Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: quansuvn trong 29 Tháng Hai, 2020, 09:46:20 pm



Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Hai, 2020, 09:46:20 pm
Tên sách: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2
Tác giả:
Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân
Năm xuất bản: 1996
Số hóa: giangtvx, quansuvn


CÓ ANH HÙNG LÀ VÌ CÓ TẬP THỂ ANH HÙNG. CÓ TẬP THỂ ANH HÙNG LÀ VÌ CÓ NHÂN DÂN ANH HÙNG, DÂN TỘC ANH HÙNG, ĐẢNG ANH HÙNG

HỒ CHÍ MINH


* Chỉ đạo nội dung:
   Thượng tướng ĐẶNG VŨ HIỆP

* Những người biên soạn:   
   Đại tá    NGUYỄN MẠNH ĐẨU
   Đại tá    PHẠM LAM
   Đại tá PTS PHẠM GIA ĐỨC
   Thượng tá LÊ ĐẠI HIỆP
   Thượng tá LÊ HẢI TRIỀU
   Thượng tá NGUYỄN TINH   


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Hai, 2020, 09:47:57 pm
Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi
(Liệt sĩ)


Nguyễn Văn Trỗi, sinh năm 1940, quê ở xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, nhập ngũ ngày 17 tháng 2 năm 1964. Khi hy sinh đồng chí là chiến sĩ biệt động thành phố Sài Gòn, đoàn viên Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh.


Nguyễn Văn Trỗi là công nhân thợ điện Sài Gòn. Sống giữa xã hội bất công thối nát của Mỹ - ngụy, hàng ngày chứng kiến những hành động tội ác của bọn tay sai bán nước và bộ mặt đểu cáng của giặc Mỹ xâm lược, anh nung nấu mối căm thù chúng. Nguyễn Văn Trỗi đã tìm đến cách mạng và được giáo dục giác ngộ. Sau đó anh tình nguyện gia nhập đội biệt động 65, Quân khu Sài Gòn - Gia Định.


Là một thanh niên giàu lòng yêu nước và nhiệt tình cách mạng, một chiến sĩ vũ trang gan dạ, Nguyễn Văn Trỗi luôn hăng hái thực hiện mọi công tác của đội biệt động giao cho, vừa hoạt động, vừa tích cực vận động giác ngộ bạn bè tham gia công tác cách mạng.


Tháng 5 nàm 1964, Nguyễn Văn Trỗi được tổ chức giao nhiệm vụ giết tên Bộ trưởng quốc phòng Mỹ, Mác-na-ma-ra, một tên trùm tội ác chiến tranh. Đây là trận đánh mang ý nghĩa chính trị rất lớn. Lợi dụng thế hợp pháp là công nhân, vừa đi làm Nguyễn Văn Trỗi vừa nghiên cứu quy luật đi về của tên bộ trưởng chiến tranh Mỹ, suy nghĩ tìm cách đánh phù hợp nhất. Theo kế hoạch chỉ đạo của trên, ngày 9 tháng 5 năm 1964, đồng chí thực hiện trận đánh bằng cách dùng mìn điểm hỏa bằng điện đặt ở cầu Công Lý, đón tên Mác-na-ma-ra trên đường đi ra sân bay Tân Sơn Nhất. Nhưng trận đánh chưa thực hiện được thì bị lộ và anh bị bắt.


Địch giam Nguyễn Văn Trỗi ở khám Chí Hòa và mọi thủ đoạn từ dụ dỗ đến tra tấn dã man vẫn không khuất phục được anh. Trong những ngày bị giam cầm Nguyễn Văn Trỗi đã đấu tranh quyết liệt với địch bằng mọi lý lẽ và ý chí bất khuất, khiến bọn chúng tức tối và kính nể. Khí phách anh hùng của anh đã cổ vũ anh em trong tù tăng thêm nghị lực đấu tranh.


Sau 4 tháng giam giữ không làm chuyển được tấm lòng kiên trinh của Nguyễn Văn Trỗi, chính quyền Nguyễn Khánh đã kết án tử hình anh. Trong những ngày còn lại của đời mình, Nguyễn Văn Trỗi vẫn lạc quan, tin tưởng và tiếp tục đấu tranh với địch. Ngày 15 tháng 10 năm 1964, chúng đã hèn hạ giết Nguyễn Văn Trỗi.


9 phút cuối cùng ở pháp trường, Nguyễn Văn Trỗi đã hiên ngang vạch tội quân bán nước và cướp nước, khẳng định việc làm chính đáng của mình, khẳng định cách mạng Việt Nam nhất định thắng lợi. Đồng chí dõng dạc hô to 3 lần: “Hồ Chí Minh muôn năm.” Khi bị trúng đạn ngã xuống Nguyễn Văn Trỗi cố gượng dậy hô: Việt Nam muôn năm!


Tấm gương hy sinh vô cùng anh dũng của Nguyễn Văn Trỗi đã làm xúc động dư luận trong nước và thế giới. Trong phiên họp bất thường ngày 17 tháng 10 năm 1964, Chủ tịch đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam quyết định tặng danh hiệu Anh hùng và Huân chương Thành đồng hạng nhất cho liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi. 


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Hai, 2020, 09:48:55 pm
Anh hùng Nguyễn Văn Đừng
(Liệt sĩ)



Nguyễn Văn Đừng sinh năm 1938, dân tộc Kinh, quê ở ấp 1, xã Phong Mỹ, huyện Cao Lãnh tỉnh Đồng Tháp nhập ngũ ngày 5 tháng 9 năm 1959. Khi hy sinh đồng chí là tiểu đội trưởng thuộc đại đội 1, tiểu đoàn 261A (tiểu đoàn ghi rông) đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Nguyễn Văn Đừng đã tham dự hơn 30 trận chiến đấu, luôn luôn nêu cao tinh thần kiên quyết, dũng cảm, có tác phong chiến đấu rất mưu trí, linh hoạt, khi tiến công thì mãnh liệt chớp nhoáng, khi bám trụ thì gan góc kiên cường, có ý thức chấp hành chỉ thị, mệnh lệnh một cách kiên quyết, triệt để, được cấp trên tin cậy, thường giao nhiệm vụ quan trọng đột xuất trong những tình huống đặc biệt, được đồng đội yêu mến.

Nguyễn Văn Đừng là tiểu đội trưởng của “tiểu đội gang thép” ở Ấp Bắc.

Trong trận đánh vận động ở Thủ Thừa, 1 tiểu đoàn địch lọt vào trận địa của ta. Bộ phận chặn đầu và trinh sát của ta đã nổ súng đánh địch, nhưng chưa có lệnh của cấp trên, Nguyễn Văn Đừng vẫn kiên trì nằm phục, mặc cho địch vào cách 15 mét rồi 10 mét, khi có  lệnh mới bất ngờ nổ súng tiêu diệt quân địch. Trận đánh diễn biến gay go, bọn địch triển khai chiếm địa hình có lợi chống trả lại ta rất quyết liệt. Được lệnh, đồng chí đã dũng cảm vác trung liên vượt qua bãi trống dưới làn đạn địch, thọc vào giữa đội hình của chúng, tạo thời cơ thuận lợi cho đơn vị xung phong, đánh bại tiểu đoàn “Cọp đen” nổi tiếng ác ôn.


Trong trận đánh địch ở Gò Công, đơn vị bố trí phục kích diệt một toán quân địch. Tình huống diễn biến không như dự kiến. Quân địch hành quân hướng khác, chỉ chạm phải khúc đuôi của trận địa ta. Hai bên nổ súng chiến đấu quyết liệt. Đại bộ phận quân ta vẫn giữ được bí mật trận địa. Đại đội trưởng lệnh cho tiểu đội Nguyễn Văn Đừng bí mật vận động lên, đánh tạt sườn quân địch. Đồng chí vác trung liên dẫn đầu tiểu đội cơ động, bất ngờ đột kích mảnh liệt vào bên sườn trái, hất quân địch vào thế trận của ta. Bị đòn bất ngờ, toàn bộ đội hình quân địch rối loạn trước sức tiến công dồn dập của cả đơn vị. Kết thúc trận đánh, ta diệt 145 tên, thu nhiều súng các loại.


Trong trận Ấp Bắc lịch sử, tiểu đội của Nguyễn Văn Đừng nhận nhiệm vụ hướng phòng ngự chủ yếu. Sau khi đã vận động ra tiêu diệt một cánh quân địch đổ bộ, trở về trận địa, đồng chí động viên anh em: “Dù ác liệt thế nào cũng kiên quyết giữ vững trận địa, tiêu diệt địch đến cùng...”.


Bọn địch lại tổ chức những đợt tiến công mới chúng liên tục cho phi pháo và xe M.113 đánh vào trước mặt, rồi cho máy bay lên thẳng đổ quân xuống sau lưng trận địa ta. Địch 5 lần phối hợp xung phong vào, nhưng đều bị tiểu đội của đồng chí đánh bật ra. Cho đến chiều tối, cả tiểu đội chỉ còn lại 3 người: đồng chí và 2 chiến sĩ nữa. Địch lại tổ chức xe M.113 kết hợp với bộ binh tiến công lên. Đồng chí phân công 2 chiến sĩ tập trung diệt bộ binh, còn đồng chí chuẩn bị lựu đạn đánh xe. Chờ cho chiếc M.113 đi đầu tiến sát tới bờ hào, đồng chí nhảy vọt lên, ném thủ pháo. Chiếc xe đi đầu bốc cháy ngay tại chỗ. Chiếc đi sau vội lùi lại, vừa bắn xối xả vào chỗ đồng chí, vừa tháo lui. Tuy đã bị thương nặng, Nguyễn Văn Đừng vẫn gọi 2 chiến sĩ lại, dặn thêm một lần nữa: Quyết giữ vững trận địa... Đồng chí đã hy sinh ngay trên mép chiến hào, bên xác chiếc M.113 còn đang bốc cháy. Trong chiến thắng Ấp Bắc, riêng tiểu đội đồng chí đã diệt 3 xe M.113, bắn bị thương 1 chiếc khác, cùng đơn vị bẳn rơi 5 máy bay lên thẳng, bắn bị thương 9 chiếc, diệt 470 tên địch. Nhân dân Ấp Bắc đã tặng tiểu đội đồng chí danh hiệu “Tiểu đội gang thép!”. Nguyễn Văn Đừng đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhất và là Chiến sĩ thi đua của quân khu.


Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Nguyễn Văn Đừng được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng. 


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Hai, 2020, 09:49:52 pm
Anh hùng Võ Như Hưng
(Liệt sĩ)


Võ Như Hưng (tức Võ Như Trích) sinh ngày 5 tháng 5 năm 1929, dân tộc Kinh quê ở xã Điện Nam, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, nhập ngũ ngày 5 tháng 5 năm 1952. Khi hy sinh đồng chí là trung đội trưởng bộ đội đặc công tỉnh, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, lên 10 tuổi đã phải đi ở cho địa chủ, gia đình lại là cơ sở tốt của ta trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, được cách mạng giáo dục, Võ Như Hưng sớm giác ngộ, nhiều lần đã tình nguyện tòng quân, nhưng vì vóc người nhỏ bé nên không trúng tuyển. Mãi tới năm 1952, đồng chí mới được nhận vào bộ đội, làm chiến sĩ của trung đoàn 303, đã cùng đồng đội chiến đấu trên các chiến trường Quảng Nam, Tầy Nguyên... và đã hoàn thành tốt nhiệm vụ. Sau ngày hòa bình lập lại, đồng chí tập kết ra Bắc, đến năm 1960, lại tình nguyện trở về miền Nam chiến đấu. Võ Như Hưng là một trong những dũng sĩ xuất sắc nhất trong 7 dũng sĩ Điện Ngọc.


Cuối năm 1960, trong trận đánh bốt 6 (vùng Điện Bàn), trước giờ xuất phát mặc dù vừa mới qua cơn sốt nặng, được cấp trên cho nghỉ, nhưng Võ Như Hưng vẫn kiên quyết xin đi bằng được. Giữa lúc tình hình chiến đấu đang diễn biến khẩn trương, đồng chí bị một mảnh pháo phạt ngang làm gãy xương tay trái, nhưng vẫn nén đau cùng đồng đội anh dũng tiêu diệt địch cho tới lúc ta làm chủ hoàn toàn trận địa.


Năm 1961, trong trận đánh Nam Thành - một trung tâm huấn luyện biệt kích của địch ở Hòa Cam, cách sân bay Đà Nẵng chừng 500 mét, địch bố phòng rất cẩn mật - đồng chí được giao nhiệm vụ phụ trách mũi tiến công chủ yếu. Vừa bước vào chiến đấu, vì nghe nhầm lệnh, đại bộ phận quân ta đều rút ra, riêng mũi của Võ Như Hưng do nhận lệnh đúng, vẫn xông thẳng vảo trung tâm, diệt sở chỉ huy bọn cố vấn Mỹ. Giải quyết xong mục tiêu, biết tin cả đơn vị đã lui quân, đồng chí bình tĩnh xử trí, tổ chức cho anh em yểm hộ nhau rút từng bộ phận, dù ít người, vẫn thu 12 súng và dẫn 9 tù binh về đơn vị an toàn.


Ngày 26 tháng 4 năm 1962, tiểu đội của Võ Như Hưng nhận nhiệm vụ thọc sâu vào lòng địch quấy phá, hỗ trợ cho đợt “phá ấp chiến lược, giải phóng thêm dân, thêm đất” do tỉnh phát động. Tiểu đội đã đi suốt từ vùng Ông Nổi, qua đồn Gò Đá, tới Quảng Lăng, Quảng Hậu, thôn 4 Điện Bàn, về đến Cẩm Sa thì bị 1 tiểu đoàn địch bao vây; và trận đánh nổi tiếng của “Bảy dũng sĩ Điện Ngọc" quanh chiếc giếng cạn đã diễn ra ở đây. Các chiến sĩ thề với nhau: "Quyết chiến đấu tiêu diệt nhiều địch, không chịu để rơi vào tay giặc". Suốt một ngày trời, cả tiểu đoàn địch mở hàng chục đợt xung phong, nhưng lần nào cũng bị đánh bật ra. Cuộc chiến đấu rất không cân sức này càng về chiều càng hết sức gay go quvết liệt. Nhiều lần địch liều chết ùa tới gần, tung lựu đạn xuống lòng giếng; anh em liền chộp lấy, ném trả lại. Tuy nhiên, cũng có quả nổ ngay trong giếng, làm một số hy sinh và hầu hết cả tiểu đội đều đã bị thương.


Trời tối dần, 4 chiến sĩ còn lại quyết mở đường máu, vượt vòng vây. Sau một đợt tập trung lực lượng, tổ chức xung phong mãnh liệt, bất ngờ, các đồng chi đã rút ra an toàn. Đi được một đoạn, kiểm tra lại thấy còn thiếu một chiến sĩ bị thương nặng không theo kịp đồng đội, đồng chí quyết định quay lại tim bằng được và dìu bạn vượt qua những chặng đường đầy gian khổ, hiểm nguy, ngày ẩn nấp, đêm lại tiếp tục đi, đưa đồng đội vượt vành đai giặc về đơn vị an toàn.


Trong trận chống càn ngày 20 tháng 12 năm 1963, khi 2 đại đội địch đã lọt vào trận địa ta, Võ Như Hưng cho nổ súng. Bị đánh bất ngờ, địch hoảng hốt, tán loạn. Quân ta lập tức xung phong, truy kích đến cùng. Trên đường đuổi giặc Võ Như Hưng bị thương nặng ở bụng, đạn xuyên từ phải qua trái, làm đứt nhiều khúc ruột. Mặc dù được đưa đi bệnh viện kịp thời, và đã được tận tình cứu chữa, song vết thương quá nặng, không thể nào cứu nổi. Trên giường bệnh, tới giây phút cuối cùng, đồng chí vẫn kiên trì chịu đựng không hề rên la, luôn luôn lạc quan, tin tưởng vào tiền đồ và thắng lợi của cách mạng.


Võ Như Hưng là một cán bộ gương mẫu trong chiến đấu cũng như trong học tập và công tác; sống thẳng thắn, trung thực, thật thà, hết lòng thương yêu đồng đội, được mọi người mến phục, tin yêu.


Ngày 5 tháng 5 năm 1965, đồng chi Võ Như Hưng được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng. 


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Hai, 2020, 09:50:36 pm
Anh hùng Nguyễn Viết Khái
(Liệt sĩ)


Nguyễn Viết Khái (tức Nguyễn Văn Huôi) sinh năm 1940 dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Hương Tây, huyện Cái Nước, tỉnh Minh Hải, nhập ngũ tháng 12 năm 1962. Khi hy sinh đổng chí là trung đội phó trung đội 3, đại đội Quyết Thắng, tiểu đoàn U Minh 2, tỉnh Cà Mau, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Năm 1954, Nguyễn Viết Khái làm liên lạc của xã, sau chuyển sang công tác thanh niên, tới năm 1961 chính thức gia nhập du kích, làm ấp đội trưởng, sang năm 1962 được cấp trên giao nhiệm vụ chỉ huy toàn bộ lực lượng du kích của xã.


Suốt quá trình hoạt động, mặc dù gặp nhiều khó khăn, nguy hiểm, bị địch hăm dọa nhiều lần, Nguyễn Viết Khái vẫn luôn luôn vững vàng, trung thành với Đảng, với cách mạng, tích cực xây dựng phong trào, xây dựng cơ sở. Đặc biệt trong chiến đấu, đồng chí rất bình tĩnh, gan dạ, lập nhiều chiến công xuất sắc, đã tham gia trên 50 trận đánh với "nhiều cách đánh linh hoạt, táo bạo, diệt hàng trăm địch, bán rơi 4 máy bay lên thẳng, là một trong số những dũng sĩ diệt Mỹ đầu tiên tham gia đánh bại chiến thuật “trực thăng vận” của địch ở vùng này.


Năm 1962, bọn địch ở chi khu Bình Hưng tập trung 600 quân, chia làm 3 cánh, càn vào vùng giải phóng Tân Hưng Tây, định bất ngờ đánh úp cơ quan chỉ huy xã, diệt lực lượng du kích, cướp của cải của nhân dân rồi lùa dân vào ấp chiến lược. Trước tình thế bất ngờ đó, Nguyễn Viết Khái đã chỉ huy một tổ chiến đấu chặn đánh ghìm chân địch suốt từ nửa đêm hôm trước đến hết ngày hôm sau, bảo vệ cho cán bộ rút ra ngoài an toàn, vì bị thiệt hại nặng, địch đã buộc phải rút quân bỏ dở cuộc càn.


Ngày 20 tháng 12 năm 1962, địch dùng 40 máy bay các loại bất ngờ đổ quân xuống nhiều địa điểm hòng bao vây, tiêu diệt lực lượng du kích. Đồng chí dẫn đầu một tổ chiến đấu luồn lách khắp nơi, tìm cách đánh địch. Trong lúc đang thi hành nhiệm vụ, vì bị địch phát hiện tổ chiến đấu Nguyễn Viết Khái sa vào vòng vây của chúng. Lực lượng quá chênh lệch (1 đánh với 100), song các đồng chí cơ động chiến đấu rất linh hoạt, địch không làm gì được, càng đánh kéo dài, địch càng bị tiêu hao lực lượng, cả 5 lần địch tổ chức xung phong đều thất bại, chúng phải lùi ra xa, gọi máy bay đến ném bom và xin chi viện thêm quân. Sau 1 giờ bắn phá và ném bom dữ dội, một đoàn máy bay lên thẳng ào tới, đổ quân. Bằng 8 phát đạn tiểu liên, đồng chí đã bán trúng 4 chiếc, 2 chiếc bốc cháy tại chỗ, 2 chiếc kia cố bay ra tới kênh 5 và khu vực Ông Xe thì rơi nốt. Hơn 60 tên địch trong 4 chiếc máy bay đều tan xác. Số máy bay lên thẳng còn lại hốt hoảng bay lên cao rồi cút thẳng.


Sau chiến thắng này, đồng chí được quân khu cử đi học, rồi về phụ trách trung đội phó ở đại đội Quyết Thắng bộ đội địa phương tỉnh Cà Mau. Trong lần tiến công đồn Văn Cái Tây (tháng 10 năm 1963) giữa lúc trận đánh đang gay go thì trung đội trưởng hy sinh. Đồng chí đang phụ trách lực lượng dự bị ở bên ngoài, nghe tin đó, liền vào tiếp tục chỉ huy trung đội chiến đấu và dẫn đầu đội hình đơn vị xung phong vào trung tâm đồn địch. Trận đánh sắp kết thúc thì đồng chí bị trúng đạn và đã anh dũng hy sinh.    Nguyễn Viết Khái là một cán bộ gương mẫu về mọi mặt, chiến đấu anh dũng, có hiệu suất cao, sống khiêm tốn, giản dị, trung thực, thật thà, được cấp trên tin cậy, đồng đội và nhân dân quý mến, tin yêu.


Đồng chí đã được thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhất, 2 lần được bầu là Chiến sĩ thi đua của tỉnh và quân khu.


Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Nguyễn Viết Khái được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng. 


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2
Gửi bởi: quansuvn trong 29 Tháng Hai, 2020, 09:51:26 pm
Anh hùng Nguyễn Văn Tư
(Liệt sĩ)


Nguyễn Văn Tư (tức Thành Ngọc) sinh năm 1935, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, tham gia du kích từ tháng 1 năm 1960. Khi hy sinh đồng chí là tiểu đội phó du kích của xã, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Đồng chí đã tham gia chiến đấu chống càn, bao vây quấy rối đồn bốt địch hơn 200 trận (riêng năm 1963 đánh 64 trận), diệt 46 tên địch, bắn bị thương 113 tên, bắt sống 1 ác ôn, phá 3 xe quân sự, thu và phá hủy nhiều súng, đạn, máy thông tin. Là chiến sĩ du kích hoạt động trong vùng địch tạm chiếm, xung quanh nhan nhản những đồn bốt địch, lực lượng vũ trang của ta ít, súng đạn thiếu Nguyễn Văn Tư đã dũng cảm, mưu trí, phát huy cách đánh độc lập, nhỏ lẻ. Với vũ khí thô sơ, chủ yếu là chông, mìn, bẫy, lựu đạn... lúc thì bí mật phục bắt, diệt những tên lính, ác ôn đi lẻ, lúc thì bố trí bãi chông mìn chặn địch càn vào xã, nhiều lần đồng chí đã bò vào bốt địch quấy rối, bắn trả tiêu hao dần lực lượng chúng, đặc biệt đã sáng tạo ra cách đánh bằng ong vò vẽ.


Tháng 8 năm 1962, do nắm được những toán địch thường hay đi lẻ vào xóm dọa nạt, cướp bóc tài sản của đồng bào, Nguyễn Văn Tư chỉ huy một tổ du kích bí mật vào nằm phục sát đồn địch, đợi lúc lực lượng địch rời khỏi đồn, liền tranh thủ cơ hội thuận tiện xông vào diệt tên đồn trưởng, thu vũ khí rồi trở về an toàn.


Tháng 6 năm 1963, lần đầu có lựu đạn, Nguyễn Văn Tư nghĩ ra cách đánh rất sáng tạo và mưu trí: gài lựu đạn ở dưới, đặt mìn giả lên trên, rồi làm như sơ ý rải dây chưa thật kín để nhử địch. Sáng hôm sau, địch đi tuần tra phát hiện ra dấu vết, liền đào gỡ mìn để mang về lĩnh thưởng, nhưng khi kéo quả mìn giả lên, lựu đạn ở dưới nổ tung 1 tên địch chết ngay tại trận và 3 tên khác bị thương nặng... Hoạt động ở hậu địch, vũ khí của du kích thường rất hiếm, nhất là lựu đạn, đồng chí tổ chức chỉ huy anh em bò vào đồn bốt địch tháo gỡ lựu đạn chúng gài ở hàng rào về, dùng lựu đạn của địch giết địch.


Đồng chí còn nghĩ ra cách dùng ong vò vẽ để đánh địch. Lần đầu chưa có kinh nghiệm, Nguyễn Văn Tư bị ong đốt sưng cả mặt, nhưng thấy cách đánh có hiệu quả, đồng chí đã kiên trì vừa làm vừa rút kinh nghiệm cải tiến cách bố trí xen kẽ chông mìn, cạm bẫy với hệ thống các tổ ong để tiếp tục đánh địch. Sau 30 trận sử dụng ong vò vẽ, tính ra đồng chí đã diệt và làm bị thương hơn 50 tên địch khiến chúng hoang mang lo sợ, không còn dám ngông nghênh ra ngoài bốt đi càn và cướp như trước nữa.


Ngoài nhiệm vụ chỉ huy và trực tiếp chiến đấu, Nguyễn Văn Tư còn tích cực tuyên truyền vận động bà con đấu tranh, nổi dậy phá ấp chiến lược trở về làng, và tham gia chế tạo vũ khí, vót chông, làm bẫy, rào làng chiến đấu để ngăn chặn địch. Trong trận chiến đấu ngày 26 tháng 10 năm 1964, không may Nguyễn Văn Tư bị địch bắn gãy một chân và bị chúng bắt. Mặc dù bị tra tấn rất dã man, đồng chí vẫn nêu cao tinh thần kiên cường, bất khuất, không để lộ bí mật, dũng cảm bảo vệ đồng bào, đồng chí đến hơi thở cuối cùng.


Nguyễn Văn Tư đã luôn luôn gương mẫu trong mọi mặt công tác, học tập và lao động sản xuất, chú ý xây dựng và phát triển đội du kích vững mạnh toàn diện, làm nòng cốt cho phong trào đấu tranh cách mạng ở địa phương, được nhân dân tin yêu, đồng đội mến phục.

Hai năm liền (1963-1964) đồng chí là Chiến sĩ thi đua của Quân khu.

Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Nguyễn Văn Tư được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2
Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Sáu, 2021, 07:42:26 pm
Anh hùng Võ Như Hưng
(Liệt sĩ)


Võ Như Hưng (tức Võ Như Trích) sinh ngày 5 tháng 5 năm 1929, dân tộc Kinh quê ở xã Điện Nam, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, nhập ngũ ngày 5 tháng 5 năm 1952. Khi hy sinh đồng chí là trung đội trưởng bộ đội đặc công tỉnh, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, lên 10 tuổi đã phải đi ở cho địa chủ, gia đình lại là cơ sở tốt của ta trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, được cách mạng giáo dục, Võ Như Hưng sớm giác ngộ, nhiều lần đã tình nguyện tòng quân, nhưng vì vóc người nhỏ bé nên không trúng tuyển. Mãi tới năm 1952, đồng chí mới được nhận vào bộ đội, làm chiến sĩ của trung đoàn 303, đã cùng đồng đội chiến đấu trên các chiến trường Quảng Nam, Tây Nguyên... và đã hoàn thành tốt nhiệm vụ. Sau ngày hòa bình lập lại, đồng chí tập kết ra Bắc, đến năm 1960, lại tình nguyện trở về miền Nam chiến đấu. Võ Như Hưng là một trong những dũng sĩ xuất sắc nhất trong 7 dũng sĩ Điện Ngọc.


Cuối năm 1960, trong trận đánh bốt 6 (vùng Điện Bàn), trước giờ xuất phát mặc dù vừa mới qua cơn sốt nặng, được cấp trên cho nghỉ, nhưng Võ Như Hưng vẫn kiên quyết xin đi bằng được. Giữa lúc tình hình chiến đấu đang diễn biến khẩn trương, đồng chí bị một mảnh pháo phạt ngang làm gãy xương tay trái, nhưng vẫn nén đau cùng đồng đội anh dũng tiêu diệt địch cho tới lúc ta làm chủ hoàn toàn trận địa.


Năm 1961, trong trận đánh Nam Thành - một trung tâm huấn luyện biệt kích của địch ở Hòa Cam, cách sân bay Đà Nẵng chừng 500 mét, địch bố phòng rất cẩn mật - đồng chí được giao nhiệm vụ phụ trách mũi tiến công chủ yếu. Vừa bước vào chiến đấu, vì nghe nhầm lệnh, đại bộ phận quân ta đều rút ra, riêng mũi của Võ Như Hưng do nhận lệnh đúng, vẫn xông thẳng vảo trung tâm, diệt sở chỉ huy bọn cố vấn Mỹ. Giải quyết xong mục tiêu, biết tin cả đơn vị đã lui quân, đồng chí bình tĩnh xử trí, tổ chức cho anh em yểm hộ nhau rút từng bộ phận, dù ít người, vẫn thu 12 súng và dẫn 9 tù binh về đơn vị an toàn.


Ngày 26 tháng 4 năm 1962, tiểu đội của Võ Như Hưng nhận nhiệm vụ thọc sâu vào lòng địch quấy phá, hỗ trợ cho đợt “phá ấp chiến lược, giải phóng thêm dân, thêm đất” do tỉnh phát động. Tiểu đội đã đi suốt từ vùng Ông Nổi, qua đồn Gò Đá, tới Quảng Lăng, Quảng Hậu, thôn 4 Điện Bàn, về đến Cẩm Sa thì bị 1 tiểu đoàn địch bao vây; và trận đánh nổi tiếng của “Bảy dũng sĩ Điện Ngọc" quanh chiếc giếng cạn đã diễn ra ở đây. Các chiến sĩ thề với nhau: "Quyết chiến đấu tiêu diệt nhiều địch, không chịu để rơi vào tay giặc". Suốt một ngày trời, cả tiểu đoàn địch mở hàng chục đợt xung phong, nhưng lần nào cũng bị đánh bật ra. Cuộc chiến đấu rất không cân sức này càng về chiều càng hết sức gay go quvết liệt. Nhiều lần địch liều chết ùa tới gần, tung lựu đạn xuống lòng giếng; anh em liền chộp lấy, ném trả lại. Tuy nhiên, cũng có quả nổ ngay trong giếng, làm một số hy sinh và hầu hết cả tiểu đội đều đã bị thương.


Trời tối dần, 4 chiến sĩ còn lại quyết mở đường máu, vượt vòng vây. Sau một đợt tập trung lực lượng, tổ chức xung phong mãnh liệt, bất ngờ, các đồng chi đã rút ra an toàn. Đi được một đoạn, kiểm tra lại thấy còn thiếu một chiến sĩ bị thương nặng không theo kịp đồng đội, đồng chí quyết định quay lại tim bằng được và dìu bạn vượt qua những chặng đường đầy gian khổ, hiểm nguy, ngày ẩn nấp, đêm lại tiếp tục đi, đưa đồng đội vượt vành đai giặc về đơn vị an toàn.


Trong trận chống càn ngày 20 tháng 12 năm 1963, khi 2 đại đội địch đã lọt vào trận địa ta, Võ Như Hưng cho nổ súng. Bị đánh bất ngờ, địch hoảng hốt, tán loạn. Quân ta lập tức xung phong, truy kích đến cùng. Trên đường đuổi giặc Võ Như Hưng bị thương nặng ở bụng, đạn xuyên từ phải qua trái, làm đứt nhiều khúc ruột. Mặc dù được đưa đi bệnh viện kịp thời, và đã được tận tình cứu chữa, song vết thương quá nặng, không thể nào cứu nổi. Trên giường bệnh, tới giây phút cuối cùng, đồng chí vẫn kiên trì chịu đựng không hề rên la, luôn luôn lạc quan, tin tưởng vào tiền đồ và thắng lợi của cách mạng.


Võ Như Hưng là một cán bộ gương mẫu trong chiến đấu cũng như trong học tập và công tác; sống thẳng thắn, trung thực, thật thà, hết lòng thương yêu đồng đội, được mọi người mến phục, tin yêu.


Ngày 5 tháng 5 năm 1965, đồng chi Võ Như Hưng được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.  


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2
Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Sáu, 2021, 07:43:30 pm
Anh hùng Nguyễn Viết Khái
(Liệt sĩ)


Nguyễn Viết Khái (tức Nguyễn Văn Huôi) sinh năm 1940 dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Hương Tây, huyện Cái Nước, tỉnh Minh Hải, nhập ngũ tháng 12 năm 1962. Khi hy sinh đồng chí là trung đội phó trung đội 3, đại đội Quyết Thắng, tiểu đoàn U Minh 2, tỉnh Cà Mau, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Năm 1954, Nguyễn Viết Khái làm liên lạc của xã, sau chuyển sang công tác thanh niên, tới năm 1961 chính thức gia nhập du kích, làm ấp đội trưởng, sang năm 1962 được cấp trên giao nhiệm vụ chỉ huy toàn bộ lực lượng du kích của xã.


Suốt quá trình hoạt động, mặc dù gặp nhiều khó khăn, nguy hiểm, bị địch hăm dọa nhiều lần, Nguyễn Viết Khái vẫn luôn luôn vững vàng, trung thành với Đảng, với cách mạng, tích cực xây dựng phong trào, xây dựng cơ sở. Đặc biệt trong chiến đấu, đồng chí rất bình tĩnh, gan dạ, lập nhiều chiến công xuất sắc, đã tham gia trên 50 trận đánh với "nhiều cách đánh linh hoạt, táo bạo, diệt hàng trăm địch, bắn rơi 4 máy bay lên thẳng, là một trong số những dũng sĩ diệt Mỹ đầu tiên tham gia đánh bại chiến thuật “trực thăng vận” của địch ở vùng này.


Năm 1962, bọn địch ở chi khu Bình Hưng tập trung 600 quân, chia làm 3 cánh, càn vào vùng giải phóng Tân Hưng Tây, định bất ngờ đánh úp cơ quan chỉ huy xã, diệt lực lượng du kích, cướp của cải của nhân dân rồi lùa dân vào ấp chiến lược. Trước tình thế bất ngờ đó, Nguyễn Viết Khái đã chỉ huy một tổ chiến đấu chặn đánh ghìm chân địch suốt từ nửa đêm hôm trước đến hết ngày hôm sau, bảo vệ cho cán bộ rút ra ngoài an toàn, vì bị thiệt hại nặng, địch đã buộc phải rút quân bỏ dở cuộc càn.


Ngày 20 tháng 12 năm 1962, địch dùng 40 máy bay các loại bất ngờ đổ quân xuống nhiều địa điểm hòng bao vây, tiêu diệt lực lượng du kích. Đồng chí dẫn đầu một tổ chiến đấu luồn lách khắp nơi, tìm cách đánh địch. Trong lúc đang thi hành nhiệm vụ, vì bị địch phát hiện tổ chiến đấu Nguyễn Viết Khái sa vào vòng vây của chúng. Lực lượng quá chênh lệch (1 đánh với 100), song các đồng chí cơ động chiến đấu rất linh hoạt, địch không làm gì được, càng đánh kéo dài, địch càng bị tiêu hao lực lượng, cả 5 lần địch tổ chức xung phong đều thất bại, chúng phải lùi ra xa, gọi máy bay đến ném bom và xin chi viện thêm quân. Sau 1 giờ bắn phá và ném bom dữ dội, một đoàn máy bay lên thẳng ào tới, đổ quân. Bằng 8 phát đạn tiểu liên, đồng chí đã bắn trúng 4 chiếc, 2 chiếc bốc cháy tại chỗ, 2 chiếc kia cố bay ra tới kênh 5 và khu vực Ông Xe thì rơi nốt. Hơn 60 tên địch trong 4 chiếc máy bay đều tan xác. Số máy bay lên thẳng còn lại hốt hoảng bay lên cao rồi cút thẳng.


Sau chiến thắng này, đồng chí được quân khu cử đi học, rồi về phụ trách trung đội phó ở đại đội Quyết Thắng bộ đội địa phương tỉnh Cà Mau. Trong lần tiến công đồn Văn Cái Tây (tháng 10 năm 1963) giữa lúc trận đánh đang gay go thì trung đội trưởng hy sinh. Đồng chí đang phụ trách lực lượng dự bị ở bên ngoài, nghe tin đó, liền vào tiếp tục chỉ huy trung đội chiến đấu và dẫn đầu đội hình đơn vị xung phong vào trung tâm đồn địch. Trận đánh sắp kết thúc thì đồng chí bị trúng đạn và đã anh dũng hy sinh.


Nguyễn Viết Khái là một cán bộ gương mẫu về mọi mặt, chiến đấu anh dũng, có hiệu suất cao, sống khiêm tốn, giản dị, trung thực, thật thà, được cấp trên tin cậy, đồng đội và nhân dân quý mến, tin yêu.


Đồng chí đã được thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhất, 2 lần được bầu là Chiến sĩ thi đua của tỉnh và quân khu.


Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Nguyễn Viết Khái được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng. 


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2
Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Sáu, 2021, 07:44:27 pm
Anh hùng Nguyễn Văn Tư
(Liệt sĩ)


Nguyễn Văn Tư (tức Thành Ngọc) sinh năm 1935, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, tham gia du kích từ tháng 1 năm 1960. Khi hy sinh đồng chí là tiểu đội phó du kích của xã, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Đồng chí đã tham gia chiến đấu chống càn, bao vây quấy rối đồn bốt địch hơn 200 trận (riêng năm 1963 đánh 64 trận), diệt 46 tên địch, bắn bị thương 113 tên, bắt sống 1 ác ôn, phá 3 xe quân sự, thu và phá hủy nhiều súng, đạn, máy thông tin. Là chiến sĩ du kích hoạt động trong vùng địch tạm chiếm, xung quanh nhan nhản những đồn bốt địch, lực lượng vũ trang của ta ít, súng đạn thiếu Nguyễn Văn Tư đã dũng cảm, mưu trí, phát huy cách đánh độc lập, nhỏ lẻ. Với vũ khí thô sơ, chủ yếu là chông, mìn, bẫy, lựu đạn... lúc thì bí mật phục bắt, diệt những tên lính, ác ôn đi lẻ, lúc thì bố trí bãi chông mìn chặn địch càn vào xã, nhiều lần đồng chí đã bò vào bốt địch quấy rối, bắn trả tiêu hao dần lực lượng chúng, đặc biệt đã sáng tạo ra cách đánh bằng ong vò vẽ.


Tháng 8 năm 1962, do nắm được những toán địch thường hay đi lẻ vào xóm dọa nạt, cướp bóc tài sản của đồng bào, Nguyễn Văn Tư chỉ huy một tổ du kích bí mật vào nằm phục sát đồn địch, đợi lúc lực lượng địch rời khỏi đồn, liền tranh thủ cơ hội thuận tiện xông vào diệt tên đồn trưởng, thu vũ khí rồi trở về an toàn.


Tháng 6 năm 1963, lần đầu có lựu đạn, Nguyễn Văn Tư nghĩ ra cách đánh rất sáng tạo và mưu trí: gài lựu đạn ở dưới, đặt mìn giả lên trên, rồi làm như sơ ý rải dây chưa thật kín để nhử địch. Sáng hôm sau, địch đi tuần tra phát hiện ra dấu vết, liền đào gỡ mìn để mang về lĩnh thưởng, nhưng khi kéo quả mìn giả lên, lựu đạn ở dưới nổ tung 1 tên địch chết ngay tại trận và 3 tên khác bị thương nặng... Hoạt động ở hậu địch, vũ khí của du kích thường rất hiếm, nhất là lựu đạn, đồng chí tổ chức chỉ huy anh em bò vào đồn bốt địch tháo gỡ lựu đạn chúng gài ở hàng rào về, dùng lựu đạn của địch giết địch.


Đồng chí còn nghĩ ra cách dùng ong vò vẽ để đánh địch. Lần đầu chưa có kinh nghiệm, Nguyễn Văn Tư bị ong đốt sưng cả mặt, nhưng thấy cách đánh có hiệu quả, đồng chí đã kiên trì vừa làm vừa rút kinh nghiệm cải tiến cách bố trí xen kẽ chông mìn, cạm bẫy với hệ thống các tổ ong để tiếp tục đánh địch. Sau 30 trận sử dụng ong vò vẽ, tính ra đồng chí đã diệt và làm bị thương hơn 50 tên địch khiến chúng hoang mang lo sợ, không còn dám ngông nghênh ra ngoài bốt đi càn và cướp như trước nữa.


Ngoài nhiệm vụ chỉ huy và trực tiếp chiến đấu, Nguyễn Văn Tư còn tích cực tuyên truyền vận động bà con đấu tranh, nổi dậy phá ấp chiến lược trở về làng, và tham gia chế tạo vũ khí, vót chông, làm bẫy, rào làng chiến đấu để ngăn chặn địch. Trong trận chiến đấu ngày 26 tháng 10 năm 1964, không may Nguyễn Văn Tư bị địch bắn gãy một chân và bị chúng bắt. Mặc dù bị tra tấn rất dã man, đồng chí vẫn nêu cao tinh thần kiên cường, bất khuất, không để lộ bí mật, dũng cảm bảo vệ đồng bào, đồng chí đến hơi thở cuối cùng.


Nguyễn Văn Tư đã luôn luôn gương mẫu trong mọi mặt công tác, học tập và lao động sản xuất, chú ý xây dựng và phát triển đội du kích vững mạnh toàn diện, làm nòng cốt cho phong trào đấu tranh cách mạng ở địa phương, được nhân dân tin yêu, đồng đội mến phục.

Hai năm liền (1963-1964) đồng chí là Chiến sĩ thi đua của Quân khu.

Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Nguyễn Văn Tư được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2
Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Sáu, 2021, 07:45:07 pm
Anh hùng Mai Thanh Thế
(Liệt sĩ)


Mai Thanh Thế (tức Hồng Kiên), sinh năm 1941 dân tộc Kinh, quê ở xã Mỹ Quới, huyện Thạnh Trị , tỉnh Sóc Trăng, nhập ngũ tháng 6 năm 1961. Khi hy sinh đồng chí là chiến sĩ đặc công của huyện, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, có truyền thống yêu nước (bố, mẹ, anh, em đều tham gia công tác kháng chiến) được gia đình giáo dục và cán bộ dìu dắt, Mai Thanh Thế sớm giác ngộ, tham gia công tác cách mạng từ nhỏ, là một cậu bé liên lạc gan dạ, có nhiều mưu mẹo, sáng kiến. Từ ngày nhập ngũ Mai Thanh Thế luôn luôn tỏ ra là một chiến sĩ có tinh thần dũng cảm ngoan cường, thường xung phong đi đầu trong những lúc khó khăn, nguy hiểm, chấp hành nghiêm mệnh lệnh, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Bị thương nhiều lần, đồng chí vẫn không rời trận địa, khi bị thương cụt cả hai tay, vẫn tiếp tục động viên, cổ vũ đồng đội xông lên tiêu diệt quân thù. Trong trận quấy rối đồn Cầu Trâu năm 1961, lúc rút ra, 1 chiến sĩ trong tổ bỏ quên chiếc mã tấu trong  hàng rào, Mai Thanh Thế xin ban chỉ huy cho quay lại lấy. Đồng chí nói: “Đất nước ta còn nghèo, trang bị của quân đội ta còn rất thiếu thốn, vũ khí của Đảng, của nhân dân giao cho, mình bỏ lại là có khuyết điểm lớn, gây thành tác phong xấu trong đơn vị”. Đồng chí bò vào, lấy bằng được, mặc dù lúc đó đạn địch trong đồn đang bắn ra rất dữ. Tháng 8 năm 1962, trong một trận đánh đồn, khi hết cả thủ pháo, lựu đạn để mở cửa, Mai Thanh Thế đã kiên quyết dùng mã tấu xông lên chặt hàng rào, dưới hỏa lực dày đặc của địch, mở đường cho bộ đội xung phong. Đồn Văn Tiến là nơi địch bố phòng kiên cố, ngoài 4 lớp rào kém gai, xen lẫn với mìn, chúng còn đào mương, thả chó, và thắp đèn điện sáng rực suốt đêm. Đồng chí vẫn quyết tầm tìm mọi cách lọt vào điều tra nắm vững tình hình địch và địa hình, rồi dẫn đường đưa đơn vị vào đánh nhanh, diệt gọn. Ngày 28 tháng 7 năm 1962, đơn vị đi đánh đồn Cầu Trâu (một đồn khét tiếng gian ác đã gây nhiều nợ máu ở vùng này), tổ đồng chí được giao đảm nhiệm mũi chủ yếu. Mai Thanh Thế đã thề dưới cờ Đảng: “Quyết diệt sạch lũ giặc trong đồn, trả thù cho đồng bào, đồng chí, dù có phải hy sinh cũng quyết hoàn thành nhiệm vụ...” Trận đánh rất ác liệt, gặp khó khăn ngay từ đầu. Vừa vượt qua cửa mở, đồng chí đã bị thương vào ngực. Khi xung phong, tay trái lại bị mảnh lựu đạn phạt gãy. Không do dự, Mai Thanh Thế nhờ bạn cắt hẳn cho khỏi vướng, băng tạm rồi dẫn tổ mũi nhọn của mình tiếp tục xông lên. Địch vẫn điên cuồng chống cự. Một quả lựu đạn nữa nổ gần, văng mảnh vào trán và cắt gãy nốt cánh tay phải của đồng chi. Ban chỉ huy cho ngay 2 chiến sĩ cáng đồng chí ra ngoài, song đồng chí nhất định không nghe:

- Nhiệm vụ của tổ tôi chưa hoàn thành, nhất định tôi không rời trận địa, xin cứ cho tôi ở đây với anh em!...

Và đồng chí tiếp tục vừa quan sát địch, vừa động viên đồng đội chiến đấu tới phút cuối cùng...

Mai Thanh Thế đã nêu cao tấm gương hy sinh dũng cảm, sống oanh liệt, chết vẻ vang, giữ vững quyết tâm chiến đấu đến cùng, ở đồng chí, luôn luôn thể hiện tinh thần đoàn kết lập công tập thể và tình thương yêu đồng đội sâu sắc, sẵn sàng nhận khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho bạn.


Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Mai Thanh Thế được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng. 


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2
Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Sáu, 2021, 07:45:50 pm
Anh hùng Trừ Văn Thố
(Liệt sĩ)


Trừ Văn Thố sinh năm 1936, dân tộc Kinh, quê ở xã Thanh Hòa, quận Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, vào du kích tháng 10 năm 1961, nhập ngũ tháng 4 năm 1962. Khi hy sinh đồng chí là chiến sĩ trinh sát đặc công, đơn vị Q.272.(sau này là trung đoàn 2 - sư đoàn 9).


Thời gian ở du kích cũng như khi chuyển sang đơn vị chủ lực, dù nhận bất cứ nhiệm vụ gì Trừ Văn Thố luôn luôn tỏ ra là một chiến sĩ dũng cảm, kiên cường, có quyết tâm cao trong học tập, bình tĩnh, vững vàng trong mọi tình huống ác liệt, khó khăn, đã lấy thân mình lấp lỗ châu mai, dập tắt hỏa điểm địch, tạo điều kiện cho toàn đơn vị xung phong giành thắng lợi hoàn toàn cho trận đánh.


Năm 1961, trong một trận đánh địch càn vào xã, đồng chí bị thương ở ngực, vẫn bám trận địa chiến đấu, cổ vũ đồng đội kiên cường chặn địch, buộc chúng phải lui quân.

Năm 1962 đơn vị Trừ Văn Thố hoạt động ở chiến khu Đ gian khổ, bị địch truy quét thường xuyên, ác liệt, đồng chí vẫn vững vàng bám trụ, nắm tình hình địch chính xác, kịp thời giúp cấp trên tổ chức nhiều trận đánh thắng lợi. 

Tháng 4 năm 1963, đồng chí được cử đi học trinh sát, rồi về bổ sung vào đơn vị đặc công Q.272.

Trong trận đánh bốt Cây Trường (ngày 18 tháng 10 năm 1963), đồng chí đã lập chiến công xuất sầc. Cây Trường là một vị trí án ngữ đường số 13 và khu tam giác Dinh Điền - Cẩm Xe - Văn Hữu. Đó cúng là nơi tập kết để bọn biệt kích, ác ôn xuất phát đi đánh phá chiến khu Long Xuyên, vì vậy, bọn địch bố trí phòng thủ bảo vệ rất chặt chẽ. Hàng tháng ròng, Trừ Văn Thố len lỏi vào vị trí nắm địch tình, giúp trên hạ quyết tâm chiến đấu chính xác. Ngày nổ súng, đồng chí được giao nhiệm vụ cùng tổ đánh khu cố thủ (trên lô cốt cố thủ còn có pháo đài cao 7 mét) ở hướng chủ yếu. Do giữ được bí mật bất ngờ, nên ngay loạt tiếng nổ đầu tiên, quân ta đã đánh sập luôn lô cốt B, C mở xong hàng rào tiền duyên và bắn vỡ pháo đài. Nhưng từ lô cốt A (khu cố thủ), hỏa lực địch vẫn quét mạnh cản đường. Nhiều chiến sĩ ở hướng chủ yếu, trong đó có hai tổ viên của tổ đồng chí đã bị thương và hy sinh. Căm thù sôi sục nhưng vẫn hết sức bình tĩnh Trừ Văn Thố quan sát đường tiến rồi ôm bộc phá trườn lên. Một loạt trung liên từ lỗ châu mai bắn ra, đạn xuyên qua đùi, làm đồng chí tê dại cả một bên chân. Đồng chí nghiến răng chịu đau, lê lên đặt bộc phá áp sát vào lô cốt. Một cột lửa bùng lên, tiếp theo một tiếng nổ dậy đất. Lô cốt địch lặng đi vài giây rồi hỏa lực từ lỗ châu mai lại tiếp tục phụt ra. Trừ Văn Thố rút 2 trái thủ pháo ném tiếp vào lỗ châu mai địch, nhưng hỏa điểm vẫn chưa bị dập tắt. Đội hình tiến quân của ta ùn lại, đồng đội tiếp tục bị thương vong. “Bằng giá nào cũng phải diệt được lô cốt địch, mở đường cho xung kích tiến lên”. Chăm chú   nhìn lô cốt địch, mắt nảy lửa hờn căm, chợt nhớ đến gương Phan Đình Giót, đồng chí thấy lúc này chính là lúc phải hy sinh dũng cảm, hành động như người anh hùng Điện Biên Phủ năm xưa. Trừ Văn Thố nén đau, ráng sức toài dần lên, rồi bất ngờ bật dậy, lao người vào lỗ châu mai, dùng thân mình bịt kín họng súng liên thanh của địch, tạo thời cơ cho đồng đội ào ạt xung phong.


Gương hy sinh dũng cảm, xả thân vì nhiệm vụ của Trừ Văn Thố đã góp phần cống hiến xuất sắc cho trận đánh thắng lợi.

Khi còn sống, Trừ Văn Thố là một chiến sĩ hiền lành, chất phác, sống giản dị, khiêm tốn, hết lòng thương yêu đồng đội, được mọi người tin cậy, mến yêu.

Ngày 5 tháng 5 nãm 1965, Trừ Văn Thố được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2
Gửi bởi: quansuvn trong 07 Tháng Sáu, 2021, 07:01:27 pm
Anh hùng Ngô Minh Trị
(Liệt sĩ)


Ngô Minh Trị (tức Ba Bảy) sinh năm 1936, dân tộc Kinh, quê ở xã Thanh Tuyền, huyện Bến Cát, tỉnh Sông Bé nhập ngũ năm 1957. Khi hy sinh, đồng chí là tiểu đội phó đơn vị đặc công 60, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Gia đình đồng chí rất nghèo, vừa làm ruộng thuê, vừa đi làm ở sở cạo mủ cao su để sinh sống. Sau Cách mạng tháng Tám, Ngô Minh Trị được nuôi dưỡng và lớn lên trong vùng căn cứ kháng chiến cũ của ta, do đó sớm có lòng yêu nước nồng nàn và căm thù giặc sâu sắc.


Năm 1954, sau ngày ký Hiệp nghị Giơ-ne-vơ Ngô Minh Trị làm công tác ở Đoàn thanh niên xã, rồi được giới thiệu vào lực lượng vũ trang huyện, năm 1957, được chọn vào đơn vị đặc công 60. Đồng chí đã tham gia nhiều trận đánh lớn, lập công xuất sắc.


Năm 1957, trong trận đánh tiêu diệt 1 tiểu đoàn địch khi chúng định phá rừng, mở đường quân sự ở Sông Bé - Mã Đà, Ngô Minh Trị tỏ ra rất dũng cảm, gan dạ, quyết tâm vượt qua mọi gian khổ khó khăn, thực hiện bằng được nhiệm vụ. Trong trận tập kích đồn Minh Thạnh - Bình Long, đồng chí đã góp phần diệt và làm tan rã hơn 2 đại đội địch. Trong trận đánh quận lỵ Dầu Tiếng (tháng 8 năm 1958) Ngô Minh Trị là tổ trưởng tổ thọc sâu đánh vào khu vực sở chỉ huy của địch, đã cùng với anh em hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần cùng đơn vị diệt và làm tan rả 5 đại đội địch, thu trên 200 súng các loại...


Trong trận đánh vào cứ điểm sư đoàn 21 ngụy ở Tua Hai (Tây Ninh) ngày 5 tháng 1 năm 1960, Ngô Minh Trị được chọn vào tổ mũi nhọn, đánh thẳng vào sở chỉ huy sư đoàn địch, phát tiếng nổ đầu tiên làm hiệu lệnh cho toàn đơn vị tiến công. Giữa lúc các mũi, hướng còn đang luồn sâu cách bờ thành khoảng 200 mét, địch “đánh hơi” thấy. Chúng liền thổi kèn báo động tất cả 5 tiểu đoàn, đồng thời điều một đoàn xe chở một trung đoàn từ Tây Ninh xuống ứng cứu. Nhận được lệnh cấp trên cho nổ súng chiến đấu, tổ của đồng chí (lúc này đã vượt qua hàng rào, vào trong bờ thành và qua một con mương sâu 1,5 mét, rộng 3 mét) lập tức xung phong, sở chỉ huy sư đoàn 21 ngụy chỉ còn cách 400 mét, nhưng trước mặt là 2 tiểu đoàn địch đang bố trí dày đặc. Phát hiện quân ta, chúng bắn chặn mãnh liệt. Tổ có 3 người, thì 1 đã hy sinh, 2 người còn lại đều đã bị thương ca. Bằng bất cứ giá nào cũng phải hoàn thành nhiệm vụ, nghĩ vậy Ngô Minh Trị nén đau đớn, ôm trái phá tiếp tục trườn lên. Địch thấy có một mình Ngô Minh Trị liền xô lại định bắt sống. Ngô Minh Trị miệng hô xung phong, tay chuẩn bị rút kĩp nổ, xông thẳng vào giữa đội hình địch. Chúng hốt hoảng sợ chết vội tản rộng ra xung quanh. Lợi dụng khoảnh khắc ngắn ngủi ấy, đồng chí vọt thẳng vào khu sở chỉ huy địch, tung trái nổ, phát lệnh cho toàn trận đánh. Hai con chó béc-giê nhảy lại cào cấu, Ngô Minh Trị ném lựu đạn hơi đánh cho chó giạt ra, rồi lại xông lên, ném tiếp trái nổ thứ hai. Trong khói đạn mịt mù, đồng chí xông xáo chiến đấu hết sức dũng cảm, đoạt súng giặc giết giặc, cho tới khi bị thương lần thứ ba, thủng bụng Ngô Minh Trị vẫn không rời tay súng.


Ngô Minh Trị hy sinh, nhưng đã góp phần tích cực để trận đánh thắng lợi giòn giã. Quân ta đã diệt 800 tên địch, bắn bị thương 700, bắt sống 500, thu 1.540 súng các loại. Trận đánh gậy chấn động rất mạnh trong quân ngụy, làm cho cả hệ thống đồn bốt địch ở Y.1 và Y.4 phải rút chạy, vùng giải phóng của ta được mở rộng thêm...


Ngô Minh Trị là một chiến sĩ sống trung thực, giản dị, chan hòa cùng đồng đội, luôn luôn được mọi người tin cậy thương yêu. Khi đồng chi hy sinh, cả đơn vị đều xót xa, thương tiếc.


Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Ngô Minh Trị được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2
Gửi bởi: quansuvn trong 07 Tháng Sáu, 2021, 07:02:03 pm
Anh hùng Hồ Văn Bé


Hồ Văn Bé (tức Hồng Hải) sinh năm 1941, dân tộc Kinh, quê ở xã Lương Hòa Lạc, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang, nhập ngũ ngày 6 tháng 4 năm 1963. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung đội trưởng công binh đặc công của huyện, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Trong kháng chiến chống Pháp, cha mẹ Hồ Văn Bé đều tham gia hoạt động cách mạng. Bố làm xã đội trưởng nhiều năm, năm 1949 bị giặc Pháp bắt giam 44 tháng liền, sau ngày ký Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, lại bị Mỹ - Diệm cầm tù 18 tháng nữa, mẹ làm giao liên, cũng bị địch bắt vào tù, tra tấn cho đến chết. Mang truyền thống gia đình cách mạng, lại được cán bộ giúp đỡ, Hồ Văn Bé đã sớm tham gia công tác, làm liên lạc, rải truyền đơn, canh gác bảo vệ cho cán bộ; lớn lên trở thành đội viên du kích rồi gia nhập bộ đội.


Đồng chí đã tham gia 57 trận, đánh đổ 2 cầu sắt, phá sập và hỏng 9 cầu xi măng, phá hủy 5 xe, diệt 29 tên địch, trong đó có 8 sĩ quan Mỹ, 1 trung tá tỉnh trưởng Mỹ Tho, 1 tỉnh đoàn phó bảo an và 6 sĩ quan khác, làm bị thương 19 tên.


Trong chiến đấu, đồng chí đã tỏ ra rất dũng cảm. Khi đánh tập kích thường đi đầu tổ mũi nhọn; khi phá cầu, đánh xe dù địch canh phòng cẩn mật đến đâu, đồng chí cũng kiên quyết tìm cách lọt vào được, đánh xong còn binh tĩnh ở lại xem xét kết quả để rút kinh nghiệm.


Trong trận Trung Hà - Chợ Gạo (1962), trung đội của đồng chí bị 700 quân lính thủy đánh bộ bao vây. Đồng chí tự nguyện xin cho tiểu đội của minh ở lại chiến đấu kìm chân địch, yểm hộ cho 2 tiểu đội bạn rút trước. Địch tiến công nhiều lần, nhưng đều bị đánh bật trở ra. Trời tối dần, chúng buộc phải co cụm lại, song tiểu đội đồng chí cũng thương vong gần hết, chỉ còn lại Hồ Văn Bé và một chiến sĩ nữa đã bị thương. Dù rất mệt và đói đồng chí cố gắng cõng bạn vượt vòng vây, đưa về gửi một gia đình cơ sở nhờ chăm sóc, rồi dẫn anh em du kích trở lại tìm kiếm rất cẩn thận, không để sót một tử sĩ nào trên trận địa.


Trong trận đánh cầu Trịnh Hà, tháng 11 năm 1963, Hồ Văn Bé vào ra 6 đêm liền để nghiên cứu cách đánh. Cách cầu 120 mét có một cơ quan tham mưu Mỹ và 1 tiểu đoàn ngụy đóng. Chúng tuần tra, canh gác suốt đêm, bố trí hỏa lực dày đặc xung quanh để bảo vệ cầu. Xét thấy đánh đêm không ổn, đồng chí quyết định đánh ban ngày. Lợi dụng lúc địch sơ hở giữa hai phiên đổi gác, Hồ Văn Bé đã táo bạo cải trang, đưa mìn vào đặt và đánh sập cầu.


Cuối tháng 3 năm 1964, chấp hành chỉ thị của cấp trên phải tìm mọi cách diệt bằng được bọn chỉ huy tiểu khu đầu sỏ của địch. Hồ Văn Bé đá theo dõi, điều tra nhiều lần dọc lộ Hòa Tịnh cho tới khi nắm được quy luật của bọn sĩ quan Mỹ, ngụy qua lại lộ này. Ngày 8 tháng 4 năm 1964, Hồ Văn Bé cải trang thành người bắt ếch trà trộn với dân đi làm đồng, chuẩn bị đánh địch. Bỏ qua những xe to chở lính và trang bị, đồng chí kiên trì chờ tới 4 giờ chiều nhằm đúng lúc 2 chiếc xe con (thường chở bọn sĩ quan cao cấp) chạy tới, đồng chí mới nổ mìn, chiếc đi đầu bị đứt làm đôi; 2 tên cố vấn Mỹ, 3 tên sĩ quan ngụy và tên phiên dịch tan xác; chiếc đi sau bị hất quay ngang rồi lao đầu xuống ruộng, thêm 3 tên nửa bỏ mạng.


Ngày 24 tháng 4 năm 1964, biết tin tên trung tá tỉnh trường Trần Hoàng Quân sẽ qua lộ Phú Kiết, Hồ Văn Bé liền đặt mìn mai phục. Bỏ qua các xe cảnh sát, xe chở lính bao vệ, đồng chí chờ khi chiếc xe con xuất hiện đúng vị trí đặt mìn mới điểm hỏa. Trái mìn nổ đã hất tung chiếc xe con xuống rạch: cả 2 tên tỉnh trưởng và phó tỉnh trưởng cùng với 2 cố vấn Mỹ cao cấp, cả tên quận trưởng với tên lính bảo vệ đi cùng đều chết ngay tại chỗ.


Hồ Văn Bé luôn luôn gương mẫu trong mọi công tác, chấp hành nghiêm mọi chỉ thị, mệnh lệnh cấp trên, đoàn kết, thương yêu, tận tình giúp đỡ đồng đội, nhất là trong những lúc nguy hiểm khó khăn, được anh em tin yêu, mến phục.


Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng ba, nhiều lần được cấp trên cấp giấy khen, bằng khen.


Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Hồ Văn Bé được ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2
Gửi bởi: quansuvn trong 13 Tháng Sáu, 2021, 07:30:00 pm
Anh hùng Lê Quang Công


Lê Quang Công (tức Thanh Long) sinh năm 1938, dân tộc Kinh, quê ở xá Mỹ Phước Tây, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, nhập ngú ngày 8 tháng 7 năm 1960. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại đội trưởng đại đội 2 bộ đội địa phương tỉnh Mỹ Tho, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Trước khi vào quân đội, Lê Quang Công là du kích của xã, đã tham gia một số trận đánh, diệt 2 cảnh sát, 18 lần phá thế kìm kẹp của địch, bắt và cảnh cáo 40 tề ngụy, nhiều lần chiến đấu bảo vệ cán bộ qua lộ an toàn. Gần 5 năm ở quân đội, đồng chí đã dự 62 trận đánh (không kể các trận nhỏ, lẻ), tự tay diệt 26 tên địch (trong đó có 1 cố vấn Mỹ), làm bị thương 35 tên, bắt sống 12 tên, thu 27 súng, 60 lựu đạn, góp phần cùng đơn vị bắn rơi 1 máy bay, bắn bị thương 5 chiếc khác và bắn cháy 2 xe lội nước.


Lê Quang Công là tấm gương tiêu biểu cho tinh thần kiên quyết xung phong, liên tục tiến công quân địch, khi bố trí chặn địch thì ngoan cường, dũng cảm giữ vững trận địa, tìm thế phản công, phát hiện địch sơ hở là nắm thời cơ nhanh chóng phản xung phong tiêu diệt địch, giành thắng lợi.


Tháng 11 năm 1963, nắm thời cơ địch vừa đảo chính lật đổ nhau, còn đang hoang mang, đơn vị đồng chí phối hợp với đơn vị bạn đánh địch suốt 6 ngày đêm liền, diệt 10 đồn bốt ở địa phương, phá 6 ấp chiến lược. Sau đợt này, đồng chí lại đưa đơn vị xuống hoạt động ở vùng Chợ Gạo, chiến đấu liên tục 33 ngày đêm nữa.


Trong trận đánh đồn Tân Thành, đội xung kích một gặp khó khăn không lên được, đồng chí lúc đó đang ở phía sau, nhận được lệnh lên chỉ huy, đã kiên quyết tổ chức xung phong, dẫn đầu đơn vị xông vào cứ điểm, tiêu diệt gọn đồn địch. Trong trận này, đồng chí bị tới 13 vết thương trên lưng, nhưng vẫn bình tĩnh chỉ huy đơn vị cho tới khi hoàn thành được nhiệm vụ.


Trong trận tập kích bốt Cầu Cả Quới, nhằm mở rộng thắng lợi của đợt hoạt động, đồng chí được phân công chỉ huy tổ xung kích, đánh trong điều kiện ta chưa trinh sát nắm địch. Vừa vào tới hàng rào thứ hai thì bị lộ, địch bắn ra dữ dội, Ngô Quang Công xử trí rất nhanh, bật dậy ném liền 2 quả lựu đạn vào lô cốt đầu cầu, rồi chỉ huy tổ xông lên đánh chiếm, sau đó phát triển thẳng vào trung tâm. Do bị đánh nhanh, mạnh, địch không kịp đối phó nên trận đánh đã dứt điểm nhanh, gọn.


Trong trận chống càn Mỹ Tịnh An (tháng 7 năm 1963), địch dùng 2 máy bay tiêm kích, 1 máy bay lên thẳng vũ trang, 3 xe bọc thép và 15 xe lội nước bắn phá dữ dội vào trận địa ta, rồi 3 tiểu đoàn bộ binh dàn hàng ngang tiến vào. Ngô Quang Công đã bình tĩnh chỉ huy phân đội, phối hợp với đơn vị bạn chiến đấu, ngăn chặn địch rất quyết liệt. Sau 2 giờ, địch bị đánh bật trở ra, phải củng cố và gọi máy bay đến oanh tạc, sau đó 9 máy bay lên thẳng tới đổ thêm 1 tiểu đoàn, mở tiếp 2 đợt tiến công nữa. Ngô Quang Công vẫn bình tĩnh quan sát và chỉ huy phân đội chiến đấu, bắn rơi thêm 1 máy bay địch, giữ vững trận địa. Đến tối, được lệnh rút, đồng chí đã tổ chức chỉ huy đơn vị vừa đánh địch, vừa đưa toàn bộ thương binh, tử sĩ ra ngoài. Tính chung ngày hôm đó, đơn vị đồng chí đã đánh lui 4 đợt xung phong của 4 tiểu đoàn địch, diệt 50 tên, bắn rơi 1 máy bay.


Trong trận chống càn Qướn Long ngày 20 tháng 7 năm 1963, địch huy động 8 tiểu đoàn, 27 tàu chiến, 42 xe lội nước, 23 máy bay, 8 khẩu pháo 105 và 155 mi-li-mét, ồ ạt bắn phá và tổ chức liên tiếp 4 đợt xung phong hòng áp đảo quân ta. Ròng rã suốt 1 ngày, chúng không sao đánh chiếm được Qướn Long. Đơn vị Lê Quang Công đã giữ vững trận địa đến tối và rút ra ngoài an toàn theo mệnh lệnh. Trong trận này, địch chết và bị thương 380 tên (có một số Mỹ), mất 1 máy bay HU.1-A và 1 xe lội nước.


Lê Quang Công luôn luôn gương mẫu trong mọi mặt công tác, ngoài nhiệm vụ chiến đấu, đồng chí còn chú ý xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện.


Đồng chí đã được thưởng 2 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng ba, 2 giấy khen, bằng khen và được bầu là Chiến sĩ thi đua của quân khu.


Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Lê Quang Công được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2
Gửi bởi: quansuvn trong 13 Tháng Sáu, 2021, 07:30:52 pm
Anh hùng Trần Dưỡng


Trần Dưỡng (tức Trần Phát), sinh năm 1942, dân tộc Kinh, quê ở xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, nhập ngũ ngày 12 tháng 9 năm 1960. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là chiến sĩ trinh sát đơn vị V.10 của tỉnh, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Sinh trưởng trong một gia đình cách mạng, mẹ bị giặc Pháp bắn chết, cha là cán bộ xã, bị Mỹ - Diệm bắt và thủ tiêu trong vụ Vĩnh Trinh năm 1955, Trần Dưỡng ôm mối thù sâu với bọn đế quốc và bè lũ tay sai, đến năm 18 tuổi, đồng chí rủ 4 thanh niên cùng chí hướng đi tìm cách mạng. Nhập ngũ chưa đầy 5 năm, đồng chí đã đánh 29 trận, giết và làm bị thương 59 tên địch, bắt sống 26 tên, thu 19 súng các loại.


Là một chiến sĩ trinh sát, Trần Dưỡng luôn luôn thể hiện tinh thần dũng cảm, mưu trí, táo bạo, lúc chuẩn bị chiến trường bao giờ cũng tìm mọi cách điều tra nắm chắc tình hình địch và địa hình phục vụ đắc lực cho các trận đánh. Khi chiến đấu, đồng chí thường phụ trách tổ dao nhọn thọc sâu của đơn vị. Trường hợp hãn hữu bị địch vây, đồng chí dũng cảm đánh gần, đánh thọc sườn quân địch, mở đường máu phá vây.


Trong trận đánh vào trụ sở bảo an, nơi ngụy quyền Sài Gòn tổ chức cuộc bầu cử tổng thống của chúng năm 1961. Mặc dù kẻ địch đã tổ chức canh phòng cẩn mật, Trần Dưỡng vẫn chỉ huy một tổ bí mật, táo bạo, ém vào phục trong một cái tủ lớn ở phòng họp. Khi chúng khởi sự, bất ngờ tổ đồng chí đạp tung cánh tủ lao ra chiến đấu, diệt nhiều địch, phá vỡ cuộc bầu cử. Đồng bào có mặt hôm đó rất phấn khởi và khâm phục.


Tháng 6 năm 1962, trên đường đi lấy gạo, đơn vị sa vào ổ phục kích của 1 đại đội bảo an và 3 trung đội thuộc tổng đoàn biệt kích ngụy. Tổ đồng chí đi trước, ngay phút đầu, đã hành động nhanh chóng chuyển từ bị động sang tiến công, diệt gọn ổ trung liên địch, rồi dùng luôn súng đó bắn vào giữa đội hình địch bảo vệ cho toàn đơn vị ở phía sau. Phát hiện thấy địch cơ động một bộ phận lực lượng, có đại liên yểm hộ, địch đánh tạt sườn, hòng ép ta ra bờ sông, Trần Dưỡng liền dẫn tổ xông thẳng tới, diệt ổ đại liên, chặn đứng mũi tiến quân của địch, rồi tự nguyện chỉ huy tổ ở lại chặn địch, yểm hộ cho toàn đơn vị rút. Thoát khỏi trận địa phục kích của địch, vừa lui tới đầu cầu, đơn vị lại sa vào ổ phục kích khác của 1 trung đội bảo an. Trần Dưỡng liền nhanh chóng dẫn tổ của mình vận động ra phía sau địch, nổ súng xung phong. Địch không dám đánh, vội vàng bỏ chạy. Đường thông, ta có thể rút được an toàn, nhưng ba thương binh còn nằm trong trận địa. Đồng chí lại xin nhận nhiệm vụ cho tổ của mình trở lại đưa anh em ra, vừa chiến đấu diệt thêm một số địch, vừa cõng được ba thương binh về hậu cứ an toàn.


Trong trận đánh tổng đoàn Xuân Phú tháng 9 năm 1962, Trần Dưỡng ra vào trinh sát 2 lần. Lần thứ nhất, cải trang thành dân vệ, đi thẳng vào ấp, xem xét công khai. Lần thứ hai, Trần Dưỡng đi trinh sát đêm, luồn qua các hàng rào, vào nắm tình hình tận trong các khu vực địch ở. Đêm thứ ba, đồng chí vừa là người dẫn đường, vừa chỉ huy tổ đảm nhiệm mở hàng rào, đánh sâu tới khu vực trung tâm.


Do điều tra nắm vững địch, kế hoạch tác chiến chính xác, tỉ mỉ, nên trận đánh diễn ra rất nhanh, ta diệt gọn toàn bộ quân địch.


Tháng 2 năm 1963, Trần Dưỡng chuyển về đội công tác Quế Xuân, hoạt động trong vùng sâu rất gian khổ và căng thẳng, nhưng đã kiên trì công tác, xây dựng được nhiều cơ sở trung kiên, đào hầm bí mật nuôi giấu cán bộ, diệt trừ ác ôn, tạo điều kiện cho quần chúng nổi dậy đấu tranh. Trần Dưỡng đã hoàn thành xuất sâc nhiệm vụ.


Trong chiến đấu, Trần Dưỡng rất mưu trí, dũng cảm, có tác phong linh hoạt, tiêu diệt được nhiều sinh lực địch, lấy được nhiều vũ khí, xung phong nhận mọi nhiệm vụ khó, nguy hiểm về mình, với đồng đội thì chí nghĩa, chí tình.


Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Trần Dưỡng được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2
Gửi bởi: quansuvn trong 17 Tháng Sáu, 2021, 07:05:16 pm
Anh hùng Huỳnh Văn Đảnh


Huỳnh Văn Đảnh (tức Thanh) sinh năm 1939, dân tộc Kinh, quê ở xã Đức Tân, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An, tham gia cách mạng từ năm 1955 vào du kích tháng 7 năm 1960 nhập ngũ ngày 18 tháng 10 năm 1963. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là chính trị viên trung đội bộ đội địa phương huyện, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Nhà nghèo, phải đi ở từ năm lên 9 tuổi, lại sống trong hoàn cảnh đất nước bị kẻ thù chia cắt, xã hội miền Nam bị bộ máy cai trị của Ngô Đình Diệm đè nén, cho nên đến năm 16 tuổi, được cán bộ tuyên truyền, Huỳnh Văn Đảnh giác ngộ cách mạng, hăng hái tham gia công tác. Lúc đầu, đồng chí nhận nhiệm vụ làm liên lạc, rồi vào du kích xã, sau được cử làm bí thư chi bộ và chính trị viên trung đội bộ đội địa phương huyện, ở cương vị một người du kích, Huỳnh Văn Đảnh dũng cảm, gan dạ và có tài bắn súng trăm phát trăm trúng, nên đã được mệnh danh là "nhà thiện xạ". Ở cương vị người chỉ huy, đồng chí tỏ ra mưu trí, linh hoạt, kiên quyết và là một cán bộ giỏi, có nhiều kinh nghiệm phát động quần chúng đấu tranh. Trong thời gian ở du kích xã, đồng chí đã chiến đấu 134 trận, diệt trên 100 tên địch, trong đó có một cố vấn Mỹ, ba sĩ quan ngụy, 1 trưởng đồn và bắn bị thương 1 máy bay lên thẳng. Riêng năm 1963, chỉ với 75 viên đạn, Huỳnh Văn Đảnh đã hạ 78 tên địch.


Năm 1962, một tiểu đoàn địch càn vào xã thực hiện âm mưu "xúc dân" lập ấp, chúng tàn phá dã man, đốt đi 90 nóc nhà. Để phá tan âm mưu địch, đồng chí đã cùng chi bộ thống nhất lãnh đạo, phát động quần chúng ngay đêm hôm đó làm lại 90 ngôi nhà khác; đồng thời tổ chức rào làng chiến đấu, phát động toàn dân tham gia đánh giặc, đề phòng địch cản trở lại.


Ngày 13 tháng 6 nãm 1963, địch lại càn vào, lực lượng dân quân lúc đó chỉ còn Huỳnh Văn Đảnh và một du kích nữa, đa số anh em đều đi công tác cả, chưa về. Hai người đã bình tĩnh bàn với nhau kiên quyết tổ chức đánh địch. Lợi dụng đường ngang ngõ tắt, hai anh em cơ động lúc chỗ này, lúc chỗ khác, nổ súng diệt 13 tên địch, riêng Huỳnh Văn Đảnh bắn 8 viên diệt 9 tên (có 1 viên xuyên táo 2 tên), khiến địch hoang mang phải rút chạy.


Trong trận đánh bốt Tân Trụ, do đã điều tra nắm vững quy luật hoạt động của địch, đồng chí bò vào gài 2 quả mìn ở đầu cầu chợ trước khi ta pháo kích. Quả nhiên lúc súng nổ, bọn địch trong đồn chạy ùa cả ra chiếm địa hình có lợi, tập trung ở đầu cầu chợ khá đông, ta nổ mìn diệt và làm bị thương một số lớn.


Chấp hành chủ trương của huyện ủy bức bọn địch phải rút khỏi đồn Triêm Đức, Huỳnh Văn Đảnh đã chỉ huy phân đội du kích kiên trì bao vây, bắn tỉa. Địch tuy bị thiệt hại, mất ăn mất ngủ 20 ngày đêm liền, chúng vẫn không chịu bỏ đồn rút chạy. Quân tiếp viện vào thì được nhưng ra là bị đánh. Chúng tức tốc dùng pháo 105 mi-li-mét bắn không ngớt vào các trận địa bao vây của quân ta. Đồng chí đổi cách đánh, càng ngày càng vây lấn vào sát hàng rào, vừa tránh được pháo, vừa tăng cường uy hiếp địch. Từ khoảng cách 300 mét, Huỳnh Văn Đảnh đã tự tay bắn chết tên lính gác, rồi bắn thêm hai phát nữa lần lượt hạ 2 tên chỉ huy trong bọn ra lấy xác, khiến số còn lại hốt hoảng bỏ chạy, chờ đêm xuống mới dám ra nhặt xác đồng bọn. Bị ta ép mạnh, địch không chịu nổi, cuối cùng phải bỏ đồn, rút. Không còn địch kìm kẹp, đồng bào nổi dậy phá ấp chiến lược, trừng trị bọn tề ngụy ác ôn, thành lập chính quyền cách mạng.


Là một cản bộ cơ sở, Huỳnh Văn Đảnh luôn luôn gương mẫu trong mọi công tác, sâu sát nhân dân, tận tụy với phong trào; là cán bộ chỉ huy, đồng chí chú ý xây dựng phân đội tiến bộ về mọi mặt, bản thân gương mẫu, chiến đấu dũng cảm, có kỹ thuật giỏi nhưng rất khiêm tốn, giản dị, được đồng đội và nhân dân tin yêu. Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Huỳnh Văn Đảnh được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2
Gửi bởi: quansuvn trong 17 Tháng Sáu, 2021, 07:05:50 pm
Anh hùng Nguyễn Hội


Nguyễn Hội (tức Nguyễn Phúc Ánh) sinh năm 1931, dân tộc Kinh, quê ở xã Hàm Liêm, huyện Hàm Thuận, tỉnh Bình Thuận, nhập ngũ năm 1948. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chĩ là đại đội trưởng bộ đội địa phương tỉnh Binh Thuận, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo, cha mẹ đều chết sớm, Nguyễn Hội ở với người chị gái, sau vì nhà nghèo quá, đồng chí phải lang thang đi ở hết nơi ngày đến nơi khác.


Trong những ngày cực kỳ khó khăn của cách mạng miền Nam, Nguyễn Hội luôn luôn thể hiện lòng trung thành với cách mạng, thiết tha với sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Đó là động lực thúc đẩy đồng chí vượt qua mọi khó khăn, gian nguy, vào sinh ra tử, hoàn thành mọi nhiệm vụ.


Trưởng thành từ chiến sĩ lên cán bộ trung đội rồi đại đội, Nguyễn Hội đã tham gia chiến đấu 32 trận, diệt và bắt sống hơn 100 tên địch, thu 41 súng các loại. Trong chiến đấu, đồng chí luôn luôn dũng cảm, xông xáo, nơi nào khó khăn ác liệt nhất đều có mặt, chỉ huy kiên quyết, mưu trí và linh hoạt. Nguyễn Hội thường cùng đi với tổ xung kích mũi nhọn, đánh thọc sâu chia cắt làm rối loạn đội hình địch, tạo điều kiện cho trận đánh dứt điểm nhanh, gọn.


Trong trận Bắc Ruộng, tuy bị thương từ ngoài, đồng chí vẫn giữ vững quyết tâm, cùng đồng đội lợi dụng địa hình tiến lên dùng tiểu liên, lựu đạn diệt lô cốt đầu cầu, sau đó, lại tiếp tục chỉ huy đơn vị diệt đồn chính, rồi chuyển sang đánh quân lỵ, giải quyết thắng lợi, nhanh, gọn trận đánh và tổ chức đưa gần 5.000 dân ở khu tập trung về căn cứ an toàn.


Trong trận Tâm Tân, Nguyễn Hội chỉ huy tổ xung kích đánh chiếm lô cốt đầu cầu, nhưng bờ thành cao, lại gặp chướng ngại vật bất ngờ, anh em không lên được; không chần chừ, chậm trễ, đồng chí lấy thân mình làm thang cho đồng đội nhảy lên qua thành, nhanh chóng tiêu diệt gọn bọn địch trong đồn, rồi chuyển qua đánh nhà tên quận trưởng, giải quyết nhanh trận đánh.


Suốt 18 năm chiến đấu liên tục, Nguyễn Hội luôn luôn gương mẫu đi đầu, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ chiến đấu và công tác. Đồng chí luôn chăm lo xây dựng đơn vị tiến bộ từng bước chắc chắn, vững vàng, hết lòng thương yêu, giúp đỡ anh em, được mọi người tin yêu, mến phục.


Nguyễn Hội đã được tặng 2 bằng khen.

Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Nguyễn Hội được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thường Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2
Gửi bởi: quansuvn trong 17 Tháng Sáu, 2021, 07:06:31 pm
Anh hùng Phạm Văn Hai


Phạm Văn Hai (tức Lam Sơn) sinh năm 1931, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Hòa, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh, nhập ngũ tháng 2 năm 1947. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đội trưởng đội biệt động 65 nội thành Sài Gòn, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, cha, chú đều bị giặc Pháp bắt tù, 12 tuổi Phạm Văn Hai đã phải bỏ học, vào thành phố làm thuê cho một hãng thủy tinh người Hoa. Thù cha mang nặng, lại nhiều năm sống dưới chế độ thuộc địa của thực dân Pháp, đồng chí thấy rõ sự bóc lột và đối xử thậm tệ của bọn chủ, nên khi được gần gũi một cán bộ hoạt động bí mật và được tuyên truyền giáo dục, đồng chí đã sớm giác ngộ cách mạng và tham gia công tác từ năm 14 tuổi. Đến khi 16 tuổi, Phạm Văn Hai vào quân đội, rồi suốt từ đấy (1947) cho đến cuộc kháng chiến chống  Mỹ, cứu nước, đồng chí luôn bám trụ ở quê hương, len lỏi trong lòng địch, nhận và hoàn thành xuất sâc mọi công tác được giao: trinh sát, chống càn, đưa đón cơ sơ ra vào thành phố, cất giấu tài liệu, vũ khí và bảo vệ cán bộ của Đảng, đột nhập vào trung tâm đô thị gây dựng cơ sở, xây dựng lực lượng vũ trang chiến đấu và chỉ huy chiến đấu, v.v. Trước mọi khó khăn, đồng chí luôn luôn bình tĩnh, vững vàng, dù nguy hiểm vẫn tìm mọi cách đưa thương binh về hậu cứ an toàn; biết tận dụng chỗ sơ hở của địch để tiến công và bảo toàn lực lượng khi hoạt động; khi không may sa vào tay giặc, dù bị tra tấn dã man, vẫn giữ vững khí tiết người chiến sĩ cách mạng.


Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954), Phạm Văn Hai đã đánh trên 30 trận, trận nào cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Ngày 8 tháng 6 năm 1950, đồng chí được kết nạp vào Đảng. Sau đó, trong một lần hoạt động, không may bị địch bắt, mặc dù bị cực hình đánh đập rất dã man, đồng chí không hề khai báo, dù lúc ấy Phạm Văn Hai đang giữ một hầm vũ khí và tài liệu quan trọng. Không có chứng cớ cụ thể, địch buộc phải thả đồng chí.


Trong trận tiêu diệt kho bom Phú Thọ Hòa ngày 1 tháng 6 năm 1954, Phạm Văn Hai cùng tổ trinh sát đặc công từ ngoài vùng căn cứ hành quân bí mật suốt ngày đêm liền, vượt qua 8 con sông, rạch và hàng chục lộ nguy hiểm, vào sát mục tiêu. Bốn lần, đồng chí cùng đồng đội luồn qua 12 lớp kẽm gai, nhiều bãi mìn, chòi gác, trong sự canh giữ cẩn mật của 2 tiểu đoàn địch ở vòng ngoài và 1 đại đội lính Âu Phi (có cả chó béc-giê) ở bên trong, để điều tra nắm vững quy luật tuần tiễu của địch. Các đồng chí đã đếm từng quả bom trong các nhà hầm, khui từng hòm đạn, đo từng bồn xăng, để lên một phương án tác chiến hoàn chỉnh.


Phạm Văn Hai giữ cương vị mũi trưởng mũi chủ yếu trong trận tập kích kho bom Phú Thọ Hòa. Do chuẩn bị chu đáo, tỉ mỉ nên trận đánh đã thắng lợi giòn giã. Kho bom nổ suốt 2 ngày đêm liền. 9.345 tấn bom đạn các loại, 10 triệu lít xăng dầu, và cả đại đội lính Âu Phi bị thiêu hủy. Gần 400 tên trong lực lượng ứng cứu bị thương vong nặng. Trận đánh đã gây tiếng vang lớn khắp Sài Gòn - Gia Định. Trong trận tiêu diệt đồn Gò Đen (tháng 7 năm 1954), giữa lúc tình hình chiến đấu đang diễn biến căng thẳng, địch dồn ra lô cốt 3, điên cuồng chống cự đánh trả ta quyết liệt, đồng chí đã không do dự xông lên, tự tay đánh liền 2 trái đầu đạn, phá tan lô cốt, tạo thời cơ cho toàn trận đánh giành thắng lợi. Trong trận này, đồng chí đã diệt hơn 30 tên địch, thu 11 súng.


Trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1964), đồng chí đã tham gia hơn 30 trận, đồng thời góp công sức lớn vào việc gây dựng cơ sở, xây dựng lực lượng, phát triển quần chúng, đưa phong trào cách mạng ở địa phương lên cao.


Ngay từ năm 1954, Phạm Văn Hai đã xây dựng xong đường dây từ chiến khu vào nội thành, tổ chức hoạt động bên lộ 15 (Chợ Lớn) vạch mặt Ngô Đình Diệm, vận động đồng bào không đi bỏ phiếu. Năm 1956, đồng chí đã tổ chức được cơ sở trong một số nghiệp đoàn, chuẩn bị chỗ cho cán bộ đi về hoạt động.


Năm 1958, Phạm Văn Hai trở về xây dựng lực lượng quanh khu tỉnh ủy đóng để đảm bảo bí mật an toàn cho cơ quan lãnh đạo chỉ huy đầu não. Năm 1959, đồng chí lại xuống các quận diệt ác ôn, phá kìm kẹp, xây dựng lực lượng ở quận Bình Tân - Gò Môn. Đến tháng 2 năm 1962, đồng chí chuyển hẳn sang làm đội trưởng đội biệt động 65 của thành phố.


Trong những năm tháng đánh Mỹ, đội biệt động của Phạm Văn Hai đã đánh nhiều trận xuất sắc, như các trận phục kích trên lộ 10, trận đánh vào các đồn Trung An, Tân Thạnh Tây, Tây Nhất, Phú Thọ Hòa, trận đánh Mỹ ở rạp Kinh Đô (ngày 21 tháng 9 năm 1963, trận đánh 73 xe Mỹ và đánh sập kho súng ở Gò Vấp, và trận đánh chìm tàu sân bay Mỹ ngày 2 tháng 5 năm 1964 tại bến Bạch Đằng...


Phạm Văn Hai là một cản bộ gương mẫu, tận tụy, dũng cảm trong mọi hoàn cảnh, mọi công tác, luôn luôn chăm lo xây dựng lực lượng cách mạng lớn mạnh không ngừng; bản thân đồng chí sống khiêm tốn, giản dị, được đồng đội tin yêu, mến phục.


Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhất, 1 súng ngẳn, nhiều bằng khen, giấy khen.

Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Phạm Văn Hai được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dận giải phóng. 


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2
Gửi bởi: quansuvn trong 20 Tháng Sáu, 2021, 08:12:11 pm
Anh hùng Tạ Thị Kiều
   

Tạ Thị Kiều (tức Mười Lý) sinh năm 1938, dân tộc Kinh, quê xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, tham gia hoạt động cách mạng ở địa phương từ năm 1958, nhập ngũ tháng 11 năm 1963. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là cán bộ ban chỉ huy quân sự huyện Mỏ Cày, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Xuất thân từ một gia đình có truyền thống yêu nước (cha, anh đều đi hoạt động cách mạng, gia đình là cơ sở nuôi cán bộ bí mật), Tạ Thị Kiều sớm được giác ngộ, căm thù giặc Mỹ và bè lũ tay sai đàn áp nhân dân, chia cắt đất nước, đồng chí đã tích cực, hăng hái hoạt động và trở thành người cán bộ nòng cốt trong phong trào cách mạng ở địa phương. Đồng chí đã tổ chức và tham gia 107 lần đấu tranh chính trị trực diện với địch, chiến đấu 33 trận, diệt 7 tên địch, bắn bị thương 11 tên, bắt sống 13 tên, thu 24 súng các loại. Trong chiến đấu, Tạ Thị Kiều luôn luôn bình tĩnh, dũng cảm, chỉ huy vững vàng, gan dạ và mưu trí.


Tháng 1 năm 1960, địch tăng cường củng cố khu trù mật Thành Thới để kìm kẹp nhân dân và đánh phá cơ sở của ta. Được phân công gây dựng phong trào, tổ chức cơ sở, đồng chí đã kiên trì vận động nhân dân và xung phong đi đầu trong các cuộc đấu tranh trực diện với địch, khéo léo làm công tác binh, địch vận, tranh thủ người tốt, phân hóa, cô lập bọn ác ôn ngoan cố, tích cực phát triển lực lượng nòng cốt trong hàng ngũ địch. Qua gần 7 tháng, Tạ Thị Kiều đã tổ chức được 107 cuộc đấu tranh chính trị, phát triển được 3 tổ nòng cốt trong lực lượng cách mạng, vận động được 13 gia đình binh sĩ, tuyên truyền được 4 lính ngụy về với nhân dân, tổ chức được 2 người khác giúp ta hoạt động tốt, gây cho địch một số thiệt hại và hạn chế được tác hại do hành động tội ác của chúng.


Để hỗ trợ cho đấu tranh chính trị, Tạ Thị Kiều tổ chức một tiểu đội du kích, thường xuyên hoạt động: rải truyền đơn, treo băng cờ, khẩu hiệu, phá rào ấp chiến lược, gài mìn, phá dường, đốt chòi canh, cảnh cáo, diệt ác ôn... khiến bọn địch ngày càng hoang mang, nao núng.


Trong trận đánh bốt An Bình, tuy lực lượng ta ít, nhưng do đồng chí đã xây dựng được cơ sở và nắm địch tốt, mưu trí tìm nhiều cách phân tán và đánh lừa địch, nên tạo điều kiện cho đồng đội xung phong lấy gọn bốt, quân ta an toàn và vẫn giữ được thế đấu tranh hợp pháp.


Trong trận đánh bốt Kinh Quang, Tạ Thị Kiều đã vạch ra kế hoạch và lại trực tiếp thực hiện, dụ bọn địch ra bờ kênh, tạo cơ hội cho anh em xông vào lấy đồn không tốn một viên đạn.


Tháng 10 năm 1961, đồng chí chỉ huy đội du kích phục kích đánh xe địch trên đường Mỏ Cày đi Thom, bắn cháy 1 xe ngay khi địch mới lọt vào strận địa. Lực lượng địch còn đông, ỷ thế mạnh, dùng hỏa lực áp đảo, bắn mạnh vào chỗ du kích ta bố trí, đồng thời bọn lính trên xe đi sau cũng triển khai, đánh trả ta quyết liệt. Xét tình thế bất lợi, đồng chí đã bình tĩnh một mình ở lại cơ động, chiến đấu, chặn địch cho anh em rút hết, sau đó, khi rút còn đưa được cả thương binh ra an toàn.


Tạ Thị Kiều luôn luôn gương mẫu, xung phong đi đầu trong mọi công tác, tận tình gắn bó với nhân dân, đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ đồng đội, được quần chúng mến phục, tin yêu.


Đồng chí đã được tặng thướng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhì và 2 năm liền (1963 - 1964) là Chiến sĩ thi đua của quân khu.


Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Tạ Thị Kiều được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2
Gửi bởi: quansuvn trong 20 Tháng Sáu, 2021, 08:12:37 pm
Anh hùng Nguyễn Kim


Nguyễn Kim (tức Nguyễn Kích), sinh năm 1935 dân tộc Kinh quê ở xã Hoài Hảo, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định, nhập ngũ năm 1960. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là tiểu đội trưởng bộ đội địa phương tỉnh Bình Định, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Trong 4 năm, từ đầu năm 1960 đến hết năm 1963, Nguyễn Kim đã trực tiếp chiến đấu 20 trận, diệt hơn 70 tên địch, thu 26 súng các loại, đặc biệt đã chỉ huy một tổ độc lập thọc sâu phá 13 “ấp chiến lược”, giải tán nhiều khu dồn dân của địch, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Trong các trận đánh, đồng chí đã luôn luôn thể hiện rõ tinh thần chiến đấu dũng cam ngoan cường, dù trong điều kiện khó khăn, ác liệt thế nào cũng kiên quyết tiến công tiêu diệt địch với tác phong chiến đấu rất linh hoạt và xông xáo.    


Trong trận Hòn Câm, Nguyễn Kim bị thương khi vượt qua cửa mở, nhưng vẫn dùng tiểu liên nằm bắn kiềm chế hỏa điểm địch cho đồng đội xung phong. Khi địch ở dưới hầm ngầm ngoan cố chống cự, Nguyễn Kim đã bò đi gom bộc phá của đồng đội bị thương lại, rồi cố lê đến đánh sập hầm ngầm, góp phần quan trọng cùng đơn vị tiêu diệt gọn đồn địch.


Trong trận đánh vào Mỹ Tho, tổ bộc phá của đồng chí có nhiệm vụ mở cửa đột phá ở hướng thứ yếu và đánh vào lô cốt số 2. Do địa hình hạn chế, lúc đầu các đồng chí phải bố trí khá xa, để bộ phận chính tập trung lực lượng được thuận lợi ở hướng chủ yếu. Khi mũi chính đã nổ súng tiến công, đồng chí bật dậy ôm ống bộc phá lao lên, vượt qua một cái dốc cao và một khoảng trống trải dưới hỏa lực địch. Trong khi đó, lô cốt chính chưa bị đánh sập nên địch càng tập trung bắn về phía đồng chí dữ dội. Đang chạy, Nguyễn Kim bỗng thấy chân trái đau nhói, một bàn chông sắt đã cắm sâu vào ống chân làm cho mỗi bước đi càng thêm đau buốt, nhưng với quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ, đồng chí nghiến răng chịu đựng cố hết sức vượt lên đặt bộc phá, phá tung lớp hàng rào. Tiến vào trong, thấy chiếc bàn chông lủng lẳng ở chân mà không sao rút ra được, đồng chí liền giật phăng cái đế gỗ quẳng đi rồi nén đau, tiếp tục xông lên đánh sập cả lô cốt số 1 và lô cốt số 2, tạo điều kiện cho xung kích ào ạt xông lên tiêu diệt gọn quân địch, làm chủ trận địa.


Nguyễn Kim luôn luôn gương mẫu trong mọi mặt công tác, sống khiêm tốn giản dị, đoàn kết thương yêu, tận tình giúp đỡ đồng đội, được mọi người quý mến, tin yêu.  


Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 3 năm liền là chiến sĩ thi đua.


Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Nguyễn Kim được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thương Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.  


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2
Gửi bởi: quansuvn trong 27 Tháng Sáu, 2021, 07:27:21 pm
Anh hùng Đoàn Thanh Liêm


Đoàn Thanh Liêm, sinh năm 1928, dân tộc Kinh, quê ỏ xã Tịnh Thiện, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quang Ngãi, nhập ngũ năm 1949. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại đội trưởng bộ đội địa phương, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo, từ nhỏ Đoàn Thanh Liêm đã phải đi ở, làm thuê để kiếm tiền nuôi gia đình. Cách mạng tháng Tám thành công, đồng chí nhận nhiệm vụ trung đội trưởng du kích xã, đã tham gia chiến đấu và canh gác bảo vệ xóm làng từ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp. Mặc dù thời kỳ này hoạt động cách mạng gặp rất nhiều khó khăn nguy hiểm, Đoàn Thanh Liêm vẫn một lòng trung thành với cách mạng, kiên trì khắc phục mọi gian khổ, khó khăn, tích cực bảo vệ cơ quan lãnh đạo. Đoàn Thanh Liêm cũng là một trong số những người đầu tiên góp sức gây dựng phong trào  và xây dựng đơn vị lực lượng vũ trang đầu tiên của Khu 5.


Trong kháng chiến chống Mỹ, Đoàn Thanh Liêm đã tham gia chiến đấu 26 trận, nhiều lần vào điều tra đồn, bốt địch, bao giờ cũng tỏ ra là người cán bộ chỉ huy vững vàng, mưu trí, kiên quyết và dũng cảm.


Trong trận Nhơn Lộc tháng 7 năm 1962, đồng chí chỉ huy phân đội phụ trách mũi đột kích chủ yếu. Khi đánh chiếm cửa mở, địch tung lực lượng ra phản kích ác liệt, phân đội bị thương vong nhiều. Trước khó khăn đó, Đoàn Thanh Liêm vẫn giữ vững quyết tâm, động viên anh em và tổ chức lại lực lượng, tự mình dẫn đầu một tổ xung kích kiên quyết đánh chiếm bằng được lô cốt đầu cầu, sau đó, phát triển rộng ra lấy chỗ đứng chân cho đơn vị rồi thọc sâu vào bên trong, nhanh chóng tiêu diệt được hầm cố thủ, tạo điều kiện cho toàn đơn vị xung phong, tiêu diệt gọn vị trí địch.


Trong trận Long Lếch tháng 4 năm 1963, đơn vị đồng chí phụ trách hướng chủ yếu. Do địa hình khó khăn nên không tiếp cận được sớm. Sau khi mở cửa đột phá, địch bắn ra dữ dội, tổ xung kích 1 bị thương vong nhiều mà vẫn chưa lên được. Đoàn Thanh Liêm liền chỉ huy cho tổ xung kích 1 tổ chức lại hỏa lực bắn yểm hộ cho nhau, kiềm chế địch, rồi tự mình dẫn tổ xung kích 2 vượt lên đánh thẳng vào bên trong, chia cắt địch ra từng mảnh, nhanh chóng tiêu diệt cơ quan đầu não của chúng, góp phần quan trọng cùng đơn vị tiêu diệt hoàn toàn vị trí này, thu toàn bộ vũ khi.


Trong mọi hoàn cảnh khó khăn, bất cứ được giao nhiệm vụ gì, từ cần vụ, liên lạc, vận tải, bảo vệ... đến chỉ huy chiến đấu, đồng chí đều hăng hái, tích cực và tìm mọi cách hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.


Đoàn Thanh Liêm luôn luôn cần cù, gương mẫu trong mọi mặt công tác, giản dị, khiêm tốn, thẳng thắn, đoàn kết, tận tình giúp đỡ đồng đội. Đoàn Thanh Liêm chú trọng khêu gợi tính tự giác, vận động mọi người phát huy sức mạnh tập thể xây dựng đơn vị trưởng thành toàn diện, được cấp trên tin tưởng, quần chúng mến phục.


Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng ba, trong nhiều năm liên tục được bầu là Chiến sĩ thi đua.


Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Đoàn Thanh Liêm được Ủy ban trung ương Mật trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2
Gửi bởi: quansuvn trong 27 Tháng Sáu, 2021, 07:27:56 pm
Anh hùng Nguyễn Văn Quỳ


Nguyễn Văn Quỳ, (tức Ba Cà), sinh năm 1937 dân tộc Kinh, ở xã Tân Quy, quận Nhà Bè, thành phố Hổ Chí Minh, nhập ngũ tháng 6 năm 1960. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại đội phó bộ đội địa phương Nhà Bè, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Mồ côi cha từ nhỏ, lên 9 tuổi Nguyễn Văn Quỳ đã phải đi ở đợ, coi trâu cho địa chủ, rồi tiếp đó là cuộc đời đi làm thuê, làm mướn kiếm ăn, lang bạt, ẩn náu trốn quân dịch. Đến năm 1959, được giác ngộ lòng yêu nước và căm thù giặc Mỹ, đồng chí tình nguyện xung phong nhận mọi nhiệm vụ gian khổ, khó khăn do cách mạng giao cho.


Từ ngày nhập ngũ (1960) tới năm 1965, Nguyễn Văn Quỳ đã tham gia chiến đấu 24 trận cùng đơn vị diệt 149 tên, bắt sống 15 tên, thu 59 súng và nhiều máy móc, tài liệu. Riêng đồng chí diệt 10 tên, bắt sống tên thu 11 súng, và trừng trị được 30 tên tề ngụy, ác ôn. Thành tích nổi bật của đồng chí là ở những ngày nằm vùng để xây dựng cơ sở và lực lượng cách mạng.


Năm 1962, có bọn tề ngụy tiếp tay, địch ở quận Nhà Bè tiến hành càn quét, truy lùng cán bộ ta rất gắt, hòng diệt cơ sở, đánh bật cán bộ ta ra khỏi địa phương, đồng thời khống chế, kìm kẹp nhân dân. Để bảo vệ cơ sở, cán bộ, đưa phong trào quần chúng đấu tranh lên cao và phá tan âm mưu địch, huyện ủy chú trương phải diệt ác, trừ gian, phá thế kìm kẹp của địch. Đồng chí được giao nhiệm vụ vào sâu hoạt động trong lòng địch. Đường đi xa, lạ, qua nhiều ấp chiến lược, lại phải vượt con sông Soài Rạp rộng mênh mông từ trước ít ai qua sông này trót lọt, nếu không gặp tàu tuần tiễu của địch, thì cũng làm mồi cho đàn cá dữ, đồng chí đã khắc phục mọi gian khổ, khó khăn vào tới nơi và chỉ trong 5 đêm, đồng chí đã nghiên cứu tổ chức diệt được 10 tên ác ôn khét tiếng nhất ở 3 xã gần nhau.


Năm 1963, đường dây giao liên của ta từ quận về khu bị gián đoạn. Cán bộ đi, về phải vòng tránh quá xa (mất một tháng rưỡi). Nhận lệnh đi mở đường mới, Nguyễn Văn Quỳ đã táo bạo vào hẳn nơi địch đóng đông nhất, ngày ẩn náu trong các lùm cây, đêm mò ra quan sát nắm quy luật hoạt động của địch và xây dựng cơ sở. Sau một thời gian ngắn, đồng chí đã mở được con đường giao liên mới, đi từ quận về khu chỉ mất 3 ngày. Trên dọc đường, đồng chí còn cùng 1 tổ bộ đội địa phương đào nhiều hầm bí mật, bảo đảm an toàn cho cán bộ qua lại. Cuối năm 1963, Nguyễn Văn Quỳ được cử đi xây dựng phong trào cơ sở ở 3 xã Phước Long, Long Kiến và Tân Quý. Ba xã này nằm ven lộ 36 từ Sài Gòn về Long An, địch đã xây dựng thành các ấp chiến lược rất kiên cố, tổ chức canh phòng nghiêm mật, tạo khu vực này thành một vành đai trắng, cơ sở ta hầu hết đều bị tan vỡ hoặc bật đi nơi khác. Đường từ căn cứ về lại xa, phải qua nhiều sông rạch, đồn bốt. Suốt 5 tháng nằm vùng, 132 ngày đêm giấu mình dưới hầm tối (trong thùng xăng chôn giữa cánh đồng), đồng chí đã kiên trì vượt qua mọi gian khổ, khó khăn để gặp gỡ, tuyên truyền, vận động nhân dân, dần dần gây dựng lại phong trào. Ba xã Phước Long, Long Kiến và Tân Quý - từ chỗ cơ sở gần như trắng - trở thành những xã có phong trào cách mạng tốt, có chi bộ, chi đoàn khá, có lực lượng dân quân du kích mạnh. Đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị, các trận đánh chông, mìn, phục kích liên tiếp nổ ra. Bốt Phước Long nằm ngay giữa ấp chiến lược, cách quận lỵ Nhà Bè chưa đầy 2 ki-lô-mét, do một bọn ác ôn đóng giữ, cũng bị lực lượng dân quân du kích phối hợp với bộ đội huyện tiêu diệt.


Nguyễn Văn Quỳ là một cán bộ tận tụy, luôn luôn kiên trì bám dân, bám đất hoạt động, gây dựng phong trào, lập nhiều thành tích xuất sắc, được nhân dân tin yêu, đồng đội mến phục và cấp trên tin tưởng.


Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Nguyễn Văn Quỳ được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2
Gửi bởi: quansuvn trong 27 Tháng Sáu, 2021, 07:28:32 pm
Anh hùng Pi Năng Tắc


Pi Năng Tắc, sinh năm 1910, dân tộc Rắc Lây, sinh quán tại Ma Nai, Phước Thành, huyện Đại Điền, tỉnh Ninh Thuận, trú quán ở Tà Nạt, Phước Bình, huyện Tây An, tỉnh Ninh Thuận, tham gia cách mạng từ năm 1946. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là chính trị viên phó huyện đội, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Gần 20 năm hoạt động cách mạng (tính đến ngày được tuyên dương), trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Pi Năng Tắc là một cán bộ quân sự địa phương dầy dạn kinh nghiệm, luôn luôn trung thành với Đảng, với cách mạng, thiết tha với sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, ở trong mọi hoàn cảnh, Pi Năng Tắc luôn luôn vững vàng, kiên trì bám dân, bám đất hoạt động tuyên truyền, vận động nhân dân, xây dựng cơ sở, xây dựng khối đoàn kết giữa các dân tộc, chiến đấu dũng cảm,  lập nhiều chiến công, góp phần phá tan nhiều âm mưu hiểm độc của kẻ thù.


Năm 1956, Mỹ - Diệm dồn dân hai thôn của xã Phước Thành về khu tập trung Brâu. Thương bà con bị kìm kẹp khổ cực, gần 6 tháng liền, đồng chí đã kiên trì đến với từng người, nói rõ âm mưu, thủ đoạn địch và bày cách cho đồng bào đoàn kết đấu tranh. Đồng chí còn tổ chức được các lực lượng hạt nhân cách mạng, gài vào các tổ chức địch, lung lạc chúng. Do đó ta đã vạch mặt bọn tề ngụy tay sai, phá tan âm mưu dồn dân lập ấp của địch, bà con hai thôn đã đấu tranh thắng lợi và trở về làng cũ an toàn.


Sau đợt này, địch nghi ngờ Pi Năng Tắc, chúng rình rập, theo dõi gắt gao. Tổ chức phải điều đồng chí về hoạt động ở xã Phước Bình. Nơi đây, cơ sở của ta còn rất yếu, bọn tề ngụy đàn áp, bóc lột nhân dân rất tàn tệ. Chúng lại khoét sâu mâu thuẫn giữa các dân tộc, rồi tách dân tộc Chu dời xuống khu tập trung, còn dân tộc Gia Rai ở trên núi. Đã vậy, chúng còn tìm mọi cách kích động, gây hằn thù giữa hai dân tộc; người Chu không dám lên núi thăm nương rẫy; người Gia Rai không dám xuống chợ mua các thứ cần dùng. Tệ mê tín dị doan ở đây còn rất nặng: người chết để trong nhà cúng bái 7 ngày mới chôn, hoặc chôn 1 năm, rồi lại đào lên cho người chết uống rượu... và hàng trăm hủ tục khác nữa. Trong hoàn cảnh ấv, đồng chí đã kiên nhẫn tuyên truyền, thuyết phục, khi lên núi ở với người Gia Rai, khi xuống khu tập trung ở với người Chu, vạch rõ âm mưu thâm độc của kẻ thù dân tộc, phân giải những nỗi bất hòa giữa hai dân tộc anh em. Sau một thời gian, bà con hai dân tộc đã đoàn kết, tổ chức lễ uống rượu ăn thề giúp đỡ nhau sản xuất và đấu tranh chống địch. Pi Năng Tắc còn gây dựng được 2 cơ sở bí mật trong xã và vận động được ba tề điệp bỏ hàng ngũ địch về với cách mạng. Tệ mê tín dị đoan cũng dần dần được xóa bỏ.


Thấy quần chúng đã giác ngộ, Pi Năng Tắc đề nghị với trên cho phá khu tập trung, đưa đồng bào người Chu lên núi. Sau đó, để đề phòng địch truy đuổi, càn quét, đồng chí đã cùng bà con làm bẫy đá, vót chông, ná, gài mìn, đào hầm hào phòng tránh và thành lập lực lượng du kích đánh địch. Tháng 5 năm 1960, địch càn lên, bị chết và bị thương 20 tên, phải rút chạy. Tháng 5 năm 1964, chúng càn lần thứ 2 với lực lượng đông gần 400 quân, song cũng không lên được, mà còn bị thiệt hại lớn, chết và bị thương 80 tên, máy bay lên thẳng đến chở xác cũng bị trúng đạn... Bọn địch rất sợ các vũ khí thô sơ của du kích. Chúng kháo nhau: “Súng đạn còn dễ tránh, chứ hầm chông, bẫy đá thì không biết đâu mà lường...”.


Ngoài công tác chung, đồng chí còn vận động gia đình mình tích cực tham gia kháng chiến; trong 3 năm 1961-1962-1963, chí tính riêng gia đình đồng chí, cũng đã vót được hơn 90.000 cây chông các loại...


Đối với các mặt công tác khác, Pi Năng Tắc cũng luôn luôn gương mẫu thực hiện để nhân dân noi theo, như: vận động được 18 thanh niên đi bộ đội, trong đó có 2 con mình, 35 người phục vụ chiến dịch Đà Rằng; thành lập được 3 tổ đổi công; trong 3 năm 1961-1962-1963 ủng hộ cách mạng được 130 giạ bắp; nuôi giấu nhiều cán bộ trong mấy năm liền.


Pi Năng Tắc hết lòng giúp đỡ bảo vệ cán bộ, thương yêu, giúp đỡ nhân dân, đến đâu cũng được đồng bào tin yêu, mến phục.


Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Pi Năng Tắc được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2
Gửi bởi: quansuvn trong 03 Tháng Bảy, 2021, 08:46:08 pm
Anh hùng Nguyễn Minh Tua


Nguyễn Minh Tua (tức Nguyễn Văn Nhịn) sinh năm 1939, dân tộc Kinh, quê ở xã Vinh Châu, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An nhập ngũ tháng 5 năm 1959. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung đội trường thuộc đại đội 1, tiểu đoàn 261 (tiểu đoàn Hi-rông), đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Qua hơn 5 năm ở quân đội (tính đến ngày được tuyên dương) Nguyễn Minh Tua đã chiến đấu 24 trận, tự tay diệt 29 tên địch, bắt sống 14 tên, thu 12 súng các loại, bắn cháy 1 tàu chiến và 4 xe GMC. Đặc biệt trong trận Tân Niên Tây, trung đội do đồng chí chỉ huy đã diệt 170 tên địch, bắt sống 7 tên, thu 32 súng, bắn cháy 3 xe M.113, bắn hỏng 4 xe M.113 khác; trong trận Long Khánh, diệt 25 tên địch, bắt sống 9 tên, thu 35 súng, bắn rơi một máy bay. Trong các trận chiến đấu, Nguyễn Minh Tua thường được giao nhiệm vụ nặng nề, chỉ huy tổ mũi nhọn chiến đấu ở hướng đột kích chủ yếu của đơn vị... Đồng chí luôn luôn thể hiện tinh thần chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, mưu trí, linh hoạt, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ.


Trong trận đánh ở Rộc Chanh, giữa lúc tinh hình diễn biến gay go ác liệt, đồng chí đã xung phong nhận nhiệm vụ cầm cờ nghi binh thu hút hỏa lực địch để toàn đơn vị cơ động bất ngờ nổ súng tiến công tiêu diệt địch. Hành động mưu trí dũng cảm của đồng chí đã góp phần quan trọng vào thẳng lợi của trận đánh.


Trận đánh Gò Công (1962), Nguyễn Minh Tua đã chỉ huy tiểu đội dũng cảm vượt dưới làn đạn địch, bò qua một bải trống, đánh thọc vào sườn đội hình quân địch. Giữa lúc đang xung phong, đồng chí bị thương gãy tay trái nhưng vẫn không dừng bước, tiếp tục xông lên cướp súng giặc giết giặc, làm rối loạn đội hình chúng, tạo điều kiện cho cả đơn vị xung phong tiêu diệt địch, làm chủ trận địa.


Bốt Chùa Phật Đá ở ngã ba sông khống chế một vùng quan trọng, rất lợi hại và khó đánh. Nguyễn Minh Tua chỉ huy mũi xung kích có nhiệm vụ đánh chiếm đầu cầu làm điểm tựa cho đơn vị phát triển vào bên trong. Dưới hỏa lực bắn ra mãnh liệt của địch, đồng chí đã dũng cảm mưu trí chỉ huy phân đội vượt sông áp sát bờ rồi nhanh chóng đánh chiếm vị trí đầu cầu khống chế địch, tạo thuận lợi cho các hướng xông lên tiêu diệt gọn bốt địch.    Đồn Thiên Hộ (khu trù mật Hậu Mỹ) nằm sâu trong lòng Đồng Tháp Mười. Nơi đây chúng giam cầm, kìm kẹp rất đông đồng bào ta. Được lệnh chỉ huy mũi chủ yếu đánh thẳng vào khu trung tâm, cắm cờ trên nóc hầm chỉ huy của bọn cố vấn Mỹ, đồng chí động viên và chỉ huy phân đội đánh rất mạnh và kiên quyết, nhanh chóng áp sát địch. Bọn địch ngoan cố chống trả, giằng co quyết liệt với ta từng đoạn chiến hào. Phân đội Nguyễn Minh Tua đã giữ vững quyết tâm, chiến đấu rất dũng cảm, chiếm được phòng tuyến quan trọng ở khu trung tâm và cắm lá cờ lên nóc hầm chỉ huy của bọn cố vấn Mỹ.


Quá trình chiến đấu Nguyễn Minh Tua đã 10 lần bị thương, nhưng lần nào đồng chí cũng ở lại trận địa tiếp tục chỉ huy đơn vị chiến đấu.


Nguyễn Minh Tua luôn luôn gương mẫu trong mọi mặt công tác, có tác phong tỉ mỉ, sâu sát, đoàn kết, chủ động hiệp đồng, lập công tập thể và rất chú ý xây dựng đơn vị về mọi mặt, được anh em mến phục, tin yêu.


Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng ba và 2 năm liền là Chiến sĩ thi đua của quân khu.


Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Nguyễn Minh Tua được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2
Gửi bởi: quansuvn trong 03 Tháng Bảy, 2021, 08:46:49 pm
Anh hùng Nguyễn Trung Thành


Nguyễn Trung Thành (tức Ba Thợ Rèn), sinh năm 1926, dân tộc Kinh, quê ở xã Khánh An, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Minh Hải tham gia cách mạng từ tháng 1 năm 1946, nhập ngũ tháng 12 năm 1959. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là phó ban quân giới T.3, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Trước khi vào phục vụ trong quân đội, Nguyễn Trung Thành đã trải qua nhiều công tác trong kháng chiến chống Pháp như: đội viên chiến đấu ở chi đội 21 từ những năm đầu kháng chiến ở Nam Bộ, chính trị viên và trưởng ngành đúc xưởng 131 Nam Bộ, chính trị viên và phó ban công an xã...   Cuối năm 1959, đồng chí được điều động vào quân đội phụ trách bí thư chi bộ binh công xưởng tỉnh Cà Mau, với nhiệm vụ lãnh đạo, tổ chức, xây dựng binh công xưởng và nghiên cứu sản xuất vũ khí phục vụ cho chiến trường.


Xuất thân từ thành phần công nhân, ngót 20 năm hoạt động cách mạng (tính đến ngày được tuyên dương), Nguyễn Trung Thành đã luôn nêu cao tinh thần bền bỉ chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Trong những lúc khó khăn gian khổ nhất, đồng chí vẫn một lòng trung thành với Đảng, với cách mạng và đã hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Từ khi phụ trách xưởng quân giới, với tinh thần trách nhiệm cao, “dám nghĩ, dám làm, dám giành thắng lợi”, dựa vào tập thể, dựa vào nhân dân, cùng nhau khắc phục mọi khó khăn nhờ đó đồng chí đã phát minh được nhiều sáng kiến, sản xuất và sửa chữa, cải tiến được nhiều loại vũ khí, đáp ứng kịp với yêu cầu của chiến trường. Với 20 ki-lô-gam đồ nghề, từ những ngày đầu đầy thiếu thốn khó khăn, hoàn cảnh công tác rất gian khổ và nguy hiểm, đồng chí đã góp phần cùng với tập thể xây dựng nên ngành quân giới ở miền Tây Nam Bộ.


Mặc dù lúc đầu quân số còn rất ít, cả xưởng chỉ có 11 người, trình độ còn thấp, nguyên vật liệu, dụng cụ, phương tiện thiếu, địch vây hãm đánh phá liên tục, đời sống trong chiến khu rất gian khổ, khó khăn, đồng chí đã cùng tập thể kiên trì xây dựng nội bộ vững về ý chí tư tưởng, có quyết tâm cao, vừa tự lực cánh sinh, vừa dựa vào dân để khắc phục những khó khăn thiếu thốn. Trong sản xuất, vừa làm, vừa nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm bạn bè, được tập thể giúp đỡ, nhờ đó đồng chí đã có 7 phát minh mới và 15 công trình cải tiến kỹ thuật có giá trị.


Nguyễn Trung Thành đã cùng anh em nghiên cứu thành công việc tận dụng phế liệu trong nhân dân để làm ra chất nổ dùng trong các loại đạn bắn tàu thủy, lô cốt, diệt xe cơ giới địch, v.v. Các loại đạn này đã được sử dụng trong chiến đấu, có hiệu quả cao, giải quyết được những khó khăn lớn lúc đó, phục vụ tốt yêu cầu của chiến trường.


Đồng chí còn nghiên cứu thành công việc dùng chất hóa học - sau nhiều lần thí nghiệm rất nguy hiểm - để chế đạn lửa trong điều kiện ở xa trung ương, mọi phương tiện cung cấp, vận chuyển đều thiếu thốn.


Bản thân Nguyễn Trung Thành vừa làm công tác tổ chức, lãnh đạo, vừa nỗ lực nghiên cứu, khó khăn không bó tay, thất bại không nản chí, nguy hiểm không chùn bước, đã cùng tập thể khắc phục nhiều khó khăn, sản xuất được nhiều loại vũ khí phức tạp khác nữa phục vụ chiến trường, và qua lao động đã đào tạo được một đội ngũ công nhân nòng cốt. Từ 11 đồng chí ban đầu, qua 5 năm xưởng đã có hơn 100 công nhân thành thạo, từ một cơ sở binh công xương ở Cà Mau đã phát triển thành nhiều cơ sở của 6 tỉnh miền Tây Nam Bộ.


Nguyễn Trung Thành là một công nhân gương mẫu, luôn luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm của người đảng viên, hết lòng phục vụ Tổ quốc; sống giản dị, khiêm tốn, tận tình giúp đỡ đồng đội, chú ý xây dựng đơn vị trưởng thành toàn diện.


Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Nguyễn Trung Thành được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2
Gửi bởi: quansuvn trong 03 Tháng Bảy, 2021, 08:47:29 pm
Anh hùng Nguyễn Thị Út


Nguyễn Thị Út (tức Út Tịch), sinh năm 1920, dân tộc Kinh, quê xã Tam Ngãi, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh, tham gia cách mạng từ năm 1945. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là du kích xã Tam Ngãi.


Xuất thân là một cố nông, ngay từ nhỏ Út Tịch đã phải đi ở cho địa chủ, chịu bao cay đắng, áp bức của đế quốc và phong kiến. Khi đã lấy chồng rồi, cả hai vợ chồng vẫn phải chịu cảnh đi ở đợ cho tới ngày Cách mạng tháng Tám thành công. Được giải thoát khỏi cảnh đọa đày túi nhục, hai vợ chồng đều hết sức phấn khởi, hăng hái, tích cực tham gia hoạt động cách mạng. Từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, mặc dù sức yếu và bận con mọn, đồng chí đã xung phong vào du kích. Khi tải thương, khi đi trinh sát, khi xách súng đuổi địch, đồng chí đả trải qua nhiều công tác cùng với bộ đội tham gia hàng chục trận đánh và đã hoàn thành  tốt mọi nhiệm vụ với hiệu quả công tác và hiệu suất chiến đấu cao.


Vừa giỏi việc nước, vừa đảm việc nhà, tuy đã sáu con, Út Tịch đánh giặc vẫn rất hăng hái, có nhiều mưu mẹo tài tình, khi có thai 8 tháng, vẫn chỉ huy du kích hạ hai đồn giặc. Hai vợ chồng luôn luôn tâm đắc, cùng hỗ trợ nhau giết giặc, lập công xuất sắc.


Trong một trận địch càn vào xã, Út Tịch lúc đó mới sinh con 2 tháng, còn đang nghỉ, nhưng vừa nghe tiếng súng, liền đưa con xuống hầm, rồi xách súng đi chiến đấu. Khi giáp trận, Út Tịch nhanh như con sóc chạy hết nơi này đến nơi kia, lợi dụng địa hình nổ súng diệt địch. Trong khi đang trườn lên một bờ đê cao, do sức còn yếu, đồng chí bị trượt, ngã lăn xuống ruộng và ngất xỉu. Cũng may, lại gặp chồng ở đơn vị bộ đội tập trung dẫn quân về cùng phối hợp chống càn. Trận chiến đấu đã nhanh chóng kết thúc thắng lợi.


Một hôm, trên đường ra chợ, phát hiện thấy 1 đại đội địch đi càn, đồng chí vội chạy tắt đường về tìm đội du kích bàn kế hoạch đánh địch. Bố trí trận địa xong, Út Tịch tranh thủ chạy về cho con nhỏ bú và dắt các con lớn xuống hầm ẩn nấp an toàn rồi lại trở ra trận địa. Chờ quân địch vào gần, đồng chí cùng đồng đội nổ súng mảnh liệt, bất ngờ, buộc chúng phải tháo chạy, bỏ lại một số tên chết và bị thương.


Nhận nhiệm vụ chuẩn bị đánh đồn Bến Cát, Út Tịch tiến hành điều tra kỷ lưỡng và vạch kế hoạch lấy đồn chu đáo, tỉ mỉ. Sau khi đã tìm cách làm quen được với bọn lính trong đồn, đồng chí dụ chúng ra ăn nhậu ngoài quán cho đến lúc say, cùng lúc đó, theo ám hiệu của đồng chí, du kích xông vào lấy đồn; đoạt súng. Út  Tịch cũng nhanh như cắt chĩa súng bắt toàn bộ bọn lính đang ăn uống ngoài quán phải đầu hàng.


Nguyễn Thị Út là một cán bộ phụ nữ giàu nghị lực, rất mực trung thành, kiên quyết đánh giặc, giữ nước, giữ nhà, tới mức như đồng chí nói: “Còn cái lai quần cũng đánh”. Đối với đồng đội, bà con cô bác, Út Tịch hết sức tận tình thương yêu, giúp đỡ, sẵn sàng nhường cơm sẻ áo khi hoạn nạn khó khăn, nên luôn luôn được đồng đội và nhân dân tin yêu, đùm bọc.


Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Nguyễn Thị Út được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2
Gửi bởi: quansuvn trong 03 Tháng Bảy, 2021, 08:48:09 pm
Anh hùng Vai


Vai (tức Hồ Đức Vai) sinh năm 1942, dân tộc Pa Cô, quê ở thôn Lê Lốc, xã Hồng Bắc, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên - Huế, vào du kích năm 1961. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là xã đội trường, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Mồ côi cha lẫn mẹ từ năm lên 6 tuổi, Hồ Đức Vai sống nhờ bà con đùm bọc, bữa đói, bữa no cho tới lúc trưởng thành. Được cách mạng giúp đỡ và giáo dục, đồng chí đã nhận rõ phải quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng đất nước, nên đã hăng hái tham gia hoạt động kháng chiến.


Ở địa phương đồng chí, cơ sở cách mạng lúc đầu còn rất yếu, bọn địch thường truy lùng tìm bắt cán bộ và đàn áp, bóc lột nhân dân rất thậm tệ. Công việc đầu tiên đồng chí được giao là vận động nhân dân chống giặc bắt lính, vót chông rào làng và trồng sắn ủng hộ cách mạng. Đồng chí đã làm tốt nhiệm vụ cấp trên giao.


Sang năm 1961, tiểu đội du kích được thành lập. Hồ Đức Vai được giao nhiệm vụ làm tiểu đội trường, vì chưa quen đánh giặc, lúc đầu một số anh em có phần bỡ ngỡ, đồng chí tận tình đi sát, giúp đỡ, chỉ dẫn anh em tỉ mỉ. Lúc chiến đấu cũng như khi công tác gặp việc gì khó khăn, nguy hiểm, đồng chí đều đi trước, làm trước. Nhờ có lãnh đạo, chỉ huy chặt chẽ, có tổ chức canh phòng cẩn mật, nên nhiều lần tiểu đội du kích đã chặn đánh diệt được bọn địch ở đồn A Lưới về quấy phá nhân dân khiến đồng bào yên tâm sản xuất.


Trong năm 1961, đồng chí đã đánh 22 trận, diệt 32 tên địch, bắn bị thương 9 tên, làm sập hầm chông chết 1 tên và bị thương 50 tên khác. Lợi dụng địa hình rừng núi, đồng chí thường phát huy lối đánh nhỏ lẻ, bất ngờ, tiến công rất táo bạo, dũng cảm gây cho địch nhiều thiệt hại.


Năm 1962, địch càn vào xã. Mặc dù vết thương từ trận đánh trước chưa lành, đồng chí vẫn thường xuyên có mặt ở vị trí chiến đấu. Trong suốt 3 ngày liền quần nhau với giặc, đồng chí đã góp phần quan trọng đánh bật quân địch, bảo vệ xóm làng.


Ngày 3 tháng 3 năm 1963, Hồ Đức Vai dẫn một tổ dân quân vào quấy rối đồn A Lưới. Đang bò qua hàng rào thì ta phát hiện được mìn địch gài - một loại mìn mới, chưa ai biết cách tháo gỡ. Đồng chí vẫn giữ vững quyết tâm tiếp tục trận đánh, tạm thời cho anh em lui ra, một mình đồng chí ở lại nghiên cứu tìm cách khắc phục. Cuối cùng, đồng chí đã gỡ được mìn, và tiếp tục chỉ huy anh em tiến vào đánh địch. Khi ra về, tiểu đội còn mang đủ số mìn đã thu được để sau này dùng vào việc huấn luyện và gài xen với chông bẫy bảo vệ xóm làng. Sau trận này, anh em đều phấn khởi và càng thêm tin tưởng ở đồng chí.


Tháng 7 năm 1963, bọn địch được tăng viện, thường hùng hùng hổ hổ kéo nhau đi càn. Lúc về, chúng hay cụm lại ở Lê Lốc. Hồ Đức Vai dẫn một tổ bí mật bám sát địch, khi còn cách chúng 20 mét mới bất ngờ nổ súng, diệt 4 tên ngay tại chỗ. Từ đó, bọn dịch rất hoảng sợ, không còn dám ngông nghênh đi gây tội ác như trước.


Ngày 11 tháng 7 năm 1963, nghe tin địch càn vào xã A Ninh, lúc đó, đang một mình làm rẫy, để tranh thủ thời cơ đánh địch, đồng chí đã vác súng chạy tắt rừng đón đánh địch. Sau khi tìm được địa hình thuận lợi nhất, đồng chí bí mật nằm phục, chờ cho toán địch đi đầu vào cách 5 mét mới nổ súng, diệt tại chỗ 3 tên. Bọn còn lại hốt hoảng chạy tán loạn, bỏ dờ cuộc càn.


Đêm 27 tháng 5 năm 1969, Hồ Đức Vai dẫn một tổ bò sát đồn A Lưới, kiên trì nằm phục chờ trời sáng khi bọn địch ra sân tập hợp mới đồng loạt nổ súng, bắn chết 3 tên và bắn bị thương một số.


Trong mọi mặt công tác Hồ Đức Vai đều luôn luôn gương mẫu, việc gì khó khăn nguy hiểm, đồng chí cũng xung phong làm trước cho anh em noi theo, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ đồng đội, khiêm tốn học hỏi đồng chí được anh em tin yêu, nhân dân mến phục.


Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Hồ Đức Vai được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực -lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2
Gửi bởi: quansuvn trong 08 Tháng Bảy, 2021, 07:14:45 pm
Anh hùng Puih Thu


Puih Thu (tức Puih Banh), sinh năm 1935, dân tộc Gia Rai, quê ở xã Ia Lớp, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai, tham gia cách mạng năm 1961. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là trung đội trưởng du kích xã.


Puih Thu sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo, sống bằng nghề làm rẫy, từ nhỏ Puih Thu phải làm lụng vất vả nhưng cuộc sống vẫn thiếu đói; thời Mỹ - ngụy quê hương Puih Thu đầy bóng giặc, chúng đàn áp, bóc lột nhân dân thậm tệ, lập ra các trưởng làng, thôn trưởng và ấp trưởng... chúng lập đồn, xây bốt trong làng trong ấp, kiểm soát việc làm ăn ra vào, ngang nhiên cướp của, giết người, bắt lính...


Người dân Tây Nguyên xưa nay sống tự do, đùm bọc, yêu thương và vui vẻ trong những ngày hội của buôn làng, nay bị tước hết. Lòng căm thủ giặc sâu sắc, Puih Thu tình nguyện ra lập đội du kích và trực tiếp làm trung đội trưởng (đầu năm 1963). Với vũ khí thô sơ tự tạo như cung tên, giáo mác, đồng chí đã cùng đội du kích và nhân dân chiến đấu diệt nhiều ác ôn tề điệp.


Trong trận chiến ngày 18 tháng 4 năm 1964, tại ấp làng Tốt, Puih Thu đã cùng đội du kích mưu trí lợi dụng ngày hội Nhà Ma cho bọn chúng uống rượu say rồi xông lên cướp súng, bắt trói 8 tên và diệt một số tên ác ôn, thu 8 súng trang bị cho đội du kích.


Cũng trong tháng 4 năm 1964, địch càn vào xã, đồng chí dũng cảm dùng ná tẩm thuốc độc tiêu diệt hàng chục tên địch, làm cho địch bị sa lầy vào thế trận hầm chông, cạm bẫy của nhân dân và du kích, buộc địch phải bỏ dở cuộc càn.


Ngày 14 tháng 5 năm 1964, Puih Thu chỉ huy trung đội du kích cùng nhân dân làng Lan nổi dậy diệt 18 tên (có 4 tên cảnh sát, 2 tên điệp ngầm), đốt nhà hội đồng của địch bắt sống 6 tên, thu 12 súng các loại và nhiều đạn dược. Khi máy bay địch đến oanh tạc, đồng chí đã dùng súng trường bắn rơi 1 máy bay lên thẳng, diệt nhiều tên. Chiến công của Puih Thu được nhân dân địa phương rất khâm phục.


Puih Thu là một trung đội trường du kích chiến đấu dũng cảm, trận nào cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần xây dựng lực lượng du kích xã trưởng thành, được cán bộ và nhân dân tin yêu.


Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Puih Thu được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng. 


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2
Gửi bởi: quansuvn trong 08 Tháng Bảy, 2021, 07:16:18 pm
Anh hùng Phạm Văn Cội
(Liệt sĩ)


Phạm Văn Cội, sinh năm 1940 dân tộc Kinh, quê ở xã Nhuận Đức, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chi Minh. Khi hy sinh đồng chí là xã đội trường, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Phạm Văn Cội sinh ra trong một gia đình nghèo khổ cha và chị gái bị giặc Pháp giết hại, bản thân phải lao động làm thuê cực nhọc từ nhỏ. Sẵn có mối thù sâu sẳc với bọn giặc cướp nước và bán nước, cho nên khi được cách mạng giáo dục, đồng chí sớm hiếu rõ chỉ có kiên quyết đánh tháng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước thì nhân dân ta mới có hạnh phúc, vì thế, Phạm Văn Cội luôn luôn nêu cao tinh thần tích rực tiến công, tìm Mỹ mà diệt, tự tạo ra nhiều vũ khí để đánh bộ binh, diệt cơ giới, bắn máy bay địch, v.v... góp phần đẩy mạnh phong trào du kích chiến tranh trong xã; cổ vũ mọi người tham gia diệt  Mỹ khi chúng đổ quân chiếm đóng căn cứ Đồng Dù (Củ Chi). Riêng Phạm Văn Cội diệt 120 tên Mỹ, 8 xe cơ giới và 1 máy bay lên thẳng.


Năm 1960, nghe tin quê nhà đồng khởi, Phạm Văn Cội thôi việc cạo mủ ở đồn điền cao su, trở về xã tham gia chiến đấu trong đội tự vệ mật rồi đội du kích ấp.


Năm 1961, là tiểu đội trưởng du kích, Phạm Văn Cội dẫn bộ đội đi săn bọn giặc tập nhảy dù, riêng đồng chí đã bắn chết nhiều tên địch bằng súng thô sơ. Trong hoàn cảnh thiếu thốn vũ khí, đồng chí tự sản xuất chông đinh, cung tên để giết giặc.


Năm 1962, quân chủ lực ngụy mở cuộc càn vào xã, du kích trong ấp đi làm và công tác xa chưa về kịp, tuy chỉ còn một mình, đồng chí vẫn kiên quyết chiến đấu, dùng súng trường, lựu đạn đánh chặn diệt 5 tên giặc, buộc chúng phải bỏ dở cuộc càn.


Năm 1963, lần đầu tiên địch dùng xe M.113 đi càn trong xã, Phạm Văn Cội cùng một đồng chí nữa đã mưu trí, dũng cảm dùng lựu đạn đánh đứt xích 1 xe, diệt nhiều tên giặc, gây cho anh em lòng tin tưởng với vũ khí tự tạo nhưng có quyết tâm thì vẫn diệt được xe bọc thép của địch. Sau trận này, Phạm Văn Cội được giao phụ trách ấp đội trưởng rồi xã đội phó.


Trong 2 năm 1964, 1965, Phạm Văn Cội chỉ huy đội du kích xã liên tục bám đánh địch, bảo vệ nhân dân, làm cho bọn ngụy hoang mang không dám càn vào xã. Tuy vết thương còn đau, hàng ngày đồng chí vẫn đi nghiên cứu trận địa, củng cố xã chiến đấu, rèn luyện thêm về quân sự cho anh em du kích, sẵn sàng chiến đấu.


Ngày 8 tháng 1 năm 1966, giặc Mỹ mở cuộc càn quét lớn vào Củ Chi. Suốt 8 ngày liền, Phạm Văn Cội đã lãnh đạo và chỉ huy anh em trong đội du kích ngoan cường bám đánh địch, diệt 111 tên, bắn rơi và phá hủy 7 máy bay lên thẳng, 1 máy bay khu trục và nhiều xe cơ giới, buộc địch phải rút lui, bỏ dở cuộc càn.


Tháng 2 năm 1966, đồng chí đã 5 lần chỉ huy anh em khi thì đi tập kích bọn Mỹ, khi chặn đánh cơ giới địch càn vào xã, riêng đồng chí diệt 6 xe bọc thép, giết hàng chục tên giặc, thu vũ khĩ.


Tháng 4 năm 1966, Phạm Văn Cội dẫn một số anh em vượt rào gai, bãi mìn, lọt vào căn cứ Mỹ ở Đồng Dù, gài mìn diệt 2 xe, đồng thời gỡ được mìn của địch đem về sử dụng.


Tháng 9 năm 1966, địch chia làm nhiều mũi mở cuộc càn lớn vào xã kéo dài 12 ngày, chặn các đường liên lạc với phía sau của đội du kích. Trời mưa, công sự đều bị sụt lở. Trong ổ chiến đấu vừa sửa lại không có nắp, trơ trọi giữa chỗ trống, một số đồng chí bị thương vong, Phạm Văn Cội cùng một người nữa kiên quyết chặn địch, bảo vệ thương binh. 2 chiếc xe M.118 bị trúng mìn, nổ tan xác, nhưng các xe khác của chúng ở xung quanh vẫn nổ máy gầm gừ, đồng thời bọn giặc ùa nhau kéo tới. Phạm Văn Cội đã cùng đồng đội dũng cảm, bình tĩnh dùng lựu đạn chiến đấu, chặn đứng 3 đợt xung phong của địch, giết chết 25 tên, bảo vệ đồng đội được an toàn.


Trong một trận chống càn mùa khô năm 1967, Phạm Văn Cội chỉ huy đội du kích phối hợp với đơn vị chủ lực chiến đấu bẻ gãy cuộc càn của xe cơ giới Mỹ. Sau trận đánh Phạm Văn Cội đi kiểm tra trận địa, giữa đường gặp địch phục kích, đồng chí đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và anh dũng hy sinh.


Đồng chí đã nêu tấm gương sáng về tinh thần quyết chiến quyết thắng, xứng đáng là ngọn cờ đầu trong phong trào thi đua diệt Mỹ của du kích Củ Chi, tự tạo vũ khí đánh địch, được đồng đội và nhân dân vô cùng thương mến, tin yêu.


Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Phạm Văn Cội được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2
Gửi bởi: quansuvn trong 18 Tháng Bảy, 2021, 06:52:35 pm
Anh hùng Đồng Phước Huyến
(Liệt sĩ)


Đồng Phước Huyến, sinh năm 1946, dân tộc Kinh, quê ở xã Quế Phú, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, nhập ngũ tháng 3 năm 1965. Khi hy sinh đồng chí là tiểu đội trưởng thuộc đại đội 1, tiểu đoàn 72 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Nam.


Sinh trưởng trong một gia đinh nông dân nghèo, cha mẹ chết sớm, Đồng Phước Huyến phải đi ở ngay từ khi còn nhỏ. Được giáo dục về lòng yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, lòng căm thù quân cướp nước và bán nước, đồng chí sớm giác ngộ cách mạng và đã tham gia hoạt động bí mật ở xã từ năm 1961, sau đó được chỉ định phụ trách tiểu đội du kích. 7 tháng tham gia chiến đấu, đồng chí đã cùng đội du kích chiến đấu 15 trận, hoàn thành tốt nhiệm vụ, hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị ở địa phương.


Vào quân đội, Đồng Phước Huyến đã tham gia chiến đấu 53 trận, giết và làm bị thương trên 70 tên địch, bắt sống 15 tên, thu 25 súng các loại, đánh hỏng 3 xe bọc thép. Trong chiến đấu, đồng chí luôn luôn nêu cao tinh thần chiến đấu gan dạ, dũng cảm.


Vừa vào bộ đội, tham gia trận Mộc Bài (tháng 3 năm 1965), Đồng Phước Huyến đã anh dũng xông lên đánh giáp lá cà vật lộn với địch, giết chết 1 tên, thu súng và bắn chết thêm 2 tên nữa.


Trong trận Cầu Ông Bộ ngày 20 tháng 6 năm 1965, được phân công trong tổ mũi nhọn đánh thọc sâu, đồng chí đang tiếp cận thì bị lộ. Địch chống cự ác liệt, 5 lần đồng chí cùng tổ xung phong vào đội hình giặc nhưng không được. Đại đội giao cho tổ đồng chí chuyển hướng đánh mạnh vào hướng chính diện. Được lệnh, Đồng Phước Huyến nhanh chóng phát triển đánh ngay vào giữa đội hình địch, cướp trung liên địch, diệt địch, tạo điều kiện cho đơn vị trong 10 phút tiêu diệt gọn 2 trung đội địch, thu toàn bộ vũ khí.


Trận đánh cầu Tam Kỳ ngày 17 tháng 1 năm 1966, làm nhiệm vụ ở mũi thọc sâu, bị địch ngoan cố chống trả quyết liệt, Đồng Phước Huyến kiên quyết xông lên đánh chiếm lô cốt đầu cầu, thu một trung liên, kiềm chế hỏa lực của địch để đơn vị giành thắng lợi giòn giã.


Trận Chổi Sũng ngày 14 tháng 2 năm 1966, Đồng Phước Huyến được giao nhiệm vụ ở tổ thọc sâu. Vừa được lệnh nổ súng, đồng chí vượt qua 15 mét rào dây thép gai bùng nhùng, xung phong đánh vào tung thâm, tạo điều kiện cho đơn vị triển khai chiến đấu mau lẹ, diệt 1 đại đội địch. Trong trận này, đồng chí bị thương 2 lần nhưng vẫn không rời trận địa, kiên quyết chiến đấu, diệt 8 tên, mang 1 trung liên và 1 súng trường về vị trí tập kết an toàn.


Trận đánh cứ điểm Núi Giàng, ngày 17 tháng 3 năm 1966, vừa ở bệnh viện về, sức còn yếu, được đơn vị cho nghỉ, nhưng Đồng Phước Huyến hăng hái xung phong đi chiến đấu, và đã cố gắng mang được 20 quả thủ pháo, lựu đạn. Được giao phụ trách mũi phó thọc sâu, chỉ trong mấy phút, đồng chí đã dùng thủ pháo diệt gọn bọn chỉ huy và 3 ổ trung liên, làm tê liệt hỏa lực địch, tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị diệt gọn 1 đại đội địch trong 15 phút. Bị thất bại nặng, địch dùng phi pháo oanh tạc dữ dội vào trận địa ta, làm cho ban chỉ huy và một số đồng chí bị thương vong. Đồng Phước Huyến đã động viên anh em kiểm tra kỹ trận địa và tổ chức chu đáo đưa thương binh, tử sĩ ra ngoài. Một mình đồng chí với 2 súng trên vai, cõng 1 thương binh và vác 1 trung liên chiến lợi phẩm về vị trí an toàn.


Đêm 25 tháng 6 năm 1966, phối hợp với đơn vị bạn hạ đồn An Hà, Đồng Phước Huyến chỉ huy tiểu đội hoàn thành nhiệm vụ chủ yếu của trung đội, diệt 16 địch tại ấp chiến lược cạnh đồn. Ngày 26 tháng 6 năm 1966, trung đội về vị trí tập kết, vừa ăn cơm xong thì 3 trung đoàn Mỹ, ngụy có 24 xe M.113, M.118 và phi pháo yểm trợ ồ ạt càn vào nơi đóng quân. Sau khi tổ đảng họp hạ quyết tám chiến đấu, trung đội còn 19 người, đã nhanh chóng triển khai theo kế hoạch. Ta và địch chỉ cách nhau 30 mét, cuộc chiến đấu diễn ra hết sức ác liệt. Một số đồng chí đã bị thương vong, Đồng Phước Huyến vẫn bình tĩnh động viên anh em quyết tâm chiến đấu. Một chiếc xe bọc thép chở đầy lính địch kéo tới, đồng chí bắn mãnh liệt vào đội hình địch và động viên anh em chuẩn bị lựu đạn, thủ pháo để diệt xe cơ giới, trả thù cho đồng đội. Vừa lúc đó, Đồng Phước Huyến bị thương gãy nát cả hai chân. Biết mình không thể sống, đồng chí giao nhiệm vụ chỉ huy đơn vị cho tiểu đội trưởng tiểu đội 2. Sau mấy phút ngất đi, tỉnh dậy, Đồng Phước Huyến vẫn thấy anh em đánh trả quyết liệt với địch. Nhìn chiếc xe M.113 đang lù lù bò đến, đồng chí lợi dụng gò đất, chồm lên ném 2 quả thủ pháo vào xe. Chiếc M.113 bốc cháy, 15 tên Mỹ trên xe phải đền tội. Chiếc thứ 2 bò đến bị một anh em trong tiểu đội dùng thủ pháo đánh hỏng tại chỗ không nhích lên được. Chiếc thứ 3 thấy vậy lao thẳng đến hòng nghiến nát đồng chí. Xe vừa lao tới, Đồng Phước Huyến dùng hết sức lực còn lại, nhoài lên ném quả thủ pháo vào chiếc xe địch. Chiếc xe bị đứt xích gầm rú tại chỗ. Cả đoàn xe địch dồn lại trước gò đất bắn loạn xạ rồi hoảng hốt kéo nhau rút chạy. Đồng Phước Huyến đã hy sinh anh dũng, góp phần chặn đứng mũi tiến công của địch.


Khi còn sống, đồng chí luôn luôn gương mẫu, đi đầu trong mọi mặt công tác, đoàn kết với nhân dân, tận tình giúp đỡ dồng đội, sống khiêm tốn, được nhân dân tin yêu, đồng đội mến phục.


Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhất.


Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Đồng Phước Huyến được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng. 


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2
Gửi bởi: quansuvn trong 18 Tháng Bảy, 2021, 06:53:27 pm
Anh hùng Tô Thị Huỳnh
(Liệt sĩ)


Tô Thị Huỳnh, sinh năm 1946, dân tộc Kinh, quê ở xã Lương Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, vào du kích năm 1960. Khi hy sinh đồng chí là xã đội phó xã Lương Hòa, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo, bố bị giặc bắn chết, có lòng căm thù giặc sâu sắc, lại được cán bộ đi sát giúp đỡ, giáo dục, Tô Thị Huỳnh sớm giác ngộ cách mạng. Năm 16 tuổi chị đã hăng hái vận động được 8 bạn gái cùng xin vào du kích và Tô Thị Huỳnh được cử làm đội trưởng. Được tập thể giáo dục, rèn luyện, Tô Thị Huỳnh đã trở thành người chỉ huy trẻ tuổi, luôn luôn nêu cao tinh thần dũng cảm, táo bạo, chỉ huy mưu trí, dẫn đầu đơn vị trong những tình huống khó khăn, phối hợp cùng các đơn vị bạn đánh thắng nhiều cuộc càn quét của địch.


Đặc biệt, đầu năm 1968, Tô Thị Huỳnh chỉ huy đội du kích dựa vào thế trận chông, mìn, kiên cường chiến đấu đánh bại cuộc càn của 1 tiểu đoàn địch có hỏa lực, cơ giới mạnh yểm hộ, diệt trên 30 tên, giữ vững khu căn cứ Ô Chích. Chiến công của đội nữ du kích do Tô Thị Huỳnh chỉ huy đã góp phần cổ vũ mạnh mẽ phong trào du kích chiến tranh ở địa phương, làm cho nhân dân tin tưởng quyết tâm đánh giặc.


Tháng 4 năm 1964, Tô Thị Huỳnh được cử làm xã đội phó trực tiếp chỉ huy tiểu đội du kích xã, đã chỉ huy đơn vị nhiều lần tiến công diệt bốt do từng tiểu đội địch đóng giữ, tạo điều kiện cho quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ.


Tính chung, đồng chí đã tham gia chiến đấu và chỉ huy chiến đấu 150 trận, cùng đơn vị loại khỏi vòng chiến đấu trên 100 tên địch, bắt 20 tên, thu 30 súng các loại. Riêng Tô Thị Huỳnh còn gài chông, đạp lôi, làm bị thương trên 20 tên địch.


Trong quá trình chiến đấu, đồng chí đã kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động vũ trang với binh vận, đi sát tuyên truyền giải thích 55 gia đình binh sĩ, vận động được 16 lính địch bỏ ngũ; xây dựng được 5 cơ sở làm nội ứng cho du kích đánh chiếm đồn địch, thu 18 súng.


Tô Thị Huỳnh tích cực tham gia xây dựng các đoàn thể cách mạng trong xã, tuyên truyền được 28 hội viên phụ nữ giải phóng, vận động được 40 thanh niên nam, nữ vào lực lượng vũ trang (có 16 thanh niên vào bộ đội).


Là một nữ thanh niên trẻ tuổi, Tô Thị Huỳnh đã tỏ ra là một người giàu nghị lực, có lòng yêu nước nồng nàn, có tinh thần chiến đấu dũng cảm, mưu trí, có phẩm chất trong sáng, được đồng đội và nhân dân tin yêu. Sau khi chị hy sinh, (tháng 12 năm 1966) tiểu đội nữ du kích Lương Hòa mang tên liệt sĩ Tô Thị Huỳnh, tiếp tục lập nhiều chiến công, đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích ở địa phương lên rất cao.


Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Tô Thị Huỳnh được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2
Gửi bởi: quansuvn trong 07 Tháng Tám, 2021, 05:03:29 pm
Anh hùng Nguyễn Văn Lịch
(Liệt sĩ)


Nguyễn Văn Lịch, sinh năm 1950, dân tộc Kinh, quê ở xã Phước Vĩnh An, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh, nhập ngũ năm 1964. Khi hy sinh đồng chí là tiểu đội trưởng trinh sát bộ đội địa phương quận Dĩ An, khu Sài Gòn - Gia Định.


Sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo khổ, cha bị giặc giết chết, Nguyễn Văn Lịch phải đi ở cho địa chủ từ lúc còn bé. Căm thù sâu sắc bọn giặc cướp nước và bè lũ bán nước giết hại đồng bào, chia cắt Tổ quốc, khi được tiếp xúc với cách mạng, đồng chí sớm giác ngộ, mới 12 tuổi đã hăng hái tham gia công tác thông báo tin tức, canh gác, bảo vệ cán bộ. Năm 14 tuổi Nguyễn Văn Lịch vào du kích xã, sau chuyển sang bộ đội tập trung của quận. Đồng chí là một chiến sĩ luôn luôn thể hiện lòng trung thành với cách mạng, có tinh thần chiến đấu dũng cảm, kiên quyết tiến công địch.


Trong một trận chống càn (năm 1964), được phân công bám địch, nhân lúc bọn địch sơ hở, Nguyễn Văn Lịch ném 1 quả lựu đạn, diệt 1 tên thiếu úy ngụy, làm bị thương một số khác.


Tháng 5 năm 1965, đồng chí được điều đi học, sau bổ sung về Dĩ An. Tuy mới vào bộ đội, trong trận chiến đấu đầu tiên. Nguyễn Văn Lịch đã tỏ ra rất dũng cảm, mưu trí, ngay phút đầu đồng chí đã cùng đồng đội nổ súng diệt 4 tên, bắn bị thương một số khác, thu 1 súng.


Trận chống càn ở rừng Cò Mi (tháng 8 năm 1965), đồng chí đã dùng tiểu liên diệt gọn ban chỉ huy đại đội địch, dùng thủ pháo đánh hỏng 1 xe M.113, buộc địch phải dừng lại, bảo vệ cho đơn vị rút ra an toàn.


Năm 1966, Nguyễn Văn Lịch được điều về đơn vị trinh sát. Một lần đồng chí cùng 2 du kích đi mở đường bị lọt vào ổ phục kích của địch, Nguyễn Văn Lịch bình tĩnh nằm lại nổ súng diệt 1 tên địch, bảo vệ cho 2 du kích rút trước, sau đó thu 1 súng rồi rút ra an toàn. Trong một lần khác, Nguyễn Văn Lịch bị thương vào tay nhưng vẫn bình tĩnh nằm lại, dùng 2 trái lựu đạn diệt ổ trung liên và tên thiếu úy chỉ huy rồi tìm đường trở về đơn vị.


Ngày 27 tháng 5 năm 1966, trên đường từ đội điều trị về đơn vị, đồng chí bị địch phục kích. Bị thương gãy nát cả 2 chân, nhưng 2 tay vẫn nắm chác 2 trái lựu đạn, đồng chí trườn đi hướng khác đánh địch. Tới một căn nhà bỏ trống, vì kiệt sức quá, đồng chí phải nghỉ lại. Sáng hôm sau, 2 tên sĩ quan Mỹ và 8 tên sĩ quan Nam Triều Tiên đi qua đấy, vừa khi đó, một bà má từ ngoài đi vào nhà. Thấy Nguyễn Văn Lịch bị thương nặng quá, má giục đồng chí tránh đi kèo nguy hiểm. Nguyễn Văn Lịch cố thuyết phục má tránh ra xa cho mình tiện đánh địch. Khi bà má đã đi xa, bọn địch thấy có vết máu đang tụm lại xem, Nguyễn Văn Lịch dùng hai khuỷu tay cố trườn đến gần và tung 2 trái lựu đạn, diệt cả 10 tên sĩ quan địch. Đồng chí đã anh dũng hy sinh bên đống xác giặc.


Khi còn sống, Nguyễn Văn Lịch luôn luôn gương mẫu trong công tác, học tập và rèn luyện. Sự hy sinh anh dũng của đồng chí đã nêu tấm gương sáng ngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho đồng đội noi theo giết giặc, cứu nước.


Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Nguyễn Văn Lịch được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2
Gửi bởi: quansuvn trong 07 Tháng Tám, 2021, 05:04:06 pm
Anh hùng Lưu Văn Liệt
(Liệt sĩ)


Lưu Văn Liệt, sinh năm 1943, dân tộc Kinh, quê ở xã Tường Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long, nhập ngũ năm 1965. Khi hy sinh đồng chí là chiến sĩ biệt động thị xã Vĩnh Long.


Đồng chí là con út trong gia đình có một anh hy sinh trong kháng chiến chống Pháp và một anh hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ. Khi đồng chí còn nhỏ, cha mẹ cho ra học ở thị xã Vĩnh Long.


Là một thanh niên học sinh, sống ở thành phố, hàng ngày tai nghe, mắt thấy những tội ác của giặc Mỹ, Lưu Văn Liệt sớm giác ngộ cách mạng, có lòng căm thù sâu sắc giặc Mỹ và bè lũ tay sai. Đồng chí đã hăng hái tham gia rải truyền đơn trong khu vực có nhiều căn cứ quân sự, tình báo và công an Mỹ - ngụy. Nhiều lần bị địch đuổi bắt, Lưu Văn Liệt vẫn bình  tĩnh, mưu trí, dũng cảm đối phó với địch, hoàn thành tốt nhiệm vụ.


Năm 1965, đồng chí bỏ học, xin vào bộ đội. Với quyết tâm diệt địch cao, Lưu Văn Liệt say mê rèn luyện nâng cao bản lĩnh chiến đấu. Khi được giao lựu đạn và động viên tìm Mỹ để diệt, đồng chí rất phấn khởi. Suốt nửa tháng, chiều nào Lưu Văn Liệt cũng mang lựu đạn đi về phía căn cứ quân sự Mỹ, nhưng chỉ gặp những tên Mỹ đi lẻ tẻ. Không muốn nổ 1 trái lựu đạn mà chỉ diệt được 1 tên địch, Lưu Văn Liệt kiên trì chờ thời cơ giết được nhiều địch hơn. Một lần, gặp 3 tên Mỹ và bốn tên sĩ quan ngụy đi cùng, đồng chí quan sát đường rút và tháo chốt lựu đạn chuẩn bị ném. Nhưng bất ngờ một chiếc xe quân vụ của địch chạy đến đỗ chắn mất đường, đồng chí phải gài chốt lựu đạn và tìm cách rút ra an toàn.


Khi được giao nhiệm vụ điều tra nghiên cứu và vạch phương án diệt Mỹ, Lưu Văn Liệt kiên trì ngày đêm bám sát, theo dõi nắm chắc tình hình địch và đề ra phương án tác chiến táo bạo, mang bom vào đặt ở nơi bọn Mỹ thường hay lui tới. Khi được giao nhiệm vụ chiến đấu, Lưu Văn Liệt xung phong nhận khai hỏa bom và chặn hậu khi lui quân. Tối 5 tháng 2 năm 1966, Lưu Văn Liệt và một đồng chí nữa bí mật mang bom vào đặt ở cái quán bọn Mỹ hay tới ăn uống. Bọn Mỹ đến rất lẻ tẻ nên đồng chí phải kiên trì chờ đợi. Mặc dầu biết cảnh sát địch đã nghi ngờ theo dõi, Lưu Văn Liệt vẫn bình tĩnh, nhanh nhẹn châm ngòi nổ rồi chờ đến lúc bom sắp nổ mới vượt ra ngoài. Bom nổ, 17 tên Mỹ và một số cảnh sát tan xác tại chỗ, nhưng Lưu Văn Liệt cũng bị thương. Bọn cảnh sát đuổi theo và bắn đồng chí bị thương lần thứ hai. Biết mình không thể thoát khỏi, đồng chí chờ bọn giặc đến gần, rồi rút chốt quả lựu đạn cuối cùng diệt thêm 2 tên giặc nữa và Lưu Văn Liệt đã anh dũng hy sinh.


Khi còn sống, Lưu Văn Liệt luôn luôn gương mẫu, xung phong đi đầu trong mọi công tác, vui vẻ nhận phần khó về mình, sẵn sàng nhường thuận lợi cho bạn. Đồng chí Lưu Văn Liệt đã sống xứng đáng với lòng tin yêu, mến phục của đồng đội và đã hy sinh oanh liệt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.    Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Lưu Văn Liệt được Ủy ban trung ương Mật trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Tám, 2021, 10:56:07 am
Anh hùng Hoàng Đình Nghĩa
(Liệt sĩ)


Hoàng Đình Nghĩa, sinh năm 1942, dân tộc Kinh, ở xã Phước Hiệp, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh, nhập ngũ tháng 9 năm 1961. Khi hy sinh đồng chí là tiểu đội trưởng bộ binh đại đội 3, tiểu đoàn 1, trung đoàn 15, sư đoàn 9, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Gia đình Hoàng Đình Nghĩa vốn quê hương ở Nam Hà (miền Bắc), do quá nghèo khổ, phải bỏ làng đi làm ăn khi thực dân Pháp mộ phu. Cha làm phu ở đồn điền cao su cho tới khi ốm chết, một người anh của Hoàng Đình Nghĩa bị giặc giết năm 1964, bản thân đồng chí sinh ra và lớn lên ở miền Nam, sống rất cơ cực từ nhỏ, phải đi ở đợ, làm thuê hết nhà này sang nhà khác cho mãi tới ngày vào bộ đội.


Đồng chí có lòng cảm thù rất sâu sắc bọn thực dân đế quốc và rất tha thiết với sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Lúc nào đồng chí cũng hết lòng hết sức hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, nêu tấm gương sáng cho toàn đơn vị học tập.


Từ ngày nhập ngũ cho đến lúc hy sinh, Hoàng Đình Nghĩa đã dự 29 trận đánh, luôn luôn thể hiện tinh thần hăng hái, dũng cảm và tác phong chiến đấu mưu trí, linh hoạt, quyết tâm tiêu diệt địch, góp phần xứng đáng vào những chiến công vẻ vang của đơn vị.


Ngày 29 tháng 12 năm 1964, làm nhiệm vụ dẫn đường đưa đơn vị vào tiêu diệt tiểu đoàn biệt động ngụy vừa đổ xuống phía nam "ấp chiến lược" Bình Giã, mặc cho máy bay địch rà sát, bắn phá dữ dội, địa hình vận động lại trống trải, Hoàng Đình Nghĩa vẫn khẩn trương, khéo léo dẫn bộ phận kìm giữ địch đến vị trí triển khai chiến đấu, rồi kịp thời quay lại đón cả đại đội. Cuộc chiến đấu nổ ra ác liệt. Đồng chí như con thoi lao đi giữa làn đạn địch, nhanh chóng truyền đạt mệnh lệnh của chỉ huy đến các trung đội, lại còn hướng dẫn một khẩu đội súng cối đến chiếm lĩnh vị trí có lợi, bắn tiêu diệt một cụm giặc ngoan cố. Đồng chí đã góp công lớn cùng đơn vị tiêu diệt tiểu đoàn biệt động ngụy này.


Ngày 31 tháng 12 năm 1964, bọn thủy quân lục chiến ngụy chia thành hai mũi từ "ấp chiến lược" Bình Giã tiến đến sở cao su ở Xuân Sơn. Hoàng Đình Nghĩa đã cùng đơn vị chặn đánh địch, nhiều lần đánh bật chúng trở lại. Địch ỷ thế đông, tập trung hỏa lực bắn dữ dội vào trận địa ta rồi tổ chức phản kích cả chính diện và bên sườn; máy bay địch quần đảo bẳn phá vào giữa đội hình, gây cho ta rất nhiều khó khăn. Hoàng Đình Nghĩa không sợ đơn độc, một mình cũng tiến công, dũng cảm nhằm chỗ địch núng thế, thọc sâu vào giữa đội hình địch, dùng tiểu liên, lựu đạn diệt bọn ở gần, rồi xông tới diệt gọn một ổ hỏa lực nguy hiểm đang cản trở quân ta tiến lên. Hoàng Đình Nghĩa dùng ngay khẩu trung liên vừa thu được bắn mãnh liệt, tạo thời cơ cho đại đội xung phong, cùng các đơn vị bạn đánh thẳng vào sở chỉ huy của giặc, tiêu diệt gọn 1 tiểu đoàn thủy quân lục chiến ngụy. Trong trận này, đồng chí diệt 35 tên địch, thu 16 súng (có 1 trung liên), nên được cử đi kể chuyện chiến đấu cho toàn trung đoàn học tập.


Đánh địch đổ quân xuống sân bay Thuận Lợi ngày 10 tháng 6 năm 1965, Hoàng Đình Nghĩa là tiểu đội trưởng đã linh hoạt chỉ huy tiểu đội đánh mũi vu hồi vào sườn quân địch. Với lối đánh nhanh, mạnh, chia cắt địch, diệt hết cụm giặc này đến cụm giặc khác, đồng chí đã tạo điều kiện thuận lợi cho cả đơn vị chỉ trong vài chục phút bao vây, tiến công, tiêu diệt gọn 1 tiểu đoàn quân ngụy.


Ngày 12 tháng 6 năm 1965, 1 tiểu đoàn lính dù có máy bay yểm trợ định đánh chiếm lại sân bay. Đồng chí nhanh chóng dẫn tiểu đội vận động vượt qua lưới lửa của địch, chiếm vị trí có lợi, đánh giáp lá cà với địch vô cùng dũng mãnh. Mũi tiến công của giặc bị bẻ gãy; riêng đồng chí đã diệt 30 tên địch. Trong khi truy kích, Hoàng Đình Nghĩa bị trúng đạn và anh dũng hy sinh; nhưng toàn đơn vị đã nắm thời cơ có lợi xung phong, tiêu diệt hoàn toàn tiểu đoàn dù của địch.


Hoàng Đình Nghĩa rất nhiệt tình và tận tụy, trong chiến đấu cũng như trong công tác và học tập, luôn luôn xung phong nhận việc khó về mình, có ý thức trách nhiệm chung đối với toàn đơn vị. Đồng chí chân thành, hết lòng thương yêu và chăm sóc đồng đội, được anh em rất quý mến, tin yêu.    Đồng chí đã được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhì, 6 bằng khen, 13 giấy khen, 2 năm liền 1964 - 1965 là Chiến sĩ thi đua trung đoàn, 2 lần đạt danh hiệu "Chiến sĩ Ấp Bắc".


Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Hoàng Đình Nghĩa được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2
Gửi bởi: quansuvn trong 01 Tháng Chín, 2021, 02:46:45 pm
Anh hùng Nguyễn Văn Quang
(Liệt sĩ)


Nguyễn Văn Quang, sinh năm 1942, dân tộc Kinh, quê ở xã Phương Bình, huyện Long Mỹ, tỉnh Cần Thơ, nhập ngũ tháng 7 năm 1964. Khi hy sinh đồng chí là tiểu đội phó thuộc đại đội 2, tiểu đoàn 303, bộ đội chủ lực Tây Nam Bộ.


Với lòng căm thù quân cướp Mỹ và bè lũ tay sai, lòng tha thiết yêu quý độc lập, tự do của Tổ quốc, tháng 7 năm 1964, Nguyễn Văn Quang tạm biệt gia đình ra vùng giải phóng, vào bộ đội.


Đồng chí là một chiến sĩ luôn luôn tỏ rõ tinh thần dũng cảm, gan dạ, tích cực tiến công địch trong nhiều trận chiến đấu, mặc dù có trận lực lượng địch nhiều hơn ta gấp bội.


Sáng ngày 8 tháng 2 năm 1966, địch cho 3 tiểu đoàn chia làm 3 mũi càn vào khu vực kênh xáng Cò Tuất - nơi trú quân của đơn vị đồng chí - tiểu đội Nguyễn Văn Quang phụ trách chặn địch ở một hướng của đại đội. Sau khi bị đánh bật ra nhiều lần, bọn địch tập trung 1 mũi đánh vào hướng tiểu đội của Quang để mở lối rút về Tân Hiệp. Với quyết tâm chặn địch lại để tiêu diệt, đồng chí đã động viên anh em kiên trì chờ cho địch vào thật gần mới nổ súng. Địch vào cách 300 mét, 200 mét... 30 mét... rồi 10 mét, Quang mới xiết cò khẩu trung liên và cùng đồng đội diệt nhiều tên, đánh bật bọn địch ra xa, nhưng tiểu đội trưởng hy sinh và Quang cũng bị thương. Bọn địch củng cố lại và tổ chức xung phong tiếp đợt 2. Đồng chí vẫn chờ cho địch vào gần mới chỉ huy anh em nổ súng mãnh liệt đánh bật chúng ra. Bọn địch cụm lại bắn mạnh vào khu vực tiểu đội đồng chí, đồng thời dùng máy bay lên thẳng đổ quân xuống phía sau tiểu đội. Lúc này, trong tiểu đội đã có thêm một số đồng chí nữa bị thương vong. Nguyễn Văn Quang bị thương gãy tay trái, nhưng vẫn bắn trung liên mãnh liệt và trườn lên ném lựu đạn, diệt nhiều tên và đánh bật bọn địch trở ra. Ba vết thương đau nhức làm Nguyễn Văn Quang ngất đi, nhưng khi tỉnh dậy đồng chí lại ôm trung liên bắn dập đầu quân địch xuống. Cánh tay trái giập nát làm vướng quá, đồng chí nhờ đồng đội chặt hộ rồi lại tiếp tục chiến đấu. Tiểu đội chỉ còn 2 người phải chống trả với gần 2 tiểu đoàn địch. Nguyễn Văn Quang quyết định cho đồng chí kia về báo cáo đơn vị và xin bổ sung lực lượng. Bọn địch phát hiện lực lượng ta ít nên ồ ạt xung phong. Còn một mình lại bị thương nặng, Nguyễn Văn Quang vẫn kiên cường chiến đấu, bắn hết 1 băng trung liên, quật ngã nhiều tên giặc. Bọn địch xô đến, đồng chí ném quả lựu đạn thứ nhất, rồi ném quả lựu đạn thứ hai; bọn địch bị chết thêm một số, buộc chúng phải chững lại. Nguyễn Văn Quang bị thương lần thứ tư và đã anh dũng hy sinh, nhưng trận địa vẫn giữ vững, và đơn vị đã kịp thời vận động tới đánh bật bọn địch ra xa.


Khi còn sống, Nguyễn Văn Quang luôn luôn gương mẫu, xung phong đi đầu trong mọi mặt, công tác, học tập và rèn luyện. Đồng chí luôn luôn chú trọng xây dựng tiểu đội lớn mạnh toàn diện, hết lòng thương yêu, giúp đỡ nhân dân và đồng đội, được mọi người tin yêu, mến phục.


Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng ba, nhiều bằng khen và giấy khen.


Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Nguyễn Văn Quang được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2
Gửi bởi: quansuvn trong 01 Tháng Chín, 2021, 02:49:08 pm
Anh hùng Huỳnh Văn Tạo
(Liệt sĩ)


Huỳnh Văn Tạo sinh năm 1946, dân tộc Kinh, quê ở xã Đức Hòa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, nhập ngũ năm 1965, khi được tuyên dương Anh hùng là tiểu đội phó thuộc đại đội 2, tiểu đoàn 2 bộ đội địa phương tỉnh Long An.


Sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo, có truyền thống cách mạng, khi 10 tuổi Huỳnh Văn Tạo đã phải đi ở đợ, chăn trâu, nên đồng chí sớm giác ngộ cách mạng và hăng hái tòng quân cầm súng giết giặc, giải phóng quê hương, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc.


Đồng chí là một chiến sĩ xung kích dũng cảm, gan dạ, luôn luôn sẵn sàng xả thân vì cách mạng. Mới hơn 1 tuổi quân, Huỳnh Văn Tạo đã đánh trên 20 trận, trận nào cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, nêu cao tinh thần kiên quyết, tích cực tiến công tiêu diệt địch, bị thương nặng không rời trận địa, một mình, một mũi cũng tiến công tiêu diệt địch.


Trận đánh đồn Phú Lộc, đơn vị gặp khó khăn vì một bãi mìn và lựu đạn của địch trước cửa mở. Không ngại hy sinh, Huỳnh Văn Tạo đã xung phong lên trước, khéo léo bò qua bãi mìn, mưu trí dùng 1 bó chà rào kéo cho mìn, lựu đạn nổ, mở đường cho xung kích xung phong tiêu diệt gọn đồn địch.


Trận đánh đồn Vĩnh Công, khi đơn vị rút ra, bọn địch phản kích ác liệt, một mình đồng chí đã dũng cảm nằm lại chặn địch, chiến đấu ngoan cường suốt mấy giờ liền đẩy lùi nhiều đợt xung phong của địch, bảo đảm cho đơn vị đưa hết thương binh, tử sĩ ra ngoài an toàn. Khi rút lui, bị địch đuổi theo, đồng chí vừa bình tĩnh chiến đấu, vừa mưu trí chuyển được 1 thương binh, 1 tử sĩ và 4 khẩu súng về nơi quy định.


Trận Nhật Ninh, trong lúc địch đang bắn phá ác liệt, Huỳnh Văn Tạo đã vượt qua bom đạn vào nhà cõng một bác nông dân ra ngoài rồi nhường hầm của mình cho bác. Hành động quên mình cứu dân của đồng chí được nhân dân địa phương hết sức ca ngợi.


Trong một trận đánh khác, tuy đã bị thương, Huỳnh Văn Tạo vẫn nằm lại tiếp tục chỉ huy phân đội. Bị ngất đi, nhưng khi tỉnh dậy, đồng chí lại tiếp tục chiến đấu.


Trong trận diệt đồn Tân Quý ngày 8 tháng 10 năm 1966, đồng chí đã dũng mãnh xung phong đánh chiếm lô cốt đầu cầu rồi đánh thọc sâu vào giữa đội hình địch. Khi bị thương rất nặng, Huỳnh Văn Tạo vẫn nêu cao khí phách chiến đấu kiên cường chơ đến lúc hy sinh.


Khi còn sống, Huỳnh Văn Tạo luôn luôn gương mẫu đi đầu trong mọi mặt công tác, sẵn sàng nhận khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho bạn, hết lòng thương yêu đồng đội, tận tình giúp đỡ nhân dân, được đồng đội tin yêu, nhân dân quý mến.


Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Huỳnh Văn Tạo được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2
Gửi bởi: quansuvn trong 08 Tháng Chín, 2021, 02:04:30 pm
Anh hùng Huỳnh Việt Thanh
(Liệt sĩ)


Huỳnh Việt Thanh (tức Thanh Vân), sinh năm 1926, dân tộc Kinh, quê ở xã Long Khánh, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, trú quán xã Hậu Thạnh, huyện Tân Thanh, tỉnh Long An, vào du kích tháng 7 năm 1957. Khi hy sinh đồng chí là xã đội trưởng xã Hậu Thạnh, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Huỳnh Việt Thanh tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1956, làm liên lạc, tuyên truyền, hướng dẫn đồng bào đấu tranh; sau đó vào du kích, đến tháng 12 năm 1958, bị địch nghi ngờ bắt giam 16 tháng. Chúng dùng đủ mọi thu đoạn tra tấn dã man, nhưng đồng chí vần giữ trọn khí tiết người chiến sĩ cách mạng. Năm 1960, Huỳnh Việt Thanh đã cùng với anh em trong tù phá nhà giam, trở về địa phương, tổ chức, phát triển đội du kích đánh giặc giữ làng.


Huỳnh Việt Thanh là một cán bộ chỉ huy du kích tài trí, hơn 10 năm tham gia hoạt động cách mạng và chiến đấu, luôn luôn nêu cao tinh thần kiên cường, bất khuất, có mặt ở những nơi khó khăn nguy hiểm nhất, sẵn sàng xả thân, cứu đồng đội. Địa phương bị địch đánh phá quyết liệt, bị chúng gom   dân, lập ấp chiến lược, đồng chí đã cùng đội du kích quyết tử bám đất, bám dân, trụ lại đánh địch, diệt trừ ác ôn, phá thế kìm kẹp, góp phần đưa phong trào chiến tranh du kích ở xã tiến lên mạnh mẽ.


Hai năm 1965 - 1966, đồng chí đã chỉ huy đội du kích chiến đấu trên 100 trận, diệt 400 tên địch, thu nhiều súng các loại. Đồng chí Huỳnh Việt Thanh có nhiều sáng kiến trong việc chế tạo, sử dụng vũ khí thô sơ đánh địch.


Trận chống càn ở bờ nam kênh Dương Văn Dương, đồng chí tổ chức gài mìn, đặt chông và chỉ huy du kích phục sẵn một đại đội địch đi càn. Chờ cho địch vào thật gần, đồng chí mới ra lệnh cho du kích nổ súng mãnh liệt. Bọn giặc bị đánh bất ngờ nhảy xuống mương chống cự thì đụng phải chông, nhưng cụm lại trên bờ đất cao thì bị mìn, lựu đạn gài nổ, chúng hoang mang tìm đường tháo chạy, bỏ lại 40 xác chết.


Để diệt tên ác ôn chỉ huy đại đội biệt kích về đóng ở xã, đồng chí tổ chức cho du kích đào hầm bí mật, bố trí sẵn lựu đạn, đạp lôi và kiên trì nằm phục suốt 7 ngày liền. Tên này cùng với 1 trung đội địch đi trên chiếc xuồng máy. Chờ cho chúng đi qua rồi khi trở lại, đồng chí chỉ huy du kích 2 bên bờ bắn mạnh. Hai chiếc xuồng bị chìm, tên ác ôn bị thương nặng, một số lính bị diệt.


Ngày 21 tháng 9 năm 1966, 3 đại đội địch bất ngờ càn vào khu vực có cán bộ và du kích đang họp. Khi địch vào gần ta mới phát hiện được, Huỳnh Việt Thanh đã dũng cảm, một mình chống một chiếc xuồng ra chiến đấu chặn dịch và thu hút hỏa lực về phía mình để đội du kích đưa cán bộ thoát vòng vây an toàn. Bọn địch tập trung bắn mạnh về hướng đồng chí, xuồng chìm, đồng chí bị thương nặng và đã hy sinh oanh liệt.


Khi còn sống, Huỳnh Việt Thanh luôn luôn hết lòng thương yêu, giúp đỡ đồng đội, bảo vệ nhân dân, được mọi người rất yêu mến, tín nhiệm.


Đồng chí đã nhiều lần được tặng bằng khen và giấy khen, 3 năm liền (1964 - 1966) là Chiến sĩ thi đua.


Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Huỳnh Việt Thanh được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2
Gửi bởi: quansuvn trong 08 Tháng Chín, 2021, 02:05:32 pm
Anh hùng Huỳnh Thúc Bá


Huỳnh Thúc Bá (tức Huỳnh Ba), sinh năm 1944, dân tộc Kinh, quê ở xã Duy Tân, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, nhập ngũ tháng 10 năm 1962. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là y tá đại đội 1, tiểu đofn 72 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Nam, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Lớn lên trong một gia đình có nhiều người tham gia cách mạng bị địch giết, bắt tù đầy, tra tấn, Huỳnh Thúc Bá sớm có lòng yêu quý độc lập, tự do của Tổ quốc, lòng căm thù giặc Mỹ sâu sắc. Sau khi hoạt động ở địa phương bị lộ, đồng chí đi bộ đội, làm công tác cứu thương và từ tháng 10 năm 1965 làm y tá đại đội.


Từ năm 1962 đến năm 1966, đồng chí đã trực tiếp chiến đấu và phục vụ chiến đấu 65 trận, là một y tá rất tận tụy, hết lòng cứu chữa thương binh, quên mình vì đồng đội, vì nhân dân. Ngoài ra Huỳnh Thúc Bá còn là một chiến sĩ dũng cảm, tự tay diệt 55 tên địch, bắt sống 5 tên, thu nhiều vũ khí. Trong nhiều trận đánh gay go, ác liệt, đồng chí đều xông xáo, lên xuống nhiều lần dưới hỏa lực địch, luôn luôn có mặt ở nơi gay go ác liệt để kịp thời động viên và cấp cứu thương binh. Huỳnh Thúc Bá đã cấp cứu tại chỗ 80 anh em và cùng đơn vị đưa về nơi an toàn 120 thương binh, nhiều lần dũng cảm chiến đấu bảo vệ thương binh, tử sĩ, giữa bom đạn đã lấy thân mình che chở cho thương binh.


Trong trận cầu Tam Kỳ (tháng 1 năm 1966), giặc chỉ cách ta 35 mét, chúng bắn ra dữ dội, Huỳnh Thúc Bá vẫn bình tĩnh lấy thân mình che đỡ và băng bó cho thương binh, đem ra an toàn rồi tiếp tục cùng đơn vị chiến đấu.


Trận tiến công đồn Chổi Sũng (tháng 2 năm 1966), mặc cho đạn địch đang bắn tới tấp, đồng chí vẫn bám sát đơn vị, chạy lên chạy xuống kịp thời cứu chữa, băng bó 28 thương binh và đưa ra an toàn, mặc dù bản thân cũng bị thương hai lần.


Trận Núi Giàng (tháng 3 năm 1966), khi cán bộ chỉ huy bị thương vong, máy bay và pháo địch bắn phá dữ dội chuẩn bị cho bộ binh địch phản xung phong Huỳnh Thúc Bá tự động tổ chức và chỉ huy 12 đồng chí còn lại vừa chiến đấu ngăn chặn địch, vừa yểm hộ cho nhau đưa thương binh, tử sĩ lui về phía sau. Khi ra khỏi trận địa, kiểm tra biết còn sót 2 tử sĩ, Huỳnh Thúc Bá lại cùng đồng chí cứu thương quay trở lại tìm bằng được để đưa về chôn cất chu đáo.


Sau trận Kỳ Sanh, có 7 thương binh không kịp đưa đi, phải đem giấu trong rừng, phi pháo địch đánh liên tục, đồng chí ở lại tìm cách nuôi dưỡng anh em trong 5 ngày rồi tìm đường dìu cả 7 thương binh về bệnh xá an toàn.


Huỳnh Thúc Bá còn khéo phát động và tổ chức anh em đẩy mạnh phong trào phòng bệnh, chú ý huấn luyện cho các cứu thương thuần thục động tác chuyên môn và có kế hoạch chu đáo trước mỗi trận đánh để làm tốt công tác cứu chữa thương binh. Đồng chí thường ở lại trận địa đến phút cuối cùng để kiểm tra, không trận nào bỏ sót thương binh, tử sĩ.


Trong hoàn cảnh thiếu thốn thuốc men, Huỳnh Thúc Bá chịu khó học hỏi nhân dân, áp dụng các phương pháp chữa bệnh cổ truyền như nấu cám làm thuốc chữa ghẻ, dùng lá vông chế thuốc an thần, tìm nhiều lá, rễ cây khác thay thế thuốc đỏ và làm thuốc chữa ho, kiết lỵ...


Đồng chí còn có kế hoạch cụ thể giúp đỡ nhân dân các vùng đóng quân về công tác vệ sinh, phòng bệnh, băng bó cho hàng chục người bị thương vì bom, đạn địch. Trận lụt lớn năm 1964 ở Bình Giang, đồng chí một mình bơi thuyền ra giữa dòng nước lũ vớt được 29 đồng bào, cấp cứu 41 người khác khỏi nạn lụt.


Đồng chí Huỳnh Thúc Bá không sợ gian nguy, tận tình bảo vệ tính mạng của đồng đội trong chiến đấu, chăm lo nghiên cứu, cải tiến, nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn, đáp ứng yêu cầu chiến đấu và xây dựng của đơn vị, là ngọn cờ đầu thi đua của ngành quân y Quân khu 5.


Huỳnh Thúc Bá đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhì, là Chiến sĩ thi đua liền 2 năm 1965-1966 và là Dũng sĩ Quyết thắng cấp ưu tú.


Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Huỳnh Thúc Bá được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2
Gửi bởi: quansuvn trong 08 Tháng Chín, 2021, 02:06:22 pm
Anh hùng Nguyễn Văn Bé


Nguyễn Văn Bé, sinh năm dân tộc Kinh, quê ở xã Phú Cường, huyện Châu Thành, tỉnh Sông Bé, nhập ngũ tháng 7 năm 1961. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại đội phó đại đội 304, tiểu đoàn bộ đội địa phương Phú Lợi, Thủ Dầu Một, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Trong chiến đấu Nguyễn Vãn Bé luôn luôn nêu cao tinh thần kiên quyết, dũng cảm, tích cực chủ động tiến công, bình tĩnh, mưu trí trong mọi tình huống gay go, ác liệt, nhiều lần bị thương, vẫn không rời vị trí, ngoan cường chỉ huy đơn vị giữ vững trận địa, hiệp đồng chặt chẽ với đơn vị bạn, lập công xuất sắc. Từ năm 1961 đến đầu năm 1967, đồng chí đã tham gia chiến đấu 60 trận, giết chết 85 tên địch (có 30 tên Mỹ), bắt sống 8 tên, thu 30 súng (có 1 đại liên, 2 trung liên).


Trong trận Bến Súc, tổ Nguyễn Văn Bé có 4 người thì 3 đã bị thương vong, chỉ còn một mình đồng chí. Bị địch ném lựu đạn hất ngã từ trên lô cốt xuống đất, ngất đi, nhưng tỉnh lại, đồng chí vẫn giữ vững quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ, leo lên dùng thủ pháo diệt bằng được hỏa điểm địch.


Trong trận phục kích Quý Hiệp trên đường số 13, ngày 22 tháng 5 năm 1965, sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ, thấy đơn vị bạn gặp khó khăn, Nguyễn Văn Bé chủ động chỉ huy phân đội đánh sang chi viện cho bạn. Trong lúc xung phong, bị hỏa lực địch ở chính diện ngăn chặn quyết liệt, đồng chí bình tĩnh tổ chức một bộ phận nhỏ bắn kiềm chế, rồi tự mình chỉ huy đại bộ phận đánh thọc sườn và sau lưng địch, hiệp đồng chặt chẽ với đơn vị bạn, tiêu diệt gọn quân địch. Bị thương vào cánh tay, máu chảy nhiều Nguyễn Văn Bé vẫn tiếp tục chỉ huy chiến đấu cho đến khi trận đánh hoàn toàn thắng lợi.


Tại truông Bồng Bông (cách bắc thị xã Thủ Dầu Một 5 ki-lô-mét), ngày 24 tháng 3 năm 1966, 1 tiểu đoàn Mỹ có xe tăng yểm hộ ồ ạt tiến vào trận địa của ta. Nguyễn Văn Bé bình tĩnh động viên anh em chờ địch tới thật gần mới bất ngờ nổ súng, tiêu diệt nhiều địch ngay từ loạt đạn đầu. Địch cho xe tăng đi trước, xông thẳng vào trận địa ta, đồng chí linh hoạt chỉ huy anh em bắn mạnh, chia cắt bộ binh với xe tăng địch, đồng thời tập trung hỏa lực diệt chiếc xe tăng đi đầu ngay trước chiến hào 10 mét. Chúng chuyển sang hướng khác, Nguyễn Văn Bé lập tức dẫn chiến sĩ B.40 vượt qua làn đạn địch, đến chi viện cho trung đội bạn, bắn cháy thêm một chiếc xe tăng nữa. Sau 5 tiếng đồng hồ bị quân ta đánh trả quyết liệt, giặc Mỹ bị đòn đau buộc phải rút lui. Nguyễn Văn Bé đã góp phần xứng đáng cùng đại đội diệt 185 tên Mỹ, 2 xe tăng, 1 xe bọc thép, thu nhiều vũ khí, giữ vững trận địa.


Tại Bông Trang ngày 25 tháng 6 năm 1966, 3 lữ đoàn Mỹ có xe tăng, pháo binh và máy bay yểm trợ, tiến vào đánh phá khu vực đóng quân của ta. Giữa làn đạn pháo địch dày đặc, Nguyễn Văn Bé đến với từng chiến sĩ để động viên, kiểm tra công tác chuẩn bị. Địch tiến công vào nhiều đợt nhưng đều bị đơn vị đồng chí đánh bật ra. Thấy phía trung đội bạn gặp khó khăn, Nguyễn Văn Bé dẫn một số anh em tới chủ động phối hợp, vừa tiêu diệt bộ binh địch, giữ vững trận địa, vừa chỉ huy tổ hỏa lực diệt được xe tăng địch. Suốt từ 6 giờ sáng đến 8 giờ tối trong lửa đạn mịt mù, không kịp ăn cơm, uống nước, Nguyễn Văn Bé luôn luôn dẫn đầu anh em, có mặt ở những nơi ác liệt nhất, xông xáo, dũng cảm chiến đấu rất linh hoạt, góp phần cùng cả tiểu đoàn trừng trị đích đáng bọn Mỹ, diệt gọn 1 tiểu đoàn địch và tiêu hao 2 tiểu đoàn khác.


Nguyễn Văn Bé là một cán bộ xuất sắc toàn diện, không những huấn luyện hay, chỉ huy chiến đấu giỏi, mà còn làm tốt công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, chăm lo xây dựng đơn vị, hết lòng thương yêu, giúp đỡ đồng đội lúc thường cũng như khi chiến đấu; sống khiêm tốn, giản dị, được đồng đội yêu mến.


Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhì, là Chiến sĩ thi đua 2 năm liền (1965-1966), đạt danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ cấp ưu tú.


Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Nguyễn Văn Bé được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng. 


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2
Gửi bởi: quansuvn trong 16 Tháng Mười, 2021, 08:09:39 am
Anh hùng Nguyễn Ngọc Bình


Nguyễn Ngọc Bình, sinh năm 1930, dân tộc Kinh, quê ở xã Đại Hiệp, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng nhập ngũ tháng 12 năm 1948. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là tiểu đoàn phó tiểu đoàn 409 đặc công thuộc Quân khu 5, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Trong kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Ngọc Bình là trinh sát viên hoạt động trên các chiến trường Quảng Nam, Tây Nguyên, Khánh Hòa, luôn luôn tỏ ra gan dạ, mưu trí, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Tháng 5 năm 1955, tập kết ra Bắc được ít ngày Nguyễn Ngọc Bình nhận lệnh trở về miền Nam. Từ tháng 7 năm 1955 đến tháng 4 năm 1961, đồng chí làm nhiệm vụ ở cơ quan Khu ủy Khu 5, vừa là chiến sĩ bảo vệ, liên lạc, cần vụ, vận chuyển, vừa tổ chức đường dây, xây dựng cơ sở địa phương, được cán bộ tín nhiệm và nhân dân yêu mến.


Từ tháng 4 năm 1961 đến tháng 1 năm 1967, Nguyễn Ngọc Bình chiến đấu trong đơn vị đặc công, chỉ huy đơn vị đánh 18 trận đều hoàn thành tốt nhiệm vụ, có nhiều trận xuất sắc.

Ngày 30 tháng 8 năm 1961, trong trận diệt quận lỵ Đắc Hà, khi ta nổ súng, địch đối phó mạnh, mũi bạn chưa lên được, đồng chí dẫn một tổ tiến lên, tự tay đánh sập 4 lô cốt, lấy súng địch đánh địch, tạo điều kiện cho đơn vị nhanh chóng diệt gọn 2 trung đội bảo an gian ác, thu toàn bộ vũ khí.


Tháng 11 năm 1964, trong trận diệt cứ điểm Núi Diêm (xã Phổ Trung - Đức Phổ - Quảng Ngài), 5 đêm liền tổ trinh sát không vào được vì địch lủng sục và phục kích, Nguyễn Ngọc Bình đã cải trang, lợi dụng lúc trời mưa to, dùng thuyền đi điều tra giữa ban ngày. Nhờ chuẩn bị và tổ chức chu đáo, sau 5 phút nổ súng, đồng chí chỉ huy đơn vị hoàn toàn diệt gọn 1 đại đội lính ngụy, làm chủ trận địa, thu toàn bộ vũ khí.


Để mở màn cho đợt hoạt động mùa Xuân năm 1965 trên chiến trường Bình Định, đêm 7 rạng ngày 8 tháng năm 1965, đơn vị đánh cứ điểm Gia Hựu. Trong tình thế hết sức khó khăn, Nguyễn Ngọc Bình đã dẫn đầu một đội dự bị vượt lưới lửa của địch, đánh chiếm đầu cầu. Một mình, đồng chí dùng lựu đạn, thủ pháo đánh thốc lên khu chỉ huy của địch, chiếm điểm cao yểm trợ cho từng tổ lần lượt phát triển vào phía trong trận địa. Ba lần địch điên cuồng phản kích hòng chiếm lại điểm cao, cả ba lần đồng chí đều đánh bật địch ra. Đạn hết, bản thân lại bị thương, Nguyễn Ngọc Bình vẫn tiếp tục chỉ huy đơn vị lấy vũ khí của địch đánh địch. Sau 4 giờ liền chiến đấu, đồng chí cùng 7 anh em diệt 70 tên địch, bắt sống 29 tên, phá hủy 1 khẩu pháo 105 mi-li-mét và 1 xe GMC, thu 1 súng cối 60 mi-li-mét, 3 khẩu đại liên và nhiều vũ khí khác. Riêng đồng chí đã diệt được 5 lô cốt, giết 20 tên địch.


Do nghiên cứu kỹ quy luật hoạt động của địch và có kế hoạch tác chiến chu đáo, đêm 22 tháng 3 năm 1966, Nguyễn Ngọc Bình đã chỉ huy đơn vị tập kích sân bay Chu Lai, phá hủy trên 50 máy bay phản lực, bắn cháy xe M.118, thiêu hủy một kho nhiên liệu, diệt trên 200 tên Mỹ, gồm phần lớn là bọn lái máy bay và nhân viên kỹ thuật.


Ngoài ra, trong các trận đánh ở Trà Mi (tháng 2 năm 1962), Trà Bồng (tháng 3 năm 1962), Mỹ Trang (tháng 10 năm 1964), An Lão (tháng 2 năm 1965), Kỳ Sanh (tháng 2 năm 1966), Hà Thanh (tháng 9 năm 1966)..., đồng chí đều chỉ huy đơn vị hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.


Nguyễn Ngọc Bình là một cán bộ chỉ huy giỏi, có quyết tâm cao, bình tĩnh xử trí những tình huống phức tạp, xây dựng đơn vị giỏi, đoàn kết và tận tình giúp đỡ đồng đội, vừa là một chiến sĩ giỏi, dũng cảm, mưu trí, được đồng đội tín nhiệm, yêu mến.


Nguyễn Ngọc Bình đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhất, 2 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng ba, được Đại hội liên hoan Chiến sĩ thi đua và dũng sĩ lần thứ 2 của Quân khu 5 (tháng 12 nàm 1966) công nhận là ngọn cờ đầu “Cán bộ 3 giỏi” (chỉ huy giỏi, chiến đấu giỏi, xây dựng đơn vị giỏi).


Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Nguyễn Ngọc Bình được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2
Gửi bởi: quansuvn trong 16 Tháng Mười, 2021, 08:15:16 am
Anh hùng Lê Văn Bảng


Lê Văn Bảng, (tức Lê Văn Bẻo), sinh năm 1930, dân tộc Kinh, quê ở xã Mỹ Hội, huyện Mỹ Khê, tỉnh Quảng Ngãi, trú quán ở xã Phan Rí, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận nhập ngũ tháng 6 năm 1948. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại đội trưởng thuộc bộ đội địa phương tỉnh Bình Thuận, Quân khu 6, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Sống trong một gia đình rất nghèo khổ, mẹ chết sớm, cha phải phiêu bạt vào tỉnh Bình Thuận làm ăn. Từ nhỏ Lê Văn Bảng đã phải chịu đựng một cuộc sống rất cực nhọc, lam lũ. Cho nên từ khi giác ngộ cách mạng, hiểu rõ nổi khổ cực của người dân nô lệ, đồng chí luôn luôn tuyệt đối trung thành với cách mạng hăng hái hoạt động, vững vàng trên mọi vị trí chiến đấu, khắc phục mọi gian khổ, khó khăn, kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ. 


Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Lê Văn Bảng đã tham gia chiến đấu gần 100 trận lớn, nhỏ. Sau ngày Hiệp nghị Giơ-ne-vơ năm 1954 được ký kết, đồng chí làm nhiệm vụ giao liên, hoạt động vô cùng gian nan, nguy hiểm trong vùng địch kiểm soát ở tỉnh Bình Thuận. Được ra miền Bắc chữa khỏi bệnh, Lê Văn Bảng tham gia lao động sản xuất ở nông trường Sao Vàng, tỉnh Thanh Hóa.


Trở về miền Nam chiến đấu, từ năm 1961 đến đầu năm 1967, Lê Văn Bảng đã đánh trên 30 trận, tự tay diệt 40 tên địch, bắt sống 16 tên, thu 40 khẩu súng các loại (có hai trung liên), góp phần cùng đơn vị lập công xuất sắc.


Năm 1961, đánh vào Lương Sơn, một “ấp chiến lược” kiểu mẫu của địch ở tỉnh Bình Thuận, đồng chí dẫn các tổ viên bí mật vượt qua nhiều lớp rào dây thép gai và hào giao thông, lọt vào vị trí giặc, nhanh chóng diệt tên gác, đánh sập 1 lô cốt và 1 căn nhà do 1 trung đội địch đóng giữ, tạo điều kiện thuận lợi cho toàn đơn vị xung phong, hoàn thành nhiệm vụ sau 5 phút chiến đấu.


Tháng 2 năm 1962, trong trận đánh Đồng Kho, giữa lúc tình hình đang diễn biến hết sức gay go quyết liệt, Lê Văn Bảng tuy bị thương ở tay vẫn dẫn dầu một tổ vượt qua hào sâu 2 mét cắm đầy chông, lao nhanh vào trong, liên tiếp dùng lựu đạn, tiểu liên diệt địch, rồi từ bên trong đánh ra, diệt lô cốt, chuyển khó khăn thành thuận lợi, góp sức cùng đơn vị tiêu diệt hoàn toàn 1 trung đội địch, thu hàng chục khẩu súng các loại.


Trong các trận Tam Tân (tháng 8 năm 1962), Ma Lâm (tháng 1 năm 1964), Lê Văn Bảng đều dũng cảm, mưu trí, thọc sâu đánh mạnh, diệt ngay sở chỉ huy và các hỏa điểm lợi hại của địch, có lần bị thương nặng ở cổ và vai, đồng chí vẫn tiếp tục chiến đấu cho đến khi trận đánh kết thúc thắng lợi. Sau khi chiến đấu xong, bao giờ đồng chí cũng tổ chức và cùng anh em khiêng cáng mang đi hết anh em bị thương, hy sinh và thu dọn chiến lợi phẩm chu đáo.


Lê Văn Bảng được đơn vị tín nhiệm, nhiều lần cử đi nghiên cứu, chuẩn bị chiến trường ở Phú Long, Sông Lũy, Thuận Nghĩa, Xa Ra..., lần nào cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ.


Đầu năm 1967, cùng ở trong ban chỉ huy trận đánh chi đoàn xe bọc thép M.113 của địch trên đường số 8, Lê Văn Bang đã khéo léo bố trí trận địa và chỉ huy đơn vị chiến đấu, khóa đuôi địch rất chặt, khiến chúng không sao cơ động đối phó nổi. Đơn vị đã nắm thời cơ nhất tề xung phong, tiêu diệt gọn cả chi đoàn xe M.113 gồm 14 chiếc.


Lê Văn Bảng là một cán bộ chỉ huy gương mẫu, hết lòng thương yêu đồng đội. Trong các trận đánh, đồng chí có tác phong thường đi trước, về sau, luôn luôn nắm chắc tình hình, xử trí linh hoạt, gặp trường hợp khó khăn, nguy hiểm đến đâu, cũng quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ, bao giờ cũng làm tốt công tác thương binh, liệt sĩ.


Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến thắng hạng ba, 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng ba, 2 lần là Chiến sĩ thi đua của tỉnh.


Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Lê Văn Bảng được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thương Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2
Gửi bởi: quansuvn trong 16 Tháng Mười, 2021, 08:17:18 am
Anh hùng Đoàn Văn Chia


Đoàn Văn Chia, sinh năm 1918, dân tộc Kinh, quê ở xã Hòa Mỹ, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Cần Thơ, nhập ngũ tháng 6 năm 1946. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại đội phó, bộ đội địa phương tỉnh Cần Thơ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Đoàn Văn Chia luôn luôn nêu cao tinh thần chiến đấu dũng cảm, mưu trí, bền bỉ, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, chịu khó tìm tòi, nghiên cứu, sáng tạo ra nhiều loại vũ khí thô sơ dễ làm, dễ dùng, diệt   được   nhiều địch, góp phần tích cực đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích của nhân dân trong tỉnh.


Đoàn Văn Chia tham gia chiến đấu từ năm 1946 đến năm 1954, sau đó lại được phân công ở lại quê hương hoạt động.


Những năm 1955, 1956, trong hoàn cảnh vũ khí rất thiếu thốn, kẻ thù o ép gắt gao, nhưng do có lòng căm thù sâu sắc giặc Mỹ và bè lũ tay sai, Đoàn Văn Chia tìm mọi cách làm các loại chông, nỏ, mìn, lựu đạn, súng kíp để sẵn sàng đón thời cơ diệt địch.


Từ tháng 2 năm 1963, được giao nhiệm vụ đi các nơi trong tỉnh để phổ biến kinh nghiệm làm vũ khí thô sơ, đồng chí tự tạo 33 loại hầm chông, 10 loại mìn; có nhiều loại được sử dụng rộng rãi, có tác dụng tốt. Đoàn Văn Chia làm lựu đạn bằng vỏ chai, tốn ít thuốc nổ nhưng hiệu quả sát thương cao, ngay trận đầu đã diệt 2 tên, bị thương 1 tên; loại vũ khí đó đồng chí phổ biến cách làm và sử dụng cho toàn huyện, diệt được nhiều địch.


Có lần gỡ được gần 40 quả bom bi chưa nổ, Đoàn Văn Chia tìm tòi, nghiên cứu cách tháo rồi cải tiến thành 4 loại mìn gài, kết quả giết 136 tên giặc. Thấy anh em du kích có súng cối nhưng thiếu đạn, đồng chí lại tìm cách cải tiến bom bi của địch thành đạn súng cối, bắn xa trên 500 mét, diệt hàng chục tên địch ở Long Bình, Gò Quao.


Thấy máy bay địch rải bom bướm xuống các ấp giữa mùa cày cấy, Đoàn Văn Chia dũng cảm, mưu trí tự mình đi trước thu gỡ bom, sau đó phổ biến kinh nghiệm khắc phục bom bươm bướm cho anh em du kích, giúp nhân dân ổn định đời sống và tiếp tục việc đồng áng. Đoàn Văn Chia không ngại nguy hiểm, tìm cách tháo rời quả bom để nghiên cứu, thay đổi một số bộ phận, cải tiến thành lựu đạn chống bộ binh và mìn chống tăng.


Đoàn Văn Chia đã thu, gỡ 4 quả bom phá và bom na-pan, 150 qua bom bi, 400 bom bươm bướm, 3 viên đạn cối 60 mi-li-mét, 26 hỏa tiễn để lấy gần 350 ki-lô-garn thuốc nổ làm vũ khí đánh địch; đồng thời hướng dẫn cho 650 cán bộ, chiến sĩ du kích biết cách chế tạo vũ khí thô sơ.


Đặc biệt Đoàn Văn Chia đã dành nhiều công sức, kiên trì theo dõi cách sinh hoạt cùa ong vò vẽ, bắt nuôi và huấn luyện cho ong đánh địch. Bọn giặc bị ong đốt, có đứa chết tại chỗ, nhiều tên khác chạy trốn, vấp phải lựu đạn gài hoặc rơi xuống hố chông. Nhiều nơi được đồng chí hướng dẫn cũng biết cách dùng ong đánh địch. Riêng đồng chí đã bắt nuôi và huấn luyện được hơn 100 tổ ong. Đội “quân ong vò vẽ” của đồng chí gây cho địch nhiều tổn thất, khiến chúng rất hoảng sợ, có lần làm cho cả tiểu đoàn quân ngụy phải bỏ dở cuộc càn. Chúng thấy cờ, khấu hiệu của du kích treo cũng không dám đến gần để gỡ xuống.
   Đoàn Văn Chia còn chấp hành tốt chính sách dân vận, chính sách thương binh liệt sĩ, đoàn kết tốt nội bộ, được nhân dân và đồng đội rất quý mến.
   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Đoàn Văn Chia được Ủy ban trung ương Mật trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thương Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2
Gửi bởi: quansuvn trong 16 Tháng Mười, 2021, 08:17:51 am
Anh hùng Phan Thanh Chung


Phan Thanh Chung, sinh năm 1945, dân tộc Kinh, quê ở xã Hải Thượng, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, nhập ngũ tháng 4 năm 1963. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung đội phó thuộc đội 10, bộ đội đặc công tỉnh Quảng Trị, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Sớm được giác ngộ cách mạng, Phan Thanh Chung hiểu rõ lý tưởng cao đẹp của thanh niên lúc này là phải chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Bởi vậy ngay lúc còn đi học, đồng chí đã tích cực tham gia hoạt động ở cơ sở, giúp cán bộ nắm tình hình địch, rải truyền đơn..., nhiệm vụ nào cũng hoàn thành tốt.


Vào bộ đội, qua rèn luyện thử thách, Phan Thanh Chung trưởng thành nhanh chóng. Trong công tác điều tra, chuẩn bị chiến trường, nhiều lần gặp khó khăn về địch, địa hình và thời tiết, đồng chí vẫn kiên trì vào tận nơi nắm tình hình địch tỉ mỉ, cụ thể, chính xác.


Là một cán bộ gan dạ, mưu trí, dũng cảm, có tác phong chiến đấu tốt, Phan Thanh Chung thường được giao nhiệm vụ chỉ huy mũi chủ yếu đánh vào cơ quan đầu não của địch. Với lối đánh thọc sâu, xông xáo, táo bạo, đồng chí đã cùng phân đội tiêu diệt được nhiều sở chỉ huy địch, tạo điều kiện cho toàn đơn vị giành thắng lợi rất giòn giã.


Đặc biệt, trong trận đánh ở Tân Lệ lần thứ 2 ngày 16 tháng 10 năm 1966, Phan Thanh Chung được giao phụ trách đánh hướng chính. Địch bố phòng ở đây rất cẩn mật, vào đến hàng rào thứ 4, phân đội gặp một cái hào sâu, trên có dây thép gai bùng nhùng, dưới hào có chông và mìn. Giờ nổ súng sắp đến, đồng chí đã táo bạo dùng miếng vải dù làm dây cho đồng đội thả đồng chí xuống trước, cắt hàng rào và gỡ mìn, mở đường cho đơn vị tiến vào tung thâm. Nghe tiếng chuông điện thoại trong vị trí địch réo, biết minh đã bị lộ, Phan Thanh Chung chủ động đánh luôn mấy quả bộc phá vào hầm ngầm rồi phát triển sang các mục tiêu xung quanh. Các mũi khác cũng kịp thời hiệp đồng chíến đấu. Sau 15 phút, đơn vị làm chủ hoàn toàn trận địa, tiêu diệt và bắt sống 115 tên địch, thu nhiều vũ khí.


Phan Thanh Chung luôn luôn gương mẫu trong mọi mặt công tác, chú trọng xây dựng đơn vị lớn mạnh toàn diện, đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, chủ động hiệp đồng với đơn vị bạn, lập công tập thể. Đồng chí rất xứng đáng với sự tin cậy của cấp trên, lòng mến yêu của đồng đội và của nhân dân.


Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng ba, 2 bằng khen.


Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Phan Thanh Chung được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2
Gửi bởi: quansuvn trong 17 Tháng Mười, 2021, 04:48:40 pm
Anh hùng Bông Văn Dĩa


Bông Văn Dĩa, sinh năm 1950, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiền, tỉnh Minh Hải, nhập ngũ năm 1945, khi tuyên dương Anh hùng là Đoàn phó Đoàn 962 vận tải biển - Quân khu 9, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1934, Bông Văn Dĩa là một trong những chiến sĩ chiến đấu dũng cảm trong trận đánh chiếm Hòn Khoai (Bạc Liêu) trong cuộc Khỡi nghĩa Nam Kỳ 1940.


Hơn 30 năm liên tục hoạt động cách mạng chống đế quốc, phong kiến, Bông Văn Dĩa toàn tâm, toàn ý phục vụ lợi ích của Đảng, của dân tộc. Đồng chí được cấp trên giao phó nhiều công tác đặc biệt, nhiều lần nhận nhiệm vụ tổ chức vận tải tiếp tế vật liệu, vũ khí cho các đơn vị chiến đấu ở chiến trường. Tuy gặp rất nhiều khó khăn, phải qua nhiều chặng đường có địch tuần tra, canh gác, kiểm soát, khám xét rất ngặt nghèo, đồng chí luôn luôn có quyết tâm cao, bình tĩnh, dũng cảm, mưu trĩ, khéo ngụy trang, tìm cách đối phó với  địch, đưa được hàng tới đích, phục vụ tốt cho chiến đấu.


Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, nhiều lần, trong khi làm nhiệm vụ vận chuyên vũ khí thì gặp địch bao vây, có lần bị chúng bắt giam tù, tra tấn rất dã man, Bông Văn Dĩa vẫn nêu cao khí tiết cách mạng, bất khuất, dũng cảm đấu tranh với địch, buộc chúng phải trả tự do; khi về, đồng chí lại tiếp tục làm nhiệm vụ.


Trong những năm chống Mỹ, cứu nước, việc vận chuyển trên biển tăng lên nhiều lần, gặp rất nhiều khó khăn, thuyền nhỏ đi ngoài khơi gặp sóng to gió lớn dễ bị đắm, đi gần bờ thường gặp tàu chiến, máy bay phản lực, máy bay lên thẳng của địch tuần tiễu. Nhiều chuyến phải đi hơn nửa tháng liền, thiếu ăn, thiếu ngủ, Bông Văn Dĩa đã bình tĩnh, mưu trí tìm cách vượt tránh, nghi binh lừa địch, bảo đảm vận tải vũ khí cho bộ đội được tốt. Bông Văn Dĩa đã hàng chục lần xung phong nhận nhiệm vụ đi thử những chuyến vận chuyển tìm cập bến mới để rút kinh nghiệm và bố trí cung đường đi cho hợp lý và nhanh hơn. Đường lạ, luồng lạch mới, nhiều lần bị địch kiểm tra, lục soát, đe dọa, đồng chí vẫn bình tĩnh, mưu trí đối phó được với chúng và sau đó chuyển được hàng tới đích an toàn.


Bông Văn Dĩa luôn luôn thể hiện đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, không sợ gian khổ, sẵn sàng hy sinh tính mạng, bảo vệ tài sản của cách mạng, quý trọng, chắt chiu từng viên đạn, hạt gạo để xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. Tuy tuổi già, sức yếu, nhưng đồng chí vẫn say sưa liên tục công tác, nêu gương chiến đấu kiên cường, khiêm tốn, giản dị, được cấp trên rất tin tường, đơn vị yêu mến.


Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Bông Văn Dĩa được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng huân chương Quân công giải phóng hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2
Gửi bởi: quansuvn trong 17 Tháng Mười, 2021, 04:49:13 pm
Anh hùng Hồ Dục


Hồ Dục, sinh năm 1942 dân tộc Pa Cô, quê ở xã Hồng Kim, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên - Huế, nhập ngũ tháng 3 năm 1961. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung đội phó thuộc Binh trạm trung, phòng hậu cần, Mặt trận Tây Nguyên, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Hồ Dục tham gia hoạt động bí mật ở địa phương từ khi còn nhỏ, hăng hái nhận mọi nhiệm vụ cấp trên giao, như đi rải truyền đơn, tuyên truyền vận động thanh niên tòng quân, vào du kích, tham gia chiến đấu chống càn, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành xuất sắc.


Vào bộ đội được 1 tháng Hồ Dục xung phong làm liên lạc, chuyển công văn cho đơn vị. Nhiều đêm đồng chí phải chuyển công văn hỏa tốc từ Thừa Thiên ra Quảng Trị. Một mình đi trên đoạn đường rừng núi thường có hổ hoặc có địch phục kích, đồng chí vẫn dũng cảm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.


Làm công tác vận tải ở Tây Nguyên, tuy công việc nặng nhọc, gian khổ, nhưng nhận rõ ý nghĩa quan trọng của công tác là phục vụ cho mặt trận đánh thắng giặc Mỹ, giải phóng đồng bào, quê hương, Hồ Dục vẫn hăng hái, kiên trì, lao động quên mình, vui vẻ nhận những việc khó, phát huy sáng kiến trong công tác, bảo đảm thường xuyên năng suất cao. Bốn năm liền làm công tác vận tải ở chiến trường rừng núi, nhiều đèo dốc, sông suối, có nhiều khó khăn, thiếu thốn, đồng chí thường xuyên mang nặng gấp hai lần so với mức quy định. Có năm, Hồ Dục công tác trên đường gần 300 ngày liên tục, có lúc do yêu cầu khẩn trương, đồng chí công tác liên tục trong 3 tháng, mỗi ngày đi tăng chuyến, có chuyến đột xuất mang tới hơn trăm ki-lô-gam.


Năm 1962, Hồ Dục được điều lên công tác ở Quảng Trị. Điều kiện nơi công tác mới có nhiều khó khăn, phức tạp, đồng chí đã nêu cao tinh thần trách nhiệm và kiên trì làm công tác lãnh đạo tư tưởng, động viên mọi người nên trong vận chuyển anh em đều thường xuyên mang 45 ki-lô-gam trở lên (riêng đồng chí mang 70-75 ki-lô-gam), so với chỉ tiêu trên đề ra là 30 ki-lô-gam/người.


Năm 1963 Hồ Dục, được chuyển về phụ trách một tổ vận tải ở Thừa Thiên, đồng chí đã cùng anh em trong tổ thường xuyên vận chuyển vượt chỉ tiêu đề ra. Có những đợt mang hàng đặc biệt phải 2 người khiêng hòm, đồng chí đã suy nghĩ cải tiến cách mang nên  mỗi người đã mang được một hòm vừa an toàn, vừa tăng năng suất gấp đôi.


Năm 1966, Hồ Dục được bổ sung về Binh trạm trung, phòng hậu cần B3, phụ trách một tiểu đội vận tải xung kích. Có lần, tổ Hồ Dục nhận nhiệm vụ chuyển 3 kho muối và hàng quan trọng trong thời gian 4 ngày để tránh bọn địch đi càn. Hồ Dục đã quán triệt nhiệm vụ, động viên xây dựng cho anh em trong đơn vị có quyết tâm cao, bản thân gương mẫu nhận việc khó, mang nặng hơn anh em, nên chỉ trong 3 ngày, Hồ Dục đã cùng tiểu đội chuyển hết số hàng trên, vượt thời gian quy định. Sau đó được phân công bám địch, khi thật cấp bách mới nổ súng bảo vệ kho, đồng chí vẫn bình tĩnh giữ được bí mật, nên khi chúng vào cách 15 mét, không phát hiện được vị trí để kho phải quay ra.


Hồ Dục thường xuyên nêu cao tinh thần đoàn kết thương yêu đồng đội, động viên, giúp đỡ khi khó khăn, nhường cơm khi thiếu thốn, tận tình chăm sóc khi ốm đau, nên được anh em tín nhiệm, yêu mến.


Ngày 17 tháng 9 năm 1967, đồng chí Hồ Dục được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thương huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2
Gửi bởi: quansuvn trong 17 Tháng Mười, 2021, 04:50:21 pm
Anh hùng Đặng Văn Đâu


Đặng Văn Đâu sinh năm 1940, dân tộc Kinh, quê ở xã Phước Hòa, huyện Tân Uyên, tỉnh Sông Bé nhập ngũ năm 1962, khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung đội trưởng thuộc sư đoàn 5, bộ đội chủ lực miền Đông Nam Bộ. Sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo, mồ côi cha mẹ từ nhỏ, 11 tuổi Đặng Văn Đâu đã phải chịu cực khổ của cánh đi ở đợ, đồng chí sớm mang nặng lòng căm thù bọn cướp nước và bè lũ tay sai bán nước.


Sáu năm trong quân đội (tính đến ngày tuyên dương) Đặng Văn Đâu đã tham gia trên 40 trận đánh, góp phần tích cực cùng đơn vị tiêu diệt nhiều sinh lực địch, thu nhiều vũ khí, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.


Từ một chiến sĩ trinh sát, liên lạc quả cảm, Đặng Văn Đâu đã tiến bộ nhanh chóng, trở thành một cán bộ chỉ huy xuất sắc, có quyết tâm diệt địch cao, chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh, Đặng Văn Đâu có tác phong chỉ huy xông xáo, linh hoạt, thường chỉ huy mũi tiến công chủ yếu, đánh nhanh, đánh gần, thọc sâu đánh hiểm, đã đánh là kiên quyết dứt điểm.


Trong trận phục kích địch trên đường số 20, khi nổ súng, đồng chí chỉ huy một tổ xung kích nhanh chóng đánh thẳng vào giữa đội hình, chia cắt địch, tạo thuận lợi cho đơn vị diệt gọn 1 đại đội địch cùng nhiều xe cơ giới.


Trong trận đánh đồn Gia Ray, sau khi chỉ huy tiểu đội mũi nhọn đánh chiếm được lô cốt đầu cầu, Đặng Văn Đâu đã mưu trí điều một tổ bí mật tiến sát sau lưng quân địch, dùng thủ pháo dập tắt các hỏa điểm bên trong và nhanh chóng cướp thời cơ, chỉ huy phân đội xông vào đánh chiếm ngay sở chỉ huy của bọn cố vấn Mỹ, góp phần quan trọng cùng đơn vị tiêu diệt khu trung tâm huấn luyện hạ sĩ quan, giết và bắt sống 400 tên, thu hàng trăm súng các loại.


Trong một trận đánh, Đặng Văn Đâu bị thương 2 lần, một mảnh đạn làm thủng ruột, nhưng đồng chí vẫn cố nén đau, tiếp tục diệt nốt hỏa điểm cuối cùng của địch rồi mới để đồng đội băng bó đưa về phía sau.


Là một cán bộ chỉ huy, Đặng Văn Đâu luôn luôn chú trọng xây dựng đơn vị tiến bộ về mọi mặt, tận tình, chăm sóc, giúp đỡ đồng đội, dũng cảm bảo vệ thương binh, được đồng đội tin yêu, mến phục.


Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng ba, được bầu là Chiến sĩ thi đua.


Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Đặng Văn Đâu được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quán công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Tiêu đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2
Gửi bởi: quansuvn trong 17 Tháng Mười, 2021, 04:50:57 pm
Anh hùng Trần Văn Đình


Trần Văn Đình, sinh năm 1943, dân tộc Kinh, quê ở xã Điện Tiến, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, nhập ngũ tháng 8 năm 1960. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đội phó đặc công thuộc sư đoàn 2, Quân khu 5, đảng viên Đàng Cộng sản Việt Nam.


Được cách mạng giáo dục và giác ngộ, tháng 8 năm 1960, Trần Văn Đình đã vận động 2 thanh niên nữa bí mật trốn ra vùng căn cứ của ta tham gia bộ đội. Trong những năm đầu cuộc sống chiến đấu gặp muôn vàn gian khổ, thiếu thốn, đồng chí được điều về đơn vị bộ binh, rồi làm chiến sĩ nuôi quân, đi sản xuất, nhưng vẫn luôn luôn thể hiện rõ tinh thần tích cực, cần cù, tận tụy, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.


Tháng 1 năm 1965, Trần Văn Đình được điều về đơn vị đặc công, đồng chí rất hăng hái luyện tập để nhanh chóng được tham gia chiến đấu. Mới học được 9  ngày, Trần Văn Đình xin đi làm nhiệm vụ điều tra, chuẩn bị chiến trường.


Trong 2 năm (1965 - 1966), Trần Văn Đình đã tham gia điều tra, chuẩn bị cho nhiều trận đánh, trực tiếp chiến đấu 9 trận, diệt 36 tên địch (có 7 tên Mỹ), bắt sống 5 tên, thu 21 súng các loại.


Trong công tác điều tra, Trần Văn Đình có tác phong cụ thể, tỉ mỉ, chính xác. Trong chiến đấu, đồng chí luôn luôn thể hiện rõ tinh thần tiến công dũng cảm, kiên cường, tác phong đánh nhanh, đánh mạnh, đánh thọc sâu, đánh bất ngờ, làm cho địch không kịp trở tay.


Trong trận đánh đồn Chà Vu (tháng 4 năm 1965), vừa được lệnh nổ súng, Trần Văn Đình đã nhanh chóng đánh thốc vào tung thâm vị trí địch. Bị thương vẫn không rời vị trí, đồng chí đã dũng cảm dùng tiểu liên, thủ pháo tiêu diệt từng hỏa điểm địch, chi viện tốt cho bạn diệt địch. Chỉ sau mấy phút, phân đội đồng chí đã diệt gọn vị trí địch và rút ra an toàn.


Trong trận Ba Gia (tháng 5 năm 1965), vừa ở bệnh xá ra, vết thương chưa lành hẳn, Trần Văn Đình đã xin đi làm nhiệm vụ. Trận địa ta vừa bố trí xong thi địch phát hiện và nổ súng trước. Đồng chí dũng càm lao lên như một mũi tên, giành quyền chủ động dùng tiểu liên diệt địch ngay từ đầu, truy kích sát gót địch, diệt 3 tên, bắt sống 2 tên nữa. Sau đó đồng chí cùng phân đội làm nghi binh, tạo điều kiện cho đơn vị bạn diệt gọn 1 tiểu đoàn địch.


Trong trận Chóp Chai (tháng 3 năm 1966), Trần Văn Đình được phân công đi chuẩn bị chiến trường, đồng chí đã kiên trì bám địch và chuẩn bị đường tốt, đưa bộ đội vào nhanh và an toàn. Khi nổ súng, thấy mũi chính diện chưa lên được, Trần Văn Đình dẫn phân đội xông thẳng vào dùng thủ pháo đánh sập ba gian nhà rồi vượt đoạn hào giao thông đánh chiếm ổ đại liên của địch. Hỗ trợ cho múi chính diện, Trần Văn Đình chủ động, dũng cảm lao vào đánh khu nhà chỉ huy, nhà điện đài, trận địa cối, tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị vào diệt gọn 1 đại đội địch, làm chủ trận địa.


Trong mọi mặt công tác, Trần Văn Đình luôn luôn gương mẫu đi đầu, sống khiêm tốn, giản dị, đoàn kết thương yêu đồng đội, xây dựng đơn vị mạnh toàn diện, bảo đảm đã chiến đấu là giành thắng lợi.


Trần Văn Đình đã được tặng thương 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì và 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 4 bằng khen và giấy khen, dạt danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ cấp 3, Dũng sĩ Quyết thắng, Chiến sĩ thi đua năm 1966 - 1968.


Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Trần Văn Đình được Ủy ban trung ương Mạt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thương Huân chương Quân công giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.