Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: macbupda trong 07 Tháng Ba, 2020, 06:24:22 am



Tiêu đề: Chiến thắng Hà Vy - Ý nghĩa và bài học lịch sử
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Ba, 2020, 06:24:22 am
Tên sách: Chiến thắng Hà Vy - Ý nghĩa và bài học lịch sử
Nhà xuất bản Đà Nẵng
Năm xuất bản: 2016
Số hóa: macbupda

(https://scontent.fhan2-1.fna.fbcdn.net/v/t1.15752-9/89337397_662601274495831_3295932064427147264_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_sid=b96e70&_nc_ohc=7xBx5klBy6YAX8r6662&_nc_ht=scontent.fhan2-1.fna&oh=8e85032566bf099f7e93e35dc50afe39&oe=5E97AB89)

Chỉ đạo nội dung

BAN TUYÊN GIÁO TỈNH ỦY QUẢNG NAM
BAN THƯỜNG VỤ HUYỆN ỦY ĐẠI LỘC


Ban biên soạn
Đỗ Văn Bình
Lê Năng Đông
Hứa Văn Bảy
Nguyễn Thị Tuyết

Lời giới thiệu

Cách đây 50 năm, ngày 02 tháng 4 năm 1966, tại cánh đồng làng Hà Vy, thôn Hà Vy, xã Lộc Vĩnh nay là xã Đại Hồng, Đại đội 1 bộ đội địa phương huyện Đại Lộc cùng du kích xã Lộc Vĩnh đã dũng cảm chiến đấu, đánh tan trận càn của lính thủy quân lục chiến Mỹ; diệt gọn 01 đại đội, đánh thiệt hại 02 đại đội khác; thu giữ nhiều vũ khí. Chiến thắng Hà Vy là trận đầu tiên một đại đội bộ đội địa phương cấp huyện cùng du kích xã tiêu diệt nhiều quân Mỹ nhất trên chiến trường Quảng Đà. Chiến thắng Hà Vy đã củng cố tinh thần, niềm tin đánh Mỹ và thắng Mỹ của quân và dân Đại Lộc nói riêng, Khu 5 nói chung; là tiền đề cho nhiều chiến thắng sau này.

Nhằm làm sáng tỏ tầm vóc, ý nghĩa và bài học lịch sử của chiến thắng Hà Vy, thực hiện chủ trương của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Nam, ngày 01 tháng 4 năm 2016, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Quảng Nam và Huyện ủy Đại Lộc phối hợp tổ chức Hội thảo khoa học “Chiến thắng Hà Vy - Ý nghĩa và bài học lịch sử”. Hội thảo có sự tham gia đông đảo các nhà nghiên cứu, các cơ quan, ban, ngành liên quan cùng các nhân chứng - những người trực tiếp tham gia trận đánh Hà Vy năm xưa.

Để lưu giữ những tư liệu lịch sử quan trọng liên quan đến chiến thắng Hà Vy, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Quảng Nam và Huyện ủy Đại Lộc phối họp biên soạn các tham luận tại Hội thảo để xuất bản tập sách “Chiến thắng Hà Vy - Ý nghĩa và bài học lịch sử” nhằm lưu giữ những tư liệu quí và góp phần vào công tác giáo dục truyền thống cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ trên địa bàn huyện.

Mặc dù Ban biên soạn đã có nhiều cố gắng song tập sách chắc chắn vẫn không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế. Ban biên soạn rất mong nhận được những ý kiến, đóng góp chân thành của độc giả để hoàn chỉnh hơn trong những lần tái bản sau.

                                                                                                                                                     
BAN TUYÊN GIÁO TỈNH ỦY QUẢNG NAM
BAN THƯỜNG VỤ HUYỆN ỦY ĐẠI LỘC


Tiêu đề: Chiến thắng Hà Vy - Ý nghĩa và bài học lịch sử
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Ba, 2020, 06:27:34 am
PHÁT BIỂU KHAI MẠC HỘI THẢO KHOA HỌC
“CHIẾN THẮNG HÀ VY - Ý NGHĨA VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ”

Phan Xuân Quang(1)

Kính thưa các đồng chí lãnh đạo !

Kính thưa toàn thể quý vị đại biểu !


Hôm nay, trong không khí phấn khởi chào mừng kỷ niệm 50 năm chiến thắng Hà Vy (2/4/1966 - 2/4/2016); Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Quảng Nam và Huyện ủy Đại Lộc phối hợp tổ chức Hội thảo khoa học “Chiến thắng Hà Vy - Ý nghĩa và bài học lịch sử”. Thay mặt cho Ban Tổ chức hội thảo, tôi xin nhiệt liệt chào mừng các đồng chí lãnh đạo, đại biểu các cơ quan, ban, ngành của tỉnh và địa phương, các nhân chứng lịch sử, các vị khách mời đã dành thời gian về dự hội thảo hôm nay. Kính chúc các đồng chí mạnh khỏe, hạnh phúc và thành đạt.

Kính thưa các đồng chí!

Đại Lộc là mảnh đất giàu truyền thống văn hóa, yêu nước và cách mạng, là quê hương của nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà chính trị, nhà khoa học... Trải qua những bước thăng trầm của lịch sử dân tộc, Đại Lộc luôn là mảnh đất kiên cường, trung dũng, là nơi khởi xướng nhiều phong trào đấu tranh, cách mạng. Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Đại Lộc là một trong những căn cứ của phong trào Nghĩa hội Quảng Nam, phong trào Đông Du gắn liền với tên tuổi của chí sĩ Đỗ Đăng Tuyển, người con của quê hương Đại Lộc, người bạn chiến đấu thân thiết của nhà yêu nước Phan Bội Châu. Đặc biệt, Đại Lộc là nơi khởi xướng phong trào chống thuế miền Trung năm 1908, làm rung chuyển bộ máy thống trị của thực dân, phong kiến đương thời.
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Đại Lộc là địa bàn trọng điểm đánh phá của địch, là nơi chứng kiến những cuộc đối đầu quyết liệt giữa lực lượng cách mạng với các thế lực phản cách mạng. Mảnh đất Đại Lộc kiên cường đã phải chịu đựng bao gian khổ, ác liệt với hàng chục ngàn tấn bom đạn, hàng trăm cuộc càn quét, bắn giết. Đạn bom gây tang thương, chết chóc, hủy hoại những làng quê trù phú yên bình, nhưng không thể khuất phục được ý chí kiên trung, gắn kết nghĩa Đảng, lòng dân. Từ trong chiến tranh, đã xuất hiện những tấm gương dũng cảm, thông minh tài trí trong đánh giặc giữ làng “một tấc không đi một li không rời” của cán bộ và nhân dân Đại Lộc, làm nên những chiến thắng khiến kẻ địch khiếp sợ như chiến thắng đồi 30, chiến thắng cầu ông Nở, chiến thắng Hà Vy, chiến thắng Cây Da Lý, chiến thắng Thượng Đức...Với những thành tích đó, nhân dân và lực lượng vũ trang huyện Đại Lộc cùng 20 tập thể và 38 cá nhân được Đảng và Nhà nước phong tặng, truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Kính thưa các đồng chí và quý vị đại biểu !

50 năm về trước, vào ngày 02 tháng 4 năm 1966, tại mảnh đất làng Hà Vy, xã Lộc Vĩnh (nay là thôn Hà Vy, xã Đại Hồng), quân và dân Đại Lộc dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Đảng bộ huyện đã đẩy lùi trận càn của Mỹ ngụy, đã lập nên chiến công vang dội: Đại đội bộ đội địa phương đã diệt gọn 1 đại đội Mỹ, làm bị thương 2 đại đội khác, thu giữ nhiều loại vũ khí, quân trang quân dụng.

Trận đánh Hà Vy tuy quy mô không lớn nhưng chiến thắng của trận đánh lại mang ý nghĩa lịch sử vô cùng to lớn. Đây là trận đánh đầu tiên tiêu diệt một số lượng lớn quân viễn chinh Mỹ trên địa bàn huyện Đại Lộc nói riêng và tỉnh Quảng Nam, Khu 5 nói chung của bộ đội địa phương huyện phối hợp với du kích xã, góp phần làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ. Chiến thắng Hà Vy đã khẳng định được sức mạnh của quân và dân huyện Đại Lộc, xóa tan tư tưởng “gờm Mỹ, sợ Mỹ”, nêu cao quyết tâm dám đánh Mỹ và thắng Mỹ của lực lượng vũ trang và nhân dân huyện nhà. Đồng thời, trận đánh này cũng giải quyết được vấn đề chọn cách đánh, thế tấn công, phòng ngự, để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu trong thực tiễn chiến đấu của quân ta. Với ý nghĩa đó, chiến thắng Hà Vy đã củng cố niềm tin, cổ vũ tinh thần, khí thế và quyết tâm chiến lược của Đảng, của quân và dân ta là “quyết đánh và quyết thắng giặc Mỹ xâm lược”.

Chiến thắng Hà Vy đã thể hiện tinh thần cách mạng tiến công, khả năng chiến đấu kiên cường, dũng cảm của lực lượng vũ trang huyện Đại Lộc; dám đánh và biết đánh thắng giặc Mỹ xâm lược ngay thời gian đầu chúng đặt chân lên địa bàn huyện. Chiến thắng Hà Vy còn thể hiện sự đúng đắn về đường lối chiến tranh nhân dân, đường lối quân sự của Đảng ta, sự chỉ đạo kịp thời của Huyện ủy Đại Lộc. Chiến công này được Tỉnh ủy, Ban Chỉf huy Tỉnh đội Quảng Đà biểu dương và chọn báo cáo điển hình tại Đại hội chiến sĩ thi đua toàn Khu 5 lần thứ hai vào tháng 12 năm 1966, được Quân khu biểu dương là Đại đội địa phương diệt nhiều Mỹ nhất, thu nhiều súng nhất trong năm 1966 và phát động học tập trong toàn Khu. Chiến thắng Hà Vy cùng với chiến thắng Núi Thành, góp phần để quân và dân Quảng Nam vinh dự được Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng 8 chữ vàng “Trung dũng, kiên cường, đi đầu diệt Mỹ” tại Đại hội anh hùng và chiến sỹ thi đua toàn miền Nam năm 1968.

Kính thưa các đồng chí!

Thời gian đã lùi xa nhưng chiến thắng Hà Vy luôn là niềm vinh dự, tự hào của Đảng bộ và nhân dân huyện Đại Lộc. Đại đội 1 bộ đội địa phương và 05 cá nhân được Đảng và Nhà nước phong tặng, truy tặng danh hiệu “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân”. Di tích chiến thắng Hà Vy đã được công nhận là di tích lịch sử cấp tỉnh. Trong những năm qua, Đảng bộ và nhân dân huyện Đại Lộc luôn ý thức được việc cần phải làm rõ ý nghĩa, giá trị lịch sử của chiến thắng Hà Vy. Nhưng vì nhiều lý do khác nhau mà đến nay vẫn chưa có một hội thảo khoa học hay một công trình nghiên cứu mang tính toàn diện, công phu về chiến thắng lịch sử này. Nếu có đề cập đến cũng chỉ là giới thiệu ngắn gọn trong các công trình lịch sử Đảng bộ tỉnh, huyện, lịch sử lực lượng vũ trang; bài viết trên các trang báo, đặc san...

Thể theo nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và nhân dân huyện nhà tri ân những người con đã ngã xuống chiến trường Đại Lộc, Quảng Nam, nhất là trận đánh Hà Vy. Nhân dịp kỷ niệm 50 năm chiến thắng Hà Vy, Ban Thường vụ Huyện ủy Đại Lộc và Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Quảng Nam đã đề xuất và được Ban Thường vụ Tỉnh ùy Quảng Nam thống nhất chủ trương, cho phép tổ chức Hội thảo khoa học “Chiến thắng Hà Vy - Ý nghĩa và bài học lịch sử”.

Hội thảo này là hoạt động khoa học đầy ý nghĩa, không chỉ làm sáng tỏ giá trị, ý nghĩa lịch sử của chiến thắng Hà Vy - một chiến thắng vẻ vang của lực lượng bộ đội địa phương huyện cùng du kích xã mà còn là dịp để chúng ta trân trọng và biết ơn những cán bộ, chiến sỹ đã chiến đấu kiên cường và hy sinh anh dũng, tưởng nhớ nhiều đồng bào, đồng chí đã không tiếc máu xương vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, vì cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc ngày hôm nay. Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp phù hợp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử của chiến thắng Hà Vy, góp phần giáo dục truyền thống cách mạng cho các thế hệ sau.

Thời gian qua, công tác chuẩn bị cho hội thảo đã được các cơ quan đồng chủ trì tham gia đầy trách nhiệm, thêm vào đó là sự cộng tác nhiệt tình, tâm huyết của các cơ quan, đơn vị, các nhân chứng lịch sử nên hội thảo đã được tổ chức theo đúng kế hoạch đề ra. Nội dung các tham luận đã phản ánh khá toàn diện quá trình chuẩn bị, diễn biến, ý nghĩa lịch sử và những bài học kinh nghiệm quý báu của chiến thắng Hà Vy. Nhiều tham luận được chuẩn bị công phu, thể hiện tính chuyên môn sâu sắc, khai thác nhiều nguồn tư liệu phong phú. Ban Tổ chức Hội thảo xin chân thành cảm ơn sự tham gia nhiệt tình của các đồng chí và quý vị. Chúng tôi mong muốn, trên cơ sở khoa học, tinh thần khách quan, quý vị đại biểu sẽ cùng nhau trao đối, đóng góp những ý kiến nhằm làm sáng tỏ những vấn đề mà Hội thảo quan tâm.

Thay mặt chủ trì Hội thảo, tôi xin khai mạc Hội thảo khoa học “Chiến thắng Hà Vy - Ý nghĩa và bài học lịch sử”. Một lần nữa, kính chúc các đồng chí mạnh khỏe, hạnh phúc và thành đạt; chúc hội thảo thành công tốt đẹp.

Xin trân trọng cảm ơn!


(1) Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy Đại Lộc


Tiêu đề: Chiến thắng Hà Vy - Ý nghĩa và bài học lịch sử
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Ba, 2020, 06:30:23 am
BÁO CÁO ĐỀ DẪN HỘI THẢO KHOA HỌC
“CHIẾN THẮNG HÀ VY - Ý NGHĨA VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ”

Đoàn Ngọc Thi(1)

Kính thưa quí vị đại biểu !

Đại Lộc là huyện có truyền thống yêu nước và cách mạng. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cửu nước, Đại Lộc là một trong những địa bàn trọng điểm đánh phá của địch. Với quyết tâm đánh và thắng giặc Mỹ xâm lược, với tinh thần kiên trì trụ bám “một tấc không đi, một ly không rời”, dưới sự chỉ đạo sâu sát của Tỉnh ủy, quân và dân Đại Lộc cùng với các đơn vị vũ trang của cấp trên đóng chân trên địa bàn liên tục tổ chức tấn công tiêu diệt địch đã lập nên những chiến công vang dội. Trận đánh thắng Mỹ của Đại đội l bộ đội huyện Đại Lộc và du kích xã Lộc Vĩnh tại làng Hà Vy, xã Lộc Vĩnh - Đại Lộc ngày 02 tháng 4 năm 1966 là một trong những chiến công oanh liệt đó.

Sự kiện lịch sử chiến thắng Hà Vy diễn ra cách đây tròn 50 năm, một khoảng thời gian khá dài so với một đời người nhưng những giá trị của chiến thắng Hà Vy vẫn còn vang vọng mãi. Chiến công ấy luôn là niềm tự hào, là dấu ấn sâu đậm trong mỗi chúng ta. Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu làm rõ thêm ý nghĩa và bài học lịch sử của sự kiện này, cùng những đóng góp to lớn của Đảng bộ và nhân dân Đại Lộc nói riêng, Quảng Nam nỏi chung trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tri ân những đồng bào, đồng chí đã anh dũng hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân là việc làm rất quan trọng, rất cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn rất lớn khi Đại Lộc cùng với cả tỉnh tập trung “Đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng Đảng; phát huy dân chủ, bản sắc vãn hóa và truyền thống cách mạng; huy động mọi nguồn lực; quyết tâm đưa Quảng Nam phát triển nhanh, bền vững, trở thành tỉnh khá của cả nước”.

Kính thưa quí vị đại biểu !

Thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” với nhiều thủ đoạn thâm độc, đế quốc Mỹ vẫn không cứu vãn nổi ngụy quyền Sài Gòn đang đứng trước bờ vực thẳm của sự sụp đổ; nguy quân, “xương sống” của chiến tranh đặc biệt đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt. Chúng chuyển sang thi hành chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, đưa quân viễn chinh Mỹ trực tiếp tham chiến với qui mô lớn trên chiến trường miền Nam, làm lực lượng cơ động chủ yếu để tiêu diệt bộ đội chủ lực của ta, ngụy quân chuyển sang chủ yếu làm nhiệm vụ chiếm đóng, bình định, kèm kẹp nhân dân.

Nhân dân và các lực lượng vũ trang trên địa bàn tỉnh nhà phải trực tiếp chiến đấu với một đội quân xâm lược nhà nghề, trang bị hiện đại, sức cơ động nhanh, chi viện hòa lực mạnh. Với quyết tâm đánh và thắng quân Mỹ xâm lược, ngay từ khi chúng đổ quân vào địa bàn, liên tục bị quân và dân ta tấn công tiêu diệt. Quảng Nam trở thành quê hương của tám chữ vàng “Trung dũng, kiên cường, đi đầu diệt Mỹ”.

Kính thưa quí vị đại biểu !

Cuối năm 1965, sau những thất bại trên chiến trường miền Nam, Mỹ thực hiện kế hoạch phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 với mục tiêu tìm diệt và bình định nhằm giành lại thế chủ động trên chiến trường. Trên chiến trường Quảng Nam, Quảng Đà lúc này tính chất của chiến tranh diễn ra ác liệt và qui mô hơn trước. Từ cuối tháng 01 đến cuối tháng 02 năm 1966, 2 tiểu đoàn thủy quân lục chiến Mỹ, 3 tiểu đoàn ngụy càn vào vùng B Đại Lộc. Tiểu đoàn 1 Quảng Đà và du kích vùng B Đại Lộc phối hợp chiến đấu tiêu hao lực lượng, chúng buộc phải rút quân.

Sáng ngày 02 tháng 4 năm 1966, địch cho máy bay bắn phá dữ dội từ dọc bờ sông Vu Gia đến làng Hà Vy và rìa làng Ngọc Kinh, xã Lộc Vĩnh (nay là xã Đại Hồng huyện Đại Lộc), sau đó là hàng chục máy bay trực thăng, có máy bay HU1A yểm trợ, đổ quân xuống cánh đồng Hà Vy và 1 bãi cát gần bờ sông Vu Gia. Đại đội 1 bộ đội địa phương huyện Đại Lộc và du kích xã Lộc Vĩnh triển khai chiến đấu diệt gần trọn đại đội Mỹ, đánh thiệt hại gần 2 đại đội khác, loại khỏi vòng chiến đấu 160 tên Mỹ, thu nhiều vũ khí, bắn rơi và phá hỏng 2 máy bay tực thăng.

Chiến công này, Đại đội 1 bộ đội địa phương huyện Đại Lộc được chọn báo cáo điển hình tại Đại hội chiến sỹ thi đua toàn Khu 5 lần thứ 2 vào tháng 12 năm 1966, được Quân khu biếu dương là đại đội địa phương diệt Mỹ nhiều nhất, thu nhiều vũ khí nhất trong năm 1966 và phát động học tập trong toàn quân khu.

Để tập hợp tư liệu lịch sử, đánh giá tầm vóc, ý nghĩa chiến thắng Hà Vy đối với phong trào cách mạng huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Đà, Quảng Nam, rút ra những bài học lịch sử; đẩy mạnh giáo dục và tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước và đấu tranh cách mạng, phấn đấu xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, được sự thống nhất của Thường trực Tỉnh ủy, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy phối hợp với Ban Thường vụ Huyện ủy Đại Lộc tổ chức hội thảo “Chiến thắng Hà Vy - ý nghĩa và bài học lịch sử”.

Kính thưa quí vị đại biểu !

Sự kiện lịch sử chiến thắng Hà Vy diễn ra cách đây 50 năm, để nhìn nhận, đánh giá đầy đủ, toàn diện, sát thực là điều không đơn giản. Trong khi các nhân chứng trực tiếp tham gia chỉ đạo, chỉ huy, chiến đấu hầu hết tuổi cao sức khỏe yếu, nhiều đồng chí đã hy sinh, từ trần; các tư liệu viết về sự kiện chiến thắng Hà Vy cũng không nhiều. Để tổ chức cuộc hội thảo, hơn 3 tháng qua, chúng tôi đã sưu tầm, tập hợp tư liệu và mời các nhân chứng lịch sử, các nhà nghiên cứu, các cơ quan chuyên môn viết tham luận để làm rõ các vấn đề đặt ra đúng với tầm vóc, ý nghĩa của sự kiện nhưng số lượng bài viết cũng khá kiêm tốn. Đến lúc này, chúng tôi đã nhận được 15 bài tham luận khoa học. Ban tổ chức Hội thảo chân thành cảm ơn các đồng chí đã quan tâm cộng tác, dày công nghiên cứu để có được những bài tham luận có chất lượng cao với nhiều tư liệu quí, phản ảnh khá toàn diện về sự kiện để chúng tôi có điều kiện tổ chức cuộc Hội thảo hôm nay.

Để đáp ứng yêu cầu của khoa học lịch sử, sự kiện này cần được tiếp tục làm rõ, nhìn nhận, đánh giá sâu sát và có sức thuyết phục hơn.

Với thái độ cầu thị và tinh thần khoa học nghiêm túc, Ban tổ chức Hội thảo kính đề nghị các nhân chứng lịch sử, các cơ quan chuyên môn, các nhà nghiên cứu và quí vị đại biểu, trên quan điểm khách quan, khoa học và trên cơ sở tư liệu lịch sử, thảo luận làm sáng tỏ thêm một số vấn đề sau đây:

- Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Huyện ủy Đại Lộc trong trận đánh Hà Vy.

- Thế trận chiến tranh nhân dân trong chiến thắng Hà Vy, nhất là phát huy vai trò làng chiến đấu.

- Sự phối hợp chiến đấu giữa bộ đội huyện Đại Lộc và du kích xã Lộc Vĩnh trong trận đánh Hà Vy.

- Tác động của chiến thắng Hà Vy với phong trào cách mạng huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Đà, Quảng Nam.

- Ý nghĩa và bài học lịch sử.

Và những vấn đề khác liên quan đến chiến thắng Hà Vy mà các đại biểu quan tâm.

Một lần nữa, thay mặt Ban tổ chức Hội thảo xin chân thành cảm ơn quí vị đại biểu đã quan tâm sâu sắc đến sự kiện có ý nghĩa này. Kính chúc quí vị đại biếu mạnh khỏe, hạnh phúc, chúc cuộc hội thảo thành công tốt đẹp.


(1) Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Quảng Nam


Tiêu đề: Chiến thắng Hà Vy - Ý nghĩa và bài học lịch sử
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Ba, 2020, 06:34:09 am
CHIẾN LỆ TRẬN VẬN ĐỘNG PHỤC KÍCH
CỦA ĐẠI ĐỘI BỘ ĐỘI ĐỊA PHƯƠNG HUYỆN ĐẠI LỘC
DIỆT GỌN 1 ĐẠI ĐỘI THỦY QUÂN LỤC CHIỀN MỸ TẠI HÀ VY
(NGÀY 02 THÁNG 4 NĂM 1966)

Ban Khoa học quân sự
                                                                                                                                                             
Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Nam

Phần thứ nhất
TÌNH HÌNH CHUNG

I. ĐẶC ĐIỂM VỀ ĐỊA HÌNH

Xã Lộc Vĩnh (nay là xã Đại Hồng) thuộc vùng A của huyện Đại Lộc, phía đông giáp thôn Thuận An của xã Lộc Tân (xã Đại Phong). Phía tây giáp Khe Hoa xã Lộc Ninh (xã Đại Sơn), phía nam giáp núi Ngọc Kinh, phía bắc giáp sông Vu Gia. Toàn xã có diện tích canh tác khoảng 600 ha, chủ yếu là trồng bắp, dâu, lúa... địa hình tương đối bằng phẳng. Nhân dân sinh sống dọc theo bờ sông và ven chân núi; nhà cửa, cây cối rậm rạp che khuất. Trước năm 1963, thực hiện chính sách bình định, lập “ấp chiến lược”, Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã thiết lập chính quyền từ xã đến thôn, bắt nhân dân đào giao thông hào, rào ấp chiến lược quanh làng, xóm theo kiểu “Hai sông, ba núi”(1).

Trong đợt hoạt động Xuân - Hè năm 1964, thực hiện lệnh “đồng khởi”, diệt ác phá kèm, dân quân du kích và và toàn thể nhân dân đã nổi dậy tiêu diệt địch, giải phóng hoàn toàn địa bàn xã, thiết lập chính quyền cách mạng. Để sẵn sàng đánh địch đổ bộ, càn quét, bảo vệ vùng giải phóng, dân quân du kích và nhân dân trong xã đã biến hệ thống hàng rào ấp chiến lược, giao thông hào thành làng, xã chiến đấu.

Với địa thế trước sông, sau núi, bên trong thôn, xóm có nhà cửa, cây cối, hàng rào, giao thông hào, công sự chiến đấu là những điều kiện thuận lợi để bố trí trận địa ngăn chặn địch, bảo vệ vùng giải phóng.

II. TÌNH HÌNH ĐỊCH

1. Địch trực tiếp

Thực hiện âm mưu càn quét, đánh phá vùng giải phóng, mở rộng địa bàn chiếm đóng, ngăn chặn hoạt động của ta vào các căn cứ, thị trấn, đồng thời để giải tỏa khai thông tuyến đường từ Ái Nghĩa đi Thượng Đức. Rạng sáng ngày 02 tháng 4 năm 1966, bọn Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hòa cho máy bay trinh sát L19 xuất phát từ Đà Nẵng đến quần lượn khu vực xã Lộc Vĩnh để tìm kiếm lực lượng ta, chọn địa hình thuận lợi thực hiện đổ bộ đường không và tiến hành càn quét. Đến 7 giờ, chúng cho máy bay trực thăng bắn phá dọc sông Vu Gia và các bài bắp quanh khu vực thôn 1(2). Đến 7 giờ 30 phút, chúng sử dụng 08 chiếc trực thăng khác chở 01 đại đội thủy quân lục chiến Mỹ từ căn cứ Bồ Bồ (Điện Tiến, Điện Bàn) đổ xuống bãi bắp sát bờ sông Vu Gia, quân số trên 100 tên, trang bị 01 cối 60 ly, 3 đại liên, 01 ĐKZ 57, còn lại là súng Ga-ran M2. Sau khi đổ quân chúng triển khai đội hình chiến đấu, nhanh chóng chiếm lĩnh những địa thế có lợi, bố trí lực lượng. Từ 8 đến 10 giờ, chúng án binh bất động, thăm dò lực lượng ta và xác định hướng tấn công vào các thôn. Đúng 10 giờ, chúng chia làm hai mũi tiến vào thôn 1; mũi chủ yếu từ bãi đổ bộ tiến thẳng vào, mũi thứ yếu vòng xuống hướng đông rồi tiến lên thôn 1. Các mũi quân của địch tiến rất chậm, sau 1 giờ mới chiếm xong thôn 1 và tổ chức tiến vào thôn 2-3 theo đội hình hàng ngang.

2. Địch liên quan

Xung quanh xã Lộc Vĩnh đều là vùng giải phóng nên địch liên quan ở khá xa. Phía tây cách 5km có một tiểu đoàn Biệt động quân và các lực lượng bảo an, dân vệ, cảnh sát chi khu quận lỵ Thượng Đức. Địch ở chi khu quận lỵ Đại Lộc cách Lộc Vĩnh vài chục km.


(1) Hai sông: Hai giao thông hào rộng 2-3m. Ba núi: Hai hàng rào tre, một lớp rào đơn bằng kẽm gai, rào dọc theo 2 giao thông hào.
(2) Thôn 1: còn gọi là thôn Hà Vy; Thôn 2-3: Tên ghép của thôn; Thôn 4-5: còn gọi là thôn Ngọc Kinh (nay là Ngọc Kinh Đông và Ngọc Kinh Tây); Thôn 6: là thôn Lập Thạch (nay là thôn Lập Thuận); Thôn 7: là thôn Phước Lâm.


Tiêu đề: Chiến thắng Hà Vy - Ý nghĩa và bài học lịch sử
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Ba, 2020, 06:35:37 am
III. TÌNH HÌNH TA

1. Đại đội bộ đội địa phương huyện Đại Lộc

Đại đội được tái lập tháng 8 năm 1962, trải qua quá trình xây dựng, chiến đấu, đơn vị đã có những bước trưởng thành vừng chắc cả về số lượng và chất lượng, liên tục chiến đấu hỗ trợ cho phong trào cách mạng của quần chúng trong huyện, lập nên những chiến công xuất sắc tại Lộc An (nay là xã Đại Nghĩa), Lộc Bình (nay là xã Đại Lãnh)... Đến đầu năm 1966, quân số của đơn vị là 124 đồng chí, trong đó có 36 đảng viên, 60 đoàn viên, Ban Chỉ huy Đại đội có 3 đồng chí: Đồng chí Lê Văn Thanh - Đại đội trưởng; đồng chí Trần Văn Anh - Chính trị viên; đồng chí Nguyễn Mới - Đại đội phó.

Đại đội được biên chế thành 4 trung đội (3 trung đội bộ binh, 1 trung đội hỏa lực), mỗi trung đội có từ 30 đến 36 đồng chí. Là đơn vị nòng cốt và duy nhất của huyện trong thời kỳ này nên Đại đội được trang bị khá cơ bản: 01 cối 81 ly, 01 cối 60 ly, 01 đại liên, 03 trung liên, còn lại là các loại súng: Phóng lựu, K44, Ga-ran M1, Cạc-bin, lựu đạn, thủ pháo.

Hầu hết cán bộ, chiến sĩ đã trải qua thực tiễn chiến đấu, công tác, có trình độ giác ngộ chính trị cao, thành thạo các kỹ chiến thuật chiến đấu, sờ trường tác chiến chú yếu của đơn vị là tập kích, vận động phục kích.

2. Lực lượng du kích xã, thôn

- Du kích xã: Có 01 trung đội làm nhiệm vụ cơ động chiến đấu, công tác trong xã, làm nòng cốt trong xây dựng, phát triển lực lượng cơ sở, xây dụng làng xã chiến đấu. Có thời điểm tham gia tác chiến ở địa bàn xã khác theo sự điều động của huyện.

- Du kích thôn: Mỗi thôn có 01 đến 02 tiểu đội; làm nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ làng xóm, làm nòng cốt cho phong trào toàn dân đánh giặc.

* Trang bị của lực lượng du kích xã, thôn chủ yếu là các loại súng tiểu liên, lựu đạn, thủ pháo.

3. Tình hình nhân dân

Lộc Vĩnh là xã có truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường, sớm được giải phóng nên hầu hết nhân dân có trình độ giác ngộ cách mạng cao, luôn nêu cao quyết tâm trụ bám làng xã để lao động sản xuất, đóng góp sức người, sức của cho kháng chiến, nuôi dưỡng, giúp đỡ bộ đội, du kích đánh giặc, giữ làng. Khi nghe tin quân Mỹ đổ bộ càn quét, mặc dù chưa biết rõ Mỹ, chưa biết mức độ đánh phá ác liệt như thế nào, nhưng nhân dân vẫn không rời nhà cửa, quyết tâm bám trụ cùng bộ đội, du kích để giữ làng, xóm.

* Kết luận về địa hình, ta và địch

- Địa hình xã Lộc Vĩnh có nhiều thuận lợi, nếu chiếm giữ được những điểm cao thì sẽ dễ phát hiện quân địch; ta có khả năng cơ động lực lượng nhanh, bí mật, phát huy tác dụng của các loại vũ khí trong trang bị.

- Quân Mỹ tuy quân số đông, trang bị mạnh, các loại phi pháo có khả năng chi viện lớn. Nhưng lại có nhiều điểm yếu, chúng mới đến chiến trường, không thông thuộc địa hình, hậu cần khó khăn, không nắm được đối phương, tư tưởng lại chủ quan, ỷ vào sức mạnh của vũ khí, trang bị nên dễ bị tiêu diệt.

- Đại đội bộ đội địa phương huyện và lực lượng du kích Lộc Vĩnh có quân số đông, chất lượng chiến đấu tốt, quen thuộc với địa hình, địa vật, chiếm giữ được các địa thế thuận lợi, bố trí trận địa vững chắc. Nhưng bên cạnh cũng có một số mặt yếu như: Chưa trực tiếp đối đầu với quân Mỹ nên một số cán bộ, chiến sĩ vẫn còn tư tưởng “gờm Mỹ, sợ Mỹ”; trang bị các loại súng bộ binh còn thiếu.

- Nhân dân có truyền thống đấu tranh cách mạng, tận tinh giúp đỡ bộ đội, du kích sẵn sàng tham gia phục vụ chiến đấu như khiêng thương, tải đạn, tiếp tế lương thực thực phẩm, thuốc men. Tuy nhiên, vẫn còn tư tưởng sợ quân Mỹ đánh phá ác liệt, tàn sát.


Tiêu đề: Chiến thắng Hà Vy - Ý nghĩa và bài học lịch sử
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Ba, 2020, 06:40:15 am
Phần thứ hai

CÔNG TÁC TỔ CHỨC CHIẾN ĐÁU

I. CHỦ TRƯƠNG VÀ MÊNH LỆNH CỦA TRÊN

Để đánh bại âm mưu càn quét lấn chiếm vùng giải phóng của quân Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hòa trong mùa khô năm 1966, Đảng ủy - Bộ Chỉ huy Tỉnh đội Quảng Đà chủ trương sử dụng các lực lượng vũ trang của tỉnh đẩy mạnh tác chiến, đánh bại các âm mưu, thủ đoạn của địch, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng và nhân dân.

Thực hiện chủ trương đó, Huyện ủy, Ban Chỉ huy Huyện đội Đại Lộc giao nhiệm vụ cho Đại đội bộ đội địa phương huyện cơ động lực lượng từ Lộc Tân (nay là xã Đại Phong) sang Lộc Vĩnh để tiến hành huấn luyện, củng cố đơn vị, đồng thời sẵn sàng đánh địch đổ bộ đường không, càn quét đánh phá phía nam sông Vu Gia, kiên quyết tiêu diệt quân Mỹ xâm lược, bảo vệ làng, xã, bảo vệ vùng giải phóng.

II. QUYẾT TÂM CHIẾN ĐẤU

1. Ý định chiến đấu

a. Hướng tiến công chủ yếu: Các mũi tiến quân của địch từ ngoài bãi dâu, bãi bắp vào các thôn 1, thôn 2-3. Các hướng khác là thôn 4, 5 và thôn 7.

b. Cách đánh: Sử dụng toàn bộ lực lượng của đại đội, được tăng cường thêm các tiểu đội du kích xã, thôn, dựa vào địa hình của làng, xã chiến đấu, tổ chức các trận địa phục kích bí mật, chờ địch dến sát giao thông hào, công sự từ 5 đến 10m, bất ngờ nổ súng tiêu diệt từng tốp quân địch, có thời cơ sẽ xuất kích vận động tiến công tiêu diệt gọn quân địch còn lại, làm chủ chiến trường, thu vũ khí, rồi tiếp tục phục kích đánh quân đổ bộ tiếp viện.

c. Sử dụng lực lượng

- Trung đội 3, sử dụng 30 đồng chí, được tăng cường 01 tiểu đội du kích do đồng chí Trường chủ huy, trang bị 01 trung liên, 03 súng phóng lựu, 02 mìn ĐH 10, còn lại trang bị súng K44, Ga - ran M1, Cạc-bin, mỗi đồng chí mang theo từ 04 đến 05 quả lựu đạn. Nhiệm vụ, bố trí trận địa phục kích trên hướng chù yếu (thôn 1 và thôn 2-3) sẵn sàng chặn đánh các mũi tiến quân từ bờ sông, bãi bắp vào.

- Trung đội 2 sử dụng 01 tiểu đội có 12 đồng chí, được tăng cường 1 tiểu đội du kích do đồng chí Nguyễn Văn Huê chỉ huy. Trang bị các loại súng tiểu liên và lựu đạn, có nhiệm vụ bố trí trận địa phục kích tại thôn 4 và thôn 5 chặn đánh các mũi tiến quân của địch vào khu vực này, khi có thời cơ xuất kích đánh thọc sườn bên trái đội hình địch.

Lực lượng còn lại của Trung đội 2 được tăng cường 01 tiểu đội du kích do đồng chí Nguyễn Năm chỉ huy, trang bị 01 trung liên, còn lại là tiểu liên và lựu đạn, đảm nhiệm là lực lượng dự bị cơ động chi viện cho các hướng.

- Trung đội 1 sử dụng 36 đồng chí, được tăng cường 1 tổ du kích do đồng chí Xuân chỉ huy; trang bị 1 trung liên, còn lại là súng tiểu liên, lựu đạn. Có nhiệm vụ bố trí trận địa phục kích ở thôn 7, sẵn sàng đánh quân địch đổ bộ đường không và quân bộ từ Thượng Đức xuống tiếp viện.

- Trung đội 4 hỏa lực, sử dụng toàn bộ lực lượng và trang bị do đồng chí Tiên chỉ huy. Có nhiệm vụ bố trí trận địa ở thôn 6, sẵn sàng chi viện cho các hướng.

* Ngoài ra, Ban Chỉ huy Đại đội còn sử dụng lực lượng liên minh cùng du kích làm nhiệm vụ bám địch, nắm tình hình báo cáo và truyền đạt mệnh lệnh của Ban Chỉ huy cho các hướng.

2. Công tác bảo đảm

- Trận địa: Ban Chỉ huy Đại đội cùng các trung đội khẩn trương kiểm tra đội hình, chọn các đoạn giao thông hào và hàng rào thuận lợi để bố trí trận địa, nhanh chỏng triển khai lực lượng củng cố và đào thêm hệ thống công sự, giao thông hào, bố trí hỏa lực, mìn ĐH, ngụy trang các vị trí xung yếu.

- Trang bị: Căn cứ vào số lượng, chất lượng hiện có, đại đội ưu tiên cho hướng chủ yếu để đảm bảo đánh địch lâu dài, hiệu quả.

- Thông tin liên lạc: Sử dụng lực lượng liên trinh vận động từ vị trí chỉ huy đến các hướng và ngược lại, để nắm tình hình báo cáo, truyền đạt mệnh lệnh.

- Thương bính, tử sĩ: Tại trận địa giao cho các tổ chiến đấu đưa về phía sau, sau đó du kích và dân công chuyển về trạm sơ phẫu để cứu chữa, đến tối sẽ chuyển về hậu cứ.

- Bảo đảm ăn, uống do hội phụ nữ đảm nhiệm, du kích có nhiệm vụ đưa ra trận địa.

3. Tổ chức họp đồng

- Các tổ, các hướng phải tuyệt đối giữ bí mật đến cùng, cự ly nổ súng từ 5 đến 10m.

- Hiệu lệnh: 03 loạt trung liên phát hỏa, sau đó các tổ phục kích chỉ sử dụng lựu đạn và súng phóng lựu đồng loạt đánh vào đội hình địch, sau đó dùng tiểu liên bắn tập trung diệt các tốp quân địch phản kích.

- Khi có lệnh của chỉ huy mới được rời khỏi công sự, trận địa để xuất kích.

- Lực lượng dự bị khi có lệnh mới được xuất kích chi viện cho các hướng.

- Hỏa lực chi viện phải dùng các đài quan sát theo dõi diễn biến chiến đấu của từng hướng để bắn kiềm chế, tiêu diệt địch.

4. Tổ chức chỉ huy

- Đồng chí Lê Văn Thanh - Đại đội trưởng chỉ huy chung, đồng chí Nguyễn Mới - Đại đội phó trực tiếp chỉ huy hướng chủ yếu.

- Ban Chỉ huy Đại đội đứng tại thôn 6, cách trận địa phục kích chủ yếu khoảng 600m.

5. Dự kiến các tình huống

- Nếu quân Mỹ tiến quân không đúng ý định của ta, đi sai hướng phục kích, thì nhanh chóng cơ động đến bố trí trận địa ở hướng có thể tiêu diệt được quân địch.

- Nếu quân Mỹ đổ quân với lực lượng lớn hơn, đánh chiếm trận địa phục kích của Trung đội 3 thì Trung đội 2 xuất kích chi viện, đánh thọc sườn đội hình địch.

- Nếu diễn biến chiến đấu kéo dài thì sử dụng lực lượng dự bị thay phiên nhau chiến đấu; sử dụng vũ khí hết sức tiết kiệm, dùng K44, Ga-ran bắn bia, bắn tỉa diệt từng tên địch, hạn chế sự phát triển của quân địch, chờ đến tối tổ chức lực lượng tập kích, sau đó cơ động đơn vị đến địa bàn khác.


Tiêu đề: Chiến thắng Hà Vy - Ý nghĩa và bài học lịch sử
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Ba, 2020, 06:41:47 am
Phần thứ ba

DIỄN BIẾN CHIẾN ĐẤU

1. Giai đoạn chiếm lĩnh trận địa

Sau khi phân tích, đánh giá tình hình và đề ra kế hoạch chiến đấu, Ban Chỉ huy Đại đội lệnh cho các trung đội khẩn trương triển khai bố trí lực lượng trên các hướng được phân công, 7 giờ các trung đội đã hoàn thành kế hoạch. Đúng như dự đoán, lúc 7 giờ 30, quân Mỹ bắt đầu đổ bộ xuống bãi cát ven sông, phía trước trận địa phục kích của Trung đội 3 từ 300 đến 400m, sau khi đổ xuống chúng triển khai lực lượng chiếm giữ các bãi bắp ven sông. Lúc này, Ban Chỉ huy Đại đội nhận định, địch khả năng tập trung đánh vào thôn 1. Tại đây có 1 trận địa phục kích của Trung đội 3, địa thế trận địa bị cô lập, tách rời với các trận địa ở thôn 2-3. Do đó, Ban Chỉ huy Đại đội lệnh cho Trung đội 3 bí mật cơ động lực lượng từ thôn 1 vào thôn 2-3.

Đến 10 giờ quân Mỹ chia làm 2 mũi tiến vào thôn 1, 11 giờ chúng chiếm xong thôn 1 mà không gặp lực lượng của ta, địch đã có biểu hiện chủ quan, chúng bắt đầu tiến ra đồng trống theo đội hình hàng ngang để vào thôn 2-3. Các tổ phục kích của ta vẫn bí mật chờ địch tiến dần từng bước. 11 giờ 30 phút, địch cách ta khoảng từ 5 đến 10m, đồng chí Trường ra lệnh cho nổ súng.

2. Giai đoạn nổ súng tiến công

Sau khi có lệnh, trung liên phát hỏa, tiếp đó từng loạt lựu đạn ném vào đội hình địch, những tốp đi đầu bị tiêu diệt, có nhiều tên ngã gục ngay trước công sự của Trung đội 3, những tên phía sau chạy lui lại, rồi nằm xuống mặt đất trống trải đề bắn trả lại, các hỏa lực và súng bộ binh của chúng tập trung bắn vào trận địa của ta, các tổ phục kích vẫn bình tĩnh, bám chắc công sự, dùng tiểu liên điểm xạ từng loạt, từng viên diệt từng tên địch đang lom khom vào kéo xác đồng bọn, nhiều tên thấy đồng bọn chết thỉ kêu khóc, la hét.

Sau 30 phút nổ súng, các mũi tiến quân của Mỹ không tiến vào được chúng phải lui ra để củng cố đội hình, pháo ở các trận địa Thượng Đức, Ái Nghĩa bắt đầu bắn phá. 30 phút sau quân Mỹ lại tiến vào, vừa tiến vừa bắn, yểm trợ cho các tổ xung kích của chúng vào lấy xác đồng bọn. Các tổ phục kích vẫn bí mật để địch đến gần và tập trung đông mới nổ súng, quân Mỹ tiến đến cách trận địa khoảng 20m thì dừng lại, một số tên cố bò vào kéo xác đồng bọn, chúng khiêng dồn lại, rồi xúm lại băng bó kêu khóc, không bỏ lỡ thời cơ đồng chí Nguyễn Mới ra lệnh cho các tổ tập trung các loại vũ khí đồng loạt bắn vào các cụm quân địch ở giữa đồng trống diệt nhiều tên, bọn sống sót bắn trả quyết liệt. Tuy nhiên, sau hơn 1 giờ, đại đội thủy quân lục chiến Mỹ đã mất hơn 50% quân số. Để tiếp tục thực hiện kế hoạch đánh phá, nhất là để thu gom bọn Mỹ chết và bị thương đang nằm rải rác khắp đồng ruộng, bọn chỉ huy gọi phi pháo đánh phá ác liệt vào các trận địa của đại đội. Máy bay trực thăng hạ xuống chở đi một số tên chết và bị thương, nhờ có hầm hào, công sự vững chắc nên đơn vị và nhân dân không bị thương vong.

Sau hơn 01 giờ đánh phá bằng phi pháo, 13 giờ 30 phút quân Mỹ tiếp tục tổ chức phản kích lần thứ 3 vào trận địa của Trung đội 3, chúng tiến rất chậm chạp và cũng dừng lại trước trận địa. Lệnh cho một số tên bò vào kéo xác. Trận địa của Trung đội 3 vẫn yên lặng, địch cho rằng sau trận phi pháo của chúng ta đã rút lui, chúng mò vào khi còn cách 10m, các loại súng của Trung đội 3 lại vang lên, bắn ngã nhiều tên, đội hình địch bị rối loạn, thời cơ thuận lợi xuất hiện, đồng chí Trường ra lệnh cho các tổ xuất kích, bắn dìm đầu bọn Mỹ, bị bất ngờ và bị mất sức chiến đấu, lính Mỹ tháo chạy, cuối cùng chỉ còn lại một số tên với 01 đại liên, 01 máy PRC25, chạy ra bờ sông rồi trụ lại ở miếu Ông Doi bắn chặn các tổ truy kích của ta. Để tránh thương vong, các tổ quay lại thu dọn vũ khí rồi cơ động về trận địa chuẩn bị đánh địch đổ bộ tiếp viện.

Lúc này, từng tốp máy bay trực thăng từ hướng đông đến bắn phá và đổ tiếp 02 đại đội xuống quanh miếu Ông Doi, 01 chiếc vừa cất cánh về thì bị tổ phục kích của Trung đội 2 và du kích ở thôn 4 bắn bị thương, buộc phải hạ xuống sườn núi Ngọc Kinh, hỏng hệ thống thông tin nên chúng không liên lạc được với đồng bọn để ứng cứu. Đến 16 giờ quân Mỹ mới đổ bộ xong và triển khai đội hình tiến vào hướng thôn 2-3, 1 mũi băng qua cánh đồng tiến vào thôn 4, thôn 5 với ý định đánh thọc sườn trận địa của Trung đội 3, đồng thời tìm kiếm trực thăng bị thương.


Tiêu đề: Chiến thắng Hà Vy - Ý nghĩa và bài học lịch sử
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Ba, 2020, 06:42:51 am
Quyết tâm giữ vững trận địa, không để cho quân Mỹ tiến vào thôn xóm, Ban Chỉ huy Đại đội ra lệnh cho tổ phục kích tại thôn 4, thôn 5, bí mật cơ động lên phục kích ở đầu thôn 5, cuối thôn 6 để sẵn sàng đánh địch lên hướng này, và sử dụng một tổ trinh sát bí mật tiếp cận khu vực máy bay rơi để xác định vị trí cho hỏa lực đại đội sẵn sàng tập kích quân Mỹ cứu viện. Riêng hướng chủ yếu của Trung đội 3, Ban Chỉ huy ra lệnh cho đơn vị tiếp tục củng cố trận địa, bổ sung thêm đạn dược để bảo đảm đánh địch tiếp viện. Bị mất một đại đội, xác đồng bọn nằm ngổn ngang trên bãi bắp, lính Mỹ vừa đổ xuống đã mất tinh thần chiến đấu, chúng tiến rất chậm và hết sức cảnh giác. Lúc 16 giờ 30 phút quân Mỹ trên hướng chủ yếu tiến vào cách trận địa 50m rồi dừng lại, dùng hỏa lực bắn vào trận địa của ta, yểm trợ cho đồng bọn bò vào kéo xác đưa ra ngoài cho máy bay chở đi.

Mũi thứ yếu của địch đã vào đến thôn 4 rồi cơ động lên sườn đồi tìm chiếc máy bay rơi, bị cối 60 ly của ta bắn chặn (lúc này tên giặc lái đã mò xuống và gặp đồng bọn) buộc phải dừng lại rồi tiến lên thôn 5 để đánh thọc sườn vào trận địa Trung đội BB3. Nhưng đến khe Nước Ngang thì bị tổ phục kích của Trung đội 2 và du kích ở đây dùng mìn ĐH và súng bộ binh đánh chặn diệt 5 tên. Quân Mỹ dựa vào địa thế tổ chức phản kích lại, rồi tiến vào lấy xác, sau đó lần lượt kéo nhau ra giữa bãi cát. Đến 18 giờ, trời bắt đầu tối, máy bay C.310 đến thả đèn sáng, các loại máy bay tiếp tục bắn phá, nhiều máy bay trực thăng đến chở xác và quân lính địch. Trung đội 3 dùng súng bộ binh bắn bị thương 1 chiếc phải hạ xuống giữa bãi bắp. 18 giờ 30 phút, Ban Chỉ huy Đại đội sử dụng 1 tổ của Trung đội 2 cùng du kích bí mật tiếp cận phá hủy chiếc máy bay rơi trên núi. Sau đó ra lệnh cho các trung đội tập trung về thôn 6 và tổ chức hành quân về lại Lâm Tây, xã Lộc Quang (Đại Đồng) ngay trong đêm ngày 2 tháng 4. Còn quân Mỹ, chúng cũng lần lượt rút quân và cẩu chiếc máy bay rơi ở bãi bắp suốt cả đêm.

3. Kết quả trận đánh

Diệt gần gọn 01 đại đội thủy quân lục chiến Mỹ, đánh thiệt hại 02 đại đội khác, bắn rơi 01 máy bay, bắn bị thương 01 chiếc khác, thu 01 cối 60 ly, 60 súng Ga-rân M2, phá hủy 01 ĐKZ 57, đơn vị an toàn(1).

4. Ý nghĩa trận đánh

- Diệt gần gọn 01 đại đội, đánh thiệt hại 02 đại đội thủy quân lục chiến Mỹ đầu tiên trên chiến trường huyện Đại Lộc.

- Đánh bại cuộc càn quét, giải tỏa của 01 tiểu đoàn thủy quân lục chiến Mỹ vào vùng giải phóng của huyện. Bảo vệ được làng, xã, bảo vệ được nhân dân.

- Thất bại của quân Mỹ tại Hà Vy là một đòn đau góp phần làm suy giảm tinh thần, ý chí của quân chiến đấu Mỹ.

- Trận đánh đã góp phần giải quyết tư tưởng “gờm Mỹ, sợ Mỹ”, củng cố thêm niềm tin và quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Tạo nên một khí thế mạnh mẽ trong các lực lượng vũ trang và nhân dân của huyện nhà, làm tăng thêm sức mạnh chiến đấu của các đơn vị, địa phương.

- Chiến công này sau đó được huyện, tỉnh biểu dương, đơn vị được tặng Huân chương chiến công hạng Nhất. Tháng 12 năm 1966, Đại hội chiến sĩ thi đua toàn Khu 5 lần thứ 2 đã tuyên đương những điển hình năm 1966, trong đó Đại đội bộ đội địa phương huyện Đại Lộc được tặng thưởng danh hiệu “Đại đội địa phương huyện diệt nhiều Mỹ nhất”.


(1) Chúng tôi dẫn theo Ban CHQS huyện Đại Lộc, Lịch sử LLVTND huyện Đại Lộc (1945 -1975), Nxb Đà Nẵng, 2004, tr.168. Theo Báo Quân giải phóng, số 43 tháng 1-1967, tài liệu số 25/1966, lưu tại Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Nam thì ta “diệt gọn 1 đại đội và tiêu hao 2 đại đội thủy quân lục chiến Mỹ, giết chết và bắn bị thương 218 tên, thu 33 súng (có 1 đại liên, 1 trung liên, 1 súng M79, 2 súng colt, 2 súng ám sát 3 khẩu M72), bẳn rơi và phá hủy 5 chiếc máy bay, bẳn bị thương 2 chiếc khác (có 1 F.105)”.


Tiêu đề: Chiến thắng Hà Vy - Ý nghĩa và bài học lịch sử
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Ba, 2020, 06:43:38 am
Phần thứ tư

NHỮNG ƯU, KHUYẾT ĐIẺM VÀ
BÀI HỌC KINH NGHIỆM

I. ƯU ĐIỂM VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

1. Đơn vị xây dựng được tinh thần quyết tâm chiến đấu cao cho cán bộ, chiến sĩ

Tinh thần chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ Đại đội bộ đội địa phương huyện và du kích xã Lộc Vĩnh được xác định vững vàng, thể hiện trong chấp hành mệnh lệnh chiến đấu của Đại đội và nhất là khi đã biết rõ đối tượng tác chiến là lính thủy quân lục chiến Mỹ - một lực lượng mà hầu hết cán bộ, chiến sĩ chưa một lần giáp mặt.

Cấp ủy, Ban Chỉ huy Đại đội, chi bộ, chi đoàn kịp thời lãnh đạo, chỉ huy, chỉ đạo công tác giáo dục, động viên phát huy truyền thống đơn vị để chiến đấu dành thắng lợi. Đơn vị đã lấy những tấm gương đánh Mỹ, nhất là Chiến thắng của Đại đội 2, Tiểu đoàn 70 trước đại đội Mỹ ở Núi Thành và nhiều trận đánh khác để giáo dục, củng cố quyết tâm đánh Mỹ, loại bỏ tư tưởng gờm, sợ Mỹ cho cán bộ, chiến sĩ.

2. Công tác tổ chức chiến đấu

Thời gian chuẩn bị cho trận đánh rất ngắn, Huyện ủy, Huyện đội chưa nắm được tình hình nhưng Ban Chỉ huy Đại đội và các trung đội đã hình thành được phương án chiến đấu chính xác, tỉ mỉ, sát với thực tế.

- Chọn hướng tiến công, biết dựa vào địa hỉnh, địa thế của làng, xã chiến đấu để bố trí các trận địa phục kích, trong đó có trận địa trên hướng chủ yếu, có trận địa trên hướng thứ yếu, tạo ra một thế trận liên hoàn, vững chắc, đơn vị có nhiều thuận lợi, địch có nhiều bất lợi trong tiến quân. Địch muốn vào các thôn xóm đều phải vượt qua cách đồng trống, thực tế cho thấy toàn bộ đại đội Mỹ đều bị tiêu diệt trên đồng ruộng, bãi bắp trống trải, hoặc khi địch đổ quân lần thứ 2 để tiếp viện. Đại đội quyết định rút đội hình bố trí tại thôn 4 và thôn 5 để tạo cho mũi quân của Mỹ vào hướng này không gặp ta sẽ chủ quan tiến lên thôn 5, đến cầu suối Nước Ngang lại bị tiêu diệt, buộc phải bỏ ý định cứu máy bay và đánh thọc sườn trận địa của Trung đội 3.

- Sử dụng lực lượng, đơn vị nắm chắc được khả năng chiến đấu của từng trang đội để bố trí trên các hướng, kể cả lực lượng dự bị với quân số và trang bị thích hợp.

- Cách đánh, dựa vào địa hình, địa thế thuận lợi để vận dụng một cách đánh nhuần nhuyễn hình thức chiến thuật phục kích kết hợp với vận động tiến công. Phục kích có trận địa vững chắc, khả năng tránh được phi pháo, xuất kích vận động tiến công diệt địch khi thời cơ xuất hiện, không có biểu hiện tùy tiện, vi phạm nguyên tắc chiến thuật. Một biếu hiện xuất sắc nữa trong cách đánh là thủ thuật chiến đấu bằng các loại vũ khí trong từng thời điểm, đó là bí mật để địch đến sát trận địa mới nổ súng, đánh bằng lựu đạn trong những phút đầu, sau đó mới dùng súng bộ binh tiêu diệt từng tên. từng tốp, hoặc địch co cụm lại thì tập trung hỏa lực, súng bộ binh diệt từng cụm. Làm cho địch bất ngờ, lúng túng trong đối phó.

3. Tổ chức hiệp đồng chỉ huy

- Công tác hợp đồng thực hiện chặt chẽ trong từng trung đội, từng tổ, hoặc giữa trung đội này với trung đội khác, nhất là trong giai đoạn nổ súng chiến đấu, các tổ phục kích của Trung đội 3 thực hiện hiệp đồng sử dụng vũ khí, hiệp đồng xuất kích vận động tiến công địch.

- Về chỉ huy bố trí tại thôn 6 là rất hợp lý, gần với các trận địa phục kích phía trước, kịp thời chỉ huy, chỉ đạo các hướng xử trí kịp thời, linh hoạt các tình huống trong chiến đấu, như lúc thấy bố trí trận địa tại thôn 1, vừa sát với bãi đổ bộ của địch, vừa bị cô lập dễ bị địch bao vây chia cắt nên Ban Chỉ huy Đại đội quyết định cho cơ động vào bố trí trận địa tại thôn 2-5 hoặc lúc quân Mỹ đổ bộ lần thứ 2, có một mũi vào thôn 4, Ban Chỉ huy nhận định muốn đánh được địch cần phải đưa lực lượng phục kích về sau thôn 5 mới tao được thế diệt địch. Chỉ huy rất linh hoạt khi sử dụng hỏa lực chặn quân Mỹ vào khu vực máy bay rơi để đến tối tổ chức tập kích thiêu hủy làm cho trận đánh càng thắng lợi lớn hơn.

4. Công tác bảo đảm

Ngoài địa hình, địa thế có sẵn, trước khi bước vào chiến đấu các đơn vị đều tranh thủ đào thêm công sự hầm hào, tổ chức ngụy trang kín đáo, làm cho quân Mỹ hoàn toàn bị bất ngờ.

Về trang bị, căn cứ số lượng trang bị của từng trung đội, Ban Chỉ huy ưu tiên cấp thêm cho hướng chủ yếu để bảo đảm chiến đấu diệt được địch và đủ chiến đấu trong thời gian dài.

Về thông tin, trong điều kiện không có phương tiện thông tin hiện đại, Ban Chỉ huy quyết định sử dụng lực lượng liên trinh vận động để nắm, báo cáo tình hình và truyền đạt mệnh lệnh, nhờ đó, Ban Chỉ huy Đại đội đã nắm được toàn bộ diễn biển chiến đấu ở hướng chủ yếu và hạ đạt mệnh lệnh được kịp thời, chính xác.

5. Trận đánh Lộc Vĩnh là một hình thức chiến thuật của chiến tranh nhân dân địa phương, Đại đội bộ đội địa phương huyện và lực lượng du kích không chỉ biết dựa vào địa thế của làng, xã chiến đấu mà còn biết dựa vào tinh thần cách mạng của nhân dân, động viên nhân dân tham gia phục vụ chiến đấu. Mọi người dân đều sẵn sàng tham gia dân công khiêng thương, tải đạn, tiếp tế cơm nước cho bộ đội, du kích, điều đó làm tăng thêm khí thế chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ trong đánh địch bảo vệ làng, xã, bảo vệ nhân dân.

II. KHUYẾT ĐIỂM

1. Chọn hướng bố trí trận địa ban đầu có nhiều sơ hở dễ bị địch đánh thọc sườn, chia cắt trận địa, cô lập từng bộ phận để tiêu diệt, nếu không kịp thời điều chinh bố trí lại trận địa thì trung đội sẽ gặp nhiều khó khăn.

2. Trên hướng chù yếu diễn biến chiến đấu từ 11 giờ đến 16 giờ còn có lực lượng dự bị phía sau nhưng không có kế hoạch sử dụng kịp thời để tiêu diệt địch vào các thời điểm như lúc xuất kích tiêu diệt bộ phận quân Mỹ còn lại. Nếu tăng cường lực lượng dự bị thì khả năng tiêu diệt những tên còn lại tại miếu Ông Doi sẽ cao hơn.

- Lúc quân Mỹ đổ bộ lần thứ 2 nhiều loại máy bay quần lượn trên khu vực Lộc Vĩnh, nếu bố trí một số tổ bắn máy bay thì sẽ bắn rơi nhiều máy bay hơn, vì giai đoạn này quân Mỹ còn chủ quan chưa có kinh nghiệm đối phó.

- Chưa nắm chắc được hỏa lực chi viện và thời cơ diệt địch, nhất là lúc quân Mỹ đổ lần thứ 2 xuống quanh bãi bắp chúng đang tập trung đông quân và phương tiện đổ bộ.


Tiêu đề: Chiến thắng Hà Vy - Ý nghĩa và bài học lịch sử
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Ba, 2020, 06:53:25 am
CHIẾN THẮNG HÀ VY LÀ NIỀM TỰ HÀO
CỦA QUÂN VÀ DÂN ĐẠI LỘC NÓI RIÊNG, TỈNH QUẢNG NAM NÓI CHUNG

Đại tá Phạm Tấn Bá(1)

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đại Lộc là mành đất chịu nhiều đau thương, mất mát. Ngay từ khi đế quốc Mỹ đặt chân lên Đà Nẵng, Đại Lộc là một trong những địa bàn nằm trong “tầm ngắm chiến lược” của Mỹ - ngụy. Tuy nhiên, với truyền thống yêu nước, đấu tranh chống xâm lược, quân và dân Đại Lộc đã từng bước đánh tan âm mưu của Mỹ - ngụy. Có những trận đánh, những chiến thắng vang dội một thời như chiến thắng Hà Vy, chiến thắng cầu Ông Nở, chiến thắng Thượng Đức... Trong đó, chiến thắng Hà Vy là một trong những trận đầu đánh Mỹ và thắng Mỹ của bộ đội địa phương cùng du kích xã trên chiến trường Khu 5.

Sáng ngày 02 tháng 4 năm 1966, Mỹ cho máy bay ném bom dọc bờ sông Vu Gia đến làng Hà Vy và dọc rìa làng Ngọc Kinh để dọn đường đổ quân càn quét địa bàn xã Lộc Vĩnh (nay là xã Đại Hồng). Sau đó, chúng cho một toán máy bay đổ một đại đội thủy quân lục chiến xuổng cánh đồng Hà Vy, một toán máy bay khác tiếp tục đổ thêm một đại đội ở sát bờ sông Vu Gia để tấn công vào làng. Do có sự chuẩn bị trước, Đại đội 1 bộ đội địa phương cùng dân quân du kích xã Lộc Vĩnh đã kiên cường chiến đấu, đẩy lùi sự tấn công của quân Mỹ. Trong vòng một ngày, quân ta đã tiêu diệt gọn một đại đội Mỹ, làm thiệt hại hai đại đội Mỹ khác và thu giữ nhiều vũ khí, bắn rơi và phá hủy 2 máy bay trực thăng. Chiến công của quân và dân Đại Lộc được Đại hội chiến sỹ thi đua toàn Khu 5 diễn ra vào cuối năm 1966 biểu dương và phát động học tập toàn Khu.

Trận đánh Hà Vy mang ý nghĩa lịch sử sâu sắc, để lại nhiều bài học quý cho sự nghiệp đấu tranh bảo vệ vả xây dựng quê hương, đất nước. Là người trực tiếp chiến đấu trong trận đánh Hà Vy, tôi muốn làm rõ hơn những ý nghĩa và bài học lịch sử của trận đánh để cung cấp thêm những tư liệu lịch sử quan trọng, góp phần giáo dục truyền thống cho các thế hệ sau này.

Sau khi chiến lược chiến tranh đặc biệt thất bại, từ tháng 3 đến tháng 5 năm 1965, Mỹ ồ ạt đổ quân vào Đà Nẵng và Quảng Nam. Đến tháng 6 năm 1965, vành đai diệt Mỹ đã nới rộng ra huyện Hòa Vang, Điện Bàn và một phần của huyện Đại Lộc. Cuối năm 1965, Mỹ - ngụy tăng cường ra quân càn quét vùng giáp ranh vả vùng giải phóng của ta. Ở các chốt điểm như Ái Nghĩa, Thượng Đức, Núi Lở, bọn Mỹ - ngụy tìm cách lấn chiếm ra các vùng lân cận. Quân và dân Đại Lộc thời điểm đó đã có nhiều trận đối đầu với ngụy song đối đầu với lính Mỹ mới chỉ có một vài trận nhỏ lẻ. Tuy nhiên, với kinh nghiệm được học tập sau chiến thắng Núi Thành cùng trận đánh Mỹ ở Lộc Chánh (nay là xã Đại Hiệp), trận Bàu Mưng ở thôn Lâm Tây, xã Lộc Quang (nay là xã Đại Đồng), lực lượng bộ đội địa phương huyện Đại Lộc cùng dân quân du kích xã đã tích lũy được một số kinh nghiệm làm nên chiến công vang dội khiến kẻ thù phải nể sợ.

Có thể nói, chiến thắng của trận đánh Hà Vy ngày 02 tháng 4 năm 1966 là trận đánh mang nhiều ý nghĩa lịch sử đối với cục diện chiến trường Đại Lộc lúc đó cũng như trong công cuộc kháng chiến của quân và dân sau này.

Trước hết, chiến thắng Hà Vy đã khẳng định tinh thần “dám đánh Mỹ và thắng Mỹ” của quân và dân Đại Lộc.

Chúng ta có thể nói như vậy bởi vì trước đó, lực lượng cách mạng địa phương chủ yếu đối đầu với quân ngụy tay sai - kẻ thù mà chúng ta có thể nắm được mọi phương thức hoạt động. Việc Mỹ đổ quân tham chiến để thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ” ở chiến trường miền Nam là một trong những khó khăn, trở ngại đối với quân và dân ta. Quân Mỹ lúc đó là đội quân thiện chiến, được trang bị và vũ khí hiện đại, chưa từng nếm trái thất bại trước bất kỳ đối thủ nào. Trong khi quân và dân ta thiếu thốn đủ bề, cuộc sống của nhân dân gian khổ, lực lượng bộ đội trang bị vũ khí còn nghèo nàn, lạc hậu. Thêm vào đó là không ít người mang tư tưởng “sợ Mỹ” bởi chúng ta chưa hiểu thực lực của quân Mỹ ra sao, cộng thêm những bất đồng về ngôn ngữ, tâm lý... Trước đó, ngày 20 tháng 6 năm 1965, bộ đội địa phương huyện do đồng chí Nguyễn Mới chỉ huy cùng du kích xã Lộc Chánh (Đại Hiệp) chặn đánh 01 trung đội thám báo Mỹ tại Phú Bắc, làm chết và bị thương một số tên, thu được 01 súng Garan M2; đây là chiến thắng đầu tiên của quân và dân Đại Lộc đánh Mỹ. Tiếp đó, đến ngày 05 tháng 01 năm 1966, đại đội 1 bộ đội địa phương phối hợp với du kích xã Lộc Quang (Đại Đồng) phục kích đón đánh 02 tiểu đoàn Mỹ hành quân có máy bay và xe tăng yểm trợ tại Bàu Mưng, thôn Lâm Tây. Kết quả, ta diệt gọn 01 trung đội và đánh thiệt hại nhiều trung đội khác; thu 01 súng đại liên cực nhanh; 10 súng Garan M2; 4 súng M79 và nhiều trang bị khác. Sau hai trận đánh này, trong trận đánh Hà Vy, bộ đội địa phương và du kích xã Lộc Vĩnh đã diệt gọn một đại đội Mỹ, làm thiệt hại 02 đại đội khác, thu được nhiều vũ khí quan trọng. Trận Hà Vy đã khẳng định được sức mạnh của lực lượng vũ trang huyện, xóa tan tư tưởng “gờm Mỹ, sợ Mỹ” của một bộ phận quân và dân Đại Lộc. Thực tế chứng minh rằng: không chỉ có bộ đội chủ lực, bộ đội tỉnh mà bộ đội địa phương huyện, du kích xã cũng có thể đánh Mỹ và thắng Mỹ.

Chiến thắng Hà Vy đã đập tan âm mưu nối liền các chi khu quân sự của Mỹ với căn cứ liên họp quân sự Đà Nẵng.

Xã Lộc Vĩnh (Đại Hồng) có vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng trong kháng chiến. Đại Hồng nằm trên quốc lộ 14B, là địa bàn giáp ranh giữa huyện Đại Lộc với huyện Nam Giang, nối liền Đà Nẵng - Quảng Nam với các tỉnh Tây Nguyên. Đại Hồng lại nằm gần cứ điểm Thượng Đức - nơi được mệnh danh là “cánh cửa thép”, “mắt ngọc của đầu rồng”, là cứ điểm quân sự lớn của Mỹ - ngụy. Mặt khác, 3/4 diện tích của xã Lộc Vĩnh là đồi núi, thuận lợi cho lực lượng cách mạng địa phương hoạt động và chiến đấu. Lộc Vĩnh là vùng giải phóng nối liền vùng B Đại Lộc liên hoàn với vùng giải phóng các huyện Điện Bàn, Duy Xuyên, Quế Sơn. Với vị trí chiến lược đó, nếu địch có thể làm chủ địa bàn xã Lộc Vĩnh cùng một số xã ven quốc lộ 14B sẽ tạo thuận lợi cho quá trình hình thành mạng lưới các khu căn cứ quân sự, dễ dàng cho kế hoạch bình định trong thời gian ngắn. Chính vì vậy, đầu năm 1966, Mỹ liên tục đưa quân càn quét các xã ven quốc lộ 14B. Tuy nhiên, âm mưu của đế quốc Mỹ đã bị chúng ta lật tẩy. Hầu hết ác đợt càn quét đều bị quân dân ta đẩy lùi, làm tiêu hao sinh lực địch và thu được nhiều chiến lợi phẩm đặc biệt là vũ khí để trang bị cho lực lượng vũ trang của ta. Đến trận đánh Hà Vy, quân ta đã khiến quân địch phải hoang mang, lo sợ, củng cố và khẳng định được sức mạnh của lực lượng vũ trang địa phương trong cuộc đối đâu với tên đế quốc hùng mạnh nhất lúc bấy giờ.


(1) Nguyên Trinh sát Đại đội 1 Bộ đội địa phương huyện Đại Lộc.


Tiêu đề: Chiến thắng Hà Vy - Ý nghĩa và bài học lịch sử
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Ba, 2020, 06:55:32 am
Chiến thắng Hà Vy còn cung cấp cho quân và dân ta nhiều bài học kinh nghiệm quý trong quá trình chiến đấu chống đế quốc Mỹ.

Trận đánh Hà Vy chỉ là một trong những trận đầu đánh Mỹ đi càn của bộ đội địa phương huyện phối hợp với du kích xã, song đây lại là trận đánh tiêu diệt nhiều lính Mỹ nhất khu vực ở thời kỳ đó và thu giữ nhiều vũ khí, trang bị. Hơn nữa, chiến thắng Hà Vy đã khẳng định được tính ưu việt của nghệ thuật chiến tranh du kích “lấy ít địch nhiều”, “lấy yếu thắng mạnh”. Trận đánh này chúng ta chỉ có một đại đội với khoảng 120 chiến sỹ, du kích xã trên 30 chiến sỹ song chúng ta đã diệt gọn một đại đội Mỹ, làm thiệt hại 02 đại đội khác, thu được 28 khẩu súng, nhiều vật dụng khác. Trận đánh Hà Vy cũng khẳng định được sức mạnh của lực lượng vũ trang tại chỗ đồng thời cho thấy chỉ với lực lượng nhỏ nhưng với quyết tâm cao. biết vận dụng linh hoạt cách đánh thì chúng ta có thể đánh bại đội quân viễn chinh Mỹ dù chúng có quân số đông, được trang bị vũ khí hiện đại, tối tân. Sau chiến thắng Hà Vy, quân và dân Đại Lộc càng nêu cao hơn nữa phương châm hành động “Tìm Mỹ mà đánh, gặp Mỹ là diệt”; làm dấy lên phong trào thi đua “Dũng sĩ diệt Mỹ” trên địa bàn huyện, gây nên nỗi kinh hoàng đối với quân viễn chinh Mỹ.

Từ những thành công của trận đánh Hà Vy, chúng ta có thể rút ra một số kinh nghiệm sau:

Thứ nhất, phải thường xuyên quán triệt đường lối chiến tranh nhân dân, xây dựng và phát triển thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc, đảm bảo cho lực lượng vũ trang địa phương có thể đánh địch. Trong quá trình chiến đấu, phải tận dụng những lợi thế của làng chiến đấu với hệ thống giao thông hào, công sự, hố chông, cọc chống máy bay trực thăng... Lực lượng bộ đội phải có sự phối hợp chặt chẽ với du kích, nhân dân địa phương để nắm chắc địa hình chiến đấu, chủ động trong tiến công, phòng thủ, đảm bảo an toàn cho lực lượng ta. Thực tế lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của nhân dân ta cho thấy, đường lối chiến tranh nhân dân đã phát huy hiệu quả cao trong các cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm. Thắng lợi của ta ở trận đánh Hà Vy đã đem lại những bài học kinh nghiệm quý báu cho quân và dân Đại Lộc trong công tác chỉ đạo, điều hành chiến tranh cách mạng, nhất là khi quân Mỹ mới đổ bộ xuống chiến trường Đại Lộc.

Thứ hai, muốn đánh Mỹ và thắng Mỹ thì phải đánh gần, “bám thắt lưng địch mà đánh”, phải biết “tùy cơ ứng biến”. Quân Mỹ với số lượng đông được trang bị vũ khí hiện đại, có sự yểm trợ đắc lực của hỏa lực, máy bay nên quân ta phải thực sự mưu lược trong chiến đấu mới có thể giành thắng lợi. Chiến thắng Hà Vy là một trong những minh chứng cụ thể nhất cho cách đánh của quân dân ta. Trong trận đánh này, quân ta đợi địch đến gần mới nổ súng nên hiệu suất chiến đấu cao hơn; giành thế chủ động ngay từ loạt đạn đầu tiên, khiến quân địch rối loạn, hoang mang. Quân ta đã buộc địch phải đánh theo cách đánh của ta, không cho chúng phát huy ưu thế về vũ khí, trang bị, hỏa lực và sức cơ động. Ở trận đánh này, quân ta cũng thực hiện chiến thuật “đánh nhanh, rút nhanh” để bảo toàn lực lượng tham gia chiến đấu. Chỉ sau một ngày, từ mờ sáng đến tối, bộ đội địa phương đã rút quân khỏi làng Hà Vy, toàn đại đội chỉ có 01 đồng chí hy sinh.

Thứ ba, phải thường xuyên xây dựng và củng cố niềm tin, quyết tâm đánh địch của quân và dân ta. Công tác chính tri tư tưởng là công tác vô cùng quan trọng, mang yếu tố quyết định thành công hay thất bại đối với một trận đánh. Nếu không làm tốt công tác tư tưởng trong cán bộ, chiến sỹ và nhân dân, khả năng giành thắng lợi là rất thấp. Trận đánh Hà Vy có thể nói là một trận đánh không cân sức mà ưu thể thuộc về quân địch. Trong khi chúng ta chỉ có một đại đội với hơn 100 người thì địch điều cả một tiểu đoàn cùng với sự yểm trợ của phi pháo, trực thăng. Nhưng với quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ, quân và dân ta đã đồng lòng, kiên cường chiến đấu với địch, đánh bại quân địch ngay phút đầu xâm nhập trận địa. Chúng ta đã không sợ sức mạnh của quân Mỹ, không sợ hy sinh, gian khổ, chính vì vậy chủng ta đã giành được thắng lợi lớn.

Thứ tư, dù ở bất kỳ trận đánh lớn hay nhò, công tác chuẩn bị phải kỹ càng, chu đáo, đảm bảo trong quá trình tác chiến không bị động. Ở trận đánh Hà Vy, chúng ta thấy rằng, để có được thành công trước một đối thủ mạnh về trang bị vũ khí, sức cơ động trong chiến đấu, ngoài tinh thần anh dũng, dám hy sinh còn phải chuẩn bị chu đáo. Trước khi quân Mỹ đổ bộ một ngày, quân ta đã khảo sát địa hình, chuẩn bị chiến trường, nhận định hướng tấn công chính của địch để bố trí lực lượng mai phục. Chúng ta cũng lựa chọn cách đánh phù hợp với khả năng và trình độ kỹ thuật, chiến thuật của bộ đội địa phương huyện. Trận đánh Hà Vy đã tuân thủ các nguyên tắc cơ bản, để lại cho chúng ta nhiều bài học kinh nghiệm quý báu về tổ chức và thực hành chiến đấu, đó là chù động, bất ngờ, đánh nhanh, diệt gọn.

Thứ năm, chiến thắng Hà Vy đã để lạí bài học quý giá về bảo vệ sinh mạng vả tải sản của nhân dân. Theo nguồn tin từ Huyện ủy mà trực tiếp là đồng chí Bí thư Huyện ủy Phan Thanh Thủ là địch sẽ tổ chức đi càn trên địa bàn xã Lộc Vĩnh; thêm vào đó là dấu hiệu trước khi đi càn, địch thường cho máy bay quần lượn, do thám địa hình vài ngày nên quân vả dân ta đã chuẩn bị tinh thần sẵn sàng đối đầu với địch. Lúc đó, nhân dân xã Lộc Vĩnh, những người tham gia chiến đấu vả phục vụ chiến đấu thì ở lại, người già và trẻ em được bố trí sơ tán vào khu vực an toàn. Chính vì vậy, trong trận đánh Hà Vy. lực lượng bộ đội và du kích địa phương đã bảo vệ được tính mạng và tài sàn cho nhân dân; không có người dân nào bị thương vong.

50 năm đã qua, song ý nghĩa và bài học lịch sử từ chiến thắng Hà Vy mãi là niềm tự hào của quân và dân Đại Lộc nói riêng, Quảng Nam nói chung. Chiến thắng Hà Vy đã thể hiện quyết tâm đánh Mỹ, khẳng định được sức mạnh đoàn kết của quân và dân ta trong thời kỳ chống đế quốc Mỹ. Giá trị của chiến thắng Hà Vy sẽ góp phần cổ vũ, động: viên đối với quân và dân Đại Lộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước hôm nay.


Tiêu đề: Chiến thắng Hà Vy - Ý nghĩa và bài học lịch sử
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Ba, 2020, 06:58:05 am
TỪ THẾ TRẬN CHIẾN TRANH NHÂN DÂN Ở ĐẠI LỘC TRONG
NHỮNG NĂM ĐẦU CHỐNG CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH CỤC BỘ”
CỦA ĐẾ QUỐC MỸ ĐẾN CHIẾN THẮNG HÀ VY

Hứa Văn Bảy(1)

Quy luật của chiến tranh là “mạnh được yếu thua”. Đứng vững trên quan điểm quân sự Mác- Lênin kế thừa tư tưởng đánh giặc giữ nước của dân tộc, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng quy luật chung vào điều kiện cụ thể của Việt Nam để đề xuất và tổ chức thực hiện đường lối chiến tranh nhân dân rất phong phú sáng tạo với hạt nhân cơ bản là tiến hành chiến tranh nhân dân.

Theo Đại tướng Hoàng Văn Thái “...Bất cứ cuộc chiến tranh nào mà ta tiến hành dù có hiện đại đến đâu cũng là chiến tranh nhân dân. Chiến tranh nhân dân Việt Nam có đặc trưng chủ yếu là lấy tư tưởng chiến lược tiến công làm lõi, là toàn dân đánh địch, tiến công một cách toàn diện, kết hợp chặt chẽ đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, kết hợp chặt chẽ giữa vũ trang khởi nghĩa với chiến tranh, kết hợp tiền tuyến lớn với hậu phương lớn...”

Chiến thắng Hà Vy - Lộc Vĩnh (Đại Hồng), ngày 02 tháng 4 năm 1966 trên chiến trường Khu 5 là chiến công xuất sắc của bộ đội địa phương huyện Đại Lộc, trong những năm đầu tiên quân đội Mỹ trực tiếp tham chiến ở miền Nam. Chiến thắng đó thể hiện sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân là toàn dân, toàn diện; sức mạnh của ý chí dám đánh và đánh thắng giặc Mỹ xâm lược của bộ đội địa phương, dân quân du kích và nhân dân ta.

Bước vào năm 1965, chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ đã cơ bản thất bại, Tổng thống Giôn-Xơn quyết định đưa quân viễn chinh Mỹ vào miền Nam nhằm chuyển sang chiến lược “Chiến tranh cục bộ”. Mỹ tin rằng với sức mạnh “ghê gớm” của quân lực Hoa Kỳ, chúng sẽ đánh gục quân giải phóng, bình định hoàn toàn miền Nam, trong vòng từ 2 năm đến 2 năm rưỡi. Từ tháng 3 đến tháng 5 năm 1965, Mỹ ồ ạt đổ quân vào Đà Nẵng và Quảng Nam với một đội quân chiến đấu nhà nghề và được trang bị vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại. Đến tháng 6 năm 1965, vành đai diệt Mỹ đã nới rộng ra các huyện Hòa Vang, Điện Bàn và một phần huyện Đại Lộc. Trước những khó khăn, thử thách, hy sinh cực kỳ to lớn, quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Trung ương Đảng, Tỉnh ủy, Đảng bộ huyện Đại Lộc tiến hành chỉnh huấn để giải quyết tư tưởng ngại đánh Mỹ, ngại ác liệt xây dựng tinh thần tấn công địch. Kiên trì phương châm tiến công địch bằng 3 mũi giáp công (quân sự, chính trị. binh vận). Thực tiễn chửng minh ở Đại Lộc là bên cạnh thực hiện đòn tiến công quân sự là cơ bản thì đấu tranh chính trị của quần chúng cách mạng là quan trọng để góp một phần cho thắng lợi.

Từ cuối năm 1964 đến Xuân năm 1965, nhân dân Đại Lộc thực hiện phong trào “đồng khởi” nổi dậy giải phóng nông thôn, đồng bằng. Ta đã đánh 131 trận, diệt làm bị thương và bắt sống 543 tên địch (có 23 tên Mỹ) thu 138 súng các loại, có 04 trung liên, về đấu tranh chính trị có trên 50 cuộc, thu hút hàng vạn quần chúng tham gia trực diện đến các đồn, các quận lỵ, các trụ sở hội đồng của địch đề chất vấn, đòi bồi thường nhân mạng chấm dứt bắn phá, thả bom, trả tự do những người bị bắt. Mũi đấu tranh binh vận cũng trở thành mũi tấn công sắc bén, ta đã làm tan rã 348 lính ngụy, như Dân vệ, bảo an, cộng hòa... bỏ ngũ về ta mang theo 16 súng, 35 lựu đạn, 3500 viên đạn. Dân vệ các cứ điểm được ta vận động đồng tình ủng hộ các cuộc đấu tranh chính trị 7 lần(2). Thực tế đó đã chứng minh ở Đại Lộc đấu tranh vũ trang, đấu tranh chính trị và công tác binh vận trở thành 3 mũi tán công tạo nên sức mạnh tổng hợp chiến thắng kẻ thù.

Từ khi quân Mỹ ào ạt đưa quân vào Đại Lộc, ta đã giải phóng 100 thôn với 4/5 đất đai, khoảng 80.000 dân trong số 100 thôn nói trên ta thực sự làm chủ 77 thôn, với 65.000 dân ở 6 xã vùng B (Lộc Thành, Lộc Sơn, Lộc Hòa, Lộc Quý, Lộc Phước, Lộc Tân) và 2 xã vùng A (Lộc Quang, Lộc Vĩnh), hình thành một vùng giải phóng liên hoàn với các huyện Điện Bàn, Duy Xuyên, Quế Sơn. 23 thôn còn lại có trên 13000 dân là vùng tranh chấp gồm một số thôn của Lộc Bình, Lộc Phong, Lộc Chánh, Lộc An, Lộc Mỹ. Ở đây du kích thoát ly hoạt động thường xuyên. Trên địa bàn huyện Đại Lộc còn lại 22 thôn nằm trong vùng địch kiểm soát quanh chi khu Đại Lộc và chi khu Thượng Đức. Như vậy, ta đã có đất, có dân, có được hậu thuẫn tương đối lớn, trước khi quân Mỹ vào Đại Lộc, chúng sẽ gặp một thế trận chiến tranh nhân dân. Xét về qui luật khách quan “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” đánh giặc phải có địa lợi, nhân hòa thi mới thắng lợi. Mỹ vào xâm lược nước ta nhưng nhân dân ta đoàn kết chống lại chúng quyết liệt, đó là “nhân không hòa”; “địa lợi” thì Việt Nam cách Mỹ nửa vòng trái đất địa hình hiểm trở, núi non trùng điệp, không hợp địa hình, thủy thổ là điếm bất lợi cho Mỹ. Cùng với “địa lợi, nhân hòa”, ta có Đảng lãnh đạo, chỉ đạo và xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân trên cơ sở cuộc chiến tranh chính nghĩa. Tất cả điều đó đã tạo nên sức mạnh thuận lợi để quân và dân ta đánh thắng trận, phủ đầu quân Mỹ tại Hà Vy (Lộc Vĩnh).


(1) Huyện ủy viên, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Huyện ủy Đại Lộc.
(2) Tình hình Đại Lộc sau phòng trào đồng khởi (1964). Bản đánh máy lưu tại Ban tuyên giáo huyện ủy Đại Lộc.


Tiêu đề: Chiến thắng Hà Vy - Ý nghĩa và bài học lịch sử
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Ba, 2020, 06:58:46 am
Quân đội Mỹ vào Đà Nẵng, Hòa Vang trở thành tuyến đầu đánh Mỹ, đã hình thành “Vành đai diệt Mỹ”. Ở huyện Đại Lộc vào thời điểm này ta tích cực xây dựng vùng giải phóng, cử từng đội du kích ra Hòa Vang học tập kinh nghiệm đánh Mỹ. Huyện phát động phong trào du kích chiến tranh, triển khai phong trào thi đua “Tìm Mỹ mà đánh, tìm Ngụy mà diệt”, phấn đấu trở thành dũng sỹ diệt Mỹ, dũng sĩ diệt Ngụy. Ở các xã vùng giải phóng ta đã thành lập chi bộ Đảng, ủy ban nhân dân tự quản xã, Ban tự quản, thôn, mặt trận, đoàn thể và lực lượng quần chúng, lực lượng vũ trang đánh địch. Có thể nói, khi quân Mỹ vào miền Nam thì tâm lý chung của quân và dân ta đều “gờm Mỹ”, “sợ Mỹ”. Ở Đại Lộc hầu như tuần nào, tháng nào địch cũng tiến hành càn quét vào vùng giải phóng, mỗi trận ít nhất có từ 01 đến 02 đại đội, nhiều nhất là từ 01 đến 02 tiểu đoàn. Đầu năm 1966, Mỹ mở cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966, tập trung hướng chủ yếu là Khu 5 và miền Đông Nam Bộ, trọng điểm là Khu 5. Ở tỉnh ta, mở đầu chiến dịch mùa khô lần thứ nhất, quân Mỹ đánh vào vùng giải phóng Gò Nổi (Điện Bàn) và vùng B (Đại Lộc). Chúng cho đây là hai địa bàn đứng chân quan trọng của lực lượng ta. Trong trận càn đầu tiên ở vùng B (Đại Lộc), nhân dân và cán bộ đã được chuẩn bị tư tưởng trước nhưng vẫn còn hiện tượng gờm Mỹ, quần chúng không dám trụ lại hợp pháp đấu tranh bảo vệ nhà cửa, tài sản của mình, chống địch phá hoại. Tình hình này đã làm cho phong trào du kích mất chỗ dựa để chống địch càn quét, bào vệ vùng giải phóng. Do đó, tháng 2 năm 1966, Tỉnh ủy chỉ đạo kiên quyết chống địch càn quét lấn chiếm và binh định mở rộng vùng giải phóng, phải kết hợp chặt chẽ 3 mũi giáp công trong chống địch, kiên định hơn nữa mũi đấu tranh chính trị, Tỉnh ủy chủ trương động viên “Ba bám” (Cán bộ bám dân, dân bám đất, du kích bám địch), tổ chức nhân dân ăn thề bám đất.

Khi lực lượng quân Mỹ vào miền Nam, lực lượng quân sự và lực lượng chính trị quần chúng được Đảng lãnh đạo, đề ra biện pháp, kế hoạch cụ thể. Hai mũi đấu tranh này đã thực hiện hiệu quả. Mũi đấu tranh quân sự tại nhiều địa bàn Mỹ chiếm đóng, ta đã đẩy mạnh cao trào đánh Mỹ, tìm cách đánh Mỹ, tổ chức lực lượng phủ đầu Mỹ. Tin chiến thắng từ các nơi dội về, nhất là chiến thắng Núi Thành (ngày 26 tháng 5 năm 1965) ta đã diệt gọn một đại đội Mỹ, góp phần cổ vũ tinh thần chiến đấu quân dân Đại Lộc. Trong thòi gian này, ở Đại Lộc cũng diễn ra một số trận đánh Mỹ, thu được kết quả bước đầu khích lệ. Ngày 26 tháng 6 năm 1965, bộ đội địa phương huyện và du kích xã Lộc Chánh đã tiến công tiêu diệt và làm bị thương trung đội thám báo Mỹ tại thôn Phú Bắc (Lộc Chánh), thu 1 khấu súng Garan M2. Ngày 05 tháng 01 năm 1966. tại Bàu Mưng, thôn Lâm Tây (xã Lộc Quang), đại đội 1 do đồng chí Lê Văn Thanh - Đại đội trưởng, Nguyễn Mới - Đại đội phó, Trần Văn Anh - Chính trị viên trực tiếp chỉ huy, chủ động phối hợp và du kích xã Lộc Quang phục kích đón đánh 02 tiểu đoàn Mỹ hành quân có máy bay và xe tăng yểm trợ, ta đã diệt gọn một trung đội và đánh thiệt hại nhiều trung đội khác, thu 01 súng đại liên cực nhanh, 10 súng Garan M2, 4 súng M79... Đây là trận đối mặt trực diện của bộ đội địa phương (Đại đội 1 huyện Đại Lộc) với 02 tiểu đoàn Mỹ với vũ khí trang bị hiện đại được máy bay, phi pháo yểm trợ, có ý nghĩa cực kì quan trọng trong công tác tổ chức đánh Mỹ ở Hà Vy ngày 02 tháng 4 năm 1966.

Những thắng lợi này thể hiện vai trò to lớn của đấu tranh chính trị kết hợp nhuần nhuyễn với tiến công quân sự. Trong các xã vùng giải phóng, ta đã xây dựng được 52 tổ công tác đấu tranh chính trị, tiến hành hàng chục cuộc đấu tranh như, nhân dân xã Lộc Phước (Đại Cường) chặn xe M113, M118 không cho chúng tràn vào thôn Thanh Vân, Quảng Đại phá nát hoa màu và bảo vệ hầm bí mật của các đội du kích buộc xe phải chạy theo hướng đồng bào hướng dẫn. Nhân dân xã Lộc Chánh (Đại Hiệp) đấu tranh đòi bọn Mỹ ở Gò Cao không được bắn phá xuống thôn Đông Hải, buộc tên tỉnh trưởng Quảng Nam đến giải quyết. Nhân dân 3 xã Lộc Thành (Đại Chánh), Lộc Sơn (Đại Thạnh), Lộc Quý (Đại Thắng) kéo sang quận Đức Dục đấu tranh đòi địch chấm dứt bắn phá bừa bãi. Ban đầu địch đàn áp nhưng về sau trước lý lẽ đấu tranh cương quyết của đồng bào, chúng phải nhượng bộ. Chính đấu tranh chính trị đã làm cho quân Mỹ thấy rằng không chỉ tác chiến với lực lượng quân sự mà còn phải đối mặt với cuộc kháng chiến chính nghĩa, yêu nước của nhân dân Việt Nam, trong khi tinh thần chiến đấu của quân Mỹ - ngụy ngày càng suy sụp, không có dân để dựa, ra ngoài căn cứ thường bị đấu tranh chính trị bao vây, uy hiếp buộc phải quay về bám cứ. Đây là điều kiện thắng lợi cho lực lượng vũ trang tiêu diệt địch, rõ ràng mũi đấu tranh chính trị hỗ trợ đắc lực cho đấu tranh vũ trang. Song song với mũi tiến công chính trị, đấu tranh binh vận cũng góp phần quan trọng, khi Mỹ vào ta đã tổ chức lực lượng đấu tranh binh vận. Ban binh vận các cấp được kiện toàn, tổ chức học tiếng Anh đấu tranh với Mỹ, bồi dường cán bộ nòng cốt bán điểm, xây dựng cơ sở trong hàng ngũ địch, hoạt động ớ các đồn bót Mỹ - ngụy, tập trung tuyên truyền lôi kéo Mỹ - ngụy từ bỏ dã tâm xâm lược, đã làm cho tinh thần binh lính Mỹ - ngụy hoang mang dao động. “Một tấc không đi, một ly không rời” đó là quyết tâm sắt đá của nhân dân bám trụ ở vùng giải phóng hướng về cách mạng để giải phóng quê nhà. Do vậy, cùng với thực hiện 3 mũi giáp công, thực hiện du kích chiến tranh chống địch càn quét lấn chiếm, từ đầu năm 1965 trở đi phong trào làng chiến đấu phát triển mạnh mẽ, đồng bào ta khắp nơi đều thi đua rất tích cực làm cả ngày lần đêm. Có những cụ già cặm cụi vót chông, những đội thiếu nhi xung phong đào hầm kiểu mẫu. Các làng chiến đấu có rào vi thôn xóm, chia ô dọc ngang, cải biến địa hình, làm chướng ngại vật, đánh chông hầm, chông bàn, chông tre, chông sắt. Đường xe hơi bị cắt nhiều đoạn, có hầm ngăn xe M113, các vùng ven sông có bãi chông dày, có nhiều lớp rào tương đối kỹ. Các bãi cát, ngọn đồi rải rác có cọc chống máy bay trực thăng. Hầm kéo chống phi pháo của nhân dân nhà nào cũng có, rải rác đã có hầm sâu 2 ngách, có nắp đậy và thang lên xuống. Công sự chiến đấu, công sự mật cho du kích, cán bộ đã phát triển nhiều. Giao thông hào đã phát triển đều khắp, nhiều nơi đã thực hiện thôn giáp thôn, với nhiều hình thức ngụy trang chạy vòng quanh xã. Đến cuối tháng 6 năm 1965, giao thông hào toàn huyện đã lên đến 43.655 m (tính ra chiều dài tương đương từ An Điềm đến Vĩnh Điện). Đặc biệt một công trình rất qui mô ở 2 xã Lộc Quý và Lộc Quang là đào địa đạo thông từ xóm này qua xóm khác sâu dưới lòng đất 3m, rộng 8 tấc, các thôn Phú An, Phú Xuân, xã Lộc Quý đào địa đạo được 262m, được Đặc khu Quảng Đà chọn làm nơi đóng cơ quan. Cã 2 xã đào được 4.577m địa đạo, tốn 9.594 công lao dộng, dây là sự cố gắng lớn chưa từng có trong phong trào đấu tranh cách mạng huyện nhà.


Tiêu đề: Chiến thắng Hà Vy - Ý nghĩa và bài học lịch sử
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Ba, 2020, 06:59:10 am
Chiến công oanh liệt của chiến thắng Hà Vy là minh chứng rất rõ ràng cho dường lối chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện của Đảng, được vận dụng sáng tạo vào xã Lộc Vĩnh (Đại Hồng) góp phần làm nên chiến công oanh liệt này. Không phải ngẫu nhiên từ khi Ban Thường vụ Huyện ủy Đại Lộc nhận được nguồn tin địch sẽ đi càn bằng bộ binh lên Đại Lộc (ngày 28 tháng 3 năm 1966) đến khi diễn ra và kết thúc trận đánh (ngày 02 tháng 4 năm 1966), chỉ có 04 ngày, ta trong thế bị động, triển khai lực lượng chiến đấu trong lực lượng vũ trang huyện và du kích xã ở tình trạng cấp tốc.

Đẻ chặn đánh lực lượng đối phương có số quân đông, có trang bị vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại trong tương quan lực lượng chênh lệch khá lớn về quân số và trang bị vũ khí từ bị động ta lại chuyển sang thế chủ động hoàn toàn. Đó là kết quả của công tác chính trị tư tưởng, phát động lòng dân, căm thù giặc Mỹ xâm lược, xây dựng quyết tâm đánh Mỹ, thắng Mỹ của Đảng bộ huyện Đại Lộc cho nhân dân, cán bộ chiến sĩ xã Lộc Vĩnh trong những năm trước đó. Do đó, khi chiến sự xảy ra thì cấp ủy chi bộ, chính quyền đến Mặt trận, đoàn thể, du kích xã đã vào cuộc theo chức năng nhiệm vụ đã được phân công để thực hiện ba bám: cán bộ bám dân, dân bám đất, lực lượng vũ trang bám địch và phát huy tối đa hiệu quả của làng chiến đấu, giao thông hào, công sự chiến đấu, hầm kéo chống phi pháo của địch. Cho nên tổn thất về người và của của ta trong trận chiến đấu này không đáng kế. Đối với lực lượng vũ trang, vấn đề đặt ra lúc này đối với lãnh đạo chỉ huy của ta là làm thế nào để hạn chế được sức mạnh của quân Mỹ trong khi vũ khí trang bị của ta còn hạn chế, dùng vũ khí thu được của Mỹ trong trận Bàu Mưng trước đó để thực hiện được chiến thuật “gậy ông đập lưng ông”. Dựa vào lợi thế của giao thông hào và làng chiến đấu, chờ địch đến gần nhất nổ súng, bộ đội và du kích đã chặn đánh một cách quyết liệt tiêu diệt trung đội Mỹ đi đầu giáng trận phủ đầu vào quân đội Mỹ ở thôn 2-3 và chính khẩu đại liên cực nhanh của Mỹ ta thu được ở chiến thắng Bàu Mưng đã tiêu diệt tốp lính Mỹ đi đầu trong loạt đạn đầu tiên của xạ thủ đại liên Đại đội 1. Bị bất ngờ, địch phải tháo chạy ra ngoài bờ sông, dùng phi pháo bắn tới tấp vào làng và đổ quân ứng cứu, nhưng ta đã dựa vào lợi thế của giao thông hào, công sự chiến đấu và đã phân tán địa hình của địch để chủ động đối phó, kết họp chặt chẽ giữa bộ đội, du kích và nhân dân đánh địch khắp nơi không cho chúng củng cố địa hình buộc địch phải ứng chiến theo ý định của ta. Trận đánh diễn ra ác liệt trong suốt ngày 02 tháng 4 năm 1966, ta đẩy lùi địch tấn công càn quét của địch buộc chúng dùng trực thăng rút toàn quân bại trận về căn cứ.

Kết quả ta diệt gọn một đại đội Mỹ, đánh thiệt hại nặng 02 đại đội Mỹ khác, loại khỏi vòng chiến đấu 160 tên Mỹ, thu 28 súng trong đó có 01 đại liên, bắn rơi và phá hỏng 02 máy bay trực thăng.

Chiến công của Đại đội 1 bộ đội địa phương huyện Đại Lộc được Tỉnh ủy - Ban chỉ huy tỉnh đội Quảng Đà biểu dương và chọn báo cáo điển hình tại Đại hội Chiến sĩ thi đua toàn Khu 5 (lần thứ 2) vào tháng 12 năm 1966 và Bộ Tư lệnh Khu 5 phát động học tập trong toàn Khu.

Chiến thắng Hà Vy (Lộc Vĩnh) ngày 02 tháng 4 năm 1966 là trận đánh đầu tiên của một Đại đội bộ đội địa phương huyện Đại Lộc và du kích xã Lộc Vĩnh đã chiến đấu với một tiểu đoàn Mỹ có phi pháo yểm trợ giữa ban ngày và thu nhiều súng nhất trong các trận chống càn trên chiến trường Khu 5, không những đó là tinh thần quả cảm vô song của cán bộ, chiến sĩ trực tiếp chiến đấu với một đơn vị Mỹ, mà còn là sức mạnh vô địch của đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc mang lại cho Đảng bộ và nhân dân huyện Đại Lộc những bài học bổ ích về đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Tiêu đề: Chiến thắng Hà Vy - Ý nghĩa và bài học lịch sử
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Ba, 2020, 07:02:56 am
ĐẠI ĐỘI 1 BỘ ĐỘI ĐỊA PHƯƠNG HUYỆN VỚI CHIẾN THẮNG HÀ VY

Ban Chỉ huy Quân sự huyện Đại Lộc

Thực hiện sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “Thành lập bộ đội địa phương” ngày 19 tháng 8 năm 1949, tại sân vận động thôn 14, xã Đại Lãnh, Đại đội bộ đội địa phương đầu tiên của huyện được ra đời trên cơ sở trung đội Đề Thám lực lượng tự vệ chiến đấu thoát ly tập trung của huyện được thành lập từ tháng 01 năm 1946. Đại đội lấy tên Đại đội Đặng Khiết, sau là Đại đội 9.

Khi mới thành lập Đại đội 9 có 140 cán bộ, chiến sĩ được tỏ chức thành đại đội bộ, 3 trung đội, bộ phận văn thư, tiểu đội trinh sát liên lạc, tiểu đội công binh, quản lý và nuôi quân. Đại đội Đặng Khiết là 01 trong 05 đại đội bộ đội địa phương cấp huyện ở Quảng Nam có đại đội bộ và đủ 3 trung đội.

Do yêu cầu nhiệm vụ, tháng 5 năm 1950, tình rút một bộ phận Đại đội 9. Huyện ủy và Ủy ban Khảng chiến Hành chính huyện, Ban chỉ huy Huyện đội dân quân tiến hành xây dựng lại bộ đội địa phương. Ngày 20 tháng 6 năm 1950, tại xã Đại Phong, đại đội bộ đội địa phương mới của huyện, mang phiên hiệu Đại đội 1 được thành lập (Đại đội 83 – Đại đội 89) trên cơ sở tổ chức của Đại đội 9 và được tỉnh tăng cường một số cán bộ, chiến sĩ.

Đến ngày 20 tháng 6 năm 1950, đại đội có chi bộ Đảng lãnh đạo và đầy đủ các tổ chức; sau Hiệp định Giơnevơ một bộ phận cán bộ. chiến sĩ đi tập kết, bộ phận chuyển qua các nhiệm vụ khác. Khi có Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đang xác định nhiệm vụ và phương hướng của cách mạng miền Nam là “dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân”, được sự chỉ đạo của cấp trên, Đại đội được tái thành lập vào tháng 8 năm 1962. Tên Đại đội 1 bộ đội địa phương dù có thay đổi tên gọi nhưng vẫn giữ được cơ cấu tổ chức cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.

Nhiệm vụ của đơn vị là học tập, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, góp phần đánh bại các kế hoạch bình định, dồn dân, lập tề của địch; phá địch bao vây, càn quét, cướp phá tài sản của nhân dân: đồng thời tham gia hỗ trợ phong trào đấu tranh của nhân dân vùng bị địch tạm chiếm, bảo vệ vùng tự do của ta và khi có điều kiện thì phối hợp cùng bộ đội chủ lực trong các chiến dịch. Ngoài ra, lực lượng này còn là nguồn bổ sung cho các đơn vị của trên và đơn vị bạn.

Qua gần 30 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành Đại đội đã tổ chức chiến đấu, phối hợp chiến đấu, chiến đấu trong đội hình của trên hàng trăm trận; tiêu diệt và loại khỏi vòng chiến đấu hàng nghìn tên Pháp Mỹ, ngụy, tề, điệp; thu, phá hủy hàng nghìn phương tiện quân sự của địch, diệt gọn gần 2 đại đội Mỹ, thiệt hại 5 đại đội.

Trong kháng chiến chống Pháp, Đại đội đã phối hợp với lực lượng dân quân các xã tiến hành bao vây, quấy rối các cứ điểm Hoán Mỹ, Giao Thủy, Núi Lở, tiêu diệt một số hương vệ và tề, thu được nhiều tài liệu quan trọng. Có lúc, chỉ trong một đêm, ta huy động đồng bào nhổ sạch các hàng rào do địch rào chung quanh các thôn vùng trên xã Đại Hòa. Tại xã Đại Hiệp, ta vận động được 02 lính địch mang 02 súng về với cách mạng; phối hợp với bộ đội chủ lực đánh cứ điểm Bà Du, diệt 50 tên, thu 15 súng; phục kích địch trên đường Bình Yên đi Giao Thủy, diệt 2 tiểu đội Âu - Phi, bắt sống 04 tên, thu 08 súng; tham gia chống cuộc càn quét của quân Âu - Phi từ các đồn Giao Thủy, Kiểm Lâm ra vùng Hoán Mỹ...

Trong kháng chiến chống Mỹ; Đại đội đánh nhiều trận như: Trận Phú Bắc ngày 20 tháng 6 năm 1965; Trận Bầu Mưng ngày 05 tháng 01 và ngày 20 tháng 6 năm 1966; Trận Hà Vy ngày 2 tháng 4 năm 1966; Trận cầu Ông Nở tháng 11 năm 1967..., dù diễn ra ở không gian, thời gian khác nhau, đặc điểm tính chất của từng trận đánh cũng không giống nhau, nhưng Đại đội 1 địa phương huyện đã quán triệt được tinh thần cách mạng tiến công, nghệ thuật quân sự của Đảng, thể hiện được tinh thần quả cảm, đoàn kết, sáng tạo, biết phát huy lợi thế của chiến tranh nhân dân, vận dụng đánh gần, tiến công liên tục, tạo được sức mạnh tổng hợp để chiến đấu và chiến thắng kẻ thù, thể hiện rõ được vai trò, sức mạnh của đội quân tập trung duy nhất, được huấn luyện khá chu đáo của lực lượng vũ trang nhân dân huyện nhà.


Tiêu đề: Chiến thắng Hà Vy - Ý nghĩa và bài học lịch sử
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Ba, 2020, 07:03:26 am
Về trận Hà Vy, ngày 02 tháng 4 năm 1966, diễn biến trận đánh như các đại biểu dự hội thảo đã nghe và xem trên chiến lệ. Trong khuôn khổ hội thảo hôm nay, tôi chỉ xin làm rõ thêm vai trò lãnh đạo của chi bộ, các tổ đảng, Ban chỉ huy đại đội, các trung đội, tiểu đội, các bộ phận làm công tác bào đảm và đội ngũ cán bộ, đảng viên, chiến sĩ của đại đội 1 trong trận chiến đấu ngày hôm ấy.

Chiều ngày 30 tháng 3 năm 1966, Huyện ủy giao nhiệm vụ cho Huyện đội tổ chức lực lượng chiến đấu chống địch càn vào địa bàn huyện, mà trực tiếp là xã Lộc Tân (Đại Phong). Ngay trong đêm 30 tháng 3, Ban chỉ huy huyện đội giao nhiệm vụ cho Đại đội 1, sau khi nhận lệnh, đồng chí Lê Văn Thanh - Đại đội trưởng; đồng chí Trần Văn Anh - Chinh trị viên; đồng chí Nguyễn Mới - Đại đội phó chỉ huy đại đội đã cấp tốc lên đường từ Lộc Tân (Đại Phong) lên Lộc Vĩnh (Đại Hồng) đẻ chuẩn bị địa bàn chiến đấu. Sáng ngày 01 tháng 4 năm 1966, Ban chỉ huy đại đội tổ chức họp khẩn cấp với lãnh đạo xã Lộc Vĩnh để phối hợp tác chiến với dân quân du kích xã.

Về lực lượng của ta: đại đội quân số khoảng 120 đồng chí. Vũ khi ta có 02 khẩu cối 60; 01 khẩu đại liên cực nhanh thu được của Mỹ và vũ khí cá nhân do đại đội thu được của Mỹ từ các trận đánh trước đó.

Về địch: 01 tiểu đoàn thủy quân lục chiến, được máy bay, phi pháo yểm trợ; đây là lực lượng tinh nhuệ của quân đội Mỹ. Với mục đích “Tìm diệt và bình định” đánh phủ đầu lực lượng ta, tạo bàn đạp tiến công lên các huyện phía tây của tỉnh ta.

Trước tình hình đó, thời gian làm công tác chuẩn bị không có nhiều, tuy nhiên với kinh nghiệm chiến đấu được đúc rút từ trước đó, chi ủy, chi bộ nhanh chóng tổ chức họp quán triệt nhiệm vụ, xác định những công việc cần làm trước mắt, phân công cán bộ phụ trách từng phần việc, từng lực lượng, quá trình thực hiện nhiệm vụ là quá trình bổ sung, điều chỉnh nhiệm vụ cho phù hợp với thực tế chiến đấu.

Khi đã xác định được địch đổ quân tại thôn Hà Vy, quá trình đi càn địch sẽ phát triển sang thôn 2-3, nhằm tìm diệt lực lượng cách mạng bám trụ của ta. Ban chỉ huy đại đội nghiên cứu địa hình, chọn nơi có lợi thế để bố trí quân phục kích sẵn chờ địch đến gần sẽ nổ súng tiêu diệt. Tuy thời gian để làm công tác chuẩn bị không nhiều, nhưng nhờ tận dụng được giao thông hào mà địch đào để lập ấp chiến lược, nên việc củng cố công sự, hầm hào được tiến hành nhanh chóng, ngoài tận dụng bờ tre, ụ đất, Ban chỉ huy đại đội cho chiến sĩ đào thêm đảm bảo giao thông hào sâu hơn 1m, dưới giao thông hào mỗi người đều khoét hầm ếch để ẩn nấp khi địch dùng phi pháo hoặc ném bom. Sau khi nghiên cứu địa hình thôn Hà Vy, thôn 2-3, đồng chí đại đội trưởng nhanh chóng cho lên sơ đồ bố trí phòng ngự để tiện cho việc giao nhiệm vụ cho các trung đội và phối hợp hiệp đồng với du kích xã, theo đó xác định tổ chức lực lượng thành 4 bộ phận: bộ phận đảm nhiệm trên hướng chủ yếu, hướng thứ yếu, bộ phận dự bị và bộ phận làm công tác bảo đảm.

Trên cơ sở giao thông hào đã được củng cố, các bộ phận nhanh chóng vào vị trí chiến đấu. Trung đội 1 đảm nhiệm trên hướng chủ yếu; Trung đội 2 đàm nhiệm hướng thứ yếu, trung đội 3 làm lực lượng dự bị đứng chân ở thôn 6. Vị trí chỉ huy đại đội ở giữa thôn 6. Các thôn khác do lực lượng du kích địa phương đảm nhiệm.

Để đảm bảo chiến sĩ nắm chắc nhiệm vụ, từng trung đội không những giao nhiệm vụ cụ thể cho từng người mà còn chỉ rõ vị trí phục kích, đường hướng cơ dộng, phạm vi quan sát, hiệp đồng tác chiến với đơn vị bạn và địa phương, cán bộ trung đội thường xuyên sâu sát kiểm tra các tiểu đội, từng chiến sĩ củng cố công sự, giao thông hào, động viên đồng chí khỏe hỗ trợ giúp đỡ đồng chí yếu. Phân công nhiệm vụ hợp lý là cơ sở để phát huy được sở trường của từng người: 02 khẩu cối 60, Ban chỉ huy đại đội giao cho đồng chí Huê (Lộc Vĩnh) và đồng chí Tin (Lộc Bình), là những người được học tập chu đáo hơn, nhận thức nhanh hơn sử dụng; khẩu đại liên cực nhanh giao cho đồng chí Bùi Bích đảm nhiệm, các đồng chí được giao hỏa lực mạnh đã hoàn thành tốt nhiệm vụ bắn chế áp vào đội hình, chia cắt, tiêu diệt địch, làm cho chúng hoang mang, tạo điều kiện cho đơn vị đẩy lùi các đợt càn quét vào làng của địch.


Tiêu đề: Chiến thắng Hà Vy - Ý nghĩa và bài học lịch sử
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Ba, 2020, 07:04:14 am
Để giáo dục, động viên cán bộ, chiến sĩ, Ban công tác chính trị đã phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của mình, không chỉ tham mưu cho chi bộ, Ban chỉ huy đại đội họp quán triệt, giao nhiệm vụ tập trung mà còn cử cán bộ xuống tận giao thông hào để nhắc nhờ, động viên bộ đội, kịp thời chấn chỉnh hiện tượng nhận thức lệch lạc, thiếu ý chí quyết tâm, ngại khó khăn gian khổ, sợ hy sinh ở một số cán bộ, chiến sĩ. Bên cạnh đó, Ban công tác chính trị còn tham mưu phát động đợt thi đua dành danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”, từ đó đã động viên, khích lệ được tinh thần chiến đấu của bộ đội. Nhờ làm tốt công tác chính trị nên tuyệt đại đa số cán bộ, chiến sĩ có nhận thức đúng đắn về cuộc chiến đấu chính nghĩa của quân và dân ta, luôn nêu cao tính thần cảnh giác, không lơ là chủ quan trong công tác chuẩn bị, thực hành tác chiến với hiệu suất chiến đấu cao và rút quân bảo đảm bí mật, an toàn (trong trận này đại đội chỉ hi sính 01 đồng chí), Cùng với công tác chính trị - tư tưởng, việc ăn nghỉ, chăm sóc sức khỏe cho bộ đội rất được quan tâm, Bộ phận phục vụ một mặt đảm bảo đủ chế độ, tiêu chuẩn trên cấp phát cho từng người, mặt khác còn tích cực khai thác nguồn thực phẩm tại chỗ vả vận động nhân dân đóng góp lương thực thực phẩm để cải thiện, náng cao dời sống, bảo đảm sức khỏe cho bộ đội. Nhân dân rất tự hào vì họ đã được góp phần chăm lo, bảo đảm ăn uống cho những đứa con yêu quý của họ, tinh thẩn đoàn kết quân dân cả nước vốn đã sâu sắc, trong chiến đấu càng thể hiện rõ nét và được củng cố vững chắc hơn, bộ đội đại đội 1 của huyện đã thực hiện được khẩu hiệu “đi dân nhớ, ở dân thương”, đó cũng là nguồn động lực quan trọng để mỗi cán bộ, chiến sĩ yên tâm giết giặc ngoài trận địa, góp phần tô thắm thêm truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”.

Quan điểm nhất quán của Đảng ta là xây dựng quân đội phải lấy chính trị làm cơ sở, “Người trước, súng sau”, con người là yếu lố quyết định đề giành thắng lợi trên chiến trường, con người bên cạnh tinh thần kiên định, tin tưởng vào cuộc chiến đấu chính nghĩa của dân tộc ta, gan dạ dũng cảm, còn phải thông minh, sáng tạo trong vận dụng cách đánh phù hợp, không máy móc cứng nhắc. Điều này Ban chỉ huy đại đội 1 lúc bấy giờ đã thực hiện tốt, dù chưa được đào tạo bài bản, kinh nghiệm chưa nhiều, song cấp ủy, chỉ huy đã phát huy tốt chiến thuật phòng ngự chủ động, phòng ngự để tiến công chứ không bị động, kiên trì mai phục, đánh gần theo đúng tư tưởng chỉ đạo “bám thắt lung địch” mà đánh. Trong khi địch có ưu thế về quân số, vũ khí trang bị, hỏa lực mạnh, có cả không quân đánh phá thì ta lại đánh vào chỗ yếu nhất của địch là chiến tranh phi nghĩa, đánh vào tâm lý sợ chết của chúng, ban đầu chỉ cần dùng cối 60 chế áp, đại liên cực nhanh chia cắt, khi chúng tràn vào làng toán đi đầu bị ta tiêu diệt ngay lập tức làm cho tâm lý của chúng vốn đã bất an càng thêm hoang mang, không dám tấn công nữa.

Khi chúng gọi máy bay ném bom vào trận địa, chỉ huy đại đội cho bộ đội ẩn nấp trong công sự đã chuẩn bị sẵn nên ta không thương vong gì, địch hết ném bom bộ đội đã nhanh chóng ra củng cố công sự trận địa tiếp tục chiến đấu, về điều này ta đã đánh đúng vào tâm lý chủ quan, khinh địch của chúng, chúng chủ quan vì tin vào sức mạnh của không quân khi ném bom đã tiêu diệt được ta, chúng chỉ việc vào thu dọn chiến trường nên hùng hổ dàn hàng ngang tiến vào làng; chỉ huy đại đội một mặt cho hỏa lực chế áp, bắn thẳng để tiêu diệt những tên vào trước, mặt khác cho bộ đội cơ động liên tục hình thành thế bao vây làm cho chúng  thấy ở đâu cũng có ta, lúng túng bị động đối phó, vừa đánh gần vừa quần lộn trong thời gian khá dài làm cho chúng mệt mỏi, còn ta có điều kiện tiêu diệt từng bộ phận tiến tới tiêu diệt gần gọn 01 đại đội Mỹ, đánh thiệt hại nặng 02 đại đội Mỹ khác, loại khỏi vòng chiến đấu 160 tên Mỹ, thu 28 súng trong đó có 01 đại liên, bắn rơi và phá hỏng 02 máy bay trực thăng, đẩy lùi được đợt tiến công càn quét của tiểu đoàn thủy quân lục chiến Mỹ, buộc chúng dùng trực thăng rút những tàn quân bại trận về căn cứ.

Đánh nhanh, rút nhanh cũng là nét đặc trưng trong tác chiến của đại đội, vì theo quy luật, sau khi thất bại địch thường tăng cường lực lượng chi viện hoặc dùng không quân ném bom lấy lại trận địa. Vì vậy sau khi hoàn thành nhiệm vụ, Ban chỉ huy đại đội đã nhanh chóng rút quân về nơi an toàn để rút kinh nghiệm, bình xét thi đua, giải quyết thương binh, liệt sĩ; tiếp tục huấn luyện và sẵn sàng nhận nhiệm vụ tiếp theo.

Ngày 02 tháng 4 năm 1966, Đại đội 1 bộ đội địa phương huyện Đại Lộc trở thành đại đội địa phương cấp huyện đầu tiên ở miền Nam đã tiêu diệt gọn 1 đại đội Mỹ, đánh thiệt hại 2 đại đội khác; cùng với chiến thắng Núi Thành, Quảng Nam vinh dự được tặng 8 chữ vàng “Trung dũng, kiên cường, đi đầu diệt Mỹ” (đồng chí Lê Văn Thanh đại đội trưởng; đồng chí Nguyễn Năm - Đại đội phó chỉ huy trận đánh được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân). Được tham gia và góp phần quan trọng cùng với du kích và nhân dân xã Đại Hồng đánh địch tại Hà Vy và thôn 2-3 là trách nhiệm và vinh dự to lớn của cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1, góp phần tô thắm thêm truyền thống của Lực lượng vũ trang huyện, để lại cho thế hệ hôm nay nhiều kinh nghiệm quý báu. Phát huy truyền thống Anh hùng, cán bộ, chiến sĩ Lực lượng vũ trang huyện sẽ tiếp tục nghiên cứu, vận dụng kinh nghiệm của các thế hệ đi trước, tích cực tham mưu cho Huyện ủy, Ủy ban nhân dân xây dụng huyện thành khu vực phòng thủ vững chắc, nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng xử lý thắng lợi mọi tình huống, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện.


Tiêu đề: Chiến thắng Hà Vy - Ý nghĩa và bài học lịch sử
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Ba, 2020, 07:43:20 am
CHIẾN THẮNG HÀ VY THỂ HIỆN
TINH THẦN CHỦ ĐỘNG, SÁNG TẠO, QUYẾT TÂM ĐÁNH MỸ
VÀ THẮNG MỸ CỦA QUÂN VÀ DÂN XÃ LỘC VĨNH

Lê Năng Đông(1)

Những thất bại liên tiếp trên chiến trường miền Nam trong năm 1965 buộc Mỹ phải thay đổi kế hoạch. Cuối năm 1965, Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại Việt Nam vạch kế hoạch phản công chiến lược mùa khô 1965 -1966 (cuộc phản công mùa khô lần thứ nhất), với mục tiêu tìm diệt và bình định nhằm giành lại thế chủ động trên chiến trường, củng cố vùng chúng chiếm đóng, khai thông các tuyến giao thông, ngăn chận sự sụp đổ của ngụy quyền tại miền Nam Việt Nam. Tại Quảng Đà, quân Mỹ từng bước mở rộng vùng chiếm đóng ra Điện Bàn, Duy Xuyên, Đại Lộc.

Mở đầu chiến dịch Mùa khô lần thứ nhất, địch chọn hai vùng giải phóng vững chắc nhất của ta là Gò Nổi (Điện Bàn) và vùng B Đại Lộc để tấn công đầu tiên, vì chúng cho đây là địa bàn đứng chân quan trọng của lực lượng ta. Sau gần một tháng đưa quân vào vùng B Đại Lộc từ ngày 28 tháng 01 đến ngày 25 tháng 02 năm 1966, quân địch đã phải nếm mùi thất bại, buộc phải rút khỏi nơi đây. Nhưng với âm mưu “Tìm diệt và bình định”, địch liên tiếp tổ chức nhiều cuộc càn quét ở Đại Lộc. Chỉ trong 3 tháng đầu năm 1966, quân Mỹ một mặt càn quét, một mặt nống ra đóng chốt điểm tăng thêm quân ngụy ở 3 khu vực Ái Nghĩa, Núi Lờ và Thượng Đức. Trong các cuộc càn quét, chúng đi đến đâu thì đốt nhà, cướp của, bắn bừa, giết ẩu, chúng phá giao thông hào, làng chiến đấu...

Quán triệt tinh thần chỉ đạo của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Đà: “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, “Toàn dân đánh Mỹ”, “Toàn tỉnh là một vành đai”, thực hiện khẩu hiệu 3 bám: “Đảng bám dân, dân bám đất, du kích bám địch”, Ban Thường vụ Huyện ủy Đại Lộc động viên cán bộ, đảng viên và nhân dân huyện nhà thực hiện phong trào 3 bám, đồng thời chỉ đạo cho lực lượng vũ trang huyện và đội du kích các xã tổ chức chặn đánh các cuộc càn quét của địch. Trận đánh trên cánh đồng Hà Vy ngày 02 tháng 4 năm 1966 đã thể hiện “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” của quân và dân xã Lộc Vĩnh (Đại Hồng).

Sau thất bại trong lần đưa quân vào vùng B Đại Lộc, với âm mưu “tìm diệt và bình định”, địch liên tiếp tổ chức nhiều cuộc càn quét ở Đại Lộc. Lần này chúng chọn xã Lộc Vĩnh là địa điểm đổ quân cho đợt càn mới. Để dọn đường đố quân càn quét ngay sáng sớm ngày 02 tháng 4 năm 1966, địch cho máy bay ném bom dữ dội dọc từ bờ sông Vu Gia dến làng Hà Vy và dọc rìa làng Ngọc Kinh, xã Lộc Vĩnh (nay là xã Đại Hồng, huyện Đại Lộc), sau đó là hàng chục máy bay trực thăng, có máy bay HU1A yểm trợ, đổ quân Mỹ xuống cánh đồng Hà Vy, một toán máy bay khác đổ thêm một đại đội ở sát bờ sông Vu Gia để tấn công vào làng. Dưới sự chỉ huy tài tình, sáng tạo của đồng chí Lê Văn Thanh, ta dựa vào thế của giao thông hào, công sự và rào vi chiến đấu và linh hoạt phân tán đội hình quần lộn với địch đánh suốt một ngày. Kết quả, ta đã diệt gần trọn đại đội Mỹ, đánh thiệt hại gần 2 đại đội khác, loại khỏi vòng chiến đấu 160 tên Mỹ, thu 28 súng, trong đó có 1 đại liên, bắn rơi và phá hỏng 2 máy bay trực thăng.

Đây là trận đánh xuất sắc, thể hiện tinh thần chiến đấu dũng cảm tuyệt vời, biết phát huy ưu thể của làng chiến đấu, sự ủng hộ và giúp đỡ của nhân dân, sự linh hoạt, sáng tạo trong chiến đấu của cán bộ chiến sĩ Đại đội 1.

Qua chiến thắng trên cánh đồng Hà Vy ngày 02 tháng 4 năm 1966 của quân và dân xã Đại Hồng, huyện Đại Lộc, xin rút ra một số nhận định như sau:

Thứ nhất, sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, sáng tạo của Ban Thường vụ Huyện ủy Đại Lộc.

Sau khi có nghị quyết hội nghị Trung ương Đảng và lời kêu gọi của Tỉnh ủy Quảng Đà “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” và phát động phong trào “Toàn dân đánh Mỹ”, “Toàn tỉnh là một vành đai”, thực hiên khẩu hiệu 3 bám: “Đảng bám dân, dân bám đất, du kích bám địch”. Trên cơ sở đó, Huyện ủy Đai Lộc tiến hành chỉnh huấn, giải quyết tư tưởng ngại Mỹ, ngại ác liệt, xây dựng tinh thần tiến công địch chủ trương động viên thực hiện phong trào 3 bám do Tỉnh ủy phát động, đồng thời chỉ đạo cho lực lượng vũ trang huyện và đội du kích các xã tổ chức chặn đánh các cuộc càn quét của địch. Đồng thời Huyện ủy quyết định tăng cường xây dựng chất lượng cho lực lượng quân sự, phát động phong trào thanh niên tình nguyện đăng ký 3 sẵn sàng, noi gương anh Nguyễn Văn Trỗi. Phụ nữ có 4 đảm đang; Nông hội tổ chức Hội nghị hiến kế diệt Mỹ, nắm chắc tay cày, tay súng, động viên thi đua diệt Mỹ; thiếu nhi có phong trào “tuổi nhỏ chí lớn, làm việc anh hùng”... Tổ chức cho quần chúng, nhất là chị em phụ nữ, học các lớp tiếng Anh để đấu tranh với Mỹ, xây dựng hệ thống cơ sở trong hàng ngũ địch, xây dựng một lực lượng thường trực sẵn sàng tiến công địch bất cứ lúc nào. Đồng thời cử các đội du kích ra Hòa Vang học tập kinh nghiệm đánh Mỹ.

Nhờ nắm vững tinh thần chủ động tiến công, vậy mà trong khoảng thời gian 01 tháng đưa quân vào vùng B Đại Lộc địch đã bị đánh lui. Sau khi biết tin, địch sẽ tiếp tục thực hiện các cuộc càn quét bằng bộ binh lên Đại Lộc, mà trọng điểm là xã Lộc Vĩnh. Trong chiều ngày 30 tháng 3 năm 1966, Huyện ủy tổ chức cuộc họp cấp tốc với Huyện đội tại thôn Mỹ Hảo, xã Lộc Tân để triển khai lực lượng chiến đấu. Như vậy là, sau khi nắm được tin quân Mỹ sẽ đổ bộ càn quét ở xã Lộc Vĩnh, Ban Thường vụ Huyện ủy Đại Lộc đã kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo huyện đội lên kế hoạch sẵn sàng chiến đấu với kẻ thù.

Có thể nói, ngay từ khi quân Mỹ đến, Ban Thường vụ Huyện ủy Đại Lộc đã kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng lực lượng, đặc biệt là công tác chính trị - tư tưởng, qua đó khẳng định tinh thần quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ xâm lược.


(1) Phó trưởng Phòng Lý luận Chính trị - Lịch sử Đảng, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Quảng Nam


Tiêu đề: Chiến thắng Hà Vy - Ý nghĩa và bài học lịch sử
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Ba, 2020, 07:44:26 am
Thứ hai, Chiến thắng Hà Vy thể hiện sự chủ động xây dựng lực lượng, xác định tư tưởng quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ của quân và dân xã Đại Hồng.

Sau khi Mỹ đổ bộ vào chiến trường miền Nam, trên cơ sở Nghị quyết Hội nghị 11 (tháng 3 năm 1965), 12 (tháng 12 năm 1965) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đặc biệt là quyết tâm của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Đà tại Hội nghị mở rộng (tháng 3 năm 1965): “Chưa giải phóng miền Nam thì còn đánh, chiến tranh gì cũng đánh, đối tượng nào cũng đánh và lâu dài bao nhiêu cũng đánh... chúng ta có nhiệm vụ trước tiên bằng hai chân, ba mũi giáp công để đóng góp kinh nghiệm cho toàn miền Nam và góp phần đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ”(1), và chủ trương của Ban Thường vụ Huyện ủy Đại Lộc, Chi bộ xã Lộc Vĩnh đã lãnh đạo chỉ đạo công lác xây dựng lực lượng, chuẩn bị tinh thần quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ.

Chi bộ xã Lộc Vĩnh đã xác định để đánh Mỹ và thắng Mỹ, nhiệm vụ đầu tiên là xây dựng và củng cố lực lượng đủ khả năng để đương đầu với kẻ thù sừng sỏ như đế quốc Mỹ. Từ đó, các đội công tác được củng cố lại, tăng cường thêm về lực lượng và trang bị, thành lập trung đội đu kích xã và mỗi thôn có một tiểu đội du kích. Theo quyết định của Huyện ủy, có hơn 50% đảng viên và đoàn viên tham gia du kích để tăng cường chất lượng cho lực lượng quân sự. Công tác xây dựng phong trào thanh niên được đặc biệt chú trọng, nhiều thanh niên tình nguyện đăng ký 3 sẵn sàng, noi gương anh Nguyễn Vãn Trỗi. Qua hai đợt vận động thanh niên phục vụ tiền tuyến (1965, 1966) toàn xã có 90 người đăng ký lên đường.

Cùng với phong trào thanh niên, các hoạt động khác lớp nô nức tham gia, Phụ nữ có 4 đảm đang; Nông hội tổ chức Hội nghị hiến kế diệt Mỹ, nắm chắc tay cày, tay súng, động viên thi đua diệt Mỹ; thiếu nhi có phong trào “tuổi nhỏ chí lớn, làm việc anh hùng”...

Đặc biệt, đã đẩy mạnh củng cố lực lượng đấu tranh chính trị, binh vận thành một mũi tiến công địch có quy mô hơn trước. Thành lập Ban Chỉ đạo và chỉ huy đấu tranh chính trị - binh vận cấp xã, thôn. Tổ chức cho quần chúng, nhất là chị em phụ nữ, học các lớp tiếng Anh để đấu tranh với Mỹ, xây dựng hệ thống cơ sở trong hàng ngũ địch, xây dựng một lực lượng thường trực sẵn sàng tiến công địch bất cứ lúc nào. Phong trào đấu tranh chính trị - binh vận luôn luôn gắn liền với phong trào của phụ nữ: Với tinh thần 4 đảm đang, phụ nữ Đại Hồng đã sẵn sàng xốc vác trên tuyến đầu, đối chọi với bao nguy hiểm để chia lửa cho bộ đội, du kích cả ta.

Thứ ba, phát huy ưu thế của làng chiến đấu, sự linh hoạt, sáng tạo trong chiến đấu của cán bộ chiến sĩ Đại đội 1.

Trên tinh thần chỉ đạo của Huyện ủy, ngay trong đêm ngày 30 tháng 3 năm 1966, Ban Chỉ huy huyện đội họp triển khai nhiệm vụ và giao cho nhiệm vụ cho Đại đội 1. Sáng ngày 01 tháng 4, đồng chí Lê Văn Thanh, Đại đội trưởng Đại đội bộ đội địa phương huyện họp khẩn với lãnh đạo xã Lộc Vĩnh thảo luận phương án chiến đấu. Nhờ đã xây dựng làng, xã chiến đấu mạnh từ trước, phương án tiêu diệt địch nhanh chóng được hình thành, mà hình thức chiến thuật chủ yếu là: Dựa vào công sự trận địa vững chắc, tổ chức phục kích địch, khi có thời cơ nhanh chóng chuyển sang xuất kích vận động tiến công tiêu diệt địch, về cách đánh, đơn vi quán triệt: Sử dụng toàn bộ lực lượng của đại đội, được tăng cường thêm các tiêu đội du kích xã, thôn, dựa vào địa hình của làng, xã chiến đấu tổ chức trận địa phục kích, bí mật, chờ địch đến sát giao thông hào, công sư từ 5 đến 10m, bất ngờ nổ súng tiêu diệt từng tốp quân địch, có thời cơ sẽ xuất kích vận động tiến công diệt gọn quân địch còn lại, làm chủ chiến trường, thu vũ khí, rồi tiếp tục phục kích đánh quân đổ bộ tiếp viện. Nhận định địch sẽ tiến công nên nhanh chóng triển khai đội hình chiến đấu. Lực lượng du kích xã phối hợp với bộ đội huyện sẵn sàng đón đánh địch.

Về phía địch, sau khi cấp tập nã pháo, dội bom, tường rằng đã dọn sạch đường, bọn Mỹ tiến quân vào làng. Quân ta dựa vào hệ thống công sự, giao thông hào... đợi chúng đến gần rồi bất ngờ nổ súng tấn công, ngay từ đợt tấn công đầu tiên đã diệt gọn 1 trung đội Mỹ đi đầu. Bị đánh bất ngờ chúng nháo nhác lùi ra, gọi phi pháo bắn tới tấp vào làng và đổ thêm 2 đại đội Mỹ xuống ứng cứu. Ta đã linh hoạt phân tán đội hình, bám trụ, dựa vào hệ thống công sự, giao thông hào quần nhau với địch suốt từ sáng đến tối.

Như vậy có thể khẳng định, chiến thắng Hà Vy là trận đánh nhỏ của bộ đội địa phương huyện Đại Lộc và du kích xã Lộc Vĩnh, nhưng có ý nghĩa hết sức to lớn, thể hiện tinh thần chiến đấu dũng cảm, tinh thần chủ động, sáng tạo của quân và nhân dân xã Lộc Vĩnh nói riêng, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam nói chung. Với chiến thắng Núi Thành, chiến thắng Hà Vy góp phần khẳng định quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ, qua đó tô thắm thêm truyền thống “Trung dũng kiên cường” của mảnh đất Quảng Nam anh hùng.


(1) Dẫn theo: Báo cáo tổng kết phong trào du kích chiến tranh tỉnh Quảng Đà (3/1965-10/1967), tài liệu lưu trữ tại Ban Tuyên giáo Thành ủy Đà Nẵng, ký hiệu 30.III.i, tr.11.


Tiêu đề: Chiến thắng Hà Vy - Ý nghĩa và bài học lịch sử
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Ba, 2020, 07:48:34 am
VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG LÀNG, XÃ CHIẾN ĐẤU
TRONG CHIẾN THẮNG HÀ VY (NGÀY 02 THÁNG 4 NĂM 1966)

Đại úy, Ths Trần Văn Giáp(1)

Ngày 02 tháng 4 năm 1966, Đại đội bộ đội đoka phương huyện Đại Lộc đã phối hợp với dân quân du kích xã Lộc Vĩnh (nay là xã Đại Hồng) tổ chức trận đánh xuất sắc tại Hà Vy. Trên chiến trường Quảng Nam Quảng Đà, đây là lần đầu tiên một đại đội bộ đội địa phương huyện diệt gọn một đại đội Mỹ, làm thiệt hại 02 đại đội khác, thu giữ nhiều vũ khí. Có nhiều nguyên nhân làm nên chiến thắng vẻ vang này, trong đó, việc tích cực xây dựng và phát huy tốt vai trò của làng, xã chiến đấu là một trong những nguyên nhân rất quan trọng.

Trong thời kỳ chiến đấu chống chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ, để phá âm mưu lập ấp chiến lược của địch, Bộ Chính trị chỉ rõ: “Để đối phó với âm mưu thâm độc và tàn bạo của địch phải lấy việc chống phá ấp chiến lược làm nhiệm vụ hàng đầu và cấp bách của toàn Đảng, toàn dân, toàn quán ta. Trước mắt và trong cả một thời gian dài đi đôi với phá ấp chiến lược của địch, phải ra sức phát triển du kích chiến tranh, xây dựng làng, xã chiến đấu, có xây dựng làng, xã chiến đấu mới chống càn quét thắng lợi, mới phá được âm mưu phát triển ấp chiến lược của địch, mới giữ vững tinh thần nhân dân, duy trì được cuộc đấu tranh lâu dài, mới có thể lấn dần địch tùng bước, hình thành thế cài răng lược giữa ta và địch, phá được âm mưu chia cắt giữa rừng núi và đồng bằng, giữa nông thôn và đô thị; có phá được ấp chiến lược, xây dựng làng, xã chiến đấu mới biến hậu phương địch thành tiền phương của ta, mới giữ được quan hệ giữa tấn công và phòng ngự, giữa công khai và bí mật, giữa hợp pháp và bất hợp pháp, mới giữ vững, phát triển và đẩy lùi địch từng bước, giành thắng lợi từng phần ở nông thôn. Phá ấp chiến lược, xây dựng làng, xã chiến đấu còn là quá trình thực hiện chế độ dân chủ nhân dân trong cuộc cách mạng miền Nam, là nhiệm vụ chiến lược của chiến tranh du kích hiện nay”(2).

Quán triệt chủ trương chung, Quân khu ủy 5 chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo các tỉnh phải kịp thời có phương án xây dựng làng, xã chiến đấu ngay sau khi giải phóng, cần phải nhanh chóng phát động quần chúng nhân dân và huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong công tác xây dựng làng, xã chiến đấu. Khi đế quốc Mỹ thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, tháng 3 năm 1965 Bộ Tư lệnh Quân khu 5 tô chức hội nghị du kích chiến tranh, hội nghị thảo luận và quyết định 3 vấn đề lớn:

- Phát động toàn Đảng bộ, quân và dân trong toàn Khu 5, kiên quyết đánh thắng quân Mỹ.

- Khẩn trương xây dựng lực lượng chính trị, quân sự ở cơ sở, đặc biệt ở vùng ven, vùng sâu, vùng dự kiến quân Mỹ sẽ đóng quân.

- Xây dựng làng, xã chiến đấu liên hoàn từ căn cứ rừng núi đến đồng bằng và vùng ven đô thị. Tổ chức “Vành đai diệt Mỹ” ở những nơi quân Mỹ vừa đổ quân vào(3).

Phát huy kinh nghiệm xây dựng làng, xã chiến đấu trong kháng chiến chống Pháp, xuất phát từ tính chất ác liệt của chiến trường và quán triệt chủ trương của trên, Tỉnh ủy Quảng Nam, Quảng Đà đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng làng, xã chiến đấu. Trong năm 1965, các tỉnh ủy và tỉnh đội đã hai lần tổ chức hội nghị bàn về công tác xây dựng làng, xã chiến đấu. Tỉnh chỉ đạo các huyện ủy tổ chức hội nghị sơ kết, tổng kết, hội nghị chuyên đề về xây dựng làng, xã chiến đấu. Tỉnh đội thành lập đoàn cán bộ trực tiếp xuống các xã điểm chỉ đạo triển khai xây dựng làng, xã chiến đấu, rút kinh nghiệm chỉ đạo phong trào chung trong toàn tỉnh. Thông qua các đợt chỉnh huấn, sinh hoạt chính trị, các cấp ủy chú trọng lãnh đạo làm tốt công tác chính trị tư tưởng trong dân quân du kích và toàn thể nhân dân. Đợt sinh hoạt chính trị vào tháng 8 và tháng 9 năm 1965, đã tạo được chuyển biến sâu sắc, phát động được ý thức tự giác xây dựng làng, xã chiến đấu.


(1) Ban Khoa học Quân sự, Bộ Chỉ huy Quân sự tình Quảng Nam.
(2) Cục Dân quân tự vệ, Tổng kết làng xã chiến đấu trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1946 - 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2007, tr.81
(3) Bộ Tư lệnh Quân khu 5, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Một số kinh nghiệm chỉ đạo chiến tranh nhân dân địa phương ở Khu 5 trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 -1975), Sđd, tr 45.


Tiêu đề: Chiến thắng Hà Vy - Ý nghĩa và bài học lịch sử
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Ba, 2020, 07:49:14 am
Riêng đối với xã Đại Hồng, năm 1961, Huyện ủy cử đồng chí Trương Xuân - Huyện ủy viên về phụ trách xây dựng phong trào ở hai xã Đại Hồng và Đại Sơn. Thời gian này, chi bộ ghép Hồng Sơn được thành lập do đồng chí Trương Xuân làm Bí thư. Đến năm 1962, Chi bộ Hồng Sơn được tách ra thành hai chi bộ, Chi bộ xã Đại Hồng do đồng chí Nguyễn Châu làm Bí thư. Dưới sự lãnh đạo của chi bộ, đội công tác và dân quân du kích xã ngày càng có bước trưởng thành đáng kể. Đội công tác đã tổ chức nhiều trận diệt ác, phá kèm giành thắng lợi. Sự kiện gây tiếng vang lớn nhất là tháng 3 năm 1962, đội công tác tổ chức đột nhập đốt cơ quan hội đồng xã và bắt 14 tên địch. Tháng 8 năm 1964, huyện Đại Lộc phát lệnh đồng khởi, trong thời gian này, xã Đại Hồng được hoàn toàn giải phóng.

Ngay sau khi giải phóng, thực hiện chủ trương của Huyện ủy và hướng dẫn của Huyện đội Đại Lộc, Chi bộ, Ủy ban tự quản xã vừa chăm lo ổn định đời sống nhân dân, vừa tổ chức phát động, tuyên truyền vận động nhân dàn tích cực xây dựng làng, xã chiến đấu sẵn sàng đánh địch bảo vệ vùng giải phóng.

Để làm tốt công tác chính trị, tư tưởng trong quần chúng nhân dàn và dân quân du kích, chi bộ xã tập trung xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Sáu tháng cuối năm 1964, xã tổ chức soát xét, phân chia diện tích ruộng đồng vắng chủ và ruộng đất hoang hóa cho nhân dân, phát động phong trào toàn dân cải tạo đồng ruộng, tăng gia sản xuất, bảo đảm chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Tháng 5 năm 1965, xã tổ chức phát động phong trào đoàn kết sản xuất và phong trào đón và học tập thư của Đảng về kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tạo được khí thế thi đua sôi nổi trong các tầng lớp nhân dân và dân quân du kích.

Công tác phát triển văn hóa, giáo dục, y tế bước đầu được lãnh đạo thực hiện. Xã tổ chức các lớp học văn hóa nhằm xóa nạn mù chữ, nâng cao dân trí. Thành lập bệnh xá, cử một số nam nữ thanh niên ưu tú tham gia các lớp bôi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ y tế để nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho nhân dân và cứu chữa thương bệnh binh. Các hoạt động giao lưu văn nghệ thường xuyên được tổ chức, thu hút đông đào các tầng lóp nhân dân tham gia, tạo không khí vui tươi phấn khởi, động viên toàn thể nhân dân hăng hái sản xuất, bố phòng làng, xã, phục vụ chiến đấu.

Lực lượng an ninh xã được tăng cường, củng cố, ngày đêm tổ chức canh gác kiểm soát chặt chẽ địa bàn. Chỉ tính trong năm 1964, xã đã phối hợp với huyện mở 3 phiên tòa xét xử ba tên ác ôn, bắt cải tạo 6 tên tề ngụy, giáo dục tại chỗ 40 tên khác, bắt và cải tạo 02 tên việt gian được địch cài cắm hoạt động trên địa bàn xã, góp phần thanh lọc, làm trong sạch quần chúng.

Chăm lo xây dựng lực lượng dân quân du kích là nhiệm vụ hàng đầu, chi bộ lãnh đạo, chỉ đạo chính quyền, mặt trận và các đoàn thể tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền, động viên hội viên, nam nữ thanh niên vào du kích, xây dựng lực lượng dân quân và du kích vững mạnh làm nòng cốt trong công tác bố phòng, xây dựng làng, xã chiến đấu. Sau khi quân chiến đấu Mỹ trực tiếp vào chiến trường, công tác xây dựng lực lượng dân quân du kích, xây dựng làng, xã chiến đấu được tổ chức khẩn trương và đạt chất lượng cao hơn. Xã đã xây dựng được một trung đội du kích, mỗi thôn thành lập được 01 đến 02 tiểu đội du kích; ngoài ra, xã cũng thành lập các tổ du kích chuyên trách công binh, đặc công, tổ quân giới. Các lực lượng đều ra sức học tập, huấn luyện, không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị và kỹ chiến thuật chiến đấu. Theo chỉ đạo của huyện, chi bộ đưa 50% đảng viên vào du kích để trực tiếp lãnh đạo và cầm súng đánh địch, làm cho chất lượng hoạt động của dân quân du kích được tăng lên nhanh chóng.

Cấp ủy, chi bộ quán triệt xây dựng làng, xã chiến đấu phải đảm bảo tính toàn dân, toàn diện, lâu dài, gian khổ và phức tạp, đảm bảo tính liên hoàn, vững chắc thuận lợi cho phản công và tiến công địch. Trên cơ sớ đó xã đội hướng dẫn cho nhân dân rào vườn, rào cổng ngõ; dựa vào giao thông hào và hàng rào của ấp chiến lược cũ, cùng các lũy tre rào các tuyến ở ngoài làng; bố trí các bãi cọc chống trực thăng, chống xe cơ giới, những nơi trực thăng, cơ giới thường tiếp cận thì triển khai bố trí bom, mìn, đạp lôi, lựu đạn, vũ khí tự tạo. Đào công sự cá nhân, tổ 3 người, tiểu đội, xây dựng 2 pháo đài ở thôn Ngọc Kinh và Lập Thạch để sẵn sàng đánh địch đổ bộ. Đào những đoạn hào đứt quãng và nối liền thành đường rào liên tục giữa các thôn, nối phía sau ra phía trước phục vụ cho cơ động chiến đấu, quần bám đánh địch. Đào hầm bí mật, ổ tác chiến, giao thông ngầm, hầm ngầm, hầm tránh phi pháo công cộng và tư gia cho người và gia súc, hầm hội họp, hầm cất giấu vũ khí, lương thực, hầm cứu chữa thương binh. Hầm chông, chông rời, bãi chông, các loại thò, bẫy.

Ngày 30 tháng 3 năm 1966, huyện chính thức nhận được tin địch sẽ đổ quân, càn quét vào xã Lộc Vĩnh. Nhận nhiệm vụ của Huyện ủy, sáng ngày 1 tháng 4, đồng chí Lê Văn Thanh - Đại đội trưởng Đại đội bộ đội địa phương huyện họp khẩn với lãnh đạo xã Lộc Vĩnh thảo luận phương án chiến đấu. Nhờ đã xây dựng làng, xả chiến đấu vững mạnh từ trước, phương án tiêu diệt địch nhanh chóng được hình thành, mà hình thức chiến thuật chủ yếu là: Dựa vào công sự trận địa vững chắc, tổ chức phục kích địch, khi có thời cơ nhanh chóng chuyển sang xuất kích vận động tiến công tiêu diệt địch, về cách đánh, đơn vị quán triệt: Sử dụng toàn bộ lực lượng của đại đội, được tăng cường thêm các tiểu đội du kích xã, thôn, dựa vào địa hình của làng, xã chiến đấu tổ chức trận địa phục kích, bí mật, chờ địch đến sát giao thông hào, công sự từ 5 đến 10m, bất ngờ nổ súng tiêu diệt từng tốp quân địch, có thời cơ sẽ xuất kích vận động tiến công diệt gọn quân địch còn lại, làm chủ chiến trường, thu vũ khí, rồi tiếp tục phục kích đánh quân đổ bộ tiếp viện.


Tiêu đề: Chiến thắng Hà Vy - Ý nghĩa và bài học lịch sử
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Ba, 2020, 07:51:19 am
Thời gian làm công tác chuẩn bị gấp rút, bộ đội, dân quân du kích ngày đêm củng cố hệ thống giao thông hào, hầm trú ẩn cho bộ đội và nhân dàn, đào thêm công sự, bố trí hỏa lực, mìn ĐH, ngụy trang lại các vị trí xung yếu trên hướng chủ yếu và thứ yếu theo phương án chung.

Quá trình diễn biến, ngay từ phút đầu, bộ đội huyên và du kích xã đã dựa vào hệ thống công sự, trận địa, giao thông hào, kiên quyết nổ súng ngăn chặn, tiêu diệt được trung đội Mỹ đi đầu. Địch bị đánh gần, thương vong lớn nên hoảng loạn tháo chạy ra ngoài bờ sông gọi lực lượng chi viện. Địch tập trung phi pháo và bộ binh chi viện làm cho so sánh lực lượng quá chênh lệch, cuộc chiến đấu giữa ta và địch diễn ra ác liệt. Hội viên các tổ chức quần chúng như phụ nữ, nông dân... không quản ngại hy sinh băng mình trong lửa đạn để tiếp tế đạn dược, lương thực thực phẩm, khiêng, cứu thương binh... Bộ đội, du kích bình tĩnh, dựa vào hệ thống giao thông hào, địa đạo bí mật cơ động, phân tán đội hình, hợp đồng chiến đấu, kiên quyết bám trụ dồn địch ra cánh đồng trống để tiêu diệt.

Kết quả, sau gần một ngày quần lộn, chiến đấu với địch ta tiêu diệt gọn 01 đại đội và đánh tiêu hao 02 đại đội thủy quân lục chiến Mỹ, thu 28 súng, trong đó có một khẩu đại liên M60, bắn rơi và bắn bị thương 3 chiếc máy bay trực thăng(1). Hà Vy là trận đánh xuất sắc của đại đội đội bộ đội địa phương huyện Đại Lộc. Chiến thắng này góp phần quan trọng khẳng định không chỉ bộ đội chủ lực, bộ đội tỉnh mà bộ đội địa phương huyện kết hợp với dân quân du kích xã và hệ thống làng xã chiến đấu cũng đánh tiêu diệt gọn được đại đội Mỹ, xóa bỏ hoàn toàn tư tưởng gờm sợ Mỹ, củng cố thêm tinh thần “Quyết chiến quyết thắng giặc Mỹ xâm lược” của quân và dân huyện nhà.

Chiến công này sau đó được huyện, tỉnh biểu dương, đơn vị được tặng Huân chương chiến công hạng Nhất. Tháng 12 năm 1966, Đại hội chiến sĩ thi đua toàn Khu 5 lần thứ 2 đã tuyên dương những cao điểm năm 1966, trong đó Đại đội bộ đội địa phương huyện Đại Lộc được tặng thưởng danh hiệu “Đại đội địa phương huyện diệt nhiều Mỹ nhất”, Đại hội ghi nhận: “Ngày 2 tháng 4 năm 1966, tại xã Lộc Vĩnh (Đại Lộc) đại đội địa phương huyện Đại Lộc đã diệt gọn 01 đại đội và tiêu hao 02 đại đội thủy quân lục chiến Mỹ, giết chết và bắn bị thương 218 tên, thu 33 súng (có 01 đại liên, 01 trung liên. 01 súng M79, 02 súng colt, 02 súng ám sát, 03 khẩu M72), bắn rơi và phá hủy 05 chiếc máy bay, bắn bị thương 02 chiếc khác (có I F.105)”(2).

Cùng với các yếu tố như cán bộ, chiến sĩ có tinh thần chiến đấu quả cảm, đơn vị làm tốt công tác tổ chức chiến đấu, hợp đồng chỉ huy hợp lý thì việc xây dựng và phát huy tốt vai trò, sức mạnh của làng, xã chiến đấu cũng là nguyên nhân rất quan trọng dẫn đến thắng lợi vẻ vang này.

Qua công tác xây dựng và phát huy vai trò của làng, xã chiến đấu trong trận đánh Hà Vy, chúng tôi rút ra một số vấn đề như sau:

- Trong xây dựng hệ thống làng, xã chiến đấu cần phải dựa chắc vào quần chúng nhân dân, xây dựng lực lượng quần chúng vững mạnh, quần chúng được phát động, giác ngộ cao, thực hiện tốt chính sách đoàn kết, vận động, tổ chức quần chúng vào các đoàn thể, có đội ngũ đấu tranh chặt chẽ, tích cực tham gia mọi công tác, đánh địch bằng ba mũi giáp công. Phải thể hiện được phương châm toàn dân vũ trang, toàn dân đánh địch.

- Xây dựng lực lượng vũ trang địa phương vững mạnh, dân quân du kích có số lượng đông, chất lượng vững, kỹ chiến thuật chiến đấu giỏi, đưa đảng viên vào du kích làm cho dân quân du kích thực sự trở thành lực lượng nòng cốt trong chiến đấu và các mặt công tác khác, nhất là bố phòng, xây dựng làng, xã chiến đấu.

- Xây dựng làng, xã chiến đấu nhất thiết phải xây dựng được hệ thống công sự vững chắc, địa đạo, giao thông hào liên hoàn, bố phòng trong ngoài chặt chẽ, rộng khắp, bảo đảm tiến công thu hồi được vùng bị mất và phản công tiêu diệt được địch, bảo vệ vùng ta.

- Phải có kế hoạch nắm địch, phòng gian bảo mật, diệt biệt kích, chống chiến tranh tâm lý, gián điệp, thuần khiết nội bộ quần chúng.

- Giữ gìn, ổn định tư tưởng quần chúng, đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống, phát triển văn hóa, xã hội làm cho bộ mặt nông thôn thực sự đổi mới, thu hút nhân dân về vùng ta.

- Trong tác chiến với bất kỳ đối tượng xâm lược nào, cần phải tin tưởng và phát huy tốt vai trò, thế mạnh của làng, xã chiến đấu. Có kế hoạch cụ thể để bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân.


(1) Hiện nay còn có những số liệu khác nhau, chúng tôi dẫn theo Ban CHQS huyện Đại Lộc, “Lịch sử LLVTND huyện Đại Lộc (1945 -1975)”, Nxb Đà Nẵng. Đà Nẵng, 2004, tr.168.
(2) Báo Quân giải phóng, số 43 tháng 1 -1967, tài liệu số 25/1966, lưu tại Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Nam.


Tiêu đề: Chiến thắng Hà Vy - Ý nghĩa và bài học lịch sử
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Ba, 2020, 07:53:16 am
TRẬN ĐÁNH HÀ VY – CHIẾN CÔNG
VANG DỘI CỦA QUÂN VÀ DÂN ĐẠI LỘC

Ban Tuyên giáo Huyện ủy Đại Lộc

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cùng với cả tinh, quân và dân Đại Lộc đã làm nên nhiều chiến công vang dội. Chiến thắng Hà Vy là một trong là một trong những chiến công đó.

Bối cảnh lịch sử trước chiến thắng Hà Vy

Vào cuối năm 1964 đầu năm 1965, chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ đã bị thất bại hoàn toàn. Mỹ - ngụy ở các địa phương co cụm lại, chỉ đủ sức phản kháng yếu ớt trước những đợt tấn công dồn dập của quân dân ta. Trước tình hình đó, tổng thống Mỹ Giôn xơn đã quyết định đưa quân viễn chinh Mỹ và quân chư hầu vào tham chiến ở miền Nam Việt Nam nhằm chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ” để cứu vãn ngụy quân, ngụy quyền trước nguy cơ sụp đổ hoàn toàn. Mỹ xác định Quân Khu 5 là một trong những địa bàn trọng yếu cần phải bình định trong thời gian sớm nhất. Ngày 08 tháng 3 năm 1965, hơn 3.500 quân Mỹ thuộc lữ đoàn lính thủy đánh bộ số 9 đổ bộ lên Đà Nẵng. Quân viễn chinh Mỹ vào, quy mô và cường độ ác liệt của chiến tranh tăng lên, vượt xa sự đánh phá của quân ngụy trước đó. Lúc đó, huyện Đại Lộc chưa có quân Mỹ xuất hiện nhưng mọi người đều lo lắng.

Tháng 6 năm 1965, Mỹ đổ quân thêm 9.000 tên vào Đà Nẵng. Vành đai diệt Mỹ đã nới rộng ra huyện Hòa Vang, Điện Bàn và một phần huyện Đại Lộc. Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ XI (tháng 3/1965) về tình hình và nhiệm vụ cấp bách trước mắt và lời kêu gọi của Tỉnh ủy Quảng Nam, Quảng Đà; Đảng bộ huyện Đại Lộc tiến hành chỉnh huấn giải quyết tư tưởng ngại đánh Mỹ, ngại ác liệt, xây dựng tinh thần tiến công cách mạng, sẵn sàng đánh địch. Huyện Đại Lộc đã tiến hành củng cố đại đội bộ đội địa phương, du kích xã đồng thời cử các đội du kích ra Hòa Vang học tập kinh nghiệm đánh Mỹ. Huyện tổ chức đại hội du kích chiến tranh, triển khai phong trào thi đua “tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt, phấn đấu đạt danh hiệu dũng sĩ diệt Mỹ, dũng diệt ngụy”.

Bên cạnh xây dựng lực lượng vũ trang, huyện Đại Lộc còn củng cố lực lượng đấu tranh chính trị - binh vận thành một mũi tấn công địch có quy củ hơn trước. Các tổ chức như Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội nông dân phát động nhiều phong trào thi đua sôi nổi nhận được sự quan tâm, hưởng ứng của đông đảo quần chúng nhân dân.

Đầu năm 1966, quân Mỹ tấn công vùng B Đại Lộc. Chúng cho máy bay trực thăng đổ quân xuống xã Lộc Sơn (nay là xã Đại Thạnh), đồng thời cho xe tăng tiến vào Lộc Quý (xã Đại Thắng). Tiểu đoàn R20 cùng du kích xã đã chặn đánh địch, bắn rơi 04 trực thăng, buộc chúng phải rút lui. Tuy đẩy lùi quân địch, song trong cán bộ, nhân dân vẫn còn hiện tượng “gờm Mỹ”; nhiều quần chúng không dám trụ lại hợp pháp. Tình hình này đã làm cho du kích mất chỗ dựa, bảo vệ vùng giải phóng.

Trong 3 tháng đầu năm 1966, thực hiện âm mưu “tìm diệt và bình định”, quân Mỹ ra sức càn quét đồng thời nống ra đóng các chốt điểm, tăng thêm quân ngụy ở các khu vực Ái Nghĩa, Núi Lở và Thượng Đức. Chúng cùng đưa 2 tiểu đội lính Mỹ đến chốt chặn ở sân bay Đại An, xã Lộc Bình (nay là xã Đại Lãnh). Mỹ liên tiếp cho quân tổ chức càn quét, đi đến đâu thì đốt nhà, cướp phá bừa bãi, phá hủy hệ thống giao thông hào, hầm bí mật của ta... Đầu năm 1966, Mỹ đưa quân và vũ khí tiếp viện cho căn cứ Thượng Đức, bộ đội địa phương huyện cùng du kích xã Lộc Quang (nay là xã Đại Đồng) đã chặn đánh, tiêu diệt 01 trung đội Mỹ tại Bàu Mưng, thôn Lâm Tây.

Mặt khác, Mỹ còn tăng cường pháo tại các chốt điểm, thường xuyên bắn pháo vào các vùng xung quanh đồn bốt, những điểm chúng đi càn hoặc những nơi chúng cho là có quân ta trú ẩn. Song song với đó là chúng cho máy bay rải truyền đơn nói xấu cách mạng, dụ dỗ, chiêu hồi. Bọn ngụy ở Đại Lộc cũng tận dụng thời cơ ngóc đầu dậy, ra sức bêu xấu cách mạng, đả kích cán bộ ta. Tuy nhiên, với ý chí kiên trung, một lòng theo Đảng cùng sự đoàn kết, gắn bó giữa quân với dân, lực lượng cách mạng và nhân ta đã kiên cường chiến đấu, đánh tan âm mưu của Mỹ - ngụy, bảo vệ quê hương đất nước.


Tiêu đề: Chiến thắng Hà Vy - Ý nghĩa và bài học lịch sử
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Ba, 2020, 07:54:07 am
Trận đánh Hà Vy - chiến công vang dội của quân và dân Đại Lộc

Từ ngày 28 đến ngày 29 tháng 3 năm 1966, Huyện ủy Đại Lộc nhận được nhiều nguồn tin địch sẽ đi càn bằng bộ binh lên Đại Lộc mà trọng điểm là xã Lộc Vĩnh (Đại Hồng). Ngày 30 tháng 3 năm 1966, nguồn tin cuối cùng cho biết, địa điểm địch sẽ đổ quân càn là xã Lộc Vĩnh. Chiều ngày 30 tháng 3 năm 1966, Huyện ủy có cuộc họp cấp tốc với Huyện đội tại thôn Mỹ Hào xã Lộc Tân để bàn công tác triển khai lực lượng chiến đấu. Ngay trong đêm 30 tháng 3 năm 1966, Huyện đội giao nhiệm vụ cho đồng chí Lê Văn Thành – chỉ huy địa đội bộ đội địa phương huyện trực tiếp tác chiến. Sau khi nhận lệnh đại đội đã cấp tốc lên đường từ Lộc Tân lên Lộc Vĩnh để chuẩn bị địa bàn chiến đấu.

Sáng ngày 01 tháng 4 năm 1966, Ban chỉ huy đại đội tổ chức cuộc họp khẩn cấp với lãnh đạo xã Lộc Vĩnh để triển khai nhiệm vụ tác chiến giữa bộ đội địa phương với dân quân du kích xã. Đại đội 1 bộ đội địa phương huyện lúc này có khoảng 120 đồng chí, chia thành 3 trung đội chiến đấu. Vũ khí trang bị có 02 khẩu cối 60; 01 khẩu đại liên cực nhanh thu được của Mỹ và vũ khí cá nhân do đại đội thu được của Mỹ từ các trận đánh trước đó. Du kích xã Lộc Vĩnh có 35 chiến sỹ do đồng chí. Tại cuộc họp này, đồng chí Lê Văn Thanh đã nhận định tình hình giữa ta và địch, xác định hướng tấn công của quân địch, bố trí, phân công lực lượng bộ đội và du kích phối hợp chặn đánh địch từ nhiều hướng. Mỗi đồng chí đều được quán triệt tinh thần chiến đấu và có nhiệm vụ cụ thể. Sau cuộc họp, các đồng chí chỉ huy đã trực tiếp nghiên cứu địa hình, chọn nơi có lợi thế để bố trí quân phục kích. Ta nhận định: mũi trọng yểu mà địch có khả năng tấn công là thôn Hà Vy và thôn 2-3 nên đã bố trí lực lượng bộ đội địa phương huyện đảm nhiệm để chặn địch tràn vào làng và tiêu diệt địch; các mũi còn lại từ các thôn Lục Nam, Phước Lâm, Lập Thạch do du kích địa phương đảm nhận với nhiệm vụ không cho địch tiến lên, giam chân chúng giữa cánh đồng trống để dễ dàng tiêu diệt,

Để dọn đường đổ quân càn quét, ngay sáng sớm ngày 2 tháng 4 năm 1966, địch cho máy bay ném bom dọc bờ sông Vu Gia đến làng Hà Vy và dọc rìa làng Ngọc Kinh. Sau đó, chúng cho một toán máy bay đổ một đại đội thủy quân lục chiến xuống cánh đồng Hà Vy, một toán máy bay khác tiếp tục đổ thêm một đại đội ở sát bờ sông Vu Gia để tấn công vào làng.

Ngay phút đầu tiên địch vừa đổ quân, bộ đội và du kích địa phương đã chặn đánh chúng một cách quyết liệt. Loạt đạn đầu, bộ đội ta đã tiêu diệt hơn 20 tên địch, khiến quân địch hoảng loạn. Bị bất ngờ, địch buộc phải tháo chạy ra ngoài bờ sông và gọi một đại đội trợ chiến đê chi viện và tiếp tục tổ chức tấn công vào khu vực giữa làng Hà Vy và thôn 2-3. Trước tình hình địch tăng quân và tấn công ào ạt, đồng chí Lê Văn Thanh chủ trương dùng toàn bộ hỏa lực của cối 60 tấn công vào đội hình Mỹ, mũi tấn công từ thôn Lập Thạch, thôn 2-3 thọc xuống ngăn chặn không cho địch chạy thoát ra bờ sông Vu Gia, các mũi còn lại tập trung lực lượng để tiêu diệt. Khi địch tấn công, quân ta dựa vào lợi thế của hệ thống giao thông hào để chiến đấu. Khi địch lùi về sau, quân ta tổ chức tiến công, thu giữ vũ khí, chiến lợi phẩm. Nhờ có cách đánh linh hoạt, trong một ngày quần lộn với địch, bộ đội địa phương huyện và du kích xã Lộc Vĩnh đã buộc địch phải rút chạy, nhận lấy thất bại ê chề trong cuộc càn quét vào xã Lộc Vĩnh. Sau đó, đến khoảng 21h00, đại đội 1 bộ đội địa phương đã được nhân dân chèo thuyền đưa qua sông sang xã Lộc Quang (Đại Đồng) để ổn định tổ chức, củng cố lực lượng và họp rút kinh nghiệm sau trận đánh. Du kích xã Lộc Vĩnh rút về Khe Bò, kiểm ưa lực lượng đồng thời triển khai kế hoạch, phương án chống địch trong thời gian tới.

Kết quả trong trận đánh Hà Vy, ta tiêu diệt gọn 01 đại đội Mỹ, đánh thiệt hại 02 đại đội khác, thu 28 súng trong đó có 01 đại liên M60, bắn rơi 2 trực thăng, bán bị thương 01 trực thăng khác.

Chiến thắng Hà Vy - niềm tự hào của Đảng bộ và nhân dân Đại Lộc

50 năm đã qua, thời gian có thể xóa nhòa tất cả song ký ức của một thời bom đạn, máu lửa vân còn mãi trong tâm trí những người con quê hương, nhất là những trực tiếp tham gia chiến đấu trong trận đâu diệt gọn một đại đội Mỹ của quân và dân Đại Lộc - trận đánh Hà Vy ngày 02 tháng 4 năm 1966. Đây là trận đánh Mỹ đầu tiên, xuất sắc của đại đội bộ đội địa phương huyện đối đầu với một tiểu đoàn Mỹ có phi pháo yểm trợ giữa ban ngày và thu nhiều súng nhất trong các trận chống càn trên chiến trường Quảng Đà. Sau trận đánh này, niềm tin đánh Mỹ và thắng Mỹ của quân dân Đại Lộc đã được nhân lên gấp bội, dù cho lực lượng của ta không đông, trang bị vũ khí không hiện đại song với quyết tâm chiến đấu cao, tình quân dân đoàn kết một lòng cùng sự lựa chọn cách đánh linh hoạt, chúng ta vẫn có thể đánh bại được đội quân hùng mạnh nhất thời đại. Điều này đã được khẳng định ở chiến thắng Hà Vy và những chiến thắng sau này của quân dân Đại Lộc, Quảng Nam nói riêng, cả nước nói chung.

Chiến thắng Hà Vy sẽ mãi là niềm tự hào trong lịch sử đâu tranh giải phóng dân tộc của quê hương Đại Lộc, Quảng Nam đông thời cũng là tư liệu lịch sử vô cùng quan trọng trong công tác giáo dục truyền thống cho các thế hệ con em sau này.


Tiêu đề: Chiến thắng Hà Vy - Ý nghĩa và bài học lịch sử
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Ba, 2020, 07:57:11 am
CHIẾN THẮNG HÀ VY - BIỂU TƯỢNG SÁNG NGỜI
CỦA Ý CHÍ ĐÁNH MỸ VÀ THẮNG MỸ CỦA QUÂN DÂN ĐẠI LỘC

Phan Văn Trình(1)

Từ giữa năm 1965, trước nguy cơ thất bại hoàn toàn của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ chuyển sang chiến lược “Chiến tranh cục bộ” , đưa lực lượng chiến đấu của Mỹ trực tiếp tham chiến trên chiến trường miền Nam. Số quân viễn chinh Mỹ từ 23.000 (1.1965) lên 60.000 (6.1965) và tăng vọt lên 184.000 (12.1965). Theo sau quân Mỹ là 20.000 quân đồng minh (Nam Triều Tiên, Ô-xtrây-lia, Niu-di-lân, Philippin, Thái Lan). Hỗ trợ cho nỗ lực quân sự ở miền Nam, Mỹ dùng không quân, hải quân mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc. Toàn bộ mục tiêu chiến lược của Mỹ trong cuộc chiến tranh này là để “tìm và diệt” chủ lực quân giải phóng và cơ quan chỉ đạo cách mạng miền Nam, “bình định” miền Nam, uy hiếp tinh thần kháng chiến của nhân dân Việt Nam, buộc Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa phải ngồi vào bàn đàm phán theo những điều kiện áp đặt của Mỹ.

Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” là bước leo thang mới, bước ngoặt lớn trong chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở Việt Nam. “Điểm mặt” các sư đoàn Mỹ vào tham chiến ở Việt Nam dễ dàng nhận thấy rằng đây đều là những đơn vị thiện chiến, có nhiều thành tích trên các chiến trường Tây Âu, Bắc Phi, Triều Tiên...

Cuối năm 1965, kế hoạch phản công chiến lược mùa khô 1965 - 1966 của Mỹ được tiến hành với mục tiêu tìm diệt và bình định nhằm giành lại thế chủ động trên chiến trường, củng cố vùng chúng chiếm đóng, khai thông các tuyến giao thông, ngăn chặn sự sụp đố của ngụy quyền tại miền Nam Việt Nam. Tính chất của chiến tranh diễn ra ác liệt và quy mô lớn hom trước. Quân Mỹ trở thành lực lượng chính, nòng cốt đánh phá chiến trường.

Các chính phủ và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên khắp thế giới đều chia sẻ sự lo ngại về cuộc đối đầu trực tiếp giữa dân tộc ta với quân xâm lược Mỹ. Có một số nước lớn còn cho rằng cuộc đụng đầu này có thể sẽ làm bùng phát thành một cuộc thế chiến mới và họ “khuyên” nhân dân Việt Nam không nên đối đầu với đế quốc Mỹ. Trong nội bộ ta, một bộ phận cán bộ và nhân dân cũng xuất hiện tư tưởng gờm Mỹ, ngại ác liệt, do dự, băn khoăn: “Liệu có đánh được Mỹ không?”, “đánh Mỹ bằng cách nào?”, “vũ khí gì?”, “quy mô ra sao?”... Đây là những câu hỏi lớn. Thế nhưng, chỉ một năm sau đó, cùng với các chiến thắng khác trên chiến trường Quảng Đà anh dũng, quân và dân Đại Lộc đã góp câu trả lời rõ ràng và thuyết phục bằng Chiến thắng Hà Vy vang dội ngày 02 tháng 4 năm 1966.

Chiến thắng Hà Vy là kết tinh ý chí đánh Mỹ và thắng Mỹ, đồng thời là kết quả của quá trình chuẩn bị chu đáo về nhiều mặt:

1. Phát động, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần dám đánh Mỹ và thắng Mỹ cho lực lượng vũ trang và toàn dân.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 11 (đặc biệt) vào tháng 3 năm 1965 nêu rõ: “Chuẩn bị sẵn sàng đối phó và quyết thắng cuộc chiến tranh cục bộ ở miền Nam nếu địch gây ra;... chống tư tưởng sợ Mỹ, đánh giả địch quá cao, hoặc chủ quan khinh địch, tư tưởng hoang mang dao động, cầu ơn, tư tưởng muốn đàm phản khi chưa có điều kiện có lợi, muốn kết thúc chiến tranh với bất cứ giá nào, tư tưởng ỷ lại vào sự giúp đỡ của nước ngoài và không tin vào sức mình...”. Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 11 và Lời kêu gọi của Tỉnh ủy Quảng Đà: “... Giặc đến là phải đánh, dù là quân ngụy, quân Mỹ hay bất kỳ loại quân nào khác”, huyện Đại Lộc đã tiến hành chỉnh huấn, giải quyết tư tưởng gờm Mỹ, ngại đánh Mỹ, ngại ác liệt, xây dựng tinh thần cách mạng tiến công địch, sẵn sàng nhận và hoàn thành nhiệm vụ, chấp nhận hy sinh, gian khổ trong lực lượng vũ trang và nhân dân. Quán triệt sâu sắc tinh thần chỉ đạo của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh: “Tư tưởng lớn của thời đại là không sợ Mỹ, dám đánh Mỹ quyết đánh Mỹ vì độc lập, dân chủ, hòa bình và tiến bộ xã hội”. Giáo dục cán bộ, chiến sĩ và nhân dân nhận thức được rằng, quân Mỹ vào tham chiến ở miền Nam trong thế bị động, bị tấn công liên tục, tuy có số lượng đông, nhiều vũ khí và phương tiện quân sự hiện đại nhưng tinh thần binh lính không ổn định, lại quá lạm dụng kỳ thuật; địa hình chiến trường miền Nam không phải là điều kiện lý tưởng cho quân Mỹ triến khai đội hình tác chiến theo kiểu chiến tranh quy ước,... Từ đó đi đến khẳng định: Ở Việt Nam, quân Mỹ không đáng sợ; ta phải luôn chủ động nêu cao quyết tâm đánh Mỹ, phải liên tục tiến công, buộc quân Mỹ phải đánh theo cách đánh của ta nhằm phát huy ưu thế, sở trường của ta và hạn chế sức mạnh của vũ khí, hỏa lực, khả năng cơ động của chúng; nhất định ta phải đánh thắng chúng ngay trong trận đầu, hiệp đầu. “Cứ đánh Mỹ, sẽ tìm ra cách đánh thắng Mỹ!”

Bên cạnh đó, ta đã tổ chức Đại hội chiến tranh du kích, phát động sôi nổi phong trào thi đua “Tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt, phấn đấu đạt danh hiệu dũng sĩ diệt Mỹ, dũng sĩ diệt ngụy”; tích cực hường ứng phong trào ra Hòa Vang đánh Mỹ do Tỉnh ủy Quảng Đà phát động. Tháng 7 năm 1965, huyện mở trại thanh niên và truyền hịch cứu nước. Có 1.600 thanh niên tình nguyện đăng ký “3 sẵn sàng”, noi gương Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi lên đường giết giặc lập công, thề “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”. Hội phụ nữ giải phóng phát động 4 phong trào đảm đang với tinh thần: “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Nông hội tổ chức Hội nghị hiến kế diệt Mỹ, nắm chắc tay cày, tay súng, thi đua diệt Mỹ. Thiếu nhi có phong trào: “Tuổi nhỏ chí lớn, làm việc anh hùng”.

Huyện ủy còn chú trọng xây dựng ý chí kiên cường trụ bám đánh địch, thực hiện chủ trương động viên 3 bám: “Cán bộ bám dân, dân bám đất, du kích bám địch”, tổ chức nhân dân ăn thề bám đất. Các cơ quan tuyên truyền tích cực, kịp thời tuyên truyền, phổ biến cho toàn dân và lực lượng vũ trang các tin thắng Mỹ liên tiếp và vang dội trên chiến trường đất Quảng, nhất là Chiến thắng Núi Thành, trận tiêu diệt một đại đội Mỹ của Tiểu đoàn 1 ở Gò Hà (Hòa Vang) ngay sát Đà Nẵng - căn cứ liên hợp quân sự lớn của địch... cũng như các trận đánh Mỹ ở thôn Phú Bắc, xã Lộc Chánh (tức Đại Hiệp ngày nay), Bàu Mưng - thôn Lâm Tây, xã Lộc Quang (nay là xã Đại Đồng) và thắng lợi việc đẩy lùi trận càn của 2 tiểu đoàn thủy quân lục chiến Mỹ vào vùng B Đại Lộc từ ngày 28 tháng 01 đến ngày 25 tháng 02 năm 1966...

Có thể nói, công tác chính trị - tư tưởng đã đi trước một bước, có tác dụng giáo dục lòng tự hào, tự tôn dân tộc, cùng cố niềm tin và khơi dậy mạnh mẽ tinh thần dám đánh Mỹ và thắng Mỹ của quân và dân huyện Đại Lộc trước khi bước vào trận đọ sức với kẻ thù ớ Hà Vy.


(1) Huyện ủy viên, Trưởng Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Đại Lộc.


Tiêu đề: Chiến thắng Hà Vy - Ý nghĩa và bài học lịch sử
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Ba, 2020, 08:01:04 am
2. Chủ động tổ chức đánh Mỹ để tích lũy kinh nghiệm đối đầu vói một kẻ thù hùng mạnh.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Bí thư Trung ương Cục miền Nam, Chính ủy Quân giải phóng miền Nam chỉ rõ: “Đánh một kẻ thù như đế quốc Mỹ không phải dễ dàng, không phải chỉ đem gan góc ra mà phải có đường lốỉ chiến lược, chiến thuật giỏi...”, “Chúng ta nghiên cứa, tìm hiểu để quốc Mỹ không phải chỉ qua sách vở, điều lệnh chiến đấu của chủng mà chủ yếu phải qua hành động thực tiễn của chúng trên chiến trường... Nếu tính toán đầu người, đầu súng, mật độ hỏa lực pháo binh, máy bay, cơ giới... của địch một cách máy móc, sách vở thì không thể tìm ra đáp án so đúng cho các kế hoạch tác chiến của ta”.

Để rèn luyện kỹ, chiến thuật và tìm hiểu cách đánh Mỹ, ngày 20 tháng 6 năm 1965, đại đội bộ đội địa phương huyện do đồng chí Nguyễn Mới - đại đội phó chỉ huy phối hợp với du kích xã Lộc Chánh tổ chức đánh một trung đội thám báo Mỹ tại thôn Phú Bắc, tiêu diệt và bắn bị thương một số tên, thu 1 súng Ga-răng M.2. Quân Mỹ phải cho trực thăng đến giải cứu trung đội này. Ngày 05 tháng 01 năm 1966, bằng việc thiết lập bãi mìn dưới chân đồi Bông Trang, quân ta đã tiêu diệt 1 trung đội lính Mỹ, đánh thiệt hại 1 trung đội khác, thu 10 súng Ga-răng M.2, 4 cối cá nhân M79, 01 đại liên cực nhanh M60, 01 máy truyền tin PCR25 ở khu vực Bàu Mưng, thôn Lâm Tây, xã Lộc Quang (Đại Đồng).

Đáng chú ý là dùng “gậy ông đập lưng ông”, ta đã sử dụng ngay những vũ khí hiện đại của Mỹ - những chiến lợi phẩm thu được từ các trận đánh này, nhất là đại liên cực nhanh M60 và cối cá nhân M79 để đánh lại quân Mỹ, khiến chúng bất ngờ và chịu nhiều thương vong, góp phần làm nên thắng lợi của trận đánh Mỹ ở Hà Vy 50 năm trước!

3. Linh hoạt trong sử dụng chiến, kỹ thuật đối phó thắng lợi với quân Mỹ đổ bộ đường không và càn quét.

“Nắm thắt lưng Mỹ mà đánh”, “Ở gần đánh gần”. Các phương châm đánh địch này đã được Đại đội 1 bộ đội địa phương huyện Đại Lộc phối hợp với du kích Lộc Vĩnh thực hiện khá hoàn hảo khi đối phó với trận càn lớn của tiểu đoàn thủy quân lục chiến Mỹ ở Hà Vy ngày 2 tháng 4 năm 1966. Ta chủ động đợi địch đến gần mới nổ súng. Điều này chẳng những hạn chế thương vong cho bộ đội, du kích mà còn tăng hiệu quả tiêu diệt địch vì đã vô hiệu hóa được các phương tiện chiến tranh hiện đại của Mỹ, nhất là pháo binh và không quân. Bén cạnh đó, trong quá trình chiến đấu, đà sử dụng nhuần nhuyễn chiến thuật “phục kích - vận động”, tổ chức lực lượng đón đánh địch ở nhiều hướng và nhịp nhàng chi viện cho nhau khiến đối phương vô cùng lúng túng, bị động và hoảng loạn khi sa vào thế “thiên la, địa võng”. Ta đã hoàn thành xuất sắc mục tiêu đề ra: không cho địch tràn vào làng và không cho chúng thoát ra bờ sông Vu Gia, dồn chúng vào cánh đồng trống đê tiêu diệt.

Kinh nghiệm từ Chiến thắng Hà Vy đã được du kích xã Lộc Vĩnh vận dụng sáng tạo kết hợp với phát huy ưu thế của giao thông hào, ụ chiến đấu, bãi chông, cọc chống trực thăng đổ bộ... và thế trận chiến tranh nhân dân trong suốt 9 ngày sau đó liên tục quần lộn với quân Mỹ, linh hoạt tiến công tiêu diệt khi chúng tiến vào thôn Lục Nam bằng các hình thức chiến thuật: phục kích, mật tập khiến quân Mỹ phải rút chạy về căn cứ Thượng Đức sáng ngày 11 tháng 4 năm 1966.

50 năm đã đi qua, thời gian càng làm ngời sáng ý nghĩa lịch sử của Chiến thắng Hà Vy. Đây là biểu tượng sáng ngời vê chủ nghĩa anh hùng cách mạng và ý chí đánh Mỹ, thắng Mỹ của quân dân Đại Lộc, góp phần đánh bại Kế hoạch phản công chiến lược mùa khô lần thứ 2 (1965- 1966 của giặc Mỹ. Nếu Chiến thắng Núi Thành ngày 26 tháng 5 năm 1965 (diệt gọn đại đội Mỹ) đã giải quyết được tư tưởng “sợ Mỹ”, trả lời cho câu hỏi “Có đánh được Mỹ hay không?”; mở ra khả năng và thực tiễn đánh Mỹ của quân dân ta trên chiến trường với phương châm “lấy ít đánh nhiều, đánh địch trong công sự vững chắc” thì Chiến thắng Hà Vy ngày 2 tháng 4 năm 1966 (diệt gọn 01 đại đội Mỹ và đánh thiệt hại 02 đại đội khác, là trận thu nhiều súng nhất trong các trận chống càn trên chiến trường Quảng Đà) đã cho phép khẳng định: một đại đội bộ đội địa phương cấp huyện phối hợp với du kích xã hoàn toàn có đủ khả năng đánh thắng quân Mỹ đổ bộ đường không ở ngoài công sự và được phi pháo yểm trợ tối đa giữa ban ngày. Thực tế này đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược không chỉ của quân dân Đại Lộc mà còn của cả tỉnh và cả Khu 5. Chiến công xuất sắc của Đại đội 1 bộ đội địa phương huyện Đại Lộc và du kích xã Lộc Vĩnh vào tháng 4 năm 1966 đã được Tỉnh ủy - Ban Chỉ huy Tỉnh đội Quảng Đà biểu dương, tổ chức trao đổi kinh nghiệm cho các lực lượng vũ trang học tập tinh thần, quyết tâm đánh Mỹ. Lực lượng vũ trang huyện Đại Lộc còn vinh dự được chọn báo cáo điển hình tại Đại hội Chiến sĩ thi đua toàn Khu V lần thứ 2 vào tháng 12 tháng 1966, phát động học tập trong toàn khu. Đại đội bộ đội địa phương huyện được Đại hội tuyên dương là một trong những ngọn cờ tiêu biểu: đơn vị diệt nhiều Mỹ nhất của tỉnh Quảng Đà năm 1966. Du kích xã Lộc Vĩnh được Bí thư Khu ủy 5 Võ Chí Công khen ngợi là “ngoan cường, dũng cảm, mưu trí, biết cách đánh thắng Mỹ trong điều kiện lực lượng ít, mang về cho Đại hội món quà vô giá”.

Trong công cuộc đổi mới, xây dựng, phát triển quê hương Đại Lộc ngày nay, tinh thần Chiến thắng Hà Vy đã và đang cổ vũ Đảng bộ, nhân dân và lực lượng vũ trang toàn huyện phát huy tinh thần cách mạng tiến công, quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, thử thách để chiến thắng lạc hậu, chiến thắng sự trì trệ, vững bước đi tới tương lai tươi sáng, không phụ sự hy sinh xương máu của bao đồng bào, đồng chí ngã xuống ngày hôm qua. Những kinh nghiệm quý báu của quân và dân Đại Lộc trong kháng chiến chống Mỹ nói chung và trong Chiến thắng Hà Vy nói riêng vẫn tươi nguyên giá trị, góp phần quan trọng vào việc xây dựng thế trận quốc phòng - an ninh rộng khắp, vững chắc trên địa bàn huyện.


Tiêu đề: Chiến thắng Hà Vy - Ý nghĩa và bài học lịch sử
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Ba, 2020, 08:05:25 am
CHIẾN THẮNG HÀ VY TRẬN ĐẦU DIỆT GỌN 01 ĐẠI ĐỘI MỸ
TRÊN QUÊ HƯƠNG ĐẠI LỘC

Đỗ Văn Bình(1)

Trong chiến lược chiến tranh đặc biệt, dùng quân đội ngụy với tiền của, vũ khí và sự chỉ huy của Mỹ, tăng viện trợ quân sự Mỹ và tăng quân chính quy ngụy lên gấp 2 lần, lực lượng cố vấn Mỹ tăng gấp 12 lần (12.000 cố vấn) với mục tiêu bình định miền Nam trong vòng 18 tháng, nhưng cả 2 kế hoạch quân sự Staley - TaylorJohnson - McNamara đều thất bại; đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt(2), ngụy quyền Sài Gòn lại lâm vào khủng hoảng triền miên (chỉ trong 1 năm rưỡi từ tháng 11 năm 1963 đến tháng 6 năm 1965 đà có đến 14 lần đảo chính và phản đảo chính). Không còn cách nào khác, đế quốc Mỹ buộc phải chuyển sang dùng chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, xuất con át chủ bài là quân viễn chinh Mỹ đưa vào miền Nam tham chiến trên quy mô lớn, đồng thời đẩy mạnh chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc. Tướng Oetmolen lên một kế hoạch đẩy tham vọng, được Tổng thống Johnson chuẩn y. Theo đó, sẽ tiến hành 3 giai đoạn:

Giai đoạn 1 từ tháng 7 đến hét năm 1965 triển khai nhanh quân chiến đấu Mỹ và chư hầu, giữ cho quân ngụy khỏi sụp đổ, ngăn chặn đà tiến công của lực lượng vũ trang ta;

Giai đoạn 2 từ tháng 1 đến tháng 6 năm 1966 mở các cuộc phản công chiến lược tỉm diệt chủ lực ta và kiểm soát vùng nông thôn miền Nam;

Giai đoạn 3 từ tháng 7 tháng 1966 đến tháng 7 năm 1967, hoặc đến hết năm 1967 sẽ tiếp tục tiến công, hoàn thành việc tiêu diệt khối chủ lực của ta, tiếp tục bình định miền Nam, rút quân Mỹ về nước, giao công việc “bình định” lại cho quân ngụy.

Có thể khẳng định kế hoạch chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ, xuyên suốt là những trận càn vào lãnh địa, rừng núi và nông thôn căn cứ địa cách mạng, nhằm “tách cá ra khỏi nước”. Kế hoạch này vừa được đưa vào thực hiện đã xung đột văn hóa “làng” của người dân Việt ngàn đời. Nhất là các vùng nông thôn nông nghiệp, mảnh đất bình yên. Nơi ấy là dòng họ, gắn với nhà thờ dòng tộc, cây đa, bờ tre, ao làng, sân đình, giếng nước. Đó là lí do tại sao nhiều trận càn lớn vào vùng nông thôn đều bị thất bại thảm hại. Trận càn vào làng Hà Vy xã Lộc Vĩnh huyện Đại Lộc ngày 2 tháng 4 năm 1966 của quân đội Mỹ chịu chung kết cục trên.

Trận đánh diễn ra tại làng Hà Vy xã Lộc Vĩnh (nay là xã Đại Hồng), thuộc vùng A của huyện Đại Lộc, diện tích canh tác khoảng 600 ha, chủ yếu là trồng bắp, dâu, lúa.... Nhân dân sinh sống dọc theo bờ sông và ven chân núi. Trong chiến lược chiến tranh đặc biệt, Mỹ - ngụy thực hiện chính sách bình định, lập “ấp chiến lược”, chúng thiết lập chính quyền từ xã đến thôn, bắt nhân dân đào giao thông hào, rào ấp chiến lược quanh làng.

Nửa thế kỷ nhìn về trận chống càn làng Hà Vy, xã Lộc Vĩnh huyện Đại Lộc, những người tham gia chiến trận năm xưa, có trẻ chăng, bây giờ đã qua thất thập cổ lai hy. Nhưng khi kể lại trận đánh các cựu chiến binh vẫn còn nhớ khá rõ như ngày hôm qua.

Thứ nhất, trận đầu đánh quân Mỹ trên quê hương của mình “giặc đến nhà”, tâm trạng hồi hộp, trăn trở và lo lăng, khi nhận được tin Mỹ càn vào quê hương với quân đội nhà nghề trang thiết bị hiện đại, tối tân cả máy bay yểm trợ.

Thứ hai, thời gian chuẩn bị rất gấp, ngày 28, 29 tháng 3 nhận tin từ cấp trên Mỹ sẽ mở trận càn vào Đại Lộc. Nhưng tin cuối cùng chiều ngày 30 tháng 3
, quân Mỹ sẽ đổ bộ bằng đường không để càn lên Đại Lộc, mà trọng điểm là xã Lộc Vĩnh, tin cấp báo nên công tác chuẩn bị rất khẩn trương.

Thứ ba, ngay trong đêm 30 tháng 3, Ban chỉ huy huyện đội giao nhiệm vụ cho đại đội 1. Đại đội trưởng Đại đội 1 cùng một số lãnh đạo Đại đội cấp tốc lên Lộc Vĩnh để chuẩn bị địa bàn chiến đấu. Sáng ngày 01 tháng 4 năm 1966, Ban chỉ huy đại đội tổ chức họp khẩn cấp với lãnh đạo xã Lộc Vĩnh để phối hợp tác chiến với dân quân du kích xã.

Thứ tư, rất tự hào về Đại đội trưởng Lê Văn Thanh, người nhận lệnh của Huyện ủy Đại Lộc, Ban chỉ huy huyện đội, trực tiếp triển khai tác chiến trận chống càn Hà Vy. Lê Văn Thanh người con quê hương Đại Lộc, tham gia cách mạng từ 1945, năm 1954 tập kết ra Bắc, năm 1960, theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 15 (khóa II) đồng chí quay về miền Nam cầm súng chiến đấu. Trước khi tham gia chỉ huy trận Hà Vy đồng chí đã đánh hàng chục trận trên địa bàn Quảng Nam và Đại Lộc, trong đó nhiều trận đánh Mỹ. Sau trận càn Hà Vy năm 1967, anh hy sinh. Năm 2010, Nhà nước truy tặng Lê Văn Thanh - Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


(1) Trưởng phòng Lý luận chính trị - Lịch sử Đảng, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Quảng Nam
(2) Chỉ riêng trận Bình Giã ở Bà Rịa từ ngày 2 tháng 12 năm 1964 đến ngày 3 tháng 01 năm 1965 quân ngụy đã bị diệt gọn 2 tiểu đoàn chủ lực, 1 chi đoàn xe bọc thép, thiệt hại nặng 3 tiểu đoàn khác cùng với 7 đại đội bảo an, với tổng cộng 1.755 quân bị diệt, 230 quân và 63 cố vấn Mỹ bị bắt sống, 45 xe bị phá hủy, 56 máy bay các loại bị bắn hỏng, mất hơn 1000 khẩu súng, rồi đến trận Ba Gia ở Bắc Quảng Ngãi bị thiệt hại nặng 4 tiểu đoàn chủ lực, bị loại khỏi vòng chiến đấu 2.054 quân, bị phá hỏng 15 xe quân sự.


Tiêu đề: Chiến thắng Hà Vy - Ý nghĩa và bài học lịch sử
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Ba, 2020, 08:06:25 am
Nhận định tương quan lực lượng ta và địch:

Một là: Địa hình khá thuận lợi cho ta, chủ động chốt những vị trí cao các thôn trong xã, từ đây quan sát được đội hình địch ở xa, chúng ta làm chủ trận địa. Thứ nữa bộ đội địa phương nhất là du kích, ngõ, ngách, công sự thuộc như lòng bàn tay.

Thứ hai: Quân Mỹ có số lượng đông, lại dễ cơ động tiếp viện nhất là “trực thăng vận” đường từ Thượng Đức xuống hay Bồ Bồ lên... các loại phi pháo, từ Ái Nghĩa hay từ Thượng Đức đến Hà Vy đều thuận lợi cho chúng. Tuy nhiên trong lòng đội quân Mỹ có nhiều điếm yếu: Quân Mỹ mới đến Việt Nam chưa quen trận mạc, không thông địa hình, đặc biệt tư tưởng chủ quan, ỉ vào sức mạnh của vũ khí.

Thứ ba: Đại đội bộ đội địa phương huyện và lực lượng du kích Lộc Vĩnh có quân số đông, chất lượng chiến đấu tốt, quen thuộc với địa hình, địa vật, rèn dũa qua nhiều trận càn Mỹ - ngụy trước đó. Tuy nhiên, có một yếu như: có bộ phận chiến sĩ chưa trực tiếp đối đầu với quân Mỹ nên một số cán bộ, chiến sĩ vẫn còn tư tưởng gờm Mỹ, sợ Mỹ, mặt khác vũ khí chúng ta còn thiếu và yếu.

Thứ tư: Nhân dân có truyền thống đấu tranh cách mạng, tận tình giúp đỡ bộ đội, du kích sẵn sàng tham gia phục vụ chiến đấu như khiêng thương, tải đạn, tiếp tể lương thực thực phẩm, thuốc men. Nhân dân là hậu phương, chỗ dựa vững chắc cho bộ đội.

- Phía ta: Đại đội trải qua quá trình xây dựng, chiến đấu trưởng thành đánh hàng chục trận lớn nhỏ trên địa bàn Đại Lộc... Đến đầu năm 1966, quân số của đơn vị trên 120 đồng chí, trong đó có 36 đảng viên. Phần lớn tuổi trẻ (60 đoàn viên) Ban Chỉ huy Đại đội gồm: Đồng chí Lê Văn Thanh - Đại đội trưởng; đồng chí Trần Văn Anh - Chính trị viên và đồng chí Nguyễn Mới - Đại đội phó.

Đại đội được biên chế thành 4 trung đội (3 trung đội bộ binh, 1 trung đội hỏa lực). Đại đội được trang bị khá cơ bản: 1 cối 81 ly, 1 cối 60 ly, 1 đại liên,01 khẩu đại liên (thu được của quân Mỹ trong trận Bàu Mưng), 03 trung liên, còn lại là các loại súng: Phóng lựu, K44, Ga - ran M1, cạc-bin, lựu đạn.

Hầu hết cán bộ, chiến sĩ đại đội đều trải qua thực tiễn chiến đấu, công tác, có trình độ giác ngộ chính trị, thành thạo các kỹ chiến thuật, sở trường tác chiến chủ yếu của đơn vị là tập kích, vận động phục kích. Nhiều đồng chí chiến sĩ trẻ háo hức và rất tự hào mình được tham gia trận chống càn lần này. Sau 2 ngày tập trung chuẩn bị, đến chiều ngày 1 tháng 4 năm 1966 các bộ phận nhanh chóng vào vị trí chiến đấu.

- Về phía địch: Quân số một đại đội (khoảng trên 100 tên). Vũ khí chúng trang bị khá hiện đại 1 hỏa lực, cối 60 ly, 3 đại liên, 1 ĐKZ 57, súng trường Ga - ran M2, lựu đạn... Đây là lực lượng tinh nhuệ của quân đội Mỹ. Với mục đích “Tìm diệt và bình định”. Theo ta nhận định, với hỏa lực mạnh, chúng sẽ tập trung đánh phủ đầu lực lượng ta, tạo bàn đạp tiến công lên các huyện phía tây của tỉnh ta.

Sáng ngày 02 tháng 4 năm 1966, 7 giờ, máy bay LI9 (máy bay trinh sát) của Mỹ xuất phát từ sân bay Đà Nẵng đến quần lượn khu vực xã Lộc Vĩnh, nắm tình hình lực lượng ta và chọn vị trí đổ bộ đường không tiến hành trận càn. Tiếp đó, chúng cho trực thăng đến bắn phá dọc hai bờ sông Vu Gia làng Hà Vy, đến rìa làng Ngọc Kinh Lộc Vĩnh rất dữ dội. Sau khi dọn đường xong, khoảng gần 10 chiếc HU1A, chở một đại đội lính đội thủy quân lục chiến Mỹ từ căn cứ Bồ Bồ (Điện Bàn) bay ngược sông Vu Gia đến đổ quân xuống bãi cát ven, cánh đồng ven sông Vu Gia ngoài rìa làng Hà Vy.

Đến 10 giờ chúng chia làm hai mũi tiến vào xã thôn 1 ta không có sự kháng cự nào của lực lượng ta, chúng sinh chủ quan. Chúng tiếp tục rời thôn 1 dàn hàng ngang băng qua cánh đồng trống vào thôn 2. Đội hình chúng lọt vào tổ phục kích, ta vẫn bí mật chờ địch tiến dần từng bước. 11 giờ 30 phút, địch cách ta khoảng từ 5 đến 10m, chỉ huy ra lệnh nổ súng. Do tấn công bất ngờ giữa đồng trống ban ngày, loạt đạn đầu tiên gần 20 tên gục ngã trước họng súng của ta. Chúng co cụm lại, nằm tại chồ chống trả và cho tuyến sau bò lên khiêng thương. Ta tập trung hỏa lực bắn thẳng vào đội hình. Chúng kêu pháo từ Thượng Đức, và Ái Nghĩa bắn yểm trợ.


Tiêu đề: Chiến thắng Hà Vy - Ý nghĩa và bài học lịch sử
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Ba, 2020, 08:07:12 am
Ban Chỉ huy Đại đội ra lệnh không để cho quân Mỹ tiến vào thôn xóm, quyết tâm giữ vững trận địa; lệnh phân tán lực lượng đánh quần lộn với địch, căn mỏng đội hình chúng ra, giam chân địch không cho chúng phát huy lợi thế hỏa lực và tập trung toàn bộ hỏa lực của ta gồm cối 81 và cối 60 tấn công vào đội hình địch đang đổ quân. Các mũi tiến công phối hợp đẩy, dồn địch ra cánh đồng trống và bờ sông để tiêu diệt, đồng thời không để chúng phân tuyến, củng cố đội hình, buộc chúng phải ứng chiến theo ý định của ta. Trận đánh diễn ra suốt ngày 02 tháng 4 năm 1966, ta đã liên tiếp đẩy lùi, bẽ gãy 3 đợt tiến công của tiểu đoàn thủy quân lục chiến Mỹ. Một chiến HU1A chở quân tiếp viện bị ta bắn cháy, một chiếc khác điều đến để chở thương bị ta bắn hỏng phải hạ khẩn cấp xuống ruộng bắp ven sông. Trời về chiều, bị mất gần 1 đại đội, xác đồng bọn nằm ngổng ngang trên cánh đồng và ven sông, lính Mỹ vừa đổ xuống đã mất tinh thần chiến đấu. Chúng dùng hỏa lực băn vào trận địa của ta, yểm trợ cho đồng bọn bò vào kéo xác đưa ra ngoài cho máy bay chở đi.

Đến 18 giờ, trời bắt đầu tối, máy bay C.310 đến thả đèn sáng, các loại máy bay tiếp tục bắn phá, nhiều máy bay trực thăng đến chở xác, chở thương. Còn quân Mỹ chúng cũng lần lượt rút quân và cẩu chiếc máy bay rơi ở bãi về căn cứ. Trận càn làng Hà Vy xã Lộc Vĩnh của Mỹ thất bại thảm hại.

Kết quả và ý nghĩa :

Kết quả, với đại đội quân địa phương (huyện) và trung đội du kích (xã) quân ta đã bẽ gãy trận càn trực thăng vận của Mỹ, loại khỏi vòng chiến đấu 01 đại đội Mỹ. Làm thiệt hại 2 đại đội khác của chúng. Thu 28 súng, trong đó có 1 đại liên, nhiều quân trang quân dụng. Bắn cháy 01 máy bay trực thăng và bắn hỏng 1 trực thăng khác. Trận đầu tiên diệt Mỹ nhiều nhất trên chiến trường huyện Đại Lộc.

Chiến thắng Hà Vy xã Lộc Vĩnh huyện Đại Lộc Quảng Nam là trận chiến thắng đầu tiên của đơn vị bộ đội địa phương và du kích xã đã đẩy lùi trận càn Mỹ thực hiện chiến thuật “trực thăng vận” của Mỹ.

Chiến thắng của đường lối đúng đắn của Đảng ta lúc này Nghị quyết 11 chống lại chiến lược chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ trên chiến trường miền Nam nói chung. Trên chiến trường Khu 5, Quảng Đà, Đại Lộc nói riêng.

Chiến Thắng Hà Vy thể hiện sự chỉ đạo kịp thời, đúng đắn của huyện ủy, huyện đội Đại Lộc; sự kết hợp quân đội địa phương và dân quân du kích trên địa bàn huyện phát huy sức mạnh làng chiến đấu, đập tan chủ trương bình định trong chiến tranh cục bộ Mỹ.

Thất bại của quân Mỹ tại trận càn Hà Vy góp phần làm suy giảm tinh thần, ý chí của quân chiến đấu Mỹ tại chiến trường miền Nam. Ngược lại chiến thắng Hà Vy tạo niềm tin cho quân dân ta quyết đánh Mỹ và thắng Mỹ, giải tỏa tư tưởng gờm Mỹ, sợ Mỹ còn sốt lại trong tư tưởng một bộ phận cán bộ chiến sỹ và nhân dân ta.

Chiến thắng Hà Vy chiến thắng tinh thần quả cảm, đoàn kết quyết hy sinh của quân dân Đại Lộc để bảo vệ quê hương. Trong cách đánh, thể hiện sự sáng tạo trong những tình huống thực tế trong trận địa như: đợi Mỹ đến thật gần mới nổ súng; đẩy địch ra đồng trống, bờ sông để truy kích tiêu diệt.

Chiến thắng Hà Vy xã Lộc Vĩnh huyện Đại Lộc đi và lịch sử Quân Khu 5, tỉnh Quảng Đà. Trận đầu tiên 1 đại đội địa phương (huyện) và du kích xã diệt một đại đội Mỹ. Chiến công này được tỉnh Quảng Đà tặng Huân chương chiến công hạng Nhất. Tỉnh ủy, Ban Chỉ huy Tỉnh đội Quảng Đà biểu dương và chọn báo cáo điển hình tại Đại hội chiến sĩ thi đua toàn Khu 5 lần thứ hai vào tháng 12 tháng 1966, được Quân khu biểu dương là Đại đội địa phương diệt nhiều Mỹ nhất, thu nhiều súng nhất trong năm 1966 và phát động học tập trong toàn Khu. Chiến thắng Hà Vy cùng với chiến thắng Núi Thành, Quảng Nam vinh dự được tặng 8 chữ vàng “Trung dũng, kiên cường đi đầu diệt Mỹ”.


Tiêu đề: Chiến thắng Hà Vy - Ý nghĩa và bài học lịch sử
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Ba, 2020, 08:08:32 am
ĐẠI ĐỘI TRƯỞNG ĐẠI ĐỘI 1 LÊ VĂN THANH - NGƯỜI TRỰC TIẾP
CHỈ HUY TRẬN ĐÁNH HÀ VY

Nguyễn Thị Tuyết(1)

Trận đánh Hà Vy (ngày 02 tháng 4 năm 1966) là một trong những trận đánh lớn của bộ đội địa phương huyện Đại Lộc kết họp với dân quân du kích xã Lộc Vĩnh (Đại Hồng). Đồng chí Lê Văn Thanh - Đại đội trưởng Đại đội 1, người trực tiếp chỉ huy trận đánh đã gắn liền với những chiến công vang dội của trận đánh Hà Vy cách đây tròn 50 năm.

Trong quá trình chuẩn bị tư liệu cho bài viết, tôi đã gặp gỡ, trao đổi với những người đã từng chung chiến hào, từng làm việc, từng sống vói đồng chí Lê Văn Thanh để tìm hiểu thêm bởi những trang tư liệu viết về đồng chí hiện nay còn rất ít. Người thân, họ hàng hầu hết đã qua đời trong khi hai người con của đồng chí lúc đó còn quá nhỏ, chỉ nghe kể lại những chiến công của cha qua những người bạn, đồng đội hoạt động cùng thời với cha mình.

Cảm nhận đầu tiên của tôi khi tiếp xúc với các nhân chứng đó là cách xưng hô khi nói tới đồng chí Thanh, tất cả những người mà tôi đã gặp, đã hỏi đều có chung một cách gọi “anh Thanh”, “anh Thanh chỉ huy chúng tôi”, “anh Thanh nói”... Dường như ở họ, những ký ức về người đại đội trưởng Lê Văn Thanh vẫn còn đọng mãi. Với họ, ông là người anh thân thiết, người chỉ huy tài ba, sáng suốt, góp phần làm nên những chiến thắng của bộ đội địa phương và du kích các xã huyện Đại Lộc trong những năm tháng chống Mỹ gian khổ.

Đại tá Phạm Tấn Bá, nguyên là trinh sát Đại đội 1 bộ đội địa phương huyện Đại Lộc, chiến sĩ dưới quyền chỉ huy của đồng chí Thanh cho biết: “Anh Thanh là một chỉ huy giỏi, tinh thần chiến đau rất dũng cảm, chủng tôi rất may mắn được anh dẫn dắt trong quả trình hoạt động cách mạng”.

Qua lời kể của các nhân chứng và những tư liệu còn lưu giữ được, tôi đã phần nào hình dung được cuộc đòi và những chiến công đáng ghi nhận của đồng chí Lê Văn Thanh. Ở tham luận này, tôi muốn làm rõ hơn những chiến công trong chiến đấu của ông để làm tư liệu lưu giữ, giáo dục truyền thống cho các thế hệ sau này.

Đồng chí Lê Văn Thanh sinh năm 1925 trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng ở thôn Hà Vy, xã Đại Hồng, huyện Đại Lộc. Cha của đồng chí là ông Lê Ngũ - một người nông dân hiền lành, chất phác. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, gia đình ông Lê Ngũ đã nuôi giấu nhiều cán bộ cách mạng, là cơ sở mật của lực lượng cách mạng huyện nhả. Năm 1957, sau một trận bệnh nặng, ông đã qua đời.

Mẹ của đồng chí là bà Nguyễn Thị Ngũ – người phụ nữ trung hậu, đảm đang và gan dạ. Bà dã cùng chồng nuôi giấu nhiều cán bộ của ta trong kháng chiến chống Pháp Thời kỳ chống Mỹ, bà tham gia chi hội phụ nữ thôn Hà Vy. Bà đã bị địch bắt nhiều lần, tra tấn dã man song bà vẫn một lòng thủy chung với cách mạng, tích cực vận động chị em dân làng thoát khỏi khu dồn về vùng giải phóng. Tháng 9 năm 1968, trong một lần làm nhiệm vụ, bà đã anh dũng hy sinh.

Gia đình đồng chí có 5 anh em, trong đó có 02 người là Liệt sỹ (anh ruột hy sinh trong kháng chiến chống Pháp năm 1948 và đồng chí Thanh hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ).

Sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước, lớn lên ở một quê hương giàu truyền thống cách mạng, đồng chí Lê Văn Thanh đã sớm giác ngộ cách mạng. Năm 1945, đồng chí đã tham gia cùng gia đình, hoạt động cách mạng tại địa phương trong các phong trào thanh niên, sau đó là du kích. Năm 1952, sau một quá trình phấn đấu, đồng chí chính thức được gia nhập hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 1953, được gọi tham gia vào bộ đội địa phương huyện. Đến năm 1954, sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, đồng chí đã cùng những người con ưu tú của quê hương Đại Lộc, Quảng Nam lên đường tập kết ra Bắc. Năm 1960, theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II là phong trào cách mạng miền Nam chuyển từ đấu tranh chính trị sang đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang, đồng chí được lệnh trở lại miền Nam tham gia chiến đấu ngay trên mảnh đất quê hương Đại Lộc.

Năm 1961, đồng chí được phân công về công tác tại chi bộ ghép Hồng Sơn. Năm 1962, sau khi tách chi bộ Hồng Sơn thành hai chi bộ Đại Hồng và Đại Sơn, đồng chí sinh hoạt tại chi bộ Đại Hồng. Ngày 16 tháng 3 năm 1962, sau một thời gian hoạt động, đồng chí đã cùng đội công tác xã kết hợp với sự hỗ trợ của cơ sở đánh vào cơ quan hội đồng xã Lộc Vĩnh, đốt cơ quan, bắt gọn mâm hội đồng gồm 14 tên. Cũng trong năm 1962, đồng chí đã nhiều lần đưa bộ đội chủ lực vào thôn Lục Nam lấy lương thực tiếp tế cho quân ta. Đầu năm 1963, được phân công cùng một số đồng chí khác tham gia diệt những tên ác ôn, đội lốt tôn giáo ở địa phương. Đến tháng 6 năm 1964, sau khi đồng chí Nguyễn Châu (đội trưởng đội công tác xã Đại Hồng) hy sinh, đồng chí Lê Văn Thanh được tín nhiệm lên thay, làm đội trưởng đội công tác xã Đại Hồng. Trong thời gian làm đội trưởng, đồng chí đã nêu cao tinh thần gan dạ, táo bạo khiến cho các đồng chí trong tổ khâm phục và noi theo. Cuối năm 1964, đồng chí được điều động về huyện, sau đó được bầu vào Ban Chấp hành Đảng bộ huyện, giữ chức vụ Đại đội trưởng Q14 Bộ đội địa phương huyện. Bắt đầu từ đây là những năm tháng chiến đấu gian khổ song rất đỗi tự hào của đại đội trưởng Lê Văn Thanh.


(1) Ban Tuyên giáo Huyện ủy Đại Lộc.


Tiêu đề: Chiến thắng Hà Vy - Ý nghĩa và bài học lịch sử
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Ba, 2020, 08:09:20 am
Đồng chí đã chỉ huy Đại đội 1 bộ đội địa phương huyện Đại Lộc liên tục tổ chức đánh địch khiến quân địch ở các chốt điểm hoang mang, lo sợ. Mỗi khi nghe đến bí danh Lê Văn Thanh là quân địch trên địa bàn huyện Đại Lộc hoang mang, lo sợ. Chính vì vậy chúng đặt cho ông biệt danh là “Thanh soái”. Trong năm 1965, bộ đội địa phương huyện chủ yếu hoạt động ở quanh khu vực Thượng Đức bởi nơi đây, quân ngụy tập trung xây dựng bảo vệ cứ điểm Thượng Đức, chúng coi Thượng Đức là cánh cửa thép bảo vệ căn cứ liên hợp quân sự tại Đà Nẵng. Đồng chí đã chỉ huy nhiều trận đánh ở các địa điểm xung quanh Thượng Đức gây nhiều tổn thất cho quân địch như trận đánh biệt kích ngụy tại Gò Cấm, Hà Tân xã Lộc Bình (nay là xã Đai Lãnh); trận đánh biệt kích Mỹ tại thôn 12 Đại Lãnh; bao vây và vận động một trung đội ngụy từ bỏ vũ khí quay về với cách mạng...

Đầu năm 1966, địch tăng cường quân lính và vũ khí cho các cứ điểm quân sự trên địa bàn huyện Đại Lộc. Chúng liên tục tổ chức nhiều đợt tiếp viện cho cứ điểm Thượng Đức, Ái Nghĩa, Núi Lở. Trước tình hình đó, quân và dân ta cũng liên tục chặn đánh nhằm ngăn chặn sự chi viện của quân địch. Thời gian này, Đại đội 1 bộ đội địa phương đứng chân tại Lộc Vĩnh (Đại Hồng) và Lộc Quang (Đại Đồng). Tháng 01 năm 1966, đồng chí Lê Văn Thanh cùng đại đội 1 và du kích xã Lộc Quang (Đại Đồng) đã đánh tan một trung đội Mỹ tại Bàu Mưng khi chúng đang trên đường tiếp viện cho Thượng Đức. Trận đánh này là tiền đề góp phần làm nên chiến thắng Hà Vy sau đó.

Trong trận đánh Hà Vy, với vai trò là Đại đội trưởng, đồng chí Lê Văn Thanh đã chỉ huy lực lượng bộ đội địa phương đánh và diệt gọn 1 đại đội Mỹ, làm thiệt hại 2 đại đội khác. Với kinh nghiệm đánh Mỹ, diệt ngụy nhiều năm, đồng chí đã nhận định đúng tình hình địch đổ quân nên đã triển khai đội hình chiến đấu rất linh hoạt, dựa vào lợi thế của giao thông hào, công sự và rào làng chiến đấu, chờ địch đến gần mới nổ súng, do đó, ngay từ loạt đạn đầu đã tiêu diệt hơn 20 tên địch, giáng cho địch một đòn phủ đầu khiếp vía. Khi thấy Mỹ đổ quân tiếp viện, đồng chí Thanh đã chủ trương phân tán lực lượng, đánh quần lộn với địch, giam chân địch trên trận địa, không cho chúng phát huy lợi thế đồng thời chỉ huy lực lượng ta tập trung toàn bộ hỏa lực tấn công quân Mỹ để tiêu diệt, kết thúc trận đánh với thắng lợi vẻ vang. Sau thất bại ở Hà Vy, quân Mỹ đẩy mạnh càn quét địa bàn xã Lộc Vĩnh. Lúc này, đồng chí Lê Văn Thanh được chỉ đạo đứng chân hoạt động tại xã Lộc Vĩnh. Đồng chí đã cùng đại đội 1 và du kích xã tổ chức đánh địch nhiều lần, gây tổn thất nặng nề cho quân Mỹ. Năm 1967, trong một trận chỉ huy chiến đấu, đồng chí Lê Văn Thanh đã anh dũng hy sinh. Sự ra đi của đồng chí đã để lại niềm tiếc thương vô hạn đối vói đồng đội, những người làm việc và sống cùng đồng chí đồng thời tấm gương hy sinh của đồng chí cũng nâng cao quyết tâm chiến đấu trong lực lượng vũ trang huyện Đại Lộc thời điểm đó và cả sau này.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, đồng chí đã tham gia hơn 100 trận đánh lớn nhỏ, tiêu diệt hơn 200 tên Mỹ - ngụy, bắn rơi 2 máy bay trực thăng, thu được nhiều vũ khí của quân địch. Trận đánh Hà Vy là một trong những trận đánh lớn và thắng lợi lớn mà đồng chí trực tiếp tham gia chỉ huy. Sau Hà Vy, đồng chí đã được phong tặng danh hiệu “Dũng sỹ diệt Mỹ” tại Đại hội thi đua yêu nước Quân khu 5 vào tháng 12 năm 1966. Với những chiến công oanh liệt đó, đồng chí đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Ba, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất và nhiều bằng khen, giấy khen khác. Ngày 23 tháng 02 năm 2010, đồng chí Lê Văn Thanh vinh dự được Đảng và Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Trong chiến đấu, đồng chí Lê Văn Thanh là một người chỉ huy tài ba, mưu trí; một người chiến sỹ dũng cảm. Trong cuộc sống đời thường, đồng chí là người luôn hết lòng vì gia đình, người thân. Dù bận rộn với công việc, nay chỉ huy chống càn ở nơi này, mai tham gia đánh địch ở nơi kia song mỗi khi có điều kiện, đồng chí đều tranh thủ ghé thăm gia đình. Trước trận đánh Hà Vy, sau khi nhận định tình hình, bố trí và triển khai lực lượng mai phục, đồng chí cũng ghé qua thăm gia đình, động viên vợ con. Điều đó thể hiện tinh thần bình tĩnh, tự tin cũng như sự dày dặn, chủ động trước mọi tình huống của một người chỉ huy. Ấn tượng nhất đối với những người đồng đội về người Đại đội trưởng của mình đó là sự chu đáo, tận tình và cực kỳ dũng cảm.

50 năm sau ngày Đại đội trưởng Lê Văn Thanh chỉ huy bộ đội địa phương phối hợp với du kích xã làm nên chiến thắng Hà Vy và gần 50 năm sau ngày đồng chí anh dũng hy sinh trên chiến trường, chúng ta mới có dịp ngồi lại để hiểu thêm về ông - một chiến sỹ cách mạng kiên cường. Người con quê hương Đại Lộc hết lòng vì quê hương đất nước. Với bản tham luận này, tôi chỉ mong muốn giúp người đọc hiểu hơn về con người, về những đóng góp của Đại đội trưởng Lê Văn Thanh đối với phong trào đấu tranh giành độc lập của huyện nhà, đồng thời thắp nén hương tri ân tưởng nhớ tới những công lao to lớn của ông - người con kiên cường của quê hương Đại Lộc anh hùng.


Tiêu đề: Chiến thắng Hà Vy - Ý nghĩa và bài học lịch sử
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Ba, 2020, 08:11:20 am
VAI TRÒ PHỐI HỢP TÁC CHIẾN GIỮA DU KÍCH XÃ LỘC VĨNH
VỚI BỘ ĐỘI ĐỊA PHƯƠNG TRONG CHIẾN THẮNG HÀ VY

Nguyễn Hải Triều(1)

Trong 21 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đã có hàng ngàn trận đánh lớn nhỏ diễn ra mà mỗi trận đánh đều có vai trò, ý nghĩa, tầm vóc riêng của nó. Với trận chống càn của quân và dân Đại Lộc diễn ra vào sáng ngày 02 tháng 4 năm 1966 tại cánh đồng làng Hà Vy đã thể hiện quyết tâm, ý chí của Đảng bộ, quân dân huyện Đại Lộc quyết đánh, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược; đồng thời chứng tỏ sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, kịp thời của Đảng bộ huyện, sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa bộ đội chủ lực địa phương và dân quân du kích trong phối hợp tác chiến - một trong những yếu tố cốt lõi làm nên chiến thắng Hà Vy.

Từ cuối năm 1964, đầu năm 1965, trước những đòn tiến công dồn dập của quân và dân ta trên khắp chiến trường miền Nam, chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ đứng trước nguy cơ thất bại hoàn toàn. Để cứu vãn tình thế, giành lại thế chủ động trên chiến trường, đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân chiến đấu vào trực tiếp tham chiến ở miên Nam. Đà Nẵng là nơi được chọn để chúng đổ quân đầu tiên thực hiện chiến lược “chiến tranh cục bộ”.

Đầu năm 1966, ở Đại Lộc, các chốt điểm như Thượng Đức, Động Hà sống, Núi Lở, Gò Đình, Ái Nghĩa, Gò Muồng, Giao Thủy... không nơi nào là không thấy bóng quân thù. Chúng cho máy bay ném bom, bắn phá, thả quân càn quét, lấn chiếm nơi nào nghi là hậu cứ của cách mạng. Ngoài việc tiến hành chiếm đóng và xây dựng các căn cứ quân sự, bọn Mỹ còn chọn Thượng Đức làm nơi đổ quân để khống chế toàn bộ vùng phía tây bắc của Quảng Nam - Đà Nẵng. Chúng cho quân tràn ngập, hình thành cứ điểm tại Đồng An (thôn Đại An, Đại Lãnh); lập sân bay dã chiến để cho các loại phi cơ chiến đấu lên xuống tải quân đi càn quét, khống chế cả một vùng; tiến hành các đợt bố ráp. Chúng muốn biến các xã phía tây của Đại Lộc gồm Lộc Bình, Lộc Vĩnh, Lộc Ninh (Đại Hồng, Đại Sơn, Đại Lãnh ngày nay)... thành vành đai trắng nhăm cô lập quân dân ta.

Trước tình hình trên, nhiều câu hỏi đặt ra xung quanh vấn đề, liệu ta có đánh được Mỹ không và làm thế nào để đánh thắng? Một bộ phận cán bộ và nhân dân tỏ ra nghi ngờ khả năng đánh được Mỹ của ta.

Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Trung ương Đảng, Tỉnh ủy Đảng bộ huyện Đại Lộc đã tổ chức hội nghị chỉnh huấn để giải quyết tư tưởng ngại đánh Mỹ, ngại ác liệt, xây dựng tinh thần tiến công địch, kiên trì phương châm ba mũi giáp công (quân sự, chính trị, binh vận).

Trong thời kỳ này, nhiều cuộc đụng đầu ác liệt giữa ta và kẻ thù đã liên tiếp xảy ra khắp các trận tuyến. Tin chiến thắng trận đầu diệt Mỹ ở Núi Thành vào đêm 25 rạng sáng ngày 26 tháng 5 năm 1965, một đại đội bộ binh thuộc tiểu đoàn 70 của tỉnh đã diệt gọn một đại đội Mỹ đã làm nức lòng quân dân cả tỉnh, cả nước; đã thắp lên ngọn lửa sục sôi đánh Mỹ, củng cố niềm tin chiến thắng.

Trên địa bàn huyện Đại Lộc, chiến thắng Bàu Mưng của Đại đội I, bộ đội địa phương huyện phối hợp với du kích xã Lộc Quang (Đại Đồng) ngày 05 tháng 01 năm 1966 đã bẻ gãy được trận càn của hai tiểu đoàn Mỹ, diệt gọn một trung đội, đánh thiệt hại nặng nhiều trung đội khác, thu được nhiều vũ khí, quân trang quân dụng.

Trận đánh đã khẳng định quyết tâm của quân và dân Đại Lộc quyết đánh Mỹ và thắng Mỹ - đã củng cố được niềm tin trong nhân dân, đã châm ngòi nổ đầu tiên cho phong trào “tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt”, có ý nghĩa quan trọng góp phần làm nên những chiến thắng sau này trên quê hương Đại Lộc, trong đó có Chiến thắng Hà Vy.

Chúng ta có thể khẳng định rằng, Chiến thắng Hà Vy của quân và dân Đại Lộc đã có một sự chuẩn bị chu đáo về mặt tinh thần, ý chí, thế trận...trong đó có sự đóng góp to lớn của lực lượng du kích xã, thôn, những người con sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Lộc Vĩnh anh hùng. Ở trận đánh này đã nổi bật lên sự phổi hợp nhịp nhàng giữa du kích, bộ đội và nhân dân với khí thế tiến công quân thù và lòng quyết tâm tiêu diệt chúng. Diễn biến trận đánh đã cho ta thấy được sự chủ động hoàn toàn trên tất cả các phương diện từ sự chỉ đạo sáng suốt của lãnh đạo Huyện ủy, Chi bộ xã, chỉ huy Huyện đội, xã đội... đến việc khai thác, lợi dụng địa thế, địa hình, địa vật, công sự tác chiến; việc phân công trách nhiệm, phối hợp thực hiện tác chiến, công tác tình báo... và vai trò của lực lượng du kích. Chúng ta cần lưu ý một số chi tiết sau đây:

Vùng A (Lộc Bình, Lộc Vĩnh, Lộc Ninh) trong thời điểm bấy giờ đang nằm trong sự khống chế của cứ điểm Thượng Đức. Do bị ta bao vây, thường xuyên pháo kích, đánh phá nhằm tiêu hao sinh lực địch; lực lượng du kích các xã Lộc Vĩnh, Lộc Bình được sự chỉ đạo của cấp trên đã thường xuyên tổ chức đợt quấy phá làm cho địch hoảng loạn tinh thần, phải co cụm lại. Đường liên lạc, tiếp tế lương thực, vũ khí từ Ái Nghĩa lên Thượng Đức thường bị ta phục kích đánh phá ở các đoạn Ba Khe, Hà Sống. Bọn địch ở chi khu Thượng Đức chỉ nhận được nguồn cung cấp hàng hóa, vũ khí tiếp tế chủ yếu bằng máy bay thả dù vào chi khu. Theo nhận định của ta, bắt buộc chúng phải tổ chức những trận càn quét vào vùng giải phóng, áp đảo phong trào cách mạng để đảo ngược lại tình thể là đương nhiên nên việc chủ trương chuẩn bị cho các trận chống càn ta phải biết và có kế hoạch từ đầu.


(1) Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Đại Lộc


Tiêu đề: Chiến thắng Hà Vy - Ý nghĩa và bài học lịch sử
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Ba, 2020, 08:11:49 am
Một số nhân chứng, những người trực tiếp chiến đấu, phục vụ chiến đấu trong trận Hà Vy cho rằng lúc bấy giờ do địch chưa xúc tác dân về các khu dồn nên phần lớn nhân dân của các làng Hà Vy, thôn 2-3, Ngọc Kinh, nhân dân ta vẫn còn bám trụ để sinh sống, sản xuất, tham gia du kích và cùng với chính quyền cách mạng tổ chức các phương án tác chiến chống càn. Trong từng nhà dân đều đào hầm trú ẩn tránh bom pháo; quanh các rìa làng từ Hà Vy, Hai Ba, Ngọc Kinh, Lập Thuận… đều có giao thông hào, công sự chiến đấu ăn thông với nhau tạo thành thế trận liên hoàn, thuận lợi cho các chiến sĩ ta vận động tác chiến trong tình huống địch đổ bộ tấn công vào vùng giải phóng.

Trong cuộc chống càn ở làng Hà Vy, ngoài việc thu thập các nguồn tin tình báo từ cơ sở của ta trong lòng địch, sự phán đoán tài tình của lãnh đạo, chỉ huy; công tác chuẩn bị cho trận đánh cũng khá chu đáo từ nhiều phía, nhiều hướng, nhiều yếu tố trong thế trận chiến tranh nhân dân để không bị bất ngờ để làm nên chiến thắng giòn giã. Ngay khi nhận được thông tin quân Mỹ sẽ đổ bộ xuống Hà Vy, Huyện ủy Đại Lộc đã tổ chức một cuộc họp khẩn tại thôn Mỹ Hảo xã Lộc Tân (Đại Phong) cùng với Ban chỉ huy Huyện đội Đại Lộc. Đồng chí Phan Thanh Thủ, Bí thư huyện ủy lúc bấy giờ nêu quyết tâm tập trung lực lượng để chống càn. Sự phân công hợp lý và khá chu đáo cho các đoàn thể, và nhân dân phục vụ chiến đấu, lo từ tinh thần đến vật chất để bộ đội và du kích an tâm chiến đấu, chiến thắng.

Đại đội 1 của Huyện đội là đon vị chủ lực dưới sự chỉ huy của đồng chí Lê Văn Thanh, đơn vị từng có kinh nghiệm chiến đấu trong trận Bàu Mưng, có kinh nghiệm phối hợp với lực lượng du kích địa phương thực hiện phương án tác chiến chống càn. Các chiến sĩ lại được trang bị vũ khí, hỏa lực mạnh, trong đó không ít những vũ khí ta thu được của Mỹ từ trận Bàu Mưng. Với quyết tâm tiêu diệt kẻ thù ngay từ những loạt đạn đầu tiên.

Đội du kích của xã trong giai đoạn này có trên dưới khoảng 30 chiến sĩ dưới sự chỉ huy của đồng chí Bùi Miên xã đội trưởng, Nguyễn Văn Tận, chính trị viên xã đội; hai đồng chí xã đội phó là Nguyễn Khánh Nữa và Nguyễn Thái Nam, tất cả đều gan dạ, dũng cảm, có tinh thần chiến đấu cao quyết tâm tiêu diệt kẻ thù bảo vệ đồng bào, bảo vệ vùng giải phóng. Và thực tế trong trận Hà Vy đã cho thấy vai trò quan trọng của các chiến sĩ du kích phối hợp với bộ đội trong tác chiến. Cụ thể, đội du kích được chia thành nhiều tổ, mỗi tổ có một đồng chí chỉ huy phụ trách: Đồng chí Bùi Miên xã đội trưởng phụ trách thôn Ngọc Kinh, Nguyễn Văn Tận, chính trị viên phụ trách thôn Lập Thuận; Nguyễn Thái Nam, xã đội phó phụ trách thôn 2-3, Nguyễn Khánh Nữa xã đội phó phụ trách thôn Hà Vy. Các tổ du kích bố trí lực lượng chủ động phối hợp với từng trung đội bộ đội chủ lực huyện trên các mũi tiến công địch ở mỗi thôn, có nhiệm vụ vừa chiến đấu, vừa hướng dẫn bộ đội vận động theo địa hình công sự mà chỉ có du kích là người địa phương nên quen thuộc để tránh phi pháo và hỏa lực của địch, bảo toàn lực lượng. Các tổ du kích đà thể hiện tốt vai trò nhiệm vụ của mình trong quá trình phối hợp chiến đấu cùng bộ đội. Những tấm gương tiêu biểu, không sợ hy sinh, ngoan cường, dũng cảm như các đồng chí Nguyễn Khánh Nữa, Nguyễn Thái Nam... đến hôm nay mỗi khi nhắc đến mọi người đều khâm phục.

Và như chúng ta đã biết về những diễn biến của trận đánh, suốt trong ngày 02 tháng 04 năm 1966, bộ đội địa phương huyện Đại Lộc cùng với dân quân du kích xã Lộc Vĩnh đã phối hợp tác chiến chống càn thắng lợi diệt gọn 01 đại đội thủy quân lục chiến Mỹ, làm thiệt hại 02 đại đội khác. Loại khỏi vòng chiến đấu 160 tên; bắn rơi 02 máy bay trực thăng, thu 28 súng. Chiến thắng đã làm thất bại âm mưu đổ quân đi càn của Mỹ ở Đại Lộc. Đây là trận đánh xuất sắc của đại đội bộ đội địa phương huyện chiến đấu với một tiểu đoàn Mỹ có phi pháo yểm trợ giữa ban ngày và thu nhiều súng nhất trong các trận chống càn trên chiến trường Quảng Đà.

Cũng nên nói thêm rằng, từ chiến thắng Hà Vy vào ngày 02 tháng 4 năm 1966, tình hình mặt trận diễn biến sau đó cũng còn khá phức tạp. Địch tiếp tục đổ quân càn quét các thôn phía tây Đại Hồng (Hòa Hữu, Lục Nam). Khi bộ đội chủ lực rút về hậu cứ, đội du kích xã đã bám trụ lại quần thảo ngày đêm với địch suốt cả tháng 4 tháng 1966, với chiến thuật du kích, các tổ chiến đấu tổ chức nhiều trận mật tập, phục kích tiêu diệt kẻ địch để bắt buộc chúng phải co cụm lại trên cứ điểm Thượng Đức không còn dám nghênh ngang càn quét vùng giải phóng của ta. Tiêu biểu như đêm ngày 04 tháng 4 năm 1966, sau trận càn Hà Vy chỉ 2 ngày, quân Mỹ tiếp tục hành quân qua các thôn phía tây Đại Hồng càn quét; ban ngày lùng sục, tối đến chúng co cụm lại nhà thờ Lục Nam. Tổ chiến đấu của du kích xã Đại Hồng đã vận dụng cách đánh mật tập, lợi dụng đêm tối áp sát đối phương rồi dùng lựu đạn tấn công đồng loạt, tiêu diệt cùng lúc 25 tên Mỹ, không tên nào sổng sót. Thu 08 súng cùng quân trang quân dụng.

Chiến thắng Hà Vy, tuy trận đánh không lớn, nhưng ý nghĩa thắng lợi của trận đánh đã vượt lên trên quy mô của nó. Trận đánh đã thể hiện lòng quyết tâm đánh Mỹ của quân và dân huyện Đại Lộc với câu trả lời “liệu ta có đánh được Mỹ không?”. Trận đánh cũng đã cho chúng ta rất nhiều bài học kinh nghiệm từ phương thức chỉ đạo của Huyện ủy, từ phương án tác chiến phù hợp của bộ đội và du kích, sự phối hợp chặc chẽ giữa quân và dân trong thế trận nhân dân, trong đó không thiếu vai trò của lực lượng du kích xã Lộc Vĩnh, đã cùng với bộ đội chủ lực huyện làm nên chiến thắng. Cũng từ kinh nghiệm này, mà sau này trong suốt quá trình kháng chiến chống Mỹ, ta đã vận dụng để làm nên những chiến thắng vang dội, hoàn thành công cuộc giải phóng đất nước, mà trong đó không thiếu những chiến công của quân dân Đại Lộc góp phần.


Tiêu đề: Chiến thắng Hà Vy - Ý nghĩa và bài học lịch sử
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Ba, 2020, 08:14:24 am
CHIẾN THẮNG HÀ VY GÓP PHẦN THỰC HIỆN PHONG TRÀO
“QUYẾT ĐÁNH VÀ QUẾT THẮNG GIẶC MỸ XÂM LƯỢC”
TRÊN CHIẾN TRƯỜNG QUẢNG ĐÀ

Thượng tá Nguyễn Thị Thu Hiền(1)

Giữa năm 1965, đế quốc Mỹ quyết định chuyển từ chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” sang “Chiến tranh cục bộ”, đưa quân chiến đấu Mỹ và quân các nước đồng minh của Mỹ vào tham chiến ở miền Nam Việt Nam, đồng thời mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, nhằm làm lung lay ý chí quyết tâm chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta. Quân khu 5 với vị trí chiến lược quan trọng đã trở thành địa bàn đầu tiên trên chiến trường miền Nam trực tiếp đương đầu với quân viễn chinh Mỹ. Ngày 8 tháng 3 năm 1965, quân chiến đấu Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng. Quân và dân Quảng Đà nổ súng đánh Mỹ, khởi đầu phong trào toàn Quân khu “quyết đánh và quyết thắng giặc Mỹ xâm lược” với khẩu hiệu thi đua “tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt”. Chiến thắng Hà Vy đã góp phần thực hiện phong trào “quyết đánh và quyết thắng giặc Mỹ xâm lược” trên chiến trường Khu 5.

Căn cứ vào nhận định và hướng dẫn của Trung ương, ngay khi quân Mỹ vào Đà Nẵng, tháng 3 năm 1965 Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 5 triệu tập Hội nghị cán bộ trung cao cấp toàn Quân khu để hạ quyết tâm đánh Mỹ và bàn cách đánh Mỹ. Sau khi phân tích, đánh giá tình hình địch ta, Hội nghị nhận định “Mỹ vào là bị động”, “Ta có đủ khả năng đánh thắng quân chiến đấu Mỹ”(2). Hội nghị quyết định: “Tranh thủ tiến công tiêu diệt và làm tan rã lớn quân ngụy, dồn quân ngụy lún sâu vào thế phòng ngự bị động, buộc quân Mỹ mới vào đã ở trong thể lúng túng” và phát động phong trào “quyết đánh và quyết thắng giặc Mỹ xâm lược trong toàn Khu”(3). Hội nghị đã gửi lên cấp trên quyết tâm thư “... Quyết đánh mạnh, đánh chắc, đánh tiêu diệt, đánh đến cùng đến lúc không còn bóng một tên giặc Mỹ xâm lược và tay sai trên đất nước thân yêu của chúng ta. Nhằm đúng quân chủ lực và bọn đầu sỏ xâm lược ở bất cứ nơi nào, xóa bỏ gọn từng phiên hiệu đơn vị Mỹ”(4). Tiếp đó đến cuối tháng 3 năm 1965 Quân khu lại triệu tập hội nghị du kích chiến tranh để bàn kế hoạch xây dựng củng cố dân quân du kích, xây dựng làng chiến đấu, xây dựng “vành đai diệt Mỹ” và phát động phong trào thi đua trong toàn Quân khu “quyết đánh và quyết thắng giặc Mỹ xâm lược” với khẩu hiệu “tìm Mỹ mà đánh, lùng ngụy mà diệt”. Quyết tâm đánh Mỹ và quyết thắng giặc Mỹ xâm lược thể hiện quyết tâm sắt đá của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trên cả hai miền Nam Bắc và nhanh chóng biến thành hành dộng cụ thể của tất cả các tầng lớp nhân dân trên chiến trường Khu 5.

Vừa đổ bộ vào Đà Nẵng, quân Mỹ cùng quân ngụy liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét ra xung quanh thành phố, trọng điểm là hướng huyện Hòa Vang, nhằm thiết lập các tuyến phòng thủ bảo vệ các căn cứ và cơ quan đầu não của chúng ở bên trong. Theo dõi chặt âm mưu và thủ đoạn của địch, ngày 10 tháng 3 năm 1965, tại làng Phú An (Đại Thắng, Đại Lộc) Tỉnh ủy và Ban chỉ huy tỉnh đội Quảng Đà họp, quyết định sử dụng lực lượng vũ trang Đà Nẵng - Hòa Vang đánh chặn quân Mỹ, trong đó chọn huyện Hòa Vang làm địa bàn chủ yêu, vừa chiến đấu vừa động viên mọi lực lượng xây dựng Vành đai diệt Mỹ.

Phong trào “quyết đánh và quyết thắng giặc Mỹ xâm lược” do Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 5 phát động đã phát triển rộng rãi. Ngay từ giữa tháng 3 năm 1965, cùng với việc xây dựng Vành đai diệt Mỹ, phong trào đánh Mỹ, diệt ngụy của quân và dân Quảng Đà diễn ra với nhiều cách đánh mưu trí, sáng tạo của du kích, bộ đội địa phương và nhân dân băng mọi thứ vũ khí chông, mìn, cạm bẫy... Suốt nửa cuối tháng 3, bộ đội địa phương và du kích huyện Hòa Vang vừa xây dựng trận địa, làng xã chiến đấu, hình thành Vành đai diệt Mỹ, vừa chặn đánh các mũi tiến công của Mỹ - ngụy. Đại đội 1 bộ đội địa phương huyện Hòa Vang, trung đội công binh đường đèo, du kích các xã Hòa Liên, Hòa Hiệp, Hòa Lạc, Hòa Ninh liên tục đánh địch. Đồng chí Nguyễn Soạn (du kích Hòa Ninh) dùng súng trường diệt 10 lính Mỹ. Đồng chí Võ Ký (du kích Hòa Thượng) diệt 1 lính Mỹ và bắn rơi 1 trực thăng. Xã đội trưởng Nguyễn Châu chỉ huy du kích Hòa Lạc đánh thiệt hại nặng 1 trung đội Mỹ trong một ngày chiến đấu. Một tổ của trung đội công binh dùng mìn hẹn giờ đánh cảng Bầu Mạc, diệt nhiều sinh lực và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của địch.

Cùng thời gian này, Tỉnh ủy và tỉnh đội Quảng Đà mở hội nghị rút kinh nghiệm đánh Mỹ tại xã Điện Tiến. Hội nghị đề ra kế hoạch đẩy mạnh tiến công địch và phát động phong trào ra phía trước đánh Mỹ.

Thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, đế quốc Mỹ tiếp tục đưa thêm quân và phương tiện chiến tranh vào Đà Nẵng và nhiều nơi khác, liên tiếp mở các cuộc càn quét nống lấn hòng mở rộng vùng chiếm đóng. Quân và dân ta đang chiến đấu với một đối tượng tác chiến mới, quy mô chiến tranh lớn hơn và cường độ ác liệt hơn. Dựa vào thế trận chiến tranh nhân dân địa phương, quân và dân Quảng Đà đã kiên quyết đánh Mỹ, diệt ngụy ở khắp nơi. Ngày 1 tháng 4 năm 1965 du kích Hòa Thọ dùng mìn hẹn giờ phá hủy 1 kho bom đạn trong sân bay Đà Nẵng. Ngày 14 tháng 4, tại thôn An Trạch, Trung đội bộ đội địa phương Hòa Vang cùng du kích Hòa Lợi phục kích đánh bại cuộc càn của 2 đại đội Mỹ, diệt 26 tên tại khu vực cầu đá La Bông. Du kích Hòa Hải mật phục dài ngày trên đỉnh Non Nước và trong các hang động, bất ngờ ném lựu đạn vào đội hình quân Mỹ đi lùng sục, có trận quần lộn với địch suốt cả ngày, diệt 47 tên Mỹ.


(1) Phòng Khoa học Quân sự, Quân khu 5.
(2), (3), (4) Khu 5 -30 năm chiến tranh giải phóng, tập 2, Bộ Tư lệnh Quân khu 5, xuất bản 1989, trang 205.


Tiêu đề: Chiến thắng Hà Vy - Ý nghĩa và bài học lịch sử
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Ba, 2020, 08:16:51 am
Lúc này, các đơn vị bộ đội địa phương tỉnh, huyện và du kích các xã Điện Tiến, Điện Hồng, Điện Văn, Điện Thọ... đều tổ chức một bộ phận lên Vành đai Hòa Vang tăng cường cho lực lượng chiến đấu tại chỗ để rút kinh nghiệm xây dựng phương án tác chiến chuẩn bị đánh Mỹ khi chúng kéo đến địa phương mình. Tiểu đội du kích Điện Hòa (Điện Bàn) trong 10 ngày “ra phía trước đánh Mỹ” diệt 12 lính Mỹ tại Hòa Châu, Hòa Vang. Tiểu đội Huỳnh Dạn (Tiểu đoàn 1 tỉnh Quảng Đà) trong 25 ngày đêm diệt 60 lính Mỹ, trong đó có trận tập kích diệt gần hết 1 trung đội Mỹ. Ngày 25 tháng 4 năm 1965, Đại đội I đặc công Đà Nẵng sử dụng một tổ 7 người đánh thiệt hại nặng 1 trung đội Mỹ trong trận Cầu Sắt Quảng Nam. Tại Núi Thành, Quảng Nam đêm 25 rạng ngày 26 tháng 5 báng một trận tập kích nhanh gọn, sau gần một giờ chiến đấu dũng cảm mưu trí, linh hoạt với tinh thần “Quyết chiến quyết thắng” bộ đội ta dã tiêu diệt gọn một đại đội Mỹ. Chiến thắng Núi Thành là trận tiêu biểu nhất cho cao trào diệt Mỹ ở Khu 5, là chiến thắng của tinh thần “dám đánh Mỹ, biết đánh Mỹ và quyết đánh Mỹ”. Như vậy khi quân Mỹ vào Đà Nẵng và Chu Lai còn đứng chân chưa vững đã bị đánh ngay tại căn cứ của chúng, dân quân du kích kết hợp với lực lượng chính trị đã dựa chắc vào làng xã chiến đấu, bao vây tiến công các căn cứ của Mỹ bằng 3 mũi: Quân sự, chính trị và binh vận. Trên cơ sở đó bộ đội địa phương nêu cao khấu hiệu đưa lực lượng ra phía trước “tìm Mỹ mà diệt”. Tiếp đó, ngày 30 tháng 6, Đại đội 1 đặc công Đà Nẵng tập kích sân bay Đà Nẵng, phá hủy 59 máy bay các loại và loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên Mỹ; ngày 5 tháng 8, tập kích kho xăng Liên Chiểu, diệt 1 đại đội bảo an, thiêu hủy 20 triệu lít nhiên liệu. Trong thời gian này, hai tiểu đoàn 1 và 2 tỉnh Quảng Đà chống địch càn ở Điện Hòa, Điện Thắng, đánh thiệt hại nặng hai tiểu đoàn 39 và 11 biệt động quân ngụy. Ngày 25 tháng 10, hai đại đội 1 và 2 (Tiểu đoàn 89 đặc công Đà Nẵng) đột nhập tập kích sân bay Nước Mặn, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm binh sĩ Mỹ, phá hủy hơn 100 máy bay trực thăng. Ngày 30 tháng 10, Tiểu đoàn 1 tỉnh Quảng Đà được tăng cường đại đội 1 Điện Bàn, tập kích san bằng cứ điểm Gò Hà, chốt điểm An Trạch, loại khỏi vòng chiến đấu hon 1 đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ trong công sự vững chắc. Với hàng loạt các trận đánh trên khu vực vành đai và trong nội thành Đà Nẵng, quân và dân Quảng Đà đã thể hiện cao độ ý chí quyết tâm đánh Mỹ, đưa phong trào đánh Mỹ, diệt ngụy phát triển mạnh mẽ. Báo chí phương Tây từng thừa nhận: “Việt cộng là những người đánh nhau trong bóng tối và là những chuyên viên trong nghệ thuật dùng cạm bẫy và chông mìn... Bất luận ở đâu qua mỗi cuộc tuần tra, người lính nào cũng nghĩ rằng, bước thêm một bước có là bước cuối cùng của đời mình”(1).

Cuối năm 1965, đế quốc Mỹ tiếp tục tăng quân gấp rút chuẩn bị mở cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất trong mùa khô (1965-1966). Tháng 12 năm 1965, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 12, kết luận: “Mặc dù đế quốc Mỹ đưa vào miền Nam hàng chục vạn quân viễn chinh, lực lượng so sánh giữa ta và địch không thay đổi, do đó cách mạng miền Nam phải giữ vững và phát triển thế chiến lược tiến công”(2). Quán triệt Nghị quyết Trung ương lần thứ 12, Thường vụ Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 5 xác định quyết tâm: “Ra sức tiến công và phản công địch, kiên quyết tiêu diệt quân Mỹ và quân ngụy, đánh bại các cuộc phản công chiến lược của chúng, giữ vững và mở rộng căn cứ địa miền núi và vùng giải phóng đồng bằng, phát triển lực lượng cách mạng, nắm vững tư tưởng chỉ đạo tác chiến là chủ động tiến công, tích cực phản công”(3).

Thường vụ Tỉnh ủy và Ban chỉ huy Tỉnh đội Quảng Đà chủ trương: “Sử dụng mọi lực lượng, vận dụng mọi cách đánh để tiến công tiêu diệt sinh lực địch, đánh bại các cuộc càn quét, giữ vững vùng giải phóng, hỗ trợ cho quần chúng vùng ven đô thị nổi dậy, giành quyền làm chủ, các huyện miền núi tăng cường bố phòng, bảo vệ hành lang và kho tàng”.

Ở Quảng Đà, trong cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất, Mỹ - ngụy tập trung lực lượng đánh phá, lấn chiếm các vùng giải phóng xung quanh Đà Nẵng nhằm thiết lập hệ thống căn cứ quân sự phòng thủ từ xa bảo vệ trung tâm chỉ huy và các lực lượng xuất phát đi đánh phá lấn chiếm vùng giải phóng các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên. Thực hiện quyết tâm đánh địch, quân và dân Quảng Đà tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt. Các đơn vị bộ đội, du kích ở bên trong và bên ngoài vành đai diệt Mỹ Đà Nẵng - Hòa Vang - Điện Bàn, liên tục bám đánh địch. Ngày 14 tháng 2 năm 1966, Tiểu đoàn 1 (R20) tập kích cứ điểm Bồ Mưng (Điện Thắng), đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 11 biệt động quân ngụy. Lực lượng pháo binh tỉnh bắn phá sân bay Đà Nẵng, Đại đội 4 (Tiểu đoàn 89), dùng cối 82 bắn phá sân bay Nước Mặn, phá hủy hàng chục máy bay. Đơn vị B15 công binh cùng bộ đội địa phương và du kích đánh hàng chục trận từ đèo Hải Vân đến Khánh Hòa, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên Mỹ - ngụy. Tiểu đoàn 1 (tỉnh) phục kích kết hợp vận động tiến công đánh thiệt hại nặng 1 đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ; tiếp đó chặn đánh quân Mỹ tại Cây Da Lý (Lộc Hưng, Đại Lộc). Ngày 28 tháng 3, du kích Điện Ngọc tập kích diệt gọn 1 trung đội Mỹ.

Điển hình là trận đánh của Đại đội bộ đội địa phương huyện Đại Lộc và du kích Lộc Vĩnh (nay xã Đại Hồng) ngày 2 tháng 4 năm 1966.

Để dọn đường đổ quân càn quét ngay sáng sớm ngày 02 tháng 4 năm 1966, địch cho máy bay ném bom dữ dội dọc từ bờ sông Vu Gia đến làng Hà Vy và dọc rìa làng Ngọc Kinh, xã Lộc Vĩnh (nay là xã Đại Hồng, huyện Đại Lộc). Sau đó là hàng chục máy bay trực thăng, có máy bay HU1A yểm trợ, đổ quân Mỹ xuống cánh đồng Hà Vy, một toán máy bay khác đổ thêm một đại đội ở sát bờ sông Vu Gia để tấn công vào làng. Dưới sự chỉ huy tài tình, sáng tạo của đồng chí Lê Văn Thanh, ta dựa vào thế của giao thông hào, công sự và rào vi chiến đấu và linh hoạt phân tán đội hình quần lộn với địch đánh suốt một ngày.

Kết quả, ta đã diệt gần trọn đại đội Mỹ, đánh thiệt hại gần 2 đại đội khác, loại khỏi vòng chiến đâu 160 tên Mỹ, thu 28 súng, trong đó có 1 đại liên, bắn rơi và phá hỏng 2 máy bay trực thăng.

Trận đánh đạt hiệu suất chiến đấu cao, làm nên chiến thắng Hà Vy thể hiện tinh thần chiến đấu ngoan cường, dũng cảm của bộ đội địa phương và lực lượng du kích huyện Đại Lộc. Chiến thắng Hà Vy đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần quyết đánh thắng giặc Mỹ xâm lược trên chiến trường Quảng Đà, Quảng Nam.

Phong trào “quyết đánh và quyết thắng giặc Mỹ xâm lược” trên chiến trường Khu 5 trong những năm đầu đế quốc Mỹ thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, quân và dân Quảng Đà đã lập nhiều chiến công, góp phần cùng Quân khu và toàn Miền đánh bại cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất của Mỹ - ngụy, trong đó, có sự đóng góp rất lớn của chiến thắng Hà Vy của quân và dân huyện Đại Lộc.


(1), (2), (3) Vành đai diệt Mỹ trên chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng, BCH Quân sự Quảng Nam - Đà Nẵng 1996, trang 55,58,59.


Tiêu đề: Chiến thắng Hà Vy - Ý nghĩa và bài học lịch sử
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Ba, 2020, 08:18:29 am
CHIẾN THẮNG HÀ VY - Ý NGHĨA VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ

Phòng Lý luận chính trị - Lịch sử Đảng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Quảng Nam

Chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” bị phá sản, trước tình thế nguy khốn của bọn tay sai, đế quốc Mỹ quyết định thành lập Bộ chỉ huy tác chiến của quân Mỹ tại Việt Nam, ồ ạt đưa quân viễn chinh Mỹ và các nước chư hầu của Mỹ vào miền Nam nước ta, tiến hành “Chiến tranh cục bộ” và mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân. Mỹ triển khai chiến lược “tìm và diệt” với hai gọng kìm “tìm diệt”“bình định” do tướng Oét - mo - len đề ra, dự định thực hiện trong vòng 18 tháng.

Do quân Mỹ vào đông, liên tục càn quét và chốt điểm; quân ngụy gượng dậy, tổ chức phản công; mức độ ác liệt của chiến tranh tăng lên đã làm cho tâm lý ngại Mỹ xuất hiện. Ở một số nơi, có hiện tượng du kích “chạy xà đùa”, không dám đánh Mỹ. Một bộ phận quần chúng thiếu tin vào khả năng đấu tranh chính trị với quân Mỹ vì cho rằng ngôn ngữ bất đồng. Nhiều phụ nữ ngại đấu tranh trực diện với lính Mỹ vì lính Mỹ hay bắn bừa, giết ẩu và hãm hiếp trắng trợn, dã man. Vì vậy, vấn đề quan trọng hàng đầu của Đảng bộ Quảng Nam và Quảng Đà lúc này là làm cho mọi người có tinh thần dám đánh Mỹ rồi biết cách đánh Mỹ, kiên trì phương châm “2 chân, 3 mũi giáp công”: giải đáp kịp thời các băn khoăn, lo lắng của cán bộ, chiến sĩ, nhân dân khá phổ biến lúc này là: quân Mỹ vào, ngôn ngữ bất đồng, ta có thể tiến hành đấu tranh chính trị và binh vận được không ? Ta có thể giữ vững vùng làm chù, cán bộ, đảng viên và du kích đánh Mỹ bằng cách nào? Làm cách nào để ngăn chặn quân Mỹ từ căn cứ Đà Nẵng, căn cứ Chu Lai nống ra càn quét và chốt điểm?

Giữa lúc bao nhiêu câu hỏi đang đặt ra, thì đêm ngày 25 rạng ngày 26 tháng 5 năm 1965, 1 đại đội lính Mỹ đổ quân chốt điểm ở Núi Thành, chúng đã bị Đại đội 2 Tiểu đoàn 70 Quảng Nam tiêu diệt sau 30 phút chiến đấu - Chiến thắng Núi Thành tuy là trận đánh nhỏ, số lượng quân Mỹ bị tiêu diệt không nhiều, song có ý nghĩa lịch sử, nói lên tinh thần cách mạng tiến công, sự mưu trí, linh hoạt và dũng cảm của quân ta hoàn toàn có khả năng diệt quân Mỹ, xua tan tư tưởng sợ Mỹ, dù chúng có ưu thế về trang bị và hoả lực. Và cùng chỉ gần một năm sau ngày 02 tháng 4 năm 1966, lực lượng bộ đội địa phương huyện Đại Lộc phối hợp với du kích xã Lộc Vĩnh (nay là xã Đại Hồng, huyện Đại Lộc) đã triển khai chiến đấu, diệt gọn một đại đội Mỹ trên cánh đồng Hà Vy, đánh thiệt hại gần 2 đại đội khác, loại khỏi đại liên, bắn rơi và phá hỏng 2 máy bay trực thăng(1). Cùng với chiến thắng Núi Thành, chiến thắng Hà Vy đã góp phần trả lời câu hỏi ta có thể đánh Mỹ và thắng Mỹ trên chiến trường miền Nam và khẳng định quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ của quân và nhân dân ta.

Chiến thắng Hà Vy là một trận đánh nhỏ nhưng có ý nghĩa hết sức to lớn đối với chiến trường Quảng Đà nói riêng và toàn miền Nam nói chung lúc bấy giờ:

- Thứ nhất, đây là trận đánh tuy không lớn về quy mô, nhưng là lần đầu tiên trên chiến trường Khu 5, một Đại đội bộ đội địa phương huyện phối họp với du kích và nhân dân xã đã diệt gọn một đại đội quân chủ lực của Mỹ có trang bị vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại, qua đó góp phần làm giảm ý chí xâm lược của đội tự xưng là bách chiến, bách thắng, đồng thời làm thất bại một bước chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ.

- Thứ hai, Chiến thắng Hà Vy đã đã thể hiện tinh thần cách mạng tiến công, khả năng chiến đấu kiên cường, dũng cảm của lực lượng vũ trang và nhân dân huyện Đại Lộc. Qua đó, khẳng định sức mạnh của quân và dân huyện Đại Lộc, xóa tan tư tưởng gờm Mỹ, sợ Mỹ, nêu cao tinh thần “quyết chiến quyết thắng giặc Mỹ xâm lược” của lực lượng vũ trang và nhân dân huyện Đại Lộc nói riêng, tỉnh Quảng Nam và chiến trường miền Nam nói chung.

- Thứ ba, Chiến thắng này góp phần quan trọng khẳng định không chỉ bộ đội chủ lực, bộ đội tỉnh mà bộ đội địa phương huyện kết họp với dân quân du kích xã và hệ thống làng xã chiến đấu, vấn đề chọn cách đánh, thế tấn công, phòng ngự hợp lý cũng đánh tiêu diệt gọn được đại đội Mỹ.

- Thứ tư, Chiến thắng Hà Vy còn thể hiện sự đúng đắn về đường lối chiến tranh nhân dân, đường lối quân sự của Đảng ta, sự chỉ đạo kịp thời của Huyện ủy Đại Lộc. Chiến công này sau đó được huyện, tinh biểu dương, đơn vị được tặng Huân chương chiến công hạng Nhất. Chiến công này được Tỉnh ủy, Ban Chỉ huy Tinh đội Quảng Đà biểu dương và chọn báo cáo điển hình tại Đại hội chiến sĩ thi đua toàn Khu 5 lần thứ hai vào tháng 12 năm 1966, được Quân khu biểu dương là Đại đội địa phương diệt nhiều Mỹ nhất, thu nhiều súng nhất trong năm 1966 và phát động học tập trong toàn Khu. Chiến thắng Hà Vy cùng với chiến thắng Núi Thành, Quảng Nam vinh dự được tặng 8 chữ vàng “Trung dũng, kiên cường, đi đầu diệt Mỹ”.

Thời gian đã lùi xa, nhưng bài học lịch sử về chiến thắng Hà Vy vẫn còn nguyên giá trị, đó là:

- Thường xuyên quán triệt đường lối chiến tranh nhân dân, xây dựng và phát triển thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc. Đồng thời nắm vững phương châm “nắm chắc lưng địch mà đánh”, phải tận đụng những lợi thể của làng chiến đấu với hệ thống giao thông hào, công sự, hố chông, tre chống máy bay trực thăng. Trong xây dựng hệ thống làng, xã chiến đấu cần phải dựa chắc vào quần chúng nhân dân, xây dựng lực lượng quần chúng vững mạnh, phát huy sức mạnh toàn dân, với phương châm toàn dân vũ trang, toàn dân đánh địch.

- Luôn nêu cao tinh thần quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ cho quân và dân, phải thường xuyên xây dựng và củng cố niềm tin, quyết tâm đánh địch của quân và dân ta. Quán triệt tinh thần chỉ đạo của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Đà: “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, “Toàn dân đánh Mỹ”, “Toàn tỉnh là một vành đai”, thực hiện khấu hiệu 3 bám: “Đảng bám dân, dân bám đất, du kích bám địch”, Ban Thường vụ Huyện ủy Đại Lộc động viên cán bộ, đảng viên và nhân dân huyện nhà thực hiện phong trào 3 bám, đồng thời chỉ đạo cho lực lượng vũ trang huyện và đội du kích các xã tổ chức chặn đánh các cuộc càn quét của địch. Như vậy, là ngay từ khi quân Mỹ vào, Ban Thường vụ Huyện ủy Đại Lộc đã kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng lực lượng, đặc biệt là công tác chính trị - tư tưởng, qua đó khẳng định tinh thần quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ xâm lược.

- Phổi hợp, hiệp đồng tác chiến giữa lực lượng bộ đội địa phương với du kích, nhân dân địa phương để nấm chắc địa hình chiến đấu, chủ động trong tiến công, phòng thủ, đảm bảo an toàn cho lực lượng ta. Thực tế lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của nhân dân ta cho thấy, đường lối chiến tranh nhân dân đã phát huy hiệu quả cao trong các cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm. Thắng lợi của ta ở trận đánh Hà Vy đã đem lại những bài học lịch sử quý báu cho quân và dân Đại Lộc trong công tác chỉ đạo, điều hành chiến tranh cách mạng, nhất là khi quân Mỹ mới đổ bộ xuống chiến trường Đại Lộc.

Thời gian đã lùi xa nhưng chiến thắng Hà Vy mãi là niềm vinh dự, tự hào của Đảng bộ và nhân dân huyện Đại Lộc. Chiến thắng Hà Vy đã góp phần làm phong phú thêm truyền thống vẻ vang của lịch sử Đảng bộ huyện Đại Lộc nói riêng, lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam nói chung. 50 năm đã trôi qua, nhưng ý nghĩa và bài học lịch sử của chiến thắng Hà Vy vẫn còn nguyên giá trị trong công cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.


(1) Theo Lịch sử Đảng bộ Quảng Nam - Đà Nẵng (1930 - 1975), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2006, tr.487.


Tiêu đề: Chiến thắng Hà Vy - Ý nghĩa và bài học lịch sử
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Ba, 2020, 08:20:08 am
HÀ VY HÔM QUA, ĐẠI HỒNG HÔM NAY

Huỳnh Phê(1)

Đứng trước những thử thách của sự sống còn của dân tộc, trước sự lựa chọn một trong 2 con đường: hoặc cam tâm chịu cảnh mất nước, nô lệ hoặc chấp nhận gian khổ, hy sinh tất cả vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Nhân dân ta, dân tộc ta luôn dứt khoát chọn con đường “thà quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Ý chí ấy, tinh thần ấy đã được thể hiện một cách sinh động và hào hùng trên mảnh đất Đại Hồng thân yêu.

Là một xã miền núi, phía Tây của huyện Đại Lộc, Đại Hồng nằm ở hữu ngạn, thượng nguồn sông Vu Gia, phía Nam giáp núi, phía Bắc là sông, dãi đồng bằng nhỏ hẹp do phù sa bồi tụ nằm ở giữa. Sông Vu Gia chảy qua địa bàn xã với chiều dài gần 15 km với quốc lộ 14B hình thành hệ thống giao thông thủy bộ quan trọng nối liền Đại Hồng với các xã lân cận trong huyện, cũng như giao lưu với các huyện Nam Giang, Phước Sơn. Quê hương Đại Hồng tự hào là nơi sông núi hữu tình, đồng thời cũng là quê hương có truyền thống yêu nước và cách mạng từ lâu đời.

Cuối thế kỷ thứ XIX, đầu thế kỷ XX, nhân dân Đại Hồng sôi nổi, tích cực tham gia phong trào Cần Vương (1885-1887), đặc biệt phong trào chống thuế Trung kỳ (1908), mà ngọn lửa tại quê hương Đại Lộc.

Từ khi có Đảng lãnh đạo, tinh thần yêu nước và ý chí cách mạng của nhân dân Đại Hồng lại được nhân lên mạnh mẽ, thông qua việc tham gia các phong trào đấu tranh do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, nhân dân anh dũng đứng lên góp sức mình vào thành công của cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở huyện Đại Lộc vào ngày 19 tháng 8 năm 1945.

Sau 9 năm kháng chiến trường kỳ và gian khổ chống thực dân Pháp xâm lược, kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử chấn động địa cầu. Nhưng tiếng súng vẫn chưa yên, đế quốc Mỹ hất cẳng Pháp dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, thẳng tay khủng bố, đàn áp những người yêu nước và giết hại biết bao nhiêu dân lành vô tội với chính sách “tố cộng, diệt cộng”, với luật 10/59, thực hiện phương châm “thà giết làm hơn bỏ sót”, thủ tiêu hàng loạt các đồng chí ta ở Khe Cổng, ở Miếu Ông Voi, bàu Ngọc Kinh, gò Mồ Côi... gây không khí chết chóc tang thương khắp thôn cùng, ngõ hẻm.

Thế nhưng, những hành động tàn bạo, khát máu của kẻ thù không ngăn nổi lòng yêu nước, ý chí quật cường của cán bộ và nhân dân Đại Hồng. Ngọn lửa cách mạng vẫn âm ỉ cháy trong cơn phong ba, bão tố. Nhiều tấm gương cán bộ, đảng viên kiên trung, bất khuất, thà hy sinh để giữ tròn khí tiết của người cộng sản, nhiều đồng bào yêu nước vẫn sắt son, thủy chung với cách mạng, kiên trì nuôi giấu cán bộ cách mạng trong vòng vây của kẻ thù.

Tháng 8 năm 1964, dưới sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện chủ trương của tỉnh, huyện, nhân dân Đại Hồng nổi dậy cùng với sự hỗ trợ của đội công tác diệt ác, phá kèm tiến công vào lực lượng địch, giành quyền làm chủ hoàn toàn xã Đại Hồng, bắt tay vào việc xây dựng và bảo vệ vùng giải phóng.

Thất bại trong chiến lược “chiến tranh đặc biệt” năm 1965, đế quốc Mỹ điên cuồng đưa quân ồ ạt vào miền Nam Việt Nam, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã gay go lại càng gay go hơn, đã gian khổ lại càng gian khổ hơn.

Với quyết tâm “dám đánh Mỹ và quyết thắng Mỹ”, quân và dân Đại Hồng củng cố lực lượng về mọi mặt, trong đó chú trọng đẩy mạnh củng cố đấu tranh chính trị, binh vận, xem đây là mũi tiến công quan trọng.

Rạng sáng ngày 02 tháng 4 năm 1966, sau khi phi pháo, ném bom, bắn phá dữ dội ở thôn Ngọc Kinh, Hà Vy, Ngọc Thạch, Mỹ cho trực thăng đổ 1 đại đội lính Mỹ xuống bãi cát ven sông Vu Gia thôn Hà Vy xã Đại Hồng và chia làm 2 toán quân kéo quân vào làng Hà Vy. Ta nhận định địch sẽ tiến công nên nhanh chóng triển khai đội hình chiến đấu. Lực lượng du kích xã phối hợp với bộ đội huyện sẵn sàng đón đánh địch. Sau khi cấp tập nã pháo, dội bom, tưởng rằng đã dọn sạch đường, bọn Mỹ xông xáo tiến quân vào làng. Quân ta dựa vào hệ thống công sự, giao thông hào... đợi chúng đến thật gần rồi bất ngờ nổ súng tấn công, ngay từ đợt tấn công đầu tiên đã diệt gọn 1 trung đội Mỹ đi đầu. Bọn chúng nháo nhác lùi ra, gọi phi pháo bắn tới tấp vào làng và đổ thêm 2 đại đội Mỹ xuống ứng cứu. Ta đã linh hoạt phân tán đội hình, bám trụ, dựa vào hệ thống công sự, giao thông hào quần nhau với địch suốt từ sáng đến tối, tiêu diệt thêm 2 trung đội lính Mỹ nữa trong ngày đầu tiên. Đây là trận đánh xuất sắc của du kích xã Đại Hồng cùng bộ đội địa phương huyện Đại Lộc chiến đấu với 1 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ của Mỹ có phi pháo và trực thăng yểm trợ giữa ban ngày.

Có thể nói, trong 10 năm, từ năm 1965 đến năm 1975 là những năm tháng đầy gian khổ, hy sinh, nhưng cũng là những năm tháng vô cùng sôi động, hào hùng, thế hiện rõ ý chí cách mạng vô song và tinh thần anh dũng tuyệt vời của nhân dân và lực lượng vũ trang xã Đại Hồng. Đó là những năm tháng mà cả xã là một chiến trường, kiên trì thực hiện phương châm “2 chân, 3 mũi giáp công”, đánh địch bằng quân sự, chính trị và binh vận, quyết một lòng theo Đảng đến cùng, giữ vững từng tấc đất của quê hương.


(1) Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã Đại Hổng.


Tiêu đề: Chiến thắng Hà Vy - Ý nghĩa và bài học lịch sử
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Ba, 2020, 08:20:43 am
Phát huy truyền thống cách mạng của quê hương, sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, cán bộ và nhân dân Đại Hồng đã bắt tay vào việc xây dựng lại quê hương.

Là một địa bàn ác liệt trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nên sau chiến tranh cả xã là một bãi bom mìn, đất đai hoang hóa. Từ các khu dồn nhân dân trở về làng cũ với bao khó khăn chồng chất. Nhiệm vụ đặt ra trong lúc này là tháo gỡ bom mìn sót lại sau chiến tranh, khai hoang, vỡ hóa để có đất sản xuất. Vừa giúp dân ổn định chỗ ở, vận động nhân dân tập trung cho sản xuất các loại cây lương thực, thực phẩm ngắn ngày để cứu đói. Đảng bộ đề ra chủ trương có tính chiến lược, tầm nhìn xa, xây dựng nền móng cho xây dựng nông thôn mới sau này, đó là quy hoạch dân cư, mở rộng giao thông nông thôn, nên cuộc sống của người dân sớm được ổn định.

Từ năm 1975 đến 1985 tập trung hàn gắn vết thương chiến tranh, từng bước xây dựng chế độ mới xã hội chủ nghĩa. Đây cũng là thời kỳ khó khăn, khắc nghiệt mà Đảng, Nhà nước và nhân dân phải gắng sức vượt qua: bao vây cấm vận kinh tế của Mỹ, chiến tranh biên giới phía Tây Nam, phía Bắc, các thế lực thù địch chống phá bên trong, thiên tai, bão lụt liên tiếp xảy ra... Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Đại Hồng đã đoàn kết, tập trung trí tuệ, nêu cao tinh thần trách nhiệm, vượt qua khó khăn, thử thách để từng bước ổn định và đi lên.

Kinh tế tập thể giữ vai trò rất quan trọng ở nông thôn, năm 1978 địa phương xây dựng 2 hợp tác xã nông nghiệp, tập trung toàn bộ diện tích đất nông nghiệp và hộ nông dân tự nguyện tham gia, cùng với đó là hợp tác xã mua bán ra đời, vừa cung cấp hàng hóa cho người tiêu dùng và sản xuất, còn là nơi tiêu thụ một phần nông sản phẩm do nông dân làm ra. Từ đây kinh tế tập thể cũng đã làm nên đập chứa nước Cây Xoay, Khe Bò, các trạm bơm và các phòng học mẫu giáo ở các thôn trong xã. Sự ra đời của các hợp tác xã đã hỗ trợ cho hộ nông dân trong sản xuất và đã giải quyết được một phần khó khăn lúc bấy giờ.

Thực hiện chủ trương của Đảng về đổi mới trong phát triển kinh tế. Đảng bộ Đại Hồng đã biết vận dụng vào thực tế của địa phương mình để tập trung cho phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu cây trồng và con vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa, đưa các giống mới và tiến bộ khoa học thuật vào sản xuất, xây dựng các cánh đồng mẫu lớn, kéo điện ra đồng làm thủy lợi hóa đất màu, đến nay đã có trên 70% diện tích đất màu được thủy lợi hóa, chủ động trong sản xuất các loại giống mới, đầu tư thâm canh cây trồng. Đất rừng ở Đại Hồng chiếm trên 85% diện tích tự nhiên. Để bảo vệ rừng và phát huy hiệu quả của kinh tế vườn đồi, trên 1.000 ha đất đồi gò đã được giao cho người dân quản lý, chăm sóc làm kinh tế vườn đồi, nhiều hộ có thu nhập cả trăm triệu đồng mỗi năm nhờ trồng cây dứa và cũng từ đây đã có nhiều trang trại, gia trại được hình thành, mỗi năm có giá trị thu nhập hàng trăm triệu đồng. Cùng với phát triển sản xuất nông nghiệp, Đảng bộ, chính quyền địa phương quan tâm đến phát triển sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư vào phát triển sản xuất, đã giải quyết được một phần lao động nông nhàn và từng bước chuyển dần lao động từ sản xuất nông nghiệp sang công nghiệp theo chủ trương ly nông không ly hương. Chính vì vậy mà đời sống người dân được nâng lên, đến nay thu nhập bình quân đầu người 23,5 triệu đồng/năm.

Đồng thời với nhiệm vụ phát triển kinh tế thì các vấn đề về văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng luôn được quan tâm. Thực hiện mong muốn của Bác Hồ “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Sau ngày giải phóng Đảng bộ, chính quyền địa phương đã vận động toàn dân xây dựng nên một Trường học cấp 1, 2 với các phòng học làm bằng tranh tre, nứa lá, bàn ghế được ghép bằng những thanh tre, nhưng cũng đủ cho con em được học tập để hình thành con người có nhân cách phục vụ cho quê hương, đất nước. Đến nay, hệ thống giáo dục ở Đại Hồng được phát triển vững mạnh, cả 4 trường học đều được tầng hóa khang trang, hiện đại với 46 phòng học và 22 phòng chức năng. Chất lượng giáo dục được nâng cao, cả 4 trường của 3 bậc học đều đạt trường chuẩn quốc gia mức 1, trong đó có 1 trường Tiểu học đạt chuẩn quốc gia mức 2 và được kiểm định chất lượng đạt cấp độ 3. Công tác phổ cập giáo dục, xóa mù chữ cũng được quan tâm, hoàn thành phổ cập giáo dục Tiểu học mức độ 3, phố cập giáo dục Trung học cơ sở mức độ 2, phổ cập giáo dục Mầm non cho trẻ em 5 tuổi và xáo mù chữ mức độ 2.

Công tác đền ơn đáp nghĩa, chăm lo cho gia đình chính sách, thương binh, liệt sỹ, người có công cách mạng, Mẹ Việt Nam anh hùng, nạn nhân chất độc da cam... cũng được cấp ủy, chính quyền địa phương quan tâm chăm lo thực hiện. Nghĩa trang liệt sỹ được xây dựng, tượng đài cấp khang trang với trên 550 liệt sỹ mồ yên, mã đẹp; tất cả các Mẹ Việt Nam anh hùng còn sống được các đơn vị, cơ quan, tổ chức... nhận phụng dưỡng suốt đời. Phong trào “toàn dân đoàn kết xảy dựng văn hóa ở khu dân cư” luôn được duy trì phát động, có 90% gia đình được công nhận gia đình văn hóa, 80% số thôn được công nhận thôn văn hóa, mỗi thôn đều có cụm văn hóa, có các thiết chế văn hóa, có nhà sinh hoạt cộng đồng được xây dựng kiên cố, có khu thể thao đạt chuẩn quốc gia. Ở xã có nhà văn hóa và Trung tâm thể thao được xây dựng theo quy định chuẩn quốc gia.

Cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn, giao thông nội đồng được mở rộng và với sự hỗ trợ của Nhà nước, đóng góp của nhân dân nên các tuyến đường giao thông nông thôn được bê tông hóa, 70% các tuyến đường giao thông nội được đổ bê tông rất thuận lợi cho việc đi lại của người dân.

Hệ thống chính trị luôn được củng cố kiện toàn, tổ chức cơ sở Đảng luôn giữ vững trong sạch vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng và đội ngũ cán bộ đảng viên; xây dựng chính quyền trong sạch vững mạnh, hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước được nâng lên; hoạt động của mặt trận, các đoàn thể nhân dân và hội quần chúng luôn được củng cố kịp thời, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập hợp hội, đoàn viên và nhân dân tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Đảng đề ra. An ninh chính trị được giữ vững, trật tự an toàn xã hội ổn định. Thật sự làng quê Đại Hồng với nông nghiệp, nông dân và nông thôn đã có những đổi thay.

Đến với Đại Hồng hôm nay là một diện mạo của một nông thôn mới đã và đang hình thành rõ nét, kinh tế tăng trưởng khá, đời sống người dân từng bước được nâng lên, đường làng, ngõ xóm xanh, sạch, đẹp, nhà ở được chỉnh trang, môi trường trong lành, rác thải được thu gom, các cơ sở trường học, trạm y tế đều đạt chuẩn quốc gia, cụm văn hóa, khu thể thao ở các thôn được xây dựng khang trang, đáp ứng nhu cầu vui chơi, giải trí của người dân; an ninh chính trị được giữ vững, trật tự an toàn xã hội ổn định; tổ chức cơ sở Đảng, chính quyền trong sạch vững mạnh; mặt trận, đoàn thể xuất sắc... Chính vì thế, ngày 18 tháng 11 năm 2015, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam quyết định công nhận xã Đại Hồng, huyện Đại Lộc đạt chuẩn nông thôn mới năm 2015.


Tiêu đề: Chiến thắng Hà Vy - Ý nghĩa và bài học lịch sử
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Ba, 2020, 08:21:17 am
PHÁT HUY CHIẾN THẮNG HÀ VY TRONG ĐẤU TRANH
GIẢI PHÓNG DÂN TỘC, XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỎ QUỐC

Ban Thường vụ Huyện ủy Đại Lộc

Cách đây 50 năm, vào ngày 02 tháng 4 năm 1966 tại thôn Hà Vy xã Lộc Vĩnh (Đại Hồng) đã diễn ra trận đánh lịch sử của Đại đội 1 bộ đội địa phương huyện Đại Lộc và du kích xã Lộc Vĩnh diệt 1 đại đội thủy quân lục chiến Mỹ. Tuy trận đánh không lớn về quy mô, nhưng về ý nghĩa thì đây là lần đầu tiên trên chiến trường Khu 5, một Đại đội bộ đội địa phương huyện đã diệt gọn một đại đội quân chủ lực của Mỹ có trang bị vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại. Cùng với chiến thắng Núi Thành, chiến thắng Hà Vy đã góp phần tô thắm truyền thống “Trung dũng kiên cường đi đầu diệt Mỹ” trên quê hương Quảng Nam. Truyền thống vẻ vang đó là nguồn cổ vũ to lớn trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở huyện Đại Lộc trong suốt nửa thế kỷ qua.

Đại Lộc là một huyện ở phía Bắc tỉnh Quảng Nam, vừa có đồng bằng vừa có núi rừng, có vị trí chiến lược quan trọng. Đây là một trong những cửa ngõ đi vào thành phố Đà Nẵng, đồng thời là địa bàn quan trọng nối liền các huyện Điện Bàn, Duy Xuyên, Quế Sơn, các huyện miền núi Đông Giang, Nam Giang và theo đường Hồ Chí Minh nối liền với Tây Nguyên hùng vĩ. Địa bàn Đại Lộc là căn cứ của phong trào Nghĩa Hội Quảng Nam, phong trào Đông Du. Đặc biệt Đại Lộc còn là nơi khởi xướng phong trào chống thuế miền Trung năm 1908 làm rung chuyển bộ máy thực dân phong kiến đương thời.

Đại Lộc cũng là một trong những nơi sớm tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin và thành lập Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 09 tháng 12 năm 1937. Đảng bộ huyện vừa ra đời đã tích cực lãnh đạo nhân dân đấu tranh dưới nhiều hình thức. Qua gian nan thử thách, kinh nghiệm trong tổ chức hoạt động, tuyên truyền, xây dựng cơ sở quần chúng được Đảng bộ tích lũy nhiều hơn để tiến tới một cao trào mới: Kháng Nhật cứu nước, khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi trong Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Đất nước độc lập tự do chưa được bao lâu thì tiếng súng xâm lược lại nổ rền, nhân dân ta lại bắt tay vào cuộc kháng chiến chống Pháp lần thứ hai. Hưởng ứng lời kêu gọi kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh với ý chí: “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” nhân dân Đại Lộc dưới sự lãnh đạo của Đảng đã thổi bùng của phong trào chiến tranh du kích rực sáng khắp nơi làm thất bại âm mưu “đánh nhanh, thắng nhanh” của giặc Pháp trên chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng để góp phần kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.

Nhưng với dã tâm muốn xâm chiếm miền Nam, đế quốc Mỹ đã ra sức phá hoại Hiệp định Giơnevơ không chịu thi hành hiệp thương tổng tuyển cử mà xây dựng lên ở miền Nam chính quyền tay sai độc tài, phản động. Chính sách “tố cộng”, “đạo luật số 10/1959” đã đặt miền Nam trong cảnh nước sôi lửa bỏng. Chúng ra sức truy lùng, vây ráp, bắn giết, trả thù những người tham gia kháng chiến. Trên địa bàn huyện Đại Lộc, chúng đã tổ chức hàng chục điểm “học tập tố cộng”, với đủ loại nhục hình từ “sám hối” đến tra tấn dã man. Hàng ngàn người bị bắt giam cầm, đày đi các nhà lao. Khe Cổng (Lộc Vĩnh), động Hà Sống (Lộc Quang), trại giam Ái Nghĩa và nhiều nơi khác đã từng chứng kiến những cảnh tượng đau lòng; đồng bào, đồng chí ta bị địch đóng đinh bỏ vào bao bố thả sông, hoặc bị “giết lầm hơn bỏ sót”... Nhưng kẻ thù càng hung bạo thì lòng yêu nước và ý chí căm thù giặc càng được nung nấu trong nhân dân. Hằng trăm thanh niên bí mật thoát ly tham gia lực lượng vũ trang, hàng ngàn người dân yêu nước đã tích cực ủng hộ cách mạng, nổi dậy phá banh các “ấp chiến lược” để tiến đến cao trào đồng khởi giải phóng nhiều thôn, nhiều xã, tạo thành vùng giải phóng chiếm hơn 4/5 đất đai trong toàn huyện với khoảng hơn 80.000 dân. Đó là địa bàn vững chắc để ta tiếp lục cuộc chiến đấu mới trực diện với quân đội viễn chinh Mỹ về sau.

Từ khi những tên lính Mỹ đầu tiên đổ bộ lên Đà Nẵng, nhân dân Quảng Nam nói chung, Đại Lộc nói riêng phải trực tiếp đương đầu với một đội quân xâm lược nhà nghề với nhiều phương tiện chiến tranh hiện đại. Phong trào “Tìm Mỹ mà đánh, gặp Mỹ là diệt”, phong trào “Hiến kế, hiến công” được phát động. Toàn huyện triển khai thực hiện chù trương “ba bám” (cán bộ bám dân, dân bám đất, du kích bám dân) triển khai thực hiện có hiệu quả đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng bằng 3 mũi giáp công (quân sự, chính trị và binh vận) và chiến thắng Hà Vy đã mở màn cho phong trào đấu tranh chống Mỹ của bộ đội địa phương và du kích trên chiến trường Khu 5 nói chung và huyện Đại Lộc nói riêng với một quyết tâm đánh Mỹ. Chiến công của quân dân Đại Lộc còn được Đại hội chiến sĩ thi đua toàn Khu 5 biểu dương và phát động học tập ra toàn khu.

Đầu năm 1966, ở huyện Đại Lộc đã có mặt quân viễn chinh Mỹ chiếm đóng. Ái Nghĩa - Hoán Mỹ, Núi Lở (Đồi 65) được Mỹ chọn làm căn cứ của quân Mỹ, là trung tâm triển khai các hoạt động đánh phá các vùng A, B Đại Lộc. Ở đây mỗi nơi có trên 1.000 tên Mỹ với hàng chục khẩu pháo, 1 sân bay lên thẳng, 1 bệnh viện dã chiến. Ngoài ra Mỹ còn cho đóng thêm các chốt điểm, tăng thêm quân Ngụy và cố vấn Mỹ cho Thượng Đức. Từ đây quân Mỹ đã tập trung làm nhiệm vụ càn quét, đánh bật lực lượng ta ra khỏi địa bàn, dồn dân, lập ấp, lập vành đai trắng... Đi liền với bình định, đánh phá, khủng bố, địch tăng cường hoạt động “Chiến tranh tâm lý”, “chiến tranh gián điệp” kết hợp với hoạt động của các đảng phái phản động làm dao động nhân dân vùng kiểm soát, lôi kéo nhân dân ta vào vùng địch. Không ngày nào mất tiếng đạn pháo, tiếng máy bay gầm rú, tiếng thét căm hờn của người dân vô tội trước cảnh nhà tan, cửa nát, người thân ly tán. Nhưng “vỏ quýt dày, có móng tay nhọn”, từ khi Mỹ dẫn xác đến chiến trường Đại Lộc, đặt biệt là từ kinh nghiệm đánh Mỹ ở Hà Vy quân dân Đại Lộc đã lần lượt đánh bại các cuộc càn quét lấn chiếm của địch với nhiều cách đánh sáng tạo hiệu quả lập nên nhiều chiến công xuất sắc. Các phương tiện cải tiến bom min đánh địch, đánh Mỹ lết (một chiến thuật du kích của quân Mỹ) Mỹ C.A.D (chương trình hành quân phối hợp giữa quân Mỹ và quân ngụy), diệt xe tăng, xe cơ giới, diệt ác, diệt bọn bình định liên tục được phát động, đem lại hiệu suất chiến đấu cao. Phong trào chiến tranh nhân dân phát triển mạnh mẽ. Nhiều cụ già, em bé cũng tình nguyện đánh địch bằng tất cả mưu trí, sáng tạo bằng những gì có sẵn trong tay. Các cuộc đấu tranh chính trị tập trung hoặc nhỏ lẻ nổ ra đều khắp công tác binh vận làm tan rã nhiều đơn vị địch, giúp cho nhiều người lầm đường mang súng trở về với nhân dân, làm nội ứng trong hàng ngũ địch.

Đặt biệt trong hai năm 1969, 1970; địch đánh phá quyết liệt chặn các đường vận chuyển lương thực gặp nhiều khó khăn cho các hoạt động của ta. Tình trạng đói xảy ra ở nhiều đơn vị bộ đội, nhiều cơ quan, ban, ngành, trước tình hình đó được Đặc khu Quảng Đà giao nhiệm vụ, nhân dân ta và lực lượng vũ trang huyện Đại Lộc bằng trí thông minh và lòng dũng cảm đã vượt qua hệ thống đồn bốt, các trạm gác, các toán phục kích tuần tiễu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao là thu mua, vận chuyển lương thực cung cấp cho chiến trường. Ngoài ra, ở các vùng giải phóng, vùng tranh chấp, nhất là vùng B nhân dân đã kiên cường bám trụ, bất chấp bom đạn của quân thù, tranh thủ cả ban đêm để sản xuất nhiều lương thực, thực phẩm và đã đóng góp hầu hết kết quả thu được cao của cách mạng.

Hiệp định Paris được ký kết, quân và dân Đại Lộc đã đánh bại âm mưu tràn ngập lãnh thổ của địch, tiến lên giành nhiều thắng lợi vang dội. Tháng 7 năm 1974 phối hợp với Sư đoàn 304, Sư đoàn 324 và các đơn vị Đặc khu Quảng Đà, quân và dân Đại Lộc đã giải phóng Chi khu quận lỵ Thượng Đức, một cánh cửa thép án ngữ phía tây nam của thành phố Đà Nẵng. Đây là một quận đồng bằng đầu tiên ở miền Nam được giải phóng. Việc giải phóng Chi khu quận lỵ Thượng Đức cùng với việc đánh bại quân dù ngụy trong âm mưu tái chiếm Thượng Đức sau đó đã mở ra cục diện mới trên chiến trường miền Nam, đó là một trong những cơ sở để Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương hạ quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam trong 2 năm 1975-1976.


Tiêu đề: Chiến thắng Hà Vy - Ý nghĩa và bài học lịch sử
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Ba, 2020, 08:22:08 am
Bước ra khỏi cuộc chiến tranh đằng đẵng và khốc liệt hết đánh Pháp rồi lại đánh Mỹ, quê hương Đại Lộc vô cùng xơ xác, tiêu điều. Cả huyện lúc bấy giờ có 128 thôn thì có tới 116 thôn bị tàn phá nặng, nhiều thôn xóm không còn màu xanh của sự sống. Làng mạc, ruộng vườn bị hoang hóa, đày rẫy bom mìn, dây kẽm gai, hố bom và lau lách. Hòa bình lập lại, nhân dân từ các khu đồn và ly tán ở nhiều nơi về lại quê, đặt ra hàng loạt vấn đề về kinh tế - xã hội bức xúc cần phải giải quyết, nhất là về ăn, ở, bệnh tật, an ninh - trật tự... “Lửa thử vàng, gian nan thử sức”, với khí thế phấn khởi mừng quê hương hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, với nhiệt huyết cách mạng, cùng vói cả tỉnh, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện nhà đã nêu cao tinh thần đoàn kết, phát huy ý chí cách mạng tiến công, quyết tâm thực hiện lời Di chúc của Bác Hồ trước lúc Người đi xa: “Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dụng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Toàn huyện đã dồn sức cho các chiến dịch “Tháo gỡ bom mìn”, “Tiến công đồng cỏ”, “Toàn dân làm thủy lợi”, thâm canh tăng vụ. Máu của nhiều đồng bào, cán bộ, chiến sĩ lại tiếp tục thấm sâu vào lòng đất, đem lại màu xanh cho sự sống và phồn vinh của một vùng đất. Những hổ bom sâu dần dần được san bằng thành ruộng lúa, nương dâu mượt mà, no ấm. Mười năm sau Đại thắng mùa xuân 1975, Đại Lộc đã kịp để lại những ấn tượng khó quên trong lòng đồng bào cả nước, cả tỉnh với những mùa vàng kỳ diệu trên cánh đồng cao sản Đại Phước (đỉnh cao năng suất lúa của cả nước: 21,6 tấn/ha/3 vụ), với những ánh điện bừng sáng từ sức dân của các nhà máy thủy điện Hố Bà Thai (Đại Quang 3), An Định (Đại Đồng), với mô hình nông - lâm - công nghiệp kết hợp ở Hợp tác xã Đại Đồng II (đơn vị được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động năm 1985). Cạnh đó là Hợp tác xã mua bán Đại Minh - con chim đầu đàn của ngành hợp tác xã mua bán toàn huyện, xã Đại Thắng - ngọn cờ xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xã Đại Lãnh - xã “Toàn dân hiếu học”, Đảng bộ xã Đại Hiệp - điển hình trong công tác xây dựng Đảng,... Đáng chú ý là việc khởi công công trình Hồ chứa nước Khe Tân - công trình đại thủy nông lớn thứ hai của tỉnh, không chỉ là công trình “đền ơn đáp nghĩa” cho một căn cứ địa của Cách mạng mà còn giải quyết căn cơ vấn đề khô hạn ở vùng B, nơi mà thủy lợi chỉ là mơ ước ngàn đời của người dân.

Bước vào thời kỳ đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, Đảng bộ và nhân dân huyện Đại Lộc đã kiên trì vượt qua những khó khăn, thử thách do tác động của tình hình thế giới và trong nước cũng như cuộc đấu tranh tư tưởng gay gắt giữa tư duy cũ với tư duy mới khi chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện đã vận dụng sáng tạo Nghị quyết Đảng, đề ra nhiều chủ trương chỉ đạo kịp thời, đúng đắn, có tính đột phá, đáp ứng được yêu cầu thực tế địa phương và được nhân dân đồng tình, ủng hộ đã có tác động định hướng, làm đổi thay ngoạn mục diện mạo của quê hương trên bước đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Sự phấn đấu liên tục và bền bỉ của toàn Đảng, toàn dân và lực lượng vũ trang huyện nhà đã được Đảng và Nhà nước ghi nhận bằng những phần thưởng cao quý, tiêu biểu là Huân chương Lao động hạng Nhất cho cán bộ và nhân dân huyện Đại Lộc (năm 2014), danh hiệu Anh hùng Lao động được phong tặng cho xã Đại Hiệp (năm 2001) và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho Lực lượng vũ trang huyện (năm 2000) về những thành tích đặc biệt xuất sắc trong công cuộc đổi mới đất nước.

Chính trên nền tảng vững chắc ấy, hơn 10 năm qua, bức tranh kinh tế - xã hội của Đại Lộc tiếp tục có nhiều điểm sáng. Nếu như trong các năm 1997 - 2002, tổng giá trị sản xuất toàn huyện tăng bình quân 9%/năm thì trong các năm 2010- 2015, tốc độ tăng trưởng bình quân 14,51%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng các ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - xây đựng cơ bản và dịch vụ đạt trên 89% (tính đến năm 2015). Giá trị sản xuất bình quân đầu người đến cuối năm 2015 đạt 27,74 triệu đồng, tăng hơn 5 lần so với năm 2002. Từ một huyện thuần nông, Đại Lộc đã gia nhập nhóm các địa phương của tỉnh Quảng Nam có giá trị sản xuất công nghiệp hàng năm trên 1.000 tỷ đồng. Với lợi thế có quốc lộ 14 B đi qua và gần thành phố Đà Nẵng, huyện ta đã và đang là “điểm đến” của nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước với 29 dự án đầu tư, tổng vốn đăng ký trên 2.729 tỷ đồng; đã có 5 dự án đi vào sản xuất ổn định với tổng vốn đã thực hiện trên 1.117 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho 1.097 lao động. Vượt lên những khó khăn do tác động của suy giảm kinh tế thế giới và trong nước, một số doanh nghiệp lớn vẫn trụ vững và hoạt động ổn định như Công ty cổ phần Prime Đại Lộc, Công ty TNHH Broz-beckert Việt Nam...

Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 được tích cực tổ chức thực hiện, nhất là ở 6 xã điểm (tổng nguồn vốn đầu tư cho Chương trình này trong 4 năm 2011 - 2014 đạt trên 130 tỷ đồng, trong đó, nhân dân và cộng đồng đóng góp 25,5 tỷ đồng). Điều đáng phấn khởi là xã Đại Hiệp đã được công nhận là xã nông thôn mới năm 2014, 5 xã (Đại Minh, Đại Phong, Đại Cường, Đại Hồng, Đại An) được công nhận xã đạt chuẩn vào năm 2015. Chương trình phát triển đô thị Ái Nghĩa giai đoạn 2014- 2020 đã được xây dựng và triển khai.

Nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng sản xuất hàng hóa, trở thành một trong số 85 nền nông nghiệp phát triển nhất cả nước, giá trị sản xuất tăng bình quân 4,57%/năm. Công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng, áp dụng các tiến bộ khoa học - công nghệ, đưa cơ giới hóa vào sản xuất được tăng cường. Chăn nuôi tiếp tục phát triển, chú trọng kết họp giữa chăn nuôi hộ gia đình với chăn nuôi theo hướng gia trại, trang trại, ứng dụng các quy trình chăn nuôi tiên tiến, mở rộng nuôi trồng thủy sản. Tỷ trọng giá trị chăn nuôi (kể cả thủy sản) ước chiếm 34,04% trong nội bộ ngành nông nghiệp. Kinh tế lâm nghiệp tiếp tục được đầu tư theo các chương trình mục tiêu, các dư án đầu tư.

Các lĩnh vực văn hóa - xã hội có nhiều khởi sắc. Giáo dục - đào tạo tiếp tục có nhiều chuyển biến về quy mô, cơ sở vật chất trường lớp và đội ngũ giáo viên. Đến nay, 61/61 trường (từ mầm non đến THCS) đạt chuẩn quốc gia. Hằng năm toàn huyện có khoảng 500 học sinh đỗ đại học (nguyện vọng 1). Chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân ở các cơ sở y tế ngày càng nâng lên. Các chương trình y tế quốc gia, y tế dự phòng, phòng chống bệnh xã hội, vệ sinh an toàn thực phẩm được triển khai khá tốt. Cơ sở vật chất và trang thiết bị ngành y tế được tăng cường đầu tư, nhất là ở Bệnh viện đa khoa khu vực miền núi phía Bắc Quảng Nam. Có 14/18 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia (theo chuẩn đoạn 2011 - 2020). Công tác truyền thông, nâng cao chất lượng dân số, chăm sóc trẻ em ngày càng được chú trọng.

Hoạt dộng văn hóa thông tin, thể dục - thể thao, truyền thanh - truyền hình được tổ chức thường xuyên, phong phú, đa dạng, góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân, phục vụ kịp thời yêu cầu nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ huyện. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tiếp tục đi vào chiều sâu và thực chất hơn.

Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn triển khai tích cực. Đã tổ chức đào tạo nghề cho 1.284 học viên; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 32%, trong đó tỷ lệ đào tạo nghề đạt gần 24%. Giải quyết việc làm cho 2.591 lao động/năm. Công tác thương binh, liệt sĩ và người có công được tập trung thực hiện tốt. Hơn 10.000 hồ sơ chính sách các loại đã được thẩm định và chuyển lên cấp trên giải quyết; đã có hơn 938 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, hàng trăm người hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù đày, hoạt động kháng chiến và con đẻ bị nhiễm chất độc hóa học được Nhà nước công nhận mới và giải quyết chế độ. Tổ chức sâu rộng, có hiệu quả phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, vận động toàn xã hội chăm sóc người có công, cải thiện nhà ở cho 1.256 trường hợp, đầu tư nâng cấp các công trình ghi công liệt sĩ, quy tập hàng trăm mộ liệt sĩ...

Chương trình mục tiêu giảm nghèo nhanh và bền vững, các chính sách an sinh xã hội, bảo trợ xã hội triển khai đồng bộ, có hiệu quả. Đã hỗ trợ xây dựng nhà ở cho 2.023 hộ nghèo với tổng số tiền trên 39,5 tỷ đồng. Tỷ lệ hộ nghèo tính đến năm 2015 giảm xuống còn 7,09%. Bình quân mỗi năm giảm 3,03%.

Nhiệm vụ quốc phòng và công tác quân sự địa phương hàng năm hoàn thành tốt. An ninh chính trị và trật tự an ninh toàn xã hội được giữ vững. Hệ thống chính trị các cấp luôn được củng cố, kiện toàn và nâng cao chất lượng hoạt động. Mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền và nhân dân ngày càng khăng khít.

Tuy đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong tiến trình xây dựng huyện công nghiệp và nông thôn mới nhưng mỗi chúng ta không khỏi trăn trở, suy tư khi mà xuất phát điểm của kinh tế - xã hội Đại Lộc còn thấp; chất lượng nguồn nhân lực hạn chế nhiều mặt. Đội ngũ lao động có trình độ tay nghề chưa cao, tỷ lệ lao động được đào tạo còn thấp. Kết cấu hạ tầng còn thiếu và yếu chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hóa. Nguồn lực tài chính còn hạn hẹp, đầu tư toàn xã hội thấp. Cơcấu kinh tế chuyển dịch nhìn chung chưa thật vững chắc. Giá trị sản xuất trên một đơn vị sản phẩm còn thấp. Quy mô sản xuất nông nghiệp còn nhỏ lẻ, manh mún, chưa đi mạnh vào sản xuất hàng hóa, đầu ra của sản xuất không ổn định. Thực hiện xã hội hóa trong lĩnh vực văn hóa - xã hội chưa mạnh. Thêm vào đó, Đại Lộc là vùng “rốn lũ” của tỉnh Quảng Nam, bão lũ, thiên tai triền miên gây rất nhiều thiệt hại về sản xuất, về kết cấu hạ tầng và trong đời sống nhân dân. Qua đó, chúng ta mới thấy hết sự nỗ lực vượt bậc, ý chí vượt qua gian khó để chiến thắng nghèo nàn lạc hậu của Đảng bộ, nhân dân và lực lượng vũ trang huyện nhà. Thành quả đó đã và đang tăng cường sức mạnh của huyện, làm thay đổi bộ mặt quê hương và cuộc sống của nhân dân, tạo ra những tiền đề quan trọng để huyện phát triển trong những năm tiếp theo.

Chiến thắng Hà Vy đã có những đóng góp to lớn với chiến trường Khu 5 và cả nước trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước không những là niềm tự hào mà là niềm động viên cho quân dân huyện Đại Lộc luôn thể hiện được tinh thần tiến công cách mạng, ý chí vượt khó, quyết tâm chiến thắng mọi trở lực, có tư duy sáng tạo, tìm ra cách giải quyết tốt nhất, hiệu quả nhất trong mọi tình huống trên hành trình xây dựng và phát triển quê hương.