Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Văn học chiến tranh => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 18 Tháng Hai, 2020, 04:46:51 am



Tiêu đề: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Hai, 2020, 04:46:51 am
       
        - Tên sách : Nhà tình báo và những phi công tù binh

        - Tác giả : Nguyễn Ngọc Phúc

        - Nhà xuất bản quân đội nhân dân

        - Năm xuất bản :  2009

        - Số hóa : Giangtvx

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/86671195_596298677766683_5932466527272960000_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_eui2=AeGnqVZSQq_rKAFV09Z5ibx5l0m5HwffCMY-_wzyUidlVmD_1lEIgb1Pq0ooC31xMgqA-H3NMhXrmCTPPD-8TNfauZEQc6GcWSd-gd0z3MKucA&_nc_ohc=jwhF2fvQyhkAX8ymOoe&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=119fe6ee9a11113617dce5fcf2e4557d&oe=5EBA452F)


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Hai, 2020, 04:18:32 am
     
LỜI GIỚI THIỆU

        Những năm gần đây, một loạt các cuốn sách viết về chiến sĩ tình báo được bạn đọc hoan nghênh. Sách giúp cho bạn đọc trong nước và thế giới hiểu biết về một mặt trận chiến đấu thầm lặng, khó khăn, nguy hiểm, nhưng cũng vô cùng quan trọng - "hiểu địch để thắng địch". Họ là những chiến sĩ tình báo chiến lược được "cài cắm" vào các cơ quan trong bộ máy chính quyền Sài Gòn, chiến đấu trong lòng địch. Cùng với đội quân ngầm chiến đấu trong lòng địch còn có nhiều chiến sĩ tình báo làm công tác ở hậu phương, không kém phần quan trọng. Không phải đối mặt hàng ngày với kẻ thù, nhưng cũng không kém phần khó khăn, vất vả đòi hỏi sự thông minh, tài trí, để khai thác tin tức từ những tên tù binh trong kháng chiến chống Pháp cũng như trong kháng chiến chống Mỹ phục vụ cho việc hoạch định các kế hoạch tác chiến của cấp trên.

        Đọc tập hồi ký "Những ký ức không bao giờ quên" của Thiếu tướng Cao Pha, nguyên Cục phó Cục Tình báo, Phó Tư lệnh Bộ tư lệnh Đặc công, Viện phó Viện Lịch sử quân sự Việt Nam giúp ta hiểu thêm cuộc chiến âm thầm trong công tác tình báo chiến lược trên lĩnh vực này. Những trang viết cảm động về tình đồng chí đồng đội âm thầm làm công tác tinh báo không kém phần gian khổ, sẵn sàng hy sinh để cấp trên có ngay những tin tức cần thiết. Cùng với ông là một đội ngũ những chiến sĩ tình báo tài giỏi trong công tác khai thác tù binh được ông nhắc đến trong cuốn hồi ký là:

        Bên cạnh đó là sự phối hợp giữa phương thức hỏi cung tù binh và các phương thức khai thác để nắm vững trạng thái tinh thần, chủ trương, thủ đoạn, tác chiến của địch trong suốt quá trình chiến dịch. Với những đồng chí hỏi cung rất giỏi như Hùng Châu, Mạc Lâm, Mạnh Thái... tin tức khai thác cung tù binh ở Điện Biên Phủ không những có tác dụng phục vụ cho chiến dịch mà còn có ý nghĩa chiến lược; biết được ý đồ của Mỹ ném bom ồ ạt mà sau này báo chí nói đến cái tên "Chiến dịch Con Ó" qua cung một tên đại úy biệt kích trá hàng...". Nhà tình báo Mạc Lâm được nhắc nhiều trong cuốn sách làm cho tôi chú ý. Nhân dịp kỷ niệm 35 năm quân và dân ta chiến thắng trong trận "Điện Biên Phủ trên không", báo Quân đội nhân dân đăng bốn kỳ "Những ngày tháng Chạp ở Tổng hành dinh" của Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh. Bài viết giúp bạn đọc hiểu hơn tầm nhìn chiến lược, công tác lãnh đạo chỉ huy của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng tư lệnh Qussn đội nhân dân Việt Nam đối với lực lượng phòng không làm nên chiến công vĩ đại đập tan cuộc tập kích chiến lược chưa từng có trong lịch sử nhân loại của Mỹ bằng máy bay ném bom chiến lược B52 vào Hà Nội. Tôi lại gặp những dòng tác giả nhắc đến Mạc Lâm:

        "Ngày 6 và 7, tại ngôi nhà nép kín trong góc thành cổ Hà Nội, các đồng chí Phó Tổng tham mưu trưởng Vương Thừa Vũ, Phùng Thế Tài đã chủ trì hội nghị về đánh thắng máy bay B52. Sau khi nghe tám đồng chí có trọng trách lớn phát biểu ý kiến (Mạc Lâm - cán bộ Cục Quân báo, Lê Văn Tri - Tư lệnh Phòng không - Không quân, Đào Đình Luyện - Tư lệnh Không quân, Dương Hán - Phó Tham mưu trưởng Phòng không - Không quân, Hoàng Đình Phu - Viện trường Viện Kỹ thuật quân sự, Trần Đại Nghĩa - Chủ nhiệm ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Nguyễn Văn Ninh); đồng chí Phùng Thế Tài kết luận: Mỹ sẽ đem B52 đến ném bom Hà Nội, Hải Phòng và các vùng lân cận vào lúc ta đang thắng lớn ở miền Nam mà Mỹ lại ngoan cô muốn ép ta ở Hội nghị Pari. Chúng sẽ đánh tất cả các mục tiêu kể cả khu đông dân. B52 sẽ ném bom đêm, gây nhiễu rất nặng, bay cao 10-11km. Chiến thuật địch rất máy móc, lệ thuộc vào điều lệnh sẵn có. Không quân chiến thuật bảo vệ đội hình B52, dùng nhiều tên lửa sơrai để chế áp trận địa tên lửa, rađa... của ta. B52 bay bằng cắt bom...".

        Mạc Lâm hỏi cung nhiều tù binh Pháp trong đó có cả tướng bại trận Đờ Cát và 18 năm sau ông lại là một trong số "tám người có trọng trách lớn" trong cuộc họp bàn về đánh B52?

        Mạc Lâm là nhà tình báo chiến lược thuộc Bộ Quốc phòng. Cả cuộc đời binh nghiệp ông gắn bó với công tác tình báo, khai thác các tù binh Pháp và Mỹ qua hai cuộc chiến tranh. Qua khai thác tù binh, ông cùng với cơ quan tình báo góp phần giúp cho Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng "hiểu địch" có cơ sở xây dựng các kế hoạch quân sự cụ thể củng như lâu dài đánh địch và thắng địch. Một trong những thành tích xuất sắc của nhà tình báo chiến lược Phan Mạc Lâm là thông qua khai thác từ binh là phi công đã phát hiện được kế hoạch của chính quyền Mỹ và cả ngày giờ cụ thể thực hiện chiến dịch "Lai-nơ-bếch-cơ II" dùng B52 tập kích chiến lược vào Thủ đô hòng hủy diệt Hà Nội làm cơ sỏ cho việc đàm phán giữa ta và Mỹ tại Pari.

        Chiến công của Đại tá Phan Mạc Lâm nói riêng, của cơ quan tình báo chiến lược nói chung đã giúp cho đất nước ta không bị bất ngờ trước một âm mưu lớn của chính phủ Mỹ, góp phần làm nên chiến thắng vẻ vang trong trận "Điện Biên Phủ trên không" cuối năm 1972 trên bầu trời Hà Nội, làm cơ sở cho ngày 30 tháng 4 năm 1975 toàn thắng.

        Hàng ngàn trang tài liệu về các loại máy bay, hạm đội của lực lượng không quân, hải quân Mỹ khai thác qua các phi công tù binh Mỹ không những cần thiết cho chúng ta mà còn góp phần quan trọng giúp cho các nhà nghiên cứu, các cơ quan chiến lược quân sự của các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa (trước đây) hiểu các loại vũ khí tối tân dùng trong chiến tranh Việt Nam cũng như chiến thuật, chiến lược quân sự Mỹ để cải tiến vũ khí, có kế hoạch phòng thủ có hiệu quả.

        Tập sách này kể về một số hoạt động tình báo trong việc khai thác tù binh, giúp bạn đọc hiểu biết phần nào công việc thầm lặng của nhà tình báo chiến lược Phan Mạc Lâm nói riêng, của ngành tình báo quân đội qua hai cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc.


TÁC GIẢ          


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Hai, 2020, 04:22:36 am
           
HỎI CUNG TƯỚNG ĐỜ CÁT

        Nhớ đến những gì tướng Cao Pha đã viết trong cuốn Hồi ký "Những ký ức không bao giờ quên" về công tác tình báo trong chiến dịch Điện Biên Phủ, khi gặp Mạc Lâm, tôi gợi chuyện. Trầm ngâm một lát, ông kể:

        "Tháng 10 năm 1953, tại một căn nhà nhỏ trên đồi cọ Thái Nguyên, mấy anh em chúng tôi trong tổ quân báo được thủ trưởng Cục Quân báo Cao Pha và Nghiêm Xuân Hiếu giao nhiệm vụ, phải đi ngay lên trại tù hàng binh ở Na Hang, Tuyên Quang hỏi cung -  lấy đầy đủ mọi tin tức địch bố trí các căn cứ ở Lai Châu, Phong Sa Lỳ và Luông Prabăng mà chủ yếu là Lai Châu. Chúng tôi hiểu đây là hướng chủ yếu của bộ đội ta trong Đông - Xuân 1953 - 1954.

        Qua khai thác, tù binh Pháp đã cung cấp được nhiều thông tin quan trọng về tình hình quân sự ở Lai Châu. Những mặt mạnh mặt yếu của địch, đề xuất các hướng tấn công vào thị xã. Chúng mô tả khá tỉ mỉ về địa hình Điện Biên Phủ và cả cụm cứ điểm Nà Sản - hình thái tập đoàn cứ điểm đầu tiên của tướng Gin. Trung tuần tháng 11 năm 1953, thực hiện quyết tâm của Quân ủy Trung ương, Đại đoàn 316 lên đường mở chiến dịch giải phóng Lai Châu. Tôi cùng phân đội trinh sát của Cục 2 bí mật lên Tây Bắc để phối hợp với công tác trinh sát phục vụ chiến dịch. Đây là lần thứ hai tôi lên Tây Bắc. Phong cảnh Lai Châu thật là đẹp, khí hậu mát mẻ. Phải vượt qua nhiều đèo cao, đứng ở đấy nhìn xuống đẹp như những bức tranh sơn thủy. Qua đèo Cò Nòi, đèo Cơ La sẽ đến một thung lũng đẹp thơ mộng mang tên Tình Yêu. Hồi ấy chưa biết yêu là gì nhưng cũng cảm thấy rạo rực khi chiêm ngưỡng nơi đây. Chúng tôi vừa đến Tuần Giáo thì được tin địch rút khỏi Lai Châu. Theo lệnh trên, Đại đoàn 316 nhanh chóng đánh địch rút chạy, không cho chúng co cụm về Điện Biên Phủ đồng thời giải phóng Lai Châu theo kế hoạch. Từ cơ quan tôi được lệnh về 316. Ba lô trên vai, bao gạo thắt ngang sườn và một túi hồ sơ, tài liệu, một mình tôi lên đường, đi đến đâu hỏi đường đến đó. Mưa bụi suốt đêm, đường rừng trơn như đổ mỡ. Tôi cắt rừng đi theo bản đồ. về đến Đại đoàn là tham gia chiến đấu ngay. Cuộc chiến đấu ở Mường Pồn, Pu San diễn ra ác liệt trong hai ngày 12, 13 tháng 11 năm 1953. Lực lượng địch từ Lai Châu về hầu như bị tiêu diệt. Bọn từ Điện Biên lên cũng bị chặn đánh, bỏ chạy tán loạn... Ngày 14 tháng 1 năm 1954, Bộ chỉ huy chiến dịch phổ biến kế hoạch tác chiến Điện Biên Phủ theo phương châm "Đánh nhanh thắng nhanh", tôi được lệnh về Đại đoàn 308 - mũi thọc sâu đánh trận mở màn. Nhiệm vụ của tôi hỏi cung tù binh và cùng anh Trần Bá Khoa thu tin tình báo kỹ thuật. Trước khi đi, thủ trưởng Cao Pha bắt tay và dặn dò, nói rõ tầm quan trọng khai thác tù binh phục vụ tác chiến, đánh địch trong hành tiến, bắt địch hỏi cung ngay báo cáo kịp thời phục vụ cho đại đoàn chỉ huy đánh trúng căn cứ Mường Thanh. Tôi được quân báo đại đoàn tin tưởng giao cho theo mũi chủ công đánh từ bắc xuống. Nằm trong công sự dã chiến, chờ đợi lệnh tiến công, bỗng có lệnh rút. Sau này tôi mới biết, Đại tướng Võ Nguyên Giáp sau khi nghiên cứu đã quyết định chuyển phương án tác chiến "Đánh nhanh thắng nhanh" sang "Đánh chắc tiến chắc".

        Ngày 13 tháng 3 năm 1954, mở màn chiến dịch, Đại đoàn 312 được giao nhiệm vụ đánh trận đầu vào căn cứ Him Lam. Lần này thì tôi được phân công về Đại đoàn 312, trinh sát mũi chủ công cùng với một tổ địch vận. Chúng tôi bám nhau theo giao thông hào tiếp cận cứ điểm địch, dùng bộc phá mở đường, phá dây thép gai xông lên. Trong hai đêm 13, 14, Đại đoàn 312 tiêu diệt hoàn toàn căn cứ Him Lam do tiểu đoàn Âu Phi đóng giữ. Nhiều tù binh bị bắt. Thế là chúng tôi phải hỏi cung ngay tại mặt trận để khai thác những tin tức quan trọng báo cáo gấp về tiền phương Cục Quân báo. Đợt một chiến dịch kết thúc, cánh quân báo-chúng tôi tập trung về khai thác tù binh ở trại giam. Tin tức chúng tôi khai thác được giúp ích rất lớn cho việc tác chiến đợt hai được Phó Tổng tham mưu trưởng vừa là Tham mưu trưởng mặt trận Hoàng Văn Thái khen ngợi.

        Tháng 4 năm 1954, trong lúc quân ta siết chặt vòng vây Điện Biên Phủ, được tin tỉnh Vĩnh Phúc bắt được một hàng binh. Khai thác sơ bộ, anh ta khai là đã từng ở Điện Biên Phủ theo mệnh lệnh của Bộ Tổng Tham mưu đưa anh ta lên Điện Biên Phủ để khai thác tiếp. Tất nhiên là anh ta được giam riêng có cảnh vệ trông nom. Tôi được giao nhiệm vụ làm việc với người hàng binh này. Đúng là anh ta biết nhiều về Điện Biên Phủ, từ cách bố trí binh lực, hệ thống công sự phòng thủ ở Mường Thanh và các cứ điểm khác. Anh ta khai về hệ thống hỏa lực pháo binh vì chính anh ta là một sĩ quan pháo binh. Anh ta phân tích rất kỹ về ưu điểm, nhược điểm, về cách bố trí lực lượng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ... Tất cả những gì người hàng binh khai báo làm cho tôi phải suy nghĩ. So với tin tức ta nắm được cũng như khai báo của một số sĩ quan tù binh Âu - Phi thì những gì anh ta khai là khá tốt. Đặc biệt anh ta biết rõ về kế hoạch của không quân Mỹ ồ ạt ném bom xuống tập đoàn cứ điểm này... Trong khi khai báo, hắn rất tự tin và thường nhấn mạnh: "Đánh vào Điện Biên Phủ sẽ thiệt hại nhiều! Các ngài chỉ nên đánh vào những cứ điểm yếu thôi. Pháp quyết giữ không chịu thất bại ở chiến trường này - một tập đoàn cứ điểm mạnh chưa từng có ở Đông Dương lại được Mỹ viện trợ...". Anh ta lại hỏi tôi: "Cấp trên của ngài có bằng lòng với những tin tức tôi đã cung cấp không? Các ngài có đủ khả năng để tiến công ồ ạt vào Điện Biên Phủ không?". Trong lúc chúng ta đang thắng lớn trong cuộc tiến công lần thứ hai, nhiều cứ điểm bị ta tiêu diệt tại sao anh ta lại khuyên ta không nên đánh tiếp? Tôi sinh nghi, cảnh giác "Thằng này có thể là trá hàng!" - nghĩ thế liền báo cáo suy nghĩ của mình với cấp trên. Tất nhiên, qua trao đổi, xin ý kiến Ban chỉ huy và bằng một số động tác nghiệp vụ sâu, chúng tôi kịp thời phát hiện -  hắn đúng là kẻ trá hàng! Qua hỏi cung, hắn phải khai thật:

        - Tôi được quân Pháp bố trí trá hàng để ngăn chặn các cuộc tiến công vũ bão của các ông vào các cứ điểm tiếp theo ở Điện Biên Phủ. Chúng tôi muốn kéo dài những đợt tiến công của các ông vào Điện Biên Phủ, chờ sự giúp đỡ tiếp của Mỹ. Tất cả nằm trong âm mưu của chính phủ Pháp - yêu cầu hai nước đồng minh là Mỹ và Anh giúp sức để cứu vãn Điện Biên Phủ nói riêng, chiến cuộc của Pháp ở Đông Dương nói chung. Theo đề nghị của chính phủ Pháp, Mỹ dự định sẽ ném ba quả bom nguyên tử chiến thuật ở ba điểm: Tuần Giao, Mường Phăng và Cò Nòi tiêu diệt chủ lực Việt Minh, cắt mọi nguồn tiếp tế từ hậu phương và tiêu diệt đầu não chỉ huy của các ông ở Điện Biên Phủ!


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Hai, 2020, 04:22:59 am
           
        Mỹ có ý định ném bom nguyên tử chiến thuật ở Điện Biên Phủ mà hắn khai là có thật. Sau này trong hồi ký "Thời điểm của những sự thật" của tướng H. Na-va có nhắc đến sự kiện này. Tướng H. Na-va viết:

        "Ngày 10 tháng 4 năm 1954 Mỹ đã định dùng hai quả bom nguyên tử để cứu vãn "sự sụp đổ hoàn toàn" của quân Pháp tại Điện Biên Phủ".

        Anh Lê Mạnh Thái được điều xuống Đại đoàn 308, tôi ở lại Sở chỉ huy, sẵn sàng chờ lệnh. Hàng ngày tôi tranh thủ xuống trại tạm giam tù binh -  cách Sở chỉ huy chiến dịch khoảng mười ki-lô-mét, khai thác tiếp, phục vụ kịp thời cho chiến đấu và tiếp nhận tù hàng binh mới. Tù hàng binh đều khai báo rằng, các ngài cần tiến công mạnh về hướng đông, sân bay bị tê liệt, việc thả dù tiếp tế bị khống chế thì Điện Biên Phủ sẽ nguy khốn. Chỉ huy hô hào cố thủ, nhưng chúng tôi muốn sống!

        Mặt trận phía đông đang diễn ra ác liệt, cứ điểm Al đang giằng co, ta không chế đường tiếp tế của máy bay... Toàn thể lực lượng trinh sát được huy động phục vụ đánh cứ điểm Al và sân bay Mường Thanh. Bộ phận hỏi cung tập trung hỏi tù hàng binh về hệ thống đường ngầm Al. Tôi được phái xuống sở chỉ huy Đại đoàn 316 nắm tình hình và báo cáo kết quả khai thác tù hàng binh về cứ điểm Al. Một trận đánh quyết tử. Hệ thống trận địa tiến công và bao vây của ta đang thít chặt cổ chúng ở từng cứ điểm. Từ hai hướng công sự của ta hợp điểm chia cắt sân bay Mường Thanh. Địch điên cuồng đánh trả, ta đánh lùi từng đợt phản kích... Đợt ba chiến dịch từ đầu tháng 5, suốt cả tuần lễ cuộc chiến võ cùng ác liệt.

        Sáng ngày 7 tháng 5, hệ thống cứ điểm phía đông của địch đã bị tiêu diệt. Trung tâm Mường Thanh có nhiều tiếng nổ lớn, cờ trắng xuất hiện ngày càng nhiều. Chiều hôm đó, lệnh tổng công kích từ sở chỉ huy chiến dịch truyền đi. Quân ta từ các hướng tiến công địch tiêu diệt các cứ điểm còn lại. Một đại đội bộ binh của Trung đoàn 209, Đại đoàn 312 vượt qua cầu Mường Thanh đánh thẳng vào sở chỉ huy bắt sống tưống Đờ Cát và toàn bộ bộ chỉ huy mặt trận Điện Biên Phủ.

        Tôi được điều về ngay để khai thác tù binh.

        Trong một căn nhà của dân, trên chiếc chõng tre, Đờ Cát quá mệt mỏi và thể hiện sự hổ thẹn trên nét mặt. Ông ta trả lời:

        - Chúng tôi đã chiến đấu thực sự nhưng cấp trên của chúng tôi đã phạm sai lầm. Đến phút chót không còn ai tin "tử thủ" nữa. Tôi đã chọn con đường đầu hàng là đúng. Tướng sĩ các ông rất tài giỏi. Các ông thắng là phải. Ôi! Nếu cuộc chiến này kéo dài vài ngày nữa thì binh sĩ của tôi sẽ cuồng loạn, phát điên lên hết. Không ai có thể cứu vãn được tình thế. Có lẽ Pháp phải chịu thua ở Đông Dương. Lực lượng tinh nhuệ của Pháp đã vét hết sang Đông Dương rồi. Đồng bằng Bắc Bộ và cả Hà Nội cũng sẽ bị uy hiếp..."

        Trầm ngâm giây lát, Đờ Cát nói trong tâm trạng thất vọng chán chường:

        - Không thể diễn ra một Điện Biên Phủ thứ hai nữa vì đã kiệt sức! Các ông đề phòng Mỹ là đúng. Nhưng người Mỹ can thiệp cũng phải suy nghĩ, tính toán từ bài học cay đắng này...

        Anh Hồng Châu cùng với tôi ở Điện Biên Phủ sau này nhiều năm công tác ở Cộng hòa Pháp cho tôi biết: "Hồng Châu có gặp lại tướng Đờ Cát trong một bữa tiệc ngoại giao tại Pari. Trong câu chuyện, Đờ Cát nói rằng, kỷ niệm đau buồn về Điện Biên Phủ vẫn in đậm trong tâm trí. Ông ta có dự định sang Việt Nam, thăm lại chiến trường xưa. Dự định chưa thành thì Đờ Cát qua đời cách đây mấy năm rồi!".

        Đã hơn năm mươi năm mà những kỷ niệm về chiến dịch Điện Biên Phủ vẫn còn nguyên vẹn trong ông. Tôi thầm cảm phục trí nhớ của nhà tình báo chiến lược.


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Hai, 2020, 04:25:30 am

VỊ KHÁCH KHÔNG MỜI ĐẦU TIÊN

        Kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, cùng cơ quan Bộ Tổng tham mưu trở về Hà Nội, Mạc Lâm được phân công chuyên nghiên cứu vê không quân và hải quân Mỹ - một công việc hoàn toàn mới mẻ. Ồng nhớ, một tuần sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ngày 15 tháng 7, Bác Hồ đã căn dặn bộ đội:

        "Mỹ không những là kẻ thù của nhân dân thế giới mà Mỹ đang trở thành kẻ thù trực tiếp của nhân dân ba nước Việt Nam, Lào, Cămpuchia".

        Bác còn nhấn mạnh:

        "Cần tập trung lực lượng chống Mỹ".

        Năm 1964, chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của Mỹ ở miền Nam bị phá sản, Mỹ chuẩn bị cho bước phiêu lưu chiến tranh mới. Chúng tung nhiều biệt kích, thám báo ra miền Bắc. Các căn cứ quân sự Mỹ được gấp rút xây dựng, các tàu sân bay hải quân Mỹ được điều chỉnh trên phạm vi toàn thế giới, dần dần tập trung về châu Á - Thái Bình Dương. Hạm đội 7 được tăng cường, triển khai hoạt động trên vùng biển Đông Nam Á...

        Sau bốn năm công tác ở Xiêng Khoảng - Lào, Mạc Lâm có điện khẩn của Bộ Quốc phòng gọi về nước.

        Chuẩn bị đối phó với cuộc chiến tranh leo thang phá hoại miền Bắc bằng không quân của Mỹ, cơ quan Bộ Tổng tham mưu, Cục Quân báo được tổ chức lại cho phù hợp với tình hình mới. Bộ phận chuyên trách theo dõi tình hình miền Bắc và "Ban hỏi cung tù binh Mỹ" được thành lập. Mạc Lâm được biên chế trong ban này. Ban có phòng làm việc bên cạnh Phòng trực ban Cục với đầy đủ bản đồ trong nước và thế giới, những tài liệu ngày càng nhiều về lực lượng quân sự Mỹ chủ yếu là không quân của quân chủng hải quân (gọi tắt là hải quân) và không quân của quân chủng không quân (gọi tắt là không quân). Đây cũng là nơi sau này Mạc Lâm thường xuyên báo cáo về tình hình khai thác tin tức thu được tù binh Mỹ cho các cấp lãnh đạo kể cả với lãnh đạo Bộ Tổng tham mưu. Từ đây Mạc Lâm gắn bó với công tác hỏi cung - khai thác tin tức từ những phi công tù binh Mỹ, thường xuyên làm việc ở trại giam Hỏa Lò.

        Trại giam Hỏa Lò - nằm giữa trung tâm thành phố. Trại có tường cao bao quanh, phía trên tường cắm mẻ sành mẻ chai tua tủa và có dây điện trần bảo vệ. Dòng chữ ghi trên cổng chính của trại là Maison Centrale - nghĩa là Đề lao Trung ương nên người ta gọi là trại giam Hỏa Lò hay nhà tù Hỏa Lò. Dân Hà Nội từ xưa vẫn gọi nó bằng cái tên gắn với làng xưa kia ở đây chuyên đốt lò nung đồ gốm, sứ - Hỏa Lò. Nhà tù Hỏa Lò được thực dân Pháp xây dựng năm 1896 cùng với Tòa đại hình (nay là Tòa án nhân dân tối cao) và Sở Mật thám (nay là sở Công an Hà Nội). Nhà tù được xây dựng trên nền đất của làng Phụ Khánh, huyện Thọ Xương, Hà Nội xưa. Làng Phụ Khánh chuyên làm nghề sản xuất chum vại và những đồ dùng gia đình bằng sành sứ. Phải đốt lửa nung sành sứ nên làng còn có tên là làng Hỏa Lò. Nhà tù Hỏa Lò có diện tích là 12.908m2, được xây dựng vừa chắc chắn vừa thâm nghiêm. Tường đá xây bao quanh dày nửa mét, cao 4m, phía trong dưới chân tường có một con đường nhỏ rộng l,2m dành cho lính tuần tra. Bốn góc nhà tù có bốn tháp canh. Nhà tù có chín khu giam giữ. Mỗi khu được cấu trúc theo kiểu biệt lập, khu nọ thông với khu kia bằng những cửa sắt bịt tôn. Trong đó có khu giam giữ riêng cho những người tù là nữ giới, người tù là người Âu và khu giam giữ những người tù có án tử hình. Ngoài chín khu giam giữ còn có các khu là nơi làm việc cho lính canh gác và khu nhà ăn của tù nhân. Theo thiết kế thì nhà tù chỉ có thể giam giữ năm trăm người. Sau nhiều lần cơi nới cũng chỉ đủ giam giữ một ngàn người. Nhưng trong thực tế, từ năm 1950 đến năm 1953 có khi thực dân Pháp bắt giam ở đây lên đến hơn hai ngàn đồng bào ta chống Pháp. Một khung trời nhỏ với giàn nho ai đã qua đây đều nhớ. Khi Tòa tháp Hà Nội thay chỗ cho Hỏa Lò xưa -  dấu ấn của một thời, có dịp trở lại đây, Mạc Lâm không khỏi nuối tiếc. Ông tâm sự:

        - Có lần tôi về Hà Nội, ghé qua trại Hỏa Lò, người ta đang phá dỡ, mở cổng lớn về phía phố Hai Bà Trưng... Nhớ lại, những ngày làm việc, giàn nho tươi đẹp phủ lên sân trại mát mẻ làm cho cảnh vật có màu xanh dịu bớt cảm giác chật chội nơi "nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại". Giàn nho - kỷ niệm một thời, cách đây gần bảy mươi năm, thực dân Pháp giam cầm những người cộng sản. Chính những chiến sĩ cộng sản đã trồng giàn nho này tạo nên một bầu trời xanh làm dịu bớt nỗi cơ cực của cuộc sống lao tù, chờ ngày trở về với cách mạng.


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Hai, 2020, 04:25:50 am

        Nhiều nhà yêu nước, nhiều chiến sĩ cộng sản nổi tiếng đã từng bị tù đày ở Hỏa Lò như nhà yêu nước Phan Bội Châu, Lương Văn Can, Dương Bá Trạc... Các đảng viên cộng sản Nguyễn Văn Cừ, Trường Chinh, Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh... Các chiến sĩ cộng sản đã biến nhà tù thành trường học. Nhiều cuộc vượt ngục cũng đã được các chiến sĩ cộng sản tổ chức thành công. Cuộc vượt ngục đầu tiên tháng 12 năm 1932 do đồng chí Nguyễn Lương Bằng tổ chức. Cuộc vượt ngục lớn nhất là ngày 11 tháng 3 năm 1945 cho gần một trăm tù nhân trong đó có nhiều đồng chí sau này tham gia lãnh đạo Cách mạng tháng Tám năm 1945 như Trần Đăng Ninh, Trần Tử Bình, Đỗ Mười...

        Ngày 2 tháng 8 năm 1964 Mỹ cho tàu khu trục Ma đốc xâm phạm vùng biển nước ta khu vực giữa đảo Hòn Mê và Lạch Trường tỉnh Thanh Hóa. Giữ vững chủ quyền quốc gia, những người lính đoàn hải quân 135 kiên quyết trừng trị quân xâm lược, đánh đuổi tàu khu trục Mỹ. Ngày hôm sau, chúng điều thêm tàu khu trục lại tiếp tục khiêu khích vùng biển nước ta ở cửa Ròn (Quảng Bình) và trại rađa Vĩnh Sơn (Vĩnh Linh). "Vừa ăn cướp vừa la làng", Mỹ dựng đứng chuyện hải quân ta tiến công hạm đội Mỹ ngoài vùng biển quốc tế, lấy cớ để mở rộng chiến tranh bằng không quân, hải quân ra khỏi vĩ tuyến 17. Ngày 4 tháng 8 năm 1964 vào lúc 11 giờ 36 phút (giờ Oa-sinh-tơn) tức là 11 giờ 36 phút (giờ Hà Nội) ngày 5 tháng 8 năm 1964 đã đi vào lịch sử: tổng thống Mỹ ngạo mạn tuyên bố, phát động cuộc chiến tranh phá hoại ra miền Bắc Việt Nam!

        Một âm mưu đã được Mỹ tính sẵn, chúng gọi cuộc tiến công bằng không quân mới là "Mũi tên xuyên" với sáu mươi bốn lần chiếc máy bay từ các hạm đội trên Biển Đông vào đánh phá các mục tiêu từ Quảng Bình đến Quảng Ninh. Tại Quảng Ninh, chúng đánh phá nhiều nơi trong đó có căn cứ hải quân ta ở Bãi Cháy. Một chiếc A4D bị khẩu đội súng phòng không 14,5mm do trung đội phó Trương Thanh Luyện chỉ huy bắn rơi tại chỗ. Trung úy phi công An-va-rẽt nhảy dù xuống biển bị tóm gọn! Chiến dịch "Mũi tên xuyên" của Mỹ bị sức đánh trả mãnh liệt của quân và dân ta. Tám máy bay Mỹ - tức 12% số máy bay tham gia đánh phá bị bắn rơi. Lần đầu tiên sau chiến tranh Triều Tiên, không quân Mỹ nếm mùi thất bại nhục nhã.

        Tên phi công đầu tiên trong cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ mở rộng ra miền Bắc bị quân và dân ta bắt sống, cũng là phi công Mỹ đầu tiên Mạc Lâm gặp tại trạm giam Hỏa Lò là An-va-rết (ông gọi tắt la An). Máy bay của An-va-rết cùng bảy chiếc khác được giao nhiệm vụ bắn phá căn cứ hải quân tại Bãi Cháy thị xã Hòn Gai. Vịnh Hạ Long báu vật tạo hóa ban tặng cho con người thanh bình bỗng bị những tiếng rít man rợ của quân cướp từ bên kia Thái Bình Dương làm náo loạn. Giặc đánh ta thì ta đánh trả, lẽ giản đơn của dân tộc Việt Nam từ ngàn đời. Nhân dân ta lại cầm súng, không chỉ là súng trường mà là cao xạ, tên lửa. An-va-rết nhận ra rằng đây không phải là cuộc dạo chơi, không chỉ là phi vụ bay bình thường như trên hạm tàu được giao nhiệm vụ. Hoảng sợ trước những làn đạn từ mặt bắn lên, An-va-rết bay lên cao ba ngàn mét, chọn góc ba mươi độ bổ nhào, phóng rốc két rồi định bay về hướng Hà Tu thoát thân. Nhưng An-va-rết không sao hiểu nổi, chỉ vài giây thôi khói đen xộc lên ngạt thở. Linh tính nghề nghiệp, anh ta vội vàng bật dù ra ngoài. Chiếc dù trắng lơ lửng rồi biến mất sau những dãy núi đá trên vịnh Hạ Long. Chưa kịp hoàn hồn, vừa ngoi lên khỏi mặt nước anh ta thấy một tốp thuyền đánh cá, nhiều người súng lăm lăm trên tay sau những núi đá kéo đến. Một cụ già có chòm râu bạc lôi anh ta lên sạp thuyền. Tất cả diễn ra rất nhanh anh ta không biết mình tỉnh hay đang mơ. Chiếc tàu của đội công tác đặc biệt của tỉnh đội Quảng Ninh cũng vừa đến.

        "Những giờ phút đầu tiên sống trên miền Bắc của tên phi công tù binh Mỹ" là đầu đề bài báo hồi đó có đoạn miêu tả cái giây phút hãi hùng ấy của tên cướp trời:

        "Dù từ từ rơi. Mặt nước Hạ Long gợn sóng. Anh ta vừa chạm chân tới mặt nước thì trong ngách hòn núi có hình thù kỳ lạ như một con sư tử, một số thuyền đang hối hả chèo tới. Trên thuyền anh ta nhìn rõ nhiều người và hai chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam còn rất trẻ, đã chĩa mũi súng vào phía y, hô lớn: "Giơ tay lên!" Anh ta không hiểu tiếng hô ấy là gì và cũng không tài nào hiểu nổi tại sao, giữa biển núi mênh mông trùng điệp này lại có hai chiến sĩ ngồi thuyền với một số ngư dân, túc trực đón anh ta đúng chỗ nhảy dù. "Giơ tay lên! Nếu chống cự sẽ bị tiêu diệt!" An-va-rết vẫn không hiểu. Nhưng lần này anh ta đoán mang máng đó là mệnh lệnh buộc phải đầu hàng. Bây giờ thì An-va-rết đã rõ và bụng bảo dạ: An-va-rết không còn là trung úy phi công phản lực, con cưng của đại cường quốc Hoa Kỳ nữa. Bây giờ anh ta chỉ còn là một tù binh đại bại, hay nói đúng hơn, một tên kẻ cướp Mỹ đã bị bắt quả tang. An-va-rêt giơ hai tay đầu hàng".


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Hai, 2020, 04:26:28 am

        Hơn ba mươi năm sau, tháng 3 năm 1993, An-va-rết sang Việt Nam trở lại thăm trại giam Hỏa Lò Hà Nội cùng với cha con viên phi công Mỹ khác cũng đã từng ở trại giam này là Ben Pốc-xe và một đoàn làm phim, tất cả là 15 người cho bộ phim "Hàn gắn lại những vết thương cuối cùng!", cả đoàn sung sướng, tự hào vì được Đại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp thân mật. Chuyện ấy thì nhiều người cũng biết nhưng An-va-rết trong Hỏa Lò thì chỉ có người trong cuộc mới biết. Ông thủng thẳng kể:

        "Trại giam Hỏa Lò lúc này chưa chuyển cho quân đội. Anh Võ Quang và tôi gặp An-va-rết ở một địa điểm khác. Là tù binh Mỹ đầu tiên chúng tôi dành cho nhiều điều kiện tốt về chỗ ăn ở, tiêu chuẩn cũng như khám chữa bệnh. An-va-rết còn rất trẻ, sinh tại bang Ca-li-phóc-ni-a, nhập ngũ năm 1960, lái máy bay hải quân A4D trên tàu sân bay Côn-ten-lê-sân. Mấy ngày đầu nhìn ai anh ta cũng sợ sệt, nghe chúng tôi giải thích về chính sách nhân đạo đối với tù hàng binh, An-va-rết yên tâm hơn. Những điều anh ta nói lúc đầu nghe khó tin nhưng đó là sự thật trong quân đội Mỹ:

        - Tôi thực hiện phi vụ đặc biệt mà chỉ biết trước một ngày - trong hội ý tác chiến mới nghe nói chính thức đến hai tiếng Việt Nam. Trước đó tôi chỉ nghe nói, có người Mỹ phía nam vĩ tuyên 17 của Việt Nam. Mục tiêu mà tôi được giao nhiệm vụ tấn công tiêu diệt là một mục tiêu quân sự của Bắc Việt Nam, nằm ở vịnh Bắc Bộ trên ảnh chụp. Chỉ huy trung đoàn phổ biến nhiệm vụ trước khi cất cánh không nói đến ý đồ, chủ trương của trận đánh. Lệnh tác chiến chỉ gồm có tổ chức đội hình tốp bay, cách đánh, đường đi và các yếu tố chiến, kỹ thuật tác chiến. Trung đoàn trưởng cũng giới thiệu về các trận địa phòng không, có nói đến dự phòng - nếu rủi ro thì nhảy dù ra biển để được cấp cứu. Tôi không được biết gì về chiến lược, kế hoạch tiếp sau đó, chỉ nghe dư luận - đó là nhiệm vụ đặc biệt của Bộ tham mưu liên quân Mỹ (JCS) giao cho tàu Côn-ten-lê-sân".

        Bị bắt anh ta thực sự ngơ ngác. Cho đến khi vào nhà tù anh ta vẫn không tin là sự thật. Trong thâm tâm anh ta nghĩ, chuyến bay chỉ là một nhiệm vụ độc lập, một phản ứng nào đó, không dám nghĩ đến Mỹ đã lao vào một cuộc chiến mới, vì trước hết, đó là điều rất xấu đối với anh ta là phải xa gia đình.

        Như thế đã rõ, bị thất bại trong chiến tranh đặc biệt, để mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, Mỹ đã tạo cớ bằng sự kiện vịnh Bắc Bộ. Chính phủ Mỹ không những đánh lừa dư luận trong nước và thế giới mà còn đánh lừa cả những người lính Mỹ trực tiếp tham gia vào cuộc chiến tranh tàn bạo nhất trong lịch sử.
     
        Hiểu tâm trạng cay đắng của An-va-rết, chúng tôi cố gắng thuyết phục. Chúng tôi nói về lịch sử chống ngoại xâm, về cuộc kháng chiến chống Pháp, về Hiệp định Giơ-ne-vơ và việc Mỹ can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

        An-va-rết hiểu dần về Việt Nam qua những điều chúng tôi giải thích, sinh hoạt của những chiến sĩ trẻ ở Hỏa Lò, cùng với thời gian, anh ta quen dần nỗi nhớ nhà, cảnh một mình với bốn bức tường.

        Lệnh hành quân lần này của tàu sân bay không theo chu kỳ, không phải tham gia diễn tập hàng năm, mà là cuộc hành quân đặc biệt, có dư luận là ở lại vùng biển này lâu dài. Các sĩ quan trên tàu được hưởng chế độ thời chiến. Vừa qua, tàu sân bay Công-ten-lê-sân chưa tham gia một phi vụ nào ở nam vĩ tuyến 17, đã có không quân đảm nhiệm.

        Qua An-va-rết giúp chúng ta hiểu về tàu sân bay Mỹ, về Hạm đội 7 và những vấn đề về kỹ thuật tác chiến không quân hải quân Mỹ.

        Tại phòng trưng bày về cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ đối với miền Bắc trong Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam còn có bức ảnh đen trắng phóng to - Viên phi công mặc bộ đồ bay tuổi chừng 24, 25 đang bị áp giải. Đầu viên phi công cúi xuống, ánh mắt hoảng hốt, nét mặt bàng hoàng. Đó chính là An-va-rết cùng với nhiều hiện vật được trưng bày: Bộ đồ bay, những trang bị của phi công Mỹ và xác chiếc máy bay A4 mang ký hiệu BTQĐ - P2671.

        An-va-rết bị bắt ngày 5 tháng 8 năm 1964 cho đến ngày được Chính phủ Việt Nam trao trả cho chính phủ Mỹ - ngày 12 tháng 2 năm 1973 là hơn tám năm. Ngồi trong trại giam, được phổ biến về Hiệp định Pari, khác với nhiều phi công tù binh khác vui mừng khi biết rằng, theo tinh thần của Hiệp định, phi công tù binh Mỹ sẽ được trao trả về nước, còn anh chàng An-va-rết thì lại buồn khi nghĩ đến gia đình:

        - Tôi không còn vợ nữa, chiến tranh kéo dài quá, vợ tôi đã bỏ đi lấy người khác rồi. Tôi đã rất yêu nó, bây giờ tôi không nghĩ gì cả. Cũng không biết rằng, về nước sẽ làm gì. Tôi không có con. Đời là thế!

        Đúng là sau khi anh ta bị bắt, người vợ mới cưới bỏ đi lấy chồng.

        An-va-rết được trao trả đợt một ngày 12 tháng 2 năm 1973 tại sân bay Gia Lâm - Hà Nội. Trong đợt đầu này có 116 nhân viên quân sự Hoa Kỳ. Họ gồm những phi công tù binh, người của 34 bang nước Mỹ trong đó có 10 trung tá, 20 thiếu tá, 51 đại úy, 28 trung úy, hai thiếu úy, ba thượng sĩ và một binh nhất, một binh nhì. Quân nhân thứ một trăm mười sáu được trao trả đợt này là thiếu tá Brai-na Đun-xten, sinh ra trên kênh đào Pa-na-ma ngày 23 tháng 3 năm 1932. Anh ta bị bắt ở Nam Định ngày 18 tháng 9 năm 1968, được về đột xuất là do biết mẹ anh ta bị ốm nặng.

        Sau khi được trao trả, về Mỹ, An lấy vợ mới, tiếp tục phục vụ lực lượng hải quân Mỹ. Năm 1980 về hưu với quân hàm trung tá, An-va-rết chuyển sang kinh doanh, sống tại bang Maryland. Anh ta viết sách "Chim ưng bị xiềng" nói về cuộc sống trong những ngày ở "Trại giam Hỏa Lò - Khách sạn Hin-tơn".


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Hai, 2020, 06:14:46 am

CƠN ÁC MỘNG CỦA PHI CÔNG VŨ TRỤ

        Vào loại sớm có mặt tại Hỏa Lò là thiếu tá phi công vũ trụ thuộc lực lượng hải quân Mỹ. Tên của anh ta, theo như bài tường thuật trên báo Quân đội nhân dân ghi lại vào hồi 17 giờ, tức là buổi chiều cái ngày mà anh ta bị quân và dân Đồng Hới, Quảng Bình bắn rơi -  ngày 11 tháng 2 năm 1965 trong chứng minh thư số 9131615 là Shumaker (Su-mếch-cơ). Su-mếch-cơ sinh ngày 11 tháng 5 năm 1933 mà Mạc Lâm thường gọi là Su.

        Đầu năm 1965 cách mạng miền Nam chuyển sang thế tiến công, liên tiếp giành thắng lợi to lớn trên các chiến trường Plây cu, Kon Tum, Quy Nhơn... Để cứu vãn sự sụp đổ của chính quyền tay sai Sài Gòn, chính quyền Mỹ ồ ạt đưa quân vào miền Nam và tiến hành chiến tranh bằng không quân hải quân đối với miền Bắc. Bằng sức mạnh của nền quân sự quốc phòng những nhà cầm quyền Mỹ hy vọng sẽ củng cố được tinh thần cho ngụy quân, ngụy quyền, đánh một đòn mạnh đối với Hà Nội và uy hiếp phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Chúng tập trung lực lượng lớn không quân ở Đông Nam Á. Trên vùng Biển Đông ngoài khơi nước ta thường xuyên có từ ba đến bốn tàu sân bay của Hạm đội 7 với khoảng ba trăm năm mươi đến bốn trăm máy bay chiến đấu các loại. Các căn cứ quân sự ở miền Nam và Thái Lan được bổ sung tới hơn năm trăm máy bay. Nhận rõ được âm mưu đen tối của Mỹ, chúng ta triển khai kế hoạch đối phó với cuộc phiêu lưu mới của Mỹ. Miền Bắc chuyển sang trạng thái thời chiến, nhân dân và các lực lượng vũ trang vừa sản xuất vừa chiến đấu. Ngày 7 tháng 2 năm 1965 tổng thống Giôn-xơn ra lệnh mở chiến dịch tiến công bằng không quân mang tên "Mũi lao lửa" leo thang đánh phá miền Bắc. Ngay hôm đó bốn mươi chín máy bay phản lực các loại từ tàu Cô-ra-xi và Hen-cốc đánh phá thị xã Đồng Hới tỉnh Quảng Bình. Ngày hôm sau Giôn-xơn lại ra lệnh tiếp tục thực hiện kế hoạch "Mũi lao lửa". Lần này lực lượng không quân ngụy do tư lệnh không quân Nguyễn Cao Kỳ cũng được huy động. Quan thầy Mỹ tưởng có thể tập dượt được cho lũ tay sai. Cả thầy lẫn tớ đều bị đòn đau. Ba máy bay Mỹ bị bắn rơi. Chiếc máy bay của Nguyễn Cao Kỳ bị đạn xuyên thủng cánh, Cao Kỳ bị thương, may sao cũng lết về sân bay Phú Bài ở Huế. Tư lệnh không quân ngụy hung hăng một phen hú vía - suýt toi mạng!

        Sau hai ngày liên tiếp "Mũi lao lửa" đánh phá Đồng Hới không có kết quả, chúng tạm ngừng oanh tạc để rút kinh nghiệm, cho máy bay trinh sát U2 bay tít độ cao mười sáu ngàn mét trinh sát vùng trời Khu Bốn chuẩn bị cho những đợt tiến công tiếp theo, 12 giờ 50 phút ngày 11 tháng 2 năm 1965 máy bay Mỹ lại được lệnh đánh phá dã man Quảng Bình, Vĩnh Linh. Trong ba ngày chiến đấu, quân và dân Quảng Bình, Vĩnh Linh bắn rơi 14 máy bay của lũ cướp trời.

        Mạc Lâm và anh Võ Quang chuẩn bị đến Hỏa Lò gặp tù binh mới. Các ông ý thức đây là dịp để tìm hiểu rõ âm mưu của Mỹ về cuộc chiến tranh, về lực lượng hải quân trên các tàu sân bay đã và đang có mặt tại vịnh Bắc Bộ. Cần phải tìm hiểu về chiến thuật, kỹ thuật tác chiến của hải quân, không quân mà chỉ huy các đơn vị không quân đã phổ biến cho phi công tham gia những trận xuất kích phá hoại miền Bắc. Thực tế, lúc đó Cục Tình báo cũng chỉ mỗi biết về lực lượng quân sự Mỹ qua sách báo, rất nhiều vấn đề cần phải hỏi để biết nhằm vừa phục vụ cho cấp trên chỉ đạo tác chiến vừa phục vụ cho các đơn vị phòng không, không quân ta đang gấp rút triển khai chuẩn bị cho cuộc chiến đấu, qua những nhân chứng sống bị chúng ta bắt được đang trong nhà tù.

        Thất bại cay đắng trong ngày 5 tháng 8 năm 1964 với tám máy bay bị hạ cùng với trung úy phi công An-va-rết bị bắt sống càng làm cho chính quyền Mỹ thêm cay cú hơn. Chiến dịch "Mũi lao lửa" từ ngày 7 tháng 2 đến ngày 15 tháng 5 năm 1965. Trong vòng gần một trăm ngày đã có 277 máy bay Mỹ bị quân và dân ta bắn rơi, nhiều phi công bị bắt sống trong đó có Su-mếch-cơ. Sau sáu tháng sống một mình trong phòng nhỏ của nhà tù, An-va-rết không giấu nổi nỗi lo âu khi biết có thêm phi công Mỹ mới đến. Khi chính thức biết Su-mếch-cơ vào nhà tù, An-va-rết kêu lên với vẻ thất vọng: "Chiến tranh rồi ư? Thế là hết hy vọng!".

        Mạc Lâm kể:

        Thiếu tá Su-mếch-cơ trông bơ phờ vì qua mấy ngày đêm đi đường mất ngủ, mệt mỏi. Thoạt đầu tôi nghĩ là anh ta bị thương, mặt mày nhăn nhó, người to cao trông thật thảm hại. Anh ta không bị thương, trạm xá kiểm tra, sức khỏe vẫn bình thường. Chúng tôi hỏi thăm tình hình sức khỏe, một vài câu chuyện vui vui thế là Su-mếch-cơ khai:

        - Sinh năm 1933 tại bang Pen-sin-va-ni-a, nhập ngũ năm 1952, lái máy bay tiêm kích F8 thuộc tàu bay Co-ran-xi.


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Hai, 2020, 06:15:03 am

        Thoáng một chút sợ sệt, nhìn chúng tôi như thăm dò rồi anh ta nói nhanh:

        - Tôi như vừa qua một cơn ác mộng khủng khiếp. Trong trận chiến đấu đầu tiên ở Đồng Hới, máy bay tôi bị "lưới lửa phòng không bao vây khi đang lượn vòng để bổ nhào cắt bom vào một trận địa cao xạ 57mm. Máy bay bỗng bị lắc mạnh, tôi biết là trúng đạn, liền vội vàng bật dù, toan chạy trốn trong tay cầm bộ đàm xin cấp cứu. Từ trên cao tôi vô cùng kinh ngạc, dưới đất có rất nhiều người chạy tới. Đó là những giây phút kinh hoàng đối với tôi không bao giờ quên. Tôi nghĩ là người ta sẽ giết tôi vì tôi vừa ném bom xuống đây. Nhưng thật kỳ lạ, sau một hồi lộn xộn, người ta không giết tôi, bắt và dẫn tôi đi trong con mắt căm thù của mọi người vây quanh.

        Để cho anh ta bình tĩnh, chúng tôi hỏi thăm tình hình gia đình, anh ta tỏ ra xúc động. Su-mếch-cơ từ tốn tâm sự:

        - Tôi có một con trai. Bà nội đã già, người anh em của tôi là luật sư. Tôi, ngay từ nhỏ rất thích khoa học kỹ thuật. Mơ ước được khám phá thế giới nên khi ngành du hành vũ trụ thuộc lĩnh vực quân sự tuyển người, tôi xung phong. Tôi vào quân đội, mê hải quân được đi đây đi đó. Bà tôi không muốn tôi tiếp tục trong quân ngũ, nhất là trong khóa thực tập ở Địa Trung Hải tôi nhảy dù rơi xuống biển suýt chết. Đây là lần thứ hai suýt chết...

        Là phi công vũ trụ dự bị, Su-mếch-cơ được lựa chọn đơn vị chiến đấu. Anh ta thích chiến đấu trong lực lượng hải quân để được đi nhiều nơi. Theo chu kỳ công tác của các tàu sân bay, Su-mếch-cơ đi nhiều vùng biển khác nhau khắp thế giới. Nhưng ở vùng biển Đông Nam Á đây là lần đầu tiên Su-mếch-cơ đến. Tàu đậu cách bờ biển Việt Nam về phía đông khoảng ba trăm hải lý. Trước khi cất cánh Su-mếch-cơ được nghiên cứu tác chiến trên bản đồ, sơ đồ và ảnh chụp mục tiêu do máy bay trinh sát cung cấp. Tất cả có vẻ hoàn hảo, anh ta thấy yên tâm, nhưng khi đến Đồng Hối thì nhiều điều khác xa, nhất là hệ thống phòng không. Lực lượng phòng không của ta dày đặc khiến cho anh ta run sợ, mất bình tĩnh.

        Máu nghề nghiệp có lúc anh ta ca cẩm với tôi:

        - Thưa ngài, tôi chỉ tiếc, suốt một đời trong quân ngũ, lần đầu tiên đi và chiến đấu, mới thực hiện được vài phi vụ đã bị các ông bắt. Ước mơ bay vào vũ trụ để nhìn trái đất nhỏ thế là tan thành mây khói. Bây giờ, lạy chúa, mong sao yên lành để được trở về với vợ con thôi.

        Tôi nói cho anh ta biết: Trong chiến tranh chống Pháp, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, tướng Đờ Cát và hàng vạn hàng binh Pháp đều được Việt Nam trao trả. Anh ta bình tĩnh tự tin hơn nhiều khác xa ngày anh bị quân và dân Đồng Hới bắt từ trên trời xuống.

        "Hơn một trăm dân quân, bộ đội, công an vũ trang khép chặt vòng vây. Tên phi công bị tóm lúc chiếc máy bay đang bốc cháy, hai tay đưa lên trời trong một điệu bộ vô cùng tuyệt vọng trên khuôn mặt nhợt nhạt, mồ hôi đầm đìa. Đi giữa dân quân, bộ đội và nhân dân vây quanh, tên phi công Mỹ mặt cúi xuống như muốn giấu cái xác to cao, ngực lông lá hung dữ của mình vừa gây tội ác. Câu đầu tiên hắn nói là lời rất thật: "Súng các ông bắn làm tôi rất sợ. Khi nhảy dù xuống đất và bị bắt, nhìn các ông thì không hiểu vì sao tôi bình tâm".

        Là một phi công có cỡ nên hắn biết chiến tranh chỉ mới bắt đầu, chưa kết thúc ngay được, sẽ còn ở tù lâu nên chủ động luyện tập. Su-mếch-cơ ngày càng tỏ ra thân thiện với những người phục vụ. Anh ta hiểu biết nhiều về các loại máy bay, về kỹ thuật chiến thuật không quân.

        Xã Nam Lý thành phố Đồng Hới vẫn còn nhớ chuyện dân quân du kích bắt tên phi công Mỹ. Trực tiếp bắt sống anh ta là một chiến sĩ công an Quảng Bình tên là Phạm Xuân Tánh, cùng xã đội trưởng Trần Đình Vưng và hai tiểu đội dân quân xã Lý Ninh là những người có công trong việc truy tìm giặc lái.

        Ồng Trần Đình Vưng sau này kể lại:

        - Thấy máy bay rơi, chúng tôi từ trụ sở ủy ban xã xách súng, chạy khoảng 4km băng qua đồi, đến khu Bầu Sại. Cạnh xác máy bay to đùng đang bốc cháy, đạn nổ đì đùng là một chiếc dù đổ nằm chình ình trên mặt đất. Chúng tôi tỏa ra sục sạo. Mãi 15 phút sau, đồng chí Hoàng Phưởng, một chiến sĩ dân quân của xóm Nam tăng cường, mới phát hiện được tên giặc lái đang ẩn nấp trong một bụi rậm. Anh hô lên: "Hắn đây rồi!". Chúng tôi chạy đến chĩa súng vào tên giặc lái. Đồng chí Phạm Văn Tánh, cảnh sát hình sự của công an Quảng Bình phụ trách địa bàn chúng tôi, trong đoàn truy tìm giặc lái đã nhanh nhẹn xông vào giật lấy máy bộ đàm, tháo súng, thu tờ giấy xin ăn bằng nhiều thứ chữ. Tên giặc la lên hãi hùng đến vã mồ hôi, ướt đầm cả quần áo và đưa hai tay lên trời. Chúng tôi giải hắn về ủy ban xã, rồi giao cho bộ đội, công an giải tiếp về Đồng Hới".

        Su-mếch-cơ được chính phủ ta trao trả cho chính phủ Mỹ trong đợt đầu tiên vào ngày 12 tháng 12 năm 1973 tại sân bay Gia Lâm, Hà Nội. Họ là những phi công tù binh Mỹ đã từng lái các loại máy bay tiêm kích A4, A3J, F4, F8, F100; lái các loại máy bay cường kích A6, A7, F105, lái các loại máy bay trực thăng CH3C, H43 hoặc lái máy bay trinh sát các loại RA5C, RF8A, RF101 và EB66.

        Người ta thấy Su-mếch-cơ cùng với An-va-rết - hai người "khách không mời" đầu tiên của "Trại giam Hỏa Lò - Khách sạn Hin-tơn" Hà Nội vui vẻ sánh vai nhau cùng bước lên máy bay.


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Hai, 2020, 06:15:49 am

NGƯỜI HÙNG MỸ CAY ĐẮNG

        Nhớ lại việc tham gia tìm phi công tù binh trên núi đá vôi Hòa Bình năm 1965, Mạc Lâm kể cho tôi nghe chuyện về người hùng phi công Mỹ. Anh ta quả là tinh khôn - lợi dụng sự hiểm trở của những vùng núi đá cho an toàn. Anh ta chắc thế, nhưng không ngờ cũng không thoát khỏi lưới trời lồng lộng của cuộc chiến tranh nhân dân, lưới lửa phòng không nhân dân.

        Hy vọng của Nhà trắng và Lầu năm góc Mỹ vào chiến dịch tiến công bằng không quân mang tên "Mũi lao lửa" uy hiếp tinh thần quân và dân ta, ngăn ngừa chi viện cho miền Nam bị tiêu tan mây khói. Không thể khuất phục miền Bắc trong vài ba tháng, Mỹ chuyển hướng tập trung đánh phá giao thông hòng cắt đứt nguồn tiếp tế sức người sức của từ miền Bắc vào Nam. Ngày 1 tháng 4 năm 1965 tổng thống Mỹ lệnh cho không quân Mỹ đánh phá cầu cống đường giao thông phía nam Hà Nội từ vĩ tuyến 20 trỏ vào. Như thế là chiến tranh lan rộng ra cả nước và ngày càng ác liệt. Cầu Hàm Rồng tỉnh Thanh Hóa trên trục đường quốc lộ Bắc - Nam thành mục tiêu đầu tiên của không quân Mỹ. Nhiều trận chiến đấu ác liệt của quân và dân ta để bảo vệ cầu làm thất bại nhiều đòn tiến công hiểm hóc của những tên phi công thiện chiến Mỹ. Người hùng của không quân Mỹ đã chỉ huy trận đánh ngày 4 tháng 4 năm 1965 còn lưu mãi trong "Lịch sử Quân chủng Phòng không - Không quân".

        "9 giờ 32 phút ngày 4 tháng 4 năm 1965 không quân địch tổ chức đánh cầu Hàm Rồng lần thứ hai. Trong trận đánh này địch sử dụng các phi đội F105 của liên đội 67 dưới sự chỉ huy trực tiếp của trung tá -  người hùng không quân Mỹ. Rút kinh nghiệm của trận đánh ngày 3 tháng 4, chúng áp dụng mọi thủ đoạn để vừa đối phó với lực lượng phòng không mặt đất, vừa đối phó với không quân ta. Máy bay địch yểm hộ trên không chặt chẽ, không tập trung ở khu chờ, vào từng tốp một cắt bom xong phải rút nhanh, cấm vòng trở lại mục tiêu lần thứ hai, không được bay dưới ba ngàn mét khi vào khu vực hỏa lực phòng không mặt đất. Mặc dù vậy, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 234 đã cùng các lực lượng phòng không bảo vệ cầu đánh lui nhiều đợt tiến công của địch. Đặc biệt, Đại đội 1 được giao nhiệm vụ chốt ở tây nam cầu đã bắn rơi ba máy bay địch và bắn bị thương nhiều chiếc khác".

        Người hùng phi công Mỹ, cùng chung số phận những tên cướp trời trên những máy bay bị bắn rơi.

        Người hùng phi công "có hạng" của không lực Hoa Kỳ, bị quân và dân Thanh Hóa bắt ngày 16 tháng 9 năm 1965. Anh ta đăng lính từ đại chiến thế giới lần thứ hai được thưởng huân chương "Chiếm đóng (Tây) Đức". Tham gia chiến tranh Triều Tiên (1950-1953) được thưởng Bội tinh "Chữ thập bay" và năm mề đay "Không quân", hai mề đay "Trái tim đỏ" được tôn vinh danh hiệu Người hùng không quân! Anh ta đến Việt Nam tham chiến với tư cách là chỉ huy một đơn vị bay cũng là người có nhiều kinh nghiệm, nhiều năm chiến đấu làm gương cho những phi công trẻ. Hy vọng của không lực Hoa Kỳ là thế.

        Anh ta có thể lái được nhiều loại máy bay, từ E86, E89 đến F100, F105... Anh ta lái máy bay cường kích F105D, từ căn cứ không quân Cò Rạt - Thái Lan bay vào đánh Hàm Rồng và bị bắt lúc tuổi đời bốn mươi.

        Có vị trí cao trong quân chủng, mặc cảm vì nỗi nhục bị bắt nên anh ta khá thận trọng khi trả lời các câu hỏi của chúng tôi. Cũng như nhiều phi công tù binh khác, chúng tôi giải thích cho anh ta về cuộc chiến tranh của Mỹ đang theo đuổi, về quân và dân ta chiến đấu hy sinh vì nền độc lập và thống nhất đất nước. Những ngày đầu anh ta trầm lặng, ngần ngại khi nói sự thật phi nghĩa cuộc chiến của Mỹ ở Việt Nam.

        Sau này, anh ta cởi mở hơn, kể tỉ mỉ về cái giây phút "không ngờ":

        - Trước khi cất cánh, tôi đã nghiên cứu rất kỹ địa hình Thanh Hóa và Ninh Bình. Tôi áp dụng lối bay rất thấp trên dãy núi đá, với tốc độ rất nhanh để tới mục tiêu an toàn. Tôi không tin trên dãy đá cao lỏm chởm ấy lại có súng phòng không Việt Nam bố trí, ai mà trèo lên đó được. Tuyệt! Không ngờ Việt Nam có một lưới lửa phòng không rất khôn ngoan, rộng khắp đến thế. Chắc sẽ còn nhiều người lái máy bay Mỹ vấp phải những điều mới lạ này!


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Hai, 2020, 06:16:06 am

        Chưa kịp thực hiện nhiệm vụ ném bom thì "thần sấm" tan xác và anh ta bị tóm. Thực ra đây không phải lần đầu. Cũng đã một lần anh ta suýt chết, máy bay bị dính đạn phòng không nhưng rất may anh ta nhảy dù xuống biển nên đã được cứu thoát. Cay cú chứ - là người hùng không quân cơ mà! Lần này khôn ngoan hơn - anh ta tìm đường bay trên đỉnh núi cũng không thoát! Tự ái nghề nghiệp nên nhiều lần anh ta hỏi tôi, rằng ai đã dùng loại súng gì, bố trí ở đâu trên núi đá cao để có thể hạ nhục anh ta? Tôi giải thích cho anh ta hiểu rằng, dân quân du kích vừa bắn máy bay vừa lao động sản xuất. Ở đâu có máy bay Mỹ đến ném bom là ở đó có các đơn vị bộ đội và dân quân du kích phục sẵn, kể cả trên núi đá để bắn máy bay Mỹ. Ở Hà Nội cũng thế, không chỉ có bộ đội, dân quân du kích mà cả học sinh, sinh viên vừa học vừa trực chiến bắn máy bay Mỹ.

        Dần dần Rai-nơ hiểu ra sự thật, thấy sự phi lý của cuộc chiến của Mỹ là hao người tốn của và rốt cục không tránh khỏi thất bại:

        - Chiến tranh gì cũng phải tính lãi hay lỗ. Hoa Kỳ có tiềm lực quân sự khá lớn, công nghiệp quốc phòng cũng như đội ngũ lái máy bay. Nhưng không thể bỏ qua sự tổn thất quá nặng về người - vốn quý sinh lực của quân đội Mỹ!

        Đôi khi y tỏ ra bực bội và nhục nhã vì phải vào trại quá sớm. Là người hùng một thời của không lực Hoa Kỳ nên khi phải vào trại giam Hỏa Lò - Khách sạn Hin-tơn Hà Nội gây không ít xôn xao trong trại giam. Sự có mặt của người hùng làm cho những phi công tù binh trẻ hơn lo sợ vì họ hiểu rằng khi đã dùng những con át chủ bài thì cuộc chiến chắc còn kéo dài. Người hùng thì tự trọng ngại gặp những đồng đội cấp dưới trong hoàn cảnh trớ trêu như thế này. Thời gian trôi đi, người hùng muốn được biết thêm tin tức về cuộc chiến, anh ta gặp chúng tôi để hỏi chuyện, trao đổi về nhiều lĩnh vực. Anh ta hiểu biết nhiều về các loại máy bay phản lực Mỹ, về B52.

        Phi công tù binh Mỹ lũ lượt được đưa vào trại giam Hỏa Lò - Khách sạn Hin-tơn trong đó không ít người cấp bậc trung tá, đại tá làm bớt dần mặc cảm trong Rai-nơ. Có lúc anh ta cũng tỏ ra bất mãn vì sự kiệt sức dần của không quân Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc. Cũng như những phi công tù binh khác, anh ta chỉ còn một nguyện vọng duy nhất:

        "Cầu chúa! Chiến tranh nhanh chóng kết thúc để được về nước!".

        Quen dần với cuộc sống, anh ta tham gia vào các hoạt động của trại. Được phép của Ban quản lý, những tù binh phi công Mỹ làm báo tường. Anh ta là "cây bút cứng" của tờ báo tường có tên là "Nhãn quan mới". Tất nhiên là việc chọn tên gì cho tờ báo có nhiều ý kiến khác nhau. Có ý kiến nên lấy tên "Đường bay mới" mang đặc trưng của những người đang sống trong trại. Cũng có ý kiến nên lấy tên "Nhà ở mới" vừa gần gũi vừa hợp với hoàn cảnh hiện tại... Nhưng rồi cuối cùng thì nhiều người tán thành cái tên nói lên sự thay đổi sau khi thoát chết được hưởng sự khoan hồng của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa: "Nhãn quan mới". "Nhãn quan mới" ra đời khá đều phản ánh tâm tư tình cảm của phi công tù binh đồng thời nói lên chính sách nhân đạo, cách đối xử tình nghĩa của nhà nước, các nhân viên trông coi trại giam.

        Những phi công tù binh Mỹ đều có một "nhãn quan mới" khi được sống với những người Việt Nam. Họ lấy tên nhà tư bản Mỹ chuyên kinh doanh quán ăn và đã có nhiều khách sạn nổi tiếng ở nhiều nơi trên thế giới đặt cho trại giam Hỏa Lò mà họ đang sống "Khách sạn Hin-tơn!".

        Có một phi công tù binh phát biểu với các nhà báo:

        - Thật ra không phải chỉ sau khi bước vào trại giam, tôi mới thấy rõ chính sách khoan hồng của các ông. Ngay từ khi mối rơi xuống đất Quảng Bình, rồi đưa bằng xe hơi qua Đồng Hới đến Hà Nội, bất cứ nơi nào và qua chặng đường nào, tôi đều được các ông đối xử nhân đạo. Điểu đó làm tôi rất xúc động và ngạc nhiên nữa. Tôi rất tin tưởng và yên tâm về chính sách đối xử của các ông.

        Đó cũng là nhận xét của ông Ran-xi Clác, nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp Mỹ dưới thời tổng thông Giôn-xơn đến thăm trại giam Hỏa Lò vào mùa thu năm 1971:

        "Tôi đã đi thăm nhiều trại giam trên thế giới sau khi cuộc chiến tranh thế giới kết thúc. Phải nói rằng, không trại giam nào tôi thấy được như ở trại giam này. Không có vẻ một chút gì là nhà tù hay nhà ngục cả".


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Hai, 2020, 06:17:22 am

PHI CÔNG CỨU NẠN GẶP NẠN

        Phi công tù binh Rô-bin-xơn trên chiếc máy bay trực thăng đi cứu nạn. Ngày 20 tháng 9 năm 1965, mấy phi đội máy bay F105 được mệnh danh là "Thần sấm sét" liên tiếp thay nhau quần đảo, ném bom bắn phá đường sắt, cầu cống nhằm cắt đứt con đường vận chuyển chiến lược của miền Bắc chi viện cho miền Nam trên đoạn Hương Sơn, Hà Tĩnh. Một chiếc F105 bị trúng đạn, "Thần sấm" tan tành, phi công kịp nhảy dù, kêu cứu. Rô-bin-xơn là thợ máy, anh ta lên máy bay trực thăng cứu nạn đi ngay. Máy bay đang lượn vài vòng để tìm mục tiêu cứu nạn thì chiếc trực thăng bị dính đạn thật ngọt. Anh ta cũng chịu chung số phận với những phi công xấu số. May mắn cho Rô-bin-xơn là còn kịp nhảy dù ra ngoài và bị quân và dân Hương Sơn tóm gọn.

        Hồi đó có một tấm ảnh nổi tiếng được đăng trên nhiều báo và tạp chí - hình ảnh một cô "du kích nhỏ" cầm súng trường dẫn giải một tên phi công Mỹ to cao phía trước. Dưới tấm ảnh có bốn câu thơ của nhà thơ Tố Hữu nói lên tư thế chiến thắng của quân và dân ta, của cả dân tộc trong cuộc chiến tranh tàn bạo của Mỹ:

        O du kích nhỏ giương cao súng
        Thằng Mỹ lênh khênh bước cúi đầu
        Ra thế, to gan hơn béo bụng
        Anh hùng đâu cứ phải mày râu.

        O du kích nhỏ trong ảnh chính là chị Nguyễn Thị Kim Lai, 17 tuổi, xã đội phó kiêm trung đội trưởng trung đội nữ dân quân xã Hương Phong, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh. Tên phi công Mỹ bị o du kích dẫn giải là Uy-liêm An-đru Rô-bin-xơn, sinh năm 1943 quê ở bang Bắc Ca-rô-li-na trên chiếc trực thăng cứu nạn H43, đơn vị đóng ở Đà Nẵng. Người kịp thời bấm máy là nghệ sĩ nhiếp ảnh Phan Thoan.

        "O du kích nhỏ" Nguyễn Thị Kim Lai có dịp kể lại: "Buổi chiều ngày 20 tháng 9 năm 1965, để cứu bọn máy bay ném bom bị ta bắn rơi, ba chiếc trực thăng của Mỹ đến cứu quần lượn trên bầu trời. Một trong ba chiếc ấy bị trúng đạn, gãy cánh quạt, bọn phi công Mỹ nhảy dù, trốn vào rừng. Các lực lượng xã Hương Phong được huy động đi vây bắt giặc lái. Tôi mới vào dân quân chưa được bao lâu, chưa rành mấy về súng đạn, chỉ biết mỗi động tác khóa an toàn và bóp cò, cũng hăng hái vác súng tìm giặc lái. Thật bất ngờ tôi là người đầu tiên phát hiện tên giặc lái Rô-bin-xơn đang ẩn nấp trong rừng. Biết địch có vũ khí, tôi dạn lắm, không biết sợ là gì, cùng anh em trong trung đội xông vào trói hắn. Nhìn tôi bé nhỏ, tên giặc Mỹ lại to lớn lênh khênh, mọi người trêu: "Để o Lai giải tên Mỹ đi, xem có to bằng cái bắp đùi của nó không?". Quả thật lúc đó tôi chỉ có 37kg, cao l,48m, còn tên Mỹ nặng 125kg và cao đến 2,2m".

        Từ đội viên du kích rồi o Lai làm xã đội phó, sau đó học một lớp y tá cấp tốc rồi xung phong vào chiến trường B5. Chuyện o tham gia bắt giặc lái Mỹ tưởng như đã đi vào quên lãng thì năm 1967, trong chiến trường B5, Lai bất ngờ phát hiện ảnh mình trên chiếc tem thư của một người bạn. Biết thế thôi, nhưng rồi công việc cứ thế cuốn trôi. Năm 1973, chị xuất ngũ, chị được chuyển ngành làm việc tại Ngân hàng tỉnh Quảng Bình. Hiện nay chị sống cùng gia đình tại ngõ 5 đường mang tên nhà thơ Xuân Diệu, tổ 16, phường Bắc Hà, thành phố Hà Tình, sống bằng nghề bốc thuốc giúp dân phố.

        Những chuyện xung quanh việc bắt phi công tù binh Mỹ Rô-bin-xơn thì vẫn được những người dân Hương Khê kể cho nhau nghe.

        Rô-bin-xơn đang trực chiến, được lệnh đi ứng cứu. Đang bay trên núi rừng Hương Khê, Hà Tĩnh chuẩn bị ứng cứu thì máy bay bỗng bị trúng đạn, loạng choạng rơi xuống vùng núi Khe Leo. Người bắn hạ máy bay Rô-bin-xơn là anh Trần Văn Thái, tuổi 25 là công nhân nông trường 20 tháng 4 Hương Khê. Trần Văn Thái leo lên cây cao dùng súng trường hạ gục trực thăng cứu nạn bằng hai phát đạn.

        Cùng trên chiếc trực thăng cứu nạn bị bắn rơi với Rô-bin-xơn còn có đại úy Tô-mát Fe-ri Cơ-tít sinh năm 1932 ở bang Tếch-dớt và bác sĩ An-tha Nên Blách sinh năm 1944 ở bang Pen-sin-ra-ni-a. Trong rừng, cả tốp trốn trong một cái hang đá sâu. Chúng tưởng thế là an toàn, chờ ứng cứu. Nhưng không ngờ, không đầy 30 phút sau họ đã bị bao vây bởi hàng trăm người - bộ đội, dân quân và dân địa phương, cả tốp bị bắt sống, được đưa về xã Phú Phong. Ba ngày ở xã Phú Phong, toán giặc lái Mỹ được giam tại các gia đình ông bà Nguyễn Thị Lương, Nguyễn Việt Úy, Nguyễn Kim Thoan và Nguyễn Kim Tụy. Sự luân chuyển ở nhiều nhà để tránh máy bay Mỹ phát hiện. Người nấu cho tù binh Mỹ ăn lúc bấy giờ kể lại:

        "Khi đưa chúng về đến làng, chiếc máy đeo bên hông hắn liên tục phát ra tiếng tích tè, giống như tín hiệu cấp cứu. Rứa là máy bay Mỹ kéo tới từng đàn lượn ràn rạt trên trời rõ khiếp! Ta không ai biết tắt tích tè đó cả, sau phải đập nát nó thì máy bay mới thôi quần đảo".


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Hai, 2020, 07:39:23 am

        Người con trai của bà Nguyễn Thị Lương nhớ lại:

        "Mẹ tôi chẳng nói gì cũng không tỏ rõ sự căm phẫn như nhiều người khác. Mặc dù tôi hiểu, cũng như tôi không bao giờ muốn có thằng Mỹ hiện diện trong nhà mình. Cha tôi đang đi đánh Mỹ ở chiến trường xa, hàng đêm mẹ tôi thở dài khó ngủ. Thế mà lúc này mẹ phải đi soạn chiếc giường cho Rô-bin-xơn nghỉ. Buồn cười nhất là toán phi công khát nước quá mà lúc đó chưa có phiên dịch. Chúng nó cứ lấy tay khoát lấy khoát để ra hiệu. Mọi người tưởng chúng đòi rửa tay bèn múc cho một chậu nước. Thấy nước, cả bốn tên vục mặt vào chậu uống lấy uống để. Mẹ tôi đua cam cho, Rô-bin-xơn cầm lấy cả quả cắn ăn không biết bóc vỏ, tách múi. Ăn cơm thì bốc bằng tay không biết cầm đũa. Hễ mẹ tôi hay bà Đường mang cơm đến là chúng chắp hai tay vái lạy tỏ ý cảm ơn. Rô-bin-xơn người cao to quá khổ, khi nằm trên chiếc giường tre của mẹ tôi bị gãy ụp. Mẹ tôi nhường bộ phản duy nhất cho chúng"...

        Nghệ sĩ nhiếp ảnh Phan Thoan, tác giả bức ảnh lịch sử "O du kích nhỏ" được trao tặng Huy chương vàng quốc tế về nghệ thuật nhiếp ảnh tại đại hội liên hoan thanh niên sinh viên thế giới lần thứ 9 tại Sofia, Bungari năm 1968. Tấm ảnh được phóng cao 6m treo trên cổng chính hội trường lớn đại hội. Ở La-ha-ba-na nước Cộng hòa Cu Ba, bức ảnh này được phóng cao 8m treo trên cao. Nghệ sĩ nhiếp ảnh Phan Thoan kể về hoàn cảnh ông bấm máy: "Tôi luôn có mặt ở trận địa chiến đấu. Tôi đang chụp ảnh cuộc chiến đấu ở Phà Địa Lợi, cách vị trí chiếc trực thăng rơi hơn 10 km. Nghe tin máy bay rơi, tôi đã nhanh chóng di chuyển đến khu vực truy lùng giặc lái và kịp thời chụp được ảnh".

        Còn Rô-bin-xơn tâm sự với nhà báo Nhật:

        "Khi thấy ánh chớp máy ảnh, tôi biết là họ chụp để tuyên truyền, tôi muốn ngẩng đầu lên để gia đình tôi biết rõ mặt, biết là tôi còn sống. Nhưng rồi người phóng viên nhiếp ảnh đã kịp chụp đúng vào lúc tôi đang mải suy tư, buồn bã đến không thế ngẩng lên được. Trước khi rời Việt Nam tôi đã thiết tha đề đạt một nguyện vọng là được gặp lại cô gái nhỏ, người đã tước vũ khí và bắt giải tôi, nhưng điều đó chưa kịp thực hiện".

        Tuy là to cao nhưng Rô-bin-xơn còn "trẻ người non dạ" dễ kích động. Mạc Lâm nhớ một lần anh ta đến thắc mắc với cán bộ phụ trách trại:

        - Tại sao tôi có thư mà các ông không đưa?

        Người phụ trách trại ôn tồn trả lời:

        - Nếu có thư chúng tôi đưa cho anh ngay, giữ làm gì.

        Rô-bin-xơn nói:

        - Có một ông sĩ quan Hoa Kỳ nói với tôi như thế.

        Người phụ trách trại ôn tồn giải thích:

        - Anh biết rồi đấy, trại không có đánh đập, không có nhục hình hay trù bất cứ một ai. Vậy sĩ quan Hoa Kỳ nào nói anh hãy đưa người ấy sang đây để đối chứng. Nếu không đúng anh cần phải rút kinh nghiệm. Không nên bạ gì cũng nghe mà thiếu suy nghĩ.

        Suy nghĩ lại, đúng là mình bị sĩ quan Hoa Kỳ đánh lừa. Anh ta ngạc nhiên, thấy nhà cầm quyển trại không nổi nóng, không cáu kỉnh mắng anh ta.

        Mấy hôm sau, anh ta xin gặp người quản lý trại, nói giọng thành thật:

        - Đó là một ấn tượng rất sâu sắc đối với tôi. Trong đời lính tôi chưa từng thấy sĩ quan nào như các ông, tốt đến như thế.

        Thấy người quản lý trại mỉm cười, anh ta mạnh dạn nói tiếp:

        - Trong quân đội Mỹ, sĩ quan và binh sĩ rất cách biệt. Binh sĩ luôn bị sĩ quan khinh miệt, bạt tai, đá đít. Ở đây sĩ quan và binh sĩ Việt Nam rất kỷ luật nhưng cũng rất chan hòa, gần gũi nhau. Tôi rất cảm động vì ở đây tôi được đối xử bình đẳng với sĩ quan Hoa Kỳ - cùng hưởng một chế độ và ngồi cùng hàng với sĩ quan khi xem phim. Từ khi vào đây tôi mới được đối xử như thế, không phân biệt cấp bậc.

        Nhận xét của Rô-bin-xơn gần giống nhận xét của trung úy người da đen Nôi-rit Sác-lơ trước đây: "Chỉ trong trại giam Bắc Việt tôi mới được đối xử bình đẳng, không phân biệt màu da".

        Trong số 471 phi công tù binh Mỹ được Chính phủ ta trao trả về nước vào mùa xuân 1973 có Rô-bin-xơn. Quà anh ta mang về quê hương sau nhiều năm ở trại giam Hỏa Lò - Khách sạn Hin-tơn được anh ta giữ gìn cẩn thận là con tem có hình "O du kích nhỏ" cầm súng áp giải viên phi công Rô-bin-xơn và chiếc hộp con làm bằng xác máy bay Mỹ - "Con tem này là một kỷ niệm không sao quên được trong đời tôi. Mấy năm qua tôi ở đây được đối xử bình đẳng với các sĩ quan Mỹ, điều mà trong quân đội Mỹ chưa hề có".

        Ba mươi hai năm sau, năm 1995, Rô-bin-xơn cùng vợ sang Việt Nam, về thăm lại xã Phú Phong ngày ấy. Rô-bin-xơn gặp lại "O du kích nhỏ" và dân làng đã cưu mang anh ta. Cùng đi với vợ chồng Rô-bin-xơn có đoàn làm phim tài liệu Trung ương. Bộ phim "Cuộc hội ngộ sau 30 năm" của đạo diễn Lê Mạnh Thích ghi lại hình ảnh Rô-bin-xơn thăm chị Lai và dân làng Hương Phong. Rô-bin-xơn xúc động nhắc đi nhắc lại nhiều lần: "Người Việt Nam nhân hậu quá!".


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Hai, 2020, 07:40:31 am

MẠC LÂM TRONG CON MẮT PHI CÔNG MỸ

        Ban hỏi cung phi công tù binh Mỹ chính thức chỉ có hai người là Phan Mạc Lâm và Lâm Hoài. Khi có nhiều tù binh Mỹ cần khai thác gấp thì cấp trên điều động thêm một vài người khác nữa. Vì thế mà Mỹ đã vẽ hình Mạc Lâm làm con ngáo ộp dọa phi công Mỹ trước khi sang tham chiến ở Việt Nam.

        Một phi công tù binh Mỹ có cuộc trò chuyện với Mạc Lâm về nội dung một buổi sát hạch về đề tài "Khai cung" của phi công Mỹ trong trường hợp bị bắt:

        "Trước khi đến Việt Nam người ta cho chúng tôi đến một nước gần Việt Nam, tập trung trong một căn cứ huấn luyện. Chúng tôi được phổ biến là để sát hạch, chấm điểm về đề tài "Khai cung" trong trường hợp bị bắt. Việc sát hạch được tổ chức như sau:

        Đúng giờ, một sĩ quan an ninh Mỹ và mấy người nữa cùng đi vào phòng sát hạch. Không khí trong phòng khá căng thẳng. Ba sĩ quan không quân cùng một lúc ngồi trong phòng chuẩn bị sát hạch. Ban giám khảo tuyên bố: Đây là buổi sát hạch khai cung. Giả định khi làm nhiệm vụ ở miền Bắc Việt Nam, máy bay bị bắn cháy, bị bắt đưa về nhà tù Hỏa Lò Hà Nội. Người hỏi cung là một "sĩ quan an ninh cộng sản". Theo quân luật Mỹ, sĩ quan khi bị kẻ thù bắt, chỉ có thể trả lời những nội dung sau: tên tuổi, ngày sinh, quê quán, số quân nhân. Ngoài ra không được khai bất kỳ điều gì liên quan đến quân sự, chính trị...

        Mac Lâm cắt lời, hỏi ngay:

        - Sĩ quan mặc quân phục, có phù hiệu hải quân, không quân. Vậy có cấm khai rõ đơn vị nào, lái loại máy bay nào không?

        - Thưa ông, nhiều người thắc mắc điều đó, họ bảo cấp trên đang nghiên cứu.

        Người tù binh nhìn Mạc Lâm, vui kể lại:

        - Tôi trông ông tóc bạc, rất vui tính, nhưng họ kể về ông khác hẳn.

        Mạc Lâm hỏi tiếp:

        - Sì quan an ninh kể gì về tôi - cứ kể thực đi, xem đó là một chuyện vui!

        - Họ đưa cho chúng tôi xem bức ảnh một người đàn ông khá giống ông rồi nói bằng một giọng trịnh trọng: "Đây là một sĩ quan an ninh Hà Nội đang hỏi cung phi công Mỹ bị bắt ở trại này".

        - Ảnh chụp hay ảnh vẽ? - Tôi hỏi.

        Phi công tù binh Mỹ:

        - Thưa ông, ảnh vẽ. Chúng tôi nghe nói một tù binh được trao trả, đã diễn tả lại cuộc hỏi cung, miêu tả hình dáng ông. Cơ quan an ninh Mỹ thuê họa sĩ vẽ theo lời kể của nó và chụp lại thành nhiều ảnh.

        Mạc Lâm thấy vui vui, nói với anh ta:

        - Anh kể tiếp đi. Hay quá. - Vừa nói ông vừa gạt bao thuốc lá về phía người phi công tù binh, khuyên khích: Cứ hút thuốc mà kể.

        Người phi công tù binh kể tiếp:

        - Rồi họ bắt đầu hỏi cung, chúng tôi phải trả lời: "Tên anh là gì?". Tôi ngồi im không trả lời. Thế là một trong hai người hỏi cung chạy tới hùng hổ, đánh tôi túi bụi, khá đau. Bạn tôi bên cạnh hốt hoảng vì tôi bị đánh đau.

        Đến lượt bạn tôi. vẫn câu hỏi: "Tên anh là gì?". Cậu ta trả lời ấp úng, lại cũng bị đòn như tôi.

        Cậu thứ ba, cũng câu hỏi: "Tên anh là gì?". Cậu ta trả lời vớ vẩn cũng bị đánh nốt.

        Giải thích vì sao chúng tôi bị đánh, sĩ quan an ninh nói: "Vì luật cho phép khai điều đó, nếu các anh không khai, an ninh cộng sản sẽ trừng phạt như ở đây vậy. Họ đánh để khai thác tin tức". Còn một số câu hỏi khác họ đặt ra chúng tôi trả lời cũng bị đánh tuốt. Họ giải thích: "Không được khai, nếu khai, hoặc khai sai an ninh cộng sản có cớ để trừng phạt!".

        Trỏ lại với công việc, Mạc Lâm hỏi anh ta:

        - Từ hôm về trại đến nay, anh có bị đối xử như thế không?

        - Thưa ông, tôi về đây mấy hôm nay. Hôm đầu tiên tôi cũng rất lo lắng, chờ đợi để đối phó. Tôi im lặng quan sát động tĩnh xung quanh. Thật lạ, vẫn thấy phòng bên cạnh có tiếng người Mỹ - có cả tiếng châu chạy và cả huýt sáo nữa. Ngay đêm qua tôi ngủ thiếp đi vì không sợ bị tra khảo đánh đập như sĩ quan an ninh Mỹ nói.

        Trung tâm huấn luyện Mỹ lấy Mạc Lâm làm hình mẫu cho một nhân vật ''an ninh cộng sản" tại trại giam Hà Nội để khủng bố tinh thần phi công Mỹ cũng là một cách để giáo dục lòng trung thành cho công dân Mỹ trước khi ra trận. Điều bịa đặt về sự đã man tàn ác của "an ninh cộng sản" bị chính những phi công tù binh Mỹ vạch trần sự thật. Mới đến trại, nhìn Mạc Lâm người tù binh trẻ nhận ra đó là "an ninh cộng sản" nhưng lại không tàn ác như anh ta đã từng được nghe cấp trên lên lớp.

        Mạc Lâm chất phác và hiền lành. Ông tận tụy với công việc. Bảy năm liền ông thường trực ở Hỏa Lò để khai thác tù binh phi công Mỹ. Những buổi hỏi cung ông ngồi trong căn phòng nhỏ chừng 10m2 với một ấm trà nhỏ. Ông hút thuốc lá nhiều, nhất là những hôm mưa rét phải ngồi thâu đêm. Mạc Lâm nghiện nặng không sao bỏ được. Cho đến bây giờ đã ở tuổi tám mươi ông vẫn không bỏ được thuốc lá. Bác sĩ khuyên ông nếu bỏ thuốc lá sức khỏe ông tốt lên trông thấy nhưng không sao bỏ được. Cà phê cũng là món khoái khẩu của ông. Cũng là do công việc khai thác tù binh. Có đêm, vợ ông phải mang cà phê từ nhà đến Hỏa Lò, không được vào trong, phải pha cà phê từ ngoài cổng nhờ người mang vào cho ông. Hầu như trong thời gian ấy ông làm việc ở Hỏa Lò suốt ngày đêm, có đêm chỉ ngủ được 15-30 phút, ngủ ngay trên bàn hỏi cung.


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Hai, 2020, 07:40:49 am

        Hỏi cung để khai thác tù binh phi công Mỹ là một cuộc đấu trí đấu lực. Những phi công Mỹ được nhồi nhét tư tưởng chống cộng, niềm tự hào không lực của đại cường quốc Hoa Kỳ nhất thế giới. Nào là lòng trung thành vô hạn với tổ quốc cùng với Luật sĩ quan Mỹ. Rồi cả tư tưởng hiếu thắng, sự tự ái nghề nghiệp... Không dễ gì họ khai ra những điều ta cần. Ấy thế mà hầu như những phi công bị ta bắt làm tù binh đều khai báo. Không chỉ họ ham sống sợ chết. Không chỉ chính sách nhân đạo của Nhà nước ta đối với tù binh và thực tế nhận ra sự giả dối của chính quyền Mỹ "bịt mắt" đưa họ vào cuộc chiến. Họ đi qua những khu dân cư vừa bị đánh phá, gặp những nạn nhân do đạn bom hủy diệt của chính họ ném xuống thức tỉnh lương tâm... Mà còn là sự cảm hóa của người "an ninh cộng sản" đổi với họ. Với mái tóc bạc, người gầy dễ cảm tình, cặp mắt đen sáng nhìn thấu tim gan mà nhiều tù binh Mỹ mãi sau này vẫn không quên được. Nhìn ông lúc đó họ sợ - "hình như ông ta biết tất cả rồi" nghĩ thế nên họ không thể không khai báo trung thực! Chưa đủ, ở ông còn là một con người đứng tuổi từng trải, một vốn sống và chiến đấu phong phú mà những phi công tù binh Mỹ dù là cấp đại tá, trung tá chỉ đào tạo qua trường đối với ông chỉ là học trò xa. Những câu chuyện tâm tình về gia đình, quê hương, chuyện vợ con làm cho nhiều tù binh cảm động lắm. Những kiến thức về quân sự nhất là những hiểu biết sâu về lực lượng hải quân, không quân Mỹ cũng là một vũ khí lợi hại trong cuộc chiến đấu thầm lặng giữa Mạc Lâm với những phi công tù binh Mỹ. Kiến thức có được chính là kết quả của nhiêu năm Mạc Lâm nghiên cứu qua các tạp chí Mỹ. Ông nhớ chi tiết từng hạm đội, từng loại máy bay kể cả kỹ thuật, chiến thuật tác chiến. Ông theo dõi sát sự di chuyển của từng hạm đội. Đến bây giờ, ông vẫn nhớ:

        "Năm 1965 Mỹ có bốn hạm đội. Hạm đội 1 có 90 tàu hoạt động ở bắc Thái Bình Dương. Hạm đội 2 có 40 tàu hoạt động ở trung Đại Tây Dương. Hạm đội 6 có 50 tàu hoạt động ở biển Địa Trung Hải. Hạm đội 7 có 117 tàu hoạt động ở biển tây Thái Bình Dương. Hạm đội 7 tuần tiễu từ bờ biển vùng Xibêri đến Inđônêxia có khi còn tói cả Bắc Úc. Ông nhớ cả số tàu chiến và số máy bay trên Hạm đội 7: trong số 117 tàu của Hạm đội 7 có 4 hàng không mẫu hạm, 3 tuần dương hạm, 8 tàu ngầm, 25 tàu đổ bộ, 44 tàu hộ tống. Hạm đội 7 có 650 máy bay trong đó 140 máy bay tiêm kích, 150 máy bay cường kích còn lại là trinh sát và vận tải các loại. Ông còn biết, trên tàu sân bay còn có cả nhà thờ thì phi công tù binh Mỹ phục lăn. Thế là, nhiều khi không khảo mà xưng, khâm phục sự uyên bác, vui tính, có phi công tù binh Mỹ muốn được thể hiện sự hiểu biết của mình tranh luận với ông, có phi công tù binh Mỹ mến sự cởi mở, vui tính, trò chuyện cùng ông cho quên nỗi nhớ nhà, giết thời gian trong tù. Vậy là bao nhiêu chuyện họ kể cho ông nghe. Trong tay ông có hàng ngàn trang tài liệu về không quân và hải quân Mỹ, về các loại máy bay mà đặc biệt là về máy bay B52 qua lời khai của phi công tù binh.

        Không phải ngay từ đầu ta hiểu về chiến tranh phá hoại của Mỹ ra miền Bắc. Qua những phi công tù binh Mỹ khai báo, dần dần chúng ta hiểu để chủ động chiến đấu và chiến thắng làm phá sản cuộc chiến tranh leo thang tàn bạo của chúng. Mỹ chia miền Bắc ra làm nhiều khu vực. Từ vĩ tuyến 20 trở vào chúng tập trung và liên tục đánh phá trong suốt cuộc chiến tranh âm mưu ngăn chặn đường vận tải chiến lược chi viện của miền Bắc cho miền Nam. Từ vĩ tuyến 20 trở ra thời kỳ đầu chúng đánh phá các mục tiêu giao thông cả về đường thuỷ, đường bộ và đường sắt gồm các nhà ga, kho tàng, bến bãi, cầu đường, sân bay. Chúng quy định dải đất thánh tức là khu vực biên giới Việt Nam - Trung Quốc chưa được phép đánh phá. Khu vực Hà Nội, thời gian đầu còn là khu vực hạn chế đối với không quân Mỹ.

        Do bố trí lực lượng và khả năng kỹ thuật, chiến thuật của các loại máy bay chúng phân công: máy bay của hải quân Mỹ từ các tàu sân bay trên Hạm đội 7 chủ yếu đánh các mục tiêu ven biển. Máy bay của không quân Mỹ từ các sân bay U Đon, Cò Rạt, Utapao trên đất Thái Lan đánh phá các mục tiêu nằm sâu trong đất liền khu vực Tây Bắc. Các mục tiêu khu vực Hà Nội, dọc đường quốc lộ 1 thì phối hợp cả máy bay của không quân và hải quân Mỹ cùng tham gia. Khi tiến hành đánh các mục tiêu thuộc khu vực Hà Nội do bộ tham mưu liên quân Mỹ duyệt từng mục tiêu, từng trận đánh. Biết được tính năng, kỹ thuật, chiến thuật các loại máy bay và âm mưu của Mỹ ta có điều kiện chuẩn bị cũng như bố trí lực lượng tiêu diệt chúng.


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Hai, 2020, 07:41:16 am

        Chiến tranh phá hoại miền Bắc nước ta từ năm 1964 đến năm 1972 Mỹ tiến hành từng bước. Bất lực trong cuộc chiến tranh ở miền Nam chúng tưởng mở rộng chiến tranh ra miền Bắc mà trọng tâm là dùng không quân tập trung đánh phá con đường Trường Sơn chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam của hậu phương lớn miền Bắc. Nhưng càng leo thang, Mỹ càng thất bại nặng nề. Trên lĩnh vực quân sự, không quân và hải quân Mỹ đánh phá miền Bắc cũng phải từng bước, từng bước một dù là liều lĩnh. Chuẩn bị cho việc leo thang đánh phá "vùng tử địa" chúng đắn đo cân nhắc. Từ giữa năm 1966 chúng đánh phá dần đến vĩ tuyến 20, mật độ đánh phá tăng lên gấp bội kể cả phía nam khu vực miền Trung từ Nghệ An trở vào mà chúng gọi là "vùng cán xoong". Tiếp tục đánh phá vùng lân cận Hà Nội, Mỹ tập trung nhiều trung đoàn không quân mạnh. Trước đó, đánh phá phía Bắc vĩ tuyến 17 chủ yếu là Hạm đội 7 và các đơn vị không quân đóng ở căn cứ Thái Lan đảm nhiệm. Từ năm 1966, Mỹ huy động các đơn vị thường trực, vơ vét cả một phần không quân ở châu Âu và lực lượng dự bị của chính nước Mỹ vào cuộc. Vấn đề lớn nhất tiếp tục chiến tranh là phải đào tạo gấp đội ngũ phi công mới và thêm ở các nhà máy sản xuất máy bay và bom đạn. Không phải là Mỹ giàu có đến mức thứ gì cần bao nhiêu cũng có ngay. Ngừng ném bom miền Bắc trong năm 1968 cũng không chỉ là do thất bại cay đắng mà còn là để Mỹ có thời gian đào tạo phi công, phi hành đoàn và cả việc sản xuất vũ khí đạn dược. Còn đối với phi công Mỹ, tinh thần chiến đấu ngày càng sa sút. Càng leo thang chúng càng sợ hãi. Những chuyến đi oanh kích, nhiều máy bay không trở về, nhiều đơn vị không quân được tăng cường càng tăng thêm nỗi hoang mang đối với những người hùng của nước Mỹ. Đối với chúng, bay vào vùng trời Việt Nam không còn chỗ nào là an toàn. Phi công tù binh Mỹ nói đúng: "Nơi an toàn nhất là trại giam tù binh Mỹ".

        Đây là một đoạn đối thoại giữa Mạc Lâm và phi công tù binh Mỹ năm 1967.

        Phi công tù binh Mỹ:

        - Sân bay Tác Li Thái Lan có thêm một trung đoàn F105 nữa. Chỉ mới một tháng đánh rộng ra phía bắc Hà Nội mà căn cứ không quân Mỹ ở Thái Lan đã có thêm mười máy bay nữa bị bắn rơi, nhiều phi công cấp tá bị bắt hoặc mất tích. Nhiều tử địa đối với không quân Mỹ! Chúng tôi thường gọi tử địa bằng một mật danh "5.5.5".

        Mạc Lâm:

        - Ở đâu là tử địa và ở đâu là thánh địa?

        Phi công tù binh Mỹ:

        - Không ở đâu an toàn cả. Từ vĩ tuyến 20 trở ra, ở đâu cũng là tử địa đối với chúng tôi. Ba Vì là tử địa đối với không quân nếu bay từ hướng tây và tây bắc đến đánh Hà Nội.

        Mạc Lâm:

        - Vậy ở đâu là thánh địa?

        Phi công tù binh Mỹ:

        - Thưa ông, Hà Nội là một vùng tử địa! Nhưng hiện nay, bộ tham mưu liên quân vẫn xác định Hà Nội là một vùng hạn chế.

        Mạc Lâm:

        - Vùng hạn chế là thế nào?

        Phi công tù binh Mỹ:

        - Thưa ông, hạn chế là chỉ được đánh vào một số mục tiêu do bộ tham mưu liên quân quyết định - còn được gọi là mục tiêu JCS (bộ tham mưu liên quân). Chúng tôi được phổ biến như thế.

        Mạc Lâm:

        - Những bước leo thang mới?

        Phi công tù binh Mỹ:

        - Các đơn vị không quân đóng căn cứ phía Nam sẽ tham gia đánh miền Bắc. Các đơn vị có căn cứ ở Thái Lan sẽ đánh sâu hơn. Có tin, sẽ phối hợp không quân và hải quân đánh vào Hà Nội. Sở chỉ huy trên không, trinh sát điện tử EB66 sẽ có mặt ở hướng này. Trực thăng cấp cứu thường trực trên vùng biên giới Việt - Lào.

        Mạc Lâm:

        - Theo anh, mục tiêu nào ở Hà Nội là an toàn?

        Phi công tù binh Mỹ:

        - Thưa ông, như ông biết đấy, đó là trại giam tù binh Mỹ.

        Mạc Lâm ngạc nhiên:

        - Trại này ư. Tại sao?

        Phi công tù binh Mỹ:

        - Chúng tôi biết, máy bay Mỹ phải đánh xa khu vực trại giam này. Tránh đánh vùng lân cận vì sợ tên bay đạn lạc không ai có thể lường trước. Vì thế, một số mục tiêu phải đánh bằng bom lade. Họ tìm cách cướp tù binh vì mới đánh phá miền Bắc vài năm mà phi công bị mất quá nhiều.

        Mạc Lâm:

        - JCS biết trại giam?

        Phi công tù binh Mỹ:

        - Thưa ông. Họ ghi rõ trên bản đồ và có ảnh chụp tất cả.

        Mạc Lâm:

        - Hoa Kỳ có nhiều máy bay mới, bom đạn mới và cả át chủ bài B52 nữa. Vậy sẽ leo thang đến đâu?

        Phi công tù binh Mỹ:

        - Thưa ông, chả có loại nào thật mới. Không quân của không quân có F4D, F4E là mới nhất. F111 mới chỉ có vài đại đội. B52 mang bom nhiều, ném bom hàng loạt nhưng không dễ vào Hà Nội được an toàn vì lưới lửa phòng không của các ông rất mạnh. Không quân của hải quân nghe nói có A6E. Leo thang nhưng vẫn chú trọng khu vực "cán xoong".

        Tôi hỏi về công việc hàng ngày đối mặt với phi công tù binh Mỹ, ông vẫn nhớ tỉ mỉ:

        7 giờ sáng đi lấy cung ở Hoả Lò đến 11 giờ - 12 giờ nghỉ ăn trưa rồi báo cáo miệng hoặc báo cáo bằng văn bản nội dung vừa khai thác lên cấp trên.

        12 giờ đến 16 giờ 30 hỏi cung tiếp, ăn cơm chiều xong lại báo cáo bằng miệng hoặc văn bản theo yêu cầu của cấp trên.

        17 giờ đến 1 giờ hôm sau hỏi cung tiếp. Sau đó viết báo cáo chính thức bằng văn bản (đánh máy chữ) gửi lên cấp trên.

        Tuỳ theo yêu cầu nhiệm vụ hàng ngày mà sau khi có báo cáo chính thức, Mạc Lâm có thể trực tiếp báo cáo lên cấp trên hoặc gặp và làm việc với Bộ tư lệnh Phòng không - Không quân. Cũng có khi Mạc Lâm báo cáo trực tiếp với các thủ trưởng Bộ Tổng tham mưu hoặc thủ trưởng Bộ Quốc phòng.

        - Nói thế thôi chứ công việc chúng tôi bất tử lắm. Có khi được tin địa phương bắt được giặc lái chưa kịp đưa về trại, chúng tôi cũng phải đến tận nơi. Cũng có khi cùng dân quân đi tìm giặc lái Mỹ lẩn trốn trong rừng. Trưa hôm trước không quân chiến thuật Mỹ tập trung đánh phá ác liệt khu vực Hoà Bình. Một máy bay bị trúng đạn, bốc cháy, lao đầu xuống núi và một chiếc dù rơi gần đó. Quân và dân địa phương tổ chức lùng sục tìm bắt giặc lái nhưng cả chiều hôm đó, chưa thấy tung tích hắn ở đâu cả. Có một chiếc máy bay tiêm kích đến khu vực có chiếc dù rơi lượn vài vòng rồi chuồn thẳng. Sáng hôm sau tôi được lệnh phải lên Hoà Bình cùng địa phương tìm giặc lái Mỹ đang lẩn trốn. Huyện đội khẳng định dân thấy dù rơi vào khu vực núi đá rậm rạp. Vì địa hình phức tạp lại quá chiều nên ban đêm không tìm thấy. Tỉnh yêu cầu Trung ương giúp tìm để khai thác kịp thời đối phó trong đợt tác chiến sắp tói. Một mình tôi cùng với lái xe đi ngay.


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Hai, 2020, 07:41:40 am

        Ngồi trên xe, ông buồn cười nhớ lại lời khai của một phi công tù binh Mỹ về cuộc sát hạch "cấp cứu thoát hiểm" của chúng trước khi sang Việt Nam ở một căn cứ quân sự gần Việt Nam. Đúng là quân đội Mỹ, thứ gì cũng có vẻ chính quy, cũng sát hạch:

        "Trước khi đến Việt Nam, người ta đưa chúng tôi đến một căn cứ huấn luyện ở một nước Đông Nam Á. Chúng tôi phải qua một khoá huấn luyện sau đó phải sát hạch cái gọi là "cấp cứu thoát hiểm". Nội dung như sau: Từ căn cứ chúng tôi lên máy bay vận tải, tới một vùng rừng núi khá rậm rạp. Đúng chỉ lệnh, từ trên máy bay, chúng tôi nhảy dù, tiếp đất cởi dù ra cất giấu trong bụi rậm, lấy máy thông tin liên lạc gọi cho đội cấp cứu cách xa khoảng một trăm ki-lô-mét. Sẽ xảy ra hai tình huống để vận dụng theo bài bản huấn luyện:

        Trường hợp nhảy dù gần dân thì chúng tôi phải lập tức chạy trốn, càng xa khu dân cư càng tốt tìm chỗ kín để ẩn nấp. Rồi gọi đội cấp cứu - báo rõ tình hình mặt đất khu vực đang ẩn náu. Có người săn lùng hay không, mức độ nguy hiểm để bọn cấp cứu xử lý. Phải đề phòng trường hợp máy bay cấp cứu bị súng dưới bắn lên nguy hiểm. Trực thăng cấp cứu sẽ gọi tốp cường kích để đánh phá nghi binh, đe doạ ngăn chặn những người đến bắt.

        Trường hợp nhảy dù xuống xa khu vực dân cư thì liên lạc ngay với đội cấp cứu, bắn pháo hiệu lên khi máy bay cấp cứu đang tới.

        Căn cứ huấn luyện cũng thuê một bọn người bản xứ giả làm người Việt Nam lùng bắt chúng tôi như thật. Chúng tôi phải chạy trong rừng rất khốn khổ để thoát khỏi sự săn lùng. Khi chúng tôi gọi được đội cấp cứu đến, lên được máy bay là kết thúc sát hạch. Họ bảo chúng tôi nếu không tìm cách thoát được, bị dân chúng bắt thì chỉ có chết thôi!".

        Ông mủm mỉm cười. Từ tỉnh về huyện nơi máy bay Mỹ vừa đánh phá nhà cửa đổ ngổn ngang, khói đen còn âm ỷ cháy. Khu vực biết là có phi công rơi rất đông dân quân, bộ đội và cả dân quanh vùng đang tụ tập. Huyện đội cho biết, có sáu tổ mỗi tổ mười người đang vây quanh khu vực núi đá này để tìm kiếm từ chiều hôm qua cho đến sáng nay và đang tiếp tục tìm. Mạc Lâm đề nghị thành lập thêm một tổ nữa gồm một bộ đội huyện, một dân quân địa phương và Mạc Lâm cùng đi. Phải trèo lên mỏm núi cao nhất quan sát rộng, phát hiện dù mắc trên cây. Ba người phạt cây cùng trèo lên cao. Khi lên một mỏm núi khá cao có thể quan sát bao quát xung quanh họ dừng lại, nghỉ một lát, Mạc Lâm dùng loa gọi to bằng tiếng Anh: "Hãy nghe đây! Chúng tôi không đánh đập, không giết anh đâu! Anh đang ở đâu? Ra đi!". Mạc Lâm gọi nhiều lần, từ mỏm đá này sang mỏm đá khác. Bỗng cả tổ phát hiện một chỗ trông, có ánh sáng từ trên xuyên xuống. Có một khe nước nhỏ, cả tổ cùng xuông đó. Thật không ngờ, cách khe nước vài mét tên giặc lái đang nằm sõng soài không thấy động đậy. Chúng tôi chĩa súng về phía hắn rồi tiến đến gần. Bỗng nhiên anh ta giật mình, mỏ mắt nhưng vẫn không động đậy gì. Thì ra anh ta đã kiệt sức, bị thương nhẹ, khẩu súng ngắn treo trên cây gần đó. Chúng tôi có thêm lực lượng của huyện đội tăng cường đưa anh ta về. Đến trụ sở, anh ta mở mắt xin ăn, cảm ơn rối rít. Anh ta nói thều thào:

        - Tôi đã gào rất to trong máy xin cấp cứu cả chiều hôm qua nhưng vô vọng. Qua một đêm lạnh hãi hùng. Bóng tối và sự yên lặng khủng khiếp. Tôi nằm chờ chết, mê man lúc nào không biết. Suốt đời không thể nào quên được điều đó. Cảm tạ các ông! Cảm tạ các ông!

        Về trại anh ta gặp Mạc Lâm, cảm ơn rối rít:

        - Việt Nam đã cứu tôi về đây. Mai sau về nước, tôi sẽ kể cho mọi người nghe kỷ niệm không bao giờ quên. Chính những người dân lúc đầu tôi có ấn tượng xấu lại là ân nhân đã cứu sống tôi. Tôi thật may mắn. Cảm ơn các ông. Cảm ơn các ông.

        Mạc Lâm cũng rất quan tâm khai thác để hiểu về mọi sinh hoạt của phi công Mỹ. Mỗi phi công sang Việt Nam chiến đấu được quy định trong sáu tháng. Mỗi tháng được cấp trên giao cho tham gia mấy lần xuất kích chia ra các tuần trong tháng. Giữa thời gian chiến đấu tuỳ tình hình có thể được nghỉ phép ngắn hạn. Xong nghĩa vụ sáu tháng phi công tù binh được về Mỹ sau đó có thể trở lại lần thứ hai, lần thứ ba... Hàng tuần, trung đoàn bay hội ý gồm chỉ huy cấp tiểu đoàn trở lên hoặc cấp trung tá trở lên về nhiệm vụ chiến đấu. Nội dung chính những cuộc hội ý hàng tuần là phổ biến ý định cấp trên về mục tiêu sắp tới, về cách đánh, về bổ sung hoặc thay thế máy bay, phi công.

        Hội ý tác chiến trước một trận đánh là quan trọng nhất. Mọi phi công đều có mặt, nghe phổ biến nhiệm vụ, mục tiêu, phân công tổ, tốp chiến đấu, có sơ đồ, bản đồ tác chiến. Những tấm ảnh chụp về mục tiêu tấn công, chú ý các trận địa phòng không của đối phương có cả dự kiến chiến đấu với máy bay và tên lửa. Như vậy là hội ý tác chiến từng phi công biết rõ lệnh chiến đấu, mục tiêu tấn công, nhiệm vụ cụ thể của cá nhân và đơn vị...

        Cũng nhiều lần ông không cầm được nước mắt thắp hương trên nấm mồ cho những phi công Mỹ xấu số tan xác cùng với máy bay vừa đươc dân quân chôn cất cẩn thận.


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Hai, 2020, 07:14:36 am

NGƯỜI PHI CÔNG MỸ GỐC THỤY SĨ

        Sau hai mươi năm chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam, Việt Nam và Mỹ đã chính thức khép lại quá khứ, nhìn về tương lai, quan hệ bình thường giữa hai quốc gia được thiết lập. Ngày 11 tháng 7 năm 1995 Tổng thống Mỹ, Bin Clin-tơn tuyên bố thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Tổng thống Mỹ đã chọn Pi-tơ-sơn hạ nghị sĩ Mỹ liên bang Flo-ri-da làm đại sứ đầu tiên tại Việt Nam. Điều khá trớ trêu, Pi-tơ-sơn vốn là phi công tù binh Mỹ đã từng sống ở trại giam Hỏa Lò - Khách sạn Hin-tơn Hà Nội từ năm 1966 đến ngày được trao trả về Mỹ năm 1973. Tất nhiên là việc bổ nhiệm này cũng đã gây tranh cãi trong giới chức Mỹ, có người sợ Pi-tơ-sơn đã từng là tù binh có thể "phải lòng" Việt Nam không hành động vì quyền lợi của nước Mỹ. Nhưng rồi mọi chuyện cũng qua đi. Pi-tơ-sơn làm tốt nhiệm kỳ đại sứ của mình.

        Trước khi Pi-tơ-sơn sang làm đại sứ ở Việt Nam, đạo diễn Mai-cơn Gáp-sơn làm bộ phim "Người của chúng ta ở Hà Nội" (Our man in Hanoi) dài 60 phút phát trên kênh truyền hình CBS News kể về cuộc đời của Pi-tơ-sơn trước và sau khi trở thành phi công năm 1954. Hình ảnh Pi-tơ-sơn sang Việt Nam tham gia chiến đấu, máy bay bị bắn rơi và những ngày tháng trong khách sạn Hin-tơn cho đến năm 1973 được trao trả về Mỹ gặp lại những người thân yêu sau bao năm xa cách.

        Nhớ lại chuyện đó tôi hỏi đại tá Mạc Lâm:

        - Có một nhân vật khá nổi tiếng - Đại sứ đầu tiên của Mỹ ở Việt Nam từng là khách không mời của trại giam Hỏa Lò, chắc ông nhớ chứ?

        - Tôi nhớ chứ, đó là một anh chàng người gốc Thụy Sĩ, khá đẹp trai. Đại úy Pi-tơ-sơn sinh ngày 26 tháng 6 năm 1935 ở Nê-brát-xka, trước khi vào khách sạn Hin-tơn, Pi-tơ-sơn đã có vợ và ba người con. Hai mươi mốt tuổi vào quân đội Mỹ - tháng 11 năm 1954, lái máy bay F4 thuộc đơn vị không quân 433 TS đóng ở căn cứ quân sự U Bon, Thái Lan. Hơn hai mươi năm sau, Pi-tơ-sơn trở lại Việt Nam, anh ta có một cử chỉ đầy thiện chí là trở lại thăm người du kích năm xưa đã bắt anh ta khi máy bay F4 bị bắn rơi. Pi-tơ-sơn kịp nhảy dù và bị dân quân Nguyễn Viết Chộp cùng đồng đội bắt. Việc Pi-tơ-sơn về thăm lão Chộp - người đội viên đội dân quân Quyết thắng ở làng An Đoài, xã An Bình, tỉnh Hải Dương thể hiện cái tình của người phi công tù binh này. Nhân dân An Bình nhớ câu nói đầy thiện cảm của Pi-tơ-sơn:

        "Lúc đó rất có thể tôi đã bị giết chết. Nhưng rất may là có người ngăn lại và tôi vô cùng biết ơn điều đó".

        Một đoạn đối thoại ngắn giữa Nguyễn Viết Chộp và Pi-tơ-sơn hôm ấy đã được nhà thơ thần đồng Trần Đăng Khoa ghi lại:

        - Ông còn nhớ tôi không? Ông có mong tôi trở lại không?

        Đại sứ Pi-tơ-sơn bắt tay lão Chộp và hỏi lão như vậy. Câu hỏi ấy làm cho lão rất đỗi kinh ngạc:

        - Làm sao tôi lại nhớ và mong ông được. Ông không phải người làng tôi, cũng không phải họ hàng. Ngay cả bây giờ gặp ông giữa ban ngày ban mặt tôi cũng còn chẳng thể nhận ra được nữa kia. Lúc ấy ông khác lắm...

        - Tôi khác ư? Khác thế nào? - Đại sứ đâm tò mò...

        - Thì lúc ấy ông là cái ông đầu trọc. Tôi muốn túm tóc ông cũng không túm được. Còn bây giờ thì ông thế này...

        Đại sứ Mỹ cười vang. Lão Chộp cùng cười. Câu chuyện xưa đã thành cổ tích. Còn hiện nay lão Chộp đang thủng thẳng cùng Pi-tơ-sơn đi thăm cánh đồng Mã Giai, thăm gian nhà kho chứa thóc giống nơi ngài từng bị nhốt. Tất cả giờ đổi khác... .

        An Bình là một xã sống bằng nghề nông, nằm giữa hai cây cầu Phú Lương và Lai Vu trên đường số 5 từ Hà Nội đi Hải Phòng. Trong chiến tranh phá hoại những cây cầu là trọng điểm đánh phá ác liệt của không quân Mỹ, và những khu dân cư quanh những cây cầu, đường giao thông cũng thế. Chúng đánh ban ngày và đánh cả vào ban đêm. Tiếng máy bay gầm rú suốt đêm ngày, làng xóm xác xơ và bị cháy trụi, những rặng tre xanh tươi là thế chẳng mấy chốc trơ xương, đổ nghiêng ngả. Rồi tiếng trẻ khóc, tiếng gào thét vì mất người thân trong những trận giặc Mỹ đánh phá như vẫn còn đâu đây.


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Hai, 2020, 07:14:52 am

        Đêm mùng 10 tháng 9 năm 1966, dân làng vẫn còn nhớ, một đêm tối trời máy bay Mỹ đánh phá cầu Phú Lương, cầu Lai Vu trên đường 5. Tưởng đi đánh trộm đêm có thể trốn tránh được lưới đạn phòng không, nào ngờ... Bầu trời bỗng sáng rực sau những tiếng nổ lớn, đanh của tên lửa ta. Máy bay Mỹ trúng đạn, cháy đỏ rực, rồi rơi lả tả xuống cánh đồng. Có tin phi công Mỹ nhảy dù thế là cả làng rộn ràng hẳn lên. Bộ đội và dân quân du kích được lệnh đi lùng bắt phi công Mỹ nhảy dù xuống vùng này. Chẳng còn biết sợ là gì, mọi người túa ra các ngả. Cuối cùng thì tổ du kích ba người là Nguyễn Viết Chộp, Nguyễn Danh Sinh và Nguyễn Danh Xuyên bắt sống được tên phi công chạy trốn. Chiếc máy bay bị bắn cháy hôm đó là chiếc F4 được mệnh danh là "con ma" do đại úy Pi-tơ-sơn lái và cùng bay còn có trung úy Ta- lay. Pi-tơ-sơn bị thương được ta băng bó cứu chữa rồi chuyển lên trên. Ta-lay khỏe hơn tìm cách chạy trốn vào khu nghĩa địa. Anh ta đào đất ngồi vào đó rồi lấy rơm đội lên đầu tưởng có thể thoát thân nhưng sáng hôm sau những người đàn bà của hợp tác xã nông nghiệp đi làm đồng sớm bắt được, anh ta lạy như tế sao. Chiếc "con ma" do Pi-tơ-sơn lái đi ăn đêm đã bị Tiểu đoàn tên lửa 62 thuộc Trung đoàn 236 bắn hạ. Người con của quê hương Hải Dương, Trần Thanh Hằng kể lại:

        "Tại một địa điểm thuộc huyện Gia Lộc tỉnh Hải Dương, Tiểu đoàn tên lửa 62, Trung đoàn 236 Quân chủng Phòng không - Không quân căng bạt đóng quân ven đường 5 với tư thế sẵn sàng chiến đấu. Đơn vị được trên giao bảo vệ con đường 5 huyết mạch vận tải hàng hóa từ cảng Hải Phòng về Hà Nội. 20 giờ 30 phút ngày 10 tháng 9 năm 1966, có lệnh báo động. Đêm hè bầu trời trong xanh, những chòm sao sáng rực.

        Tiểu đoàn trưởng Đinh Công Khẩn dõng dạc hô: "Nâng cao thế khẩn cấp!". Mục tiêu đã ở cự ly bốn mươi kilômét từ hướng Hà Bắc - Yên Tử, độ cao sáu ngàn mét, khí tài đã chuyển tự động. Tổ trắc thủ có bốn đồng chí: sĩ quan điểu khiển trung úy Nguyễn Xuân Minh, phụ trách cự ly, đồng chí Khuê cùng một phụ trách góc tà, một phương vị. Sau khi đồng chí Khuê báo cáo mục tiêu vào cự ly 20km, chuẩn bị! Đồng chí Nguyễn Xuân Minh ấn nút phóng. Lửa đạn vút lên theo hướng máy bay. Chiếc F4 bốc cháy làm thành một bó đuốc lớn rơi lả tả, sáng rực cả một vùng trời. Hai phi công kịp nhảy dù...".

        Cuộc đời Pi-tơ-sơn cũng không thuận buồm xuôi gió. Sau Hiệp nghị Pari cùng với đồng nghiệp, Pi-tơ-sơn được trao trả trở về Mỹ. Anh ta tiếp tục phục vụ quân đội. Sau 26 năm mặc áo lính, năm 1981 anh ta được giải ngũ với cấp quân hàm trung tá về chung sống cùng gia đình ở bang Flo-ri-da. Anh ta tham gia giảng dạy ở trường đại học sau đó làm kinh doanh máy tính điện tử. Nhưng rồi điều không may đến với anh ta: người con trai chết vì tai nạn. Chưa kịp nguôi ngoai nỗi buồn thì vợ anh ta - Các-lốt-ta mất vì bệnh ung thư. Rồi Pi-tơ-sơn tích cực tham gia hoạt động chính trị. Không bao lâu được bầu làm nghị sĩ Mỹ Liên bang của bang Flo-ri-da.

        Sang Việt Nam làm đại sứ, Pi-tơ-sơn cũng đã tìm được hạnh phúc riêng. Ông lấy vợ người Úc gốc Việt tên là Lê Vi. Đám cưới của họ được tổ chức ở Nhà thờ lớn Hà Nội. Trong nhiệm kỳ làm Đại sứ Mỹ tại Việt Nam ông góp phần quan trọng vào việc tăng cường quan hệ, sự hiểu biết lẫn nhau giữa Mỹ và Việt Nam.

        Ở Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam có một bức ảnh Pi-tơ-sơn khi còn là "khách không mời" của "Khách sạn Hin-tơn". Ảnh kiểu chân dung nhưng người trong ảnh không ngồi chính diện, có mái tóc cắt ngắn, mặc áo tù và có chữ "Song" đằng trước. Đại tá Mạc Lâm giải thích: có chữ "Song" như thế là vì, trong trại có mấy trăm tù binh, đê tiện cho việc nhận diện, chúng tôi thường có một tên bằng tiếng Việt cho mỗi phi công tù binh Mỹ. Su-mếch-cơ chúng tôi gọi là Su. An-va-rết chúng tôi gọi là An... Tên anh ta là Pi-tơ-sơn chúng tôi thường gọi là Song. Nói rồi ông cười. Tấm ảnh ấy đã trở thành hiện vật của bảo tàng, mang ký hiệu: BTQĐ-P-13477.


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Hai, 2020, 07:15:06 am

        Tấm ảnh liên quan đến việc làm bộ phim "Người của chúng ta ở Hà Nội" chiêu rộng rãi ở Mỹ. Để có tấm ảnh lịch sử ấy các anh chị ở Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam cũng kỳ công tìm kiếm. Trần Thanh Hằng kể lại rằng:

        "Ngày 14 tháng 2 năm 1997, Văn phòng Vụ Báo chí Bộ Ngoại giao có cử đồng chí Vũ Bình đến Bảo tàng Quân đội (nay là Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam) tìm bức ảnh phi công Mỹ có tên là Pi-tơ-sơn Đu-gla Bri-an bị bắt sống tại xã An Bình huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương. Đó là viên phi công thứ sáu mươi sáu của Mỹ bị bắt trên miền Bắc, sinh ngày 26 tháng 6 năm 1935, ở Nê-brát-xka, số quân FR 54627. Việc tìm bức ảnh Pi-tơ-sơn khi bị bắt giam ở Hỏa Lò giúp cho Bộ Ngoại giao có những tài liệu cần thiết để tuyên truyền về Pi-tơ-sơn trước khi sang Việt Nam làm đại sứ và giúp cho đạo diễn Mai-Cơn Gáp-sơn hoàn thành bộ phim mang tên "Our man in Hà Nội" (Người của chúng ta ở Hà Nội)... Thời gian như xóa đi mọi dấu vết, khó có thể nhận diện từ những bức ảnh phi công cách đây ba mươi năm. Phải mất nửa tháng loay hoay tìm kiếm, vận may đã đến với tôi. Tôi đã tìm được trên báo Quân đội nhân dân và báo Hải Dương đăng tin bài sự kiện máy bay rơi và viên phi công bị bắt sống. Một số quản giáo cũ cho tôi biết một số tên lóng in trên áo sọc tù nhân. Hồi đó quản giáo thường gọi tên phi công phiên từ tiếng Anh sang tiếng Việt cho dễ nhớ và in luôn tên lóng đó trên áo. Tôi ghi kỹ càng những tên lóng có từ "S" như Sơn, Son, Song... và lần tìm những bức ảnh phi công trên áo có hàng chữ đó. Cuối cùng tôi tìm được bức ảnh phi công trên ngực có tên là Song, tên gọi tắt từ âm cuối của từ Pi-tơ-sơn. Tuy bức ảnh tôi tìm được trên ngực áo có chữ Song, khuôn mặt, cặp mày đôi nét hao hao giống bức ảnh từ Bộ Ngoại giao đưa sang, nhưng chưa chắc chắn. Anh Vũ Bình, Vụ Báo chí Bộ Ngoại giao gửi e-mail sang Mỹ. Hai ngày sau tôi được tin anh Bình cho biết, đó chính là bức ảnh Bộ Ngoại giao cần tìm. Bức ảnh được đưa vào phim "Our man in Hà Nội". Ngay lập tức bộ phim dài sáu mươi phút được phát trên kênh truyền hình CBS News vào khoảng tháng 3 năm 1997...".

        Những ngày sống trong trại giam Hỏa Lò đã giúp cho Pi-tơ-sơn cũng như những phi công tù binh Mỹ hiểu về Việt Nam. Đó cũng là lý do vì sao những phi công tù binh Mỹ sau khi về nước, nhiều người mong muốn được trở lại Việt Nam. Nhiều người tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh ủng hộ Việt Nam. Về nước họ dũng cảm nói cho nhân dân Mỹ hiểu rõ chính sách đối xử nhân đạo của Nhà nước Việt Nam, lòng thương yêu con người, thiết tha hòa bình của nhân dân Việt Nam.

        Trung úy Nô-rit Sác sinh ngày 4 tháng 8 năm 1945 tại bang Tam-pha. Tốt nghiệp Đại học Mo-hao-xơ bang At-lan-ta năm 1968. Máy bay anh ta bị bắn rơi ngày 30 tháng 12 năm 1971 và là một trong ba phi công tù binh được phóng thích tháng 9 năm 1972. Anh ta đã nói lên sự thật về "Những ngày trong trại giam" được nhà báo s. Giê-fơ ghi lại:

        "Đêm đó tôi phát hiện một trong những điều quan trọng nhất của đời một tù binh: Mỗi năm được sáu bữa ăn thịnh soạn vào những ngày lễ tết của họ... Ở trại thứ hai được đọc thêm những thứ, không phải thường xuyên nhưng thỉnh thoảng có cái mới để đọc. Tôi được đọc một lô những sách nói về chiến tranh có tác giả Mỹ viết. Ở trại giam tôi đọc sách của Phê-lích Grin nhiều hơn là ở trường đại học, kể cả cuốn "Việt Nam, Việt Nam" với cuốn "Kẻ thù", cuốn "Gia tài cay đắng" của Xô-lê-din-gơ có một lô những bài báo của Tom Hai-nơ. Cả "Tình thư" của Đích-ken. Một ngày rất nóng giữa mùa hè, "người mở khóa" (tên gọi người gác tù) đi ra thành phố. Có lẽ hai tuần họ được đi một lần. Khi trở về trại, anh ta đem theo một ít chanh và làm nước chanh cho chúng tôi. Chúng tôi nghĩ rằng đó là một trong những điều vĩ đại nhất trên thế giới. Nó biểu thị cho chúng tôi thấy lòng nhân đạo của người Việt Nam. Đối với chúng tôi, chẳng có thù ghét gì giữa tù với người gác".


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Hai, 2020, 07:15:33 am
        
ĐÈN HÀ NỘI VẪN RỰC SÁNG

        Đế quốc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc, trong đó Hà Nội là một mục tiêu trọng điểm, chúng ảo tưởng sẽ gây sức ép với ta để giải quyết vấn đề Việt Nam trong hai năm 1967-1968. Ngày 8 tháng 2 năm 1967, tổng thống Mỹ gửi thư cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, vừa thăm dò vừa rêu rao tìm kiếm hòa bình cốt là để xoa dịu làn sóng chống Mỹ xâm lược Việt Nam ngày càng tăng ở nước Mỹ và cả thế giới. Một tuần sau, ngày 15 tháng 2, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư trả lời tổng thống Mỹ. Người vạch trần những âm mưu, thủ đoạn của chính quyền Mỹ, yêu cầu Mỹ phải rút quân khỏi miền Nam và ngừng ngay việc ném bom đánh phá miền Bắc.

        Từ ngày 8 tháng 4 năm 1967, Hội đồng tham mưu liên quân Mỹ đã vạch kế hoạch đánh phá Nhà máy điện Yên Phụ, giao cho các tàu sân bay thực hiện. Chúng âm mưu triệt phá nguồn điện duy nhất của Hà Nội. Đây là một kế hoạch mà đích thân tổng thống Giôn-xơn phê chuẩn vào ngày 16 tháng 5 năm 1967. Bộ tư lệnh Mỹ ở Thái Bình Dương giao cho lực lượng đặc nhiệm 77 mà chủ yếu là liên đội máy bay trên tàu sân bay Bô-nom Ri-sớc thực hiện. Để triệt phá nguồn cung cấp điện duy nhất của Hà Nội, Mỹ sử dụng loại vũ khí mới là bom điểu khiển bằng vô tuyến truyền hình (bom Walleye) - vũ khí này mới thử nghiệm thành công trong tháng 3, mỗi quả nặng 1.000 bảng Anh (453kg) mà mỗi máy bay cường kích A4E chỉ mang được một quả. Bom Walleye có xác suất trúng đích khá cao. Nguyên lý cấu tạo khá đặc biệt so với các loại bom thông thường: đầu quả bom gắn máy ảnh và hệ thống điều chỉnh cho bom rơi đúng mục tiêu theo ảnh chuẩn đã chụp khi trinh sát.

        Vỏ quýt dày có móng tay nhọn, quân dân Hà Nội triển khai một kế hoạch bảo vệ nguồn sáng thủ đô -  niềm tin của cả nước. Lực lượng bảo vệ nhà máy điện được tăng cường. Ngoài lực lượng của Sư đoàn phòng không Hà Nội còn có lực lượng của hai trung đoàn bạn tổng số lên tới 18 đại đội pháo 57mm, ba đại đội pháo tự hành, một số phân đội súng 12,7mm, 12,5mm, và pháo phòng không 37mm trên các tàu hải quân neo đậu ở sông Hồng.

        Sáng 19 tháng 5, cán bộ và chiến sĩ Quân chủng Phòng không - Không quân vui mừng được đón tám lẵng hoa Bác tặng cho các đơn vị lập công xuất sắc. Buổi chiều hôm ấy, 14 giờ 25 phút lực lượng đặc nhiệm 77 của Mỹ đã huy động máy bay đánh phá Nhà máy điện Hà Nội. Chúng sử dụng hai mươi lần chiếc gồm nhiều loại máy bay: A4, F4, F8 và A6 đánh các trận địa pháo vòng ngoài để cho hai chiếc F4E vào phóng bom điều khiển bằng vô tuyến truyền hình. Trước sức đánh trả mãnh liệt của lưới lửa phòng không, bom đạn Mỹ bị bật ra ngoài. Trận đánh sắp kết thúc, một chiếc máy bay trinh sát A3J bay thẳng vào nhà máy. Các trận địa phòng không đã nổ súng mãnh liệt, chiếc A3J trúng đạn bốc cháy rơi ngay trên đường phố Hà Nội - con phố mang tên người chiến sĩ yêu nước chống Pháp - Lê Trực. Đây là lần đầu tiên máy bay phản lực ném bom bị tan xác trên đường phố, phi công Mỹ bị quân và dân thủ đô bắt sống làm nức lòng cán bộ, chiến sĩ phòng không Hà Nội. Trận đánh đã đi vào ký ức của nhiều cán bộ và chiến sĩ Quân chủng Phòng không - không quân. Trung tướng Nguyễn Xuân Mậu, nguyên Phó Tư lệnh Quân chủng nhớ lại:

        "Buổi chiều, máy bay của hải quân địch tập trung đánh phá Nhà máy điện Yên Phụ. Trên vùng trời Hồ Tây, bọn A4E quần đảo, lồng lộn tìm cơ hội phóng bom vô tuyến vào nhà máy, nhưng bị lưới lửa phòng không bắn rát, không thực hiện được ý đồ. Trên trận địa ôm sát nhà máy điện, đại đội trưởng Đại đội 1, Anh hùng Nguyễn Huy Cảnh tỉnh táo bỏ qua bọn F8 nghi binh, chỉ huy đơn vị tập trung diệt bọn bổ nhào khiến bom địch chệch xa ra ngoài. Các trung đoàn phòng không phối hợp chặt chẽ đánh tan hai đợt công kích liên tục vào nhà máy điện. Biết không thể đánh chính diện được, địch dùng thủ đoạn đánh lén. Trong lúc bọn F8 lượn vòng phía tây nam hòng thu hút sự chú ý của ta, thì một chiếc A3J là thấp theo trục sông Hồng định giở trò cắn trộm, lập tức bị lưới lửa của Đại đội 1 quật thẳng vào mặt. Chiếc máy bay bị trọng thương đâm đầu xuống phố Lê Trực. Tin máy bay địch rơi trên đường phố Hà Nội làm không khí trong Sở chỉ huy sôi động hẳn lên. Đây là trường hợp đặc biệt chưa từng xảy ra bao giờ ở thủ đô. Thực ra, ngày 12 tháng 6 năm 1966 cũng đã có một chiếc rơi ở Hòa Mục, nhưng đó là một chiếc không người lái, lại rơi ở ngoại thành. Còn đây là chiếc phản lực ném bom. Ở Sở chỉ huy rất nóng ruột về tên giặc lái. Nó nhảy dù ra được hay chết trong máy bay? Bắn rơi tại chỗ một máy bay địch đã là quý rồi, nhưng bắt được giặc lái thì ý nghĩa càng lớn hơn. Có giặc lái, tối nay nhất định chúng ta sẽ tổ chức họp báo... Khoảng nửa giờ sau, có tin chính thức báo về : hai giặc lái đã bị bắt sống. Một tên rơi xuống chuồng gà số nhà 71, một tên rơi xuống ngõ 124 cùng ở phố Thụy Khuê".


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Hai, 2020, 07:16:06 am
     
        Ngày 19 tháng 5 năm 1967 là một ngày thắng lợi lớn của quân và dân Hà Nội - mười máy bay Mỹ bị bắn rơi, Nhà máy điện Yên Phụ được bảo vệ an toàn. Điện Hà Nội vẫn sáng làm cho Lầu năm góc và Nhà trắng điên đầu. Chúng lại tiếp tục đánh phá

        Nhà máy điện Yên Phụ. Ngày 10 tháng 6 các tốp máy bay hải quân Mỹ thay nhau đánh phá nhà máy điện bằng bom điểu khiển vô tuyến. Nhưng lưới lửa phòng không khiến cho máy bay Mỹ không thể vào gần để phóng bom chính xác. Sau đợt này tổng thống Mỹ ra lệnh tạm ngừng ném bom khu vực Hà Nội trong bán kính 10 dặm.

        Ngày 26 tháng 10 năm 1967 chúng lại tổ chức đánh phá Nhà máy điện Yên Phụ. 11 giờ 20 phút, hai mươi lần chiếc với đủ các loại máy bay, đặc biệt lần này Mỹ sử dụng 12 chiếc A4C phóng 12 quả bom Walleye. Trận chiến đấu hết sức dữ dội. Bom Mỹ rơi xuống cả một vùng rộng quanh nhà máy điện. Cùng với máy bay A4C mang bom Walleye là lũ máy bay "con ma" F4 rất lợi hại đánh Nhà máy điện Hà Nội. Máy bay tiêm kích - cường kích F4 có thể cất cánh từ đất liền hoặc trên các tàu sân bay ngoài khơi Thái Bình Dương. Đây là loại máy bay hai người lái, được trang bị sáu tên lửa sparrow, một số bom pháo và rốc két có thể bay với tốc độ tối đa là 2.330km/h ở độ cao ll.000 m. Trong chiến đấu chúng phải đảm đương nhiều nhiệm vụ: trinh sát vũ trang, bắn phá các mục tiêu giao thông như cầu đường, bến bãi và tham gia hộ tống các máy bay cường kích, máy bay ném bom. Chúng còn được dùng đánh chế áp các trận địa phòng không của ta. Cũng là F4 nhưng lại có F4 Wld Weasset. Đây là loại máy bay có khả năng phát hiện và tiêu diệt các hệ thống vũ khí do rađa điều khiển, chiếm vị trí ưu tiên trong chiến tranh điện tử của không quân Mỹ. Chúng được lắp hệ thống né tránh địa hình điều khiển bằng máy vi tính điện tử. Ngoài vai trò chống rađa, chúng còn dùng để hộ tống cho máy bay cường kích và máy bay trinh sát khác.

        Trong trận này thiếu tá Mắc-kên lái chiếc F4E đang lao xuống phóng bom bị trúng đạn của tiểu đoàn tên lửa từ độ cao 4.500m đến 1.800m. Chiếc F4E bốc cháy đâm sầm xuống khu để xỉ than của Nhà máy điện Hà Nội.

        Mạc Lâm có mặt khi Mắc-kên vừa được đưa từ hồ Trúc Bạch về trại giam, ông kể:

        - Hoa Kỳ vừa bế tắc vừa cay cú. Chắc ông Giôn-xít-nây - Mắc-kên, đô đốc tư lệnh hải quân Mỹ ở châu Âu cũng vậy. Theo lệnh của JCS, ông đã phối hợp với không quân, lần này đã tổ chức một chiến dịch quy mô lớn lại đánh tiếp vào Hà Nội: ngày 25 tháng 10 do không quân đánh, ngày 26 tháng 10 do hải quân đánh... Thế là thiếu tá Mắc-kên, con của đô đốc hải quân lái máy bay A4E, đánh phá Nhà máy điện Yên Phụ. Máy bay anh ta không thoát lưới lửa phòng không, anh ta kịp nhảy dù xuống hồ Trúc Bạch. Nằm trên cáng, mê man bất tỉnh, lúc đó chưa ai biết tên anh ta là gì. Trại đưa anh ta đi cấp cứu tại Quân y viện 108. Trước khi lên bàn mổ, anh mở mắt nhìn và nói: "Tôi không cần ai cứu!". Chúng ta bỏ qua câu nói hỗn đó, tập trung cứu chữa. Một ca phẫu thuật khá công phu mới cứu được mạng sống cho anh ta. Sáng hôm sau, anh ta tỉnh lại, chúng tôi đến, mới biết anh ta là Mắc-kên. Tôi lấy ngay quyển tạp chí Hải quân Mỹ vừa mới xuất bản có hình Giôn-xít-nây Mắc-kên, đưa cho anh ta xem. Anh ta gật đầu: "Bố tôi!". Tôi chỉ nói vui: "Hình như đô đốc người hơi thấp". Mắc-kên cười - lần đầu tiên tôi thấy anh ta cười: "Đúng thế... Mẹ tôi đẹp hơn bố tôi nhiều...".

        Mắc-kên bị bắt làm cho giới chóp bu quân sự Mỹ xôn xao. Anh ta sinh ngày 29 tháng 8 năm 1936 tại căn cứ hải quân Mỹ Coco Solo trên kênh đào Pa-na-ma. Theo truyền thông, con trai của dòng họ Mắc-kên đều có tên là Giôn. Là "người hùng", tin vào bề dày đào tạo phi công lão luyện từ trường đào tạo phi công của Mỹ, anh ta tưởng có thể "giải quyết" được cái mục tiêu Nhà máy điện Hà Nội thật là ngon xơi mà sao lũ phi công ăn hại không đánh nổi! Sẽ dập tắt nguồn sáng của người Hà Nội. Nhưng thật là trớ trêu, anh ta cũng không hơn gì những phi công Mỹ trước đó. May cho Mắc-kên, ngay khi nhìn thấy dù bung ra rơi xuống hồ thì nhiều người, kể cả dân quân, bộ đội và dân thường đã có mặt, kịp thời kéo anh ta lên. Chậm chút nữa những vết thương nặng bị nhiễm trùng thì toi đời rồi. Mắc-kên lại là "con ông cháu cha" có tiếng ở Mỹ. Ông nội Mắc-kên nguyên là đô đốc - đại tướng bốn sao, tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương. Ông ta là cha đẻ của ý tưởng thành lập các nhóm hàng không mẫu hạm trên các biển và là đại diện cho Hoa Kỳ có mặt trong buổi lễ Nhật Hoàng ký kết việc đầu hàng vô điều kiện quân đội Đồng Minh trong chiến tranh thế giới lần thứ hai. Ba ngày sau lễ ký kết ông ta qua đời. Bố của Mắc-kên cũng là đô đốc tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương.


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Hai, 2020, 06:13:25 am

        Trong cuộc chiến của Mỹ ở Việt Nam nhiều phi công thuộc loại "con ông cháu cha" kéo nhau vào Hỏa Lò. Trước Mắc-kên, ngày 4 tháng 10 năm 1967 có Pi-tơ Sốp-phen, thiếu tá hải quân, lái máy bay A4C đánh phá Hải Phòng bị bắn rơi. Anh ta là con trai trung tướng đô đốc hải quân Man-côn Phăng-xi Sốp-phen. Sau Mắc-kên, có thêm Lan-ri Đô-nan Prai-xơ 25 tuổi mới vào lính không quân tháng 5 năm 1970 bị bắn rơi trong trận đầu tiên anh ta bay vào Hà Nội năm 1972. Anh ta là con trai thiếu tướng không quân Oan-ran Prai-xơ. Ngày 27 tháng 8 năm 1972 quân và dân Ninh Bình bắn rơi máy bay, bắt sống thiếu tá hải quân Ti-ô-do Oa-lê-xơ Tri-ben sinh ngày 12 tháng 11 năm 1941 trên kênh đào Pa-na-ma giống như Mắc-kên. Anh ta là con trai trung tướng đô đốc hải quân Mỹ Trước-Ốt-tô Tri-ben...

        Nhà văn Nguyễn Tuân trong bài ký "Đèn điện phố phường Hà Nội vui sáng hơn bất cứ lúc nào" là viết về chuyện Mỹ đánh Nhà máy điện Hà Nội công tù binh Mắc-kên. Bom đạn của kẻ thù không làm lung lạc ý chí quyết chiến quyết thắng của quân và dân Hà Nội. Một đoạn đối thoại giữa thiếu tá Mắc-kên và Nhà văn hóa Hà Nội Nguyễn Tuân giúp ta hình dung phần nào tội ác giặc Mỹ:

        "Vâng tôi nhận được lệnh đánh Khu Sáu tức Hà Nội vào lúc 10 giờ sáng hôm đó tính theo giờ Sài Gòn... tính theo giờ Hà Nội thì là 9 giờ. 12 giờ Sài Gòn kém 120 phút, thì tôi rời boong hàng không mẫu hạm. Và sự việc những phút sau thế nào khi tôi vào bầu trời miền Bắc thì các ông đã biết cả rồi. Vâng thưa ông, tôi bay trên miền Bắc tất cả hai mươi ba lần. Ở miền Nam thì chưa được bay lần nào. Tôi có bay vào và có đánh Hải Phòng sáu lần. Chưa bay vào Hà Nội trừ cái lần vừa rồi. Đại đội tôi mười bốn chiếc chuyên đánh thứ bom điện tử định hướng. Tôi chỉ huy một biên đội hai chiếc A4 cường kích. Đó là lần đầu tôi đánh Hà Nội.

        - Là lần đầu?

        - Và là lần cuối cùng.

        - Nếu anh được cấp trên cho chọn giữa hai mục tiêu, nhà máy nhiệt điện và cầu sắt dài trên sông Hồng thì anh chọn cái nào?

        - Cả hai cái đều xấu cả, nghĩa là đều nguy hiểm cả, nhưng tôi nghĩ là đánh cầu có phần là dễ hơn đánh nhà máy đèn. Nhưng tôi tin rằng nếu chúng tôi có đánh trúng được nhà máy đèn thì các ông vẫn có những cách giải quyết vấn đề ánh sáng cho Hà Nội.

        - Anh đánh Nhà máy đèn Trung ương mà lúc này đây, đèn điện vẫn sáng đều trên đầu giường bệnh của anh, cũng như vẫn sáng đều khắp nơi khác của Hà Nội ngoài nhà thương này, thì anh có cảm tưởng gì?

        - Thưa ông, tôi không buồn mà cũng không vui. Tôi chỉ mong chiến tranh Việt Nam sớm kết thúc để tôi được tha về. Bố tôi cũng không cứu được tôi. Ông Giôn-xơn cũng không cứu được tôi...".

        Mắc-kên được trao trả về nước năm 1973. Ba mươi năm sau anh ta đã trở lại Việt Nam đến cái nơi anh ta suýt chết - mặt hồ Trúc Bạch vẫn phẳng lặng nên thơ như hồi nào chỉ khác là giờ đông vui hơn nhiều. Mắc-kên cũng đã có dịp trò chuyện vui vẻ với Anh hùng phi công Nguyễn Văn Cốc, hai địch thủ trên bầu trời Việt Nam ngày ấy.

        Về Mỹ, Mắc-kên rời khỏi quân ngũ. Năm 1979 sau khi chia tay với người vợ cũ, Mắc-kên kết hôn với cựu hoa hậu bang A-ri-zo-na trẻ hơn anh ta 18 tuổi, từ đó tích cực hoạt động chính trị. Cho đến nay thì ảnh hưởng của Mắc-kên rất lớn ở bang A-ri-zo-na và anh ta đã hai lần ra ứng cử chức Tổng thống Hoa Kỳ. Năm 2000 trong cuộc đua vào Nhà trắng ông đã thất bại trước Gioóc-giơ Bút-sơ. Năm 2008, ở tuổi bảy mươi hai thượng nghị sĩ Mắc-kên là ứng cử viên của Đảng Cộng hòa trong cuộc đua vào Nhà trắng!

        Muốn làm tốt công tác khai thác phi công tù binh Mỹ phải có - ngoài kiến thức, vốn sống cũng cần phải có thủ thuật khai thác, sau này được ông tổng kết:

        "Bản thân người hỏi cung (chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam) có thế mạnh về chính trị, là người ở thế thắng để tù binh (tù binh Pháp, Mỹ) phải khâm phục. Hỏi cung là một cuộc đấu trí về kiến thức và chính trị tư tưởng với tù binh. Nhưng tù binh Pháp, Mỹ của một quân đội nhà nghề đế quốc mang sẵn tư tưởng nước lớn, tự cho mình là nhất, kiêu căng, ngạo mạn. Ta phải lấy chính nghĩa để khuất phục, phải nắm vững chủ trương đường lối của Đảng, Nhà nước, lòng nhân ái truyền thống tư tưởng nhân đạo đối, với tù binh để thuyết phục họ. Trước khi hỏi cung phải nắm chắc tình hình tù binh, những hiểu biết về những lĩnh vực cần khai thác. Bản lĩnh của người cán bộ hỏi cung cũng phải được thể hiện rõ: chủ động, tự tin, đàng hoàng có kiến thức vững vàng. Phải cảnh giác trước những lời khai của tù binh nhất là những tù binh là người của ngành tình báo, an ninh địch. Chú ý không mớm cung, ép cung. Những hiểu biết về gia đình, vợ con phi công tù binh Mỹ giúp cho việc đánh đòn tâm lý...".


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Hai, 2020, 06:16:01 am

THAM VỌNG CỦA MẮC-NA-MA-RA THÀNH MÂY KHÓI

        Nhiều trận đánh phá liên tục của cả không quân hải quân và không quân không quân Mỹ nhưng chiếc cầu nối hai bò sông Mã vẫn đứng vững hiên ngang như thách thức lũ cướp trời làm cho Lầu năm góc vô cùng tức tối.

        Ngày 18 tháng 7 năm 1965 đích thân bộ trưởng bộ quốc phòng Hoa Kỳ Mắc-na-ma-ra đến tận phi đội A6A của Đen-tơ trên hạm tàu Yangky động viên tinh thần đơn vị sẽ xuất kích đánh cầu Hàm Rồng. Không biết ông ta có phép lạ gì có thể giúp cho các phi công đánh chiếc cầu sắt đó không thế mà dám quả quyết rằng:

        - Có chiếc "hòm đen" khí tài điện tử tuyệt diệu mà bộ quốc phòng Mỹ vừa mới chuyển sang đặt trên máy bay, phi vụ này chắc chắn các anh hoàn tất được việc đánh gãy chiếc cầu nhỏ vắt trên sông Mã. Khác với gần một trăm phi vụ suốt hai tháng trước đây, phi vụ đặc biệt này, tôi chỉ còn đợi trao phần thưởng lớn cho các anh trong vài giờ nữa.

        Hình như Mắc-na-ma-ra chắc thắng một trăm phần trăm, nghĩa là chỉ còn vài giờ nữa chiếc cầu như chiếc đinh chọc vào mắt ông sẽ phải nát vụn. Lời động viên của ngài bộ trưởng chắc cũng giúp cho phi công Mỹ càng tin tưởng hơn, càng chắc thoát chết trong chuyến đi này. Nhưng không, Mắc-na-ma-ra quá tin vào chiếc "hộp đen" khí tài điện tử tuyệt diệu, thực tế thì ngược lại. Chuyến bay của phi đội A6A do Đen-tơ chỉ huy cũng chịu chung số phận một trăm phi vụ suốt hai tháng trước đấy mà thôi. Quá tin vào kỹ thuật điện tử hiện đại nên Mắc-na-ma-ra còn một công trình to lớn hơn thế nữa đầy ảo vọng có thể ngăn chặn sự xâm nhập của quân đội Bắc Việt vào miền Nam là hàng rào điện tử ở tỉnh Quảng Trị mang tên Mắc-na-ma-ra. Không chỉ một mình ngài bộ trưởng bộ quốc phòng nghĩ ra mà còn là trí tuệ của nhiều nhà khoa học hàng đầu của Mỹ như giáo sư Phi-sơ, tiến sĩ Kê-sin, tiến sĩ Oets-nơ tham gia nghiên cứu. Ngoài hệ thống đồn bốt được bố trí dày đặc từ Cửa Việt lên tới Sêpôn dài gần một trăm kilômét, hàng rào điện tử Mắc-na-ma-ra còn được trang bị các loại phương tiện điện tử tối tân như các loại "cây nhiệt đới" "cây thông minh" và cả "máy phát hiện hơi người". Tất cả tan thành mây khói trước sức tấn công vũ bão của quân và dân miền Nam.

        Thực ra thì trong thâm tâm những người cầm quyền chóp bu Mỹ không phải là không thấy sự phi lý của cuộc chiến và con đường hầm khống lối thoát phía trước. Hơn bốn mươi năm sau sự thật đó mới được phơi bày. Tại cuộc hội thảo về chiến tranh Việt Nam trong hai ngày 10 và 11 tháng 3 năm 2006 với chủ đề "Việt Nam và chức vụ tổng thống" tổ chức tại thư viện tổng thống Giôn Ken-nơ-đi ở Bốt-xtơn (Mỹ) có sự tham gia của các nhân vật có tên tuổi đã từng tham gia chiến tranh Việt Nam như ngoại trưởng Hen-ri Kít-xinh-giơ, đại sứ Mỹ đầu tiên ở Việt Nam Pét Pi-tơ-sơn, tướng về hưu A-lếch-xan-đơ, thượng nghị sĩ Chắc He... Cựu tổng thống Mỹ Jim-mi Các-tơ gửi băng video phát biểu tham dự hội thảo. Hội thảo được nghe một đoạn đối thoại ghi âm vào năm 1966 trong đó tổng thống Giôn-xơn nói với bộ trưởng bộ quốc phòng Mỹ Rô-bốt Mắc-na-ma-ra:

        "Tôi biết rằng chúng ta không nên có mặt ở Việt Nam nhưng tôi không thể rút ra được".

        Cuộc chiến tranh phi nghĩa, vô cùng dã man tàn bạo của Mỹ gây ra ở Việt Nam làm thức tỉnh lương tâm những người Mỹ yêu chuộng hòa bình. Không chỉ nhân dân Mỹ, không chỉ những người trực tiếp cầm súng Mỹ gây đau thương cho nhân dân Việt Nam thức tỉnh mà cả những nhân vật tham gia công việc hoạch định chính sách của Lầu năm góc cũng thức tỉnh và dũng cảm lên tiếng tố cáo chính quyền Mỹ bất chấp tù tội. Năm 1971, Đa-ni-en En-xbớc được phân vào nhóm nghiên cứu tối mật về hoạch định chính sách đối với Việt Nam của bộ trưởng bộ quốc phòng Mỹ Mắc-na-ma-ra tiết lộ bảy ngàn trang tài liệu tối mật cho báo chí, tạo nên một làn sóng phản đối chiến tranh Việt Nam mạnh mẽ chưa từng có tại Mỹ. Đa-ni-en bị bắt, bị cáo buộc mười hai tội với bản án một trăm mười lăm năm tù!

        Lời động viên của ngài bộ trưởng, hiệu quả của "chiếc hộp đen" khí tài điện tử ra sao? Vô hiệu quả! Trung tá Đen-tơ với phi đội của anh ta bị đánh tan tác. Máy bay của Đen-tơ bị bắn rơi, anh ta bị dòng nước sông Mã cuốn đi suýt chết, còn đồng sự của anh ta - trung úy phụ lái Chu-đi treo trên ngọn cây dừa. May cả hai được quân và dân Thanh Hóa cứu thoát.

        Chu-đi chưa quên nỗi hốt hoảng:

        - Dù chúng tôi còn vướng trên cành cây lập tức chín, mười người mang tiểu liên và giáo mác xông tới. Tôi bị kéo chân lôi xuống.

        Đen-tơ cũng hoảng loạn không kém:

        - Tôi cố vùng vẫy, bơi lội nhưng vẫn bị nước cuốn đi. May quá các ông bộ đội đã vớt được tôi lên, cho tôi thuốc. Trong hai ngày ở lại Thanh Hóa chờ lại sức chúng tôi được đưa ra đây.

        Những ngày ở trại giam Hỏa Lò, Đen-tơ tỏ ra là người hiểu biết, phục thiện.

        - Tôi đã phạm tội ác là ném bom vào dân thường và các công trình dân sự. Thế mà nhân dân địa phương đối xử với tôi hết sức nhân đạo mặc dù tôi là kẻ có tội. Tôi đã được ăn uống đầy đủ, được chăm sóc thuốc men. Tất cả là xuất phát từ lòng tốt của Chính phủ và nhân dân Việt Nam mặc dù tôi đã gây tội ác xấu xa, theo lệnh của chính phủ Mỹ.

        Đen-tơ tỏ ra ân hận với tội lỗi của mình, mong được làm việc tốt để chuộc tội. Anh ta tích cực tham gia các hoạt động của trại như làm báo tường, viết thư tự nguyện tỏ rõ quan điểm chống lại "chính sách ngoan cố, tiếp tục kéo dài chiến tranh của giới cầm quyền Mỹ".


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Hai, 2020, 06:16:31 am

        Ngày 2 tháng 5 năm 1966 có nhà báo Úc đến thăm trại, hỏi Đen-tơ:

        - Ông có điều gì phàn nàn không?

        Đen-tơ vui vẻ trả lời:

        - Không! Tôi ăn uống đầy đủ và tốt. Tôi được đối xử độ lượng mặc dù tôi là người có tội.

        Phải nói rằng những năm Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, tình hình kinh tế đất nước gặp không ít khó khăn. Vừa sản xuất vừa chiến đấu, vừa bảo vệ miền Bắc vừa chi viện sức người sức của cho miền Nam, chúng ta phải chịu đựng gian khổ thiếu thốn nhiều mặt. Ấy vậy mà chúng ta vẫn dành cho phi công tù binh Mỹ trong các trại giam có đời sống khá. Về vật chất đảm bảo đủ lương thực thực phẩm theo định lượng, tổ chức nhiều hoạt động tinh thần tạo mọi điều kiện thuận lợi cho phi công tù binh. Rất nhiều phi công tù binh khi về nước đều có rất nhiều thiện cảm với Việt Nam, nhưng cũng có một số thiếu thiện chí nói xấu chúng ta. Nhân dân ta tha tội chết cho chúng, cưu mang chúng suốt mấy năm trời ấy vậy mà vừa về Mỹ là quay lại nói xấu, trong đó có Đen-tơ.

        Ngày 30 tháng 3 năm 1973, mới về nước, Đen-tơ trong một buổi họp báo đã lên tiếng tố cáo Bắc Việt đối xử không ra gì với phi công tù binh. Anh ta nói rằng:

        - Tôi đã bị những người quản trại tra tấn rất nhiều lần, người xanh như tàu lá, thân hình tiều tụy như con vật...

        Nhiều người trong đó có cả các nhà báo nước ngoài còn nhớ, cuối năm 1968 vào dịp Nô-en cũng là dịp mừng năm mới dương lịch, Đen-tơ viết thư gửi ban quản lý trại:

        "Cảm tạ nhân dân Việt Nam liên tục đối xử rất tốt với tôi. Năm nào chúng tôi cũng được vui vẻ liên hoan đón tết và chúc mừng chúng tôi chóng được trở về quê nhà. Tôi nhận thấy nhân dân Việt Nam là ân nhân của tôi. Vì vậy tôi thành thực hối cải và hy vọng được hưởng lượng khoan hồng trong những ngày đã qua cũng như những ngày sắp tới".

        Tất nhiên không phải chỉ một lá thư là ta hiểu hết tâm địa con người anh ta. Tháng 5 năm 1966 một nhà báo Chi Lê hỏi Đen-tơ:

        - Nếu về Mỹ thì anh sẽ làm gì?

        - Có lẽ tôi phải làm theo lệnh cấp trên. Họ bảo làm gì tôi phải làm theo. Xin ông hiểu cho, tôi là một quân nhân chuyên nghiệp mà và là bố của bảy đứa con.

        Thái độ Đen-tơ bắt đầu thay đổi khi Hiệp định Pari được ký kết. Trong lúc nhiều phi công tù binh Mỹ vui mừng đón tin vui được trở về Mỹ, sắp được gặp người thân thì Đen-tơ đã có những suy nghĩ khác. Có lần anh ta trả lời các nhà báo:

        - Thưa các ông, khi tôi về nước rồi xin các ông hiểu cho, tôi phải nói phải viết, phải làm như cấp trên tôi ra lệnh.

        Đen-tơ được trao trả về Mỹ ngay trong đợt đầu tiên ngày 12 tháng 2 năm 1973 gồm 116 nhân viên quân sự Hoa Kỳ. Có 29 quân nhân bị thương: thiếu tá Ray-mơn Đun-xten Ut-dơ bị bắt ở Thanh Hóa ngày 3 tháng 4 năm 1965. Anh ta bị gãy chân cùng với sáu quân nhân lái B52 trong đó ba người phải cáng lên máy bay.

        Vậy đấy, Đen-tơ về Mỹ "phải nói, phải viết, phải làm như cấp trên tôi ra lệnh" mà!

        Có lẽ trường hợp như Đen-tơ không phải nhiều nhưng không phải là trường hợp duy nhất.

        Thiếu tá Ri-ơt A-len Xtre-tơn cũng là một trường hợp tương tự. Anh ta thuộc đại đội 192, liên đội 19 trên tàu sân bay Ti-cơn Đên-rô-ga bị ta bắn rơi ngày 5 tháng 1 năm 1967 gần đảo Hòn Mê. Bị bắt về trại anh ta tỏ ra là người biết ăn năn hối cải, biết tội và xin được khoan hồng:

        - Tàu Ti-cơn Đên-rô-ga đến vịnh Bắc Bộ ngày 16 tháng 11 năm 1966. Ngay ngày hôm đó tôi được lệnh chỉ huy một phi đội máy bay A4E mang bom bi và bom mảng đánh vào một khu vực đông dân cư ở thành phố Vinh tỉnh Nghệ An.

        Anh ta đã tham gia hai mươi phi vụ đánh phá miền Bắc, gây bao tội ác dã man đối với đồng bào ta. Nhưng thực hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước Việt Nam chúng ta tha tội chết cho anh ta. Anh ta và những phi công tù binh Mỹ đều biết rõ điều đó:

        - Tôi được nhân dân Việt Nam đối xử nhân đạo. Từ khi bị bắt tôi được thấy đầy đủ, thực chất những hành động tội ác, đã gây đau thương, chết chóc, tàn phá đối với nhân dân Việt Nam. Tôi biết tội lỗi của tôi, xin nhân dân Việt Nam tha tội cho tôi, tha chết cho tôi và tiếp tục cho tôi được hưởng chế độ nhân đạo. Trong trại giam này, tôi được tự do tín ngưỡng, được đi nhà thờ nhân dịp Nô-en. Chúng tôi được luyện tập thể thao thể dục để giữ gìn sức khỏe. Hàng ngày bác sĩ đến hỏi han sức khỏe của chúng tôi. Chúng tôi được nhận quà của gia đình gửi tới. Tôi nhận được mọi thứ cần thiết cho tôi sống với số lượng đầy đủ.

        Không những anh ta nhận thức được như thế mà còn hăng hái hơn cảm thấy hổ thẹn vì những hành động tiếp tục chiến tranh của chính quyền Mỹ, muốn được tham gia hoạt động đòi chính quyền Mỹ chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Anh ta bất bình khi nghe tin ở các nhà tù của chính quyền Thiệu đối xử dã  man với tù nhân:

        - Tôi thấy cần phải lên tiếng nhân danh lương tri của một công dân Mỹ. Tôi lấy làm hổ thẹn không hiểu vì sao chính phủ Hoa Kỳ vẫn tiếp tục giữ cố vấn để duy trì một hệ thống nhà tù không thể nào dung thứ nổi ở miền Nam Việt Nam như thế.

        Ấy vậy mà ngày 29 tháng 3 năm 1973 sau khi được trao trả về Mỹ, Ri-ơt A-len Xtre-tơn trong một cuộc họp báo đã lên tiếng nói xấu những gì mà trước đó anh ta ca ngợi. Thật đáng xấu hổ.


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Hai, 2020, 06:17:40 am

LÍNH CẬU CŨNG KHÔNG THOÁT CHẾT

        Không quân Mỹ còn có máy bay cảnh giới và máy bay báo động từ xa E2C. Máy bay E2C lần đầu tiên được sử dụng ở Việt Nam để sớm phát hiện mục tiêu phát bức xạ điện từ và nhận dạng các mục tiêu đó. Các tín hiệu điện từ được ghi nhận và xử lý bằng máy tính điện tử, tổng hợp và hiển thị trên màn ảnh. Chúng có thể bay ngoài không phận nhưng quan sát sâu vào nội địa đối phương.

        Máy bay trinh sát điện tử cũng cực kỳ lợi hại. EA6B là máy bay đầu tiên được chế tạo như một hệ thống phóng nhiễu từ xa, chuyên dùng tiêu diệt rađa đối phương. Mỗi máy bay mang hai máy phát nhiễu, đây cũng là loại máy bay chiến đấu điện tử. Không quân Mỹ thường dùng hai loại máy bay trinh sát chụp ảnh là RF101 và RA5C. Trong những năm chiến tranh, hàng ngày thường có một đến hai chiếc trinh sát điện tử bay dọc bờ biển từ Vĩnh Linh ra vịnh Bắc Bộ. Lúc đầu chúng hoạt động ở ven biển sau đó do yêu cầu đánh các mục tiêu sâu trong đất liền nên chúng phải bay theo hướng Thượng Lào - Lai Châu. Đề phòng bị MiG tấn công, khi bay loại này còn có một tốp F4D hộ tống. Phi công tù binh kháo nhau, loại phi công máy bay trinh sát điện tử là "sĩ quan cậu". Máy bay trinh sát điện tử bay rất cao để quan sát không như máy bay chiến đấu phải đánh phá mục tiêu, phải đối mặt với các loại súng phòng không. Vì thế mà trong con mắt của phi công lái máy bay tiêm kích, cường kích thì lái máy bay trinh sát là an toàn nhất. Mắt thường không quan sát được trinh sát điện tử kể cả những lúc thời tiết tốt nhất.

        Ngồi trên máy bay trinh sát điện tử lũ "sĩ quan cậu" tưởng là an toàn nhất. Nhưng chiến tranh Việt Nam, lưới lửa phòng không Việt Nam chúng vẫn bị thiêu trụi như thường. Tên lửa SAM 2 là loại vũ khí lợi hại đối với chúng. Bay từ xa ngoài biển hay bay thật cao từ phía Thái Lan tới, chúng vẫn không thoát khỏi thiên la địa võng của lưới lửa phòng không nhân dân.

        15 giờ ngày 16 tháng 1 năm 1967, rađa của Tiểu đoàn tên lửa 77 ở Tuyên Quang phát hiện một tốp gồm hai máy bay trinh sát RF4C ở phương vị 240 độ, cự ly 25km. Khi chúng vào đến cự ly 20km, theo mệnh lệnh tiểu đoàn trưởng, hai quả đạn được bắn đi có điều khiển. Một chiếc RF4C chưa kịp trinh sát làm nhiệm vụ đã bị rơi tại chỗ - xã Yên Bằng, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.

        Bị thua đau ở cả hai miền Nam - Bắc, ngày 31 tháng 3 năm 1968, tổng thống Ních-Xơn buộc phải ra lệnh ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra và chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán tại Pari. Tuy là ngừng ném bom nhưng không quân Mỹ vẫn tích cực hoạt động do thám từ vĩ tuyến 20 trở ra và đe dọa đánh phá trở lại. Thòi gian này, chúng thường dùng các loại máy bay trinh sát SR71, BQM 34-A và 147J liên tục trinh sát thu thập tin tức tình báo chiẽn lược miền Bắc.

        SR71 là máy bay trinh sát chiến lược, hoạt động ở độ cao 24km, tốc độ bay 60km/phút. BMQ 34-A là máy bay không người lái trinh sát tầng cao, thường chụp ảnh ở độ cao 8km, tốc độ bay khoảng 220m/giây. Loại này bị ta bắn rơi nhiều nên chúng cải tiến thành các loại máy bay 147J, 147S, 147SC, 147SK và 147SRE trinh sát cả ban ngày lẫn ban đêm.

        Phục vụ cho không quân Mỹ liên tiếp đánh phá Hà Nội, lũ trinh sát lại tiếp tục hoạt động, cả trinh sát có người lái và không có người lái. Hơn một tháng sau khi chiếc trinh sát RF4C bị bắn rơi trên bầu trời Tuyên Quang, ngày 18 tháng 2 một chiếc máy bay trinh sát điện tử không người lái 147J bị Tiểu đoàn tên lửa 77 bắn rơi tại chỗ ở huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang. Hôm đó, trên bầu trời Bắc Giang có ba tốp máy bay Mỹ từ hướng tây nam, năm tốp máy bay khác ở hướng đông nam. Chiếc 147J bay ở độ cao một ngàn mét, trinh sát phục vụ cho những đợt công kích dã man. Nhưng từ cự ly 35km, 147J đã bị các trạm rađa của ta bám sát, vào đến cự ly 25km tiểu đoàn được lệnh tiêu diệt mục tiêu. Đây là chiếc máy bay trinh sát không người lái đầu tiên Tiểu đoàn 77 bắn rơi. Ngày 17 tháng 5 năm 1968 lại một chiếc 147J bị ta bắn rơi tại ngã ba Canh ngoại thành Hà Nội -  chiến công của quân và dân Hà Nội mừng sinh nhật lần thứ 78 của Chủ tịch Hồ Chí Minh.


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Hai, 2020, 06:18:27 am

        Trinh sát tầng thấp cũng bị ta thiêu rụi, trinh sát tầng cao không người lái cũng không thoát khỏi bị tiêu diệt. Dù có ngừng bắn, nhưng chúng ta hiểu hết tâm đen của đế quốc Mỹ, những người lính phòng không Hà Nội nhớ lời Bác Hồ dặn khi Người về thăm Quân chủng trong ngày Mồng 1 Tết Kỷ Dậu 1969:

        "Không tin được Mỹ đâu! Chúng nó xảo quyệt lắm. Chúng là bọn đế quốc xâm lược, phải luôn luôn sẵn sàng chiến đấu để khi nó giở quẻ là mình đập lại được ngay".

        Tiểu đoàn 77 đã cùng một số đơn vị pháo phòng không 37 mm đi mai phục ở huyện Tiên Lữ, Hưng Yên. Thế là, do cảnh giác cao, ngày 9 tháng 11 năm 1969 Tiểu đoàn 77 lại bắn rơi tại chỗ một thằng trinh sát không người lái BQM 34-A.

        Trong năm 1969, Trung đoàn tên lửa 263 cũng liên tục bắn rơi máy bay trinh sát không người lái càng làm cho Mỹ hoang mang. Không những việc trinh sát không thực hiện có hiệu quả chuẩn bị cho những đợt đánh phá mới mà điều quan trọng là tác động xấu đến tâm lý phi công Mỹ. Càng ngày chúng càng lo sợ mỗi khi cất cánh đi ném bom. Nhiều phi công hoảng loạn bay cao ném bom, làm sao nhanh chóng trút hết bom đạn để về lại căn cứ.

        Ngày 27 tháng 4 năm 1969, Tiểu đoàn 43 tiêu diệt một máy bay trinh sát 147S từ cự ly 28km, độ cao 900m.

        Ngày 11 tháng 5 năm 1969, Tiểu đoàn 43 lại bắn rơi thêm một máy bay trinh sát 147S - lần này thì bắn rơi tại chỗ ở xã Hoàng Diệu huyện Chương Mỹ -  Hà Nội.

        Ngày 10 tháng 8 năm 1969, Tiểu đoàn 44 bắn hai quả tên lửa hạ tại chỗ một máy bay trinh sát 147S ở Sài Sơn huyện Quốc Oai, Hà Nội.

        Ngày 14 tháng 8 năm 1969 vào lúc 4 giờ 36 phút Tiểu đoàn 43 lại bắn rơi tại chỗ một máy bay trinh sát - loại mới được không quân Mỹ cải tiến 147 SRE...

        Trong những trận đánh lớn chúng thường dùng loại máy bay trinh sát điện tử và gây nhiễu EB66. Nó được cải tiến từ máy bay ném bom B26. Phi hành đoàn gồm sáu nhân viên: một lái chính, một lái phụ và bốn sĩ quan điện tử. Trên máy bay được trang bị máy thu tín hiệu rađa ALA-5, máy thả nhiễu tiêu cực ALE-1, máy phát nhiễu tích cực QRC-279, ALT-13 và ALR-18. Nhiệm vụ chủ yếu của EB66 là thu tín hiệu rađa pháo phòng không, rađa tên lửa phòng không và rađa trên máy bay MiG của đối phương. Khi tiến hành thu tín hiệu rađa EB66 tiến hành gây nhiễu từ xa, ngoài đội hình phục vụ máy bay cường kích đánh phá mục tiêu. Trên đường bay cứ mười, mười lăm giây cho hướng phát hiện rađa một lần và xác định vị trí tên lửa phòng không trong vòng ba mươi giây nếu rađa tên lửa phát sóng liên tục. Hoạt động gây nhiễu của EB66 làm giảm khả năng phát hiện của rađa cảnh giới, việc ngắm bắn, dẫn đường của đối phương, che giấu đội hình máy bay cường kích, làm giảm thương vong và gây rất nhiều khó khăn cho tác chiến của các loại pháo, tên lửa phòng không đối phương. Thời kỳ đầu EB66 gây cho ta không ít khó khăn, nhưng từ khi quân chủng chủ trương đánh EB66 để rút kinh nghiệm, nhiều EB66 cũng chịu chung số phận lũ trinh sát điện tử khác.

        Như thế là, dù cải tiến cách gì, trinh sát điện tử của Mỹ cũng không thoát khỏi bị tên lửa Việt Nam anh hùng làm tiêu tan những số liệu thông tin chính xác. Đây là một đòn đau đối với kỹ thuật chiến tranh hiện đại của không quân Mỹ.

        Õng Ngô Xuân Bình kể về một trận đánh tiêu diệt EB66:

        "Cán bộ và chiến sĩ ngày đêm luyện tập phát sóng thật trên hướng dự kiến EB66 bay vào. Trận địa được ngụy trang kín, những quả tên lửa như những con thú rình mồi sẵn sàng rời bệ phóng. Nhưng đã ba ngày qua chưa thấy máy bay EB66 bén mảng tới. Anh em nóng ruột bực mình: Phải chăng ý đồ phục kích đã bị lộ? Đến 9 giờ ngày 4 tháng 2 năm 1967, hai chiếc RF101 bay sát trận địa càng làm tăng mối hoài nghi trận địa bị lộ... Ban chỉ huy tiểu đoàn hội ý và thống nhất chỉ đạo các đơn vị: khả năng địch trinh sát để cho EB66 vào, nếu địch nghi ngờ, cho máy bay cường kích đánh thẳng trận địa, vẫn không phát hỏa, kiên quyết chờ bằng được EB66.

        14 giờ, chiến sĩ tiêu đồ 99 đi những đường chì một tốp mục tiêu khá ổn định đang bay vào. Tiểu đoàn trưởng ra lệnh báo động đài một. Đài một mở máy báo cáo bắt được mục tiêu rồi tắt máy ngay để giữ bí mật. Đài hai được lệnh mở, tắt máy ba lần để theo dõi mục tiêu. Tốp máy bay vẫn bay vào theo đường bay ổn định. Đến lần thứ tư, tiểu đoàn trưởng ra lệnh cho đài hai bám sát lâu hơn và xác định đã đúng EB66 chưa? Kíp trắc thủ đài một báo cáo: Đúng chiếc thứ ba bên trái là EB66. Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Xuân Dương ra lệnh cho đài hai nối cao thế. Sĩ quan điều khiển Đào Tiến Sinh và kíp trắc thủ Hà, Tạo, Mùi nhanh chóng bắt gọn cả nhóm mục tiêu gồm sáu chiếc, trong đó có tín hiệu ở giữa có độ sáng, to đậm, chuyển động chậm hơn ở giữa đội hình. Mọi người đều thống nhất khẳng định đó là "con mồi" mà họ đang chờ đợi. Tiểu đoàn trưởng hạ lệnh phóng liền ba quả đạn. Những quả tên lửa được ngụy trang kín đáo náu mình bấy lâu, nay được dịp rời bệ phóng, xé gió lao lên tiến thẳng về phía chiếc EB66 đang bay vào. Quả thứ nhất trúng mục tiêu, ba trắc thủ Tạo, Mùi, Hà báo cáo: "Mất tự động" và chuyển ngay sang bám sát mục tiêu bằng tay quay. Quả thứ ba lại trúng mục tiêu. Quan sát trên màn hiện sóng, cả ba trắc thủ đều phấn khởi báo cáo: "Mục tiêu bị tiêu diệt!".

        Lúc đó là 14 giờ 2 phút".


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Hai, 2020, 05:42:57 am

        Mạc Lâm kể về cuộc trò chuyện với phi công tù binh lái chiếc trinh sát điện tử EB66. Từ căn cứ quân sự Tắc Li, Thái Lan chúng vào nước ta, đến Tuyên Quang bị tên lửa tiêu diệt. Hai phi công tù binh là đại úy Nô-ran A-lếch-xan-đơ Mắc Đa-ni-en, sinh tháng 7 năm 1937, có vợ và hai con. Mắc Đa-ni-en là sĩ quan điện tử máy bay trinh sát EB66, đơn vị đóng ở căn cứ Tắc Li, Thái Lan. Đại úy sĩ quan điện tử EB66 Glan-đơn Uy-liêm Péc-kin, sinh tháng 7 năm 1934.

        Sáng hôm ấy chúng tôi gọi hai phi công tù binh từ Tuyên Quang về. cả hai đều bị thương nhẹ được trạm xá cứu chữa. Họ khai:

        - Chúng tôi trước kia bay ở biên giới Việt - Lào nhưng vì quá xa Hà Nội nên cấp trên lệnh phải bay vào Sơn La, bí mật bay qua Tuyên Quang. Bay ở

        Sơn La đã nguy hiểm, vào Tuyên Quang là liều lắm rồi, cứ nghĩ là các ông không biết. Bay ở biển an toàn hơn vì đã có trinh sát điện tử hải quân đảm nhiệm. Chúng tôi trinh sát phục vụ cho hoạt động của không quân hướng tây bắc đánh vào Hà Nội. Đây là phi vụ đầu tiên...

        Hỏi về trang thiết bị trên EB66, chúng nói:

        - EB66 có hệ thống thu và phân tích mọi loại tín hiệu của rađa, có hệ thống máy gây nhiễu điện tử tầm xa. Trong tác chiến, EB66 thường phối hợp với các loại máy bay chiến đấu F1ll, F4 để gây nhiễu tích cực và nhiễu tiêu cực trên một diện tích rộng làm mờ hiện sóng của rađa đối phương. Trong chiến đấu hợp đồng, EB66 có khả năng chỉ dẫn cho các máy bay chiến đấu tấn công vào các trận địa rađa hoặc đối đầu với máy bay MiG-17, MiG-21.

        Về trường hợp bị bắt, chúng thi nhau kể:

        - Chúng tôi nhảy dù vào một khoảng trống trong rừng rậm, đã bị bỏng không biết xoay xở thế nào để trốn thoát. Nghe nói rừng nhiệt đới nhiều thú dữ, nhiều côn trùng phát khiếp, đêm lại xuống dần chúng tôi vô cùng sợ hãi. Bỗng chúng tôi nghe tiếng người, tiếng người ngày một gần. Thì ra là dân địa phương từ các ngả kéo tới. Chúng tôi bị bắt, về một thị trấn nhỏ nghỉ lại rồi về đây. Sợ quá, không dám chống cự, dân cho ăn uống và tha tội chết cho chúng tôi. Nằm trong trại chúng hối tiếc vì đã quá tin vào công nghiệp quốc phòng Mỹ. Sợ nhất là khi máy bay bốc cháy, may còn bấm kịp dù.

        Những phi công tù binh này giúp chúng ta những tài liệu quý về các loại máy bay trinh sát điện tử, về sự phối hợp tác chiến giữa trinh sát điện tử với các loại máy bay khác trong từng trận đánh, giúp chúng ta đối phó với những âm mưu đánh phá bằng không quân Mỹ vào các mục tiêu trên đất liền.

        Không quân cũng đã được tổ chức để tiêu diệt loại máy bay trinh sát điện tử lợi hại này. "Lịch sử Quân chủng Phòng không - Không quân" ghi lại một trận đánh khá tiêu biểu:

        "7 giờ 10 phút, ngày 19 tháng 11 năm 1967 Bộ tư lệnh Quân chủng lệnh cho một biên đội MiG-21 gồm hai chiếc đánh máy bay điện tử EB66. Theo phương án cũ, không quân đi đánh EB66, thì bộ đội rađa sẽ dẫn đường cho máy bay MiG-21 lên Thanh Sơn rồi thọc xuống hướng tây nam đón đánh EB66 ở phía tây Thanh Hóa. Nhưng hôm nay, trung đoàn trưởng Trần Mạnh quyết định sử dụng một đường bay mới. Biên đội MiG-21 do hai chiến sĩ Nguyễn Đăng Kính và Vũ Ngọc Đỉnh bay thấp theo trục đường số 1 rồi ngoặt lại đánh thọc sườn vào đội hình tốp máy bay EB66. Dọc đường bay tiếp cận địch, ta không mở máy thông tin đối không để giữ bí mật. Đến bầu trời Lang Chánh, Hồi Xuân - Thanh Hóa, sở chỉ huy thông báo có địch. Vũ Ngọc Đỉnh phát hiện EB66, được Nguyễn Đăng Kính yểm hộ lao vào công kích nhưng bị lỡ đà mất thời cơ. Đỉnh lệnh cho số 2 vào công kích. Nguyễn Đăng Kính xông lên, lấy đường ngắm phóng liền hai quả, tiêu diệt một chiếc EB66. Chiếc máy bay bốc cháy đâm xuống rừng nguyên sinh Hồi Xuân, Thanh Hóa. Chiếc EB66 bị quân ta đánh tan, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ đội tên lửa và pháo phòng không ở vòng trong đánh địch. Chưa bao giờ các kíp chiến đấu của binh chủng tên lửa thấy trên màn hiện sóng của mình không còn tín hiệu nhiễu ngoài đội hình như vậy".

        Ngày 14 tháng 1 năm 1968, không quân cũng lại dùng một biên đội MiG-21 đi đánh EB66. Chiến sĩ lái Phạm Văn Song bắn rơi tại chỗ một chiếc EB66C.


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Hai, 2020, 05:44:14 am

TÌM CÁCH DIỆT MiG BỊ MiG DIỆT

        Câu chuyện trớ trêu về đại tá phi công tù binh No-man Ga-đi-xơ - đại diện cho các phi công lão luyện vào loại nhất nhì của Mỹ làm khách không mời ở trại giam Hỏa Lò. Cấp đại tá cũng đủ nói lên thời gian phục vụ không quân Mỹ của anh ta, cả về tài năng và kinh nghiệm chiến đấu nữa chứ. Anh ta không phải là đại tá phi công Mỹ duy nhất bị bắt làm tù binh. Trong chiến tranh phá hoại của Mỹ ra miền Bắc, không ít sĩ quan cấp đại tá không quân Mỹ bị ta bắt làm tù binh. Trong năm 1967 nhiều đại tá phi công Mỹ rủ nhau làm khách không mời của trại giam Hỏa Lò: No-man Ga-đi-xơ bị bắt ngày 12 tháng 5 năm 1967 tại Hà Nội. Ba tháng sau, ngày 2 tháng 8 đại tá Oa-lát Hai-dơ lái chiếc RF4C bị quân và dân huyện Hương Khê - Hà Tĩnh bắn rơi. Hơn hai tháng sau đó, ngày 20 tháng 10 Hà Nội lại bắt sống giặc lái, đại tá Pi-tơ Phơ-lin và hơn nửa tháng sau, ngày 18 tháng 11 đại tá Bơ-đét Et-đu-át liên đội trưởng không quân chiến thuật Mỹ, máy bay của anh ta cũng không thoát khỏi lưới lửa phòng không của quân và dân tỉnh Hà Tây (cũ)...

        No-man người gốc Hà Lan sinh ngày 30 tháng 9 năm 1923, đăng lính lúc còn là một chàng trai trẻ mười chín tuổi - 29 tháng 12 năm 1942, khi mà cuộc đại chiến thế giới lần thứ hai giữa phe trục phát xít Đức - Ý - Nhật với quân các nước Đồng minh chưa phân thắng bại. Mới vào lính anh ta làm thợ máy, thế rồi do yêu cầu của chiến tranh một lớp đào tạo lái máy bay khu trục được mở ra, No-man được cử đi học, sau hai năm đào tạo anh ta tốt nghiệp, được phong quân hàm thiếu úy. Con đường binh nghiệp của No-man khá thuận lợi, trải qua nhiều chức vụ quan trọng: Chỉ huy căn cứ Mắc-đin ở bang Flo-ri-đa -  một căn cứ không quân lớn thuộc bộ chỉ huy không quân chiến thuật (TAC). Nhiều năm anh ta là sĩ quan cao cấp nghiên cứu về không quân ở bộ quốc phòng, chuyên theo dõi về trang bị, xây dựng, mua sắm các loại máy bay và xăng dầu của không quân Mỹ. Năm 1967 No-man được điều sang chiến trường Đông Nam Á. Không biết có phải anh ta bị ám ảnh bởi ngày độc hay không mà cứ quả quyết rằng - ngày anh ta được điều động đến Việt Nam ảnh hưởng đến số phận của một sĩ quan cao cấp trong không quân Hoa Kỳ:

        - Tôi được điều sang Việt Nam vào đúng ngày 3 tháng 3 năm 1967, đúng là ngày mang cái số độc địa. Con số 3 là con số độc địa, những con số 3 ám ảnh tôi. Ngày 3 tháng 3 đã là hai con số 3 độc rồi. Ngay năm 1967 cũng có một con số 3 độc nữa. Này nhé: 1+9+6+7 bằng 23 - có nguy hiểm chết người không cơ chứ!

        No-man đến Việt Nam khi mà chính quyền Ních-xơn đang cay đắng vì những thất bại thảm hại ở miền Nam. Chính quyền Ních-Xơn hiếu chiến âm mưu mở rộng chiến tranh lớn ra miền Bắc là có thể làm cho nhân dân miền Bắc khiếp sợ, không dám chi viện cho chiến trường miền Nam. Và như thế vấn đề miền Nam được giải quyết dứt điểm trong hai năm 1966-1967. Khi mà No-man đến dải đất trên bao lơn Thái Bình Dương trông yểu điệu, tha thướt như một cô gái lại là đất nước của những con người hiên ngang không khuất phục - miền Bắc đã bắn rơi hơn một ngàn máy bay phản lực tối tân đủ các loại của Mỹ.

        Bốn mươi hai tuổi, No-man đã có trên bốn ngàn hai trăm giờ bay và là hiệu trưởng một trường đào tạo phi công Mỹ. Học trò lái các loại máy bay phản lực hiện đại của Mỹ lại bị lũ "nhãi nhép" - cách No-man gọi các loại máy bay MiG của ta đánh cho tan tác. Không những thế còn có nhiều phi công có kinh nghiệm cũng bị lũ "nhãi nhép" MiG-17, MiG-21 bắn rơi phải vào trại giam làm cho anh ta càng bực tức hơn. Không ít lần trên bục giảng anh ta mỉa mai đồng nghiệp của mình bị bắt ở Bắc Việt Nam. Thế là No-man tình nguyện xin được sang chiến đấu ở Việt Nam, hơn thế nữa anh ta có hẳn một kế hoạch khá công phu nghiên cứu để tìm ra biện pháp hữu hiệu tiêu diệt các loại MiG của Bắc Việt. Nhiệm vụ anh ta được giao sang chiến trường Việt Nam nhằm: "Xem xét chiến thuật của không quân Mỹ, nghiên cứu về lưới lửa phòng không của Bắc Việt Nam. Đặc biệt là nghiên cứu cách đánh của máy bay MiG được Nga chế tạo và tìm cách tiêu diệt có hiệu quả MiG-19, MiG-21 rồi quay về báo cáo với tổng hành dinh không quân Hoa Kỳ tại thủ đô Oa-sinh-tơn".


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Hai, 2020, 05:44:54 am

        No-man được đưa đến sân bay Đà Nẵng - một căn cứ không quân Hoa Kỳ gần Bắc Việt Nam. Chắc là bị những con số 3 độc địa ám ảnh nên anh ta cũng đã  hết sức cố gắng gìn giữ sao cho sớm kết thúc công việc về Mỹ. No-man tỏ ra rất tích cực, tham gia nhiều cuộc họp giao ban, rút kinh nghiệm chiến đấu của các phi đội, thu thập nhiều tư liệu... Hơn hai tháng sau No-man đã chuẩn bị xong đề cương chuẩn bị về trình bày trước Hội đồng tham mưu bộ không quân Hoa Kỳ. Ngày được trở vế đang đến gần ngày 15 tháng 5 năm 1967! Nhưng trớ trêu cho anh ta, để chuẩn bị về nước phải có một chuyến bay vào Bắc Việt Nam nghiên cứu tình hình thực tế chiến đấu của không quân!

        Ngày 12 tháng 5 năm 1967, No-man lái chiếc F4C, vào loại tối tân nhất lúc đó lẻn vào vùng trời Hà Nội cùng với nhiều máy bay hộ tống. No-man chưa kịp phát hiện hỏa lực phòng không của Bắc Việt, chưa kịp biết MiG lợi hại thế nào đã bị MiG của ta bắn hạ. Một chiếc MiG-17, đánh gần bắn máy bay F4C bằng tiểu liên 20mm. Bị thương, No-man biết nên vội vàng lao xuống thấp định chạy trốn lại bị lưới lửa phòng không tầm thấp hạ gục!

        Một phi công lão luyện có tên tuổi của không quân Mỹ có lịch sử khá lâu đời lại bị các phi công non trẻ của Không quân Việt Nam cũng còn rất non trẻ cho "đo ván". Người phi công anh hùng của chúng ta là trung úy Ngô Đức Mai, hồi đó mới hai mươi bảy tuổi đời, có gần ba trăm giờ bay đánh gục đại tá No-man lúc đó bốn mươi hai tuổi và đã có hơn bốn ngàn hai trăm giờ bay và là hiệu trưởng một trường không quân của Mỹ!

        Trung úy Ngô Đức Mai kể về cuộc chiến đấu trên không:

        - Gặp địch, tôi quan sát thấy có một chiếc máy bay F4C được nhiều máy bay hộ tống đang bay vào Hà Nội. Tôi đoán chắc đó là máy bay của tên chỉ huy. Đối với người lính không quân chúng tôi, Hà Nội là khu vực thiêng liêng. Biết bao tâm tư tình cảm chúng tôi dành cho thủ đô. Giặc Mỹ đánh vào Hà Nội là xúc phạm đến những gì thiêng liêng nhất của người dân Việt Nam. Phải đánh thằng chỉ huy, nghĩ thế bằng một đường bay bất ngờ, táo bạo, được đồng đội yểm trợ tôi tấn công chiếc F4C.

        Chiến công của trung úy Ngô Đức Mai dâng lên Bác Hồ kính yêu nhân dịp kỷ niệm lần thứ 77 ngày sinh của Bác.

        Có một kỷ niệm không bao giờ quên trong cuộc đời chiến đấu không quân của Ngô Đức Mai là được gặp Đại tướng Nguyễn Chí Thanh nhân dịp Đại tướng đến thăm đơn vị. Được biết Mai bắn rơi máy bay của No-man, đại tướng vỗ vai anh thân tình nói:

        - Các đồng chí ạ, phải đánh thế! Đúng lắm, đó là lối đánh của chúng ta, của dân tộc Việt Nam. Cách đánh thật thông minh, tìm thằng đầu sỏ mà quật. Chà! Đồng chí Mai bắn gần đến thế. Đó chính là kiểu đánh gần, đánh bất ngờ, nắm thắt lưng địch mà đánh như các chiến sĩ Quân giải phóng miền Nam!

        Một phi công tên tuổi lái máy bay tối tân của Hoa Kỳ lại bị chính loại máy bay mà anh ta cho là "nhãi nhép" hạ gục tất nhiên là anh ta cay cú lắm. No-man luôn nằng nặc xin được gặp mặt đối thủ. Chúng ta cũng đã bố trí cuộc gặp theo yêu cầu của anh ta.

        Từ cuối tháng 2 năm 1973 ta báo cho anh ta biết tin này. No-man rất vui:

        - Thưa các ông, tôi xin cam đoan, cho đến phút cuối cùng ở trại, tôi vẫn hết sức tuân thủ kỷ luật của trại giam, giữ gìn trật tự vệ sinh. Không dám để các ông phật lòng.

        No-man là một trong nhiều nhân viên quân sự cao cấp nhất được phía chính phủ ta trao trả cho chính phủ Mỹ ngày 4 tháng 3 năm 1973. Trong đợt này, có 108 nhân viên quân sự Hoa Kỳ và Thái Lan được trao trả, gồm những phi công tù binh bị bắt từ năm 1966 đến giữa năm 1967. Cùng được trao trả với anh ta còn có chín trung tá, 29 thiếu tá, 36 đại úy, 29 trung úy, hai thiếu úy và hai nhân viên quân sự Thái Lan.


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Hai, 2020, 05:45:36 am

TAN XÁC "CÁNH CỤP CÁNH XÒE"

        Máy bay ném bom F111A được Mỹ đưa vào Việt Nam từ tháng 3 năm 1968. Tháng 9 năm 1972 Mỹ lại đưa thêm hai đại đội F111A gồm 148 chiếc thuộc liên đoàn không quân 47 sang sân bay Tắc Li, Thái Lan tăng cường đánh phá miền Bắc. Đây là loại máy bay mới nhất, có thể thay đổi cánh để tăng giảm tốc độ nên được mệnh danh là "cánh cụp cánh xòe". F111A nặng 32 tấn, tốc độ bay từ 250 - 300m/s, có khả năng mang được mười tấn bom - bằng hai lần số bom của năm chiếc máy bay F4, máy bay F1ll cấu tạo đặc biệt, có thiết bị tự động để có thể bay cao hoặc thấp trên các địa hình phức tạp đến ném bom mục tiêu không cần hệ thống dẫn đường. Lợi hại của loại máy bay này còn là khả năng gây nhiễu cho phù hợp với việc chiến đấu ở địa hình phức tạp, F111A được trang bị nhiều khí tài và trang bị điều khiển để có thể bay men theo các triền núi, ven sông biển cực thấp. Chúng thường hoạt động ban đêm, đi lẻ đối phó với cả ba loại vũ khí phòng không lợi hại của ta là tên lửa, máy bay tiêm kích và pháo phòng không tầm thấp. Mặc dù có nhiều chức năng ưu việt nhưng F111A cũng còn là loại máy bay thử nghiệm, chưa thật hoàn hảo. Chính những phi công Mỹ thông thạo loại máy bay mới này thừa nhận. Trung tá phi công tù binh Giêm Uy-li-êm O-nên, sinh năm 1930 bị bắt ở Hòa Bình ngày 29 tháng 9 năm 1972 nói về F1ll:

        - Đây là loại máy bay mới. Nhiều người cho là tuyệt vời, rất hiện đại. To lớn, cánh xòe ra và cụp vào được. Một kỳ công của công nghệ chế tạo máy bay. Nhưng F1ll chưa thật hoàn hảo, đang trong thời gian thử nghiệm. Mỗi một máy bay Fill giá 15 triệu USD đắt tiền hơn cả giá một chiếc B52. Vì cớ giá béo bỏ như thế nên nhiều công ty chế tạo máy bay sản xuất để kiếm lời. Có điều là người lái F1ll là gửi tính mạng cho máy móc. Phó mặc cho hàng vạn chi tiết máy. Nếu lái máy bay F4 bay cao, vào ban ngày thì một khi có trục trặc máy móc thông thường người lái có thể xử lý được. Lái F1ll thì chịu, bay nhanh 800 kilômét/giờ, bay thấp ở độ cao 200m, bay đêm tối mịt mù, chỉ một trục trặc nhỏ cũng thành thảm họa.

        Lạy chúa! Những tên lái F1ll xấu số thường bị đạn không kịp nhảy dù. Cái chết rất thảm thương, một mình trong đêm tối.

        Lần đầu tiên không quân Mỹ dùng F1ll hoạt động đêm trên vùng trời Tây Bắc.

        Đêm 17 tháng 10 năm 1972 dân quân xã Tiền Châu huyện Vĩnh Lạc đã tổ chức một tổ súng máy phục kích đón lõng và đã bắn rơi một chiếc.

        Máy bay Fill được Mỹ rêu rao là "cánh cụp cánh xòe" với nhiều chức năng có thể làm cho các loại súng phòng không của ta mất tác dụng nhưng rồi cũng không tránh khỏi số phận nơi mồ chung với các loại "thần sấm" "con ma".

        Đế quốc Mỹ đưa F1ll vào Việt Nam tham gia đánh phá miền Bắc, giới chóp bu ở Lầu năm góc tưởng có thể xoay chuyển được tình thế nghĩa là có thể vượt mặt các loại súng phòng không của ta, đánh phá vào ban đêm có hiệu quả. Sự kiện này không những giới quân sự quan tâm mà cả giới báo chí cũng rất sốt sắng theo dõi. Một chiếc bị "mất tích" thế là chúng phải dừng bay để "ngâm cứu". Ngày 28 tháng 9 năm 1972 sau khi thực hiện được bốn phi vụ, một chiếc F111 không thấy trở về căn cứ, hãng AP đã vội vã đưa tin ngay với tâm trạng lo lắng không kém giới quân sự.

        "Mỗi ngày F111 bay từ hai mươi đến ba mươi lần chiếc. Ngày 28 tháng 9 năm 1972 máy bay này tạm ngừng đi chiến đấu sau khi mới bay được bốn phi vụ, trong đó có một chiếc mất tích!".

        Trong cuộc tập kích chiến lược bằng B52 vào Hà Nội cuối năm 1972, F111 được dùng trong đội hình cùng B52 đánh phá ác liệt. F111 cùng chung số phận với B52 - không thoát khỏi đòn trừng phạt của quân và dân ta. 19 giờ 8 phút ngày 18 tháng 12 năm 1972, mở đầu cho cuộc tập kích bằng không quân của Mỹ vào Thủ đô Hà Nội. Đài quan sát của ta ở Tam Đảo đã phát hiện nhiều tốp F111 bay vào Hà Nội. Hai phút sau, Đại đội rađa 16 của Trung đoàn 291 phát hiện nhiều nhiễu B52 xuất hiện - "B52 đang bay vào Hà Nội". Ngay từ đầu F111 cùng các máy bay cường kích chiến thuật đánh phá hủy diệt các sân bay nhằm tiêu diệt, chế áp không quân ta, dọn đường cho B52. F111 còn làm nhiệm vụ xung kích đánh phá các trận địa tên lửa, pháo phòng không ở nội thành. Có đợt chúng huy động cả một liên đội F111, mỗi đêm từ 10-25 lần chiếc hoạt động xen kẽ giữa các đợt ném bom rải thảm của B52.

        Trong 12 ngày đêm "Điện Biên Phủ trên không" năm chiếc F111 bị bắn rơi. Tự vệ Hà Nội cũng góp một phần chiến công.

        Mấy ngày đầu Mỹ tập kích vào Hà Nội, quân và dân ta biết được sự nguy hiểm của loại máy bay "cánh cụp cánh xòe", phát hiện quy luật hoạt động của F111, Bộ tư lệnh Thủ đô quyết định tổ chức trận địa phòng không tầm thấp đón lõng đánh F111 tại trận địa Vân Đồn. Một số liên đội dân quân tự vệ được tổ chức trực chiến cơ động bắn máy bay tầm thấp trong đó có Liên đội tự vệ Khu Hoàn Kiếm – Hai Bà Trưng. Liên đội gồm năm khẩu súng máy phòng không 14,5mm của ba nhà máy: Gỗ 42 Khu Hoàn Kiêm hai khẩu, Cơ khí Mai Động có hai khẩu và Cơ khí Lương Yên có một khẩu. Họ là nam nữ cán bộ, công nhân còn rất trẻ, hăng hái nhưng lại là những cây súng trực chiến rất cừ. 21 giờ ngày 22 tháng 12 năm 1972, kíp trực phát hiện từ phía tây bắc Hà Nội có một chiếc F111A bay sát mặt sông qua cảng Hà Nội. Lúc này ba khẩu đội trong đó có các tự vệ kỳ cựu Bùi Mai, Nguyễn Văn Hùng, Nguyễn Thị Hiếu, Nguyễn Công Cường, Tống Văn Xuyên do Thái Văn Quang làm khẩu đội trưởng. Được lệnh nổ súng, các trận địa đồng loạt điểm xạ. Những đường đạn thẳng căng rạch trời đêm chụm chính xác vào chiếc F111A. Máy bay trúng đạn bốc cháy như một ngọn đuốc lao nhanh về phía tây rơi xuống huyện Lương Sơn, Hòa Bình. Chỉ với mười chín viên đạn súng máy, Liên đội tự vệ Hoàn Kiếm - Hai Bà Trưng đã bắn rơi một máy bay tối tân nguy hiểm của Mỹ nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22 tháng 12, góp vào chiến công chung trong trận chiến thắng lịch sử "Điện Biên Phủ trên không".

        Một trong năm khẩu súng máy 14,5mm lập chiến công ngày ấy được đưa về Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam cùng với cánh máy bay F111. Trên một góc cánh máy bay có dòng chữ "Liên đội tự vệ Hoàn Kiếm - Hai Bà Trưng bắn rơi ngày 22 tháng 12 năm 1972".


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Hai, 2020, 05:46:51 am
         
HẠM ĐỘI 7 HẾT "LÀM MƯA LÀM GIÓ"

        Chiến tranh ở Việt Nam do Mỹ tiến hành đã gây ra biết bao đau thương tang tóc cho nhân dân ta ở cả hai miền Nam Bắc. Cuộc chiến cũng đã làm cho Mỹ thiệt hại lớn về mọi mặt. Báo Mỹ - Tuần tin tức số ra ngày 5 tháng 2 năm 1973 đã nhận xét:

        "Cuối cùng, Mỹ bắt đầu rút khỏi một cuộc chiến tranh sa lầy đã từng làm đau khổ bốn đời tổng thống và làm mất chức một tổng thống, đã chia rẽ đất nước một cách sâu sắc hơn bất cứ một sự kiện nào từ sau nội chiến, rốt cuộc bị đại đa số dân Mỹ coi như một sai lầm bi thảm. Nó đã khiến Mỹ mất 46.000 sinh mạng trong chiến đấu và 146 tỷ đôla trong hơn một chục năm (những con số này còn dưới sự thật). Nhưng cái giá nặng nề hơn là trên đất nước tinh thần bị đau thương đến nỗi, tin tức hòa bình chỉ gây một cảm giác nhẹ nhõm vì thấy đau khổ đã chấm dứt".

        Cuộc chiến đem đến sự tổn thất nặng nề đối với nền quốc phòng Mỹ. Riêng lực lượng hải quân, ngày 1 tháng 3 năm 1972 trong báo cáo trước ủy ban quân lực Hạ viện Mỹ, bộ trưởng hải quân Mỹ Giôn-sa-phi thú nhận tổn thất:

        "Khi tôi đảm nhiệm chức vụ bộ trưởng hải quân Mỹ vào tháng 1 năm 1969 nước Mỹ đang dính líu nặng nể vào cuộc chiến tranh Việt Nam. Tài nguyên và tài năng của ta bị dồn cả vào cố gắng này. Những tàu chiến hiện đại nhất, mới nhất đều đưa đến chiến trường này... Các tàu chiến Hạm đội 7 được ưu tiên số một. Những vũ khí hiện đại nhất, mới nhất, tốt nhất được dành cho Hạm đội 7, khiến cho các đơn vị hải quân Mỹ ở các nơi khác trên thế giới, kể cả Hạm đội 6 đều phải chịu thiệt thời...".

        Những năm đầu mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, hạm đội Mỹ hàng ngày vẫn diễu võ dương oai ngoài Biển Đông. Từ những hàng không mẫu hạm trên Hạm đội 7, máy bay hải quân Mỹ cất cánh vào ném bom miền Bắc nước ta. Càng mở rộng chiến tranh thì máy bay các loại dù tối tân mấy cũng bị thiệt hại ngày càng nặng nề. Những nhà thò trên các chiếc tàu sân bay nhằm an lòng phi công Mỹ nhưng những trận đi ném bom miền Bắc rất nhiều phi công không trở lại hạm tàu càng làm cho tinh thần của chúng nao núng, nhiều tên hoảng loạn thoái thác trách nhiệm bằng nhiều cách. Trong lịch sử của hải quân Mỹ sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, Hạm đội 7 phải gánh chịu những tổn thất từ những cuộc tiến công của hải quân và không quân Việt Nam.

        Trước trận tiến công miền Bắc bằng không quân, ngày 2 tháng 8 năm 1964 tàu Mađốc của Hạm đội 7 ngang nhiên xâm phạm vùng biển nước ta. Được lệnh của cấp trên, Phân đội 3 của Tiểu đoàn 135 Hải quân nhân dân Việt Nam gồm ba tàu phóng ngư lôi 333, 336 và 339 lên đường, nhằm thẳng mục tiêu địch tiến tới. Bốn mươi ba năm sau, năm 2007, Đại tá Nguyễn Xuân Bột, nguyên thuyên trưởng tàu 333 trực tiếp tham gia cuộc tiến công tàu Mađốc kể lại:

        "14 giờ ngày 2 tháng 8 năm 1964 phân đội 3 đang neo đậu ở bắc Hòn Mê tỉnh Thanh Hóa được lệnh tiến về hướng bắc chặn đánh tàu Mỹ đang xâm phạm vùng biển nước ta. Thông thường, tàu ngư lôi chỉ làm nhiệm vụ chiến đấu khi mà về phía ta có máy bay, tên lửa trên bờ cùng các lực lượng khác phối hợp chiến đấu làm tê liệt hỏa lực địch từ trên tàu chúng. Trong trận này ba tàu ngư lôi của ta đánh một tàu khu trục hiện đại của Mỹ có sức cơ động cao 30 - 32 hải lý/giờ, có hỏa lực mạnh gồm các loại pháo tầm xa, tầm gần từ 123mm trở lên bố trí dày đặc trên boong tàu lại có máy bay yểm trợ là một cuộc chiến không cân sức. Theo tài liệu tổng kết của Hải quân Nga trong đại chiến thế giới lần thứ 2, để đánh tàu khu trục có tốc độ 30 - 32 hải lý/giờ phải dùng 12 tàu phóng ngư lôi hình thành một mặt quạt thì bắn 24 quả mới có một quả ngư lôi trúng tàu. Thế mà tàu Mađốc lại là loại tàu được trang bị vũ khí hiện đại, được cải tiến, có sức cơ động cao gấp hai lần khu trục hiện đại thế chiến thứ 2. Một cuộc chiến không cân sức, cho nên, quá trình vận động để tiếp cận mục tiêu vô cùng khó khăn nguy hiểm. Vừa phải khôn khéo tránh các làn hỏa lực của các loại pháo, chúng dùng pháo tầm xa bắn xé đội hình ta. Cần ăng ten máy thông tin 609 bị pháo địch bắn gãy khiến cho việc liên lạc giữa các tàu trong phân đội gặp khó khăn hơn. Trong quá trình tiến công hai tàu 336 và 369 mất khả năng cơ động nên pháo từ tàu địch tập trung vào tàu ngư lôi 333. Gần tiếp cận đến mục tiêu thì quả ngư lôi ống trái bị trúng pháo địch bốc cháy nghi ngút. Chỉ còn một quả ngư lôi ống phải nên tàu lệch, tôi ra lệnh cho chiến sĩ cơ điện tăng hết tốc lực chiếm mạn tàu bên phải của địch, lệnh cho pháo thủ Phạm Bá Phong dùng pháo hai nòng 14,5mm bắn quét boong tàu địch và kéo cò bắn quả ngư lôi còn lại. Pháo trên tàu địch câm họng, chúng chạy tán loạn. Bắn xong, tàu 333 ra khỏi khu vực chiến đấu cũng là lúc năm máy bay địch đến ném bom vào mũi tàu. Tàu chúng tôi tiếp tục chiến đấu với máy bay địch gần hai mươi phút. Một chiếc máy bay địch bốc cháy nên cả tốp máy bay địch cút luôn. Chúng tôi nhanh chóng trở về căn cứ lúc đó là 22 giờ cùng ngày. Kết thúc trận đánh, tàu 336 thiệt hại nặng nhất, thuyền trưởng Nguyễn Văn Tự và một pháo thủ hy sinh. Trời nhá nhem tối mới tìm thấy tàu 336 rồi kéo về Sầm Sơn, Thanh Hóa...".


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Hai, 2020, 05:02:25 am

        Năm 1972, Hạm đội 7 lại bị không quân ta tiến công. Đại tá Lê Huy, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên Trung đoàn phó Trung đoàn không quân Yên Thế, người trực tiếp chỉ huy trận đánh tàu khu trục Mỹ, kể lại:

        "Trung tuần tháng 4 năm 1972, Mỹ đánh phá mạnh trở lại miền Bắc. Bộ phận đánh tàu khu trục vào Quảng Bình. Tôi là trung đoàn phó được chỉ định chỉ huy trực tiếp trận đánh, lập sở chỉ huy tiền tiêu tại sân bay Đồng Hới... Trung đoàn chọn ba phi công có thành tích xuất sắc bay biển và tập ném bom cùng với chúng tôi đi ô tô theo đường 15 vào chiến trường. Đó là Lê Xuân Di, Nguyễn Văn Bảy B, anh em vẫn gọi là Bảy con vì trùng họ lẫn tên với Anh hùng quân đội Nguyễn Văn Bảy. Người thứ ba là Nguyễn Văn Lục. Ngày 18 tháng 4 năm 1972, hai chiếc MiG-17 bay thấp, bí mật chuyển từ sân bay Gia Lâm vào Vinh nạp thêm dầu rồi tiếp tục lách núi hạ cánh an toàn xuống sân bay đã  chiến Troóc (Quảng Bình) hồi 17 giờ 30 phút. 15 giờ ngày 19 tháng 4 năm 1972, bốn chiếc khu trục hạm nối đuôi nhau vào pháo kích ven biển Quảng Bình từ Nhật Lệ đến Bố Trạch. Tin tức từ trạm rađa và các vọng gác liên tiếp báo về Sở chỉ huy. Bằng mật hiệu, tôi báo động sẵn sàng chiến đấu cho sân bay Troóc. Phải hạ quyết tâm, tôi quyết định cho xuất kích. Thế là tôi liền bấm hai lần vào nút máy bộ đàm như quy ước sẵn với trung đoàn phó phụ trách cất cánh cho biên đội Lê Xuân Di và Nguyễn Văn Bảy B cất cánh ngay. Lúc đó là 16 giờ 05 phút. Sân bay Troóc cách sân bay Đồng Hới 40km. Mấy phút sau đã  thấy động cơ phản lực quen thuộc dội tới. Vừa vặn, rađa và các vọng quan sát đều báo cáo về biên đội khu trục hạm đã  đến gần cửa Lý Hòa. Lúc này tôi mới lệnh cho Tiêu, trợ lý tác chiến và Thanh dẫn đường bật đài đối không để chỉ thị mục tiêu và dẫn dắt biên đội. 16 giờ 13 phút, biên đội trưởng Di báo cáo phát hiện mục tiêu.

        Tôi hạ lệnh:

        - Hướng công kích từ đất liền ra biển. Nhằm hai chiếc đi đầu!

        - Rõ, xin phép công kích!

        Tôi phấn khởi nghe rõ từng tiếng một của Di, nhảy lên khỏi hầm chỉ huy, chĩa ống nhòm về phía Lý Hòa. Quả thật là từ trong bờ nhìn ra biển theo ánh mặt trời, nhìn rất xa và rất rõ. Bỗng hai chấm đen tách khỏi máy bay đi đầu. Di chắc đã  cắt bom. Mặt biển bỗng nhiên cuồn cuộn hai vệt nước trắng xóa hướng hơi chếch vào mạn tàu phía trước của chiến hạm đi đầu. Đó là chiếc tuần dương hạm Ô-cho-hao-ma-xi-ti. Một quả bom vọt lên nổ trúng mặt boong. Bảy B bay sau, không nhìn rõ mục tiêu. Khi nhìn rõ thì cự ly đã  quá gần không kịp công kích. Anh bay sát sàn sạt qua nóc boong chiếc khu trục hạm Hích-bi vừa được tổng thống Ních-Xơn tuyên dương vì đã  có công cứu nhiều phi công ở sát cửa biển Hải Phòng. Hai quả bom như hai quả ngư lôi siêu tốc rẽ sóng nổ trúng boong tàu và hông trái của chiếc khu trục hạm Bích-bi phá bung một mảng lớn vỏ thép dày làm nổ tung kho chứa đạn khiến nó bốc cháy. Cả hai hạm tàu đều trở tay không kịp...

        Ngày 20 tháng 4 năm 1972, Hãng AP (Mỹ) đưa tin:

        "Hích-bi đang pháo kích thì MiG bay tới, một quả bom 250 bảng Anh lao xuống, boong của hạm bốc cháy, một đoạn lớn của hông trái bị phá toang, ụ súng chứa đầy đạn nổ tung. Tiếng la hét, kêu cứu thất thanh, quang cảnh thật buồn thảm, các khẩu pháo bị vỡ toác như loa kèn. Cuộc tiến công này thật nghiêm trọng vì đây là lần đầu tiên miền Bắc Việt Nam dùng MiG đánh Hạm đội 7 Mỹ".

        Và đây là lời thú nhận của bộ trưởng bộ hải quân Mỹ về thất bại thảm hại của hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam:

        "Năm 1969 hải quân Mỹ có 926 tàu chiến. Đến cuối năm 1972 con số này tụt xuống còn 657 chiếc và trong năm 1973 hải quân Mỹ chỉ còn có dưới 600 tàu chiến. Có thể nói, đến cuối 1973 sô tàu chiến Mỹ sẽ tụt xuống con số thấp nhất trong 32 năm qua. Việc giữ lại một số binh sĩ đã  hết kỳ hạn phục vụ là một vấn đề hết sức khó khăn...".

        Kết thúc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, phi công Mỹ ngày càng sa đọa cướp bóc lẫn nhau kể cả đối với những phi công thực hiện nhiệm vụ di tản người Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam trong những ngày cuối tháng 4 năm 1975. Báo Mỹ viết về những ngày cuối cùng trên Hạm đội 7 ở Nam Việt Nam như sau:

        "Các phi công được lệnh bay ra Hạm đội 7. Một chiếc trực thăng chở đầy rượu ra tới nơi, nhưng viên thuyền trưởng nhìn chiếc máy bay rồi hét: "vứt, vứt, vứt". Thế là chiếc máy bay chất đầy rượu quý trên đó bị hất ra bên ngoài mạn tàu xuống nước. Hầu hết các máy bay khác cũng chịu chung số phận. Các phi công treo máy bay sát mặt nước rồi nhảy ra bên ngoài, một phương pháp khá may rủi và liều lĩnh... Khi đã   lên đến những tàu chiến khác của Hạm đội 7, các phi công của Air American - những người đã  thực hiện những công việc cuối cùng trong chiến tranh Việt Nam, nhận ra rằng, họ bị đối xử một cách tồi tệ. -  Chúng tôi bị lính thủy đánh bộ trên tàu quấy nhiễu và đối xử một cách thô bạo, như thể chúng tôi là những tên tội phạm - Uây-nơ Lan-nơn nhớ lại - có thể họ đã  nghe câu chuyện về những tên lính đánh thuê được trả lương hậu hĩnh để chuyên chở ma túy. Họ lục soát thân thể chúng tôi kỹ lưỡng, tịch thu vũ khí cá nhân của chúng tôi. Chúng tôi không bao giờ được thấy lại vũ khí của mình nữa. Một người trong chúng tôi mất 500USD, hộ chiếu của anh ta bị một lính thủy đánh bộ lấy mất. Chỉ trong một đêm trên tàu của Hạm đội 7, chúng tôi mất nhiều hơn toàn bộ những gì đã  mất trong suốt những năm hoạt động ở Việt Nam".

        Đến 8 giờ sáng hôm sau, những người tham gia chiến dịch di tản của Air American đã  ngồi trong phòng nóng tới 37 độ và không có máy điều hòa nhiệt độ. Người của sứ quán Mỹ nhanh chóng can thiệp, nhưng các phi công còn phải ở lại đấy cho đến 6 giờ chiều hôm đó. Lính thủy đánh bộ gác ngoài cửa, những ai muốn rời khỏi phòng đều bị ngăn cản thô bạo: "Trong đòi tôi chưa bao giờ lại cảm thấy tồi tệ như khi ấy - Lan-nin nói - Nó làm tôi bị tổn thương nặng nề. Tôi không muốn mình rời Việt Nam theo cách này!".


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Hai, 2020, 05:03:31 am
 
TỬ ĐỊA HÀM RỒNG

        Trong chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc Việt Nam có một địa danh đã  trở thành huyền thoại về sức mạnh Việt Nam trong cuộc đọ sức với không lực Hoa Kỳ. Cầu Hàm Rồng là mục tiêu số một mà mấy năm đầu cuộc chiến tranh, không quân Mỹ tập trung đánh phá. Ngay từ tháng đầu tiên tiên hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, bộ chỉ huy liên quân Mỹ đã  vạch kế hoạch đánh gục chiếc cầu này. Sĩ quan không quân Mỹ không bao giờ nghĩ đến phải tử chiến trên chiếc cầu nhỏ rất dễ nhận thấy gác đầu giữa hai mỏm núi trơ trọi, cả không quân của hải quân cũng như không quân của không quân Mỹ đều tin - chỉ một vài trận ném bom là dứt điểm. Chúng cũng đã  dự kiến kể cả trường hợp cầu Hàm Rồng được phòng không bảo vệ cẩn thận hơn những mục tiêu khác. Nhìn vào bản đồ, cầu nằm kề biển, phi công của hải quân đều nghĩ thế - chỉ cần không quân của hải quân giải quyết là đủ.

        Biết được âm mưu mở rộng chiến tranh, tập trung đánh phá giao thông từ vĩ tuyến 20 trở vào, ta tích cực chuẩn bị lực lượng bảo vệ cầu Hàm Rồng. Ngoài các đơn vị pháo phòng không, Bộ tư lệnh Phòng không - Không quân chủ trương sử dụng lực lượng không quân tiêm kích hiệp đồng với lực lượng phòng không mặt đất.

        Ngày 2 tháng 4 năm 1965 máy bay trinh sát RF.101 bay vào cầu Tào và Hàm Rồng chuẩn bị cho chiến dịch mang tên "Sấm rền 32". Thật không may cho chúng, chiếc RF.101 mới bay qua cầu Tào đã  bị Đại đội 3 Trung đoàn 234 bắn cho tan xác. Ngày hôm sau nhiều tốp máy bay từ Hạm đội 7 tiến đánh cầu Đò Lèn. Từ những phút đầu cuộc tiến công đánh phá một chiếc F4 của địch đã  bị bắn hạ! 0 giờ nhiều tốp máy bay từ biển bay vào đánh phá Hàm Rồng. Không quân nhân dân Việt Nam xuất kích. Hai biên đội MiG-17 do Phạm Ngọc Lan và Trần Hanh chỉ huy quần nhau với chúng. Ngay từ ngày đầu ra quân, không quân ta đã  lập công xuất sắc, bắn rơi hai chiếc máy bay phản lực Mỹ.

        12 giờ 58 phút ngày hôm sau không quân Mỹ lại tiến đánh Hàm Rồng.

        Trong sáu tháng trời với gần hai mươi trận lớn nhỏ cây cầu vẫn đứng vững. Mật độ qua lại ở cầu Hàm Rồng và phà Ghép vẫn đông đúc. Hàm Rồng đã   trở thành "tử địa" đối với phi công Mỹ. Nghe nói đến Hàm Rồng, phi công nào cũng rùng mình.

        Có phi công sau khi bị bắt đã  nhận xét: "Sau nhiều phi vụ đánh cầu, cả không quân của hải quân và không quân của không quân đều bàng hoàng thốt lên: Nom cầu không có gì ghê gớm, trông ngon xơi lắm, thế mà lại phức tạp. Tất nhiên là nó có một địa thế khá tốt là núi hai đầu nên đánh sập đầu cầu rất khó. Đánh vào giữa thân cầu thì bom đạn rơi xuống sông. Đánh tạt sườn thì mục tiêu quá bé. Đánh dọc cầu thì núi cản và hứng hết bom. Cơ quan tham mưu liên quân Mỹ nhiều lần bàn bạc khá kỹ về chiến thuật, kể cả việc sử dụng loại bom gì nhưng vẫn không thành công. Đánh lớn, đánh nhỏ, đánh lẻ đều thất bại. Chỉ huy liên quân gần như phát điên lên về cây cầu kỳ lạ này, nó vẫn sừng sững hiên ngang thách thức, chưa tìm được cách đánh hiệu quả. Thật là nỗi nhục cho không lực Hoa Kỳ".

        Trận địa phòng không của dân quân tự vệ Nam Ngạn, Hoằng Hóa khắp nơi. Tất cả với tinh thần "Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược!". Tất cả đều không sợ, chiến đấu bằng lòng dũng cảm và ý chí gang thép. Nhiều đơn vị dân quân Hàm Rồng lên núi cao bắn đón máy bay Mỹ bổ nhào xuống đánh cầu. Những đường đạn các loại súng của ta làm cho phi công Mỹ khiếp sợ. Chúng phải cắt bom từ xa, từ trên cao không theo bài bản. Trong phòng giao ban trên các hạm tàu, nhiều phi công Mỹ kể cả khi đã  ở trong trại vẫn không bằng lòng khi nghe nói tinh thần yếu kém của họ. Nhưng cũng có phi công thực tình không hiểu nổi tại sao Việt Nam - ở đâu cũng có một lưới lửa phòng không dày đặc như thế?

        Một phi công tù binh tâm sự:

        "Là quân nhân, chúng tôi cũng muốn tìm ra nguyên nhân về việc mình làm, dù là thành công hay thất bại. Có lẽ cơ quan tham mưu tác chiến của Mỹ, chắc chắn sẽ phải tìm ra các biện pháp mới, một loại bom hoặc tên lửa tự điều khiển bắn từ xa để đỡ thiệt hại như bây giờ. Chỉ có một điều, miền Bắc có nhiều cầu, Mỹ còn phải trả giá đắt và cũng biết bao bến bãi khác tiếp tục duy trì tiếp vận qua sông. Mỹ có thể đánh sập cầu bao nhiêu lần đi nữa thì tôi tin huyết mạch giao thông vẫn tồn tại. Đó là một thực tê tôi thấy được, khi tôi bị bắt. Hàm Rồng là một bài học mà Mỹ cần nhanh chóng rút kinh nghiệm".

        Một phi công tù binh khác được dẫn giải từ Quảng Bình ra Hà Nội. Anh ta lái máy bay F105 đánh phá Quảng Bình, phi vụ thứ bốn mươi bảy đánh phá miền Bắc, bị bắn rơi ngày 10 tháng 8 năm 1968. Tất nhiên là phải bịt mắt và phải đi suốt đêm, phần vì đường sá bị ném bom đang san lấp, phần vì lo sợ làm sao anh ta ngủ được.

        Về đến trại, anh ta nói với Mạc Lâm:

        - Đêm qua là một đêm làm tôi tỉnh ngộ. Tôi không ngủ được không phải vì đường xấu, xe chao đảo. Tôi không ngủ được vì đã  được chứng kiến hàng vạn người Việt Nam đang làm việc trên khắp các con đường. Tôi không nhìn thấy mà nghe thấy. Tôi nghe thấy thật xúc động. Họ đang sửa đường, sửa cầu vừa bị máy bay Mỹ đánh phá, có cả tiếng động cơ xe đi lại không ngớt. Gần chục con sông, xe chở tôi qua, có cả phà, ca nô nữa... Thế mà bọn lái máy bay trinh sát điện tử, trinh sát vũ trang không thấy gì hết. Chúng tưởng nhân dân các ông chạy trốn hết vào rừng sâu.


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Hai, 2020, 05:04:16 am

        Câu chuyện về hai cựu phi công Mỹ với "người bạn" nằm lại Việt Nam 37 năm giúp ta hiểu thêm về những người lính phòng không tài giỏi của Hàm Rồng: Hai viên phi công Mỹ là E-ve-ret Cha-ri lái chính và Giôn Đa-vit hoa tiêu lái máy bay F4B xuất kích từ tàu sân bay Kity Hawk vòng qua Ninh Bình đánh cầu Hàm Rồng vào ngày 14 tháng 5 năm 1967. Khi hạ thấp độ cao ném bom xong định vòng phía biển về lại căn cứ thì máy bay bốc cháy, hai người phải nhảy dù ra ngoài. Tất nhiên là bị dân quân Hoằng Hóa, Thanh Hóa tóm gọn, sau đó được đưa về trại giam Hỏa Lò. Năm 1973, theo Hiệp định Pari, E-ve-ret Cha-ri và Giôn Đa-vit được trao trả về Mỹ. Chiếc máy bay F4B rơi xuống bãi cát ven sông Mã nên khá nguyên vẹn và được nhân dân địa phương bảo quản cho đến năm 1976 được đưa về trưng bày ở Bảo tàng Phòng không - Không quân minh chứng cho sự xâm lược của Mỹ. Cũng là may mắn hiếm có - nhờ một người Mỹ là Ga-ri Uây-nơ, phó giám đốc công ty Steny (Mỹ) chuyên tư vấn và thiết kế công trình giao thông. Ga-ri Uây-nơ là người đã  "thiết kế" cho hai phi công tù binh Mỹ trở lại Việt Nam năm 2004. Hai cựu phi công tù binh Mỹ đến Bảo tàng Phòng không - Không quân. Hơn một giờ, gặp lại đúng chiếc phi cơ F4B được mệnh danh là "con ma" do họ lái họ không khỏi ngạc nhiên. Hết chui xuống gầm lại lên ngồi vào buồng lái, quan sát kỹ từng lá cánh quạt động cơ máy bay như để khẳng định một điều gì. Thì ra, trước đây, khi máy bay rơi hai người đều khẳng định là do trục trặc về kỹ thuật, không phải do súng của phòng không bắn hạ. Đến lúc này, sau khi tìm hiểu kỹ, tận mắt nhìn thấy những vết đạn ở cả động cơ và một vài nơi khác trên máy bay họ mới chịu thừa nhận là F4B bị bắn rơi. Đúng là quân và dân Hàm Rồng là địch thủ lợi hại của những con quạ sắt Mỹ. Chiến công của Trung đoàn pháo cao xạ 228 - đơn vị mười năm chiến đấu bảo vệ cầu Hàm Rồng còn lưu lại trong lịch sử đơn vị:

        "15 giờ 30 ngày 14 tháng 5 năm 1967, Đại đội 4 trận địa đặt trên đồi Quyết Thắng đã  bắn rơi chiếc F4B xuống địa phận bến đò Đại ven sông Mã, cách cầu Hàm Rồng ba kilômét".

        Trên bầu trời Hàm Rồng, Không quân nhân dân Việt Nam đã  lập công xuất sắc ngay từ trận đầu tiên ra quân. Đoàn không quân Sao Đỏ, cũng là cái nôi của Không quân Việt Nam được thành lập ngày 3 tháng 2 năm 1964. Hơn một năm sau - ngày 3 tháng 4 năm 1965, những chiếc MiG thân yêu tung cánh trên bầu trời đánh trả máy bay phản lực hiện đại của Mỹ để bảo vệ cầu Hàm Rồng. Chiến thắng trận đầu ra quân được nhà báo Nguyễn Phúc Âm ghi lại trong bài "Từ trận đầu đánh thắng".

        "Ấy là ngày 3 tháng 4 năm 1965, chúng tôi được lệnh xuất kích. Hai biên đội lên tiêu diệt địch trên vùng trời Thanh Hóa. Biên đội của các anh Trần Hanh, Phạm Giấy làm nhiệm vụ kiềm chế, yểm hộ và nghi binh còn biên đội của các anh Phạm Ngọc Lan, Phạm Văn Túc, Hồ Văn Quỳ và Trần Anh Phương trực tiếp tấn công. Phát hiện được địch, biên đội trưởng biên đội chiến đấu lập tức hạ lệnh sổ 2 vào công kích. Địch quay ngoắt lại đối đầu với số 2. Ngay tức khắc biên đội trưởng lao tói yểm hộ và cùng bấm nút tên lửa, chiếc máy bay địch bốc cháy. Đánh tan đội hình tốp trước, biên đội trưởng cùng số 2 lộn lại cùng số 3 và số 4 tách thành hai gọng kìm, bám chặt bốn chiếc F105. Chúng hốt hoảng tháo chạy. Nhưng ra tối biển thì loạt đạn chính xác nữa của Phạm Ngọc Lan kịp vùi thêm một chiếc nữa xuống biển xanh...

        Tiếp sang ngày 4 tháng 4 năm 1965, chúng tôi lại được lệnh đánh địch tại đây. Lần này các anh Phạm Ngọc Lan và Lê Trọng Long làm nhiệm vụ nghi binh và yểm trợ, còn các anh Phạm Giấy, Trần Hanh, Lê Vinh Huân và Trần Nam nô súng tiến công. Biên đội chiến đấu lao tới khi địch đang bổ nhào trút bom xuống cầu Hàm Rồng. Căm thù sôi lên trong lòng các chiến sĩ, mặc địch đông hơn gấp sáu lần, các anh xuyên thẳng giữa đội hình chúng. Mói vài phút đầu số 3 và số 4 đã  bắn rơi hai chiếc. Song suốt 30 phút sau cuộc quần đuổi dằng dai, quyết liệt, sở chỉ huy gọi biên đội trở vế, nhưng thấy địch ỷ thế đông, cố vây chặt máy bay ta, các anh quyết định ở lại đánh đến cùng. Và hiệp hai này, thêm hai tên cướp nữa tan xác, đưa số máy bay địch bị tiêu diệt qua hai cuộc chiến đấu lên tới sáu chiếc trong đó có bốn chiếc F105 và hai chiếc F8U...".

        Không quân Việt Nam anh hùng liên tiếp lập nhiều chiến công trên bầu trời Hàm Rồng Thanh Hóa.

        Sau nhiều năm chiến đấu, cầu Hàm Rồng oằn mình gánh chịu không biết bao nhiêu bom đạn đủ loại của không quân Mỹ vẫn sừng sững hiên ngang nối liền mạch máu giao thông cho đất nước. Trên vùng trời này, đã  có hơn một trăm máy bay Mỹ phải đền tội. Chỉ trong hai ngày mồng 3 và mồng 4 tháng 4 năm 1965 đã  có 47 máy bay Mỹ tan xác.

        Nhiều phi công Mỹ tham gia vào cuộc chiến tranh như một cái máy hiện đại thiếu nhân tính vì không hiểu đất nước và con người Việt Nam. Họ lao vào trận chiến như con thiêu thân, không có ý chí chiến đấu và hậu quả là lũ lượt kéo nhau vào trại giam Hỏa Lò.

        Cuộc chiến tranh Việt Nam đã  làm cho họ tỉnh ngộ nhiều điều. Ta hiểu vì sao nhiều phi công tù binh Mỹ sau này về nước tham gia đấu tranh đòi chính quyền Mỹ bình thường hóa nhanh chóng quan hệ giữa hai nước. Họ phản đối chiến tranh của Mỹ ở Trung Đông, I-Ran...


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Hai, 2020, 05:04:36 am

        Chuyện về vợ chồng phi công tù binh Mỹ Ha-li-bơ-tơn thật là cảm động: Được trao trả về Mỹ từ ngày 12 tháng 2 năm 1973, cựu tù binh phi công đã  nhiều lần trở lại Việt Nam, thăm lại đất nước đã   cưu mang ông những năm là tù binh chiến tranh. Ông đến Việt Nam còn là vì một lý do rất riêng - tìm lại một kỷ vật thời ông là phi công chiến đấu ở Việt Nam 40 năm về trước. Mỗi lần đến Việt Nam điểm đầu tiên Ha-li-bơ-tơn ghé thăm là Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam ở đường Điện Biên Phủ Hà Nội. Ông lặng lẽ nhìn ngó những hiện vật bảo tàng như tìm kiếm một thứ gì, không ai rõ?

        Năm 2005 ông cùng vợ và một số người bạn Mỹ trở lại Việt Nam. Vào Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam, ông tách đoàn, lang thang một mình xem các hiện vật. Ồng dừng lại khá lâu bên chiếc tủ kính trưng bày khá nhiều hiện vật về phi công Mỹ bị bắt sống ở miền Bắc từ năm 1964 đến 1972. Mọi người ngạc nhiên khi thấy ông sửng sốt reo lên: "My shoes! My shoes!" (Giày của tôi! Giày của tôi!). Ông gọi vợ đến chỉ vào đôi giày trong tủ kính, mừng rỡ nói: "Đây là giày của tôi. Chữ "Haly" tôi viết vẫn còn kia!".

        Ông tâm sự với vợ và những người bạn Mỹ cùng đi:

        "Tôi đã  nhiều lần đến thăm bảo tàng này, ngắm đi ngắm lại những hiện vật về phi công Mỹ, xác máy bay mà không tìm được một vật nào là của mình. Vậy mà lần này, thật tình cờ, may mắn cho tôi...".

        Trận đánh mà Ha-ly tham gia là ngày 17 tháng 10 năm 1965. Ông kể: "Tôi lái chiếc F4 từ hướng bắc bay thẳng vào vùng Kép - Lạng Sơn, chưa kịp tiếp cận mục tiêu, chúng tôi vấp phải lưới lửa phòng không tầng thấp, tầng cao dày đặc. Chúng tôi vừa tìm cách tránh tên lửa vừa phải tính kế tiếp cận mục tiêu. Nhưng không kịp, một quả tên lửa lao trúng vào máy bay. Máy bay chúng tôi bốc cháy dữ dội, tôi kịp bấm dù...". Với Ha-ly những kỷ niệm về Việt Nam, về tám năm sống ở Hỏa Lò thật có ý nghĩa - "Chúng tôi trở về Mỹ bằng một bộ quần áo, trên tay xách chiếc xắc du lịch đựng đồ tư trang do Chính phủ Việt Nam trang bị. Rất nhiều phi công chúng tôi mang chiếc điếu hút thuốc lào, quạt nan sử dụng khi sống ở Hỏa Lò - Hà Nội làm kỷ niệm". Điều cảm động hơn là sau đó, vợ Ha-ly, bà Mác-na Ha-li Bơ-tơn sang Việt Nam. Bà tham gia dạy cho các em học sinh ở trường trẻ mồ côi Hoa Sữa hai tháng. Bà đến Bắc Hà (Lào Cai) để mua lợn tặng cho các gia đình nghèo ở đây. Bà cũng đi thăm trại trẻ mồ côi ở Hội An, Đà Nẵng, tặng học bổng cho học sinh nghèo ở Huế. Bà tâm sự:

        "Ân tượng lớn nhất về cuộc chiến tranh của người Mỹ ở Việt Nam chính là những đứa trẻ bị ảnh hưởng của chất độc da cam mà tôi từng gặp. Chiến tranh thật là độc ác".

        Mạc Lâm kể về trường hợp trung tá phi công tù binh Ha-ri Gien-kin:

        - Ha-ri Gien-kin sinh năm 1927 tại Oa-sinh-tơn, trung tá lái máy bay A4E bị quân và dân Quảng Bình bắn rơi ngày 13 tháng 11 năm 1965. Anh ta cũng là một trong những "ngôi sao" của hải quân Mỹ, bị bắt vào năm thứ 20 trong quân ngũ với gần một ngàn phi vụ. Kinh nghiệm cũng nhiều, đã  trải qua nhiều chiến dịch đánh phá không ít sóng gió thế mà lại bị trúng đạn trong một phi vụ rất bình thường ở Quảng Bình trên chiếc máy bay A4E. Ha-ri Gien-kin nhớ lại:

        - Tôi không hề biết loại súng nào bắn rơi chiếc A4E của tôi. Đi vào miền Bắc Việt Nam, dù ở phía nam vĩ tuyến 19 hay gần khu vực Hà Nội, cái may rủi nhiều hơn, sống chết tính từng phi vụ, từng giờ, từng phút. Chưa có cách nào hạn chế tối đa hỏa lực phòng không Việt Nam khi tiến hành một phi vụ oanh kích, kể cả trinh sát vũ trang. Ngoài vĩ tuyến 19 còn có cả tên lửa và không quân thì càng phức tạp. Không một ai có thể khoe là tài giỏi được.

        Ha-ri Gien-kin tâm sự với tôi cả những suy nghĩ về đối phương:

        - Hình như không có gì đảm bảo được yếu tố bất ngờ của bất cứ phi vụ nào. Bộ đội Việt Nam làm chủ mặt đất, chờ sẵn, sẵn sàng bắn máy bay Mỹ, khi tiếp cận vào mục tiêu. Các mục tiêu ở Quảng Bình được cấp trên chỉ thị đánh đi đánh lại nhiều lần nhưng lần sau hỏa lực phòng không lại mạnh hơn lần trước. Qua một năm rồi, dù là một sĩ quan tác chiến lâu năm của một đơn vị, tôi cũng không rút được kinh nghiệm gì. Cơ quan tác chiến cấp trên cũng tính toán điều này song không chỉ là các yếu tố chiến thuật, kỹ thuật, bom đạn mà còn có một sức mạnh khác là tinh thần của quân nhân Mỹ.

        Lúc này về không quân của hải quân có ba tàu sân bay lớn hiện đại nhất đã  đến là In-tơ-prai-sơ, Ren-sơ và In-đơ-pen-den-sơ. Loại máy bay A4D, E cường kích đã  nhiều hơn. Loại A6A cũng nhiều hơn để ném bom bay bằng, đánh đêm. về phía không quân của không quân cũng có thêm một số trung đoàn bay F105, F4 và một số đội cấp cứu vừa triển khai ở Thái Lan. Đó là dấu hiệu rất mới của cuộc leo thang bắt đầu. Chiều hướng chiến cuộc sẽ tăng lên về mật độ đánh phá, có thể đánh ở tầm thấp nhiều kể cả ban đêm. Phạm vi đánh phá sẽ lớn hơn, đi Xa và sâu hơn".

        Tôi kể cho anh ta nghe hai phi vụ cấp cứu mới xảy ra. Vụ ở Hòa Bình hai sĩ quan bị tóm cổ. Một phi vụ khác, máy bay cấp cứu sợ quá bay đi mất, phi công nằm kiệt sức ở trong núi sâu.

        Gien-kin buồn rầu hỏi:

        - Mấy người đó được các ông cứu chứ? Có nặng không thưa ông?

        Mạc Lâm:

        - Họ bị thương khá nặng, đều được cứu sống. Chỉ có dân địa phương mới cứu được vì họ nhảy dù vào rừng sâu. Nhân dân và bộ đội cứu phi công Mỹ là xuất phát từ chính sách nhân đạo của Nhà nước Việt Nam. Thế mà, chỉ huy các anh lại khuyên phi công chạy sâu vào rừng, thoát thì ít, chết thì nhiều!

        Ha-ri Gien-kin buồn hơn:

        - Đó là một sai lầm lớn của người Mỹ. Họ phổ biến cho chúng tôi là nhân dân các ngài sẽ không tha cho chúng tôi! Sự thật là chúng tôi không hiểu Việt Nam. Đó cũng là một sai lầm nữa!


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Hai, 2020, 05:05:13 am
        
MiG - ĐỐI THỦ ĐÁNG GỜM CỦA PHI CÔNG MỸ

        So với không quân Mỹ, Không quân nhân dân Việt Nam còn quá non trẻ. Phát huy truyền thông của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, Không quân nhân dân Việt Nam lập chiến công từ trận đầu, ra quân là chiến thắng, là nỗi kinh hoàng của không quân Mỹ. Trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của không quân và hải quân Mỹ ra miền Bắc, lực lượng Không quân Việt Nam đã  lập chiên công vang dội. đã  bắn rơi 320 máy bay gồm 19 kiểu loại kể cả "Siêu pháo đài bay" B52 - thần tượng của sức mạnh Hoa Kỳ. Tất cả phi công tù binh Mỹ, chúng ngồi trong buồng lái dù bất cứ loại máy bay nào tối tân nhất của Mỹ cũng đều khiếp sợ những chiếc máy bay MiG-21, MiG-17 của ta. Vào trại giam Hỏa Lò nhiều phi công Mỹ nằng nặc xin gặp cho bằng được đối thủ trên không của mình. Qua những cuộc gặp như thế, chúng càng khâm phục hơn ý chí và lòng quả cảm, trí thông minh của những chiến sĩ lái máy bay chiến đấu Việt Nam.

        Nhiều phi công tù binh Mỹ thường nói lý thuyết về tác chiến "giành ưu thế trên không". Nghĩa là không quân Mỹ phải làm chủ bầu trời khu vực chiến đấu. Trong một trận không chiến máy bay tiêm kích F4, F8 của Mỹ phải làm chủ bầu trời để tiêu diệt MiG của ta. Đúng là trong các cuộc không kích từ vĩ tuyến 19 trở ra, nhất là trong những chiến dịch đánh phá Hà Nội, Mỹ tung nhiều máy bay tiêm kích hòng chế áp không cho máy bay MiG tấn công vào đội hình máy bay ném bom, đảm bảo việc đánh phá có hiệu quả. Nhưng trong thực tế, nhiều lần máy bay tiêm kích Mỹ không gặp MiG đâu cả nhiều khi còn bị MiG xuất thần tấn công vào máy bay tiêm kích và cũng bị MiG tấn công vào cả máy bay cường kích ném bom. Mỹ có ưu thế là số lượng máy bay nhiều nhưng không dễ gì giành được ưu thế là làm chủ bầu trời. Kể cả việc chúng tập trung một số lượng lón máy bay đánh phá các sân bay cũng không ngăn được MiG. MiG thành nỗi ám ảnh đáng sợ đôi với phi công Mỹ khi còn hạn phục vụ không quân Mỹ trong chiến tranh phá hoại ở miền Bắc.

        Câu chuyện về chiếc máy bay MiG-21 mang số hiệu 4324 và 14 ngôi sao chiến công ở Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam là huyền thoại về chiến công, là biểu tượng của Không quân Việt Nam anh hùng!

        "Chỉ trong năm 1967, chín phi công của Trung đoàn không quân Sao Đỏ đã  thay nhau lái MiG-21 này - cất cánh chiến đấu 69 lần, bay hơn 800 giờ, nổ súng 16 lần, bắn 25 quả đạn và đã  bắn rơi 14 máy bay Mỹ gồm bốn loại khác nhau: chín chiếc F105, ba chiếc F4, một chiếc A4 và một chiếc RF-101. Sáu trong chín phi công được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

        Ngày 30 tháng 4 năm 1966 nhận tín hiệu máy bay địch, Trung đoàn trưởng Trần Mạnh lệnh cho MiG-21 lên đánh. Biên đội Nguyễn Ngọc Độ, Nguyễn Văn Cốc cất cánh. Trong mấy phút hai chiến sĩ đã   bắn rơi hai máy bay Mỹ.

        Ngay sau đó tám chiếc F105 lại tập trung ném bom khu vực Thanh Sơn - Phú Thọ. Vào lúc 16 giờ 29 phút trung đoàn trưởng lại quyết định cho MiG-21 xuất kích. Lê Trọng Huyên lái chiếc MiG-21 mang số hiệu 4324 tham gia chiến đấu. Trận đánh diễn ra trong một phút. Thượng úy Lê Trọng Huyên bình tĩnh, dũng cảm bắn rơi một F105 trên bầu trời tỉnh Thái Nguyên. Thượng úy Vũ Ngọc Đỉnh cũng bắn rơi một F105 khác. Biên đội trở về an toàn. Ngôi Sao Đỏ đầu tiên được in trên máy bay MiG-21 mang số hiệu 4324.

        Trong dịp tháng 5 mừng thọ Bác, Không quân nhân dân Việt Nam đã  lập thành tích xuất sắc bắn rơi 19 máy bay các loại. Liên tiếp trong hai ngày, ba ngôi sao liên tiếp được gắn lên MiG-21 mang số hiệu 4324.

        Ngày 4 tháng 5 năm 1967 đại úy Phạm Thanh Ngân lập chiến công ghi thêm một ngôi Sao Đỏ nữa. Anh đã  bắn rơi một chiếc F105 trên vùng trời Tam Đảo. Ngôi Sao Đỏ thứ ba thuộc về chiến công của trung tá Nguyễn Ngọc Độ bắn rơi chiếc máy bay mà chúng mệnh danh là "con ma" - F4 vào ngày hôm sau mùng 5 tháng 5 trên bầu trời Thái Nguyên.


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Hai, 2020, 07:07:44 am

        Một tháng sau, ngày 5 tháng 6 trên bầu trời tỉnh Tuyên Quang, trung úy Nguyễn Văn Lý hạ thêm một máy bay "thần sấm" nữa.

        Ngôi Sao Đỏ thứ sáu được in vào ngày 5 tháng 7 bởi chiến công của Nguyễn Văn Huyên bắn rơi chiếc máy bay A4 trên bầu trời tỉnh Hải Dương.

        Những ngày cuối tháng 8 đến đầu tháng 10 năm 1967 là những năm chiến thắng rực rỡ của MiG-21. Trong đó ngày 10 tháng 9 trên bầu trời Mộc Châu - Sơn La, Anh hùng Nguyễn Hồng Nhị lái máy bay MiG-21 mang số hiệu 4323 bắn rơi một RF101.

        Tháng 7 lại có thêm các ngôi Sao Đỏ bảy, tám, chín, mười như hoa mùa xuân làm đỏ thêm cho máy bay 4323.

        Ngày 7 tháng 11, hai lần xuất kích, Nguyễn Hồng Nhị, Đặng Ngọc Ngự lần lượt cưỡi MiG-21 mang số hiệu 4323 lập chiến công bắn rơi một F4 và một F105 trên bầu trời Yên Bái, Hà Bắc.

        Phạm Thanh Ngân đã  lập chiến công mang về ngôi Sao Đỏ thứ hai trong ngày 4 tháng 5, bốn tháng sau anh lại lập công với ngôi Sao Đỏ thứ chín - ngày 18 tháng 11 anh xuất kích đã  bắn rơi F105.

        Ngôi Sao Đỏ thứ mười dành cho chiến công của Nguyễn Văn Cốc diệt một F105 trên vùng trời Đất Tổ Hùng Vương vào ngày 20 tháng 11 năm 1967.

        Những ngày cuối năm, địch đánh phá dã man vào Thủ đô Hà Nội, quyết tâm không quân phải bắn thật nhiều máy bay Mỹ để trả thù cho đồng chí đồng bào rạo rực trong lòng những người lính. Các sân bay đều là mục tiêu tấn công liên miên của giặc lái Mỹ. Được dân quân và nhân dân giúp đỡ, sân bay được sửa chữa và máy bay ta lại cất cánh chiến đấu. MiG-21 mang sô' hiệu 4324 lại tiếp tục lập công: Ngày 12 tháng 12 Nguyễn Văn Cốc lại lập thêm một ngôi Sao Đỏ thứ 11, Vũ Ngọc Đỉnh liên tiếp bắn rơi hai F105 mang về hai ngôi Sao Đỏ 12, 13.

        Hai ngày sau, sáng 19 tháng 12 diễn ra trận đánh hiệp đồng của biên đội bốn chiếc MiG-17 Trung đoàn 923 và biên đội hai chiếc MiG-21 Trung đoàn 921 trên vùng trời Tam Đảo, bắn rơi bôn máy bay địch, cản phá có hiệu quả một đợt đánh phá của máy bay Mỹ vào Hà Nội. Máy bay MiG-21 mang sô hiệu 4324 của đại úy Nguyễn Đăng Kinh bắn hạ một F-4 mang về ngôi Sao Đỏ thứ 14".

        "Đoàn không quân Sao Đỏ" cái nôi của Không quân Việt Nam - ra đời vào ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Cán bộ và chiến sĩ Không quân Việt Nam luôn nhớ lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

        "Phải cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu cao. Đã  đánh là đánh thắng, thắng ngay trận đầu... Phải luôn luôn học tập, rèn luyện để tiến bộ...".

        Khắc sâu lời Người, Không quân Việt Nam làm đúng những điều Bác dặn. Ngay từ những trận ra quân đầu tiên, ngày 3 và 4 tháng 4 năm 1965 trên bầu trời Hàm Rồng Thanh Hóa đã  lập công xuất sắc -  tiêu diệt sáu máy bay phản lực hiện đại nhất của Mỹ - có bốn chiếc "thần sấm" F105 và hai chiếc "con ma" F8U. Tuy đội ngũ phi công còn non trẻ, lực lượng còn nhỏ, kinh nghiệm ít, phải đương đầu với những phi công nhà nghề lão luyện, phương tiện kỹ thuật hiện đại với nhiều thủ đoạn xảo quyệt nhưng không quân ta luôn giành thế chiến thắng. Trong mười năm tham gia chiến đấu (1965-1975), trong bất cứ hoàn cảnh nào, ngay từ những ngày đầu xuất kích đến 12 ngày đêm "Điện Biên Phủ trên không", trên bầu trời miền núi, đồng bằng hay trên biển, không quân cùng sát cánh với các đơn vị bạn làm nên những chiến công vang dội. Càng chiến đấu, Không quân Việt Nam càng thông minh, sáng tạo, chiến đấu với hiệu quả cao. Tỷ lệ bắn rơi máy bay địch bắt sống giặc lái Mỹ ngày càng lớn. Trận đầu trên bầu trời Hàm Rồng ngày 4 tháng 4 năm 1965 biên đội Trần Hanh, Phạm Giấy, Lê Vinh Huân, Trần Nam diệt gọn cả tốp máy bay địch. Trận "1 thắng 36" của phi công Hà Văn Chúc, ngày 3 tháng 1 năm 1968, bắn rơi chiếc F105. Ngày 27 tháng 12 năm 1972 phi công Phạm Tuân bắn rơi pháo đài bay B52 của Mỹ...

        Hai cựu phi công Mỹ là E-vơ-rét Sác-lơ lái chính và Giôn Đa-vít hoa tiêu trên chiếc máy bay F4B từ tàu sân bay Kitty Hawk vào đánh phá Hàm Rồng đã   bị quân và dân Thanh Hóa bắn rơi ngày 14 tháng 5 năm 1967. Hơn ba mươi năm sau có dịp trở lại Việt Nam, đến thăm Bảo tàng Phòng không - Không quân. Hai cựu phi công tù binh Mỹ chú ý và đến ngay khu trưng bày chiếc MiG-21 lập nhiều chiến công. Chiếc F4B được mệnh danh là "con ma", còn chiếc MiG được gọi bằng tên thân thương là "én bạc". Hai phi công Mỹ nói rằng, họ được nghe kể nhiều, nghe các phi công tù binh Mỹ kể cho nhau về nỗi kinh hoàng khi bất ngờ gặp MiG. MiG nhỏ gọn hơn "thần sấm" "con ma" của Mỹ nhưng luôn luôn là đối thủ đáng sợ cho phi công Mỹ mỗi lần bay ra đánh phá miền Bắc.

        Phi công tù binh Mỹ nhận xét:

        - MiG của các ông rất lợi hại. Nhỏ nhưng bay linh hoạt. Tôi chỉ kịp thấy MiG thì máy bay tôi đã  rung lên dữ dội.


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Hai, 2020, 07:10:18 am
   
SAM 31 - "KHẮC TINH" CỦA B52

        Thiên la địa võng của lưới lửa phòng không là nỗi kinh hoàng của phi công Mỹ khi bay vào miền Bắc. Đại tá Mạc Lâm mỗi lần gặp phi công tù binh Mỹ, câu đầu tiên họ nói là nỗi kinh sợ thực sự đối với tên lửa và Không quân Việt Nam. Tên lửa SAM 3 thực sự là khắc tinh của các loại máy bay hiện đại của Mỹ nhất là pháo đài bay B52. Nhân dân Hà Nội tự hào đặt cho tên lửa SAM 3 là "Rồng lửa Thăng Long". Rồng lửa Thăng Long đóng một vai trò rất quan trọng trong cuộc chiến "Điện Biên Phủ trên không".

        Có được chiến công trong 12 ngày đêm cuối năm 1972 là kết quả của cả một quá trình nhiều năm binh chủng tên lửa nói riêng, Quân chủng Phòng không - Không quân dày công nghiên cứu tìm ra cách đánh máy bay hiện đại Mỹ theo cách độc đáo của Việt Nam.

        Từ tháng 7 năm 1966, thực hiện lời căn dặn của Bác, Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân đã  điều Trung đoàn tên lửa 238 vào tuyến đầu Vinh Linh tìm đánh B52 để rút kinh nghiệm cho toàn quân chủng.

        Ngày 17 tháng 9 năm 1967 Tiểu đoàn 84 phóng hai quả tên lửa bắn rơi hai chiếc B52. Khi đánh B52, một trong những khó khăn là nhiễu. Quân chủng cũng đã  có nhiều chuyên đề nghiên cứu tìm ra cách chống nhiễu có hiệu quả. Việc Trung đoàn rađa 290 nghiên cứu khám phá ra tín hiệu máy bay B52 trong dải nhiễu dày đặc mở ra một khả năng lớn cho các trắc thủ nhận diện chính xác B52. Kết quả có được là sự khổ luyện của trắc thủ rađa cả về khả năng nhận biết của đôi mắt tinh tường và đôi bàn tay điều khiển khéo léo. Phong trào "Vạch nhiễu tìm B52" được nhân lên rộng rãi trong toàn binh chủng.

        Ngày 22 tháng 11 năm 1972, lúc 21 giờ 44 phút, Tiểu đoàn 44 của Trung đoàn 263 đã  phóng hai quả tên lửa vào tốp ba chiếc B52, bắn rơi một chiếc. Bốn phút sau, Tiểu đoàn 43 đã  phóng hai quả đạn bắn rơi một chiếc B52. Trong hai chiếc B52 bị bắn rơi có một chiếc rơi cách sân bay U Ta Pao Thái Lan 64km. Hãng tin Mỹ UPI tháng 11 năm 1972 thừa nhận: "Một chiếc B52 bị tên lửa Bắc Việt bắn trúng và rơi xuống biên giới Lào - Thái Lan". Chiến thắng đã  góp phần khẳng định lòng tin bộ đội tên lửa có thể bắn rơi tại chỗ B52.

        Bước vào cuộc thử lửa cuối năm 1972 trên bầu trời Hà Nội tên lửa của ta đã  lập công xuất sắc.

        20 giờ 13 phút, kíp chiến đấu dưới sự chỉ huy của Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Thăng bám sát dải nhiễu đặc thù B52. Khi B52 đã  vào tầm bắn, hai quả đạn vút lên không trung tiêu diệt ngay một chiếc B52G. Lần đầu tiên người Hà Nội nhìn thấy "pháo đài bay" cháy rực đỏ mặt hồ. Rồng lửa Thăng Long lao lên trời cao vít cổ "pháo đài bay" Mỹ. Chiếc B52G như một bó đuốc khổng lồ rơi xuống cánh đồng Chuôm, thuộc xã  Phủ Lỗ huyện Đông Anh cách trận địa chưa đến 10km. Đó là chiếc B52 đầu tiên trong cuộc chiến 12 ngày đêm cuối năm 1972.

        B52 tan xác ngay trên bầu trời Hà Nội làm nức lòng quân và dân ta từ người lính đến Tổng tư lệnh. Sau khi xác minh, nhìn tận mắt chiếc B52G bị bắn rơi, Trung đoàn 261 lấy một mảnh xác B52G báo cáo lên Bộ tư lệnh Sư đoàn phòng không 361. Bộ Tổng tham mưu báo cáo lên Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đại tướng rất vui mừng và gửi tới Sở chỉ huy Sư đoàn phòng không 361 lời động viên và biểu dương thành tích các đơn vị đồng thời nhắc nhở:

        "Toàn thể cán bộ, chiến sĩ sư đoàn phòng không bảo vệ thủ đô hãy học tập, phát huy thành tích đã   đạt được của Trung đoàn 261, tiếp tục bắn rơi tại chỗ nhiều B52 hơn nữa!".

        0 giờ 7 phút ngày 19 tháng 12 Tiểu đoàn 58 đánh tiếp trận thứ hai với hai quả đạn... Đạn nổ tốt, qua con mắt của đài quan sát thì tín hiệu mục tiêu vỡ ra như hoa cải nhưng chưa xác định được điểm rơi của B52.

        4 giờ 35 phút, sáu chiếc B52 rải vệt bom suốt dọc từ Hòa Mục đến Mễ Trì. Các tiểu đoàn tên lửa 86, 59, 57 liên tiếp đánh trả dưới làn bom đạn.

        4 giờ 20 phút ngày 19, Tiểu đoàn tên lửa 77 thuộc Trung đoàn 257 do Tiểu đoàn trưởng Đinh Thế Văn chỉ huy, phát hiện được mục tiêu B52, lập tức hai quả đạn vút lên không trung, kíp trắc thủ được lệnh chuyển sang chế độ bám sát tự động cả ba màn hình. Đạn phóng đi chập hẳn vào tín hiệu mục tiêu bùng nổ! Chiếc B52D bốc cháy rơi xuống cánh đồng xã Tân Hưng, huyện Thanh Oai. Chiếc B52 đầu tiên bị bắn rơi tại chỗ của Trung đoàn 257 cũng là chiếc B52 thứ hai bị rơi tại chỗ trong chiến dịch Mỹ tập kích chiến lược bằng B52 vào Hà Nội. Đó là một trong hai mươi mốt chiếc B52 xuất phát từ căn cứ U Ta Pao lúc 2 giờ sáng.

------------------------
        1. Cách gọi của tác giả không giống với mọi người. Ta vẫn gọi tên lửa thời đánh Mỹ là SAM 2 (S75) khác với SAM 3 (S125) 30/12/1972 mới lắp xong 1 đài 2 rãnh đầu tiên. (Giangtvx)


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Hai, 2020, 07:12:29 am

        Vệt bom B52 rải xuống Mễ Trì trong dã  tâm của Mỹ là đánh sập đài phát thanh. Đài Phát thanh tiếng nói Việt Nam có bị hỏng, nhưng cán bộ và nhân viên của Đài bất chấp bom đạn kịp thời sửa chữa. Thế là, sau 9 phút tạm ngừng, Đài Tiếng nói Việt Nam lại dõng dạc, tố cáo tội ác trời không dung đất không tha quân xâm lược, đồng thời báo tin vui cho nhân dân cả nước và bè bạn gần xa:

        "Quân và dân Hà Nội bắn rơi ba máy bay B52 - có hai chiếc rơi tại chỗ, hai máy bay F4 và một máy bay A4 cùng đền tội".

        Qua hai đêm chiến đấu, nhận thấy hiệu suất chiến đấu chưa tương xứng, cần phát huy hơn nữa sức mạnh của rồng lửa Thăng Long, Bộ Tổng tham mưu chỉ huy:

        "Bộ đội tên lửa hoàn toàn tập trung cho nhiệm vụ đánh B52. Rút một số đơn vị pháo, súng máy phòng không ra khỏi chốt, trực tiếp bảo vệ các đơn vị tên lửa".

        Như thế là từ ngày 20 trở đi tên lửa chỉ tập trung tiêu diệt pháo đài bay - lực lượng chủ yếu của cuộc tập kích chiến lược.

        20 giờ 12 phút ngày 20 tháng 12, hai tốp B52 bay vào khu vực phía bắc Hà Nội không qua được những "con mắt thần" rađa của ta. Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn tên lửa 93 lệnh phát sóng đài hai cự ly xa. Nhìn thấy dải nhiễu đặc thù B52 anh lệnh cho sĩ quan điều khiển phóng hai quả đạn. B52 xuất hiện dần trên nền nhiễu. Lệnh bồi thêm một quả đạn nữa. B52 trúng đạn lảo đảo mang theo khối lửa lao xuống xã  Yên Thường, huyện Gia Lâm ngoại thành Hà Nội.

        Từ 20 giờ 29 phút đến 20 giờ 38 phút, ba tiểu đoàn 78, 88 và 94 liên tiếp nhả đạn về phía tốp B52 mang số 621. Một chiếc B52 trúng đạn bốc cháy. Các đơn vị pháo phòng không tích cực đánh địch bảo vệ cho tên lửa.

        Gần 2 giờ sáng ngày 21, Tiểu đoàn 79 đưa vào tầm ngắm tốp B52 số 317. Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Chiến lệnh phóng một quả, diệt ngay một pháo đài bay. Chiếc B52 đầu tiên của tiểu đoàn bắn rơi mở đầu cho đợt chiến đấu thứ hai. Từ 5 giờ 2 phút đến 5 giờ 11 phút, ba tốp B52 là 318, 531, 532 vào đánh khu vực Gia Lâm, Yên Viên. Các tiểu đoàn 57, 77, 78 hiệp đồng chặt chẽ tập trung đánh tốp 318. Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 57 Nguyễn Văn Phiệt lệnh phóng một trong hai quả đạn còn lại, đạn nổ tốt chiếc B52 trúng đạn, cháy to rơi xuống tây nam Hà Nội. Tiểu đoàn 77 bám sát tốp 318, đến thời điểm thích hợp, Tiểu đoàn trưởng Đinh Thế Văn cho phát sóng. Anh quyết định phóng liền hai quả đạn. Lại một chiếc B52 nữa trúng đạn bốc cháy đâm xuống khu vực thị xã Phúc Yên. Đây là chiếc B52 thứ ba bị tiểu đoàn bắn rơi tại chỗ. Quả đạn cuối cùng của Tiểu đoàn 57 cũng đã  kịp chôn vùi tiếp một B52 nữa của giặc Mỹ - máy bay vùi trùm trong ngọn lửa rơi xuống khu vực chợ Thá gần núi Đôi. Trận đánh đêm 21 kết thúc, với 35 quả đạn bộ đội tên lửa đã  bắn rơi bảy máy bay B52, trong đó có năm chiếc rơi tại chỗ.

        Thiệt hại nặng nề làm cho Mỹ choáng váng, mãi đến 0 giờ 37 phút ngày 22, chúng mới huy động 24 chiếc B52 với 36 máy bay chiến thuật hộ tống tiến đánh phía nam Hà Nội trong đó nặng nhất là sân bay và bệnh viện Bạch Mai, Văn Điển, Giáp Bát... Trong vòng 14 phút bộ đội tên lửa ra quân đánh thắng bắn rơi tại chỗ ba máy bay B52.

        Khiếp sợ trước lưới lửa phòng không tầm cao tầm thấp của Hà Nội, ngày 23, chúng đánh phá Hải Phòng. Các đơn vị tên lửa Hải Phòng trừng trị đích đáng quân cướp trời, hai máy bay B52 và nhiều máy bay các loại phải đền tội.

        Tranh thủ ngày nghỉ nhân dịp Nô-en, lực lượng phòng không Hà Nội được tăng cường, có thêm nhiều đơn vị tên lửa và súng máy phòng không của dân quân tự vệ.


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Hai, 2020, 07:12:46 am

        Đêm 26, địch tăng thêm máy bay gây nhiễu EB66, kể cả F4 cũng thả dày đặc nhiễu kim tuyến. Từ 22 giờ, 105 máy bay B52 và 110 máy bay chiến thuật hộ tống, chúng ồ ạt tiến công cả Hà Nội, Hải Phòng và Thái Nguyên. Trận đánh có ý nghĩa then chốt của địch. Chúng tưởng tăng cường lực lượng có thể làm ta nản chí, nhưng không. Rồng lửa Thăng Long vẫn hiên ngang vít đầu lũ ó nhà trời tham lam độc ác bắt chúng đền tội. Tiểu đoàn 78 đĩnh đạc điều khiển chính xác quật đổ một B52 cháy thiêu rơi lả tả thân xác xuống làng Định Công, huyện Thanh Trì ngoại thành Hà Nội. Thi đua với Tiểu đoàn 78, các tiểu đoàn tên lửa 87, 88, 57, 94 bủa vây và đã  bắn cháy thêm ba B52 nữa. Còn một chiếc B52 bị trúng đạn rơi ngay xuống cửa hàng ăn uống Tương Mai quận Hai Bà Trưng lúc 22 giờ 32 phút là chiến công của Tiểu đoàn tên lửa 76. Kết thúc những chiến công đêm 26 là của Tiểu đoàn tên lửa 79. Bằng một quả tên lửa chặn đánh tốp B52 từ hướng tây nam, một chiếc B52 nữa bị tiêu diệt, bốc cháy ngùn ngụt lao về địa phận tỉnh Sơn La.

        Trận đánh then chốt của B52 vẫn bị thiệt mạng nặng nề, ý chí xâm lược bị lung lay, hôm sau ngày 27, chúng chỉ còn đủ sức cho 36 chiếc B52 với 66 máy bay các loại yểm trợ cố sống cố chết lao vào đánh Hà Nội. Tên lửa ta càng đánh càng sung sức, hiệu quả càng cao. Bằng 32 quả đạn, các tiểu đoàn đã  tiêu diệt bốn máy bay B52 trong đó hai chiếc rơi tại chỗ. Trong đêm này, Không quân Việt Nam lập công xuất sắc. Phi công Phạm Tuân cất cánh từ sân bay Yên Bái, theo sự dẫn dắt của chỉ huy, đến Sơn La phát hiện ra B52, Phạm Tuân xin công kích. Hai quả tên lửa được ấn nút, anh lật máy bay vòng trái thoát nhanh. Quầng lửa chụp lấy chiếc B52 từ từ lao xuống đất.

        Không chỉ phi công Mỹ sợ lưới lửa phòng không mà cả nước Mỹ cũng lo lắng cho phi công Mỹ khi phải đi ném bom Bắc Việt. Nỗi lo lắng qua báo chí càng khủng khiếp hơn, phản ánh tâm trạng chung của phi công Mỹ. Trước khi Mỹ thực hiện cuộc tập kích vào Hà Nội, Hải Phòng bằng máy bay ném bom chiến lược B52, ngày 21 tháng 8 năm 1972 báo "Tin Mỹ và thế giới" viết:

        "Cứ 10 máy bay làm nhiệm vụ ở miền Bắc Việt Nam thì chỉ có một máy bay là thực sự ném bom được thôi. Hệ thống phòng không Bắc Việt Nam hiện đại và rộng khắp đến nỗi trong bất cứ một trận đánh phá nào, 90% các máy bay Mỹ phải bảo vệ máy bay ném bom khỏi bị MiG tiến công và đối phó với súng phòng không cùng tên lửa từ mặt đất bay lên".

        Âu đó cũng là một lời cảnh báo của giới báo chí đối với hành động điên rồ của chính quyền Ních-Xơn khi thực hiện chiến dịch "Lai-nơ-bếch-cơ II" đầy tham vọng ngông cuồng.

        Nói đến chiến công của tên lửa SAM 3 Việt Nam trong chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ chúng ta không quên trận ra quân đầu tiên chiến thắng. Một trận đánh đi vào lịch sử Quân chủng Phòng không - Không quân là nỗi khiếp sợ kinh hoàng của không chỉ phi công Mỹ mà cả Lầu năm góc. Những chiến sĩ bộ đội tên lửa không bao giờ quên. Ông Nguyễn Ngọc Quỳ kể lại rằng:

        "Trận đánh mỏ đầu của bộ đội tên lửa vào ngày 24 tháng 7 năm 1965 tại khu vực huyện Ba Vì. Lực lượng tham gia gồm hai tiểu đoàn tên lửa 63, 64 và Trung đoàn tên lửa 263. Để bảo vệ tên lửa và phối hợp trận đánh lớn, Quân chủng Phòng không -  Không quân điều động trung đoàn 220 cao xạ pháo 100mm, Trung đoàn 234 cao xạ pháo 57mm, hai tiểu đoàn cao xạ 37mm, một tiểu đoàn súng tự hành AM 14,5mm, năm đại đội súng máy cao xạ 14,5mm. Phối hợp tác chiến còn có mười trận địa súng máy cao xạ 12,7mm của phòng không địa phương. Quân chủng điều đài rađa 10 và ba đại đội rađa phục vụ quản lý trên không cho trận đánh.

        Đội hình được bố trí thành ba cụm liên kết với nhau, lấy tiểu đoàn tên lửa làm cơ sở bố trí; cụm 1 ở khu Đồi Chùa, cụm 2 ở Võ Khuy và cụm ba ở giữa để tạo hỏa lực liên kết. Kế hoạch tác chiến của ta là tên lửa đánh trước, sử dụng hỏa lực tên lửa tập trung đánh tiêu diệt. Cao xạ chỉ đánh bảo vệ tên lửa khi địch đánh vào trận địa. Tên lửa đánh xong rút khỏi khu vực, đưa mồi nhử bằng "tên lửa cót" (tên lửa giả làm bằng cót tre) vào hai trận địa tên lửa để nhử địch, tạo điều kiện cho toàn cụm đánh trận tiêu diệt lớn. Trận đánh được thực hiện đúng kế hoạch. 13 giờ 53 phút ngày 24 tháng 7, cả hai tiểu đoàn tên lửa tập trung tiêu diệt tốp máy bay F4C của địch ở độ cao 8.000m đang trên đường bay vào đánh phá khu vực tây bắc Hà Nội. Bị đánh bất ngờ địch không kịp trở tay. Ngay đêm đó, Tiểu đoàn tên lửa 63 được lệnh rút khỏi khu vực, Tiểu đoàn 64 cơ động sang trận địa Kim Đài để thực hiện đánh bồi một trận nữa. Tại hai trận địa cũ ta cho đặt những "tên lửa cót" tạo trận địa giả nhử địch. Ngày 25 hoạt động của không quân trên miền Bắc ngừng hẳn. Ngày 26 địch dùng máy bay trinh sát tầm cao BQM và máy bay trinh sát chiến thuật RF101 vào trinh sát khu vực chuẩn bị kế hoạch trả đũa. Cay cú trước trận thất bại bất ngờ ngày 24, càng cay cú hơn khi bị bộ đội tên lửa bắn rơi hai máy bay trinh sát ngày 26, địch tập trung lực lượng tiêu diệt trận địa tên lửa. Ngày 27 tháng 7, chúng sử dụng 48 máy bay của hai biên đội Ubon và Tắc Li phối hợp đánh phá hai trận địa "tên lửa cót". Địch trúng kế của ta, lực lượng pháo phòng không các loại hiệp đồng chặt chẽ, đánh tập trung tiêu diệt lớn, bắn rơi tại chỗ năm máy bay, bắn bị thương hai chiếc khác...".


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Hai, 2020, 07:13:53 am

NHỮNG LỜI TIÊN TRI

        Năm 1952, khi Mỹ tuyên bố sản xuất được B52 đã  được giới quân sự phương Tây đánh giá là một bước nhảy vọt của nền công nghiệp chiến tranh Mỹ cũng là thành tựu "vĩ đại" của thế giới tư bản. Người ta tuyên truyền rằng, B52 là một pháo đài chiến đấu độc lập trên không, là bất khả xâm phạm. Người Mỹ tự hào, mệnh danh cho B52 là "pháo đài bay", là trụ cột của không quân Mỹ trong chiến lược quân sự toàn cầu.

        B52 là loại máy bay ném bom chiến lược hạng nặng do Hãng Boeing sản xuất theo đơn đặt hàng của bộ quốc phòng Mỹ, được đánh giá là một trong ba vũ khí chiến lược lợi hại của Mỹ: chiến đấu trên biển có tàu ngầm hạt nhân chiến lược, trên không có pháo đài bay B52 và trên mặt đất có tên lửa chiến lược mang đầu đạn hạt nhân. B52 được giới quân sự đánh giá là loại máy bay linh hoạt nhất trong bốn hình thức chiến tranh: hạt nhân chiến lược, hạt nhân chiến trường, chiến trường thông thường, cục bộ. Mỗi chiếc B52 là một trung tâm tác chiến điện tử với 15 máy gây nhiễu khác nhau, đồng thời là một kho chứa bom đạn với sức chứa 20-30 tấn. Mỗi tốp B52 ba chiếc có thể rải thảm 60 đến 90 tấn bom trên một diện tích rộng thay cho 120 đến 200 máy bay cường kích đánh phá. B52 đã  nhiều lần được cải tiến. Chúng được lắp máy gây nhiễu "khôn ngoan" đánh lừa rađa đối phương. Máy gây nhiễu B52 tạo ra tín hiệu nhiễu giống nhiễu tín hiệu B52 trên màn rađa. Pháo đài bay còn có một loại thiết bị cảm ứng điện từ mắt thường cho phép máy bay bay thấp không phải dùng rađa né tránh địa hình để tránh tên lửa phòng không tầm thấp. Với công nghệ chiến tranh điện tử bậc nhất lúc bấy giờ, B52 được liệt vào hạng siêu đẳng.

        Đầu năm 1965, cùng với việc Mỹ đổ quân ồ ạt vào niềm Nam, B52 cũng theo chân quân đội Mỹ đến đảo Guam. Cũng trong năm đó, ngày 18 tháng 6 năm 1965 lần đầu tiên ở Việt Nam, Mỹ đã  cho 30 pháo đài bay từ Guam đến ném bom rải thảm vùng căn cứ Bến Cát, cách thành phố Sài Gòn hơn 40km về phía bắc. Mỹ tuyên truyền cho sức mạnh vũ khí Mỹ bằng sự hủy diệt sự sống vùng Bến Cát nhưng không thể làm lung lạc quyết tâm chiến đấu giải phóng miền Nam thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam. Chỉ một tháng sau, ngày 19 tháng 7 năm 1965, Bác Hồ đến thăm Quân chủng Phòng không - Không quân. Tại đây, trong lời thăm hỏi ân cần cán bộ và chiến sĩ, Bác căn dặn phải cảnh giác trước những âm mưu mới của Mỹ đồng thời nói lên ý chí của toàn dân tộc trong sự nghiệp giải phóng miền Nam: B52 hay B gì chăng nữa nhân dân Việt Nam quyết không sợ.

        "Dù đế quốc Mỹ có lắm súng, nhiều tiền, dù chúng có B52 hay B gì đi chăng nữa ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đã  đánh là nhất định thắng".

        Câu nói nổi tiếng của Bác vang lên trên các loa phóng thanh đến với nhân dân trong cả nước và nhân loại yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới.

        Trong lúc thế giới chưa biết nhiều đến B52, trong lúc Mỹ vừa đưa B52 vào miền Nam, quân và dân ta ở miền Bắc chưa biết B52 thế mà Bác đã  nói về B52 và quyết đánh B52 cho cán bộ và chiến sĩ bộ đội phòng không - không quân, mới thấy tầm nhìn xa trông rộng của Người. Không những thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn tiên đoán về cái kết cục bi thảm của đội quân xâm lược Mỹ - bị thất bại nặng nề phải dùng đến át chủ bài là B52 đánh phá Hà Nội. Ngày 18 tháng 9 năm 1967, Người đã  nói với các đồng chí lãnh đạo Quân chủng Phòng không - Không quân:

        "Sớm muộn bọn Mỹ cũng đem B52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua mới chịu thua... ớ Việt Nam, Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi bị thua trên bầu trời Hà Nội".

        Ta lại nhớ lời của Người nói với Đại tướng Võ Nguyên Giáp trước Cách mạng tháng Tám năm 1945:

        "Lúc này thời cơ thuận lợi đã  tới, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập".

        Lời tiên tri của Bác được quân và dân ta ghi nhớ, từng bước chuẩn bị để đối phó với những cuộc phiêu lưu mới ngày càng tàn bạo hơn, dã man hơn.


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Hai, 2020, 06:54:36 am

        Từ lời tiên tri của Bác, tháng 2 năm 1968 Quân ủy Trung ương giao cho Đảng ủy và Bộ tư lệnh Phòng không - Không quân xây dựng quyết tâm và kế hoạch đánh B52. Khi Mỹ dùng B52 đánh phá khu vực Vinh Linh, thì đơn vị đầu tiên được Bộ tư lệnh Phòng không - Không quân điều vào đó tham gia chiến đấu là Trung đoàn tên lửa 238. Không chỉ trực tiếp chiến đấu mà còn đảm nhiệm một trọng trách là nghiên cứu cách đánh B52 hiệu quả nhất để phổ biến trong toàn quân chủng. Đến tháng 10 năm 1972 đã   có bốn đợt bộ đội tên lửa, rađa, không quân vào phía nam Quân khu 4 đánh và nghiên cứu cách đánh B52. Từ thực tế nhiều năm chiến đấu và nghiên cứu B52, quân chủng sớm cho ra đời tài liệu về "cách đánh B52" phổ biến cho các đơn vị trong toàn Quân chủng Phòng không - Không quân.

        Gần nửa năm, trước khi Mỹ lật lọng đem B52 ra đánh phá Hà Nội, ngày 28 tháng 6 năm 1972, tại tổng hành dinh đồng chí Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân nhận chỉ thị từ Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Quân ủy Trung ương, Tổng tư lệnh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng:

        "Sắp tới không quân Mỹ đánh phá ác liệt hơn, kể cả B52. Ta kiên quyết tổ chức những trận hiệp đồng nhiều binh chủng, đánh địch đau hơn nữa, nhất là những thời gian cao điểm. Giao cho Bộ Tổng tham mưu chủ trì nghiên cứu chuyên đề về cách đánh thắng B52, nhất là khi chúng đến ném bom Hà Nội, Hải Phòng và vùng lân cận".

        Chúng ta chiến thắng các bước leo thang mở rộng chiến tranh ra miền Bắc và kịp thời đối phó với nấc thang cao nhất là khi Mỹ dùng B52 tập kích chiến lược vào Thủ đô Hà Nội và Hải Phòng trong 12 ngày đêm cuối năm 1972.

        Chiến thắng của quân và dân ta trong cuộc đọ sức quyết liệt trên bầu trời Hà Nội 12 ngày đêm cuối năm 1972 là chiến thắng của sức mạnh tổng hợp Việt Nam trong đó có sự đóng góp của ngành tình báo quân sự.

        Cuối năm 1968, sau khi Mỹ ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ cho Quân chủng Phòng không - Không quân:

        "Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương vừa nhận định: Mỹ tạm ngừng ném bom là vừa để tỏ vẻ thiện chí, vừa để tập trung không quân đánh phá quyết liệt ngăn chặn giao thông của ta từ Nghệ An trở vào. Tuy xuống thang, địch có khả năng đánh phá trở lại phía Bắc. Vì vậy, đi đôi với việc đẩy mạnh cuộc chiến đấu bảo vệ giao thông ở Quân khu 4, bộ đội phòng không - không quân cần tăng cường cảnh giác, tích cực chuẩn bị, sẵn sàng đánh bại âm mưu địch đánh phá trở lại các tỉnh phía Bắc nhất là Hà Nội. Tuyệt đối không để bị bất ngờ".

        Mạc Lâm khi khai thác phi công tù binh Mỹ, đặc biệt quan tâm khai thác những tin tức liên quan đến B52. Qua khai thác từ nhiều phi công tù binh Mỹ thì phần lớn phi công lái các loại máy bay chiến thuật F4, F105 đều được tham gia diễn tập với các đơn vị không quân chiến lược B52 trong cuộc tập kích đường không chiến lược. Muốn tổ chức một chiến dịch dùng B52 đánh vào Hà Nội phải có nhiều thành phần khác trong hoạt động yểm trợ như hộ tống, chế áp tên lửa, cao xạ đối phương kể cả việc chiếm lĩnh ưu thế trên cao của các đơn vị F4, F105 ở các căn cứ không quân Thái Lan, kể cả cấp cứu, nghi binh...

        Như thế, qua các phi công tù binh cấp tá lái F105, F4 và những phi công tù binh từng chỉ huy cấp đại đội đến trung đoàn, Mạc Lâm có trong tay hàng ngàn trang tài liệu cần thiết về nhiều lĩnh vực: tính năng đặc điểm máy bay B52 với những ưu điểm, nhược điểm vốn có của nó. Trang thiết bị kỹ thuật điện tử cũng như khả năng mang bom và các loại bom B52. Đội hình cơ bản một tốp bay và một biên đội B52. Cơ cấu thành phần một trận tập kích bằng B52 vào một mục tiêu nào đó và khu vực dự kiến mục tiêu đánh phá sắp tới... Về đường bay các hướng - từ các căn cứ không quân ở Nhật Bản, Thái Lan, đảo Guam... đến Việt Nam - Hà Nội. Khu vực tiếp dầu trên không, sở chỉ huy trên không. Đội hình triển khai tập kích ném bom bay bằng tới mục tiêu. Đường rút lui của B52...

        Khai thác triệt để mọi khía cạnh xung quanh B52 được Mạc Lâm quán triệt, làm rất cẩn thận. Những hiểu biết về B52 có tác dụng rất tốt giúp cho lãnh đạo, cho Quân chủng Phòng không - Không quân bổ sung hoàn chỉnh các phương án tác chiến mà các đơn vị đã  dày công nghiên cứu xây dựng trong quá trình chuẩn bị cho chiến dịch cũng như ý đồ của Hoa Kỳ bãi bỏ sự hạn chế ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra.


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Hai, 2020, 06:55:02 am

        Ta không chỉ nắm chắc thông tin về các loại máy bay, về kỹ thuật, chiến thuật... Hơn thế nữa, ta còn nắm được cả tiềm lực quốc phòng Mỹ, lực lượng thường trực, lực lượng dự bị chiến lược của không quân, hải quân Mỹ cũng như các quân binh chủng. Về khả năng sản xuất máy bay hàng năm, về các loại máy bay, các loại bom đạn, các loại máy móc, thiết bị điện tử mới sản xuất. Thông qua hỏi cung ta cũng biết được sự bố trí của lực lượng quân sự Mỹ ở Thái Bình Dương, Đại Tây Dương, Địa Trung Hải và ngay tại nước Mỹ. Tình hình luân phiên, điều chỉnh lực lượng, đặc biệt là bố trí lực lượng không quân chiến thuật, không quân của hải quân ở vịnh Bắc Bộ, ở miền Nam và ở các căn cứ quân sự Mỹ ở Thái Lan, Nhật Bản, Guam...

        Vào đầu tháng 6 năm 1972, Mạc Lâm và một số sĩ quan được giao nhiệm vụ đặc biệt: Đánh giá đợt leo thang cao nhất về cuộc chiến tranh phá hoại của không quân, hải quân Mỹ trên miền Bắc "trong đó chủ yếu là đánh giá lực lượng không quân chiến lược của Mỹ và dự kiến cuộc tập kích bằng B52 vào Hà Nội. Cục trưởng Cục Tình báo chỉ định Mạc Lâm tham gia hội nghị của Bộ Tổng tham mưu ngày 6 tháng 7 năm 1972 để trình bày nội dung chuyên đề đặc biệt vừa nghiên cứu. Phó Tổng tham mưu trưởng Phùng Thế Tài chủ trì hội nghị, nhấn mạnh các nội dung then chốt cần bàn, phải kết luận và kế hoạch ban đầu trong triển khai để đánh thắng cuộc tập kích B52.

        Mạc Lâm là người đầu tiên của Cục Quân báo trình bày những nội dung làm cơ sở cho việc thảo luận:

        1. Lực lượng không quân chiến lược B52 và bố trí lực lượng B52 của Mỹ.

        2. Đặc điểm, tính năng của B52.

        3. Đội hình cuộc tập kích chiến lược bằng B52 vào Hà Nội, Hải Phòng và các loại máy bay yểm trợ khác. Cách ném bom bay bằng của B52 (tốc độ, độ cao, khả năng mang bom, đạn...), về các loại máy bay yểm trợ trên không như F105, F4. Thủ đoạn gây nhiễu của các loại máy bay, liên lạc trên không.

        4. Đề xuất cách đánh của ta (tên lửa, cao xạ, MiG và các loại súng bộ binh). Hoạt động của rađa, cách chống nhiễu...

        Cùng với việc báo cáo, Mạc Lâm phải giải đáp những câu hỏi đặt ra của các đồng chí trong hội nghị. Nhiều ý kiến đánh giá tình hình địch, về lực lượng và khả năng của ta, đề xuất nhiều kế hoạch và biện pháp về triển khai trên tinh thần khẩn trương đối phó kịp thời trong mọi tình huống.

        Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh, người tham dự hội nghị ngày ấy, trong bài "Những ngày tháng Chạp ở Tổng hành dinh" kể lại:

        Ngày 6 tháng 7, tại căn nhà nép kín trong một góc thành cổ Hà Nội, các đồng chí Phó Tổng tham mưu trưởng Vương Thừa Vũ, Phùng Thế Tài đã  chủ trì hội nghị về đánh thắng B52. Sau khi nghe tám đồng chí có trọng trách lớn phát biểu ý kiến (Mạc Lâm, cán bộ Cục Quân báo, Lê Văn Tri - Tư lệnh Phòng không, Đào Đình Luyện - Tư lệnh Không quân, Dương Hàn - Tham mưu trưởng Phòng không -  Không quân, Hoàng Đình Phu - Viện trưởng Kỹ thuật quân sự, Trần Đại Nghĩa - Chủ nhiệm ủy ban kế hoạch Nhà nước, Nguyễn Văn Ninh); đồng chí Phùng Thế Tài kết luận:

        "Mỹ sẽ đem B52 đến ném bom Hà Nội, Hải Phòng và các vùng lân cận vào lúc ta đang thắng lớn ở miền Nam mà Mỹ lại ngoan cố muốn ép ta ở Hội nghị Pari. Chúng sẽ đánh tất cả các mục tiêu kể cả khu đông dân. B52 sẽ đánh đêm, gây nhiễu rất nặng, bay cao 10 - llkm. Chiến thuật địch rất máy móc, phụ thuộc vào điểu lệnh sẵn có. Không quân chiến thuật bảo vệ đội hình B52, dùng nhiều tên lửa sơrai để chế áp trận địa tên lửa, rađa... của ta. B52 bay bằng cắt bom".


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Hai, 2020, 06:55:48 am

        Về chuẩn bị cho cuộc đánh trả cuộc tập kích chiến lược bằng B52 vào Hà Nội, Hải Phòng, Mạc Lâm không bao giờ quên được cuộc gặp ngắn ngủi mà xúc động với Đại tướng Võ Nguyên Giáp:

        "Buổi sáng hôm đó, như thường lệ tôi dậy sớm để đến nơi làm việc. Hồi đó chúng tôi ở tập trung tại cơ quan trong thành nhưng đi làm việc ở nơi sơ tán. Đang loay hoay xỏ giày thì có người báo: "Mạc Lâm lên gặp Bộ trưởng gấp". Anh ta còn nói thêm: "Bộ trưởng đang chờ anh ở phòng thủ trưởng Cục". Tôi thoáng chút ngạc nhiên. Thực ra thì tôi cũng đã   nhiều lần gặp Bộ trưởng. Bận trăm công ngàn việc nhưng Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn quan tâm đến công tác tình báo, trong kháng chiến chống Pháp cũng như hiện nay trong kháng chiến chống Mỹ. Nhiều tin tức chúng tôi khai thác từ tù binh sau khi nghe thủ trưởng Cục báo cáo, Đại tướng còn trực tiếp gặp chúng tôi để xác minh lại. Tôi đoán chắc là tin về B52 đánh Hà Nội mà tôi vừa báo cáo làm cho Bộ trưởng quan tâm. Bước vào phòng, tôi thấy Bộ trưởng ngồi ở đấy rồi. Gương mặt Bộ trưởng tươi cười nhưng đượm vẻ lo âu, vẫy tay gọi tôi lại ngồi bên cạnh. Đúng như điều tôi suy nghĩ. Đại tướng hỏi thăm về sức khỏe, về tình hình mới nhất chúng tôi vừa thu thập được về "B52 sẽ đánh Hà Nội vào thời gian tới". Bộ trưởng hỏi rất kỹ về thực lực không quân chiến lược, về điểm mạnh và điểm yếu của B52. Kể cả những suy nghĩ băn khoăn của tôi không thể hiện qua báo cáo. Tôi bình tĩnh báo cáo. Bộ trưởng nói rất nhẹ nhàng, hỏi rất chi tiết, hình như cần sự khẳng định của tôi về những điều đã  báo cáo. Hỏi xong, Bộ trưởng bắt tay chúng tôi, ra về trên gương mặt bình thản".

        Nhớ lại buổi hỏi cung phi công tù binh Mỹ vừa bị bắt đầu năm 1972, khi hỏi về cách đánh B52, về ý đồ của Mỹ "leo thang" trong thời gian tới, Mạc Lâm cũng luôn quan tâm khai thác những tin tức về khả năng Mỹ dùng B52 đánh Hà Nội, Hải Phòng. Một phi công tù binh Mỹ nói nhỏ với Mạc Lâm:

        - Thưa ông, người ta đang chuẩn bị đánh B52 vào Hà Nội, Hải Phòng.

        Mạc Lâm như không tin vào tai mình, hỏi lại:

        - Anh nói sao, Mỹ sẽ dùng B52 đánh Hà Nội, Hải Phòng?

        Người phi công tù binh có vẻ sợ sệt, nhưng vẫn nói bằng một giọng tự tin:

        - Vâng, đúng thế. sắp tới Mỹ sẽ dùng B52 đánh phá Hà Nội, Hải Phòng.

        Mạc Lâm nhìn chăm chú vào người phi công tù binh, hạ giọng:

        - Anh có thể nói rõ hơn?

        - Thưa ông, cách đây mười ngày, tôi được tham gia trong đội hình diễn tập dùng B52 đánh phá Hà Nội, Hải Phòng. Đó là một cuộc tập trận quy mô lớn phối hợp tác chiến mà lực lượng chủ yếu là B52. Trong đội hình chiến đấu cùng B52 còn có máy bay trinh sát RF4C, QF4C, các loại máy bay F105, F4D, máy bay gây nhiễu điện tử EC121, đội cấp cứu và chỉ huy trên không...

        Mạc Lâm đã  hỏi kỹ, đưa ra nhiều tình huống để kiểm tra tính xác thực của những thông tin từ người phi công tù binh vừa khai báo. Ông đôi chiếu với những tin tức đã  khai thác ở các phi công tù binh khác rồi đi đến khẳng định: tin về Mỹ dùng B52 đánh phá Hà Nội, Hải Phòng là đúng. Mạc Lâm mừng lo lẫn lộn. Mừng vì có thông tin mới mà cấp trên đang cần sẽ giúp cho ta chuẩn bị để không bị bất ngờ trước âm mưu thâm độc của kẻ thù. Nhưng khi nghĩ đến hàng trăm B52 ném bom rải thảm xuống thủ đô thân yêu, nơi đầu não lãnh đạo cách mạng và cũng là nơi tập trung đông dân, lòng ông thắt lại. Sau những giây phút bàng hoàng, Mạc Lâm ngồi vào bàn, giở lại cuốn sổ ghi chép, nhớ lại những gì vừa xảy ra ông làm báo cáo ngay gửi lãnh đạo Cục Quân báo quân sự. Trong báo cáo ông trình bày:

        "Hội nghị kết thúc, từ giờ phút ấy, tôi vẫn luôn vương vấn, vẫn tiếp tục nắm tình hình, lúc nào cũng không khỏi hồi hộp lo lắng. Cái gì sẽ xảy ra, liệu báo cáo chính xác đến mức độ nào, có điểm nào phi công tù binh khai không đúng không? Có điểm gì mới mà ta chưa dự kiến hết không? Mỗi lần, nghĩ đến cuộc gặp Bộ trưởng tôi quên ăn, quên ngủ. Các tháng sau đó chúng tôi thu thập thêm nhiều tư liệu, những dấu hiệu, động thái về sự chuẩn bị cho cuộc tập kích chiến lược ngày càng rõ dần. Không quân Mỹ đang chuẩn bị về công tác hợp đồng của không quân chiến lược với một số đơn vị ở Thái Lan đã  được tiết lộ.

        Cuối tháng 11 năm 1972, công tác chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu đã  căn bản hoàn thành. Một kế hoạch của phòng không và không quân ta đánh trả cuộc tập kích chiến lược bằng B52 vào Hà Nội, Hải Phòng được triển khai trong toàn quân. Tháng 12 địch tiếp tục leo thang mạnh. Có thêm nhiều tin tức tình báo mới liên quan đến việc Mỹ chuẩn bị khẩn trương cho chiến dịch dùng B52 đánh Hà Nội, Hải Phòng. Từ tháng 10 năm 1972 chúng tăng thêm lực lượng không quân chiến thuật, không quân hải quân đến chiến trường Đông Nam Á. Bộ chỉ huy liên quân Mỹ điều chỉnh lực lượng B52 ở căn cứ quân sự Guam và Thái Lan. Chúng ra lệnh kéo dài thời gian phục vụ tác chiến của phi công Mỹ ở chiến trường Thái Bình Dương, Đông Nam Á. Phi công Mỹ đều được phổ biến kế hoạch đánh lớn sắp tói và dự đoán được mục tiêu cụ thể".

        Chiến thắng trận "Điện Biên Phủ trên không" góp phần quyết định "đánh cho Mỹ cút" - chấm dứt sự can thiệp của Mỹ ở Việt Nam, làm tiền đề quan trọng cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh "đánh cho ngụy nhào", giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc.

        Ta lại nhớ đến lời tiên tri của Bác Hồ.

        Trong bản thảo diễn văn nhân dịp quốc khánh lần thứ 15 nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ngày 2 tháng 9 năm 1960, Bác viết:

        "Toàn dân ta đoàn kết nhất trí, bền bỉ đấu tranh, thì chậm lắm là 15 năm nữa, Tổ quốc ta nhất định sẽ thông nhất, Bắc Nam nhất định sẽ sum họp một nhà".


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Hai, 2020, 06:56:59 am
        
TRẬN "ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG"

        Ngày 13 tháng 12 năm 1972, Hội nghị Pari bê tắc do thái độ ngoan cố lật lọng của phía Mỹ. Cố vấn đặc biệt của tổng thống Mỹ là Kít-xinh-giơ tuyên bố đình chỉ vô thời hạn Hội nghị Pari về Việt Nam. Ngày hôm sau tổng thống Mỹ Ních-Xơn chính thức thông qua kế hoạch tập kích đường không chiến lược, chủ yếu bằng B52 vào Hà Nội, Hải Phòng mang tên "Lai-nơ-bếch-cơ II" từ ngày 17 tháng 12 theo giờ Hoa Kỳ tức là ngày 18 tháng 12 năm 1972 theo giờ Hà Nội. Lập tức Mỹ triển khai thành lập bộ chỉ huy sư đoàn không quân chiến lược lâm thời số 57 để chỉ huy ba liên đội máy bay B52 gồm 193 chiếc với 250 tổ lái ở hai sân bay Utapao (Thái Lan) và En-đéc-xơn (Guam). Chúng huy động thêm 50 máy bay KC135 để tiếp dầu cho B52 từ Mỹ sang Philíppin đồng thời điều tiếp hai tàu sân bay In-tec-prai-dơ và Sa-ra-tô- ga từ Hồng Kông và Subích sang vịnh Bắc Bộ. Tham gia tập kích chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ II còn có hơn 1.000 máy bay chiến thuật được huy động từ khu vực Đông Nam Á. Tổng thống hiếu chiến Ních-Xơn tưởng có thể dùng B52 tập kích chiến lược vào Hà Nội, Hải Phòng hòng lật lại thế cờ trên bàn Hội nghị Pari.

        Thực ra máy bay chiến lược B52 mang danh "pháo đài bay" qua nhiều lần cải tiến, được coi là "máy bay chiến lược" nhưng thực chất không phải là có sức mạnh ghê gớm như bộ máy tuyên truyền Mỹ đã  từng rùm beng. Trước ngày Ních-Xơn ra lệnh đánh phá Hà Nội bằng B52, tướng Giôn Rai-an, tham mưu trưởng không quân Mỹ thú nhận sự lỗi thời của B52 và F111 trước ủy ban quân lực hạ viện Mỹ ngày 2 tháng 3 năm 1972 rằng:

        "Khi nói đến lực lượng B52, F111 chúng ta phải công nhận một thực tế. Kỹ thuật B52 là kỹ thuật năm 50, kỹ thuật F111 là kỹ thuật năm 60. Trong đà phát triển kỹ thuật của nền khoa học thế giới ngày nay cả hai loại này đã  trở nên lỗi thời".

        Lời cảnh báo không làm cho tham vọng chiến thắng của Ních-xơn giảm đi chút nào.

        Ta huy động lực lượng phòng không nhân dân sẵn sàng giáng trả thích đáng máy bay ăn cướp của Mỹ gồm sáu trung đoàn tên lửa SAM 3, ba trung đoàn máy bay tiêm kích MiG-17, MiG-21, bốn trung đoàn cùng tám tiểu đoàn pháo phòng không, binh chủng rađa cùng với lực lượng phòng không của dân quân tự vệ, bộ đội địa phương gồm 350 khẩu pháo và súng máy... làm thành một thế trận phòng không thiên la địa võng đủ cả tầm cao, tầm trung và tầm thấp.

        Chiểu 18 tháng 12 năm 1972, Cục Tình báo quốc phòng đã  báo cáo lên Bộ Tổng tham mưu dự kiến thời gian Mỹ tập kích B52 vào Hà Nội. Đến khoảng 18 giờ thì hầu như khẳng định điều đó. Tức thì, Bộ Tổng tham mưu, Cục Tác chiến phổ biến ngay đầy đủ đến từng đơn vị phòng không.

        Mạc Lâm kể lại:

        "Hôm ấy tôi, Nguyễn Anh Lân, Lê Đạt, Lâm Hoài trực ban ở Sở chỉ huy. Căn hầm trực chỉ huy của Cục không lớn, nằm sâu dưới khu vườn tăng gia có giàn mướp che phủ. Hầm đặt ba bàn làm việc với đủ các hệ thống thông tin, liên lạc, bản đồ các loại và tài liệu cần thiết.

        Cục trưởng bước vào, ông nói vui:

        - Tối nay B52 đánh vào Hà Nội như dự kiến sẽ khao các cậu.

        Anh Lân khẳng định:

        - Đó là cái chắc!

        Nói cười vui vẻ nhưng trong thâm tâm mọi người đều lo lắng. B52 đánh bom Hà Nội sẽ ra sao?

        Bỗng có tiếng điện thoại réo vang. Tôi cầm máy. Nghe giọng nói biết đầu dây bên kia là Phó Tổng tham mưu trưởng Phùng Thế Tài, tôi nói nhanh:

        - Vâng. Tôi là Mạc Lâm!

        Phó Tổng tham mưu trưởng:

        - Này cậu, B52 đến đâu rồi?

        Tôi đáp:

        - Giữa đường rồi - có cả hướng Guam và Thái Lan.

        Phó Tổng tham mưu trưởng:

        - Phải nắm thật chắc để báo cáo chính xác:

        - Vâng, chúng tôi đang bám sát.

        Phó Tổng tham mưu trưởng cười rồi bảo tôi:

        - Tối hôm nay, bộ đội ta bắn rơi B52 thì Bộ Quốc phòng sẽ thưởng cho Cục 2 một tấn lương khô và một con bò mộng thật to nhé.

        Nguyễn Anh Lân nghe tiếng Phó Tổng tham mưu trưởng, bảo với tôi nói chen vào:

        - Quá ít thủ trưởng ạ!

        Phó Tổng tham mưu trưởng cười khà nói với tôi:

        - Nếu không bắn trúng B52 thì cậu chết trước!

        Đơn vị kỹ thuật của Cục Quân báo vẫn bám sát B52, tính từng giây, từng phút một. Không khí chờ đợi căng thẳng, hồi hộp. Mọi người im lặng theo dõi,.. Đây không chỉ là bộ đội phòng không - không quân đối mặt trực tiếp với B52 mà cũng là lần đầu tiên Cục Quân báo chạm trán với chúng. Nhó lại hôm trình bày phương án đánh B52, Mạc Lâm cũng lo lắng điều đó, biết đâu chỉ là lý thuyết mặc dù hội nghị tính toán rất kỹ. Trước những công việc trọng đại con người thường có những trạng thái tâm lý như thế. Lời nói đùa của Phó Tổng tham mưu trưởng: "Nếu không bắn trúng B52 thì cậu chết trước" đã  làm cho Mạc Lâm trăn trở.


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Hai, 2020, 07:04:27 am

        Là cơ quan tình báo chiến lược giúp Bộ mấy chục năm nay, Cục Quân báo khẳng định nguồn tin của mình từ nhiều nguồn thông tin, nhiều phương tiện kỹ thuật và bộ đội đã  chuẩn bị sẵn sàng đánh trả, vậy mà ngồi trong phòng trực ban chiến đấu không ai không khỏi băn khoăn.

        Trực ban thông báo:

        - Tín hiệu đặc biệt: B52 gần vào đất liền!

        Cục trưởng Phan Bình ra lệnh:

        - Báo ngay cho sở chỉ huy Bộ Tổng tham mưu và Cục Tác chiến!

        Vài phút sau, Cục Tác chiến cũng thông báo:

        - Đã  xuất hiện trên màn hình rađa B52! Đúng là B52 rồi!

        Cả Hà Nội vang lên tiếng còi báo động.

        Từ Sở chỉ huy Bộ Tổng tham mưu, các mệnh lệnh chiến đấu được truyền đi các đơn vị. Các trạm rađa cũng liên tiếp báo cáo tình hình B52 từ các hướng.

        Mạc Lâm chạy sang Sở chỉ huy Bộ Tổng tham mưu. Tất cả đang tập trung vào công việc. Nguyễn Văn Ninh, Cục Tác chiến cùng nhiều sĩ quan đang dán mắt vào màn huỳnh quang. Ba chiến sĩ tiêu đồ: Thanh, Nhung và Khánh tai quàng ống nghe, tay cầm bút chì vẽ đường bay B52 vào các vòng tròn xung quanh khu vực Hà Nội: 200km, 150km, l00km... Về phòng trực ban Cục, Mạc Lâm biết là có khoảng 100 máy bay B52 vào khu vực Hà Nội, đang cùng với trực ban phán đoán về các loại máy bay tiêm kích, hộ tống, trinh sát điện tử và chỉ huy trên không để báo cáo cấp trên. Tin từ các trận địa phòng không, hầu hết đều bắt được tín hiệu B52 nhưng nhiễu rất mạnh - tất cả đều nằm trong phương án chuẩn bị.

        Cả Hà Nội chìm trong im lặng. Cả Hà Nội là một khối lửa căm thù ngùn ngụt sẵn sàng trút lên đầu quân xâm lược.

        Những giây phút lịch sử ở Tổng hành định đã  được Thiếu tướng Nguyễn văn Ninh, 35 năm sau kể lại:

        "16 giờ 30 phút - 3 giờ trước khi B52 đến ném bom Hà Nội, cán bộ Cục Quân báo Mạc Lâm đến thông báo:

        Mật lệnh của bộ tham mưu liên quân Mỹ (JCS) gửi xuống bộ tư lệnh Thái Bình Dương về cuộc tập kích đường không. Đã  có nhiều tốp B52 cất cánh từ sân bay An-đéc-xơn (đảo Guam) đến ném bom miền Bắc.

        18 giờ 30 phút, trực ban Quân chủng Phòng không - Không quân báo cáo: "Đại đội rađa 16 và 45 (Trung đoàn 291) ở Đô Lương, Nghệ An đã  phát hiện nhiều tốp máy bay B52 đang bay trên vùng trời dọc sông Mê Kông ra miền Bắc". Các chiến sĩ tiêu đồ đã  thu được tín hiệu của rađa về B52, liên tục vẽ đường bay địch trên bảng mica, cả phòng trực ban lúc này sôi nổi, khẩn trương hẳn lên. Ai cũng thầm khen bộ đội rađa và quân báo cừ thật. Tóm cổ B52 rồi. Tổ quốc không bị bất ngờ".

        Tiếng bom B52 ầm ầm dội vào lòng đất. Bom gần lắm, Thủ trưởng Cục Phan Bình lệnh:

        - Đúng B52! Tiếng bom gần quá! Cho cán bộ trinh sát đi ngay nắm tình hình về báo cáo. Tất cả bắt tay vào việc.

        Bỗng có tiếng reo to bên ngoài Sở chỉ huy Bộ Tổng tham mưu. Chuông điện thoại đổ dồn:

        - Đánh trúng B52 rồi! Những khối lửa từ trên cao đang rơi lả tả.

        - Dân báo, có dù đang rơi.

        Một sĩ quan tác chiến chạy sang hầm chỉ huy Cục 2 truyền đạt mệnh lệnh:

        - Đồng chí Mạc Lâm, theo lệnh Bộ Tổng tham mưu, sẵn sàng đi hỏi cung giặc lái. Đơn vị báo cáo có dù rơi, đang lùng bắt giặc lái ở ngoại thành. Mạc Lâm đi nhận nhiệm vụ ngay. Lệnh: phải hỏi phi công tù binh gấp kế hoạch sắp tới? Những mục tiêu đánh phá tiếp theo? về các loại máy bay tiêm kích, cường kích hiệp đồng cùng B52?...

        Phó Tổng tham mưu trưởng Phùng Thế Tài hạ lệnh:

        - Mạc Lâm đi ngay, về báo cáo trước 5 giờ sáng. Sáng mai sang nhận thưởng cho Cục Quân báo.

        Nói sao hết nỗi mừng đối với người lính làm một việc có ích cho đất nước. Thế là những gì Mạc Lâm và đồng đội nghiên cứu là chính xác. Quân và dân ta đã   không bị bất ngờ trước âm mưu của Mỹ. Chúng muốn thình lình đánh ta bằng át chủ bài của lực lượng quân sự Mỹ. Chúng đánh phá dã man thủ đô thân yêu của chúng ta hòng lung lạc quyết tâm của cả một dân tộc đánh Mỹ. Những trận đánh phủ đầu hôm nay có một ý nghĩa vô cùng to lớn. Cuộc chiến còn tiếp diễn. Địch sẽ còn làm gì nữa đây? Ngày mai? Ngày kia và sau đó nữa? Phải hỏi cung ngay để báo cáo lên cấp trên càng sớm càng tốt. Nghĩ thế Mạc Lâm sung sướng lên đường. Tất cả các yêu cầu của trên về B52 cần được nhanh chóng xác định lại và báo cáo trước 5 giờ để chuẩn bị đánh tiếp.

        Giặc lái B52 bị bắt đã  được đưa về Hỏa Lò. Nhân dân Hà Nội biết tin và nhiều người đến chờ sẵn ở cổng trại giam để nhìn rõ mặt quân cướp trời đã   man.

        Hai phi công đầu tiên vào Hỏa Lò thuộc tốp B52 xuất phát chiều ngày 18 tháng 12 trên căn cứ không quân An-đéc-xơn trên đất Mỹ bị quân và dân Hà Nội bắn rơi.


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Hai, 2020, 05:55:38 am

        Chúng đều nói đến nỗi kinh hoàng khi bay vào Việt Nam, khai báo trong nỗi lo sợ:

        - Chúng tôi từ Guam tới, bay qua biển, thực hiện tiếp dầu trên không. Chúng tôi bay vào đất liền, liên lạc với chỉ huy trên không và các đơn vị yểm trợ khác, mọi việc hoàn toàn đúng theo phương án. Bắt đầu đến điểm triển khai đội hình tập kích để thông qua mục tiêu, chuẩn bị cắt bom... Một cảnh tượng thật là khủng khiếp, pháo phòng không, tên lửa của các ông đổ lửa lên trời. Chúng tôi hốt hoảng, máy bay bị trúng đạn. Chúng tôi nhảy dù rồi bị bắt. Tất cả đều rất nhanh. Thật chúng tôi không thể tưởng tượng được về lưới lửa phòng không của các ông ghê gớm không như chỉ huy chúng tôi dự đoán. Chúa cứu chúng tôi. Thoát chết.

        Chúng khai lần đầu tiên bay vào vùng trời Hà Nội, chưa kịp làm nhiệm vụ thì đã  bị bắn rơi. Thực ra thì anh ta đã  là một phi công lão luyện, đã  từng bay một trăm phi vụ ở chiến trường miền Nam gây bao tang tóc cho dân lành. Cũng đã  từng bay 1.200 giờ trên chiếc "siêu pháo đài bay" B52G. Trước mặt Mạc Lâm, anh ta liến thoắng:

        - Thưa các ông, đúng là tôi mới lẻn vào miền Bắc có nửa phi vụ thôi.

        - Sao lại nửa phi vụ?

        - Chả là điều lệ quân đội Mỹ quy định rằng, một phi vụ được coi là một chuyến bay tới đích, nghĩa là có đi và có về. Máy bay của chúng tôi còn cách mục tiêu khoảng 20 dặm thì đã  bị bắn rơi. Đúng là chúng tôi chưa cắt bom thì nói chi đến việc quay đầu về. Vì thế cho nên tôi nói là đúng đấy ạ, chúng tôi mới được nửa phi vụ.

        "Hắn nói có lý" - Mạc Lâm cười thầm.

        Mạc Lâm tập trung khai thác theo yêu cầu của cấp trên từng tù binh một, đối chiếu về từng chi tiết giữa lời khai từng phi công tù binh một để có những tin tức chính xác.

        Đại tá, nhà báo Hà Bình Nhưỡng, nguyên Trưởng phòng Biên tập ký sự lịch sử Phòng không - Không quân ghi lại một trong những cuộc đối thoại giữa phi công tù binh - trung tá Hari Yunin với một số sĩ quan của Quân chủng Phòng không - Không quân, ta hiểu phần nào tâm trạng những tên cướp trời khi vào nơi "lắng hồn núi sông ngàn năm":

        "Tôi với tư cách là một nhà báo, nhà viết sử cùng tham dự cuộc gặp gỡ này. Hôm ấy, Yunin rất xúc động. Ông ta nói với giọng run run:

        - Tôi vô cùng hân hạnh và sung sướng được nhà cầm quyền Việt Nam cho phép gặp các ông - những người chiến thắng đã  bắn rơi được máy bay B52, đánh bại chiến dịch "Lai-nơ-bếch-cơ II" của chúng tôi. Bởi thế cho nên trước hết tôi xin cảm phục và cảm ơn các ông.

        - Không nên câu nệ về chuyện đó Yunin. Hôm nay chúng tôi chỉ muốn anh phát biểu cảm nghĩ chân thật của mình. Vậy anh là lái chính đã  nhiều năm lái B52 và chắc chắn được biết rõ mục đích và quy mô của cuộc tập kích chiến lược, anh đã  nghĩ thế nào trước khi chiến dịch "Lai-nơ-bếch-cơ II" mở màn?

        - Thưa các ông, bởi từ trước đến nay B52 vẫn là thần tượng về sức mạnh quân sự của nước Mỹ. Chiến dịch "Lai-nơ-bếch-cơ II" ném bom rải thảm ồ ạt trực tiếp vào Thủ đô Hà Nội, để đè bẹp các ông, được tổ chức với quy mô và lực lượng lớn chưa từng có. Chưa kể số lượng lớn máy bay chiến thuật, bộ chỉ huy không quân chiến lược huy động gần hết máy bay B52 hiện có và đặc biệt được đảm bảo an toàn cho nó bằng hệ thống gây nhiễu điện tử dày đặc. Vì thế, tôi nghĩ, các ông có giỏi lắm cũng không chịu nổi quá ba ngày. Và khi đó chắc chắn, ở Hội nghị Pari các ông sẽ không còn cách nào khác là phải ký kết Hiệp nghị Pari theo những điều kiện mà ông Kít-xinh-giơ của chúng tôi đã  đưa ra.

        - Thế cảm nghĩ của anh khi bay vào vùng trời Hà Nội khi ấy và bây giờ?

        - Thưa các ông, rất bất ngờ và sợ hãi. Bất ngờ là khi thấy tên lửa của các ông bắn lên. Sợ hãi là khi bị bắn trúng và khi bị bắt sống. Còn bây giờ thì xấu hổ cho nước Mỹ chúng tôi và vẫn còn sợ. Sợ sự thông minh và lòng dũng cảm của các ông, ngẫm nghĩ lại đó chính là nguyên nhân đê các ông chiến thắng.

        Đấy chính là cuộc gặp gỡ đã  diễn ra với không khí thoải mái như thế. Thoải mái và cởi mở đến mức tự bộc lộ cả đời tư và còn "phỏng vấn" cả chúng tôi khi ho hỏi đồng chí phi công về sự so sánh đánh giá hơn kém giữa các loại, máy bay. Sau này, khi được trả về Mỹ, cũng như Đơ-ran-cao-xki và một số phi công khác đã  viết sách, báo phê phán, chỉ ra nguyên nhân thất bại của cuộc tập kích này. Yunin viết sách nhan để: Thảm kịch của cuộc hành quân "Lai-nơ-bếch-cơ II", nhắc lại một cách thích thú câu trả lời của đồng chí phi công chúng tôi:

        "Máy bay loại nào cũng vậy, đều có mặt tốt và mặt chưa hoàn chỉnh. Đó là điều ta phải nghiên cứu khi sử dụng, nhưng cái chính vẫn là con người quyết định".


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Hai, 2020, 05:56:05 am

        Cũng như khi đánh vùng Khu Bốn, chỉ huy không quân Mỹ không dám nói lên sự thật mục tiêu mà họ đánh phá. Không biết lời họ khai có thật không nhưng những phi công tù binh Mỹ trên những chiếc "pháo đài bay" đều nói rằng, họ không được phổ biến đánh mục tiêu gì ở Hà Nội.

        Tốp phi công lái B52 xuất phát đêm 18 tháng 12 từ căn cứ Utapao Thái Lan bị bắn rơi đã  khai trong tâm trạng chưa hết sợ hãi:

        - Chúng tôi bay từ Utapao Thái Lan đến, không tiếp dầu, bay triển khai đội hình hoàn chỉnh, theo đường Thượng Lào vào Việt Nam. Lúc đang bay, có sĩ quan điện tử thông báo: có thể Việt Nam đang theo dõi chúng ta. Mọi người vô cùng lo sợ. Hôm ở căn cứ, 18 tháng 12, có mấy máy bay và người mất tích không ai bảo ai nhưng đều trong một tâm trạng thấp thỏm lo âu. Chúng tôi đã  từng bay vào phía nam Hà Nội, thật là kinh khủng. Lần này thì chúng tôi không sao thoát khỏi lưới lửa phòng không của các ông. Lạy chúa, may mà còn sống. Tên trung tá lái chính, thượng sĩ chuyên ném bom và bắn súng máy có thể bị bắn tan xác vì không kịp nhảy dù. Chúng tôi ngạc nhiên hết sức khi được lệnh chuẩn bị lên đường, được biết thêm là bay vào vùng trời Hà Nội, ôi, thật là kinh khủng!

        Một tên khác kể với tâm trạng bực dọc vì bị đánh lừa:

        - Lực lượng B52 không phải là vô địch, không phải là át chủ bài như các loa tuyên truyền thổi phồng lên. Họ giết chết chúng tôi, may mà được Việt Nam cứu sống, tha tội chết. Lúc còn ở trường họ dạy cho chúng tôi rằng, B52 chỉ thích ứng đánh mục tiêu lớn, khu quân sự lớn có diện tích hàng chục dặm vuông. Ở miền Bắc Việt Nam, ngay Hà Nội, qua bản đồ không có mục tiêu nào như vậy. Chúng tôi hiểu rằng đánh vào Hà Nội là vùng đông dân cư là nhằm mục đích khác. Chúng tôi được hội ý tác chiến kỹ trên bản đồ, không thể nhầm lẫn được. Họ không phổ biến rõ mục tiêu gì. Nếu có hỏi thì họ bảo cứ theo bản đồ tác chiến. Mệnh lệnh mà! Họ bảo đánh đêm sẽ loại trừ, hạn chế tối đa tên lửa SAM và máy bay MiG của các ông, không có gì phải lo. Tất cả băn khoăn của chúng tôi đều được họ lập luận biến báo thuyết phục. Nhưng sự thật thì khác hẳn. Nhiều thiết bị trên máy bay ít tác dụng, đội hình cồng kềnh, thông qua mục tiêu rất khó, rút ra không dễ. Vào ra đều có những nhược điểm, mục tiêu to làm mồi cho pháo lớn, tên lửa và cả MiG của các ông. Thế chủ động thuộc về các ông. Tất cả đã  chuẩn bị sẵn sàng. Lúc chúng tôi vừa đến địa điểm để triển khai đội hình ổn định thông qua mục tiêu thì phòng không các ông đã  bắn rực đỏ cả trời. Thế là các ông đã  thấy chúng tôi từ xa.

        - Từ 18 đến 24 tháng 12 năm 1972, ở căn cứ Utapao Thái Lan của chúng tôi, nhiều máy bay không trở về sau khi xuất kích. Không ai biết những phi công bạn chúng tôi số phận sẽ ra sao? Chúng tôi chán ngán nhiều người thoái thác nhiệm vụ, không muốn đi chiến đấu lấy lý do sức khỏe. Ai cũng hoang mang, đi liệu có về được không, thật khủng khiếp! Chúng tôi công khai bàn tán rằng, nếu B52 còn đánh vào Hà Nội thì còn bị bắn rơi nhiều. Vì cứ tiếp tục thì nhiều người nữa tiếp tục không trở về, phải chết trong tăm tối. Những phi công được may mắn trở về thì trong tâm trạng khủng khiếp trước lưới lửa phòng không dày đặc, đủ các tầng của các ông. Các ông thật là tài tình trong việc chống nhiễu. Các ông rất dũng cảm, thông minh lắm, bây giờ chúng tôi hiểu. Các ông sẽ chiến thắng!

        Một tù binh khác khai:

        - Tại căn cứ An-đéc-sơn, Guam, thiệt hại của không quân chiến lược là rất nặng nề. Đơn vị tôi tham gia đánh phá Hà Nội. Từ ngày đầu có nhiều máy bay B52 bị bắn rơi, những ngày tiếp theo, ngày nào cũng có B52 không trở về... Thật là khủng khiếp!

        Mười hai ngày đêm B52 đánh phá Hà Nội, số phi công tù binh Mỹ ở trại giam Hỏa Lò ngày càng đông thêm. Các phi công tù binh im lặng, trong tâm trạng hồi hộp lẫn lo sợ. Họ nằm nghe B52 rải thảm Hà Nội, miệng lẩm nhẩm cầu Chúa. Họ hiểu, chính quyền Mỹ đã  phạm tội hủy diệt đối với loài người. Nhiều người tỏ ra xấu hổ, ân hận, có người nói lên tiếng nói phản đối "mục đích giết người hàng loạt của chính quyền Mỹ".

        Phi công tù binh Mỹ nói đúng, càng đánh phá Hà Nội, Mỹ càng thiệt hại ngày càng nhiều B52, càng bị nhân loại lên án.


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Hai, 2020, 05:56:34 am

        Trung tướng Nguyễn Văn Tiên, nguyên Tư lệnh Phòng không - Không quân, khi B52 đánh Hà Nội, Hải Phòng, ông là Phó Tư lệnh có mặt tại Phủ Lỗ -  nơi có xác B52 đầu tiên bị quân và dân ta bắn rơi tại chỗ. Ông cũng là người chứng kiến buổi hỏi cung tên phi công tù binh B52 theo yêu cầu của Bộ Tư lệnh Phòng không - Không quân để hiểu về âm mưu gây nhiễu của máy bay địch. Người trực tiếp hỏi cung phi công tù binh Mỹ là Phan Mạc Lâm:

        "Giặc lái B52 đêm đó nhảy dù xuống, bị nhân dân ngoại thành Hà Nội nhanh chóng bắt gọn cả ê kíp đưa về trại giam Hỏa Lò. Ngay hôm sau, ngày 19 tháng 12 năm 1972, Bộ Tư lệnh Phòng không -  Không quân đề nghị Bộ Tổng tham mưu cho khai thác giặc lái B52, quan trọng nhất là vấn đề gây nhiễu. Anh Mạc Lâm giỏi tiếng Anh, được Bộ Tổng tham mưu giao cho khai thác giặc lái theo yêu cầu nội dung của Bộ Tư lệnh Phòng không - Không quân. Tên giặc lái gây nhiễu được đưa đến phòng hỏi cung:

        - Anh làm nhiệm vụ gì trên máy bay B52?

        - Thưa ông, tôi là sĩ quan sử dụng máy gây nhiễu.

        - Trên B52 có những loại gây nhiễu gì và có bao nhiêu máy gây nhiễu?

        - Thưa ông, có máy rải nhiễu tiêu cực bằng những sợi kim loại, B52 phun ra để gây nhiễu làm cho trên màn hiện sóng rađa khó phát hiện mục tiêu. Ngoài ra trên B52 của tôi có chín máy gây nhiễu tích cực tự động - máy dò tần số của rađa và của đài điều khiển tên lửa của đối phương, gây nhiễu để đối phương không phát hiện được B52.

        - Có nhiều máy gây nhiễu, anh là sĩ quan gây nhiễu sao không tạo ra nhiễu lại để máy bay anh bị bắn rơi?

        - Thưa ông, các máy gây nhiễu đều hoạt động. Nhưng, lạy chúa, khi B52 bay vào vùng trời Hà Nội, thì đạn cao xạ, tên lửa của các ông bay đỏ trời xung quanh máy bay tôi. Tôi chẳng hiểu vì sao máy bay chúng tôi gây nhiễu rất nặng mà các ông vẫn bắn trúng.

        - Anh thấy thế nào khi nhảy dù xuống đất?

        - Thưa ông, nhảy dù vừa chấm đất thì tôi bị người dân Việt Nam nơi ấy trang bị súng, gậy gộc, giáo mác, bủa vây bốn phía và bắt gọn hết chúng tôi. Chúng tôi sợ khiếp vía, nhưng tôi vẫn cảm ơn người Việt Nam các ông, bắt chúng tôi nhưng không đánh đập, chỉ trói tay và đưa lên xe chở về đây...".

        7 giờ sáng ngày 30 tháng 12 năm 1972 chính quyền Mỹ buộc phải tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra và đề nghị gặp phái đoàn ta tại bàn đàm phán. Ngày 27 tháng 1 năm 1973 "Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình tại Việt Nam" được ký kết.

        Như vậy là chỉ trong 12 ngày đêm, Mỹ đã  mở một cuộc tập kích chiến lược đường không chưa từng có trong lịch sử chiến tranh thế giới, đánh vào Hà Nội, Hải Phòng. Theo số liệu thống kê của Quân chủng Phòng không - Không quân, Mỹ đã  huy động 193 máy bay chiến lược B52, xuất kích 663 lần/chiếc, tập trung chủ yếu vào khu vực Hà Nội tới 444 lần/chiếc... Đây cũng là lần đầu tiên Mỹ sử dụng cả một biên đội F111 khoảng 50 chiếc xuất kích mỗi đêm từ mười đến hai mươi lăm lần/chiếc xen kẽ các đợt B52 ném bom rải thảm. Đồng thời Mỹ còn huy động một ngàn máy bay chiến thuật của không quân và hải quân ở các căn cứ quân sự ở Thái Lan và sáu tàu sân bay, xuất kích 920 lần/chiếc để bảo vệ B52 đánh sân bay và các trận địa phòng không. Từ ngày 18 đến ngày 29 tháng 12 năm 1972, Mỹ đã  dùng các loại bom đạn rải thảm hòng hủy diệt Hà Nội với mười bảy ngàn tấn làm chết một ngàn ba trăm người dân vô tội. Nhà trắng và Lầu năm góc tin chắc rằng, bằng cuộc tập kích bất ngờ với sức mạnh lớn nhất của máy bay chiến lược B52 sẽ đè bẹp được ý chí của Việt Nam, bắt Việt Nam chấp nhận mọi yêu cầu ngang ngược của Mỹ tại Hội nghị Pari. Nhưng thực tế hoàn toàn không theo ý đồ ngông cuồng của giới quan chức chóp bu của Nhà trắng và Lầu năm góc, sức mạnh Việt Nam đã  một lần nữa làm nên một Điện Biên Phủ mới - "Điện Biên Phủ trên không".

        Chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không" của Việt Nam càng phơi bày bản chất hiếu chiến vô nhân đạo của tổng thông Mỹ Ních-Xơn và chính quyền Mỹ. Chiến công của quân và dân ta mà đỉnh cao là đập tan cuộc tập kích chiến lược B52 vào Hà Nội, Hải Phòng, chôn vùi ý chí xâm lược của lũ cướp nước từ bên kia đại dương.

        Trận "Điện Biên Phủ trên không" là một cuộc đọ sức quyết liệt không chỉ về ý chí tinh thần mà còn là sức mạnh khoa học kỹ thuật quân sự. Điện Biên Phủ trên không thể hiện sức mạnh vượt trội về lực lượng phòng không nhân dân Việt Nam - chúng ta đủ sức đè bẹp những vũ khí tối tân của nền công nghiệp quốc phòng hiện đại nhất thời bấy giờ của Mỹ. Mạnh được yếu thua. Mỹ phải thừa nhận thất bại thảm hại trong cuộc đụng đầu lịch sử này.


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Hai, 2020, 05:57:26 am

        Tại một cuộc hội thảo về "Trận chiến Điện Biên Phủ trên không" chiến tranh Việt Nam do trường Đại học Tếch-dát (Mỹ) tổ chức. Mắc-san Mai-Cơn, một phi công tù binh ở trại giam Hỏa Lò Hà Nội từ năm 1970 đến năm 1973. Người đã  từng lái máy bay F4 được mệnh danh là "con ma" với hơn ba trăm phi vụ đánh phá miền Bắc, sau khi được trao trả về Mỹ tiếp tục phục vụ trong lực lượng không quân với chức vụ: Phụ trách kế hoạch bay trong chiến tranh vùng Vịnh, đã  mở đầu bài tham luận của mình rằng: "Thất bại trong chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ II là do lỗi của bộ chỉ huy không quân chiến lược (SAC)". Ống ta thừa nhận sức mạnh của lưới lửa phòng không Hà Nội:

        "Tôi đã  từng kinh qua nhiều chiến trường nhưng phải công nhận là hệ thống pháo phòng không và tên lửa SAM 3 của Bắc Việt là mạnh nhất, chưa từng có trên thế giới: 34 chiếc B52 của chúng ta bị bắn rơi trong chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ II đã  nói lên sức mạnh của hệ thống phòng không không quân của Bắc Việt. Giờ đây khi chiến tranh đã  lùi về quá khứ, nhìn nhận lại những gì đã  xảy ra, tôi thấy Bắc Việt xứng đáng chiến thắng trong trận "Điện Biên Phủ trên không".

        Trong 12 ngày đêm quân và dân ta đã  bắn rơi 81 máy bay các loại trong đó 34 máy bay B52. Quân chủng phòng không - Không quân đóng vai trò nòng cốt, bắn rơi 53 máy bay các loại trong đó có 32 pháo đài bay B52. Công đầu diệt B52 thuộc về binh chủng tên lửa: bắn rơi 36/81 máy bay các loại, trong đó có 29 máy bay B52, chiếm 85% tổng số B52 bị bắn rơi.

        Sau này, Ních-Xơn đã  phải cay đắng thừa nhận trong hồi ký của mình "No more Vietnams":

        "Thất bại ở Việt Nam buộc chúng tôi phải ký kết Hiệp định Pari, là thảm họa lớn nhất của nước Mỹ. Từ nay không ai còn muốn những Việt Nam nữa".

        Hơn một trăm ngàn tấn bom Mỹ ném xuống Hà Nội, Hải Phòng và một số nơi khác trên miền Bắc, hủy diệt hàng trăm ngàn làng mạc, phố phường. Riêng Hà Nội phải hứng chịu mười ngàn tấn bom, bằng sức công phá của bom nguyên tử Mỹ ném xuống thành phố Hi-rô-si-ma Nhật Bản ngày 6 tháng 8 năm 1945!

        Cả thế giới hướng về Việt Nam, lên tiếng tố cáo tội ác diệt chủng của Mỹ. Nữ nghệ sĩ nổi tiếng người Mỹ Giêm Phôn-đa, thốt lên trong nước mắt:

        "Tôi đau nỗi đau mất mát của nhân dân Việt Nam, cho nỗi đau mất mát của chính đất nước tôi, một nước tự cho mình là văn minh, giờ đây đang có nguy cơ trở lại thời kỳ hoang dã ".

        Chính Kít-xinh-giơ, cố vấn an ninh số một của Nhà trắng, đồng lõa với tổng thống Ních-Xơn trong âm mưu tiến hành bí mật cuộc tập kích chiến lược bằng B52 vào Hà Nội, Hải Phòng sau này trong hồi ký của mình cũng phải thừa nhận: "Đối với thế giới, sự phản đối của nhiều nước lại càng quyết liệt hơn. Các chính phủ Pháp, Phần Lan, Đan Mạch, Bỉ... đều phê phán hành động của chúng tôi là thất nhân tâm, là không thể bào chữa được. Quyết liệt nhất là Thụy Điển. Họ đã  so sánh chúng tôi với những tên tội phạm Hítle. Báo Pháp gọi các cuộc tàn sát vào Hà Nội là kinh tởm, giống như hành động của bọn Đức quốc xã trong thế chiến thứ 2".

        Một tờ báo Nhật Bản nhận xét: "Mỹ là tên khổng lồ mù quáng". Một bản tin ở Ac-hen-ti-na đã  gọi "cuộc không tập của Mỹ là hành động diệt chủng".

        Theo Oet-đơn Ây-brao, giáo sư lịch sử Viện Bách khoa Viếc-gi-ni-a thì nói:

        "Trước mắt toàn nhân loại, hình ảnh nước Mỹ thật đen tối. Bạn bè trong Hạ nghị viện Ca-na-đa đã  coi hành động này là rất xấu xa và họ đã  đồng loạt bỏ phiếu phản đối Mỹ".

        Năm tháng sẽ qua đi nhưng dấu tích trận "Điện Biên Phủ trên không" thì mãi mãi còn đó, được xếp hạng Di tích lịch sử góp phần giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ:

        Tội ác hủy diệt của máy bay B52 với khu phố Khâm Thiên ngày 26 tháng 12 thuộc quận Đống Đa.

        Hồ Hữu Tiệp còn đó xác máy bay B52 bị bắn rơi ngày 27 tháng 12 thuộc quận Ba Đình.

        Dấu tích chiếc B52 đầu tiên bị quân và dân ta bắn rơi ngày 18 tháng 2 tại Phủ Lỗ huyện Sóc Sơn.

        Nơi đặt Sở chỉ huy Phòng không nhân dân của thành phố để chỉ huy công tác phòng không nhân dân và lưới lửa tầm thấp trong hai cuộc chiến tranh phá hoại tại số 4 phố YecSanh thuộc quận Hai Bà Trưng.

        Sở chỉ huy của Quân chủng Phòng không -  Không quân, trực tiếp chỉ huy lực lượng phòng không - không quân quốc gia tại chùa Trầm huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây (cũ)...

        Đặc biệt, Hà Nội có Bảo tàng "Chiến thắng B52" trên phố Đội Cấn bưu tầm, lưu giữ nhiều hiện vật để giới thiệu với nhân dân Việt Nam và thế giới về Hà Nội, về Việt Nam chiến đấu và chiến thắng những kẻ thù xâm lược để bảo vệ nền tự do độc lập thiêng liêng của mình trong đó chủ yếu giới thiệu về chiến thắng B52 trong 12 ngày đêm cuối năm 1972. Bảo tàng được khai trương nhân dịp kỷ niệm 25 năm chiến thắng Điện Biên Phủ trên không và đã  trở thành một điểm văn hóa du lịch lịch sử hấp dẫn không chỉ đối với người Việt Nam và cả đối với bè bạn thế giới đến Việt Nam. Ấn tượng mạnh đối với người xem là chiếc máy bay B52 được ghép bằng nhiều mảnh của xác 23 chiếc máy bay B52 bị bắn rơi trên bầu trời thủ đô ngày ấy, có sải cánh 56m và chiều dài thân 43m. Có lẽ đó là Bảo tàng duy nhất trên thế giới!


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Hai, 2020, 06:01:27 am

        Đến xem Bảo tàng "Chiến thắng B52" xin lưu ý "Nhật ký chiến thắng B52".

        Ngày 18 tháng 12:

        Chín mươi lần chiếc B52 và 163 lần chiếc máy bay chiến thuật các loại của Mỹ tập kích ba đợt vào Hà Nội. Quân và dân Hà Nội bắn rơi bảy máy bay trong đó có ba B52 - một chiếc rơi tại chỗ. 19 giờ 44 phút, Tiểu đoàn 78 thuộc Trung đoàn tên lửa 257 phóng những quả đạn đầu tiên. 20 giờ 13 phút Tiểu đoàn 59 Trung đoán 261 phóng hai quả đạn tiêu diệt một B52 - rơi xuống cánh đồng làng Chuôm, Phủ Lỗ.

        Ngày 19 tháng 12:

        Chín mươi tám lần chiếc máy bay Mỹ đánh phá các khu dân cư Gia Lâm, Bạch Mai, Mễ Trì... vào ban ngày.

        Tám mươi bảy lần chiếc B52 và 172 lần chiếc máy bay chiến thuật đánh phá Đông Anh, Yên Viên, Mễ Trì, Gia Lâm...

        Quân và dân ta bắn rơi bảy máy bay các loại: hai B52, ba chiếc F4 và một chiếc A6.

        Ngày 20 tháng 12:

        Ban ngày, 66 lần chiếc máy bay chiến thuật Mỹ đánh phá Đông Anh, Yên Viên và các sân bay Yên Bái, Hòa Lạc.

        Ban đêm 93 lần chiếc B52, 164 lần chiếc máy bay chiến thuật Mỹ đánh phá Gia Lâm, Yên Viên và nhiều địa phương khác trên miền Bắc: Bắc Giang, Thái Nguyên, Thanh Hóa...

        Quân và dân ta bắn rơi 13 máy bay các loại trong đó có bốn máy bay B52 (hai chiếc rơi tại chỗ), hai chiếc F4, ba chiếc A7 và hai chiếc F111.

        20 giờ 10 phút Tiểu đoàn 93 mở màn trận đánh, bắn rơi một B52 rơi xuống xã Yên Thường.

        20 giờ 34 phút, Tiểu đoàn 77 bắn rơi chiếc B52 thứ hai, rơi xuống Vạn Thắng - Ba Vì.

        Ngày 21 tháng 12:

        Ban ngày, 180 lần chiếc máy bay chiến thuật Mỹ đánh phá ga Hàng cỏ, sở Công an Hà Nội và cầu Phủ Lý (Hà Nam), thị xã Thanh Hóa.

        Ban đêm, 24 lần chiếc B52 đánh bệnh viện Bạch Mai, khu An Dương, các ga Giáp Bát, Kép, sân bay Yên Bái, cảng Hải Phòng, Cát Bi, An Lão.

        Ta bắn rơi 12 máy bay trong đó có bôn chiếc B52 (ba chiếc rơi tại chỗ), hai chiếc F4, hai chiếc A7, một chiếc A6, một chiếc F105...

        Ngày 22 tháng 12:

        Ban ngày, 56 lần chiếc máy bay chiến thuật các loại của Mỹ đánh phá Hà Nội, Hà Tây (cũ).

        Ban đêm, 33 lần chiếc B52, 30 máy bay F4 và F105, 11 máy bay F111 đánh phá Yên Viên, Giáp Bát, các sân bay Nội Bài, Yên Bái...

        Ta bắn rơi bốn máy bay trong đó có hai máy bay B52...

        Ngày 24 tháng 12:

        Ban ngày, 44 lần chiếc máy bay chiến thuật không quân Mỹ đánh phá Thái Nguyên, Hà Bắc...

        Ban đêm 33 lần chiếc B52 đánh phá Hà Nội, ga Kép, Bắc Giang và khu gang thép Thái Nguyên.

        Ta bắn rơi năm máy bay trong đó có một B52, hai chiếc F4 và hai chiếc A7.

        Ngày 26 tháng 12:

        Ban ngày, 52 lần chiếc máy bay chiến thuật Mỹ đánh phá Đông Anh, các trận địa tên lửa.

        Ban đêm, 150 lần chiếc B52, 120 lần chiếc máy bay chiến thuật đánh phá Hà Nội, Hải Phòng và Thái Nguyên, trong đó 66 lần chiếc đánh phá Hà Nội.

        Chúng tập trung hủy diệt quy mô lớn: rải thảm bom xuống một trăm điểm ở Hà Nội, riêng Yên Viên năm ngàn quả bom.

        Ta bắn rơi mười máy bay trong đó có tám máy bay B52 - có bốn chiếc rơi tại chỗ.

        22 giờ 29 phút Tiểu đoàn 78 bắn hạ B52 rơi xuống xã Định Công, phía nam Hà Nội. Trong vòng 17 phút từ 22 giờ 30 đến 22 giờ 47 phút bộ đội tên lửa bắn rơi thêm bốn máy bay B52.

        Ngày 27 tháng 12:

        Ban ngày, 140 lần chiếc máy bay không quân và hải quân Mỹ đánh phá Mễ Trì, Văn Điển, Đông Anh và nhiều địa điểm ở Hà Tây (cũ), Hải Phòng.

        Ban đêm, 54 lần chiếc B52 đánh phá Đông Anh, Yên Viên, Gia Lâm, 72 lần chiếc máy bay các loại đánh phá Hà Nội, Vĩnh Phú, Yên Bái, Hà Bắc, Hải Phòng.

        Ta bắn rơi 14 máy bay trong đó có năm máy bay B52 - hai chiếc rơi tại chỗ, năm chiếc F4, hai chiếc A7, một chiếc A6 và một máy bay lên thẳng H52.

        23 giờ, Tiểu đoàn 72 bắn rơi chiếc B52D chưa kịp cắt bom rơi xuống đường Hoàng Hoa Thám Hà Nội.

        Phi công Phạm Tuân dùng MiG-21 bắn rơi một B52 trên bầu trời Sơn La1.

        Ngày 28 tháng 12:

        Ban ngày, 139 lần chiếc máy bay không quân và hải quân Mỹ đánh phá ngoại vi Hà Nội, các tỉnh Hưng Yên, Hòa Bình, Ninh Bình, Nam Hà... 12 lần chiếc B52 đánh phá Quảng Bình...

        Ban đêm, 110 lần chiếc B52 và máy bay chiến thuật đánh Gia Lâm, Đông Anh và nhiều tỉnh lân cận.

        Ta bắn rơi ba máy bay, trong đó có hai B52 và một F4.

        Phi công Vũ Xuân Thiều lái máy bay MiG-21 lao vào tiêu diệt một B52, Vũ Xuân Thiều anh dũng hy sinh.

        Ngày 29 tháng 12:

        Ban ngày, 36 lần chiếc máy bay chiến thuật Mỹ đánh phá Nhà máy điện Nam Ngạn, Đồng Hỷ và cây số 4 Thái Nguyên.

        Ban đêm, 60 lần chiếc đánh phá ba khu vực: Thái Nguyên, Lạng Sơn, Vĩnh Phú...

        Ta bắn rơi hai máy bay: một B52 và một F4.

        23 giờ 16 phút, Tiểu đoàn 79 bắn rơi một B52 bằng một viên đạn tên lửa.

---------------------------
        1. Nhiều thông tin của tác giả đưa ra rất khác so với đại đa số các sách báo khác (Giangtvx)


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Ba, 2020, 06:09:16 am

        Ngày 30 tháng 12:

        7 giờ, tổng thống Mỹ Ních-Xơn tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra, đề nghị gặp Chính phủ ta tại Pari bàn về ký kết Hiệp định Pari.

        Trong làng hoa Ngọc Hà xưa, tại hồ Hữu Tiệp, gần đình Ngọc Hà quận Ba Đình còn một phần xác chiếc B52D bị quân và dân ta bắn vào đêm 27 tháng 12 năm 1972. Vào đêm thứ chín của chiến dịch tập kích đường không chiến lược bằng B52 của Mỹ vào Hà Nội, chúng huy động 36 máy bay B52 từ các căn cứ quân sự tại Guam và Utapao và 48 máy bay hộ tống, chia làm ba hướng: đông nam, tây bắc và tây đánh phá Hà Nội. Nhiều khu dân cư đông đúc trở thành mục tiêu đánh phá của chúng như Ngọc Hồi, Yên Sở, Văn Điển, Đông Anh. Tội ác chồng lên tội ác, những người dân thường bị chúng giết hại ngày càng nhiều. Riêng xã Văn Đức Gia Lâm đã  có 52 người bị chết, 17 người bị thương. Đêm đó nhiều B52 phải đền tội. Góp vào chiến công của Hà Nội hôm đó có Tiểu đoàn 72 tên lửa của Trung đoàn 285. Trận địa giữa cánh đồng huyện Yên Phong Bắc Ninh, dưới sự chỉ huy của Tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Chất, đơn vị đã  phóng hai quả tên lửa nổ ở cự ly 34, 32, chụp lấy chiếc B52 đang lồng lộn trên không. Chiếc máy bay cháy như một quả cầu lửa rơi xuống quận Ba Đình như là để đền tội. Một phần chiếc máy bay rơi trên đường Hoàng Hoa Thám còn một phần rơi xuống hồ Hữu Tiệp. Hai động cơ rơi nằm chình ình trong nhà bà Nguyễn Thị Nề tổ 51 Ngọc Hà.

        Có điều lý thú là, Tiểu đoàn tên lửa 72 - đơn vị bắn rơi B52D ở làng hoa Ngọc Hà thành lập ở núi rừng Yên Thế - chiến khu xưa của cụ Hoàng Hoa Thám và xác chiếc B52D tội lỗi lại rơi trên đường mang tên Hoàng Hoa Thám ở thủ đô.

        Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam đã  dành nhiều công sức chuyển hai động cơ chiếc B52D về trưng bày ở Bảo tàng nhân dịp kỷ niệm 32 năm ngày chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không".

        Nhà văn Nguyễn Tuân có mặt ở Ngọc Hà trong những ngày ác liệt ấy và đã  có bài ký hay "Cánh B52 rụng xuống một thôn hoa Hà Nội" rất sinh động, có đoạn:

        "Đình Hữu Tiệp, trước đây là nơi tuyển lựa chim họa mi giỏi hay, thì nay là nơi triển lãm xác đại bàng Mỹ gãy cánh. Lòng hồ con trước đình, ngoi lên một cái đầu lâu đuya-ra khổng lồ, với ký hiệu B52. Trên cái cục Mỹ to tướng chềnh ềnh trên mặt hồ đó, vươn lên một tấm biến còn ướt nước sơn viết bằng chữ ta.

        Dọc ngang cái làng hiền xưa nay chỉ chuyên một nghề lành là giồng hoa, ầm ầm tung tóe lên vô khối là những cục Mỹ giết người ấy. Đúng là thằng siêu đế quốc Mỹ đêm trước vừa bĩnh vào thôn hoa. Bà Huấn tổ hợp tác hoa Bờ Hồ nói như gỡ tay ai chịt cổ mình: "Đấy, ông xem, B52 có mảnh nào rơi đúng vào luống hoa cả làng chúng tôi đâu. Ở khôi 63, nó lại còn rơi đúng vào trước dãy cửa hố xí công cộng. Các ông ấy ở Thông tấn xã có chụp ảnh cả đấy...".

        Trước sân Trường phổ thông cấp I Ngọc Hà, trong lòng hồ xinh, nhú lên một cái đầu B52 cháy đen, trên sọ dừa vĩ đại Mỹ ấy, tiêu lên một tấm biển chưa khô nét sơn: "Bảo tồn tại chỗ". Trông cũng khá buồn cười, cái hòn non bộ Hoa Kỳ đuya-ra!".

        Chiến công của quân và dân ta trong trận "Điện Biên Phủ trên không" làm nức lòng nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Thất bại nhục nhã của không quân chiến lược Mỹ làm cho Nhà trắng và Lầu năm góc điên đầu. Thần tượng máy bay chiến lược của quân đội Mỹ đã  tan tành mây khói trước thiên la địa võng lưới lửa phòng không nhân dân Việt Nam. Nhà thơ Thanh Tịnh, có ngay một bài thơ trào phúng sau chiến thắng, đăng báo Quân đội nhân dân ngày 7 tháng 1 năm 1973:

        Đầu sỏ "năm hai" (52) nát mặt dầy
        Đây đất Thăng Long, thăng hỏa long
        Bốn bề giăng lửa vút lên không
        Rồng xưa bay lượn ra sao nhỉ?
        Rồng mới tung trời, ó Mỹ tong!
        Băm bốn "năm hai" (52) cuối bảy hai (72)
        Xác văng tung tóe với "đầu thui"
        Siêu âm liền biến siêu... đun nước
        Cánh "pháo đài bay" hóa mảng dài
        Xác "bê" chưa thấy chiếc nào nguyên
        Chỉ thấy "phi hành" mấy chục tên
        Mặt mũi râu ria còn đủ cả
        Mặc quần áo ngủ nói như rên
        Đất đây Hà Nội lắm "Hin-tơn"
        Đại diện một bầy quỷ Ních-Xơn
        Đến lễ Nô-en không nguyện chúa
        Cứ tên tổng Ních réo luôn mồm
        Cứ đêm ta đánh sáng ngày mai
        Lại thấy mấy xâu giặc "chủ bài"
        Nào có ai ngờ xe cứu hỏa
        Bận hoài chữa cháy lũ "năm hai"
        Thằng móc trên cây, thằng dưới ao
        Đứa lê xuống rãnh, đứa chui rào,
        Tên đầy đỉa bám, tên ruồi bám
        Còn "xiếc" "năm hai" đủ kiểu nhào!
        Triển lãm nào hơn triển lãm này
        Đầu đường, cuối phố, giữa hàng cây
        Đây đuôi, đây cánh, đây buồng lái
        Đây sỏ "năm hai" nát mặt dày.


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Ba, 2020, 06:10:11 am

NHỮNG TÙ BINH MỸ MẶC THƯỜNG PHỤC

        Những đợt trao trả phi công tù binh Mỹ theo thỏa thuận giữa ta và Mỹ được tiến hành, phi công tù binh Mỹ ở trại giam Hỏa Lò trở về Mỹ.

        Năm 1973 theo chỉ thị của Phó Tổng tham mưu trưởng Vương Thừa Vũ, Mạc Lâm trong đoàn công tác đột xuất của Cục Tình báo quân sự vào Bộ chỉ huy Miền. Đoàn phối hợp với Phòng 2 của Bộ tư lệnh Miền, tổ chức khai thác tù binh Mỹ phục vụ cho nhiệm vụ chiến đấu. Lại ba lô lên vai, vào đến đất Lộc Ninh. Phòng 2 của Bộ tư lệnh Miền đóng trong một khu rừng thưa, cây cối không rậm rạp lắm. Để giữ bí mật, từ Lộc Ninh vào phải đi bộ. Lán làm việc vẫn còn là những cái lều nhỏ nửa âm nửa dương nghĩa là kiểu nhà vừa nổi vừa chìm dưới đất, được làm rải ra để tránh bom. Không khí chiến trường làm cho ông nhớ lại những năm kháng chiến chống Pháp - một mình leo đèo lội suối, ngủ hầm cơm vắt.

        Sau vài tháng công việc trên giao đã  hoàn thành, đoàn lên đường ra Hà Nội, thì Mạc Lâm được Trưởng Phòng 2 thông báo ở lại tiếp tục công tác.

        Đầu tháng 3 năm 1975, Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng đang ở Tây Nguyên gọi Mạc Lâm ra gấp, tham gia chiến dịch.

        Nhận lệnh là đi ngay, Mạc Lâm đi xe quân bưu rồi theo đường Hồ Chí Minh lên Tây Nguyên.

        Đến Sở chỉ huy chiến dịch, Mạc Lâm đã  thấy có một đại đội thuộc Tiểu đoàn 74 trinh sát của Bộ đã có mặt hoạt động ở vùng này. Buổi chiều hôm ấy Mạc Lâm theo Hoàng Dũng - thư ký riêng của Tổng Tham mưu trưởng đến gặp Tổng Tham mưu trưởng nhận nhiệm vụ.

        Ngày 10 tháng 3 năm 1975 chiến dịch Buôn Ma Thuật bắt đầu. Ta thắng lớn bắt được rất nhiều tù, hàng binh. Mạc Lâm được lệnh phải khai thác gấp những tù, hàng binh này.

        Phó Tổng Tham mưu trưởng Thiếu tướng Lê Ngọc Hiền và Thiếu tướng Vũ Lăng, gặp riêng và nhắc Mạc Lâm khai thác nhanh để báo cáo phục vụ cho chiến dịch. Những vấn đề chính cần tập trung khai thác lúc này là: Người Mỹ đang ở miền Nam làm gì? Dự kiến về khả năng can thiệp của Mỹ? Tình hình ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu về các mặt?...

        Tù binh đông lắm, tản mát khắp nơi rất khó khăn trong việc đăng ký. Những người Mỹ mặc thường phục được tách riêng trong một khu rừng rậm, cạnh một dòng suối nhỏ. Khu vực Bộ chỉ huy chiến dịch công việc bận rộn phải hỏi cung suốt ngày đêm. Vào ban đêm, dưới ánh đèn bão cũng chỉ đủ trông rõ mặt người. Mạc Lâm mải mê với công việc, thỉnh thoảng nhờ người lính gác đứng bên cạnh châm cho điếu thuốc lá.

        Những người Mỹ mặc thường phục là nhân viên lãnh sự quán Mỹ, có người vừa lột quân phục khoác áo dân sự tiếp tục công việc giúp chính quyền Thiệu kéo dài chiến tranh Việt Nam. Những tin tức quan trọng ông nắm được sẽ báo cáo lên sỏ chỉ huy tiền phương của Bộ Quốc phòng: Quân lực Việt Nam cộng hòa của Nguyễn Văn Thiệu được Mỹ trang bị nhiều vũ khí đạn được để tiếp tục chống lại nhân dân ta. Nhưng vì là một đội quân đánh thuê chuyên dựa vào sức mạnh vũ khí Mỹ nên từ khi Mỹ rút khỏi miền Nam thì tinh thần rệu rã. Người Mỹ đã   buộc phải ra đi chắc chắn sẽ không dám trở lại trong hoàn cảnh khó khăn của quân đội ngụy hiện nay. Họ khẳng định: "Người Mỹ đã  quyết tâm ra đi bằng mọi giá, chắc chắn sẽ không quay trở lại trong giờ phút tối tăm này. Xin cam đoan với các ông như vậy! Tình huống các ông đánh vào Sài Gòn cũng thế! "Phi Mỹ hóa chiến tranh" là phải thế.

        Cùng với mấy người Mỹ mặc thường phục có một người Việt Nam. Mạc Lâm giao cho người Việt Nam này giúp việc lấy cơm mang nước phục vụ mấy người Mỹ. Ông bảo người giúp việc:

        - Anh chỉ được mang cơm nước cho họ sau khi tôi hỏi cung xong.

        - Thưa ngài, vâng ạ. - Nói rồi anh ta cùng ngồi nghe Mạc Lâm hỏi cung.

        Giờ nghỉ, anh ta đến chắp tay cung kính nói giọng năn nỉ với Mạc Lâm:

        - Ngửi mùi thuốc lá, con thèm quá. Con xin ngài một điếu thuốc có được không ạ?

        Mạc Lâm cười độ lượng, đẩy bao thuốc về phía anh ta:

        - Anh cầm cả đi.

        Nghe anh ta nói giọng Sơn Tây, Mạc Lâm hỏi:

        - Anh có phải người gốc Sơn Tây không?

        Anh ta hoạt bát hẳn lên:

        - Thưa, sao ngài biết? Đúng con gốc ngoài Bắc - ở Sơn Tây, theo gia đình vào Nam từ năm 1954.

        Mạc Lâm cười vui, rít một hơi thuốc, sảng khoái, giọng chân tình:

        - Biết chứ. Tôi người Nghệ An nhưng lấy vợ cũng là người Sơn Tây quê gốc nhà cậu đấy.

        Thấy Mạc Lâm cỏi mở dễ gần, anh ta nói nhanh:

        - Thưa ngài, con thực sự cảm phục ngài. Mấy hôm nay ngồi nghe, ngài hỏi những chuyện lớn cả. Chắc là ngài ở nơi Bộ chỉ huy?

        Mạc Lâm nghĩ nhanh, thằng này không chỉ biết đưa cơm nước cho bọn Mỹ! Ông nghe anh ta nói tiếp:

        - Thưa ngài, những điều ngài hỏi con biết.

        Thì ra, anh ta cũng là tình báo Mỹ. Anh ta vừa từ Sài Gòn lên Tây Nguyên, đến Buôn Ma Thuật kiểm tra tình hình. Theo ý kiến của quân đội Sài Gòn thì trong năm 1975, Việt cộng chỉ có thể đánh một vài điểm nhỏ chưa có khả năng đánh lớn như năm 1972. Cho nên khi ta đánh chiếm Buôn Ma Thuột anh ta bị bắt cùng với mấy nhân viên lãnh sự quán Mỹ. Nhiệm vụ chính của anh ta là theo dõi về mạng lưới tình báo. Qua anh ta, Mạc Lâm biết được mạng lưới tình báo địch cài cắm trong vùng ta mới giải phóng để có kế hoạch bóc dỡ.


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Ba, 2020, 06:10:54 am

        Mạc Lâm cùng với người bảo vệ trở lại Sở chỉ huy chiến dịch Tây Nguyên vào khoảng hai, ba giờ sáng. Ông được báo cáo trong cuộc hội ý tác chiến, xong lại đi ngay khai thác tù, hàng binh ngụy. Mùa khô Tây Nguyên không mưa. Những chiếc lán được dựng vội che sương gió, tù, hàng binh ngụy thì đông. Những người lính thất trận được bộ đội ta đối xử tử tế, tự nguyện khai báo. Nhiều sĩ quan cấp tá trong đó có đại tá sư trưởng ngụy được tập trung gấp. Qua những tù, hàng binh cấp tá ta biết thêm tình hình quân đội ngụy. Những câu hỏi luôn đặt ra trong đầu cần được đối chiếu để làm rõ:

        - Khả năng đối phó của chính quyền Thiệu khi Kon Turn, Plây cu bị ta đánh mạnh? Nếu mất Tây Nguyên thì quân ngụy sẽ phản ứng như thế nào? Khả năng quân ngụy đối phó như thế nào nếu ta tiếp tục tiến công nhiều nơi khác? Cách sử dụng lực lượng dù, thủy quân lục chiến, lính biệt động đang tập trung ở Sài Gòn? Khả năng ngụy phản kích lên Tây Nguyên?...

        Những tin tức mà Mạc Lâm khai thác được qua các chiến dịch có giá trị giúp cho các nhà hoạch định chiến lược suy nghĩ đề ra quyết sách đúng đắn. Trong trận Buôn Ma Thuật, những tin tức Mạc Lâm khai thác từ đại tá Vũ Thế Quang giúp Tổng Tham mưu trưởng rất nhiều. Sau này, trong tập hồi ký "Đại thắng mùa xuân" Đại tướng Văn Tiến Dũng ghi lại kết quả khai thác tin tức của sư đoàn phó sư đoàn 23 ngụy:

        "Chúng tôi chỉ thị phải hỏi cung ngay hai tên đại tá ngụy để nắm thêm tình hình kịp cho bước phát triển tới. Đồng chí thiếu tá Mạc Lâm, người có nhiều kinh nghiệm hỏi cung của Cục Quân báo được cử đi trực tiếp khai thác tên đại tá sư đoàn phó Vũ Thế Quang.

        Quang khai:

        - Việc các ông đánh Buôn Ma Thuột nằm ngoài dự kiến của Bộ Tổng tham mưu chúng tôi và cả của Mỹ nữa. Sau trận Phước Long, chúng tôi nhận định: trong thời gian tới các ông có thể đánh một số thị xã nhỏ như An Lộc, Gia Nghĩa còn thị xã lớn như Buôn Ma Thuột, Plây cu, Tây Ninh chưa đánh được. Khi Buôn Ma Thuật bị tiến công, chúng tôi cho rằng đây chỉ là nghi binh để đánh Gia Nghĩa.

        Muốn phòng thủ quân khu 2 hiện nay, Sài Gòn phải giữ Nha Trang, ở đó có cơ sở thứ hai của quân đoàn 2, ban chỉ huy tiếp vận 5, sân bay, hải cảng. Phải có một trung đoàn giữ đèo Ma Đrắc, một trung đoàn giũ Đèo Cả trở vào, một trung đoàn phòng thủ Nha Trang. Nha Trang, Phan Thiết quan trọng hơn Quy Nhơn. Quy Nhơn chỉ quan trọng khi còn Plây cu và Kon Turn. Sư đoàn 23 có thể thành lập lại được nhưng sau ba tháng mới được 50% số quân.

        Nếu các ông đánh Nha Trang bây giờ thì thuận lợi vì đây đang hoang mang. Chỉ cần chú ý hải pháo (chủ yếu pháo 75mm còn pháo 122mm thì rất ít). Không quân ở đây hoạt động dễ dàng hơn. Nhưng số lượng hoạt động không nhiều, mỗi ngày chỉ có 30 lần chiếc máy bay F5 cho toàn miền, còn là máy bay A37. Tiếp tế đường biển dễ hơn, song tinh thần binh sĩ suy sụp và thế phòng thủ chưa hình thành. Bây giờ Sài Gòn chỉ dựa vào quân dù và thủy quân lục chiến. Mà lính dù thì thiếu tin tưởng. Lúc này đánh thiệt hại quân dù hoặc thủy quân lục chiến là đánh sụp tinh thần quân lực Sài Gòn.

        Biết Quang từng làm thị trưởng Cam Ranh, ta hỏi tình hình phòng thủ địch ở cảng này. Quang khai:

        - Cam Ranh chẳng có phòng thủ gì cả. Chỉ có vẻ mạnh bề ngoài thôi. Quân đoàn làm nhà toàn hướng ra biển để hóng mát. Với cách đánh của các ông đánh là được ngay. Cam Ranh muốn tổ chức phòng thủ ít nhất cũng mất ba tháng. Mà chưa chắc đã  tổ chức được vì thiếu nhiều thứ. Từ khi Mỹ rút, túi đựng cát, dây kẽm gai, xi măng, xe cộ đều thiếu. Tình hình này thì dễ vỡ lắm!

        Qua khai thác tù, hàng binh, ta nắm được tình hình và hiểu rõ địch hơn để kịp thời chỉ đạo mặt trận.

        Sáng 11 tháng 3 tôi gửi bức thư cho đồng chí Võ Nguyên Giáp:

        "Gửi đồng chí Chiến,

        1. Ta đã  hoàn toàn làm chủ thị xã Buôn Ma Thuật. Ta đã  chiếm giữ các mục tiêu lớn như sư đoàn bộ 23, tiểu khu Đắc Lắc, khu thiết giáp và khu sân bay thị xã . Đang truy lùng tàn quân lẩn trốn trong thị xã . Sơ bộ mới biết: bắt một ngàn tù binh. Thu một số lượng lớn chiến lợi phẩm.

        Ta đã  làm chủ từ Đức Lập đến Đắc Soong thu mười hai pháo và gần một trăm tấn đạn pháo.

        2. Đang tiếp tục phát triển để tiêu diệt các mục tiêu xung quanh thị xã : căn cứ trung đoàn 45, hậu cứ trung đoàn 53, Buôn Hồ, Bản Đôn và tăng thêm lực lượng để chiếm giữ vững chắc sân bay Hòa Bình.

        3. Ngày 11 tháng 3, ủy ban quân quản Đắc Lắc sẽ triển khai công tác. Đề nghị đề bạt quân hàm đại tá cho đồng chí Y Blốc và cử làm Chủ tịch quân quản.

        4. Căn cứ vào tình hình: địch ở Tây Nguyên tinh thần sa sút, khả năng yếu, cô lập, xét đến lực lượng ta còn sung sức và phấn khởi, hậu cần có khả năng đảm bảo và thời tiết còn thuận lợi, chúng tôi có ý định sơ bộ...".

        Nhiệm vụ hỏi cung tù hàng binh ngụy vẫn được tiếp tục. Mạc Lâm đang hỏi cung thì được tin địch tháo chạy khỏi Plây cu, Kon Turn, Mạc Lâm đặt nhiều câu hỏi đối với tù hàng binh là sĩ quan ngụy: Từ Kon Turn, Plây cu địch rút theo đường nào? Trường hợp Huế, Đà Nẵng, Nha Trang bị tấn công thì quân ngụy sẽ đối phó như thế nào? Khả năng Mỹ có thể can thiệp bằng không quân và lực lượng đặc nhiệm cứu Thiệu?

        Tất cả bọn sĩ quan ngụy đều cùng có chung một câu trả lời:

        "Lúc này người cầm quân không ai dám đưa tổng dự bị bao gồm quân dù, biệt động quân, thủy quân lục chiến ra khỏi Sài Gòn. Quân ngụy sẽ phải rút một số căn cứ tập trung cho một số trọng điểm như Đà Nẵng, Nha Trang. Khả năng Mỹ can thiệp trở lại là không có. Chắc chắn như vậy!".

        Mạc Lâm còn trở lại với đám tù binh này nhiều lần nữa để tiếp tục khai thác tin tức cần thiết phục vụ chiến dịch ngày càng mở rộng. Xong chiến dịch Tây Nguyên, Mạc Lâm cùng sở chỉ huy tiền phương của Bộ Quốc phòng tiến về Sài Gòn!


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Ba, 2020, 06:12:09 am

CHẠM TRÁN PHẠM XUÂN ẨN

        Ngày 30 tháng 4 Bộ chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh đóng cách Sài Gòn 10km, đến ngày 2 tháng 5 chuyển hẳn vào Tân Sơn Nhất. Thượng tướng Văn Tiến Dũng, Tổng Tham mưu trưởng, Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh trực tiếp giao nhiệm vụ cho Phòng 2 Quân báo Miền cùng với Mạc Lâm hỏi cung các tướng tá ngụy chuẩn bị tư liệu cho Bộ Quốc phòng tổng kết cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 và Chiến dịch Hồ Chí Minh. Có một công việc mà Mạc Lâm cùng với Ngọc Lân - quân báo Miền phải làm gấp là tìm cho được những tình báo Mỹ - ngụy còn lại ở miền Nam, sưu tầm tài liệu về việc thăm dò khai thác dầu khí vùng thềm lục địa phía Nam. Riêng Mạc Lâm - Tổng Tham mưu trưởng giao nhiệm vụ đặc biệt: đi ngay lên Đà Lạt đến Trung tâm Nghiên cứu hạt nhân nguyên tử tìm hiểu về tám thanh Uranium!

        Đã  nhiều lần do yêu cầu nghề nghiệp, Mạc Lâm trực tiếp báo cáo công tác với Tổng Tham mưu trưởng trong các chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Tây Nguyên... Với Thượng tướng Văn Tiến Dũng vừa là thủ trưởng cũng là chỗ thân tình. Có lần Tổng Tham mưu trưởng bận còn yêu cầu Mạc Lâm đến nhà riêng để báo cáo tin tức khai thác từ phi công tù binh Mỹ. Có khi bận quá, Mạc Lâm không kịp cắt tóc, nhìn đầu Mạc Lâm rối bù, Văn Tiên Dũng gọi đồng chí Sáng - bảo vệ cắt tóc ngay cho Mạc Lâm. Từ chiến dịch Tây Nguyên đến nay Mạc Lâm thường xuyên công tác tại Bộ chỉ huy chiến dịch. Gần Tổng Tham mưu trưởng hơn, Mạc Lâm càng thấy kính trọng tài năng và quý mến tướng Dũng - một trong những nhà lãnh đạo tài ba của quân đội ta. Những ngày cuối của cuộc chiến tranh, công tác cách mạng biết bao nhiêu công việc phải làm. Đối với những chiến sĩ tình báo công việc càng nặng nề hơn. Cả bộ máy ngụy quân ngụy quyển sụp đổ nhanh chóng và như thế thì không phải ai cũng chạy kịp đó là chưa nói đến lực lượng địch cài lại phá hoại ta, cho nên công tác tình báo phải nỗ lực hơn nhiều, làm việc liên miên không còn thời gian nghỉ ngơi. Mạc Lâm nhớ lại, 10 giờ 30 phút ngày 11 tháng 3 ta làm chủ Buôn Ma Thuột liền được Tổng Tham mưu trưởng giao nhiệm vụ trực tiếp hỏi cung đại tá sư đoàn phó sư đoàn 23 Vũ Thế Quang.

        Kẻ thù thất bại nhưng chúng không cam chịu, vẫn tìm cách chống phá cách mạng, việc truy tìm ngay những cơ sở địch còn cài cắm lại là hết sức cần thiết. Cùng một lúc Mạc Lâm phải đảm nhiệm nhiều trọng trách nhưng ông rất vui nghĩ đến chiến thắng huy hoàng của toàn dân tộc. Tất cả như trong một giấc mơ, của từng gia đình, của cả đất nước không kể là người bên này hay người phía bên kia chiến tuyến.

        Theo một nguồn tin tình báo, có Phạm Xuân Ẩn -  một nhà báo Mỹ, rất có thể là tình báo Mỹ nấp dưới danh nghĩa nhà báo, đang ở lại tại khách sạn Continental. Nhiệm vụ của Mạc Lâm là phải nhanh chóng tìm hiểu về nhân vật này? Phạm Xuân Ẩn là một nhà báo Mỹ có uy tín tại sao lại không di tản theo Mỹ? Anh ta ở lại đây nhằm mục đích gì? Hay Phạm Xuân Ẩn là người của ta? Có thể thế không!... Nhiều câu hỏi đặt ra, rồi Mạc Lâm tìm câu trả lời và phác thảo một kế hoạch tiếp cận Phạm Xuân Ẩn. Phải giải mã cho được khi tiếp xúc với Phạm Xuân Ẩn.

        Ông nhớ mới đây làm việc với Nguyễn Thành Trung.

        Sáng ngày 8 tháng 4 năm 1975 trong khi Bộ tư lệnh tiền phương đang khẩn trương làm việc thì được tin một sĩ quan yêu nước lái máy bay F5E của không quân Mỹ ném bom Dinh Độc lập. Ném bom xong, trung úy phi công Nguyễn Thành Trung đưa máy bay ra vùng giải phóng và đã  hạ cánh an toàn xuống sân bay Phước Long. Tướng Văn Tiến Dũng ra lệnh đưa Nguyễn Thành Trung về Lộc Ninh gần Sở chỉ huy tiền phương của Bộ và giao cho Mạc Lâm trực tiếp làm việc để nắm thêm tình hình mọi mặt của quân ngụy để chuẩn bị cho chiên dịch tiến công vào Sài Gòn sắp tới.

        Nguyễn Thành Trung trẻ khỏe, quê ở tỉnh Bến Tre, là con trai của một đồng chí huyện ủy viên đã   hy sinh trong kháng chiến chống Pháp. Nguyễn Thành Trung là đảng viên được tổ chức đưa vào hoạt động từ lâu trong lực lượng không quân địch. Câu chuyện thân tình cởi mở, Nguyễn Thành Trung cung cấp rất nhiêu tin tức quan trọng. Không quân ngụy sau khi Mỹ rút khả năng chiến đấu rất hạn chế. Hiện nay chỉ còn 120 chiếc máy bay A37 và khoảng trên dưới 70 chiếc F5, khả năng xuất kích chỉ được khoảng hai phần ba. Huy động lớn nhất đi đánh phá cũng chỉ được 120 lần chiếc.


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Ba, 2020, 06:12:52 am

        Điều quan tâm của sở chỉ huy tiền phương của Bộ trong kế hoạch đánh vào Sài Gòn là: phải làm tê liệt hoạt động của các sân bay và chế áp có hiệu quả các trận địa pháo lớn của địch.

        Không quân Mỹ ngụy ở miền Nam có nhiều sân bay nhưng quan trọng nhất là hai sân bay lớn: Biên Hòa và Tân Sơn Nhất. Muốn làm tê liệt hai sân bay cũng như để chế áp phi pháo địch, theo dự kiến của ta là phải có khoảng mười một vạn viên đạn đại bác cỡ lớn từ 105mm đến 175mm. Nhưng hiện tại ta mới chỉ có sáu vạn viên. Để có đủ số đạn pháo lớn thì phải vận chuyển trong khoảng nửa tháng nữa - như thế là chậm so với kế hoạch. Có nhất thiết phải chuyển tiếp năm vạn viên đạn pháo lớn nữa không? Mạc Lâm suy nghĩ, vấn đề là tìm ra cách đánh vào hai sân bay lớn. Qua khai thác tù binh cũng như nhiều năm làm việc phục vụ các chiên dịch lớn như Đường 9 - Khe Sanh, chiến dịch Quảng Trị, làm việc với các đồng chí bên binh chủng đặc công, Mạc Lâm nêu vấn đề cùng Nguyễn Thành Trung:

        - Vấn đề đảm bảo an toàn cho máy bay cất cánh thế nào?

        - Hàng ngày, ở các sân bay có đội bảo vệ kiểm tra thường xuyên. Nếu có hiện tượng lạ chúng phải dùng máy dò mìn quét dọn hai ba tiếng đồng hồ trước khi cho máy bay cất cánh. - Nguyễn Thành Trung trả lời.

        Mạc Lâm à lên thành tiếng rồi đưa ra phương án:

        - Để làm tê liệt sân bay của địch không cần phải bắn nhiều đạn pháo mà chỉ cần, mỗi ngày bắn vào sân bay bôn đến năm lần. Buổi sáng bắn vào 5 giờ, 9 giờ, 11 giờ... chẳng hạn. Mỗi lần chỉ cần bắn mươi mười lăm viên vào đường băng máy bay lên xuống là làm cho chúng không thể cất cánh được rồi.

        - Đúng, bác nói đúng. - Nguyễn Thành Trung ngay từ đầu đã  gọi Mạc Lâm bằng bác xưng cháu. Chắc là Nguyễn Thành Trung thấy Mạc Lâm tóc bạc lại từ Sở chỉ huy phái đến - Đúng là nếu đường băng bị đạn ta pháo kích, tụi bảo vệ sân bay phải làm việc hai ba tiếng đồng hồ mới dám cho máy bay cất cánh. Ta bắn pháo lớn kiểu cầm canh vào những giờ đó vừa tiết kiệm đạn pháo lớn vừa khống chẽ toàn bộ máy bay lên xuống. Ta dành pháo chẽ áp các cụm pháo lớn của địch.

        Mạc Lâm rất vui vì ý kiến của mình được Nguyễn Thành Trung ủng hộ sẽ có tác dụng lớn là không phải mất thời gian chuyển thêm đạn pháo. Những điều khai thác được từ Nguyễn Thành Trung, Mạc Lâm trực tiếp báo cáo với Tổng Tham mưu trưởng, Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh Văn Tiến Dũng. Sau đó Nguyễn Thành Trung được đưa ra ngoài tổ chức huấn luyện phi công làm nên chiến công vang dội: 15 giờ 40 phút ngày 28 tháng 4 biên đội năm chiếc A37 do Nguyễn Thành Trung dẫn đường cất cánh từ sân bay Thành Sơn ném bom sân bay Tân Sơn Nhất vào thời điểm hết sức quan trọng có tác dụng lớn đến diễn biến Chiến dịch Hồ Chí Minh. Trận ném bom của biên đội Nguyễn Thành Trung làm tê liệt hoàn toàn sân bay lớn nhất Sài Gòn, đánh một đòn cân não vào tinh thần hoang mang, rệu rã của quân đội Sài Gòn và những tham vọng cuối cùng của Mỹ.

        Vào khoảng 9 giờ sáng, Mạc Lâm cùng với một cán bộ tình báo của Miền đến khách sạn Continental. Phạm Xuân Ẩn là nhà báo hay là nhà tình báo? Điều đó làm cho Mạc Lâm trăn trở từ khi biết tin. Gặp nhà báo mình phải lịch sự, cẩn thận, tất nhiên là với tư thế của người chiến thắng – nghĩ thế, Mạc Lâm sửa lại áo, vuốt lại mái tóc trước khi gõ cửa.

        Phạm Xuân Ẩn ra mở cửa mời khách.

        Mạc Lâm hơi sững lại, không như những điều mình nghĩ về Ẩn. Phạm Xuân Ẩn không to cao, trắng trẻo, mà lại gầy, nước da đen, cặp mắt linh lợi trên tay điếu thuốc đang hút dở. Phạm Xuân Ẩn nói tiếng miền Nam:

        - Mòi các ngài vào.

        Nhìn nhanh bao quát căn phòng, Mạc Lâm nhìn Phạm Xuân Ẩn, rồi tự giói thiệu:

        - Tôi là Mạc Lâm, cán bộ của Viện Nghiên cứu Lịch sử Việt Nam gặp nhà báo để được biết thêm về giai đoạn cuối cùng người Mỹ ở Việt Nam nhất là cuộc di tản vừa qua?

        Phạm Xuân An nhìn Mạc Lâm nói nhỏ:

        - Tôi sẵn sàng kể những điều tôi biết với tư cách một nhà báo. Còn những nội dung khác xin phép ông buổi chiều tôi xin kể tiếp.

        Phạm Xuân Ẩn không tỏ ra lúng túng như một vài người của chế độ cũ vừa gặp người của cách mạng. Anh ta tự nhiên, thân tình, gọi cà phê mời khách rồi vừa hút thuốc vừa kể chuyện về người Mỹ ở Sài Gòn những ngày trước 30 tháng 4. Những gì Mạc Lâm cần biết đã  được giải đáp. Khoảng hơn 11 giờ, khách ra về, Phạm Xuân Ẩn hẹn chiều làm việc tiếp.


Tiêu đề: Re: Nhà tình báo và những phi công tù binh
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Ba, 2020, 06:24:27 am
 
        Ra về Mạc Lâm thấy bằng lòng với buổi gặp nhà báo Mỹ. Anh ta biết nhiều chuyện, kể tỉ mỉ nhiều điều Mạc Lâm chưa hề biết. Có thể anh ta là một nhà báo thành thạo Sài Gòn?

        Ăn cơm trưa xong, Mạc Lâm định ngủ một giấc chiều làm việc tiếp thì có điện thoại. Đầu dây bên kia từ Hà Nội của Cục Quân báo cho biết:

        - Phạm Xuân Ẩn là người của ta đang chờ nhận nhiệm vụ.

        Trong những ngày diễn ra cuộc tiến công và nổi dậy, theo yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng, mạng lưới tình báo của ta vẫn tiếp tục hoạt động bí mật.

        Phạm Xuân Ẩn trong những ngày cuối cùng của chính thể Việt Nam cộng hòa ông làm việc tại khách sạn Continental cũng là do sắp xếp của tổ chức chờ nhận nhiệm vụ mới đã  được Giáo sư nhà sử học Mỹ La-ry Bơ-men - tác giả sách "Điệp viên hoàn hảo" nói khá rõ:

        "Nhưng ông (Phạm Xuân Ẩn) đã  được cho biết riêng về một thực tế rằng, những người cộng sản đã   xác định ba nơi an toàn lúc này, đó lại đại sứ quán Pháp, bệnh viện Grall và khách sạn Continental của Pháp. Trong túi Phạm Xuân Ẩn có đầy những chìa khóa mà các bạn đồng nghiệp khi ra đi để lại. Ông quyết định rằng tốt nhất là cùng mẹ đến ở tại phòng số 407 của Bob Shaplen tại Khách sạn Continental".

        Giáo sư nhà sử học, tác giả "Điệp viên hoàn hảo" cũng đã  trực tiếp hỏi những nhà lãnh đạo Việt Nam để hiểu lý do tại sao Phạm Xuân Ân không về Mỹ cùng với báo của mình:

        "Có một điều mà Phạm Xuân Ẩn không hề biết, đó là vào thời điểm ấy đang có một sự cân nhắc rất nghiêm túc của Quân ủy Trung ương thuộc Bộ Chính trị về việc có nên để cho ông tiếp tục công tác tình báo của mình tại Hoa Kỳ hay không. Chính Đại tướng Văn Tiến Dũng cuối cùng đã  quyết định nên để Phạm Xuân Ân ở lại Việt Nam - "Nếu Phạm Xuân Ẩn tiếp tục công tác đó chắc chắn ông ấy sẽ thu được nhiều thông tin tình báo có giá trị cho đất nước. Tuy nhiên sớm muộn gì thì ông ấy cũng bị lộ ở nước ngoài và như vậy thì sự tổn thất sẽ là rất lớn"... Tôi hỏi ông Mai Chí Thọ về ý tưởng tiếp tục để ông Phạm Xuân Ẩn hoạt động tình báo ở nước ngoài, ông Mai Chí Thọ nói: "Về mặt nghiệp vụ mà nói, thì đó là một ý tưởng hay. Vỏ bọc vẫn còn nguyên vẹn, ông ấy lại được người Mỹ tin cậy. Bản thân ông ấy cũng đã  chuẩn bị ra đi và sẵn sàng ra đi. Nhưng đồng thời cũng có những ý kiến ngược lại rằng về mặt nghiệp vụ, Phạm Xuân Ẩn đã  sẵn sàng, nhưng còn các điều kiện khác nữa. Ông ấy đã   làm việc quá nhiều rồi".

        Phạm Xuân Ẩn tên thật là Trần Văn Trung sinh năm 1927, quê thị xã Biên Hòa tỉnh Đồng Nai, cán bộ tình báo thuộc Đoàn 22. Ông nhập ngũ tháng 12 năm 1952, trước khi tham gia công tác tình báo, Phạm Xuân Ẩn hoạt động trong phong trào học sinh, sinh viên yêu nước Sài Gòn. Từ năm 1952 đến năm 1975, hoạt động tình báo trong lòng địch. Suốt 23 năm liên tục, bền bỉ hoạt động, mưu trí sáng tạo khéo che mắt địch, cung cấp nhiều tài liệu có giá trị chiến lược giúp trên chỉ đạo cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Ngày 15 tháng 11 năm 1976 Phạm Xuân Ẩn được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

        Nhớ Phạm Xuân Ẩn và những người đồng đội, đại tá Phan Mạc Lâm bồi hồi xúc động:

        "Đồng đội Cục Quân báo rất nhiều, với những ký ức không bao giờ phai mờ. Rất tiếc, nay tuổi già sức yếu, khó đến thăm nhau được, người còn người mất thương lắm.

        Hàng năm, cơ quan tổ chức gặp mặt nhân ngày truyền thống, đồng đội gặp nhau mừng chảy nước mắt. Có trường hợp đồng đội qua đời mà mình không hay biết, xót xa vô cùng. Anh Lê Quang Vũ, Cao Pha, Hai Nhã, Hai Trung (Phạm Xuân Ẩn), Ba Quốc, Ngọc Hồi, Nguyễn Thanh, Kim Hùng, Ngọc Hiền, Đỗ Đức Anh... là những người đồng đội thân thiết đã  vĩnh viễn ra đi... Tôi đã  khóc nhiều khi đồng đội đi dần, đi dần...".

        
MỤC LỤC

        * Lời giới thiệu
        - Hỏi cung tướng Đờ Cát
        - Vị khách không mời đầu tiên
        - Cơn ác mộng của phi công vũ trụ
        - Người hùng Mỹ cay đắng
        - Phi công cứu nạn gặp nạn
        - Mạc Lâm trong con mắt phi công Mỹ
        - Người phi công Mỹ gốc Thụy Sỹ
        - Đèn Hà Nội vẫn rực sáng
        - Tham vọng của Mắc-na-ma-ra thành mây khói
        - Lính cậu cũng không thoát chết
        - Tìm cách diệt MiG bị MiG diệt
        - Tan xác "cánh cụp cánh xòe"
        - Hạm đội 7 hết "làm mưa làm gió"
        - Tử địa Hàm Rồng
        - MiG - đối thủ đáng gờm của phi công Mỹ
        - SAM 3 - "khắc tinh" của B52
        - Những lời tiên tri
        - Trận "Điện Biên Phủ trên không"
        - Những tù binh Mỹ mặc thường phục
        - Chạm trán Phạm Xuân Ẩn

HẾT