đã hiên ngang trên tuyến đầu chống Mỹ, cứu nước, trực tiếp đương đầu với quân viễn chinh Mỹ, đánh bại hai cuộc phản công chiến lược của quân đội Mỹ và quân đội Sài Gòn mùa khô 1965-1966 và 1966-1967, làm nên những chiến thắng vang dội... gây cho quân Mỹ và tay sai những thiệt hại nặng nề. Cả bộ máy chiến tranh của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, cùng bộ máy tuyên truyền của chính quyền Mỹ đã lừa bịp nhân dân thế giới và chính người dân Mỹ rằng "đã thấy ánh sáng cuối đường hầm", Mỹ đang giành thắng lợi và sẽ sớm kết thúc cuộc chiến trong "danh dự".

Nắm vững thời cơ chiến lược, nhằm đánh sập ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, chủ động chuẩn bị cho mặt trận ngoại giao, Trung ương Đảng đã quyết định phát động cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam, trọng tâm là Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng, đánh thẳng vào các thành phố, thị xã, các căn cứ quân sự chủ yếu của địch trên toàn miền Nam. Cùng với các hoạt động quân sự phối hợp quy mô lớn, nhất là mặt trận Đường 9 - Khe Sanh, quân và dân ta trên toàn miền Nam đã đồng loạt tiến công địch. Tại Sài Gòn, công tác chuẩn bị bí mật, công phu, được sự chở che, đùm bọc của nhiều giới, nhiều tầng lớp nhân dân, lực lượng vũ trang Sài Gòn - Gia Định đã đồng loạt tấn công các mục tiêu quan trọng của chiến trường trọng điểm; vượt qua hệ thống đồn bốt dày đặc của địch, các tiểu đoàn mũi nhọn của các phân khu đã cùng biệt động Sài Gòn đánh thẳng vào Dinh Độc Lập, Tòa Đại sứ Mỹ, Bộ Tổng Tham mưu, Đài Phát thanh, sân bay Tân Sơn Nhất... Với lực lượng tuy nhỏ, nhưng quyết tâm và tinh thần chiến đấu dũng cảm tuyệt vời, nhân dân và lực lượng vũ trang Sài Gòn đã góp phần làm nên một kỳ tích của chiến tranh nhân dân Việt Nam: đưa cuộc chiến vào tận sào huyệt của kẻ thù, chính trường nước Mỹ dao động nhất kể từ đầu cuộc chiến tranh.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là một bất ngờ lớn đối với đế quốc Mỹ, cả về thời gian, quy mô, phương thức và mức độ quyết liệt; giáng một đòn quyết định làm phá sản chiến lược "chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ ở miền Nam, làm lung lay tận gốc ý chí xâm lược của những kẻ cầm đầu hiếu chiến Mỹ, làm bùng lên mạnh mẽ phong trào phản chiến ngay tại nước Mỹ và nhiều quốc gia trên thế giới, thức tỉnh các tầng lớp nhân dân tiến bộ vì tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mà nhân dân Việt Nam đang tiến hành. Sau thất bại Mậu Thân, Mỹ buộc phải xuống thang chiến tranh, ngừng ném bom miền Bắc, công nhận Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán, để rồi 4 năm sau phải ký kết Hiệp định Pari rút quân Mỹ về nước.

Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 có ý nghĩa chiến lược cả về chính trị, quân sự và ngoại giao. Đó là thắng lợi của chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thời đại mới; là thắng lợi của đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng, ý chí và quyết tâm chống Mỹ, cứu nước, tinh thần đấu tranh vì một quốc gia thống nhất của nhân dân Việt Nam, trong đó có nhân dân và lực lượng vũ trang Sài Gòn - Gia Định - Thành phố Hồ Chí Minh. Những trận đánh lẫy lừng trong Mậu Thân và những hy sinh to lớn của đồng bào, cán bộ, chiến sĩ ta đã góp phần làm nên một "tượng đài bất tử", một dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ.

Kính thưa các đồng chí!

Mang trong mình truyền thống Sài Gòn - Gia Định quật khởi, là chiến trường trọng điểm của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, Đảng bộ, nhân dân, lực lượng vũ trang Sài Gòn - Gia Định đã vượt qua khó khăn, tổn thất sau Mậu Thân, chuẩn bị lực lượng và thế trận để cùng cả nước, vì cả nước làm nên một Đại thắng mùa Xuân 1975.

Để xứng đáng với thế hệ cha anh, Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh "vì cả nước, cùng cả nước" tiếp tục chung sức, đồng lòng vượt mọi khó khăn, thử thách, "đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện, tạo chuyển biến căn bản trong đời sống xã hội, góp phần rất quan trọng vào thành tựu chung của vùng và cả nước" .

Từ Hội thảo khoa học quan trọng này, quân và dân Thành phố Hồ Chí Minh chắc chắn sẽ tiếp thu được nhiều nội dung sâu sắc, tiếp tục vun đắp truyền thống cách mạng hào hùng và lòng yêu nước, trân trọng và gìn giữ những thành quả mà ông cha ta bao đời nay đã dày công xây dựng. Đảng bộ và nhân dân Thành phố tiếp tục phấn đấu "đi trước, về đích trước" trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh", vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội; nguyện tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng kiên cường, năng động, sáng tạo, đồng lòng, chung sức phát huy mọi nguồn lực, quyết tâm xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh có chất lượng sống tốt, văn minh, hiện đại, nghĩa tình, xứng đáng với thành phố mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh - Thành phố Anh hùng.

Thay mặt lãnh đạo và chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đối với đồng bào, cán bộ, chiến sĩ, các gia đình thương binh, liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng, những người đã góp công sức và cả máu xương để cùng nhau viết nên thiên anh hùng ca Xuân Mậu Thân 1968 mãi mãi tự hào. Kính chúc các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bộ Quốc phòng, Ban Tuyên giáo Trung ương, các vị cán bộ lão thành cách mạng, các đồng chí, quý vị đại biểu mạnh khỏe, hạnh phúc. Chúc cuộc hội thảo của chúng ta thành công tốt đẹp.

Xin trân trọng cảm ơn!  


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 09 Tháng Năm, 2020, 04:26:40 pm
PHẦN THỨ NHẤT

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG




PHÁT HUY TINH THẦN QUYẾT CHIẾN, QUYẾT THẮNG CỦA CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG
VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968 TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI,
XÂY DỰNG  VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC



Đại tướng TRẦN ĐẠI QUANG


Cách đây tròn 50 năm, đúng vào dịp Tết Mậu Thân 1968, dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng quang vinh và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, quân và dân ta đã đồng loạt mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên khắp chiến trường miền Nam. Đây là sự kiện có ý nghĩa lịch sử trọng đại, tạo ra bước ngoặt quyết định trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, viết thêm trang sử hào hùng trong lịch sử đấu tranh cách mạng vẻ vang của dân tộc ta.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 diễn ra trong bối cảnh đế quốc Mỹ ngoan cố leo thang chiến tranh, thực hiện chiến lược "chiến tranh cục bộ" ở miền Nam, đồng thời tiến hành chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc, hậu phương lớn của cuộc kháng chiến. Đế quốc Mỹ đã huy động bộ máy chiến tranh khổng lồ với các lực lượng hải, lục, không quân được trang bị tối tân nhất để chống lại nhân dân ta với ý đồ chiến lược hòng tiêu diệt lực lượng kháng chiến ở miền Nam, phá hoại và xâm lấn miền Bắc, đẩy lùi chủ nghĩa xã hội ở khu vực Đông Nam Á.

Quán triệt sâu sắc và thực hiện các nghị quyết của Đảng, nhất là Nghị quyết số 154-NQ/TW, ngày 27-1-1967 của Bộ Chính trị (khóa III) về đẩy mạnh đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam (tháng 10 và 11-1966): "ra sức đánh bại cuộc phản công chiến lược lớn lần thứ hai của bọn xâm lược Mỹ, làm thất bại các mục tiêu lớn của chúng, giữ vững thế chủ động, bảo tồn và phát triển lực lượng của ta, tạo điều kiện và thời cơ cho các đợt hoạt động lớn tiếp theo, tiến lên tổng công kích, tổng khởi nghĩa, thực hiện quyết tâm chiến lược của Trung ương" , quân và dân ta đã phát huy thế mạnh, thế chủ động tấn công địch, kiên cường chiến đấu, đánh và thắng lớn trên khắp các chiến trường, đặc biệt là ở miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Trị - Thiên, bẻ gãy các cuộc phản công chiến lược của địch ở miền Nam và đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ đối với miền Bắc.

Nhận định thời cơ thuận lợi chuyển cuộc kháng chiến của dân tộc ta sang một bước phát triển mới, trên cơ sở đã có chuẩn bị từ trước và lợi dụng yếu tố bất ngờ trong dịp Tết Nguyên đán, Trung ương Đảng đã "hạ quyết tâm mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đầu Xuân Mậu Thân, nhằm mục đích giáng cho đế quốc Mỹ một đòn thất bại nặng về quân sự và chính trị, đập tan ý chí xâm lược của Mỹ, buộc Mỹ phải xuống thang và cùng ta giải quyết cuộc chiến tranh theo những điều kiện có lợi cho ta" . Để chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, ta đã huy động hàng chục vạn cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, tập kết một khối lượng lớn vũ khí, trang thiết bị mà địch không hay biết. Khí thế của bộ đội và của quần chúng cách mạng lên cao, vượt lên khó khăn, gian khổ, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Đêm giao thừa Tết Mậu Thân 1968, quân và dân ta đã bất ngờ đồng loạt tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam, đánh vào các cơ quan đầu não của địch ở Sài Gòn, Huế, các căn cứ quân sự của Mỹ - ngụy, các thành phố, thị xã, đồng thời đánh địch khắp các vùng nông thôn bị tạm chiếm; tiêu diệt và làm tan rã một bộ phận quan trọng sinh lực và phá hủy một khối lượng lớn phương tiện chiến tranh của địch với đội quân lúc đó lên tới trên một triệu hai mươi vạn quân Mỹ, ngụy và chư hầu, được trang bị vũ khí hiện đại. Trong đó, có những trận gây tiếng vang mạnh mẽ trong nước và trên thế giới, như trận đánh vào Tòa Đại sứ Mỹ, Dinh Độc Lập, Bộ Tổng Tham mưu, Đài Phát thanh của ngụy quyền Sài Gòn và 25 ngày đêm làm chủ thành phố Huế... Phối hợp, hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ với các cuộc tiến công vào đô thị của các lực lượng vũ trang, nhân dân Nam Bộ đã nổi dậy, phá rã phần lớn bộ máy kìm kẹp của ngụy quyền ở thôn, xã, giành quyền làm chủ ở nhiều vùng, mở rộng và củng cố vùng giải phóng.

Cùng với thắng lợi trong hai mùa khô 1965-1966, 1966-1967 và tại mặt trận Đường 9 - Khe Sanh, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã giành thắng lợi to lớn chỉ sau ba năm, kể từ khi địch chuyển sang chiến lược "chiến tranh cục bộ", trong bối cảnh địch đã leo thang đến mức cao nhất, tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn nhất sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Đây là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược cực kỳ quan trọng, tạo ra bước ngoặt của cuộc chiến tranh, đánh dấu sự thất bại cơ bản chiến lược "chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải chuyển sang chiến lược phòng ngự trên toàn chiến trường; xuống thang chiến tranh, chuyển hướng sang "phi Mỹ hóa", "Việt Nam hóa" chiến tranh, bắt đầu rút quân về nước; chấm dứt không điều kiện chiến tranh phá hoại miền Bắc, chấp nhận đàm phán với ta tại Hội nghị Pari về việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Thắng lợi Tết Mậu Thân của quân và dân ta đã thúc đẩy nhân dân Mỹ đấu tranh mạnh mẽ hơn với chính quyền Mỹ, đòi chấm dứt chiến tranh xâm lược, đưa con em của họ về nước. Nhân dân yêu chuộng hòa bình, tiến bộ trên thế giới càng thấy rõ sức mạnh và tính tất thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước chính nghĩa của dân tộc ta, thấy rõ thất bại tất yếu của đế quốc Mỹ và ngày càng ủng hộ, giúp đỡ nhân dân ta đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy này đánh dấu một bước phát triển mới về nghệ thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam, kết hợp tốt ba mũi giáp công là vũ trang, chính trị, binh vận, giữa tiến công và nổi dậy - nổi dậy và tiến công giành quyền làm chủ của nhân dân, hướng chính là mở mặt trận tiến công và vây ép địch ở thành thị, chủ yếu là các thành phố lớn, đồng thời diệt ác phá kìm, phá rã bộ máy kìm kẹp của địch ở cơ sở và làm tan rã hàng ngũ của địch. Đây là phương châm chiến lược xuyên suốt quá trình đấu tranh cách mạng, đã được phát huy nhuần nhuyễn, toàn diện trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân cũng như đến Đại thắng mùa Xuân 1975, giành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

 Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã trở thành biểu tượng của tinh thần quyết chiến, quyết thắng, khí phách kiên cường, sức mạnh chiến tranh nhân dân Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh; đánh dấu bước phát triển mới trong học thuyết và nghệ thuật quân sự Việt Nam về tổ chức và phát động một cuộc tiến công đồng loạt trên khắp chiến trường rộng lớn vào các sào huyệt của địch mà vẫn giữ được yếu tố bí mật, bất ngờ.

Sau thắng lợi vĩ đại này, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta đã chuyển sang giai đoạn cách mạng mới với những thời cơ, thuận lợi mới để thực hiện mong ước của Bác Hồ kính yêu "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào", giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Thắng lợi to lớn này trước hết là nhờ sự lãnh đạo, chỉ đạo nhạy bén, sáng tạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại trên cơ sở nắm chắc tư tưởng cách mạng tiến công, vận dụng đúng đắn quy luật chiến tranh nhân dân, thắng từng bước, đẩy lùi và đánh bại địch từng bước; hạ quyết tâm chiến lược chính xác, táo bạo, chọn đúng phương hướng tiến công, sử dụng đúng lực lượng, làm tốt công tác lãnh đạo chính trị, tư tưởng. Thắng lợi này còn là kết quả của sự phát huy mạnh mẽ trí sáng tạo, tinh thần quyết chiến, quyết thắng, sẵn sàng xả thân vì độc lập, tự do của Tổ quốc của quân và dân ta. Đó cũng là kết quả của cả một quá trình tổng kết thực tiễn, đúc rút kinh nghiệm từ truyền thống đấu tranh anh dũng của dân tộc ta và vận dụng sáng tạo tinh hoa nghệ thuật chiến tranh của nhân loại bằng đường lối độc lập, tự chủ để tìm ra cách đánh Mỹ, "lấy nhỏ đánh lớn", "lấy ít địch nhiều", lấy trí tuệ và sức mạnh Việt Nam để thắng Mỹ. Đó là đỉnh cao của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, là khí phách Việt Nam được khơi dậy và phát huy mạnh mẽ trong những thời điểm thử thách ác liệt nhất vì sự nghiệp cách mạng cao cả của Đảng và dân tộc ta.

Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 thể hiện sức mạnh vô song của dân tộc Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh; để lại nhiều bài học kinh nghiệm có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Đó là khát vọng "Không có gì quý hơn độc lập, tự do", là niềm tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, là tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo trong hoạch định đường lối và chỉ đạo chiến lược đấu tranh cách mạng; là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; là tinh thần quyết chiến, quyết thắng, dám đánh Mỹ và thắng Mỹ của quân và dân ta; là sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại và tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng.

Kỷ niệm 50 năm thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 vào thời điểm công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã giành được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử và đang đứng trước thời cơ, vận hội phát triển mới với những khó khăn, thách thức đan xen, chúng ta càng nhận thức sâu sắc hơn vai trò lãnh đạo của Đảng, sức mạnh to lớn, tinh thần quyết chiến, quyết thắng của dân tộc ta trong đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong hòa bình, đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thế giới đang thay đổi nhanh chóng. Đất nước ta ngày càng lớn mạnh. Nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới cao hơn, phức tạp hơn đang và sẽ đặt ra đối với sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phát huy tinh thần quyết chiến, quyết thắng, nỗ lực phấn đấu mạnh mẽ hơn, tận dụng thời cơ, vượt qua khó khăn, thử thách, chuyển thách thức thành thời cơ để phát triển đất nước toàn diện, đồng bộ hơn cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Trong đó, phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; xây dựng văn hóa, con người làm nền tảng tinh thần; tăng cường quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên.

Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; tăng cường tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, dự báo chính xác và kịp thời đề ra chủ trương, chính sách xử lý có hiệu quả những vấn đề mới nảy sinh, giải quyết tốt các mối quan hệ lớn phản ánh quy luật đổi mới và phát triển ở nước ta. Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh. Phát huy sức mạnh toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế nhanh, bền vững. Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, tiếp tục thực hiện các đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường. Tăng cường quốc phòng, an ninh, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Giữ gìn hòa bình, ổn định, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế để phát triển đất nước; nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.

Tinh thần quyết chiến, quyết thắng của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã, đang và sẽ tiếp tục cổ vũ mạnh mẽ toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua khó khăn, thử thách, tranh thủ cơ hội mới, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Phát huy cao độ tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, năng động, sáng tạo, chúng ta nhất định sẽ thực hiện thành công mục tiêu xây dựng đất nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 09 Tháng Năm, 2020, 04:33:18 pm
TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968 -
BẢN LĨNH VÀ TRÍ TUỆ VIỆT NAM THỜI ĐẠI HỒ CHÍ MINH



Đại tướng LÊ ĐỨC ANH*


Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã đi vào lịch sử cách mạng Việt Nam. Nhưng cho đến bây giờ, nhiều nhà nghiên cứu quân sự, kể cả bộ máy chiến tranh của Mỹ vẫn cố tìm hiểu bằng cách gì mà ta triển khai được lực lượng trên diện rộng toàn miền Nam, bằng cách gì mà ta đồng loạt nổ súng tiến công ở tất cả các đô thị, tỉnh lỵ mà vẫn giữ được tuyệt đối bí mật? Lúc đó, Trung ương Cục gọi riêng từng đồng chí bí thư tỉnh ủy lên giao nhiệm vụ, căn dặn, "hiệp đồng"; và như vậy, mỗi tỉnh chỉ duy nhất một người biết rõ "giờ G, ngày N" - thời điểm nổ súng tiến công. Trong đó, biết bao nhiêu công tác phải triển khai, bao nhiêu công việc phải chuẩn bị. Điều này nói lên sự lãnh đạo, chỉ đạo chiến tranh tài tình, sáng tạo của Trung ương Đảng ta và ý thức trách nhiệm rất cao, sự thống nhất cả trong ý chí và hành động, sự nghiêm minh của kỷ luật chiến trường đã quyện trong ý thức tự giác, lòng trung thành và phẩm chất mẫu mực của những người đứng đầu và đại diện cho sự lãnh đạo của Đảng tại các địa phương, và toàn thể cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị lực lượng vũ trang ba thứ quân. Ngay sự thống nhất về ý chí và hành động đã tạo nên sức mạnh tiến công đối với quân thù.

Thời điểm đó, tôi đang đảm trách Tham mưu trưởng Bộ Chỉ huy Miền (mật danh là B2). Việc phổ biến kế hoạch tác chiến thì anh Nguyễn Văn Linh, Chính ủy và anh Hoàng Văn Thái, Tư lệnh; Mặt trận Sài Gòn - Gia Định có anh Võ Văn Kiệt và anh Trần Hải Phụng về dự. Ta đã giữ được bí mật đến tận giờ nổ súng mặc dù thời gian chuẩn bị có thể nói là gấp. Yêu cầu đề ra là phải nhanh chóng đưa được một khối lượng rất lớn vũ khí và phương tiện chiến đấu vào ém sát các mục tiêu dự định tiến công trong sự canh gác, kiểm soát rất gắt gao của địch, nhất là thành phố Sài Gòn - Gia Định, sào huyệt, cơ quan đầu não của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Tất cả những cái gì lo trước được, ta đã tính toán chuẩn bị, nhất là việc xây dựng các cơ sở cách mạng quần chúng, hồi đó gọi là các "lõm" ngay trong lòng đô thị mà địch đang chiếm giữ. Chẳng hạn như Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu Sài Gòn - Gia Định, ngay từ năm 1965 đã chỉ đạo lực lượng biệt động xây dựng các hầm chứa vũ khí và ém quân trong nội thành. Tính đến cuối năm 1967, ta đã thiết lập được 19 "lõm" chính trị ngay sát những mục tiêu trọng yếu của địch, bao gồm 325 gia đình cơ sở, tạo nên 400 điểm ém quân và 12 kho vũ khí. Với kỹ thuật ngụy trang tài tình, khôn khéo và mưu trí, các đơn vị đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chuyển vào nội thành một khối lượng lớn vũ khí chuẩn bị cho chiến đấu, gồm: 450kg thuốc nổ TNT, 100 súng K54, 50 súng AK, hàng chục súng - đạn B40, 3 khẩu cối, 1 khẩu ĐKZ và 90 quả đạn. Đợt 2 cuộc tiến công còn vận chuyển được 12 xe vũ khí vào khu vực Phú Thọ Hòa...

Cuộc tiến công táo bạo của ta đã làm cho bộ máy điều hành chiến tranh của Mỹ sững sờ, choáng váng. Chỉ trong 24 giờ đồng hồ, toàn bộ hậu phương an toàn nhất của kẻ địch, tất cả thành phố, tỉnh lỵ mà trước đó hầu như đứng ngoài cuộc chiến, bất ngờ bị tiến công đồng loạt. Các mục tiêu quan trọng nhất, từ Bộ Tổng Tham mưu đến Biệt khu Thủ đô, từ Dinh Tổng thống đến Toà Đại sứ Mỹ đều bị đánh phá ác liệt. Cái thế của hai bên trong chiến tranh bỗng chốc bị đảo lộn, "hậu phương yên ấm" của kẻ địch bỗng chốc trở thành tiền tuyến nóng bỏng. Trong lúc Mỹ và chính quyền Sài Gòn có hơn 1 triệu quân lại bố trí trong thế phòng thủ liên hoàn, chặt chẽ mà chúng hoàn toàn bất ngờ. Có thể nói là đợt đầu tiên chúng ta đánh thật là tuyệt vời. Ta đã ra đòn bất ngờ và đánh trúng vào "hệ thần kinh trung ương" của địch, đã làm cho Tòa Bạch ốc Hoa Kỳ bàng hoàng...

Trước tổng tiến công, Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Miền tiến hành tổ chức bố trí chiến trường. Theo đó, Mặt trận Sài Gòn - Gia Định có hai "Sở chỉ huy tiền phương". Anh Trần Văn Trà, Mai Chí Thọ và tôi phụ trách Tiền phương Bắc, còn gọi là Tiền phương 1. Anh Võ Văn Kiệt, Trần Bạch Đằng, Trần Hải Phụng phụ trách Tiền phương Nam, còn gọi là Tiền phương 2. Tiền phương 1 phụ trách chủ lực hướng bắc, tây bắc và đông thành phố; lực lượng bao gồm: các phân khu 1, 4, 5 và một phần Phân khu 2 (tức Củ Chi, Hóc Môn, Dĩ An, Gò Vấp, Lái Thiêu, Thủ Đức, một phần Bình Tân); mục tiêu đánh là khu Quán Tre, một nửa sân bay Tân Sơn Nhất, các căn cứ quân sự ở Gò Vấp, thị xã Gia Định, Bộ Tổng Tham mưu quân đội Sài Gòn, đồng thời phụ trách các tiểu đoàn chiếm lĩnh nối tiếp biệt động nội thành. Tiền phương 2 phụ trách hướng nam và một phần tây nam; lực lượng gồm toàn bộ lực lượng biệt động và quần chúng vũ trang nội thành từ Quận 1 đến Quận 8. Các đơn vị biệt động đánh các mục tiêu: Tòa Đại sứ Mỹ, Dinh Độc Lập, Đài Phát thanh Sài Gòn, Bộ Tư lệnh Hải quân, Kho xăng Nhà Bè, Tổng nha Cảnh sát và một nửa sân bay Tân Sơn Nhất; phát động quần chúng chiếm các khu lao động, chờ đón quân chủ lực vào nội thành...

Sát thời điểm tổng công kích, tổng khởi nghĩa, Bộ Chỉ huy Miền tổ chức Sở chỉ huy cơ bản do đồng chí Hoàng Văn Thái phụ trách, đồng thời cử cán bộ phụ trách các cánh tiền phương. Lúc này tôi được phân công chỉ huy bộ đội tiến công ở hướng tây nam Sài Gòn, từ Long An đánh vào khu vực Quận 5, vào Biệt khu Thủ đô, Tổng nha Cảnh sát và Cảnh sát đô thành. Sở chỉ huy của tôi đặt ở bên bờ sông Vàm Cỏ Đông. Trước khi nổ súng, tôi được tăng cường một tiểu đoàn của Long An do anh Hai Hoàng làm Tiểu đoàn trưởng. Đưa Trung đoàn 3 vào áp sát Quận 6, gần tới Phú Lâm, bắn cối xong thì đột kích vào trung tâm Phú Lâm. Các đơn vị đó đánh rất giỏi, thọc sâu vào Quận 5, rồi tiến công tới Ngã tư Bảy Hiền thuộc quận Tân Bình, ở lại một ngày; quân địch bu tới, ta đánh; sau đó, khi có lệnh cấp trên, tôi cho các đơn vị rút ra. Đồng bào Hoa kiều đã chỉ dẫn cho bộ đội đục xuyên các tường nhà để bí mật rút ra. Chỗ nào không đục được thì vận động trên mái nhà. Còn thương binh thì bà con người Hoa mang đi giấu, cứu chữa và nuôi dưỡng.

Trở lại tình hình trước Mậu Thân 1968, ngay sau khi chiến lược "chiến tranh đặc biệt" bị phá sản, đế quốc Mỹ buộc phải chuyển sang chiến lược "chiến tranh cục bộ", đưa hơn 40 vạn quân viễn chinh Mỹ ồ ạt vào miền Nam Việt Nam, cùng với đội quân của một số nước chư hầu và lực lượng quân đội Sài Gòn được bắt lính tăng cường, cùng với một khối lượng vũ khí và phương tiện chiến tranh chưa từng có với kỹ nghệ hiện đại tối tân. Chúng quyết liệt và táo bạo mở liên tục các cuộc hành quân với hai gọng kìm "tìm diệt" và "bình định" hòng giải quyết chiến tranh trong một thời gian ngắn. Nhưng, dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng tạo, với đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng, quân và dân ta đã đánh bại cả hai cuộc hành quân chiến lược ở hai mùa khô 1965-1966 và 1966-1967 của chúng ở miền Nam (điển hình là các trận chiến: Pleime và thung lũng Iađrăng, hai cuộc hành quân Áttơnborô và Gianxơnxiti); đồng thời đánh bại một bước chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của Mỹ trên miền Bắc. Đến nửa cuối năm 1967, Mỹ tiếp tục tăng quân và phương tiện chiến tranh để toan tính một cuộc phản công lần thứ ba với số quân 120 vạn, trong đó có 50 vạn quân chiến đấu Mỹ, tuy nhiên chúng bắt đầu lộ rõ sự dao động và lúng túng.  

Giữa lúc đế quốc Mỹ đang ở thế "ngập ngừng" về chiến lược, giới cầm quyền Mỹ có dấu hiệu dao động rõ và đúng thời điểm rất nhạy cảm của năm bầu cử Tổng thống Mỹ, Đảng ta đã quyết định giáng một đòn bất ngờ, thật mạnh vào ý chí xâm lược của Mỹ, bằng cách chọn hướng chiến lược hiểm và dùng cách đánh mới, tạo ra một bước ngoặt lớn làm thay đổi cục diện chiến tranh.

Như kế hoạch đã định, cuối tháng 1-1968, ta bắt đầu mở đợt hoạt động lớn ở mặt trận Đường 9 - Khe Sanh, xem như một đòn chính của bộ đội chủ lực ta, nhằm đánh lạc hướng, thu hút quân cơ động của Mỹ, vây hãm, giam chân và tiêu hao chúng, nhằm tạo thế cho các chiến trường khác tiến công và nổi dậy. Lập tức, tướng Oétmolen điều quân tăng cường giữ và cho máy bay ném bom dữ dội, rồi chở quân đổ bộ xuống khu vực Tà Cơn - Khe Sanh. Trước và sau Tết, quân ta tiếp tục bao vây Khe Sanh, dùng các loại hỏa lực tiến công và đánh lấn khiến cho Bộ Quốc phòng Mỹ tính tới khả năng ta có thể tạo ra một cái "giống như Điện Biên Phủ". Thế là quân Mỹ đã rơi vào "bẫy" của ta; đồng nghĩa rơi vào tình thế "cá voi mắc cạn".

Cùng thời điểm này, trên chiến trường nước bạn Lào, từ ngày 12 đến ngày 27-1-1967, quân đội Pathét Lào và Quân tình nguyện Việt Nam giành thắng lợi lớn trong Chiến dịch Nậm Bạc. Chiến thắng này vừa là khởi đầu, vừa là sự phối hợp nhịp nhàng với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân của chúng ta. Quân và dân miền Nam đã nhằm đúng vào đêm giao thừa của Tết Nguyên đán, đồng loạt tiến công và nổi dậy trên toàn miền, đánh vào 4 thành phố lớn, 37 thị xã, hàng trăm thị trấn, 4 bộ tư lệnh quân đoàn địch, hầu hết các bộ tư lệnh sư đoàn, 30 sân bay và gần 100 cơ sở hậu cần của chúng. Nhiều trận đánh đã gây chấn động lớn trong giới cầm quyền Mỹ và có tiếng vang mạnh mẽ trên thế giới, như: Trận đánh vào Tòa Đại sứ Mỹ, vào Dinh Tổng thống, Bộ Tổng Tham mưu quân lực Việt Nam Cộng hòa, Đài Phát thanh Sài Gòn, 25 ngày đêm ta làm chủ thành phố Huế... Chúng ta đã ra những đòn sấm sét ngay trong lúc mà lực lượng quân Mỹ, chính quyền Sài Gòn và một số nước đồng minh của Mỹ còn đông trên 1 triệu 20 vạn tên, nắm trong tay những phương tiện chiến tranh hiện đại và khổng lồ, đứng chân trong những căn cứ được phòng thủ vững chắc. Chúng ta đã đánh vào tận hang ổ của chúng và đã giành thắng lợi chưa từng có.

Đòn tiến công Mậu Thân 1968 đã gây chấn động cả nước Mỹ. Khắp các bang của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ rộ lên những cuộc biểu tình chống chiến tranh. Nhiều người trong chính giới Mỹ đòi xét lại chính sách của Mỹ với cuộc chiến này. Nội bộ các cố vấn thân cận của Tổng thống Mỹ diễn ra sự chia rẽ gay gắt. Tướng Oétmolen, Tổng Chỉ huy quân Mỹ ở Nam Việt Nam, bị cách chức, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mắc Namara xin từ chức. Ngày 25-3-1968, Tổng thống Giônxơn và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Clípphớt (mới thay Mắc Namara) phải triệu tập một cuộc họp gọi là "Những người am hiểu và khôn ngoan nhất", mà thực chất là 14 quan chức cấp cao "diều hâu nhất" trong phái "diều hâu". Sau 3 ngày tranh cãi, 10/14 người đã tán đồng chấm dứt leo thang chiến tranh và có biện pháp rút lui ra khỏi cuộc chiến 1. Ngày 31-3-1968, Giônxơn buộc phải tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 20 trở ra, chấp nhận ngồi vào bàn hội nghị đàm phán song phương với ta tại Pari và tuyên bố không ra tranh cử Tổng thống nhiệm kỳ thứ hai. Đây là sự công khai thừa nhận chiến lược "chiến tranh cục bộ" của Mỹ đã phá sản, ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ hiếu chiến đã thật sự bị lung lay. Tuy chúng ta có khuyết điểm là sau đợt 2 đã chậm chuyển hướng tiến công về vùng nông thôn nên bị nhiều tổn thất; nhưng thất bại của đế quốc Mỹ trong "chiến tranh cục bộ" đã không thể nào cứu vãn được.

Tôi muốn nói thêm về lực lượng biệt động. Đây là một sáng tạo về hình thức tổ chức lực lượng vũ trang của Đảng ta - gọn nhẹ, bí mật, linh hoạt, nằm trong dân, hòa vào dân, thường xuyên hoạt động trong lòng địch. Biệt động là lực lượng chiến đấu, thực hiện những đòn đánh hiểm, táo bạo, bất ngờ vào cơ quan đầu não và các mục tiêu quan trọng của địch ở các đô thị. Lực lượng biệt động Nam Bộ ra đời từ kháng chiến chống thực dân Pháp và phát triển mạnh trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đặc biệt là ở Sài Gòn - Gia Định. Sự ra đời, trưởng thành của lực lượng này đánh dấu bước phát triển mới của chiến tranh nhân dân và là nét đặc sắc của nghệ thuật quân sự Việt Nam. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, lực lượng biệt động đã mở đầu xuất sắc cuộc tiến công ở Sài Gòn và các đô thị. Với tinh thần dũng cảm vô song, lối đánh táo bạo và thông minh, và sự hy sinh to lớn của lực lượng biệt động đã góp phần xứng đáng trong việc tạo nên hiệu quả chiến lược lớn của cuộc tổng tiến công, đánh bại cố gắng chiến tranh cao nhất của đế quốc Mỹ 2. Đây là kết quả của quá trình chuẩn bị, xây dựng thế trận, xây dựng lực lượng trong nhiều năm trước đó, trong đó có kết quả xây dựng cơ sở chính trị và cơ sở vũ trang ở các đô thị theo phương châm của Đảng: Đánh địch trên ba vùng chiến lược.

Với tầm nhìn xa trông rộng, từ lâu, Bác Hồ và Bộ Chính trị đã nhận thấy rằng ta không đủ sức để đánh bại cùng một lúc cả đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn để giành thắng lợi hoàn toàn, nên đã chủ trương chia thành hai "nhịp": đánh cho "Mỹ cút" rồi tiến tới đánh cho "ngụy nhào". Và, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 cùng những cú "đánh bồi" trong những đợt tiếp theo đã tạo nên một đòn đánh "đủ đô", đủ sức nặng làm nhụt ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, nhất là những chính khách trong phái "diều hâu", tạo ra bước ngoặt về chiến lược của cuộc chiến tranh, buộc chúng phải xuống thang, ngồi vào bàn đàm phán để dẫn tới ký kết Hiệp định Pari năm 1973, thừa nhận "độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam", rút hết quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, quân và dân ta đã thực hiện được quyết tâm chiến lược "đánh cho Mỹ cút" một cách vẻ vang.
 



------------------------------------------------------------------
* Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

1. Danh sách 14 vị thuộc phái "diều hâu" đến họp gồm: Acheson, Goldberg, George Ball, Megxorge Bundy, Henry Cabot Lodge, Abe Fortas, Douglas Dillion, John J.Me Cloy, Robert Murphy, Maxwell Taylor, Omar Pnadly, Mathew Ridway, Rusk, Rostows; tất nhiên còn có Johnson, Wheeler và Clifford. Chỉ trừ có Bradley Murphy, Fortas và Taylor, còn lại tất cả đều muốn rút ra khỏi cuộc chiến tranh Việt Nam (Tổng thuật qua tài liệu của Mỹ của Thiếu tướng tình báo Nguyễn Đôn Tự).

2. Đến cuối năm 1967, quân và dân miền Nam phải đương đầu với 1,6 triệu quân Mỹ, đồng minh Mỹ và quân đội Sài Gòn (48 vạn lính Mỹ, 66 nghìn lính đồng minh, 998 nghìn lính quân đội Sài Gòn gồm cả chủ lực, bảo an dân vệ và cảnh sát vũ trang, trong đó, gần một nửa là quân chủ lực).


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 10 Tháng Năm, 2020, 06:44:04 am
CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968 -
Ý CHÍ QUYẾT CHIẾN, QUYẾT THẮNG CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM



Đại tướng NGÔ XUÂN LỊCH*


Cách đây đúng 50 năm, mùa Xuân Mậu Thân 1968, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta với ý chí quyết chiến, quyết thắng, đạp bằng mọi khó khăn, thử thách, tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, đồng loạt đánh thẳng vào các cơ quan đầu não của Mỹ và chính quyền Sài Gòn tại các thành phố, thị xã và hầu khắp vùng nông thôn rộng lớn trên toàn miền Nam; đồng thời, đẩy mạnh tiến công tiêu hao một bộ phận quan trọng sinh lực, vũ khí và phương tiện chiến tranh, giáng đòn nặng nề vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, mở ra bước ngoặt mới cho sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Sau nửa thế kỷ, chúng ta có thêm những cứ liệu lịch sử để nhìn nhận toàn diện hơn, sâu sắc hơn về sự kiện Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968; càng thêm tự hào về truyền thống kiên cường, bất khuất của dân tộc, đồng thời biết trân trọng một biểu tượng sáng ngời - tiêu biểu cho ý chí quyết chiến, quyết thắng của dân tộc Việt Nam trong "cuộc đụng đầu lịch sử" với đế quốc Mỹ xâm lược.

Với ý nghĩa đó, bài tham luận này tập trung làm rõ ý chí quyết chiến, quyết thắng của dân tộc Việt Nam, một trong những nhân tố quan trọng góp phần vào thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

Trước hết, ý chí quyết chiến, quyết thắng của dân tộc Việt Nam được bắt nguồn từ trong đường lối lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng, tiêu biểu cho quyết tâm kháng chiến của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trước thử thách ngặt nghèo của lịch sử.

Từ đầu năm 1965, khi chiến lược "chiến tranh đặc biệt" đứng trước nguy cơ phá sản hoàn toàn, đế quốc Mỹ chuyển sang chiến lược "chiến tranh cục bộ", ồ ạt đưa quân viễn chinh và quân một số nước đồng minh cùng nhiều loại vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại vào tham chiến trực tiếp ở miền Nam, đồng thời mở cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân ra miền Bắc. Đây là bước leo thang thể hiện nỗ lực cao nhất của Mỹ trong toàn bộ cuộc chiến tranh xâm lược, đặt cuộc kháng chiến của nhân dân ta trước tình thế vô cùng khó khăn.

Trên cơ sở phân tích toàn diện bối cảnh lịch sử, đánh giá đúng tình hình địch, ta, từ Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 11 (3-1965), đặc biệt là Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 12 (12-1965), Đảng ta đã kịp thời đề ra quyết tâm: "Động viên lực lượng của cả nước, kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất cứ tình huống nào, để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà" . Từ quyết tâm ấy, Đảng ta tiếp tục phát động và đưa cuộc chiến tranh nhân dân lên một bước phát triển cao hơn, lấy tư tưởng chiến lược cách mạng tiến công làm nền tảng, đó là: kết hợp chặt chẽ chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy; tiến công địch bằng cả chính trị, quân sự, ngoại giao; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; đánh địch trên khắp ba vùng chiến lược (rừng núi, nông thôn đồng bằng và đô thị); tiến công kiên quyết, liên tục từ nhỏ đến lớn, từ cục bộ lên toàn bộ...

Nhờ có đường lối lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, sáng tạo, quân và dân ta đã bước vào "cuộc đụng đầu lịch sử" chống đế quốc Mỹ với khí thế sục sôi chưa từng có, trở thành cao trào thi đua sôi nổi nhanh chóng lan rộng ra cả nước. Ở miền Bắc có những phong trào: "Thanh niên ba sẵn sàng", "Phụ nữ ba đảm đang", "Hai giỏi", "Ba nhất", "Tay cày tay súng, tay búa tay súng", "Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người"... Quân và dân trên các nẻo đường vận chuyển chi viện cho chiến trường miền Nam nêu cao quyết tâm giữ vững mạch máu giao thông, với các khẩu hiệu hành động "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước", "Xe chưa qua, nhà không tiếc", "Đánh địch mà đi, mở đường mà tiến"...

Trên chiến trường miền Nam nổi lên những phong trào: "Tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt", thi đua phấn đấu đạt danh hiệu "Dũng sĩ diệt Mỹ"... Với ý chí quyết tâm cao độ, quân và dân miền Nam không những đánh bại những cuộc hành quân "tìm diệt", lần lượt đập tan các cuộc phản công chiến lược của địch trong các mùa khô 1965-1966 và 1966-1967, mà còn mở những chiến dịch tiêu diệt lớn quân địch; đồng thời, vận dụng linh hoạt nhiều phương thức tác chiến chiến lược đánh cả vào hậu cứ, kho tàng, những tuyến giao thông quan trọng, thực sự tạo ra nhiều khó khăn, gây bất ngờ đối với Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Quá trình chiến đấu giành thắng lợi từng bước, đánh bại từng mục tiêu, thủ đoạn hành động của địch trong những năm 1965 đến 1967 cũng đồng thời là quá trình quân và dân ta tích cực phát triển lực lượng, tổ chức thế trận... chuẩn bị cho đòn tiến công quyết định, tạo bước phát triển nhảy vọt của chiến tranh nhân dân.

Ý chí quyết chiến, quyết thắng thể hiện ở quyết định mang tính lịch sử của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam: mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

Cuối năm 1967, cục diện chiến trường và tình hình quốc tế liên quan đến cuộc chiến tranh Việt Nam chuyển biến mau lẹ theo hướng ngày càng có lợi cho cách mạng. Về phía Mỹ, dù nỗ lực leo thang chiến tranh đến đỉnh cao, nắm trong tay đội quân xâm lược đông đảo hơn 1,2 triệu tên (trong đó có hơn nửa triệu quân viễn chinh, quân một số nước đồng minh), song vẫn không đạt được những mục tiêu cơ bản đề ra, trái lại, phải chịu nhiều tổn thất to lớn. Phong trào phản đối chiến tranh trong các tầng lớp nhân dân Mỹ diễn ra mạnh mẽ. Nội bộ chính quyền Tổng thống Giônxơn chia rẽ thành nhiều phe phái với các quan điểm, lập trường khác nhau... Đây cũng là thời điểm "nhạy cảm" về chính trị, bởi nước Mỹ đang chuẩn bị bước vào cuộc vận động tranh cử tổng thống nhiệm kỳ mới diễn ra vào năm 1968. Một thất bại lớn về quân sự (nếu diễn ra) ở chiến trường Việt Nam sẽ tác động rất mạnh đến tình hình nước Mỹ, có thể làm xoay chuyển toàn bộ đường lối, chính sách theo đuổi chiến tranh. Lúc này, đối với chính quyền Mỹ, cuộc chiến tranh tại miền Nam trở nên khó lường định hơn lúc nào hết.
 
Về phía ta, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã giành được nhiều thắng lợi quan trọng, vừa bảo đảm tiềm lực đánh lâu dài, đồng thời sẵn sàng cho khả năng chớp thời cơ giành thắng lợi quyết định. Trên chiến trường miền Nam, lực lượng vũ trang cách mạng phát triển lớn mạnh, đứng chân tại những địa bàn chiến lược từ Quảng Trị, Trung Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ đến đồng bằng sông Cửu Long, trực tiếp đe dọa không chỉ vùng nông thôn, ngoại tuyến mà ngay tại các thành phố lớn do địch kiểm soát. Vùng giải phóng được củng cố và giữ vững. Thế trận chiến tranh nhân dân phát triển mạnh. Phong trào đấu tranh chính trị (nhất là ở đô thị) chuyển biến tích cực cả về hình thức và nội dung, lôi cuốn đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia. Uy tín của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được nâng cao. Vượt qua sự đánh phá quyết liệt của bom đạn Mỹ, quân và dân miền Bắc ra sức đẩy mạnh sản xuất, thực hiện nghĩa vụ hậu phương chi viện cho chiến trường miền Nam, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao cho cuộc kháng chiến. Hoạt động ngoại giao cách mạng đạt được nhiều kết quả quan trọng, làm rõ tính chính nghĩa của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam, tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới; đồng thời, đấu tranh phân hóa, cô lập đối phương trên trường quốc tế, làm rõ tính chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh xâm lược mà Mỹ đang tiến hành ở Việt Nam. Nhìn nhận một cách tổng quát, cách mạng đang ở thế thắng, thế chủ động và thuận lợi, còn Mỹ đang ở thế thua, thế bị động, "tiến thoái lưỡng nan" về chiến lược.

Trên cơ sở nắm bắt tình hình thực tế, phân tích đúng xu thế vận động, chiều hướng chiến tranh, sau nhiều lần nghiên cứu, thảo luận, Hội nghị Bộ Chính trị (cuối tháng 12-1967) và Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 14 (1-1968) đề ra quyết tâm: "... Động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên bước phát triển cao nhất..."; "... chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ tiến công và nổi dậy giành thắng lợi quyết định" . Theo đó, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy sẽ được tiến hành vào dịp Tết Mậu Thân 1968, bao gồm hai hướng chiến lược: hướng tiến công chủ yếu nhằm vào các thành thị, đánh sập các cơ quan đầu não chiến tranh, các trung tâm chỉ huy, hậu cứ và các phương tiện giao thông vận tải chiến lược của địch; hướng phối hợp quan trọng là mở chiến dịch lớn vùng rừng núi, trọng điểm là mặt trận Đường 9 - Khe Sanh, nhằm tiêu diệt, nghi binh, thu hút, giam chân một bộ phận lớn quân địch, tạo điều kiện thuận lợi cho mặt trận đô thị và nổi dậy của quần chúng ở nông thôn. Tất cả nỗ lực đó đều hướng đến mục tiêu: "Giáng cho địch một đòn thật mạnh và hiểm, bất ngờ và đồng loạt, làm cho Mỹ phải lung lay ý chí xâm lược, tạo nên sự thay đổi cơ bản cục diện chiến tranh có lợi cho ta" . Đây thực sự là tư duy quân sự mới trong chỉ đạo chiến lược của Đảng, khiến cho đối phương không thể nghĩ tới, khi hành động diễn ra sẽ không kịp trở tay. Đặt trong điều kiện tương quan lực lượng quân sự, tiềm lực vật chất của địch vẫn còn rất lớn, thì chủ trương mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 với cách đánh táo bạo, bất ngờ thực sự là một quyết tâm rất lớn, thể hiện bản lĩnh và tầm cao trí tuệ của Đảng ta trong việc nắm bắt và chớp thời cơ, nêu cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng dẫn dắt cả dân tộc bước vào "trận đánh lịch sử" với khí thế sục sôi nhất, như đồng chí Lê Duẩn khẳng định: "Khi đã có thời cơ thuận lợi, nếu chúng ta biết làm và làm đúng, có sự nỗ lực vượt bậc thì lực lượng ít cũng có thể tạo nên sức mạnh bảo đảm giành được thắng lợi rất to lớn, rất quan trọng" .




-------------------------------------------------------------------------------
* Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.



Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 10 Tháng Năm, 2020, 06:48:15 am
Ý chí quyết chiến, quyết thắng được biểu hiện ở hành động kiên trì, bí mật, quyết liệt, dũng mãnh của quân và dân ta trong chuẩn bị và thực hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy.

Chấp hành chủ trương chiến lược do Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đề ra, dù thời gian rất gấp, nhưng với quyết tâm cao độ, quân và dân ta ra sức chuẩn bị mọi mặt với tinh thần, khí thế sục sôi. Trên miền Bắc, chỉ từ tháng 12-1967 đến tháng 1-1968, hàng chục ngàn tấn vật chất theo các đoàn quân di chuyển vào Nam. Tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn tiếp tục được củng cố, mở rộng, không ngừng vươn xa đến các chiến trường, vươn sâu vào từng mặt trận, kịp thời phục vụ yêu cầu, nhiệm vụ mới đề ra. Các quân khu miền Nam khẩn trương tổ chức lực lượng, chuẩn bị thế trận với khả năng cao nhất cho trận quyết chiến lịch sử sắp diễn ra. Nhân dân vùng địch tạm chiếm tích cực vận chuyển lương thực, vũ khí, đạn dược về cất giấu ở các vùng ven đô. Các đoàn cán bộ bằng nhiều con đường khác nhau thâm nhập vào đô thị, phối hợp cùng cơ sở tại chỗ tiến hành các mặt công tác, sẵn sàng cho quần chúng nổi dậy khởi nghĩa... Công tác chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công diễn ra trên quy mô rộng lớn chưa từng có. Mặc dù hệ thống phòng giữ, kiểm tra, kiểm soát của địch hết sức gắt gao, mạng lưới an ninh, tình báo của chúng giăng ở khắp nơi, nhưng ta vẫn giữ được bí mật công tác chuẩn bị và kế hoạch hành động cho đến lúc khởi sự. Đó là một thành công rất lớn, vượt ra ngoài sự tưởng tượng của kẻ thù. Thành công ấy không chỉ do ý thức tổ chức, chấp hành kỷ luật của cán bộ, chiến sĩ, mà còn cho thấy ý chí, quyết tâm to lớn, khát vọng độc lập, tự do đến cháy bỏng của đồng bào miền Nam, chỉ chờ thời khắc bùng lên.

Thực hiện kế hoạch nghi binh, thu hút một bộ phận quan trọng sinh lực địch, đêm 20, rạng ngày 21-1-1968, quân ta nổ súng mở đợt hoạt động quân sự lớn tại mặt trận Đường 9 - Khe Sanh. Bộ Chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ tại Việt Nam nhận định: mục tiêu chủ yếu và cố gắng cao nhất của Quân giải phóng là tiêu diệt Khe Sanh, biến Khe Sanh thành một "Điện Biên Phủ" đối với Mỹ, sau đó chiếm giữ hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên để tạo đà đi vào thương lượng. Từ nhận định đó, Mỹ và chính quyền Sài Gòn tập trung quân cơ động cùng các loại vũ khí, phương tiện chiến tranh để đối phó với ta. Tình hình chiến sự vùng giới tuyến quân sự tạm thời ở Nam Việt Nam như "thỏi nam châm cực mạnh" thu hút sự quan tâm theo dõi của cả chính quyền, các hãng truyền thông cùng đông đảo nhân dân Mỹ.

Trong khi mọi sự chú ý của phía Mỹ đổ dồn vào mặt trận Đường 9 - Khe Sanh, thì đêm 30 rạng ngày 31-1-1968 (đêm mùng một rạng ngày mùng hai Tết Mậu Thân 1968), quân và dân miền Nam đồng loạt tiến công và nổi dậy ở 4 thành phố, 37 thị xã, hàng trăm thị trấn, quận lỵ; đánh vào hầu hết các cơ quan đầu não trung ương, địa phương của Mỹ và chính quyền Sài Gòn... Đặc biệt, những trận đánh vào Tòa Đại sứ Mỹ, Dinh Độc Lập, Bộ Tổng Tham mưu quân đội Sài Gòn,... thực sự đã tạo nên chấn động lớn. Tại các vùng nông thôn, được lực lượng vũ trang cách mạng giúp sức, nhân dân nổi dậy đập tan từng mảng ách kìm kẹp, giành thế chủ động trên chiến trường. Để cứu vãn tình thế, Mỹ và chính quyền Sài Gòn, sau cơn choáng váng ban đầu, tập trung phản kích quyết liệt. Dù trong điều kiện chiến đấu ác liệt, lực lượng gặp nhiều bất lợi, nhưng cán bộ, chiến sĩ khắp chiến trường vẫn kiên cường trụ bám mục tiêu. Tại Khe Sanh, quân Mỹ tập trung đánh phá rất ác liệt, nhưng cán bộ, chiến sĩ giải phóng ngày đêm kiên quyết giữ vững trận địa bao vây, đẩy bộ phận quân viễn chinh vào tình thế khốn cùng, buộc địch phải đưa quân ứng cứu, tạo điều kiện cho quân và dân các chiến trường đẩy mạnh đấu tranh. Tại cố đô Huế, trong điều kiện lực lượng có nhiều hao hụt, nhưng quân ta vẫn kiên cường bám trụ từng căn nhà, từng góc phố, đánh bại liên tiếp các cuộc phản kích của địch, làm chủ thành phố 25 ngày đêm. Bộ đội đặc công, biệt động đánh vào những mục tiêu hiểm yếu, quan trọng của địch ở hầu khắp các thành phố. Vượt qua mưa bom, bão đạn của quân thù, nhân dân vẫn ngày đêm sát cánh chiến đấu, gùi lương, tải đạn, cứu chữa thương binh, chôn cất tử sĩ... Từ nông thôn đến thành thị, từ Khe Sanh đến miền Đông Nam Bộ về mũi Cà Mau... nơi đâu cũng ngời sáng chủ nghĩa anh hùng cách mạng với sức mạnh quật khởi trước sự chống trả điên cuồng của quân xâm lược.

Dù chưa đạt được mục tiêu cao nhất đặt ra, song cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 thực sự là "đòn sấm sét" làm chính quyền, quân đội Mỹ và Sài Gòn choáng váng, gây kinh ngạc đối với nhân dân Mỹ và thu hút sự quan tâm của dư luận thế giới. Phong trào phản đối chiến tranh trong các tầng lớp nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới lên cao. Đội quân viễn chinh đông đảo, thiện chiến đã chịu thất bại to lớn. Ý chí xâm lược bị suy sụp, buộc Chính phủ Mỹ phải xuống thang chiến tranh, ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra, chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán tại Hội nghị Pari. Đó là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của cách mạng, mở ra bước ngoặt mới cho sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Sau đợt Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân, phát huy kết quả đã đạt được, nêu cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng, quân và dân ta liên tiếp mở các đợt tiến công đánh bại ý chí xâm lược, làm phá sản chiến lược "chiến tranh cục bộ" của Mỹ, bảo vệ những thành quả cách mạng đã giành được.

Đặt trong bối cảnh quốc tế những năm 60 của thế kỷ XX, khi tư tưởng "phục Mỹ, sợ Mỹ" vẫn còn khá phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới, thì thắng lợi của nhân dân Việt Nam mà đỉnh cao là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy vang dội Xuân Mậu Thân 1968 là sự cổ vũ, động viên tinh thần rất to lớn. Thắng lợi ấy được tạo nên do nhiều yếu tố, từ đường lối chính trị, đường lối quân sự độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo, từ chủ nghĩa yêu nước nồng nàn đến sự giác ngộ về lý tưởng, mục tiêu, chân lý "Không có gì quý hơn độc lập, tự do!", được biểu hiện tập trung ở ý chí quyết chiến, quyết thắng của toàn dân tộc Việt Nam.

Trong không khí cả nước đang ra sức thi đua lập thành tích chào mừng kỷ niệm 50 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, để phát huy ý chí quyết chiến, quyết thắng năm xưa vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay, chúng ta cần thực hiện tốt một số yêu cầu, nhiệm vụ cơ bản sau:

Một là, tiếp tục nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, phát huy nội lực thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới đất nước.

Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 trước hết là thắng lợi của đường lối độc lập, tự chủ. Nhờ có tinh thần độc lập, tự chủ, chúng ta đã điều hành cuộc chiến tranh rất chủ động, sáng tạo, biết khởi sự cuộc chiến tranh đúng lúc, thúc đẩy giành thắng lợi quyết định và kết thúc chiến tranh vào thời điểm có lợi nhất, bảo đảm giành thắng lợi trọn vẹn. Cũng chính nhờ có sự độc lập, tự chủ nên Đảng ta đã phát huy bản lĩnh và tầm cao trí tuệ, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để thắng Mỹ, đồng thời hạn chế được những tác động, ảnh hưởng đến mục tiêu của cuộc kháng chiến. Trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, đất nước đứng trước nhiều thời cơ thuận lợi nhưng cũng đang đối mặt với nhiều nguy cơ, thách thức. Đảng ta đề ra chủ trương tăng cường mở rộng quan hệ, hợp tác quốc tế nhằm tranh thủ những thuận lợi, những nguồn lực từ bên ngoài để góp phần xây dựng, phát triển đất nước, song vẫn khẳng định phải luôn giữ vững đường lối độc lập, tự chủ, phát huy sức mạnh nội lực là chính, coi đó là nền tảng có ý nghĩa quyết định đến thành công của công cuộc đổi mới. Việc phát huy sức mạnh nội lực đòi hỏi chúng ta phải thực hiện đồng bộ trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh, trước mắt cần tập trung thực hiện thắng lợi các mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đề ra. Điều đó thể hiện sự kiên định đường lối độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn.

Hai là, tăng cường giáo dục, bồi dưỡng phát huy tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân tộc cho các thế hệ người Việt Nam, nhất là thế hệ trẻ.

Chủ nghĩa yêu nước chính là động lực giúp dân tộc Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, chiến thắng các thế lực ngoại xâm hùng mạnh, khẳng định sự trường tồn cùng lịch sử. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, tinh thần yêu nước đã được phát huy cao độ thành chủ nghĩa anh hùng cách mạng, giúp quân và dân ta đạp bằng mọi khó khăn, gian khổ, quyết chí, bền gan, "biết đánh và biết thắng" quân xâm lược, tiến lên giành thắng lợi quyết định.

Có thể khẳng định, bài học về tinh thần "yêu nước, thương nòi", của ý chí quyết chiến, quyết thắng được biểu hiện sinh động qua sự kiện Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đến nay vẫn còn nguyên giá trị và nóng hổi tính thời sự. Ngày nay, tinh thần yêu nước vẫn là động lực to lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Do đó, vấn đề giáo dục lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc đối với các thế hệ người Việt Nam, nhất là thế hệ trẻ cần tiếp tục được phát huy mạnh mẽ hơn nữa nhằm nâng cao giác ngộ chính trị bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, dân tộc, đồng thời bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, ý thức trách nhiệm của mỗi người dân cùng chung tay xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh, chống lại những quan điểm sai trái, những luận điệu tuyên truyền bôi nhọ, xuyên tạc của các thế lực thù địch đối với lịch sử đấu tranh cách mạng. Để đạt mục đích, yêu cầu đề ra, chúng ta cần tích cực, thường xuyên phát động các phong trào thi đua yêu nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, phải nhận thức đây không chỉ là trách nhiệm của công tác tuyên truyền, của ngành giáo dục, mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội.

Ba là, phát huy vai trò to lớn của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân nhằm củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Kế thừa truyền thống "chung sức, đồng lòng" của dân tộc, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng ta đã tổ chức, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc lên tầm cao mới theo tư tưởng "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công" của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mặt trận dân tộc thống nhất ở mỗi miền Nam, Bắc tuy mục tiêu, cương lĩnh cụ thể, hình thức tổ chức, cơ cấu thành phần có nhiều điểm khác nhau, nhưng đều nhằm mục tiêu chung là đấu tranh giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thực hiện hòa bình thống nhất Tổ quốc, đáp ứng nguyện vọng tha thiết của nhân dân. Nhờ đó, chúng ta huy động được lực lượng rộng lớn, tập trung được sức mạnh tổng hợp, nhất là trong những thời điểm quyết định như cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Để củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong điều kiện mới hiện nay, đòi hỏi Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội cần không ngừng đổi mới nội dung và phương thức hoạt động để nhân dân nắm rõ mọi chủ trương, đường lối của Đảng, tạo điều kiện cho nhân dân phát huy hơn nữa quyền dân chủ, trên cơ sở đó xây dựng bền chặt mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân; mặt khác, đa dạng hóa các hình thức vận động, tập hợp, tạo nên sự đồng thuận toàn xã hội, góp phần tạo không khí thi đua sôi nổi hoàn thành thắng lợi các mục tiêu nghị quyết đại hội Đảng các cấp đề ra.

Bốn là, thực hiện tốt công tác chính sách, chăm lo phát triển kinh tế - xã hội vùng sâu, vùng xa, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Việt Nam là đất nước có nhiều tộc người cùng sinh sống lâu đời. Trong những năm kháng chiến, đặc biệt là trước và sau Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, địa bàn trung du, miền núi (nơi sinh sống chủ yếu của đồng bào dân tộc thiểu số) là căn cứ kháng chiến, nơi đứng chân của lực lượng cách mạng. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán thực hiện nguyên tắc: "tất cả các dân tộc đều bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau cùng phát triển", đề ra nhiều chủ trương, chính sách đúng đắn để phát triển mọi mặt đời sống, giúp đỡ đồng bào các dân tộc, góp phần xóa đói giảm nghèo và được đồng bào dân tộc thiểu số đồng tình, ủng hộ. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, tình hình kinh tế - xã hội ở những vùng sâu, vùng xa, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn. Các thế lực thù địch trong và ngoài nước tiếp tục tuyên truyền xuyên tạc, lôi kéo một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số nhằm thực hiện mưu đồ chính trị chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Do đó, việc thực hiện tốt chính sách chăm lo phát triển kinh tế - xã hội vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số vừa trở thành một trong những nhiệm vụ rất cấp thiết hiện tại, vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài. Điều đó đòi hỏi tất cả các ngành, các cấp, mọi cán bộ, đảng viên cần quán triệt và thực hiện tốt chủ trương, chính sách chăm lo, phát triển đối với đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng, Nhà nước, không để các thế lực phản động lợi dụng tăng cường các hoạt động chống phá, gây mất ổn định an ninh, chính trị.

Năm là, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh, làm nòng cốt cho toàn dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chiến lược bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam trong mọi tình huống.

Tiến trình 30 năm chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc (1945-1975) đã cho thấy: Vấn đề xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc luôn là một nội dung lớn, một bài học sâu sắc được đúc rút trong toàn bộ đường lối, chủ trương chỉ đạo chiến lược cách mạng của Đảng ta. Điều đó xuất phát không chỉ từ yêu cầu, quy luật của chiến tranh, mà còn phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam, khi kẻ thù của dân tộc ta là những đội quân xâm lược hung bạo, có tiềm lực kinh tế, quân sự lớn mạnh hơn ta gấp nhiều lần. Nhờ đó, thế trận chiến tranh nhân dân được phát huy cao độ, tạo thành sức mạnh to lớn, vừa có khả năng thực hiện giam chân, chia cắt, tiêu hao, tiêu diệt từng bộ phận quân địch, vừa sẵn sàng chớp thời cơ giáng cho chúng những "đòn sấm sét", mà cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là minh chứng điển hình.

Trong giai đoạn hiện nay, nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa - giáo dục, xây dựng Đảng và Nhà nước, giữ vững môi trường chính trị ổn định, Đảng ta đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân vững mạnh về mọi mặt theo phương châm "cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại"; bảo đảm cho quân đội, công an luôn là lực lượng chính trị tin cậy, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Lực lượng vũ trang nhân dân được xây dựng vững mạnh, tiếp tục phát huy, phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam truyền thống, đồng thời chủ động, sáng tạo làm chủ vũ khí, trang bị hiện đại, đáp ứng yêu cầu tác chiến công nghệ cao; trên cơ sở đó làm nòng cốt xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; ngăn ngừa, đẩy lùi, làm thất bại mọi âm mưu, hành động xâm phạm đến an ninh quốc gia, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 10 Tháng Năm, 2020, 06:55:21 am
VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN NGOẠI GIAO
TRONG CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY MẬU THÂN 1968


PHẠM BÌNH MINH*


Năm 1968, thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đề ra, quân và dân ta đã nỗ lực vượt bậc, khắc phục mọi khó khăn mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên khắp chiến trường miền Nam, giáng đòn nặng nề vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, làm thay đổi căn bản cục diện chiến trường. Trong thời điểm bước ngoặt quyết định ấy, mặt trận ngoại giao đã phối hợp chặt chẽ và tạo thế cho tiến công quân sự, đồng thời, phát huy kết quả giành được trên chiến trường để đấu tranh đạt tới những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược to lớn hơn.

Ngoại giao tạo thế cho tổng tiến công và nổi dậy

Vào năm 1965, trước thất bại của chiến lược "chiến tranh đặc biệt", Mỹ chuyển sang chiến lược "chiến tranh cục bộ", ồ ạt đưa quân viễn chinh, quân một số nước đồng minh cùng nhiều loại vũ khí, trang bị, phương tiện chiến tranh hiện đại vào trực tiếp tham chiến tại miền Nam, đồng thời mở cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân ném bom, bắn phá miền Bắc Việt Nam. Tuy nhiên, với sự chỉ đạo đúng đắn, sáng tạo của Trung ương Đảng, quân và dân ta kiên quyết đấu tranh, từng bước làm thất bại các hành động xâm lược, mà quan trọng và trực tiếp nhất là đập tan hai cuộc phản công chiến lược của Mỹ - chính quyền Sài Gòn trong hai mùa khô 1965-1966 và 1966-1967.

Việc leo thang chiến tranh tại Việt Nam, nhất là hoạt động ném bom đánh phá miền Bắc, tàn phá và gây rất nhiều tổn thất cho thường dân, đã khiến nhân dân tiến bộ thế giới ngày càng quan ngại. Chính phủ nhiều nước, nhiều nhân vật nổi tiếng thế giới đã yêu cầu Mỹ chấm dứt chiến tranh, kêu gọi các bên liên quan đi vào đàm phán tìm giải pháp chính trị, ngoại giao. Tổng Thư ký Liên hợp quốc, Thủ tướng Canađa, Tổng thống Pháp... bày tỏ sẵn sàng làm trung gian hòa giải, đề nghị Mỹ tôn trọng độc lập, thống nhất của Việt Nam, sớm đi vào thương lượng hòa bình. Trong bối cảnh đó, chính quyền Giônxơn đã tiến hành một đợt vận động ngoại giao lớn chưa từng có, cử các đặc phái viên đi hơn 40 nước, gửi thư cho nguyên thủ của hơn 100 quốc gia  và nhiều động thái khác nhằm thuyết phục, biện minh cho hành động xâm lược.

Trước tình hình trên, Hội nghị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam lần thứ 13 (1-1967) nhất trí đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao, chỉ rõ đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam là nhân tố quyết định thắng lợi trên chiến trường, làm cơ sở cho thắng lợi trên mặt trận ngoại giao. "Chúng ta chỉ có thể giành được trên bàn hội nghị những cái mà chúng ta đã giành được trên chiến trường. Tuy nhiên, đấu tranh ngoại giao không chỉ đơn thuần phản ánh cuộc đấu tranh trên chiến trường, mà trong tình hình quốc tế hiện nay với tính chất cuộc chiến tranh giữa ta và địch, đấu tranh ngoại giao giữ một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động" . Về nhiệm vụ cụ thể, mặt trận ngoại giao có nhiệm vụ đề cao lập trường 4 điểm của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1 và tuyên bố 5 điểm của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam 2, tranh thủ sự đồng tình và giúp đỡ của các nước anh em, nhân dân yêu chuộng hòa bình, công lý trên thế giới, kể cả nhân dân Mỹ.

Thực hiện chủ trương của Đảng, ngày 28-1-1967, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh, khi trả lời phỏng vấn báo chí nước ngoài nêu rõ lập trường của ta: "... Mỹ phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom và các hành động chiến tranh khác chống lại miền Bắc Việt Nam. Chỉ sau khi Mỹ thực hiện điều này thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ có thể nói chuyện" . Quan điểm của chính quyền Tổng thống Giônxơn vẫn là đàm phán có điều kiện ("có đi, có lại"), tức là Mỹ sẽ ngừng ném bom đánh phá miền Bắc Việt Nam nếu việc đó không bị lợi dụng và nhanh chóng dẫn tới các cuộc thảo luận có hiệu quả.

Cuối năm 1967, ngoại giao Việt Nam đi thêm một nước cờ quyết đoán hơn, phát huy mạnh mẽ thế chủ động. Ngày 29-12-1967, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh tuyên bố: "Sau khi Hoa Kỳ chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ nói chuyện với Mỹ về những vấn đề có liên quan" . Nội dung tuyên bố này cơ bản giống với tuyên bố ngày 28-1-1967, nhưng đã chuyển từ "có thể nói chuyện" sang dứt khoát "sẽ nói chuyện".

Việc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chủ động nêu khả năng đàm phán hòa bình là một chiến lược ngoại giao đúng đắn và đúng thời điểm, được đông đảo dư luận quốc tế ủng hộ. Việc ta gắn thương lượng với việc Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc cũng làm đậm thêm tính chính nghĩa của cuộc đấu tranh của nhân dân ta, đồng thời làm rõ hành động vi phạm chủ quyền, an ninh và toàn vẹn lãnh thổ của Mỹ đối với một quốc gia độc lập, có chủ quyền, được quốc tế công nhận tại Hiệp định Giơnevơ năm 1954. Các nước xã hội chủ nghĩa, phần lớn các nước Không liên kết, các phong trào hòa bình, thậm chí một số nước phương Tây (Na Uy, Thụy Điển...) đều lên tiếng mạnh mẽ ủng hộ tuyên bố của ta, tạo sức ép quốc tế rất lớn yêu cầu Mỹ và chính quyền Sài Gòn phải có giải pháp kết thúc chiến tranh.

Mặt khác, việc ta đưa ra tuyên bố quan trọng như trên ngay trước cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 khiến đối phương có phần chủ quan, cho rằng Việt Nam đã yếu thế, buộc phải "xuống nước", từ đó đánh giá thấp khả năng ta tiến hành "đánh lớn". Như vậy, mặt trận ngoại giao đã góp phần quan trọng, mở rộng mặt trận nhân dân thế giới đồng tình, ủng hộ sự nghiệp kháng chiến của nhân dân ta; đồng thời, bảo đảm yếu tố bí mật cả ở cấp chiến lược và chiến thuật, qua đó giữ được thế chủ động chiến trường khi bước vào cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968. 




------------------------------------------------------------------
* Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.

1. Được Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa ra ngày 8-4-1965, bao gồm: 1- Xác nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, phía Mỹ phải rút quân đội, nhân viên quân sự, các loại vũ khí Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam, triệt phá các căn cứ quân sự, chấm dứt can thiệp ở miền Nam, các hành động quân sự chống miền Bắc Việt Nam. 2- Hai miền đều không có liên minh quân sự với nước ngoài, không có căn cứ quân sự, nhân viên quân sự nước ngoài trên đất của mình. 3- Công việc miền Nam do nhân dân miền Nam tự giải quyết theo cương lĩnh của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, không có can thiệp của nước ngoài.

2. Được Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đưa ra ngày 22-3-1965, bao gồm: 1- Lên án Mỹ là kẻ phá hoại Hiệp định Giơnevơ, là kẻ gây chiến và xâm lược cực kỳ thô bạo. 2- Nhân dân miền Nam kiên quyết đánh đuổi đế quốc Mỹ để giải phóng miền Nam, thực hiện một miền Nam Việt Nam độc lập, dân chủ, hòa bình và trung lập, tiến tới thống nhất đất nước. 3- Nhân dân và Quân giải phóng miền Nam quyết hoàn thành đầy đủ nhất nghĩa vụ thiêng liêng của mình là đánh đuổi đế quốc Mỹ để giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc. 4- Nhân dân miền Nam biết ơn sâu sắc sự ủng hộ nhiệt tình của nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới và tuyên bố sẵn sàng tiếp nhận mọi sự giúp đỡ, kể cả vũ khí và dụng cụ chiến tranh của bạn bè khắp năm châu. 5- Toàn dân đoàn kết, toàn dân vũ trang, tiếp tục anh dũng xông lên, quyết chiến quyết thắng giặc Mỹ và bọn Việt gian bán nước.



Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 10 Tháng Năm, 2020, 08:09:49 am
Mặt trận ngoại giao - sức mạnh cộng hưởng cho thắng lợi trên chiến trường

Trong thời gian diễn ra cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, mặt trận ngoại giao liên tục triển khai các mũi tiến công để tiếp tục tranh thủ sự ủng hộ mạnh mẽ của bạn bè và dư luận thế giới. Nhiều đoàn lãnh đạo cấp cao của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đi nhiều nước trên thế giới, tiếp xúc với lãnh đạo và nhiều tầng lớp xã hội để làm rõ tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến mà nhân dân Việt Nam đang tiến hành. Phong trào quốc tế ủng hộ Việt Nam ngày càng dâng cao. Hàng ngàn cuộc míttinh, biểu tình, tuần hành "Vì Việt Nam" đã diễn ra tại nhiều thủ đô lớn trên thế giới. Sự ủng hộ của nhân dân tiến bộ và bè bạn quốc tế là nguồn cổ vũ, động viên vô giá đối với cán bộ, chiến sĩ ta, góp phần tạo ra niềm tin tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, vào sự nghiệp chính nghĩa và thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến.

Một nhiệm vụ rất quan trọng của mặt trận đối ngoại thời điểm này là cần phát huy mạnh mẽ các hình thức hoạt động để tranh thủ sự ủng hộ ngay trong lòng nước Mỹ, thông qua các phong trào phản chiến của chính các tầng lớp nhân dân Mỹ. Các đề xuất đàm phán, tính chính nghĩa và thái độ tích cực của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cũng như những thắng lợi liên tiếp trên chiến trường, nhất là tại các đô thị lớn như Sài Gòn, Huế... đặt dấu chấm hết cho những ảo tưởng về "chiến thắng" của Mỹ tại Việt Nam, khiến phong trào phản chiến của nhân dân Mỹ dâng cao hơn bao giờ hết. Ta cũng khéo léo triển khai các biện pháp như mời một số nhà báo, phóng viên Mỹ vào miền Bắc để tận mắt chứng kiến và đưa tin trung thực, khách quan về sự tàn phá khủng khiếp của bom đạn đối với dân thường Việt Nam. Chính những tin tức, hình ảnh, bài viết của các nhà báo đã tạo ra sức mạnh cộng hưởng, tiếp thêm động lực cho các phong trào phản chiến diễn ra ngày càng rầm rộ, sục sôi, quyết liệt với sự tham gia của hàng chục ngàn trí thức, sinh viên và các giới tại nhiều thành phố lớn tại Mỹ. Hàng vạn thanh niên Mỹ chống quân dịch. Ngày càng có nhiều nghị sĩ Mỹ đòi chính quyền Mỹ chấm dứt ngay chiến tranh tại Việt Nam và đi vào thương lượng thực chất. Tỷ lệ ủng hộ đường lối tiến hành chiến tranh của chính quyền Giônxơn giảm sút nghiêm trọng. Những cuộc bỏ phiếu thăm dò cho thấy phần đông công chúng "có niềm tin vững chắc rằng Mỹ đã sa lầy một cách vô vọng cùng với nỗi nghi ngờ ngày càng tăng đối với khả năng Giônxơn phá thế bế tắc" . Còn nhà sử học Mỹ G. Côncô khẳng định: chính quyền phải đương đầu với một tình hình chưa từng có, "sự nhất trí về chính sách đối ngoại giữa cơ quan hành pháp, cơ quan lập pháp và công chúng bị sụp đổ hoàn toàn" . Khai thác mâu thuẫn nội bộ Mỹ, ngoại giao ta đã phát huy được thế chính nghĩa, thế thắng của nhân dân ta, đóng góp quyết định trong việc hình thành mặt trân nhân dân thế giới đoàn kết, ủng hộ Việt Nam chống Mỹ, thực sự kết nối sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

Mặt trận ngoại giao cũng đã thành công trong việc tranh thủ sự ủng hộ mạnh mẽ và sự giúp đỡ chí tình của các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Trong giai đoạn các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào cộng sản, công nhân quốc tế có những khó khăn, Trung ương Đảng đã rất sáng suốt, kiên định đường lối độc lập, tự chủ, kiên trì trao đổi, tranh thủ sự ủng hộ của các nước bạn bè. Sự trao đổi chân thành, kiên định, ở cấp cao đã giúp ta tiếp tục duy trì, đẩy mạnh sự ủng hộ to lớn của Liên Xô, Trung Quốc, cả về tinh thần và vật chất, nhất là trong thời gian ta đang tập trung nhân lực, vật lực cho tổng tiến công.

Góp phần củng cố thắng lợi trên chiến trường

Thắng lợi của Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân năm 1968 còn là kết quả của sự kết hợp tài tình mang tính chiến lược giữa thắng lợi trên chiến trường và mặt trận ngoại giao.

Thứ nhất, mặt trận ngoại giao đã nắm bắt kịp thời, hiệu quả thắng lợi chiến lược của đợt 1 tổng tiến công để buộc Mỹ đi vào đàm phán trên cơ sở có lợi cho ta. Đêm ngày 30 rạng ngày 31-1-1968 (đúng vào dịp Tết Mậu Thân), các lực lượng vũ trang ta đã đồng loạt tiến công địch trên toàn chiến trường miền Nam, đánh thẳng vào rất nhiều cơ sở đầu não của địch ở Sài Gòn, Huế và nhiều thành phố, thị xã. Đợt 1 của Tổng tiến công đã giáng đòn "choáng váng", buộc Tổng thống Mỹ Giônxơn, ngày 31-3-1968, phải tuyên bố đơn phương ngừng ném bom khu vực bắc vĩ tuyến 20, "sẵn sàng tiến tới hòa bình thông qua thương lượng" và sẽ cử đại diện Mỹ đến bất cứ nơi đâu, vào bất cứ lúc nào. Tuyên bố này của Giônxơn chính là sự thừa nhận thất bại trong leo thang chiến tranh ở miền Bắc và "chiến tranh cục bộ" ở miền Nam, đồng thời cũng là kết quả của quá trình đấu tranh ngoại giao vừa mềm dẻo nhưng hết sức cương quyết trong việc buộc Mỹ đi vào đàm phán theo những điều kiện có lợi cho ta.

Mặc dù đề nghị của Mỹ chưa đáp ứng yêu cầu hoàn toàn chấm dứt ném bom miền Bắc, nhưng ta đã quyết định nắm lấy cơ hội mở ra đàm phán trực tiếp với Mỹ để kiềm chế, kéo Mỹ vừa đàm phán vừa xuống thang chiến tranh; đồng thời giương cao ngọn cờ chính nghĩa, thiện chí đàm phán, tranh thủ dư luận và bạn bè quốc tế, trước mắt là hỗ trợ các đợt tiếp theo của Tổng tiến công, chia lửa với chiến trường. Ngày 3-4-1968, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố: sẵn sàng cử đại diện của mình tiếp xúc với đại diện Mỹ nhằm xác định với phía Mỹ việc Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để có thể bắt đầu cuộc nói chuyện. Tuyên bố này của ta thực sự gây bất ngờ đối với phía Mỹ, bởi trong chính giới Oasinhtơn nhiều nhân vật có ảnh hưởng chính trị chưa nghĩ tới khả năng đàm phán khi chiến trường còn đang diễn biến quyết liệt. Dư luận chung nhìn nhận đây thực sự là cơ hội để dẫn đến hòa bình, thúc giục Tổng thống Giônxơn cam kết giữ đúng lời tuyên bố ngày 31-3-1968. Chính quyền Mỹ tỏ ra lúng túng, tranh thủ điều kiện mới, ta tiếp tục tiến công về ngoại giao, yêu cầu Mỹ chấm dứt hoàn toàn ném bom miền Bắc, chứ không chỉ ngừng từ phía bắc vĩ tuyến 20 trở ra, đồng thời phối hợp với quân và dân ta trên chiến trường để bắt đầu hình thành cục diện đánh - đàm.

Thứ hai, ngoại giao đã tạo sức ép quốc tế đối với Mỹ, nêu cao chính nghĩa để tranh thủ ủng hộ quốc tế đối với cuộc Tổng tiến công. Trong suốt đợt 1, các cơ quan ngoại giao và thông tấn của ta thường xuyên tiếp xúc, đưa tin đề cao lập trường chính nghĩa của ta. Từ tháng 5-1968, ta chính thức mở đàm phán với Mỹ tại Pari, nơi có sự hiện diện đông đảo của giới ngoại giao và báo chí quốc tế để có thể khuếch trương thắng lợi và tính chính nghĩa của cuộc đấu tranh của nhân dân ta. Suốt thời gian diễn ra đợt 2 và đợt 3 của tổng tiến công, tại bàn đàm phán, ta kiên quyết đấu tranh đòi Mỹ xuống thang chiến tranh ở miền Nam, chấm dứt hoàn toàn ném bom không điều kiện miền Bắc; đồng thời, kiên quyết bác bỏ các đề xuất không hợp lý của Mỹ về quân sự như: khôi phục khu phi quân sự, không bắn pháo vào các thành phố lớn, không tăng chi viện cho miền Nam. Như vậy, thành công của đấu tranh ngoại giao đã trực tiếp đóng góp cho các thắng lợi trên chiến trường.

Thứ ba, mặt trận ngoại giao đã phát huy thành quả trên chiến trường để buộc Mỹ chính thức xuống thang chiến tranh, công nhận địa vị của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, tạo nền tảng vững chắc để tiến tới ký kết Hiệp định Pari lịch sử tháng 1-1973. Trong suốt quá trình thương lượng từ tháng 5 đến tháng 10-1968, ta đã kiên trì yêu cầu Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc để thay đổi cục diện chiến lược của chiến tranh, tạo điều kiện xây dựng miền Bắc, đẩy mạnh chi viện cho miền Nam. Đến ngày 1-11-1968, Mỹ đã tuyên bố chấp nhận ngừng ném bom toàn miền Bắc, chấp nhận Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tham gia đàm phán bốn bên . Qua kênh đàm phán tại Pari, Mỹ đã thông báo trước cho ta về nội dung này. Ngày 2-11-1968, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra tuyên bố: Để đi đến một giải pháp chính trị đúng đắn về Việt Nam thì Chính phủ Mỹ phải từ bỏ âm mưu can thiệp và xâm lược đối với Việt Nam.

Việc ta quyết định chấp nhận đàm phán bốn bên đồng thời vẫn duy trì kênh đàm phán trực tiếp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Mỹ đã góp phần "trói chân" Mỹ vào đàm phán Pari, phát huy thành quả to lớn của Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968. Điều đó càng có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh chính quyền R. Níchxơn mới thắng cử sẽ có điều chỉnh chiến lược đối với chiến tranh tại Việt Nam, song không thể từ bỏ đàm phán. Việc ta buộc Mỹ chấp nhận vai trò của Mặt trận cũng góp phần phân hóa Mỹ - chính quyền Sài Gòn. Việc đạt thỏa thuận về đàm phán bốn bên cũng là minh chứng cho sự đúng đắn của đường lối của Đảng ta khi thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, có tác dụng cổ vũ, động viên to lớn đối với toàn thể đồng bào, chiến sĩ miền Nam, nhất là trong bối cảnh ta gặp nhiều khó khăn về lực lượng, thế đứng chân trong các năm 1969-1970.

Một số kinh nghiệm rút ra từ hoạt động ngoại giao năm Mậu Thân

Hoạt động trên mặt trận ngoại giao trong thời gian diễn ra cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 đã góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của cách mạng Việt Nam, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, mở ra cục diện "vừa đánh, vừa đàm" đưa sự nghiệp kháng chiến sang trang mới. Từ thực tiễn đấu tranh đó, có thể rút ra một số bài học quan trọng sau:

Một là, giữ vững nguyên tắc kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao, tạo sức mạnh tổng hợp; đồng thời đấu tranh ngoại giao cần phát huy tinh thần độc lập, tích cực, chủ động nhằm đạt được mục tiêu chiến lược cách mạng đề ra. Nhờ vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức, biện pháp khác nhau, mặt trận ngoại giao đã góp phần đánh lạc hướng nhận định, khoét sâu sai lầm chiến lược của đối phương; đồng thời giữ vững thành quả trên chiến trường bằng những cam kết công khai của đối phương, khuếch trương thắng lợi và tranh thủ sự ủng hộ to lớn về tinh thần và vật chất của bạn bè quốc tế, trực tiếp đóng góp vào chiến thắng và chi viện cho chiến trường.

Hai là, trên cơ sở nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng trong từng thời kỳ cách mạng, theo dõi chặt chẽ những diễn biến tình hình khu vực, trên trường quốc tế có liên quan, mặt trận ngoại giao cần có bước đi phù hợp, nhằm tranh thủ tối đa những thuận lợi, đồng thời hạn chế những tác động tiêu cực đến sự nghiệp cách mạng trong nước. Dù bối cảnh quốc tế cuối những năm 60 của thế kỷ XX và phong trào cách mạng thế giới có diễn biến rất phức tạp, nhất là mâu thuẫn giữa Liên Xô với Trung Quốc trở nên gay gắt, nhưng nhờ có chiến lược, sách lược đúng đắn, cuộc kháng chiến của nhân dân ta vẫn tranh thủ được sự đoàn kết, đồng tình ủng hộ, giúp đỡ của nhiều nước, đặc biệt là Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em.

Ba là, phát huy nhiều hình thức, biện pháp tiến công trực diện kẻ thù, khai thác tối đa mâu thuẫn nội bộ, đẩy đối phương vào tình thế ngày càng bị cô lập. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, ngoại giao ta đã góp phần to lớn thúc đẩy phong trào phản chiến của các tầng lớp nhân dân Mỹ dâng cao, tạo áp lực lớn đối với chính quyền Giônxơn; đồng thời đẩy mạnh tố cáo thái độ ngoan cố, hiếu chiến cùng thủ đoạn lừa bịp của Mỹ, làm tăng mâu thuẫn giữa Mỹ và chính quyền Sài Gòn..., tạo lợi thế trong cục diện "đánh - đàm" tại Hội nghị Pari, qua đó phát huy những thắng lợi đã đạt được, đồng thời góp phần khắc phục được những khó khăn ở chiến trường, nhất là tổng tiến công đợt 2 và đợt 3.

Sự kiện Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 đã trôi qua tròn nửa thế kỷ, song tầm vóc, ý nghĩa của sự kiện lịch sử trọng đại này trường tồn cùng thời gian. Trong thời điểm bước ngoặt đó, mặt trận ngoại giao tự hào đã góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của cách mạng. Những kinh nghiệm, những bài học hay về sự kết hợp đấu tranh ngoại giao và đấu tranh quân sự trong tổng tiến công cho tới nay vẫn còn nguyên giá trị. Chúng ta cần nghiên cứu vận dụng, phát huy trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đối ngoại, tranh thủ nguồn lực bên ngoài phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 16 Tháng Năm, 2020, 09:19:15 am
CÔNG AN NHÂN DÂN
TRONG CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968



Thượng tướng, GS.TS. TÔ LÂM
Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an


Trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là mốc son tiêu biểu, một bước ngoặt quyết định -  đòn tấn công chiến lược, bất ngờ với quy mô lớn vào sào huyệt của đối phương ở các thành phố, thị xã lớn trên toàn miền Nam. Cuộc Tổng tiến công đã làm đảo lộn thế chiến lược của địch, phá sản chiến lược "chiến tranh cục bộ", làm lung lay ý chí xâm lược và buộc đế quốc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, chấp nhận đàm phán với ta tại Hội nghị Pari về việc lập lại hòa bình ở Việt Nam. Thắng lợi oanh liệt của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã mở ra bước ngoặt mới của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, là một cuộc "tập dượt chiến lược" để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu đối với chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Thắng lợi đó là kết tinh của ý chí "Không có gì quý hơn độc lập, tự do" ; là kết quả của cuộc chiến đấu vô cùng anh dũng, mưu trí, sáng tạo, sự hy sinh oanh liệt của đồng bào, chiến sĩ hai miền Nam - Bắc, trong đó có những đóng góp quan trọng của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam.

Thất bại trong chiến dịch mùa khô thứ nhất, từ giữa năm 1966, Mỹ tiếp tục đưa thêm quân đội viễn chinh vào chiến trường miền Nam và ném bom bắn phá miền Bắc ngày càng ác liệt. Trước hành động điên cuồng của địch, ngày 17-7-1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi nhân dân cả nước quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Giữa lúc cuộc chiến leo thang đến đỉnh cao nhất, Bộ Chính trị họp bàn về hướng tấn công chiến lược năm 1968 và sau đó Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 14 thông qua chủ trương mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân nhằm giáng một đòn quyết định vào ý chí xâm lược của Mỹ.

Quán triệt Nghị quyết Hội nghị Bộ Chính trị tháng 12-1967 và Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 14 về "Động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên bước phát triển cao nhất, dùng phương pháp tổng công kích và tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định" ; Thường vụ Trung ương Cục miền Nam, Bộ Công an đã sớm đề ra các chủ trương, quyết định có tính chiến lược về công tác an ninh. Ngay từ ngày 15-12-1967, Thường vụ Trung ương Cục miền Nam ban hành Chỉ thị số 32/CT về nhiệm vụ, phương hướng công tác an ninh trong thời gian sắp tới, nêu rõ: "Phải hướng vào các đô thị, thị xã, thị trấn và các vùng yếu kết hợp với lực lượng vũ trang, chính trị của quần chúng để đẩy mạnh trừ gian diệt ác ôn, đánh rã bộ máy kìm kẹp, hạ uy thế địch, tạo thế cho phong trào cách mạng của quần chúng nổi dậy tiến lên tiêu diệt các cơ quan đầu não, các tổ chức công an, tình báo địch, các đảng phái phản động, đánh tan các cơ sở phản động của địch một cách triệt để, góp phần đánh sập chính quyền Sài Gòn từ Trung ương đến tận cơ sở, giành chính quyền về tay nhân dân; tích cực nắm vững tình hình địch, tích cực chuẩn bị lực lượng chuyên môn để triệt, để truy kích địch, bảo vệ chính quyền cách mạng sau này". Tiếp sau đó, ngày 14-1-1968, Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 22 đã nhận định năm 1968 có vị trí quan trọng đặc biệt đối với sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước trên cả hai miền nước ta và xác định công tác an ninh tập trung thực hiện tốt ba nhiệm vụ cơ bản là: 1- Ra sức giữ vững an ninh miền Bắc nhằm phục vụ tốt công cuộc xây dựng kinh tế và sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước ở miền Bắc và chi viện miền Nam; 2- Chi viện tốt cho công tác an ninh miền Nam, đảm bảo yêu cầu trước mắt, đồng thời đáp ứng kịp tình hình cách mạng khi có chuyển biến lớn; 3- Ra sức bồi dưỡng, đào tạo cán bộ, cải tiến công tác, cải tiến tổ chức và lề lối làm việc, tổng kết kinh nghiệm và xây dựng lý luận nghiệp vụ, nhằm bảo đảm thực hiện tốt hai nhiệm vụ trên.

Dưới sự chỉ đạo của Bộ Công an, Trung ương Cục miền Nam và cấp ủy đảng các cấp, lực lượng an ninh miền Nam đã huy động hơn 3.000 cán bộ, chiến sĩ an ninh thực hiện nhiệm vụ theo kế hoạch được phân công, kết hợp với lực lượng tại chỗ tiến công vào các cơ quan đầu não, bộ máy kìm kẹp an ninh, cảnh sát, hệ thống giao thông, sân bay, kho tàng, trại giam của địch trong các đô thị và lập nên những chiến công lớn. Trong cuộc chiến đấu quyết liệt, cam go, phức tạp đó, hơn 2.000 cán bộ, chiến sĩ an ninh và hàng trăm cơ sở của lực lượng an ninh đã hy sinh anh dũng, hàng trăm cán bộ, chiến sĩ bị địch bắt và giam giữ tù đày trong các nhà giam của địch. Vai trò và những đóng góp to lớn của lực lượng Công an nhân dân trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 được thể hiện trên các nội dung chính sau:

Thứ nhất, lực lượng công an đã chủ động chuẩn bị toàn diện về mọi mặt, sẵn sàng cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy.

Ngày 19-12-1967, Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn thành lập Phòng theo dõi tình hình miền Nam nhằm nghiên cứu góp ý kiến kịp thời các chủ trương, chính sách, biện pháp đấu tranh chống mọi hoạt động tình báo gián điệp, phá hoại của đế quốc Mỹ và tay sai, phục vụ cho tổng công kích, tổng khởi nghĩa đang đến gần. Cuối năm 1967, Bộ Công an đã triệu tập 776 cán bộ, mở 4 lớp học tại nơi sơ tán, bồi dưỡng mọi mặt chuẩn bị chi viện cho an ninh miền Nam; tháng 1-1968, tất cả cán bộ, chiến sĩ này cùng hàng trăm tấn vũ khí, tài liệu, phương tiện thông tin liên lạc được chi viện cho các chiến trường miền Nam. Công an nhân dân là một trong những lực lượng chi viện chiến trường miền Nam sớm nhất, đúng lúc, kịp thời, toàn diện về cán bộ, vũ khí, phương tiện kỹ thuật, hậu cần... góp phần quan trọng làm chuyển biến tương quan lực lượng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của cuộc Tổng tiến công.

Thiết thực hưởng ứng cuộc tiến công toàn diện của quân dân miền Nam, ở miền Bắc, lực lượng Công an nhân dân đẩy mạnh thi đua, đấu tranh làm thất bại chiến tranh gián điệp và chiến tranh tâm lý của địch, giữ gìn trật tự, an ninh để bảo vệ miền Bắc. Tại miền Nam, Ban an ninh tất cả các khu, phân khu, tỉnh thành đều có kế hoạch toàn diện về công tác bảo vệ, bố trí lực lượng tham gia các mũi tiến công vào các thành phố, thị xã, thị trấn, các vùng nông thôn địch còn tạm chiếm. Trong toàn miền đã xây dựng được thêm 117 cơ sở mới và 1.198 cơ sở bí mật trong các cơ quan tình báo, cảnh sát, đoàn bình định, ngụy quyền, đảng phái, tôn giáo, dân tộc. Mạng lưới giao liên được tăng cường, các tổ cơ yếu, điện đài, trinh sát kỹ thuật, thông tin liên lạc được hình thành phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và phục vụ công tác đánh địch.

Ở các vùng căn cứ giải phóng như Củ Chi (Sài Gòn - Gia Định), Tây Ninh, Long Xuyên, Châu Đốc, an ninh địa phương đã tham gia công tác vận động tân binh, bảo vệ hàng vạn dân công, hàng trăm tàu thuyền đưa đón cán bộ, bộ đội, vận chuyển vũ khí đạn dược, lương thực... từ căn cứ vào các thành phố, thị xã. Bộ phận kỹ thuật nghiệp vụ của Bộ tăng cường làm ra hàng nghìn giấy căn cước "Rồng xanh", giấy "miễn quân dịch", "sự vụ lệnh" giống như của địch để cấp cho cán bộ, chiến sĩ ta vào đô thị hoạt động.

Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới, Ban An ninh Trung ương Cục và Ban an ninh các địa phương đều kiện toàn lại tổ chức, cán bộ nhằm tăng cường cho các chiến trường chính và khu trọng điểm. An ninh khu trọng điểm Sài Gòn - Gia Định được tổ chức thành 6 phân khu. Giải thể Ban An ninh miền Đông Nam Bộ (T1), rút đội trinh sát bảo vệ chính trị và ban bảo vệ căn cứ 105 về thành lập đại đội an ninh vũ trang. Ngày 15-12-1967, Ban An ninh khu Sài Gòn - Gia Định còn thành lập đơn vị an ninh vũ trang với nhiệm vụ đánh vào mục tiêu Tổng nha Cảnh sát và Nha Cảnh sát đô thành. Lực lượng trinh sát vũ trang cũng được tăng cường, biên chế thành 2 đội làm nhiệm vụ tiêu diệt bọn tình báo đầu sỏ, cảnh sát ác ôn. Ngoài ra, Ban An ninh khu Sài Gòn - Gia Định còn cử một tổ tiền trạm xuống địa bàn để xây dựng căn cứ cho Bộ Tư lệnh Tiền phương.

Thứ hai, bám sát địa bàn, nắm chắc tình hình địch; tích cực thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, dẫn đường, phối hợp với Quân giải phóng và nhân dân đẩy mạnh trừ gian, diệt ác, phá rã bộ máy kìm kẹp, đánh chiếm các cơ quan đầu não của địch, tạo thế cho quần chúng nổi dậy giành chính quyền.

Lực lượng An ninh miền Nam đã tập trung nắm các cơ quan, tổ chức, trụ sở công khai, bí mật của địch, các kho cất giấu tài liệu, các đảng phái phản động; nắm chắc danh sách, nhận dạng, lý lịch của số cầm đầu ác ôn trong ngụy quyền, số chỉ huy quân sự, tình báo, an ninh quân đội Mỹ - Sài Gòn, cảnh sát, số chiêu hồi bình định chiến tranh tâm lý, chỉ huy trong các trung tâm cải huấn... Những thông tin, tình hình này đã phục vụ đắc lực cho kế hoạch tổng tiến công của quân và dân ta vào đầu năm 1968.

Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, đêm 30 rạng sáng 31-1-1968, các lực lượng vũ trang miền Nam đã mở một cuộc tổng tiến công trên toàn chiến trường, đánh thẳng vào các thành phố, thị xã, hàng trăm quận lỵ, căn cứ, kho tàng, sân bay, bến cảng, sở chỉ huy của địch. An ninh miền Nam đã huy động toàn bộ lực lượng cùng với các lực lượng vũ trang khác và quần chúng nhân dân thực hiện "hai chân", "ba mũi" giáp công xuyên suốt trong cả quá trình chiến tranh cách mạng ở miền Nam; tổ chức thành công lối đánh dũng mãnh, táo bạo, bất ngờ, đồng loạt, nhằm trúng các mục tiêu "yết hầu", "huyết mạch", "tim óc" của địch; trong đợt I, ta đã bắt, diệt 15.135 gián điệp, tình báo, trong đó có 1.359 tình báo, 1.766 cảnh sát, 632 bình định nông thôn, 492 ác ôn, 3.409 tên đầu sỏ; giải phóng hầu hết các nhà lao (trung tâm cải huấn) và trại giam, giải thoát hơn 6.000 cán bộ và đồng bào yêu nước; tham gia phá vỡ 4.200 ấp chiến lược, giải phóng thêm 1,4 triệu dân. Hệ thống ngụy quyền cùng bộ máy kìm kẹp của địch bị phá rã nặng nề; khối lượng lớn phương tiện chiến tranh của địch bị phá hủy.

Tại khu trọng điểm Sài Gòn - Gia Định, An ninh T4 đã huy động mọi lực lượng hoàn thành nhiệm vụ trừ gian diệt ác và những đối tượng đầu sỏ quan trọng, hỗ trợ phong trào quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ ở cơ sở. Đặc biệt, 12 cán bộ, chiến sĩ phân đội An ninh vũ trang thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, dẫn đường đưa một bộ phận Bộ Tư lệnh Tiền phương II luồn sâu vào trung tâm thành phố, đã chiến đấu anh dũng, hy sinh đến người cuối cùng trên đường phố Quận 11 để tạo điều kiện cho lãnh đạo rút lui an toàn.
Tại Huế, trong đợt Tổng tiến công Xuân Mậu Thân 1968, lực lượng an ninh và bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích đồng loạt tiến công vào các mục tiêu trọng điểm và nhanh chóng chiếm phần lớn các vị trí trong thành phố, giải phóng hàng chục xã, hàng trăm thôn với hàng chục vạn dân và giữ thành phố trong 25 ngày đêm.

Tại các địa phương khác như: Tây Ninh, Biên Hòa, Bà Rịa, Bình Dương, Long An, Gò Công, Mỹ Tho, Bến Tre, Kiến Phong, Cần Thơ, Vĩnh Long... lực lượng an ninh các địa phương đã giữ vai trò nòng cốt trong công tác mở đường, nắm tình hình, cùng với các lực lượng vũ trang giải phóng, quần chúng nhân dân đồng loạt tiến công vào các trụ sở của địch, trừng trị ác ôn ngoan cố, tìm bắt tề điệp, cảnh sát, chiêu hồi bình định, phá thế kìm kẹp của địch. Các chiến sĩ an ninh đã phát động quần chúng bảo mật phòng gian, vận động nhân dân làm hầm hào phòng địch đánh phá, giáo dục gia đình có người theo địch trở về, xây dựng xã chiến đấu, kiên quyết giữ vững quyền làm chủ ở ấp, xã; nhanh chóng, kịp thời khai thác những tên địch bị bắt và những tên đầu hàng, đầu thú phục vụ kế hoạch tiến công và nổi dậy xóa bỏ bộ máy kìm kẹp của địch.


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 16 Tháng Năm, 2020, 09:21:36 am
Thứ ba, bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt, bí mật, an toàn, kịp thời truyền đạt những chỉ đạo, mật lệnh của Trung ương Đảng, Đảng đoàn, lãnh đạo Bộ Công an về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh, thắng hay bại của cuộc chiến tranh một phần lớn do biết giữ bí mật hay không biết giữ bí mật quyết định. Trong bài "Giữ bí mật" đăng trên báo Sự thật, số 97, ngày 30-7-1948 với bút danh A.G, Người viết: "Ta biết giữ bí mật, thì bọn Việt gian mật thám khó mà hoạt động. Ta biết giữ bí mật, thì dù địch có trăm tai, ngàn mắt, cũng không dò được tin tức của ta. Vì vậy, biết giữ bí mật, tức là đã nắm chắc một phần thắng lợi trong tay ta". Quán triệt tư tưởng của Người, lực lượng Cơ yếu Công an miền Bắc và An ninh miền Nam ở nhiều địa bàn khác nhau, từ các căn cứ chiến đấu, vùng giải phóng đến tận sào huyệt của kẻ thù ở Sài Gòn, đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, mưu trí, dũng cảm bảo vệ tài liệu mật mã, chuyển báo bí mật an toàn về Bộ Công an hàng nghìn nguồn tin tình báo có giá trị chiến lược, giúp Bộ Chính trị, Đảng đoàn và lãnh đạo Bộ Công an kịp thời đánh giá tình hình và đưa ra các chủ trương chỉ đạo sâu sát đối với cách mạng miền Nam. Tháng 12-1967, Cơ yếu An ninh Trung ương Cục đã kịp thời giải mã bức điện tuyệt mật về "Kế hoạch Mậu Thân (1968)" được chuyển từ miền Bắc vào qua đường Phnôm Pênh (Campuchia). Nội dung kế hoạch được đảm bảo tuyệt đối bí mật về ngày, giờ tấn công và nổi dậy của toàn quân và dân miền Nam. Cơ yếu Công an nhân dân ở hai miền Nam - Bắc đã mã dịch chuyển báo kịp thời, an toàn một tài liệu cực kỳ quan trọng của lãnh đạo Bộ Công an về một số vấn đề xung quanh việc quản lý các đô thị mới giải phóng cho An ninh Trung ương Cục chỉ đạo các đơn vị an ninh cơ sở miền Nam tổ chức thực hiện. Sau này, khi đánh giá vai trò và những đóng góp to lớn của công tác cơ yếu Công an nhân dân, đồng chí Lê Duẩn khẳng định: "Trong mấy chục năm qua, chúng ta đánh giặc, chúng ta biết được rằng: Những lúc quan trọng nhất, những vấn đề bí mật nhất của ta không bị lộ. Các đồng chí đã góp phần rất quan trọng vào việc giữ bí mật, vào sức mạnh chung để giành thắng lợi" .

Thứ tư, đẩy mạnh phong trào phòng gian bảo mật; bảo vệ tuyệt đối an toàn các cơ quan đầu não của cách mạng miền Nam, bảo vệ các đồng chí lãnh đạo, các Bộ Tư lệnh Tiền phương tham gia công tác chỉ đạo cuộc Tổng tiến công và nổi dậy ở địa phương.

Trước tình hình địch đánh phá ác liệt, để thực hiện mục tiêu bảo vệ an toàn tuyệt đối các cơ quan đầu não trong mọi tình huống, Ban An ninh Trung ương Cục đã hết sức chú trọng chỉ đạo, hướng dẫn công tác bảo vệ, nâng cao cảnh giác, phòng gian bảo mật; nhiều kế hoạch chống thám báo, trinh sát, do thám, biệt kích, gián điệp được vạch ra và triển khai thực hiện hiệu quả. Lực lượng an ninh đã đấu tranh làm thất bại nhiều hoạt động tình báo, gián điệp của địch; phối hợp với các lực lượng chức năng của quân đội, cơ quan các cấp rà soát làm trong sạch nội bộ, tuần tra, canh gác vũ trang đảm bảo giữ bí mật tuyệt đối về địa điểm đóng quân, trụ sở cơ quan Trung ương Cục miền Nam, các khu ủy, nơi cất giấu vũ khí, đạn dược, hầm nuôi giấu cán bộ trong khu vực nội đô; bảo vệ tuyệt đối an toàn các nhân sĩ, trí thức trong Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam.

Thứ năm, chủ động phục hồi lực lượng tại những vùng địch phản công chiếm giữ; kiên cường bám đất, bám dân, vừa khôi phục sinh hoạt bình thường của nhân dân vừa nhanh chóng bảo đảm trật tự trị an địa bàn.

Sau Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, địch tập trung lực lượng phản kích rất quyết liệt, gây cho ta nhiều thiệt hại, trong đó có lực lượng an ninh. Nhiều cơ sở an ninh bị vỡ, có nơi hầu như "trắng tay", phải mất một thời gian dài mới khôi phục được. Đây là giai đoạn cực kỳ khó khăn của lực lượng an ninh miền Nam. Trong bối cảnh vô cùng phức tạp và ác liệt đó, để xây dựng và củng cổ tổ chức cơ sở an ninh đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, ngoài các lực lượng vũ trang bám chặt địa bàn đánh địch với khẩu hiệu "Một tấc không đi, một ly không rời", ban lãnh đạo đặc khu Sài Gòn - Gia Định chỉ đạo phân tán nhỏ căn cứ và nới rộng bàn đạp ra các tỉnh xung quanh làm nơi đứng chân; xây dựng nhiều đầu mối giao liên an ninh đảm bảo sự chi viện bên ngoài vào đô thị, đồng thời đón nhận sự chi viện của an ninh miền Nam và Bộ Công an về cán bộ, vũ khí, tài chính... Cuối năm 1968, thực hiện chỉ đạo của cấp trên, Ban An ninh T4 chỉ đạo lực lượng trinh sát vũ trang chuyển hướng kịp thời; thông qua vận động giác ngộ quần chúng tham gia các phong trào công khai chống địch như phong trào công nhân, sinh viên, học sinh, phụ nữ để tuyển chọn vào lực lượng an ninh mật, điệp báo, tạo chỗ ăn, ở cho cán bộ, chiến sĩ an ninh...; thông qua xây dựng "lõm" chính trị trong nội đô để xây dựng lực lượng an ninh rộng khắp. Ban an ninh và một số cán bộ còn bám được địa bàn nội đô móc ráp lại cơ sở bị gián đoạn, hình thành mạng lưới điệp báo trong nội thành.

Cùng với đó, lực lượng an ninh chủ động nghiên cứu, đề xuất cấp ủy và nhanh chóng triển khai đồng bộ các biện pháp nhằm ngăn ngừa các thủ đoạn chia rẽ, lôi kéo, phá hoại của địch, bảo đảm trật tự trị an địa bàn; phối hợp cùng với các lực lượng khác khôi phục sinh hoạt bình thường của quần chúng nhân dân.

Qua ba đợt Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, lực lượng Công an nhân dân mà trực tiếp là lực lượng An ninh miền Nam đã góp phần to lớn vào thắng lợi chung của quân và dân cả nước, giáng một đòn chí tử vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, đánh trúng, đánh thẳng vào các cơ quan đầu não của bộ máy chính quyền Sài Gòn, làm rung động dư luận quốc tế và chính giới Hoa Kỳ.
Kỷ niệm 50 năm Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 (1968-2018) là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta ôn lại truyền thống vẻ vang, những chiến công oanh liệt trong lịch sử đấu tranh cách mạng hào hùng của dân tộc. Chúng ta thành kính tôn vinh, bày tỏ lòng tri ân sâu sắc trước những cống hiến, hy sinh to lớn của quân, dân ta, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân đã làm nên chiến công lịch sử trọng đại này.

Tiếp tục phát huy tinh thần Tổng tiến công và nổi dậy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, sự phối hợp, giúp đỡ của các lực lượng và sự đùm bọc, che chở, ủng hộ của nhân dân, lực lượng Công an nhân dân luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng, hun đúc bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ nòng cốt trong bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm, mãi xứng đáng với sự tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, góp phần thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 16 Tháng Năm, 2020, 09:26:40 am
SỨC MẠNH CHÍNH TRỊ, TINH THẦN - NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH THẮNG LỢI
CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968



Thượng tướng LƯƠNG CƯỜNG
Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương,
Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam



1. Cách đây 50 năm, vào đêm ngày 30 rạng ngày 31-1-1968 (đêm mồng một Tết Mậu Thân), cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 của quân và dân ta đã diễn ra trên ba vùng chiến lược: nông thôn đồng bằng, đô thị và miền núi. Tại địa bàn đô thị, quân và dân ta đã đồng loạt tiến công và nổi dậy ở 4/6 thành phố lớn, trọng điểm là Sài Gòn - Gia Định và Huế, 37/44 thị xã và hàng trăm quận lỵ, thị trấn ở miền Nam Việt Nam. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, quân và dân ta đã tiến công vào nhiều cơ quan đầu não của địch, như Dinh Độc Lập, Tòa Đại sứ Mỹ, Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Tư lệnh Hải quân, Tổng nha Cảnh sát, Đài Phát thanh Sài Gòn,... Tại địa bàn nông thôn đồng bằng, được sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang, quần chúng nhân dân đã nổi dậy, đập tan bộ máy chính quyền của địch ở nhiều nơi, giành quyền làm chủ, xây dựng, củng cố và mở rộng vùng giải phóng.

Lần đầu tiên sau nhiều năm tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam, toàn bộ hệ thống phòng thủ đô thị của quân Mỹ, chính quyền và quân đội ngụy quyền Sài Gòn đã bị quân ta tiến công; hậu phương, hậu cứ chiến tranh của địch trở thành chiến trường - nơi đọ sức quyết liệt giữa ta và địch trong nhiều ngày, có nơi kéo dài hàng tháng.

Quân và dân ta đã đánh mạnh, đánh hiểm, đánh trúng vào 4 bộ tư lệnh quân đoàn, 8/11 bộ tư lệnh sư đoàn quân ngụy Sài Gòn, 2 bộ tư lệnh dã chiến của Mỹ cùng nhiều bộ tư lệnh lữ đoàn, trung đoàn, các tiểu khu, chi khu và hàng trăm căn cứ quân sự, kho tàng, sân bay, bến cảng, đường giao thông; tiêu diệt nhiều tên địch, phá hủy hơn 34% vật tư, phương tiện chiến tranh của quân Mỹ và quân ngụy Sài Gòn, đưa chiến tranh cách mạng vào trung tâm thành phố, nơi đầu não của kẻ thù, làm rối loạn hậu phương địch; giáng đòn chí mạng và làm suy giảm uy thế của quân đội Mỹ trên chiến trường miền Nam Việt Nam.

Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 được ghi vào lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam như là một mốc son chói lọi, một chiến thắng mang tính quyết định: đè bẹp ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, tạo nên bước ngoặt của chiến tranh, buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán, thương lượng với ta. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 của quân và dân ta là một cuộc tập dượt lớn chuẩn bị cho giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước vào mùa Xuân 1975.

Sức mạnh làm nên thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 của quân và dân ta là sức mạnh tổng hợp của đất nước, trong đó sức mạnh chính trị, tinh thần được phát huy cao độ, là nhân tố có vai trò quyết định, được thể hiện trên những nội dung chủ yếu sau:

Một là, sức mạnh chính trị, tinh thần của quân và dân ta là động lực to lớn, chiếm ưu thế tuyệt đối so với quân Mỹ và tay sai trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

Xem xét nguyên nhân thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 nếu chỉ dựa trên quan điểm vũ khí luận thì không thể đưa ra được lời giải đáp đúng đắn. Bởi vì, vào cuối năm 1967, ở chiến trường miền Nam Việt Nam, chính quyền Mỹ đã huy động 480.000 quân Mỹ (70% lục quân, 60% không quân, 40% hải quân, 60% lực lượng lính thủy đánh bộ); 68.800 quân của các nước chư hầu; 552.000 quân của quân đội ngụy quyền để thực hiện mục tiêu thôn tính nước ta. Trong tương quan so sánh lực lượng trên chiến trường khi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 diễn ra thì đối phương có ưu thế hơn ta về quân số, vũ khí và trang bị kỹ thuật quân sự.

Trong chiến tranh, để giành thắng lợi, nhất thiết phải tạo ra sức mạnh vượt trội so với kẻ thù. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, sức mạnh chính trị, tinh thần của quân và dân ta là cơ sở, "chất keo" kết dính các nhân tố khác, quy tụ, tập hợp, khơi dậy và nhân lên sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc; huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, sức mạnh vật chất và tinh thần của dân tộc, làm chuyển hóa lực lượng, thế trận, tạo ra ưu thế vượt trội về mọi mặt so với quân địch. Vì vậy, sức mạnh chính trị, tinh thần của quân và dân ta là một trong những nhân tố có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định thắng lợi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

Sức mạnh chính trị, tinh thần đã góp phần làm nên cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, là sự kết tinh, hội tụ ý chí quyết tâm đánh giặc và thắng giặc của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam; là sức mạnh của hậu phương lớn miền Bắc đối với tiền tuyến lớn miền Nam và sự kiên trung, anh dũng, kiên quyết chống kẻ thù xâm lược, cứu nước, cứu nhà của nhân dân cả nước; là sức mạnh tổng hợp của đất nước và của chế độ xã hội chủ nghĩa, kết hợp chặt chẽ với sức mạnh thời đại.

Đánh giá nguyên nhân thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: "Thắng lợi đó là thắng lợi của đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng ta, thắng lợi của lòng yêu nước nồng nàn và của sức mạnh toàn dân đoàn kết quyết chiến quyết thắng, thắng lợi của chế độ xã hội chủ nghĩa tốt đẹp" .

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là sự hội tụ và phát huy cao độ sức mạnh chính trị, tinh thần của dân tộc, ý chí quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân hai miền Nam, Bắc nhằm thực hiện mục tiêu chính nghĩa, thiêng liêng mà Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định. Với lòng yêu nước nồng nàn, căm thù giặc sâu sắc, ý chí quyết tâm sắt đá, quân và dân ta luôn tin tưởng tuyệt đối vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; giành độc lập, tự do cho dân tộc, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Thắng lợi to lớn của quân và dân ta trong phong trào Đồng khởi những năm đầu thập kỷ 60 của thế kỷ XX, sau đó là các chiến thắng Ấp Bắc, Vạn Tường, chiến thắng trong chiến dịch mùa khô năm 1967 đã góp phần làm phá sản chiến lược "chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ cũng như thắng lợi trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của đế quốc Mỹ ra miền Bắc là thực tế sinh động, phản ánh "ưu thế tuyệt đối" về chính trị, tinh thần của quân và dân ta so với quân xâm lược và bè lũ tay sai.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, ưu thế tuyệt đối về sức mạnh chính trị, tinh thần của quân và dân ta là ưu thế về sức mạnh của "lòng dân", của những người chiến đấu vì mục tiêu, lý tưởng cao cả; ưu thế về tinh thần, ý chí quyết tâm chiến đấu của những người dân yêu nước, đầy khát vọng và mong muốn sống trong hòa bình, độc lập, tự do; kiên quyết chiến đấu để giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, thể hiện rõ ở chân lý "Không có gì quý hơn độc lập, tự do" của nhân dân ta.
Sức mạnh chính trị, tinh thần của quân và dân ta luôn được tăng cường trong quá trình tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và được phát huy cao độ, trở thành sức mạnh to lớn trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Dựa trên sức mạnh chính trị, tinh thần, quân và dân ta đã tạo ra thế và lực để mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, nhờ đó, thế và lực của ta không ngừng phát triển, tạo ra những tiền đề mới để giải phóng miền Nam.

 Hai là, sức mạnh chính trị, tinh thần là nhân tố quyết định chuyển hóa lực lượng, thế trận, tạo ra ưu thế vượt trội so với quân địch trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

Tinh thần yêu nước, tình yêu quê hương, khát vọng sống hòa bình, độc lập dân tộc và ý chí quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; sự giác ngộ sâu sắc mục tiêu, lý tưởng chiến đấu và lẽ sống của cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang đã được phát huy và nhân lên thành sức mạnh, góp phần chuyển hóa thế trận, tạo ra ưu thế vượt trội so với quân địch trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

Trong năm 1967, hơn 94.000 cán bộ, chiến sĩ ở miền Bắc đã được biên chế thành từng trung đoàn, sư đoàn bộ binh và binh chủng kỹ thuật để bổ sung cho mặt trận Trị - Thiên, Khu 5, Tây Nguyên, Nam Bộ, nâng tổng số Quân giải phóng miền Nam lên hơn 220.000 quân chủ lực và 57.000 quân địa phương (không kể dân quân, du kích và tự vệ). Trong hai năm 1967 và 1968, các chiến sĩ vận tải, thanh niên xung phong, hải quân ở miền Bắc đã vượt Trường Sơn và biển cả để chi viện cho chiến trường miền Nam: 118.923 tấn vũ khí, lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh..., đã phục vụ đắc lực cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy.

Sức mạnh chính trị, tinh thần của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là động lực có uy thế tuyệt đối để quân và dân ta vượt mọi thử thách, khó khăn, gian khổ; phát huy cao nhất tinh thần chủ động, sáng tạo trong chiến đấu, nâng cao hiệu quả sử dụng vũ khí, trang bị để tìm ra cách đánh hay, phù hợp, giành được thắng lợi. Lý tưởng, lẽ sống "cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù", tinh thần "cả nước ra quân, toàn dân đánh giặc" của quân và dân ta được phát huy cao độ trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Sự dũng cảm, kiên cường, mưu trí và sáng tạo trong chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ trên khắp miền Nam trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là biểu hiện sinh động của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Hình ảnh anh Giải phóng quân mặc dù đã hy sinh khi tiến công địch ở sân bay Tân Sơn Nhất, nhưng tay vẫn ôm chặt súng hướng nòng về phía địch làm cho kẻ thù khiếp sợ, được nhà thơ Lê Anh Xuân khắc họa trong bài thơ Dáng đứng Việt Nam, nói lên sự hiên ngang, bất khuất của các chiến sĩ Giải phóng quân trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 1.

Sức mạnh chính trị, tinh thần to lớn của quân ta trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã được những người bên kia chiến tuyến thừa nhận và khâm phục. Thượng nghị sĩ R.Kennơđi đã phải thốt lên rằng: "Tại sao nửa triệu lính Mỹ, có 70 vạn lính Nam Việt Nam cộng tác, có ưu thế hoàn toàn trên không và ngoài biển, được cung cấp đầy đủ trang bị, vũ khí hiện đại lại không có khả năng bảo vệ được thành phố khỏi bị đối phương tấn công". Trung tướng B.Traino, người từng có mặt ở chiến trường miền Nam Việt Nam, nhận xét: "Tôi thấy cuộc kháng chiến của Việt Nam có nét tương đồng với chiến tranh giành độc lập của Hoa Kỳ. Cũng như các nhà cách mạng Mỹ thời đó, người Việt quyết chiến đến cùng. Những người dân Mỹ hồi đó đã đi tới một quyết định rằng độc lập là thiết yếu. Họ đặt cược tính mạng và của cải của mình vào sự nghiệp giành độc lập...". Sau này, trong hồi ký, Tổng thống Mỹ L.B.Giônxơn xác nhận: Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân là "một sự choáng váng đối với tất cả người Mỹ", "cố gắng của đối phương đã gây ra một hậu quả tác động xấu đến một số người trong và ngoài Chính phủ", nhân dân Mỹ và một số nhân vật trong chính quyền bắt đầu nghĩ rằng chúng ta đã thất bại".




--------------------------------------------------------------
1. "Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhất
   Nhưng Anh gượng đứng lên tỳ súng trên xác trực thăng
   Và Anh chết trong khi đang đứng bắn
   Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng
   Chợt thấy Anh, giặc hốt hoảng xin hàng
   Có thằng sụp xuống chân Anh tránh đạn
   Bởi Anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm
   Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tiến công
".
                   (Dáng đứng Việt Nam - Lê Anh Xuân)



Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 16 Tháng Năm, 2020, 09:28:45 am
Ba là, sức mạnh chính trị, tinh thần đã quy tụ, khơi dậy và phát huy vai trò to lớn của quần chúng nhân dân trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

Khát vọng sống hòa bình và ý chí quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của quân và dân ta được tập hợp, khơi dậy và phát huy cao độ trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Vào thời điểm ấy, Nghị quyết của Bộ Chính trị về "Tình hình và nhiệm vụ cách mạng miền Nam" (12-1967), đã xác định chủ trương: Động viên những nỗ lực lớn nhất của quân dân hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng của quân và dân ta lên bước phát triển cao nhất, bằng phương pháp tổng công kích, tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi. Khẩu hiệu trung tâm của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy được Nghị quyết xác định là: Độc lập, tự do, hòa bình, cơm áo, ruộng đất, chấm dứt chiến tranh xâm lược, đế quốc Mỹ rút quân về nước, chủ quyền thuộc về người Việt Nam.

Trong quá trình chuẩn bị và tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, Quân giải phóng miền Nam đã huy động được phần lớn nhân dân trên địa bàn các tỉnh miền Đông Nam Bộ tham gia vận chuyển vũ khí, lương thực, thực phẩm vào nội đô, cất giấu và cứu thương, tải thương khi chiến sự nổ ra, và xây dựng được phong trào "hũ gạo nuôi quân". Lực lượng quần chúng kết hợp với các đơn vị vận tải của Quân giải phóng đã chuyển hàng trăm tấn hàng từ vùng Mỏ Vẹt xuống vùng Tây Nam Sài Gòn. Quân giải phóng đã huy động hàng trăm xe bò chở hàng từ Mỏ Vẹt xuống Hóc Môn, Gò Vấp. Trước Tết Mậu Thân, mỗi gia đình để sẵn năm lon gạo đón chủ lực, sau đó, cứ mỗi tuần lại quyên góp một lần (do Hội Phụ nữ phát động). Các huyện đều thành lập đội cung cấp để huy động lương thực, thực phẩm trong nhân dân phục vụ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Mỗi xã có ban quân lương, đội cứu thương, tải thương. Các gia đình đều đào sẵn hầm để nuôi giấu thương binh hoặc chôn giấu vũ khí...

Đánh giá hiệu quả tham gia của quần chúng nhân dân trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, Đại tướng Lê Đức Anh viết: "Quần chúng đã tham gia tích cực vào cuộc chuẩn bị cho đợt tiến công này và sau khi nổ súng đã tham gia đông đảo bằng nhiều hình thức trên nhiều lĩnh vực. Nhân dân đã trinh sát, nắm tình hình, dẫn đường, che giấu bộ đội và tích cực tham gia chiến đấu, tiếp tế cơm nước cho bộ đội, nuôi dưỡng thương binh rồi đưa về căn cứ. Nhiều người, nhiều trường hợp cả gia đình bị bắt, khủng bố, tù đày... vẫn một lòng hướng về cách mạng, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp giải phóng đất nước" .

Nhờ xây dựng được thế trận chiến tranh nhân dân và sự giúp đỡ tận tình, có hiệu quả của quần chúng nhân dân nên Quân giải phóng đã đồng loạt nổ súng và tiến công địch trên các địa bàn rộng khắp miền Nam. Điều này khiến cho quân địch kinh hoàng, khiếp sợ. Sự ủng hộ của nhân dân miền Nam đối với Quân giải phóng được nhà sử học Nguyễn Hiến Lê viết trong hồi ký: "Khắp thế giới ngạc nhiên và phục "Việt cộng" tổ chức cách nào mà Chính phủ Việt Nam Cộng hòa không hay biết gì cả. Họ đã lén chở khí giới, đưa cán bộ vào Sài Gòn, Huế... từ hồi nào, chôn giấu, ẩn núp ở đâu? Chắc chắn dân chúng đã che chở họ, tiếp tay với họ, không ai tố cáo cho nhà cầm quyền biết. Trái lại, mỗi cuộc hành quân lớn nhỏ nào của Việt Nam Cộng hòa họ đều biết trước ngày và giờ để kịp thời đối phó. Nội điểm đó thôi cũng đủ cho thế giới biết họ được lòng dân miền Nam ra sao và tại sao Mỹ thất bại hoài" .

2. Sức mạnh chính trị, tinh thần của quân và dân ta là nhân tố cơ bản tạo nên sức mạnh tổng hợp của dân tộc, là ưu thế tuyệt đối của ta so với quân địch, là nhân tố quyết định thắng lợi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, qua đó đã chứng minh quan điểm đúng đắn của V.I. Lênin về vai trò của nhân tố tinh thần: "Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường. Lòng tin vào cuộc chiến tranh chính nghĩa, sự giác ngộ rằng cần phải hy sinh đời mình cho hạnh phúc của những người anh em, là yếu tố nâng cao tinh thần của binh sĩ và làm cho họ chịu đựng được những khó khăn chưa từng thấy" . Sức mạnh chính trị, tinh thần của quân và dân ta trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 được nhân lên và phát huy cao độ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và là nhân tố quyết định thắng lợi của Đại thắng mùa Xuân 1975, "đánh cho ngụy nhào", giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Hiện nay, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa có nhiều thuận lợi, song cũng đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều yếu tố khó lường; tình trạng xâm phạm chủ quyền quốc gia - dân tộc, tranh chấp lãnh thổ, xung đột sắc tộc, tôn giáo, can thiệp lật đổ, khủng bố, chiến tranh cục bộ, chiến tranh thông tin, chiến tranh mạng,... tiếp tục diễn ra gay gắt ở nhiều khu vực. Cộng đồng quốc tế phải đối phó ngày càng quyết liệt với các thách thức an ninh truyền thống, an ninh phi truyền thống và các hình thái chiến tranh kiểu mới. Tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương và trên Biển Đông tiếp tục diễn ra gay gắt, ngày càng phức tạp hơn. Ở trong nước, thế và lực, sức mạnh tổng hợp của đất nước ngày càng được nâng lên, tạo ra những tiền đề quan trọng để thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, tình hình kinh tế - xã hội của đất nước vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém. Tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường thời kỳ hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và gay gắt hơn. Bốn nguy cơ mà Đảng ta chỉ ra vẫn còn tồn tại, có mặt diễn biến phức tạp hơn. Điều đó tác động, ảnh hưởng không nhỏ tới việc thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Vai trò sức mạnh chính trị, tinh thần làm nên thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 cho thấy, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trong tương lai nếu xảy ra, có thể kẻ thù vẫn chiếm ưu thế về vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự, nhưng ưu thế tuyệt đối về chính trị, tinh thần cũng như sức mạnh tổng hợp vẫn thuộc về quân và dân ta. Đây là cơ sở vững chắc để củng cố lòng tin của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới. Tuy nhiên, để tăng cường sức mạnh chính trị, tinh thần, làm cơ sở nâng cao sức mạnh tổng hợp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới, đòi hỏi Đảng, Nhà nước, các ban, bộ, ngành ở Trung ương và địa phương, cả hệ thống chính trị phải thật sự quan tâm chăm lo xây dựng "thế trận lòng dân", phát huy sức mạnh nhân tố chính trị, tinh thần trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đặc biệt chú trọng giáo dục tinh thần yêu nước gắn với yêu chủ nghĩa xã hội, truyền thống chống giặc ngoại xâm, ý thức tự lực, tự cường; chăm lo xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, xây dựng "thế trận lòng dân", tạo nền tảng vững chắc để xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân. Xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 16 Tháng Năm, 2020, 09:34:12 am
BỘ TỔNG THAM MƯU TRONG CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968



Thượng tướng, TS. PHAN VĂN GIANG
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương,
Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng


Vào thời điểm Tết Mậu Thân 1968, quân và dân ta ở miền Nam đã mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, đồng loạt đánh vào 4/6 thành phố lớn, 37/44 thị xã, 64 thị trấn, chi khu, quận lỵ, sân bay, căn cứ hậu cần... của Mỹ và chính quyền Sài Gòn trên chiến trường miền Nam. Đây là cuộc tập kích chiến lược của ta có quy mô rộng lớn nhất, cường độ mãnh liệt nhất từ trước đến thời điểm đó. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã làm cho quân Mỹ, quân Sài Gòn và quân đồng minh của Mỹ thiệt hại nặng nề 1, gây kinh hoàng cho nước Mỹ, làm lung lay ý chí xâm lược của giới cầm quyền Mỹ, tạo ra sự thay đổi đột biến của cuộc chiến tranh. Quân đội Sài Gòn và chính quyền Sài Gòn từ Trung ương đến địa phương bị tê liệt chỉ huy, rối loạn hiệp đồng. Nội bộ Mỹ và Sài Gòn mâu thuẫn, đổ lỗi cho nhau. Thế trận chiến lược của Mỹ ở chiến trường miền Nam bị đảo lộn từ thế chủ động phản công chiến lược, buộc phải chuyển vào phòng ngự bị động chống đỡ ngay tại địa bàn thành phố, thị xã. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 làm cho các tầng lớp nhân dân trên toàn nước Mỹ xuống đường biểu tình phản đối chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Nội các Mỹ bị phân hóa, chia rẽ sâu sắc. Tổng thống Giônxơn phải triệu tập cuộc họp khẩn cấp để thảo luận về cuộc chiến tranh ở Việt Nam.

Đối với ta, thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là kết quả hợp thành của nhiều nhân tố, trong đó, vai trò của Bộ Tổng Tham mưu trong giai đoạn tiến công địch, có ý nghĩa quan trọng, được thể hiện ở một số nội dung chủ yếu sau.

Một là, tổ chức hoạt động tác chiến nghi binh, tạo lập thế trận, nắm chắc thời cơ đồng loạt nổ súng tiến công địch.

Tính đến tháng 12-1967, về so sánh tương quan lực lượng, địch vẫn mạnh hơn ta. Các cơ quan chỉ huy đầu não trọng yếu của địch, như: Sài Gòn - Gia Định, Đà Nẵng, Huế và các thành phố, thị xã trên chiến trường miền Nam, được bố trí lực lượng bảo vệ nhiều lớp, nghiêm ngặt, do đó, việc ta đưa lực lượng vào tiếp cận, tạo lập thế trận đồng loạt tiến công các mục tiêu là vấn đề rất khó khăn. Để giải quyết vấn đề này, trên cơ sở quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu đã chỉ đạo các lực lượng của ta tổ chức một số hoạt động tác chiến nhằm nghi binh, thu hút, giam chân chủ lực địch, kéo sự chú ý của chúng về một hướng, tạo điều kiện thuận lợi cho các lực lượng cơ động tiếp cận, áp sát mục tiêu, hình thành thế trận đồng loạt tiến công thực hiện thắng lợi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Trong đó, Bộ Tổng Tham mưu đã chỉ đạo Quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với nước bạn Lào mở Chiến dịch Nậm Bạc và chỉ đạo Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị mở Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh tiến công nghi binh, thu hút, giam chân địch. Cùng với đó, Bộ Tổng Tham mưu chủ động phối hợp với Tổng cục Chính trị, Bộ Ngoại giao và các phương tiện truyền thông, tập trung tuyên truyền hoạt động tác chiến của ta trên các hướng nghi binh, hạn chế tuyên truyền trên hướng thành phố, thị xã. Đồng thời, Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo các sư đoàn chủ lực của ta từ miền Bắc vào, đang đứng chân trên chiến trường miền Nam, cơ động tập kết, hình thành thế bao vây, uy hiếp địch ở Khe Sanh. Trước các hoạt động nghi binh của ta, quân Mỹ và quân đội Sài Gòn bị dồn hết tâm trí về hướng nghi binh, chủ quan bỏ hở vùng thành phố, thị xã, tạo ra điều kiện thuận lợi cho lực lượng của ta cơ động, áp sát mục tiêu, tạo lập thế trận đồng loạt tiến công, thực hiện thắng lợi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy.

Thực tế đã chứng minh, ngay sau khi Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo mở Chiến dịch Nậm Bạc và Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh, Tổng thống Giônxơn đã chỉ thị cho tướng Taylo thành lập ngay "Phòng tình hình đặc biệt" tại Nhà Trắng. Theo đó, Tổng thống Mỹ đích thân theo dõi chiến sự ở Đường 9 - Khe Sanh và chỉ thị tướng Oétmolen phải hành động ngay, đồng thời yêu cầu Hội đồng Tham mưu liên quân Mỹ "ký tên bằng máu" cam kết bảo vệ Khe Sanh bằng bất cứ giá nào . Bị trúng đòn nghi binh chiến lược của ta, Lầu Năm Góc và Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ và Sài Gòn buộc phải hủy kế hoạch phản công chiến lược vào miền Đông Nam Bộ. Đồng thời, điều động Sư đoàn kỵ binh không vận số 1, cùng hai lữ đoàn dù thuộc Sư đoàn 101 Mỹ, sử dụng máy bay B52 ném bom 15 đến 20 lần/ngày và điều động nhiều lực lượng, phương tiện quân sự khác, chi viện cho lực lượng của chúng ở Đường 9 - Khe Sanh. Trong khi đó, cơ quan chỉ huy đầu não và căn cứ quân sự của địch ở các thành phố, thị xã trên chiến trường miền Nam bị buông lỏng, Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo các sư đoàn, trung đoàn chủ lực Miền, đơn vị binh chủng tổ chức từng bước rời căn cứ cơ động áp sát mục tiêu, tạo lập thế trận đồng loạt tiến công một cách thuận lợi.

Lo sợ trước các hoạt động tác chiến của ta, mặc dù thời khắc giao thừa Tết Mậu Thân 1968 đã đến, trong khi quân Mỹ thực hiện nghiêm mệnh lệnh cấm trại, sẵn sàng chiến đấu, thì Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và quân đội Sài Gòn vẫn về nghỉ Tết cùng gia đình. Lực lượng trực của quân đội Sài Gòn ở các mục tiêu trong thành phố, thị xã trên khắp chiến trường miền Nam chỉ còn 50%, các tuyến ra vào thành phố có nhiều sơ hở. Nắm chắc thời cơ đó, Bộ Tổng Tham mưu đã chỉ đạo các lực lượng đồng loạt nổ súng tiến công vào các mục tiêu của địch ở thành phố, thị xã trên khắp chiến trường miền Nam, làm cho Mỹ và Sài Gòn hoàn toàn bị bất ngờ, tê liệt chỉ huy, rối loạn hiệp đồng, lúng túng, bị động chống đỡ. Quân chủ lực của địch ở Đường 9 - Khe Sanh, từng giờ phải phân tán lực lượng, vắt sức, tìm mọi cách đối phó với đòn vây ép, giam chân của ta, không còn khả năng chi viện, ứng cứu giải tỏa cho lực lượng của chúng đang bị tiến công ở thành phố, thị xã.

Hai là, nắm chắc tình hình, kịp thời tham mưu cho Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng điều chỉnh lực lượng và thế trận trong quá trình tác chiến.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 được tiến hành đồng loạt trên phạm vi rộng, mục tiêu tiến công là các trung tâm đầu não chỉ huy trọng yếu của Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở Sài Gòn - Gia Định, Đà Nẵng, Huế..., vì vậy, quá trình chỉ đạo, Bộ Tổng Tham mưu thường xuyên nắm chắc tình hình, kịp thời tham mưu cho Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng điều chỉnh lực lượng, thế trận tác chiến.

Đối với chiến trường Sài Gòn - Gia Định, đây là trung tâm chính trị, quân sự, kinh tế lớn nhất của Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam, là trọng điểm quan trọng nhất của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Sau khi các lực lượng nổ súng tiến công, đánh chiếm được một phần Dinh Độc Lập, Bộ Tổng Tham mưu quân đội Sài Gòn, Tòa Đại sứ Mỹ, Tổng nha Cảnh sát..., địch tổ chức phản kích mạnh. Trên hướng tây và tây nam Sài Gòn - Gia Định, quân số của ta bị tổn thất, sức tiến công giảm, Bộ Tổng Tham mưu đã tổ chức Tiểu đoàn 6 Bình Tân, vừa đánh địch, vừa củng cố lực lượng. Ở hướng nam, Tiểu đoàn 1 Đồng Nai tiến công địch ở thị xã Tân An, quá trình đánh chiếm mục tiêu bị địch phản kích mạnh, lực lượng, phương tiện bị tiêu hao, Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo bộ phận này cơ động về Hưng Long, phối hợp với các lực lượng chiến đấu.

Ở các vùng phụ cận, ngoại vi thành phố Sài Gòn và đồng bằng Nam Bộ, Bộ Tổng Tham mưu thường xuyên nắm chắc diễn biến tình hình, kịp thời chỉ đạo các đơn vị điều chỉnh lực lượng, thế trận, xử trí các tình huống tác chiến, giữ vững địa bàn, bảo toàn lực lượng, tạo thế, tạo lực cho các hoạt động tác chiến tiếp theo.

Do công tác hiệp đồng tác chiến giữa các đội biệt động và tiểu đoàn tiến công mũi nhọn cùng quần chúng nổi dậy ở một số hướng nội đô Sài Gòn còn sơ hở, thiếu chặt chẽ nên bị địch chặn đánh, lực lượng thiệt hại nặng, Bộ Tổng Tham mưu đã đề xuất Bộ Quốc phòng, Quân ủy Trung ương kịp thời điều chỉnh lực lượng, thế trận để đánh địch. Trong đó, chỉ đạo lực lượng trên từng hướng, khắc phục khó khăn, kiên quyết giữ vững mục tiêu chiếm được, đẩy mạnh tác chiến ở trung tâm và xung quanh Sài Gòn; kết hợp cùng quần chúng nổi dậy, hình thành thế trận bao vây nhiều tầng, nhiều lớp, thực hiện đánh nhỏ, đánh vừa, đánh lớn, tiêu hao, tiêu diệt quân viễn chinh Mỹ - ngụy Sài Gòn, giành thắng lợi.

Cùng với đó, Bộ Tổng Tham mưu thường xuyên theo dõi, bám sát tình hình, chỉ đạo từng lực lượng, từng hướng tiến công ở cả nội và ngoại đô Sài Gòn, kịp thời rút kinh nghiệm, điều chỉnh lực lượng, giữ vững thế trận tác chiến trong suốt quá trình đánh địch.

Đối với chiến trường Huế, là một trọng điểm của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, do làm tốt công tác chuẩn bị nên các lực lượng vũ trang phối hợp với quần chúng nổi dậy phát triển tiến công thuận lợi, đánh chiếm được nhiều mục tiêu quan trọng của địch. Nhằm nhanh chóng đánh chiếm mục tiêu còn lại, Bộ Tổng Tham mưu đề xuất Bộ Quốc phòng cho Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị sử dụng pháo binh tập kích vào các mục tiêu, căn cứ địch ở Đông Hà và phía đông và tây Đường 9. Theo đó, Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo Bộ Tư lệnh Trị - Thiên sử dụng một lực lượng nhỏ tiêu diệt quân địch trong thành phố, lực lượng lớn còn lại nhanh chóng củng cố mọi mặt, sẵn sàng cơ động đánh địch phản kích trên các hướng, giữ vững mục tiêu và mở rộng địa bàn tác chiến.

Trong quá trình tác chiến, địch tổ chức phản kích với lực lượng lớn, một số hướng của ta gặp khó khăn. Nắm chắc tình hình, Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo Quân khu Trị - Thiên và các lực lượng tập trung sức mạnh đánh gãy cánh quân địch ở phía bắc, phát động nhân dân đánh cắt giao thông, phá cầu vào thành phố Huế; động viên bộ đội khắc phục khó khăn, tiết kiệm đạn, tích cực đánh địch phản kích, giữ vững trận địa. Đồng thời, Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo Quân khu Trị - Thiên điều chỉnh lực lượng, thế trận, rút hai tiểu đoàn đứng chân ở Phú Lộc cơ động lên nam Phú Bài đánh địch phản kích, giữ vững mục tiêu. Để tiêu diệt đồn Mang Cá nhanh, hiệu quả, Bộ Tổng Tham mưu đã điều chỉnh lực lượng, tăng cường Trung đoàn 8 cho Quân khu 5, chỉ đạo các lực lượng dùng thuốc nổ mạnh và sử dụng đặc công, súng phun lửa đánh địch. Bộ Tổng Tham mưu đề xuất Bộ Quốc phòng điều Trung đoàn 3, Sư đoàn 324, Mặt trận Đường 9 tăng cường cho Mặt trận Trị - Thiên, chỉ đạo các lực lượng kết hợp phòng ngự với tiến công liên tục và quần chúng nổi dậy, giữ vững mục tiêu. Bên cạnh đó, Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị tiếp tục điều tiểu đoàn công binh, đại đội xe tăng PT76, tiểu đoàn pháo 85mm..., tăng sức chiến đấu cho Mặt trận Trị - Thiên; chỉ đạo Đoàn 559 tích cực vận chuyển đạn, làm thông đường 12, đưa xe tăng PT76 và pháo nòng dài Đ74 vào vị trí theo kế hoạch; chỉ đạo Quân chủng Phòng không - Không quân sử dụng máy bay tiếp tế vật chất cho ta và ném bom vào căn cứ của địch ở Phú Bài; thống nhất với Tổng cục Hậu cần bảo đảm phương tiện vận tải cho lực lượng tác chiến ở Huế. Theo đó, Bộ Tổng Tham mưu bám sát diễn biến tình hình, chỉ đạo các lực lượng kịp thời xử trí tình huống tác chiến, kiên cường đánh địch phản kích, giữ vững mục tiêu.

Nhờ nắm chắc tình hình, kịp thời tham mưu giúp Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng điều chỉnh lực lượng, thế trận tác chiến hợp lý, Bộ Tổng Tham mưu đã chỉ đạo lực lượng của ta nhanh chóng tiến công giải phóng thành phố Huế, trụ bám các mục tiêu trong thời gian dài.

Đối với chiến trường Đà Nẵng, là một trong ba trọng điểm của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, sau khi nổ súng đánh chiếm được một phần các mục tiêu quan trọng, lực lượng của ta bị địch chặn đánh quyết liệt, tỷ lệ thương vong cao, sức tiến công giảm sút. Nắm chắc tình hình đó, Bộ Tổng Tham mưu đề xuất Bộ Quốc phòng tăng cường cho Quân khu 5 một trung đoàn; đồng thời điều động Đại đội đặc công 25 Đà Nẵng tiến công phá hủy trạm rađa của địch ở Phước Tường, cắt đứt sự quan sát, phát hiện của chúng. Trên hướng nam thành phố Đà Nẵng, Sư đoàn 2 Quân khu 5 trong quá trình tiến công bị địch sử dụng hỏa lực không quân, pháo binh ngăn chặn, lực lượng bị tổn thất, quần chúng nổi dậy không đủ sức hỗ trợ. Trước tình hình đó, Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo Sư đoàn 2 tạm lui về phía sau, củng cố lực lượng, sẵn sàng cơ động đánh địch ứng cứu giải tỏa. Ở thị xã Hội An, khi lực lượng của ta đã đánh chiếm được một phần mục tiêu, địch lợi dụng lợi thế quân đông, hỏa lực mạnh, tổ chức đánh chặn quyết liệt, quân số của ta thương vong cao. Bộ Tổng Tham mưu đã điều chỉnh Tiểu đoàn 2 Quảng Đà và Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 31 tạm chuyển sang bám đánh địch ở ven thị xã, vừa đánh, vừa củng cố lực lượng, sẵn sàng chi viện cho các bộ phận.

Những hướng tác chiến phát triển thuận lợi, như: Quảng Đà, Tây Nguyên, Đồng bằng Khu 5..., Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo, động viên các lực lượng phát huy khí thế tiến công, mở rộng các mục tiêu chiếm được, tăng cường phát động quần chúng chuẩn bị đánh địch phản kích, thực hiện tốt công tác binh vận, mạnh dạn đưa lực lượng ra chốt, cắt giao thông đường 14, 19, 21 để cô lập địch.

Tuy nhiên, đến tháng 3-1968, công tác hiệp đồng tác chiến giữa lực lượng biệt động, tiểu đoàn mũi nhọn tiến công và quần chúng nổi dậy trên các hướng thiếu chặt chẽ, lực lượng của ta bị tiêu hao nhiều, sức tiến công trên các hướng giảm dần, trong khi quân địch từng bước phục hồi, chúng dồn lực lượng co về giữ các thành phố, thị xã, căn cứ quân sự và mở các cuộc hành quân lớn, càn quét. Căn cứ vào chủ trương của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và kết quả phân tích, đánh giá tình hình, Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo các lực lượng kết thúc cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, đồng thời đề ra chủ trương hoạt động tác chiến tiếp theo.
 
Như vậy, thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 của quân và dân miền Nam đã giáng một đòn chí tử, đánh sập ý chí xâm lược Việt Nam và Đông Dương của giới cầm quyền Mỹ, làm thay đổi cục diện cuộc chiến tranh có lợi cho ta. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 của quân và dân ta ở miền Nam Việt Nam đã để lại nhiều bài học quý về nghệ thuật quân sự, trong đó, vai trò chỉ đạo tác chiến của Bộ Tổng Tham mưu đến nay vẫn còn nguyên giá trị cả về mặt lý luận và thực tiễn. Chính vì thế, đội ngũ cán bộ chỉ huy cơ quan, đơn vị các cấp cần tiếp tục nghiên cứu, quán triệt, vận dụng linh hoạt, sáng tạo những bài học này, nâng cao chất lượng huấn luyện, chiến đấu sát chức năng, nhiệm vụ của đơn vị, sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược của kẻ thù, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống.



--------------------------------------------------------------
1. Quân đội Sài Gòn bị thương vong gần 21.000 người; quân Mỹ cùng đồng minh bị thương vong hơn 24.000 người; gần 2.500 máy bay, 1.700 xe tăng, bọc thép, 350 khẩu pháo, 280 tàu xuồng và 1.368 tấn vật tư chiến tranh của Mỹ và quân đội Sài Gòn bị phá hủy, chiếm 34% tổng số dự trữ chiến tranh ở Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 16 Tháng Năm, 2020, 09:39:31 am
CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968 - SAU 50 NĂM NHÌN LẠI



Thượng tướng LÊ CHIÊM
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng,
Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng


Cách đây vừa tròn 50 năm, đúng vào dịp Tết Mậu Thân năm 1968, quân và dân ta đã mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy rộng khắp, từ Đường 9 - Khe Sanh đến đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt ở Sài Gòn - Gia Định, Huế và hàng loạt thị xã, thị trấn, căn cứ quân sự. Trong gần hai tháng, ta đã chiếm giữ và làm chủ thành phố Huế 25 ngày đêm, vây hãm địch nhiều ngày ở Khe Sanh, tiến công và nổi dậy ở nhiều vùng nông thôn bị địch chiếm giữ, tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh, dự trữ hậu cần hiện đại nhất của địch, giải phóng hàng triệu đồng bào, đưa chiến tranh vào sâu trong hậu phương của địch.

Cùng với thời gian, thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 ngày càng được khẳng định là một sự kiện có ý nghĩa to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta. Từ thắng lợi trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 có thể rút ra một số vấn đề sau:

Thứ nhất, để tạo cú sốc lớn không chỉ đối với chính quyền và quân đội Sài Gòn mà còn làm chấn động cả nước Mỹ, quân và dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng luôn nỗ lực tạo thời cơ, nắm bắt và lựa chọn thời cơ, kịp thời đề ra chủ trương chiến lược, tiến công và nổi dậy, tạo bước ngoặt quyết định của cuộc chiến tranh.

Sau thất bại của chiến lược "chiến tranh đặc biệt", từ năm 1965, Mỹ ồ ạt đưa quân viễn chinh vào trực tiếp tham chiến trên chiến trường miền Nam nhằm "bẻ gãy xương sống Việt cộng" và "chụp bắt cơ quan đầu não" kháng chiến của ta; đồng thời, đẩy mạnh chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc.

Trước âm mưu và thủ đoạn mới của đế quốc Mỹ, cách mạng và cuộc kháng chiến của nhân dân ta đứng trước tình thế hết sức khó khăn. Với lực lượng đông và vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại, Mỹ đã mở các cuộc hành quân "tìm diệt" bộ đội chủ lực và cơ quan đầu não chỉ đạo kháng chiến bằng hai cuộc phản công chiến lược lớn mùa khô 1965-1966 và mùa khô 1966-1967; đồng thời, dùng không quân và hải quân leo thang đánh phá miền Bắc.

Nắm vững tư tưởng tiến công, tích cực chủ động cả về chiến lược, chiến dịch và chiến thuật, quân và dân ta trên khắp các chiến trường đẩy mạnh các hoạt động buộc địch trong tình trạng bị động, lúng túng đối phó. Gọng kìm "tìm diệt" của Mỹ - ngụy bị bẻ gãy; kế hoạch "bình định" cũng không đạt kết quả. Năm 1967, chính quyền Sài Gòn chỉ kiểm soát được 5.400 trong tổng số 16.293 ấp trên toàn miền Nam. Cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của Mỹ hòng ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam và uy hiếp tinh thần kháng chiến của nhân dân ta cũng bị thất bại.

Trên cơ sở đánh giá tương quan lực lượng, từ ngày 20 đến ngày 24-10-1967, Bộ Chính trị họp bàn chủ trương và kế hoạch chiến lược năm 1968. Tại cuộc họp này, Bộ Chính trị nhận định: Mỹ đang thất bại lớn, nếu có tăng quân cũng không giải quyết được gì, mà tình hình càng bế tắc, càng bị cô lập thêm, mâu thuẫn càng sâu sắc. Tuy nhiên, "Mỹ còn rất ngoan cố... đang cố gắng tăng cường lực lượng để giữ cho tình hình không xấu đi". Chớp thời cơ này, Bộ Chính trị quyết định một phương thức tiến công, một cách đánh mới có hiệu lực cao: Bất ngờ và đồng loạt đánh mạnh vào các đô thị trên toàn miền Nam. Ngày 28-12-1967, Bộ Chính trị họp phiên đặc biệt dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hội nghị đã chính thức thông qua kế hoạch chiến lược năm 1968. Tháng 1-1968, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Ðảng lần thứ 14 họp thông qua Nghị quyết tháng 12-1967 của Bộ Chính trị, quyết định "động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên bước phát triển cao nhất, dùng phương pháp tổng công kích và tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định"  cho sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Để giành thắng lợi trong chiến tranh, việc chọn thời cơ là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt. Nhận thức được vấn đề này, Đảng ta đã chọn năm 1968 là năm bầu cử Tổng thống Mỹ, năm mà tình hình nước Mỹ rất nhạy cảm về chính trị. Hơn nữa vào thời điểm này, sau ba năm đưa quân viễn chinh trực tiếp tham chiến ở Việt Nam, nhưng mục tiêu "bẻ gãy xương sống Việt cộng" cơ bản bị phá sản sau những thất bại trong các cuộc tiến công chiến lược vào mùa khô 1965-1966 và 1966-1967 và những cố gắng leo thang đánh phá miền Bắc. Những cố gắng của Mỹ vào thời điểm này đã gần đến đỉnh điểm. Tính đến tháng 12-1967, Mỹ đã huy động vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam gần nửa triệu quân với 40% số sư đoàn bộ binh, 30% lực lượng không quân chiến thuật, hơn 30% lực lượng hải quân của nước Mỹ. Lực lượng dự bị dành cho chiến lược "chiến tranh cục bộ" đã được sử dụng hết, thậm chí phải huy động một phần dự trữ dành cho chiến lược toàn cầu. Chi phí cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam tính đến năm 1968 đã lên tới gần 70 tỷ đôla (gấp ba lần cuộc chiến tranh ở Triều Tiên). Gánh nặng này đã ảnh hưởng nặng nề đến kinh tế và xã hội nước Mỹ, đến chiến lược toàn cầu và làm cho Quốc hội Mỹ phân hóa sâu sắc.

Năm 1968 hội tụ các điều kiện thuận lợi cả về quân sự và chính trị cho ta giành thắng lợi lớn. Thời cơ này được tạo ra và nắm bắt đúng lúc, không sớm và cũng không muộn. Tình hình chiến tranh ở Việt Nam đã làm cho nội bộ chính quyền Mỹ chia rẽ, đang ở thế ngập ngừng về chiến lược. Phong trào phản đối chiến tranh xâm lược Việt Nam dâng cao, lan tràn khắp nước Mỹ.

Trong khi đó, mặc dù vẫn còn một số hạn chế như vấn đề bổ sung lực lượng, khả năng tiêu diệt những đơn vị lớn của Mỹ... song các đơn vị của ta đã có thể thực hành tác chiến và giành thắng lợi cả về mặt chiến lược và chiến thuật. Các lực lượng vũ trang đã có những tiến bộ vượt bậc và vận dụng thành công những phương thức tác chiến độc đáo và linh hoạt, tiêu diệt được nhiều sinh lực địch. Quyền làm chủ được mở rộng; thế bao vây xung quanh các đô thị, căn cứ Mỹ, quân đội Sài Gòn được hình thành; phong trào đấu tranh chính trị tiếp tục phát triển đi vào chiều sâu, hiệu quả ngày càng lớn.

Từ những phân tính trên, Đảng ta khẳng định "Chúng ta đang đứng trước những triển vọng và thời cơ chiến lược lớn", cho phép chúng ta có thể chuyển cuộc chiến tranh cách mạng sang một thời kỳ mới - thời kỳ giành thắng lợi quyết định.

Thứ hai, xác định hình thức và phương thức tiến công địch.

Căn cứ vào các nghị quyết của Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh - Quân ủy Trung ương đã xây dựng phương án trong đó xác định: Cùng với đòn tiến công của bộ đội chủ lực ở hướng phối hợp chiến lược đặc biệt quan trọng là Đường 9 - Khe Sanh nhằm thu hút, giam chân lực lượng chiến lược của địch, "một đòn tiến công chiến lược đánh vào thành phố, thị xã quy mô trên toàn miền Nam, kết hợp với nổi dậy của quần chúng các đô thị và nông thôn, mở đầu cho tổng công kích, tổng khởi nghĩa, lấy chiến trường chính là Sài Gòn - Gia Định, Đà Nẵng, Huế, trọng điểm là Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế và các thành phố lớn" . Thời gian tiến hành tổng tiến công được chọn vào Tết Mậu Thân. Quân ủy Trung ương chỉ đạo các mặt trận, chiến trường khẩn trương sắp xếp, điều chỉnh các mặt công tác phù hợp với yêu cầu tổng tiến công trên toàn miền Nam.

Cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân đã làm cho địch bất ngờ cả về chiến lược, chiến thuật và mục tiêu, cũng như về thời điểm tiến công. Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh mở màn trước Tổng tiến công Tết Mậu Thân 10 ngày đã làm cho Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ tại Sài Gòn và chính quyền Sài Gòn phán đoán sẽ có một "Điện Biên Phủ" tại Khe Sanh. Nhưng ta mở Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh chỉ là một hướng để nghi binh, phân tán và giam chân địch nhằm đưa chiến tranh quy mô lớn vào các thành phố, thị xã và hàng loạt căn cứ, kho tàng, sân bay, sở chỉ huy. Trong điều kiện địch còn khá mạnh, hơn một triệu quân với tiềm lực chiến tranh dồi dào nên để giành thắng lợi quyết định, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương cân nhắc rất kỹ để chọn hình thức, phương pháp tiến công phù hợp. Yếu tố bí mật, bất ngờ đã làm cho Mỹ, chính quyền Sài Gòn luôn bị động, phân tán lực lượng đối phó và không phát huy được sức mạnh của vũ khí, trang bị vượt trội. Quân ta chủ động tiến công vào nơi địch không phòng bị, vào thời điểm Tết, địch không ngờ nhất. Tiến công vào các mục tiêu này đã tác động nhanh chóng, sâu sắc cả về chính trị và quân sự, gây nên những đột biến trong đối sách chiến lược cũng như cục diện chung của chiến tranh ở miền Nam.

Khi quân Mỹ, quân đội Sài Gòn tập trung dồn chủ lực đối phó ở Khe Sanh, đêm 30, rạng sáng ngày 31-1-1968, quân ta đồng loạt tiến công trên toàn miền Nam. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân là cách đánh chưa từng diễn ra, khiến Mỹ, chính quyền Sài Gòn không hề nghĩ tới và cũng không thể nghĩ tới.‎ Đó là sự sáng tạo của phương châm đánh địch trên cả "ba vùng chiến lược". Nếu không có ba vùng chiến lược được xây dựng từ nhiều năm trước với những cơ sở vững mạnh và quần chúng đông đảo ủng hộ thì không thể có chiến tranh ở thành thị‏,‏ nhất là ở các thành phố trọng điểm Sài Gòn - Huế - Đà‎ Nẵng là những trung tâm chính trị, quân sự. Đánh vào đây là đánh vào các cơ quan đầu não, các trung tâm chỉ huy‎‏,‏ đánh vào sinh lực cao nhất của địch, chỗ hiểm yếu, dễ chấn động và nhạy cảm nhất của chúng‏.‏ Như vậy, chủ trương mở cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968 là nhằm giáng một đòn quyết liệt vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc Mỹ phải đơn phương ngừng ném bom miền Bắc, xuống thang chiến tranh và chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán chính là chủ trương "biết thắng Mỹ" vừa với sức ta, mở ra một giai đoạn mới "vừa đánh vừa đàm", phù hợp với truyền thống quân sự của dân tộc.

Chính cuộc tiến công táo bạo này đã làm rung chuyển cả Nhà Trắng, gây chấn động dữ dội không chỉ ở nước Mỹ mà cả thế giới. Hãng thông tấn AFP của Pháp, ngày 3-2-1968 đã đưa tin: "Đây chắc chắn là chiến trường rộng lớn nhất trong các cuộc chiến tranh. Toàn bộ nước Việt Nam đều bốc lửa từ Khe Sanh đến Cà Mau"; "sức mạnh Huê Kỳ đã mất uy thế. Đội quân mạnh nhất thế giới đã bị đẩy vào tuyến phòng ngự trên toàn lãnh thổ" . Còn Maicơn Máclia trong cuốn Cuộc chiến tranh mười nghìn ngày nhận xét: "Chiến tranh Việt Nam có quá nhiều bất ngờ nhưng không có bất ngờ nào làm người ta phải sửng sốt nhiều hơn trận tiến công Tết. Đặc biệt, nó lại diễn ra ngay trong Sứ quán Mỹ ở Sài Gòn, nơi từng nhiều lần tuyên bố rằng tình hình tồi tệ đã qua rồi" . Quả vậy, với việc lựa chọn hình thức tiến công và nổi dậy đồng loạt, bằng sự phối hợp giữa các chiến trường, Mậu Thân 1968 đã trở thành một trận quyết chiến chiến lược làm thay đổi hoàn toàn cục diện cuộc kháng chiến. Đây thực sự là một sáng tạo độc đáo của Đảng ta về nghệ thuật lựa chọn hình thức và phương thức tiến công địch.


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 16 Tháng Năm, 2020, 09:41:22 am
Thứ ba, chọn hướng và mục tiêu tiến công chủ yếu táo bạo, bất ngờ.

Chọn đô thị làm hướng tiến công chủ yếu là ta đã chọn vào nơi hiểm yếu nhất của kẻ thù. Lần đầu tiên trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ta đưa chiến tranh vào đô thị, thực hiện một đòn đánh hiểm vào cơ quan đầu não của địch. Với lực lượng quân sự tinh nhuệ như đặc công, biệt động, kết hợp với mũi tiến công của lực lượng xung kích và các cuộc nổi dậy của quần chúng, các mục tiêu trọng yếu của địch trong đô thị đều bị Quân giải phóng tiến công và làm chủ. Với mục tiêu tiến công táo bạo, bất ngờ này, Thượng nghị sĩ Mỹ Rôbớt Kennơđi phải thốt lên: Tại sao nửa triệu lính Mỹ có 70 vạn lính Việt Nam cộng tác, có ưu thế hoàn toàn trên không và ngoài biển, được cung cấp đầy đủ và được trang bị những vũ khí hiện đại nhất lại không có khả năng bảo vệ được thành phố khỏi bị đối phương tấn công?

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, ngay cả khi quân và dân ta đã giải phóng được nhiều vùng nông thôn, rừng núi và đồng bằng rộng lớn, chúng ta cũng không chủ trương mở một cuộc tổng tiến công vào các đô thị để kết thúc cuộc kháng chiến. Với việc lựa chọn hướng và mục tiêu tiến công đánh đòn quyết định, việc tìm ra cách đánh tối ưu nhằm tạo hiệu lực chiến lược trên cơ sở tương quan lực lượng và vũ khí trang bị, cũng như việc phối hợp giữa các chiến trường, mặt trận trên quy mô toàn miền, cả nước đã làm cho cuộc tiến công trong Tết Mậu Thân trở thành một trận quyết chiến chiến lược chưa từng có trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đó là một sáng tạo độc đáo trong tư duy chiến lược của Đảng, một điển hình về nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh cách mạng Việt Nam.

Thứ tư, huy động và phát huy sức mạnh toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại trong cuộc tiến công vào hệ thống dinh lũy sào huyệt của địch.

Để chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968, ngay từ đầu năm 1967, cán bộ, đảng viên liên tục được bí mật tăng cường vào đô thị Sài Gòn - Chợ Lớn nhằm nghiên cứu mục tiêu, gây dựng cơ sở, tạo chỗ đứng chân, bảo đảm vật chất cho các hoạt động chiến đấu, xây dựng hệ thống hầm chứa vũ khí và vận chuyển vũ khí từ căn cứ vào ém sẵn trong nội thành, phục vụ yêu cầu tác chiến. Các cơ sở cách mạng bí mật được hình thành, trong đó riêng Ban bảo đảm thuộc biệt động Thành đã xây dựng được 19 "lõm chính trị", "lõm" căn cứ gồm 325 gia đình công nhân và lao động trung kiên ... Bên cạnh đó, lực lượng quần chúng yêu nước, nhất là các nhân sĩ, trí thức được các tổ chức như Trí vận, Hoa vận, Công vận, Phụ vận... bí mật vận động, tập hợp trong các tổ chức công khai, bán công khai trở thành đội quân chính trị hùng hậu sẵn sàng tham gia tổng tiến công.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, chúng ta đã huy động tổng lực từ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích đến đặc công, biệt động... Sức mạnh tổng hợp của lực lượng chính trị với lực lượng vũ trang ba thứ quân; kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, ngoại giao; đánh địch trên cả ba vùng chiến lược, bằng ba mũi giáp công; kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, kết hợp đánh lớn, đánh vừa và nhỏ được phát huy, thể hiện nghệ thuật đánh địch bằng mưu cao, kế hiểm.

Mặc dù thời gian chuẩn bị trực tiếp cho nhiệm vụ chiến lược không nhiều, trong khi có quá nhiều khó khăn về vũ khí trang bị, lương thực và chia cắt về chiến trường... nhưng tất cả đều nổ súng đúng mục tiêu và thời gian quy định "với một sự hợp đồng về chiến lược tuyệt diệu" . Đó chính là kết quả của trí thông minh, lòng quả cảm, với khát vọng cháy bỏng về một nền hòa bình, thống nhất, từ Bộ thống soái tối cao chỉ đạo cuộc chiến tranh đến những địa phương, đơn vị vũ trang, những tổ, đội biệt động, những chiến sĩ mới nhập ngũ trong đêm giao thừa, những người dân một lòng trung thành với cách mạng... đã biến những điều không thể trở thành hiện thực. Miền Bắc dồn sức chi viện sức người, sức của cho chiến trường. Tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn nhanh chóng mở rộng, tăng sức vận chuyển. Miền Nam khẩn trương chuẩn bị thế trận và lực lượng, hình thành các phương án công kích về quân sự và nổi dậy của quần chúng.

Dựa vào sự đùm bọc, đồng thuận, giúp đỡ, chở che, tham gia tích cực của nhân dân, các đơn vị đã triển khai thành công lối đánh dũng mãnh, táo bạo, bất ngờ, đồng loạt, nhằm trúng các mục tiêu yết hầu "huyết mạch", "tim óc" của địch ở các cơ quan đầu não từ trung ương tới địa phương của chính quyền Sài Gòn, các sở chỉ huy, các bộ tư lệnh quân đoàn, sư đoàn, sân bay, bến cảng, kho tàng, đầu mối giao thông... Đó là những mục tiêu tập trung sinh lực của địch, những mục tiêu nhạy cảm nhất trong bộ máy chiến tranh của chúng ở miền Nam Việt Nam. Đặc biệt, cuộc tiến công vào Tòa Đại sứ Mỹ của các chiến sĩ biệt động Quân giải phóng vượt xa ý nghĩa của một trận đánh thông thường, gây tiếng vang lớn trên khắp thế giới và ở nước Mỹ.

Với tư duy "không thể đánh theo lối cũ", cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 đã giải quyết bài toán "thế nhùng nhằng, giằng co" được Bộ Chính trị giao cho "Tổ kế hoạch" trong hội nghị tháng 6-1967 và tạo nên chuyển biến lớn trên chiến trường. Tết Mậu Thân và những tác động của nó đã hiện thực hóa mục tiêu chiến lược: Phơi bày toàn bộ quá trình thất bại của Mỹ trên chiến trường cả về quân sự, chính trị; sự bất lực của một đạo quân đông tới gần 1,3 triệu, được trang bị vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại. Cũng chính từ bản đồng ca được cất lên trong Xuân Mậu Thân 1968, đã buộc Tổng thống Mỹ Giônxơn phải công khai tuyên bố: đơn phương chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc (từ vĩ tuyến 20 trở ra), sẵn sàng cử đại diện đàm phán với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Quan trọng hơn, Mỹ buộc phải rút dần quân ra khỏi miền Nam Việt Nam trong khi chưa một mục tiêu nào được thực hiện. Việc trút bỏ gánh nặng chiến tranh lên vai chính quyền và quân đội Sài Gòn - một lực lượng vốn đã bại trận trước khi quân Mỹ buộc phải tham chiến và ngày càng phụ thuộc vào sự hiện diện của quân Mỹ về thực chất, đã làm cho Mỹ phải phụ thuộc vào chính kẻ đã và đang phụ thuộc vào mình.

Với tất cả những lý do đó, cho dù sau Tết Mậu Thân 1968, cuộc chiến vẫn còn kéo dài và rất quyết liệt - phải 5 năm sau Mỹ mới rút hết quân và 7 năm sau, chính quyền Sài Gòn mới sụp đổ hoàn toàn, nhưng với quyết định ngày 31-3-1968 của Tổng thống Mỹ Giônxơn, về thực chất, số phận cuộc chiến giữa đế quốc Mỹ và nhân dân Việt Nam đã được định đoạt.

Tuy chưa đạt được yêu cầu theo khả năng thứ nhất - một trong ba khả năng mà Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 14 dự kiến, nhưng thắng lợi của quân và dân ta trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 tiếp tục khẳng định đường lối cách mạng đúng đắn và quyết tâm to lớn của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta.

Hiện nay, đất nước ta đang tiến hành công cuộc đổi mới và đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện trên mọi lĩnh vực, kinh tế đạt mức tăng trưởng cao, chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng - an ninh được tăng cường; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao và khẳng định. Bên cạnh những thuận lợi cơ bản cũng xuất hiện nhiều nguy cơ, khó khăn, thách thức, nhất là sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch. Bằng chiến lược "diễn biến hòa bình", các thế lực thù địch lợi dụng quá trình hội nhập quốc tế để tăng cường chống phá cách mạng Việt Nam với những thủ đoạn mới, tinh vi, thâm độc, nguy hiểm.

Kỷ niệm 50 năm chiến thắng Xuân Mậu Thân 1968, cũng là dịp để chúng ta ôn lại truyền thống vẻ vang của dân tộc, bản chất truyền thống tốt đẹp và những chiến công oanh liệt của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Nghiêng mình tưởng nhớ công lao của các anh hùng liệt sĩ, nhớ về thắng lợi Mậu Thân để suy nghĩ sâu sắc hơn về những nhân tố làm nên chiến thắng. Đó là khát vọng cháy bỏng của những người dân yêu nước Việt Nam về một nền hòa bình, độc lập, tự do cho Tổ quốc; đó là sự chỉ đạo chiến lược của Đảng trong nắm chắc tư tưởng tiến công, hạ quyết tâm chiến lược chính xác, táo bạo và chọn đúng phương hướng cũng như thời cơ cụ thể; đó là niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu của toàn quân, toàn dân ta; đó còn là sự kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại nhằm tạo nên sức mạnh to lớn; là tình đoàn kết chiến đấu giữa ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia trên tinh thần vô sản quốc tế trong sáng.

Trân trọng lịch sử, những bài học kinh nghiệm của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 cần được kế thừa và phát huy trong công cuộc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quân sự, quốc phòng trong tình hình mới, đòi hỏi toàn quân tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, sáng tạo, chủ động khắc phục mọi khó khăn, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ của Đảng và nhân dân giao phó. Với cơ sở và niềm tin từ thắng lợi của quân và dân ta trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, với sự nỗ lực cao nhất của mỗi cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân, Quân đội nhân dân Việt Nam sẽ hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, xứng đáng với sự tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, góp phần vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.



Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 16 Tháng Năm, 2020, 09:47:38 am
TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968 -
HIỆN THỰC HÓA CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG: "ĐÁNH CHO MỸ CÚT, ĐÁNH CHO NGỤY NHÀO"




LÂM PHƯƠNG THANH
Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương


Cách đây tròn 50 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã anh dũng chiến đấu và giành thắng lợi lớn trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Thắng lợi đó đã giáng đòn quyết định làm phá sản cơ bản chiến lược "chiến tranh cục bộ", buộc đế quốc Mỹ phải từng bước xuống thang chiến tranh, rút quân về nước và chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Pari (13-5-1968) để cuối cùng đi tới ký kết Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (27-1-1973). Với việc ký kết Hiệp định Pari, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam đã giành thắng lợi có tính chất quyết định, đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải rút quân viễn chinh về nước, mở ra thời cơ và điều kiện thuận lợi cho ta tiến lên "đánh cho ngụy nhào", giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 bắt nguồn từ đường lối lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phát huy được sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc, được sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới.

Năm mươi năm đã trôi qua, càng giúp chúng ta nhận thức sâu sắc về điều đó.

1. Nhìn lại lịch sử, sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, Hiệp định Giơnevơ được ký kết. Nhưng đế quốc Mỹ đã trắng trợn phá hoại Hiệp định, nhảy vào miền Nam, thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ. Trong suốt hơn 10 năm đầu chiến tranh (1954-1965), nhất là 4 năm thực hiện chiến lược "chiến tranh đặc biệt", mặc dù đã bỏ ra rất nhiều tiền của, công sức, thực hiện nhiều thủ đoạn thâm độc nhằm dập tắt phong trào cách mạng miền Nam, nhưng chúng không đạt được mục tiêu và ngày càng sa lầy, bị động. Trước tình thế đó, đế quốc Mỹ buộc phải chuyển sang chiến lược "chiến tranh cục bộ", ồ ạt đưa quân viễn chinh và chư hầu vào tham chiến ở miền Nam Việt Nam, đồng thời sử dụng không quân, hải quân mở cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam.

Trước âm mưu và thủ đoạn mới của kẻ thù, vấn đề hạ quyết tâm đánh Mỹ, tìm ra cách đánh Mỹ, thắng Mỹ trở thành một đòi hỏi rất bức thiết. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 11, khóa III họp tháng 3-1965, Đảng ta đã đề ra nhiệm vụ: "Tập trung lực lượng của cả nước giành thắng lợi quyết định ở miền Nam trong thời gian tương đối ngắn, đồng thời chuẩn bị sẵn sàng đối phó và quyết thắng cuộc chiến tranh cục bộ ở miền Nam nếu địch gây ra" . Hội nghị cũng đề ra yêu cầu đẩy mạnh kết hợp chặt chẽ đấu tranh chính trị với đấu tranh quân sự và ngoại giao. Đấu tranh quân sự ngày càng giữ vị trí, vai trò quan trọng theo phương hướng: Tập trung đánh những trận tiêu diệt quân chủ lực cơ động ngụy, làm suy yếu chỗ dựa về bình định của địch, đồng thời khẩn trương xây dựng quyết tâm; chuẩn bị chu đáo, đánh thắng những trận phủ đầu quân Mỹ, tiếp tục đẩy chúng vào tình thế bị động.

Quán triệt tư tưởng chỉ đạo chiến lược thắng Mỹ ngay từ đầu của Hội nghị Trung ương 11, với quyết tâm "dù phải chiến đấu 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, chúng ta cũng kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn"2, quân và dân miền Nam đã nỗ lực phát huy sức mạnh chính trị và quân sự, tiến công và nổi dậy, anh dũng chiến đấu và đánh thắng quân Mỹ ngay từ những trận đầu. Đó là trận Núi Thành (Quảng Nam, 5-1965), Vạn Tường (Quảng Ngãi, 8-1965), chiến dịch Plâyme (từ ngày 19-10 đến ngày 26-11-1965), chiến thắng Đất Cuốc, Bầu Bàng. Từ kết quả thực tế, sau những trận thắng phủ đầu quân Mỹ, chúng ta đã tìm ra cách đánh Mỹ và thắng Mỹ, "Ta sẽ bắt quân Mỹ phải đánh theo cách đánh của ta, nên ta nhất định thắng".

Từ kết quả đấu tranh thực tế trên cả hai miền Nam - Bắc; trên cơ sở đánh giá đúng bản chất, âm mưu và hành động của kẻ thù; đánh giá lực lượng so sánh đôi bên với quan điểm cách mạng và khoa học; bám sát diễn biến thực tế của tình hình chiến trường trong nước, khu vực và thế giới; tin tưởng vào sức mạnh to lớn của nhân dân, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 12 (khóa III) tháng 12-1965 đã hạ quyết tâm chiến lược: "... kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất cứ tình huống nào". Đây là điều có ý nghĩa hết sức quan trọng trước thử thách sống còn của dân tộc, thể hiện tư tưởng chiến lược tiến công của Đảng và ý chí quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Theo đó, phương hướng chiến lược chung được xác định: "Trên cơ sở tiếp tục quán triệt và vận dụng phương châm đánh lâu dài, chúng ta cần phải cố gắng đến cao độ, tập trung lực lượng của cả hai miền để tranh thủ thời cơ giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn trên chiến trường miền Nam". Đặc biệt vấn đề "Ta sẽ thắng như thế nào" được Hội nghị Trung ương 12 thảo luận kỹ lưỡng. Đảng ta chủ trương: "giành thắng lợi quyết định" không bao hàm ý nghĩa tiêu diệt toàn bộ lực lượng quân sự địch, mà đó là: "đè bẹp ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ", tiến tới thực hiện mục tiêu thống nhất nước nhà".

Tư tưởng chỉ đạo nói trên của Hội nghị Trung ương 12 đã trở thành ý chí, hành động cách mạng của nhân dân và các lực lượng vũ trang trên cả nước. Trên chiến trường miền Nam, quân và dân ta đã làm thất bại hai cuộc phản công chiến lược mùa khô năm 1965-1966 và 1966-1967 của Mỹ - ngụy. Hai gọng kìm "tìm diệt" và "bình định" bị bẻ gãy, các cuộc hành quân chiến lược như Xêđaphôn, Gianxơnxiti lần lượt bị thất bại thảm hại. Ở miền Bắc, cuộc chiến tranh phá hoại của không quân, hải quân Mỹ bị quân và dân ta trừng trị thích đáng.

Chiến công của quân và dân ta ở cả hai miền Nam, Bắc đã tạo ra thế và  lực mới cho cuộc Tổng tiến công chiến lược trên toàn miền Nam.

Tháng 5-1967, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị họp đánh giá tình hình, xem xét dự thảo kế hoạch chiến lược Đông - Xuân 1967-1968. Trong hai ngày 30-6 và 1-7-1967, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương họp, xác định khả năng giành thắng lợi quyết định bằng tổng công kích, tổng khởi nghĩa. Bộ Chính trị cho rằng, thời cơ tốt nhất là Đông - Xuân 1967-1968 và Hè 1968 hoặc sớm hơn; đồng thời cũng cần chuẩn bị kế hoạch cho những năm tiếp theo với tư tưởng kiên trì đánh lâu dài.

Nắm bắt chặt chẽ diễn biến, đồng thời nhận định chính xác khả năng phát triển của chiến tranh cách mạng ở miền Nam cũng như cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của miền Bắc, nhìn thấy rõ sự lúng túng "tiến thoái lưỡng nan" của giới cầm quyền Mỹ, tháng 8-1967, khi họp bàn về kế hoạch chiến lược của Nam Bộ, đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhận định, điều kiện kinh tế và chính trị của nước Mỹ cho thấy đã đến lúc Mỹ phải kết thúc chiến tranh. Vì vậy, ta phải đánh cho chúng thua để rút ra khỏi miền Nam Việt Nam. Bộ Tổng Tham mưu phải lập kế hoạch đầy đủ hơn, chỉ đạo linh hoạt, chuẩn bị hậu cần tại chỗ chu đáo. Tại Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng (từ ngày 20 đến ngày 24-10), bản kế hoạch (sau khi đã được góp ý và sửa chữa bổ sung) được đưa ra thảo luận và thông qua thành Nghị quyết về tổng công kích - tổng khởi nghĩa (lúc này được mang mật danh "Quyết tâm chiến lược mùa Thu"). Yêu cầu đặt ra trong cuộc tổng tiến công chiến lược là "kiên quyết tổng công kích - tổng khởi nghĩa đánh đổ Mỹ - ngụy, giành chính quyền về tay nhân dân; tiêu diệt bộ phận quan trọng sinh lực và cơ sở vật chất kỹ thuật của Mỹ, cô lập chúng buộc chúng phải chịu thua và rút khỏi miền Nam, chấm dứt oanh tạc miền Bắc; kiên quyết tiêu diệt và làm tan rã căn bản ngụy quân, ngụy quyền, các tổ chức phản động" .

Bám sát và phân tích chính xác động thái chiến trường, tình hình nước Mỹ và thế giới, Hội nghị Bộ Chính trị đầu tháng 12-1967 đã quyết định: "Chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ tiến công và nổi dậy giành thắng lợi quyết định", "dùng phương pháp tổng công kích và tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định" nhằm "đập tan ý chí xâm lược của Mỹ, buộc Mỹ phải chịu thua ở miền Nam, chấm dứt mọi hành động chiến tranh đối với miền Bắc, còn ta thì bảo vệ được miền Bắc xã hội chủ nghĩa và đạt được những mục tiêu trước mắt của cách mạng miền Nam là độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập, tiến tới thống nhất nước nhà" . Bộ Chính trị xác định cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa sắp tới sẽ là một giai đoạn, một quá trình tiến công chiến lược rất ác liệt và phức tạp.

Để giữ bí mật ý đồ chiến lược, tháng 1-1968, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp tại Kim Bôi, Hòa Bình, thảo luận và thông qua Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 12-1967. Hội nghị Trung ương chỉ rõ: "Cuộc kháng chiến của nhân dân ta đến thời điểm này cần phải và có thể tạo một chuyển biến lớn, nhảy vọt bằng cách đánh mới, táo bạo vào tất cả các thành phố, thị xã, mà hướng hiểm yếu, trọng điểm là Sài Gòn - Huế - Đà Nẵng" .

Ngày 18-1-1968, Bộ Chính trị họp, trọng tâm bàn về thời điểm tổng công kích, tổng khởi nghĩa. Ngày 19-1-1968, sau khi rà soát lại chủ trương, quyết tâm, kế hoạch và phân tích tình hình mọi mặt, Bộ Chính trị khẳng định quyết tâm tổng công kích, tổng khởi nghĩa giành thắng lợi quyết định trên chiến trường miền Nam trong năm 1968. Thời gian phối hợp hành động toàn miền Nam được chọn là Tết Mậu Thân 1968 làm mốc tổng tiến công đồng loạt cho các chiến trường trọng điểm. Đây là thời gian có yếu tố bất ngờ nhất.

Như vậy, quá trình hình thành quyết tâm tổng tiến công chiến lược Xuân Mậu Thân đã diễn ra suốt hai năm 1966-1967. Trong thời gian này, biện pháp chiến lược nhằm thực hiện quyết tâm giành thắng lợi quyết định của Trung ương được thảo luận nhiều lần, ở nhiều cấp. Quá trình thảo luận để hình thành quyết tâm chiến lược Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân ở miền Nam ngày càng rõ và cụ thể thêm; đồng thời, phương hướng quyết tâm cũng xác định cụ thể hơn, cao hơn. Trong suốt quá trình đó, những thông tin từ tình báo chiến lược, từ thực tế chiến trường, nhất là việc Mỹ tăng quân cho thấy đế quốc Mỹ đang tìm kiếm một thắng lợi lớn để giành ưu thế và thoát ra khỏi tình thế bị động chiến lược. Bộ Tư lệnh quân viễn chinh Mỹ đang trù tính một cuộc phản công chiến lược lần thứ ba vào mùa khô 1967-1968, cùng với đó là bước leo thang đánh phá miền Bắc nhằm giành lợi thế quân sự, hòng tiến tới đàm phán trên thế mạnh, làm cơ sở cho việc tái tranh cử của L. Giônxơn trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1968.

Quán triệt và thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, quân và dân ta trên khắp các chiến trường khẩn trương chuẩn bị mọi mặt cho tổng tiến công và nổi dậy. Đến cuối năm 1967 đầu năm 1968, mọi công tác chuẩn bị về cơ bản đã hoàn thành. Cả dân tộc đã sẵn sàng bước vào trận đánh quyết định nhằm tạo ra bước ngoặt quyết định trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 16 Tháng Năm, 2020, 09:49:43 am
2. Đêm 30 rạng ngày 31-1-1968, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy được phát động trên khắp miền Nam từ vĩ tuyến 17 đến mũi Cà Mau. Quân và dân ta đã đồng loạt tiến công địch ở 4/6 thành phố, 37/44 thị xã và hàng trăm thị trấn, quận lỵ, chi khu quân sự, kho tàng. Hàng triệu quần chúng đã nổi dậy diệt ác, phá kìm, giành quyền làm chủ ở những mức độ khác nhau. Hầu hết các cơ quan đầu não của địch từ trung ương đến địa phương đều bị tiến công. Các lực lượng vũ trang và nhân dân ta đã tiêu diệt và làm tan rã 15 vạn quân, trong đó có 4 vạn quân Mỹ, 600 ấp chiến lược, giải phóng trên 100 xã với 1,6 triệu dân. Đặc biệt, trận đánh thẳng vào Tòa Đại sứ Mỹ, Dinh Độc Lập, Bộ Tổng Tham mưu, Đài Phát thanh của địch ở Sài Gòn và 25 ngày làm chủ thành phố Huế... đã gây chấn động lớn trong giới cầm quyền Mỹ, làm rúng động xã hội Mỹ, nhân dân Mỹ bàng hoàng, khuynh hướng muốn chấm dứt chiến tranh trở thành áp đảo ở nước Mỹ.

Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 trên quy mô lớn, đánh vào hầu hết các vị trí, đặc biệt là các cơ quan đầu não địch ở Mậu Thân 1968 là một nét độc đáo, sáng tạo, một sáng kiến lịch sử của Đảng ta trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước. Đó là kết quả của cả một quá trình tìm tòi công phu, bằng tư duy độc lập, sáng tạo trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm thực tiễn cách mạng nước ta và thế giới để Đảng ta tìm ra cách đánh Mỹ và đánh thắng quân Mỹ ở miền Nam, bảo vệ được miền Bắc, không làm cho chiến tranh lan rộng ra.

Những kinh nghiệm nắm bắt thời cơ giành thắng lợi trong cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945, kinh nghiệm luồn sâu, đánh thẳng vào lòng địch trong kháng chiến chống Pháp và bài học đánh địch bằng 2 chân, 3 mũi, 3 vùng ở miền Nam trong những năm đầu thập kỷ 60 của thế kỷ XX, cũng như kinh nghiệm đánh đế quốc Mỹ của một số nước trên thế giới được Đảng ta suy ngẫm, chắt lọc. Đảng ta đã nung nấu và có sự chuẩn bị kỹ càng, toàn diện cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968: từ chủ trương lớn đến các biện pháp, mục tiêu cụ thể cũng như mức độ kết quả. Toàn bộ quá trình chuẩn bị kế hoạch cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 diễn ra một thời gian dài, được đặc biệt giữ bí mật. Chính vì vậy trong một thời gian tương đối ngắn, chúng ta đã đưa cuộc chiến đấu quy mô lớn vào tận sào huyệt của địch, gây cho chúng nhiều tổn thất nặng nề về sinh lực, phương tiện chiến tranh và cơ sở hậu cần, "khi cuộc tiến công và nổi dậy đồng loạt nổ ra, Mỹ và chính quyền ngụy hoàn toàn bị bất ngờ về quy mô, tính chất, địa điểm, mục tiêu, lực lượng và thời điểm tiến công" .

 So với mục tiêu ban đầu, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 chưa đạt được đạt được khả năng cao nhất, nhưng đã xoay chuyển được cục diện tình hình mà trước đó ta chưa bao giờ tạo được, đó là buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh. Từ chỗ cho rằng có thể chiến thắng về quân sự, đè bẹp sự kháng cự của quân và dân ta bằng việc ồ ạt đưa hàng chục vạn quân vào miền Nam, giới cầm quyền Mỹ nhận thấy có thể sẽ thua nếu tiếp tục kéo dài chiến tranh. Kết quả thăm dò dư luận ngày 25-3-1968 cho thấy: "80% người Mỹ coi cuộc tấn công Tết là một đòn làm thất bại những mục tiêu của Mỹ ở Việt Nam. Tướng Oétmolen cũng phải thừa nhận: "Đây là khúc ngoặt của cuộc chiến tranh. Lẽ ra là khúc ngoặt đi đến thành công nhưng đây lại là khúc ngoặt đi đến thất bại" .
 
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã tác động trực tiếp đến đời sống chính trị, tinh thần nước Mỹ, làm cho làn sóng đấu tranh phản đối chiến tranh của Mỹ trong nhân dân Mỹ lên cao chưa từng thấy - một cuộc chiến tranh trong lòng nước Mỹ, như chính giới Mỹ thừa nhận. Nước Mỹ chia rẽ sâu sắc. Ngày 31-3-1968, L. Giônxơn thông báo quyết định đơn phương ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra, chấp nhận đàm phán với ta tại Pari và tuyên bố không ra ứng cử tổng thống nhiệm kỳ thứ hai - chấm dứt cuộc đời chính trị của Tổng thống L. Giônxơn - "Tổng thống lâm nạn" - theo cách gọi của truyền thông Mỹ.

Thắng lợi to lớn và quan trọng nhất trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 của chúng ta là đã tạo ra một sự thay đổi đột biến của cục diện chiến tranh trên cả ba mặt về thế chiến lược, về lực lượng và về chính trị; mở ra một giai đoạn mới trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta - giai đoạn "vừa đánh vừa đàm" - đi tới kết thúc cuộc chiến tranh theo truyền thống quân sự Việt Nam. Đúng như Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng khẳng định: thắng lợi này "đã đảo lộn thế chiến lược của địch, làm phá sản chiến lược "chiến tranh cục bộ", làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh và ngồi vào đàm phán với ta tại Hội nghị Pari" .

Trải qua 5 năm đấu trí, đấu lực quyết liệt, kết hợp với tiến công quân sự, chính trị trên chiến trường là chính, đặc biệt là qua chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không 1972" của quân, dân miền Bắc, chính quyền Mỹ đã buộc phải ký Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (ngày 27-1-1973).

Quyết định rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam sau khi ký Hiệp định Pari, cũng đồng nghĩa với việc Mỹ trút gánh nặng chiến tranh sang chính quyền tay sai ngụy - lực lượng vốn đã bại trận trước khi quân Mỹ tham chiến và ngày càng phụ thuộc vào sự hiện diện của quân Mỹ. Về thực chất, số phận cuộc chiến giữa giới cầm quyền Mỹ và chính quyền tay sai ngụy với nhân dân Việt Nam đã được định đoạt. Và hai năm sau, khi lính Mỹ cuối cùng rút khỏi Việt Nam (cuối tháng 3-1973), chính quyền tay sai ngụy mặc dù vẫn được Mỹ viện trợ, song đã không thể tồn tại.

Mỹ buộc phải cút, ngụy ắt phải nhào. Bước vào đầu Xuân năm 1975, thời cơ lớn giải phóng miền Nam đã mở ra với dân tộc ta. Bằng bốn chiến dịch tiến công như vũ bão: Tây Nguyên, Trị Thiên - Huế, Đà Nẵng và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, các lực lượng vũ trang và nhân dân ta đã đập tan mọi kháng cự của địch, chính quyền tay sai ngụy sụp đổ hoàn toàn ngày 30-4-1975 chỉ sau 55 ngày đêm kể từ khi Quân giải phóng miền Nam bắt đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975.

Ngày 30-4-1975 trở thành ngày hội lớn của dân tộc Việt Nam - một mốc son vàng trong lịch sử, đánh dấu thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vẻ vang của nhân dân ta; hoàn thành chủ trương chiến lược hai bước của Đảng và mong ước của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Vì độc lập, vì tự do/Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào".

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 để lại cho chúng ta nhiều bài học lịch sử quý báu. Đó là bài học về kiên định lập trường, tư tưởng cách mạng tiến công, quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, bài học về sự chủ động, sáng tạo, sắc bén trong lãnh đạo, chỉ đạo trên từng địa bàn cụ thể, về chọn thời cơ và thời điểm phát động tổng tiến công và nổi dậy, về đánh giá khả năng và sức mạnh của kẻ thù; về xác định mục tiêu, phương thức và sử dụng lực lượng tiến công...

Kỷ niệm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là dịp chúng ta tiếp tục khẳng định tầm vóc và ý nghĩa lớn lao của sự kiện; khẳng định đường lối lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; tôn vinh và tri ân những cống hiến, hy sinh to lớn của quân và dân ta trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Đây cũng là dịp để chúng ta phát huy truyền thống cách mạng, hun đúc tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí độc lập, tự chủ, truyền thống đoàn kết; kế thừa, phát huy và vận dụng sáng tạo những bài học lịch sử trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 để hoàn thành tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trước yêu cầu mới.


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Năm, 2020, 07:06:28 am
CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968  -
SỰ THỐNG NHẤT GIỮA Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN



Thượng tướng NGUYỄN TRỌNG NGHĨA
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương,
Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam


Từ giữa năm 1965, sau khi chiến lược "chiến tranh đặc biệt" thất bại, đế quốc Mỹ buộc phải chuyển sang chiến lược "chiến tranh cục bộ", ồ ạt đổ quân viễn chinh vào miền Nam Việt Nam. Thực hiện chiến lược này, Mỹ sử dụng hai gọng kìm "tìm - diệt" và "bình định nông thôn". Theo đó, chúng tiến hành hàng ngàn cuộc hành quân với quy mô lớn nhỏ khác nhau trên khắp chiến trường miền Nam, hòng tiêu diệt cơ quan đầu não, đơn vị chủ lực Quân giải phóng và cơ sở cách mạng của ta, gây nên biết bao hy sinh, mất mát, đau thương cho đồng bào và chiến sĩ miền Nam.

Trước tình hình trên, Bộ Chính trị, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh thống nhất nhận định: Để đánh bại chiến lược "chiến tranh cục bộ" không thể dùng cách đánh thông thường, mà phải tìm cách đánh khác để đập tan ý chí xâm lược của Mỹ, làm cho chúng hiểu rằng không thể thắng dân tộc Việt Nam bằng sức mạnh quân sự; đồng thời, chỉ đạo các cấp ủy miền Nam, các bộ tư lệnh chiến trường rà soát tình hình, đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của ta và địch; nắm ý đồ của Mỹ trong mùa khô 1967-1968, tạo thế chủ động trên chiến trường, tiến tới giành thắng lợi to lớn hơn.

Tại Hội nghị Trung ương 14 khóa III (1-1968), Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhấn mạnh: Để chuyển cách mạng và chiến tranh cách mạng sang thời kỳ mới, giành thắng lợi quyết định, phải tạo được bước ngoặt lớn của cuộc chiến tranh. Muốn vậy, không thể tiến từng bước, tuần tự... mà phải tạo bước nhảy vọt bằng chọn hướng chiến lược hiểm và dùng cách đánh mới, mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên chiến trường miền Nam, giáng đòn bất ngờ thật mạnh vào ý chí xâm lược của Mỹ,... Hội nghị chỉ rõ hướng tiến công lần này là các thành phố, thị xã, thị trấn và cơ quan đầu não chiến tranh, trung tâm chỉ huy, hậu cứ của địch, lấy ba thành phố lớn là Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng làm trọng điểm; kết hợp tấn công quân sự và nổi dậy của quần chúng trên cả ba vùng chiến lược, nhằm giáng đòn thật mạnh, bất ngờ, làm lung lay ý chí xâm lược của Mỹ, tạo sự thay đổi cơ bản cục diện chiến tranh có lợi cho ta,...

Để xây dựng quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ, các cấp ủy đảng trong và ngoài quân đội, cơ quan chính trị các cấp đã chủ động làm tốt công tác tư tưởng ngay từ khi Mỹ đổ quân vào miền Nam, nhất là từ cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất. Công tác giáo dục đã tập trung khơi dậy lòng căm thù giặc, vạch trần tội ác của Mỹ và chính quyền Sài Gòn gây ra cho đồng bào miền Nam và bản chất hiếu chiến, xâm lược của chúng; khẳng định sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa, tất thắng của dân tộc Việt Nam trong cuộc chiến tranh này. Đồng thời cổ vũ truyền thống yêu nước, tinh thần quật khởi, ý chí quyết chiến, quyết thắng quân xâm lược; làm cho quân và dân ta thấm sâu lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Không có gì quý hơn độc lập, tự do"; "Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi" .

Trong quá trình diễn ra cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, công tác tư tưởng còn chú trọng xây dựng quyết tâm chiến đấu và phục vụ chiến đấu cho từng lực lượng, từng hướng chiến trường; làm rõ thắng lợi, sự phát triển của ta và sự thất bại của địch trong hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966, 1966-1967. Nhờ đó, tinh thần "Cả nước ra trận", "Tất cả xuống đường", "Tất cả để chiến thắng",... đã trở thành khẩu hiệu hành động, tiếng gọi thiêng liêng thôi thúc mọi người hành động. Với ý chí quyết tâm ấy, nhiều phong trào thi đua giành danh hiệu "Dũng sĩ diệt Mỹ" đã nhanh chóng lan tỏa khắp chiến trường.

Phát huy thế trận chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân giải phóng đã huy động được lực lượng lớn đồng bào các tỉnh miền Đông Nam Bộ tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy. Nhiệm vụ của lực lượng này là vận chuyển vũ khí, lương thực, thực phẩm vào nội đô; cứu thương, tải thương khi chiến sự nổ ra. Thực hiện phong trào xây dựng "hũ gạo nuôi quân", trước Tết Mậu Thân 1968, mỗi gia đình để sẵn năm lon gạo đón chủ lực và mỗi tuần quyên góp một lần do Hội Phụ nữ phát động. Các huyện đều thành lập đội cung cấp, huy động lương thực, thực phẩm phục vụ Tổng tiến công và nổi dậy. Mỗi xã có ban quân lương, đội cứu thương, tải thương. Nhiều hộ gia đình đào hầm nuôi giấu thương binh, cất giấu vũ khí. Điển hình như gia đình bà Nguyên (Má Bảy) ở Trảng Bàng, đào hầm giấu 45 tấn vũ khí tại vị trí cách đồn Mỹ chỉ 1 km. Đến đầu năm 1968, Quân giải phóng đã xây dựng được 19 lõm chính trị với 325 gia đình, 12 kho vũ khí, 400 điểm ém quân, phần lớn ở gần các mục tiêu dự kiến sẽ đánh chiếm. Tinh thần đó của đồng bào miền Nam đã được nhà sử học Nguyễn Hiến Lê viết trong hồi ký: "Khắp thế giới ngạc nhiên và phục "Việt cộng" tổ chức cách nào mà Chính phủ Việt Nam Cộng hòa không hay biết gì cả. Họ đã lén chở khí giới, đưa cán bộ vào Sài Gòn, Huế... từ hồi nào, chôn giấu, ẩn núp ở đâu? Chắc chắn dân chúng đã che chở họ, tiếp tay với họ, không ai tố cáo cho nhà cầm quyền biết. Trái lại mỗi cuộc hành quân lớn nhỏ nào của Việt Nam Cộng hòa họ đều biết trước ngày và giờ để kịp thời đối phó. Nội điểm đó thôi cũng đủ cho thế giới biết họ được lòng dân miền Nam ra sao và tại sao Mỹ thất bại hoài" .

Thực hiện tư tưởng chỉ đạo và quyết tâm chiến lược của Đảng cùng phong trào nổi dậy rộng khắp của quần chúng, đêm 30, rạng ngày 31-1-1968 (đêm giao thừa), quân và dân miền Nam, từ Trị - Thiên đến Khu 5 và Nam Bộ đã đồng loạt tiến công và nổi dậy, hướng trọng điểm nhằm vào các thành phố, thị xã, nhất là ở Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế, các căn cứ quân sự, sân bay, bến cảng, kho tàng, gây cho Mỹ và chính quyền Sài Gòn những tổn thất lớn về nhân lực, vật lực, choáng váng về tinh thần và bị động, lúng túng trên tất cả các vùng chiến lược trong nhiều ngày. Ở Huế, ta đã làm chủ hoàn toàn thành phố, tổ chức chính quyền cách mạng, chiếm giữ 25 ngày, đánh lui hàng trăm đợt phản kích của địch. Tại Sài Gòn - Gia Định, quân và dân ta đã đánh trúng nhiều mục tiêu đầu não, như: Tòa Đại sứ Mỹ, Dinh Gia Long, Bộ Tổng Tham mưu, Đài Phát thanh Sài Gòn,... đồng thời, làm tê liệt, ngưng trệ hệ thống giao thông, thông tin liên lạc của địch trong nhiều ngày, nhiều giờ. Phối hợp với các mũi tiến công quân sự, lực lượng chính trị của quần chúng ở nông thôn và thành thị đồng loạt nổi dậy, phá tan "ấp chiến lược", giành quyền làm chủ ở nhiều nơi, tạo điều kiện mở rộng vùng giải phóng, v.v..

Có thể nói, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 là đòn đánh chí tử đối với quân xâm lược Mỹ, làm choáng váng nước Mỹ, làm cho chiến lược "chiến tranh cục bộ" của Mỹ ở miền Nam Việt Nam bị phá sản hoàn toàn. Tuy chưa mang lại thắng lợi trọn vẹn, thậm chí sau đó ta còn gặp những khó khăn, tổn thất nhất định khi địch tổ chức lực lượng phản kích, nhưng đây là một thắng lợi mang tầm vóc lịch sử; bước phát triển tất yếu trong chiến lược tiến công của cách mạng miền Nam. Thắng lợi này đã thể hiện ý chí quyết tâm đánh Mỹ, thắng Mỹ, khát vọng độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, tạo bước ngoặt đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đến thắng lợi hoàn toàn, đồng thời khẳng định sức mạnh của sự thống nhất giữa "ý Đảng" và "lòng dân". Càng trong lúc gian khổ, ác liệt, hy sinh, mối quan hệ này càng thể hiện rõ nét, trở thành bài học vô giá không chỉ trong giai đoạn lịch sử lúc đó, mà còn có giá trị trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực có những diễn biến phức tạp, khó lường. Đối với nước ta, bên cạnh những thuận lợi là cơ bản, song còn nhiều khó khăn, thách thức; các thế lực thù địch tập trung chống phá quyết liệt, thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, "phi chính trị hóa", "dân sự hóa" quân đội. Bên cạnh đó, một bộ phận cán bộ, đảng viên có biểu hiện quan liêu, tham nhũng, xa rời quần chúng đã làm ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ. Điều đó đã và đang đặt ra những yêu cầu mới đối với sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta. Hơn bao giờ hết, chúng ta phải tiếp tục phát huy bài học về sự thống nhất giữa "ý Đảng, lòng dân" của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968; trong đó, tập trung thực hiện tốt một số vấn đề cơ bản sau:

Một là, xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Thực tiễn của cách mạng Việt Nam và cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 chỉ ra rằng, "ý Đảng, lòng dân" luôn hòa quyện, thống nhất, gắn chặt với nhau, tạo nên sức mạnh vô địch của chủ nghĩa anh hùng cách mạng để chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược. Càng những lúc khó khăn, phức tạp thì "ý Đảng, lòng dân" càng được tăng cường và thống nhất với nhau. "Ý Đảng" được biểu hiện tập trung ở đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng phải đúng đắn, xuất phát từ tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân và yêu cầu của sự nghiệp cách mạng. "Lòng dân" được thể hiện ở niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và việc chấp hành đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng do Đảng lãnh đạo; mục tiêu, lợi ích cao nhất của Đảng là phục vụ nhân dân, vì mục tiêu, lợi ích của quần chúng nhân dân.

Để thực hiện điều đó, Đảng ta luôn tự đổi mới, chỉnh đốn, xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Trên cơ sở nắm vững quy luật khách quan, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bám sát thực tiễn và nguyện vọng chính đáng của nhân dân để đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn, hợp lòng dân, đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế. Đảng tập trung lãnh đạo đẩy mạnh phát triển kinh tế; giữ vững ổn định chính trị - xã hội; tăng cường quốc phòng - an ninh; nâng cao đời sống nhân dân, hướng tới mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh". Đồng thời, làm tốt công tác xây dựng Đảng theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên thực sự là "công bộc" của dân, "dĩ công vi thượng", gắn bó mật thiết với nhân dân; đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, khắc phục những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ; phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và phong cách làm việc theo kiểu "quan cách mạng", xa dân, không bám nắm cơ sở, không hiểu tâm tư, nguyện vọng chính đáng của người dân. Đảng đã và đang tạo mọi điều kiện thuận lợi, như: Thông qua hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể chính trị - xã hội các cấp, mở rộng dân chủ ở cơ sở,... để nhân dân tham gia (trực tiếp hay gián tiếp) vào hoạch định đường lối và xây dựng Đảng, góp phần để công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước tiếp tục được đẩy mạnh, đạt được những thành tích quan trọng trong tình hình mới.

Hai là, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, thực sự là của dân, do dân, vì dân. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quy định rõ: Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Do đó, sự thống nhất giữa "ý Đảng, lòng dân" còn được thể hiện thông qua hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước. Vì thế, cần tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự trong sạch, vững mạnh, của dân, do dân, vì dân, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân. Theo đó, cần phải coi trọng hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế kiểm tra, giám sát các hoạt động và quyết định của cơ quan công quyền theo hướng phục vụ tốt nhất cho người dân. Đặc biệt, cần coi trọng phát huy vai trò của Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, nhằm thể chế hóa đường lối, quan điểm của Đảng, quyết định những vấn đề hệ trọng của đất nước, giải quyết những vấn đề bức xúc trong xã hội, như: Xóa đói, giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách giàu - nghèo giữa các vùng, miền và tầng lớp dân cư; tạo việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiện an sinh xã hội,... tạo sự đồng thuận và niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đó cũng là biểu hiện sinh động về sự thống nhất biện chứng "ý Đảng, lòng dân" trong thời kỳ đất nước hội nhập, phát triển. Đồng thời, giữ vững kỷ cương phép nước, nâng cao hiệu quả thực thi thượng tôn của pháp luật; quan tâm đến lợi ích chính đáng của nhân dân đi đôi với kiên quyết đấu tranh với mọi biểu hiện lợi dụng quyền dân chủ, vi phạm pháp luật, có những hành vi chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ, xâm phạm quyền công dân, gây tổn hại lợi ích quốc gia, dân tộc. Tăng cường đạo đức công vụ của cán bộ, công chức, nâng cao ý thức phục vụ, đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực, tình trạng sách nhiễu, quan liêu, tham nhũng,... trong các cơ quan công quyền.

Ba là, đề cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội trong vận động, tập hợp nhân dân. Là thành viên trong hệ thống chính trị và là cơ sở chính trị của hệ thống chính quyền nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có vai trò quan trọng tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, vận động, giáo dục và thu hút các lực lượng xã hội vào thực hiện phong trào hành động cách mạng của Đảng, xây dựng "ý Đảng, lòng dân". Vì vậy, Mặt trận Tổ quốc cần phối hợp đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức cho các tầng lớp nhân dân về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quy định của địa phương. Tổ chức tốt phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động, trọng tâm là các cuộc vận động: "Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh", "Ngày vì người nghèo" và "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam",... tạo sự đồng thuận xã hội, góp phần hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, xây dựng Đảng và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong tình hình hiện nay, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể chính trị - xã hội các cấp cần chú trọng kiện toàn tổ chức, tích cực đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động theo phương châm "Hướng về cơ sở, bám cơ sở"; thường xuyên phối hợp, gặp gỡ, trao đổi, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị của nhân dân, kịp thời tham mưu, đề xuất với cấp ủy, chính quyền biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết dứt điểm ngay từ cơ sở. Đồng thời, nâng cao chất lượng phản biện, giám sát xã hội, nhất là những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân; động viên toàn dân chung sức xây dựng nông thôn mới, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, xóa đói, giảm nghèo và các hủ tục lạc hậu, v.v..

Bốn là, phát huy vai trò của quân đội trong tiến hành công tác dân vận, góp phần xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc. Từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội cách mạng, có mối quan hệ máu thịt với nhân dân. Trong tình hình mới, quân đội cần phát huy vai trò "đội quân công tác", tích cực tiến hành công tác dân vận, góp phần quan trọng vào việc tăng cường mối quan hệ đoàn kết quân - dân, xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc, thống nhất giữa "ý Đảng, lòng dân". Trên cơ sở chương trình, nội dung hoạt động đã xác định, công tác dân vận trong quân đội cần đặt trọng tâm vào tham gia xây dựng, củng cố, nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở; giúp dân phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói, giảm nghèo, phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo và các chính sách xã hội. Đồng thời, tuyên truyền, vận động nhân dân đấu tranh chống "diễn biến hòa bình", không bị lôi kéo vào những luận điệu xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch nhằm chia rẽ Đảng, Nhà nước, quân đội với nhân dân; nêu cao ý thức cảnh giác cách mạng, tích cực tham gia xây dựng "thế trận quốc phòng toàn dân", "thế trận an ninh nhân dân", thực hiện các phong trào, các cuộc vận động do Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động. Các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội biên phòng, đơn vị kinh tế - quốc phòng hoạt động trên các địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo cần đẩy mạnh công tác dân vận, tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân vào cuộc đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm, bài trừ hủ tục, tạo môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng - an ninh, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, v.v..

Kế thừa và phát huy bài học kinh nghiệm về sự thống nhất giữa "ý Đảng, lòng dân" trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 vào thực tiễn hiện nay là vấn đề có ý nghĩa quan trọng, cấp thiết. Thực hiện tốt điều đó, sẽ góp phần quan trọng tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân, làm cho Đảng hiểu dân, dân tin Đảng, tạo sức mạnh tổng hợp thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Năm, 2020, 07:11:40 am
ĐẢNG BỘ VÀ NHÂN DÂN SÀI GÒN - GIA ĐỊNH ĐẨY MẠNH PHONG TRÀO TIẾN CÔNG VŨ TRANG,
ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ, NỖ LỰC XÂY DỰNG THỰC LỰC CÁCH MẠNG,
SẴN SÀNG CHUẨN BỊ CHO THỜI CƠ MỚI (1965-1967)



TẤT THÀNH CANG
Ủy viên Trung ương Đảng,
Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh


Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta trong Xuân Mậu Thân 1968 là một mốc son chói lọi, đánh dấu bước ngoặt quan trọng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Sự kiện ấy làm chấn động từ Lầu Năm Góc đến tòa Nhà Trắng, tạo ra làn sóng phản chiến trong từng gia đình người Mỹ và lan rộng khắp thế giới; làm thất bại chiến lược "chiến tranh cục bộ", làm lung lay ý chí xâm lược của giới cầm quyền Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán tại Pari, đồng thời mở ra khả năng cho ta thực hiện mục tiêu khát vọng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Để góp phần quan trọng làm nên những chiến công trên chiến trường trọng điểm, Đảng bộ và nhân dân Sài Gòn - Gia Định dưới sự lãnh đạo của Trung ương Cục và Trung ương Đảng đã nỗ lực vượt lên chính mình vừa đấu tranh chính trị, vừa đấu tranh vũ trang, vừa xây dựng lực lượng chuẩn bị sẵn sàng mọi mặt cho thời cơ chiến lược.

Đảng bộ và nhân dân Sài Gòn - Gia Định đẩy mạnh phong trào tiến công vũ trang, kết hợp đấu tranh chính trị

Tháng 3-1964, chuẩn bị cho "Kế hoạch X", Khu Sài Gòn - Gia Định gấp rút xây dựng và phát triển lực lượng chính trị, quân sự, trong đó tập trung xây dựng các đội biệt động mạnh đủ sức đánh chiếm các mục tiêu chiến lược; và 5 tiểu đoàn mũi nhọn. Đầu tháng 1-1965, Khu Sài Gòn - Gia Định tổ chức một trung tâm huấn luyện bí mật ở Lò Gò, Tân Biên (Tây Ninh) với bí danh là Đoàn 165A. Đoàn Biệt động với mật danh F100 cũng được thành lập. Chỉ trong một thời gian ngắn, Đoàn F100 đã phát triển được 9 đội biệt động nội đô (từ số 3 đến số 11), mỗi đội có từ 15 đến 20 người; 3 đội đặc công biệt động ven đô và 3 đội đặc công nước. Các cơ sở, các lõm chính trị cùng nhiều hầm chứa vũ khí được bí mật triển khai như hầm ở số nhà 65 đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, số 189/A đường Trần Quốc Toản... Nhiều lõm du kích ven đô được mở rộng ở Phước Đước (Nhà Bè); An Nhơn, An Phú Đông (Gò Môn); Tam Bình, Tam Hiệp (Dĩ An); Tăng Nhơn Phú (Thủ Đức); Vĩnh Lộc (Bình Chánh)... để tạo điều kiện cho lực lượng vũ trang áp sát nội thành.

Ban Cán sự Đảng và các đảng bộ cơ sở trọng yếu được củng cố tổ chức và tăng cường cán bộ. Tính đến tháng 6-1965, nội thành Sài Gòn - Chợ Lớn có 647 đảng viên, trong đó có 311 đảng viên hoạt động ở cơ sở. Các chi bộ và đảng viên đều được học tập về đường lối, chủ trương của Đảng; về 5 bước công tác cách mạng; về kinh nghiệm giữ bí mật; về tu dưỡng đạo đức, khí tiết của người chiến sĩ cách mạng và được phân công nắm quần chúng qua hội viên các đoàn thể và quần chúng nòng cốt.

Trước nguy cơ thất bại của chiến lược "chiến tranh đặc biệt", tháng 3-1965, chính quyền Mỹ đưa quân trực tiếp vào tham chiến tại miền Nam Việt Nam. Trước hành động leo thang chiến tranh, phong trào toàn dân chống Mỹ diễn ra ngày càng quyết liệt. Mục tiêu chống Mỹ, lật đổ chính quyền Thiệu - Kỳ là nội dung chủ yếu của cao trào đấu tranh chính trị ở đô thị vào cuối mùa khô 1965-1966. Ba tháng đầu năm 1966 đã nổ ra 125 cuộc đấu tranh của công nhân lao động. Tháng 4-1966, "Lực lượng bảo vệ văn hóa dân tộc" được thành lập, bao gồm nhiều giới đồng bào, trong đó có 70 giáo sư, nhà văn, nghệ sĩ nổi tiếng. Phong trào bảo vệ văn hóa dân tộc chống những nọc độc của văn hóa Mỹ kết hợp với đấu tranh công khai trên mặt trận báo chí diễn ra sôi nổi, phong phú. Công nhân các ngành vận tải, giày Bata, dầu Esso, dệt Đông Á, điện, nước, xích lô, thuốc lá MIC, rượu Bình Tây liên tiếp đình công, bãi công đòi tăng lương, đòi tự do nghiệp đoàn, đòi giải quyết tình trạng vật giá leo thang. Ngày 26-12-1966, hơn 5.000 công nhân cảng Sài Gòn đình công phản đối việc sa thải công nhân vô cớ. Cuộc đình công kéo dài, địch phải đưa 4 tiểu đoàn lính Mỹ vào thay thế việc bốc dỡ hàng. Anh em công nhân đã chống trả quyết liệt không chịu rời cảng, không để cho lính Mỹ vào bốc dỡ thay. Cảng Sài Gòn bị tê liệt, ảnh hưởng nghiêm trọng đến kế hoạch quân sự của địch. Ngày 30-12-1966, để hỗ trợ cuộc đấu tranh của công nhân cảng, Liên hiệp Nghiệp đoàn Đô thành kêu gọi tất cả công nhân lao động toàn thành phố tổng đình công. Hàng loạt nhà máy, công xưởng hưởng ứng đình công 12 tiếng đồng hồ trong ngày.

Khí thế đấu tranh thắng lợi ở ngoại thành và trên toàn chiến trường miền Nam đã thúc đẩy phong trào đấu tranh chính trị và vũ trang nội thành ngày càng phát triển. Các đội biệt động thuộc Ban Hoa vận, các đội an ninh nội thành diệt nhiều tên mật vụ nợ máu, nhiều tên đầu sỏ trong chính quyền Sài Gòn; tình báo viên, cảnh sát ác ôn và lực lượng chiêu hồi chỉ điểm 1.

Phối hợp với các hoạt động, đêm 12-6-1966, Tiểu đoàn 8 của Quân khu cùng với Biệt động F100 và Tiểu đoàn 6 Tân Bình bắn 400 quả đạn vào sân bay Tân Sơn Nhất, phá hủy 67 máy bay các loại, 13 xe quân sự và nhiều phương tiện chiến tranh. Đêm 17-8-1966, hưởng ứng lời kêu gọi ngày 20-7-1966 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, pháo binh Sài Gòn - Gia Định bắn vào căn cứ hậu cần của Mỹ ở Ngã tư Bảy Hiền, phá hủy và phá hỏng gần 100 xe quân sự, tiêu diệt và làm bị thương 167 nhân viên kỹ thuật Mỹ và Niu Dilân. Ngày 1-11-1965, bộ đội Rừng Sác nã đạn pháo vào khu vực kỳ đài trong lễ "Quốc khánh" Đệ nhị Cộng hòa.

Đêm 3-2-1966, các mũi đặc công thuộc Đội 2 biệt động của Quân khu do đồng chí Nguyễn Văn Kịp (Đồng Đen) chỉ huy bí mật lọt vào sân bay Tân Sơn Nhất, một mũi của ta bị địch phát hiện tại đường băng số 2 buộc phải nổ súng trước giờ hẹn. Cuộc chiến đấu giáp lá cà diễn ra quyết liệt, sau 5 tiếng đồng hồ "đại náo" sân bay, đến hừng sáng, với sự giúp đỡ của đồng bào và binh sĩ yêu nước, các chiến sĩ đặc công rút về căn cứ an toàn. Phối hợp với trận đánh sân bay, Đội biệt động 68 tập kích cư xá của bọn cố vấn chiến tranh tâm lý ở đường Lê Văn Duyệt (nay là đường Cách mạng Tháng Tám), diệt 30 tên Mỹ.

Bước sang năm 1967, nội dung, hình thức phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng ở nội thành càng phát triển đa dạng và phong phú. Cùng với những cuộc đấu tranh thường xuyên cho yêu cầu dân sinh, dân chủ, phong trào đấu tranh đòi hòa bình, dân chủ, đòi chấm dứt chiến tranh, đòi Nội các của Thiệu - Kỳ phải từ chức diễn ra càng sôi nổi. Phong trào học sinh, sinh viên ngày càng phát huy mạnh mẽ, phong phú, đa dạng hòa nhịp với cao trào đấu tranh không ngừng của các tầng lớp nhân dân. Tổ chức "Lực lượng quốc gia tiến bộ" được thành lập, tập hợp đông đảo các tầng lớp trí thức, nhân sĩ, tín đồ các tôn giáo, trong đó có nhiều viên chức cao cấp của chính quyền Sài Gòn, cùng đấu tranh cho yêu cầu hòa bình, dân chủ và quyền tự quyết của dân tộc, chĩa mũi nhọn vào bọn xâm lược Mỹ và Nội các của Thiệu - Kỳ.

Từ ngày 9 đến ngày 21-9-1967, hàng ngàn sinh viên các trường đại học bỏ thi, xuống đường biểu tình, tổ chức mít tinh tố cáo bầu cử gian lận của Thiệu - Kỳ trong cuộc bầu cử tổng thống nhiệm kỳ II. Ngày 28-9-1967, hơn 300 nhà sư từ chùa Ấn Quang kéo đến Dinh Tổng thống đòi Nguyễn Văn Thiệu phải hủy bỏ "Hiến chương Phật giáo". Trước khí thế đấu tranh quyết liệt của học sinh, sinh viên và quần chúng lao động, Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh giới nghiêm trong toàn thành phố. Tháng 11-1967, học sinh, sinh viên các trường trung học và đại học Sài Gòn - Gia Định liên tiếp mở chiến dịch đấu tranh, kêu gọi đồng bào xuống đường đòi lật đổ Thiệu - Kỳ, đòi quân Mỹ xâm lược rút về nước. Các chiến sĩ biệt động nội thành tập trung đánh vào quân Mỹ và bọn tay sai ác ôn như đánh vào cư xá sĩ quan Mỹ ở đường Gia Phú, Đồng Khánh, Võ Di Nguy, Trương Minh Giảng, Nguyễn Văn Thoại, Sư Vạn Hạnh, Yên Đổ, Lam Sơn... và các đồn bốt cảnh sát ác ôn ở Ngô Quyền, Tôn Thất Thuyết, Quận 3, Thị Nghè.

Trên vùng ven, các đơn vị vũ trang nhân dân giữ vững thế chủ động tiến công. Trong ba tháng 7, 8 và 9-1967, Tiểu đoàn Quyết Thắng đã phối hợp với bộ đội địa phương và du kích Củ Chi đánh nhiều trận, đặc biệt là tập trung đánh những đoàn xe cơ giới của địch đi ủi phá xóm làng, phá hủy hàng trăm xe địch. Các tiểu đoàn địa phương của Gò Vấp, Hóc Môn, Thủ Đức, Nhà Bè, Rừng Sác, Bình Chánh... đều lập nhiều chiến công. Bộ đội Rừng Sác cũng liên tiếp lập nhiều chiến công làm kinh hồn, bạt vía kẻ thù.

Đến cuối năm 1967, các vùng ven Sài Gòn đã được mở rộng thành thế liên hoàn giữa các vùng du kích và lõm căn cứ, tạo điều kiện thuận lợi đưa lực lượng của ta áp sát đô thị. Ta đã làm chủ về đêm nhiều vùng ở Bình Chánh, Tân Bình, Nhà Bè, phía tây nam cũng như phía đông bắc Thủ Đức. Địch co lại cố thủ trong các đồn bốt. Nhiều nơi cán bộ ta có thể ra vào, đi lại giữa ban ngày. Đơn vị vũ trang của các Quận 7, 8 đánh trả nhiều trận càn, vây ráp của địch ở các vùng ven Hố Bần, Phong Đức, Rạch Bà Tàng, Khu Cầu Sập, Rạch Lồng Đèn... Nhiều cuộc tuyên truyền vũ trang đã diễn ra sôi nổi ở các quận ven đô. Hành lang từ xa lộ Sài Gòn - Biên Hoà qua vùng Bưng Sáu Xã, thông sang Long Phước Thôn, đã bảo đảm đường dây của Khu từ Vàm Nước ra Đông Môn - Long Thành được thông suốt. Đêm 20-10-1967, biệt động của ta bắn cối 60 ly vào Dinh Độc Lập giữa lúc đang diễn ra lễ đăng quang Tổng thống của Nguyễn Văn Thiệu, trong lễ đó có mặt của Phó Tổng thống Mỹ Hămphơrây.

Những trận đánh Mỹ và phong trào đấu tranh liên tục diễn ra ngay tại nội thành cho thấy thế trận chiến tranh nhân dân đang phát triển ở ngay trung tâm sào huyệt của địch, khiến cho Sài Gòn không còn là hậu phương an toàn của chúng.



---------------------------------------------------------------
1. Trận diệt tên Trần Văn Văn - Chủ tịch Quốc hội Sài Gòn (tên này định ra tranh cử Tổng thống với Nguyễn Văn Thiệu) tại góc đường Phan Đình Phùng (nay là đường Nguyễn Đình Chiểu) - Phan Kế Bính vào sáng ngày 14-4-1966 khiến cho các phe nhóm đối lập với Nguyễn Văn Thiệu nghi Thiệu dùng tay chân thanh toán tên này. Cũng hôm đó, một quả mìn hẹn giờ của ta cài trên xe cảnh sát chạy vào Bộ Tư lệnh Cảnh sát Quốc gia đã phát nổ, làm chết và bị thương 17 tên địch. Các đội biệt động cũng đã tiến hành nhiều trận đánh vào quân Mỹ tại Sài Gòn.


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Năm, 2020, 07:18:04 am
Đảng bộ Sài Gòn - Gia Định nỗ lực phát triển lực lượng cách mạng, ráo riết chuẩn bị mọi mặt, chuẩn bị sẵn sàng phục vụ cho thời cơ mới

Tháng 3-1966, Hội nghị cán bộ nội thành lần thứ 1 nhận định là ta đang chuyển sang bước ngoặt mới mà nội dung chủ yếu là Đảng ta đã thiết lập được quyền lãnh đạo phong trào, đánh bại ảnh hưởng của các xu thế phản động và thoả hiệp. Tháng 4-1966, Khu ủy Sài Gòn - Gia Định họp để đánh giá toàn diện tình hình nông thôn, đô thị trong năm 1965 và đề ra Nghị quyết công tác cho Đảng bộ Khu Sài Gòn - Gia Định trong hai năm 1966-1967, với quyết tâm đưa lên cao trào toàn dân chống đế quốc Mỹ, góp phần đánh bại "chiến tranh cục bộ" của chúng . Nghị quyết của Khu ủy đã vạch ra mâu thuẫn giữa dân tộc ta với đế quốc Mỹ, mâu thuẫn giữa nguyện vọng hòa bình của nhân dân với chính sách mở rộng chiến tranh tàn bạo của đế quốc Mỹ và mâu thuẫn giữa quyền lợi thiết thân của quần chúng với chính sách vơ vét bóc lột tận cùng của địch để tiếp tục cuộc chiến tranh ngày càng phát triển gay gắt. Về phong trào cách mạng, Nghị quyết Hội nghị Khu ủy nhận định: "... Một bước ngoặt quan trọng trong đời sống chính trị ở đô thị... đồng thời cũng đánh dấu bước trưởng thành mới của lực lượng quần chúng". Nghị quyết còn nêu ra nhiều mặt công tác cụ thể cho từng vùng đô thị và nông thôn.

Thực lực cách mạng của Đảng bộ Khu Sài Gòn - Gia Định từ tháng 4-1965 đến tháng 4-1966 được phát triển khá nhanh. Đảng viên toàn khu vực tăng gần 100%; đoàn viên tăng 100%; hội viên đoàn thể tăng 300%; quần chúng cảm tình tích cực tăng trên 300%. Lực lượng vũ trang ba thứ quân đều phát triển nhanh. Ngoài Tiểu đoàn Quyết Thắng là đơn vị chủ lực của Khu, các cánh đều có tiểu đoàn bộ đội địa phương và các xã đều có các đơn vị du kích tập trung từ tiểu đội đến trung đội. Ở các xã, ấp còn bị địch kìm kẹp, có du kích mật và tự vệ mật. Tại nội thành, ngoài lực lượng biệt động của Khu, mỗi ngành, đoàn thể đều lập những tổ, đội biệt động hoặc trinh sát vũ trang và tự vệ mật. Chất lượng của các lực lượng vũ trang ngày càng được nâng cao 1.

Sau Nghị quyết 8 của Khu ủy (4-1966), do yêu cầu phát triển nhanh thực lực và sự trưởng thành của cơ sở đảng, nhiều chi bộ ở các địa bàn phường, khu vực hay chợ, trường học... được thành lập. Tháng 3-1966, Ban Cán sự Đảng ở nội thành Sài Gòn đã họp và đánh giá đúng mức về bước sự phát triển vượt bậc của phong trào chính trị, vũ trang ở đô thị, đồng thời phân tích những khó khăn và thiếu sót quan trọng của các cơ sở đảng, đặc biệt là vấn đề xây dựng và phát triển thực lực cách mạng chưa đáp ứng kịp thời với yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ.

Trong các mặt công tác, Khu ủy đặc biệt chú trọng chỉ đạo việc củng cố các cơ sở Đảng, phát triển Đảng trong công nhân lao động, học sinh, sinh viên ưu tú; điều phối số cán bộ lãnh đạo từ ngoài vào để tăng cường công tác lãnh đạo các vùng ven và nội đô; quan tâm đến việc tăng cường nòng cốt nắm lấy các tổ chức công khai, hợp pháp, nửa công khai. Đảng bộ quyết tâm sử dụng các hình thức công khai, hợp pháp, nửa hợp pháp để đưa phong trào đi lên, đồng thời che giấu và bảo tồn các cơ sở bí mật. Trong những tháng cuối năm 1967, trọng tâm công tác của các cơ sở nội thành là tổ chức hệ thống nòng cốt trong các tổ chức công khai, nửa công khai. Nhờ đó, ta có một số lượng nòng cốt quần chúng đáng kể trong các tổ chức Tổng Liên đoàn Lao động, Liên hiệp các nghiệp đoàn tự do, Tổng hội Sinh viên, Tổng hội Học sinh, Phong trào Dân tộc tự quyết, Nghiệp đoàn Ký giả, Lực lượng Quốc gia tiến bộ, Lực lượng bảo vệ Văn hóa dân tộc, Hội bảo vệ quyền lợi và nhân phẩm phụ nữ, Hội Ái hữu nghệ sĩ, Nghiệp đoàn Giáo chức.

Trên mặt trận thông tin báo chí, ngoài việc đưa người vào hướng dẫn các báo công khai, Khu ủy chủ trương mở rộng diện báo chí nửa công khai của các giới; hướng dẫn nhiều nghiệp đoàn ra nội san 2. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, báo chí đã góp phần rất quan trọng trong công tác giáo dục tư tưởng, phổ biến thông tin, hướng dẫn dư luận đông đảo quần chúng Sài Gòn - Gia Định và các đô thị miền Nam.

Về xây dựng cơ sở, ta đã chuẩn bị các kho bí mật để cất giấu vũ khí, những chỗ ém quân và tổ chức việc vận chuyển vũ khí từ ngoài vào nội thành. Tháng 7-1965, đồng chí Đỗ Văn Căn xây dựng kho bí mật đầu tiên, chứa được vũ khí tại số nhà 183/4 Trần Quốc Toản (nay là Đường 3/2) đối diện với Cơ quan viện trợ Mỹ, ngay cạnh Bộ Tư lệnh Biệt khu Thủ đô.

Từ năm 1966 đến năm 1967, các đơn vị như A20, A30 được giao đặc trách việc xây hầm và vận chuyển vũ khí. Thực hiện nghiêm ngặt phương châm "bốn hóa", đến cuối năm 1967, ta đã xây dựng được 13 hầm vũ khí phục vụ cho các mục tiêu chiến lược 3. Nhiều cơ sở để đặt Sở chỉ huy (như nhà số 7 Yên Đổ - tiệm phở Bình) và nhiều hầm bí mật làm nơi trú ẩn cho cán bộ và chiến sĩ từ ngoài vào cũng được khẩn trương xây dựng.

Tháng 5-1967, Hội nghị lần thứ năm của Trung ương Cục miền Nam đề ra nhiệm vụ cho toàn Miền: "Phải đẩy mạnh chủ động tấn công và phản công liên tục; tiếp tục đánh bại hai gọng kìm "tìm diệt" và "bình định"; tiếp tục đẩy địch vào thế bị động phòng ngự; xây dựng 3 thứ quân của ta vững mạnh, tạo điều kiện giành thắng lợi ngày càng lớn; tiến lên tổng công kích, tổng khởi nghĩa". Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng và Trung ương Cục miền Nam, Khu ủy Sài Gòn - Gia Định xác định nhiệm vụ trước mắt của Đảng bộ và quân dân toàn Khu là: "Đẩy mạnh hơn nữa phong trào tiến công vũ trang và đấu tranh chính trị trong nội thành nhằm làm cho Mỹ - Thiệu ngày càng bị động đối phó với ta ngay tại sào huyệt của chúng, gắn liền với đẩy mạnh phong trào chống phá bình định, phá thế kìm kẹp của địch ở các vùng nông thôn ven đô. Nỗ lực xây dựng thực lực cách mạng, đặc biệt là xây dựng cơ sở nòng cốt trong các tổ chức công khai cũng như phát triển lực lượng vũ trang, tự vệ mật, tạo thêm nhiều căn cứ, nhiều cơ sở vật chất hậu cần tại chỗ, sẵn sàng phục vụ cho thời cơ mới"3. Đồng thời, tiếp tục chỉ đạo các phong trào theo tinh thần và nội dung của Nghị quyết 8 được đề ra từ tháng 4-1966, trong đó có những yêu cầu quan trọng về phần đô thị như sau: "Ra sức hình thành và phát triển cao trào chính trị của quần chúng dưới các khẩu hiệu chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, chĩa mũi nhọn tấn công vào Mỹ và tay sai..."; "... Có nhiều phong trào đấu tranh từ nhiều phía khác nhau, có thấp, có cao, có nhỏ, có lớn, có bí mật, có công khai tấn công địch, có phong trào kinh tế, có phong trào chính trị, có phong trào quần chúng cơ bản và quần chúng tiểu tư sản, quần chúng bên trên... Cần chú ý nhiều hơn nữa phong trào văn hóa, chống các ảnh hưởng văn hóa đồi trụy và chống các loại triết học phản động của các phe phái, tạo nhiều khả năng tập hợp thật nhiều giới đồng bào tham gia thành một mặt trận đấu tranh văn hóa; từ đó mà chuyển dần từng bước thành những phong trào chính trị chống Mỹ rộng lớn..." .

Quán triệt chỉ đạo của Bộ Chính trị, ngay từ tháng 10-1967, Trung ương Cục miền Nam và Bộ Chỉ huy Miền đã chỉ đạo quân và dân trên các chiến trường ra sức chuẩn bị mọi mặt cho "Tết Mậu Thân" 1968. Trên cơ sở đó, tháng 10-1967, Khu ủy Sài Gòn - Gia Ðịnh tổ chức hội nghị mở rộng để tiếp thu Nghị quyết của Bộ Chính trị và Trung ương Cục, đề ra kế hoạch, mục tiêu Tổng tiến công và nổi dậy, nhằm thực hiện hai nhiệm vụ lớn: Ðánh chiếm các căn cứ đầu não của địch tại Sài Gòn và phát động quần chúng nổi dậy khởi nghĩa giành chính quyền.

Về quân sự được tổ chức thành ba khối: Khối biệt động, Khối các phân khu, Khối chủ lực Miền. Trong đó, Khối biệt động gồm cụm 3-4-5, cụm 6-7-9, cụm 1-2-8 với hơn 100 chiến đấu viên có nhiệm vụ tiến công vào các mục tiêu đầu não của địch như: Dinh Ðộc Lập, Ðại sứ quán Mỹ, Ðài Phát thanh, Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Tư lệnh hải quân...; Khối phân khu gồm các lực lượng vũ trang Phân khu và được tăng cường thêm 15 tiểu đoàn chủ lực khác trong đó có Tiểu đoàn 1 Quyết Thắng, Tiểu đoàn 3 Gò Vấp - Hóc Môn, Tiểu đoàn 3 Dĩ An, Tiểu đoàn 4 Đặc công Gia Ðịnh... có nhiệm vụ tiếp ứng cho các đơn vị biệt động chiếm lĩnh mục tiêu trong nội đô; khối chủ lực Miền có ba sư đoàn bộ binh 5, 7, 9 và một sư đoàn pháo binh, Trung đoàn bộ binh 88 và một số lực lượng thuộc các binh chủng khác có nhiệm vụ tiến công các căn cứ của địch, ngăn chặn không cho chúng về ứng cứu Sài Gòn.

Ðể thực hiện nhiệm vụ nổi dậy, tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền, ngay từ đầu năm 1967, nhiều cán bộ đảng được bí mật tăng cường vào đô thị Sài Gòn - Chợ Lớn nhằm điều nghiên mục tiêu, gây dựng cơ sở, cất giấu vũ khí, in truyền đơn, viết khẩu hiệu... chuẩn bị cho những mục tiêu lớn. Trên cơ sở đó, gần 400 cơ sở cách mạng, "lõm" chính trị, kho vũ khí bí mật được hình thành ngay trong lòng Sài Gòn, điển hình như ở Nhi Tỳ Quảng Ðông, đường Trần Quốc Thảo (Quận 3), Cao Ðạt (Quận 5), Minh Phụng, Cây Gõ (Quận 6), Trường đua Phú Thọ (Quận 11). Bên cạnh đó, lực lượng quần chúng yêu nước nhất là nhân sĩ, trí thức được các tổ chức của Đảng như Trí vận, Hoa vận, Công vận, Phụ vận,... bí mật vận động, tập hợp trong các tổ chức công khai, bán công khai như Tổng hội Sinh viên, Tổng đoàn Học sinh, Phong trào Dân tộc tự quyết, Nghiệp đoàn ký giả, Lực lượng Quốc gia tiến bộ, Lực lượng Bảo vệ văn hóa dân tộc, Hội bảo vệ nhân phẩm và quyền lợi phụ nữ, Hội Ái hữu nghệ sĩ, Nghiệp đoàn giáo học tư thục Việt Nam, Nghiệp đoàn giáo chức cách mạng, Hội Ái hữu giáo chức công lập bậc tiểu học, Nghiệp đoàn giáo dục tư thục người Việt gốc Hoa, Hội Kỹ sư và kỹ thuật gia Việt Nam... Ðây chính là đội quân chính trị hùng hậu để tham gia khởi nghĩa khi Tổng tiến công về quân sự.

Tính đến cuối tháng 12-1967, mọi công tác chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy cơ bản đã hoàn tất. Tài lực, vật lực và lực lượng ba thứ quân của thành phố cùng với lực lượng nổi dậy đều ở tư thế sẵn sàng nhập cuộc.

Có thể nói, trong hai mặt tổng công kích và tổng khởi nghĩa, nếu như sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng vũ trang Miền nhằm đảm bảo mục tiêu tổng công kích thì công tác đô thị được đặt ở vị trí hàng đầu trong chỉ đạo của Trung ương Đảng cũng như Trung ương Cục nhằm bảo đảm mục tiêu tổng khởi nghĩa, trong đó, trọng tâm là Khu Sài Gòn - Gia Định. Có thể khẳng định, nếu không có nhân dân và lực lượng chính trị tại chỗ thì sẽ không thể tổ chức được biệt động ém sẵn trong nội thành, không có nhân dân và lực lượng chính trị tại chỗ thì sẽ không đưa được vũ khí vào nội thành; không có nhân dân và lực lượng chính trị tại chỗ thì không thể đưa được các tiểu đoàn mũi nhọn vào đánh trong nội đô; không có nhân dân và lực lượng chính trị tại chỗ thì sẽ không thể giải quyết được công tác thương binh, công tác tiếp tế là những mặt công tác mà không có tổ chức hậu cần nào của quân đội khi đó có thể giải quyết được. Từ đó, có thể thấy rõ, dưới sự chỉ đạo và hỗ trợ của Trung ương Đảng và Trung ương Cục, Khu ủy Sài Gòn - Gia Định đã thực hiện tốt công tác chuẩn bị mọi mặt cho Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, trong đó nổi bật nhất chính là việc xây dựng các lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang tại chỗ. Chính sự chuẩn bị đó đã góp phần vào thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Đồng thời, đó cũng chính là bài học kinh nghiệm sâu sắc về chiến tranh nhân dân, sức mạnh lòng dân của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mà trong công cuộc xây dựng, phát triển và bảo vệ thành phố, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay chúng ta cần phải tiếp tục phát huy.





---------------------------------------------------------------
1. Đầu năm 1967, số đảng viên trong lực lượng vũ trang thuộc các huyện ngoại thành là: Dĩ An có 14 đảng viên trong số 86 tay súng; Bình Tân có 43 đảng viên trong số 451 tay súng; Thủ Đức có 17 đảng viên trong số 217 tay súng; Nhà Bè có 40 đảng viên trong số 281 tay súng; Gò Môn có 40 đảng viên trong số 561 tay súng; Củ Chi có 82 đảng viên trong số 1.652 tay súng.

2. Nghiệp đoàn xe lam, Nghiệp đoàn hỏa xa, Nghiệp đoàn thuốc lá Bastos. Ngoài tờ Sinh viên và Học sinh, còn có tờ Tin tưởng của Đại học Vạn Hạnh; Hướng mới của Đại học Y khoa; Khoa học của Đại học Khoa học; Nhân bản của Đại học Sư phạm; Hướng đi của Đại học Văn khoa; Bông súng của Đại học Dược khoa; Đất nước của Trường Luật; Tiếng nói của Trường Trung học Cao Thắng; Áo tím của Trường Gia Long; Tuổi trẻ và ngòi bút của Trường Pétrus Ký... Trong giáo chức cũng có tờ Tự quyết.

3.Trong đó hầm tại nhà 287/70 đường Trần Quý Cáp chứa được 350 kg thuốc nổ, 10 tiểu liên AK, 3.000 viên đạn, 50 lựu đạn và cả súng B40... Riêng các đơn vị lo về quân nhu, cũng đã xây dựng được 19 "lõm" chính trị gồm 325 gia đình tích cực cách mạng.


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Năm, 2020, 07:23:25 am
NÉT ĐẶC SẮC CỦA CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY
XUÂN MẬU THÂN 1968 TẠI SÀI GÒN - GIA ĐỊNH



Trung tướng VÕ MINH LƯƠNG
Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân khu 7


Trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 đã đánh dấu một bước phát triển mới trong học thuyết quân sự Việt Nam. Lần đầu tiên, ta tổ chức và phát động một cuộc tiến công đồng loạt trên chiến trường rộng lớn, tập trung vào các đô thị, trọng tâm là Sài Gòn - Gia Định, Đà Nẵng, Huế mà vẫn giữ được yếu tố bất ngờ tới giờ nổ súng, làm đảo lộn thế bố trí chiến lược của địch trên toàn miền Nam. Nét đặc sắc của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 tại Sài Gòn - Gia Định biểu hiện ở sự độc lập, sáng tạo, tài mưu lược của Đảng ta trong nghệ thuật lãnh đạo, chỉ đạo cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc; đồng thời là biểu tượng sáng ngời về ý chí và sức mạnh quật cường của quân và dân ta. Thắng lợi này đã để lại những bài học vô giá, in đậm trong lịch sử như những dấu son chói lọi về một thời kỳ oanh liệt của Đảng trong nghệ thuật chỉ đạo; của dân tộc, quân đội và nhân dân ta trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập, dân chủ và thống nhất đất nước.

Thứ nhất, Đảng ta đã nhạy bén nắm bắt thời cơ, kịp thời đề ra chủ trương chiến lược đúng đắn, sáng tạo.

Ở miền Nam, hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 và 1966-1967 của Mỹ - chính quyền Sài Gòn không những không đạt được kết quả gì đáng kể, trái lại còn bị thiệt hại nặng nề. Ở miền Bắc, cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ hòng ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam và uy hiếp tinh thần kháng chiến của nhân dân ta cũng bị trừng trị đích đáng. Nội bộ chính quyền Mỹ bị chia rẽ sâu sắc. Phong trào phản đối chiến tranh dâng cao khắp nước Mỹ... Hơn nữa, năm 1968 lại là năm bầu cử Tổng thống Mỹ - thời điểm rất nhạy cảm về chính trị. Điều này buộc Tổng thống đương nhiệm Giônxơn phải tính toán, thận trọng để đưa ra các quyết sách, nhất là đường lối chiến tranh Việt Nam nhằm tạo sự ủng hộ của cử tri trong cuộc chạy đua vận động tranh cử. Tình hình trên cho thấy, mặc dù lực lượng quân sự Mỹ và chính quyền Sài Gòn còn rất đông, tiềm lực chiến tranh còn mạnh, nhưng thực tế chiến trường đã đẩy đế quốc Mỹ vào thế tiến thoái lưỡng nan.

Trong khi đó, mặc dù còn một số hạn chế, song ta đang ở thế thắng, thế chủ động và thuận lợi. Lực lượng quân sự và chính trị của ta ở miền Nam đã lớn mạnh, các lực lượng vũ trang đã có những bước tiến vượt bậc, vận dụng những phương thức tác chiến chiến lược độc đáo, linh hoạt, diệt được nhiều sinh lực địch. Ta giữ vững và mở rộng quyền làm chủ, hình thành thế bao vây xung quanh các căn cứ, thị xã, đẩy mạnh đấu tranh chính trị ở các đô thị.

Trên cơ sở đánh giá cụ thể so sánh tương quan lực lượng địch - ta, Hội nghị Bộ Chính trị (12-1967) nhận định: "Chúng ta đang đứng trước triển vọng và thời cơ chiến lược lớn. Tình hình đó cho phép chúng ta có thể chuyển cuộc chiến tranh cách mạng sang một thời kỳ mới - thời kỳ tiến công và nổi dậy giành thắng lợi quyết định" .

Chủ trương của Bộ Chính trị được cụ thể hóa trong Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 14 (1-1968) với việc xác định mục tiêu chiến lược của tổng công kích, tổng khởi nghĩa là:

"a) Tiêu diệt và làm tan rã tuyệt đại bộ phận quân nguỵ, đánh đổ nguỵ quyền các cấp, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân.

b) Tiêu diệt một phần quan trọng sinh lực và phương tiện chiến tranh của Mỹ, làm cho quân Mỹ không thực hiện được các nhiệm vụ chính trị và quân sự của chúng ở Việt Nam.

c) Trên cơ sở đó, đập tan ý chí xâm lược của Mỹ, buộc Mỹ phải chịu thua ở miền Nam, chấm dứt mọi hành động chiến tranh đối với miền Bắc" .

Đây là một chủ trương táo bạo, đúng đắn và kịp thời của Đảng, thể hiện sự nhạy bén nắm bắt thời cơ chiến lược trong chỉ đạo chiến tranh, bởi năm 1968 đã hội tụ đủ các điều kiện về chính trị, quân sự, ngoại giao để ta mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giành thắng lợi lớn. Nếu quá sớm, ta chưa đánh thắng hai cuộc phản công chiến lược của địch vào năm 1965-1966 và 1966-1967 thì đế quốc Mỹ không chịu thua vì còn quỹ thời gian để triển khai đầy đủ chiến lược "chiến tranh cục bộ". Nếu để muộn cuộc tiến công sau năm bầu cử tổng thống Mỹ thì áp lực quân sự khó làm rung chuyển nước Mỹ, buộc Giônxơn phải thay đổi chính sách về Việt Nam.

Đặc sắc hơn, Đảng ta chọn thời điểm mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy vào dịp Tết Nguyên đán - đúng vào đêm giao thừa, là lúc địch dễ sơ hở, chủ quan. Thực tế cho thấy, vào những ngày này, lực lượng quân đội Sài Gòn chỉ còn khoảng 50% quân số có mặt tại đơn vị. Điều đó rất thuận lợi cho ta đánh chiếm các mục tiêu.

Thứ hai, chọn hướng, mục tiêu táo bạo, bất ngờ và hình thức, phương pháp tiến công phù hợp, hiệu quả.

Khác với các hoạt động tác chiến trước đó, khi ta thường nhằm vào các vùng nông thôn, đồng bằng và rừng núi (nơi địch tương đối yếu), trong đợt tổng tiến công này, ta chọn hướng công kích chủ yếu là các thành thị, nhất là các thành phố lớn (trọng tâm là Sài Gòn - Gia Định, Đà Nẵng, Huế) - nơi tập trung bộ máy quân sự và hành chính của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Ta đã thực hiện một đòn đánh hiểm, đánh đau, đánh vào yết hầu, vào "trung ương thần kinh địch". Bằng đòn đánh này, ta đã phơi bày đầy đủ sự thất bại về quân sự và sự yếu kém trong tiến hành chiến tranh của địch. Chính Oétmolen, Tổng Chỉ huy quân đội Mỹ ở miền Nam lúc đó đã thừa nhận: "Việt cộng đã đưa chiến tranh đến các thành phố, các đô thị, đã gây thương vong thiệt hại và nền kinh tế bị phá hoại... các trung tâm huấn luyện bị đóng cửa. Nói theo quan điểm thực tế thì chúng ta phải công nhận đối phương đã giáng cho chính phủ Nam Việt Nam một cú đấm nặng nề" . Ở Sài Gòn - Gia Định, các mục tiêu trọng yếu được xác định là Bộ Tổng Tham mưu quân đội Sài Gòn, Dinh Độc Lập, Đài Phát thanh, Tòa Đại sứ Mỹ, Bộ Tư lệnh Hải quân, Biệt khu Thủ đô, Tổng nha Cảnh sát... Đó là những nơi tập trung sinh lực mạnh và khá nhạy cảm trong bộ máy chiến tranh của Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam. Đánh được các mục tiêu này chắc chắn sẽ gây tiếng vang, tạo ảnh hưởng lớn đến cục diện chiến tranh. Vì thế, đây là một quyết định táo bạo của ta và chưa từng được thực hiện kể từ khi Mỹ nhảy vào miền Nam Việt Nam. Chỉ tính riêng việc ta đánh và chiếm giữ Tòa Đại sứ Mỹ trong nhiều giờ đã tạo hiệu ứng lớn. Đôn Obơcđoiphơ đã nhận xét trong tác phẩm Tết: "Xem ra toàn thế giới đang hướng về sứ quán và phán xét hành động này như thể toàn bộ cuộc chiến tranh sẽ được quyết định" .

Cùng với việc chọn mục tiêu bất ngờ, Đảng ta còn chọn hình thức và phương pháp tiến công độc đáo, đặc sắc. Lúc đầu Bộ Tổng Tham mưu đề xuất phương án tác chiến trong Đông - Xuân 1967-1968, sử dụng lực lượng quân sự là chính, đánh những trận tiêu diệt lớn, với chỉ tiêu, định mức tiêu diệt địch quy mô cao. Cách đánh này khó có thể tạo được chuyển biến trong chiến lược, trong khi tình hình lúc đó có thể cho phép ta chuyển cuộc chiến tranh cách mạng sang một thời kỳ mới - thời kỳ giành thắng lợi quyết định. Nhưng chuyển như thế nào?

Sau khi cân nhắc, tính toán kỹ các khả năng, Bộ Chính trị quyết định chọn phương thức tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt dưới nhiều hình thức, bằng nhiều lực lượng, trên khắp các địa bàn chiến lược, buộc địch phải căng kéo lực lượng đối phó ở khắp nơi. Tại Sài Gòn - Gia Định, chia thành 6 phân khu, bố trí lực lượng thành 5 mũi tiến công vào nội đô Sài Gòn. Đặc biệt, phân khu 6 (các quận nội thành) có 11 đội đặc công, biệt động, tổ chức thành 3 cụm (Đông, Nam, Bắc). Các phân khu khác có từ 4 đến 6 tiểu đoàn bộ binh, tổ chức thành những tiểu đoàn mũi nhọn hướng vào nội đô để phối hợp và tiếp ứng cho các đội đặc công, biệt động. Nhiều cán bộ, đảng viên được bí mật tăng cường vào Sài Gòn nhằm điều nghiên mục tiêu, gây dựng cơ sở, cất giấu vũ khí... gần 400 cơ sở cách mạng, "lõm chính trị", kho vũ khí bí mật được hình thành ngay trong lòng nội đô Sài Gòn.

Sự kiện Xuân Mậu Thân 1968 thực sự đã sáng tạo ra một hình thức tiến công chiến lược mới, đồng loạt, với một lực lượng không nhiều, bằng sự phối hợp giữa các chiến trường trên quy mô toàn miền, ta đã tạo hiệu ứng mang tính chiến lược, làm thay đổi hoàn toàn cục diện cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ - một đế quốc "siêu cường". Mắcxoen Taylo, cựu đại sứ Mỹ ở Sài Gòn đã từng viết trong hồi ký của mình: "Những điều bất ngờ thực sự mà cuộc tiến công Tết 1968 đã gây cho tôi không phải là việc đối phương đã mở được một cuộc tiến công lớn mà chính là việc họ đã mở cùng một lúc nhiều trận tiến công mãnh liệt đến như thế" .

Từ phân tích trên, chúng ta thấy rằng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, Đảng ta đã phát hiện thời cơ, hạ quyết tâm chính xác, kịp thời, xác định mục tiêu tiến công chủ yếu một cách táo bạo và tìm ra phương thức tiến công mới. Đây thực sự là một sáng tạo độc đáo trong tư duy chiến lược của Đảng, một điển hình về nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh cách mạng Việt Nam.

Thứ ba, ta dùng lực lượng tinh nhuệ thực hiện đòn đánh bất ngờ vào các cơ quan đầu não của bộ máy chiến tranh Mỹ, chính quyền Sài Gòn.

Sự kiện Mậu Thân được tiến hành trong điều kiện lực lượng quân sự địch vẫn còn hơn một triệu tên, bộ máy chiến tranh của địch vẫn còn hiệu lực và tiềm lực chiến tranh của chúng còn mạnh. Để đạt được mục tiêu chiến lược đánh bại ý chí xâm lược của Mỹ, Đảng ta chủ trương sử dụng một cách tốt nhất lực lượng tinh nhuệ của ta, dùng binh lực và hỏa lực mạnh đánh vào các binh đoàn chủ lực địch, đánh mạnh vào thành phố, tạo điều kiện cho hàng triệu quần chúng ở thành thị và các vùng ven bị tạm chiếm nổi dậy khởi nghĩa; phối hợp với lực lượng quân sự của ta tiêu diệt, đánh sập bộ máy đầu não của chính quyền Sài Gòn, làm tê liệt tận gốc bộ máy chiến tranh Mỹ, chính quyền Sài Gòn, biến hậu phương và nơi dự trữ chiến tranh của địch thành hậu phương và nơi dự trữ chiến tranh của ta, làm thay đổi tương quan so sánh lực lượng có lợi cho ta.

Để đáp ứng nhiệm vụ đó, Quân khu Sài Gòn - Gia Định được giao nhiệm vụ xây dựng một lực lượng đặc công, biệt động mạnh, có tổ chức thống nhất, chuẩn bị các điều kiện bảo đảm, có thể cùng một lúc bất ngờ tiến công chiếm lĩnh các cơ quan đầu não của địch khi có thời cơ chiến lược.

Đêm 30 rạng ngày 31-1-1968, quân dân miền Nam đồng loạt tiến công và nổi dậy ở 4 thành phố lớn, trọng tâm là Sài Gòn - Gia Định. Ta sử dụng một số đơn vị bộ đội chủ lực đánh chiếm các mục tiêu, kìm chân các sư đoàn, lữ đoàn, trung đoàn chủ lực địch, tạo điều kiện cho lực lượng đặc biệt tinh nhuệ là các đội đặc công, biệt động, bất ngờ đánh chiếm một số cơ quan đầu não trung ương của địch.

Phối hợp với lực lượng đặc công, biệt động, các tiểu đoàn mũi nhọn của các phân khu vượt qua hệ thống đồn bốt dày đặc của địch vào thành phố tiến công địch. Điển hình như: Bộ Tổng Tham mưu quân đội Sài Gòn (Tiểu đoàn 2 Gò Môn); căn cứ Cổ Loa, Phù Đổng (Tiểu đoàn 1 Quyết Thắng); doanh trại của địch ở Quận 5, Quận 10, Quận 11, Sư Vạn Hạnh, Vườn Lài, cư xá Hỏa Xa (Tiểu đoàn 6 Bình Tân).... Cùng với các mũi tiến công của các đơn vị chủ lực, dân quân du kích địa phương quy mô cấp tiểu đội, trung đội, đại đội đã kết hợp với bộ đội các phân khu tiến công vào hệ thống đồn bốt của địch. Các sư đoàn, trung đoàn chủ lực của ta ở vòng ngoài đón đánh không cho các đơn vị chủ lực địch tăng viện vào vùng ven và nội thành, giữ phía sau cho các tiểu đoàn mũi nhọn.

Trước đòn tiến công mạnh mẽ, bất ngờ và rộng khắp của ta, địch buộc phải rút lực lượng ở các nơi về cứu nguy cho đô thị, bỏ hở vùng nông thôn rộng lớn. Nắm vững thời cơ, lực lượng vũ trang giải phóng đã hỗ trợ cho nhân dân các địa phương đồng loạt nổi dậy đánh vào bộ máy kìm kẹp của địch ở khắp các vùng nông thôn, đồng bằng, miền núi; tiêu diệt và phá hủy một bộ phận lớn sinh lực, phương tiện chiến tranh, làm đảo lộn chiến lược quân sự của Mỹ, chính quyền Sài Gòn.

Thứ tư, phát huy "thế trận lòng dân", tổ chức phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng tạo nguồn sức mạnh trên quy mô rộng lớn.

Tại Sài Gòn - Gia Định, "thế trận lòng dân" đã được triển khai rộng khắp, vừa có diện rộng vừa có chiều sâu. Quần chúng đã tham gia tích cực vào sự chuẩn bị cho chiến dịch. Sự tham gia đông đảo và hăng hái của mọi tầng lớp nhân dân, già, trẻ, thanh niên, phụ nữ, các tôn giáo... phản ánh sâu sắc "thế trận lòng dân". Ý chí quyết tâm cao, lòng yêu nước nồng nàn, căm thù giặc sâu sắc, cùng với khát vọng độc lập, tự do và thống nhất đất nước của quần chúng nhân dân là nguồn sức mạnh to lớn của chiến tranh nhân dân Việt Nam trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy.

Trước đó, thành phố đã xây dựng được 19 "lõm chính trị", "lõm" căn cứ gồm 325 gia đình công nhân và lao động. Lực lượng phụ nữ Sài Gòn - Gia Định tham gia nhiều trong các đội biệt động, lực lượng vũ trang địa phương, giao liên, dân công và cứu thương; đóng vai trò quan trọng trong xây dựng cơ sở chính trị trong lòng thành phố, xây dựng thế căn cứ "nhân tâm" vững chắc trong các khu dân cư, các chợ... Đồng thời, nhiều thanh niên, sinh viên, học sinh đã cầm vũ khí sát cánh chiến đấu cùng các chiến sĩ Quân giải phóng. Lực lượng Thành đoàn hoạt động mạnh ở khu xóm Bàn Cờ, Vườn Chuối, Nguyễn Thông, Lê Văn Duyệt, khu vực chùa Ấn Quang... Sau những tuần đầu của Tết Mậu Thân, Tổng hội Sinh viên được thành lập, tập hợp hơn 500 người cứu trợ đồng bào bị nạn. Các tầng lớp khác như: giáo chức, văn nghệ sĩ và nông dân ở các vùng ven đã tham gia tích cực hỗ trợ cho lực lượng vũ trang, lực lượng đấu tranh chính trị của công nhân, thanh niên, sinh viên, học sinh. Đồng bào các giới đã cùng lực lượng vũ trang đánh chiếm Tòa hành chính ở Quận 5, Quận 4, thị trấn Hóc Môn...

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy cho thấy vai trò to lớn của quần chúng nhân dân trong việc phối hợp với các lực lượng vũ trang thực hiện nhiệm vụ tiến công tiêu diệt địch, giành quyền làm chủ. Nhân dân Sài Gòn - Gia Định đã tạo ra một thế trận tiến công thường xuyên và hiểm hóc trên cả chính diện và sau lưng địch, thực hiện bám trụ tại chỗ, "một tấc không đi, một ly không rời", đánh địch khắp nơi, vây hãm chúng vào thế bị động, lúng túng, tạo điều kiện thuận lợi cho ta tiến công địch. Sự nổi dậy, chiến đấu rộng khắp của nhân dân thực sự là chỗ dựa vững chắc để các đơn vị chủ lực của ta đánh những đòn quyết định. Nhiều đơn vị chủ lực bí mật đứng vững được ngay tại cửa ngõ Sài Gòn là bởi ta có chỗ dựa chắc vào dân, vào các tổ chức đảng và cơ sở cách mạng ở địa phương. Đây là nhân tố đặc biệt quan trọng bảo đảm cho các đơn vị chủ lực hoàn thành nhiệm vụ tiến công địch. Không có nhân dân thì ta không thể nắm tình hình, bộ đội khó có thể vượt qua các tuyến ngăn chặn dày đặc của địch để vào, ém quân bí mật trong lòng thành phố - nơi gần sát các cơ quan đầu não của địch, cũng không thể có khối lượng lớn vũ khí để chiến đấu. Nhân dân còn trực tiếp tham gia chiến đấu, tiếp tế lương thực, che chở và nuôi dưỡng bộ đội.

Đây thực sự là một cuộc phát động cách mạng trong quần chúng với quy mô khá lớn ngay ở sào huyệt quan trọng nhất của Mỹ và chính quyền Sài Gòn; là kết quả của một quá trình chuẩn bị lâu dài có sự tham gia của đông đảo quần chúng, xây dựng lực lượng cơ sở chính trị song song với lực lượng vũ trang theo phương châm đánh địch trên cả ba vùng chiến lược của chiến tranh nhân dân Việt Nam.

Nửa thế kỷ đã qua đi, nhưng độ lùi thời gian ấy càng làm cho chúng ta nhìn nhận, đánh giá khách quan, sâu sắc và toàn diện hơn vị thế của chiến thắng Mậu Thân 1968 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc. Chiến thắng Mậu Thân 1968 là chiến thắng có ý nghĩa lịch sử như một mắt xích quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, buộc đế quốc Mỹ phải thừa nhận đã thất bại trong chiến lược "chiến tranh cục bộ" và đưa quân Mỹ về nước.

Sự kiện Mậu Thân mãi mãi là trang sử oanh liệt của quân và dân ta, ghi dấu ấn trong lịch sử dân tộc bằng chiến thắng vẻ vang với vai trò lãnh đạo của Đảng, nổi bật nhất là năng lực vận dụng sáng tạo nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chọn thời cơ, trong đề ra chủ trương chiến lược đúng đắn, sáng tạo; chiến thắng Mậu Thân 1968 còn là sự sáng suốt trong lựa chọn mục tiêu, phương pháp tiến công phù hợp, hiệu quả; là tinh thần dũng cảm chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang cùng toàn dân để làm nên chiến thắng với khát vọng hòa bình và ý chí thống nhất đất nước.

Ngày nay, những nét đặc sắc trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 vẫn còn nguyên giá trị. Những kinh nghiệm ấy rất cần được nghiên cứu, vận dụng sáng tạo để tạo nên sức mạnh tổng hợp của dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Năm, 2020, 08:14:26 am
TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968
CUỘC TỔNG DIỄN TẬP CHO ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN 1975



Thiếu tướng, TS. NGUYỄN HOÀNG NHIÊN
Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đánh dấu bước ngoặt có ý nghĩa chiến lược của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975). Đòn tiến công này đã gây cho giới cầm quyền Nhà Trắng một cú "choáng đột ngột", làm đảo lộn thế bố trí chiến lược, phá vỡ kế hoạch tác chiến của quân Mỹ, làm rung chuyển nước Mỹ; buộc Tổng thống Mỹ L.B Giônxơn phải tuyên bố xuống thang chiến tranh, chấp nhận đàm phán với ta ở Pari và không ra tranh cử Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ thứ hai. Đồng thời, đã đánh bại về cơ bản chiến lược "chiến tranh cục bộ" của Mỹ, mở ra khả năng cho ta hiện thực hóa tư tưởng "đánh cho Mỹ cút", để tiến tới "đánh cho ngụy nhào" của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là rất to lớn, nhưng cũng bộc lộ một số khuyết điểm đã được chỉ ra tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 21, khóa III (6-1973) và ý kiến của các đồng chí lãnh đạo, các tướng lĩnh và các nhà khoa học nêu ra tại những cuộc Hội thảo khoa học trước đây. Nhưng hơn hết, sự kiện này đã để lại nhiều bài học quý giá, đánh dấu một bước phát triển cao về nghệ thuật quân sự Việt Nam. Đó thực sự là cuộc tổng diễn tập cho Đại thắng mùa Xuân 1975, được biểu hiện trên những vấn đề sau:

1. Nghiên cứu, đánh giá đúng về địch, có chủ trương chiến lược phù hợp, xây dựng quyết tâm chính xác

Nghiên cứu, đánh giá đúng đối phương là cơ sở rất quan trọng giữ vị trí tiền đề cho việc hoạch định chủ trương và quyết tâm chiến lược kịp thời, chính xác - một trong những yếu tố cốt lõi để giành thắng lợi chiến tranh. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, ta xác định chủ trương và thực hiện quyết tâm là tổng công kích - tổng khởi nghĩa; với mục tiêu được lựa chọn là đồng loạt đánh vào hầu hết các thành phố, đặc biệt là Sài Gòn, Đà Nẵng và Huế, các thị xã, thị trấn, chi khu quân sự, quận lỵ, các sân bay và căn cứ hậu cần của Mỹ và chính quyền Sài Gòn trên toàn miền Nam. Trước đối tượng quân Mỹ, được đưa vào chiến trường miền Nam với vai trò là lực lượng tác chiến chủ yếu và quân đồng minh của Mỹ cùng với quân đội Sài Gòn đã được hiện đại hóa, nâng tổng quân địch lên tới 1,2 triệu, chủ lực của ta ở miền Nam ít hơn rất nhiều lần cả về quân số và vũ khí, trang bị 1. Đặc biệt, lực lượng nòng cốt để thực hiện cuộc Tổng tiến công chủ yếu vào các mục tiêu trọng yếu trong nội đô là lực lượng đặc công, biệt động. Tuy nhiên, trên thực tế, sự phối hợp tác chiến giữa các lực lượng đặc công, biệt động với các đơn vị chủ lực không kịp thời; sự nổi dậy của quần chúng để giành quyền làm chủ (tổng khởi nghĩa) đã không diễn ra... Do vậy, tuy giành được thắng lợi lớn nhưng ta cũng mắc phải nhiều khuyết điểm dẫn đến tổn thất nặng nề về lực lượng và địa bàn đứng chân. Hệ quả đó đã được Đảng ta chỉ rõ tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 21 khóa III, đó là: Do nhận thức chưa thật sát đúng tình hình, nên lúc đầu ta đã đề ra chủ trương tổng khởi nghĩa ngay trong lúc chiến tranh đang diễn ra quyết liệt, địch còn khá mạnh, là không thực tế. Cuộc tiến công kéo dài, yếu tố bí mật không còn, không thay đổi hướng tiến công về vùng nông thôn, mà vẫn tập trung vào vùng đô thị, trong khi quân địch đã củng cố được lực lượng, gây cho ta nhiều tổn thất và khó khăn về sau...

Từ kinh nghiệm của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá đúng, sát tình hình địch, Trung ương Đảng, trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đề ra chủ trương chiến lược giải phóng miền Nam trong hai năm (1975-1976)... Cùng với đó, từ cuối năm 1974, ta tổ chức những hoạt động tác chiến trên các chiến trường khác nhau, nhằm đánh giá sát đúng sức mạnh của quân đội Sài Gòn và khả năng can thiệp trở lại của Mỹ.

Nghiên cứu kỹ tình hình địch, đánh giá đúng khả năng của ta nhất là từ thực tiễn chiến trường, Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng vào cuối năm 1974, đầu năm 1975 2, đã thông qua: Kế hoạch chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam trong hai năm 1975-1976.

Sau thời gian tiến hành các công tác chuẩn bị, ngày 9-1-1975, Thường trực Quân ủy Trung ương quyết định mở chiến dịch tiến công vào nam Tây Nguyên, mục tiêu chủ yếu là Buôn Ma Thuột. Trong quá trình chỉ đạo, chỉ huy chiến dịch, do luôn theo dõi sát diễn biến tình hình, lực lượng và thế trận của địch, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương đã kịp thời điều chỉnh quyết tâm, chuyển sang tổng tiến công chiến lược, tạo và thúc đẩy thời cơ giành thắng lợi, nhanh chóng và liên tiếp mở các chiến dịch tiếp theo. Cùng với sự phát triển của các chiến dịch, Bộ Chính trị, Thường trực Quân ủy Trung ương đã kịp thời chỉ đạo các địa phương phối hợp với các binh đoàn chủ lực nhanh chóng nổi dậy giành quyền làm chủ... Do đó, chỉ sau hơn 50 ngày đêm chiến đấu, bằng các đòn tiến công của các binh đoàn chủ lực phối hợp tác chiến với các lực lượng vũ trang địa phương và sự nổi dậy của quần chúng nhân dân, ta đã làm nên thắng lợi vĩ đại mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

2. Chủ động tạo thế và lực, có cách đánh sáng tạo là yếu tố quan trọng để giành thắng lợi

Trong bước chuẩn bị cho Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, khi đánh giá về thế của địch, ta cho rằng: đến mùa Thu 1967, sau hai cuộc phản công chiến lược 1965-1966 và 1966-1967 ở miền Nam và cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân ở miền Bắc không đạt được mục tiêu đặt ra, Mỹ càng bị sa lầy trong cuộc chiến tranh Việt Nam và đang ở tình thế "tiến thoái lưỡng nan", bị động về chiến lược. Trong lúc đó, ta đang ở thế thắng, thế chủ động, địch đang ở thế thua, thế bị động, lực lượng quân sự của địch còn rất đông, tiềm lực chiến tranh của chúng còn lớn, nhưng trước những thất bại liên tiếp ở cả hai miền Nam - Bắc, giới cầm quyền nước Mỹ đã bị phân hóa thành nhiều phe phái đối lập giữa hòa và chiến... Tình hình trên đòi hỏi ta phải có một tư duy chiến lược mới, sáng tạo để tìm ra cách đánh thích hợp nhất bao gồm cả mục tiêu, hướng tiến công, phương thức và thời điểm tiến công.

Cùng với thế trận ta đã tạo lập được sau những năm đầu chống chiến lược "chiến tranh cục bộ", bộ đội chủ lực ta đã không ngừng phát triển cả về số lượng và chất lượng. Trong năm 1967, các chiến dịch diễn ra không dừng lại ở cấp sư đoàn mà đã phát triển tới cấp liên sư đoàn (Chiến dịch Lộc Ninh từ ngày 27-10 đến ngày 10-12-1967 có sự tham gia của 3 sư đoàn: 5, 7, 9)..., các đơn vị biệt động, đặc công phát triển rất mạnh, đặc biệt là ở Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế...; phong trào du kích chiến tranh phát triển rộng khắp không chỉ ở vùng nông thôn mà ở cả các đô thị.

Như vậy, tình hình thực tế trên chiến trường lúc này đã cho phép ta có thể tiến hành một cuộc tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt, giáng cho quân địch những đòn sấm sét, làm thay đổi cục diện chiến tranh.

Việc mở cuộc tổng công kích - tổng khởi nghĩa để làm chuyển hóa căn bản cuộc chiến tranh, vấn đề quan trọng là chọn hướng tiến công cho đúng, có cách đánh hay cả về quân sự và chính trị, cả tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng, cả chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực và chiến tranh nhân dân địa phương, phải chọn đúng thời cơ để tạo được bất ngờ lớn nhất. Tuy nhiên, thực tiễn ở miền Nam lúc bấy giờ, mặc dù ta đã xây dựng được một số đơn vị chủ lực, đã tiến hành chiến tranh nhân dân, tiêu hao tiêu diệt nhiều sinh lực địch ở cả ba vùng chiến lược...; nhưng cũng chưa thể xem là lực lượng quân sự của ta lúc bấy giờ đủ mạnh để mở cuộc tổng công kích - tổng khởi nghĩa ở các đô thị với mục đích đề ra như trên. Còn về chính trị, trong phong trào quần chúng tuy đã có những cuộc mít tinh, biểu tình của học sinh, sinh viên ở Sài Gòn và các thành phố, thị xã khác; nội bộ chính quyền địch cũng có những bất đồng, nhưng đây chưa phải là tiền đề của phong trào cách mạng của quần chúng sẵn sàng nổi dậy khởi nghĩa. Lực lượng đánh vào các đô thị phần lớn là đặc công, biệt động, chưa có các binh đoàn chủ lực phối hợp nên kết quả đạt được là rất hạn chế.

Những nhận định và đánh giá của ta lúc bấy giờ còn mang nặng tính chủ quan, chưa đầy đủ về sức mạnh của quân địch mà cũng chưa đánh giá đúng về khả năng của ta, nhất là khả năng tổng khởi nghĩa giành chính quyền của quần chúng. Do vậy, khi cuộc tổng tiến công diễn ra, về chủ lực ta không đủ sức chiếm và giữ các mục tiêu cần đánh chiếm, sự nổi dậy của quần chúng tuy có diễn ra ở một số nơi nhưng chưa thể tạo nên khởi nghĩa để chiếm chính quyền của địch. Sự phối hợp giữa các lực lượng chưa kịp thời, dẫn tới cuộc tổng tiến công không đạt được nhiều kết quả như mong muốn. Đánh giá về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, đồng chí Lê Đức Thọ sau này có nhận định: ... Cuộc Tổng tiến công ấy đã mắc sai lầm là chủ quan, đánh giá không đúng tương quan lực lượng giữa ta và địch, đánh giá cao về phong trào quần chúng nổi dậy và khởi nghĩa ở đô thị. Năm 1973, Hội nghị Trung ương lần thứ 21 có nêu: Chủ quan trong việc đánh giá tình hình, nên đã đề ra yêu cầu chưa thật sát với thực tế lúc đó, chưa thấy những cố gắng mới lúc đó của địch, những khó khăn của ta, cho nên ta gặp khó khăn trong một thời gian.

Rút kinh nghiệm từ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, để chuẩn bị cho kế hoạch tiến công chiến lược giải phóng miền Nam trong hai năm 1975-1976, ta đã tiến hành công tác chuẩn bị rất chu đáo cả về thế và lực. Riêng về lực lượng ta đã liên tiếp thành lập 4 quân đoàn chủ lực và tiếp đó là Đoàn 232 3, về cơ sở, vật chất, ta tiếp tục mở rộng và phát triển tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh, tăng cường vận chuyển vũ khí và trang thiết bị phục vụ chiến tranh vào tới tận Bù Gia Mập (miền Đông Nam Bộ) 4. Đặc biệt, ta đã tạo được thế và lực để đủ sức đánh dứt điểm Buôn Ma Thuột, trận mở đầu chiến dịch Tây Nguyên, đồng thời cũng là trận mở đầu cuộc tiến công chiến lược, rồi trở thành cuộc tổng tiến công chiến lược. Ta có đủ sức mạnh để tiến hành ba chiến dịch tiếp theo là Nam Ngãi, Huế, Đà Nẵng, tiếp đó tổ chức cánh quân Duyên Hải, quét sạch quân địch ở đồng bằng miền Trung, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng 2 quân khu địch với khoảng 35% tổng số lực lượng quân đội của chúng, giải phóng một vùng rộng lớn, gồm 16 tỉnh, 6 thành phố, với 8 triệu dân, tạo ra thế mới, lực mới đủ khả năng nhanh chóng tiến công giải phóng Sài Gòn - Gia Định và đồng bằng sông Cửu Long.

Đến chiến dịch Hồ Chí Minh ta đã tập trung lực lượng chủ lực xung quanh Sài Gòn tương đương với 5 quân đoàn cùng với số quân địa phương của miền Đông Nam Bộ lên tới gần 50 vạn người. Riêng chủ lực có 15 sư đoàn bộ binh, 17 tiểu đoàn đặc công, hơn 50 tiểu đoàn pháo binh với gần 800 khẩu pháo lớn, hơn 80 tiểu đoàn pháo phòng không với hơn 1.000 khẩu pháo, 15 tiểu đoàn xe tăng - thiết giáp với gần 500 chiếc, hơn 20 tiểu đoàn công binh, hơn 20 tiểu đoàn thông tin liên lạc...

Về cách đánh của ta vừa luồn sâu, ém sẵn trong nội thành và vùng ven đồng bằng nhiều đơn vị tinh nhuệ, chia cắt địch, vừa thực hành tiêu diệt từng sư đoàn địch, từng cụm phòng thủ của chúng ở vòng ngoài, rồi dùng những binh đoàn cơ giới thọc sâu rất nhanh vào nội thành, kết hợp với lực lượng tinh nhuệ - biệt động, đặc công - đánh chiếm các mục tiêu chủ yếu một cách thuận lợi, ít tổn thất. Trong khi đó quần chúng ở cơ sở một số nơi vùng ven đô và cả nội đô cùng lực lượng vũ trang địa phương nổi dậy, giành quyền làm chủ. Và khi chính quyền trung ương ở Sài Gòn đầu hàng, thì toàn bộ địch còn lại ở đồng bằng sông Cửu Long cũng bị lực lượng chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích, binh vận cùng nhân dân phối hợp tiến công nhanh chóng giải phóng địa bàn, đi đến kết thúc toàn bộ cuộc chiến tranh.






---------------------------------------------------------------
1. Đến cuối năm 1967, trên chiến trường miền Nam, bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương là 277.000 người.

2. Hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng mở rộng diễn ra từ ngày 18-12-1974 đến ngày 8-1-1975, ngoài các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, có các đồng chí trong Quân ủy Trung ương, các đồng chí Tổng Tham mưu phó phụ trách tác chiến, các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy các chiến trường. Bộ Chính trị thông qua Kế hoạch chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam trong hai năm 1975-1976. Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.36, tr.6.

3. Quân đoàn 1 thành lập ngày 24-10-1973; Quân đoàn 2 thành lập ngày 17-5-1974; Quân đoàn 4 có quyết định thành lập từ ngày 20-7-1974, nhưng mãi tới đầu năm 1975, mới hình thành, gồm 3 sư đoàn (9, 7, 34a), cùng các lữ đoàn, trung đoàn binh chủng kỹ thuật, các đơn vị bảo đảm; Quân đoàn 3 thành lập ngày 27-3-1975, khi chiến dịch Tây Nguyên gần kết thúc, gồm 3 sư đoàn bộ binh (320, 10, 316) và các đơn vị binh chủng của mặt trận Tây Nguyên. Ngoài 4 quân đoàn còn có Binh đoàn 232 tương đương cấp quân đoàn, được thành lập gấp theo ý định giải phóng Sài Gòn. Đoàn 232 được thành lập trên cơ sở các lực lượng của Bộ Tư lệnh Miền (B2), Quân khu 8, Quân khu 9 và của Bộ tăng cường vào, gồm các Sư đoàn 9 (Quân đoàn 4) Sư đoàn 3, 5 (Bộ Tư lệnh Miền) và Sư đoàn 8 (Quân khu 8 ).

4. Theo Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2013, t.VIII, tr.230: Đến đầu năm 1975, khối lượng hàng hóa, vũ khí, đạn dược, lượng thực, thực phẩm và xăng dầu đã vận chuyển và dự trữ trên từng hướng chiến trường, cụ thể: Trị - Thiên dự trữ 29.000 tấn vật chất, trong đó có 2.000 tấn vũ khí, đạn dược và hàng chục ngàn mét khối xăng dầu; Khu 5 dự trữ hơn 77.000 tấn, trong đó có hơn 10.500 tấn vũ khí, đạn dược, 5.200 tấn xăng dầu, 36.300 tấn lương thực; Tây Nguyên dự trữ hơn 53.000 tấn, trong đó có gần 800 tấn đạn và 28.600 tấn lương thực, thực phẩm; Đông Nam Bộ, hậu cần Miền dự trữ được hơn 102.000 tấn và tổ chức khai thác tại chỗ hơn 900 tấn. Ta đã xây dựng được hệ thống đường vận tải và hành quân trên dãy Trường Sơn có tổng chiều dài: 16.790 km, gồm có 6.810 km đường trục dọc, 4.980 km đường trục ngang và 5.000 km đường vòng tránh. Hệ thống đường chiến dịch do các chiến trường mở lên đến 6.000km. Hệ thống đường ống dẫn xăng dầu dài 1.712 km vào đến Bù Gia Mập (miền Đông Nam Bộ)...



Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Năm, 2020, 11:00:46 am
3. Khéo nghi binh, lừa địch, tạo bí mật, bất ngờ; chọn chiến trường mở đầu phù hợp

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là một thành công của nghệ thuật nghi binh lừa địch, giữ được yếu tố bí mật, bất ngờ. Do đó, trong đợt 1, ta đã giành được nhiều thắng lợi, đánh chiếm được một số mục tiêu quan trọng; địch bị động, bất ngờ trong đối phó. Thực hiện kế hoạch nghi binh thu hút quân Mỹ và quân Sài Gòn cũng là hướng tiến công phối hợp với hướng tiến công chính vào các đô thị. Ngày 20-1, ta mở chiến dịch tiến công Đường 9 - Khe Sanh Xuân - Hè 1968; ngày 27-1-1968, Liên quân Lào - Việt mở Chiến dịch Nậm Bạc. Mặt trận Khe Sanh đã thu hút và giam chân 17/33 sư đoàn quân địch, làm cho địch tin rằng trong năm 1968, quân và dân miền Nam chỉ đủ khả năng tiến công ở Mặt trận Khe Sanh mà không đủ lực tiến công vào các khu vực khác, nên chúng đã tập trung lực lượng để đối phó trên hướng này là chủ yếu. Khi đánh giá về các sự kiện trên, H. Kítxinhgiơ trong cuốn sách Thương lượng về Việt Nam có viết: Trong Xuân Mậu Thân, Oétmolen đã điều 94% lực lượng tinh nhuệ nhất của Mỹ lên những nơi chỉ chiếm 4% dân số Việt Nam ở vùng rừng núi, trong đó có chiến trường Đường 9 - Khe Sanh. Và thú nhận: Hà Nội đã chơi trò "người đấu bò" lừa được con bò tót Mỹ ra vòng ngoài rồi dùng lực lượng quân sự, chính trị của họ bất thần đánh ập vào các đô thị phía trong nơi mà Mỹ sơ hở làm cho bộ chỉ huy Mỹ không kịp trở tay.

Như vậy, chủ trương của ta là căng địch trên khắp các chiến trường, kéo quân chủ lực, nhất là quân Mỹ ra các khu vực lựa chọn (rừng núi, giáp ranh) tiêu diệt bộ phận và giam chân các binh đoàn quân Mỹ. Đó là một đòn đánh chính, một hướng tiến công của bộ đội chủ lực. Không phải là đơn thuần nghi binh mà là một hướng phối hợp quan trọng. Một đòn chính nữa là đưa chiến tranh vào thành thị. Đây là hướng rất hiểm, đồng thời là hướng chủ yếu của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy nhằm đánh ập vào các thành thị, hệ thống trung tâm đầu não chỉ huy, các kho tàng, các sân bay, bằng lực lượng quân sự tinh nhuệ là chính cùng với lực lượng chính trị của quần chúng cách mạng, kết hợp tiến công quân sự, chính trị và binh địch vận.

Cùng với đòn tiến công ở Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh, đúng vào đêm giao thừa Tết Mậu Thân, ở miền Nam quân và dân ta thực hiện cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, đánh vào 4 thành phố, 37 thị xã và hàng trăm thị trấn, 4 bộ tư lệnh quân đoàn, hầu hết các bộ tư lệnh sư đoàn, 30 sân bay và gần 100 cơ sở hậu cần... Nhân dân nông thôn Nam Bộ và miền Trung Trung Bộ tiến công và nổi dậy dồn dập phá rã hàng mảng lớn bộ máy kìm kẹp, bức hàng, bức rút hàng trăm đồn, bốt. Quân đội Sài Gòn tan rã từng mảng lớn... Đây thực sự là một đòn tiến công bất ngờ đối với Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Như trong cuốn sách Cuộc chiến tranh mười nghìn ngày, Maicơn Máclia viết: Chiến tranh Việt Nam có quá nhiều bất ngờ, nhưng không có bất ngờ nào làm người ta phải sửng sốt hơn trận tiến công Tết. Đặc biệt nó diễn ra ngay trong Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn. Còn tờ Thời báo của Mỹ số ra ngày 9-2-1968 bình luận: ...chắc chắn là một hành động bất ngờ thần thánh. Giới quân sự Mỹ cho rằng vũ khí mạnh nhất của cuộc tiến công Tết là sự bất ngờ. Báo chí phương Tây hồi đó mô tả cuộc tiến công Tết là một tiếng sét nện đúng đỉnh Nhà Trắng. Với ta cho đến thời điểm này, đây là cuộc động binh lớn chưa từng có trong lịch sử chiến tranh chống ngoại xâm của dân tộc.

Như vậy, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã để lại bài học về nghệ thuật nghi binh, lừa địch, giữ bí mật, bất ngờ và lựa chọn mục tiêu mở đầu cuộc tiến công chiến lược. Do tổ chức tốt việc nghi binh, lừa địch, giữ được yếu tố bí mật, bất ngờ và lựa chọn mục tiêu tiến công là các trung tâm đầu não của quân địch ở các đô thị, ta đã giành được nhiều thắng lợi to lớn, gây cho quân Mỹ, quân Sài Gòn nhiều thiệt hại và liên tục bị động đối phó.

Từ kinh nghiệm của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, về chiến lược giải phóng miền Nam, ban đầu ta lựa chọn nam Tây Nguyên là hướng chiến lược chủ yếu với mục tiêu chủ yếu là Buôn Ma Thuột. Khác với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, ta không chọn mục tiêu mở đầu vào khu vực thành phố, đô thị ở đồng bằng, mà chọn mục tiêu mở đầu ở địa bàn rừng núi, nơi mà quân địch không mạnh, khó cơ động ứng cứu, chi viện; đồng thời là nơi ta có thể che giấu và tập trung lực lượng; nơi có điều kiện bí mật cơ động áp sát, bất ngờ tiến công tiêu diệt các mục tiêu cần đánh chiếm và thuận lợi cho việc tổ chức ngăn chặn, chia cắt quân địch ứng cứu, tăng viện...

Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đề ra, ta đã tiến hành nghi binh, lừa địch rất tốt, thu hút và giam chân phần lớn quân địch ở Bắc Tây Nguyên. Khi các sư đoàn chủ lực của ta bí mật, bất ngờ tiến công vào thị xã Buôn Ma Thuột, quân địch hoàn toàn bất ngờ, liên tục bị động, lúng túng trong đối phó và cuối cùng phải tháo chạy khỏi Tây Nguyên, tạo ra thế trận và thời cơ mới để ta tiến hành các chiến dịch tiếp theo giải phóng vùng đồng bằng ven biển miền Trung, tiến về Sài Gòn - Gia Định, đánh trận quyết chiến chiến lược giành toàn thắng.

4. Chớp thời cơ, nhanh chóng điều chỉnh quyết tâm chiến lược tiến tới Tổng tiến công và nổi dậy giành thắng lợi

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, đợt 1 ta đã giành thắng lợi vang dội, gây cho quân Mỹ và quân đội Sài Gòn nhiều tổn thất và lúng túng, bị động trong đối phó. Tuy nhiên, sau Tết quân địch đã chuyển chiến lược, ra sức thực hiện biện pháp "quét và giữ". Chúng đã kéo quân về phòng thủ dày đặc tuyến thành thị, yếu tố bất ngờ không còn nữa. Sức của ta đã sút giảm nhiều, cơ sở chính trị đã bộc lộ và tan rã, căn cứ đứng chân ở các vùng nông thôn bị bỏ lỏng. Trong khi đó quân địch lại tăng cường các cuộc phản kích, nhất là bằng các chương trình "bình định" kế tiếp nhau. Chỗ đứng chân của ta bị thu hẹp và đẩy lùi ở nhiều vùng rộng lớn. Nhưng ta vẫn tiếp tục mở các đợt tiến công tiếp theo và vẫn giữ mục tiêu là các đô thị, nên đã chịu nhiều tổn thất. Đó là những khuyết điểm, sai lầm đúng như Kết luận của Bộ Chính trị đã xác định: Đây không chỉ là mức khuyết điểm mà là một sai lầm về chỉ đạo chiến lược; rằng sau thắng lợi Tết ta chuyển chậm, chủ trương tiếp tục các đợt tiến công vào đô thị khi không còn điều kiện là sai lầm về chỉ đạo chiến lược, để địch gây ra cho ta nhiều khó khăn, tổn thất.

Từ bài học của Xuân Mậu Thân, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, ban đầu ta xây dựng quyết tâm chiến lược là tiến hành cuộc tiến công chiến lược giải phóng miền Nam trong hai năm 1975-1976. Nhưng sau chiến thắng Tây Nguyên có ý nghĩa chiến lược, ngày 18-3-1975, Bộ Chính trị, trực tiếp là Quân ủy Trung ương hạ quyết tâm chuyển Kế hoạch cuộc tiến công chiến lược 1975 thành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn chiến trường, giải phóng hoàn toàn miền Nam ngay trong năm 1975.

Nắm chắc thời cơ và chớp thời cơ là nét nghệ thuật đặc sắc trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Thực tế cho thấy ngay trong khi chiến dịch Tây Nguyên đang diễn ra, Trung ương Đảng, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã luôn bám sát mọi động thái của địch và hoạt động tác chiến trên chiến trường, kịp thời chỉ đạo các địa phương ở Trị - Thiên và Quân khu 5 thực hiện những chiến dịch địa phương và các đợt hoạt động mạnh, coi đây là hướng phối hợp chiến lược quan trọng. Phát huy thắng lợi trên chiến trường Tây Nguyên, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã nhanh chóng hạ quyết tâm mở các chiến dịch Nam Ngãi, Huế, Đà Nẵng, tổ chức cánh quân Duyên Hải, tăng cường lực lượng, tổ chức tiến công với tinh thần "thần tốc, táo bạo, bất ngờ", nhanh chóng tiến về hội quân để giải phóng Sài Gòn - Gia Định và giải phóng hoàn toàn miền Nam trong thời gian ngắn nhất.

Tóm lại, những kinh nghiệm từ Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 đã thực sự là bài học sâu sắc, ý nghĩa như một cuộc tổng diễn tập để 7 năm sau đó, khi thời cơ đã chín muồi, quân và dân ta tiến hành thắng lợi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trong mùa Xuân Ất Mão 1975. Như vậy, Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 là sự kiểm chứng cho những vấn đề đã được đặt ra từ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968. Trong đó, nổi bật lên những vấn đề về chỉ đạo và điều hành chiến tranh là phải đánh giá đúng về địch, về ta; có chủ trương, quyết tâm chiến lược chính xác; phối hợp chặt chẽ khả năng chiến đấu của ba thứ quân; phát huy được sức mạnh của mọi lực lượng và của toàn dân tham gia đánh giặc; tiến hành công tác chuẩn bị chu đáo, tạo thế, tạo lực hơn hẳn đối phương; lựa chọn chiến trường mở đầu đúng, phù hợp với khả năng của ta; nắm chắc thời cơ, nhanh chóng chớp thời cơ, kịp thời điều chỉnh quyết tâm (cả ở chiến thuật, chiến dịch và chiến lược); có cách đánh sáng tạo; chỉ huy, điều hành tác chiến kiên quyết, linh hoạt, táo bạo, bí mật, bất ngờ với tinh thần quyết chiến, quyết thắng thì nhất định sẽ giành thắng lợi.



Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Năm, 2020, 11:06:37 am
SỰ CHỈ ĐẠO CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG TRONG CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY
XUÂN MẬU THÂN 1968



Thiếu tướng, PGS.TS. NGUYỄN VĂN BẠO
Giám đốc Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng


Cách đây 50 năm, từ đêm 30-1 đến ngày 25-2-1968, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân của quân và dân miền Nam đã diễn ra vô cùng mãnh liệt, đồng loạt đánh vào 4 trong 6 thành phố, 37 trong 44 thị xã và hàng trăm thị trấn, quận lỵ trên khắp miền Nam. Quân giải phóng đã đánh trúng hầu hết các cơ quan đầu não từ Trung ương đến địa phương của địch; tiến công 4 bộ tư lệnh quân đoàn, 8 bộ tư lệnh sư đoàn, 2 bộ tư lệnh biệt khu, 30 sân bay và gần 100 cơ sở hậu cần... Trong đó có những trận gây chấn động lớn trong giới cầm quyền Mỹ và có tiếng vang mạnh mẽ trên thế giới như trận đánh vào Tòa Đại sứ Mỹ, Dinh Độc Lập, Bộ Tổng Tham mưu, Đài Phát thanh của chính quyền Sài Gòn và đặc biệt đã làm chủ thành phố Huế trong 25 ngày đêm... Chính những đòn tiến công với quy mô rộng lớn, mãnh liệt đó đã làm tổn hại nặng nề sinh lực và phương tiện chiến tranh của Mỹ và quân đội Sài Gòn với sự thương vong của 101.000 quân Mỹ và quân đội Sài Gòn , cùng 1.368.000 tấn vật tư chiến tranh, chiếm 34% dự trữ chiến tranh của địch; gần 20 vạn binh lính Sài Gòn hoang mang đào, rã ngũ. Hệ thống chính quyền cùng bộ máy kìm kẹp của chúng ở nhiều vùng nông thôn đồng bằng, rừng núi đã bị phá vỡ, chương trình "bình định" bị thiệt hại nặng ở nhiều nơi.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là một chiến công rất oanh liệt và có vị trí to lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là thắng lợi đã tạo ra bước ngoặt quyết định của cuộc kháng chiến làm lung lay tận gốc ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải bước đầu xuống thang chiến tranh, tạo điều kiện thuận lợi để quân và dân Việt Nam thực hiện mục tiêu chiến lược "đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào" giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã đánh dấu thành công nổi bật về chỉ đạo chiến lược, thể hiện sự sáng tạo của Đảng Lao động Việt Nam và đây là bước phát triển mới trong học thuyết và nghệ thuật quân sự Việt Nam.

1. Điểm nổi bật trong chỉ đạo chiến lược của Đảng là xác định phương pháp tiến công táo bạo với cách đánh hoàn toàn mới

Tháng 1 - 1968, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 14. Sau khi phân tích, đánh giá âm mưu cơ bản và thất bại của địch trong thời gian qua, khả năng của chúng sắp tới; đánh giá những mặt mạnh và những mặt yếu của ta, Trung ương kết luận: "Những điểm cơ bản của tình hình vẫn là ta đang ở thế thắng, thế chủ động và thuận lợi, địch đang ở thế thua, thế bị động và khó khăn. Tình hình ấy cho phép ta chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ tiến công và nổi dậy giành thắng lợi quyết định" .

Từ kết luận trên, Trung ương Đảng xác định: "Nhiệm vụ trọng đại và cấp bách của ta trong thời kỳ mới là động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên bước phát triển cao nhất, dùng phương pháp tổng công kích và tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định".

Từ phương hướng, nhiệm vụ đó, Đảng đã lựa chọn và quyết định thực hiện phương pháp tiến công đồng loạt dưới nhiều hình thức (quân sự, chính trị, binh vận) bằng nhiều lực lượng (chủ lực, đặc công, biệt động, lực lượng tại chỗ...) tiến công vào hầu khắp các đô thị, cơ quan đầu não, nơi chính quyền địch mạnh. Cuộc tiến công mãnh liệt vào các mục tiêu xung yếu ở Sài Gòn, Gia Định - nơi tập trung cơ quan đầu não cao nhất của địch đã có ảnh hưởng rất rộng lớn, sâu sắc. Với quy mô to lớn và tính chất đồng loạt, Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là hình thức tiến công chiến lược táo bạo và hoàn toàn mới với hiệu lực chiến đấu "cộng hưởng" lớn chưa từng có, làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ. Chính cuộc tiến công táo bạo với cách đánh hoàn toàn mới này đã làm cho những người điều hành chiến tranh Hoa Kỳ sững sờ, choáng váng. Chỉ trong 24 tiếng đồng hồ đầu tiên trong đợt tiến công, toàn bộ hậu phương an toàn nhất của địch, tất cả các thành phố, tỉnh lỵ trước đó hầu như "đứng ngoài cuộc chiến tranh" đều bị tiến công đồng loạt. Chính tướng Oétmolen, Tổng chỉ huy quân đội Mỹ lúc đó ở miền Nam Việt Nam, đã phải thừa nhận: "Việt cộng đã đưa chiến tranh đến các thành phố, các đô thị, đã gây thương vong thiệt hại và nền kinh tế bị phá hoại... các trung tâm huấn luyện bị đóng cửa. Nói theo quan điểm thực tế thì chúng ta phải công nhận đối phương đã giáng cho chính phủ Nam Việt Nam một cú đấm nặng nề". Đối với nước Mỹ thì Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 đã tạo ra "Một cảm giác thất vọng, u sầu bao chùm chính giới Oasinhtơn. Chính phủ bị xúc động" .

2. Lựa chọn thời cơ đúng để đạt hiệu quả cao, tạo ra bước ngoặt quyết định của chiến tranh

Chọn thời cơ là một vấn đề có tầm đặc biệt quan trọng để tiến hành chiến tranh thắng lợi. Muốn có thời cơ, phải biết dự kiến và biết tạo thời cơ; khi thời cơ xuất hiện phải nắm vững và phải chớp lấy thời cơ không được bỏ lỡ. Nguyễn Trãi - nhà chính trị, ngoại giao kinh bang tế thế, nhà chiến lược lớn của dân tộc, đã chỉ rõ: Người giỏi dùng binh là ở chỗ biết rõ thời thế. Được thời, có thế, thì mất biến thành còn, nhỏ hoá ra lớn; mất thời, không thế, thì mạnh hóa ra yếu, yên hóa ra nguy; sự thay đổi ấy chỉ trong khoảng trở bàn tay.

Nhận thức đúng vấn đề này, Đảng ta đã chọn thời cơ vào năm 1968 là năm bầu cử Tổng thống Mỹ, năm mà tình hình nước Mỹ rất nhạy cảm về chính trị. Vào thời điểm này, Mỹ đã trải qua ba năm đưa quân viễn chinh trực tiếp tham chiến ở Việt Nam. Chúng đã từng mở hai cuộc phản công chiến lược vào mùa khô 1965-1966 và 1966-1967 nhưng không đạt được kết quả gì đáng kể, trái lại chúng còn bị quân, dân miền Nam đánh cho thiệt hại nặng nề và thất bại hoàn toàn trong mục tiêu chiến lược "bẻ gãy xương sống Việt cộng". Đồng thời, những bước leo thang đánh phá miền Bắc hòng ngăn chặn sự chi viện cho miền Nam và uy hiếp tinh thần kháng chiến của nhân dân ta cũng không xoay chuyển được tình thế. Những cố gắng của Mỹ vào thời điểm này đã gần đến đỉnh cao. Tính đến tháng 12 - 1967, Mỹ đã huy động vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam nửa triệu quân với 40% số sư đoàn bộ binh sẵn sàng chiến đấu của nước Mỹ, 30% lực lượng không quân chiến thuật, hơn 30% lực lượng hải quân. Lực lượng dự trữ dành cho một cuộc "chiến tranh cục bộ", Mỹ đã dùng hết, thậm chí còn sử dụng cả một phần lực lượng dự trữ dành cho chiến lược toàn cầu, chi phí cho chiến tranh Việt Nam đến năm 1968 lên tới gần 70 tỉ đô la (gấp 3 lần chiến tranh Triều Tiên). Gánh nặng chiến tranh Việt Nam đã ảnh hưởng nặng nề đến nền kinh tế và xã hội nước Mỹ, đến chiến lược toàn cầu và xây dựng quốc phòng của Mỹ. Đế quốc Mỹ đang trong tình thế "tiến thoái lưỡng nan". Về phía ta, đây là lúc lực lượng quân sự, chính trị ở miền Nam đã lớn mạnh hơn bất kỳ thời kỳ nào trước đó và đang nắm quyền chủ động trên chiến trường.

Từ những phân tích đánh giá trên, Đảng ta khẳng định: "Chúng ta đang đứng trước những triển vọng và thời cơ chiến lược lớn", tình hình đó cho phép chúng ta "có thể chuyển cuộc chiến tranh cách mạng sang một thời kỳ mới - thời kỳ giành thắng lợi quyết định".
Thời điểm năm 1968 hội tụ các điều kiện thuận lợi cả về quân sự và chính trị cho giành thắng lợi lớn theo ý định của ta. Thời cơ này được ta tạo ra và nắm bắt đúng lúc, không sớm và cũng không muộn. Nếu đánh sớm, ta chưa làm thất bại hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966, 1966-1967 thì Mỹ sẽ chưa chịu thua vì còn cả quỹ thời gian và lực lượng để triển khai đầy đủ chiến lược "chiến tranh cục bộ". Nếu ta để muộn, cuộc tổng tiến công diễn ra sau năm bầu cử Tổng thống Mỹ thì áp lực quân sự khó làm rung chuyển nước Mỹ, khó làm lung lay ý chí xâm lược của giới cầm quyền. Độc đáo hơn, ta chọn thời cơ tiến công vào dịp Tết Nguyên đán - đúng đêm giao thừa, lúc mà địch sơ hở, chủ quan. Vì thế, khi ta tiến công, địch hoàn toàn bị bất ngờ. Chúng không chỉ bất ngờ về thời gian mà còn bất ngờ về mục tiêu bị tiến công là các đô thị, các căn cứ quan trọng và bất ngờ cả về quy mô của cuộc tiến công khi ta không đánh vào vài chục điểm nhỏ như phán đoán của tình báo địch, mà đánh đồng loạt trên khắp chiến trường miền Nam.

3. Lựa chọn đúng hướng tiến công chủ yếu

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mâu Thân 1968 được Đảng lựa chọn nhằm vào đô thị, nơi tập trung các cơ quan đầu não Trung ương và địa phương của chính quyền Sài Gòn. Đó là những mục tiêu tập trung sinh lực cao cấp của cả Mỹ và chính quyền Sài Gòn, những mục tiêu nhạy cảm nhất trong bộ máy chiến tranh của chúng ở miền Nam. Cả Mỹ và chính quyền Sài Gòn vẫn cho rằng lực lượng ta ít kinh nghiệm đánh thành phố và chưa có khả năng đánh vào các trung tâm đầu não của chúng. Hơn nữa, từ năm 1968, ta chủ động mở Mặt trận Đường 9, coi đây là một hướng tiến công của quân chủ lực để tiêu hao, tiêu diệt địch, đồng thời kéo một lực lượng lớn quân Mỹ ra giam chân tại Khe Sanh. Vào đúng lúc tướng Oétmolen đang cố gắng điều động lực lượng lên "cố giữ bằng được cái chốt Khe Sanh" thì "Việt cộng lại mở một loạt trận tiến công táo bạo và bất ngờ vào hầu hết các căn cứ Mỹ và nguỵ ở Nam Việt Nam".

Có thể nói, chọn đánh vào đô thị làm hướng tiến công chủ yếu là ta đã chọn đánh vào nơi hiểm yếu nhất của kẻ thù. Đòn hiểm yếu đó đã phơi bày đầy đủ sự thất bại về quân sự và sự yếu kém của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Đây là lần đầu tiên trong suốt gần 15 năm kháng chiến, chúng ta đã đưa được chiến tranh vào thành thị, thực hiện một đòn đánh hiểm, đánh đau, đánh vào "trung ương thần kinh địch". Rôbơt Kennơđi, Thượng nghị sĩ Mỹ đã phải thốt lên rằng: Tại sao nửa triệu lính Mỹ với 70 vạn lính Nam Việt Nam cộng tác, có ưu thế hoàn toàn trên không và trên biển, được cung cấp hết sức đầy đủ và được trang bị những vũ khí hiện đại nhất lại không có khả năng bảo vệ được thành phố khỏi bị đối phương tấn công?

4. Tổ chức, bố trí và điều động lực lượng thực hiện nghi binh, lừa địch để tiến công gây bất ngờ lớn đối với địch

Để thực hiện tiêu diệt, tiêu hao, vừa nghi binh thu hút, giam chân một phần lực lượng quân cơ động Mỹ, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động chính tổng tiến công và nổi dậy ở thành thị, Bộ Chính trị, Trung ương Đảng đã chỉ đạo lực lượng vũ trang nổ súng đánh địch ở Khe Sanh. Chính hoạt động này đã thu hút được sự chú ý của địch ra vùng giới tuyến và giam chân một nửa lực lượng của Mỹ ở miền Nam gồm 17 trên tổng số 33 lữ đoàn , buộc chúng phải phân tán lực lượng trên nhiều khu vực chiến trường. Nhận xét về tài nghệ nghi binh của ta, Maicơn Máclia, tác giả cuốn sách Việt Nam cuộc chiến tranh mười ngàn ngày, đã viết: Nhưng rồi các trận đánh trong Tết Mậu Thân làm người ta có cảm tưởng rằng Khe Sanh có vẻ như là cuộc bao vây bỏ đấy mà thôi. Nếu vậy thì Bắc Việt Nam là bậc thầy trong việc nghi binh. Sách Việt Nam - Giờ quyết định của Hãng thông tấn Pháp AFP tiết lộ: Những sai lầm nặng nhất của các tổ chức tình báo - không còn nghi ngờ chút nào - là không tin rằng Việt cộng có thể huy động được số người đông đảo và ném ra những cuộc tiến công hết sức ác liệt với một sự hợp đồng chặt chẽ và một cường độ lớn như vậy.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, dù chưa đạt được mục tiêu chiến lược "giành thắng lợi quyết định", chưa đạt được theo khả năng thứ nhất: Ta thắng lớn, Mỹ buộc phải chịu thua, phải thương lượng với ta để kết thúc chiến tranh; ta còn có những sai lầm, khuyết điểm. Nhưng đây là cuộc động binh lớn nhất trong lịch sử chống Mỹ, cứu nước từ năm 1954 đến lúc này. Lần đầu tiên ta đưa chiến tranh tới hang ổ của kẻ thù, làm đảo lộn kế hoạch chiến tranh và thế bố trí chiến lược của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Do thất bại nặng nề này, Tổng thống L. Giônxơn phải tuyên bố: Đơn phương chấm dứt không điều kiện việc đánh phá bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra; loại bỏ mọi cuộc leo thang lớn; huỷ bỏ kế hoạch chiến lược "tìm và diệt" quay sang thực hiện "quét và giữ", đẩy tới sự thất bại hoàn toàn của chiến lược "chiến tranh cục bộ". Đánh giá về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, đồng chí Lê Duẩn khẳng định: "Ta đã thắng rất to, địch đã thua rất nặng nề. Rõ ràng trận này đã mở ra một bước ngoặt chiến lược đánh dấu thời kỳ Mỹ phải xuống thang chiến tranh do thất bại trong "chiến tranh cục bộ" . Thắng lợi to lớn của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Xuân Mậu Thân 1968 chứng tỏ khả năng và tài nghệ chỉ đạo chiến lược, chỉ đạo chiến tranh tài tình, sắc bén, táo bạo của Đảng ta.

Từ những thành công về chỉ đạo chiến lược của Đảng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 cho chúng ta bài học lớn để tiếp tục vận dụng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Đó là nêu cao ý chí kiên cường, táo bạo, dám nghĩ, dám làm và quyết tâm cao, kết hợp với trí tuệ sáng tạo tuyệt vời của con người Việt Nam xóa bỏ đói nghèo và lạc hậu. Đồng thời, luôn xuất phát từ thực tiễn, dựa vào dân, tin tưởng ở nhân dân, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tranh thủ thời cơ, kịp thời đề ra những bước đi, những quyết sách phù hợp với quy luật khách quan, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Năm, 2020, 11:10:07 am
CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - KHE SANH XUÂN HÈ 1968 ĐÒN NGHI BINH CHIẾN LƯỢC
TRONG CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968



Trung tướng HUỲNH NGỌC HÀ
Cục trưởng Cục Tác chiến


Mưu cao nhất là mưu lừa địch, kế hay nhất là kế điều địch. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), hoạt động nghi binh đã được chúng ta vận dụng rất linh hoạt, điển hình như các chiến dịch Bắc Tây Nguyên (1972), Tây Nguyên (1975)... Đặc biệt, đòn nghi binh chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh (1968) đã thu hút, giam chân một bộ phận quan trọng lực lượng cơ động chiến lược của Mỹ và chính quyền Sài Gòn (chủ yếu quân Mỹ), tạo điều kiện thuận lợi cho toàn miền Nam thực hiện Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 thắng lợi.

Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh (1968) đã thể hiện nghệ thuật chỉ đạo nghi binh chiến lược tuyệt vời của Bộ Thống soái tối cao, khiến Mỹ và chính quyền Sài Gòn đánh giá sai tình hình, hoàn toàn bị bất ngờ về quy mô, thời gian của đòn chiến lược Xuân Mậu Thân, nổi bật một số vấn đề đó là:

Một là, quán triệt sâu sắc đường lối quân sự của Đảng, kế thừa và phát huy nghệ thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam; chỉ đạo, chỉ huy kiên quyết giành thắng lợi.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 13 (khóa III) của Đảng đã xác định: Trên cơ sở nắm vững phương châm đánh lâu dài, cần phải động viên và tập trung lực lượng của cả nước, cố gắng cao độ đập tan âm mưu của địch, giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn; đồng thời tích cực chuẩn bị sẵn sàng đánh thắng địch trong trường hợp chiến tranh kéo dài hoặc mở rộng ra cả nước . Tiếp đó, từ ngày 27 đến ngày 29-4-1967, Bộ Chính trị (tổ 5 người) và Thường trực Quân ủy Trung ương họp bàn kế hoạch chiến lược giành thắng lợi quyết định ở miền Nam. Hội nghị triệu tập cán bộ Cục Tác chiến, Cục Tình báo đến báo cáo. Hội nghị kết luận: Ta một mặt phải nắm chắc vấn đề đánh lâu dài; mặt khác phải nỗ lực để buộc Mỹ phải chịu thua trong năm 1968. Theo đó, các lực lượng vũ trang phải tổ chức những đợt hoạt động lớn, bắt đầu ngay từ mùa mưa năm 1967, nhằm tiêu diệt bằng được các đơn vị tinh nhuệ (các trung đoàn, sư đoàn chủ lực) của địch, đánh phá mạnh giao thông, hậu cứ Mỹ. Hoạt động quân sự phải kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chính trị, thể hiện dưới hình thức ba mũi giáp công (quân sự, chính trị, binh vận).

Tháng 6-1967, Bộ Chính trị chỉ thị cho Trung ương Cục và các khu ủy toàn miền Nam: phải kiên quyết giành ưu thế quân sự, chính trị; phải tiến lên giành chủ động chiến dịch và buộc địch phải chuyển vào thế phòng ngự trên ba chiến trường quyết định:

Chiến trường quyết định thứ nhất là Sài Gòn - Chợ Lớn và miền Đông Nam Bộ: Thực hiện bao vây chặt Sài Gòn - Chợ Lớn, buộc địch phải phân tán một lực lượng quan trọng, tiêu diệt từng đơn vị lớn quân Mỹ, quân đội Sài Gòn ở các vùng rừng và giáp ranh thành phố.
Chiến trường quyết định thứ hai là từ Đường 9 qua Trị - Thiên đến Quảng Đà, Quảng Nam: Phải căng địch ra và đánh mạnh vào thủy quân lục chiến Mỹ ở hai đầu. Phải tiêu diệt một bộ phận quan trọng thủy quân lục chiến Mỹ, đánh quỵ 2 sư đoàn quân đội Sài Gòn, đánh phá các căn cứ lớn của địch ở Đường 9, cắt đứt đường giao thông huyết mạch, buộc chúng phải chuyển vào phòng ngự bị động trên toàn Vùng chiến thuật 1.

Chiến trường quyết định thứ ba là đồng bằng, giáp ranh Khu 5 và Tây Nguyên: Bao vây, tiến công mạnh các căn cứ và đường giao thông chiến lược của địch; tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân địch, đánh quỵ các sư đoàn 2, 22 quân đội Sài Gòn; tiêu diệt nhiều tiểu đoàn quân Mỹ, quân Nam Triều Tiên; phá tan kế hoạch "bình định" của địch, cố gắng giải phóng một số thị trấn, thị xã. Ngoài ra, các chiến trường Phân khu Nam của Khu 5 và đồng bằng Nam Bộ là những chiến trường phối hợp rất quan trọng cần phải cố gắng đẩy mạnh chiến tranh du kích, đánh bại kế hoạch "bình định" của địch, giữ vững và mở rộng quyền làm chủ của ta.

Ngày 6-12-1967, Quân ủy Trung ương quyết định lập Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh. Đồng chí Lê Quang Đạo, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy; Trần Quý Hai, Phó Bí thư, Tư lệnh. Nhiệm vụ của Mặt trận là tổ chức tác chiến hiệp đồng binh chủng, tiêu hao một bộ phận quân Mỹ, quân đội Sài Gòn, thu hút địch ra Đường 9, tạo điều kiện cho các chiến trường khác đánh địch.

Từ ngày 20-1 đến ngày 15-7-1968, ta mở chiến dịch tiến công Đường 9 - Khe Sanh, từ Cửa Việt đến biên giới Việt Nam - Lào, với lực lượng tương đương quân đoàn tăng cường, do Bộ Tổng Tư lệnh trực tiếp chỉ đạo. Sau 170 ngày đêm kiên cường chiến đấu, ta diệt và bắt sống 11.900 tên địch, phá hủy 78 xe quân sự, bắn cháy và phá hủy 197 máy bay các loại, bắn chìm, hỏng 80 tàu vận tải của địch...

Hai là, đòn nghi binh chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh nằm trong tổng thể kế hoạch nghi binh chiến lược Tết Mậu Thân 1968, được xây dựng và tổ chức thực hiện toàn diện, chặt chẽ, hiệu quả, giữ bí mật tuyệt đối.

Chiến dịch tiến công Đường 9 - Khe Sanh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, đó là: thu hút lực lượng cơ động của địch ra vòng ngoài để đánh tiêu diệt, tạo thời cơ công kích mãnh liệt vào các thành thị, thành phố lớn, đây cũng là một phần trong kế hoạch nghi binh chiến lược của ta.

Trung tuần tháng 11-1967, qua nắm tình hình, ta nhận thấy: Mỹ đã biết được nội dung cơ bản của Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 12 (tháng 12-1965) với nội dung cơ bản là ta tranh thủ tìm kiếm một số thắng lợi quân sự nhằm làm chuyển biến cục diện chiến tranh, phục vụ thương lượng. Từ đó, Mỹ đánh giá ta không đủ khả năng làm một "Điện Biên Phủ 1968". Kế hoạch nghi binh là phải khiến địch tin chắc vào đánh giá trên của chúng. Triển khai thực hiện, Cục Tác chiến đã dự thảo kế hoạch nghi binh chiến lược phục vụ tổng công kích - tổng khởi nghĩa; đồng thời xây dựng một loạt kế hoạch nghi binh của Trung ương, của các địa phương, phối hợp với cả các cơ quan Cục Tình báo, Bộ Ngoại giao, cơ quan lãnh đạo báo chí phát thanh... Ngày 14-11-1967, kế hoạch này được đồng chí Văn Tiến Dũng thông qua.

Về quân sự, trên Mặt trận Đường 9, ta xác định dùng đòn tiến công của bộ đội chủ lực nhằm thu hút, phân tán lực lượng, tiêu diệt địch. Đây là chiến dịch do Bộ mở và trực tiếp chỉ đạo, sử dụng hơn 4 sư đoàn chiến đấu hiệp đồng binh chủng; tiến công 3 trung đoàn tăng cường thuộc Sư đoàn 3 thủy quân lục chiến, Sư đoàn 1 kỵ binh không vận Mỹ và một số lực lượng khác của quân đội Sài Gòn. Vận dụng phương pháp tác chiến là phong tỏa cảng Cửa Việt, tiêu diệt các cứ điểm vòng ngoài (Hướng Hóa, Huội San, Đường 9, Cam Lộ...), nhằm cô lập quân Mỹ ở thung lũng Khe Sanh; bao vây lực lượng địch phòng ngự, tiêu diệt lực lượng địch ứng cứu giải tỏa bên ngoài, đe dọa tiêu diệt gọn quân địch, buộc địch phải rút khỏi Khe Sanh.

Hướng Nam Bộ, ta đánh lên Lộc Ninh, Phước Quả, tập trung đẩy mạnh phá ấp chiến lược, giành dân, đánh tiêu diệt quân đội Sài Gòn, đánh phá giao thông... Đồng thời, ta đã thảo một "mệnh lệnh giả" giao nhiệm vụ cho lực lượng vũ trang Tây Ninh mở cuộc tiến công quân Mỹ và phối hợp tác chiến các nơi bằng chống phá bình định. Đúng như kế hoạch, mệnh lệnh nghi binh đó đã rơi vào tay địch. Lập tức Bộ Tổng Tham mưu quân đội Sài Gòn tập trung nghiên cứu và tìm mọi biện pháp để tăng cường lực lượng đối phó hướng Tây Ninh, càn quét vòng ngoài; hệ quả là đã tạo ra sơ hở trong các thành phố, thị xã.

Trên hướng Tây Nguyên, ta tăng cường hoạt động ở Gia Lai, Buôn Ma Thuột, cắt các đường 19, 21, 14; tạo thời cơ đánh địch ở Bình Định, An Khê. Hướng Trị Thiên, ta liên tục tiến công địch, mở rộng đồng bằng, vây ép đô thị, làm tan rã những đơn vị chính quy của địch đang suy sụp về tinh thần...

Về tuyên truyền - ngoại giao, vị trí đặc biệt của Khe Sanh giống như "cái mỏ neo" trong bản đồ quân sự của Mỹ, là trung tâm chỉ huy của hàng rào điện tử Mắc Namara, phòng tuyến chống xâm nhập hiện đại nhất ở bờ Nam sông Bến Hải. Khe Sanh - Quảng Trị được xây dựng thành một tập đoàn phòng ngự mạnh, liên hoàn, kiên cố nhất của Mỹ ở địa đầu miền Nam Việt Nam. Quân Mỹ đang có ý định "thả mồi ngon" để lừa ta phải chiến đấu theo cách đánh quy ước, vốn là sở trường của quân Mỹ. Khe Sanh được kỳ vọng sẽ là "nam châm hút quân Bắc Việt", để Hoa Kỳ dùng ưu thế hỏa lực tiêu diệt trong một thế trận "Điện Biên Phủ đảo ngược".
 
"Tương kế, tựu kế", Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh đã chỉ đạo khéo léo để lộ kế hoạch với địch, thực hiện một bước nhỏ trong toàn bộ kế hoạch nghi binh; một mặt chỉ đạo Đảng ủy Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ; mặt khác chỉ đạo cơ quan báo chí phát thanh hạn chế tuyên truyền những trận đánh đô thị mà tập trung vào những hướng nghi binh... Khe Sanh đã thu hút được chú ý của truyền thông đại chúng và công luận Mỹ, những mối lo ngại về cái dớp "Điện Biên Phủ" vẫn lơ lửng trong "Phòng Bầu dục"...

Mặt khác, theo đề nghị của Trung Quốc, Trung ương đồng ý cho bạn đưa một số đoàn cán bộ quân sự vào nghiên cứu tình hình miền Nam (năm 1967, vào Tây Nguyên có 2 đoàn, Khu 5 có 1 đoàn). Bộ chỉ đạo các cơ quan, đơn vị chuẩn bị và tiếp nhận thân tình, thông báo toàn diện về kinh nghiệm ta đánh Mỹ... Trong quá trình làm việc với bạn phải giữ đúng nguyên tắc, nội dung làm việc phải chuẩn bị chu đáo, số liệu chính xác và thống nhất...

Những động thái trên càng khiến Tổng thống Giônxơn cũng có nhận định rằng Khe Sanh sẽ là một Điện Biên Phủ thứ hai; và đã triển khai làm cả sa bàn Khe Sanh ở Oasinhtơn. Thậm chí, ông ta còn yêu cầu tướng Oétmolen – Tổng chỉ huy quân đội Mỹ tại Việt Nam - phải ký giấy cam đoan không được để mất Khe Sanh vì đó là danh dự của nước Mỹ. Mỹ đã sử dụng các lực lượng của Sư đoàn 3 thủy quân lục chiến và Sư đoàn 1 kỵ binh không vận cùng với hỏa lực pháo binh và không quân không hạn chế, kể cả máy bay chiến lược B52 tại Khe Sanh...

Đêm ngày 20 rạng ngày 21-1-1968, pháo binh chiến dịch của Sư đoàn 304 phát hỏa mở màn chiến dịch tiến công Đường 9 - Khe Sanh. Tiếp theo, ta phong tỏa cảng Cửa Việt, tiêu diệt các căn cứ Hướng Hóa, Huội San, đánh thiệt hại lực lượng Mỹ trên Đường 9... Sức ép của ta ở Đường 9 - Khe Sanh ngày càng tăng đã làm cho Bộ Tư lệnh quân Mỹ ở Nam Việt Nam thực sự lo ngại, buộc phải tăng quân lên 43 tiểu đoàn chủ lực (25 tiểu đoàn quân Mỹ) với tổng quân số 69.490 lính (40.800 lính Mỹ), cho không quân ném bom Khe Sanh và khu vực giới tuyến, đồng thời thiếp lập một sở chỉ huy tại Phú Bài (Huế) để chỉ huy lực lượng đánh trả các cuộc tiến công của ta trên Đường 9 - Khe Sanh. Đến đây, Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh đã hoàn thành nhiệm vụ thu hút, giam chân một bộ phận quan trọng lực lượng cơ động chiến lược của Mỹ.

Đêm 30 rạng ngày 31-1-1968, quân và dân miền Nam đã đồng loạt nổ súng tiến công vào hầu hết các cơ quan đầu não của Mỹ - ngụy, từ trung ương đến địa phương, gồm: 4/6 thành phố lớn (trong đó có Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế); 37/44 thị xã, 64/242 thị trấn (thị tứ), quận lỵ khắp miền Nam, 4 bộ tư lệnh quân đoàn, 8 bộ tư lệnh sư đoàn, 2 bộ tư lệnh biệt khu, bộ tư lệnh các biệt khu 1, 2 của Mỹ, 30 sân bay... Phối hợp với đòn tiến công của các lực lượng vũ trang, nhân dân nhiều vùng nông thôn đã nổi dậy phá kìm kẹp của chính quyền ấp, xã.

Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đạt được các mục tiêu: tiêu diệt một phần lực lượng thủy quân lục chiến Mỹ và quân đội Sài Gòn, giành quyền kiểm soát Khe Sanh, không còn căn cứ nào có thể uy hiếp trực tiếp tuyến đường cùng dòng hàng đưa ra tiền tuyến; giam chân, thu hút lực lượng tinh nhuệ của Mỹ - quân đội Sài Gòn, tạo điều kiện cho tổng tiến công ở các đô thị giành thắng lợi.

Hoạt động nghi binh chiến lược là một trong những giải pháp tác chiến quan trọng để thực hiện phương thức tác chiến. Để hoạt động nghi binh tiếp tục phát huy hiệu quả trong điều kiện mới của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (nếu xảy ra), địch chủ yếu sử dụng vũ khí, trang thiết bị công nghệ cao, đòi hỏi phải tiếp tục quan tâm nghiên cứu, chuẩn bị trước từ thời bình trên toàn diện các mặt, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
 


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Năm, 2020, 02:13:55 pm
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CHỦ TRƯƠNG, KẾ HOẠCH
TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968



Đại tá, TS. NGUYỄN VĂN LƯỢNG
Trưởng phòng Quản lý khoa học, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Đầu năm 1967, sau những thất bại liên tiếp của hai chiến dịch phản công chiến lược mùa khô 1965 - 1966, 1966 - 1967, chính quyền Mỹ bắt đầu hoài nghi về khả năng giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Nội bộ giới cầm quyền Mỹ ngày càng mâu thuẫn, bất đồng sâu sắc, nhất là giữa quan điểm tiếp tục mở rộng leo thang chiến tranh xâm lược hay hạn chế dần sự tham dự của nước Mỹ vào cuộc chiến tranh. Cùng lúc đó, phong trào phản đối cuộc chiến tranh tại Việt Nam, đòi Tổng thống Mỹ Giônxơn phải rút quân ngày càng lan rộng trên khắp nước Mỹ. Nhiều nghị sĩ Mỹ đã nhìn thấy "tương lai không thể lường trước được của một cuộc chiến tranh hiện đang có tác động làm rã rời ý chí dân tộc Mỹ" . Những mâu thuẫn, bất đồng đó lại càng trở nên gay gắt, khi năm bầu cử tổng thống Mỹ (1968) đã tới gần, triển vọng về cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài và có nguy cơ thất bại đã uy hiếp nặng nề khả năng tái cử nhiệm kỳ hai của Tổng thống Giônxơn.

Về phía ta, sau hơn hai năm đối đầu trực tiếp với quân Mỹ và quân đội Sài Gòn trong chiến lược "chiến tranh cục bộ", quân và dân ta vẫn giữ vững quyền chủ động về chiến lược, vùng giải phóng được mở rộng ở cả rừng núi, nông thôn đồng bằng và xung quanh đô thị; lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang phát triển lớn mạnh hơn bất cứ thời điểm nào trước đó. Miền Bắc vẫn đứng vững sau hơn ba năm bị không quân và hải quân Mỹ đánh phá quyết liệt, vừa sản xuất, vừa chiến đấu, tích cực chi viện ngày càng lớn cho chiến trường miền Nam.

Theo dõi sát diễn biến của chiến trường, ngày 18-4-1966, Bộ Tổng Tham mưu họp quyết định giao đồng chí Nguyễn Văn Vịnh - Phó Tổng Tham mưu trưởng chịu trách nhiệm xây dựng "Kế hoạch chiến lược từ Hè 1967 đến Hè 1968" trên cơ sở "Đề án kế hoạch chiến lược năm 1967" đã được xây dựng trước đó. Bộ Tổng Tham mưu nêu rõ yêu cầu là phải xây dựng một kế hoạch chiến lược để ta có thể làm chủ cục diện chiến trường: "đẩy địch về phòng ngự, mất ý chí và khả năng tấn công". Mốc kế hoạch xác định từ Hè 1967 đến Hè 1968 bởi nhiều lý do, trong đó có tính tới yếu tố chính trị khi chính quyền Sài Gòn tiến hành tổng tuyển cử tháng 9-1967 và bầu cử tổng thống Mỹ tháng 11-1968 .

Trong các ngày từ 27 đến 29-4-1967, bản dự thảo "Kế hoạch chiến lược từ Hè 1967 đến Hè 1968" được đưa ra thảo luận trong cuộc họp mở rộng của Bộ Chính trị và Thường trực Quân ủy Trung ương 1. Về quyết tâm của ta trong thời gian sắp tới, Bộ Chính trị và Thường trực Quân ủy Trung ương nhất trí những vấn đề cơ bản trong Kế hoạch của Bộ Tổng Tham mưu và lưu ý: một mặt phải nắm chắc phương châm chiến lược đánh lâu dài; mặt khác phải nỗ lực để buộc Mỹ phải chịu thua trong năm 1968. Để thực hiện chủ trương trên, các lực lượng vũ trang phải tổ chức những đợt hoạt động lớn, bắt đầu ngay từ mùa mưa năm 1967, nhằm tiêu diệt các đơn vị tinh nhuệ, tiêu diệt các trung đoàn, sư đoàn chủ lực địch, đánh phá mạnh giao thông, hậu cứ Mỹ. Hoạt động quân sự phải kết hợp với phát động quần chúng ở các đô thị lớn vùng dậy... Trên cơ sở đó, ta chủ động đấu tranh ngoại giao, mở một con đường cho Mỹ rút khỏi miền Nam.

Trên cơ sở bản dự thảo "Kế hoạch chiến lược từ Hè 1967 đến Hè 1968", Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh chỉ đạo các chiến trường xây dựng kế hoạch chiến lược Đông - Xuân - Hè 1967 - 1968, đồng thời cử nhiều đoàn cán bộ của Bộ Tổng Tham mưu vào các chiến trường nắm tình hình, đôn đốc kiểm tra việc chuẩn bị lực lượng, vật chất theo phương hướng mở cuộc tiến công chiến lược quy mô lớn. Cũng trong thời điểm này, theo đề xuất của Bộ Tổng Tham mưu, các đồng chí Nguyễn Chí Thanh (Chính ủy Quân giải phóng miền Nam), Lê Đức Anh (Bộ Tư lệnh Miền), Nguyễn Đôn (Tư lệnh Quân khu 5), Chu Huy Mân (Chính ủy Mặt trận Tây Nguyên) được triệu tập ra báo cáo tình hình với Quân ủy Trung ương và tham gia xây dựng "Kế hoạch chiến lược từ Hè 1967 đến Hè 1968".

Tháng 5-1967, sau khi nghe báo cáo thực tế của các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy các chiến trường, Bộ Chính trị tổ chức phiên họp do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì, Hội nghị đã thông qua quyết tâm chiến lược, trong đó xác định: "Nắm vững phương châm đánh lâu dài, cần phát huy mạnh mẽ chiến thắng to lớn trong mùa khô vừa qua, ra sức đẩy mạnh những cố gắng của ta đến mức cao nhất nhằm giành thắng lợi quyết định trong một thời gian tương đối ngắn" . Vấn đề giành thắng lợi trong một "thời gian tương đối ngắn" là bao lâu? Hội nghị chưa xác định cụ thể, nhưng nội dung "giành thắng lợi quyết định" đã được Hội nghị Bộ Chính trị xác định rõ thông qua phương hướng chiến lược mà: "Mục tiêu chiến lược và cục diện chiến trường trong thời gian tới cần đạt được yêu cầu là triển khai thế chủ động và thế tiến công của ta trên quy mô chiến lược, chiến dịch và trên những hướng chiến trường chủ yếu... buộc địch phải chuyển vào thế phòng ngự...". Về mục tiêu tác chiến, Hội nghị cũng chỉ rõ: "đối với quân Mỹ, trong vòng một năm, cố tiêu diệt từ 3 đến 5 lữ đoàn... Đối với quân ngụy, cố gắng tiêu diệt một số chiến đoàn hoặc trung đoàn, đánh quỵ từ 3 đến 5 sư đoàn...". Về cách đánh, Bộ Chính trị chỉ rõ, cần vận dụng linh hoạt 6 phương thức đánh và kiên quyết thực hiện cho được một số trận đánh lớn có tính chất quyết chiến quan trọng.

Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh chỉ thị Bộ Tổng Tham mưu và bộ tư lệnh các chiến trường gấp rút triển khai mọi mặt các công tác chuẩn bị, bắt tay xây dựng các phương án, các kế hoạch tác chiến cho Thu - Đông 1967 nhằm sẵn sàng đón nắm thời cơ, đánh những đòn "thôi động" lớn có tác dụng xoay chuyển cục diện chiến trường.

Vấn đề lớn đặt ra đối với Bộ Tổng Tham mưu và Bộ Tư lệnh các chiến trường lúc này là làm thế nào để lực lượng vũ trang của ta có thể tiến hành tác chiến đạt hiệu suất cao như dự kiến của Bộ Chính trị. Qua hơn 2 năm đọ sức với quân đội Mỹ (1965 - 1967), ngoài tiểu đoàn Mỹ bị tiêu diệt ở Ia Đrăng tháng 11-1965, ta chưa đánh tiêu diệt gọn được một đơn vị Mỹ cấp tiểu đoàn nào khác. Với yêu cầu "đánh tiêu diệt 3 đến 5 lữ đoàn Mỹ" chắc chắn ta sẽ gặp rất nhiều khó khăn vì khả năng đánh tiêu diệt lớn của bộ đội chủ lực ta còn hạn chế, không thể khắc phục ngay trong một thời gian ngắn. Mặt khác, đối với quân Mỹ có hỏa lực mạnh, sức cơ động cao, lại có ưu thế áp đảo trên không, trên sông, trên biển, thì khả năng tiến hành các trận đánh lớn, bao vây để tiêu diệt như ta đã từng làm đối với quân đội Pháp ở Điện Biên Phủ là không hiện thực, thậm chí có thể nhanh chóng bị thất bại. Nhưng nếu lại cứ tiếp tục mở các đợt hoạt động quân sự như trước, đánh theo lối cũ, đánh theo mùa đợt thì địch có thời gian hồi phục, tình hình sẽ nhùng nhằng, kéo dài, không thể gây chuyển biến gì lớn. Về chiến lược, không tranh thủ được thời cơ có lợi, không đáp ứng được tình thế đã mở ra.

Trong khi Bộ Tổng Tham mưu còn đang xác định mục tiêu, cách đánh thì trong một cuộc họp với Quân ủy Trung ương về kế hoạch chiến lược năm 1968, đồng chí Lê Duẩn đã đề xuất giải pháp đánh thẳng vào sào huyệt địch tại các thành phố, thị xã, nơi địch cho là an toàn nhất cũng là nơi chúng có nhiều sơ hở, chủ quan. Theo đồng chí, đánh thẳng vào các thành phố, thị xã mới có thể tạo nên làn sóng đấu tranh chính trị mạnh mẽ ở các đô thị miền Nam và nước Mỹ, tạo nên những đòn quyết định đánh bại hoàn toàn chính sách xâm lược của đế quốc Mỹ. Đề xuất của đồng chí Lê Duẩn được Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương thông qua và được giữ bí mật tuyệt đối. Chỉ những lãnh đạo, chỉ huy cao cấp nhất của Trung ương Cục, Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, Bộ Tư lệnh các chiến trường mới được truyền đạt để hoạch định kế hoạch chiến lược của từng vùng trong năm 1968.

Tuy nhiên, lúc này lại nảy sinh vấn đề cần giải quyết: nếu xác định mục tiêu chủ yếu là thành thị thì ta sẽ sử dụng cách đánh như thế nào? mục tiêu then chốt là ở đâu? liệu bộ đội ta có đủ sức đánh vào thành phố và trụ vững ở đó trong điều kiện so sánh lực lượng giữa ta và địch còn hết sức chênh lệch? Qua trao đổi, các chiến trường đều thống nhất khẳng định bộ đội ta đủ khả năng đánh được vào thành phố, tuy nhiên sau khi đánh được vào thành phố thì có trụ lại và giữ được hay không còn tùy theo phản ứng của Mỹ và khả năng ủng hộ của quần chúng nhân dân ở trong nội thành cũng như ở vùng ven.

Trong tháng 8-1967, Bộ Tổng Tham mưu tiếp tục bổ sung, hoàn thiện kế hoạch đánh lớn vào đô thị ở miền Nam. Đến cuối tháng 8-1967, trên cơ sở ý kiến chỉ đạo của các đồng chí trong Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương cũng như ý kiến của các lãnh đạo, chỉ huy các chiến trường, cách đánh mới - tiến công vào các trung tâm đầu não của chính quyền Sài Gòn bằng hình thức tổng tiến công kết hợp với nổi dậy (tổng công kích kết hợp với tổng khởi nghĩa) đã chính thức hình thành. Ta xác định: chỉ có tiến hành tổng công kích - tổng khởi nghĩa mới có thể phát huy được tối đa sức mạnh của cuộc chiến tranh nhân dân mà ta đang tiến hành, tạo ra so sánh lực lượng có lợi cho ta; chỉ có tiến hành tổng công kích - tổng khởi nghĩa, kết hợp chặt chẽ sức mạnh quân sự với sức mạnh của quần chúng nhân dân, các lực lượng vũ trang của ta mới có khả năng tiến đánh và trụ vững ở các thành thị, hạn chế được tối đa những phản ứng tiêu cực nhất từ phía quân đội và chính quyền Mỹ.

Ngày 9-9-1967, đồng chí Lê Đức Anh (Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam) báo cáo Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương "Kế hoạch Tổng công kích - tổng khởi nghĩa" của Trung ương Cục, kế hoạch nêu rõ: Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh Miền nhất trí với nhận định tình hình của Bộ Chính trị, quán triệt quyết tâm tranh thủ giành thắng lợi quyết định. Trung ương Cục dự kiến tổ chức 27 tiểu đoàn địa phương, 9 đội biệt động thành cùng 7 trung đoàn chủ lực của các sư đoàn 5, 7, 9 tạo thành 5 cánh quân bao vây, tiến công Sài Gòn, chiếm Chợ Lớn. Phương châm tổng công kích - tổng khởi nghĩa là tiến hành nhanh, giải quyết nhanh. Kế hoạch nêu rõ khả năng của ta: cố gắng giữ thành phố trong 5 - 6 tháng, thành lập chính phủ liên hiệp, có cả thành phần trung lập, thân Mỹ, thân Pháp buộc chính quyền Mỹ không có lý do can thiệp, đồng thời kêu gọi quân Mỹ ở đâu thì giữ nguyên ở đó, hoặc tập hợp về Đà Nẵng, Chu Lai, Quy Nhơn, Cam Ranh, rút dần khỏi Việt Nam.

Sau khi thảo luận, Bộ Chính trị đồng ý với Kế hoạch tổng công kích - tổng khởi nghĩa của Trung ương Cục và xác định Sài Gòn - Chợ Lớn là hướng chủ yếu của toàn miền Nam, đồng thời giao Bộ Tổng Tham mưu dự thảo "Kế hoạch chiến lược Đông - Xuân - Hè 1967 - 1968".




---------------------------------------------------------------
1. Gồm có các đồng chí Lê Duẩn, Phạm Hùng, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Lê Đức Thọ, Văn Tiến Dũng, Song Hào, Nguyễn Văn Vịnh, Lê Quang Đạo, Đinh Đức Thiện cùng một số cán bộ Cục Tình báo và Tác chiến.


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Năm, 2020, 02:18:05 pm
Trong các ngày từ 20 đến 24-10-1967, Bộ Chính trị họp hội nghị mở rộng bàn về "Kế hoạch chiến lược Đông - Xuân - Hè 1967-1968" ở chiến trường miền Nam 1. Tại hội nghị, Bộ Chính trị xác định rõ, cho đến thời điểm này, thời cơ chiến lược đã xuất hiện. Muốn chớp thời cơ trong điều kiện so sánh lực lượng vũ trang trên chiến trường vẫn nghiêng hẳn về phía địch thì hướng tiến công chiến lược của ta là nhằm vào các đô thị trên toàn miền Nam. Về phương pháp, dùng hình thức cao nhất của chiến tranh cách mạng là tổng công kích - tổng khởi nghĩa. Về phương thức, tiến hành tiến công và nổi dậy đồng loạt. Đây là một phương hướng mà lúc đó Mỹ và chính quyền Sài Gòn "không hề nghĩ tới và cũng không thể nghĩ tới".

Các ý kiến tại hội nghị cũng phân tích, bàn bạc nhiều về vấn đề thời cơ, khả năng đánh thành phố của bộ đội, khả năng nổi dậy của quần chúng, biện pháp khắc phục khó khăn... Khi thảo luận, Bộ Chính trị chủ động đặt vấn đề: chủ trương tổng công kích - tổng khởi nghĩa có đúng không? có gì phiêu lưu hay không? phải nghiên cứu thật kỹ để có kết luận trong hội nghị tới. Về ba trường hợp có thể giành thắng lợi: mức cao, giành thắng lợi hoàn toàn ở miền Nam; mức thứ hai, căn bản giành thắng lợi, nhưng địch co lại cố thủ một số nơi, tiếp tục cuộc chiến tranh; mức ba, chỉ thắng được một phần; trong thảo luận còn có ý kiến khác nhau, nhưng nhìn chung đều quyết tâm cố gắng giành thắng lợi ở mức cao nhất. Kết thúc hội nghị, đồng chí Trường Chinh kết luận: Về quân sự, đánh vào thành phố là có khả năng, nhưng vấn đề khởi nghĩa phải nghiên cứu thêm và chờ ý kiến của một số đồng chí lãnh đạo nữa sẽ quyết định trong cuộc họp sau.

Để chuẩn bị mọi mặt cho cuộc tổng công kích - tổng khởi nghĩa trên chiến trường miền Nam, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh đã chỉ thị cho các chiến trường đẩy mạnh các đợt hoạt động Đông 1967. Thực hiện chỉ thị trên, tại chiến trường Đông Nam Bộ, Bộ Tư lệnh Miền mở Chiến dịch Lộc Ninh - Đường 13 tiêu diệt một bộ phận quan trọng Sư đoàn bộ binh 1 Mỹ và Sư đoàn bộ binh 5 quân đội Sài Gòn. Phối hợp chặt chẽ với Chiến dịch Lộc Ninh, ngày 3-11-1967, Bộ Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên mở Chiến dịch Đắc Tô đánh thiệt hại nặng Lữ đoàn 1 (Sư đoàn 4) và Lữ đoàn dù 173 quân Mỹ, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 4.000 tên địch... Trên địa bàn Khu 5, Khu 9 ta đẩy mạnh tiến công địch ở nhiều thị xã, quận lỵ, chi khu quân sự như Hội An, Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Cần Giuộc, Hậu Nghĩa, Tịnh Biên (Châu Đốc), Cao Lãnh (Sa Đéc)... Trên hướng trọng điểm Sài Gòn - Gia Định, Quân khu 7 và Quân khu Sài Gòn - Gia Định hợp nhất và phân chia địa bàn thành 6 phân khu với 5 mũi tiến công sẵn sàng tiến công vào nội đô Sài Gòn.

Trước tình hình căng thẳng trên khắp toàn Miền và đặc biệt khi phát hiện các cuộc chuyển quân lớn của bộ đội chủ lực ta ở giáp Khe Sanh (Quảng Trị), Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ buộc phải bỏ dở kế hoạch phản công chiến lược lần thứ ba, đưa lực lượng về tăng cường phòng thủ xung quanh Sài Gòn và Trị Thiên. Thế bố trí chiến lược của địch bị đảo lộn, lực lượng bị căng mỏng trên các chiến trường và lùi dần vào thế phòng ngự chiến lược. Đây là thất bại lớn về chiến lược của đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.
Ngày 28-12-1967, Hội nghị Bộ Chính trị họp dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trên cơ sở bám sát, nắm chắc và phân tích toàn diện động thái chiến trường, tình hình nước Mỹ và thế giới, Bộ Chính trị chính thức thông qua "Kế hoạch chiến lược năm 1968 và nhiệm vụ của quân, dân ta" đồng thời hạ quyết tâm: "Chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ tiến công và nổi dậy giành thắng lợi quyết định".

Để thực hiện quyết tâm chiến lược đó, Bộ Chính trị khẳng định: "Nhiệm vụ trọng đại và cấp bách của ta trong thời kỳ mới là động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên bước phát triển cao nhất, dùng phương pháp tổng công kích, tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định". Mục tiêu chiến lược của tổng công kích, tổng khởi nghĩa là: Tiêu diệt và làm tan rã tuyệt đại bộ phận quân ngụy, đánh đổ ngụy quyền các cấp, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân, tiêu diệt một phần quan trọng sinh lực và phương tiện chiến tranh của Mỹ, làm cho quân Mỹ không thực hiện được các nhiệm vụ chính trị và quân sự của chúng ở Việt Nam. Trên cơ sở đó: đập tan ý chí xâm lược của Mỹ, buộc Mỹ phải chịu thua ở miền Nam, chấm dứt mọi hành động chiến tranh đối với miền Bắc, còn ta thì bảo vệ được miền Bắc xã hội chủ nghĩa và đạt được những mục tiêu trước mắt của cách mạng Việt Nam là độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập, tiến tới thống nhất nước nhà.

Sau khi thảo luận kỹ khả năng đánh vào thành phố của lực lượng vũ trang và khả năng nổi dậy của quần chúng, Bộ Chính trị thông qua phương án tổng công kích - tổng khởi nghĩa do Bộ Tổng Tham mưu soạn thảo đã được Quân ủy Trung ương phê duyệt. Phương án xác định: "Để thực hiện tổng công kích và tổng khởi nghĩa, một mặt, phải biết điều động lực lượng quân sự của địch ra các chiến trường quan trọng và sử dụng những quả đấm mạnh đánh quỵ các binh đoàn chủ lực của địch...; mặt khác, đòn chính của ta phải nhằm vào các thành thị quan trọng, kết hợp lực lượng xung kích về quân sự với lực lượng chính trị của quần chúng ở các thành thị và vùng nông thôn kế cận vùng dậy đánh sụp các cơ quan đầu não của Mỹ và ngụy, đánh phá các hậu cứ, các cơ sở hậu cần, các trung tâm thông tin và các phương tiện giao thông vận tải chiến lược của địch... đồng thời, kêu gọi binh lính ngụy quay lại cùng với nhân dân khởi nghĩa. Đó là đòn đánh ác liệt nhất đánh vào óc, tim, mạch máu của địch...".

Để thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh xác định thời gian tiến hành nghi binh trên chiến trường Lào (bằng chiến dịch Nậm Bạc) sẽ triển khai trước Tết 15 đến 20 ngày; thời gian nổ súng ở Đường 9 - Khe Sanh trước Tết 10 ngày và thời gian tiến hành tổng công kích - tổng khởi nghĩa đồng loạt ở các chiến trường chính và trọng điểm được xác định là đúng 0 giờ đêm giao thừa Tết Mậu Thân 1968.

Tháng 1-1968, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 14 họp tại Kim Bôi (Hòa Bình). Sau khi thảo luận, hội nghị đã chính thức thông qua Nghị quyết tháng 12-1967 của Bộ Chính trị, quyết định thực hiện tổng công kích - tổng khởi nghĩa trên chiến trường miền Nam để giành thắng lợi quyết định cho sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Hội nghị Trung ương quyết định lấy Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 12-1967 làm Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 14.

Từ 0 giờ ngày 30-1 đến 0 giờ ngày 31-1-1968, quân ta bất thần đồng loạt nổ súng tiến công trên toàn chiến trường miền Nam. Cuộc tổng công kích - tổng khởi nghĩa đầy táo bạo, bất ngờ của ta trong Tết Mậu Thân, đặc biệt là các trận đánh của Quân giải phóng vào Đại sứ quán Mỹ, Dinh Độc Lập, Bộ Tổng Tham mưu, Đài Phát thanh Sài Gòn... cùng sự kiện thành phố Huế "thất thủ" trong 25 ngày đêm đã gây choáng váng cho chính trường nước Mỹ. Nhân dân Mỹ thấy nước Mỹ đang lao vào một cuộc chiến tranh phi nghĩa, đẫm máu; đang lún sâu vào một đường hầm không có lối thoát. Sau sự kiện Tết Mậu Thân 1968, phong trào chống chiến tranh của nhân dân Mỹ lan rộng và lên cao chưa từng có.

Quốc hội Mỹ cũng đã phải tổ chức cuộc họp gấp để xem xét toàn bộ chính sách và chiến lược của Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Trong cuộc họp đó, phần lớn quan chức cao cấp trong chính quyền và giới tài phiệt nhận thức rõ ràng rằng: Mỹ không thể giành chiến thắng quân sự ở Việt Nam với cái giá có thể chấp nhận được.

Do bị tổn thất trên chiến trường cùng những áp lực từ nhân dân và chính giới Mỹ, ngày 31-3-1968, Tổng thống Giônxơn buộc phải tuyên bố: ngừng ném bom miền bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 20 trở ra, chấp nhận ngồi vào bàn hội nghị đàm phán với ta tại Pari về lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Như vậy, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là một quyết định lịch sử, một chủ trương táo bạo, đúng đắn, sáng tạo, là một sáng kiến lịch sử của Đảng ta trong chỉ đạo chiến tranh cách mạng. Trong quá trình hình thành chủ trương và đi đến quyết định tổng tiến công và nổi dậy, Đảng đã phát hiện, nắm bắt đúng thời cơ chiến lược; hạ quyết tâm chính xác, kịp thời; xác định hướng tấn công chủ yếu táo bạo, đúng chỗ hiểm yếu của địch cùng với việc sáng tạo hình thức tiến công mới đã làm cho đòn Tổng công kích - tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân 1968 giành được thắng lợi to lớn, trở thành một trận quyết chiến chiến lược, một bước ngoặt quyết định thay đổi hoàn toàn cục diện chiến tranh.
 




---------------------------------------------------------------
1. Tham dự gồm các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Duy Trinh, Lê Thanh Nghị, Văn Tiến Dũng, Trần Quốc Hoàn, Lê Đức Thọ (đồng chí Lê Duẩn  và đồng chí Võ Nguyên Giáp vì lý do sức khỏe và đi chữa bệnh nên vắng mặt). Các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng và Ủy viên Quân ủy Trung ương: Tố Hữu, Lê Văn Lương, Song Hào, Nguyễn Văn Vịnh, Trần Quý Hai. Ngoài ra còn có Cục trưởng Tình báo Lê Trọng Nghĩa,  Cục trưởng Cục Tác chiến Lê Ngọc Hiền và đại diện các chiến trường Đường 9 - Bắc Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Khu 5, Tây Nguyên và Nam Bộ.


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Năm, 2020, 02:33:26 pm
CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY MẬU THÂN 1968 -
THÀNH QUẢ CHỈ ĐẠO CHIẾN TRANH NHÂN DÂN CỦA ĐẢNG



PGS.TS. VŨ QUANG HIỂN
Khoa Lịch sử,
Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội

Để giành thắng lợi trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Việt Nam thực hiện đường lối chiến tranh nhân dân, với tư tưởng chiến lược tiến công, phương châm chiến lược đánh lâu dài và nghệ thuật giành thắng lợi từng bước, đặc biệt là giành thắng lợi quyết định, làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ để buộc chúng đi vào đàm phán và rút quân.

Trên cơ sở những biến chuyển của tình hình chiến trường sau hai mùa khô 1965-1966 và 1966-1967, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam quyết định đưa cuộc chiến tranh nhân dân lên đỉnh cao, phát triển từ cục bộ thành toàn bộ, mở cuộc "Tổng công kích, tổng khởi nghĩa" trên toàn miền Nam, nhằm hướng chủ yếu là các đô thị.

Mặc dù không đạt mục tiêu tối đa, thậm chí bị tổn thất nhiều về lực lượng trong các đợt 2 và 3, nhưng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 đã tạo ra bước ngoặt đi xuống của đế quốc Mỹ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, đồng thời mở ra bước phát triển có ý nghĩa chiến lược của chiến tranh nhân dân, đưa cuộc kháng chiến của nhân dân ta chuyển sang giai đoạn mới với đặc điểm nổi bật là kết hợp đấu tranh trên ba mặt trận: quân sự, chính trị và ngoại giao. Đó chính là thành quả lãnh đạo, chỉ đạo chiến tranh nhân dân của Đảng, đặc biệt là chỉ đạo thực hiện phương châm chiến lược đánh lâu dài, đồng thời tranh thủ thời cơ giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn, từng bước đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc đến thắng lợi, thống nhất đất nước đến thành công.

1. Chỉ đạo phát triển chiến tranh nhân dân từ cục bộ thành toàn bộ, giành thắng lợi quyết định

Với phong trào "Đồng khởi" (1959-1960), cách mạng miền Nam phát triển thành chiến tranh cách mạng. Để giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến trước quân xâm lược là một cường quốc có tiềm lực kinh tế và quân sự mạnh nhất thế giới, có chiến lược toàn cầu, mà trọng tâm trong thời kỳ 1954-1975 là xâm lược Việt Nam, thì không thể chỉ cần có tinh thần quyết đánh và quyết thắng, mà còn phải biết đánh và biết thắng.

Đi từ giành thắng lợi từng bước tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn là một quy luật của đấu tranh cách mạng. Để giành thắng lợi trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, Việt Nam cần có một thắng lợi quyết định, nhằm tạo ra bước ngoặt của chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước.

Ý tưởng giành thắng lợi quyết định bằng một cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa đã xuất hiện trong tư duy quân sự của Đảng từ rất sớm, ngay trong giai đoạn Mỹ tiến hành chiến lược "chiến tranh đặc biệt" ở miền Nam 1. Trung ương Cục miền Nam (tháng 1-1965) đã sớm xác định: Mỹ có thể đưa thêm quân vào miền Nam, "nên cần chuẩn bị tư tưởng thật vững vàng trong tình thế quyết thắng giặc Mỹ. Chống các loại tư tưởng ngán Mỹ, sợ Mỹ và sợ lâu dài ác liệt, ảo tưởng hòa bình".

Đúng như nhận định trên, từ năm 1965, thực hiện chiến lược "chiến tranh cục bộ", Mỹ ồ ạt đưa quân vào miền Nam Việt Nam, liên tiếp mở hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 và 1966-1967 nhằm "bẻ gãy xương sống Việt cộng", đồng thời tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc. Cùng với việc leo thang chiến tranh, trong tuyên bố Baltimore (ngày 8-4-1965), Tổng thống Giônxơn còn đề nghị "đàm phán không điều kiện" nhằm che đậy hành động xâm lược và đánh lạc hướng dư luận quốc tế.

Trong khi Mỹ đang hăm hở giành thắng lợi bằng quân sự thì Việt Nam chưa thể sử dụng giải pháp ngoại giao 2. Vì thế, cần có một thắng lợi quyết định, làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ.

Phương hướng tiến công vào thành phố được các nhà lãnh đạo Việt Nam nghĩ đến khá sớm. Trong thư của Tổng Bí thư Lê Duẩn gửi Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (tháng 2-1965) có viết: "Vấn đề hiện nay của chúng ta là tiếp tục mở rộng sự kiểm soát tại vùng nông thôn và chuẩn bị thực hiện một cuộc tổng khởi nghĩa. Các đô thị sẽ trở thành điểm trọng tâm cho cuộc tổng khởi nghĩa sắp tới".

Tư tưởng giành thắng lợi quyết định tiếp tục được Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (3-1965) khẳng định. Trung ương Cục miền Nam ra Nghị quyết về công tác chính trị tư tưởng (cuối tháng 3-1965), xác định quyết tâm đánh thắng chiến lược "chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ.

Tháng 4-1965, Bí thư Trung ương Cục miền Nam chỉ rõ: "Đánh một kẻ thù như đế quốc Mỹ không phải dễ dàng, không phải chỉ đem gan góc ra mà phải có đường lối chiến lược, chiến thuật giỏi" . Vì thế, cần phải thấu triệt và vận dụng sáng tạo các quan điểm cơ bản của Đảng về chiến tranh nhân dân ở miền Nam, mà trước hết là quan điểm thực tiễn. Theo đồng chí, phải vận dụng quan điểm toàn diện để đánh giá so sánh lực lượng giữa nhân dân Việt Nam và đế quốc Mỹ. "Nếu tính toán đầu người, đầu súng, mật độ hỏa lực pháo binh, máy bay, cơ giới... của địch một cách máy móc, sách vở thì không thể tìm ra đáp án đúng cho các kế hoạch tác chiến của ta".

Sau những trận đầu thắng Mỹ ở Núi Thành (Quảng Nam) và Vạn Tường (Quảng Ngãi), đồng chí Lê Duẩn - Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam - chỉ rõ: "Nếu trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của Liên Xô, trận Xtalingrát là một bước ngoặt chứng tỏ rằng quân phát xít Hítle không phải là không thể đánh bại được, thì chúng ta có thể coi trận Vạn Tường là bước ngoặt, chứng minh một cách hùng hồn rằng Quân giải phóng miền Nam hoàn toàn có khả năng đánh bại được quân đội Mỹ trong điều kiện chúng có ưu thế tuyệt đối về binh khí, hỏa lực so với Quân giải phóng".

Phong trào "Thi đua đánh Mỹ, diệt ngụy" dâng lên sôi nổi khắp miền Nam 3, chứng tỏ "quân và dân ta ở miền Nam có đủ khả năng đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ dù chúng đưa thêm vào miền Nam mấy chục vạn quân nữa". Đó là cơ sở thực tiễn để Hội nghị lần thứ 12 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 12-1965) xác định chủ trương và nêu cao quyết tâm đánh Mỹ và thắng giặc Mỹ.

Các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam từng bước bẻ gãy các cuộc phản công chiến lược quy mô lớn của Mỹ trong hai mùa khô 1965-1966 và 1966-1967. Đại sứ C. Lốt (Cabot Lodge) báo cáo về Mỹ rằng: "Mỹ không tiêu diệt được một đơn vị chính quy nào của Việt cộng, không ngăn chặn được du kích phát triển, lực lượng Mỹ không khắc phục được tình hình ngày càng xấu đi, quân đội Sài Gòn giảm chất lượng nhanh chóng và vẫn bị động".

Tháng 6-1967, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương bàn định một bước đi có ý nghĩa quyết định, khai thác "yếu tố chính trị" 4 diễn ra ở Mỹ năm 1968, tạo bước ngoặt của cuộc chiến tranh, nhằm làm cho Mỹ phải nản chí và bỏ cuộc. Trong các tháng 7 và 8-1967, Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu bắt đầu xây dựng kế hoạch tác chiến chiến lược năm 1968 theo tinh thần Nghị quyết Bộ Chính trị và Chỉ thị của Quân ủy Trung ương. Trong tương quan lực lượng về quân sự trên chiến trường, việc đánh tiêu diệt cấp chiến dịch, chiến lược là điều không khả thi, mà cần phải "tìm cách đánh mới khác cách đánh truyền thống là đánh bại ý chí xâm lược của Mỹ bằng phương pháp tổng tiến công, đồng loạt đánh vào các trung tâm đầu não chính trị, quân sự ở các thành phố, thị xã. Tiến công vào các thành phố, thị xã sẽ tạo ra bất ngờ lớn đối với địch, làm đảo lộn thế bố trí chiến lược của chúng, làm rung chuyển nước Mỹ. Qua đó, ta chứng minh cho Mỹ thấy chúng không thể thắng trong cuộc chiến tranh này, chúng đang đứng trước nguy cơ thất bại hoàn toàn, do đó phải tìm giải pháp chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược, rút ra khỏi cuộc chiến tranh Việt Nam".

Tháng 12-1967, Bộ Chính trị quyết định mở cuộc tổng công kích và tổng khởi nghĩa nhằm giáng một đòn quyết liệt vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ. Nghị quyết của Bộ Chính trị được Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 1-1968) thông qua với tiêu đề Anh dũng tiến lên, thực hiện tổng công kích và tổng khởi nghĩa, giành thắng lợi quyết định cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước. Trung ương Đảng quyết định "chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ tiến công và nổi dậy giành thắng lợi quyết định". Nghị quyết Trung ương 14 nhấn mạnh: "cuộc tổng công kích và tổng khởi nghĩa sắp tới sẽ là một giai đoạn, một quá trình tiến công chiến lược rất mãnh liệt và phức tạp, kết hợp tiến công quân sự với tiến công chính trị, thực hành ba mũi giáp công trên cả ba vùng chiến lược và phối hợp với tiến công ngoại giao. Đó là một giai đoạn bao gồm nhiều chiến dịch lớn của lực lượng vũ trang cách mạng ở các vùng chiến lược quan trọng kết hợp với những cuộc nổi dậy dưới nhiều hình thức của quần chúng nhân dân cách mạng ở các thành thị và vùng nông thôn còn bị tạm chiếm, bao gồm những cuộc công kích kết hợp với những cuộc khởi nghĩa tại "đô thành" của địch và các thành phố lớn...".

Phương án tổng công kích, tổng khởi nghĩa do Bộ Tổng Tham mưu soạn thảo và được Quân uỷ Trung ương nhất trí đã xác định ba chiến trường trọng điểm là Sài Gòn - Gia Định, Đà Nẵng và Huế. Hướng phối hợp chiến lược quan trọng là Đường 9 - Khe Sanh 5.

Như vậy, ý đồ giành thắng lợi quyết định của Đảng xuất hiện từ những năm chiến đấu chống chiến lược "chiến tranh đặc biệt" và hình thành rõ nét sau thắng lợi trong hai mùa khô chống chiến lược "chiến tranh cục bộ". Từ giữa năm 1967 đến đầu năm 1968, Trung ương Đảng ngày càng thấy rõ sự cần thiết và đi đến quyết định táo bạo, độc đáo, chọn hướng chiến lược hiểm và dùng cách đánh mới, bất ngờ giáng đòn quyết liệt vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, làm cho cuộc chiến tranh cách mạng phát triển từ cục bộ thành toàn bộ.




--------------------------------------------------------------
1. Hội nghị Bộ Chính trị (cuối năm 1962) phân tích tình hình, chỉ rõ khả năng "cần phải ra sức súc tích và biết che giấu lực lượng, nắm vững thời cơ để có thể tiến tới tổng công kích, tổng khởi nghĩa đánh đổ chính quyền Mỹ - Diệm, làm thất bại âm mưu xâm lược của đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam" (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, t.24, tr.908). Tháng 12-1963, Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhận định "tổng công kích, tổng khởi nghĩa sẽ là hướng phát triển tất yếu của cách mạng miền Nam để đạt tới toàn thắng" trước khi Mỹ quyết định có điều quân Mỹ tới cứu chế độ Việt Nam Cộng hòa hay không. Trong khi vẫn khẳng định phương châm chiến lược đánh lâu dài, Hội nghị chủ trương cần một nỗ lực tối đa nhằm "tranh thủ thời cơ thuận lợi, tập trung lực lượng, quyết tâm giành cho được những thắng lợi có tính chất quyết định trong mấy năm tới". Hội nghị chỉ rõ nhiệm vụ chiến lược của các lực lượng vũ trang tại miền Nam là "làm tan rã quân đội tay sai, công cụ chủ yếu của chế độ địch, tạo điều kiện để thực hiện tổng công kích và tổng khởi nghĩa, lật đổ chính quyền phản động ở miền Nam" (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.24, tr.822, 839, 840).

2. Việt Nam quyết tâm chiến đấu với khẩu hiệu "Không có gì quý hơn độc lập, tự do" và chưa đề cập tới vấn đề đàm phán. Lập trường cứng rắn đó thể hiện trong Tuyên bố bốn điểm ngày 8-4-1965 của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: 1- Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam; 2- Mỹ rút hết quân ra khỏi miền Nam Việt Nam; 3- Mỹ thừa nhận: Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là một thực thể chính trị để thương lượng; 4- Hai miền Nam, Bắc Việt Nam không có liên minh quân sự với nước ngoài. Công việc nội bộ của Việt Nam do nhân dân Việt Nam tự giải quyết (Báo Nhân dân, số ra ngày 5-4-1965).

3. Sau chiến thắng Vạn Tường, quân và dân miền Nam tiếp tục tiến lên giành được những thắng lợi mới ở Đất Cuốc, Plâyme, Bàu Bàng,...

4. Nội bộ giới cầm quyền và giới chính trị Mỹ có sự phân hóa. Trong khi phái "chủ chiến" yêu cầu tăng quân và mở rộng đánh phá miền Bắc Việt Nam, thì phái ôn hòa lại muốn tìm một giải pháp hòa bình. Năm 1968 là năm diễn ra cuộc bầu cử tổng thống ở nước Mỹ. Đây là lúc sức ép của vấn đề chiến tranh Việt Nam ở Mỹ gia tăng, phong trào phản đối chiến tranh của nhân dân Mỹ lên mạnh.

Trước Tết Mậu Thân 10 ngày, Quân giải phóng nổ súng mở màn Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh, tấn công tập đoàn cứ điểm Khe Sanh, buộc Mỹ điều lực lượng chủ lực đối phó, đánh lạc hướng để giữ bí mật hướng trọng điểm.


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Năm, 2020, 02:47:49 pm
2. Chỉ đạo nâng đấu tranh ngoại giao thành một mặt trận, tạo điều kiện và phối hợp với các mặt trận quân sự và chính trị, chuẩn bị giành thắng lợi quyết định

Trên cơ sở thắng lợi về quân sự và chính trị trên chiến trường trong hai mùa khô 1965 - 1966 và 1966 - 1967, nhận thấy khả năng phát huy vai trò tích cực và chủ động của đấu tranh ngoại giao, Hội nghị lần thứ 13 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 1-1967) quyết định nâng đấu tranh ngoại giao thành một mặt trận 1. Đó là một trong những quyết sách quan trọng thể hiện sự linh hoạt, mềm dẻo trong sách lược và giữ thế chủ động trong đấu tranh ngoại giao, nhằm phối hợp và hỗ trợ cho đấu tranh quân sự và chính trị trên chiến trường 2.

Không thể "bẻ gãy xương sống của Việt cộng", lại bị động trước những động thái ngoại giao của Việt Nam, giới cầm quyền và giới chính trị Mỹ có sự phân hóa. Trong khi phái "chủ chiến" yêu cầu tăng quân và mở rộng đánh phá miền Bắc Việt Nam, thì phái ôn hòa lại muốn tìm một giải pháp hòa bình. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ tỏ ra chán nản về kết quả hoạt động quân sự cũng như những tổn thất về sinh lực và phương tiện chiến tranh của Mỹ và lo ngại khả năng có thể mở rộng chiến tranh với các đồng minh của Việt Nam. Mắc Namara nhiều lần đưa ra kiến nghị rút quân Mỹ về nước 3. Ngược lại, phái "diều hâu" lại muốn tăng cường chiến tranh. Tại cuộc họp kín với Ủy ban quân lực của Quốc hội Mỹ (ngày 16-11-1967), tướng Oétmolen cho rằng, Mỹ có thể quét sạch đối phương ra khỏi miền Nam Việt Nam trong hai năm nữa. Oétmolen đề nghị Tổng thống Giônxơn tăng thêm quân để giành chiến thắng về quân sự ở Nam Việt Nam.

Cho dù cuộc tranh luận trong nội bộ chính quyền Mỹ kéo dài, nhưng tình hình thực tế buộc Tổng thống Giônxơn phải tính đến việc xuống thang chiến tranh: không tăng thêm nhiều quân tới Nam Việt Nam, không đưa lục quân mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, đồng thời chấp thuận cho Mắc Namara nhờ một số nhân vật làm trung gian tiếp xúc với Hà Nội để đàm phán 4. Tư duy của Giônxơn bắt đầu xuất hiện bước lùi đáng kể.

Trong khi đó, dư luận thế giới đều tập trung ủng hộ lập trường của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đòi Mỹ phải chấm dứt ném bom miền Bắc. Nhiều đồng minh của Mỹ như Pháp, Hà Lan, Bỉ, Na Uy..., nhiều nhân vật quốc tế quan trọng như Tổng Thư ký Liên hợp quốc, Đức Giáo hoàng,... đều không đồng tình với lập trường của Mỹ. Chính Giônxơn cũng thấy rằng: "Tất cả những người nào trên thế giới được Hoa Kỳ vận động hoặc tự chủ động làm, dù là người Ba Lan, người Ý, người Thụy Điển, người Ấn Độ, ông Tổng Thư ký Liên hiệp quốc hay các nhà báo nào đó đều có tư tưởng cho rằng điều mà Việt Nam đề nghị là duy nhất đúng chứ không phải điều Hoa Kỳ đề nghị là đúng".

Mặc dù tình hình chiến trường, quốc tế và trong nước đều không có lợi cho chính quyền Mỹ trong việc theo đuổi cuộc chiến tranh Việt Nam, nhưng phái "diều hâu" vẫn quyết giành thắng lợi bằng quân sự. Con đường đàm phán hòa bình đã xuất hiện chập chờn trong một số người có đầu óc thực tế ở Mỹ, nhưng vẫn còn xa vời. Tổng thống Giônxơn vẫn chưa có quyết định dứt khoát, trước những đề nghị của Mắc Namara.

Ngày 28-12-1967, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh tuyên bố với nội dung: sau khi Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống lại nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ nói chuyện với Mỹ về những vấn đề có liên quan.

Từ chỗ buộc đế quốc Mỹ "có thể nói chuyện" (ngày 28-1-1967) đến "sẽ nói chuyện" (ngày 28-12-1967) là một bước tiến mới của ngoại giao Việt Nam. Việc đàm phán với Mỹ không chỉ còn là một khả năng, mà đã được khẳng định. Tuyên bố đó có tác dụng đẩy Mỹ tiếp tục đi vào thế xuống thang không thể từ chối, đồng thời phối hợp với dư luận thế giới đang đòi Mỹ chấm dứt ném bom để đi vào đàm phán, nhưng điều quan trọng hơn là những động thái ngoại giao của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong năm 1967 đã làm cho Mỹ mất phương hướng, không thể đánh giá đúng khả năng đánh lớn của Việt Nam, giúp Việt Nam che giấu ý đồ tiến công chiến lược vào dịp Tết Mậu Thân 1968 và tạo bất ngờ cho phía Mỹ.

Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng xác định nhiệm vụ của đấu tranh ngoại giao "phải nhằm tiến công địch trong lúc chúng đang lúng túng, bị động cả về quân sự và chính trị; đồng thời phải mở đường cho địch đi vào thương lượng theo hướng có lợi nhất cho ta. Phải chuẩn bị những phương án cần thiết để khi tình hình bắt buộc địch phải thương lượng với ta thì ta có thể luôn luôn giữ vững thế chủ động trong quá trình đàm phán".

3. Chỉ đạo mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, đánh thẳng vào sào huyệt của đối phương, mở ra bước ngoặt của cuộc chiến tranh

Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy được chuẩn bị tích cực. Tết Mậu Thân 1968, các lực lượng vũ trang giải phóng và dân miền Nam đồng loạt tiến công và nổi dậy, nhằm hướng chủ yếu là các đô thị, đánh vào hầu hết các cơ quan đầu não của Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hoà. Theo sách giáo khoa của Học viện Quân sự West Point (Mỹ), "Điều đầu tiên cần nói về cuộc tổng tiến công là tình báo của đồng minh (tức tình báo Sài Gòn - T.G) đã thất bại ngang với trận Trân Châu Cảng năm 1941 và trận tiến công Ardennes năm 1944. Việt Nam đã giành được sự bất ngờ hoàn toàn".

Bằng một chiến lược tổng hợp của chiến tranh nhân dân Việt Nam: kết hợp lực lượng chính trị với lực lượng vũ trang; kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang; kết hợp khởi nghĩa vũ trang với chiến tranh cách mạng; kết hợp ba mũi giáp công: quân sự, chính trị và binh vận; kết hợp làm chủ để tiêu diệt địch với tiêu diệt địch để giành quyền làm chủ..., cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 đã tận dụng được yếu tố bí mật, bất ngờ, giành nhiều thắng lợi to lớn và toàn diện.

Mặc dù không đạt được kết quả tối đa, nhưng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đã làm choáng váng cả nước Mỹ và chấn động dư luận thế giới. Theo Kítxinhgiơ, sự kiện Tết Mậu Thân đã "làm cho toàn bộ chiến lược đang lên của Hoa Kỳ bị lật nhào".

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 chứng tỏ nhân dân miền Nam không ủng hộ Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Bộ Tổng Tham mưu quân đội Sài Gòn thừa nhận: "Các khu phố dân sự lại bỏ ngỏ cho địch thao túng, để cho chúng dấy động lên những hoạt động chính trị trong suốt thời gian chiếm đóng" . Hãng AP ngày 6-2-1968 đưa tin: "Hai nhà ngoại giao Nhật chứng kiến cuộc tấn công của cộng sản vào Huế nói: họ có cảm tưởng là dân chúng đồng tình với Việt cộng. Họ cho biết rằng khi Việt cộng vào Huế thì họ được quần chúng hoan nghênh... Dân chúng không có gì tỏ ra là sợ hãi và hình như họ quá thân thuộc". Hãng AFP ngày 7-2-1968 cho biết: tại thành phố Huế "bộ máy cổ động chính trị và hệ thống hoạt động bí mật ở nội thành của Mặt trận đã bắt tay hoạt động. Rõ ràng là Mặt trận có thể tổ chức mạnh mẽ trong thành phố này và họ có thể huy động rất nhiều người tự nguyện ra làm việc cho họ".

Sự kiện Tết Mậu Thân đã làm nản chí những người thuộc phái diều hâu ở Mỹ. Cliffort, một con người "cứng rắn", kẻ "diều hâu" nhất trong phái "diều hâu", được Tổng thống Giônxơn chọn thay cho Mắc Namara làm Bộ trưởng Quốc phòng (ngày 1-3-1968), lại chính là người muốn Mỹ rút ra khỏi cuộc chiến tranh một cách cương quyết nhất. Tại cuộc tham khảo ý kiến ngày 25 và 26-3-1968, "phần đông nhóm cố vấn cấp cao tán thành chấm dứt leo thang và có những biện pháp đi đến tách ra khỏi chiến tranh, đi từ hạn chế ném bom Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho đến giảm các lực lượng Mỹ và chuyển giao nhiều trách nhiệm chiến tranh cho Việt Nam Cộng hòa". Tết Mậu Thân "làm cho phe chống đối mạnh lên. Mùa hè năm 1968, những người Mỹ nghĩ rằng, gửi quân sang Việt Nam là một sai lầm đã vượt xa những người ủng hộ" . Cựu Tổng thống Mỹ Aixenhao nói: "Tôi chưa bao giờ gặp phải một tình thế đáng buồn như tình cảnh hiện nay của nước Mỹ bị chia rẽ sâu sắc về một cuộc chiến tranh" .

Trước sức ép từ nhiều phía, Tổng thống Giônxơn quyết định không tăng thêm quân Mỹ tới Việt Nam theo yêu cầu của Oétmolen. Ngày 31-3-1968, Giônxơn tuyên bố xuống thang chiến tranh: ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 20 trở ra; không tham gia tranh cử tổng thống nhiệm kỳ thứ hai; sẵn sàng đàm phán với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để đi đến kết thúc chiến tranh; mở rộng lực lượng quân sự của Sài Gòn để họ có thể dần dần thay thế vai trò của Mỹ.

Tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra của Giônxơn chưa đáp ứng đầy đủ những yêu cầu của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Mỹ phải chấm dứt hoàn toàn bắn phá miền Bắc và mọi hành động chiến tranh chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà), nhưng nó thể hiện rõ sự thay đổi chiến lược của Mỹ: xuống thang chiến tranh. Để thúc đẩy xu thế đó và phối hợp với hoạt động quân sự trên chiến trường, ngày 3-4-1968, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố "sẵn sàng cử đại diện của mình tiếp xúc với đại diện của Mỹ nhằm xác định với phía Mỹ việc Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom và hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để có thể bắt đầu cuộc nói chuyện" 5.

 Như vậy, từ chỗ leo thang chiến tranh phá hoại miền Bắc với quy mô ngày càng lớn, cường độ ngày càng ác liệt, đế quốc Mỹ đã phải quyết định xuống thang chiến tranh, đơn phương ngừng ném bom và ngồi vào bàn đàm phán. Từ chỗ ồ ạt đổ lực lượng quân sự vào miền Nam để tiến hành chiến lược "chiến tranh cục bộ", Mỹ phải tính đến việc rút quân viễn chinh khỏi miền Nam bằng cách tuyên bố "phi Mỹ hoá" chiến tranh, tiến tới thực hiện chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh". Những động thái đó chứng tỏ bước ngoặt đi xuống của Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Tướng Oétmolen, Tổng Chỉ huy quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam thừa nhận: "Việt cộng đã đưa chiến tranh đến các thành phố, các đô thị, đã gây thương vong thiệt hại và nền kinh tế bị phá hoại... các trung tâm huấn luyện bị đóng cửa. Nói theo quan điểm thực tế thì chúng ta phải công nhận đối phương đã giáng cho Chính phủ Nam Việt Nam một cú đấm nặng nề" . Nhà sử học Mỹ G. Kôncô (Gabriel Kolko) đánh giá thắng lợi của Tết Mậu Thân 1968: "Cuộc tiến công đã đem lại tất cả những quá trình này đến đỉnh điểm và theo quan điểm này Cộng sản đã đạt tới một lợi thế quyết định trong toàn bộ cuộc chiến đấu của họ".

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 là thành quả chỉ đạo chiến tranh nhân dân của Đảng, một thắng lợi của tư tưởng chiến lược tiến công và nghệ thuật giành thắng lợi từng bước, của nghệ thuật tạo bất ngờ trên cả ba phương diện: chiến lược quân sự, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật; có ý nghĩa chính trị và quân sự to lớn, làm cho ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ bị lung lay, "tạo nên bước ngoặt quyết định của chiến tranh", đưa chiến tranh cách mạng Việt Nam phát triển sang thời kỳ mới với cục diện "vừa đánh vừa đàm" và đặc điểm nổi bật là sự kết hợp đấu tranh trên ba mặt trận: quân sự, chính trị và ngoại giao. Nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng "Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 vẫn giữ một vị trí rất to lớn và oanh liệt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam anh hùng".





--------------------------------------------------------------
1. Nghị quyết Hội nghị 13 khẳng định: "Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta hiện nay, đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam là nhân tố chủ yếu quyết định thắng lợi trên chiến trường, làm cơ sở cho thắng lợi trên mặt trận ngoại giao. Chúng ta chỉ có thể giành được trên bàn hội nghị những cái mà chúng ta đã giành được trên chiến trường. Tuy nhiên, đấu tranh ngoại giao không chỉ đơn thuần phản ánh cuộc đấu tranh trên chiến trường, mà trong tình hình quốc tế hiện nay với tính chất cuộc chiến tranh giữa ta và địch, đấu tranh ngoại giao giữ một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động". Hội nghị đề ra nhiệm vụ trước mắt của mặt trận ngoại giao là "cần tập trung vào khẩu hiệu đòi Mỹ phải chấm dứt không điều kiện và vĩnh viễn việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa" (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.28, tr.174, 176).

2. Từ năm 1966 trở về trước, phía Việt Nam nhiều lần tuyên bố đòi Mỹ phải rút hết quân ra khỏi miền Nam trước khi có bất cứ một cuộc nói chuyện nào giữa Việt Nam và Mỹ, thì giờ đây, sau khi đã tạo được thế và lực trên chiến trường, ngày 28-1-1967, thực hiện sách lược đấu tranh mới, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố "có thể nói chuyện" với Hoa Kỳ sau khi Hoa Kỳ chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

3. Đầu năm 1967, Mắc Namara kiến nghị với Tổng thống Giônxơn về việc ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam phía trên vĩ tuyến 20. Tháng 8-1867, ông nói tại Ban Quân lực Thượng nghị viện: "Tính chất khốc liệt và kéo dài của cuộc chiến tranh ở Nam Việt Nam tạo ra mong muốn phải thay đổi nó bằng một kiểu oanh kích mới chống Bắc Việt Nam. Nhưng dù mong muốn thế nào, một sự thay đổi như vậy đối với tôi là hoàn toàn ảo tưởng. Theo đuổi mục tiêu này không chỉ là điều vô vọng mà còn mạo hiểm sinh mạng Mỹ và dân tộc chúng ta, đó là điều tôi không thể không kiến nghị" (Mắc Namara: Nhìn lại quá khứ - Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.287). Tháng 11-1967, Mắc Namara lại kiến nghị với Tổng thống Mỹ "ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam. Tuyên bố không tiếp tục gửi quân sang miền Nam Việt Nam và xem xét những cuộc hành quân quân sự của Mỹ nhằm giảm bớt thương vong, giảm bớt sự tàn phá đất nước Việt Nam và chuyển vai trò ngày càng lớn lao cho lực lượng quân sự miền Nam Việt Nam" (Don Oberdorfer: Tết, Nxb. Tổng hợp An Giang, 1998, tr.58-61).

4. Giônxơn cho Bộ trưởng Quốc phòng Mắc Namara, Bộ trưởng Ngoại giao Đin Ratxcơ dùng Kítxinhgiơ thông qua Maccôvích va Ôbrắc (là hai người Pháp) tiếp xúc với Hà Nội trình bày quan điểm của Mỹ về chấm dứt ném bom để đàm phán (kế hoạch Pensyvannia). Kế hoạch này kéo dài 2 tháng, nhưng không thành. Tuy nhiên, nhóm chủ hòa đề nghị duy trì kênh tiếp xúc đó và đưa thành đề nghị công khai với "công thức San Antôniô" - thể hiện qua tuyên bố của Giônxơn ngày 29-9-1967 tại Hội nghị lập hiến toàn quốc tại San Antôniô: "Mỹ sẵn sàng ngừng mọi hành động bắn phá bằng không quân và hải quân trên miền Bắc Việt Nam khi nào sáng kiến này nhanh chóng dẫn tới cuộc thảo luận có hiệu quả".


5. Sau khoảng một tháng trao đổi ý kiến về địa điểm cuộc tiếp xúc Việt - Mỹ, ngày 13-5-1968, cuộc đàm phán chính thức tại Pari giữa hai đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ bắt đầu. Đến tháng 11-1968, Mỹ ngừng ném bom hoàn toàn miền Bắc. Ngày 25-1-1969, Hội nghị Pari với sự tham gia của bốn bên khai mạc.


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Năm, 2020, 01:29:11 pm
NHẬN DIỆN THẦN KHÍ LỊCH SỬ CỦA SỰ KIỆN MẬU THÂN 1968



PGS.TS. TRẦN VIẾT LƯU
Vụ trưởng Vụ Tổng hợp, Ban Tuyên giáo Trung ương


1. Nhớ về một số mùa xuân hào hùng của dân tộc

Mùa Xuân năm 40, Hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa, thực hiện lời thề: "Một xin rửa sạch nước thù, Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng"; nhờ đó hiệu triệu được nghĩa khí muôn dân, quét sạch quân Đông Hán (Trung Quốc), lấy lại nền tự chủ cho dòng dõi Vua Hùng. Nối tiếp truyền thống của Hai Bà Trưng, Bà Triệu cũng tỏ rõ chí khí của người phụ nữ Việt Nam với câu nói nổi tiếng: "Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, chém cá kình ở Biển Đông, quét sạch quân Ngô, cởi ách nô lệ chứ không chịu làm tì thiếp người". Mùa Xuân năm 542, Lý Bí cùng các nghĩa binh vùng dậy đánh đuổi quân đô hộ nhà Lương (Trung Quốc); đến mùa Xuân năm 544, sau hai lần đập tan đòn phản công của giặc, Lý Bí tự xưng Hoàng đế (đặt hiệu là Lý Nam Đế), lấy tên nước là Vạn Xuân, với lòng mong ước non sông gấm vóc này mãi trường tồn, hưng thịnh. Mùa Xuân Mậu Tuất 1418, trong cảnh nước nhà rên xiết dưới ngọn lửa hung tàn của giặc Minh, tại nơi núi rừng hiểm trở, hoang vắng của xứ Thanh, Lê Lợi và 18 nghĩa sĩ đã "cắt máu ăn thề", quyết lấy lại giang sơn gấm vóc. Sau 10 năm "nếm mật nằm gai", đốm lửa Lam Sơn đã bùng lên thành cơn bão táp quét sạch bóng quân xâm lăng, mang lại thái bình cho muôn dân. Mùa Xuân Kỷ Dậu 1789, chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa của Hoàng đế Quang Trung đã khiến cho quân Thanh xâm lược "chích luân bất phản, phiến giáp bất hoàn". Sự kiện Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là bản anh hùng ca bất diệt, mang thần khí của lịch sử hào hùng qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.

2. Kết nối mạch nguồn lịch sử để tái hiện thần khí cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968

Trong cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược lần thứ hai ở thế kỷ XI, Lý Thường Kiệt đã phát đi bài "Thơ Thần" trên phòng tuyến sông Như Nguyệt "Nam quốc sơn hà Nam đế cư". Ở thế kỷ XIII, trước vó ngựa hung hãn của quân Mông - Nguyên, Trần Hưng Đạo đã dồn hết tâm lực viết nên Hịch tướng sĩ: "Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức rằng chưa được xả thịt, lột da, nuốt gan, uống máu quân thù; dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, ngàn xác này gói trong da ngựa, cũng nguyện xin làm". Thế kỷ XV, Nguyễn Trãi đã viết trong Đại cáo bình Ngô: "Như nước Đại Việt ta từ trước/ Vốn xưng nền văn hiến đã lâu/ Núi sông bờ cõi đã chia/ Phong tục Bắc - Nam cũng khác". Thế kỷ XVIII, Quang Trung đã khích lệ tinh thần tướng sĩ trước khi bước vào trận quyết chiến với quân Thanh ở Thăng Long: "Đánh cho chúng biết nước Nam anh hùng là có chủ". Đó không còn là lời của riêng Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi hay Quang Trung, mà đó chính là hồn thiêng sông núi qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước oai hùng của dân tộc Việt Nam.

Kế thừa và phát huy truyền thống vẻ vang ấy, ngày 2-9-1945, thay mặt nhân dân cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, trong đó có câu kết: "Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy". Cơ sở vững chắc để Bác Hồ tuyên ngôn đanh thép như vậy, chắc chắn là vì Người đã thấy rõ được sức mạnh truyền thống lịch sử từ cội nguồn dân tộc (tác phẩm đầu tiên Người viết khi về Pác Bó chính là cuốn Lịch sử nước ta), sức mạnh lịch sử của đồng bào ta đã được đốt thành ngọn lửa thần kỳ trong Cách mạng Tháng Tám 1945. Mùa thu Ất Dậu 1945, với những thứ vũ khí rất thô sơ, với một đội quân chính quy mới được thành lập còn non trẻ về kinh nghiệm trận mạc, còn rất mỏng về lực lượng, nhưng nhờ có sự hậu thuẫn của toàn dân, chúng ta đã giành được chính quyền, đó là điều kỳ diệu mà lịch sử Việt Nam viết nên trong những trang sử đấu tranh giải phóng dân tộc ở thế kỷ XX, là ánh hào quang giữa đêm đen chủ nghĩa thực dân, gieo niềm tin cho những dân tộc bị xiềng xích vùng lên giải phóng, thay đổi thân phận. Lời tuyên ngôn đanh thép ấy, lập tức linh nghiệm ngay khi dân tộc ta buộc phải cầm súng đứng lên tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lần thứ hai, đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu". Chiến thắng Điện Biên Phủ là nấc thang mới của ý chí sắt thép từ trong lòng những người áo vải, yêu quê hương, đất nước đã "Rũ bùn đứng dậy sáng lòa", "lấy thân mình lấp lỗ châu mai", ôm súng xông lên ào ào như vũ bão, buộc lũ giặc phải giương cờ trắng trên cái mà chúng gọi là "pháo đài không thể công phá". Chiến thắng Điện Biên Phủ như hồi kèn thắng trận, như khúc khải hoàn ca không chỉ của dân tộc Việt Nam mà còn là tiếng nói của lịch sử nhân loại, bởi sau đó mấy năm đã có gần 20 nước ở Mỹ Latinh và châu Phi vùng lên giành độc lập.

3. Tết Mậu Thân 1968 - Tết của niềm tin tất thắng

Sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, đế quốc Mỹ đã chủ động chuẩn bị cho ván bài quân sự, chính trị, hòng lấy miền Nam Việt Nam làm "chốt chặn" cản bước phát triển của phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á. Khi quân Pháp rút khỏi miền Nam Việt Nam, đế quốc Mỹ đã dựng nên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm. Thay vì tôn trọng Hiệp định Giơnevơ, thực hiện hiệp thương, tổng tuyển cử để thống nhất đất nước Việt Nam, chính quyền Mỹ - Diệm đã dựng lũy thép gai, nhà tù, lê máy chém khắp miền Nam tàn sát dã man đồng bào ta, bắt đồng bào ta phải "tố cộng, diệt cộng"; ngăn cách lòng dân với Đảng, chia cắt lâu dài non sông nước Việt.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (năm 1959) đã tạo ra bước ngoặt của cách mạng miền Nam. Phong trào Đồng khởi vào cuối năm 1959, đầu năm 1960 là luồng sinh khí mới, báo hiệu thắng lợi tất yếu của sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Mùa Xuân Mậu Thân 1968, cả miền Nam Việt Nam vùng lên quật khởi, bên ngoài đánh vào, bên trong nổi dậy; làm rung chuyển bộ máy chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và tay sai, khiến cho Lầu Năm Góc bàng hoàng, sửng sốt, mở ra một bước ngoặt mới trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc của đồng bào hai miền Nam - Bắc Việt Nam. Cho dù cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 chưa giải phóng được miền Nam, nhưng sự kiện này như ngọn lửa bất diệt, thể hiện khát vọng của một dân tộc với chân lý "Không có gì quý hơn độc lập, tự do" trong thời đại Hồ Chí Minh. Sau sự kiện Mậu Thân 1968, đế quốc Mỹ buộc phải ngồi vào bàn đàm phán ở Pari. Nếu như khi quân Mỹ mới đổ bộ vào miền Nam Việt Nam, quân và dân ta không hề run sợ, dám "nắm lấy thắt lưng địch mà đánh", thì trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, dân tộc ta đã cho đế quốc Mỹ thấy rằng, đất này là cõi thiêng của lòng ái quốc, nếu quân xâm lược nếu liều lĩnh xông vào chắc chắn sẽ "không có đường ra".

4. Đôi điều suy ngẫm cho đất nước hôm nay và mai sau

Ở nước Mỹ, có một bức tường đá hình chữ V (gọi là Bức tường tưởng niệm chiến tranh Việt Nam) có ghi danh hơn 58 ngàn lính Mỹ tử nạn hoặc mất tích trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Ở Việt Nam, có vô số nghĩa trang, trong đó lớn nhất là Nghĩa trang Trường Sơn, có nhiều tượng đài chiến thắng, nhưng đáng lưu ý nhất là Tượng đài Mẹ Việt Nam anh hùng ở Quảng Nam. Chiến tranh qua đi, để lại sự mất mát, đau thương cho người dân vô tội. Tết Mậu Thân 1968, Tết của lòng quả cảm, nhưng cũng là Tết của sự mất mát, hy sinh vô bờ bến; khắp cả miền Nam khi đó ào ào nổi dậy như triều dâng thác đổ... khiến cho quân thù không kịp trở tay. Từ trạng thái quân thù muốn tìm mọi cách để đẩy càng xa càng tốt lực lượng cách mạng ra khỏi thành thị, thì chỉ trong khoảnh khắc giao thừa Mậu Thân 1968, tiếng súng của quân ta như hồi kèn xung trận, đưa khí thế cách mạng đến mọi nơi, mọi chỗ trên khắp miền Nam Việt Nam, đẩy quan thầy Mỹ và bè lũ tay sai vào thảm lửa. Nội các Sài Gòn lục đục thay quân đổi tướng, liên minh Mỹ - chính quyền Sài Gòn đổ vỡ niềm tin, chính trường nước Mỹ sôi sục. Thế cờ của Mỹ tại Nam Việt Nam từ đó lâm vào cảnh tiến thoái lưỡng nan, trụ không được muốn rút cũng không xong. Cảm nhận được kết cục bi đát, đế quốc Mỹ buộc phải ngồi vào bàn đàm phán ở Pari để tìm đường rút lui trong danh dự. Cái gì đến rồi cũng phải đến, như lời tiên tri của Bác Hồ ngay ở đầu bản Di chúc thiêng liêng của Người: "Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn" . Niềm tin tất thắng ấy như một sức mạnh tinh thần, tiếp thêm sức mạnh nội sinh cho dân tộc "Tiến lên toàn thắng ắt về ta" trong mùa Xuân 1975 lịch sử. Giờ đây, sau nửa thế kỷ diễn ra sự kiện Mậu Thân 1968, hai nước Việt - Mỹ đã khép lại quá khứ đau thương, để "hướng tới tương lai". Trong chuyến thăm Việt Nam mới đây (12-11-2017), Tổng thống Mỹ đã phát biểu: "Việt Nam là một trong những điều kỳ diệu trên thế giới". Chúng ta cảm ơn những ai đã dành cho Việt Nam sự giúp đỡ chân thành, tôn trọng những ai có lời khen khích lệ, nhưng chắc chắn không vì thế mà kiêu ngạo, ngược lại sẽ luôn ngẩng cao đầu, kiên định trên dặm trường thiên lý. Chúng ta đi lên từ điểm tựa của hào khí ngàn năm giữ nước và dựng nước, dũng mãnh như thuở nào Phù Đổng nhổ tre làng đánh đuổi giặc Ân.


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Năm, 2020, 01:34:02 pm
TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968 TRONG HÀNH TRÌNH
ĐẤU TRANH GIẢI PHÓNG MIỀN NAM, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC



TS. VĂN THỊ THANH MAI
Phó Tổng biên tập Tạp chí Tuyên giáo, Ban Tuyên giáo Trung ương


Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 "là một chủ trương chiến lược đúng đắn và sáng tạo, là một sáng kiến lịch sử của Đảng ta trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước". Sự kiện Mậu Thân là một nhân tố chủ yếu, quyết định buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, chấm dứt ném bom phá hoại miền Bắc và ngồi vào bàn đàm phán Pari, mở đầu cho những thắng lợi quan trọng và cơ hội hòa bình, thống nhất đất nước Việt Nam.

Bị sa lầy trong cuộc chiến ở Việt Nam, song vẫn còn binh lực mạnh và chưa muốn xuống thang chiến tranh, nên đế quốc Mỹ càng điên cuồng muốn dốc toàn lực để phá thế bế tắc. Tuy nhiên, thắng lợi của quân, dân miền Nam trong hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 và 1966-1967 đã làm thất bại một bước quan trọng chương trình "bình định" của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, khiến Mỹ "bị một đòn phủ đầu choáng váng hết sức bất ngờ" và lâm vào thế bị động. Trong bối cảnh đó, Hội nghị Bộ Chính trị tháng 4-1967 chủ trương tiếp tục phát huy thắng lợi và chuẩn bị mọi mặt để đưa cách mạng tiến lên giành thắng lợi mới. Tháng 6-1967, Bộ Chính trị tiếp tục thảo luận kỹ dự thảo kế hoạch chiến lược Đông - Xuân 1967-1968 và nhận định: về phía ta, "thế và lực đang có những tiến bộ, cho phép ta trên cơ sở phương châm đánh lâu dài, đẩy mạnh nỗ lực chủ quan đến mức cao nhất để giành thắng lợi quyết định trong một thời gian tương đối ngắn" . Theo đó, Hội nghị dự kiến sẽ giành thắng lợi quyết định trong năm 1968 theo phương hướng đánh lớn, phải tiêu diệt một bộ phận sinh lực quân Mỹ, làm mất khả năng tiến công của chúng; đồng thời phải tiêu diệt và làm tan rã đại bộ phận quân đội Sài Gòn, khiến cho chúng không còn là lực lượng chiến lược trong tiến công và phòng ngự mà Mỹ dựa vào đó để tiến hành chiến tranh.

1. Tháng 10-1967, Bộ Chính trị họp. Thay mặt Quân ủy Trung ương, đồng chí Văn Tiến Dũng trình bày dự thảo Kế hoạch chiến lược Đông - Xuân - Hè 1967-1968 làm cơ sở cho Bộ Chính trị bàn bạc và thảo luận; quyết định lựa chọn phương án tiến công mới, bất ngờ - đó là đồng loạt đánh mạnh vào các đô thị trên toàn miền Nam. Sau Hội nghị này, tháng 12-1967, Bộ Chính trị đã họp phiên đặc biệt, chính thức thông qua Kế hoạch chiến lược năm 1968 và nhiệm vụ của quân, dân ta; trong đó, chủ trương chuyển cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ giành thắng lợi quyết định. Bộ Chính trị quyết định động viên toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ở cả hai miền Nam - Bắc tập trung và nỗ lực đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên bước phát triển cao nhất bằng "tổng công kích và tổng khởi nghĩa" để giành thắng lợi quyết định.

Đầu năm 1968, các điều kiện về chính trị, quân sự, ngoại giao để mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đã hội đủ. Trong thư gửi Trung ương Cục miền Nam ngày 18-1-1968, đồng chí Lê Duẩn viết: "Từ ba, bốn năm nay ta đã chuẩn bị lực lượng và thế trận cho trận quyết chiến chiến lược này. Song vì nhiều lý do, lực lượng ta chuẩn bị chưa đầy đủ. Tuy vậy, như Trung ương đã phân tích, khi có nhiều thời cơ thuận lợi, nếu chúng ta biết làm và làm đúng, có sự nỗ lực vượt bậc thì lực lượng ít cũng có thể tạo nên sức mạnh, bảo đảm giành thắng lợi rất to lớn, rất quan trọng" . Tiếp đó, tháng 1-1968, Trung ương Đảng thông qua Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 12-1967 về quyết định thực hiện "tổng công kích - tổng khởi nghĩa". Theo đó, hướng tiến công chủ yếu là đô thị; trọng điểm là Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế; mục tiêu tiến công là các cơ quan đầu não chiến tranh của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, các trung tâm chỉ huy, các hậu cứ, vừa tiêu diệt sinh lực địch, vừa phá hủy phương tiện chiến tranh của chúng; phương châm tiến công là quân sự kết hợp với nổi dậy của quần chúng; thời gian tiến công được dự kiến trong dịp Tết Nguyên đán Mậu Thân 1968.

Thực hiện quyết tâm chiến lược của Đảng và nêu cao tinh thần, ý chí cách mạng tiến công, đêm 30 rạng ngày 31-1-1968, quân và dân ta trên toàn miền Nam đã tiến công và nổi dậy tại các thành phố, thị xã, trọng tâm là Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế, các căn cứ quân sự, sân bay, bến cảng, kho tàng lớn của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, gây cho địch tổn thất lớn. Do bị bất ngờ, địch bị động, đối phó lúng túng ở tất cả các vùng chiến lược; quân ta đã đánh chiếm và làm chủ nhiều địa bàn trong nhiều ngày.

Tại Sài Gòn - Gia Định, ta tiến công vào các mục tiêu quan trọng: Đại sứ quán Mỹ, Dinh Độc Lập, Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Tư lệnh hải quân, Đài Phát thanh Sài Gòn, Tổng nha Cảnh sát, Bộ Tư lệnh Biệt khu Thủ đô, sân bay Tân Sơn Nhất... Tại Thừa Thiên Huế, lực lượng vũ trang tiến công vào 40 mục tiêu trong nội, ngoại thành, giải phóng phần lớn thành phố với trên 90% số dân; đánh chiếm hầu hết các vị trí quân sự, đầu não của địch, các đồn bốt, căn cứ hậu cần (trừ căn cứ Phú Bài); tiêu diệt và làm tan rã đại bộ phận quân đội và chính quyền địch, đánh chiếm hai nhà lao và giải thoát trên hai ngàn chiến sĩ cách mạng và quần chúng yêu nước đang bị địch giam cầm; làm chủ gần hết thành phố Huế, giải phóng đại bộ phận nông thôn, v.v.. Tại thành phố Đà Nẵng, đêm 29 rạng ngày 30-1-1968, lực lượng pháo binh, đặc công, bộ binh, biệt động đánh phá các sân bay, trận địa pháo, kho tàng; chiếm một số mục tiêu trong thành phố để hỗ trợ cho quần chúng từ bên ngoài kéo vào phối hợp với quần chúng bên trong nổi dậy giành chính quyền. Tuy nhiên, do việc nắm tình hình chưa chắc, lại bị địch tập trung lực lượng chặn đánh quyết liệt nên phong trào nổi dậy của quần chúng nhân dân bên trong thành phố không thực hiện được theo kế hoạch...

Kết thúc đợt 1 (từ ngày 30-1 đến ngày 25-2-1968), Bộ Chính trị Trung ương Đảng (họp ngày 24-4-1968) đã nhận định: Tổng tiến công và nổi dậy đã giành thắng lợi to lớn, toàn diện, tạo nên bước ngoặt mới trong cục diện chiến tranh hết sức có lợi cho ta, gây bất lợi cho địch; đế quốc Mỹ thất bại nặng nề, ý chí xâm lược đã bị lung lay . Phân tích kết quả đợt 2 (từ ngày 5-5 đến ngày 15-6-1968) và đánh giá chung 2 đợt, Bộ Chính trị (họp tháng 8-1968) nhận định: Chúng ta "đã giành thắng lợi to lớn, toàn diện chưa từng có" ...; và có thể nói, "cuộc tiến công của các lực lượng vũ trang và sự nổi dậy của quần chúng nhân dân ở các thành thị lớn là mũi nhọn thọc vào yết hầu của địch, có tầm quan trọng quyết định đối với toàn bộ chiến trường và toàn cuộc chiến tranh" .

2. Với Mậu Thân, lần đầu tiên, quân và dân ta đã tiến công đồng loạt vào hậu cứ của địch tại các đô thị. Cuộc đọ sức quyết liệt giữa ta và địch trong nhiều tuần, nhiều tháng đã làm thương vong nặng nề cả quân số và phương tiện chiến tranh của địch; làm cho Mỹ - chính quyền Sài Gòn hoang mang, dao động, "làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ", làm phá sản chiến lược "chiến tranh cục bộ" của Mỹ; buộc Chính phủ Mỹ phải chấp nhận rằng không thể dùng lực lượng quân viễn chinh Mỹ để giành chiến thắng trong chiến tranh Việt Nam. Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 đã làm đảo lộn thế bố trí chiến lược của quân Mỹ, làm rung chuyển nước Mỹ và "sau Tết, niềm tin của công chúng (Mỹ) đối với sự lãnh đạo của Tổng thống Giônxơn bị xói mòn nghiêm trọng" .

Sự kiện Tết Mậu Thân cho thấy chính quyền và quân đội Sài Gòn không đủ khả năng đứng vững một cách độc lập để "chống Cộng" như Mỹ - chính quyền Sài Gòn mong muốn. Mậu Thân 1968 là một "thắng lợi có ý nghĩa chiến lược cực kỳ quan trọng, tạo ra một bước ngoặt của cuộc chiến tranh, đánh dấu sự thất bại của chiến lược "chiến tranh cục bộ" của Mỹ, buộc Mỹ phải chuyển sang chiến lược phòng ngự trên toàn chiến trường, phải ngồi vào bàn đàm phán với ta ở Hội nghị Pari; chấm dứt ném bom miền Bắc không điều kiện, chủ trương "phi Mỹ hóa" chiến tranh, mở đầu thời kỳ xuống thang chiến tranh" .

Nhìn nhận về thắng lợi trong cuộc tiến công Mậu Thân, Jeff Stein và Marc Leepson nêu rõ: "Mặc dù Cộng sản bị thiệt hại về mặt quân sự và chịu tổn thất to lớn, nhưng đó là sự tuyên cáo của lịch sử là họ đã giành được thắng lợi chiến lược có ý nghĩa quyết định. Người Mỹ đã bị mất niềm tin vào những dự đoán tốt đẹp của chính quyền Giônxơn và đi đến kết cục là cuộc chiến sẽ phải kéo dài trong nhiều năm nữa" .
Với Mậu Thân, ta có thêm điều kiện để mở mặt trận tiến công ngoại giao, mở ra cục diện "vừa đánh, vừa đàm", buộc Mỹ chấp nhận họp Hội nghị bốn bên ở Pari để giải quyết vấn đề chiến tranh Việt Nam, tạo bước ngoặt quyết định trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta. Ngày 25-1-1969, Hội nghị Pari về Việt Nam với sự tham gia của bốn bên họp phiên đầu tiên, mở ra giai đoạn "vừa đánh, vừa đàm" đúng như dự kiến của Trung ương Đảng.

Để đánh cho "Mỹ cút" rồi tiến tới đánh cho "ngụy nhào", trên cơ sở phân tích tình hình, Bộ Chính trị chủ trương động viên nỗ lực cao nhất của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trên cả hai miền, phát huy thắng lợi đã đạt được, tiếp tục đánh mạnh, buộc Mỹ phải chấp nhận một giải pháp chính trị là rút hết quân, kết thúc chiến tranh. Theo đó, các cuộc tiến công chiến lược của quân và dân ta trên khắp chiến trường miền Nam cuối năm 1971 đầu năm 1972 đã giáng một đòn mạnh vào chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của địch. Đặc biệt, chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không" cuối năm 1972 đã làm thất bại ý đồ "đàm phán trên thế mạnh" của Mỹ. Cuối cùng, sau nhiều trở ngại, ngày 27-1-1973, Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết tại Trung tâm hội nghị quốc tế khách sạn Hoàng gia, đường Klêbe, Pari (Pháp).

Ngày 24-5-1973, Bộ Chính trị họp hội nghị mở rộng, khẳng định quyết tâm: Đoàn kết toàn dân, đẩy mạnh đấu tranh trên ba mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao; kiên quyết đánh bại âm mưu và hành động phá hoại Hiệp định Pari của địch; giữ vững và phát triển lực lượng cách mạng về mọi mặt, chuẩn bị điều kiện đầy đủ nhất để chủ động đối phó với địch trong mọi tình huống, sẵn sàng đưa cách mạng miền Nam tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn. Thấu triệt và phát huy tư tưởng cách mạng tiến công, kiên định quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, tháng 10-1974, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương cùng các đồng chí lãnh đạo chủ chốt trên các chiến trường họp, đã xác định: Đây là thời cơ thuận lợi nhất để nhân dân ta hoàn toàn giải phóng miền Nam, giành thắng lợi trọn vẹn cho cách mạng dân tộc, dân chủ... Ngoài thời cơ này, không có thời cơ nào khác; đồng thời thống nhất kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam. Hướng về miền Nam ruột thịt, ngay từ những tháng cuối năm 1974, quân và dân ta kiên quyết phản công địch, chủ động mở những cuộc tiến công mới, dồn sức mạnh vật chất và tinh thần của hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa chi viện cho tiền tuyến miền Nam, mở ra thời kỳ phát triển nhảy vọt để chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy, giải phóng miền Nam mùa Xuân năm 1975.

Nửa thế kỷ sau sự kiện Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, có thể khẳng định rằng: Đánh giá đúng tình hình thực tiễn, hiểu đúng về lịch sử chính là thiết thực nhân nguồn sức mạnh nội sinh của toàn dân tộc trong cuộc đấu tranh cho hòa bình, thống nhất đất nước; và đó cũng chính là góp phần phát huy thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân trong hành trình đấu tranh vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong 21 năm đầy gian nan và thử thách tiến hành kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng ta, nhân dân ta đã biết tạo dựng thời cơ và nhạy bén nắm vững thời cơ; kịp thời đề ra chủ trương chiến lược đúng đắn, sáng tạo; biết chọn thời điểm mở những cuộc tiến công chiến lược làm thay đổi cục diện chiến tranh, tiến lên thực hiện tổng tấn công và nổi dậy, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; trong đó, Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là một dấu ấn quan trọng, không thể phai mờ.


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Năm, 2020, 02:01:57 pm
NÉT ĐẶC SẮC VỀ NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ VIỆT NAM
TRONG CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968



Đại tá, PGS.TS. HOÀNG XUÂN NHIÊN
Học viện Quốc phòng


Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược của quân và dân Việt Nam (1954-1975), Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã kế thừa và phát huy lên một tầm cao mới truyền thống đánh giặc và nghệ thuật quân sự của dân tộc Việt Nam. Có được thắng lợi trong Xuân Mậu Thân 1968 là do ta đã giải quyết thành công nhiều vấn đề về chỉ đạo điều hành chiến tranh và nghệ thuật quân sự, trong đó có một nội dung lớn về nghệ thuật tác chiến ở nhiều quy mô, cấp độ khác nhau... Để góp phần làm rõ những nét đặc sắc đó, bài viết đi sâu phân tích một số vấn đề nổi bật được đúc rút trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, chủ yếu trong đợt 1 (tức là đợt Tết Mậu Thân), cụ thể như sau:

Thứ nhất, nghệ thuật nắm bắt thời cơ chiến lược để chủ động tiến công địch, làm chuyển biến cục diện chiến tranh.

Trong tác chiến, thời cơ là một trong các yếu tố cực kỳ quan trọng mà mỗi bên tham chiến cần tích cực tạo ra (tạo thời cơ) hoặc chủ động phát hiện, kịp thời chớp lấy (nắm thời cơ) để làm tăng sức mạnh gấp bội của thế, của lực nhằm giành ưu thế trong chiến tranh, chiến cục hay trong các chiến dịch, trận đánh... Ở vào hoàn cảnh của một nước nhỏ phải chống lại kẻ thù xâm lược lớn có ưu thế vượt trội hơn về nhiều mặt, Đảng ta luôn coi trọng vận dụng yếu tố thời cơ, tích cực tạo ra, nắm bắt thời cơ chiến lược, thúc đẩy và chớp lấy thời cơ có lợi để hạ quyết tâm chiến lược kịp thời, chủ động đánh địch, giành thắng lợi trong cuộc chiến... Cụ thể, ngay từ cuối năm 1965, khi ta nhận thấy đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn chuyển chiến lược từ "chiến tranh đặc biệt" sang "chiến tranh cục bộ", trong Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 12 (12-1965) đã chỉ ra phương hướng giành thắng lợi trong chiến tranh, đó là: Trên cơ sở tiếp tục quán triệt phương châm đánh lâu dài, chúng ta "cần cố gắng đến cao độ, tập trung lực lượng của cả hai miền để tranh thủ thời cơ giành thắng lợi quyết định trong một thời gian tương đối ngắn trên chiến trường miền Nam" 1. Phương châm chiến lược đó đã quán xuyến trong từng chiến dịch, từng đợt hoạt động quân sự và chính trị từ sau năm 1965.

Đồng thời, khi phân tích tình hình địch, Đảng ta cũng nhận thấy: Mặc dù quân số địch lên tới mức cao, nhưng tất cả ưu thế về binh lực, hỏa lực và sức cơ động của chúng bị hạn chế rất nhiều trước thế trận và cách đánh của ta. Những chỗ yếu của địch không được khắc phục mà ngày càng bị khoét sâu thêm, đặc biệt là chỗ yếu về chính trị. Vì thế, mặc dù địch vẫn còn rất chủ quan, nhưng nhìn chung, "xu thế của tình hình trong cả năm 1968 là địch sẽ ngày càng chuyển vào phòng ngự một cách bị động hơn trước" , nhất là "so với mục tiêu chính trị và quân sự có hạn của chúng ở miền Nam thì những cố gắng chiến tranh của Mỹ (cùng với những thiệt hại nặng nề của chúng) ở Việt Nam đã lên tới đỉnh cao"3. Như vậy, địch vẫn đang ở thế thua, thế bị động và khó khăn... đây là một nhận định rất quan trọng, có ý nghĩa lớn để xác định thời điểm tiến hành đòn đánh quyết định trong việc hoạch định kế hoạch chiến lược "Tết Mậu Thân". Đồng thời, Đảng ta còn nhận thấy những khó khăn đó trong nội bộ nước Mỹ càng bị nhân lên khi mà chính quyền Giônxơn đang gặp phải những khó khăn to lớn về chính trị, kinh tế, quân sự, xã hội, ngoại giao do hậu quả bị sa lầy trong chiến tranh Việt Nam và năm vận động bầu cử Tổng thống ở Mỹ đang xích lại gần... Mặt khác, về phía ta, mặc dù ta vẫn còn nhiều khó khăn, nhược điểm (cả về tổ chức lực lượng, về khả năng đánh tiêu diệt lớn, về đảm bảo hậu cần, về phong trào ở đô thị...) nhưng diễn biến cơ bản của tình hình vẫn cho thấy ta đang ở thế thắng, thế chủ động và thuận lợi.

Từ những phân tích, đánh giá diễn biến và xu thế phát triển của tình hình như vậy, Đảng ta đã đi tới nhận định: "Chúng ta đang đứng trước những triển vọng và thời cơ chiến lược lớn. Đế quốc Mỹ đang ở trong tình thế tiến thoái lưỡng nan về chiến lược" . Tình hình đó cho phép chúng ta có thể lợi dụng để buộc Chính phủ Mỹ phải quyết định chấm dứt chiến tranh "có thể chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ tiến công và nổi dậy giành thắng lợi quyết định"...2. Trên cơ sở đó, trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo quân và dân ta ở cả hai miền Nam, Bắc đánh thắng chiến lược "chiến tranh cục bộ", Đảng ta đã luôn luôn kiên định chủ trương "giành thắng lợi quyết định trong một thời gian tương đối ngắn trên chiến trường miền Nam"- chủ trương đó quán xuyến suốt gần ba năm (1965-1967) mà Hội nghị Trung ương 12 (12-1965) và Hội nghị Trung ương 13 (1-1967) đã dự kiến. Do đó, khi phát hiện thấy động thái mới của địch sau mùa khô 1966-1967, Đảng ta đã sớm dự kiến được xu thế phát triển của cuộc chiến tranh, kịp thời phát hiện được thời cơ để hạ quyết tâm chiến lược bằng việc mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Rõ ràng, đây là một quyết định quan trọng sau ba năm tạo thời cơ, chờ đón thời cơ và chớp lấy thời cơ để "giành thắng lợi quyết định trong một thời gian tương đối ngắn trên chiến trường miền Nam" của Bộ Chính trị, Trung ương Đảng. Thực tế cũng đã cho thấy đây là một chủ trương chiến lược đúng đắn và sáng tạo, là một sáng kiến lịch sử của Đảng ta trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước.

Thứ hai, nghệ thuật chọn hướng, mục tiêu và nghi binh lừa địch.

Trong đợt Tết Mậu Thân 1968, hướng tiến công chiến lược chủ yếu của ta là các thành phố, trung tâm đầu não của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, trọng điểm là Sài Gòn - Gia Định, Huế, Đà Nẵng; hướng phối hợp chiến lược quan trọng là mở chiến dịch lớn ở Đường 9 - Khe Sanh nhằm tiêu diệt bộ phận quan trọng sinh lực Mỹ, căng kéo và kìm chân địch trên mặt trận này để hỗ trợ cho hướng tiến công chiến lược chủ yếu, đồng thời nghi binh thu hút địch. Trong đó, hướng tiến công chủ yếu nhằm vào đô thị miền Nam thực sự đã là một bất ngờ lớn, khiến cho địch trên chiến trường không kịp trở tay, khiến cho giới lãnh đạo Mỹ ở Oasinhtơn ngày đó đã phải "sững sờ, choáng váng". Đây là lần đầu tiên trong suốt bao năm ròng kháng chiến, chúng ta đã đưa được chiến tranh vào thành thị; hoạt động đó đã biến hậu phương và hậu cứ của địch thành chiến trường của ta. Đó là một thành công lớn của Đảng trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh - nghệ thuật đánh hiểm, đánh đau, đánh vào "yết hầu", vào "trung ương thần kinh địch". Đòn tiến công của ta đã nhằm trúng vào các cơ quan đầu não trung ương và địa phương của chính quyền Sài Gòn (các Sở chỉ huy, sân bay, bến cảng, kho tàng, căn cứ truyền tin, đầu mối giao thông); đó là các mục tiêu "yết hầu", "huyết mạch", "tim óc" của địch; là những mục tiêu tập trung sinh lực cao cấp của địch, những mục tiêu nhạy cảm nhất trong bộ máy chiến tranh của chúng ở miền Nam; trong đó Tòa Đại sứ Mỹ - nơi biểu trưng cho quyền uy của Mỹ tại miền Nam Việt Nam - đã bị ta tiến công và bị chiếm giữ trong nhiều giờ. Trận đánh vào sứ quán Mỹ vượt xa tầm vóc chiến thuật và ý nghĩa của một trận đánh cụ thể, khi toàn thế giới hướng về đó và phán xét hành động này như thể toàn bộ cuộc chiến tranh sẽ được quyết định bởi việc giành giật quyền kiểm soát "sứ quán" của cả hai bên.

Đặc biệt, các hoạt động nghi binh chiến lược nhằm phân tán lực lượng chủ lực địch, làm lạc hướng sự đề phòng của chúng đã được các cơ quan chỉ đạo chiến lược và các cấp chỉ huy chiến trường của ta triển khai thực hiện: Từ những tháng cuối năm 1967, một số chiến dịch ở vùng ven biên giới, ở Tây Nguyên liên tiếp được mở, các hoạt động quân sự ở vùng ven đô thị và ở vùng nông thôn đồng bằng được duy trì... Các hoạt động đó khiến địch nhận định ta không còn khả năng mở các chiến dịch ở đồng bằng như trước. Trên mặt trận ngoại giao, tháng 12-1967, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố phóng thích 2 tù binh Mỹ và ngỏ ý sẽ đi vào đàm phán với Mỹ. Điều đáng lưu ý là trước đó, chưa bao giờ ta công khai tuyên bố sẽ làm gì nếu Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc. Tín hiệu ngoại giao này càng làm cho nội bộ chính quyền Mỹ bị phân hóa. Nhưng điều quan trọng hơn là giới lãnh đạo Mỹ càng thêm tin tưởng vào "sự suy yếu trên mặt trận quân sự của Việt Nam". Nhất là, bước sang tháng 1-1968, ta đã chủ động mở hai chiến dịch quân sự lớn (một ở Nậm Bạc và một ở Đường 9 - Khe Sanh). Ngay lập tức, Khe Sanh đã thu hút sự chú ý của Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ tại Sài Gòn và giới lãnh đạo Oasinhtơn. Sau này, một tác giả Mỹ là Maicơn Mắclia, đã bình luận rằng: đạn pháo của chủ lực miền Bắc dội xuống Khe Sanh đã "rơi ngay vào thủ đô Oasinhtơn". Giới lãnh đạo Mỹ khi đó nhận định Khe Sanh là một "Điện Biên Phủ" trong ý đồ chiến lược của Bộ Thống soái Việt Nam. Vì vậy, Giônxơn đã lệnh cho Tham mưu trưởng liên quân Mỹ phải cam kết giữ Khe Sanh bằng mọi giá... Chính sự phán đoán sai lầm này của Mỹ đã buộc Mỹ phải chịu hậu quả nặng nề trong dịp Tết Mậu Thân. Rõ ràng, nét đặc sắc về nghệ thuật quân sự trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã thể hiện rất rõ trong nghệ thuật chọn hướng, chọn mục tiêu và nghi binh lừa địch.

Thứ ba, nghệ thuật tiến công bằng phương thức tác chiến mới, giành thế bất ngờ, đưa chiến tranh vào đô thị.

Khi nghiên cứu về lịch sử chiến tranh và nghệ thuật tác chiến, cho thấy: Thông thường, khi chiến tranh sắp đến hồi kết thúc, phía mạnh hơn và chiến thắng mới có thể mở những cuộc tiến công chiến lược lớn vào sào huyệt của đối phương. Thế nhưng, phương thức tác chiến (cách đánh) của ta trong Tết Mậu Thân quả thật là độc nhất vô nhị, nó vượt ra ngoài dự lường và mọi sự tính toán trước đó của Nhà Trắng - Lầu Năm Góc, của Bộ Chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ (MACV) ở Sài Gòn; vì nó diễn ra trong bối cảnh địch leo thang đến đỉnh cao 2; khi mà tướng Oétmolen đang chuẩn bị đợt phản công thứ ba sau những thất bại của quân đội Mỹ trong hai mùa khô (1965-1966 và 1966-1967); lực lượng ta dùng là lực lượng tổng hợp (cả quân sự, chính trị), nhất là lần đầu tiên, ta đã tổ chức và phát động một cuộc tiến công đồng loạt trên khắp chiến trường rộng lớn vào các sào huyệt của địch mà vẫn giữ được bất ngờ đến giờ nổ súng... Bởi vậy, không phải tới bây giờ mà ngay từ ngày đó, một số nhà nghiên cứu Mỹ đã cho rằng vũ khí mạnh nhất của ta trong cuộc tiến công Tết Mậu Thân là sự bất ngờ. Họ đánh giá "Tết Mậu Thân" là cuộc tiến công "xuất thần"; nó đã "chộp đúng" Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ ở miền Nam Việt Nam và giới lãnh đạo Oasinhtơn vào đúng lúc bất ngờ nhất, làm sửng sốt một nước Mỹ vốn đầy kiêu hãnh và tự tin ở tiềm lực quân sự và kinh tế to lớn của mình.

Thành công trong Tết Mậu Thân của ta về giữ bí mật toàn bộ ý định, hoạt động cho đến khi nổ súng đã góp phần làm cho địch bị bất ngờ lớn và đương nhiên là một đảm bảo cho chiến thắng của ta cả về chiến lược, chiến dịch và chiến đấu. Một trong những bí mật quan trọng nhất làm cho sự kiện Tết Mậu Thân có tiếng vang trên toàn thế giới và kẻ địch hoàn toàn bị bất ngờ không thể nào phán đoán nổi, đó là cách đánh về chiến lược, chiến dịch và chiến đấu; khi mà chỉ trong khoảng 24 tiếng đồng hồ, toàn bộ hậu phương an toàn nhất của địch đều bị tiến công, kể cả những nơi tối quan trọng như Bộ Tổng Tham mưu, Biệt khu Thủ đô, Dinh Tổng thống chính quyền Sài Gòn và Tòa Đại sứ Mỹ... Các lực lượng vũ trang của ta đã thực hiện đánh địch từ trong nội đô đánh ra, kết hợp với từ bên ngoài đánh vào, đồng loạt khắp các nơi, bằng nhiều kiểu đánh của từng người, từng đơn vị lớn, nhỏ khác nhau, có sự kết hợp giữa tiến công và nổi dậy bằng mọi cách của quần chúng cách mạng với lực lượng vũ trang khiến cho địch đã bị bất ngờ càng thêm bất ngờ và lúng túng; đồng thời làm cho cái thế của đôi bên trong chiến tranh bỗng chốc bị đảo ngược (hậu phương của địch thành tiền tuyến và tiền tuyến của địch hóa hậu phương). Các đơn vị thiện chiến được tung đi xa đến tận "xứ sở của địch" để "tìm và diệt", thình lình nhận được lệnh cấp tốc chạy về "xứ sở của mình" để cứu nguy cho các cơ quan đầu não, cố ngăn chặn và phản kích rồi từ đó cố "quét và giữ" cho đến khi rút lui khỏi cuộc chiến... Rõ ràng, đây là một cách đánh rất độc đáo của chiến tranh cách mạng kết hợp với khởi nghĩa vũ trang.

Tuy nhiên, bí mật bất ngờ mà ta làm được trong Tết Mậu Thân 1968 không chỉ là ngày, giờ nổ súng tiến công và cách đánh tài tình của một cuộc chiến tranh nhân dân cách mạng phát triển đến cao độ, mà đó còn là cuộc tiến công với một quy mô lớn, diễn ra trên toàn bộ miền Nam 3, với mức độ hết sức mãnh liệt của các trận đánh; nhất là việc đó kéo dài hơn nửa năm trời mà quân địch không thể nào nghĩ được, không lường nổi ý chí, sự dẻo dai, sự dồi dào về phương tiện cũng như sức lực của đối phương mà trước đó chúng đánh giá rất thấp. Bởi vậy, tài liệu mật của Lầu Năm Góc đã thú nhận "... Cuộc tiến công (Tết Mậu Thân) đã làm cho Nhà Trắng và Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân bị bất ngờ về sức mạnh, thời gian kéo dài và mức độ ác liệt của cuộc tiến công đã kéo dài sự kinh ngạc này"; còn tờ Thời báo Mỹ số ra ngày 9-2-1968 gọi đây "chắc chắn là một hành động bất ngờ "thần thánh", một lực lượng địch tản mát và không ai thấy được, bị săn đuổi khắp nơi không lúc nào ngừng, bỗng dưng xuất hiện và đồng loạt tiến công ở hàng trăm trận địa trên khắp nước" .

Thứ tư, nghệ thuật tổ chức bố trí và sử dụng lực lượng, phát huy mạnh mẽ nhân tố con người.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 được khởi xướng trong điều kiện lực lượng quân sự của địch tại miền Nam vẫn còn gần 1 triệu 200 nghìn tên, bộ máy chiến tranh của địch vẫn còn hiệu lực và tiềm lực chiến tranh của chúng còn dồi dào. Để đạt được mục tiêu chiến lược đánh bại ý chí xâm lược của Mỹ, Đảng ta chủ trương trong Tết Mậu Thân, dùng binh lực và hỏa lực mạnh của ta đánh vào các binh đoàn chủ lực địch, đánh mạnh vào Sài Gòn và các thành phố khác, tạo điều kiện cho hàng triệu quần chúng ở đô thị và các vùng nông thôn tạm bị chiếm nổi dậy khởi nghĩa, phối hợp với lực lượng quân sự của ta tiêu diệt và làm tan rã quân địch, đánh đổ bộ máy đầu não của chính quyền Sài Gòn, làm rối loạn và tê liệt tận gốc bộ máy chiến tranh của Mỹ, chính quyền Sài Gòn, biến hậu phương và nơi dự trữ chiến tranh của địch thành hậu phương và nơi dự trữ chiến tranh của ta, làm thay đổi lực lượng so sánh một cách mau chóng và có lợi cho ta, bất lợi cho địch.

Theo phương hướng đó, trước và trong Tết Mậu Thân, các đơn vị bộ đội chủ lực ta đã mở một số chiến dịch ở vùng rừng núi miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, miền Tây Trị - Thiên nhằm kéo một bộ phận quan trọng chủ lực Mỹ lên chiến trường rừng núi, tạo điều kiện thuận lợi cho đòn tiến công và nổi dậy ở các đô thị bị Mỹ, chính quyền Sài Gòn chiếm đóng. Ở các đô thị và ở vùng ven, ta sử dụng một số đơn vị bộ đội chủ lực đánh chiếm các mục tiêu, kìm chân các sư đoàn, trung đoàn chủ lực địch, tạo điều kiện cho lực lượng đặc biệt tinh nhuệ là các đội đặc công, biệt động, bất ngờ đánh chiếm một số cơ quan đầu não tại trung ương và địa phương của địch. Từ vùng ven, các tiểu đoàn mũi nhọn được tổ chức và trang bị gọn nhẹ, nhanh chóng đánh chiếm những mục tiêu được phân công. Một số tiểu đoàn đã tiến được vào các khu vực mục tiêu nằm sâu trong nội thành, trụ lại đánh địch phản kích trong nhiều ngày. Đồng thời, ta sử dụng pháo cối và rốc két đánh vào nhiều mục tiêu khác như sân bay, Sở chỉ huy, trung tâm thông tin của địch... Phối hợp với lực lượng đặc công, biệt động, tiểu đoàn mũi nhọn, các đội vũ trang và bán vũ trang của các ban ngành, đoàn thể như Thanh niên, Công vận, Phụ vận, Hoa vận... cơ động đánh địch trên đường phố. Ở vòng ngoài, các sư đoàn, trung đoàn chủ lực của ta đón đánh không cho các đơn vị chủ lực địch tăng viện vào vùng ven và nội thành, giữ phía sau cho các tiểu đoàn mũi nhọn... song, tiêu điểm sự phát triển mới và đặc sắc của nghệ thuật quân sự trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 chính là nghệ thuật tổ chức bố trí, sử dụng và phương thức tác chiến sáng tạo, linh hoạt của lực lượng biệt động. Bằng tinh thần dũng cảm vô song, lực lượng biệt động đã mở đầu xuất sắc cuộc tiến công ở Sài Gòn và các đô thị, góp phần tạo nên hiệu lực chiến lược lớn của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy.

Cũng trong đợt Tết, do yêu cầu giữ bí mật tuyệt đối để giáng đòn bất ngờ cho địch, nên ta đã chỉ đạo cho quần chúng không nổi dậy diệt ác, phá kìm, giành quyền làm chủ khóm, phường cùng lúc với lực lượng biệt động và các tiểu đoàn chủ lực đánh vào các cứ điểm quy định, nhưng quần chúng đã tích cực tham gia vào công tác chuẩn bị cho đợt tiến công Tết, cũng như sau khi nổ súng họ đã tham gia rất đông đảo, trực tiếp và gián tiếp bằng nhiều hình thức trên nhiều lĩnh vực khác nhau... Với việc bố trí, tổ chức và sử dụng lực lượng như vậy, quân và dân ta trên chiến trường đã phát huy được đầy đủ và mạnh mẽ khí thế tiến công (nhất là trong đợt Tết), khiến cho giới lãnh đạo Oasinhtơn nhận thấy lực lượng quân sự của Mỹ không thể nào khuất phục nổi nhân dân Việt Nam... Đó là một thành công nổi bật trong nghệ thuật bố trí và sử dụng lực lượng, cũng như tổ chức tiến hành công tác bảo đảm cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của Đảng ta; nghệ thuật đó đã phát huy mạnh mẽ nhân tố con người, lấy ít địch nhiều, lấy trí tuệ người Việt Nam để chiến thắng vũ khí và trí tuệ của bộ máy điều hành chiến tranh của đế quốc Mỹ.

Những kinh nghiệm quý trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 về nghệ thuật tác chiến, những bài học lớn về dựa chắc vào dân, biết khơi dậy, tổ chức và phát huy sức mạnh đoàn kết, sức sáng tạo của nhân dân; biết kết hợp chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân Việt Nam với trí tuệ sáng tạo của Bộ Thống soái tối cao, của đông đảo quần chúng nhân dân... không chỉ có giá trị trong dự báo, hoạch định chiến lược bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong tình hình mới, trong định hướng xây dựng nền quốc phòng toàn dân, chuẩn bị sức mạnh về mọi mặt của thế trận chiến tranh nhân dân hiện nay, mà còn có ý nghĩa rất thiết thực đối với toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong cuộc chiến chống nghèo nàn, lạc hậu, chống "diễn biến hòa bình", "tự diễn biến, tự chuyển hóa", cũng như giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, góp phần xây dựng cuộc sống ấm no và hạnh phúc cho toàn dân. Đặc biệt, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam dạn dày kinh nghiệm, chúng ta hoàn toàn tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới đất nước sẽ thành công; quân và dân ta có đủ nghị lực, niềm tin và sức mạnh để vượt qua mọi thử thách, hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.




-----------------------------------------------------------------
1. Cần lưu ý, ở Nghị quyết này, khái niệm "giành thắng lợi quyết định" không bao hàm ý nghĩa là tiêu diệt toàn bộ lực lượng quân sự của địch (khác hẳn với "giành thắng lợi hoàn toàn" là giành "toàn thắng"), mà thực chất chỉ là "đè bẹp ý chí xâm lược" của đế quốc Mỹ, thực hiện mục tiêu về độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập, tiến tới thống nhất nước nhà. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.26, tr.637-638.

2. Thời điểm đó, trên chiến trường miền Nam có trên 50 vạn quân viễn chinh Mỹ và chư hầu cùng với đội quân được hiện đại hóa của quân đội Sài Gòn, tất cả là khoảng 1 triệu 20 vạn quân.

3. Đúng vào đêm giao thừa Tết Mậu Thân (đêm 30 và rạng 31-1-1968) quân và dân miền Nam đồng loạt Tổng tiến công và nổi dậy, đánh vào 4 thành phố, 37 thị xã và hàng trăm thị trấn, 4 bộ tư lệnh quân khu - quân đoàn, hầu hết các bộ tư lệnh sư đoàn địch, 30 sân bay và gần 100 cơ sở hậu cần. Tại Sài Gòn, bộ đội đặc công và biệt động đánh thẳng vào Tòa Đại sứ Mỹ. Ta làm chủ thành phố Huế trong 25 ngày đêm.


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 24 Tháng Năm, 2020, 06:50:07 am
"CHIẾN TRANH CỤC BỘ" - NẤC THANG CAO NHẤT
TRONG CUỘC CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC VIỆT NAM CỦA ĐẾ QUỐC MỸ



Đại tá, PGS.TS. NGUYỄN HUY THỤC
Nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử kháng chiến chống Mỹ,
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Bộ Quốc phòng



Chiến lược "chiến tranh đặc biệt" với 3 chỗ dựa cơ bản là quân đội, chính quyền Sài Gòn và ấp chiến lược - bộ phận cơ bản trong chiến lược quân sự toàn cầu "Phản ứng linh hoạt" do Mỹ hoạch định và đổ tiền của, vũ khí, đưa hàng vạn cố vấn, chuyên gia sang trực tiếp chỉ huy, điều hành nhằm áp đặt chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam, trải qua hơn 4 năm ròng, với bao hy vọng đã hoàn toàn phá sản. Đây là minh chứng cho việc "Mỹ đang chơi một ván cờ thua ở Việt Nam" . Nhưng vì "cam kết" với đồng minh, cao hơn là sự tồn vong của chiến lược quân sự toàn cầu và thanh danh của một siêu cường hàng đầu thế giới tư bản chủ nghĩa, giới cầm quyền Nhà Trắng quyết định leo thêm một nấc thang mới - triển khai chiến lược "chiến tranh cục bộ", đưa quân chiến đấu Mỹ và quân các nước đồng minh của Mỹ vào trực tiếp tham chiến trên chiến trường miền Nam Việt Nam.

"Chiến tranh cục bộ" - chiến lược quân sự của Mỹ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam (1965-1968). Quân Mỹ đảm nhiệm vai trò lực lượng cơ động chủ yếu trong các cuộc hành quân tìm diệt bộ đội chủ lực Quân giải phóng miền Nam và làm chỗ dựa cho chính quyền, quân đội Sài Gòn. Đây là nhiệm vụ hàng đầu và cũng là mục tiêu chủ yếu, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh bình định và kết hợp với việc tiến hành chiến tranh phá hoại, ngăn chặn sự chi viện nhân lực, vật lực của hậu phương miền Bắc cho tiền tuyến miền Nam ...

Tính chất pháp lý của bước chuyển chiến lược trên được thể hiện qua văn bản Bị vong lục số 328/NSAM của Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ (6-4-1965), với những điều khoản cốt yếu như sau: tăng thêm 18.000 đến 20.000 quân để bổ sung cho các đơn vị hiện có và cung cấp số nhân viên hậu cần thiết yếu; triển khai 2 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ, một phi đoàn của lính thủy đánh bộ cùng những bộ phận kết hợp về chỉ huy và hỗ trợ; thăm dò khả năng triển khai quân sang Nam Việt Nam của Chính phủ Nam Triều Tiên, Úc, Tân Tây Lan ... Có thể coi đây là dấu mốc chính thức bắt đầu của chiến lược "chiến tranh cục bộ" trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mỹ.

Cùng với triển khai quân chiến đấu vào miền Nam, Mỹ sử dụng không quân đánh phá ác liệt tuyến vận tải chiến lược Tây Trường Sơn (đoạn chạy qua địa phận Trung - Hạ Lào); gây sức ép với Chính phủ Xihanúc (Campuchia) chống Việt Nam. Với hành động này, Mỹ hy vọng sẽ tạo ra một thế chiến lược mới, chủ động bao vây, cô lập cách mạng miền Nam, góp phần ngăn chặn sự sụp đổ của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Trên cơ sở đó, Mỹ sẽ tập trung lực lượng tiến công tiêu diệt chủ lực Quân giải phóng miền Nam, phá chiến tranh du kích, tiến hành bình định nông thôn, giành lại quyền chủ động chiến trường; đồng thời sử dụng không quân đánh phá với quy mô hủy diệt, nhằm đưa miền Bắc "trở về thời kỳ đồ đá", làm kiệt quệ tiềm lực của hậu phương chiến lược, làm lung lay ý chí kháng chiến cứu nước của nhân dân Việt Nam. Qua đó, Mỹ không chỉ nhằm củng cố uy danh ở Việt Nam, Đông Dương và Đông Nam Á, giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo thế giới tự do, mà hơn thế còn để "chứng tỏ" cho thế giới thấy được sức mạnh kiêu hùng và khả năng đè bẹp, tiêu diệt bất cứ cuộc khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng nào, răn đe phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân các nước châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh.

Cụ thể hóa chiến lược "chiến tranh cục bộ", ngày 1-5-1965, Tư lệnh quân chiến đấu Mỹ ở miền Nam Việt Nam - tướng Oétmolen, đệ trình lên Nhà Trắng Chương trình hợp tác gồm ba nội dung: tảo thanh, bảo đảm an ninh, tìm và diệt, nhằm đánh bại phong trào cách mạng miền Nam trong vòng hai năm đến hai năm rưỡi (giữa năm 1965 đến giữa hoặc cuối năm 1967). Nhưng, ngay sau đó nhận thấy Quân giải phóng đẩy mạnh cường độ tác chiến, nhất là phát hiện được dấu hiệu chủ lực ta tập trung về Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên (tháng 5-1965), Oétmolen lập tức kiến nghị Nhà Trắng gia tăng quân Mỹ ở Nam Việt Nam lên 44 tiểu đoàn (7-6-1965) và được toàn quyền điều hành tác chiến (13-6-1965).

Mặc dù phải đối mặt với không ít ý kiến trái chiều cả ở trong và ngoài nước, nhưng với uy quyền của ông chủ Nhà Trắng, được phái "Diều hâu" hậu thuẫn, ngày 17- 7-1965, L. Giônxơn quyết định nâng số quân Mỹ và đồng minh ở Nam Việt Nam lên 206.451 (quân Mỹ là 184.314). Theo đó, đến tháng 12-1965, tổng cộng cả quân Mỹ, đồng minh và Việt Nam Cộng hòa đạt tới 726.772 người; gồm: 14 sư đoàn, 9 trung đoàn, 21 tiểu đoàn độc lập (cả thảy 230 tiểu đoàn); lực lượng yểm trợ có pháo binh: 50 tiểu đoàn, 3 đại đội (966 khẩu các loại), cơ giới: 11 tiểu đoàn, 5 đại đội (1.396 xe), không quân: 2.186 máy bay các loại, hải quân: 341 tàu xuồng chiến đấu. Ngoài ra, quân đội Việt Nam Cộng hòa còn tổ chức thêm 284 đơn vị, trong đó đã đưa vào tác chiến 14 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn quân cảnh, 5 chi đoàn thiết vận, 5 tiểu đoàn công binh, 1 tiểu đoàn pháo binh, 2 tiểu đoàn truyền tin, 2 phi đoàn khu trục, 3 hải đoàn xung phong và 214 đại đội địa phương quân . Có thể khẳng định rằng, quyết định "táo bạo" của L. Giônxơn đã đưa nước Mỹ "vượt qua ngưỡng cửa giấu mặt, trá hình" bước vào cuộc chiến tranh trên bộ ở miền Nam Việt Nam. Đây là bước ngoặt về chiến lược chiến tranh Việt Nam của giới cầm quyền Nhà Trắng - quân viễn chinh Mỹ đóng vai trò là lực lượng chủ yếu, trực tiếp tiến hành chiến tranh.

Đồng thời với tăng quân, hệ thống cơ quan chỉ huy cũng khẩn trương được hoàn thiện và tăng cường. Đó là, Bộ Tư lệnh quân chiến đấu Mỹ ở Việt Nam (MACV) được đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương, với hai nhiệm vụ: chỉ huy lực lượng hải, lục, không quân tác chiến trên phạm vi Nam Việt Nam, trực tiếp cố vấn và yểm trợ cho quân đội Việt Nam Cộng hòa. Mặt khác, các bộ tư lệnh lục quân, hải quân và không quân nhanh chóng được thành lập (cuối năm 1965). Lực lượng không quân Mỹ được triển khai vào Đà Nẵng, Biên Hòa, Tân Sơn Nhất... Hạm đội 7 Mỹ thường trực ngày đêm tuần tiễu trên địa phận lãnh hải Nam Việt Nam. Việc đánh phá miền Bắc cũng do Bộ Tư lệnh Không quân Thái Bình Dương đảm trách.

Đặc biệt, để khắc phục triệt để tình trạng đảo chính, phản đảo chính triền miên của chính quyền Việt Nam Cộng hòa - "công cụ" để Mỹ thực hiện chính sách thực dân mới, Mỹ đã tiến hành dàn xếp đưa Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu lên cầm đầu "Ủy ban lãnh đạo quốc gia" và Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ quản lãnh "Ủy ban hành pháp Trung ương". Thực chất đây là sự phân quyền cho đại diện hai nhóm tướng lĩnh quân đội thân Mỹ được hợp hiến, hợp pháp hóa (19-6-1965). Đến đây, tình trạng khủng hoảng chính trị ở Nam Việt Nam cơ bản được giải quyết.

Khi đã có lực lượng mạnh, hệ thống bộ máy chỉ đạo, chỉ huy được củng cố, kiện toàn..., vào mùa khô 1965-1966, Mỹ mở cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất 1, nhằm: Tiêu diệt một bộ phận quân chủ lực đối phương, giành chủ động trên chiến trường, nhanh chóng lật ngược thế trận, làm cho đối phương từ "người đi săn trở thành người bị săn"; bình định có trọng điểm để giành dân, đánh phá hậu cần dự trữ của đối phương; ổn định tình hình chính trị, củng cố quân đội và chính quyền Việt Nam Cộng hòa; khai thông hệ thống giao thông giữa các căn cứ với nhau; đánh phá miền Bắc, cô lập miền Nam.

Có thể khẳng định, cuộc phản công lần thứ nhất là nỗ lực vượt bậc của Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam 2; nhưng rốt cục, chúng không những không đánh bại được Quân giải phóng miền Nam, mà tổn thất thì rất nặng nề 3 . Chính C. Lốtgiơ - Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn thú nhận: Mỹ đã không làm hao tổn được Việt cộng, không tiêu diệt được một đơn vị nào của Việt cộng, không ngăn chặn được du kích phát triển. Quân đội Việt Nam Cộng hòa giảm chất lượng nhanh chóng. Lực lượng Mỹ tăng cường bổ sung không kịp, khả năng tiếp viện hạn chế... Như vậy, sự kiện mùa khô 1965-1966 là "tiếng chuông cảnh báo" cho sự thất bại của "chiến tranh cục bộ".

Dù vậy, với bản chất ngoan cố và hiếu chiến, giới cầm quyền Nhà Trắng chỉ thị cho MACV, bằng mọi cách cố giằng co với Việt cộng trong mùa mưa, đồng thời gia tăng quân Mỹ ở Nam Việt Nam lên 40 vạn, xây dựng phương án mở tiếp các cuộc phản công mùa khô 1966-1967 và 1967-1968, quyết đánh bại Việt cộng, hoặc chí ít cũng góp phần cải thiện được kết cục chiến trường theo chiều hướng có lợi cho Mỹ.

"Tìm ra" nguyên nhân thất bại của mùa khô lần thứ nhất là do chỉ đặt nặng về quân sự mà coi nhẹ xây dựng nông thôn, nên khi mở cuộc phản công mùa khô lần thứ hai (10-1966 - 6-1967), Mỹ đồng thời tiến hành hai gọng kìm "tìm diệt" và "bình định". Với gọng kìm "tìm diệt", chúng ưu tiên tiến công vào hệ thống căn cứ của ta ở Tây Ninh, Bình Dương, Long An, Hậu Nghĩa, Phước Tuy (Đông Nam Bộ), trọng điểm là Chiến khu C, nhằm diệt cơ quan đầu não và một bộ phận chủ lực Quân giải phóng kết hợp với mở rộng vành đai an ninh quanh Sài Gòn, kiềm chế ta ở hướng Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long, tích cực phòng ngự ở Đường 9, Trị - Thiên. Bên cạnh đó, chúng đẩy mạnh leo thang đánh phá miền Bắc, góp phần làm chuyển biến cục diện chiến tranh vào giữa hoặc cuối năm 1967...




---------------------------------------------------------------
1. Thời gian tiến hành cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất được xác định là từ 25-12-1965 đến tháng 6-1966, nhưng thực tế đã phải kết thúc sớm hơn dự kiến để đối phó với kế hoạch mùa mưa của các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam, bắt đầu vào tháng 5-1966.

2 . Với 206.772 quân Mỹ và quân đồng minh cùng 520.000 quân Việt Nam Cộng hòa (được tăng cường thêm trong 6 tháng đầu năm 1966), chúng đã sử dụng tới 78% quân Mỹ và quân đồng minh, hơn một nửa lực lượng tổng trù bị cùng với lực lượng chủ lực và địa phương của quân lực Việt Nam Cộng hòa trên các hướng phản công tại các vùng chiến thuật… để mở 1.880 cuộc hành quân từ cấp tiểu đoàn trở lên (có 253 cuộc của quân Mỹ và quân đồng minh); về mục đích, có 80,5% nhằm "tìm diệt" hoặc đối phó với ta, 1,25% nhằm bình định, 18,25% nhằm tiếp viện mở đường.

3 . Theo thống kê của Trung tâm hành quân Bộ Tổng Tham mưu quân lực Việt Nam Cộng hòa, từ tháng 10-1965 đến tháng 6-1966, chúng đã bị thiệt hại 51.000 cán binh, mất 9.400 vũ khí, 300 máy bay các loại và 38 tàu thuyền chiến đấu.


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 24 Tháng Năm, 2020, 06:56:11 am
Thực hiện cuộc phản công lần thứ hai, ngoài lực lượng chủ chốt là 395.000 quân Mỹ thuộc 7 sư đoàn, 8 lữ đoàn, MACV còn huy động toàn bộ quân đồng minh và quân Việt Nam Cộng hòa vào cuộc. Tuy lực lượng ưu thế như vậy, nhưng chúng chỉ tập trung ở khu vực Đông Nam Bộ; hình thành nên ba cánh quân đánh vào hệ thống căn cứ của ta, gồm: cánh thứ nhất, đánh cụm căn cứ Bắc Sài Gòn [Chiến khu C, khu Tam Giác Sắt (Củ Chi - Bến Súc - Trảng Bàng) và Chiến khu D]; cánh thứ hai, đánh căn cứ Đông Sài Gòn (Bình Tuy, Phước Tuy); cánh thứ ba, đánh khu vực Long An, Mỹ Tho, chặn cửa ngõ phía tây Sài Gòn.

Trong khoảng thời gian từ tháng 10-1966 đến tháng 4-1967, riêng quân Mỹ đã mở 127 cuộc hành quân, trong đó then chốt nhất là Áttơnborơ (Attleboro), Xiđaphôn (Cedarfall) và Gianxơnxiti (Junctioncity), với lực lượng 66 tiểu đoàn mỗi ngày, đánh cụm căn cứ Bắc Sài Gòn, nhằm tiêu hao chủ lực Sư đoàn 9 và Trung đoàn 101, xóa sổ Chiến khu C, diệt cơ quan Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh Miền của ta.

Ở Trị - Thiên, liên quân Mỹ - Việt Nam Cộng hòa tổ chức phòng ngự ở Đường 9 - Bắc Quảng Trị, ngăn chặn hoạt động của lực lượng vũ trang ta ở nam giới tuyến, từng bước mở rộng phạm vi hoạt động xuống phía nam, hỗ trợ bình định địa bàn dọc quốc lộ 1, quanh thị xã, thị trấn nhất là Đà Nẵng, đồng thời tăng cường phá căn cứ địa của ta ở miền tây Quảng Ngãi.

Trên hướng đồng bằng Khu 5 và Tây Nguyên, địch tăng cường hành quân tìm diệt chủ lực Quân giải phóng (Sư đoàn Sao Vàng), đánh phá các căn cứ vùng cận sơn, yểm trợ bình định vùng đồng bằng, kiềm chế hoạt động của ta ở giáp biên giới, vùng liên ranh giới Pleiku - Kon Tum...

Ở đồng bằng sông Cửu Long, địch tập trung đánh phá vùng Định Tường, Vĩnh Long, Kiến Phong, Phong Dinh, Ba Xuyên, Chương Thiện, An Xuyên.

Về gọng kìm "bình định", với phương thức tiến chậm, giữ chắc, có trọng điểm, càn quét ở đâu bình định ở đó, tạo thế liên hoàn theo vết dầu loang, dưới sự chỉ đạo của Cômơ - trợ lý đặc trách bình định của Tổng thống Mỹ, quân lực Việt Nam Cộng hòa tập trung 53 tiểu đoàn chủ lực, 177 đại đội địa phương quân, 5 đại đội cảnh sát dã chiến, 559 trung đội nghĩa quân và 552 đoàn cán bộ xây dựng nông thôn, với tổng quân số khoảng 37.000, có sự yểm trợ của quân Mỹ và quân đồng minh của Mỹ, dùng bom pháo tập kích dữ dội kết hợp với hành quân càn quét, tàn phá các thôn ấp phục vụ chương trình bình định; trọng điểm là vành đai Sài Gòn, Long Khánh, Phước Tuy, Long An, Tây Ninh, Bình Dương (Vùng 3 chiến thuật); Quảng Trị, Thừa Thiên, Bình Định, Tuy Hòa, Lâm Đồng, Pleiku, Kon Tum (Vùng 1 và 2 chiến thuật); Vĩnh Long, Phong Dinh, Chương Thiện, Ba Xuyên, Kiến Phong (Vùng 4 chiến thuật). Riêng với chỉ tiêu dồn dân lập ấp đặt ra năm 1967 là 1.075 ấp 1.

Hành động đánh phá tàn khốc, dài ngày, có trọng điểm của địch đã gây cho ta những tổn thất nặng nề về lực lượng, vũ khí, cơ sở hậu cần; kế hoạch vận chuyển từng nơi, từng lúc bị gián đoạn, nhiều căn cứ bàn đạp bị đánh chiếm, số lượng lớn dân cư bị xúc vào ấp đời mới...; nhưng chung cuộc, mục tiêu đặt ra cho cuộc phản công mùa khô 1966-1967 vẫn không đạt được. Nghiêm trọng hơn, địch ngày càng lâm sâu vào trạng huống giằng co giữa phân tán để bình định và tập trung để tìm diệt, thế bố trí chiến lược bị đảo lộn, lực lượng cơ động phân tán, dàn mỏng, căng kéo khắp các vùng miền. Lực lượng cơ động Mỹ chỉ còn 45,7%, sức phản công sa sút nhiều.

Thất bại đau đớn và liên tiếp trong hai mùa khô ở chiến trường miền Nam đã đẩy nội tình giới cầm quyền Mỹ lâm vào tình trạng phân cực, chia rẽ sâu sắc. Ngay lúc cuộc phản công mùa khô lần thứ hai còn chưa kết thúc, tướng Oétmolen đã kiến nghị Tổng thống Mỹ tăng từ 10 đến 20 vạn quân cho Nam Việt Nam; thậm chí chúng còn đòi sử dụng lục quân tiến công miền Bắc Việt Nam... Tuy vẫn có những quan điểm trái ngược nhau trong nội bộ giới cầm quyền Nhà Trắng, nhưng trong Thông điệp liên bang (4-8-1967), L. Giônxơn công khai tuyên bố tăng thêm 55.000 quân, đưa tổng quân chiến đấu Mỹ ở Nam Việt Nam lên 525.000 người (chiếm tới 40% số sư đoàn bộ binh, 30% lực lượng không quân chiến thuật, 60% không quân chiến lược, 1/3 lực lượng hải quân của quân đội Mỹ). Đến cuối 1967, tổng cộng cả quân Mỹ, đồng minh và Việt Nam Cộng hòa đã đạt tới mức kỷ lục 1.089.800 (gồm 22 sư đoàn, 17 trung đoàn); trong đó, quân Mỹ là 480.000 (9 sư đoàn, 3 lữ đoàn), quân đồng minh của Mỹ là 57.000 người (2 sư đoàn, 3 trung đoàn), chưa tính lực lượng tham chiến gián tiếp, thì tỷ lệ tương quan địch - ta trên chiến trường chênh lệch nhau khá rõ rệt, cụ thể: Vùng 1 chiến thuật là 2,9/1; Vùng 2 chiến thuật là 3,8/1; Vùng 3 chiến thuật là 4/1 và Vùng 4 chiến thuật là 2,1/1.Dù vậy, giới cầm quyền Nhà Trắng cũng phải đối mặt với một thực tế là phong trào phản đối cuộc chiến tranh Việt Nam diễn ra liên tục, mạnh mẽ trên nhiều thành phố nước Mỹ, thu hút rộng rãi các tầng lớp, trong đó có cả thống đốc bang, nghị sĩ Quốc hội hai viện tham gia.

Bước sang 1968 - năm bầu cử Tổng thống Mỹ (11-1968), MACV quyết định mở cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ ba (1967-1968), trên hướng đông Nam Bộ. Theo đó, chúng sử dụng lực lượng khoảng 5 sư đoàn quân Mỹ 2, trung đoàn quân Úc, lữ đoàn bộ binh Thái Lan kết hợp với 3 sư đoàn, 2 lữ đoàn Việt Nam Cộng hòa, mở các cuộc hành quân đánh vào Chiến khu C, Chiến khu D, nhằm tiêu diệt các sư đoàn chủ lực 5, 7, 9 của ta, "nới rộng" khu vực an ninh tỉnh Gia Định ra các vùng lân cận, đẩy mạnh gấp đôi nỗ lực bình định nông thôn so với năm 1967. Đối với hướng phối hợp Trung Trung Bộ, địch tập trung ngăn chặn ta xâm nhập dọc biên giới Việt - Lào, trọng điểm là Pleiku, Kon Tum; tìm diệt các sư đoàn chủ lực Khu 5, phá căn cứ, hỗ trợ cho kế hoạch bình định khu vực địa bàn duyên hải của ta. Ở khu vực giới tuyến, chúng tập trung ngăn chặn thâm nhập của ta qua khu phi quân sự và biên giới Việt - Lào, tìm diệt quân chủ lực, phá căn cứ, duy trì mức độ bình định như năm 1967. Tại đồng bằng sông Cửu Long, địch gia tăng cường độ hành quân bình định kết hợp với mở rộng khu vực an ninh tại các địa bàn trọng điểm như Gò Công, Định Tường, Kiến Hòa, Vĩnh Bình, Vĩnh Long, Sa Đéc, Phong Dinh, Ba Xuyên, Bạc Liêu, một phần lãnh thổ của hai tỉnh Kiên Giang và Chương Thiện. Thời gian của cuộc phản công lần thứ ba dự kiến là từ tháng 12-1967 đến tháng 4-1968.

Ngay khi đang chuẩn bị kế hoạch phản công lần thứ ba, địch đã bị lực lượng vũ trang ta đánh đòn bất ngờ, gây thiệt hại nặng ở Phước Long (27-10-1967), Lộc Ninh (29-10-1967)...; MACV nhanh chóng dồn lực lượng lên phía bắc Sài Gòn 3 , hình thành thế bao vây các chiến khu C và D.

Ngày 8-12-1967, theo kế hoạch đề ra, Sư đoàn 25 bộ binh Mỹ mở cuộc hành quân mang tên Yellow-stone và Sataroga, đánh vào Chiến khu C, chiếm Kà Tum, Bồ Túc, Bầu Châm - mở màn cho cuộc phản công mùa khô lần thứ ba (1967 - 1968), bất ngờ phát hiện dấu hiệu ta chuyển quân lớn vào các hướng chiến trường nên phải phân tán lực lượng ra đối phó. Đặc biệt, khi ta mở đợt tiến công trên chiến trường Tây Nguyên, tướng Oétmolen vội lệnh cho Sư đoàn 4 bộ binh Mỹ phải phân tán lực lượng ra để giữ Buôn Ma Thuột, đồng thời rút quân dù Việt Nam Cộng hòa ở các vùng 1 và 2 chiến thuật kết hợp với Lữ đoàn 173 dù và 1 tiểu đoàn kỵ binh không vận Mỹ từ đồng bằng lên tăng cường cho Tây Nguyên. Khi Tây Nguyên còn chưa bình ổn xong thì đêm 20 rạng 21-1-1968, cụm cứ điểm phòng ngự chiến lược Đường 9 - Khe Sanh của địch bị chủ lực ta tiến công. Ngay lập tức, Oétmolen lại phải dồn lực lượng ra giữ phía bắc Trị - Thiên, lập Bộ Tư lệnh tiền phương do tướng Abram chỉ huy, hủy bỏ kế hoạch mở cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ ba, rút các lực lượng đang hành quân đánh vào các chiến khu C và D về giữ Sài Gòn, đưa Sư đoàn 1 kỵ binh không vận và 2 lữ đoàn thuộc Sư đoàn 101 dù ra tăng cường cho chiến trường Trị - Thiên.

Như vậy, tiến hành chiến lược "chiến tranh cục bộ", giới cầm quyền Nhà Trắng đã "xét lại" luận thuyết "chủ nghĩa thực dân mới" do chính mình nghiên cứu hoạch định ra trên cơ sở rút kinh nghiệm từ những thất bại của chủ nghĩa thực dân cũ mà người Pháp là đại diện trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của các nước đế quốc. Nói một cách khác, người Mỹ đã "bước theo vết chân" của người Pháp ngay trên đất nước Việt Nam. Tuy nhiên, xét về quy mô lực lượng, vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự, phương tiện chiến tranh và nhất là trình độ công nghệ thì người Mỹ vượt trội hơn người Pháp rất nhiều lần. Thậm chí người Mỹ đã "quốc tế hóa" được cuộc chiến tranh Việt Nam, lôi kéo được nhiều quốc gia đồng minh mang quân đội vào tham chiến trên chiến trường Việt Nam, huy động quân sang chiến trường Việt Nam chiến đấu gia tăng từ vài vạn lên tới hơn nửa triệu chỉ trong 4 năm (1965-1968) gắn liền với các cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966, 1966-1967 mà quân chiến đấu Mỹ là chủ thể, có quy mô lực lượng, vũ khí, phương tiện chiến tranh thuộc hàng lớn nhất, gây nên sự thảm khốc nhất và tổn thất cho cả hai bên cũng là lớn nhất trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Nhưng rồi chung cuộc, như chính Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mắc Namara đã nhận ra rằng: Mỹ đã không hiểu được con người và truyền thống quật cường của người Việt Nam, nên cho dù đã leo lên đến nấc thang cao nhất "chiến tranh cục bộ" - người Mỹ trực tiếp tham chiến cũng không đảo ngược được tình thế chiến tranh. Đúng lúc nội tình nước Mỹ cũng như tình thế trên chiến trường Việt Nam chao đảo nhất, quân và dân ta ở miền Nam thực hiện đòn đánh quyết định Mậu Thân, làm phá sản "chiến tranh cục bộ", buộc Mỹ xuống thang chiến tranh. Như vậy, "chiến tranh cục bộ" là nấc thang cao nhất và cũng là sự "bắt đầu cáo chung" của người Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.




---------------------------------------------------------------
1. Theo báo cáo của Tổng trưởng xây dựng nông thôn chính quyền Việt Nam Cộng hòa (12-12-1967), kết quả bình định trong năm 1967 chỉ bằng 40% kế hoạch dự trù (429 ấp/1.062 ấp và 602.469 dân/1.347.510 dân), trên thực tế còn thấp hơn nhiều.

2. Sư đoàn 101 dù từ Mỹ mới sang, Sư đoàn 1 kỵ binh không vận từ Vùng 2 chiến thuật vào, các sư đoàn 1 và 25 bộ binh, Lữ đoàn 173 dù, Trung đoàn 11 thiết giáp.

3. Lữ đoàn 199 lên bắc Sài Gòn, Sư đoàn 1 bộ binh lên Hớn Quản, Lữ đoàn 1 thuộc Sư đoàn 25 bộ binh lên Tây Ninh, Trung đoàn 11 thiết giáp lên Bình Long, Lữ đoàn 1 thuộc Sư đoàn 101 từ Vùng 2 chiến thuật vào Sông Bé.


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 24 Tháng Năm, 2020, 10:05:13 am
BỘ TỔNG THAM MƯU TRONG GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ
TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY TẾT MẬU THÂN 1968



Đại tá, ThS. VƯƠNG VĂN YÊN
Trưởng ban Tổng kết - Biên soạn lịch sử Bộ Tổng Tham mưu




Cách đây 50 năm, vào thời điểm Tết Mậu Thân năm 1968, quân và dân ta ở miền Nam đã mở đầu cuộc tổng tiến công và nổi dậy, đồng loạt đánh vào hầu hết các thành phố lớn, trọng điểm là Sài Gòn và Huế, Đà Nẵng cùng với các thị xã, thị trấn, chi khu, quận lỵ, sân bay, căn cứ hậu cần của Mỹ, chính quyền Sài Gòn trên toàn chiến trường miền Nam. Kết quả thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 đã làm lung lay ý chí xâm lược của giới cầm quyền Mỹ, tạo thay đổi đột biến cuộc chiến tranh. Thế trận chiến lược của Mỹ bị đảo lộn, từ chủ động "tìm diệt" phải chuyển sang thế phòng thủ ngay trên địa bàn thành phố, thị xã. Các tầng lớp nhân dân, nhất là lực lượng sinh viên ở hầu hết các bang trên toàn nước Mỹ đã tràn xuống đường biểu tình phản đối chiến tranh ở Việt Nam. Nhiều người trong chính giới Mỹ đòi xét lại chính sách của Nhà Trắng đối với cuộc chiến tranh này. Nội các của Tổng thống Mỹ bị phân hóa, chia rẽ gay gắt. Tổng thống Giônxơn phải triệu tập một cuộc họp khẩn cấp "những người am hiểu nhất" để thảo luận về cuộc chiến tranh, đa số "nhà thông thái" đều nhất trí chấm dứt leo thang chiến tranh, từng bước rút quân về nước. Về ta, thắng lợi này đã mở ra cục diện mới, tạo ra thế và lực mới có lợi, nhằm tiến tới những thắng lợi to lớn hơn.

Thắng lợi trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là kết quả của nhiều nhân tố, trong đó, vai trò chỉ đạo của Bộ Tổng Tham mưu đối với lực lượng vũ trang cả nước trong giai đoạn chuẩn bị có ý nghĩa quyết định, được thể hiện ở một số nội dung chủ yếu sau:

Một là, tập trung chỉ đạo phòng, ban trong cơ quan và chiến trường miền Nam xây dựng hoàn chỉnh kế hoạch tác chiến đúng phương châm, sát địa bàn.

Quán triệt Nghị quyết của Quân ủy Trung ương, ngày 20-6-1967 về lãnh đạo thực hiện "Quyết tâm chiến lược trước mắt" của Thường vụ Trung ương, Bộ Tổng Tham mưu đã chủ động chỉ đạo các chiến trường miền Nam xây dựng kế hoạch chiến lược Đông - Xuân - Hè 1967 - 1968. Đồng thời, cử một số đoàn cán bộ đến các chiến trường nắm tình hình, tranh thủ ý kiến của lãnh đạo, chỉ huy của các đơn vị để hoàn thiện Dự thảo "Quyết tâm chiến lược trước mắt" của Thường vụ Trung ương; qua đó đề xuất một số đồng chí cán bộ chủ chốt thuộc Bộ Chỉ huy Miền, Quân khu 5, Quân giải phóng miền Nam, mặt trận Tây Nguyên tham gia xây dựng kế hoạch chiến lược.

Trong quá trình xây dựng kế hoạch Đông - Xuân 1967-1968, Bộ Tổng Tham mưu nhận thấy, nếu ta tiếp tục mở các đợt hoạt động quân sự như trước sẽ không tận dụng được thời cơ, không tạo được bước ngoặt lớn, chiến tranh vẫn tiếp tục diễn ra theo hướng giằng co kéo dài. Hơn nữa, trước đối tượng tác chiến là quân Mỹ có hỏa lực mạnh, sức cơ động cao, ứng cứu giải tỏa nhanh, chiếm ưu thế trên không, trên biển, thì việc sử dụng phương án bao vây để tiêu diệt chúng như đã làm đối với quân Pháp ở Điện Biên Phủ năm 1954 hiệu quả sẽ không cao.

Để giải quyết vấn đề này, trên cơ sở nắm chắc ý định của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương về chuyển hướng tiến công từ rừng núi, nông thôn đánh thẳng vào sào huyệt, đầu não của địch ở các thành phố, thị xã để tạo sự bất ngờ, đột biến lớn về chiến lược, Bộ Tổng Tham mưu đã thành lập "Tổ kế hoạch", do đồng chí Cục trưởng Cục Tác chiến phụ trách, xây dựng kế hoạch tác chiến chiến lược đúng phương châm, sát địa bàn hoạt động. Trong quá trình xây dựng, Bộ Tổng Tham mưu thường xuyên bám sát các chiến trường, trao đổi với cán bộ, chỉ huy về khả năng, hành động của bộ đội khi đánh chiếm thành phố, thị xã, hay khả năng nổi dậy của quần chúng, khả năng binh biến của địch khi bị ta tiến công để xây dựng, điều chỉnh kế hoạch sát yêu cầu, nhiệm vụ. Tháng 7-1967, Bộ Tổng Tham mưu báo cáo Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương về chủ trương và kế hoạch đưa cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam lên bước phát triển mới. Kế hoạch xác định: tập trung nỗ lực cao nhất thực hiện cho bằng được khả năng có thể giành thắng lợi bằng phương pháp tổng công kích - tổng khởi nghĩa. Dự kiến thời gian thực hiện trong Đông - Xuân 1967-1968 hoặc có thể sớm hơn; đồng thời dự kiến kế hoạch năm 1968 - 1969 và chuẩn bị tư tưởng đánh lâu dài. Theo đó, Bộ Tổng Tham mưu dự kiến kế hoạch sẽ mở đợt hoạt động mùa Đông, cao điểm là các tháng 2, tháng 3-1968 và đợt hoạt động mùa Hè với cao điểm là tháng 4, tháng 5-1968. Tháng 10-1967, Bộ Chính trị họp bàn kế hoạch chiến lược Đông - Xuân - Hè 1967-1968 ở chiến trường miền Nam, Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo Cục Tình báo, Cục Tác chiến báo cáo tình hình và mời đồng chí Tổng Tham mưu trưởng trình bày kế hoạch tác chiến chiến lược năm 1968 với hội nghị. Trong đó, mục tiêu trọng tâm của kế hoạch là chuyển hướng tiến công chiến lược vào thành phố, thị xã bằng tổng công kích và khởi nghĩa; đồng thời đề xuất 4 nguyên tắc: tiến công bất ngờ; tiến công đồng loạt, khắp nơi cùng lúc; dùng bạo lực mạnh mẽ nhất, tập trung nhất, tiến công kiên quyết, liên tục; đánh cả quân viễn chinh Mỹ và quân đội Sài Gòn. Cùng với đó, chỉ huy các chiến trường miền Nam báo cáo kế hoạch tác chiến của mình với Bộ Chính trị. Trên cơ sở đó, hội nghị thảo luận, kết luận và giao cho Bộ Tổng Tham mưu nắm chắc nội dung để bổ sung, điều chỉnh kế hoạch tác chiến đúng ý định. Ngay sau hội nghị kết thúc, Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo "Tổ kế hoạch" nhanh chóng điều chỉnh, bổ sung hoàn chỉnh kế hoạch tác chiến chiến lược năm 1968 theo kết luận của Bộ Chính trị. Đồng thời, chỉ đạo các cơ quan chức năng cử cán bộ đến các chiến trường hướng dẫn, giúp đỡ đơn vị hoàn thiện kế hoạch tác chiến Đông - Xuân 1967-1968. Để kế hoạch tác chiến bảo đảm bí mật, Bộ Tổng Tham mưu cử cán bộ đến từng chiến trường phổ biến quyết tâm tác chiến chiến lược của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương cho đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp.

Mặt khác, Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo Cục Tình báo chuẩn bị bản đồ có minh họa chi tiết địa bàn thành phố, thị xã trên toàn miền Nam; xác định đầy đủ các yếu tố về địa hình, địa vật, đường phố, nhà cửa, công trình..., qua đó, nghiên cứu đánh giá địa hình, âm mưu, thủ đoạn của địch, rút ra giá trị mạnh, yếu của địa hình, dự kiến những tình huống có thể xảy ra và cách xử trí; chỉ đạo Học viện Quân sự cấp cao tổng kết những trận đánh cả tiến công và phòng ngự trong kháng chiến chống Pháp ở Hà Nội, Hà Đông, Nam Định, chỉ đạo Cục Tác chiến, Bộ Tư lệnh Đặc công tổng hợp và thuyết minh những trận đánh của lực lượng vũ trang ở miền Nam trong những năm gần đây, nhất là những trận đánh trong thành phố, thị xã, để rút ra kinh nghiệm hay, bổ sung hoàn thiện cách đánh trong kế hoạch tác chiến Xuân 1968.

Tháng 10-1967, trên cơ sở nghiên cứu đánh giá đặc thù của từng chiến trường và quyết tâm, kế hoạch tác chiến, Bộ Tổng Tham mưu tổ chức hội nghị giao nhiệm vụ cho các quân khu, quân chủng, binh chủng, các sư đoàn trực thuộc.

Ở miền Nam, sau khi nhận được chỉ thị của Trung ương Đảng về kế hoạch tổng công kích - tổng khởi nghĩa, tháng 10-1967, Trung ương Cục miền Nam ra nghị quyết lãnh đạo thực hiện trên toàn chiến trường với mật danh: Nghị quyết Quang Trung, xác định Đông Nam Bộ và Sài Gòn làm trọng điểm và là hướng tiến công chủ yếu. Ngay sau đó, Trung ương Cục miền Nam họp bàn xây dựng kế hoạch chuẩn bị tổng công kích - tổng khởi nghĩa giành thắng lợi quyết định; đồng thời giải thể Quân khu 7, Quân khu Sài Gòn - Gia Định và tổ chức lại chiến trường miền Đông. Để xác định rõ các mục tiêu tiến công trong kế hoạch tác chiến, Trung ương Cục miền Nam xác định thành lập Khu trọng điểm gồm: Sài Gòn - Gia Định và một số tỉnh lân cận. Khu trọng điểm được chia thành 6 phân khu, trong đó 5 phân khu vòng ngoài và 1 phân khu nội thành. Theo đó, các đơn vị được phân công đảm nhiệm tác chiến ở từng phân khu chủ động đưa lực lượng, vũ khí ém sẵn ở các địa bàn, phối hợp với lực lượng nổi dậy từ bên trong, tạo ra thế trận bí mật áp sát.
Trên cơ sở kế hoạch dự thảo tác chiến chiến lược do Bộ Tổng Tham mưu xây dựng, Quân khu 5 tổ chức xây dựng kế hoạch tác chiến sát yêu cầu, nhiệm vụ. Trong đó, hướng tiến công chủ yếu theo kế hoạch xác định là Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Đà, trong đó Đà Nẵng là trọng điểm. Hướng phối hợp là Bình Định và Phân khu Nam (Phú Yên - Khánh Hòa). Hướng Tây Nguyên là chiến trường đánh tiêu diệt lớn sinh lực địch.

Cuối tháng 10-1967, tình hình địch trên chiến trường miền Nam có nhiều thay đổi, chúng tăng cường lực lượng, xây dựng thêm một số cứ điểm, sân bay, đưa thêm quân dự bị chiến lược ra khu vực Đường 9, nhằm ngăn chặn các hoạt động chi viện của ta từ miền Bắc vào chiến trường miền Nam. Trước tình hình đó, Bộ Tổng Tham mưu gấp rút xây dựng kế hoạch hoạt động trong Đông - Xuân - Hè 1967-1968. Kế hoạch xác định, mặt trận Đường 9 có vai trò quan trọng nhằm nghi binh thu hút, kéo địch ra ngoài căn cứ để tiêu diệt, kết hợp với quần chúng khởi nghĩa, giam chân quân Mỹ và diệt quân địch ở Vùng 1 chiến thuật, tạo điều kiện thuận lợi cho mặt trận Huế, Đà Nẵng và toàn chiến trường miền Nam đánh địch. Nhận thức rõ tính chất quan trọng của mặt trận Đường 9, Bộ Tổng Tham mưu mở hội nghị thảo luận về kế hoạch tác chiến Đường 9. Sau khi hội nghị kết thúc, Bộ Tổng Tham mưu và Cục Tác chiến thống nhất với Bộ Tư lệnh Quân khu Trị - Thiên và Bộ Tư lệnh Quân khu 4 về công tác chỉ huy, hiệp đồng giữa hai bên.

Chiến trường Trị - Thiên - Huế là một trong ba trọng điểm của chiến trường miền Nam, trong đó, thành phố Huế được xác định là mặt trận trọng điểm, Nam Quảng Trị và Phú Lộc là mặt trận phối hợp. Vì thế kế hoạch tác chiến ở mặt trận Huế được chia thành 2 cánh. Cánh Bắc là hướng tiến công chủ yếu, gồm tả ngạn sông Hương và huyện Hương Trà. Còn cánh Nam là hướng tiến công quan trọng và là hướng đánh địch phản kích.

Đồng thời, Bộ Tổng Tham mưu còn chỉ thị cho các chiến trường gấp rút xây dựng các phương án tác chiến để mở đợt hoạt động Thu - Đông 1967, đẩy địch lún sâu hơn nữa vào thế bị động, tạo đà cho bước chuẩn bị kế hoạch tác chiến chiến lược của ta vào Xuân năm 1968. Thực hiện chỉ thị của Bộ Tổng Tham mưu, các chiến trường miền Đông Nam Bộ, và chiến trường Quân khu 5 đến chiến trường Tây Nguyên đã chủ động mở một số chiến dịch để tiêu hao, tiêu diệt địch, đẩy địch lún sâu vào thế bị động phòng ngự, tinh thần sa sút, quân đội Sài Gòn đào ngũ nhiều (trung bình mỗi tháng một vạn tên)1. Như vậy, đến cuối năm 1967, mọi công tác chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, nhất là kế hoạch tác chiến trên chiến trường miền Nam đã được xây dựng hoàn chỉnh, bảo đảm đúng phương châm, sát địa bàn tác chiến, góp phần quan trọng đánh thắng ý chí xâm lược của Mỹ.

Hai là, chỉ đạo các quân khu tăng cường huấn luyện, nâng cao trình độ tác chiến cho bộ đội, đáp ứng nhiệm vụ ở chiến trường miền Nam.

Để đánh thắng quân địch trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, trước hết, Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo Cục Quân huấn phối hợp với các cơ quan, đơn vị, tổ chức lớp tập huấn cho đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp trong toàn quân, nhất là những đơn vị trực tiếp tham gia chiến đấu ở chiến trường miền Nam. Nội dung trọng tâm là thống nhất cách đánh, nội dung, phương pháp huấn luyện đánh lớn ở địa bàn thành phố, thị xã; giải quyết những khó khăn, vướng mắc, vấn đề đặt ra trong tác chiến hiệp đồng binh chủng, phục vụ yêu cầu đánh lớn trên chiến trường miền Nam. Trong đó, đồng chí Văn Tiến Dũng - Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam trực tiếp giới thiệu cho lớp tập huấn về "Vấn đề đánh tiêu diệt lớn của sư đoàn, trung đoàn". Đồng thời, chỉ đạo Cục Quân huấn phối hợp với các cơ quan, đơn vị nhanh chóng biên soạn tài liệu "Về đánh tiêu diệt lớn của sư đoàn, trung đoàn", "Đại đội, tiểu đoàn và trung đoàn đánh địch trong công sự vững chắc" gửi các chiến trường Nam Bộ, Khu 5, Tây Nguyên để nghiên cứu vận dụng. Dưới sự chỉ đạo của Bộ Tổng Tham mưu, những cán bộ đã được tập huấn, nhanh chóng về tổ chức huấn luyện cán bộ và chỉ đạo công tác huấn luyện của đơn vị, sát điều kiện thực tế chiến trường.

Đối với các đơn vị bộ đội chủ lực, Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo tập trung giáo dục, huấn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị, tư tưởng cho bộ đội, xây dựng niềm tin vào khả năng đánh tiêu diệt, đánh tập trung trong điều kiện chiến đấu ác liệt; nâng cao trình độ tổ chức chỉ huy của cán bộ các cấp trong điều kiện đánh lớn ở địa bàn thành phố, thị xã. Trong huấn luyện quân sự, các sư đoàn thường xuyên nghiên cứu nắm chắc đặc điểm địch, ta, địa hình ở thành phố, thị xã trên chiến trường miền Nam, kịp thời điều chỉnh nội dung, chương trình huấn luyện phù hợp cách đánh. Về huấn luyện chiến thuật, Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo các đơn vị tập trung rèn luyện chiến thuật cá nhân, phân đội, kết hợp giữa huấn luyện và truyền thụ những kinh nghiệm chiến đấu hay cho bộ đội; huấn luyện thành thạo giữa đánh tập trung và đánh tiêu diệt địch trong thành phố, thị xã. Đồng thời, huấn luyện nâng cao sức cơ động hiệp đồng tác chiến giữa các lực lượng; nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật, sử dụng thành thạo các loại vũ khí, trang bị có trong biên chế; vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật, phương pháp chiến đấu phù hợp điều kiện thực tế của từng chiến trường.

Để bảo đảm lực lượng đặc công đánh địch trong thành phố, thị xã, Bộ Tổng Tham mưu đề xuất Quân ủy Trung ương thành lập Binh chủng Đặc công (tháng 3-1967). Ngay sau ngày thành lập, Binh chủng Đặc công đã tích cực tổ chức huấn luyện, đào tạo cán bộ, chiến sĩ tăng cường cho các chiến trường. Trong năm 1967, Binh chủng đã huấn luyện được gần 4.000 chiến sĩ đặc công và 1.000 cán bộ trung đội, đại đội, tiểu đoàn, tăng cường cho chiến trường miền Nam hơn 2.500 cán bộ, chiến sĩ.

Các đơn vị quân chủng, binh chủng, cơ quan, nhà trường, nhất là các sư đoàn, trung đoàn cơ động, lực lượng phòng không - không quân, nhanh chóng hoàn thành chương trình huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật binh chủng và huấn luyện dã ngoại để rèn luyện nâng cao khả năng tác chiến phối hợp trên các chiến trường. Trong quá trình huấn luyện chuẩn bị cho Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, Bộ Tổng Tham mưu thường xuyên chỉ đạo nhiều đoàn cán bộ xuống các chiến trường để kiểm tra, hướng dẫn, giúp đỡ các đơn vị giải quyết khó khăn, vướng mắc về nội dung, phương pháp huấn luyện phù hợp với cách đánh trong thành phố, thị xã.

Đối với các đơn vị lực lượng vũ trang địa phương, Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo tập trung huấn luyện nâng cao khả năng tác chiến rộng khắp, nâng cao hiệu quả tác chiến phối hợp với bộ đội chủ lực trên địa bàn thành phố, thị xã; xây dựng lực lượng dân quân du kích mạnh, bảo đảm cho các đơn vị thực hiện nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ miền Bắc, chi viện giải phóng miền Nam và làm tròn nhiệm vụ quốc tế. Thông qua đó, chất lượng tổng hợp, trình độ, khả năng chiến đấu của lực lượng vũ trang các đơn vị, trình độ chỉ huy tham mưu tác chiến của đội ngũ cán bộ các cấp từng bước được nâng lên, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách đánh mới ở địa bàn thành phố, thị xã trên chiến trường miền Nam.


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 24 Tháng Năm, 2020, 10:08:18 am
Ba là, điều chỉnh lực lượng, tăng cường sức mạnh chiến đấu cho chiến trường miền Nam.

Thực tế đã cho thấy, cuối năm 1967, quân Mỹ, quân đội Sài Gòn trên chiến trường miền Nam có khoảng 1.200.000 tên, trong đó, quân Mỹ gần 500.000 tên, được trang bị vũ khí, phương tiện hiện đại, sức cơ động cao, khả năng ứng cứu giải tỏa nhanh. Về ta, mặc dù chúng ta đã đánh bại hai cuộc phản công chiến lược của địch năm 1965-1966 và 1966-1967 và đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của chúng ra miền Bắc, nhưng về so sánh tương quan lực lượng địch vẫn mạnh hơn ta. Để tăng cường sức mạnh chiến đấu cho các mặt trận trên chiến trường miền Nam, Bộ Tổng Tham mưu đã chỉ đạo các chiến trường, nhất là chiến trường miền Bắc đẩy mạnh công tác tuyển quân, xây dựng lực lượng kịp thời chi viện cho chiến trường miền Nam. Năm 1967, chiến trường miền Bắc đã chi viện cho chiến trường miền Nam hàng vạn cán bộ, chiến sĩ, góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu trên các mặt trận.

 Đối với chiến trường miền Nam, Bộ Tổng Tham mưu chỉ thị Bộ Chỉ huy Miền chỉ đạo Khu trọng điểm đẩy mạnh công tác tuyển quân, xây dựng lực lượng theo yêu cầu tổng công kích - tổng khởi nghĩa, vừa bảo đảm các hoạt động tác chiến thường xuyên trong mùa khô 1967-1968, vừa tránh sự chú ý của địch. Cùng với công tác xây dựng lực lượng, Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo Bộ Chỉ huy Miền nghiên cứu điều chỉnh lực lượng phù hợp ở các chiến trường, tập trung ưu tiên lực lượng, phương tiện cho Khu trọng điểm (Sài Gòn), bảo đảm thành phần: biệt động thành, đặc công, lực lượng nổi dậy (dân quân tự vệ, học sinh, sinh viên, các tầng lớp nhân dân) từ trong đánh ra và lực lượng các đơn vị chủ lực từ ngoài đánh vào. Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo mặt trận Tây Nguyên và các đơn vị mới từ miền Bắc vào, tăng cường lực lượng, phương tiện cho khối chủ lực trên các chiến trường miền Nam, nhất là các mặt trận trọng điểm. Các đơn vị này được bố trí ven các hướng bắc, tây bắc và đông Sài Gòn, có nhiệm vụ tiến công ngăn chặn các sư đoàn quân Mỹ, quân đội Sài Gòn cơ động từ ngoại thành về ứng cứu cho quân địch ở nội thành Sài Gòn. Để các tầng lớp nhân dân trên địa bàn tích cực tham gia chiến đấu, Trung ương Cục miền Nam ra nghị quyết lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị đẩy mạnh công tác dân vận, công tác tuyên huấn, binh vận, phát huy phong trào tất cả tập trung cho tiền tuyến. Nhờ đó, đã phát huy được sức mạnh tổng hợp của mọi tầng lớp nhân dân trên toàn chiến trường, góp phần cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy giành thắng lợi.

Đối với chiến trường Quân khu 5, Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo các đơn vị vừa tập trung xây dựng lực lượng, vừa chủ động phối hợp cùng nhân dân phá kìm kẹp của địch ở đô thị và các vùng ven, tạo ra thế và lực có lợi để thực hiện tổng công kích - tổng khởi nghĩa trên toàn địa bàn. Tính đến cuối năm 1967, Quân khu 5 có tổng 74.000 quân, trong đó 46.000 quân chủ lực, 12.000 quân lực lượng vũ trang địa phương và 7.000 quân lực lượng khác; Bộ Tổng Tham mưu đã tăng cường cho Quân khu 5 đủ 95.000 quân.
 
Đối với chiến trường Trị - Thiên, đặc biệt là mặt trận Đường 9 - Khe Sanh, đây là mặt trận quan trọng, Bộ Tổng Tham mưu đã tổ chức huy động tăng cường cho mặt trận này một số sư đoàn chủ lực với quân số khoảng 6,6 vạn (chưa kể quân số ở Quảng Bình, Vĩnh Linh), bảo đảm đủ sức nghi binh, thu hút, giam chân lực lượng chủ lực của địch, làm cho địch phân tán lực lượng đối phó, tạo điều kiện thuận lợi cho các chiến trường khác tiêu diệt địch. Ngoài ra, Bộ Tổng Tham mưu còn điều động thêm cho Quân khu Trị - Thiên một số trung đoàn bộ binh, công binh, tàu thuyền, pháo binh, phòng không và một số tiểu đoàn xe tăng, thông tin, để tăng cường lực lượng, nâng cao sức mạnh chiến đấu cho các đơn vị.

Các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, mặc dù không phải là chiến trường trọng điểm, nhưng Bộ Tổng Tham mưu chỉ thị cho Bộ Tư lệnh Quân khu 8 và 9, tích cực tuyển quân, mở rộng tổ chức biên chế, sẵn sàng bổ sung lực lượng cho các mặt trận trên chiến trường miền Nam khi có lệnh.

Những chiến trường do Bộ Quốc phòng trực tiếp chỉ đạo, Bộ Tổng Tham mưu đã chủ động xây dựng hoàn thành dự thảo kế hoạch tổ chức sử dụng lực lượng với nhiều phương án. Bằng các biện pháp chỉ đạo tích cực, sâu sát, kịp thời của Bộ Tổng Tham mưu, cuối năm 1967, lực lượng vũ trang Quân giải phóng ở chiến trường miền Nam lên đến 220.000 bộ đội chủ lực, 57.000 bộ đội địa phương, các mặt trận đều được bổ sung quân số đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra, sẵn sàng cơ động chiến đấu khi có lệnh.

Bốn là, chuẩn bị tốt công tác bảo đảm chính sách, hậu cần, kỹ thuật cho chiến trường miền Nam.

Đây là nội dung quan trọng, bởi làm tốt công tác bảo đảm sẽ góp phần trực tiếp nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu các lực lượng trên các chiến trường, thực hiện thắng lợi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.

Trước hết, để bộ đội yên tâm tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu trên các mặt trận, Bộ Tổng Tham mưu đã chỉ đạo các chiến trường triển khai thực hiện tốt công tác chính sách hậu phương quân đội. Đồng thời, chỉ đạo cơ quan chức năng phối hợp chặt chẽ với Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Chính trị nghiên cứu đề xuất với Đảng, Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số chế độ, chính sách đối với quân nhân đi chiến đấu ở chiến trường miền Nam, Lào, Campuchia. Trong đó, mỗi quân khu, quân chủng, binh chủng và Đoàn 559 tổ chức 1 đoàn, đội điều dưỡng làm nhiệm vụ thu dung, nuôi dưỡng và giải quyết chính sách thương binh, bệnh binh cho bộ đội. Các thương binh, bệnh binh nhẹ sau khi điều trị sẽ được giải quyết về đơn vị cũ hoặc bổ sung vào các đơn vị tiếp tục chiến đấu. Số thương binh, bệnh binh nặng không còn khả năng chiến đấu thì giải quyết chính sách phù hợp theo mức độ thương tật: xuất ngũ, phục viên, chuyển ngành, hoặc chuyển vào các trung tâm điều dưỡng của Bộ Nội vụ. Những thương binh, bệnh binh quê ở chiến trường miền Nam, căn cứ vào mức độ thương tật, nếu còn sức khỏe thì Cục Quân lực có kế hoạch tiếp tục sử dụng và có nguyện vọng ở lại ngoài Bắc sẽ được Bộ Tổng Tham mưu bố trí học tập, bồi dưỡng, từng bước thay thế anh em ở cơ sở, cơ quan, đơn vị chiến đấu. Để khắc phục những khó khăn, bất cập, đáp ứng nhu cầu động viên lực lượng chiến đấu cho các chiến trường, Bộ Tổng Tham mưu đề xuất với Đảng, Chính phủ bổ sung, sửa đổi Luật nghĩa vụ quân sự sát với điều kiện chiến tranh. Trong đó, Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo cơ quan chức năng nghiên cứu sửa đổi, bổ sung và quy định cụ thể về công tác tuyển quân đối với các địa phương, các cấp, các ngành 1. Mặc dù chiến tranh đang diễn ra trong giai đoạn ác liệt nhất, nhưng nhờ có chính sách đúng, Luật nghĩa vụ quân sự phù hợp, chúng ta đã động viên được hàng trăm cán bộ khoa học, kỹ thuật, cán bộ quản lý trình độ đại học, trung học, bổ sung cho quân đội.

Cùng với thực hiện công tác chính sách, Bộ Tổng Tham mưu đã chỉ đạo các chiến trường bảo đảm tốt công tác hậu cần, kỹ thuật. Trong đó, Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo chiến trường miền Bắc vận chuyển 3 vạn tấn lương thực, vũ khí chi viện cho chiến trường miền Nam và chỉ đạo Bộ Chỉ huy Miền tổ chức 5 đoàn hậu cần, kỹ thuật khu vực, vận chuyển vũ khí, lương thực phục vụ cho các mặt trận. Trên tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn, Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo Đoàn 559 mở rộng mạng đường, tăng thêm lực lượng, phương tiện, đổi mới phương pháp vận chuyển, đã đem lại hiệu quả thiết thực. Chỉ tính những tháng cuối năm 1967, tuyến vận tải chiến lược đã nhận từ miền Bắc vận chuyển vào chiến trường miền Nam một khối lượng lương thực, vũ khí lớn gấp 6 lần năm 1965. Mặt khác, Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo các chiến trường nghiên cứu cải thiện công tác nuôi quân, chăm lo đời sống, nâng cao sức khỏe cho cán bộ, chiến sĩ, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ huấn luyện, chiến đấu. Trong đó, Bộ Tổng Tham mưu đã chỉ đạo cấm trại 4 sư đoàn chủ lực trực tiếp chiến đấu trên các chiến trường trọng điểm, tập trung chăm lo, bồi dưỡng nâng cao sức khỏe cho bộ đội, sẵn sàng bước vào chiến đấu. Hệ thống căn cứ hậu phương, căn cứ hậu cần, kỹ thuật trên mỗi chiến trường đều được chuẩn bị chu đáo, từ bệnh viện dã chiến đến các kho hậu cần, trạm sửa chữa kỹ thuật ở các mặt trận của chiến trường miền Nam được thành lập, sẵn sàng thực hiện tốt chức trách nhiệm vụ.

Với sự chuẩn bị kế hoạch chu đáo, sát với thực tế, xây dựng và tổ chức lực lượng đáp ứng yêu cầu, Bộ Tổng Tham mưu đã có những đóng góp quan trọng vào thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 và để lại nhiều bài học quý còn nguyên giá trị về vai trò chỉ đạo, điều hành của Bộ Tổng Tham mưu đối với các chiến trường trong giai đoạn chuẩn bị tác chiến.




---------------------------------------------------------------
1. Chỉ tuyển thanh niên từ 18 đến 32 tuổi (trường hợp đặc biệt có thể đến 35 tuổi, nhưng phải đáp ứng đủ tiêu chuẩn), trừ các ngành giao thông vận tải, địa chất, cơ khí. Chỉ động viên giáo viên cấp 1 nếu có người thay thế.


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 24 Tháng Năm, 2020, 10:23:06 am
CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968 -
ĐÒN QUYẾT ĐỊNH BUỘC MỸ PHẢI XUỐNG THANG CHIẾN TRANH



PGS.TS. HÀ MINH HỒNG
Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn,
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh


Trong chiến tranh hiện đại, leo thang hay xuống thang là cách nói bằng hình ảnh những hành động đẩy mạnh hoặc phải kết thúc chiến tranh, trong đó thắng lợi hay thất bại về quân sự được đặt ra như một vấn đề quyết định nhất.

Vấn đề leo thang của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam

Leo thang chiến tranh là phương thức thực hiện các chiến lược quân sự của Mỹ trong chiến tranh, bằng cách từng bước tăng cường và mở rộng phạm vi, quy mô của chiến tranh, vừa thăm dò, vừa răn đe đối phương, tạo ra tình trạng chiến tranh ngày càng ác liệt, phức tạp.

Quá trình leo thang của đế quốc Mỹ trong chiến tranh Việt Nam diễn ra từ sau năm 1960 và tăng tốc từ đầu năm 1965, đến cuối năm 1967 đã đạt đến những nấc thang cao nhất.

Từ cuối năm 1960, đối phó với phong trào nổi dậy của nhân dân miền Nam và chuyển thế chiến lược của cách mạng miền Nam, đế quốc Mỹ áp dụng chiến lược chiến tranh đặc biệt với mục tiêu "chống nổi dậy". Thực chất của bước leo thang này là tăng nhanh thực lực quân đội Sài Gòn 1. Chính quyền Sài Gòn sẽ có quân đội đủ khả năng chiến đấu chống chiến tranh du kích, dập tắt cuộc đấu tranh của quân và dân miền Nam sau Đồng khởi.

Cùng lúc đó, đế quốc Mỹ tung các lực lượng gián điệp, biệt kích, người nhái ra miền Bắc để nắm tình hình, thực hiện phá hoại và chuẩn bị cho những bước leo thang chiến tranh trong những giai đoạn sau; cho máy bay, tàu chiến hoạt động ra ngoài vùng vĩ tuyến 20 để do thám và khiêu khích, sẵn sàng cho những bước phiêu lưu quân sự.

Đối phó với tình hình phát triển ngày càng mạnh của Quân giải phóng miền Nam và để cứu nguy cho chính quyền và quân đội Sài Gòn trong cuộc khủng hoảng toàn diện và kéo dài, từ cuối năm 1963 đến cuối năm 1964, Mỹ chuẩn bị ráo riết cho bước leo thang mở rộng chiến tranh Việt Nam 2.

Từ đầu năm 1965, bất chấp dư luận và không cần ngọn cờ Liên hợp quốc, Tổng thống Mỹ được phép đưa thực binh Mỹ vào miền Nam và chuyển sang chiến lược "chiến tranh cục bộ" ở miền Nam Việt Nam; đồng thời thực hiện chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân ra miền Bắc. Đế quốc Mỹ cũng từng bước đưa quân đội các nước đồng minh (Nam Hàn, Philíppin, Thái Lan, Niu Dilân, Úc...) vào miền Nam nhằm đánh lừa dư luận và chia sẻ gánh nặng chiến tranh.

Những năm 1965-1967, thực binh Mỹ tăng nhanh từ vài chục vạn quân đến nửa triệu quân, thực hiện chiến thuật phản công tìm diệt Quân giải phóng miền Nam, đánh thẳng vào các cơ quan đầu não (các căn cứ địa cách mạng) của kháng chiến ở miền Nam; đồng thời mở nhiều chiến dịch đánh phá bằng không quân và hải quân ra miền Bắc, nhằm phá hoại tất cả các mục tiêu quân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, kể cả hệ thống đê điều, thủy lợi, tạo ra "thiên tai" phá hoại mùa màng và đời sống nhân dân miền Bắc; cùng lúc đó ra sức đánh phá toàn bộ hệ thống đường giao thông và tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn (Đoàn 559), đồng thời thiết lập hàng rào điện tử Mắc Namara nhằm ngăn chặn sự chi viện sức người sức của từ miền Bắc vào miền Nam.

Với những bước đi như vậy, đế quốc Mỹ sẽ có khả năng leo thang cao đến đâu trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam?

Một là, Mỹ giàu và mạnh nhất thế giới (thời điểm xâm lược Việt Nam, Mỹ có 6.000.000 lục quân...) do đó việc leo thang bằng cách tăng quân và vũ khí phương tiện chiến tranh hiện đại, thực hiện tác chiến theo cách thức của đội quân nhà nghề kiểu Mỹ đến năm 1967 là chưa có giới hạn; đế quốc Mỹ có 34 nước và vùng lãnh thổ làm đồng minh và đồng lõa với Mỹ trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam, trong đó các đồng minh của Mỹ trong khu vực Đông Nam Á đều thống nhất với Mỹ trong việc chống "nguy cơ cộng sản" và ngăn chặn tình trạng đôminô. Như vậy, chiến lược chiến tranh leo thang của Mỹ chưa có dấu hiệu thay đổi.

Hai là, tham vọng và quyền lợi của Mỹ trong chiến lược toàn cầu tuy không cho phép Mỹ dốc toàn lực vào Việt Nam, nhưng vấn đề thắng - thua trong cuộc chiến này - nhất là về quân sự không cho phép Mỹ ngưng leo thang và càng không thể xuống thang chiến tranh; Mỹ chưa có tiền lệ xuống thang khi chiến tranh đang tiếp diễn và càng không có tiền lệ thua hoặc hòa trong truyền thống quân sự và lịch sử chiến tranh Hoa Kỳ.

Ba là, cũng theo "truyền thống" để kết thúc chiến tranh, thông thường một trong các bên tham chiến thực hiện đòn đánh tiêu diệt chiến dịch lớn hoặc đánh tiêu diệt chiến dịch lực lượng quân sự, chính trị đối phương, buộc đối phương phải chịu thua về quân sự. Thực tế so sánh tương quan lực lượng Quân giải phóng miền Nam và thực binh Mỹ ở miền Nam về quân số, vũ khí trang bị, sức cơ động và tính hiện đại đều chênh lệch rất lớn; việc Quân giải phóng miền Nam đánh tiêu diệt chiến dịch, chiến lược đối với quân viễn chinh Mỹ ở miền Nam là điều gần như không thể. Trong khi đó đến cuối năm 1967, Tổng thống Giônxơn vẫn tin rằng Mỹ sẽ kết thúc chiến tranh và rút quân khỏi Việt Nam bằng một thắng lợi quân sự.

Chính trong bối cảnh đó, đế quốc Mỹ bất ngờ phải đối phó với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta vào dịp Tết Mậu Thân 1968 trên khắp miền Nam Việt Nam.

Đòn bất ngờ quyết định

Ở chiến trường miền Nam, với hai cuộc phản công chiến lược mùa khô (1965-1966 và 1966-1967), quân đội Mỹ vẫn không thay đổi được cục diện chiến trường và ngày càng bị sa lầy vào cuộc chiến ở Việt Nam.

Nắm bắt được tình hình tiến thoái lưỡng nan về mặt chiến lược của Mỹ và xu thế của tình hình trong cả năm 1968 là địch sẽ ngày càng chuyển vào phòng ngự một cách bị động hơn trước , tháng 6-1967, Bộ Chính trị chủ trương chuẩn bị một đòn đánh quyết định tạo chuyển biến nhảy vọt trong cuộc đấu tranh cách mạng miền Nam, buộc Mỹ phải thua về quân sự. Tại Hội nghị lần thứ 14 Ban chấp hành Trung ương Đảng (tháng 1-1968), Bí thư thứ nhất Lê Duẩn khẳng định: "phải chuyển qua một giai đoạn mới, giai đoạn đó là chuyển qua tổng công kích, tổng khởi nghĩa".

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã có ý tưởng từ lâu và đến cuối năm 1967 đầu 1968 việc chuẩn bị trực tiếp cho kế hoạch tổng công kích, tổng khởi nghĩa càng khẩn trương, hối thúc. Trên toàn chiến trường miền Nam cả nông thôn và đô thị, cả khu trọng điểm Sài Gòn - Gia Định và chiến trường nghi binh lừa địch đều tập trung vào thực hiện cho bằng được với ý chí quyết tâm cao nhất cho giờ phút quyết định.

Thực tế Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 đã giáng cho đối phương đòn bất ngờ về quân sự được thể hiện trên các phương diện:

- Bất ngờ về thời điểm và quy mô: tướng Oétmolen từng báo cáo trước Hội đồng phái bộ Mỹ ngày 15-1-1968 "tôi thấy khả năng là 60 đến 40% đối phương sẽ đánh trước Tết, có thể vào ngày 25-1"; tướng Davítxơn lại thấy "khả năng là 40-60% đối phương sẽ đánh sau Tết"; nhưng cuộc tổng tiến công nổ ra không phải "trước" hoặc "sau" mà đúng vào ngày Tết, ngoài dự kiến của Oétmolen và Đantxơn3. Quy mô tiến công trên toàn chiến trường kể cả trên tất cả các đô thị miền Nam, đánh vào trung tâm của 4 thành phố lớn nhất miền Nam Việt Nam và tiến công 30 tỉnh lị từ đồng bằng sông Cửu Long đến khu vực phi quân sự (DMZ). Hãng Reuters (Anh) ngày 3-2-1968 bình luận: "Quy mô và tính chất ác liệt của các trận tấn công phối hợp ở Sài Gòn và ở các trung tâm chủ chốt khác tại Nam Việt Nam làm cho Mỹ và các nước đồng minh rất đỗi ngạc nhiên".

- Bất ngờ về phương hướng và phương thức tác chiến: Mỹ bị lôi kéo tập trung ra chiến trường Khe Sanh, sa vào kế hoạch nghi binh hoàn hảo và bị đòn bất ngờ, táo bạo của Quân giải phóng ở đầu não lớn nhất là Sài Gòn; Mỹ tưởng đánh vào đô thị chỉ là đòn nghi binh để tập trung đánh ở chiến trường rừng núi hòng làm một "Điện Biên Phủ thứ 2", nhưng tại chiến trường chính là Sài Gòn, Mỹ và toàn bộ bộ máy chiến tranh của Mỹ ở Nam Việt Nam bị đánh hiểm bằng lực lượng đột kích của biệt động thành. Chính sách giáo khoa quân sự của Mỹ thú nhận: "Điều đầu tiên cần nói về cuộc tổng tiến công là tình báo của đồng minh đã thất bại ngang với trận Trân Châu Cảng năm 1941 và trận tiến công Ardennes năm 1944. Việt Nam đã giành được sự bất ngờ hoàn toàn".

- Bất ngờ về mục tiêu: Quân giải phóng đã "kéo cho được lực lượng cơ động của địch ra ngoài để tiêu diệt và đánh mạnh vào các đơn vị chủ lực lớn của địch", nhằm đúng hướng công kích chủ yếu là các thành thị, nhất là những thành thị lớn" - nơi tập trung lực lượng và bộ máy đầu não của Mỹ và chính quyền Sài Gòn...; tiến công hàng loạt và đánh phá mạnh mẽ những nơi yết hầu của địch, những cơ quan đầu não và then chốt, những Sở chỉ huy quan trọng của Mỹ... chiếm giữ hoặc phá hoại được nhiều cơ sở hậu cần, kho vũ khí, đạn dược, xăng dầu, phương tiện vận tải, lương thực, những sân bay, hải cảng, đầu mối giao thông, những trung tâm thông tin, tuyên truyền và đài phát thanh... tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch và làm tê liệt sức đề kháng của chúng . Lực lượng biệt động thuộc Phân khu 6 trong ngày mồng 2 Tết Mậu Thân 1968 (lịch âm miền Nam, tức ngày 31-1-1968) tiến công 6/9 mục tiêu chủ yếu, chiến đấu rất dũng cảm, chiếm được Đài Phát thanh và Tòa Đại sứ Mỹ, giữ trong thời gian ngắn. Hãng Reuters ngày 5-2-1968 thống kê: "Mỹ có đến nửa triệu quân ở Nam Việt Nam, đã mất 13 năm và đã tiêu mỗi ngày 60 triệu đôla mà vẫn không bảo vệ được một tấc vuông đất nào ở miền Nam Việt Nam cả".

Buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh

Từ cuối năm 1967, khi cuộc chiến tranh leo thang còn đang tiếp tục, nước Mỹ đã xuất hiện những dấu hiệu mới. Rõ rệt nhất là Bộ trưởng Quốc phòng Mắc Namara - người từng khởi xướng việc Mỹ tham chiến tại Việt Nam và đề xuất việc leo thang chiến tranh, nhưng sau đó lại tự nghi vấn chính sách của Mỹ và cuối cùng thì chủ trương kết thúc chiến tranh bằng thương lượng. Trước sự bi quan về triển vọng của chiến tranh Việt Nam và thất vọng về sự bất hợp tác của Tổng thống, ngày 29-2-1968 Mắc Namara từ chức Bộ trưởng Quốc phòng; Tổng thống Giônxơn nhanh chóng chấp thuận và đưa cố vấn của mình là Cờlác Cờlípphớt lên thay.

Cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân trên toàn miền Nam trong đó việc đột kích vào các vị trí quan trọng của bộ máy chiến tranh tại Sài Gòn, gây bàng hoàng cho các chính giới ở Mỹ và tác động mạnh mẽ đến Quốc hội Mỹ, gây mất niềm tin sâu sắc trong dư luận nhân dân Mỹ. Ngày 20-2-1968, Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ yêu cầu điều trần về chính sách của Mỹ ở Việt Nam, đặc biệt là sự kiện Vịnh Bắc Bộ dẫn đến Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ làm cơ sở pháp lý cho việc leo thang chiến tranh.

Tiếp đó, Quốc hội Mỹ phản đối yêu cầu của tướng Oétmolen - Tư lệnh liên quân Mỹ ở Nam Việt Nam về tăng thêm 206.000 quân, không tin vào đường lối chiến tranh và chiến thuật tác chiến của quân đội Mỹ ở chiến trường Việt Nam. Tình hình đó dẫn đến việc Tổng thống Mỹ không thể chấp nhận tăng quân để tiếp tục leo thang chiến tranh.

Đầu tháng 3-1968, Tổng thống Giônxơn triệu hồi tướng Oétmolen từ Việt Nam về Mỹ và đưa tướng Abờram sang thay làm Chỉ huy lực lượng liên quân Mỹ tại Việt Nam.

Tổng thống Giônxơn thấy cần thiết phải có những tuyên bố về tình hình và ông triệu tập Hội đồng An ninh quốc gia xem xét lại toàn bộ cuộc chiến tranh Việt Nam. Trong hai ngày nhóm họp (25 và 26-3-1968), các cố vấn cấp cao Oasinhtơn bày tỏ quan điểm về chiến lược của Mỹ ở Việt Nam và Tổng thống kết luận: "Theo như tôi hiểu... tất cả mọi người đều đề nghị rút ra khỏi chiến tranh Việt Nam" .
Ngày 31-3-1968, Tổng thống Giônxơn quyết định đình chỉ 30 ngày mọi cuộc ném bom hoặc bắn phá lãnh thổ miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 20 trở ra; đồng thời cử đại diện tiếp xúc với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cho mời Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu sang Mỹ để trấn an chế độ Sài Gòn.

Đêm chủ nhật 31-3-1968 (lúc 21 giờ), truyền hình liên bang Hoa Kỳ phát đi bài phát biểu của Tổng thống Giônxơn dài 45 phút nói về những quyết định hệ trọng bậc nhất của quốc gia cũng như của cá nhân ông, trong đó có những nội dung lớn là: Mỹ đơn phương chấm dứt ném bom Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ vĩ tuyến 20 trở ra; Mỹ sẵn sàng cử đại diện đàm phán với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; chấm dứt thời kỳ Mỹ "tăng cường cam kết đưa các lực lượng quân Mỹ vào cuộc chiến tranh trên bộ"; tăng nhanh việc trang bị cho quân đội Nam Việt Nam, tạo cho đội quân này khả năng phòng thủ Nam Việt Nam. Cuối cùng, ông tuyên bố: "Tôi sẽ không tìm kiếm và sẽ không chấp nhận sự đề cử của Đảng tôi ra ứng cử Tổng thống một nhiệm kỳ mới nữa".

Như vậy, quyết định đêm ngày 31-3-1968 của Tổng thống Giônxơn là biểu hiện cao nhất, rõ ràng nhất của chuỗi dài xuống thang chiến tranh của Mỹ trước tác động của đòn tiến công Tết Mậu Thân 1968 với ba bước đi cụ thể:

1- Không tiếp tục tăng quân sang miền Nam, triệu hồi tướng tư lệnh chiến trường từ miền Nam về Mỹ, không tiếp tục thực hiện hoạt động tác chiến phản công "tìm diệt" ở chiến trường miền Nam... Chiến lược "chiến tranh cục bộ" coi như phá sản và phải thừa nhận trong thực tế không thể dùng lực lượng quân đội viễn chinh Mỹ để thắng trong chiến tranh ở Việt Nam.

2- Ngưng ném bom miền Bắc, đáp ứng điều kiện của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về nói chuyện hòa bình giải quyết chiến tranh bằng đàm phán, dẫn đến chấm dứt chiến tranh phá hoại ở miền Bắc, chấp nhận thực tế không thể ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam, thừa nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một bên đàm phán kết thúc chiến tranh.

3- Phi Mỹ hóa cuộc chiến tranh để chuyển giao cuộc chiến cho Việt Nam Cộng hòa, giải quyết nội tình nước Mỹ đang bị chia rẽ về chiến tranh Việt Nam và cố gắng duy trì chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam. Tổng thống đương nhiệm không tiếp tục ra ứng cử nhiệm kỳ mới vì không tìm thấy cách giải bài toán chiến tranh Việt Nam, như là cách chấp nhận thua cuộc.

Xuống thang chiến tranh trong khi đang tham chiến là đột phá rất khó xảy ra, nhất là khi cuộc chiến ấy đang còn nhiều khả năng leo thang với nhiều cố gắng tìm kiếm thắng lợi về quân sự; càng không thể xuống thang chiến tranh đối với đội quân tham chiến của một đế quốc lớn mạnh còn rất đông trên chiến trường, vũ khí hiện đại và sức cơ động hơn hẳn đối phương trong cuộc chiến. Vậy nên quyết định xuống thang chiến tranh của Tổng thống Giônxơn là một đột phá bất ngờ nhưng không thể khác được trước tác động của đòn tiến công Tết Mậu Thân 1968; sự lựa chọn không thể khác được như thế mang bản chất một sự thất bại quân sự trong chiến tranh.

Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968 là đòn quân sự và chính trị đánh vào ý chí chiến tranh của Mỹ, đánh vào cơ quan đầu não của địch ở Sài Gòn và các thành thị... đã giáng một đòn bất ngờ rất lớn, làm cho quân Mỹ - nguỵ hoang mang, dao động mạnh... buộc đế quốc Mỹ phải thay đổi chiến lược quân sự của chúng... đã kéo Mỹ xuống thang chiến tranh. Thực hiện đòn Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, quân và dân ta không chỉ đạt được mục đích kéo Mỹ xuống thang chiến tranh (lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh của Mỹ), mà còn có ý nghĩa làm ngã ngũ thắng - bại cuộc chiến tranh này.

Thực tế cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ mùa Xuân tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân năm 1968, một thời kỳ mới phát triển mới đã mở ra - thời kỳ vừa đánh vừa đàm, nhằm mục tiêu giành thắng lợi quyết định, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn.




-------------------------------------------------------------------
1. Đến năm 1962, quân Sài Gòn có lực lượng 354.000 quân, trong đó có gần 200.000 chủ lực trang bị hiện đại theo kiểu Mỹ, tác chiến theo "chiến thuật tân kỳ" của Mỹ. Lực lượng nòng cốt này còn có sự hỗ trợ trực tiếp của 2.630 cố vấn Mỹ, 8.280 quân thuộc lực lượng đặc nhiệm Mỹ, 257 máy bay chiến đấu, 364 xe thiết giáp...

2. Gây ra sự kiện Vịnh Bắc Bộ để thúc đẩy Quốc hội Mỹ ra Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ; thực hiện "trả đũa" đối với các hoạt động quân sự của Quân giải phóng ở miền Nam Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 24 Tháng Năm, 2020, 10:28:21 am
CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968 -
THẤT BẠI CỦA MỸ VÀ BƯỚC CHUYỂN CỦA CÁCH MẠNG MIỀN NAM



Đại tá, TS. LÊ HỒNG ĐIỆP
Trưởng phòng Khoa học quân sự Quân khu 7


Trên cơ sở đánh giá tương quan lực lượng địch - ta và nhận thấy thế "tiến thoái lưỡng nan" về chiến lược của Mỹ khi thời điểm vận động tranh cử Tổng thống Mỹ đang đến gần, cuối năm 1967, Bộ Chính trị quyết định phải tạo một bước nhảy vọt thông qua chọn hướng chiến lược hiểm, dùng cách đánh mới, giáng một đòn bất ngờ, thật mạnh vào ý chí xâm lược của Mỹ, làm xoay chuyển cục diện chiến tranh. Thực hiện chủ trương của Đảng, đêm 30 rạng ngày 31-1-1968, quân và dân ta đã đồng loạt mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy vào hầu hết các thành phố, thị xã, hàng trăm thị trấn và các căn cứ quân sự, hậu cần, Sở chỉ huy lớn của địch trên toàn miền Nam. Đây là cuộc ra quân với quy mô lớn, toàn diện và có khí thế cách mạng cao nhất kể từ đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến lúc bấy giờ và cũng là lần đầu tiên ta tiến công táo bạo, bất ngờ vào sào huyệt của kẻ thù. Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đã tác động nhiều mặt đến nước Mỹ.

Thứ nhất, nó đã làm lung lay ý chí xâm lược, buộc đế quốc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, chấp nhận đàm phán với ta tại Hội nghị Pari.

Đòn Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân là một chiến thắng lịch sử có tác động mạnh mẽ đến cục diện chung của cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ tại Việt Nam. Đây là một bất ngờ lớn làm Mỹ choáng váng. Sau sự kiện Mậu Thân 1968, ngày 1-3-1968, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mắc Namara, một trong những kiến trúc sư của chiến lược chiến tranh xâm lược Việt Nam phải từ chức vì không tìm thấy lối ra cho cuộc chiến. Ngày 25-3-1968, Tổng thống Mỹ triệu tập Hội đồng An ninh quốc gia để xem xét lại toàn bộ cuộc chiến tranh Việt Nam. Trên cơ sở đánh giá tình hình và xu hướng của cuộc chiến ở chiến trường miền Nam, cũng như tại chính trường nước Mỹ, Tổng thống Giônxơn phải đi đến những quyết định:

- Ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 20 trở ra và tìm giải pháp chính trị cho cuộc chiến tranh.
- Từ bỏ chiến lược "tìm và diệt" thay bằng chiến lược "quét và giữ".
- Từng bước thực hiện "phi Mỹ hóa chiến tranh", giảm dần sự dính líu trên bộ của Mỹ ở miền Nam Việt Nam.

Như vậy, thắng lợi của quân và dân ta trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 đã làm phá sản chiến lược "chiến tranh cục bộ" của Mỹ, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, chuyển sang chiến lược phòng ngự và chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Thứ hai, làm rúng động xã hội Mỹ, thúc đẩy phong trào phản chiến của nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới.

Đòn Tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 như một "quả bom" nổ giữa chính trường nước Mỹ, đã gây kinh hoàng cho cả nước Mỹ, khiến cho chính quyền Mỹ choáng váng. Qua sự kiện Tết Mậu Thân, công chúng Mỹ nhận thấy mình đang bị Chính phủ lừa dối. Do đó, phong trào phản đối chiến tranh ngày càng lên cao. Nhiều người trong chính giới Mỹ cũng bắt đầu đề nghị xem xét lại chính sách của Mỹ với cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Ngày 27-2-1968, Crokite, phóng viên của Hãng truyền hình CBS Mỹ đến Sài Gòn tận mắt xem xét tình hình đã bình luận: "Giờ đây, có lẽ điều chắc chắn hơn bao giờ hết là cuộc chiến tranh đẫm máu ở Việt Nam sẽ đi vào bế tắc" và nói thêm rằng "chỉ còn một cách để người Mỹ thoát khỏi vũng lầy là thương lượng với Hà Nội" . Quan trọng hơn, Tết Mậu Thân đã tác động mạnh vào nội tình nước Mỹ, tạo nên bước ngoặt trong chính sách của chính quyền Mỹ đối với cuộc chiến tranh. Trước khi sự kiện Tết Mậu Thân xảy ra, có lẽ chưa bao giờ người dân nước Mỹ được chứng kiến cảnh "Việt cộng" tiến công đồng loạt vào hầu hết các thành phố, thị xã, thị trấn trên toàn miền Nam. Đúng như nhận định của Mắcxoen Taylo, cựu Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, cố vấn đặc biệt của Tổng thống Giônxơn trong cuốn Hồi ký Thanh gươm và lưỡi cày xuất bản năm 1972: "Ngày 31-1-1968, quân địch (tức Quân giải phóng) tiến công và chỉ trong vòng 2 ngày họ đã tiến vào 5 đô thị lớn, 39 tỉnh lỵ và nhiều thành phố. Những trận tiến công của họ đã được báo chí Mỹ tường thuật dưới dạng những hàng tít lớn, được chiếu trên các màn ảnh vô tuyến truyền hình và đã làm cho phần lớn dân chúng Mỹ và một số quan chức kinh hoàng. Phải rất lâu họ mới hoàn hồn và trong một số trường hợp sự hoàn hồn đó mãi mãi không bao giờ được khôi phục lại hoàn toàn" .

Quả vậy, nhờ có sự kiện "Tết", qua phương tiện thông tin đại chúng, nhất là truyền hình, lần đầu tiên, những hình ảnh tàn phá, chết chóc của chiến tranh đã len lỏi vào hàng triệu gia đình người Mỹ. Đặc biệt, với việc "Việt cộng" tiến công Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn đã gây một chấn động lớn làm thay đổi hoàn toàn nhận thức của người dân Mỹ về chiến tranh Việt Nam. Nếu trước đó, họ còn tin vào những thông báo lạc quan, thì nay, với những gì được nhìn thấy trên truyền hình, họ cho rằng "Việt cộng mạnh hơn nhiều" so với những tuyên bố trước đây của Tổng thống Giônxơn và tướng Oétmolen, Tư lệnh Bộ Chỉ huy quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Sau sự kiện Tết Mậu Thân 1968, người dân và không ít chính giới Mỹ đặt ra hàng loạt câu hỏi: Sự tàn phá, chết chóc do bom đạn Mỹ gây ra ở Việt Nam nhằm đạt mục đích gì? Chồng con họ hy sinh và tàn phế có phải vì lợi ích chính đáng của nước Mỹ không? Thái độ chung của người Mỹ đều cho rằng: "Tham gia vào công việc ở Việt Nam là một sai lầm". Lòng tin của quần chúng đối với Tổng thống đương nhiệm bị giảm sút mạnh.

Trước thực tế đó, Quốc hội Mỹ phải xem xét lại toàn bộ chính sách và chiến lược của Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Dư luận Mỹ và phần lớn nghị sĩ Quốc hội, quan chức cao cấp trong chính quyền và giới tài phiệt nhận thức rõ: Mỹ không thể giành chiến thắng ở miền Nam; Mỹ cũng không giành lại quyền chủ động trên chiến trường cho dù tăng quân và tiền của.

Không chỉ tác động vào chính trường nước Mỹ, thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân còn tác động mạnh mẽ vào dư luận quốc tế. Liên Xô, Trung Quốc ủng hộ, giúp đỡ mạnh mẽ sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam. Vị thế của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được nâng cao. Bạn bè quốc tế tiếp xúc với cán bộ Việt Nam đều khen ngợi, cảm phục. Sức ép quốc tế đòi Mỹ xuống thang tăng mạnh. Lãnh đạo nhiều nước như Pháp, Hà Lan, Bỉ, Na Uy, Thụy Điển,... cùng nhiều nhân vật quốc tế, trong đó có Tổng thư ký Liên hợp quốc U Than đều đồng loạt lên tiếng yêu cầu Mỹ chấm dứt ném bom, thương lượng với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Như vậy, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta trong Tết Mậu Thân 1968 có tác động sâu sắc và toàn diện vào nội tình nước Mỹ. Nội bộ nước Mỹ bị chia rẽ sâu sắc, chính giới phân hóa, tiếng nói của phái chủ hòa trong Quốc hội và chính quyền ngày càng mạnh mẽ, sức ép quốc tế cũng tăng. Chính quyền Giônxơn lâm vào thế bị bao vây và khủng hoảng trầm trọng. Nhân dân thế giới hướng về Việt Nam với tinh thần mến phục và đẩy mạnh phong trào phản đối chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ.

Thứ ba, thổi bùng lên ngọn lửa yêu nước và cách mạng của các tầng lớp nhân dân, thúc đẩy chiến tranh du kích phát triển mạnh ở miền Nam.

Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 với trọng điểm Sài Gòn là thắng lợi to lớn cả về chính trị lẫn quân sự. Việc các đội biệt động Quân giải phóng đánh vào những trọng điểm, đặc biệt là Đại sứ quán Mỹ đã làm cho chính quyền Mỹ hết sức choáng váng, nhụt ý chí xâm lược và phải nghĩ đến những biện pháp kết thúc cuộc chiến. Với nhân dân Sài Gòn và các đô thị khác ở Nam Bộ, Mậu Thân đã giúp những người bấy lâu bị khống chế tin tức và sự xuyên tạc của địch, được tận mắt nhìn thấy những chiến sĩ Quân giải phóng bằng xương bằng thịt, với rất nhiều thiện cảm và ấn tượng tốt đẹp. Họ cũng đã nhận rõ âm mưu xuyên tạc của các cơ quan tuyên truyền, chiến tranh tâm lý của địch về người chiến sĩ cách mạng. Xét về khía cạnh này, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 là bằng chứng chân thực, sống động nhất khiến cho quần chúng thành thị cùng các tầng lớp nhân dân nhiều địa phương toàn Miền hiểu rõ hơn mục đích cách mạng dưới ngọn cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng.

Với lòng tin tưởng tuyệt đối vào sự nghiệp cách mạng, sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, chiến tranh du kích ở miền Nam đã phát triển lên một tầm cao mới.

Đánh giá về vấn đề này, Bộ Chỉ huy Miền khẳng định: trong năm 1969, chiến tranh du kích ở miền Nam "hoạt động mạnh mẽ, đều khắp, đánh trúng, đánh sâu vào sào huyệt của địch; giữ thế trận liên tục tiến công ở thành thị và các vùng gần thành thị, làm nòng cốt cho phong trào đấu tranh chính trị, diệt ác, phá kìm, bước đầu làm thất bại âm mưu "bình định cấp tốc"; vận dụng nhiều cách đánh sáng tạo có hiệu suất chiến đấu cao".

 Quả vậy, sau sự kiện Mậu Thân 1968, chiến tranh du kích ở miền Nam liên tiếp mở trên 10 đợt tiến công đồng loạt. Du kích tiến công từng đợt trên phạm vi rộng lớn gồm nhiều tỉnh, thành phố. Đó là điều kiện khiến địch bị phân tán, dễ lộ chỗ yếu. Du kích đồng thời đánh bất ngờ vào hầu hết các thành thị, thị trấn, cơ quan hành chính, Sở chỉ huy quân sự, kho tàng, đường giao thông của địch. Hiệu quả tiến công của du kích cao hơn lúc nào hết. Từ tháng 6 đến tháng 11-1969 chiến tranh du kích đã tiêu diệt 80.000 quân Mỹ, quân Sài Gòn và quân các nước đồng minh.

Ở Sài Gòn, du kích hoạt động khắp 8 quận nội thành. Du kích đánh vào các sân bay, bến cảng, kho tàng... Đó là các đòn đánh rất hiểm vào sâu trong lòng địch. So với năm 1968 thì năm 1969 số trận tiến công, mức tiêu diệt sinh lực địch và phương tiện chiến tranh địch của chiến tranh du kích ở các thành thị tăng gấp 3 lần và tăng gấp 5 lần ở Mỹ Tho, Cần Thơ, Bến Tre cùng các thị xã, thị trấn khác ở đồng bằng sông Cửu Long. Chỉ tính trong 3 tháng (8, 9, 10 - 1969), ở thành phố Cần Thơ, du kích mở 30 trận tiến công, diệt 750 tên địch.

Thứ tư, mở ra cục diện mới trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, làm suy yếu địch, tạo thế và lực cho ta trong quá trình đấu tranh đi đến thắng lợi cuối cùng.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 đã mở ra cục diện mới trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, trong đó chiến trường Nam Bộ là một trọng điểm lớn. Đối với địch, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968, nhất là trong đợt Tết Nguyên đán đã đánh cho chúng những đòn bất ngờ và gây cho chúng những tổn thất lớn về sinh lực và vật lực. Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Sài Gòn thú nhận, trong 2 tháng (tháng 2 và 3 - 1968), quân đội Sài Gòn bị tổn thất 20.977 quân (trong đó chết là 4.954), quân Mỹ và đồng minh tổn thất 24.013 quân (trong đó chết là 4.124).

Không chỉ gây tổn thất lớn cho địch, Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 còn tạo thế và lực mới cho các lực lượng vũ trang nhân dân càng đánh càng mạnh, chất lượng, hiệu suất chiến đấu ngày càng cao. Điển hình là Chiến dịch Tây Ninh (từ ngày 17-8 đến 21-9-1968). Trên một địa bàn tương đối hẹp, với một lực lượng có hạn, Quân giải phóng miền Nam đã tiêu diệt hơn 14.000 tên địch (trong đó có 10.000 lính Mỹ, tương đương với số địch bị diệt trong cuộc hành quân Gianxơnxiti), phá hủy 1.355 xe quân sự; bắn rơi 85 máy bay; bắn chìm 19 xuồng chiến đấu. "Riêng ở Tây Ninh, bình quân mỗi ngày trong hơn một tháng, ta diệt 400 tên địch, 40 xe quân sự, 4 đại bác và súng cối hạng nặng, 2 máy bay; cứ 2 ngày ta diệt 1 tiểu đoàn địch".

 Thắng lợi trên chiến trường tạo nên thế và lực mới cho cách mạng miền Nam: ta có thế tiến công toàn diện, liên tục, đồng loạt trên các chiến trường; có thế phát huy sức mạnh tổng hợp của ba thứ quân, ba mũi giáp công, trên cả ba vùng. Quan trọng hơn là sau Tết Mậu Thân 1968, ta đã củng cố được niềm tin tất thắng trong lòng dân. Đồng thời, ta tạo ra thế của mặt trận chống Mỹ, cứu nước với sự giúp đỡ của phe xã hội chủ nghĩa và của nhân dân thế giới ngày càng mạnh mẽ.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 đã thu được những thắng lợi to lớn và căn bản trên tất cả các mặt chính trị, quân sự và ngoại giao. Trên cơ sở thế và lực mới, quân dân miền Nam tiếp tục chiến đấu, vượt qua mọi gian khổ, ác liệt, hy sinh tạo ra những điều kiện và thời cơ mới. Thực tế chiến trường đã chứng minh rằng, chỉ một thời gian ngắn sau đó ta đã tạo được thế trận chủ động, giáng đòn liên tiếp gây nhiều thất bại cho địch trong mùa khô 1971-1972 và sau đó tháng l-1973 buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pari, chấp nhận thất bại, rút quân Mỹ về nước, đúng như Thượng tướng Trần Văn Trà đã khẳng định: "Không có Tết Mậu Thân thì không có ngày 30-4-1975".

Âm hưởng thắng lợi to lớn của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân vẫn vang vọng mãi, là niềm tự hào về sự sáng tạo độc đáo trong cuộc chiến tranh nhân dân thời đại Hồ Chí Minh. Kỷ niệm 50 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta ôn lại một sự kiện lớn đánh dấu một mốc son trong lịch sử đấu tranh cách mạng hào hùng của dân tộc. Đó cũng là dịp để chúng ta giáo dục truyền thống yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng và phát huy tinh thần tiến công cách mạng trong mỗi con người, từng việc làm cụ thể, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 24 Tháng Năm, 2020, 10:33:34 am
CÁCH ĐÁNH ĐỘC ĐÁO, SÁNG TẠO
TRONG TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968



Đại tá, ThS. PHẠM ANH TUẤN
Trưởng ban Sau đại học, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là một chiến công rất oanh liệt và có vị trí to lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta‏.‏ Đây là một thắng lợi đã tạo ra bước ngoặt quyết định của cuộc kháng chiến, làm lung lay tận gốc ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh. Thành công lớn trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh và nghệ thuật quân sự của ta trong Tết Mậu Thân 1968 là đã tìm ra và thực hiện thành công cách đánh mới, một cách đánh độc đáo, sáng tạo vượt ra ngoài dự đoán và mọi sự tính toán trước đó của Mỹ, chính quyền Sài Gòn, vượt lên mọi tư duy quân sự đơn thuần.
 
Trong lịch sử dân tộc ta đã có những cuộc tiến công lớn, những trận quyết chiến chiến lược chống giặc ngoại xâm, dưới tài thao lược của những người lãnh đạo kiệt xuất, nhân dân ta đã vượt qua mọi trở ngại, chiến thắng mọi kẻ thù, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc. Kể từ khi Ngô Quyền lãnh đạo nhân dân ta đánh bại quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng cuối năm 938, chấm dứt hơn 1000 năm Bắc thuộc, giành độc lập hoàn toàn cho dân tộc, đến trước cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mở đầu năm 1858, trong hơn 9 thế kỷ, dân tộc ta tiến hành 7 cuộc kháng chiến thắng lợi 1. Tùy theo so sánh lực lượng và hoàn cảnh cụ thể của mỗi cuộc kháng chiến, tổ tiên ta đều có nghệ thuật đánh giặc đặc sắc, tìm ra cách đánh độc đáo, sáng tạo thể hiện trong các trận quyết chiến chiến lược giành thắng lợi kết thúc chiến tranh.

Cách đánh mới trong Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 là sự kế thừa, là bước tiếp nối đầy sáng tạo truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Ngay từ đầu năm 1965, Mỹ ồ ạt đưa quân viễn chinh vào miền Nam thực hiện chiến lược "chiến tranh cục bộ", đồng thời leo thang phá hoại miền Bắc. Trước những diễn biến mới, Ban Chấp hành Trung ương Ðảng (tháng 12-1965) đã phân tích và khẳng định sức mạnh của Mỹ không phải là vô hạn. Ta có thể hạn chế những chỗ mạnh, khoét sâu chỗ yếu của Mỹ để giành thắng lợi. Trên cơ sở đánh giá đúng cả mặt mạnh và mặt yếu của địch, thế và lực của ta, Ðảng ta chỉ rõ: Cần tiếp tục giữ vững và phát huy thế chiến lược tiến công, kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, trong đó đấu tranh quân sự có tác dụng quyết định trực tiếp, để đưa cuộc kháng chiến của nhân dân ta tiếp tục tiến lên.

Tháng 10-1967, Bộ Chính trị họp bàn cụ thể về chủ trương và kế hoạch chiến lược năm 1968. Bộ Chính trị cho rằng Mỹ đang thất bại lớn, dù chúng có tăng quân cũng không thể khắc phục được, vì nội bộ mâu thuẫn sâu sắc và đang bị cô lập. Tuy nhiên, Mỹ còn rất ngoan cố, đang cố gắng tăng cường lực lượng để ổn định tình hình quân sự, chính trị ở Nam Việt Nam. Để đưa cách mạng miền Nam có bước phát triển nhảy vọt, đánh mạnh vào ý chí xâm lược của Mỹ, tạo ra bước ngoặt căn bản, Bộ Chính trị quyết định một phương thức tiến công, một cách đánh mới có hiệu lực cao: Bất ngờ và đồng loạt đánh mạnh vào các đô thị trên toàn miền Nam. Tháng 1-1968, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Ðảng lần thứ 14 đã thông qua Nghị quyết tháng 12-1967 của Bộ Chính trị, quyết định thực hiện tổng công kích - tổng khởi nghĩa (sau này là tổng tiến công và nổi dậy) để giành thắng lợi quyết định cho sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Cũng trong thời gian này, Bộ Chính trị thông qua phương án tổng công kích, tổng khởi nghĩa do Bộ Tổng Tham mưu soạn thảo. Phương án xác định chiến trường trọng điểm là Sài Gòn - Gia Định, Đà Nẵng, Huế; hướng phối hợp quan trọng là Đường 9 - Khe Sanh. Cụ thể là: Cùng với đòn tiến công của bộ đội chủ lực ở hướng phối hợp chiến lược đặc biệt quan trọng là Đường 9 - Khe Sanh nhằm thu hút, giam chân lực lượng chiến lược của địch, một đòn tiến công chiến lược đánh vào thành phố, thị xã quy mô trên toàn miền Nam, kết hợp với nổi dậy của quần chúng các đô thị và nông thôn, mở đầu cho tổng công kích, tổng khởi nghĩa, lấy chiến trường chính là Sài Gòn - Gia Định, Đà Nẵng, Huế, trọng điểm là Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế và các thành phố lớn . Đánh thẳng vào các cơ quan đầu não quan trọng nhất của Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở nhiều thành phố, thị xã, kết hợp với nổi dậy của quần chúng nhân dân để đánh bại ý chí xâm lược của Mỹ thể hiện bước phát triển mới về cách đánh của ta.

Để chuẩn bị cho Tết Mậu Thân và thực hiện cách đánh mới, từ năm 1965 ta đã triển khai nhiều biện pháp, tiến hành mọi công tác chuẩn bị. Tính đến cuối năm 1967, ta đã thiết lập được 19 "lõm chính trị" ngay sát những mục tiêu trọng yếu của địch gồm: 325 gia đình cơ sở, 400 điểm ém quân, 12 kho vũ khí; thiết lập đường dây liên lạc và chuyển vũ khí vào gần các mục tiêu tiến công, sẵn sàng đón và đáp ứng thời cơ chiến lược. Ðây là thắng lợi lớn của phương châm đánh địch trên ba vùng chiến lược, là một trong những cơ sở quan trọng để Ðảng ta hạ quyết tâm đưa chiến tranh vào đô thị, mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt trong dịp Tết Mậu Thân 1968.

Thực hiện kế hoạch đã định, ngày 20-1-1968, ta mở màn chiến dịch Ðường 9 - Khe Sanh nhằm đánh lạc hướng, thu hút một bộ phận đáng kể quân cơ động của Mỹ; vây hãm, giam chân và tiêu hao chúng, tạo thế cho các chiến trường khác tiến công và nổi dậy. Cùng thời điểm này, trên chiến trường nước bạn Lào, từ ngày 12 đến ngày 27 -1-1968, quân đội Pathét Lào và Quân tình nguyện Việt Nam mở chiến dịch Nậm Bạc. Chiến thắng này là sự phối hợp nhịp nhàng với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân. Ðêm 30 rạng ngày 31-1-1968, quân và dân ta đồng loạt nổ súng tiến công trên toàn chiến trường miền Nam, gồm 4 thành phố, 37 thị xã và hàng trăm thị trấn, 4 bộ tư lệnh quân đoàn địch, hầu hết các bộ tư lệnh sư đoàn, 30 sân bay và gần 100 cơ sở hậu cần của chúng. Trong đó, có những trận đánh gây chấn động lớn như trận đánh vào Dinh Ðộc lập, Bộ Tổng Tham mưu, Ðài Phát thanh Sài Gòn và Tòa Ðại sứ Mỹ và đặc biệt ta đã làm chủ thành phố Huế trong 25 ngày đêm. Tờ Thời báo Mỹ số ra ngày 9 -2-1968 gọi đây "chắc chắn là một hành động bất ngờ thần thánh, một lực lượng địch tản mát và không ai thấy được, bị săn đuổi khắp nơi, không lúc nào ngừng, bỗng dưng xuất hiện và đồng loạt tiến công ở hàng trăm trận địa trên khắp nước" .

Thành công lớn trong Tết Mậu Thân của ta là tìm ra cách đánh mới và giữ được bí mật cách đánh về chiến lược, chiến dịch và chiến thuật làm cho Mỹ và chính quyền Sài Gòn hoàn toàn bị bất ngờ, không thể phán đoán nổi. Chỉ trong 24 tiếng đồng hồ, toàn bộ hậu phương an toàn nhất của kẻ địch, tất cả thành phố, tỉnh lỵ đều bị đồng loạt tiến công, kể cả các vị trí trọng yếu như Bộ Tổng Tham mưu đến Biệt khu Thủ đô, từ Dinh Tổng thống chính quyền Sài Gòn đến Toà Đại sứ Mỹ. Đây là một cách đánh rất độc đáo, ta không chỉ tiến công tuần tự từ ngoài vào trong mà kết hợp từ trong đánh ra, từ ngoài đánh vào, dưới nhiều hình thức (quân sự, chính trị, binh vận), bằng nhiều lực lượng (chủ lực, đặc công, biệt động, lực lượng tại chỗ...), kết hợp giữa tiến công và nổi dậy đồng loạt, rộng khắp trên toàn chiến trường miền Nam. Thượng tướng Trần Văn Trà, nguyên Phó tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam (1968-1972) nhận định: Cách đánh của Mậu Thân quả thật là độc nhất vô nhị trong chiến tranh từ trước đến nay mà lực lượng ta dùng là lực lượng tổng hợp quân sự, chính trị, trong nước và ngoài nước. Cách đánh trong Tết Mậu Thân 1968 rất sáng tạo, trước hết là xác định về hướng tiến công chủ yếu, mục tiêu tiến công chủ yếu, ta nhằm vào các đô thị ở miền Nam. Đây là đòn tiến công bất ngờ lớn, khiến cho quân địch không kịp trở tay, làm cho giới lãnh đạo Mỹ phải sững sờ, choáng váng. Đòn tiến công của ta đã nhằm trúng vào các mục tiêu yết hầu, huyết mạch của địch, bao gồm các cơ quan đầu não trung ương và địa phương của chính quyền Sài Gòn, các Sở chỉ huy, sân bay, bến cảng, kho tàng, căn cứ truyền tin, đầu mối giao thông, đặc biệt là đánh vào Tòa Đại sứ Mỹ, những mục tiêu nhạy cảm nhất trong bộ máy chiến tranh của chúng ở miền Nam. Địch vẫn cho rằng bộ đội ta ít kinh nghiệm đánh thành phố và chưa có khả năng đánh vào các trung tâm đầu não của chúng. Đây là lần đầu tiên trong nhiều năm kháng chiến, ta đã đưa được chiến tranh vào thành thị, biến hậu phương và hậu cứ địch thành chiến trường của ta. Còn Rôbớt Kennơđi - Thượng nghị sĩ Mỹ đã phải thốt lên rằng: Tại sao nửa triệu lính Mỹ có 70 vạn lính Nam Việt Nam cộng tác, có ưu thế hoàn toàn trên không và ngoài biển, được cung cấp quá đầy đủ và được trang bị những vũ khí hiện đại nhất lại không có khả năng bảo vệ được thành phố khỏi bị đối phương tấn công.

Chọn thời điểm tiến công vào dịp Tết Nguyên đán - đúng đêm giao thừa, lúc mà địch dễ bộc lộ sơ hở, chủ quan và lơi lỏng nhất, các đơn vị quân đội Sài Gòn chỉ còn một nửa quân số thực hiện nhiệm vụ, khiến cho Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ tại Sài Gòn vô cùng lúng túng trong việc ứng phó. Đồng thời, bước vào năm 1968 là năm bầu cử Tổng thống Mỹ, năm mà tình hình nước Mỹ rất nhạy cảm về chính trị. Vào thời điểm này, Mỹ đã qua 8 năm trực tiếp tham chiến ở Việt Nam. Chúng cũng đã từng mở hai cuộc phản cộng chiến lược lớn vào mùa khô 1965-1966 và 1966-1967 nhưng không đạt được kết quả gì đáng kể, trái lại chúng còn bị quân và dân miền Nam đánh cho thiệt hại nặng nề và thất bại hoàn toàn trong mục tiêu chiến lược "bẻ gãy xương sống Việt Cộng". Leo thang đánh phá miền Bắc hòng ngăn chặn sự chi viện cho miền Nam và uy hiếp tinh thần kháng chiến của nhân dân ta cũng không xoay chuyển được tình thế. Tính đến tháng 12-1967, Mỹ đã huy động vào cuộc chiến tranh ở Nam Việt Nam nửa triệu quân với 40% số sư đoàn bộ binh sẵn sàng chiến đấu của nước Mỹ, 30% lực lượng không quân chiến thuật, 1/3 lực lượng hải quân, đã sử dụng hết lực lượng dự trữ dành cho một cuộc "chiến tranh cục bộ". Gánh nặng chiến tranh Việt Nam đã ảnh hưởng nặng nề đến nền kinh tế và xã hội nước Mỹ, đến chiến lược toàn cầu của Mỹ. Đế quốc Mỹ đang trong tình thế "tiến thoái lưỡng nan". Về phía ta, đây là lúc các lực lượng quân sự, chính trị ở miền Nam đã lớn mạnh hơn bất cứ thời kỳ nào trước đó và ta đang nắm quyền chủ động trên chiến trường. Từ những phân tích đánh giá trên, Đảng ta đã khẳng định: "chúng ta đang đứng trước những triển vọng và thời cơ chiến lược lớn", tình hình đó cho phép chúng ta "có thể chuyển cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ giành thắng lợi quyết định".

 Tết Mậu Thân 1968 giành được thắng lợi rất to lớn, đã trực tiếp đánh bại chiến lược "chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ, tạo ra bước ngoặt chiến lược quan trọng nhất của cuộc chiến tranh làm lung lay tận gốc ý chí xâm lược của Mỹ. Nó đã làm cho Mỹ phải thay đổi chiến lược chiến tranh, từ tiến công "tìm và diệt" qua phòng ngự "quét và giữ" để xuống thang chiến tranh, chuyển sang "phi Mỹ hóa" rồi "Việt Nam hóa chiến tranh" dần dần rút quân Mỹ về nước, ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra đến chấm dứt cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, ngồi vào bàn đàm phán với ta ở Hội nghị Pari và tiến tới kết thúc vẻ vang sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vào ngày 30-4-1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

 Cách đánh độc đáo, sáng tạo trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là sáng tạo trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Đảng, đó là truyền thống dám đánh, quyết đánh, biết đánh và biết thắng những kẻ thù lớn mạnh. Đó là truyền thống lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy chất lượng cao thắng số lượng đông. Cách đánh trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là sự kế thừa và phát huy lên một tầm cao mới, trong điều kiện mới truyền thống đánh giặc giữ nước và nghệ thuật quân sự của dân tộc Việt Nam.
 



-----------------------------------------------------------------
1. Đó là các cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược năm 980-981 và năm 1075-1077, chống quân Mông Cổ năm 1258, quân Nguyên năm 1285 và năm 1287-1288, chống quân Xiêm năm 1784-1785, chống quân Thanh năm 1788-1789.


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 24 Tháng Năm, 2020, 10:39:02 am
NƯỚC MỸ THẬP NIÊN 60 THẾ KỶ XX VÀ CUỘC CHIẾN TRANH Ở VIỆT NAM



PGS.TS. TRẦN THIỆN THANH
Phó Chủ nhiệm Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn,
Đại học Quốc gia Hà Nội


Nhìn tổng thể, trong thập niên 60 của thế kỷ XX, chính sách đối ngoại của Mỹ vẫn tiếp tục theo đuổi "mục tiêu mang tính bá quyền về một hệ thống thế giới hội nhập đơn nhất"  do Mỹ chi phối, được Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ thông qua vào đầu năm 1950. Nếu cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950-1953), chính sách tái vũ trang Tây Đức của Mỹ (1950-1954)... là những minh chứng rõ ràng của sự thực thi chính sách này trong thập niên 50, thì cuộc chiến tranh dài nhất của Mỹ ở Việt Nam là điển hình cho chính sách nhất quán mà Mỹ thực hiện xuyên suốt hai thập niên 50 và 60 của thế kỷ XX. Tuy nhiên, sự kiện Tết Mậu Thân năm 1968 và tác động của sự kiện này đối với tình hình nước Mỹ cũng như thay đổi trong tương quan lực lượng giữa Mỹ và các lực lượng cạnh tranh với Mỹ đã làm thay đổi căn bản sự lựa chọn chính sách đối ngoại của Mỹ vào cuối những năm 60.

1. Sự suy giảm tương đối địa vị kinh tế, quân sự; những bất ổn về chính trị, xã hội trong nước và các thất bại trên chiến trường miền Nam Việt Nam - Tác nhân quan trọng dẫn đến sự điều chỉnh chiến lược của Mỹ từ "chiến tranh đặc biệt" (1961-1965) sang "chiến tranh cục bộ" (1965-1968)

Trong những năm 60 của thế kỷ XX, trên cơ sở những điều kiện thuận lợi về đất đai, tài nguyên thiên nhiên, nhân lực, thế mạnh về khoa học - kỹ thuật cũng như ưu thế mà nước Mỹ đã xác lập từ giai đoạn "đỉnh cao" trong những năm đầu hậu Chiến tranh thế giới thứ hai..., nền kinh tế Mỹ tiếp tục phát triển và đạt được những thành tựu đáng kể. Trong những năm 1961-1965, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế trung bình hằng năm của Mỹ là 5%, GDP trung bình hằng năm (tính theo giá trị hiện hành của đồng USD trong giai đoạn 1961-1965) đạt mức 647,3 tỷ USD, GDP theo đầu người trung bình hằng năm là 3.417,26 USD.

Tuy nhiên, so với những năm đầu sau Chiến tranh thế giới thứ hai, trong nửa đầu thập niên 60, ưu thế kinh tế, tài chính của Mỹ trong thế giới tư bản bị giảm sút với các biểu hiện: 1- Nhịp độ phát triển kinh tế của Mỹ so với Tây Âu và Nhật Bản bắt đầu chậm hơn, tỷ trọng công nghiệp giảm sút. Tỷ lệ tăng trưởng GDP trung bình hằng năm trong những năm 1961-1965 cao hơn Anh, thấp hơn Pháp và chỉ xấp xỉ bằng 1/2 so với Nhật Bản. Tỷ lệ tăng trưởng hằng năm về sản lượng nội địa gộp (PIB theo khối lượng) của Mỹ trong những năm 1960-1970 là 3,8%, cũng chỉ cao hơn Anh (2,8%), trong khi thấp hơn Cộng hòa Liên bang Đức (4,7%), Pháp (5,6%) và Nhật Bản (11,2%) . 2- Tỷ giá của đồng USD bị suy yếu nghiêm trọng với tốc độ mất giá hằng năm trong giai đoạn 1960-1969 là 2,2% .

Trong khi đó, trải qua 1,5 thập kỷ kể từ năm 1950, mặc dù còn có những sai lầm và thiếu sót trong việc đề ra và thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân cũng như tình trạng phát triển thiếu cân đối giữa các lĩnh vực kinh tế, nhưng Liên Xô đã thu được những thành tựu to lớn, trở thành quốc gia công nghiệp hùng mạnh. Với vị trí là nước xã hội chủ nghĩa lớn nhất, hùng mạnh nhất, Liên Xô đã giúp đỡ tích cực và to lớn về vật chất và tinh thần cho các nước xã hội chủ nghĩa cũng như cho phong trào cách mạng thế giới.

Với sự tham gia tích cực của Liên Xô, sự mở rộng thành phần, gia tăng số nước tham gia với tư cách quan sát viên và thông qua Điều lệ năm 1959, Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) tiếp tục củng cố và hoàn thiện sự hợp tác giữa các nước xã hội chủ nghĩa, phát triển sự liên hiệp quốc tế xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy sự tiến bộ về kỹ thuật, góp phần giảm sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế của các nước thành viên. Trong những năm 1951-1973, sản lượng công nghiệp của khối SEV so với toàn thế giới tăng từ 18% lên 33%, tốc độ tăng trưởng sản xuất công nghiệp bình quân hằng năm là khoảng 10%. Cùng với đó, những hoạt động của Tổ chức hiệp ước Vácsava 1 đã dẫn tới sự đối đầu về quân sự với Tổ chức hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) - một công cụ của chính sách mở rộng ảnh hưởng của Mỹ. Cuộc chạy đua vũ trang giữa hai khối đã dần tạo nên thế cân bằng chiến lược về sức mạnh quân sự giữa các nước xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa.

Sự phát triển của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và dân chủ cũng đặt ra những trở ngại trên con đường thực hiện chiến lược toàn cầu của Mỹ. Ra đời từ phong trào phi thực dân hóa mạnh mẽ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, đến những năm 60, các quốc gia độc lập non trẻ ở châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ Latinh tiếp tục gia tăng về số lượng và phát triển mạnh mẽ ý thức liên kết đấu tranh. Biểu hiện tập trung là sự hình thành Phong trào Không liên kết vào tháng 9-1961. Chỉ trong vòng chưa đầy một thập niên, số thành viên chính thức của Phong trào Không liên kết đã tăng từ 25 (Hội nghị Bengrát tháng 9-1961) lên 47 (Hội nghị Cairo 1964). Sự phát triển của Phong trào này trong đời sống chính trị thế giới đã hình thành nên "thế giới thứ ba" và trở thành lực lượng chính trị quan trọng mới nổi lên sau chiến tranh. Tỷ trọng tương ứng của "ba thế giới" tư bản chủ nghĩa, xã hội chủ nghĩa và "thế giới thứ ba" trong sản xuất công nghiệp và thương mại thế giới năm 1963 lần lượt là 62% (trong đó Mỹ 32%), 29% (trong đó Liên Xô 19%) và 9% (số liệu về công nghiệp); 63% (trong đó Mỹ 11%), 12% (trong đó Liên Xô 5%) và 25% (số liệu về thương mại).

Có thể nói, sự lớn mạnh của Liên Xô, thay đổi về tương quan sức mạnh quân sự giữa hai khối nước và vai trò ngày càng tăng của "thế giới thứ ba", trong đó có Cuba (chỉ cách Mỹ 144 km tính từ Phloriđa) đang tiến lên theo đường hướng xã hội chủ nghĩa đặt ra thách thức đối với Mỹ và chi phối chính sách đối ngoại của nước này theo hướng thúc đẩy nhu cầu thắt chặt mối quan hệ với các đồng minh có ý nghĩa chiến lược ở từng khu vực và tiếp tục thành lập các khối quân sự, liên minh quân sự nhằm hỗ trợ cho khối NATO, bao vây Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa và ngăn chặn sự phát triển của phong trào phi thực dân hóa tại các thuộc địa, lãnh thổ phụ thuộc của Mỹ. Những diễn tiến này cộng với tác động của sự kiện Trung Quốc thử quả bom hạt nhân đầu tiên tháng 10-1964 và phóng thử tên lửa đất đối đất mang đầu đạn hạt nhân có thể tới bất kỳ mục tiêu nào ở Đông Á vào hai năm sau đó, đã đưa Trung Quốc - nước có diện tích lớn hơn châu Đại Dương và gần bằng châu Âu, với kho vũ khí hạt nhân của mình thành tác nhân quan trọng đối với Hoa Kỳ trong việc thực hiện các mục tiêu chiến lược ở miền Nam Việt Nam, nhất là trong bối cảnh sức mạnh quân sự của Mỹ cũng giảm sút.

Diễn tiến của cuộc chiến tranh Việt Nam là một trong những bằng chứng rõ ràng nhất cho thấy rõ sức mạnh quân sự của Mỹ đã phải lùi bước trước lòng yêu nước và sức mạnh của quân và dân Việt Nam. Liên minh "chống cộng" mà Mỹ xác lập với chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm trong những năm 1956-1960, cùng với đó là việc thực thi những biện pháp để gạt hẳn mọi ảnh hưởng còn lại của Pháp, củng cố thế lực của Mỹ và xây dựng chính quyền tay sai ở miền Nam Việt Nam với những khoản chi khổng lồ cho đào luyện bộ máy, viện trợ ồ ạt về kinh tế, quân sự... một mặt khiến Mỹ dần nắm vai trò chủ đạo trong việc quyết định từ đường lối, chính sách đến các hoạt động cụ thể của chính quyền miền Nam và biến miền Nam Việt Nam thành con đê ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á, mặt khác đã gây nên tình trạng bất ổn định sâu sắc ở miền Nam. Nhân dân miền Nam đã phản kháng mạnh mẽ, quyết liệt mà đỉnh cao là phong trào Đồng khởi năm 1960. Trong cao trào Đồng khởi, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời (20-12-1960) đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam đánh bại chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, đánh đổ nguỵ quyền tay sai, giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất Tổ quốc. Từ đây, phong trào cách mạng miền Nam có sự chuyển biến mới, từ đấu tranh chính trị chuyển sang đấu tranh vũ trang. Đồng thời báo hiệu thời kỳ Mỹ nhúng sâu hơn vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Chiến lược "chiến tranh đặc biệt" - một sự cụ thể hóa điển hình của chiến lược toàn cầu "Phản ứng linh hoạt" và sự gia tăng viện trợ, cố vấn Mỹ cho Việt Nam Cộng hòa trong những năm 1961-1965 đã thúc đẩy quân lực Nam Việt Nam phát triển nhanh chóng, gây không ít khó khăn cho lực lượng cách mạng miền Nam, nhưng trên thực tế, Mỹ đã không thực hiện được mục tiêu đánh bại phong trào nổi dậy của nhân dân miền Nam. Những thắng lợi của Quân giải phóng miền Nam trong trận Ấp Bắc (2-1-1963), chiến dịch Bình Giã (tháng 12-1964) từng bước đập tan hệ thống "ấp chiến lược" - biện pháp xương sống của Mỹ để ly khai lực lượng cách mạng với dân chúng. Sự sa lầy trong chiến lược "chiến tranh đặc biệt" khiến chính quyền Kennơđi bắt đầu nhận lấy những chỉ trích và phản đối rằng cuộc chiến tranh ở Nam Việt Nam là phi nghĩa, bôi nhọ danh dự nước Mỹ. Sự kiện Hoà thượng Thích Quảng Đức tự thiêu để phản đối sự đàn áp Phật giáo của chính quyền ở miền Nam Việt Nam ngày 11-6-1963 đã gây chấn động dư luận thế giới cũng như tạo ra phong trào phản đối sự lộng hành "gia đình trị" của Chính phủ Ngô Đình Diệm. Chính sách "Chìm hoặc bơi cùng Ngô Đình Diệm"  của Mỹ bắt đầu thay đổi. Mỹ đã loại bỏ Diệm vào tháng 11-1963.

Trước các thất bại liên tiếp trên chiến trường và tình hình chính trị rối loạn tại miền Nam Việt Nam với hơn 10 cuộc đảo chính, thanh trừng lẫn nhau (từ tháng 11-1963 đến tháng 6-1965), Chính phủ Mỹ quyết định hủy bỏ kế hoạch Xtalây - Taylo và đưa quân đội sang trực tiếp tham chiến để giữ miền Nam khỏi rơi vào tay "cộng sản". Chiến lược "chiến tranh cục bộ" được tiến hành bằng lực lượng quân viễn chinh Mỹ, quân của một số nước thân Mỹ ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương và quân của chính quyền Sài Gòn. Khác với chiến lược "chiến tranh đặc biệt", lần này quân Mỹ giữ vai trò chủ lực và không ngừng tăng về số lượng và trang bị. "Những khoản chi phí trực tiếp cho chiến tranh cũng tăng lên hàng chục lần. Năm 1965 là 4,6 tỷ đôla. Năm 1966: 25 tỷ" . Năm 1967, năm mà Mỹ thực hiện bước leo thang cao nhất trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất, cũng là năm số binh lính Mỹ hoạt động ở nước ngoài đạt đỉnh cao với 1.228.538 người (chiếm 36% tổng lực lượng đang hoạt động). Trong đó, hơn 450.000 quân tham chiến ở Việt Nam. Năm 1968, trên chiến trường miền Nam có sự hiện diện của 537.377 quân Mỹ - chiếm gần 45% trong tổng số lính Mỹ đang hoạt động ở nước ngoài vào thời điểm đó. Đây cũng là lực lượng quân sự lớn nhất được triển khai ở nước ngoài không chỉ của Mỹ mà còn của bất kỳ quốc gia nào kể từ năm 1957 (và cho tới năm 2016).




---------------------------------------------------------------
1. Ngày 14-5-1955, các nước Anbani (rút khỏi tổ chức Vácsava năm 1961), Ba Lan, Bungari, Cộng hòa Dân chủ Đức, Hunggari, Liên Xô, Rumani và Tiệp Khắc họp tại Vácsava thỏa thuận ký Hiệp ước hữu nghị, hợp tác và tương trợ. Hiệp ước có hiệu lực từ ngày 5-6-1955 với thời hạn 20 năm (có thể gia hạn), đánh dấu sự ra đời của Tổ chức hiệp ước Vácsava (mang tính chất là một liên minh phòng thủ về quân sự và chính trị của các nước xã hội chủ nghĩa ở châu Âu) nhằm duy trì hòa bình, an ninh của châu Âu, củng cố tình hữu nghị, sự hợp tác và sức mạnh của các nước xã hội chủ nghĩa.


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 24 Tháng Năm, 2020, 10:41:31 am
2. Sự kiện Tết Mậu Thân năm 1968 cùng yêu cầu cấp thiết phải quay về củng cố kinh tế, chính trị, xã hội trong nước và nắm lại đồng minh, tiếp tục kiềm chế Liên Xô - những nhân tố quyết định sự điều chỉnh chiến lược đối ngoại của Mỹ: Học thuyết Níchxơn và chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh"

Mặc dù đã leo lên mức thang cao nhất trong cuộc chiến tranh Việt Nam, nhưng đến cuối năm 1967, Mỹ vẫn không thể đảo ngược được thế trận ở miền Nam. Mục tiêu giành thắng lợi quyết định trên chiến trường trong thời gian ngắn khi tiến hành cuộc tiến công chiến lược mùa khô lần thứ nhất (1965-1966) và lần thứ hai (1966-1967) của Mỹ không những thất bại mà còn khiến Mỹ phải đối diện với nguy cơ của một "Điện Biên Phủ" tại Khe Sanh trong năm 1967. Cuộc chiến tranh phá hoại ở miền Bắc cũng không đạt được kết quả như mong đợi là chặn đường tiếp viện từ các nước vào Việt Nam, ngăn miền Bắc chi viện cho miền Nam và hủy diệt tiềm lực kinh tế, quốc phòng của miền Bắc. Ngược lại, Mỹ bị thiệt hại nặng nề với hàng nghìn máy bay các loại bị quân và dân miền Bắc bắn rơi, nhiều phi công bị tiêu diệt hoặc bị bắt sống.

Trong khi đó, tại nước Mỹ, nửa cuối thập niên 60 của thế kỷ XX nổi lên và tiếp diễn nhiều vấn đề chính trị, xã hội, văn hóa nổi cộm. Hai mục tiêu cơ bản trong chính sách đối nội mà chính quyền Tổng thống L. Giônxơn tiếp tục theo đuổi (từ thời Tổng thống G. Kennơđi) gồm duy trì sức mạnh của nền kinh tế Mỹ và tăng cường vai trò, trách nhiệm của chính quyền liên bang trong "cuộc chiến chống đói nghèo".

Với mục tiêu thứ nhất, Mỹ tiếp tục duy trì vị thế nền kinh tế số một thế giới. Năm 1967, Mỹ vẫn chiếm 47% tổng sản lượng công nghiệp thế giới, lớn hơn tổng sản lượng của các nước Tây Âu, Nhật và Canađa cộng lại (khoảng 43,3%) . Tuy nhiên, mức lạm phát của nền kinh tế bắt đầu tăng lên. Từ chỗ duy trì ở tỷ lệ khoảng 2% trong nửa đầu thập niên 60, năm 1967, con số này tăng thành 3%, rồi 4% năm 1968 .

Với "cuộc chiến chống đói nghèo", chương trình "Xã hội vĩ đại" một mặt làm dịu bớt phần nào tình trạng nghèo khổ cũng như khoảng cách giàu - nghèo trong xã hội Mỹ, nhưng trên thực tế, tốc độ thực thi các đạo luật, đặc biệt là trong việc giải quyết vấn đề quyền công dân diễn ra chậm chạp. Đại bộ phận người da đen vẫn chưa thể hòa nhập vào xã hội của người da trắng. Phong trào đấu tranh giành quyền bình đẳng cho phụ nữ, phong trào của người Mỹ gốc Mỹ Latinh và người da đỏ bản địa, phong trào của nhóm Cánh tả mới... đều dâng cao mạnh mẽ.

Trong bối cảnh đó, cuộc Tổng tiến công đêm giao thừa Tết Mậu Thân 1968 và nổi dậy đồng loạt trong năm 1968 - đỉnh cao nhất  của quân và dân miền Nam trong quá trình đánh bại chiến lược "chiến tranh cục bộ" của Mỹ không chỉ là đòn giáng mạnh vào các nỗ lực chiến tranh của Mỹ, tạo ra bước chuyển mang tính quyết định, chấm dứt leo thang chiến tranh ở Việt Nam mà còn làm trầm trọng hơn những vấn đề nội tại ở chính nước Mỹ và "nới lỏng" hơn quan hệ giữa Mỹ với các đồng minh.

Việc lực lượng vũ trang cách mạng và nhân dân Huế làm chủ thành phố gần một tháng; lực lượng vũ trang và nhân dân miền Nam tiến công thẳng vào những vị trí quan trọng của Mỹ tại Sài Gòn - nơi mà người Mỹ tin rằng đó phải là nơi "an toàn nhất" như Đại sứ quán Mỹ, Dinh Độc Lập, Bộ Tổng Tham mưu, Tổng nha Cảnh sát, Đài Phát thanh... trong đợt tiến công Tết Mậu Thân đã tác động mạnh đến quan điểm của đông đảo người Mỹ; rằng Mỹ sẽ không thể chiến thắng trong cuộc chiến tranh tại Việt Nam. Những thước phim chiếu trên truyền hình Mỹ ghi lại cảnh một sĩ quan quân đội Sài Gòn chĩa súng bắn vào đầu một người lính cách mạng miền Nam và bỏ mặc người lính nằm chết, máu chảy tràn trên đường phố Sài Gòn đã trở thành sự kiện tiếp theo gây chấn động mạnh và tạo ra bước ngoặt trong phong trào phản chiến ở Mỹ hơn bất cứ sự kiện đơn lẻ nào trước đó. Phong trào phản chiến không còn chỉ giới hạn ở hành động của một bộ phận sinh viên hay của số ít chính khách Mỹ mà có sự thay đổi cả về chất và lượng. Trong những tuần tiếp theo, nhiều tờ báo hàng đầu của Mỹ bắt đầu đăng tải những bài viết kêu gọi giảm leo thang chiến tranh. Tờ Time và Newsweek đã cho đăng những bài báo phơi bày sự thật chiến tranh và thúc giục Mỹ rút quân khỏi miền Nam. Các nhà bình luận trên truyền hình cũng bắt đầu bày tỏ nghi ngờ về các quyết sách của Mỹ. Tiêu biểu là bản tin đặc biệt kéo dài 30 phút phát trên đài CBS ngày 27-2-1968, Walter Cronkite - người dẫn chương trình đồng thời cũng là phóng viên chiến trường vừa trở về từ miền Nam Việt Nam gọi cuộc chiến tranh tại Việt Nam là cuộc chiến bế tắc, vô vọng và thúc giục Chính phủ Mỹ rút quân. Trong khi tỷ lệ phản đối cuộc chiến tranh tại Việt Nam tăng lên gấp đôi trong vòng vài tuần sau Tết Mậu Thân thì tỷ lệ ủng hộ Tổng thống Giônxơn giảm xuống chỉ còn 35%, mức thấp nhất so với các tổng thống tiền nhiệm kể từ những ngày đen tối nhất của nội các Truman . Tháng 3-1968, Tổng thống Giônxơn, bất lợi bởi "khoảng cách tin cậy" giữa lời hứa và việc làm, đã phải tuyên bố ngừng ném bom vô điều kiện miền Bắc và quyết định không ra tái tranh cử tổng thống.

Cùng với phong trào phản chiến, cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc ngày càng lan rộng. Sau vụ ám sát nhà hoạt động nhân quyền nổi tiếng Máctin Luthơ King ngày 4-4-1968, nhiều cuộc bạo loạn đã bùng phát tại trên 60 thành phố của Mỹ. Con số 43 người thiệt mạng, trên 3.000 người bị thương và khoảng 27.000 người bị bắt giữ  đã phản ánh rõ nét nhất tình trạng bất ổn gắn với lý do chủng tộc trong suốt chiều dài lịch sử nước Mỹ. Vụ ám sát R.F. Kennơđi - ứng cử viên hàng đầu cho đề cử của Đảng Dân chủ trong cuộc bầu cử năm 1968, đồng thời là chính khách nổi tiếng với quan điểm chống chiến tranh là sự kiện gây chấn động tiếp theo của một năm 1968 vốn đã đầy những sự kiện khiến nhiều nhà quan sát đi đến kết luận rằng nước Mỹ đang ở bên bờ của sự biến đổi xã hội mang tính căn bản.

Khi "cả thế giới đang quan sát" những gì diễn ra tại Mỹ (lời của những người biểu tình chống chiến tranh tại Công viên Grant trong thời gian diễn ra Đại hội của Đảng Dân chủ năm 1968), thì trong số những đồng minh của Mỹ: Chính phủ Pháp có thái độ phản đối cuộc chiến tranh do Mỹ tiến hành ở Việt Nam và ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam; chính sách ủng hộ Mỹ trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam của Chính phủ Anh và Cộng hòa Liên bang Đức vấp phải sự phản đối từ nhiều tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể và nhân dân tiến bộ ở trong nước. Tại Nhật Bản, phong trào "Liên minh thị dân vì hòa bình cho Việt Nam" (Beheiren, bắt đầu hoạt động từ năm 1965) tiến hành nhiều hoạt động phản chiến phong phú và liên tục, nhằm phản đối cuộc chiến tranh phi nghĩa tại Việt Nam... Trong khi đó, đối thủ cạnh tranh ảnh hưởng toàn cầu của Mỹ là Liên Xô đã thu được những thành tựu to lớn, trở thành cường quốc công nghiệp đứng thứ hai thế giới (sau Mỹ).

Trong bối cảnh mâu thuẫn giữa một nền kinh tế đang chững lại, với những chi phí quân sự ngày càng tăng và sự bùng phát những cuộc nổi dậy ở trong nước, một học thuyết đối ngoại mới của Mỹ đã được đưa ra - Học thuyết Níchxơn (tháng 7-1969). Luận điểm chính của học thuyết này là: "Hoa Kỳ sẽ tham gia vào việc phòng thủ và sự phát triển của các đồng minh và bạn bè, nhưng Mỹ không thể - và sẽ không - vạch ra tất cả các kế hoạch, xây dựng mọi chương trình, thực hiện tất cả các quyết định và đảm nhận toàn bộ trách nhiệm phòng thủ ở thế giới tự do" . Theo nhận định của Mỹ, nguy cơ đe dọa lớn nhất với Mỹ lúc này không hẳn là chủ nghĩa cộng sản mà là tình trạng "mất trật tự", đặc biệt là những nhà cách mạng muốn "phá vỡ trật tự". Níchxơn và Cố vấn An ninh quốc gia Kítxinhgiơ tin rằng lợi ích của Mỹ có thể được bảo vệ bằng cách cùng với Nhật Bản, Trung Quốc và thậm chí là Liên Xô hợp tác với nhau, đặc biệt là trong việc chống lại các cuộc cách mạng. Vì vậy, cùng với việc đề ra chiến lược "Hòa dịu" với Trung Quốc và Liên Xô, vấn đề chia sẻ trách nhiệm với các đồng minh được Mỹ đặc biệt lưu tâm. Với cuộc chiến tranh ở Việt Nam, sự điều chỉnh chính sách đó được thể hiện ở việc thay thế chiến lược "chiến tranh cục bộ" bằng chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" - thực chất vẫn là dựa vào sức mạnh về quân sự của Mỹ, nhưng tận dụng tối đa khả năng của quân đội Sài Gòn để chiến đấu thay thế quân đội Mỹ rút dần về nước.


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 24 Tháng Năm, 2020, 03:25:31 pm
PHẦN THỨ HAI

TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968 - Ý CHÍ VÀ SỨC MẠNH VIỆT NAM




QUÂN VÀ DÂN SÀI GÒN - GIA ĐỊNH VỚI CÔNG TÁC CHUẨN BỊ
CHO CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968



ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


Sài Gòn dưới chế độ Mỹ - ngụy là thành phố lớn nhất miền Nam, là "thủ đô" của Việt Nam Cộng hòa với hơn 3 triệu dân sinh sống ở 12 quận và 6 huyện ngoại thành. Đây là nơi tập trung các cơ quan đầu não của địch, là căn cứ quân sự lớn của đế quốc Mỹ ở Đông Nam Á. Bởi vậy, được Mỹ và quân đội Sài Gòn bảo vệ rất cẩn mật, chúng tổ chức ra ba vành đai phòng thủ để ngăn chặn ta từ xa. Bộ binh cơ giới và trực thăng của Mỹ bảo vệ vòng ngoài. Lực lượng chủ lực của ngụy bảo vệ khu trung tâm. Vùng ven đô và trong nội thành là mạng lưới cảnh sát, quân cảnh, mật thám, mật báo viên, phòng vệ dân sự gồm hàng chục vạn tên.

Với sự kiểm soát chặt chẽ địa bàn bằng các hoạt động càn quét, lục soát, bắt bớ của địch, ta muốn tổ chức và duy trì thường xuyên các hoạt động chiến đấu ở nội đô, đặc biệt là việc chuẩn bị vũ khí cho kế hoạch tổng tiến công và nổi dậy là một công tác cực kỳ phức tạp và khó khăn. Nhưng nếu không làm tốt công tác bảo đảm sẽ không thể duy trì và phát triển các cuộc chiến đấu ở nội thành, không thể thực hiện được chủ trương chiến lược "Đưa chiến tranh vào trong lòng địch" của Đảng ta.
 
Cuối năm 1964 đầu 1965, cục diện chiến trường đã xuất hiện khả năng giành những thắng lợi lớn. Để nắm chắc tình hình chiến trường, đồng chí Nguyễn Văn Linh và đồng chí Nguyễn Chí Thanh đến Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu Sài Gòn - Gia Định cùng kiểm tra, chỉ đạo chuẩn bị kế hoạch tiến công quân sự vào một số mục tiêu quan trọng trong thành phố và kế hoạch huy động lực lượng kết hợp với sự nổi dậy của quần chúng, nhằm làm phá sản chiến lược "chiến tranh đặc biệt". Đó là kế hoạch của mùa khô 1964-1965, thường gọi là "Kế hoạch X".

 Tháng 4-1965, tại Suối Dây (Tây Ninh) Khu ủy Sài Gòn - Gia Định họp quán triệt Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 11 và triển khai nhiệm vụ theo "Kế hoạch X", mọi công tác được chuẩn bị tích cực, khẩn trương để đánh thắng địch ở mức cao nhất. Quân khu Sài Gòn - Gia Định được giao nhiệm vụ xây dựng một lực lượng biệt động mạnh, có tổ chức thống nhất, chuẩn bị các điều kiện bảo đảm để có thể cùng một lúc bất ngờ công kích chiếm lĩnh các cơ quan đầu não của địch ở Sài Gòn - Gia Định khi có thời cơ. Đoàn Biệt động F100 ra đời để đáp ứng nhiệm vụ ấy. Trung ương Cục, Bộ Tư lệnh Miền và Quân khu đã xác định 25 mục tiêu trọng điểm ở Sài Gòn và được xếp là "loại A" mà sau này 9 mục tiêu trong số đó được chọn là điểm tấn công vào mùa Xuân Mậu Thân 1968. Do vậy, Khu ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu đã chỉ đạo thành lập đơn vị A20 làm nhiệm vụ vận chuyển vũ khí từ căn cứ ngoài vào nội thành, A30 là đơn vị cất giấu vũ khí tại các cơ sở nội, ngoại thành. Đồng thời xây dựng các "lõm căn cứ" ngay trong nội thành và vùng ven, đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng. "Kế hoạch X" đang được chuẩn bị gấp rút thì Mỹ đổ quân xây dựng căn cứ ở miền Đông Nam Bộ, chuyển từ chiến lược "chiến tranh đặc biệt" sang thực hiện chiến lược "chiến tranh cục bộ". Như vậy, phương án giành thắng lợi quyết định để kết thúc chiến tranh trong thời kỳ "chiến tranh đặc biệt" cũng như "Kế hoạch X" không thực hiện được, nhưng công tác bảo đảm vẫn được tiếp tục để chuẩn bị cho một cuộc tấn công mới khi có thời cơ.

Sau khi quân và dân miền Nam đánh bại cuộc phản công mùa khô lần thứ 2 của Mỹ và quân đội Sài Gòn (Đông - Xuân 1966-1967) làm phá sản chiến lược hai gọng kìm "tìm diệt" và "bình định" của chúng, tình thế đã mở ra triển vọng to lớn cho quân và dân ta đánh bại một bước chiến lược "chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ. Năm 1967, Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam ra Nghị quyết về việc "Chuyển chiến tranh cách mạng miền Nam sang một thời kỳ mới - thời kỳ giành thắng lợi quyết định... Để thực hiện thành công nghị quyết này, nhiệm vụ trọng đại và cấp bách của cách mạng Việt Nam là động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả 2 miền Nam, Bắc đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên một bước phát triển cao nhất bằng phương pháp Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định...".

Trung tuần tháng 10-1967, Khu ủy Sài Gòn - Gia Định tổ chức Hội nghị mở rộng tại chiến khu Dương Minh Châu để quán triệt và triển khai thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị và Trung ương Cục về Tổng tiến công và nổi dậy, trước mắt thực hiện tốt công tác chuẩn bị, bao gồm: Tổ chức lại chiến trường, bổ sung cán bộ cho các ngành, các giới, khẩn trương xây dựng và phát triển thực lực cách mạng. Kiên trì phương châm tích cực chuẩn bị cho Tổng tiến công và nổi dậy ở Sài Gòn - Gia Định khi có thời cơ.

Trong điều kiện địch khủng bố, ngăn chặn hết sức quyết liệt thì việc bí mật tổ chức vận chuyển vũ khí vào ém sẵn trong thành phố là một công việc hết sức khó khăn và đầy nguy hiểm. Khâu này đòi hỏi không chỉ dựa vào lòng dũng cảm, trí thông minh của mỗi cán bộ, chiến sĩ và các cơ sở quần chúng, của hệ thống hành lang đã được xây dựng từ vùng giải phóng Củ Chi vào nội thành, mà còn đòi hỏi phải có năng lực chỉ huy hiệp đồng, phát huy sức mạnh của nhiều yếu tố khách quan, chủ quan để linh hoạt tổ chức vận chuyển vượt qua các âm mưu, thủ đoạn ngăn chặn của địch.

Trên những hành lang chiến lược nối liền vùng căn cứ giải phóng và từ đất Campuchia vào nội thành Sài Gòn, A20, A30 đã xây dựng được các căn cứ xuất phát, cứ bàn đạp, căn cứ bản lề, những điểm nút giao liên, người đầu cầu, hành lang... tương đối vững chắc, an toàn. Đặc biệt tại các "bàn đạp" Thái Mỹ (Củ Chi), Bàu Mây Tịnh, Tịnh Phong (Trảng Bàng)... Khu ủy và đồng chí Trần Hải Phụng, đồng chí Tư Quỳ, Nguyễn Đức Hùng (Tư Chu) trong Bộ Chỉ huy Quân khu và các cán bộ cụm, đội thường xuyên có mặt làm việc với các đầu mối trong Sài Gòn và chỉ đạo các nhiệm vụ tiếp theo. Nhờ công tác tổ chức được tiến hành bí mật, khẩn trương, chu đáo với tinh thần sẵn sàng hy sinh vì nhiệm vụ cách mạng của cán bộ, chiến sĩ biệt động nên đến cuối năm 1965, cả hai đội A20 và A30 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, xây dựng được một hệ thống kho hầm bí mật chứa vũ khí sát các mục tiêu chiến lược của địch. Mỗi mục tiêu đều được "dành sẵn" từ 1 đến 3 hầm vũ khí chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân. Trong số các hầm vũ khí đó, trước hết phải kể đến:

Kho vũ khí ở nhà số 65 đường Nguyễn Bỉnh Khiêm (Quận 1) là hiệu may Quốc Anh của gia đình đồng chí Trần Phú Cương và vợ là Trần Thị Út là chiến sĩ biệt động phục vụ tiến công Đài Phát thanh Sài Gòn.

Kho nhà số 436/58 Lê Văn Duyệt (nay là đường Cách mạng Tháng Tám - Quận 3) của gia đình đồng chí Lê Tấn Quốc (Bảy Rau Muống). Kho này kết hợp với kho đồng chí Trần Văn Lai phục vụ tiến công Dinh Độc Lập.

Hầm nhà số 287/70 Trần Quý Cáp (nay là đường Võ Văn Tần - Quận 3) của gia đình đồng chí Trần Văn Lai (tức Mai Hồng Quế) phục vụ tiến công Dinh Độc Lập.

Hầm nhà số 348/38B ấp Bác Ái, xã Bình Hoà (nay là đường Phan Văn Trị, Phường 11, Quận Bình Thạnh) của gia đình đồng chí Trần Văn Miêng, vợ là Võ Thị Sang.

Hầm nhà số 248/27 Nguyễn Huỳnh Đức (nay là đường Huỳnh Văn Bánh, Quận Phú Nhuận) của gia đình bà Bùi Thị Lý xây dựng hai hầm phục vụ tiến công Bộ Tổng Tham mưu Sài Gòn.

 Hầm nhà số 281/26/29 Trương Minh Ký - Phú Nhuận (nay là Lê Văn Sĩ - Quận Tân Bình) của gia đình đồng chí Phan Văn Bảy, phục vụ tiến công Bộ Tổng Tham mưu quân đội Sài Gòn.

Hầm nhà số 59 Phan Thanh Giản, Đa Kao, Quận 1 (nay là đường Điện Biên Phủ) của gia đình bà Nguyễn Thị Huệ (Hai Phê) phục vụ tiến công Toà Đại sứ Mỹ.

Hầm nhà số 93/22 Cường Để (nay là đường Bùi Đình Túy, quận Bình Thạnh) của gia đình đồng chí Tô Minh Liêm (Mười Lợi) phục vụ tiến công Bộ Tư lệnh Hải quân Sài Gòn.

Hầm nhà số 183/4 đường Trần Quốc Toản (nay là đường 3/2, Quận 10) của gia đình đồng chí Đỗ Văn Căn (Ba Mủ), cơ sở này chuẩn bị vũ khí đánh Biệt khu Thủ đô, nhưng không thực hiện được nên hầm vũ khí vẫn còn nguyên vẹn cho đến ngày giải phóng Sài Gòn năm 1975).

Hầm nhà số 8/4 Vườn Chuối, Quận 3 của gia đình đồng chí Lâm Thị Ẩn phục vụ trận đánh bắn cối 82 ly vào Tổng hành dinh tướng Oétmolen tại góc đường Nguyễn Du - Pasteur ngày 13-2-1967.

Hầm nhà số 62/1 đường Dương Công Trừng (nay là số 62/10B đường Nguyễn Thị Nhỏ, Quận Tân Bình) của gia đình đồng chí Nguyễn Nhật Hiểu, cơ sở này chứa súng đạn, chất nổ tấn công Đài Truyền hình Sài Gòn trong đợt 2 Mậu Thân.

Hầm ở Hương lộ 14 của gia đình đồng chí Trần Thị Bi, chứa khẩu cối 82 ly bắn vào sân bay Tân Sơn Nhất tháng 7-1967.

Hầm nhà số 171 đường Bạch Đằng, Hàng Xanh, Quận Bình Thạnh của gia đình đồng chí Vũ Bá Tài, nơi trú đóng của 8 cán bộ, chiến sĩ cơ yếu trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân.

Đặc biệt, tiệm Phở Bình số 7 Yên Đỗ (nay là Lý Chính Thắng, Quận 3) của gia đình ông Ngô Toại là Sở chỉ huy tiền phương của Phân khu 6 ngay trước giờ xuất quân và trong đợt 1 có mặt các đồng chí Võ Văn Thạnh - Chính ủy Phân khu và Nguyễn Đức Hùng - Tham mưu trưởng - chỉ huy trưởng F100, phát lệnh tiến công đánh các mục tiêu ở nội đô Sài Gòn.

Số lượng vũ khí mỗi hầm gần 1 tấn, thông thường gồm: 350kg thuốc nổ TNT hoặc C4; 1 hộp kíp nổ; 10 khẩu AK và 3.000 viên đạn; 3 khẩu súng ngắn và 200 viên đạn; 2 khẩu B40 và 20 quả đạn; 20 quả mìn; 50 lựu đạn...

Việc xây dựng các căn hầm cùng với quá trình tiếp nhận, cất giấu, bảo vệ và bảo quản khối lượng vũ khí trong lòng địch là một chuỗi công việc cực kỳ khó khăn và nguy hiểm, đòi hỏi người thực hiện nhiệm vụ ngoài kinh nghiệm hoạt động bí mật, trí thông minh phải chấp nhận những gian khổ hy sinh. Các đồng chí phải tự mua vật liệu và xây cất. Phải giữ bí mật tuyệt đối cả với những người thân trong gia đình. Ngay bản thân các đồng chí xây xong hầm mới được biết sẽ dùng hầm để cất giấu vũ khí tại gia đình họ. Ngoài việc bảo vệ an toàn cho kho vũ khí, hằng ngày, hằng giờ họ phải sống và chiến đấu thầm lặng với kẻ thù. Những hầm cất giấu vũ khí này để đánh mục tiêu nào và sử dụng lúc nào thì không được biết. Có thể nói, mỗi căn hầm vũ khí được xây dựng trong nội đô đều là những kỳ công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Để đưa vũ khí vào thành phố, công tác nghi trang, ngụy trang đóng vai trò quyết định, công tác không chỉ đòi hỏi che được mắt địch mà còn phải bảo đảm đồng bộ các loại vũ khí cho mỗi hầm trong mỗi lần vận chuyển. Để giữ bí mật, bảo vệ Khu ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu Sài Gòn - Gia Định chỉ thị mỗi hầm chỉ tiếp nhận một lần vũ khí.

Sau khi hoàn thành việc ngụy trang, nghi trang, đội A20 tổ chức vận chuyển vũ khí vào thành phố theo ba chặng cơ bản: Chặng thứ nhất: từ căn cứ giải phóng đến căn cứ bàn đạp (ở vùng giáp ranh); chặng thứ hai: từ căn cứ bàn đạp lên trục lộ giao thông (do địch kiểm soát); chặng thứ ba: di chuyển trên đường giao thông vào nội thành.

Ở cả ba chặng trên, tuyệt đại bộ phận lực lượng vận chuyển (kể cả các chiến sĩ thuộc Đội A20) đều không biết mình chuyên chở thứ hàng gì. Ở khâu cuối cùng, người nhận vũ khí (thuộc A30) và người chở vũ khí đến cũng không được phép giáp mặt nhau, không biết giao cho ai, nhận của ai.

Với cách tổ chức trên, hàng chục tấn vũ khí trong đó có cả ĐKZ, cối, B40, B41, AK và các loại thuốc nổ... đã được bí mật vận chuyển an toàn vào thành phố, ém sẵn cạnh các mục tiêu, hoàn toàn bất ngờ đối với địch. Người góp nhiều công sức cùng đồng đội hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ này là đồng chí Nguyễn Văn Chiểu (Năm Chiểu) - Thư ký Công đoàn cao su giải phóng đồng thời là một chiến sĩ biệt động ưu tú. Chính đồng chí là người đứng ra môi giới thuê lại hàng chục đồn điền cao su ở Củ Chi, Bến Cát và phân công cho các đồng chí như: Sáu Ân, Sáu Mia, Tư Gia, Bảy Huệ... đứng ra tổ chức sản xuất, các đồng chí làm nhiệm vụ vận chuyển như đồng chí Ba Bảo, Năm Phùng (lái xe ô tô), Chín Ten, Mười Tùng (vận chuyển bằng xe bò), Chín Khổ (vận chuyển bằng đường sông)... là những người lập nhiều thành tích trong nhiệm vụ vận chuyển vũ khí.

Ngoài cách tổ chức trên, các lực lượng biệt động còn sử dụng lực lượng giao liên, hoặc tự chiến đấu viên vận chuyển vũ khí bằng đường bộ hoặc đường sông. Cách thức và phương pháp, chiến thuật vận chuyển chủ yếu là ngụy trang theo phương tiện, đồ nghề, hàng hóa. Cách này chủ yếu là vận chuyển các vũ khí nhẹ và gọn như lựu đạn, súng ngắn, thuốc nổ...

Chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trong thành phố, Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu Sài Gòn - Gia Định đã tổ chức lực lượng thành ba khối: khối biệt động, khối các phân khu, khối đoàn thể. Trong đó, khối biệt động gồm cụm 345, cụm 679 và cụm 128 với hơn 100 chiến đấu viên, có nhiệm vụ tấn công vào các mục tiêu đầu não của địch như: Dinh Độc Lập, Đại sứ quán Mỹ, Đài Phát thanh, Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Tư lệnh hải quân... Các lực lượng vũ trang phân khu được tăng cường thêm 15 tiểu đoàn chủ lực trong đó có Tiểu đoàn 1 Quyết Thắng, Tiểu đoàn 7 Củ Chi, Tiểu đoàn 5 Nhà Bè, Tiểu đoàn 4 Thủ Đức, Tiểu đoàn 6 Bình Tân, Tiểu đoàn 3 Gò Vấp - Hóc Môn, Tiểu đoàn 3 Dĩ An, Tiểu đoàn 4 đặc công Gia Định,... có nhiệm vụ tiếp ứng cho các đơn vị biệt động chiếm lĩnh mục tiêu trong nội đô; khối chủ lực Miền có ba sư đoàn bộ binh 5, 7, 9, một sư đoàn pháo binh, Trung đoàn bộ binh 88 và một số lực lượng thuộc các binh chủng khác có nhiệm vụ tấn công các căn cứ của địch và ngăn chặn không cho chúng về ứng cứu Sài Gòn.

Trước đó, thực hiện nhiệm vụ nổi dậy, tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền, ngay từ đầu năm 1967, Khu ủy đã cử nhiều cán bộ tăng cường vào đô thị Sài Gòn - Chợ Lớn nhằm nghiên cứu mục tiêu, gây dựng cơ sở, in truyền đơn, khẩu hiệu... chuẩn bị cho tổng tiến công. Nhờ làm tốt công tác chuẩn bị, đến đầu năm 1968, ta đã có gần 400 cơ sở cách mạng, "lõm chính trị" trong lòng đô thành Sài Gòn, điển hình như ở căn cứ Nhị Tỳ Quảng Đông, đường Trần Quốc Thảo (Quận 3), đường Cao Đạt (Quận 5), đường Minh Phụng, Cây Gõ (Quận 6), Trường đua Phú Thọ (Quận 11). Bên cạnh đó, từ tháng 6-1967, Khu ủy Sài Gòn - Gia Định còn tổ chức lực lượng thanh niên thành ba nhóm chính: nhóm vũ trang, nhóm vũ trang tuyên truyền và nhóm chính trị công khai. Trong đó, nhóm vũ trang có nhiệm vụ làm "thê đội 2" cho lực lượng biệt động tấn công vào các mục tiêu quan trọng của địch trong nội đô; nhóm vũ trang tuyên truyền có nhiệm phát động quần chúng diệt ác phá kềm, kiểm soát các địa bàn cơ sở; nhóm chính trị công khai có nhiệm vụ phối hợp với lực lượng thứ ba, các giới, tuyên truyền, vận động quần chúng nổi dậy tiếp ứng cho lực lượng vũ trang nhằm chiếm lĩnh các mục tiêu quan trọng đã định trước. Cùng với việc tổ chức thanh niên, lực lượng quần chúng yêu nước nhất là nhân sĩ, trí thức được các tổ chức như: Trí vận, Hoa vận, Công vận, Phụ vận... bí mật vận động, tập hợp trong các tổ chức công khai, bán công khai như Tổng hội Sinh viên, Tổng đoàn Học sinh, Phong trào dân tộc tự quyết, Nghiệp đoàn ký giả, Lực lượng Quốc gia tiến bộ, Hội Ái hữu nghệ sĩ, Nghiệp đoàn Giáo học tư thục Việt Nam, Nghiệp đoàn Giáo chức cách mạng, Hội Kỹ sư và Kỹ thuật gia Việt Nam... Đây chính là những đội quân chính trị hùng hậu để tham gia khởi nghĩa khi tổng tiến công nổ ra.

Nhờ làm tốt công tác tổ chức, đến trước cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, riêng trong nội thành Sài Gòn đã có 11 đội biệt động cấp thành phố, 50 đội biệt động cấp quận, huyện và của các đoàn thể, cùng với đó là hàng trăm cơ sở tồn tại ở hầu hết các quận, huyện. Điển hình như:

Khu vực Phú Nhuận có 50 cơ sở; Khu vực chợ Vườn Chuối (Quận 3) có 15 cơ sở; Xóm Chùa Tân Định: 30 cơ sở; Xóm lao động cầu Công Lý: 10 cơ sở; Khu vực Chí Hoà, Hoà Hưng: 30 cơ sở; Khu vực đường Nguyễn Trãi, Chợ Lớn: 10 cơ sở; Xóm lao động Bàn Cờ: 15 cơ sở... Các cơ sở này đã chuẩn bị hàng tấn lương thực, thực phẩm, mua sắm trang bị cho lực lượng biệt động và các lực lượng hoạt động trong nội đô gồm: 419 xe gắn máy các loại, 52 xe du lịch, 32 xe vận tải nặng và nhẹ, 2 xe bồn chở xăng, 500 xe đạp, 40 xích lô đạp, 23 xích lô máy, 28 xe lambro, 50 xe lambretta, 50 xuồng, 38 ghe máy, từ 3 đến 5 tấn, 2 ca nô, 15 đội cấp cứu, nuôi dưỡng thương binh và hàng trăm ký thuốc chữa bệnh...

Tính đến hạ tuần tháng 12-1967, công tác chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy cơ bản đã hoàn tất. Tài lực, vật lực và lực lượng ba thứ quân của thành phố cùng với lực lượng nổi dậy đều ở tư thế sẵn sàng đợi lệnh.

Để có được kết quả trên, trong suốt quá trình chỉ đạo, Khu ủy và Bộ Tư lệnh quân khu Sài Gòn - Gia Định luôn bám sát sự chỉ đạo của Đảng, dựa vào nhân dân đã xây dựng lực lượng chiến đấu tại chỗ, hậu cần, kỹ thuật bảo đảm cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Chính nhờ dựa vào dân, biết phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân trong công tác bảo đảm hậu cần tại chỗ nên các lực lượng biệt động mới có thể duy trì và mở rộng được hoạt động chiến đấu trong thành phố, khiến kẻ thù luôn mất ăn, mất ngủ. Đặc biệt những trận đánh của biệt động Sài Gòn vào các mục tiêu đầu não của địch trong đợt 1 của Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 đã làm chấn động cả nước Mỹ. Những kinh nghiệm tổ chức chỉ đạo công tác bảo đảm vũ khí cho biệt động thành chiến đấu là một mẫu mực trong thực hiện đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng mà người tổ chức thực hiện trực tiếp là Khu ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu, nhân dân và các chiến sĩ biệt động Sài Gòn - Gia Định đã góp phần quan trọng làm nên chiến thắng Xuân Mậu Thân 1968.



Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 24 Tháng Năm, 2020, 03:35:40 pm
LỰC LƯỢNG AN NINH T4
TRONG CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968



Trung tướng LÊ ĐÔNG PHONG
Giám đốc Công an Thành phố Hồ Chí Minh


Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, cùng với quân và dân Khu Sài Gòn - Gia Định, lực lượng An ninh T4 đã chiến đấu anh dũng, lập nhiều chiến công xuất sắc, góp phần đánh bại cơ bản chiến lược "chiến tranh cục bộ" của địch, tạo ra thế và lực mới cho cách mạng miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Từ cuối năm 1967, Bộ Chính trị đã nhận định diễn biến cơ bản tình hình là ta ở thế thắng, thế chủ động và thuận lợi, địch đang ở thế thua, thế bị động, tình hình cho phép ta có thể chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của ta sang thời kỳ mới: thời kỳ giành thắng lợi quyết định, nếu địch không có thể phản công chiến lược thì ta tổng công kích, tổng khởi nghĩa. Từ đó, Khu ủy Sài Gòn - Gia Định hạ quyết tâm động viên mọi lực lượng với khí thế và nỗ lực cao nhất để thực hiện nhiệm vụ đánh chiếm các cơ quan đầu não của địch ở Sài Gòn; phát động quần chúng khởi nghĩa giành chính quyền, tiêu diệt và làm tan rã đại bộ phận ngụy quân, đánh đổ chính quyền các cấp của địch.

Quán triệt những chủ trương của Bộ Chính trị, Trung ương Cục, Khu ủy, An ninh Khu Sài Gòn - Gia Định 1 đã khẩn trương sắp xếp và bố trí lực lượng chỉ đạo các bộ phận: điệp báo, bảo vệ chính trị, bảo vệ nội bộ, trinh sát vũ trang, an ninh vũ trang... làm trong sạch địa bàn, bảo vệ khu căn cứ của ta, tăng cường mạng lưới thông tin liên lạc, nắm chắc tình hình các mục tiêu quan trọng. Khu ủy Sài Gòn - Gia Định, các ban, ngành an ninh phân khu đều có 2 bộ phận chỉ đạo: Bộ phận "xã hội hóa" ở nội đô, hoạt động công khai hợp pháp và một bộ phận ở căn cứ vùng ven hoặc vùng giải phóng.

Lúc này Ban lãnh đạo an ninh Sài Gòn - Gia Định được phân công về hai cánh quân chủ lực (cánh Nam và cánh Bắc). Các tiểu ban (B) trực thuộc An ninh khu theo sát Bộ Tư lệnh Tiền phương, còn đại bộ phận được tổ chức thành các tổ, đội tham gia tấn công vào nội thành.

Để chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, trinh sát vũ trang nội đô đã khẩn trương phát triển lực lượng, tạo chỗ đứng chân cho lực lượng bên ngoài vào và phối hợp đánh các trận lớn hơn kể cả đánh phá các trụ sở của các cơ quan hành chính của địch, trụ sở các báo chí phản động, khách sạn, nhà hàng - nơi tập trung ăn uống của các phần tử gián điệp, phản động...
Bộ phận điệp báo cũng đã tiến hành xây dựng cơ sở bí mật 2, các hộp thư để phục vụ cho Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Bộ phận kỹ thuật đã sản xuất nhiều giấy tờ, căn cước, giấy miễn hoãn quân dịch của địch cung cấp cho cán bộ vào nội thành hoạt động, cung cấp "giấy tờ hợp pháp" cho lực lượng biệt động để tiến vào các mục tiêu trước giờ nổ súng. Ta đã nghiên cứu, sản xuất được "thẻ căn cước bọc nhựa" giả 3 .

Lực lượng an ninh các phân khu đã tham gia tuyển chọn hàng ngàn tân binh, huy động hàng chục ngàn dân công ở các vùng giải phóng và các ấp chiến lược. Huy động quần chúng cách mạng ở Ba Thu (là căn cứ cách mạng của vùng Tây Nam Bộ, khoảng giữa hai sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây, nay thuộc xã Mỹ Quý Tây, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An), Đức Hòa, Đức Huệ, Bến Thủ hỗ trợ các mũi tiến quân ở phía nam. Tổ chức hàng trăm tàu thuyền đưa đón cán bộ, bộ đội, vận chuyển vũ khí từ Ba Thu, Bến Lức (Long An) về Tân Tạo, Tân Nhật (Bình Chánh) cung cấp cho cánh quân chủ lực tiến vào nội đô Sài Gòn. Trực tiếp vận động nhân dân góp gạo, nấu bánh tiếp tế nuôi quân...

Cuối năm 1967, hầu hết Ban an ninh các cấp đã có kế hoạch toàn diện về công tác bảo vệ, bố trí lực lượng tham gia các mũi tiến công thị xã, thị trấn nhằm chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Ở các vùng ven Bình Tân, Gò Vấp, Hóc Môn, Nhà Bè, Thủ Đức, v.v. vùng căn cứ giải phóng Củ Chi, lực lượng an ninh địa phương đã tham gia công tác bổ sung lực lượng, dân công, tàu thuyền đưa đón cán bộ, vận chuyển lương thực, vũ khí, đạn dược vào thành phố, các cán bộ điệp báo, trinh sát vũ trang bám trụ nội thành, giao liên vào nội thành xây dựng cơ sở, các hộp thư. Đây là mặt trận cam go, nguy hiểm khôn lường nhiều đồng chí giao liên đã hy sinh hoặc bị bắt, tù đày nhưng trong mọi hoàn cảnh, các chiến sĩ giao liên vẫn luôn đáp ứng được nhiệm vụ chiến đấu, phục vụ tốt các trận đánh và dẫn đường cho quân ta tiến vào thành phố.

An ninh Khu Sài Gòn - Gia Định tăng cường hoạt động cho các cánh Củ Chi, Hóc Môn, Gò Vấp, Thủ Đức, Dĩ An, Nhà Bè, Bình Tân. Tại nhiều xã giải phóng có từ 3 đến 5 đồng chí làm công tác an ninh gồm, 1 trưởng ban phụ trách chung và trực tiếp làm công tác bảo vệ Đảng, xây dựng cơ sở mật trong tổ chức địch ở địa phương, 1 phó ban phụ trách phong trào và công tác bảo vệ chính trị, cùng 2 ủy viên hỗ trợ giúp đỡ an ninh ấp. Tăng cường một số bộ phận điệp báo, trinh sát vũ trang xuống các vùng xung yếu, từ đó lực lượng An ninh T4 và an ninh các phân khu đã góp phần tích cực trong công tác bảo vệ Đảng, các ban ngành đoàn thể cách mạng, bảo vệ kho tàng, di chuyển đóng quân và bảo vệ các mũi tiến công, các đường dây giao thông liên lạc, giữ vững và phát triển các lõm chính trị sát đô thị.

Phá vụ nội gián ở Thành Đoàn, tiêu diệt tên Nguyễn Xuân Chữ - Bộ trưởng Chiến tranh tâm lý chính quyền Sài Gòn. Trong trận chiến đấu với một trung đội Mỹ đánh vào ấp Phú Hiệp, xã Phú Mỹ Hưng, huyện Củ Chi, lực lượng điệp báo đã làm tốt vai trò cung cấp thông tin, dự báo quy mô tấn công của địch, để lãnh đạo Khu chỉ đạo lực lượng trinh sát vũ trang, an ninh vũ trang cùng các lực lượng du kích chiến đấu ngoan cường tiêu diệt 27 tên địch, phá hủy 4 xe M113 4.

Tháng 12-1967, đồng chí Ba Mẫu phụ trách hậu cần trinh sát vũ trang đã tổ chức chuyển hàng trăm khẩu súng AK, K54, hàng tạ thuốc nổ và một số hỏa tiễn H12 từ căn cứ địa Củ Chi qua cầu Bến Lức đến Hàm Tử, đưa vào cất giấu ở chợ Hòa Bình (Quận 5). Trên khắp các nẻo đường thủy bộ, mọi phương tiện từ xe du lịch, xe honda, ghe thuyền, xe tải chở gỗ được ngụy trang chở vũ khí vào nội thành 5. Bên cạnh công tác vận chuyển vũ khí, lực lượng An ninh T4 đã tổ chức đưa đón nhiều cán bộ vào nội thành an toàn.

Phối hợp, hiệp đồng cùng với các đơn vị, mở màn cho đợt tấn công của lực lượng An ninh T4, bộ phận điệp báo đã điểm hỏa làm hiệu lệnh tấn công 6.

Phân đội an ninh vũ trang gồm 12 cán bộ, chiến sĩ, có nhiệm vụ bí mật đưa bộ phận Bộ Tư lệnh Tiền phương II luồn sâu vào trung tâm thành phố, dưới sự dẫn đường của nữ giao liên Đoàn Lệ Phong, luồn qua nhiều đồn bốt địch, bí mật áp sát trường đua Phú Thọ, chợ Thiếc an toàn. Tuy nhiên, do bị địch phát hiện, nên đoàn chỉ để lại phân đội an ninh vũ trang với nhiệm vụ kiềm chân và tiêu diệt địch, bảo vệ các đồng chí cán bộ chuyển ra khu vực an toàn. Hơn 7 ngày chiến đấu, 12 cán bộ, chiến sĩ phân đội An ninh vũ trang T4, đã anh dũng hy sinh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ an toàn cho Bộ Tư lệnh Tiền phương II 7.

Hai đội trinh sát vũ trang mới thành lập được giao nhiệm vụ phối hợp với các tiểu đoàn mũi nhọn đánh chiếm Tổng nha Cảnh sát Sài Gòn và Nha cảnh sát đô thành. Đội 1 gồm 15 đồng chí, được giao nhiệm vụ đi cùng các tiểu đoàn tiền phương 2 tấn công Tổng nha Cảnh sát Sài Gòn 8 . Trên đường tiến quân từ sông Vàm Cỏ Đông vào nội thành, Đội 1 đụng độ với quân địch, diệt 37 cảnh sát. Mặc dù một số bị thương vong và bị bắt nhưng trong 3 đêm đã diệt 28 tên, 1 trung đội, đánh tiêu hao 1 đại đội địch. Đội 2 có 24 đồng chí, có nhiệm vụ tiến công Nha cảnh sát đô thành theo hướng Phú Thọ Hòa. Bị địch chặn lại, Đội đã phối hợp với các cánh quân khác (Đoàn 10) và lực lượng nổi dậy tại chỗ diệt ác trừ gian, trừng trị 25 cảnh sát mật vụ, diệt 1 đại đội địch, bắn cháy 8 xe M113, bắt rơi 2 trực thăng.

Phối hợp với các mũi tiến công, một đơn vị an ninh vũ trang do đồng chí Năm Nón chỉ huy phối hợp với lực lượng địa phương tiến vào quận 7, đánh địch ở Cầu Sập.

Một đơn vị trinh sát vũ trang do đồng chí Sáu Hạnh, Tư Hưng chỉ huy tiến công vào biệt thự số 80 Trương Minh Giảng (nay là Trần Quốc Thảo), quân ta đã tiêu diệt 11 cảnh sát, 2 biệt động quân, bắn cháy 1 xe bọc thép, 2 xe tuần tiễu. Mục tiêu ban đầu được xác định là nhà Nguyễn Văn Thiệu, nhưng do điều nghiên không chính xác (thực ra là Tòa Đại sứ Philíppin).

Qua đợt 1, lực lượng An ninh T4 đã diệt 348 sinh lực địch, trong đó 102 tên cảnh sát có nhiều nợ máu, góp phần phá thế kìm kẹp của địch, làm cho nội bộ địch hoang mang lo sợ. Riêng ở nội đô ta đã đánh 22 trận lớn nhỏ, cảnh cáo tại chỗ 35 tên, vận động rã ngũ 15 tên.

Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đợt 1, phần lớn cơ sở điệp báo, an ninh khu vực, lực lượng trinh sát vũ trang bị lộ và bị bắt hàng loạt. Quán triệt chủ trương của Khu ủy Sài Gòn - Gia Định, số cán bộ an ninh hoạt động hợp pháp trong vùng địch kiên trì bám trụ, dựa vào quần chúng vừa đánh địch vừa củng cố, gây dựng lại tổ chức, từng bước tăng cường quân số và trang bị vũ khí, phương tiện công tác và chiến đấu. Nắm vững phương châm "đánh sâu, đánh hiểm, đánh trúng đối tượng", lực lượng trinh sát vũ trang nội đô và lực lượng điệp báo An ninh T4 đẩy mạnh công tác tấn công chính trị bằng cách gửi truyền đơn cho cảnh sát và khóm trưởng làm cho chúng hoang mang lo sợ, trút bỏ cảnh phục.

Tháng 5-1968, nhiều đơn vị vũ trang thuộc An ninh T4 đã phối hợp với các phân khu chiến đấu anh dũng tiếp tục tấn công nhiều mục tiêu trên toàn Khu Sài Gòn - Gia Định. Lực lượng an ninh các huyện cũng phối hợp với bộ đội địa phương và du kích tổ chức tấn công địch và hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy. Thông qua phong trào quần chúng "bảo mật phòng gian" kết hợp với nhiều biện pháp nghiệp vụ, lực lượng An ninh T4 đã phát hiện hàng trăm vụ nội gián, bắt và trừng trị nhiều tên.

Trên mặt trận liên lạc kỹ thuật, bộ phận cơ yếu ngày đêm giữ vững mạng liên lạc mật mã được thông suốt giữa an ninh Sài Gòn - Gia Định với Khu ủy và Trung ương Cục. Cán bộ cơ yếu an ninh Sài Gòn - Gia Định hoạt động và chiến đấu ở nhiều địa bàn khác nhau, đã mưu trí, dũng cảm bảo vệ tài liệu, mật mã bí mật an toàn. Công tác phòng gian bảo mật, đặc biệt là giữ bí mật về ý đồ chiến lược của Đảng được tuân thủ nghiêm ngặt; các kế hoạch bảo vệ tài liệu, bảo vệ tổ chức cán bộ được tiến hành ở tất cả các cấp.

Chỉ trong một thời gian ngắn, lực lượng An ninh T4 cùng với quân và dân khu Sài Gòn - Gia Định đã tiêu diệt và làm tan rã một số lượng lớn sinh lực địch và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của chúng. Lực lượng ta phát triển nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng, thu được nhiều kinh nghiệm quý báu, nhất là trong việc đánh giá địch và ta. Vùng giải phóng được mở rộng, quyền làm chủ của nhân dân được củng cố và phát triển. Từ đó tạo ra thế và lực mới cho cách mạng miền Nam tiến tới thắng lợi cuối cùng.




---------------------------------------------------------------
1. Gọi tắt là An ninh T4 (tiền thân của lực lượng Công an Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay), được thành lập ngày 19-3-1961. Ngày 19-3-1961, Khu ủy Sài Gòn - Gia Định chủ trương nhanh chóng củng cố xây dựng lực lượng và phát triển bộ máy tổ chức an ninh để làm tham mưu cho Đảng và làm nòng cốt cho phong trào quần chúng. Ban bảo vệ an ninh được thành lập gồm có 4 bộ phận: bộ phận văn phòng, bộ phận nông thôn, bộ phận đô thị và bộ phận vũ trang. Năm 1962, các tiểu ban thuộc An ninh T4 được thành lập gồm 10B từ B1 đến B10.

2. Tháng 11-1967, Ban An ninh T4 đã điều động đồng chí Đỗ Thạnh (Ba Dũng) - Trưởng ban Điệp báo vào thành để xây dựng cơ sở bí mật như: Tư Bụng, Mười Hậu, Tư Trương tại Bình Thới (Quận 11). Điều động Sáu Tỳ vào thành để xây dựng hộp thư và một số đồng chí khác cũng vào thành; đồng chí Hai Phong xây dựng được 3 cơ sở an ninh mật, 5 tổ trinh sát vũ trang, 3 lõm chính trị, ngoài ra còn có nhiều cơ sở khác.

3. Lúc đầu địch dùng loại ép plastic trơn được bán rộng rãi trên thị trường; sau đó địch đổi thẻ căn cước bọc nhựa ép plastic có vân nổi, ta đã tổ chức móc nối mua loại plastic này ở Campuchia để làm giả. Đến 1969, địch đổi thẻ căn cước bọc nhựa plastic có hình những con rồng màu xanh (loại này được đặc chế, chỉ có bộ phận làm giấy căn cước cảnh sát Sài Gòn sử dụng) nhưng ta cũng làm giả được.

4. Cay cú trước thất bại với một lực lượng an ninh nội đô vừa mới được thành lập, ngày 8-1-1966, quân đội Mỹ - quân đội Sài Gòn huy động 12.000 quân, 600 pháo, cối, 600 xe cơ giới, số lượng lớn máy bay chiến đấu, tấn công vào căn cứ Khu ủy Sài Gòn - Gia Định, mặc dù tương quan lực lượng giữa ta và địch không cân bằng, nhưng lực lượng An ninh T4 đã phối hợp với quân và dân địa phương, chiến đấu tiêu diệt gần 100 tên địch, bắn rơi 11 máy bay, 1 xe M113...

5. Cán bộ nữ xin đi quá giang xe lính Mỹ chuyển thư từ, giả vợ chồng, tình nhân của tướng tá ngụy để chuyển thư, vũ khí trên những chuyến xe du lịch sang trọng... Các trạm giao liên điệp báo, trinh sát vũ trang dọc theo quốc lộ 22, từ Dĩ An dùng xe lam chở vũ khí vào nội đô, bên trong chất đầy rau quả, bên dưới là súng AK, AK báng gỗ, báng xếp, đạn dược. Nhiều chị em giao liên đi vào nội thành "tặng quà Tết cho bà con họ hàng" bằng những đòn bánh tét nhưng bên trong là thuốc nổ TNT, C4. Anh Tư Thông (cơ sở của đồng chí Hai Phong), lái ô tô từ nội thành ra nhận vũ khí, đạn dược chất nổ, rau quả ngụy trang ở trên xe. Xe chở hèm (bọc gói kín súng đạn nhét vào các thùng đựng hèm) từ Long Bình, Củ Chi về Sài Gòn; anh còn sử dụng xe Jeep biển số quân Mỹ với vai đại úy quân đội Sài Gòn, lợi dụng lúc nhá nhem tối qua các trạm gác an toàn.

6. Đồng chí Ba Dũng đã lập kế hoạch trừng trị tên Linh Quang Viên (Trung tướng Đặc ủy trưởng Đặc ủy Trung ương tình báo Sài Gòn). Đúng 1 giờ kém 15 phút ngày mồng 2 Tết, tổ điệp báo đã bí mật vào cổng nhà tên Viên đặt chất nổ và kích nổ, tên Viên chạy ra cửa sau thoát chết, tiếng nổ phát ra làm hiệu lệnh tấn công cho lực lượng an ninh trong thành phố.

7. Phân đội an ninh vũ trang bảo vệ Bộ Tư lệnh Tiền phương II được Chính phủ truy tặng danh hiệu "Đơn vị anh hùng", riêng đồng chí Nguyễn Minh Hoàng, một chiến sĩ tiêu biểu đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng được truy tặng danh hiệu "Anh hùng Lực lượng vũ trang". Đơn vị trinh sát đã được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Hai, 8 đồng chí được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất, hạng Hai, Quân khu T4 tặng cho cá nhân 25 bằng khen.

8 . Mục tiêu Tổng nha Cảnh sát được giao cho cụm biệt động 7 - 8 đánh chiếm trước khi quân chủ lực đến. Đến giờ G đơn vị này còn ở Tân Nhựt (Bình Chánh) nên ta không đánh được mục tiêu này trong Tết Mậu Thân.


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Năm, 2020, 10:44:41 am
NHÌN NHẬN VỀ THẾ TRẬN CÁCH MẠNG MIỀN NAM
SAU TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968,
MỘT SỐ BÀI HỌC RÚT RA CHO SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC



Trung tướng, PGS.TS. NGUYỄN ĐỨC HẢI
Viện trưởng Viện Chiến lược quốc phòng
   


Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, bản hùng ca bất diệt của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, là dấu ấn trong lịch sử giải phóng dân tộc. Sau 50 năm nhìn lại sự kiện lịch sử, chúng ta có thể rút ra nhiều vấn đề mang tầm chiến lược và những bài học sâu sắc vận dụng vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Thứ nhất, ý nghĩa của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968

Vào thời điểm Tết Mậu Thân 1968 (ngày 30 và 31-1-1968), cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta đồng loạt nổ ra trên toàn chiến trường miền Nam, đặc biệt ở Sài Gòn, Huế và nhiều thị xã, thị trấn, các căn cứ quân sự của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy diễn ra trong bối cảnh quân Mỹ, quân đội Sài Gòn và các nước đồng minh của chúng tham chiến với một lực lượng quân sự lớn lên tới trên 1.300.000 quân, có vũ khí trang bị kỹ thuật hiện đại, được phòng thủ vững chắc. Với tư duy chỉ đạo chiến lược táo bạo, bất ngờ, ta đã đánh thẳng vào các vị trí quan trọng nhất của địch như: Đại sứ quán Mỹ, Dinh Độc Lập, Bộ Tổng Tham mưu, Tổng nha Cảnh sát, Đài Phát thanh Sài Gòn, tiến công làm chủ thành phố Huế và hầu khắp các vùng nông thôn rộng lớn, tiêu diệt nhiều sinh lực, phá hủy một khối lượng lớn vũ khí, phương tiện chiến tranh của địch. Chỉ trong vòng 24 tiếng đồng hồ, toàn bộ hậu phương an toàn nhất của địch, bao gồm cả các thành phố, tỉnh lỵ đều bị tấn công đồng loạt. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 không chỉ diễn ra một đợt mà diễn ra nhiều đợt, không chỉ tiến công tuần tự từ ngoài vào mà còn kết hợp từ trong ra, khiến địch bất ngờ, choáng váng.

Đây là một sự kiện lớn, đánh dấu mốc quan trọng có ý nghĩa chiến lược trong cuộc chiến tranh nhân dân tổng lực của ta, giáng một đòn quyết định, làm phá sản chiến lược "chiến tranh cục bộ", làm rung chuyển nước Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, rút dần quân viễn chinh ra khỏi miền Nam, chấp nhận thương lượng để có thể kết thúc chiến tranh trong danh dự. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, chúng ta đã huy động tổng lực từ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích, lực lượng đặc công, biệt động..., được nhân dân hết lòng ủng hộ, tích cực phối hợp tham gia chiến đấu; kết hợp chặt chẽ giữa nổi dậy của quần chúng, sự chuẩn bị rất công phu của các lực lượng, giữ được bí mật tuyệt đối của các cấp, các địa phương, đơn vị, sự hy sinh to lớn của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta để làm nên một kỳ tích "có một không hai" trong chiến tranh giải phóng dân tộc. Ta đã phát huy được sức mạnh tổng hợp giữa lực lượng chính trị của quần chúng với lực lượng vũ trang ba thứ quân; kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, ngoại giao; đánh địch trên cả ba vùng chiến lược, bằng ba mũi giáp công; kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, kết hợp đánh lớn, đánh vừa và nhỏ; thể hiện nghệ thuật đánh địch bằng mưu cao, kế hiểm. Đánh giá về thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Đó là thắng lợi của đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng ta, thắng lợi của lòng yêu nước nồng nàn và sức mạnh của toàn dân đoàn kết quyết chiến, quyết thắng... giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc" . Bộ Chính trị đánh giá: "Thắng lợi của cuộc tiến công Tết Mậu Thân là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược cực kỳ quan trọng, tạo ra một bước ngoặt của cuộc chiến tranh, đánh dấu sự thất bại của chiến lược "chiến tranh cục bộ" của Mỹ, buộc Mỹ phải chuyển sang chiến lược phòng ngự trên toàn chiến trường, phải ngồi vào bàn đàm phán với ta ở Hội nghị Pari, chấm dứt ném bom miền Bắc không điều kiện, chủ trương "phi Mỹ hoá" chiến tranh mở đầu thời kỳ xuống thang chiến tranh" .

Thứ hai, nhìn nhận về thế trận cách mạng miền Nam sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968

Một là, "thế trận lòng dân" trong chiến tranh nhân dân của cách mạng miền Nam phát triển mạnh mẽ cả ở trong nước và trên trường quốc tế sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

Cuộc chiến tranh chống xâm lược mà Đảng và nhân dân ta tiến hành là cuộc chiến tranh nhân dân, vì vậy, thế trận quan trọng nhất của cuộc chiến tranh này là thế trận lòng dân. Có thể khẳng định, thế trận lòng dân vững mạnh và phát triển, thì dù kẻ thù to lớn đến đâu, sớm muộn sẽ thất bại và ngược lại. Điều quan trọng nhất là, sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, thế trận lòng dân của cách mạng miền Nam tăng cao cả ở trong nước và trên trường quốc tế.

Xét về thế trận lòng dân ở trong nước, sau Tổng tiến công và nổi dậy, đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn tiến hành các hoạt động trả thù hết sức man rợ, hàng loạt cơ sở cách mạng, những người có cảm tình với cách mạng bị bắt bớ, tù đày và giết hại. Riêng ở Huế, hàng ngàn người bị chết và mất tích. Ở Sài Gòn và nhiều đô thị khác trên toàn miền Nam, nhiều chiến sĩ cách mạng bị tra tấn, tù đày và giết hại. Chúng tưởng rằng, bằng hành động dã man đó sẽ đè bẹp ý chí cách mạng vì độc lập, tự do của dân tộc, nhưng chính sự tàn bạo của kẻ thù, đã làm cho tình yêu quê hương, đất nước dâng cao trong lòng đồng bào miền Nam cũng như cả nước. Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, thế trận lòng dân của cách mạng miền Nam không hề giảm sút, mà nó đang bốc cháy một cách âm thầm, mãnh liệt và sẽ bùng lên thiêu trụi hết bọn cướp nước và lũ bán nước, khi thời cơ đến. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đã chứng minh rất hùng hồn cho điều đó, chỉ sau Xuân Mậu Thân 1968 có 7 năm, một khoảng thời gian không lớn. Sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn được quan thầy Mỹ dày công xây dựng, là điều không thể tránh khỏi. Phải nhìn nhận một cách khách quan, khoa học như vậy, thì mới thấy được cái thế trận lòng dân vững chãi và đang lên của cách mạng miền Nam sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

Xét về thế trận lòng dân của cách mạng miền Nam trên trường quốc tế, có lẽ những người giàu trí tưởng tượng nhất cũng không thể hình dung được. Bởi lẽ, chỉ sau một đêm thôi, khi mà Tòa Đại sứ Mỹ, Dinh Độc Lập, Đài Phát thanh, Bộ Tổng Tham mưu... bị tấn công, cả nước Mỹ bàng hoàng, rúng động, Tổng thống Giônxơn trở thành tổng thống chiến tranh bị lên án mạnh mẽ. Tại Hoa Kỳ, các nhà bình luận có uy tín thi nhau bình luận bất lợi cho Hoa Kỳ. W. Lippman (Newsweek 11-3-1968) tiên đoán Hoa Kỳ sẽ thất bại tại Việt Nam. Đài truyền hình NBC trong một chương trình đặc biệt về Việt Nam ngày 10-3-1968 kết luận, bỏ mọi chuyện khác ra ngoài, đã đến lúc chúng ta phải quyết định có cần phải phá hủy Việt Nam để cứu Việt Nam không. Tuần báo Time viết: năm 1968 cho chúng ta thấy một sự thật là, chiến thắng - hay ngay cả một cuộc thương thuyết thuận lợi - không ở trong tầm tay của quốc gia mạnh nhất thế giới. Đêm ngày 31-3-1968, Tổng thống Giônxơn tuyên bố đơn phương ngừng dội bom phía trên vĩ tuyến 20, không ra ứng cử Tổng thống lần thứ hai, và kêu gọi Hà Nội ngồi vào bàn hội nghị. Nhân dân Mỹ từ chỗ bị lừa gạt, ủng hộ cuộc chiến tranh xâm lược của quân đội Mỹ đối với Việt Nam đã phản chiến mạnh mẽ, nước Mỹ bị chia rẽ sâu sắc, sức mạnh chính trị của đội quân xâm lược bị lung lay tận gốc rễ, vì thế sức mạnh quân sự giảm, đầu năm 1969, quân đội Mỹ bắt đầu rút quân về nước. Trong bất kỳ một cuộc chiến tranh nào, khi mà thế trận lòng dân được phát huy, thì cuộc chiến đó nhất định sẽ đi đến kết cục có lợi. Sự chuyển hóa nhanh chóng về thế trận lòng dân trên trường quốc tế, đã tạo thế, tạo lực cho cách mạng miền Nam, tất yếu dẫn đến sự chuyển hóa căn bản về chất.

Hai là, thế trận quân sự của cách mạng miền Nam được củng cố và phát triển cả về xây dựng lực lượng và nghệ thuật quân sự.

Nét đặc sắc sáng tạo, độc đáo của nghệ thuật quân sự Việt Nam trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 thể hiện tính bất ngờ, quyết đoán trong việc lựa chọn thời gian, không gian, chọn hướng tiến công, mục tiêu tiến công kết hợp với chỉ đạo và điều hành chiến tranh của Đảng ta tạo nên một hiện tượng "độc nhất vô nhị" hiếm có trong lịch sử chiến tranh. Lựa chọn địa bàn đô thị, thành phố là hướng công kích và khởi nghĩa chủ yếu, trong đó trọng điểm là Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế, nơi tập trung sinh lực cấp cao của Mỹ, chính quyền Sài Gòn, sào huyệt đầu não, trung tâm chỉ huy. Về quy mô, đánh rộng khắp đồng loạt trên toàn chiến trường khiến địch không lường được. Đặc biệt chọn thời gian tiến công vào giữa đêm giao thừa - Tết Nguyên đán, thời điểm mà địch không ngờ tới. Giữ được bất ngờ đến giờ nổ súng, sử dụng lực lượng quân sự tinh nhuệ (đặc công, biệt động) kết hợp mũi tiến công của lực lượng xung kích với những cuộc nổi dậy của quần chúng tại chỗ và vùng nông thôn kế cận, phối hợp quân sự và chính trị, thành thị và nông thôn. Đồng thời, ta thực hiện kéo chủ lực địch ra những chiến trường ta chuẩn bị để giam chân, tiêu diệt địch, làm chúng khó phán đoán ý định của ta, tạo điều kiện thuận lợi cho thành thị tiến công và nổi dậy.

Sự sáng tạo về nghệ thuật quân sự của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 thể hiện trong cách đánh chưa từng diễn ra trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ xâm lược và cả trong lịch sử chiến tranh thế giới. Đó là sự vận dụng phương châm "ba vùng chiến lược", sử dụng hai lực lượng chính trị và quân sự để giành thắng lợi cả chính trị và quân sự, sáng tạo về hình thức tiến công đồng loạt để tạo hiệu ứng như một đòn "sét đánh". Thế trận chiến tranh nhân dân của ta cho phép có thể đánh địch ở cả những nơi chúng cho là "bất khả xâm phạm". Chúng ta đã chủ động cả về thời gian và không gian.

Ba là, tạo đột phá về ngoại giao.

Thế trận ngoại giao trước Tổng tiến công không tiến triển. Đàm phán với Mỹ tại Hội nghị Pari rất khó khăn do ta chưa có các đòn đánh quân sự lớn. Đối với thế giới, một bộ phận dư luận chưa thực sự quan tâm, tin tưởng vào thắng lợi của cuộc đấu tranh của ta. Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, thế trận ngoại giao của cách mạng miền Nam được cải thiện hơn nhiều. Thắng lợi của đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị đã tạo điều kiện cho thế trận ngoại giao phát triển. Đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị là nhân tố chủ yếu quyết định thắng lợi trên chiến trường, thắng lợi trên bàn hội nghị ngoại giao chính là quyết định thắng lợi ở chiến trường.

Tại Hội nghị Pari, Mỹ phải thay đổi thái độ với chúng ta, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ngày càng có tiếng nói bình đẳng trong hội nghị. Hoạt động ngoại giao của ta đã làm cho nhân dân Mỹ bừng tỉnh, nhận thấy nước Mỹ đang lao vào cuộc chiến tranh đẫm máu, đang lún sâu vào đường hầm không lối thoát; cao trào chống chiến tranh ở Mỹ đã lan rộng và lên cao chưa từng có, phong trào ủng hộ nhân dân Việt Nam chống chiến tranh xâm lược của Mỹ phát triển mạnh.

Bốn là, sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, thế bố trí vùng chiến lược, lực lượng và hậu cần, kỹ thuật của cách mạng miền Nam có biến động lớn gặp nhiều khó khăn.

Trước cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, các lực lượng vũ trang trên toàn miền Nam hình thành thế bố trí trên ba vùng chiến lược, đó là rừng núi, đồng bằng và đô thị. Chính thế bố trí chiến lược này đã tạo thế, tạo lực để quân ta tiến hành ba mũi giáp công làm rung chuyển toàn bộ chiến trường miền Nam. Sự bộc lộ toàn bộ lực lượng trên tất cả các đô thị với quyết tâm dồn toàn lực lượng cho trận đánh cuối cùng, khi bị địch phản công đánh trả, thế bố trí chiến lược này bị phá vỡ. Với lực lượng, vũ khí, phương tiện lớn hơn gấp nhiều lần, quân địch đã đẩy lực lượng của ta ra khỏi các đô thị và vùng ven đô. Chẳng hạn, trên địa bàn Sài Gòn, Chợ Lớn và các tỉnh miền Đông Nam Bộ, sau khi chống trả với đợt Tổng tiến công và nổi dậy tháng 5, đế quốc Mỹ đã tập trung 38 tiểu đoàn Mỹ, 4 tiểu đoàn quân các nước phụ thuộc Mỹ và 61 tiểu đoàn chủ lực của quân đội Sài Gòn, tổng cộng 90.000 quân cùng lực lượng địa phương tại chỗ tổ chức hệ thống phòng thủ bảo vệ Sài Gòn, với chiều sâu khoảng 100 km, chia làm ba tuyến. Đứng trước tình hình này, Bộ Chính trị chấp nhận: trong đợt 3, trọng tâm tiến công được chuyển ra vòng ngoài, hướng chủ yếu là địa bàn hai tỉnh Tây Ninh và Bình Long, các địa bàn còn lại là hướng phối hợp. Riêng với nội đô Sài Gòn - Gia Định và các thành phố, thị xã khác chủ yếu sử dụng lực lượng pháo binh và biệt động, đặc công bí mật luồn sâu tập kích vào các mục tiêu quan trọng, gây mất ổn định trong các cơ quan chỉ huy đầu não của địch; đồng thời, đưa cán bộ thâm nhập vào nội thành củng cố, ráp nối lại các cơ sở cũ, xây dựng thêm các cơ sở mới, từng bước củng cố lại phong trào.

Về lực lượng, theo thống kê chính thức của Quân giải phóng miền Nam, cả năm 1968 ta loại khỏi vòng chiến đấu 630.000/1.300.000 quân Mỹ, quân đội Sài Gòn và quân đồng minh, tổn thất của ta sau 3 đợt tổng tiến công và nổi dậy là 113.000/300.000 quân. Lực lượng Biệt động Sài Gòn, có những tổ, đội hy sinh toàn bộ, đây là tổn thất rất lớn, bởi đó là lực lượng tác chiến tinh nhuệ nhất của ta hoạt động trong đô thị. Điều đó đòi hỏi phải có sự bổ sung kịp thời từ miền Bắc và tại chỗ, thì mới đáp ứng cho nhu cầu tác chiến của chiến dịch quân sự tiếp theo.

Sau Tổng tiến công Mậu Thân, vùng kiểm soát của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam bị thu hẹp. Do các tổ chức chính trị ngầm chuyên vận động nhân dân đã bị lộ nên trong năm 1969, tại nhiều nơi trên chiến trường, Quân giải phóng bị mất nguồn tiếp tế từ nhân dân. Quân ta phải rút về nông thôn, rừng núi hoặc di chuyển sang biên giới các nước bạn Lào và Campuchia. Mặt khác, với việc chấm dứt ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra, quân địch có điều kiện tập trung lực lượng đánh phá khốc liệt hơn các tuyến đường vận chuyển của ta, do đó việc cung cấp hậu cần, kỹ thuật từ miền Bắc cho chiến trường miền Nam khó khăn hơn rất nhiều, nhất là khu vực Tây Nguyên, Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ.

Đó là những khó khăn mà chiến trường miền Nam phải vượt qua sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.

Thứ ba, một số bài học vận dụng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới

Một là, xây dựng "thế trận lòng dân" trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay.

Đây là bài học hàng đầu, bởi vì, thế trận lòng dân là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng nước ta, trong mọi thời kỳ. Nếu để mất thế trận lòng dân, thì sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc không thành công. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhờ có thế trận lòng dân vững chắc và vượt ra khỏi biên giới quốc gia đã giúp chúng ta khắc phục mọi khó khăn, gian khổ đi đến thắng lợi cuối cùng vào mùa Xuân 1975. Công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế bên cạnh những thuận lợi cơ bản, đang đặt ra cho nước ta nhiều thách thức, khó khăn. Sự nghiệp đó chỉ được hoàn thành khi thế trận lòng dân của đất nước và sự ủng hộ của bạn bè quốc tế ngày càng vững chắc và mạnh mẽ.

Hai là, xây dựng thế bố trí lực lượng rộng khắp đủ mạnh để bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Bài học này hết sức quan trọng trong tình hình hiện nay, bởi vì, nền kinh tế nước ta đang phát triển nhanh cả về quy mô và trình độ. Điều đó đòi hỏi, phải xây dựng một nền quốc phòng toàn dân đủ mạnh để bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Bố trí lực lượng rộng khắp đủ mạnh đáp ứng cho nhu cầu chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc là một đòi hỏi mang tính thường xuyên, liên tục. Sự hẫng hụt về lực lượng trong các đô thị lớn ở miền Nam sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 cho thấy, đó là khó khăn lớn cho toàn cục của cuộc chiến chống quân xâm lược. Trong điều kiện chiến tranh công nghệ cao nếu xảy ra trong tương lai, tốc độ, quy mô tác chiến sẽ diễn ra rất nhanh và rộng lớn. Vì vậy, ngay từ trong thời bình cần có sự chuẩn bị chu đáo và tỉ mỉ về lực lượng nhằm giữ thế chủ động cho đất nước trước mọi tình huống có thể xảy ra.

Ba là, bố trí lực lượng bảo đảm hậu cần, kỹ thuật trong điều kiện chiến tranh công nghệ cao bảo vệ Tổ quốc.

Bài học này giữ vị trí cực kỳ quan trọng, bởi vì, trong chiến tranh hiện đại, nhu cầu về hậu cần, kỹ thuật rất lớn, nếu không chuẩn bị kỹ lưỡng trong thời bình, thì khi có chiến tranh xảy ra sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, trong khi quân Mỹ, quân đội Sài Gòn và chư hầu được cung cấp đầy đủ hậu cần, kỹ thuật thì quân đội ta trên chiến trường miền Nam bị hao hụt và thiếu thốn lại bị kẻ thù đánh phá ác liệt ngăn chặn mọi đường tiếp tế. Chính vì thế, bài học này vẫn giữ nguyên giá trị đối với chúng ta trong chuẩn bị và tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân công nghệ cao, bảo vệ Tổ quốc, nếu xảy ra trong tương lai.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã đi vào chiều sâu lịch sử của dân tộc. Nhân dịp kỷ niệm 50 năm Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân (1968-2018), cần nhìn nhận một cách khách quan, khoa học về nhiều mặt, trong đó có vấn đề về thế trận của cách mạng miền Nam sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy. Một mặt, nhằm tri ân sâu sắc những chiến công oanh liệt của cha anh, mặt khác rút ra những bài học bổ ích cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Năm, 2020, 10:51:25 am
LỰC LƯỢNG VŨ TRANG SÀI GÒN - GIA ĐỊNH
THAM GIA CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY MẬU THÂN 1968



Thiếu tướng TRƯƠNG VĂN HAI
Tư lệnh Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh


Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, lực lượng vũ trang nhân dân Sài Gòn - Gia Định đã thể hiện sức mạnh, ý chí, quyết tâm cao độ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần làm nên những chiến công lịch sử 50 năm trước. Quá trình giành thắng lợi của lực lượng vũ trang Sài Gòn - Gia Định được thể hiện qua những nội dung sau:

1. Tổ chức và xây dựng lực lượng, chuẩn bị đón thời cơ chiến lược

Căn cứ ý định và phương hướng chiến lược của Bộ Chính trị "chuyển cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam sang một thời kỳ mới - thời kỳ giành thắng lợi quyết định...", Trung ương Cục miền Nam và Bộ Chỉ huy Miền đã chỉ đạo quân và dân trên các chiến trường, đặc biệt là Mặt trận Sài Gòn - Gia Định ra sức chuẩn bị mọi mặt cho "Tết Mậu Thân" 1968. Trước tình hình đó, Khu ủy Sài Gòn - Gia Định tổ chức Hội nghị mở rộng để tiếp thu Nghị quyết của Bộ Chính trị và Trung ương Cục, đề ra kế hoạch, mục tiêu Tổng tiến công và nổi dậy. Nhiệm vụ của Mặt trận là tiến công các căn cứ đầu não của địch tại Sài Gòn; phát động quần chúng nổi dậy khởi nghĩa, giành chính quyền; đồng thời, cùng với lực lượng của Phân khu và của Miền tiêu diệt và làm tan rã đại bộ phận quân đội Sài Gòn, đánh đổ chính quyền Sài Gòn các cấp, giành chính quyền về tay nhân dân. Yêu cầu trước mắt là phải tổ chức lại chiến trường, khẩn trương xây dựng và phát triển thực lực cách mạng, thực hiện 2 nhiệm vụ chính.

Do tính chất đặc biệt quan trọng của Sài Gòn - Gia Định trong Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa, Trung ương Cục quyết định giải thể Quân khu Sài Gòn - Gia Định, tổ chức lại chiến trường miền Đông theo yêu cầu nhiệm vụ mới. Trên cơ sở 5 cánh trước đây, Sài Gòn - Gia Định và một phần của các tỉnh lân cận hình thành 5 phân khu, đồng thời là 5 mũi tiến công vào nội đô gồm: Phân khu 1, hướng tây bắc; Phân khu 2 và 3, hướng tây và tây nam; Phân khu 4, hướng đông bắc; Phân khu 5, hướng bắc; phân khu nội thành (Phân khu 6) phụ trách lực lượng Biệt động, Thành Đoàn, Công vận, Hoa vận, Phụ vận và các cơ sở Đảng ở các "lõm" chính trị. Trên các hướng của 5 phân khu, Bộ Chỉ huy Miền tăng cường một số trung đoàn, tiểu đoàn bộ binh đơn vị địa phương và hoả lực của Miền.

Trung ương Cục thành lập 2 cơ quan: tiền phương Bắc và tiền phương Nam theo sát chỉ đạo Mặt trận Sài Gòn - Gia Định. Công tác hậu cần phục vụ các đơn vị chủ lực do Miền đảm nhiệm kết hợp với hậu cần tại chỗ của các phân khu, đơn vị, địa phương, trước ngày N của chiến dịch, các lực lượng đã vận chuyển xuống vùng trung tuyến, vùng ven, gạo, thực phẩm, vũ khí cho các đơn vị. Riêng lực lượng Biệt động đã chuẩn bị được gần 400 cơ sở, trong đó có nhiều điểm trú ém quân và hầm chứa vũ khí. Các địa phương ở vùng trung tuyến đã huy động hàng chục vạn ngày công vận tải hậu cần ra tuyến trước.

Nhiệm vụ của các đơn vị được phân công như sau:

Các đơn vị Biệt động mang bí số từ 1 đến 9 sau đó thành lập thêm đội Biệt động 11 làm nhiệm vụ đánh các mục tiêu ở nội đô và các đơn vị của lực lượng vũ trang Thành phố phối hợp với các đơn vị tiến công địch ở các hướng:

Ở hướng tây bắc (Phân khu 1), Tiểu đoàn Quyết Thắng 1, Tiểu đoàn Quyết Thắng 2, Tiểu đoàn 8 pháo binh phối hợp với Trung đoàn 16, Trung Đoàn 88, Tiểu đoàn đặc công 429, Sư đoàn 9 tiến công địch từ hướng tây bắc vào nội đô.

Ở hướng tây (Phân khu 2), Tiểu đoàn 6 Bình Tân phối hợp với Tiểu đoàn 267, Tiểu đoàn 269 của Quân khu 8 và các Tiểu đoàn 16, 12, Tiểu đoàn pháo binh của Quân khu 8 và 2 Đại đội trinh sát làm nhiệm vụ đánh địch ở hướng tây thành phố.

Ở hướng nam (Phân khu 3), Tiểu đoàn 5 Nhà Bè phối hợp với Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 2, Tiểu đoàn pháo Kiến Tường (Long An) và Tiểu đoàn Phú Lợi tiến công địch ở hướng nam thành phố.

Ở hướng đông (Phân khu 4) Tiểu đoàn 5, Tiểu đoàn 10 đặc công Rừng Sác và Trung đoàn 3, Trung đoàn 4, Sư đoàn 7 của Miền tiến công địch ở hướng đông thành phố.

Ở hướng bắc (Phân khu 5) Tiểu đoàn 4 Thủ Đức, các đơn vị địa phương Quận 8 phối hợp với Trung đoàn Đồng Nai, Tiểu đoàn 3 Dĩ An tiến công địch ở hướng bắc thành phố.

Đêm 30 rạng 31-1-1968 (tức đêm mùng 1 rạng ngày mùng 2 Tết Mậu Thân), các đơn vị mũi nhọn và biệt động đã đồng loạt nổ súng tiến công nhiều mục tiêu ở nội ngoại thành Sài Gòn. Lực lượng biệt động do đột nhập bằng đường hợp pháp nên ngay từ phút đầu đã vào ém quân gần các mục tiêu đầu não như: Dinh Độc Lập, Đại sứ quán Mỹ, Đài Phát thanh, Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Tư lệnh Hải quân...

2. Tổng tiến công và nổi dậy đợt 1, từ đêm ngày 30 rạng 31-1-1968 đến ngày 28-2-1968

Tại Dinh Độc Lập, Đội 5 biệt động gồm 17 cán bộ, chiến sĩ triển khai đội hình xuất phát tiến công. Tuy nhiên, do chênh lệch về lực lượng, vũ khí, trang bị và địch tổ chức phòng ngự kiên cố nên đơn vị phải triển khai đội hình chiến đấu trên đường Nguyễn Du. Sau đó rút vào nhà số 56 Thủ Khoa Huân và tổ chức cố thủ trên tầng 3.

Tại Bộ Tổng Tham mưu, Cụm biệt động 679 gồm 27 cán bộ, chiến sĩ tấn công vào cổng số 4 (ngã ba Trương Quốc Dung - Võ Tánh, nay là đường Hoàng Văn Thụ). Địch chống trả quyết liệt ngay từ đầu nên các mũi xung kích không phát triển vào được bên trong căn cứ, phải trụ lại dọc các ngôi nhà kế cận, lợi dụng địa hình chiến đấu. Tiêu diệt và làm bị thương gần 100 tên, bắn cháy 2 xe GMC và phá hủy 1 súng đại liên.
Phối hợp với cụm biệt động, Tiểu đoàn 2 Gò Môn nổ súng tấn công cổng số 5 Bộ Tổng Tham mưu, chiếm được Trường Sinh ngữ, phòng hành chính, dãy nhà sĩ quan và hội trường.

Tại Đại sứ quán Mỹ, các chiến sĩ Đội 11 dùng tiểu liên diệt lính gác ở cổng chính ở đường Thống Nhất (nay là đường Lê Duẩn). Sau đó dùng bộc phá đánh lô cốt góc đường Mạc Đĩnh Chi - Thống Nhất và đột nhập vào trong khuôn viên Đại sứ quán Mỹ. Một tổ án ngữ khống chế cổng chính, để tổ xung kích đánh vào Tòa Đại sứ, chiếm tầng trệt, bắt tù binh Mỹ.

Bị tấn công bất ngờ, địch rối loạn, chống trả yếu. Tình thế thuận lợi, tổ của đồng chí Ngô Thanh Vân (Ba Đen) chiếm được tầng 1 và phát triển đến tầng 3, bắt một số tù binh. Mặc dù bị lực lượng hỗn hợp Mỹ và Sài Gòn đến phản kích tái chiếm Đại sứ quán nhưng Đội 11 Biệt động đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, chiếm giữ Tòa Đại sứ Mỹ từ tầng trệt đến tầng 3, giữ trận địa được 6 giờ.

Tại Đài Phát thanh Sài Gòn, Đội 4 biệt động tiếp cận trước cổng đài, nhanh chóng chiếm được khu vực đài phát sóng ở tầng một 1.

Trước sự phản kích quyết liệt của địch, các chiến sĩ biệt động kiên quyết giữ vững trận địa.

Tại Bộ Tư lệnh Hải quân, Đội 3 Biệt động gồm 16 cán bộ, chiến sĩ sử dụng bộc phá đánh sập lô cốt đầu tiên làm hiệu lệnh cho toàn đội xung phong. Địch trong căn cứ đánh trả quyết liệt, các tàu dưới sông dùng hỏa lực bắn đổ đạn vào đội hình của ta.

Ở hướng tây bắc, Tiểu đoàn 1 Quyết Thắng phối hợp với các đơn vị đánh chiếm căn cứ Cổ Loa, Phù Đổng, giữ trận địa được 2 ngày, sau đó chuyển về khu ngã năm Bình Hòa và ngã ba Cây Thị sát Tòa thị chính và Bộ Chỉ huy tiểu khu Gia Định, phát động quần chúng nổi dậy và trụ lại chiến đấu nhiều ngày. Lực lượng vũ trang Tân Bình đánh địch ở Cầu Ván, Cầu Sắt... Lực lượng vũ trang Bình Chánh giải phóng đồn Hưng Long.

Ở hướng tây, Tiểu đoàn 6 Bình Tân thọc sâu theo trục lộ Trần Quốc Toản (nay là đường 3/2), đánh địch ở Quận 5, Quận 10, Quận 11 khu vực Sư Vạn Hạnh, Vườn Lài, cư xá Hỏa Xa...

Các Tiểu đoàn của Phân khu 3 đánh chiếm các mục tiêu ở Quận 6 và 8; chiếm cầu số 3, các kho gạo bến Bình Đông, phía bắc cầu Nhị Thiên Đường; một mũi thọc sâu đến đường Hậu Giang, Tháp Mười, Dương Công Trừng, Chợ Thiếc... cùng với cánh Hoa vận phát động quần chúng giành quyền làm chủ ở nhiều khu vực.

Ở hướng bắc, Tiểu đoàn 4 Thủ Đức phối hợp với các đơn vị chiếm được cù lao Bình Quới Tây, trụ lại đánh phản kích nhiều ngày.

Lực lượng vũ trang Gò Vấp, Hóc Môn, Tân Bình, Bình Chánh, Tiểu đoàn 7 Củ Chi phối hợp với các đơn vị chủ lực đánh địch ở các bốt Quới Xuân, Thạnh Lộc, An Phú Đông, Tân Thời Hiệp, Đông Thạnh, Nhị Bình, Vàm Thuật...

Ở phía đông nam, hỗ trợ cho lực lượng địa phương, Đoàn 10 đặc công Rừng Sác đánh chiếm đồn Phú Hữu, Lý Nhơn, đồn Đông Hòa, Long Thạnh và 6 ấp chiến lược khác. Đội 5 đột nhập cảng Nhà Bè, đánh chìm tàu trọng tải 10.650 tấn...

Đêm 17-2, ta mở cao điểm 2 của đợt 1, các đơn vị của cấp trên và lực lượng vũ trang thành phố tập kích sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tư lệnh MACV, Tổng nha Cảnh sát, đài rađa Phú Lâm, gây cho địch nhiều thương vong, phá hủy nhiều máy bay; tấn công Sở chỉ huy, chiếm Sở chỉ huy Tiểu đoàn 3 dù ở Tân Thới Hiệp (Hóc Môn), đột kích vào kho xăng Vũng Bèo; đánh Tiểu đoàn 30 Biệt động quân ở Phú Lâm và Lữ đoàn 3, Sư đoàn 25 Mỹ ở Vĩnh Lộc (Bình Chánh), phá sập cầu Gò Dưa, cầu Giồng Ông Tố, cầu kinh Thanh Đa...

Nhìn chung, các tiểu đoàn mũi nhọn và các lực lượng vũ trang địa phương, lực lượng vũ trang Sài Gòn - Gia Định đã chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh chiến đấu, vượt qua nhiều khó khăn gian khổ, dũng mãnh tiến công và chiến đấu anh dũng trên mặt trận nội đô và ven đô. Nổi bật nhất là các đơn vị Biệt động, Tiểu đoàn Quyết thắng, Tiểu đoàn 6 Bình Tân, Tiểu đoàn 7 Củ Chi, Tiểu đoàn 4 Thủ Đức, Tiểu đoàn 5 Nhà Bè đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

3. Tổng tiến công và nổi dậy đợt 2, từ đêm ngày 4 rạng ngày 5-5-1968 đến ngày 18-6-1968

Ở nội đô, các đội vũ trang tuyên truyền, Biệt động các đoàn thể nổi dậy ở vùng Chợ Thiếc, đường Cao Đạt, Bắc cầu chữ Y, đánh chiếm Tòa hành chính Quận 5, khu vực cầu Ông Lãnh, cầu Kho, chợ Năng Xi, đường Trần Hưng Đạo - Quận 2, khu Bàn Cờ - Quận 3, khu xóm Chiếu - Quận 4, ngã tư Bảy Hiền...

Ở hướng tây bắc, Trung đoàn Quyết Thắng phối hợp với Trung đoàn 16 của Miền tiến công tỉnh lỵ Gia Định, khu vực Gò Vấp, Tân Sơn Nhất, đánh chiếm cầu Hang, cầu Băng Ki, xóm Cây Thị, xóm Thơm, xóm Gà, sở Rác, một phần đường Phan Thanh Giản (nay là Điện Biên Phủ), nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, làm chủ 18 ngày đêm trong thành Gia Định.

Ở hướng tây và tây nam, Tiểu đoàn 6 Bình Tân phối hợp với Tiểu đoàn 267, 269 (Phân khu 2), Tiểu đoàn 308 Trà Vinh, Trung đoàn 3, Sư đoàn 9, một số đơn vị và lực lượng vũ trang đoàn thể, đánh địch ở cư xá Phú Lâm, Quận 6, trường đua Phú Thọ, ngã tư Bảy Hiền, Biệt khu Thủ Đô, cầu Tre, đường Hậu Giang, làm chủ ở một số khu vực Chợ Lớn và khu vực đường Nguyễn Văn Thoại, chợ An Đông.
Ở hướng nam, Tiểu đoàn 5 Nhà Bè phối hợp với các đơn vị của Phân khu 3 tiến công vào Quận 4, Quận 8, chiếm giữ cầu chữ Y, đánh Tổng nha Cảnh sát, phát triển vào Quận 1, Quận 2.

Ở hướng đông bắc, Tiểu đoàn 4 Gia Định phối hợp với Tiểu Đoàn 3 Dĩ An, Trung đoàn Đồng Nai đánh địch ở khu vực ngã tư Hàng Xanh, Thị Nghè, Quận 3.

Ở hướng đông, Tiểu đoàn 4 Thủ Đức phối hợp với các đơn vị của Phân khu 4 và Tiểu đoàn pháo binh, pháo kích vào Bộ Tư lệnh Hải quân, khu Tân Cảng, kho Nhà Bè, Dinh Độc Lập.

Ở hướng đông nam, Trung đoàn 10 có nhiệm vụ đánh tàu địch trên sông Lòng Tàu, Xoài Rạp và đánh các kho tàng, cơ quan đầu não của địch.

Lực lượng vũ trang Quận 8 bám trụ đánh địch ở Bến Đá, cầu Sập, Hố Bần, rạch Bà Tàng, cầu Kiệt, đường Âu Dương Lân, Phạm Thế Hiển.
Tổng kết cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, từ ngày 31-1-1968 đến hết đợt 2, quân và dân Sài Gòn - Gia Định đã loại khỏi vòng chiến đấu gần 47.000 tên địch (phần lớn là rã ngũ, đào ngũ), tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 21 tiểu đoàn, 97 đại đội quân Mỹ, quân Sài Gòn và quân đồng minh của Mỹ, bắn rơi và phá hủy hàng chục máy bay các loại, phá hủy gần 1.000 xe quân sự, trong đó có hàng trăm xe tăng và xe bọc thép, đánh sập 19 cầu cống, tiêu diệt, bức hàng, bức rút 150 đồn bốt. Trong những chiến công to lớn của lực lượng vũ trang thành phố, có sự đóng góp xuất sắc của lực lượng Biệt động Sài Gòn.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là sự kiện có ý nghĩa lịch sử to lớn, đã làm chấn động nước Mỹ, đảo lộn thế chiến lược của địch trên chiến trường, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta; làm phá sản chiến lược "chiến tranh cục bộ", buộc đế quốc Mỹ phải đơn phương ngừng ném bom phá hoại miền Bắc, chấp nhận đàm phán với ta tại Hội nghị Pari về việc chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam. Đây là một thắng lợi to lớn cả về chính trị, quân sự và ngoại giao.

Năm tháng sẽ qua đi, nhưng với cả nước, với miền Nam thành đồng, bất khuất, với thành phố mang tên Bác Hồ kính yêu, chiến công của lực lượng vũ trang thành phố sẽ sống mãi và là hành trang của thế hệ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh. Mỗi chúng ta và các thế hệ mai sau có thể nhìn rõ ở đó sức mạnh phi thường của lòng yêu nước tuyệt vời, của trí thông minh, sáng tạo, của nghệ thuật chiến tranh nhân dân giành thế chủ động, tạo bí mật, bất ngờ chiến lược, biết đánh và biết chiến thắng của quân và dân ta trong cuộc Tổng tiến công và nội dậy Mậu Thân 1968.



-----------------------------------------------------------------
1. Theo hiệp đồng của ta, một bộ phận nhân viên kỹ thuật của Đài Phát thanh Giải phóng sẽ đến đọc bản "Tuyên bố của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam" và "Lời kêu gọi ngụy quân ngụy quyền", nhưng lực lượng này không thể cơ động đến mục tiêu đúng như dự kiến.


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Năm, 2020, 10:57:51 am
LỰC LƯỢNG PHÁO BINH
TRONG CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968



Thiếu tướng HOÀNG QUANG THUẬN
Chính ủy Binh chủng Pháo binh


Cách đây vừa tròn 50 năm, vào thời điểm quân đội viễn chinh Mỹ trực tiếp tham chiến trên chiến trường lên tới trên 50 vạn, cộng với quân đội Sài Gòn và quân một số nước đồng minh của Mỹ là trên một triệu, được trang bị vũ khí hiện đại, cũng là thời điểm ta mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy đánh thẳng vào các trung tâm đầu não của Mỹ - chính quyền Sài Gòn ở Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng nhiều thị xã, thị trấn và căn cứ quân sự của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, gây chấn động nước Mỹ và dư luận thế giới.

Cùng với các lực lượng tham gia, pháo binh trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 có nhiệm vụ: Chi viện cho bộ binh đánh chiếm, giữ các căn cứ thị trấn, thị xã, quận lỵ, thành phố; tiêu diệt sinh lực địch trong và ngoài công sự. Tập kích hỏa lực vào các cơ quan đầu não, sở chỉ huy các cấp, các trận địa hỏa lực, khu trung tâm thông tin, kho tàng, sân bay, bến cảng, đầu mối giao thông; làm rối loạn hệ thống chỉ huy; ngăn chặn sự tiếp tế chi viện của địch.

Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cho Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, ta đã tổ chức xây dựng lực lượng pháo binh đều khắp ba thứ quân; tổ chức tăng cường lực lượng, trang bị pháo cho các mặt trận và chỉ đạo các mặt trận tiếp nhận hoặc tổ chức tiểu đoàn pháo cối nhỏ trang bị ĐKB, H12, cối 82mm; phát triển mạnh pháo binh bộ đội địa phương và dân quân tự vệ, nhất là vùng trọng điểm; trang bị pháo, cối mang vác. Đến cuối năm 1967, các tỉnh có đại đội pháo, một số tỉnh có tiểu đoàn pháo, một số huyện có đại đội pháo cối; các huyện, xã vùng tranh chấp, vùng giáp ranh, vùng bao quanh căn cứ lớn đều tổ chức các khẩu đội, trung đội súng cối, trong đó có nhiều đội nữ pháo binh, làm cơ sở để pháo binh các mặt trận liên tục bắn phá các mục tiêu ở cả ba vùng rừng núi, đồng bằng và thành thị trên toàn miền Nam. Đồng thời, Bộ Tư lệnh Pháo binh cũng đề nghị Bộ điều động nhiều đơn vị pháo phản lực, pháo xe kéo hành quân vào chiến trường. Đầu năm 1968, ngoài pháo binh được biên chế trong các trung đoàn, sư đoàn bộ binh, lực lượng pháo cơ động thuộc Bộ Tư lệnh Miền và các quân khu, mặt trận đã tăng lên đáng kể.

Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị sẵn sàng chiến đấu, Binh chủng đã chủ động chuẩn bị chiến trường, chuẩn bị đường hành quân vào trận địa và đo đạc đội hình chiến đấu, xác định mục tiêu bắn; việc đảm bảo đạn dược cho chiến trường cũng được lập kế hoạch chi tiết để pháo binh có thể đánh liên tục và trên diện rộng. Hàng trăm tấn khí tài trinh sát, thông tin, phụ tùng thay thế cho xe pháo cùng thuốc men, nhu yếu phẩm được gửi vào chiến trường góp phần nâng cao khả năng chiến đấu của các đơn vị.

Do công tác chuẩn bị chiến trường và lực lượng tốt, nên pháo binh đã hình thành được thế bố trí rộng khắp, đủ sức tiến công liên tục, dài ngày.

 Hoạt động chiến đấu của pháo binh trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 được chia thành 2 đợt.

Kết quả tác chiến của pháo binh trong đợt 1, từ ngày 30-1 đến ngày 31-3-1968, lực lượng pháo binh đã thực hiện 652 trận đánh hiệp đồng và độc lập lớn (trung bình mỗi ngày đánh 11 trận), tiêu diệt 14.519 quân Mỹ và Sài Gòn (chiếm 33% tổng số địch bị diệt trên miền Nam); phá hủy 1.452 máy bay các loại (chiếm 62% tổng số máy bay bị diệt trên toàn miền Nam ở 42 sân bay); phá hủy 1.431 xe cơ giới các loại; phá hủy 159 khẩu pháo hạng nặng gồm các loại 105, 155, 175 ly cùng hàng trăm khẩu pháo, cối nhỏ; bắn phá 242 kho hậu cần của địch, làm cháy 10 vạn lít xăng, hủy hàng ngàn tấn bom, đạn. Pháo binh đã tham gia đánh địch vận chuyển đường sông, bắn chìm 47 tàu chiến và tàu vận tải lớn của địch. Đặc biệt, ngày 8-2, trên sông Cổ Chiên (Vĩnh Long), bộ đội pháo binh bắn chìm 9 tàu, phá hủy 6 pháo, diệt 600 tên lính Mỹ; ngày 5-3, bắn chìm một lúc 6 tàu chở quân và tiếp tế trên sông Cà Mau; ngày 21-2, bắn chìm 3 tàu lớn, diệt 100 tên địch.

Tháng 4-1968, Bộ Chính trị ra nghị quyết chỉ đạo tiếp tục mở đợt tiến công thứ 2. Thời gian này, địch đã có sự chuẩn bị từ trước, tập trung 2/3 lực lượng Mỹ và toàn bộ lực lượng quân đội Sài Gòn, cố giữ các thành phố lớn, nhất là xung quanh Sài Gòn.

Kết quả trong đợt 2 (từ ngày 4-5 đến ngày 7-8-1968), riêng pháo binh miền Đông Nam Bộ đã tiêu diệt trên 3.000 tên địch trong đó phần lớn là sinh lực kỹ thuật, lực lượng bảo vệ nội thành và quân cơ động Mỹ; phá hủy một số lớn phương tiện cơ động, dự trữ hậu cần, bom đạn, nhiên liệu, khống chế phá hoại một số sân bay, hải cảng quan trọng nhất của địch. Ngoài ra pháo binh còn thu hút, cầm chân một bộ phận hỏa lực cơ động của địch, căng địch ra, hỗ trợ cho những khu vực trọng điểm.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, các hình thức chiến thuật đều có những bước phát triển mới, điển hình là chiến thuật công kiên, chiến thuật vây lấn và đặc biệt là chiến thuật độc lập tập kích hỏa lực. Trong tổ chức hỏa lực đã có bước phát triển mới, vừa kết hợp các trận địa đại đội, tiểu đoàn pháo binh với tổ chức cụm pháo binh quy mô 4 tiểu đoàn pháo xe kéo; kết hợp nhiều loại pháo bắn thẳng, bắn gián tiếp, pháo mang vác, pháo xe kéo, pháo rãnh xoắn, pháo phản lực; tổ chức pháo binh nhiều cấp, tạo thành hỏa lực pháo binh nhiều tầng, nhiều lớp tập trung vào hướng, khu vực mục tiêu tiến công chủ yếu, tạo ưu thế đánh thắng địch.

 Về chiến thuật công kiên: Lần đầu tiên trong lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, pháo binh chi viện cho bộ binh, xe tăng đánh địch trong công sự vững chắc. Trong trận Làng Vây, bộ đội pháo binh đã giải quyết được vấn đề hiệp đồng chiến đấu cùng bộ binh, xe tăng, giữa xe tăng tiến công với hỏa lực pháo binh chi viện tiến công. Các trận chiến đấu đã đánh dấu sự phát triển của chiến thuật pháo binh.
Chiến thuật vây lấn có bước phát triển về quy mô. Ta sử dụng hai trung đoàn pháo binh 675 và 45 với 24 khẩu Đ74 và 36 khẩu ĐKB tham gia tập kích hỏa lực vào Tà Cơn và vây hãm Tà Cơn. Trong 54 ngày đêm đánh vây lấn, pháo binh đã chi viện cho các binh chủng từ vây hãm phát triển thành vây lấn. Ngoài pháo binh chiến dịch, ta còn dùng súng cối, ĐKZ đánh sân bay, bắn phá cắt tiếp tế đường bộ, hạn chế tiếp tế đường không, buộc địch sớm đưa quân giải tỏa Tà Cơn theo đúng dự kiến của ta.

Chiến thuật tập kích tuy không lớn về quy mô nhưng rất phong phú về cách đánh và sự chỉ đạo vận dụng chiến thuật, nhất là các trận luồn sâu tập kích hỏa lực trong nội thành Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn, đánh vào tận cơ quan đầu não địch, tạo nên một số trận đánh của pháo binh đạt hiệu suất cao như tập kích sân bay Kon Tum với 9 viên đạn ĐKB phá hủy 16 máy bay; trận tập kích kho xăng Nhà Bè với 14 viên ĐKB làm cháy 5 triệu lít xăng; trận tập kích sân bay Pleiku với 30 viên đạn cối 82mm phá hỏng 20 máy bay. Quá trình phát triển chiến thuật tập kích đã góp phần giành quyền chủ động trên chiến trường và thúc đẩy các hình thức chiến thuật khác phát triển.

Về quy mô tuy không lớn nhưng đã có bước phát triển về cơ động lực lượng. Ta đã đưa một lực lượng lớn pháo, đạn qua vùng địch chiếm đóng, vào sát mục tiêu để bất ngờ tập kích hỏa lực vào sào huyệt của địch và phối hợp thực hiện nhiều trận tập kích trong cùng một thời điểm.

Lực lượng pháo binh tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, gồm hầu hết các loại pháo trực thuộc các Bộ Chỉ huy Miền, pháo trong biên chế của các đơn vị chủ lực, pháo của tỉnh đội, huyện đội, súng cối của dân quân xã; tổng số lực lượng pháo tham gia, chỉ tính pháo dự bị quân khu trở lên có 56 tiểu đoàn pháo cối, gồm 34 tiểu đoàn pháo mang vác và 22 tiểu đoàn pháo xe kéo, từ pháo chiến thuật đến pháo chiến dịch; đặc biệt với sự xuất hiện của các loại pháo có tầm bắn xa, uy lực lớn nhưng trọng lượng nhẹ có thể mang vác cá nhân, có ý nghĩa hết sức quan trọng đối việc nâng cao sức mạnh chiến đấu của bộ đội pháo binh như A12, ĐKB.

Tổng kết trong 2 đợt tổng tiến công của 6 tháng đầu năm 1968, pháo binh miền Nam đã tham gia chiến đấu 2.030 trận, bao gồm 416 trận hiệp đồng với các binh chủng bạn và 1.614 trận đánh độc lập, tiêu diệt gần 25.800 tên địch, phá hủy 385 pháo cối, 2.149 máy bay, 2.064 xe cơ giới, 508 kho tàng các loại. Kết quả chiến đấu của lực lượng pháo binh trong 2 đợt tổng tiến công và nổi dậy đầu năm 1968 đã chứng tỏ sự trưởng thành nhanh chóng, lập thành tích to lớn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên giao; góp phần thực hiện quyết tâm chiến lược của Trung ương trong tổng tiến công và nổi dậy.

Đánh giá vai trò của lực lượng pháo binh trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy, Trung ương Cục miền Nam nhận xét: Trong chiến thắng chung, pháo binh đã với tới những mục tiêu quan trọng trong trung tâm các thành phố mà bộ đội đặc công chưa vào tới. Pháo binh đã đánh phá liên tục kéo dài trong lúc bộ binh phải tạm dừng lại, rút ra củng cố. Hoạt động của pháo binh đã buộc địch phải điều chỉnh lực lượng lớn về tăng cường phòng thủ các vành đai và ngày càng lún sâu vào thế phòng ngự.

Từ thực tế sử dụng pháo binh trong chiến đấu và vai trò của pháo binh trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, có thể rút ra một số kinh nghiệm sau:

Một là, sử dụng pháo binh rộng khắp, tạo thành những đợt đánh đồng loạt, đánh liên tục trong chiến đấu và trong chiến dịch.

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy được chia ra nhiều đợt, mở đầu bằng các trận bắn phá đồng loạt của hoả lực pháo binh. Suốt từ bắc Quảng Trị đến đồng bằng Nam Bộ, pháo binh đã chiến đấu với quy mô rộng lớn chưa từng có, các loại pháo các cỡ lớn, nhỏ, mang vác, xe kéo được sử dụng hầu hết trong các trận tiến công. Ngoài các đơn vị pháo binh trực thuộc các Bộ Chỉ huy chiến trường Miền và quân khu, pháo trong biên chế các đơn vị chủ lực và pháo của tỉnh đội, huyện đội đều phát huy cao nhất hoả lực tiến công địch.

Hoạt động chiến đấu của pháo binh được thực hiện theo kế hoạch của từng chiến trường đồng thời cũng được thực hiện theo ý đồ chiến lược, hình thành thế tiến công rộng lớn của hoả lực pháo binh kết hợp với các binh chủng khác trong tổng tiến công của các lực lượng vũ trang cách mạng đều khắp miền Nam. Nhờ việc phân công mục tiêu, bố trí lực lượng và hiệp đồng thời gian chặt chẽ, chỉ trong một đêm hoặc vài đêm, hàng loạt căn cứ địch ở rất xa nhau đều cùng bị bắn phá, làm cho quân địch bị căng ra không thể ứng cứu cho nhau hiệu quả.

Qua thực tiễn chiến đấu, pháo binh đã hiệp đồng với các binh chủng bạn và độc lập tham gia chiến đấu rộng rãi, đều khắp, đồng loạt và liên tục, đạt hiệu quả tốt. Hoạt động đều khắp và liên tục của pháo binh đã gây thiệt hại nặng cho địch, buộc chúng vào thế bị động, lúng túng giam mình trong các căn cứ phòng thủ, luôn luôn bị tiêu hao, tiêu diệt, gây căng thẳng cho địch, hạn chế sự cơ động đối phó, hoạt động lùng sục giải toả của chúng; mặt khác tạo thế tiến công của ta không bị gián đoạn, phát huy được thế chủ động tiến công, vừa đánh vừa bổ sung bồi dưỡng lực lượng, chuẩn bị cho những đợt chiến đấu lớn hơn.

Hai là, nâng cao hiệu suất chiến đấu trong mọi hình thức tác chiến.

Nâng cao hiệu suất chiến đấu đối với pháo binh là một yêu cầu của đánh tiêu diệt cần phải đạt được. Trong 2 đợt tổng tiến công, một số trận đặc biệt đạt hiệu suất chiến đấu cao như Đồng Lâm, Đông Hà, Cửa Việt, Nhà Bè, đã tiêu diệt được nhiều sinh lực có giá trị, nhất là sinh lực cao cấp của địch; phá huỷ được nhiều phương tiện kỹ thuật quân sự quan trọng (máy bay, bom đạn, xăng dầu, trạm rađa, thông tin điện tử...), làm suy yếu chỗ mạnh của địch buộc chúng phải bị động lúng túng về chiến dịch, chiến thuật; sử dụng lực lượng và đạn dược hợp lý, kết quả tiêu diệt nhiều địch; tỉ lệ và số thương vong trong các trận đánh thường thấp.

Hiệu suất chiến đấu cao của pháo binh góp phần vào thắng lợi trong từng trận đánh và trong các chiến dịch. Những tổn thất nghiêm trọng của địch trong thời gian ngắn do pháo binh ta gây ra buộc địch phải bị động đối phó, đảo lộn nhiều kế hoạch, tác động mạnh đến hoạt động chiến thuật, chiến dịch và cả về chiến lược của địch. Việc nâng cao hiệu suất chiến đấu góp phần tiết kiệm đạn trong điều kiện tiếp tế, bổ sung của ta còn gặp nhiều khó khăn.

Ba là, nhận thức đúng đắn và vận dụng linh hoạt, sáng tạo hai cách đánh của pháo binh trong mọi hình thức tác chiến.

Trong 2 đợt tổng tiến công, pháo binh chưa đánh được nhiều trận hiệp đồng tiêu diệt lớn, song đã phát triển khá phong phú ở nhiều hình thức tác chiến và có những kinh nghiệm tốt. Trong đánh hiệp đồng, pháo binh đã chi viện cho bộ binh, xe tăng đánh cứ điểm Làng Vây làm tê liệt sở chỉ huy, khu trung tâm thông tin, hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt căn cứ. Pháo binh còn chi viện cho bộ binh đánh nhiều trận hiệp đồng để tiêu diệt quân địch ở Khâm Đức (Khu 5); đánh địch ứng cứu xung quanh Sài Gòn và giữ cầu chữ Y phía nam Sài Gòn. Trong đánh chiếm và giữ thành phố, lần đầu tiên pháo binh chi viện cho bộ binh chiếm giữ Huế 25 ngày đêm (2-1968) và chiếm giữ từng khu, từng quận trong đợt 2 tiến công vào Sài Gòn (6-1968).

Trong đánh hiệp đồng, để thực hiện mục đích chung của trận đánh, ngoài tinh thần sẵn sàng chi viện, lực lượng pháo binh còn phải có tinh thần tích cực, chủ động, mạnh dạn đề đạt ý kiến về cách đánh với bộ binh, thường xuyên nghiên cứu cách đánh cho phù hợp với sự phát triển của tình hình.

Trước yêu cầu nhiệm vụ tiêu diệt sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch ngày càng cao, pháo binh đã vận dụng lối đánh độc lập, giành thắng lợi lớn và có khá nhiều kinh nghiệm phong phú. Với cách đánh độc lập, pháo binh đã phát triển mạnh với nhiều hình thức sáng tạo, từ chỗ bôn tập đánh một trận rồi rút ra đến luồn sâu trụ lại đánh dài ngày; đánh sân bay địch phải ngừng hoạt động trong một thời gian như trận tập kích hỏa lực ở Tà Cơn, Phú Bài, Đà Nẵng, Tân Sơn Nhất. Pháo binh ta đã đánh vào những mục tiêu trọng điểm, như đánh vào các cơ quan đầu não của địch, căn cứ hậu cần, đường giao thông huyết mạch, đánh quân cơ động địch; đã phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh. Pháo binh 3 thứ quân đã chiến đấu liên tục, đánh đều khắp với nhiều trận đánh đạt hiệu quả cao. Phối hợp với các lực lượng vũ trang khác, pháo binh cũng đồng thời tiến công vào cơ sở chính quyền Sài Gòn, vào sào huyệt bọn đầu sỏ ác ôn, góp phần làm suy yếu bộ máy đàn áp phản cách mạng, tạo điều kiện cho quần chúng nổi dậy đấu tranh giành chính quyền về tay nhân dân. Bằng các trận đánh độc lập, chỉ trong đợt đầu tổng tiến công, pháo binh đã tiêu diệt và phá huỷ 63% số máy bay và 40% quân Mỹ trong toàn bộ số máy bay và số quân Mỹ bị diệt.

Bốn là, vừa chiến đấu vừa xây dựng, phát triển lực lượng pháo binh có chất lượng tốt.

Để đáp ứng kịp thời yêu cầu chiến đấu, nhiều đơn vị pháo binh xây dựng ở hậu phương chỉ được củng cố tổ chức, bồi dưỡng quyết tâm, huấn luyện kỹ thuật trong thời gian ngắn là đã lên đường đi làm nhiệm vụ. Trong quá trình hành quân vào chiến trường phải tranh thủ huấn luyện, bồi dưỡng nâng cao trình độ, đến nơi phải gấp rút chiến đấu mà vẫn bảo đảm đánh thắng ngay trận đầu. Các đơn vị đang chiến đấu ở chiến trường cũng tranh thủ thời gian đệm giữa 2 đợt tổng tiến công để bồi dưỡng cán bộ và nhân viên kỹ thuật, nhằm đáp ứng yêu cầu chiến đấu; thường xuyên sơ kết, rút kinh nghiệm từng trận, từng đợt để nâng cao trình độ chỉ huy kỹ chiến thuật. Các đơn vị pháo xe kéo lần đầu tiên vào chiến trường đã có những tiến bộ rõ rệt sau những ngày chiến đấu ác liệt. Trung đoàn 675 trong quá trình chiến đấu đã phát triển thành 2 trung đoàn. Trung đoàn 675B kịp tăng cường cho chiến trường tây Trị Thiên tác chiến ở A Sầu, A Lưới v.v..

Việc một đơn vị sử dụng nhiều loại pháo ở một số chiến trường đã được thực hiện tốt như ở Tây Nguyên, Nam Bộ. Có đơn vị đã sử dụng được cả 5 loại pháo như: ĐKB, cối 120 mm, cối 82 mm, ĐKZ 75 và sơn pháo 75 mm, chứng tỏ cán bộ, chiến sĩ pháo binh ta đã thể hiện tinh thần tích cực tiêu diệt địch, tận dụng mọi khả năng vũ khí đạn dược sẵn có của chiến trường, đáp ứng được yêu cầu liên tục, kịp thời trong chiến đấu.

Có thể nói, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 đã thể hiện sức mạnh của nhiều thành phần lực lượng; trong đó, có sức mạnh to lớn của lực lượng pháo binh Việt Nam. Lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh cách mạng ở nước ta, pháo binh đã tiến hành thắng lợi một cuộc tập kích hỏa lực chiến lược đều khắp vào nhiều mục tiêu trọng yếu trên chiến trường Nam, gây cho địch bị động, lúng túng và thiệt hại rất lớn về phương tiện chiến tranh. Sức mạnh đó là nghệ thuật xây dựng lực lượng chiến lược, tập trung lực lượng trong từng chiến dịch, từng trận đánh cụ thể, đặc biệt trong các trận then chốt, quyết định để giành thắng lợi; đồng thời là sự vận dụng phương pháp, kỹ năng tác chiến linh hoạt, sáng tạo. Với khả năng tác chiến độc lập và tác chiến hiệp đồng quân binh chủng tốt, pháo binh xứng đáng với vai trò là hỏa lực chủ yếu của lục quân và là hỏa lực mặt đất chủ yếu của quân đội ta.

Với những thành tích và kinh nghiệm trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, bộ đội pháo binh cùng toàn dân, toàn quân vững vàng bước vào một thời kỳ chiến đấu mới, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Hiện tại và trong tương lai, lực lượng pháo binh Việt Nam vẫn luôn giữ một vị trí rất quan trọng trong tác chiến. Những bài học về nghệ thuật sử dụng pháo binh trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 vẫn có ý nghĩa quan trọng trong huấn luyện và chiến đấu của bộ đội pháo binh ngày nay.


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Năm, 2020, 11:21:05 am
LỰC LƯỢNG VŨ TRANG CÁC PHÂN KHU
TRÊN CHIẾN TRƯỜNG TRỌNG ĐIỂM SÀI GÒN - GIA ĐỊNH
TRONG CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THẬN 1968



LÊ HOÀNG QUÂN
Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Bí thư Thành ủy,
nguyên Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

PGS.TS. PHAN XUÂN BIÊN
Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam


Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là một mốc son lịch sử chói lọi, đánh dấu bước ngoặc lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam ở thế kỷ XX. 50 năm trôi qua đã có biết bao công trình tổng kết, hội thảo khoa học, sách chuyên khảo đánh giá, phân tích nhiều khía cạnh khác nhau với những cách tiếp cận khác nhau về sự kiện lịch sử trọng đại này. Chúng tôi cũng đã có những ý kiến về chủ đề này. Năm nay, được Ban Tổ chức Hội thảo cấp quốc gia kỷ niệm 50 năm Mậu Thân 1968 "phân công" viết tham luận về "lực lượng vũ trang các phân khu trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968", xin nêu một số điểm sau đây.

1. Chuyển hướng tiến công chiến lược, từ đánh địch vùng rừng núi sang chiến trường đô thị - một sáng tạo vĩ đại

Đến năm 1967, Mỹ thực hiện "chiến tranh cục bộ" được 2 năm, quân và dân ta đã trải qua 2 mùa chiến dịch trực tiếp đương đầu với quân viễn chinh Mỹ, làm thất bại một bước quan trọng chiến lược "chiến tranh cục bộ". Trên cơ sở đó, ta bước vào xây dựng kế hoạch chiến lược Đông - Xuân 1967-1968 nhằm tiếp tục nâng cao khả năng, hiệu quả tác chiến của quân ta, phấn đấu đã diệt được tiểu đoàn Mỹ tiến lên diệt trung đoàn, lữ đoàn; diệt trung đoàn, sư đoàn quân đội Sài Gòn; đặc biệt là phải diệt gọn. Để đạt được mục tiêu đó không dễ, song giả như có đạt được thì cũng chưa tạo nên được sự chuyển biến chiến lược, và như vậy thì khó tạo nên chiến thắng mang tính quyết định, mà sẽ nhùng nhằng mãi, không thể "hạ thủ" đối phương. Trong tình hình đó, những khối óc sáng tạo, những tư duy táo bạo xuất hiện, đột ngột chuyển hướng tiến công chiến lược từ chiến trường nông thôn, rừng núi, đánh thẳng vào các thành phố, căn cứ trung tâm, là đầu não, sào huyệt của địch. Công sức, trí tuệ của Bộ Tổng Tham mưu, Quân ủy Trung ương đến sự quyết tâm chiến lược, chỉ đạo sắc bén của Bộ Chính trị, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hình thành chủ trương chiến lược tổng tiến công và tổng công kích Tết Mậu Thân 1968. Từ Hội nghị Bộ Chính trị tháng 5 rồi tháng 6, tháng 7-1967, đặc biệt là Hội nghị Bộ Chính trị tháng 10-1967 trong 5 ngày (20-10 đến 24-10), về cơ bản, đã hình thành chủ trương và kế hoạch chiến lược năm 1968 là bất ngờ, đồng loạt tấn công vào các đô thị trên toàn chiến trường miền Nam. Và đến cuối tháng 12-1967, Bộ Chính trị chính thức thông qua kế hoạch chiến lược năm 1968, sau đó thông qua Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương bằng Nghị quyết số 14-NQ/TW quyết định "tổng công kích, tổng khởi nghĩa", với mục tiêu giành thắng lợi quyết định của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Theo đó, hướng tiến công chiến lược chủ yếu là các thành phố trung tâm đầu não của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, trọng điểm là Sài Gòn - Gia Định, Huế, Đà Nẵng. Trong đó, Sài Gòn - Gia Định là địa bàn đặc biệt, là thủ phủ của các cơ quan đầu não của bộ máy chiến tranh của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, là chiến trường trọng điểm của hướng tiến công chiến lược trọng điểm Xuân Mậu Thân 1968.

2. Sắp xếp lại lực lượng, hình thành các phân khu của khu trọng điểm Sài Gòn - Gia Định

Quán triệt chỉ đạo của Bộ Chính trị, Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Miền đã chỉ đạo các địa phương, các đơn vị ra sức chuẩn bị mọi mặt để khi có thời cơ sẽ thực hiện tấn công địch bằng phương pháp tổng công kích, tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định. Trong đó, đặc biệt chỉ đạo hướng tấn công trọng điểm là Sài Gòn - Gia Định, chuyển cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam sang một thời kỳ mới. Theo đó, ngày 25-10-1967, Trung ương Cục quyết định giải thể Quân khu Sài Gòn - Gia Định và Quân khu Miền Đông, tổ chức lại chiến trường, trong đó thành lập khu trọng điểm Sài Gòn - Gia Định do Trung ương Cục trực tiếp chỉ đạo. Khu trọng điểm bao gồm địa bàn Sài Gòn - Gia Định và các địa phương giáp ranh thuộc các tỉnh lân cận của Sài Gòn - Gia Định, được chia thành 5 phân khu để hình thành 5 mũi tấn công vào nội đô, đồng thời có một phân khu nội đô. Trở lại lịch sử giai đoạn cuối của "chiến tranh đặc biệt", thế và lực cách mạng phát triển sau những chiến thắng oanh liệt, cục diện chiến trường đã xuất hiện khả năng giành những thắng lợi lớn. Trung ương Cục, trực tiếp là đồng chí Nguyễn Chí Thanh và Nguyễn Văn Linh cùng Khu ủy Sài Gòn - Gia Định chỉ đạo kế hoạch chuẩn bị tiến công quân sự vào một số mục tiêu quan trọng trong Thành phố kết hợp nổi dậy của quần chúng, làm phá sản chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của địch. Đó là kế hoạch mùa khô 1964-1965, thường gọi là "Kế hoạch X". Quân khu Sài Gòn - Gia Định đã nỗ lực xây dựng các loại lực lượng gồm 8 tiểu đoàn chủ lực và địa phương; hơn 3.000 quân du kích, tổng cộng lực lượng vũ trang quân khu hơn 9.000 người, tương đương với lực lượng vũ trang của toàn quân khu miền Đông . Địa bàn Sài Gòn - Gia Định được chia thành 5 cánh; mỗi cánh có phần địa bàn nông thôn và 1 phần đô thị. Chính 5 cánh này được mở rộng thêm phần địa bàn của các tỉnh lân cận, hình thành 5 phân khu (từ phân khu 1 đến phân khu 5); còn phân khu nội đô là phân khu 6. Lực lượng vũ trang của Quân khu Sài Gòn - Gia Định đã được xây dựng từ 1961 đến nay đóng vai trò nòng cốt của lực lượng các Phân khu của khu trọng điểm chuẩn bị tấn công địch vào mùa Xuân 1968.

- Phân khu 1 gồm các huyện Củ Chi, Hóc Môn, Gò Vấp (Gia Định) cùng với Bến Cát, Dầu Tiếng (Bình Dương), Trảng Bàng (Tây Ninh) do đồng chí Trần Đình Xu làm tư lệnh.

- Phân khu 2 gồm Tân Bình, Bắc Bình Chánh, các quận 3, 5, 6 (Sài Gòn - Gia Định) và các huyện Đức Hòa, Đức Huệ, Bến Thủ (Long An) do đồng chí Ba Long, sau đó là đồng chí Nguyễn Văn Sĩ làm tư lệnh.

- Phân khu 3 gồm các quận 2, 4, 7, 8, Nhà Bè, Nam Bình Chánh, (Sài Gòn - Gia Định) và các huyện Châu Thành, Tân Trụ, Cần Đước, Cần Giuộc (Long An) do đồng chí Tư Thân làm tư lệnh.

- Phân khu 4 gồm Thủ Đức, Thạnh Mỹ Tây (Gia Định) và Long Thành - Biên Hòa, Nhơn Trạch do đồng chí Lương Văn Nho làm tư lệnh.

- Phân khu 5 gồm Phú Nhuận, Bình Hòa (Gia Định) và Tân Uyên, Phú Giáo, Lái Thiêu, Dĩ An (Bình Dương) do đồng chí Nam Thu làm Chính ủy. N.C.S tư lệnh, sau bị bắt và đầu hàng.

- Phân khu 6 phụ trách nội thành gồm lực lượng biệt động, võ trang Thành Đoàn, Hoa Vận, Phụ Vận... do đồng chí Trần Hải Phụng làm tư lệnh.

Căn cứ vào vị trí, vai trò và mục tiêu, nhiệm vụ của từng Phân khu mà bố trí lực lượng phù hợp để tạo nên những cánh tấn công thọc sâu sắc bén. Phân khu 6 làm nhiệm vụ "khai hỏa" mở đầu cuộc tiến công theo giờ G ngay tại sào huyệt của địch nên chủ yếu là lực lượng biệt động Thành và lực lượng võ trang của các cánh như Thành Đoàn làm thê đội 2, Hoa vận phối hợp... Ở Phân khu 1 từ hướng tây bắc là một hướng tấn công quan trọng với nhiều đơn vị của Mỹ, chính quyền Sài Gòn, nên được bố trí lực lượng khá mạnh, gồm Tiểu đoàn Quyết Thắng 1, 2, tiểu đoàn pháo binh 8. Đồng thời, Bộ Tư lệnh Miền tăng cường thêm Trung đoàn 16, Trung đoàn 88, Tiểu đoàn pháo binh 9, Tiểu đoàn đặc công 429 và lực lượng dự bị phía sau là Sư đoàn 9 chủ lực Miền. Ở Phân khu 2 từ hướng tây và tây nam gồm có Tiểu đoàn 6 Bình Tân, Tiểu đoàn 267 và 269 của Quân khu 8, các Tiểu đoàn 16 và 12 (đặc công), 1 tiểu đoàn pháo... Ở Phân khu 3, từ hướng nam có Tiểu đoàn 5 Nhà Bè và Tiểu đoàn 1, 2 của Long An, Tiểu đoàn Phú Lợi 2, Tiểu đoàn pháo binh Kiến Tường. Ở Phân khu 4 từ hướng đông có Tiểu đoàn 4 Thủ Đức, Tiểu đoàn 5, Tiểu đoàn đặc công 10, được tăng cường Trung đoàn 3, Trung đoàn 4 của Sư 7 chủ lực Miền. Ở Phân khu 5, có Trung đoàn Đồng Nai và Tiểu đoàn 3 Dĩ An.

Theo đó, lực lượng của các Phân khu của khu trọng điểm có nhiệm vụ đánh chiếm các mục tiêu quan trọng nhất nội thành Sài Gòn như Dinh Độc Lập, Tòa Đại sứ quán Mỹ, Bộ Tư lệnh Hải quân, Bộ Tổng Tham mưu quân đội Sài Gòn, Tổng nha Cảnh sát... với sự khai hỏa là lực lượng biệt động của Phân khu 6, chiếm giữ trong 2 giờ, sau đó các Tiểu đoàn mũi nhọn từ các cánh quân đồng loạt tiến về các mục tiêu, thôi động cả thành phố cùng các lực lượng tiến công bằng mọi hình thức để giành thắng lợi quyết định.

3. Các phân khu vào trận, những trận đánh tiêu biểu, góp phần quan trọng làm nên Mậu Thân 1968 lịch sử

Theo Lời chúc Tết của Bác Hồ "Tiến lên toàn thắng ắt về ta" - hiệu lệnh tấn công Tết Mậu Thân 1968, đêm 30 rạng 31-1-1968 1, lực lượng vũ trang Sài Gòn - Gia Định, đại diện là lực lượng biệt động Phân khu 6 đã đồng loạt tấn công các mục tiêu của chiến trường trọng điểm. Đội 5 biệt động tấn công Dinh Độc Lập trước giờ G 2 phút, từ 1 giờ 57 phút ngày mùng hai Tết, chống cự đến sáng ngày mùng 3 Tết, vượt xa kế hoạch 2 giờ đánh giữ mục tiêu được giao. Đã bắn cháy 2 xe Jeep, diệt gần 50 tên, 17 cán bộ, chiến sĩ đánh vào Dinh Độc Lập đã hy sinh 10 người, còn lại bị thương rồi bị bắt.

Đặc biệt và có tiếng vang xa nhất, rúng động cả nước Mỹ và thế giới là trận đánh của biệt động Phân khu 6 vào mục tiêu Đại sứ quán Mỹ. Đây là mục tiêu được Bộ Tư lệnh Tiền Phương 2 (gồm đồng chí Võ Văn Kiệt, Trần Bạch Đằng, Trần Hải Phụng) "bổ sung" vào ngày 25-1-1968 và giao cho Đội 11 Biệt động Phân khu 6 đảm nhiệm. Dù thời gian rất ngắn, song Bộ Chỉ huy Phân khu đã tích cực chuẩn bị khá đầy đủ, để đúng giờ G, 16 cán bộ, chiến sĩ Đội 11 do đồng chí Ba Đen vốn là người lo các cơ sở cất giấu vũ khí của A30 trực tiếp chỉ huy tấn công vào đầu não quân Mỹ xâm lược. Các chiến sĩ đã tiêu diệt lính gác, bắn thủng tường rào, xông vào bên trong Tòa Đại sứ quán, chiếm tầng 1, phát triển lên đến tầng 3. Đơn vị đã chiếm giữ mục tiêu được hơn 6 giờ, chống trả quyết liệt sự phản công của đông đảo lực lượng địch; 5 binh sĩ Mỹ tử vong tại trận, 22 bị trọng thương chết tại bệnh viện và 14 bị thương. Ta hy sinh tại chỗ 15 chiến sĩ, đồng chí Ba Đen bị bắt. Đây là trận đánh tiêu biểu, làm rúng động toàn xã hội Mỹ và thế giới; làm cho nhân dân Mỹ bàng hoàng, hiểu rõ hơn về "sức mạnh", "thế và lực" thực chất của quân viễn chinh Mỹ ở Nam Việt Nam, từ đó tạo nên sức ép dư luận mạnh mẽ, tạo khuynh hướng đòi chấm dứt chiến tranh, phong trào phản chiến của lính Mỹ...

Tại mục tiêu Bộ Tư lệnh Hải quân, đội 3 biệt động Thành gồm 16 chiến sĩ do đồng chí Bảy Lốp chỉ huy, đã chiến đấu ngoan cường từ 2 giờ đến 6 giờ sáng ngày mùng 2 Tết, diệt 12 tên địch, có 2 tên Mỹ. Nhưng tổn thất của ta quá lớn - 14 đồng chí hy sinh, 2 người bị bắt, trong đó đồng chí Bảy Lốp đã bị tên giám đốc Tổng nha Cảnh sát Sài Gòn Nguyễn Ngọc Loan bắn chết trên đường phố 2.

Tại mục tiêu Đài Phát thanh Sài Gòn, đội 4 biệt động Phân khu 6 gồm 14 cán bộ, chiến sĩ đã chiến đấu ngoan cường ngay từ phút đầu nổ súng. Chỉ 5 phút, đơn vị đã chiếm được khu vực Đài Phát thanh ở lầu 1, nhưng không có bộ phận kỹ thuật của ta, nên không phát được Tuyên bố của Mặt trận giải phóng miền Nam Việt Nam kêu gọi chính quyền Sài Gòn, làm hạn chế tác động của chiến thắng. Sau 4 giờ 31 phút chiếm giữ mục tiêu, vượt xa kế hoạch Bộ Chỉ huy Phân khu 6 giao, 10 chiến sĩ đội 4 đã anh dũng hy sinh. Ta đã tiêu diệt được 38 tên địch, bắn cháy 1 xe bọc thép, 1 xe GMC.

Tại mục tiêu Bộ Tổng Tham mưu, cụm biệt động 6-9 gồm 25 cán bộ, chiến sĩ đã tiến công vào cổng số 4 ngã ba Trương Quốc Dung - Võ Tánh (nay là Hoàng Văn Thụ). Vì địch chống trả quyết liệt, ta không vào được bên trong căn cứ, nhưng các chiến sĩ biệt động đã chiến đấu anh dũng, ngoan cường chống trả địch vô cùng ác liệt, tiêu diệt và làm bị thương gần 100 tên, 2 xe GMC. Ta có 10 người hy sinh, 4 người bị bắt, 3 người mất tích.

Phối hợp với lực lượng biệt động của Phân khu 6, các tiểu đoàn mũi nhọn của các Phân khu trong khu trọng điểm Sài Gòn - Gia Định cũng như các lực lượng phối thuộc trên các hướng đã xuất kích tấn công địch bằng nhiều mũi. Tiêu biểu là lực lượng của Phân khu 1 từ hướng bắc, Tiểu đoàn 1 Quyết Thắng đã đánh vào căn cứ pháo binh Cổ Loa và thiết giáp Phù Đổng, tiêu diệt nhiều sinh lực và phá hủy nhiều vũ khí của địch; chiếm giữ mục tiêu trong nhiều ngày. Trong đợt cao điểm 1 của đợt 1 Tổng tiến công Mậu Thân, từ ngày 31-1 đến 8-2-1968, Tiểu đoàn 1 Quyết Thắng diệt 750 tên địch, bắt gần 100 tù binh, bắn cháy 22 chiến xa... Tiếp theo đợt "đệm" hay cao điểm 2 của đợt 1, Tiểu đoàn 1 Quyết Thắng cùng các đơn vị khác như Tiểu đoàn 2 Quyết Thắng, Tiểu đoàn Gia Định 4, Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 16 liên tiếp tấn công địch khắp các địa bàn của hướng tây bắc. Nhìn chung trong đợt 1 Tổng tiến công Mậu Thân, Phân khu 1 đã độc lập và phối hợp tác chiến 156 trận, diệt 1.803 tên địch, thu nhiều vũ khí, bức rút 15 bốt, giải phóng 12 khu ấp chiến lược, đưa hàng trăm gia đình trở về đất cũ, bám trụ, chiến đấu.

Bước vào đợt 2 (từ ngày 4-5 đến ngày 18-6-1968), lực lượng vũ trang Phân khu 1 tiếp tục tấn công địch từ hướng tây bắc, gồm Trung đoàn Quyết Thắng phối hợp với các Trung đoàn của Miền đánh địch ở khu vực Xóm Mới, Cây Xoài, An Nhơn (Gò Vấp) tiêu diệt hàng trăm tên địch; sau đó phối hợp với Trung đoàn Đồng Nai, tấn công địch ở thành Gia Định, quần nhau với địch suốt 18 ngày đêm, tiêu diệt và làm bị thương khoảng 500 tên địch. Có thể nói, Trung đoàn Quyết Thắng, đơn vị chủ công của Phân khu 1 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, đánh sâu vào thành phố, chiếm được nhiều mục tiêu quan trọng, diệt hàng ngàn tên địch, hàng chục xe tăng, thiết giáp, máy bay. Song đã bị tổn thất gần hai phần ba quân số.

Từ hướng tây và tây nam do Phân khu 2 phụ trách. Do địch chống trả quyết liệt nên nhiều đơn vị phải chuyển mục tiêu, đánh địch tùy theo tình thế. Riêng Tiểu đoàn 6 Bình Tân đã đột phá thọc sâu vào nội đô và tác chiến đạt hiệu quả cao từ Tân Nhựt (Bình Chánh) qua Phú Thọ Hòa rồi đến Trường đua Phú Thọ kịp nổ súng vào đêm mở màn chiến dịch; tấn công biệt đoàn cảnh sát dã chiến 222, chi khu cảnh sát Nguyễn Văn Thoại, trại cảnh sát dã chiến Trần Quốc Toản, phát triển qua Bà Hạt, Nguyễn Kim, Nguyễn Tri Phương - Quận 10. Đêm ngày 2-2, tiểu đoàn tổ chức mít tinh tại Ngã Bảy Lý Thái Tổ, tuyên truyền chiến thắng của lực lượng quân giải phóng. Dù địch đã liên tiếp điều quân bao vây các đại đội, các mũi tấn công của tiểu đoàn, nhưng Tiểu đoàn 6 Bình Tân vẫn kiên cường tấn công địch từ mọi nơi. Tính từ ngày 1 đến 14-2-1968, Trung đội 1, Tiểu đoàn Bình Tân đã chiến đấu liên tục, thọc sâu nhất là đến quận 3, ra Tân Nhựt, An Lạc, diệt và làm bị thương gần 500 tên địch. Đồng thời tiểu đoàn cũng bị tổn thất nặng, hy sinh, bị thương, bị bắt, mất tích 380 cán bộ, chiến sĩ. So với mục tiêu, kế hoạch đặt ra, Tiểu đoàn 6 Bình Tân đã hoàn thành xuất sắc với một quyết tâm cao độ. Trong đợt 2, Tiểu đoàn 6 Bình Tân được phân công phối hợp với Tiểu đoàn 267, 269 (Phân khu 2) cùng Tiểu đoàn 308 Trà Vinh và lực lượng Sư đoàn 9 chủ lực Miền tấn công vào Phú Lâm, quận 6 đến Trường đua Phú Thọ, Bảy Hiền, Biệt khu thủ đô, tiến đến quận 3. Đêm 25-5-1968, Tiểu đoàn 6 Bình Tân cùng các đội phối thuộc đã đánh chiếm cư xá Phú Lâm A, Cầu Tre, Hậu Giang và mở rộng vào nội thành cho đến đầu tháng 6 mới kết thúc. Như vậy, trong 2 đợt tổng tiến công Mậu Thân, trên hướng tây nam, Tiểu đoàn 6 Bình Tân đã hoàn thành xuất sắc vai trò tiểu đoàn mũi nhọn, ba lần tấn công vào nội thành, đánh trên 30 trận lớn nhỏ, diệt 138 tên địch và các phương tiện chiến tranh của địch. Toàn tiểu đoàn bị tổn thất khoảng hai phần ba quân số.

Ở hướng đông, đông bắc, hướng nam, các Phân khu 4, 5, 3 cũng đã phối hợp vào trận ngay từ đêm 31-1 và tham gia cả đợt hai. Tiêu biểu trong đợt 1, lực lượng vũ trang Phân khu 3 như Tiểu đoàn 2 Long An đã tiến công từ quốc lộ 4 sang cầu Nhị Thiên Đường, vào phường Chánh Hưng, Bình An (quận 8); Tiểu đoàn 1 Long An tấn công chốt ngã ba Bến Đá, chiếm bến Phạm Thế Hiển. Tiểu đoàn Phú Lợi đánh chiếm khu vực Bình Điền, phát triển qua Phú Định (quận 6), đánh ra Đa Phước...

Trên hướng Phân khu 4 và Phân khu 5, Tiểu đoàn Dĩ An thọc sâu đánh chiếm các chi khu cảnh sát, và kiên cường đánh địch phản kích suốt cả ngày 1-2. Sau đó tiếp tục đánh địch ở xã Bình Quới Tây. Tiểu đoàn 1 Thủ Đức, cùng biệt động của huyện tấn công địch ở khu vực cầu Sài Gòn. Sang đợt 2, lực lượng Phân khu 3 gồm 4 tiểu đoàn được phân công phối hợp với Tiểu đoàn 5 Nhà Bè tấn công vào quận 4, quận 8, chiếm cầu Chữ Y. Phân khu 4 và Phân khu 5 ở hướng đông Bắc và hướng đông phối hợp với Tiểu đoàn 4 Gia Định tấn công Gò Vấp, lên Bình Hòa; Tiểu đoàn 4 Thủ Đức, Tiểu đoàn 2 Phân khu 4 tấn công cầu Sài Gòn, quận 9 (Thủ Thiêm) và phát triển vào nội thành. Bước vào chiến dịch (từ ngày 5-5), các đơn vị được phân công đã đánh vào cầu Sài Gòn, chiếm Thạnh Mỹ Lợi, Bình Trưng. Hai tiểu đoàn Phân khu 5 đánh vào khu vực cầu Bình Triệu, cầu Bình Lợi và ngã tư Hàng Xanh, tiến đến cầu Phan Thanh Giản; pháo kích vào Tân Cảng.

Như vậy, qua 2 đợt Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, Lực lượng vũ trang các Phân khu thuộc khu trọng điểm Sài Gòn - Gia Định bao gồm lực lượng vũ trang của quân khu Sài Gòn - Gia Định trước đây với các đơn vị tăng cường của các tỉnh lân cận và của Miền đã vào cuộc nhịp nhàng với các chiến trường trên toàn miền Nam. Qua 2 đợt, trên các hướng tiến công, lực lượng vũ trang các phân khu đã loại khỏi vòng chiến đấu 47.000 tên địch (có gần 20.500 quân Mỹ và quân các nước đồng minh); tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 21 tiểu đoàn, 97 đại đội quân Mỹ - quân đội Sài Gòn và quân các nước đồng minh; bắn rơi và phá hủy 500 máy bay các loại; phá hủy 1.480 xe quân sự, trong đó có 630 xe tăng và thiết giáp; tiêu diệt, bức rút, bức, bức hàng 150 đồn bốt . Với kết quả ấy lực lượng võ trang các phân khu của khu trọng điểm Sài Gòn - Gia Định đã góp phần xứng đáng làm nên Mậu Thân 1968 lịch sử, mở ra một cục diện mới của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải "xuống thang" chiến tranh, làm sụp đổ chiến lược "chiến tranh cục bộ" của Mỹ, mở ra thời cơ để đánh cho "Mỹ cút, ngụy nhào".

4. Một vài suy nghĩ từ những người lính thuộc lực lượng vũ trang các phân khu trên chiến trường trọng điểm Sài Gòn - Gia Định

- Lực lượng vũ trang các phân khu của khu trọng điểm trong Mậu Thân 1968, mà chủ yếu là lực lượng của quân khu Sài Gòn - Gia Định trước và sau Mậu Thân bao gồm đặc công biệt động, bộ đội địa phương, quân chủ lực rất đỗi tự hào đã có những đóng góp quan trọng, từ trí tuệ, ý chí quyết tâm, tài mưu lược, chiến đấu, dũng cảm kiên cường đến sự hy sinh cao quý làm nên chiến thắng vĩ đại của Mậu Thân, mãi mãi được ghi đậm trong lịch sử hào hùng của dân tộc ta. Trong đó, lực lượng biệt động Thành thuộc Phân khu 6 đã mở đầu xuất sắc cuộc tổng tiến công ở Sài Gòn - Gia Định và các đô thị, gây chấn động lớn, "đã lập công đầu" của cuộc Tổng tiến công Mậu Thân 1968. Các Tiểu đoàn mũi nhọn của các phân khu, đặc biệt Tiểu đoàn Quyết Thắng, Tiểu đoàn 6 Bình Tân đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

- Thành tích to lớn trên đây chính là kết quả của quá trình xây dựng lực lượng vũ trang của chiến trường đô thị đầy sáng tạo, nhạy bén và căn cơ. Ngay từ khi mới thành lập Quân khu Sài Gòn - Gia Định 1961, Khu ủy và Bộ Chỉ huy Quân khu đã chủ trương tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang đa dạng, vùng Củ Chi ngoại thành thì tổ chức các đơn vị tập trung; vùng ven Sài Gòn thì tổ chức du kích, tự vệ mật, hoạt động theo phương châm: đánh đau, đánh hiểm nhưng không lộ mặt, vẫn "công khai" trong vùng tạm chiếm. Sau đó tổ chức lực lượng trinh sát quân báo hoạt động nội thành và dần dần xây dựng lực lượng biệt động. Hoàn thiện ba thứ quân, ba vùng nối kết nhau: nông thôn ngoại thành, ngoại ô và nội đô. Nhờ vậy phong trào chiến tranh du kích bằng lực lượng vũ trang công khai và bí mật kết hợp với phong trào đấu tranh chính trị, tạo nên ngọn đòn tấn công mạnh mẽ của cách mạng ngay tại sào huyệt của kẻ thù. Đồng thời, lực lượng biệt động Thành tiến hành những trận đánh giành thắng lợi vang dội, như Rạp chiếu bóng Kinh Đô, Khách sạn Caravelle, cư xá Brink, tàu U.S Card, Đại sứ quán Mỹ... Đặc biệt chuẩn bị "Kế hoạch X" của mùa khô 1964-1965 với 25 mục tiêu xếp loại "A" mà trong đó có 9 mục tiêu được chọn làm điểm tấn công vào Xuân Mậu Thân 1968. Công tác bảo đảm với hai đơn vị A20, A30, vận chuyển, bảo quản vũ khí được thực hiện từ "Kế hoạch X" đã được phát huy hiệu quả trong chiến dịch Mậu Thân. Như vậy Sài Gòn - Gia Định đã "đi trước" một bước", nhờ đó đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

- Thắng lợi nào cũng có sự hy sinh, tổn thất. Đó là sự thật lịch sử khách quan. Không làm lại lịch sử được, nhưng lịch sử cho ta những bài học quý giá và có thể giải quyết được những hậu quả lịch sử. Bài học từ sự thành công của Mậu Thân được áp dụng trong thời kỳ kháng chiến sau đó và trong thời bình sau năm 1975 là sự sáng suốt, táo bạo tìm ra hướng tấn công mới; bí mật, bất ngờ tạo nên sức mạnh mới trong tương quan lực lượng, trong khó khăn thử thách. Trong lúc địch còn mạnh, nhất là ở Thành phố, song lại là nơi chúng rất chủ quan, sơ hở. Đánh vào đó sẽ tạo được bất ngờ lớn về chiến lược, và thực tế đợt 1 chúng ta đã giành thắng lợi lớn. Trong thời bình, nhất là 10 năm đầu giải phóng, ta đã có nhiều kế hoạch để khắc phục hậu quả chiến tranh, tìm đường phát triển, song ngày càng khủng hoảng. Trong điều kiện đó Thành phố đã tìm cách đổi mới, phải đột phá, và đã thành công.

Đồng thời, từ những tổn thất của sự kiện Mậu Thân 1968 cũng cho ta những bài học bổ ích. Trước hết là nhận định, đánh giá phải chuẩn xác; phương châm, giải pháp phải phù hợp, không duy ý chí, chủ quan. Mục tiêu của Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 được đặt ra quá cao, không phù hợp với tương quan lực lượng lúc bấy giờ. Sự tính toán phối hợp giữa bộ đội biệt động, các thê đội 2 hỗ trợ biệt động, các tiểu đoàn mũi nhọn phải vượt qua nhiều chướng ngại đã không chính xác nên không thực hiện được, làm cho biệt động Phân khu 6 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, không chỉ giữ mục tiêu 2 giờ mà còn hơn nhiều, nhưng rồi phải chịu tổn thất gần như hoàn toàn. Các đơn vị mũi nhọn cũng mất hai phần ba quân số. Sau đợt 1, tình hình địch - ta đã thay đổi theo hướng có lợi cho địch, dù ta vẫn nêu cao tinh thần quyết chiến, tiếp tục giáng những đòn quyết định vào ý chí xâm lược của kẻ địch song phải chịu tổn thất nặng nề. Rõ ràng, mục tiêu cao, tính toán chưa sát, lại quyết tâm cao, nên lâm vào tình trạng "khát nước" (theo cách nói của người trong cuộc ở Sài Gòn - Gia Định sau Mậu Thân). Tổng khởi nghĩa không diễn ra như chủ trương "Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa", lại kéo dài tấn công vào đô thị, chậm chuyển hướng về vùng nông thôn rộng lớn, làm cho tình hình ngày càng khó khăn. Sau Mậu Thân 1968, Phân khu 6 cùng Khu ủy Sài Gòn - Gia Định phải trải qua cuộc "hành quân 1.000 ngày không nghỉ" 3 .

Lực lượng biệt động làm nên chiến công đầu vang dội trong Tết Mậu Thân 1968 nay không còn nữa, nhiều người hy sinh, rất ít người có mộ phần, một số "ra quân" về với đời thường gặp không ít khó khăn. Anh em còn lại, những người thân thỉnh thoảng có làm giỗ tưởng niệm những chiến sĩ đã khuất, cũng chạy vạy chung tay lo toan ít nhiều cho những người có cuộc sống thiếu thốn, nhưng có lẽ nên có chính sách đãi ngộ phù hợp, gìn giữ và phát huy đạo lý "uống nước nhớ nguồn" của dân tộc ta.
 



-----------------------------------------------------------------
1. Ở chiến trường Thừa Thiên Huế tấn công vào đêm giao thừa, trước 1 ngày do đổi lịch.

2. Đồng chí Tư Chu (Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Phân khu 6, đã ghi dưới bức ảnh Nguyễn Ngọc Loan dí súng bắn anh Bảy Lốp "Mối thù này phải trả!". Đợt 2, Nguyễn Ngọc Loan bị bắn trọng thương.

3. Xem sơ đồ Khu di tích lịch sử của Khu ủy Sài Gòn - Gia Định tại huyện Mỏ Cày (Bến Tre).


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Năm, 2020, 01:57:53 pm
VAI TRÒ CỦA CỤC THAM MƯU MIỀN
TRONG TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968



Thiếu tướng LÊ BỬU TUẤN
Phó Tư lệnh Tham mưu trưởng Quân khu 7


Bước vào giai đoạn 1967-1968, với vai trò là cơ quan tham mưu, chỉ huy cấp chiến dịch, chiến lược, Cục Tham mưu Miền đã chủ động tham mưu, đề xuất cho Quân ủy - Bộ Chỉ huy Miền chỉ đạo, chỉ huy các lực lượng vũ trang B2 kiên quyết giữ vững tinh thần tiến công cách mạng, xây dựng, củng cố và phát triển thế trận chiến tranh nhân dân trên địa bàn; tổ chức và điều chỉnh chiến trường, phân bổ lực lượng trên từng hướng tiến công, bảo đảm giữ vững quyền chủ động chiến lược, phát huy hiệu quả cao nhất, tạo điều kiện cho Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 diễn ra đúng kế hoạch. Thực hiện nhiệm vụ được giao, Cục Tham mưu Miền đã tổ chức có hiệu quả mạng lưới nắm địch, nghiên cứu và phân tích tình hình địch - ta một cách toàn diện, giúp cho Quân ủy - Bộ Chỉ huy Miền chỉ huy, chỉ đạo Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 thống nhất trên toàn chiến trường, giành thắng lợi to lớn, làm thay đổi cục diện chiến tranh.

1. Nắm và đánh giá tình hình địch - ta, tham mưu cho Bộ Chỉ huy Miền tổ chức lại chiến trường và lực lượng chuẩn bị cho Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân ở B2

Hội nghị tháng 6-1967, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khẳng định: Thắng lợi Đông - Xuân 1966-1967 của ta là thắng lợi có ý nghĩa rất quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Hội nghị đề ra chủ trương đưa cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam lên bước phát triển mới, với nội dung chủ yếu là chuyển hướng trọng tâm tiến công từ vùng rừng núi, nông thôn vào các đô thị sào huyệt đầu não của địch, giáng cho địch một đòn quyết định, giành thắng lợi to lớn, tạo nên sự chuyển biến nhảy vọt.

Để chuẩn bị cho cuộc tiến công vào đô thị chủ yếu là Sài Gòn, Bộ Chỉ huy Miền đã giao cho các cơ quan giúp Quân khu Sài Gòn - Gia Định tiếp tục đẩy mạnh xây dựng các tiểu đoàn mũi nhọn. Cơ quan tham mưu khẩn trương xây dựng kế hoạch tiến công địch trên cơ sở "Kế hoạch X" trước đây1.

Thực hiện chỉ thị của Bộ Chỉ huy, bên cạnh việc tham mưu chỉ đạo các đơn vị địa phương chiến đấu đánh địch trong mùa mưa, tháng 7-1967, Cục Tham mưu đã thành lập một bộ phận chuyên trách xây dựng "Kế hoạch X" do đồng chí Trần Văn Danh phụ trách. Trong một thời gian ngắn, Phòng Quân lực, Quân huấn đã xây dựng xong tổ chức, biên chế lực lượng, trang bị và tài liệu huấn luyện kỹ, chiến thuật tác chiến trong thành phố cho các tiểu đoàn mũi nhọn. Cục cũng đã cử cán bộ trực tiếp xuống căn cứ Lò Gò theo dõi các tiểu đoàn mũi nhọn huấn luyện. Tuy phải tập trung theo dõi, tổng hợp tình hình hoạt động của các quân khu trong đợt hoạt động Hè - Thu 1967 và triển khai kế hoạch tiến công địch tại Lộc Ninh, Bù Đốp đầu mùa khô 1967-1968, nhưng đến tháng 9-1967, Cục Tham mưu đã hoàn thành dự thảo kế hoạch 5 mũi tiến công vào Sài Gòn - Gia Định và các mục tiêu đánh chiếm trong nội đô Sài Gòn; phân công các tổ trinh sát bằng nhiều phương thức tiếp cận nghiên cứu các mục tiêu sân bay Tân Sơn Nhất, Biên Hòa, Bộ Tổng Tham mưu, Đài Phát thanh Sài Gòn.

Ngày 25-10-1967, Trung ương Cục miền Nam ra nghị quyết về tổng công kích - tổng khởi nghĩa trên chiến trường B2 (Nghị quyết Quang Trung). Ngày 4-11-1967, Trung ương Cục miền Nam tổ chức hội nghị mở rộng quán triệt Nghị quyết Quang Trung. Tại hội nghị, đồng chí Hoàng Văn Thái được bổ nhiệm làm Tư lệnh Miền. Trên cơ sở giải thể Quân khu Sài Gòn - Gia Định và Quân khu miền Đông cũng như yêu cầu thực tế của chiến trường, cấp trên quyết định thành lập 6 phân khu, từ phân khu 1 đến phân khu 5, mỗi phân khu có từ 2 đến 4 tiểu đoàn mũi nhọn, trang bị gọn nhẹ, hình thành 5 mũi tiến công vào Sài Gòn. Phân khu 6 là phân khu nội đô chỉ huy lực lượng biệt động thành, tự vệ thành, quần chúng cách mạng tiến công các mục tiêu đầu não của địch và nổi dậy giành chính quyền.

Để bảo đảm cho tổng tiến công giành thắng lợi, Cục Tham mưu phải triển khai gấp nhiều công việc do Bộ Chỉ huy Miền yêu cầu. Tuy đã có sự chuẩn bị trước, nhưng từ thủ trưởng cơ quan đến các trợ lý của Cục đều chưa hình dung hết khối lượng và tính chất công việc. Mặc dù vậy, do chủ động khắc phục khó khăn nên kế hoạch tổng tiến công của lực lượng vũ trang B2 và kế hoạch tổng tiến công vào Sài Gòn - Gia Định vẫn liên tục được bổ sung, chỉnh sửa và hoàn thiện. Theo đó, Phân khu 1 gồm: Tiểu đoàn Quyết Thắng, Tiểu đoàn Gò Môn, Tiểu đoàn 4 đặc công, tăng cường Trung đoàn 16 có nhiệm vụ tiến công hướng bắc - tây bắc Sài Gòn; Phân khu 2 gồm Tiểu đoàn 267, Tiểu đoàn 269, Tiểu đoàn Bình Tân, Tiểu đoàn 12 đặc công, Tiểu đoàn 16, Tiểu đoàn pháo vác vai, 2 đội trinh sát, tiến công hướng tây nam; Phân khu 3 gồm Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 2 Long An, Tiểu đoàn Phú Lợi 2, Tiểu đoàn Đồng Nai, Tiểu đoàn pháo Kiến Tường, Tiểu đoàn đặc công, tiến công hướng nam; Phân khu 4 gồm Tiểu đoàn 4 Thủ Đức, Tiểu đoàn đặc công được tăng cường, Trung đoàn 3, Sư đoàn 9, tiến công hướng đông bắc; Phân khu 5 gồm Tiểu đoàn 3 Dĩ An và Trung đoàn Đồng Nai tiến công từ hướng bắc; Phân khu 6 phụ trách nội đô, gồm 3 cụm biệt động, tiến công các mục tiêu đã được phân công. Lực lượng còn lại của Sư đoàn 9 tiến công quân trường Quang Trung, Trung tâm viễn thông Quán Tre, ngăn chặn không cho Sư đoàn 25 địch về ứng cứu cho Sài Gòn. Sư đoàn bộ binh 5, được tăng cường Tiểu đoàn đặc công, Trung đoàn pháo binh 724, lực lượng vũ trang Biên Hòa, tiến công sân bay Biên Hòa, Bộ Tư lệnh dã chiến 2 Mỹ và Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3. Kế hoạch được Quân ủy và Trung ương Cục thông qua vào cuối tháng 12-1967.

Song song với chỉ đạo các đơn vị địa phương chuẩn bị tổng tiến công và nổi dậy, Đảng ủy Cục Tham mưu còn ra nghị quyết chuyên đề lãnh đạo Đảng bộ thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xuống đường tiến công và nổi dậy. 100% cán bộ, đảng viên của Đảng bộ xung phong xuống đường chiến đấu. Các phòng, ban đã lập danh sách lực lượng làm nhiệm vụ ở Sở chỉ huy tiền phương, các phái viên theo từng mũi tiến công vào Sài Gòn và nhanh chóng triển khai nhiệm vụ. Những phòng phải triển khai lực lượng trên các hướng là Phòng Quân báo, Phòng Thông tin, Phòng Đặc công cơ giới và Phòng Quân lực.

Đầu tháng 1-1968, Cục Tham mưu Miền đã tiến hành thu thập và thể hiện được toàn bộ các mục tiêu quan trọng của địch bố trí trong các thành phố, thị xã ở Đông Nam Bộ. Các cụm trinh sát công khai dẫn nhiều đồng chí trong Bộ Chỉ huy Miền, chỉ huy các phân khu trực tiếp vào nội đô Sài Gòn quan sát mục tiêu Bộ Tổng Tham mưu, sân bay Tân Sơn Nhất, Tổng nha Cảnh sát, Đặc ủy trung ương tình báo 2... Tiểu đoàn Trinh sát 46 triển khai Đại đội 2 tăng cường cho Sư đoàn 5 trinh sát nắm địch tại Sở chỉ huy Quân đoàn 3 ngụy và sân bay Biên Hòa, Đại đội 1 và Đại đội 3 xuống Bưng Còng (nam Bến Cát) phục vụ Bộ Chỉ huy tiền phương Bắc. Cùng thời gian, Cục Tham mưu Miền đã triển khai các cụm thông tin vô tuyến điện, các tổ thông tin vận động xuống Rạch Tra (Hóc Môn) triển khai mạng liên lạc phục vụ Tư lệnh tiền phương chỉ đạo, chỉ huy Phân khu 1 và Sư đoàn bộ binh 9 triển khai nhiệm vụ. Phòng Thông tin cung cấp khí tài và điều động nhân viên kỹ thuật giúp đỡ các phân khu thành lập ban thông tin, mỗi phân khu có 1 đài 15W, các tiểu đoàn mũi nhọn được trang bị tổ thông tin vô tuyến điện đủ theo biên chế. Để chuẩn bị cho tổng tiến công, một ngày mạng thông tin toàn Miền phát hàng trăm bức điện, triển khai hàng trăm kilômét dây hữu tuyến điện đi các hướng. Do chấp hành nghiêm quy chế bảo mật, tổ chức chôn dây thông tin và ngụy trang khéo léo, nên địch gần như không phát hiện được gì cho đến trước giờ tổng tiến công.

2. Vừa chỉ đạo, vừa tham mưu cho Bộ Chỉ huy Miền chỉ đạo, điều chỉnh, bổ sung lực lượng, mục tiêu và rút kinh nghiệm trong quá trình Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân ở B2

Đêm 30 rạng 31-1-1968, các đội biệt động thành tiến công vào 6 mục tiêu chiến lược (Bộ Tổng Tham mưu, Đài Phát thanh Sài Gòn, Dinh Độc Lập, Bộ Tư lệnh hải quân, Tòa Đại sứ Mỹ, sân bay Tân Sơn Nhất), trong đó có 4 mục tiêu ta đã chiếm toàn bộ hoặc một phần trong nhiều giờ (Dinh Độc Lập, Tòa Đại sứ Mỹ, Đài Phát thanh Sài Gòn, cổng số 4 căn cứ Bộ Tổng Tham mưu). Từ 5 giờ sáng ngày 31-1 đến hết ngày 1-2, các tiểu đoàn mũi nhọn trên 5 hướng tổ chức đánh chiếm các mục tiêu được phân công và đánh địch phản kích. Nhiều trận đánh diễn ra quyết liệt tại cổng số 4 Bộ Tổng Tham mưu, tại ngã ba Cây Thị, chợ Bàn Cờ, cầu Tham Lương, trường đua Phú Thọ. Do các đơn vị tăng viện không đến kịp và bị địch ngăn chặn nguồn tiếp viện từ phía sau, các tiểu đoàn mũi nhọn phải lùi ra ngoài vùng ven đô. Riêng hướng Phân khu 2, Phân khu 3 còn một bộ phận của Tiểu đoàn Bình Tân, Tiểu đoàn 267, 16, 269 trụ lại chiến đấu đến ngày 7-1-1968. Hiệp đồng với lực lượng đánh nội đô, Sư đoàn 9, Sư đoàn 5, Trung đoàn 16, Tiểu đoàn Phú Lợi đồng loạt tiến công các mục tiêu sân bay Biên Hòa, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3, thị xã Thủ Dầu Một, Trung tâm huấn luyện Quang Trung, tiêu diệt và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của địch.

 Tổng tiến công đồng loạt trên nhiều hướng, đánh nhiều mục tiêu, đánh trực tiếp vào cơ quan đầu não chỉ đạo, chỉ huy chiến tranh của Mỹ, chính quyền Sài Gòn, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân vào Sài Gòn đã giành thắng lợi lớn về quân sự và chính trị. Tại Quân khu 8, Quân khu 9, đồng loạt tiến công ở các trọng điểm trong đêm 31-1, các đơn vị Trung đoàn 1, Trung đoàn 2 và Tiểu đoàn 504 của Quân khu 8 tiến công thành phố Mỹ Tho; Tiểu đoàn bộ binh của tỉnh Bến Tre tiến công thị xã Bến Tre. Tại thành phố Cần Thơ, Quân khu ủy Khu 9 đã trực tiếp chỉ đạo 3 tiểu đoàn tập trung của tỉnh (Tây Đô, 303, 309) và lực lượng biệt động tiến công vào thành phố Cần Thơ. Các đơn vị của ta đánh chiếm được nhiều mục tiêu tại Mỹ Tho, Bến Tre, Cần Thơ, gây cho địch nhiều thiệt hại. Mỹ, ngụy bàng hoàng trước đòn đánh bất ngờ của ta. Ngày 17-2-1968, Chủ tịch Hội đồng tham mưu liên quân Mỹ phải cay đắng báo cáo với Tổng thống Mỹ rằng: "Cuộc tấn công ban đầu của Việt cộng đã gần thành công ở hàng chục điểm. Để tránh thất bại chỉ có thể có những biện pháp phản ứng kịp thời" .
Tuy bị bất ngờ, choáng váng những giờ đầu nhưng sáng ngày 31-1, Mỹ, ngụy đã tổ chức lực lượng phản kích quyết liệt vào các mũi tiến công của ta. Các đội biệt động Thành bị thương vong, tổn thất đến 80% quân số. Hướng tiến công của Phân khu 1, Phân khu 4 và Sư đoàn 5 bị mất liên lạc với Bộ Chỉ huy tiền phương. Phần lớn các tiểu đoàn mũi nhọn thọc sâu vào nội đô không còn giữ được liên lạc với cấp trên. Các đơn vị phải độc lập chiến đấu trong sự phản kích quyết liệt của địch.

Trong những ngày ác liệt, cán bộ, chiến sĩ Cục Tham mưu đã không quản ngại khó khăn, gian khổ, hy sinh bám sát các hướng. Khi chiến sự xảy ra, Cục đã cử cán bộ tác chiến trực tiếp xuống những đơn vị mất liên lạc để nắm tình hình, trực tác chiến kịp thời tổng hợp tình hình chiến trường báo cáo Bộ Chỉ huy Tiền phương. Để bảo đảm thông tin, Cục đã tổ chức triển khai 3 phương tiện thông tin để phục vụ chỉ huy. Địch đánh phá ác liệt, đường dây hữu tuyến điện đứt nhiều lần nhưng các tổ, trạm thông tin vẫn kiên cường khắc phục, đã có 2 tổ đài 15W bị trúng bom, hầu hết các đài 2W đi tăng cường cho các tiểu đoàn mũi nhọn đều hy sinh, nhưng tinh thần chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ không hề giảm. Các cơ quan còn lại của Cục đã phối hợp với cơ quan của Cục Chính trị làm công tác động viên chiến trường, củng cố bổ sung quân, cấp phát vũ khí trang bị để các đơn vị tiếp tục chiến đấu.

Từ đêm 19-2 đến 7-3-1968, lực lượng vũ trang B2 thực hiện cao điểm 2 của đợt 1 tổng tiến công và nổi dậy, với các mục tiêu: sân bay Tân Sơn Nhất, khu kho Hạnh Thông Tây, kho Nhà Bè, Biệt khu Thủ đô, khám Chí Hòa và một số mục tiêu tại quận 5, 7, 8. Do tính bất ngờ không còn, địch tăng cường phòng thủ nhiều tuyến quanh Sài Gòn nên hầu hết các đơn vị của ta không thọc sâu được vào trong nội đô, mà chỉ thực hiện pháo kích sân bay Tân Sơn Nhất 3 lần vào các đêm (17-2, 24-2, 2-3) và pháo kích vào Biệt khu Thủ đô, kho xăng An Nhơn, Nha Cảnh sát đô thành. Cao điểm 2 đã gây cho địch một số thiệt hại nhưng về phía ta lực lượng bị tổn thất lớn.

Kết thúc đợt 1 tổng tiến công và nổi dậy, Bộ Chỉ huy Miền đánh giá bên cạnh những thắng lợi có ý nghĩa to lớn về chính trị, quân sự gây chấn động trong nước và quốc tế, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy tại chiến trường B2 còn bộc lộ những điểm yếu. Đó là hướng đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng Khu 8, Quân khu 10 hoạt động quân sự chưa tương xứng với yêu cầu của tổng tiến công và nổi dậy. Tại trọng điểm Sài Gòn - Gia Định ngay khi nổ súng, chỉ huy tiền phương, Trung ương Cục, Bộ Chỉ huy Miền không nắm được đầy đủ tình hình phía trước, các đơn vị cũng không giữ được liên lạc các cánh và đơn vị bạn. Vì vậy, việc chỉ huy, điều động chi viện cho nhau trong chiến đấu rất hạn chế. Những hạn chế này là do sự thiếu sót trong công tác tham mưu, ta không lường hết được các tình huống cần giải quyết trong cuộc tiến công quy mô lớn.

*
*        *

Trong giai đoạn cách mạng mới, tình hình thế giới và trong nước tiếp tục diễn biến phức tạp khó lường. Các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược "diễn biến hòa bình", "bạo loạn lật đổ" nhằm thực hiện âm mưu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Tình hình trên đặt ra cho quân đội ta những nhiệm vụ hết sức nặng nề, Bộ Tham mưu Quân khu 7 cần tiếp tục nghiên cứu, vận dụng tốt các bài học kinh nghiệm của Cục Tham mưu Miền trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968. Đồng thời, với vai trò là cơ quan trung tâm chỉ huy, hiệp đồng của lực lượng vũ trang Quân khu 7, Bộ Tham mưu Quân khu 7 cần tập trung thực hiện một số nội dung sau:

1- Quán triệt và tổ chức thực hiện tốt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Thực hiện tốt chức năng tham mưu cho Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu về công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và các nhiệm vụ đột xuất khác; xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; tổ chức biên chế tinh gọn, cơ động, có sức mạnh chiến đấu cao; nâng cao chất lượng xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; xây dựng các tuyến phòng thủ và khu vực phòng thủ các cấp trên địa bàn Quân khu 7.

2- Luôn luôn cảnh giác, nắm chắc tình hình địch, bạn, ta một cách toàn diện. Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy: Tham mưu là phải tổ chức nắm địch, nắm ta rõ ràng, bày mưu kế khôn khéo, tổ chức chỉ huy thông suốt, bí mật, nhanh chóng, kịp thời, chính xác để đánh thắng mọi kẻ thù... Để thực hiện tốt lời dạy của Bác, Bộ Tham mưu Quân khu cần phải nắm chắc diễn biến tình hình khu vực và trên thế giới, ý đồ chiến lược của các nước lớn, các khối, nhất là các nước có biên giới với địa bàn Quân khu 7, các tổ chức hoạt động trên địa bàn Quân khu. Đồng thời, thực hiện tốt Nghị định số 77/2010/NĐ-CP của Chính phủ phối hợp chặt chẽ với công an và cơ quan chức năng thường xuyên nắm chắc tình hình, nắm chắc âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, tham mưu xử lý kịp thời, chính xác ngay từ cơ sở, không để mắc mưu tạo cớ, không để bị động, bất ngờ.

3- Tổ chức quán triệt nghiêm túc các chỉ lệnh, mệnh lệnh, kế hoạch, chương trình, nội dung huấn luyện, nhất là Nghị quyết 765 của Quân ủy Trung ương về nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 2013-2020 và những năm tiếp theo. Thực hiện tốt phương châm huấn luyện "cơ bản, thiết thực, vững chắc", coi trọng huấn luyện đồng bộ, chuyên sâu, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức trách nhiệm, trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ huấn luyện. Nội dung huấn luyện được tiến hành toàn diện, coi trọng cả huấn luyện chính trị, quân sự, điều lệnh, huấn luyện chuyên ngành và huấn luyện thể lực cho bộ đội. Trong đó, đặc biệt coi trọng duy trì nghiêm chế độ huấn luyện tại chức, tập huấn, bồi dưỡng các nội dung về tham mưu tác chiến cấp chiến dịch.

4- Xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, cơ quan Bộ Tham mưu Quân khu vững mạnh toàn diện, tổ chức biên chế phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao. Các cơ quan, đơn vị quán triệt, thực hiện nghiêm chỉ thị, quy định của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và của Bộ Tư lệnh Quân khu về xây dựng nền nếp chính quy, quản lý, rèn luyện kỷ luật; duy trì nghiêm túc chế độ làm việc, nền nếp công tác. Bộ Tham mưu làm tốt chức năng tham mưu cho Bộ Tư lệnh Quân khu nhiều chủ trương, biện pháp xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật đối với lực lượng vũ trang Quân khu; kiểm tra, đôn đốc các đơn vị duy trì nghiêm kỷ luật.




-----------------------------------------------------------------
1. "Kế hoạch X" đã được Bộ Chỉ huy Miền chỉ đạo cơ quan Tham mưu Miền chuẩn bị từ cuối năm 1964, theo kế hoạch, ta tổ chức tiến công vào Sài Gòn trên 5 hướng.

2. Cụm Điệp báo chiến dịch do đồng chí Hoàng Đạo phụ trách đã trực tiếp đưa đồng chí Trần Đình Xu, Tư lệnh Phân khu 1 đi theo đường hợp pháp vào trinh sát các mục tiêu Bộ Tổng Tham mưu, Đài Phát thanh Sài Gòn về căn cứ an toàn. Xem Lịch sử Phòng Quân báo Miền, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2010.


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Năm, 2020, 03:01:56 pm
TỔ CHỨC, BẢO ĐẢM THÔNG TIN LIÊN LẠC
TRONG TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968



Thiếu tướng KHÚC ĐĂNG TUẤN
Tư lệnh Binh chủng Thông tin liên lạc


Cách đây 50 năm, cùng với thắng lợi của quân và dân miền Bắc đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ, từ ngày 30-1 đến ngày 31-3-1968, quân và dân ta ở miền Nam đã mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt đánh vào hầu hết các cơ quan đầu não trung ương, địa phương của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, trên ba vùng chiến lược và giành được thắng lợi to lớn có ý nghĩa chiến lược. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đó, cùng với quân và dân cả nước, trực tiếp là quân và dân miền Nam, bộ đội thông tin liên lạc đã phát huy cao độ ý chí quyết chiến, quyết thắng, khắc phục khó khăn, gian khổ, vượt qua những thử thách khắc nghiệt của chiến tranh, góp phần làm nên những thắng lợi vẻ vang của dân tộc.

Để chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, ngay từ những ngày đầu tháng 1-1968, Cục Thông tin liên lạc đã được Bộ Tổng Tư lệnh, Bộ Tổng Tham mưu chỉ thị "Tăng cường khả năng bảo đảm thông tin liên lạc cho chỉ huy từ Bộ đến các chiến trường được vững chắc hơn theo yêu cầu mới". Quán triệt chỉ thị của trên, Cục Thông tin liên lạc đã chỉ đạo, chỉ huy xây dựng lực lượng, triển khai củng cố các tổng trạm thông tin của Bộ, kể cả các tổng trạm dự bị cách xa Hà Nội.

Về xây dựng lực lượng: Trong tình hình cả nước có chiến tranh, Cục Thông tin liên lạc xác định phương châm xây dựng lực lượng là: "Vừa chiến đấu, vừa xây dựng" yêu cầu bảo đảm đủ số lượng nhưng hết sức chú trọng chất lượng; nhất là công tác huấn luyện. Cục còn chỉ đạo các đơn vị xác định nội dung, phương pháp và thời gian huấn luyện cho phù hợp. Đối với các đơn vị chưa có nhiệm vụ chiến đấu sau giai đoạn huấn luyện tập trung thì phối hợp với bộ đội binh chủng hợp thành để diễn tập. Các đơn vị đang phục vụ chiến đấu phải kết hợp huấn luyện với thực tế công tác. Trong hoàn cảnh nào, nội dung huấn luyện cũng phải bám sát nhiệm vụ của đơn vị, thực tế chiến đấu cũng như yêu cầu chỉ đạo, chỉ huy trong tác chiến. Trước yêu cầu phải có đủ số lượng cán bộ chỉ huy, cán bộ chính trị và nhân viên kỹ thuật để bổ sung cho các đơn vị mới thành lập và tăng cường cho chiến trường, ngày 21-5-1965, Trường Sĩ quan thông tin trực thuộc Cục Thông tin liên lạc được thành lập có nhiệm vụ tổ chức những lớp đào tạo cán bộ chỉ huy, cán bộ chính trị sơ cấp ngắn hạn (3 tháng, 6 tháng); cán bộ trung cấp kỹ thuật (1 năm) tập trung vào những nội dung cần thiết nhất. Tiếp đó, đến tháng 3-1967, Trường Kỹ thuật thông tin cũng được thành lập với nhiệm vụ đào tạo cán bộ và nhân viên kỹ thuật trung cấp. Đến năm 1968, các trường đã đào tạo, bồi dưỡng được trên 2.000 cán bộ chỉ huy và cán bộ chính trị, nhân viên kỹ thuật, kịp thời bổ sung cho các chiến trường. Trong 4 năm (1965-1968) Cục đã tăng cường cho các mặt trận trên chiến trường miền Nam 1.836 cán bộ và nhân viên kỹ thuật, 37 cơ công sơ cấp, 45 trung cấp kỹ thuật, 32 đài trưởng và 880 báo vụ, 11 tiểu đoàn, 3 đại đội thông tin.

Để đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo, cũng như quản lý lực lượng thông tin trong giai đoạn cách mạng mới, ngày 31-1-1968, Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Thông tin liên lạc. Đây là một sự kiện lớn đánh dấu bước ngoặt lịch sử của Binh chủng trên con đường tiến lên xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Ngay sau khi thành lập, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Binh chủng đã nhanh chóng kiện toàn các cơ quan giúp việc như tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật; xây dựng các chế độ công tác, nhằm thực hiện tốt nhất chức năng, nhiệm vụ được giao.

Về hệ thống thông tin: Đối với thông tin vô tuyến điện, Bộ Tư lệnh chủ trương tăng cường số lượng máy mới có độ nhạy cao và công suất lớn ở các trung tâm thu phát vô tuyến điện; sử dụng vô tuyến điện sóng ngắn bảo đảm liên lạc để Bộ Tổng Tư lệnh, Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo, chỉ huy kịp thời đến Bộ Chỉ huy Miền, các quân khu, tỉnh đội, vượt cấp tới một số sư đoàn, trung đoàn đánh vào các căn cứ quan trọng của địch tại Sài Gòn, Huế, Cần Thơ... Đài phát điện chung và hệ thống đài canh của Bộ, của các quân khu, Miền được tổ chức chặt chẽ và liên tục bảo đảm liên lạc và hiệp đồng cho các đơn vị trong khi cơ động chiến đấu. Vô tuyến điện sóng cực ngắn là phương tiện chủ yếu bảo đảm tốt cho chỉ huy đánh địch trong thành phố, thị xã... nhất là các đơn vị đặc công, biệt động luồn sâu đánh hiểm.

Thông tin hữu tuyến điện, vô tuyến điện tiếp sức, đặt thêm các máy tải ba nhiều kênh ở tổng trạm của Bộ và các trạm cơ vụ đi các hướng, nhất là đường trục vào chiến trường miền Nam. Cán bộ được tăng cường trực tiếp từng phiên ca trong các trạm máy, kiểm tra duy trì các chế độ và điều hành chặt chẽ ở từng trạm, từng tổng trạm và trên các trục từ Bộ đi các đơn vị, nhất là trục hữu tuyến điện và vô tuyến điện tiếp sức đi Trị - Thiên, Tây Nguyên vào chiến trường miền Nam. Ở chiến trường Trị - Thiên và Tây Nguyên, Cục Thông tin liên lạc đã xây dựng tuyến dây trần, vô tuyến điện tiếp sức từ Bộ Tổng Tham mưu đến trạm cơ vụ A72 (Quảng Bình); giao cho Trung đoàn 134 triển khai tuyến dây trần từ trạm cơ vụ A72 (Quảng Bình) vào Quân khu Trị - Thiên dài hơn 300km, đồng thời thay thế các máy tải ba ít kênh bằng các máy nhiều kênh, tổ chức hàng trăm trạm cơ vụ bảo đảm thông tin cho mặt trận Đường 9 - Khe Sanh và cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968.

Thông tin chuyển đạt đã bảo đảm vận chuyển kịp thời công văn, tài liệu... từ Hà Nội vào các quân khu, mặt trận ở miền Nam theo tuyến vận tải 559. Ở chiến trường miền Nam, thông tin chuyển đạt kết hợp với thông tin nhân dân được tổ chức chặt chẽ và làm tốt nhiệm vụ chuyển đạt công văn, chỉ thị, báo cáo, dẫn đường, đưa đón cán bộ ra, vào vùng địch kiểm soát.

Về cơ sở vật chất kỹ thuật: Cục Thông tin liên lạc chỉ đạo các đơn vị thông tin ở miền Bắc sử dụng hết sức tiết kiệm phương tiện khí tài hiện có, dành dây máy tốt nhất cho các đơn vị thông tin ở chiến trường miền Nam. Một khối lượng lớn trang bị kỹ thuật thông tin có chất lượng tốt được khẩn trương chuyển vào chiến trường sớm hơn dự kiến để kịp bảo đảm cho chiến đấu (từ năm 1965 đến năm 1968 đã chuyển vào chiến trường miền Nam 2.692 máy vô tuyến điện các loại, 843 tổng đài, 12.058 máy điện thoại, 137 tổ máy phát điện quay tay). Nhờ những cố gắng trên, cơ quan thông tin các mặt trận đã kịp thời bổ sung lượng tiêu hao, trang bị cho những đơn vị mới thành lập, một phần cho lực lượng vũ trang địa phương và có một phần lực lượng dự bị cho các hoạt động tiếp sau.

Về tổ chức bảo đảm thông tin liên lạc: Ở Mặt trận Sài Gòn - Gia Định, sau đợt 1 của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, các đơn vị biệt động, đặc công ta nhanh chóng thọc sâu vào các mục tiêu được phân công. Tuy bị máy bay lên thẳng, máy bay trinh sát địch phát hiện, bắn xối xả vào đội hình, nhưng các chiến sĩ bộ đàm vẫn bám sát đơn vị để giữ liên lạc (chiến sĩ Phạm Thái Hòa bị bom địch hất xuống bờ sông, tay phải bị thương, đã tự băng bó và tiếp tục giữ vững liên lạc với Sở chỉ huy sư đoàn. Chiến sĩ Trần Văn Can ba lần bị thương vẫn không chịu rời máy, kiên quyết bám trụ bên cầu để giữ liên lạc). Do địch phản kích quyết liệt, trong khi đó Sở chỉ huy phải di chuyển liên tục nhưng để đảm bảo thông tin thông suốt, liên lạc vô tuyến điện phải tiến hành trên xuồng ở sông Sài Gòn, mỗi ngày chỉ có một phiên làm việc vào 12 giờ đêm, sau đó lại cất giấu máy và chuẩn bị chiến đấu.

Trong đợt 2 (từ ngày 1 đến ngày 12-3-1968), Bộ Chỉ huy chiến dịch chủ trương kiên quyết giữ vững bàn đạp từ ngoại ô nối liền với những khu vực đã chiếm ở nội thành (như Phú Thọ Hòa, phía bắc cầu chữ Y...), sử dụng các Sư đoàn bộ binh 9 (thiếu), Sư đoàn bộ binh 7, Đoàn đặc công 117 và các đơn vị biệt động đánh từ Long An sang hướng Bà Quẹo. Để đảm bảo hoạt động cho các lực lượng, cơ quan thông tin đã tổ chức hai đài 102E, sáu tổ đài PRC25, một phân đội hữu tuyến điện và thông tin chuyển đạt đi theo Sở chỉ huy tiền phương (đặt tại khu vực Mành Manh, sông Vàm Cỏ Đông). Hữu tuyến điện được tổ chức từ Sở chỉ huy đến Sư đoàn bộ binh 7. Thông tin chuyển đạt sử dụng chiến sĩ người địa phương thông thuộc địa hình ở khu vực tác chiến để bảo đảm liên lạc. Mở màn đợt 2, các đơn vị thông tin đã phục vụ cho pháo binh ta bắn phá vào 16 vị trí địch trong nội thành. Máy bộ đàm đi theo các mũi tiến công đã giữ vững liên lạc với Sở chỉ huy tiền phương. Tổ thông tin gồm chiến sĩ bộ đàm Dương Tuấn Nghĩa và chiến sĩ chuyển đạt Lưu Phước Lượng của Sư đoàn 9 đã phối hợp với tổ trinh sát đặc công trụ bám nhiều ngày trên tầng 5 của một ngôi nhà ở góc đường Phú Nhuận, theo dõi địch và báo cho pháo binh ta bắn rất chính xác. Trung đoàn 2 Sư đoàn 9 đánh vào ngã tư Bảy Hiền, điện đài bị lạc, cơ quan thông tin đã kịp thời đưa một máy K63 xuống và chọn điểm cao đặt máy, bảo đảm liên lạc tốt với Sở chỉ huy chiến dịch và liên lạc hiệp đồng chặt chẽ với Sư đoàn 7 ở vòng ngoài.

Các phân đội thông tin thuộc Sư đoàn 7, 9, Đoàn đặc công 117 vừa giữ vững liên lạc, vừa dũng cảm chiến đấu với địch, đã bảo đảm cho chỉ huy nhiều trận đánh giành thắng lợi lớn; điển hình là trận đánh chìm hai tàu trên sông Lòng Tàu, diệt 250 tên địch, phá hủy 20 máy bay lên thẳng và 5.000 viên đạn pháo.

Trong đợt 3, Sở chỉ huy tiền phương di chuyển lên Bắc Tây Ninh, sử dụng Sư đoàn 9 làm lực lượng chủ yếu đánh địch tiến công lên Tây Ninh. Việc tổ chức, sử dụng thông tin liên lạc lúc này lấy vô tuyến điện sóng ngắn là chủ yếu. Một tổ vô tuyến điện gồm ba chiến sĩ mang theo một máy Sinen làm việc ở bộ phận quân báo trụ bám ở ấp Bảo Công, xã An Ninh, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Địch càn quét rất ác liệt, tổ đài phải xuống hầm bí mật tránh địch nhiều lần nhưng vẫn bảo đảm an toàn cả về máy và người, giữ vững liên lạc với Sở chỉ huy tiền phương. Trong một đợt càn quét, địch tìm được hầm, anh em đã đội nắp hầm nhảy lên ném lựu đạn tiêu diệt địch và thoát vây.
Ở Quân khu 9, để bảo đảm cho Bộ Tư lệnh Quân khu chỉ đạo, chỉ huy các đơn vị hoạt động trong vùng địch tạm chiếm, từ năm 1967 theo chủ trương chung của Quân khu, cơ quan thông tin đã cử cán bộ xuống cơ sở tham gia phát động phong trào chiến tranh du kích, xây dựng xã, ấp chiến đấu kết hợp với xây dựng mạng lưới thông tin nhân dân từ ấp, xã lên huyện, tỉnh.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, trọng điểm của tiến công quân sự là thành phố Cần Thơ (hướng chủ yếu) và các thị xã Rạch Giá, Cà Mau, Chương Thiện. Từ Sở chỉ huy tiền phương, quân khu đã tổ chức vô tuyến điện sóng ngắn kết hợp với sử dụng hệ thống giao liên của Khu ủy để liên lạc với các trung đoàn 1, 2 chủ lực và với các tỉnh, thành. Do được chuẩn bị chu đáo nên mệnh lệnh tổng tiến công được chuyển kịp thời đến các đơn vị, góp phần bảo đảm yếu tố bí mật, bất ngờ cho cuộc tổng tiến công. Khi Sở chỉ huy tiền phương quân khu di chuyển xuống phía nam thành phố Cần Thơ, các điện đài sóng ngắn ở Sở chỉ huy được đặt trên xuồng nhưng vẫn tiếp tục bảo đảm liên lạc chặt chẽ với các đơn vị. Trước các đợt phản kích quyết liệt của địch, Trung đoàn 1 chủ lực của Quân khu trụ bám đánh địch. Đại đội thông tin trung đoàn đã giữ vững liên lạc với cấp trên và với các tiểu đoàn, dũng cảm chiến đấu chống địch càn quét, bảo vệ Sở chỉ huy, bảo vệ đài, trạm thông tin.

Ở Quân khu 8, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, Quân khu có nhiệm vụ đánh vào thành phố Mỹ Tho (hướng chủ yếu), căn cứ Đồng Tâm, Long An và bắc đường số 4. Đại đội thông tin 250 Quân khu đảm nhiệm tổ chức, sử dụng thông tin liên lạc bảo đảm cho Sở chỉ huy tiền phương Quân khu chỉ huy các trung đoàn 1, 2 chủ lực và các tỉnh đội bằng vô tuyến điện sóng ngắn, kết hợp với sử dụng hệ thống giao liên của Khu ủy. Đại đội thông tin vừa phục vụ chiến đấu tốt, vừa tham gia chiến đấu chống càn. Trong trận đánh địch tiến công vào Sở chỉ huy tiền phương Quân khu (2-1968), một bộ phận của đại đội thông tin với 8 khẩu AK đã diệt gọn 1 đại đội biệt kích ngụy gồm 85 tên.
Ở Quân khu 5 và Mặt trận Tây Nguyên, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, Bộ Tư lệnh Quân khu đã tổ chức hệ thống thông tin liên lạc bằng vô tuyến điện sóng ngắn, kết hợp với hệ thống giao liên, chỉ huy các đơn vị đánh trúng vào các mục tiêu chủ yếu ở ba thị xã lớn là Kon Tum, Pleiku, Buôn Ma Thuột và tiến công đồng loạt các thành phố Đà Nẵng, Nha Trang, các thị xã Hội An, Quy Nhơn, Tuy Hòa, giành thắng lợi to lớn.

Ở Mặt trận Trị - Thiên, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, Tiểu đoàn Thông tin 813 Mặt trận được giao nhiệm vụ tổ chức thông tin liên lạc từ Sở chỉ huy tiền phương Mặt trận đến Trung đoàn 6 chủ lực đánh vào thành phố Huế. Mặc dù không được nghiên cứu địa hình trước, nhưng phân đội hữu tuyến điện đã vận dụng phương pháp đơn vị đi tới đâu rải dây theo tới đó, kết hợp sử dụng một máy PRC-25 bám sát trung đoàn hành quân liên lạc qua đài chuyển tiếp đặt trên điểm cao Hòn Vượn, đã bảo đảm cho Sở chỉ huy tiền phương liên lạc hữu tuyến điện, vô tuyến điện sóng cực ngắn thông suốt với Trung đoàn. Đại đội thông tin Trung đoàn đã tổ chức, sử dụng hữu tuyến điện, vô tuyến điện sóng cực ngắn kết hợp với thông tin chuyển đạt bảo đảm cho chỉ huy chặt chẽ các cánh quân phát triển sâu vào nội thành. Đây là lần đầu tiên bộ đội thông tin liên lạc triển khai đường dây trong một thành phố lớn ở miền Nam, đạt hiệu suất sử dụng cao.

Tại Mặt trận Quảng Trị, đêm 30 Tết, lực lượng thông tin của Quân khu đi theo Sở chỉ huy Mặt trận gồm một trung đội vô tuyến điện trang bị hai máy vô tuyến điện sóng ngắn, một tiểu đội hữu tuyến điện xuống khu vực Hải Lăng, kết hợp với trung đội thông tin chuyển đạt lót sẵn, triển khai hệ thống thông tin liên lạc bảo đảm cho chỉ huy các đơn vị đánh vào căn cứ La Vang, quận lỵ Hải Lăng và thị xã Quảng Trị. Mặc dù quân địch phản kích quyết liệt, kết hợp với máy bay và các loại pháo từ ngoài biển, từ căn cứ Ái Tử và thị xã bắn phá dữ dội, nhưng nhờ tổ chức, sử dụng vô tuyến điện sóng ngắn 15W nên thông tin liên lạc giữa các đơn vị và với Sở chỉ huy Mặt trận vẫn bảo đảm tốt.

Bên cạnh nhiệm vụ bảo đảm thông tin liên lạc trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, bộ đội thông tin liên lạc còn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quốc tế - duy trì liên lạc vững chắc cho chỉ đạo, chỉ huy quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với quân đội Pathét Lào giành thắng lợi to lớn.

Tháng 1-1968, phối hợp với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân của ta, quân đội Pathét Lào cùng với quân tình nguyện Việt Nam đã mở chiến dịch Nậm Bạc nhằm khôi phục và củng cố vùng giải phóng Tây Bắc Thượng Lào. Để đảm bảo thông tin cho hướng hoạt động này, cơ quan thông tin Quân khu Tây Bắc được sự giúp đỡ của Bộ Tư lệnh Thông tin liên lạc và sự hiệp đồng tích cực của bộ đội thông tin Đoàn 959 đã cùng với bạn tổ chức bảo đảm thông tin liên lạc cho chỉ huy chiến dịch. Tiểu đoàn thông tin Sư đoàn bộ binh 316 quân tình nguyện Việt Nam, lực lượng chủ yếu của chiến dịch được trang bị đầy đủ theo tổ chức biên chế, có điện đài 15W trang bị đến tiểu đoàn bộ binh, đã cùng với bạn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tổ chức, sử dụng thông tin liên lạc bảo đảm cho chỉ huy các đơn vị ta và bạn nổ súng tiến công đồng loạt các cụm cứ điểm địch ở Nậm Bạc và chuyển sang truy quét địch phá vây rút chạy. Sau 16 ngày đêm chiến đấu (từ ngày 6-12 đến ngày 27-1-1968), chiến dịch đã giành thắng lợi hoàn toàn, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 3.000 địch (có hơn 2.000 tên bị bắt sống), giải phóng trên một vạn dân, thu nhiều vũ khí. Qua chiến dịch này, bộ đội thông tin liên lạc của ta và bạn đã thu được nhiều kinh nghiệm về tổ chức, sử dụng thông tin liên lạc ở địa hình rừng núi trong một chiến dịch tiến công đánh cụm cứ điểm và đánh địch rút chạy; qua đó, củng cố thêm một bước tinh thần liên minh đoàn kết chiến đấu, giúp bạn nhanh chóng xây dựng lực lượng để có thể tự lực đảm nhiệm công tác bảo đảm thông tin liên lạc trong các chiến dịch sau.

Cùng với thắng lợi to lớn trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt ở miền Nam Xuân Mậu Thân 1968 và hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ quốc tế đối với nước bạn Lào, Binh chủng Thông tin đã có sự trưởng thành trên nhiều mặt như: chính trị, tư tưởng, tổ chức, bảo đảm thông tin liên lạc, xây dựng lực lượng và cơ sở vật chất kỹ thuật. Trong suốt quá trình diễn ra cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, Bộ Tư lệnh Thông tin đã thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:

Một là, quán triệt quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, thường xuyên làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng trong tình hình và nhiệm vụ mới, xây dựng quyết tâm, ý chí chiến đấu vượt qua mọi khó khăn gian khổ giữ vững thông tin liên lạc cho lãnh đạo chỉ huy các mặt trận giành thắng lợi. Toàn Binh chủng đã dấy lên phong trào thi đua "Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược" và nhiều hành động thiết thực như: "Dây là ruột, cột là xương, liên lạc là mạch máu"... có ý nghĩa, nội dung thiết thực, đạt hiệu quả cao.

Hai là, làm tốt công tác chuẩn bị các mặt, nhất là lực lượng, phương tiện thông tin kịp thời đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Binh chủng đã tập trung xây dựng lực lượng, đặc biệt là đào tạo bồi dưỡng cán bộ chỉ huy, cán bộ chính trị và nhân viên kỹ thuật, chi viện cho các đơn vị ở miền Bắc và chiến trường miền Nam.

Công tác bảo đảm phương tiện thông tin cho các mặt trận ở chiến trường miền Nam được tiến hành tích cực và khẩn trương. Binh chủng đã chỉ đạo các đơn vị thông tin miền Bắc sử dụng hết sức tiết kiệm phương tiện khí tài hiện có, dành dây máy tốt cho các đơn vị thông tin ở chiến trường miền Nam. Do đó các mặt trận đã có thêm nhiều phương tiện thông tin (kể cả các loại phương tiện thông tin mới) để bảo đảm chỉ đạo, chỉ huy trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.

Ba là, binh chủng chỉ đạo, sử dụng phương tiện thông tin phù hợp trong từng giai đoạn ở các mặt trận. Tăng cường kiểm tra duy trì nền nếp chế độ công tác thông tin liên lạc ở từng trạm, từng tổng trạm và trên trục từ Bộ đi vào chiến trường. Nhờ đó, các đơn vị trên chiến trường miền Nam, miền Trung, Tây Nguyên, các đơn vị quân chủng, tỉnh thành trong cả nước đã tổ chức và bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt, nhất là bảo đảm thông tin liên lạc cho chỉ đạo, chỉ huy thắng lợi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt ở miền Nam, cũng như thắng lợi đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ trên miền Bắc và làm nghĩa vụ quốc tế đối với nước bạn Lào.

Thắng lợi to lớn của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt ở miền Nam, cũng như thắng lợi đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ trên miền Bắc và làm nghĩa vụ quốc tế đối với nước bạn Lào có những đóng góp quan trọng của bộ đội thông tin liên lạc. Tháng 11-1968, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tuyên dương: "Bộ đội thông tin liên lạc hiệp đồng chặt chẽ, chiến đấu dũng cảm, mưu trí, trưởng thành nhanh chóng, chiến thắng vẻ vang". Những thành tích đó đã được Bộ Tổng Tham mưu nhận xét trong Hội nghị chủ nhiệm thông tin toàn quân năm 1969: "Bộ đội thông tin liên lạc đã đóng góp vào thắng lợi to lớn của năm 1968, đặc biệt là thắng lợi to lớn, toàn diện, vững chắc trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân dân miền Nam mùa Xuân 1968".

Trong giai đoạn hiện nay, Binh chủng Thông tin liên lạc đã tham mưu cho Bộ Quốc phòng đầu tư nhiều trang thiết bị thông tin hiện đại cho các quân khu, quân đoàn, quân, binh chủng, tỉnh thành trong cả nước như: Trang bị tổng đài kỹ thuật số, mạng truyền số liệu MISTEN, thông tin vệ tinh, các xe thông tin cơ động... Để kế thừa và phát huy truyền thống của bộ đội thông tin liên lạc anh hùng trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 nói riêng, cán bộ, chiến sĩ thông tin toàn quân phải không ngừng học tập, nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ, năng lực chuyên môn; khai thác thành thạo trang bị khí tài, vươn lên làm chủ khoa học công nghệ tiên tiến; đoàn kết, hiệp đồng xây dựng Binh chủng Thông tin hiện đại. Thực hiện thành công chiến lược hiện đại hóa hệ thống thông tin liên lạc quân sự, bảo đảm thông tin liên lạc kịp thời, chính xác, bí mật, an toàn cho Đảng, Nhà nước, quân đội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Năm, 2020, 03:13:24 pm
CÔNG TÁC ĐẢNG, CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ CỦA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG MIỀN ĐÔNG NAM BỘ
TRONG CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968



Thiếu tướng TRẦN HỮU TÀI
Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 7


Sau thắng lợi đánh bại các cuộc hành quân mùa khô của Mỹ (1965-1966, 1966-1967), Trung ương Đảng nhận định: Địch đã thất bại một bước rất cơ bản trong chiến lược "chiến tranh cục bộ" và đang lúng túng, bị động về chiến lược, chiến dịch. Trước tình hình đó, Trung ương chỉ đạo quyết tâm chiến lược mới là: "Khẩn trương tranh thủ thời gian, tạo mọi điều kiện, thời cơ giành thắng lợi liên tục, toàn diện và ngày càng lớn". Năm 1967, Cục Chính trị Miền triển khai đợt sinh hoạt chính trị trong các lực lượng vũ trang nhằm quán triệt chỉ thị của Quân ủy Trung ương về thực hiện cuộc vận động "Nâng cao chất lượng, phát huy sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược". Tổ chức Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua toàn miền Nam (năm 1967) trên địa bàn miền Đông Nam Bộ, phong tặng 471 cán bộ, chiến sĩ toàn miền Nam là Anh hùng lực lượng vũ trang và Chiến sĩ thi đua; nhiều địa phương, đơn vị, tập thể và cá nhân được khen thưởng, phong tặng danh hiệu Anh hùng, Huân chương giải phóng và cờ mang dòng chữ "Trung thành vô hạn, anh dũng tuyệt vời, chiến thắng vẻ vang". Riêng quân và dân miền Đông Nam Bộ được phong tặng 20/47 1 Anh hùng lực lượng vũ trang toàn miền Nam . Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua đã tạo động lực, niềm tin, sức mạnh mới làm dấy lên tinh thần đoàn kết, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, tạo ra phong trào thi đua sôi nổi "Học tập thành tích các anh hùng, dũng sĩ, thi đua giết giặc lập công", được triển khai toàn diện trong quân và dân miền Đông Nam Bộ.

Thực hiện Chỉ thị của Trung ương về "tổng công kích, tổng khởi nghĩa", ngày 25-10-1967, Trung ương Cục ra Nghị quyết "tổng công kích, tổng khởi nghĩa" trên chiến trường B2 (Nghị quyết Quang Trung); chiến trường miền Đông Nam Bộ được xác định là hướng trọng điểm của chiến dịch. Để chuẩn bị cho "tổng công kích, tổng khởi nghĩa", tháng 12 - 1967, Bộ Chỉ huy Miền quyết định giải thể Quân khu miền Đông và Quân khu Sài Gòn - Gia Định, thành lập 6 phân khu (1, 2, 3, 4 ,5 ,6) còn lại ba tỉnh độc lập trực thuộc Quân ủy Miền (Biên Hòa U1, Bà Rịa - Vũng Tàu và Tây Ninh) 2. Ngày 2-1-1968, tại căn cứ Ba Thu huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An, Trung ương Cục triển khai kế hoạch "tổng công kích, tổng khởi nghĩa"; Đảng ủy các phân khu tổ chức lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chặt chẽ và thống nhất từ trên xuống; chỉ đạo Phòng Chính trị nắm chắc tình hình, chủ động khẩn trương hướng dẫn các nội dung công tác đảng, công tác chính trị trong các đơn vị lực lượng vũ trang miền Đông, nổi bật đó là:

Về công tác tư tưởng: Khẩn trương tổ chức hội nghị bàn về công tác đảng, công tác chính trị trước và trong tổng công kích; xác định nhiệm vụ hàng đầu là làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, chỉ đạo tổ chức quán triệt thực hiện cuộc vận động "ba dân chủ" trong đơn vị, quán triệt đến mọi cán bộ, chiến sĩ, xây dựng ý chí, phát huy bản chất giai cấp công nhân quyết tâm chiến đấu sắt đá, kiên cường, tiến công địch mãnh liệt, dồn dập và liên tục; phát động phong trào thi đua "tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt"; chỉ đạo thực hiện tốt công tác phối hợp, hiệp đồng tác chiến đánh bại các cuộc hành quân của địch; phát động phong trào quần chúng, thanh niên và sinh viên thi đua xung phong "xuống đường giải phóng quê hương".

Về xây xựng Đảng: Các phân khu chỉ đạo các đơn vị tổ chức học tập Nghị quyết của Trung ương Cục và nghị quyết của Phân khu ủy về thực hiện "tổng công kích, tổng khởi nghĩa"; các chi bộ, đảng bộ phải tiến hành đợt sinh hoạt kiểm điểm 1 năm thực hiện cuộc vận động xây dựng "chi bộ ba tốt", "đảng viên ba tốt", củng cố kiện toàn cấp ủy chi bộ, nâng cao vai trò lãnh đạo của chi bộ trước khi bước vào thực hiện "tổng công kích, tổng khởi nghĩa". Tổ chức rà soát sắp xếp đủ cán bộ cho các đơn vị trực tiếp chiến đấu, dự kiến số lượng cán bộ thay thế trong quá trình thực hiện nhiệm vụ; tổ chức tập huấn cán bộ về chỉ huy chiến đấu trong địa hình đô thị và tiến công mục tiêu trong thành phố. Các phân khu đều xây dựng được các tiểu đoàn, đại đội và bộ đội quận, huyện.

Lãnh đạo kiện toàn, sắp xếp cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các phân khu: Chấp hành Nghị quyết của Trung ương Cục, Bộ Tư lệnh Miền chỉ đạo Quân khu 7 và Quân khu Sài Gòn - Gia Định khẩn trương tổ chức kiện toàn, sắp xếp lại cán bộ lãnh đạo, chỉ huy tăng cường cho các phân khu :

Phân khu 1, đồng chí Trần Đình Xu (Ba Đình) làm Tư lệnh phân khu; đồng chí Tư Trường làm Chính ủy. Phân khu 2, đồng chí Lê Văn Nhỏ làm Tư lệnh; đồng chí Võ Trần Chí làm Chính ủy. Phân khu 3, đồng chí Huỳnh Công Thân là Tư lệnh; đồng chí Nguyễn Văn Chính (Chín Cần) làm Chính ủy. Phân khu 4, đồng chí Lương Văn Nho làm Tư lệnh; đồng chí Đoàn Công Chánh (Sáu bảo) làm Chính ủy. Phân khu 5, đồng chí Nguyễn Chí Sình làm Tư lệnh; đồng chí Hoàng Minh Đạo (Năm Thu) làm Chính ủy (sau tiến công đợt 2, đồng chí Nguyễn Văn Bứa làm Tư lệnh). Phân khu 6, đồng chí Trần Hải Phụng làm Tư lệnh; đồng chí Võ Văn Thạnh làm Chính ủy. Sau tiến công đợt 2, kiện toàn lại đồng chí Trần Bạch Đằng làm Bí thư, Nguyễn Thái Sơn làm Phó Bí thư, Trần Hải Phụng làm Chỉ huy trưởng, Võ Văn Thạnh làm Chính ủy, Nguyễn Đức Hùng (Tư Chu) làm Phó Chỉ huy trưởng, kiêm Tham mưu trưởng phân khu ủy.
 
Đồng thời, tập trung lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ trang các cấp tỉnh, huyện; lực lượng du kích xã được xây dựng phát triển mạnh mẽ và xác định đây là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên.

Lãnh đạo lực lượng vũ trang tham gia các đợt tổng công kích, tổng khởi nghĩa: Chiến dịch Mậu Thân được thực hiện thành 3 đợt (đợt 1 trong tháng 1 và tháng 2; đợt 2 trong tháng 5 và tháng 6; đợt 3 trong tháng 8 và tháng 9-1968).

Đợt 1, vào hồi 23 giờ ngày 30-1-1968 tại Sở chỉ huy tiền phương Phân khu 6, sau khi giao nhiệm vụ cho các đội biệt động, đồng chí Võ Văn Thạnh nhắc lại lời thề "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh" và trịnh trọng đọc lời hiệu triệu của Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Các phân khu chỉ đạo các lực lượng phối hợp với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích chuẩn bị tinh thần tiến công vào các mục tiêu; Phân khu nội đô vừa thực hiện nhiệm vụ đánh địch vừa vận động quần chúng tham gia vào chiến dịch. Thực hiện theo hiệp đồng đến giờ "G", các lực lượng Phân khu 2 đã nổ súng đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất; Phân khu 6 nổ súng tấn công vào trung tâm đầu não của đối phương là: Bộ Tổng Tham mưu; Dinh Độc Lập; Đài Phát thanh Sài Gòn; Đại sứ quán Mỹ và Bộ Tư lệnh hải quân Mỹ. Cuộc chiến trên các hướng diễn ra rất ác liệt, ta đã tiêu diệt nhiều lực lượng, phương tiện của địch; Mỹ tăng cường thêm lực lượng, ta gặp nhiều khó khăn do lực lượng còn mỏng so với yêu cầu nhiệm vụ; việc nắm địch và hiệp đồng với các lực lượng còn những hạn chế, nên ta hy sinh tương đối nhiều, đặc biệt, gần 80% các chiến sĩ biệt động Thành hy sinh và bị bắt . Tuy nhiên, với kết quả đợt 1 đạt được, Hội nghị Trung ương Cục lần thứ 6 đánh giá: "Đợt 1 đánh dấu bước ngoặt có ý nghĩa hết sức quan trọng, làm thay đổi nhanh chóng tương quan lực lượng giữa ta và địch..., mở ra cục diện mới trong sự nghiệp chống Mỹ của nhân dân ta, đặt cơ sở vững chắc đưa tổng công kích, tổng khởi nghĩa đi đến thắng lợi hoàn toàn".

Kết thúc đợt 1, chiến trường Đông Nam Bộ gặp nhiều khó khăn, các phân khu (1, 4, 5, 6) bị tổn thất lớn, một số đơn vị cán bộ, chiến sĩ xuất hiện tư tưởng dao động, ngán ngại khó khăn, thiếu tin tưởng vào thắng lợi. Cơ quan chính trị các phân khu tiếp tục đề xuất kiện toàn cán bộ lãnh đạo, chỉ huy và các tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ; tiếp tục quán triệt định hướng chính trị tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ; quán triệt Nghị quyết của Thường vụ Trung ương Cục, ngày 4-2-1968, về "phát huy thắng lợi đã giành được, tiếp tục công kích cao điểm 2"; tiếp tục động viên cán bộ, chiến sĩ, vận động phong trào quần chúng thực hiện tiến công đợt 2 và làm tốt công tác binh vận trong chiến đấu. Đêm 5-5-1968 đợt 2 bắt đầu, các lực lượng tiến công vào các trung tâm đầu não của địch: Dinh Độc Lập, Nha Cảnh sát, Tân Cảng; các đội tự vệ vũ trang của Thành đoàn, tự vệ vũ trang tiến công vào trụ sở hành chính Quận 5; Phân khu 5 thọc sâu vào quận 6, 8 và Nhà máy điện. Quân và dân phối hợp chặt chẽ, chiến đấu anh dũng, tiêu diệt, tiêu hao được nhiều sinh lực, phương tiện chiến tranh của địch; vừa chiến đấu vừa thông báo, thông tin kết quả thắng lợi, từ đó củng cố niềm tin, tinh thần chiến đấu ngày càng cao và hiệu quả tốt. Ngày 18-6-1968, đợt 2 kết thúc, ta đã đạt được mục tiêu và tiếp tục gây chấn động dư luận trong nước cũng như trên thế giới, làm lung lay ý chí của giới cầm quyền Mỹ.

 Tháng 8-1968, Bộ Chính trị chủ trương tiến hành "tổng công kích, tổng khởi nghĩa" đợt 3, mục đích là làm cho địch bị thất bại nặng nề, buộc chúng phải tìm giải pháp chính trị chấm dứt cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Tuy nhiên, sau đợt 2, Mỹ - chính quyền Sài Gòn huy động lực lượng lớn tổ chức phòng ngự mạnh quanh Sài Gòn, đồng thời chúng thực hiện các cuộc hành quân bình định, kiểm soát chặt chẽ vùng ven đô, hành quân càn quét ở vùng trung tuyến, sử dụng phi pháo, B52 đánh phá hủy, diệt các căn cứ của ta ở vùng rừng, núi. Căn cứ vào đặc điểm chiến trường, Quân ủy Miền báo cáo Bộ Chính trị những khó khăn tại mặt trận Sài Gòn - Gia Định và đề nghị cho chuyển hướng trọng điểm tiến công từ nội đô ra trung tuyến, và được chấp nhận. Để giảm bớt những khó khăn và nâng cao hiệu quả hoạt động tác chiến của lực lượng vũ trang các phân khu, tháng 7-1968, Trung ương Cục quyết định thành lập Ban Cán sự đảng T7 và Bộ Tư lệnh T7, trực tiếp chỉ đạo các đơn vị vũ trang ở chiến trường phía đông Sài Gòn gồm các tỉnh Biên hòa, Bà Rịa - Vũng Tàu, Long Khánh, do đồng chí Lương Văn Nho làm Tư lệnh, đồng chí Nguyễn Ngọc Tân làm Chính ủy.

Cùng với việc thành lập Ban Cán sự đảng T7, Trung ương Cục quyết định thành lập Thành ủy Sài Gòn - Gia Định do đồng chí Võ Văn Kiệt làm Bí thư, Thường vụ Thành ủy trực tiếp lãnh đạo Phân khu 6 đảm nhiệm toàn bộ quân khu nội ô Sài Gòn. Công tác cán bộ đòi hỏi cần phải nhanh chóng ổn định để thực hiện đợt 3; sắp xếp, bố trí kiện toàn Phòng Chính trị của Bộ Tư lệnh T7 và Thành ủy Sài Gòn - Gia Định, mỗi phòng được biên chế thành 5 ban (Tuyên huấn, Tổ chức, Cán bộ, Dân vận, Bảo vệ an ninh), quân số khoảng 25 đồng chí.

Bộ Tư lệnh T7 và Thành ủy Sài Gòn - Gia Định chỉ đạo Phòng Chính trị nắm chắc tình hình và làm tốt công tác truyên truyền, thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, hướng dẫn các đơn vị mở đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng cho cán bộ, chiến sĩ, xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu, niềm tin thắng lợi; khắc phục tư tưởng hoài nghi, dao động, cho rằng địch mạnh, nhưng chưa thấy hết khả năng to lớn của cách mạng; khắc phục những hạn chế của cấp ủy đảng trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ; phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị để quyết tâm giành thắng lợi lớn. Phát động phong trào thi đua diệt Mỹ và phong trào xây dựng "chi bộ ba tốt" và làm tốt công tác động viên khen thưởng trong quá trình chiến đấu với các danh hiệu "Dũng sĩ diệt Mỹ", "Dũng sĩ diệt xe cơ giới Mỹ". Tích cực làm tốt công tác dân vận, đã huy động được hơn 6.000 dân công đào đường, phá giao thông trên tỉnh lộ 2 và quốc lộ 15, đồng thời vận động các tầng lớp quần chúng tham gia vào tổng khởi nghĩa trên khắp các địa bàn.

Các lực lượng miền Đông Nam Bộ phối hợp chặt chẽ với các đơn vị chủ lực Miền thực hiện tác chiến, tiến công trên địa bàn Tây Ninh, Bình Long, Dầu Tiếng; Sư đoàn 5 phối hợp với Sư đoàn 9 tiêu diệt nhiều tiểu đoàn địch và phá hủy hàng trăm xe quân sự, làm phá sản kế hoạch "quét giữ" và "bình định" của Mỹ. Dù vậy, thắng lợi của ta cũng chưa đủ làm thay đổi tình hình trên chiến trường B2 nói chung và ở Đông Nam Bộ nói riêng. Giai đoạn này, lực lượng cách mạng của ta hết sức khó khăn; Mỹ, ngụy tăng cường điều động và chi viện lực lượng, đẩy mạnh kế hoạch cấp tốc "bình định" để chiếm lại các vị trí đã mất. Trước tình hình đó, Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh Miền cùng các đơn vị chủ lực phải di chuyển về căn cứ bên kia biên giới Campuchia; các đơn vị của Bộ Tư lệnh T7, Phân khu 2 và Sài Gòn - Gia Định phải trụ lại chiến đấu rất ác liệt, vô cùng khó khăn và gian khổ. Các lực lượng được tiếp tục quán triệt nhiệm vụ quan trọng là: "Làm cho các cấp nhận rõ hơn nữa tính chất mới của giai đoạn tổng công kích, tổng khởi nghĩa là liên tục tiến công, liên tục nổi dậy, kết hợp cao điểm với thường xuyên, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn". Riêng các khu và phân khu cần nắm vững thời cơ, kiên quyết tiến công giành thắng lợi to lớn cho Đông Xuân, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn. Sau khi được quán triệt sâu sắc chỉ thị của Trung ương Cục và Quân ủy Miền, hoạt động giai đoạn 2 của đợt 3 thực hiện với khí thế sôi nổi; bộ đội chủ lực tiếp tục thực hiện được những trận đánh xuất sắc; lực lượng vũ trang Sài Gòn - Gia Định và các phân khu vừa tiến công vừa đánh phản kích giữ các địa bàn, tạo được những cao điểm của tiến công, hạn chế được một phần lấn chiếm của địch. Đợt 3 đã giành được những thắng lợi to lớn nhất từ trước tới nay; đã thực hiện được nhiều trận đánh, tiêu diệt được nhiều sinh lực, phương tiện chiến tranh của địch. Góp phần củng cố, phát triển thế chủ động tiến công và bao vây địch, cho thấy chủ trương chuyển hướng tiến công chủ yếu ra vòng ngoài đô thị là hoàn toàn đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tế của chiến trường.

Hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 đã để lại kết quả và kinh nghiệm cho lực lượng vũ trang miền Đông như sau:

Ưu điểm: Cấp ủy, chỉ huy các lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ luôn nắm chắc quan điểm, phương châm lãnh đạo của Trung ương Đảng, của Quân ủy Trung ương và Bộ Chỉ huy Miền; kịp thời đề xuất chủ trương, giải pháp thực hiện nhiệm vụ đúng, sát thực tế. Triển khai thống nhất từ trên xuống một cách toàn diện có trọng tâm, trọng điểm. Phương pháp, hình thức, nội dung tiến hành công tác đảng, công tác chính trị thực hiện linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với nhiệm vụ và sát tình hình thực tế. Cấp ủy, lãnh đạo chỉ huy các cấp luôn theo sát, nắm vững tư tưởng trong từng giai đoạn; triển khai tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ, nhất là trong từng giai đoạn khó khăn. Kịp thời giải quyết tư tưởng, củng cố kiện toàn tổ chức, xốc lại lực lượng trên từng hướng, mũi, đơn vị bị tổn thất; giữ vững niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, sự thắng lợi của cách mạng; chống tư tưởng dao động, hoài nghi trong cán bộ, chiến sĩ, xây dựng ý chí quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ. Kịp thời kiện toàn cấp ủy, tổ chức biên chế, sắp xếp cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các cấp trong khi chiến trường có nhiều thay đổi. Coi trọng công tác chính sách trong chiến đấu, công tác vận động nhân dân địa bàn chiến đấu; kết hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự với công tác binh vận, địch vận, làm tan rã lực lượng địch, tạo sự tin tưởng của các tầng lớp nhân dân hướng về cách mạng, giải quyết hậu quả chiến đấu.

Sau tổng tiến công đã lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời rút kinh nghiệm, chống chủ quan, đơn giản, củng cố ý chí quyết tâm; chấn chỉnh củng cố tổ chức, bình xét khen thưởng, điều chuyển thương binh, quản lý chặt chẽ bộ đội, chống hữu khuynh tiêu cực, bạc nhược, dao động khi địch phản công.

Nhược điểm: Việc nhận định, đánh giá tình hình, lường trước sự việc còn hạn chế, mơ hồ. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng chưa thường xuyên; việc phổ biến chủ trương, quyết tâm chiến lược của Đảng chưa kỹ, nhận thức giữa lý thuyết và thực tế còn khoảng cách xa, biểu hiện đó là "khi học Nghị quyết của Trung ương thấy địch mỏng như lá lúa, về chiến trường thấy địch dày hơn da trâu", từ đó xác định mục tiêu không rõ ràng, không biết còn tổng công kích, tổng khởi nghĩa nữa hay không? Đó là vấn đề ở một số cán bộ, đảng viên, làm giảm động lực và niềm tin vào sự thắng lợi. Chưa kịp thời động viên trong quá trình chiến đấu, do một phần lực lượng cán bộ chính trị còn thiếu, mỏng. Chỉ đạo kết hợp đấu tranh trên các mặt quân sự - ngoại giao, binh vận còn hạn chế. Công tác vận động quần chúng chưa cao nên lực lượng quần chúng ở các vùng trọng điểm đô thị tham gia còn ít so với dự định, chưa đạt như mong muốn chiến lược của Đảng là tổng công kích và tổng khởi nghĩa.

Từ thực tiễn công tác đảng, công tác chính trị của lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ trong Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:

Một là, phải thường xuyên nắm vững quan điểm chiến lược của Đảng, tình hình chiến trường; đặt niềm tin vào chính nghĩa của cách mạng, đề ra chủ trương, giải pháp lãnh đạo toàn điện, thống nhất và quyết tâm giành thắng lợi trong thực hiện nhiệm vụ. Phối hợp chặt chẽ, phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức trong đấu tranh cách mạng, đặc biệt sức mạnh quần chúng của các tầng lớp nhân dân trong việc kết hợp thực hiện chiến lược "tổng công kích và tổng khởi nghĩa".

Hai là, thường xuyên coi trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ một cách đầy đủ; giáo dục phải gắn với thực tiễn, tạo niềm tin và ý chí, quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao.

Ba là, phát huy vai trò của cấp ủy, chỉ huy, nâng cao trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong xây dựng tổ chức đảng; công tác đảng phải tiến hành thường xuyên, nhạy bén, sáng tạo; phát động các nội dung, phong trào thi đua tạo khí thế trong thực hiện nhiệm vụ.
Bốn là, thường xuyên nghiên cứu tình hình chiến trường, mạnh dạn đề xuất những nội dung, giải pháp sát, đúng, kịp thời trong thực hành tác chiến và chuyển mục tiêu chiến lược; khẩn trương kiện toàn cấp ủy, cán bộ lãnh đạo, chỉ huy trong các nhiệm vụ; chỉ huy chiến đấu kiên quyết, tiến công liên tục để giành ưu thế.





-----------------------------------------------------------------
1. Anh hùng gồm: Nguyễn Văn Lên, Tô Văn Dực, Nguyễn Văn Tăng, Nguyễn Văn Lịch, Phạm Văn Cội, Nguyễn Thị Hạnh. Dũng sĩ diệt Mỹ gồm: Ông Ngang, Nguyễn Thị Tiệp; tập thể, đơn vị địa phương được tuyên dương "Củ Chi đất thép thành đồng", "Long An trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc". Xem Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị lực lượng vũ trang Quân khu 7 (1945-2000).

2. Địa bàn Phân khu 1 gồm: Củ Chi, Hóc Môn, Gò Vấp, Tân Bình, Phú Nhuận, Trảng Bàng. Phân khu 2: Quận 5, 6, 10, 11, Bình Chánh, các huyện phía tây bắc của Long An. Phân khu 3: các quận 2, 4, 8, Nhà Bè, Cần Đước, Cần Giuộc. Phân khu 4: Thủ Đức, Long Thành, Nhơn Trạch, Thạnh Mỹ Tây, Q 1, Q 9. Phân khu 5: Lái Thiêu, Dĩ An, một phần Bắc Thủ Đức, Phú Nhuận, Bình Hòa. Phân khu 6 là địa bàn nội ô Sài Gòn. Xem Lịch sử Đảng bộ Quân khu 7 (1945-2005), tr.282.


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Năm, 2020, 03:25:03 pm
PHÁT HUY KHÍ THẾ "THÁC ĐỔ, TRIỀU DÂNG"
TRONG TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968
TRONG GIAI ĐOẠN CÁCH MẠNG HIỆN NAY



Đại tá, TS. NGUYỄN NHƯ TRÚC
Trưởng phòng Tuyên truyền - Cổ động, Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị


Chiến thắng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đi vào lịch sử như một biểu tượng của trí tuệ và khí phách dân tộc Việt Nam, là mốc son đánh dấu bước ngoặt lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc, khắc ghi sự phát triển cao về nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Đảng, Bác Hồ. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 như một cơn "sóng thần" ập vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ. Cả Mỹ và quân đội Sài Gòn đều bất ngờ, không lường định được sức mạnh, thời gian, không gian, cường độ, lực lượng, khả năng phối hợp và địa điểm, mục tiêu... của cuộc tổng tiến công. Về mặt chiến lược, đế quốc Mỹ đã thua cuộc từ mùa Xuân năm 1968; sau một tháng, tướng Oétmolen, Tổng chỉ huy quân Mỹ ở miền Nam, bị cách chức, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mắc Namara từ chức. Ngày 31-3-1968, Tổng thống Mỹ Giônxơn phải tuyên bố ba điểm: Đơn phương ngừng đánh phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra; chấp nhận đàm phán với ta tại Hội nghị Pari; không ra tranh cử Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ thứ hai... Đây là sự thừa nhận đầu tiên nhưng đầy đủ nhất về sự phá sản của chiến lược "chiến tranh cục bộ" của Mỹ - chiến lược chiến tranh quan trọng nhất được Mỹ công phu chuẩn bị và đánh giá cao trong chiến lược toàn cầu "phản ứng linh hoạt" vào thập niên 60 của thế kỷ XX. Đến tháng 5-1968, Mỹ phải bắt đầu khởi động quá trình đàm phán với ta về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam.

Trong những đoàn quân hùng mạnh tiến lên phía trước, khí thế mỗi chiến sĩ ta đều mang trong mình tình yêu quê hương, đất nước, niềm tin, hy vọng và ý chí quyết thắng để cho đất nước hoàn toàn giải phóng, giang sơn thu về một mối, đồng bào Nam, Bắc được sum họp một nhà. Khí thế đó được biểu hiện bằng tinh thần quyết chiến, quyết thắng, không chịu khuất phục trước kẻ thù xâm lược, quyết tâm hoàn thành xuất sắc bất cứ nhiệm vụ nào; bằng việc quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 14 khóa III (tháng 1-1968): "Trong quá trình tổng công kích và tổng khởi nghĩa, chúng ta phải quán triệt nguyên tắc: Tập trung lực lượng quân sự và chính trị đến mức cao nhất, chiến lược chính; kiên quyết tiến công, liên tục tiến công nhằm vào những nơi xung yếu của địch mà đánh những đòn quyết định; phải tuyệt đối giữ cho được yếu tố bất ngờ; phải biết giành thắng lợi từng giờ, từng phút và không ngừng mở rộng thắng lợi; kiên quyết chống trả và bẻ gẫy các cuộc phản công của địch và truy kích địch đến cùng để giành thắng lợi cao nhất" . Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, quân và dân ta đã đánh vào 4 trong 6 thành phố lớn, 37 trong số 44 thị xã và hàng trăm thị trấn, quận lỵ, 4 bộ tư lệnh quân đoàn, 8 trong 11 bộ tư lệnh sư đoàn quân đội Sài Gòn, 2 bộ tư lệnh biệt khu, 2 bộ tư lệnh dã chiến Mỹ cùng nhiều bộ tư lệnh lữ đoàn, trung đoàn, chi khu và hàng trăm căn cứ quân sự địch bị tiến công đồng loạt... Thắng lợi trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 đã minh chứng cho tinh thần bất diệt, cho khí thế hào hùng của cả dân tộc Việt Nam và thắng lợi đó đã tạo nên một hơi thở mới, một làn gió mới trong mỗi người dân, người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Có được khí thế "thác đổ, triều dâng" đó là do chúng ta đã biết tận dụng thế chiến lược, nắm chắc thời cơ và có phương pháp tiến hành công tác tư tưởng sinh động, đúng lúc, kịp thời, ngắn gọn, hiệu quả; kết hợp chặt chẽ giữa động viên và hướng dẫn hành động cụ thể, giữa vấn đề tư tưởng với vấn đề tổ chức; biết nắm đúng và tập trung đúng vào đối tượng. Nhờ vậy, chúng ta đã có ý chí quyết tâm chiến đấu cao, có năng lực hành động giỏi, thần tốc, táo bạo, bất ngờ, có cách đánh đột kích mạnh, tiến công nhanh, giành thế áp đảo; sự chỉ huy linh hoạt, sáng tạo, tạo nên một sức mạnh phi thường nhanh chóng đè bẹp sự kháng cự của địch, lập nên chiến công kỳ diệu, góp phần giành toàn thắng của cuộc kháng chiến.

Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta; thắng lợi đó là sự hội tụ của nhiều nhân tố, nhưng trước hết đó là sự lãnh đạo, chỉ đạo chiến lược tài giỏi của Đảng, biết kết hợp chủ nghĩa anh hùng cách mạng với trí tuệ của con người Việt Nam. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, khí thế "thác đổ, triều dâng" được thể hiện đầy đủ nhất và sinh động nhất. Đây là một cuộc động binh và huy động quần chúng có quy mô lớn nhất từ trước tới thời điểm đó với phương thức tiến công đồng loạt cả quân sự, chính trị, binh vận, thực hiện ba mũi giáp công trên cả "ba vùng chiến lược" để tạo nên hiệu lực tổng hợp như một "đòn sét đánh". Với cuộc động binh đó, ta đã chuyển hướng từ lối tác chiến thông thường sang lối đánh mới, linh hoạt, sáng tạo trong lựa chọn hướng, mục tiêu chiến lược. Nhờ có sáng tạo và linh hoạt, ta đã đưa được hàng trăm tấn vũ khí, đạn dược vào ngay trong sào huyệt địch, trong lúc địch có cả một mạng lưới an ninh và tình báo rộng khắp.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là một đòn quyết định đánh thẳng vào ý chí xâm lược của giới cầm quyền Mỹ, mở ra bước ngoặt quyết định cho cuộc kháng chiến. Bước ngoặt lịch sử đó không chỉ là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam, mà còn để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu.

Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đang có những thuận lợi, nhưng cũng không ít những thách thức. Để phát huy những bài học từ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, cần tập trung vào một số nội dung chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, phát huy tinh thần yêu nước nồng nàn, chí căm thù giặc sâu sắc; sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội.

Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là thắng lợi của một quá trình đánh giá đúng tình hình, có tầm nhìn chiến lược, kiên định mục tiêu cơ bản và lâu dài của dân tộc, của cách mạng; phân tích đúng tình hình, tạo ra thời cơ và nắm bắt thời cơ để đề ra được những chủ trương, chỉ đạo chiến lược sáng tạo và sắc bén. Vận dụng bài học đó vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chúng ta phải nắm chắc quy luật và truyền thống "dựng nước đi đôi với giữ nước" của dân tộc, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hết sức sáng tạo trong chỉ đạo thực tiễn, thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Dĩ bất biến ứng vạn biến". Phải xác định rõ: Mục tiêu giữ vững độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Coi sức mạnh bên trong là nhân tố quyết định; lấy ổn định chính trị, củng cố an ninh, quốc phòng vững mạnh làm điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội; kết hợp chặt chẽ các nhiệm vụ kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Xây dựng chí căm thù giặc sâu sắc; sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội, khơi dậy tinh thần yêu nước, lòng quả cảm, ý chí quyết chiến, quyết thắng, trí thông minh, sáng tạo, truyền thống chống ngoại xâm trong suốt chiều dài lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc.

Thứ hai, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và yếu tố chính trị - tinh thần.

Chú trọng giáo dục tinh thần yêu nước gắn với yêu chủ nghĩa xã hội, truyền thống đánh giặc ngoại xâm, ý thức tự lực, tự cường; chăm lo xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân; củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, nâng cao đời sống vật chất - tinh thần của nhân dân, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, xây dựng "thế trận lòng dân", tăng cường sức mạnh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trên cơ sở phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh; xây dựng lòng tin và nâng cao trách nhiệm của nhân dân đối với sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, sự đồng thuận xã hội phát huy sức mạnh tổng hợp và đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hành động làm ly tán lòng dân, phá hoại thế trận lòng dân, tạo nền tảng vững chắc để xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc.

Xây dựng, phát huy tốt yếu tố chính trị - tinh thần của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là nhân tố làm chuyển hóa so sánh lực lượng để "lấy ít địch nhiều", "lấy nhỏ thắng lớn". Đó là nét độc đáo của nền nghệ thuật quân sự Việt Nam và cần nhân lên trong điều kiện mới. Phát huy yếu tố chính trị - tinh thần trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, khơi dậy tinh thần yêu nước, quả cảm, ý chí quyết tâm chiến đấu, trí thông minh, sáng tạo, truyền thống chống ngoại xâm trong suốt chiều dài lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc.

Thứ ba, xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững chắc, làm nền tảng của thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.

Thực tiễn sự kiện lịch sử Xuân Mậu Thân 1968 cho thấy vai trò quan trọng của lực lượng tại chỗ, của thế trận chiến tranh nhân dân. Vì vậy, để phát huy bài học đó, ngay từ thời bình phải chăm lo xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố thành thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc, bảo đảm tính toàn diện, nhưng có trọng tâm, trọng điểm, trong đó tập trung xây dựng vững mạnh về chính trị, phát triển vững chắc về kinh tế, ổn định về xã hội. Trên cơ sở tạo thế bố trí chiến lược chung của cả nước, chú trọng vào các khu vực phòng thủ then chốt, các địa bàn chiến lược, vùng biên giới, biển, đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng và quốc phòng với kinh tế ngay trong từng dự án cũng như trong quy hoạch của từng địa phương và tổng thể cả nước. Chăm lo, bảo đảm tốt đời sống của nhân dân, thực hiện dân chủ, nhất là dân chủ ở cơ sở, góp phần xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc. Đồng thời, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng, hiệu lực quản lý, điều hành của chính quyền các cấp. Đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí nhằm củng cố vững chắc niềm tin của quần chúng nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Thứ tư, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân chính quy, hiện đại, vững mạnh làm nòng cốt của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.

Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, trước hết là Quân đội nhân dân và Công an nhân dân chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, xứng đáng là lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, làm nòng cốt trong sự nghiệp củng cố quốc phòng - an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, phát huy sức mạnh tổng hợp của quần chúng nhân dân, các lực lượng và cả hệ thống chính trị, trong đó lực lượng vũ trang ba thứ quân đóng vai trò chủ đạo. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X xác định: Nâng cao chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu để lực lượng vũ trang thật sự là lực lượng chính trị trong sạch, vững mạnh, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, được nhân dân tin cậy, yêu mến. Theo đó, chúng ta phải thường xuyên xây dựng quân đội vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, có số lượng và cơ cấu hợp lý, có chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu ngày càng cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội và các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), nhằm bảo đảm giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội. Tiếp tục triển khai có hiệu quả Đề án "Đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong tình hình mới", gắn với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII), Chỉ thị số 87-CT/QUTW của Thường vụ Quân ủy Trung ương về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và thực hiện tốt phong trào Thi đua quyết thắng cùng các cuộc vận động, nhất là cuộc vận động "Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ".

Sau 50 năm nhìn lại, khí thế "thác đổ, triều dâng" trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là vô cùng sâu sắc và có ý nghĩa chiến lược. Đó không chỉ là bài học lịch sử, mà còn là động lực to lớn cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Kỷ niệm 50 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 này là dịp để chúng ta ôn lại truyền thống, nhận thức sâu sắc hơn về giá trị lịch sử và hiện thực của nó trong bối cảnh cách mạng mới. Trên cơ sở đó, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân tiếp tục phát huy khí thế "thác đổ, triều dâng" cùng những bài học kinh nghiệm, quyết tâm phấn đấu thực hiện tốt Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ X trong thời kỳ hội nhập, phát triển.


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Năm, 2020, 03:30:40 pm
PHỐI HỢP TÁC CHIẾN GIỮA CÁC LỰC LƯỢNG
TRONG TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968



Đại tá, TS. DƯƠNG ĐÌNH LẬP
Nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử Tổ chức quân sự,
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Cách đây 50 năm, Đảng ta đã huy động nhiều lực lượng tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, đồng loạt tại hầu khắp các thành phố, thị xã, thị trấn, quận lỵ, do Mỹ và chính quyền Sài Gòn kiểm soát, chiếm đóng ở miền Nam, giành thắng lợi to lớn, tạo ra bước ngoặt chiến lược, có ý nghĩa quyết định đối với kết cục cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Bài viết này chỉ đề cập sự phối hợp tác chiến giữa các lực lượng, chủ yếu là lực lượng chủ lực (bộ binh, pháo binh), lực lượng tinh nhuệ (đặc công, biệt động) và lực lượng vũ trang địa phương trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

1. Chuẩn bị lực lượng mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968

Trước thời cơ cách mạng xuất hiện, tháng 6-1967, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp thông qua quyết tâm chiến lược, trong đó xác định giành thắng lợi quyết định, dự kiến trong năm 1968 và khẳng định, ta phải đánh cho Mỹ buộc phải thua về quân sự, tạo chuyển biến nhảy vọt cho cục diện chiến tranh cách mạng ở miền Nam thay đổi hẳn có lợi cho ta.

Trong điều kiện ở miền Nam địch có hơn một triệu quân (gồm 542.000 quân Mỹ, 57.800 quân các nước đồng minh của Mỹ và 650.000 quân Sài Gòn), Trung ương Đảng chủ trương: Nhanh chóng phát triển lực lượng vũ trang của ta lớn mạnh vượt bậc, làm thay đổi hẳn lực lượng so sánh giữa ta và địch. Đồng thời chỉ rõ: "Nhiệm vụ chủ yếu của miền Bắc trong thời gian trước mắt là phải bảo đảm... chi viện cho miền Nam, phục vụ tốt nhất cho cuộc tổng công kích và tổng khởi nghĩa giành được thắng lợi" .

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 14, trên cả hai miền Nam - Bắc đều khẩn trương làm công tác chuẩn bị mọi mặt. Ngay sau khi Bộ Chính trị thông qua quyết tâm chiến lược giành thắng lợi quyết định (dự kiến trong năm 1968), từ giữa năm 1967, Quân ủy Trung ương đã trực tiếp chỉ đạo, đôn đốc chuẩn bị lực lượng, đặc biệt là huấn luyện, nâng cao trình độ của lực lượng chủ lực đánh tiêu diệt lớn quân địch. Khối lực lượng chủ lực của Bộ (các sư đoàn 308, 304, 320, 312) được kiện toàn về tổ chức biên chế, bổ sung vũ khí trang bị. Sau lớp tập huấn của Bộ (7-1967) về phối hợp tác chiến hiệp đồng binh chủng, các đơn vị chủ lực mở đợt sinh hoạt chính trị và tập huấn quân sự cho cán bộ các cấp. Tiếp đó, các sư đoàn chủ lực và một số đơn vị binh chủng đẩy mạnh huấn luyện về phối hợp tác chiến giữa các lực lượng, nâng cao trình độ chiến đấu trong thành phố, thị xã, sẵn sàng cơ động vào chiến trường miền Nam khi có lệnh.

Thực hiện nhiệm vụ chi viện lực lượng cho miền Nam đánh Mỹ, đến cuối năm 1967, hơn 94.000 cán bộ, chiến sĩ ở miền Bắc biên chế thành từng trung đoàn, sư đoàn bộ binh và binh chủng kỹ thuật hành quân vào các chiến trường Trị - Thiên, Khu 5, Tây Nguyên và Nam Bộ, nâng tổng số lực lượng vũ trang ta ở miền Nam tăng lên 220.000 quân chủ lực và 57.000 quân địa phương, không kể lực lượng dân quân, du kích, tự vệ .

Ở miền Nam, thực hiện kế hoạch chuẩn bị lực lượng cho Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 đã được Bộ Chính trị thông qua, từ tháng 10-1967, các chiến trường chú trọng củng cố, phát triển lực lượng vũ trang tại chỗ, thành lập thêm các đơn vị: Trung đoàn Quyết Thắng (Đông Nam Bộ), Trung đoàn 401 đặc công (Khu 5), Trung đoàn 1, Trung đoàn 2 và 2 tiểu đoàn (Quân khu 8), Tiểu đoàn 307 và một lữ đoàn (Quân khu 9).

Khối lực lượng chủ lực Miền có 3 sư đoàn bộ binh (9, 5, 7), Đoàn pháo binh 69 (tương đương sư đoàn) được tăng cường Trung đoàn 88 bộ binh (Mặt trận Tây Nguyên), Trung đoàn 568 và 6 tiểu đoàn bộ binh cùng một số đơn vị binh chủng hành quân từ miền Bắc vào, được gấp rút củng cố, huấn luyện nâng cao trình độ chiến đấu sát với thực tế chiến trường.

Căn cứ vào nhiệm vụ trên giao, các chiến trường khẩn trương điều động, bố trí lực lượng áp sát các mục tiêu, sẵn sàng chiến đấu. Ở miền Đông Nam Bộ, Sài Gòn - Gia Định là trọng điểm tổng tiến công, Trung ương Cục quyết định giải thể Quân khu miền Đông và Quân khu Sài Gòn - Gia Định, thành lập "Khu trọng điểm" gồm Sài Gòn và một số huyện thuộc các tỉnh lân cận. Khu trọng điểm gồm 6 phân khu, trong đó lực lượng Phân khu 6 (các quận nội thành) có 11 đội biệt động , hoạt động trên 3 hướng (đông, nam, bắc), có nhiệm vụ đánh chiếm các mục tiêu đầu não của địch như: Dinh Độc Lập, Đài Phát thanh Sài Gòn, Đại sứ quán Mỹ, Bộ Tư lệnh hải quân, Bộ Tổng Tham mưu quân đội Sài Gòn, Biệt khu Thủ đô... Lực lượng của 5 phân khu (1, 2, 3, 4, 5) có 3 trung đoàn, 13 tiểu đoàn bộ binh, 4 tiểu đoàn đặc công, hình thành 5 hướng (bắc và tây bắc, tây và tây nam, nam, đông, đông bắc) có nhiệm vụ tiếp ứng các đơn vị đặc công, biệt động chiếm lĩnh các mục tiêu trong nội đô Sài Gòn.

Lực lượng ở vùng ven và vành đai Sài Gòn có 3 sư đoàn bộ binh (9, 5, 7), Đoàn 69 pháo binh (thiếu) chủ lực Miền được tăng cường Trung đoàn 88 bộ binh (Mặt trận Tây Nguyên) và một số lực lượng thuộc các đơn vị binh chủng kỹ thuật có nhiệm vụ tiến công các căn cứ của địch ở vòng ngoài, kìm giữ và ngăn chặn không cho chúng cơ động vào ứng cứu Sài Gòn.

Tại chiến trường Trị - Thiên, lực lượng chủ lực Quân khu Trị - Thiên có Trung đoàn 6 bộ binh được tăng cường 3 trung đoàn: Trung đoàn 9 (Sư đoàn 304), Trung đoàn 2 (Sư đoàn 324), Trung đoàn 8 (Sư đoàn 325 C) và 4 tiểu đoàn bộ binh, 4 tiểu đoàn đặc công, 15 đội biệt động thành và một số đơn vị binh chủng. Khu ủy và Quân khu ủy Trị - Thiên xác định: Thành phố Huế là trọng điểm của Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Lực lượng tiến công vào thành phố Huế gồm có 3 trung đoàn (6, 8, 9), 2 tiểu đoàn (802, 810) bộ binh, 2 tiểu đoàn đặc công, chia làm 2 cánh: Cánh Bắc (hướng chính) và cánh Nam (hướng phối hợp) đánh vào nội thành và đánh địch phản kích từ ngoài vào thành phố. Lực lượng vũ trang ở các địa phương có 5 đoàn (4, 5, 6, 7 và 31), đảm nhiệm từng hướng tiến công trên địa bàn quân khu.

Trên địa bàn Quân khu 5, Bộ Tư lệnh Quân khu chia chiến trường thành 4 hướng tiến công (Quảng Nam - Đà Nẵng, Bình Định, Phú Yên - Khánh Hòa, Tây Nguyên), trong đó Quảng Nam - Đà Nẵng là hướng chủ yếu, thành phố Đà Nẵng là trọng điểm. Lực lượng trực thuộc Mặt trận 4 (Đà Nẵng) có Trung đoàn 31 (thiếu) và 3 tiểu đoàn bộ binh, Trung đoàn 575 pháo hỏa tiễn ĐKB, chia thành các tiểu đoàn mũi nhọn (bộ binh, đặc công), cùng biệt động thành phố và tự vệ mật đánh chiếm các mục tiêu then chốt ở nội thành. Ở vòng ngoài, lực lượng chủ lực Quân khu 5 (Sư đoàn 2 bộ binh) đánh chiếm quận lỵ Duy Xuyên, khu trung tuyến Gò Nổi, đường 104, dãy Dương Thông, chia cắt giữa Đà Nẵng và Chu Lai. Lực lượng vũ trang trên hướng Bình Định có Sư đoàn 3 bộ binh, Tiểu đoàn 407 đặc công (Quân khu 5); hướng Phú Yên - Khánh Hòa có 2 trung đoàn (10, 20) bộ binh; hướng Tây Nguyên có Sư đoàn 1, 3 trung đoàn (24, 33, 95) bộ binh và lực lượng vũ trang địa phương tiến công quân sự, kết hợp nổi dậy của quần chúng để giành chính quyền.

Đồng bằng sông Cửu Long tuy không phải là trọng điểm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, Trung ương Cục vẫn chỉ đạo các quân khu 8, 9 bố trí lại lực lượng vũ trang phù hợp từng địa phương. Lực lượng Quân khu 8 có 5 tiểu đoàn bộ binh, 3 đại đội đặc công, 4 đại đội công binh và một số đại đội binh chủng cùng lực lượng vũ trang địa phương tiến công trọng điểm 1 - thành phố Mỹ Tho và trọng điểm 2 - thị xã Bến Tre. Lực lượng vũ trang Quân khu 9 có 4 tiểu đoàn (303, 307, 309, Tây Đô), một số đội đặc công đảm nhiệm tiến công trọng điểm 1 - thành phố Cần Thơ và 3 tiểu đoàn (306, 308, 857), bộ đội địa phương huyện Châu Thành tiến công trọng điểm 2 - thị xã Vĩnh Long.

Trong khi đó, lực lượng vũ trang Quân khu 6 có 2 tiểu đoàn 840 và 842 bộ binh, một số đơn vị đặc công và lực lượng vũ trang thị xã có nhiệm vụ tiến công thị xã Phan Thiết; đồng thời 2 tiểu đoàn 145 và 186 bộ binh phối hợp với lực lượng đặc công, biệt động thị xã và tỉnh Tuyên Đức tiến công thành phố Đà Lạt.

Như vậy, đến đầu năm 1968, trên tất cả các chiến trường ở miền Nam, mọi công tác chuẩn bị của quân và dân ta, trong đó việc chuẩn bị các lực lượng tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 về cơ bản đã hoàn thành, bảo đảm bí mật. Các lực lượng vũ trang miền Nam sẵn sàng chờ giờ G để phối hợp tiến công đồng loạt, bất ngờ vào các thành phố, thị xã, thị trấn, quận lỵ, nhất là các trung tâm đầu não chính trị, quân sự của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, hỗ trợ quần chúng nhân dân nổi dậy, quyết tâm giành thắng lợi cao nhất.

2. Phối hợp tác chiến giữa các lực lượng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 
 
Trong lúc quân Mỹ và quân Sài Gòn phải tập trung sức lực đối phó với chủ lực Quân giải phóng miền Nam tại Khe Sanh, từ đêm 29 rạng ngày 30-1-1968 (đêm giao thừa Tết Mậu Thân 1968 - theo lịch miền Nam), các lực lượng vũ trang ta ở miền Nam bất ngờ, đồng loạt tiến công, kết hợp với nổi dậy của quần chúng ở 4 thành phố, 37 thị xã và hàng trăm thị trấn, quận lỵ, trọng điểm là các thành phố lớn Sài Gòn, Huế và Đà Nẵng.

Theo kế hoạch, Sài Gòn là trọng điểm lớn nhất của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, bởi đây là trung tâm đầu não chính trị, quân sự, chỉ đạo toàn bộ bộ máy chiến tranh của Mỹ và chính quyền Sài Gòn tại miền Nam. Ở nội thành, lực lượng biệt động đồng loạt, bất ngờ tiến công vào Dinh Độc Lập, Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Tư lệnh hải quân, sân bay Tân Sơn Nhất, Đài Phát thanh, Đại sứ quán Mỹ. Phối hợp với lực lượng biệt động, lực lượng vũ trang, bán vũ trang của các ngành, các giới đánh địch tại chỗ và phát động quần chúng nổi dậy, giành quyền làm chủ ở một số khu vực nội thành; đồng thời, lực lượng vũ trang của các phân khu 1, 2, 3, 4 và 5 ở các vùng ven đô và lân cận tiến công đánh chiếm một số mục tiêu địch.

Ở vòng ngoài, lực lượng chủ lực Miền (các sư đoàn 5, 9, 7) phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương đánh vào các Sở chỉ huy, kho tàng, căn cứ xuất phát tiến công của địch như: Bộ Chỉ huy dã chiến 2 Mỹ, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 quân đội Sài Gòn, Sở chỉ huy Sư đoàn 25 quân đội Sài Gòn, sân bay Biên Hòa, kho Long Bình... ngăn chặn và kìm chế không cho địch đưa lực lượng từ ngoài vào ứng cứu nội thành. Sự phối hợp tác chiến chặt chẽ giữa lực lượng bộ đội đặc công, biệt động tiến công vào 6/9 mục tiêu quan trọng của địch trong nội thành, cùng với những đòn tiến công mạnh mẽ của lực lượng chủ lực Miền và lực lượng vũ trang địa phương đánh táo bạo, hiểm hóc vào các Sở chỉ huy, căn cứ địch ở vùng ven Sài Gòn đã làm rối loạn hậu phương của chúng, gây tiếng vang lớn trong nước, làm chấn động cả nước Mỹ và lan rộng ra thế giới.

Cùng thời gian này, tại các thành phố lớn Huế, Đà Nẵng cũng như nhiều thành phố, thị xã, thị trấn, quận lỵ khác trên toàn miền Nam, do công tác chuẩn bị và trình độ phối hợp tác chiến giữa các lực lượng, chủ yếu là lực lượng chủ lực (bộ binh, pháo binh), lực lượng tinh nhuệ (đặc công, biệt động) và lực lượng vũ trang địa phương, do so sánh lực lượng địch mạnh hơn ta, cũng như phản ứng quyết liệt của Mỹ và quân đội Sài Gòn, nên diễn biến và hiệu quả phối hợp tác chiến giữa các lực lượng của ta ở từng nơi cũng có mức độ khác nhau.

Tại thành phố Huế, trọng điểm thứ hai của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, theo kế hoạch, 2 giờ 33 phút ngày 31-1-1968, sau khi lực lượng pháo binh bắn đồng loạt vào các vị trí địch, lực lượng vũ trang ta trên hai cánh Bắc và Nam đồng loạt đánh vào 40 mục tiêu địch trong và ngoại thành Huế. Ở cánh Bắc, lực lượng chủ lực (Đại đội 1 và 2 thuộc Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 9 bộ binh) phối hợp với bộ đội đặc công, tiến đánh đồn Mang Cá, sân bay Tây Lộc. Trong khi đó, một bộ phận lực lượng chủ lực khác (đại đội 3 và 4) tiến công đánh chiếm khu Cột Cờ và toàn bộ khu Đại Nội. Lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam được kéo lên trên cột cờ, báo hiệu ta đã làm chủ trung tâm thành phố Huế. Phối hợp với đòn tiến công đánh chiếm nội thành, lực lượng chủ lực (các tiểu đoàn 806, 816 thuộc Trung đoàn 9 bộ binh) phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tiến công các vị trí địch ở vòng ngoài (An Hòa, Đốc Sơ, La Chữ, Quế Chữ, Bồn Trì, Bồn Phổ), gây cho địch một số thiệt hại.

Ở cánh Nam, do đường hành quân xa, lại bị địch phục kích ngăn chặn, nên lực lượng chủ lực ta (gồm tiểu đoàn 815 và 818 thuộc Trung đoàn 9 bộ binh, tiểu đoàn 840 và 810 bộ binh thuộc Đoàn 5), tiến công vào nội thành chậm so với kế hoạch đề ra. Bộ phận lực lượng chủ lực này đã phối hợp với bộ đội đặc công tiến công đánh chiếm Đài Phát thanh, Trường Quốc học Huế, Trường Đồng Khánh, Tòa tỉnh trưởng... Ở vòng ngoài, một bộ phận lực lượng của Trung đoàn 9 bộ binh còn lại phối hợp với đặc công tiến công địch ở Tam Thai, Nam Giao, khu nhà thờ Phước Quả, các trại Lê Lợi, Quang Trung, gây cho địch thiệt hại nặng. Kết quả phối hợp tác chiến giữa các lực lượng, kết hợp với nổi dậy của quần chúng ở Huế giành thắng lợi lớn. Mặt trận Liên minh dân tộc, dân chủ và hòa bình thành phố ra đời và Ủy ban nhân dân cách mạng Thừa Thiên - Huế được thành lập.

Đối với Đà Nẵng, trọng điểm thứ ba của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, sau khi lực lượng pháo binh ta bắn phá các sân bay Đà Nẵng, Nước Mặn và lực lượng biệt động, tự vệ đánh chiếm một số mục tiêu ở nội thành ngày 30-1, thì ở phía bắc, lực lượng bộ binh (Trung đoàn 31), công binh và lực lượng vũ trang Khu 1 tiến công đồn Nhất và đánh chiếm thị trấn Nam Ô. Ở phía nam, lực lượng đặc công (Tiểu đoàn 89) và lực lượng vũ trang Khu 2 tiến công Sở chỉ huy Trung đoàn 51 quân Sài Gòn. Ở nội thành, lực lượng Tiểu đoàn 1 bộ binh đánh vào Sở chỉ huy Quân đoàn 1 bị chặn lại. Trong khi đó, lực lượng chủ lực (Sư đoàn 2 bộ binh), do nhận được lệnh hoãn ngày nổ súng, nên rút về tuyến sau. Vì thế, kế hoạch phối hợp tác chiến giữa các lực lượng trong và ngoại vi Đà Nẵng không thực hiện được.

Phối hợp với ba trọng điểm lớn Sài Gòn, Huế và Đà Nẵng, lực lượng vũ trang ta trên các chiến trường tiến công vào nhiều thành phố, thị xã, thị trấn, quận lỵ, căn cứ, sân bay, kho tàng địch. Ở miền Đông Nam Bộ, lực lượng bộ đội chủ lực, đặc công, biệt động tiến công sân bay Biên Hòa, tổng kho Long Bình, Bộ Chỉ huy dã chiến 2 của Mỹ ở Biên Hòa; Tòa hành chính Thủ Dầu Một, Dinh Tỉnh trưởng, Ty Cảnh sát trong thị xã An Lộc và thị trấn Phước Bình.

Tại Quân khu 8, các lực lượng bộ binh, pháo binh, đặc công, biệt động phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tiến công các thị xã Mỹ Tho, Bến Tre và một số căn cứ của địch. Ở Quân khu 9, các lực lượng bộ binh, pháo binh phối hợp với biệt động tiến công hai trọng điểm thành phố Cần Thơ và thị xã Vĩnh Long. Phối hợp với đòn tiến công quân sự ở các thị xã, thành phố, tại nhiều vùng nông thôn đồng bằng sông Cửu Long, lực lượng vũ trang địa phương tiến công hỗ trợ quần chúng nổi dậy, phá ách kìm kẹp của địch ở nhiều xã, ấp, giành quyền làm chủ.

Tại Tây Nguyên, các lực lượng vũ trang ta được lực lượng chính trị của quần chúng hỗ trợ, tiến công làm chủ thị xã Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk) trong 6 ngày, làm chủ một phần các thị xã Kon Tum, Pleiku và chiếm giữ căn cứ Tân Cảnh. Ở đồng bằng Khu 5, lực lượng vũ trang địa phương đồng loạt tiến công vào các thành phố Quy Nhơn, Nha Trang; các thị xã Hội An, Tuy Hòa và 40 thị trấn. Ở Quân khu 6, lực lượng vũ trang ta tiến công thị xã Phan Thiết, thành phố Đà Lạt, gây cho địch một số thiệt hại.

Nhìn chung, trong những ngày đầu Tổng tiến công và nổi dậy, các lực lượng vũ trang của ta đã phối hợp tác chiến, đánh chiếm được một số mục tiêu quan trọng của địch ở hầu khắp các thành phố, thị xã, thị trấn, quận lỵ trên toàn miền Nam, tiêu hao một phần sinh lực địch, phá hủy một số phương tiện chiến tranh của chúng, hỗ trợ quần chúng nhân dân nổi dậy, giành quyền làm chủ.

Sau một thời gian củng cố tổ chức, chấn chỉnh lại lực lượng, từ ngày 17-2, các lực lượng vũ trang và nhân dân ta trên toàn miền Nam lại đồng loạt tiến công vào hàng chục thành phố, thị xã, hàng trăm thị trấn, quận lỵ và nhiều căn cứ quân sự của địch. Tại Huế, lực lượng chủ lực ta ở nội đô được tăng cường khá đông, nhưng địch tập trung phản kích quyết liệt và dùng máy bay ném bom, bắn phá dồn ta vào trong thành nội. Ở cánh Nam, chỉ có một bộ phận nhỏ lực lượng ta ở khu Tam Giá đánh nhỏ, kìm chân địch, còn đại bộ phận lực lượng chủ lực phải rút ra vùng ven sông An Cựu, Vân Dương. Trong khi đó, hoạt động tác chiến của ta ở Đường 9 - Khe Sanh và các nơi khác không đủ sức mạnh để phân tán lực lượng địch. Những cố gắng của lực lượng chủ lực ta ở cánh Bắc chỉ tiêu hao một bộ phận nhỏ lực lượng địch, không tạo được sự chuyển biến tình hình. Địch phản kích dữ dội, dồn lực lượng ta về phía tây. Trước tình hình đó, ngày 25-2-1968, toàn bộ lực lượng ta được lệnh của Khu ủy Trị - Thiên và chỉ huy Mặt trận Huế đã bí mật rút khỏi thành phố ra phía ngoài an toàn.

Trong khi đó, tại Sài Gòn, do lực lượng chủ lực ta không tiến vào được nội đô, nên bộ phận lực lượng đặc công, biệt động và các tiểu đoàn mũi nhọn chiến đấu bên trong lâm vào tình thế đơn độc, lực lượng bị tiêu hao, phải rút ra vùng ven củng cố, tiếp tục chiến đấu. Sau hơn một tuần phối hợp tác chiến giữa các lực lượng trong nội thành và vùng ven đô, gây cho địch một số thiệt hại, lực lượng ta gặp khó khăn. Địch tập trung lực lượng phản kích dữ dội, gây cho ta tổn thất lớn. Trước tình hình đó, ngày 28-2-1968, ta kết thúc cuộc Tổng tiến công ở Sài Gòn.

Cùng thời gian này, ở Nam Bộ, các lực lượng vũ trang ta phối hợp tác chiến ở 11 thị xã, 17 thị trấn, 7 sân bay; ở Tây Nguyên, ta phối hợp tác chiến trong hơn 100 trận; ở cực Nam Trung Bộ, lực lượng ta phối hợp tác chiến ở hai trọng điểm là thị xã Phan Thiết và thành phố Đà Lạt... Những ngày đầu tháng 3-1968, ta còn tiến công một số thị xã, thị trấn, song nhìn chung, áp lực phối hợp tác chiến giữa các lực lượng của ta giảm dần, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 trên toàn miền Nam kết thúc.

Trong điều kiện so sánh lực lượng, địch hơn hẳn, ta khó có thể thực hiện đánh tiêu diệt lớn quân địch, thì việc tổ chức phối hợp tác chiến giữa các lực lượng, chủ yếu là lực lượng chủ lực (bộ binh, pháo binh), lực lượng tinh nhuệ (đặc công, biệt động) và lực lượng vũ trang địa phương đánh thẳng vào trung tâm đầu não chính trị, quân sự của địch ở các thành phố lớn Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng và nhiều thành phố, thị xã, thị trấn, quận lỵ, kết hợp với nổi dậy của quần chúng là một quyết định sáng suốt, táo bạo của Đảng ta.

Dù còn một số hạn chế, nhưng quá trình phối hợp tác chiến giữa các lực lượng, nhất là phối hợp tác chiến trong các thành phố trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 có ý nghĩa hết sức quan trọng và để lại những bài học kinh nghiệm quý giá. Đó là việc chuẩn bị về lực lượng, về nghệ thuật phối hợp tác chiến giữa các lực lượng của ta đánh đồng loạt, bất ngờ vào hầu khắp các thành phố, thị xã, thị trấn, quận lỵ do Mỹ và chính quyền Sài Gòn kiểm soát, chiếm đóng; là sự phối hợp tác chiến giữa các lực lượng trong nội thành và phối hợp tác chiến giữa các lực lượng ngoại thành với các lực lượng nội thành. Đây là cơ sở quan trọng để cho quân đội ta nói riêng, lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam nói chung tiếp tục kế thừa, phát triển cả về lý luận và thực tiễn, nâng cao hiệu quả phối hợp tác chiến giữa các lực lượng trong những trận đánh lớn có ý nghĩa chiến dịch, chiến lược, tiến tới Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Chính vì vậy, sự kiện Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 cần tiếp tục được nghiên cứu, kế thừa và vận dụng sáng tạo trong công tác xây dựng, đào tạo và huấn luyện bộ đội, nâng cao sức mạnh chiến đấu, bảo đảm cho quân đội ta có đủ sức mạnh chiến đấu hoàn thành tốt chức năng bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Năm, 2020, 03:27:09 pm
CÔNG TÁC ĐẢNG, CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ
TRONG CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY TẾT MẬU THÂN 1968



Đại tá, TS. ĐỖ NGỌC TUYÊN
Nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử Tư tưởng quân sự,
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Vào thời khắc Giao thừa 50 năm trước đây - Tết Mậu Thân 1968, quân và dân ta trên toàn miền Nam đã đồng loạt nổi dậy tiến công địch, giành thắng lợi to lớn. Bài viết này tập trung làm rõ những hoạt động công tác đảng, công tác chính trị chủ yếu trong Tết Mậu Thân 1968.

Thứ nhất, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo Tổng tiến công và nổi dậy.

Đảng ta xác định nhiệm vụ trung tâm trước mắt của Đảng là tập trung toàn lực lãnh đạo, chỉ đạo cuộc "tổng công kích, tổng khởi nghĩa" cho đến toàn thắng. Vì vậy, khi đế quốc Mỹ tiến hành chiến lược "chiến tranh cục bộ" đẩy chiến tranh xâm lược lên nấc thang cao nhất, Hội nghị lần thứ 13 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (ngày 27-1-1967) họp, tán thành chủ trương của Bộ Chính trị: "động viên và đoàn kết toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đẩy mạnh đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị, đánh bại cuộc "chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ ở miền Nam và cuộc chiến tranh phá hoại của chúng ở miền Bắc nước ta, đưa cuộc kháng chiến tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn" ; chỉ rõ: "Ở miền Nam,... giữ vững thế chủ động, bảo tồn và phát triển lực lượng của ta, tạo điều kiện và thời cơ cho các đợt hoạt động lớn tiếp theo, tiến lên tổng công kích, tổng khởi nghĩa, thực hiện quyết tâm chiến lược của Trung ương".

Tiếp theo, trong các tháng 2, 5, 6 - 1967, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Trung ương Cục miền Nam đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị đánh giá tình hình, nhiệm vụ quân sự cũng như xác định chủ trương, biện pháp nhằm đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta lên bước phát triển mới. Cũng trong các tháng 5, 6, Trung ương Cục và Thường vụ Trung ương Cục đã ban hành các nghị quyết, chỉ thị về công tác quân sự, xây dựng Đảng, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên, giáo dục, tuyên truyền vận động quần chúng. Sau khi nhận được chỉ thị của Bộ Chính trị về tổng công kích, tổng khởi nghĩa (10-1967), căn cứ vào quyết tâm, chủ trương chiến lược của Đảng, ngay cuối tháng 10, Trung ương Cục ra Nghị quyết về tổng công kích, tổng khởi nghĩa (mật danh Nghị quyết Quang Trung). Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền, với tinh thần rất khẩn trương, đã lãnh đạo, chỉ đạo lực lượng vũ trang và các địa phương đẩy mạnh tiến công địch, gấp rút chuẩn bị chiến trường, lực lượng theo yêu cầu tổng công kích, tổng khởi nghĩa.

Đầu tháng 11-1967, Tổng cục Chính trị điện chỉ đạo Cục Chính trị Miền phương hướng, nhiệm vụ công tác đảng, công tác chính trị năm 1968, nhấn mạnh: "triệt để chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, kiên quyết hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu, xây dựng và công tác, giành thắng lợi lớn nhất trên chiến trường và trong bất cứ tình huống nào".

Tháng 12-1967, Quân ủy Miền ra chỉ thị về công tác chính trị, nội dung tập trung vào giáo dục, xây dựng ý chí quyết tâm đánh và thắng Mỹ; thực hiện tốt đường lối quân sự, phương châm đấu tranh và sáu phương thức tác chiến 1; chỉ rõ công tác đảng, công tác chính trị phải toàn diện, nhưng nắm chắc ba khâu: công tác tư tưởng, công tác xây dựng Đảng và công tác cán bộ, hướng vào thực hiện quyết tâm chiến lược của Đảng; nhấn mạnh "dù hoàn cảnh nào cũng đạp bằng mọi trở ngại, với dũng khí phi thường, kiên quyết đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn".

Tháng 1-1968, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 14 đã thống nhất chủ trương của Bộ Chính trị (12-1967), khẳng định: "Nhiệm vụ trọng đại và cấp bách của ta... là động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên bước phát triển cao nhất, dùng phương pháp tổng công kích và tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định". Thực hiện chủ trương của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, sau nhiều tháng nghiên cứu, trao đổi, Quân ủy Trung ương báo cáo với Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh phương hướng, mục tiêu, cách sử dụng lực lượng tổng tiến công và nổi dậy, đặc biệt là chọn được cách đánh thật hiểm, thật đau, đạt tới hiệu lực chiến lược làm chuyển biến cục diện chiến tranh có lợi cho ta, đó là: Hướng sức mạnh chủ yếu của chiến tranh cách mạng vào thành thị, nhất loạt đánh vào thành phố, thị xã, thị trấn, trung tâm đầu não của địch và kết hợp công kích quân sự với khởi nghĩa quần chúng. Đồng thời phân tán, kéo chủ lực địch ra các chiến trường ta đã chuẩn bị để nghi binh, thu hút, giam chân và tiêu hao, tiêu diệt lớn quân Mỹ, làm cho chúng không phán đoán được ý định chiến lược của ta, tạo điều kiện cho các địa phương, nhất là thành thị thực hành tiến công và nổi dậy.

Thứ hai, khẩn trương sắp xếp, kiện toàn cấp ủy, chỉ huy, cán bộ và biên chế, trang bị.

Để bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy thống nhất, chặt chẽ trên toàn miền Nam tổng tiến công và nổi dậy giành thắng lợi, công tác tổ chức tập trung chấn chỉnh và kiện toàn tổ chức; sắp xếp và kiện toàn cấp ủy, chỉ huy, đội ngũ cán bộ và tổ chức biên chế, trang bị. Xây dựng các kế hoạch tiến công quân sự và nổi dậy; tiến hành công tác dân vận, binh địch vận, thương binh, tử sĩ; chấp hành chính sách trong chiến đấu; bổ sung, thay thế trong quá trình chiến đấu; phát triển đảng viên, đoàn viên... để khi tổng tiến công và nổi dậy diễn ra dựa vào đó thực hiện.

Trên cơ sở các quyết nghị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng thành lập Binh chủng Đặc công (19-3-1967); các bộ tư lệnh binh chủng Ra đa, Tên lửa, Không quân thuộc Bộ Tư lệnh Phòng không - Không quân (24-3-1967). Ngày 19-5-1967, Bộ Chính trị quyết định bộ máy lãnh đạo của Đảng ở miền Nam 2. Sau khi Đại tướng Nguyễn Chí Thanh mất 3, tháng 10-1967, Bộ Chính trị kiện toàn lại tổ chức lãnh đạo, chỉ huy ở miền Nam 4. Cũng trong tháng 10-1967, để thực hiện nhiệm vụ tổng công kích, tổng khởi nghĩa, Trung ương Cục quyết định giải thể Quân khu 1 miền Đông và Quân khu 4 Sài Gòn - Gia Định để thành lập Khu trọng điểm; chia khu này thành 6 phân khu. Về mặt quân sự, thành lập hai bộ chỉ huy tiền phương 1 và 2 (còn gọi là Bộ Tư lệnh tiền phương Bắc và Nam) để phụ trách các mũi phía nam, tây nam, lực lượng nội thành và các mũi phía đông, bắc, các đơn vị chủ lực Miền. Toàn bộ lực lượng vũ trang chiến đấu trên mặt trận Sài Gòn - Gia Định được chia lại thành ba khối (biệt động, tiểu đoàn mũi nhọn, chủ lực Miền).

Cũng trong tháng 10-1967, nhằm bảo đảm thông suốt việc tiếp tế vũ khí, lương thực cho lực lượng vũ trang, Trung ương Cục, Bộ Chỉ huy Miền tổ chức 5 đoàn hậu cần khu vực tương đương 5 trung đoàn. Trước đó (tháng 5-1967), Trung ương Cục đã thành lập Đoàn 70 trực thuộc Cục Hậu cần Miền để đảm đương nhiệm vụ đón nhận hàng chi viện của Trung ương cho chiến trường B2; kết hợp với các đoàn hậu cần khác tạo ra mạng lưới hậu cần liên hoàn từ Chiến khu Đ xuống đến Bình Dương - Biên Hòa, Bà Rịa để đảm bảo cho lực lượng chủ lực Miền, quân khu hoạt động. Phục vụ cho đòn tiến công vào đô thị, Phòng Quân báo, Phòng Thông tin Miền gấp rút sưu tầm bản đồ các thành phố, thị xã; điều tra, nghiên cứu các mục tiêu; đưa đón cán bộ chỉ huy vào, ra nội thành các thành phố, thị xã; chuẩn bị lực lượng trinh sát dẫn đường và tổ chức mạng thông tin, liên lạc bảo đảm cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy...

Trước cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, địa bàn tác chiến và lực lượng quân sự, chính trị ở các hướng chiến trường, khu, mặt trận được tổ chức lại và tăng cường: Khu 5 chia thành bốn hướng tiến công (Quảng Nam - Đà Nẵng, Bình Định, Tây Nguyên, Phú Yên - Khánh Hòa) với tỉnh Quảng Đà là chiến trường chính và thành phố Đà Nẵng là trọng điểm; thành lập trung đoàn đặc công đầu tiên để đánh chiếm thị xã Quảng Ngãi. Ở Trị - Thiên 5, Bộ Chính trị quyết định thành lập Quân khu Trị - Thiên - Huế trực thuộc Trung ương về Đảng, trực thuộc Quân ủy Trung ương về quân sự và bổ nhiệm các đồng chí chủ trì, chủ chốt về chính trị, quân sự của Quân khu. Tăng cường lực lượng, chia Quân khu làm ba mặt trận (thành phố Huế, phía bắc, phía nam) với thành phố Huế là mặt trận chủ yếu. Ngay tại Huế, cũng chia thành hai cánh (cánh Bắc, cánh Nam) và kiện toàn đội ngũ cán bộ chủ chốt.

Ở miền Bắc, cuối tháng 7 -1967, Quân ủy Trung ương mở lớp tập huấn cho 150 cán bộ trung, cao cấp thuộc các tổng cục, quân khu, quân chủng, binh chủng và các binh đoàn cơ động về tình hình, nhiệm vụ mới và nhiều vấn đề trong tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng. Tháng 8, Bộ Quốc phòng đề nghị Chính phủ điều động 100 sinh viên khoa tiếng Anh năm thứ 3 và thứ 4 vào quân đội. Từ tháng 8-1967, đảng ủy và chỉ huy các sư đoàn dự bị chiến lược (304, 308, 312, 320) gấp rút kiện toàn tổ chức, lực lượng, biên chế, trang bị vũ khí; huấn luyện nâng cao trình độ tác chiến hiệp đồng quân binh chủng. Lực lượng phòng không, phòng thủ bờ biển, giao thông vận tải, công binh... chấn chỉnh tổ chức, tăng cường số lượng, hoàn chỉnh thế trận nhằm bảo vệ vững chắc miền Bắc, giữ vững mạch máu giao thông chi viện cho chiến trường 6. Trên tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn, Đoàn 559 mở rộng hệ thống đường, tăng lực lượng và phương tiện, cải tiến phương pháp vận chuyển, bảo vệ vận chuyển.

Tháng 9, Hội đồng Chính phủ tổ chức Hội nghị phòng không nhân dân để rút kinh nghiệm công tác phòng không, duy trì và bảo đảm sinh hoạt, sản xuất trong điều kiện địch đánh phá ác liệt. Công tác tuyển quân được xúc tiến mạnh mẽ 7. Lực lượng Đài Phát thanh và Thông tấn xã Giải phóng, Ban Huấn học được Thường vụ Trung ương Cục tăng cường. Các bộ phận tuyên huấn được giữ nguyên và tăng cường về nhân lực, phương tiện hoạt động.

Ngày 6-12-1967, Quân ủy Trung ương quyết định thành lập Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 để lãnh đạo và chỉ huy các đơn vị tác chiến tiêu diệt địch, nghi binh chiến lược và thu hút, kìm giữ một bộ phận quan trọng lực lượng cơ động quân Mỹ - chính quyền Sài Gòn, tạo điều kiện thuận lợi cho các trọng điểm tiến công và nổi dậy, trực tiếp là Trị - Thiên, Huế.

Thứ ba, bảo vệ an toàn tuyệt đối con người, vũ khí trang bị và những vấn đề cơ mật về ý đồ, chủ trương chiến lược, kế hoạch tác chiến.

Để đáp ứng nhu cầu chiến trường, lực lượng động viên vào quân đội nhiều, dồn dập, đa dạng thành phần nhưng công tác kiểm tra, tuyển lựa vẫn được tiến hành chặt chẽ, nghiêm túc, bảo đảm chất lượng chính trị. Tuy địch đẩy mạnh các hoạt động tình báo, gián điệp, chiến tranh tâm lý nhưng công tác đấu tranh đã vô hiệu hóa mọi âm mưu, thủ đoạn của chúng. Mọi chủ trương, kế hoạch chiến lược cơ mật; các hoạt động chiến đấu, hành quân, trú quân, vận chuyển, sơ tán kho tàng, cơ quan... được bảo đảm bí mật, an toàn.

Tháng 9-1966, Tổng cục Chính trị ban hành Chỉ thị số 106/CT-H về "Một số vấn đề về công tác bảo vệ đối với các đơn vị chiến đấu ở chiến trường miền Nam", chỉ ra những đặc điểm, khó khăn và chỉ rõ những công việc mà lãnh đạo, chỉ huy, cán bộ bảo vệ các cấp phải tiến hành nhằm giữ bí mật, an toàn cho bộ đội. Tháng 11-1967, Bộ Tổng Tham mưu phổ biến trực tiếp cho các tư lệnh chiến trường kế hoạch nghi binh chiến lược 8. Cũng trong tháng 11, Tổng cục Chính trị ra Chỉ thị số 42/CT-H về tăng cường công tác giữ bí mật quân sự. Đầu tháng 12, theo yêu cầu của chiến trường, đoàn cán bộ Cục bảo vệ của Tổng cục Chính trị vào chỉ đạo công tác bảo vệ ở Mặt trận Trị - Thiên (B4) và Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị (B5). Ngoài ra, công tác bảo vệ còn tập trung bảo vệ ý chí chiến đấu, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, sự đoàn kết nhất trí trong Đảng, quân đội; tiềm lực quốc phòng và các cơ quan đầu não, kho tàng, căn cứ, nơi đóng, trú quân; ý đồ chiến lược, chủ trương chiến dịch, phương án tác chiến, xây dựng lực lượng vũ trang; chống tình báo, gián điệp... với trọng tâm, trọng điểm là bảo vệ ý đồ, chủ trương chiến lược, kế hoạch tác chiến.

Để giữ bí mật tuyệt đối, chủ trương và kế hoạch tác chiến thật chỉ được phổ biến cho các chiến trường trực tiếp bằng miệng thông qua các phái viên của Bộ Tổng Tư lệnh hoặc cán bộ chủ chốt ở chiến trường phái ra Hà Nội nhận lệnh. Trước ngày mở màn chiến dịch một tháng, Trung ương Cục, Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền mới trực tiếp truyền đạt quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng cho các bí thư khu ủy và nhắc các khu ủy chỉ đạo làm tốt công tác bảo vệ.

Nhằm xây dựng quyết tâm chiến đấu cụ thể với từng hướng chiến trường, lực lượng tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu, tuyến trước và tuyến sau, các đơn vị coi trọng quán triệt tình hình, nhiệm vụ trên chiến trường, làm rõ thắng lợi và sự phát triển chính trị, quân sự của ta; thất bại của địch trong hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 và 1966-1967. Nhận thức rõ đây là thời cơ tốt để quân, dân ta giáng cho đế quốc Mỹ một đòn thật nặng làm phá sản chiến lược "chiến tranh cục bộ" và các kế hoạch, biện pháp chiến tranh, giành thắng lợi có ý nghĩa quyết định, đưa chiến tranh cách mạng phát triển lên giai đoạn cao nhất. Về thời cơ cụ thể, làm rõ việc ta tiến hành tổng tiến công và nổi dậy vào dịp Tết Nguyên đán là thời điểm kẻ thù bất ngờ và sơ hở nhất; cách đánh của ta là một cách đánh mà địch chưa hề thấy và không thể nghĩ tới.

Thứ tư, đẩy mạnh phong trào thi đua, tạo động lực cho Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt.

Sau khi có nghị quyết, chỉ thị của Đảng, hướng dẫn của Tổng cục Chính trị, Quân ủy và Cục Chính trị Miền chỉ đạo các khu ủy, quân khu ủy, các đơn vị lực lượng vũ trang triển khai đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng về cuộc vận động "Nâng cao chất lượng, phát huy sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược". Đồng thời, tích cực tiến hành công tác chính trị tư tưởng, tập trung vào vạch rõ tội ác mà Mỹ và chính quyền, quân đội Sài Gòn gây ra đối với nhân dân cả nước; bản chất hiếu chiến của đế quốc Mỹ; cổ vũ mọi người phát huy truyền thống yêu nước, ý chí quyết chiến, quyết thắng quân xâm lược, thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Không có gì quý hơn độc lập, tự do", "Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi".

Để động viên quân và dân cả nước dốc sức đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, tháng 1-1967, Đảng và Nhà nước tổ chức Đại hội Anh hùng và chiến sĩ thi đua chống Mỹ, cứu nước trên miền Bắc trong các lĩnh vực và Đại hội thi đua các đội Thanh niên xung phong chống Mỹ, cứu nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến dự, căn dặn các đại biểu "ra sức học tập, cố gắng tiến bộ, tiến bộ nữa, tiến bộ mãi, phải khiêm tốn, không được kiêu ngạo..."; "Các cháu nào đã là anh hùng, thì phải cố gắng tiến nữa, các cháu nào chưa là anh hùng thì phấn đấu để trở thành anh hùng" . Giữa tháng 9, Trung ương Cục và Quân ủy Miền tổ chức Đại hội Anh hùng và chiến sĩ thi đua toàn miền Nam lần thứ hai, trong điện gửi Đại hội, Người khẳng định: "Năm 1965, Đại hội anh hùng miền Nam lần thứ nhất là Đại hội đánh thắng "chiến tranh đặc biệt" của giặc Mỹ. Đại hội anh hùng lần này là Đại hội của những người sẽ đánh thắng "chiến tranh cục bộ" của chúng" . Những hoạt động quan trọng này không chỉ thể hiện sự quan tâm, động viên to lớn của Đảng, Nhà nước, nhân dân đối với lực lượng vũ trang nhân dân, mà còn góp phần tạo ra động lực cách mạng mạnh mẽ, cổ vũ và động viên mọi người phấn đấu làm tròn mọi nhiệm vụ.

Thứ năm, quan tâm công tác binh, địch vận và chính sách.

Thực hiện chủ trương đánh địch bằng hai lực lượng, hai hình thức đấu tranh, kết hợp ba mũi giáp công và đấu tranh ngoại giao, bốn bám, sáu phương thức tác chiến của Đảng, trong quá trình chuẩn bị, tiến hành Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, công tác binh địch vận được tiến hành liên tục, khẩn trương với nhiều nội dung và bằng nhiều hình thức. Trong đó, đã đẩy mạnh kết hợp đấu tranh quân sự, chính trị, binh địch vận và sử dụng tốt nhất lực lượng ta, đồng thời kêu gọi binh lính quân đội Sài Gòn khởi nghĩa; đưa cán bộ binh địch vận về các vùng trọng điểm, bám sát đối tượng, dự kiến đúng tình huống, xây dựng các phương án, kế hoạch chủ động đối phó khi địch tan rã hàng loạt hoặc có ly khai, binh biến lớn, có nhiều tù binh, hàng binh; vận động tổ chức lực lượng quần chúng, gia đình binh sĩ quân đội Sài Gòn là cơ sở của cách mạng nổi dậy. Tuyên truyền rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng và rải truyền đơn để tranh thủ, trung lập một số đơn vị quân Mỹ, Nam Triều Tiên; nêu rõ chính sách tám điểm của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam đối với sĩ quan, binh lính, cảnh sát; chính sách 4 điểm đối với nhân viên chính quyền Sài Gòn. Đưa ra chủ trương ngừng tấn công quân sự trong dịp Tết để tạo điều kiện cho binh lính quân đội Sài Gòn bỏ ngũ, phân tán lực lượng. Vận động một số tề xã, tề ấp, cảnh sát, nhân dân tự vệ tham gia vận chuyển vũ khí, lương thực cho các trọng điểm...

Công tác chính sách đã bám sát chủ trương của Đảng, những hoạt động trên các chiến trường, tập trung vào khắc phục mọi khó khăn để củng cố hậu phương và chi viện cho tiền tuyến; tổ chức tốt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân miền Bắc; đồng thời động viên sức người, sức của đến mức cao nhất cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của cả hai miền; động viên cán bộ, đảng viên và nhân dân chịu đựng thiếu thốn để chi viện cho tiền tuyến, bảo đảm cho miền Nam giành được thắng lợi quyết định. Xây dựng các kế hoạch bảo đảm; thương binh, liệt sĩ; cứu chữa, vận chuyển, điều trị, điều dưỡng thương binh... để đáp ứng yêu cầu của chiến tranh quy mô lớn.

Thông qua các hoạt động, công tác đảng, công tác chính trị trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của quân và dân ta 9, giáng một đòn quyết định làm phá sản chiến lược "chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, mở đầu quá trình đi xuống về chiến lược, tạo bước ngoặt quyết định cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Bên cạnh kết quả, thắng lợi đạt được, công tác đảng, công tác chính trị ở một số hướng, một số nơi cũng còn có những khuyết điểm, hạn chế trong lãnh đạo, chỉ đạo chuẩn bị vật chất, tinh thần và cách đánh; đánh giá tình hình, nhất là về lực lượng chính trị của quần chúng ở thành thị và khả năng, phản ứng của địch; xác định mục tiêu, kế hoạch công kích quân sự và hiệp đồng tác chiến của các lực lượng, các chiến trường, giữa tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng...

Những thành công và hạn chế của công tác đảng, công tác chính trị trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 không chỉ là những kinh nghiệm quý cho lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức hoạt động quân sự, xây dựng lực lượng, phát triển nghệ thuật quân sự, đặc biệt là lãnh đạo, chỉ đạo, thực hành tác chiến trong thành phố, mà còn góp phần làm phong phú, phát triển lý luận, thực tiễn công tác đảng, công tác chính trị và làm tiền đề cho những thắng lợi sau này để giành thắng lợi trọn vẹn trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.




-----------------------------------------------------------------
1. Sáu phương thức tác chiến là: 1- Đẩy mạnh hoạt động tác chiến của bộ đội chủ lực tập trung trong những chiến dịch vừa và lớn, dưới hình thức tiến công hoặc chủ động phản công địch; 2- Đẩy mạnh chiến tranh du kích đến trình độ cao; 3- Đánh phá các căn cứ hậu cần, kho tàng, sân bay, hải cảng, cơ quan đầu não; 4- Triệt phá các đường giao thông thuỷ bộ quan trọng, tạo thế bao vây, chia cắt địch; 5- Đẩy mạnh hoạt động ở các đô thị; 6- Tác chiến kết hợp với binh biến; triển khai công tác binh vận, ngụy vận trên quy mô chiến lược.

2. Theo đó, Quân ủy Miền do đồng chí Nguyễn Văn Linh làm Bí thư; Phó Bí thư là các đồng chí Trần Văn Trà, Trần Độ; Ủy viên là các đồng chí Lê Trọng Tấn, Đồng Văn Cống, Nguyễn Hữu Xuyến, Lê Đức Anh, Nguyễn Thị Định và Anh Thi (hậu cần). Bộ Chỉ huy Miền do đồng chí Nguyễn Văn Linh (Bảy Linh) làm Chính ủy; đồng chí Trần Văn Trà làm Tư lệnh; Phó Chính ủy là đồng chí Trần Độ; Phó Tư lệnh là các đồng chí Lê Trọng Tấn, Đồng Văn Cống, Nguyễn Hữu Xuyến, Lê Đức Anh, Nguyễn Thị Định.

3. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là Bí thư Trung ương Cục, Chính ủy các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam, từ trần tại Hà Nội ngày 6-7-1967.

4. Thường vụ Trung ương Cục là đồng chí Phạm Hùng, Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đáng, Phạm Văn Xô, Trần Nam Trung, Hoàng Văn Thái, do đồng chí Phạm Hùng, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ làm Bí thư Trung ương Cục; Phó Bí thư là các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đáng, Hoàng Văn Thái; Quân ủy Miền do đồng chí Phạm Hùng làm Bí thư; Phó Bí thư là đồng chí Nguyễn Văn Linh và Hoàng Văn Thái; các ủy viên gồm: Phạm Văn Xô, Trần Văn Trà, Trần Độ, Lê Trọng Tấn, Lê Đức Anh, Lê Văn Tưởng; Thường trực Quân ủy Miền là đồng chí Hoàng Văn Thái, Phạm Văn Xô, Trần Độ, Lê Đức Anh, Lê Văn Tưởng. Bộ Chỉ huy Miền do đồng chí Phạm Hùng làm Chính ủy; Phó Chính ủy là các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Trần Độ; Tư lệnh là đồng chí Hoàng Văn Thái; Phó Tư lệnh là các đồng chí Trần Văn Trà, Lê Trọng Tấn, Nguyễn Thị Định, Nguyễn Hữu Xuyến, Đồng Văn Cống; Tham mưu trưởng là đồng chí Lê Đức Anh; Chủ nhiệm Chính trị là đồng chí Lê Văn Tưởng; Chủ nhiệm Hậu cần là đồng chí Nguyễn Văn Thi.

5. Trước đây là một phân khu của Quân khu 5, tháng 2-1966, Quân ủy Trung ương quyết định tách phân khu Trị Thiên - Huế khỏi Quân khu 5.

6. So với năm 1965, đến cuối năm 1967, số trung đoàn, tiểu đoàn pháo cao xạ tăng từ 2,5 đến 4,7 lần; số trung đoàn tên lửa tăng 5 lần, các trận địa ra đa, cảnh giới tăng 2 lần. Các lực lượng vận tải quân sự của Bộ Quốc phòng, của các quân khu cũng được tăng cường cả về số lượng và chất lượng.

7. Trong năm 1967, số quân rời miền Bắc vào chiến trường miền Nam chiến đấu tăng gần 1,5 lần so với năm 1966. Từ quý II năm 1967 đến quý I năm 1968, 155.000 quân đã được đưa vào miền Nam.

8. Nhằm mục đích đó, một bản kế hoạch tác chiến giả đã được gửi cho các cấp lãnh đạo, chỉ huy tại các chiến trường miền Nam. Sau này, trong hồi ký Tường trình của một quân nhân, tướng Oétmolen cho biết vào tháng 11-1967, họ đã thu được một tài liệu quan trọng về kế hoạch quân sự năm 1968 của đối phương ở một địa điểm gần Đắc Tô. Tài liệu đó là bản kế hoạch tác chiến giả của ta. Đây chính là một trong những căn cứ để Mỹ nhận định sai về chủ trương chiến lược của ta trong Tết Mậu Thân 1968.

9. Diệt và làm tan rã 150.000 tên địch, trong đó có hàng nghìn lính Mỹ và chư hầu, phá hủy 34% vật tư dự trữ chiến tranh của Mỹ ở miền Nam, phá 4.200 "ấp chiến lược", giải phóng thêm 1,4 triệu dân.


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Năm, 2020, 03:37:01 pm
HẬU PHƯƠNG ĐỐI VỚI
CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968



PGS.TS. NGÔ MINH OANH
Viện trưởng Viện Nghiên cứu Giáo dục,
Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh


Ngay từ những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Trung ương Đảng đã sớm xác định miền Bắc là hậu phương lớn của miền Nam, sớm định hướng xây dựng miền Bắc theo con đường xã hội chủ nghĩa. Đây là quyết tâm đúng đắn, là cơ sở đầu tiên cho việc xây dựng căn cứ địa cách mạng, xây dựng hậu phương vững chắc của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược. Tại Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương (tháng 1-1959), Đảng xác định đúng đắn phương pháp cách mạng miền Nam, đồng thời chỉ rõ: "Miền Bắc tiến lên xã hội chủ nghĩa một mặt là theo quy luật phát triển khách quan của xã hội miền Bắc, vì mục đích nâng cao không ngừng đời sống của nhân dân miền Bắc. Mặt khác là tích cực gánh vào phần trách nhiệm đối với phong trào cách mạng cả nước" .

Trong quá trình xây dựng hậu phương, Đảng và Chính phủ đã phát động trong toàn quân, toàn dân nhiều cuộc vận động chính trị, các phong trào thi đua yêu nước. Những phong trào này có tác dụng tốt, tạo nên niềm cổ vũ và động viên tinh thần to lớn cho toàn dân ở hậu phương thi đua hoàn thành nhiệm vụ. Đảng và Nhà nước tiến hành động viên toàn bộ nền kinh tế, đồng thời tranh thủ tối đa sự viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa để phục vụ cho cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện chống đế quốc Mỹ xâm lược. Trên đồng ruộng, trong nhà máy khẩu hiệu hành động lúc này là "Tất cả vì đồng bào miền Nam ruột thịt", "Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược", "Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người", "Mỗi người làm việc bằng hai"...

Trung ương Đảng, trực tiếp là Trung ương Cục miền Nam xác định động viên kinh tế cục bộ, tiến hành huy động lực lượng và vũ khí, trang bị, hậu cần tại chỗ là chủ yếu; đồng thời, tích cực, chủ động tiếp nhận sự hỗ trợ về vũ khí từ miền Bắc gửi vào. Thực hiện chủ trương này, Đoàn 559 và 759 lần lượt được thành lập có nhiệm vụ tổ chức vận tải vũ khí, trang bị bằng cả đường biển và đường bộ cho chiến trường miền Nam. Tổng kết thời kỳ 1962-1965 cho thấy, 83% vũ khí được sản xuất, huy động tại chỗ; 13% được vận chuyển từ miền Bắc vào . Đầu năm 1962, đường vận tải chiến lược Tây Trường Sơn được mở, nhờ đó khối lượng hàng hóa đưa vào Nam càng nhiều hơn. Cũng trong năm 1962, đường vận tải trên biển từ miền Bắc vào đến Rạch Giá (miền Tây Nam Bộ) được mở, chiến sĩ Đoàn 759 đã chuyển vào Nam 1.430 tấn vũ khí. Từ năm 1961-1963, miền Bắc đã đưa vào miền Nam hơn 4 vạn cán bộ, chiến sĩ, 165.000 khẩu súng, 7.000 tấn lương thực, 34 tấn thuốc men và 2.000 tấn vật tư khác .

Muốn hậu phương vững mạnh, không thể thiếu tiềm lực kinh tế. Xây dựng hậu phương về kinh tế là một nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa quyết định để đảm nhận vai trò của hậu phương đối với cuộc kháng chiến. Việt Nam thường tiến hành chiến tranh trong điều kiện lâu dài, tự lực cánh sinh là chính nên càng phải coi trọng chuẩn bị hậu phương về kinh tế để chăm lo mọi mặt cho chiến sĩ "thực túc thì binh cường", đồng thời chuẩn bị vũ khí, đạn dược phục vụ cho tiền tuyến. Kinh tế hậu phương có phát triển mới đủ điều kiện nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân ở hậu phương, duy trì và bồi dưỡng được sức dân trong điều kiện chiến tranh ác liệt kéo dài. Từ năm 1965, miền Bắc đã xây dựng được 18.600 hợp tác xã bậc cao, gần 700 hợp tác xã đạt năng suất 5 tấn thóc/hécta/năm; 90% hàng tiêu dùng thiết yếu và một phần tư liệu sản xuất do các ngành công nghiệp trong nước bảo đảm; hệ thống giao thông vận tải, bưu điện được mở rộng và nâng cấp thêm phương tiện, máy móc thiết bị mới .

Số lượng bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương cũng như dân quân tự vệ ở miền Bắc không ngừng tăng nhanh. Bộ đội được huấn luyện và chuyển vào chiến đấu trong chiến trường, dân quân tự vệ được huấn luyện theo định kỳ, đảm nhận vai trò nòng cốt trong bảo đảm trật tự trị an, phục vụ chiến đấu tại các địa phương. Cùng với việc tập trung xây dựng lực lượng thường trực, hậu phương miền Bắc cũng đồng thời xây dựng lực lượng hậu bị: năm 1962 có gần 1 triệu người đăng ký ngạch dự bị. Vũ khí trang bị từng bước được hiện đại.

Những năm 1961-1965, trên toàn miền Bắc dấy lên phong trào thi đua "mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt" theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tổng số bộ đội từ miền Bắc vào miền Nam chiến đấu tăng 14 lần so với năm 1960 là 17.427 người, vũ khí và phương tiện chiến tranh chuyển vào Nam là 3.435 tấn, tăng 10 lần so với năm 1960 . Với những thành tựu về kinh tế, văn hóa, giáo dục, xây dựng lực lượng vũ trang của miền Bắc đã tạo điều kiện cho hậu phương miền Bắc liên tục chi viện cho miền Nam với quy mô và mức độ ngày càng tăng. Phát huy vai trò của hậu phương chiến lược, miền Bắc đã không ngừng vươn lên chi viện sức người sức của cho chiến trường.

Nếu tính cả thời kỳ từ năm 1965-1972, hậu phương miền Bắc đã chi viện cho miền Nam 614.051 súng bộ binh, 35.599 súng B40, B41; 1.785 khẩu DKZ, 8.494 cối, 559 khẩu pháo hỏa tiễn, 75 pháo 122 ly và 130 ly, 2.086 súng máy cao xạ, 195 pháo cao xạ 37 ly, 113 xe tăng, 50 xe bọc thép, 6.600 máy vô tuyến điện, 12.565 máy hữu tuyến điện, 1.002 ô tô vận tải kéo pháo, 93 xe xích kéo pháo . Riêng năm 1968, từ miền Bắc đã đưa vào miền Nam 14 vạn quân, gấp 3 lần năm 1965; 7 vạn tấn hàng, gấp 8 lần năm 1965 .

Riêng trong năm 1968, ngành giao thông vận tải đã có hơn 120.000 người trong biên chế chính thức, chưa kể hàng chục vạn thanh niên xung phong được huy động để phục vụ trên khắp các tuyến đường từ hậu phương ra tiền tuyến. Miền Bắc đã huy động trên 267 triệu ngày công theo chế độ dân công thời chiến để bảo đảm giao thông, làm trận địa, sửa chữa sân bay, bến cảng, vận chuyển vật chất, thương bệnh binh... Số lượng xe ô tô vận tải cung cấp cho quân đội để bảo đảm cho chiến trường miền Nam chiếm 70% tổng số ô tô vận tải cả nước. Mức huy động lương thực chiếm 20% tổng sản lượng lương thực của miền Bắc. Với những cố gắng phi thường đó, để chuẩn bị cho Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, hậu phương miền Bắc chuyển giao cho chiến trường gần 100.000 tấn vật chất, khối lượng này gấp hàng chục lần so với giai đoạn 1961-1964 .

Qua số liệu thống kê và thực tế cho thấy, để có được lương thực chi viện cho tiền tuyến miền Nam, 1 tấn lương thực từ hậu phương miền Bắc khi vào đến chiến trường Trị - Thiên thì hậu phương miền Bắc đã phải chuẩn bị 12 tấn, đó là chưa kể đến sự hy sinh xương máu của bộ đội, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến làm công tác vận chuyển . Để vận chuyển hàng hóa chi viện cho tiền tuyến miền Nam, hậu phương miền Bắc đã tập trung củng cố phát triển hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy... huy động tất cả khả năng giao thông vận tải để tạo thành sức mạnh tổng hợp bảo đảm vận chuyển kịp thời, đầy đủ. Chỉ tính riêng đường Hồ Chí Minh - tuyến đường vận chuyển chiến lược chi viện từ miền Bắc vào Nam, qua 15 năm xây dựng và chiến đấu, đường Hồ Chí Minh đã thực sự trở thành tuyến hậu cần chiến lược, phát huy tác dụng tối đa và tích cực đối với chiến trường miền Nam. Với trên 16.000 km đường bộ, 1.400 km đường ống, hơn 6.000 xe vận tải các loại, một khối lượng rất lớn lương thực, vũ khí, xăng dầu, trang bị đã được vận chuyển về chiến trường.

Nhằm tổng động viên cao độ toàn quân, toàn dân cho cuộc kháng chiến, Trung ương Đảng ban hành các nghị quyết, chỉ thị chỉ đạo các mặt công tác: Nghị quyết số 119-NQ/TW, ngày 7-5-1965, về công tác giao thông vận tải; Chỉ thị số 99-CT/TW, ngày 8-6-1965, về công tác vận động phụ nữ; Chỉ thị số 102-CT/TW, ngày 3-7-1965, về công tác giáo dục tư tưởng chính trị; Chỉ thị số 105-CT/TW, ngày 29-7-1965, về việc tăng cường lãnh đạo công tác vận động thanh niên trong tình hình mới... Đặc biệt, ngày 25-9-1968, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết số 181-NQ/TW về công tác vận động thanh niên: "Các cấp ủy Đảng, các ngành và Đoàn Thanh niên cần làm cho thanh niên có tinh thần quyết chiến quyết thắng, không sợ gian khổ hy sinh, sẵn sàng hiến thân vì độc lập tự do của Tổ quốc. Trên cơ sở đó mà động viên hăng hái tòng quân, tích cực xây dựng dân quân tự vệ, giữ gìn trật tự trị an, phòng không nhân dân và phục vụ chiến đấu" .

Ở miền Bắc có các phong trào "Phụ nữ ba đảm đang", "Thanh niên ba sẵn sàng" (chỉ trong 4 tháng từ tháng 2 đến tháng 5-1965, có 2,5 triệu thanh niên miền Bắc tình nguyện ghi tên "Ba sẵn sàng"; trong 3 tháng từ tháng 3 đến tháng 5-1965 có 1,7 triệu phụ nữ miền Bắc ghi tên tình nguyện "Ba đảm đang") ; "Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người". Trên các tuyến giao thông của hậu phương miền Bắc chi viện cho tiền tuyến miền Nam là phong trào "Xe chưa qua, nhà không tiếc", trên đường vận chuyển chiến lược Trường Sơn có phong trào "Đánh địch mà đi, mở đường mà tiến". Đây không chỉ là những khẩu hiệu có sức động viên cổ vũ rất lớn, mà còn là phương hướng hành động của hàng chục triệu quần chúng hậu phương miền Bắc sẵn sàng xả thân chiến đấu hy sinh vì miền Nam thân yêu, vì độc lập, tự do của Tổ quốc với tinh thần "cả nước ra trận", "toàn dân đánh Mỹ, cứu nước".

Tháng 7-1966, Hội đồng Quốc phòng đã họp dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, công bố Lệnh động viên cục bộ và Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước của Bác, cổ vũ mạnh mẽ tuổi trẻ hăng hái gia nhập lực lượng vũ trang, tòng quân cứu nước. Thời kỳ 1965-1968, quá nửa lực lượng và gần 80% vũ khí, đạn dược, phương tiện kỹ thuật sử dụng trên chiến trường miền Nam là do hậu phương miền Bắc đưa vào; 888.641 lượt thanh niên miền Bắc vượt núi băng rừng vào miền Nam chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Riêng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968, hậu phương miền Bắc đã động viên 311.749 thanh niên vào bộ đội, bổ sung cho chiến trường miền Nam 141.081 người .

Nhờ có phương thức động viên kinh tế linh hoạt, sáng tạo phù hợp với điều kiện hoàn cảnh thực tiễn đất nước, Đảng và Chính phủ đã tập trung được sức người, sức của cho cuộc kháng chiến. Ở miền Bắc, Đảng và Nhà nước ta áp dụng cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp để vận hành nền kinh tế và huy động các nguồn lực kinh tế trong nước và quốc tế đáp ứng cho các nhu cầu chiến đấu và sinh hoạt của quân, dân. Chính cơ chế kinh tế này đã tạo ra khả năng huy động tối đa mọi nguồn lực kinh tế của miền Bắc xã hội chủ nghĩa và các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ cho nước ta.

Cùng với hậu phương chiến lược miền Bắc, hậu phương tại chỗ miền Nam cũng đã góp phần không nhỏ tiến tới giành thắng lợi cho chiến trường qua việc tiếp tế vận chuyển lương thực, vũ khí ra tiền tuyến. Đặc biệt, riêng trong năm Mậu Thân 1968, để bảo đảm thắng lợi cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy lần đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, trước mắt là hoàn thành nhiệm vụ đợt 1 vào mùa Xuân (bắt đầu từ 30-1 đến 25-2-1968), nhân dân miền Nam trên khắp các vùng giải phóng và ngay cả trong vùng địch tạm chiếm sôi nổi phục vụ chiến trường để bộ đội kịp giờ nổ súng đồng loạt. Tích trữ lương thực, thực phẩm, cất giấu vũ khí, chuẩn bị tiếp tế được tiến hành chu đáo. Hơn 1.100 tấn gạo đã được chuẩn bị sẵn sàng ở vùng đồng bằng cùng với 700 dân công được huy động phục vụ cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 .

Với hậu phương tại chỗ miền Nam, Trung ương Cục đã chỉ đạo các cơ quan hậu cần, kỹ thuật sử dụng linh hoạt nhiều phương thức, vừa tiếp nhận một cách hiệu quả sức người, sức của được đưa từ miền Bắc vào, vừa khai thác được nguồn nhân lực và cơ sở vật chất hậu cần, kỹ thuật tại chỗ, trong lòng địch cũng như ở các nước trong khu vực, tăng cường tiềm lực cho hậu phương tại chỗ miền Nam, phục vụ chiến trường. Chẳng hạn, nhiều loại lương thực, thực phẩm, thuốc men, vũ khí, phương tiện được mua từ trong vùng địch chiếm đóng hoặc từ Campuchia, Thái Lan chuyển về chiến khu phục vụ cho kháng chiến. Riêng ngành quân giới miền Đông Nam Bộ thu mua nguyên vật liệu, máy móc thiết bị để sản xuất vũ khí và xây dựng kho tàng trị giá 863.311.142 đồng (tiền chế độ Sài Gòn) và 240.065.982 ria (tiền Campuchia). Cùng với hoạt động mua bán, đã diễn ra các hoạt động thu lượm vũ khí, trang bị, bom mìn lép của địch với một khối lượng rất lớn để sản xuất súng, mìn, lựu đạn... đánh địch. Theo thống kê, từ năm 1962 đến năm 1975 các chiến sĩ hậu cần miền Nam đã thu về chiến lợi phẩm là 23.149 tấn vũ khí, sản xuất 1.533 tấn vũ khí và hàng ngàn xe các loại .

Như vậy, công tác hậu cần cho Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 được Trung ương Đảng, Chính phủ và toàn quân, toàn dân chuẩn bị chu đáo và gấp rút, tranh thủ được thời cơ chiến lược. Ngay trong tháng 11-1967, miền Nam đã được hậu phương miền Bắc giao gấp 3.270 tấn hàng các loại; riêng mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị nhận đủ 1.800 tấn, chiến trường Lào nhận đủ 500 tấn, súng chống tăng B40 và súng máy phòng không 12,7 ly chuyển từ hậu phương miền Nam vào đã được trang bị ngay cho các lực lượng chiến đấu . Kết quả vận chuyển trong tháng 11-1967 cao hơn các năm trước khẳng định bước tiến về công tác tổ chức chỉ huy vận tải, vận chuyển cơ giới theo đội hình chiến thuật. Đến giữa tháng 1-1968, việc chuẩn bị hậu cần cho nhiệm vụ "chiến lược mới" hoàn thành để ngày 30-1-1968, quân và dân ta tổng tiến công nổi dậy đồng loạt trên khắp các chiến trường, đặc biệt là tiến công và nổi dậy ở hầu hết các đô thị miền Nam, gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã đi vào lịch sử dân tộc như một mốc son chói lọi, có một vị trí to lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; đã giáng một đòn quyết định vào chiến lược chiến tranh của Mỹ và có ảnh hưởng quốc tế to lớn. Chính tướng Oétmolen về sau đã phải thừa nhận: "Đây là một khúc ngoặt của cuộc chiến tranh... Khúc ngoặt đi đến thất bại" . Thắng lợi đó thể hiện sự chỉ đạo sắc bén, tài tình của Đảng là phát huy sức mạnh chiến tranh nhân dân, chuẩn bị hậu cần chu đáo, sự chi viện lớn lao và có ý nghĩa quyết định của hậu phương miền Bắc cho tiền tuyến giành được thắng lợi.


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Năm, 2020, 03:46:27 pm
CÔNG TÁC HOA VẬN VÙNG SÀI GÒN - GIA ĐỊNH
TRONG CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968



NGUYỄN THỊ LỆ
Ủy viên Ban Thường vụ,
Trưởng ban Dân vận Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh


Trong mọi giai đoạn và hoàn cảnh lịch sử của đất nước, tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc luôn kết thành sức mạnh vô địch, đưa dân tộc ta vượt lên mọi khó khăn, thử thách, lập nên những kỳ tích vẻ vang. Đại đoàn kết toàn dân tộc trở thành nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Kỷ niệm 50 năm của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền tự hào về sự tiếp nối truyền thống của các thế hệ trong gìn giữ, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Bởi lẽ, ngay tại trung tâm đầu não, thủ phủ của chính quyền Sài Gòn, sự đoàn kết gắn bó, anh dũng chiến đấu, không tiếc máu xương của cán bộ, chiến sĩ và quần chúng nhân dân thành phố Sài Gòn - Gia Định, trong đó có sự đóng góp to lớn của người Hoa, đã khẳng định thế trận lòng dân, tinh thần đoàn kết toàn dân có khả năng tạo ra sức mạnh phi thường, làm chuyển biến tình hình cục diện, tạo bước ngoặt mới mang tính quyết định cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.

Công tác chuẩn bị lực lượng, vận động tập hợp người Hoa

Cuối năm 1964, đầu năm 1965, cục diện chiến trường miền Nam diễn ra quyết liệt, Bộ Chính trị quyết định giao Khu ủy Sài Gòn - Gia Định chuẩn bị các bước cho cuộc tiến công vào tất cả đô thị, nơi tập trung lực lượng quân sự, chính trị chủ yếu của địch. Trước tình hình nhiệm vụ mới, Khu ủy Sài Gòn - Gia Định đã xác định một trong những yếu tố quan trọng để thực hiện thắng lợi cho cuộc tổng tiến công này, đó chính là phát huy sức mạnh tổng hợp của nhân dân, sức mạnh của lòng dân, tập hợp khối đoàn kết dân tộc, xây dựng lực lượng cách mạng để bước vào cuộc chiến. Công tác tuyên truyền vận động quần chúng lúc bấy giờ được thực hiện sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân, trong các giới, các dân tộc, tôn giáo.

Đầu năm 1967, công tác vận động cách mạng trong đồng bào người Hoa đã chính thức chuyển sang một giai đoạn mới, mang tính chất toàn diện và rộng khắp chứ không giới hạn trong lực lượng công nhân, lao động như trước đây. Để đáp ứng yêu cầu công tác vận động quần chúng người Hoa ở đô thị, Đặc khu Ủy Sài Gòn - Gia Định (T4) đã quyết định chuyển Ban Cán sự công vận người Hoa thành phố thành Đảng ủy kiêm Ban Hoa vận Đặc khu Sài Gòn - Gia Định (gọi tắt là Ban Hoa vận T4). Ban Hoa vận T4 đã quán triệt tư tưởng cách mạng tiến công, vận dụng tài tình đường lối đấu tranh chính trị, thể hiện được phương châm và nghệ thuật chỉ đạo hoạt động quân sự nội thành, đó là: phát huy tối đa tính sáng tạo của cơ sở; triển khai tiến công địch một cách linh hoạt, cơ động, táo bạo, bí mật, bất ngờ; lấy yếu thắng mạnh, lấy ít thắng nhiều, dồn kẻ địch vào thế phải bị động đối phó. Với đặc thù rất riêng, Ban Hoa vận T4 dưới sự chỉ đạo của Khu ủy đã vận dụng đường lối đấu tranh chính trị của Đảng, tập hợp, xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng trong khắp các thành phần, tầng lớp đồng bào người Hoa.

Ban Hoa vận T4 đã thành lập 5 ban cán sự trực thuộc gồm: Ban Cán sự quân sự, Ban Cán sự công vận, Ban Cán sự học vận, Ban Cán sự xóm lao động và Ban Cán sự tư sản vận - kinh tài. Ngoại trừ Ban Cán sự tư sản vận - kinh tài, cả 4 ban cán sự còn lại đều có đội vũ trang và đội vũ trang tuyên truyền. Ngoài ra, Ban Hoa vận T4 còn thành lập 2 bộ phận chuyên môn là Ban Tuyên huấn kiêm công tác xuất bản báo chí chữ Hoa và bộ phận căn cứ Hoa vận T4. Chỉ trong thời gian ngắn, các ban cán sự nhanh chóng xây dựng, phát triển lực lượng, củng cố tổ chức lãnh đạo, thể hiện vai trò là cầu nối giúp Đảng ủy lãnh đạo phong trào sâu sát và nhạy bén hơn; phát huy được tính sáng tạo trong đấu tranh của các tổ chức hạt nhân trực thuộc.

Dưới sự nỗ lực hoạt động của các đồng chí trong Ban Cán sự công vận, phong trào cách mạng trong giai cấp công nhân và nhân dân lao động là người Hoa đã bước sang một giai đoạn phát triển mới, giai đoạn đấu tranh liên tục từ thấp đến cao, từ lẻ tẻ đến những cuộc vận động rộng lớn trong toàn thành phố; từ những xí nghiệp có công nhân người Hoa đứng lên đấu tranh đến sự đoàn kết với những xí nghiệp có công nhân người Kinh và hình thành nên một phong trào chung của giai cấp công nhân thành phố, đánh thẳng vào cơ quan đầu nào của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Ban Cán sự công vận, cùng với các cán bộ cách mạng người Hoa tiêu biểu 1 và những lực lượng tích cực trong công nhân người Hoa đã trực tiếp chiến đấu, thâm nhập vào các tổ chức hợp pháp của địch để hoạt động, nhất là các nghiệp đoàn ngành dệt, nhựa, pha lê, cơ khí, in ấn, nhà hàng...

Ở các nhà máy tập trung đông công nhân người Hoa đều có chi bộ đảng và tổ chức chi hội công nhân giải phóng lãnh đạo, dẫn dắt công nhân, lao động là người Hoa tham gia các phong trào đấu tranh của công nhân, lao động với nhiều hình thức phong phú. Có khi là sự nổi dậy của công nhân nhiều quận, gắn kết với nhau trên nhiều địa bàn; có khi xảy ra riêng lẻ tại một quận hoặc trong từng nhà máy, xí nghiệp. Từ những cuộc đấu tranh đó, phong trào dần lớn mạnh đưa đến sự ra đời của các nghiệp đoàn như: Nghiệp đoàn Xà bông Trương Văn Bền, Nghiệp đoàn Chợ Bình Tây, Nghiệp đoàn Rượu Bình Tây, Nghiệp đoàn Pin Viễn Đông. Song song với phong trào đấu tranh của công nhân tại nội thành, cùng với Ban Hoa vận Trung ương Cục, Ban Hoa vận T4 đã vận động hàng trăm thanh niên, công nhân người Hoa vào vùng giải phóng, tăng cường cho lực lượng chủ lực của Khu và Miền.

Với sự nỗ lực hoạt động tích cực, đến cuối năm 1967 đã có một số chi bộ trực thuộc Ban Cán sự xóm lao động bám chắc ở các địa bàn có đông đồng bào Hoa là lao động nghèo cư trú. Các ban cán sự học vận, quân sự, tư sản vận - kinh tài đều phát triển lực lượng, có chi bộ đảng trực thuộc.

Công tác hậu cần, tuyên huấn được Ban Hoa vận T4 đẩy mạnh hoạt động, giữ liên lạc thông suốt, bí mật, an toàn trong suốt giai đoạn nổi dậy, góp phần vào việc phổ biến các tài liệu, tin tức, đưa chủ trương, chỉ thị của Đảng đến với các chiến sĩ và đồng bào ở vùng Sài Gòn - Gia Định. Ban Hoa vận T4 xây dựng được lực lượng giao liên mà các chiến sĩ hầu hết là các đồng chí nữ rất khéo léo, dũng cảm, ngoan cường, mưu trí trong chuyển tải một khối lượng lớn vũ khí, chất nổ từ vùng căn cứ vào nội đô. "Trong điều kiện kẻ địch kềm kẹp, kiểm soát rất gắt gao, những chiến sĩ hậu cần vừa kiên trì, vừa mạo hiểm, vẫn lần lượt chuyển từng khẩu súng ngắn, từng quả lựu đạn từ vùng căn cứ cách mạng vào thành phố rất an toàn. Có chiến sĩ, tay bồng con nhỏ, tay xách giỏ bí rợ, thức ăn, sữa uống cho cháu bé, nhưng trong ruột quả bí lại là một quả lựu đạn, lúc khác là khẩu súng ngắn, đã băng đồng hàng chục cây số để ra lộ đón xe. Hắc Muối - thuộc bộ phận hậu cần của Ban quân sự - có chồng bị tật nguyền, bản thân có mang gần đến ngày sinh, vẫn liên tục cải trang, vào căn cứ chuyển từng ký thuốc nổ vào thành phố" .

 Đặc biệt, một số đồng chí sáng tạo, tìm tòi, nghiên cứu chế tạo chiếc thùng xe tải hai đáy, chuyển súng đạn từ Lộc Ninh về Sài Gòn một cách an toàn mà quân địch không hề hay biết. Góp gió thành bão, bộ phận hậu cần của Ban Cán sự quân sự đã góp dần được một số vũ khí để cung cấp cho các đơn vị vũ trang Hoa vận nội thành 6 tấn thuốc nổ và một số súng AK, cối 60 ly và B40 . Nhiều người Hoa đã tự nguyện dùng ngay căn nhà của mình làm nơi cất giữ vũ khí, che giấu cán bộ, làm điểm hẹn, nơi huấn luyện quân sự cho chiến sĩ. Có cơ sở lộ tung tích, bị địch bắt giam, bị tra khảo đánh đập dã man vẫn tuyệt đối trung thành với cách mạng, kiên quyết không khai báo nơi cất vũ khí ngay trong nhà mình.

Trên mặt trận báo chí và giáo dục, những lực lượng yêu nước trong người Hoa ở Sài Gòn - Chợ Lớn đã có những hoạt động khá sôi nổi, từ những truyền đơn vận động bà con người Hoa đến bản tin giải phóng dành riêng cho bà con người Hoa trực tiếp xuất bản tại Sài Gòn, như Tân Việt Hoa, báo Công Nhân (sau đổi tên thành báo Giải phóng) in bằng chữ Hoa đã phát hành hàng ngàn số đến tay bạn đọc (tờ báo này là tiền thân của báo Sài Gòn Giải phóng tiếng Hoa hiện nay).

Cũng như tất cả cán bộ, chiến sĩ hoạt động ở nội thành bấy giờ, cán bộ, chiến sĩ thuộc lực lượng Hoa vận hầu hết đều tự lực trang trải mọi chi phí hoạt động, một số nhờ vào sự đùm bọc của các cơ sở.

Đồng bào người Hoa trong tổng tiến công và nổi dậy

Để chuẩn bị cho đợt Tổng công kích Mậu Thân 1968, Ban Hoa vận chủ trương cho các ban cán sự đề ra kế hoạch hành động của riêng mình, phát huy tính sáng tạo, nhạy bén của từng đơn vị; Ban Hoa vận chỉ tập trung chỉ đạo phối hợp kế hoạch và trực tiếp ở các địa bàn, các mục tiêu tấn công then chốt và phân công lực lượng nội thành bám sát địa bàn, bố trí một số người có trách nhiệm hướng dẫn cánh quân Tây Nam tiến vào Thành phố.

Ban Hoa vận T4 tiến hành sắp xếp lại tổ chức, điều động tăng cường cán bộ, chiến sĩ cho 4 ban cán sự là quân sự, công vận, xóm lao động và học vận; lên sơ đồ xây dựng phương án tác chiến cho từng mục tiêu, xây dựng thêm nhiều lực lượng, bổ sung thêm lực lượng giao liên, đáp ứng yêu cầu hậu cần chuyển tải, phân phối vũ khí, chất nổ đã tiếp nhận cho các đơn vị thuộc Ban Hoa vận T4 trong nội thành.

Đúng giờ theo kế hoạch, lực lượng vũ trang và chính trị Hoa vận theo mục tiêu và địa bàn đã phân công đồng loạt tiến công địch tại các khu vực. Đơn vị vũ trang cánh Hoa vận có nhiệm vụ đánh chiếm 9 điểm lớn, trong đó có bốt Bà Hòa (đường Hồng Bàng), bốt Ngô Quyền (Quận 5) là cơ quan mật vụ khét tiếng ác ôn của ngụy trên địa bàn Quận 5. Các đội vũ trang của cánh Hoa vận đã phát động quần chúng nổi dậy làm chủ tạm thời được một số khu vực. Đáng chú ý, mở đầu cuộc tấn công đánh vào bốt Bà Hòa và bốt Ngô Quyền để giải phóng những cán bộ chiến sĩ bị địch giam cầm, đánh chiếm Tòa hành chính Quận 5, cờ Mặt trận Giải phóng lần đầu tiên tung bay trên bầu trời Chợ Lớn. Các đội vũ trang người Hoa tổ chức đánh trả nhiều đợt tiến công của hàng trăm tên lính dù, cảnh sát, biệt kích có xe tăng yểm trợ đánh vào các vùng căn cứ "lõm" của nhân dân ta. Các đội vũ trang còn đánh sập các tòa báo bằng chữ Hoa phản động, tiến công vào Tòa hành chính và Ty Cứu hỏa Quận 6... Tại địa bàn Chợ Lớn, đội vũ trang Hoa vận đã thực hiện 36 trận đánh tiêu diệt nhiều sinh lực và cơ sở vật chất của địch.

Lực lượng Hoa vận được đông đảo bà con người Việt, người Hoa hết lòng đùm bọc che chở và giúp đỡ. Ban Cán sự xóm lao động vận động đồng bào lao động người Hoa tích cực nổi dậy và tiến công vũ trang vào các lực lượng Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Với phương châm tự lực, tìm địch mà diệt, lấy vũ khí địch để tự trang bị cho ta, các chi bộ, các đội công tác đã dấy lên phong trào thi đua đánh địch đều khắp, táo bạo và bất ngờ ngay trên đường phố Sài Gòn - Chợ Lớn. Tại khu vực Chợ Thiết, nhân dân ta ở khu vực Phó Cơ Điều, trong đó có nhiều đồng bào người Hoa, đã vùng dậy diệt ác ôn, giành chính quyền, xây dựng căn cứ "lõm" ngay ở nội thành, tổ chức các đội vũ trang chiến đấu bảo vệ khu vực này. Ở khu vực ba Lò - Lò Gốm, Lò Siêu, Lò Gạch (nay thuộc Quận 6), nhân dân nổi dậy xây dựng căn cứ lõm và tổ chức cất giấu vũ khí. Ở khu vực Bình Thới, Phú Thọ (nay thuộc Quận 11), khu Cầu Tre, Vườn Lài (nay thuộc Quận Tân Bình), nhân dân và bà con người Hoa đã đánh đuổi quân lính và chính quyền địa phương, lập ra chính quyền cách mạng, tuyển chọn hàng trăm thanh niên người Hoa đưa ra vùng ven để huấn luyện quân sự, thành lập những đơn vị vũ trang tham gia các trận tiến công vào nội đô Sài Gòn.

Cánh Ban Cán sự học vận phối hợp hành động bằng nhiều hình thức sôi nổi, tập trung các hoạt động tuyên truyền đa dạng với nhiều hình thức nhưng phổ biến nhất là rải truyền đơn trên xe chuyên chở công nhân, các chợ, rạp chiếu bóng; treo cờ Mặt trận Giải phóng, thả bong bóng có treo truyền đơn, trương khẩu hiệu ngay tại các trường Hoa văn và ở nhiều nhà máy có đông công nhân người Hoa.

Tuy lực lượng cách mạng bị tổn thất, nhưng khí thế cách mạng lại dâng cao hơn bao giờ hết. Khâm phục và học tập những tấm gương gan dạ, chiến đấu chẳng ngại hy sinh của các chiến sĩ, đồng bào người Hoa càng gắn bó chặt chẽ hơn với cách mạng, sẵn sàng tham gia và đưa con em vào vùng giải phóng, gia nhập bộ đội. Lực lượng của ta vì thế càng được củng cố và phát triển ngày càng mạnh, đúng như nhà thơ Tố Hữu đã viết:

"Vì độc lập, tự do, núi sông hùng vĩ
Vì thiêng liêng giá trị con người,
Vì muôn đời hoa lá xanh tươi,
Ta quyết thắng, giành mùa xuân đẹp nhất"
2.

Thật khó để kể hết những mất mát, hy sinh của đồng bào người Hoa trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Bởi trong cuộc chiến đấu đó, 235 chiến sĩ người Hoa đã hy sinh, trong đó có 74 liệt sĩ thuộc lực lượng Hoa vận; biết bao cán bộ, chiến sĩ Ban Hoa vận, những chiến sĩ, học sinh, sinh viên, công nhân, lao động người Hoa bị thương, bị địch bắt, tù đày. Bao máu xương của cán bộ, chiến sĩ, quần chúng nhân dân là người Hoa hòa vào máu xương của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân các dân tộc khác, thấm đẫm trên từng mảnh đất Sài Gòn - Gia Định, càng làm thắm đỏ màu cờ Quân giải phóng.

Lịch sử mãi mãi ghi nhận những công lao đóng góp, sự hy sinh của các thế hệ, các tầng lớp nhân dân các dân tộc, trong đó có đồng bào người Hoa trong cuộc tiến công Xuân Mậu Thân 1968 nói riêng và công cuộc giải phóng dân tộc nói chung. Những đóng góp của đồng bào người Hoa đã được Đảng và Nhà nước trân trọng và ghi công. Nhà nước đã phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho 4 tập thể và 8 danh hiệu Mẹ Việt Nam Anh hùng; Ban Hoa vận Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; cán bộ và đồng bào người Hoa Thành phố Hồ Chí Minh được tặng thưởng Huân chương Độc Lập hạng Nhất. Ngoài ra, còn có 25 cán bộ, chiến sĩ người Hoa được tặng Huân chương Độc lập; hơn 200 cá nhân được tặng Huân chương Kháng chiến và hơn 300 cá nhân được tặng huân, huy chương kháng chiến các loại...

Bài học kinh nghiệm được rút ra từ công tác vận động người Hoa ở Sài Gòn - Gia Định tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là bài học về đề ra chủ trương, chính sách phù hợp, đi sâu vào đồng bào người Hoa, kiên trì quan điểm tin tưởng và dựa vào quần chúng, luôn bám sát quần chúng, bám sát địa bàn để vận động, tổ chức lực lượng; xây dựng lực lượng Ban Hoa vận tổ chức thực hiện quan điểm đoàn kết cộng đồng trong người Hoa với các dân tộc anh em khác, tạo được lòng tin yêu đối với quần chúng, được quần chúng đùm bọc, che chở, bảo vệ ngay trong tình hình căng thẳng nhất cũng như sẵn sàng hưởng ứng lời kêu gọi của cán bộ, nổi dậy phối hợp cùng với lực lượng vũ trang tạo thành sức mạnh cuộc tổng tiến công và nổi dậy. Bài học này tiếp tục được Đảng ta vận dụng và phát triển trong chuẩn bị lực lượng và thế trận lòng dân, để cán bộ chiến sĩ, nhân dân Sài Gòn - Gia Định cùng cả nước, vì cả nước làm nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975, đất nước thống nhất, non sông thu về một mối.

Năm mươi năm đã trôi qua, những kinh nghiệm về công tác Hoa vận trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 tiếp tục là bài học quý báu để Ðảng bộ, chính quyền thành phố vận dụng trong công cuộc xây dựng và phát triển thành phố có chất lượng sống tốt, văn minh, hiện đại, nghĩa tình.



-----------------------------------------------------------------
1. Gồm các đồng chí: Lâm Tư Quang, Dư Huệ Liên, Quách Lan Anh, Ngô Tú Thanh, Mã Lê Trân, Khổng Quế Kình, Lư Yến Linh.

2. Tố Hữu: Bài ca Xuân 68.


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Sáu, 2020, 04:41:52 pm
TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY Ở SÀI GÒN - CHỢ LỚN - GIA ĐỊNH
TẾT MẬU THÂN 1968




TS. LÊ HỮU PHƯỚC
Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn,
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh


Với quyết tâm "chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ giành thắng lợi quyết định", sau Hội nghị Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương trong hai ngày 30-6 và 1-7-1967, Bộ Chính trị chỉ thị cho Trung ương Cục miền Nam: "Phải tiến công mạnh về quân sự và chính trị vào các thành phố và thị trấn, các trung tâm chính trị... tạo điều kiện tiến lên tổng công kích, tổng khởi nghĩa... Chiến trường quyết định thứ nhất là Sài Gòn - Chợ Lớn và miền Đông Nam Bộ".

Tháng 10-1967, Trung ương Cục miền Nam ra Nghị quyết về tổng công kích - tổng khởi nghĩa (Nghị quyết Quang Trung), quyết định lấy miền Đông Nam Bộ và Sài Gòn làm trọng điểm tiến công và nổi dậy, hướng tiến công chủ yếu là Sài Gòn. Ngày 25-10-1967, Trung ương Cục quyết định giải thể Khu miền Đông và Quân khu Sài Gòn - Gia Định, thành lập Khu trọng điểm và 6 phân khu; đồng thời xác định nhiệm vụ đánh chiếm các mục tiêu đầu não của Mỹ - chính quyền Sài Gòn, tiêu hao tiêu diệt nhiều sinh lực địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, phát động quần chúng nổi dậy khởi nghĩa, góp phần cùng toàn Miền tiêu diệt và làm tan rã đại bộ phận quân đội Sài Gòn, đánh đổ chính quyền Sài Gòn các cấp, giành chính quyền về tay nhân dân.

Thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị và Nghị quyết của Trung ương Cục miền Nam, hai mũi tiến công và nổi dậy trên địa bàn thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn và tỉnh Gia Định (nay là Thành phố Hồ Chí Minh) vào Tết Mậu Thân 1968, đã giáng một đòn thôi động bất ngờ vào sào huyệt của đối phương, góp phần đặc biệt quan trọng tạo nên bước ngoặt quyết định của cuộc kháng chiến chống Mỹ, ghi lại dấu ấn độc đáo và những nét son tươi thắm trong lịch sử chiến tranh cách mạng của cả nước và của vùng đất "Thành đồng Tổ quốc".

Đưa chiến tranh vào tận sào huyệt đầu não của đối phương

Từ sau Hiệp định Giơnevơ 1954 cho đến trước Tết Mậu Thân 1968, nét nổi bật trong phong trào cách mạng Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định là đấu tranh chính trị của các tầng lớp nhân dân với nhiều hình thức, quy mô và mức độ khác nhau. Đấu tranh vũ trang giới hạn trong các hoạt động trừ gian, diệt ác của lực lượng đặc công, biệt động nội thành và những đợt pháo kích không thường xuyên vào các căn cứ quân sự của Mỹ và quân đội Sài Gòn ở vùng ven. "Thủ đô Sài Gòn" vẫn được đế quốc Mỹ và chính quyền Nguyễn Văn Thiệu xem là hậu cứ an toàn. Cho đến tháng 11-1967, phía Mỹ vẫn tự tin nhận định: "Cộng sản" chưa đủ mạnh để tạo thắng lợi quân sự, chưa có khả năng bước sang giai đoạn tổng phản công, chỉ có khả năng bảo tồn lực lượng chờ khi Mỹ rút sẽ tổng tiến công vào quân đội Sài Gòn.

Vào thời điểm đầu năm 1968, lực lượng đối phương bảo vệ ba vòng thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn có khoảng 4 sư đoàn bộ binh Mỹ, 4 sư đoàn bộ binh quân đội Sài Gòn, 8 tiểu đoàn dù và thủy quân lục chiến, 1 tiểu đoàn an ninh thủ đô, 20 vạn bảo an - dân vệ - cảnh sát dã chiến, hàng ngàn học viên quân sự và hàng vạn thanh niên chiến đấu... Tính chung trên chiến trường miền Đông Nam Bộ trước thời điểm tổng công kích - tổng khởi nghĩa, số đơn vị chủ lực cơ động Mỹ và quân đội Sài Gòn tương đương 9 sư đoàn (không kể lực lượng Sư đoàn 1 kỵ binh bay và các đơn vị quân chủng kỹ thuật của Mỹ); trong khi khối chủ lực cơ động Quân giải phóng chỉ có 3 sư đoàn bộ binh (Sư đoàn 5, Sư đoàn 7, Sư đoàn 9), 1 sư đoàn pháo và một số trung đoàn độc lập. Xét về tương quan lực lượng, phía Mỹ và quân đội Sài Gòn hoàn toàn áp đảo về quân số, chưa kể ưu thế vượt trội về trang bị vũ khí và hệ thống bố phòng tại các cơ quan đầu não, các vị trí trọng yếu.

Chính vì vậy, những trận đánh "xuất quỷ nhập thần" của khối Biệt động Thành tiến công 6/9 mục tiêu đầu não - trong đó có 5 mục tiêu trọng yếu nhất tại trung tâm thành phố Sài Gòn mở đầu đợt 1 cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 đã gây kinh hoàng cho chế độ Mỹ - ngụy và làm chấn động dư luận trong cũng như ngoài nước. Dinh Độc Lập, Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Tư lệnh hải quân, sân bay Tân Sơn Nhất, Đài Phát thanh, Tòa Đại sứ Mỹ... những vị trí tưởng chừng bất khả xâm phạm đều bị tập kích và uy hiếp nặng nề, có nơi lực lượng vũ trang cách mạng đã giành được quyền làm chủ. Phối hợp cùng Biệt động Thành, các tiểu đoàn mũi nhọn thuộc các phân khu cũng nhanh chóng cơ động lực lượng tiếp cận địa bàn được phân công đảm trách.

Bảy ngày cao điểm tập kích chiến lược của đợt 1 Mậu Thân đã buộc tướng Oétmolen - Tư lệnh Bộ Chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ (MACV), Tư lệnh Lục quân quân đội Mỹ phải thừa nhận: "Đối phương đã giáng cho Chính phủ Nam Việt Nam một cú đấm nặng nề; họ đã đưa chiến tranh vào các thành phố, đô thị, đã gây thương vong và thiệt hại nghiêm trọng cho chúng ta". Báo chí Mỹ và báo chí Sài Gòn cho rằng "chiến tranh đã vào tận giường ngủ" của Đại sứ Bâncơ, của tướng Oétmolen, của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu... Đặc biệt, trận tập kích Tòa Đại sứ Mỹ trở thành cú sốc mạnh mẽ đối với cả nước Mỹ, như nhận định của nhà báo Ôbơđophơ: "Sứ quán Mỹ là nơi mà lá cờ sao và vạch của Hoa Kỳ chính thức cắm trên đất Việt Nam, đó là trung tâm tượng trưng cho nỗ lực của người Mỹ. Khi được tin sứ quán Mỹ bị tiến công, mọi người đều hiểu rằng, Việt cộng đang tiến công vào trái tim của nước Mỹ ở giữa Sài Gòn".

Đưa chiến tranh vào tận sào huyệt đối phương, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 ngay từ đợt 1 cũng đồng thời "đưa chiến tranh vào lòng nước Mỹ". Tổng thống Giônxơn thừa nhận, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã "bị một đòn choáng váng". Cựu tổng thống Aixenhao cho rằng: Chưa bao giờ gặp phải tình trạng đáng buồn như tình cảnh hiện nay của nước Mỹ, bị chia rẽ sâu sắc vì cuộc chiến tranh (phát biểu ngày 27-3-1968). Hồi ký của tướng Taylo viết: "Những quan chức trong Bộ Quốc phòng Mỹ cảm thấy rằng cuộc tiến công của đối phương năm 1968 chứng minh là Mỹ không bao giờ có thể đạt được thành công ở Việt Nam bằng những phương tiện quân sự. Lần đầu tiên trong lịch sử 200 năm của mình, quân đội Mỹ đã bị đánh bại trong một trận quyết chiến chiến lược, dẫn đến hậu quả đặt Mỹ vào vị trí thua trận trong một cuộc chiến tranh. Những trận tiến công của đối phương được báo chí Mỹ tường thuật bằng những tít lớn, đã được chiếu trên truyền hình Mỹ và đã làm cho dân chúng Mỹ, quan chức Mỹ kinh hoàng". Nhà báo Ôbơđophơ cho biết thêm ý kiến của một số tướng lĩnh và chính khách khác của Mỹ, như: "Cuộc tiến công Mậu Thân chứng tỏ Mỹ hoàn toàn không kiểm soát gì được đất nước này", "Tết Mậu Thân đã đập tan cái mặt nạ của những ảo tưởng từng che đậy không cho Mỹ nhìn thấy hoàn cảnh thực của mình" ...

Hệ quả trực tiếp của đợt 1 Mậu Thân là hàng loạt nhân vật quan trọng trong chính giới và quân đội Mỹ hoặc bị thay thế, hoặc bị triệu hồi về nước như Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mắc Namara, Tư lệnh Oétmolen... Ngay cả Tổng thống Mỹ Giônxơn cũng buộc phải tuyên bố không ứng cử vào nhiệm kỳ thứ hai. Tiếp đó, giới lãnh đạo Mỹ buộc phải xét lại toàn bộ đường lối tiến hành chiến tranh ở Việt Nam, xuống thang chiến tranh và chấp nhận đàm phán với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Bằng việc đưa chiến tranh vào tận sào huyệt đối phương, quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, quân và dân miền Nam đã tạo ra "một cách đánh chưa từng diễn ra trong cuộc kháng chiến chống Mỹ và cũng hiếm có trong lịch sử chiến tranh cách mạng, khiến cho Mỹ - ngụy không hề nghĩ tới và cũng không thể nghĩ tới" .

Tích cực nổi dậy, phối hợp và hỗ trợ tiến công

Thực hiện "Nghị quyết Quang Trung" của Trung ương Cục miền Nam, tháng 10-1967, Khu trọng điểm được thành lập bao gồm Khu Sài Gòn - Gia Định (cũ) và một phần địa bàn các tỉnh tiếp giáp. Khu trọng điểm chia thành 6 phân khu, với hai Bộ Tư lệnh tiền phương Bắc và Nam. Bộ Tư lệnh tiền phương Bắc trực tiếp chỉ huy các mũi tiến công từ phía bắc, tây bắc và phía đông, đông bắc thành phố, gồm các Phân khu 1, 4, 5 và lực lượng chủ lực Miền. Bộ Tư lệnh tiền phương Nam chỉ huy các mũi phía nam và một phần tây nam, gồm các phân khu 2, 3, 6; đồng thời lãnh đạo quần chúng nổi dậy ở nội thành.

Tuy số quần chúng cốt cán trong nội thành chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong cộng đồng dân cư, nhưng phong trào đấu tranh công khai đã phát triển khá mạnh ở Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định từ nhiều năm trước. Mặt khác, cách mạng đã xây dựng được nhiều cơ sở và nắm được nhiều tổ chức quần chúng như Tổng hội Sinh viên, Tổng đoàn Học sinh, Lực lượng Bảo vệ văn hóa dân tộc, Hội Bảo vệ nhân phẩm và quyền lợi phụ nữ, Nghiệp đoàn ký giả...

Với niềm tin quần chúng sẵn sàng tham gia nổi dậy giành quyền làm chủ khi lực lượng vũ trang cách mạng tiến công địch, Khu ủy chỉ đạo và phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng tổ chức, từng đoàn thể, từng bộ phận. Ban Tuyên huấn có nhiệm vụ tuyên truyền phát động quần chúng đấu tranh trên mặt trận dư luận - tư tưởng, đưa người vào các cơ quan báo, đài để có thể ra báo công khai khi có điều kiện. Ban Công vận giao lại cơ sở thuộc các ngành nghề cho quận, huyện lãnh đạo để khởi nghĩa ở địa bàn dân cư; riêng bộ phận Công vận nội thành trực tiếp lãnh đạo nổi dậy tại các nơi quan trọng như Nhà đèn Chợ Quán, Xí nghiệp Hỏa xa, Cư xá Đô Thành, xóm lao động Chuồng Bò... Ban Phụ vận làm nòng cốt nổi dậy ở các phường, khóm, chợ, khu lao động... Ban Hoa vận có nhiệm vụ vận động đồng bào người Hoa nổi dậy và bố trí dẫn đường cho cánh quân Tây Nam đánh vào thành phố. Ban Trí vận hướng dẫn các cơ sở trong đội ngũ công chức, tư chức xuống đường hỗ trợ mũi tiến công quân sự. Đặc biệt, lực lượng của Thành đoàn Thanh niên được chia thành ba bộ phận: Đội vũ trang biệt động làm "thê đội 2" cho các đội biệt động của Quân khu, có nhiệm vụ tấn công các mục tiêu chiến lược và mục tiêu quan trọng; lực lượng chính trị vũ trang làm nhiệm vụ tuyên truyền vũ trang, phát động quần chúng nổi dậy; lực lượng chính trị công khai làm công tác đối ngoại và tập hợp, vận động các tầng lớp trí thức, nhân sĩ, chức sắc tôn giáo...

Kế hoạch chuẩn bị nổi dậy tuy chưa thật chu toàn, nhưng đều được các tổ chức, các đoàn thể khẩn trương thực hiện với quyết tâm cao nhất. Tiếc rằng, "phần lớn các lực lượng chính trị, vũ trang của các đoàn thể quần chúng không nhận được thông báo về giờ hành động ("giờ G"), hoặc người đi nhận lệnh gặp trắc trở không về kịp" . Dù vậy, diễn biến thực tế của đợt 1 Mậu Thân đã cho thấy khí thế nổi dậy và ý chí kiên cường của quần chúng cách mạng Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định trong điều kiện hết sức khó khăn, bất lợi.

Bước sang đợt 2 tổng tiến công và nổi dậy (từ 5-5 đến 18-6-1968), chấp hành chỉ đạo của cấp trên, Khu ủy Sài Gòn - Gia Định quyết tâm thực hiện ba mục tiêu chính: 1- Chiếm lĩnh các khu vực đông dân cư trong thành phố, xây dựng chính quyền cách mạng, tiêu diệt sinh lực địch; 2- Phát động cao trào chiến tranh du kích, hình thành thế liên hoàn nội - ngoại thành, giữ vững thế tiến công; 3- Phát triển lực lượng chính trị, lực lượng quân sự với những bước nhảy vọt.

Rút kinh nghiệm đợt 1, Khu ủy (chủ yếu là Ban Cán sự Phân khu 6) đề ra kế hoạch cụ thể phát động khởi nghĩa, thành lập ban lãnh đạo khởi nghĩa song song với ban chỉ huy quân sự. Các ban, ngành, đoàn thể được phân công nhiệm vụ rõ ràng, kết hợp chặt chẽ với lực lượng cơ sở ở các quận, phường. Do đó, trong đợt 2, "những hoạt động vũ trang và chính trị của các lực lượng Thành đoàn, Hoa vận, Phụ vận, An ninh vũ trang, Tuyên huấn đã có nhiều thành tích nổi bật" .

Dù không còn yếu tố bất ngờ, các mũi vũ trang vẫn lập nhiều chiến công ở Đài Truyền hình, cầu Phan Thanh Giản, khu vực Thị Nghè, đường Minh Mạng... Phối hợp với tiến công quân sự, các đội tuyên truyền nội đô phát động quần chúng nổi dậy làm chủ ở nhiều khu vực thuộc Quận 5 (đánh chiếm Tòa hành chính và một số công sở, diệt ác, làm chủ các khu vực Lò Gốm, Lò Gạch, Lò Siêu, Khóm 1 phường Trang Tử, Khóm 6 phường Phú Lâm). Những nơi các tiểu đoàn mũi nhọn không vào được (như các quận 1, 2, 3, Phú Nhuận...) vẫn có các đội tuyên truyền vũ trang và cơ sở tại chỗ diệt ác trừ gian, phá cơ sở kinh tế của địch, đốt xe quân sự, phá cầu, rải truyền đơn, căng biểu ngữ, tổ chức họp đồng bào... Cơ sở quần chúng trong công nhân, lao động, học sinh, sinh viên, phụ nữ... tích cực tham gia tiếp tế, tải thương, dẫn đường cho lực lượng vũ trang... Đồng thời, quần chúng cách mạng còn hưởng ứng treo cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng, xé bỏ cờ Việt Nam Cộng hòa, tờ khai gia đình của chính quyền Sài Gòn... Nhờ sự nổi dậy và hỗ trợ của quần chúng, lực lượng vũ trang cách mạng đã bám trụ chiến đấu nhiều ngày tại nội thành.

Ở vùng ven, "tổng cộng có trên 8.000 quần chúng tham gia bao vây đồn bốt, gần 12.000 lượt người đấu tranh chính trị, trên 4.000 gia đình rời bỏ ấp chiến lược trở về ruộng vườn cũ làm ăn"2. Những hoạt động bền bỉ, kiên cường đó góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của tổng tiến công và nổi dậy.

"Thế trận lòng dân" trong tổng tiến công và nổi dậy

Trong hoàn cảnh tương quan lực lượng cách mạng - phản cách mạng quá chênh lệch (nhất là trong đợt 2 và đợt 3 Mậu Thân 1968), càng thấy rõ hơn ý nghĩa và giá trị của những đóng góp, hy sinh, của tấm lòng son sắt kiên trung mà người dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định dành cho cách mạng. Trong những ngày chiến sự diễn ra cam go, ác liệt, đồng bào các phường, các quận nội thành hết lòng che chở, chăm lo cho cán bộ, chiến sĩ đang làm nhiệm vụ đưa chiến tranh vào sào huyệt địch. Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, khi còn là Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, từng nêu rõ: "Nếu chúng ta biết rằng một cái hầm nuôi giấu cán bộ, cất chứa vũ khí đào ngay trong lòng thành phố vừa khó khăn, vừa nguy hiểm đến chừng nào đối với bản thân và gia đình người dân dưới chế độ phát xít Mỹ - ngụy, thì chúng ta mới hiểu tầm vóc cách mạng của nhân dân sống trong lòng địch".

Ở vùng ven, vùng ngoại thành, nhân dân sẵn lòng cưu mang, đùm bọc thương binh với con số thương vong không ít lần vượt xa dự kiến. Ở quận Củ Chi, đồng bào xã Nhuận Đức nhận nuôi 700 thương binh, đồng bào xã Bình Mỹ nuôi toàn bộ thương binh của cánh quân đánh vào Bộ Tổng Tham mưu quân đội Sài Gòn. Ở Gò Vấp, Ban Chỉ huy Trung đoàn Đồng Nai và 15 thương binh nặng của Phân khu 1 được nhân dân che chở, chăm sóc và đưa ra căn cứ an toàn... Lòng dân đã kết thành những lá chắn thép để nuôi giấu, bảo vệ cho lực lượng vũ trang với quân số lên đến sư đoàn, binh đoàn trong cả ba đợt tổng tiến công và nổi dậy.

Bên cạnh đó, hình ảnh những đoàn nam nữ dân công - biểu tượng của hậu cần nhân dân phục vụ chiến đấu - càng tô đậm thêm "thế trận lòng dân" trong Mậu Thân 1968. Trên cửa ngõ tây nam Sài Gòn, từng đợt từ 300 đến 700 dân công nối tiếp nhau lên đường phục vụ tổng tiến công. Trên đồng bưng xã Vĩnh Lộc (Bình Chánh), khi đoàn nữ dân công 33 người ngã xuống vì bị trực thăng Mỹ phát hiện, lập tức hàng trăm người dân trong khu vực tình nguyện thay thế làm nhiệm vụ. Đó là những biểu tượng của mặt trận đấu tranh chống phá bình định, làm thất bại ý đồ kìm kẹp, khống chế trái tim, khối óc của người dân mà đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn ráo riết thực hiện. Cũng chính nhờ "thế trận lòng dân", nên tuy "chúng ta có mắc một số khuyết điểm: chủ quan trong việc đánh giá tình hình...; đề ra yêu cầu chưa thật sát với thực tế; nhất là sau đợt tiến công Tết Mậu Thân, ta đã không kịp thời kiểm điểm và rút kinh nghiệm ngay...; không đánh giá hết âm mưu của địch trong kế hoạch bình định nông thôn...", làm cho cách mạng gặp rất nhiều khó khăn nhưng phong trào cách mạng trên địa bàn Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 đã góp phần quan trọng tạo ra bước ngoặt chuyển sang thời kỳ giành thắng lợi quyết định trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.


Tiêu đề: Re: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968-Bước ngoặt quyết địn
Gửi bởi: hoi_ls trong 07 Tháng Sáu, 2020, 04:45:45 pm
CỦ CHI - ĐẤT THÉP THÀNH ĐỒNG, LÁ CỜ ĐẦU
CỦA PHONG TRÀO DU KÍCH CHIẾN TRANH



TRƯƠNG VĂN