Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Văn học chiến tranh => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 20 Tháng Tư, 2020, 07:40:54 am



Tiêu đề: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Tư, 2020, 07:40:54 am
 
        -Tên sách : Thành phố hòa bình

        - Tác giả : Ghê-o-rơ-ghi bê-re-dơ-cô

        - Đức Thuần - Hoàng Lan Dịch từ bản tiếng Nga

        - Nhà xuất bản Quân đội nhân dân 1982

        - Nhà xuất bản Quân sự Bộ Quốc phòng Liên Xô Mát-xcơ-va — 1955

        - Số hóa : Giangtvx


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tư, 2020, 07:41:57 am

LỜI GIỚI THIỆU

        Tiểu thuyết Thành phố hòa bình giới thiệu với bạn đọc cuộc chiến đấu oanh liệt của quân đội và nhân dân Liên Xô anh hùng ở trước cửa ngõ thủ đô Mát-xcơ-va trong cuộc Chiến tranh giữ nước vĩ đại chống bọn phát xít Đức xâm lược.

        Cuộc chiến đấu diễn ra từ đầu mùa thu đến cuối mùa đông 1941, khi toàn thể quân dân Mát-xcơ-va, từ các tưởng lĩnh, sĩ quan, binh sĩ Xô-viết đến các chiến sĩ tự vệ công nhân, từ các tầng lớp trí thức đến người lao động bình thường, từ các cụ già công nhân viên chức đã về hưu đến các em thiếu nhi chưa đến tuổi cầm súng, đến các bà mẹ, những người vợ vừa tiễn con, tiễn chồng ra mặt trận đều một lòng quyết tâm, bằng mọi giá bẻ gẫy cuộc tiến công xâm lược của quân dội phát xít Đức đang hung hăng tiến về hướng Mát-xcơ-va với âm mưu chiến lược của chúng là chiếm dóng thủ đô Xô-viết vào trước ngày 7-11-1941. Phải chặn đứng quân địch lại không cho chúng bén mảng tới trước cửa ngõ thủ đô. Đó là mệnh lệnh của Bộ Tổng tư lệnh tối cao, là quyết tâm của quân đội, là lời thề của giai cấp công nhân và nhân dân Xô-viết anh hùng.

        Tác phẩm đã dựng lên được khung cảnh của cuộc chiến tranh nhân dân rộng lớn hết sức phong phú. Ở đây ta thấy được quyết tâm và tài nghệ chỉ huy của các tướng lĩnh quân đội Xô- viết từ đồng chí Tổng tư lệnh tối cao Xta-lin đến những cán bộ chỉ huy cấp chiến thuật như trung tá Bốt-đa-nốp.

        Qua Bốt-đa-nốp, tác giả đã xây dựng thành công một hình tượng mẫu mực về lớp sĩ quan trẻ tuổi của quân đội Xô-viết; giúp người dọc thấy rõ với một quân đội cách mạng có những sĩ quan đầy phẩm chất và tài năng như vậy thì không một sức mạnh tàn bạo nào có thể địch nổi.

        Qua hình ảnh Pa-ven và trung đoàn công nhân vũ trang, tác giả muốn nói lên vai trò to lớn và sức mạnh phi thường của giai cấp công nhan Liên Xô vừa tác chiến tại chỗ vừa sản xuất phục vụ tiền tuyến ; nói lên sự gắn bó mật thiết giữa lực lượng vũ trang tại chỗ của các đồng chí công nhân với các đơn vị chủ lực cơ động tuyến trước là quan trọng nhường nào.

        Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của ủy ban quân sự do bí thư đảng bộ thành phố T. La-tô-ski và thiếu tướng Đi-a-cốp, quân dân thành phố này đã khắc phục muôn vàn khó khăn của một thành phố bị bao vây, đã huy dộng mọi lực lượng, mọi nguồn dự trữ về sức người, sức của cộng với sự chi viện từ vùng hậu phương xa xôi miền dông Liên Xô, đã làm thất bại chiến lược chiến tranh chớp nhoáng, chiến tranh tổng lực của bộ chỉ huy Hít-le.

        Thảng 12 năm 1941, cuộc chiến đấu bảo vệ Mát-xcơ-va thắng lợi. Bọn Đức bị đẩy lùi và rút chạy trong mùa đông giá rét. Các binh đoàn chủ lực cơ động của quân đội Xô-viết được trang bị những thứ vũ khí mới từ hậu phương gửi tới, tiếp tục tiến công truy kích địch. Trong đoàn quân chiến thắng đó có sư đoàn do đại tá Bốt-đa-nốp chỉ huy.

        Tiểu thuyết Thành phố hòa bình của nhà văn quân đội Bê-re-dơ-cô do Nhà xuất bản quân sự Bộ Quốc phòng Liên Xô xuất bản năm 1954 — 1955, sau khi ra mắt bạn đọc đã có tiếng vang lớn, được các báo chí Liên Xô Thế giới, Văn học, Sao đỏ viết nhiều bài phê bình ca ngợi. Tiếng vang rộng lớn của cuốn tiểu thuyết này đã đưa Bê-re-dơ-cô vào hàng ngũ những nhà văn đàn anh. Ngay sau đó, ông được bầu làm ủy viên Ban chấp hành Hội nhà văn Cộng hòa liên bang Nga và Liên Xò.

        Giới thiệu với bạn đọc cuốn tiều thuyết Thành phố hòa bình lần này, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân mong bạn dọc có dịp hiểu rõ thêm cuộc chiến đấu vô cùng anh dũng của nhân dân và quân đội Xô-viết quang vinh đã được phản ánh qua nhiều tác phẩm văn học xuất sắc trước đây.

        Đồng thời cuốn tiểu thuyết ra mắt bạn đọc Việt Nam trong lúc quân và dân ta không ngừng nâng cao cảnh giác, kiên quyết dập tan mọi âm mưu và hành động tội ác của bọn bành trướng Bắc Kinh trong kiểu chiến tranh phá hoại về nhiều mặt của chúng và sẵn sàng đánh bại một cuộc chiến tranh xâm lược trên quy mộ lớn do chúng gây ra, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân cũng mong rằng, cuốn sách sẽ góp phần cổ vũ quân dân ta xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN       


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tư, 2020, 07:48:44 am

QUYỂN MỘT

PHẦN THỨ NHẤT

1

        Mùa thu 1941, bộ tham mưu phương diện quân miền T£y đóng trong một khu rừng ngoài ô Mát-xcơ-va. Trung tá Bốt-đa-nốp để xe cách đường cái không xa rồi đi bộ khá lâu theo con đường mòn xuyên khu rừng thưa phủ dày lá bồ đề vàng thẫm và lá bạch dương xám ngắt đang bay loạn xạ như tro. Sự yên tĩnh kỳ lạ trong cánh rừng thưa với những hàng cây thẳng tắp, đôi nơi được ngăn cách bằng những hàng giậu đã làm cho Bốt-đa-nốp vô tình lo lắng. Tuy chưa thật rõ ràng, nhưng hình như trong sự yên tĩnh này có ẩn giấu một sự nguy hiểm mới nào dó. ,

        Trung tá không phải là người dễ đa sầu đa cảm. Anh trở về hậu phương sau những trận chiến đấu ác liệt nhiều ngày kéo dài từ hồi tháng sáu gần Min-xcơ. Từ đó, trong vòng hơn bốn tháng, anh đã cùng với đơn vị của mình đánh trả kẻ thù xâm lược. Bị bao vây ở Me-đư-nhin, anh vẫn tiếp tục chiến đấu trong bậu phương quân địch, rồi cùng với những người còn lại của trung đoàn chọc thủng vòng vây sang phía đông, bắt theo cả tù binh. Anh đã quen với cảnh thường xuyên chờ đợi chiến đấu, người gầy hốc hác, hai mắt lõm sâu. Tất cả nhưng cái đó đã làm cho Bốt-đa-nốp tuy mới hai mươi chín tuổi nhưng già như bốn mươi. Và bây giờ, trong không khí im lặng của vùng ngoại ở này, Bốt-đa-nốp lại cảm thấy căng thẳng. Nhưng không khí tĩnh mịch này bị chấm dứt đột ngột... Bốt-đa-nốp ở trong bộ tham mưu chưa trọn một giờ thì quanh đấy vang lên tiếng súng cao xạ và những con đường trong rừng lại lởm chởm mảnh đạn từ trên không rơi xuống.

        Trung tá được gọi đến bộ tham mưu để báo cáo về cuộc hành quân của mình trong vùng hậu phương quân địch... Gần tối, đồng chí ủy viên Hội đồng quân sự phương diện quân tiếp Bốt-da-nốp trong ngôi nhà lớn chìm khuất dưới hàng thông cao ngất. Sau cuộc nói chuyện dài, Bốt-đa-nốp không lưu lại ở phòng tiếp khách. Vẫn giữ vẻ suy nghĩ nghiêm trang trên khuôn mặt ngăm ngăm chưa mất nước da hè rám nắng, anh im lặng đi xuống cầu thang. Anh dự định đi tiếp ngay, nhưng trước hết cần phải làm thủ tục.

        Ở tầng thứ nhất, người ta yêu cầu anh ngồi đợi chút ít. Ngồi bên cửa sổ, tưởng như đang chăm chú nhìn những cây thông sần sùi mọc bên tường, nhưng Bốt-đa-nốp lại đang bị lôi cuốn bởi cuộc nói chuyện vừa qua và kể tất cả những gì anh được biết ở bộ tham mưu phương diện quân. Ngồi đối diện bên bàn là người trợ lý quân nhu. Anh ta đang hí hoáy với giấy tờ, để lộ ra cái đỉnh đầu hói, được phủ qua loa bằng mớ tóc rối bù. Trời đã về chiều và bóng tối đang xâm chiếm gian phòng.

        Chỉ đến lúc này, sau khi nói chuyện với ủy viên Hội đồng quân sự, ấn tượng riêng của Bốt-đa-nốp và những tin tức tản mạn về tình hình mặt trận mới tạo thành một bức tranh trọn vẹn trong anh. Quang cảnh thật là khốc liệt: mặt trận khổng lồ quanh Mát-xcơ-va trải rộng hàng chục nghìn cây số vuông ngày càng trở nên dữ dội. Song song với mũi tiến công ngắn nhất Vi-a-dơ-ma — Ggiát-xcơ — Mô-giai-xcơ —  Mát-xcơ-va, bọn Đức mở những cuộc tiến công bằng xe tăng theo hai sườn của cụm trung tâm. Và như vậy thủ đô đang đứng trước nguy cơ của một cú đấm tập trung, đồng thời từ ba phía. Phía bắc thủ đô, trong vùng Ca-Ii-nin — Vô-lô-cô-lam-xcơ, bọn Đức gặp phải sức chống cự quyết liệt, buộc phải sa lầy vào các cuộc chiến đấu kéo dài. Phía nam, tập đoàn quân xe tăng số hai với những binh đoàn bộ binh bổ sung dang đột phá theo hướng Ô-ri-ôn — Mát-xcơ-va. Đơn vị của Bốt-đa-nóp sau khi đã bị tồn thất, được đưa về hậu phương, đã đóng theo chính hướng này, cái hướng hơi chếch sang đông một chút so với T, một thành phố công nghiệp lớn. Anh biết khá rõ tinh hình nghiêm trọng trong vùng T. Kẻ thù bj chặn lại trên đường Ô-ri-ôn — Msen-xcơ. Nhưng giữa tháng mười, chúng đã đột phá tới Msen-xcơ và hiện nay chúng đang phát huy thắng lợi.

        —...Các chiến sĩ thiết giáp của chúng ta chiến đấu rất anh dũng, — đồng chí ủy viên Hội đồng quân sự nói như vậy về những sự việc này, sau khi nghe xong báo cáo của Bốt-đa-nốp. Trên thuôn mặt sáng sủa với bộ râu đang đốm bạc, đôi mắt tinh anh, lạnh lùng của ông linh lợi hẳn lên —... Có thể nói rằng, sức kháng cự của ta đã làm đảo lộn mọi tính toán của bộ tư lệnh Hít-le. — Ông tiếp tục — Về « chiến thuật chớp nhoáng » bây giờ đã trở nên nực cười. Ảo tưởng của Hít- le đã bị chôn vùi trong các nghĩa địa xe tăng ở Xmô-len-xcơ, En- nha và Bri-an-ca. Và Hít-le sẽ sợ hãi trước tính toán sai lầm của y về thời gian. Hắn đã ném tất cả những vốn liếng hiện có vào cuộc tiến công này. Không lực của hắn đã hoàn toàn tập trung ở mặt trận phía đông, các tập đoàn quân xe tăng được bổ sung bằng nhiều loại, kiểu khác nhau. Nào là loại Con báo, nào là Scốt-da, Rê-nô, thậm chí cả những chiến lợi phẩm chúng cướp được của Anh nữa... Để đánh đòn quyết định, Hít-le đã tung ra tất cả những gì mà chủ nghĩa đế quốc quốc tế có thể có được. Nhưng, anh có thấy không, hắn đã không đủ sức để tiến công trên toàn mặt trận như dạo tháng sáu, tháng bảy...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tư, 2020, 07:49:17 am

        Sau buổi nói chuyện này, Bốt-đa-nốp đã thấy mối liên hệ phức tạp giữa các sự kiện trong những khu vực khác nhau trên toàn mặt trận. Dễ dàng thấy rằng các trận đánh của bọn Đức từ hướng Ô-ri- ôn và Msen-xcơ là bộ phận của ý đồ chung: bao vây và chiếm Mát- xcơ-va. Vì thế, T. trở thành pháo đài xa án ngữ phía nam thủ đô. Tất nhiên, các chiến sĩ bảo vệ Lê-nin-grát cũng như các đơn vị đang làm tê liệt một lực lượng lớn của địch ở gần Rô-xtốp đã góp phân tích cực bảo vệ Mát-xcơ-va. Và Bốt-đa-nốp lại nhớ tới đồng chí ủy viên Hội đồng quân sự cuối buổi nói chuyện: Hít-le hứa với lính của y rằng chúng sẽ được nghỉ ở Mát-xcơ-va. Nếu chúng có được điều đó thì chỉ trên đất ngoại ô Mát-xcơ-va mà thôi... Nhưng cần phải khẩn trương lên đồng chí trung tá ạ. Kẻ thù vẫn chưa bị chặn đứng. Chúng đang tiến tới gần chúng ta. Hôm nay, dù bất kỳ đồng chí ở đâu, đồng chí cũng đang tham gia bảo vệ Mát-xcơ-va đấy.

        Một cảm giác mới chưa bao giờ thấy đang dâng lên trong người Bốt-đa-nốp. Cho đến lúc này, dù ở đâu: trong những trận đánh ở tuyến sau, hay khi đưa đơn vị của mình ra khỏi vòng vây, anh luôn luôn khát khao về một bước ngoặt quyết định trong cuộc chiến tranh. Nếu không phải là chính anh và những chiến sĩ của anh, thì những người khác, ở những hướng khác có nhiệm vụ chặn đứng kẻ thù và sau đó tiêu diệt chúng... Trong phạm vi bé nhỏ của mình, Bốt-đa-nốp đôi lúc quá nôn nóng mong được nghe một tin chiến thắng của quân ta. Bây giờ, lần đầu tiên anh nhận thức rất rõ ràng rằng không thể tiếp tục '“chờ đợi được nữa. Chính anh và bất cứ một chiến sĩ Hồng quân nào khác, dù chiến đấu ở đâu cũng phải làm hết sức mình cho thắng lợi, chứ không chờ đợi ai khác nữa.

        Trách nhiệm mà Bốt-đa-nốp cảm thấy trong giây phút này lớn đến nỗi khiến anh có cảm giác căn phòng dường như lạnh hơn. Thình lình, anh đứng dậy và nhìn quanh « Cần phải khẩn trương, phải khẩn trương...». Anh tự nhủ với mình.

        Trên các bàn giấy kê sát nhau, công việc diễn ra lặng lẽ và bình thường. Ai đó gấp lại quyền sách mỏng và to. Giấy tờ kêu sột soạt. Trong góc phòng, ngọn nến nhỏ cháy bập bùng. Một sĩ quan nét mặt mệt mỏi đang hơ thanh xi màu nâu trên ngọn lừa. Thanh xi nóng lên, phồng ra và tỏa một mùi dễ chịu. Tiếng nói sau lưng làm Bốt-đa-nốp phải quay lại.

        .. — Bản báo cáo đã làm xong chưa, đồng chí trung úy? — Một viên thiếu tá trạc tuổi trung niên với cái đầu húi, tóc còn hơi xanh, càu nhàu hỏi. Nhả cái tẩu ra khỏi miệng, ông để sang một phía cho tàn thuốc khỏi rơi xuống giấy. — Nửa giờ nữa anh phải báo cáo tôi.

        — Đã hướng dẫn rồi, hình như gửi cả bản mẫu nữa, — người ngồi sau lưng Bốt-đa-nốp bình phẩm. — Nhưng tin tức cung cấp lại không theo mẫu, thế mới đâm ra loay hoay như vậy.

        Bốt-đa-nốp nhìn hai người với vẻ không hài lòng. Anh bước tới gần người sĩ quan và yêu cầu ông ta làm thủ tục cho mình. Nhưng người sĩ quan không nói một lời nào, thậm chí cũng không nhìn lên nữa và cứ im lặng ghi chép điều gì đó vào sổ.

        — Tôi đang nói với anh, đồng chí thiếu tá quân nhu. — Bốt-da- nốp nóng nảy nói.

        Bổp-đa-nốp không cao, và cũng như những người tầm vóc trung bình, thường vô tình rướn đôi vai khi bực tức.

        Người sĩ quan bên bàn vẫn yên lặng. Bốt-đa-nốp nới khóa ở dãy thắt lưng và bằng động tác dứt khoát của cả hai tay, dường như muốn sửa lại áo ca pốt. Cử chỉ này là thói quen từ hồi còn học sinh. Đó là bản năng tự vệ của Bốt-đa-nốp. Nhưng anh còn chưa kịp nói gì, thì người sĩ quan đã đẩy quyển sổ lại phía anh.

        — Đồng chí ký đi!

        — Cần phải trả lời khi người khác nói với anh. — Bốt-đa-nốp nói to và cầm lấy bút.

        — Không, không phải ở đây, đồng chí trung tá, xin ký dưới dòng này — Người sĩ quan chỉ cho anh những chỗ cần phải ký.

        Nhận xong giấy tờ, Bốt-đa-nốp quay ngoắt lại và đi ra cửa. Người sĩ quan vẫn đứng nguyên bên bàn, mệt mỏi trông theo dáng người thấp khỏe của trung tá. Lim dim mắt, ông đưa bàn tay xoa mặt, xoa xoa lên cái đầu hói và lại hí hoáy bên bàn.

        Trời đã tối, đầu hành lang đèn tỏa sáng mờ mờ trong các chao. Bốt-đa-nốp bực tức nhìn xung quanh và bước ra phòng đợi. Ngay hôm nay anh phải cồ mặt ở chính Mát-xcơ-va, tới bộ tham mưu quân khu thủ đô và sau đó phải trở về ngay đơn vị. Nhưng ở phòng đợi, người lính gác đã giữ anh lại. Thì ra, lại có báo động và không một ai được phép ra khỏi nhà. Khi biết vậy, Bốt-đa-nốp sầm mặt lại, nhưng anh không cự lại người lính gác.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tư, 2020, 07:49:42 am

        Dần dần ở cửa ra vào ùn lại rất đông người. Một sĩ quan xe tăng bận chiếc áo bành tô da đi chậm chạp từ góc này sang góc kia, hai tay chắp sau lưng và các ngón tay đan lại với nhau. Một đại tá thân hình to cao, trong cái áo ca pốt thẳng nếp, tiến đến và dừng lại bên cột gõ. Những đường chỉ vàng bó chặt lấy bộ ngực nở nang. Cái mũ vành bằng lông cừu lấp lánh ánh bạc. Đại tá ăn mặc như thể đi duyệt binh. Nhưng điều lạ lùng này không hợp với vẻ buồn buồn hiện trên khuôn mặt xanh xao, dài và nhẵn nhụi của anh. Bốt-đa-nốp trông thấy người chỉ huy bảnh bao và anh vui hẳn lên.

        — Xe-li-vê-xtốp phải không ? Cậu ở đây à ? — Bốt-đa-nốp thốt lên. Đạj tá chậm chạp quay về phía tiếng gọi.

        — Không nhận ra mình sao ? — Bốt-đa-nóp hỏi và nhìn từ chân lên đầu với con mắt chờ đợi.

        — Cậu đấy à ? Thật không ngờ... — Xe-li-vê-xtốp trả lời khá dửng dưng và cởi chiếc tất tay nâu.

        — Nghe nói cậu ở Ca-ren-xki chiến đấu anh dũng lắm. Vẫn ở chỗ cũ à ? — Bốt-đa-nốp sôi nổi tiếp tục.

        Anh và Xe-li-vê-xtốp quen nhau từ hồi còn ở Học viện và sau đó cùng phục vụ trong chiến địch Phần Lan. Mặc dù chưa bao giờ hai người đặc biệt thân thiết, nhưng Bốt-đa-nốp thực sự vui mừng khi gặp Xe-li-vê-xtốp, một con người mà anh có thể giãi bày tâm sự của mình.

        — Không, mình không phải ở chỗ cũ... — Xe-li-vê-xtốp vừa trả lời vừa loay hoay với chiếc găng tay.

        — Không nhớ là mình được nghe ai kể về cậu. Mình tin rằng tự cậu sẽ kể cho mình nghe... — Bốt-đa-nốp mỉm cười.

        — Kể cái gì? — Đến lúc này đại tá mới cất găng tay. Bằng bàn tay to, lạnh, anh nhẹ nhàng nắm tay Bốt-đa-nốp — Cậu chiến đấu ở đâu ?

        Từ xa, tiếng súng phòng không dội vào phòng. Nhưng chỉ phút sau yên tĩnh trở lại.

        — Ôi! — Một trong đám người thốt lên — Họ còn giữ chúng ta đến đêm.

        — Chúng mình tìm chỗ nào ngồi đi. — Chắc đã quên câu hỏi của mình, Xe-li-vê-xtốp đề nghị — Hay ta đi ăn nhé? Hôm nay cậu đã ăn gì chưa ?

        Họ xuống nhà ăn ở tầng dưới. Vào giờ này, ở đây vắng người. Trong các phòng thông với hành lang, bàn ghế sạch sẽ. Trên bàn phủ khăn có bình nước lấp lánh. Trên các cửa treo những tấm. biền nhỏ với dòng chữ « Dành cho cán bộ sơ cấp», « Dành cho cán bộ trung cấp», « Dành cho cán bộ cao cấp», « Dành cho các tướng và người phụ trách các ban, vụ ». Tường hành lang trắng toát, cánh cửa sơn màu sáng, cảm giác sạch sẽ và ngăn nắp, thoải mái của một nơi an dưỡng.

        Trong phòng « Dành cho cán bộ cao cấp», các bàn đều trống không. Chắc mọi người đã ăn rồi. Người nữ phục vụ đứng tuổi, tóc tết đuôi sam, mặc áo blu trắng, thu vé của hai người. Bà mang đến bảng thực đơn đánh máy trên giấy thuốc lá .

        — Bác cho món gì còn lại cũng được! — Bốt-đa-nốp nói với bà phục vụ, sau đó anh quay lại Xe-Ii-vê-xtốp — Chúng mình chia tay ở đâu nhỉ? Ở Vư-bô-gơ hay sớm hơn? — Anh bắt đầu nói chuyện — Tưởng chừng nửa thế kỷ nay chúng mình không trông thấy nhau.

        — Cậu nói gì nhỉ? — Đại tá nhìn Bốt-đa-nốp, như không nghe rõ câu hỏi... — À, à... thời gian trôi nhanh thật.

        Chỉ đến lúc này Bốt-đa-nốp mới nhận thấy: người bạn của anh đang bị một ý nghĩ lao lung nào đó cuốn hút và rất miễn cưỡng khi phải cắt dòng suy nghĩ của mình. Nhưng Bốt-đa-nốp quá bị lôi cuốn nên không để ý đến điều này.

        — Cậu biết không, Xe-li-vê-xtốp, hôm nay mình suy nghĩ về mọi điều — anh tiếp tục— Tình hình của chúng ta diễn ra đến mức mỗi người phải rút ra cho mình những kết luận rõ ràng, dứt khoát.

        Đại tá lặng lẽ gật đầu, như ra vẻ đồng ý.

        — Chiến tranh đã bước vào thời kỳ quyết liệt, khẩn trương nhất. Chúng ta không thể rút lui về đâu được nữa.

        Bốt-đa-nốp chưa kịp nói hết câu vì trong phòng vẳng có tiếng động cơ máy bay, tuy nhỏ nhưng khá rõ. Phi đội máy bay ném bom đang bay cao trên khu rừng thông che phủ ngôi nhà. Tưởng chừng luồng gió do chúng tạo nên đang xua những đám mây tràn tới đây, tới căn phòng đầy ánh điện với những cửa sổ có rèm.

        — Bọn này bay đến Mát-xcơ-va đấy — Bốt-đa-nốp nói — Chúng lại bay đến đấy.

        Xe-li-vê-xtốp không động đậy, anh ngồi nghiêng cạnh bàn. Khuôn mặt dài, mịn của anh ánh lên khô khan.

        Bà phục vụ xuất hiện, đặt đĩa ăn cho mỗi người và cầm từ bàn bên cạnh một cuộn giấy nhỏ đề lau.

        — Xin lỗi các anh — Bà nói — Thịt băm viên hết rồi. Các anh ăn món ra-gu tạm vậy nhé.

        Không ai trả lời. Tiếng động vẳng ở xa hầu như không nghe thấy, lúc lại rộ lên rền rĩ. Máy bay bay đều đặn hết tốp này đến tốp khác.

        — Cậu nghe thấy không, bọn chúng bao nhiêu ?— Bốt-đa-nốp nói gay gắt — Mình không thể chịu được khi biết chúng đang bay đến Mát-xcơ-va.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Tư, 2020, 11:26:17 pm

        Anh chợt nhận ra bà phục vụ vẫn đứng bên anh chờ câu trả lời. Anh lắc mạnh đầu đề hất những sợi tóc thằng và đen trên trán.

        — Thịt băm viên hết rồi. — Bà nhắc lại — Tôi mời các anh ăn món ra-gu.

        — Biết làm thế nào hả mẹ! — Bốt-đa-nốp nói với vẻ tiếc rẻ —  Có cái gì ăn được cứ mang ra đây...

        Anh ngả hẳn người đến Xe-li-vê-xtốp:

        — Mình không hiểu cậu thế nào, — anh bắt đầu — nhưng mình suy từ bản thân thì... Cậu biết không, chúng ta rút lui quá nhiều rồi. Chúng ta có chống trả. Chúng ta có tiến công, nhưng cũng phải thừa nhận là chúng ta đã rút lui. Và ở mọi người xuất hiện ảo tưởng là không phải họ mà là những đơn vị khác sẽ xé tan quân thù ở nơi khác... Còn chính họ, cho đến lúc đó vẫn chỉ chống trả và rút lui thôi... Cần phải đánh tan cái tâm lý rút lui và thói quen chờ đợi ở người khác. Cậu nghe mình đấy chứ ?

        — Ừ ! — Xe-li-vê-xtốp trả lời.

        — Chính chúng ta phải tiêu diệt kẻ thù, — Bốt-đa-nốp sôi nổi tiếp tục. — Mỗi chiến sĩ cần phải hiểu rằng: nếu hôm nay mình không đứng vững thì không ai đứng vững nổi. Nếu họ không quật ngã kẻ thù thì không ai quật ngã nổi.

        Xe-li-vê-xtốp im lặng. Có thể nghĩ rằng, những điều Bốt-da- nốp nổi, anh đã biết từ lâu và chủng không gây cho anh hứng thú gì.

        — Từ đây cậu sẽ đi đâu? Bây giờ cậu chỉ huy đơn vị nào? — Trung tá hỏi.

        — Mình ư? — Xe-li-vê-xtốp cau mày, như để tập trung ý nghĩ —  Mình đi nhận sư đoàn. Sư đoàn trưởng cũ đã hy sinh. Chốc nữa mình di. Chỉ có điều không biết tìm sư đoàn ở đâu đây. Hôm qua sư đoàn ở gần T.— Anh gọi chính thành phố mà Bốt-đa-nốp sẽ trở về. —  Nói một cách khác, sư đoàn đang hành quân.

        — Cậu cũng về T. à? — Bốt-đa-nốp thốt lên.

        Xe-li-vê-xtốp gật đâu.

        — Chúng mình sẽ ở bên nhau, — trung tá nói và giọng anh vang lên.

        — Cậu từ đó đến... — Xe-li-vê-xtốp nói sau một lát im lặng.

        Bốt-đa-nốp chăm chú nhìn bạn mình như sẵn sàng trả lời những câu hỏi về tình hình ở T. Nhưng đại tá không nói thêm một lời nào nữa, hình như anh đã được thông báo tỉ mỉ về T.

        Máy bay lại gầm rít trên cánh rừng tưởng chừng như gió lùa cả vào phòng ăn. Lúc này, tiếng động cơ to và rền rĩ hơn. Chắc là những tốp máy bay hạng nặng.

        — Sao nhiều đến vậy? Và tại sao pháo cao xạ im bặt? — Bốt- da-nốp không ghìm nổi, thốt lên tự hỏi mình.

        Bà phục vụ bước vào, lặng lẽ đặt xúp cải đỏ và bánh mì cho hai người và đứng lại bên bàn, tay buông thõng cái khay gỗ dán.

        — Bây giờ nó bay luôn đấy. Tối nào cũng đến. — Bà nhìn lên trần nhà và bình thản nói. Nhưng ngay trong đôi mắt xám hiện ra vẻ căng thẳng.

        Cuối cùng tiếng nổ khô khan cũng vọng lại trong phòng: đơn vị phòng không đã bắn. Trong tiếng rền của cao xạ, người ta nghe thấy cả tiếng rít của máy bay ném bom.

        — À ha! — Bốt-đa-nốp thốt lên.

        Bà phục vụ thở phào nhẹ nhõm, bà đưa những ngón tay đỏ lên sửa lại mái tóc.

        Tuần trước bom rơi gần trúng vào ngôi nhà của tôi ở Mát-xcơ- va. — Bà nói như để giải thích — Chả là nhà tôi ở gần quảng trường Xmô-len-xcơ, mà bom thì rơi ngay trong ngõ nhà tôi... Thôi, xin mời các anh ăn đi.

        Bà nhìn lại một lượt để xem còn thiếu thứ gì không. Sau đó bà di vào, gót ủng bộ đội nện chững chạc xuống sàn nhà.

        — Quả thật là ta đánh mạnh, — Bốt-đa-nốp nhận xét. — Lưới lửa dày đấy chứ! Thử nhảy qua mà xem...

        Anh bắt đầu ăn, thỉnh thoảng lại ngàng cao đầu, chăm chú lắng nghe.

        Xe-li-vê-xtốp cúi xuống đĩa thức ăn, vừa bẻ bánh mì ăn một cách ngon lành. Bỗng nhiên anh nhìn chằm chằm vào Bốt-đa-nốp:

        — Thật kỳ lạ — anh nhếch mép cười, tay vẫn cầm một thìa xúp đây — Dù bất kỳ cái gì xảy ra với con người, nhưng ăn thì lúc nào cũng muốn. Mình háu ăn như chó sói ấy.

        — Ừ, nhưng cậu kể đi, cậu đã ở những đâu rồi! — Bốt-đa-nốp hỏi — Sao cậu cứ lờ đi như vậy ?

        — Mình lờ đi thật không? — Xe-li-vê-xtốp nuốt vội thìa xúp cải đỏ, lúc đó anh mới nói tiếp — Mình từ viện quân y về. Mình bị trầy da ở Lu-ga. Cùng với đại đội tiến công... — Anh thoáng cười buồn bực rồi lặng im.

        — Nào, nói nốt di — Bốt-đa-nốp giục.   

        — Nói chung thì chỉ là một chuyện thường tình, — đại tá miễn cưỡng tiếp tục. — Bọn mình đã củng cố, đã chặn đứng xe tăng địch. Nhưng xe tăng quay lại, chúng đánh tan đơn vị bạn và vượt qua tuyến bọn mình. Cả đại đội mình không còn một trung đội nào...

        — Điều đó không hiếm. — Bốt-đa-nốp khẳng định — Mình giữ trận địa tròn năm ngày. Bên trái quân ta rút lui, bên phải không có liên lạc. Con đường duy nhất vào hậu phương đã bị chiếm... Nhưng bọn mình vẫn giữ vững.

        — Biết kể cho cậu nghe chuyện gì bây giờ ? Chính cậu cũng biết đấy. — Xe-li-vê-xtốp nói, nét mặt anh giận giữ, quai hàm sệ xuống — Mặc dù có bám chắc và cả đổ máu đi nữa, nhưng cuối cùng cung chỉ còn một mình.

        — Tạm thời chúng ta đánh chưa mạnh, điều này rất đúng — Bốt-đa-nốp khẳng định. — Chính cậu đã nói là cậu dẫn đại đội xông lên. Mình nói thật, cậu thứ lỗi cho, nhưng đấy không phải là việc của cậu. Cậu là chỉ huy cao cấp, công việc của cậu là tổ chức và lãnh dạo... — Bốt-đa-nốp im lặng chờ xem Xe-li-vê-xtốp có phản ứng gì không. — Thú thật, lúc đầu mình cũng quá lăng xăng, nhưng chẳng được là bao.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Tư, 2020, 11:26:37 pm

        — Nó đang bóp nát chúng ta, bọn chó đẻ ấy. — Xe-li-vê-xtốp không để ý đến lời Bốt-đa-nốp, anh nói nhỏ — Ừ, thật ra chẳng có gì ngạc nhiên cả. Một máy bay của ta phải chọi với năm chiếc thập ngoặc của chúng... Thế cậu có trông thấy nhiều xe tăng của ta không?

        — Năm đánh một, đấy là cậu bốc lên — Bốt-đa-nốp nói. — Nếu vậy, sai lăm của chúng ta càng không thể tha thứ được, cần phải học, đồng chí đại tá ạ! Học trong quá trình chiến đấu, học cách hành quân, học cách phối hợp tác chiến và tạo ra lưới lửa.

        — Cậu cho là còn phải học nữa ư? — Xe-li-vê-xtốp nói với giọng binh thản.

        — Còn cách nào khác được? —Bốt-đa-nốp tự nhiên im lặng.

        Với vẻ bực bội, đại tá nhìn thẳng vào mắt anh.

        — Không thể chỉ huy bộ đội tốt được, khi không biết ti mỉ mọi chiến thuật của trận đánh — Bốt-da-nổp bắt đầu và tắc tị... — Thế có nghĩa là, khoan đã, khoan đã. Mình chưa hiểu rõ là cậu định nói gì ? — Anh hỏi lại.

        Xe-li-Vê-xtốp nhìn sang bên cạnh:

        — Liệu bây giờ học thì đã hơi muộn chưa ? — Anh nói — Nhưng lạy trời phù hộ cho cậu...

        — Thế nào là hơi muộn ? — Bốt-đa-nốp sửng sốt.

        Quyết tâm sắt đá đã hoàn toàn xâm chiếm người anh. Và, thái độ của anh về các sự kiện rõ ràng đến mức, anh không thể suy nghĩ về một điều gì khác được.

        — Cậu nói về cái gì ? — Cậu hướng về đâu ? — Anh hỏi.

        Xe-li-vê-xtốp giơ cánh tay to trắng lên như để chấm dứt những câu hỏi tiếp theo.

        — Mình là người lính, mình tuân theo mệnh lệnh. — Anh nói vẻ day dứt. — Người ta hạ lệnh: « Quyết giữ trận địa đến giọt máu cuối cùng». Thế là chúng mình quyết giữ.

        Câu chuyện của họ bị gián đoạn. Bà phục vụ mang đến món ăn chính. Lát sau, một nhóm ba người chỉ huy đi vào phòng và ngồi ở bàn bên cạnh. Một người trong họ có đôi vai to, ngực nở, tóc chải ngược ra đằng sau. Trên áo va rơi của anh lấp lánh ngôi sao Anh hùng Liên Xô. Anh oang oang chào người phục vụ, gọi bà là thím Pa-sa và tuyên bố là anh rất đói.

        Sau khi lặng lẽ ăn hết món ăn chính, Xe-li-vê-xtốp lau môi bằng giấy mền, rồi vo tròn lại ném vào đĩa.

        — Thôi — Anh nói. — Mình cần phải đi đây.

        Anh lấy từ trong túi ngực ra một tờ giấy gì đó rồi bỏ vào ví.

        — Bốt-đa-nốp, cậu chưa lấy vợ à? — Anh hỏi đột ngột.

        — Mình ư ? Chưa — trung tá trả lời. « Cậu hỏi quỷ quái gì vậy, mình thật không hiểu », anh nghĩ thầm và liếc nhanh bạn.

        Xê-li-vê-xtốp lấy trong ngăn ví ra một tấm ảnh và chìa qua bàn đưa cho Bốt-đa-nốp:

        — Cũng tốt là cậu chưa lấy vợ. Còn mình, như cậu biết đấy, hơi vội. Trong ảnh là một phụ nữ duyên dáng với nụ cười chân thật, trông gần giống đứa trẻ con. Chị mặc áo săng đan trắng và đội mũ đan điểm ngù trên chóp. Chị trẻ đến mức có thể lầm là con của Xê-li-vê-xtốp. Vì Xê-li-vê-xtốp trông như người trên bốn nhăm tuổi

        — Vợ cậu hả ? — Trong giọng nổi, Bốt-đa-nốp có vẻ không tin — Cô ấy bao nhiêu tuổi thế ?

        Xe-li-vê-xtốp chỉ vào ảnh :

        — Trông thì biết... — Anh dịu giọng trả lời với vẻ âu yếm đột ngột — Trước chiến tranh học hết lớp mười và cô ấy không còn ai cả, ngoài mình ra. Mồ côi... Cô ấy đã đến viện quân y thăm mình.

        — Có nghĩa là cô ấy yêu cậu. Nào, chúc mừng cậu. — Bốt-da- nốp nói giọng khô khan.

        — Giờ đây còn có một mình ở lại... — Xe-li-vê-xtốp nói với giọng dường như anh biết trước là sẽ không trở về nữa.

        Anh cất ảnh, bỏ ví vào túi ngực và cài cúc áo.

        — Thôi, đủ rồi, — anh nói — đã đến lúc phải lên đường.

        Một vẻ buồn rõ rệt thoáng hiện trên khuôn mặt, anh ưỡn thẳng người trên ghế nhưng không đứng lên. Anh chăm chú nhìn ánh cầu vồng của nước trong bình. Ánh điện khúc xạ trên mặt nước trong suốt tạo ra những màu sắc rực rỡ: xanh thẫm, xanh nhạt, vàng óng, đỏ thắm. Mải mê nhìn những tia sáng rực rỡ, Xe-li-vê-xtốp nhu quên di tất cả xung quanh. Bốl-đa-nốp cau có nhìn đại tá.

        — Còn món thứ ba, xin mời các anh — Giọng bà phục vụ vang lên.

        Bà đặt trên bàn hai cốc nước quả và thu đĩa ăn. Bỗng nhiên, hai

        tia chớp lóe lên kèm theo tiếng nổ đinh tai đâu đó ngay sau tường. Người dàn bà đứng lặng người di, tay ghì chặt đĩa vào người và rụt cổ xuống.

        — Thím Pa-sa, — người sĩ quan có đeo ngôi sao Anh hùng Liên Xô nói — Có tin gì không thím ? Ngôi nhà ở gần quảng trường Xmỏ- len-xcơ vẫn nguyên vẹn đấy chứ ?

        — Có người từ Mát-xcơ-va đến và nói rằng nó vẫn còn nguyên —  Bà thì thào — Chỉ có điều là lúc đó...

        — Không sao, nó sẽ đứng vững. Cháu cho rằng trẻ con đã kịp chạy hết xuống hầm tàu điện ngầm.

        — Thằng bé lớn viết thư về bảo là nó trực chiến trên mái nhà... —  Bà phục vụ nói, mắt vẫn không nhìn lên. Những chiếc đĩa kêu lanh canh trong tay bà — Nó đóng ở Pê-ven-khê-cô, trong đội...

        — Không dễ gì lọt vào được Mát-xcơ-va dâu, — Người chỉ huy nói — Thím có nghe thấy tiếng nổ không? Bọn ăn thịt thối buộc phải ném bom xuống đấy.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Tư, 2020, 11:27:04 pm

        Lại thêm một sĩ quan nữa bước nhanh vào phòng và đi lại chỗ ba người đang ăn. Anh ta cúi xuống sát bàn và báo cáo điều gì đó, giọng khẽ đủ nghe. Bốt-đa-nốp nghe lõm bõm được vài lời: «Từ Vô- lô-cô-lam-xcơ tiến thẳng tới phía Đông... », “Tư lệnh đã báo với Đại bản doanh... ». Lập tức cả ba người chỉ huy, mặc dù đang ăn dở, cùng đứng dậy và lặng lẽ di theo người sĩ quan mới tới.

        Bốt-đa-nốp cũng đứng lên, nóng lòng nhìn Xe-li-vê-xtốp. Đại tá vẫn đang uống phần nước quả của mình và thong thả lấy thìa xúc quả ra ăn.

        — Đợi tí, đợi tí, mình xong ngay bây giờ. — Anh nói — Ngay bây giờ đây...

        Nhưng chỉ khi ăn xong quả ngọt anh mới bỏ cốc xuống bàn, đứng dậy và bước đi. Vóc người cao dỏm dáng, trong bộ quân phục mới, gót giày của anh nhịp nhàng gõ theo bước chân.

        Ở cửa phòng, Bốt-đa-nốp lại nhìn thấy bà phục vụ đang đứng dựa lưng vào dầm cửa sơn.

        — Xin cảm ơn. — Trung tá nói. — Cảm ơn mẹ nhé! Anh muốn nói với người dàn bà này một điều gì đó để an ủi. — Mẹ cho ăn ngon lắm, như ở tiệm ăn ấy.

        — Cảm ơn anh, đồng chí trung tá. Bà trả lời với vẻ mệt mỏi và biết ơn.

        Ở phòng đợi ngay chân câu thang, một người chi huy nào đó đội mũ ca lô, mặc áo bạt dính đất bẩn đang nói chuyện với người trung úy trẻ.

        — Chính tôi từ đó tới, yêu cầu anh báo cáo khẩn cấp. — Người chi huy đội mũ ca lô nói. Ông đưa cả hai tay vội vã cởi các nút áo bạt ngay dưới cằm.

        — Xin mời đồng chí đi theo tôi. — Người trung úy nói; mắt anh đỏ quạch vì thiếu ngủ. — Đại tướng Giu-cốp đang ở bên máy điện thoại, — anh giải thích và đi lên cầu thang.

        Người thiếu tá, đầu húi cao di qua, khẽ chạm khuỷu tay vào Bốt-đa-nốp. Đấy chính là người đã giục viết bản báo cáo. Anh ta vừa đi vừa đọc những tờ giấy đầy dãy các con số được gạch ở dưới.

        “Thật vô lý, lúc nãy mình lại nổi giận với anh quân nhu», — Bốt-đa-nốp nhớ lại việc tí nữa hai người cãi nhau ngày hôm nay. Sự thật trong bộ tham mưu, người ta cảm thấy không khi căng thẳng cao độ nhưng mọi người vẫn tiến hành các công việc khác nhau của mình như không có gì dặc biệt xảy ra. Từ đây, từ cánh rừng ngoại ô Mát- xcơ-va này, người ta đang truyền đi những mệnh lệnh khác nhau cho các đơn vị tham dự vào một trong những trận đánh vĩ đại nhất của lịch sử. Phải có một sự tổ chức cực kỳ khoa học, thậm chí cả trong mọi chi tiết để có thể nắm được toàn bộ cuộc chiến đấu, để có thể liên tục bổ sung cho quân đội một khối lượng vũ khí cực lớn, quân trang, quân dụng, thực phẩm, để có thể có khả năng phân tích tình hình liên tục và tức thời phản ứng với mọi thay đổi của chiến trường. Và lúc này, Bốt-đa-nốp đang suy nghĩ về nền nếp làm việc trong bộ tham mưu ở ngoại ô Mát-xcơ-va với lòng kính trọng sâu sắc.

        Vẫn chưa báo an, nhưng trong sân trời đã sắp tối nên người lính gác không giữ Bốt-đa-nốp và Xe-li-vê-xtốp lại nữa.

        Theo con đường lớn rải sỏi mờ mờ hiện ra trong bóng tối, hai người đi đến hàng rào sât bao quanh sân.

        Dọc theo dường lớn, cây cối cao vút tạo thành bức tường đen thẫm. Dưới hàng cây thấp thoáng những cỗ xe pháo được bọc kín. Xe-li-vê-xtốp gọi lái xe của mình. Người lái cứ loay hoay mở nắp máy rồi vặn tay quay. Bốt-đa-nốp và Xe-li-vê-xtốp im lặng đứng đợi một phút, rồi hai phút. Đại tá cẩn thận xỏ dôi găng tay quá chật của mình như thể anh cố tập đi tập lại động tác này. Nhìn thấy cảnh tượng đó cùng với đôi vai gù và cái đầu cúi gục của dại tá, Bốt-đa-nốp bực minh nghĩ thầm: « Hừ nếu là mình, mình không đời nào trao cho anh ta chỉ huy sư đoàn, ngay cả tiểu đoàn cũng không. Bởi vì anh ta như đang đi đến chỗ chết, đúng thế. Đi đến chỗ chết chứ không phải đi đánh giặc...». Rồi anh lựa lời nói nhỏ thong thả, rành rọt đề người lái xe không nghe thấy.

        — Này anh Ép-ghê-nhr Ghê-ra-xi-mô-vích, nếu như tôi không quên... có thể tôi nhầm và rất tốt nếu như tôi nhầm... Nhưng với tâm trạng của anh thì không thể đi chiến đấu được đâu.

        — Thế tâm trạng của mình như thế nào ? — Xe-li-vê-xtổp lạnh lùng hỏi.

        — Anh làm sao thế? Anh đã hoàn toàn quên hết rồi sao? Xin lỗi, anh có vẻ như đang chuẩn bị đi đến nấm mồ của minh. Điều này không thể nào chấp nhận được... Anh đã từng nói « Đứng vững đến giọt máu cuối cùng ». Đó có nghĩa là đứng vững để chiến thắng...

        — Thôi đi, Bốt-da-nốp, cái điều đó mình đâ nghe nhiều rồi. — Xe-li-vê-xtốp ngát lòi. — Phải chăng cậu lo cho mình?

        — Cho anh và cả cho lính của anh nữa, — Bốt-đa-nốp nói — Anh là người dẫn họ vào trận đánh.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Tư, 2020, 11:27:24 pm

        Một chiếc xe mui trần tắt đèn di qua, lao vào hàng cây. Cành cây khô gãy răng rắc nghe như tiếng súng tiểu liên. Xe-li-vê-xtốp quay ngoắt lại. Chiếc xe vượt qua con đường và hòa vào trong bóng tối lờ mờ. Đại tá sửa lại mũ và chìa tay ra:

        — Vĩnh biệt, Bốt-đa-nốp! Đừng quá lo lắng nhé. Mình biết nhiệm vụ của mình. — Im lặng một chút anh lại tiếp thêm với giọng ngập ngừng nhưng đột nhiên vui vẻ hẳn lên — Cũng có thể là chúng ta sẽ còn trông thấy nhau chứ ?

        — Ừ, nhất định sẽ gặp nhau, — Bốt-đa-nốp nói bực dọc. — Thôi, chúc cậu thành công...

        Và không đợi đại tá đi khỏi, anh nhanh nhẹn đi tìm chiếc « Em- ca» của mình. Ngồi trên chiếc xe đi dọc theo con đường mòn, lẳng nghe tiếng cành cây chạm vào mái xe sột soạt, Bốt-đa-nốp còn nghĩ ngợi một lúc về Xe-li-vê-xtốp.

        Cứ tưởng anh ta là một chỉ huy vững vàng... Khi ở Học viện, anh ta không phải là loại xoàng, mà còn nổi tiếng như một quân nhân mẫu mực, — anh nhớ lại. — Đề bạt cũng khá nhanh Trong các cuộc thi thường chiếm giải nhất » — Anh phẫn nộ và ngạc nhiên vì cho rằng, một con người với những phàm chất như vậy thì không thể nào suy sụp tinh thần đến mức độ như người bạn, người đồng chí của anh được.

        Chiếc « Em-ca» rẽ sang đường nhựa và hướng về phía Mát-xcơ- va. Trung tá lập tức quên ngay Xe-Ii-vê-xíốp. Trận oanh tạc thủ đô vẫn còn tiếp tục và bầu trời thành phố rực lên lớp sương mù sáng đỏ. Xe vượt qua một đoạn dốc thoai thoải và khi đi qua đỉnh đồi, Bốt- da-nốp nhìn thấy cảnh tượng kinh hoàng của trận kịch chiến ban dêm.

        Những ngôi nhà nhấp nhô trên nền tròi đen thẫm của thành phố. Trong đêm tối, những tia chớp luôn luôn lóe lên như ánh lửa hàn điện. Chúng chạy khắp thành phố, thỉnh thoảng hội tụ lại ở một nơi nào đó rồi lập tức tắt ngay. Những tia sáng của đèn pha chọc thủng màn đêm quét đi, quét lại, lùng sục, tìm kiếm. Đôi lúc hai ba chùm sáng thắng như lưỡi mác chụm lại với nhau. Quanh chúng lóe lên rất nhiều

        ngôi sao rực rỡ màu da cam rồi cũng lại tắt ngay. Ở một vài nơi bầu trời đỏ lựng khói lửa, đấy là dấu hiệu của những đám cháy mới bùng lên.

        Bốt-đa-nốp ra lệnh dừng xe lại và đi ra mặt đường. Con đường phía trước rất vắng vẻ và cả trên cánh đồng hai bên dường cũng vậy. Những ngôi nhà thấp như những túp lều phía bên phải, ở giữa nhô lên một cột ống khói cao, đen xì. Không khí vắng vẻ kỳ lạ trải ra xung quanh. Bốt-đa-nốp cảm thấy như chỉ có anh và đồng chí lái xe của mình là những người chứng kiến duy nhất một trận đánh quyết liệt chưa từng thấy. Bốt-đa-nốp đã từng trải qua chiến tranh, nhưng cảnh Mát-xcơ-va rực sáng dưới ánh lửa đạn pháo và những dúm cháy, cảnh thủ đô chiến đấu đã làm anh xúc động mạnh mẽ...

        — Mát-xcơ-va đang đánh trả, đồng chí trung tá ạ! — Người lái xe nói và cũng đi ra khỏi xe.

        Do tiếng nổ của đạn đại bác nên Bót-da-nốp không nghe thấy tiếng ô tô phía sau đang tiến lại gần anh. Xuất hiện ờ chỗ ngoặt bất ngờ, những chiếc xe phóng nhanh, gầm lên, ánh đèn pha được che kỹ rọi một khoảng nhỏ trên đường. Chiếc xe đầu tiên mui trần, tiếp theo sau là một chiếc xe con. Xe chỉ phóng qua, Bốt-đa-nốp cũng kịp phân biệt được người đội mũ lưỡi trai quân sự. Dáng người ngó nghiêng về phía kính chắn gió chỉ xuất hiện trong chớp mắt nhưng Bốt-đa- nốp đã nhận được... Xta-lin đang trên dường trở về thủ đô sau khi đã đi thăm mặt trận ngoại ô Mát-xcơ-va. Sau xe của Xta-lin còn một chiếc xe mui kín nữa. Cả ba chiếc từ đỉnh đồi lao xuống dốc, sau đó lại leo lên một đỉnh khác. Còn có thể trông rõ chúng một lúc nữa, rồi mới dần dần mất hút sau các quãng ngoặt xa xa...

        Bốt-đa-nốp đứng nhìn theo đoàn xe khá lâu với cảm giác khó tả. Trong cảm giác ấy có tinh thần chiến đấu vô hạn, có sự hồi hộp của người lính khi trông thấy vị Tổng tư lệnh của mình và có cả niềm hy vọng nữa... Lát sau, anh im lặng nhanh nhẹn ngồi vào xe. Con đường chạy xuôi thoai thoải. Trong chốc lát ở cửa kính trước chi còn một vệt dài, hơi sóng, của đoạn đường thẳng tắp. Nhưng đến điểm cao mới, Bốt-đa-nốp lại nhìn thấy Mát-xcơ-va. Lúc này có thể nhìn rõ hình các tòa nhà in trên bầu trời đỏ thẫm. Và từ trên bầu trời ấy, hai chiếc máy bay ném bom bị bốc cháy rơi cắm xuống như hai bó đuốc.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tư, 2020, 11:57:09 am

2

        A-lếc-xây Va-xi-li-ê-vích Grô-mốp với cái tên tự xưng là «Thợ tiện về hưu » ngồi trên chiếc ghế bành cũ cạnh cửa sổ. Trên đùi đặt tờ báo nhưng ông không đọc. Bà em gái của A-Iếc-xây đang thu dọn sau bữa ăn trưa. Từ bếp vọng ra tiếng nước óc ách, tiếng đĩa loảng xoảng, nhưng những tiếng động hòa bình đó không làm ông bận tâm. Tâm trí ông dồn cả vào việc theo dõi nhũng gì đang xảy ra bên cạnh, trong căn phòng của cậu con trai được ngăn riêng bởi một tấm ván mỏng. Từ đó nghe vọng ra tiếng bước chân nặng nề, tiếng ghế dịch chuyển, tiếng mở ngăn bàn. Chắc là Pa-ven, cậu con trai ông, đang xếp giấy tờ của mình vào ngăn kéo. Sau đó lại có tiếng bản vẽ can sột soạt. Ông già lo lắng động đậy trong chiếc ghế bành.

        Hôm nay thật là bất ngờ khi nghĩ đến điều này, Pa-ven sẽ đi xa, rất lảu và có thể sẽ mãi mãi. Thật là bất ngờ: tối qua còn tưởng nó sẽ đi sơ tán với nhà máy. Thế mà cũng chỉ đêm qua, khi ở ủy ban khu phố về, nó báo tin là họ chuyển nó đến trung đoàn công nhân. Và bay giờ ông A-lếc-xây Va-xi-li-ê-vích rất muốn gần con để giúp dỡ nó, xem xét nó đã mang đủ những thứ cần thiết chưa. Nhưng ông già vừa mới cãi nhau với Pa-ven trong bữa ăn. Đây không biết là lần thứ bao nhiêu Pa-ven khuyên ông nhanh chóng đi khỏi T... Khi mặt trận đâ tiến gần thành phố thì ông chẳng làm gì mà ở lại đó. Vì A-lếc-xây không tìm được cái gì xác đáng để phản đối và thế là ông nồi cáu. Lúc này, ông đã ân hận về những lời nói nóng nảy, phi lý và cái đó càng làm tăng nỗi buồn của ông.

        Sau bức ngăn, nghe vọng ra một giọng hát trầm trẻ trung. Pa- ven đang đánh nhạc mồm bài hát cũ : « Khi ở bưu điện tôi làm người đánh xe ngựa.» Hát xong câu đó anh im bặt, nhưng chỉ phút sau lại bắt đầu. Grô-móp nghênh đâu lên nghe.

        « Trông kìa... thằng cừ khôi, quả là thằng cừ khôi! —Ông thán phục — Nó đang đi ra chiến trường chứ không đi đâu khác». Khuôn mặt tối sầm với đôi lông mày rậm của ông đã bớt vẻ giận dỗi và trở nên xúc động. Bất kể cuộc cãi nhau, ông quyết định sang phòng con. Nhưng cảnh cửa đã mở và Pa-ven bước vào, trên vai còn vướng cái rèm cửa gai. Ông già đứng dậy, thân hình to, cao với cái lưng cong tròn. Ông chăm chú nhìn đứa con trai với vẻ trìu mến, thiết tha.

        Pa-ven Grô-mốp, chàng con trai cũng to khỏe như vậy và có phần cao hơn, nhìn lại bố và mỉm cười. Anh mặc áo bành-tô đen với dây da vàng và di đôi ủng săn bằng da dê non, trên vai vắt một cái bao vải thô.

        — Thế nào, bố vẫn chưa nghĩ lại à?— Anh dịu dàng hỏi ông —  Đêm nay sẽ có đoàn tàu vận tải cuối cùng. Ở đó họ sẽ tiếp đón và thu xếp cho chúng ta. Cả gia đình Mê-scốp cũng đi nữa...

        — Nhưng đấy là công việc của họ, — Grô-mốp làu bàu. Giọng nói khoan dung của cậu con trai lại làm ông bị xúc phạm.

        Họ đứng dối diện nhau — cả hai đều to, cao và rất giống nhau. Nhưng mắt Pa-ven có màu xanh sáng, còn mắt Grô-móp đã chuyển sang màu đục mờ. Ông già cổ mái tóc hoa râm với những sợi tóc cứng dựng đứng trên đầu. Người con trai tóc hãy còn vàng sẫm mặc dù cũng dựng đứng lên. Bộ mặt Pa-ven rất giống bố. Trán rộng và dô, mũi thẳng, gò má cao, miệng hơi rộng. Tất cả những nét đó ở Grô-mốp đã bị mất đi vẻ dứt khoát của nó. Những nếp nhăn đã hằn lên da. Đứng trước con, ông già tưởng như mình đang đứng trước chiếc gương thần có khả năng làm mất hết sẹo và dấu vết của những năm tháng cuộc đời trải qua.

        — Bác I-van An-đrê-ê-vích hỏi thăm bố, — Pa-ven tiếp tục bằng giọng nói to, khỏe. — « Đối với ông già nhà cậu thì lúc nào cũng có chỗ. Chúng tôi sẽ có xe cho ông và sẽ chở cả dồ đạc ra ga nữa». Bác ấy nói với con như vậy. Thế nào bố, bố sẽ đi chứ? Sao bố cứ bướng bỉnh thế?

        Pa-ven không nói một điều là chính anh đã đề nghị với ban lãnh đạo nhà máy đưa ông bố ốm yếu của mình ra khỏi thành phố.

        — Bảo họ cứ việc mà cho xe,— Grô-mốp làu bàu.— Còn chỉ cho tao thì không cần thiết. Hãy nói lại với I-van An-drê-ê-vích như vậy. Bảo là bố xin chào và chúc họ đến nơi an toàn.

        Ông lại tức giận và cảm thấy mình bị xúc phạm. Đúng ra, trong thời gian gần dây, cảm giác bực bội gần như bám chặt lấy ông và nó là nguyên nhân chính dễ gây ra gắt gỏng. Cảm giác đó xuất hiện từ khi Grô-mốp khẳng định rằng, cuộc đời ông đã đi nhanh đến ngày tận số một cách thật vô lý. Mỗi năm qua đi, sức khỏe của ông càng kém hơn ; mặc dù cứ mỗi mùa xuân ông lại đi nghỉ ở nhà an dưỡng trên bờ biển phía Nam. Grô-mốp khong thể phàn nàn rằng người ta không chú ý đến ông. Các đồng chí ỏ nhà máy đến thăm ông luôn, cả giám đốc cũng ngồi ở nhà ông trong buổi tối Họ mời ông rất đều đặn đến dự các cuộc họp long trọng. Và khi ông già Grô-mốp xuất hiện, họ tiếp ông rất niềm nở. Nhưng tất cả những điều đó không an ủi được Grô-mốp. Ông cho rằng sự an nhàn của ông bây giờ thật là một điều đắng cay. Bất kể vô tình hay hữu ý, hễ ai nhác đến bệnh của ông là Grô-mốp lại phật lòng. Ông không muốn đi vì sợ trở thành gánh nặng cho các đồng chí trẻ khỏe của mình. Ý nghĩ này làm ông sợ hãi và cảm thấy như bị lăng nhục.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tư, 2020, 11:57:34 am

        Pa-ven hờn giận nhìn bố. « Thế đấy, làm gì với bố bây. giờ, làm thế nào để thuyết phục được bố?».

        — Chúng ta đứng đây làm gì? Đằng nào thì cũng không lớn hơn được, — Grô-mốp vừa nói vừa nhếch mép cười.

        Ông ngồi phịch xuống chiếc ghế bành, lập tức nó rên lên dưới sức nặng của ông. Pa-ven rút cái bao trên vai xuống, anh nhìn xem có vướng gì không rồi ngồi xuống cạnh bố. Căn phòng họ ngồi nói chuyện tuy sáng sủa, có tới bốn cửa sổ con nhưng xem ra vẫn chật chội. Ngoài chiếc bàn ăn phủ khăn vải sơn dầu, chiếc bàn tròn nhỏ dưới chiếc khăn đan, chiếc đi văng nhung, ngăn sách, tủ chè để bát đĩa và cái hòm dưới tấm thảm ra, trên tủ con, bậu cửa sổ, sàn nhà còn bày la liệt các loại cây cảnh: cây si xanh thám trong hòm gỗ, thu hải đường, thủy tiên và hoa hồng. Giờ dây Grô-mốp không còn biết làm gì hơn ngoài việc chăm sóc cây cảnh.

        Pa-ven lấy thuốc lá và ông bố cũng đưa tay về phía bao thuốc.

        — Bố phải kiêng cơ mà ? — Pa-ven nói.

        — Đó là việc của tao, — Ông già trả lời.

        Ông xoa điếu thuốc rất lâu, sau đó hít hơi thổi mạnh vào diếu thuốc rồi tiếp lửa của con trai.

        — Thế là mày đi, hả chiến sĩ A-nhi-ca, —ông lên tiếng — Nghe nói người ta thành lập đủ một trung đoàn tuyển từ các nhà máy.

        — Đúng Một trung đoàn đấy bố ạ, — Pa-ven xác định với cảm giác đau nhói, anh nhìn cánh tay to nhăn nheo đang cố giữ diếu thuốc lá của bổ, nhìn những ngón tay cứng đờ vì bệnh thấp khớp giày vò.

        — Cả một trung đoàn, — A-lếc-xây Gcô-mốp lặp lại. — Mày có biết không, đây là một lực lượng lớn... và như vậy công việc từ đây chắc sẽ được tiến triển. Cần phải chờ đợi. Các anh sẽ ngăn chặn được bọn Đức. — Ồng kết thúc với nụ cười khẩy rõ rệt.

        — Còn bố thì nghĩ thế nào? Chúng con sẽ chặn chúng lại, — Pa- ven đáp.

        Giọng giễu cợt của ông không làm cho Pa-ven tự ái và thế là A-lếc-xây Grô-mốp lại thấy bực tức.

        — Mày đã thấy bản thông báo hôm nay chưa hả cậu chiến binh ?— Ông bực tức hỏi, đưa tay lấy tờ báo trên bàn. — Đây... Hãy nghe đây ! Và để tờ báo cách khá xa tầm mắt, ông đọc nhưng không đeo kính: —  « Trong ngày hai nhăm tháng mười, quân ta đã chiến đấu ở các hướng Ma-giai-xcơ, Ma-lơ — Ia-rô-xláp, Ta-gan-rốt, — ông cao giọng. — Và Ma-ca-ép-xcơ...». Mày có hiều được điều này hay không ? — A-lếc- xày Grô-mốp gào lên. — Na-pô-lê-ông Bô-na-pác không tiến nổi tới đó, còn bọn Đức thì chúng ta đã để cho chúng đến được.

        — Đúng, bọn chúng tiến xa đấy chứ bố. — Pa-ven mỉm cười đấu dịu —Nhưng sau này càng không lợi cho chúng, Bọn Pháp năm mười hai đã chiếm được Mát-xcơ-va, nhưng không thoát thân được...

        — Thế là thế nào, chúng ta đọc tiếp...

        Ông già bắt đầu ho. Mặt ông đỏ lên và có vẻ đau đớn. Lệ ứa ra qua đôi mắt đục.

        — Có nghĩa là từ vấn đề chiến lược đến mọi việc đều đúng? —  Ông thờ nặng nề và thốt ra.

        — Thôi tự bố sẽ suy ra. — để bố yên tâm, Pa-ven cố trả lời hết sức mềm mỏng.—Chúng ta rút lui không phải là theo ý muốn của mình, đó là sự thật... Nhưng, khi rút lui, như người ta biết, chúng ta đã làm kiệt sức kẻ thù...

        — Thôi, nếu đúng theo chiến lược thì chẳng có gì để nói nữa. —  A-lếc-xây Grô-mốp bực tức ngắt lời. — Có nghĩa là chẳng giận dỗi vào đâu được. « Đừng phí sức vô ích, cứ đề nó dìm mình xuống đáy » theo chiến lược là như vậy chứ gì ?

        Trong thâm tâm ông cũng cảm thấy sự vô lý của mình nhưng, ông không dừng lại được.

        — Không phải như vậy đâu bố ạ! — Pa-ven nói nhỏ.

        — Có nghĩa là nếu đúng như chiến lược thì cứ để cho bọn phát xít thiêu trụi các thành phố của ta — Ông già gào lên — Cứ để chúng chiếm các tỉnh của ta, cứ để chúng treo cổ nhân dân ta. Tất cả đều là chuyện bình thường chứ gì?...

        Pa-ven đứng dậy. Anh đi lại trong phòng, tay sờ lá cây si bóng nhoáng rồi quay lại phía bố.

        — Không phải, không thể như vậy được bố ạ. — Anh dịu giọng

        — Không bao giờ như vậy được... Chính bố cũng biết đấy!

        «Khá lắm! Nhìn đứa con, nhìn đôi vai rộng, mái đầu với những mớ tóc xoăn trên trán nó bỗng nhiên ông nghĩ: — mọi cái đều tốt: thông minh và dũng mãnh...».

        Tự nhiên ông thấy ghen tị lạ thường với tuổi trẻ của con. Ông bổi rối im lặng. Pa-ven rất giống ông lúc trẻ. Khi đó ít ai trong khu bờ sông có thể ganh đua với ông. Và vừa yêu thương, buồn lo cho con nhưng ông cũng đồng thời vừa ganh tị với con. Hơn lúc nào hết, A-lếc-xây Grô-mốp muốn đi với Pa-ven để nếu có dịp còn dạy bảo con. Bởi vì trong những năm tháng của cuộc đời mình, ông không thích nhường thắng lợi cho ai, ngay cả với con mình cũng vậy.

        — Bố thấy không — Pa-ven tiếp tục, cố làm cho bố yên tâm. — Bọn Đức phải trả giá đắt cho mỗi bước đi. Nhưng dĩ nhiên tình hình căng thẳng... rất...

        « Chắc là hai thì sẽ quật ngã... có khi cả ba nữa, — A-lếc-xây Grô-mốp nghĩ thầm. — Dưới bốn người không thắng nổi mình».


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tư, 2020, 11:58:23 am

        Và ký ức xa xưa lại trở về với ông, nó rõ ràng như thể điều đó mới xảy ra hôm qua. Cứ như tận mắt ông trông thấy cánh đồng tuyết phẳng lì và ánh trăng vàng ảm đạm trên bầu trời rét buốt. Dọc theo hàng rào tuyết rơi, những bóng đèn nhấp nhô.

        «Chuyện đó xảy ra ở trên cánh đồng Pô-pốp, — A-lếc-xây Grô-mốp thì thầm với mình. — Ừ, đúng rồi... sau nhà tám. Ba thằng mình đánh lại cả tụi... Mình, Cu-dơ-nhét-xốp... và ai nữa nhỉ? — Ông cố nghĩ và nhớ ra. — Xê-ri-ô-gia với A-xê-man...».

        Tựa như từ xa xa đâu đó Grô-mốp nghe vọng lại giọng nói của con trai.

        — Một mình chúng ta chống lại cả châu Âu phát xít... Có đúng như vậy không hả bố?

        Và ông già lại như không nghe thấy gì: bức tranh sinh động và hấp dẫn lại hiện lên với ông. Trong ông sống lại cảm giác thích thú của lòng quả cảm bừng bừng khí thế khi chờ đợi kẻ thù của mình. Những kẻ tàn sát lần lượt đi qua khe hở của hàng rào trong một đêm trăng sáng. Thấp thoáng những chiếc áo bành tô trễ cúc. Những chiếc mũ lưỡi trai kim loại lạnh lùng phát sáng, vành lưỡi trai son óng ánh dưới ánh trăng đêm.

        « Ôi, đó là trận đánh nhau giữa người Nga và người Ca-bát- din!» — A-Iếc-xây Grô-mốp hồi tường và mỉm cười. Sau đó ông thấy những bóng đen chạy tán loạn trong tuyết, một tên trong bọn ngã sóng soài dưới chân ông và chiếc mũ lưỡi trai nhảy nhót cố trườn đi. Rồi ông lại nghe thấy tiếng huýt dài lảnh lót, thấy cây đậu Hà Lan phủ kín bãi trống và tiếng súng nổ rất gần. Ghé sát vào tai ông, Ra-bi-nhin nói với giọng trẻ trung: « Bây giờ những con quỷ sẽ biết đời! ».

        A-lếc-xây Grô-mốp im lặng hồi lâu, đầu hơi gục xuống ngực, mắt lim dim và khuôn mặt trở nên hiền hậu. Pa-ven cũng im lặng nhìn bố. « Ôi! Bố hoàn toàn già rồi, già lắm rồi» — Anh đau đớn nghĩ thầm.

        Đợi một lúc, Pa-ven đứng dậy và xách cái bao của mình lên. A-Iếc-xây Grô-mốp bừng tỉnh. Những kỷ niệm xa xưa làm ông nguôi giận, ông nhìn con và một cảm giác đau nhói bất ngờ xâm chiếm trái tim ông. Pa-ven đang ở đây ngay bên cạnh ông, dáng người khỏe khoắn, năng nổ. Và kỳ lạ thay A-lếc-xây Grô-mốp tồn tại trên thế giới này không chi trong chính ông mà còn ở trong dứa con trai. Cảm giác gần gũi ruột thịt đối với đứa con hoàn toàn xâm chiếm tâm hồn Grô-mốp. Và nó biến thành sự thống nhất giữa hai người. Ông vội vàng đứng, dậy và tựa lưng vào thành cửa.

        — Thôi, bố ơi, — Pa-ven nói, — con tạm biệt bố... Đã đến lúc con phải đi rồi.

        Ông già bước đến bên con và thở dồn

        — Pa-sa, — ông xúc động nói. —Pa-sa, con đừng quên...

        Ông muốn nói nhiều nữa, muốn khuyên nhủ, muốn căn dặn một cái gì đó thật cụ thể.

        Điều quan trọng nhất mà ông muốn nhẳc Pa-ven là, chính anh là người tiếp tục cuộc sống và chiến đấu của ông. Nhưng A-lếc-xây không thể nào diễn đạt nổi điều này.

        « Con đừng quên rằng bổ chỉ có mình con. Con là niềm hy vọng của bố... Bố không thể giúp con được nhưng sức mạnh của bố ở trong con ». — Những ý nghĩ rối loạn dồn đến với ông. Giọng ông lạc đi; im lặng một chút ông chỉ nói:

        — Hãy nhớ lấy, Pa-sa, những gì bố dạy... Và chúng ta không khi nào là kẻ đứng cuối cùng, không... Đã sống và chịu đựng nhưng không bao giờ chịu nhục.

        Ông hấp tấp ôm con và vụng về áp mặt vào má anh. Pa-ven buồn buồn vì bộ râu cằm lởm chởm chưa cạo của bố chạm vào mình.

        — Trời ơi, bố! — Anh kêu lên. — Làm sao con có thể quên được!

        Đến lượt anh, Pa-ven siết chặt đôi vai tròn mềm của bố. — Con nhất định sẽ tạt về nếu có dịp, — anh nói thêm. — Và bố đừng hoài nghi gì nữa! Tất cả sẽ tốt đẹp...

        — Thôi, con đi đi, đi đi..— A-lếc-xây Grô-mốp nói líu nhíu, giọng yếu đi đây vẻ dịu dàng.

        Pa-ven nghĩ chính lúc này cần phải tận dụng giây phút yếu đuối của người cha. Và anh lại đưa ra lời đề nghị của mình.

        — Còn bố, bố cũng nên đi đi, — anh vui vẻ nói. — Cô A-nhi-a sẽ thu xếp và tiễn bố...

        Vẻ dịu dàng vụt biến mất trên khuôn mặt ông già và ông quay lại.

        — Đúng vậy, bố nên đi đi, — Pa-ven kiên trì. — Bố ở lại chẳng để làm gì cả. Còn ở đó người ta sẽ đón tiếp và thu xếp cho bố.

        Ông già không nói gì, đâu hơi cúi xuống. Một phụ nữ mặc bộ áo váy sẫm chậm rãi đi từ hành lang vào phòng — đó là bà em gái A-lếc-xây Va-xi-li-ê-vích. Bà cũng cao như tất cả mọi người trong nhà và trẻ hơn anh trai mười tuổi. Dáng đi vẫn còn mạnh khỏe.

        — Cô A-nhi-a ạ, — Pa-ven thốt lên, — cô nói giúp với bố cháu! Và cô cũng yên tâm hơn khi đưa được bố cháu đi.

        — Cứ để A-nhi-a tự đi, nếu cô ấy muốn, — ông già nói, giọng đã có vẻ cáu.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tư, 2020, 11:58:45 am

        An-na Va-xi-li-ép-na ngồi xuống, đôi bàn tay da bánh mật đã lau khô dặt trên đầu gối. Mặt bà hơi gầy, gò má nhô cao như Pa- ven, trông có vẻ khắc khổ.

        — Ông ấy không nghe cháu và lâu nay cũng không chịu nghe cô. — Bà nói giọng trầm khàn khàn. — Nhưng cháu đừng sợ, cô sẽ chăm sóc bố cháu.

        — Sao lại phải trông tôi? Cô thế mà cũng suy với nghĩ! —  Ông già gào lên càng bực bội hơn.

        An-na Va-xi-li-ép-na chỉ hoi liếc sang ổng già.

        — Nhưng có thể các anh sẽ không cho bọn Đức tới đây chứ, Pa-sen-ca? — Bà hỏi to.

        — Tất nhiên, chúng cháu sẽ cố gắng... — Pa-ven nói — Ôi, bố cứ ương bướng vô ích!

        — Có thể còn qua được chứ? — Bà già vẫn tiếp tục.

        — Cần phải suy nghĩ... — Pa-ven đau khổ nhún vai. — Thôi, tạm biệt bố! — Quay lại bên cửa sổ để nhìn lần cuối cùng người cha đang giận dữ đứng bên chiếc ghế bành, rồi anh đi ra.

        Bà An-na Va-xi-li-ép-na bước những bước dài và vững chắc theo Pa-ven. Bà dẫn cháu vào phòng bếp nhỏ sạch sẽ, trần dán giấy viền rồi xếp vào túi tất cả những gì bà đã chuẩn bị cho cháu lên dường.

        — Bố cháu cứ ương bướng — Pa-ven nói vẻ không hài lòng. — Cháu và cô lo lắng cho bố cháu, còn bố cháu thì cứ ương bướng.

        Pa-ven mới bước vào đời nên thực sự không hiểu tại sao bố mình lại xử sự không đúng mức, không xứng đáng với tuổi tác của ông.

        — Già như trẻ nhỏ, mà trẻ nhỏ thì ngốc nghếch, — An-na Va- xi-li-ép-na nói, giọng như đàn ông. — Cái này thường xuất hiện khi người ta vô công rồi nghề. Nhưng cháu đừng lo... Cô không bỏ rơi ông ấy đâu...

        — Thật giống trẻ con, — Pa-ven nói.Họ đi ra bậc thềm và An-na Va-xi-li-ép-na hôn thắm thiết lên môi cháu. Bà cô thường nghèo nàn trong việc thể hiện tình cảm. Song, nếu Pa-ven không buồn phiền về sự bướng bỉnh của bố, chắc anh cũng nhận thấy mặt bà cô đã tái và nước da hơi đen trên khuôn mặt như bị phai đi. Ngoài điều đó, bà vẫn bình thản như việc Pa-ven đi làm hàng ngày chứ không phải đi ra chiến trường.

        — Cháu còn một đề nghị nữa... — Anh bỗng nói và đi chậm lại — Nếu có thư của Na-ta-sa, thì cô gửi ngay cho cháu. Cô ấy định đến đây nhưng chắc là còn lâu chúng cháu mới gặp nhau.

        — Vợ cháu có biết cháu đi chiến đấu không? — An-na Va-xi- li-ép-na hỏi.

        — Cháu đã viết cho cô ấy. Viết về tất cả, — Pa-ven trả lời vẻ ăn năn.

        Khi anh mở cổng, An-na Va-xi-li-ép-na như bừng tỉnh, liên gọi to.

        — Nếu cháu có cần giặt giũ gì thì mang về cô giặt cho.

        Anh gật dầu và bước nhanh ra cổng. Pa-ven rảo bước không quay đầu lại. Những tấm ván dưới vỉa hè oằn cong rít lên ken két. An-na Va-xi-li-ép-na tựa tay vào cổng nhìn đến khi Pa-ven ngoặt ở góc phố.

        ... Trong giây phút ấy, A-lếc-xây Va-xi-li-ê-vích cũng gù lưng bên cửa sổ có chậu hoa đưa mắt nhìn theo, tiễn đứa con ra đi. Một lát sau, ông đi đi lại lại quanh trong nhà như để tìm kiếm cái gì đó. Vào phòng Pa-ven thấy sách vở để bề bộn khắp nơi, ông cẩn thận đặt chúng lên giá. Những bản vẽ Pa-ven không mang đi, ông xếp gọn và cất vào tủ riêng. Ông cảm thấy cô đơn sau khi đứa con ra đi, đồng thời cũng phấn chấn lạ thường. Mặc lời khuyên giải của con, ông vẫn ở lại thành phố đầy nguy hiểm. Thật ra, cho đến lúc này, trong thâm tâm ông vẫn lưỡng lự và thấy rõ lẽ phải thuộc về Pa-ven. Và nếu còn làm việc ở nhà máy, tất nhiên ông sẽ đi sơ tán cùng với mọi người. Nhưng ông thấy thật khổ sở nếu yêu cầu cái nơi, mà cách đây không lâu ông là một trong những người dẫn dầu, giúp đỡ mình. Trong hai mươi năm dưới chính quyền Xô-viết, A-]ếc-xây Grô-mốp đã quen với địa vị của một con người, của một công nhân được cả tập thể tự hào. Và cái cảm giác của một người thấy mình hoàn toàn vô ích, sống bám vào mọi người ở nơi xa lạ đã làm Grô-mốp thấy sỉ nhục. Tuy hiểu rằng mình đã xử sự không đúng nhưng đồng thời ông cũng tự hào rằng mình không sợ hậu quả và vẫn xứng đáng với chính mình.

        Quanh quần ở bên cây si và cây phụng tiên, A-lếc-xây Grô-mốp hân hoan nghĩ: bây giờ thì những người thân thích trong gia đình và bạn bè gần gũi sẽ đối xử như thế nào trước sự kiện định của ông. «Chắc họ ngạc nhiên, — ông tưởng tượng và lẩm bẩm nói với mình. — Họ cho rằng chuyện này chắc sẽ làm cho ông già run sợ? Nhưng mình thì chẳng phải nghĩ ngợi gì. Mình biết mình phải làm gì ».

        Ông cảm thấy đứa con trai và cô em gái không thể ngờ rằng tính ngang bướng của mình lại gay gắt đến thế, nên cho đến lúc này họ vẫn tỏ lòng kính nể ông hơn trươc. Bà An-na Va-xi-li-ép-na vừa chuẩn bị đi làm vừa nhìn ông già và dặn dò mấy việc vặt ở nhà. Ồng lắng nghe bà em gái với vẻ chểnh mảng, thậm chí lộ cả vẻ giễu cợt.

        — Anh hãy chú nghe em nói đây, — bà An-na Va-xi-li-ép-na nghiêm giọng. — Kẻo lại nhịn đói cả tối.

        — Được rồi. Cứ đi đi, — ông đáp. — Tôi lại thích đi uống bia ở quán « Nê-va» cơ.

        Đấy là quán điểm tâm gần nhất mà Grô-mốp thỉnh thoảng đến. Nhưng lâu nay ông không hay đến đó mấy nên không biết rằng giờ đây tầng ngầm đã được sửa thành hầm tránh bom. Tuy ngạc nhiên trước tính gàn dở mới của anh, nhưng bà An-na Va-xHi-ép-na cũng không muốn làm ông thất vọng. Bà rất vội. Tiễn bà em đi làm và đóng cổng xong, ông già lại loanh quanh ở các phòng.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Tư, 2020, 02:06:53 pm

        Ông càng thầy kích động hơn. Trong thời gian gần đây, ông đã phục tùng hoàn cảnh quá nhiều, đã quá an phận, do đó cái việc không chịu khuất phục trước tình trạng khó khăn hôm nay đã làm ông phấn chấn hẳn lên. Tuy thắng lợi giành được hôm nay là không đáng kể, nhưng ông già cảm thấy mình có khả năng làm việc lớn hơn. « Tao đi đâu, tao cũng không biết cái gì ở đó nữa? — Ông tiếp tục tranh luận với con trai. — Nhờ trời, tao còn chưa mất trí. Tao biết phải làm gì và làm như thế nào. Điều này thì bố chẳng kém ai đâu ».

        Dừng lại bên cạnh cây thu hải dường, A-lếc-xây Grô-mốp theo thói quen sửa lại những cành bị gục xuống.

        — Còn khi sự việc trở nên nghiêm trọng thì... — quên khuấy đi, ông già bật nói thành tiếng, — thì tất cả hoặc dù chỉ còn một người cũng phải xông vào.

        Kinh ngạc trước ý nghĩ táo bạo của mình, nét mặt ông già thay đổi rõ rệt. Ông tin rằng: những năm tháng từng trải của ông, vốn sống và kinh nghiệm cuộc đời, ký ức về nhiều chiến công xa xưa không thể không giúp ích gì cho những người cùng lứa tuổi với Pa- ven của ông Bỗng nhiên ông thấy ý muốn giúp đỡ mọi người và sát cánh với họ trong một hàng ngũ cùng tham gia vào những cố gắng chung là những điều hoàn toàn hiện thực. Bỗng nhiên, A-lếc-xây Grô-mốp thấy bủn rủn chân tay đến nỗi phải ngồi xuống khi thoáng nghĩ đến một điều rất đơn giản mà bay giờ vẫn chưa nghĩ ra, là đi theo Pa-ven.

        «Cùng lắm thì người ta cho mình làm ông gác kho cũng được chứ sao? » — Ông tự hỏi. Ông cười thầm, khi cảm thấy mình có khả năng làm việc lớn lao hơn là cái công việc thầm lặng của người gác kho kia. Dù sao chăng nữa thì ông cũng không thể ngồi ở nhà trong cảnh vô công rồi nghề khi mọi người đang phải chiến đấu.

        Ỏng vội vàng chuẩn bị hành trang. Ngồi ghé vào cửa sổ bếp, ông cạo râu theo thói quen như trước khi ra mắt mọi người. Sau đó ông quẳng đôi giày nhàu nát vẫn đi trong nhà và khó nhọc cho chân vào đôi ủng. Ông thay chiếc áo vét cũ, sờn tay và mặc chiếc khác bằng da còn mới sặc mùi thuốc lá vụn. Toát mồ hôi và mệt mỏi, A-lếc-xây Grô-mốp lại phải ngồi một lát trước khi đi. Cuối cùng, ông mặc chiếc bành tô bông mùa đông, phủi phủi chiếc mũ lưỡi trai, chụp sâu nó xuống đầu và bước ra thềm.

        Ông cử động, và đi lại như rong sương mù, nhưng trong lòng lại sáng ngời một ý nghĩ, một đòi hỏi của lương tâm thôi thúc là phải cùng đứng với mọi người trong chiến hào chung.

        « Chắc là Pa-sa sẽ không tin khi biết mình cũng đi. — Cho chìa khóa vào ổ, A-lếc-xây Grô-mốp hài lòng thầm nghĩ. — Còn mình vẫn tự bảo vệ được ». Giấu chìa khóa vào nơi quy định dưới dầm cửa, ông thận trọng bước xuống thềm. Trời đã về chiều, bầu không khí xanh tươi mát như loãng ra và đầu óc ông quay cuồng. Nhưng điều này không làm ông dừng lại, ông nặng nhọc chống gậy và đi qua cửa hàng rào.

        Ông đi tới góc đường và rẽ sang một phó nhỏ dẫn thẳng đến con sông. Ở bờ bên kia là nhà máy quen thuộc. Grô-mốp tiến về chính phía đó theo con đường ngắn nhất mà ông đã đi qua hàng vạn lần. Đúng vậy, hôm nay ông còn có thể đi đâu nữa, khi mà ông đã sống chết với nhà máy này bấy nhiêu năm! Hầu như cả đời ông ở trên bờ sông kia và lúc này đến đấy ông tưởng như chỉ là sự trở lại nhà máy sau một thời gian tạm vẳng mặt không lâu.

        « Cứ thử đến dấy, nói chuyện với mọi người rồi sau đó sẽ rõ. Mình đến và ở đỏ sẽ phân giải » — A-lếc-xây Va-xi-li-ép lưỡng lự tự an ủi.

        Dù vậy, ông bước đi rất chậm. Đầu óc không còn quay cuồng nữa nhưng đôi chân tưởng như mềm nhũn không xương. Ông kéo lê không nhấc chân khỏi mặt đất. Tuy nhiên, cái sự kiện tự ông đi bộ được hôm nay đã làm ông cảm thấy như trẻ lại thực sự.

        Đến ngã tư, một nhóm chiến sĩ Hồng quân deo súng trường vượt qua cầu đã đuổi kịp Grô-mốp. Ông nhìn các chiến sĩ không phải chỉ với con mắt hoan nghênh mà còn với vẻ vui mừng của người cùng tham gia vào sự nghiệp chung.

        Vượt qua cái dốc thoai thoải, A-lếc-xây Grô-mốp dừng lại để thở. Và ở đây ông chú ý đến quang cảnh một toán học sinh đang khênh bàn ghế, giường tủ từ lớp học ra và xếp lên ô tô. Bọn trẻ rất bận rộn và ồn ào. Một em gái đội mũ đỏ chạy rối lên từ cổng chính đến ô tô rồi quay lại:

        — Va-nhiu-sa, đừng làm hỏng đấy ! Li-da có nặng không ? —  Cô bé hỏi toáng lên.

        — Nào nhanh lên, nhanh lên! — Người lái xe vừa hì hục bên máy nổ vừa thúc giục bọn trẻ. Nhanh lên kẻo chúng ta không kịp đi trước lúc báo động dâu...

        — Không sao cả, các cháu cừ lắm, đừng sợ! — A-lếc-xây Grô- mốp nói to và bất ngờ với cả chính mình. Ông giơ chiếc gậy lên vẫy vẫy. — Còn anh thì dọa nạt gì thế ? — Ông càu nhàu mắng anh lái xe. — Đáng lẽ giúp các cháu thì hơn...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Tư, 2020, 02:07:21 pm

        Anh lái xe thấp béo, mặt bóng như bôi mỡ sửng sốt nhìn người qua đường kỳ lạ.

        — Ông ơi, ông tránh ra! —có tiếng nói nhỏ vội vàng sau lưng Grô-mốp. Ông già quay lại.

        Một em trai khoảng mười tuổi, mặt đỏ gay vì nặng đang kéo một chiếc ghế băng dài đến xe ô tô.

        Đừng sợ con chim sẻ nhỏ ! — Grô-mốp khích lệ nói theo sau em bé.

        — Mời bố về nhà đi! — Người lái xe bực tức nói. — Chui vào bếp hay đi dâu cũng được. Ở đây không có bố cũng đủ ồn ào lắm rồi.

        Một thanh niên trẻ mặc áo vét dính dầu mỡ, đầu đội mũ lưỡi trai, vai khoác súng trường đi qua phố còn giơ tay chào ông theo kiểu quân sự. Mặc dù Grô-mốp không nhận ra anh, nhưng anh vẫn gật đầu với ông như người quen biết từ lâu.

        « Cứ thử đụng đến chúng tao xem, chúng mày sẽ phải bỏng đấy» A-lếc-xây Grô-mốp hài lòng suy nghĩ. Và ngay cái việc ông tự bỏ nhà ra đi, hòa vào cuộc du lịch hiểm nguy này đã làm cho ông thấy hãnh diện, tự hào tựa như chính ông đã thực sự tham gia vào cuộc hành quân vĩ dại, lớn lao của cả nước vậy.

        Nhiều người quay lại nhìn Grô-mốp. Người phụ nữ mặc áo vét chít lưng kiều cổ đứng tránh sang một bên, chằm chằm nhìn ông đi qua và cứ đứng im như vậy nhìn theo ông rất lâu. Dáng người cao to, gù, mặc áo bành tô bông, ông chậm chạp lê bước trên những tấm ván oằn xuống của vỉa hè. Một em gái tóc trắng bờm xờm thò đầu ra khỏi cổng, đôi mắt xanh đầy vẻ tò mò nhìn theo tiễn ông già.

        — Chết thật, ông ấy đi đâu thế! — Người phụ nữ mặc áo vét thở dài nói.

        — Thế mà người ta nói là ông ấy bán thân bất toại đấy, — em gái nhanh nhảu nói. — Đêm rồi mà ông ấy còn đi đâu cô nhỉ?

        Cuối cùng ông cũng qua được cầu, sang bờ bên kia và còn cách nhà máy không xa lắm thì tiếng còi báo động rú lên. Tiếng còi bắt đầu từ thấp rồi cao đến mức không chịu nồi. Nó rền rĩ rất lâu trong cảnh trời chiều tháng mười. Những người đi đường rảo bước, vội ẩn nấp trong các cồng vòm. Đường phố trở nên vắng tanh bóng người, tựa như gió thổi họ bay đi đâu, mất. Cũng như mấy ngày gần đây, máy bay Đức lại tiến công thành phố vào lúc xế chiều. Ở các hướng khác nhau trong trung tâm cũng như ở Da-rê-tri-e. Còi các nhà máy họa theo còi tàu cũng rúc lên báo trước cho khu vực mình điều nguy hiểm sắp tới.

        Nhưng A-lếc-xây Grô-mốp không hề sợ.

        Hà hà... lại bay... Tốt đấy ! Rồi con sói sẽ có bướu ». — Ông thầm đe dọa kẻ thù.

        Bỗng nhiên một người khẽ nắm lấy tay ông già.

        — Bác Grô-mốp, — ông già nghe thấy một giọng cao, đứt đoạn. — Bác để cháu đưa bác về.

        Trước mắt ông là một cậu thanh niên còn rất trẻ, mặc áo bông trần có đai, đội mũ ca lô trùm tới tai, đôi mắt sáng long lanh trên khuôn mặt gần ngăm ngăm với đôi môi nứt nẻ.

        — Cậu là con nhà ai thế, người hùng? — Ông già ngạc nhiên hỏi.

        — Tất nhiên là bác không nhớ cháu đâu. Cháu là Vô-lô-đi-a, Chi-khô-nốp Vô-lô-đi-a, — cậu thanh niên nói — Còn bác là bố của anh Pa-ven A-lếch-xâv-ê-vích, cháu biết bác.

        — Tại sao cậu biết tôi? — Grô-mốp hỏi.

        — Điều này không quan trọng. Cháu đã đến nhà anh Pa-ven một lần... Anh ấy hướng dẫn tổ kỹ thuật của chúng cháu. Thế cho nên... — Vô-lô-đi-a Chi-khô-nốp rất vội. — Nào, bác để cháu đưa đến hầm trú ẩn.

        — Còn hầm nào nữa? — A-lếch-xây Va-xi-li-ê-vích hỏi thận trọng.

        — Ngay kia thôi... Gần khu đoàn thanh niên. Mời bác đi... Ở đó có giường và phòng dành cho các cụ già và trẻ em...

        Vô-lô-đi-a quàng tay mình vào khuỷu tay ông già định dẫn ông đi.

        — Khoan đã nào... — Ông cao giọng và tránh ra. — Người anh em, tôi không trú và sẽ chẳng cần tránh trong hầm trú ẩn của các anh đâu.

        — Thế ông đi đâu vậy? — Vô-lô-đi-a ngạc nhiên. — Nếu xa thì cháu không có thời gian.

        — Tôi đến nhà máy, ở đó sẽ rõ, — A-lếch-xây Grô-mốp nói to. —  Còn cậu, cậu đi đi, đi đi, ẩn đi... — Rút cánh tay ra, ông nặng nề lê bước.

        — Bác A-lếch-xây, tại sao bác chỉ có một mình ? — Vô-lô-đi-a nói to.

        Cậu ta hoàn toàn không muốn bỏ mặc ông già trên đường phố vắng người.

        — Bác có muốn cháu đưa bác đến cổng nhà máy không? — Vô- lô-đi-a kêu to.

        — Cậu cứ đi ẩn đi để mà sống. Chưa cần đến lượt cậu đâu, —  Grô-mốp làu bàu không quay đầu lại.

        Ông cảm thấy như ở nhà máy người ta đang chờ ông, còn ông lại đến muộn.

        Khi ông đến cổng nhà máy thì bóng tối đã dày đặc. Ông dừng lại lo lắng : một hố lớn có bờ đất cao chặn đứng trước mặt. Đường phố xung quanh cũng phù đầy đất đá. Một thanh tà vẹt tàu điện cong như vỏ đỗ khổng lồ sừng sững trên đường. Như không tin ở mắt mình, ông già đưa mắt tìm câu lạc bộ nhà máy. Ngôi nhà ba tầng mới xây xong năm ngoái có mái cột trụ và ban công nhô ra phía trước, đứng đối diện với cửa ra vào. Nhưng giờ đây chỉ còn là một núi đá sỏi, gạch vỡ, những đoạn tường nhọn như cột bia với cánh cửa hỏng. Mặc dù Grô-mốp biết bọn phát xít định ném bom hủy diệt nhà máy, song ông vẫn run lên khi tận mắt được chứng kiến cảnh này.

        Nguời gác cổng với cây súng kíp trong tay đang ngồi ở lan can nhà gỗ, có lẽ đã nhận ra Grô-mốp. Bác ta bấm đèn pin, chằm chằm nhìn ông già và để cho ông vào, không hỏi han gì.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Tư, 2020, 02:07:38 pm

        A-lếc-xây Grô-mốp đi vào sân nhà máy và ở đây một cảm giác kinh hoàng mới lại đến với ông. Trong bóng tối lờ mờ, ông thấy các khu nhà vẫn còn nguyên, nhưng không khí tĩnh mịch có một không hai như trong nghĩa địa bao trùm toàn nhà máy. Những chiếc hộp khổng lồ của tòa nhà tối om sựng sững đứng trên sân đá, trông như một mẫu vĩ mô. Không biết từ dâu, một con mèo trắng xuất hiện, nhẹ nhàng chạy qua bãi đá trống và bỗng nhiên như hoảng sợ vì thấy mình đơn dộc, nó quay ngoắt trở lại.

        Grô-mốp đứng nhìn hoang mang ngơ ngác, cố tìm cho được những dấu hiệu nào đó cùa cuộc sống còn lại xung quanh. Nhưng vô ích. Lát sau ông đi đến khu hành chính nhà máy. Loay hoay một hồi trong hành lang tối om của tầng một, ông lên tầng hai cũng tối như bưng và mò mẫm mở cửa phòng, rồi một cửa nữa, nhưng không gặp một ai. Thất vọng và sợ hãi, ông trở lại sân. Trong tiềm thức của mình, A-lếc-xây Grô-mốp vẫn hình dung nhà máy thân yêu của ông luôn luôn ồn ào, đông người ra vào tấp nập với những ngọn đèn sáng chói. Trên đường đến đây, dù muốn hay không ông vẫn hy vọng gặp lại nó y nguyên như khi ông từ giã nó. Nhưng chỉ có tiếng giày và tiếng gậy của ông là âm thanh duy nhất trong bâu không khí vắng lặng tối đen này. Thỉnh thoảng chân ông vướng vào những phoi bào kim loại làm phát ra những âm'thanh buồn rầu như tiếng chuông vừa rè vừa gỉ.

        Theo đường goòng nhỏ của nhà máy, Grô-mốp tiến tới xưởng rèn đồ sộ đang âm thầm trong bóng tối. Một đầu máy nhỏ với các tán ô vuông trên ống khói đơn độc đứng chết lặng trước cửa ra vào. Ngay cả xưởng rèn, với những chiếc búa nặng trịch, cũng không cỏ một tiếng sột soạt. A-lếc-xây Grô-móp bỏ xưởng rèn, vòng qua góc nhà và trước mặt ông là tòa nhà đồ sộ của xưởng cơ khí.

        Cố dồn sức nỗ lực còn lại, ông bước qua ngưỡng cửa quen thuộc. Trong xưởng tối đen, câm lặng, chi một vài nơi cao hơn mặt đất là còn nhận thấy lờ mờ trên nền trời những ô vuông cửa sổ xám xịt, không còn kính chắn. Tuy nhiên, ở đây Ạ-lếc-xây vẫn còn nhớ cặn kẽ từng gian xưởng, nhớ như in vị trí tùng cỗ máy. Loanh quanh một hồi trong bóng tối, ông thấy xưởng của ông trống rỗng, chiếc máy tiện đã cùng ông làm việc bao năm nay cũng không còn nữa. Mặc dù điều này không có gì bất ngờ đối với A-lếc-xây, song trong ông vẫn trào lên nỗi buồn u uất. Ông chống gậy đứng lặng đi rất lâu trong bóng tối với một cảm giác như đứng trước đám ma người thân. Chi có mùi vĩnh viễn của phoi kim loại và dầu máy được thấm sâu vào nền đá còn lởn vởn trong những bức tường này, nơi mà cuộc sống đã ra đi. Từ xa vọng lại tiếng súng cao xạ và sau đó tiếng nồ ầm ầm rền vang. Sững sờ và đau đớn, A-Iếc-xây Grô-mốp lê bước ra cửa.

        Ra sân, ông ngồi lên chiếc đế máy. Lát sau, hàng loạt tiếng nồ liên tiếp vang lên hầu như ngay cạnh xưởng hòa cùng với tiếng pháo cao xạ rền xa xa. Nhưng Grô-mốp vẫn không đứng dậy. Im lặng một lúc khá lâu, bầu trời trên xưởng rèn bỗng rực sáng, rõ ràng là ở đâu đây có đám cháy lớn. Nhưng ông già vẫn cứ ngồi, lòng dạ nôn nao không biết đi đâu bây giờ. Một giờ trước đây, khi đến nhà máy, trong ông háo hức ý định tuy chưa rõ ràng nhưng cương quyết và đầy tinh thần chiến đấu, còn giờ đây ông cũng không biết trả lời ra sao cho chính mình là phải làm gì, phải hỏi ai, trong khi nhà máy của ông chẳng còn ai để mà hỏi han nữa.

        Ánh lửa hồng mỗi lúc một lan rộng trong bầu trời đêm đen đặc. Đám cháy từ một nơi nào đó trong trung tâm thành phố nhanh chóng lan ra và trên sân đá in rõ hình thù xưởng rèn đo đỏ. Trên các cửa sổ xưởng cơ khí xuất hiện ánh sáng lờ mờ hồng nhạt như bên trong có thắp những ngọn đèn yếu ớt. Pháo phòng không lúc im, lúc thi trút lửa và sau hàng rào nhà máy, một chiếc xe rúc còi hối hả lao về phía đám cháy. Lần này, Grô-mốp càng cảm thấy mình quá chậm chạp. Xung quanh ông là chiến trận, mọi người đang chiến đấu, trong đó có cả học sinh cũng vội vã đi đâu đó, làm một việc gì đó. Người thì đánh trả, kẻ thì bắn súng, duy chi có mình ông là bó tay ở đây.

        — A-lô-sa! — Bỗng nhiên ông nghe thấy một tiếng gọi run run quen thuộc. — Cậu ở dâu, A-lô-sa!...

        Grô-mốp vui hẳn lên và đưa mắt tìm: thế nghĩa là trong nhà máy vẫn có một người nào đó. Phút đầu tiên, do không biết đó là tiếng gọi mình, ông không lên tiếng.

        — A-lô-sa!— Tiếng gọi yếu ớt lại vang lên và một thân hình nhỏ bé gần như là trẻ con từ trong bóng tối nhô ra chỗ ánh sáng.

        — Đây, cái gì thế? Tôi đây. — Cuối cùng A-lếc-xây Grô-mốp cũng cộc lốc lên tiếng.

        Ông nhận ra bóng người đó là thợ cả Ca-da-cốp — một người bạn già về hưu trước ông một năm.

        Ca-da-cốp tiến lại gần và im lặng một lúc. Không hiểu tại sao ông để đầu trần, những sợi tóc trắng mềm mại bao quanh chỏm hói, phất phơ trước gió.

        — A-lô-sa! Ông định chơi trò ú tim đấy à? — Ca-da-cốp nói nhỏ — Còn chúng tôi thì tìm ông mãi. Từ cổng họ gọi điện vào báo rằng ông đến...

        — Ông có trông thấy chúng nó đang làm gì không ? — Grô-mốp nói — Ông thấy không, chúng nó muốn hủy diệt chúng ta đến tận gốc rễ! — Ông thét lên giận dữ. Nhưng một nét hy vọng dâng lên trong ông. Ở nhà máy không phải chỉ có một mình ông.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Tư, 2020, 02:08:42 pm

3

        Chiến tranh đã buộc Na-ta-sa Grô-mô-va phải ở lại trong một thành phố lớn gần Von-ga, nơi chị và một nhóm sinh viên cùng khóa đi thực tập từ đầu mùa hè. Nhà máy nơi họ thực tập lập tức chuyển sang thực hiện các kế hoạch phục vụ quốc phòng gấp rút, nên mỗi người đều rất cần thiết. Mãi đến tháng mười. Na-ta-sa mới được cử về Mát-xcơ-va. Nhưng ở đây chị được biết là trường đại học của chị đã đi sơ tán... Mẹ Na-ta-sa và em gái dự định sơ tán tới nhà họ hàng ở U-ran. Mấy ngày sau, chị tiễn hai người ra ga và sau khi họ đã lên tàu thì tất cả những gì diễn ra xung quanh, những gì xảy đến với Na-ta-sa từ những ngày đầu chiến tranh vẫn dai dẳng bám lấy chị không rời. Cho đến nay, tất cả những gì mà Na-ta-sa đã trải qua hoặc nghe được ở người khác chỉ là những tin tức về những trận đánh đẫm máu, về những đám cháy trong thành phố, là sự chia ly với người thân, là những lần báo động kéo dài và những đêm mệt mỏi thấp thỏm dưới hầm trú ẩn. Tất cả đều là những sự khốc liệt chưa từng thấy, những điều không thể tả được, không thể tưởng tượng được. Nó làm cho người ta kinh ngạc hơn là sợ. Na-ta-sa khó khăn lắm mới hiểu và tin được rằng tất cả những gì đang xảy ra đều là sự thật. Khó có thể tin được thế giới đang ở trong thảm họa chiến tranh và cũng khó có thể tin được rằng, cuộc sống thực tại mới đây của chị cũng đã mất đi. Thậm chí những gì không thay đổi trong cái thế giới này như: đất, trời, các vì sao, cây cối, các buổi bình minh và hoàng hôn cũng chỉ gây cho người ta cái cảm giác, cái ấn tượng nghi ngờ về những gì đang xảy ra với loài người trên trái đất. Và dù vậy, không gì có thể ngăn cản nổi Na-ta-sa hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ gia đình và xã hội của mình là vừa thực tập vừa học lớp cứu thương. Ở Mát-xcơ-va, chị tham gia đội cứu thương mỗi khi có báo động. Tuy vậy, chị vẫn trách mình là kỳ quặc, đã không chịu xông vào tất cả những thử thách, đáng ra phải trải qua. Bố chị là bác sĩ quân y. Cậu em trai mới tốt nghiệp lớp mười đã đi bộ đội như bao người khác. Nó luôn luôn ở trong vòng nguy hiểm. Còn chị chẳng hiểu sao lâu nay không nhận được thư của chồng. Riêng bản thân chị hôm nay buộc phải làm một cuộc hành trình khó khăn nguy hiểm: đi về phía mặt trận. Na-ta-sa cũng quyết định ra đi. Chị sẽ đến thành phố T., nơi chồng chị hiện đang làm việc trong một nhà máy chế tạo máy lớn. Họ đã quy ước với nhau : hễ có điều kiện, chị sẽ đến T. với anh. Và trong trường hợp nhà máy đi sơ tán thì cả hai sẽ cùng đi với nhau.

        Na-ta-sa dậy từ sáng sớm và ngay lức ấy cái ỷ nghĩ; nhất định hôm nay chị sẽ đến với chồng đã thúc giục chị. Rèm cửa buồng kín nên chị đưa chân tìm giày trong bóng tối. Bằng cử chỉ quen thuộc, chị vấn lại mớ tóc xõa tung. Xung quanh vẫn yên tĩnh, cô hàng xóm đi làm chưa về. Chỉ có tiếng chuông leng keng yếu ớt của đoàn tàu điện sáng sớm vọng vào phòng. Khoác áo choàng vào người, Na-ta- sa chạy vào nhà tắm theo hành lang sáng lờ mờ. Chị đốt lò hơi rồi quay về phòng kéo rèm lên. Ngoài sân đã bắt đầu một ngày thu nhàn nhạt hơi sương. Bầu trời xanh không một gợn mây, sương giá trắng xóa phủ đầy nhà cửa, cây cối và mặt đất. Một con quạ đen đậu trên nóc nhà kho, để lại dấu chân giống như đường thêu hình thập ốc. Bầu không khí buổi sáng lành lạnh dễ chịu và Na-ta-sa tự nhiên mỉm cười chào đón một ngày đẹp trời sáng sủa bắt đầu. Khép áo choàng sâu hơn, chị vội vàng dọn phòng, xếp giường, quét nhà, mặc dù việc này giờ đây quả thật không cần thiết nữa. Nhưng lúc này chị vẫn chưa hề biết rằng; còn lâu chị mới trở lại đây, trở lại ngôi nhà nơi chị đã sinh ra và lớn lên.

        Chị nhanh nhẹn đi lại trong phòng, thu dọn đồ đạc như mọi buổi sáng thường ngày. Quả là trong thâm tâm chị hơi ngạc nhiên với chính mình và với những gì đang diễn ra với chị. Tuy đây là điều băn khoăn không rõ ràng nhưng thật kỳ lạ thay, ngay cả hôm nay chị cũng không thấy mình khốn quẫn, y như nỗi đau khổ của chị và của người khác không có chỗ trong cuộc sống hiện tại vả như vậy có nghĩa là những gì bất ngờ xảy ra nhất định sẽ kết thúc đột ngột và tốt đẹp. Rồi cuộc sống thực sự, cuộc sống chân chính và nhân đạo sẽ trở lại vị trí của nó.

        Thu dọn phòng xong, Na-ta-sa lại chạy đến nhà tắm. Tắm xong, chị mặc bộ quần áo mới giặt thoảng mùi dễ chịu. Tối hôm qua chị đã định sẽ mặc bộ com lê xám cũ thuận tiện cho việc đi lại hơn. Nhưng giờ đây do niềm phấn chấn bất ngờ, chị quyết định mặc bộ váy len mới màu xanh sẫm nồi bật chiếc cổ áo màu xanh da trời.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Tư, 2020, 04:01:35 pm

        « Pa-ven chưa bao giờ thấy mình mặc bộ váy áo này — chị thầm nghĩ và ý nghĩ vui vui đó lấn át tất cả những cái khác.

        Chị chăm chú ngắm mình trước tủ gương. Dáng người tầm thước khỏe mạnh, hơi béo, đôi chân cân đối tuy bắp hơi to. Hình dáng chị nổi bật trước tấm gương lớn in bóng nền trời xanh và rèm cửa trắng. Đưa ngón tay vuốt hàng lông mày cong trên đôi mắt đen dịu dàng và xoa xoa đôi má mịn ửng hồng sau khi tắm rửa xong, chị như muốn kiểm tra để xác định xem tất cả vẫn là của chị và không hề xấu đi sau một đêm trằn trọc. Miệng tuy không cân đối lắm: môi dưới mọng và hơi căng ra, nhưng điều này không làm Na-ta-sa buồn phiền mà chỉ tôn thêm tính tự chủ của chị, thậm chí đôi lúc có cảm tưởng rằng chị sắp huýt sáo... Sau đó chị lấy tay giữ mái tóc vàng óng, dày và dài, chải rồi bện chúng lại thành một búi lớn sau gáy.

        Ngay từ hôm qua. Na-ta-sa đã thu xếp xong hành trang vào chiếc va li nhỏ màu vàng mà chị vẫn mang đi thực tập. Chị xếp hai tập tra cứu kỹ thuật và thước tính tận đáy, sau đó là áo váy ấm, tư trang, tất chân, nước hoa, xà phòng, miếng bọt biển và hộp kim chỉ. Cuối cùng là chiếc áo khoác gấp cẩn thận lên tất cả những thứ đó. Chị đóng khóa lại và nhấc thử — không nặng lắm. Cần phải ăn sáng trước khi đi đường, nhưng chị lại không đù tâm trí để đun nước pha trà và ngồi vào bàn ăn nữa. Lục lọi trong tủ chè, Na-ta-sa tìm được hộp bích quy dở, rồi vừa nhai vừa mặc áo bành lô.

        Đến giờ ra đi mà tim chị vẫn cứ run lên. Chị bước ra hành lang, và nhẹ khóa cửa căn phòng từ nay sẽ trống trải của mình lại. Ý nghĩ về những điều khủng khiếp đang diễn ra làm Na-ta-sa đau đớn đến suýt khóc. Bỗng nhiên chị cảm thấy mệt mỏi, phải đứng dựa lưng vào cửa một lát và cố kìm dòng nước mắt sắp trào ra. Chỉ lát sau, khi đã làm chủ được mình, Na-ta-sa thầm nghĩ về Pa-ven, về cuộc gặp gỡ với anh hôm nay.

        Na-ta-sa hoàn toàn tin vào sự lạc quan của mình vì một lẽ đơn giản, chị không thể nào tưởng tượng nổi là bọn phát xít có thể chiếm được Mát-xcơ-va. Chị không thể giả định được một điều gì khác ngoài sự toàn thắng, vì ngoài cái đó ra. có nghĩa là thảm họa và diệt vong. Mà Na-ta-sa thì không thể nào hình dung nổi thế nào là sự diệt vong.

        Chị nhanh nhẹn xuống cầu thang tối om vì cửa sổ bịt kín bằng gỗ dán. Ra tới cửa, chị trông thấy bà quản lý khu nhà thấp lùn, mặc áo bông bộ đội đang đứng ở sân.

        Bà khập khiễng đi đến gần chị:

        — I-i-a Vla-đi-mi-rốp-na! Bác làm sao thế? — Na-ta-sa hỏi, giọng chị nhỏ nhưng thanh.

        Người phụ nữ có cái tên hơi lạ đó vừa bước tới vừa ôm một bên hông bị thương.

        — Sao cô xinh thế — bà nhăn nhó nói và nhìn lên khuôn mặt hồng hào rạng rỡ của Na-ta-sa — Cô sửa soạn xong xuôi rồi chứ ?

        — Vâng, xong rồi. Cháu đi đây. Cháu muốn gửi bác chìa khóa căn nhà này... Nhưng bác làm sao thế?

        — Đêm nào cũng vậy, chúng tôi trèo lên nóc nhà như những kẻ ăn sương... Và thế là tôi bước hụt. — Bà trả lời vẻ miễn cưỡng.

        Nghe bà so sánh như vậy, Na-ta-sa suýt bật cười, song đã kịp ghìm lại.

        — Bác có đau lắm không? — Chị sốt sắng hỏi — Trong tủ thuốc có i-ốt không, nếu không, cháu mang đến. — Và chị đặt va li xuống đất.

        — Không sao đâu, cô đừng lo — bà trả lời quấy quá. — Chân còn lê được, thôi mặc kệ. Chiến tranh xong sẽ chữa...

        Tuy vậy, bà vẫn xúc động trước sự vồn vã quan tâm của chị và nhìn Na-ta-sa với vẻ niềm nở hơn. Nhét mớ tóc hoa râm xõa trên mặt vào khăn quàng, bà tin tưởng khoe :

        — Hồi đêm họ lại dập tắt bom cháy. Bọn trẻ thạo thật, chẳng sợ gì cả.

        — Bác hiểu cho, cháu thấy bất tiện là cháu đã bỏ bác ra đi, —  Na-ta-sa thú nhận.

        — Tại sao lại bất tiện? — Người phụ nữ mỉm cười âu yếm —  Cần phải nghĩ chứ, cô sẽ không thể ngồi không được.

        Bà giúi chùm chia khóa loảng xoảng vào túi áo bông.

        — Về nhà cửa, cô cứ yên tâm, ngay hôm nay tôi sẽ niêm phong lại.

        Chia tay với bà quản lý nhà xong, Na-ta-sa rẽ sang một phố nhỏ, sương mù lạnh lẽo còn lởn vởn trên đường. Lác đác quanh nhà vẫn còn sương giá: những lớp băng mỏng đục đọng lại thành những vũng nhỏ trên vỉa hè, kêu lạo xạo dưới chân.

        Lúc này, đi nhờ xe quân sự đến T. là chắc chắn và nhanh hơn cả. Gần đó đoàn xe của một sư đoàn tự vệ nghỉ đêm trong sân trường, nơi Na-ta-sa học từ hồi còn nhỏ. Cô hàng xóm mà Na-ta-sa không kịp chia tay đã nói giúp với người chỉ huy đoàn xe cho chị đi nhờ. Thật may, đoàn xe cũng đi về hướng thành phố T. Người chỉ huy vui lòng hứa sẽ đưa Na-ta-sa đến tận thành phố.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Tư, 2020, 04:02:24 pm

        Khi đến sân trường, Na-ta-sa thấy đoàn xẽ đã khởi động máy kêu rì rì. Những người lái xe mặc áo ca pốt, đội mũ trùm tai đang đi lại quanh xe. Ngồi chờ trong ca bin chiếc « ZIC » màu xanh, Na- ta-sa nhìn lại ngôi nhà của mình lần cuối cùng. Lúc này cửa kính tầng trên lấp lánh ánh mặt trời. Đoàn xe nối đuôi nhau thành tốp nhỏ đi qua ngõ phố và tiến về quảng trường Trơ-bát. Hai chiến sĩ Hồng quân đeo băng đỏ và tiểu liên đứng ở góc phố. Xa xa về phía quảng trường. Xmô-len-xco lờ mờ một nhóm kỵ binh cưỡi ngựa màu nâu thẫm. Những quả khinh khí cầu từ từ bay lên trời như một đàn cá bơi trong vũng sông khổng lồ.

        Xe lao qua những chiếc tủ bày hàng được che ván mỏng, những bức tường nham nhở mảnh đạn. những chiếc cổng kín mít và những người qua đường vội vã hiếm hoi. Tất cả ở đây đối với Na-ta-sa đều đã trở nên rất quen thuộc. Từ mặt trước ngồi nhà, lối đi, đến ngọn đèn đường và biển quảng cáo. Song, lúc này chúng trở nên mới mẻ, như đây là lần đầu tiên chị nhìn thấy vậy. Trên đại lộ chị vẫn quen dạo chơi hồi ấu thơ, Gô-gôn vẫn đăm chiêu đứng đó, nhưng hôm nay ông cũng trắng ra vì sương tuyết, tưởng như nhà văn đã thay chiếc áo khoác cũ bằng đá gra-nhít của mình. Mặc dù mọi người đều bàn tán về mối nguy hiểm sắp tới, về nỗi lo lắng không nguôi, song đối với Na-ta-sa, Mát-xcơ-va thân yêu của chị vẫn hiện ra một cách đẹp đẽ lạ thường. Một cảm giác kỳ lạ chưa bao giờ thấy xâm chiếm lòng chị mỗi lúc một mãnh liệt. Chị vừa quan sát vừa quay sang nói chuyện với người lái xe đứng tuổi có bộ ria rủ lòng thòng như Ta-rát Bun- ba1. Ông ta không quay đầu lại, và chi trả lời cụt lủn, nhưng Na-ta- sa không vì vậy mà bực mình.

        Sau khi rẽ xuống phố Phrun-de và qua thư viện Lê-nin, đoàn xe tiến đến câu Dá. Từ đây, điện Crem-li nổi lên rất rõ: bức tường răng cưa uốn theo dòng sông với những ngọn, tháp hồng lên trong nắng sớm. Quả đồi dốc xanh xanh với những tòa cung điện nhiều cửa kính lấp lánh dưới ánh mặt trời, nhô cao trên mặt thành hình răng cưa và các lỗ châu mai của nó. Cạnh đó là nhà thờ lớn. Ta có cảm tưởng như chính bức tường, các cửa sổ và tháp chuông Crem-li phát ra và chiếu rọi làn ánh sáng vàng nhạt xuống thành phố.

        Na-ta-sa hơi nhỏm cao đầu quan sát để không bỏ một hình ảnh nào của bức tranh đẹp đang mở ra trước mắt chi. Chưa bao giờ, chị thấy Crem-li rạng rỡ và trẻ trung như vậy dưới ánh nắng ban mai của tháng mười. Nhưng đoàn xe lao xuống dốc và cảnh đẹp không tả nổi đó nhanh chóng đi khuất sau khu nhà trên bờ sông Mát-xcơ-va.

        Đoàn xe đến cửa ô Xe-rơ-pu-khốp rồi rồ máy phóng nhanh trên đường phố rộng rãi chạy giữa những ngôi nhà gỗ với mảnh vườn trước. Thỉnh thoảng qua cửa kính ca bin, thấp thoáng những công xưởng với những tòa nhà hình lập phương nặng nề như đồn bốt. Hai lần chiếc « ZIC » của Na-ta-sa vượt qua những đoàn người hỗn độn vác xẻng đi làm, phần lớn là phụ nữ đầu trùm kín khăn vuông hoặc mũ nồi, mặc áo bành tô hoặc ào bông cũ.

        Gần đến đường ranh giới thành phố, đoàn xe tăng tốc độ và chiếc « ZIC » rung mạnh hơn. Có một chiếc xe bám sát ngay thành xe họ một lúc khá lâu. Trên xe, các cô gái mặc áo ca pốt bộ đội đứng vịn vào vai nhau. Hình như họ đang hát, nhưng không thể nghe rõ lời vì bị át đi trong tiếng máy nổ. Phút chốc chiếc xe với những cô gái kia đã tụt lại phía sau.

        «Tốt lắm, chúng ta đi rất nhanh!» — Na-ta-sa nghĩ vậy và đôi má chị ửng hồng.

        Đoàn xe dừng lại cạnh tẩm biển xám báo hiệu lối rẽ sang tuyến đường chính đại lộ Pô-dôn-xki. Đây cũng là trạm kiềm soát giấy tờ và Na-ta-sa lấy ở túi xách giấy thông hành thẻ sinh viên, giấy nghỉ phép do trường cấp để kiềm tra. Mấy phút sau, đoàn xe lại nối đuôi nhau lăn bánh trên đại lộ rải nhựa phẳng lì...

        Chưa đi tới Pôn-đôn-xki, đoàn xe lại dừng nghỉ trong một ngôi làng lớn. Ở đây chỉ huy đoàn xe gặp các quân nhân rồi cùng với họ đi đâu đấy khá lâu. Khi quay về, ông cho biết là sư đoàn mà họ cần đến đã chuyển đi nơi khác. Và thế là đoàn xe phải chuyển đi theo đường khác. Người chỉ huy bối rối khi nói điều này với Na-ta-sa, giải thích là do tình hình chiến sự không ổn định và khuyên chị tìm đi theo xe khác vậy. Người lái xe ít nói có bộ ria như Ta-rát Bun-ba xách va li của Na-ta-sa để trong thùng xe ra và chắc cảm thấy rằng mình cũng có lỗi nên ông lúng túng khuyên chị nên nhờ chính quyền địa phương giúp đỡ.

        — Chị đi đến với chồng cơ mà, như vậy họ phải thông cảm —  Ông nối và gãi râu mép. — Tất nhiên, lúc này ai cũng bận rộn và có công việc cả... thôi, chị thứ lỗi cho nhé!

        — Không sao cả, bác đừng lo. — Na-ta-sa nhã nhặn nói — Chúc bác lên đường bình an vô sự.

---------------------
        1. Ta-rát Bun-ba : một anh hùng nông dân nổi tiếng — N.D.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Tư, 2020, 04:02:59 pm

        Đoàn xe chuyền bánh. Chị đứng bên lề đường và còn vẫy tay chào người lái xe.

        Thật đáng tiếc: chuyến đi lúc đầu may mắn như vậy không ngờ lại bị nhỡ ở ngay chặng này, nhưng Na-ta-sa không cảm thấy quá lo lắng. Đặt va li sang bên cạnh, chị chăm chú quan sát xung quanh: những ngôi nhà gỗ im lìm, các giếng nước với đây ròng rọc và những bóng người xa xa đang lúi húi với công việc của mình. Thoáng trông thấy chiếc « Em-ca » màu đen chạy vào làng, chị liền vội xách va li lên, lòng tin chắc chiếc « Em-ca» sẽ không bỏ qua mình. Đúng vậy, chiếc xe nhỏ mui vải đã thủng lỗ chõ đột ngột phanh lại cách chị khoảng mươi, mười lăm bước. Người lái xe lao ra khỏi xe chạy đến giếng nước, chiếc xô không kêu loảng xoảng. Na-ta-sa bước vội đến bên xe.

        ... Bị giữ lại cả đêm trong bộ tham mưu quân khu thủ đô, trung tá Bốt-đa-nốp rời khỏi Mát-xcơ-va hơi muộn so với dự định. Tất cả những điều gì đã nhìn thấy, nghe và cảm thụ được từ hôm qua đến giờ đã tạo cho anh một trạng thái tỉnh táo trước trận đánh — trạng thái của tất cả sinh lực và tinh thần đều dồn vào một mục tiêu. Ngồi trong xe, Bốt-đa-nốp đang chăm chú nhìn ra xa, nơi chân trời tím nhạt, tưởng chừng như từ đây anh vẫn nhìn thấy rõ khói lửa của trận chiến đấu vùng ngoại ô Mát-xcơ-va.

        Khi nghe Na-ta-sa gọi từ bên cửa kính mở, trung tá liền quay lại vẻ không hài lòng. Ngay lập tức anh nhìn thấy một khuôn mặt phụ nữ trẻ trung, nóng bừng, hồng hào như một thiếu nữ, rất gần, ngay trước mât mình, nhưng bị bất ngờ nên anh không thể trả lời ngay được. Na-ta-sa chìa giấy thông hành và giấy nghỉ phép qua cửa xe.

        — Nếu anh đi không xa thì sau đó tôi sẽ chuyền sang xe khác —  Chị vừa mỉm cười vừa nói. Trong nét mặt, dáng điệu của chị toát ra một niềm tin vào lòng hảo tâm của mọi người đối với chị đến nỗi Bốt-đa-nốp không nỡ từ chối.

        — Mời cô lên đi, — anh nói khô khan — giấy tờ cô sẽ xuất trình ở trạm kiểm soát — anh vừa nói vừa mở cửa từ phía trong.

        Anh lái xe vừa đổ nước vào bộ tản nhiệt, vừa liếc nhanh người khách mới.

        Lúc đầu họ ngồi im lặng. Na-ta-sa rất hài lòng về việc chị lại may mắn đi nhờ được xe, chị im lặng và tò mò nhìn quanh. Chiếc xe chị đang ngồi có vẻ bí hiềm và kinh ngạc: dưới chân là một hòm sắt phẳng không biết để làm gì, bên trên là ống nhòm, cặp da, hai khẩu tiểu liên và mấy băng đạn dự trữ. Chưa bao giờ loại vũ khí kỳ quặc với ánh thép hơi xám và lạnh lẽo lại ở gần chị đến mức như vậy. Chị bất giác ngước nhìn hai người đàn ông ngồi phía trước với vẻ kính trọng và biết ơn.

        Sau đó chị nghĩ đến Pa-ven. Cũng như mỗi lần nghĩ về anh, lòng chị lại trào lên một tình cảm dịu dàng, ấm áp. Áp người vào góc xe, đây không biết là lần thứ mấy chị lại cố tưởng tượng về cuộc gặp gỡ với anh. Pa-ven sống với bố ở ngoại ô thành phố T. và như vậy chắc phải đến tối chị mới tìm được anh. Nhưng có lẽ tốt hơn là cứ chờ anh ở nhà. Na-ta-sa cố hình dung vóc dáng anh to, khỏe, hiền lành, khi nghe chị gõ cửa, anh liền ra mở cửa và thốt lên cuống quýt như thế nào; trong lúc bàng hoàng, anh lặp đi lặp lại mỗi một câu đại loại: «Hà hà, thế là em đã về» hoặc «Anh đợi em mãi, đợi em hoài!...». Sau đó anh sẽ dẫn chị vào chào bố và bà cô.

        Thật là buồn cười khi Na-ta-sa thầm nghĩ: Chị biết Pa-ven từ lâu (năm ngoái anh mới tốt nghiệp cũng trường đại học mà hiện nay chị đang học), đã viết mấy lá thư cho người thân của anh, thế mà đến lúc này vẫn chưa được gặp họ. Mùa xuân năm nay, sau khi Na- ta-sa và Pa-ven cưới nhau, chị cũng định thu xếp về thăm ông bố và bà con anh ít lâu nhưng không có dịp nào cả.

        Giờ đây, ngồi phác lên bức tranh về cuộc gặp gỡ sắp tới với Pa-ven và người thân của anh, Na-ta-sa cảm thấy có điều gì đó từa tựa như cắn rứt lương tâm. Và chị rất muốn chia sẻ niềm vui bất ngờ của mình với những người đàn ông ngồi trên chiếc ghế trước mặt chị, cả hai đang im lặng trầm tư đi ra mặt trận. Người chi huy và người lái xe của anh, đều không hề quay lại hỏi han gì như thể không hề có chị ở trong xe này.

        — Đồng chí trung tá, nếu tôi không nhầm thì đồng chí là trung tá phải không ? — Chị lên tiếng. — Xin lỗi, tôi vẫn chưa cảm ơn đồng chí.

        — Không sao cả, — Bốt-đa-nốp nói. Anh đang bận suy nghĩ: liệu đã có người bổ sung cho trung đoàn của anh chưa và họ là ai, đã có chính ủy mới chưa, đơn vị của anh đã nhận được quân phục mùa đông chưa và nhiều cái khác liên quan đến việc chuẩn bị cho đơn vị chiến đấu. Và anh rất tiếc là việc chuẩn bị đòi hỏi nhiều thời gian hơn so với ý muốn.

        — Nào chúng ta hãy làm quen với nhau chứ, — chị lại lẽn tiếng sau một lúc im lặng. — Tôi là Na-ta-sa...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Tư, 2020, 04:03:28 pm

        Bốt-đa-nốp quay lại. Khuôn mặt người phụ nữ trẻ, tươi tỉnh hồng hào đến mức tưởng như ở trong góc xe tối này sáng hẳn lên.

        — Các anh có biết không, tôi vừa chợt nghĩ tới cảnh mọi người chúng ta sẽ trở về sau chiến thắng như thế nào, — Na-ta-sa nói —  Những đoàn tàu trở về Mát-xcơ-va và những thành phố khác... còn mọi người ra ga đón người thân...

        Bốt-đa-nốp ngạc nhiên nhìn chị. Đối với anh, việc trở về sau chiến tranh còn quá xa xôi xa đến mức nếu lúc này mà nói đến thì thật kỳ cục.

        — Không ai biết bao giờ chiến tranh kết thúc, nhưng nó nhất định sẽ kết thúc, — Na-ta-sa vẫn tiếp tục làm yên tâm hai người bạn đường của mình, — Có thể còn nhanh hơn chúng ta nghĩ... và hôm ấy có lẽ là một ngày hội tuyệt vời !... Tôi có bố và em ở trong quân đội. Thật ra thì em tôi hãy còn học ở trường quân sự. Nó chỉ lo không được chiến đấu. Còn bà mẹ tôi thì đêm không ngủ được vì nó...

        — Rõ ràng là như vậy rồi, — Bót-đa-nốp nói. Anh thấy ngượng ngùng không biết phải nói thế nào với người bạn đường.

        — Không phải người mẹ nào cũng gặp lại được con đâu, —  Người lái xe góp chuyện vẫn không ngoái đầu lại. Na-ta-sa chỉ nhìn thấy cái gáy sạm nắng của anh và cánh tay đen bóng như mỡ trên vành lái.

        — Ôi, thật vậy! Không phải mọi bà mẹ, — Na-ta-sa nói sau tiếng thở dài.

        — Chị có khó chịu không ? — Bốt-đa-nốp hỏi. — Chắc vũ khí của chúng tôi không làm chị lo lắng chứ?

        — Không, không. Sao các anh lại nghĩ vậy! — Na-ta-sa vội vã trả lời.

        « Những người đáng kính, —chị nghĩ. — Những người dễ thương, đáng kính..; ». Những câu chuyện rõ không hợp và chị không muốn tiếp tục nữa.   

        Qua cửa kính của chiếc «Em-ca» thấp thoáng bóng cột điện thoại, ruộng đồng, những đám cỏ màu xanh nhạt hoặc màu xám xịt vì mục nát. Xa xa những cánh rừng xanh thẫm chậm chạp chuyển mình. Thỉnh thoảng lại có chiếc xe chạy ngược chiều. Chúng lao đến rất nhanh như sẵn sàng đâm vào chiếc «Em-ca» nhưng rồi vút qua cùng với tiếng máy rú đáng sợ. Những cột điện cao thế giống như bản vẽ lùi nhanh về phía sau và nhỏ dần đi. Ở một quãng sát ngay lề dường là khu rừng già ngổn ngang những cây thông thân đỏ và lớp thông non xanh biếc viền quanh. Cuối khu rừng thông là cánh đồng bằng phẳng, bao la, phủ mờ khói tím.

        — Ồi thật đẹp, có phải không đồng chí ?— Không ghìm được.

        — Na-ta-sa lại thốt lên. — Thật là mênh mông!

        Bốt-đa-nốp quay sang phía chị.

        — Vâng, có lẽ... — Anh ngập ngừng đáp.

        Cánh đồng nằm theo hướng tây nam vẫn còn lốm đốm sương giá, nó trông như một trận địa lớn được bố trí từ trước. Nhìn lướt qua một lượt, trung tá nhận thấy trên một chiếc gò thoai thoải chằng chịt hào giao thông. Thấp hơn một chút là hàng rào thép gai;.nhũng chiếc cột chống tăng hơi nhô lên lồm chồm như hàng chông sắt. Bốt- đa-nốp thầm nhận xét là chiến hào đó cần đào cao hơn một chút. Nói chung, theo ý anh thì trên cánh đồng này nên có chướng ngại vật chống tăng có hiệu quả hơn như: hào sâu, đầm lầy...

        Họ đi qua Pò-đốn-xcơ và không dừng lại. Thành phố nhỏ này nằm trên sườn đồi gây cho Na-ta-sa một cảm giác là nó quá chật chội vì cỏ rất nhiều xe trên đường phố cùng với bao nhiêu bộ đội vây xung quanh những chiếc ô tô hoặc tụ tập trên cầu... Họ lại qua trạm kiểm soát ở ngã ba đường và Na-ta-sa nghĩ rang tới Pô-đôn-xcơ mình phải xuống, nên chị nhìn Bốt-đa-nốp vẻ biết ơn. Còn Bót-đa- nốp không ở lại đây và cũng không rẽ sang đường khác.

        Tới lúc này, biết rằng săp gặp được chồng, chị cảm thấy sốt ruột hơn theo tưng cây số xe qua. Con đường trải qua những đoạn gấp khúc, chiếc xe lúc chồm lên dôi, lúc tắt động cơ lao xuống dốc như những đợt sóng. Na-ta-sa nhớ tới vùng Crưm, nơi chị cùng với các bạn trong trường đến nghỉ mát năm ngoái; nhớ tới những buổi tắm khi biển động, những cơn sóng ấm áp nâng lên, cuốn lấy người chị rồi dồn vào bãi cát làm chị như bị ngạt thờ. Thật kỳ lạ, lúc này, trên con đường nhấp nhô như sóng biển, cái cảm giác rờn rợn khó thở như vậy lại dồn đến với Na-ta-sa.

        Bốt-đa-nốp đột ngột quay lại.

        — Xin lỗi chị, — anh nói, đôi mắt đen nhấp nháy. — Chị đã nói về mình với tôi, còn tôi chưa tự giới thiệu với chị, —Trong giọng nói của anh có vẻ trịnh trọng.

        Na-ta-sa sửng sốt nhướng dôi lông mày, vẻ trịnh trọng này làm chị thấy buồn cười.

        — Cái gì, cái gì cơ? — Chị hỏi lại và giơ cánh tay đi tất xanh ra như để tự vệ.

        — Theo phép lịch sự phải như vậy, — anh giải thích.

        Na-ta-sa mím môi, nhưng không ghìm nổi và cười vang.

        — Anh thứ lỗi cho... — Chị nói trong tiếng cười. — Điều này... điều này thường xuyên xảy ra với tôi...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Tư, 2020, 05:26:48 am
   
        Ngả người vào thành đệm, chị khẽ xua tay vẻ bất lực. Trung tá bối rối ngồi im một lát, rồi như cố hết sức lực, anh nói:

        — Tôi là Bốt-đa-nốp, Ni-cô-lai Phê-đô-rô-vích.

        — Rất hân hạnh, — Na-ta-sa lắp bắp, mắt long lanh và sáng lên.

        Anh lái xe tò mò nhìn chị qua vai rồi nhếch mép cười. Bỗng nhiên cảm thấy thích thú trước sự vui vẻ của người phụ nữ này, Bốt- đa-nốp cũng bổi rối cười to.   

        — Tôi tỉnh ngộ hơi muộn, — anh thú nhận và lại im lặng.

        Na-ta-sa cảm thấy mình không đúng, nhưng vẫn còn cắn môi, chị thấy buồn cười trước việc anh tự giới thiệu quá muộn màng này.

        Xe chạy trong làng. Hai bên đường là những ngôi nhà sạch sẽ có rèm che cửa sổ và vườn rau. Hầu như trong sân nhà nào cũng có xe phủ kín cành lá ngụy trang đỗ ở khắp nơi: bên tường nhà và dưới các lùm cây.

        Đường làng nhộn nhịp bộ đội đi lại, có người mặc áo mưa vải bạt, tà áo phấp phới bay trên lưng những con ngựa xám đầm đìa mồ hôi.

        Giữa làng có mấy ngôi nhà bị cháy trụi — chắc là bị trúng bom. Đàn bà cũng như trẻ con đều quàng khăn chéo và cứ loay hoay trong đống tro tàn.

        Xe vừa ra khỏi làng thì Na-ta-sa lại bắt gặp một cảnh tượng đau lòng mới. Một đàn gia súc đi ngược chiều trên cánh đồng vàng nhạt loang lổ băng giá. Người chăn gia súc nìặc áo da chạy theo cái rãnh bên đường và nói cái gì đó với một người cưõi ngựa ngất nghểu giữa đám súc vật. Những con bò khoang đen, trắng đi chậm chạp, cúi đầu gặm gốc rạ khô cứng. Một số con leo lên đường và Na-ta-sa trông thấy từng chiếc xương sườn, chiếc xương cùng nhọn hoắt và bộ lông bù xù. Một con bò đực đen, trán phảng chắn ngang ngay trước dãu xe miễn cưỡng lững thững tránh sang một bên và giương to đôi mắt đầy dử lên nhìn...

        «Từ vùng địch tạm chiếm tới đây, — Na-ta-sa thầm đoán. —  Không biết chúng đi bao lâu rồi? Và điều gì sẽ xảy ra với ta?! —  Chị phẫn nộ hỏi mình. — Xung quanh đau thương như vậy mà vừa rồi ta còn cười...». Mặc dù lời tự trách hoàn toàn chân thật nhưng nó không gây ra một ấn tượng sâu sắc. Bởi vì, dù thế nào đi nữa, Na-ta-sa vẫn cảm thấy mình trẻ trung, toại nguyện lại đang trên đường tới gặp chồng nên chị không thể kiềm chế được niềm vui sướng của mình...

        Đến trưa, họ tới Xéc-pu-khốp. Chiếc «Em-ca» nhẹ nhàng lướt trên chiếc cầu lát bằng ván gõ bắc qua con sông rộng. Dưới cầu, dòng Ô-ca xanh phản chiếu bầu trời cũng xanh biếc, còn phía xa xa, dòng sông lại lạnh lùng lấp lánh như tảng băng phẳng dưới ánh mặt trời. Pháo cao xạ nhô cao cảnh giác từ những bụi cây ven hồ đề bảo vệ cầu. Người lính gác ra hiệu cho chiếc xe dừng lại và kiểm tra giấy tờ của tất cả mọi người.

        Sau đó lại là đồng bằng bất tận vợi những cánh rừng âm u, sườn đồi thoai thải, đám cây trơ lá màu nâu và những cây liễu trắng đơn độc bên suối. Na-ía-sa cho rằng đây là cảnh thu êm đềm tuyệt đẹp, còn theo trung tá thì đây lại là nơi rất thuận tiện cho xe tăng hoạt động. Thỉnh thoảng Bốt-da-nốp lại ngước nhìn bầu trời trong xanh, quang đãng đến mức cũng phải cảnh giác với máy bay Đức xuất hiện. Nhưng lúc này Bối-đa-nốp hay quay sang Na-ta-sa và chủ động bắt chuyện với chị. Chị vui vẻ trả lời. Mặc dù tính sôi nổi của chị hoàn toàn không hợp với tâm trạng căng thẳng của anh, song anh không thể nói được là điều đó làm anh không hài lòng.

        Mấy tháng chiến tranh gần đây, những trận chiến đấu liên tục diễn ra đã làm trung tá quên đi nhiều ký ức quan trọng hoặc đáng yêu trước kia. Và giờ đây anh đang sống lại với nó, hài lòng chứng kiến sự tồn tại của nó. Trong chiếc «Em-ca» lỗ chỗ mảnh đạn của anh có một người phụ nữ không những chỉ trẻ và đẹp — có thể nói chị không phải là người rất đẹp, — nhưng tất cả những gì ở chị, từ tiếng cười yêu đời đến đôi mắt sáng dịu dàng, đôi cánh tay thon thả đi tất mỏng, đều toát lên niềm vui của hòa bình và hạnh phúc.

        — Na-ta-sa, chị định ở lại T. có lâu không? — Trung tá thản nhiên hỏi. — Ở đó chị có nhiều công việc làm không?

        Anh đã bắt đầu lo lắng cho tính mạng của người bạn đường, đang đi vào một thành phố mà ngày mai có thể là mặt trận ác liệt.

        Na-ta-sa không trả lời ngay. Chị đắn đo trước khi thú nhận rằng ờ T. chị chảng có việc gì cả ngoài việc riêng.

        — Ọuả thật tôi không biết, — chị nhìn ra cửa sổ để giấu vẻ bối rối. — Còn tùy theo tình hình. Chúng ta sắp tới đó rồi phải không ?

        — Vâng, bây giờ thì sắp tới rồi, — Bốt-đa-nốp nói.

        — Tôi chịu ơn anh rất nhiều! — Na-ta-sa chân thành thốt lên và quay lại chỗ ngồi.

        — Dù lúc này nói chuyện gì đi nữa thì khi chú ý nhìn và nghe Na- ta-sa nói, Bốt-đa-nốp cũng cảm thấy như mình vừa phát hiện được một điều gì mới lạ, tưởng chừng một điều kỳ diệu đang xảy ra. Trên đường gân mặt trận, anh đã gặp một con người của những ngày hòa bình xa xưa hay của tương lai sau chiến tranh. Và anh cũng chẳng nghĩ xem người bạn gái đồng hành của anh đẹp hay xấu. Ánh sáng của ngày mai tuyệt vời nhất định sẽ đến sau bao cố gắng và hy sinh đang phát ra từ người chị và làm cho chị trở nên đẹp lạ thường.

        Chiếc « Em-ca» đi đến một thị trấn lạ hay đúng hơn là một khu làng lớn và Bốt-đa-nốp cho xe dừng lại trên bãi rộng. Na-ta-sa ra khỏi xe, khoan khoái dạo bước và chăm chú quan sát xung quanh.

        Bãi khá rộng, rải đá cuội lơ thơ cỏ mọc ở vài nơi. Một đầu là hàng rào nhà thờ, đầu kia là những ngôi nhà gỗ một, hai tầng. Ở phía góc bãi là tòa nhà thấp lè tè của một xí nghiệp với ống khói ngắn tũn. Trời về chiều, báo hiệu một ngày thu ngắn ngủi sắp hết. Bầu không khi vàng nhạt như ấm lại. Hàng dương trong sân nhà thờ nhuộm màu hồng dễ chịu. Bóng râm hơi đỏ của hàng dương mỗi lúc một dài ra và bức tường gạch của xí nghiệp rực hồng lên. Na-ta-sa bỏ mũ nồi ra để sửa lại mái tóc như bùng cháy dưới ánh mặt trời hoàng hôn.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Tư, 2020, 05:28:47 am

        — Na-ta-sa! — Bốt-đa-nốp nói. — Chúng ta nghỉ lại đây nửa giờ.

        Để lái xe ở lại với gói thức ăn, hai người chậm chạp dạo trên vỉa hè lát gạch. Qua hiệu cắt tóc có hình người đàn ông kiêu ngạo trên cửa sổ và cái hầm nắp sắt đóng kín, họ tới ngôi nhà thềm cao bằng đá có treo tấm biền «Nhà ăn số 1 » trước cửa. Di lên theo chiếc cầu thang hẹp và dốc, tới ngưỡng cửa, Na-ta-sa vô tình dừng lại trước một căn phòng rộng rãi với những bức tường gỗ tròn, tràn đầy ánh sáng vàng của hoàng hôn chói lọi xuyên qua cửa sổ.

        Trong phòng phần lớn là bộ đội mặc áo ca pốt, thắt dây da, họ ngồi bên những chiếc bàn gỗ ván dài. Quầy hàng phủ vải sơn dầu đặt trong góc phòng, bốn cạnh là chiếc bục nhỏ và cao. Một người chơi đàn phong cầm gù người trên chiếc ghế đẩu. Đó là một người to khỏe, ngực nở nang. Ông ta đeo đôi kính đen to — chắc ông bị mù. Thõng cái đầu to, vàng sẫm, bù xù xuống ngực, đôi tay to khỏe giữ chiếc phong cầm cũ kỹ trên đầu gối, hình như nhạc sĩ đang âu sầu nghĩ về điều gì đó.

        Anh nắng xuyên qua cửa sổ rất khó chịu và chiếc bàn gần đó không có người ngồi. Na-ta-sa và Bốt-đa-nốp tiến lại bên bàn. Một cô gái khuôn mặt nhợt nhạt, tóc tết đuôi sam, mặc áo len đỏ mang đến cho hai người một đĩa sứ đựng thịt ướp, pho mát và những miếng bánh mỳ rất to. Thay cho bia mà Bốt-đa-nốp yêu cầu, cô mang ra hai cốc vại nước ngọt màu anh đào. Na ta-sa tự nhận lấy công việc về mình. Chị lanh lẹn thái thịt đặt vào đĩa, còn Bốt-đa-nốp vừa sửng sốt vừa thích thú với điều này. Đã lâu rồi anh chưa được ngồi vào bàn với một người phụ nữ rất thành thạo và diu dàng như ở nhà thế này. Bốt-đa-nốp thầm cảm ơn Na-ta-sa và sợ nói điều gì không thận trọng làm phật ý chị, nên Bốt-đa-nốp im lặng theo dõi từng động tác của chị.

        Na-ta-sa cảm thấy người quân nhân — bạn đường của chị bỗng nhiên trở nên hiền lành thuần phục tự nhận lấy địa vị người dưới trướng của mình trong bàn ăn. Và trong ánh mắt của chị lại ánh lên nụ cười.

        — Thôi, tôi thế là đủ rồi. Cảm ơn Na-ta-sa, — Bốt-đa-nốp nói với giọng rất dịu ràng khi nhận đĩa thức ăn từ tay chị.

        — Anh ăn đi, ăn nữa đi anh Ni-cô-lai Phê-đô-rô-vích! — Na- ta-sa khuyến khích trung tá. — Chẳng nhẽ anh không đói hay sao, còn tôi thì đói kinh khủng... Chà, sao ngon vậy cơ chứ! — Chị thành thật thú nhận.

        Bốt-đa-nốp cười dè dặt.

        — Bình thường thì trong cuộc du mục, bánh mì khô cứng cũng cảm thấy ngon, — Anh nhận xét. — Chị hãy tin rằng chỉ trong chiến tranh người ta mới bắt đầu biết quý trọng nhiều thứ.

        — Vâng, chắc là như vậy... — Na-ta-sa tán thành. — Thật khủng khiếp khi nghĩ rằng trong chiến tranh các anh phải chịu dựng như thế nào !

        — Không sao cả, chúng tôi sẽ quen dần... — Bốt-đa-nốp lại cười, giọng khàn khàn: lúc này anh thấy rất thoải mái, và Na-ta-sa cũng mỉm cười.

        — Chắc phụ nữ trong quân đội thì gặp nhiều khó khăn lắm phải không? — Chị hỏi.

        — Trong quân đội không có phụ nữ, Na-ta-sa ạ! — Trung tá dịu dàng nói.

        — Tại sao lại không? Phụ nữ chẳng phục vụ là gì đấy! Và họ còn phục vụ tốt hơn nữa cơ. Thỉnh thoảng tôi lại thấy xấu hổ vì tôi ở hậu phương...

        — Chiến tranh, đây là công việc của đàn ông, — Bốt-đa-nốp giải thích. — Và quân đội, nói chung là hội đàn ông. Chị thứ lỗi cho những lời bay bướm, phụ nữ chúng ta nên ở hậu phương... Còn chiến đấu là việc của những người lính đàn ông...

        — Thôi được... — Na-ta-sa im lặng. — Có thể là anh đúng.

        Chị nhìn qua cửa sổ. Dưới sân, từng nhóm người đang tụ tập lại, cửa xí nghiệp mở toang và từng chiếc xe tải lăn lượt đi ra. Trong thùng xe phủ kín vải bạt, mập mờ nồi lên hình thù các máy móc, trên chiếc xe thứ nhất là nồi súp-de hình nón rất to. Dân thị trấn chen chúc trên vỉa hè, chăm chú nhìn đoàn xe lần lượt đi khuất.

        Na-ta-sa không hiểu ngay chuyện gì ở dưới bãi vì tất cả đều diễn ra rất thành thục và bề ngoài trông rất bình tĩnh.

        — Này đồng chí trung tá! Xem kìa, ở đây họ cũng phải ra đi... — Chị dau đớn thốt lên khi nghĩ rằng có thể cái nhà máy duy nhất trong thị trấn này cũng phải đi sơ tán.

        Bốt-đa-nốp chau mày lại, lời nói của chị đã đưa anh trở về với thực tại.

        ... Lần đầu tiên trong chuyến đi, Na-ta-sa thực sự cảm thấy sâu sắc nỗi thương xót khôn cùng. Chiến tranh đang diễn ra quyết liệt: những nơi chị đi qua hỏm nay, ngày mai có thể là bãi chiến trường, thị trấn vinh quang này ngày mai có thể biến thành tro tàn và ai có thể biết được số phận của những người đang ở quanh chị trong giờ phút này — đồng chí trung tá thấp mập, nước da ngăm ngăm, khuôn mặt nghiêm nghị với đôi mắt đen; cô phục vụ mặc áo len đỏ; những chiến sĩ trẻ trung ở bàn bên cạnh và người ca sĩ mù kia sẽ ra sao! Na-ta-sa lo lắng cho mọi người xung quanh minh không phải do luận cứ của lý trí, mà do lòng nhân ái cao độ sẵn có trong người chị. Với một lòng thông cảm sâu xa, chị lướt nhìn qua tất cả từng người quanh mình...

        Mấy anh bộ đội bàn bên đã đứng dậy và đi ra. Na-ta-sa cũng vội vàng chuẩn bị. Bốt-đa-nốp liền đứng dậy và lịch sự nhường chị đi trước. Cô gái mặc áo len đan tựa tay vào bàn nhìn bóng tối đang lan dần sau khung cửa sổ bẩn thỉu.

        Chỉ có người ca sĩ mù là vẫn hát với giọng gay gắt không thay đổi. Khuôn mặt ông ngẩng cao, hướng về bóng đêm bất tận cũng không hề biến đổi, tưởng chừng như khuôn mặt của người đã chết. Khi Na-ta-sa vội vã xuống cầu thang, chị còn nghe rõ tiếng hát đuổi theo.

        ... Phía đuôi tàu những ngọn sóng nhấp nhô.
        Và mất hẳn nơi chân trời mù mịt...



Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Tư, 2020, 05:30:04 am

4

        Khi Na-ta-sa tới T, trời đã tối và cũng vừa lúc thành phố rền vang còi báo động. Sau tiếng còi báo động của thành phố, còi của các nhà máy cũng rú lên. Tuy không nhìn rõ thành phố, nhưng trong bóng đêm dày dặc vẫn nghe vang dội những âm thanh của nó.

        Chiếc « Em-ca », đỗ gần cổng ra vào ngôi nhà màu xám của Bộ tư lệnh thành phố. Na-ta-sa xách va li của mình lên và ra khỏi xe.

        — Bây giờ cô đi đâu ?— Bốt-đa-nốp hỏi. — Cô cô biết thành phố không đấy, không sợ bị lạc đường đấy chứ?

        — Tôi đi đây... Cảm ơn anh nhé! — Giọng Na-ta-sa vang trong.

        Có thể là chồng chị đang đứng gần đâu đây và ý nghĩ đó làm chị không cần quan tâm gì đến mọi việc xung quanh.

        — Na-ta-sa... Bốt-đa-nốp ấp úng gọi.

        Bỗng nhiên anh thấy tiêng tiếc vì chắc sẽ không còn dịp được gặp lại người bạn đường tình cờ của mình nữa. Ngoài ra anh còn cảm thấy mình có trách nhiệm phải chăm sóc cô, — một phụ nữ đầy tự tin và mạnh dạn, có thể chưa hiểu tí nào những gì xảy ra ở xung quanh.

        — Cô đợi tôi một tí, — anh đề nghị. — Tôi không giữ cô lâu đâu...

        — Thôi, thôi, — chị vội vàng nói và tránh sang một bên đường. — Tôi không thể nào đợi được nữa.

        — Tôi chỉ vào hỏi tin tức... — Bốt-đa-nốp định thuyết phục. —  Và sau đó còn dưa cô đi nữa...

        — Ôi thôi, tôi không thể nào đợi được nữa! — Na-ta-sa nói to.

        Chị nóng lòng muốn chia tay với người trung tá thấp mập, rất lịch thiệp và tử tế đang cố giữ chị lại không đúng lúc. Chẳng hiểu sao, sự quan tâm của anh lúc này làm chị không thích. Để làm dịu bớt lại lời khước từ quá gay gắt của mình, đi thêm mấy bước, chị nói vọng lại: “

        — Cảm ơn anh nhé! Cảm ơn anh! Có thể lúc nào đó chúng ta sẽ còn gặp nhau!...

        — Tôi hy vọng như vậy! — Bốt-da-nóp thành thật kêu lên.

        Gặp người đàu tiên, Na-ta-sa dừng lại hỏi đường. Hóa ra chị còn phải đi bộ khá xa. Nhưng điều đó không làm chị bối rối. Và ở đây, trong cái thành phố xa lạ này, thỉnh thoảng lại vang lên những loạt đạn đại bác, chị cảm thấy như vẫn được che chở một cách vững chắc bởi một sức mạnh hiền lành, thân ái đối với chị. Đây không hoàn toàn là một sự nhẹ dạ, mà là lòng tin vào cuộc sống, một thứ lòng tin trong bao năm nay đã bảo vệ chị khỏi mọi hiểm nghèo.

        Trong chốc lát, trời đã tối hẳn. Từ phía xa trên bầu trời tối như bưng lập lòe những chớp lửa của đạn cao xạ, còn phía dưới là bóng đen thăm thẳm. Không gặp người đi dường nữa, ngay cả một tia sáng nhỏ từ khe hở hắt ra cũng chẳng trống thấy ở đâu và sau vài ba lần rẽ ngang, Na-ta-sa bị mất hết phương hướng không biết là minh đang ở đâu lúc này. Chị không hoảng hốt nhưng bực bội Na-ta-sa căng thẳng nhìn vào bóng đêm xung quanh và chị thấy mắt mình nhức nhối.

        « Không có bóng dáng một người nào cả, — chị bực dọc nghĩ. —  Một xứ sờ huyền bí nào chứ không phải là thành phố nữa. Ngay cả công an cũng không thấy dâu cả...».

        Chị đã định gõ cửa ngôi nhà gần nhất nhưng ngay lúc đỏ liền nghe thấy bước chân lộp cộp lien hồi ở phía bên kia đường.

        — Dồng chí gì oi, — Na-ta-sa cố gào hết hơi sức mình, — xin hãy dừng lại một tí!

        Trong khoảnh khắc những bước chân dừng lại. Sau đó như định hướng được tiếng gọi, người đó đi qua đường.

        — Anh có thể cho tôi biết tôi đang đứng ở đâu không? — Na- ta-sa nói với giọng như thể chính bóng người lạ mặt kia có lỗi trong việc chị lạc đường.

        Người đi đường vẫn hoàn toàn im lặng.

        — Tại sao anh không trả lời thế? — Chị cao giọng hỏi lại “Tôi đã luẩn quẩn ở đây mất nửa giờ rồi. Tôi cần tới xí nghiệp chế biến thức ăn, đến đó thì tôi biết dường... Anh thứ lỗi cho, vì tôi làm mất thì giờ của anh.

        — Thế chị đến nhà máy để làm gì ? — Tiếng người nào đó, hỏi vọng lên không phải ở chỗ chị ngóng đợi, mà lại thấp hơn, ngang thắt lưng chị.

        — Anh ở đâu thế? — Chị ngạc nhiên hỏi và vô tình lui lại.

        — Chị đi đâu?... Đứng lại!... Chị đến nhà máy đề làm gì? — Những câu hỏi dồn dập, rắn rỏi.

        Na-ta-sa cảm thấy một bàn tay nắm chặt tay áo chị và lờ mờ một khuôn mặt trăng trắng ngay dưới tầm mắt mình.

        — Ôi, anh..., cậu bé! — Chị thốt lên — Thế mà tôi cứ tưởng... — Chị bỗng cười vang.

        — Chị tưởng cái gì? Không, chị hãy nói đi... — Cái bóng bé nhỏ đó kiên trì nhắc lại — Chị không phải là người ở đây?

        Và chỉ sau khi Na-ta-sa đã nói rõ chị là ai, đi từ đâu đến và nhắc tên bổ chồng của mình ra, cậu bé mới yên tâm.

        — Có phải ông già sóng ở phố Bờ sông phải không? Làm ở nhà máy chế tạo máy cá! chứ gì ? — Cậu bé hỏi lại.

        — Đúng đấy, chính ông ấy đấy! - Na-ta-sa vẻ mừng rỡ — Thế em có biết con trai ông cụ không ? — Chị đã chuyển sang tiếng « em ».

        — Em biết chứ! Tại sao lại không biết nhi ? — Giọng cậu bé có vẻ ngạc nhiên — Nhưng chị là thế nào với anh ấy ?

        — Chị là vợ — Na-ta-sa mỉm cười nói.

        Cậu bé khẽ huýt sáo.

        — Chị từ Mát-xcơ-va đến phải không ?

        — Đúng, từ Mát-xcơ-va tới.

        — Có điều là chị đến không đúng lúc đấy. — Cậu bé ngắt lời — Nhưng không sao. Nào, ta đi, em cũng đi về hướng ấy.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2020, 07:27:16 am

        Và cậu bé lanh lẹ, vững bước đi trong bóng đêm. Na-ta-sa vội vàng theo cho kịp.

        — Cái gì cứ kêu lộp cộp mãi thế? — Na-ta-sa hỏi, vẻ săn sóc —  Giày hỏng hay sao ?

        — Hôm nay đế giày bung ra, — cậu bé miễn cưỡng trả lời, — đế vẫn tốt, mũi còn nguyên. Còn chị thì đi đi chứ...

        Cậu bé thoăn thoắt đi từ phố này sang phố khác, tưởng như cậu ta nhìn rất rõ đường đi trong bóng đêm còn Na-ta-sa cứ phải giơ cánh tay trái ra trước mặt, đôi mắt nheo lại như sợ xô vào đâu đó. Vất vả lắm chị mới theo kịp cậu bé. Bất ngờ, người bạn đường nhỏ tuổi bước chậm lại và đi sóng hàng bên cạnh chị.

        — Mát-xcơ-va ra sao hả chị? Tình hình có bớt căng hơn không ? — Cậu bé hỏi, vẻ chững chạc.

        — Cái gì, cái gì cơ? — Na-ta-sa hỏi lại.

        — Em hỏi là tình hình có bớt căng hơn không? Nhân dân chịu dựng thế nào hả chị ?

        — Tuyệt vời! Thật là tuyệt vời! — Chị trả lời.

        — Ở chỗ chúng em cũng chẳng sao. Thành phố sẵn sàng tinh thần chiến đấu. Tất nhiên có khó khăn, làm sao có thể tránh khỏi điều đó, — cậu ta nói, — và người ta cũng có nhiều loại người... Thế cho nên lúc đầu em nghĩ về chị không được tốt lắm.

        — Nghĩ về chị ư? Hừ, em có biết không... — Na-ta-sa nổi nóng.

        — Thế chị nghĩ thế nào thời buổi này... Chị hãy lưu ý đấy...

        Hình như họ đã tới gần trung tâm thành phố vì dưới chân đã cảm thấy đường nhựa phẳng hơn. Cậu bé lại rảo bước nhanh hơn và Na-ta-sa phải thành thật van xin:

        — Này em, đừng chạy. Chị chẳng nhìn thấy chút gì cả...

        Cậu bé nán đợi đến khi Na-ta-sa đi lên kịp mình:

        — Chị quá chậm chạp đấy, —cậu ta nói vẻ thản nhiên. — Chị hãy nghe em, tốt hơn hết bây giờ chị vào nghỉ ở khách sạn ấy. Gần đến rồi. Tạm nghỉ đêm ở đấy. Chị có đủ tiền đề trả không?

        — Cứ cho là đủ vậy, — Na-ta-sa nói.

        — Chị hãy liệu đấy! Trong khách sạn, ôi, ôi, ôi, đắt lắm nhé!

        — Em tưởng thế thật à! — Na-ta-sa vui vẻ thốt lên.

        — Chị đừng có cười đấy. Chị có biết những ai mới ở được đấy không? Chỉ có các nghệ sĩ là một này, các cầu thủ bóng đá là hai này. Khi đội bóng « Xpác-tác » đến đây họ đã ở đấy. Khách sạn thành phố em tốt lâm

        — Không, chị không việc gì phải đến khách sạn cả. — Na-ta- sa nói.

        Họ lại gặp những người đi đường hiếm hoi: một chiếc xe có đèn pha xanh mờ mờ chạy chậm chạp, vài người đi bộ giữa đường phố. Ủng của họ có cá sắt kêu lạch cạch. Bỗng nhiên tiếng súng cao xạ rộ lên xa xa, rồi nghe rõ cả tiếng nồ rất gần. Trong cái hòa âm loạn xạ ấy xuất hiện một âm thanh nhỏ nhưng nghe rõ, giống như tiếng muỗi kêu — âm thanh cao, rung rung và buồn bã.

        — Bọn Hít-le lại bay đến đấy! — Cậu bé dẫn đường cho Na-ta- sa binh tĩnh nói.

        — Tiếng kêu rất khó chịu, — chị nói theo.

        — Tiếng động cơ của bọn phát xít nó như thế đấy, — cậu bé giải thích. — Tiếng máy bay của ta nghe êm êm còn của chúng nó cứ như than vãn: « Sợ lắm, sợ lắm, sợ lắm...». Còn pháo cao xạ trả lời chúng : «Ha!Ha!Ha!».

        — Ừ, cũng giống đấy... Ở đây có hay báo động không? — Na- ta-sa hỏi.

        — Dạo này thì luôn dấy. Thế còn ở chỗ chị thì thế nào ?

        — Ở chỗ chị cũng thế, — chị nói.

        Tiếng rẻo trên trời trở nên gắt và inh tai hon: chiếc máy bay vô hình như giảm độ cao.

        — Bây giờ nó sẽ quẳng bom xuống đâu đó. — cậu bé thét lên bảo cho Na-ta-sa. — Nào, hãy bám chặt lấy! Kìa, chị xem kìa! — Cậu gào lên — Hừ, bọn sâu bọ ! Chúng lại chỉ điểm đấy!

        Một ngôi sao vàng đục lóe lên trong bóng tối, cháy lơ lửng trên trời rồi tắt dần. Tiếp theo là hai quả pháo sáng tỏa xuống mặt đất một thứ ánh sáng chết chóc. Chùm sao đáng ghét đó lơ lửng trên thành phố chỉ trong mấy giây mà tưỏng như vô tận. Thành phố bỗng lộ ra từ trong đêm tối, soi rõ bóng hình nhũng ngôi nhà cao tầng, những ống khói nhỏ hẹp. Lát sau quả pháo sáng đầu tiên tắt, để lại những tia sáng mảnh, chóng tàn, nhưng ngay lúc đỏ lại xuất hiện quả khác.

        — Đấy, chúng nó lại chỉ điểm nhà máy dấy! Chúng nó bắn từ cánh đồng đấy ! — Cậu bé căm giận thốt lên.

        — Cái gì đấy? Ai thế? Cái gì đấy? — Na-ta-sa không hiểu gì, hỏi lại.

        — Cái gì đấy ? Ai thế ? Cái gì đấy ? Ai thế ? — Cậu bé nhại lại.— Bọn chỉ điểm pháo sáng chứ còn ai nữa !

        Cậu ta đi lên phía trước, và cái dế giày lại kêu lạch cạch như có ai vỗ tay.

        — Dừng lại một tí, — Na-ta-sa kêu lên, — đợi chị với!...

        Trong chính khoảnh khắc đó, một ánh chớp đỏ nhạt lóe lên sau những ngôi nhà, rồi ba tiếng nổ liên tiếp vang lên. Sau đó lại nghe thấy tiếng muỗi kêu buồn rầu, chán nản. Đột ngột như trong ánh chớp, một màu tím nhạt vụt sáng trên bầu trời. Một sức ép khủng khiếp làm cho mọi vật rung lên tưởng như có những chiếc hộp lớn quăng vào cửa kính.

        Na-ta-sa sợ hãi né sang bên đường và sực nhớ tới người đưa đường của mình đã mất hút trong bóng đêm, chị vùng chạy đuổi theo.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2020, 07:28:25 am

        Trên đường phố xuất hiện vài người, họ vội vàng đi cùng chiều với chị. Một người nào đó xô mạnh vào Na-ta-sa. Ánh sáng hồng tỏa rực bầu trời. Bỗng nhiên, Na-ta-sa nhận thấy mọi thứ đều sáng hơn: thành phố lạ với những ngôi nhà đá, hàng cây trên vỉa hè, hàng rào, đường tàu diện, cột điện thoại mà lúc nãy không nhìn thấy, bây giờ đã hiện ra trong màn sương đục màu hồng. Súng cao xạ bắn dữ dội. Trên đỉnh đầu, bầu trời vẫn đen ngòm chốc chốc lại lóe lên tia sáng của tiếng đạn nổ.

        Na-ta-sa thở hổn hển và đi chậm lại, chắc là người bạn đường ban đêm của chị đã vượt quá xa. Nếu có gặp cậu ta chị cũng không thể nhận ra được, bởi vì chị cũng chưa kịp nhìn kỹ mặt cậu.

        Càng gần đến đám cháy, đường phố càng náo động hơn. Một chiếc ô tô màu đen vừa chạy vừa bóp còi liên tục. Từ trong ngõ nhô ra hai chiếc xe cứu hỏa chở đầy những người đội mũ sắt. Chúng quay đầu rồi vừa phóng nhanh về phía trước vừa rú còi báo động liên hồi. Một tốp phụ nữ trùm khăn chạy ngược lại. Vài người khó nhọc kéo chiếc thang dài qua cầu.

        Đi tới góc ngôi nhà bốn tầng, Na-ta-sa nhìn thấy quảng trường tròn có bồn hoa ở giữa và quầy hàng. Từ những ngôi nhà phía đối diện với quảng trường tuôn ra luồng khói xăng vàng sẫm. Ở phía khác bầu trời vẫn đen ngòm, những tầng trên của tòa nhà sáng lên như trong cuốn phim.

        Ở góc phố có một đám đông đang chậm chạm lùi bước trước một người mặt đầy râu ria, mặc áo bông trần, trên vai lủng lẳng chiếc mũ chống dộc. Không hiểu điều gì xảy ra. Na-ta-sa cũng vô tình lùi lại. Người mặc áo bồng vung tay, gào lên, nhưng xung quanh ồn ào nên chị chẳng hiểu gì. Đám đông lại xô đẩy và chị chỉ nhớ được một cô gái trẻ, đôi mắt mở to kêu lên sát tai chị.

        — Anh thấy những điều sợ hãi đó ở đâu? Chúng tôi không sợ... Anh sợ thì sợ chứ chúng tôi không sợ!...

        Chắc điều này ám chỉ anh lính cứu hỏa rậm râu đang xô đẩy mọi người. Cùng với đám người nọ, Na-ta-sa bị đẩy lùi tới cửa ngôi nhà ở góc phố. Ở chỗ này, một ngọn đèn xanh lờ mờ rọi ánh sáng vào cái cửa ra vào thấp tè. Đến đây, Na-ta-sa hiểu rằng họ dồn chị và cả đám đông vào hầm trú ẩn, vì vậy, chị lưỡng lự dừng lại trước cửa.

        — Còn chị thì mơ mộng cái gì thế ? Đi đi chứ! — Cô gái nói với Na-ta-sa.

        Có ai đó xô vào lưng chị. Chị chưa kịp phản ứng gì thì đã bị xô xuống theo cái cầu thang tối om. Chị tựa khuỷu tay vào bức tường đá.

        « Thế là hỏng bét, — chị hoảng hốt nghĩ. — Biết bao giờ thì thoát khỏi đây?»

        Ở phía sau, người ta giẫm cả lên gót chân chị. Ở phía trước một người nào đó đi rất chậm, đã có lúc chị dựa vào lưng anh ta. Lúc này chị rất bực với chính mình và với tất cả những gì xung quanh, đến nỗi tí nữa chị kêu lên: « Này, anh làm sao thế ? Di nhanh lên chứ!».

        Khi bước vào tầng hầm của ngôi nhà đã trở thành chỗ trú ẩn, trước tiên chị đưa mắt nhìn con người chậm chạp kia. Người anh ta thấp, đôi vai không cân đối và to đến mức chị tưởng là người vuông. Anh ta mặc chiếc bành tô nâu, nhàu nát, đội cái mũ có lưỡi trai bành ra đến tận mang tai. Nửa mặt bị che khuất và chị chỉ nhìn thẩy cái miệng nhỏ, không có môi, với bộ râu xồm xoàm. Nhìn anh ta với vẻ ác cảm, Na-ta-sa chen lên phía trước.

        Trong tầng hầm khá rộng, xung quanh quét sơn xanh, mái trần hình vòng cung đã có khoảng bốn, năm mươi người. Vài người nằm, ngồi trên ghế gỗ, còn những người khác trải chăn nằm dưới nền nhà. Những mái tóc ngắn hoặc xoăn, những đầu gối nhọn và đôi vai yếu ớt của bọn trẻ con cựa quậy giữa những chiếc đuôi sam của các bà mẹ. Những chiếc mũ lông hoặc mũ lưỡi trai di chuyển quanh những chiếc khăn trùm đầu của các bà mẹ. Trong góc nhà, một cụ già mặt nhăn nheo tối như hạt dẻ rang đang ngủ dưới ống dẫn nước khá to ở sát bên tường. Trong hầm trú ẩn rất nóng và khô nhưng rất sáng, trên trần nhà mấy ngọn đèn chiếu ra khắp nơi. Cách cửa ra vào không xa có một thùng sắt tráng men đựng nước uống.

        Na-ta-sa đặt va li cạnh tường và ngồi lên đấy. Mặc dù rất nóng nhưng một ông già khuôn mặt hồng hào vẫn đi đôi ủng cao su, mặc áo da không cài khuy. Ông sẵn sàng dịch ra để Na-ta-sa ngồi tiện hơn.

        — Trong lúc chật chội, chị thông cảm vậy nhé, — ông nói vui vẻ.

        Na-ta-sa thở dài và cảm ơn. Ở phía khác, một người phụ nữ trẻ mặc áo lao động đen đang dỗ con ngủ: cậu bé ba, bốn tuổi đang úp mặt vào gối và một cô bé lớn hơn.

        — Mẹ ơi, mẹ! — Na-ta-sa nghe thấy giọng nói thì thào khe khẽ. —  Mai chúng ta phải đi sớm trước lúc có báo động ấy mẹ ạ. Có thế chúng ta mới được ngủ trên ghế băng. Con nói đúng chứ mẹ?


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2020, 07:29:00 am

        Ngồi trên mảnh chăn sặc sỡ, cô bé đang tết lại mái tóc của mình. Rút cái nơ xa tanh xanh từ mái tóc, cô bé cẩn thận vuốt vuốt, rồi cuộn lại và giúi vào gối.

        — Mẹ ạ, nếu không thế thì lúc nào mình cũng bị muộn... và ghế băng chẳng còn chỗ nữa. Nếu mẹ muốn, con và Xê-ri-ô-gia sế đến từ trưa và giữ cả chỗ cho mẹ ? — Ngoảnh về phía mẹ, cô bé lại thì thào.

        Tiếng pháo cao xạ từ xa vọng lại, và ở trong hầm, mọi người im lặng: một số khe khẽ nói chuyện riêng, còn phần lớn thì ngồi yên. Họ đã chịu đựng hơn một tháng rưỡi nay những đêm lo sợ như thế này, nên mọi người cứ làm như thể ở nhà. Ai cũng cố gắng không làm ồn để khỏi phiền đến người khác. Người ăn tối thì đặt bánh mì và mứt quả ra trước mặt, người thì đọc báo.

        Ồng già có khuôn mặt hồng hào kéo lê đôi ủng trên sàn nhà và tò mò nhìn xung quanh. Rõ ràng ông muốn bắt chuyện với ai đó; và không chịu được nữa, ông quay sang Na-ta-sa:

        — Hầm ở đây khá tốt, chị không phải lo gì cả. Trên đầu chúng ta là ngôi nhà đá bốn tầng mới xây.

        — Vâng, cháu có lo sợ gì đâu, — chị nói.

        — Phải đấy, phải đấy, — ông già gật đầu. — Tôi cũng không phải là người ở đây, chị có muốn biết không... Tôi buộc phải ở lại thành phố. Người ta khuyên tôi đến đây thì sẽ yên tâm hơn. Đúng thật, tôi nói với chị: mọi thứ ở đây đều tốt cả — sạch sẽ và ấm áp. Cho nên chị đừng sợ gì cả, mọi việc rồi sẽ tốt thôi...

        — Tại sao ông nghĩ là cháu lo lắng? — Na-ta-sa nói.

        Chị buồn rầu nhìn cánh cửa thấp của tầng ngầm bị chêm một mảnh sắt có một thanh niên mặt mày cau có đang đứng gác ở đấy. Anh ta không cho ai ra khỏi hầm khi chưa có báo an. Na-ta-sa bị dày vò bởi ý nghĩ là chị có thể đã gặp Pa-ven, nếu không bị lạc một cách đáng xấu hổ vào quảng trường này.

        — Mẹ ơi , mẹ! — Một lần nữa chị lại nghe thấy cô bé thì thầm và nhìn sang em trai. — Mẹ cũng nghỉ đi chứ. Mẹ phải dậy sớm cơ mà!

        — Được rồi con cứ nằm yên, — bà mẹ trả lời cho xong chuyện.

        Đưa mắt nhìn quanh, Na-ta-sa lại trông thấy anh chàng chậm chạp đội mũ lưỡi trai quá cỡ. Anh ta đang đứng tựa lưng vào tường cách cánh cửa không xa, bên cạnh là một anh chàng khác mặc áo ca pốt bộ đội, không có phù hiệu, đội mũ chào mào. Trên khuôn mặt nhợt nhạt không có gì đặc biệt của người này, chỉ có đôi mắt tròn, sáng, quá gần nhau là đáng chú ý mà thôi. Bắt gặp cái nhìn của Na- ta-sa, người đội mũ chào mào lãnh đạm nhìn chị. Lập tức, Na-ta-sa quay đi. Nhưng sau đó, như thể vô tình, chị lại nhìn người lính này. Cái nhìn của anh ta rất kín đáo và không tự nhiên, không phải là cái nhìn của con người trung thực mà như cái nhìn của loài chim. Không hiểu tại sao Na-ta-sa linh cảm thấy anh ta và người đàn ông bên cạnh có một mối quan hệ khó hiểu nào đó và có một nét gì đặc biệt so với những người xung quanh.

        Bỗng nhiên trên đầu mọi người có tiếng nổ ngắn trâm như một cơn co giật trên mặt đất. Người đàn bà mặc áo lao động nhanh nhẹn chồm lên đưa toàn thân che cho hai đứa con. Ông già mặc áo da sợ hãi đứng lên...

        — Nó nổ ngay trên đầu chúng ta, có phải không mẹ ? — Ngồi lên chăn, cô bé hỏi to.

        — Không phải đâu, xa lắm. Con nằm xuống, ngủ đi. — Bà mẹ trả lời với giọng căng thẳng, lo lắng.

        Cánh cửa sắt tầng ngầm từ từ mờ và hai chiến sĩ Hồng quân bước vào, theo sau là một cậu bé mặc áo bông trần, đội mũ trùm tai. Lập tức, cậu bé đi tới giữa nhà, chiếc đế giày hỏng của cậu kêu cộp cộp. Vừa ngỡ ngàng, vừa vui mừng, Na-ta-sa đứng bật dậy, bước tới chỗ cậu bẻ.

        Với tất cả đặc điểm thì đây đúng là cậu bé dẫn dường cho chị vừa rồi. Lúc này, trong ánh sáng, chị có dịp nhìn rõ cậu bé. Cậu ta nhanh nhẹn, rắn chắc như một cây sồi con, có vẻ hơi thấp so với tuổi mười bốn, mười lăm của mình. Trên cái má tròn đỏ ửng có một nốt ruồi trông rất duyên. Trông cậu bé có vẻ đang bị kích động rất mạnh. Na-ta-sa chưa kịp gọi cậu thì mặt đất lại rung lên mạnh hơn so với lần trước. Trong nháy mắt, tất cả các đèn dưới tầng ngầm dềụ vụt tắt.

        Theo tiếng chân, Na-ta-sa đoán hình như một số người đang chạy xô ra cửa. Trong tiếng ồn ào hỗn độn, tiếng kêu thét, nghe thấy tiếng khóc sướt mướt của trẻ con và ai đó đơn điệu gào to:

        — Đồng bào hãy ngồi yên tại chỗ! Tất cả hãy giữ trật tự!

        Sau đó Na-ta-sa nghe thấy giọng kim lanh lảnh quen thuộc :

        — Cho tôi đi với! Hừ, cứ loạn xạ lên vô ích!... Cho tôi đi với!... Các đồng chí không cho ai ra khỏi cửa hầm cả!

        Khoảng ba phút sau, đèn lại sáng và người đầu tiên Na-ta-sa nhìn thấy là ông già mặc áo da. Đôi mắt nhấp nháy lo âu nhìn xung quanh, ông nói to với cả hầm trú ẩn:

        — Trẻ con đấy! Có thể giẫm lên trẻ con được hay sao? Đồng bào cần phải đi nói với người có trách nhiệm để... cho nghiêm chỉnh...

        Lúng túng không nói được gãy gọn hết cả câu, ông liền ngồi xuống chỗ của mình.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2020, 07:29:18 am

        Người thì cười, người thì cố an ủi ông già, có người lăng xăng làm ầm lên và nói tếu với nhau cố làm cho bầu không khí trong hầm bớt căng thẳng. Nhưng lần này Na-ta-sa không hề cảm thấy buồn cười: một người quá lo lắng và sọ hãi đã mộc mạc nói ra sự phẫn nộ của chính chị. Trong giọng nói của ông già, chị cảm thấy lòng tin sắt đá vào sức mạnh chính nghĩa đang bảo vệ hạnh phúc cho loài người được giáo dục bởi chính quyền Xô-viết.

        Một lát sau, mọi người lại trở về vị trí cũ của mình. Không khóc nữa, người phụ nữ mặc áo lao động bế đứa nhỏ lên đùi và khẽ đung đưa nó. Chỉ có mỗi cậu bé đưa đường ban đêm cho Na-ta-sa là không bình tĩnh được: cậu bước qua chân mọi người, đi đi lại lại quanh tàng ngầm và chằm chằm nhìn họ. Các chiến sĩ Hồng quân vào cùng với cậu bé kiểm tra giấy tờ của một số người đàn ông — hình như họ đang truy lùng ai đó. Đi qua Na-ta-sa, cậu ta chỉ lướt vội đôi mắt lo âu nhìn chị. Đến lúc này Na-ta-sa mới giữ tay cậu bé lại và nhắc cho cậu biết mình.

        — À, chị đấy phải không ? — Cậu ta làu bàu hỏi và thở dài, khuôn mặt tròn trĩnh lộ rõ vẻ thất vọng — Sao, chị muốn gì ?

        Và không đợi nghe chị trả lời, cậu chạy lại chỗ mấy chiến sĩ Hồng quân đang chuẩn bị đi ra. Không tỏ vẻ bực bội gì, Na-ta-sa đi theo cậu bé.

        — Bây giờ phải tìm nó trong khắp thành phố ! — Cậu cáu kỉnh nói với hai anh bộ đội. — Nhân lúc mất điện, thế là nó chuồn ra khỏi cửa.

        — Có thể nó không ở đây cũng nên? — Một chiến sĩ nói vẻ do dự.

        — Tại sao lại không có? — Cậu ta gào lên — Tại sao lại không? Chính em đã theo dõi nó ngoài đồng Pô-pốp kia mà!...

        Và ngay lúc này Na-ta-sa mới phát hiện mảnh tường gần cửa ra vào, nơi anh chàng đội mũ lưỡi trai đứng mười lăm phút trước đây, giờ đã trống không; cả người bên cạnh mặc áo ca pốt cũng không có nốt. Chị đưa mắt nhìn nhưng chẳng thấy hai người đó ở tầng hầm.

        — Trong lúc em chạy đến cánh đồng, nó còn phóng bốn quả pháo sáng, — cậu bé nổi cáu. — Sau đó em trông thấy một người đi thẳng tới chỗ em. Em nép vào bờ giậu, còn nó chui qua hàng rào. ở đó có lỗ hổng, và đi vào sân. Sau đấy nỏ đi thẳng ra phố. Em thấy rõ nó lẻn vào hầm trú ẩn như thế nào, chỉ trong nháy mắt...

        — Thôi được, lát nữa sẽ trình bày thêm, — khi thấy mọi người đã bắt đầu nghe cậu bé, anh bộ đội không hài lòng, ngắt lời.

        Tim Na-ta-sa đập mạnh, chị nhìn vào chỗ trống bên cánh cửa với cảm giác gần như hoảng sợ. Phải chăng họ đang nói về một hai người đàn ông đứng ở đó mấy phút trước đây? Phải chăng chính mât chị trông thấy những kẻ mà người ta thường gọi là biệt kích, chỉ điểm, gián điệp phát xít ? Hơi do dự — Na-ta-sa không tin rằng mọi người sẽ không cười chị, — chị kéo cậu bé lại và thì thầm về mối nghi ngờ của mình.

        — Đấy nhé! — Cậu bé buồn rầu và tiếc rẻ kêu lên. — Chúng những hai thằng cơ... — Và đôi môi mọng của cậu rung rung.

        Sau khi hỏi Na-ta-sa xong, các chiến sĩ Hồng quân vội vã lên trên, cậu té cũng bước vào cầu thang. Na-ta-sa chạy theo họ ra khỏi tầng ngầm.

        Bên trên, phía trong cổng, chị cảm thấy mùi xăng cháy ấm áp, ngòn ngọt. Dĩ nhiên lúc này đã muộn: hai kẻ lạ mặt đáng nghi kia đã vội vã chuồn cho nhành khỏi nơi này. Và cả cậu bé lẫn hai chiến sĩ Hồng quân đều không biết tìm chúng theo hướng nào. Quảng trường có bồn hoa lúc này vắng vẻ. Luồng khói bay thẳng vào ngôi nhà ở góc phố, phần dưới thì thu hẹp lại. Luồng khói vàng   xám nhanh chóng bốc lên tầng hai, tan ra phía trên quảng trường một màn mây di động khổng lồ. Sau khi chia tay với các chiến sĩ Hồng quân, Na-ta-sa và người bạn đường của chị chạy trong đám khói dưới mái nhà thủng lỗ chỗ. Đến phía đối diện quảng trường, cậu bé lọt thỏm vào lối ngõ bỏ ngỏ và chọn đường tắt sang phố bên kia. Ở đây sáng như ban ngày... Một cảnh tượng khác thường làm Na-ta-sa chói mắt, chị nép người vào tường và tự nhiên đưa tay lên che mặt.

        Trong khu sân đối diện, ngăn bởi một hàng rào sắt, một đám đất cháy lớn dường như chính mặt đất bốc cháy: những ngọn lửa từ đám cháy ngạt thở đang lan ra trên một diện tích rất lớn. Những luồng khói lửa khổng lồ sáng rực ở phía dưới cuồn cuộn bốc lên luôn luôn biến dạng. Một ngôi nhà nằm ở chính trên bờ của biển lửa đó; bức tường bẵng những tấm sắt còn chịu đựng được, nhưng các khe hở rực sáng tưởng như bên trong có khí nê-ông cháy. Giữa sân, một ngôi nhà khác cũng bị cháy, những luồng khỏi đen đặc xịt cuộn lên.

        Mặc dù tất cả đều rất khủng khiếp và Na-ta-sa rất muốn chạy khỏi nơi đây, nhưng tính tò mò kỳ lạ đã giữ chị lại. Như bị thôi miên, chị nhìn những con rồng lửa vàng nhạt, gai góc đang nhảy múa sau hàng rào và nghe rõ tiếng lửa réo to chưa từng thấy. Bỗng nhiên chị trông thấy những bóng người thấp thoáng trong ngọn lửa rừng rực đỏ. Chị kinh hoàng đến nỗi phải thốt lên.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tư, 2020, 11:25:49 am

        Bộ đội cứu hỏa đội mũ sắt, đeo bình chống độc chia thành hai nhóm hoạt động khẩn trương. Nhóm thứ nhất dùng gậy dập lửa, nhóm thứ hai phun nước vào đồng đội đang dập đám cháy. Thỉnh thoảng khói và hơi nước lại trùm lên những người đang dập lửa. Lúc đó chỉ trông thấy những tia nước cong bay ra khỏi, đám khói. Các chiến sĩ chữa cháy lúc thì xuất hiện giữa đám khói và hơi nước, lúc thì mất hút trong các luồng lửa. Hình như họ là những người bất tử, không có thân thể, có thể hòa vào thế giới cuồng phong khói lửa mà họ đang chiến đấu để diệt nó. Khi có ai đó trong họ chạy ra thì người họ lóe lên ánh lửa trăng trắng.

        Vì không khí cay ngột ngạt, nên Na-ta-sa thở dốc, nước mắt trào ra. Giật mình như chợt tỉnh, cậu bé kéo tay Na-ta-sa chạy tới ngõ gần nhất. Đứng bên hàng rào, Na-ta-sa vừa thở hồn hển vừa nói:

        — Em có trông thấy không, có trông thấy họ xông vào giữa ngọn lửa không ? !...

        — Nhưng không còn cách nào khác để dập tắt nó được — cậu bé nói lanh lảnh. — Cháy mạnh thật ! Bọn Đức nhằm vào nhà máy, nhưng lại vào bến xe bên cạnh. Cũng rất tiếc.

        ... Khoảng mười lăm phút sau họ đã đến bờ sông chìm trong bóng tối dày dặc. Bờ sông bên kia cắt ngang thành phố cũng mất hút trong bóng tối.

        — Bây giờ thì chị có thể đi một mình được rồi, — cậu bé giải thích cho Na-ta-sa. — Qua cầu, chị cứ đi thẳng, hết đường và đến đấy sẽ hỏi thăm sau... Nào, bây giờ chúng ta có thể làm quen với nhau, — cậu ta chìa bàn tay nhỏ bé cứng như miếng ván con và trịnh trọng giới thiệu — Họ em là Ve-rép-kin, còn tên là Vi-chi-a.

        — Cảm ơn, cảm ơn em Vi-chi-a, — Na-ta-sa run run nói. — Nếu không có em thì chị đến lạc mất...

        — Chị à? — Rõ ràng cậu bé cảm động về lời nói của chị. — Không phải đâu, chị chả lạc đâu... — Cậu nói — Ôi, em bận rộn với cái công việc này quá! — Và cậu nhanh chóng chạy biến đi.

        Qua cầu, người lính tuần tra giữ Na-ta-sa lại và chị phải nheo mắt khi ánh đèn pin bất ngờ chiếu vào mặt. Vừa đưa giấy chứng minh, chị vừa hỏi đường một lần nữa. Sau đó, rất may là chị gặp một người phụ nữ đi cùng đường, đã đưa chị đến tận nhà Pa-ven. Mệt lả người, Na-ta-sa thở hổn hển, nhưng chị vô cùng sung sướng là mình đã đến nơi. Với tấm lòng lo lắng, hồi hộp và mê mẩn, chị nhẹ bước lên bậc thềm. Đứng nghỉ thêm một chút nữa, chị ấn nút chuông điện. Nhưng mặc cho Na-ta-sa bấm hoài, trong nhà chỉ có tiếng chuông réo trầm trầm vọng lại. Không một ai ra mở cửa, ngôi nhà hoàn toàn câm lặng. Chị đã định gõ cửa thì lập tức thấy chiếc chìa khóa treo lủng lẳng trên khung cửa.

        À, ra thế đấy! — Chị nói to với vẻ bình tĩnh khác thường —  À, ra thế đấy... Mình biết làm gì bây giờ ?


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tư, 2020, 11:26:23 am

5

        Bốt-đa-nốp tới bộ tư lệnh thành phố không lâu; và sau khi được thông báo, bộ tham mưu tập đoàn quân đóng cách T. năm cây số về hướng đông, anh lập tức lên xe đi luôn.

        Tại bộ tham mưu mà anh phải tới, sau khi từ Mát-xcơ-va trở về, người ta trao cho anh một mệnh lệnh bất ngờ: anh cần tới gặp ngay thiếu tướng Đi-a-cốp, tư lệnh khu vực T. cũng ở đấy, Bốt-đa- nốp được biết là trung đoàn cũ của anh đã di chuyển sâu hơn về phía Ca-si-ra để tổ chức lại. Thế là Bốt-đa-nốp buộc phải chia tay vắng mặt với các đồng chí cùng trung đoàn... Không cho mình và lái xe được nghỉ, ngay trong đêm ấy anh lại tới T., tìm bộ tham mưu khu vực và trình diện với chỉ huy của mình. Thiếu tướng gặp anh ở đầu cầu thang khi ông đang ra xe chuẩn bị đi đâu đó.

        — Đây rồi, may quá. Tôi thiếu người quá, — Đi-a-cốp vừa nói vừa dưa bàn tay mềm ra bắt tay Bốt-đa-nốp. Tôi được nghe rồi, họ đã kể cho tôi về chuyện anh đã thoát khỏi vòng vây như thế nào rồi.

        Họ cũng đã biết qua về nhau: trong cuộc tập trận trước khi nổ ra chiến tranh ít lâu, Bốt-đa-nốp ở dưới quyền chỉ huy của. Đi-a-cốp mấy ngày... Với dáng người to khỏe, ngực nở, mặc áo ca pốt màu xanh để hở cúc, đầu đội mũ lưỡi trai cấp tướng viền đỏ chếch về phía gáy, hình dáng và tác phong của thiếu tướng hầu như không thay đổi so với lần gặp nhau trước đây. Thật ra đôi mắt nhỏ, thông minh trên khuôn mặt của ông có lõm sâu vì mất ngủ. Thiếu tướng nói giọng khàn khàn và giữ nguyên âm «o» trong một số từ, mà đáng ra phải dọc là « a ». Đi-a-cốp có thói quen nheo mắt nhìn người nói chuyện. Và lúc này ông như muốn nói: « Đừng có phí sức lừa tôi, anh bạn ạ, tôi đi guốc trong bụng anh».

        Vội vàng đi đến cuộc họp của ủy ban quân sự thành phố do tỉnh ủy triệu tập, thiếu tướng bảo Bốt-đa-nốp đi cùng.

        — Như vậy sẽ tốt hơn. Sẽ nắm được tình hình, đồng chí trung tá ạ, — ông nói.

        Ban đêm, chiếc xe chạy từ từ trên đường phó. Ngồi trong xe, Đi-a-cốp nói cho người trợ lý của mình về nhiệm vụ của bộ chỉ huy khu vực chiến đấu... Như Bốt-đa-nốp đã rõ, bọn Đức đang nhanh chóng tiến gần tới T. Đêm 28 tháng 10, bộ binh cơ giới và xe tăng của chúng đã chiếm vùng Sa-ki-nô — Da-kha-rốp-xca và tiếp tục tiến công dọc tuyến đường dẫn đến Mát-xcơ-va. Chúng tiến công liên tục cả ngày lẫn đêm với một lực lượng ưu thế hơn hẳn ta... Để thuận tiện cho công việc, chỉ huy tập đoàn quân bảo vệ T. đã ra lệnh sát nhập các vùng lân cận thành phố thành phân khu T. và Đi-a-cốp có nhiệm vụ xây dựng ở đây một hệ thống phòng thủ với sự phối hợp chung của các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân.

        — Đồng chí trung tá, nhiệm vụ rất rõ ràng, — Đi-a-cốp nói. — Phải giữ thành phố bằng bất cứ giá nào. Đó là mệnh lệnh của Tổng hành định.

        Sau đó ông thông báo là các đơn vị ở vùng lân cận với T. cũng . thuộc quyền chỉ huy của ông. Nhưng, theo lời thiếu tướng — cần phải nhớ rằng sau những trận chiến đấu ác liệt nhiều ngày, các trung đoàn đã bị tồn thất nặng và rất cần được bổ sung, nghỉ ngơi. Ngoài ra trong lực lượng bảo vệ thành phố còn có trung đoàn công nhân tình nguyện thành lập từ các tiểu đoàn tự vệ nhà máy và trung đoàn công an vũ trang từ trước đến nay vẫn làm nhiệm vụ bảo vệ các nhà máy. Nhưng những đơn vị này hoàn toàn chưa tham gia chiến đấu, chưa trải qua lửa đạn.

        — Cái chính là chúng ta không có nhiều thời gian. Anh xem, chúng mình sắp chiến đấu rồi đấy, — Đi-a-cốp nói và sau một lát im lặng xem người nói chuyện với mình có trả lời gì không, ông nói đùa: — thế nhưng liên lạc của chúng ta rất thuận tiện, theo điện thoại thành phố chúng mình có thể nói chuyện: « Tiểu thư, hãy cho tôi hai ba, ba bảy». Đấy là khi muốn nói chuyện với đội cảnh vệ của nhà máy gạch.

        Sau khi nhắc Bốt-đa-nốp sáng sớm ngày mai cùng đi thăm đơn vị đóng ở ranh giới thành phố, Đi-a-cốp kết luận:

        — Đẩy, như thế đấy đồng chí trung tá ạ! Nhiệm vụ của chúng ta quan trọng thế đấy. Nhưng không sao! vỏ quýt dày sẽ có móng tay nhọn... Còn anh thì đi thẳng từ đơn vị tới tôi phải không? —  Ông hỏi thêm.

        Trong bóng tối, Bốt-đa-nốp không thể nhìn rõ mặt thiếu tướng ngay bên cạnh mình. Tưởng như dù tình hình có khó khăn đến mấy cũng không thể làm cho con người trầm tư lạ thường này mất bình tĩnh. Khi nghe thiếu tướng nói, Bốt-đa-nốp cũng không hề nhận thấy sự lo lắng hay yếu đuối, thiếu tự tin vào quyết định của ông. « Kẻ thù vẫn đang thít chặt chúng ta... Cần phải khẩn trương, khẩn trương lên đồng chí trung tá ạ!». Anh nhớ lại lời đồng chí ủy viên Hội đồng quân sự: « Hôm nay, dù bất kỹ đồng chí ở đâu, đồng chí cũng đang tham gia bảo vệ Mát-xcơ-va đấy!». Và kỳ lạ thay, Bốt-đa-nốp cảm thấy bình tĩnh hơn. Đây rõ ràng là sự bình tĩnh cao độ của ý chí, nó không có chỗ cho nỗi tiếc thương hay do dự xen lẫn.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tư, 2020, 11:26:52 am

        Xe đỗ bên cạnh cổng lớn ngôi nhà cao tầng. Bước ra vỉa hè và khép áo ca pốt lại, Đi-a-cốp nói to:

        — Cần phải bảo La-tô-skin dọn đến đâu đó bên kia sông. Sẽ tiện hơn cho anh ấy, còn chúng ta cũng yên tâm hơn... Bởi vì họ ở ngay lối vào. Từ đường cái cũng trông rõ ngôi nhà này.

        Thiếu tướng lặng lẽ đẩy cánh cửa sắt nặng nề và bên trong lờ mờ ánh sáng xanh dịu. Trong phòng đợi có khoảng sáu, bảy dân quân đang ngồi trên nhũng bậc thềm đá. Sau hàng rào, người lính gác cúi nghiêng người bên chiếc đèn bàn có chao hãng giấy sơn dầu, lặng lẽ kiểm tra giấy tờ của Đi-a-cốp và Bốt-đa-nốp. Lúc này đã là nửa đêm, nhưng người ta đã đi lại trong hành lang sáng lờ mờ dưới những ngọn đèn màu. Hai người lính biên phòng đeo súng trường bên hông đang đi xuống cầu thang. Ở tầng ba, nơi cỏ phòng làm việc của bí thư tỉnh ủy, một nữ công an trẻ măng lại yêu cầu xuất trình giấy tờ. Trả lại giấy tờ và giơ tay chào, chị nói nhỏ như tiết lộ bí mật:

        — Xin mời đồng chí thiếu tướng đi vào cửa thứ hai bên phải.

        Phòng tiếp khách cũng lố nhố người đứng, người ngồi. Tiếng một người nào đó đang gọi điện thoại lẫn với tiếng máy chữ lách cách vội vàng. Không chần chừ, Bốt-đa-nốp và Đi-a-cốp đi vào phòng bí thư tỉnh ủy. Rất nhiều mái đầu quay về phía họ.

        — Các đồng chí chỉ huy, chúng tôi đang đợi các đồng chí đây. Xin mời ngồi! — Người chủ tọa hội nghị vừa nói với vẻ khô khan vừa chỉ tay vào mấy chiếc ghế đang bỏ trống.

        Chắc đây là đồng chí La-tô-skin, chủ tịch Hội đồng quân sự thành phó. Nhìn bề ngoài, trước tiên, người ta chú ý đến cáỉ trán rộng trên đôi mắt sáng của anh. Trông mặt, La-tô-skin trạc ba mươi tư, ba mươi lăm tuổi. Trên khuôn mặt xương xương rất trẻ có những nét nào đó của một anh sinh viên. Anh mặc chiếc áo và rơi bảo hộ, mái tóc trải ngược lượn sống, bộ ngực to nhưng hơi lép.

        Bốt-đa-nốp ngồi bên chiếc bàn phủ vải nỉ xanh và nhìn quanh: cuộc họp đang tiến hành trong gian phòng rộng rãi, sáng sủa có diềm cửa mịn màng và nặng nề, có bộ ghế bọc da. Thẳng hướng bàn chủ tịch được đặt tách ra gần tường, trên cao có treo bức chân dung lớn của Xta-lin Bên tường đối diện là tủ sách lắp kính trong nổi bật những gáy sách in chữ vàng lấp lánh, nền nhà bằng gỗ ghép được đánh bóng lộn. Hai khẩu súng máy đặt dưới cửa sổ trông hơi lạ lùng. Một quả mìn chống tăng nằm trên tấm nỉ xanh như cỏ bên cạnh binh nước cũng gây cho ta một cảm giáo y hệt như vậy. Bên chiếc bàn dài là một số người đeo vũ khí; nhưng đây đeo của bao súng lục và túi công tác đan chéo nhau trên chiếc áo đại cán xanh của một người tóc trắng, to béo, vai rộng. Còn từ bộ comblê cộm lên của một người khác nhô ra chiếc báng súng gỗ.

        Sau khi phải dừng lại vì Đi-a-cốp và Bốt-đa-nốp vào, báo cáo viên lại tiếp tục nói. Lắng nghe một lúc, Bốt-đa-nốp hiểu ràng họ đang bàn về công việc chuẩn bị phòng thủ ở một khu công nhân trong thành phố.

        — ... Mọi người đòi hỏi vũ khí và vũ khí, — báo cáo viên, một người trạc tuổi trung niên, mặc chiếc sơ mi xám bên trong bộ comblé, tiếp tục nói. Ồng nghiêng đầu, lướt đôi mắt hiền từ deo kính về phía La-tô-skin — Đến hôm nay đảng ủy khu phố đã nhận được hơn tám nghìn đơn của cán hộ, nam nữ công nhân yêu cầu được tham gia tiểu đoàn tự vệ xung kích và trung đoàn công nhân.

        — Chỗ các anh đã có tám nghìn đơn? — La-tô-skin hỏi lại.

        — Vâng, hơn tám nghìn, đồng chí I-a-cốp Da-kha-rô-vich ạ. Ngoài ra ở khu phố còn có phong trào thành lập các tổ tự vệ và cứu hỏa tình nguyện, — báo cáo viên nhìn vào tờ giấy trước mặt. — Hiện nay ở chỗ chúng tôi có một trăm năm mươi tổ tự vệ phần đông là phụ nữ và hai trăm tổ cứu hỏa..,.

        — Hai trăm cơ à? — La-tô-skin nhấp Iihồm trên ghế. — Thế còn việc huấn luyện của các anh như thế nào ?

        — Việc huấn luyện của tiểu đoàn tự vệ xung kích đã hoàn thành trong bốn mươi ngày, vượt kế hoạch dự định là năm ngày, — báo cáo viên trả lời. — Tất cả các tổ tự vệ đã huấn luyện theo chương trình mười hai giờ một ngày...

        Ngọn đèn tín hiệu trên bàn La-tô-skin lập lòe sáng, anh liền quay lại bàn để điện thoại của mình và cầm lấy ống nghe.

        — Không, không, — anh gay gắt trả lời một người nào đó. Giọng anh không rắn rỏi và nhẹ nhàng như bình thường, nên khi xẵng giọng thường nổi lên những âm ngân vang. — Cái này gọi là chủ nghĩa cục bộ địa phương đấy, đồng chí Vi-nhi-cốp ạ! Chúng tôi đã quyết định là tổ trinh sát sẽ chuyển sang bộ tham mưu phân khu. Anh hãy làm như vậy đi, chúng tôi không thay đổi quyết định đâu.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tư, 2020, 11:27:21 am

        Đưa mắt nhìn kỹ từng người một, Bốt-đa-nốp vừa chăm chú lắng nghe. Họ là những người lạ, lần đầu tiên anh được gặp. Anh sẽ kề vai sát cánh với họ trong- cuộc chiến đấu quyết liệt, cảm tử để bảo vệ thành phố, bởi vì không thể nghĩ tới chuyện rút lui đi đâu được nữa. Anh nhìn La-tô-skin và những người khác, nhìn người báo cáo viên già mặc áo sơ mi vá trông giống như ông giáo ở trường phổ thông, và nhìn người có mái tóc trắng, mặc áo đại cán xanh với vẻ quan tâm đặc biệt. Đó là cái nhìn của người lính sau khi đến đơn vị phải làm quen với những người bạn cùng cộng sự, chưa hề quen biết bao giờ trước khi bước vào trận đánh quyết liệt. Những người này đối với anh hôm qua còn xa lạ, nhưng hôm nay sẽ tham gia vào công việc khó khăn nhất trong cuộc đời anh.

        La-tô-skin đặt ống nghe xuống, nhưng ngay lập tức chiếc máy khác lại réo lên và anh nhào người về phía nó ; chủ tịch khu phố đang báo cáo trước cuộc họp, giơ tay sửa lại kính và húng hắng ho.

        Bộ phận bổ sung cho nhà máy liên hợp đã đến chưa ? — La- tô-skin hỏi qua ống nghe. — Hãy lấy đầu mà trả lời tôi đấy nhé, các đồng chí thân mến ạ! — Anh im lặng một chút. — Ừ như vậy tốt hơn... Xin mời đồng chí tiếp tục, — vừa đặt ống nghe xuống, anh vừa nói với báo cáo viên.

        Nhìn những chiếc máy điện thoại màu đen đặt la liệt trên chiếc bàn nhỏ, ông ta vội nói nhanh hơn trước:

        — Tôi chuyển sang việc xây dựng tuyến phòng thủ. Hiện nay, hàng ngày chúng tôi chỉ có hai nghìn người đi làm, chủ yếu là phụ nữ. Trong khi làm việc, máy bay thường xuyên oanh tạc và bắn phá nên đã có người bị thương và hy sinh...

        — Tình hình của Cô-lô-mi-xê-va như thế nào ? — La-tô-skin ngắt lời báo cáo viên. — Và con cái của chị ấy các anh đưa đi đâu?

        — Bệnh tình của đồng chí Cô-lô-mi-xê-va rất trầm trọng. Một mảnh đạn vào đầu, — báo cáo viên ngập ngừng và bắt đầu lật giấy tờ của mình — Tạm thời vợ chồng tôi nhận nuôi hai đứa con trai của chị ấy, — ông nói. — Bởi vỉ chúng tôi không có con...

        — Ra thế đấy! Thôi, cám ơn anh, anh Pi-e An-đrây-ê-vích ạ! — La-tô-skin nói.

        — Các đồng chí, tôi muốn nói thêm rằng, — báo cáo viên lại cao giọng, — việc xây dựng tuyến phòng thủ không phải ngừng một giờ nào cả... Và hàng trăm người — phụ nữ và dàn ông hết tuổi nghĩa vụ cũng hoàn thành vượt mức chỉ tiêu của mình. — Ông lại nhìn vào tờ giấy. — Tổ của đồng chí Sa-ra-pốp đạt một trăm năm mươi phần trăm, tổ của nữ đồng chí Rô-gô-va hai trăm... Điều này cho phép chúng tôi hoàn thành về cơ bản công việc đào đất giai đoạn một, bất kể kẻ thù phá hoại và khí hậu mùa thu không thuận lợi...

        — Đồng chí thiếu tướng! — La-tô-skin nhìn Đi-a-cốp — Hôm nay đông chí đã đến khu vực đó, đồng chí có nhận xét gì về việc này không ?

        Đi-a-cốp dáng to béo, nặng nề nhưng trông vẫn rất trẻ trung, ngồi thẳng trên ghế, tay chống cạnh sườn, thiện cảm nhìn báo cáo viên.

        — Tôi nói gì bây giờ cơ chứ? Họ làm việc rất tốt, — ông nói vẻ phấn chấn. — Duy có dụng cụ đào hơi ít... Còn họ làm việc rất nhiệt tình. Họ đã đào xong hào chống tăng, lũy trong cũng đã hoàn thành ..

        — Còn về công tác tuyên truyền trong quần chúng và đặc biệt trong những người xây dựng, — báo cáo viên nói thêm. — Hàng ngày cán bộ đảng ủy khu phố tổ chức các buổi nói chuyện, tọa đàm với nhân dân. Những buổi đọc báo và tin tức của thông tấn xã Liên Xô được tiến hành đều đặn...

        — Đồng chí thiếu tướng, đồng chí nói là họ làm việc nhiệt tình phải không? — La-tô-skin hỏi lại vẻ như thẩm vấn. — Tất cả đều nghe rõ chứ? — Anh nhìn những người ngồi họp. Vô tình anh cảm thấy hài lòng nhưng cảm giác đó chỉ thoáng qua, vì nó lập tức bị lấn át bởi ý nghĩ khác.

        ... Ngay từ những tuần đâu của cuộc chiến tranh, một nỗi lo lắng cứ day dứt trong lòng La-tô-skin. Anh bận rộn với bao công việc quan trọng mới. « Chúng ta đã làm hết khả năng của chúng ta chưa ? Chúng ta không bỏ sót cái gì chứ ? Chúng ta không mắc phải sai lầm gì trong việc phân bố lực lượng chứ? Liệu ta có bị chậm không? Chúng ta, những người cộng sản đã làm việc với quần chúng tốt chưa?» — Anh tự hỏi mình. Nỗi băn khoăn ấy làm anh trở nên nóng nảy, đòi hỏi rất nghiêm khắc với chính mình và người khác. Cùng với việc sơ tán về phía đông những cơ sở công nghiệp lớn nhất, nổi tiếng có ở T., theo chỉ thị của tỉnh ủy, đầu tháng mười còn bắt đầu xây dựng tuyến phòng thủ trên trục đường vào thành phố. Mặc dù mưa thu lạnh lẽo, nhưng những người cộng sản đã cầm xẻng cuốc ra đồng đâu tiên, dẫn theo các đội xây dựng của mình. Biết kẻ địch oanh tạc thường xuyên ngày cũng như đêm, những đoàn xe lửa vẫn từ thành phố ra đi mang theo thiết bị và sắt thép của nhà máy cùng với cán bộ kỹ thuật và công nhân quân giới. Trong khi đó, theo chỉ thị của tỉnh ủy, để kết hợp hoạt động của các chiến sĩ và các tuyên truyền viên, những người cộng sản ở lại thành phố đã thành lập nhiều tiểu đoàn xung kích tình nguyện trong các nhà máy vắng lặng. Ở những vùng trong tỉnh mà bọn Đức đang tiến đến đã thành lập các đội dân quân; đến giữa tháng mười hơn ba mươi đội đã hoạt động trong hậu phương địch, bảy đội trong thành phố. Lãnh đạo các đội dân quân là những người cộng sản hôm qua còn là dân thường, được các tổ chúc lựa chọn.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Tư, 2020, 04:39:20 pm

        Thanh niên thành phố, học sinh các trường học nghề, học sinh các lớp cuối cấp, những chàng trai, cô gái thường xuyên trực chiến ở những « mục tiêu» trong lúc báo động. Họ dập tắt các đám cháy, học bắn súng, ném chai thuốc nổ, thu thập quần áo ấm cho bộ đội. Và lãnh đạo thanh niên là những đoàn viên Côm-xô-môn — những người cộng sản tương lai. Các tổ chức đảng trong tỉnh đã lãnh đạo toàn bộ công việc đồ sộ và đa dạng là động viên sức người sức của để đánh trả kẻ thù xâm lược. Khi khả năng kẻ thù tiến công vào T. đã trở thành mối đe dọa thực sự, thì tất cả những người cộng sản và đoàn viên Côm-xô-môn trong thành phố sẽ là những người được tổng động viên đầu tiên. Trong cuộc họp cán bộ đảng giữa tháng mười vừa qua, La-tô-skin đã đọc báo cáo với đầu đề quen thuộc: « Về tình hình hiện nay và nhiệm vụ của các tổ chức đảng». Sau khi nghe báo cáo, nhũng người bôn-sê-vích đã quyết định: «Tất cả đảng viên và đoàn viên có khả năng cầm súng, phải đứng lên cùng với Hồng quân bảo vệ thành phố... ». Lúc này La-tô-skin có đi tới đâu chăng nữa: đến đội xây dựng tuyến phòng thủ hay vào nhà máy, đến thăm các đội tự vệ hay tới ga đường sắt, nơi mà cán bộ, công nhân hai ba ngày liền không rời vị trí của mình; anh đều thấy hơn bất cử lúc nào hết, mọi người thành một khối, kề vai sát cánh với nhau, đoàn kết chặt chẽ xung quanh Đảng. Những người tình nguyện từ khắp nơi kẻo vào thành phố: nông trang viên ở các làng lân cận, công nhân mỏ ở ngoại ô Mát-xcơ-va đã tới, bất kể đường sá lầy lội, bẩn thỉu vì mưa thu. Họ tới tỉnh ủy, khu ủy yêu cầu phát vũ khí và quyết định về đơn vị chiến đấu. Thành quả lao động vô cùng quý giá của nhũng người cộng sản được thể hiện rõ trong khối thống nhất toàn dân, trong lòng căm thù sôi sục của họ dối với kẻ thù, trong sự coi thường những mất mát hy sinh và trong quyết tâm chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn.

        ... Đèn tín hiệu lại sáng, La-tô-skin lại với tay cầm lấy ống nghe.

        — Chào Ni-cô-lai-ép! Hôm nay anh đi phải không? — Anh ngả người vào ghế. — Các anh xếp cả hai đoàn xe lửa chứ ? Thôi chúc các anh lên đường gặp nhiều may mắn. Không, tôi không thể... Vâng, tôi muốn tiễn anh nhưng không có điều kiện... Nhờ anh chuyển tới tập thể nhà máy lời chúc mừng của Hội đồng quân sự thành phố và hy vọng sẽ nhanh chóng phục hồi sản xuất ờ địa điểm mới... Cho gửi lời chào những người của I-gi-ép nhé!...

        La-tô-skin đặt ống nghe và vươn người về phía trước, tì ngực vào thành bàn.

        — Các anh đã dựng cọc chống xe tăng trên đường E-pi-phan-xri chưa ? — Anh hỏi.

        Đại diện khu phố đã ngồi xuống ghế, lại đứng dậy:

        — Tất nhiên là dựng rồi chứ, đồng chí I-a-cốp La-tô-skin... Chúng tôi dựng lên những cọc đôi... — Ông trả lời.

        — Còn hồ chứa nước đào được bao nhiêu?

        — Đã được năm cái rồi.

        — Ít đấy, cái này ít đấy. Chúng tôi giao cho các anh mười bốn... và đập trên sông?... — La-tô-skin gõ gõ tay lên bàn. — Tôi muốn nhắc các anh là khi bị bao vây, các anh phải cung cấp đầy đủ nước cho khu phố... Bây giờ anh hãy cho biết mọi người được nuôi nấng như thế nào trên công trường xây dựng tuyến phòng thủ?

        Sau khi báo cáo viên trả lời tất cả các câu hỏi, La-tô-skin mới nghiêm nghị nói trước khi từ biệt ông ta:

        — Nhất định ngày mai tôi sẽ đến chỗ các anh, xem các anh thiếu những dụng cụ gì ?

        — Chúng tôi đợi đồng chí đấy, đồng chí I-a-cốp La-tô-skin ạ ! —  Ngước đôi mắt hiền từ đeo kính, báo cáo viên trả lời vẻ hơi tự ái.

        Sau đó La-tô-skin yêu cầu thư ký — một phụ nữ hơi gầy, tóc chải mượt — là trong nửa tiếng không được tiếp điện thoại với bất cứ ai. « Tất nhiên trừ Mát-xcơ-va», — anh nói thêm. Lúc này trong phòng chỉ còn sáu, bảy người, và Đi-a-cóp chuyển sang bàn chủ tọa. Ông mở cặp lấy bản đồ thành phố chậm rãi trải ra bàn, và dùng tay vuốt cho nó phẳng lại.

        — Các đồng chí đều đã rõ tình hình trên các tuyến đường tới thành phố, — ông bắt đầu thông báo. — Tình hình nghiêm trọng và phức tạp... — Đi-a-cốp ngước mắt như thể chờ đợi câu hỏi hoặc sự phản đối. Mọi người lại im lặng và ông tiếp tục. — Nhiệm vụ của chúng ta là không cho kẻ thù chiếm nó làm bàn đạp để tiến công Mát-xcơ- va. Cho nên trong bất cứ tình huống nào cũng không được rút khỏi thành phố. Chúng ta sẽ xây dựng nhiều tuyến phòng thủ trên tất cả các địa hình cho phép. Tuyến thứ nhất cách ranh giới thành phố hai, ba cây số... Đây, chỗ này... — Thiếu tướng cúi đầu, ấn ngón tay to vào một điểm trên bản đồ.

        — Khoan đã, đồng chí thiếu tướng, — La-tô-skin nói to. — Thế đồng chí không định giữ Làng Mới à?

        — Không phải giữ, đồng chí 1-a-cốp La-tô-skin ạ! Không thuận lợi lắm, — Đi-a-cốp nheo mắt. — Nó nhô quá xa khỏi ranh giới thành phố. Xe tăng rất dễ dàng đánh chiếm...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Tư, 2020, 04:40:15 pm

        La-tô-skin cúi xuống tấm bản đồ, cau mày lại. Anh biết rất rõ cái khu vực nhô ra này. Ở đó có những khu nhà ở, nhà máy, trường học, bệnh viện, sân bóng đá với những đại lộ thẳng tắp. Ở phía đông con sông uốn khúc vòng cung ngăn thành một vùng rộng lớn. Đây là một trong những khư cổ kính nhất của thành phố với gần chín trăm năm tồn tại. Một thời nó được gọi là Làng Rèn. Đến bây giờ nhiều đường phố còn giữ lại những lên gọi xa xưa như : Nòng súng, Lưỡi lê, Thuốc nổ, Cò súng, Thân súng. Trên bờ bên kia ở gần trung tâm thành phố có Crem-li cổ kính mà lịch sử đất nước thường nhắc tới...

        Bốn năm về trước, khi đến đây, lần đầu tiên La-tô-skin mở chiếc bản đồ này, trên đó còn vắng nhiều thứ mà bây giờ nó có. Thành phố phát triền nhanh chóng, xung quanh mọc lên rất nhiều khu nhà mới và trên bản đồ trước mặt La-tô-skin có đánh dấu nhiều công trình xây dựng ở phía nam, bắc và đông nam. Những đại lộ nối các khu này với trung tâm. Những bãi cỏ trống vàng úa vô ích được thay thế bằng những dải rừng cây xanh, mới trồng cách đây không lâu. Với cương vị người bí thư tỉnh ủy, anh đã họp tại đây bao đêm ròng để thảo luận với các đồng chí về việc xây dựng thành phố công nghiệp lớn này, và biết bao công sức lao động, bao lo lắng và sáng tạo của những người Xô-viết đã bỏ ra cho trên bản đồ xuất hiện những khu nhà ở mới này. Cái làng vừa nói đến mới chỉ xây xong năm ngoái. Cách đây không lâu, La-tô-skin thường đi đến công trường xây dựng ở đó. Anh theo dõi, giám sát để cho nhà ở của công nhân mỏ được sáng sủa, rộng rãi, để cho kiến trúc của toàn bộ khu vực này được hài hòa, đẹp mắt. Và anh không thể chịu được cái ý nghĩ là có thể chỉ hai, ba ngày nữa kẻ thù sẽ hoành hành ở đấy.

        — Lực lượng của chúng ta ít, — Đi-a-cốp giải thích. — Chúng ta không đủ sức với tới cái điểm quá xa này.

        La-tô-skin lặng thinh khi nhận rõ ý kiến đúng đắn của thiếu tướng.

        — Mời đồng chí tiếp tục, — im lặng một chút, anh nói vẻ khô khan.

        — Các đơn vị bộ binh sẽ bảo vệ tuyến phòng thủ thứ nhất ở phía tây thành phố, — chỉ vào bản đồ, Đi-a-cốp tiếp tục. — Trung đoàn N K V Đ1 sẽ ở bên trái họ, trên đường Ô-rlốp-xki. Hiện giờ các đơn vị Trê-ca2 đang bố trí ở đó. Còn xa hơn nữa, từ điểm cao hai trăm hai mươi lăm đến hết làng Mư-skin là trận địa của trung đoàn công nhân. Sáng sớm mai họ sẽ triển khai. Pháo chống tăng sẽ bố trí ở đây và ở đây. Nhân tiện xin hỏi thêm là có thêm súng chống tăng nữa không, đồng chí I-a-cốp La-tô-skin?

        — Chúng tôi sẽ cho súng chống tăng... Chúng tôi đa thỏa thuận vấn đề này rồi.

        — Thế thì tốt. Còn ở các khu nhà ngoại ô chúng ta bố trí các đội xung kích với lựu đạn và chai xăng... Phòng tuyến thứ hai của chúng ta chạy theo phố Tuốc-ghê-nhép và phố «Thủ công nghiệp ». Tuyến thứ ba từ cầu sắt đến phố Xtơ-re-mia-nai-a. Trong thành phố. xe tăng hoạt động sẽ gặp nhiều khó khăn hơn so với trên đồng ruộng và tính cơ động của chúng sẽ bị hạn chế rất nhiều. Không lợi dụng điều này là một sai lầm lớn.

        Đi-a-cốp không những chỉ bình tĩnh chứng minh mà còn mỉm cười, nheo đôi mắt thông minh và hóm hỉnh nhìn người nghe. Tưởng chừng tình hình ngày càng khó khăn, con người này càng trở nên minh mẫn hơn và lúc đó như có con quỷ tháo vát, nhanh nhẹn, gan dạ nhập vào ông ta.

        — Các đơn vị bộ đội trong thành phố sẽ giữ tuyến hai và tuyến ba. Đây, và ở đây nữa, — ông giơ tay chỉ. — Trong trường hợp tuyến một bị chọc thủng, chúng ta sẽ ghìm bọn Đức ở tuyến hai và tuyến ba... Và sau đó chúng ta sẽ biến thành phố thành hệ thống phòng thủ theo một vòng cung liên hoàn. Chỉ có điều, đồng chí I-a-cốp La- tô-skin ạ, tôi yêu cầu phải khẩn trương đưa đồng bào đi sơ tán. Và cũng mong các đồng chí chuyển đi đâu đó về phía bắc thành phố. Các đồng chí đang ở mũi tiến công chính của kẻ thù, và như thường nói, thì...

        La-tô-skin không trả lời ngay. Thật ra cũng rất cần thiết phải chuyển Hội đồng quân sự đến nơi an toàn để tránh sự uy hiếp của xe tăng Đức. Nhưng La-tô-skin rất không muốn rời khỏi ngôi nhà mà mỗi người dân ở T. đều quen thuộc.

        — Hiện giờ, tôi thấy chưa thật cần thiết phải chuyển đi nơi khác, — anh nói vẻ không hài lòng.

        — Nhưng nên chuẩn bị trước thì hơn chứ, đồng chí La-tô-skin ạ! — Đi-a-cốp kiên nhẫn thuyết phục.

        Thình lình có tiếng gõ cửa và chiếc rèm tung sang một bên, rồi một đại tá cao, trẻ, mặc áo ca pốt, đội mũ lưỡi trai công an vũ trang, nhanh nhẹn bước vào phòng.

        — Kính chào đồng chí thiếu tướng! Xin lỗi đồng chí I-a-cốp La-tô-skin, tôi đến hơi chậm một tí, —anh nói giọng ngân vang. —  Đồng chí cho phép tôi ngồi được chứ?

----------------------
        1. Lực lượng công an vũ trang thuộc Bộ Nội vụ.

        2. Cơ quan công an Xô-viết.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Tư, 2020, 04:41:59 pm
   
        La-tô-skin gật đầu, nhìn đại tá ngồi xuống chiếc ghế đệm bên bàn vừa bỏ mũ, vừa lấy tay vuốt trán.

        — Đám cháy ở bãi xe đã được dập tât. Ở đó còn xăng trong các thùng phuy nên mới bốc cháy mạnh, — đại tá thông báo. — Cháy mất ngôi nhà số 3 đường Ti-mi-ri-a-dép-xki. Có người chết. Hai chiến sĩ cứu hỏa Xa-môi-lốp và Grô-ben-cô... bị bỏng nặng phải vào viện quân y.

        — Và một điều không tốt nữa là, — người tóc trắng mặc áo đại cán xanh, chen vào câu chuyện. — Hôm nay, bọn vô lại nào đó đã bắn tín hiệu chỉ điểm thành phố trong lúc oanh tạc, nên giải thích điều này ra sao, anh Đô-brô-vôn-xki ?

        — Tạm thời tôi chỉ có thể nói được rằng, chúng tôi đã đuổi theo dấu vết của nhóm biệt kích được tung qua mặt trận... Tôi đi từ bãi xe đến đoàn tàu chở hàng, — đại tá tiếp tục, — ở đó đoàn tàu chở thực phẩm bị ném bom... Va tôi được biết là có một số người nào đó đang lấy cắp ở các toa xe.

        — Tôi đã nói là cần phải khàn trương cho nhân dân đi sơ tán, —  Đi-a-cốp nói. — Cần phải có hậu phương tin cậy... Đây là công việc đầu tiên. Còn ở trong một thành phố lớn, bao giờ cũng có những phần tử xấu...

        — Những người mà anh được báo cáo là ai vậy? — La-tô-skin hỏi.

        — Chúng tôi đã giữ lại một số người, — đại tá trả lời. — Tôi đã nói chuyện với vài tên... Chúng nói: « Các anh để lại cho bọn Đức làm gì? Tại sao các anh không phát cho người mình? Cho chúng tôi còn hơn là cho Hít-le...». Chúng còn nói : « Có lệnh dỡ các kho hàng chia cho nhân dân».

        — Một lệnh khiêu khích trắng trợn, — người tóc trắng to béo nói. — Một tổ phao tin nhảm... Đô-brô-vôn-xki, việc này cũng thuộc các anh dấy !

        — Những người này là ai ? — La-tô-skin nhắc lại.

        — Đủ loại người khác nhau: một tên thợ cắt tóc, mụ bán vé ở cửa hàng bánh mì, xã viên tổ hợp « Sửa chữa đồ ngũ kim », và Vla- xốp-va, — đại tá cười khẩy, — một mụ già khôn ngoan, giảo hoạt...

        — Chúng ta làm việc rất tồi,— La-tô-skin nói với vẻ gay gắt bất ngờ.— Chúng ta làm việc bừa bãi... Như vậy là tôi và các anh đã cho phép bọn vô lại nào đó lừa phỉnh nhân dân. Chúng ta quá dễ dãi với những kẻ phao tin, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng! Đồng chí Đô-brô-vôn-xki ạ, hãy xem xem những ai bị giữ lại ở đây... Ở đây, tôi thấy không phải chỉ trừng trị mà còn phải giải thích nữa...

        — Anh Sa-rốp, còn cái này ở bộ phận của anh đấy, — đại tá công an nhìn người tóc trắng, mặc áo đại cán, — anh phải giải thích...

        — Đây là phần của chúng tôi, — La-tô-skin cải chính. — Đấy là trách nhiệm của Đảng...

        — Tôi hiểu rồi, đồng chí chủ tịch! Trong cả bọn, tôi không thích tên thợ cắt tóc lắm... Tạm thời sẽ giữ nó lại, — Đô-brô-vôn-xki nói.

        Một tiếng súng đơn độc nổ ở đâu đó trên đường phố và mọi người ngòi quanh bàn đều quay nhìn ra phía cửa sổ.

        — Đồng chí thiếu tướng, chúng tôi nghe đồng chí đây, —La-tô- skin nối. — Xin lỗi vì đã ngắt lời đồng chí.

        Đi-a-cốp đặt bàn tay mập mạp của mình lên tấm bản đồ.

        — Điều quan trọng lúc này là pháo binh, đồng chí I-a-cốp ạ, —  ông lại bắt đầu. — Nhưng tôi có ít pháo lắm. Tôi nghĩ không có gì sai lầm trầm trọng nếu ta dùng pháo cao xạ để chống tăng.

        — Tôi ủng hộ giải pháp của anh, — La-tô-skin nói.

        — Nhưng có điều là tôi và pháo cao xạ không được thân thiện lắm, — Đi-a-cốp tiếp tục. — Đại tá Lu-ki-a-nốp chi huy bộ đội phòng không không thuộc quyền tôi. Và tôi đã báo cáo cho đồng chí biết ông ta thuộc hệ thống nào.

        — Vâng, vâng, tôi đã mời ông ấy đến đây. — La-tô-skin ấn nút diện trên bàn, và khi người nữ thư ký vừa vào đến cửa, ông liền nói: — Đại tá Lu-ki-a-nốp đã đến phải không ? Mời đồng chí ấy vào.

        Mọi người im lặng chờ chỉ huy bộ đội phòng không. La-tô-skin lại cúi xuống tấm bân đồ thành phố. Ánh điện lấp lánh trên cái trán đô lấm tẩm mồ hôi và mái tóc mềm phờ phạc của anh.

        Tất cả hầu như không nghe thấy gì khi người sĩ quan chỉ huy mới nhẹ nhàng bước vào phòng. Thân hình ông ta gầy đét, đeo kính không gọng, bộ ria cắt gọn đốm bạc. Ông bước đều, không nhanh nhưng cũng không chậm, tới bàn chủ tịch.

        — Chào đồng chí chủ tịch Hội đồng quân sự, — ông lên tiếng vẻ nghiêm trang trịnh trọng.—Chào đồng chí thiếu tướng!

        La-tô-skin ngẩng đầu, đưa tay mời đại tá ngồi xuống chiếc ghế trống. Chờ đại tá ngồi xuống, anh mới nói, giọng nhỏ nhẹ;

        — Đồng chí Lu-ki-a-nốp, chúng tôi chỉ cần biết mọt điều là tại sao đồng chí không chịu thi hành mệnh lệnh của bộ tư lệnh khu vực chiến đấu?

        Đại tá im lặng một giây, liếc nhìn Đi-a-cốp đang vui vẻ mỉm cười với ông ta, rồi bình tĩnh trả lời:

        — Hãy cho phép tôi được giải thích : tôi chịu sự chi huy trực tiếp của bộ tư lệnh phòng không quân khu...

        — Hiện nay anh chịu sự lãnh đạo của Hội đồng quân sự thành phố, — La-tô-skin ngắt lời ông ta, giọng vẫn đều đều, — và anh sẽ nhận mệnh lệnh của thiếu tướng Đi-a-cốp.

        — Tôi yêu cầu phải có sự đồng ý của bộ tư lệnh chúng tôi đã, — Lu-ki-a-nốp dè dặt nói. — Tôi đã báo cáo rồi, nhưng chưa được trả lời.

        — Anh đừng lo, rồi sẽ có sự đồng ý.
        Đại tá im lặng, mắt kính của ông ta ánh lên lạnh lẽo.

        — Đồng chí chủ tịch, đồng chí đặt tôi vào một tình thế khó xử. — Ông ta vẫn lạnh lùng, trịnh trọng y như trước, chi có mí mắt trái của ông bắt đầu run. — Tôi và chỉ có tôi chịu trách nhiệm trước bộ tư lệnh chúng tôi về hoạt động của đơn vị mà tôi đang chỉ huy.

        La-tô-skin cau mày, chằm chằm nhìn đại tá. Trước kia đã nhiều lần gặp Lu-ki-a-nốp, ông luôn luôn nhận thấy: đây là người chỉ huy hiểu biết, thi hành nhiệm vụ một cách cầu kỳ. Hệ thống pháo cao xạ của thành phố rất xứng đáng được khen ngợi. Nhưng, chắc là người chỉ huy của nó quá thận trọng, nên không dám xả thân hành động theo yêu cầu của tình hình căng thẳng cực độ hiện nay. Và điều này làm cho La-tô-skin rất kinh ngạc. Ông chăm chú nhìn người nói chuyện với mình, nhìn mái tóc cắt tia cẩn thận, chiếc mũ lưỡi trai cầu kỳ và khuôn mặt xám nhạt của ông ta.

        — Hôm nay chúng tôi và anh chịu trách nhiệm về việc phòng thủ thành phố, chắn ngữ con đường tiến tới Mát-xcơ-va, — ông nói to hơn.

        — Tôi chịu trách nhiệm về công tác phòng không của thành phố, — Lu-ki-a-nốp sửa lại lời của La-tô-skin.— Bản chỉ thị đã ghi rõ nhiệm vụ của tôi và tôi chịu sự chỉ đạo của ai...

        — Anh cứ cho rằng anh không nhất thiết phải tuân theo chỉ thị nữa, — La-tô-skin ngất lời ông ta.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Tư, 2020, 04:42:27 pm

        Đại tá không động đậy, nhưng mí mắt ông rung lên mõi lúc một mạnh hơn. Chỉ một dấu hiệu này cũng cho thấy cuộc đấu tranh gay gắt đang diễn ra trong người ông ta, giữa thói quen thi hành triệt để mệnh lệnh của cấp trên với đòi hỏi thực tế, không có trong mệnh lệnh.

        — Đồng chí chủ tịch Hội đồng, — ông ta lại bắt đầu nói, — tôi chưa hoàn toàn hiểu rõ... Theo sự ủy quyền nào?...

        La-tô-skin bực bội đập tay xuống bàn.

        — Theo ủy quyền của giai cấp công nhân! — Ông gào lên, giọng ngân vang, nhưng lại tự kiềm chế ngay được, nói bình tĩnh hơn: —  tôi hành động theo chỉ thị của Hội đồng quân sự nhà nước...

        Lu-ki-a-nốp từ từ đứng lên và Bốt-đa-nốp từ nãy đến giờ vẫn chú ý lắng nghe cũng từ từ đứng dậy. Trong phòng rất im lặng... Trên khuôn mặt gầy gò với hàng ria cắt ngắn của Lu-ki-a-nốp nổi lên những chấm đỏ.

        — Đồng chí đại tá, đồng chí đã thỏa mãn chưa?—La-tô-skin hỏi.

        — Tôi nghe... — Lu-ki-a-nốp khẽ trả lời. — Đồng chí cho phép tôi được thi hành chứ!

        La-tô-skin quay sang Đi-a-cốp.

        — Đồng chí thiếu tướng, đồng chí trao đổi với đại tá đi, — ông nói. — Chúng ta tạm ngừng cuộc họp trong mười phút...

        Phong thái hung dũng, Đi-a-cốp tặng cho Lu-ki-a-nốp một nụ cười thân ái, rạng rỡ, nhưng trong đôi mắt nheo lại ánh lên vẻ giễu cợt.

        — Chúng tôi sẽ bàn bạc bây giờ, ngay bây giờ, — ông nói và đứng dậy. — Kia kìa, chúng ta ngồi xuống chiếc đi văng kia và nói chuyện. — Ông nắm khuỷu tay Lu-ki-a-nốp và dẫn tới một góc phòng. — Ở đó, ta cùng bàn bạc về súng đại bác, đồng chí đạỉ tá ạ!... Đại bác rất tốt, bắn nhanh! Và cỡ cũng vừa phải... Bốt-đa-nốp, lại đây luôn thể!

        Ba người ngồi trên đi văng. Bốt-đa-nốp nhìn chủ tịch Hội đồng quân sự với lòng biết ơn và cảm phục. Anh rất mến con người này, tất cả cử chỉ của ông đều hợp với Bốt-đa-nốp. Người thư ký đến bên La-tô-skin nói điều gì và ông gật đầu.

        Đi-a-cốp bắt đầu nói về cách sử dụng pháo cao xạ để chống tăng. Chăm chú nghe thiếu tướng nói, Bốt-đa-nốp chỉ đưa mắt nhìn đám người vừa bước vào phòng. Họ có khoảng mười lăm người, trong đó có hai hoặc ba phụ nữ. Một số đeo túi dết ở thắt lưng, một vài người có bao súng ngân mới màu vàng. Mọi người ngồi sát vào nhau. La-tô-skin rời khỏi bàn và đi đến chỗ họ. Lúc đầu ông hỏi han người này người kia, nhưng sau đó giọng nói căng thẳng của ông mõi lúc một to. Và Bốt-đa-nốp không chú ý đến câu chuyện giữa Đi-a-cốp và Lu-ki-a-nốp nữa.

        — Tất cả các đồng chí, những người cán bộ tỉnh ủy, hôm nay sẽ rời các phòng, ban của mình để xuống các đơn vị chiến đấu, — La-tô-skin nói. — Chúc các anh đạt được nhiều thành tích trong cương vị mới của những người chính trị viên và chính ủy!

        Ông đứng giữa phòng, tay trái lãng quên giữ chiếc bút chì, còn tay phải hơi vẫy vẫy. Chiếc áo va rơi dựng đứng trên lưng ông, bên hông bao súng «TT» nặng trĩu trên đây da đã sờn. Và Bốt-đa-nốp lại cảm thấy một nét gì đó rất sinh viên, rất sôi nổi trong dáng dấp con người này.

        — Trước chiến tranh khá lâu, Trung ương Đảng giao cho chúng ta nhiệm vụ: biến các nhà máy thành pháo đài kiên cố của chủ nghĩa xã hội... Pháo đài của chủ nghĩa xã hội, —La-tô-skin nhấn mạnh lại từng tiếng. — Lúc này là thời kỳ kiểm tra chính xác nhất xem chúng ta thực hiện nhiệm vụ này như thế nào... Và tất cả các đồng chí đã biết, ngày nay thành phố của chúng ta, thành phố hòa bình, cổ kính của từng người luyện kim, luyện gang, thợ rèn, công nhân mỏ, biến đổi ra sao. Mọi người thi đua với nhau để được vinh dự nhận khẩu súng trường. Hàng nghìn người xung phong đi xây dựng các tuyến phòng thủ, dựng các chướng ngại vật trên đường phố, như cha ông họ trước đây đã làm. Và mỗi đường phố của chúng ta... — La-tô-skin im lặng trong khoảnh khắc. — Các đồng chí hãy nhớ lại tên gọi của chúng: Lưỡi lê, Thuốc nổ, Nòng súng, Chốt an toàn, — mỗi đường phố của chúng ta đã trở thành phòng tuyến chiến đấu... Không thể nghi ngờ gì nữa rằng thành phố của chúng ta, thành trì vinh quang của giai cấp công nhân Nga, sẽ đứng vững trước thử thách mới, như đã đứng vững trong năm mười chín. Và những khu ngoại ô, những đường phố của chúng ta sẽ trở thành mồ chôn quân phát xít xâm lược.

        Mọi người đứng dậy và vây quanh La-tô-skin. Nghe thấy những tiếng thốt ngắn gọn, những câu hỏi, câu chào và lời chúc tụng...

        — Đồng chí I-a-cốp La-tô-skin ! — Người nào đó kêu lên. — Sáu giờ sáng mai trung đoàn công nhân ra quân !

        — Nhất định tôi sẽ đến và tiễn các anh! — La-tô-skin nói.

        Nửa giờ saú, Đi-a-cốp và Bốt-đa-nốp cũng chuẩn bị ra về. Bí thư tỉnh ủy lại nói chuyện với nhóm kỹ sư của một nhà máy nào đó.

        Anh không tìm thấy một dấu hiệu mệt mỏi nào trong người La-tô-skin. Chỉ có mồ hôi lấm chấm trên khuôn mặt đỏ ửng của anh. Chia tay với Đi-a-cốp và Bốt-đa-nốp, ông nắm rất chặt tay hai người.

        Người thư ký lại xuất hiện bên cánh cửa.

        — I-a-cốp La-tô-skin,— chị nói to hơn bình thường, — có điện thoại từ Mát-xcơ-va.

        La-tô-skin nhanh nhẹn cầm ống nghe, và giơ tay trái ra hiệu cho mọi người im lặng.

        Dạo này, từ Mát-xcơ-va ngày nào cũng có người gọi điện cho ông: các bí thư Ban Chấp hành trung Đảng, ủy viên Hội đồng quân sự nhà nước, ủy viên Bộ Chính trị... La-tô-skin báo cáo về tình hình trong tỉnh và trong thành phố, nghe chỉ thị và những lời góp ý. Lúc này cầm ống nghe, ông có cảm giác của một người lính trước khi bước vào trận chiến đấu đang được sự chăm sóc của người chỉ huy —  sẵn sàng giúp đỡ bằng những lời khuyên và mệnh lệnh, trong bất kỳ giây phút nào.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2020, 04:29:00 pm

6

        Tuy mới thành lập vội vàng từ những tiểu đoàn xung kích và dân quân tự vệ, trung đoàn công nhân đang tạm đóng tại tòa nhà trường trung cấp cơ khí trong thành phố, nhưng đã nhận được mệnh lệnh triển khai ra vị trí chiến đấu. Sau khi gặp tiểu đoàn trưởng, Pa-ven Grô-mốp trở về trung đội của mình, vừa luồn lách theo hành lang chất đầy bàn ghế học sinh vừa suy nghĩ: có thể ngày mai anh đã phải đưa đồng đội của minh vào trận đánh. Anh lờ mờ tưởng tượng điều này sẽ diễn ra như thế nào, cảm thấy bối rối hơn là lo sợ. Chính trận đánh đầu tiên — trận giáp mặt đầu tiên với kẻ thù —  không làm cho Pa-ven sợ hãi mà anh chi thấy nóng lòng sốt ruột chờ đợi. Nhưng hôm nay một điều họàn toàn bất ngờ làm Pa-ven bối rối, anh được chi định làm trung đội trưởng.

        Thật ra, Pa-ven cũng đã được dự một chương trình huấn luyện quân sự. Mặc dù biết sử dụng lựu đạn, bắn súng máy, học chiến thuật, nhưng Pa-ven vẫn cho rằng: tạm thời anh nên làm người lính đã.

        Nói một cách nghiêm túc thì trung đoàn thành lập vẫn chưa hoàn chỉnh, còn thiếu cán bộ chỉ huy cấp dưới có trình độ. Chỉ mới mấy giờ trước đây thôi, anh, Pa-ven Grô-mốp, một người dân thường, một kỹ sư thiết kế, đã được cử làm chỉ huy một đơn vị gồm ba mươi tám tay súng mà từ nay trở đi anh phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước họ.

        «Cần phải thường xuyên trao đổi với các đồng chí» — Pa-ven suy nghĩ như anh đã từng suy nghĩ trong tất cả các trường hợp khó khăn của cuộc sống. Đặc biệt phấn khởi là trong trung đội anh có hai người bạn cũ: E-go Trô-sin, kỹ sư luyện gang và I-van Bô-cốp, thợ tiện cùng nhà máy. Tuy vậy không thể nói rằng anh sợ sự phức tạp của trách nhiệm, mà bất ngờ người ta đã trao cho anh. Ngoài tâm trạng bối rối ra, từ đáy lòng anh cũng tò mò muốn biết xem mình sẽ lãnh đạo ra sao, mong muốn nhanh chóng bắt tay vào công việc để kiềm tra năng lực mà anh chưa tự đánh giá được hết.

        Trung đội Pa-ven chiếm một phòng học trên tầng hai tòa nhà lớn bốn tầng đã chật ních người. Ngay cả ở một vài nơi trong hành lang, trên sàn, trên bàn, cũng trông thấy người nằm và những khẩu súng trường dựa vào tường.

        Trở về phòng mình, Pa-ven trông thấy chính trị viên đại đội Ê-Ii-xây-ép — một người trạc tuổi dưới sáu mươi — đang nói chuyện với một nhóm chiến sĩ ngồi rải rác trên ghế và trên bàn. Từ hành lang, Pa-ven đã nghe vọng lại tiếng Ê-li-xây-ép:

        —...Mỗi người chúng ta phải chịu trách nhiệm về việc thi hành mệnh lệnh chiến đấu. Tuy vậy, điều này vẫn chưa nói hết được trách nhiệm của chúng ta. Một lời nói chân thành, một lời tâm sự với các chiến sĩ trong lúc nghỉ ngơi, trong khi đi dạo, trong trận đánh đều có một ý nghĩa rất lớn.

        Đi chậm lại, Pa-yen chú ý lắng nghe. Từ lâu anh đã biết Ê-li- xây-ép, kỹ sư làm việc ở phòng ké hoạch trong, ban lãnh dạo nhà máy, đã gặp ông trong các cuộc họp đảng, nhưng không thân nhau lắm.

        — Còn một điều nữa, các đồng chí ạ! — Ê-li-xây-ép tiếp tục —  Dù các đồng chí có là người cổ động, tuyên truyền tốt thế nào đi chăng nữa, các đồng chí cũng phải tự chứng minh bằng tấm gương gan dạ của mình.

        Bất giác, Pa-ven đảo mắt nhìn những nhân viên chính trị của các trung đội đang ngồi chật ních thành từng nhóm trước mặt Ê-li- xây-ép. Họ im lặng chăm chú nghe chính trị viên; một chiến sĩ có khuôn mặt sáng sủa, đẹp đẽ, đội mũ lưỡi trai đen, gật đầu như thể ủng hộ những điều Ê-li-xây-ép nói. Anh thợ đúc trẻ của trung đội Pa-ven, Xvét-nhi-cốp đang ghi vội bằng bút chì vào quyền vở đặt trên đầu gối. Khung cảnh rất quen thuộc bình thản như trong cuộc họp chớp nhoáng ở xưởng trước đây...

        Thấy Pa-ven dừng lại gần đấy, Ê-li-xây-ép ngừng nói chuyện và đi đến gặp anh.

        — Tôi cần phải nói chuyện với anh đấy, Grô-mốp ạ, — ông bắt đầu — nhưng, chắc là hôm nay không kịp... Tạm thời tôi chỉ muốn nói một điều là quần chúng trong trung đội anh rất tốt. Tôi biết nhiều người trong họ, từ khi còn ở tiểu đoàn xung kích. Anh hãy chú ý đến Su-kin, tiểu đội trường, Trê-kin, Mi-khai-lốp thợ luyện gang và A- nhi-xi-mốp, công nhân mỏ... Tôi thấy anh có nhiều người tốt để làm việc đấy — ông kết luận — và có lẽ đã đoán được điều gì đang làm Pa-ven lo lắng, nên nói thêm: — tất nhiên là cỏ gì khó khăn, anh cứ đến tôi, dùng ngại ngần gì cả. Chúng ta cùng nghĩ, cùng bàn cách giải quyết.

        — Cảm ơn đồng chí chính trị viên.

        — Có gì mà phải cảm ơn! — Ê-li-xây-ép nghiêm trang nói.

        Ông quay lại với các chiến sĩ, còn Pa-ven rảo bước đi theo hành lang. Đẩy mạnh cửa phòng, lập tức anh thấy ân hận, vì nghĩ rằng giờ này mọi người đã ngủ. Đã mười hai giờ đêm, một số chiến sĩ đã ngủ say, nằm trên chăn trải ra sàn và đắp mình bằng áo bành tô, còn một số khác đang nằm hút thuốc lá cuốn. I-van Bô-cốp trực ban, đang ngồi bên cửa ra vào trên chiếc ghế duy nhất trong phòng, hai tay đút vào túi quần, đầu tóc xoăn gục xuống ngực. Khi Pa-ven vào, anh ta chỉ im lặng liếc nhìn, đôi mắt ánh lên vẻ tò mò như muốn biết những điều mới lạ.

        — Sáng mai, I-van ạ, — ghé vào tai Bô-cốp, Pa-ven nói nhỏ — sáng mai chúng ta sẽ triển khai...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2020, 04:30:31 pm

        Một người nằm đó nhanh nhẹn nhỏm dậy, chờ xem trung đội trưởng còn nói gì nữa không. Nhưng Pa-ven đã chậm chạp lách bước giữa những người đang ngủ đến chỗ của mình trong góc phòng, cố gắng không đề gây tiếng động. Người chiến sĩ chăm chú nhìn anh một hồi lâu.

        Pa-ven cởi bành tô, mũ lông, đưa mắt nhìn xem nên để chúng ở đâu, rồi ném xuống chân và ngồi bệt xuống, duỗi đôi chân dài ngoẵng đi ủng ra sàn. Đã tĩnh táo hơn, Bô-cốp bỗng nhiên đứng dậy khỏi ghế, vội vàng đi qua phòng và ngồi xuống bên cạnh.

        — Anh cổ biết, hôm nay tôi gặp ai không? Pi-e Ki-rin-lứt đấy nhé! — Anh ta nói.

        — Cậu nói gì thế ? — Pa-ven sửng sốt.

        — Thật mà. Ô-rê-lốp Pi-e Ki-rin-lứt, ông già sống ở ngay bên cạnh... Anh còn nhớ không, chúng ta đã đến nhà và xem xe của ông già đấy?

        — Tất nhiên, còn nhớ chứ! — Pa-ven mỉm cười, đề lộ hàm răng trắng như sữa, tuyệt đẹp. — Sau đó tôi có đến thăm ông. Tôi còn nặng ơn ông ấy lắm... Thế, tình hình của ông già ra sao?

        — Không sao cả, can đảm lắm. Cứ hỏi về anh mãi...

        — Về mình — Pa-ven hỏi lại —Cậu biết không, nếu không có Pi-e Ki-rin-lứt thì chắc là mình đã học ngành khác rồi.

        — Ông ấy khen anh lắm, đúng thế đấy...

        Và Bô-cốp bắt đầu kể lại cuộc gặp gỡ của mình với người thầy giáo cũ. Nhưng trong đôi mắt xám rất sáng luôn luôn mở to như dò hỏi, ánh lên một vẻ lạ thường, như chờ đợi. Pa-ven trả lời câu hỏi mà anh ta không dám đưa ra.

        — Khi tôi sắp chia tay ra về, — Bô-cốp nói tiếp, — Pi-e Ki-rin- lứt nói: «Hy vọng ở các anh». Ông ấy nhắc đi nhắc lại: « Hy vọng ở các anh!». — Anh im lặng nhìn Grô-mốp chờ đợi.

        — Ông ấy nói như vậy à ? — Pa-ven đặt cánh tay nặng nề xuống vai người bạn. Tuy vẫn chưa hiểu cái gì đã xảy ra với Bô-cốp nhưng Pa-ven linh cảm thấy một điều không hay nào đó.

        — Thế cậu đã trả lời thế nào? — Pa-ven hỏi.

        Vẻ ngượng ngùng, ngay lúc ấy Bô-cốp lảng chuyện.

        — Khi nào thì chúng ta phân chia các chai thuốc nổ?— Anh hỏi lảng, mắt nhìn xuống.

        — Ở vị trí. — Pa-ven trả lời. — Ở trong công sự chúng ta sẽ chia... Không có thì vỡ ngay ở trên đường ấy chứ!

        Anh vẫn ngồi nguyên, cởi áo vét tông và cởi khuy cổ chiếc áo cổ tròn. Trong phòng rất ngột ngạt, mùi thuốc lá cuộn ngòn ngọt quyện lẫn với mùi hôi hám của quần áo và súng đạn. Ngọn đèn diện hai mươi oát tỏa ánh sáng yếu ớt lờ mờ, như đang rữa ra trong không khí nóng nực... Súng trường của các chiến sĩ tình nguyện được xếp thành ba hình nón ở giữa phòng. Những lưỡi lê nhọn, tụm lại, tỏa ra những tia sáng nhỏ, lờ mờ như bị phủ lớp sương mù.

        — Thật là kỳ quặc! — Pa-ven nói — Và có vẻ giả tạo thế nào ấy. Một thời mình với cậu đã từng học ở đâu đây... Chúng mình đã nhiều lần đến chính lớp này để...

        Bô-cốp đến bên Pa-vcn và với thái độ ngỡ ngàng nhìn từ dưới sàn lên trần nhà, nói:

        — Cậu sẽ không cười đấy chứ? Mình cũng nghĩ như thế này: cần phải nhắm mắt lại và sau đó thì mở ra... Tất cả    sẽ trở lại như xưa ..

        Một gian phòng sách sẽ, sáng sủa với các chân dung trên tường. Chúng mình sẽ trẻ lại như mười hai năm trước đây.

        — Đúng rồi, họ mang các chân dung đi đâu rồi ? — Pa-ven bắt đầu chú ý — Mình còn nhớ, ảnh Cu-li-bin treo ở kia... Râu ria thế này này...

        — Và cả Lô-mô-nô-xốp nữa, — Bô-cốp nói.

        — A ha, và Lô-mô-nô-xốp nữa...

        Pa-ven nhìn kỹ Bô-cốp, mảnh khảnh, yếu ót, khuôn mặt trắng trẻo, cái đầu xoăn đến mức: những sợi tóc sáng phủ xuống trán trông như mớ lò xo. Có thể đoán được điều gì đang làm Bô-cốp Sốt ruột —  đôi mắt to đẹp của anh ta long lanh đến như vậy.

        — Va-nhi-a1 cậu đã chia tay với Ma-ri-na chưa ? — Pa-ven hạ giọng hỏi — Từ giờ chắc không được nghỉ phép nữa đâu.

        — Càng hay, khi không còn được... Càng tuyệt!... — Bô-cốp nói với vẻ nóng nảy khó hiểu. Anh lắc đầu rất nhanh và dứt khoát làm mái tóc xõa xuống mắt, rồi anh lại vuốt lên.

        — Thế là thế nào? —Pa-ven tỏ vẻ ngạc nhiên.

        — Cử mỗi lần gặp nhau rồi lại chia tay mãi mãi. Đó là điều xấu nhất... và rất tốt là mai chúng ta triển khai.

        — Cừ lắm, anh bạn tóc xoăn ạ! — Pa-ven phân vân, làu bàu nói, thoáng nghĩ đến Na-ta-sa.

        Bỗng nhiên anh rất muốn kể cho Na-ta-sa rõ, lúc này anh sống hồi hộp và trọn vẹn như thế nào. Và mặc dù hiện giờ, theo ý Pa-ven, cô ấy ở cách xa nơi đây là một điều hợp lý và có lẽ ít lâu sau, theo lời khuyên của anh, cô sẽ chuyền sâu vào vùng xa mặt trận, nhưng anh vẫn tiêng tiếc điều này. Anh ân hận không phải chỉ vì đã lâu không được gặp cô mà có phần nào đó anh lo lo như thể cô đã bị bỏ quên một cách bất công so với anh. Khuôn mặt vuông vắn của anh với những đường nét rõ ràng, hàng lông mày sâu róm, má nhăn, mũi thẳng rất để bộc lộ những xúc cảm, giờ đây như có vẻ trầm tư, hối lỗi.

        «Không, không, Na-ta-sa chuyển sâu hơn nữa vè hậu phương là điều rất tốt» — Anh thầm khẳng định với chính mình. Và đồng thời ngay lúc đó, anh cũng cảm thấy số phận của anh còn may mắn hon so với người khác, dù có hiểm nghèo hơn.

-----------------------
        1. Tên thân mật gọi Bô-cốp.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2020, 04:31:06 pm

        Bô-cốp nóng lòng chờ Pa-ven nỏi.

        — Cậu có chuyện gì vậy? — Anh ta hỏi.

        — Không, không có gì cả, — bừng tỉnh, Pa-ven vội trả lời.

        — Thôi anh bạn, bây giờ thì hãy liệu đấy! Đánh giặc chứ không phải chuyện đùa đâu.

        — Đáng ra phải đánh từ lâu rồi cơ, — Bô-cốp đồng tình.

        — Những cuộc tiễn đưa bao giờ cũng kèm theo những giọt nước mât, đúng không nào ?

        — Đúng vậy! Chi là một việc làm bịn rịn! — Bô-cốp nói to, với một vẻ can đảm cay cú nào đó.

        Pa-ven chăm chú nhìn người bạn và Bô-cốp cũng nhìn lại với vẻ thách thức.   

        — Thôi được anh bạn tóc xoăn, cậu đừng quá lo lắng làm gì, —  Pa-ven nói. —Thôi ta bàn về công việc đi. Ê-go đã ngủ rồi à?

        — Sao ? Mình có lo lắng gì đâu, — Bô-cốp nói.

        Một cái đầu hung hung tóc cắt ngắn ngọ nguậy dưới chiếc bành tô xám, ngay gần đấy.

        — Ai mà ngủ được cơ chứ, — một giọng ú ớ vang lên — Lúc nào cũng có người đi, nói chuyện, gõ cửa.

        — Thôi, dậy đi, anh bạn, — Pa-ven gọi.

        Bỏ bành tô ra, Ê-go Trô-sin ngồi dậy và bực bội nhìn quanh. Anh mặc chiếc áo sơ mi trắng, sạch sẽ, để lộ ra cái cổ ngắn và mập. Trên khuôn mặt tàn nhang đỏ tấy với hàng lông mi trắng, hằn rõ dấu vết của bao dồ anh dùng làm gối.

        — Tớ đã làm hết cách này... Đã đếm nhẩm đến một trăm và nhớ lại bài hát trong phim nữa, thế mà vẫn không ngủ được. — Anh phàn nàn.

        Pa-ven lấy mẩu giấy trong túi áo vét tông ra, đặt lên đùi và lấy bàn tay to che lại:

        — Hãy nghe đây, giai cấp công nhân, — anh nói. Trô-sin đến bên chăn Pa-ven, và lúc này ba người ngồi sát bên nhau. — Đã có mệnh lệnh, — Pa-ven thầm thì nói tiếp,— mệnh lệnh chiến đấu... Sáng mai chúng ta sẽ triển khai ra tuyến phòng thủ. — Anh nhìn các bạn như muốn hỏi: «Thế nào, các cậu có thích cái này không ?».

        — Thật tuyệt là chúng ta sẽ được triển khai, — Bô-cốp nhắc lại.

        Pa-ven cầm mảnh giấy trên dùi.

        — Để cho khỏi quên, tớ đã ghi vào đây, liếc nhìn dòng chữ bút chì, anh nói.

        Trên tờ giấy xé ra từ quyền sổ tay có ghi: «1. Chọn người liên lạc với đại đội; 2. Nhận xẻng công binh ; 3. Nhận túi cứu thương ; 4. Kiểm tra vũ khí...».

        — Vũ khí của các cậu bình thường chứ? — Pa-ven hỏi.

        — Bình thường, — Bô-cốp gật đầu trả lời.

        Pa-ven đọc tiếp: «5. Nhận thêm lựu dạn; 6. Thảo luận cách đánh xe tăng... ».

        — Các cậu ơi, — anh nói, — mình chẳng phải giải thích gì cho các cậu nữa. Lúc đầu cái gì mà chả xảy ra cơ chứ. Tất cả chúng ta đều là dân sự, chưa chiến đấu bao giờ và nhiều người đã có gia đình riêng. Công tác tuyên truyền của trung đội ta đã giao cho anh chàng thợ đúc Xve-nhi-cốp đảm nhiệm.

        — Mình biết cậu ấy, một chàng trai kiên nghị đấy. — Trô-sin nói.

        — Nhưng các cậu cũng không được thờ ơ với công tác quần chúng đâu nhé! — Pa-ven đảo mắt nhìn và hạ thêm giọng — Có thể, ngay ngày mai chúng ta đã phải chiến đấu. Trên tình đồng chí, mình yêu cầu các cậu: hãy giúp đỡ nhau, không để một ai được lùi bước...

        Lúc này trong phòng lại tối hơn. Phía trên, trong bóng đèn thủy tinh, đây tóc đỏ lòm sáng cháy chi độ một phần tư công suất. Từ đấy vọng lại tiếng thở khò khò, tiếng mê sảng và tiếng ngáy. Một chàng trai trẻ với mái tóc Di-gan đen nháy, đang hai tay, chép miệng tem tép trong giấc ngủ say sưa. Nhưng không phải tất cả mọi người đã ngủ say trong đêm khuya tĩnh mịch này : trong góc tường, một người nào đó đang hút hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác, có người tuy nằm nhưng đôi mát bất động vẫn trân trân nhìn lên trần nhà.

        — Rất tốt, nếu mà ngày mai!... Bô-cốp nói, giọng thanh thanh.

        — Cần phải làm gương cho mọi người, — Pa-ven sôi nổi thì thầm. — Và cần phải giải thích cho mỗi người hiểu rằng, khi xe tăng chúng nó tới, trong bất kỳ trường hợp nào. Cũng không được bỏ chạy. Đây là mệnh lệnh đầu tiên. Cứ bình tĩnh cầm chai xăng hoặc lựu đạn mà chờ, cứ bình tĩnh nhắm súng trường vào lỗ quan sát. Xe tăng không nguy hiểm nếu bạn không sợ nó.

        — Pa-sa, cậu rút ra điều này từ kinh nghiêm bản thân chứ? — Trô-sin dịu dàng hỏi nhỏ.

        — Sắp tới, chúng ta sẽ được kiểm nghiệm lại điều này, — Pa- ven trả lời một cách kiên quyết. Còn Trô-sin thì lắc đâu một cách lập lờ. Lúc nào anh cũng ghen với Pa-ven, ghen với nghị lực tràn trề biểu lộ một cách tự nhiên, thoải mái và tinh lạc quan yêu đời của anh. Cảm giác này đã có ở Ê-go ngay từ thời còn học phổ thông xa xôi. Trong cảm giác đó vừa có lòng yêu mến, khâm phục Pa-ven, vừa cỏ nỗi bực túc là Pa-ven bỏ phí quá nhiều. Đôi mắt xanh nhạt với hàng mi trsedng nheo lại một cách giễu cợt.

        — Pa-sa, cậu có nhớ không ? Dạo nhỏ chúng mình thả tàu lượn do cậu chế tạo trên gò Vô-dơ-dvi-gien-xki, chiếc «PG-2» nổi tiếng của cậu? — Anh nói. —Cậu còn nhớ ba đứa mình sơ suất như thế nào ở đấy không ?

        Pa-ven ngạc nhiên nhìn Trô-sin nhưng lại mỉm cười ngay. Cái trò tàu lượn mà anh quên từ lâu đã kết thúc khá thảm hại: chưa rời khỏi mặt đất, chiếc máy thô sơ của anh đã lộn nhào và vỡ tan ra.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2020, 04:32:45 pm

        Nhìn Pa-ven, Trô-sin không kìm nổi, cũng mỉm cười. Mặc dù những năm sau khi tốt nghiệp trường phổ thông học nghề, họ ít được gặp nhau, — Pa-ven học tiếp đại học ở Mát-xcơ-va, Trô-sin đi đến U-ran và trở về với tấm bằng kỹ sư, còn Bô-cốp ở lại thành phố quê hương và không học tiếp đại học nữa, nhưng cả ba người đều rất gắn bó với nhau bởi tình bạn khăng khít của thời thơ ấu mà họ cùng chung sống. Điều này làm họ, những chủ nhân của niềm hạnh phúc xa xưa luôn luôn gắn gũi nhau, bất kề cuộc sống sau này của họ ra sao...

        — Dạo ấy mình cũng chơi với Ma-ri-na nữa chứ, — Bô-cốp sôi nổi. — Mình đi từ gò Vô-dơ-đvi-gien-xki về, áo rách tới rốn. Tớ nghĩ: thật khốn khổ, ông bố sẽ mắng cho một trận. Cô ấy trông thấy tớ, gọi vào tắm gội và khâu lại áo cho chứ. Sau đó lại còn thương hại...

        — Cậu tốt số thật đấy, — bỗng nhiên Trô-sin cũng dịu dàng nói. — Mình nhớ, dạo cô ấy còn theo lớp học nghề của nhà máy. Lúc đó cô ta ít nói và mảnh khảnh như cây sậy ấy.

        — Thường thường, ông cụ mình nhìn mình chỉ hỏi gọn lỏn, — Pa-ven nói vẻ hài lòng, — « Cái đâu vẫn còn nguyên chứ, anh lính A-nhi-ca?».

        Họ im lặng, hồi tưởng lại những năm tháng xa xôi đó. Mỗi người đều cảm thấy việc họ được ngồi bên nhau trong lúc này là một món quà tốt lành của số mệnh. Một điều rất tốt và hoàn toàn hiển nhiên, là cả ba người giờ đây lại được sống bên nhau cùng chung sức, chung lòng đương đầu trước một thử thách khó khăn nhất trong đời họ. Lúc này thử thách ấy tưởng như được giảm bớt đi vì khi ở bên nhau, mỗi người trong họ đều cảm thấy mình mạnh hơn.

        — Các cậu có biết không, ông già mình không muốn ra đi, —  Pa-ven phàn nàn với các bạn. — Mình không làm thế nào để ông già thay đổi ý kiến được.

        Bô-cốp nhích lại gần anh.

        — Ma-ri-na gửi lời hỏi thăm hai cậu, — anh nói. — Khi biết các cậu cũng ở đây, cô ấy yên tâm hẳn...

        — Hãy thề với cô ấy đi, — Trô-sin yêu cầu. — Và tại sao cậu không đưa cô ấy đi đâu đi?

        — Sáng nào cô ấy cũng xếp va li, đến chiều thì lại dỡ ra. Cô ấy không nỡ để tớ ở lại một minh. — Bô-cốp buồn rầu trả lòi.

        — Các cậu có thấy không — Pa-ven vuốt mái tóc dày, dựng đứng của mình. — Bọn chúng mình đều đã sống rất thơ mộng, rất đẹp, rất tuyệt vời. Hồi tưởng lại chỉ làm cho chúng ta thêm nhớ tiếc...

        — Ở trường đại học, học bòng hoàn toàn không đủ, — Trô-sin nhận xét với vẻ nghiêm nghị giả tạo thường có ở cậu ta.

        — Vì sau đó phải tính toán chi tiêu từ kỳ học bồng này đến kỳ học bổng khác.

        — Ma-ri-na của tớ chẳng thiếu cái gì cả, — Bô-cốp nói. — Tớ đưa hai, ba suất. Các cậu có biết tớ làm thêm được nhiều như thế nào không?...

        — Dù sao thì trên thế giới này cũng không có ai giàu hơn chúng ta, — Pa-ven nói tiếp. — Mỗi người chúng ta cảm thấy như trong túi minh có bạc triệu. Mà đúng vậy, đấy là sự thật. Chúng minh bàn bạc với nhau như những người phải lo nhiều khoản kinh phí lớn cho kế hoạch năm năm, công nghiệp hóa, nhà máy chế tạo máy cày Xta- lin-grát, mỏ sắt ở Ma-gơ-nhi-tô Goóc-xcơ...

        Pa-ven cảm thấy nóng nực: anh cởi hết khuy, phanh cổ áo ra, để lộ bộ ngực trắng với mớ lông ngực xoăn xoắn.

        — Kể cung bực thật, — Trô-sin nói. — Chúng tớ vừa mới định mở thí nghiệm một lò thổi bằng ô xy.

        Ba người kể chuyện về minh, về cuộc sống riêng của mình, nhưng tưởng như họ đang nói chuyện về chính một điều quan hệ đến cả ba. Điều này thường chỉ có ở những người bạn rất thân thiết và hơn thế nữa, hình như đã lâu rồi, họ chưa có buổi tâm sự nào phong phú như vậy. Mặc dù mỗi người chỉ mới kể được vài câu vụn vặt nhưng tất cả những điều họ vừa nói ra hôm nay đều là những ý nghĩ chung, tổng quát những lý tưởng, hy vọng và ước mơ của cuộc sống trong nhiều năm qua. Cho nên mỗi người đều có cảm tưởng là mình đã được nghe thấy những điều mà tự mình chưa hoặc không nổi ra được.

        — Tất cả chúng mình đã sống rất hạnh phúc, — Pa-ven lại bắt dầu. — Và các cậu có tin không, chính ngay lúc này đây, dù sao đi nữa mình vẫn cảm thấy mình rất hạnh phúc. Không, không phải từ này. Tự hào thì đúng hơn. Không, không phải, mình không thể tìm ra một từ thật chính xác.

        — Rất tiếc là cậu không kịp chế tạo chiếc máy cái của mình, —  lần này Trô-sin nói với vẻ hoàn toàn nghiêm nghị. — Sáng kiến của cậu rất đáng khen.

        — Dĩ nhiên là tiếc rồi, sáng kiến đó của mình thì đơn giản, rơ- le một mã, nhưng cấu tạo lại khá phức tạp. Mình muốn cho mọi người có thể điều khiển máy dễ dàng như gọi điện thoại tự động. — Pa-ven lắc đàu. Ừ, khỉ thật, tiếc quá!

        Một người nằm gần cửa sổ, cựa quậy tung chiếc áo bông đắp trên người, đứng dậy. Hình như chưa hoàn toàn tỉnh ngủ, anh ta loạng choạng bước ra cửa, chẳng khác gì người mù. Cánh cửa mở, một luồng không khí lạnh ùa vào mặt, vào ngực Pa-ven.

        « Sắp sáng rồi, — anh nghĩ, — buổi sáng, triển khai, trận đánh... »


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Năm, 2020, 09:05:34 am
   
        Và anh cảm thấy một cái gì đó nóng bỏng như đang đốt cháy và tỏa ra khắp người anh. Anh sẽ rất chán nản nếu lúc này người ta nói với anh rằng thôi, sẽ không chiến đấu nữa vì kẻ thù đã lùi, chúng không dám chạm trán với chúng ta nữa.

        Nhìn ra cánh cửa, Bô-cốp co dúm người lại, như thể bị lên cơn rét và giúi tay vào giữa hai đùi.

        Một ngươi nào đó vừa đi nhanh theo hành lang vừa mở khóa nòng súng trường. Anh thanh niên trẻ với mái tóc Di-gan ngồi dậy, làu bàu điều gì đó và lại nằm xuống sàn. Hình như một mối lo lắng đột ngột đang truyền đi theo các tầng của ngôi nhà lớn, trong đó có hai nghìn con người đang ngủ đêm cuối cùng, trước lúc ra trận. Và lại im lặng.

        — Các bạn ạ, tất cả đều theo đúng quy luật cả!... — Pa-ven nói với vẻ cương quyết, giọng trầm trầm, khuôn mặt to, kiên nghị của anh có vẻ nặng nề. — Chả lẽ chúng ta lại không biết rằng, sớm hay muộn rồi chúng ta cũng sẽ phải chiến đấu sống chết với chủ nghĩa tư bản hay sao? Bởi vì chính sự tồn tại cửa chúng ta cũng đủ làm cho chủ nghĩa tư bản khiếp sợ rồi...

        Đôi mắt sáng và sâu của Pa-ven long lanh, ánh lên đến mức tưởng chừng như chúng có vẻ to hơn trước. Anh giơ tay ra trước mặt.

        — Hòa bình và hạnh phúc cho tất cả các dân tộc! — Anh nói nhỏ, giọng trầm trầm. — Những người cộng sản chỉ mong muốn điều ẩy: hòa binh và hạnh phúc.

        Bỗng nhiên anh ôm chặt vai các bạn, ghì vào mình rồi bỏ ra.

        — Các đồng chí của tôi! Các bạn là những người của giữa thế kỷ hai mươi, những người của thế kỷ cách mạng. Có trời mà biết được hết điều này!... — Pa-ven lại mỉm cười. —Khi còn nhỏ, chúng ta đã mơ ước đi giúp cách mạng Tây Ban Nha!... Chúng ta đã lo lắng cho đất nước này. Chúng ta đã ghen tị với các chiến sĩ trong các đơn vị quốc tế vô sản và các phi công của ta chiến đấu ở đó. Chẳng bao giờ chúng ta quên Ma-đrít, và tất cả các tên gọi: A-ra-gôn, Ca-sti- li-a, A-xtu-ri-a, Gva-đa-la-kha-ra. Và không khi nào chúng ta tha thứ cho những gì mà bọn phát xít gây ra ở Tây Ban Nha. Một đất nước tuyệt đẹp có phải không ? Còn những người Phi-líp-pin — một dân tộc cũng rất tốt — còn Xác-cô và Van-xét-ti, còn những thanh niên da đen ờ Scốt-sbô-rô! Các bạn ạ, tóm lại, chủ nghĩa tư bản là tội ác đối với nhân loại!

        — Đúng đấy Pa-sa ạ! — Bô-cốp khẳng định.

        — Hừ, ngọn núi dựng đứng và không đi qua được! Bà cô cậu đã nói như thế, phải không? — Trô-sin nói, vỗ khẽ vào tay Pa-ven và dịu dàng nhìn anh. Anh thường có cử chỉ như vậy. Dù trong lòng anh có phản đối bạn mình thế nào chăng nữa, nhưng cuối cùng anh cũng không thể không tuân theo sức ép vô tư tốt bụng của bạn.

        — Đúng đấy... Không tài nào tránh khỏi được, — Pa-ven lại đưa tay vuốt tóc. — Các cậu hãy thử tính xem, các cậu hãy thử tính xem: Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, một phần sáu thế giới trở thành chủ nghĩa xã hội... Ta hãy xem xem cuộc chiến tranh này kết thúc ra sao...

        Tì lên cánh tay duỗi thẳng, Bô-cốp chuyển thế ngồi, những sợi tóc xoăn xõa xuống mắt, nhưng anh làm như không nhận thấy điều này.

        — Các cậu ơi! Mình rất lo cho Ma-ri-na, — anh nói ấp úng, vội vàng. — Mình chỉ có một mình cô ấy... Mình không học tiếp được cũng vì cô ấy... Ừ, mà nói cái gì cơ chứ! Mình đưa tất cả tiền lương cho cô ấy. Phải chăng mình lo lắng cho bản thân? Chỉ có điều mình bực mình lắm, các cậu ạ ! Mình sẽ vặn răng bọn chó đẻ !...

        — Khẩu súng trường sẽ trở nên hữu hiệu hơn, — Trô-sin nói. —  Cậu hãy dựa vào kỹ thuật nhiều hơn nữa.

        — Này, Va-nhi-a, cậu nghĩ gì vậy ? Thế mà mình cứ tưởng có chuyện gì xảy ra với cậu cơ... — Pa-ven nói.

        — Mình không lo cho mình — Bô-cốp nói to như phản đối ai đó. — Còn nếu mình có làm sao... Mà thôi, Ma-ri-na không mất được. Cô ấy không ở lại một mình, không ở sa mạc Ca-ra-cum, có phải thế không ?

        Pa-ven nhìn Bô-cốp như muốn nói: « Chúng mình sợ cái gì cơ chứ. Cậu tự nghĩ xem...».

        Người chiến sĩ ra khỏi phòng lúc này đã quay lại. Ông đứng ở cửa, ngáp, và không đi đến chỗ của mình, mà đến chỗ Pa-ven.

        — Có thuốc không, đồng chí chỉ huy? — Ông hỏi. Không cần đợi Pa-ven trả lời, ông ngồi xồm xuống bên cạnh. Người ông gù, gân guốc, tay dài, râu mọc lởm chởm thành từng túm nhỏ. Trong khi ông ta vân vê diếu thuốc, Pa-ven chăm chú nhìn người chiến sĩ của mình: một người trung niên, ngoài bốn mươi tuổi, anh chưa kịp làm quen với tất cả mọi người trong trung đội.

        — Thợ mỏ à? — Pa-ven hỏi — Tên đồng chí là gì?


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Năm, 2020, 09:06:37 am

        Người chiến sĩ châm thuốc và gật đầu:

        — A-nhi-xi-mốp Pi-e, — ông nói giọng khàn khàn, — ở bộ phận số hai phía nam...

        — Tôi đã đến đó. — Pa-ven nói.

        — Tôi không nhận ra anh. — A-nhi-xi-mốp trả lời và ho. Khói thuốc quyện lấy mặt ông ta.

        — Đồng chí đã phục vụ trong quân đội bao giờ chưa ? — Pa-ven tiếp tục hỏi.

        — Chưa. Ông nói trong khói thuốc màu xám.

        — Thế nào, lúc đầu đồng chí cảm thấy mình ra sao? Tinh thần ra sao ?

        Làn khói thuốc tan dần, tỏa lên trần nhà và khuôn mặt người công nhân mỏ đang nở nụ cười giễu cợt, một mắt lim dim còn mắt khác ánh lên một vẻ khôn ngoan, dưới hàng lông mày lởm chởm.

        — Tại sao mọi người cứ quan tâm đến tâm trạng của tôi thế nhỉ? — Ông nói — Cứ làm như tôi là mụ đàn bà non nớt ấy, có phải thế không!... Hôm nay chính trị viên tiểu đoàn đã hỏi, sau đó là nhà báo và bây giờ lại đến anh, đồng chí chỉ huy trẻ ạ! Còn tôi có thể có tâm trạng gì à ? Dửng dưng! Tôi nói như vậy...

        — Dửng dưng à? — Pa-ven hỏi lại. — Tại sao vậy?

        — Còn tại sao à? Chiến thắng hay là chết! — A-nhi-xi-mốp trả lời. — Hoặc chúng giết tôi, hoặc là tôi giết chúng. Tôi chỉ nghĩ tới một điều là làm sao nhanh nhanh lên để tôi được giết chúng...

        Pạ-ven im lặng giây lát, sâu đó anh cười phá lên. Giọng cười của anh đứt đoạn. Nhớ ra là mọi người đáng ngủ. anh kìm lại. A-nhi-xi-mốp đứng dậy.

        — Lại ngủ nữa chăng? — Ông nói — Tôi khuyên anh cũng ngủ đi, đồng chí chỉ huy ạ!

        Mười lăm phút sau, Pa-ven đã tháo ủng và cuộn mình trong chăn ngủ. Anh lấy bao đồ gói đầu, một cái gì đó như hộp xà phòng nhô ra cồm cộm, nên anh lại gối tay vậy. Bên cạnh, Trô-sin đang trằn trọc trên sàn nhà quá cứng, còn Bô-cốp lại ngồi trên chiếc ghế cạnh cửa, đơn độc một mình ngồi giữa đám người đang nằm ngủ. Nhìn thấy Trô-sin chui đầu vào chiếc bành tô xám mỏng, Pa-ven nói nhỏ:

        — Này, Ê-go! Ê-go! Mai cậu lấy chiếc áo len của mình mà dùng nhé! Mình chẳng cần gì đến nó cả...

        Làm như đã ngủ, Trô-sin không trả lời. Lúc này anh ta không hài lòng với chính mình, vì đã bực bội chống lại Pa-ven, ngay khi họ mới bắt đầu nói chuyện.

        Sau khi nói chiiyện với A-nhi-xi-mốp, Pa-ven thấy lòng thanh thản không còn bị kích động nữa và anh thiêm thiếp ngủ. Tuy rất buồn ngủ, nhưng Pa-ven vẫn dành thì giờ nghĩ đến vợ. Lần này anh cỏm thấy chị ở rất xa anh, như thể trong giờ cuối cùng này khoảng cách giữa hai người đến vô hạn. Lúc này anh cũng, không thấy tiếc vì không có chị ở bên, nhưng vẫn thấy có một cảm giác dịu dàng, trìu mến dâng lên trong người anh. «Na-ta-sa, bây giờ em ở đâu? Mong sao cho em được bình an và may mắn. Rất tốt là em không đến đây. Chúc em gặp nhiều may mắn ». — Nhũng lời thì thầm đó cứ lởn vởn trong tâm trí anh. Sau đỏ như từ màn sương dày đặc, hình người cha lờ mờ xuất hiện trước mắt anh.

        «Ôi! Ông già ương bướng! Mình có thể làm gì với ông được nhỉ ?» — Pa-ven bồn chồn lo lắng.

        Một lần nữa anh lim dim mắt để kéo dài cuộc gặp gỡ tưởng tượng với bố. Anh lờ mờ phân biệt được sợi dây lửa đỏ hồng trong bóng đèn trên trần. Sợi đây nhòe ra thành đám mây tỏa sáng, màu da cam phát ra những tia sáng chập chờn và Pa-ven thiếp đi. Trên khuôn mặt anh còn đọng lại vẻ tò mò, ngây thơ.

        Năm giờ sáng, người trực ban gọi Pa-ven dậy. Lúc đó anh lại trông thấy ngọn đèn đỏ quạch trên trần. Như thể nhớ ra điều gì đó, anh nhìn lên nó, với vẻ thú vị khó hiểu. Hoặc là không khí trong phòng đã sạch hơn hoặc điện thế tăng lên, cho nên lúc này đây tóc bóng đèn thủy tinh đã tỏa ánh sáng chói lòa đều đặn hơn...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Năm, 2020, 09:08:40 am

*

        Sáu giờ sáng, trung đoàn công nhân tập hợp ở sân trường. Trong ánh sáng mờ mờ của buổi sáng mùa thu ảm đạm, các tiểu đoàn xếp thành những hàng chật ních tạo ra chữ « u » khổng lồ. Trời lạnh và không có gió, tuy không mưa, nhưng hơi nước cứ đọng trên mặt các chiến sĩ, lên quần áo và lên vũ khí. Mọi người dựng cổ áo lên và thắt chặt thêm dây lưng. Trong trung đội Pa-ven chi có mình anh là để hở cổ và kéo mũ về sau gáy. Trô-sin kéo khăn quàng đến tận cằm, còn A-nhi-xi-mốp ho khùng khục... Tiếng hô « Nghiêm!» rẩt to, bất ngờ và có vẻ bực tức, làm cho Pa-ven ngạc nhiên. Nhưng khi đứng nghiêm và theo quy định phải ngẩng cao đầu, Pa-ven cảm thấy rất hài lòng vì trong nháy mắt anh đã làm việc này cùng với tất cả mọi người. Một cảm giác đặc biệt rằng mình là một phần tử của cái gì đó rất to lớn, rất vĩ đại, rất,đa dạng và thống nhất dâng lên trong lòng Pa-ven.

        Một nhóm chỉ huy đi qua sân vào cổng và họ biến mất trong màn sương mù dày đặc. Sau đó những khẩu lệnh lại vang lên và những hàng người khồng lồ bất động từ nãy đến giờ ở trong sân lại bắt đầu chuyền động. Những tiếng rập của hàng loạt đôi ủng vang lên. Sâu trong sân một hình khối vuông to, liền cạnh xuất hiện và bắt đầu di chuyển ra giữa sân. Chỉ đến khi cạnh của nó ngang hàng với Pa-ven, anh mới phân biệt được tiếng người trong đội hình.

        Tiểu đoàn một đi qua, những bóng đó lờ mờ rung rinh trên đầu những người chiến sĩ tình nguyện, trên những chiếc mũ chào mào, lưỡi trai, mũ kiểu Cu-ban, mũ trùm tai của họ — đó là những lưỡi lê đang lay động. Ở tiểu đoàn một, chủ yếu là công nhân nhà máy chế tạo máy cái và Pa-ven biết nhiều người trong họ. Đôi lúc Pa-ven tưởng như anh trông thấy hết người quen này đến người quen khác ở trong các hàng: kia kìa cậu nhân viên định mức trẻ tuổi của phân xưởng cơ khí, sau đó là người kiềm tra kỹ thuật của nhà máy xuất hiện trong giây lát với dáng người thấp, đội mũ lông tròn. Bên cạnh - anh ta, là chàng trai xưởng đúc gầy gò với đôi chân dài ngoẵng, vừa đi vừa ưỡn ngực vẻ hãnh diện. Những khẩu súng trường giống nhau lủng lẳng trên lưng tất cả mọi người và hàng trăm bộ giò nện đều xuống đá.

        Một giọng hô mới, cao, căng thẳng lanh lảnh cất lên bất ngờ từ phía cổng.

        — Giai cấp công nhân chế tạo máy muôn năm! — Từng tiếng .vang lên rành rọt — Những người thợ co khí... dội cận vệ... của giai cấp công nhân hãy tiến lên!...

        «Đội cận vệ của giai cấp công nhân...» — Như có một người nào đó nhắc lại ngay bên tai Pa-ven: và anh căng hết lồng ngực, hít đầy không khí vào người. Những tiếng hô « U-ra! » vang lên đáp lại rồi im bặt. Tiểu đoàn một tiến ra đường phố nhịp nhàng cất những bước chân nặng nề, tiếp theo là các đại đội của tiểu đoàn hai. Tiểu đoàn trưởng mặc áo kỵ binh dài thượt đi đầu, vừa đi vừa ngoái cổ lại quan sát các chiến sĩ của mình. Sau đó là các chiến sĩ diệt xe tăng đi thành hàng bốn, gồm những thanh niên khỏe mạnh được lựa chọn kỹ càng, các vận động viên điền kinh và các môn thể thao khác, Pa-ven biết một số người trong họ. Các chiến sĩ diệt tăng mặc đồng phục: áo bông bộ đội, mũ có vành che tai, một vài người khác mặc áo vải bạt. Sau đó những chiếc bành tô và blu dông lại lướt qua mặt Pa-ven.

        — Những người chiến sĩ quân khí vinh quang muôn năm! — Tiếng hô lại vang lên từ phía cổng lớn. Qua giọng hô, Pa-ven nhận ra La-tô-skin, bí thư tỉnh ủy — vì Tổ quốc Xô-viết của chúng ta, hãy tiến lên! Tiêu diệt chủ nghĩa phát xít!...

        Từ trong đoàn quân lại rền vang tiếng hô «U-ra-a a a!». Trời sáng dần, đã trông rõ nét mặt những người trong các hàng quân. Tòa nhà khổng lồ của trường học nghề tuy vẫn còn là một khối đen, nhưng đã hiện rõ dần trên bầu trời xám xịt. Từ chiếc của sổ ở tầng bốn đơn độc tỏa ra ánh sáng lờ mờ, tưởng chừng như ngôi nhà trống trải đang cố nhìn lại lần cuối cùng những người khách trọ chốc lát của mình...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Năm, 2020, 02:22:44 pm

        Cuối cùng theo khẩu lệnh, tiểu đoàn ba cũng tiến bước, Pa-ven đi đầu trung dội của mình.

        «Một hai, này, này...» — anh nhẩm đếm bước.

        « Một hai, này, này...» — Như có một cái gì thôi thúc trong người anh. Cảm thấy mình nhẹ nhõm lạ thường, như không có trọng lượng trong không khí, anh nhìn lên nhóm người đứng ở cổng ra vào, với nét mặt sung sướng và ngạc nhiên. Một tiếng gọi từ phía ngoài làm anh phải quay lại.

        — Pa-sa! Pa-sa! — Một người nào đó vừa chạy xuyên qua hàng người vừa gọi.

        — Pi-e Ki-rin-lứt! — Pa-ven gào to.

        Đủng là Pi-e Ki-rin-lứt Oóc-lốp, nhà cơ học kiệt xuất, người thầy giáo đầu tiên của anh và là bạn thân của bố. Ông già người cao to, râu bạc trắng, đội chiếc mũ lưỡi trai đen, thời bấy giờ người ta ít đội, đang rối rít vẫy tay.

        — Pi-e Ki-rin-lứt! — Pa-ven xúc động, gọi lại. Anh không thể dừng chân được.

        — Pa-sa, đừng... khinh suất nhé! — Ông già gào lên lanh lảnh —  Có nghe rõ không: đừng khinh suất nhé!...

        Tựa như có cái gì đó trào lên cổ, Pa-ven thở dồn, cố kìm cơn cho thắt đau nhói, bước vội qua cổng, chẳng nhìn thấy gì trước mặt

        — Những người thợ mỏ và thợ luyện kim muôn năm! Những người Xô-viết vô địch muôn năm ! — Từ phía sau vọng lại những tiếng hô vang to, kéo dài.

        Qua khỏi cổng được mấy bước, Pa-ven mới biết là trên đường phố ban mai này không phải chỉ có một mình anh và các chiến sĩ cùa anh. Dọc hai bên đường đầy người, đông nhất vẫn là các bà, các chị. Họ chạy dọc theo đoàn quân tựa như trời báo trước cho họ biết cuộc xuất quân của trung đoàn. Ra tiễn người thân đi vào trận đánh là những ông già, những bà mẹ với các gói thức ăn, những người vợ mang theo con nhỏ và những cô gái — người yêu Khi nhận ra những người thân của mình trong đoàn quân, họ vừa vội bước theo vừa gọi, vừa nói chuyện, cầu phúc và chia tay.

        — Mi-chi-a Len-nốt-sca gửi lời chào con dấy! Nó viết rằng, nó tới nơi bình yên, Mi-chi-a!— Người đàn bà đứng tuổi quàng khăn trơn trên vai nói như gào lên. Không theo kịp người con đã tiến lên phía trước, bà cố hết sức đi sát bên người Pa-ven.

        Và kỳ lạ thay, nhịp bước của trung đoàn mỗi lúc một nhanh hơn trên đường phố, Những người đàn ông rất sung sướng khi nhận ra người thân ruột thịt của mình. Họ lên tiếng gọi và khuyên răn nhau một điều gì đó. Tuy vậy, hàng trăm đôi chân vẫn nện mỗi lúc một nhanh hơn xuống mặt đường đá sỏi, như thể những người con, người chồng, người yêu này muốn vội vã thoát khỏi cái cảnh bịn rịn của tình yêu và nước mắt, đã phục kích đón chờ từ ngay phút bắt đầu lên đường.

        — Xa-sca, em quên không nói. Xa-sca dừng lại một chút đã nào! — Một giọng yếu ớt, cuồng nhiệt cất lên. Một người con gái trẻ, mặc áo vét ngắn, cố đuổi theo ai đó, huých cả vào tay Pa-ven.

        — Đứng lại đã nào... Em muốn nói với anh... Xa-sca!... Xa-sca ! —  Chị gọi người nào đó. Giọng của chị chìm hằn trong tiếng ồn ào đều đều và lạo sạo.

        Đầu hàng quân mất hút ở cuối dãy phố với những hàng giậu dài thăm thẳm, những giàn xây và các khoảng trống. Và cũng chinh ở đấy những bóng người hối hả đã mất hút trong ánh sáng lờ mờ ẩm ướt của buổi sáng mùa thu. Một phụ nữ cao, đi ủng, mặc blu dông nam bằng lông chạy ngược chiều đoàn người. Chị đứng lại trong giây phút để nhìn hàng quân, lát sau lại chạy tiếp. Từ xa đã nghe thấy tiếng gọi ú ớ của chị, và khi đến gần, Pa-ven mới nghe rõ:

        — A-nhi-xi-mốp! Anh ở đâu ? Các anh có nhìn thấy A-nhi-xi-mốp không?

        Pa-ven quay lại và đưa mắt tìm người thợ mỏ, nhưng anh ta vẫn bình thản bước đều và không hề có ý định đáp lại.

        — Vợ anh phải không? — Không kìm được, một người nào đỏ đi bên cạnh nói.

        Anh thợ mỏ không trả lời.

        — A-nhi-xi-mốp! Anh ấy ở đâu thế nhỉ?... A-nhi-xi-mốp ! —  Người phụ nữ tức giận lặp lại. Chờ đến khi chị ngang hàng với mình, anh ta mới niềm nở trả lời:

        — Anh ở đây, ngay trước mặt... Đừng gào lên như vậy, Ma-ru- xi-a !

        Người phụ nữ dừng lại và bực bội kéo chiếc khăn trùm đầu xuống.

        — Đồ quỷ, anh làm sao thế! — Chị vừa mắng vừa đi bên hàng quân. Mà anh cũng không trả lời... Còn em thì chạy suốt hàng quân.

        — Thôi, tình hình ở nhà ra sao? — A-nhi-xi-mốp hỏi. Anh đi ở hàng thử ba tính từ ngoài vào nên phải nói to gần như gào. — Đã thu hết khoai tây chưa, không bị giá rét chứ?

        — Thứ khoai tây ấy thì để làm gì cơ chứ? — Chị nói vẻ nồng nhiệt và bất ngờ lại gọi to hơn: — Pê-chi-a-sa! ... — Chị vừa gọi vừa cố chạy lên phía trước để nhìn chồng rõ hơn.

        — Thôi, im đi! Ma-ru-xi-a!— A-rìhi-xi-mốp dịu dàng nói —  Anh cũng như tất cả mọi người thôi...

        Bỗng chị khóc rất to, chẳng thẹn thùng gì cả. Khuôn mặt còn khá trẻ với những đường nét thanh tú lúc này nhăn lại và trông thật tội nghiệp.

        — Đừng làm thế nữa, đừng làm thế nữa. —A-nhi-xi-mốp khẩn khoản. — Sao, em làm sao thế? Thật là ngớ ngẩn. Anh sẽ trở về mà... Anh nói là anh sẽ trở về! Đánh xong bọn Đức sẽ về, dứt khoát dấy!

        Chắc là anh rất thương vợ và cũng ngượng ngùng với các đồng chí. Còn những người^khác thì cố làm ra vẻ không trông thấy gì...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Năm, 2020, 02:24:07 pm

        A-nhi-xi-mốp nhìn đồng đội và không hiểu sao anh nháy nháy mắt với mọi người. Sau đó anh ngẩng cao đầu, đề lộ cục hầu khá nhọn trên cò, cất giọng hát:

        — Bọn Đức đã đến gần.
        Tôi sợ...


        Người phụ nữ không khóc nữa và nhìn chồng bằng con mắt ngạc nhiên, rớm lệ.

        — Hãy tiễn anh đi.
        Ma-ru-xi-a yêu quý!


        Người thợ mỏ hát với giọng nam cao khàn khàn nhưng dễ nghe.

        Trong các hàng quân, mọi người bắt đầu mỉm cười, phía sau cỏ tiếng cười khuây khỏa.

        « Cừ lắm! » — Pa-ven thầm nói với vẻ biết ơn. Một người nào đó sung sướng kêu lên:

        — Đấy, thế mới là phong cách của chúng ta... Tôi yêu lòng can đảm!

        — Đừng buồn cô gái ơi! Hãy chờ tin chiến thắng! — Một người nào đó nói theo.

        Người phụ nữ chạy lên phía trước, đứng lại không rời mắt khỏi chồng. Bỗng nhiên trên khuôn mặt mới khóc hãy còn đẫm lệ ánh lên vẻ phấn chấn, tuy rụt rè nhưng không giả tạo. A-nhi-xi-mốp đi qua gật dầu với chị, bộ râu xồm xoàm của anh ta dựng đứng trên cổ bành tô.

        — Tạm biệt! Em cẩn thận nhé... — Anh chào !

        — Pê-chi-a-sa! — Người phụ nữ thốt lên giọng âu yếm, dịu dàng.

        Như chôn chân ở một chỗ, chị buông tay và không bước thêm bước nào nữa...

        Buồi sáng đến chậm chạp. Bầu trời trên các nóc nhà chỉ hơi xanh hơn một ít. Một làn gió hiu hiu hiếm hoi ít thấy trước đây tràn qua hàng quân tỏa vào mặt mọi người và như mơn trớn với các mái tóc trăn.

        ... Tiến lên chờ đón ánh bình minhy
        Các đồng chí quyết lao vào chiến đấu..,


        Tiếng hát đều và trẻ của các chiến sĩ đội diệt tăng vang lên từ đầu hàng quân,

        Ta mở đường tiến lên
        Bằng gươm và súng đạn...

        Phần cuối được hát to hơn, nhiều giọng hát mới đã hòa vào với những giọng trẻ trung.
     
        Mãi đến khuya, bà An-na-grô-mô-va mới về nhà và rất dõi ngạc nhiên khi nhìn thấy cô cháu dâu đang ngồi ở bậc thềm rét run và mệt mỏi vì phải chờ lâu.

        — Sao cháu lại ngồi ở đây thế này? — Bà già nghiêm giọng hỏi Na-ta-sa, và chị phải ấp úng giải thích sự xuất hiện đột ngột của mình.

        — Thế cháu biết làm gì cơ chứ ? — Sờ sợ trước giọng nghiêm khắc của bà cô chồng, Na-ta-sa nói — Trong nhà không có một ai. Cửa lại khóa...

        Khi thấy cửa khóa thật, bà An-na mới giật mình dẫn Na-ta-sa vào nhà và bật đèn, bà ngạc nhiên nói:

        — Ông A-li-ô-sa lại biến đi đâu mất rồi? Rõ ràng là ông ấy không chịu đến « Nê-va ». Trời ơi!

        — Cháu không hiểu gì cô ạ! — Na-ta-sa trả lời.

        Ở trong phòng ấm áp sáng sủa, Na-ta-sa vui vẻ hẳn lên và tò mò nhìn xung quanh.

        — Cô ơi, thế anh Pa-ven ở đâu? Khi nào anh ấy về hả cô? —  Chị hỏi bà An-na.

        — Pa-ven hả?...— Bà già lặng im, chăm chăm nhìn Na-ta-sa —  Nhưng cháu cứ ngồi xuống đã, sao lại đứng như vậy ? — Bà nói, giọng dịu hơn. — Pa-vcn của chúng ta còn lâu mới về.

        ... Đêm đó, hai người phụ nữ hầu như không ngủ. Sáng hôm sau, theo lời chỉ đường của bà cô, Na-ta-sa đi tìm trung đoàn tình nguyện tự vệ công nhân.

        Buổi sáng cuối tháng mười ẩm ướt và buồn thiu. Đằng tây một đám mây thấp nặng nề trôi và trên nền sẫm của nó, mập mờ hiện ra những ngôi nhà gỗ ở khu Bờ sông. Sau một đêm, mặt đất biến thành vũng bùn sền sệt phù khắp các vỉa hè, không khí ẩm ướt, buồn tẻ, chán chường. Hôm qua, nhìn thành phố chìm trong ánh pháo sáng lạnh lẽo, trong đám mây đỏ lừ bao phủ một khoảng trời, trong ánh lửa chập chờn đang nghiến ngấu mặt đất, Na-ta-sa cảm thấy sau những biến động của một đêm anh dũng, rất căng thẳng với những loạt súng rung chuyển, chị dường như rơi vào một thành phố nào đó hoàn toàn khác.

        Tin Pa-ven gia nhập trung đoàn công nhân không làm chị ngạc nhiên: ở T., nơi mà từ cậu bé cũng xung phong chiến đấu với giặc thì làm sao Pa-ven có thể đứng ngoài cuộc được. Chị chỉ tiếc rằng anh đã không đợi được. Chị chỉ tiếc rằng anh đã không đợi được chị. Sau đó, nỗi lo lắng cho Pa-ven đã xâm chiếm người chị và chị đã thương cho chính bản thân mình. Lần đâu tiên trong đời, chị cảm thấy buồn thương thực sự. Và lúc này ý muốn chóng được gặp Pa- ven thôi thúc chị bước nhanh trên đường phố. Nhưng không phải để vĩnh biệt anh — ý nghĩ này làm chị hoảng sợ — và cũng không phải để hỏi han là sau này chị sẽ sống ra sao. Điều quan trọng, là theo bản năng chị muốn tận mắt trông thấy Pa-ven không làm sao, vẫn sống mạnh khỏe và yêu chị như xưa.

        Na-ta-sa đi qua chiếc cầu bắc qua dòng sông đen ngòm. Nhớ lời dặn của bà An-na, chị rẽ theo đường tàu điện. Có lẽ, chị đã đến đúng nơi đêm qua chị đã đi, nhưng lúc này chị không nhận ra chúng nữa. Những ngôi nhà cửa kính dán giấy kín mít, những đại lộ với hàng cây trơ trụi, những quảng trường vắng lặng với những cột gang xám xịt đã gây cho chị cảm giác lạnh lùng, cô quạnh đến nỗi có thể gào lên được vì buồn tẻ. Từ trong cửa sổ vuông đầy hơi nước của hiệu thuốc trước mặt Na-ta-sa tỏa ra ánh sáng của hai ngọn đèn —  một màu xanh, một màu da cam. Trên biển quảng cáo hiệu ảnh có tấm hình em gái mặc áo đen với đuôi sam vắt trên khuỷu tay. Na- ta-sa chăm chú nhìn những tấm ảnh trên đó. Tất cả những chi tiết mà Na-ta-sa nhìn thấy trong buổi sáng sớm bình thường đến một cách chậm chạp trên thành phố này tưởng như chỉ là những điều vụn vặt, nhưng lại làm cho chị càng thêm lo lắng.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Năm, 2020, 02:24:40 pm

        Cứ đi dọc theo đường tàu diện, cuối cùng rồi chị đã đến ngôi nhà bốn tầng màu xám của trường trung cấp cơ khí: hai đầu có hàng rào ngăn cách. Tim Na-ta-sa đập mạnh, khi chị đọc xong bảng chữ trước cửa, chị chạy đến chiếc cổng đóng kín: theo lời bà An-na thì lúc này Pa-ven đang ở đâu đây. Người lính gác cầm súng trường ngăn chị lại ờ trước cổng ra vào. Na-ta-sa vội vã nói cho anh ta biết rằng chị là ai và đi tìm người nào. Người lính định phản đối Na-ta- sa điều gì, nhưng chị hồi hộp đến nỗi không nghe hết lời anh ta.

        — Đây là giấy tờ của tôi... Tôi đến tìm gặp chồng là đồng chí Grô-mốp. Tôi từ Mát-xcơ-va tới... Anh hãy xem giấy tờ đi. — Chị khẩn khoản lặp lại và đưa giấy phép của minh ra.

        Một người phụ nữ cũng đứng trước cổng, khẽ chạm vào khuỷu tay Na-ta-sa.

        — Chị phí công mà nằn nì thôi ! — Bà nói vẻ thông cảm —  Chị sẽ chẳng tìm thấy ai ở trong này đâu...

        Na-ta-sa hoảng hốt nhìn người phụ nữ.

        — Tôi định mang đến cho con tôi chiếc áo len dài tay nhưng chậm chân. — Bà ta nói thêm.

        — Thế họ ở đâu? — Na-ta-sa hỏi, đôi mắt nâu thẫm ánh lên vẻ không hiểu và khẩn khoản.

        — Người ta đã nói với chị rồi thôi: sáng sớm nay tất cả mọi người đã ra trận địa rồi.

        — Ôi, chị nói gì thế? — Na-ta-sa không tin.

        Trận địa — đấy là một cái gì đó gắn liền với mặt trận, với những trận đánh, chị thầm nghĩ rằng từ nay đến hết chiến tranh sẽ không còn được gặp Pa-ven nữa.

        — Sáng sớm nay... Thật là rủi ro! Trời ơi, sao mà không may đến thế! — Chị thốt lên. — Thế trận địa của họ ở đâu?

        — Ôi, cái này thì chẳng ai người ta nói cho chị đâu — người phụ nữ nói.

        Trông hình dáng bên ngoài, người phụ nữ trạc độ bốn mươi. Dáng người dong dỏng, đôi mắt to, xanh lơ nổi bật trên khuôn mặt xương xương còn khá hấp dẫn, tuy đã có những nếp nhăn ở miệng. Có thể nói bà ta thuộc loại người trẻ lâu. Bà mặc áo bành tô sẫm, sạch sẽ và quàng chiếc khăn thơm tho trên cổ.

        — Thật là cứ chóng cả mặt. — Sau một vài giây im lặng, bà thú nhận, — chẳng biết nên đi về hay là chạy ra trận địa.

        — Chạy đi đâu, nếu chị không biết rõ trận địa ở chỗ nào? —  Na-ta-sa nói.

        — Cũng không khó tìm lắm đâu... Nó ở gần đường cái, không thể ở nơi khác được, có thể ở chỗ nhà máy gạch hoặc vườn hoa văn hóa...

        — Trận địa ở trong vườn hoa ư? — Na-ta-sa ngạc nhiên —  Không thể nào như thế được!

        — Rất có thể có đấy! — Người phụ nữ nói — Chúng tôi đã đào công sự ở đấy.

        — Bây giờ đi ra đấy đi, — Na-ta-sa đề nghị — Ta cùng đi đi...

        — Mười hai giờ tôi phải đi làm. Tôi e không kịp... Nhưng chả lẽ lại không đi? — Bà lầm bằm như tự hỏi mình — Cũng cần phải gửi chiếc áo len dài tay cho thằng con trai.

        — Đấy, chị thấy đấy! Tất nhiên là cần phải gửi. — Sợ người phụ nữ thông thạo mọi điều này bỏ chị một mình, Na-ta-sa vội thốt lên.

        — Nào, ta đi theo đường làng thì tốt hon. Như thế sẽ gần hơn. —  Bà nói.

        Họ vội vàng đi theo ngõ hẻm nhỏ, hay chính xác hơn là đi lối quanh co giữa các ngôi nhà. Sau đó, theo người bạn đường của mình, Na-ta-sa luồn qua khe hở ở một hàng rào.

        — Thế ra là chị đi thăm chồng hả? — Người phụ nữ lại bắt đầu nói. — Tôi có con ở trong trung đoàn ấy. Tên nó là Vô-lô-đi-a, Vô-lô-đi-ạ Chi-khô-nốp.

        — Thật may là tôi được gặp chị. Chị tên là gì ạ? — Na-ta-sa hỏi.

        — Tên tôi ư? Tôi là Chi-khô-nô-va Ôn-ga I-li-ni-na. — Chị có tin rằng tôi tự hành hạ mình, là tại sao tôi không giữ Vô-lô-đi-a của tôi lại! — Người phụ nữ nói nhỏ. — Tôi có cảm giác như mới hôm qua lần đầu tiên tôi còn dẫn nó đến trường. Thế mà giờ đây nó đã thành người chiến sĩ trinh sát rồi đấy!

        Họ đi theo bãi trống trần trụi có hàng rào bao bọc ba phía, còn phía khác là một tòa nhà gạch xây dở. Một đàn ngỗng trắng quanh quẩn cách đó không xa, giúi mỏ xuống đám cỏ nâu thẫm. Một đám mây tuyết thấp, xanh thăm phủ kín bầu trời, thấp đến nỗi tưởng như sà xuống đuổi theo hai người. Nhìn ra chung quanh, Na-ta-sa rất đỗi ngạc nhiên, bởi quang cảnh ảm đạm, buồn tênh của khu vực giáp với chính trận địa mà họ đang tìm đến.

        — Ừ, mà ai có thể giữ được Vô-lô-đi-a cơ chứ? — Bà bạn đường của chị vẫn tiếp tục nói. — Nó rất thật thà, can đảm, thẳng thắn... Làm sao nó có thể chịu được cơ chứ? — Chị như muốn tự bào chữa : — ngay từ khi chúng tôi nói về tội ác dã man của bọn phát xít, nó chỉ có một ý nghĩ : đi báo thù. « Tình hình nghiêm trọng đấy, mẹ ạ! — Nó nói với tôi như thế. — Nhưng mẹ đừng lo. Con sẽ giúp bố đánh bọn phát xít». Còn chồng tôi, anh I-van Cxc-nô-phô-to-vich cũng ở mặt trận. Ngay từ tháng sáu, người ta đã động viên anh ấy rồi. — Người phụ nữ tâm sự mà không cần biết Na-ta-sa có nghe hay không. Chắc là bà ta không thể im lặng được trước những ý nghĩ đang nung nấu trong lòng.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Năm, 2020, 02:25:39 pm

        Qua bãi trống, họ lại tới ngõ hẻm và từ đây người phụ nữ tên là Ôn-ga, dẫn Na-ta-sa tới đại lộ rộng, thoai thoải dốc. Sau chỗ ngoặt, một khẩu đại bác xanh phủ kín lưới ngụy trang, đặt ngay trên đường nhựa, bên ngôi nhà lớn với những hàng cột. Những người pháo binh đội mũ sắt đi lại quanh khẩu súng giống như con quái vật sa lưới. Chiếc cổ dài, thẳng với đầu nòng đen ngòm, nhô ra trong màn sương dày đặc trên đại lộ, như con thú dữ đang rình mồi.

        «Chả lẽ đây là trận địa?» — Na-ta-sa thoáng nghĩ. Chị bỗng rảo bước như sợ người ta bắn vào mình. Nhưng ngay lúc đó chị dừng lại chỗ người bạn đường tụt lại sau.

        — Tôi không thể leo nhanh được... — Ôn-ga ngượng ngùng nói. — Tim tôi đập mạnh quá...

        Ở phía trước, trong màn sương mù xám ngắt, hiện ra lờ mờ một vật gì kỳ lạ, khá cao với những đường gãy nét. Đến gần, Na-ta- sa mới nhận ra toa tàu điện, đặt ngang đường phố và chung quanh nó xếp đầy những thùng, hộp, cây cối, rào sắt, gạch đá.

        — Cái gì thế này ? — Chị hỏi to — Chuyện gì thế này ?

        — Chẳng có chuyện gì cả, — Ôn-ga trả lời — một chướng ngại vật bình thường. Ở ngoại ô chúng tôi đã dựng rất nhiều chướng ngại vạt thế này.

        — Chị chờ tôi một lát... Chị thứ lỗi cho nhé! — Bà ta vừa thở vừa khàn khoản.

        — Thế chị để tôi dìu tay nào, — Na-ta-sa đề nghị.

        — Không sao, tôi đi bây giờ đây, cảm ơn. — Người phụ nữ nói.

        Từ phố bên cạnh, một chiếc xe tải phủ vải bạt lao ra, rồi chạy ngược chiều. Trên nền tráng của thùng xe hiện ra một chữ thập đỏ tươi tắn. Chắc là họ mới sơn lại xe. Hai người đàn bà sợ sệt đưa mắt nhìn chiếc xe cứu thương và hầu như cùng nghĩ tới một điều kinh hoàng nào đó. Cũng may là trên xe không có người.

        — Ta đi thôi... kẻo không lại muộn mất! — Na-ta-sa nói.

        Chị cứ lo ngay ngáy trong lòng là bất cứ giây phút nào đó súng có thể nổ và sẽ không được gặp Pa-ven của mình.

        — Ừ đúng rồi, ta đi thôi! Tôi cũng còn phải đi làm cơ mà ! — Ôn-ga sực nhớ ra.

        — Cả trong bọn trẻ, giữa các đồng chí của mình, Vô-va1 cũng là đứa đầu tiên. — Cố gắng theo kịp Na-ta-sa, bà ta lại lắp bắp nói: — trong nhà tôi lúc nào cũng có cả một đơn vị bọn chúng. Tất nhiên, trước đây chúng còn là trẻ con, bây giờ đã trở thành người lớn rồi.

        Men theo lối nhỏ bên cạnh, Ôn-ga và Na-ta-sa vượt qua chướng ngại vật và họ nhìn ngay thấy nhiều người đang đào hào ở đó. Bên dải cát vàng nhạt trên bờ, những cái đầu quàng khăn, những đôi tay đeo găng lao động, những cái xẻng lố nhố khắp nơi trong lòng đường phố, đất đá bay rào rào lên không và những hòn dá nhỏ lăn đi rất xa.

        Một cô gái mái tóc rối bù đứng trên tấm gỗ bắc ngang qua hào.

        — Đắp cao lên các bạn ơi! — Cô gái nói to — Để cho Hít-le gãy chân ở đây! Để cho cái thằng đáng nguyền rủa ấy không rút ra khỏi đấy!...

        — Ta-nhi-a, ở đây có cái ống gì ấy! — Một giọng nữ vang lên. — Làm thế nào bây giờ ?

        — Lại còn ống nào nữa nhỉ? — Cô gái bực dọc hỏi.

        Một ông đeo kính, đội mũ phớt rướn thẳng người lên nhìn, tay vẫn giữ nguyên xẻng đất.

        — Tôi cho rằng đây là ống dẫn nước, — ông nói, — theo tôi, tạm thời đừng động đến nó.

        — Đúng đấy! — Cô gái gào lên. — Tạm thời đừng động đến nó, chị Phê-đô-nốp-na.

        — Cần phải biết xem người của chúng ta đi đâu rồi ? — Người bạn đường của Na-ta-sa nói. — Đợi một tí, tôi hỏi thăm ngay bây giờ,

        Bà vội vàng đến mép hào và tìm xem nên hỏi ai. Mọi người đã đào đến thắt lưng, họ làm việc rất khẩn trương và sôi nổi. Na-ta-sa chú ý đến một em bé gái khoảng mười bốn, mười lăm tuổi, mặc chiếc bành tô quá rộng, chác là của mẹ. Em phải nâng cao chiếc xẻng để hất đất lên trên, tay áo bành tô tụt xuống đến khuỷu để lộ ra đôi tay nhỏ rất trắng. Môi mím chặt, mặt đỏ nhừ, nhem nhuốc, em có vẻ như đã kiệt sức. nhưng vẫn cứ tiếp tục đào.

        Nhìn em gái, Na-ta-sa thấy bối rối... « Chỉ cần thấy được Pa-ven, sau đó mình sẽ đào, làm việc như tất cả mọi người... » — chị nghĩ thầm.

        Một người phụ nữ tóc đen, thân hình cân đối với bộ ngực nở nang mặc blu dông da đã sờn, kéo lê chiếc xẻng trên mặt đất.

        — Ta-nhi-a, tớ chạy về nhà nửa tiếng nhé! — Chị nói như hát, giọng trầm trầm, ấm. — Đến giờ tớ phải cho con bú rồi!

        — Nhớ đấy, chỉ nửa tiếng thôi, — cô đội trưởng nhắc nhở.

        — Như tới hiệu thuốc thôi... Tớ không phải đi xa. — Chị vén váy lên để lộ đôi chân đẫy đà và trèo lên khỏi hào giao thông.

        Ôn-ga quay lại chỗ Na-ta-sa.

        — Chẳng ai biết rõ là họ ở đâu ? — Với vẻ lo lắng và thất vọng, chị ta báo tin. — Người ta nói, chắc chắn hơn cả là ở Vườn hoa văn hóa.

        Theo lối dường nhựa mà xà beng chưa động đến, họ đi sang bờ bên kia của hào giao thông.

        — Nhanh tay lên nào, các bạn ơi! — Giọng cô đội trưởng vang lên sau lưng hai người. — Nhin-ca, đưa tớ chiếc xẻng của cậu, còn cậu hãy ngồi nghỉ đi một lát!

------------------------
        1. Tên gọi Vô-lô-đi-a một cách trìu mến.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2020, 11:08:05 am

        Chắc là ranh giới thành phố cách đây không xa: xen kẽ với những tòa nhà đá cao, mới xây, đã bắt đầu xuất hiện những ngôi nhà gỗ một tầng.

        Tháp nước cao mái nhọn, sừng sững trong sương mù như vọng gác của thành phố. Ôn-ga rẽ sang phải, và từ đây hiện ra dãy nhà dài thấp lùn chung quanh có hàng rào gang.

        Từ đó, ở một vài ô của sổ còn tỏa ra ánh sáng vàng ệch màu hồ phách giống như ánh sáng của ngọn nến. « Bệnh viện thành phố », Na-ta-sa đọc nhanh hàng chữ nổi trên tấm biền am-pi ở sâu trong sân.

        Nhảy chồm chồm trên con đường lổn nhổn gạch đá, ba chiếc xe quân sự màu xanh, xếp dày những hòm kim loại, lao nhanh qua phố xá. Tiếp theo là một toán đàn ông mặc áo quần dân sự nhưng lại đeo súng trường cũng đuổi kịp Na-ta-sa. Từ trong hàng cây, bất ngờ hiện ra cái cổng gỗ dán có treo tấm biền màu hồng đã phai bạc vì nắng mưa. Chắc đây là cổng vào Vườn hoa thành phố. Trong Vườn hoa, những người được vũ trang giãn ra thành hàng một lẫn mình trong các bụi cây.

        — Trước kia Vô-lô-đi-a hay đến đây lắm, — người bạn đường của Na-ta-sa nói. — Mùa đông ở đây có trạm trượt tuyết, cả sân băng nữa. Cho nên ngày nào cũng vậy, cứ sau khi đi học về là nó chạy đến sân băng...

        Bà chưa kịp nói hết, thì ở ngay bên cạnh vang lên tiếng nổ đanh, chói tai, như có người nào đó đập quả tạ sắt xuống đá. — Na-ta-sa kêu lên và nắm lấy tay người bạn đường. « Đã bắt đầu rồi dấy! — Một ý nghĩ thoáng qua trong đầu — Mình lại chậm rồi! ». Nhưng tiếng nổ của sắt thép im bặt một cách đột ngột như khi bắt đầu và trong bầu không khí yên lặng trở lại, chị nghe thấy tiếng xào xạc của cành cây trên đầu.

        — Phải chăng đã bắt đầu bắn nhau ? — Ôn-ga nói, giọng nhỏ nhẹ. Bỗng nhiên bà nhào người khỏi chỗ ngồi và chạy đến cổng. Na-ta-sa đuổi theo sau.

        Tiếng súng máy lại vang lên và chị vô tình nhắm mắt lại. nhưng văn cứ đi. Khi loạt súng im bặt, Na-ta-sa hé mắt và nhìn thấy phía bên trong cổng, hàng bạch dương già tuyệt đẹp chạy sâu vào vườn hoa. Những thân cây tráng, thẳng như cột nhà, mất hủt trong lớp cành trần trụi mờ mờ như khói phủ. Đi theo hàng cây là toán người đeo súng trường và ba chiếc xe xanh đã vượt hai người ở phố. Na- ta-sa nhìn rõ một cách lạ thường tất cả những cảnh này. Như vấp phải đá trong khoảnh khâc, Na-ta-sa sững lại, chị văn chưa tin vào chính mắt mình. Bên gốc cây gần đấy, Pa-ven, chồng chị đang đứng nói chuyện với một người nào đó mặc áo ca pốt. Chị nhận ra anh bởi dáng người, bởi cái đầu hơi nghiêng sang một vai, bởi chiếc mũ da hươu sần sùi đội lệch về đàng sau.

        — Páp-lích Pa-ven, anh không thấy gì sao!... — vẻ trách móc, chị gọi to, và lao nhanh giữa hàng cây.

        Pa-ven quay phắt lại, trên khuôn mặt anh hiện rõ vẻ ngạc nhiên và có vẻ như là bực bội.

        — Em đây, em đây mà! — Tưởng Pa-ven không nhận ra mình chị cố gọi thật to.

        Lao người tới Pa-ven, chị ôm ghì lấy anh và như thể theo quán tính, chị gục đầu vào ngực anh và cảm thấy mình bé bỏng, trẻ trung, yếu đuối hơn và như có phép mầu nhiệm, chị lập tức thấy lòng thanh thản lại.

        Ngỡ ngàng, Pa-ven dịu dàng đang tay trái ôm lấy cổ vợ, chằm chằm nhìn chị như thể còn nghi ngờ: chả lẽ lại là cô ấy? Mãi lát sau anh mới ngước đôi mát bối rối nhìn đại đội trưởng, người vừa mới nói chuyện với anh.

        — Vợ cậu đấy à? — Anh ta nghiêm giọng hỏi.

        — Vâng... Thế là cô ấy đã đến. — Pa-ven ấp úng trả lời,

        Cả hai người cùng im lặng nhìn người phụ nữ trẻ trung, nhỏ nhắn, mặc áo bành tô xanh, đội mũ nồi dựng đứng lên mái tóc váng óng.

        Na-ta-sa cựa minh và ngẩng đầu lên.

        — Páp-ỉích, ta đi đâu đi, — chị nói giọng rất thản nhiên.

        Người trung úy đại đội trưởng còn trẻ hơn Pa-ven nhíu đôi lông mày đen dày, nghiêm khác nhìn trung đội trưởng của mình, rồi quay ngoắt lại, đi thẳng.

        — Chúng mình đi ngay bây giờ, bây giờ, — Pa-ven nói. — Thế là em đã đến, Na-ta-sca! — Anh thốt lên — Đây thật là một điều tuyệt vời, em đã đến đây! Bây giờ anh sẽ thu xếp hết.— Nhích người sang một bên, anh nói với chị: — em đứng đây một tí. — Anh nhào người đuổi theo trung úy đại đội trưởng của mình.

        Na-ta-sa sửa lại áo và ngắm nhìn mình. Một cảm giác thoải mái dễ chịu không tài nào tả nổi choán lấy người chị. Sau khi đã tìm thấy Pa-ven, vẫn lành lặn và đối với chỉ vẫn rất yêu quý, thân thương như trước, chị không còn lo lắng gì cho mình và cho người khác nữa bời vì theo chị, không thể có gì khủng khiếp xảy ra với họ được nữa. Nhớ đến Ôn-ga, chị đưa mất tìm, nhưng không thấy đâu cả. Chị nghĩ chắc là người bạn đường của chị cũng đã tìm thấy con và cũng đã quên mất chị. Nhìn theo Pa-ven từ đằng xa, Na-ta-sa vô cùng sung sướng vì trông thấy anh vẫn to, cao, năng nổ, không hề thay đổi và vì đã nhanh chóng trút được nỗi kinh hoàng mới đây.

        Từ chỗ trung úy, Pa-ven chạy về với chị, khuôn mặt rạng rỡ.

        — Hẳn nửa tiếng, họ giải phóng... U-ra! — Vừa chạy, anh vừa reo lên.

        — Sao lại nửa tiếng? — Na-ta-sa ngạc nhiên rất chất phác.—  Chỉ có nửa tiếng thôi ư?


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2020, 11:35:21 am

        Nhưng giờ đây chị cảm thấy hạnh phúc đến nỗi không cần đề ý đến những lời nói của anh nữa.

        — Rất tốt là em đã đến đây. — Pa-ven lặp lại rất to và đầy xúc động. — Làm sao em lại quyết định đến đây? Hử, cừ lắm!

        Anh nắm chặt bàn tay chị và đan lấy mấy ngón tay chị trong lòng bàn tay mình.

        — Chúng mình đã quy ước là em đến chỗ anh rồi cơ mà! —  Chị nói, giọng lạc đi.

        Cũng như mọi lần, khi họ đi bên nhau, từ phía dưới, chị chỉ nhìn thấy cái cằm, hàng lông mi và những sợi tóc bướng bỉnh trên trán. Nhận thấy tất cả đều như xưa và không hề thay đồi, Na-ta-sa cảm thấy vô cùng mãn nguyện.

        — Anh đã viết cho em về tất cả mọi điều, Na-ta-sca. — Anh nói— Em có hiểu không, tình hình biến chuyền đến nỗi anh không thể ở lại hậu phương.

        — Em chẳng nhận được gì cả, nhưng chủng mình đã giao hẹn với nhau rồi cơ mà! — Chị lặp lại.

        — Đúng, đúng rồi! — Anh xác định. — Em hiểu không, anh đã hai lần nộp đơn xin gia nhập trung đoàn.

        — Em chẳng biết gì... Chắc là thư bị lạc... — Na-ta-sa nói.

        Vì chị hân hoan đang được đi bên Pa-ven, đang được nghe giọng nói của anh, nên lời trách móc bưu điện nghe đặc biệt âm vang vui vẻ.

        — Em biết không, hôm qua anh còn tiếc là không có em ở đây, hôm qua anh còn nghĩ về điều này. — Pa-ven nói.

        Về phần mình, anh rất biết ơn chị, vì chị đã tới đây. Anh muốn kể cho Na-ta-sa nghe ngay tất cả mọi điều đang nung nấu, đang sôi động trong lòng anh.

        — Ở chỗ anh xảy ra một việc! — Anh tiếp — Chuyện này khó kể lắm. Cần phải chính mình tham gia vào việc này thì mới có thể.

        — Làm sao anh lại có thể nghĩ rằng em không đến đây nếu chúng mình đã giao ước với nhau. — Chị trách anh.

        — Ừ nhỉ... Em thứ lỗi cho anh. — Pa-ven nhận lỗi. — Em cũng biết đấy, tình hình rất căng thẳng... Nhưng má... ôi, thật tiếc là sáng nay em không đến lúc bọn anh ra quân !...

        — Em đã đến đây từ hôm qua cơ đấy! — Chị nói.

        — Em nói gì thế? Từ hôm qua cơ à?

        — Thật đấy, từ đêm qua... Em mò mẫm khắp thành phố và lạc cả vào hầm trú ẩn nữa. — Chị nghiêng đầu sang một bên để nhìn rõ Pa-ven hơn. — Như một Ô-đi-xê chính hiệu. Khi không thấy anh ở nhà, em rất sợ. Em tưởng có chuyện gì đó xảy ra với anh. Té ra anh đi chiến đấu!

        Trong trung đội anh có nhiều bạn cũ. — Pa-ven vội vã sung sướng cướp lời chị. — Va-nhi-a Bô-cốp này, Trô-sin này, anh đã kể với em rồi. Những cậu bạn tuyệt vời! Bọn anh cùng lớn lên, sau đó cùng học với nhau và...

        — Em đã làm quen với cô anh rồi, — Na-ta-sa ngắt lời Pa- ven, — với cô An-na của anh...

        — Dã làm quen rồi cơ à ? — Pa-ven nghiêng người, nhìn vào đôi mắt nâu thẫm, lòng trắng hơi xanh, dịu dàng, cái mũi nhỏ đáng yêu, trắng ra vì giá rét, cái môi dưới màu hồng hơi nhô ra và...

        — Còn ông bố thì không muốn đi khỏi thành phố. — Pa-ven nói điều này bằng giọng rất kích động và hạnh phúc. Ông già bướng bỉnh như trẻ con và không thể nào khuyên được. Bố đã già lắm... Còn bố mẹ em thế nào ?

        — Đã đi sơ tán... Cả mẹ và Ma-ri-na. Dĩ nhiên là mọi người đều ôm và hôn anh.

        Cứ như vậy họ cướp tranh lời nhau, nhảy từ điều này sang điều khác, cố nói những gì quan trọng nhất đã xảy ra, khi hai người sống xa nhau. Hai người tới một cái sân có vòi phun nước ở giữa và họ đi dạo vòng quanh nó mấy vòng.

        — Em chóng cả mặt, lạy trời, — Na-ta-sa nói. — Chúng mình ngồi xuống đâu đi, Páp-lích!

        Na-ta-sa đảo mắt nhìn chung quanh và mãi tới lúc này chị mới nhìn kỹ vòi phun nước với những giọt nước giống như nước mưa bắn ra tận bờ bức tượng một cô gái cao lớn bằng thạch cao cầm mái chèo đứng sừng sững ở đảo giữa. Những chiếc lá rụng nằm trên đôi vai trần, trắng của cô, bơi trên mặt bể nước đục ngầu, chúng phủ khắp nơi trong vườn hoa một màu nâu ẩm ướt và hầu như không còn lạo sạo dưới chân nữa. Ở đầu đường chính có hai quầy hàng, trên một quầy, Na-ta-sa đọc được tẩm bảng nhỏ đề chữ « Kem » đã phai màu bạc trắng. Dù quay đi đâu chăng nữa, ở mọi nơi họ cũng bât gặp những cây bạch dương thẳng tắp và không hiểu sao, chúng gợi cho ta một ý nghĩ về một điệu nhảy dân gian Nga nhịp nhàng. Lúc này, một đám mây thấp bay lơ lửng trên vườn hoa và trên nền phông khó chịu của nó hiện rõ những thân cây màu sáng thẳng tắp cường tráng với vô số cành con. Phía sâu trong vườn hoa có bóng người lố nhố sau những hàng cây, nhưng ở chỗ này, tại đấy không có một ai, ngoài Pa-ven và Na-ta-sa.

        — Ở chỗ các anh, toàn những bạch dương là bạch dương —  chị nói. — Và sao mà to đến thế! Chưa bao giờ em trông thấy những cây đẹp như thế này.

        — Ừ, vườn hoa tuyệt đẹp... Vườn hoa lâu đời. — Pa-ven thốt lên.

        Vẫn cầm tay Na-ta-sa, Pa-ven dẫn chị đi theo một trong những con đường mòn tỏa ra từ đài phun nước.

        — Mới rồi họ bắn ở đằng kia... rất gần. Bắn gì thế, hả anh ? — Na-ta-sa hỏi.

        — Người ta thử súng máy... Em sợ lắm hả?


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Năm, 2020, 06:50:20 am

        "Chị mỉm cười lắc đầu. Lúc này khi vai chị đang dựa vào lồng ngực nở nang của Pa-ven, khi bàn tay khô, rắn khỏe của anh đang nắm chặt những ngón tay nhỏ nhắn của chị, thì không thể có những điều gì đe dọa nghiêm trọng xảy ra đối với cả hai người được. Trong phút này lòng tin sẵn có của chị vào Pa-ven, vào tình yêu của anh, vào sự cao thượng của trái tim anh là vô tận, như thể trên thế giới này thực sự không có mối nguy hiểm nào mà tình yêu và lòng cao thượng không ngăn ngừa được.

        — Em vẫn chưa nhìn thấy thành phó của anh. Ở đây không chỉ có vườn hoa, — anh tiếp tục, vẻ xúc động. — Không hiểu sao chính anh trước kia cũng ít nhận thấy nó. Hừ, thành phố nào chả là thành phố, hơi bẩn nữa cơ... Và chỉ đến lúc này anh mới kịp nhận thấy thành phố thay đổi một cách khác thường trong những năm gần đây. Còn con người — con người ở đây rất bình thường — chẳng hạn ở trong trung đội anh có A-nhi-xi-mốp thợ mỏ...

        Bỗng nhiên Na-ta-sa cười to.

        — Em làm sao thế? — Anh hỏi và thích thú nghe tiếng cười trong sáng, dễ lôi cuốn của chị. — Em làm sao thế? Em cười gì vậy?

        — Em nhớ lại hôm qua tí nữa em bị lạc trong thành phố của anh, — Na-ta-sa ngả đầu vào vai chồng. — Ôi Pa-sa, nếu mà anh biết lúc đó em cảm thấy mình bất lực như thế nào!

        — Ừ, hiểu quá đi chứ, lần đầu tiên em đến đây mà! — Anh nói. — Thế đấy, A-nhi-xi-mốp... Đây quả là vàng mười, chứ không phải là con người bình thường.

        Pa-ven rất muốn cảm ơn Na-ta-sa một cách chân thành nhất, trìu mến nhất, vì chị đã tới đây, và với cả tâm tình của mình, anh muốn chia sẻ với chị những gì quan trọng nhất, quý giá nhất, mà lúc này anh đang trân trọng nghĩ tới.

        — Thế mình sẽ ngồi xuống đâu ? Na-ta-sa nói.

        Họ đến cuối đường mòn, nhưng chẳng có lấy một chiếc ghế nào cả, dù họ đã để ý tìm. Lúc này, ngay trước mặt họ có bãi cỏ nhỏ với những lùm cây ở chung quanh, trên có chiếc bục gỗ nhỏ đề cho dàn nhạc. Những cái đuôi màu vàng của tràng hoa giấy treo lơ lửng trên nền gỗ ván. Rẽ khỏi đường mòn, Pa-ven đưa Na-ta-sa vào đấy. Ở sâu trong lòng chiếc bục gỗ ngổn ngang những giá nhạc bằng kim loại, lá cây bay cả vào đây, phủ đầy nền gỗ.

        — Thật tuyệt! — Na-ta-sa thốt lên... — Lại còn khô ráo nữa...

        Pa-ven đỡ ngang lưng Na-ta-sa và nhẹ nhàng nâng chị lên bục. Sau đó, tì một tay xuống bậc, anh cũng nhẹ nhàng nâng thân hình to lớn của mình lên. Chỉ có điều là dưới sức nặng của anh những tấm ván oằn xuống và một giá nhạc trượt trên thềm, kêu leng keng.

        Phủi mấy chiếc lá trên mặt cái hòm dài ở đây, anh dịu Na-ta-sa ngồi xuống cùng với minh. Chị nhích lại gần anh và tựa vào vai anh.

        — Toàn bộ trung đoàn của anh là những người tình nguyện. — Anh nói. — Và đây chỉ là phần nhỏ những người nộp đơn tình nguyện. Đảng ủy khu phố ở đây cứ bấn lên với những tập đơn... Từ tờ mờ sáng đến tận đêm khuya, rất nhiều thanh niên mang theo bao đồ cứ ngồi lì ở khu đoàn Côm-xô-môn. Nhiều đoàn từ các nông trang đến đây và đòi gia nhập đơn vị. Em không thể tưởng tượng nổi một khí thế sôi nổi như thế nào dâng lên trong nhân dân! — Và anh lại bắt đầu kể về các chiến sĩ của trung đội do anh chỉ huy, về sáng nay người thầy giáo già của anh tiễn anh như thế nào và về chuyện A-nhi-xi-mốp chia tay với vợ ra sao.

        Na-ta-sa im lặng, mlm cười lơ đãng và hơi căng thẳng, chẳng hiểu gì về những điều Pa-ven nói, chị chỉ chờ đợi đến lúc nào anh mới ôm hòn chị.

        «Nào, nào... sao anh lại thế? Em đây đang ngay cạnh anh...» — Chị thầm nói với chồng. Đôi lúc bị lôi cuốn bởi câu chuyện, anh đặt tay lên đầu gối chị, và mặt Na-ta-sa đỏ nhừ, nín thở, ngoan ngoãn đợi chờ. Nhưng Pa-ven vẫn như không nhận ra điều đó, vẫn cứ say sưa tường thuật cho chị nghe về buổi ra quân của trung đoàn. Những ấn tượng mạnh mẽ và sâu sắc về buổi sáng nay vẫn xâm chiếm người Pa-ven, vẫn chưa rời anh. Và như thể anh trao cho người thân thiết nhất của mình những gì đối với anh rất to lớn và đầy hy vọng.

        Lim dim mắt, Na-ta-sa gục đầu vào tay áo ẩm bằng len của anh. Cả hai ngồi yên không nói một lời khoảng một phút.

        «Páp-lích, anh chẳng hiểu cái gì cả, — chị nghĩ với vẻ dịu dàng và trách móc. — Như trẻ con, như cậu con trai mới lớn thôi, thật thế ...»

        Anh ôm chị mỗi lúc một chặt hơn. Nhưng khuôn mặt hiền từ, hạnh phúc của Pa-ven trong chốc lát trở nên buồn rầu và lo lắng. Bỗng nhiên anh nhớ ra, anh cùng Na-ta-sa chỉ được bên nhau có nửa tiếng đồng hồ và thời gian cho hai người đã gần hết. Chỉ vài phút nữa là vợ anh phải ở lại một mình trong thành phố lạ mà ngày mai hoặc ngày kia kẻ thù sẽ tới.

        Tự nhiên Na-ta-sa mở bừng mắt và ưỡn thẳng người ra. Trong khoảnh khắc này, chị cũng nhớ ra cái thời hạn ngắn ngủi đến phì cười mà họ cho phép Pa-ven. Chị lạnh người đi khi nghĩ rằng lát nữa anh ấy sẽ đi mất. Nhưng mặt anh trông u buồn đến mức, tiếng than phiền chỉ đọng lại trên môi chị.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Năm, 2020, 06:42:49 am

        Tuyết bắt đầu rơi giữa hàng cây, bông thưa và to như cây cải trắng, lững lờ bay xuống vườn hoa, chẳng khác gì một tổ ong khổng lò. Lặng lẽ bay qua bay lại, chúng đậu trên các cành cây, rơi xuống đất rồi lập tức biến mất.

        — Anh trông kìa, tuyết rơi! — Na-ta-sa nói to, cốt đề phá tan bầu không khí im lặng. — Thế là mùa đông đã đến!

        — Ừ, Tuyết rơi... — như tiếng vọng, Pa-ven đáp lại. Nhìn vợ và nghĩ đến những gì đang chờ chị, anh cảm thấy buồn thương lạ thường, là mình không thể làm gì được để thay đổi số phận của chị. Và anh cảm thấy chị có quyền đòi hỏi ở anh nhiều hơn so với những gì mà anh đã làm.

        « Anh ấy đi bây giờ, — Na-ta-sa sợ hãi thầm nghĩ. — Bây giờ anh ấy sắp đứng dậy và nói: «Thôi nhé, đến giờ rồi». Và quay đi». Vừa chờ đợi những lời nói ấy, lòng chị xốn xang, và đề xua đuổi những ý nghĩ ấy đi, chị cất tiếng:

        — Chả lẽ mùa đông đã đến rồi ư ? Sao em thích mùa đông đến thế!... Anh có nhớ chúng mình đi trượt tuyết như thế nào không?

        — Na-ta-sa... — Pa-ven thì thào, — em đừng chán nản. Em là cô gái thông minh và can đảm của anh. Hãy thận trọng, người bạn đời của anh! — Mắt anh nói lên vẻ van nài cầu mong

        Chị gật đầu như hứa với anh sẽ cẩn thận. « Anh ấy đi Bây giờ đây... Anh ấy đi bây giờ đây...» — Chị thầm nói. Và nghĩ tới gì đang chờ đợi chồng chị ở nơi mà anh ấy phải đến, Na-ta-sa bỗng thấy khiếp sợ. Phải chăng điều đó có thể so sánh được với những gì mà chị sẽ phải chịu đựng dù cho có khó khăn vất vả hơn bao nhiêu đi nữa ? Cảm phục lòng gan dạ của chồng, trước ý chí và quyết tâm của anh, chị hết sức tự kiềm chế lòng mình lại.

        — Hai bàn trượt tuyết của anh bây giờ vẫn còn ở chỗ em — chị vội vàng nói tất cả ý nghĩ vụt nảy ra trong đầu. — Thế anh có nhớ là chúng mình định đến núi Chim sẻ không ? Thế rồi cũng không có điều kiện...

        Tuyết rơi xuống dày hơn và lúc này không khí trong vườn hoa sáng sủa ra. Sau làn tuyết như một đàn ong trắng khổng lồ, những cây bạch dương xa như tự biến đâu mất.

        Pa-ven lại lặng thinh, cố tìm lời nào thật hay, làm vợ yên lòng. Chính anh rất yêu vợ, vô cùng lo lắng cho chị, nên anh chỉ có thể hứa những gì là quan trọng nhất đối với tất cả mọi người lúc này.

        — Anh hứa với em, — anh nói và ngừng lại một giây, — anh hứa... Các anh sẽ đứng vững.

        Nhưng mặt anh vẫn còn vẻ ăn năn như thể điều này hãy còn ít đối với vợ. Bỗng nhiên anh nắm chặt tay đến mức xương bàn tay trắng ra và đấm đấm vào đùi mình.

        — Nhất định không có ! — Anh gào lên. — Không có một sức mạnh nào có thể đè bẹp được chúng ta!

        Chị lại gật đầu.

        — Em trông thấy rồi, — chị nói rất âu yếm và bất ngờ nhăn mặt lại, vẻ hối hận. Trong phút này, chị yêu chồng mình mãnh liệt hơn lúc nào hết. Chị ôm choàng lấy cổ Pa-ven, rướn người lên rồi nồng nhiệt hôn vào môi anh. Sau đó, đặt bàn tay vào lồng ngực anh, chị dừng lại.

        — Em chỉ là mụ đàn bà ngu xuẩn, — chị lầm bầm.

        — Na-ta-sen-ca... — Pa-ven kêu lên và lập tức mặt tươi tỉnh hẳn... — Khi chúng mình già nua, chúng mình sẽ có cái gì để mà nhớ lại!

        «Bây giờ anh ấy sẽ đi, — chị lại nghĩ. — Anh ấy sẽ nói: « Anh phải đi rồi », và quay đi. Tất cả những điều đó cứ ám ảnh quay cuồng trong đầu chị và chị gục đầu vào ngực anh.

        — Thôi đến giờ rồi, Na-ta-sen-ca, — đúng là giọng Pa-ven, —  anh đã phải đi rồi!

        Sau đó Pa-ven nói, theo anh, tốt hơn cả là chị đi khỏi thành phố, bởi vì chị cần phải học hết đại học, rằng anh sẽ thường xuyên viết thư cho chị, nhưng Na-ta-sa chỉ hiểu lơ mơ những điều anh nói, tai chị như bị ù lên. Và khi Pa-ven đứng dậy, không hiểu sao chị cũng vội vã đứng lên. Không nhìn chồng, Na-ta-sa tất tưởi sửa lại mái tóc và nhét nó vào mũ nồi.

        Pa-ven nhảy xuống bục, đứng ở dưới đất đợi chị. Chị đi đến mép bục gỗ, mắt vẫn nhìn xuống như sợ nhìn vào anh.

        — Đi đi, mạnh dạn lên! — Pa-ven nói to.

        Dang cả hai tay, ôm lấy vợ, anh bế chị lên và cứ thế bước đi ; mấy bông tuyẽt lạnh rơi vào mặt hị và chị nheo mắt lại.

        Pa-ven đi gần như chạy. Vừa đi anh vừa vội vã hôn lên trán, lên mắt, lên má đẫm tuyết của Na-ta-sa. Anh thì thào với chị những lời căn dặn cuối cùng chỗ gần đài phun nước. Chị loáng thoáng nghe thấy những gì về bố, về bà cô và về việc có thể đi đâu trong trường hợp cấp thiết phải rút khỏi thành phố, nhưng chị không thể hiểu vả nhớ hết được.

        Bên đài phun nước, Pa-ven dừng lại. Anh nhẹ nhàng, thận trọng đặt chị xuống đất và họ im lặng đi theo đường bạch dương ra cổng. Na-ta-sa níu chặt lấy tay anh. Tuyết vẫn rơi dày như thế, trên những chiếc lá nâu xuất hiện những đảo con màu trắng. Thỉnh thoảng Pa-ven lại nhìn về phía sau làn tuyết dày đặc thấp thoáng hình các chiến sĩ.

        — Thế   là chúng mình đã trông thấv nhau, — Na-ta-sa mệt mỏi nói,   khi haingười đi đến gần cổng. Pa-ven mỉm cười, còn chị vội nhìn đi nơi khác, môi dưới run run.

        — Tạm   biệt, Páp-lích! — Chị lúng búng nói như không còn sức nữa.   — Và... và... em rất tự hào về anh. Anh đừng lo nghĩ gì về em. Bây giờ mọi người thế nào thì em thế vậy...

        Pa-ven nhớ ra là sáng nay anh cũng nghe thấy những lời tương tự như vậy. Nhưng đúng ra là lời một người đàn ông an ủi người đàn bà khác. Và anh muốn kể lại điều này với Na-ta-sa. Nhưng một người nào đó đã gọi Pa-ven và Na-ta-sa sợ hãi; ngập ngừng kiễng chân lên, hôn anh một lần nữa ..


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Năm, 2020, 12:09:09 pm

8

        Tờ mờ sáng, Bốt-đa-nốp đi xe đến sườn phải tuyến phòng thủ. Nơi đóng quân của các đơn vị bộ binh được chuyền sang bổ sung cho khu vực chiến đấu T... Đồng chí đại tá chỉ huy ở đây báo cho Bốt- da-nốp biết là đêm qua nhiều tổ chiến đấu bị mất liên lạc với đơn vị của mình, vẫn tiếp tục rút vào thành phổ và theo tin tình báo thì quân địch đã tiến tới vùng Núi Trăng. Sau đó tại cuộc họp của chỉ huy trưởng và chính trị viên các đơn vị trong căn nhà nhỏ trống không, đơn độc ở ngoại ô thành phố, Bốt-đa-nốp đã thông báo vắn tắt tình hình rồi giao nhiệm vụ chiến đấu cho họ. Anh nhấn mạnh là tất cả công việc xây dựng tuyến phòng thủ ngoại vi phải được hoàn thành trong mấy giờ sắp tới, bởi vì ngày hôm nay xe tăng Đức cỏ thể sẽ xuất hiện trước thành phố. Lướt nhìn những khuôn mặt mệt mỏi lấm láp của những người vừa trải qua các trận chiến đấu căng thẳng, Bốt-đa-nốp nói:

        — Các đồng chí chỉ huy hãy chấp nhận, hãy khẳng định một điều là—anh nhắc lại, giọng quyết liệt — là chúng ta sẽ không rút khỏi nơi đây. Trong bất kỳ trường hợp nào cũng không được phép rút lui.

        Anh nhìn người thượng úy mặc áo ca pốt nhàu nát, ngồi trong góc nhà. có dáng ngồi hơi đặc biệt. Anh ta không nhúc nhích ngồi xoãi trên ghế dài và hình như chẳng cần nhìn, chẳng cần nghe xem chung quanh nói gì.

        — Ai có kiến nghị hoặc hỏi gì không? — Bốt-đa-nốp hỏi.

        Các sĩ quan chỉ huy người này nối tiếp người kia, đứng dậy hỏi thêm về nhiệm vụ và báo cáo những nhu cầu của đơn vị mình. Sau những trận đánh nhiều ngày đêm, những nhu cầu này rất lớn và cấp thiết, nhưng bây giờ Bốt-đa-nốp không còn thì giờ chú ý đến điều này nữa. Vừa trả lời những câu hỏi về quân trang, về vũ khí, về lương thực, về sự hợp đồng với các đơn vị bạn, thỉnh thoảng lại nhìn người thượng úy lơ đãng và lặng thinh; trung tá không thích sự im lặng của anh ta. Hình như sau vẻ im lặng đó là cả một sự vô cùng thờ ơ không thể khắc phục được do quá mệt mỏi.

        — Đồng chí thượng úy, — Bót-da-nốp gọi — vâng, vâng, tôi gọi anh đấy! — Anh cao giọng khi người thượng úy hơi nhúc nhích —  Anh đã rõ nhiệm vụ chưa?

        Người thượng úy đứng lên hết sức uể oải. Từ cửa sổ vuông, một làn ánh sáng mờ ảo hắt vào mặt anh ta và chỉ lúc này Bốt-đa-nốp mới nhìn thấy rõ dôi mắt nâu rất sáng của con người quá ư mệt mỏi này.

        — Rõ, đúng như vậy, thưa đồng chí trung tá, tôi đã rõ, —  thượng úy trả lời giọng khàn khàn. — Tôi không có gì cần hỏi, —  Anh nghĩ trong một giây và nói thêm: — bởi vì đã nhận được một ít đạn và bánh mì. — Im lặng một lát, anh lại ngồi xuống chỗ của mình.

        Một lúc sau, khi xem xét tuyến phòng thủ, Bốt-đa-nốp lại nhìn thấy người chỉ huy ít nói này trong hoàn cảnh khá đặc biệt. Dưới bầu trời thấp xám xịt, các chiến sĩ của đơn vị tập hợp theo vị trí của mình trên một cánh đồng, còn trước mặt họ, lá cờ đỏ của trung đoàn có tua vàng ở chung quanh phấp phới bay trong bầu không khí ảm đạm ẩm ướt.

        Bốt-đa-nốp đi đến gần và lắng nghe:

        — Các đồng chí, chúng ta không có đường về phía sau. Chúng ta đang ở sát ngay Mát-xcơ-va. Chính ngay ở đây, chúng ta sẽ đón chờ những trận đánh quyết liệt. — Người thượng úy nói nhỏ nhẹ, chậm chạp như đang trò chuyện với các chiến sĩ của anh.

        Thân hình cao, nhưng gù trong chiếc ca pốt cũ, trông anh không có dáng lắm, song trong giọng nói toát ra vẻ trầm tĩnh lạ thường, do đó lới nói của anh có trọng lượng đặc biệt.

        Sau đó chính trị viên tiểu đoàn phát biểu, và qua lời phát biểu của ông, Bốt-đa-nóp hiểu rằng đây là đơn vị các chiến sĩ đã trải qua những trận đánh ở tận biên giới và vừa thoát khỏi vòng vây tới đây.

        — Các đồng chí, lá cờ của trung đoàn vẫn còn với chúng ta! —  Chính trị viên dõng dạc nói, giọng vang vang trên cánh đồng — Nó nhắc chúng ta nghĩa vụ của mình đối với Tổ quốc. Chúng ta quyết cắm lá cờ này ờ đây, trên phòng tuyến ngoại ô Mát-xcơ-va thân yêu. Và từ đây, chúng ta chỉ mang nó tiến lên phía trước, các đồng chí chiến sĩ, chỉ được tiến về phía trước thôi. — Chính trị viên nói sang sảng.

        Bốt-đa-nốp nhìn về phía bộ dội. Trên cánh đồng hơi tối bởi tiết trời mùa thu u ám, họ đứng trong tư thế « Nghiêm » thành hai hàng đều nhau bên các công sự bộ binh của mình. Thượng úy quay lại người cầm cờ, ra hiệu cho anh ta và lá cờ chuyền động dọc theo hàng quân. Chỉ huy trưởng và chính trị viên giơ tay chào dưới vành mũ lưỡi trai, sau đó thượng úy đi theo cờ, người gù gù, đầu rướn lên trước như thể chống lại cơn gió mạnh. Lá cờ đỏ có thêu búa liềm bằng sợi màu rung rinh trên chiếc cán nâng cao. Một người nào đó từ hàng ngũ các chiến sĩ đến đây theo những con đường đau thương, đầy khói lửa và máu xương, tự động tiến đến gần lá cờ, một người nào đó ngẩng đầu lên nhìn theo...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Năm, 2020, 12:09:50 pm

        ... Đi tiếp đến khu vực bên cạnh của trung đoàn NKVĐ, Bốt- da-nốp gặp La-tô-skin cũng đang ở đây. Từ sáng sớm, ông đã đến thăm các đơn vị giữ tuyến phòng thủ ngoại vi. Và họ cùng nhau đi theo các ụ chiến đấu dọc hào giao thông sâu hoắm, xem công sự xây bằng những thanh gỗ tròn, đứng bên các hỏa điểm. Rõ ràng là ở đây, mọi người đã lao động cật lực và thấu hiểu công việc của minh. Và mặc dù không phải tất cả những trang bị cần thiết cho trận địa đã làm xong ở mọi nơi, nhưng Bốt-đa-nốp dù quen với tính khe khắt nhất của minh, vẫn phải đánh giá rất cao công việc đã làm. Anh cũng tán thành việc lựa chọn vị trí và hệ thống liên lạc thuận tiện có tính toán giũa các cụm riêng của nó.

        Phần lớn các chiến sĩ của trung đoàn NKVĐ mới đây còn phục vụ ở hậu phương đều chưa được tham gia trực tiếp chiến đấu. Họ đắp bếp, đào hố, lấy nước, làm chỗ ở tạm thời và lợp rơm lên trên một cách đặc biệt cẩn thận, thậm chí đến từng chi tiết. Theo Bốt- đa-nốp thì đây là sự cố gắng quá cầu kỳ và có vẻ của học sinh nhiều hơn. Trung đoàn trưởng Đu-bốp với mái tóc bên thái dương đã đốm- bạc, đôi má cạo sạch bóng, trả lời các câu hỏi và cho giải thích một cách ngắn gọn không thừa một chi tiết cỏn con nào. Sự dè dặt gò bó của ông, nói lên nỗi lo láng sâu sắc trong lúc chờ đợi trận đánh đầu tiên.

        Tuy bên trong là người nghiêm khắc đến khắt khe nhưng thông minh, còn bề ngoài là người nóng nảy hơi gay gắt, Bốt-đa-nốp vẫn thấy thoải mái và dịu lòng khi nhìn các chiến sĩ và cán bộ lãnh đạo trung đoàn. Thực ra họ chỉ mới đứng trước thử thách để biến anh bộ đội thành người lính chiến, biến đơn vị bộ đội thành đơn vị chiến đấu tốt. Nhưng chắc chắn đây là những người có kỷ luật và ý chí cao. Ở những nơi đã làm xong việc củng cố trận địa, các chiến sĩ đang trang điểm cho mình: cạo râu qua chiếc gương con trên bờ chiến hào, khâu lại chiếc khuy rơi và lỗ khuyết áo, và điều này cũng làm cho Bốt- da-nốp thích thú. Ngoài ra, trong trung đoàn có một số bộ đội biên phòng, những con người được trung tá đánh giá rất cao, bởi vì anh biết họ đã chiến đấu như thế nào ở biên giới trong những ngày đầu chiến tranh.

        Để La-tô-skin và Đu-bốp ở lại nói chuyện với một toán bộ đội, Bốt-đa-nốp rẽ theo hào giao thông đến hỏa điểm. Từ xa, anh đã chú ý đến những giọng nói trẻ vọng lại.

        — Nào, té nữa đi! Ôi, cứ thế! Ôi khoái quá! — Một giọng Bạch Nga nào đó mềm mại vang lên — Nào, lần nữa... — Sau đó là những tiếng cười rất to đầy khoái cảm.

        — Cậu đủ rồi dấy! —Sau một lúc im lặng, Bốt-đa-nốp nghe thấy giọng nói khác. — Ồ, xanh hết cả người rồi, như quả cà tím ấy. Cầm lấy khăn của tớ này!

        Rẽ qua một góc chiến hào, Bốt-đa-nốp nhận thấy hai chiến sĩ, bất kể trời rét, cởi áo ngoài, mỗi người cầm một đầu chiếc khăn đang lau mình. Thấy trung tá đi tới, hai chiến sĩ im lặng và đồng thời rướn thẳng người lên. Cà hai còn ướt át, bù xù bởi vừa lau mình và đều khoảng hai mươi hai, hai mươi ba tuổi. Dưới chiếc áo lót vải thô lộ rõ những bắp tay cuồn cuộn và những ngón tay sạm nắng. Phía trên cổ tay là làn da trắng ngần.

        — Các đồng chí cứ tiếp tục đi, mặc áo vào, — Bốt-đa-nốp nói.

        Bốt-đa-nốp cảm thấy hai người lính này giống nhau như hai anh em, mặc dù một người cao và có đôi vai rộng hơn, còn người thứ hai có mái tóc màu lanh. Anh đến lỗ châu mai nơi đặt khẩu súng máy. Đợi một chốc cho hai thanh niên mặc quần áo, anh hỏi xem họ đã bắn chỉnh chưa.

        — Rất chính xác ạ... — Một chiến sĩ trả lời.

        — Đã bắn chỉnh rồi, thưa đồng chí trung tá! — Người thứ hai nói tiếp.

        Sau đó họ cho Bốt-đa-nốp xem thẻ xạ thủ được giữ cẩn thận.

        — Các anh là ai vậy: đồng hương hay cũng có thể là anh em nữa chứ ?

        Hai anh lính trẻ người nọ nhìn người kia, như thể trao đổi với nhau.

        — Không phải, thưa đồng chí trung tá, — người chiến sĩ có mái tóc hung thẫm trả lời, chiếc phù hiệu xanh trên áo va rơi của anh lấp lánh ba sao trung sĩ.

        — Gần như anh em, chả là cùng phục vụ trong một đồn. — Người lính thứ hai có mái tóc màu lanh nói thêm.

        — Có nghĩa là bạn bè ! — Bốt-đa-nốp nói.

        Khòng hiểu sao, lần này cả hai đều im lặng, hình như không ai muốn là người đầu tiên thú nhận tình cảm thân thiết như vậy.

        Đi qua công sự của trung đoàn, La-tô-skin và Bốt-đa-nốp bước lên đường cái và dừng lại ngắm nhìn bình nguyên trải rộng chung quanh. Con đường lớn thẳng tắp một vệt chạy về phía nam và mất hút trong bầu không khí lờ mờ àm ướt và hai bên đường là những làng ngoại ô thấp thoáng dưới màn sương mù dày đặc. Có những tiếng động nhỏ, đứt đoạn vọng lên từ màn sương mù ảm đạm làm hạn chế tầm nhìn.

        — Đấy là phía A-rxê-nhi-ép, — La-tô-skin nói, — còn trên Núi Trắng thì yên tĩnh.



Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Năm, 2020, 12:10:17 pm

        Hơi ngẩng đầu lên, ông lắng nghe vẻ căng thẳng.

        — Đúng như vậy, thưa đồng chí chủ tịch Hội đồng quân sự — Đu-bốp nói — Tình báo đi theo hướng A-rxê-nhi-ép.

        Bốt-đa-nốp mở cặp đựng tấm bản đồ. Nếu trận đánh thực sự diễn ra ở A-rxê-nhi-ép thì quả là điều bất ngờ và đáng ngại.

        — Hè năm ngoái, chúng tôi đã đưa vào hoạt động hai khu mỏ mới ở A-rxê-nhi-ép.— La-tô-skin nói, — đây là những mỏ tốt nhất trong vùng chúng tôi.

        Du-bốp im lặng lắng nghe và cố gắng xác định đây lả tiếng động gì và từ đâu tới với trung đoàn của ông.

        Quay lưng lại hướng gió, Bốt-đarnốp nghiêng mình bên tấm bản dồ. Ba bốn bông tuyết xôm xốp lần lượt theo nhau rơi xuống tấm bản đồ và biến thành những giọt nước lóng lánh. Trung tá ngước mắt nhìn về hướng A-rxê-nhi-épnhững cánh tuyết to chậm chạp bay trong không trung và tầm nhìn càng trở nên tồi hơn. Sau một hai phút, những hình bóng xa xôi phía chân trời biến mất sau màn tuyết trắng dày đặc. Nhưng ngay cả khi không có tuyết, thì từ đây, trong buổi sáng này, Bốt-đa-nốp cũng không thể quan sát được những gì xảy ra ở A-rxê-nhi-ép. Nấp sau màn tuyết dày đặc, kẻ thù tiếp tục tiến công. Thế chủ động tạm thời trong tay địch và không ai ở đây biết chính xác hướng triền khai cùng lực lượng của chúng. Một lần nữa — đây đã là lần thứ bao nhiêu trong mấy tháng gần đây — trung tá cảm thấy bực bội vì mình không biết, vì thiếu tin tức.

        — Đồng chí thiếu tá! — Bốt-đa-nốp xẵng giọng. — Hãy liên tục trinh sát. Cho lính diệt tăng với lựu đạn đi trước tới đường cái. Hãy liên tục báo cáo những gì phát hiện được. Và kết thúc việc củng cố trận địa... Khẩn trương lên! Khẩn trương lên!

        La-tô-skin chậm chạp quay về phía các sĩ quan, tuyết phủ trắng vành mũ lưỡi trai, vương trên vai, rơi vào mặt và tan ra, những giọt nước long lanh đọng trên lông mày.

        — Hãy nhớ lấy, đồng chí thiếu tá! —Ông nói. — Không khi nào anh nhận được lệnh rút lui. — Ông chăm chú nhìn Đu-bốp. — Tôi biết: nhân viên Trê-ca không bao giờ rút lui!

        — Rõ! — Thiếu tá trả lời dè dặt.

        Mười lăm phút sau, La-tô-skin và Bốt-đa-nốp đã tới vị trí của trung đoàn công nhân ở phía bên kia đường cái. Một phần trận địa trải ra ở chỗ trống, phần khác bao trùm làng Mư-skin và cánh rừng giáp giới với nó, hai đại đội lực lượng dự bị của trung đoàn đóng ở vườn hoa thành phố.

        Tuyết tạm ngớt, nhưng một lát sau lại rơi xuống nhiều. Trên bờ công sự có nước và đôi chân chìm sâu trong đất bùn lạnh ngắt, nhưng điều này không cản trở những người mặc quần áo dân sự hỗn độn trong khu vực trung đoàn đang lao động với vẻ phấn chấn vội vàng. Ở đây, công việc củng cố trận địa mới chỉ bắt đầu, mọi người vội vã đào đất, từng toán người chuyển rơm, kéo gỗ tròn để làm thành công sự và đặt súng máy.

        Những chiến sĩ — người thì mặc áo bành tô mùa thu, đội mũ lưỡi trai hoặc mũ trùm tai, người thì đi cả giày cao su, một số khác trùm những chiếc khăn quàng đan sặc sỡ, hành động không được thành thạo lắm, bận rộn và quá ầm ĩ.

        — Anh em ơi, hãy nhìn xem anh kế toán của chúng ta. Kìa! — Một người mặc áo bìu dông da kêu lên, — đồng chí Gu-pri-a-nốp, thế nào, đã ấm lên chưa ? Có phải là nợ tín dụng đâu mà anh đòi!

        Người có tên là Cu-pri-a-nốp có thân hình nhỏ nhân, đầu hói, mặc áo vải cộc tay. Vừa thở hồng hộc, anh ta vừa vung rìu bồ cây bạch dương.

        — Đây là bài thể dục rất tốt, các bạn ạ! — Một người nào đó sung sướng gào to lạc cả giọng.

        La-tô-skin thường hay dừng lại nói chuyện với hết chiến sĩ này đến chiến sĩ khác. Họ nhận ra ông, có người chào hỏi ông rất niềm nở.

        — Đến tối rồi sẽ biết, hôm nay là một ngày như thế nào, đồng chí I-a-cốp La-tô-skin ạ!—Một người đứng tuổi có bộ ria vàng ám khói thuốc lá, nói như thể để gây lòng tin cho bí thư tỉnh ủy. — Chỉ cần chặn bọn chó đẻ đó ở đây, rồi sau sẽ đuổi chúng quay trở lại.

        — Đấy đồ đểu cáng, bọn tham lam, bọn ăn cắp đã xuất hiện. Đứa chui vào bếp lò, đứa chui dưới bếp lò... — Một thanh niên chụp chiếc mũ lưỡi trai nhung thành hình cầu ở trên đầu, xen vào câu chuyện. — Đã đến lúc phải cho nó bài học, đồng chí La-tô-skin ạ!

        Tuy vậy, Bốt-đa-nốp cảm thấy rằng những người tự vệ chưa được chiến đấu đang đứng trước mặt anh, chỉ có thể phấn chấn trong khi chờ đợi trận đánh sắp tới. Anh đã nhiều lần chứng kiến các chiến sĩ mới đã mất hết sự hào hứng thái quá lúc ban đầu một cách nhanh chóng như thế nào. Ngoài ra, hơn bất cứ ai ở đây, Bốt-đa-nốp biết rõ cái sức mạnh cố thủ trong thiết giáp được huấn luyện thành thạo về kỹ thuật hủy diệt, đang nhanh chóng tiến tới đây, nơi có những con người rất tốt, nhưng tạm thời chưa được tổ chức chặt chẽ này. Anh chăm chú và nghiêm nghị nhìn những khuôn mặt quanh mình, như thể hỏi từng người : « Liệu trạng thái này có còn lâu với anh không? Liệu anh có vượt qua được không?».

        Sau đó, Bốt-đa-nốp quay lại phía đại úy Tra-skin, trung đoàn trưởng, một chàng trai trẻ, đẹp, có mái tóc vàng óng. Anh nghiêm khắc và khô khan hỏi trung đoàn trưởng xem mọi người đã được học tập như thế nào, đã được phát bao nhiêu đạn, chỉ huy cấp dưới là những ai, các chiến sĩ ăn trưa vào lúc nào...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Năm, 2020, 06:15:58 am

        Bốt-đa-nốp lúc thì nhảy xuống công sự và thăm ổ súng máy, lúc thì bước lên thành công sự để quan sát vị trí, lúc thì mở xà cột lấy bản đồ chăm chú xem đi xem lại, lúc thì lại vượt nhanh lên trước những người cùng đi với mình. Một trong những đặc điểm chính của bản chất con người Bốt-đa-nốp là khả năng tập trung ý chí, cái đó đã làm cho anh trở nên sắc sảo, dẻo dai và hoạt bát. Lúc này mà tranh luận với Bốt-đa-nốp rất khó vì anh biết chắc: anh muốn gì và sẽ làm cách nào để đạt được ý muốn ấy một cách nhanh nhất, ngắn gọn nhất do yêu cầu từ sự cần thiết chung.

        — Đồng chí đại úy, giữa tiểu đoàn một và tiểu đoàn hai của anh chưa được bảo đảm lắm, — anh nhận xét với trung đoàn trưởng. —  Ở tiểu đoàn hai, các khẩu súng máy đặt sâu trong rừng quá. Đây là một sai lầm. — Thường thường trong những trường hợp tương tự như vậy, các nhận xét của Bốt-đa-nốp rất ngắn gọn, dứt khoát. — Cây cối ở phía trước hạn chế tầm bắn chéo cánh sẻ. Nếu pháo binh địch phát hiện và tiêu diệt được chúng thì cả hệ thống phòng thủ của các anh sẽ bị tê liệt. Tiếp theo hãy chuẩn bị tuyến trận địa phụ, không nên coi thường nó...

        Đại úy chăm chú lâng nghe và cho gọi các chi huy đơn vị tới để truyền đạt mệnh lệnh. Tuy vậy, khuôn mặt trẻ trung, cởi mở với túm tóc vàng lòa xòa dưới trán, đôi lúc ửng lên vẻ bối rối và cũng có thể là bực bội bởi cái giọng bề trên của người trung tá nhỏ nhắn, kiên nghị kia đưa ra hàng loạt những chỉ thị và đòi hỏi, chắc đã làm Tra-skin phật ý...

        Cùng lúc ấy, nhiều cuộc mít tinh ngắn gọn, chớp nhoáng đang diễn ra trên nhiều địa điểm của trung đoàn. Các chiến sĩ vây quanh lấy La-tô-skin và Tri-phô-nốp, chính ủy trung đoàn, cán bộ tổ chức của tỉnh ủy. La-tô-skin đứng trên một mô đất cao ở sườn đồi và nói chuyện với họ. Đây đó những công sự chưa được ngụy trang loang lổ khắp nơi, trên sườn đồi, bên mép rừng dương trụi lá, gió thổi vù vù, trên đường làng Mư-skin đầy tuyết.

        —... Lúc chiến tranh mới xảy ra, đồng chí Xta-lin đã nói: « Trong mỗi thành phố mà kẻ thù đe dọa tiến công, chúng ta phải... động viên toàn thể nhân dân lao động đứng lên lấy thân mình bảo vệ tự do và danh dự của Tổ quổc. Và ờ đây, các đồng chí đã đứng lên, vai sát vai với các chiến sĩ Hồng quân bảo vệ thành phổ thân yêu của chúng ta... Các đồng chí, kẻ thù của chúng ta đang mạnh, ta không tự giấu mình điều đó, chúng ta không sợ sự thật. Nhưng chúng ta, những người Xô-viết còn mạnh hơn chúng nó, và các đồng chí không được quên điều này...».

        Khi La-tô-skin với những người cùng đi dạo vòng quanh một vòng trận địa và trở về ban tham mưu trung đoàn thì đã gần giữa trưa. Ở rìa làng, khi vừa trông thấy các chỉ huy, có hai thiếu niên lớn chạy tới chỗ họ: một cậu trạc mười lăm tuổi, mặc áo blu dông bám đầy bùn đất, vừa đi khập khiễng vừa nhăn mặt lại và một cô gái lớn hơn khoảng hai tuổi.

        — Ai là trung đoàn trưởng? — Từ xa, cậu bé đã kêu lên với giọng dứt đoạn. —Chúng tôi cần phải vào thành phố! Trung đoàn trưởng ở đâu ? Hãy nói để họ cho chúng tôi vào thành phố!

        Một người khoác súng trường cũng vừa chạy theo hai thiếu niên đến, cho biết là anh giữ họ ở khu vực quân sự, và bây giờ anh đưa cả hai tới ban tham mưu.

        — Chúng tôi thì vội, mà họ thì cứ gây phiền phức, — cậu bé nói to than phiền. Khuôn mặt đỏ ửng sưng vù của cậu ta lộ rõ vẻ đau khổ, buồn rầu và bực bội.

        — Nào, hãy nói tuần tự, Pê-chi-a! — Cô gái nói, bình tĩnh hơn và cũng rất chững chạc. Cô mặc chiếc áo da ngắn màu vàng, xứng quanh khâu bởi sợi đây, màu và đội chiếc mũ len đan sặc sỡ. Những sợi tóc sáng lờm xờm phủ trên khuôn mặt sạch sẽ, tươi tắn như là vừa mới rửa xong.

        — Thì mình nói theo thứ tự đấy chứ! Len-ca, cậu làm sao thế ? — Cậu bé lại bực bội gào lên. — Đêm qua bọn Đức đã bắt chú Va-xi-li Pê-tô-rô-vích... Đấy! Thế mà họ còn gây phiền phức, không cho vào! Theo các chú, điều này có đúng không? — Nheo mày một cách đau khổ, cậu ta nhảy chồm lên.

        — Có thể các chú không tin chúng cháu! — Cô gái kiêu hãnh nói. — Đoàn thanh niên Côm-xô-môn cử chúng cháu tới đây.

        — Thế Va-xi-li Pê-tơ-rô-vích, chủ tịch của các cháu ở đâu vậy ? — La-tô-skin dịu dàng hỏi.

        — Ở đâu là thế nào? — Cậu bé ngạc nhiên. — Ở làng Một tháng Năm...

        — Các trinh sát của tôi cũng cho tôi biết là làng Một tháng Năm đã bị chiếm. —Tra-skin nói — Bọn Đức xuất hiện ở chỗ các em lúc nào? — Ông hỏi.

        — Lúc đêm... cháu đã nói với các chú là lúc đêm.—Cậu bé gào lên.

        — Thôi, để tớ nói cho rõ ràng hơn, — cô gái nói tranh.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Năm, 2020, 06:16:18 am

        Và bằng một giọng thanh thanh, trong trẻo, cô gái kể lại một cách hoạt bát việc xe tăng Đúc bất ngờ ập đến làng họ vào lúc mờ sáng. Lúc đó trời còn tối nên không ai có thể xác định chính xác được bao nhiêu xe: người này thì nói đếm được mười chiếc, người kia : chỉ có ba!

        — Mẹ cháu thức cháu dậy, — cô gái giải thích — Lát sau cháu nghe thấy tiếng súng ở cuối làng, Mẹ cháu khóc òa lên và sau đó Tô-li-a Ba-bu-skin bí thư đoàn của chúng cháu chạy đến nhà cháu. Anh ấy bảo là, điện thoại hỏng mà phải báo tin ngay vào thành phố. Mẹ cháu vẫn cứ khóc và anh ấy nói là không được để mất phút nào, rằng trinh sát xe tăng đã rẽ vào làng cháu...

        Vừa kể, cô gái vừa giương tròn đôi mắt xanh nhạt rất sáng như thể chính cô cũng ngạc nhiên về những điều mình vừa nói.

        — Tất nhiên là cháu đi ngay lúc đó, còn anh Tô-li-a chạy đi tìm các bạn khác. Chúng cháu đã quyết định là nếu bọn Đức đến thì chúng cháu sẽ tìm mọi cách nhanh chóng báo tin cho các chú biết. Khi chạy qua vườn sau, chính cháu nghe thấy tiếng xe tăng gầm rú như thế nào. Một lát sau, cháu gặp cậu Pê-chi-a Pô-ta-tốp này, — cô gái hất đầu sang phía cậu bé, — cũng là đoàn viên, và chúng cháu cùng nhau đi...

        Đôi mắt đầy ngạc nhiên, cô nhìn các sĩ quan đang nghe cô, như muốn nói thêm: « Các chú thử tưởng tượng xem, chính cháu cũng không hiểu là tất cả mọi việc lại xảy ra nhanh chóng và bất ngờ đến như vậy!».

        — À... đây là thẻ đoàn của cháu, — cô gái lấy tấm thẻ nhỏ trong túi bành tô ra và nói thêm — Cháu, Lê-na Gô-le-nhi-cô-va!

        Bốt-đa-nốp lại mở xà cột và nhìn vào tấm bản đồ làng Một tháng Năm nằm trên con đường mòn về phía A-rxê-nhi-ép-xcơ, nhưng gần thành phố hơn.

        — Cảm ơn các cháu nhé! — Bốt-đa-rtốp nghe La-tô-skin nói — Rất tốt là các cháu đã kịp thời đến báo... Còn cháu, tại sao lại khập khiễng thế kia? — La-tô-skin quay lại cậu bé.

        — Cháu bị bong da thôi mà, — cậu bé buồn rầu trả lời.

        — Chắc là bạn ấy bị sốt, — cô gái nói — Chú xem xem người bạn ấy đỏ rực lên kìa. Cháu muốn đưa bạn ấy vào bệnh viện. Rồi còn chạy về nhà chứ! Mẹ và em gái đang ở nhà. Cháu chỉ cần từ biệt hai người, rồi sẽ đi vào rừng cùng với các bạn.

        — Đi bây giờ là mạo hiểm, — La-tô-skin nói, — phải đợi đến tối thôi. Tạm thời, hai cháu hãy cứ vào thành phố đã, câm giấy này mà đi.

        Cô gái cầm lấy mảnh giấy La-tô-skin vừa ghi cho và cảm ơn một cách lịch sự. Khi cô và cậu bạn vừa đi được một đoạn, La-tô- skin im lặng ngước nhìn trung đoàn trưởng với đôi mắt dò hỏi, rồi lại quay sang nhìn Bốt-đa-nốp.

        — Tất cả đều đã rõ ràng, thưa đồng chí chủ tịch ủy ban, — Tra-skin nói to và hất mớ tóc vàng trên trán. — Chà, giá được thêm hai, ba ngày chuẩn bị nữa! Nếu củng cố trận địa như ý muốn và huấn luyện mọi người thêm đôi chút những động tác chiến đấu thì hay hơn...

        — Đồng chí đại úy, tôi yếu cầu đồng chí chú ý, — Bốt-đa-nốp ngắt lời anh. — Bọn Đức, có thể tiến công các anh vào sườn theo hai hướng từ A-rxê-nhi-ép-xcơ và làng Một tháng Năm. — Anh vừa nói vừa chỉ bản đồ. — Bố trí một tuyến bảo vệ ở đây, ở Khle-bnhi-cốp, điều một đại dội dự bị của anh vào đây... Trong trường hợp quân Đức xuất hiện ờ Khle-bnhi-cốp, các anh phải cố gắng ghìm chúng lại, dùng trận đánh này để phân tán kẻ thù, sau đó đại đội cố thể rút.

        Anh cài khóa xà cột và kéo lại thắt lưng, rồi nhìn từ chân đến đầu người đại úy cao lênh khênh :

        — Hãy củng cố, kết thúc nhanh đi, đồng chí trung đoàn trưởng ! Khẩn trương lên! Có thể các anh chỉ còn vài giờ nữa thôi.

        Ở sở chi huy trung đoàn, Bốt-đa-nốp gọi điện cho chỉ huy trưởng khu vực chiến đấu, thiếu tướng Đi-a-cốp. Thiếu tướng đã được biết những tin tức mới nhất về việc kẻ thù đang tiến tới thành phố và ông tán thành những mệnh lệnh của Bốt-đa-nốp. Nghe xong, ông ra lệnh cho anh tạm thời ở lại các trung đoàn tuyến một để trực tiếp chỉ đạo chiến đấu.

        Trời vừa sáng, ông già Grô-mốp liền từ nhà máy trở về để lấy vài thứ dụng cụ cần thiết. Ở nhà máy, A-lếc-xây Grô-mốp gặp lại nhiều bạn bè quen thuộc cũ và dần dà được biết thêm là họ được gọi tới đây bàn việc khôi phục lại các xưởng máy đã trống rỗng để sửa chữa và chế tạo vũ khí cho bộ đội bảo vệ thành phố. Trong số những người được nhắc tới, các bạn cũ của ông có nhớ tới Grô-mốp, nhưng họ quyết định không nên mời ông già vì được biết ông đang ốm. Nếu vào thời gian khác thì có lẽ ông Grô-mốp đã rất giận, nhưng buổi tối đó ông quá xúc động và hồi hộp về tất cả những gì xảy ra nên cũng không để bụng làm gì. Ngồi họp trong phòng thiết kế cũ của nhà máy, ông già cảm thấy lâng lâng, sung sướng là đã được cùng đứng trong hàng ngũ với mọi người, nhưng ông cố kìm lại, không thể hiện ra bên ngoài.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Năm, 2020, 06:16:38 am

        Kỹ sư Ti-mô-phê-ép, đảng ủy viên nhà máy, hướng dẫn cuộc họp, bên cạnh ông là Pê-tơ Ki-rin-lô-vích Oóc-lốp, nhà cơ học và phát minh nồi tiếng một thời, mới về hưu. Ở đây còn có Ni-cô-lai- ép-xki, thợ chạm khắc cự phách, người cùng tuổi với A-lếc-xây và người thợ tiện tóc bạc hay cau có An-ma-dốp, mà Grô-mốp nhớ từ khi còn là học trò và tất nhiên là còn có những người khác trẻ hơn và xa lạ đối với ông.

        Cuộc họp đang bàn xem phải làm thế nào để bắt tay vào công việc sớm hơn và tốt hơn. Bởi vì trong nhà máy không còn thiết bị nào, cho nên cuộc họp quyết định một là, phải nhanh chóng đưa vào sử dụng những chiếc máy hỏng trong kho, hai là tìm kiếm những cỗ máy cái của các xí nghiệp thủ công nhỏ ở rải rác trong thành phố. Cũng ngay tại cuộc họp này, đã thành lập các đội sản xuất và cử các đội trưởng cũng như quy định rõ trách nhiệm và nhiệm vụ cụ thể. Sắt thép hầu như đã được chuyển hết khỏi nhà máy nên phải bàn xem sẽ tìm kiếm nguyên liệu ở đâu đây. Đối với dụng cụ đồ nghề thì đơn giản hơn cả vì mỗi người có mặt ở đây đều có các bộ đồ nghề riêng rất phong phú được tích lũy từ nhiều năm nay. Cũng chính vì bộ đồ nghề mà ông Grô-mốp phải về nhà nhân tiện lấy thêm khăn mặt, xà phòng để ở hẳn lại nhà máy như cuộc họp đã quy định. Lúc trở về ông đi nhanh hơn, thoải mái hơn như thể tối qua Ông thực sự trẻ lại tới mười tuổi.

        Song ông buộc phải ở lại nhà lâu hơn. Bà em gái An-na Va- xi-li-ép-na không cãi lộn với anh trai về việc ông tự bỏ nhà ra đi mặc dù trong thâm tâm rất lo lắng và bối rối cho ông anh bướng bỉnh. Bà chỉ hỏi ông việc ngủ đêm trong nhà máy ra sao, và hứa ngày mai sẽ mang thức ăn tới cho ông. Khi nghe tin con dâu, vợ Pa-ven đã đến đây rất bất ngờ, ông mới quan tâm hỏi kỹ hơn. Na- ta-sa đã ở trong nhà. Cả đêm qua chị cảm thấy mệt mỏi, rã rời sau khi chia tay với Pa-ven, về đến nhà, chị thiu ngủ lúc nào không biết trong phòng của anh. Và giờ đây, ông già đang nóng lòng chờ con dâu tỉnh dậy: dù có vội trở lại nhà máy thế nào đi chăng nữa, ông cũng không thể ra đi khi chưa được gặp cô ấy.

        Trong lúc đó, bà An-na chuẩn bị bàn ăn. Nhân dịp Na-ta-sa đến, bà trải lên bàn chiếc khăn sạch sẽ và lấy bộ cốc đĩa đẹp nhất vẫn cất trong tủ ra, cẩn thận lau bộ đĩa với những đường viền mạ vàng đã sờn. Để khỏi phải ngồi không, ông nhận lấy việc nhóm lò. Gò người trên chiếc ghế cong trước cửa lò, ông vừa phồng mồm thổi vừa xếp củi cho bén lửa.

        — A-nhiu-ta ! A-nhiu-ta!... — Chốc chốc ông lại gọi khẽ bà em gái đến chỗ mình.

        An-na đến gần, và ông ngước đôi mát long lanh ánh lửa lên nhìn bà.

        — Thế có nghĩa là tiểu thư đã đến phải không ? Và đã đến cả chỗ Pa-ven rồi cơ à? — Ông hỏi rất khẽ để cho con dâu khỏi nghe thấy.

        — Đến đấy rồi, gặp nó rồi... Chúng nó ở trong Vườn hoa văn hóa. TÔI đã nói với ông rồi cơ mà! — An-na trả lời.

        — Bà có nói rồi nhưng tôi muốn nghe kỹ hơn! Thế là cuối cùng nó cũng đã đến đây. — Quay lưng lại, ông làu bàu.

        Không hiểu sao việc con dâu làn đầu tiên xuất hiện trong nhà đã gây cho ông một phản ứng mơ hồ. Vừa hài lòng về Pa-ven, đồng thời ông cũng có cảm giác giống như bực tức.

        — A-nhiu-ta! — Sau một vài phút im lặng, ông lại gọi bà em —  Theo bà, nó có thương Pa-ven hay không ?

        — Nếu cô ấy đã lặn lội đến đây, chắc là cô ấy thương nó. —  Nhìn vào cánh cửa buồng đóng kín, An-na thì thầm — Cô ấy là vợ của nó, chứ có phải là người dưng nước lã đâu mà...

        — Nhưng điều này đối với các cô gái ngày nay thì chẳng có ý nghĩa gì lắm đâu. — Ông già làu bàu rồi im lặng.

        Bỗng nhiên trước mặt ông xuất hiện hình ảnh sinh động và tuyệt đẹp của một người đàn bà duy nhất mà ông đã từng yêu mến. Cũng có thể  chính vì vậy, mà hôm nay ông trẻ lại một cách kỳ lạ và xúc động mạnh mẽ khi ông nhớ lại hình ảnh người vợ quá cố của minh. Giờ đây, sau nhiều năm đã qua, ông như lại cảm giác được sự mất mát riêng tư không thể bù đáp nổi đối với cả cuộc đời còn lại của mình. Và tất nhiên là theo ông thì không một người phụ nữ khác nào từ thời xa xưa đến cả thời bây giờ có thể so sánh được với mẹ Pa-ven.

        — Không phải vậy đâu, anh A-li-ô-sa, tôi cảm thấy cô ấy là người thật thà, tốt bụng. — An-na phản đối.

        — Bà nói cái gì thế! Cái gì thế? — Như bừng tỉnh, ông già hỏi lại.

        — Ông nỏi điều này bẵng thừa, cô ấy còn trẻ và quả là có thể còn chưa tự chủ được mình.   

        Grô-mốp ngước nhìn em gái dưới hàng lông mày rậm, vẻ không tán đồng.

        — Pa-ven nó không lấy bà già, không lấy người bạn nào của cô đâu, — ông già nói to, vẻ giễu cợt.

        Bà An-na liếc nhìn về phía cửa ra vào : liệu Na-ta-sa đã dậy chưa ? Nếu mà là hôm qua thì bà đã không ngần ngại chỉnh cho ông già một trận, nhưng sau khi ông ở nhà máy về thì thái độ của bà với ống có vẻ ân cần và thận trọng hơn.

        — Nói khẽ thôi, A-li-ô-sa! — Bà khẽ nhắc ông anh.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Năm, 2020, 06:17:08 am

        Một phút sau, A-lếc-xây lại lầm rầm nói. Củi trong lò đã cháy; ánh lửa hồng bập bùng nhấp nháy trên khuôn mặt to hằn những nếp nhăn của ông già.

        — Thế nào, nó ra sao? Trong người thế nào? — Ông hỏi một cách khó khăn. — Trông mặt mũi nó có khá không ?

        Bà già đã bày xong bát đĩa liền kéo ghế ngồi xuống cạnh A-lếc-xây, đặt đôi tay rất to lên đùi.

        — Nói thế nào với ông được nhỉ ? — Nhìn vào ngọn lửa, bà nói một cách nghiêm trang. — Theo tôi thì không sao cả. Ông biết không, tóc tết đuôi sam quá thắt lưng, và khá khỏe mạnh.

        Ông nh:n em gái, vẻ nghi ngờ:

        — Tôi chẳng hiểu nổi các bà...

        Trong lò có tiếng củi nổ tí tách, hai ba hòn than hồng bắn ra và rơi xuống tấm sắt trên sàn. Ông lấy ngón tay nhón chúng lên và quẳng vào ngọn lửa.

        Hai con người già cả đó ngồi im không nói thêm một lời nào nữa và trong nhà chỉ còn nghe thấy tiếng củi cháy xèo xèo cùng tiếng nổ lép bép. Lát sau bà già đứng dậy đi vào bếp. Trong phòng Pa-ven có tiếng lò xo giường kêu kèn kẹt và có như không nghe thấy gì cả... Trước mặt ông lại xuất hiện hình ảnh người phụ nữ thân yêu, dịu dàng, trẻ trung với nụ cười khó quên chi dành cho mình ông, một hình ảnh từ bao lâu nay vẫn day dứt lòng ông. Những bức tranh dứt đoạn, những nét chấm phá tỉ mỉ của những buổi gặp gỡ, những phút ấm cúng của cuộc sống chung — xuất hiện và rồi lại nhanh chóng trôi đi trong ký ức của ông và hình như trong tâm hồn sâu đậm của người phụ nữ ấy có một vài cái gì đó thỉnh thoảng lại lóe lên, lúc rọi sáng cái này, lúc rọi sáng cái kia. Ông già từ ngạc nhiên đến tự hào và không tin rằng tất cả những điều ấy đã thực sự xảy ra với ông.

        Sau tấm vách ngăn bằng gỗ dán có tiếng ghế dịch chuyển và sàn nhà kêu cọt kẹt : ông già vẫn không quay lại. Không hiểu sao, bao năm tháng đã trôi qua mà trí nhớ của ông vẫn hiện rõ những hình ảnh của một quá trình ngược chiều với thời gian, nhiều biến cố đã bị lãng quên từ lâu bỗng lại tái hiện với vẻ sinh động kỳ lạ, trong khi đó nhiều sự kiện mới đây, phải khó nhọc lắm ông mới nhớ lại được. Và kỳ lạ thay, những điều làm cho A-lếch-xây nhớ lại nhiều hơn không phải là những nỗi bực tức, cực nhọc và bất công đầy dãy trong cuộc sống trước đây của ông mà là những gì đã dẫn đến cuộc đấu tranh liên tục với nỗi căm giận những bất công ấy, đó là tuổi trẻ, lòng dũng cảm, tình đồng chí, tính kiên trì trong lao động, sự thủy chung với tình bạn, hạnh phúc trong tình yêu... Chẳng hạn như chính lúc này đây khi đưa đôi mắt cay xè vì khói nhìn những thanh củi đang cháy xèo xèo và nổ lách tách, ông như thấy lại thật rõ rệt một đêm tháng tám xa xưa, nghe thấy lá cây lạo xạo và bài hát rất quen thuộc nào đó từ phố xa vọng lại, thế là tim ông lại thổn thức vì một niềm hạnh phúc lớn lao cách đây hơn bốn mươi năm. Sau khi nhảy phốc qua dãy hàng rào cọc vót nhọn ở phía trên, ông đã ở trong một mảnh vườn con tối lờ mờ, chật chội và hơi ngột ngạt, nhưng ngay trong bóng tối lờ mờ ấy, ông bỗng bắt gặp một khuôn mặt con gái trẻ trung, trắng trẻo. Và cũng như trong cái đêm xa xôi đó, lúc này ông lại cảm thấy trong tay mình có một bàn tay khác, nhỏ nhắn, cứng rắn và nóng hổi...

        Còn đây hình ảnh một chiều thu thứ bảy, khi những người khác mới chỉ bắt đầu đi vào các tiệm thì đôi trai gái đó đã từ nhà thờ trở về, và chàng trai Grô-mốp lúc ấy đã trình diện trước mặt bố mẹ cô gái, xin được cầu hôn với cô. Lúc đó ông mặc chiếc sơ mi xa tanh màu xanh dành cho ngày lễ và bộ. com blê mới, mượn tạm của bạn... Và ông bố cô Ôn-ga, một ông thợ lắp ráp khá giả với bộ râu hẹp và mái tóc bôi dầu nhà thờ, một con người mê tín, keo kiệt, ham quyền hành đa giễu cợt anh rồi đuổi anh ra... Hôm nay khi nghĩ đến điều này, Grô-mốp vẫn mỉm cười mai mỉa nhưng không hề bực bội. Sau đó không lâu, người vợ chưa cưới của anh đã tự động đến với anh, và làm sao có thể quên được, không tài nào cỏ thể quên được: khuôn mặt cô lúc ấy, ngượng ngùng đỏ nhừ, mắt cắm xuống đất, cô gái đặt lên chiếc ghế đầu một gói trắng — tất cả những gì gọi là của hồi môn của mình...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Năm, 2020, 01:46:22 pm

        Một cảm giác đau nhói vì xúc động và biết ơn trào lên mãnh liệt đến nỗi làm cho Grô-mốp phải rên lên một tiếng. Sau đó ông nhớ lại là ông đang đi giữa thành phố với những hàng rào san sát ở hai bên, có kỵ binh bảo vệ. Đó là một ngày mùa đông nắng đẹp, tuyết phủ trắng khắp nơi, những ngọn tháp dát vàng của nhà thờ lấp lánh. Cố gắng theo kịp đoàn diễu hành cầu Chúa, Ôn-ga vội vàng đi theo những người đàn bà khác trên vỉa hè. Người chị cân đối, cao, trên vai quàng chiếc khăn thơm phức. Ôn-ga nói với ông một điều gì đó, nhưng do quá ồn ào, nên ông không thể nghe rõ. Và ông chỉ cười, vẫy tay để động viên chị. Vì phải đi nhanh và quá xúc động nên người chị đỏ rực. Khuôn mặt trẻ trung với đôi mắt to và hàng lông mày đen huyền dựng đứng của chị đẹp một cách lạ thường... Bỗng nhiên ông trông thấy chính khuôn mặt ấy, nhưng nó bị biến dạng bởi nỗi đau thương và sợ hãi. Từ nhà máy, các đồng chí đưa ông về, trên người đầy những vết thương do thỏi đúc bằng gang quệt vào. Từ trong nhà, Ôn-ga chạy tới chỗ ông, chân đi đất, tóc rối tung, chị cuống quít lau đôi tay sẫm nước vào chiếc tạp dề. Mặc dù toàn thân bị đau ê ẩm, ông vẫn ngẩng đâu lên, cười và nói với chị : « Anh vẫn còn sống em ạ, còn sống...».

        Na-ta-sa dãy cửa, vén chiếc rèm vải lanh lên, rồi bước qua ngưỡng cửa. Ngồi quay lưng về phía chị, trên chiếc ghế con bên bếp lò là một ông già to, cao với đôi vai hơi thẳng. Ngọn lửa reo, củi nổ lách tách lúc nhỏ lúc to, những vết sáng hiện ra trên chiếc sàn gỗ dán. Na-ta-sa đứng im chờ đợi ông già sẽ quay lại, nhưng hình như ông đang thiu thiu ngủ bên lò sưởi ấm áp, đầu hơi gục xuống. Lúng túng một lúc bên ngưỡng cửa, Na-ta-sa quyết định lên tiếng trước.

        — Con xin chào... — Chị ngập ngừng cất tiếng.

        Grô-mốp thực sự như vừa tỉnh giấc, ông vội vàng cố sức đứng bật dậy. Đứng trước phòng con trai là một cô gái rất trẻ, gần như là trẻ con, đang nhìn ông. Cô mặc chiếc váy ngắn hơi nhàu, mái tóc chải hơi lệch về một bên.

        Ngay lúc đó, vô hình so sánh Na-ta-sa Với vợ mình, ông cảm thấy thỏa mãn hoàn toàn. Theo ông thì Na-ta-sa không thể so sánh nổi với bà Ôn-ga lúc trẻ. Mặc dầu ông mong cho con trai có người bạn đời tốt nhất, nhưng ông vẫn hài lòng với ấn tượng đầu tiên về vợ Pa-ven...

        — Rất hân hạnh mời chị vào. Chị đã đến... Thật là quý hóa, —  ông nói.

        Na-ta-sa nhút nhát đi đến bên ông. Và không biết phải làm những gì trong buổi gặp mặt đầu tiên với con dâu, ông ngượng ngập, nhẹ nhàng xoa đầu chị, như thể xoa đầu một cô bé gái.

        — À, há... Rất tốt là chị đã đến, nhà tôi có đủ chỗ... Rất hân hạnh mời chị. Ồng nhắc lại.

        — Pa-ven đã kể cho con nghe nhiều về bố, —Na-ta-sa lễ phép nói.

        — Nó đã kể rồi cơ à ? Nó là như vậy đấy!... Nó kể cho chị cái gì vậy ? À, mời chị ngồi xuống...

        Trong khi nói chuyện, A-lếc-xây tò mò nhìn Na-ta-sa, cố hiểu xem, tại sao Pa-ven lại chọn người phụ nữ này trong số tất cả những người khác mà anh thân quen. Và ông hoàn toàn không tìm thấy ở chị có cái gì đó xứng đáng được đặc biệt hâm mộ.

        — Chị ngồi xuống... ngồi xuống đây này... Không có sự thật khi người ta đứng, — ông già vui vẻ nói.

        — Cảm ơn bố. — Na-ta-sa cảm tạ và ngồi xuống — Tên bố là A-ỉếc-xây, con được biết...

        Ồng già gật mái đâu to, đốm bạc.

        — Đúng rồi, A-lếch-xây Va-xi-lê-vích, — ông nói với nụ cười khó hiểu với Na-ta-sa.

        — Còn con là Na-ta-sa. Chắc bố đã biết. — Và chị bỗng mỉm cười.  Ông già ngồi đối diện bên bàn, sẵn sàng nghe tiếp câu chuyện, song Na-ta-sa lại im lặng, cố nghĩ xem nên nói những gì với bố chồng trong buổi đầu làm quen.

        — Chị nói rằng, Pa-ven kể nhiều về tôi phải không? — Sau một lúc im lặng, A-lếc-xây lên tiếng trước, giọng trầm trầm. — Tôi muốn biết, nó kề về cái gì thế?   

        — Nhiều lắm ạ... Về việc bố sống như thế nào và đại loại như vậy... — Na-ta-sa khẽ nhích người. — Hôm nay đây, anh ấy cung kề về bố!

        — Chị cứ nói đi! Cả hôm nay nữa cơ à? Nó nói cái gì thế, ví dụ xem nào ? Ông già có vẻ thích thú hơn.

        — Chà, nhiều chuyện lắm ạ,— Na-ta-sa nhớ lại việc hôm nay Pa-ven gọi bố minh là bướng bỉnh như trẻ con. — Anh ấy lo lắng cho bố...   

        An-na bước vào phòng, tay bê đĩa khoai tây luộc đang bốc khói. Trên bàn đã bày dủ thứ thức ăn: nào cá hộp, cá trích rán với hành sống, ba tê hộp, dưa bắp cải và cả một khay kẹo hồng không giấy. Cuối cùng, bà già mang ra một chai rượu anh đào màu thẫm được buộc kỹ càng bằng mảnh vải trắng. Nhìn thấy chai rượu, ông già nó đùa rất to:

        — Lâu lắm rồi tôi không chịu rước lễ, còn hôm nay tôi sẽ nếm thử thứ thuốc độc của mình, cô A-nhiu-ta nhé! Mấy khi có dịp như thế này...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Năm, 2020, 01:46:55 pm

        Bà An-na đưa đôi mắt nghiêm nghị nhìn đồ ăn thức uống. Đã nhiều năm, bà là người quản gia của ông anh trai góa vợ và bà hoàn toàn cảm thấy mình có trách nhiệm trước danh dự của gia đình. Dĩ nhiên là nếu như trước chiến tranh thì bà sẽ đón vợ thằng cháu tốt hơn nhiều, nhưng bà đã làm hết khả năng của mình và lúc này bà thấy bàn ăn nhìn cũng khá hấp dẫn. Lúc này dù thế nào đi chăng nữa thì cô cháu dâu, người vợ trẻ của Pa-ven cũng không có cớ gì để nói rằng: nhà bố chồng đón chị không tốt.

        — Đừng giận nhé, Na-ta-sen-ca ! — Bà An-na nói. — Chúng tôi chỉ giản dị thế này thôi...

        Dĩ nhiên Na-ta-sa không thể nhận ra và đánh giá được sự cố gắng của bà chủ nhà. Chị ăn ít và thỉnh thoảng lại ngẩn người ra bên đĩa ăn, đáp lại một cách dè dặt những câu hỏi và trông dáng điệu thật nhút nhát. Nhưng không phải là do chị đôi khi đã bắt được những cái liếc nhìn quan sát kín dáo của hai ông bà già: cái nhìn chăm chú không rành rọt của bà An-na và cái nhìn vui vẻ, hơi giễu cợt của bố chồng. Như đã biết trước những người thân sẽ chăm chú nhìn chị, và nếu vào lúc khác thì Na-ta-sa đã cảm thấy buồn cười hơn là ngượng nghịu. Nhưng Na-ta-sa không lúc nào không nghĩ đến Pa- ven và chị cảm thấy lạ lùng là không có anh, chị vẫn ngồi được ở đây với những người thân thương nhưng vẫn còn xa lạ mà chị chỉ được biết ít nhiều qua miêu tả của anh trước đây. Khi nghĩ đến nỗi nguy hiểm đang de dọa chồng, chị chỉ muổn đứng ngay dậy khỏi bàn và lại chạy lao tới vườn hoa phủ đây lá cây ẩm ướt, nơi sáng nay chị đã chia tay với Pa-ven.

        Bà An-na cũng là người ít nói, bà chỉ chăm chú tiếp thật nhiều thức ăn cho khách thôi. Và nếu chỉ nhìn vẻ bên ngoài khắc nghiệt của bà thì không ai có thể nhận ra là bà đau lòng như thế nào khi trông thấy vợ Pa-ven — mà lúc này đây còn là người phụ nữ hầu như xa lạ dối với bà — ngồi đây, trong khi anh vắng mặt và cũng có thể không khi nào trở lại đây nữa. ,

        Chỉ có một mình ông già A-Iếch-xây nói chuyện bên bàn ăn. Ông hỏi Na-ta-sa về Mát-xcơ-va vỀ gia đình chị, đùa vui trước ý định trở thành kỹ sư của chị và nói chung ông nói chuyện như thể không có gì làm ông bận tâm. Sau hai ba câu, ông chuyển sang gọi con dâu là « con » và gọi theo tên chị.

        — Trước kia bố có một con trai duy nhất, còn bây giờ có thêm con gái nữa. Sắp tới, bố không tránh khỏi trở thành ông nội, — ông pha trò. — Sao con ăn ít thế, Na-ta-li-a. Không tốt, con gái ạ! Phải ăn nhiều vào... Có thể con còn lớn thêm nữa chứ !

        Và dưới hàng lông mày rậm, đôi mắt ông ánh lên vẻ hoàn toàn trẻ trung, vui vẻ. Bà An-na chăm chú nhìn anh trai, chưa bao giờ bà thấy ông già sôi nổi và cởi mở bằng hôm nay. Thậm chí bà còn nghĩ là, sau một thời gian dài kiêng kị, liệu rượu có quá tác động anh ấy không ?

        Uống cạn thêm một ly nữa, ly cuối cùng, A-lếc-xây đứng dậy khỏi bàn.   

        — Thôi, những con bồ câu của tôi ơi, tôi đi đây, — ông báo tin. — Đã đến lúc rồi!...

        Khi ông nói điều này, Na-ta-sa nhận thấy một cái gì đó rất quen thuộc. Nụ cười ông già nở rộng nhã nhặn, hiền từ, và qua những nếp nhăn của ông, bỗng nhiên xuất hiện những nét khác rất đáng yêu của Pa-ven.

        — Cẩn thận đấy, hai cô cháu đừng có cãi nhau nhé! — Ổng nói đùa và mặc áo rét. — Theo như tôi nghiệm thì khi hai bà chủ cùng nhà thường có những cuộc cãi nhau chí tử. Có thể sau hai, ba ngày tôi sẽ về qua và kiểm tra xem hai người dàn giải với nhau như thế nào.

        Dụng cụ và một số tư trang của ông đã được xếp gọn trong các túi vải sơn dầu. Chụp vội chiếc mũ lưỡi trai lên đầu, ông ra cửa và quay lại gật đầu chào Na-ta-sa.

        Bà An-na đi ra bậc thềm tiễn ông anh. Khi quay vào, bà giật mình vì tiếng súng cao xạ vang lên bất ngờ, làm cho những tấm kính trên khung cửa cũ kỹ rung ỉên cành cạch. Nhưng vẫn không nghe thấy tiếng máy bay.

        — Thế nào, Na-ta-sen-ca, chúng ta sẽ cùng rửa bát đĩa nhé! — Bà già nói.

        Theo con đường tới A-rxê-nhi-ép-xcơ, đại đội dự bị của trung đoàn công nhân nhanh chóng tiến vào làng, nơi mà họ phải phòng ngự ở đó. Các chiến sĩ khẩn trương đào chiến hào ở cổng làng phía nam và dọc theo con đường bọn Đức có thể xuất hiện từ phía A-rxê-nhi-ép-xcơ tới. Pa-ven Grô-mốp nhận được lệnh của đại đội trưởng cho trung đội anh chiếm lĩnh trên một gò cao ở cánh đồng nông trang.

        — Anh đã rõ nhiệm vụ chưa ? — Đại đội trường hỏi Grô-mốp. — Tôi nhắc lại: các anh che chở phía sườn cho chúng tôi. Nếu quân địch bị chặn lại trên đường cái, chúng sẽ đánh tạt vào sườn trận địa chúng ta. Nhiệm vụ các anh là hãy chặn chúng lại bằng hỏa lực của mình và tiêu diệt chúng. Anh đã rõ chưa?


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Năm, 2020, 01:47:45 pm

        Đại đội trưởng, dáng người xương xương, nhỏ nhắn, rất trẻ, chỉ độ hai mươi hai, hai ba tuổi. Anh mặc chiếc áo ca pốt da, đội mũ lưỡi trai, viền đỏ ở vành chỏm hơi vênh lên. Vừa nói anh vừa hất đầu về phía sau. Hàng lông mạy đen, rậm mọc sát tới gốc mũi tạo cho anh một vẻ cau có.

        — Rõ... Tôi hiểu đầy đủ. — Nghiêng người Về phía chỉ huy của mình, Pa-ven vội vàng trả lời.

        Các anh sẽ bắt đầu trận đánh khi bọn Đức quay về phía các anh. Và lúc đó các anh hãy tự đứng vững dù cho cả một tiểu đoàn địch có tiến công các anh đi chăng nữa!

        — Hoàn toàn đúng! — Pa-ven đáp với vẻ sẵn sàng hoàn thành mệnh lệnh.

        — Anh hãy nhắc lại nhiệm vụ. — Đại đội trưởng nói.

        — Nói chung tất cả đều đã rõ... — Pa-ven bắt đầu.

        — Anh hãy nhắc lại nhiệm vụ. — Trung úy lắc đầu ngắt lời.

        Khi Grô-mốp nói, anh ta không rời đôi mắt đen cáu kỉnh khỏi người trung đội trưởng của mình.

        — Lần này là lần đầu và cũng là lần cuối cùng anh hãy nhớ lấy là không khi nào được tranh cãi với chỉ huy. — Anh nói khi Pa-ven kết thúc.

        — Rõ. — Pa-ven trả lời không hè tỏ vẻ bực bội.

        Sau đó trung úy chỉ dẫn chỗ nào nên đặt ụ súng, chỗ nào nên đặt súng máy. Anh cho thời hạn hoàn thành tất cả những công việc đó là hai giờ. Buông một câu ngắn gọn: « Đồng chí hãy thi hành đi! », và trung úy vội vã sang trung đội bên cạnh. Trông anh có vẻ rất căng thẳng và trực tính. Trung úy đi chậm chạp, khó nhọc lôi đôi ủng bằng vải không thấm nước cực to ra khỏi đất bùn nhầy nhụa.

        Grô-mốp nhìn theo anh với vẻ kính nề và biết ơn. Dù tuổi đời còn trẻ, người thanh niên nghiêm nghị và dứt khoát, am hiểu và biết làm nhiều việc hơn so với Pa-ven và chắc là, so với tất cả những ai ở đây. Cánh đồng lặng gió, không khí tươi mát và yên tĩnh. Trời đầy mây, những tia nâng yếu ớt tỏa xuống cánh đồng. Pa-ven cũng cầm xẻng, nhìn gương trung đội trưởng, các chiến sĩ cùng khẩn trương, vội vã đào đất. Đất mềm và sũng nước. Sau lớp đất màu bên trên là tầng đất sét đỏ thẫm. Trông thấy đất sét đỏ trên mặt hào, Pa-ven ra lệnh mang đến mấy bó lúa mạch dùng ngụy trang công sự. Người nóng bừng, mồ hôi lấm chấm, Pa-ven nhảy lên mặt công sự. Lấy tay áo lau mặt, anh quan sát xung quanh.

        Các vị trí phòng ngự của trung đội anh hình thành một góc tù, một hướng quay về cánh rừng xa xa tạo thành một dải sương mù, còn hướng khác về phương nam, nơi có con đường trơ trụi uốn khúc. Sườn đồi nơi Pa-ven đứng dốc thoai thoải xuống tận đường. Ở phía dưới, các công sự của trung đội bạn bên cạnh loáng thoáng ngay bên lề đường cày thẳng tắp, chạy dài tận chân trời. Lớp đất đen màu mỡ đang ấp ủ trong nó những hạt giống của vụ xuân năm tới. Từ chính đường cái, một con mương thẳng tắp với dòng nước đục lờ mờ cắt ngang cánh đồng. Mấy cây bạch dương mảnh khảnh trên nền đất cày đen thẫm. Bên trái làng là một rừng thông xanh, rậm rạp,

        — Họ chọn chỗ không đến nỗi tồi. Cậu nghĩ thế nào, Ê-go? —  Pa-ven hỏi với một giọng trầm, to khỏe đến nỗi mọi người xung quanh đều nghe rõ. — Không nhận ra thì đừng có mà đến gần chúng ta. Vị trí rất tốt,

        « Đây là ý trời! » Trô-sin nghĩ.

        Anh ta đứng dưới công sự, đầu ngẩng cao, người tựa vào chiếc xẻng. Pa-ven cởi cúc ngực áo bành tô, đi giày sàn, thô, bê bết đất sét đỏ quạch. Nhìn thấy Pa-ven đứng trên bờ công sự, Ê-go tưởng đó là một người khổng lồ.

        — Ở đó chúng ta sẽ thấy, cái gì sẽ xảy ra. — Anh ta nói lấp lửng. — Ở đó chúng ta sẽ thấy...

        — Không phải vị trí tô điểm con người, mà con người tô điểm cho vị trí. Tôi cho là như vậy, đồng chí chỉ huy ạ ! — Giọng nói khàn khan của A-nhi-xi-mốp vang lên.

        Và trên bờ chiến hào nhô lên khuôn mặt hồ hởi sẫm mồ hôi với bộ râu lởm chởm của ông.

        — Đúng vậy, ông bạn ạ! — Pa-ven nói to — Bây giờ thì mọi thứ sẽ phụ thuộc vào chính chúng ta.

        «... Và thế là họ tìm ra một cánh đồng rộng » — anh nhớ lại một bài thơ nổi tiếng: « Có nơi dạo chơi và họ dựng pháo đài»...

        — Đồng chí chỉ huy ơi! — một người nào đó bên cạnh nói to. — Nếu có gì thì chỉ giọng nói của anh cũng làm bọn Đức khiếp sợ!...

        Tiếng cười nổi lên và Pa-ven cũng cười to, đứt đoạn, để lộ hàm răng đều đặn, trắng muốt.

        — Theo tôi thì chính xác hơn là bằng lựu đạn,— Trô-sin nói, giọng khô đặc.

        Ngâm nghía người bạn của mình, anh lại hậm hực với sức lực dư thừa cùng sự vui vẻ, mà theo anh nó không có cơ sở. Ngay dáng vẻ bề ngoài của Pa-ven đã khêu gợi trong anh một ý muốn chống đối, bảo vệ mình, cố gắng chiến thắng trong một điều gì đó. Và với lòng căm giận đã trở thành tàn nhẫn, anh cúi xuống đào, mặc dù đã khá mệt.

        — Cậu nói đúng đấy bằng lựu đạn thì sẽ chắc chắn hơn. — Pa- ven độ lượng tán thành, rồi lại cười và im bặt khi nhìn xuống con đường ờ dưới.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Năm, 2020, 01:48:23 pm

        Đại đội trưởng cùng với chính trị viên thong thả leo lên sườn đồi. Trung úy xem xét công sự và ra lệnh đào sâu thêm ở một số nơi. Khuôn mặt trẻ với hàng lông mày rậm của anh ta vẫn giữ nguyên vẻ không bằng lòng, thậm chí còn tức giận nữa. Mải nói chuyện với các chiến sĩ, chính trị viên không theo kịp đại đội trưởng. Trong khi chờ đợi chỉ thị, Pa-ven niềm nở nhìn anh từ đầu đến chân.

        — Tiếp theo đây, anh định làm gì, đồng chí trung đội trưởng? — Trung úy hỏi Pa-ven.

        — Tiếp theo à ? — Pa-ven hơi ngạc nhiên. — chiến đấu, thưa đồng chí đại đội trưởng!

        — Quan trọng là anh định đánh như thế nào cơ chứ? Điểm quan sát của anh ở đâu ? — Hất đầu về phía sau, trung úy hỏi.

        — À, vâng! Xin lỗi... — Pa-ven ngớ ra. — Tôi vẫn chưa nghĩ đến điều này...

        — Thế anh nghĩ về điều gì vậy?... — Trung úy gào lên, nhưng ngay lúc đó anh ngừng bặt.

        Pa-ven hiểu rằng, chàng sĩ quan quá trẻ này chắc chắn là mới rời khỏi trường quân sự, phải cố gắng lắm để kiềm chế cơn phẫn nộ của mình. Và không hề bực bội, anh rất thông cảm với người chỉ huy

        « Quả thật là anh chàng khốn khổ này sẽ còn rất vất vả với chúng ta, — anh nghĩ. — Nhưng không sao, chúng mình sẽ giải quyết ngay bây giờ ».

        — Từ điểm quan sát của mình, — trung úy căn dặn, — người trung đội trưởng phải cố gắng nhìn thấy tất cả các tiểu đội trực thuộc cùng các hỏa lực. Anh đã rõ chưa ?

        — Tất nhiên, — Pa-ven nói.

        — Trong trường hợp này, nếu tôi ở cương vị của anh, tôi đã chọn chỗ gần cái đống kia kìa! — Trung úy giơ bàn tay đi tất sợi xám chỉ về một trong những túp lều rơm.

        — Vâng, chỗ ấy sẽ rất tiện lợi. — Pa-ven tán thành.

        — Sau đó, cũng rất nhanh chóng quan sát trận địa và không trung. Kẻ thù có thể xuất hiện bất cứ lúc nào. Hãy xác định tầm bắn cho mỗi tiểu đội và hãy bắn thử mục tiêu. Anh đã rõ tất cả chưa? Nhắc lại đi.

        Lần này Pa-ven rất muốn nhắc lại mệnh lệnh. Lật tay áo ca pốt, trung úy nhìn đồng hồ, chiếc đồng hồ quả quít rất to, trong bao da, to hơn cổ tay nhỏ nhân của anh ta.

        — Đúng mười sáu giờ, anh hãy báo cáo tôi về việc chấp hành mệnh lệnh ! — Trung úy ra lệnh.

        — Rõ, đúng mười sáu giờ phải báo cáo về việc thi hành mệnh lệnh. — Pa-ven nói với vẻ hài lòng.

        Không thèm nhìn thêm Pa-ven, đại đội trưởng sửa lại chiếc mũ lưỡi trai mới cứng trên đầu, rồi quay lại và đi vào làng.

        . ... Không khí sạch hơn và một mảng trời xanh xuất hiện. Pa- ven đi báo cáo với đại đội trưởng. Lúc này ở phía nam từ hướng A-rê-nhi-ép-xcơ lại vọng lên tiếng súng — trong tiếng nổ hỗn loạn thỉnh thoảng lại nồi lên tiếng rền mạnh hơn, giống như tiếng thở dài nặng nề. Nhưng xung quanh vẫn yên lặng, vắng vẻ tưởng như chiến sự diễn ra ở một nơi nào đó rất xa.

        Theo khả năng của mình, Pa-ven đã thực hiện đầy đủ mệnh lệnh của đại đội trưởng. Khó hơn cả là việc xác định khoảng cách trên cánh đồng quang đãng, phẳng lì này. Và ngay lúc đó Pa-ven nảy ra ý nghĩ: anh quyết định đặt mốc — những cái gậy có túm rơm ờ trên đầu — ở khoảng cách bốn trăm và hai trăm mét cách chiến hào. Pa- ven không chịu ngồi yên phút nào, anh tự đo và cắm mốc các khoảng cách. Lòng tin của anh vào việc anh cùng các chiến sĩ sẽ đứng vững trước sức tiến công mãnh liệt của kẻ thù, càng tăng và vững chắc thêm khi đã có những cơ sở thực tế.

        Từ điểm cao của mình, Pa-ven đi xuống cổng làng, đề lại trên đất những vệt chân dài sâu hoắm. Ban chỉ huy đại đội đóng ở ngôi nhà gỗ thứ hai kể từ rìa làng. Ngôi nhà bằng gỗ ván chắc mới được lợp lại bằng những tấm sắt sơn xanh, trông sáng sủa và đẹp đẽ hơn so với những ngôi nhà bên cạnh. Trong vườn rau, mấy bụi cây trơ trụi, nhợt nhạt đứng bên cửa sổ sơn màu xanh biếc. Người liên lạc đang ngồi hút thuốc trên chiếc ghế dài màu xanh dặt cạnh cổng hàng rào.

        Bước nhanh qua mấy vũng nước bùn trong sân, Pa-ven chạy đến những bậc thềm dựng đứng. Một bà già lưng gù im lặng đứng bên đống cỏ khô xám xịt chỉ hơi gật đầu khi Pa-ven cất tiếng chào. Gỡ chiếc móc sắt đính vào cánh cửa bằng nỉ và không gõ cửa, Pa- ven bước vào phòng.

        Tay vén chiếc rèm trắng bâng vải băng, đại đội trưởng, đang đứng bêa cửa sổ và nhìn xuống đường. Anh không mặc ca pốt, vai hẹp, lưng nhỏ, trong chiếc va rơi vặn vỏ dỗ ở đằng sau nên lúc này trông càng trẻ hơn.

        — Xin phép đồng chí trung úy, — Pa-ven nói to.

        Trung úy rời khỏi cửa sổ, ngượng đỏ mặt vì cái vẻ lo lắng bồn chồn của mình.

        — Anh đấy à? Báo cáo đi. — Trung úy nói đứt đoạn.

        Tuy vậy anh đã nhanh chóng thoát khỏi tâm trạng bối rối và khi Pa-ven báo cáo xong, trung úy đã nói với vẻ gay gắt quen thuộc của anh.

        — Hãy tăng cường quan sát hơn nữa. Nếu anh phát hiện hoặc nghe thấy điều gì khả nghi, báo cáo ngay tức khắc cho tôi.

        — Báo cáo ngay tức khắc... Rõ! — Pa-ven nói.

        — Hãy kiểm tra lại vũ khí lần nữa...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Năm, 2020, 11:36:40 am

        Anh buộc phải im lặng vì một bà cụ đội khăn, khuôn mặt choắt lại như khuôn mặt trong thánh giá, bước vào phòng. Bà cụ cầm trên tay cái liễn sành.

        — Sữa nóng... Uống sữa đi các con! — Bà nói với giọng mệt mỏi, yếu ớt ở cuối câu.

        — Cảm ơn bà, bà cứ quá lo lắng. — Trung úy nói và không hiểu sao lại đỏ mặt.

        — Sữa của chúng tôi rất tốt... Sữa ngọt. — Không để ý đến lời nói của trung úy, bà chủ nhà nói thêm.

        — Nhưng bà để sữa làm gì?,.. — Người trung úy trẻ cảm thấy rất khó xử. — Và cháu đã khuyên bà nên đi đâu một lát.

        — Tôi với đứa cháu gái sẽ xuống hầm chứa đồ. Chúng tôi có hầm chứa đồ ở trong vườn... Chúng tôi sẽ ngồi ở đó.

        Bà già đặt lên bàn mấy cốc vại tráng men và rót sữa ra. Bà giữ thành liễn màu nâu bằng cái thìa con. Bà đi lại và hành động một cách chậm chạp. Pa-ven nhận thấy tay bà run run. Mấy giọt sữa đặc màu vàng rơi xuống chiếc bàn gỗ ván bào nhẵn và bà lấy bàn tay lau chúng.

        — Mẹ đi đâu được hả con? Con hãy tự suy nghĩ xem trước chiến tranh, nông trang cho mẹ ngôi nhà gỗ này. — Bà lại bắt đầu với giọng nói nhỏ đến mức thì thầm ở cuối câu. — Thôi mặc kệ nó, mặc kệ cái nhà gỗ ! Chúng tôi đi đâu cơ chứ, cái thân già yếu ớt này ? Ở đâu cũng ngần này miệng ăn.

        Bà nhìn gian nhà sáng sủa, sạch sẽ với bếp lò đang nghi ngút cháy. Những bức tường gỗ tròn dán giấy màu sặc sỡ được đục đẽo cẩn thận ở bốn góc. Những cái chậu rửa mặt bằng đồng sáng loáng bên các cửa ra vào. Một chiếc giường sắt phủ khăn trải giường có các hình cây bài Pích ở giữa. Căn phòng ấm áp và rộng rãi thoảng mùi thơm dễ chịu của nhựa cây, sàn nhà rửa sạch và mùi bánh mì đang nướng thơm phức.

        — Chúng tôi không thể bỏ đi... Còn các con uống đi, uống đi! — Bà già tiếp tục. — Sữa ở đây nổi tiếng cả vùng này. Khi còn hòa bình, chúng tôi mang vào bán ở thành phố, bán cho các nhà trẻ...

        — Vâng ạ, cảm ơn mẹ.— Trung úy nói và nhìn Pa-ven.

        — Nào, các con cứ tự nhiên, đừng ngượng gì cả! Lạy trời cho các con sống lâu!

        Bà già cúi thấp người xuống và đi ra cửa. Nhân tiện bà lấy mũi giày sửa lại chiếc thảm lau chân.

        Trung úy đợi cho đến khi những bước chân chậm chạp của bà im bặt trong đám cỏ khô, anh chau mày và hàng lông mày rậm tạo thành một đường dựng đứng lên.

        — Anh hãy nhớ rằng,—trung úy nói, — nếu không có mệnh lệnh mà anh rút lui thì tôi sẽ bắn đấy!

        Không kiềm chế nổi, Grô-mốp mỉm cười: anh rất thích người chỉ huy mới mẻ này. « Con gà trống con cừ đấy! » — anh hài lòng nghĩ.

        — Đồng chí trung úy, tôi hiểu rồi! — Pa-ven nói rõ— Nhất định là thế!

        Anh muốn bày tỏ vẻ đồng tình, cởi mở của mình một cách rõ ràng hơn, nhưng trung úy quá nghiêm khắc và khó tiếp xúc.

        — Anh cũng nhớ rằng, — trung úy tiếp tục — chúng tôi đã gài mìn trên đường rồi. Con mương và cánh rừng che chở cho chúng tôi ở sườn bên trái. Và chắc chắn là kẻ thù sẽ tiến công chúng ta từ sườn bên phải ở vị trí của các anh. Trong trường hợp này tôi sẽ hỗ trợ cho các anh.

        — Cảm ơn đồng chí trung úy! — Pa-ven cảm động nói.

        — Trong trường hợp nếu kẻ thù vẫn cứ tiến công vào chính diện

        thì các anh chỉ nổ súng khi được lệnh của tôi. Các anh không được tự xuất hiện trước thời cơ. Có điều gì anh chưa rõ không ? Cử hỏi đi!

        — Không có gì cả,— Pa-ven vui vẻ trả lời. — Tất cả đều rõ ràng.

        — Xong rồi. Anh có thể đi. — Trung úy liếc nhanh sang cốc sữa. — Hãy uống cái này đi, nếu như anh muốn...

        Pa-ven cầm một cốc và uống hết một hơi ngon lành.

        — Còn anh làm sao thế? Hay là anh không thích? — Vừa lau miệng, Pa-ven vừa hỏi.

        — Tôi à ? —Trung úy như thể ngạc nhiên. Và tôi cũng có thể... —  Anh nhún vai, nói.

        Uống một hơi hết cốc vại sữa, anh hơi do dự và lại rót thêm.

        — Thật vậy, sữa ngon tuyệt vời !—Anh nói như thể để thanh minh. — Thú thực, tôi rất thích sữa nóng...

        — Tất nhiên là như vậy! — Pa-ven đồng tình và cũng bước tới liễn sữa.

        Cứ đứng vậy, họ nống cốc vại thứ hai.

        — Khoái thật! — Pa-ven xác nhận.

        — Này, này đồng chí Pa-ven — Trung úy nói với giọng dịu dàng hơn, — trong trung đội anh có người nào có kinh nghiệm chiến đấu không ?

        — Có ba người đã tham gia nội chiến, còn phần đông là thanh niên...

        « Nhưng anh đừng lo, chúng tôi không phụ lòng anh đâu » — Suýt nữa thì Pa-ven thêm vào.

        — Như vậy đấy... Thôi, làm sao được, — trung úy lại trở nên nghiêm khắc.

        Đặt cốc vại lên bàn, đút tay vào túi quần, anh đi đi lại lại quanh phòng, sau đó dừng chân trước mặt Pa-ven.

        — Và anh hãy nhở lấy một điều này nữa: chủng ta không để cho bọn phát xít tới đây. Tất cả có ngã xuống đây chăng nữa, nhưng chúng ta nhất thiết không cho chúng lọt vào. — Anh nói với giọng cương quyết nhất.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Năm, 2020, 11:37:04 am

        Khi trở về, Pa-ven lại nhìn thấy bà chủ nhà ở ngoài sân. Bà đang dùng xẻng khoắng cái gỉ đó trong thùng gỗ. Bên cạnh bà là một cô gái quàng khăn bông đỏ, mặc áo da ngắn đang đổ từ xô vào thùng. Cả hai đều nhìn Pa-ven nhưng vẫn không ngừng làm việc. Trên khuôn mặt ửng hồng của cô gái, Pa-ven nhận ra vẻ tò mò nhút nhát. Từ gian phụ xây thêm dưới mái gỗ kéo dài đến tận tường sau của ngôi nhà, vọng lại tiếng rống rền rĩ kẻo dài.

        Hoàng hồn đang buông xuống. Đấy là những phút ngắn ngủi trước khi trời tối, là lúc mà cả những vật xa xôi cũng hiện lên đặc biệt rõ ràng. Bầu trời nhuộm màu xanh, xa xa phía chân trời, cánh rừng hiện ra rõ hơn. Và trên cánh đồng màu đen sau đường cái, một vệt nước thẳng, sáng lấp lánh trong ánh hoàng hôn.

        Pa-ven đi thăm trung đội một lượt, nói chuyên với các tiểu đội trưởng và trở về lều của minh. Tất cả những gì mà anh và các chiến sĩ của anh có thể làm được trước cuộc chạm trán với kẻ thù, họ đã làm và lúc này họ chỉ còn mỗi một việc ngồi chờ. Một vẻ im lặng kỳ lạ bỗng nhiên xuất hiện sau một ngày huyên náo đầy những công việc. Pa-ven cảm thấy như anh bất ngờ dừng lại sau cuộc chạy đường dài và chỉ có lúc này mới có khả năng nhìn lại. Anh cởi mũ lông và phó mặc mái tóc rối, đầy mồ hôi cho bâu không khí lạnh lẽo. Người liên lạc của anh mặc áo ca pốt quân sự. Anh ta đi lại gần đó và xếp cành cây cùng rơm rạ thành chỗ ngủ ban đêm.

        — Này, I-gna-chi-ép, cậu đã xây cả một cung điện đấy à? — Pa-ven nói với anh ta.

        — Tôi sợ rằng đến đêm sẽ có mưa. — Người liên lạc miễn cưỡng trả lời.

        Pa-ven không tiếp tục nói chuyện nữa. Anh ngạc nhiên trước sự yên tĩnh bao quanh : tiếng súng đã ngừng, chỉ nghe thấy tiếng lép nhép của đất dưới chân các chiến sĩ và tiếng xích sắt loảng xoảng bên giếng nước.

        Một tiếng rền rất nhỏ vọng lại từ đâu đó, tiếp theo là tiếng thứ hai to hơn. Pa-ven quay lại và nhìn về phương bắc: ở đấy trong bầu không khí lờ mờ như trong tấm ảnh phai màu, nhấp nhô những ngôi nhà cao thấp, những ống khói nhà máy nhỏ dài như những chiếc kim khâu. Ở giữa đường đến thành phố là một cánh rừng nhỏ hình tròn giống như một đám mây xám rơi xuống mặt đất. Tiếng nổ thứ hai đã. vọng lại, nhưng tiếng thứ nhất vẫn còn đơn điệu rền rĩ.

        Một trạng thái rất đỗi ngạc nhiên dâng lên trong Pa-ven. Và nếu có thể so sánh được với cái gì thì, trước hết, nó giống cảm giác lúc bay với vận tốc giới hạn mà ta nhìn thấy. Cách đấy không xa —  chỉ trong tầm tay thôi, là thành phố thân yêu, nơi anh — Pa-ven Grô-mốp đã sinh ra, lớn lẻn và làm việc. Ở đó, anh có người vợ yêu thương, người bố kính mến và cũng ở đó, nơi ngoại ô thành phố, các đồng chí cùng nhà máy, các bạn cùng tuổi của anh đang cầm súng trong tay, hoặc đang đào công sự, hoặc đang đi trinh sát. Cũng ở nơi hướng bắc đó, xa xa là Mát-xcơ-va, thủ đô thân yêu, nơi anh đã học, đã yêu và đã vào Đảng... Và xa hơn, dù Pa-ven có nhìn thấy hay không nhìn thấy chăng nữa, là đất nước bao la của anh đẹp nhất trên thế giới này đang trải ra ở xung quanh. Lúc này, trên các bình nguyên, hàng nghìn người như anh đang đi vào trận chiến hoặc đứng bên cỗ máy của mình để sản xuất vũ khí. Tất cả những cái đó hình như anh đã nhìn thấy với cảm giác và hình ảnh sâu đậm nhất, nhớ tới nó trong những giây phút hiếm hoi này. Một điều gì đó hé nở trong tim Pa-ven trước cảnh trời chiều thoảng màu hồng ở phía tây, với khu công nghiệp xa xa và đám rừng thu như một đám mây tròn. Và như trước đây anh chưa bao giờ hiểu được một cách đầy đủ thân yêu trìu mến đến như vậy cái điều cao quý hơn cả chính cuộc sống của anh và lớn hơn rất nhiều so với cuộc sống riêng của mỗi người, là Tổ quốc, Tổ quốc của anh.

        Anh ưỡn thẳng người ra, cởi khuy trên cùng của chiếc áo cúc lệch, chậm rãi đưa bàn tay xoa xoa chiếc cổ hở, ướt át và thở dài thành tiếng.

        — Đang nghĩ gì thế, đồng chí Grô-mốp? — Bỗng anh nghe thấy giọng nổi ở ngay sau lưng.

        Ê-li-xây-ép, chính trị viên và Ê-go Trô-sin đang ở phía sau đi tới. Chắc Ê-go vẫn lạnh tuy đã mặc chiếc áo ấm của Pa-ven từ sáng, anh ta đứng gù gù cho tay vào tay áo chiếc-bành tô của mình. Hỏi xong, chính trị viên ngồi xuống một bó rơm.

        — Thở dài vì chuyện gì đó thế, đồng chí trung đội trưởng?  — Chính trị viên nhắc lại câu hỏi.

        — Vâng, đang suy nghĩ, hồi tưởng. — Pa-ven bối rối trả lời. Quanh quẩn rồi anh cũng ngồi xuống rơm.

        — Thực lòng mà nói, thở dài vì cảm thấy sung sướng đấy ! — Anh thú nhận.

        — À, ra thế đấy! — Ê-li-xây-ép liếc nhìn anh. — Nhưng điều gì làm anh vui sướng thế ?

        — Pa-sa, cậu đang tường tượng! Và tưởng tượng để làm gì cơ chứ? — Trô-sin nói.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Năm, 2020, 11:37:54 am

        Anh ta vẫn cứ đứng, từ chiếc cổ áo bành tô dựng đứng nhô lên đôi má và hàng lông mi trắng lấp lánh.

        — Tôi e rằng tôi không thể giải thích được cho các anh. — Pa-ven cảm thấy khó nói bởi vì anh phải diễn đạt những suy nghĩ rất thân thiết nhưng mơ hồ. — Các anh có biết không, tôi... bỗng nhiên cảm thấy một tình cảm mãnh liệt, một tình yêu đối với Tô quốc trào dâng trong tôi...

        Và anh lại nhìn về phía thành phố. Trời đã bắt đầu tối và dáng hình gãy góc của những tòa nhà hầu như đã mất đi.

        — Rất khó thú nhận trong một tình yêu lớn. — Anh nói tiếp vẻ vô tư, bình thản. — Không hiểu sao chúng ta lại im lặng không dám nói về điều này. Quả thực... chưa bao giờ tôi cảm thấy tôi yêu nó như lúc này...

        — À, à... — Ê-li-xây-ép kéo dài giọng và gật đầu.

        Trong ánh hoàng hôn nhờ nhờ, khuôn mặt với bộ râu như lưỡi dao hẹp của ông trở nên có vẻ nhợt nhạt hơn. Mải suy nghĩ, ông vô tình cầm lên một cọng rơm và lấy móng tay xé nó ra thành từng mảnh nhỏ.

        — Có những phút như thế đấy! — Ông nói sau một lát im lặng. —  Chẳng hạn như năm mười chín, lúc tôi may mắn được trông thấy đồng chí Lê-nin.

        — Đồng chí đã trông thấy Lê-nin à ? — Pa-ven hỏi.

        — Hôm ấy là mười sáu, tháng Mười, năm mười chín. — Vứt cọng rơm, chính trị viên nói —Cũng là một ngày mùa thu như bây giờ. Vla-đi-mia I-lích đến với chúng tôi trên ban công tòa nhà Xô-viết Mát-xcơ-va...

        — Đúng vào lúc Đê-nhi-kin1 chiếm được Ô-ri-ôn, — Trô-sin chen vào câu chuyện — và đang nhằm vào Mát-xcơ-va.

        — Ừ, đúng rồi! Tình hình lúc ấy thật nguy hiểm. Những người công nhân được động viên tập trung ở quảng trường trước trụ sở Xô-viết Mát-xcơ-va. Và đồng chí Lê-nin đến với chúng tôi trên ban công.

        — Thế chính anh cỏ nghe thấy Người nói không?—Pa-ven hỏi và nhấn mạnh vào chữ « chính anh ».

        — Tôi còn trẻ, trạc tuổi anh ấy. — Chính trị viên tiếp tục — Và có thể nói một phần tư thế kỷ đã qua, kể từ mùa thu ấy... Thế mà tôi vẫn nhớ tất cả y như thể điều đó mới xảy ra hôm qua. Và tôi nhớ cả nỗi hồi hộp của mình.

        — Hừ, đấy là điều dễ hiểu thôi. — Trô-sin nhận xét. — Làm sao quên được những phút như vậy.

        — Lê-nin nói chuyện với chúng tôi. — Ngẩng đầu lên, chính trị viên nhìn thẳng về phía trước. — Người nói «tình hình cực kỳ nghiêm trọng. Nhưng chúng ta không thất vọng, bởi vì chúng ta hiểu rằng, mỗi khi nước Cộng hòa Xô-viết gặp khó khăn thì trong những người công nhân chúng ta đều biểu hiện tinh thần dũng cảm tuyệt vời và bằng tấm gương của mình, họ động viên quân đội, dẫn dắt quân đội đến những thắng lợi mới».

        Ê-li-xây-ép im lặng, trầm ngâm hết giây này sang giây khác. Người chiến sĩ liên lạc tiến đến cạnh ông, bước lệt sệt trên đất dính rồi dừng lại chờ đợi. Từ cổng làng lại vang lên tiếng xích sắt ở giếng nước, từ các công sự vang lên tiếng nói chuyện ồn ào, hỗn loạn và mùi thuốc lá cuộn bốc lên.

        — Lê-nin còn nói, — Chính trị viên lại tiếp tục, — « Dù nước Nga có bị hy sinh và thiệt hại nặng nề như thế nào chăng nữa, nhưng nước Nga vẫn kiên cường chiến đấu cho sự nghiệp của tất cả mọi người công nhân. Bọn đế quốc có thể đè bẹp được một, hai nước Cộng hòa nữa nhưng chúng khổng thể cứu vãn nổi chủ nghĩa đế quốc quốc tế. Bởi vì nó không tránh khỏi...».

        — Rất đúng... — Người chiến sĩ liên lạc nghiêm trang nói.

        — Và, «... chúng ta biết rằng... — Chính trị viên nói tiếp. Ông đang say sưa và lúc này ông nói như thể những ý nghĩ của Lê-nin chính là ý nghĩ của ông vừa mới nảy ra, — chúng ta biết rằng phong trào cách mạng trên toàn thế giới, — ông cao giọng — ở tất cả các nước, không trừ một nước nào đang... phát triển không ngừng. Và chúng ta cũng biết rằng, giai cấp công nhân toàn thế giới nhất định sẽ chiến thắng ».

        Với vẻ phấn hứng bất ngờ, ông bật đứng dậy, hai tay chắp sau lưng, im lặng đứng đó. Từ phía dưới, Pa-ven chỉ nhìn thấy bộ râu đốm bạc và những ngón tay đan lại với nhau.

        «Một con người tốt thế! — Pa-ven thầm nghĩ. — Bao nhiêu lần gặp nhau, thế mà mình cũng không thấy được đây là một con người tuyệt diệu!».

        — Đồng chí chính trị viên, thế Lê-nin trông như thế nào? Chắc là mặc áo bành tô và đội mũ lưỡi trai phải không? — Trô-sin thích thú hỏi.

        — Mặc bành tô à? Ừ, chắc vậy... Tôi không nhớ được chính xác. — Giọng Ê-li-xây-ép có vẻ ân hận. — Tôi nhớ khuôn mặt, nhớ giọng nói thế mà quên mất điều này...

        Pa-ven chăm chú lắng nghe, mỉm cười đề lộ hàm răng trắng toát trong bóng hoàng hôn lờ mờ. Anh cảm thấy yên tâm, thoải mái, nhẹ nhàng một cách lạ thường y như trong những phút tươi sáng trọn vẹn nhất của cuộc đời và khi đạt được ý nghĩa cao cả nhất của nó.

        Tất cả mọi điều nhỏ nhặt, tất cả những lo lắng hàng ngày đã biến đi và trong anh chỉ còn lại một điều cực kỳ đơn giản nhưng quan trọng nhất — chiến đấu vì hạnh phúc của nhân loại trên trái đất, chiến đấu vì chủ nghĩa cộng sản.

---------------------
        1. Tướng bạch vệ phản cách mạng.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Năm, 2020, 11:38:18 am

        ... Thoáng sau, chính trị viên đi chỗ khác. Pa-ven đứng dậy và đưa mắt tiễn theo ông, anh liền nhận thấy cánh rừng như một đám mây đã biến đi tựa như bị tan ra và hòa vào không trung mất rồi. Vùng ngoại ô cũng mất đi và trong màn đêm, cánh đồng sau con dường trở nên tối sẫm. Cây thông cổ thụ cạnh làng cũng có màu xám y hệt như vậy và lúc này cũng hòa vào với đất. Song một điều kỳ lạ là bầu trời ả phía tây không hề nhạt đi, vẫn cứ ửng hồng và vệt nước chia cắt cánh đồng vẫn còn lấp lánh.

        Pa -ven lại ngồi xuống bó rơm và cuối cùng thì Ê-go cũng ngồi xuống bên cạnh. Họ im lặng một lúc lâu, sau đó Ê-go nói nhỏ:

        — Pa-sa, mình muốn yêu cầu cậu một điều. Cậu làm ơn...

        — Cái gì thế, cậu? — Pa-ven buột miệng hỏi, đầu óc vẫn không rời bỏ những ý nghĩ lớn lao của mình.

        — Cậu đừng nghĩ minh là một thằng đồi bại hoặc ở trong tớ có mọi điều linh cảm xấu xa. — Ê-go nói.

        Xung quanh tất cả đều tối sầm lại, nhưng ánh sáng ở phía chân trời không những không tắt mà ngược lại, bừng sáng hơn. Mặt nước trên mương về phía đường cái đã bắt đầu đỏ tía và Pa-ven vừa sống với những ý nghĩ của mình vừa đợi xem đến khi nào thì nó tối lại.

        — Pa-sa này, mình muốn nói gọn là... — Ê-go nhỏ nhẹ tiếp tục, —  nếu có chuyện xảy ra với mình. — Anh ta im lặng. — Sao mà lạnh thế ? Thế này, nếu mình... làm sao... ừ, cậu cũng biết đấy... còn cậu thì may mẳn... Nói chung trong bọn mình thì cậu là người may mắn...— Anh ta nói líu nhíu và khó nhọc hé đôi môi lạnh buốt, — cậu hãy viết mấy dòng về Xve-rlốp-xcơ. Ở đó mình có một người quen, mình chưa kể cho cậu. Và cậu viết cho cô ấy: Ê-go Trô-sin đã đi công tác dài hạn, tuyệt đối không được khóc lâu. Tớ đã chuẩn bị địa chỉ, đây này. — Và anh ta giúi cho Pa-ven mẩu giấy.

        Pa-ven ngạc nhiên nhìn bạn vì lời đề nghị này là rất bất ngờ và quá khắc nghiệt đối với Pa-ven.

        — Thôi được, Ê-go, mình cứ giữ địa chỉ của cậu. — Pa-ven cố nói bình thản. — Nhưng cậu không được nghĩ về điều này. Và tại sao cậu cứ nhất định phải hy sinh cơ chứ?

        — Thế đấy, Pa-sa ạ! — Trô-sin lại bắt đầu nói.—Tất nhiên là sự việc không phải ở trong linh cảm. Cũng như cậu, mình hiểu rõ: không kẻ nào có thể dè bẹp được chúng ta. Nhưng với chính tớ, chính Trô-sin này thì có thể xảy ra điều không may. Mình chỉ lo xa một cách hợp lý. . — Mấy lời cuối Cling của anh ta hoàn toàn líu lại.

        — Ê, anh bạn, cậu đã lạnh lâm rồi! — Pa-ven ân cần nói. — Tốt hơn là cậu hãy chạy đi.

        — Không sao, tí nữa tất cả sẽ nóng lên! Xem kìa, chỗ này này... — Anh ta huých khuỷu tay vào người Pa-ven.

        Quay lại hướng tây, Pa-ven trông thấy cảnh hoàng hôn màu hồng lúc nãy đã biến thành màu đỏ thẫm đầy khói lửa.

        — Đấy là hướng A-rxê-nhi-ép-xcơ!— Trô-sin nói. — Còn kia là Một tháng Năm đang cháy...

        Thực ra ở phía tây nam, trên cánh rừng xa nhấp nhô như răng cưa còn một đám cháy đỏ thẫm nữa. Và chếch về bên trái một chút, một lò lửa mới tuy còn nhỏ cũng đang nghi ngút cháy, hình như kẻ thù đi đến đâu thi ngọn lửa theo chúng từ nơi này đến nơi khác. Lúc này ở nhiều nơi đã xuất hiện các đám cháy mỗi lúc một to, rõ hơn khi bóng tối mỗi lúc một dày hơn. Còn trên cánh đồng đen thẫm mà lúc này không khác gì bầu trời, dần dần hiện ra vệt nước dài, thẳng như lưỡi giáo.

        Mọi người ngồi yên trong công sự. Không khí im lặng bao trùm và trôi qua hết phút này đến phút khác. Sau đó Pa-ven và tất cả mọi người bên anh đều nghe thấy một tiếng rền, ban đầu còn nhỏ nhưng dần dần vang to hơn. Rõ ràng tiếng rền đó đang tiến gần tới và qua đó đã nghe rõ được tiếng máy nổ: xe tăng từ A-rxê-nhi-ẻp- xcơ đang tiến về hướng này...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Năm, 2020, 05:52:08 am

PHẦN THỨ HAI

1

        Trước tối, bộ tham mưu bộ chỉ huy khu vực được biết chính xác quân địch đã chiếm được A-rxê-nhi-ép-xcơ, vượt qua các đơn vị của ta ở khu vực núi trắng và chiếm làng mới trên con đường dẫn tới T. Nhưng muốn nắm thật chính xác tin tức về ý đồ và lực lượng của địch, cần phải tổ chức trinh sát liên tục bằng nhiều biện pháp và từ nhiều hướng khác nhau...

        Việc trinh sát quân sự được sự giúp đỡ to lớn của nhiều đoàn viên Côm-xô-môn ở T. Và trong trường hợp này cũng như trong nhiều trường hợp khác, đó là kết quả của công tác chuẩn bị mà các cơ sở Đảng và Đoàn đã làm... Khi mới nghe tin kẻ thù đang tiến gần đến thành phố và người ta đang lập trung đoàn công nhân để bảo vệ thành phố, hàng trăm thanh niên — gồm công nhân trẻ, sinh viên, học sinh các lớp cuối cấp — đã mang theo bao đồ, có khi chỉ giúi vào túi áo bành tô một gói nhỏ xà phòng cùng khăn mặt rồi đi đến trụ sở khu đoàn Côm-xô-môn. Các cô gái xin nhập vào trung đoàn cứu thương. Từ các thôn làng, các đoàn viên Côm-xô-môn đi thành từng toán hoặc từng người riêng biệt để vào thành phố, có người mang theo cả súng săn... Trong những ngày cuối tháng mười này, trụ sở đoàn Côm-xô-môn ở T. giống như ban tham mưu của các đơn vị chiến đấu: ngày cũng như đêm, trong các hành lang, trên cầu thang cũng như phòng làm việc luôn chật ních người, những tiếng yêu cầu vọng lên rất to, điện thoại réo liên hồi và những chiến sĩ liên lạc đi lại vội vàng. Trong lúc chờ đợi được bí thư đoàn tiếp, những người thanh niên công nhân trở thành các xạ thủ súng máy đã làm quen với những chàng trai nông thôn đến đây để được cầm vũ khí, những cậu bé mới lớn chuyển báo chí cho các đơn vị chiến đấu, dán các bản tin của thông tấn xã Liên Xô trên đường phố, hoặc trao đổi ý kiến với những cậu bé thu lượm quần áo ấm cho bộ dội. Ở đây, ngày cũng như đêm rất ồn ào ; ở đây, họ thảo luận, tranh cãi, chứng minh về những công việc đã làm, về những nhiệm vụ mới và thậm chí đôi khi còn hát hò, đọc thơ nữa. Và từ đây, những con người tình nguyện mới mười tám tuổi đời ấy, vừa vội vã đi, có lúc phải nhảy qua hai ba bậc thang, vừa chia tay các bạn bè, đồng chí ra mặt trận và chạy vội dưới làn mưa thu rét buốt, chi kịp giấu trên ngực tờ công lệnh nhập ngũ vừa mới nhận xong. Trong các tiểu đoàn của trung đoàn công nhân T, già một nửa chiến sĩ — già một nửa nhé —  là thanh niên được các khu đoàn và tỉnh đoàn giới thiệu tới.

        Những người kiên nghị đáng tin cậy nhất được chọn vào các tổ diệt tăng và trinh sát. Họ được học qua lớp huấn luyện đặc biệt gấp rút. Khi các sư đoàn quân Đức tiến tới thành phố thì những tổ này theo quyết định của Hội đồng quân sự thành phố, được bàn giao cho ban chỉ huy quân sự.

        ... Buỏi sáng hôm ấy, Ôn-ga Chi-khô-nốp-na vẫn không gặp được con trai. Vô-lô-đi-a không ở trong vườn hoa, anh được phái đến bộ tham mưu khu vực chiến đấu cùng với tổ trinh sát của mình. Ngay chiều hôm đó, Vô-lô-đi-a được gọi tới gặp đại úy chỉ huy. Chỉ huy mới tuy chưa già nhưng lại để bộ râu hình lưỡi xẻng màu hạt dẻ Scing. Theo Vô-lô-đi-a, bộ râu này làm cho anh ta không có vẻ gì là nhà quân sự mà trông như người chủ nhà bình dị. Anh đã kịp làm quen với Vô-lô-đi-a từ sáng sớm. Lúc ấy họ nói chuyện với nhau tỉ mỉ: đại úy hỏi Vô-lô-đi-a đủ mọi chuyện về bó mẹ cậu là ai, cậu học ở đâu, đã vào đoàn lâu chưa và yêu cầu kề về các bạn trinh sát cùng tổ. Anh vừa lắng nghe, vừa luôn mỉm cười dường như không tin Vô- lô-đi-a lắm, do đó làm cho cậu ta lo lắng: phải chăng chi huy đối xử với cậu ta không được nghiêm túc ?

           — Anh quyết định trở thành trinh sát như thế nào? Tất cả điều đó diễn ra như thế nào? — Đại úy hỏi.

        — Rất đơn giản thôi. — Vô-lô-đi-a trả lời với giọng đứt đoạn — Từ mùa hè, khi chiến tranh bùng nổ, chúng tôi đã đến ban quân sự khu phố... Tôi và Vi-chi-a Vê-rép-kin... Chúng tôi đã đến đấy mấy lần nhưng đều không ăn thua gì...

        — Họ không nhận các anh vào quân đội à ? — Đại úy hỏi.

        — Không. — Vô-lô-đi-a đứng trước, chỉ huy, ưỡn thẳng người, hai tay buông thõng, nhưng các ngón tay cứ cuống lên và vò vạt ngoài của chiếc áo bông trần — Tất nhiên là chúng tôi chưa đến tuổi nghĩa vụ. Nhưng đó chi là hình thức. Tôi cho là như vậy...

        — Về sau ra sao ?

        — Tiếp theo thì anh biết dấy, tình hình chiến trường mỗi ngày trở nên nghiêm trọng và chúng tôi lại tới tỉnh đoàn Thanh niên Cộng sản... Tôi, Vi-chi-a Vê-rép-kin và còn một bạn nữa cùng phố là Xê- rô-gia Xam-bơ-nốp. Ở tỉnh đoàn, chúng tôi nói thẳng là chúng tôi không chịu khoanh tay ngồi chờ. Lúc này mà khoanh tay ngồi chờ là một điều đáng xấu hổ.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Năm, 2020, 05:52:42 am

        Khuôn mặt xương xương ngăm đen của Vô-lô-đi-a với hàng lông tơ sẫm màu trên đôi môi mấp máy chai sạn vì nắng mưa — một khuôn mặt trẻ hiện rõ vẻ thông minh và chân thật — trở nên nghiêm nghị.

        — Và lời nói của anh tác động đến họ à? — Đại úy hỏi có vẻ ngạc nhiên.

        — Thật lòng mà nói thì không phải. — Vô-lô-đi-a nhún vai. — Trong tỉnh đoàn còn nhiều bạn khác từ các nơi nhưng họ chỉ lấy những ai đủ mười tám tuổi. May là họ nhận ra chúng tôi qua công tác thanh niên.

        — Họ đã huấn luyện các anh như thế nào về cái nghề này? —  Đại úy lại hỏi tiếp.

        — Lúc đầu họ phân công chúng tôi vào tiểu đoàn xung kích. Ở đó, chúng tôi học bắn súng trường, ném lựu đạn. Sau đó họ huấn luyện riêng cho chúng tôi. Còn khi họ chuyển chúng tôi về trung đoàn thì không còn thì giờ mà học nữa.

        Cuối buổi nói chuyện, đại úy nhoài người qua chiếc bàn và chống một tay lên cằm, hỏi nhỏ như thể chuyện bí mật:

        — Hiện nay tinh thần các bạn thế nào? Tâm trạng ra sao?

        Vô-lô-đi-a im lặng để suy nghĩ câu trả lời, thầm nhớ lại từng đồng chí của mình.

        — Tất cả mọi người đều nóng lòng được tham gia chiến đấu. — Cậu ta nghiêm nghị nói. — Tinh thần mọi người đều rất tuyệt vời!

        Buổi chiều đại úy tiếp Vô-lô-đi-a Chi-khô-nốp khô khan hơn. Ông đang bận, lặng lẽ đo bản đồ một lúc khá lâu chẳng nói năng gỉ, sau đó mới ngước mắt nhìn Vô-lô-đi-a và trong đôi mắt đã biến đi vẻ cười cợt, chỉ còn đọng nỗi lo âu. Đại úy hỏi Vô-lô-đi-a đã tới làng Một tháng Năm chưa? Sau khi được biết đã có lần Vô-lô-đi-a đi săn cùng với bố gần làng này, đã bán vịt trời trên con sông con chảy qua đó, đại úy nói:

        — Nếu vậy, hãy nhớ đây. — Và vừa lấy com pa đo bản đồ ông vừa ra lệnh — ngay tối nay, hay chính xác hơn là vào đúng hai mươi hai giờ, Vô-lô-đi-a phải đi trinh sát làng Một tháng Năm.

        Ngoài người dẫn dường mà họ sẽ cử tới, Vô-lô-đi-a có thể lấy đi theo một chiến sĩ nữa tùy anh ta lựa chọn. Cần phải đi tới tận làng để xác định chính xác xem lúc này bọn địch có đóng ở đó không và lực lượng bao nhiêu. Ngoài ra nếu có điều kiện thì gặp người dân địa phương để điều tra xem hôm nay các đơn vị quân Đức có đi qua làng không?... Khi về các trinh sát phải báo cáo tỉ mỉ tất cả những gì họ trông thấy trên đường. Sau đó đại úy bảo họ cởi quân phục và ăn vận như những thanh niên nông thôn. Vũ khí gồm súng ngắn, lựu đạn, phải giấu kín và chỉ được dùng trong trường hợp thật cần thiết, khi không còn lối thoát nào khác.

        — Các anh không được tiến công trước. —Đại úy nói. — Nhiệm vụ các anh là tìm hiểu mọi thứ một cách tốt nhất và nhanh chóng trở về.

        — Tạm thời tránh giáp mặt với bọn Đức, tất nhiên là thế, rõ rồi ! — Vô-lô-đi-a nói.

        — Các anh trông thấy bọn xâm lược, tay cứ ngứa ngáy, tôi đi guốc trong bụng các anh... Nếu vậy, các anh cứ liệu hồn với tôi! — Đại úy đe trước.

        Nghe xong, Vô-lô-đi-a cảm thấy hơi thất vọng: theo cậu ta thì công việc này quá đơn giản. Dù sao nó cũng là nhiệm vụ chiến đấu đầu tiên nên cậu ta nóng lòng muốn nhanh chóng bắt tay vào việc. Cuối buổi nói chuyện, cậu ta chỉ biết gật đầu một cách vội vã khi chỉ huy đưa ra những lời khuyên nhủ, phải xử lý ra sao trong những tinh huống khác nhau.

        « Vâng, tất cả đều rõ rồi, như hai lần hai » —Cậu ta muốn kêu lên và không cần nghe hết, chạy ra cửa, nhưng... Chỉ thị xong, đại úy rời khỏi bàn, đến bên Vô-Iô-đi-a và đặt tay lên vai cậu ta.

        — Không cần hỏi gì à? — Ông hỏi nghiêm nghị, không cười, đầu hơi cúi xuống để bộ râu lờm xờm trên ngực.

        — Không, thưa đồng chí đại úy. — Vô-lô-đi-a nói vội.

        — Và không có gì thắc mắc chứ? Hãy suy nghĩ kỹ, đừng vội trả lời ngay. Đừng hấp tấp.

        Vô-lô-đi-a im lặng nhìn đại úy. Trong đôi mắt xám của cậu ta hiện rõ vẻ băn khoăn thực sự, cho nên đại úy đã không chờ đợi câu trả lời.

        — Thôi,... đi đi. — Ông nói nhưng lần này lại mỉm cười. — Nhớ kỹ là chúng ta rất cần biết những gì đang xảy ra ở làng Một tháng Năm.

        Vô-lô-đi-a chào theo kiểu quân sự và làm động tác « đằng sau quay», rồi chạy ra cửa.

        Đối với cậu thì vấn đề chọn người cùng đi trinh sát đã được giải quyết ngay. Cậu không do dự chọn ngay Vi-chi-a Vê-rép-kin, người trẻ nhất trong tổ. Thứ nhất là do cậu và Vi-chi-a thăm giao ước rằng cả hai sẽ đi trinh sát. Thứ hai là tuy Vi-chi-a người hơi thấp so với tuổi nhưng to, khỏe, kiên trì, cực kỳ tháo vát và trong trường hợp này rất hợp với Vô-lô-đi-a.

        Sau khi trao đổi với nhau vài lời, cả hai cùng rời khỏi nhà cơ quan tham mưu. Cần phải có quần áo thích hợp cho nên Vô-lô-đi-a được phép quay về nhà. Hãy còn những hai giờ nữa, vì thế họ có thể quay trở lại đúng giờ.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Năm, 2020, 05:53:12 am

        Hai đứa đi rất nhanh và ít nói chuyện trên đường. Thỉnh thoảng Vô-lô-đi-a mới thốt ra vài lời về công việc tối nay. Vi-chi-a cũng trả lời ngắn gọn như vậy.

        — Đại úy hỏi tớ có thắc mắc gì không ? — Vừa đi Vô-lô-đi-a vừa báo tin. — Tớ không hiểu ông ấy định nói gì?...

        — Nghi ngờ? Nghi ngờ cái gì cơ chứ? — Vê-rép-kin ngạc nhiên. Giọng cậu ta khàn khàn như bị cảm lạnh.

        — Ai mà biết được!

        Đi bên nhau, vai sát vai có lúc hai đứa cùng im lặng.

        — Có thể chính đại úy nghi ngờ gì chăng? — Vi-chi-a phỏng đoán vẻ do dự.

        — Ông ấy nghi ngờ điều gì cơ chứ ?

        — Liệu chúng mình có hoàn thành hay không ?-

        — Tớ đã nói với ông ấy là chúng mình sẽ hoàn thành cơ mà! — Vô-lô-đi-a phản đối.

        Khi hai đứa đến gần nhà, Vô-lô-đi-a hơi đi chậm lại.

        — Cũng không nên nói chúng mình đi đâu, làm gì nhé. Điều quan trọng là đừng ba hoa với mẹ đấy! — Cậu ta nhắc nhở.

        — Cậu cho tớ là trẻ con hay sao? — Vê-rép-kin nói giọng khàn khàn.

        Lúc này trời đã tối. ở phía trước, ngôi nhà đá một tầng rất thấp với tiền sảnh phẳng lì kiểu doanh trại, lờ mờ hiện ra. Khác với những ngôi nhà mới xây cùng phố, ngôi nhà cũ kỹ này có ở đây đã lâu lắm rồi. Người ta nói rằng nó có từ trước cách mạng tức là từ thuở xa xưa.

        Cúi đâu đi qua cổng hẹp của bức tường dày một mét, Vô-lô-đi-a chạy theo cầu thang dựng đứng. Từ chiếc hành lang dài như hầm ngầm thoảng ra một mùi quen thuộc của bụi và dá.

        — Vi-chi-a, nhanh lên nhé!—Cậu ta kêu lên và nện gót giày xuống nền đá. Vô-lô-đi-a lấy hết sức mình chạy nhanh tới cánh cửa ở cuối hành lang.

        Một phụ nữ mặc váy đen, tay cầm xoong đi ngược chiều, nép người vào tường.

        — Vô-va!— Bà gọi cậu bé. — Cho tôi nhìn cậu cái nào!

        — Chào bác A-glai-a Ti-mô-phi-ép-na! Cháu rất vội! — Không dừng lại, cậu kêu lên. —Bác thứ lỗi cho cháu!

        Cánh cửa số bảy ở giữa hành lang hé mở và một cái đầu hói đốm bạc nhô ra. Vô-lô-đi-a nhận ra người hàng xóm—họa sĩ— một ông già cô đơn hơi kỳ quặc, chắc ông ta đã sống ở đây từ cái thời « những gian nhà có bày đồ mộc».

        — Xin chào bác Mi-kha-in Mi-khai-lô-vích! — Vừa chạy cậu ta vừa chào.

        — À, đây là cậu... Ông già lẩm bẩm — Đứng lại đi!   

        — Cháu không thể, bác Mi-kha-in Mi-khai-lô-vích ạ! Lúc khác cháu sẽ... — Vô-lô-đi-a kêu lên.
        Chăm chắm nhìn theo Vô-lô-đi-a, nhà họa sĩ già đưa đôi mắt mí đỏ không có lông mi, lấy móng tay gãi cằm, lát sau ông ta lui vào phòng và đóng chặt cửa lại.

        Một tiếng gọi lanh lảnh ở dằng sau buộc Vô-lô-đi-a phải ngoảnh lại. Trên hành lang, một em trai trạc mười tuổi, gầy gò ốm yếu đang đu trên đôi nạng, nhảy lò cò tới chỗ Vô-lô-đi-a, một chân kia ngăn hơn rất nhiều cứ lủng lẳng dưới người.

        Cậu bé đi nạng giống như con châu chấu đang nhảy. Chú bé nhảy tới, gần như ngã người vào bám chặt lấy tay áo Vô-lô-đi-a.

        — Tại sao thế? — Giọng trẻ con thanh thanh của em vang lên. —  Tại sao lâu nay không về... Đã hứa rồi cơ mà!

        Khuôn mặt trái xoan với nước da xám ngắt của em lộ rõ vẻ xúc động đến nỗi Vô-lô-đi-a cảm thấy đau lòng. Quả thật trong những ngày vừa qua. Vô-lô-đi-a không còn lúc nào để nghĩ tới Gô-ga, đứa con trai ốm yếu của người hàng xóm, mà cách đây không lâu, cậu vẫn là người góp một vai trò quan trọng trong cuộc sống của nó.

        — Anh rất bận, Gô-ga ạ! — Vô-lô-đi-a ân hận trả lời. — Họ không cho phép chúng mình về nhà...

        — Đã hứa rồi mà, đã hứa!... — Không bỏ tay áo Vô-lô-đi-a ra, cậu bé nhắc lại. — Còn em thì ngày nào cũng đợi...

        — Mọi người sống ra sao? Bình thường cả chứ? — Vô-lô- đi-a hỏi.

        — Ừ bình thường... Anh Mi-chi-a ở phòng số năm đi từ dạo hè đã gửi thư về: anh ấy bị thương — Gô-ga vội vàng khoe. — Thực ra không nặng lắm. Anh ấy viết rằng sắp tới lại đi... Còn em không đi học nữa! Bây giờ thì học cái gì cơ chứ?

        — Nhưng em phải tự học ở nhà đấy ! — Vô-lô-đi-a nói. — Không có thì quên hết.

        Vê-rép-kin đã đến, cũng có quen biết Gô-ga, hai người bắt tay chào nhau.

        — Cuối cùng thì các anh cũng xuất hiện! — Gô-ga kêu lên. —  Không có thì lúc nào em cũng chỉ lủi thủi một mình... Mẹ thì đã bắt đầu hay gắt gỏng không cho đi đâu cả... chỉ cho quanh quẩn trong sân...

        Cả ba túm tụm đến trước cánh cửa ngoài cùng bọc vải sơn màu đen.

        — Mẹ anh không có ở nhà đâu, vẫn chưa về đâu. — Gô-ga báo tin. — Đi từ sáng đến giờ vẫn chưa về. Em phải coi nhà cho tất cả mọi người ở đây!

        — Mẹ không ở nhà à? Tiếc thật... — Vô-Iô-đi-a nói. Cậu muốn làm cho mẹ sung sướng về sự xuất hiện đột ngột của mình, nhưng lúc này Vô-lô-đi-a cảm thấy cụt hứng, bực bội vì không thực hiện được ý đồ ấy.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Năm, 2020, 05:54:23 am

        Cửa khóa chặt như thường lệ, nhưng vô hình trong túi Vô-lô- đi-a vẫn còn chiếc chìa khóa cửa ra vào. Cậu mở cửa, nhanh nhẹn bước vào đầu tiên. Trong bóng đêm, cậu mò mẫm buông rèm, bật điện và vội vàng nhìn ngắm chung quanh... Tất cả mọi thứ có vẻ như mới hơn: mấy cái ghế kê sát bên bàn ăn, hai cái gói mới cứng đặt đối xứng trên chiếc đi văng, hai chồng sách giáo khoa được xếp cẩn thận trên bàn Vô-lô-đi-a. Trong căn phòng có vẻ ngăn nắp không tự nhiên, hơi buồn tẻ như thể căn hộ không người ở hoặc được cố tình xếp đặt trước khi đón khách. Ở gian giữa cũng được xếp dặt rất cẩn thận, chỉ trên chiếc tủ con gần giường mẹ có lăn lóc cuộn len đan dở và cũng không hiểu sao chiếc lược nhựa màu đỏ với tay cầm dài lại nằm trên tấm vải che đăng ten. Song Vô-lô-đi-a không có thời gian để ngẫm nghĩ về ấn tượng hơi buồn trong ngôi nhà trống trải này. Và chính ấn tượng cũng rất hời hợt thoảng qua chốc lát, không để lại dấu tích gì...

        Cậu ta vội vàng bắt tay vào công việc và chỉ một lát sau đã biến Vi-chi-a Vê-rép-kin thành một chàng trai nông thôn.

        — Được không nào? Được không? — Lúc thì đến gần lúc lại lùi xa, vừa ngắm bạn, Vô-lô-đi-a vừa hỏi.—Theo tớ, được rồi đấy chứ?

        Ngồi trên chiếc gối dài ở đi văng, Gô-ga không kìm nổi, đứng bật dậy, tựa người vào nạng. Em không hiểu tại sao các bạn em lại ăn mặc kỳ quặc như thế này, để làm gì...

        — Gã đàn ông từ hoa Nô-gốt-ki1! — Nhìn Vê-rép-kin, em khoái chí kêu lên. — Gã đàn ông từ hoa Nô-gốt-ki!

        Vô-lô-đi-a mỉm cười, đến lúc này đôi mắt lo âu của cậu ta mới nheo lại, sáng lên.

        — Mà đúng thật! — Cậu công nhận.

        Từ chiếc mũ trùm tai bằng lông thỏ lờm xờm chỉ nhìn thấy cái mũi ngắn và một nốt ruồi trên má Vê-rép-kin, chiếc áo da lông dài đến đùi dúm lại do từng nếp nhăn ở thắt lưng. Vê-rép-kin rất giống một người nông dân nhỏ con trong thơ Nê-cra-xốp:

       
... Vào một ngày mùa đông tuyết phủ,
        Tôi ra khỏi rừng, băng giá buốt xương.

        Vô-lô-đi-a bắt đầu đọc và mỉm cười. Sau đó thay đổi nét mặt và chau mày về điều gì đó, cậu ta cố tình hỏi bằng giọng trầm :

        — Củi ở đâu thế ?

        — Chuyển từ rừng về...

        — Anh không biết bổ thì đốn, còn tôi mang về... — Vê-rép-kin trả lời cậu ta với giọng khàn khàn như vậy. Và sau đó Vê-rép-kin xuýt xoa vỗ vỗ vào sườn, y như thể cậu ta bị rét thực sự.

        — Ôi, các anh ơi! Các anh làm gì thế này ? Gô-ga kêu thất thanh.

        Vô-lô-đi-a và Vi-chi-a đưa mắt nhìn nhau.

        — Để khỏi hại trang phục quân đội phát. — Vê-rép-kin nghiêm nghị trả lời.

        — Thôi đi...i... — Gô-ga dài giọng. — Thế mặc của mình thì không tiếc à ?

        Vô-lô-đi-a chọn cho mình chiếc áo lông cừu màu nâu kiểu Cuban và chiếc blu dông cũ cậu vẫn thường mặc vào mùa đông. Chiếc áo Cu-ban mua từ mấy năm về trước, giờ đã hơi chật, nhưng Vô- lô-đi-a rất thích và cậu không do dự gì khi chọn nó mang đi. Cũng như Vi-chi-a cậu ta phải đi ủng thay cho giày bộ đội và xà cạp.

        — À, em biết các anh đi đâu rồi! — Gô-ga bỗng nói. — Các anh vào dân quân.

        — Cậu kỳ thật, dân quân họ lại cần bọn mình hay sao? — Vê- rép-kin bình tĩnh phản đối. — Tất cả họ đều đã có râu ria, hay là em không nhìn thấy?

        — Toàn là chuyện bịa... Các anh đi dân quân! — Gô-ga kiên trì lặp lại.

        — Tốt hơn là em hãy im đi, — Vê-rép-kin khuyên một cách nghiêm chinh. — Em là người của mình, phải hiểu chứ!

        Vô-lô-đi-a mặc xong quần áo và đã có thể ra đi, nhưng cậu lại nghĩ đến mẹ. Cậu ta quyết định phải viết cho mẹ vài lời nên liền cởi blu dông và ngồi vào bàn viết.

        ... Chiều tối, Ôn-ga từ nhà máy trở vè và cảm thấy rất mệt. Thậm chí khi đến trước cửa phòng, chị còn đứng lại chút ít như không muốn vào căn nhà trổng trải của mình. Bỗng nhiên, từ sau cánh cửa vọng lại giọng nói thanh thanh — cái giọng thân thương duy nhất: giọng của Vô-lô-đi-a con chị! Nó đang ở trong nhà! Không hiểu sao Ôn-ga lại vô cùng lo sợ mà không hề vui sướng trong cái khoảnh khắc đầu tiên này và trái tim như thât lại, chị chạy lao vào...

        Vô-lô-đi-a đang ở góc phòng bên chiếc bàn quen thuộc của mình, cậu ta ngoảnh lại mỉm cười. Và chỉ nhìn thấy một mình nó, chị tái người đi vì sợ hãi, bước vội đến bên Vô-lô-đi-a, còn cậu ta cũng đứng lên đón mẹ... Chỉ đến khi ôm chặt đứa con trai vào lòng, nắm chặt những ngón tay của nó, xoa cái đầu tròn quen thuộc của nó, chị mới cảm thấy nhẹ nhem: Vô-lô-đi-a chưa việc gì cả. Cậu con trai nhoài ra khỏi vòng tay của mẹ, làm chị ngơ ngác bối rối nhìn quanh.

        — Các con về đây lâu chưa? — Chị nói giọng nhỏ nhẹ. — Vi- chi-a, cả cháu cũng đến!

-----------------
        1. Nô-gốt-ki là một loại cây vườn có hoa màu vàng thẫm khi mùa hè.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Năm, 2020, 05:06:20 pm

        Múa đôi nạng, Gô-ga nhảy đến bên chị.

        — Chúng cháu đợi cô mãi! Đợi mãi! — Cậu lanh lảnh nói. — Vô-Iô-đi-a về nhà mà cô thì chẳng thấy đâu, chẳng thấy đâu? Còn chúng cháu... — Và cậu ta im lặng nhìn Vê-rép-kin.

        — Trời ơi! Nếu mà bác biết, — chị ân hận kêu lên. — Thế mà bác cứ lững thững đi, chẳng vội vàng, chẳng chờ đợi cái gì cả... Và tại sao trái tim bác nó không mách bảo điều này cho bác!

        — Tưởng mẹ làm ca đêm nên con đã viết cho mẹ lá thư. — Vô-lô-đi-a nói.

        — Bức thư nào? Để làm gì? — Ôn-ga lại lo lắng. Trong những ngày gần đây chị sống trong cảnh thường xuyên lo sợ cho con, trong sự chờ đợi một điều không may khủng khiếp cho nên mỗi tin tức liên quan tới nó đều làm chị hồi hộp lo âu.

        — Con đi không lâu mẹ ạ! — Vô-lô-đi-a âu yếm trả lời.

        — À thôi được! ... — Đứng lặng một lát, chị mới ậm ừ được ra lời và không dám hỏi thêm thời hạn người ta cho phép nó về với chị được bao lâu!

        — Chúng con cần mấy thứ này mẹ ạ. — Vô-lô-đi-a hất hàm về chiếc blu dông trên đi văng. — Mùa đông sắp tới và chúng con muốn mặc ấm hơn... Tất nhiên là muốn trông thấy mẹ... Thế nào, mẹ sống ra sao?

        Ôn-ga nhìn cậu con trai như thể không hiểu nó. Hình như có một cái gì đó,mới mẻ và xa lạ xuất hiện trong người nó, thậm chí câu hỏi theo kiểu người lớn của Vô-lô-đi-a, càng làm chị ngạc nhiên Chị kinh ngạc nhớ lại những ngày đã qua mà không thể nào quên được, khi lần đầu tiên nó cất tiếng bập bẹ gọi chị: «Máma!». Và một thời gian sau bỗng nhiên nỏ tự đi được mà không cần sự giúp đỡ của mẹ. Nhưng khi đó thì những biến đổi khó trông thấy ngay của con làm chị vô cùng sung sướng, còn bây giờ lại làm chị lo lắng.

        — Vô-vô-sca, rất tốt là con mang theo áo ấm. — Chị nói vẻ sợ hãi.

        Vô-lô-đi-a im lặng và chau mày.

        — Mẹ làm sao thế hả mẹ? — Cậu nghiêm nghị hỏi. — Mẹ gầy đi nhiều...

        Lúc này cậu ta quá hồi hộp hơn so với bình thường. Và một điều lo lắng bất ngờ khó hiểu dâng len trong lòng Vô-lô-đi-a khi cậu ta chăm chú nhìn mẹ. Thực ra chị cũng có gầy hơn, hơi gù và có thể vì thế mà theo Vô-lô-đi-a trông chị có vẻ trẻ lại. Dù đã có vài nếp nhăn, nhưng trên khuôn mặt thanh tú, ngăm ngăm đen của chị vẫn lộ rõ vẻ yếu đuối, nhút nhát của trẻ con mà trước đây chưa bao giờ chị có. Từ trước đến nay Vô-lô-đi-a vẫn luôn cảm thấy mẹ cậu tuyệt đối là một « người lớn» thì bỗng nhiên hôm nay cậu khám phá ra rằng mẹ cậu cũng không hoàn toàn là « người lớn » như cậu thường nghĩ.

        — Có phải mẹ ốm không? — Cậu tiếp tục, giọng trách móc.

        — Gì hả con, Vô-va, con nói gì thế? — Ôn-ga thảng thốt, thậm chí xua xua tay để phản đối ý định của con trai cứ chăm chú hỏi chị, trong khi chị còn nhiều điều quan trọng hơn liên quan tới nó. — Con làm sao vậy? Mẹ vẫn khỏe...

        — Có tin gì về bố không hả mẹ? — Vô-lô-đi-a hỏi tiếp.

        — Hôm qua mẹ có nhận... chỉ tội thư lâu rồi, viết trước đây những một tháng... Mẹ cho con xem bây giờ, ngay bây giờ...

        Chị vội vàng lấy khăn mùi xoa lau mặt, cởi bành tô và chạy đến mắc áo. Trong chiếc áo lao động xanh nhạt bằng vải gai và chiếc váy phằng màu sẫm, trông Ôn-ga quả có vẻ yếu đuối và mảnh khảnh như một cô gái.

        — Vô-vô-sca, hôm nay mẹ đến chỗ con đấy! — Vừa treo áo chị vừa khoe.— Mẹ đến trận địa của con ở Vườn hoa văn hóa...

        — Lại còn như vậy nữa! — Vô-lô-đỉ-a làu bàu không hài lòng. — Và họ để cho mẹ vào à ? Sao họ lại cho mẹ vào nhỉ ?

        — Bởi vì không phải tự dưng mẹ đến đấy, mẹ đi có việc. Mẹ mang áo len và bít tất đến cho con...

        Ôn-ga dừng lại ở giữa phòng, không biết nên làm cái gì trước: đưa thư cho con hay dọn cho nó và các bạn nó cùng ăn tối.

        — Vô-va, trong vườn hoa các con ở rất ẩm ướt. — Chị khẽ nói. — Có thể con cầm thêm giày cao su và áo đi mưa...

        Từ nãy đến giờ vẫn im lặng, đến phút này Vê-rép-kin mới nói giọng khàn khàn:

        — Đúng vậy, thưa thím Ôn-ga, giày cao-su đối với chiến sĩ, đó là việc cần thiết đầu tiên.

        — Mẹ ơi, giày cao su gì cơ chứ ? — Vô-lô-đi-a bật cười theo. —  Mẹ cho con xem thư bố viết gì nào?

        Ôn-ga chạy vào gian trong.

        — Bố con viết rằng bó vẫn khỏe. Bố hỏi nhiều về con... — Từ trong phòng vọng lại giọng chị — Bố hứa sẽ viết thường xuyên hơn. Trời ơi, bố vẫn chưa hề biết gì về con!

        Quay ra đưa lá thư cho Vô-lô-đi-a, chị kéo dịch ghế ngồi đối diện và nhoài người về phía trước, chăm chú theo dõi nét mặt con trai khi cậu ta đọc thư.

        Mấy sợi tóc ngắn dựng đứng như lông nhím trên cái đầu tròn tròn, một vệt hồng lờ mờ của chiếc áo Cu-ban ngoằn ngoèo trên trán, Vô-lô-đi-a nghiêng người và chau mày lại khi gặp phải chữ khó đọc, hoặc rướn mày lên khi ngạc nhiên một điều gì đó, môi cậu ta luôn luôn mấp máy: khi chúm tròn như một cái ống con, lúc mím lại, lúc lại mấp máy nói thầm điều gì đó. Còn Ôn-ga tựa như quên hết chung quanh, hoàn toàn thả mình cho việc quan sát vô tư đầy khoái cảm. Chị không hề biết rằng chính chị cũng nheo mày khi con nheo mày và mỉm cười khi con trai mỉm cười.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Năm, 2020, 05:07:12 pm

        Vô-lô-đi-a vừa đọc vừa nói:

        — Chắc là bố chiến đấu ở phương Nam... Bố viết rằng chung quanh đơn vị bố là những cánh đồng lúa mì chưa gặt. Bố viết rằng vụ mùa năm nay thật tuyệt vời...

        Nghe con nói, Ôn-ga lại cảm thấy lo sợ. Mới cách đây thôi, mỗi biến đổi của nó đều được chị giám sát sít sao và chính chị cũng say mê tham gia vào sự lớn khôn của con từ lúc mới sinh đến tuổi ấu thơ, từ tuổi ấu thơ đến tuổi thiếu niên. Bây giờ nó sống độc lập không cần sự chăm sóc của chị và rồi sẽ mãi mãi thoát ra khỏi vòng kiểm soát của chị. Hốt hoảng trước việc chị không thể tác động đến số phận của con trai, On-ga lạnh toát người vì lo sợ cho nó. Mới một thời gian ngắn không trông thấy nó, thế mà người nó đã thay đổi khá nhiều, tuy đôi má có lõm xuống, nhưng Vô-lô-đi-a đã trưởng thành lên, đôi tay hơi thô thô, với những vết xước còn mới cũng có vẻ đen hơn.

        — Vô-vô-sca, kể cho mẹ nghe với: con ở đó ra sao? — Chị khẩn khoản nói. — Họ nuôi con như thế nào? Ăn có no không?

        — Khoan đã, mẹ! — Vô-lô-đi-a đọc xong, cho thư vào phong bì và quay ngoắt lại phía Vê-rép-kin. — Ôi! Nếu được phục vụ cùng với bố trong một đơn vị thì tốt biết mấy nhi! — Cậu ta nói to. —  Tuyệt biết mấy phải không? Và không cần phải báo cáo gì với ai, chẳng cần phải xưng hô với nhau bằng những câu khô khan: «Xin phép được báo cáo...», « Anh có thể tự do. .». Cùng tất cả... Tuyệt diệu phải không?

        Ôn-ga nhích lại gần con.

        — Các con ăn có no không? — Chị lặp lại.

        — Mẹ lẩn thẩn thế! Thậm chí còn thừa nữa cơ! Thật đấy mà!... — Vô-lô-đi-a trả lời và lại quay sang Vê-rép-kin, đôi mắt xanh của cậu ánh lên. — Ở tiểu đoàn hai chúng mình ấy có bố con Cô-trét-cốp cùng phục vụ một nơi đây! Bố là trung dội trưởng, còn con, xạ thủ súng máy... Thật là thú vị! Còn cậu có nhớ không Vi- chi-a? — Vô-lô-đi-a thốt lên. — Mình cùng đi săn với bố như thế nào không? Đi từ tờ mờ sáng và săn liền mấy ngày... Cậu có nhớ ông bố mình cho hai đứa khẩu súng săn của ông không ? Và sau đó chính chúng mình đốt củi sưởi và nướng khoai tây...

        Ôn-ga kéo tay áo con

        — Này, ban đêm họ có chuyẩn các con đi chỗ khác không ? —  Chị hỏi. — Hay lại ngủ trên đóng đất ẩm ướt ấy?

        — Cái gì hả mẹ? — Vô-lô-đi-a ngước đôi mắt ngạc nhiên và cười cợt nhìn mẹ, nhưng im lặng và dịu dàng nói: — mẹ đừng lo cho con, hoàn toàn không phải lo cho con gì cả. Thực ra không phải chỉ có một minh con ở đó!...

        — Phải rồi, phải rồi... — Chị gật đầu như thể những câu nói cuối cùng của con quả thật làm chị yên tâm, nhưng thực ra chị tránh không phải cãi nhau với con.

        — Ôi, sao mẹ lại ngồi thế này nhỉ? — Chị như bừng tỉnh. — Chắc các con đói lắm rồi...

        Chị vội vàng đứng dậy, chạy vào bếp. « Thật khổ là bánh chưa kịp mua ! ». Một ý nghĩ thoáng qua trong đầu chị.

        Nhìn mẹ, Vô-lô-đi-a nghĩ rằng chưa khi nào mẹ cậu lại trẻ như hôm nay và nét mặt cậu bỗng sầm lại...

        — Mẹ đừng lo, chúng con không ăn đâu... Chúng con đã phải đi rồi ! — Cậu nghiêm nghị nói.

        Đứng bên tủ, chị nhìn con trân trân.

        — Đi ngay bây giờ à? — Cuối cùng chị khẽ thốt lên. —Sao nhanh vậy ?

        — Đã đến lúc chúng con.. — Vô-lô-đi-a lại sa sầm mặt. Trước kia, khi về tới nhà, cậu đã quen với sự săn sóc thường xuyên của mẹ và chẳng phải suy nghĩ gì, muốn mang cái gì đi thì mang, còn lúc này cậu phải lo nghĩ đến mẹ.

        — Mẹ ơi, ai bổ củi cho mẹ? — Cậu quan tâm hỏi.

        — Cái gì thế hở Vô-lô-đi-a ? — Không nghe rõ con nói gì, chị hỏi lại.

        — Mẹ đừng bổ! — Vô-lô-đi-a nghiêm nghị nói. — Và mẹ cũng dừng khuân... Trong nhà này có nhiều trẻ con, chúng nó phải giúp mẹ.

        Làn đầu tiên cảm giác tự hào về trách nhiệm của người con trai xuất hiện trong Vô-lô-đi-a, nhưng chính điều đó lại làm cậu khổ tâm vì lúc này cậu chả giúp gì được mẹ nữa.

        — Mẹ ạ, mẹ cũng đừng lau sàn, — biết rằng ngoài mẹ ra chẳng còn ai lau sàn cả, nên cậu ta nói có phần kém tin tưởng hơn. — Mặc kệ nó!   

        Với lòng thương xót bất ngờ, Vô-lô-đi-a đến bên mẹ và chạm vào khuỷu tay chị.

        — Nói chung mẹ đừng buồn gì cả... Chúng ta nhất định đánh thắng bọn Đức... Bố cũng viết như vậy... — Cậu nói. — Khi nào có điều kiện con lại về thăm mẹ.

        — Sao các con đi vội vậy? — Ôn-ga lầm bầm. Khuôn mặt chị như mất hết máu, thậm chí đôi môi trắng nhợt ra.

        — Chúng con chỉ được đi một lúc thôi... — Bộ đội mà, mẹ cũng hiểu đấy... — Vô-lô-đi-a trả lời và rướn tới hôn nhẹ vào má mẹ.

        Chị quay lại và đang hai tay ghìm con vào lòng.

        — Sao, mẹ làm sao thế? Mẹ làm sao thế? — Nhoài người ra, cậu nói. — Nào, Vi-chi-a ! Đi thôi! — Cố kìm nỗi xúc động của mình, Vô-lô-đi-a nói to.

        Nhìn xuống sàn và chụp chiếc mũ ba tai bờm xờm lên đầu, Vê-rép-kin cau có nói:

        — Cô Ôn -ga, cô buồn làm gì. Thế nào sắp tới người ta cũng cho phép Vô-lô-đi-a về...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Năm, 2020, 05:07:40 pm

        Gô-ga vẫn im lặng không rời mắt khỏi Vô-lô-đi-a. Và chỉ khi Vô-lô-đi-a — trong chiếc blu dông và chiếc Cu-ban còn lệch về một bên sườn — quay lại để chia tay với em thì một nỗi xúc động mãnh liệt lại dâng lên trong người em. Em nhấc chân lên lao đến bên bạn và tí nữa thì ngã khi chiếc nạng quệt vào tấm thảm chùi chân. Vô- lô-đi-a kịp đỡ lấy em.

        — Anh đã nói, em ngã đấy! — Vô-lô-đi-a trách — Thôi, đừng buồn nhé... Hàng ngày học đi...

        — Chúc các anh may mắn nhé! — Gô-ga kêu lên rồi im bặt: em cảm thấy ngượng ngùng khi có mặt Ôn-ga ở đây.

        Giúi vào túi cái bọc mẹ vừa đưa cho, Vô-lô-đi-a đi ra cửa và Gô-ga cũng nhảy theo sau.

        — Thôi chúc các,anh gặp nhiều may mắn! — Em nới. — Còn em không nói cho ai biết một tí gì đâu. Em hiểu...

        — Vô-va! Vô-vô-sca! — Ôn-ga gọi, long như bừng tỉnh.

        Trong giây phút này chị cảm thấy mình hoàn toàn bất lực —  bao mối hiểm họa đang chờ đợi Vô-lô-đi-a, thế mà chị không thể giúp gì cho con được. Muốn gào lên vì lo sợ cho con trai, nhưng chính nỗi lo sợ ấy ghìm chị lại. Điều duy nhất lúc này chị có thể làm được —  cố giảm bớt nỗi buồn chia ly; động viên, làm cho nó vững tâm trước những gì đang chờ đợi nó. Và cố mỉm cười, chị đến bên con, trong thâm tâm hơi ngạc nhiên với chính mình, với nghị lực của mình không hiểu từ đâu tới.

        Vô-lô-đi-a đứng ở cửa, tay cầm lấy nắm dấm, nhìn mẹ vẻ dò hỏi.

        Cảm thấy như đi trên một vật gì đó rất mềm, đôi chân chị trở nên yếu đuối, nhưng nụ cười của chị mỗi lúc một tươi hơn, bình thản hơn. Tới bên con, chị mệt nhọc tựa vào khung cửa và nói nhỏ nhưng lưu loát một cách bất ngờ.

        — Vô-va, con viết thư cho bố nhe! — Chị nói. — Con hãy viết về việc con tham gia bảo vệ Tổ quốc như thế nào? Còn mẹ thì chẳng phải lo nghĩ gì cả nhé!

        — Tạm biệt mẹ! — Vô-lô-đi-a trả lời tuy không đúng chỗ nhưng với giọng biết ơn.

        — Hãy cần thận đấy... — Chị lại khàn khoản. — Nếu họ không cho con đi đâu thì con đừng có tự ý đi, phải đề phòng... Con chưa được học quân sự nhiều.

        — Rõ.. Xin chấp hành đúng!—Vô-lô-đi-a nói, giọng vui hẳn lên.

        Ôn-ga muốn ôm lấy nó một lần nữa, nhưng chị sợ không làm chủ được mình rồi lại òa lên khóc. Bước qua,ngưỡng cửa, chị nhìn theo Vô-lô-đi-a và Vi-chi-a đang nhanh nhẹn đi trên hành lang. Gô-ga nhảy nhót trên đôi nạng, đi theo tiễn hai bạn. Đến cầu thang, Vô-lô-đi-a quay lại và vẫy tay chào mẹ. Nhưng những giọt nước mát cố nén từ lâu đã trào ra làm chị chẳng nhìn thấy gì cả...

        Qua cổng, Vô-lô-đi-a nói với Vê-rép-kin:

        — Mẹ mình xử sự đúng tinh thần chiến đấu đấy chứ! Thậm chí tớ không ngờ...

        Vi-chi-a — mồ côi cả cha lẫn mẹ, vốn được nuôi nấng trong nhà trẻ — không trả lời ngay.

        — Đúng đấy, phải người khác thì đã khóc nhiều rồi.— Chẳng hiểu vì sao cậu ta nói vẻ bực bội sau một vài giây im lặng. — Nhưng nếu nghĩ lại cũng thương họ: nuôi con lớn, chăm sóc bao lâu nay, thế mà...

        — Nào, nhanh chân lên, chúng mình ở nhà hơi lâu rồi! — Vô- lô-đi-a nói.

        Vô-!ô-đi-a cảm thấy nhẹ nhõm: cuộc chia tay với mẹ đã qua, và điều cơ bản là chính mẹ đã giúp cậu dễ dàng giải thoát khỏi những lo lắng về bà...   

        Hai cậu bé rảo bước trên đường. Gió lạnh thổi tạt vào mặt chúng. Trên đường phố tối vắng người, thậm thịch những bước chân đều đặn của họ. Những ý nghĩ của Vô-Iô-đi-a tập trung vào việc cần phải làm gì đêm nay. Và chẳng bao lâu, cảm giác quen thuộc dễ chịu, sôi nổi, tự tin, sức lực có thừa lại trở về với cậu.

        « Con hãy viết về việc con tham gia bảo vệ Tổ quốc như thế nào ? » - Vô-lô-đi-a nhớ tới lời mẹ và thích thú nhẩm lại. Lòng biết ơn mẹ lại trỗi dậy trong trái tim Vô-lô-đi-a, vừa đi cậu vừa thót lên:

        — Nếu có điều kiện, chúng mình tạt qua, chẻ củi cho mẹ...

        — Tất nhiên, nếu có điều kiện ta sẽ tạt qua. — Vê-rép-kin tán thành.

        Tiễn bạn tới cầu thang, Gô-ga ở lại hành lang. Em không muốn trở về phòng mình và nhân lúc không có mẹ ở nhà — mẹ làm ca ba — muốn một mình đi trên chiếc hầm ngầm bằng đá : đi tới đi lui, đi lên rồi quay lại... Ở đây còn thoảng hơn căn phòng đầy đồ đạc của em. Ngồi im một chỗ lúc này em không chịu nổi.

        Đi ngang qua bếp công cộng, em ngó vào. Đây là một gian nhà rộng hình vòm, có chiếc hỏa lò cực to bịt sắt chưa bao giờ được đốt nóng lên. Dọc theo bức tường là tủ con, bàn con của các chủ nhà. Vào giờ này trong bếp vắng người. Chỉ có hai bếp dầu đang cháy sau chiếc cửa sổ con bàng kính mi ca ám khói. Những người phụ nữ ít lời đang bận rộn ở đây không hề để ý tới Gô-ga. Đứng đây một lát chẳng ra vẻ chờ đợi gì, Gô-ga lắng nghe những giọt nước rơi đều đặn từ vòi xuống chậu rửa mặt, rồi lại quay ra hành lang.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Năm, 2020, 05:08:11 pm

        Tuy không ghen tị với các anh bạn khỏe mạnh vừa mới từ giã mình, nhưng em vẫn muốn được tiếp xúc với mọi người. Tất cả tâm trí em đang hướng theo hai bạn. Hơn ai hết, Gô-ga cảm thấy thiếu không gian và trong mấy tuần gần đây khi mẹ cấm em ra khỏi nhà thì nó lại càng thu hẹp lại quá nhiều : những bức tường dày hàng mét cản đường em trong mỗi bước đi. Và bây giờ em đành phải bằng lòng với cái hành lang chung, nơi cần phải đi lại nhẹ nhàng để khỏi phiền đến hàng xóm. Song, ngay trong hoàn cảnh này cũng không có gì ngăn cản nổi Gô-ga đang hồi hộp theo dõi những biến cố bên ngoài, tuy em không tích cực tham gia vào những biến cố ấy. Dù khả năng cho phép so với những người khác có ít ỏi thế nào đi chăng nữa, nhưng đối với Gô-ga, nó vẫn còn nhiều đến mức em không cảm thấy mình bất hạnh. Chỉ đôi khi như hôm nay chẳng hạn, sau cuộc gặp gỡ ngắn ngủi với Vô-lô-đi-a và Vi-chi-a, một tâm trạng bị kích động vu vơ không kìm nổi đang xâm chiếm lòng em...

        Gô-ga lại đến bên cửa lớn, mở ra và nhìn ra ngoài.

        « Hai người đã đi xa rồi. — Em nghĩ về bạn mình. — Có thể đã ra khỏi thành phố rồi... ».

        Và em tưởng tượng ban đêm họ đi trên dường như thế nào. Vô-lô-đi-a trong chiếc áo Cu-ban lông cừu và « gã đàn ông từ hoa Nô-gốt-ki» — Vi-chi-a Vê-rép-kin. Chắc là ở ngoại ô cũng tới như ở đây. Không kìm nổi sự quyến rũ đột ngột, Gô-ga đưa nạng ra khỏi ngưỡng cửa và trong đêm tới, tự mình nhảy ra chỗ trống. Bầu không khi lạnh thấm vào người em làm Gô,-ga co toàn thân lại, không phải chỉ vì rét mà còn vì một cảm giác thích thú lạ lùng.

        Ở phía dưới, cánh cửa kêu cót két. Sau đó nghe thấy những bước chân nặng nề — một người nào đó chậm chạp đi trên cầu thang và Gô-ga lùi lại, dựa lưng vào tường.

        — Có ai ở đó không ? — Giọng một bà già từ dưới vọng lên —  Không va phải...

        Gô-ga nhận ra giọng bà hàng xóm, người chấm công ở nhà máy bánh mì, nhưng không muốn để ai trông thấy mình nên em không đáp lời.

        Chẳng nói chẳng rằng người đàn bà nặng nề đi qua Gô-ga, mùi hôi hám ở áo quần thoảng qua như một làn gió.

        « Lăn đi, lăn đi bà già ơi!... Di đi... » — Gô-ga thì thầm nói theo bà già. Em thích thú về ý nghĩ ranh mãnh của mình đã thành công. Và em lại hướng về Vô-lô-đi-a và Vi-chi-a. « Ban đêm bọn Đức có thánh cũng chẳng trông thấy họ !... Hai người chỉ nép ở đâu đó dưới gốc cây, thế là xong... ». Gô-ga sung sướng thay cho bạn. Em mặc chiếc blu dông mỏng nên rét run cầm cập. Song Gô-ga thích đứng trong bóng tối, em chưa vội đi vào ngay. Tiếng còi báo động quen thuộc vọng tới tai em. Đây là lần thứ ba trong ngày, tiếng rú dài đơn điệu ấy lại vang lên. Sau một, hai phút, cánh cửa hành lang mở và trong ánh sáng lóe ra, các chủ hộ đang kéo xuống tầng ngầm vào hầm trú ẩn. Những người phụ nữ mang theo chăn gối, cậu học trò xưởng in mà Gô-ga quen biết vừa đi vừa huýt sáo. Bóng tối ùa đến khi cánh cửa khép vào, một người nào đó bật diêm. Sau đo, cánh cửa lại mở rộng để mọi người đi qua. Người cuối cùng là bà già ở nhà máy bánh mì, tay giơ cao cái đèn lồng to đốt ngọn nến đang cháy dở để soi những bậc thang bằng đá đã hỏng.

        Còi báo động im bặt từ lâu. Một sự im lặng nặng nề bao trùm đến mức Gô-ga cảm thấy hơi bối rối Cùng lúc đó, em cảm thấy vô cùng mệt mỏi. Ẩn ở đó, Gô-ga chẳng có một mục đích nào, nhưng hình như trong cái bóng đêm đổ có chứa đựng một sự bí ẩn hấp dẫn đang bao trùm lấy hai bạn em. Và mặc dù Gô-ga đã bị rét thực sự, hai hàm răng run lên cầm cập, nhưng em vẫn chưa vội trở lại hành lang ấm áp.

        Cậu muốn đi đâu trong bóng tối cực kỳ như thế này... Đi qua ngay mặt bọn Đức... Thế mới khéo... » — Em khâm phục Vô- lô-đi-a, Vi-chi-a và bản thân mình như thể em cùng đi với họ...

        Gô-ga không nhớ là mình đã ở hành lang được bao lâu, em bị lạnh đến tận xương nhưng cũng bị kích động một cách lạ thường.

        « Có thể chui vào bụi rậm và theo dõi tất cả những gì bọn Đức đang làm... Và sau đó trên cánh đồng... Và hồi tưởng lại chúng nó nói gì! — Em khoái chí thầm tưởng tượng. — Có thể tới tận cửa sổ Bọn Đức đang ngủ và ta rút súng ngắn tặc, tặc! Thế là chúng bỏ chạy lung tung! Còn chúng ta trở về rừng, thử tìm ta xem! ».


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Năm, 2020, 10:12:03 am

        Gô-ga chẳng biết mình chuyển từ « họ » sang «ta » từ bao giờ và lúc này em cảm thấy ràng em là người cùng tham gia bình đẳng trong chiến công của hai bạn. Ngọn đèn duy nhất treo trên trần tỏa sáng mờ mờ xuống hành lang và khi cậu bé đến gần thì cái bóng đen nhảy theo sau ngắn lại một cách nhanh chóng. Dưới ngọn đèn, cái bóng đen đó thu ngọn nhỏ lại và sau đấy lại được kéo dài thêm ra... Chuẩn bị đôi nạng cho bước nhảy tiếp theo, Gô-ga vung chúng sang hai bên như đang đôi cánh và sự đi lại của em như một cuộc tập bay liên tục. Như một con châu chấu khổng lồ, Gô-ga lập lại ý định này lần nữa và lần nữa trên cái hành lang lờ mờ sáng. Em nhảy từ đầu này tới đầu kia, lên phía trước rồi quay lại phía sau. «Hay là vào ban tham mưu của chúng, tại sao lại không được cơ chứ ? » — Những bức tranh tưởng tượng lại được vẽ ra.

        « Bắt lấy tên tướng của chúng khi chúng ra sân. Lấy đây trói lại, nhét giẻ vào mồm và mang theo về đơn vị. — Bắt lấy, ta thử xem... ».

        Em cảm thấy lúc này em đang vội vã thực hiện một nhiệm vụ du kích kiên cường, giáng cho kẻ thù những cú đấm bất ngờ rồi rút lui khi bị truy lùng. Em như một con người táo bạo và không thể bắt được.   

        Bỗng nhiên Gô-ga bất ngờ dừng lại, nhấc dôi nạng lên và lảo đảo, đờ người ra : em trông thấy hai người đang đi trên cầu thang. Họ nhìn quanh rồi chầm chậm đi theo hành lang, nhin số phòng. Chắc những người này lần đầu tiên đến đây. Di trước là một. người mặc áo ca pốt khá đẹp, đội mũ chào mào, người thứ hai — trong chiếc bành tô dài màu nâu và chiếc mũ có lưỡi trai rất to, vai rộng và thấp, trống hắn gần như người vuông. Khi cả hai đến dưới ánh sáng ngọn đèn, Gô-ga nhìn thấy trên khuôn mặt choắt lại của người thứ nhất, đôi mắt tròn, căng thẳng rất gần nhau, còn mặt người thứ hai bị che bởi chiếc lưỡi trai quá to.

        Bị bắt gặp bất ngờ, Gô-ga bối rối mỉm cười. Mặc dù sự xuất hiện đột ngột của hai người này làm đứt đoạn giấc mơ của Gô-ga, nhưng ngay lúc đó em sẵn sàng giúp hai người lạ mặt tìm người cần gặp. Song những người khách không hỏi em. Dừng lại trước phòng số bảy, người mặc áo ca pốt gõ cửa. Cậu bé hơi tiếc rằng trong trường hợp này sự giúp đỡ của cậu là không cần biết. Người họa sĩ già — Mi-kha-in Mi-khai-lô-vích Bu-kha-xép ló ra ngưỡng cửa và cà hai người khách bước vội vào phòng ông ta. Người họa sĩ đã định đóng cửa, nhưng ngay lúc đó ông ta trông thấy Gô-ga. Trong đôi mắt dưới hàng mi trần hiện rõ vẻ dò xét : hình như ông ta muốn yêu cầu cậu bé một điều gì đó. Song chi một giây sau ông ta đã bực bội một cách vô cớ.

        — Mày cứ luẩn quẩn ở đây làm gì ? Đi ngay khỏi đây đi! — Ông ta giận dữ gắt rồi chui tụt ngay vào phòng, đóng chặt cửa lại.

        Gô-ga ngơ ngác nhìn theo cánh cửa sần sùi được quét sơn xanh đã tróc một nửa, Mi-kha-in, người họa sĩ già thường ngày rất chín chắn, trầm tĩnh cho nên thái độ gay gắt bực bội của ông ta,vừa rồi làm cậu bé rất đỗi ngạc nhiên.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Năm, 2020, 10:12:37 am

2

        Pa-ven Grô-mốp đang đứng trong công sự. sẵn sàng bước vào trận. Tiếng rít của động cơ xe tăng, tiếng ầm ầm loảng xoảng mỗi lúc một gần và mạnh. Vô tình, Pa-ven nhăn mặt lại. « Đường vào làng đã được gài min, và bọn Đức sẽ cố vượt qua chúng ta — Pa- ven nhẩm lại mệnh lệnh cửa đại đội trưởng. — Các anh hãy đón đánh và không cho bọn chúng vượt qua”.

        Xa xa đã có thể trông thấy đoàn xe tăng dàn thành một hàng dọc cách xa nhau, lừ đừ chuyển động trên đường, tiến về phía làng. Hình như tiếng động từ dưới ấy vọng lại không liên quan gì với chúng, và kỳ quặc thay là những cái bóng xe nhỏ bé lờ mờ đang đi chuyền dưới kia lại có thể gây bấy nhiêu âm thanh. Pa-ven vừa mới đi kiểm tra các chiến sĩ của mình: anh thấy họ đang đứng bên chiến hào, hai chiến sĩ ôm hôn nhau trước trận đánh, một người nào đó uống bi đông nước ừng ực. A-nhi-xi-mốp bông đùa để động viên những người bên cạnh. Còn Va-nhi-a Bô-cốp người nhợt nhạt, trầm lặng, đang cố mỉm cười. Trở lại vị trí quan sát của mình, Pa-ven lòng đây quyết tâm chấp hành mệnh lệnh một cách tốt nhất, chính xác nhất.

        Chỉ có tiếng động xa xa, tiếng động của sắt thép, động cơ nổi lên ở dưới cánh đồng kia làm anh bực bội. Chung quanh tất cả đều im phăng phắc, không hề có một vật gì chuyền động ở trước cổng làng, cũng như ở trên đồi, nơi trung đội Pa-ven đang chiếm lĩnh. Ở nhiều nơi trên mặt đất nổi lên những ánh lửa hồng và dường như có một màn sương đỏ lừ đang trôi từ phương nam tới nơi các chiến sĩ ẩn nấp trong công sự. Những phút chờ đợi cuối cùng trôi đi chậm chạp không sao tả nổi, bởi vì phút nào cũng có thể trở thành phút đầu tiên của trận đánh. Chiếc tăng đầu của bọn Đức lượn theo chỗ đường ngoặt và hướng mũi chạy thẳng vào làng. Ánh sáng màu hồng nhạt xuất hiện trên vỏ xe tăng đã giúp Pa-vẹn nhìn thấy, hay nói chính xác hơn là đoán được những đặc thù của nó: vỏ xe cong, tháp súng tròn...

        « Thôi đã đến lúc! — Pa-ven nói thầm. — Tại sao chúng không bắn nhỉ ?... ».

        Pa-ven dưa mắt nhìn về phía làng, nơi lúc này phải có mặt trung úy đại đội trưởng, nhìn sang bên cạnh và anh ngạc nhiên thấy người chiến sĩ liên lạc đang há mồm ngáp dài như thể buồn ngủ. Pa-ven nghĩ rằng cần phải động viên người chiến sĩ, nhưng ngay sau đó quên mất anh ta.

        Khi xe tăng tiến tới gần làng thì thể tích và hình dạng nó mỗi lúc một rõ hơn, những đám cháy nơi chúng xuất hiện soi sáng chứng. Đã có thể đếm được gần mười chiếc. Chúng đi thành một hàng, đuôi của nó mất đi trong đêm tối. Trong khi chiếc xe đầu đã ở rất gần hỏa điểm của đại đội thì những chiếc khác mới chỉ lờ mờ trong bóng tối dày đặc.

        « Cần phải bắn ! Bắn đi ! Đã đến lúc rồi! » — Pa-ven lầm rầm như niệm thần chú.

        Dường như được tạo ra từ ý nghĩ tập trung nôn nóng của Pa- ven, ở phía dưới lóe lên một luồng lửa thẳng tắp.

        Trong khoảnh khắc, luồng lửa đó soi sáng cả một đoạn đường, một đám ruộng đã cày đen sẫm, một cây bạch dương đơn độc ven dường và cái thành xe tăng phẳng lì. Sau đó tất cả đều mờ đi; một tiếng nổ gọn vang lên và trên mặt đường xuất hiện một đám khói.

        Không hiểu sao, chiếc tăng đầu không bị trúng mìn, nó tiếp tục bò tới làng, còn chiếc thứ hai thì bị. Những chiếc đi sau liền rẽ xuống đường, quay ngoắt sang trái hoặc sang phải. Ở phía dưới vẫn vang lên những tràng súng liên hồi loạn xạ, những loạt đạn súng trường lóe lên. Ở còng làng, súng máy đã nhả đạn. Thêm một chiếc tăng nữa bốc lửa, nó dừng lại và khói cuộn chặt lấy con thú vật.

        Pa-ven cầm lựu đạn đặt trên bờ công sự, tay trái mở nắp và đặt kíp nổ rất dễ cháy lan vào ống giữa. Anh không nghi ngờ rằng trong phút này xe tăng phải lao đến chỗ anh để tránh sa vào bãi mìn trên dường như đại đội trưởng đã phán đoán.

        Một lần nữa Pa-ven lại nhớ tới người trung úy nghiêm khắc của mình với lòng biết ơn vì anh ấy đã trông thấy trước tất cả... Pa-ven vô cùng sốt ruột, dường như một cái gì đó đẩy anh lên phía trước, nhấc anh khỏi mặt đất và anh hoàn toàn không cảm thấy mình cùng cơ thể mình. Còn quả lựu đạn nặng trình trịch mà anh đang nắm trong tay dường như đang tiếp cho anh một sức mạnh mới lạ thường. LÚC này, điều duy nhất gây cho anh một nỗi bực tức nhói lên trong tim là tiếng động hỗn loạn khủng khiếp — tiếng nổ đùng đùng, ầm ầm, tiếng rít inh tai của đạn, của động cơ xe tăng...

        Tuy vậy, trận đánh ở cổng làng và trên đường diễn ra rất quyết liệt: chiếc xe tăng đi đầu khạc ra một luồng lửa dài xé tan màn đêm. Một tiếng nổ rất to vọng lên và ngay lập tức ngọn lửa chập chờn vàng nhạt bốc lên từ ngôi nhà ở rìa làng. Những chiếc xe khác cũng nổ súng, chúng không hề dừng lại, vừa tiến vừa phụt ra những chùm đạn, chói lòa xuyên thủng bầu không khí đầy khói lửa. Tiếng súng và tiếng nổ hợp lại thành một thứ tiếng hỗn loạn liên tục và chân đồi nơi Pa-ven đang đứng giống như một nấm mồ màu xám nhạt.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Năm, 2020, 10:12:58 am

        Nhưng xe tăng không có ý định tràn lên đồi, chúng vừa bắn, vừa chạy dọc theo đường cái tiến thẳng tới trận địa bộ binh của đại đội , trong ánh chớp vàng thẫm, ánh lửa chập chờn có thể trông thấy đất đá bay tứ tung, những bóng người đang ngã xuống, đang nhảy hoặc đang bò ném lựu đạn. Giữa những đám khói ở khắp đó đây, trong chớp mắt xuất hiện những tháp súng xe tăng và vỏ sắt của chúng cũng ánh lên trong ánh lửa. Ánh lửa súng máy màu trắng như một làn gió hung dữ nhấp nháy trên mặt thép lúc tắt, lúc lại lóe sáng. Bỗng nhiên, ở một chỗ, có cái gì đó lóe lên ánh lửa xanh như ánh hàn điện và nhìn vào đó, Pa-ven trông thấy chiếc tăng thứ ba bị diệt. Từ chiếc xe tăng, một bóng đen chui ra và lom khom chạy. Chẳng bao lâu, mấy chiếc tăng đã đột phá tới tận cổng làng trong trận địa của đại đội và chúng vừa bắn vừa tản theo những hướng khác nhau. Ngôi nhà gỗ cạnh làng trong hầm có đặt khẩu đại liên, cháy hừng hực như đống lửa được đốt bằng thuốc nổ. Pa-ven nhoài người khỏi công sự, leo lên bờ chiến hào và không biết mình đang làm gì, anh đứng thẳng người dậy. Anh rất đỗi ngạc nhiên: xe tăng không quay vào chỗ anh để tránh bãi mìn. Chúng không tiến công quả đồi và thế là anh cùng với trung đội của mình ở ngoài trận đánh. Thật là một điều hoàn toàn bất ngờ. Bị trụ lại đây, anh không thể hỗ trợ được các đồng đội của mình bằng lựu đạn hoặc vũ khí, trong khi mệnh lệnh của đại đội trưởng không cho phép anh tự tiện quyết định một hành động nào khác.

        « Không được tự xuất hiện trước thời cơ », trong đầu anh vang lên lời trung úy. Pa-ven nhìn xuống chân đồi, hy vọng sẽ thấy một người nào đó lao tới chuyển cho anh lệnh về việc tiếp viện cấp bách. Anh đã cử liên lạc tới gặp chỉ huy. Hình như trong giây phút hiềm nghèo, anh ta quên mất cả Pa-ven lẫn trung đội của anh đang mai phục trên đỉnh đồi. Họ đành phải khoanh tay ngồi đây, còn trong khi các đồng chí của họ đang chiến đấu nguy kịch.

        Bỗng Pa-ven thấy Su-kin, thợ luyện gang, tiểu đội trưởng đứng bên anh từ lúc nào, đôi mắt giương to mệt mỏi và dường như sợ sệt nhìn Pa-ven, sau đó ghé sát vào tai anh:

        — Hay là ta đánh vào lưng, hả ?... Đứng thế này làm gì cơ chứ ?...

        Pa-ven nghe rõ mấy lời ấy nhưng không thể trả lời ngay được. Bất thần Pa-ven cảm thấy ngạt thở, miệng bỗng khô cháy. Từ trạng thái hừng hực sẵn sàng chiến đấu, từ lòng tự tin vào lực lượng của mình chuyển sang trạng thái bất động, cưỡng chế nhanh chóng đến mức làm Pa-ven cảm thấy bối rối hoang mang. Rồi tiếng ào ào, ầm ầm của địa ngục làm anh choáng váng đầu óc; những ánh chớp điên rồ hung hãn màu trắng, vàng, đỏ thẫm làm Pa-ven vô cùng sửng sốt.

        Trong khi đỏ các đồng chí cùng đại đội của anh đang chiến đấu hết sức mình ở đầu làng. Dù không trông thấy được những điều diễn biến ở đấy, nhưng Pa-ven không khó khăn gì không đoán ra được. Một đơn vị xe tăng đang nổ súng trên đường làng, sâu ở phía sau đại đội. Lúc này trận đánh đang diễn ra ở đó. Thêm mấy ngôi nhà nữa bốc cháy, còn ngay trên đường lớn, nơi bắt dầu trận pháo kích, trời lại tối đen. Chắc là ở đó mọi việc đã xong xuôi. Các hỏa điểm đã bị diệt, còn người thì bị giết hoặc tan tác hết. Hơn nữa, những điều kinh khủng này lại diễn ra nhanh chóng đến đáng sợ, theo Pa- ven chỉ trong vòng vài phút thôi.

        Pa-ven không nhớ là đã lọt vào công sự của các chiến sĩ như thế nào. Anh tới đây theo phản xạ tự nhiên để có sự che chở của họ... Mãi đến khi thấy nhiều người ở quanh mình: I-van Bô-cốp đang áp người bên tường đất, Su-kin, A-nhi-xi-mốp ngay cạnh, Pa-ven mới nhận ra ràng thật là vọ nghĩa ở lại đây khi xe tăng đã đột phá vào làng và trận đánh đã lướt qua trước mắt họ. Dù chưa bị lộ, nhưng anh đã bỏ lỡ cơ hội cuối cùng hỗ trợ các chiến sĩ bảo vệ tuyến phong thủ, lúc này vẫn còn phải đánh trả quyết liệt ở sâu trong làng. Pa- ven quyết định không thể khoanh tay ngồi đợi mệnh lệnh nữa, anh hạ lệnh trung đội lao đi tiếp viện cho họ. Nhưng ngay trong khoảnh khắc đó, Pa-ven thoáng nghe thấy tiếng người gọi tên anh rất to, và người chiến sĩ được cử đến gặp đại đồi trưởng đã xuất hiện. Anh ta vừa thở hồn hèn vừa truyền đạt mệnh lệnh líu lưỡi vội vàng tới mửc Pa-ven không hiểu anh ta nói gì.

        — Rút về đâu và đề làm gì? — Anh hét lên hỏi lại.

        Mãi đến lúc người liên lạc mặt tái nhợt trắng bệch một cách lạ thường, thậm chí trong bóng tối cũng nhận thấy, bình tĩnh nhắc lại rành rọt mệnh lệnh, Pa-ven mới hiểu rõ trung úy ra lệnh cho anh dẫn trung đội đến cuối làng và từ đó, từ các vườn rau chặn đánh và tiêu diệt lũ xe tăng địch bằng lựu đạn.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Năm, 2020, 10:13:28 am

        Nhoài người khỏi công sự, loạng choạng vì vấp phải đất đồ lởm chởm, cố lấy lại thăng bằng, Pa-ven vung lựu đạn lên quá đầu, hô lớn:

        — Đi thôi... Ôi! — Quên mất khẩu lệnh, anh dài giọng gào to. — Theo tôi, các bạn ơ... ơi!

        Pa-ven trông thấy các chiến sĩ của anh cầm súng leo lên bờ công sự. Thấp thoáng thân hình lom khom với khẩu súng trường trước mặt là Trô-sin, rồi đến người chiến sĩ cầm trung liên xông lên. Chính Pa-ven cũng đang lao xuống dưới như thể lặn ngụp vào một không gian thoai thoải tối mò... Anh lao đi những bước dài và chẳng mấy chốc đã bỏ xa các chiến sĩ chạy theo sau. Bầu không khí nồng nặc khét lẹt đến nôn mửa phả vào ngực, vào mặt và cái mùi khó chịu đó mỗi lúc một tăng. Thở hổn hển, Pa-ven chỉ cảm thấy anh chạy vất vả lạ thường và rất lo mình không kịp tới chi viện. Quả lựu đạn anh vung đều trong tay dường như lúc này hoàn toàn không có trọng lượng. Từ rìa làng còn vọng lại những tràng súng máy, những loạt đạn đại bác từ trên xe tăng nổ rất to, song không trông thấy xe tăng đâu cả. Ngọn lửa chập chờn mau lẹ đang liếm cái góc gỗ tròn của ngôi nhà rìa làng; nhiều đám khói bốc lên nghi ngút ở những ngôi nhà bên cạnh. Pa-ven quay lại — thấp thoáng bóng các chiến sĩ đang lao xuống đồi thành từng nhóm một. Chờ họ tới gần, anh vung tay chỉ hướng rồi tiếp tục chạy. Nhảy qua một hàng rào thấp, Pa-ven roi vào mảnh vườn khoai tây vuông vắn; ở phía trước, trong bầu thán khí màu đỏ nhạt thấp thoáng ngôi nhà gỗ có cửa trước quay ra mặt đường. Ngập ngụa trong đám đất màu, Pa-ven chạy vội tới đó, nhưng anh bỗng dừng sững lại, thậm chí còn lùi thêm một bước. Trước mặt anh, một người mặc bành tô đầu trần đang nắm sóng soài trên đám cây héo quắt, hai tay đang ra hai bên, Ngực vả phía dưới mặt người đó bê bết đất cát nhưng trán vẫn còn sạch, Pa-ven đã cui xuống định đỡ người đó đứng dậy, nhưng lại đứng thẳng lên. Anh căng thẳng nhìn vào đôi mắt người chết đang lim dim như sắp mở ra, vào hai mí mắt, vào đôi vai bất động, nhưng nhô lên như đang cử động một cách chậm chạp, vào cái thái dương hồng hào như của người đang sống khỏe mạnh.

        Phút sau, Pa-ven dồn hết sức lao về phía trước. Nỗi đau đớn xót xa cho một con người anh chưa hề quen biết đã bị kẻ thù giết hại, nỗi đau đớn cho chính mình, cho các đồng chí của mình lớn lao đến mức anh không kìm nổi tiếng kêu ngắn gọn như tiếng nấc. Quả lựu đạn trong tay tuy không có trọng lượng nhưng lúc này làm anh vô cùng vất vả.

        Theo Pa-ven thì ngôi nhà bên vườn khoai tây không có người ở, chủ nhà đã bỏ đi. Khi vượt qua ngôi nhà, Pa-ven đá phải cái xô không, làm nó lăn loảng xoảng mấy vòng. Pa-ven chạy qua sân con, nhìn qua hàng rào ra đường. Mặt đường sáng rực các đám cháy và hoàn toàn vắng vẻ, cả tiếng súng cũng không còn nữa. Những cọng rơm đỏ lừ lởn vởn trong không trung. Ngọn lửa ở cổng làng chảy giần giật và từ đấy bốc lại mùi khét lẹt của cao su và sơn cháy. Chăm chú nhìn, Pa-ven mới trông thấy ở trong đám khói có người: người đang đi, người đang bò lồm ngồm. Ngôi nhà xinh xắn có khung viền dăng ten của đại đội tạm thời chưa bị bén lửa, nhưng mái đã bị thủng một chỗ.

        Vung lựu đạn về phía sau chuẩn bị ném, Pa-ven nhìn chung quanh, nhưng anh lại từ từ hạ tay xuống: kẻ thù đã gây ra tất cả những gì trước mắt anh không còn ở đây nữa. Một ý nghĩ làm anh nhức nhối là những chiếc xe tăng đột phá được qua làng đang chạy về phía bắc vào thành phố; lúc này tiếng gầm của chúng đã yếu đi, chỉ vọng lại từ đầu đường làng tối om.

        Pa-ven thoáng nghĩ tới vợ, tới bố, — đây là lần đầu tiên trong suốt cả thời gian này — và chạy ra khỏi cổng...

        Ngay bây giờ, không đề phí một phứt nào, phải tập trung tất cả những ai lành lặn, rồi nhanh chóng kéo về thành phố, cần phải chạy để khỏi muộn thêm lần nữa. Bỗng nhiên có người gọi Pa-ven, anh nghe rõ tiếng gọi cả họ tên mình liền quay lại.

        Trong mảnh vườn bên cạnh có một người ngồi, đúng hơn là nửa nằm nửa ngồi nghiêng trên luống rau gồ ghề, một tay tì xuống đất, bóng tối của hàng giậu trùm lên chiếc ca pốt màu xám của anh ta.

        — Đồng chí trung úy! Đồng chí trung úy! — Pa-ven thốt lên khi trông thấy đại đội trưởng.

        Đại đội trưởng ngồi thẳng dậy, người chiến sĩ đứng sau cổ giữ lấy lưng anh. Pa-ven chạy vào mảnh vườn và cũng ngồi xuống luống rau.

        — Anh bị thương phải không? — Pa-ven kêu lên.

        — Người của anh... ở đâu? — Trung úy hỏi ngắt quãng. Khuôn mặt trẻ xương xương của anh đã vàng xám lại và hàng lông mày như được tô qua loa bằng than.

        — Họ ở đây... lát nữa họ sẽ tới đây... Nào, để tôi giúp anh. —  Pa-ven nói.

        — Không cần... Tôi đã ra lệnh chuẩn bị... chiến đấu... — Trung úy nói tựa như có đưa ra từng lời — Anh hãy theo dõi để họ mang theo... tất cả thương binh. Chính trị viên ở đâu? Anh không biết à? Nếu bị giết rồi thì phải mang xác đồng chí ấy đi... Anh đã rõ tất cả chưa ?


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Năm, 2020, 04:06:38 pm

        Trung úy cố ngồi thẳng người lại và thậm chí định đứng lên, một chân anh như cắm xuống đất, nhưng chân kia phủ kín dưới tà áo ca pốt vẫn thẳng đờ, không động đậy. Hình. như anh vẫn còn giận Pa-ven.

        — Vãng, vâng, vâng. — Pa-ven trả lời.

        — Anh hãy nhắc lại!... — Trung úy cúi đầu, tì cằm vào ngực và rùng mình.   

        — Mang theo tất cả những người bị thương! — Pa-ven nói.— Mang xác chính trị viên...

        — Đúng vậy... Cử trinh sát... vào làng Mới! Xe tăng đã quay về hướng đó... Tôi đã gửi báo cáo vào thành phố. Lực lượng tiến công vào chúng ta gồm hai mươi ba xe tăng và hai xe bọc thép... Chúng ta đã diệt được năm xe tăng...

        Cánh tay trung úy khuỵu lại và nếu không có người thiến sĩ đỡ dằng sau, anh đã ngã nghiêng xuống rồi. Chiếc mũ lưỡi trai còn mới rời khỏi đầu, đè lộ mái tóc ngắn lởm chởm như lông nhím. Song ngay lúc đó trung úy lại chống thẳng tay lên và ngực anh gập lại.

        — Lúc này chúng ta có thể rút. Anh hãy dẫn đoàn người, —  trung úy tiếp tục trao mệnh lệnh — anh hãy cho người... đi đầu bảo vệ... Chúng ta đi tắt qua rừng...

        Một đám tia lửa bay trên đường làng soi sáng một khoảng trời và Pa-ven nhận thấy người trung úy đầm đìa mồ hôi.

        — Anh hãy cho thương binh đi vào giữa đoàn người. Tôi sẽ đi cùng các anh... — Trung úy lấy tay khác nhặt chiếc mũ lưỡi trai và đội lện đầu — Chúng ta sẽ tiến công... quân chó đẻ này từ sau lưng chúng.

        — Ta tiến công quân chó đẻ này từ sau lưng chúng. — Pa-ven nhắc lại.

        Ý chí chiến đấu và chiến thắng đáng kinh ngạc của người thanh niên chỉ huy này làm anh xao xuyến.

        — Hết rồi! Hãy hành động đi! — Chàng trai chỉ huy ra lệnh.

        — Nào để tôi cõng anh. — Pa-ven nói. — Chúng tôi đưa anh tới viện quân y.

        — Anh đi ngay đi! — Trung úy cau có nói. — Hừ! Không kìm nổi cơn giận, anh thở hồng hộc và nhắm mắt lại, hàng lông mày rậm lạ thường tạo thành một vệt than dày.

        Một cô gái đeo túi cứu thương từ đường làng chạy vào sân và một người nào đó nữa chạy sau cô.

        — Thi hành đi! Thi hành đi! — Không mở mắt, trung úy nhắc lại.

        Pa-ven loanh quanh, sau đó chạy ra đường làng. Ở đấy có nhiều người đang chạy đi chạy lại lộn xộn mang theo thương binh, nhiều giọng nói vang lên khắp nẻo, các chiến sĩ trung đội anh đang đi ngược chiều anh theo từng tổ một.

        Bu-kha-xép khóa hai vòng cửa và trở lại với những người khách của mình. Họ đã ngồi yên bên bàn. Người khách trẻ cỏ khuôn mặt dài choắt, bỏ mũ chào mào và lấy tay vuốt ngược mái tóc thẳng màu vàng ra sau gáy, còn người cùng đi với hắn cứ để mũ lưỡi trai trùm xuống hàng lông mày. Từ cửa ra vào đến mọi nơi trong phòng, những vết chân sũng nước còn hằn rõ trên chiếc, sàn ván ghép cu kỹ.

        — Rất vui sướng, chào ông, ông Bô-rít Ni-cô-ỉai-ê-vích! Rất hân hạnh được các ông tới thăm. — Cúi người liếc nhìn vị khách dội mũ lưỡi trai, Bu-kha-xép nói.

        Đây là lần đầu tiên người họa sĩ già này gặp hắn và ngay cả với E-vê-min-gơ, người khách trẻ, mái tóc vàng có tên là Bô-rít Ni-cô-lai-ê-vích, ông ta mới chỉ được quen biết cách đây không lâu. Người họa sĩ già này chỉ mới tạm biết rằng y được người ta vất qua trận tuyến tới đây và chắc không phải chỉ một mình mà với cả nhóm: bây giờ ở trong thành phó đã xuất hiện bọn chỉ điểm bằng pháo sáng và xảy ra nhiều vụ tiến công những người gác đêm.

        — Ông không đợi ai chứ? Không một ai nghe thấy chúng ta chứ? — E-vê-min-gơ hỏi.

        Đúng là y nói tiếng Nga, nhưng phát âm từng từ rất cứng và quá rõ ràng.

        — Tường thế nào? Trần nhà ra sao? Tường nhà ông là tường gì ? — Y vừa lắp bắp hỏi vừa quay nhìn quanh phòng.

        — Pháo đài thực sự... Đại bác không xuyên được đâu, vững như boong ke ấy ! — Bu-kha-xép hấp tấp trả lời.

        — Ngôi nhà cũ, tôi hiểu. — E-vê-min-gơ quay sang gã đồng hành của mình. — Ni-ki-tin, anh thấy thế nào? Hình như được bà gọi về... Nói theo tiếng Nga là như vậy phải không?

        — Nắm tay thì to mà vai lại hẹp, người ta cũng nói như thế. — Người khách thứ hai đáp lại, giọng to và lè nhè. — Hôm qua, một ôn con đã theo dõi tôi từ bãi trống. Bây giờ thì họ đã vây kín cả vùng này.

        E-vê-min-gơ lặng lẽ tựa vào lưng ghế bành. Hắn nghĩ là hắn đã không thận trọng khi hắn đi đến một ngôi nhà quá đông đúc và với một người không được tin tưởng cho lắm. Song không còn cách nào khác được, hai ngày gần đây hắn và Ni-ki-tin đã phải chạy từ đầu này tới đầu kia thành phố đề đánh lạc hướng truy tìm. Và E-vê-min-gơ nhất định phải thoát khỏi người đồng hành nguy hiểm đang bị truy lùng của mình. Mặc dù dẫn Ni-ki-tin tới đây, hứa với y một đêm ngủ ngon lành, nhưng chính E-vê-min-gơ lại không định ở đây lâu.

        — Và thế là ông... — Ngước mắt nhìn chủ nhà, E-vê-min-gơ nói, sau một lát im lặng. — Và thế là ông đã sống trong ngôi nhà này hai mươi năm ròng phải không?


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Năm, 2020, 04:07:11 pm

        Bu-kha-xép— một người gầy gò, bộ ngực lép xẹp, mặc bộ com blê loang lổ thuốc vẽ, chiếc sơ-mi nhàu nát, cái quần đã cũ, buông thõng đôi tay dài thượt đứng thẳng trước mặt hai người khách. Dù lão mặc bộ com blê, dù dáng lão gù gù vì tuổi già, người ta vẫn nhận ra vẻ quân nhân trên thận hình gầy đét của lão.

        — Đúng như vậy, hai mươi mốt năm tại đây, ông Bô-rít Ni-cô- lai-ê-vích ạ ! — Ông ta đáp, tư thế như người đang báo cáo.

        Gian nhà rộng rãi, vuông vẫn, có mái trần nham nhở với tháng năm và thành gờ nổi, trông gần như trống rỗng. Qua bóng tối lờ mờ ở góc trong, có chiếc giường sắt với những cái bướu mạ kền, chiếc bàn vuông chân nhỏ kê sát vào cửa sổ được che bằng chiếc chăn cũ làm rèm. Từ những ngày xa xưa, khi nơi đây còn là khách sạn loại hai, những lái buôn Mát-xcơ-va hạng trung, các công chức của Bộ công nghiệp, những vị quý tộc bị phá sản làm nghề bảo trợ, những người chủ gánh các tỉnh lẻ đã tới trọ tại ngôi nhà này. Đến giờ, trong các phòng vẫn còn giữ lại cái tủ to thấp với nóc trên uốn cong như sóng nước cùng chiếc ghế bành gỗ đỏ bên chiếc bàn. Song, cả những cái đó nữa cũng không làm thay đổi ấn tượng chung. Dường như người chủ căn phòng này như sống trong trại lính dựng tạm, trên cái sa mạc ghép gỗ ván được ngăn bởi những bức tường trần trụi bàn màu xanh.

        — Ô hố, hai mươi mốt năm! — E-vê-min-gơ thốt lên. Hắn suồng sã nhìn chủ nhà bằng đôi mắt tròn quá gần nhau bên sổng mũi của mình. Tuy phút vừa qua hắn còn vẻ lo lắng nhưng lúc này giọng đã có vẻ giễu cợt.

        — Còn đây là bộ sưu tập của ông phải không ? Đây là nghệ thuật của ông chứ gì ? — Giơ ngón tay chỉ trỏ, hắn tò mò hỏi.

        Trên sàn nhà, những bức tranh sơn dầu vẽ phong cảnh giống nhau trên bìa các tông đang được phơi khô dọc chân tường: một đầm nước hình bầu dục, những con thiên nga trắng như bông trên mặt nước trong xanh, cây cối xanh biếc với cành đối xứng và mặt trời tròn như năm cô-pếch bằng đồng. Một bức tranh khác, y như vậy nhưng còn nằm dở trên giá gỗ cọng, xung quanh là những hộp thuốc màu và bút vẽ.

        — Sản phẩm của tôi... hay nói theo cách khác là nguồn sống của tôi đấy! — Bu-kha-xép báo cáo. — Tôi mang ra chợ bán vào các ngày chủ nhật. Tất nhiên là bây giờ chẳng còn ai quan tâm tới tranh tới ảnh nữa.

        — Ở đây chỉ có một lối ra ở hành lang chung. — Người khách thứ hai bỗng lẩm bẩm, giọng cứng đờ khô như củi. — Chà, bất tiện quá đấy !

        — Cứ yên tâm, Ni-ki-tin! Chúng ta chỉ còn đêm nay nữa thôi. Cho tôi xin ngụm nước! — E-vê-min-gơ nói như ra lệnh cho chủ nhà. — Tôi xin cốc nước! Họng khô khốc rồi...

        Quay ngoắt lại theo kiểu quân sự, Bu-kha-xép lê giày tới xô nước ở cửa ra vào.

        — Tôi không biết mời khách quý cái gì đây. — Ọuay lại với cốc nước trong tay, lão ta nói. — Chỉ có trà thôi, có được không? Trong nhà này việc gì cũng đến tay tôi.

        — Hẳn là trà màu cà rốt, ông có trà không? — Người có tên Ni-ki-tin hỏi. — Hay là trà vụn. Hẳn là trà vụn chứ gí?

        Hắn đội lệch chiếc mũ lưỡi trai vuông che đến nửa khuôn mặt với cái cằm phảng, tay luôn thọc sâu trong túi áo bành tô.

        — Trong hoàn cảnh này, ai tim được trà hảo hạng? — Bu-kha- xẻp nói.

        Lê dôi giày, ông ta vội vã tới cửa sổ thứ hai, nơi đặt bếp điện và ấm đun nước. Trong lúc Bu-kha-xép đang lúi húi sửa soạn thì những người khách của lão nói chuyện khá sôi nổi, lão nghe được vài tên phố, tên người; Bô-rít nói một điều gì đó về kho quân nhu, hỏi xem người ta đã dưa phạm nhân trong tủ ra khỏi thành phố chưa, Song Bu-kha-xép không nắm được nội dung câu chuyện. Đã lâu quá rồi lão ta — đại úy, cựu sĩ quan từ thuở xa xưa, tham mưu trưởng chiến binh của tướng Cô-nhi-lốp, người tham gia « cuộc hành quân băng giá » — âm thầm chờ đợi sự thay đổi số phận mình trong cái thành phố này. Mỗi năm lão thêm già nhưng khả năng đổi đời ngày một ít đi. Và những biến cố đột ngột trong mấy tháng gần đây: sự tiến công nhanh chóng của các tập đoàn quân phát xít vào đất Nga, sự xuất hiện của các nhân viên tình báo Đức mà đã một thời lão ta có liên lạc, đã gieo vào lòng Bu-kha-xẻp một tác động kinh hoàng. Từ hành lang, tiếng gõ nhỏ nhẹ của dầu nặng bịt cao su vọng vào trong phòng và lão ta chú ý lắng nghe.

        « Cái thằng què ấy cứ chạy lăng xăng! — Với vẻ hằn học, lão ta thầm rủa Gô-ga. — Vẫn không chịu ngồi yên cho ! ».

        Sự có mặt của cậu bé sau bức tường làm cho Bu-kha-xép lo sợ, dù chẳng có lý do chính đáng nào cả. Hơn nữa, nỗi lo sợ lẫn bực tức của lão ta cứ tăng lên ngày này qua ngày khác và càng ngày lão càng khó kiềm chế chúng. Trải qua nhiều năm, nhiều giai đoạn và sắc thái, lòng căm giận sâu sắc xa xưa thông thường hay tập trung vào chính những con người mà hàng ngày chung sống. Dạo này lão ta lờ mờ nhớ tới cái thời lão buộc phải an phận và náu mình trong thành phố này.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Năm, 2020, 04:07:45 pm

        Lê từ cửa sổ tới bàn, Bu-kha-xép vội vã thu xếp chai lọ bột màu để có chỗ uống trà.

        — Như các ông thấy đấy, tôi sống độc thân, — lão nói. — Tôi tự nấu ăn trên cái bếp kia... Theo kiểu bộ đội, không cầu kỳ. Các ông thông cảm nhé... Liệu có tiện cởi áo ra không, ông đưa tôi chiếc ca pốt của ông. — Lão ta nói với Bô-rít, rồi im lặng.

        E-vê-min-gơ lại im lặng ngắm nghía Bu-kha-xép: lão già luộm thuộm bận bịu keo kiệt với những người khách đột ngột của mình; khó có thể tin được là một thời nào đó lão ta đã mang quân phục sĩ quan. Chắc là trong tương lai cũng không thể mong đợi một lợi ích to lớn gì ở Bu-kha-xép. Lúc này E-vê-min-gơ nghĩ rằng, nếu đêm nay những người truy lùng Ni-ki-tin thình lình ập tới đây thì sự mất mát đối với những ai ngày mai tới thành phố này cũng không lớn lắm.

        — Nghe đây, ngài đại úy tham mưu trưởng! — Hắn gọi một cách vô lễ.

        Bu-kha-xép sợ hãi nhìn ra cánh cửa. Trong phòng này chưa có một ai gọi lão như vậy và câu nói bất ngờ kia làm lão choáng váng.

        — Ni-ki-tin sẽ ở lại nhà ông. Tôi cho rằng, các ông không buồn đâu. — Người khách của lão tiếp tục. — Tôi chỉ khuyên ông không cho hàng xóm của mình biết có Ni-ki-tin ở đây... Điều này có thể kết thúc không tốt cho chính ông.

        — Vâng, rất vui sướng, rất hân hạnh! — Bu-kha-xép nói.

        — Tôi đã đoán ràng ông sẽ không phản đối... Vả lại, cũng chỉ cần một đêm nay nữa thôi... Ngày mai, tôi cho rằng không chậm quá ngày mai đâu, quân đội Đức sẽ tiến vào thành phố của ông ..

        Sôi nổi hẳn lên, E-vê-min-gơ ưỡn thẳng người lên trên chiếc ghế bành và úp bàn tay vỗ vỗ thành ghế:

        — Ông sẽ không phải vẽ những bức tranh sơn thủy này nữa, —  hắn tiếp tục phát âm rất cứng cuối từ — ông sẽ hoạt động theo chỉ thị của bộ chỉ huy Đức.

        — Vâng, đúng thế, — Bu-kha-xép lẩm bẩm.

        — Ông chỉ còn ngủ một đêm cuối cùng trong cái boong ke này nữa thôi. Hai mươi mốt năm chờ đợi không phải là quá dài đối với ông, có phải thế không?

        — Rất đúng, hoàn toàn đúng, — Bu-kha-xép líu nhíu nói. Lão luẩn quẩn ở một chỗ, vô tình xoa tay lên áo vét như thể tìm cái gì đó trong túi ngực mình.

        — Ở đây có được an toàn không, ngài đại úy tham mưu trưởng ? Những ai ở bên cạnh đây? — E-vê-min-gơ hỏi.

        Nghĩ về những người hàng xóm của mình, Bu-kha-xép không trả lời ngay. Thật là kỳ lạ: lúc này không phải những xung đột nhỏ nhặt giữa lão với họ mà chính là vì phần lớn sự giúp đỡ đa dạng từ trước đến nay của những người này đối với lão làm lão ngột ngạt không chịu nổi... Đã không có gì có thể hòa giải giữa viên cựu đại úy tham mưu trưởng xưa kia với những người này chỉ vì theo một nguyên nhân đơn giản là lão phụ thuộc vào họ quá lâu và ghen tị với họ quá nhiều.

        — Những ai ở đây ? — E-vê-min-gơ nhắc lại câu hỏi. — Có đảng viên không ?

        — Làm sao lại không có được... Có đấy...

        Và Bu-kha-xép lại liếc nhìn cánh cửa. Tiếng dôi nạng nhẹ nhàng lộc cộc sau cửa rồi tiếp theo là tiếng gót giày.

        — Có thằng bé què kia nữa, tên nó là Gô-ga. Nó cứ quanh đi quẩn lại ở đây như thằng điên, — lão nói giọng gắt gay hẳn lên —  Và thằng bạn nó, Vô-lô-đi-a Chi-khô-nốp, lớn hơn một chút, kẻ đầu têu chính của chúng. Hôm nay nó chạy về nhà, ngôi sao đỏ trên trán. « Xin chào, — nó nói, — bác Mi-kha-in Mi-khai-lô-vích !». Ừ mày, tôi nghĩ!... — Đại úy tham mưu trưởng cởi cúc ngực áo vét. — Mẹ nó, Ôn-ga Chi-khô-nốp-va, chi ủy viên phân xưởng. Cả thợ vô tuyến điện, đồng chí Gút-cốp, đảng viên, đặt tạp chí...

        — Chắc là ông biết rõ không phải chỉ những người sống trong nhà này, — E-vê-min-gơ nói, — và ông sẽ giúp chúng tôi làm sạch thành phố này. Ông sẽ nhận được phần thưởng xứng đáng, được phụ cấp và được cả thuốc lá nữa.

        « Còn phải nói về bảng thành tích nữa. Con quỷ sống quá lâu ! » —  Bu-kha-xép thầm nghĩ.

        — Không phải cho tôi, không phải cho riêng tôi... — Lão lẩm bẩm, lùi lại chiếc ghế đầu và nặng nhọc ngồi xuống.

        E-vê-min-gơ kéo cổ tay áo ca pốt, nhìn đồng hồ và với lấy chiếc mũ chào mào. Cần phải ra đi, mặc dù hắn không muốn rời khỏi căn phòng ấm áp này để mò mẫn trong đêm tối lạnh lẽo. Song ở nơi mà hắn định đến không một ai biết mặt hắn, còn giấy tờ và phiếu đi đêm đều rất hợp pháp. Ngủ lại đây, liều mạng trong giờ phút cuối cùng này, đối với hắn là quá nông nổi.

        — Tôi thấy anh ngồi không yên, — với cái nhìn dò xét từ dưới chiếc lưỡi trai, Ni-ki-tin càu nhàu nói to, không phải việc anh tới đó.

        — Nếu có điều kiện tôi rất vui lòng để anh đi cùng, — E-vê- min-gơ bình tĩnh trả lời, — nhưng ở đó, nơi tôi đến, anh không thể đến được. Còn ở đây không có điều gì đe dọa anh cả, có phải thế không, hả ngài Bu-kha-xép ?

        Hắn rời khỏi ghế bành, đội mũ chào mào và lấy hai ngón tay trỏ vuốt mái tóc vàng màu trứng gà của mình.

        — Xin đừng tiễn tôi, — hắn nói. — Những chi thị của tôi, ngày mai Ni-ki-tin sẽ nói cho ông biết. Mai là ngày chiến thẳng của chúng ta. Thường thường những ngày này có bận rộn hơn.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Năm, 2020, 04:08:33 pm

        Hắn đi ra cửa, chẳng ngoái cổ lại. Bu-kha-xép bước theo hắn, lòng đầy kinh hoàng, sau khi mở cửa để khách, ra, lão họa sĩ già bỗng nhiên lùi lại vì sợ gặp phải Gô-ga — rất có thể là lúc này vẫn còn ở trong hành lang.

        E-vê-min-gơ vừa ra khỏi, Bu-kha-xép liền khóa trái hai vòng cửa lại.

        — Thưa ông, ấm chè đã sôi! — Từ sau lưng hắn, giọng Ni-ki-tin ồm ồm vang tới. — Còn gì nữa, uống trà được rồi chứ?

        Bư-kha-xép vội vàng tới cửa sổ và tắt bếp. Đặt ấm chè lên bàn, lão chạy lại mở tủ, lấy đĩa bánh mì, hộp bơ và lọ mứt quả. Sau đó lão pha trà, lấy tay áo phủi những màu giấy các tông trên mặt bàn, rót trà vào cốc cho khách và cho mình, rồi ngồi xuống bên bàn nhưng chưa uổng vội.

        Lúc này viên cựu đại úy tham mưu trưởng có tâm trạng như của người ngà ngà say; khi thì nheo đôi mắt sâu hoắm, mí đỏ nhìn ánh đèn và cười bí ẩn, khi thì bật dậy định đi. đâu đó, hết đứng lên lại ngồi xuống. Lúc này trong tâm trí lão hiện ra những khuôn mặt khác nhau: ông quản trị nhà ở thỉnh thoảng có tối ngó đến lão ta, người công an ông gặp ở chợ vào chủ nhật vừa qua, chị mậu địch viên ở quầy bánh mì và ông già quét sân... Và một lần nữa, không phải lão ta nhớ đến những oán hận hoặc cảnh nghèo túng của mình, — nghĩ cho cùng thì lão sống không đến nỗi tồi so với nhiều người khác, thậm chí còn có tiền gửi tiết kiệm, — mà là nhớ tới những việc tử tế của người khác đối với lão. Tưởng tượng ra nỗi ngạc nhiên của tất cả những người này vào ngày mai và sau đó là nỗi khiếp sợ của họ, lão ta như say sưa và mất hết lý trí. Ông lão định báo thù không phải vì những việc ác độc, điều này ít ỏi đối với lòng căm thù của lão. Chính những việc tử tế này đã hun đúc nên lòng căm thù sâu sắc của lão ta.

        — Thưa ông, trà của ông là trà mồ côi! — Bu-kha-xép thoáng, nghe giọng buồn râu lè nhè của Ni-ki-tim — Được mỗi cái nóng, chứ không phải là trà.

        Hơ đôi bàn tay to béo trên tách trà còn bốc hơi, Ni-ki-tin vừa thổi vừa uống xì xụp, nước mắt tràn ra trên đôi mắt ốc nhồi, con ngươi màu xanh nhạt. Cuối cùng hấn cũng bỏ mũ lưỡi trai ra để lộ cái đầu cắt tóc ngắn với một mảng hói trên đỉnh hơi nhợt nhạt được tóc phủ qua loa.

        — Có nhiều loại trà, — vừa rót thêm vào tách cho mình, hắn vừa nói. — Có loại chè đen, chè tàu, chè mạn. Nhưng không có chè nào ngon hơn chè vàng cả, đúng là loại thượng hạng.

        Ni-ki-tin đưa bàn tay xoa trán lẩm tấm mồ hôi.

        — Ông bố tôi khi ngồi uống trà thường mang theo khăn mặt, —  hắn kể tiếp. — Chiếc ấm lò của chúng tôi loại đặc biệt có hai tầng. Có thể nói đây là loại ấm lò của giám mục. Thế mà đối với nhà tôi, nó vẫn còn thiếu, phải đổ thêm nước. Những người thích trà đến vậy đấy, thưa ông...

        — Càng giàu... càng giàu... — Bu-kha-xép lẩm bẩm. — Xin đừng .làm khách. Tôi sống theo kiểu độc thân.

        — Người ta bắt anh tôi uống trà từ ấm, — Ni-ki-tin lại lè nhè. —  Người ta nói chúng tôi là địa chủ phú nông. Thôi... Nhưng ai là địa chủ chính cống người đó không xòe năm ngón tay ra.

        Lại trầm ngâm với những mơ tưởng không thể tin được của mình, Bu-kha-xép không nghe hắn nói gì nữa. Tuy vậy, suy tưởng của lão không đi quá xa, chỉ giới hạn trong ngôi nhà lão đang ở và mấy đường phố lão thường hay quá lại, tới cửa hàng bánh mì, cửa hàng tạp phẩm để mua thuốc vẽ. Về bản chất, lúc này viên cựu đại úy tham mưu trưởng ấy chỉ mong muốn một điều — nỗi bất hạnh và chết chóc đến với những người hàng xóm của mình. Bởi vì họ có tất cả những gì mà lão ta không có, đó là tính tự chủ, tâm hồn trong sạch, cao thượng, trẻ trung. Họ tốt bụng ngay khi lão ta mệt lử người vì những ý nghĩ ác độc, họ hào phóng và nhiệt tình khi lão ta chẳng thích một ai. Hạ mình trước họ và ghen tị với họ, lão ta không hề mong muốn có được tất cả những điều này mà trái lại, lão muốn cướp đi của người khác những phẩm chất cao quý mà không bao giờ lão có thể có được.

        Cuối cùng Ni-ki-tin cũng đã uống xong trà, đặt tách xuống cởi cúc áo bành tô. Hắn lôi khẩu súng bắn pháo sáng giấu ở trong túi và đặt lên bàn. Người đỏ ửng mồ hôi lấy khẩu súng ngắn và băng đạn, hắn chậm rãi xem xét lại.

        — Chỉ có điều là tôi không có đường về! — Hắn buồn rầu nói. — Thưa ông, tôi đã say mê với việc làm của mình, hình như tôi đã thành thằng nghiện rượu mặc dù không biết uống. Tôi không thích rượu... — Hắn im lặng một phút. — Ông đã được uống chè Can-mứt chưa? — Hắn hỏi sau một lúc im lặng. — Khi ngồi tù ở đó tôi đã được nếm. Có thể nói tên gọi là chè nhưng lại giống nước xúp.

        Bu-kha-xép không trả lời: ngoài cửa có tiếng chân người cùng những giọng nói không phân biệt được.

        Lão đứng phắt dậy và kiễng chân đi ra cánh cửa. Nhũng bước chân xa dần theo hành lang : chắc là ai đó từ nhà máy trở về và cũng có thể từ hàm trú ẩn lên.

        — Chúng đi đấy, chúng đi... Tất cả đều là người ở đây. — Bu- kha-xép khẽ nói, môi hơi mấp máy.

        Khi ngoài hành lang, tất cả đã im ắng và lão ta đang nhìn quanh thì Ni-ki-tin vẫn mặc nguyên cả áo bành tô chân vẫn đi ủng, nắm quay ra trên chiếc giường của lão, hai tay khư khư đút trong túi áo.

        — Ông hãy quan sát để một việc đều êm đẹp trong khi tôi ngủ, — từ góc phòng hắn làu bàu. — Nếu xảy ra điều gì thì viên đạn đầu tiên sẽ dành cho ngài đấy! — Và sau một lúc lâu im lặng, hắn vừa ngáp, vừa nói líu nhíu: — thưa ông, chỗ ở của ông tồi lắm! Tuy rộng nhưng rất hôi hám!


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Năm, 2020, 05:49:21 am

3

        Dọn rửa và xếp xong bát đĩa, bà An-na vội vã đi làm, còn Na- ta-sa ờ nhà một mình. Trời sắp tối, Na-ta-sa vào phòng Pa-ven. Tất cả khung cảnh ở đây đều như gợi đến việc anh mới ra đi: chiếc blu dông treo trên thành ghế; trên mặt bàn, một chiếc khăn mềm phủ lên mấy cái cặp gì đó, bảng vẽ nằm nghiêng ở gần đầu giường, những mẩu giấy trắng ở góc...

        Bóng tối chạng vạng; chậu hoa đơn độc, thân cây thấp, lá to đã in hình đen sì lên cửa kính đẫm nước màu xanh sữa... Từ phòng bên cạnh vang lên tiếng chuông báo đều đặn của chiếc đồng hồ báo thức và sau đó trong nhà im ắng. Na-ta-sa nhíu mày lại, cố kìm những giọt nước mắt cứ chực trào ra; nỗi lo sợ cho Pa-ven và có nghĩa là cho chính mình, nỗi lo sợ đơn chiếc xâm chiếm lòng chị mãnh liệt chưa từng thấy.

        Song chỉ một phút sau, Na-ta-sa đã thầm đấu tranh kịch liệt với những gì đang đe dọa mình, chị như ráng sức cố xua đuổi mọi nỗi bất hạnh, không cam chịu bị khuất phục.

        Chị nhanh nhẹn đi trên sàn nhà kêu cót két, bước vội tới bàn, ngồi xuống rồi lại đứng phắt dậy. Quanh quẩn trong phòng vẫn chưa biết phải làm gì, nhưng chị không muốn mất thêm thì giờ nữa. Như một cái máy, chị vội vàng bắt tay vào việc dọn dẹp phòng Pa-ven, vắt khăn lên mắc áo, thu dọn bàn viết lại. Theo bản năng, Na-ta-sa muốn xua tan tất cả những gì gợi nhớ sự chia ly và nỗi bất hạnh. Ngay lúc đó, ý nghĩ bất chợt thoáng hiện trong đầu Na-ta-sa là, chị có thể không phải xa chồng, nếu chị có đủ can đảm. Kinh ngạc với ý nghĩ này, Na-ta-sa ngồi xuống ghế, hai tay ôm đầu và cứ ngồi yên như vậy rất lâu. Chị hồi hộp sợ hãi, cố gắng suy nghĩ thật sâu tất cả mọi điều... Lát sau trời đã tối hẳn, khung cửa sổ vuông vắn như tan ra và biến đi trong bóng đêm. Na-ta-sa cảm thấy tĩnh mịch trong ngôi nhà sâu lắng và dày đặc đến nỗi làm chị sợ hãi.

        Sau khi mò mẫm che cửa sổ, Na-ta-sa bật đèn, đi sang phòng bên cạnh và ở đó chị cũng làm như vậy. Chị như lên cơn sốt, mặt nóng, bừng. đồng thời, lần đầu tiên trong ngày, Na-ta-sa cảm thấy thoải mái sau khi đã lựa chọn và quyết định. Đây là lúc Na-ta-sa cần đến những kiến thức của lớp cứu thương mà chị đã được học từ dạo hè! Và nếu những người phụ nữ khác có đủ khả năng phục vụ trong quân đội, với những công việc như cứu thương, hộ lý, liên lạc, trinh sát, xạ thủ, thì theo chị, tất nhiên chị cũng hoàn toàn đảm nhiệm được nhiệm vụ của mình. Toàn thân Na-ta-sa run lên khi chị cố tưởng tượng cho mình những thử thách và gian truân mà người lính phải chịu đựng... Nhưng tại sao chị lại phải tránh xa những, thử thách này, trong khi tất cả những người xung quanh ngay cả như ông A-lếc-xây Grô-mốp, tuy đã già vẫn trở lại nhà máy, đã trở thành những chiến sĩ bảo vệ Tổ quốc và bảo vệ hạnh phúc của chị... Với tất cả lòng thành thật và nhiệt tình của mình, lúc này, Na-ta-sa muốn làm một người có ích cho mọi người, muốn làm một điều gì đồ giảm nhẹ bớt số phận quá khó khăn của họ. Đồng thời, Na-ta-sa muốn tìm cách nào đó để chuộc lại một cách nhanh nhất những gì mà chị đã mất. Được đứng cạnh Pa-ven, được luôn luôn trông thấy anh, được cùng làm một việc với anh thì dù khó khăn gian khò đến mấy chăng nữa, đối với chị vẫn là một điều sung sướng, là niềm hạnh phúc lớn lao trong nỗi bất hạnh. Nghĩ vậy, Na-ta-sa nóng lòng chờ đợi bà An-na đi làm về để báo cho bà biết quyết định của mình. Cũng cần phải biết xem nộp đơn xin gia nhập trung đoàn cổng nhân ở đâu và nói chung cần phải làm thế nào để đạt được điều này càng nhanh càng tốt. Quanh quẩn trong nhà, Na-ta-sa lúc thì ngồi yên độ một vài phút, lúc lại đứng dậy lượn quanh các phòng. Và chị có cảm giác hình như không hiểu sao đôi giàv cao gót của chị lúc này nện xuống sàn ngôi nhà trống trải lại có vẻ to hơn và đầy vẻ lo âu

        Dừng lại trước tủ gương giữa hai cửa sổ, Na-ta-sa cúi gần sát gương và soi mình với vẻ kỳ lạ hơn. Đôi má đỏ hây nhưng văng trán trắng trẻo với mớ tóc vuốt ngược ra sau lại có vẻ nhợt nhạt hơn, còn đôi mắt màu nâu thẫm long lanh đầy vẻ tò mò, ánh lên những tia lửa vàng. Lúc này, Na-ta-sa cảm thấy mình đẹp hẳn ra. Bằng những cử chỉ thành thạo, chị vuốt mái tóc, cuộn lại búi nặng ở sau gáy, áp mu bàn tay vào má như muộn xoa xoa nó. Hơi thở làm mờ mặt kính. Na-ta-sa lúi húi với cái gương, quan sát phản xạ của người phụ nữ trẻ, tuy eo lưng hơi béo một chút, nhưng người chị vẫn đẹp...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Năm, 2020, 05:49:40 am

        Để làm một việc gì đó trong lúc đợi bà An-na về, Na-ta-sa lấy tập an bom ảnh nặng trịch, gáy bọc vải nhung trên giá sách xuống và giở ra xem. Ngay trang đầu là ảnh một cụ già đang mỉm cười hiền hậu với bộ ria chải ra hai bên theo kiểu Xcô-be-lép-xki đang nhìn qua khung giấy hình chữ nhật, như nhìn qua cửa sổ con. Tấm ảnh lâu đời đã phai màu, úa vàng vì năm tháng, và bỗng nhiên Na-ta-sa chợt nghĩ rằng ông cụ tổ từ thời xa xưa của nhà chồng đang mỉm cười và khuyến khích chị. Vô tình, Na-ta-sa cũng mỉm cười dù chị đã có quyết tâm với ý định của mình, nhưng lúc này vẫn rất cần sự ủng hộ và tán thành của người khác.

        Na-ta-sa thận trọng mở những tờ giấy dày mép đã úa vàng và trước mặt chị lần lượt hiện ra hình ảnh những người thợ thủ công râu ria, mặc áo gài cúc bên áo vét màu sẫm và những người phụ nữ mặc áo cánh bay bướm, váy dài, những chàng trai trẻ đội mũ lưỡi trai cứng màu đen và những bà cụ trùm khăn. Trên một tấm ảnh có nhóm đàn ông, một số mặc áo dài ngày lễ cổ cồn xếp hàng bên chiếc máy gì đó có vô lăng, A-Iếc-xây Grô-mốp trông trẻ hơn hiện nay khoảng ba mươi tuổi, nổi bật hơn hẳn những người khác. Trong một tấm ảnh khác đã phai màu, một người vai rộng, tóc bù xù, mặc tạp dề, tay áo xắn cao, đứng chống tay vào chiếc búa rèn cán dài. Thinh thoảng Na-ta-sa nhận ra nét giống nhau rõ rệt giữa những người to cao này với Pa-ven, nhưng trong nhiều trường hợp chị chỉ đoán được mức độ giống nhau huyết thống của họ. Những tấm ảnh của chính Pa-ven mà chị chưa được xem bắt đầu xuất hiện ở cuối an bom. Tim thắt lại, vui buồn lẫn lộn, Na-ta-sa ngắm kỹ tấm ảnh một thiếu niên tóc cắt ngắn, lưỡng quyền cao, môi dày, đeo huy hiệu Đoàn trên áo sơ mi kẻ ô và cái nhìn cởi mở hiền từ mà chị yêu quý đến như vậy. Sau đó chị nhận ra chồng mình, Pa-ven, trong đám thanh niên trẻ mặc may ô quần đùi chụp trên nền lưới bóng đá cao hơn hẳn giữa đội, hai tay ôm quả bóng trước ngực. Tất cả các chàng trai này đang cười vui vẻ và Na-ta-sa chợt có ý nghĩ rằng hôm nay các đồng chí xa xưa của chồng sẽ vui mừng đón chị vào hàng ngũ của họ. Nhiều tấm ảnh nhỏ, thư từ và biên lai được giữ lại ở cuối an bom giữa trang cuối cùng và bìa. Và ở đây, Na-ta-sa nhìn thẵy một ảnh chân dung của bố chồng, ông A-lếc-xây Grô-mốp cắt từ báo ra với hàng chữ đậm « Anh hùng lao động A.V. Grô-mốp».

        ...Bà An-na về nhà rất muộn: xí nghiệp may quần áo trẻ em, nơi bà làm việc đang khẩn trương sản xuất mặt hàng mới — áo ca pốt bộ đội và ngoài ra, đêm nay bà còn nhiều công việc khác. Ban ngày đã có nhiều người từ các thôn làng, và các khu công nhân chạy vào thành phố T. Theo đó là những tin tức đáng lo ngại nhanh chóng lan truyền;

        Từ xí nghiệp, An-na Grô-mô-va đi thẳng tới ủy ban đường phố của mình (như tên gọi cho thấy, lúc này những ủy ban như vậy đều được thành lập ở mỗi dường phó). Ở đây, những người phụ nữ hàng xóm đang sốt ruột đợi An-na tới và bà liền trao đồi những công việc khác nhau với họ.

        Theo quyết định của Hội đồng quân sự thành phố, nhân dân ngoại ô phía nam sẽ được chuyển tới khu Bờ sông và cần phải khẩn trương chuẩn bị việc tiếp nhận họ; sau đó là những việc quyên góp quà cho các chiến sĩ Hồng quân, phân công vá, giặt quần áo cho bộ đội... Thông thường, bà An-na luôn luôn bận rộn. Tuy bề ngoài có vẻ nghiêm khắc, khô khan nhưng dường như bà lúc nào cũng biết tạo nên một không khí tự tin với mọi người trong lúc này... Mãi gần nửa đêm bà mới ấn chuông ở thềm cửa nhà mình.

        Mệt nhoài vì đợi bà An-na quá lâu, Na-ta-sa vội vàng nói ngay cho bà biết quyết định của chị. Và chị rất ngạc nhiên khi thấy bà già vẫn lặng lẽ trước quyết định rất quan trọng của mình. Bà chẳng nói ra sự đồng tình mà Na-ta-sa chờ đợi và cũng chẳng tỏ vẻ phản đối gì, mà chi nói một cách chung chung.

        — Ở đây có nhiều phụ nữ xin gia nhập trung đoàn. Na-ta-sen- ca, cháu đã được học công tác hộ lý chưa?

        — Cháu đã học chút ít rồi... Và cháu sẵn sàng làm bất cứ công việc gì! — Na-ta-sa nồng nhiệt nói.

        — Thế còn gì nữa, cháu còn trẻ, sống tự lập... — Bà An-na tiếp lời và dường như cho rằng, ý định của cháu dâu mình chẳng có gì quan trọng lắm nên bà liền nói sang chuyện khác.

        Theo lời bà, trong thành phố vẫn còn yên tĩnh, mặc dù bọn Đức đã chiếm được làng Mới. Ở rạp chiếu bóng trên phố Xô-viết vẫn còn chiếu bộ phim «Sốt-xơ», các cửa hàng vẫn đóng cửa đúng giờ quy định và khi đi làm về qua nhà máy chế biến bánh mì, bà thấy ca đêm vẫn làm việc. Thật ra, ở khu bãi trống Pô-pốp, cạnh mấy nhà tắm cũ đã có tiếng súng nổ.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Năm, 2020, 05:50:12 am

        Bà An-na chỉ nói qua về những điều này trong vài câu ngắn gọn bẵng một giọng trầm thấp. Vừa kể bà vừa bước những bước dài, nhưng không vội vã vào trong phòng để chuẩn bị cốc chén uống trà. Thân hình cao, thẳng, bà mặc áo cánh xa tanh đen rất phẳng làm nhô lên đôi vai xương xẩu. Khuôn mặt đàn ông với lưỡng quyền cao của bà vẫn giữ nguyên vẻ, kín đáo thường ngày. Na-ta-sa đứng bên bếp, chắp tay sau lưng, vẫn nghe với vẻ chểnh mảng. Chị đang bực mình trước thái độ thờ ơ của bà An-na đối với một việc theo chị rất quan trọng, gần như là anh hùng. « Giọng nói gì mà cứ như ra-đi-ô hỏng ấy!—Nhìn bà cô già nua, Na-ta-sa bực dọc thầm nghĩ. — Và sao mà kể về mọi chuyện bình thản đến thế, như thể chẳng có một tí gì là sự thông cảm cả!».

        Bà An-na đi vào bếp, đặt ấm lên đun rồi quay trở lại và chỉ lúc này mới ngồi nghỉ bên bàn.

        — Nào Na-ta-se, chúng ta sẽ uống trà và sẽ thảo luận tất cả mọi điều. — Bà nói.

        — Cảm ơn cô, cháu không uống đâu. — Na-ta-sa nói.

        Chị ngồi xuống chiếc ghế dài thấp bên bếp lò, hai tay ôm chân và tì cằm lên đâu gối.

        — Thật không may cho cháu, — chị phàn nàn. — Cháu đã tới đây mà chỉ được gặp Pa-ven có nửa giờ.

        — Na-ta-sen-ca, sao cháu nôn nóng vậy. Tuồi trẻ nên tự tôi luyện, sau này có lợi đấy. — Bà già nói và im lặng một lát, bà báo tin. — Lại có tàu đi Mát-xcơ-va. Người ta nói đường bị hỏng nhưng bây giờ đã chữa được rồi. Và tôi còn nghe được nhiều người nói điều này, hình như đã có lệnh,..

        — Cháu rất thèm được như cô, cô An-na Va-xi-li-ép-na ạ! — Na-ta-sa ngắt lời bà. — Sao mà cô bình tĩnh đến thế, chẳng cái gì làm cô lo lắng cả!

        — Tôi ư ? — Bà già lại im lặng ngẫm nghĩ lời cô cháu dâu. — Na- ta-sen-ca, tôi luyện cho mình tính bình tĩnh từ khi còn con gái. Còn sau đó chủ yếu tôi luôn sống trong nỗi lo sợ.

        Na-ta-sa ngạc nhiên nhìn bà An-na như thể hoài nghi tự hỏi rằng người đàn bà sáu mươi tuổi giống đàn ông từ vóc dáng đến giọng nói trầm trầm này một thời gian nào đó cũng đã từng là con gái ư ?

        — Cô... — Chị thốt lên với vẻ nghi ngờ dù đã vụng về cố giấu. —  Cô cũng lấy chồng à?

        Bà già khẽ nhếch mép cười.

        — Tôi có phải là người con gái cuối cùng đâu. — Bà chậm rãi trả lời. — Thể lực cũng như sức khỏe của tôi phải bằng ba người. Tôi rất dẻo dai, có khả năng làm mọi việc: nào nấu ăn, giặt giũ, khâu vá. Như vậy đấy! Bố tôi, nói theo cách khác là ông nội Pa-ven vẫn là thợ tiện. Thế là tôi theo ông học nghề. Và mặt mũi tôi trông cũng trắng trẻo, sạch sẽ...

        — Không phải vậy đâu, cô An-na Va-xi-li-ép-na ạ, cô không hiểu ý cháu. — Na-ta-sa vội nói, mặt đỏ nhừ và để làm dịu vẻ bối rối của mình, chị hỏi: — Thế chồng cô là ai?

        — Là công nhân chứ còn là ai nữa?... — Hình như bà già bỗng chăm chú nhìn đôi bàn tay nâu nâu khá to, đã gầy hơn trước với những khớp xương nhô lên đang đặt trên bàn và trầm ngâm nói. —  Ông ấy với A-li-ô*sa, bố Pa-ven là bạn cùng tuổi.

        — Chắc là anh trai giới thiệu hai người phải không? — Na-ta- sa hỏi.

        — Đúng là anh A-li-ô-sa. — Bà già thú nhận. — Hai người cùng làm việc ở một phân xưởng

        Nhanh nhẹn rời ghế dài Na-ta-sa ngồi vào bàn — câu chuyện đã làm cho chị hứng thú,

        — Và mọi việc xảy ra như thế nào? Cô kể đi, cô An-na Va-xi- li-ép-na ! — Chị khẩn khoản nài nỉ.

        — Tôi kể cho chị cái gì được nhỉ?... Tất cả mọi việc của chúng tôi đều là chuyện thường tình. — Bà già trả lời.

        — Thường tình như thế nào cơ ? Nhưng cháu yêu cầu cô đấy! —  Na-ta-sa nói và vô tình mỉm cười với ưu thế của tuổi trẻ trước tuổi già.

        Lần này bà ỉm, lặng khá lâu, khuôn mặt với lưỡng quyền cao bị khuất bóng chao đèn treo trên bàn trở nên kín đáo không sao hiểu nổi.

        — Mọi việc xảy ra như thế này, Na-ta-sen-ca ạ! — Cuối cùng bà nói. — An-đriu-sa của cô thương cô, còn cô thì không bông đùa với lòng thương và sự âu yếm. Mẹ cô mất đi khi cô và A-li-ô-sa chưa đầy mười tuổi và cô chỉ nhớ hình ảnh bà một cách láng máng như nhìn qua sương mù. Ông bố lại là người cau có và ít nói. Cứ mỗi lần về nhà, ông vứt mũ cát-két xuống bàn và nhìn cô — một đứa trẻ con nhút nhát — thế là tay chân cô như rụng rời cả ra. Thế đấy... ông là một người to lớn, có thể nói là một lực sĩ nhưng cung hay phung phí sức lực của mình. Nếu cháu biết được là: dạo đó người ta phải làm việc ở nhà máy mười bốn tiếng đồng hồ liền, còn sau khi về nhà lại gia công tiện vòi nước. Thế là trong một thời gian ngắn, cô và A-li-ô-sa chỉ có một mình. Nghĩa là cô thì trông coi việc nhà, còn ông ấy nhận lấy địa vị của người bố...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Năm, 2020, 05:50:35 am

        Giọng nói đàn ông ồm ồm của bà vang lên đều đặn đến nỗi có cảm giác như thể bà không nói về mình, mà về một người đàn bà xa lạ nào đó và số phận của người ấy ít được bà quan tâm.

        — Về, A-li-ô-sa, về ông anh trai ấy thì cô không có một điều gì chê trách cả, — bà tiếp tục. — Cô nhớ lần nhận kỳ lương đầu tiên của mình, ông ấy mua cho cô chiếc lược sừng, một đôi giày cài khuy; bây giờ thì người ta không đi giày ấy nữa. Về sau, bao giờ ông ấy cũng chăm nom để cho quần áo, giày dép của cô được đàng hoàng. Dĩ nhiên chỉ có điều cô hay nghe thấy ở ông ấy những lời ít ỏi: « Đưa đây », « íMang lại đây », « Xúp cải đỏ của cô không muối...». A-li-ô-sa hơn cô tám tuổi và tính tình giống bố hoàn toàn. Thế đấy! Còn với anh An-đriu-sa, chồng cô ấy, có thể đây là lần đầu tiên trong đời cô nói chuyện với cháu đấy... Và hình như lập tức cô thấy ấm lòng hẳn lên. Đúng vậy, ông ấy thương cô. — Bà An-na ngừng nói, đầy vẻ tin yêu.

        — Thế cô sống với chồng có được lâu không? — Na-ta-sa hỏi nhỏ.

        — Lâu không à? Không, không lâu... Tất cả chỉ có một năm hai tháng. — Bà An-na nói.

        Na-ta-sa im lặng, không muốn hỏi thêm nữa.

        — Vào năm một ngàn chín trăm linh năm, khi ở đấy nổ ra cuộc bãi công lớn, bọn hiến binh đã bắt An-đrây và A-li-ô-sa đi. — Ngẫm nghĩ một lát, bà An-na bình tĩnh nói. — Sau một thời gian ngắn chúng nó thả A-li-ô-sa ra, còn chồng cô, ông ấy là ủy viên hội đồng công nhân, chúng nó đưa ông ấy đi... Thế đấy!

        Ngồi thẳng lên, hai tay để trên đầu gối, Na-ta-sa kinh ngạc nhìn bà già.

        — Chắc là ấm nước của cô sôi rồi! — Bà nói.

        — Cô cứ ngồi đi. Cháu xem cho. — Na-ta-sa thốt lên và nhanh nhẹn đứng dậy.

        Na-ta-sa cầm ấm nước sôi quay lại và đặt lên chiếc vòng sắt. Một hồi sau, chị lại chăm chú nhìn bà già rót trà vào chén. Người đàn bà nghiêm khắc này, tính tình lạnh như đá, vẫn còn là một bí ẩn đối với chị.

        — Và từ đấy về sau, cô không được gặp chồng nữa ạ? —Na- ta-sa không kìm nổi, lại hỏi.

        — Cả một năm trời cô chạy vạy ở sở cảnh sát và may quá có người làm văn thư, đúng là một tấm lòng vàng, chỉ nhận có ba rúp để nói cho cô biết là chúng nó đưa An-đrây đi đâu. — Bà An-na nói. — Sau đó nhận được thư của ông ấy: hãy chờ đến khi tôi ra khỏi tù. Ừ, thôi được! Cô đợi tám năm... Trong khi đó, một nỗi bất hạnh đến với A-li-ô-sa là, vợ ông ấy, chị Ô-len-ca một người đàn bà đẹp có, một không hai, một tâm hồn trong sạch đã nằm xuống và không bao giờ sống lại. A-li-ô-sa buồn bã trở nên rượu chè, chẳng thèm đoái hoài đến thằng nhỏ nữa. Pa-sa lại đến tay cô. Trong chính thời kỳ này, chúng tôi rất cùng cực, nghĩ lại mà phát sợ lên được! A-li- ô-sa khục khặc với chủ và lập tức nó cho thôi việc. Còn lúc đó mà thất nghiệp, chắc cháu đã đọc sách biết về chuyện này, nếu anh đã mất việc thì dù có ra đi với một số tiền chăng nữa cũng không làm sao sống nổi. Dù sao cũng không thể sống phè phỡn bằng nỗi đau khổ của người khác được — ai cũng biết điều này. Thời kỳ ấy cô đến làm thuê cho các gia đình kỹ sư: giặt quần áo, lau sàn nhà và bằng cách đó nuôi cả ba người. Và khi A-li-ô-sa hoàn hồn lại, cô lại nhận được giấy báo từ Xi-bia...

        Bà già im lặng, đôi môi nhợt nhạt của bà mím lại.

        — Chồng cô mất phải không?—Hạ thấp giọng, Na-ta-sa hỏi.

        — Chúng tôi không gặp được nhau. Chúng giết ông ấy ở đó. —

        An-na trả lời, giọng khản đặc. — Ông ấy nghiêm khắc, không biết sợ trước chân lý...

        Lần này Na-ta-sa đã nhìn bà với một vẻ sợ sệt pha lẫn nỗi thông cảm, lòng biết ơn và sự khâm phục của mình. Trước đây, chị đã nghe Pa-ven nói anh chịu ơn bà cô rất nhiều, nhưng cụ thể về bà thì anh còn kể quá ít! Na-ta-sa nghĩ, không hiểu sao trong an bom gia đình, chị không tìm thấy một tấm ảnh nào của bà An-na. Tuy vậy, người đàn bà ngồi trước mặt chị hình như đã chuyền sang mình tất cả ý chí kiên cường hiếm có của dòng họ công nhân và là linh hồn chính của cái gia đình này.

        — Na-ta-sen-ca, chè của cháu nguội mất kìa! — Bà già nói. — Cho đường vào!

        Ngoài cửa có tiếng gõ khẽ, yếu ớt và bà ngầng đầu nhìn, tiếng gõ lặp lại: có ai đó đang gõ cửa sổ che rèm quay ra phố. Bà già đặt tách xuống và đứng lên mở cửa.

        Phút sau, một bà béo phị bước vào hay đúng hơn là thình thịch ùa vào. Đầu choàng khăn, mặc áo vét len đan có túi chéo.

        — Bác An-na, bác nghe thấy không, — bà ta cao giọng hỏi và thở dài. Cái miệng nhỏ, chúm lại như miệng trẻ con để hít không khí. — Bác có nghe thấy không? Bọn Đức đã đến làng Mới! Bây giờ bác nói được gì nào : chúng ta sẽ chết hay sống?

        — Trước hết bà cứ ngồi xuống và thở đã. — Bà An-na nghiêm giọng nói. — Hãy làm quen với nhau đã, đây là...

        Bà khách, sau khi đã chào hỏi Na-ta-sa và mặc dù có vẻ chưa hết lo nhưng dù sao cũng tạm quên đi một lúc.

        — Thế ra là chị đấy !...— Vừa nhìn Na-ta-sa. bà vừa kéo dài giọng. — Chúng tôi cứ nghĩ là Pa-ven sẽ chọn cho mình cô vợ ở Mát- xcơ-va để làm cho các cô gái ở đây bực mình đấy ! Chúng tôi ở gần đây, hàng xóm láng giềng với nhau...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Năm, 2020, 10:49:07 am

        Bà lại tỏ vẻ lo lắng buồn phiền, lắc đầu vẻ đau khổ và nặng nè chuyển sang chiếc ghế bên cạnh. Chiếc khăn vuông tuột xuống bả vai để lộ mái tóc chải mượt được búi lại cẩn thận ở ngay đỉnh đầu.

        — Chân tôi không đứng nổi, bà An-na à! — Bà phân trần như để bào chữa.— Ban ngày tôi đi đứng không đến nỗi nào, nhưng ban đêm sao mà đau nhức thế, không thể nào ngủ được. Nước mắt ngắn, nước mắt dài nhưng vẫn cứ nhỏ giọt. Tôi vừa nằm vừa khóc, còn tim thì cứ như bị ai siết chặt lấy, xoắn lại và kéo bật nó ra. Tôi ngẫm nghĩ mãi, làm sao đủ nuôi bốn miệng ăn nếu cứ càng ngày càng yếu đi như thế này.

        — Ông An-tôn Ti-mô-phê-ê-vích có khỏe không? Lâu nay cỏ gặp ông ấy không? — Bà An-na lên tiếng hỏi.

        — Sớm nay vừa tiễn ông ấy ra trận địa... Ông ấy nổi cáu nói: thà cứ nói rằng bọn Đức như thế kia, còn chúng ta thì như thế này, bà cứ quẩn lấy chân tôi, cứ như bức tường án ngữ lấy tôi! Chính bà cũng biết đấy, ông ấy là người ham mê...

        — Này chị Vác-va-ra. thế còn chị cũng định chết đấy phải không ? —  Bà An-na hỏi. — Bà có người che chở như vậy mà cứ mất ngủ...

        — Nhưng mỗi năm ông ấy lại mệt yếu đi trông thấy! — Bà ta than vẫn.

        Cái đầu nhỏ nhắn của bà không cân xứng với cái cằm lưỡi câu, ngẩng lên và ngửa về sau, tạo cho bà một vẻ kiêu căng không hợp chút nào với giọng nói của bà. Như một cái máy, những ngón tay mập mạp vân vê góc khăn vuông.

        — Ông ấy là thợ hiệu chỉnh bậc nhất đấy, ai cũng công nhận như vậy. — Bà tiếp tục khoe, còn nếu làm người lính thì sẽ ra sao? Được cái can đảm và chỉ sợ một điều là, nhỡ ra ông ấy đánh vỡ mất cặp kính cận rồi vấp ngã và chẳng trông thấy thằng Đức xông tới mình, thế là bỏ mạng như chơi.

        — Nhưng mà ở đó không phải chỉ có một mình ông ấy... Các đồng chí phải có trách nhiệm giúp đỡ ông, chỉ bảo cho ông ấy biết cần phải làm gì và làm như thế nào...— Bà An-na thong thả giải thích. — Còn bà, nếu quá lo xa thì mua cho ông ấy đôi mắt kính khác, đề phòng bất trắc xảy ra...

        — Tôi cũng đã nghĩ như vậy... — Người đàn bà đáp nhưng chưa nói hết câu.

        Bỗng nhiên ở phòng ngoài có tiếng chuông réo dồn dập, có ai đó đang ấn vội nút chuông.

        — Ái chà, sao mà nóng vội thế! — Bà An-na nói, vẻ không bằng lòng nhưng cũng lanh lẹn ra mở cửa.

        Then cửa kêu lên, từ hành lang vọng lại những bước chân vội vã và một giọng gay gát như cãi nhau:

        — Ôi, ở ngoài phố tối thế, như ở trong rừng ấy! Chúng cháu chỉ phiền bác một phút thôi, bác An-na Va-xi-li-ép-na ạ! Có một việc nhờ bác...

        Một phụ nữ trẻ, khuôn mặt tròn, đôi má ửng hồng, tóc buộc đuôi sam đứng bên ngưỡng cửa. Chị lướt nhìn căn phòng, đôi mắt nheo lại vì ánh sáng. Người khách mới mặc chiếc váy bó ở đầu gối, đi ủng cao su, bộ ngực nở nang lộ rõ qua chiếc áo bông quân phục chỉ cài có hai khuy dưới.

        — Mọi người đang uống trà đấy phải không? — Chị nói với giọng tựa như nhìn thấy trong việc làm này một điều gì đó đáng chê trách. — Thôi cháu không vào nữa đâu, không có cháu lại phải tháo ủng ra, đây là cả một vấn dè...

        Chị đứng sang một bên và thêm một cô gái nữa khẽ bước vào phòng. Na-ta-sa ngạc nhiên, say đắm nhìn thân hình thon thả, mặc dù vóc người khá cao nhưng cô gái này đẹp một cách hiếm có. Khuôn mặt trái xoan, với những đường nét cân đối của cô dường như hơi tái xanh bởi chiếc khăn lụa đen trên đâu, hàng lông mày gần như thẳng tắp cao tới tận thái dương và hơi lượn xuống ở phía dưới. Song Na-ta-sa đặc biệt ngạc nhiên trước đôi mắt cách nhau hơi dài với màu xanh da trời trong trẻo, với vẻ hoài nghi pha nét buồn rầu của cô gái đang nhìn chị...

        Bà An-na giới thiệu cháu đâu mình với những người khách và chị phụ nữ tóc buộc đuôi sam đang quan sát Na-ia-sa từ đầu đến chân.

        — Chị đến với chúng tôi thật không đúng lúc. — Na-ta-sa nói. —  Ai xui chị làm việc này thế?

        — Tồi là Bô-cô-va, — chị ta nói rất nhỏ. — Chồng tôi là Bô- cốp, chắc chị đã nghe nói rồi phải không? Bây giờ anh ấy đang ờ cùng với Pa-sa.

        — Tất nhiên là tôi được nghe rồi!... Như vậy chị là Ma-ri-na Bô-cô-va! — Na-ta-sa thốt lên. Chị thực sự vui mừng mặc dù hầu như chẳng biết gì về Ma-ri-na Bô-cô-va lẫn chồng chị ta. Song anh ấy đang ở cùng một trung đội với Pa-ven nên Na-ta-sa cảm thấy chỉ cần một điều này thôi cũng đủ đề chị và Ma-ri-na coi nhau như những người bạn gần gũi.

        — Thật là may chúng ta lại gặp nhau! Thật tuyệt! — Chị nói to.

        Song Bô-cô-va im lặng, cố mỉm cười và vẫn chưa hiểu cuộc gặp gỡ của họ có gì là may mắn.

        — Ma-rin-ca, lâu rồi bác không nhìn thấy cháu đấy nhé! — Bà

        An-na nói và nhìn khách với vẻ hài lòng. — Nào, ngồi xuống đây, cô vợ bộ đội, hãy kể đi... xem nào... Một mình cháu bây giờ xoay xở ra sao ?

        Giữ mép khăn lụa sát cằm, Bô-cô-va ngoan ngoãn ngồi xuống ghế.

        — Như thế là cháu lại đi làm ở xưởng. Na-xchi-a nhận cháu về đấy... Chỉ tội cháu làm không được nhiều...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Năm, 2020, 10:49:41 am

        Hình như chị cố kìm nước mắt; hàng lông mày thanh tú nhíu lại và cảm giác run sợ của chị mỗi lúc một mạnh hơn.

        — Tại sao lại thế ? Hay là không quen nai lưng ra làm phải không? — Bà An-na hỏi.

        Song trên khuôn mặt bướng bỉnh của bà lộ vẻ hơi ngạc nhiên, giống như khi người ta quan sát một cái gì đó thực sự thú vị: hoặc ngâm nghía một cây non vừa mọc, hoặc con bồ câu đang bay lượn trên bầu trời, hay là nghe chim hót.

        — Các chị uống trà nhé, vẫn chưa nguội đâu! — Nữ chủ nhân mời — Thế các chị có việc gì cần tôi nào?

        — Đấy là do Ma-ri-na mách cháu. — Người khách tóc buộc đuôi sam nói. — Cô ấy nói: chúng mình chạy đến nhà Grô-mốp đi, bà An-na sẽ không từ chối đâu.

        Chị ta vẫn còn đứng nguyên ở cửa, nhưng bỗng nhiên lại kẻo ghế đến cạnh mình, ngồi phắt xuống và định tháo ủng ra

        — Thật đúng là một cực hình với nó! — Chị bực bội nói. —  Cả ngày cứ phải chú ý đến nó: nào xỏ vào rồi lại tháo ra.

        Hơi cúi người xuống, hai tay chị nắm lấy ống ủng, vẫn không hết giọng bực bội, chị báo tin rằng nhiều người đang rời khỏi thành phố và ngày mai bọn Đức sẽ tới đây.

        — Xe tăng bọn Đức lúc thấy, lúc không, — chị lanh lảnh nói, đôi mắt cứ ánh lên. — Người ta nói, đứng trên tháp ở nghĩa địa có thể  nhìn thấy chúng. Thế là cháu và Ma-rin-ca... — Chị đưa mắt nhìn Na-ta-sa. — Tóm lại, chúng cháu cũng sẽ không ở lại.

        Chị đứng lên, người đỏ rực, một mớ tóc rơi ra từ đuôi sam. Chị vứt đôi giày vừa tháo của mình ra cửa.

        — Một việc rất hệ trọng muốn nhờ bác, bác An-na Va-xi-li-ép- na ạ! — Chị nói tiếp, tay xoa xoa gót giày đi trong nhà. — Cháu đã nhét đầy cả một tầng ngầm khoai tây cho ông bà cháu đủ để hai người dùng trong suốt mùa dông này. Nếu có điều kiện nhờ bác thỉnh thoảng lại thăm hai cụ, xem các cụ cần phải làm gì và làm như thế nào...

        — Chị cũng đi đấy à? — Bà An-na hỏi lại. — Thôi, biết làm sao được... Nếu chị không bận công tác gì ở thành phố thì cứ đi đi.

        Kéo ghế ngồi sát vào bàn, chị vội vàng vừa uống trà vừa cắn đường nhai rào rạo...

        Từ nãy đến giờ vẫn im lặng, người khách đầu tiên bất ngờ òa khóc. Những giọt nước mắt tràn đầy đôi mắt nhỏ màu xanh, từ từ lăn xuống tạo nên những đường ngoằn ngoèo, trên đôi má mập của bà, cái miệng chúm chím, mấp máy như môi trẻ con.

        — Thôi đi! Vác-va-ra! — Bà An-na gât.

        — Chúng tôi biết làm sao bây giờ "... — Người đàn bà nức nở nói. — Một mình tôi trông những bốn đứa... Tôi biết đưa chúng đi đâu được cơ chứ?...

        Đàn bà cử lấy nước mắt là xong tất, còn đàn ông thì lấy máu, — người khách có tên gọi là Na-xchi-a bực bội nói. — Nhà tôi viết cho tôi, tôi biết .. Ở đấy chúng nó chém họ như lưới hái chém cỏ...

        — Tôi rất lo cho Va-nhi-a. — Tuy giật mình nhưng không ngước mắt lên, Ma-ri-na nhỏ nhẹ thú nhận. — Khi chia tay, trông anh ấy mà không nhận ra nữa... Chẳng nói được một lời nào...

        — Anh ấy thương yêu cậu vô cùng, thậm chí như người mất trí ấy! — Na-xchi-a chê trách chồng Ma-ri-na.

        — Tôi cũng chẳng biết làm thế nào để yên lòng anh ấy... Tôi chỉ biết nói: em sẽ chờ anh, Va-nhi-a, mắt em sẽ luôn hướng về nơi anh chiến đấu...».

        Dường như ngượng ngùng về sự cởi mở của mình, Ma-ri-na cúi đầu và thắt chặt hơn chiếc khăn quàng trên vai.

        — An-tôn Ti-mô-phê-ê-vích của tối đã ngoài năm mươi. —  Người khách đầu tiên than vẫn. — Ông ấy thừa can đảm, nhưng sức lực thì đã cạn rồi.

        — Va-nhi-a của chị thì hơi nóng nảy đấy! — Na-xchi-a nói. — Nhà tôi cũng vậy: tính tình nóng nảy, ít biết kiềm chế.

        Lúc này họ nói với nhau như thể không phải nói về các ông chồng của mình mà tựa như nói về những đứa trẻ lớn nhưng không được sáng ý cho lắm. Hình như Na-xchi-a biết cặn kẽ tất cả những gì quan trọng mà các ông chồng của họ tuy đã già dặn rồi nhưng vẫn tối dạ, không tài nào nắm chắc được.

        Uống hết chén trà, chị đẩy nhanh cái tách ra xa, làm chiếc thìa kêu lẻng xoẻng.

        — Cảm ơn bác đã cho uống chè rất ngon. Chúng ta đi thôi, chị Ma-ri-na!... Kẻo những người đi tuần tra trên phố trông thấy họ lại hạch sách. — Bỗng nhiên, chị ta bực tức và kêu lên. — Dù sao tôi cũng giận đàn ông lắm... Đặc biệt là những người lính. Nào, ngày mai tôi biết chạy đi đâu, đi đâu cùng với Ma-ri-na, với bà chị ngớ ngẩn này? Khắp nơi đều vắng tanh như thế này! — Đôi mắt chị ta ánh lên long lanh trên khuôn mặt đỏ hồng. — Chúng ta là những người không biết giận lâu, đấy mới là điều bất hạnh! Còn bây giờ nếu có một anh lính nào cứ thử đến với tôi dù là vị thiếu tướng đi nữa, tôi cũng nói toạc móng heo với họ tất cả! Thôi vĩnh biệt An-na Va-xi-li-ép-na! Có thể bác cháu ta không gặp nhau nữa đâu. Ôi, cuộc sống đã qua rồi!


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Năm, 2020, 10:50:10 am

        Đứng phắt dậy khỏi ghế khi Na-xchi-a gọi mình, Ma-ri-na bối rối nhìn bà An-na Grô-mô-va. Đôi bàn tay bọc trong tấm khăn lụa đen hơi cử động và vẫn cứ nắm chặt đường viền chiếc khăn quàng.

        — Cô nói gì lạ vậy! Sao lại không còn gặp nhau nữa! — Chị lẩm bẩm nói.

        — Na-xchi-a, cô bỏ cái giọng ấy đi! — Bà An-na nói, giọng trầm trầm vang khắp phòng. — Cô là ai vậy, tôi không hiểu nổi?

        — Ai là thế nào? — Na-xchi-a ngạc nhiên. — Bác không nhận ra cháu phải không?

        — Tôi không thể nào nhận ra cô nữa đấy! Cô là một nữ công nhân mà!

        An-na không thay đổi tư thế của mình: bà ngồi thẳng, hai tay khoanh trên bàn, khuôn mặt xương xương khuất sau bóng chao đèn trông, vẵn nghiêm khắc bình tĩnh.

        — Tôi không được cái may mắn là sinh con đẻ cái. — Đúng như vậy. — Bà nói to, chậm rãi. — Nhưng tôi cũng đã chăm sóc nuôi nấng một con người... với đôi bàn tay này... — Bà xòe lòng bàn tay chai sạn màu vàng nhạt của mình ra. — Tôi đã tắm rửa cho thằng bé, bón cho nó từng thìa xúp... Và lúc còn nhỏ, nếu có gì không may xảy ra với nó, nó chạy tới ai ? Tới tôi... Có thể, tôi hiểu Pa-sa rõ hơn là nó hiểu nó, dù cho ngày nay nó đã lớn và đã trở thành kỹ sư đi chăng nữa! Tôi thay mẹ nó và chính tôi cũng nương nhờ nó. Tôi cũng là người đàn bà giống như tất cả các chị. Chỉ có điều là trông tôi nghiêm nghị hơn. Thế mà chính tôi đã nói với Pa-sa : « Không thể khác được, cháu phải ra đi thôi! ».

        Quay về phía Na-xchi-a, bà như gập người xuống bàn, khuôn mặt bà sáng lên dưới ánh đèn. Đôi má hóp lại, những nếp nhăn dọc theo đôi môi hiện rõ trên khuôn mặt xương xương của bà. Hàng cúc thủy tinh trên áo xa tanh đen cũng ánh lên dưới đèn.

        — Na-xchi-a, bác nghe cháu và bác cho cháu là một diễn viên nổi tiếng. Cháu làm sao vậy, sợ quá hóa rồ rồi phải không? Cháu hỏi ai vậy? Cháu hãy tự hỏi mình ấy! Phải chăng chúng ta, giai cấp công nhân, có thể để cho chúng nó tiêu diệt cuộc sống Xô-viết này hay sao ? Vì nó mà nhiều người của giai cấp chúng ta đã phải lao động khổ sai ở Vla-đi-mi-ca, chịu nỗi đày dọa chết chóc... Ngày này qua ngày khác, bằng mồ hôi và cả máu của mình, chúng ta đặt từng viên gạch để xây nên nó. Chỉ có lúc này chúng ta mới thấm thìa một cách toàn vẹn cuộc sống đó là như thế nào! Chính bác đây suốt bốn mươi năm ròng hầu như mù chữ chẳng hiểu biết một tí gì, thế mà đến tuổi già cũng đọc được sách. Bác đã nhìn thấy ánh hào quang !

        Bà An-na duỗi thẳng đôi bàn tay thô với những ngón dài gầy guộc, đang rộng trên khăn bàn.

        — Trong nhân dân cũng như trong đám mây đen, khi có sấm thì tất cả sẽ bị phanh phui ra ngoài. — Hạ thấp giọng nhưng với vẻ cứng rắn đặc biệt, bà nói tiếp. — Nếu chúng nó muốn đốt nhà tôi thì tôi sẽ thúc giục con tôi và chính tôi cũng đứng dậy. Cả cô Na-xchi-a, tất cả các cô nữa... Và cháu hãy nhớ ràng: trên trái đất này không có một sức mạnh tàn bạo nào lại không bị tan rã khi tất cả phụ nữ, tất cả những người phụ nữ lao động chúng ta quyết đạp lên nó...

        — Nhưng bác thử nhìn quân đội này xem. — Na-xchi-a nói.

        Chị ta đưa tay ra sau gáy, vì thế ngực chị vươn ra, và tết đuôi sam lại bằng những động tác dứt khoát.

        Bà An-na Grô-mô-va lắc đầu.

        — Cô là người đần độn, nếu không muốn nói nặng hơn nữa. — Bà trả lời. — Nhân dân ta mới chỉ bắt đầu chiến đấu. Cô cần phải hiểu điều này. Và tôi còn có thể báo cho cô biết : hôm nay nhiều người nói với tôi là họ quyết không để cho thành phố lọt vào tay bọn Đức. Đã có mệnh lệnh kiên quyết và dứt khoát như vậy đó.

        — Đã có mệnh lệnh rồi à ? Nào đã thấy chưa ? — Na-ta-sa nói to.

        Lòng tin của chị vào những lời lẽ của bà già lúc này quả không có giới hạn.   

        — Vị tướng nào nói cho bà mệnh lệnh này vậy? — Na-xchi-a hỏi.

        Ma-ri-na liếc nhìn An-na, chiếc khăn trên người chị rơi ra đề lộ cánh tay trắng trẻo nhỏ nhắn đang tì vào ngực.

        Bà già nhìn Bô-cô-va từ chân lên đầu.

        — Họ quyết không để mất thành phố chúng ta, Ma-rin-ca ạ! —  Bà dịu giọng lặp lại.

        — Đúng là anh An-tôn Ti-mô-phê-ê-vích của tôi cũng bảo: chúng ta quyết không để mất thành phố. — Người khách đâu tiên nói chen vào. — Cứ đè chúng nó như lũ sói trong rọ.   

        Bà ta không khóc nữa, nhưng đôi má đầy đặn của bà vẫn còn bóng lên vì nước mắt chưa khô hẳn. Na-xchi-a đứng dậy, cười gượng gạo :

        — Thôi ông An-tôn của bà mà nói như vậy thì đúng là bọn Đức đã đến ngày tận số. — Chị ta chọc tức.

        — Nhưng cô đừng cười vội. — Bà An-na nói. — Tốt hơn là cô thử tính xem chúng ta có bao nhiêu An-tôn như vậy ?

        Tựa vai vào thành cửa, Na-xchi-a lại loay hoay với đôi giày của mình.

        — Sao người ta lại nghĩ ra cái trò hành hạ quỷ quái này cơ chứ! — Na-xchi-a vừa cúi lom khom một chân co, chân kia giơ lên để xỏ giày, và làu bàu nói:

        — Ma-rin-ca này, tùy cô đấy! Nếu cô không tiếc thì cứ ở lại! —  Và bất ngờ cô gắt toáng lên. — Còn tôi, tôi cứ đi, chừng nào vẫn còn có thể đi được.

        Tròn đôi mắt xanh trong lạ thường, Ma-ri-na sợ sệt nhìn người bạn gái của mình, rồi quay sang bà An-na.

        — Cháu ở lại đây làm gì, Ma-ri-na ? — Bà già nói. — Đàng nào cháu cũng không bận trong công tác phòng thủ. Tốt hơn hết, cháu cũng nên đi đi...

        — Vĩnh biệt, bác An-na Va-xi-li-ép-na! — Bô-cô-va ấp úng nói.

        Đôi tay chị buông ra khỏi chiếc khăn vuông và Ma-ri-na ngập ngừng vươn tay ra dường như muốn ôm lấy bà già nhưng lại không dám.

        — Tạm biệt! — Bà già cứng rắn nói. — Còn bác sẽ đến thăm bố mẹ cháu, Na-xchi-a ạ... Nhất định bác sẽ ghé qua.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Năm, 2020, 10:51:20 am

4

        Sau khi trở về bộ tham mưu, Vô-lô-đi-a Ti-khô-nốp và Va-chi-a Vê-rép-kin cảm thấy khó chịu băn khoăn; té ra người đưa đường của họ là một cô gái xinh xắn trạc mười sáu tuổi có đôi mẵt màu xanh lam và khuôn mặt hồng hào sáng sủa mịn màng lạ thường. Cô mặc chiếc áo da ngắn chít lại ở thắt lưng, đi giày cao gót và Vô-lô- đi-a thấy rằng cô có vẻ là một cô gái thực sự, cả trong cách cư xử cũng cớ vẻ người lớn. Cô nói chuyện một cách nghiêm nghị đầy lo âu với đại úy chỉ huy đội trinh sát, thỉnh thoảng lại đưa tay sửa qua mớ tóc vàng xõa ra từ chiếc khăn vuông xuống vầng trán tròn tròn. Vô-lô-đi-a và Vi-chi-a nhăn nhó nhìn nhau khi đại úy giới thiệu với họ người đưa đường này. Sau khi nghe xong những điều căn dặn cuối cùng của chỉ huy và rời khỏi phòng ông, cả ba đều im lặng chẳng biết nên bắt đầu câu chuyện như thế nào và Vô-lô-đi-a lúng túng nhìn quanh.

        — Đi thôi! Các bạn ơi. Chỉ có điều là đừng tụt lại sau! Kẻo các bạn lại lạc đấy. — Cô gái lên tiếng trươc.

        Như người chị cả, cô ta nói với hai cậu bằng một giọng tự hào thầm kín nào đó mà theo Vô-lô-dỉ-à, nó là đặc trưng của các cô gái muốn làm ra vẻ người lớn.

        — Chúng tôi không lạc đâu, đồng chí Cô-lê-xnhi-cô-va ạ... Đừng sợ! — Cậu ta trả lời khô khan.

        — Có thể cứ gọi mình đơn giản là Lê-na. Tất cả mọi người đều gọi mình là Lê-na. — Cô gái nói.

        Và đôi mắt sáng màu xanh da trời của cô tròn ra, đôi lông mày nhỏ cong lên như chính cô cũng ngạc nhiên về điều này.

        Vô-lô-đi-a mặt sắt lại và quay đi. Cậu cảm thấy hơi ngượng nghịu vì đây cũng là cái cảm giác luôn luôn xuất hiện trong cậu khi đứng trước các cô gái cùng tuổi. Công việc khó khăn của họ đã làm cậu khoái chí một cách mơ hồ, song chính điều này lại làm cậu bối rối.

        Còn Vê-rép-kin thì có vẻ như không thích tham gia vào câu chuyện. Cậu không khoái lắm nhưng do nguyên nhân khác: theo cậu, người đưa đường bất ngờ này của họ không những chỉ không có lợi mà còn làm vất vả thêm nhiệm vụ chiến đấu của họ, nghĩa là cái công việc chỉ dành riêng cho đàn ông.

        Cố tình đi chậm lại ở lối ra, Vi-chi-a giật tay áo Vô-lô-đi-a:

        — Thế là đã không phải buồn rồi... Bây giờ cậu cứ đùa với con búp bê này đi.

        — Nói nhỏ thôi... cô ấy nghe thấy! — Vô-lô-đi-a ngắt lời cậu ta. — Và tại sao lại là búp bê? Bất ngờ đối với cả chính mình. — Vô-lô-đi-a bênh vực cô gái.

        — Các bạn ơi! Các bạn ở đâu vậy? Chưa chi đã tụt lại rồi... —  Từ trong bóng tối ở ngoài sân vọng vào giọng nói thanh thanh giục giã của cô gái.

        — Thấy không, đã lên mặt chỉ huy rồi đấy ! — Vi-chi-a lẩm bẩm.

        Từ bộ tham mưu khu, các trinh sát viên đi thẳng đến ban tham mưu trung đbàn NKVĐ và từ đấy người ta dẫn họ đến tuyến phòng thủ tại đây. Ngay ngoại ô thành phố, trong một ngôi nhà không chủ, người ta bảo họ ngồi chờ một lúc. Trong gian nhà rộng rãi, tối lờ mờ, bàn ghế gọn gàng, tuy trời đã khuya, nhưng vẫn rất nhộn nhịp và ồn ào. Thỉnh thoảng từ phòng bên cạnh lại vọng sang tiếng sè sè của máy bộ đàm đang hoạt động và các liên lạc viên vai đeo súng trường vội vã đi qua. Cánh cửa quay ra phố luôn luôn mở ra khép vào, những tiếng hô của lính gác vọng tới gian nhà, từ mấy phòng bên cạnh, những ánh đèn pin màu xanh lóe lên lục lọi trên các bức tường dán giấy.

        Vô-lô-đi-a và hai người đồng hành im lặng ngồi trên chiếc đi văng lớn ở góc phòng. Tháo chiếc khăn ra khỏi đầu, Lê-na Cô-lê- xnhi-cô-va ngả lưng vào thành đi văng, ngồi tựa vào chiếc gối dài, Vi-chi-a khẽ thở phì phì. Cậu cảm thấy nóng bức trong cái áo da lông nặng trịch của mình.

        Cách họ không xa, cạnh chiếc bàn có ngọn đèn Hoa Kỳ chập chờn ánh lửa, một trung sĩ đội mũ cát-két biên phòng, đang mải mê nạp đạn vảo băng tiểu liên. Khuôn mặt đứng tuổi hơi rỗ của trung sĩ có hàng ria dựng đứng được rọi sáng từ dưới lên trên, gây cho ta cảm giác là trung sĩ đang bực bội, thậm chí trông có vè dữ tợn.

        Trên đường tới đây, Lê-na đã kịp kể lại một cách chi tiết chuyện đêm qua cô đến thành phố báo tin xe tăng Đức đã xuất hiện. Bây giờ cô rất vội quay lại với mẹ và em hiện còn ở lại làng Một tháng Năm, quê hương của cô. Lo lắng cho mẹ và em, ngay từ sáng, cô đã muốn trở về nhà, nhưng người ta khuyên cô nên đợi đến tối và giao cho cô nhiệm vụ dẫn hai trinh sát tới làng. Câu chuyện của Lê-na không gây cho Vê-rép-kin một ấn tượng gì dặc biệt, — cậu ta không thể thắng nổi nỗi buồn bực của mình, — trên cả đoạn đường, cậu ta hoàn toàn im hơi lặng tiếng. Song Vô-lô-đi-a với tính tình chín chắn bẩm sinh của mình, đã hỏi han cặn kẽ và thành thực thông cảm với cô bạn đường mới mẻ này.

        — Bạn nghĩ gì lạ vậy ? — Cuối cùng cậu ta nghiêm nghị hỏi. —  Theo mình thì tất cả các bạn phải nhanh chóng rút khỏi làng Một tháng Năm chứ?

        — Vấn đề là ở chỗ ấy đấy! — Cô gái thốt lên. — Tôi muốn dẫn mẹ hoặc là tới đây, hoặc là vào rừng. Hiện giờ tất cả các bạn tôi đều đang ở đấy.

        — Nhưng bạn nói là em gái còn nhỏ mới học lớp năm cơ mà. — Vô-lô-đi-a nhận xét.—Làm sao mà dẫn vào rừng được? Theo mình thì...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Năm, 2020, 08:45:13 pm

        Chưa nghe hết câu, Lê-na đã nói vẻ không hài lòng:

        — Hừ, một đồng chí biết điều thật! Thế còn bạn học lớp mấy vậy?

        Cảm thấy bị xúc phạm, Vô-lô-đi-a im lặng. Ngồi im một lát trên đi văng, Lê-na lại bắt đầu nói, rõ ràng là cô đang sốt ruột nghĩ về làng Một tháng Năm của mình. Sau khi cho biết bố là hiệu trưởng trường trung học, hiện đang ở mặt trận, cô than vãn:

        — Thực tình tôi không biết nên viết gì cho bố cả!

        Và chắc là để nén nỗi lo lắng buồn phiền của mình, cô chuyển sang kể về trường học ở làng Một tháng Năm, về việc cô được lên lớp mười và học thêm ở nhóm nhạc. Sau đó cô đột ngột hỏi:

        — Các bạn giấu vũ khí của mình ở đâu ? Súng ngắn mà đại úy đưa cho mình, mình bỏ túi đề cho tiện tay.

        — Tốt hơn là nên giấu ở đâu đó kín hơn. — Vô-lô-đi-a nói. — Lúc cần vẫn kịp lôi ra cơ mà!

        Họ nói một hồi nữa về đoạn đường mà họ sẽ đi qua. Sau đó Lê-na nhún vai theo một kiểu đặc biệt, áp má vào người Vô-lô-đi-a, im lặng trầm ngâm suy nghĩ.

        Có tiếng gõ cửa, từ phòng bên cạnh, một chiến sĩ mặc áo bạt vội vàng đi vào, nên va phải chiếc ghế.

        — Via-xốp, tình hình của các cậu đó ra sao, im ắng chứ ? —  Người trung sĩ biên phòng đang mải mê với băng đạn gọi anh ta, nhưng người chiến sĩ chỉ lặng lẽ giơ tay chào, không dừng lại. Lúc thì chống tay lên chiếc gối dài, lúc thì duỗi thẳng người ra, Vô- lô-đi-a tò mò quan sát, cậu sẵn sàng nhỏm dậy trong bất cứ phút nào, cậu không ngồi ở một chỗ được. Đợi xem Lê-na có kể gì nữa không, Vô-Iô-đi-a an ủi cô:

        — Đừng lo lắng gì cả, lát nữa là bạn sẽ được gặp mẹ rồi.

        — Bạn không hình dung nổi là mẹ lo lắng cho mình như thế nào! — Cô gái thốt lên. — Thậm chí mình chẳng kịp nói với bà một điều gì nên hồn. Anh Tô-Ii-a, bí thư đoàn chỗ chúng mình, đang đêm chạy đến nhà mình và nói: « Đừng hoang mang Lê-na ạ, cần phải khẩn cấp báo về thành phố». Thế là mình chạy ngay đi lập tức.

        Từ phòng bên cạnh, anh chiến sĩ có tên Ịà Vla-xốp chạy xổ ra, vừa chạy vừa khoác súng trường lên vai, vội vàng tiến ra cửa phòng,

        — Đến bao giờ họ mới dẫn mình đi cơ chứ?— Cô gái hỏi to, có vẻ đã nổi nóng thực sự. — Có thể họ đã quên chúng mình đang ngồi đây.

        — Không, họ không thể quên được. Chắc là lát nữa thôi. — Vô- lô-đi-a lại an ủi cô.

        — Này, cậu học lớp mấv đấy? — Im lặng một lát, cô gái hỏi.

        — Minh ấy à, — cậu rất muốn trả lời lớp mười, nhưng nói thật. — Vừa lên lớp chín.

        — Mới chỉ lớp chín thôi à ? — Cô gái ngơ ngác hỏi lại và dường như mất hết mọi quan tâm đến cậu, cô quay sang hỏi Vê-rép-kin:

        Còn cậu, cậu bé ? Cậu học ở đâu ?

        Vi-chi-a bướng bỉnh nhìn sang hướng khác như thăm bảo rằng cậu ta không thích dính dáng vào câu chuyện này, thậm chí cậu còn không quay sang phía cô gái nữa.

        — Tại sao lúc nào cậu cũng im lặng ? Tên cậu là gì vậy? — Cô gái vẫn không chịu thua.

        — Tên là Vi-chi-a. — Cậu miễn cưỡng trả lời. Hỏi làm gì?

        — Không sao cả. Vích-to, tên hay dấy! Ở trong đoàn thanh niên của chúng mình cũng có hai cậu Vích-to.

        — Đoàn của cậu có đông không? —Vô-lô-đi-a tỏ vẻ quan tâm.

        — Đông. Nông trang chúng mình là nông trang tiên tiến, tốt nhất trong vùng. Cậu đã nghe nói gì về các vườn quả của chứng mình chưa? Còn câu lạc bộ thì như thế nào, cỏ biết không, như ở trong thành phố ấy!

        — Đến chủ nghĩa cộng sản thì hoàn toàn không có một sự khác biệt nào giữa thành thị và nông thôn nữa. — Vô-lô-đi-a nói.

        — Cô gái gật đầu, làm những sợi tóc sáng xõa xuống đầu gối của cô khẽ rung lên.

        — Ở chỗ chúng mình, cũng có hầu hết những gì ở thành phố có. — Cô nói. — Trường học mười năm này, trạm phát điện này, trạm truyền thanh .. — Cô im lặng và thở dài. — Nghĩa là đã có tất cả nhưng bây giờ thì...

        — Rồi sau này sẽ có lại. — Vô-lô-đi-a nói vẻ tin tưởng. — Điều này không cần phải nghi ngờ gì. Và ở chỗ bạn và ở mọi nơi...

        Cố làm cho cô gái khuây khỏa và cũng cảm thấy thích thú với chính đề tài câu chuyện, cậu lại tiếp tục:

        — Trong mỗi nông trang sẽ có điện, rạp chiếu bóng, cung văn hóa. Điều này quá rõ ràng! Và nông thôn sẽ giống thành thị.

        — Cậu phẫn nộ khi nghĩ rằng tai họa mà chiến tranh mang đến cho cả thành phố lẫn nông thôn của Tổ quốc cậu là không sao kể xiết. Song, phải chăng các đồng chí của cậu và cả cậu nữa lại không biết rằng chiến tranh là một thử thách, rồi sẽ qua đi... Và phải chăng trên thế giới này liệu có một cái gì đó có thể ngăn cản được thăng lợi cuối cùng của trí tuệ và lòng nhân dạo trước sự cuồng đại và bạo tàn, tuy giờ đây tạm thời chưa có sự thắng lợi này.

        — Còn trong các trung tâm công nghiệp sẽ có nhiều các loại cây xanh — Vô-lô-đi-a cao giọng.— Chả là chúng hút thán khí mà.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Năm, 2020, 08:45:51 pm

        Bạn có biết kế hoạch làm xanh thành phố của chúng mình như thế nào không? Mùa xuân năm nay ở đấy sẽ phát động một đợt toàn dân trồng các loại cây phong, bạch dương, bồ đề. Sau chiến tranh thi bạn sẽ không nhận ra thành phố chúng mình đâu. Đến chủ nghĩa cộng sản thì nông thôn sẽ cơ giới hóa hoàn toàn. Về vấn đề này, ban chấp hành đoàn chúng mình đã làm một báo cáo đặc biệt. Và chúng ta sẽ phấn đấu sao cho tất cả công việc đồng áng được thực hiện bằng máy.

        — Chỉ cần được nhìn, dù là một mắt thôi, xem xã hội đến chủ nghĩa cộng sản thì như thế nào! — Lê-na khẽ nói.

        — Tất cả sẽ là như vậy. — Vô-lô-đi-a đứng phắt dậy, khuôn mặt xương xương với hàng lông tơ trên .môi, sáng lờ mờ dưới ngọn đèn Hoa Kỳ lộ vẻ quyết liệt cao độ. — Kỹ thuật mới, máy móc tự động sẽ nâng cao năng suất lao động lên rất nhiều. Ngày làm việc giảm xuống đến sáu giờ, sau đỏ đến năm... Điều này là rõ ràng! Mọi người sẽ được học, được đọc nhiều hơn! — Khuôn mặt Vô-lô-đi-a rạng rỡ nụ cười, cậu ta không thể kìm nỗi say sưa lớn lao của mình. — Hiện nay, những hủ tục cũ còn khá nặng ở một số người. Và thỉnh thoảng họ chỉ nghĩ về một mình mình thôi. Điều này sẽ được chôn vùi mãi mãi...

        Cánh tay phải đen nhẻm bôi dầu súng của Vô-lô-đi-a vung lên rồi hạ xuống sau mỗi câu nói.

        Tuy lúc này vẫn tiếp tục nhìn sang hướng khác, nhưng Vê-rép- kin đã chăm chú lắng nghe. Lúc đầu, Vê-rép-kin không tán thành với bạn mình, vì theo cậu, anh ta đang cố gây cho Lê-na một ấn tượng có lợi. Song những suy luận của Vô-]ô-đi-a về tương lai làm cậu thích thú và chính cậu cũng muốn chen vào câu chuyện.

        — Bệnh tật hiểm nghèo cũng sẽ không có nữa. — Vô-lô-đi-a say sưa. — Lúc đó chỉ trong một tuần, các bác sĩ sẽ chữa khỏi bệnh lao hay ung thư. Điều này cũng là rõ ràng! Còn sau đó các bác học Xô-viết sẽ tìm ra biện pháp kéo dài cuộc sống con người. Mình đã đọc một cuốn sách nói rằng năm mươi tuổi chưa phải là giới hạn cuộc sống con người — rồi cậu nhìn Lê-na và Vê-rép-kin như thể hỏi rằng họ có nghi ngờ là họ có thè sóng đến một trăm năm mươi tuổi không. — Các nhà vật lý và các nhà hóa học sẽ tìm ra những nguồn năng lượng mới.

        — Nếu muốn, ai cũng có thể có mô tô riêng của mình, — Vê- rép-kin bất ngờ thêm vào.

        — Mô tô... và tất cả những gì họ muốn. — Vô-Iô-đi-a lại vung tay lên, người trung sĩ với khuôn mặt rỗ cau có, tuy vẫn luôn tay lắp đạn nhưng đã ngẩng đầu lên nhìn các chiến sĩ trinh sát.

        — Chỉ có một điều mình không hiểu nổi. — Vi-chi-a nói với cái giọng khàn khàn của mình. — Thế nếu một người nào đó đòi hai hoặc ba xe thì sao ?

        Vô-lô-đi-a khoát tay, nhãn trán lại suy nghĩ liền mấy giây, cân cắn móng tay.

        — Nếu anh ta cần hai xe, anh ta sẽ nhận được hai xe, — cậu tin tường nói. — Có nghĩa là theo nhu cầu...

        — Nhưng cậu biết không... như vậy rất dễ dự tính sai — Vê- rép-kin tỏ vẻ hoài nghi.

        — Sao lại dự tính sai được cơ chứ?

        — Rất đơn giản, thế này này. Tất cả mọi người đều tức thời đổ xô vào mặt hàng nào đó, thế là nó không đủ cung cấp cho họ.

        — Ngớ ngẩn! — Lê-na nói to. — Vi-chi-a, cậu lôi ở đâu ra những ý nghĩ như vậy đấy?

        — Trong xã hội cộng sản chủ nghĩa thì không một ai lại đòi hỏi thứ gì mà người đó không cần, — Vô-lô-đi-a nói.

        — Nhưng bỗng nhiên có một người như vậy thì sao? — Vê- rép-kin vẵn bướng bỉnh vặn lại. — Không phải là kẻ đầu cơ thực sự, mà là gần như thế... Anh ta tham lam và lấy thừa ra để dự trữ. Tóm lại là phải nhìn người một cách kỹ hơn.

        Vô-lô-đi-a không trả lời ngay lập tức, dường như những ý kiến mà Vê-rẻp-kin nói ra làm cậu tác tị, nhưng lần này cậu ta cũng không cần phải suy nghĩ lâu.

        — Cậu kỳ quặc thật. Đây sẽ là những người giác ngộ trong sạch như thạch anh.— Vô-lô-đi-a trịnh trọng nói — Họ lấy thừa đề dự trữ làm gì cơ chứ? Đấy, kỳ quặc là ở chỗ ấy đấy! Vấn đề là ở chỗ, đây sẽ là những con người của xã hội cộng sản chủ nghĩa!

        Cánh cửa ở phòng bên cạnh mở ra, một làn không khí lạnh ùa vào gian nhà làm lung lay ngọn đèn dầu. Trong phòng sặc mùi thuốc lá cuộn, mùi hôi của quần áo bị ngấm nước mưa thu, tất cả các mùi của cuộc sống lưu động, không ồn định đầy ỉo âu. Sau cánh cửa, một người nào đó đang bực bội gào vào máy điện thoại:

        — Nhắc lại di, trông thấy xe tăng ở dâu? Tôi hỏi: xe tăng ở đâu và bao nhiêu chiếc? Cái gì, cái gì...?

        Hai người chỉ huy vừa cài cúc áo ca pốt vừa bước vội ra cửa. Từ phòng bên cạnh, một chiến sĩ đội mu trùm tai di ngược lại phía họ và ghé vào tai thì thầm điều gì đó với người trung sĩ biên phòng.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Năm, 2020, 08:46:19 pm

        Vì quá bị lôi cuốn vào cuộc tranh luận, nên Vô-lô-đi-a không để ý đến xung quanh. Trong những phút này, tương lai huy hoàng vô cùng hấp dẫn do ba người vẽ nên có vẻ như thực hơn, và dù cho cuộc sống trước mặt ra sao đi nữa, thì lúc này ba người vẫn cảm thấy nó quan trọng hơn. Cái cảm giác thanh thản làm Vô-lô-đi-a quên di khung cảnh xung quanh này hoàn toàn không nói lên tính viển vông của cậu. Ngược lại, chính điều này cho thấy đầu óc thực dụng tuyệt vời của tuổi xuân. Dù cuộc sống hiện tại của cậu có lớn lao hay gian khổ đến mấy đi chăng nữa thì nó cũng chỉ là sự khởi đâu của ngày mai mà thôi. Và đồng thời, sự khởi dầu này hiển nhiên là ngắn ngủi, có giới hạn. Như vậy có nghĩa là nó không quan trọng lắm, và tương lai của cậu dường như là vô tận.

        — Thế nào, các bạn đã nói hết mọi điều rồi phải không ? —  Một giọng mới lạ đột ngột vang lên.

        Vô-lô-đi-a quay lại, người trung sĩ biên phòng đã đeo tiểu liên đứng ngay cạnh họ.

        — Nếu nói hết rồi thì chuẩn bị đi. Lát nữa sẽ có người dẫn các bạn đi đấy, — trung sĩ dịu dàng nói.

        Giờ đây, khi bước ra khỏi bóng ngọn đèn, khuôn mặt râu ria của ông đã mất di những đường nét dữ dội và trông cỏ vẻ hiền lành, dễ dãi hơn.   

        — Có thế chứ! — Lê-na thốt lên, nhảy phắt dậy khỏi đi văng và vội vàng quàng khăn ra sau gáy. — Nào nhanh lên! Vích-to, thắt chặt thắt lưng vào! Và cậu mặc như vậy để làm gì cơ chứ? —  Cô lo lắng nhìn dáng người thâm thấp của cậu ta trong chiếc áo da lông dài thượt, vai rộng thùng thình của người khác. — Cậu sẽ nặng đấy. Vô-lô-đi-a, minh đi đầu, Vi-chi-a đi sau rồi đến cậu — Cô phân công rành mạch. — Các cậu ạ, chúng ta không phải đi xa đâu. Độ một giờ rưỡi là sẽ tới địa điểm.

        Vê-rép-kin muốn trả lời cô gái một câu gì đỏ đại loại: « Chúng tôi không hỏi cô, nên mặc cái gì » nhưng đã kịp ghìm lại được. Vô- lô-đi-a cũng im lặng, chắc là chẳng cần đến tất cả những lời nói của cậu, cô gái vẫn tự cảm thấy mình là người lớn nhất ở đây và cậu đành phải cam chịu điều này. Ngoài ra cậu chẳng có lý do gì chính đáng để phản đối cô: khi đi trinh sát, người dẫn dường bao giờ cũng phải đi dầu.

        Cả ba người lần lượt theo thứ tự quy định của Lê-na đi ra cửa sau người lính dẫn đường đội mũ trùm tai.

        ... Chia tay với người hộ tống của mình và bỏ lại tuyến phòng thủ ở phía sau, các chiến sĩ trinh sát men theo lề đường cái vắng vẻ . Phía trước, những quả pháo sáng lóe lên và lạnh lẽo soi rọi làng Mới đã bị bọn Đức chiếm đóng. Như vậy, tuyến dường thẳng đã bị chặn lại và Lê-na rẽ sang trái, theo đường làng. Ở đây đi có khó hơn: chân cứ giẫm phải những vết xe đầv nước và các chiến sĩ trinh sát phải đi rất chậm, cố gắng không gây ra tiếng động. Khi một người nào đó vấp ngã trong bóng tối hoặc tiếng nện chân quá to thì cả ba đều dừng lại nghe ngóng.

        Trời ẩm thấp lạnh và nhiều gió, từ cánh đồng thoảng tới mùi hôi hôi của cỏ thối và đất ẩm. Song, cả Vô-Iô-đi-a lẫn hai người đồng hành của cậu vẫn chưa cảm thấy lạnh. Trong màn đêm dày đặc sâu thẳm bao quanh họ, có một điều gì đó khác thường và khủng khiếp đã diễn ra. Ở phương Nam, nơi họ sẽ đến, ánh lửa hồng của các đám cháy đang nghi ngút ở chân trời đen thẫm. Từ đâu đó ở phía Tây thinh thoảng lại vọng lại tiếng súng yếu ớt, xa xa và trên bầu trời đen thẫm có tiếng máy bay gầm gừ, nặng nề, đúng là tiếng gầm của máy bay ta. Và cách con đường khoảng một cây số ở - rìa làng Mới thỉnh thoảng lại lóe lên một thứ ánh sáng màu xanh lạnh lẽo. Những bức tường vôi trắng bao quanh các ngôi nhà, mặt đất trắng nhợt nhạt, vẻ chết chóc, những hàng rào thẳng như cắt từ giấy vụt hiện lên trong phút chốc rồi lại chìm sâu trong ‘bóng tối. Sau cái bóng đêm này, nghĩa là cách đây hoàn toàn không xa, kẻ thù đang ở đó và Vô-đô-đi-a nhìn quang cảnh lạnh lùng ghê rợn này tựa như không có sự sống với một vẻ tò mò nhức nhói. Trước đây, cậu đã nhiều lần đến làng Mới, biết rất rõ vùng xung quanh nó, thế mà giờ đây, thật là khó hiểu, khi đến đây cậu phải trốn tránh, ẩn nấp. Thậm chí, đôi lúc cậu thấy khó tin là kẻ thù đang ở gần ngay đây thôi. Song chính cuộc hành trình bí mật trong một đêm đầy những tiếng ồn ào, ầm ĩ của chiến tranh và những ngọn lửa hung dữ, đã gợi nên một tinh thần sôi nổi, một cảm giác tuy mệt mỏi nhưng nóng bỏng trong tim.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Năm, 2020, 08:46:44 pm

        Đi vòng qua làng Mới một lượt, Lê-na lại rẽ về đường cái. Lúc này các chiến sĩ trinh sát đi thẳng theo cánh đồng. Trong bóng đêm sâu dày, tối đen thỉnh thoảng lại xuất hiện một bụi cây hoặc cột điện tín và thế là cả ba cứ lần lượt né sang một bên, đôi lúc lại trượt chân vì một con mương không nhìn thấy. Vê-rép-kin vấp ngã sóng soài xuống đất. Vô-lô-đi-a và Lê-na vội lao đến chỗ cậu... Cứ lùng nhùng trong chiếc áo da lông dài thượt, Vi-chi-a không thể dậy ngay được.

        — Mình đã nói mà. — Lê-na thì thào. — Mình đã biết mà.

        — Hừ, thì có cái gì mà đã nói, đã biết nào. Chả có nghĩa lý gì cả! — Vê-rép-kin càu nhàu, giọng khàn khàn và cuối cùng rồi cậu ta cũng đứng dậy được, đưa đôi tay bê bết đất chùi chiếc áo lông cừu.

        Bỗng nhiên Vô-lô-đi-a cảm thấy những điều đó diễn ra thật ngộ nghĩnh nên cậu ta bật cười, và cậu hiểu rất rõ rằng tiếng cười lúc này quả là không đúng lúc nhưng không sao kiềm chế nổi.

        Sau sự việc này, các chiến sĩ trinh sát đã mạnh dạn hơn, giục nhau rảo bước và chẳng bao lâu đã tới đường cái, bỏ lại làng Mới ở dằng sau họ. Họ không đi lên đường cái mà đi dọc cách khoảng mười mét, nhưng vừa đi được vài trăm mét, họ lại phải dừng lại vì thoáng nghe trong bóng đêm dày đặc. tiếng bước chân người đi ngược lại. Lê-na nhìn hai bạn, Vô-lô-đi-a lập tức chạy lại chỗ cô.

        — Hãy tránh đi, — không chần chừ suy nghĩ, cậu ra lệnh. —  theo tôi, lại đây...

        Chạy được mấy bước cậu ta va phải một bụi cây ven đường, cậu thì thào ra lệnh:

        — Nằm xuống, nhanh lên... — Khi các bạn đã nằm xuống, cậu nói thêm. — Không được gây ra tiếng động.

        Nhớ lời căn dặn của đại úy khi cử họ đi trinh sát, cậu thi hành chính xác tất cả những gì ông đã dặn phải làm. Trong trường hợp này cần phải xác định chính xác xem kẻ nào đi trên đường trong đêm khuya này để về còn báo cáo.

        Một phút, hai phút rồi ba phút trôi qua, tiếng bước chân rậm rịch, rời rạc vang lên và trên đường cái lờ mờ hiện ra một vết loang màu xám nhạt. Khi vết loang đó tới gần, Vô-lô-đi-a nhận ra, chính xác hơn là ước đoán một nhóm khoảng năm đến bảy người đang đi về làng Mới. Song, lúc này còn khó xác định chính xác những người này là ai, có thể là người mình. Những người chạy giặc hoặc bị bao vây. Quay sang trái, Vô-lô-đi-a thấy Lê-na đang chống tay nhỏm dậy nhìn, khuôn mặt trăng trắng.

        Tiếng bước chân hỗn độn mỗi lúc một to và dồn dập hơn. Một nhóm từ làng Một tháng Năm đi tới. Bỗng các chiến sĩ trinh sát nghe vọng lại tiếng nói xì xồ gì đó giọng nước ngoài và sau đó lại nghe một tiếng la rất to không phải tiếng Nga. Không còn nghi ngờ gì nữa: bọn Đức. Song thật kỳ lạ thay, trong giây phút này, Vô-lô-đi-a vẫn không hoàn toàn ý thức được rằng kẻ thù, những kẻ mà cậu rất căm thù và đang tìm cách tiêu diệt lại đang ở ngay trước mặt mình. Mãi một lúc sau, cậu mới hết sức ngạc nhiên hiểu rằng bọn Đức đang ở đây, ngay trước mặt cậu và cậu đang nhìn thấy chúng bước đi, nghe rõ tiếng chúng nói...

        Anh đèn pin lóe sáng ở giữa toán người rồi quét đi quét lại vũng bùn lầy lội, soi vào cái lưng gù của tên lính đi trước và cái đầu đội mũ sắt giống như cái bô dựng ngược của nó. Sau đó qua dải ánh sáng lờ mờ hiện ra cả một chuỗi dài hình quái gở y như vậy sùm sụp trong những chiếc mũ sắt rất to và áo ca pốt, những lưỡi gươm lấp loáng trong màn đêm dày dặc. Đèn pin phụt tắt, trời trở nên tới hơn lúc trước.

        Vô-lô-đi-a cảm thấy tay Lê-na bíu chặt lấy chiếc blu dông của cậu: cô gái không tỏ vẻ yêu cầu gì ở cậu và cũng chẳng có vẻ muốn giữ cậu nằm im tại chỗ. Bỗng nhiên Vô-lô-đi-a thấy tim mình đập mạnh và người cậu rạo rực như muốn nhảy bật lên.

        «À, chúng nó đây, chúng nó như vậy đấy! ». Một tiểng nói vang lên trong đầu cậu. Và, không hề sợ hãi mà trong lòng như sôi lên bởi một sự ghê tởm bất thần, Vô-lô-đi-a nghĩ rằng không những có thể đếm được mà còn có thể quăng lựu đạn vào chúng nữa. Lựu đạn đè ở dưới ngực cậu và suốt chặng đường lúc nào cậu cũng cảm thấy sức nặng của nó trên ngực, trong túi quần và cậu có thể tức thời xông vào trận đánh. Song ngay lúc đó, cậu nhớ tới mệnh lệnh nghiêm khắc của đại đội trưởng : cấm nổ súng khi không có sự căn thiết đặc biệt.

        Trong khi đó, những bóng người lúc ẩn lúc hiện trong màn đêm — không phải là những con người như cậu và các bạn của cậu mà là quân thù, những kẻ áp bức và xâm lược đang nện giày ủng xuống đường, bì bõm trong các vũng nước. Và sao mà cám dỗ đến thế, và thật là quá ư dễ dàng khi từ màn đêm này trút ngọn lửa sấm sét để trừng phạt đích đáng bọn chúng. Vô-lô-đi-a cảm thấy người nóng bừng, khó chịu, gò bó một cách khổ sở đến nỗi phủi cựa quậy luôn. Cậu đưa mắt nhìn sang bên phải, bóng hình Vi-chi-a nằm chếch bên vai cậu, mắt cậu bé hơi ánh lên. Đoán được những ý nghĩ đang giày vò Vi-chi-a và để chia sẻ nỗi khổ sở với bạn, Vô-lô-đi-a dặt tay lên vai cậu ta.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Năm, 2020, 07:16:01 am

        Trên đường cái, ánh đèn pin lại xuất hiện, lướt qua đầu những tốp lính đội mũ sắt sùm sụp đang chậm chạp bước đi trong màn sương mù xám ngắt. Ánh đèn lại tắt một cách bất ngờ y như khi nó lóe lên.

        « Cả một đại đội đã đi qua. — Vô-lô-đi-a khẽ nói. — Bây giờ đến đại đội thứ hai. Mong sao chúng đi nhanh nhanh lên ».

        Tiếng bánh xe lăn đã ầm ầm trên dường nhựa xen lẫn tiếng vó ngựa lộp cộp. Vô-lô-đi-a mấp máy môi, lặng lẽ thầm đếm những chiếc xe tải đi qua: « ba, bốn, năm... ». Những ngón tay Lê-na vẫn ấn chặt xuống vai cậu, song Vô-lô-đi-a vẫn không quay lại vì sợ bỏ lỡ một điều quan trọng nào đó có thể bất chợt xảy ra trong hàng quân kia. Và cậu chỉ hơi né vai cố thoát khỏi những ngón tay ấy.

        Khi chiếc xe tải cuối cùng đi qua và tiếng chân bước trên đường đã nhỏ dần, Vô-ỉô-đi-a mới thấy bàn tay nhỏ nhắn tự động đẩy cậu ra.

        Vê-rép-kin thở phào nhẹ nhõm. Lê-na chẳng nói một lời và như để phân trần trước cô, Vô-lô-đi-a nói:

        — Đại úy cấm chủng ta không được giao chiến trong lúc này, cô hiểu không ?

        — Chúng đi gần đến thế ! — Lê-na thì thào.

        ...Từ đây tới làng Một tháng Năm không xa nữa. Chỉ cần vượt qua một quãng đồi dốc thoai thoải và sau đó đi thẳng độ một cây số rưởi nữa là tới khu làng rộng lớn này. Các chiến sĩ trinh sát lặng lẽ lên đồi, đất dưới chân họ rất mềm và trơn như đất sét. Vô-lô-đi-a đi giữa và nghe rõ Vê-rép-kin thở phì phì sau lưng mình. Dường như không cảm thấy đang lên dốc, Lê-na bước nhanh như chạy. Qua đỉnh dốc, cô dừng lại. Phía trước, những ngọn lửa đỏ hồng ánh lên ở nhiều nơi trên cánh đồng chìm ngập trong bóng đêm.

        Vê-rép-kin đi sau, vội bước sánh ngang với Vô-lô-đi-a.

        — Đấy, làng Một tháng Năm đấy. Chả lẽ chúng nó thiêu hủy rồi hay sao ? — Cậu ta sững sờ nói.

        Lê-na, ngay trong giây phút đó, chẳng nói chẳng rằng, từ trên đồi lao nhanh xuống dưới. Hoảng sợ cho cô gái, Vô-lô-đi-a liền lao theo, đuổi kịp và nắm chặt lấy tay cô.

        — Buông ra! — Cô kêu lên và cố giằng tay ra.

        — Bạn đừng lo, đừng lo...—Vô-lô-đi-a vội nói.

        — Mẹ!... và Li-dơ-ca ở đấy... Thôi buông ra! — Lê-na lại cố hết sức định vùng ra. — Sao bạn cứ giữ tôi thế?

        — Khẽ thôi! Điên rồi à!... Có thể bọn Đức ở đó thì sao? Rõ chưa? — Vô-lô-đi-a thì thào, hổn hển.

        Tuy không nhìn rõ mặt cô gái, song giọng nói của cô vang lên vừa căm giận vừa cầu khẩn. Mặc, Vô-lô-đi-a văn không buông tay cô, cố dìu cô đi tránh theo con đường vòng vào làng Một tháng Năm.

        Vì phải đi nhanh nên người nào người nấy thở hổn hển và chẳng mấy chốc họ đã tới hàng rào một thửa vườn. Ở đây, Vô-Iô-đi-a không phải hoài nghi gì nữa là phần lớn làng này đã bị thiêu hủy: những ngôi nhà ở mạn Bắc và dọc theo cả dãy đã chìm ngập trong bãi tro tàn đầy khói lửa. Ba chiến sĩ trinh sát vượt hàng rào, chui qua vườn quả, qua hết đống tro này đến đống tro khác. Lê-na lúc thì vượt lên phía trước, lúc đi chậm lại, quay ngang quay dọc.

        — Đây này, ở đây là trụ sở Xô-viết làng, — hất hàm về đám khói trắng cuộn thành thớ giữa những cây táo, cô thốt lên. — Ôi cả phòng thí nghiệm cũng không còn nữa! Và cả nhà bác Cu-đi-nốp cũng cháy mất rồi! — Cô đau đớn thốt lên và chạy tiếp lên trước.

        Vê-rép-kin chạy lên ngang với Vô-lô-đi-a và nói nhỏ để cô bạn gái không nghe thấy :

        — Tất cả biến đi đâu hết rồi? Không thấy một bóng người nào cả.

        — Chắc là họ đã rút đi đâu rồi. — Vô-lô-đi-a cau có trả lời, vẻ lưỡng lự.

        Cứ thế, họ đi theo Lê-na tới ngôi trường học ở đầu làng nhưng vẫn không gặp một ai. Ở đây, tất cả cũng đều bị thiêu hủy: ngôi nhà hai tầng có cái mái hiên tỏa rộng bốn phía chỉ còn lại những bức tường đen ám khói. Những ngôi nhà phụ ở bên cạnh không còn nữa, chỉ có đống tro tàn và cột khói ngoằn ngoèo là gợi lại ờ những nơi này mới đây còn là những ngôi nhà to, rộng. Mùi hôi thối cũng khó chịu, nồng nặc hơn và những bông tuyết hình như cũng đen hơn đang lặng lẽ xoay tròn và rơi xuống trong bầu không khí ấm áp như những tảng mây dày.

        — Sao nhiều bồ hóng bay thế, — giọng mệt mỏi, — Lê-na bất ngờ lên tiếng.

        Cô buông tay đúng trước hai cậu bạn trai mặc cho chiếc khăn tuột ra khỏi đầu chỉ còn vương bờ trên vai. Vô-lô-đi-a không biết an ủi cô gái như thế nào chỉ còn biết nhìn quanh, thở dài khổ sở chưa thể nào biết được là dân chúng tự rời khỏi làng đây khói lửa này hay bị bọn Đức đuổi đi. Và ai có thể đoán được điều gì đang chở họ.

        Một tiếng rền to, ầm ầm vang lên, chắc là cái gì đó trong nhà sụp đổ tiếp, và từ các cửa sổ hửng sáng, những chùm ánh sáng vàng chói lọi lại lóe sáng cả ngoài sân. Ngay lúc đó, ba người trông thấy rõ dãy cây con trồng ở xung quanh trường hai năm về trước đã mọc cao ngang đầu người, giờ cũng đã bị cháy trụi thành than.

        — Ôi, cái gì kia? —Lê-na kêu lên và chạy tới tận ngôi nhà.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Năm, 2020, 07:16:23 am

        Kiễng chân lên, Lê-na cố nhìn vào cửa sổ nóng hừng hực, vội lùi lại và chiếc khăn rơi khỏi vai cô. Vô-lô-đi-a nhặt chiếc khăn lên, phủi sạch nhưng không kịp trả lại. Lê-na mê mải chạy dọc theo tường, dừng lại ở cửa sổ khác, cô nhìn xem cái gì đang cháy ở nhà cô. Vô-lô-đi-a và Vi-chi-a mệt nhoài chậm chạp theo cô.

        — Thật là bất hạnh... thật là bất hạnh!—Vi-chi-a nói, giọng hoàn toàn theo kiểu người lớn.

        Vô-lô-đi-a chỉ gật đầu: thật quả rất khó nói được điều gì lúc này.

        — Này có thể tạm thời để Lê-na sống với mẹ cậu được không ? —  Vê-rép-kin hỏi.

        — Tất nhiên rồi, — Vô-lô-đi-a trả lời ngay. Chưa bao giờ cậu cảm thấy mình bị xúc phạm đến như vậy, một nổi căm giận không cùng vằn lên trong dôi mắt cậu, và cậu không thể quên đi hoặc có xua đuổi nó được trong lúc này. Cậu cảm thấy bất lực trước nỗi bất hạnh ghê gớm của cô bạn gái và có thể cô đã bị mồ côi.

        Lê-na quay lại đợi hai bạn đi tới. vẻ ngạc nhiên trách móc hiện rõ trên khuôn mặt mịn màng một cách lạ thường với đôi mắt đẫm lệ vì lo lắng và nóng nực đang ánh lên trước ngọn lửa. Những mớ tóc rối bời rơi xuống đôi má ửng hồng thành những vong tròn.

        —Mẹ và Li-do-ca ở đâu rồi? — Cô hỏi nhỏ, Vô-lô-đi-a không biết trả lời ra sao, giả vờ dưa mắt nhìn sang nơi khác.

        — Hai người phải đợi tôi, — cô tiếp tục. — Nhưng bây giờ thì tôi không biết...

        — Thế này này,... bạn đừng lo...—Vô-lô-đi-a cố nói rồi im bặt.

        Một tiếng ầm âm chói tai từ xa rền lên như từ trên bầu trời đêm không sao cao tít vọng lại, nó giống như khi đoàn tàu hỏa mở hết tốc lực tới gần nhưng rời rạc và nặng nề hơn. Vô-lô-đi-a nhin quanh chăm chú lắng nghe và cậu thò tay vào chỗ ngực dưới áo blu dông sờ quả lựu đạn giấu ở đó.

        — Hai người ở đâu nhỉ ? — Lê-na hỏi to hơn như thể cố bắt cậu phải trả lời.

        — Hừ, tớ không biết nghĩ ra sao!

        Cô kéo chiếc tất tay ra và lau trán như một cái máy.

        — Chúng mình sẽ tìm thấy mẹ, bạn đừng sợ... chúng mình sẽ tìm ra! — Vô-lô-đi-a vội nói.

        Song lúc này không phải lúc họ đi tìm bà. Tiếng động ầm ầm khó hiểu mỗi lúc nghe một rõ hơn. Tựa như một khối đá lớn chảy nhanh trong bóng tối và trút xuống ống sắt được bịt chặt ở hai đâu.

        Vô-lô-đi-a lại nắm tay Lê-na và dìu cô từ sân trường vào trong bóng tối. Họ vội vàng len qua các bụi cây gì đó rồi chạy theo các hàng cây và men theo rãnh thoát nước. Tới một bụi liễu, Vô-lô-đi-a ra hiệu cho các bạn nằm xuống. Từ đây chỉ trông thấy một đoạn ngắn đường làng giữa trường học và lùm cây, nhưng vì vội vã nên Vô-lô-đi-a không tìm được điểm quan sát nào thuận tiện hơn. Lửa trong các cửa sổ trường học hầu như đã tắt, song ở phía đối diện hơi chếch với trường học, một dãy nhà dài vẫn đang le lói ánh lửa soi sáng cổng làng. Đám cháy đỏ hồng tỏa ra trên đường làng và thấy rõ các tay vịn của cây cột buộc ngựa cùng cột điện tín hiện ra qua màu xám lờ mờ.

        Lúc này tiếng rú chói tai và tiếng sắt thép ken két vang lên ngay đâu đó ở bên cạnh, nhưng Vô-lô-đi-a vẫn chưa đoán ra đấy là tiếng gì. Vi-chi-a rụt đâu vào cổ áo da và luôn luôn chớp mắt có vẻ như rất vất vả trong việc quan sát. Lê-na nằm sấp, áp mặt vào hai cánh tay, phủ kín dưới mái tóc vàng sáng xõa xuống.

        Bỗng nhiên từ khung trường học đen sẫm có một cái gi đó giống như chiếc bàn là khổng lồ to chưa từng thấy, nhảy xổ ra sừng sững ngay trước mắt họ.

        — Xe tăng!... Xe tăng! — Không kìm nổi, Vô-lô-đi-a khẽ thót lên, nhưng chính cậu cũng không nghe được tiếng mình. — Hai, ba, năm... — Chợt nhớ ra, cậu vội đếm.

        Đúng vậy, trong màn sương khói đỏ hồng, những chiếc xe tăng phát xít xuất hiện chạy dọc theo làng, dáng lắc lư tròng trành. Vói tóc độ lớn, chiếc nọ sau chiếc kia nối đuôi nhau theo hàng dọc, chạy phóng qua khoảng trống và biến mất sau các lùm cây. Một số lính tăng mở nắp tháp xe nhô hẳn đầu ra ngoài, những nòng súng lớn ngắn ngủi nhấp nhô đơn điệu.

        Vô-lô-đi-a đếm được mười rồi mười lăm, hai mươi lăm chiếc, nhưng đoàn xe vẫn ùn ùn kéo đi chưa hết.

        Xe tăng lao tới làng Mới có nghĩa là lao tới thành phố, cùng hướng với đoàn bộ binh mà khoảng một giờ trước đây các chiến sĩ trinh sát đã phát hiện thấy. Chỉ đến lúc này, khi theo dõi những chiếc tăng đang vùn vụt tiến trước mặt mình, Vô-lô-đi-a mới bắt đầu thấu hiểu được mối nguy cơ thực sự đang đe dọa thành phố của cậu. Những khối sắt khổng lồ xuất hiện trong bóng tối, rồi hầu như lại biến mất ngay, song chính trong sự chuyền động đơn điệu nhanh chóng của chúng có một cái gì đó thật nặng nề, một cái gì đó tuy không hiểu nổi nhưng vẫn làm cho Vô-lô-đi-a sợ hãi.

        Ép sát người xuống đất và với một hành động vô tình mà chính mình cũng không nhận thấy, Vô-lô-đi-a lùi lại một chút về phía các bạn mình. Cành liễu dài bung ra và rung rinh ngay trước mặt cậu, theo phân xạ tự nhiên, Vô-lô-đi-a lấy tay che mặt.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Năm, 2020, 07:16:53 am

         Còn xe tăng vẫn cứ kéo đến, vượt qua chỗ sáng rồi tiếp tục biến đi, và qua làn khói có thể thấy những chữ thập màu trắng trên thành xe. Từ ngôi nhà đang cháy bên đường, những tàn lửa bay lên theo chiều gió và bất ngờ cột điện tín rực sáng như một cây đuốc. Bỗng nhiên, Vô-lô-đi-a nghĩ rằng sẽ như thế nào nếu những cái bàn là khồng lồ tự động và kêu rú inh tai này xông đến những người bảo vệ thành phố quê hương của cậu. Trong giây phút này, Vô-lô đi-a tưởng tượng thành phố của mình không phải chỉ là một quần thể của những ngôi nhà, mà cậu còn biết rằng đấy là mọi sự tốt lành, là lý trí, là hạnh phúc và vẻ đẹp của đời cậu. Và, Vô-lô-đi-a cảm thấy rõ ràng sự khủng khiếp có thể xảy ra khi kẻ thù tiến vào được thành phó của cậu. Bởi vì, phải chăng con người sống và có cảm giác, yếu đuối đến vậy, không được che chở đến vậy, lại có thể chống chọi được với sức mạnh vô nhân đạo, lạnh lùng của sắt thép được liên kết bằng những đinh ri-vê này ư?!

        « Bốn hai, bốn ba, bốn tư...» — Vô-lô-đi-a cố tập trung hết nghị lực đề đếm đủ từng chiếc xe tăng Đức; chỉ đến chiếc thứ bốn bảy, đoàn xe mới đứt đoạn và cũng chẳng được bao lâu tiếng rú ầm ầm của khối sắt đã yếu đi trong một hai phút, lại bắt đầu rộ lên. Còn ở sau làng, trong bóng đêm, nơi có con đường bộ chạy qua những, làn ánh sáng màu trắng đục như đèn pha lấp loáng lóe lên rồi lại mất đi, chắc là những đơn vị quân Đức khác tập trung cho cuộc tiến công đang hành quân trên dường.

        Vô-lô-đi-a cảm thấy một người nào đó tì vào vai mình và tuy không quay lại, nhưng cậu cũng hiểu rằng Lê-na đang tìm sự che chở của cậu. Lúc này, cả ba người cùng nằm sát lại bên nhau như những đứa trẻ nhỏ. Song, chính việc Lê-na tì tay vào vai cậu, chính cái cử chỉ yêu cầu được che chở này đã làm cậu thêm vững tâm một cách lạ thường. Và lần đầu tiên trong đời, cậu cảm thấy một cách đầy đủ cảm giác khó khăn đến lạnh cả lòng, tựa như một sự kích thích về trách nhiệm của người nam giới, ý thức của người lính trước số phận của cô gái đang nằm bên cậu và người bạn ít tuổi hơn mình, cùng với số phận của họ là số phận chung của cả loài người.

        Lê-na rung rung và im lặng ngay, cố ghì chặt tay hơn vào vai Vô-lô-đi-a như thể phó thác vào lòng dũng cảm của cậu. Vô-lô-đi-a nhìn lại: cô đang khóc. Chẳng nức nở và chẳng mếu máo, nhưng đôi mắt đầm đìa nước của cô ánh lên, long lanh lạ thường, còn đôi má ướt mũm mĩm lấp lánh dưới ánh lửa làm khuôn mặt cô có vẻ yếu đuối hơn nhưng lại đẹp hơn. Một cảm giác nhức nhối, đau xót, thương cảm trào dâng trong lòng Vô-lô-đi-a, cậu khẽ cất tiếng nói ngập ngừng, nhưng hơi thô của người hơn tuổi:

        — Đừng khóc, nào... Tôi đã bảo, chúng ta sẽ tìm được mẹ.

        Trong tiếng ầm ầm của dòng sắt thép, giọng cậu hầu như không nghe thấy gì, song qua hàng nước mắt, Lê-na vẫn nhìn Vô-lô-đi-a với vẻ tin tưởng. Mãi đến lúc này cậu mới nhìn thấy chiếc khăn trong tay mình và liền trả cho cô gái:

        — À, đây này, quàng vào, — cậu ra lệnh. — Và chẳng việc gì phải khóc.

        Cô cầm lấy chiếc khăn và ngoan ngoãn trùm lên đầu. Vô-lô-đi-a quay lại và dán mắt vào những chiếc xe tăng Đức đang lao dọc đường làng trong màn đêm dày đặc, cái nọ nối cái kia, kéo dài theo hàng một.

        Đến tận khuya, các chiến sĩ trinh sát mới về tới thành phố và ngay lập tức được đưa lên xe chở tới bộ tham mưu khu vực chiến đấu . Sau khi nghe báo cáo xong, đại úy chỉ huy mặt đầy râu liền gọi ngay điện thoại yêu cầu được nói chuyện với thiếu tướng chỉ huy thành phổ đề báo cáo về những tin tức mới nhất của tổ trinh sát.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Năm, 2020, 07:18:14 am

5

        Đến đêm, Bốt-đa-nốp từ tuyến phòng thủ tiền tiêu trở về tỉnh ủy theo lệnh gọi của Đi-a-cốp Chiếc «Em-ca» của anh phải dừng lại luôn và bật đèn pha để lính gác kiểm tra giấy ra vào. Trong bóng tối, vang lên tiếng động cơ của các xe khác nổ giòn, văng vẳng tiếng người tuy không trông rõ ai, tiếng vũ khí va vào nhau; những chiếc xe tải cứ ầm ầm phóng qua và tuy đường phố tới mù mịt vẫn sôi động như ban ngày, dường như chẳng ai ngủ cả. Ngay Bốt-đa-nốp cũng vậy, tuy đã hai đêm nay không chợp mắt nhưng có lẽ không thể ngủ được. Trong trí tưởng lượng của Bốt-đa-nốp hiện lên một bức tranh rõ mồn một như ảnh nổi, luôn luôn ám ảnh anh: các tuyến phòng thủ ở ngoại ô thành phố nơi anh vừa ra đi, những quả đồi thấp nhẵng nhịt các hào giao thông, con đường lớn nơi các chiến sĩ diệt tăng mai phục, cánh rừng nhỏ nơi ẩn náu của lính súng máy cùng các loại pháo binh Bốt-đa-nốp cố nhớ lại những chỉ thị, những mệnh lệnh cùng những đề nghị của anh hôm nay và có cảm giác dù đã rất cố gắng, nỗ lực, song anh vẫn cảm thấy còn một việc quan trọng nào đó trong kế hoạch phòng thủ thành phố chưa được nhắc tới. Nói cụ thể ra thì tâm trạng này giống như tâm trạng của người chỉ huy nghiêm khắc trước trận đánh. Khi đó anh ta thường nhớ lại những mệnh lệnh, chỉ thị đã ban ra và một ý nghĩ nôn nóng muốn tìm ra những sai sót, mà trước đây chưa nhận thấy được. Nổi bật lên sau những suy nghĩ này là ý thức trách nhiệm lớn lao trước nhiệm vụ cần phải kiên tâm giải quyết, nhiệm vụ mà lúc này hiện ra với tất cả khó khăn to lớn của nó.

        Kẻ thù đang tiến tới T. với một sức mạnh ưu thế hơn các lực lượng bảo vệ thành phố cả về số lượng lẫn trang bị kỹ thuật, xe tăng, máy bay. Và nỗi lo lắng của Bốt-đa-nốp về kết quả trận đánh ngày mai thể hiện ra ở chính dạng này, đó là sự không hài lòng với bản thân mình và cảm giác đã bỏ lỡ một điều quan trọng nào đó chưa nhìn thấy. « Cần phải lo lắng điều gì nữa nhỉ ? Cần phải nhớ lại, tìm ra, chuẩn bị cái gì nữa nhỉ?». Những câu hỏi dai dẳng cứ ám ảnh tâm trí người trung tá trẻ tuổi như thể chính Bốt-đa-nốp thực sự đã quên mất một điều gì đó rất quan trọng. Cả ngày anh lăn lộn trong các công sự dưới làn gió lạnh hôi hám bị rét cóng, bị mệt đói, song những ỷ nghĩ ấy vẫn cứ luôn luôn thôi thúc trong anh. Bốt-đa-nốp lúc thì nhẩm tính lực lượng bảo vệ thành phố, lúc thì nghĩ về vấn đề chỉ đạo chiến thuật được áp dụng cách đây không lâu trong các trận đánh chớp nhoáng đẫm máu ở gần Min-xcơ mà anh trực tiếp tham gia hoặc trong trận chiến đấu gay go nhiều ngày ở Xmô-len-xcơ, hoặc trong những cuộc tiến công kiên quyết mà chính anh là người quyết định để vượt khỏi hậu phương quân thù. Trong đầu anh thoáng hiện ra tên bao làng mạc anh đã đi qua, những tấm bản đồ quân sự mà anh nghiền ngẫm, những chỗ ngoặt của bao con đường mà các chiến sĩ của anh bảo vệ, những cánh rừng bốc lửa cháy thành than, những sơ đồ vẽ vội, những thành công và sai lầm của mình, những thất bại và thắng lợi của những người chỉ huy khác...

        Xuống xe ngay cạnh tòa nhà tinh ủy, Bốt-da-nốp nhảy qua hai bậc thang, chạy vội lên tầng ba. Hội đồng quân sự đang họp và trung tá yêu cầu báo cho thiếu tướng biết mình đã đến. Cũng như hôm qua, trong phòng đợi, nơi anh ngồi chờ, chật ních người, mặc đủ các kiểu áo bành tô, ca pốt quân sự, đang thì thăm nói chuyện, hút thuốc...

        Thắt dây lưng chặt lại, Bát-đa-nốp thong thả đi từ góc này sang góc khác trong phòng đợi. Đôi má ửng đỏ trên khuôn mặt rám nắng lạnh cóng của anh, cái miệng hơi nghiêm mím chặt.

        Cánh cửa phòng họp chợt mở, và qua đó Bốt-đa-nốp nhìn thấy nhiều người đang ngồi bên bàn phủ dạ xanh. Khuôn mặt dầy dặn của Sa-rốp, chủ tịch ủy ban nhân dân tinh, thấp thoáng qua khe hở và vọng ra giọng nói của ông.

        — Chúng tôi sẽ ghi cho anh như thế này: « Một nghìn áo ca pốt và hai nghìn bộ quần áo ». Sáng mai các anh sẽ nhận dạ...

        Từ phòng họp, một phụ nữ mặc bộ com blê đen đi ra, im lặng một lát như nhớ xem mình ra đây đề làm gì, sau đó bà nói nhỏ:

        — Ai ở nhà máy chế tạo máy cái? Mời vào... Các đồng chí ở đường sắt cũng vào đi...

        Trông dáng bà mệt mỏi như đang ngái ngủ. Mọi người đứng dậy bước vào phòng họp và phòng đợi bỗng chốc vắng tanh; bà thư ký cũng trở vào phòng, đóng cửa lại. Bốt-đa-nốp có lẽ đã bị bỏ quên cũng đứng dậy định đi vào trong đó, song anh bỗng nghe thấy tiếng giày bước sau lưng liền quay lại.

        — Xe-li-vê-xtốp! — Anh ngạc nhiên gọi to. — Làm sao cậu cũng đến đây?


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Năm, 2020, 06:45:52 pm
     
        Từ cánh cừa mở ra đường hành lang tối, người đại tá mà anh mới chia tay ở bộ tham mưu phương diện quân hôm kia đang đi qua gian nhà đến chỗ anh. Vóc người to, cân đối trong chiếc ca pốt may rất hoàn hảo với những đây nẹp màu vàng, đầu đội chiếc mũ trùm tai bằng lông cừu non, Xe-li-vê-xtốp gợi cho anh cảm giác là ông ít thay đổi. Song, dường như có một lớp tro phủ lên khuôn mặt chưa cạo râu, giãn ra ở phía dưới của anh ta, đôi mắt đỏ lừ, còn trong khóe mắt có váng bọt trăng trắng.

        — Chào Bốt-đa-nốp! Thế là chúng mình lại gặp nhau... Như người ta nói, núi với núi không bao giờ gặp nhau... — Xe-li-vê-xtốp nói, vẻ gượng gạo không tự nhiên.

        Anh ta siết chặt tay Bốt-đa-nốp trong bàn tay lành lạnh của mình ; dường như khác hẳn khi ở bộ tham mưu phương diện quân, anh ta-cảm thấy rất sung sướng được gặp lại người đồng nghiệp cũ.

        Xe-li-vê-xtốp đến đây không phải có một mình, còn một đại úy má bụ bẫm, đội mũ sắt, mặc áo bạt, ngực đeo tiểu liên chiến lợi phẩm không hiểu sao không vào, đang đứng lại ở ngưỡng cửa phòng đợi.

        Bốt-đa-nốp sửng sốt hết nhìn người này lại nhìn người kia. Anh đã biết là Xe-li-vê-xtốp đã nhận sư đoàn ở vùng A-rxê-nhi-ép-xcơ và các đơn vị của ta ở đó đã bị bọn Đức vượt qua.

        Bốt-đa-nốp nghĩ rằng lúc này họ đang lao vào những trận đánh nặng nề, cho nên sự xuất hiện của người chỉ huy của họ ở đây là không giải thích nổi...

        — Ừ, gặp nhau. Mình ở trong bộ tham mưu khu vực chiến đấu. Hãy kề đi, chỗ các anh ra sao? Anh có biết bọn Đức đã ở làng Mới không? Chúng tiến công với lực lượng như thế nào? — Lập tức Bốt- đa-nốp hỏi han những gì mà lúc này anh quan tâm hơn cả.

        — Mình đi báo cáo với tư lệnh tập đoàn quân, — Xe-li-vê-xtốp trả lời. — Bô tham mưu còn có Đê-mi-dốp, cậu có biết không?

        — Sáng nay tôi vừa ở đấy... Nhưng chỗ các anh đã xảy ra chuyện gì vậy? — Bót-đa-nốp hỏi lại.

        — Điều gì ở chỗ chúng tôi ư? Nhũng điều đã từng phải chờ đợi... — Đại tá nói khá tươi tỉnh. — Cũng chính là những điều mà, anh bạn ạ, anh đang chuẩn bị đón chúng. — Anh nhún vai, trên khuôn mặt thoáng hiện vẻ bực bội như thể muốn nói : « Làm gì mà anh cứ tra hỏi tôi mãi thế? Hãy để tôi yên...». Và bỗng nhiên vẻ sôi nổi vờ vĩnh ban đâu của Xe-lí-vê-xtốp biến mất, nét mặt anh lại trở nên thiểu não chán chường...

        Thấy chiếc ghế bành ngay cạnh, anh mệt mỏi ngồi xuống và bỏ mũ lông ra khỏi đầu.

        — Đồng chí đại tá, chúng ta đang vội, người đại úy đội mũ sắt đứng bên ngưỡng cửa nói.

        — Vâng, cần phải đi... Bốt-đa-nốp, cậu có biết chỗ cậu có thể kiếm được ít xăng cho xe không ? — Xe-li-vê-xtốp hỏi với giọng khổ sở. — Xe chúng mình hết xăng rồi...

        — Được thôi, chúng tôi sẽ lo cho. Nhưng tại sao anh lại ở đây? — Không kìm nổi, Bốt-đa-nốp lại hỏi. — Anh thứ lỗi cho tôi, Ép-ghê-nhi Ghê-ra-xi-mô-vích ạ!

        Xe-li-vê-xtốp ngả lưng vào thành ghế bành. « Anh muốn cái gì ở tôi? Hãy để tôi... ».— Trong vẻ mệt mỏi của anh dường như đang nói ra điều này.

        — Cứ lặp đi lặp lại «Tại sao? Cái gì ? » — Anh bực bội mở đầu. — Mình nhận sư đoàn ngay trong chiến đấu, cậu cũng hiểu điều này rồi... Song đây không phải là tất cả, — anh khoát cánh tay to trắng của mình. — trong bộ tham mưu người ta phố biến tình huống cách khác, nhưng khi đến nhận thì đơn vị bạn ở bên phải đã rút đi từ bao giờ, một bức tranh quen thuộc... Trong lúc đó thì hàng trăm xe tăng Đức... Anh xòe bàn tay ra và vung vung ngay trước mặt mình, — hàng trăm xe tăng lao vào lỗ hổng...

        — Làm sao anh lại có thể ?... — Bốt-đa-nốp gào lên, nhưng ngay lúc đó kiềm chế được. — Làm sao anh lại có thể bỏ sư đoàn của mình được? — Anh hỏi nhẹ nhàng. — Và bây giờ nó ở đâu?

        Đôi mắt anh tối sầm lại nhưng vẫn giương to, tròn xoe, chằm chằm nhìn người nói chuyện với mình.

        — Ngày trong giờ đầu tiên của trận đánh, hai tiểu đoàn đã bị đè bẹp... chắc là trung đoàn số hai của tôi không nhận được lệnh rút lui... Và mình cũng không hiểu được hiện giờ nó ở đâu nữa... — Xe-li-vê-xtóp trả lời mệt mỏi. — Cậu không tưởng tượng nổi điều gì đã xảy ra... Xe tăng tràn lên hết đợt này đợt khác như sóng dồn. Chúng nó đồ đạn không ngớt vào bọn mình, đài quan sát của mình bị trúng đạn. Chính ủy sư đoàn bị tử thương... — Anh vừa nói vừa ưỡn thẳng người lên, tì hẳn người vào tay vịn ghế bành và trong giọng nói của anh có vẻ khẩn cầu. — Mình không phóng đại một tí gì đâu... Hãy tin mình. Mình thấy rõ là với một lực lượng như vậy thì làm sao có thể bảo vệ được tuyến phòng thủ.

        Bốt-đa-nốp nghe với một ấn tượng là Xe-li-vê-xtốp đang nói những chữ gì đó thật là xa lạ. Dĩ nhiên trung tá cố nắm được ý nghĩa của từng lời nói, song cảm giác này vẫn mỗi lúc một nặng nề hơn. Hình như giữa anh và Xe-li-vê-xtóp có một khoảng trống không thể che lấp nổi và trong đó có những câu nói tuy dễ hiểu nhưng không có tác dụng gì cả. Tựa như đây là lần đầu tiên Bốt-đa-nốp mới gặp người đàn ông bốn nhăm tuổi này với mái tóc rối bù trên đỉnh đầu, mặc ca pốt có những chiếc khuy đồng lấp lánh, đang ngồi trong chiếc ghế bành chật hẹp. Thân hình anh ta to lớn, rắn chắc. Và trong con người này, anh không hề nhận ra những nét gì của người đồng chí xa xưa của mình nữa. Nhìn đôi tay trắng trẻo đẹp đẽ đang tì vào tay vịn ghế bành, Bốt-đa-nốp cảm thấy đặc biệt ghê tởm con người 4iày.

        — Đồng chí đại tá! — Người đại úy đội mũ sắt lại nhắc Xe-li- vê-xtốp. — Xin lỗi là tôi lại phải nhắc đồng chí... Nhưng chúng ta có rất ít thời gian.

        — À, còn xăng thì giải quyết như thế nào ? Bốt-đa-nốp, cậu giúp mình chứ? — Đại tá hỏi.

        Bốt-đa-nốp không trả lời, như thể không nghe rồ câu hỏi.

        — Thế đấy, anh bạn ạ! Bây giờ mình bị ghép tội rút lui không có mệnh lệnh... Cấp trên cho gọi mình lên, — Xe-li-vê-xtốp nói tiếp. — Nhưng mình còn có thể làm được gì nữa cơ chứ! Chỉ trong mấy tiếng, sư đoàn đã tan rã, còn lại chẳng bao nhiêu...

        — Thế nhưng anh là người chỉ huy của nó lại đang và vẫn sống nguyên lành, — Bốt-đa-nốp bật nói.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Năm, 2020, 06:46:14 pm

        Đại tá nhúc nhích trên chiếc ghế bành, như định đứng dậy.

        — Cậu nói gì vậy? Cậu nghĩ gì thế? — Anh vội nói. — Cậu nói cái gì vậy ? — Và vẫn không đứng dậy, anh ta chồm cả người về phía trước. — Nếu cái chết của tôi có thể giúp được việc gì đó thì tôi không do dự. Cậu cũng biết mình đấy...

        Tựa như một người lạ, Bốt-đa-nốp nhìn Xe-đi-vê-xtốp với vẻ căm giận mõi lúc một tăng.

        — Cậu không tin ? Đấy là việc của cậu... Nhưng giả sử mình có yếu đuối, mình có lỗi, — đại tá nói to hơn như cảm thấy rằng khoảng trống chia cách anh và Bốt-đa-nốp đang mở rộng hơn ra. —  Mình có lỗi là đã không dám cho một viên đạn vào trán mình... Phải chăng một cái gì đó có thể thay đổi sau việc làm này? Thêm một đại tá chết ngoẻo và chỉ... Phải chăng lỗi là ở mình ? Anh lại cao giọng, cố nói sao cho rõ ràng và dễ hiểu. — Chẳng lẽ cậu không thấy, chẳng lẽ cậu không thấy rằng chúng ta... rằng tất cả...

        Xe-li-vê-xtốp đang rộng bàn tay, xòe cả năm ngón tay về phía Bốt-đa-nóp như muốn túm lấy kéo anh vào lòng.

        «Giá chặt được cái tay của anh ta vất đi đâu được nhỉ!» — Bốt-đa-nốp kinh tởm thầm nghĩ. — Song ngay lúc đó, người ta gọi anh vào cuộc họp. Chẳng kịp chào Xe-li-vê-xtốp, anh chỉ nói ngắn gọn về việc lấy xăng cho xe, rồi vội bước vào phòng họp.

        « Đến đấy như đến chỗ chết, như một kẻ bị phán xét...». — Anh nhớ lại cuộc gặp mặt với Xe-li-vê-xtốp trong bộ tham mưu phương diện quân. — « Nhưng tại sao anh ta lại suy sụp tinh thần đến thế? — Anh tự hỏi.

        Song anh không có thời gian để phân tích kỹ câu hỏi này. Đi-a- cốp yêu cầu anh báo cáo tình hình các đơn vị trên tuyến phòng thủ. Sau khi nghe báo cáo ngắn gọn của anh, Đi-a-cốp bắt đầu phân tích.

        Qua tin tức của thiếu tướng, Bốt-đa-nốp biết được một vài điều mới mẻ. Theo số liệu của bộ tham mưu tập đoàn quân, mà lúc này Đi-a-cốp chịu sự chỉ đạo, có ít nhất ba sư đoàn thiết giáp, hai sư đoàn bộ binh và trung đoàn « Nước Đức vĩ đại» tiến công vào T. Sau khi đã vượt qua các đơn vị quân ta ở vùng A-rxê-nhi-ép-xcơ, Núi Trắng và dọc theo đường cái tiến tới thành phố, lúc này kẻ thù đang tập trung lực lượng ở làng Mới, ngay trước cửa ô phía Nam...

        — Chúng muốn chiếm thành phố chúng ta bằng một cuộc tiến công chớp nhoáng bất ngờ. — Đi-a-cốp nói.   

        Ông mở cặp lấy tấm bản đồ do các chiến sĩ trinh sát vừa lấy được của một tên sĩ quan Đức bị bắt, mở ra trước mặt mọi người. Vòng tròn đen trên bản đồ chi T. được vạch một cung tròn đậm nét màu đỏ từ phía Tây Nam, cạnh đó có ghi ngày « 30 — X ». Cao hơn là mũi tên cong tô đậm nét chĩa thẳng vào Mát-xcơ-va được khoanh một vòng to đậm hơn. Ở đó cũng có chữ số «7 — XI»: bọn Đức tính toán thời hạn chúng sẽ chiếm được thủ đô Xô-viết.

        — Chúng ghi tất cả đều chính xác! — Đi-a-cốp cười. — Những đồ đệ của Sli-phen... Đám người rất cẩn thận!

        Ông rút thuốc lá vê vê trong mấy ngón tay mập mạp rồi châm hút. Những đám khói quyện quanh đầu, ông nheo mắt lại nhìn mọi người đang ngồi bên bàn. Ngoài ông và Bốt-đa-nốp ra, trong phòng còn có La-tô-skin, Sa-rổp và Tê-rê-khốp, trong ban quân sự tỉnh ủy, một người béo đậm dưới năm mươi tuổi, đeo tấm huân chương Cờ Đỏ trên chiếc « nơ » lụa như người ta thường đeo trong những năm Nội chiến.

        — Chỉ là một trò hề ! — Nhìn tấm bản đồ, Tê-rê-khốp nói, nhưng không mỉm cười.

        Bốt-đa-nốp im lặng... Lúc này không còn nghi ngờ gì nữa là kẻ thù mưu toan bẻ gãy tuyến phòng thủ thành phố bằng một trận tiến công mãnh liệt vào tung thâm phòng tuyến của ta với lực lượng xe tăng, cái chiến thuật quen thuộc của bọn Đức vẫn không thay đổi. Và mặc dù trong mấy ngày qua đã làm được nhiều việc: hoàn thành tuyến phòng thủ, pháo binh trong đó có cao xạ đã chiếm lĩnh các hỏa điểm: nhiều con đường tiến tới thành phổ được gài mìn và Đi- a-cốp đã có lực lượng bộ binh dự trữ thành lập từ các đơn vị rút về T. — Song tất cả những điều này chẳng làm yên lòng được là bao. Thậm chí nếu các sư đoàn tiến công thành phố không đủ quân số đi chăng nữa thì như Đi-a-cốp đã chỉ rõ, dù tập đoàn quân số 2 của Đức đã bị đánh kiệt quệ, thì tương quan lực lượng vẫn còn chênh lệch rất lớn đến mức kỳ quặc, vẻ đăm chiêu suy nghĩ, La-tô-skin cầm chiếc đồng hồ bỏ túi ở trên bàn, nhìn mặt số và lên dây cót một cách hững hờ rồi lại đặt xuống chỗ cũ. Phòng họp im lặng... vài ba phút. Ánh sáng gay gắt chiếu từ trên trần xuống soi rõ tấm bản đồ nhàu nát treo ở góc phòng.

        — Thôi, thế này, chúng ta sẽ quyết chống trả lại trận đánh tung thâm của quân Đức bằng chiến thuật phòng ngự chiều sâu của chúng ta, — như trả lời cho những ý nghĩ của Bốt-đa-nốp, Đi-a-cốp lại bắt đầu nói. — Và xe tăng chúng nhất định sẽ bị sa lầy trong đó, phải sa lầy... Ba giờ trước đây, từ bộ tham mưu phương diện quân, tôi được biết là các đơn vị bộ binh và pháo chống tăng sẽ đến chi viện cho chúng ta. Chúng ta sẽ làm rối tung mọi ý đồ trong tờ lịch này của bọn Đức. — Đi-a-cốp chỉ tay vào tấm bản đồ. — Anh có nhận được tin gì của đại đội trưởng đại đội được điều đến Khlép- nhi-cốp không? — Quay sang Bốt-đa-nốp, ông hỏi.

        — Không không nhận được gì cả. Tôi chỉ biết là ở đấy đang đánh nhau. — Bốt-đa-nốp trả lời.

        — Vâng, trung đoàn công nhân đã bắt đầu vào trận, — La-tô- skin nói.

        Ông lại nhìn đồng hồ và đứng dậy, người xương xương, rất nghiêm nghị. Ông đưa tay khẽ sửa lại chiếc va rơi thắt dây da nhỏ của mình.

        — Mựời phút nữa, — ông nhỏ nhẹ bắt đầu. — tôi phải báo cáo với Hội đồng quân sự Nhà nước về tất cả những gì mà chúng ta đang làm để bảo vệ thành phố. Tôi nghĩ rằng tôi sẽ thể hiện được ý kiến chung của chúng ta, nếu tôi nói: «Ngày mai, ba mươi tháng Mười, bọn phát xít sẽ không vào được thành phố, ngày kia cũng vậy và sau này chúng cũng không khi nào vào được Mát-xcơ-va của chúng ta ! — La-tô-skin nói điều này một cách đơn giản và bình thản.

        Bốt-đa-nốp nín thở, ngẩng đầu... Trong giọng nói bình thản đó của La-tô-skin, anh cảm thấy một niềm tin không thể nào lay chuyển được.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Năm, 2020, 06:48:24 pm

6

        Trước lúc rạng đông, một cơn mưa nhỏ lạnh buốt bất ngờ đổ xuống, mãi đến gần tám giờ mới tạnh. Trời lập tức sáng ra và Bốt- đa-nốp trông thấy hàng đàn xe tăng Đức đang tiến về thành phố. Trung tá đứng trên sân thượng một tòa nhà 4 tầng và từ đẩy một không gian rộng lớn mờ đục như bị che phủ bởi màn sương dẫm nước, mở rộng trước mặt anh. Không gian ẩm ướt như lung linh trong ánh kim loại đang tỏa ra trên mặt đất nham nhở vì đạn pháo trên đoạn đường thẳng cắt ngang cánh đồng, trên góc của những tòa nhà đá rải rác ở ngoại ô. Tựa như một màng thủy ngân mỏng phủ lên mặt đất trần trụi, quét lên đó màu đùng đục của mình, thậm chí hình như mái nhà gạch, nơi xe tăng Đức đang tiến đến cũng phát ra một thứ ánh sáng lạnh lẽo.

        Hỏa lực mà bọn Đức bắn từ mười lăm phút trước đây trên toàn tuyến phòng thủ đã hơi yếu đi và đã chuyển đến gần thành phố hơn. Lúc này ở xa, về bên phải đã trông thấy đạn pháo và lựu đạn nổ trên vị trí của các phân đội bộ binh, giữa những ngôi nhà của nông trường quốc doanh ngoại ô, nơi đặt sở chỉ huy của Đu-bốp, trung đoàn trưởng trung đoàn NKVĐ, ở ngay cổng vào trên trạm gác, bên cạnh những ngôi nhà thấp với mảnh vườn trước cửa. Bên trái họ là đám khói dày màu lam hầu như đứng im trong bầu không khí ẩm ướt và không chịu tan ra, đám bụi cứ treo lơ lửng trên làng Mư-skin trên trận địa của trung đoàn công nhân và giữa những lùm cây trong nghĩa trang thành phố. Túp lều bên đường, nơi hôm qua Bốt-đa-nốp nói chuyện với đại úy Tra-skin đang bốc lửa.

        Trong sương mù mới chỉ trông thấy hai thê đội xe tăng triển khai dọc theo hai bên đường. Bốt-đa-nốp đếm được trong thế đội một gần ba mươi chiếc, chủ yếu là cỡ trung bình và thế đội hai cũng số lượng ấy. Gió thổi từ sau lưng nên tiếng động cơ vọng lại một cách yếu ớt. Song trung tá có thể trông rõ xe tăng đang tiến rất nhanh, nên thời điểm các chiến sĩ bảo vệ thành phố giáp mặt với chúng chỉ còn tính từng phút. Chỉ một lát sau, qua ống nhòm đã có thể phân biệt rõ, không những vỏ xe tăng màu xanh lá cây sáng hơn màu cánh đồng mà còn có thể trông thấy cả bọn mô tô đi theo nữa. Chúng luôn luôn mất đi, biến vào thành ống kính và ở chõ chúng những chiếc khác lại bất ngờ xuất hiện như chui từ dưới đất lên. Tất cả, cho đến lúc này vẫn diễn ra rất trật tự như đang thao diễn vậy...

        Bốt-đa-nốp bỏ ống nhòm xuống và nhìn Đi-a-cốp. Thiếu tướng đi sát tới hàng cọc sắt dọc theo máng nước ở rìa sân thượng. Trên sân thượng, gió thổi mạnh hơn, suýt hất chiếc mũ cấp tướng viền đỏ quai vàng làm thiếu tướng phải giữ lấy lưỡi trai.

        — Nó mà hất đi thì không bắt được đâu, có phải thế không ?

        Anh nghĩ thế nào ? — Ông mỉm cười nói với Bốt-đa-nốp và ấn mũ sâu hơn. Sau đó ông quay lại người lính thông tin. Anh ta đang co ro trước cửa trần thượng, chiếc mũ ca lô mềm đẫm nước trùm đến tận hai tai.

        — Cho tôi mười bảy. — Đi-a-cốp nói với giọng Bạch Nga của mình. — Và làm sao anh cứ phải phục xuống sát đất thế! Có lẽ gió không thổi bay được anh đâu! — Bót-đa-nốp rất ngạc nhiên trước thái độ bình tĩnh của người chỉ huy tuyến phòng thủ, nếu như đây không phải là thái độ giả tạo. Song quả thực Đi-a-cốp không hề có tâm trạng lo lắng vì quá đa cảm hoặc không tin tưởng vào quyết định của mình. Tát cả các mệnh lệnh cần thiết đã được chuyển đi và lúc này đứng ở đây ông chỉ còn chờ những phát súng đầu tiên, những tin tức đầu tiên và đến lúc đó sẽ hành động theo tình huống cụ thể. Thực ra thiếu tướng cũng thấy rõ không kém gì Bốt-đa-nốp: kẻ thù đã chuẩn bị cú đấm ác liệt và cũng thấy rõ lực lượng bảo vệ thành phố khá mỏng. Song qua kinh nghiệm chiến đấu lâu năm, Đi-a-cốp cũng biết rằng không phải lúc nào tương quan lực lượng cũng giữ vai trò quyết định. Thường thường khi vào trận chiến, chính Đi-a- cốp như được tiếp thêm một sức mạnh kiên cường và bướng bỉnh làm khuôn mặt to mập của ông linh hoạt hẳn lên, làm cho đôi mắt dài thông minh của ông vừa tươi cười lại vừa giận dữ. Cái đặc điểm may mắn của ông là khả năng đánh giá nhanh chóng và tỉnh táo tình hình vẫn không hề giảm sút ngay khi quân địch đang xuất hiện trước mặt ông. Và Đi-a-cốp đã nghĩ là nếu bọn Đức chọc thủng tuyến phòng thủ ngoại ô, trường hợp này cũng đã được chuẩn bị đối phố, thì ông sẽ chiến đấu bảo vệ từng ngã tư, từng ô phố, sử dụng từng ngõ, từng sân và thậm chí cả hệ thống đường ngầm nữa đề vận động đánh địch. Thỉnh thoảng Đi-a-cốp lại nhìn bầu trời đã hửng sáng và chờ đợi máy bay Đức xuất hiện bất cứ lúc nào. Có điện thoại gọi thiếu tướng. Trong ống nghe là tiếng nói của người chỉ huy đơn vị không quân, ông nghiêng người bên máy, tay trái giữ chiếc cát-két để khỏi rơi, Đi-a-cốp gào vào ống nghe.

        — Số một nói! Đồng chí thiếu tá, hãy tung những con đại bàng oai hùng lên... Đã đến lúc rồi, khách đã đến... Vâng, thời tiết thuận tiện... — Đưa ống nghe cho chiến sĩ thông tin, Đi-a-cốp ra lệnh bắt liên lạc với số hai, người phụ trách bộ tham mưu của mình.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Năm, 2020, 06:49:00 pm

        Đồng chí trung tá, đồng chí đã phải chiến đấu trên đường phố trong thành phố chưa ? — Ông quay lại hỏi Bốt-đa-nốp.

        — Đã! — Bốt-đa-nốp trả lời rất gọn.

        Lúc này qua ống nhòm, anh đã nhìn thấy the đội xe tăng thứ ba xuất hiện trên nền vàng nhạt của dải đất còn gốc rạ. Chúng như những con bọ hung màu tối sẫm đang xếp thành hàng thẳng tắp. Những chấm đen dày đặc lờ mờ di chuyển giữa chúng — lính bộ binh. Như vậy địch đã ném vào cuộc tiến công vào tung thâm dầu tiên này gần một trăm xe quân sự, một đơn vị lớn bộ binh và lính mô tô.

        «Chúng nó tiến công đúng như sách! ...». — Bốt-đa-nốp nghĩ và bực tức chửi thầm. Anh nhớ đến việc trung đoàn Đu-bốp thiết bị công sự của mình với một sự cố gắng có vẻ sách vở như thế nào, nhớ đến những người lính tình nguyện của trung đoàn công nhân còn hoàn toàn chưa ngửi thấy mùi thuốc súng và anh nghiến răng lại, trên đôi má rắn dưới lớp da sạm nắng của anh nổi lên những đường gân.

        — Thế anh đã chiến đấu trên đường phố ở đâu vậy ? — Một giọng ấm vang vọng đến tận tai anh.

        — Gì cơ ạ ? — Không hiểu ngay, Bốt-đa-nổp hỏi lại. — À, ở Xmô-Ien-xcơ, thưa đồng chí thiếu tướng! — Anh chậm chạp trả lời, nhìn Đi-a-cốp vẻ khó hiểu.   

        — Có nghĩa là đã có kinh nghiệm... Tốt! — Đi-a-cốp nói.

        Ông đi tới máy điện thoại, dáng điệu vẫn không vội vàng, ông nói to vào ống nghe.

        — Anh Xéc-gây Xéc-ghê-vích đấy phải không?. Tôi nhắc lại là trong bất kỳ trường hop nào cũng không được động đến lực lượng dự bị. Nếu người ta khẩn khoản, anh gọi cho tôi. — Đi-a-cốp im lặng nghe.

        — Vâng, bây giờ sẽ bắt đầu... Tôi yêu cầu anh không rút một người lính nào khỏi đơn vị dự bị, không một người nào khỏi đơn vị nông trang...

        Khoảng cách giữa xe tăng và phòng tuyến của cả hai trung đoàn — NKVĐ và công nhân — rút ngắn lại. Xe tăng vẫn chưa nổ súng nhưng đội hình của chúng đã bị rối loạn, tốp đi đầu của thế đội một tạt sang phải định thọc sườn, song ở đó đã có đơn vị bộ đội chờ sẵn, còn nhóm thứ hai đã vượt qua được nhà máy gạch. Bỗng đám đất cách không xa nhà máy phụt lên một đám khói nhỏ, tiếp sau một tiếng nổ yếu ớt vọng lại. Một đám khói nhỏ xíu thứ hai vụt ra khỏi chiếc xe dẫn đầu trên đường cái. Đây là dấu hiệu đầu tiên của trận đánh do những người lính ném lựu dạn dũng cảm nấp trong các ổ phục kích, các hố cá nhân mà Bốt-đa-nốp không nhìn thấy được phát ra. Chiếc xe đầu tiên quay ngoặt lại nhưng thấy không việc gì, lại tiếp tục tiến.

        — Chà! — Không kìm nổi, trung tá tiếc rẻ kêu lên.

        Đúng lúc này, ngay phía dưới ở gần đâu đó vang lên tiếng đạn pháo: súng của ta nấp trong các sân, trong vườn nhà từ lâu vẫn im lặng đã bắt đầu tham gia trận đánh. Một chiếc xe màu xanh nhạt hớ hênh phơi sườn ra trước tầm bắn của pháo, nhả ra luồng khói đen  sẫm và ứ lại. Một vài phút sau, chiến sự trước thành phố lập tức diễn ra căng thẳng. Từ các công sự phía trước của các trung đoàn rộ lên hàng tràng súng máy và súng bộ binh. Xe tăng địch phóng hết quả đạn này đến quả đạn khác vào các chiến sĩ bảo vệ phòng tuyến như thể muốn ghìm họ dưới ngọn lửa vàng trắng. Đám khói màu lam của đạn pháo và màu xanh của những tràng súng nhỏ trôi chằm chậm trên cánh đồng, bị gió thổi tan ra... Bốt-đa-nốp cũng chẳng biết mình đến tận hàng rào và đứng bên cạnh Đi-a-cốp từ lúc nào, khuôn mặt ngăm ngăm của anh đỏ ửng lên... Thêm hai chiếc xe tăng nữa bốc cháy và một chiếc trong đó chạy lồng lên như thể tên lái xe bị diên, nó chạy vòng vèo, lồng lộn, đâm ngang, nhả ra trên đường đi điên loạn của mình vệt khói đặc xịt.

        — Chà, lính cao xạ cừ thật! — Trung tá nghe Đi-a-cốp thốt lên giọng khâm phục. — Bắn thế mới là bán chứ, hả ?

        Bốt-đa-nốp quay sang, La-tô-skin và Tê-rê-khốp cũng đang đứng cạnh Đi-a-cốp. Lúc này, trung tá đặc biệt thấy rõ là chiếc mũ lưỡi trai đen của bí thư tỉnh ủy bị nhàu nát, chiếc bành tô ướt đẫm lấp lánh như thể được quét một lớp sơn mỏng và khuôn mặt xương xương với vầng trán dô cao lộ vẻ vô cùng căng thẳng. Lên tới đây, Tê-rê-khốp vẫn chưa hết hổn hển, mái tóc hoa râm của ông lòi ra dưới vành mũ bảo vệ.

        — Thì ra có thể dùng cao xạ bắn các mục tiêu dưới đất. Các anh có nhớ là họ đã tỏ ý hoài nghi như thế nào không? — Đi-a- cốp kêu lên.

        — Vâng! — La-tô-skin đáp ngắn gọn.

        — Họ thận trọng như thế nào hả ? Các anh có nhớ không ? — Đi-a-cốp khoái chí nhắc lại.

        Giữa lúc ấy tình hình chiến trường thay đổi nhanh chóng. Xe tăng của các thê đội hai và ba vừa tiến vừa bắn từ xa vào các công sự, trong khi đó những chiếc xe đi đầu chỉ còn cách các chiến sĩ bảo vệ tuyến một khoảng bảy mươi, một trăm mét và lầm lì xả súng máy không ngớt vào họ. Bằng cách đó bọn địch mưu toan ghìm người của ta xuống đất và đè bẹp sức kháng cự của họ, nhưng lúc này biện pháp ấy chưa có hiệu lực — những đám khói nhỏ của đạn súng trường vẫn xuất hiện từ các thành công sự. Và ở một vài nơi, bọn bộ binh đi theo xe tăng đã phải nằm xuống... Từ xa, trong bầu trời đầy mây, máy bay Đức đã xuất hiện, sau mỗi giây chúng lại hiện ra rõ hơn, vừa bay chúng vừa thay đổi đội hình để chuẩn bị tiến công...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Năm, 2020, 08:59:03 pm

        Cũng đúng ngay lúc ấy, Bốt-đa-nốp bỗng nghe thấy tiếng gầm mỗi lúc một to trên cao sau lưng mình và anh quay lại. Trên bầu trời thành phó, trên những mái nhà, trên cơ man nào là ống khói nhấp nhô trên các nóc nhọn, cũng như trên những mái vòm, trên những ống khói nhà máy, những chiếc tiêm kích màu xanh nhạt của ta đang lao nhanh vào lũ xâm lược. Chỉ có hai phi đội, ít hơn gần ba lần số máy bay Đức... Song những chiếc máy bay đó đã vút lên lấy độ cao, mang theo trên mình những ngôi sao đỏ năm cánh, tiếng động cơ rít inh tai mọi người và chỉ khoảnh khắc sau đã lao vào đội hình quân địch. Qua hành động tiến công thẳng vào kẻ thù mạnh gấp ba lần, Bốt-đa-nốp cảm thấy trái tim người lính của mình ớn lạnh vì khâm phục. Cuộc không chiến lập tức chia thành những nhóm đánh riêng biệt: một toán máy bay ném bom Đức bị én bạc đuổi theo, địch sang một    bên, những chiếc khác    bay tản lên rất cao. Dần dần ở dưới đất đã thấy rõ ràng là bọn Đức nhằm cú đấm quyết định của mình vào trung đoàn NKVD. Một số xe tăng của chúng tiến công theo    sườn trái con đường vào trung đoàn công nhân và đã gặp hào chống tăng ở đó, nên bọn này buộc phải chuyển sang phải. Lúc này xe tăng chạy thành từng nhóm ba bốn chiếc và vừa cơ động chúng vừa bắn liên tục vào trận địa đơn vị công an đặc biệt.

        Giọng nói sảng khoái của thiếu tướng lại vọng tới Bốt-đa-nốp.

        — Thiếu tá Đu-bốp, anh có nghe tiếng tôi không ? — Đi-a-cốp gào vào ống nói. — Không được để xe tăng lọt qua... Anh có nghe thấy không? Không, không. Chết thì người nào cũng có thể chết được cả, chết chỉ là một việc đơn giản! Một việc đơn giản, tôi nói, nhưng cần phải thi hành mệnh lệnh... Bây giờ tôi sẽ tăng cường thêm hỏa lực cho anh.

        Bốt-đa-nốp nhìn không rõ những gì đang diễn ra ở khu vực trung đoàn NKVD: những ngọn cây cao quanh khu vực nông trường quốc doanh đã hạn chế tầm nhìn, ngoài ra những đám khói xanh tím cũng tạo ra ở đó một bức màn che nhiều tầng. Song anh hiểu rằng Đu-bốp gặp rất nhiều khó khăn... — Và Bốt-đa-nốp tiếc rằng trong trận chiến đấu này anh không được chỉ huy một đơn vị cụ thể nào cả. Anh là phụ tá của tư lệnh khu vực chiến đấu, người giúp việc số một của ông ta, nhưng trong cái giờ phút căng thẳng nhất này, Bốt-đa-nốp cảm thấy vai trò này quả không rõ ràng và thụ động, anh phải chờ mệnh lệnh của Đi-a-cốp.

        — Đồng chí thiếu tướng, cần phải giúp đỡ cho Đu-bốp.

        — Bây giờ chúng ta sẽ tăng cường hỏa lực và anh ta sẽ đứng vững. — Đi-a-cốp đáp. — Riêng tôi thì không thể lấy được một người nào ở thành phố nữa! Cho tôi nói chuyện với chi huy pháo binh! — Ông bảo chiến sĩ thông tin.

        — Vâng, anh cứ giúp cho Đu-bốp. — La-tô-skin nói và vẫn nhìn thiếu tướng với con mắt hết sức ngạc nhiên, dường như ông hình dung trận đánh theo kiểu khác.

        — Thưa đồng chí thiếu tướng, — đưa lưỡi liếm đôi môi khô cháy, Bốt-đa-nốp bắt đầu lên tiếng đề nghị. Cho tôi tới đấy tìm hiểu tình hình.

        Và không đợi trả lời, anh vội vàng xếp ống nhòm vào bao deo trên ngực. Theo anh, trung đoàn Đu-bốp xuất hiện lần đầu, cho nên có thể không chiu nổi một cuộc tiến công như vậy, và lúc này vị trí của Bốt-đa-nốp phải là ở nơi có tình hình trầm trọng nhất. Đi-a-cốp nhìn người trung tá nhỏ nhắn gật đầu.

        — Được, được, anh đi đi! Phải biết xem ở đấy họ đang làm gì, — ông nheo mắt lại. — Hãy động viên họ, tiếp thêm tinh thần phấn khởi cho họ. Đối với họ, những hộp diêm Đức kia còn quá mới mẻ.

        Bốt-đa-nốp giơ tay chào và vội vã bước đi, đôi ủng nện thình thịch xuống những tấm sắt lát trên sân thượng.

        « Chết, ai cũng có thể làm được việc này, nhưng cái chính là phải thi hành mệnh lệnh... ». Vừa đi anh vừa nhớ lại lời của thiếu tướng. Những điều này không chỉ liên quan tới một mình Đu-bốp mà còn liến quan tới tất cả những ai đang đứng trong chiến hào chống lại kẻ thù.

        Và với một sự thấu hiếu sâu sắc, anh nghĩ rằng, chính anh cùng với những người khác trong ngày hôm nay, phải, chỉ hôm nay thôi, bởi vì ngày mai có thể đã muộn rồi, có nhiệm vụ làm nên tất cả những gì mà Tổ quốc bấy lâu mong đợi. « Chết — đây là một việc đơn giản ». Bốt-đa-nốp thầm nhắc lại với mình tựa như đang tranh luận với một người nào đó... Về thực chất, tâm trạng anh không giống cảm xúc bình thường, thậm chí cũng không giống cảm xúc lúc mãnh liệt nhất. Đây là sự căng thẳng nhất về tâm hồn và sức lực khi con người cảm thấy mình hoàn toàn tự do, tự do đáng kinh ngạc đối với cả chính mình, không cần lo lắng gì cho bản thân nữa.

        ... Bõt-đa-nốp tìm thấy thiếu tá Đu-bốp tại đài quan sát của anh trong gác xép ngôi nhà hai tầng. Leo lên cầu thang đục qua trần nhà, trung tá đứng sát tới nóc của ngôi nhà hai mái. Qua cửa sổ tò vò hình bán nguyệt đã vỡ kính, có thể trông thấy bức tường gạch với những cọc sắt ở đầu trụ cách đấy không xa. Sau bức tường, toàn cảnh trận đánh diễn ra trong khói lửa khét lẹt với những tiếng rú rít gặm gừ của xe tăng, tiếng nổ của đạn pháo, có thể nói chưa có trận nào được quan sát gần đến thế.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Năm, 2020, 08:59:27 pm

        Đu-bốp tiếp Bốt-đa-nốp một cách trầm lặng và nghiêm nghị. Vẻ bề ngoài vẫn như hôm qua: quần áo thẳng nếp, trang phục cẩn thận, râu ria cạo sạch. Ông đi lại chậm chạp gần như là nghiêm trang. Thật ra, ông phải gào lên thì mới nghe thấy được. Có cái gì đó mới lạ trên khuôn mặt già nua của ông: hình như nó sáng sủa và dịu dàng hơn... Ghé vào tận tai Bốt-đa-nốp, thiếu tá vừa vung cánh tay đi tất vải vừa gào lên như quát để báo cáo tình hình. Cách tường khoảng bốn trăm mét, thấp thoáng chiếc xe tăng đang bốc khói. Qua ống nhòm, trung tá thấy rất rõ chữ thập ngoặc màu trắng trên vỏ xe xanh thẫm...

        Theo lời Đu-bốp, những chiếc xe tăng lớn của Đức định chọc thủng sườn trái tuyến phòng thủ đánh vào tiểu đoàn của đại úy Chiu-rin. Tạm thời Chiu-rin còn giữ được, nhưng tình hình ở đó cực kỳ nghiêm trọng. Đu-bốp cho biết thêm rằng mấy phút trước khi Bốt-đa-nốp đến, để tăng cường cho tiểu đoàn này ông đã phái tới đó lực lượng dự bị của trung đoàn — hai trung đội xạ thủ tiểu liên.

        — Đấy là tất cả phải không ? Anh không còn gì hơn nữa à ? —  Bốt-đa-nốp hỏi.

        Anh nghĩ rằng kết quả của trận đánh và có thể cả số phận thành phố nữa sẽ được quyết định ở khu vực của tiểu đoàn cánh trái ngay trong lúc này. Nếu bọn Đức bẻ gãy được điểm này thì tất cả tuyến đầu, giống như cái xích đã quá căng có thể sẽ bị đứt tung và lập tức quân thù sẽ tràn vào thành phố.

        — Đúng vậy, đấy là tất cả lực lượng dự bị của tôi, — Đu- bốp nói.

        — Cho tôi một người dẫn đường. Tôi đến thẳng tiểu đoàn. —  Bốt-đa-nốp nói.

        Dường như chỉ đợi có điều này, Đu-bốp nhanh nhẹn quay lại các chiến sĩ liên lạc của mình và gọi một người nào đó.

        Khi chui qua cửa trên trần gác xép đề xuống thang, Bốt-đa-nốp còn kịp nhìn thấy những tay đòn đầy bụi bậm trên đầu, những đoạn dây ngổn ngang dưới chân và vô số những chậu hoa sành được xếp thẳng hàng cái nọ sau cái kia ở sâu trong mái thượng... Thậm chí những điều vụn vặt chung quanh không đáng kể này đã lọt vào mắt Bốt-đa-nốp và trong phút giây này cũng gợi lên và in sâu vào trí nhớ của anh. Bốt-đa-nốp nhìn người dẫn đường của mình khi hai người đi tới bức tường trước mặt. Chiến sĩ liên lạc có nhiệm vụ dẫn đường cho Bốt-đa-nốp mặc chiếc áo ca pốt quá rộng: cổ lót trắng sạch sẽ không bó sát lấy cái cổ gầy gò của anh, vừa đi vừa quay lại, anh chiến sĩ lo lắng nhìn trung tá như thể trông xem người chỉ huy được anh bảo vệ còn ở đây không. Bốt-đa-nốp phải đứng đợi ở ngay bức tường cạnh lỗ thủng do đạn pháo bắn vào. Những xạ thủ tiểu liên còn túm tụm ở đó. Chắc đây là những người của lực lượng dự bị được tung ra để yểm hộ cho tiểu đoàn bị tiến công. Phần lớn là lính biên phòng, những chiếc cát-két xanh rất đẹp của họ hiện rõ trên nền tường đỏ nhạt, giữa bầu không khí ngột ngạt bão hòa hơi nước. Lỗ thủng quá hẹp nên các xạ thủ tiểu liên phải theo thứ tự chui người nọ sau người kia, đạp lên gạch vữa ngôn ngang dưới chân.

        Nheo mắt lại, Bốt-đa-nốp tò mò nhìn những người lính. Thấp thoáng trước mặt anh là những khuôn mặt gò má cao hoặc phẳng lì, hồng hào hay xám lại vì gió rét. Một số trong họ, những người đang đi vào trận đánh này, nét mặt đăm chiêu tập trung, những người khác trông có vẻ ngơ ngác bối rối, có những người đôi mắt lại rực lửa long lanh, còn những người khác nhóm thứ tư dường như chỉ tò mò thích thú. Song — điều này trung tá nhận ra ngay — là tất cả họ đều khẩn trương, tất cả đều ăn mặc gọn. gàng, thậm chí còn hơi sang trọng là khác. Những chiếc ca pốt dạ xám rất dày của họ đều được thắt đai cẩn thận, ủng được đánh sạch, còn cổ lót trắng tinh như cổ lót của người dẫn đường cho anh... Chắc là ban đêm trước khi trời sáng, những người lính biên phòng này đã biết rằng họ sẽ ra trận và thế là họ chuẩn bị đón nó như chuẩn bị cho cuộc duyệt binh. Đoán được điều này, trong Bốt-đa-nốp thoáng trào lên một cảm giác tốt đẹp trìu mến. Song lúc này chỉ có một điều quan trọng là những người này có đứng vững được ở địa ngục bên kia nơi họ đang vội vã chui vào hay không.

        Khi người xạ thù tiểu liên cuối cùng, một trung sĩ cao lớn với mớ tóc vàng sẫm xòa trước lưỡi trai, biến mất thì lập tức người dẫn dường cho Bốt-đa-nốp xuất hiện bên lỗ thủng bức tường.

        — Đứng cho khéo kẻo ngã, thưa trung tá! Xin phép đồng chí. —  Anh ta kêu lên và chìa tay ra.

        — Anh cứ đi đi! — Dịch người ra, Bốt-đa-nốp nói. — Cậu định làm gì thế?...

        Anh nhẹ nhàng đi trên đống gạch và nhảy sang phía bên kia.

        — Tên anh là gì ? — Bốt-đa-nổp còn kịp hỏi người dẫn đường của mình.

        — Binh nhãt Mô-lô-cốp, thưa đồng chí trung tá! — Anh lính kêu lên.

        — Bây giờ đi đâu hả Mô-lô-cốp ? — Bốt-đa-nốp hỏi.

        Binh nhất chỉ khua tay và cúi người chạy sang bên trái. Bốt- đa-nốp chạy theo anh... Từ phút này anh khó giữ được khái niệm về những gì xảy ra một cách toàn cục có hệ thống và mật thiết, như khi anh quan sát trận đánh từ xa. Lúc này, tất cả mọi vật hiện ra trước mắt anh với một vẻ rõ rệt lạ thường và tim anh nhức nhối. Ấn tượng này chưa hình thành, lập tức ấn tượng khác rõ rệt hơn lấn tới tách biệt với ấn tượng trước, tựa như bức tranh này đến bức tranh khác hiện ra trong nháy mắt và lấn át lẫn nhau.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Năm, 2020, 08:59:48 pm

        Theo Mô-lô-cốp, Bốt-đa-nốp nhảy xuống hào giao thông, tuy sâu nhưng hẹp và dưới đáy rải rơm, đất cát nhầy nhụa bẩn thỉu. Từ góc hào, một nữ y tá cõng thương binh trên lưng đang đi ngược lại với trung tá. Còng lưng xuống dưới sức nặng của người bị thương, thỉnh thoảng chị lại tì tay vào thành đất, khuôn mặt cô gái đỏ nhừ vì quá mệt hiện rõ dưới đôi vai bê bết đất cát của người thương binh...

        Bốt-đa-nốp áp người vào thành hào nhường đường cho ho. Tiếng ầm vang của trận đánh, trong đó đặc biệt những phát đại bác xe tăng giống như tiếng búa gõ vào sắt làm cho mọi người như vừa câm vừa điếc. Trong tiếng ầm vang ấy, mọi người trao đổi với nhau bằng cử chỉ; người dẫn đường của trung tá vừa đi trước vừa quay lại khoát tay liên hồi. Bốt-đa-nốp bỗng nghĩ là có thể anh sẽ không đến kịp sở chỉ huy tiểu đoàn và bọn Đức có thể sẽ tới trước anh. Bốt-đa-nốp chạy vội đề đuổi kịp Mô-lô-cốp nhưng anh lại phải dừng lại: hai người bị thương đi ngược lại,

        Một người bước khập khiễng nặng nề và cứ mỗi bước đi, đôi môi run rầy của anh lại mím chặt lại, tay anh treo vào cuộn dây băng; còn người thứ hai đang dìu đồng đội đi cũng luôn luôn hất tóc như thể người rũ ra cổ gượng dậy. Những vệt máu đen phủ kín khuôn mặt anh... Khi đi ngang qua Bốt-đa-nốp, anh ta nhìn chằm chằm vào người trung tá bằng con mắt duy nhất của mình, con mắt thứ hai là một vệt đen sưng phồng lên, con ngươi nâu nguyên vẹn dường như bổc lửa. Hé đôi môi bê bết máu, người chiến sĩ bị thương gào lên:

        — Có thuốc lá không, đồng chí trung tá?

        Bốt-đa-nốp vội vã rút thuốc và đưa cho họ. Sau đó quay lưng che gió, anh bật diêm, que diêm gãy, anh rủa và bật que thứ hai, nhưng nó lại tắt ngay. Mặc dù chì cần đánh diêm thôi, song Bốt-đa- nốp phải cố kìm cơn giận để khỏi ném bao diêm đi. Mãi đến lần thứ tư mới bật được, lấy tay che lại, Bốt-đa-nốp lần lượt châm lửa cho hai chiến sĩ hút. Không bỏ thuốc ra khỏi miệng, người thương binh với khuôn mặt bê bết máu há hốc miệng ra gào :

        — Chúng tôi bắn trả! Nhưng vô ích!...

        Không nghe anh ta nói hết, Bốt-đa-nốp chạy tiếp. Mùi khét lẹt của khói lửa và thuốc nổ bốc lên mỗi lúc một mạnh hơn. Bốt-đa-nốp nhăn mặt lại, cò họng ngứa ngứa. Lúc này đạn nổ rất gần công sự và đất đá bay tung lên trời. Một lần nữa Bốt-đa-nốp tránh nhau với một chiến sĩ, chắc là chiến sĩ liên lạc, sau đó lại gặp thương binh. Bỗng nhiên hào giao thông bị tác, một đống cát vụn bị phủ đăy bồ hóng phía trên chặn giữa đường hào.

        Mô-lô-cốp đã nằm ở đấy, đang quay lại nhìn Bốt-đa-nốp và giơ tay ra hiệu. Cách chỗ anh đứng khoảng tám mươi, một trăm mét xiên chéo về phía trước, ba chiếc xe tăng đang tiến nhanh theo hình bậc thang. Những khẩu súng lớn ngắn nòng phun ra từng chùm lửa hẹp. Và âm thanh của những phát súng giống như quả cầu thủy tinh nổ sát bên tai. Nhìn quanh, Bốt-đa-nốp thấy Mô-lô-cốp đang vùng dậy khỏi mặt đất.

        — Nằm xuống. — Anh gào lên đến rát cổ.

        Nhưng có lẽ người binh nhất cho rằng mình không tiện nằm xuống trong khi trung tá vẫn đứng, anh đứng dậy và đi đến Bốt-đa- nốp. Trung tá vội đảo mắt nhìn quanh tìm xem có người nào đó có thể  chặn được ba chiếc tăng đã thọc sâu đến thế này không, nhưng không trông thấy ai. Mặt đất giữa anh và xe tăng bị cày xới bởi đạn pháo được ánh lửa soi sáng. Một bụi cây cằn cỗi với những chiếc lá hiếm hoi thấp thoáng trước mắt anh, còn dưới gốc nó, một xác người bất động trong chiếc ca pốt, nằm úp sấp xuống đất. Dường như gần đây không còn một ai, không còn thêm một ai nữa ngoài Bốt-đa-nốp và Mô-lô-cốp ra... Sau mấy giây nữa, nhất định xe tăng sẽ trườn qua đây, bụi bay ra như một cái quạt dưới xích sắt. Và Bốt-đa-nốp thoáng nghĩ rằng ngay cả lựu đạn anh cũng không có, nếu có, anh đã ném vào sườn xe tăng... Tại sao lại không mang lựu đạn đi theo cơ chứ ! Anh biết, nếu kẻ thù không bị chặn lại ở chính nơi đây, trên miếng đất cháy sém nham nhở này, thì sẽ không ai có thể chặn chúng được nữa. Chẳng nghĩ tới mình nữa, anh vô tình rút súng ngắn... Song ngay lúc đó, qua làn khói mỏng lờn vờn bay, anh trông thấy bên trái mình một chiến sĩ đội cát-két xanh đã chồm dậy khỏi mặt đất. Sau người thứ nhất, người thứ hai xuất hiện luôn và bằng một bước nhảy, anh ta đã vượt lên người thứ nhất, dường như muốn che chở cho đồng chí mình, hai người chạy bên nhau mấy bước và Bốt-đa- nốp kịp nhận ra những người lính biên phòng mà hôm qua anh đã nói chuyện với họ — hai người bạn cùng phục vụ trong một đồn. Người thứ nhất cao to hơn, nhảy lên và nằm soài xuống, người thứ hai chậm chạp hơn một chút và cũng nắm xuống. Lúc này Bốt-da- nốp chỉ nhìn thấy chỏm mũ lưỡi trai hình tròn màu lục tươi của họ mà thôi. Còn những chiếc xe tăng vẫn không đổi hướng cứ trườn thẳng tới hai vết xanh màu mùa xuân này.

        — Ném đi, ném đi chứ! — Trung tá gào lên mặc dù hai người lính biên phòng khó có thể nghe được.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Năm, 2020, 09:00:21 pm

        Một người chồm dậy, vung tay và nằm xuống; người thứ hai cũng lặp lại y như vậy, nhưng vẫn có vẻ chậm chạp hơn trước khi nằm xuống đất. Khi những chiếc xe đồ sộ đang lắc lư kia chỉ cách họ có mười bước thì hai tiếng nổ lần lượt vang lên. Những chiếc xe tăng chạy vút qua người hai chiến sĩ ném lựu đạn, nhưng chiếc xe giữa đã bị quay tròn tại chỗ, dáng nghiêng nghiêng. Súng máy trên xe nhả đạn liên hồi tựa như định tạo cho mình một vòng lửa bảo vệ. Từ đâu đó trong các công sự kín đáo, mấy quả lựu đạn nữa bay tiếp lên và mặc dù chúng rơi không trúng vào xe, song hai chiếc còn nguyên vẹn kia liền vội quay lại chuồn thẳng.

        Không nghĩ gì đến mình, Bốt-đa-nốp bước vội lên, lòng rộn ràng muốn biết xem hai người anh hùng có việc gì không. Trong giây phút này anh cảm thấy một cảm giác khó tả vừa thất vọng vừa hân hoan, vừa vô cùng khâm phục, và cũng vừa đau khổ. Mặc dù những người lính biên phòng đã chặn được bước tiến của quân thù, nhưng anh thấy xe tăng Đức đã tràn vào được đội hình chiến đấu của tiểu đoàn, như vậy không thể chậm trễ một phút giây nào nữa. Từ các công sự bên trái, mọi người cũng chạy lại chỗ đánh nhau và như sực tỉnh, Bốt-đa-nốp quay lại gọi Mô-lô-cốp.

        — Cậu làm sao thế! — Bốt-đa-nốp nói. — Đi thôi!

        Chiếc xe tăng bị diệt không bắn nữa, nó đang nằm đè lên con lăn mắt xích, chậm chạp quều quào quay vòng tại chỗ như thể bị đóng xoáy xuống mảnh đất mà nỏ không thể đi qua được.

        Đi theo Mô-lô-cốp một đoạn, chẳng bao lâu, Bốt-đa-nốp đã tới chiến hào đào dọc theo vườn nông trường quốc doanh. Hào sâu với những lỗ châu mai ghép bằng gỗ ván, hai bên thành được ghép cành cây bảo vệ, nó được dùng làm phòng tuyến thứ hai của tiểu đoàn. Một trong những hầm trú ẩn ở đây là hầm súng đạn. Bỏ qua nó, Bốt- đa-nốp và Mô-lô-cốp lại rơi vào hào giao thông hẹp hơn. Tiếng búa nện vào đe vang lên khắp nơi, lúc xa lúc gần. Dường như đã bị mất đi độ bền chắc của mình, thỉnh thoảng mặt đất lại rung lên khá mạnh và trên các chiến hào ánh sáng cứ lóe lên, theo đó là những đám khói thuốc súng màu xanh tỏa ra, hình thù luôn thay đổi. Tuy trung tá không biết chính xác tình hình tiểu đoàn như thế nào để có thể đề ra những biện pháp giải quyết, song anh bỗng cảm thấy sâu sắc niềm tin vào kết quả khả quan của trận đánh. Nỗi xúc động của Bốt-đa- nốp khi trông thấy chiến công của hai chiến sĩ biên phòng làm tiêu tan tất cả những lo lắng băn khoăn của anh. Hình như trong cái thế giới mà lúc này anh đang sống, nơi mà chính mặt đất cũng mất đi độ bền chắc của nó, còn không gian thì lẫn lộn với đất và mất đi sự trong sạch của mình, chỉ còn lại có con người đã trở nên cứng rắn, khỏe mạnh hơn. Những gì mà lúc này họ có thể tạo nên đã vượt xa khả năng thông thường trong con người họ.

        Cãn hầm của Chiu-rin, nơi Bốt-đa-nốp vừa tới, khá rộng rãi và khô ráo, mùi nhựa cây bốc lên dễ chịu đã làm cho trung tá hài lòng.

        «Thiết kế khá đấy! Đàng hoàng lắm!» — Theo thói quen, anh thầm nhận xét và mỉm cười. Chiu-rin đứng quay nghiêng lại lỗ quan sát, cho nên nửa mặt anh trong bóng tối dày đặc, còn nửa mặt kia quay lại phía cửa sổ nhỏ ánh lên bóng loáng. Lắng nghe Chiu- rin báo cáo tinh hình, trung tá nhìn ông ta với vẻ thông cảm.

        — Đồng chí đại úy, xe tăng đã lọt vào hậu phương các anh! Anh có biết điều này không? — Anh gào to ngắt lời Chiu-rin.

        — Chúng tôi đã bẻ gãy đợt tiến công thứ tư! Nhưng đây, mời anh nhìn xem! — Dịch sang một bên lỗ châu mai, Chiu-rin cũng gào lên.

        Bốt-đa-nốp áp mặt vào lỗ châu mai. Cánh đồng mịt mù khói lửa trải ra trước hầm phòng thủ. Những đám mây xanh đùng đục bao phủ khắp nơi, khi tụm lại ở chỗ này, khi tan ra ở chỗ khác theo chiều gió thổi. Tuy vậy, Bốt-đa-nổp vẫn nhìn thấy xe tăng Đức. Khoảng hai chục chiếc đang tụm lại trên mảnh đất không rộng, các họng súng không ngớt phun lửa. Thấp thoáng sau đấy là từng tốp đội mũ sắt di chuyển trong đám khói: bộ binh Đức đang xông tới công sự.

        Bót-đa-nốp quay sang Chiu-rin. Anh ta cũng nhìn qua lõ châu mai và lúc này trung tá thấy rõ đôi mắt xanh, khuôn mặt với những nét nhăn trên trán cùng hàng mi hơi sưng.

        — Mực tiêu như thế nào, hả ? Anh có trông thấy không ? Căn phải tìm được những mục tiêu như vậy! — Bốt-đa-nốp kêu lên.

        Đại úy nghiêm nghị nhìn trung tá dò hỏi.

        — Thông tin liên lạc của anh có hoạt động được không ? — Người trung tá thấp mập ngước nhìn Chiu-rin dáng cao lớn. — Hãy liên lạc ngay với trung đoàn trưởng. Trước mặt các anh có cả xe tăng lẫn bộ binh. Và tất cả như nằm gọn trong bàn tay. Gọi ngay pháo binh, họ có thể cho được bao nhiêu, xin hết!

        — Bắn ngay vào chỗ mình đây, — thoáng nghe tiếng rít, Chiu- rin vội kêu lên.

        Bốt-đa-nốp không nghe rõ nhưng anh đoán được, trái pháo nổ ngay bên cạnh và đất đá từ các thành công sự rơi xuống.

        — Gọi pháo binh tới chỗ mình! — Anh lặp lại và nhấn mạnh « tới chỗ mình».

        — Đúng như vậy, không còn cách lựa chọn nào khác —Đại úy nói dứt khoát. Họ cùng nhau bước tới bàn gỗ ván, nơi đặt máy điện thoại.

        — Tiểu đoàn rút về phòng tuyến thứ hai. — Bốt-đa-nốp tiếp tục nói to. — Còn ở đây đại bác sẽ nện vào.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Năm, 2020, 10:22:23 am

        Sau khi đã truyền mệnh lệnh cho chiến sĩ thông tin, Chiu-rin chăm chú nhìn trung tá.

        — Sau khí pháo ngừng bắn, các anh phải phản kích ngay. —  Bốt-đa-nốp tiếp tục chỉ thị. Khi nghe Chiu-rin nói chuyện với Đu- bốp, anh mỉm cười một cách lạ lùng, tựa như bỗng nhiên cảm thấy choáng váng vì hơi rượu.

        — Yêu cầu pháo binh có bao nhiêu xin hết! — Tay cầm ống nghe, đại úy gào lên. — Cả xe tăng lẫn bộ binh ở đây... Yêu cầu biển lửa!

        Hình như Đu-bốp hỏi lại gì đó nên anh phải nhắc lại:

        — Đúng như vậy, tất cả hỏa lực giội lên tôi...

        Nghe xong câu trả lời, đại úy nhún vai.

        — Không lựa chọn gì cả! — Anh gào lên. — Tôi đợi hỏa lực! Rõ ! Cảm ơn !

        Chiu-rin đặt ông nghe xuống, rút chiếc khăn mùi soa trong túi quần ra và lau trán. Các chiến sĩ liên lạc, họ có bốn người, đang đứng quanh đại úy, nên đã nghe và hiểu rõ tất cả... Bốt-đa-nốp không nhìn rõ mặt người chiến sĩ đã lặng lẽ tới bên tiểu đoàn trưởng. Ánh mắt họ long lanh trong bóng tối. Chiu-rin ra lệnh cho các đại đội rút người của mình về phòng tuyến thứ hai và các chiến sĩ liên lạc đều biến mất ngay sau cửa hầm.

        — Anh đưa máy tới sở chỉ huy dự bị nhé. — Chiu-rin nhắc chiến sĩ thông tin. — Khi có liên lạc với các đại đội trưởng, báo ngay cho tôi.

        Song cả anh lẫn chiến sĩ thông tin cùng Bốp-đa-cốp không kịp ra khỏi hâm: những chiếc xe tăng thọc sâu vào trận địa tiểu đoàn đã chặn mất đường rút của họ, đang nổ súng dọc theo chiến hào, Chiu-rin gào to điều gì đó với Bốt-đa-nốp nhưng trung tá không nghe thấy gì cả. Thật ra, tất cả tình hình đã rõ ràng rồi...

        Bốt-đa-nốp nhìn đồng hồ đeo tay, quay lại và tiến tới lỗ châu mai. Thấy có người tì vào vai nên anh ,nhích người ra để Chiu-rin cũng có thể quan sát được những gì đang diễn ra.

        Cứ áp sát nhau như vậy, đầu kề đầu, họ chờ mất mấy phút. Hỏa lực bộ binh yếu đi và ở phía trước trong đám khói thuốc, bọn lính bộ binh Đức xuất hiện mỗi lúc một nhiều. Đưa mắt nhìn sang bên cạnh, Bốt-đa-nốp nhận thấy mí mắt màu nâu thẫm hơi sưng của đại úy rung rung, còn trên thái dương đầm đìa mồ hôi, mạch máu căng lên giần giật. Một phút rồi lại phút nữa trôi qua rất chậm, hai chiếc xe tăng xuất hiện từ bên sườn chạy theo đường chéo thẳng tới hầm. Trườn qua hố đạn, mũi chúng hếch lên như chuẩn bị nhảy: khi mũi xe hạ thấp và phần thân đã lên bờ thì chiếc tăng giống như một con rùa khồng lồ đang giũi đất...

        Bót-đa-nốp lại nghĩ đến lựu đạn, song anh chưa kịp hỏi xin "Chiu-rin thì một luồng lửa sáng lóe lên đập vào mắt anh và luồng khí nóng cuộn tròn trên nóc hầm khiến Bốt-đa-nốp phải nheo mai lại : một tiếng sấm kinh hoàng làm rung chuyền mọi vật chung quanh.

        Loạt súng đầu tiên của pháo binh ta rơi rất gần hầm chỉ huy. Khói chui vào đầy 15 châu mai hình phễu và Bốt-đa-nốp chẳng nhìn thấy gì ở đó nữa. Đạn pháo rơi rất chụm, nổ ầm ầm liên tục và dường như không thở được dưới sức ép cực mạnh của chúng. Gỗ vách hãm chỉ huy rung lên và một cây ở hàng dưới trệch ra để lộ mép sườn màu sáng của mình.

        — Hà hà... hà hà!... — Bốt-đa-nốp đều đều lặp đi lặp lại khá to.

        Nghếch đầu sang một bên, Chiu-rin nhìn trung tá với con mắt chờ đợi.

        Bốt-đa-nốp bắt đầu thở dốc — khói đầy trong hầm — nhưng lòng anh lại rất hoan hỉ... Bão tố của đạn pháo đang ập tới theo yêu cầu của anh, giờ đây có thể giập nát cả anh nữa, đang nổi lên ở bốn chung quanh, làm kẻ thù tan ra trong khói lửa. Chưa bao giờ anh cảm thấy mình toại nguyện và sung sướng như trong phút này, dù cho có thể  là giây phút chót của đời anh. Bởi vì đây là giây phút chiến thắng mà anh hằng mong đợi. Chiến tháng có ý nghĩa là sự xác nhận cao nhất của cuộc đời! Nóc hầm trên đầu Bốt-đa-nốp đã sụp, thêm mấv cây gỗ nữa bị bật ra và rơi xuống đất. Sau đó, lỗ châu mai cũng sập đổ nốt và trong hầm tối mù mịt như ban đêm... Vấp phải các cây gỗ và chẳng biết lối ra ở đâu, Bốt-đa-nốp định mò mẫm chui ra khỏi hầm. Một người nào đó đã túm lấy lưng áo anh, ghì vào người rồi cố lôi lên trên. Mãi đến khi đã ra tới bậc đất và trông thấy người dẫn đường của mình trên đầu, trung tá mới hiểu rằng Mô-lô-cốp đã giúp anh. Mô-lô-cốp, con người mà anh đã quên khuấy đi, vẫn luôn luôn bám sát anh. Đại úy Chiu-rin tay cầm súng ngắn, đứng ép người vào bờ chiến hào. Điếc đặc và lảo đảo, Bốt-đa-nốp cũng nhào ra chỗ đó.

        Lúc này màn khói xanh đã biến thành màu đen, cuộn lại thành từng khối lớn phủ kín bầu trời. Ở nhiều chỗ, ngọn lửa đỏ trên những chiếc tăng đang cháy, bốc lên ngùn ngụt như những bếp lửa trong bóng đêm mịt mù. Một số xe còn chuyển động, bò lê, khói nghi ngút bay lên. Không còn trông thấy một tên lính bộ binh nào cả.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Năm, 2020, 10:22:40 am

        Chiu-rin ra lệnh rút. Các chiến sĩ không theo kịp đại đội của mình, vác súng máy khênh thương binh chạy theo các hào giao thông... Một người lính nào đó xô vào Bốt-đa-nốp và làm anh quay lại. Anh thấy khuôn mặt hơi rỗ với bộ ria dựng đứng ướt đẫm như thể vừa giội nước. Và cúi đầu xuống, trung tá đi lảo đảo... Đến chõ ngoặt hào giao thông, Bốt-đa-nổp rất muốn dừng lại để nhìn thêm lần nữa những gì xảy ra ở sau lưng. Song Mô-lô-cốp đã xô phải Bốt-đa-nốp : như đã quy định, lúc này người binh nhất đi sau để che đường rút quân. Anh rung người lên vì ho không thành tiếng, nước mắt trào ra trong đôi mất nâu sẫm, chắc là anh hít phải khói.

        Khi Bốt-đa-nốp đã tới chiến hào tuyến hai thì một vật gì đó bất ngờ ập vào lưng anh giữa hai bả vai. Anh ngã sấp xuống bùn và tưởng rằng mình bị thương, nên anh chăm chú lắng nghe. Chẳng thấy mình làm sao, ngoài cảm giác đau do đè lên chiếc bao ống nhòm rất cứng, Bốt-đa-nốp định đứng dậy nhưng không nhắc người lên được. Một người nào đó đè anh xuống vũng nước dưới đáy chiến hào. Chống khuỷu tay xuống đất, Bốt-đa-nốp vùng dậy và người đè lên anh từ từ trượt sang một bên. Khi đã đứng lên được. Bốt-đa- nốp trông thấy Mô-lô-cốp ngay cạnh mình, nhưng đang nằm với dáng bất động Một tay anh gập vào sườn không tự nhiên, đầu ngửa ra và cục hầu nhọn nhô cao khỏi chiếc cổ lót màu trắng. Bốt-đa-nốp vội vàng ngồi xuống ôm lấy đầu người chiến sĩ đã nhận về mình cú đánh mà nếu không nhất định người chỉ huy phải chịu, Mô-lô-cốp chắc là tim bị chấn động nên tắt thở ngay lập tức. Khuôn mặt với cái miệng trễ xuống dưới vẫn giữ nguyên vẻ không hài lòng của mình.

        Đặt đầu Mô-lô-cốp xuống đất, Bốt-đa-nốp nhìn quanh như thể mời mọi người đến chứng kiến sự hy sinh này. Mắt trung tá vẫn khô, nhưng cổ họng cứ ứ lên.

        ... Gần nửa giờ sau, Chiu-rin cùng với tiểu đoàn của mình phản kích. Họ đã dễ dàng giành lại tuyến một: lực lượng còn lại của bộ binh Đức chống trả một cách yếu ớt vì thật ra công sự ở đó gần như phải đào lại hoàn toàn. Sau khi đã bị những tổn thất bất ngờ to lớn, bọn Đức không còn xông xáo tiến công trên toàn tuyến của trung đoàn NKVĐ nữa; và nhận thấy chắc chắn điều này, Bốt-đa- nốp đi tới chỗ Đu-bốp. Từ xa, anh đã trông thấy thiếu tá đang đứng trên bậc bên sở chỉ huy của mình và nói chuyện với một nhóm chi huy. Bốt-đa-nốp rảo bước tới họ. Anh sốt ruột định nói với thiếu tá rằng dưới sự chỉ huy của ông là các anh hùng. Song Đu-bốp đã chặn trước anh, bước mấy bước về phía anh rồi nói luôn:

        — Đề nghị đồng chí trung tá cho chỉ thị! — Nghiêm nghị nhìn Bốt-đa-nốp và nói thêm. — Anh bạn cánh trái của tôi đã rút...

        Tiếp theo, ông cho biết là ở khu vực của trung đoàn công nhân, quân địch đã tiến thêm lên được, một bộ phận nào đó không đứng vững nổi, và lúc này ông biết bọn Đức đã đột phá được vào làng Mư-skin. Không kịp nói cho Đu-bốp những điều anh định nói, Bốt- da-nốp đề nghị liên lạc ngay với thiếu tướng Đi-a-cốp.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Năm, 2020, 10:23:42 am

7

        Mới hửng sáng, Na-ta-sa và bà An-na Va-xi-li-ép-na đã rời khỏi nhà. Ban đêm, Na-ta-sa không ngủ được nhiều, giấc ngủ cứ chập chờn. Cuối cùng chị ngồi dậy kéo rèm cửa và t ỏng thấy kính cửa sổ ướt đẫm. Và một điều rõ rệt nhất là cái ngày khủng khiếp đối với chị đã bắt đầu song chị không do dự trước quyết định cửa mình. Gói tư trang và khăn mặt vào giấy báo, chị chuẩn bị đi tìm ban tham mưu trung đoàn công nhân. Bà An-na ít lời, cau có, cả đêm không ngủ được đã quyết định đi tiễn cô cháu đâu một đoạn đường.

        Không khí ẩm ướt lạnh buốt trong sân lập tức quyện lấy Na- ta-sa, người chị đã bắt đầu run. Gió cuốn làn mưa phùn dày hạt và từng lớp sương trắng dày dặc như những đợt sóng tràn vào đường phố. Lúc này, chung quanh vẫn rất im ắng: hình như mọi người vẫn còn ngủ trong những ngôi nhà ẩm thấp, cửa sổ bịt kín, lờ mờ xuất hiện trong buổi sáng tinh mơ. Thậm chí Na-ta-sa nghĩ rằng, chỉ có chị và An-na mới dậy sớm như vậy trong cái buổi sáng ẩm ướt xấu trời và đáng sợ này. Song, đi được mấy bước qua hàng rào gỗ ván, chị trông thấy lờ mờ bóng một phụ nữ choàng khăn, đứng im trước cổng nhà bên cạnh.

        — Vác-va-ra! — Bà An-na nghiêm nghị gọi người phụ nữ. —  Chốc nữa chị đến chỗ ủy ban chúng tôi... Cần phải ghi cho mấy đứa cháu của chị đi sơ tán.

        — Còn bà đi đâu vậy ? — Người phụ líu ríu nói, chiếc khăn trùm kín đến tận mắt bà.

        — Lát nữa tôi sẽ về. Tôi sẽ đến ủy ban. — Bà An-na nói.

        Đi được một quãng, ở phía trước chỗ bờ sông cũng thấy thấp thoáng những bóng người lố nhố, nhưng lại biến ngay, hòa tan vào màn sương đùng dục... Bỗng nhiên ở phía sau con sông vang lên tiếng nổ ầm ầm hỗn loạn — trận đánh đã bắt đầu ở đâu đó về phía ấy. Thoáng cái, cơn mưa đã hết, dường như loạt đạn đã xua đuổi bắt nó phải dừng lại và qua màn hơi nước đã loãng hơn, hiện ra những tòa nhà dài dằng dặc của nhà máy bên kia bờ sông... Đám mâv trôi về phương Nam, trời lập tức sáng hơn và Na-ta-sa thấy rất nhiều người dân rời thành phố: đàn ông, đàn bà, trẻ con, cả gỉa đình — từ lớn đến nhỏ — dã ra đi trong buổi mai sớm sủa này...

        Một đoàn người cầm xẻng đi theo bờ sông và rẽ sang cầu, chắc là nhân dân khu Bờ sông đi xây dựng phòng tuyến mới ở khu Nam và khu tây T. Quầy hàng bánh mì ở góc phố đã sáng, nhìn qua cửa sổ rộng thấy có nhiều người đứng mua. Nhiều thiếu niên và phụ nữ cũng đang vội vã đi cùng chiều với Na-ta-sa. Hai cô gái rất trẻ mặc áo mưa vải bạt cao su đi sát bên nhau rồi đuổi kịp và vượt Na-ta- sa sau khi sang cầu. Cả hai đều quàng khăn trắng, người cao như nhau và ai cũng đeo bên sườn chiếc túi cứu thương rất to. Trông thấy hai cô gái này, tự nhiên Na-ta-sa rảo bước nhanh hơn như muốn nhập bọn với họ — trông họ rất tự tin và khẩn trương... Đút tay vào túi bành tô, chị nắm chặt bàn tay lại cố thắng cơn rét run người đang tràn vào thân thể... Nhiều người xách làn, túi đi ngược chiều với chị, một người nào đó đày chiếc xe hai bánh với hành lý của gia đình : gối, ấm chè, bọc sách, một cụ già đội mũ phớt ướt đẫm nước mưa, dắt em bé đi bên cạnh — chắc là những người này vội vàng rút khỏi thành phố hoặc chuyển từ khu vực phía Nam sang khu vực phía Bắc...

        Qua cầu, bà An-na muốn chia tay với Na-ta-sa nhưng nhìn chị, bà ngẫm nghĩ và lại lặng lẽ đi tiếp. Loạt đạn đại bác vọng lại từ phương Nam bỗng nổi lên mạnh hơn và trong đó nghe rõ tiếng nổ ầm ầm rất to, tựa như hàng loạt chiếc búa hỗn loạn gõ xuống đâu đó sau những ngôi nhà...

        Hình như trận đánh đã lan đến gần thành phố, nhưng trên đường phố vẫn đông người. Đến gần trung tâm, —Na-ta-sa phải qua đó thì mới tới được Vườn hoa thành phố — chị trông thấy chỗ này người ta đang chất lên xe những cuộn dây thép gai khổng lồ; chỗ kia — cạnh mấy cây dương trụi lá — người ta đào công sự, xa hơn một chút nữa mọi người đang dựng vật cản ngoài đường phố bằng cây cối, đá hộc và các dầm sắt... Rõ ràng thành phố đang xây dựng nhiều phòng tuyến mới, thành phố T. đã trở thành một pháo đài dày đặc các lớp phòng tuyến và người dân thành phố đang sẵn sàng chờ trận đánh tới phố mình, tới nhà mình ngay trong sân và tầng nhà của họ...

        Dừng lại để chia tay với bà An-na, Na-ta-sa bỗng trông thấy Na-xchi-a và Ma-ri-na Bô-cô-va bên lối vào quảng trường. Hai người bạn gái đứng đơn dộc dưới chiếc cổng khá thấp, hình như đang đợi ai đó sau cái cổng vòm, hoặc cũng có thể đang lưỡng lự không muốn đi tiếp...

        — Đứng làm gì ở đây thế này? — Không chào gì cả, bà An-na hỏi cộc lốc.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Năm, 2020, 10:24:42 am

        Na-xchi-a đưa đôi mắt sáng giận dỗi nhìn người bạn đường của mình, y như câu hỏi chi liên quan tới một mình Ma-ri-na. Hai người phụ nữ hơi còng lưng xuống dưới sức nặng của túi hành lý; ngoài ra, Na-xchi-a còn cặp nách chiếc ghi ta buộc dây nơ xanh trên tay đàn. Ma-ri-na choàng khăn lụa tới tận lông mày, thắt chặt mép khăn dưới cằm và lúc này trông chị còn đẹp hơn cả tối qua nhiều. Dưới ánh sáng ban ngày, đôi mắt xanh biếc của chị long lanh hẳn lên. Ma-ri-na nhìn Na-xchi-a với nụ cười hối hận:

        — Tôi có thè làm gì được với cái cô ngớ ngẩn đần độn này hả? — Na-xchi-a tức giận nói. — Đã quyết định ra đi dứt khoát rồi thế mà bây giờ lại ngập ngừng... Cô ấy thương Va-nhi-a của mình...

        — Cứ như chính chị cũng không do dự ấy. — Ma-ri-na cũng nói lại ngắn gọn. — Chính trị đã bảo với mình là: cả tập thể chiến đấu, một cây trong bụi cháy...

        Bà An-na im lặng nhếch mép cười, gió lay động chiếc khăn quàng đen trên vầng trán xương xương của bà và lúc này trông bà còn nghiêm nghị hơn.

        — Định đi đâu thế này hả ? Cô nữ công dân kia ? — Bỗng nhiên, Na-xchi-a gắt gỏng hỏi Na-ta-sa. — Chị có hai đầu phải không?

        Na-ta-sa chưa biết trả lời thế nào thì bà An-na đã nói:

        — Thật đấy! Hay là cháu đợi thêm thì tốt hơn... Bây giờ ở ban tham mưu, người ta không có thì giờ nói chuyện với cháu đâu...

        — Ôi! Cô nói gì vậy! — Na-ta-sa thốt lên và trong đối mắt nâu rực sáng của chị hiện rõ vẻ bối rối.

        Chị nhất quyết đi bằng được tới Vườn hoa, nơi hôm qua chị gặp Pa-ven, chắc là ban tham mưu trung đoàn đóng ở đâu đó trong khu vực ấy. Và lúc này Na-ta-sa đã không thể dừng lại giữa đường được.

        Chị vừa sợ hãi, vừa cảm thấy có một quyết tâm táo bạo không hiểu từ đâu ra.

        — Lúc này họ cũng không cho cháu tới trận địa đâu, Na-ta-sen- ca ạ. — Bà An-na, nói.

        — Không sao cả cô ạ... Bằng cách nào đó, cháu sẽ... — Cố kìm cơn rét, Na-ta-sa nói. — Thôi nhé, cháu đi! Tạm biệt cô An-na, cảm ơn cô... Tạm biệt Ma-ri-na! — Vừa vội vàng rảo bước, chị vừa líu ríu nói.

        — Hãy thong thả đã nào, cháu đi đâu một mình vậy? Thong thả nào. — Rảo bước theo chị, bà già lại gọi.

        Na-xchi-a sửa lại đây đeo bao đồ của mình, xốc lên lưng và hằn học nhận xét

        — Mọi người đều trở nên không bình thường thế nào ấy... Cô đúng đấy nhé, Ma-rin-ca... — Chị bất ngờ đề nghị.—Tôi chạy tới góc phố xem xem cái gì đằng ấy. Còn cô đừng đi đâu cả, rõ chưa nào!

        Ma-ri-na ngoan ngoãn gật đầu. Nhưng khi Na-xchi-a vừa mới chạy được khoảng hai mươi bước qua quảng trường, thì Ma-ri-na đã lao người đuổi theo người bạn gái.

        ...Tuy vậy Na-ta-sa vẫn phải dừng lại ở một góc đại lộ Công xã, một đại lộ dài rộng, thoai thoải dốc lên núi và chạy tới tận đầu cửa ô thành phổ. Tại đây, khá đông người xúm lại chỗ ngã tư, trẻ con chạy từ nhà nọ sang nhà kia, đàn bà thì lấp ló trong cổng nhà, còn những ai can đảm hơn thì đứng tán loạn trên vỉa hè và nhìn về phía cửa ô. Dưới tấm bảng xanh với háng chữ vàng « Cửa hàng thực phẩm», các mậu địch viên mặc blu trắng đứng tựa bên cửa và cũng nhìn ra đại lộ. Ở đó, một chướng ngại vật xây bằng bao cát và hộp đất chắn ngữ ngang đường. Những người lính mặc ca pốt xám đi lại dọc theo nó và có vẻ bận rộn công việc gì đó. Như mình, lối đi lên theo đại lộ đã bị chân và thậm chí người ta còn không cho phép bất cứ ai tới gần chướng ngại vật.

        Chỗ ngã tư, nơi mọi người tụ tập, một anh bộ đội cầm súng trường, ngồi gác trên bậc thềm đá và ngăn không cho những người tò mò tới gần; một phụ nữ vóc người cao, mặc blu dông lông, trùm khăn vuông màu vàng, đang nói to như cãi nhau với anh:

        — Cậu đừng đánh nhau với tôi, nếu như vậy thì đi mà đánh nhau với bọn Đức. Tôi không đến tìm ai xa lạ, mà đến với chồng tôi, đến với chồng chứ không phải đến với người khác... Ông ấy là A-nhi-xi-mốp, thợ mỏ, tôi đã nói với cậu rồi. Làm sao mà cậu nỡ lòng cản tôi!

        — Lại hai mươi lăm.— Anh lính trẻ tuổi, khuôn mặt nhẵn nhụi trả lời chẳng hề tỏ vẻ bực dọc. Chiếc lưỡi lê cắm trên nòng súng trường mà anh kẹp giữa hai đầu gối ánh lên ướt át cạnh chiếc mũ trùm tai sũng nước của anh. — Bà có nghe thấy tiếng ầm ầm đó không ? Đang đánh nhau quyệt liệt, thế mà bà thì cứ như một người khách lao qua ngưỡng cửa.

        — Tôi không làm cản trở công việc chiến đấu của các anh đâu. —  Người đàn bà cướp lời anh. — Tôi hỏi: anh có biết thông cảm không dấy? Và đừng đe dọa, không dọa được tôi đâu! — Chị phát khùng. —  Có thể lúc này A-nhi-xi-mốp đã nắm bất tỉnh...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Năm, 2020, 02:11:03 pm

        Thêm một bà nữa tóc bạc trắng, lưỡng lự bước đến bậc thềm và chẳng nói chẳng rằng, tựa như vụng trộm, giúi vào tay anh bộ đội một gói quà nhỏ.

        — Cái gì vậy? — Anh kia hỏi, vẻ hơi sửng sốt. Người đàn bà tóc bạc lùi lại một bước.

        — Nhờ anh chuyền giùm, nếu anh trông thấy... — Bà dịu dàng nói. — Tôi làm bánh mì dẹt, bánh mì dẹt thôi mà... cái khăn đã giặt sạch... Tôi là Rứp-skin, còn thằng con tôi tên là. I-gnát...

        — Trời ơi, bà làm sao thế này! Chà, làm sao tìm được I-gnát của bà cơ chứ? — vẻ bối rối, anh bộ đội cao giọng.—Cháu đã nói: lúc này đang đánh nhau quyết liệt! Thôi, bác mang bánh mì về đi, bác cầm lấy đi. Kìa đứng lại, đứng lại đã! — Bỗng nhiên anh ta kêu lên, khi thấy bà già tóc bạc hình như cho rằng giải thích thêm là thừa nên quay vội đi về phía chướng ngại vật. — Quay lại, mẹ ơi! Đứng lại.

        Song, thậm chí bà kia cũng không thèm nhìn lại nữa... Anh bộ đội đứng dậy sửa lại mũ của mình, sau đó nói với vẻ kính trọng.

        — Vẫn cứ đi vào hỏa ngục... Thế là đã đột phá được rồi.

        Na-ta-sa và một người nào đó nữa cũng định theo gương người vợ thợ mỏ, song anh bộ đội đã nhảy xuống bậc thềm và đứng chân trước mặt họ.

        — Không được, chị ơi, không thể được đâu! Các chị không đến được người nhà mình đâu ! — Chính anh ta cũng xúc động mạnh. — Các chị phải đợi đã...

        Bỗng tiếng nói của anh bị át đi trong tiếng nổ ầm ầm: khẩu đại bác ở chướng ngại vật đã bắn và chỉ lúc này Na-ta-sa mới nhận thấy nó. Ba phát súng nữa lần lượt gầm lên, lao vào màn sương mù phía trước, và như bị thôi miên, Na-ta-sa đứng nhìn: mỗi khi ánh lửa từ khẩu pháo lóe lên thì cửa trước các ngôi nhà gần chướng ngại vật lại lóe sáng màu hồng, còn các cửa sổ dán giấy rực sáng lên trong chốc lát.

        Những người phụ nữ đứng ở ngã tư vội chạy đến bên các bức tường và cổng ra vào. Từ nãy tới giờ, trận đánh ầm ầm diễn ra cách đó khá xa, thế mà chỉ một bước đã nhảy gần tới họ. Và lập tức đường phố vẳng hẳn, mọi người xô nhau chui vào các cổng nhà, rồi đứng chật ních ở đó. Hai cậu bé khoảng chín, mười tuổi chạy theo đại lộ, phóng về phía khẩu pháo đang bắn. Chiếc blu dông lông dê màu trắng của một trong hai cậu thấp thoáng trên nền tường xanh thăm của « Cửa hàng thực phẩm ». Người lính đội mũ trùm tai, vội vàng bước lên bậc thềm trên cùng.

        — Đồng bào hãy về nhà đi! — Anh ta tuyệt vọng gào lên. —  Và đưa trẻ con đi nữa... Trận đánh sắp lan tới đây! — Mặt anh đỏ ửng vì phải gào to.

        — Va-xca! — Một tiếng la hoảng hốt vang lên sát tai Na-ta- sa. — Va-xca, tao giết chết đấy!

        Và một phụ nữ nào đó, huých mạnh vào sườn Na-ta-sa chạy lao theo hai đứa bé.

        — Ôi, sao mà hư hỏng thế kia, — Na-ta-sa nói, giọng cao hẳn lên, như thể không phải giọng của mình nữa.

        Một người nào đó cầm chặt lấy cổ tay chị và quay lại, chị trông thấy bà An-na Va-xi-li-ép-na.

        — Hừ, đi đâu mà chúng nó lại lao thắng vào ngọn lửa thế kia? Hừ đi đâu? — Na-ta-sa hét lên, tựa như bà An-na có lỗi trong việc này.

        Dường như cô đã quên hết tất cả, cứ giương tròn mắt nhìn theo những người phụ nữ đang đuổi theo hai đứa nhỏ. Khi họ đã đuổi được và lôi chúng quay lại, Na-ta-sa thở phào nhẹ nhõm. Súng lại nổ như tiếng sấm rền và người phụ nữ đang dắt cậu bé mặc chiếc blu dông lông ngồi sụp xuống giữa phố trong một giây. Sau đó chị bế xốc con lên cổ và chạy sang vỉa hè bên kia.

        Một đoàn người mới đột ngột xuất hiện trên quãng giữa đại lộ và chướng ngại vật. Họ từ ngõ phố bên trái rẽ ra từng tốp hai ba người một, rồi đi xuống ngã tư. Một số người chạy vẻ nặng nề chậm chạp, một số người khác, chắc đã kiệt sức, cố lê bước... Tất cả họ đều có súng trường, nhưng mỗi người mang theo một kiều: người thì cầm súng, người cầm dây, còn một nhóm khác lại kéo lê trên mặt dường...

        Na-ta-sa ngơ ngác sợ hãi, nhìn bà An-na như chờ bà giải thích. Bà già chăm chú nhìn những người đàn ông đang đi về phía trên, gió thổi làm lung lay chiếc đăng ten đen trên đôi mắt nghiêm nghị sâu thẳm của bà.

        Quăn áo của những người đang tiến đến gần, bành tô, blu dông, áo quần, áo khoác bê bết đất cát, y như họ trở về sau một cuộc ẩu đả. Có người không đội mũ, thỉnh thoảng lại nhìn quanh, còn anh thanh niên đi bên cạnh, áo rách hở cả ngực. Chạy đầu là một ông hơi thấp, mặc chiếc blu dông không đai cùng chiếc áo ma-la-khai1 rộng thùng thinh với những chiếc đuôi tua tủa. Di sau cùng là một người tay trái bó băng trắng mặc áo bành tô lông. Một người nào đó khập khễnh lảo đảo trong chiếc quần rách tả tơi.

---------------------
        1. Một loại áo dài rộng không có đai của nông dân Nga.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Năm, 2020, 02:11:28 pm

        Những người phụ nữ túm tụm ở ngã tư im thin thít. Họ, cũng như Na-ta-sa có lẽ không nhận ra được những người này. Và chỉ trông dáng dấp bên ngoài của những người đàn ông này cũng đủ làm cho họ khiếp sợ. Song cảnh im lặng như vậy chẳng được bao lâu: một tiếng kêu dài kinh ngạc và thương cảm cất lên trên đường phố.

        — Các co... on! Yêu quý... ý!

        Một người dàn bà tóc bạc mặc chiếc áo bành tô đã sờn, trong túi lòi ra gói bọc giấy báo chạy ngang qua Na-ta-sa: khuôn mặt bà hiện rõ vẻ đau khổ xót xa.

        « Đúng, chính là các chiến sĩ tự vệ! Họ vừa mới chiến đấu xong, họ từ trận đánh trở về... — Na-ta-sa thoáng nghĩ. — Có thể Pa-ven cũng ở đây! ».

        Rút tay ra khỏi tay bà An-na, Na-ta-sa chạy tới chỗ các chiến sĩ. Một phụ nữ lạ mặt, quàng chiếc khăn dài tới đầu gối giống như áo đi mưa quay người lại, nhìn thẳng vào mắt chị, nói:

        — Đây là người thành phố chúng ta! — Chị sung sướng báo tin.

        — Các con yêu quý... ý! — Người đàn bà tóc bạc lại đau khổ và dịu dàng kêu lên một cách đơn điệu.

        Những người đi xuống ngã tư đã bắt đầu dừng lại, một số khác vừa đi chậm vừa kêu la điều gì đó, nhưng trong tiếng ồn ào chung chẳng nghe rõ được họ nói gì.

        Hình như các chiến sĩ cảm thấy ngượng nghịu — một số dừng lại, số khác nhìn xung quanh. Một người mặc bành tô lông rẽ hẳn sang một bên như muốn tránh mặt đám đàn bà. Một chiến sĩ người hơi thấp, mặc áo lông cừu, đang thở hổn hển và mặt mày đỏ rực lên vì chạy mệt, thậm chí còn kịp lùi lại mấy bước.

        — Các bà ơi! — Anh ta kêu thét lên, giọng cao run run vì thế không thành « các bà » mà thành « các ba » — các ba đứng đây làm gì? Chạy... đi chứ!

        Song những người phụ nữ đã vây quanh lấy anh chiến sĩ này. Họ nhìn anh với vẻ biết ơn và khâm phục đến nỗi, anh ta phải đưa tay về phía trước như để tự vệ trước lòng ân ái của các bà, các chị đối với mình. Một người nào đó định vuốt vai anh khiến anh trố mắt nhìn, sợ hãi lùi bước.

        — Các bà ơi, xe tăng đến đấy! — Anh líu ríu. — Chạy đi các bà ơi, nó sẽ xéo nát các bà đấy...

        Bị kích động không kém những người khác, Na-ta-sa nghển cổ, kiễng chân mặc cho chiếc mũ nồi tụt ra gáy, đảo mắt tìm chồng.

        « Có thể Pa-ven cũng sẽ đến ». — Chị tự an ủi và chẳng nghĩ xem tại sao những người được vũ trang này giờ đây lại bỏ chạy, không chiến đấu, chắc là phải có sự cần thiết nào đó nên họ mới đến đây, mà không ở lại nơi đang có tiếng súng ầm ầm không ngớt dằng kia.

        Còn mấy người đàn ông nữa đang cúi đầu chạy ở phía trên; Na-ta-sa liền chạy tới chỗ họ, nhưng ngay lúc đó chị liền buồn bã dừng bước — Pa-ven không có trong đám này.

        Người đàn bà tóc bạc mặc bành tô với gói giấy báo trong túi đã đuổi kịp chị.

        — I-gna-sa-a ! — Bà cuống quít gọi. — I-gna-sét-ca-a ! Con ơi!

        Thậm chí Na-ta-sa phát ghen lên với bà — sao mà may thế — bà đã gặp được con, chạy xô vào lồng ngực đứa con — một chàng trai đội mũ lưỡi trai nhung chụp tùm hụp lên hai cái tai vểnh, người mẹ già lảo đảo, hai tay buông thõng. Và người thanh niên buộc phải đưa tay trái ôm lấy bà, còn tay phải anh căm quai da súng trường, lưỡi lê chúc xuống đất.

        — I-gna-sét-ca! Người bảo vệ bé bỏng của mẹ! — Bà vừa thở hổn hển vừa nói. — Ôi, mẹ có linh cảm trước là sẽ gặp con!

        — Anh thanh niên thản nhiên nhìn bà mẹ từ đầu đến chân, mồ hôi mẹ vã trên khuôn mặt màu củ cải đỏ với đôi má cao, nước bọt sùi ra hai bên mép.

        — Mẹ! — Cuối cùng anh mới thốt lên. — Mẹ thế nào...?... Mẹ...

        Không kịp nói hết, anh đưa mắt nhìn qua vai bà và bất ngờ, bước lên phía trước.

        — Mẹ... ẹ... ẹ, mẹ đi... i!... — Anh giục giã.

        — Ôi, trái tim của mẹ ! Ôi I-gna-sa, I-gna-sa !... — Người mẹ líu ríu như mất trí.

        Như một người mù, bà xoa tay lên lồng ngực nở nang, lên đôi vai và vòng cồ rắn chẵc của con trai.

        — Mẹ ơi, xem đi đi !... Mẹ...! — Anh con trai cũng gào lên, như quẫn trí, từng giây, từng giây định chạy đi song vẫn không đẩy mẹ ra.

        — Tôi làm sao thế này ? — Bà chợt nhớ ra. — Ôi, mẹ đã quên khuấy mất...

        Bà luống cuống, rút gói giấy báo trong túi áo bành tô rồi vội. vàng giúi vào tay con trai.

        — Của con đây, I-gna-sa, cho con... Nhà còn nhiều... — Bà giải thích. — Cầm lấy, I-gna-sa !

        Cảm thấy được tụ do, chàng trai né tránh khỏi bà, nhưng bà mẹ sợ anh ta không cầm gói quà, nên nắm vội lấy tay áo anh.

        — Đây, bánh mì dẹt, bánh mì dẹt làm cho con đấy... Khăn đã giặt sạch rồi! — Bà vội vàng nói.

        Đẩy gói quà ra, anh chiến sĩ lắc đầu quầy quậy như thể cái gì đó vướng ở cổ họng, chiếc mũ lưỡi trai tròn như quả bóng lắc lư.

        — Đây là bánh con thích mà... có đường đấy. — Bà lẩm bẩm. —  Con đi đâu vậy, I-gnát.

        — Bánh — mì — dẹt! —Anh thanh niên dằn từng tiếng.—Bánh mì dẹt cái gì cơ chứ?... Mẹ ơi, mẹ đi đi.

        — Bánh mì tầm đường mà, mẹ đã nói rồi.

        Và bỗng như bừng tỉnh, người con không vùng vằng nữa, lặng thinh, song vẫn đẩy gói quà ra.

        Na-ta-sa nhìn quanh, chẳng hiểu gì trong màn kịch này. Một cô gái đội khăn trắng, hai tay khệ lệ xách xô nước, đi sau chị.

        — Ai khát nước ? Các đồng chí !... — Chị gọi, giọng không mạnh bạo lắm.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Năm, 2020, 02:11:59 pm

        Một chiến sĩ ngồi bên cột đá ở vỉa hè và bà An-na đang nghiêng người băng đâu cho anh ta. Na-ta-sa chạy vội tới chỗ bà già.

        — Hừ, chúng cháu nằm bắn, chẳng sao cả... — Người bị thương ở đầu kể chuyện. — Thật ra lúc đấu cũng hơi sờ sợ, chưa quen với tiếng súng. Cảm ơn mẹ, được rồi.

        — Anh cứ ngồi yên, ngồi yên! — Bà An-na nói, giọng ồm ồm. — Không có bông, tiếc thật.

        Gởi gạc nhỏ mà bà mang theo đặt trên đầu gối người chiến sĩ, bà già lấy chiếc khăn mặt dành cho Pa-ven ở trong bọc ra.

        — ... Chính trị viên của chúng cháu bị giết. — Người chiến sĩ tiếp tục. Cánh tay to bẩn, đất cát dính đầy ở móng, cứ run lên bàn bật trên thân khẩu súng trường. — Thế mà ở đây có tin đồn là... Và cháu cũng chẳng biết rằng ai là người tung tin dầu tiên, cứ như thể xe tăng địch đã vào được thành phố, còn chúng cháu thì tránh né chúng... Hừ, một kẻ nhảy xồ ra... — Người kể chuyện đưa mắt tìm. — Hắn là tên trồng rau, kẻ bẻm mép có đuôi... Hắn gào lên, bị cắt đứt rồi... chúng cháu nghe không rõ. Cảm ơn mẹ, vết thương của cháu không phải là vết thương do chiến đấu mà... Đây là cháu bị xô vào tường nhà khi chạy...

        Bà An-na chìa khăn mùi soa cho anh chiến sĩ:

        — Cháu lau đi! — Bà bảo. — Không có mồ hôi chảy ra ướt như chuột lột.

        Bà ngẩng đầu nhìn những người đàn ông đứng xung quanh.

        — Nào, còn ai có những vết thương danh dự nữa không nào? Đi lại đây, mẹ băng cho. — Bà cao giọng hỏi.

        Người mặc chiếc quần tả tơi nhếch mép cười khảy, còn một người khác đội chiếc mũ lỏng cao, đã đứng tuổi, hé đôi môi mỏng dính cười ngượng nghịu.

        — Các anh sẽ làm gì bây giờ, hả những bậc trượng phu ? — Bà An-na nói. — Các anh sẽ nhìn vào mắt đồng chí của mình đang chiến đấu như thế nào ? — Hầu như cả phố nghe rõ giọng trầm trầm của bà. — Ôi, tôi nghĩ, thật tiếc cho các anh đấy... Bây giờ ai sẽ cho phép các anh có chỗ ẩn náu nương thân?

        Bà im bặt vì ở gần đấy và có thể là ở ngay phố bên cạnh, vang lên mấy tiếng động nặng nề. Đám đông nháo nhác, phụ nữ né sang vỉa hè, do đó giữa họ và mấy người đàn ông kia có khoảng trống. Lúc này Na-ta-sa nhìn các chiến sĩ với vẻ gần như là khiếp sợ, như khi người ta nhìn những bệnh nhân vô phương cứu chữa hoặc những người rất bất hạnh.

        Bỗng nhiên người thanh niên mặt tái nhợt, mặc chiếc blu dỏng để hở ngực, có mái tóc xoăn đen xanh dưới mủ lưỡi trai, đứng dậy giơ cao khẩu súng trường lên trời.

        — Hừ, các bạn ơi. — Anh bực tức kêu lên. — Thế này là thế nào ? Các bạn ơi, chúng ta làm gì! Hừ!—Anh ta nhăn mặt, quay nhìn xung quanh. — Nào các bạn ơi, quay lại. — Và anh chen qua đám người xúm quanh, đi ngược lại đường phố.

        Phía trên chướng ngại vật, một người chỉ huy mặc ca pốt, đeo túi da bên hông đang vội vã đi lại. Lại một người nữa chạy từ ngõ phố ra, tay cầm súng ngắn buông thõng và từ xa đã ra lệnh:

        — Dừng lại! Dừng lại!

        — Cảm ơn mẹ hết lòng! — Người chiến sĩ bị thương ở đầu lặp lại. — Chúng con có khuyết điểm, xin lỗi!...

        Khẩu pháo bên chương ngại vật lại gầm lên. Người ta trông thấy các chiến sĩ pháo binh đội mũ sắt đang lố nhố ở đó, những vỏ đạn xì khói rơi xuống đất.

        Bà An-na nắm chặt tay Na-ta-sa và kéo chị sang vỉa hè. Xung quanh ồn ào đủ giọng nói, song sửng sốt với tất cả những gì đang diễn ra, Na-ta-sa hầu như chẳng hiểu gì cả.

        — Đại đội! Nghiêm! Đại đội... — Một người chỉ huy tay câm khẩu súng ngắn đang hết sức gào rất to. Cái giọng khàn khàn của anh chẳng giống giọng người chút nào. — Hãy nghe mệnh lệnh của tôi!

        Đứng trong cổng bên cạnh bà An-na Va-xi-li-ép-na, Na-ta-sa thờ ơ nhìn các chiến sĩ đang mau lẹ chạy ngược lại phía trên đường phố. Trong một giây, chiếc mũ lưỡi trai tròn như quả bóng của I-gnát Rứp-kin thấp thoáng trong đám người đông nghịt, những chiếc lưỡi lê tua tủa thấp thoáng trên đoàn người. Đi cuối cùng và hơi chậm so với những người khác là anh chiến sĩ mặc chiếc ma-lai-khai. Bước chân anh ta khá ngắn. Pháo ở chướng ngại vật vẫn tiếp tục bắn và ở đâu đó rất gần, bất ngờ nổi lên những tiếng súng lẻ tẻ, nhỏ hơn.

        Hình như trận đánh đã lan ra khắp thành phố, từ phố này đến phố khác... Bỗng nhiên một trái đạn nổ ngay bên cạnh và đất đá cùng những mảnh đạn bay lên với một sức mạnh khủng khiếp, luồng khi nóng tỏa ra tạt vào mặt Na-ta-sa. Và chị trông thấy người lính gác đang bò lê trên đường phổ... Anh nằm ngửa và không hiểu sao chỉ giơ khuỷu tay lên, cái đầu tràn lắc lư, gió thổi làm chiếc mũ có tai tròn trĩnh của anh rơi trên đường phố, anh bộ đội định bò vào vỉa hè. Bỗng anh kêu lên vì đau và theo phản xạ đầu tiên, chẳng nghĩ ngợi gì, Na-ta-sa ra khỏi chỗ nấp, chạy nhanh tới người bị thương.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Năm, 2020, 02:12:18 pm
   
        Lúc này, pháo bắn không ngớt, ánh lửa đạn lấp loáng trên cửa những ngôi nhà, trên mặt đường ướt át — dường như cơn dông tố cùng ánh chớp giận dữ chụp xuống hai bên, lùa mọi người đang ở đường phố chật hẹp kia vào bẫy. Lại một trái đạn nữa của kẻ thù nổ ở đâu đó đàng sau Na-ta-sa... Song đang nghiêng người bên chiến sĩ bị thương, trong những phút này Na-ta-sa hoàn toàn quên mất những gì đang đe dọa chính chị. Người chiến sĩ bị trúng đạn ở bắp chân dưới đầu gối, từ chiếc quần rách bê bết máu, một dòng máu đỏ thẫm chảy xuống mặt đường, hòa lẫn vào nước mưa. Anh ta ngẩng đầu nhìn chị với đôi mắt dò hỏi, van lơn, vô cùng tin cậy của những người bị nạn nhìn những người có thể cứu sống mình. Cảm thấy cái nhìn đó đối với mình, Na-ta-sa lập tức nhớ ra là phải làm thế nào trong những trường hợp bị thương như vậy. Nỗi thương xót của chị quá lớn lao và đã làm chị can đảm hơn... Quỳ xuống cạnh, chị lấy ra một gói nhỏ trong xắc và nhanh chóng lấy khăn làm ga-rô. Sau đó, để giữ ga-rô, chị phải nhấc chân người chiến sĩ lên và anh ta lại rên lên, toàn thân run run.

        — Cố chịu nhé, anh bạn thân mến ạ! — Na-ta-sa năn nỉ.

        Một người nào đó đứng cạnh chị và ngẩng đầu nhìn, Na-ta-sa nhận ra một trong hai cô cứu thương chị vừa gặp sáng nay.

        — A! Ga-rô... tốt lắm... chị băng tiếp đi, — cô gái nói nhát gừng và cũng quỳ xuống.

        Một luồng khí nóng của trái đạn lại tràn qua. Khẽ hắt vào lưng chị, song Na-ta-sa hầu như không cảm thấy điều này...

        — Chị... chị... — Anh bộ đội nói giọng khàn khàn, khuôn mặt không có lông mày của anh dường như đã lạnh cóng cứng đờ. — Vô tình tôi lại trúng đạn... — Anh cảm thấy như mình có lỗi gì đó.

        Trong cổng vòm ngôi nhà ở ngã tư, nơi Na-ta-sa, cô cứu thương và bà An-na đưa anh bộ đội tới, những người ẩn náu ở đó lập tức vây quanh lấy họ. Mệt nhoài, Na-ta-sa tựa vào cánh cửa: chị thấy chóng mặt và mùi máu tanh nhàn nhạt làm chị buồn nôn...

        Trên đường phố, một đám khói đen quyện lại nhanh chóng, bị cuốn theo chiều gió. Lát sau Na-ta-sa nhìn thấy Na-xchi-a và Ma- ri-na Bô-cô-va chạy qua cửa hàng, ngược trở lại phía quảng trường và một thoáng đã rẽ sang góc phố... Bỗng một ánh lửa vàng nhạt lóe lên cạnh Ma-ri-na, tiếp theo là tiếng nổ vang. Nhựa đường cùng đất đá bắn tung tóe, kèm theo là những tiếng gì đó phần phật như nhiều đây đàn cùng bị đứt một lúc, khói trùm lên tất cả...

        Khi Na-ta-sa vượt qua dám đất đá chạy tới góc phố thì khói đã tan... Ma-ri-na đang nằm ngửa trên vỉa hè, lưng đeo bao đồ nên không nắm thẳng ra được, thân bị ưỡn lên, cong lại một cách rất khó chịu. Dán đôi mắt xanh tươi lạ thường của mình vào Na-ta-sa, chị ta nói rành rọt.

        — Chị đừng cho Va-nhi-a... cho Va-nhi-a biết... Lạy trời đừng để anh ấy biết... Tôi rất mong chị...

        Chị đưa tay phải thận trọng sờ vào cạnh sườn  phía dưới, lồng ngực ưỡn lên dưới áo bành tô. Bỗng chị có vẻ hốt hoảng, cựa quậy định nhỏm dậy và còn nói môt điều gì nữa, song tiếng đại bác đã át lời chị đi.

        — Na-xchi-a!— Chị gọi. — Xem bộ tôi bị thương ở đâu? Nhìn hộ xem, Na-xchi-a...

        Chỉ đến lúc này Na-ta-sa mới nhớ tới người bạn gái của Ma-ri-na. Chị ta đang quỳ gục xuống, người cúi thấp về phía trước, song khuỷu tay vẫn ghì chặt cây đàn ghi ta buộc đây nơ xanh. Khuôn mặt tròn của Na-xchi-a đỏ nhừ, hiện rõ vẻ căng thẳng sợ sệt thường có ở những người nặng tai. Song cô vẫn nghe, được Ma-ri-na gọi và định trả lời, nhưng đôi môi run rày không nói được.

        Pháo ở chướng ngại vặt lại bắn. Na-xchi-a khom lung xuống, mặt chị méo xệch đi như khóc... Song ngay lúc đó, cô gái cứu thương chạy tới, luồn tay vào lưng và đỡ Ma-ri-na lên.

        — Các chị làm gì thế hả? Nào ôrụ lấy!’— Cô gái cửu thương ra lệnh.

        Ba người bế Ma-ri-na lên, vội vàng và lảo đảo mang chị đi.

        Tất cả những người bị thương đã được đưa lên xe: anh lính gác, Ma-ri-na, một cô ở đội xây dựng và cậu bé chừng tám tuổi bả vai bị giập nát đang quằn quại trên tay cô cứu thương thứ hai. Na- ta-sa lại phải đi với họ tới bệnh viện vì pháo binh vẫn tiếp tục bắn phá và trong bất kỳ giây phút nào đội cứu thương cũng rất cần thiết ở đây, trên những đường phố này...

        — Tên chị là gì? — Cô gái thứ nhất hỏi Na-ta-sa, giọng nhát gừng, bờm tóc vàng lòa xòa trên khuôn mặt trẻ trung. — Còn tôi là Vê-ra... — Chị ta nắm chặt tay Na-ta-sa và nói thêm giọng có vẻ mệnh lệnh. — Tôi nghĩ rằng chị đã hoàn thành...

        ... Khi Na-ta-sa từ bệnh viện đi bộ trở về thì đã giữa trưa. Trên suốt đoạn dường, chị phải an ủi cậu bé đã mệt lử vì nước mắt, đau đón và sợ hãi, Ma-ri-na rên rỉ cùng với những người bị thương khác, nên bây giờ chính chị rất khao khát được an ủi. Tưởng như nếu ngay hôm nay nỗi đau khổ của những người này được báo thù và bọn xâm lược là thủ phạm của những giọt nước mắt này lập tức bị trừng phạt thì Na-ta-sa sẽ dễ chịu hơn. Vì còn bị xúc động sâu sắc bởi những ấn tượng về những điều trông thấy và trải qua trong ngày hôm nay, nên chị không để ý đến sự biến chuyền tình hình trên dường phố.
     
        Chung quanh bỗng vang len những giọng nói hân hoan:

        — Hồng quân đến rồi!...

        Lại những cậu bé tung tăng và những người phụ nữ vội vàng tất tưởi chạy đi đâu đó. Một ông già lưng gù chạy lon ton cản đường trước Na-ta-sa, ông giơ cao cánh tay vẫy vẫy như chào đón, như gieo hạt gì vào trong không trung... Qua quãng trống giữa các ngôi nhà, Na-ta-sa trông thấy từ xa một đoàn bộ binh đen sẫm, đông nghịt đang đi tới... Đoàn quân diễu qua trước mắt chị rất lâu, hết đại đội này đến đại đội khác và rẽ sang đường phố đến ngoại ô phía Nam thành phố. Có thể các chiến sĩ đã hành quân cả đêm: những chiếc mũ trùm tai của họ ướt sũng, giày bám đầy bùn đất, áo bạt sẫm lại vì mưa nhưng vũ khí của họ vẫn sạch và bóng loáng.

        Khoảng mười lăm phút sau, Na-ta-sa lại thấy những chiếc xe tăng sơn ngôi sao đỏ trên thành, từ phía Bắc, phía Mát-xcơ-va, đang ầm ầm chạy nhanh xuống phía Nam nơi kẻ thù đang tiến công với tốc độ rất nhanh. Đường phố rộn lên những tiếng sắt thép âm ầm và đoàn xe tăng nhanh chóng biến mất, chỉ đề lại ấn tượng của một cơn dông tố vừa qua...

        Những đơn vị Hồng quân mới đã đi đến T. và lập tức tham gia vào trận đánh ngay trên đường hành quân...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Năm, 2020, 11:58:59 am

        Đến trận địa của trung đoàn công nhân theo sự ủy nhiệm của Đi-a-cốp nhằm tìm hiểu tình hình và có biện pháp chặn đứng quân địch lại, trên đường đi, Bốt-đa-nốp rẽ vào trận địa pháo cao xạ, vào sở chỉ huy của tiểu đoàn trưởng, và gặp đại tá Lu-ki-a-nốp cũng đang ở đây. Mặc dù bây giờ ít có cái gì có thể làm cho Bốt-đa-nốp ngạc nhiên nhưng những hành động của các chiến sĩ cao xạ đã thu hút được sự chú ý của anh. Gần hầm chỉ huy, những khẩu pháo của tiểu đoàn đặt rải rác trên các nhà kho bằng đá bị sập, trên các bãi đất trống, trên các rìa vườn, đang trút lửa lên những chiếc tăng lúc này mon men tới làng Mư-skin. Năm, sáu chiếc xe tăng trúng đạn — vài chiếc còn đang cháy — quằn quại ở cánh đồng trước mặt. Bọn Đức bắn trả đũa các chiến sĩ pháo binh. Ở các khẩu đội, chốc chốc mảnh đạn lại bay vèo vèo, bụi vôi bốc lên như đám mây trắng, hồ nước sôi lên sùng sục như dưới trận mưa rào, mặt hồ sáng lên.

        Lúc này, ngoài công việc nặng nhọc và vất vả ra, có lẽ không còn điều gì khác làm cho các chiến sĩ, những người đang phục vụ những cỗ máy quân sự phức tạp này chú ý đến nữa. Các pháo thủ giống như những người thợ đang rèn những thanh sắt nung đỏ trong gian xưởng nóng nực hoặc những thủy thủ làm việc trên boong tàu trần trụi giữa trận bão biển. Mỗi người đều rất linh hoạt tập trung tư tưởng, hợp đồng chính xác với những người khác. Khẩu cao xạ lớn nặng nề như vậy, nhưng vẫn nhẹ nhàng quay, những luồng lửa phụt ra, những nòng súng giật lại, sấm gầm lên. Những con người ướt đẫm mồ hôi, tai ù đặc vẫn kiên nhẫn lặp lại các động tác không thay đổi theo một thứ tự nhất quán. Còn vị đại tá đã đứng tuổi, trong chiếc ca pốt cũ nhưng là phẳng phiu đang đi dọc công sự, chăm chú quan sát chung quanh sau cặp kính không gọng giống như người kỹ sư đang làm công việc kiểm tra thường xuyên ở gian xưởng quá ầm ĩ của mình.

        Nhưng dầu sao Bốt-đa-nốp cũng nhận thấy ngay tình hình đặc biệt hiểm nghèo của các chiến sĩ cao xạ. Đại tá không phát hiện ra bọn bộ binh đang ẩn trước trận địa pháo và bọn Đức này có thể tiến công trận địa pháo trong bất cứ phút nào. Vì vậy, hoặc là phải đẩy lùi chúng về phía sau, hoặc là nhanh chóng yểm hộ cho các chiến sĩ cao xạ.

        — Tỏi đã ra lệnh chuẩn bị tuyến phòng ngự vòng cung — nghiêng người về phía Bốt-đa-nốp, Lu-ki-a-nốp thông báo vắn tắt. — Anh có chỉ thị gì không?

        Ồng đứng lại, rút trong tui quần hộp thuốc mạ bạc chạm trổ cầu kỳ, mở nắp và lịch sự mời Bốt-đa-nốp.

        — Anh có hút thuốc không? Xin mời...

        Vừa lúc đó, tiếng ầm ầm của đạn pháo phụt lên ngay bên cạnh đã ngắt lời ông. Đất đá rơi rào rào vào đoạn hào họ đứng. Bên cạnh có tiếng kêu: « Cứu thương lại đây! ». Lu-ki-a-nốp cởi mũ lưỡi trai xuống phủi đất dính lên trên và hủt thuốc. Sau khi gọi điện thoại cho chỉ huy đơn vị gần nhất và yêu cầu cho bộ binh yểm hộ, ông lại chậm chạp đi tiếp. Bốt-đa-nốp nhìn theo người chỉ huy pháo binh luống tuổi, mà cuộc gặp gỡ đầu tiên đã cho anh thấy là một người cầu kỳ, hình thức, nhưng rất kiên quyết, anh nhẹ nhõm nghĩ rằng chắc không có một sức mạnh nào trên đời có thể đẩy Lu-ki-a-nốp ra khỏi vị trí của ông, vì ông đã nhận được lệnh đứng vững đến cùng.

        Ngay tại hầm chỉ huy đại đội, Bốt-đa-nốp cho gọi trung đoàn trưởng trung đoàn công nhân đến máy điện thoại. Sau khi nghe báo cáo ngắn gọn rằng trung đoàn bị thiệt hại nghiêm trọng, còn người chỉ huy thì đang rất lo lắng, Bốt-đa-nốp ra lệnh cho anh ta phải phản kích ngay theo hướng làng Mư-skin — đường Ô-rlốp để cứu vãn tình hình. Anh chờ Tra-skin viện cớ lúc này không có khả năng tổ chức phản kích được, nhưng đại úy trả lời không do dự: « Rõ! ». « Tôi đã nói hết!». — Bốt-đa-nốp nói. — Tôi sẽ đến chỗ các anh.

        Đến tận phút chót, trước lúc Bốt-đa-nốp chuẩn bị đi, Lu-ki-a- nốp mới bảo rằng bộ binh Đức đang tập trung ở khe hẻm bên phải làng Mư-skin. Và đại tá ra lệnh cho những pháo thủ, tất cả những ai không trực tiếp phục vụ pháo, chiếm giữ công sự trước trận địa ; và riêng mình, ông cũng cầm một quả lựu đạn.

        — Cần giữ vững trong nửa giờ, đồng chí đại tá ạ. — Bốt-đa-nốp kêu lên từ biệt. — Chúng tôi sẽ yểm hộ cho các đồng chí...

        Lu-ki-a-nốp đứng trên đống đá nấp sau bức tường đổ dở đến ngực. Bỏ kính ra, ông lấy tay trái giơ ống nhòm quan sát trận địa.

        Chung quanh Lu-ki-a-rnốp, dông tố đang ập đến ; trong cái xưởng khủng khiếp của ông có cả sấm lẫn chớp, hơi ngạt cuộn lên, nhưng trên đôi má khô héo nhợt nhạt chỉ xuất hiện một chấm đỏ. Ở đây, khó nói chuyện được và quay về phía Bốt-đa-nốp, đeo kính lên ông mới hơi gật dầu từ biệt, đôi mắt kính tròn không gọng lạnh lùng lấp lánh.

        Bót-đa-nốp nhảy từ đống đá xuống dưới và rảo bước dọc theo hào giao thông. Dù sở chỉ huy của đại úy Tra-skin có gần đến mấy nhưng đến chỗ đó không phải là dễ dàng gì. Những loạt đạn cối dữ dội cứ đuổi theo Bốt-đa-nốp nên anh đành phải nắm lại một lúc trong hố đạn nông choèn và nguyền rủa sự chậm trễ này. Không chờ dứt tiểng nổ, Bốt-đa-nốp đành trườn đi, ngã vào rãnh nước lạnh cóng, rồi lại chạy lom khom, tới gần đám cháy anh mới bò tiếp. Khi cảm thấy sắp tới cửa ô thành phố, dừng lại thở lấy sức, trung tá nhìn thấy các chiến sĩ của trung đoàn công nhân đang phản kích.

        Đi trước, gần Bốt-đa-nốp là chính ủy trung đoàn, cán bộ tỉnh ủy Tơ-ri-phô-nốp, thinh thoảng lại quay nhìn các chiến sĩ của mình và lúc đó mới trông rõ nét mặt căng thẳng tập trung của ông y như nét mặt của những người leo núi.

        Từ sau những ngôi nhà thấp, rải rác ở ngoại ô, các chiến sĩ xuất hiện, tiến thành những hàng không đều nhau, tay lăm lăm súng trường cắm lưỡi lê sáng loáng. Gió tạt vào lưng mọi người, thổi bay tà áo bành tô và ca pốt của họ. Trên đầu một thanh niên nào đỏ chiếc mũ cát-két nhung phồng lên như quả bóng chuẩn bị bay. Một người mặc áo bành tô lông đi gần Bốt-đa-nốp dường như đã dùng hết mình ghì chặt khẩu súng trường vào sườn. Có người nghiêng hẳn về phía trước. Mặc dù mọi người đi trên cánh đồng bằng phẳng, song dường như họ đang leo trên sườn dốc dựng đứng đầy khó khăn.

        Tơ-ri-phô-nốp nhanh chóng quay lại, giơ tay, gào lên tiếng gì đó rồi tiếp tục chạy. Bốt-đa-nốp chỉ nghe vọng đến chỗ mình một từ « Nhân dân » và sau đó các chiến sĩ chạy theo người chính ủy của mình trong không gian đặc khói, đầy tiếng súng cực kỳ nguy hiềm, nặng mùi hôi thối và bị đạn chì xé rách...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Năm, 2020, 12:00:51 pm

8

        Sau trận chiến đấu ban đêm với xe tăng địch, chi còn lại một mình Pa-ven Grô-mốp trong số các cán bộ đại đội của trung đoàn công nhân : chẳng biết số phận của chính trị viên ra sao, xác ông vẫn chưa tìm thấy, hai trung đội trưởng khác cũng đã hy sinh. Suốt nửa đêm đó, Pa-ven dẫn đại đội về thành phố để bắt liên lạc với trung đoàn của mình. Con đường thẳng qua làng Mới đã bị bọn Đức chiếm và họ đành phải đi vòng về phía đông qua cánh đồng với nhiều cánh rừng và khe suối. Sau nửa đêm, mưa trút xuống, những vũng nước không trông thấy bì bõm dưới chân, chỉ lát sau, tất cả đều ướt đến tận xương. Mọi người chậm chạp mò mẫm trong bóng tối mù mịt, phải mang theo thương binh và lách qua cây đổ, vượt qua những dòng suối nước dâng lên vì mưa thu. Ánh sáng rất nhạt xa xa phía chân trời tắt dần vì mưa và những phát pháo hiệu đủ màu sắc dường như bị phai mờ, mất đi vẻ rạng rỡ của chúng trong đêm tối dày đặc. Thỉnh thoảng từ bóng đêm vọng lại tiếng xe tăng rú ga và pháo sáng bay gần đến nỗi dễ dàng nhìn thấy nét gạch trăng trắng của trận mưa trong bầu không khí bừng sáng rực lên trong chốc lát. Lúc đó, họ lại phải ẩn vào bóng tối. Có tám người bị thương nặng, các chiến sĩ thay phiên nhau cáng họ trên những chiếc chăn và áo bạt được buộc vào cành cây. Mấy lần Pa-ven đến chỗ thương binh để thăm trung úy đại đội trưởng và trao đổi ý kiến với anh, nhưng có lẽ do bị mất nhiều máu nên trung úy đang bị ngất lịm. Khi các chiến sĩ mang cáng tự tạo vấp phải cái gì đó, Pa-ven cúi xuống và nghe thấy tiếng thở mạnh dồn dập lẫn với tiếng rên. Bất ngờ, một giọng nói gay gắt nghiêm khắc quen thuộc nhưng rất yếu của người chỉ huy vọng tới tai Pa-ven.

        — Phải nhanh chóng lao qua làn dạn — trung úy nói rành mạch. — Trong những trường hợp này cần phải sử dụng — anh thở một cách mệt nhọc và lẩm nhẩm thêm điều gì đó không rõ.

        Pa-ven bấm đèn pin, trong tia sáng xanh nhạt hiện rõ mái đầu bồng bềnh như sóng của trung úy, khuôn mặt nhợt nhạt cứng đờ của anh với đôi mắt nhắm nghiền ướt nước mưa trông như những giọt nước mắt.

        — Hỏa lực, lá chắn tốt nhất của bộ binh khi tiến công... — Anh lại nói rành rọt, mắt vẫn nhắm nghiền — Mở cuộc tiến công chớp nhoáng vào hào giao thông của địch... Hãy cho phép tôi, đồng chí giảng viên... Cho phép tôi nói...

        Pa-ven đưa tay gạt những đám nước mưa đọng lại trong nếp gấp của chiếc áo bạt đắp trên người trung úy. Ngoài việc đó ra, trong những phút này, anh không thể làm điều gì hơn nữa cho người chỉ huy của mình. Đầu trung úy lắc lư, đôi lông mày rậm làm anh mất đi vẻ hiền từ nhíu lại và dựng dứng lên.

        — Vẫn cứ chỉ huy, vẫn cứ tiến công, tiến lên phía trước — chiến sĩ giữ cáng thầm thì nói trong bóng tối. — Lúc này thì không sao cả, cứ nằm yên.

        Sau cuộc chạm trán đầu tiên với kẻ thù, cũng giống như người trung úy bị thương và có thể là đang hấp hối này, chính Pa-ven rất khao khát trả thù. Anh cảm thấy bị đau xót, bị dằn vặt, điều này thường nảy sinh ở những người có lương tâm và tốt bụng — bởi lòng căm thù và xấu hồ suốt ngày hôm nay đang cắn rứt anh. Anh cảm thấy vô cùng đau khổ và không thể tha thứ cho mình về sự thất bại mà anh cho là thảm hại của trận đánh, trong đó anh đã tham gia, và cái chết của dồng chí mình. Anh lại thúc giục mình, thúc giục các bạn mình, anh bị giày vò bởi nỗi khiếp sợ không đến kịp thời gian...

        Đội quân ít người đó đã tốn khá nhiều thời gian mới vượt qua được khe suối rất rộng trong rừng. Dưới đáy khe, nước đen ngòm chảy ào ào và chẳng nhìn thấy bờ bên kia ở đâu nên các chiến sĩ không thể liều lĩnh đi tiếp được dành chùn lại bên các bụi cây trên bờ. Pa-ven vượt lên đoàn người. Lúc này anh có một tinh thần sẵn sàng làm gương cho các đồng chí nên không do dự, vịn cây xuống nước đầu tiên. Nước ở giữa dòng sâu quá đầu gối, mùi lá thối thum thủm bốc lên, nhưng anh vốn đã ướt sũng rồi nên không cảm thấy rét lạnh nữa. Một cành cây cong bật vào tay làm anh bị xước da. Sang tới bờ bên kia, Pa-ven quay lại và cư đứng ở giữa dòng nước ra ỉệnh chuyền thương binh sang. Nâng súng trường và cáng lên cao, các chiến sĩ thận trọng vượt qua suối.

        Một số người bị ngập xuống dòng nước đen tới thắt lưng, tới ngực, còn Pa-ven thì chạy sang chạy lại, luôn miệng nhắc:

        — Can đảm lên, bước ngắn thôi!... Nào các bạn, bước ngắn thôi, bước khẽ thôi...

        Những con người vừa mệt vừa rét im lặng và giọng nói của anh tắt dần trong tiếng nước chảy ào ào cùng tiếng mưa rơi róc rách. Leo lên bờ cuối cùng, Pa-ven lại vội vàng chạy lên phỉa trước, xô phải mấy người đang giũ giầy tất. Bỗng anh nghe thấy giọng Trô-sin cạnh mình.

        — Xo... ong rồi,, đầy... ày ủng nước... Cảnh ngộ thật... là, mẹ kiếp... — Anh kia đang cau có văng tục.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Năm, 2020, 12:01:17 pm

        Chắc Trô-sin đã mệt lử và Pa-ven cảm thấy rất thương người bạn cũ của mình.

        — Ê-go! Anh gọi — Cậu cảm thấy thế nào?

        Trô-sin không trả lời và Pa-ven hú họa đi tới chỗ anh, nói vẻ thông cảm.

        — Thế này, này, cậu... Cậu hãy vận động, vận động... Cởi ủng ra dốc nước...

        — Thôi được... Thì... ì cậu cứ vận động đi... — Ê-go bực dọc lẩm bẩm. Anh thực sự đã rét tận xương, song Trô-sin bực tức vì dường như lúc này anh chàng Pa-ven khỏe mạnh vẫn chẳng làm sao. — Mình không ganh tị, phàn nàn gì về cậu đâu.

        — Pa-sa ! — Giọng của Bô-cốp bỗng vang lên bên cạnh — Pa-sa, mình cứ nghĩ liệu quân ta ở trong thành phố có đẩy được bọn Đức đi hay không? Ở đấy hãy còn nhiều người chưa kịp đi sơ tán. — Bô- cốp tiến lại gần đến mức Pa-ven lờ mờ trông thấy mặt anh.

        — Tóc xoăn, cậu đấy hả? Anh kêu lên. — Quân ta sẽ đẩy được chúng, nhất định sẽ đẩy được... và chúng mình sẽ tới...

        — Vậy thì nhanh nhanh lên chứ. — Bô-cốp nói, giọng anh như trôi đi theo tiếng nước chảy, — Mình cứ luôn nghĩ về những người dân thường, mối nguy hiềm của họ rất lớn.

        «Cậu nghĩ về Ma-ri-na thì có » — Pa-ven thầm sửa lại lời Bô- cốp. Anh cũng nghĩ tới những người thân của mình, tới Na-ta-sa, tới bố, tới bà cô, anh hình dung những đường phố quê hương như dường phố của cái thời ấu thơ, rất nhộn nhịp đông vui. Và anh cất giọng to, vang:

        — Các bạn ơi, cố gắng lên!... Tất cả những gi đã qua không phải là những gì khó khăn nhất... Cần phải cố gắng để không kẻ thù nào đè bẹp được chúng ta... Cần phải cứng rắn như sắt thép. — Chính Pa-ven cũng ngạc nhiên là tại sao mình lại có thể nói bay bướm đến thế, song chính những lời nói này đã biểu hiện chính xác ý nghĩ của anh.

        — Thôi đừng tuyên truyền nữa... Hiểu rồi — Ê-go nói.

        Nỗi bực tức trong lòng bỗng nhiên như truyền thêm cho anh sức mạnh.

        — Nào, nhanh lên nào... — Bô-cốp lặp lại.

        Cuối cùng trời cũng hửng sáng, bầu không khí xám lại tựa như một vài giọt sữa tan vào trong đó. Trong bóng tối lờ mờ hiện ra những bụi cây, cành cây và thân cây, còn giữa chúng thấp thoáng những bóng người như đang bơi trong sương mù. Tới thành phố, còn phải đi bộ hơn tiếng rưỡi nữa. Lúc đêm, khi đi qua rừng, Pa-ven đã rẽ sang hướng khác nên bây giờ phải quay ngoặt lại. Chẳng mấy chốc đã nghe thấy tiếng súng liên hồi và tiếng pháo ầm ầm. Chắc là bọn Đức đã bắt đấu nã pháo chuẩn bị cho cuộc tiến công. Pa-ven vội rảo bước. Chỉ đến khi đại đội đã tới cánh rừng ngoại ô quen thuộc mà mùa hè phần lớn các chiến sĩ ở đây thường đưa gia đình đi nghỉ vào những ngày chủ nhật, anh mới cho mọi người dừng lại và kiểm điểm quân sổ. Cả thảy có sáu mươi hai người, kể cả số bị thương nhẹ sau trận chiến đấu và cuộc hành quân đêm qua. Vũ khí gồm một đại liên, hai trung liên, súng trường và lựu đạn đều còn đầy đủ cả. Pa-ven đứng đầu đoàn quân nhỏ và định tiếp tục hành quân thì bỗng nhiên có lệnh, đại đội trưởng gọi anh tới.

        Trung úy bị thương tinh dậy lúc rạng đông. Có thể nghĩ rằng tiếng vang của trận đánh gần đây đã làm anh thức giấc. Ngồi trên chiếc cáng đặt dưới đất, trung úy gặng người phụ tá của mình với câu nói tuy nhỏ nhưng nghiêm khắc: «Báo cáo đi, đồng chí trung đội trưởng!». Sau khi nghe Pa-ven báo cáo về cuộc hành quân ban đêm, trung úy ra lệnh đưa anh ra mép rừng.

        Dưới làn mưa xối xả, từ sau những bụi cây non rậm rạp có thể trông rõ ngoại ô thành phố, dãy hàng rào dài của sân vận động, những đống gạch chuẩn bị xây, những vườn rau, mái nhà, ống khói nhà máy, về phía tay trái ở hướng nghĩa trang thinh thoảng lại bốc lên những cuộn khói xanh lam. Khung cảnh trông không có vẻ gì đáng sợ lắm, song bầu không khí ẩm ướt như bị rung chuyển bởi tiếng súng và hình như có một đám cháy sau quả đồi trọc, nay đang tỏa ra từng đám khói vàng trước làng Mư-skin.

        — Đồng chí trung úy — Pa-ven khàn khoản nói. — Chúng ta còn đợi gì nữa? — Toàn thân anh run run, lúc này anh cũng cảm thấy lạnh. — Đồng chí thứ lỗi, nhưng hình như chúng ta không nên đề mất thời gian.

        — Hình như, hình như... — Trung úy ngắt lời Pa-ven. — Đến bao giờ thì anh học được cách nói bình thường?

        Vịn vai các chiến sĩ, anh đứng một chân bên cáng của mình, còn chân kia bị băng từ mẵt cá tới quá đầu gối co lên. Bất chấp đến vết thương, đến sự mệt nhọc và cơn đau đang phải chịu đựng, vừa tỉnh dậy là anh lại nắm quyền chỉ huy ngay. Thậm chí Pa-ven cũng không cảm thấy ngạc nhiên về điều này: bao nhiêu là sức lực chứa đựng trong từng lời nói, trong nét mặt nhợt nhạt đẫm nước mưa với đôi mẵt lõm sâu của anh.

        — Anh có thấy không? Chúng ta đã tới sườn của bọn Đức, —  co một chân bị thương lên và nhìn nhanh ra các hướng, trung úy nói tiếp. — Bọn Đức tiến công dọc theo đường cái và điều này không có gì lạ. Quân ta đang ở trong thành phố... — Vì sơ ý quệt chân đau xuống đất, anh nhăn mặt. — Quân ta đang đánh trả cuộc tiến công của chúng! — Anh kêu lên, cố nén cơn đau của mình.

        — Quân ta đang chiến đấu! — Pa-ven vô tình thốt lên.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Năm, 2020, 12:01:47 pm

        Lúc này, nỗi bực tức và xấu hổ giày vò anh suốt đêm đã biến thành cảm giác nặng nề không sao chịu nổi và bằng bất kỳ giá nào cũng phải thoát khỏi nó. Anh vươn vai, thân hình to lớn, lồng ngực nở nang như muốn bung ra trong chiếc bành tô ướt đẫm và chiếc mũ lông ướt sũng bám chặt lấy đầu, người anh run lên như muốn giữ khỏi mình một vật nặng vô hình đang đè lên anh. Đôi mắt dưới vầng trán dô cao sáng lên đến nỗi con ngươi hầu như lẫn vào với lòng trắng làm cho khuôn mặt anh trở nên sắc sảo lạ thường.

        — Cái gì ở kia? — Trung úy hỏi. — Sông phải không?

        Tay trung úy bị vướng và anh hất hàm chỉ về bên phải, nơi khoảng giữa đoạn đường từ mép rừng tới hàng rào sân vận động có hàng liễu trụi lá thẳng tắp.

        — À, phía ấy à? — Pa-ven hỏi lại — Đấy là khe hẻm Ni-cô- lin. Một thời nào đó, đấy là con sông nhỏ, còn bây giờ chỉ là một cái khe cạn.

        — Có dễ dàng vượt qua được không? Chắc là bây giờ đang có nước phải không? — Trung úy hỏi.

        — Cần phải rẽ xa hơn về phía trái. Gần nghĩa trang thì hoàn toàn nông. —. Pa-ven trả lời.

        — Anh dẫn mọi người tới đó đi. Bây giờ ta đi. —Trung úy ra lệnh. — Còn bây giờ để tôi nằm một lát, cho tôi xuống đi. — Anh nói với các chiến sĩ.

        Xuyên qua các lùm cây, Pa-ven chạy vào giữa rừng. Tiếng pháo gầm vẫn không ngớt và Pa-ven vừa chạy vừa ra lệnh, Song không phải thúc giục mọi người, họ đã tỉnh táo ngay từ khi hửng sáng và sôi nổi hẳn lên... Mặc dầu mọi người rất mệt mỏi, nhưng đã xảy ra một điều là tất cả những gì mà con người phải chịu đựng trong đêm qua đã làm họ dày dạn, coi thường những thử thách mới, nặng nề nhất. Thậm chí một chiến sĩ bị thương ở đầu, với lớp băng dày đẫm nước ở trán còn vui vẻ huýt sáo theo tiếng chim hót. Tuy vậy, một số chiến sĩ bị rét cóng tới mức chấp hành mệnh lệnh một cách máy móc như nửa tỉnh nửa mơ. Trô-sin lảo đảo đứng vào vị trí của mình, đấu rụt vào cổ áo bành tô dựng đứng. Chắc là thông cảm với bạn chiến đấu, một thanh niên đứng cạnh anh với khuôn mặt Di-gan da bánh mật — Pa-ven đã biết tên anh ta là Ni-cô-lai Ô-khốt-nhi- cốp — chìa túi thuốc lá cho Trô-sin.

        — Xin mời đồng chí kỹ sư! Thuốc lá cuộn làm cho con người rất dễ chịu. — Anh nói.

        — Nà... ào thử xem. Trô-sin lắp bắp. — Nói chung tôi không hút thuốc lá.

        Thợ mỏ A-nhi-xi-mốp có bộ râu ướt sẫm nước bị vón lại thành từng túm nhỏ, nói mỉa với anh bạn thợ đốt lò cao kều gù lưng Đru- giơ-nhi-cốp :

        — Làm gì mà nhăn nhó vậy, hả chàng trai? Nhớ cà phê phải không? — Anh hỏi, giọng vang vang.

        — Thế anh không nhớ à? — Dru-giơ-nhi-cốp trả lời.

        — Buổi sáng mình không uống cà phê, mình thích rượu cơ. — A-nhi-xi-mốp đối đáp.

        « Thật là vàng chứ không phải là người » — nghe thấy điều này, Pa-ven thầm nghĩ. Những giọt nước to lạnh buốt trên các cành cây rơi xuống làm anh ướt từ đầu tới chân, song người anh đã nóng rực vì cử động nhiều, đôi má cao của anh ửng hồng và thậm chí anh có vẻ khoái chí tựa như được tắm dưới vòi hoa sen này. Đại đội nhanh nhẹn vừa tiến tới mép rừng thì người liên lạc do trung úy cử tới truyền lệnh: tạm thời không ra khỏi cánh rừng. Không hiểu nguyên nhân của việc trì hoãn này, Pa-ven chạy tới gặp đại đội trưởng.

        Trung úy đang ngồi, tay vịn vào thành cáng, hai má hóp lại. Anh lặng lẽ hất hàm về phía trái chỉ cho người trung đội trưởng của mình, song Pa-ven chẳng nhìn thấy gì mới lạ cả. Cánh đồng cỏ trải rộng trước mặt anh vẫn ắng lặng, ở một số chỗ trũng, nước lấp lánh như muối, xen lẫn những đám cỏ màu nâu. Ở phía tay trái, từng đám khói vàng vẫn ùn ùn cuộn lên trên làng Mư-skin, còn chếch nữa về phía tay trái gần như trên một đường thẳng với cánh rừng mà đại đội đang ẩn nấp, có một đám sương mù màu trắng đang phủ lên trên rìa cánh rừng khác. Và sau một lát nhìn rất chăm chú, Pa-ven mới phát hiện ra bóng người trong đám sương mù.

        — Chuẩn bị chiến đấu! — Không quay lại phía Pa-ven, trung úy nói nhỏ. — Đại đội mai phục ở đây, ở rìa rừng... Cho đại liên tới chỗ tôi! Phải thật nhẹ nhàng, bí mật! Thi hành đi!

        « Hừ, té ra là!...» Suýt nữa Pa-ven thốt lên. Các chiến sĩ vội   vàng lặng lẽ nắm xuống, trườn qua cây cối, chuẩn bị tư thế, lên đạn, để sẵn lựu đạn cạnh mình. Pa-ven cầm súng trường chạy lom khom tới cây bạch dương. Lúc này, anh có thể nhìn rõ kẻ thù của mình. Qua cánh rừng, chúng rẽ sang hướng trái đi theo đường chéo của một bãi trống tới khe hẻm Ni-cô-lin. Bọn Đức đi thành từng dãy dài lộn xộn. Chúng mặc ca pốt xanh sẫm, đội mũ sắt, đi ủng ngắn, còn những khẩu súng ngắn tự động mà chúng để ở giữa bụng trông từ xa giống như những con côn trùng lớn màu đen. Pa-ven đã mất đi cảm giác nặng nề và lúc này như được tiếp thêm sức mạnh, anh cảm thấy căng thẳng. Đảo mắt nhìn quanh, Pa-ven thấy nằm bên những bụi cây, dưới những cây thông, câv bạch dương là các chiến sĩ: Su-kin, Đru-giơ-nhi-cốp, ô-khốt-nhi-cốp, Bô-cốp và một số người nào đó nữa, với những lưỡi lê tuốt trần, những chiếc ủng dẫm nước. Mặt người nào người nấy đều rất căng thẳng và theo Pa-ven, chúng giống nhau một cách đáng ngạc nhiên. Chỉ có O-khốt-nhi-cốp tuy mắt vẫn không rời bọn Đức, song mỉm cười ngượng nghịu y như thể cậu ta đang nhìn một cái gì đó đáng xấu hổ mà lẽ ra không nên nhìn.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Năm, 2020, 09:05:34 pm

        Trung úy ngồi trên chiếc cáng bên trái Pa-ven, đăm đăm nhìn thẳng về phía trước. Đôi tay anh phải chống giữa thân hình yếu đuối đã quá mệt mỏi nên lúc thì gập xuống, lúc lại run rẩy duỗi ra và có lúc anh hơi cúi xuống, lúc thì ưỡn ngực nhỏm đầu lên.

        « — Còn chờ gì nữa! Nào! Bắt đầu thôi!... » — Pa-ven khẩn khoản nhìn anh, nhưng trung úy vẫn không quay lại.

        Trong khi đó bọn Đức đã tới khe hẻm Ni-cô-lin. Đúng là ở đó đã ngập nước nên bọn chúng ùn lại trên bờ và giãn ra hai bên. Từ cánh rừng, mẩy chục tên mang súng máy cùng những hòm kim loại vuông đang đi tới. Lúc này Pa-ven chỉ cách đám người mặc ca pốt xanh đục này — có tới khoảng hơn hai trăm, cả mội tiểu đoàn không đây trăm rưởi mét. Những mệnh lệnh nghe không rõ vì đạn pháo át đi vọng tới tai Pa-ven: chắc là bọn Đức quyết định vượt qua khe hẻm. Anh lại đưa mắt nhìn đại đội trưởng, lúc này anh đang nhoài cả người tới chỗ anh. Pa-ven nhanh nhẹn nghiêng người tới và tuy không nghe rõ, nhưng anh hiểu được qua đôi môi mấp máy:

        — Nổ súng !

        Anh lùi lại một bước, hít mạnh một hơi đày không khí, nhìn sang những cây thông xanh, cây bạch dương trụi lá và gào lên:

        — Bắn! Bắn!

        Nhiều loại đạn nổ cùng lúc, khẩu súng máy rền lên một tràng rất dài, còn Pa-ven giơ khẩu súng trường lên, chân bước cả vào vũng nước bẩn ở phía trước, vội vàng lên đạn, bán hết trọn cả băng. Khi thay băng, Pa-ven nhìn thấy kẻ thù chạy tán loạn tứ tung, chen chúc, xô đẩy nhau và điều này làm anh vô cùng sung sướng, chác rằng, chưa kịp hiểu là bị tiến công từ hướng nào, bên bọn Đức lùi khỏi rãnh nước. Kẻ thì ngã xuống, xác chồng chất lên nhau, kẻ thì bò, gió thổi tung những tà áo ca pốt. Những đám khói xanh chập chờn cùng ánh lửa lóe lên giữa những cây thông giống như những túp lều xanh và những thân cây bạch dương khỏe mạnh bóng loáng. Pa-ven bóp cò, lúc này anh chẳng nghĩ đến điều gì khác ngoài việc làm sao bắn được nhiều hơn, bắn, bắn, bắn...

        Mỗi phát súng đều giật vào vai anh, mỗi viên đạn bay ra như một phần của cơ thể anh, làm cho kẻ thù khiếp đảm trong khoảnh khắc này. Một cái gì đó xào xạc ở xung quanh và một cành cây nhỏ bị mảnh chì tiện đứt rơi xuống đầu Pa-ven: ở một vài chỗ, bọn Đức đã bắt đầu bắn trả, nhưng anh hoàn toàn không nhận thấy điều này. Đôi mắt rực sáng lạ thường của anh dường như không nhìn thấy gì...

        Do bị tiến công chính diện bất ngờ, bọn Đức bị thiệt hại khá nặng. Ngay trong những phút đầu tiên của trận đánh, gần một phần ba tiểu đoàn của chúng bị loại khỏi vòng chiến đấu. Tuy vậy, chúng vẫn còn ưu thế về số lượng và chúng đã chống trả mỗi lúc một mạnh hơn, Và điều đó có nghĩa là không được cho chúng trấn tĩnh, lách vào khe hẻm và tổ chức phản kích... Song chỉ sau này, khi trận đánh đã kết thúc, Pa-ven mới hiểu được nhiều điều xảy ra lúc này và anh nhớ lại người trung úy của mình với tấm lòng biết ơn và cảm phục.

        Khi thay băng đạn thứ hai, bỗng nhiên Pa-ven trông thấy trung úy đứng cạnh anh, chẳng vịn vào ai cả, tựa như có một sức mạnh diệu kỳ nâng anh dậy. Vung tay lên phía trước như định bắt một vật gì đó, khuôn mặt trắng trẻo với đôi mắt rực sáng long lanh hướng về phía Pa-ven, người thanh niên ấy gào lên. Và khi lắp băng đạn mới vào súng trường, qua những tiếng súng liên hồi, Pa-ven mới nghe được:

        — Tiến lên đi! Xông lên đi! — Trung úy hô.

        — Tiến lên! — Pa-ven gào to đến nỗi mọi người đều nghe thấy tiếng anh. — Tiến lên!

        Anh lao ra khỏi cây bạch dương và chẳng thèm cúi người xuống, chạy như bay dẫn dầu toàn đội. Một cảm giác khao khát nóng bỏng dâng lên trong người Pa-ven, y như những ngày hè nóng rực mỡ được nhảy vào bề nước lạnh. Bên trái và bên phải anh, mọi người vừa hò hét vừa chạy theo một hướng với anh, đất bắn bắn lên dưới chân họ, và một người nào đó ngã sóng soài trên bãi cỏ ướt. Song sự say mê của Pa-ven mỗi lúc một tăng... Chỉ có điều là không hiểu sao anh đã bắt đâu nhìn kém đi, một giọt gì đó từ hàng lông mày nhỏ xuống mắt anh và Pa-ven vừa chạy vừa lắc đầu.

        — Tiến lên! — Anh hô, từ trên  trán, máu chảy xuống khuôn mặt to, hiền từ, say sưa và hạnh phúc của anh.

        Không kịp ẩn nấp, bọn Đức lao tới cánh rừng nơi chúng xuất phát, sau đó một số lại quay trở lại khe hẻm. Theo mệnh lệnh của trung úy, các xạ thủ súng máy lao ra khỏi những cây thông và những khẩu súng máy đã chặn đứng con đường rút lui vào rừng. Lọt vào góc bắn nhỏ của hỏa lực không ngớt, những kẻ mịc áo ca pốt xanh đục lại bắt đầu ngã xuống.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Năm, 2020, 09:06:56 pm

        Còn lại một mình ở mép rừng, trung úy kịp nhìn thấy sự thất bại và cuộc tháo chạy của quân thù. Trên một mảnh đất bằng phẳng, xác chúng nằm ngồn ngang, những tên bị thương khẽ cựa quậy ở phía tay trái, một số tên chưa bị đạn chạy ẩn vào đám sương mù màu trắng ở bên phải. Chỗ khe hẻm Ni-cô-lm lẻ tẻ vang lên tiếng súng và lựu đạn. Tại đấy, một tốp lính Đức còn chống trả lại... Khi niềm say mê thắng lợi đã nguôi đi , người sĩ quan trẻ cảm thấy vô cùng đau đớn, anh ôm lấy thân cây bạch dương và đôi bàn tay cào vào những cành con, anh quỳ xuống đất.

        — A-a-a-a-a! — Vung khâu sủng trường quá đầu như vung quả chùy, Pa-ven gào lên tuy chẳng nghe thấy tiếng mình. Máu đã ứ lại, chập chờn trên hàng lông mi của anh và anh cỏ cảm giác tất cả xung quanh như đang bay lơ lửng trong màn sương hồng... Một khuôn mặt tròn với hàng ria con kiến, méo xệch vì khiếp đảm của tên lính đội mũ sắt, bất ngờ xuất hiện trước mặt anh, anh vội nện vào đấy một báng súng và bộ mặt với hàng ria mất đi... Pa-ven lấy tay áo lau trán như vẫn lau mồ hôi; bóng tối chập chờn mất đi và anh liền trông thấy Ê-go Trô-sin đang quần nhau vợi hai tên lính đội mũ sắt cách anh mấy bước. Trô-sin bận chiếc bành tô xám, dựa lưng vào thân cây, hai tay lia lịa đâm súng trường tuy không thành thạo nhưng rất nhanh. Một tên Đức mặc ca pốt đứt đây nịt, vung báng súng xông tới chỗ anh. Còn tên thứ hai vừa mới chạy đến và hắn vội vàng lên đạn súng ngắn.

        — Ê-go! — Pa-ven kêu lên và lao tới giúp bạn.

        — Pa-sca! — Giọng nói đứt đoạn ,của Trô-sin vọng tới tai anh. —  Để mặc-mình với nó...

        — Mình tới đây... Ê-go! — Vừa lao tới, Pa-ven vừa gào lên.

        Song chính trong khoảnh khác đó, Trô-sin cong hẳn người lại như bị bẻ gãy toàn thân và anh ngã gục xuống gốc cây: thằng Đức thứ hai đã bắn súng ngắn trúng anh. Tên lính với chiếc nịt bị đứt nhìn Pa-ven, thét lên và quẳng súng chạy. Pa-ven lao tới thằng Đức đã bẳn chết Trô-sin, những viên đạn bay vút qua mặt anh, sượt qua mũ lông. Anh đâm lê với một sức mạnh phi thường, đến nỗi chính anh cũng không đứng vững nữa và ngã khuỵu xuống. Máu từ trán lại chảy xuống mắt Pa-ven và bỗng tất cả lại chìm trong bóng tối.

        — Mình tới đây! — Lắc đầu đè rũ khỏi mắt cái quầng tối này, Pa-ven lại điên cuồng gào lên.

        Khi anh đứng dậy được và nhìn quanh thì chẳng còn mội ai sống sót ở gần đó cả. Ở phía trước, trên bờ khe hẻm Ni-cô-lin, các chiến sĩ đang chạy và ở nhiều chỗ, từng tốp, từng tốp người đội mũ sắt, mặc ca pốt xanh đang giơ tay lên khỏi dầu. Dưới gốc cây, Trô- sin không hề động đậy, dúm người lại chân co lên tận bụng...

        Mười lăm phút sau, những người còn lại của đại đội vừa áp tải tù binh vừa dìu những người bị thương và mang theo những người hy sinh vượt qua khe hẻm, trở về thành phố. Trung úy lại bất tỉnh, im lặng nằm trên cáng. Vừa đi, Pa-ven vừa nhìn những người đồng chí của mình. Có vẻ như làn đầu tiên anh mới gặp anh bạn thợ mỏ tập sự Ô-khốt-nhi-cốp mắt đen — Pa-ven cảm thấy khuôn mặt xám lại của anh ta rất mới lạ và dị thường ; như mới thấy người thợ mỏ A-nhi-xi-máp đang giải tù binh, Trê-kin và Mi-khai-lốp đang cười nói đầy vẻ kích động; nhìn anh thợ tiện Bô-cốp với biệt hiệu Va-nhi-a tóc xoăn, rồi đến anh thợ lò Su-kin với cánh lay quấn băng loang máu. Giờ này đây, tất cả những gì trước anh, cả từ những người công nhân chiến sĩ vừa đánh thẳng kẻ thù mạnh gấp tới bốn lần mình, đến bầu trời đùng đục như sà thấp xuống cái nơi họ vừa mới chiến đấu xong, nào mặt đất mềm sũng ướt đẫm nước mưa, mảnh đất mà họ đã giữ vững được cùng những cây liễu với cành tán lả lướt như những mái tóc buông xoã. Trong giờ phút này, tất cả đều như mơi lạ, như thể lần đầu anh mới được trông thấy chúng, hay nói một cách chính xác hơn là lại tìm thấy chúng. Lấy khăn lau trán, Pa-ven cười rất to, gào lên, vẫy tay...

        Đôi lúc như tỉnh giấc, Pa-ven chợt nhớ tới Trô-sin. Bên tai anh lại vọng lên tiếng kêu: « Pa-sca! Để tự mình giết nó...» — và vô tình anh rảo bước, như thể muốn thoát khỏi tiếng kêu này.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Năm, 2020, 09:07:28 pm

        ... Khi Bốt-đa-nóp đến được trung đoàn công nhân thì tình hình ở đó thực sự rất căng thẳng. Làng Mư-skin đã bị bọn Đức chiếm, một số xe tăng đã thọc tới tận cửa ô. Song, tuy đã rút quân khỏi làng, trung đoàn vẫn tiếp tục đánh trả. Và từ những công sự đào vội, từ những hố đạn, từ những con mương, từ những hàng rào, họ vẫn nổ súng, vẫn giành với bọn Đức từng tấc đất quê hương thân yêu. Một đại đội của trung đoàn đã mất sức chiến đấu ngay từ giờ chiến đấu đầu tiên, bỏ chạy vào phố bị những người dân — phụ nữ và ông già — ngăn lại trên quảng trường, sau khi quay lại trận địa, liền xông vào trận đánh. Một đại đội khác bị bao vây ở ngay trong làng vẫn kiên trì chống cự trong những công sự bằng đá ở đó. Xe tăng Đức đã đến được ngoại ô T. gặp phải hỏa lực pháo binh ngăn chặn và không thể nhích thêm được nữa. Song lúc này, sườn phải của trung đoàn có nguy cơ bị chọc thủng... Đài quan sát mà Bốt-đa-nốp và đại úy Tra-skin đặt trên tầng thượng gác chuông nghĩa trang mái vòm chạm tới những cành cây dương cổ thụ khổng lồ mọc ở chung quanh. Tra-skin là một thanh niên cường tráng, thân hình to khỏe như người khổng lồ, mái tóc sáng và bộ ngực rắn rỏi nở nang, đeo súng ngắn và xà cột ngang hông, luôn luôn đi đi lại lại, lúc thì quan sát qua cửa sổ hình bán nguyệt, lúc thì quay lại phía các chiến sĩ liên lạc lúc thì đi tới máy diện thoại và phải luôn luôn cúi đầu để khỏi va vào quả chuông. Khi đã gọi điện xong, hay nói một cách chính xác hơn là hét lên để ra lệnh, Tra-skin đưa vội ống nghe cho chiến sĩ thông tin và hất mái tóc vàng óng phủ trên trán cho gọn, nhìn sang Bốt- đa-nốp. Có thể nói rằng, dù đầu óc đang phải tập trung rất căng thẳng vào trận đánh, đại úy vẫn lo lắng trước sự có mặt của người đại diện cấp trên cực kỳ nghiêm khắc mà hôm qua anh đã được nếm mùi.

        Đạn cũng nổ ngay trong địa phận nghĩa trang thành phố, đất đá bắn tứ tung, khói tỏa ra khắp nơi quyện vào những cây cổ thụ phải ba người ôm mới xuể, những chiếc lá bị cuốn lên rất cao. Sau đỏ khói bay ra khỏi hàng rào, song những chiếc lá vẫn còn lững lờ ở trên nghĩa trang và cảnh này thật giống cảnh rụng lá muộn màng đang bị gió cuốn đi.

        Bốt-đa-nốp đứng im lặng trước cửa sổ, thọc những ngón tay mập mạp vào dây da và ghì chặt lại. Dĩ nhiên là đứng trên sở chỉ huy của trung đoàn trưởng trung đoàn công nhân, Bốt-đa-nốp chỉ thấy một phần nhỏ của trận đánh... Anh vẫn chưa biết rằng ở ngoại ô phía Tây, nơi các đơn vị chủ lực đang chốt giữ những cuộc tiến công của bọn Đức đã hoàn toàn bị đẩy lùi, còn ở phía Đông thành phố, nơi cả một binh đoàn bộ binh chiếm giữ tuyến phòng thủ, kẻ thù cũng bị chặn đứng lại, chịu tổn thất rất nặng và các đơn vị sung sức của ta đã được chuyển tới thành phố cùng với xe tăng Hồng quân đang lao tới ngoại ô phía Nam. Đối với Bốt-đa-nốp, thông thường hình như tất cả sự căng thẳng của trận đánh đều tập trung vào nơi anh đang đứng. Và anh cảm thấy rằng lúc này mũi tiến công chính của kẻ thù đang nhằm vào trung đoàn công nhân và có thể là ở nơi đây sẽ quyết định sự thành bại của trận đánh, tương tự như những gì đã xảy ra với trung đoàn NKVĐ ba giờ trước đây... Đứng lặng yên nghe đại úy Tra-skin ra lệnh, chuyển các chiến sĩ diệt tăng tử vị trí này sang vị trí kia, nghe anh gọi pháo binh và chỉ chính xác mục tiêu, nghe anh động viên người này, cảnh cáo người kia, Bốt- đa-nốp thầm đồng tình với tất cả mệnh lệnh anh đã ra. Song, quân địch vẫn nhích lên được theo hưởng chính diện và sườn bên phải, bất chấp tồn thất, bọn Đức vẫn chiếm hết điểm nọ tới điểm kia: con mương, công sự, khu hẻm, sân nhà, vườn rau; cứ như gặm dần từng miếng hệ thống phòng thủ của ta.

        Tra-skin đã khản cổ tuy vẫn gào thét nói qua điện thoại hoặc phái các chiến sĩ liên lạc đi làm nhiệm vụ. Nhưng anh vẫn luôn liếc nhìn Bốt-đa-nốp, có vẻ như thái độ lặng thinh nặng nề của người trung tá thấp lùn này đã gây cho Tra-skin một ấn tượng là cấp trên hoàn toàn không hài lòng. Và người đại úy trẻ quay đi, hất mở tóc lòa xòa trên trán, như thể nói rằng : « Tôi chỉ huy theo ý định của tôi và tôi không quan tâm đến việc những người khác nghĩ về điều này như thế nào ».


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Năm, 2020, 09:08:22 pm

        Tình hình ở sườn bên phải trung đoàn nơi bọn Đức đã thọc được một mũi vào hệ thống phòng thủ của ta gần đường cái, đặc biệt nghiêm trọng. Bọn xạ thủ tiểu liên đi theo xe tăng của chúng đã đến được cửa ô và xộc vào các ngôi nhà. Tra-skin ra lệnh phải diệt ngay bọn xạ thủ tiểu liên và mấy phút sau, anh được báo ràng Tơ- ri-phô-nốp, chính ủy trung đoàn, cán bộ tỉnh ủy đã hy sinh trong lúc dẫn mọi người lao vào cuộc tiến công mới.

        — Hãy trả thù cho chính ủy! — Tra-skin gào vào ống nghe. —  Hãy tống cồ bọn đê tiện ra khỏi ngoại ô... Tôi sẽ cho anh hỏa lực! — Và giúi ống nghe cho chiến sĩ thông tin, anh đảo ánh mắt nảy lửa sang Bốt-đa-nốp. Bốt-đa-nốp gật đầu tỏ vẻ đồng ý. Anh nghĩ rằng lúc này người đại úy kiên nghị không cần đến những chỉ thị của anh và cần phải yêu cầu Đi-a-cốp tiếp viện cho trung đoàn. Song ngay lúc đó trung tá liền chú ý đến tình hình mới xảy ra: bọn Đức tập trung một lực lượng lớn đánh vào những vị trí phía Đông Nam và như vậy chúng sẽ uy hiếp sườn trái trung đoàn. Ở đó, sau những ngôi nhà và các hàng cây thấp thoáng hiện ra sân vận động hình bầu dục và xa hơn nữa là những cánh rừng nhỏ xen lẫn với đồng cỏ ngoằn ngoèo, nước lấp lánh trong những vũng sâu, đây đó vẫn còn rải rác những đám sương mù giống như những đám mây nhỏ. Qua ống nhòm có thể nhìn thấy từ trong đám sương mù kia, bọn Đức đang lố nhố kéo đến thành phố, đến sân vận động...

        — Đồng chí trung tá! — Tra-skin nói to như thể quở trách. —  Cần phải đánh trả chúng, nếu không chúng ta không đứng vững được đâu. Tất cả các lực lượng của tôi đã tung ra hết rồi.

        Đi-a-cốp vừa nói chuyện qua điện thoại với Bốt-đa-nốp, liền tung ngay một tiểu đoàn dự bị tới đó đề đập tan mối hiểm họa mới. Có thể trước đây thiếu tướng chưa đụng đến lực lượng dự bị của mình là để dành cho trường hợp này. Ngoài ra, quân tiếp viện đã đến thành phố... Song chẳng bao lâu, mọi người thấy rõ là chính những tên lính Đức đang định vượt qua trung đoàn công nhân lại bị tiến công bởi một đơn vị nào đó ở ngay sau lưng chúng.

        — Chắc là Grát tiến công chứ không còn ai nữa — Bỏ ống nhòm xuống, đại úy Tra-skin phỏng doán.

        — Grát là ai vậy? — Bốt-đa-nốp hỏi.

        — Xin lỗi, là Gra-trép, — Tra-skin nói — trung úy Gra-trép, đại đội trưởng đại đội rút ở đơn vị Khlép-nhi-cốp. Tất cả chúng tôi đều gọi cậu ta là Grát.

        Anh lắc đầu hất mớ tóc lòa xòa trước trán và nhìn Bốt-đa-nốp như thể muốn thêm vào : « Thế mà anh đã không hài lòng với chúng tôi...» — Trung tá nhìn ống nhòm rất lâu, sau đó quay sang Tra-skin.

        — Rất tốt. — Anh nói — Thật tuyệt vời! Hãy đề nghị tặng thưởng huân, chương cho đại đội trưởng Grát,— và trung tá lặng lẽ uể oải tựa như khó nhọc lắm mới mỉm cười được. — Grát đúng là con én xuân ! — Anh lẩm bẩm nói thêm.

        Mối hiểm họa từ sườn trái đã được loại trừ và Bốt-đa-nốp chuyển tiểu đoàn do Đi-a-cốp phái đến, sang phản kích ở cửa ô.

        Đển mười hai giờ trưa, tình hình ở những khu vực khác của tuyến phòng thủ thành phố, nói chung không thay đổi. Các đơn vị chủ lực ở phòng tuyến phía Tây vẫn không lùi một bước. Trung đoàn NKVĐ tiếp tục chiến đấu trên những vị trí cũ. Sau đó, các đơn vị mới đến cũng tham gia vào trận đánh và tình hình của những người bảo vệ phòng luyến lập tức tốt hơn. Sau này, Bốt-đa-nốp được biết là xe tăng của ta đã phản kích ở khu vực nhà máy gạch. Cùng lúc đó, pháo chống tăng cũng được chuyển tới tận cửa ô và những chiếc tăng Đức thọc được tới đó, đã bị tiêu diệt...

        Bộ binh địch vội vàng rút lui khỏi làng Mư-skin, các chiến sĩ Hồng quân đã đẩy lùi kẻ thù ra khỏi những vị trí mà chúng vừa chiếm được. Những trận đánh giáp lá cà, những ánh lửa lựu đạn màu trắng bùng lên ở khắp mọi nơi và bọn Đức đã không chịu nổi — những người lính mặc áo bạt thâm sũng vì mưa, đang bám đuổi sát chúng. Như vậy, là tình hình trên trận địa của trung đoàn công nhân đã được phục hồi và chỉ làng Mư-skin là còn ở trong tay quân thù. Đến hai giờ chiều, bọn Đức phải ngừng hoàn toàn các cuộc tiến công của chúng — trận tiến công thứ nhất vào thành phố đã bị đẩy lùi.

        Bốt-đa-nốp cho óng nhòm vào bao, chia tay với Tra-skin và đi xuống sâu theo chiếc cầu thang sắt hình xoáy ốc để đến gặp Đi-a-cốp. Anh đi ra cổng, chậm chạp bước như đi trên bãi cát dày... Chung quanh đều im lặng, im lặng một cách lạ thường... Bốt-đa-nốp khát cháy cổ họng và đưa mắt tìm xem ở đâu có nước uống. Những con chim lạ màu xám, ríu rít nhảy nhót trên các tảng đá trong sân con và nhớ ra rằng đấy là chim sẻ, trung tá lại mỉm cười ngượng nghịu.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Năm, 2020, 04:20:38 pm

PHẦN THỨ BA

1

        Suốt chiều, mưa tuyết lại rơi, không thấy bóng dáng chiếc máy bay Đức nào xuất hiện. Các khẩu pháo phòng không nghếch nòng lên trời im lặng, và không khí yên tĩnh đã bao trùm lên toàn thành phố từ lúc hai giờ trưa chưa bị khuấy động.

        La-tô-skin từ bộ tham mưu quân khu trở về Da-rê-tri-e, nơi Ủy ban bảo vệ thành phố đã chuyển đến đây sáng hôm nay và hiện đang đóng tại một ngôi trường học. Những người đến gặp chủ tịch ủy ban bảo vệ đã ra về từ lâu, người thì trở lại khu phố mình, người xuống nhà in, người vào nhà máy hoặc về các đơn vị bộ đội. Riêng Sa-rốp vẫn ngồi ngủ thiếp đi trên chiếc đi văng và La-tô-skin vẫn còn cặm cụi bên bàn làm việc, vai khoác hờ chiếc bành tô. Sau cánh cửa vẫn vang lên tiếng máy chữ lách cách. Bà thư ký đang đánh máy lại tài liệu gì đó, và người ta có cảm giác hình như suốt đêm bà không ngủ. Thỉnh thoảng vẫn nghe thấy tiếng chân người lính gác bước đều đều ở hành lang. Một tập tài liệu dày vẫn nằm trước mặt La-tô-skin, ông đang liệt kê những công việc phải làm, những điều mà chủ tịch ủy ban bảo vệ phải quan tâm tới. Một điều lạ lùng là mới chiều nay ông chưa hình dung được việc gì cả, thế mà giờ đây, trước mắt đã thấy bao nhiêu việc phải làm. Cầm lấy bút chì, ông vội ghi những công việc mới « Việc sản xuất xe lửa bọc thép. Liệu có kịp thời hạn không?», «Sáng mai phải đến thăm các viện quân y», « Phải hỏi thêm về gia đình Tơ-ri-phô-nốp. Phải giúp đỡ Họ» «Phải bào đảm việc sản xuất súng cối!». Ghi xong tất cả các việc ấy, La-tô-skin quay điện thoại. Đầu tiên, ông gọi đây nói cho xưởng đóng toa xe và ông đã nhận được những tin tốt lành: việc sản xuất đoàn, tàu bọc thép đã xong, đầu máy và các toa xe đã được bịt thép. Khoảng hai ngày nữa là có thể giao cho bộ tư lệnh.

        — Các đồng chí thân mến, có thế chứ! Nơi nào không đủ vật liệu thì đã có trí thông mình giải quyết. — Lấy tay che miệng để không làm Sa-rốp thức giấc, ông khe khẽ reo lên.—Có nghĩa là nếu các đồng chí không phản đối: ngày mồng hai chúng tôi sẽ đến nhận đoàn tàu bọc thép đó...

        Tiếp đó, ông quay số điện thoại gọi tới nhà máy chế tạo công cụ và đề nghị gọi hộ Pi-ốt Ki-rin-lô-vích Oóc-lốp. Đặt ống nghe xuống, ông ngồi đợi trả lời và khép chặt chiếc bành lô vào người. Ông cảm thấy ấm áp dễ chịu hơn tuy trong phòng không đến nỗi lạnh lắm.   
        Từ phòng bên, bà thư ký bước vào phòng, tay cầm ấm chè, tay ôm tập công văn mới nhận trong ngày.

        — Chị Ma-ri-a A-lếc-xây-ép-na!— Quay về phía bà, ông thì thào nói. — Chị đi ngủ ngay đi! Chị vẫn không thấy mệt à?

        Bà thư ký đặt ấm chè và chiếc cặp lên bàn rồi nhìn ông như hỏi lại:

        — Tôi cũng đi ngủ bây giờ đây. — Ông trả lời cái nhìn của bà. —  Chị phải đi nghỉ thôi...

        Ông nhìn khuôn mặt mệt mỏi xanh xao, không còn trẻ trung, nhìn mái tóc chải mượt mà, bộ trang phục đen là phẳng phiu của bà, và muốn nói với người cộng tác gần gũi nhất của mình một lời tốt đẹp nào đó.

        — Chúng ta đã mở đợt tiến công đầu tiên rồi, chị Ma-ri-a A- lếc-xây-ép-na ạ... Tất nhiên không phải là không có khó khăn, nhưng chúng ta sẽ khắc phục được.

        — Đúng thế, mọi việc sẽ tốt dẹp, anh I-a-cốp La-tô-skin.— Bà thư ký trả lời. — Thôi, nếu anh không cần gì nữa thì tôi ra đây.

        — Vâng, chị đi nghi đi!... À, chỉ còn việc này nữa thôi... Chị có biết về gia đình Tơ-ri-phố-nốp không? Chị vợ anh ấy bây giờ ở đâu nhỉ?

        — Chị vợ và đứa con trai đang ở đây. Còn bố mẹ anh ấy đang sống ở Ô-rê-khô-vô Du-ép... Tôi mới hỏi thăm được có thế thôi!

        Cả hai đều im lặng một phút rồi La-tô-skin khẽ nói:

        — Tơ-ri-phô-nốp của chúng ta đã hy sinh như một người anh hùng.

        Ông ngôi xuống ghế, kéo cặp hồ sơ giấy tờ về phía mình. Bà thư ký vẫn đứng nguyên, đăm chiêu suy nghĩ một lúc, rồi lặng lẽ đi ra. La-tô-skin mở cặp giấy, nhìn thấy chiếc phong bì nằm ngay ở trên, ông liền bóc luôn. Đây là thư của giám đốc nhà máy đã đi sơ tản khỏi T. từ đầu mùa thu. Khi đọc đến những dòng cuối cùng, La- tô-skin ngước mắt nhìn Sa-rốp đang ngủ say và do dự, có nên đánh thức anh ta dậy để cùng chia sẻ những tin tức quan trọng này hay không ?


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Năm, 2020, 04:21:04 pm

        Thật phấn khởi, ở địa điểm mới, một trong những nhà máy lớn ở T. đã cho ra sản phẩm, mặc dầu các phân xưởng, như giám đốc nhà máy cho biết, chưa được xây dựng xong hoàn toàn. Ông giám đốc còn nói là những khó khăn gian khổ ở chỗ ông không thấm gì so với những vất vả mà các bạn ông trong thành phố bị bao vây đang phải chịu đựng. Tóm lại, bức thư viết là ở nhà máy đang làm những gì cần thiết cho quân đội và công cuộc bảo vệ thành phố, còn sắp tới sẽ phải làm gì nữa! « Nói chung, cần phải hiểu rằng, những gì khó khăn chủ yếu, nặng nề nhất đã bị đày lùi, — ông giám đốc viết. — Chúng tôi đã làm ăn một cách khẩn trương nhưng không hấp tấp và sẽ không để xảy ra các sự cố đặc biệt nào cả... Chúng tôi phải bắt đầu, tôi không giám giấu, hoàn toàn từ tay trắng. Thậm chí khí hậu ở đây, nói một cách đúng đắn, là rất khắc nghiệt, không hợp với chúng tôi...», sau đó bức thư kể tiếp: mọi người đã phải chuyền các máy móc thiết bị dưới những cơn gió bấc hung dữ như thế nào, bám máy suốt ngày đêm ra sao, các kỹ sư đã thức trắng bao đêm ròng để lắp đặt các cỗ máy phức tạp như thế nào, cuối cùng là đám thanh niên nhà máy đã làm việc hăng say ra sao...

        La-tô-skin đã đặt bức thư xuống bàn, nhưng ngay sau đó ông lại cầm lên đọc lần nữa. Đúng, việc sơ tán di chuyển các ngành công nghiệp ra khỏi T. đã được hoàn thành trong một thời gian ngắn. Có lẽ từ thế kỷ XVI đến nay, nếu không nói trước nữa, các nhà máy ở T. đã ghi vào lịch sử của mình bằng một sức mạnh diệu kỳ, các nhà máy đã được chuyển đến chỗ khác và ở đó chúng lại tiếp tục nhả khói.

        Các nhà máy lớn này chưa bao giờ được xây dựng ở vùng trung tâm nước Nga, thế mà giờ đây, khắc phục mọi khó khăn, chứng đã trở thành những nhà máy sản xuất loại một nằm xa mặt trận đang phục vụ đắc lực cho tiền tuyến. Quả thật, chỉ có một phương án quan trọng nhất nằm trong kế hoạch là phải chuyền các cơ sở công nghiệp từ phía Tây sang phía Đông. Trong khi có hàng nghìn đoàn tàu tiến ra mặt trận chở các loại vũ khí — như đại bác, xe tăng, súng cối, các loại đạn khác nhau — thì đồng thời cũng có hàng nghìn đoàn tàu khác từ mặt trận chạy ngược lại chở theo hàng triệu tấn thiết bị vô giá của các nhà máy: máy cái, ống dẫn, mô tơ, máy cán ép... và hàng trăm nghìn con người biết sản xuất vũ khí.

        Đọc đi đọc lại bức thư từ phương xa gửi tới, Lá-tô-skin vừa sung sướng, vừa xúc động thực sự vì ông cảm thấy đối với Đảng, mà ông là một tế bào nhỏ bé, thì không có việc gì là không thể làm được, không có khó khăn nào là không thể vượt qua được... Và ông, người bí thư tỉnh ủy, từ lâu là ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Bôn-sê-vích, lại một lần nữa cảm thấy rõ rệt sức mạnh tổ chức lớn lao của Đảng.

        Đặt bức thư xuống bàn, ông vươn vai đứng dậy, cảm thấy người hơi sốt, mặt hơi nóng, có lẽ do những đêm mất ngủ gần đây gây nên.

        Chuông điện thoại reo, ông cầm lấy ống nói:

        — Vâng, vâng, tôi đây, chào anh Pi-ốt Ki-rin-lô-vích, — ông nói khẽ. — Công việc ở chỗ anh như thế nào rồi ? Mọi người đã tập hợp đầy đủ chưa? Bây giờ chúng tôi có thể giúp các anh gì nào? Anh hãy kể cho tôi nghe công việc ở đấy, và những thử các anh cần.

        Tại nhà máy chế tạo công cụ, các thiết bị đã được chuyền hết về phía Đông, không còn một cái máy, một mẩu thép nào để lại ở nhà máy cả. La-tô-skin không thể tin được rằng việc sản xuất súng cối lại được tiến hành ở đó.

        Ông vừa lắng nghe chăm chú, không ngắt lời người nói, vừa kéo lại chiếc bành tô cho ngay ngắn. Một lát sau mới hỏi tiếp:

        — Ô, thế ra ông già Grô-mốp cũng ở chỗ các anh à ?... Cả Ca- da-cốp nữa ư?... Ừ, đó mới thật là một đội sản xuất cự phách.

        — Vâng, họ đang ở đây — ông nghe thấy trong ống nói — một đội sản xuất gồm các thợ bậc thầy, không thể phong cho họ bậc nào thấp hơn được, giá như có thể thì phải gọi họ là những người thợ chuyên gia, thợ hàn lâm...

        La-tô-skin còn hỏi một vấn đề mà ông đang quan tâm: theo lệnh của ủy ban bảo vệ thành phố, người ta đã chở một số ống đến nhà máy này để làm nòng súng cối, vậy ở đó đã làm thử chưa ? Sau một lúc lâu im lặng, ông mới nghe thấy tiếng trả lời của người thợ chế tạo già:

        — Tôi nghĩ ràng nhất định chúng ta sẽ thành công...

        — Như thế nhé, Pi-ốt Oóc-lốp, chúng ta sẽ thành công. — Ông cao giọng, nhưng ngay lập tức lại nói se sẽ dù nghe, khi thấy Sa-rốp cựa quậy. — Chúng ta sẽ có súng cối của mình nhé?...

        — Sẽ có, nhất định sẽ có, đồng chí I-a-cốp Da-kha-rô-vích —  Oóc-lốp trả lời.

        La-tô-skin thầm nghĩ, tuy các nhà máy ở T. phải chuyển khỏi thành phố nhưng hình như vẫn tiếp tục sản xuất ngay tại chỗ cũ của mình. Ngồi thêm mấy phút để sắp xếp lại những tờ giấy trên bàn, sau đó thốt nhiên ông gục đầu xuống, mái tóc xoăn rủ xuống trán và trong giây lát, ông thiếp đi ngay trên bàn làm việc.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Năm, 2020, 04:21:35 pm

        Bà thư ký nằm ở phòng bên cạnh trên chiếc đi văng nhỏ bọc ni lông, người đắp chiếc bành tô, nhưng vẫn không tài nào ngủ được. Vừa đánh máy sao lại bản lý lịch Tơ-ri-phô-nốp, bà được biết là Tơ-ri-phô-nốp đã vào Đoàn từ năm 1919, cha làm thợ đá, mẹ là công nhân. Tơ-ri-phô-nốp đã bị thương trong Nội chiến, trên mặt trận phía Đông: và từ năm 1933 cho đến ngày hy sinh, ông làm công tác Đảng. Ý nghĩ về con người vừa xa lạ vừa quen thuộc đối với bà không dứt khỏi tâm trí bà. Con người đó đã sống một cuộc đời trong sạch, cao quí, dường như được tạo ra từ loại thép qui.

        Công việc trong các xí nghiệp ở thành phố, hay đúng hơn là trong các tòa nhà trống trải đã được phục hồi nhanh chóng ngay từ những ngày bị bao vây đầu tiên. Ở nơi này, người thì sửa chữa những khẩu pháo bị hư hỏng trong các trận đánh. Ở nơi khác các chị phụ nữ đang làm lựu dạn, và ở chỗ khác nữa, người ta đang làm ngòi nổ cho các chai cháy. Ở xưởng toa xe, nơi đóng các toa bọc thép, công việc không ngừng một phút, còn ở xưởng cơ khí, một nhóm công nhân và kỹ sư đang bàn bạc chuẩn bị cho việc ra đời các loại súng cối.

        Bằng một vài cỗ máy từ thế kỷ trước đã hết thời gian sử dụng tìm thấy ở kho nhà máy và cần được sửa chữa lại, cùng các thứ phụ tùng linh tinh lặt vặt khác tìm thấy ờ các xưởng thủ công, chi vài ba ngày sau, người ta đã tạo nên ở đây, ngay trong tòa nhà của nhà máy đã sơ tán này, một phân xưởng sửa chữa mới, nhỏ bé.

        A-lếc-xây Va-xi-li-ê-vich Grô-mốp thấy cái «díp» này khác hẳn những cái trước, nó không đến nỗi bị mòn lắm, còn có thể sử dụng được tốt, nên chăm chú theo dõi sự hoạt động của nó và thấy hài lòng. Nhưng thực ra trong thâm tâm, người thợ tiện già này đang có điều lo lắng gì đó và ông đã khéo giấu không cho mọi người thấy. Không phải ông sợ những kinh nghiệm và hiểu biết của mình đã tích lũy được trong nửa thế kỷ qua bị mai một đi, mà sợ là liệu mình có thể đứng vững được bên cỗ máy với đôi chân bị bệnh khớp này không? Lúc nãy, khi đi về nhà lấy dụng cụ và bất ngờ gặp cô con dâu giữa đường trở về nhà máy, ông thấy mình rất mệt. Đôi chân ông như đeo cùm, cứ mỗi một bước đi cơn đau ờ các khớp xương đầu gối lại hành hạ, ông phải khó nhọc lắm mới lê được đến nhà máy. Hình như tất cả sức lực mà dột nhiên ông cảm thấy như được hồi phục lại trong những ngày vừa qua, đã biến đi đàng nào hết, đã phản bội lại ông đúng vào cái thời điểm quan trọng này, đúng vào lúc ông đang cần đến nó.

        Sau khi đã thu dọn chỗ làm, sắp xếp lại dụng cụ, đồ nghề, chuẩn bị lại các loại dao tiện cho buổi làm ngày mai, ông khập khiễng đi từ phân xưởng tạm thời về ngôi hầm trú ẩn của nhà máy nay đã thành chỗ ở tập thể thì trời đã tối mịt.

        Ngồi xuống cái giường sắt, trải chiếc áo khoác xám làm đệm, ông im lặng từ từ kẻo chiếc ủng ra, phải nghiến chặt răng để không bật lên tiếng rên. Và nỗi buồn tuổi già, nỗi buồn cay đắng vì không làm việc được nữa lại day dứt, dằn vặt ông.

        Bên bàn, dưới chiếc đèn được chụp bàng sắt tây, ông già Oóc- lốp Pi-ốt Ki-rin-lô-vích, râu bạc phơ, mắt đeo kính lão, những ngón tay thuôn dài giơ cao tờ báo, đang đọc to cho mọi người nghe. Năm sáu người ngồi chật cả các giường xung quanh, chăm chú lắng nghe.

        — « Các đơn vị của ta đang chiến đấu ở các hướng Môrgiai-xcơ, Ma-Iai-a Rô-sláp, Khác-cốp và Ta-gan-rô. — Giọng “của Oóc-lốp vọng đến giường Grô-mốp nhỏ nhẹ. — Ở mặt trận phía Tây trên các hướng khác nhau, bọn Đức đã mở hàng loạt cuộc tiến công ác liệt vào các trận địa của ta. Tất cả các cuộc tiến công của bọn phát xít Đức đều bị đẩy lùi với những thiệt hại nặng nề...

        — «Sau nhiều ngày chiến đấu, — Oóc-lốp đọc tiếp, — quân ta đã tiêu diệt và làm bị thương khoảng năm mươi nghìn tên địch, phá hơn hai trăm năm mươi xe tăng, một trăm bảy mươi đại bác, gần một nghìn hai trăm xe vận tải. Các đơn vị bộ đội ta đã rút khỏi thành phố Xta-lin-nô...».

        — A... ha... Đánh thế mới gọi là đánh chứ... — Không im lặng được nữa, một giọng làm bàm kéo dài.

        — Con đường đến với tội lỗi lúc đầu đều mở rộng, sau mới dần thắt hẹp lại, — giọng nói nhỏ nhẹ nhưng vui nhộn của Ca-da- cốp vang lên. — Các anh cứ chờ xem, sẽ đến lúc bọn Đức bị giáng trả lại, lúc đó chúng ta sẽ nói được những câu chuyện hay hơn...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Năm, 2020, 04:22:17 pm

        A-Iếc-xây Grô-móp khó khăn lắm mới nhắc được đôi chân lên giường, sau đó ông xoải chân ra và thấy người dễ chịu hẳn, nhưng đồng thời chưa bao giờ lại cảm thấy tâm hồn nặng trĩu, buồn bực như những giây phút này.

        — « Phong trào thi đua chào mừng Cách mạng tháng Mười sắp tới đang dấy lên ở các xí nghiệp, nhà máy, các nông trường, nông trang tập thể, nhằm thực hiện tốt nhất các nhu cầu của mặt trận. Tiến độ sản xuất hàng quân sự của nhà máy chế tạo En-ski ở Lê- nin-grát tăng nhanh hàng ngày... Trong mỗi ca sản xuất, thợ tiện Pô-lu-bôi A-ri-mốp đã hoàn thành vượt mức kế hoạch của bốn ngày... ». Khi đọc đến chỗ này, Oóc-lốp đưa mắt nhìn những người xung quanh.

        — Trước chỗ tôi cũng có cậu học sinh Mi-sa Pô-lu-bôi A-ri- mốp, không biết có phải đúng cậu này không? — Ồng nói. — Nếu là cậu này... Nhưng thôi. «Thợ tiện Mô-sca-lép và Cu-đri-a-sép, thợ cùng ca, trong một ca sản xuất đã làm được hai mươi chi tiết máy so với bảy chiếc theo định mức. Thợ tiện Bru-xnhi-kin đã tăng tốc độ cắt gọt lên gấp hai lần và hoàn thành nhiệm vụ sản xuất vượt bốn trăm phần trăm...».

        «Giờ ngủ rồi mà họ còn đọc to những cái này làm gì nhi?» —  Ông già A-lếc-xây Grô-mốp thầm nghĩ và ghen tị với những kết quả cao mà những anh chàng Pô-lu-bôi A-ri-mốp, Mô-sca-lép, Bru- xnhi-kin không quen biết nào đó đã đạt được. Cần phải cho mọi người đi ngủ chứ.

        ... Oóc-lốp sau đó phải đi luôn đến xưởng, còn Ca-da-cốp nằm xuống cạnh A-lếc-xây Grô-mốp. Người dong dỏng, nhỏ nhắn, cái đầu hói của ông chi còn lơ thơ mấy sợi tóc bạc, trông ông già hơn Grô- mốp đến một hai tuổi. — Nhưng đây lại là một con người hạnh phúc — ông già Grô-mốp bực bội thầm nghĩ — ông ta vẫn giữ được dáng đi nhanh nhẹn mà mình vẫn thèm muốn. Ca-da-cốp chỉ cần vài bước là mình đã phải đuổi tóe khói ra rồi.

        — Bác lại khó chịu không ngủ được à, A-li-ô-sa? — Ca-da- cốp hỏi, giọng nho nhỏ. — Thôi, tốt nhất là cố gắng ngủ đi, ông bạn già ạ... Sáng mai chúng ta phải làm sớm mà.

        — Thế sao chính ông cũng không ngủ? — A-lếc-xây Grô-mốp bực bội hỏi lại.

        — Ồ người anh em ạ, tôi hầu như không thể ngủ được. Buồn cười thật đấy, không hiểu bây giờ cái ý thức tổ chức của tôi nó đi đàng nào rồi — vẫn hóm hỉnh hào hứng như mọi khi, Ca-da-cốp trả lời. — Cứ cố thiếp đi một chập rồi lại cố thêm một giờ nhưng mắt vẫn cứ tỉnh như vừa tắm ở suối lên.

        A-lếc-xây Grô-mốp khẽ động đậy đôi chân tê buốt dưới chăn, hình như cơn đau đã bớt được phần nào.

        — Bác vẫn hoàn toàn như thế, phải bỏ hẳn cái kiều nhai đi nhai lại đi. — Không nhìn lên người bạn, ông nói tiếp. — Bác có vẻ như những tiên ông trên trời...

        — Đấy... đấy... chính tôi cũng đang phòng ngừa cho mình điều đó. — Ca-da-cốp vui vẻ trả lời. — Tôi chỉ còn băn khoăn có điều đó là bởi vì tôi đã gày mòn, khô héo dường như người bị bốc hơi hết rồi. Giờ đây, thế có nghĩa là không thể đòi hỏi tôi như đòi hỏi mọi người khác mà phải đòi hỏi nhiều hơn, gấp ba gấp bốn lần...

        Đặt cổ tay phải vào bàn tay trái để do xem béo hay gầy, ông muốn chứng tỏ rằng bây giờ chính ông cần cái gì.

        — Đúng là chuyện hoang đường, mà không chỉ thế thôi. — ông vẫn tiếp tục vui vẻ nói. — Bác A-li-ô-sa ạ, tôi thấy bác đang đau yếu già nua đi đấy, còn loại tôi, ông bạn già ạ, ngày càng hiếm trên trái đất này đấy. Bác vừa nói đấy, thời gian qua đi, bác thì thấy bản thân nhiều chuyện bực mình, cỏn tôi tất cả đều dễ chịu.

        A-lếc-xây Grô-mốp lặng thinh, bực mình vì những lời nói đùa có vẻ không đúng lúc của Ca-da-cốp.

        Ở giường bên, ông già thợ tiện An-ma-dốp cựa mình. Mái tóc bạc với bộ râu dài trắng phau, trông ông giống như ống già Nô-en, những đường gân nhỏ hồng hồng trên má. làm mặt ông thêm đỏ tía. Từ nãy đến giờ, ông vẫn ngồi im cúi đầu xuống đầu gối đang kẹp chặt hai bàn tay, im lặng không tham gia cuộc tranh luận của hai người.

        — Bác thấy đấy, bao nhiêu là công việc. — Bây giờ ông mới nói. — Nếu chúng ta tính thử xem người nào có những bệnh gì thì đến sáng chúng ta cũng không tính hết được. Lúc này là phải quên hết bệnh tật đi.

        — Bác nói rất đúng, — Ca-da-cốp thốt lên sung sướng. —  Bọn trẻ bây giờ ở mặt trận đang cần đến chúng ta. Như vậy, một lần nữa, có thể là lần cuối cùng, chúng ta lại được đứng lên bảo vệ chính quyền Xô-viết.

        — Khe khẽ một tí, bác Cu-dơ-ma! — Ông già Grô-mốp nói. —  Mọi người đã ngủ rồi đấy.

        An-ma-dốp cúi chiếc đầu bạc trắng như tuyết, chìm đắm trong đăm chiêu suy nghĩ.

        Ca-da-cốp nhìn xung quanh, vòm cửa hầm được xây cao, mái hầm hình vòm. Ở tít góc trong, nơi để những chiếc ghế, là chỗ dành riêng cho «giới trẻ», là những người chưa vượt quá cái tuổi năm mươi; tiếng ngáy đều đặn của ai đó đang vang lên.

        — Prô-ta-xốp đã ngủ rồi, — Ca-da-cốp lẩm bẩm ngạc nhiên. —  Đúng là quỷ chứ không phải người, đặt mình xuống là ngáy được rồi.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Năm, 2020, 07:23:56 am

        Cách đấy một quãng là bộ tóc bù xù con nhím của Ni-cô-lai- ép, thợ khắc chạm, thò ra dưới gối. Ông cũng là bạn cũ của Grô- mốp, một con người tế nhị, dịu dàng và năng nổ.

        — Bác có công nhận không, hả bác Cu-dơ-ma ? — Quay sang Ca-da-cốp, Grô-mốp hỏi với giọng yếu ớt, dường như bị nghẹn. —  Thói quen lao động, đây là liều thuốc quý giá nhất. Chỉ sau một đợt lao động, anh có thể ăn ngon ngủ yên như bọn trẻ ngay.

        Nói xong, ông lim dim đôi mắt tỏ vẻ muốn ngủ... Đối với Ni- cô-la-ép, một ông già còn khá khỏe mạnh, thì sự dễ chịu, thoải mái, nói về phương diện nghề nghiệp, là được đứng làm việc, được nói chuyện về công việc trong tuần tới.

        Trong thâm tâm ông già Grô-mốp cảm thấy lo sợ vì có thể làm việc kém hcn mọi người, phần thể xác của ông không chịu quyền điều khiển của ông nữa, nó đã già yếu đi rất nhanh chóng so với khả năng muốn hoạt động, nghị lực của ông. Bởi vậy nhiều lúc ông cảm thấy mình không phải là đã già, nhưng thực tế lại phải sống với cơ thể yếu ớt của mình và ông cảm thấy nặng nề khó chịu vì mọi người xung quanh đã hiểu ông rất cặn kẽ và do đó, trong công việc họ nhường nhịn ông, ông không được đứng ngang hàng với họ. Còn đối với ông, lòng mong ước được làm việc như mọi người đã trở thành thói quen trong những năm qua, bây giờ ông không muốn ai đụng đến bệnh tật của mình cả. Ông cảm thấy xấu hổ và thầm nghĩ một khi nỗi bất hạnh đã đến thì tự bản thân ông sẽ vượt qua được mà không cần đến bất kỳ sự giúp đỡ của ai.

        Grô-mốp thức giấc khi trời chưa sáng hẳn. Ông hơ ấm chân rồi lấy xà cạp quấn lại một cách cẩn thận hơn và chặt hơn mọi khi, sau đó đi tất ra ngoài. Mặc xong quần áo, ông chậm chạp đi dần ra phía cửa buồn rầu nhưng kiên quyết như một đấu thủ quyết chiến đấu đến cùng trong cuộc đấu không cân sức. Ông đã tự nhủ thầm chỉ chịu rời khỏi xưởng chừng nào ông không còn đứng được nữa và người ta phải khênh ông ra khỏi xưởng mới thôi.

        Trong phân xưởng của ông, trước đây là phòng thiết kế rộng lớn, ấm hơn hẳn tất cả các phân xưởng khác của nhà máy. Những chiếc máy tiện, máy phay, máy khoan cũ kỹ, han gỉ được lắp ráp trong một thời gian ngắn đã sẵn sàng làm việc. Những lúc khác nhìn thấy chúng thì Grô-mốp thường nở nụ cười bao dung, độ lượng. Nhưng giờ đây chúng chỉ làm cho ông thấy khó chịu, nặng nề vì cái vẻ già nua cũ kỹ của chính chúng.

        Mười lăm phút, rồi nửa tiếng trôi qua, máy vẫn chạy tốt, tiếng reo đều đặn, nhịp nhàng, những thoi kim loại trắng lấp lánh bị nguội lạnh khi qua chất dịch rơi xuống dưới chân người thợ tiện già kêu lanh canh nghe rất vui tai, làm cho Grô-mốp cảm thấy tâm trí thanh thản dễ chịu hơn. Có thể là không đúng, nếu nói rằng, được trở về bên chiếc máy thân yêu sau thời gian xa vắng nó, giờ đây ông cảm thấy một niềm phấn chấn rất long trọng và căng thẳng. Được làm những công việc mà mình vẫn yêu thích, ông lại cảm thấy tự do, thoải mái hơn nhiều. Cũng giống như một người đi xa mệt mỏi khi trở về nhà lại được mặc bộ quần áo ưa thích, mát mẻ hàng ngày của mình. A-lếc-xây Grô-mốp lắp thỏi thép vào gá ngoàm rồi mở máy, đưa dao tiện vào thỏi thép, điều chỉnh tốc độ vòng quay lúc tăng lúc giảm và công việc cuốn hút tài năng lão luyện chính xác đến kinh ngạc cửa ông. Qua nhiều năm làm việc đã tạo cho ông một sự nhạy cảm rất tinh tế, nhạy bén với máy móc và dụng cụ của mình, kể cả những máy khó sử dụng. Ông coi máy như một người ngang hàng với mình, ông thường thủ thỉ nói chuyện, tâm sự với nó, sửa đi sửa lại các bộ phận của nó và ngược lại nó cũng không phụ lòng ông, nó luôn làm việc tốt. Từ lâu rồi, đối với ông, lao động sáng tạo là một cái gì đó rất huyền bí diệu kỳ, mà chỉ có những người thợ lão luyện, lành nghề mới khám phá ra nó. A-lếc-xây Grô-mốp như một chuyên gia thực thụ, các thao tác của ông chính xác, nhanh nhẹn, hơn nữa, trong ông còn có một đặc điểm rất đáng quý mà người ta thường gọi là sự linh cảm với máy móc.

        Nhưng cái bản năng cảm thụ, thậm chí hình như là đoán trước được những điều mà người khác không thấy trong công việc, làm mọi người ngạc nhiên chẳng phải là cái gì xa lạ thần bí ngoài việc biết tích lũy các kinh nghiệm lâu năm. Và giờ đây, ông lại có dịp vui thú với tài năng của mình, cái tài năng đã trở thành nguồn gốc của lòng tự hào, nhưng đứng ngoài nhìn vào thì có vẻ như không cần cố gắng gì lớn lao lắm. Ngắm nghía sản phẩm vừa làm xong đang âm ấm và nặng trịch, bóng loáng như một vật báu nằm trên lòng bàn tay dính dầy dầu mỡ, người thợ già lãng quên ngay tất cả những điều ấm ức vừa qua.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Năm, 2020, 07:24:16 am

        Ít giờ sau, toàn nhà máy đã biết tin là trận chiến đấu chặn bọn Đức tiến công đã bắt đầu diễn ra trên đường Oóc-lốp ở phía Nam thành phố. Nhà máy cách các vị trí tiền tiêu khoảng một ki-lô-mét rưỡi nên nghé rất rõ tiếng đại bác, pháo nổ và cả liên thanh nữa. Các cánh cửa kính đều bị rạn, các cửa thông hơi bị nửt nẻ. A-lếc- xâv Grô-mốp và các bạn già của ông vẫn tiếp tục làm việc coi như không có gì xảy ra, nhưng họ vẫn thấp thỏm chờ đợi từng phút lệnh rời khỏi nhà máy. Họ biết rõ tòa nhà phân xưởng đã được đặt mìn và nếu quân thù tràn được vào đây, họ sẽ cho mìn nổ. Những người được phân công phá nổ từ hôm qua đến giờ không lúc nào rời vị trí, sẵn sàng chờ đợi hiệu lệnh là bấm điện. Bởi vậy, A-lếc-xây Grô-mốp cũng như tất cả mọi người trong nhà máy đều hết sức khẩn trương tranh thủ tính toán từng phút, để khi chưa có lệnh cuối cùng phát ra, họ vẫn có thể làm những gì cần thiết. Khuôn mặt nhăn nheo già nua của ông đã lấm tấm mồ hôi, mái tóc bạc hoa râm xõa lòa xòa xuống trán. Chính cái ý nghĩ cho là trong buổi sáng nay con trai mình, Pa-ven của ông, đang chống trả quyết liệt kẻ thù đã làm cho ông vừa lo lắng nhưng đồng thời cũng tiếp thêm cho ông một sức mạnh mới. A-lếc-xây Grô-mốp cảm thấy chính Pa-ven, chứ không phải ai khác, đang nóng lòng đợi những khẩu súng mà người cha thân yêu của nó đang làm. Ngoài sự lo lắng khi nghĩ đến những nguy hiểm đang đe dọa Pa-ven, ông còn lo sợ khi thình lình nhận được lệnh rút ra khỏi nhà máy, rồi nhà máy sẽ bị phá và hy vọng vào chiến thẳng của đứa con trai cũng sụp đổ theo. Khoảng hai giờ chiều, tiếng súng đã thưa thớt hơn, và lúc đó A-lếc-xây Grô-mốp mới ngạc nhiên thấy mình đã đứng bên máy hơn bảy giờ liền, quên hết cả bệnh tật, ông đã tiện xong gấp hai lần số chi tiết được giao. Lúc này ông mới cảm thấy chân đau ê ẩm. Nhưng thật may cho ông, người ta gọi ông đi họp ở chỗ Oóc-lóp, do đó có thể được ngồi và nghi ngơi đôi chút. Và đến tối, ông cũng không phản đối khi bí thư đảng ủy bắt ông cùng An-ma-dốp và Ni-cô-la-ép đi ngủ.

        Sáng hôm sau, bí thư đảng ủy mang đến cho ông đôi ủng, ông đã cám ơn, định nhận nhưng khi ông ngờ ngợ là bệnh tật của mình đã bị phát hiện thì ông liền từ chối, nhất định không chịu nhận nữa. Ông viện lẽ đã quen đi giày và như thế làm việc sẽ thuận tiện hơn. Ngày thứ hai đứng máy ông thấy khó khăn hơn so với ngày qua. Trước bữa ăn trưa một lúc, cái giờ phút mà ông không thể chịu đựng được nữa đã đến: chân ông cứng đờ, nặng trình trịch không chịu tuân theo ông. Tắt máy, ngẩn người ra, A-lếc-xây Grô-mốp đứng đờ tại chỗ không dám nhúc nhích vì sợ bị ngã... Nhưng ông cũng không gọi người lại đỡ mà chỉ nheo mắt lại như không muốn nhìn thấy tình cảnh thất vọng đáng sợ của chính mình.

        — Bác làm sao thế, bác A-li-ô-sa?— Ông nghe thấy một giọng nói nhỏ nhẹ của Ca-da-cốp thoảng lên sau lưng. A-lếc-xây Grô-mốp mở bừng mắt, ngửa đâu lên, cười một cách yếu ớt và lạ lùng, cố thu hết sức lực còn lại để có thể nhấc chân lên được, ông ưỡn thẳng người dậy, dường như lao về phía trước, rút bổng chân phải lên rồi đặt xuống, rồi lại nhấc chân trái lên và đặt xuống. Lấy hộp thiếc nhỏ cùng chiếc tàu ở trong túi ra, ông làm như đang định hút thuốc và bảo với Ca-da-cốp:

        — Sức lực đã cạn hết rồi, bác Cu-dơ-ma ạ! Giá như bác cố hộ cho...

        Chậm rãi, từ tốn, ông đi ra phía cửa, đôi chân đau nhói. Ca- da-cốp lo lắng nhìn theo, và khi cánh cửa đã khép sau lưng A-lếc- xây Grô-mốp, ông mới thốt lẻn:

        — Bác vẫn là chàng trai A-li-ô-sa Grô-mốp ngày xưa, bác A- Iếc-xây Va-xi-li-ê-vích ạ. Thật là một con người độc đáo!

        A-lếc-xây Grô-mốp ngồi phịch xuống chiếc ghế ngoài hành lang, chìm đắm trong suy nghĩ, hai tay bóp bóp đầu gối, thở dài khe khẽ, trở vào xưởng.

        Vào ngày thứ ba, Oóc-lốp giao cho Grô-mốp tiện nòng súng cối, một công việc đòi hỏi sự tinh tế, chính xác rất cao. A-lếc-xây Grô-mốp đã làm xong nòng súng đầu tiên, nhưng thật ra, nói cho thật chính xác —đó là một cái ống, ở đoạn trên đươc một bàn tay diêu luyện chế tạo ra hình dáng nòng súng, có rãnh, có đường xoắn ốc... tuy có như vậy thôi, nhưng cái nòng súng đầu tiên này đã làm cho ông già hết sức dễ chịu, thích thú.

        Trong những tháng qua, ông đã lo lắng, không yên tâm khi nghĩ đến công việc, cả những lúc vui hay lúc buồn ông đều bị dằn vặt vì nó. Bề ngoài ông bình thản, nhưng trong lòng ông không yên chút nào, còn giờ đây ông đã thỏa mãn và ý thức được sự có ích của mình. Chỉ có lao động thôi và không một cái gì khác có thể thay đổi được nó, mới mang đến cho ông sự bình thản, thoải mái trong tâm hồn, thiếu nó sao ông cảm thấy nặng nề, khó thở đến thế.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Năm, 2020, 07:24:37 am

        ...Trong nhà máy cũng như khắp mọi nơi trong thành phố bị bao vây này, mọi người đang nhanh chóng thích nghi với những điều kiện sống và làm việc mới... Chiến sự vẫn diễn ra ở vùng ngoại vi, lúc im ắng, lúc lại rộ lên, còi báo động thường rú lên lúc gần tối, còn ban ngày bọn Đức không ngừng pháo kích vào thành phố. Trong các bệnh viện, bên cạnh thương binh từ tiền tuyến về, còn cỏ nhiều phụ nữ, trẻ em bị thương vì bom đạn Đức. Có những người sáng dậy đi làm nhưng bản thân họ cũng không biết được chiều nay còn sống không. Các bà mẹ bước ra khỏi nhà cũng lo sợ khi nghĩ có thể họ sẽ không được gặp lại những đứa con thân yêu nữa. Nhưng bất chấp tất cả, hay nói đúng hơn là đấu tranh với những điều đó, mọi người càng hiểu rõ hơn họ phải làm và làm tốt nhất tất cả mọi việc vì cuộc sống và chiến thắng. Các cửa hàng vẫn mở cửa như thường lệ và những người bán hàng đeo mặt nạ phòng độc sau lưng vẫn điềm lĩnh đứng ở quầy hàng. Nhà tắm hơi, hiệu cắt tóc, cửa hàng ăn uống vẫn tiếp tục làm việc và cách đây không lâu, một xưởng ăn uống đã được khai trương ở trung tâm thành phố để phục vụ bữa ăn trưa nóng sốt cho các chiến sĩ ngoài tiền tuyến. Trong các hợp tác xã của những người mất sức, tàn phế, mọi người đang vá chữa giày, ủng cho chiến sĩ, - còn ở nhà máy may, các chị khẩn trương may áo khoác bộ đội.

        Đêm đêm, ngoài giờ làm việc, trong các ngôi nhà, mọi người dân đều nhận giặt là quần áo của chiến sĩ. Và cùng hòa nhịp với cuộc sống sôi động này, trong các nhà hộ sinh của thành phố, khi các nhóm tự vệ áo trắng trực trên tầng thượng thì ở dưới, trong các gian phòng sáng sủa, những công dân trẻ nhất thành phố cũng cất tiếng khóc chào đời; và trận đánh đang diễn ra cách đấy không xa cũng là vì cuộc sống và hạnh phúc của những đứa trẻ này...

        Vào ngày thứ tư của cuộc bao vây, hai quả bom hai trăm năm mươi cân rơi trúng khu nhà máy cơ khí, một phần phân xưởng máy bị đổ, còn phân xưởng đúc thì bị nặng hơn. Trận oanh tạc ngừng từ lâu rồi mà tiếng kính vỡ vẫn còn kêu răng rắc, và qua các khung cửa sổ trống hoác đã lác đác thấy các bông tuyết đầu mùa bay qua. Nhưng công việc ở phòng thiết kế cũ vẫn không ngừng chút nào: ai được ngủ ban ngày thì ban đêm đứng máy. Những người thợ nguội đã bắt đầu lắp khẩu cối đầu tiên, còn ở các khu vực khác trong nhà máy, các đội tình nguyện đang lao động ngày đêm.

        Khu vực rèn cao rộng nhưng vắng ngắt vì công nhân đã chuyền sang làm ở ga-ra xe. Công việc rèn ở đây hoàn toàn thủ công, cả đốc công lãn thư ký công đoàn phân xưởng cũng ra đứng búa rèn bệ súng cối. Trong phân xưởng đúc bé nhỏ đang tiến hành sửa chữa các loại vũ khí nhẹ tự động mà người ta tìm thấy ở vườn hoa thành phố và ở các cứ điểm trước làng Mư-skin.

        Cái nhà máy rộng lớn này bây giờ chỉ căn thoáng đưa mắt là có thể bao quát được toàn bộ sự hoạt động của nó. Bởi vì, chỉ có một nhóm người còn làm việc ở đây và như có cảm tưởng rằng cảnh hoang tàn, đổ nát của nhà máy rộng lớn này đã hút mất họ, những cơn gió rít gầm gừ thổi qua, những cửa sổ bỏ ngỏ trong các tòa nhà thênh thang. Những tia lửa hàn xanh xanh lóe lên, trong bóng sương mù dày đặc trông cũng mờ ảo xa xôi như các ngồi sao trên trời. Song những con người ở đây không cảm thấy đơn độc vì con số ít ỏi của họ. Lòng nhiệt tình hăng hái đã sưởi ấm họ, tăng thêm sức chịu đựng những cơn gió tháng mười quái ác đang hoành hành trong các ngôi nhà không có cửa sổ. Trời lạnh buốt và để rèn được nhanh, có chất lượng, người thợ phải luôn luôn ngâm tay vào nước ấm. Do đó những ngón tay bị nứt nẻ, rỉ máu, nhưng việc rèn lại tiến hành tốt hơn. Những thợ rèn chỉ hơi nhăn mặt khi phải ráng kìm chặt các thỏi sắt vì bàn tay đau nhức nhối.

        Giờ đây A-lếc-xây Grô-mốp cảm thấy ngày một khỏe hơn, tuy được nghỉ rất ít như những người khác, còn việc ăn, ngủ lại thất thường. Bệnh tật vẫn hoành hành, nhưng có vẻ cũng đã phải chịu thua trước sự gan bướng của ông già và ông không cần lưu tâm đến nó nhiều như trước nữa. Vả lại, khi nhìn những người bạn cùng tuổi, theo như cách gọi của Ca-da-cốp đang cùng làm việc với ông ở nhà máy, ông có cảm tưởng như họ đang trẻ lại. Mọi người thân ái, đoàn kết hơn, vui yẻ, nhanh nhẹn hơn; họ thường trêu chọc, cười đùa với nhau như thời tuổi trẻ xa xôi; có thể nghĩ là hoàn cảnh khó khăn gian khổ đã làm họ xích lại gần nhau. Chính vì thế họ thấy mình lạc quan, trẻ trung ra. Ngay cả An-ma-dốp, một ông già ít nói, tư lự, trâm ngâm cũng làm cho Grô-mốp ngạc nhiên vì ông ấy đã bắt đầu bắt chuyện hồ hởi, vui vẻ với những người xung quanh. Có một lần, trong bữa ăn, bên chiếc bàn đầy bụi sắt đặt ở góc xưởng, An-ma-dốp đã thổ lộ:

        — Ông có thấy không, tất cả cánh mình vẫn còn khỏe ra phết! Không có lúc nào nghĩ đến mình nữa, đúng thế không? Người này nghĩ đến người khác, và cứ như vậy...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Năm, 2020, 07:25:14 am

        Trong đôi mắt xanh trong của ông, dưới hàng lông mày rậm bạc trắng, lộ vẻ ngây thơ, hiền từ.

        — Sở dĩ như vậy là do chúng mình sống và làm việc chung cùng nhau, — Ca-da-cốp nói. — Tình đoàn kết của chúng ta lớn lao lắm.

        — Thằng con trai cứ khuyên can tôi mãi. — Grô-mốp vừa nói vừa cười. — « Bố phải rời khỏi đây ngay, — hắn khuyên — bố ở lại đây chẳng đề làm gì cả; còn ở đấy người ta đón tiếp bó với tất cả sự kính trọng và thu xếp cho bố...». Tôi rất giận nó nên nhất quyết không đi đâu cả.

        — Bọn thanh niên thường hay coi chúng mình như vậy đấy. —  Ca-da-cốp nói tiếp. — Nhưng thực tế, thế hệ chúng ta chưa phải là đã vô dụng. Các cụ già ấy còn ở đây làm gì, chúng nó nghĩ, ở đấy có than ấm, được kính nè. Tuồi già sức yếu, như loại gà già, còn chúng ta đây đang trẻ như loại gà giò.

        — Nhưng thằng Pa-ven nhà tôi thì nó không nghĩ thế đâu. —  A-lếc-xây Grô-mốp hơi cau mày nói.

        — Thằng Pa-ven nhà bác... — Ca-da-cốp cười độ lượng. — Có bà

        đỡ từ Da-mô-ri-a tới, mang theo bình sức khỏe, đối với người khác bà ta cho từng nắm một, nhưng thằng Pa-sa nhà bác thì mụ ta dành cả bình. Bác A-li-ô-sa, lạy trời, đừng có giận con mình làm gì. Đúng thế đấy.

        Trên danh nghĩa là tổ trưởng tổ tiện, Ca-da-cốp không chịu ngồi yên một chỗ. Lúc nào cũng nhìn thấy cái đầu hói của ông loanh quanh trong xưởng và cái giọng khe khẽ luôn luôn nghe vang lúc ở đây, lúc ở kia.

        — Không được đâu, người anh em ạ, chỗ này cần phải làm lại. —  Ông nói với một công nhân làm sai một chi tiết nào đấy. — Phải tháo ra làm lại thôi, nếu không thì phải tiện cái khác. Cậu ăn cháo hay sao mà không hiểu được điều này!

        Ông cười ha hả và A-lếc-xây Grô-mốp cũng phải cất tiếng cười theo. Trong thời trai trẻ của hai ông, bề dày của những đồng tiền lẻ là đơn vị đo lường chính xác nhất trong nhà máy. Bây giờ, A-lếc- xây Grô-mốp, Cu-dơ-ma vui vẻ thực sự khi nhớ lại lúc đó họ đã từng làm việc như thế nào.

        Đôi lúc, trước khi đi ngủ, ngồi hút thuốc trên giường trong hầm trú ẩn, họ kể lại cho nhau những chuyện quá khứ của mình.

        Họ nhớ lại những năm đầu của thế kỷ này, năm 1903, 1904, 1905: cuộc biểu tình tuần hành đầu tiên của công nhân thành phố, những cuộc bãi công,đụng độ với cảnh sát, những vết khắc kỷ niệm trên thân cây trong rừng; rồi nơi họ hội họp để nghe những người Bôn-sê-vích nói chuyện. Nhưng những câu chuyện của năm linh năm họ lướt qua để nói về năm mười bảy lịch sử. Họ sôi nổi khi nhớ lại cảnh họ đi tước vũ khí của bọn lính chính phủ lâm thời, về cuộc tiến công kho vũ khí vào một đêm thu lạnh lẽo, về những ủy viên nhân dân đầu tiên được bầu vào Xô-viết thành phố. Nhưng họ cùng thấy những gì ý nghĩa nhất trong cuộc đời riêng của họ đều không đáng kể, so với những người anh hùng, những sự kiện lịch sử vĩ đại. Trong những buổi tối như thế, A-lếc-xây Grô-mốp vừa ngồi nghe, vừa góp chuyện và cảm thấy hình như ông đã trải qua những cuộc đời như vậy.

        Trong phân xưởng ông làm việc sau tấm vách ngăn bằng gỗ giữa hai phòng, ông thường nghe thấy giọng nam cao rè rè của Ni-cô-la-ép. Ông thợ khắc chạm già ngồi dưới ô cửa sổ hình vuông đề làm thước ngắm súng cối.

        Trong ngôi nhà gỗ cao... cao.
        Đội ngũ ta vẫn cò... òn...

        Ni-cô-la-ép hát toáng cả nhà, quên cả mọi người xung quanh, mắt ông nheo nheo, chỉnh đi chỉnh lại các số đo trên thước ngắm súng cối.

        Mỗi làn nghe giọng hát đó, Ca-da-cốp lại đưa mắt nhìn A-lếc-xây Grô-mốp như muốn nói « Đấy, ông xem, chúng ta còn có thể như thế đó».

        Nhưng dĩ nhiên, các ông già thường bàn luận với nhau về tình hình chiến sự, về tin tức ngoài mặt trận, hơn tất cả mọi chuyện. Mà mặt trận thì đã ở ngay sát thành phố này, và từng giờ, từng phút trong nhà máy đã cảm thấy không khí đó. Không phải chỉ mình A-lếc-xây Grô-mốp có người thân ngoài mặt trận, những tin tức về sự mất mát đầu tiên của trung đoàn công nhân đã bay về nhà máy, nó liên quan đến những người bạn của ông. Người em trai của bác thợ nguội Prô-ta-cổp đã hy sinh, An-ma-dốp vừa đi thăm thằng cháu bị thương nặng nằm ở bệnh viện. Đồng thời về phần mình, mọi người dân thành phố đều hân hoan vui mừng với mỗi chiến thắng của trung đoàn, họ cùng chia sẻ với nhau và coi đó như là niềm vui của chính gia đình mình.

        Chủ tịch ủy ban bảo vệ thành phổ La-tô-skin cũng đã đến thăm nhà máy một vài lần. Ông thăm các phân xưởng, hỏi chuyện mọi người và trả lời các câu hỏi của họ.

        Hàng ngày cũng có các chiến sĩ của trung đoàn đi xe tải chở đến nhà máy những vũ khí hỏng cần sửa chữa và nhận những khẩu súng đã được chữa lại hoàn hảo. Những chiến sĩ này chẳng xa lạ gì, họ chính là những công nhân của các nhà máy lân cận: nhà máy luyện kim, nhà máy sản xuất vũ khí, sản xuất ấm đun nước Sa-mô-va, nhà máy đồ gỗ, nhà máy liên hợp, đoạn đầu máy...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Năm, 2020, 07:08:19 am

        Hàng ngày, A-lếc-xây Grô-mốp đều ngóng Pa-ven đến nhà máy, dù chỉ vài phút thôi. Ồng rất muốn gặp con trai, ông thấy mình bây giờ đã đứng ngang hàng với nó, và ông muốn nói với nó rằng ông không phải là người tàn phế bỏ đi. Trong công việc chung này, ông quyết không chịu thua đứa con trai yêu quý, mà ông vẫn thầm ganh đua với nó. Nhưng vẫn không thấy bóng dáng tăm hơi Pa-ven đâu, chỉ có một lần anh nhờ một chiến sĩ trong đại đội mang về cho bố mình bức thư ngắn:

        « Bố của con, bố đã làm con ngạc nhiên. — Bức thư bắt đầu như thế, A-lếc-xây Grô-mốp xúc động, hôi hộp đến nỗi những dòng chữ đó ông phải đọc ba lần mới hiểu nổi ý của nó. — Khi mọi người nói với con là bố lại đi làm ở nhà máy, con phải thú thực với bố lúc đầu con không tin chuyện đó. Nhưng bố và tuổi già của bố đã thắng... và con cám ơn bố vô cùng! Bố và các bác hãy gửi cho chúng con thật nhiều vũ khí và chúng con quyết không để cho bọn phát xít tự do hoành hành, coi thành phố chúng ta như mảnh đất của chúng ».

        A-lếc-xây Grô-mốp mím chặt môi đưa tay xoa xoa lên cổ, ông đang xúc động mạnh. Pa-ven đã coi ông như người chiến sĩ ngang hàng, như một công nhân thực thụ và điều đó làm cho ông già hài lòng hơn cả.

        « Bố vẫn thường về nhà đấy chứ? — Pa-ven hỏi trong thư. —  Na-ta-sa thế nào, bố có gặp cô ấy không ? Rất mong bố chăm sóc cô ấy hộ con. Đó là mong muốn duy nhất của con đối với bố từ trước đến nay, bố nhớ nhé (chữ chăm sóc cô ấy được Pa-ven gạch dưới). Cho con gửi lời hỏi thăm cô An-na. Bố tha lỗi cho con vì bức thư quá ngắn này, nhưng bố ạ, bọn Đức lại đang quấy rầy chúng con đây... Ôm hôn tất cả mọi người chỗ bố ».

        Rõ ràng Pa-ven vẫn không hay biết là Na-ta-sa hiện giờ đã và đang làm việc ở nhà máy. Cô ấy đến nhà máy vào ngày thứ hai của cuộc bao vây, trông cô thật buồn bã, phiền muộn. CÔ định tìm đến trung đoàn của Pa-ven nhưng không được. Ở ủy ban quận, nơi cô đến nhờ họ giúp đỡ, người ta lại đưa cô sinh viên năm thứ tư này đến nhà máy chứ không phải đến trung đoàn công nhân. Còn ông, Grô-mộp, khi được cô kể cho nghe tất cả những điều này, đã ngồi nghe với vẻ mặt lạnh lùng, thờ ơ — một cô con gái bé nhỏ, yếu đuối. Tóm lại, cảm tưởng cuối cùng của ông là cô đã không làm cho ông thích lắm. Không, bà Ôn-ga tuyệt vời thời trẻ của ông không như thế này, ông thầm so sánh.

        Giá như ông có thể chọn vợ cho con trai thì ông sẽ không chọn cô gái này. Nhưng trong chuyện này, không phải lúc nào cũng theo ý muốn của mình được và A-lếc-xây Grô.-mốp nén tiếng thở dài, cố dịu giọng bảo cô gái:

        — Thôi đành phải thế! Con ạ. Hãy làm việc và phục tùng các ông già ở đây...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Năm, 2020, 07:08:50 am

2

        Người phụ nữ đầu tiên mà Na-ta-sa gặp ở nhà máy là Pra-xcô-via Ni-ki-tri-na Cu-dơ-nhê-sô-va, thợ cán thép. Qua câu chuyện, cô đã cho Na-ta-sa biết là cô ở có một mình trong ngôi nhà bỏ trống của Ban giám đốc nhà máy trước đây và cô mời Na-ta-sa đến ở cùng.

        — Chị đến ở đây đi, ở đó toàn những người độc thân. Pra- xcô-via nói, cô còn trẻ, nhanh nhẹn, có đôi mắt thông mình hóm hỉnh. — Chi sẽ thấy thích và thuận tiện lắm, mà em thì có bạn và vui hơn...

        Na-ta-sa thấy tin ngay người bạn mới này, liền cám ơn và nhận lời:

        — Vả lại, tôi ở đây cũng không lâu đâu. — Na-ta-sa giải thích thêm. — Dẫu sao chăng nữa, tôi cũng không làm việc ở nhà máy được.

        — Có sao đâu chị. Chúng em sẽ ghi tên chị vào hộ khẩu những người tạm trú. — Pra-xcô-via nói đùa. — Em chỉ muốn nói với chị là sự phục vụ ở đâu cũng đều cần thiết và có ích cả.

        Khi đến nhà máy, Na-ta-sa đã tự an ủi mình, dù sao chăng nữa, cuối cùng cô cũng phải đạt cho được nguyện vọng mong ước của mình là đến chỗ Pa-ven. Nhưng ngay từ buổi đầu đến nhà máy, cô đã hơi thất vọng. Ờ đây chỉ có vài ba chục người, chẳng còn trẻ trung gì, phần lớn là những ông già làm việc trong một nhà, khu nhà máy rộng lớn nhưng vâng ngắt, gần như chết lặng, khó lòng vực nó sóng lại. Nhưng rồi những con người này đã làm cho Na-ta-sa ngạc nhiên khi cô thấy họ biết cách tổ chức làm việc và thực sự thông cảm khi thấy họ không nhiều người nhưng vẫn quyết tâm khôi phục lại nhà máy và càng khâm phục hơn khi được biết lòng dũng cảm làm việc quên mình của họ đã trở thành một cái gì rất bình thường như thói quen hàng ngày. Công việc của Na-ta-sa ở nhà máy ngay từ hôm đầu tiên đã rất nhiều. Lúc mới đến, các bản vẽ kỹ thuật, những tài liệu cần thiết cho việc sản xuất súng cối vẫn chưa xong và Pi-ốt Ki-rin- lô-vích Oóc-lốp, người phụ trách của cô đưa ngay cho cô các bản vẽ chi tiết đó. Cô phải giúp ông hoàn chỉnh nốt các tính toán và một số công việc khác nữa. Ngoài ra, công việc nội trợ bếp núc bỗng nhiên cũng chiếm của cô một thời gian đáng kể. Lúc đầu, mọi người trở lại làm việc ở nhà máy đều chẳng chú ý gì lắm những nhu cầu thiết thân, ăn uống thất thường, thậm chí đôi lúc quên cả ăn nữa. Không thể kéo dài tình ỉrạng đó mãi được. Một hôm, một công nhân dẫn đến nhà máy hai người phụ nữ, những người láng giềng, đồng ý nhận làm cấp dưỡng.

        Ở nhà máy, ủy ban bảo vệ thành phố cũng đã gửi lương thực thực phẩm đến. Còn Na-ta-sa được mọi người đề nghị trông coi hộ việc giữ gìn vệ sinh, trật tự ở nhà bếp. Nhưng chính bản thân cô cũng nhận thấy những công việc bận bịu liên quan đến « phân xưởng ăn uống» bé nhỏ mới mẻ này đã hấp dẫn và lôi cuốn cô rất nhanh. Những lúc này tuy bị mệt mỏi vì công việc ở nhà bếp hay lúc ở trong văn phòng của Pi-ốt Ki-rin-lô-vích, người nóng rực vì chiếc lò sưởi sắt tạm thời, hay những khi các ngón tay cầm bút chì lạnh cóng, hoặc trong căn buồng ở của cô và Pra-xcô-via, ống nước bị đóng băng vào các buổi sáng, Na-ta-sa vẫn không cảm thấy buồn rầu chán nản. Cô thấy sung sướng, vui thích với mọi biểu hiện cửa cuộc sống thân ái, chân tình ở đây: nụ cười đáp lại nụ cười, những câu đùa vui, tiếng cười trong trẻo.

        Bản thân Na-ta-sa phải công nhận rằng cô biết quan tâm đến những điều làm vừa lòng mọi người, mà điều chủ yếu là cô có một tấm lòng tốt. Cô quan tâm chu đáo đến những người chung quanh, tự cô đã gây được thiện cảm với họ. Chính điều này trong nhiều trường hop đã giúp cô biết làm những việc hoặc nói lên những suy nghĩ đúng đắn rất cần thiết trong giờ phút nào đó.

        Vào các buổi chiều, ngồi trong bếp nhà ăn ầm cúng, tâm thần thoải mái, dễ chịu, Na-ta-sa thường hay bàn luận với các chị nấu bếp về công việc nội trợ này. Củi khô cháy lép bép thinh thoảng lại bắn ra những tàn lửa nhỏ, tiếng nước chảy vào chậu róc rách, đôi lúc cháu bé, con một chị nấu bếp nằm mê, cựa mình trên chiếc ghế dài rồi lại ngủ thiếp ngay. Còn mẹ của chú lúc này đang rửa bát đĩa, khuôn mặt tròn trĩnh hồng hào. Chị đang phàn nàn với Na-ta-sa: nào đồ ăn thức đựng không đủ, nào là kiều mạch sắp hết, rồi thì củi ẩm quá khó cháy, dù bản thân chị đã chạy vạy long đong, và bỗng lại quay sang chuyện ông chồng ở mặt trận ít gửi thư về. Na-ta-sa không nói gì, chỉ gật đầu đồng tình: quả thật, bát đĩa, xoong nổi đồ đựng thức ăn thiếu nhiều quá, căn phải chú ý ngay đến vấn đề đó. Nhưng Na-ta-sa cũng cảm thấy thương thương người phụ nữ này. Chị ta hay than vẫn, kể lể và chẳng cái gì làm cho chị vừa lòng cả, nhưng chị không chịu ngồi rỗi bao giờ. Có lẽ do quá nhiều lo lắng và công việc bận rộn nên đã làm tính nết chị không được dịu dàng. Na-ta-sa hỏi thăm cuộc sống, hỏi chuyện chồng, con của chị ta, và hứa sẽ xin cho con chị vào nhà trẻ, lại còn đề nghị chị cho xem bức thư gần đây nhất của chồng vừa gửi về...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Năm, 2020, 07:09:24 am

        Vừa ngồi nhìn Na-ta-sa chăm chú đọc lá thư của chồng mình, chị vừa thở dài thườn thượt, vừa lẩm bẩm khe khẽ, chẳng ra nói với mình, cũng chẳng ra nói với Na-ta-sa:

        — Mấy người đàn ông thì lại hay đòi hỏi, dù nửa đêm về sáng hay dù trong hầm trú ẩn, lúc nào cũng đòi phải được ăn nóng, sưởi ấm!

        ...A-lếc-xây Grô-mốp được sống gần con dâu, dần dần đã có thiện cảm với cô, đã bắt đầu ngẫm nghĩ ràng con trai ông có lẽ không nhầm khi yêu cô gái chim chích này. Na-ta-sa đến nhà máy chưa đầy một tuần mà trông cách làm việc, có thể nghĩ là cô ấy đã ở đây từ làu rồi. Nhưng điều ngạc nhiên nhất là cô đã chiếm được cảm tình của nhiều người lớn tuổi nghiêm khắc, cầu toàn như những người bạn của ông, bằng một sức mạnh bên trong nào đó. Ông nhận thấy rằng việc cô đến xưởng đã làm cho các ông già hài lòng. An-ma-dốp giương đôi lông mày bạc trắng mỉm cười với cô như người ta cười với con trẻ; Ca-da-cốp thì bắt đầu thao thao bất tuyệt những chuyện vui của mình làm cho cô ta phải cười theo; còn ông già Ni-cô-la-ép, một con người lịch sự tuyệt vời, lúc nào cũng đặc biệt ân cần niềm nở với cô. Có một lần, thấy Na-ta-sa dáng khỏe mạnh, mềm mại, dịu dàng chạy vào phân xưởng, An-ma-dốp đã giãi bầy ý kiến của mình:

        — Thằng con trai bác đã không nhầm — ông ta nói. — Nó chọn được cô vợ khép léo, dịu dàng này. Tóc bó gọn gàng, tính tình dễ chịu vui vẻ. Trong cuộc sống gia đình chung, đó là những điều đầu tiên cần phải có đấy...

        — Điều kiện của gia đình hạnh phúc chứ, có thể nói như thế đấy. — Ông già Ni-cô-Ia-ép khẳng định thêm.

        Ca-da-cốp tình cờ nghe được câu chuyện, nhìn các bạn mình, không giấu vẻ mỉa mai:

        — Thôi đi các bác ơi! — Ông kéo dài giọng. — Cái chuyện này đối với cánh mình bây giờ chỉ là chuyện lý luận mà thôi.

        — Tính tình vui vẻ của người vợ, ta không thể mua được đâu. —  Sau một lúc im lặng. A-lếc-xây Grô-mốp đồng tình.

        Ông cảm thấy hài lòng, thỏa mãn, vì dù sao thì giờ đây Na-ta-sa đã mang họ Grô-mốp, là vợ của con trai ông và những lời khen ngợi của mọi người về cô ta, đã an ủi vỗ về ông già.

        Việc lắp ráp khẩu súng cối đầu tiên đã xong. Nó được đặt ở chính giữa xưởng trông mới mẻ, tinh tươm, hai chân xoài ra đỡ lấy thân ống, nòng ngẩng cao, đặt trên đế sắt tròn. Mọi người mệt mỏi, râu ria chưa cạo, trong những bộ quần áo lấm lem dầu mỡ, đứng xúm xít quanh khẩu súng, chăm chú, tò mò, xét nét nhìn sản phẩm của mình. Sép-kin, tổ trưởng tổ lắp ráp đang nghiêng nghiêng mình, tay chùi vào miếng giẻ, soát lại lần cuối khẩu súng. Trên khuôn mặt già nhãn nheo thiếu máu nhợt nhạt của Ca-da-cốp hiện lên những nét kinh ngạc, hình như người thợ tiện già này vẫn còn chưa dám tin là chỉ có mấy ngày mà họ đã làm được một khẩu súng như thế.

        A-lếc-xây Grô-mốp vẫn cau có vì một số chi tiết trong khẩu súng không làm ông hài lòng lâm: bộ đế sắt tròn chưa được gia công kỹ, các vết đục vẫn lộ ra ngoài, nhìn rất thô, theo ý ông, hai chân chống cũng chưa đẹp lắm. Ông không thể không xét nét những cái nhỏ nhặt theo bản năng nghề nghiệp và con mắt lành nghề của mình.

        — Hình dáng khẩu súng trông còn thô, chưa có sự chau chuốt, sửa sang thích dáng, — ông nói với An-ma-dốp những nhận xét của mình.

        — Bệ đế tròn, bác trông kìa, nó làm xấu cả vẻ đẹp của khẩu súng. — An-ma-dốp thêm vào. — Bây giờ chỉ còn một việc là bắn thử và để tiện một công đôi việc, có ích cho sự nghiệp chung, thì nơi thử súng có lẽ không đâu tốt bằng ở trung đoàn công nhân. Địa điểm đó không xa nhà máy và những loạt đạn thử đầu tiện có thể hướng ngay về phía kẻ thù.

        — Sẽ lấy mục tiêu là bọn nó, — Vla-xốp, giám đốc mới của nhà máy quyết định. — Việc gì phải phí hoài bắn đạn đi đâu khác hả?

        — Tôi đã thỏa thuận rồi. — Bí thư đảng ủy nói. — Hôm qua đã gọi đây nói cho họ. Họ hứa chuẩn bị đầy đủ mọi điều kiện cho việc thử vũ khí này.

        Và mọi người khuân khẩu cối lên ô tô để chuẩn bị chở thẳng ra « bãi chiến trường ». Cùng đi với những người có nhiệm vụ trong việc thử súng này, còn có bốn ông già: A-lếc-xây Grô-mốp, Ca-da- cốp, An-ma-dốp, Ni-cô-la-ép đã ngồi trong thùng xe từ bao giờ. Tuy ho không cần có mặt trong cuộc thử này, nhưng không ai nỡ từ chối khi họ xin đi.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Năm, 2020, 07:09:58 am

        Thoáng có hy vọng sẽ được gặp Pa-ven, biết đâu khẩu cối này được thử ở ngay đại đội của Pa-ven, nên Na-ta-sa đã khẩn khoản đề nghị ông già Pi-ốt Ki-rin-lô-vích Oóc-lốp cho cô đi theo. Miễn cưỡng và vì mọi người chung quanh nói thêm vào, Oóc-lốp nhượng bộ Na-ta-sa. Cụ Oóc-lốp cao lớn, gầy gò, râu bạc phơ, hôm nay trông đăm chiêu và khô khan hơn mọi ngày. Khác với mọi người, ông chịu trách nhiệm cao nhất trong việc thử vũ khí mới và trong những phút này, ông vẫn nghi ngờ vào sự thành công của việc thử. Nói rõ hơn, tự bản thân ông cũng không hình dung được rõ rệt nguyên nhân sự lo lắng hồi hộp của mình, trong bất kỳ trường hợp nào, ông sẽ liệu dùng những phương pháp thích hợp và không chở khẩu cối đến trung đoắn nữa. Khẩu cối này được làm ra trong một hoàn cảnh hoàn toàn đặc biệt, với một tốc độ nhanh chóng kỳ lạ đã làm ông băn khoăn. Tuy mọi việc, mọi chi tiết đều được thực hiện đúng như yêu cầu, bất chấp những điều kiện làm việc khó khăn, nhưng Oóc-lốp vẫn sợ rằng: ông nghỉ việc đã lâu nên có thể bị nhầm lẫn một chỗ nào đó mà ông không nhìn thấy trước được trong việc làm nhanh chóng vội vã này.

        Chuyến đi thử súng đứng trước một khó khăn, kỹ thuật làm súng còn thô sơ, chất lượng thép còn kém, tất cả những cái đó có thể dẫn đến hậu quả chết người. Thí dụ như vì không có một nguyên liệu đặc biệt nào tốt hơn để làm nòng súng nên đành phải lấy những đoạn ống máy bơm ở thành phố ra để thay thế, điều đó làm cho ông không tin tưởng. Theo sự tính toán của ông: kích thước thích hợp, dùng được, vả lại không có gì hơn để mà lựa chọn cả. Nhưng dù sao đi nữa thì chưa bao giờ và không có một ai lại dung những ống thép làm máy bơm để chế tạo ra nòng súng cả.

        Mọi người khác trong xe vẫn vui vẻ cười đùa. Trời vừa hửng sáng, những làn gió lạnh buốt xoa vào da mặt làm khuôn mặt giá lạnh của họ hơi ửng hồng. Ca-da-cốp nhoài người qua thành xe, hét anh tài xế trong ca bin:

        — Nghe thấy không, anh bạn vàng, con gián trong lò sưởi, dận hết ga vào nhé!

        Chiếc xe vừa lao ra khỏi cổng, gặp luôn phải ổ gà, mọi người trên thùng xe xô vào nhau làm cho không khí càng sôi nổi phấn khởi hơn.

        — Còn sống đấy chứ ? Bác Grô-mốp ? — Ca-da-cốp thét lên, tay nắm chặt tấm vải bạt phủ khẩu súng.

        — Bác hãy giữ cho chắc nữa vào, kẻo lại bay lên như các thiên thần đấy. — A-lếc-xây Grô-mốp vui vẻ trả miếng.

        Ni-cô-la-ép muốn nhường ngồi cạnh ca bin cho Na-ta-sa, ông đến gần A-lếc-xây Va-xi-li-ê-vích.

        — Này công chúa, lại đây cho đỡ xóc. — Ông nha nhặn mời Na-ta-sa.

        — Không cần đâu bác ạ, bác cứ ngồi đi... Mà cháu là công chúa nào thế hở bác? — Na-ta-sa nói. Hai tay bám chặt thành xe, cô thử ngồi ghé cạnh ông, nhưng không được. Khi cô quay người lại, đầu cúi xuống, gió phần phật thổi mạnh vào mặt cô như muốn cuốn theo cả chiếc mũ nổi trên đầu.

        — Thôi cháu đừng phật ý nhé, lại chỗ bác đây này. — Ni-cô- la-ép nói lại, ông bị chảy nước mắt vì gió lạnh, sau đôi kính, mắt ông cứ nhấp nháy. — Các bác vẫn có phong tục nhường chỗ tốt nhất cho phụ nữ.

        — Này, bác Grô-mốp, nhìn thử xem ! — Ca-da-cốp huých khuỷu tay vào sườn A-lếc-xây Grô-mốp. — Ông I-van đang dụ dỗ vợ thằng Pa-ven nhà ông kia kìa...

        A-lếc-xây Va-xi-h-ê-vích nhướng lông mày đưa mắt nhìn Na-ta-sa. Lúc này, vẻ ngoài của cô làm ông rất thích : trán và chiếc mũi dọc dừa của cô bị giá lạnh hơi tai tái, đôi má đầy đặn ửng hồng như quả táo.

        — Chuyển ra chõ này mà ngồi, Na-ta-sa ạ. — Ông lên tiếng bảo Na-ta-sa. — Sao mặt con tái như gà mái thế kia?

        Ô tô đã chạy vào đường phố chính và lao vút qua bức tượng đồng Lê-nin, qua tòa nhà khách sạn hai tầng, rồi qua một vườn hoa nhỏ vắng ngắt với những hàng cây trụi lá... Na-ta-sa nhớ lại trong đêm đầu tiên đến thành phố đã lang thang ở đây và cô thấy như ngày đó trôi qua đã lâu, biết bao sự kiện xảy ra từ hôm đó đến nay. Tất cả đều đã biến đổi, trông có vẻ mới lạ hơn. Đấy là cái khách sạn mà cậu bé dẫn dường dũng cảm Vi-chi-a Vê-rép-kin tối đó đã khuyên cô nghỉ lại. Giờ đây đã biến thành bệnh viện, và ở lối vào treo lá cờ chữ thập đỏ bay phần phật. Trên mặt dường phía trước, một hố bom mới, chung quanh lổn nhổn những mảng băng tuyết vụn tung tóe làm thành một lớp tinh thể mỏng ở trên mặt đất. Ô tô vẫn tiếp tục lao nhanh. Trước mắt Na-ta-sa lấp loáng những tủ kính của cửa hàng tổng hợp đã được bịt ván đến một nửa, các mệnh lệnh của ủy ban bảo vệ thành phố dán trên bảng tin, những hàng rào kiểu « con nhím sắt» được hàn nối lại từ các màu sắt thừa vụn, nắm rải rác ở các ngã ba ngã tư. Gió đuổi theo ô tô, thổi tung những hạt tuyết nhỏ và bị cuốn hút theo thành hình lò xo màu ám khói bay tỏa trên đường nhựa.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2020, 07:40:13 am

        Trên vỉa hè, rất ít người qua lại. Các dãy phố thẳng tắp vắng ngắt. Tất cả đang nằm im, bất động trong cảnh ban mai rét buốt, đã gây cho người ta một ấn tượng hãi hùng, lạnh ngắt, khó chịu. Chỉ có các đội tuần tiễu từ hai đến ba chiến sĩ vai khoác súng luôn luôn xuất hiện. Xa xa, tiếng đại bác vọng về, Na-ta-sa lại có cảm giác như những tiếng búa thợ rèn nặng nề đang đập một cách chậm rãi, không đồng đều ở ngoại ô thành phố.

        — Cô hãy chú ý nhìn đây này. — Ni-cô-la-ép quay sang Na-ta-sa, nói. — Kia là viện bảo tàng địa phương chúng tôi, — ông chỉ ngôi nhà hai tầng có mái. — Giờ đây, tất nhiên nó đóng cửa và thậm chí người ta đã chở tất cả vật trưng bày đi sơ tán rồi. Đến khi nào nó mở cửa lại, tôi khuyên cô nên đến thăm.

        Na-ta-sa ngạc nhiên nhìn Ni-cô-la-ép, ông già lịch thiệp này hình như cho là mình phải có nghĩa vụ giúp cô khuây khỏa trong chuyến đi này. Ngồi nghiêng người về phía cô, ông mỉm cười nhẹ nhàng, mặc cho nước mắt tràn lên mi.

        — Ở đây có cả những vật trưng bày có tính chất giáo dục nữa, ông giảng giải thêm.—Cặp ngà voi ma mút, vũ khí bằng đá các loại, các mũi lao nhọn để bắn... có cả những khẩu súng khắc, chạm nổi từ thời xa xưa... Những đồ vật bằng đồng rất tinh xảo. Cũng có cả áo giáp lưới sắt, bình tưới bằng thiếc cổ xưa. Đặc biệt người ta còn trưng bày cả những đồ vật tượng trưng cho lịch sử của thành phố chúng ta. Lúc nào đó có dịp, tôi sẽ giới thiệu cho cô xem.

        Na-ta-sa rất muốn nói với ông: «Bác I-van Ni-cô-laị-ép, bây giờ cháu hoàn toàn không muốn để ý đến cặp ngà voi ma mút của bác đâu», nhưng ông đang hào hứng hăng say nên cô không nỡ.

        — Chín trăm năm, cô có biết không ? Thành phố ta vẫn đứng vững! — Ngừng lại một lúc, ông già Ni-cô-la-ép lại nói tiếp. — Trải qua bao nhiêu biến đổi, nhiều sự có... nhiều kỷ vật, tượng đài cũ, thánh vật cồ đều được giữ gìn đến ngày nay.

        Na-ta-sa cắn môi, đưa mắt nhìn về phía khác, cô đang hồi hộp nghĩ đến lúc gặp Pa-ven, cô bắt đầu không nhịn được cười.

        — Bác nói là, tất cả đã được cất giữ, bảo quản ạ? Nhất định cháu sẽ đến xem... — Giọng rung rung, Na-ta-sa nói, cổ giữ không bật tiếng cười.

        — Đấy, tôi cũng bảo thế mà... — Ô tô lại bị xóc, Ni-cô-la-ép va phải thành xe. — Cháu không làm sao chứ? — Ông quan tâm hỏi Na-ta-sa. — Ừ, bảo tàng thành phố phong phú lắm... Còn nhà máy mà cháu đang làm hiện nay, — ông say sưa tiếp tục — đã được xây dựng từ thời Pi-e đệ nhất cơ đấy! Cháu vẫn nghe rõ đấy chứ!

        — Nhà máy của các bác thật cừ khôi. — Na-ta-sa nói. — Bác chắc là biết rõ ngọn nguồn lịch sử của nó chứ ạ?

        — Ồ, sao lại không? Chúng tôi, họ hàng gia đình tôi đã sống ở đây rất lâu rồi. Dưới triều Đê-mi-đốp, vẫn là thời Pi-e đó, đã có họ Ni-cô-Ia-ẻp-xki, làm thợ rèn rồi... Ông tổ tôi Đa-nhi-la Tê-ren- trê-vích đã từng đứng bên đe quai búa suốt cả đời. Còn ông nội tôi Vla-đi-mi-rô-vích làm thợ khắc chạm... Ông ngoại, Các-pơ A-lếc- xây-ê-vích là thợ chuyên về các loại vũ khí.

        — Tôi nhớ ra ông ấy rồi. — Grô-mốp chen vào — Ông ta biết trau chuốt, tu sửa nòng súng rất tốt!

        — Hoàn toàn có thể nói ông đã trở thành con người nổi tiếng. —  Ni-cô-ia-ép khẳng định thêm và rút một cách rất cẩn thận chiếc khăn mùi soa vuông trong túi áo bành tô ra, ông lau đôi má bị ướt.

        Chiếc ô tô ngoặt vào phố bên cạnh có một ụ chiến đấu chắn ngang, và những người lính gác ra hiệu cho xe đỗ lại. Khi Vla-xốp ngồi trong ca bin đang nói chuyện với người chỉ huy thì có hai chiến sĩ mặc áo lông ngắn cầm súng trường đi lại phía thành xe.

        — Chào các bạn trẻ.—Ca-da-cốp chào họ. — Vẫn sống như mong ước chứ? Các cậu đánh bọn chó đẻ như thế nào rồi?

        Người lính có khuôn mặt trẻ, dài, với đôi mắt sâu mở to cười láu lỉnh nhìn vào thùng xe.

        — Ông bố già ạ, mọi người đang chờ đợi bố, — anh ta nói giọng khàn khàn. — Họ đã đi đến nơi tận cùng ác liệt mà thiếu bố!

        — Cậu đừng có nhe răng, đừng nhăn nhở nữa! — Ca-da-cốp kêu lên. — Bây giờ cậu sẽ được nghe thấy pháo của chúng tôi nổ! — Và ông chỉ lên khẩu cối được phủ bạt kín mít.

        — Các bác chở cái gì đến đấy, hả các bác ? — Anh bộ đội thứ hai cũng rất trẻ cất tiếng hỏi.

        — A, chính cái ấy đấy... — Ca-da-cốp trả lời vẻ bí mật, ông cười, các nếp nhăn trên mặt giãn ra, tỏ rõ sự hài 1òng.

        — Nhưng đó là cái gì cơ chứ ạ? — Anh lính vẫn hỏi.

        — Đó chính là cái các cậu vẫn thiếu đó, các chàng trai ạ! —  Ca-da-cốp hào hứng thét lên.

        — Thôi đi cậu... — Anh lính thứ nhất lắc đầu nghi ngờ. — Bác có lẽ từ nhà máy đến phải không ? Bác làm việc ờ đó thì nguy hiểm lắm!

        Ca-da-cốp thích chí võ tay lên đùi đen đét.

        — Chúng tôi đã làm cái gì? — Ông cười mỉm. — Vắt sữa chim, dìm cá măng và tán chuyện gẫu!...

        Vừa lúc ô tô rồ máy chồm lên, Ca-da-cốp ngã ngồi xuống, vội nhỏm người dậy, thét lớn :

        — Chúc các cậu nghỉ ngơi, sung sướng nhé, các bạn trẻ, còn chúng tôi thì bận túi bụi lên!


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2020, 07:40:38 am

        Sau khi phóng ngang qua ụ chiến đấu, xe chạy dọc qua một ngõ hẻm dẫn ra ngoại ô thành phố: Thỉnh thoảng mọi người ngồi trong xe lại nghe thấy tiếng đạn đại bác rít lên trong không trung qua đầu họ. Pháo binh ta từ các trận địa ngầm đang nã vào bọn Đức.

        — Chà, bây giờ được độ một trăm gam chất cay nhỉ? — Ông già An-ma-dốp bỗng lên tiếng. — Rất đúng lúc đấy.

        Những đường gân đỏ hằn rõ trên mặt ông làm cho má thêm hồng, ông tì tay chóng xuống sàn xe, tay kia rút đôi ủng ra khỏi chân.

        — Có lẽ đúng đấy, bác Xa-sa ạ. — Ca-da-cốp đồng tình ngay. — Trời lạnh thế này có nó thật là tuyệt.

        — Đấy bác xem! — An-ma-dốp hào hứng nói tiếp — Bác phải phục đấy nhé. Mười năm nay tôi không sờ đến nó... Các bác sĩ bảo với tôi là không nên, tôi cũng ngài ngại, sờ sợ và tôi đã bỏ được ý thích này. Tôi nghĩ rằng đó là chất độc hại không hơn không kém. Còn bây giờ tinh thần đang đòi hỏi.

        Có lẽ sắp đến nơi. Ồ tô đang đi vào vùng ngoại ô, Ca-da-cốp và An-ma-dốp bắt đầu nói chuyện sôi nổi hơn. Trong xe, một số người trẻ thì im lặng, hồi hộp, hoặc vì mệt mỏi, người khác thì thiu thiu ngủ, đầu gục xuống, lưng dựa vào thành xe. Các ông già khác đang tràn ngập một niềm vui kỳ lạ, không hợp thời, họ cười đùa với nhau trông giống như những đứa trẻ do hoàn cảnh thay đổi làm phấn chấn, kích thích chúng.

        — Nổi nóng cái gì đó hả, các bạn yêu quý? — A-lếc-xây Grô- mốp dịu dàng hỏi. — Chưa uống rượu mà đã ngà ngà say rồi.

        Nhưng chính ông cũng phải kìm mình cho nghiêm chinh, đứng đắn hơn và điều này không đúng với bản chất chan hòa cời mở của ông. Cũng như những người bạn già của mình, giờ đây, ông cảm thấy rất dễ chịu, sảng khoái khi được ngồi trên chiếc xe đi ra tiền tuyến... Cách đây không lâu, ông và các bạn mình còn bất lực ngồi nhìn cơn bão tố tàn ác đang lan tràn khắp nơi, nó động tới tất cả cái gì mà họ yêu quý trong cuộc sống; mới hôm qua thôi, họ chỉ là những kẻ như đã chết ở cuộc chiến tranh này, thế mà hôm nay, tự họ đã đứng dậy, đấu tranh giành lại quyền sống. Trong chuyến đi này, họ cảm thấy sâu sắc: họ là những người lính của một đội quân vĩ đại, và họ được quyền nhận danh hiệu này. Hình như không phải là những cơn gió lạnh mùa thu, mà là những ngọn gió ấm áp, hạnh phúc của tuổi trẻ, từ lâu họ chưa được hưởng, đang thổi vào mặt họ ngày hôm nay. Mặc dù trời rét lạnh, nhưng họ vẫn thấy mình như những tân binh đang đi vào cuộc chiến đấu.

        Cuối cùng, xe ô tô đã đến nghĩa trang thành phố, chậm chạp leo lên ngọn đồi dọc theo bờ tường nghĩa trang. Đi chưa hết bờ tường, nó đã dừng lại, khẩu cối được khênh cẩn thận xuống đất, đến chỗ này phải đi bộ. Nắm tay A-lếc-xây Grô-mốp, mọi người giúp nhau nhảy xuống. Ni-cô-la-ép xuống trước Na-ta-sa và cẩn thận chìa tay ra cho cô nắm.

        — Cẩn thận đấy, chỗ này hơi cao ! — Ông báo trước. Nhưng Na-ta-sa đã tự nhảy xuống một mình.

        Cô đưa mắt nhìn nhanh mọi phía với ý nghĩ là Pa-ven sẽ xuất hiện ở một nơi nào đó gần đây, cô không nhận thấy họ đã đi vòng qua bức tường nghĩa trang như thế nào và bây giờ họ đang đứng trong một khu rừng nhỏ, không rậm lắm. Những cây sồi, cây phong non mọc một cách lộn xộn dọc theo sườn đồi khá dốc, vươn cao lên bầu trời đầy mây. Một vài chỗ cỏ cây bị đổ, những cành gai rậm rạp bị đứt đang đung đưa, còn mặt đất bị xới đen bao chung quanh các gốc cây.

        Tại đây, các chiến sĩ trung đoàn công nhân vây quanh Na-ta-sa và mọi người cùng đi. Họ chào hỏi nhau vui vẻ, ầm ĩ; Na-ta-sa dường như bị cuốn hút vào không khí phấn khởi chung của buổi gặp gỡ này. Nhưng mắt cô vẫn không ngừng tìm kiếm Pa-ven. Cuối cùng, khi không thấy anh, cô quyết định hỏi một người lính tuổi trung niên, đứng ở vòng ngoàn xem chỗ Pa-ven ở đâu. Nhưng một anh lính trẻ khác, thân hình hơi to, dáng lăng xăng có đôi mắt tò mò, ngẫu nhiên nghe được, câu hỏi của cô liền kêu lên là anh ta biết chỗ Pa-ven ở.

        — Đại đội của họ không xa đây mấy... Nhưng chị là người như thế nào với anh ấy! — Anh ta tò mò hỏi. — Là vợ phải không? — Anh vung tay một cách tuyệt vọng. — Biết bao nhiêu các cô gái như chị đến đây, lúc hỏi người này, khi hỏi người khác.

        — Tôi xin đồng chí. — Na-ta-sa kêu lên. — Đồng chí chỉ cần chỉ hướng cho tôi đi thôi.

        Anh lính lắc dầu:

        — Không thể được, bất cứ ai cũng không được phép! Đã có lệnh cấm của chỉ huy... — Nhưng nhìn thấy dáng điệu cầu khẩn van nài của Na-ta-sa, anh ta động lòng — lẽ chị nên gọi điện thoại cho đồng chí Pa-ven là tốt nhất — Anh ta khuyên Na-ta-sa.

        — Tôi có thể gọi điện cho anh ấy ở đâu? — Na-ta-sa hỏi.

        — Ở hầm của chúng tôi, còn gì tốt hơn nữa, phải không chị ? Hầm kia kìa, sau lùm cây nhỏ đó...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2020, 07:41:09 am

        Khi đưa Na-ta-sa đến hầm, anh lính lúc sải bước về phía trước, lúc dừng lại, dáng trầm ngâm suy nghĩ về khả năng gặp gỡ của Na- ta-sa với Pa-ven.

        — Anh ấy không thể tự ý ra đây được là một này. Còn đợi phép, thì phải chờ một thời gian dài này... Có lẽ, chị ạ, chưa chắc được gặp anh ấy đâu.

        — Tự tôi sẽ đi đến chỗ anh ấy. — Na-ta-sa nói một cách dứt khoát. — Một mình tôi sẽ đi.

        — Điều đó cũng không được đâu! Tôi đã nói với chị rồi mà. —  Anh lính kêu lên. — Đa có lệnh cấm của chỉ huy! Doanh trại của chúng tôi đã tổ chức chấn chỉnh lại rồi... Chính vì hàng ngày đều có người đến thăm, lúc thì người này có vợ đến, người khác có mẹ... Họ có thể vượt qua tuyến lửa mà chẳng sợ gì cả... Vì cái tình cảm gia đình mà họ liều mạng như thế!

        Song anh lính trẻ lại là người có tấm lòng trắc ẩn, vị tha, hay giúp đỡ người khác. Vào trong hầm, anh ngồi luôn xuống hòm điện thoại và yêu cầu cho xin « Hoa tử đinh hương ». Na-ta-sa thấp thỏm chờ anh ta đưa cho cô ống nghe, cô vén mái tóc lòa xòa vào chiếc mũ nổi...

        Nhưng lần này cô cũng không gặp may, hóa ra Pa-ven không ở chỗ cấp chỉ huy của anh ấy. Và anh lính trẻ chỉ yêu cầu người trực điện thoại của bên « Hoa tử đinh hương » nhắn lại cho đồng chí chi huy bên đó rằng có vợ và bố đang chờ ở đơn vị « Mộc thảo hương », lúc nào đó đồng chí sẽ sang.

        Lúc này, bên sườn dốc, trước bức tường nghĩa trang, bộ đội và công nhân nhà máy đang dựng khẩu cối. Để bàn đế được kín, người ta phải đào trên mặt đất đóng băng một hố nhỏ. Đại úy chỉ huy tiểu đoàn chịu trách nhiệm việc thử vũ khí này ra lệnh lấy đích bắn là chỗ trũng bên kia sườn đồi, hướng vào làng Mư-skin, nơi các đơn vị bộ binh Đức đang trú quân. Khi Na-ta-sa quay lại, cô thấy trên sườn đồi, trong bụi cây, một người mặc áo ca pốt quỳ chân và đang phẩy tay như đày cái gì đó ra khỏi mình.

        Một vài chiến sĩ xúm xít quanh khẩu cối, xoay vặn nòng của nó. Gần hơn một chút, đúng chung quanh là mọi người của nhà máy. Họ im lặng nhìn các chiến sĩ làm việc. Người mặc áo ca pốt bỗng nhiên hạ tay xuống một cách dứt khoát và quay lại các chiến sĩ, ông hét lên:

        — Chú ý đấy!

        Na-ta-sa ngạc nhiên nhìn quanh: ở đây không thấy một dấu hiệu gì chứng tỏ có địch, cô thấy mọi cái đều rất bình thường, yên tĩnh, không có một không khí chiến đấu thực sự gì cả.

        Nhưng ngay lúc đó, giọng nói xúc động, rất to của Pi-ốt Oóc- lốp vang đến chỗ cô:

        — Tôi yêu cầu tất cả mọi người nhanh chóng lùi ra xa chỗ này! Các đồng chí bộ đội nữa, xin mời lùi ra nữa.

        Sau đó đồng chí đại úy chỉ huy tiểu đoàn, và Pi-ốt Ki-rin-lô-vích bắt đầu thảo luận cái gì đó làm mọi người chung quanh im lặng đứng nghe. Na-ta-sa chỉ nghe thấy vài tiếng rời rạc của Pi-ổt Oóc-lốp: « Chỉ khẳng định được riêng chất lượng máy móc...», «Tôi không có quyền, không hình thức, không...».

        Còn người đại úy, cứ nhìn điệu bộ cử chỉ mạnh mẽ dứt khoát của anh ta cũng biết là anh ta không đồng ý với ông già Oóc-lốp.

        «Chuyện gì đằng ấy nhỉ ? » — Na-ta-sa lo lắng. Cô đi nhanh tới chỗ A-lếc-xây Grô-mốp Nhưng cô chưa kịp hỏi thì đã nghe tiếng đại úy ra lệnh cho các chiến sĩ của mình lùi xa khẩu cối. Vla-xốp đi sau đại úy, bảo mọi người đứng vào sau bức tường nghĩa trang. Một số người nghe lệnh đã đi xuống sườn dốc cùng với các chiến sĩ. Nhưng các, ông già đứng tách ra thành một nhóm vẫn không chịu đi.

        — Hãy đi đi, các ông bạn già ơi, đi đi... — Ông già Oóc-lốp giục họ.— Bác A-lếc-xây Grô-mốp, I-van Ca-da-cốp, Cu-dơ-ma Da-nhi-lức, hãy lùi vào đi!

        Ồng vẫy tay, vội vàng tháo kính ra, dùng những ngón tay thuôn dài lau mặt kính và lại đeo vào. Chòm râu dài bạc trắng của ông phất phơ trước gió làm tăng thêm vẻ quả quyết, quan trọng mà ông đang cố tạo ra trong lúc này. Ông kéo ngược vành mũ lên nhưng không buộc lại, chúng lại duỗi thẳng xuống vẫy vẫy như hai cái cánh chuồn chuồn.

        — Bác không có quyền đặc biệt gì mà được ở lại một mình, bác Pi-ốt Oóc-lốp ạ! — Ca-da-cốp phản đối và vẻ xúc động nên giọng ông lại thành thì thầm. — Không thể để bác một mình với khẩu súng này được!

        — Có gì đâu nhỉ? Bây giờ chỉ việc bỏ đạn vào nòng thôi. —  Oóc-lốp trả lời. — Một mình tôi cũng làm được, không cần ai phụ đâu... Tôi đề nghị mọi người lui ra xa đi, — ông thét lên.

        — Tất nhiên rồi, bây giờ thì có thể làm một mình được, công, việc thật đơn giản. — A-lếc-xây Grô-mốp nói, giọng khàn khàn. —  Bác Pi-ốt Oóc-lốp không công bằng gì cả. Đã vậy thì một mình tôi sẽ thử khẩu súng của chúng ta.

        — Bác? Nhưng tại sao lại là bác nhi? Chúng ta không đôi co nhau nữa đâu, bác A-lếc-xây ạ. — Pi-ốt Oóc-lốp nói.

        — Đúng, điều đó không hợp với chúng ta. — A-lếc-xây Grô-mốp khẳng định. — Vì tôi hiểu bác đang bị dằn vặt, tôi hiểu bác muốn ở lại một mình để tính toán lại tất cả. Sẽ xảy ra điều bất hạnh nào đó, bác nghĩ, nòng súng bị nổ vỡ hay cái gì đó... Bất kỳ, tất nhiên sẽ có một cái. Chính tôi là người tiện cái nòng sủng này chứ không phải người khác, tất nhiên tôi tin tưởng vào nó. Điều đó, như hai với hai là bốn vậy, bác Pi-ốt Oóc-lốp ạ.

        Grô-mốp cong ngón tay trỏ xoa xoa lên bộ râu hoa râm của mình, một nét gì đó vừa vui vẻ lẫn ác ý hiện lên trên khuôn mặt nặng nề to lớn của ông.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2020, 07:41:46 am

        Lúc này, trước Na-ta-sa, ông già không muốn mình thành người vô tích sự.

        — Bác căn cứ vào đâu mà nói rằng tôi sợ nòng súng vỡ ? —  Pi-ốt Oóc-lốp không chịu được, hỏi. — Nòng súng vẫn chắc chắn...

        — Ừ, nếu vậy thì bác đuổi chúng tôi đi làm gì? Làm nòng súng là việc của ai? Của tôi! Vậy chính tôi phải thử nó chứ! Người nào làm người ấy thử, bác Pi-ốt ạ. Còn bác, tốt nhất là ngồi sang một phía và quan sát. Bác là người lãnh đạo chúng tôi, bác không thể không tin tưởng...

        Giờ đây, dường như A-lếc-xây Grô-mốp đang trêu ngươi Pi-ốt Oóc-lốp và cười nhạo cả chính bản thân mình. Dôi mắt sáng dưới cặp lông mày rậm của ông nhíu lại vì nụ cười.

        — Vậy tôi sẽ ở lại. Ồng lớn tiếng kết thúc tựa như họ đã có quyết định dứt khoát.

        Bâng một cử chi hiên ngang quả cảm làm Na-ta-sa đầy kinh ngạc sửng sốt, ông ấn sâu chiếc mũ trên đầu cho thật chặt, chiếc mũ cũng có nhiều lông ấm áp và đang hiên ngang giống y như Pa-ven.

        Pi-ốt Oóc-lốp im lặng nhìn Grô-mốp.

        — Ông quả vẫn còn là một tráng sĩ dũng cảm đó. — Pi-ốt Oóc- lốp nói, hình như cảnh này đang như trêu tức ông, — Được rồi, tôi không tranh luận với ông nữa... Quả thực, một người sẽ khó khăn, Thôi tôi đề nghị tất cả lui ra!

        Ca-da-cốp, Ni-cô-la-ép, An-ma-dốp đồng thanh phản đối, nói cướp lời nhau. Sự e ngại của Oóc-lốp trong việc thử súng này đối với mọi người thật bất ngờ và nó không thể không gây ra sự lo lắng... Lúc này Vla-xốp phải can thiệp vào mới bắt các ông già yên lặng được.

        — Bác Grô-mốp, sao lại như thế nhỉ? Tại sao lại là bác, hả bác A-lếc-xây ? — Ca-da-cốp kêu lên, vội ngoảnh lại đằng sau.— Việc này phải công bằng... Tại sao lại không phải là tôi được quyền thử ?

        — Thôi làm đi, làm đi, bác Cu-dơ-ma! — A-lếc-xây Grô-mốp cười, cợt nói. — Bác hãy xem, bây giờ chúng tôi sẽ chiến đấu như thế nào... nhưng đặt xa xa một chút! — Quay lại đằng sau, ông thấy Na- ta-sa vẫn còn đứng cạnh ông. — Còn đứng làm gì ở đây ? Na-ta-li-a? —  Ông cao giọng. — Đi khỏi chỗ này ngay đi!

        Ông khoát tay đuổi cô, dưới lông mày, đôi mắt ông quắc lên trồng đến sợ... Na-ta-sa ngạc nhiên bởi sự thay đổi bất chợt này của ông, nhưng cô không bực và cũng không dám trái lời. Cô đi lui lại cùng với các bạn ông...

        Ở phía dưới, nơi mọi người đứng tụ tập bên bức tường nghĩa trang, có thể nhìn thấy rất rõ, bên sườn đồi trọc, giữa những đám cây trụi lá có hai ông già đang loay hoay gần khẩu cối: Pi-ốt Ki-rin- lô-vích Oóc-lốp, thân hình cao gầy mặc áo bành tô ngắn, tà áo phanh ra trông giống một con chim núi lớn và A-lếc-xây Grô-mốp vai rộng, dáng điệu chậm rãi. Chỉ lúc này bình tâm lại, Na-ta-sa mới hiểu hai ông già có thể bị nguy hiểm đến tính mạng nếu khẩu cối vỡ, không chịu đựng nổi cuộc thử lửa này. Cô sợ hãi, lo lắng ngoái nhìn lại... Vla-xốp đầu cúi xuống, tay xoa xoa bộ râu đen, còn Ca-da-cốp thì nhăn mặt khó chịu, những nếp hằn trên trán ông nhíu lại. Ni-cô-la-ép đang cầm khăn mùi soa lau những giọt nước mắt đang ứa ra. Mọi người đều lặng thinh. Trong bầu không khí yên tĩnh này chỉ còn nghe thấy tiếng đạn nổ xa xa, làm Na-ta-sa cảm thấy nó giống như tiếng còi cấp báo rền rĩ, lo âu, buồn bã. Lúc này, bên khẩu súng cối, hai ông già vẫn tiếp tục làm cái gì đó, lúc thì lui đi lui lại, lúc thì ngồi xồm, đầu chụm vào nhau, chắc là đang thảo luận.

        Từ trên cao, trong bụi cây vang lên giọng người chỉ huy đơn vị súng cối, tiếng nói tách bạch rõ ràng:

        — Mục tiêu, hướng quân thù, chuẩn bị! Phát thứ nhất... hướng chính... bên trái một — hai mươi, đường ngắm sáu — hai mươi...

        Na-ta-sa bỗng nín thở. Cô không nhìn thấy người chỉ huy bị bụi cây phía sườn đồi che khuất mất và dường như chỉ có lời nói vọng ra từ đấy. A-lếc-xây Grô-mốp đang cố ưỡn thẳng người, nắm chặt vật gi đó giơ cao trên nòng súng.

        — Ôi, đừng có làm tuột đấy nhé, bác A-li-ô-sa! Đừng có phung phí! — Ca-da-cốp lẩm bẩm ngay bên tai Na-ta-sa.

        Và ở phía trên lại đột ngột vang lên giọng nói đứt quãng của người chỉ huy:

        — Một quả... Bắn!

        Ngay giây phút đó, A-lếc-xây Grô-mốp giật tay, thả quả đạn rất nhanh vào nòng súng, suýt nữa ông bị ngã giúi xuống dưới.

        Phát đạn vừa nổ, Na-ta-sa kêu lên và nhắm mát lại. Khi cô mở mắt ra, giữa rừng cây, một đám khói xám bốc lên, viên đạn đã bay về phía trước. Nhưng điều chủ yếu là cả hai ông già đứng bắn và khẩu cối vẫn nguyên vẹn. Mọi người chung quanh Na-ta-sa lập tức sôi nổi hẳn lên, chạy đi chạy lại tranh nhau nói:

        — Phải như thế chứ, bác A-li-ô-sa! — Ca-da-cốp kêu lên giọng nghẹn ngào.

        Trong bụi cây lại thấy vang lên:

        — Bên trái không — mười chín... Một quả... Bắn!.

        Lần này không thấy đạn bắn ra ngay sau khẩu lệnh : các ông già vì sao đó còn lần chần, họ ngồi xuống bên khẩu cối và chăm chú xem lại cái gì đó.

        — Đúng rồi, rõ ràng là cần phải xem xét cho thật cẩn thận... Đây có phải là làm bánh xèo tiễn mùa đông trên bếp lò đâu. — Ca- da-cốp giảng giải cho Na-ta-sa nguyên nhân của việc chậm trễ.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Năm, 2020, 05:35:41 am

        Rồi lại thấy A-lếc-xây Grô-mốp đứng thẳng người lên, giơ cao tay trên khẩu súng. Tiếng nổ thứ hai vang lên, quả đạn bay vút sang bên kia đồi. Pi-ốt Oóc-lốp ngàng đầu nhìn theo hướng đạn bay, còn A-lếc-xây Grô-mốp thì cởi áo bông ra và ném xuống đất.

        — Rõ ràng là ồng ta đã phát sốt lên rồi! — Ca-da-cốp nói, khuôn mặt bé nhỏ của ông luôn luôn thay đòi theo từng giây, lúc thì nhăn lại, lúc thì hân hoan phấn khởi.

        Một người nào đó, không đứng yên được nữa, chạy nhanh lên hướng các ông già, nhưng giọng nói nghiêm khắc của Vla-xốp đã bắt anh ta phải dừng lại.

        — Chạy đi đâu đấy hử?... Tất cả đứng nguyên tại chỗ.

        Sau đó tiếp theo khẩu lệnh chỉ khoảng nửa phút, hoặc ít hơn, đã nghe thấy tiếng đạn nổ. Trong suốt thời gian đó, người chỉ huy chỉ thay đồi đường ngắm, còn giữ nguyên hướng cũ : « Đường ngắm sáu - tám năm », « Đường ngắm sáu - năm mươi », « Đường ngắm sáu- bốn hai »... Chỉ có mình anh ẩn trong lùm cây phía trên là nhìn thấy được kết quả của việc bắn, còn bản thân những người bắn, những khán giả đang đứng ở đằng sau bên bức tường nghĩa trang là không biết được những gì xảy ra ở dưới chân đồi bên kia. Na-ta-sa nóng ruột và hào hứng như tất cả mọi người ở đây, chờ đợi kết quả việc bắn của họ. Khi thay đổi đường ngắm, rõ ràng là người chi huy đã thấy các viên đạn đi gần trúng đích mà anh muốn.

        — Đường ngắm sáu-bốn hai... — Vặn vang lên khẩu lệnh cũ — Hai quả... mỗi quả mười giây... Bắn!

        Quả thứ nhất, rồi quả thứ hai lao vút đi, chi vài giây sau, gió lại đưa lại giọng nói ngắt quãng của người chỉ huy;

        — Đúng rồi!... Trúng lắm!... Bốn quả... Bắn!

        Ca-da-cốp huých mạnh vào khuỷu tay Na-ta-sa:

        — Đấy, ông già A-li-ô-sa của cháu đang bắn đấy! Ông hoan hỉ reo to.

        Hầu như không có sự cách quang giữa bốn quả mới, chủng nổ rất đều và người chi huy lại ra lệnh:

        — Bốn quả!... Đường ngắm cũ... Bắn!

        Bốn tiếng nổ lại vạng lên, rồi nghe thấy tiếng vọng từ trên cao:

        — Trúng lắm!... Rất cám ơn những viên đạn chuẩn xác !

        Tới lúc này, ông già Ca-da-cốp không chịu được nữa, chạy ra khỏi chỗ ẩn, lao lên phía trước rất nhẹ nhàng, dường như lướt trên mặt đất. Na-ta-sa cố bám theo sau ông. Sau đó, mọi người cũng chạy ùa theo...

        — Bắn tất cả là hai mươi quả rồi đấy! Tôi đã đếm được như thế! Các bác có biết không ? — Một người nào đó thích thú nói to.

        Mọi người đứng vây chặt lấy hai ông già pháo thủ súng cối. Na-ta-sa phải khó khăn lắm mới lách vào được gần A-lếc-xây Grô- mốp. Ông đứng trong tư thế hai chân đang rộng, hai tay cầm viên đạn cối nhỏ nhắn trông như một thứ đồ chơi trẻ con trong đôi bàn tay to lớn nhăn nheo của ông. Còn Oóc-lốp thì đang ngồi xổm chăm chú xem xét nòng súng cối.

        — Đồng chí Oóc-lốp, đồng chí Grô-mốp! Xin chúc mừng thành tích chiến đấu rực rỡ đầu tiên. — Vla-xốp đến gần nói to. — Chúc  mừng sản phẩm của các đồng chí nữa!...

        — Này bác Pi-ốt, có thể thêm vài phát nữa chứ?! — Grô-mốp ngước hỏi.

        Oóc-lốp lắc đầu phản đối, vành mũ lại bay lất phãt. Tương phản với Grô-mốp, khuôn mặt ông trông nhợt nhạt hơn, bộ râu dài của ông rối bù lòa xòa trên cổ áo và ngực ông.

        — Các bộ phận tốt không hả bác Pi-ốt Oóc-lốp? — Vla-xốp hỏi. — Không có gì đáng phàn nàn chứ ?

        — Chi phải sửa lại một vài chi tiết nhỏ. — Oóc-lốp đứng thẳng lên, rút trong túi ra chiếc thước đo. — Cân phải quay sang phải, cần điều chỉnh lại cho tốt hơn. — Ông thở phào nhẹ nhõm, miệng thoáng cười. — Dù sao thì chúng ta đã thử xong. Bây giờ công việc sẽ rõ ràng hơn...

        — Chỉ bị nóng thôi... — Grô-mốp nói, giọng tiếc rẻ.

        Hất đầu ngoảnh lại phía sau, ông nhìn về hướng kẻ thù đang khuất đâu đó. Ông vẫn chưa muốn rời quả đạn, đặt nó lên lòng bàn tay trái, tháo kíp nổ, đưa mắt ước lượng, dường như đang do dự có nên quăng nó đi hay không. Ông vung tay ném rất nhẹ nhàng, quả đạn bay dưới bàu trời xám và cao quá ngọn sồi non.

        — Các khẩu cối của chúng ta sẽ được lên tiếng. — Oóc-lốp hài lòng nói.

        Mọi người đứng quây chặt hai ông già hơn, còn Na-ta-sa, cô rất muốn ôm hôn cả hai ông.

        — Bác A-li-ô-sa ạ, trước bác là chàng trai dũng cảm như thế nào thì bây giờ bác vẫn thế. — Ca-da-cốp thét lên và ôm lấy Grô-mốp.

        Còn Oóc-lốp thì không kịp thở, không kịp trả lời những câu hỏi của mọi người đang vây quanh.

        — Máy ngắm thế nào? Có phù hợp với thước kẻ của chúng ta không? — Ni-cô-la-ép hỏi.

        — Máy giảm rung tốt chứ? Tôi đã làm chỗ này đấy, bác Oóc-lốp ạ ! — Một người khác chêm vào.

        — Hôm nay chúng ta dừng lại ở đây chứ, các đồng chí ? —  Vla-xốp hỏi. — Hôm nay cần phải tổ chức ăn mừng để kỷ niệm ngày này... Chúng ta vẫn thường có truyền thống như vậy.

        Người chỉ huy cuộc thử súng từ trên đi xuống, siết chặt hai tay ông già pháo thủ. Tiếp theo là đại úy tiểu đoàn trường đi tới, Vla- xốp trông thấy ông liền kêu lên:

        — Mọi việc đều tốt cả, đồng chí có thể báo cáo lên trên như thế, đồng chí đại úy ạ! Trong thời gian tới, chúng tôi có thể cung cấp cho đồng'chí bao nhiêu khẩu cổi cũng được. Hãy dùng nó đề giáng vào bọn xâm lược suốt cả ngày lẫn đêm! Như chúng tôi đã bắn trong ngày hôm nay ấy! Thôi các bạn ạ, chúng ta chuẩn bị về chứ?


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Năm, 2020, 05:36:10 am

        Khi quay lại chỗ ô tô đậu mang theo cả khẩu cối, mọi người vẫn tiếp tục bàn tán sôi nổi cảm tưởng của mình. Thậm chí có lúc đạn pháo lớn của bọn Đức thình lình lao tới cũng không làm cho những con người đang hăng say với những kết quả bước đầu của việc thử súng này mất hứng đi. Thật ra, đạn của bọn Đức nổ hãy còn xa trên bãi bằng trước ngọn đồi, và cũng không nhiều. Từ con đường ô tô nhà máy đang đứng đợi, có thể nhìn rõ như đang đứng trên cao, những màn khói cuộn lại len qua các bụi cây trần trụi lá, bốc lên cao. Sau đó các loạt đạn lại chuyền làn sang một nơi nào đó phía đối diện với nghĩa trang rộng lớn.

        Cùng với mọi người bước tới chiếc xe, Na-ta-sa nghĩ là không còn cơ hội được gặp Pa-ven nữa. Cô buồn bã ngoái lại đằng sau. Và ngay lúc đó, từ sau bức tường nghĩa trang cuối đường, một người cao lớn mặc ca pốt Hồng quân nhưng lại đội cái mũ lông xù rất quen thuộc, đang rảo bước đi đến chỗ ô tô.

        Na-ta-sa không kêu lên được, chỉ im lặng chạy ngược lại đón Pa-ven, hai tay vươn về phía anh và lúc đó ở ngoài người ta có thể nghĩ là cô đang kêu cứu. Khuôn mặt Pa-ven thoáng hiện niềm vui rạng rỡ bỗng biến thành nỗi lo âu.

        — Na-ta-sa, Na-ta-sca! Em làm sao vậy? Sao vậy? — Anh kêu lên.

        Không trả lời, cô ôm chặt lấy anh, một mùi đất xa lạ ẩm ướt từ áo anh bốc lên, làm cô theo bản năng lùi lại và thốt lên:

        — Chúng em đã đi dự bắn súng ở chỗ các anh đấy... À, mà không phải là tất cả, chi có bố và bác Pi-ốt Oóc-lốp thôi.

        — Có chuyện gì hả? Chuyện gì hả em? — Pa-ven vừa hỏi vừa kéo Na-ta-sa vào sát người và nhìn thẳng vào mắt cô.

        Trước mắt anh, trông cô vừa hốt hoảng nhưng thật đáng yêu đến nỗi vì lo lắng và vì quý yêu cô mãnh liệt nên anh không hiểu cô đang nói gì nữa.

        — Không, không có chuyện gì đâu. — Na-ta-sa thảng thốt hôn vội lên môi Pa-ven rồi lại lùi ra, ôm chặt cánh tay anh. —Tất cả đều bình an vô sự, thậm chí họ đã bắn vào bọn Đức hai mươi phát cơ... Ôi, em cứ nghĩ là sẽ không được gặp anh nữa.

        — Ai bắn vào bọn Đức ? — Pa-ven vừa hỏi lại vừa khao khát ngắm nhìn cô, và mãi lúc này anh mới thực tin rằng anh đang thực sự gặp và ôm cô trong vòng tay của mình.

        — Em đã nói cho anh rồi, bố và bác Pi-ốt Oóc-lốp. Họ đi thử súng cối... — Cô lùi lại nhanh rồi lại dựa vào ngực anh. — Anh bị làm sao thế này? — Cô hỏi bằng một giọng nhẹ nhàng khác hẳn.

        Cô đưa ngón tay út thận trọng sờ lên vết xước đã khô máu trên trán Pa-ven.

        — Lành rồi em ạ, chuyện vặt thôi! — Pa-ven nói và mỉm cười yếu ớt. — Bố đã đi bắn súng đấy à? Không có lẽ. Bố ở đây à? Tuyệt thật!

        A-lếc-xây Grô-mốp đã ngồi trong xe, chợt thấy Pa-ven, liền nhảy ra gặp anh.

        — Nào, nào cho tôi ngắm cậu một tí nào, chú lính A-nhi-ca của tôi! — Ông nói với anh băng một giọng khoan dung, cười cợt như trước kia. Hình như ông lại đối xử với con trai mình một chút gì đó hơi chua chát, nhưng đâu sao ông vẫn ôm Pa-ven và hôn liền ba cái.

        — Ôi, bố và anh Pa-ven cao thật đấy! — Na-ta-sa nói hồn nhiên rồi cười phá lên.

        — Pa-ven này, công việc của các con ở đằng ấy vẫn tốt chứ, hả? — A-Iếc-xây Grô-mốp hỏi, giọng đã thủn mật hơn.

        — Vâng, bây giờ mọi việc đã vào nền nếp. — Pa-ven sung sướng khi nhìn thấy những thay đổi trên nét mặt của bố. — Người ta đồn rằng ở nhà máy ta có những người bắn cối chuẩn xác lắm!

        Ông già bây giờ thực sự khác hẳn trước và điều ngạc nhiên nhất không phải là ông đã đứng thẳng, đứng vững được, mà là ở sự âu yếm trìu mến vẻ bề trên mà ông vừa nói với con trai.

        — Thế nào, con thấy các ông già vẫn còn sống được đấy chứ ? Ngày tháng trôi đi, chúng tôi đang nhìn thế hệ trẻ lớn lên, — ông lại nói đùa, — và chúng tôi cũng phải nghĩ cách để thi đua với các anh chứ!

        Từ trong ô tô vang lên tiếng chào:

        — Thế là dù sao cậu cũng đã đến kịp, Pa-ven ạ.

        — Nào, lại đây cho xem mặt tí nào!

        — Chào Pa-ven thân mến!

        Ở nhà máy, mọi người đều biết anh nên anh buộc phải đi vòng quanh xe bắt những bàn tay đang chìa ra và trả lời các câu hỏi. Pi-ốt Oóc-lốp nhảy qua thành xe, cũng ôm hôn anh.

        — Thật tuyệt là chúng ta lại gặp nhau! — Ông nói giọng xúc động. — Anh có biết là bác luôn nhắc đến anh không ?...

        — Pa-ven này, trước ông cụ, anh chỉ là một cậu bé thôi, không hơn được đâu. — Ca-da-cốp kêu lên. — Còn lâu anh mới bằng ông ấy được...

        — Bác rất vui mừng khi thấy cháu còn khỏe mạnh như thế này, — Ni-cô-la-ép nói.

        Pa-ven cười vui vừa trả lời vừa thỉnh thoảng quay lại nhìn Na-ta-sa. Đôi má cô hồng hào, còn cặp mắt ấm áp đen sẫm của cô long lanh hơn bao giờ hết.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Năm, 2020, 05:36:38 am

        Trong câu chuyện, lúc cô kể về công việc, lúc lại chuyển sang việc thử vũ khí, còn Pa-ven hầu như không để ý nghe xem cô nói gì mà chỉ say sưa ngắm nhìn khuôn mặt rạng rỡ của cô. Anh vừa mới rời khỏi chiến hào và tưởng như đang thấy trong cô tất cả mọi hạnh phúc của con người, mọi vẻ đẹp sinh động tuyệt diệu trên thế gian này. Anh không nhìn thấy chiếc bành tô nhàu nát, đôi ủng phù dãy bụi của cô, không thấy tóc cô rối bù đang lòa xòa ra ngoài chiếc mũ nổi. Bỗng nhiên, như bị một hòn đá nặng ném trúng vào tấm sắt, trên khoảng không có thể nhìn thấy được sau ngọn đồi, vang lên một tiếng nổ đanh, rồi một đám khói lẫn bụi đất, cỏ cây bốc lên cao. Ngay lúc ấy, chiếc ô tô bắt đầu nổ máy và những người chưa kịp lên vội va leo vào thùng xe. Pa-ven ôm lấy vai Na-ta-sa kéo về phía mình rồi vội vàng dắt cô chạy lại ô tô.

        — Đừng sợ! Em sẽ kịp đi... Đừng sợ! — Anh nhắc lại. — Anh đi rồi anh sẽ trở về...

        Anh xốc nách cô như một em bé, nhấc bổng cô lên rồi đặt vào thùng xe.

        — Pa-sa, hẹn gặp lại vào ngày gần đây nhé! Khi nào có dịp thì rẽ vào nhà máy... Gửi lời chào đến tất cả anh em mình! Hỏi thăm cả Bô-cốp nữa nhé! — Một giọng trong xe vang ra.

        — Tôi sẽ nói lại! Sẽ nói lại tất cả! Đi nhé! Anh sẽ trở về, sẽ về! — Pa-ven kêu lên và nhìn Na-ta-sa, lúc này anh không chỉ hứa với Na-ta-sa mà còn tự hứa với ngay chính mình nữa, và cảm thấy lo lắng sợ hãi khi phải từ biệt cô. — Anh nhất định sẽ về thăm em!

        Khi nhớ là mình còn phải tạm biệt bố nữa, anh ngoái lại. Ông A-lếc-xây Grô-mốp đang chậm rãi đi lại gần anh. Dáng ông không còn vẻ cười đùa nữa mà với vẻ âu yếm vụng về, ông trìu mến xoa xoa ngực con trai.

        — Mặc áo này không bị lạnh chứ ? — Ông hỏi, giọng thấp xuống, thì thầm vẻ bí mật. — Ồ, không đâu bố ạ! Bố về nhé! Cảm ơn bố về những khẩu súng này, — Pa-ven nói.

        — Nếu lúc nào có thể được, con hãy đến chỗ bố nhé... — A-lếc- xây Grô-móp thì thầm khe khẽ và ông đi lên xe.

        Pa-ven giúp bố trèo lên rồi anh kéo thành xe, đóng chặt lại.

        — Páp-lích ! Tha lỗi cho em... — Na-ta-sa kêu lên khi sực nhớ ra.

        Chỉ đến lúc này, khi phải từ biệt Pa-ven, cô mới nhìn kỹ, thấy anh thay đổi rất nhiều : áo ca pốt hơi chật và ngắn, cô cảm thấy anh có một cái gì đó không được bình thường. Mặt anh đen sạm lại như bị khói hun, còn vết xước mới dưới mắt làm thành một nét hằn trông đến thương. Na-ta-sa không chịu nổi khi phải tạm biệt anh lúc này.

        — Em nói sao ? Thôi em cứ về đi! — Không hiểu sao, Pa-ven lại bực tức nói như vậy.

        Chiếc xe rồ máy lên chuyển bánh, dường như người lái chỉ còn đợi mệnh lệnh này của anh thôi.

        Na-ta-sa còn nhìn thấy bóng dáng đơn độc của người chồng đang đứng ở giữ đường một lúc lâu nữa. Đúng vào lúc chiếc xe vừa rẽ sang ngang thì một tiếng nổ vang lên rất gần làm chiếc đài phun nước bằng đất rung lên sau bức tường nghĩa trang.

        — Bọn quỷ đó tức giận với khẩu súng của ta đấy! — An-ma- dốp nói.

        Lê-na Cô-lê-xnhi-cô-va quyết định ở lại đội trinh sát và Vi- chi-a Vê-rép-kin bây giờ cũng chẳng phản đối gì điều này; cả Vô-lô- đi-a Ti-khô-nốp tuy đề nghị cô gái vào thành phố ở tạm với mẹ mình, nhưng trong thâm tâm lại tán thành quyết định của cô bạn gái. Từ cái đêm trinh sát đầu tiên đáng ghi nhớ đó, cả ba người — Lê-na, Vô-lô-đi-a, Vi-chi-a — đều không rời nhau nửa bước, cả trong lúc nghỉ ngơi cũng như trong khi làm nhiệm vụ. Thật ra, mõi khi phải đi vào vùng địch chiếm, Vô-lô-đi-a đều không muốn nhận Lê-na đi theo, cậu ta lo cho cô bạn, nhưng điều trước tiên phải nhận là cô đã vật nài bằng được để tham gia vào các cuộc trinh sát và hơn nữa, « chính Vô-lô-đi-a cũng nghĩ rằng cô không thể hành động khác thế được. Trong cuộc sống cũng như trong quan hệ đối xử với mọi người cậu ta thích mọi sự đều rõ ràng, mình bạch, công bằng và hợp lý. Cậu không tìm lý do gì để buộc Lê-na phải hưởng quyền ưu tiên đặc biệt so với những chiến sĩ trinh sát khác. Sự thông thạo địa dư phong thổ, biết bắn súng khá do cô học tập được trong các buổi tập đã giúp cho Lê-na trở thành một người bạn đường có ích. Theo con mắt của Vô-lô-đi-a, Lê-na có vẻ đẹp kỳ lạ: điệu bộ duyên dáng, giọng nói, nụ cười, mái tóc xoăn nghiêng nghiêng, cặp lông mày khẽ nhướng lên một cách ngây thơ như cậu ta đang tưởng tượng lúc này, tất nhiên đã giúp họ thoát khỏi bao nhiêu khó khăn hiểm nghèo trong các cuộc trinh sát. Hơn thế nữa, giờ đây, đối với cậu, tất cả mối nguy hiểm và nỗi khó khăn đều là điều tự nhiên đối với mỗi người và né tránh nó là điều si nhục.

        Từ sau hôm ở làng Một tháng Năm bị bọn Đức thiêu hủy trở về, Vô-lô-đi-a dường như lớn hẳn lên và thực tế hơn. Từ lúc này cậu đã quyết định dứt khoát, điều đầu tiên là không nhân nhượng bản thân bất cứ một điều gì và đối với người khác cũng thế.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Năm, 2020, 05:37:40 am

        Bây giờ cậu đang lúi húi với khẩu súng của mình, tập tháo lắp, lau sạch sẽ; còn trong các bài học của những người trinh sát lão luyện, cậu đã luyện cho mình đức tính kiên quyết cần thiết.

        Nhóm ít người của họ cách đây không lâu được bổ sung, biên chế lại và có chỉ huy mới là một trung úy do ban tham mưu khu vực cử về. Chỉ huy mới trước là vận động viên và huấn luyện viên thể dục, anh đặc biệt quan tâm đến việc rèn luyện thể lực của người trinh sát và Vô-lô-đi-a đã cố gắng chạy, nhảy, bò nhiều đến nỗi đầu gối cậu ta luôn bị đau nhức vì bị trầy da và chấn thương. Vài ngày sau, cậu ta gầy đi trông thấy, đôi mắt xanh, sắc bén trên khuôn mặt gây gò của cậu như to hơn... Được bầu làm phân đoàn trưởng, Vô-ỉô-đi-a cũng thẳng thắn đòi hỏi các bạn mình phải có sự hăng hái nhiệt tình quên mình như vậy và đã ngạc nhiên thực sự, nếu đôi khi họ không bằng lòng với cậu. Chính vì điều này mà một lần giữa cậu với Lê-na đã xảy ra va chạm, suýt nữa cãi nhau. Hôm đó, khi thấy một vệt bẩn trên nòng súng ngắn của Lê-na, cậu nhã nhặn và nghiêm túc nhắc Lê-na những quy tác giữ gìn vũ khí cá nhân, sau đó cậu đã bối rối và lúng túng khi thấy Lê-na, chẳng rõ vì sao, lại thét lên, trả lời những câu khuyên bảo đầy tình bạn của cậu ta:

        — Anh là một cậu bé chán ngắt, anh là người như vậy đấy! Anh là một người hay bắt bẻ kiếm chuyện điển hình đẩy!... Là người khô khan lạnh nhạt... không hơn không kém... Xin anh làm ơn tránh xa tôi, cùng với những nhận xét công thức ấy đi! Và nói chung không phải việc của anh xin đừng nhúng vào...

        Cuối cùng, đôi mắt cô tràn đầy những giọt nước mắt lăn dài trên hàng mi khép kín.

        — Hãy nghe đã nào, Lê-na!... Vì mỗi một phút Lê-na đều cần đến nó... mà nó sẽ bị hỏng mất vì bẩn, điều đó thật rõ ràng... — Cố giấu những cảm xúc thật của mình, Vô-lô-đi_a -nói với giọng càng dứt khoát hơn. — Tôi nói đây là có lợi cho Lê-na...

        — Không ai bắt anh phải lo lắng hộ cả! — Lê-na rầu rĩ thét lên, nước mắt vẫn chảy trên đôi má bầu bầu của cô. — Tôi chán anh một cách ghê gớm rồi. Tôi thi mệt mỏi, bị dằn vặt, có lẽ anh đã hiểu được điều này.

        Vô-lô-đi-a ngạc nhiên sửng sốt và ủ rũ đến nỗi không biết giải thích điều gì hơn nữa cho cô bạn gái. Lúc này, vì không hiểu được cô, không hiểu được bản thân mình, cậu lắp bắp một cách vội vàng, sợ hãi:

        — Sao vậy Lê-na?... Lê-na... Làm sao thế? Không được nói nữa!... Lê-na làm sao vậy? — Thấy Lê-na khóc, cậu nhăn nhỏ, dằn vặt, băn khoăn. — Thôi tôi sẽ lau khẩu súng của Lê-na thật sạch. Lena có nghe thấy không, chỉ có điều đừng khóc nữa! — Cậu hạ giọng và đỏ mặt. — Tôi sẽ luôn luôn lau sạch súng cho, được không?

        Điều đó rõ ràng là không đúng và anh rất băn khoăn ngượng ngùng khi tỏ ý muốn giúp đỡ Lê-na. Nhưng sự việc thật lạ lùng là sao cô gái lại cáu bực với cậu chỉ vỉ đã lo lắng thúc giục cô. Ngày hôm sau, sau buổi tập bắn, khi cậu lau sạch khẩu súng ngắn của cô, thì cô lại không cáu giận với cậu một chút nào cả. Nếu như có một người nào khác bảo cậu làm chính cái việc này thi dĩ nhiên cậu sẽ nổi giận, phẫn nộ ngay. Nhưng nói chung, cậu hiểu Lê-na còn ít, lúc thì cô tỏ ra lơ là với vũ khí của mình, lúc thì lại khoe tài thiện xạ, lúc cô buồn không nguôi khi nhớ đến mẹ và em gái, rồi bỗng nhiên lại cười đùa một cách vô cớ, hoặc trong giờ học cỏ lại mở mắt thao láo nhìn từ tấm bản đồ đến cái la bàn... Tất cả những hành động mâu thuẫn đó đã làm Vô-lô-đi-a thất vọng vì cậu không chịu ngả theo sự giải thích lý tính.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Năm, 2020, 09:09:24 am

        Bản thân cậu lúc này, với lòng tận tâm hết sức đã chuẩn bị cho mình và các bạn mình đi vào cuộc chiến đấu khốc liệt hiện còn đang ở phía trước, và cậu mong muốn nhanh chóng được nhìn thấy tất cả họ sẽ trở thành những người lính thực sự, những chiến sĩ trường thành đã được tôi luyện và rất dũng cảm, điều này thật cần thiết biết nhường nào cho chiến thắng... Nhưng đáng tiếc là sự rèn luyện của một vài bạn anh trong cuộc sống cần thiết sinh động này lại quá chậm so với thực tế đang đòi hỏi, kể cả cậu bạn vừa đôi phải lứa Vi-chi-a Vê-rép-kin của cậu nữa, tuy đã được thử thách rồi. Trong hoàn cảnh mới, cậu ấy cũng nói về bản thân mình như vậy, — nhưng chính cậu cũng làm cho Vô-lô-đi-a lo lắng. Vi-chi-a bò rất khéo và nhanh, nắm vững, thành thạo cách ném lựu đạn, cải trang, trá hình rất tài, không bao giờ bị mất bình tĩnh, nhưng đôi lúc trong giờ học lại tỏ ra hơi đãng trí, và cũng như Lê-nà không thích đi trực, thoái thác các việc sinh hoạt, ngoài ra lại còn hay ngủ. Sáng nào Vô-lô-đi-a cũng phải dùng hết sức để lay anh bạn đang ngủ say như chết trên sàn, trong đống rơm có lót tấm áo mưa bạt. Rồi sau đó tự nhiên cậu lại phát hiện thấy trong sinh hoạt hàng ngày, Vi-chi-a có những lúc biểu hiện khó hiểu. Gần đây, các trinh sát viên bắt đầu đè ý đến chiếc ba lô của Vi-chi-a — nó có vẻ quá nặng — và được Vi-chi-a cất giữ rất cẩn thận đề giấu những con mắt tò mò. Trả lời các câu hỏi của mọi người là giấu gi trong đó, thì Vi-chi-a chỉ miễn cưỡng: «Ba lô của tôi, tôi muốn để cái gì thì để». Nhưng một hôm khi chỉ một mình ở nhà với Vô-lô-đi-a, cậu ta vì hiếu danh, đã lôi ba lô ra, đặt trên sàn tất cả những đồ vật trong đó. Và Vô-lô-đi-a cực kỳ ngạc nhiên, hóa ra đây là bộ sưu tầm đạn các loại thật phong phú: đạn súng ngắn, tiểu liên, súng trường, đại liên chiến lợi phẩm thu được của bọn Đức. Trên mỗi đầu nhọn viên đạn lại có một vạch tròn màu đỏ, đạn sáng thì viền xanh, những viên nặng hơn — đè bắn cự ly ngắn được đánh dấu vàng, còn đạn bắn thiết giáp thì vạch màu đen. Trời mà biết được cậu ta đã làm cách nào để gom góp tích lũy cả một kho báu thế này, một kho báu thật là quý vô giá.

        — Giỏi quá, Vi-chi-a ạ! Thật tuyệt! —Vô-lô-đi-a ngồi xồm, tay lật đi lật lại các viên đạn, miệng reo lên đầy hân hoan phấn khởi.— Bây giờ, trong trường hợp nào chúng ta cũng có thể làm quy ước và chỉ được mục tiêu. Cậu đã hỗ trợ giúp đỡ tốt quá. Bây giờ chúng ta có thể bắn được cả tăng nữa!

        — Thôi, thế là đủ rồi nhé! — Vi-chi-a nói hơi cáu kỉnh, không hiểu vì sao cậu ta lo lắng và bắt đầu thu dọn bộ sưu tầm của mình vào ba lô. — Liệu đấy, không được kể cho chúng nó đấy, — cậu nói giọng răn đe. — Dù sao thì mình cũng không đưa cho ai đâu.

        — Cậu không cho là thế nào? — Vô-lô-đi-a hỏi lại.

        — Không cho là không cho, thế thôi! Ai cần thì phải tự lo kiếm lấy...

        Vô-lô-đi-a chậm rãi đứng lên, đôi mắt ngạc nhiên của cậu chăm chăm nhìn bạn mình.

        — Cậu phải đưa, nếu tôi ra lệnh... Một ông chủ bắt đầu xuất hiện, ngài Gốp-xếch. — Vô-lô-đi-a tức giận. — Cậu phải đưa cho ai cần, cậu phải chia cho tất cả mọi người. Rõ chưa?

        — Thôi đủ rồi... Mọi người phải tự lo liệu lấy cho mình chứ, —  « Ngài Gốp-xếch» cáu kỉnh trả lời. Khuôn mặt gầy, dài, có một nốt ruồi trên má của cậu ta buồn thiu. — Mọi người đều muốn ăn sẵn như thế... Cậu thật là con người thông minh. « Phải chia cho tất cả mọi người»... Thế tôi sẽ còn lại cái gì ?

        — Không phải một mình cậu chiến đấu mà mọi người đều chiến đấu cả... Cậu hiểu không? Và đừng có nghĩ đến sự vinh quang của bản thân, hãy nghĩ đến mọi người khác nữa, rõ chưa? — Vô-Iô-đi-a nói.

        — Tôi không phải vì cái vinh quang... mặc dù ai chả muốn có vinh dự... — Vi-chi-a làu bàu. — Tôi muốn bắn những con bạch tuộc Đức...

        — Cậu hãy nghĩ lại, xem xét lại chút nào... Mọi người cũng muốn bắn chúng. — Vô-Iô-đi-a thuyết phục. Vi-chi-a ngồi xổm, xem đi xem lại chiếc ba lô của mình một hồi lâu, xếp ra xếp vào một vài thứ gì đó, sau đấy cậu hỏi bằng một giọng uề oải.

        — Có thể để lại cho mình một ít không ?

        Nhưng cũng có những giờ phút mà Vô-lô-đi-a thấy rất xúc động bồi hồi khi nhìn thấy người bạn chiến đấu của mình. Đấy là những buổi chiều tới họ quây quần trong gian nhà gỗ lớn, nơi trú quân của cả đội ở ngoại ô thành phố và cùng nhau hát vang những bài ca. Thường Lê-na hay hái bè với Giê-nhi-a Xi-nhi-xư-na, cô học sinh trường trung cấp dạy nghề, cả hai đều có giọng tốt và những người khác hòa theo. Các bài hát gợi lại hình ảnh những người du kích trên dòng sông A-mua, cô con gái xứ Ca-khốp rực cháy, anh lính thủy Giê-lê-nhi-ắc và về Xtê-pan Ra-din, Sốp-sơ và Vô-rô-si-Iốp. Trong những giờ phút đó, một điều thật kỳ lạ, nhưng dễ chịu, thích thú tưởng như những số phận quang vinh, những chiến công huyền thoại mà các bài hát ngợi ca có một phần liên quan đến chính những con người đang ngồi hát ở đây. Tất cả những cái gì đang cháy bỏng trong trái tim họ — sự gan dạ và cao thượng, lòng nhiệt tình hăng hái sôi nổi và tính vô tư hào hiệp — như đang hiện rõ trên những gương mặt sáng sủa linh lợi của các chiến sĩ trinh sát đang hát. Lê-na hất mái tóc xõa trên trán lên, đôi má ửng hồng, đôi mắt nâu sẫm của Vi- chi-a sáng long lanh, đôi lúc không kìm được, cậu lại gào lên, giọng thật khó nghe.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Năm, 2020, 09:09:59 am

        Xi-nhi-xư-na vẻ đăm,chiêu, thể hiện một vẻ kiên quyết, còn anh bạn Va-li-a Lu-ca-sê-vich thích ngước mắt mơ màng nhìn lên không gian mông lung. Giọng hát của họ cao, đanh hơn. Bài hát vang xa rất to và đều. Có người thích chí quá, đánh nhịp lên đầu gối mình, có người nào đó đặt tay lên vai Vô-lô-đi-a và cậu cũng quàng tay thân thiết khoác vai người bên cạnh. Cậu hát to hơn mọi người khác và lúc này cậu cảm thấy thật hạnh phúc, tất cả dường như kết lại sẵn sàng lao vào bất cứ cuộc chiến đấu và thử thách nào. Và thật ra, nói một cách nghiêm túc thì trong công việc, trong những nhiệm vụ được giao, các bạn của anh chưa có gì đáng quở trách. Tất cả đều đã trải qua những công việc nguy hiểm, còn Xi-nhi-xư~na và Lu-ca-sê-vích đã có lần tài tinh tránh được cuộc săn đuổi của bọn Đức. Sau đêm ở làng Một tháng Năm, Vô-lô-đi-a cùng Vi-chi-a và Lê-ra lại được cùng nhau đi trinh sát, một lần nữa đã hoàn thành nhiệm vụ trở về an toàn, đúng thời hạn. Ông đại úy có râu, trong ban tham mưu khu vực rất hài lòng với những kết quả lần trinh sát thứ hai này, vì nhóm Vô-lô-đi-a đã bắt được liên lạc với một trong những đội du kích đang hoạt động ở vùng phụ cận thành phố. Nhưng chính Vô-lô- đi-a lại không thỏa mãn vì các bạn cũ của cậu, ở các vị trí phòng ngự thì hầu như được chiến đấu liên tục, còn cậu và các bạn khác, cho đến giờ theo ý cậu, vẫn chỉ làm những việc không đáng kể.

        Tuy nhiên, xuyên qua được vùng bọn Đức kiểm soát là một việc ngày càng khó khăn, phức tạp hơn và Vô-Iô-đi-a đã thấy được điều này khi cậu đi trinh sát đợt mới, lần thứ ba.

        Những ngày đâu tiên đi trinh sát, bọn Đức đóng quân ở những khu dân cư, không có những căn cứ dầy đặc, và có thể đi vòng qua sườn nó, hoặc rẽ vào rừng, băng qua đồng ruộng không có gì khó khăn lắm. Nhưng càng về sau, tuy các đường chiến hào không xuất hiện nhưng quãng cách giữa các đơn vị quân địch dần dần bị thu hẹp lại. Pháo binh Đức được đặt trong những cánh rừng gần ngoại vi và đã vươn tới được thành phố, còn quanh làng luôn có những đội tuần tiễu Đức cạnh gác.

        Vô-lô-đi-a, Vi-chi-a và Lê-na rất hài lòng vì luôn luôn được đi với nhau, một lần nữa lại phải gặp các đại diện của du kích, để trao cho họ bản chỉ thị của ủy ban bảo vệ thành phố và nhận những tin tức về quân Đức. Chập choạng tối, rời thành phổ và ngồi tại tuyến phòng thủ đến tối hẳn, các trinh sát viên mới ra đi và chẳng bao lâu đã tới một làng quen thuộc, nơi trước đây ba hôm họ đã tới thẳng chỗ hẹn đã định trước ở Ni-ca một cách trót lọt.

        Tuy vậy, lần này suýt nữa họ vấp phải đội tuần tiễu địch và nếu như không có một tên trong bọn hút thuốc lá để lộ sự có mặt của chúng thi có lẽ các trinh sát viên đã không tránh khỏi sự đụng độ. Nằm chờ trong lùm cây nhỏ đợi bọn tuần tiễu đi xa, Vô-lô-đi-a rẽ vào con đường nhỏ, dẫn hai bạn vào ven rừng thông. Chếch bên phải họ, dọc theo đường chân trời thình thoảng lại lóe lên những loạt pháo hiệu xanh lấp lánh, chập chờn từ làng Mư-skin, nơi đã bị bọn Đức biến thành căn cứ bàn đạp, còn trải dài bên trái và đằng trước họ là bóng tối dày đặc. Bỗng ngay gần cạnh họ, tiếng máy ô tô rộ lên và Vô-lô-đi-a vội rẽ ngoặt ngay sang trái, luồn sâu hơn vào rừng. Sau khi phải đi quãng đường vòng khá rộng như vậy, cuối cùng, nhóm trinh sát cũng đến được nơi hẹn khá muộn. Họ tìm mãi cây bạch dương bị nứt thân ở cửa rừng và từ đấy đi thẳng về hướng tây, sau đó còn phải cẩn thận bò qua đám cây gai rậm rạp cứ níu lấy chân họ. Để khỏi bị lạc hướng, thỉnh thoảng Vô-lô-đi-a cứ phải nhìn chiếc địa bàn mới trong tay. Kim la bàn hình thoi dài lấp lánh ánh sáng lân tinh xanh biếc như bị một làn hơi huyền bí nào đó thổi vào cứ nhảy nhốt rung rinh sau mặt kính và chỉ thẳng một hướng nhất định.

        — Tối mò mò thế này! — Lê-na khẽ phàn nàn, mắt căng lên nhìn, thậm chí nhức cả đầu mà vẫn chẳng thấy gì.

        Vô-Iô-đi-a suýt nữa định nhắc cô bạn là người trinh sát phải có đôi mắt tinh tường trong bóng đêm nữa, nhưng cậu ta đã kịp kìm lại được. Vài phút sau, từ trong rừng sâu khẽ vọng tới giọng nói nghiêm nghị.:

        — Đứng im!... Các anh là ai?

        — Người mình! — Lê-na hấp tấp đáp nhưng ngay lúc đố cô nghe thấy tiếng Vi-chi-a càu nhàu không hài lòng.

        — Lê-na, sao lần nào cũng lên tiếng trước thế? Sao cậu đoảng thế.

        — Khẩu lệnh ? — Người trong bóng tối lại hỏi.

        — Thuốc súng. — Vô-lô-đi-a nói. — Đáp lại?

        — Bi-cốt... đúng là các cậu rồi phải không? Tôi bị rét cóng lên vì đợi các cậu đây này!

        — Chúng tôi, chúng tôi đây! — Lê-na sung sướng reo lên và chạy lên trước.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Năm, 2020, 09:10:33 am

        Họ còn phải xuyên rừng đi theo người du kích liên lạc độ mười phút nữa và sau đó bước xuống căn hăm nằm sâu trong lòng đất. Ở đây ấm áp và sặc mùi thuốc lá. Chiếc đèn dầu xung quanh đan « dây thép », không hiểu sao lại gọi là đèn «tổ dơi», tỏa ánh sáng khá rõ. Một người tuổi trung niên, mặc áo lông cộc tay, râu xoăn ngắn đúng như Vô-lô-đi-a tưởng tượng, đang ngồi chống tay lên trán trên chiếc bàn ghép bàng những tấm ván thô. Bước lên trước một bước, Vô-lô- đi-a đứng nghiêm như điều lệnh đã quy định báo cáo về sự có mặt của tổ. Nhưng bỗng nhiên ông ta lại nheo mắt nhấp nháy Vô-lô-đi-a một cách tinh quái làm cậu ta hơi luống cuống, nói đúng hơn là làm cậu ta hơi phật lòng.

        — Là tổ trưỏrng hả? — Người chỉ huy du kích thân mật hỏi. — Tên cậu là gì nhỉ? Vô-lô-đi-a hả? — Ông đứng dậy và lần lưụt bắt tay tất cả ba người. — Còn cậu tên gì? — Ông quay sang Vê- rép-kin, — Vi-chi-a à? Tốt... còn cô? Lê-na hả? Cũng là một cái tên dịu hiền đấy... Như thế chúng ta đã quen nhau,.., Còn chú là Ni- ki-ta Đa-nhi-lứt... Thôi, ngồi xuống đi các bạn trẻ.

        Ông hỏi các trinh sát viên đã đến được đây như thế nào. Vô-lô- đi-a trả lời vắn tắt rồi rút trong túi áo blu dông ra một tập báo và một phong bì bản mệnh lệnh từ trong túi ngực. Chỉ huy du kích xé ngay phong bì và chăm chú dọc, tay gãi gãi bộ râu mới để, rõ ràng là chưa quen với nó.

        Vô-lô-đi-a ngoái cổ lại khi nghe thấy giọng nói như bị nén lại của Lê-na

        — Thật xấu hổ Vích-to ạ! Sao lại không hỏi để nhận luôn tin tức. — Lê-na nói thì thào vì xúc động. — Cậu ấy không biết hỏi.

        — Trao đổi là phải thế. Mình đưa cho họ cái họ cần và họ sẽ phải đưa lại cho mình cái mình cần... Chẳng có gì phải tranh luận cả, — Vi-chi-a làu bàu. — Đây là sự trao đổi lẫn nhau mà, thế thôi...

        Vô-lô-đi-a nghĩ là các bạn đang nói đến quả lựu đạn nằm trên bàn người chỉ huy du kích. Cậu chưa nhìn thấy quả lựu đạn nào như thế bao giờ. Nó tròn trĩnh như quả bóng con, màu xanh biêng biếc, tay cầm màu đỏ có gắn sắt cẩn thận. Nhưng dĩ nhiên Lê-na có vẻ đúng khi định khuyên Vi-chi-a.

        — Sự trao đổi lẫn nhau ! Cô đỏ mặt lên vì bực tức. — Cậu đã trao gì cho họ nào? Tôi biết, cậu chỉ biết năn nỉ và bắt đầu vòi vĩnh thôi. Nhưng tất nhiên người ta sẽ thương xót và sẽ cho...

        — Các bạn! — Vô-lô-đi-a nghiêm khắc nhắc và họ liền im lặng.

        Đọc xong, người chỉ huy gập mảnh giấy lại, rồi cất vào trong túi ngực, cầm cuộn báo lên, nhưng liền đặt xuống, nói:

        — Bây giờ thế này nhé, cậu tổ trưởng ạ, hãy truyền đạt lại hộ cho chỉ huy trường của cậu...

        Ông cúi người và cầm chiếc cặp ở dưới đất đặt lên bàn, Vô-lô- đi-a có vẻ lạ lùng khi thấy chiếc cặp giả da bị sờn rách, các góc đệm bẵng sắt vàng khè lại nằm không đúng chỗ ở đây, trong chiếc hầm đất này. Ông lấy tấm bản đồ trong cặp trải lên bàn và bắt đầu chỉ nơi đóng quân của bọn Đức.

        — Cậu ghi nhớ nhé. cậu tổ trưởng ạ, có nhớ được không? — Ông hỏi lại. — Nhắc xem nào... Tốt nhất là cậu hãy ghi lại đi... chỉ có một điều là mảnh giấy này phải...

        — Chú cứ yên tâm, cháu sẽ thủ tiêu ngay nếu... — Vô-lô-đi-a nói.

        — Thế, thế đấy. Trông cậu biết ngay là chàng trai thông minh, cậu đã biết cầm thìa đằng nào? — Chỉ huy du kích nói và không rõ tại sao lại nháy nháy mắt tiếp.

        Vô-lô-đi-a hơi nhăn mặt... Song những tin tức mà cậu đang nhận được, quả thật rất quan trọng: hóa ra quân địch đã đưa các đơn vị lớn chiếm đóng hầu hết các khu dân cư quanh đây. Người chỉ huy du kích báo rõ tên đơn vị, quân số và trang bị vũ khí của chúng. Qua thông báo của ông, có thể thấy rõ ràng đây là những đơn vị mới được điều về đây. Bọn chúng đang tập trung lực lượng chuẩn bị cho những cuộc tiến công mới. Vô-lô-đi-a vừa lắng nghe vừa suy nghĩ là trong tay người chỉ huy du kích hơi lạ lùng và có vẻ xởi lởi này có một đội trinh sát không phải là tồi.

        Đồng thời, ông ta còn cho biết là trong khu rừng mà tổ Vô-lô- đi-a vừa vượt qua để đến đây có rất nhiều xe tăng Đức, do đó, khi quay lại phải hết sức thận trọng.

        Sau khi trao cho Vô-lô-đi-a một phong bì dán kín đựng bản báo cáo của đơn vị, ông lại cầm lấy tập báo, có lẽ ông rất muốn giờ nó ra để đọc nhưng rồi lại chậm rãi nói:

        — Còn điều nữa nhớ báo cáo lên trên hộ là đồng chí Vôn-cốp đa hy sinh rồi, — ông nói. — Do bị thương quá nặng và bất tỉnh. Tình hình là thế đấy... — vẻ rất bực bội, khó chịu, ông rứt rứt bộ râu của mình. Giá được thì nhổ quách đi cho xong.

        — Thế đồng chí Vôn-cốp là ai thế ?—Vô-lô-đi-a hỏi vẻ thương xót.

        — Một con người rất tốt, — người chỉ huy nói. — Là kế toán nông trường Xo-viết chúng tôi, chính ủy của tôi đấy.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Năm, 2020, 09:11:04 am

        Ngả người dựa vào vách hầm, tì tay vào mép bàn, ông ngước nhìn các chiển sĩ trinh sát.

        — Định bao giờ quay về hả, các bạn trẻ. Có lẽ nên nghỉ một chút thì tốt hơn... Chà, chà chẳng có gì thết các bạn cả... — Ông phàn nàn.

        — Thôi ạ, cám ơi chú, chúng cháu sẽ đi ngay bây giờ. Chúng cháu phải trở về trước khi trời sáng. — Vô-Iô-đi-a nói.

        — Vậy thì phải lên đường thôi. Thôi nhé, tạm biệt các bạn trẻ! —  Ông đứng dậy từ biệt và lại nheo măt một cách tinh nghịch.

        «Sao chú cứ nháy mắt với chúng tôi suốt thế? — Suýt nữa thì Vô-lô-đi-a nói thành lời. — Chú vẫn coi chứng cháu còn là trẻ con hay sao ? ».

        — Chúc lên dường mạnh khỏe, may mắn nhé, Vô-lô-đi-a, cả cậu nữa, Vi-chi-a... Các cậu quả là những người khôn ngoan, láu lỉnh lắm! — Ông giữ bàn tay Lê-na trong lòng bàn tay mình lâu hơn và hỏi. — Cháu nói tên cháu là Lê-na Cô-lê-xnhi-cô-va phải không ? Khoan đã nào, — ông xoa xoa cằm, — thế cháu có phải là con gái Pi-e A-pha- rê-xê-vích không?

        — Vâng, đúng dấy ạ, — Lê-na trả lời.

        — Chà, chà cháu lớn quá rồi dấy, — ông thốt lên sung sướng. —  Bây giờ không nhận được ra cháu nữa. Chà, cháu đã thành một cô gái đẹp thực sự đấy! Thôi, nói gì với cháu ở đây được nào, — chăm chú nhìn Lê-na, ông ngoẹo đầu từ vai này sang vai kia. — Chính vì chú chỉ biết cháu khi cháu còn là cô gái bé tẹo thôi.

        — Cháu ư ? — Lê-na nhướng lông mày mỉm cười. Nụ cười thật đặc biệt, nó chỉ thoáng qua, nhưng Vô-lô-đi-a hiểu chỉ khi nào thật hài lòng, thích thú điều gì đó, Lê-na mới cười như vậy.

        — Ừ chính cháu! Vậy mà bây giờ cháu thấy đấy! — Người chỉ huy không kìm được nữa, — chú có dự một khóa huấn luyện ở làng Một tháng Năm và ở tại nhà cháu mà! Thật ra đã lâu lắm rồi, lúc đó cháu còn mặc bộ quăn áo ngắn cũn cỡn. Cháu hãy nói cho bác biết bây giờ mọi người ra sao rồi nào. Hình như bố cháu đã nhập ngũ, chú nghe nói thế, có đúng không nào? Bây giờ bố cháu thế nào? Bố cháu ở đâu?

        — Cháu cũng không rõ nữa! — Lê-na nói khẽ.

        — Khoan đã nào, khoan đa... — Ông chằm châm nhìn Lê-na. — Mọi người trong nhà cháu có kịp rời nông trang Một tháng Năm không ?

        Nụ cười tắt trên khuôn mặt cô gái, cô chỉ lắc đầu, không trả lời:

        — Không kịp à? Như thế đấy: — ông nói vẻ buồn bực. — Nhưng thôi, không sao, đừng lo lắng gì cả. — Im lặng một lát, rồi cố cao giọng. — Chúng ta sẽ giết sạch bọn Đức, đuổi cổ chúng đi, lúc đó mọi người nhà cháu sẽ tìm thấy nhau.

        — Nhưng ở đâu cơ ạ ? Chú có biết tin tức gì về họ không ? — Lê-na hỏi thì thào.

        Vô-lô-đi-a đứng dịch lại gần cô gái, như thể để bảo vệ cho cô tránh những tin dữ, và anh bực tức nhìn người chủ nhà, tuy đã lớn tuổi nhưng chẳng tế nhị và khéo léo chút nào cả.

        — Những tin chính xác thì không biết được đâu, cháu Lê-na bẻ bỏng ạ! — Ông trả lời không mạnh bạo lắm.—Sao họ lại không kịp chạy nhỉ? — Ông lại hỏi, giọng trách giận.

        — Có nghĩa là họ không thể đi được, điều đó có thể xảy ra lắm chứ sao! Có gì cản trở họ hoặc lúc định đi thì đã muộn ròi... — Vô- lô-đi-a bực tức nói.

        Không chú ý đến giọng của cậu ta, người chỉ huy lại nhìn Lê-na, ông nói vẻ khẳng định, nhưng giọng buồn buồn.

        — Mọi cái đều có thể xảy ra, có thể lắm... Biết làm gì bây giờ? Lê-na bé bỏng ạ, chúng ta hy vọng sẽ có những điều tốt đẹp hơn.

        — Vâng, nhưng chú đã biết được những gì rồi, những gì rồi ạ? —  Cô sợ hãi kêu lên.

        Người chỉ huy quay mặt đi, tay rứt mạnh những sợi râu ở cằm, có thể thấy ông đang lưỡng lự có nên nói sự thật ra không. Còn Lê-na mặt tái đi, hai tay ôm ngực, khuôn mặt cô trông đờ đại và đầy sợ hãi.

        — Bọn chúng đã đuổi mọi người ra khỏi làng Một tháng Năm và dẫn đi, — cuối cùng người chỉ huy rồi cũng phải nói. — Bọn súc vật, quỷ bắt chúng nó đi, — ông vung nắm tay đấm xuống bàn, mạnh đến nỗi ánh đèn chao đảo và bóng của mọi người cứ ngả nghiêng lay động trên vách hầm, trên những khúc gỗ tròn lát hầm, làm cho đàn dơi bất ngờ bay loạn xạ. — Bọn chúng cũng đuổi cả dân làng Đu-bi-nhi-tra đi nữa, — ông tức giận nói tiếp. — Ai đang mặc quần áo gì, cứ thế chúng cũng đuổi đi hết, còn làng thì chủng đốt trụi.

        Ông dặt tay lên vai Lê-na, khẽ lay cô:

        — Đừng buồn, con bồ câu nhỏ ạ! Chúng ta sẽ bắt bọn ác độc ấy phải đền nợ tất cả... Còn sau đó thì chưa có tin gì cả. Một số người đã chạy thoát được đấy, ví dụ như...

        — Đúng, tất nhiên rồi, nhiều người đã thoát được... Điêu đó thật rõ ràng! — Vô-lô-đi-a lập tức tiếp lời ông ngay. — Dù chúng có dẫn họ đến biên giới thì họ vẫn có tới hàng trăm khả năng chạy được...

        Nhưng Lê-na vẫn im lặng, thẫn thờ nhìn, môi run run, và Vô- lô-đi-a thấy nếu không chấm dứt câu chuyện này thì cô nhất định sẽ khóc, khóc rất to là đàng khác, cậu liền nghiêm trang hỏi:

        — Thưa đồng chí chỉ huy, cho phép chúng tôi lên đường?


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Năm, 2020, 08:55:14 am

        Ông ta hơi ngạc nhiên nhìn Vô-lô-đi-a và gật đâu. Ông bước ra khỏi hầm cùng với các chiến sĩ trinh sát, tiễn họ một quăng. Đi bên cạnh Lê-na, thỉnh thoảng ông lại nhấc đi nhắc lại: « Đừng sốt ruột, con bồ câu nhỏ ạ, đừng lo lắng gì cả...». Rõ ràng ông thông cảm với cô gái thực sự. Nhưng Vô-lô-đi-a rất sung sướng khi ông dừng lại và chia tay với từng người. Trong khi họ ngồi trong hàm thì khu rừng già với cái tên gọi ít hấp dẫn là khu đất sét đã thay hình đổi dạng hầu như khó nhận ra. Bầu trời quang đang, mặt trăng tròn trịa chiếu sáng không trung, ánh sáng xanh nhạt của nó rải khắp, xuyên qua lá rừng. Trời không lạnh lắm như cả tuần gần đây, tuyết rơi ít, ban ngày nó tan thành nước và mặt đất trở nên mềm mại, ẩm ướt hơn, còn buổi tối thì nó lại phủ một lớp băng mỏng. Giờ đây mặt đất được đúc từ những mảnh kim loại hỗn hợp nhấp nháy, lấp loáng, cánh rừng biến thành một cảnh tượng diệu kỳ, cây cối bị tuyết phủ, trông như những tấm kính, những vệt sương sáng long lanh.

        Dáng cao cao của người chỉ huy du kích khuất đi rất nhanh trong khung cảnh lộn xộn đầy ánh trăng này. Vô-lô-đi-a dừng lại chờ Lê-na.

        — Mình muốn nói với Lê-na điều này, — cậu bắt đầu bằng một giọng nhỏ nhẹ nhưng cứng rắn. — Bạn không phải là một cô gái đơn dộc, đúng không?

        Lê-na không trả lời, đôi mắt mở to nhìn màn đêm sâu thẳm nhợt nhạt xung quanh, hơi thở nhẹ nhàng thoát ra từ đôi môi hé mở.

        — Tôi biết chú ấy đã làm cho Lê-na phải suy nghĩ lo buồn. — Vô-lô-đi-a nói giọng nhỏ hơn. — Ông ta cứ lặp đi lặp lại: « Đừng nóng ruột, đừng nóng ruột...». Nóng ruột cái gì chứ, chúng ta sẽ trả thù! Nhất định là thế. Già rồi mà chẳng hiểu gì cả...

        — Già là thế nào? — Lê-na mệt mỏi nói. — Chú ấy khoảng ba mươi tuổi thôi, không hơn đâu...

        — Ba mươi? Chả lẽ ít tuổi vậy sao? — Vô-lô-đi-a nói. — Thôi cũng được... Lúc nào chú ấy cũng nháy mắt, cứ như là chúng mình đang đùa với chú ấy không bằng!

        — Ôi, Vô-va! Tất cả những người lớn tuổi cậu đều cho là cụ già cả!... Cậu thật tuyệt làm sao, bạn thân mến của tôi! — Cô thốt lên, giọng buồn bã.

        Vô-lô-đi-a chưa kịp trả lời gì thì Lê-na đã bất thần đang tay ôm lấy cổ cậu ta kéo về mình. Những sợi lông ở chiếc khăn quàng của cô chạm vào môi cậu và như sợ điều gì, theo bản năng, cậu ta định lùi lại nhưng ngay lức đó, cậu cảm thấy đôi môi cô và chiếc mũi nhỏ nhắn lạnh ngât của cô áp vào má anh. Cô hôn ba lần như là cắn vào má cậu và nấc lên, úp mặt vào cổ áo lông. Chiếc khăn quàng bị tuột xuống vai như vẫn thường thấy, mái tóc của cô như một đám mây vàng trong suốt lấp lánh bay lòa xòa tỏa lên mặt cậu. Trong chốc lát, Vô-đô-đi-a đứng im không nhúc nhích thậm chí cũng không dám thở mạnh, nhưng tim thì đập dồn dập. Còn mái tóc vàng trong suốt như đám mây vàng mơn trớn lớp da trên khuôn mặt, như tỏa nhanh ra phủ khắp người và không cho cậu ta nhúc nhích, cựa quậy gì được nữa.

        — Anh bạn của tôi, anh bạn... — Lê-na thì thào nhắc đi nhắc lại qua hàng nước mắt, giọng run lên vì nghẹn ngào, mũi sụt sịt. — Anh đừng giận vì có lúc tôi đã mắng anh. Thần kinh thường hay xúc động... Cả mẹ cũng có lần bảo thế... Ôi! Mẹ thân yêu của con! “Cô nấc lên và bỏ Vô-lô-đi-a ra, hai tay ôm lấy mặt.

        Vô-lô-đi-a cũng vội vàng lùi lại một bước và thở hổn hển.

        — Bây giờ bạn lại... quỵ mất thôi. — Cậu nói điều suy nghĩ vừa thoáng qua. Lê-na lấy tay quệt những giọt nước mắt trên má.

        — Quỵ cái gì cơ? — Cô hỏi.

        — Cái gì à ? Đầu sẽ bị nhức đau. — Vô-lô-đi-a nói và biết ngay là mình đã nói một điều ngu xuẩn nên liền lặng thinh, bối rối.

        Cảm giác làm cậu nghẹt thở là Lê-na, chính cô Lê-na đang đứng ờ đây đa ôm hôn cậu. Cô là người đầu tiên ôm và đã hôn trước! Và tựa như có một làn hơi gì ấm áp dịu dàng bỗng nhiên trùm lấy người Vô-lô-đi-a. Đó chính là sự lo âu lẫn niềm hạnh phúc.

        — Ôi! Cái khăn rơi tại anh đây này! — Lê-na nhanh nhẹn trùm lại khăn quàng. — Anh có hiểu tôi bị dằn vặt bởi điều gì không? —  Cô nói giọng thì thào yếu ớt và xích lại gần Vô-lô-đi-a. — Anh có hiểu không, giá như lúc đó tôi đừng vào thành phố thì có lẽ tôi, mẹ và Li-ca đã chạy thoát rồi. Có thể tôi đã cứu được mẹ và Li-ca, có lẽ thế...

        Vô-iô-đi-a không biết đáp lại như thế nào.

        «Cô ấy, Lê-na và mình... bây giờ cô ấy là của mình... ý nghĩ đó thoáng nhanh qua. Tất cả điều đó xảy ra rồi sao?... Lê-na đẹp xinh quá!... Cả cánh rừng này nữa... cả Lê-na nữa».

        Cậu hít một hơi và muốn chạy, muốn nhảy nếu có thể sẽ trèo lên cây, trồng cây chuối hoặc thét to lên một câu nào đó.

        — Nhưng mình cần phải đi, cần phải thế. — Lê-na nói dường như cô đang thầm khẳng định với chính mình. — Còn bây giờ họ đã bị lùa đi... Mình không biết sẽ đi đâu bây giờ và để làm gì... Li-ca mới có mười hai tuổi. Mẹ mình tuy hiền lành, tốt bụng nhưng lại chậm chạp, vụng về lắm, cậu có biết không...


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Năm, 2020, 08:55:46 am

        Những giọt nước mắt vừa khô bây giờ lại tuôn ra. Nhưng Vô- lô-đi-a chỉ thấy đôi mắt lấp lánh đang khao khát nhìn mình, như thấy từ đôi mắt ấy trào ra một ánh hào quang rực rỡ, khác thường tràn đầy rừng và tỏa khắp cả bầu trời... Lê-na vò nát đôi bạo tay rồi lau những giọt nước mắt chung quanh chiếc cằm tròn tròn.

        — Lê-na, tôi muốn nói với Lê-na lời này! — Cuối cùng, Vô-lô- đi-a mới thốt lên được, nhưng giọng anh lại lạnh lùng xa lạ.

        Cậu muốn bày tỏ nỗi lòng vui sướng hân hoan của mình, muốn nói với cô tất cả những tình cảm, suy nghĩ, những hy vọng tốt đẹp nhất của mình:   

        — Lê-na ơi! — Vô-lô-đi-a nhắc lại.

        — Gì cơ! — Cô hỏi.

        — Chứng ta sẽ cùng chiến đấu bên nhau, Lê-na nhé, bạn có nghe thấy không? Đừng khóc nữa... Chúng ta, Lê-na có biết không, chúng ta sẽ chiến đấu! Tôi... mình bây giờ có thể... đánh bộn chúng ngay được... và mình sẽ trả thù cho Lê-na... Cả Lê-na nữa... Chúng mình sẽ không chịu lùi bước trước bất cứ điều gì...

        Trong giây phút này, tuy đã cố suy nghĩ, cố tìm kiếm nhưng vẫn không có được những lời nói cần thiết mạnh mẽ, có sức thuyết phục, nhưng cậu đã tự thể với cô bạn gái của mình tà sẽ xứng đáng với cô trong bất cử hoàn cảnh nào. Vô-lô-đi-a không nhận thấy Lê-na đang nhẹ nhàng đứng nhích ra. nhăn nhăn chiếc mũi nhỏ nhẵn một cách lo lắng và cô nở nụ cười yếu ớt. Hai tiếng huýt sáo khẽ từ bìa rừng vẳng lại. Vi-chi-a đứng chờ hai bạn đã thấy cần phải nhắc họ. Vô-lô-đi-a lúc này mới nhớ ra, liền im lặng, bối rối, vẫy tay bảo Lê-na cùng chạy lên... Chờ hai người đến gần, Vi-chi-a quay lại với thái độ lịch thiệp khác thường.

        Đối với Vô-lô-đi-a, tất cả những gì vừa xảy ra trong cái đêm đáng nhớ này, đều tuyệt dẹp như anh đang sống trong một thế giới diệu kỳ, ở đó. mọi vật đều biến đổi khác lạ, những cái bình thường đều trở thành huyền diệu. Lúc vừa đi trước, dọc theo bìa rừng. Vô- lô-đi-a vừa lắng nghe bước chân Lê-na đằng sau, và cảm thấy lúc này, sự có mặt của cô và mọi vật chung quanh sao thật vừa mới mẻ, vừa xa lạ và dị thường đến thế... Những đám mây bồng bềnh trên bầu trời dưới ánh trăng vằng vặc giống như những cánh buồm căng phồng dày sức gió trên con thuyền đang vượt qua màn sương mù. Và cũng giống như những đợt sóng lay gờn gợn ở phía dưới; bên trái họ là những ngọn đồi thấp, sườn đồi cong cong, phủ đầy tuyết, long lanh dưới ánh trăng. Cành bạch dương trắng trên con đường mòn hay những gốc cây còn sót lại đều như có những ngọn lửa nhỏ nhấp nhánh sưởi ấm trời đêm và con đường mòn phủ bóng đêm chạy thẳng về phía trước cứ hun hút thăm thẳm như bờ vực. Tất cả, chung quanh như tròng trành, chao đảo, như long lanh tỏa sáng chuyển từ hình ảnh này sang hình ảnh khác; mặt đất như những hạt bụi lấp lánh, còn hạt bụi lại là ánh sáng huyền ảo. Tất cả tựa như âm nhạc hay nói đúng hơn, Vô-lô-đi-a có cảm giác như chính mình đang hòa vào thế giới âm thanh và tan theo nó cùng với hàng ngàn nhạc cụ vô hình. Thỉnh thoảng ngoái lại sau, cậu ngạc nhiên khi thấy bóng hình nhỏ nhắn, thanh mảnh, nhẹ nhàng như lướt đi của cô nữ chúa, của mọi biến ảo bất ngờ và tuyệt vời kia. Lê-na vẫn lùi lũi bước đều, tay đút vào túi áo ngoài, cẩn thận tránh những bụi gai nhỏ và cành cây khô trên đường. Trông cô vẫn thế, vẫn như mọi khi, thậm chí có phăn đăm chiêu hơn, nhưng tất cả những gì kỳ diệu xảy ra trong buổi tối này, hình như đều loát ra từ cô tất cả, bầu trời, lẫn mặt đất đều phục tùng, tuân theo cô.

        Họ an toàn vượt qua quãng trũng dẫn tới khu rừng thông, trên con đường dọc theo bìa rừng, họ nghe thấy tiếng ô tô ầm ĩ và một lát sau đã tới được khu rừng thông. Đến đây, Vô-lô-đi-a đi chậm hơn, luôn luôn dừng lại, nghe ngóng, quan sát và hai người đằng sau cũng làm theo như vậy. Nhớ kỹ lời dặn của chi huy, cậu cố nhón chân đi thật nhẹ nhàng, tránh gây tiếng động. Những cây thông thẳng tắp, lấp lánh tuyết cứ giãn ra trước họ. rồi sau đó tựa như quây tròn, khép kín lại dằng sau họ. Một cảm giác khác thường táo bạo tràn ngập trong lòng Vô-lô-đi-a, thực chất đó là cảm giác hoàn toàn không có gì đáng sợ hãi cả khi cùng với những người bạn mình đi ngang qua trước mũi kẻ địch, mà vẫn cảm thấy mình khéo léo nhanh nhẹn, dũng cảm và điều chủ yếu là để dạt được một ngày mỹ mãn tốt như hôm nay. Và như để xác nhận cho thành công bất thường này của họ, lần thứ hai vượt qua cánh rừng này, họ không gặp một ai, không gặp một trở ngại nào khác. Nhưng trước khi họ đi được khoảng hai trăm mét trên con dường làng nhỏ, chếch bên phải ngăn họ với thành phố, thì phía trước hiện ra một khoảng đất trống rộng — đó chính là cánh đồng — giới hạn từ cánh rừng này sang cánh rừng khác mờ mờ sau màn sương. Tuy vậy, đi qua con đường phân rừng này rất nguy hiểm: bọn lính Đức thường hay đi tuần và dưới ánh trăng sáng, nhóm trinh sát khó có thể bí mật vượt qua. Cúi người xuống, đẩy cái mũ trùm đâu khá chật ra sau gáy, Vô-lô-đi-a chăm chủ quan sát... Từ đây sẽ phải bò qua chỗ đó và lợi dựng khe rãnh, bụi cây, các hố để ẩn, nhưng tốt nhất là phải chờ cho trăng lặn đã. Suy nghĩ một lát, Vô-lô-đi-a ra lệnh cho các bạn mình nắm đợi ngay ở ven rừng.


Tiêu đề: Re: Thành phố hòa bình
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Năm, 2020, 08:56:10 am

        Lê-na liền ngoan ngoãn xoài người ngay ra đất, nằm luôn trên tuyết, d